text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh quả nhãn lồng Hưng Yên Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh quả nhãn lồng Hưng Yên Bài làm tham khảo “Da cóc mà bọc bột lọc Bột lọc mà bọc hòn than” Đó là quả gì? Chắc hẳn những ngày còn bé, ai trong chúng ta cũng từng cùng chúng bạn chơi trò câu đố như thế. Câu đố đã miêu tả một loại quả rất đặc trưng của làng quê Việt Nam, đặc biệt là Hưng Yên quê hương tôi – quả nhãn. Nhãn trong Hán Việt là “long nhãn”; nghĩa là “mắt rồng” vì hạt có màu đen bóng. Nhãn là loài cây nhiệt đới lâu năm thuộc họ Bồ hòn, có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc. Cây nhãn có nhiều loại, được trồng ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất là nhãn lồng Hưng Yên. Cây nhãn cao từ 5–10 m, thân gỗ. Vỏ cây xù xì, có màu nâu xám. Trên thân có nhiều cành, lá um tùm xanh tươi quanh năm. Lá nhãn hình lông chim, mọc so le lẫn nhau, gồm 5 đến 9 lá 1 cành nhỏ, dài khoảng 3 – 4 cm, rộng 1,5 – 2,5 cm. Nhãn ra hoa vào mùa xuân, khoảng các tháng 2, 3, 4. Hoa nhãn màu vàng nhạt, mọc thành từng chùm. Đến tháng 7, tháng 8 cây mới ra quả. Quả nhãn hình tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn. Thời gian đó, chỉ đi trên những con đường ở Hưng Yên bạn cũng có thể nhẹ nhàng chạm tay vào những chùm nhãn bóng mịn, trĩu nặng xà xuống. Quả đúng như tên gọi “vương quốc nhãn lồng”. Quả nhãn lúc nhỏ thì bé xiu, màu xanh. Đến khi chín quả mới phồng lên căng mọng, hương thơm dịu nhẹ. Qủa nhãn lồng Hưng Yên to, tròn, da trơn bóng và màu vàng nâu. Vỏ nhãn bao bọc bên trong lớp cùi nhãn dày, màu trắng ngà. Qủa nhãn có rất nhiều công dụng, giá trị. Nhãn là một trong những loại quả được yêu thích nhất, đặc biệt là vào mùa hè. Nhãn lồng Hưng Yên được bạn bè quốc tế yêu thích, đưa tên tuổi của nước ta ra thị trường thế giới khó tính như Nhật Bản, Mỹ hay Hàn Quốc. Nhãn chín xong hái xuống ăn hoặc bóc lấy cùi để làm chè long nhãn nổi tiếng. Còn ở nhiều nơi người ta đem sấy khô, ăn cũng rất ngon. Cùi nhãn khô có màu nâu hoặc nâu đen, được dùng làm thực phẩm đồng thời là một vị thuốc thường được dùng trong Đông y chữa các chứng bệnh hay quên, thần kinh kém,… Hạt nhãn để chữa các chứng chốc lở, gội đầu, đứt tay, chân. Vì quả nhãn có nhiều giá trị thiết thực như vậy nên cần chăm sóc bảo quản quả nhãn đúng cách. Khi quả còn trên cây, để tránh sâu hại và chim ăn và tránh mưa gió quật rụng quả, người trồng thường buộc những chùm quả lả tả thành chùm to, lấy lá để che chắn. Qủa nhãn hái xuống khỏi cây có thể để được vài ngày nhưng để lâu sẽ bị thối, héo, mất nước và dần xẹp xuống. Nếu dùng lâu thì nên bỏ vào tủ lạnh hoặc sấy khô để thời gian sử dụng tăng lên. Qủa nhãn rất ngon nhưng ăn quá nhiều trong thời gian dài cũng không tốt, ngược lại gây nóng và say, ảnh hưởng đến sức khỏe. Cần chú ý để vừa thưởng thức được vị ngọt thơm của nhãn vừa bảo đảm sức khỏe.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh quả nhãn lồng Hưng Yên
608
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh Quảng trường Ba Đình – một di tích, thắng cảnh ở Hà Nội Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh Quảng trường Ba Đình – một di tích, thắng cảnh ở Hà Nội Bài làm tham khảo “Dù có đi bốn phương trời Lòng vẫn nhớ về Hà Nội Hà Nội của ta, Thủ đô yêu dấu Một thời đạn bom, một thời hòa bình….” Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, cũng là quê hương yêu dấu của tôi. Người ta biết tới Hà Nội với những địa danh lịch sử, những danh lam thắng cảnh xinh đẹp như 36 phố phường, hồ Gươm, tháp Bút, chùa Một Cột. Và rất nhiều người tìm về đây để hướng về trái tim của thủ đô – quảng trường Ba Đình lịch sử. Là người Việt Nam, ai cũng biết đến những mốc lịch sử trọng đại gắn với quảng trường rộng lớn này. Nhưng khi tìm hiểu kĩ hơn về lịch sử lâu đời của nó, thì nơi này vốn là khu vực cửa Tây của thành hà nội cổ. Đầu thời Pháp thuộc, chúng phá thành, làm một vườn hoa nhỏ. Quảng trường khi đó gọi là vườn hoa pugininer. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hóa – nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 năm 1886 đến tháng 1 năm 1887, vườn hoa được đổi tên thành Quảng trường Ba Đình. Quảng trường Tròn được gọi là Vườn hoa Ba Đình hay gọi là Quảng trường Ba Đình.Từ ngày đó cho đến hôm nay, quảng trường đã chứng kiến những sự kiện trọng đại của Thủ đô Hà Nội và của cả nước, ghi nhận nhiều dấu ấn quan trọng của lịch sử dân tộc. Quảng trường Ba Đình là quảng trường lớn nhất nước ta, tọa lạc trên đường Hùng Vương, quận Ba Đình và là nơi Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng. Quảng trường nằm trong Cụm Di tích lịch sử – văn hoá Ba Đình: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Quảng trường Ba Đình và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, cũng chính là địa danh trung tâm của toàn thủ đô. Quảng trường Ba Đình là chứng nhân đi cùng năm tháng, âm thầm lặng lẽ khắc ghi, lưu giữ những dấu vết của thời gian, của lịch sử. Nơi đây là trái tim của thủ đô, đồng thời cũng là niềm tự hào lớn nhất của người dân thủ đô nói riêng, toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh Quảng trường Ba Đình – một di tích, thắng cảnh ở Hà Nội
464
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh thành Cổ Loa – một di tích, thắng cảnh ở Đông Anh, Hà Nội Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh thành Cổ Loa – một di tích, thắng cảnh ở Đông Anh, Hà Nội Bài làm tham khảo “Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu Trái tim lầm chỗ, để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” Tố Hữu Bạn đã bao giờ nghe kể truyền thuyết An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy, nghe về truyền thuyết của Cổ Loa Thành – di tích lịch sử lâu đời của Thủ đô Hà Nội? Thành Cổ Loa không chỉ là một nét đặc sắc trong di tích thủ đô mà còn là thắng cảnh nhiều người lui tới. Hỏi về nguồn gốc của thành Cổ Loa, người ta sẽ truyền tai nhau truyền thuyết từ hơn hai nghìn năm trước. Thời An Dương Vương Thục Phán, Thành ốc cứ xây cao lại đổ, phải nhờ Trấn Tiên Huyền Vũ trừ yêu gà trắng, thành mới xây xong. Sau lại có thần Kim Quy hiện lên ở sông Hoàng, chỗ này có chiếc cầu đá vào chợ Sa, cho móng làm lẫy nỏ thần để giữ nước. Sau 50 năm trị vì, vua Thục mắc mưu Triệu Đà cho con là Trọng Thuỷ sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu và ở rể. Trọng Thuỷ đánh cắp nỏ thần giúp vua cha đem quân sang cướp nước Âu Lạc. Quân Triệu chiến thắng, Mỵ Châu rải lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy, An Dương Vương rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biểu tự vẫn. Như vậy, thành Cổ Loa được xây dựng thời An Dương Vương nằm tại vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Không chỉ là thành trì quân sự nổi tiếng của nước Âu Lạc thời ấy mà Cổ Loa còn là trụ sở của huyện Phong Khê thời Hán thuộc, là căn cứ quân sự thời Hậu Lý Nam Đế vào năm 692. Đặc biệt là kinh đô đầu tiên của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập do Ngô Vương Quyền khởi lập và tồn tại từ năm 939 đến năm 944. Trải qua nhiều thăng trầm của thời gian, Cổ Loa từng có những tên gọi khác nhau như Khả Lũ thành, Côn Lôn thành, Việt Vương thành và Tư Long thành… Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác. Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Thành Cổ Loa tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng hiện tại, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời Âu Lạc chưa có gạch nung. Thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,58 km, vòng trong 1,6 km… Diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối. Khi nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện: chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn lớn có đường kính 60 cm. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Ngay sau khi xây thành, An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Nhân dân cũng được điều tới khai phá rừng thành ruộng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện, chế tạo côn, kiếm, giáo, mác và nỏ liên châu, mỗi phát bắn nhiều mũi tên. Có nhiều bằng chứng về sự tồn tại của hàng chục vạn mũi tên đồng, có thể dùng nỏ liên châu ở đây. Cổ Loa thành có giá trị rất to lớn với nhân dân ta. Cổ Loa thành là công trình kiến trúc nghệ thuật và xây dựng đặc sắc mặc dù được xây dựng với mục đích quân sự. Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của cha ông ta trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh. Cổ Loa là tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, là một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ. Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh thành Cổ Loa – một di tích, thắng cảnh ở Đông Anh, Hà Nội
1,013
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con Chó Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con Chó Bài làm tham khảo Cuộc sống ngày càng phát triển, càng nhiều loài vật được thuần hóa và trở thành vật nuôi của mỗi gia đình. Tuy nhiên, dù bao thời gian trôi đi, ở thời điểm hiện tại hay nhiều năm về trước, chó vẫn là vật nuôi thân cận nhất, trung thành nhất với con người. Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói vào khoảng 400 triệu năm trước. Nhưng, loài chó mà chúng ta thấy hôm nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ khác, màu xám. Vào cuối kỷ Băng hà, cách đây khoảng 40.000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà. Chó là loài động vật đầu tiên được con người thuần hóa. Theo những di vật khảo cổ để lại, các nhà khoa học nhận định, loài chó đã được thuần hóa cách đây 12000 năm vào thời kỳ đồ đá. Chó có ở khắp mọi nơi trên thế giới. Ở nước ta, chó là vật nuôi quen thuộc trong mỗi gia đình. Có rất nhiều giống chó khác nhau, phân loại dựa trên các tiêu chí khác biệt. Nhưng chúng đều có đặc điểm chung là loài động vật thuộc bộ thú, có bộ lông rậm rạp. Con chó có bốn chi nhanh nhẹn, linh hoạt. Chân chó giống chân mèo, có lớp đệm thịt phía dưới, có móng ẩn vào trong ngón chân. Đuôi dài hoặc ngắn tùy thuộc từng giống chó. Màu lông cũng rất đa dạng. Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài dễ thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí hạ nhiệt cơ thể chúng trong những ngày oi bức. Khoảng 2 tháng chó sẽ thay lông một lần. Mũi của chó có hình tam giác, lúc nào cũng ướt, có những đốm nhỏ xung quanh mép và mõm. Lưỡi của chó dài, thường có khoang màu đen bên trong. Tai của chó rất thính, chúng có thể nhận biết được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng nhạy bén như tai. Khi bạn ngửi được mùi thức ăn trong bếp, nó có thể phân biệt được cả gia vị trong nồi, chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi khác nhau. Đây cũng là đặc điểm nổi bật nhất của chúng. Tốc độ của chó rất nhanh. Não chó rất phát triển. Trí tuệ của loài chó có thể tương đương với một đứa trẻ 2 tuổi. Khi cơ thể nóng bức, chó thường lè lưỡi thở để hạ nhiệt. Còn mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt át để giữ ấm cơ thể. Chó mang thai và sinh con. Thời gian mang thai trung bình kéo dài khoảng 60 đến 62 ngày, cũng có khi sớm hoăc muộn hơn vài ngày. Lúc mới ra đời, chó con không có răng và chưa mở mắt. khoảng 15 ngày trở đi, chúng mở mắt và có tới 28 chiếc răng ở tuần thứ 4. Sau khi chó con sinh ra được nuôi bằng sữa mẹ, chó mẹ khi ấy đặc biệt hung dữ. Ngày nay chó chủ yếu nuôi để giữ cửa hoặc làm cảnh, bầu bạn với con người. Vì tính trung thành cao nhất trong giới động vật,con người đặc biệt gần gũi với chó. Không những thế, chó có tốc độ phi thường, nên người ta huấn luyện thành chó nghiệp vụ, dùng trong điều tra phá án. Chúng là những “thần thám” lần theo dấu vết. Đối với việc điều tra mà nói, những chú chó như những người lính thực sự. Đặc biệt, chó còn là một trong 12 con giáp, người Việt ta gọi là “tuất”. Chó xuất hiện trong cả văn hóa. Văn hóa về chó trong nghệ thuật có niên đại từ hàng ngàn năm trước khi chó được vẽ tại tường trong các hang động. Việc miêu tả chó trở nên tinh vi hơn khi nhiều giống được phát triển và quan hệ giữa người và chó phát triển. Những cảnh đi săn phổ biến trong thời Trung Cổ và Phục Hưng. Chó được phác họa để biểu tượng cho sự dẫn dắt, bảo vệ, lòng trung thành, trung tín, tin tưởng, quan tâm và yêu thương.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con Chó
799
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con gà Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con gà Bài văn mẫu tham khảo Con người luôn sống hài hòa với tự nhiên và những loài vật khác. Bức tranh cuộc sống không chỉ vẽ riêng con người mà còn vẽ cả các loài đặc việt. Gần gũi và thân thuộc với con người nhất là vật nuôi trong nhà. Con gà chính là một trong số những vật nuôi không thể thiếu trong đời sống, nhất là những vùng quê. Gà có nguồn gốc từ đâu? Gà nhà là một loài chim đã được con người thuần hoá cách đây hàng nghìn năm. Một số ý kiến cho rằng loài này có thuỷ tổ từ loài chim hoang dã ở Ấn Độ và loài gà rừng lông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á. Trong thế giới loài chim, gà là loài vật có số lượng áp đảo nhất. Dòng dõi nhà gà có rất nhiều loài: gà gô, gà ri, gà tam hoàng, gà ta, gà tre… Nhưng xét về giới tính thì có gà trống và gà mái. Gà trống có thân hình vạm vỡ hơn gà mái, trên đầu có mào đỏ chót, bộ lông rực rỡ, lông đuôi dài, có cái bầu diều hay diều gà ở cổ, chân có cựa – lực lưỡng và oai vệ. Gà mái yểu điệu, đoan trang, lông mượt mà, lông đuôi ngắn, trên đầu không có mào như gà trống, chân cũng không cựa. Gà trống biết gáy “ò ó o” còn gà mái chỉ kêu “cục tác”. Đặc điểm chung của chúng là cánh tròn, ngắn, toàn thân phủ lông. Để thích nghi với cuộc sống bới đất tìm mồi, từ thuở xưa, chân của chúng đã có đôi móng cùn và cứng, bao bọc trong lớp vẩy sừng màu vàng. Mỏ gà ngắn nhưng rất khỏe, cùng với móng chân bới đất kiếm ăn. Mắt gà thì tròn, nhỏ như hạt đậu đen, không có lông mi. Hai mắt của đầu gà không nằm cùng trên một mặt ở gần trán như mắt người hay mắt chó mà mỗi con mắt của gà lại nằm riêng rẽ ở phía trên mỗi bên má. Tuy có hai cánh nhưng khả năng bay của gà không được tốt như các loài chim khác. Gà đã tồn tại trong đời sống con người từ rất lâu, có nhiều giá trị, cả về vật chất lần tinh thần. Người ta nuôi gà để lấy trứng, lấy thịt. Trứng gà chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho cơ thể, được chế biên thành nhiều món ăn quen thuộc như: trứng gà chiên, ốp la… và là nguyên liệu để làm các loại bánh ngon như bánh kem, bánh mì,… Chị em phụ nữ còn dùng trứng gà để dưỡng da. Ông cha ta trước kia còn luộc trứng gà để cạo gió khi bị cảm, rất nhanh khỏi. Lông gà qua xử lí hoá học có thể trở thành một loại bột giặt hữu hiệu. Thời xưa, lông gà được dùng làm cây cọ viết, vẽ, làm chổi, làm cầu… Ngay cả chất thải của gà cũng có thể dùng làm phân bón cho cây cối. Không chỉ có giá trị về vật chất, gà còn mang giá trị tinh thần to lớn. Tiếng gà gáy đã trở thành âm thanh không thể thiếu ở mỗi miền quê. Hình ảnh con gà đã đi vào đời sống tâm linh văn hóa của người dân Việt Nam. Gà là một trong 12 con giáp, gọi là “Dậu” Nó là một trong mười hai con giáp, vẫn được gọi bằng cái tên thân mật là “Dậu”. Gà xuất hiện trên tranh Đông Hồ – loại tranh nổi tiếng của nước ta. Mâm cơm ngày lễ, Tết, dâng lên thần linh, ông bà tổ tiên không thể thiếu con gà luộc. Gà trống giống như linh vật của người dân Việt Nam, tượng trưng cho sự may mắn yên bình, hạnh phúc. Con gà còn đi vào văn học, ca dao, tục ngữ, xuất hiện trong các lễ hội truyền thống với trò chơi chọi gà độc đáo.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con gà
713
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con Mèo Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con Mèo Bài làm tham khảo Cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên thật buồn tẻ nếu không có những loài động vật khác,dặc biệt là những vậy nuôi trong gia đình. Cuộc sống càng phát triern, càng có nhiều động vật được thuần hóa và trở thành người bạn thân thiết của mỗi gia đình. Tuy nhiên, trong số đó, vật nuôi quen thuộc và gần gũi nhất là con mèo. Mèo là một phần loài trong họ mèo bên cạnh báo, linh miêu… Khoa học chứng minh rằng chúng đã sống gần gũi với loài người trong khoảng từ 3.500 năm đến 8.000 năm. Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, gọi theo đặc điểm hình dáng của nó. Một số không có lông hoặc không có đuôi. Màu lông mèo rất đa dạng: màu trắng, màu vàng, màu xám tro… Có những chú mèo mang nhiều màu lông nên người ta gọi là mèo tam thể (có ba màu lông), mèo vằn (hai màu lông chạy xen nhau), mèo đốm,… Mèo bắt đầu được thuần hóa và nuôi ở Ai Cập sau đó lan nhanh sang Châu Âu và các khu vực khác trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, mèo bắt đầu được nuôi từ khoảng hai nghìn năm trước đây. Một chú mèo thường nặng 2,5 kg đến 7kg. Cũng có chú mèo đạt tới những cân nặng cao hơn hoặc nhẹ hơn. Mèo có bốn chân, mỗi bàn chân đều có vuốt và đệm thịt ở phần tiếp xúc với mặt đất. Vuốt trên chân có thể thu lại được bất cứ lúc nào, lớp đệm thịt giúp chúng đi lại rất nhẹ nhàng. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Cơ thể mèo rất đặc biệt với khả năng giữ thăng bằng đáng kinh ngạc. Khi bị rơi từ trên cao, chúng có thể tự chỉnh thăng bằng, rơi xuống nhẹ nhàng và an toàn. Giống như chó, mèo đi trên đầu ngón chân, bước trực tiếp trên các ngón. Từng bước từng bước đều rất chính xác. Trợ thủ đắc lực cho sự di chuyển tài tình của mèo là đuôi. Đuôi mèo dài và uyển chuyển, có chức năng giữ thăng bằng khi chạy nhảy leo trèo. Tai mèo khá thính. Thính giác của chúng với con người tương tự nhau nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Mắt mèo là một bộ phận khá đặc hiệt. Màu mắt đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh… Đồng tử mèo có khả năng co dãn cực tốt. Ban ngày, đồng tử thu nhỏ đến đêm mới dãn ra nên nó có thể nhìn rõ trong đêm tối. Mèo có mi mắt thứ ba, đó là 1 màng mỏng xuất hiện khi mắt mèo mở. Màng này thường đóng lại từ từ khi mèo bị bệnh, nhưng chúng lại rất rõ ràng khi mèo buồn ngủ. Còn khứu giác, khứu giác của chúng rất phát triển, mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không ngửi thấy được. Mèo thích leo trè và khả năng bám của chúng cũng rất tốt nên ít khi bị té. Tuy nhiên điều ít ai biết là giống như thỏ, mèo không thể cảm nhận được vị ngọt do thiếu gen cần thiết cho việc này. Mèo là động vật ăn thịt và là một tay săn mồi thầm lặng với khả năng di chuyển không một tiếng động. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó hạ người xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến con mồi rồi nhẹ nhàng lao đến, dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và chụp lấy con mồi. Tuy nhiên, mèo sống cùng con người nhiều năm nên thức ăn cũng thay dần thành cơm, thức ăn sẵn. Món yêu thích của chúng là cá. Mèo thích nắng ấm và ghét bỏ những nơi ẩm ướt. Khi vệ sinh cơ thể, nó thè lưỡi lấy nước bọt để rửa mặt. Chúng làm vậy nhiều lân trong ngày, tỏ ra rất sạch sẽ. Hành động thậm chí đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo, ngay cả khi cơ thể nó không một vết bẩn.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh về con vật nuôi ở quê em – Con Mèo
812
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây Mít ở quê em Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây Mít ở quê em Bài làm tham khảo “Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng” Đó là quê hương trong trái tim rất nhiều người. Còn quê hương trong trái tim tôi là hương mít chín thơm lừng, ngọt ngào mê say. Cây mít là loài cây đặc trưng của làng quê bình dị nơi tôi sinh ra. Mít là một loại cây ăn quả, mọc phổ biến ở Đông Nam Á và Brasil. Mít thuộc họ Dâu tằm và được cho là có nguồn gốc từ Ấn Độ và Băng – la – đét. Ở mỗi vùng miền hay quốc gia khác nhau thì quả mít lại mang một hương vị rất riêng. Khắp mọi miền trên đất nước ta, ở nơi nào cũng trồng được mít. Tuy nhiên mít được trồng chủ yếu ở nông thông, và có nhiều nhất ở vùng Hà Tĩnh, Quảng Trị và Tây Nguyên. Mít có nhiều loại: mít dai, mít mật, mít mỡ, mít tố nữ. Mít tố nữ quả nhỏ tròn, ngọt ngon là loại mít được ưa chuộng nhất. Về đặc điểm, cây Mít thuộc loại cây thân gỗ, có chiều cao từ 8 đến 15 m, bộ rễ gắn sâu, chống hạn tốt, nhưng muốn mít có sản lượng cao thì người ta hay trồng ở những vùng có lượng mưa nhiều từ 1.000 mm trở lên, nếu không tưới. Ngược lại, cây Mít chống úng kém. Vào những năm bị lụt, trên vùng đất bị úng, mít là cây chết trước tiên. Lá mít tương tự như lá đa, chỉ khác là mịn hơn không có lông mịn như trên mặt lá đa, có mùi thơm nhẹ rất đặc biệt. Trong đời sống của con người, mít có rất nhiều giá trị. Mít là loại quả nhiều người yêu thích bởi hương vị của nó. Các múi mít chín có thể ăn tươi, có vị rất ngọt do có hàm lượng đường như glucoza, fructoza cao (10-15%). Người ta dùng mít chế biến nhiều món khác nhau, ở Huế có món mít trộn với tôm, hành, nước mắm ăn kèm với bánh tráng nướng. Quả mít non có thể sử dụng như rau để nấu canh, kho với cá, xào với thịt, làm gỏi. Múi mít chín làm sữa chua mít mát lạnh mùa hè, mứt mít, mít sấy khô… Xơ mít có thể dùng làm dưa muối gọi là nhút. Món này làm từ xơ mít chín hoặc từ quả mít xanh. Phương ngôn “Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn” nhắc đến hai đặc sản của vùng quê ở Nghệ An. Hạt mít cũng ăn được và có giá trị dinh dưỡng nhất định. Hột có thể đem rang, luộc, hoặc hấp. Trước khi ăn thì bóc lớp vỏ mỏng bên ngoài; có mùi thơm và vị bùi. Lá mít có địa vị đặc biệt dùng để lót oản cúng Phật. Lá mít cũng được dùng để gói thuốc lào truyền thống. Mít là một trong nhiều cây ăn quả của vùng nông thôn, cuốn hút người ta bởi vị ngọt và hương thơm nồng nàn của nó. Ai đã từng nếm qua một múi mít ngọt thơm, hẳn sẽ không bao giờ quên hương vị quyến rũ đó.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh về cây Mít ở quê em
571
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây tre Việt Nam Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây tre Việt Nam Bài mẫu 1: Thuyết minh cây tre Việt Nam Tre là nguyên liệu làm giấy viết, một số loài tre trúc được trồng làm cây cảnh, có giá trị thẩm mĩ cao. Người ta dùng ống tre để nấu cơm lam. Măng tre muối chua hoặc để nấu vịt, rất được yêu thích trong ẩm thực. Lá tre, thân tre, nước ở cây tre non, vỏ cây tre… đều là những vị thuốc quý. Bài làm tham khảo “Tre xanh xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…” Nguyễn Duy Từ bao đời nay, cây tre đã trở thành một phần trong cuộc sống của con người Việt Nam. Tre trở thành biểu tượng cho con người Việt Nam kiên cường, bất khuất, biểu tượng cho làng quê Việt Nam bình dị, đơn sơ. Cây tre là loại cây thuộc họ lúa cùng nứa, vầu, trúc…. Không ai biết nguồn gốc chính xác của tre, chỉ biết rằng tre đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Tre xuất hiện trên khắp mọi miền tổ quốc, đặc biệt ở vùng nông thôn. Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên,… Tre họ lúa nên có thân rễ chùm, bám sâu vào lòng đất giúp cây đứng vững trước mưa gió vùi dập. Sống qua nhiều năm, sẽ có chồi mọc ra gọi là măng. Măng sẽ mọc thành cây tre lớn. Vì vậy, ngay khi tre khi còn bé đã mọc thẳng tắp lên đón ánh mặt trời. Thân tre, gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Thân tre vốn là nhiều đốt ghép lại, có thể cao đến 10 -18m. Mỗi cây có khoảng 30 đốt. Lá tre mỏng manh, màu xanh, trông như con thuyền nan, trên mặt lá có những hình gân song song. Điều đặc biệt ở tre là chỉ ra hoa duy nhất một lần trong đời, khi nó ra hoa, vòng đời của nó cũng sẽ khép lại. Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi. Sức sống của tre khiến người ta kinh ngạc, ngưỡng mộ. Dù là vùng đá sỏi hay đất vôi bạc màu tre đều trưởng thành xanh tốt. Tre có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với đất nước và con người Việt Nam. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tre xung phong, cùng con người chiến đấu, bảo vệ xóm làng, quê hương. Những ngày đất nước sơ khai, tre cùng thánh Gióng diệt giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng chông tre đánh tan thuyền địch. Đến những năm kháng chiến chống Pháp và đánh Mĩ, tre tích cực tham gia vào kháng chiến, dựng thành lũy ngăn đạn đại bác, trở thành “pháo đài xanh” Không chỉ đánh giặc giữ nước, tre còn gắn bó với nhân dân trong cả cuộc sống thường ngày. Làng quê Việt Nam từ xưa kia đã gắn với lũy tre xanh, những lũy tre dày chắn gió bão thiên tai cho cuộc sống yên bình. Tre làm nhà cửa, làm cần câu, vó cất tôm cất tép, và làm cả những cây cầu bắc qua sông, qua mương nước. Ông cha ta từng có một thời dùng tre để làm bàn, làm ghế, đan thúng, đan rổ, làm khung cửi, cái xa quay sợi, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, quạt nan, đôi đũa, cái tăm… Những đồ vật ấy vẫn còn lưu giữ đến tận hôm nay, chứng minh cho một nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Mỗi dịp Tết đến, xuân về, cây nêu may mắn dựng lên trước cửa cũng làm từ thân tre. Tre còn được dùng trị thủy, giữ nước chống bão lũ trên những con đê. Tre đi vào thơ ca, trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các tác giả. Từ ca dao, tục ngữ đến những tác phẩm văn học như Cây tre Việt Nam nổi tiếng của Nguyễn Duy. Tre cgóp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến. Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, in sâu vào tâm hồn người Việt. Tre níu tay nhau đứng bên lăng Bác, canh giữ cho giấc ngủ ngàn thu của Người. Tre trở thành biểu tượng cho con người Việt Nam, để rôi mỗi khi đi xa, người ta vẫn bồi hồi nhớ về những bóng tre xanh. Thời gian trôi đi, cuộc sống hiện đại đã có nhiều đổi thay, tre cũng không còn xanh ngát như ngày trước. Nhưng cây tre mãi mãi là một phần của cuộc sống con người Việt Nam, tượng trưng cho sự kiên cường bất khuất, đoàn kết của nhân dân ta. Bài mẫu 2: Thuyết minh cây tre ở làng quê Việt na Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách nước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre, lồng đèn,… Bài làm tham khảo Hình ảnh người nông dân, đồng ruộng, con trâu đã gắn liền với lũy tre làng từ hàng nghìn năm nay! Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Tre xanh giúp người dân làm nhà dựng cửa, vỡ ruộng khai hoang, tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp. Họ nhà tre gồm: nứa, vầu, trúc, luồng, giang… đâu đâu cũng có luỹ tre xanh rì rào ẩn hiện. Rặng tre xanh là chiến luỹ bảo vệ làng mạc, thôn xóm, đồng thời tre ôm vào lòng mình tình thân thương của bà con chòm xóm từ đời này qua đời khác, chắn gió che mưa cho con người. Ta có thể thấy, tre gắn bó thân thiết với con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ thời chiến tranh tre cùng ta đánh giặc gìn giữ độc lập chủ quyền, làm rạng danh cho non sông, đất nước cho đến những vật dụng quen thuộc trong gia đình ở thời bình. Hơn thế, tre đã đi vào thơ ca như một hình tượng bất hủ: Tre xanh Xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu Lật lại những trang sử hào hùng của dân tộc, ta thấy hình ảnh cây tre sát cánh cùng với người dân chiến đấu chống lại giặc ngoại xâm trong truyền thuyết Thánh Gióng từ đời vua Hùng Vương thứ 6. Thánh Gióng là một hình tượng tiêu biểu, đại diện cho khí phách Việt Nam. Mới 3 tuổi đã biết đánh giặc, khi gậy sắt gẫy, Gióng đã tự lấy tre làm vũ khí để tiêu diệt quân thù, đánh đuổi giặc Ân. Và không biết tự bao giờ, cây tre và con người Việt Nam đã trở thành đôi bạn chiến đấu thân tín, keo sơn..Tre vốn cùng ta làm ăn lại cùng ta đánh giặc. Buổi đầu không một tấc sắt trong tay, tre là vũ khí, từ chiếc gậy tầm vông, gậy tre, chông tre kiên cường chống lại sắt thép của quân thù, tre còn làm hầm ngụy trang và giữ bí mật… Tre bao bọc, che chở cho nguời con Việt trong những đêm dài hành quân ra trận. Rừng là nhà, lá tre nứa làm áo ngụy trang, đất làm giường, nứa tre làm gối, tre đã cùng người lập nên những chiến công vang dội, hiển hách. Những hiện vật thể hiện mối quan hệ giữa tre và con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc còn được lưu giữ rất nhiều trong Bảo tàng Việt Nam. Nào tầm vông, giáo mác, chông tre, những chiếc gùi tre đan, những ống tre tích nước, đựng nước… Tre đã cùng ta vượt bao gian khổ để đạt tới một tương lai với cuộc sống ấm no, giàu mạnh. Vào thời bình, tre không còn là hung khí để đánh giặc nữa mà tre trở nên hiền hòa, hữu ích cho đời sống người dân hơn. Tre được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng, từ những vật dụng cỡ lớn như bàn ghế, giường chõng, cái cột, cái kèo, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh, cái thúng, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn, đựng chén bát và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) cho đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa,.. Cây tre hữu dụng và thân thiết với con người Việt Nam đến mức từ những vật dụng nhỏ nhất như cái tăm, đôi đũa tre. Trong mỗi bữa ăn ấm cúng của gia dình không thể thiếu bóng dáng của tre bởi tre đã trở thành người bạn gần gũi và thân thiết với mỗi người dân Việt Nam. Trong chiến tranh, tre không chỉ đơn thuần là vũ khí đánh giặc mà tre luôn sát cánh cùng người con Việt Nam, tre cung cấp lương thực trong những ngày đói rét. Cái hương vị đăng đắng, ngọt ngào của những bát măng rừng mãi là âm hưởng không thể nào quên trong trái tim của những người lính đã từng đi qua chiến tranh. Trong thời đại ngày nay, măng tre cũng luôn xuất hiện trong bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Ta có thể gặp măng nấu canh, măng xào, măng luộc, cá kho với măng,… Lá tre, nước tre, tinh tre, mỗi loại đều có tính năng riêng nhưng thông thường, lá tre được sử dụng phổ biến hơn cả. Trong một bài thuốc chữa cảm dân gian, cái hương vị ngọt ngọt, man mát của lá tre là một hương vị không thể thiểu trong các nồi xông. Nó đã góp phần giúp cho người bệnh cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái hơn. Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Út ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: Cây Tre Việt Nam, Viếng lăng Bác cũng có sự xuất hiện của cây tre… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn T’rưng, sáo, tiêu,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm. Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí. Trong những câu ca dao, dân ca, tục ngữ, người dân Việt Nam hay nói: tre già thì măng mọc để thể hiện sự kế tục của các thế hệ. Bên cạnh đó hình ảnh cây tre cũng tượng trưng cho hình ảnh cần cù, chịu thương chịu khó của con người Việt Nam ta “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước,tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp của cong người Việt Nam.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh về cây tre Việt Nam
2,085
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây đa Hướng dẫn Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây đa Thuyết minh về cây đa – bài mẫu 1 Cây đa đã đi vào ca dao, cổ tích, đi vào mỗi khúc dân ca. Bạn có nhớ hay không những truyền thuyết, cố tích nhiệm màu mà bà hay kể, Thạch Sanh hiền lành, dũng mãnh, sự tích chú Cuội cung trăng? Hay điệu “lý cây đa” mà người ta hay ca hát? “cây đa, giếng nước, sân đình” hay “cây đa, bến nước, con đò chẳng biết từ khi nào đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam. Bài mẫu tham khảo “Bao năm ở chốn thị thành Đã quên cả ánh trăng thanh chung tình Hôm nay về lại quê mình Cây đa bến nước sân đình đầy trăng” (Nguyễn Văn Thưởng) Không biết tự bao giờ, cây đa đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam. Ai đi xa quê cũng không quên nhớ về hình ảnh gốc đa đầu làng thân thương, gần gũi và cả bầu trời kỉ niệm tuổi thơ dưới gốc đa ây. Nhắc đến làng quê là nhắc đến cây đa cùng quán nước, sân đình. Không phải tự nhiên mà người ta đặt cho cây đa cái tên ý nghĩa như vậy. Với đặc điểm sinh vật và tuổi đời ngàn năm của mình, cây đa đã gắn bó vô cùng sâu sắc với làng quê. Cây đa có tên khác là cây đa đa, dây hải sơn, cây dong, cây da, là một loài cây thuộc họ Dâu tằm. Theo Neal (1965) thì cây đa có nguồn gốc từ Ấn Độ, sinh sống được với cao độ tới khoảng 600 m, đặc biệt trong những khu vực khô ráo. Theo Riffle (1998) thì cây đa có nguồn gốc trong một khu vực rộng lớn của châu Á, từ Ấn Độ tới Myanma, Thái Lan, Đông Nam Á, nam Trung Quốc và Malaysia. Cây phân bố trên toàn cầu rộng khắp khu vực nhiệt đới và mọc hoang tại phần lớn các khu vực nhiệt đới ẩm ướt trên Trái Đất. Ở Việt Nam, cây đa được tìm thấy tại nhiều đình, chùa và khu vực làng quê. Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ trong làng và bên cạnh các di tích. Cây có bề rộng, thân và cành thuộc loại cây lớn nhất thế giới. Thân cây gỗ, vỏ bên ngoài xù xì. Thân có nhiều nhánh, cây có nhựa mủ chứa chất cao su, nhánh cây như những cánh tay nâng cả tán cây lên giữa trời xanh. Cành đa vươn đến đâu rễ chùm, rễ nổi vươn ra đến đó. Trên cây còn có nhiều rễ phụ mọc từ cây rồi đâm xuống lòng đất. Lá đa hình bầu dục, dày, dài và to. Cuống lá mảnh và giống với hình tim ở gốc. Phía trên lá nổi rõ gân phụ. Lá xanh ngắt, đan cài vào nhau, tạo nên vòm lá xanh khổng lồ, mời gọi đàn chim phương xa về làm tổ. Búp đỏ nằm ở ngọn cành mang tên lá kèm sớm rụng bao bọc lấy chồi non tận trong cùng, khi lá nở thì sẽ bị rụng xuống. Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Trải qua bao bão táp phong ba và biến động của thời gian, cây đa vẫn sừng sững hiên ngang với đất trời, mang trong mình những giá trị vật chất và tinh thần sâu sắc. Rễ cây được dùng để làm thuốc cho người bị xơ gan, kèm theo cổ trướng. Vỏ và cành cây đã quá quen thuộc với các bà trong phong tục ăn trầu. Dù không có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng như nhiều loài cây gỗ khác nhưng với sức sống dẻo dai và kiên cường của mình, cây đa có giá trị tinh thần vô cùng to lớn. Đa là cây cao bóng cả của cả làng quê, đem đến bóng mát cho làng. Tán cây là nơi chim muông bay về làm tổ, điểm tô thêm cho phong cảnh làng quê. Gốc đa xưa kia là nơi hò hẹn, đợi chờ của cặp trai gái yêu nhau, là nơi thề hẹn ước mong, nơi kết duyên của bao cặp vợ chồng sau này. Gốc đa ngàn năm tuổi trở thành nơi người ra đồng nghỉ chân, con trâu cái cuốc cái cày dựa tạm. Quán nước gốc đa đầu làng cũng là nơi du khách thập phương dừng chân uống nước, gửi lời chào người làng chân chất, hiếu khách. Bát nước chè xanh và ngọn gió mát lành dưới gốc đa rì rào đã xua đi bao gian khó, nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh, bao mệt mỏi của hành trình dài. Và cũng dưới gốc cây ấy, bao tiếng cười giòn tan của trẻ thơ đã vang lên. Cây đa lặng lẽ đi sâu vào tâm hồn con người, trở thành một phần hồi ức không thể nào quên. Đi vào ca dao, cây đa còn đi vào lịch sử mỗi làng. Thời chống Pháp, cờ khởi nghĩa tung bay phấp phới trên ngọn cây đa. Thời chống Mỹ, ngọn đa lại là chòi gác máy bay, nơi treo kẻng báo động. Hình ảnh cây đa Tân Trào thủ đô kháng chiến đến mãi về sau vẫn là hình ảnh đẹp không thể quên trong trái tim rất nhiều người. Cây đa chính là hình ảnh đẹp nhất biểu tượng cho làng quê Việt Nam thanh bình yên ả. Mỗi người con khi xa quê, nhớ về quê hương là nhớ về cây đa đầu làng. Thuyết minh về cây đa – bài mẫu 2 Cây đa đi vào lịch sử mỗi làng. Thời chống Pháp, ngọn đa là nơi treo cờ khởi nghĩa, gốc đa là nơi cất giấu thư từ, tài liệu bí mật. Thời chống Mỹ, ngọn đa lại là chòi gác máy bay, nơi treo kẻng báo động. Còn mãi trong ta hình ảnh cây đa Tân Trào thủ đô kháng chiến khi xưa. Đa là nỗi kinh hoàng cho lũ giặc, là bình yên cho xóm cho làng. Phải chăng “thần cây đa” cũng là từ ý nghĩa đó. Đa là một trong những biểu tượng của làng. Bài mẫu tham khảo Không biết tự bao giờ cùng với bến nước, sân đình, cây đa đã trở thành biểu tượng của làng quê đất Việt. Ai đó xa quê hẳn không thể không có những phút nao lòng mỗi khi nhớ về những kỷ niệm bên gốc đa làng. Cây đa đi vào ca dao, trong chuyện cổ tích, trong mỗi khúc dân ca. Quên sao được câu chuyện của bà dưới gốc đa có Thạch Sanh, chú Cuội. Nhớ vô cùng điệu “Lý cây đa” người thương ta đã hát. “Cây đa, bến nước, sân đình” phải chăng đã trở thành những thiết chế văn hoá không thể thiếu được của làng ta xưa? Thật vậy, với đặc tính sinh vật của mình, cây đa đã gắn bó sâu sắc với làng. Đa rất dễ trồng và sống lâu tới ngàn tuổi. Trong bão táp phong ba, trải qua bao thế hệ, cây đa vẫn sừng sững toả bóng mát giữa trời, ôm cả một góc quê hương. Cành đa vươn đến đâu buông rễ chùm, rễ nổi đến đó. Từ rễ hoá thành thân, để cây đa có thêm nhiều cội. Có cây có tới “chín cội” lừng lững uy nghiêm cả một góc làng. Những cội đa đó như những cánh tay khổng lồ cơ bắp cuồn cuộn nâng cả tán cây lên giữa trời xanh. Ngoài những cội chính ra đó, đa còn có bao nhiêu là rễ chùm rễ phụ buông lơ lửng lưng trời như tóc ai đang xoà bay trong gió. Trẻ chăn trâu tha hồ ẩn náu trong từng cội đó chơi trò đuổi bắt. Lá đa xanh ngắt bốn mùa gọi chim về làm tổ. Trong vòm lá chim ríu rít gọi bầy. Dưới gốc đa trẻ nô đùa hò hét. Và kia, con trâu nhà ai đang mơ màng lim dim nằm nhai cỏ để cho lũ chim sáo nhảy nhót cả lên đầu. Cây đa đi vào lịch sử mỗi làng. Thời chống Pháp, ngọn đa là nơi treo cờ khởi nghĩa, gốc đa là nơi cất giấu thư từ, tài liệu bí mật. Thời chống Mỹ, ngọn đa lại là chòi gác máy bay, nơi treo kẻng báo động. Còn mãi trong ta hình ảnh cây đa Tân Trào thủ đô kháng chiến khi xưa. Đa là nỗi kinh hoàng cho lũ giặc, là bình yên cho xóm cho làng. Phải chăng “thần cây đa” cũng là từ ý nghĩa đó. Đa là một trong những biểu tượng của làng. Bác Hồ, người “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới”, Người đã phát động Tết trồng cây và việc trồng cây mỗi mùa xuân đến theo lời Bác dạy là một nét đẹp văn hoá của người Việt Nam chúng ta. Cả cuộc đời Người, Bác đã trồng biết bao cây xanh tạo bóng mát cho đời, trong đó có nhiều cây đa. Tết Kỷ Dậu (1969) Tết cuối cùng của Bác Hồ, Bác đã trồng cây đa cuối cùng tại xã Vật Lại (Ba Vì). Những cây đa Bác trồng đã vươn cành xanh lá toả bóng rợp mát quê hương. Theo chân Bác, cùng với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, chúng ta hãy trồng thêm nhiều cây đa nữa ở những nơi trung tâm làng xã để cho “cây đa, bến nước, sân đình” mãi là những tín hiệu bình yên, biểu tượng của một làng quê văn hoá Việt Nam. Thuyết minh về cây đa – bài mẫu 3 Cây đa đã chứng kiến bao trò trẻ con của chúng tôi. Tôi yêu cây đa lúc nào không hay. Những lần bị bà mắng, tôi vẫn trèo lên cây đa mà thủ thỉ. Những tán lá đa lại ôm lấy tôi dỗ dành như người mẹ, và tôi ngủ khì mất, báo hại bà tôi phải chạy khắp xóm mà tìm. Bài mẫu tham khảo Cây đa cổ thụ đó ở trước đình làng tôi. Tán lá đa xanh um tỏa rợp, làm bóng mát cho một khoảng sân đình. Chính trên tầng lá đó, tôi, con Hà, thằng Tí vẫn thường chễm chệ như ông vua con để ăn quả đa. Quả đa chính là sự tinh túy, thuần chất của cây đa, nó chan chát mà bùi bùi khiến tôi tỉnh cả người. Những chiếc rễ phụ của nó dài thòng xuống, trông giống như chòm râu của một cụ già dẹp lão. Thân cây sù sì, đặc biệt cây đa làng tôi còn có một cái hốc bé xíu, mà chỉ bọn lít nhít như tôi mới chui vào được. Trước ngày bước vào lớp một, tôi đã phân công thằng Tô mang một cái đĩa, con Mơ mang hai quả cà chua, còn tôi màng ba que hương để trước giờ khai giảng sẽ “cúng cho thần hên”. Đúng hẹn, lũ lao nhao chúng tôi xúng xính áo mới trước hốc cây đa. Tôi là thủ lĩnh nên được kính cẩn đặt cái đĩa với hai quả cà chua vào hốc cây. Chao ôi! Mới buồn cười làm sao! Đến lúc dâng hương cả bọn mới nhớ là quên mang… diêm. Tôi tức quá bèn nằm lăn ra khóc ăn vạ. Bà tôi nghe thằng Tí báo tin vội chạy ra bế tôi và cười bảo: “Thôi! Cho bà xin cô công chúa ạ! Đi học thôi không muộn rồi đấy!”. Được bà nựng vài câu, tôi vội đi học ngay. Cây đa đã chứng kiến bao trò trẻ con của chúng tôi. Tôi yêu cây đa lúc nào không hay. Những lần bị bà mắng, tôi vẫn trèo lên cây đa mà thủ thỉ. Những tán lá đa lại ôm lấy tôi dỗ dành như người mẹ, và tôi ngủ khì mất, báo hại bà tôi phải chạy khắp xóm mà tìm. Lên mười tuổi, tôi và gia đình lên thành phố sống, ngày chia tay, tôi không rứt ra được cây đa. Tôi nhớ là mình đã khóc. Bố dọa lấy roi mây đánh tôi cũng không nín. Tôi chợt lo sợ, cây đa sẽ lại bị chặt mất như là ngày xưa vậy. Liệu lúc đó, cây đa có còn trụ vững nữa không hay là.. Không! Tôi mong cây đa sống mãi, đến đời con tôi, cháu tôi và chắt chút chít của tôi nữa. Cho đến bây giờ, dù chưa gặp lại cây đa một lần nào nhưng tôi vẫn yêu nó, và yêu cây đa mãi thôi.
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh về cây đa
2,143
Bài văn mẫu tả cảnh đường phố vào lúc sáng sớm lớp 5 Hướng dẫn Bài văn mẫu tả cảnh đường phố vào lúc sáng sớm lớp 5 Tả cảnh đường phố vào lúc sáng sớm – bài mẫu 1 Thật tuyệt vời biết bao khi mỗi sớm mai thức dậy được ngắm nhìn khung cảnh tấp nập của đường phố. Khung cảnh buổi sáng trên đường phố là khung cảnh mà em mong đợi, yêu thích nhất ở nơi thành thị xa hoa ồn ào này. Ánh sáng le lói chiếu qua khe cửa sổ, nhảy nhót trên bàn học rồi chiếu rọi vào khuôn mặt mơ màng của em. Em bừng tỉnh giấc, nhanh chóng chạy ra ban công nhỏ của mình, hào hứng tỉnh ngủ ngắm nhìn khung cảnh đường phố buổi sáng. Thật tuyệt biết bao! Trời đã dần sáng tan bóng tối của màn đêm nhưng phố xá dường như chưa bừng tỉnh hẳn, vẫn còn thoáng lặng yên. Không khí buổi sáng mát mẻ, dễ chịu. Đường phố vẫn còn thưa thớt, chỉ loáng thoáng một chiếc xe máy ù chạy qua. Cả dãy phố vẫn còn đắm chìm trong giấc ngủ say, chỉ có một vài ngôi nhà dậy sớm, ánh điện chiếu hắt lên đường phố. Ánh đèn cao áp bên vệ đường vẫn còn tỏa sáng. Hàng cây bên dường còn ướt đẫm sương đêm. Trên con phố vắng thoáng vang vọng những tiếng rao đặc trưng thuộc về Hà Nội “Ai xôi lạc bánh khúc đi. Ai bánh giò nóng nào…” Những quán ăn đã thức dậy từ bao giờ, mùi thơm của nước phở, nước bún thoang thoảng khắp nơi. Mùa hè, trời nhanh sáng. Chẳng mấy chốc ánh nắng ban mai đã bao phủ mọi ngõ ngách trên đường phố. Nắng vuốt ve lên hàng cây xanh, phản chiếu lên vài giọt sương còn đọng lại trên lá, long lanh như những viên ngọc quý. Cây cối lúc này mới bừng tỉnh giấc, lá cây đan vào nhau như muốn nói lời chào buổi sáng. Xe cộ bắt đầu đi lại đông đúc hơn, ánh đèn điện dần tắt nhường chỗ lại cho ánh sáng tự nhiên của vũ trụ. Cửa hàng cửa hiệu lần lượt mở cửa, dường như tất cả mọi người đều thức dậy. Chim chóc nhảy nhót hót líu lo trên những cành cây khiến lòng người vui tươi hơn. Em vui vẻ ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc mà mỗi sớm thức dậy đều được chiêm ngưỡng. Đường phố nơi em ở không mang vẻ hoàn toàn yên bình thanh tĩnh như những vùng nông thôn mà xen lẫn giữa sự ồn ào náo nhiệt và yên tĩnh. Khung cảnh đó đã trở thành một phần trong tuổi thơ tươi đẹp của em, là lí do em thêm yêu thành phố này. Mai sau, dù đi đến muôn phương trời, cảnh buổi sáng trên đường phố nơi đây vẫn sẽ mãi in đậm trong tâm trí em. Tả cảnh đường phố vào lúc sáng sớm – bài mẫu 2 Bình minh bắt đầu hé rạng, ánh nắng ban mai len lỏi vào từng con đường, góc phố. Tiếng gà gáy vang, tiếng ríu rít của đàn chim non ca hót, tiếng ồn ào của xe cộ, tiếng cười nói trò chuyện rôm rả của những cô bác đi chợ sớm, tiếng cha mẹ gọi con dậy đi học,… Những âm thanh quen thuộc hàng ngày ấy chính là báo hiệu cho một ngày mới bắt đầu. Trời mới tờ mờ sáng, phố xá như bừng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài. Ánh đèn điện chập chờn lóe ra từ vài ba ngôi nhà trong căn ngõ nhỏ. Ông mặt trời bắt đầu thức dậy, những tia nắng dịu dàng len lỏi chiếu xuống khắp nơi trên đường phố đánh thức vạn vật đang ngủ say. Những giọt sương còn đọng trên phiến lá phản chiếu ánh mặt trời long lanh như những viên kim cương. Hai hàng cây cổ thụ ven đường khẽ lay động như để chào mừng một ngày mới. Trên vòm cây, từng đàn chim nhỏ hót líu lo bài ca buổi sáng. Một khung cảnh thật êm đềm và dễ chịu. Lúc này, các ngôi nhà đã tắt đèn, vội vã chuẩn bị cho một ngày mới với bộn bề công việc. Ánh nắng vàng dịu nhẹ, êm đềm trải dài bao phủ khắp nơi. Những hàng quán ăn sáng bắt đầu nhộn nhịp đón khách. Đường phố sáng bừng, báo hiệu cho một ngày mới bận rộn đã bắt đầu. Khắp mọi nẻo đường, xe cộ từ các căn nhà, con ngõ đổ ra đường tấp nập, ai ai cũng vội vã, hối hả. Tiếng còi xe inh ỏi, tiếng máy nổ ầm ầm khiến không gian ồn ào hơn bao giờ hết. Từng tốp học sinh lũ lượt rảo bước đến trường, trò chuyện cười nói rôm rả cả một góc phố. Màu trắng tinh khôi của đồng phục học sinh hòa lẫn màu khăn quàng đỏ thắm khiến cho đường phố buổi sáng càng thêm rực rỡ sắc màu. Em rất yêu khung cảnh mỗi buổi sáng trên đường phố. Nó là một trong những thời khắc nhộn nhịp, sôi động nhất trong ngày, giúp cho em có thể bắt đầu một ngày mới tràn đầy hứng khởi và năng lượng. Sớm sớm, em có thói quen lên tầng thượng cùng bố tập thể dục thế nên em mới có dịp ngắm nhìn đường phố trước nhà em mỗi buổi sáng sớm. Sáng sóm, ông mặt trời vẫn còn ngái ngủ, cuốn mình trong chiếc chăn bông. Bầu trời chỉ mới lờ mờ sáng. Đèn đường vẫn còn chưa tắt con đường vắng bóng, lác đác vài bòng người. Trời mới lờ mờ sáng, những cô bác lao công đã bắt đầu công việc bảo vệ xanh sạch cho con đường. Tiếng chổi quét quèn quẹt. Dần dần, ông mặt trời thức giấc thực hiện nhiệm vụ hằng ngày của mình khéo cô xe lửa ban phát những tia nắng ấm áp xuống trần gian. Sáng sớm, cây cối xanh mát, đọng trên cành lá là những giọt sương long lanh tựa như viên pha lê quý hiếm. Những bông hoa ven đường tỏa hương khoe săc đón chào ngày mới. Những chú chim cất cao tiếng hót líu lo nhảy nhót trên cành cây. Khác hẳn với những con đường thôn quê, đường phố xe cộ đi lại tất nập. Những chiếc xe tải chở hàng, những chiếc xích lô chở đồ, xe đạp, xe máy của người đi làm hòa cùng tiếng báo rao dọc trên đường phố, những cửa hàng bán đồ ăn sáng bắt đầu rục rịch chuẩn bị cho kịp giờ bán sáng, tiếng còi xe, tiếng nổ máy xe vang vọng khắp con phố tạo nên không khí vui tươi nhộn nhịp đông đúc khó tả cho con đường. Trên lề phố, người dân đi lại tập thể dục khí thở không khí trong lành. Quán xá cũng đang dần tấp nập hơn. Tiệm sửa xe, hớt tóc, tạp hóa, quán ăn rủ nhau mở cửa. Ngày mới bắt đầu Ôi một buổi sáng tràn đầy năng lượng được bắt đầu như thế đó, em yêu quá buổi sáng quê em, yêu con phố ngập tràn âm thanh của con người. Cùng hòa nhịp để bắt đầu một ngày mới tốt đẹp hơn.
Bài văn mẫu tả cảnh đường phố vào lúc sáng sớm lớp 5
1,238
Đề bài: Bài Văn Nêu Biểu Cảm, Cảm Nghĩ Của Em Về Người Cha Thân Yêu Bài làm Cha! Trong đêm tối, tôi chỉ còn biết gọi cha trong tiếng gọi vô vọng. Màn đêm lặng thinh. Chỉ còn lại một mình tôi. Cha! Một người cha vĩ đại nhất trên đời. Cha tôi – một người đàn ông cao to, khỏe mạnh với nước da hồng hào. Ánh mắt cha hiền từ lắm, mỗi lần cha cười lại ánh lên trong tôi bao niềm tin và hạnh phúc. Mỗi lần được cha ôm ấp trong vòng tay, tôi thấy lòng mình rất bình yên. Chắc các bạn đang đặt nhiều câu hỏi về cha tôi lắm phải không? Cha tôi ra đi rồi, ra đi vĩnh viễn, không còn trên đời này nữa. Ngày tôi bình phục trên giường bệnh, cũng là ngày tôi nhận được lá thư biệt ly của cha. Tôi bị tim bẩm sinh, mẹ mất sớm, cha một mình tần tảo nuôi nấng chị em tôi. Cha đã hiến tim, hiến cả mạng sống mình để dành tặng cho tôi một cuộc sống mới, một trái tim mới khỏe mạnh, tràn đầy sức sống. Cha tôi hiền từ lắm. Mỗi sáng thức giấc cha vẫn thường nấu nướng cho hai chị em ăn rồi cha đưa đi học. Cha làm phụ xây. Công việc vất vả nhưng chưa bao giờ tôi thấy cha ca thán nửa lời. Cha ngậm ngùi một nắng hai sương. Bàn tay cha mỗi lần vuốt má tôi thể hiện rõ sự trai sạn, thô giáp vì công việc gian lao nặng nhọc. Những đêm khuya lạnh, cha ôm ấp hai chị em ngủ. Thỉnh thoảng cha lại kể chuyện vui cho chúng tôi nghe. Có những lúc tiếng cười râm ran vang lên trong căn nhà nhỏ rất ấm cúng. Cha! Một người cha vĩ đại. Cha đã hai lần cho tôi cuộc sống này. Cả cuộc đời này, tôi không bao giờ có thể báo đáp được công cha. Tôi chỉ biết sống sao cho xứng đáng với những gì cha dành cho tôi. Tôi sẽ làm cho trái tim cha luôn được yên bình và hãnh diện.
Bài Văn Nêu Biểu Cảm, Cảm Nghĩ Của Em Về Người Cha Thân Yêu
364
Bài văn phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em Hướng dẫn Bài văn phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em Có ai từng nói “tâm hồn của ta sẽ được thanh thản và trong mát hơn khi ta thả hồn vào thiên nhiên”. Đúng vậy, thật hạnh phúc và sung sướng biết bao khi được hòa mình với thiên nhiên và được ngắm nhìn vườn cây do chính tay mình chăm sóc! Khoảnh khắc thanh thản nhất trong cuộc đời chính là giây phút hòa hợp với thiên nhiên và có lẽ món quà tuyệt vời của Trời đất ban tặng đó chính là một người bạn tri ân tri kỷ của con người. Con người không thể thiếu thiên nhiên cũng giống như thiên nhiên không thể sống nếu thiếu con người. Và chỉ khi hai điều đó hợp lại thành một thì cuộc sống mới có ý nghĩa. Thú vui của ông tôi là được chăm sóc cây cối trong vườn mỗi lúc rảnh rỗi. Chính vì thế sáng nào tôi cũng cùng ông ra vườn chăm sóc cây và hít thở không khí trong lành buổi sớm. Khu vườn nhà tôi không rông lắm nhưng chỉ cần nhìn vào vẻ giản dị, tràn nhập màu sắc của nó cũng thấy được nét riêng biệt, đặc sắc của nhà tôi. Nhìn từ xa, trông như một mô hình công viên thu nhỏ. Thích nhất là lúc sáng sớm, tôi được hít thở không khí trong lành. Hãy lắng đọng hồn mình để cảm nhận hương vị thanh khiết, mát mẻ của buổi sớm. Sương long lanh đọng lại trên lá như những hạt ngọc quý. Nụ hoa e ấp, khẽ đung đưa đài hoa theo gió, môi chúm chím, khẽ trở mình. Từng loài hoa như những thiên thần đang ngủ. Chắc là cái cảm giác tuyệt vời này sẽ đọng mãi trong tâm hồn tôi. Rồi hừng đông ửng hồng, mặt trời như quả bóng to tròn dần dần lên cao tỏa những ánh hào quang hát chéo lên cành lá. Sương dần tan nhưng một số còn ở lại vương vấn, lưu luyến cái khoảnh khắc ấy. Cây côi bừng tỉnh, thỏa mình tắm nắng. Từng động tác uyển chuyển, khéo léo như tạo ra sức sống của cây bắt đầu một ngày mới. Chim hót líu lo thành một bản nhạc quen thuộc. Từng loài hoa thỏa sức khoe mình trong nắng sớm. Hoa hồng – một loài hoa kiêu sa, mạnh mẽ vươn lên như chứng tỏ mình là nữ hoàng sắc đẹp. Trái ngược với sự mạnh mẽ đó là hình ảnh dịu dàng của một thiếu nữ – hoa cúc. Không biết hoa cúc có điều gì đặc biệt mà khiến tôi xao xuyến, ngập ngừng. Phải chăng hoa cúc gợi nhớ tới mùa thu – mùa của cảm xúc và cái gì đó man mác buồn cũng có lẽ gợi lên sự nhẹ nhàng, tình cảm của câu chuyện cổ tích hồi xưa bà kể cho tôi nghe – “Vì sao hoa cúc nhiều cánh”. Ôi! Thật là đằm thắm mà cũng thật là ý nghĩa! Gió xào xạc thổi, bướm, ong chăm chỉ kiếm mật. Một khung cảnh gợi lên trong ta sự tươi vui và đẹp đẽ. Có ai mà chẳng ngợi ca thiên nhiên, có ai mà chẳng thích ngắm nhìn thiên nhiên. Và tôi cũng không phải là một ngoại lệ. Tình yêu thiên nhiên trong tôi bắt đầu từ thú vui chăm sóc cây cối, yêu hoa lá, yêu cỏ cây. Một tình yêu thật đẹp, thật đáng trân trọng. Từng giai đoạn, từng hơi thở của vườn cây như một bản nhạc ru vỗ tâm hồn tôi, một sự vỗ vẻ thật ân cần, thật nhẹ nhàng.
Bài văn phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em
628
Bài văn phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi hay Hướng dẫn Côn Sơn ca Nguyễn Trãi Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong rừng thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi. Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tùy phận thôi. Đổng, Nguyên để tiếng trên đời, Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan. Lại kia trên núi Thú San, Di, Tê nhịn đói chẳng màng thóc Chu. Hai đàng khó sánh hiền ngu, Đều làm cho thỏa được như ý mình. Trăm năm trong cuộc nhân sinh, Người như cây cỏ thân hình nát tan. Hết ưu lạc đến bi hoan, Tốt tươi khô khéo tuần hoàn đổi thay. Núi gò đài các đó đây, Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh. Sào, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. (Bản dịch trong sách ‘Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi’). Phân tích … Dịch giả đã chuyển thành thơ lục bát, 26 câu; theo chỗ chúng tôi biết, trong các bản dịch ‘Côn Sơn ca’ thì bản dịch này là thanh thoát hơn, thể hiện được hồn thơ Nguyễn Trãi giai đoạn đã về Côn Sơn ở ẩn. Côn Sơn là dãy núi ở xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi đã nhiều năm ở ẩn tại động Thanh Hư thuộc Côn Sơn. Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi từng sống với mẹ và ông ngoại tại đấy. Nguyễn Trãi đã xem Côn Sơn là ‘quê cũ’ của mình. Trong ‘ức Trai thi tập’ và* ‘Quốc âm thi tập’, ông có nhiều bài thơ nói về Côn Sơn với bao tình thương mến, thắm thiết. Bao nhiêu lần nhờ hồn mộng mà tìm làng cũ: ‘Kỷ thác mộng hồn tầm cô’lí’ (Về Côn Sơn làm trong thuyền), Làng quẽ mới qua, như thấy chiêm bao đến: ‘Hương lí tài qua như mộng đáo’ (Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác). ‘Quê cũ nhà ta thiếu của nào? Rau trong nội, cá trong ao. (…) Cảnh thanh dường ấy về chăng nghỉ, Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?’ (‘Mạn thuật’ -13) ‘Côn Sơn ca’là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời. 1.Phần đầu nói về vẻ đẹp lâm tuyền của Côn Sơnbằng bốn cảnh: Suối, đá, thông và trúc. Trong nguyên tác chữ Hán, tác giả viết bằng thơ bốn chữ và thơ năm chữ, nhằm miêu tả vẻ đẹp Côn Sơn tầng tầng lớp lớp xuất hiện: ‘Côn Sơn hữu tuyền, Kì thanh linh linh nhiên Ngô dĩ vi cẩm huyền Côn Sơn hữu thạch Vũ tẩy đài phô bích Ngô dĩ vi đạm tịch.’ Cảnh đẹp thứ nhất là suối Côn Sơn, tiếng nước chảy róc rách như tiếng đàn cầm. Cảnh đẹp thứ hai là đá, mưa sạch rêu biếc như chiếu êm. Cảnh đẹp thứ ba là rừng thông, tán lá như những chiếc lọng rủ bóng. Cảnh đẹp thứ tư là trúc bao la hàng nghìn mẫu, bát ngát một màu xanh mát rượi. Cảnh không chỉ đẹp mà còn đáng yêu, gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Suối, đá, trúc, thông là nơi nương tựa, nâng ‘Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cẩm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm’ Thông và trúc nơi suối rừng Côn Sơn đối với Nguyễn Trãi như bạn bầu tri kỉ, cảm thông chở che tâm hồn nhà thơ đang lánh bụi trần, để được sống thảnh thơi với rừng xưa, suối cũ yêu thương đã hẹn ước: ‘Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng truc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’ Gắn bó, chan hòa với suối, đá, thông, trúc Côn Sơn, chính là biểu lộ tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với quê cũ yêu thương. Mấy chục năm trời loạn lạc, li hương, không đêm nào ông không nằm mộng nhớ quê, nhớ luống cúc vườn cũ: ‘Tưởng nhớ vườn nhà ba rặng cúc, Hồn về đêm vẫn gửi chiêm bao’ (‘Ngày thu ngẫu nhiên làm’ – Thơ dịch) Quê cũ với tùng, với đá, với mai… biết bao thương nhớ bồi hồi: ‘Thạch bạn tùng phong cô thắng tưởng Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm’ (Tùng reo bậc đá ai nghe đấy? Mai chiếu bên khe thú vịnh đâu?) 2.Giọng thơ trầm hẳn xuống.Nguyễn Trãi đang vui thú say sưa lắng nghe tiếng suối róc rách, đang say mê ngắm nhìn rêu đá, thông rủ bóng, trúc xanh mát, rồi trầm ngâm tự nói với mình, tự nhắc nhở mình: ‘Về di sao chẳng sớm toan, Nửa đời sớm bụi trần hoàn làm chi?’ Câu thơ chữ Hán nghĩa là: Hỡi người sao không về đi, nửa đời người giam buộc mình mãi trong cát bụi làm chi? Bốn chữ ‘Bất quy khứ lai’ lấy cảm hứng từ bài ‘Quy khứ lai từ’ của Đào Tiềm, một danh sĩ cao khiết đời Tấn bên Trung Quốc đã coi thường danh lợi, không chịu khom lưng uốn gối vì mấy đấu gạo lương bổng, đã treo ấn từ quan, trở về vườn cũ, cày ruộng, ươm cúc, thảnh thơi với tháng ngày. Nguyễn Trãi làm quan, tài năng không được thi thố, bị bọn quyền thần, nịnh thần chèn ép. Có lúc ông tự than: ‘Dưới công danh đeo khổ nhục’ (‘Ngôn chí’ – 2), hoặc: ‘Được thua phú quý dầu thiên mệnh – Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn’ (‘Mạn thuật’ – 5). Người anh hùng thuở ‘bình Ngô’ đã từng ‘viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời’ thế mà giờ đây tự trách mình ‘Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?’, điếu đó cho thấy Nguyễn Trãi đang sống những ngày tháng đầy bi kịch? Đó là tâm trạng thời thế. Năm 1429, Lê Thái Tổ đã sát hại Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, hai đại công thần; còn Nguyễn Trãi cũng đã bị hạ ngục. Sau đó tuy được tha nhưng chỉ là một cô thần ‘thanh chức’. Nguyễn Trãi đã nhiều năm sống trong tâm trạng muốn trở về Côn Sơn làm bạn với cỏ hoa chốn lâm tuyền: ‘Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế, Nguyễn Trãi có lúc tự dặn mình: ‘Vườn quỳnh dù có chim hót – Cõi trần có trúc đứng ngăn’, nhưng trước ấp lực của bọn nịnh thần, ông phải lui về Côn Sơn. Mấy năn sau Lê Thái Tôn lại xuống chiếu vời Nguyễn Trãi ra làm quan. Trong biểu tạ ân, ông hả hê nói: ‘Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng’, ông tự cho mình là con ngựa già ‘còn kham rong ruổi’, là cây thông qua năn rét mà ‘còn dạn tuyết sương’. Chẳng bao lâu sau đó, Nguyễn Trãi đã về hẳn Côn Sơn… Cuộc đời Nguyễn Trãi đã phản ánh tâm trạng đầy bi kịch giằng xé, đúng như ông đã viết trong ‘Côn Sơn ca’: ‘Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?’ ‘Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá…’(Phạm Văn Đồng), và đó là nguồn gốc sâu xa bi kịch vô cùng đau thương của người anh hùng thuở ‘bình Ngô’. ‘Côn Sơn ca’ còn hàm chứa triết lí về cuộc đời của ức Trai.Trước hết ông nói về giàu sang phú quý, bần tiền, vinh và nhục ở đời. Đổng Trác đời Đông Hán, Nguyễn Tải đời Đường chức quyền cao, phú quý đến cực độ, cuối cùng chết trong ô nhục, để lại tiếng dơ muôn đời: ‘Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi. Đổng, Nguyên để tiếng trên đời, Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan’ Tác giả nhắc lại cách ứng xử và cái chết của Bá Di, Thúc Tề đời An, Chu, từ dó suy ngẫm về ‘hiền, ngu’ 0đời, chung qui chỉ là ‘đều làm cho thỏa được như ý mình’. Kiếp người khác nào ‘cây cỏ’, đời người một trăm năm, mừng, buồn, lo, vui, cái nọ đi, cái kia đến, tốt tươi rồi khô héo, tuần hoàn nối tiếp nhau trong vòng một trăm năm hữu hạn. Sự chiêm nghiệm của nhà thơ thấm một nỗi buồn mênh mông, khi tóc đã bạc, chỉ còn biết làm bạn với mây núi, trăng ngàn: ‘Láng giềng một áng mây bạc, Khách khứa hai ngàn núi xanh’ Ý nghĩa cuộc đời là gì? Nguyễn Trãi đã từng tâm niệm: ‘Bui có một lòng trung lần hiếu – Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen’ (‘Thuật hứng’ – 24); đã từng đinh ninh: ‘Nợ cũ chước nào báo bổ? – ơn thầy ơn chúa liễn ơn cha’ (‘Tự thán’ – 24), thế mà lúc này ông chán nản phủ định: ‘Trăm năm trong cuộc nhản sinh, Người như cây cỏ thân hình nát tan. Hết ưu lạc đến bi hoan, Tốt tươi khô khéo tuần hoàn đổi thay’ Nói rằng triết lí về nhân sinh của Nguyễn Trãi mang màu sắc bi quan chưa hẳn đã sai? Đời người ‘Trăm năm còn có gì đâu? – Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì’ (‘Cung oán ngâm khúc’). Với Nguyễn Trãi lúc này thì chết là hết. Sự phủ định đầy ngao ngán: Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh’ Nguyễn Trãi viết ‘Côn Sơn ca’ trước bao lâu vụ án Lệ Chi Viên xảy ra? Tâm trạng thời thế, triết lí vế cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một nỗi buồn thấm sâu, tỏa rộng trong tàm hồn nhà thơ. Từ những chiêm nghiệm lịch sử phong kiến Việt Nam, nhất là ba triều đại Trần, Hồ, Lê, về cuộc đời ông ngoại (tướng công Trần Nguyên Đán), về cha mình (Nguyễn Phi Khanh), về những thăng trầm, vinh nhục, ngọt bùi cay đắng của đời mình, nên ức Trai mới có suy nghĩ ấy. về một phương diện khác, triết lí về cuộc đời của Nguyễn Trãi thể hiện sự cảm thông cho số kiếp của con người. Cái nhìn ấy, sự suy ngẫm ấy mang tính nhân bản sâu sắc. Bi kịch của Nguyễn Trãi là bi kịch của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến, cũng là bi kịch lịch sử ‘Anh hùng di hận kỉ thiên niên’ (‘Quan hải’). 3.Hai câu kết như một lời thiết tha nhắn gọi: ‘Sào, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn’ Sào Phủ và Hứa Do hai cao sĩ đời vua Nghiêu trong lịch sử truyền kì Trung Quốc không màng công danh, chỉ thích sống cuộc đời ẩn sĩ, coi trọng thanh cao, chan hòa với núi cao rừng thẳm. Nguyễn Trãi một mặt cảm thông, kính trọng tấm gương sáng của hai Người Hiền xa xưa, mặt khác tự hào biểu lộ niềm tự hào về tâm thế của mình: trở vẻ Côn Sơn là để thoát vòng danh lợi, được chan hòa với suối rừng thiên nhiên, sống cuộc đời nhàn hạ, thanh cao. Đó là âm điệu trữ tình, là nội dung tư tưởng tình cảm của ‘Khúc hát bên ghềnh Côn Sơn’ vậy. Nếu văn (Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo…) là khúc ca thắng trận của người anh hùng thì thơ (Quốc âm thi tập, ức Trai thi tập) là tấm lòng, là tâm thế của ức Trai. ‘Côn Sơn cạ’là bài hát về suối, đá, thông, trúc, là tình yêu quê hương, là những suy ngẫm buồn lo về cuộc đời, về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô hạn của thời gian. Cảnh sắc thiên nhiên Côn Sơn đã trở thành tâm hồn ức Trai. Triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca thật ra không có gì mới. ‘Thân cát bụi lại trở về cát bụi’ (Kinh Thánh), ‘Sinh tồn hoa ốc xứ – Linh lạc quy sơn khưu’ (Sống ở nhà lộng lẫy, chết lại về núi gò – Tào Thực, đời Hán), ‘xử thế nhược đại mộng – Hồ vi lao kì sinh?’ (Sống ở đời như giấc mộng lớn – Tội chi vất vả đời mình – Lý Bạch), v.v… Có điều, qua ‘Côn Sơn ca’, ta thấy hồn thơ của Ức Trai rất đẹp, Nguyễn Trãi tự hào cuộc đời mình thanh cao, thương cuộc đời mình đầy bi kịch, thương đời người cát bụi. Chất triết lí ‘Côn Sơn ca’ giàu tính nhân văn để lại dấu ấn đậm đà trong lòng ta.
Bài văn phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi hay
2,113
Đề bài: Bài văn thuyết minh về trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam "Chiếc áo dài" Bài làm Nếu như người Nhật tự hào với trang phục kimono, người Hàn Quốc tự hào về hanbok truyền thống thì người Việt Nam cũng có chiếc áo dài. Chiếc áo dài trở thành biểu tượng cho trang phục của người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Áo dài đã có lịch sử tồn tại lâu đời. Qua nhiều thay đổi, chiếc áo truyền thống đã trở thành chiếc ái dài tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao vì không có tài liệu ghi nhận. Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lữ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ. Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, có thắt lưng. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng, cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bôn vạt nữa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái). Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy ngắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ. Một vài tài liệu cho rằng việc ra đời của chiếc ái dài quốc phục là do những tham vọng riêng tư của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Do muốn xưng vương và tách rời Đàng Trong thành quốc gia riêng, nên ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi, không phải với người khách trú mà với Bắc triều. Chiếc áo dài đầu tiên giống như áo dài người Chàm và có xẻ nách. Vào năm 1930, một họa sĩ đã thực hiện một cải cách quan trọng trên chiếc áo tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau. Vạt trước được họa sĩ nối dài châm đất để tăng thêm dáng vẽ uyển chuyển trong bước đi, đồng thời trên được may ôm sát theo những đường cong cơ thể người mặc tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo. Để tăng thêm vẻ nữ tính, hàng nút phía trước được dịch chuyển sang chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo một bên sườn. Tuy nhiên, áo dài mới có nhiều cải biến mà nhiều người thời đó cho là “lai căng” thái quá, như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thêm nữa, áo dài mới mặc cho đúng mốt phải với quần xa tanh trắng, đi giày cao, một tay cắp ô và quàng vai thêm chiếc bóp đầm. Năm 1934, một họa sĩ khác là Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo dài mới, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ hân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đây áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, và từ bấy đến nay dù trải bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên. Thập niên 1960 có nhà may Dung ở Dakao, Sài Gòn đưa ra kiểu may áo dài với cách ráp tay raglan. Cách ráp này đã giải quyết được vấn đề khó khăn nhất khi may áo dài: những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên nách. Cách ráp này cải biến ở chỗ hàng nút cài được bố trí chạy từ dưới cổ xéo xuống nách, rồi kế đó chạy dọc một bên hông. Với cách ráp tay raglan làn vải được bo sít sao theo thân hình người mặt từ dưới nách đến lườn eo, khiến chiếc áo dài ôm khít từng đường cong của thân hình người phụ nữ, tạo thêm tính thấm mỹ. Phiên bản này được áp dụng rộng rãi cho nữ sinh. Theo phiên bản này, áo dài tay raglan có tà chỉ dài tới gối, nhưng hai ống quần rộng lòa xòa phủ kín đôi chân, đồng thời khi bước đi thấy thấp thoáng ẩn hiện mũi giầy dưới sóng lụa. Hai đặc điểm này làm cho tà áo nữ sinh đậm chất hồn nhiên, dễ thương, và đã làm xao xuyến lòng bao chàng trai. Khác với Kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp lễ tết mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, “phụ tùng lệ bộ” cũng đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn vành truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích. Đây chính là điểm đặc sắc của thứ trang phục truyền thống có một không hai này. Chiếc áo dài hình như có cách riêng đế tôn đẹp mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ chít trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn bật nữ tính, vừa kín kẽ vì toài) thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa hở hang. Nó cho thấy thấp thoáng sông eo giữa hai tà vạt rất gợi cảm và quyến rũ. Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ sản xuất riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy sổ đo thật kĩ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để việc chỉnh nửa mới hoàn thiện. Theo nhà biên khảo Trần Thị Lai Hồng thì áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là quốc phục của phái nam. Các bà các cô dùng màu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, tráng hoặc lam thẫm. Vậy nếu nói đến quốc phục truyền thông thì chính chiếc áo dài nữ phục mới đậm nét hơn, được quy định bởi những văn bản pháp quy và chuẩn mực ăn mặc rõ ràng hơn. Do đó khi nói đến áo dài Việt Nam, người trong lẫn ngoài nước thường nghĩ đến chiếc áo dài nữ phục. Áo dài sẽ mãi mãi tượng trứng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, đó là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam đối với bạn bè trên thế giới.
Bài văn thuyết minh về trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam “Chiếc áo dài”
1,334
Bài văn tả bác đưa thư – văn hay lớp 5 Hướng dẫn Vóc người bác cao lớn, khuôn mặt xương xương. Hợp với khuôn mặt hiền từ của bác là đôi mắt sâu và sáng. Đôi mắt ấy tỏa ra một nguồn sáng rất đặc biệt khi bác làm những công việc trao thư. Không biết năm nay bác bao nhiêu tuổi đời? Bao nhiêu tuổi nghề? Nhìn mái tóc điểm bạc và nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán tôi đoán bác đã ngoài năm mươi tuổi. Tuy thế, chân bác trông rắn rỏi, đi lại nhanh nhẹn. Đôi bàn tay chai sần, rám nắng. Mỗi lần thấy chúng tôi đi học về, bác dừng lại bên vệ đường để hỏi địa chỉ, chúng tôi thường xúm xít bên bác. Tôi thường nhìn kĩ bộ trang phục màu xám mà bác đang mặc, có lẽ vì dòng chữ “Bưu chính viễn thông” ở phù hiệu gắn trên vai áo của bác đã làm tôi tò mò, chú ý. Bác rất vui tính, hay trò chuyện cùng chúng tôi. Khi tìm đúng địa chỉ, bác lấy trong cái túi vải những phong bì thư, bác xem tỉ mỉ để khỏi nhầm địa chỉ rồi trao cho chủ nhân. Bác thật cởi mở với người nhận thư, có trách nhiệm với công việc của mình. Đưa thư xong, bác chào mọi người rồi tiếp tục với công việc đưa thư. Không biết bác đã đi đến bao nhiêu nhà? Đạp xe đi biết bao nhiêu cây số? Đi hết bao nhiêu giò’ mới hết chồng thư trong túi xách? Tôi chỉ biết một điều: Bác thật tận tụv với nghề, tận tâm với công việc và không hề ngại gian khó trong mọi việc được giao.
Bài văn tả bác đưa thư – văn hay lớp 5
293
Đề bài: Em hãy viết một bài văn tả chiếc bút mực mà em yêu thích. Bài văn tả chiếc bút mực – Bài làm 1: Đối với mỗi học sinh như chúng em thì chiếc bút mực chính là một người bạn thân thiết nhất. Ai cũng sở hữu một chiếc bút mực. Cá nhân em cũng vậy. Em cũng có một chiếc bút mực mà em vô cùng yêu thích. Chiếc bút mực này đã đồng hành cùng với em suốt từ khi em học lớp 1 cho đến bây giờ. Đó là chiếc bút mà mẹ đã mua tặng cho em. Chính vì vậy mà đối với em chiếc bút mực này càng trở nên có ý nghĩa hơn. Chiếc bút có hiều dài khoảng mười hai phân. Thân bút có hình tròn và thuôn dài. Vỏ ngoài của bút được làm bằng nhựa và có màu hồng nhạt. Bên trên vỏ còn có hình những bông hoa trông rất đẹp mắt. Trên nắp bút có phần để gài bút vào sách. Phần gài bút này được làm bằng inox nên lúc nào trông nó cũng lóng lánh. Mỗi khi mở nắp bút ra, có cái gì đó trong em thôi thúc em phải viết lên những dòng chữ thật nắn nót, thật đẹp. Đầu bút được mài một cách khéo léo để em có thể viết ra được những nét thanh, nét đậm. Ở bên dưới thân bút là một ống nhựa dùng để đựng mực. Ban đầu mua về ống nhựa có màu trắng nhưng vì em bơm màu đó màu mực đen nên bây giờ nó đã chuyển thành màu đen rất rồi. Bên ngoài ống nhựa lại được bao bọc bởi một lớp inox giúp cho ống mực trở nên cứng cáp hơn và giúp cho em bơm mực cũng dễ dàng hơn. Em yêu chiếc bút mực của mình không chỉ vì đó là món quà mà mẹ đã tặng em mà còn vì nhờ có bút mực, em viết lên được những dòng chữ thật đẹp. Em sẽ giữ gìn cây bút cẩn thận để nó tiếp tục đồng hành cùng với em trong những năm học tiếp theo. Bài văn tả chiếc bút mực Bài văn tả chiếc bút mực – Bài làm 2: Năm học vừa rồi, em được chọn tham dự kỳ thi học sinh viết chữ đẹp toàn thành phố. Em may mắn đạt giải Nhì và phần thưởng của em chính là một chiếc bút viết chữ đẹp. Đó tuy không phải là phần thưởng đầu tiên em đạt được nhưng đối với em, đó thật sự là phần thưởng giá trị. Chiếc bút mực của em có màu xanh lá cây. Lúc em được tặng, chiếc bút được đựng trong một cái hộp nhỏ xinh, bên ngoài có thắt một cái nơ màu đỏ trông rất đẹp. Chiếc bút có độ dài khoảng 15 phân. Khi em cầm vào, chiếc bút vừa vặn và rất dễ cầm. Nó thuôn dài và nhỏ nhắn giống như ngón tay út của mẹ em vậy. Vì vỏ ngoài được làm bằng kim loại nên khi em cầm vào có cảm giác rất mát tay. Chiếc bút mực của em cũng có 2 phần là phần vỏ và phần ruột giống như những chiếc bút mực khác. Phần gài của nắp bút được sơn một màu vàng óng ánh. Mỗi khi em mở nắp bút, phần ngòi bút sẽ hiện ra. Khác với chiếc bút kim tinh có ngòi nhỏ và nhọn thì chiếc bút viết chữ đẹp này có ngòi to hơn. Chúng được mài một cách khéo léo và cẩn thận để khi viết, em có thể viết ra được những nét thanh, nét đậm. Bên dưới đầu bút là phần thân bút. Hàng ngày em đều phải vặn vỏ phần thân ra để bơm mực vào. Đây chính là bộ phận vô cùng quan trọng bởi nếu không có mực thì em sẽ không thể nào viết được và chiếc bút này cũng không thể trở thành một chiếc bút mực. Em rất yêu chiếc bút mực của mình. Từ ngày có bút mực, em cảm thấy có hứng thú hơn với việc học. Cũng từ chiếc bút mực mà em đã có rất nhiều bài kiểm tra đạt điểm cao. Nhã Đan
Bài văn tả chiếc bút mực mà em yêu thích
716
Đề bài: Em hãy viết bài văn tả chiếc cặp sách mà em yêu mến. Bài văn tả chiếc cặp sách – Bài làm 1: Vì biết em rất thích màu hồng nên năm học vừa rồi mẹ đã mua tặng cho em một chiếc cặp sách mới màu hồng. Em đặc biệt rất yêu mến chiếc cặp sách này. Đó là chiếc cặp sách đẹp nhất mà em biết. Chiếc cặp sách của em có dạng chữ nhật thẳng đứng. Bên trên cặp có một cái quai để em có thể cầm tay hoặc treo nó lên móc mỗi khi đi học về. Mặt sau của cặp có hai cái quai. Những người thợ đã khéo léo may chúng lại với thân cặp một cách vững chắc. Nhờ vậy mà dù đựng sách vở nặng em vẫn có thể đeo cặp mà không sợ bị đứt. Mặt đằng trước của cặp mới thật là đẹp. Mặt trước chia làm 2 ngăn nhỏ. Ngăn phía trên có hình vòng cung chỉ nhỏ bằng cái túi đựng bút của em. Ngăn phía dưới có hình gần vuông. Mặt trên của ngăn có in hình những nàng công chúa nổi tiếng. Trong đó có hai nàng công chúa đã trở nên quen thuộc với em bởi em đã nhắc nhiều đến các nàng qua truyện cổ tích đó chính là công chúa lọ lem và công chúa Bạch Tuyết. Bên dưới hai ngăn ngoài này là một ngăn tuy có to bằng cả hai ngăn cộng lại nhưng vẫn chưa phải là ngăn to nhất. Ngăn trong cùng của cặp sách mới thật sự là ngăn để em cất giữ sách vở khi đến trường. Ngăn cặp rất rộng giúp em có thể thoải mái đựng đồ. Em rất yêu mến chiếc cặp sách của mình và sẽ gìn giữ nó thật cẩn thận. Bài văn tả chiếc cặp sách Bài văn tả chiếc cặp sách – Bài làm 2: Để thưởng cho thành tích học tập tốt của em vào năm học trước, mẹ đã mua tặng em một chiếc cặp sách màu hồng xinh xắn. Em thật sự mừng rỡ khi nhận được món quà ý nghĩa này. Chiếc cặp sách của em thuộc dạng ba lô cặp sách. Nó có màu hồng đặc trưng, một màu sắc mà em vô cùng yêu mến. Chiếc cặp sách được chia làm 2 ngăn kéo khóa rõ rệt. Ngăn đầu tiên cũng chính là bộ mặt của chiếc cặp. Mặt cặp có in hình hai cô nàng búp bê tóc xoăn dài rất dễ thương. Hai nàng mặc một chiếc váy màu đỏ có thêu hình trái tim lên trên. Phía bên trên mặt túi lại có in hình dòng chữ Disney. Đây là tên của hãng phim hoạt hình đã sản xuất ra rất nhiều bộ phim hoạt hình hay cho chúng em xem. Ngăn bên ngoài này không được rộng lắm nên em dùng nó để đựng bài kiểm tra. Ngăn bên trong thì to bằng cả cái cặp sách. Em có thể đựng tất cả các loại sách vở vào trong đó. Rồi đựng được cả hộp bút nữa mà vẫn còn rộng thoải mái. Mẹ nói hè này về thăm bà, em có thể dùng chiếc cặp này để đựng quần áo. Chiếc cặp sách này của em quả là tiện lợi biết bao nhiêu. Mỗi khi khoác cặp sách trên vai em lại cảm thấy vô cùng tự hào vì mình có một chiếc cặp đẹp và tiện lợi. Em sẽ giữ gìn chiếc cặp thật cẩn thận để có thể dùng cặp được lâu nhất. Nhã Đan
Bài văn tả chiếc cặp sách mà em yêu mến
601
Bài văn tả con chó nhà em – Tập làm văn lớp 5 Hướng dẫn Vào một buổi sáng cuối tuần đẹp trời, mẹ đi chợ và mang về cho em một con chó nhỏ mập mạp và rất đáng yêu. Em sung sướng chạy ra ôm nó vào lòng. Nhưng vì chưa quen nên nó kêu ăng ẳng và né tránh em. Phải một tuần sau, chú chó mới quen em và vẫy đuôi mỗi khi em đi học về hay cho nó ăn. Em đặt tên nó là Mực. Đến nay Mực đã cao lớn rồi, nặng gần mười ki-lô-gam. Toàn thân Mực được bao phủ một bộ lông màu đen. Cái đầu nó to như quả cam với hai cái tai lúc nào cũng cụp xuống, và chỉ dựng đứng lên khi nó hóng mọi người nói chuyện. Đôi mắt con Mực to tròn, màu nâu sẫm, luôn tinh tường nhìn ngắm mọi vật xung quanh. Chiếc mũi Mực lúc nào cũng ưon ướt, hít hít như muốn tìm kiếm vật gì. Mõm chú to và dài, mỗi khi chú ngáp lộ rõ mấy cái răng nhọn hoắt. Những hôm trời nắng nóng, cái lưỡi màu hồng của chú hay lè ra ngoài. Em được bố chỉ cho cách dạy Mực từ những ngày đầu mới về nhà, nên chỉ sau một thời gian ngắn, Mực đã quen với nếp sinh hoạt của vật nuôi trong gia đình. Mực đi vệ sinh rất sạch sẽ, không bao giờ tè bậy. Mực là con vật rất thính, khách lạ hay quen vào nhà chú đều phân biệt được hết. Khách lạ thì chú sủa những tràng dài như báo hiệu cho chủ biểt, còn khách quen thì chú vẫy đuôi vui mừng chào đón. Mực chưa bao giờ cắn ai hay làm cho bọn trẻ con sợ hãi. Nó thường sung sướng khi được thưởng cho những cục xương và đánh chén một cách ngon lành. Buổi tối, Mực thường ngủ ngoài hiên nhà để trông coi. Có thể nói, không một tiếng động nhỏ nào mà chú không phát hiện được cả. Chú?cũng không sủa bừa bãi, ầm ầm, chỉ khi nào thật cần thiết, chú mới cất tiếng sủa để báo hiệu cho nhà em. *Em rất yêu quý Mực. Có lẳn, em về quê thăm ông bà một tuân. Vậy mà, vừa đặt chân tới cổng, Mực đã lao ra vẫy đuôi mừng rỡ và dụi dụi vào chân em. Chắc nó cũng nhớ em nhiều. Em luôn chăm sóc và coi Mực như một người bạn thân của mình. BÀI LÀM 2 Không biết từ bao giờ nhưng cứ mỗi khi đi học về, chú chó Jack nhà em lại chạy ra, tíu tít đón cậu chủ. Em rất quý Jack. Gương mặt đáng yêu, tiếng sủa “oai phong” của chú sẽ mãi là một hình ảnh em yêu thương. BÀI LÀM 3 Em rất yêu quý các loài vật nhưng trong đó em thích nhất là con chó. Nhân dịp sinh nhật, mẹ đã tặng cho em một chú chó rất đẹp. Đây là một chú chó Béc-giê của Đức, em đặt tên cho nó là Mít. Khi mới mang về, chú chỉ to bằng chai nước khoáng. Hai con mắt đen láy, cái mũi ươn ướt cùng đôi tai lúc nào cũng vểnh lên để nghe ngóng mọi thứ xung quanh trông rất đáng yêu. Cứ khi nào em đi học về, Mít lại chạy ra cổng, vây đuôi ríu rít như chỉ chực chào đón em trở vẻ. Chẳng bao lâu, Mít đã lớn lên, to bằng cái phích nước. Bây giờ, em không thể ôm chú vào lòng được nữa nhưng tình bạn giữa em và Mít vân vô cùng thân thiết. Em rất yêu chú chó nhà em.
Bài văn tả con chó nhà em – Tập làm văn lớp 5
628
Bài văn tả con chó Hướng dẫn Bài tập làm văn bài văn tả con chó nuôi trong nhà bao gồm 5 bài văn chọn lọc ngắn gọn giúp các em học sinh có thêm nhiều vốn từ phong phú, rèn luyện kỹ năng viết để làm tốt bài văn miêu tả của mình. Sau đây mời các thầy cô, cùng các bậc phụ huynh, các em học sinh tham khảo các bài văn mẫu tả con chó nuôi trong nhà. Những bài văn tả con chó hay nhất Bài tham khảo 1 – Bài văn tả con chó Biết em rất yêu quý chó nên kỳ nghỉ hè vừa rồi về chơi với bà ngoại, bà cho em một con chó rất dễ thương, lúc đó chú chó mới được 3 tháng tuổi, em nhìn chú chó là đã thích ngay rồi, em xin bà và khi về bế chú chó theo, em đặt tên cho chú là Misa. Misa lớn rất là nhanh. Lúc bà cho em, nó chỉ to bằng bắp chân của em bây giờ chú không những lớn nhanh mà còn rất khỏe khoắn, chú có một thân hình đẹp cân đối, bộ lông của chú mượt và mịn như nhung. Hai cái lỗ tai của Misa nhọn, luôn vểnh lên nhìn rất đáng yêu như để nghe ngóng mọi động tĩnh xung quanh mình, Misa rất thông minh và ngoan ngoãn. Chiếc mũi của chú ướt ướt luôn hếch lên để đánh hơi lạ. chú ta có một hàm răng sắc, khi nhìn thấy chú chắc chắn không có tên trộm nào đến gần. Chú đi đứng rất nhẹ nhàng và chạy rất nhanh. Sáng nào cũng vậy, Misa đùa với chú mèo đen ngoài sân. Đùa chán, chú lại tìm chỗ nào đó mát để nằm. Misa nằm sấp gác mõm lên hai chân trước của mình, lim dim ngủ, tưởng như chú ngủ rất ngon nhưng không phải thế nhé! chú sẽ luôn luôn đứng phắt dậy khi khi nghe có tiếng động hoặc ngửi thấy mùi lạ nào đó. Nếu là người lạ, chú ta liền tỏ ra hung giữ nhe nanh, gầm gừ như muốn nói: “Hãy ra khỏi đây nhanh nào!” nhưng ngược lại đối với thành viên trong gia đình em khi đi đâu vê chỉ cần đến đầu ngõ thôi, chú đã biết vàluôn luôn chạy ngay ra cổng đón, chú còn chạy quanh người đuôi thì ngoái tít lên vì vui sướng, những lúc đó thật là vui, bài văn tả con chó mà em yêu quý nhất. Nhà em tất cả các thành viên ai cũng thích Misa. Chú như một thành viên quan trọng trong gia đình em. Trước khi đi ngủ, chú luôn đi vòng quanh kiểm tra quanh nhà xem có gì đó bất thường không khiến nhà em luôn yên tâm ngủ sau một ngày làm việc, học tập mệt mỏi, căng thẳng. Bài tham khảo 2 – Bài văn tả con chó Chó là một loài động vật rất có ích, vì vậy hầu hết các gia đình đều nuôi chó. Nhà thì nuôi một con, nhà thì nuôi vài con thậm chí nhiều hơn và nhà em cũng vậy. Cách đây một thời gian, mẹ em đi chợ và mua về một con chó. Hôm mua về mẹ bảo, phải chăm sóc cẩn thận chẳng mấy chốc mà lại có một đàn chó con, nghe mẹ nói vậy em rất háo hức. Em rất yêu quý động vật, vì vậy em đặt tên cho nó là Đốm. Sở dĩ tên của nó như vậy vì nó có ba màu lông xen kẽ nhau trên cơ thể. Đầu màu đen, thân cũng màu đen nhưng lại được xen kẽ bởi những đốm trắng. Nó được ba tháng tuổi và cũng khá là mập. Hai mắt đen, long lanh như hai hòn bi ve, chiếc mũi cũng màu đen và rất thính, bên cạnh là những chiếc râu ngắn. hàm răng có những chiếc nhọn hoắt, thêm một thời gian ngắn nữa thì hàm răng đó có thể khiến những ai bị nó cắn chảy máu, thậm chí những vết cắn sâu có thể rất nguy hiểm. Hai tai rất ngắn, cụp xuống mặt. Thân hình mập mạp với bộ lông mặc dù không được óng mượt nhưng em vẫn rất thích vuốt ve bộ lông ấy. Chiếc đuôi ngắn ngủi, màu đen có những sợi lông trắng ở phần cuối. Mẹ em thường trêu: “đốm đầu thì nuôi, đốm đuôi thì thịt”, những lúc ấy em lại xị mặt ra và kêu mẹ không được thịt nó. Bốn chân có màu trắng, đầu mỗi ngón chân là những móng vuốt sắc. Đặc biệt cũng giống như loài mèo, dưới mỗi ngón chân có một lớp đệm dày, chính những lớp đệm ấy giúp nó đi lại nhẹ nhàng. Chó là loài động vật ăn tạp, vì vậy nuôi nó rất dễ, bên cạnh đó mẹ em cũng mua thuốc về tiêm để phòng các loại bệnh. Mỗi khi em đi học về nó lại chạy ra tận cổng đón, ngoe nguẩy cái đuôi, chạy vòng quanh và quấn lấy chân em như thể đòi vuốt ve. Mặc dù đi học về rất mệt nhưng em vẫn chơi với nó. Có nhiều trò rất hay, em cầm hai chân trước và để nó đi bằng hai chân sau, bẻ ngược hai cái tai của nó lên, vì tai nó mềm nên không bị đau, lấy tay cù vào bụng nó, những lúc như vậy nó nằm ngửa ra bốn chân chổng lên trời trông rất hay. Mỗi bữa cơm em đều giành với mẹ việc cho nó ăn, đêm đến nó nằm co tròn ở một góc nha và ngủ ngon lành. Nó rất thông minh, biết phân biệt người nhà với người lạ, khi có người lạ vào, nó sủa ầm ĩ cho đến khi bố mẹ em quát mới thôi. Em rất yêu quý con chó nhà em, gia đình em sẽ chăm sóc nó thật cẩn thận để nó mau lớn và cho gia đình em một đàn chó con như lời mẹ nói! Bài tham khảo 3 – Bài văn tả con chó Trong nhà em nuổi rất nhiều loài vật nhưng thông minh và gắn bó với em nhất là chú chó Lu Lu. Lu Lu được mua về nhà em từ hồi còn bé xíu, tính đên nay cũng 2 tuổi, bằng tuổi đứa em gái em. Lúc mới về nhà, chắc vừa phải xa mẹ nên chú cún nhút nhát vô cùng, ai cho gì ăn nấy chỉ quanh quẩn nơi góc bếp chứ chẳng dám chạy nhảy hay đi đâu. Sau một thời gian quen dần với mọi người trong gia đình thì Lu Lu bắt đầu dạn dĩ hơn. Bố làm cho Lu Lu một chiếc chuồng trong hiên nhà rồi lót vài mảnh vải ấm. Lu Lu có vẻ rất thích chiếc chuồng, nó cứ chui ra rồi lại tự chui vào như một trò chơi của trẻ con. Lu Lu có một bộ lông vàng óng, em cũng chẳng biết nó thuộc giống chó gì. Năm nay 2 tuổi Lu Lu nhìn trông to lớn vô cùng, chẳng bù cho lúc trước bé xíu lũn cũn. Lu Lu nặng tầm khoảng 15 kg, đối với người trong nhà rất hiền lành nhưng đối với khách lạ thì rất dữ tợn. Hàm răng chú trắng bóng, sắc lẻm, cái lưỡi hồng hồng suốt ngày thè ra thở. Đôi tai thính cứ có tiếng động lạ là lại vểnh lên. Chiếc đuôi cong cong ngoáy tít lên mỗi khi em xoa đầu hoặc chơi đùa với nó. Lu Lu rất thông minh, chuyện gì cũng dạy một lát là hiểu. Lu Lu biết đi vệ sinh đúng chỗ, không bao giờ bước chân vào nhà, bao giờ cũng đợi người cho ăn mới ăn chứ không khi nào ăn vụng. Không những thế Lu Lu còn biết đi bằng 2 chân như một chú chó trong rạp xiếc. Trong nhà em không khi nào có chuột bởi Lu Lu bắt chuột rất tài, lũ chuột phá phách vậy mà không bao giờ dám bén mảng đến gần. Lu Lu thích nhất là chơi trò đuổi bắt. Cứ mỗi lần em chạy là nó lại đuổi theo với vẻ mặt vô cùng hào hứng. Đêm đến, khi cả gia đình ngủ say thì Lu Lu lại âm thầm thức canh cho giấc ngủ của mọi người. Cả nhà em ai cũng yêu quý Lu Lu. Lu Lu cũng rất gắn bó với mọi người. Đã từ lâu Lu Lu như là một thành viên không thể thiếu của gia đình. Bài tham khảo 4 – Bài văn tả con chó Từ trước đến giờ, nhà em nuôi cũng khá nhiều chú chó. Nhưng em thích nhất là Vàng nó sống với gia đình em khoảng 3 năm rất hiền lành và khôn ngoan. Vàng có một thân hình to cao lực lưỡng, nặng khoảng mười lắm ký. Toàn thân là màu vàng sậm, mượt mà. Đầu chú to như cái yên xe đạp, hai tai vểnh lên, nó có thể phát hiện tiếng chân người lạ khi đến nhà. Đôi mắt to tròn màu nâu. Cái chóp mũi thì màu đen lúc nào cũng ướt ướt. Mấy cọng ria mép chĩa ra hai bên. Mõm chú to, rộng mỗi khi ngáp để lộ hàm răng trắng với mấy cái răng nanh bên khóe miệng, trông thật dữ tợn. Cái lưỡi thì màu hồng nhạt thè ra ngoài. Vàng rất khôn, chú như hiểu được lời nói của bố. Bố em bảo nằm thì nó nằm, bảo ngồi dậy thì chú, mỗi khi có người lạ thì chú sủa inh ỏi, khi bố bảo Vàng im thì chú im ngay. Mỗi lúc ai trong nhà đi đâu về bất kể em, mẹ hay bố chú đều chạy đến ngoe ngẩy cái đuôi và nhảy nhảy lên người tỏ vẻ mừng rỡ. Thật là một con chó tuyệt vời. Vàng rất khôn ngoan cả nhà em ai cũng quý nó. Coi nó như một thành viên trong gia đình. Bài tham khảo 5 – Bài văn tả con chó Mỗi gia đình ở nông thôn hầu như ai cũng nuôi một hoặc nhiều chú chó với những mục đích khác nhau. Chó để làm “bạn”, chó để trông nhà, chó nuôi lớn để bán hoặc chó nuôi với mục đích làm thịt. Gia đình em cũng nuôi một chú chó vừa để trông nhà vừa để làm bạn những lúc nhà vắng người. Chó được xem là con vật trung thành nhất trong gia đình, dù ở thời điểm nào thì nó vẫn luôn trung thành tuyệt đối với chủ. Con chó nhà em cũng vậy, đi đâu nó cũng luôn nhớ trở về nhà, không để mọi người phải lo lắng. Chú chó nhà em có màu vàng, đang ở lứa tuổi trưởng thành nên chẳng mấy chốc nó lớn rất nhanh. Bộ lông màu vàng hơi cứng không thấm nước giúp hạn chế cái lạnh của mùa đông cũng như bảo vệ lớp da bên trong của nó. Đôi mắt đen láy nhìn chăm chăm vào những người đặt chân vào nhà em, nhưng có lẽ mắt của nó sáng nhất vào buổi tối. Vì thông thường chó hoạt động tối nhiều hơn ban ngày nên đặc tính này hoàn toàn đúng đắn. Cái mõm của nó đen và dài, giúp cho tiếng sủa vang hơn cũng như ăn uống dễ dàng hơn. Chú chó gia đình em hiền lắm, cứ nằm ngoan ngoan ở góc nhà, chẳng cắn ai bao giờ. Nhưng khi thấy người lạ bước vào nhà nó sẽ sủa vang lên inh hỏi như báo trước cho chú nhà có người lạ đang vào nhà. Cái đuôi cong tỡn, mỗi khi chú chó chạy cứ ngoe nguẩy từ bên này sang bên khác trông thật đáng yêu. Lúc chạy chú chó này chạy rất nhanh khiến em có cảm giác như nó đang bay khỏi mặt đất. Có lẽ vì do chiếc chân nhỏ nhắn và thon gọn sẽ giúp cho nó di chuyển một cách tiện lợi nhất. Mỗi lần nó ốm lại nằm im một chỗ, thi thoảng rên lên ư ử rồi chũi mũi vào người của em. Nó không chịu ăn cơm khi ốm, phải nấu cơm thật ngon thì nó mới ăn. Những lúc như vậy em thấy thương chú chó lắm. Còn những lúc khỏe mạnh, chú chó này ăn rất khỏe, ăn một cách có trật tự mà không hề làm rơi vãi hạt nào ra bên ngoài. Chính điều này mới khiến cho ba em không bao giờ đánh nó, ba không thích con vật nuôi này ăn vung vãi ra bên ngoài. Chú chó gia đình em vẫn thường ngồi ở ngoài cổng vào buổi tối để phòng ngừa trộm cắp. Khi nó phát hiện ra tiếng động lạ sẽ sủa lên inh ỏi. Mặc dù nó hiền nhưng có trộm thì nó sẽ không còn hiền nữa. Em rất yêu quý chú chó gia đình em. Mong sao nó lớn lên thật nhanh hơn nữa. Trên đây là bài tập làm văn bài văn tả con chó, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Bài văn tả con chó
2,216
Bài văn tả con đường từ nhà tới trường vào lúc sáng sớm lớp 5 Hướng dẫn Bài văn tả con đường từ nhà tới trường vào lúc sáng sớm lớp 5 Tả con đường từ nhà tới trường vào sáng sớm – bài mẫu 1 Còn điều gì tuyệt vời hơn khi mỗi sớm mai thức dậy được tung tăng trên con đường quen thuộc từ nhà đến trường, ngắm nhìn cảnh buổi sáng thanh bình hiếm có. Cảnh buổi sáng trên con đường đến mái trường tiểu học thân yêu của em thật đẹp biết bao! Ngôi trường tiểu học của em nằm tại trung tâm thành phố phồn hoa và rộng lớn. Con đường đến trường vì lẽ đó lúc nào cũng đông đúc và ồn ào. Đó là con đường mang tên vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Buổi sáng, ông mặt trời vừa thức dậy, vươn vai đón chào bình minh em đã đeo cặp sách ra khỏi nhà. Ánh nắng còn chưa kịp nhảy nhót khắp muôn nơi nên cảnh vật còn yên bình và thanh tĩnh lắm. Bắt chuyến xe sớm đầu ngày, em chọn chỗ ngồi cạnh chiếc cửa sổ thoáng đãng, ngẩn ngơ ngắm nhìn con đường quen thuộc dẫn đến trường. Con đường rộng lớn, đổ nhựa mới, không một ổ gà ổ vịt, xe đi lại trên đường băng băng. Đường quanh co, gấp khúc theo những ngã rẽ chạy dọc qua một khu phố của cả Hà Nội. Hai bên đường vẫn là những cảnh vật thân quen ấy, những cột đèn giao thông đêm ngày sáng, những khóm cây xanh rờn. Những tòa nhà chọc trời, những khu chung cư xa hoa, lộng lẫy và bao nhiêu cửa hàng, quán xá nhanh chóng lùi lại phía sau xe buýt. Có những cửa hàng, quán ăn thức dậy sớm, mở rộng cánh cửa đón chào người khách mua hàng sớm. Những quán phở, quán bún đã nghi ngút khói của nước lèo, nước sốt, nhìn xa đã thấy hấp dẫn vô cùng. Trên vỉa hè, dưới những gốc cây cổ thụ cao lớn thấp thoáng những gánh hàng rong bán đồ ăn buổi sáng. Nào xôi lạc, xôi xéo, xôi thịt, nào bánh giò bánh khúc, bánh tẻ…thơm phức mời gọi. Thỉnh thoảng em còn nghe rõ cả tiếng rao “Ai xôi lạc, bánh khúc đi. Ai bánh giò nóng nào…” hòa cùng tiếng động cơ xe trên con đường này. Đó là những âm thanh quen thuộc của buổi sáng. Em chợt nhận ra, hiếm khi con đường mới yên bình đến vậy. Nhưng ánh mặt trời dần lên cao hơn, trời dần sáng rõ, đến giờ mọi người đi làm, đi học, con đường nhanh chóng trở nên đông đúc và náo nhiệt. Từng dòng người nối nhau đi trên đường, tiếng động cơ xe huyên náo cả góc đường. Có những đoạn quá đông, bị tắc, tất cả xe đều phải dừng lại. Tuy nhiên không một ai tỏ vẻ khó chịu, không vui họ chỉ hăng hái quan tâm đến một ngày mới tốt lành. Con đường không chỉ là cầu nối giữa ngôi nhà của em với mái trường thân yêu mà còn là người bạn đồng hành với em suốt những năm tháng học trò hồn nhiên thơ ngây. Em sẽ luôn ghi nhớ hình ảnh và những âm thanh huyên náo trên con đường đến trường như một phần ký ức tuổi học trò tươi đẹp. Tả con đường từ nhà tới trường vào sáng sớm – bài mẫu 2 Trong kí ức của mỗi người, có những cảnh vật đã hằn sâu trong tâm trí mà suốt đời ta không thể nào quên. Con đường đi học là một trong số đó. Ta có thể đi qua nhiều nẻo đường khác nhau, nhưng con đường đi học thì luôn thân thuộc và gần gũi với bất kì người nào. Không còn là con đường đất đỏ mỗi mùa mưa lầy lội khiến người người đi lại khó khăn, con đường giờ đây đã đổi thay mang trong mình diện mạo mới. Con đường quê giờ đã được trải bê tông phẳng lì thuận tiện cho người đi lại. Con đường đi học đã gắn liền với tuổi thơ của tôi. Hàng sáng, mỗi khi ông mặt trời vén màn mây và tỏa ánh nắng chan hòa khắp muôn nơi, tôi lại cùng đám bạn đi đến trường trên con đường làng quen thuộc. Không khí buổi sáng thật trong lành và mát mẻ. Nắng sớm và gió mát làm tâm hồn tôi thật dễ chịu và thư thái. Đi trên đường, tôi có thể nghe thấy tiếng chim hót lảnh lót trên cao, ngắm những bông hoa dại ở ven đường, nhìn thấy những giọt sương còn đọng lại ở cánh hoa hay phiến lá. Hai bên đường là hai hàng cây xanh mát. Vào buổi sớm, cây cối dường như mới tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, ánh nắng chiếu qua cành cây làm cựa mình sự sống. Những chiếc lá khẽ đu đưa trong gió như muốn vẫy chào chúng tôi. Trên con đường đi học, tôi còn đi qua cánh đồng lúa rộng lớn thẳng cánh cò bay. Lúa đang thì con gái tỏa hương thơm dìu dịu mà ngọt ngào, ngây ngất. Cả cánh đồng như một tấm thảm khổng lồ màu xanh mướt, chỉ cần một cơn gió thoảng qua là cả biển lúa ấy nhấp nhô tạo thành muôn ngàn con sóng nhỏ. Tôi bắt gặp vài bác nông dân ra thăm đồng sớm, bên bờ ruộng, con cò trắng đang kiếm ăn bổng sải cánh bay lên. Đằng sau những khu vườn xanh tốt là nếp nhà ngói đỏ nằm im lìm trong nắng mới. Con đường đi học đã trở thành một phần quan trọng trong tuổi thơ của tôi. Con đường đi học cũng là con đường đưa tôi đến với tri thức, chắp cánh cho những ước mơ của tôi được bay cao bay xa. Tả con đường từ nhà tới trường vào sáng sớm – bài mẫu 3 Một trong những nơi gắn bó với tuổi thơ của em nhất đó là con đường Trần Nguyên Hãn, bởi đây là con đường thân thương đưa bước chân em cũng như bao bạn khác đến trường học. Đây cũng là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi thơ mà em đã trải qua, đó là những kỉ niệm quý giá mà dù em có khôn lớn cũng sẽ không bao giờ lãng quên. Con đường Trần Nguyên Hãn không mang một vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng mà tiềm ẩn vẻ đơn sơ, mộc mạc gắn với cuộc sống yên bình của người dân phố em. Con đường từ nhà đến trường chạy thẳng băng chứ không uốn lượn, quanh co như bao con đường khác. Mặt đường được trải nhựa phẳng phiu. Ngày nào cũng vậy, em đi học trên con đường thân thuộc này. Từng gốc cây, từng số nhà, từng ngõ ngách đã in đậm trong tâm trí tôi từ lúc nào chẳng hay. Trưa về, người đi lại thưa thớt hơn, con đường như chìm vào trong giấc ngủ. Những chiếc lá khẽ đu đưa trong gió như quạt mát cho con đường. Chiều về con đường như thức giấc trở lại. Lại ồn ào náo nhiệt khi người người đi làm, đi học về. Tiếng nói, tiếng cười gọi nhau í ới, tiếng xe cộ cứ ồn ào suốt cả con đường. Với em con đường này đã quen thân từ khi cắp sách tới trường. Thế nhưng, con đường không chỉ là bạn của riêng em. Nó còn là bạn của những bác lao công. Đêm đêm, trên con đường này, dù là mùa hè hay mùa đông lạnh giá, tiếng chổi tre luôn sột soạt dưới vệ đường. Các bác đang quét rác để giữ vệ sinh cho đường phố. Nhờ những bàn tay lao động cần cù ấy mà con đường luôn sạch sẽ. Kỉ niệm tuổi thơ tôi đã trôi qua êm đềm trên con đường thân thương ấy. Con đường tới trường cũng là nơi mà mỗi bước chân là một bậc thang bước tới nguồn tri thức bao la mà thầy cô Ttruyền đạt. Sau này, dù có may mắn được bước trên những ngả đường lớn ở mọi phương trời thì kí ức về con đường Trần Nguyên Hãn sẽ vẫn mãi khắc sâu trong ý nghĩ và trái tim em.
Bài văn tả con đường từ nhà tới trường vào lúc sáng sớm lớp 5
1,418
Bài văn tả cánh đồng lúa quê em vào buổi sáng lớp 5 Hướng dẫn Bài văn tả cánh đồng lúa quê em vào buổi sáng lớp 5 Tả cảnh cánh đồng vào buổi sáng – bài mẫu 1 Trong mỗi chúng ta, chắc hẳn ai ai cũng từng lưu giữ những hình ảnh đẹp đẽ, thơ mộng gắn liền với tuổi ấu thơ. Riêng em, hình ảnh về cánh đồng lúa vào buổi sáng luôn để lại trong lòng em ấn tượng sâu đậm nhất. Còn gì đẹp hơn khi nhìn thấy những cánh đồng lúa rộng thẳng cánh cò bay, một nét đẹp giàn dị, mộc mạc của cội nguồn dân tộc mà mỗi chúng ta nên tìm về để chiêm ngưỡng cũng như giữ gìn. Sáng sớm, ông mặt trời từ từ nhô ra khỏi màn sương sớm, khói bếp nhà ai phảng phất trong gió. Tiếng chim ríu rít, líu lo báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Đàn gà con chiếp chiếp gọi nhau, tíu tít theo chân gà mẹ ùa vào dòng người đang hối hả ra đồng. Bầu trời xanh xanh, êm đềm, trong veo, những cánh bướm đang chập chờn bay lượn tạo nên một khung cảnh thật thơ mộng. Từ xa nhìn lại, cả cánh đồng trông như một tấm thảm khổng lồ vàng rực, lác đác đâu đây vẫn còn một cây lúa non xanh mướt. Một mùi hương thơm dịu dàng, thoang thoảng của lúa chín bay xa, phảng phất trong không khí làm người ta có một cảm giác khoan khoái, dễ chịu lạ thường. Mùa này đang là mùa lúa chín. Những bông lúa trĩu nặng, hạt đều tăm tắp ngả vào nhau như đang thì thầm trò chuyện. Một vài cô lúa non còn sót lại thì e ấp, thẹn thùng như thiếu nữ mới lớn. Thỉnh thoảng, có làn gió nhẹ lướt qua, cả biển lúa xao động như những làn sóng tinh nghịch xô đuổi nhau chạy vào bờ. Những tia nắng vàng nhảy nhót trên từng bông lúa, chiếu rọi vào cả rặng tre làng khuất phía xa. Trên bầu trời, đàn cò trắng bay rập rờn càng làm tăng thêm vẻ đẹp của đồng quê. Mặt trời lên cao, người dân bắt đầu nhộn nhịp ra đồng. Các bà, các chị gánh ra chợ những mớ rau xanh mướt, những bó hoa sặc sỡ sắc màu còn thơm mùi sương sớm. Các bác nông dân dắt trâu ra ruộng đi cày, mặt ai trông cũng phấn khởi, có vẻ mùa này bội thu lắm. Từng tốp học sinh sánh vai nhau rảo bước đến trường, trò chuyện cười nói rôm rả. Một không khí tươi vui hòa quyện lại tạo thành một bức tranh làng quê thanh bình, yên ả nhưng cũng khộng kém phần sống độgn, tràn đầy màu sắc. Tả cảnh cánh đồng vào buổi sáng – bài mẫu 2 Ở những vùng quê nông thôn, cánh đồng lúa là cảnh vật vô cùng thân thuộc với người nông dân cung cấp nguồn lương thực thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày. Đối với em, còn gì tuyệt vời hơn khi được ngắm nhìn cánh đồng lúc vào sáng sớm. Sáng sớm,, cánh đồng lúa chìm trong màn sương mờ ảo. Cánh đồng đã bắt đầu vào mùa thu hoạch, cả cánh đồng trải một màu vàng óng, nhìn từ xa trông như một tấm thảm khổng lồ. Một làn gió nhẹ thoảng qua, cả cánh đồng xào xạc một âm thanh dịu nhẹ. Hương lúa thoang thoảng lan theo trong gió. Những tia nắng đầu tiên phớt nhẹ đây đó trên các thửa ruộng còn chìm trong màn sương bạc làm cho cả biển lúa xao động tạo thành những làn sóng nhẹ xô đuổi nhau chạy mãi ra xa. Ánh nắng ban mai đã tỏa sáng khắp nơi trên cánh đồng. Ngọn gió thổi rì rào như các cây lúa đang nói chuyện với nhau. Nắng đã lên cao, cánh đồng lúa bây giờ đã ánh lên màu pha vàng tươi sáng. Xa xa, đàn cò trắng bay rập rờn làm tăng thêm vẻ đẹp của đồng quê. Đã đến giờ các cô chú đã bắt đầu vào công việc của mình. Những chiếc nón trắng xen giữa biển lúa vàng trông thật đẹp mắt. Họ đang đưa những chiếc liềm để cắt lúa thật là nhanh. Người các cô chú ướt đẫm mồ hôi. Vừa làm việc, họ vừa ca hát rất vui. Từng khóm lúa ngả nghiêng vì bông lúa vừa dài lại vừa to. Bông lúa trĩu nặng hạt đều tăm tắp, chắc mẩy uốn cong mềm mại, ngả vào nhau thì thầm trò chuyện. Ông mặt trời đã lên cao. Nắng cũng đậm dần. Người trong làng bắt đầu đi chợ nhộn nhịp trên con đường xuyên qua cánh đồng. Các bà, các chị gánh ra chợ những mớ rau thơm, những bẹ cải sớm hay những bó huệ trắng muốt… Một không khí tươi vui hoà quyện lại tạo thành một bức tranh làng quê thanh bình, yên ả, sống động và đầy màu sắc. Ngắm nhìn tất cả cảnh vật trên cánh đồng lúa quê mình, em thấy những hình ảnh ấy thân thương làm sao. Một tình yêu quê hương tha thiết dấy lên trong lòng em. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để sau này lớn lên xây dựng quê hương thêm giàu đẹp. Tả cảnh cánh đồng vào buổi sáng – bài mẫu 3 Em sinh ra và lớn lên ở một vùng nông thôn thanh bình, yên ả, nằm tại miền Bắc thân yêu của tổ quốc. Tuổi thơ em gắn liền với những cánh diều vi vu và cánh đồng lúa mênh mông bát ngát. Khung cảnh buổi sáng tinh mơ trên cánh đồng lúa không biết tự bao giờ đã trở nên vô cùng quen thuộc trong trí nhớ của em. Phía Đông ửng hồng ánh ban mai, ông mặt trời khoan khoái thức dậy sau giấc ngủ say, tiếng gà trống vang vọng khắp làng trên xóm dưới, đánh thức ngày mới trên quê hương em. Ánh nắng lan tỏa khắp nơi nơi, đuổi nhau chạy ra cánh đồng lúa bao la. Em ngỡ ngàng ngạc nhiên, cánh đồng lúa đã rất đỗi thân quen mà sao mỗi buổi sáng ngắm nhìn em vẫn thấy nó đẹp đến như vậy. Xa xa nhìn lại, cánh đồng lúa đang thì con gái như một tấm thảm nhung màu xanh nằm im lìm giữa đồng quê. Theo bước chân của nắng tiến lại gần mới phát hiện ra cánh đồng đã thức giấc. Những giọt sương sớm còn đọng lại trên lá lúa, trong veo, khi nắng chiếu vào lấp lánh long lanh như những viên ngọc châu quý hiếm. Những cô cậu nhà gió tinh nghịch thổi qua làm cánh đồng lăn tăn gợn sóng, sóng lúa xô đuổi nhau tạo nên khung cảnh biển lúa dập dờn tuyệt đẹp. Con đường làng quanh co uốn khúc ôm ấp cánh đồng như người mẹ hiền ôm ấp đứa con yêu quý của mình. Trên đường mọi người bắt đầu đi lại tấp nập, các bà các mẹ rảo bước xách làn đi chợ, họ xinh tung tăng cắp sách đến trường. Con kênh xanh êm đềm chảy quanh, ngày đêm đưa nước vào tưới tiêu cho cả cánh đồng. Tiếng chim hót líu lo, tiếng nước chảy róc rách và tiếng trò chuyện cười nói cùng hòa vào nhau, tấu lên bản nhạc đón mừng ngày mới. Những cây lúa cũng nghiêng mình như reo hò cổ vũ. Mặt trời ngày một lên cao, trời trong xanh không một gợn mây và nắng hong khô những hạt sương ẩm ướt. Gió rì rào thổi, cánh đồng nhấp nhô dập dờn lên xuống, cảnh tượng ấy thật tráng lệ bao la biết nhường nào. Cánh đồng yên lặng dõi theo car miền quê. Thiên nhiên và con ngươi hòa hợp, thanh bình đến lạ. Khung cảnh buổi sáng trên cánh đồng lúa thật đẹp và yên ả. Khung cảnh ấy đã dần in sâu vào tâm trí những người con quê hương em để rồi một ngày rời xa quê, trái tim lại thổn thức nhớ về. Nhớ về một phần tuổi thơ tươi đẹp, nhớ về niềm tự hào bấy lâu nay của quê hương: “Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”
Bài văn tả cánh đồng lúa quê em vào buổi sáng lớp 5
1,404
Đề bài: Bài Văn Tả Cánh Đồng Lúa Quê Em Bài Làm Mỗi năm vào dịp hè, em thường được bố mẹ đưa về quê để thăm ông bà. Trước nhà ông bà em là cả một cánh đồng lúa chín vàng. Đặc biệt là mỗi lần về đều là những ngày chuẩn bị gặt lúa. Những cây lúa có màu vàng óng trông thật đẹp. Khi về quê, em thích nhất là ra đồng vào những buổi chiều muộn. Lúc này, những ánh nắng đang dần buông xuống, trời trở nên mát hơn, những cơn gió mát rượi thổi vào cánh đồng lúa, làm cả cánh đồng lúa như những gợn sóng biển. Những cây lúa chín vàng, rung rung trước gió. Những hạt lúa vàng óng, xếp san sát nhau, trong rất thẳng hàng. Những cây lúa như đang uốn cong mình để có thể đỡ những hạt lúa ở phía trên ngọn, trông như người mẹ đang cõng những đứa con trên vai, một cách nhọc nhằn. Không chỉ vậy, mỗi khi có gió thoảng qua, cánh đồng lại đem về một mùi hương lúa mới thơm ngát. Em rất thích ngửi mùi của lúa, đó là mùi của đồng cỏ, một điều mà em không bao giờ có thể cảm nhận được khi ở thành phố. Không những thế, cánh đồng còn là nơi trú ẩn của những chú châu chấu và những chú cá nhỏ. Mỗi lần về em thường được các anh dẫn đi bắt cá. Và thật là đáng tiếc nếu không được ngắm nhìn những cảnh tượng này. Vào buổi sáng, khi những tia nắng đầu tiên rọi xuống, cả cánh đồng trở nên đầy màu sắc, đó là màu vàng của nắng, của lúa và cả của những bác nông dân ra đồng. Những chú trâu thì thong dong gặm cỏ, những cánh diều thì bay lượn thỏa thích trong gió. Em trông như một bức tranh mà em đã thấy trên ti vi, ngay lập tức, em bèn chạy vào nhà, lấy màu vẽ và tô vẽ lại cảnh tượng đó. Khi vẽ xong nhất địn em sẽ đem tặng ông bà. Cánh đồng lúa của quê em như vậy đó, không có nhiều màu sắc như những bức tranh em đã vẽ, nhưng màu vàng óng của những bông lúa trĩu hạt và của ánh nẵng đã tạo nên một khung cảnh đầy thơ mộng và đáng khắc ghi. Em yêu cánh đồng của quê em lắm. Sang năm nhất định em sẽ lại về để thăm ông bà và cả cánh đồng thân thương nữa.
Bài Văn Tả Cánh Đồng Lúa Quê Em
431
Bài văn tả cây bàng trường em Hướng dẫn Bài văn viết của em tả cây bàng trường em hôm nay đã đạt điểm rất cao trong bài tập làm văn mà công giáo phân công bài tập cho lớn, em xin đưa ra đây để các bạn tham khảo nhé. Trước ngõ nhà em có một cây Bàng. Cây Bàng này do Bố em trồng, có lẽ nó cũng xấp xỉ tuổi em. Từ lâu cây Bàng đã gắn bó với em như một người bạn thân thiết. Trải qua bao nắng, mưa, gió, bão… nhưng cây Bàng vẫn hiên ngang đứng đó: Xanh tươi và lớn lên theo thời gian. Dáng cây hơi nghiêng. Thân cây to và thẳng, vỏ cây xù xì và có màu nâu sẫm, cành Bàng to, vươn dài, lá Bàng trông như những bàn tay đang vẫy, lấp ló ẩn hiện những chùm quả. Mùa thu đến, những chiếc lá xanh mướt chuyển dần sang màu đỏ tía. Mỗi cơn gió heo may thoảng qua làm những chiếc lá khẽ đung đưa, đung đưa. Gió bấc tràn về, mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt của Mùa đông. Luồng gió dường như mạnh hơn, cuốn theo cả những chiếc lá còn sót lại cuối thu. Cây Bàng chỉ còn lại những cành khẳng khiu trong giá rét. Tuy vậy khi nhìn nó, ta vẫn cảm nhận được sự tiềm ẩn của một sức sống mãnh liệt. Khi những hạt mưa bay lất phất báo hiệu mùa xuân về, cây Bàng như được hồi sinh, từ đầu cành những búp non thi nhau đâm chồi nảy lộc. Những chú chim nhỏ nhảy nhót đùa vui theo vũ điệu bất tận của Mùa xuân. Những trưa hè, em và các bạn thường ngồi chơi dưới tán lá Bàng. Chúng em nhặt những chiếc lá Bàng rơi làm những chiếc “mũ đội đầu”, những chú “nghé con” ngộ ngĩnh và cả những chiếc “vương miện” xinh xắn nữa. Trong ký ức của em, kỷ niệm về cây Bàng cùng những người bạn nhỏ trong ngõ xóm là những gì thân thương nhất! Em chưa bao giờ nghĩ rằng, cây Bàng sẽ rời xa tuổi thơ của em. Thế rồi một hôm đi học về, em thấy các chú công nhân của Công ty Môi trường Đô thị đến để chặt cây. Em ngạc nhiên không hiểu vì sao nên đến gần để hỏi. Một chú trả lời: ” sắp đến mùa bão rồi, các chú chặt đi đề phòng bão làm đổ cây”. Em đứng như chôn chân xuống đất, lặng người đi nhìn cây bàng đang bị chặt dần những cành đẹp nhất, cho đến lúc cây Bàng chỉ còn trơ lại gốc… Mất cây Bàng, em như mất đi một người bạn đã lớn lên cùng em, vui chơi cùng em, chứng kiến bao chuyện vui buồn của em và các bạn… Nhưng rồi thời gian trôi đi, nỗi nhớ cây Bàng trong lòng em cũng nguôi ngoai dần, học tập bận rộn khiến em cũng không còn nhiều thời gian để nghĩ đến cây bàng nữa. … Cho đến một buổi chiều, mưa xuân lất phất bay, em đang ngồi học bài bên cửa sổ, bất chợt em nhìn ra cổng, nơi có cây Bàng thân thương. Những chồi non đang nhú lên từ gốc cây xù xì cằn cỗi. Một sự sống mới lại bắt đầu hồi sinh!
Bài văn tả cây bàng trường em
565
Bài văn tả cây bút máy của em lớp 5 Hướng dẫn Năm nào em cũng chờ đợi ngày sinh nhật đến, vì vừa được tổ chức một bữa tiệc thêm tuổi mới, vừa sung sướng nhận được nhiều món quà ý nghĩa từ những người thân yêu trong gia đình. Năm nay, em bước sang tuổi thứ mười, cũng nhận được nhiều quà tặng, nào quần áo, sách vở…, nhưng món quà em yêu thích nhất là chiếc bút máy hiệu Kim Thành mẹ tặng. Sau khi buổi tiệc tan, em hồi hộp mở từng món quà. Lẫn trong nhiều gói quà to là một hộp quà nhỏ nhắn, xinh xinh, thắt nơ màu tím. Em mở món quà ra và nhận được một tấm thiệp chúc mừng sinh nhật với dòng chữ quen thuộc: “Chúc con trai sinh nhật vui vẻ! Chiếc bút máy này sẽ là người bạn đồng hành cùng con chinh phục kho tàng kiến thức. Mẹ của con!”. Em rưng rưng xúc động và thấy hạnh phúc vô cùng. Em vội mở chiếc bút ra và chạy lại cảm ơn mẹ. Chiếc bút đựng trong một chiếc hộp nhựa mới đẹp làm sao! Nó dài gần bằng một gang tay của em. Thân bút tròn, thuôn về phía sau và được làm bằng thép, mạ màu tím, có hoa văn in chìm trông rất đẹp. Nắp bút có thanh cài mạ bạc óng ánh, nắp đậy vừa khít vào thân bút. Mở nắp thấy rõ ngòi bút màu vàng sáng loáng, đầu ngòi tròn, chắc nịch, được làm bằng thép. Ớ đầu ngòi có một chấm nhỏ gọi là hạt gạo, để giúp cho khi em viết giấy không bị rách. Bên trong thân bút là một ống nhựa đựng mực nối với ngòi giúp cho mực xuống đều. Bên trong ruột là một ống dẫn mực bé như que tăm. Em yêu cây bút và luôn giữ gìn cẩn thận. Em thầm cảm ơn món quà của mẹ và luôn tự hứa sẽ chăm chỉ học tập để ngày càng tiến bộ như lời chúc của mẹ em.
Bài văn tả cây bút máy của em lớp 5
350
Bài văn tả cây xương rồng mà em thấy Hướng dẫn Đây là loại xương rồng ba cạnh, cao ngang bụng tôi. Toàn thân cành và lá đều như mọng nước và khi bẻ ra có mủ màu trắng giống sữa. Đoạn thân gần gốc hình trụ hơi ngả sang màu gỗ vì năm tháng đã qua. Cành xương rồng có từ ba đến sáu cạnh lồi màu xanh thẫm. Lá xương rồng ít và nhỏ, dày và tròn ở đầu, thuôn dần ở gần cuống, giống như lá hoa sứ Thái. Cuống lá xương rồng rất ngắn, mọc trên cạnh lồi của cành. Khi rụng, lá để lại vết thành gai cứng và nhọn có màu nâu sẫm. Hoa mọc thành tán từ chỗ lõm của mép cành. Cụm hoa hình chén, màu đỏ lịm. Quả xương rồng màu xanh, tròn nho nhỏ. Nhựa xương rồng rất độc, cho nên khi hái hoa tránh để nhựa bắn vào mắt. Mỗi độ xuân về, ba tôi thường dặt chậu xương rồng này trước sân để chưng Tết. Ba nói: “Hoa xương rồng rất ưa nắng, nắng càng to hoa càng nhuận sắc.” Mỗi lần đi hoc về, tôi thường theo ba ra vườn chăm sóc cho cây. Cây lá rung rinh như thầm cảm ơn tôi. Mỗi lần tưới nước cho cây tôi đều nói: “Hãy lớn lên và ra hoa đẹp vào nhé! Chị yêu các em lắm!”.
Bài văn tả cây xương rồng mà em thấy
235
Bài văn tả cô giáo của em đang chấm bài trên lớp Hướng dẫn Dáng cô mảnh mai với chiếc áo dài màu ngọc bích. Cô ngồi thong thả trên chiếc ghế gỗ quen thuộc hàng ngày. Trên bàn cô là một chồng vở cao ngất. Cô chấm dàn bài Tập làm văn cho cả lớp. Cô ngồi xuống chấm bài, đầu hơi cúi xuống bàn. Mái tóc dài óng ả của cô đang bay bay theo làn gió mùa thu. Vài cọng tóc loà xoà xuống trán. Đôi mắt cô tập trung cao độ vào từng bài làm. Đôi mắt màu hạt dẻ ấy như ánh lên những tia sáng long lanh và dịu hiền khó tả. Điều làm em chú ý nhất là đôi bàn tay cô. Bàn tay mảnh mai, thon thả. Tay trái nhẹ nhàng lật từng trang vở, tay phải cầm bút để sửa sai và ghi điểm. Chấm xong mỗi bài, cô ghi lời nhận xét rất tỉ mỉ. Những quyển vở được chấm xong, cô nhanh tay xếp sang một bên rồi tiêp tục chấm sang vở khác. Thỉnh thoảng, cô nhíu mày lại, đăm chiêu suy nghĩ. Có lẽ cô không hài lòng bởi những bài làm sơ sài, thiêu ý, trình bày thiếu cẩn thận. Rồi khuôn mặt cô bỗng vui vẻ hẳn lên, cô đưa mắt- nhìn xuống lớp và nở nụ cười trìu mến. Em đoán được rằng những bài văn hay đang in trên mắt cô. Cô rất hài lòng với những bài làm hay, trình bày sạch đẹp. Những bài làm ấy đã làm cô thấy vui, thấy yêu nghề dạy học, cô đã quên hết nhọc nhằn khi đứng trên bục giảng. Chồng vở trên bàn cô giáo đã vơi dần, cộ vẫn tiếp tục chấm bài, bàn tay cô vẫn đều đều lướt trên trang giấy. Đôi mắt cô đọc bài thật nhanh, thật thấu đáo. Giờ giải lao vẫn chưa hết nhưng chồng vở cô chấm đã sắp xong. Cô ghi điểm thật công bằng, không bao giò’ thiên vị ai nên cả lớp đều quí mến cô. Em rất thích được nhìn cô chấm bài. Cô ơi! Em nhớ mãi Những điểm mười cô cho. Em sẽ ra sức học tốt hơn nữa để không phụ lòng cô.
Bài văn tả cô giáo của em đang chấm bài trên lớp
379
Bài văn tả cô giáo đã từng dạy dỗ em lớp 5 hay nhất Hướng dẫn Reng… reng… reng… Tiếng chuông reo vang báo hiệu tiết học mới bđt đàu. Đây là tiết học mà em thích nhốt trong ngày – tiết học kĩ năng sống. Và cô giáo dạy môn học đó – cô Chúc cũng là giáo viên mà em yêu quý nhất. Trong mắt em, cô Chúc là một cô giáo vul vẻ, hài hước và dạy rốt hay. Những bài học mà cô đem đến cho chúng em rất bổ ích. Chúng em được học về cách để hình thành những thói quen tốt, như: đi học đúng giờ, bảo vệ môi trường, bài học về yêu thương người già, yêu thương cộng đồng xã hội; cách vượt qua những nỗi sợ hãi của bân thân như bóng đêm, sấm chớp… Cô luôn lấy những ví dụ ngoài cuộc sống để bài học trở nên gân gũi và dễ hiểu với chúng em hơn. Em nhớ nhất một lần, cô cho chúng em tham gia trải nghiệm “Học làm người già”. Chúng em được bịt mát xâu kim, bịt mát nhặt đỗ và gạo, bịt tai để viết thư và được ngồi im lặng trong phòng kín. Cuối giờ học, cô hỏi câm nhộn của từng bạn và nói: “Qưa những trải nghiệm này, các con sẽ thâu hiểu hơn về những khó khăn mà người già gặp phải trong cuộc sống. Vì vậy, hãy yêu thương, chia sẻ với ông bà nhiều hơn nhé!” Không chỉ dạy hay, cô còn có nhiều cách xử lí tình huống rất nhanh trí. Trong giờ ra chơi, nhìn thấy một bạn nam đang đánh một bọn nam khác cùng lớp, cô đến hỏi nguyên nhân. Lúc bâ’y giờ, trong tay cô đang có một quả cam. Cô bảo bạn ấy hãy trút giận vào quả cam đó; khi nào hết bực thì hãy câm quả cam để chơi tiếp. Bọn ấy không chịu. Lúc bấy giờ, cô mới giải thích: “Khi con đánh bạn nghĩa là con đã làm tổn thương bạn, giống như con đã làm với quả cam này. Cho dù bây giờ, con hết tức giận, nhưng những gì con gây ra cho bạn của mình thì vân sẽ còn đó, nó sẽ rất khó lành lợi được”. Bọn nam ấy khi nghe cô Chúc nói xong đã vội xin lỗi cô và người bạn của mình. Hôm ấy, em đồ học thêm được một bài học quý giá về tình bạn cũng như hậu quả của sự tức giận từ cô. Đến bây giờ, khi em ngồi viết những dòng chữ này, trong đâu em vân hình dung ra hình ảnh cô Chúc hơi béo, vui vẻ, tốt bụng và đáng yêu như chú mèo máy Đô-rê-mon. Em ước một tuần sẽ có nhiều hơn một giò học kĩ năng sống đề em được gộp gỡ và trò chuyện với cô. Cô Chúc mãi là cô giáo mà em yêu quý nhất! “Tích….tắctích….tốc”. Thời gian thấm thoắt trôi qua. Thế là em đã lên lớp 3, nhưng có lẽ em sẽ không bao giờ có thể quên được cô Lan – người đã dạy em suốt năm lớp 1. Em vân còn nhớ như in hình ảnh của cô trong buổi lễ khai giảng lớp Một. Cô Lan cỏ một tâm vóc vừa phải. Mặc dù đã bốn mưoi tuổi nhưng sao trông cô vẫn còn trẻ như cô tiên dịu hiền. Cô em ăn mặc khá giàn dị. Những bộ quân áo trang nhã, lịch sự ấy có lẽ là một nét thanh lịch vốn có của cô. Khuôn mặt cô tròn trịa, phúc hậu. Nước da trâng hồng rốt hợp với mái tóc xoăn xoăn của cô. Em như cảm nhộn được tình yêu cô muốn dành cho chúng em mỗi khi nhìn vào đôi măt long lanh của cô. Giọng nói cô nghiêm khắc nhưng em hiểu cũng chỉ để tốt cho chúng em. Từng lời nói, từng cử chỉ ân cân của cô đều truyền cảm hứng khiến chúng em càng say mê vào bài học hdn. Khi giảng bài trên lớp, chúng em như được lạc vào một thế giới khác, một thế giới tri thức với những lời dạy bổ ích. Khi em mắc những lỗi lầm, cô luôn nhắc nhỏ, bảo ban một cách dịu dàng. Trong giờ học, khi cà lớp hăng hái phát biểu ý kiến, cô như càng phấn khởi thêm. Khi tập viết, cô nắn nót viết từng nét chữ lên bảng rồi đi xuống từng bàn tận tình hướng dân chúng em viết bài. Thấy bạn nào viết đẹp, cô liền nở một nụ cười tươi và khen ngợi. Mỗi lân nhớ về cô, bao câm xúc rạo rực lại ùa về trong em.
Bài văn tả cô giáo đã từng dạy dỗ em lớp 5 hay nhất
804
Bài văn Tả cảnh biển buổi sáng – văn mẫu lớp 5 Hướng dẫn Cảnh biển buổi sớm thật tuyệt! Từ dưới một biển, ông mặt trời từ từ nhô lên như lòng đỏ quả trứng gà, tỏa ánh sáng rực rỡ của mình xuống biển cả làm mặt biển lấp lánh ánh vàng. Xa xa, phía đường chân trời, những mảng mây ráng vàng như được dâng lên từ biển. Trên bầu trời, những chú chim Hải Âu đang nghiêng mình chao lượn. Từ xa, những đoàn thuyền đánh cá trở về sau chuyến đi dài ngày, tiếng cười nói rộn ràng trên các bến đỗ. Dân các làng tấp nập ra đón thuyền về. Khuôn mặt ai cũng tươi tắn, rạng ngời vì mọi người trở về an toàn với những khoang thuyền đầy ấp cá. Những con cá thu, cá chim… tươi ngon, thân bạc trắng. Mọi người chuyện trò vui vẻ về chuyến ra khơi thành công. Lúc này, sóng biển êm ả vỗ nhẹ vào mạn thuyền. Những con thuyền nằm im trên bến như muốn thư giãn sau chuyến đi xa. Ngắm nhìn thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của người dân miền biển buổi sớm, em thấy rất thích và yêu nơi này. Em mong sau này mình sẽ trở thành một người thuyền trưởng giỏi để có thể điều khiển được những con tàu trên hành trình khám phá những đại dương bao la. BÀI LÀM 2: TẢ CẢNH BIỂN PHAN THIẾT BUỔI SÁNG
Bài văn Tả cảnh biển buổi sáng – văn mẫu lớp 5
248
Bài văn tả cảnh bình minh buổi sáng trên biển Hướng dẫn Sáng sớm, khi mặt trời chưa ló dạng, mặt biển như chìm trong một khối sương mù đặc quánh. Đâu đó vài chú chim hải âu chao liệng trên mặt biển để tìm mồi. Dần dần mặt biển sáng hẳn lên, một vệt hổng rạng lên ở chân trời. Mặt biển lấp lánh như có những viên kim cương tỏa sáng. Rồi một khối tròn to và đỏ từ từ nhô dần lên khỏi mặt biển. Vạn vật như bừng tỉnh, mặt biển mỗi lúc một xanh hơn. Ngoài khơi những chiếc tàu đánh cá đang di động trên mặt biển mênh mông trông nó chỉ nhỏ như một thứ đổ chơi của trẻ em. Thỉnh thoảng những con sống bạc đầu cao chừng hai mét cuồn cuộn đẩy nước xô bờ tung bọt trắng xóa. Bãi biển là một dải cát vàng chạy dài tít tắp. Vào các ngày thứ bảy, chủ nhật, khách ở thành phố đến tắm biển rất đông. Trên bãi cát phẳng lì, những chiếc dù xanh, đỏ được cắm la liệt, nhìn từ xa trông chúng giống như những chiếc nấm khổng lổ. Khách du lịch phất phơ áo vàng, xanh, đỏ như đàn bướm lượn, tiếng nói chuyện, tiếng reo hò cùng với tiếng sóng biển tạo cho không khí ở bãi biển nhộn nhịp và sống động hẳn lên. Biển quả thực rộng lớn. Đứng trước biển, con người dường như bé nhỏ hẳn đi. Biển không những đẹp, biển còn chứa đựng cả một kho của cải quý báu và rất nhiều điều bí ẩn.
Bài văn tả cảnh bình minh buổi sáng trên biển
271
Bài văn tả cảnh công viên vào buổi sáng sớm lớp 5 Hướng dẫn Bài văn tả cảnh công viên vào buổi sáng sớm lớp 5 Tả cảnh công viên vào buổi sáng sớm – bài mẫu 1 Mỗi khoảnh khắc trong ngày đều mang một vẻ đẹp khác nhau. Nhưng khoảnh khắc mà em yêu nhất là buổi sáng, mọi vật cùng tỉnh giấc, đẹp và đày sức sống. Đặc biệt là cảnh buổi sáng trong công viên gần nhà em. Đẹp vô cùng! Mặt trời thức giấc trên cao, cả thành phố cựa mình thức dậy sau giấc ngủ say. Ánh nắng ban mai cuối mùa hạ hồng hồng bao trùm lên cảnh vật, lan nhanh ra công viên cạnh nhà em. Em nhanh chóng thức dậy, cùng bố mẹ ra công viên tập thể dục để sẵn sàng khởi động cho ngày mới. Từ xa nhìn lại đã thấy công viên thật đẹp biết bao! Cây xanh bao phủ khắp nơi giống như một cánh rừng tí hon giữa lòng thành phố. Không khí buổi sáng ở công viên trong lành và mát dịu. Nó khiến cho tâm trạng của con người trở nên nhẹ nhàng và an lành hơn. Những tia nắng ban mai nhẹ nhàng len lỏi qua từng tán lá ở trên cao. Những cơn gió tinh nghịch thổi qua làm lá cây run lên nhè nhẹ, có những chiếc yếu ớt không bám trụ được, theo gió rơi lả tả xuống đất trông giống như cơn mưa lá thật đẹp. Chim non nhảy nhót truyền cành, rả rích nói chuyện với nhau rồi cất tiếng hót líu lo. Hồ nước gần đó vào buổi sáng yên tĩnh đến lạ kỳ, thỉnh thoảng có cơn gió chạy qua mới nhẹ lăn tăn gợn sóng. Trong công viên nhấp nhô bóng dáng con người, từ trẻ em đến những người lớn tuổi. Người chạy bộ, người tập thể dục, các cụ già hoặc tản bộ hoặc tập dưỡng sinh, khuôn mặt ai cũng ánh lên niềm hạnh phúc của tuổi già an nhàn. Những đứa trẻ chạy đuổi nhau, tiếng nói cười giòn giã vang lên. Trên một khoảng đất rộng, các mẹ, các chị xếp hàng tập aerobic theo nhạc sôi động. Xa xa thấp thoáng cả những gánh hàng rong buổi sớm, hương thơm dịu ngọt của xôi và bánh bao, bánh khúc khiến bụng em dường như réo lên. Xung quanh bờ hồ cũng có nhiều cặp vợ chồng cùng nhau chạy bộ, vừa chạy vừa trò chuyện vui vẻ biết bao! Thời gian trôi đi, mặt trời mỗi lúc một lên cao hơn, trời trong xanh và ánh nắng ngày càng rực rỡ hơn. Công viên theo đó cũng trở nên đông đúc, náo nhiệt hơn. Phía bên ngoài còn vọng lại tiếng còi xe inh ỏi, một ngày làm việc và học tập nữa đã thực sự bắt đầu. Em vội vã tạm biệt công viên, nhảy nhót theo ánh nắng trở về nhà để đi học, để lại sau lưng âm thanh và cảnh đẹp buổi sáng trong công viên. Em rất yêu thích không khí trong lành thoáng đãng ở công viên mỗi buổi sáng. Khung cảnh ấy như tiếp thêm năng lượng và sức sống, giúp em vui vẻ và lạc quan đón chào một ngày mới. Tả cảnh công viên vào buổi sáng sớm – bài mẫu 2 Buổi sáng luôn là thời điểm đẹp nhất trong một ngày, đặc biệt là một buổi sáng trong công viên khi được hòa mình vào tiếng ca hót rộn ràng của những chú chim, tiếng xào xạc của cành cây ngọn cỏ, tiếng ồn ào của xe cộ qua lại. Đối với em, đó là khung cảnh tuyệt vời nhất. Sáng sớm ở công viên vẫn còn rất yên tĩnh, không khí trong lành, mát mẻ. Bao trùm lên không gian là một màn sương nhẹ, thỉnh thoảng có vài cơn gió se lạnh thổi qua. Bên ngoài trời, ánh đèn điện còn chưa tắt hẳn, cảnh vật im lìm chìm trong giấc ngủ sâu như đang nghỉ ngơi sau một ngày dài hoạt động. Những hạt sương đêm vẫn đọng lại trên bãi cỏ xanh mướt, long lanh như những viên ngọc. Hồ nước nhỏ nằm giữa công viên trong vắt và phẳng lặng, đôi lúc sẽ có một cơn gió nhẹ lướt qua làm mặt hồ lăn tăn gợn sóng. Không khí vẫn còn mùi ngai ngái của cơn mưa đêm qua để lại khiến cho tâm hồn người ta thật thoải mái. Ánh nắng đầu tiên đã xuất hiện, dịu dàng chiếu xuống mặt hồ, mờ nhạt nhưng vô cùng ấm áp. Trên bầu trời, những áng mây trắng bồng bềnh trôi như đang đuổi bắt nhau đánh thức ông mặt trời thức dậy. Trong công viên lúc này đã bắt đầu lác đác thấy bóng người đi tập thể dục. Những ông già, bà già thì tập thể dục dưỡng sinh còn những người trẻ tuổi hơn thì cùng nhau chạy bộ, vừa đi vừa trò chuyện vô cùng vui vẻ. Cây cối trong công viên cũng như đang bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, vươn mình đón ánh nắng ban mai mà ông mặt trời ban tặng. Những chú chim cũng bắt đầu hót líu lo, ca lên bài ca chào ngày mới. Vài tia nắng tinh nghịch nhảy nhót trên những cánh hoa sặc sỡ sắc màu, làm không gian xung quanh bừng sáng hơn bao giờ hết. Từng làn gió ban mai nhẹ thổi qua mang theo hương thơm của các loài hoa cùng với hương thơm thanh khiết của những ngọn cỏ tạo thành một mùi hương thật yên bình, dễ chịu. Em rất thích không khí tuyệt vời vào buổi sáng ở công viên, không chỉ thoáng đãng, trong lành mà còn mang lại cảm giác thoải mái, dễ chịu. Công viên vừa là nơi tô điểm cho thành phố, vừa là nơi cung cấp năng lượng và tinh thần sảng khoái cho mọi người để bắt đầu một ngày mới tràn đầy hứng khởi. Tả cảnh công viên vào buổi sáng sớm – bài mẫu 3 Tập thể dục luôn là thói quen thường ngày của em. Thế nên mỗi buổi sáng sớm e lại cùng ba chạy bộ ở công viên. Khung cảnh buổi sáng mùa thu ở công viên thật đẹp. Sáng sớm bầu trời cao vút, trong xanh như một chiếc màn khổng lồ bao bọc khắp thế gian, được trang trí bởi nhứng đám mây trắng, xốp trôi bồng bềnh như một đàn cừu non đang gặm cỏ. Cả công viên khác trên mình màn sương mỏng mùa thu. Ông mặt trời thức giấc, khéo cỗ xe lửa ban phát ánh nắng gọi vạn vật thức giấc. Nắng lên, vạn vật như bừng tỉnh, những chú chim bắt đầu cất tiếng hót trong trẻo, líu lo tạo nên bản giao hưởng “Chào đón ngày mới bắt đầu”. Những đóa hoa hồng, hoa cúc, hoa huệ,…thi nhau khoe áo mới, những chiếc áo rực rỡ sắc màu, hẵng còn đọng đầy sương làm mê hoặc lũ ong bướm dập dờn tới lui. Hai bên đường đi là những tán lá cây xanh mát đang rì rào chuyện trò với nhau trong làn gió sớm. Đi công viên vào sáng sớm thật thích, được ngắm cảnh đẹp, được hít thở không khí trong lành và thao hồ chạy nhảy, đùa vui. Em rất thích công viên và mong vào mỗi buổi sáng ngày nghỉ sẽ được ba cho đến đây.
Bài văn tả cảnh công viên vào buổi sáng sớm lớp 5
1,257
Bài văn tả cảnh lễ hội chùa Hương Hướng dẫn Hằng năm, cứ đến mùng sáu tháng Giêng (sau Tết Nguyên Đán) là nhà em lại chuẩn bị hành trang lên đường đi lễ hội Chùa Hương với mong muốn cầu mong một năm mới tốt lành sẽ đến với cả gia đình. Đây còn là dịp để em được ngắm nhìn, thưởng thức phong cảnh thần tiên của Hương Sơn. Sau khi xuống xe, gia đình em xuống đò, lướt theo dòng suối Yến rong xanh, chảy giữa hai bên là hai cánh đồng lúa xanh mơn mởn. Trước mắt là dãy núi trập trùng tím biếc, ẩn hiện trong những làn mây trắng mờ ào, nhìn từ xa như những làn khói, trông đẹp vô cùng! Lên tới nơi, em được chứng kiến những công trình kiến trúc tuyệt vời. Các ngôi chùa được xây dựng rải rác trên triền núi đá vôi, thấp thoáng dưới rừng cây xanh thẳm, Từ chân núi trèo ngược lên hàng ngàn bộc đá cheo leo, gộp ghềnh, du khách sẽ lân lượt thắp nhang ở chùa Ngoài, rồi vào chùa Trong, lên chùa Giải Oan, chùa Thiên Trù với động Hình Bồng, động Hương Tích.,, Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cà các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn. Lễ hội chùa Hương lúc nào cùng đông đúc, tấp nập du khách. Trên con đường dốc đá quanh co, khách thập phương nối đuôi nhau lên xuống, Già, trẻ, gỏi, trai đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi miền quê, Gặp nhau ai nấy đều chào câu: "Nam mô A dì đà Phật". Nhiều cụ bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo tứ thân, tràng hạt đeo trên cổ, tay chống cây gậy trúc, bước chân đi dẻo dai Chẳng kém thanh niên, Tiếng "Nam mô râm ran suốt mọi nẻo đường. Vào ngày khai hội, Ban tổ chức có tổ chức múa rồng ở sân đền Trình, bơi thuyền múa rồng trên dòng suối Yến, hát chầu văn… Em rất thích phong cảnh ở chùa Hương và lễ hội nơi đây. Em cảm thấy rất khâm phục tài năng và công sức của những người đã xây dựng nên những công trình ý nghĩa và tổ chức những lễ hội đặc biệt như vậy. Em mong ba mẹ sẽ cho em trải nghiệm thêm nhiều lễ hội khác nữa, để em có thêm nhiều hiểu biết về văn hóa dân tộc. Nguồn:
Bài văn tả cảnh lễ hội chùa Hương
430
Bài văn tả cảnh nhộn nhịp của trường em trong giờ ra chơi. Hướng dẫn Đối với mỗi người, một thời học sinh đi qua là một thời đáng để ghi nhớ. Sau đây bì văn tả cảnh nhộn nhịp của trường em trong giờ ra chơi sẽ chứng tỏ cho các bạn thấy. Đối với mỗi học sinh, giờ ra chơi như một người bạn giúp chúng ta thư giãn sau những tiết học căng thẳng. Tiếng trống giờ ra chơi đã vang lên bên tai mỗi học sinh. Từ các lớp, học sinh ùa ra như những chú chim non, tò mò muốn bước ra ngoài không gian. Nắng đuổi bắt chùm lộc non xanh mơn mởn, rồi đứng lại bên những cành phượng vĩ đỏ rực đang khoe sắc. Dưới gốc cây phượng già, các bạn gái rủ nhau chơi nhảy dây. Những đôi chân xinh xắn ấy, cùng bạn nhảy dây từng bước uyển chuyển. Bạn nào bạn nấy cũng cố gắng nhảy thật nhịp nhàng, để đáp lại sự cổ vũ nhiệt tình của các bạn xung quanh. Gần đó là trò chơi đá cầu cũng lí thú không kém. Quả cầu nhiều màu sắc như bảy màu tinh tú của cầu vồng. Nó được đôi chân khoẻ khoắn, nhanh nhẹn của các bạn nam làm cho có sức sống. Chẳng có thể nhìn thấy quả cầu xinh xinh đâu nữa, mà chỉ thấy đôi chân nhanh nhẹn thoắt lên, thoắt xuống của các bạn. mấy bạn đứng xem, người thì chăm chú nhìn quả cầu tung lên hạ xuống, người thì trổ tài dự đoán xem bàn chân nào khéo nhất. Cuối cùng, bạn Tuấn lớp tôi cũng giành chiến thắng bởi những cú đá hiểm hóc. Có bạn muốn tìm cho mình một sự thư giãn nhẹ nhàng, lại đến bên gốc bàng xanh mướt kia ngồi đọc những sách. Vẻ chăm chú ấy làm cho ai cũng tin rằng đó là những cô gái, chàng trai sẽ là những tinh hoa cho xã hội, làm nên một cuộc sống tươi đẹp cho chính mình và cả đất nước. Ngược lại, các bạn trai hiếu động lại tìm thấy niềm vui riêng trong trò chơi đuổi bắt. Mồ hôi nhễ nhại toát ra như tắm, nhưng dường như nó chẳng là gì đối với các bạn, bởi lẽ ai cũng thấy lòng rộn lên niềm vui của trẻ thơ. Chị gió tốt bụng dùng chiếc quạt của mình xua tan cái nắng nóng cho cả sân trường. Những bạn gái nhút nhát, dịu dàng lại luôn quây quần lại luôn quây quần bên gốc cây xà cừ tâm sự. Sân trường vui thật đấy! Làm cho các chú chim sâu cũng phải ngó xuống nhìn. Trên không trung, ông mặt trời cháy bỏng, ngó xuống nhìn nở nụ cười thiên thần. Bỗng ba hồi trống vang lên, các bạn học sinh lần lượt vào lớp, ai cũng tươi tắn như những đoá hoa ban mai. Bởi các bạn sắp bước vào những tiết học sôi nổi hào hứng. Giờ ra chơi ở trường em là vậy đó, nó mang lại cho chúng em biết bao kỉ niệm thân thương, dưới mái trường mến yêu. Nguồn:
Bài văn tả cảnh nhộn nhịp của trường em trong giờ ra chơi.
536
Bài văn tả cảnh sân trường của em vào lúc sáng sớm lớp 5 Hướng dẫn Bài văn tả cảnh sân trường của em vào lúc sáng sớm lớp 5 Tả cảnh sân trường vào buổi sáng sớm – bài mẫu 1 Tuổi học trò là lứa tuổi thần tiên, thơ ngây và hồn nhiên nhất. Những năm tháng ấy chúng mình chỉ giữ trong tim thứ tình cảm trong sáng như yêu bố mẹ, gia đình, yêu mến thầy cô, bạn bè và yêu mái trường. Em cũng yêu mái trường của mình, đặc biệt là khung cảnh buổi sáng trên sân trường. Một sớm ban mai, em may mắn được chiêm ngưỡng toàn cảnh sân trường khi ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời như quả cầu khổng lồ, từ từ nhô lên ở phía Đông ửng hồng bình minh. Những tia nắng vàng dịu dàng lan tỏa khắp không gian, nhẹ nhàng đánh thức vạn vật sau một đêm dài say giấc. Em tung tăng mang cặp sách đến trường để bắt đầu một ngày học mới. Đứng từ phía xa xa, sân trường như một cô bé nhút nhát ẩn mình sau những tán cây xanh. Lại gần mới thấy rõ khoảng sân rộng lớn, không một bóng người. Không khí trong lành và quang đãng khiến em cảm thấy thoải mái vô cùng. Những hàng cây xanh dường như vừa mới thức giấc còn chưa tỉnh ngủ nên ngả nghiêng nghiêng ngả trong gió sớm, những chiếc lá vẫy vẫy như đang dụi mắt. rất đáng yêu. Những chú chim nhảy nhót truyền cành, cất tiếng hót líu lo, cùng nhau tấu lên khúc nhạc của buổi sáng. Mặt trời lên cao hơn, ánh nắng rực rỡ hơn, sân trường cũng dần nhộn nhịp, tấp nập hơn. Học sinh đông dần đông dần. Màu áo trắng tinh khôi hòa quyện vào màu khăn quàng đỏ thắm, thấp thoáng khắp sân trường. Học sinh và các thầy cô đi đi lại lại như trẩy hội, náo nhiệt làm sao! Giữa sân trường, những cây bàng cây phượng đã nghiêm mình đứng vững, trên cành lá còn đọng lại những hạt sương sớm trong veo long lanh như những viên ngọc quý. Sương sớm phản chiếu màu xanh của lá cây, hài hòa và xinh đẹp. Tiếng chim hót đã bị tiếng nói, tiếng cười, tiếng dép loẹt quoẹt. tiếng chạy bộ uỳnh uỵch và tiếng gọi nhau ý ới lấn át. Sân trường sôi động, huyên náo hẳn lên. Trời trong xanh, nắng gió hiền hòa, học sinh chúng em tranh thủ trước giờ vào lớp, người thì tất bật chạy tới chạy lui giặt giẻ lau bảng, trực nhật để chuẩn bị cho lớp học sạch sẽ. Cũng có những bạn ham chơi, dùng thời gian ít ỏi trước lúc vào giờ để chơi nhảy dây, đá cầu…Tiếng cười giòn tan vang vọng khắp sân trường. Đó là nụ cười vô cùng hồn nhiên, trong sáng của tuổi học trò. Khung cảnh ấy đã khiến em bồi hồi, rung động. Mai đây, dù phải rời xa mái trường tiểu học thân yêu, em vẫn mãi nhớ về khung cảnh tuyệt đẹp ấy. Dư âm trong trẻo của những buổi sáng dẹp trời trên sân trường buổi sáng sẽ mãi ghi dấu trong tâm của em. Tả cảnh sân trường vào buổi sáng sớm – bài mẫu 2 Đối với mỗi học sinh chúng ta, ngôi trường thân thiết như ngôi nhà thứ hai, là nơi gắn bó với ta suốt bao nhiêu năm tháng học trò. Yêu trường yêu lớp, em còn yêu cả cái cảm giác được đến trường thật sớm để ngắm nhìn quang cảnh ngôi trường vào buổi sáng trước mỗi buổi học. Trường em mang tên người nữ anh hùng Võ Thị Sáu, nằm sừng sững một góc trên con đường Trần Nguyên Hãn. Sáng sớm, bầu trời trong xanh, thoáng đãng, không khí rất trong lành, chỉ có tiếng lá cây xào xạc và đôi ba chú chim non cất tiếng hót líu lo. Lúc này, sân trường thật tĩnh mịch, yên ả. Trường em có bay dãy nhà tầng được xếp theo hình chữ U, để lại một khoảng sân trống rộng rãi với lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Chính giữa là sân khấu nơi diễn ra những buổi văn nghệ vô cùng đặc sắc. Các dãy lớp học đều được quét sơn vàng, mỗi tầng gồm nhiều lớp học giống nhau, có bốn cửa sổ và hai cửa ra vào. Phía trên là tấm biển có ghi tên lớp. Mặt trời sáng bừng lên, chiếu rọi vào từng lớp học. Gió nhẹ thổi làm những tán lá bàng rung lên như đang cất lời chào các bạn nhỏ thân thiết. Chẳng mấy chốc mà tiếng trống trường đã vang lên dồn dập: “Tùng…tùng…tùng”. Chúng em nhanh chân xếp hàng về lớp của mình. Bấy giờ, sân trường lại trở nên vắng lặng. Đâu đó chỉ còn tiếng rì rào của gió, tiếng ríu rít của đàn chim non lấp ló sau tán lá và tiếng cô giáo giảng bài vang vọng trong không gian. Mỗi ngày trôi qua, ngôi trường đã trở thành ngôi nhà thứ hai của em. Ở đó, em được học tập, vui chơi; ở đó em còn có bao nhiêu bạn bè thân thiết, có thầy cô những người đã trao cho em bao kiến thức và tình yêu thương vô bờ bến. Quang cảnh sân trường vào buổi sáng trước buổi học mãi mãi để lại trong em những ấn tượng sâu sắc nhất của tuổi học trò. Trường học không học là nơi học tập những kiến thức bổ ích mà còn là nơi cho em những kỉ niệm, niềm vui bên bạn bè. Bởi niềm vui của tuổi thơ chúng em là những giây phút túm năm tụm bảy trước giờ học hay giờ ra chơi, những giây phút ngắm cảnh sân trường vào buổi sớm mai. Bầu trời trong xanh, thoáng đãng, không khí rất trong lành. Chỉ có tiếng lá cây xào xạc và tiếng chim hót líu lo. Lúc này, sân trường thật tĩnh mịch, yên ả. Có rất ít học sinh đến trường. Những ánh đèn trong lớp học dần được thắp sáng, những chiếc quạt cũng dần bật lên, để lộ những hàng ghế màu vàng. Ba dãy nhà tầng được xếp theo hình chữ L, để lại một khoảng sân trống rỗng với lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới, cũng chẳng có tiếng học sinh nô đùa. Mặt trời đã nhô lên, trông giống như quả bóng khổng lồ. Những tia nắng dìu dịu chiếu xuống sân trường làm nó sáng hẳn lên. Những giọt sương sáng sớm đọng lại trên những chiếc lá xanh non long lanh như những hạt ngọc. Một vài phút sau, học sinh đến nhiều hơn. Bây giờ, sân trường đã náo nhiệt hơn lúc trước. Tiếng học sinh cười, nói vang dội khắp sân trường. Mỗi bạn chơi một trò, bạn thì đá cầu, bạn thì nhảy dây… Chốc chốc tiếng reo hò lại rộ lên thán phục cổ vũ cho những người thắng cuộc. Trên cành phượng, cành xà cừ những chú chim sẻ, chim chích bông đua nhau nhảy nhót, cất tiếng hót líu lo như muốn cổ vũ, hoà mình với những cuộc vui phía dưới. Các khu nhà sáng rực lên như được rát vàng. Mấy phút sau, tiếng trống vào học vang lên: “Tùng! Tùng! Tùng!”, thế là giờ học bắt đầu. Bên ngoài không khí lại tĩnh mịch, yên lặng trở lại. Chỉ còn lá cờ bay phần phật và tiếng cô giáo giảng bài vang vang. Em rất thích quang cảnh của buổi sớm mai vì đó là một quang cảnh yên tĩnh và thơ mộng đáng nhớ.
Bài văn tả cảnh sân trường của em vào lúc sáng sớm lớp 5
1,304
Đề bài: Bài Văn Tả Cảnh Đêm Trăng Ở Quê Em Bài Làm Em đã được bố mẹ dẫn đi rất nhiều nơi có địa điểm đẹp như Đà Nẵng, Nha Trang,… Nhưng đối với em tất cả những cảnh đẹp đó không thể nào có thể sánh được với một đêm trăng rằm tại quê em. Đó là một đêm trăng sáng, nhưng không tĩnh mịch, buồn bã mà ngược lại đó lại là đêm trăng được hiện lên rất sinh động với sự góp mặt của những ‘nhân vật’ nổi tiếng. Bắt đầu vào những tháng hè oi bức. Ban ngày, ông mặt trời tỏa ra những ánh nắng chói chang, nóng bức. Nhưng trời bắt đầu tối dần, ông mặt trời bắt đầu đi ngủ, để nhường chỗ cho mặt trăng lên. Trăng tròn và rất sáng, nhất là vào những ngày rằm hay mùng một. Mặt trăng to tròn, trăng bắt đầu lấp ló đằng sau rặng tre già, lúc nào mặt trăng vàng và to nhất, nhưng càng lên cao, mặt trăng càng nhỏ lại và sáng hơn. Những ánh sáng của mặt trăng bao phủ mọi nơi, phủ xuống cánh đồng lúa đang rì rào trong gió. Những cây lúa như những nàng vũ công thực sự khi đang ‘uốn lượn’ trước những cơn gió mát lành. Dưới ruộng, những chú cá rô hay những chú lươn đang nổi lên, khuấy động cả mặt nước đang yên tĩnh. Những chú dế mèn, những chú nhái bén bắt đầu cất lên dàn đồng ca, lúc du dương, lúc lại dồn dập tạo làm phá vỡ bầu không khí ban đêm tưởng chừng sẽ rất buồn chán. Trước sân nhà em, lúc trăng mới lên, lấp ló sau rặng tre, trăng như một cô nàng đang e ấp, ngại ngùng. Nhưng khi đã lên cao, trăng lại biến hóa, trở thành một người đàn ông với sức mạnh có thể phủ ánh sáng lên mọi ngóc ngách của làng. Những ánh sáng ấy còn có thể thay cho đèn cao áp. Ánh sáng đó vừa trong trẻo, vừa dịu mát. Cũng chính bởi vậy mà trẻ em chúng em thích tụ tập lại rồi lại chơi những trò như: đuổi bắt, ô ăn quan,… dưới ánh trăng này. Trăng dường như cũng muốn vui chơi cùng chúng em, nên chúng em đi đến đâu thì trăng lại tỏa ánh sáng tới đó. Thật là thích! Em thích cảnh đêm trăng của quê em lắm. Đó không chỉ là sở thích của mỗi em mà còn là của tất cả những bạn nhỏ. Thật là thích nếu được chơi đùa với ánh trăng!
Bài Văn Tả Cảnh Đêm Trăng Ở Quê Em
441
Bài văn tả cảnh đầm sen ở đầu làng em bài thi học sinh giỏi tuyển chọn Hướng dẫn Hoa sen được coi là quốc hoa của Việt Nam, nét đẹp bình dị nhưng thanh cao của hoa sen có thể làm lay động bất cứ ai khi thưởng ngắm. Dựa trên những hiểu biết và những gì mình quan sát được, em hãy viết bài văn tả cảnh đầm sen ở đầu làng em. Bài làm Làng em là một ngôi làng nhỏ ở vùng quê lúa Thái Bình, mang bóng dáng của những ngôi làng nông thôn ngày xưa với những nét đẹp đơn sơ, mộc mạc, giản dị mà sâu lắng. Dường như ở bất kì một làng nào cũng sẽ có những điều đặc biệt, những điểm nhấn, vẻ đẹp riêng cho chính mình, đó có thể là những mái đình xưa cũ, cây đa cổ thụ hay những rặng tre xanh ngát. Riêng với làng của em, nơi đẹp nhất đối với mọi người dân trong làng chính là đầm senở đầu làng. Cũng không rõ rằng đầm sen ấy đã có từ bao giờ, nhưng em nghe các ông các bà kể thì từ thời của ông bà đã có đầm sen đó rồi, chiếc cổng đầu làng có thể đã được thay đổi nhiều lần nhưng riêng hai bên đầm sen ấy thì vẫn luôn vẹn nguyên. Khi em hỏi về công việc trồng sen ở đầu làng thì đó chính là câu chuyện của rất nhiều người trong làng, họ đã cùng nhau góp công góp sức từ mùa sen này tới mùa sen khác. Cứ mỗi mùa sen đến đầu làng đẹp như những chiếc cổng thành trong cảnh tiên giới mà chúng ta hay thấy ở bộ phim nổi tiếng “Tây Du Kí”. Trong đầm không có quá nhiều sen, vẫn có thể nhìn thấy làn nước trong xanh màu lục thẫm, lấp ló dưới những tán lá, khi nắng chiếu tới lại vội vàng trôi đi, không quá “chật trội” trong hai chiếc đầm để tất cả cây, hoa, lá sen cùng nhau dịp dìu, đung đưa, nghiêng ngả trước làn gió và ánh nắng nồng nàn của mùa hè. “Trong đầm gì đẹp bằng sen” và trong đầm sen thì chẳng gì đẹp hơn hoa sen. Nổi bật giữa hai đầm xanh ngắt ấy là những bông hoa sen hồng thắm, hồng nhạt, sự kết hợp màu sắc đẹp tới mức tuyệt vời, màu hồng nổi bật giữa màu xanh, màu xanh trở nên đẹp hơn khi có màu hồng. Những bông sen đang nở vươn lên cao, tỏa ra, từng cánh sen tuy mỏng manh nhưng lại rất vững vàng trước gió, dù bông có bị gió lung lay thì cánh hoa cũng không vì thế mà rơi rụng. Điểm xuyết trên nền xanh hồng nhã nhặn ấy là màu vàng của đài sen, tuy nhỏ bé và ít hơn hẳn nhưng nó lại rất biết thể hiện mình dưới nắng, những đài sen tắm màu vàng óng ả của mình dưới nắng làm cho đầm sen trở nên lung linh, huyền ảo hơn. Những búp sen luôn như vậy, lặng im và chờ tới ngày tỏa sáng, đó như những bàn tay đang chắp lại chờ tới cơ hội được mở ra, vẽ nên những bức tranh, góp phần kiến tạo nên vẻ tuyệt đẹp cho cuộc sống này. Hoa sen ở đầu làng tuyệt nhiên không ai được xâm phạm tới, cũng không ai có ý định sẽ đem đi bán, tất cả người dân trong làng đều bảo vệ và gìn giữ đầm sen ấy, bởi nó được tạo nên nhằm mang lại giá trị về mặt tinh thần chứ không phải mang lại giá trị kinh tế – vật chất. Hoa sen được tôn vinh là quốc hoa của Việt Nam, bởi nó mang những vẻ đẹp rất cao quý, gần gũi với những đức tính và vẻ đẹp của con người Việt. Đầm sen ở đầu làng em, không chỉ có ý nghĩa tạo nên vẻ đẹp trong khung cảnh của ngôi làng mà đó còn là lời nhắc nhở đối với mọi người, hãy luôn trân trọng và gìn giữ những phẩm chất, đức tính tốt đẹp của con người Việt ta, hãy là những đóa sen kia luôn tỏa ngát hương thơm và cống hiến vẻ đẹp hết mình cho cuộc đời.
Bài văn tả cảnh đầm sen ở đầu làng em bài thi học sinh giỏi tuyển chọn
733
Bài văn Tả dòng sông quê hương em: Sông Tiền Giang Hướng dẫn Buổi sáng, nước sông đầy ắp, chảy lững lờ. Mặt sông rộng mênh mông, nhấp nhô sóng nước. Bởi mang nhiều chất phù sa nên nước sông đục nhờ nhờ. Thế nhưng, con nước ấy đã nuôi dưỡng những miệt vườn ven sông quanh năm xanh tốt. Dọc theo hai bên bờ sông là những hàng dừa nước luôn rì rào trong gió sớm. Tàu dừa đu đưa như chiếc lược khổng lồ đang chải tóc mây trời. Dưới sông, thuyền bè tấp nập. Những chiếc xà lan chở cát đang phăm phăm tiến về phía trước. Tiếng máy nổ xinh xịch, tiếng nói cười râm ran, tiếng gõ cộc cộc vào mạn thuyền,.„Những âm thanh ấy đã làm cho dòng sông thêm phần nhộn nhịp. Nhưng tấp nập nhất vẫn là bến phà. Hành khách đi về, hàng hoá ngược xuôi; Bến phà đã làm cho dòng sông trở nên ồn ã, đông vui. Buổi chiều, sông cứ lặng lẽ đưa dòng về biển cả. Nước đỏ đậm phù sa/ Sóng nước lấp lánh nắng chiều. Từng đàn cá lặng lờ như muốn thưởng thức ánh hoàng hôn đang buông xuống lòng sông. Thỉnh thoảng, những đám lục bình dập dềnh trên mặt nước mà nó chẳng biết mình sẽ trôi dạt về đâu. Con sông đã gắn bó với em, gắn bó với người và đất miền Tây mang nặng nghĩa tình. Em rất yêu sông. Nhìn dòng sông mênh mông, em hình dung tấm lòng bao la của mẹ. Lòng mẹ như dòng sông chảy mãi. Cũng như sông, mẹ luôn cho em tất cả tình thương mà không lấy lại bao giờ.
Bài văn Tả dòng sông quê hương em_ Sông Tiền Giang
285
Bài văn tả em bé đang tuổi tập đi tập nói lớp 5 Hướng dẫn Bông có khuôn mặt bầu bĩnh, luôn nở những nụ cười giòn tan. Nước da của em trắng hồng, nhất là đôi má phúng phình của em ửng hồng như mặt trời buổi sáng. Mắt Bông trong veo, to tròn và đen láy như hạt nhãn. Môi em đỏ và căng mọng như thoa son. Em mới có sáu chiếc răng, mỗi khi cười, những chiểc răng trắng như sữa thật dễ thương. Dù còn nhỏ nhưng Bông có mái tóc dày, mẹ vẫn thường buộc thành những túm nhỏ xinh xinh. Mẹ thường chọn cho em Bông những bộ quần áo hơi rộng, chất liệu mềm và dễ thoát mồ hôi. Em cũng đi đôi dép quai hậu, để bảo vệ chân khi tập đi. Vì đang tập đi nên suốt ngày em quanh quẩn bên chiếc xe tập đi bằng gỗ. Hai tay Bông nắm chắc vào thành xe, bước thật nhanh và đẩy chiểc xe di chuyển. Nhiệm vụ của em là dọn sạch các chướng ngại vật trên đường Bông đi, để em không bị vấp ngã. Bông luôn khúc khích cười và thích thú luyện tập. Khi mỏi chân, em thả tay ra và tự bước. Có lúc, em ngã nhào, sau đó đứng dậy và đòi mẹ bế. Không chỉ tập đi, Bông còn đang tập nói. Tiếng nói bỉ bô của em “bà, bố, mẹ” rất vui tai. Mẹ em dành nhiều thời gian để luyện cho Bông tập nói. Thấy cái gì mới, Bông cũng quan sát và chỉ trỏ. Mẹ bảo đó là cách giao tiếp của em. Vì em đang muốn khám phá thể giới xung quanh nên phải dạy em từng cái nhỏ nhất.
Bài văn tả em bé đang tuổi tập đi tập nói lớp 5
296
Bài văn tả lớp học của em văn 4 Hướng dẫn Bài văn tả lớp học của em văn 4 Sau khi em và bạn em làm trực nhật xong, em thấy lớp sáng sủa và đẹp hẳn lên. Lớp em chẳng có gì đặc biệt, vậy mà, em rất thân thiết với những thứ trong lớp. Đó là những chiếc bàn xinh xinh để giúp em viết bài. Nhìn thẳng lên thì thấy bàn cô giáo. Trên tường có hai tấm bảng sơn màu xanh lá cây. Phía trên tấm bảng có hai khung đề chữ: DẠY TỐT – HỌC TỐT, bên trên có ảnh Bác Hồ. Phía bên tường có hai cửa sổ sơn màu xanh da trời. Bên trong chỉ đơn sơ như thế. Còn bên ngoài thì có bồn hoa dưới hành lang nhìn rất đẹp mắt. Hoa tươi như đang vẫy chào em. Lớp em chỉ có vậy thôi. Những thứ này đã thân thiết với em bao ngày rồi. Kẻng báo giờ vào lớp, các lớp xếp hàng thứ tự. Em nhìn thấy vui vui. Cô giáo cho chúng em vào lớp. Bắt đầu tiết Toán. Em làm bài rồi nhìn cô, em thấy vui và thân thiết làm sao. Lớp sạch, đẹp khiến cho gương mặt mọi người như tươi tắn hẳn lên. Lớp học yêu mến đã giúp em học tập. Em hứa sẽ giữ gìn cẩn thận. Em rất vui khi thấy lớp sạch sẽ, gọn gàng do công sức của chúng em tạo nên.
Bài văn tả lớp học của em văn 4
249
Bài văn tả mẹ của em hay nhất thế giới – thi hs giỏi lớp 5 Hướng dẫn Năm nay, mẹ đã ngoài tuổi bốn mươi. Với dáng người cao cao, làn da ngăm đen nên trông mẹ có vẻ rắn chắc. Mẹ thường mặc những bộ quần áo sẫm màu, tóc búi cao. Ây vậy mà trông mẹ rất đẹp. Mẹ đẹp một cách giản dị, tự nhiên. Nổi bật trên khuôn mặt của mẹ là cặp mắt đen, long lanh và dịu hiền. Đôi mắt ấy thường ánh lên những nét tươi vui, ấm áp. Mỗi khi mẹ mỉm cười, hàm răng trắng nõn nà hiện ra, chiếc răng khểnh đã tăng thêm phần duyên dáng của mẹ. Trong mắt tôi, mẹ là người đẹp nhất. Mẹ rất yêu thương gia đình và hết lòng chăm sóc con cái. Dù bận rộn công việc ở cơ quan nhưng mẹ luôn dành thời gian chăm lo gia đình, nhắc nhở tôi học tập. Mẹ rất vui khi tôi học hành tấn tới. Những lần tôi mắc khuyết điểm, mẹ ân cần chỉ bảo chỗ sai để tôi khắc phục, sửa lỗi. Không chỉ có thế, mẹ tôi là người luôn khoan dung, độ lượng, sống cởi mở và luôn quan tâm đến tất cả mọi người. Đặc biệt, mẹ rất quan tâm đến người nghèo khó. ơ cơ quan, mẹ luôn hoà nhã với đồng nghiệp, săn sàng giúp đỡ đồng nghiệp gặp khó khăn, ơ nhà, mẹ quan tâm đến từng miếng ăn giấc ngủ của mọi thành viên trong gia đình. Những bữa cơm ngon lành nhờ tay mẹ nấu. Đúng như lời ca từ tuổi mẫu giáo mà tôi thường hát: Cơm con ăn tay mẹ nấu Nước con uống tay mẹ đun Trời nắng nóng, gió từ tay mẹ… Công việc bề bộn là thế nhưng mẹ không bao giờ phiền lòng. Mẹ chỉ mong tôi ăn khỏe ngon, ngủ ngon, học hành tiến bộ, mong gia đình êm ấm, trên thuận dưới hoà… Mẹ mong hạnh phúc đến cho mọi người thì nhiều nhưng mong cho mẹ chẳng bao nhiêu. Mẹ tôi là người thật tuyệt vời. Thời gian cứ lặng lẽ trôi qua, bây giờ tôi đã cao gần bằng mẹ. Mẹ tôi mỗi ngày một già đi. Đúng như lời thơ của Trương Nam Hương: Lưng mẹ cứ còng dần xuống Cho tôi ngày một thêm cao… Mẹ là “Tổ quốc” của riêng tôi! Mỗi lần nghĩ về mẹ, lòng tôi lại dâng lên những tình cảm thiêng liêng nhất. Tôi thầm biết ơn mẹ. Tôi nguyện chăm ngoan, học giỏi để đáp lại tình cảm to lớn của mẹ. Tôi mong rằng mẹ sẽ sống mãi bên tôi, là chỗ dựa vững chắc cho tôi.
Bài văn tả mẹ của em hay nhất thế giới
453
Bài văn tả mẹ lớp 6 Hướng dẫn Bài tập làm văn bài văn tả mẹ lớp 6 bao gồm dàn ý bài văn tả mẹ lớp 6 và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh viết tốt bài văn tả mẹ lớp 6 hay nhất. Dàn ý bài văn tả mẹ lớp 6 1. Mở bài – Trong gia đình, người mà em yêu quý nhất là mẹ, mẹ là người đã chăm lo cho em mỗi ngày từ bữa ăn đến giấc ngủ. Trong em mẹ là người phụ nữ giản dị mà đẹp đẽ. 2. Thân bài – Giới thiệu về mẹ(tuổi, nghề nghiệp) – Tả hình dáng của mẹ(dáng người, khuôn mặt, đôi mắt, màu da,…) – Tả tính cách của mẹ – Tả sự chăm sóc của mẹ với em 3. Kết bài – Em rất yêu mẹ. Em tự hứa với lòng phải học thật giỏi, thật chăm ngoan để mẹ vui lòng. Bài văn mẫu bài văn tả mẹ lớp 6 Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 1 Trong gia đình, người mà em yêu quý nhất là mẹ, mẹ là người đã chăm lo cho em mỗi ngày từ bữa ăn đến giấc ngủ. Trong em mẹ là người phụ nữ giản dị nhưng tuyệt vời. Mẹ em năm nay đã ba mươi lăm tuổi, cái tuổi không còn trẻ nữa. Mẹ em không cao nhưng có dáng người cân đối và có phần hơi đẫy đà. Khuôn mặt mẹ tròn trịa phúc hậu, trên khuôn mặt ấy đã ẩn hiện những nốt tàn nhan báo hiệu tuổi tác. Nổi bật trên khuôn mặt ấy là đôi mắt to hiền dịu. Đôi mắt ấy luôn nhìn em với tất cả tình yêu thương trìu mến cho em động lực mỗi khi gặp khó khăn, vỗ về em khi em buồn, cho em cảm thấy được yêu thương và bảo vệ, lấp lánh khi em đạt điểm tốt. Đôi mắt ấy u buồn khi em làm sai, ánh lên những niềm vui sướng khi em làm việc tốt. Mỗi lần nhìn vào đôi mắt ấy, em lại tự thấy mình có bổn phận phải không để đôi mắt ấy ướt lệ. Làn da mẹ hơi ngăm đen vì những năm tháng dãi dầu mưa nắng lo cho gia đình, đó là một làn da khỏe khoắn, nồng thở vị cần cù, chịu khó. Có lẽ điều nổi bật nhất ở mẹ là mái tóc đen bóng, mượt mà dài đến gần eo, em rất thích mỗi sáng giúp mẹ chải tóc, tóc mẹ vừa mượt vừa dày, khi búi trông rất đẹp. Mẹ em cũng rất quý bộ tóc ấy, mẹ thường gội đầu bằng bồ kết, chứ ít khi gội bằng dầu, mẹ bảo gội bằng bồ kết tóc vừa đen vừa chắc. Đôi bàn tay mẹ xương xương mà ấm áp với những ngón tay thuôn thuôn như búp măng, mỗi lần áp má lên đôi bàn tay mẹ em lại thấy ấm áp lạ thường khi cảm nhận được sự gồ ghề của những vết chai thô ráp trên lòng bàn tay ấy. Khi ấy em lại thương mẹ vô cùng, em chỉ mong mình lớn thật nhanh để đỡ đần mẹ cho mẹ đỡ vất vả. Mẹ em là một người luôn vun vén cho gia đình. Ngày thường dù đi làm nhưng mọi việc trong nhà mẹ đều lo chu toàn. Năm nào mẹ cũng mua đồ mới cho em nhưng có những bộ quần áo mẹ mặc mấy năm, em hỏi mẹ đều bảo là vì vẫn mặc được. Em biết đó không chỉ vì là do mẹ giản dị mà còn vì mẹ muốn tiết kiệm cho gia đình cho em được sung sướng hơn. Mẹ vô cùng tiết kiệm nhưng lại rất chiều chị em em. Chúng em có đầy đủ những điều mình thích không thiếu một thứ. Nhưng mẹ cũng vô cùng nghiêm khắc mỗi khi chúng em mắc lỗi, cho dù là lỗi to hay nhỏ mẹ cũng nhất định phạt nặng để chúng em biết lỗi và nhớ sửa sai. Em rất hạnh phúc vì được là con của mẹ, em tự hứa với lòng nhất định phải học hành chăm chỉ nên người để mẹ tự hào và cho mẹ những ngày tháng hạnh phúc. Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 2 “Sinh con ra trong bao nhiêu khó nhọc, mẹ yêu thương con hơn yêu cuộc sống” Mỗi lần nghe lời bài hát em chỉ muốn chạy thật nhanh đến bên mẹ ôm chầm lấy mẹ, thơm lên má lên trán mẹ, cảm ơn mẹ đã sinh ra và yêu thương em. Mẹ em năm nay đã ba mươi tuổi nhưng ai cũng nói trông mẹ trẻ như ngoài hai mươi. Dáng người mẹ dong dỏng cao, làn da mẹ trắng nõn như da em bé. Mẹ có khuôn mặt trái xoan, nhỏ nhắn. Nổi bật trên khuôn mặt ấy là đôi mắt như biết nói, đen láy, mỗi khi mẹ cười đôi mắt ấy lại lấp lánh lạ thường. Ai cũng bảo em có đôi mắt rất giống mẹ khiến em rất tự hào. Mũi mẹ cao, thẳng, là mũi dọc dừa. Đôi môi mẹ không dùng son bao giờ nhưng luôn có màu hồng tự nhiên rất tươi. Mỗi khi mẹ cười, hàm răng trắng muốt lộ ra trông rất đẹp. Mẹ thích để tóc ngắn ngang vai nhuộm màu hạt dẻ, trông rất trẻ trung. Thường thì mẹ nội trợ ở nhà, mẹ mặc một bộ đồ ở nhà rất đơn giản, đến khi đi tiệc mẹ hay thích mặc những chiếc váy liền có màu trắng hoặc xanh. Mẹ bảo mẹ rất thích hai màu này nên quần áo của mẹ đa phần đều là màu như vậy. Mẹ em nấu ăn rất ngon, bố luôn nói là bố thích về nhà ăn hơn là ăn với khách ở bên ngoài vì đồ mà mẹ nấu còn ngon hơn ở nhà hàng. Bữa sáng mẹ cũng dậy sớm để chuẩn bị cho cả nhà để cả nhà có một bữa dinh dưỡng nạp năng lượng cho ngày mới. Thỉnh thoảng, khi rảnh rỗi, mẹ còn dạy em biết cách nấu ăn nhưng có lẽ còn phải học nhiều em mới nấu được ngon như mẹ. Ở lớp em có cô giáo dạy bảo học hành, ở nhà, ẹm chính là cô giáo của em. Mẹ có một giọng nói dịu dàng truyền cảm, mỗi khi mẹ dạy em đọc bài em đều cảm thấy rất thích thú vì mỗi bài đọc qua giọng đọc của mẹ đều trở nên hay về dễ hiểu lạ thường làm cho em bị cuốn vào bài giảng ngay lập tức. Đôi tay mẹ mũm mĩm, trắng ngần với những ngón tay búp măng. Đôi bàn tay ấy đã ân cần chải tóc cho em mỗi ngày, cầm tay em dạy em tập viết, đôi bàn tay chăm em ốm, nấu cơm cho em ăn,…Em yêu lắm đôi bàn tay mẹ. Mẹ vì em đã hi sinh rất nhiều, thanh xuân của mẹ đã dồn hết cho em, tình yêu mẹ đã đặt hết lên em, biết điều đó, em biết rằng mình không thể làm mẹ thất vọng. Em rất yêu mẹ, trong trái tim em mẹ là tất cả, không ai có thể thay thế. Em tự hứa với lòng phải học thật giỏi, thật chăm ngoan để mẹ vui lòng. Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 3 Trong gia đình, vì em là con út nên ai cũng thương yêu em hết mực, nhưng mẹ là người gần gủi, chăm sóc em nhiều nhất. Ở nhà, mẹ là người đảm nhiệm công việc nội trợ. Mẹ giao cho em các công việc nhẹ nhàng như: quét nhà, gấp quần áo… Còn ba thì phụ mẹ giặt đồ, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, thỉnh thoảng mẹ mua hoa về chưng ở phòng khách cho đẹp nhà. Mỗi khi khách đến mẹ luôn đón tiếp nồng hậu, mời khách đĩa trái cây và nước mát. Sáng mẹ là người thức dậy sớm để chuẩn bị thức ăn sáng cho cả nhà, để hai anh em cùng cắp sách đến trường kịp giờ học. Khi em ốm đau mẹ phải thức suốt đêm để chăm sóc. Buổi tối, mẹ thường dành khoảng ba mươi phút để giảng bài cho em, sau đó mẹ ngồi chấm bài, soạn giáo án chuẩn bị cho tiết lên lớp ngày mai ở trường… Mẹ rất nhân hậu, hiền từ, khi lên lớp mẹ xem học trò như các con của mình, cũng dìu dắt thương yêu hết mực nên mẹ được rất nhiều học sinh yêu mến. Khi em phạm lỗi, mẹ chỉ nhắc nhỡ chứ không mắng và cũng chưa đánh em bao giờ. Mẹ em thật đáng quí, em luôn yêu thương mẹ và tự hào vì được làm con của mẹ. Mỗi khi được mẹ ôm ấp, nằm trong lòng mẹ em cảm thấy thật ấm áp. Trong trái tim em, mẹ là tất cả, mẹ là cô tiên tuỵêt vời nhất trong cuộc đời em… Em mong sao cho mình mau lớn để có thể giúp cho mẹ đỡ vất vả hơn. Em hứa sẽ chăm học và cố gắng học thật giỏi để trả ơn cho mẹ và thầy cô đã dạy dỗ, nuôi nấng em nên người. Mẹ ơi, con yêu mẹ lắm! Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 4 Mỗi người chúng ta sinh ra trên đời này đều có mẹ. Mẹ là người đã mang nặng, đẻ đau, nuôi dưỡng chúng ta lớn lên, thoi dõi từng bước đi của con từ lúc lọt long đến lúc trưởng thành. Mẹ là một người đặc biệt trong cuộc đời. Có lẽ ai cũng yêu thương mẹ nhất trên đời. Em cũng vậy. Mẹ em năm nay bước qua tuổi 50, dáng bé cao cao, thanh thanh với làn da đã sạm đi vì thời gian và sự tần tảo sớm hôm. Mẹ là cô giáo đầu tiên trong cuộc đời em, dạy cho em những bài học đầu tiên, từ bài học làm người, làm con ngoan đến bài học về thế giới xung quanh. Mỗi lần có mẹ bên cạnh, em lại thấy rất yên tâm. Mẹ em là nông dân nên quanh năm vất vả bám đồng, bám ruộng nuôi chúng em khôn lớn. Những công việc mẹ làm hằng ngày cũng là vì con, vìgia đình. Bà nội vẫn thường bảo rằng mẹ chính là linh hồn giữ gìn hạnh phúc của gia đình này. Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 5 “Đêm nay con ngủ giấc tròn Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.” Trong cuộc đời này, có ai lại không được lớn lên trong vòng tay của mẹ, được nghe tiếng ru hời ầu ơ ngọt ngào, có ai lại không dược chìm vào giấc mơ trong gió mát tay mẹ quạt mỗi trưa hè oi ả. Và trong cuộc đời này, có ai yêu con bằng mẹ, có ai suốt đời vì con giống mẹ, có ai săn sàng sẻ chia ngọt bùi cùng con như mẹ. Với tôi cũng vậy, mẹ là người quan tâm đến tôi nhất và cũng là người mà tôi yêu thương và mang ơn nhất trên đời này. Tôi vẫn thường nghĩ rằng mẹ tôi không đẹp. Không đẹp vì không có cái nước da trắng, khuôn mặt tròn phúc hậu hay đôi mắt long lanh… mà mẹ chỉ có khuôn mặt gầy gò, rám nắng, vấng trán cao, những nếp nhăn của cái tuổi 40, của bao âu lo trong đời in hằn trên khóe mắt. Nhưng bố tôi bảo mẹ đẹp hơn những phụ nữ khác ở cái vẻ đẹp trí tuệ. Đúng vậy, mẹ tôi thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát lắm. Trên cương vị của một người lãnh đạo, ai cũng nghĩ mẹ là người lạnh lùng, nghiêm khắc. có những lúc tôi cũng nghĩ vậy. nhưng khi ngồi bên mẹ, bàn tay mẹ âu yếm vuốt tóc tôi, mọi ý nghĩ đó tan biến hết. Tôi có cả giác lâng lâng, xao xuyến khó tả, cảm giác như chưa bao giờ tôi được nhận nhiều yêu thương đến thế. Dường như một dòng yêu thương mãnh liệt qua bàn tay mẹ truyền vào sâu trái tim tôi, qua ánh mắt, đôi môi trìu mến, qua nụ cười ngọt ngào, … qua tất cả những gì của mẹ. tình yêu ấy chỉ khi người ta gần bên mẹ lâu rồi mói cảm thấy đuợc thôi. Từ nhỏ đến lớn, tôi đón nhận tình yêu vô hạn của mẹ như một ân huệ, một điều đương nhiên. Trong con mắt một đứa trẻ, mẹ sinh ra là để chăm sóc con. Chưa bao giờ tôi tư đặt câu hỏi: Tại sao mẹ chấp nhận hy sinh vô điều kiện vì con?. Mẹ tốt, rất tốt với tôi nhưng có lúc tôi nghĩ mẹ thật quá đáng, thật… ác. Đã bao lần, mẹ mắng tôi, tôi đã khóc. Khóc vì uất ức, cay đắng chứ đâu khóc vì hối hận. Rồi cho đến một lần… Tôi đi học về, thấy mẹ đang đọc trộm nhật ký của mình. Tôi tức lắm, giằng ngay cuốn nhật ký từ tay mẹ và hét to:“ Sao mẹ quá đáng thế! Đây là bí mật của con, mẹ không có quyền động vào. Mẹ ác lắm, con không cần mẹ nữa! ” Cứ tưởng, tôi sẽ ăn một cái tát đau điếng. Nhưng không mẹ chỉ lặng người, hai gò má tái nhợt, Khóe mắt rưng rưng. Có gì đó khiến tôi không dám nhìn thẳng vào mắt mẹ. Tôi chạy vội vào phòng, khóa cửa mặc cho bố cứ gọi mãi ở ngoài. Tôi đã khóc, khóc nhiều lắm, ướt đẫm chiếc gối nhỏ. Đêm càng về khuya, tôi thao thức, trằn trọc. Có cái cảm giác thiếu vắng, hụt hẫng mà tôi không sao tránh được. Tôi đã tự an ủi mình bằng cách tôi đang sống trong một thế giới không có mẹ, không phải học hành, sẽ rất hạnh phúc. Nhưng đó đâu lấp đầy dược cái khoảng trống trong đầu tôi. Phải chăng tôi thấy hối hận? Phải chăng tôi đang thèm khát yêu thương? … Sau một tuần, mẹ về nhà, tôi là người ra đón mẹ đầu tiên. Vừa thấy tôi, mẹ đã chạy đến ôm chặt tôi. Mẹ khóc, nói: “ Mẹ xin lỗi con, mẹ không nên xem bí mật của con. Con … con tha thứ cho mẹ, nghe con.” Tôi xúc động nghẹn ngào, nước mắt tuôn ướt đẫm. Tôi chỉ muốn nói: “ Mẹ ơi lỗi tại con, tại con hư, tất cả tại con mà thôi. ”. Nhưng sao những lời ấy khó nói đến thế. Tôi đã ôm mẹ, khóc thật nhiều. Chao ôi! Sau cái tuần ấy tôi mới thấy mẹ quan trọng đến nhường nào. Hằng ngày, mẹ bù đầu với công việc mà sao mẹ như có phép thần. Sáng sớm, khi còn tối trời, mẹ đã lo cơm nước cho bố con. Rồi tối về, mẹ lại nấu bao nhiêu món ngon ơi là ngon. Những món ăn ấy nào phải cao sang gì đâu. Chỉ là bữa cơm bình dân thôi nhưng chứa chan cái niềm yêu tương vô hạn của mẹ. Bố con tôi như những chú chim non đón nhận từng giọt yêu thương ngọt ngào từ mẹ. Những bữa nào không có mẹ, bố con tôi hò nhau làm việc toáng cả lên. Mẹ còn giặt giũ, quét tước nhà cửa… việc nào cũng chăm chỉ hết. Mẹ đã cho tôi tất cả nhưng tôi chưa báo đáp được gì cho mẹ. Kể cả những lời yêu thương tôi cũng chưa nói bao giờ. Đã bao lần tôi trằn trọc, lấy hết can đảm để nói với mẹ nhưng rồi lại thôi, chỉ muốn nói rằng: Mẹ ơi, bây giờ con lớn rồi, con mới thấy yêu mẹ, cần mẹ biết bao. Con đã biết yêu thương, nghe lời mẹ. Khi con mắc lỗi, mẹ nghiêm khắc nhắc nhở, con không còn giận dỗi nữa, con chỉ cúi đầu nhận lỗi và hứa sẽ không bao giờ phạm phải nữa. Khi con vui hay buồn, con đều nói với mẹ để được mẹ vỗ về chia sẻ bằng bàn tay âu yếm, đôi mắt dịu dàng. Mẹ không chỉ là mẹ của con mà là bạn, là chị… là tất cả của con. Con lớn lên rồi mới thấy mình thật hạnh phúc khi có mẹ ở bên để uốn nắn, nhắc nhở. Có mẹ giặt giũ quần áo, lau dọn nhà cửa, nấu ăn cho gia đình. Mẹ ơi, mẹ hy sinh cho con nhiều đến thế mà chưa bao giờ mẹ đòi con trả công. mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất, cao cả nhất, vĩ đại nhất. Đi suốt đời này có ai bằng mẹ đâu. Có ai sẵn sàng che chở cho con bất cứ lúc nào. Ôi mẹ yêu của con! Giá như con đủ can đảm để nói lên ba tiếng: “ Con yêu mẹ! ” thôi cũng được. Nhưng con đâu dũng cảm, con chỉ điệu đà ủy mỵ chứ đâu được nghiêm khắc như mẹ. Con viết những lời này, dòng này mong mẹ hiểu lòng con hơn. Mẹ đừng nghĩ có khi con chống đối lại mẹ là vì con không thích mẹ. Con mãi yêu mẹ, vui khi có mẹ, buồn khi mẹ gặp điều không may. mẹ là cả cuộc đời của con nên con chỉ mong mẹ mãi mãi sống để yêu con, chăm sóc con, an ủi con, bảo ban con và để con được quan tâm đến mẹ, yêu thương mẹ trọn đời. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trên đời này. Tình cảm ấy đã nuôi dưỡng bao con người trưởng thành, dạy dỗ bao con người khôn lớn. Chính mẹ là nguời đã mang đến cho con thứ tình cảm ấy. Vì vậy, con luôn yêu thương mẹ, mong được lớn nhanh để phụng dưỡng mẹ. Và con muốn nói với mẹ rằng: “ Con dù lớn vẫn là con mẹ. Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con. ” Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 6 “Ở lứa tuổi cấp 1 mẹ thường bắt tôi ngủ trưa và học bài, tôi không nghe thì bị mẹ đánh, lúc đó tôi rất ghét mẹ, đôi khi tâm trí tôi thấy mẹ thật là ác”, Linh kể. Mọi chuyện chưa dừng lại ở đó, đến khi lên cấp 2, tôi ghét mẹ vì luôn mắng tôi mỗi khi bị giáo viên mắng. Lúc đó, tôi chỉ muốn xách ba lô ra ở riêng. Tôi ghét mẹ lắm! Tôi từng muốn không có mẹ trên đời này… Tôi có tính đua đòi mà gia đình thì không khá giả lắm. Năm tôi học lớp 9, tôi bắt mẹ phải cho tôi học trường tư dù học phí rất cao, lúc đó tôi suy nghĩ thật nông cạn. Mỗi lần ba tôi về, thấy tôi hư là lại gọi mẹ ra la và ba mẹ tôi thường cãi nhau vì tôi… Lên cấp 3, lớp tôi bạn bè ai cũng được tổ chức sinh nhật, riêng tôi từ bé đến giờ chưa có lần nào. Tôi về xin tiền mẹ, mẹ bảo tốn kém và chỉ cho vài trăm mời bạn bè uống nước. Tối hôm đó, tôi bù la bù loa ăn vạ đủ kiểu, thấy vậy, mẹ vẫn kiên quyết không cho vì vậy tôi bắt đầu cáu giận, cãi với mẹ mà còn hơn cãi nhau với đứa bạn cùng lứa… Đỉnh điểm mâu thuẫn giữa tôi và mẹ khi tôi học lớp 11, tôi chuyển về gần nhà học, đây là năm tôi không thể quên những gì tôi đối xử với mẹ. Ngày Noel tôi đã dặn mẹ đón sớm hơn mà mẹ lại quên. Báo hại là hôm đó, tôi phải đi bộ cả tiếng đồng hồ. Về tới nhà, tôi cãi lộn với mẹ, nói những câu nói mà chính tôi cũng không tưởng tượng được. Tối Giáng sinh, tôi đi Nhà thờ chơi nhưng khi bước xuống cổng, mẹ vẫn cằn nhằn và la tôi trước mặt bạn bè. Tôi đã không suy nghĩ mà ném cả khóa cổng vào người mẹ, làm bàn tay mẹ bị bầm tím cả tháng trời. Lúc đó tôi rất giận mẹ, nhưng tôi cũng thấy chưa có đứa con gái nào lại hư như tôi. Nhưng mọi việc đã bắt đầu đổi thay khi tôi học lớp 12. Tôi đã gặp khó khăn lớn với đám bạn cùng khối. Đó là những đứa bạn mà tôi từng nói với mẹ là chúng còn tốt với tôi hơn cả mẹ. Chúng tôi bắt đầu chia phe và lên Facebook lời qua tiếng lại, rồi chúng kéo nhau đến tận nhà để đòi đánh. Rồi chúng cô lập để bạn bè chung lớp dần xa lánh tôi. Mâu thuẫn kéo dài, nhiều ngày liên tiếp và điều đó khiến tôi mất ăn mất ngủ. Khi vượt qua giới hạn chịu đựng của mình, tôi kể cho mẹ nghe những rắc rối và xin mẹ cho chuyển trường. Hôm đó, tôi bị mẹ la rất nhiều, mẹ bảo tôi: “Mày chết đi cho nhẹ đầu” và quyết định cho tôi nghỉ học luôn. Tuy nói vậy, nhưng mẹ vẫn bên tôi những lúc tôi suy sụp. Mẹ cho tôi một cơ hội mới tại ngôi trường khác. Tối hôm đó, mẹ không ngủ được và trăn trở suốt đêm. Lúc ấy, tôi bắt đầu thấy hận vì đã đi theo bạn bè mà quay lưng với mẹ. Sáng hôm sau, mẹ dậy từ sớm đưa em tôi đi học, sau đó quay lại chở tôi lên trường và xin rút học bạ chuyển trường cho tôi. Trưa nắng, mẹ không ngủ trưa mà chở tôi lên trường mới để xin học. Chiều mẹ với tôi về, mẹ vừa chạy vừa đi đón em, vừa lo soạn đồ ăn để đưa tôi vào trường nội trú học. Hơn 7 giờ tối, vì nội quy trường không được mặc quần ngắn, mẹ lại chạy đi mua quần cho tôi. Cả ngày mẹ không ăn uống đủ, lại lăn lộn ngoài đường vì tôi. Điều đó đã thực sự thay đổi suy nghĩ của tôi về mẹ. Đi học nội trú xa nhà, tôi lại muốn quay về khoảnh khắc đẹp khi có mẹ bên cạnh. Tôi thầm hiểu và ngày càng quý trọng mẹ hơn. Mẹ không hề ghét bỏ tôi như tôi nghĩ, hồi bé mẹ bắt tôi ngủ trưa và học bài thì tốt cho tôi chứ mẹ có được gì. Đánh tôi đau, mẹ còn đau hơn cả trăm lần như thế. Tôi còn nhớ, ngày còn nhỏ, cứ mỗi lần mẹ đánh tôi là tối mẹ lại ngồi bóp mật gấu cho tôi. Và ở trường mới, tôi phải vô cùng biết ơn cô giáo dạy văn của mình. Bởi cô đã từng dạy để giúp mỗi chúng tôi kịp nhận ra rằng: “Cha mẹ chúng ta là những người rất tốt, tuy đôi khi họ có thể chưa đúng, những chắc chắn một việc đúng nhất mà họ đã làm được là cho chúng ta được đến trường. Để chúng ta hiểu được là chúng ta có sự hiểu biết và nhận thức nhằm hóa giải những mâu thuẫn của thế hệ và thời đại”. Tôi dần thấy và cảm nhận rằng, dù mẹ có thể là người phụ nữ quê mùa nhưng mẹ đã hy sinh cả công việc và sự nghiệp của mình để chăm sóc chị em tôi… Là con gái, sau này lớn lên tôi cũng làm mẹ. Tôi cũng không muốn con mình sau này như tôi. Tới lúc khó khăn nhất, tôi mới biết bên mình không phải là bạn bè mà là gia đình, là mẹ, nơi tôi sinh ra và nuôi dưỡng cho đến khi tôi lớn lên. Giờ đây, khi đã đủ nhận thức để trưởng thành, tôi muốn nói với mẹ rằng: “Con xin lỗi mẹ! Vì con không bao giờ chịu ngồi xuống lắng nghe lời mẹ dạy, con đã luôn bỏ ngoài tai những gì mẹ dặn dò, răn bảo. Con hư đốn lắm phải không mẹ? Những việc mà con gây ra chắc chắn đã làm mẹ tổn thương nhiều lắm. nhưng dù sao con cũng thấy mình may mắn vì đã kịp thời nhận ra để biết tôn trọng mẹ từng phút, từng giây khi mẹ còn bên cạnh…”. Bài văn tả mẹ lớp 6 – bài 7 Người luôn quan tâm, dìu dắt em chính là mẹ. Mẹ như thiên thần hộ mệnh, luôn xuất hiện mỗi khi em cần hay gặp chuyện buồn. Năm nay, mẹ đã ngoài 40 tuổi, nhưng đối với em mẹ vẫn còn trẻ đẹp lắm. Mẹ có khuôn mặt trái xoan, nổi bật lên là đôi mắt, đôi mắt long lanh như hai giọt sương mai. Mỗi khi em được điểm tốt, đôi mắt mẹ lại ánh lên vẻ tự hào về em, còn mỗi khi được điểm kém, đôi mắt mẹ nhìn em trìu mến như muốn an ủi: ”Con ơi,cố lên,đừng nản lòng” Mái tóc mẹ không dài, đôi tay mẹ đã xuất hiện nhiều nếp nhăn, có lẽ đếm những nếp nhăn ấy là đếm được mẹ đã bao nhiêu việc để nuôi gia đình. Đôi tay mẹ là đôi tay búp măng nên làm việc gì cũng khéo, món ăn mà mẹ đã làm thì không có ai có thể chê. Mẹ đã làm nhiều việc vì gia đình, mỗi khi đi làm về dù rất mệt nhưng mẹ vẫn phải nấu cơm. Nhìn mẹ thật khổ nhưng em cũng chỉ có thể giúp mẹ những việc có thể làm được, hình ảnh của mẹ mỗi khi làm việc lúc nào cũng in sâu trong tâm trí em. Em nhớ nhất một hôm, lúc nào đó vào buổi tối, mẹ bảo em đi ngủ, em chỉ lên gường và giả vờ ngủ. Vì mẹ em là kế toán nên lúc nào cũng làm việc với máy tính, đôi tay mẹ điêu luyện nhấn từng phím. Bỗng nhiên mẹ đứng dậy, em tưởng mẹ đã xong việc nhưng không phải, mẹ đứng dậy là để đắp lại chăn cho em rồi mẹ lại ngồi vào bàn làm việc. Một lúc sau bỗng thấy mẹ cười, đang thắc mắc thì một ngọn gió lướt qua như muốn trả lời em: “ Mẹ cười vì mẹ đang vui đấy” Câu trả lời này lại càng làm em thắc mắc:” Mẹ vui vì việc gì nhỉ” Lần này thì cây bàng rung rung muốn nói “Mẹ vui vì kiếm được tiền nuôi gia đình đấy” Tình mẹ thật bao la và rộng lớn, mẹ ơi,có nhiều lúc con làm mẹ buồn, con xin lỗi mẹ nhiều, mong mẹ tha thứ cho con. Con sẽ học thật giỏi để sau này về giúp đỡ mẹ, để nụ cười mãi nở trên môi mẹ. Mẹ đã làm nhiều việc khổ vì gia đình,không ai có thể đếm được những việc ấy. Mẹ ơi, hãy làm những việc vừa sức mình thôi,để thời gian nghỉ ngơi. Con yêu mẹ nhiều lắm “ Mẹ mãi là nơi ấp áp của tâm hồn con”! Trên đây là bài tập làm văn bài văn tả mẹ lớp 6, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Bài văn tả mẹ lớp 6
4,602
Bài văn tả một con mưa rào mùa hạ lớp 5 Hướng dẫn Bài văn tả một con mưa rào mùa hạ lớp 5 Tả cơn mưa rào – bài mẫu 1 Mùa hạ là mùa thi, mùa chia ly, mùa của những tiếng ve râm ran, mùa của những cánh phượng đỏ rực. Mùa hạ cũng là mùa của những cơn mưa rào chợt đến rồi chợt đi. Cơn mưa bất ngờ ập xuống rồi vội vã trốn đi khiến lòng người bối rối. Giữa trưa mùa hạ, ánh nắng gay gắt bao phủ khắp không gian, ai cũng thấy được cái oi bức phả cả vào người. Thế nhưng, bầu trời trong xanh không một gợn mây bỗng tối sầm lại, ánh nắng nhanh chóng bị che khuất, mây đen ở đâu ùn ùn kéo đến. Những cơn gió mát bỗng vù vù thổi tới, tiếng sấm ù ù rền vang và ánh chớp lấp lòe lóe lên phía chân trời giống như bổ dọc cả không gian dường như báo hiệu cơn mưa rào đang đến gần. Chẳng bao lâu, mây đen đã phủ kín cả bầu trời. Từng cơn gió mạnh mẽ thổi qua mang theo những hạt mưa mát rượi. Các cửa hàng vội vàng thu dọn vào nhà, người qua lại cũng tự động rảo bước nhanh hơn trước cơn mưa đang kéo tới. Mưa theo tiếng gió bắt đầu rơi, lác đác rồi dần nặng hạt hơn. Mưa rơi tí tách lộp bộp trên mặt đất, tí tách trên những lá cây xanh rồi chuyển ào ào như trút nước, rầm rập trên mái tôn. Tiếng sấm, tiếng sét ầm ầm dữ dội, cây cối ngả nghiêng trong gió. Trên con đường nhỏ, ai nấy đều vội vã nấp tạm vào mái hiên trước cửa ngôi nhà nào đó, trên người đã thấm chút nước mưa. Có những người không nhanh chân, mưa xối xả vào người, mùa hè vậy mà có thể run lên vì nước mưa. Mưa giăng trắng xóa khắp muôn nơi, ào ào trút xuống cả cánh đồng bao la bát ngát, mạnh mẽ chảy xuống kênh mương, cấp nước cho cây lúa đang thì con gái. Người lớn vội vã tránh cơn mưa rào còn trẻ con lại vô cùng thích thú. Chúng kéo nhau ra giữa màn mưa, tung tăng đôi chân nhỏ, vừa chạy trong mưa vừa hát vang bài hát nào đó. Tiếng hát bị át trong tiếng mưa tạo nên âm thanh đặc biệt của vùng quê yên bình này. Cây cối sau mưa hình như xanh tốt, tràn đầy sức sống hơn. Bụi bặm dã theo cơn mưa cuốn đi hết, chỉ còn thoang thoảng mùi mưa khoan khoái dễ chịu. Cơn mưa rào mùa hạ như đứa trẻ nghịch ngợm, đến không báo trước rồi bất ngờ trốn đi, chỉ để lại đó nguồn nước tự nhiên trong lành, quý giá. Tả cơn mưa rào – bài mẫu 2 Có lẽ, nhiều người sẽ không thích mùa hè bởi cái nắng hè quá gay gắt mà quên mất rằng mùa hè cũng là mùa của những cơn mưa rào chợt đến chợt đi như những vị khách quen không báo trước. Những cơn mưa rào ấy không chỉ làm vạn vật tươi mới, trẻ trung hơn mà còn góp phần làm dịu đi cái nắng oi ả của mùa hạ. Chỉ mới đây thôi, ông mặt trời còn đang tỏa ánh nắng chói chang, làm không khí thật nóng bức, khó chịu. Vậy mà chỉ vài phút sau, mây đen ở đâu ùn ùn kéo đến, trĩu nặng cả bầu trời. Trời nổi giông làm cho lá cây rụng lả tả, bụi bay mù mịt khắp nơi. Và cơn mưa rào mùa hạ ập đến, bắt đầu từ những tiếng tí tách rất nhỏ rồi lộp độp, lộp độp ngày càng dày thêm trút xuống mặt đường. Những cơn mưa rào mùa hạ bao giờ cũng đến vội vàng như thế đấy. Gió bắt đầu thổi mạnh làm cây cối nghiêng ngả theo. Một tia chớp lóe lên xé tan màn mây xám xịt. Tiếng sấm rền vang trên bầu trời làm mấy em bé khiếp sợ nép vào lòng cha mẹ. Mưa rơi ngày càng nặng hạt, ào ào như trút nước. Hai bên đường, người đứng trú mưa mỗi lúc một đông. Mặt đường như vắng hẳn bóng người, chỉ còn thấy mấy chiếc xe hơi phóng vụt qua làm nước bắn tung tóe. Bầu trời như bị bao phủ bởi màn mưa trắng xóa. Không giống như con người, cây cối đưa mình ra để hứng lấy những làn nước mưa mát lành, cành cây đung đưa trong gió, reo vui với vạn vật như một lời cảm ơn mưa. Mưa trút xuống làm dịu hẳn đi cái không khí oi bức, làm vạn vật và con người đều trở nên dễ chịu hơn. Em đưa tay ra hứng lấy làn nước mưa, giọt mưa mát lạnh chảy xuống như đang nhảy múa trong lòng bàn tay. Những cơn mưa rào mùa hạ đến cũng nhanh mà đi cũng bất ngờ y như vậy. Chỉ một lát sau, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Một mùi ngai ngái đặc trưng của mưa bốc lên. Những đám mây xám xịt đã nhường chỗ cho mặt trời ló rạng, bầu trời quang đãng, trong xanh trở lại. Cây cối tươi xanh lấp lánh dưới ánh nắng sau khi được gột rửa sạch sẽ. Những chú chim bắt đầu ríu rít chuyền cành, ca hót líu lo như để chào mừng nắng ấm. Đường phố bắt đầu nhộn nhịp hẳn lên, xe cộ tấp nập ngược xuôi. Mọi người trở lại với công việc còn đang dang dở. Em hít một hơi thật sâu để cảm nhận vẻ đẹp của thành phố mình sau cơn mưa, thật dễ chịu và thoải mái. Sau cơn mưa trời lại sáng. Mưa đến và đi không nói lấy một lời nhưng cả thành phố vì nó mà tràn ngập sức sống thanh mát, tươi mới lạ kỳ. Và cầu vồng xuất hiện phía chân trời xa xa kia như một lời tạm biệt mà cơn mưa rào mùa hạ dù đi vội vã vẫn kịp để lại nơi trần gian. Tả cơn mưa rào – bài mẫu 3 Mấy ngày nay trời nóng như đổ lửa, cây cối thì héo khô. Ai ai cũng mong chờ có một cơn mưa để xua tan ngột ngạt và khó chịu. Và chiều hôm nay, cơn mưa mà mọi người Cơm mưa chợt đến mang lại không khí mát lành xóa tan đi cái nóng của mùa hè oi ả. Đối với mọi người, cơn mưa thật đáng yêu, cần thiết và có ích.
Bài văn tả một con mưa rào mùa hạ lớp 5
1,119
Bài văn tả một cảnh đẹp của quê hương mà em thích nhất Hướng dẫn Bài văn tả một cảnh đẹp của quê hương mà em thích nhất Bài làm 1 Mỗi một chúng ta, ai cũng có quê hương của mình. Quê hương là chùm khế ngọt, là nơi để lại những kỉ niệm đẹp trong cuộc đời. Dẫu có phải đi xa, bao giờ người ta cũng nhớ về quê cha đất tổ.Em lớn lên ở vùng chiêm trũng, nơi có cánh đồng thẳng cánh cò bay. Và có lẽ cánh đồng lúa quê em luôn có sức hấp dẫn kéo những người đi xa nghĩ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Những buổi sáng mùa xuân ra đứng ở đầu làng mà nhìn cánh đồng thì thích thú biết bao! Gió xuân nhẹ thổi, sóng lúa nhấp nhô từng đợt, từng đợt đuổi nhau ra mãi xa. Một đàn cò trắng dang rộng đôi cánh bay qua, nổi bật trên nền trời xanh thẳm. Nhất là những buổi khi bà con nông dân đi làm cỏ, cánh đồng rộn lên bao câu ca tiếng hát.. Từng đàn bướm đủ màu sắc sặc sỡ như đùa giỡn với thảm lúa xanh. Vào những mùa lúa chiêm đang chín rộ, nếu ai đứng ở xa nhìn lại sẽ thấy một biển vàng mênh mông. Rải rác khắp cánh đồng là cảnh bà con nông dân đang gặt lúa, nón trắng nhấp nhô trên đồng. Chiều đến khi gió nồm nhẹ thổi, lúa khẽ lay động rì rào như đang thì thầm tâm sự với nhau. Những buổi chiều thu, làn sương phủ trên cánh đồng, trông xa như một màn khói loãng, trắng nhờ nhờ. Sáng ra, màn sương tan đi để lại những giọt sương long lanh trên lá lúa.Đến khi mặt trời lên sưởi ấm cánh đồng, những tia nắng rọi vào hạy sương tưởng như muôn vàn hạt ngọc li ti, ánh lên những tia sáng muôn màu, muôn vẻ trông rất đẹp. Ở xóm em, có những anh chị đi xa, lần nào về thăm quê cũng ra thăm cánh đồng. Họ say sưa nhìn ngắm những con chim sẻ đi kiếm ăn bay là là trên thảm lúa. Thỉnh thoảng, chúng đỗ hẳn xuống rồi lại bay vút lên trời xanh ríu rít gọi nhau. Em yêu mến cánh đồng làng em, yêu mến quê hương em. Nơi đây, em đã sinh ra và lớn lên. Giờ đây, vùng chiêm trũng nàv đã có những cậu “trâu sắt” băng băng chạy trên cánh đồng. Điện cao thế bừng sáng xóm làng. Cuộc sống đang đi lên trên con đường hạnh phúc. Bài làm 2 Du khách đến Biên Hòa không thể không ghé thăm công viên thành phố quê em. Công viên nằm cạnh dòng sông Đồng Nai nước trong xanh, êm ả chảy bốn mùa. Từ xa nhìn lại, công viên thành phố em giống như một tấm thảm nhiều màu. Nổi bật trên đó là hàng dừa cao vút, đong đưa tàu lá trong gió, soi mình xuống dòng nước lững lờ. Bước chân vào vườn hoa, ta thấy những lối đi viền gạch đỏ được trải đá bột, tỏa ra khắp công viên như một búi rễ khống lồ. Dọc theo lối đi, những bồn hoa lớn được trồng đủ các loại hoa: hoa cúc vàng tươi, hoa hồng đỏ thắm, hoa hướng dương vàng rực… nổi bật dưới ánh nắng chói chang. Xen kẽ trong những bồn hoa là những cụm đền xanh đỏ được sắp thành hàng chữ “Công viên Đồng Nai”. Đứng cạnh muôn hoa là những cây kiểng được cắt xén thành hình muông thú, trông thật đẹp mắt. Đây là chú nai tơ đang tròn mắt ngơ ngác nhìn du khách. Kia là chú chim sâu đang chúi mỏ xuống đám cỏ non như tìm mồi. Kia là những cô công, chàng công xòe cái đuôi như chào khán giả trước lúc biểu diễn. Chính giữa công viên là một hòn non bộ đứng sừng sững như thách thức với gió mưa. Phía dưới, đàn cá hồng lượn lờ quanh những bông súng tím hồng. Rải rác khắp công viên là những băng ghế đá nhiều màu, nằm dưới tán cây mát rượi làm chỗ nghỉ chân cho mọi người. Nhô ra ngoài bờ sông là nhà thủy tạ kiên cố với kiểu cấu trúc hoa mỹ. Đứng trên đó, phóng tầm mắt ra xa, ta sẽ nhìn thấy hai cây cầu nằm về hai hướng, cầu Mới và cầu Ghềnh. Ta còn thấy được cả những mái nhà ngói đỏ thấp thoáng sau hàng cây xanh ngắt. Xa hơn nữa, ngọn núi Châu Thới mờ mờ trong ráng chiều đỏ ối. Chiều xuống mặt trời ngả về tây, mặt sông ánh lên màu đỏ pha sắc vàng rực rỡ. Lúc này, công viên rộn rã hẳn lên bởi bước chân người, bởi tiếng cười đùa ríu rít của trẻ con. Đông vui nhất phải kể đến ngày chủ nhật, du khách đến chơi, chụp hình kỉ niệm nhiều vô kể. Các em nhỏ tung tăng líu lo bên ba mẹ. Các anh chị lớn ngồi trên ghế đá đọc sách trò chuyện…Được ngồi trên ghế đá đón gió sông mát rượi, ngắm nhìn trời nước mênh mông, vui chuyện cùng chúng bạn thì không- còn gì thích thú cho bằng. Em mong công viên thành phố quê hương em giữ mãi được vẻ đẹp thơ mộng này. Quê tôi không có sông, không có cánh, đồng bát ngát phì nhiêu. Quê tôi là một vùng biển – vùng biển Vũng Tàu nổi tiếng mà khách thập phương đến đây ai cũng lưu luyến khi phải rời xa.Đó là một vùng biển với những bãi cát phẳng lì rì rào sóng vỗ và vô vàn những cảnh sắc tươi đẹp. Biển Vũng Tàu! Ôi! Chỉ nghe những tiếng ấy mà lòng tôi đã xốn xang biết bao kỉ niệm của thời thơ ấu. Những địa danh Núi Lớn, Núi Nhỏ, Bãi Trước, Bãi Sau, những hàng phi lao xanh ngắt, những ngọn dừa trải dài theo bờ biển đã làm cho tâm trí mọi người nao nao một cảm giác khoan khoái và thú vị. Đứng ở Núi Lớn ta có thể nhìn xuống Bãi Sau. Trên bãi tắm hàng trăm chiếc dù sặc sỡ luôn xòe ra như những cây nấm đủ màu sắc, sẵn sàng đón khách tham quan, ở đó, hàng ngàn người cười nói, đùa giỡn và tắm biển. Mọi người đều vui vẻ và hớn hở. Những con sóng lớn, nhỏ thi nhau chạy vào bờ, cứ mỗi lần rút ra thường để lại những màng bọt biển trắng xóa, xôm xốp. Ngoài ra, hàng trăm ngàn con sóng đua nhau chạy, vấp phải những mũi thuyền đánh cá của ngư dân bị hất tung lên, bọt trắng bắn tung tóe. Xa hơn một tí, Hòn Bà đứng uy nghi, sừng sững giữa biển cả mênh mông. Hai cái lô cốt cũ kĩ sát chân Hòn Bà như hai bộ mặt lạnh lùng mở to hai mắt quan sát mọi người. Những, bậc thang màu trắng dẫn ta lên đến đền thờ trên hòn đảo này. Và kia là đoàn tàu đánh cá của Xí nghiệp Quốc doanh đánh cá Vũng Tàu – Côn Đảo ra khơi theo những cánh hải âu trắng, vốn là những người dẫn đường của ngư dân. Ngoài xa, phía chân trời, các giàn khoan cố định đang làm việc tất bật để lấy những tấn dầu thô cho Tổ quốc.Ở phía Bãi sau, cảnh vật cũng hết sức kì ảo và thú vị. Con đường đi trên bãi được bóng cây hai bên đường trùm xuống mát rượi. Và cái tịnh xá Niết Bàn, một trong những danh thắng của Vũng Tàu uy nghiêm trên đồi cao đón gió biển Đông. Bãi tắm ở đây bé thôi nhưng nước trong xanh. Ta có thể thấy tận đáy nước mặc dù đứng ở trên đá cao. Những con thuyền máy chở khách chu du đây đó lướt qua, lướt lại, nổ máy ầm ầm. Ở đó, ta sẽ nhìn thấy Núi Lớn, Núi Nhỏ như một bức bình phong che chắn gió bão cho quê hương.Và kia nữa là khách sạn Thái Bình Dương. Bước vào cổng, ta bắt gặp những luống hoa cúc, mười giờ… đẹp lạ lùng. Ớ giữa sân có vòi phun nước. Những vòi nước phun lên trời rồi xòe ra như mưa rào mùa hạ. Vào sâu trong khuôn viên là quán nhà sàn Buôn Mê Thuột nằm cạnh hồ sen. Những bông sen trắng, sen hồng lung linh trên mặt nước xao động. Bốn tầng của khách sạn có đầy đủ phòng ăn, phòng giải khát, phòng chiếu phim, phòng khiêu vũ… Nhưng phòng chờ là đẹp nhất, ở đó, có những chậu hoa quý hiếm, những giò phong lan duyên dáng, tốt tươi. Ngoài cửa lớn có một hòn non bộ to, được xây dính liền với bể nước. Hàng chục con cá kiểng rực rỡ màu sắc, hình dáng mềm mại dễ thương, nhẹ nhàng bơi lượn. Tối đến khi thắp sáng các ngọn đèn đủ kiểu, đủ loại, khách sạn trở nên nguy nga huvền ảo. Khách du lịch đến đây nghỉ ngơi nếu cần sẽ có đủ các món ăn theo kiểu A, kiểu Âu… và các món ăn đặc sản vùng biển.Khi đến công viên Trần Hưng Đạo, ta sẽ thấy biết bao nhiêu là hoa, là kiểng. Trong công viên, khách du lịch thường đi dạo trên những con đường nhỏ trải sỏi, chạy ngoằn ngoèo dẫn đi hết diện tích rộng lớn của công viên. Tiếng lao xao của đá sỏi dưới chân, tiếng lá êm nhẹ rì rào, xen lẫn tiếng nước suối nhân tạo chảy róc rách tạo thành một bản nhạc êm ái du dương. Gió đưa hương từ đâu thoảng tới thơm ngát. Những ô cỏ, những tán cây xanh mát rượi. Ong bướm tung tăng bay lượn dạo quanh những cây kiểng uốn hình con nai, con cá, con rồng… do các nghệ nhân tạo nên.Quê tôi còn nhiều phong cảnh đẹp nữa mong bạn có dịp tới thăm. Với tôi, quê hương là tất cả. Đó là nơi nuôi dưỡng tôi lớn lên, trưởng thành, gắn bó với tôi suốt thời thơ ấu. Tôi yêu nó vì nó cho tôi những kỉ niệm đẹp, nên thơ của tuổi thiếu thời. “Quê hương tôi có con sông xanh biếcNước gương trong soi tóc những hàng tre…”Đó là ‘những câu thơ ca ngợi quê hương của một nhà thơ Giang Nam. Nhưng đối với tôi, không có cái gì quyến rũ, nhớ thương bằng biển. Biển là quê hương tôi, quê hương Vũng Tàu.Biển, thủy chung đôn hậu! Đã có người tặng cho nó vần thơ:“Khi ra biển mới thấy biển đẹp Khi ngắm biển mới thấy biển hiền”.Một ngày xuân ấm áp, khi ngắm biển, bạn sẽ thốt lên: “Biển tuyệt đẹp!”. Phải chăng cái đẹp ấy là do tạo hóa ban tặng con người.Biển nên thơ vào những buổi chiều tà, biển dạt dào vào những lúc bình minh thức dậy, biển chói lọi khi mặt trời chiếu xuống làm xuất hiện vô vàn những hạt kim cương trong những ngày đẹp nắng. Nhưng đâu phải cái đẹp đó theo một khuôn mẫu nhất định.Sáng sớm, khi bình minh ló dạng, ông mặt trời có màu hồng đào như lòng quả trứng gà thì biển đã dâng trào sức sống. Nó ào dậy với niềm tin mãnh liệt đón chào ngày mới. Phía tít trời xa, biển như một dải lụa đào rực rỡ. Nhưng lùi về phía bờ, biển là một dải băng vĩ đại tô nhuộm bởi một màu xanh biếc, càng vào trong, càng nhạt dần. Hình như biển là một người khổng lồ khoác tấm áo đủ màu khoe mình trong vũ trụ bao la. Sóng như con trăn ưỡn mình múa lượn, đuổi xô nhau tung bọt trắng vào bờ.Mặt trời càng lên cao, nước biển càng lóng lánh. Biển lộng lẫy trong bộ áo vàng rực rỡ. Muôn vàn hạt bụi li ti nhảy nhót tung tăng trên đầu con sóng. Bãi cát liền bờ càng vàng rực lên dưới ánh nắng chói chang của ông mặt trời. Trong các kẽ đá, tiếng nước biển va đập ầm ào như những lời tâm sự.Đối với tôi, biển là người bạn gần gũi, thân yêu nhất. Người bạn đó dịu dàng, chân thật trong những buổi chiều tà thường thủ thỉ trò chuyện vui buồn cùng tôi.Biển có cái đẹp vừa hiền hòa vừa mạnh mẽ, đồng thời lại mang trong mình cả kho tài nguyên phong phú. Kho tài nguyên đó làm giàu thêm cho cuộc sống. Biển hiền lành, chăm chỉ, giản dị như người dân Vũng Tàu. Quê tôi đâu chỉ có biển mà còn bao phong cảnh hữu tình: Bạch Dinh, Núi Lớn, Thích Ca Phật đài… Bao công trình kiến trúc của người xưa. Có cái nguy nga tráng lệ, có cái giản dị, hiền hòa.Bạn hãy đến với Vũng Tàu – vùng biển quê tôi. Bạn hãy đến đây để thưởng thức vị hương say; say với biển; say với những tấm lòng nhân hậu; với cuộc đời và với tất cả tình yêu.
Bài văn tả một cảnh đẹp của quê hương mà em thích nhất
2,241
Bài văn tả ngôi nhà em đang ở lớp 4 Hướng dẫn Bài văn tả ngôi nhà em đang ở lớp 4 Em yêu nhà em Hàng xoan trước ngõ Hoa xao xuyến nở Như mây từng chùm Em nhớ mài bài học thuộc lòng hồi em còn học lớp Hai. Em cũng yêu nhà như người bạn trong bài thơ ấy. Nhà của em là ngôi nhà hai tầng nằm tại đường Điện Biên Phủ, tầng dưới dùng làm phòng khách, làm việc và học tập, phòng ăn và nhà bếp, tầng trên là phòng ngủ. Trước nhà, tường quét vôi màu vàng nhạt, cửa sắt rộng sơn xanh. Một cây bông hoa nở quanh năm, tỏa bóng râm mát xuống sân. Từ ngoài bước vào phòng khách, em cảm thấy thoáng mát bởi cách xếp đặt gọn gàng. Một bộ sa lông đặt chính giữa phòng. Trên bức tường bên phải, ảnh Bác Hồ được lồng kính treo cao. Bên trái, một bức tranh sơn dầu với hình em bé ngồi trên mình trâu thổi sáo giữa cánh đồng quê êm ả, phía dưới bức tranh là tấm lịch 1994. Góc học tập cửa em cũng đặt tại phòng này, gần cửa sổ. Trên bàn sách và được xếp gọn gàng ngăn nắp, cửa sổ rộng mở giúp cho căn phòng sáng sủa thêm và tràn đầy gió mát. Gần đó, một tủ sách đủ loại văn thơ, tài liệu sưu tầm của ba em. Tiếp đến là phòng ăn với chiếc bàn và sáu cái ghế gỗ quen thuộc, chiếc tủ bằng mi-ca mặt kiếng bóng loáng đặt sát tường. Mẹ em bày chén đũa kiểu rất đẹp. Những đồ chơi xinh xắn của em cũng được cất vào đấy. Cao trên nóc tủ, bác đồng hồ dựa lưng vào gõ nhịp đều đều. Ngày nào bác cũng kiên nhẫn nhắc nhở mọi người trong nhà hoạt động đúng giờ. Em rất thích được nằm trên võng đọc truyện hay ngồi đong đưa chơi đồ hàng, chiếc võng này có giá chân bằng sát di động được nên em kéo nó khắp phòng. Ngước mắt nhìn lên, bắt gặp ngay chiếc quạt trần, cạnh đó là một chiếc đèn nê-ông dài, tối tối tạo ánh sáng trắng dịu khắp phòng. Bước xuống tam cấp là nhà bếp, có tủ đựng thức ăn, có giá treo xoong nồi. ở đây ngày ngày mẹ nấu những thức ăn ngon cho cả nhà thưởng thức. Phía trên, cầu thang làm bằng đá mài màu xanh nhạt là hai phòng ngủ. Phòng nào cũng có giường, tủ làm bằng một thứ gổ như nhau. Em luôn luôn xếp đặt mền, mùng, gối thứ tự, ngay ngắn trên giường. Ngoài ban công bố mẹ còn trồng những chậu cúc vàng, tường vi đỏ, bốn mùa cho hoa đẹp. Thỉnh thoảng, chị em cắt hoa chưng ở phòng khách. Chiều chiều, sau khi đi học về, em thường tưới hoa, tỉa lá và đứng ngắm những cánh chim bay lượn giữa bầu trời trong xanh vời vợi… lòng em cảm thấy thanh thản biết bao. Thường ngày em phụ giúp mẹ quét dọn, lau chùi nhà cửa và những đồ dùng trong nhà.
Bài văn tả ngôi nhà em đang ở lớp 4
528
Bài văn tả ngôi nhà thân yêu của em lớp 5 Hướng dẫn Bài văn tả ngôi nhà thân yêu của em lớp 5 Tả ngôi nhà thân yêu của em – bài mẫu 1 Ngôi nhà là nơi quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi người. Đó là nơi ta sinh ra và lớn lên, là nơi chứng kiến những bước đi chập chững đầu đời, là nơi ghi dấu nhiều kỉ niệm khó phai mờ. Em cũng có một ngôi nhà chất chứa vô vàn kỉ niệm như vậy. Nghe ông bà kể lại thì ngôi nhà em đang ở đã được xây từ lâu rồi, từ ngày em mới chỉ được một tuổi. Trải qua bao năm tháng, tuy không còn giữ được vẻ mới mẻ, khang trang ban đầu nhưng căn nhà của em lúc nào cũng mang lại cảm giác ấm áp. Bên ngoài nhà được sơn màu xanh vô cùng thanh thoát, còn bên trong tường sơn màu vàng nhạt đem đến một không khí gia đình ấm cùng, hạnh phúc. Ngôi nhà em ở có 2 tầng. Tầng một gồm phòng khách và phòng bếp, tầng hai có ba phòng ngủ của ông bà, bố mẹ và em. Phòng khách nhà em có một bộ bàn ghế bằng gỗ rất đẹp do ông nội và bố tự tay đóng nên vô cùng tinh tế và phù hợp với căn phòng. Phía đối diện là kệ để ti vi. Đây cũng chính là nơi cả gia đình em quây quần mỗi buổi tối. Thỉnh thoảng bà em còn mua một lọ hoa để trong phòng khách để căn phòng lúc nào cũng sống động và thoang thoảng hương thơm. Đi vào bên trong của tầng một chính là gian bếp nhỏ xinh. Mẹ em là một người rất chu đáo nên gian bếp nhỏ luôn được chăm sóc cẩn thận. Mẹ đã từng nói với em rằng, căn bếp phải luôn gọn gàng, sạch sẽ thì mới có thể làm ra những bữa ăn ngon. Em rất thích mỗi tối vào bếp phụ giúp mẹ chuẩn bị cho bữa cơm của gia đình. Hai căn phòng của bố mẹ và ông bà tuy đơn giản nhưng luôn được xếp đặt rất ngăn nắp, gọn gàng. Trong mỗi phòng đều kê một giường ngủ, một tủ quần áo. Phòng của bố mẹ em thì có thêm một bàn làm việc của bố và một bàn trang điểm cho mẹ. Phòng tuy không lớn nhưng lúc nào cũng có cảm giác ấm cúng và thân thuộc. Một phòng còn lại là phòng ngủ của em. Em đã tự tay mình trang trí cho nó bằng gam màu hồng rất đáng yêu. Phòng em có một chiếc giường nhỏ, một chiếc tủ quần áo và một chiếc bàn học được đặt gần cửa sổ, bên trên tường là cái giá sách được em sắp xếp rất gọn gàng. Trên giường của em có rất nhiều thú bông, đó là những món quà bố mẹ và bạn bè tặng cho em vào ngày sinh nhật. Chúng rất đáng yêu và luôn ở gần em khi em đi ngủ. Em luôn chăm chút cho chiếc bàn học thân yêu của mình bằng cách sắp xếp sách vở, đồ đạc ngăn nắp, để khi cần em có thể dễ dàng tìm thấy. Chiếc giá sách của em có 2 ngăn, ngăn đựng sách vở và ngăn đựng truyện tranh. Đó là những cuốn truyện em rất thích, em thường đọc nó mỗi khi học bài xong hoặc vào ngày nghỉ. Chúng đều là những người bạn rất thân thiết của em. Tả ngôi nhà thân yêu của em – bài mẫu 2 Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn của mồi người để rồi khi đi xa trái tim lại thổn thức nhớ về. Nơi ấy không chỉ có những cảnh vật gần gũi, quen thuộc, có những người bạn cùng ta lớn lên mà còn có cả những người thân yêu và ngôi nhà thân thương nhất. Em không biết ngôi nhà này được xây dựng từ bao giờ, chỉ biết rằng ngay khi em cất tiếng khóc chào đời nó đã là tổ ấm của gia dình em, là nơi em sinh ra và lớn lên. Nhà của em không phải những ngôi nhà cao tầng lộng lẫy xa hoa mà là ngôi nhà mái ngói giản dị nằm tại một miền quê thanh bình, yên ả. Nhà cao khoảng gần năm mét, dài khoảng mười lăm mét. Nhà của em mang đậm nét đặc trưng của những ngôi nhà ở các miền nông thôn, nhỏ nhắn xinh xinh, không sang trọng mà ấm cúng, sạch sẽ. Tường nhà quét ve màu xanh da trời, nhìn thôi đã thấy tươi mát. Mái nhà là từng lớp, từng lớp ngói đỏ tươi. Ngôi nhà thấp thoáng sau những bóng cây xanh cao lớn, bên cạnh cánh đồng lúa rộng lớn mênh mông. Ngôi nhà gồm 4 phòng là phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ của bố mẹ và phòng ngủ của em. Mỗi phòng nằm về một gian, tuy nhỏ bé mà xinh xắn lắm. Bố mẹ ở gian bên trái, em ở gian bên phải và phòng khách, phòng ăn ở gian giữa. Phòng nào cũng thoáng đãng, có một chiếc cửa sổ, mùa hè gió lùa vào xua tan mọi cái nóng nực. Nền nhà được bao phủ bởi những viên gạch ngói màu nâu đất, gần gũi và đậm chất thôn quê. Dù không phải những hãng gạch nổi tiếng nhưng đây cũng là loại gạch tốt nhất quê em. Màu gạch kết hợp với màu xanh nhạt của tường tạo cảm giác hài hòa dễ chịu. Cửa sổ phòng em đối diện vườn cây, mỗi sáng sớm em đều mở toang cánh cửa gỗ đón ánh nắng nhảy nhót vào phòng. Trước nhà là khoảng sân rộng, nơi đàn gà cục tác kiếm ăn, con chó con mèo vờn nhau đuổi bắt và cũng là nơi tuổi thơ của em trôi qua với những trò nhảy dây, đá cầu. Ngôi nhà của em giản dị và đơn sơ vậy thôi mà vô cùng quý giá với em. Nó lẳng lặng nằm giữa thiên nhiên, đón lấy tinh hoa của đất trời, che mưa chắn gió cho gia đình em. Nó là tổ ấm của gia đình em, gắn bó với em như máu thịt. Dù chỉ xa một chút thôi em đã bồi hồi nhớ về ngôi nhà thân yêu của mình. Nhà thật sự là nơi em thấy hạnh phúc nhất. Tả ngôi nhà thân yêu của em – bài mẫu 3 Mỗi người đều có một mái ấm của riêng mình, một căn nhà nhỏ ấm cúng lưu giữ những tuổi thơ của mình. Em cũng vậy. Căn nhà của gia đình em là một căn nhà rất đẹp và khang trang. Ngôi nhà của em là một căn nhà ba tầng thoáng mát và rộng rãi. Nhìn từ xa là có thể thấy tường nhà màu vàng ấm áp cùng giàn hoa giấy nở rộ trên tường nhà.. Chiếc cổng sắt lớn màu xanh đã bảo vệ an toàn cho ngôi nhà này suốt bao nhiêu năm qua. Tiến qua cánh cổng là một cái sân nhỏ được lát gạch đỏ. Ở hai bên sân là những chậu cây cảnh, những chậu hoa với đủ màu sắc và đủ loại luôn được mẹ em chăm sóc cẩn thận. Đi qua sân là đến căn nhà lớn. Đi qua cánh cửa gỗ là phòng khách rộng rãi với bộ bàn ghế và chiếc ti vi. Ở bàn luôn được trang trí bởi một lọ hoa do mẹ em cắm. Mỗi ngày mẹ đều hái hoa trong vườn rồi đem về cắm trong lọ. Trên tường là những bức ảnh chụp của gia đình em qua thời gian, những chiếc giấy khen của em được đóng khung treo lên cẩn thận. Đi sâu vào bên trong là phòng bếp – nơi mà mẹ nấu những món ăn ngon cho bố con em thưởng thức mỗi ngày. Căn phòng đầy đủ đồ dùng, lúc nào cũng được mẹ em lau dọn sạch sẽ và sáng bóng. Đi lên cầu thang chính là phòng ngủ của bố mẹ em, phòng ngủ của em và phòng thờ. Phòng ngủ của bố mẹ em khá lớn, bên trong không chỉ có chiếc giường mà còn có tủ quần áo, bàn làm việc của bố em và bàn trang điểm của mẹ em nữa. Phòng của bố mẹ em còn có cửa kính lớn, mở ra là sẽ ra ban công, đứng ở đó là có thể dễ dàng nhìn thấy khu vườn nhỏ tràn ngập hương thơm và sắc màu của mẹ con em. Phòng ngủ của em thì lại bé hơn vì chỉ có một mình em thôi. Ở góc phòng có một chiếc bàn học xinh in hình Hello Kitty, một chiếc cửa sổ lớn hướng ra ngoài đường phố đông đúc nhộn nhịp. Cuối cùng chính là phòng thờ. Căn phòng này luôn tràn ngập mùi hương trầm, mang không khí trang trọng cổ kính bởi đây là nơi nhà em thờ tổ tiên cùng các vị thần. Mỗi ngày chủ nhật cuối tuần, em đều phụ giúp mẹ dọn dẹp căn nhà cho sạch sẽ. Khi rảnh rỗi, hai mẹ con lại thay đổi vài vật dụng trong nhà để thay đổi cách bài trí cho đẹp hơn
Bài văn tả ngôi nhà thân yêu của em lớp 5
1,577
Bài văn tả người mẹ thân yêu của em lớp 5 rất hay Hướng dẫn Bài văn tả người mẹ thân yêu của em lớp 5 rất hay Tả người mẹ của em – Bài mẫu 1 Nếu có người hỏi em thần tượng của em là ai, em sẽ không ngần ngại trả lời đó là mẹ. Mẹ không có đũa phép thuật như những bà tiên trong truyện cổ tích nhưng vẫn tạo ra những điều hết sức diệu kỳ. Mẹ dành trọn vẹn thời gian của mình để chăm lo cho từng bữa ăn, giấc ngủ của em, chăm lo cho tổ ấm của gia đình em Bài văn tham khảo: Gia đình với bất kỳ ai trên thế gian này cũng là điều vô giá. Em yêu gia đình của em hơn tất cả mọi thứ. Gia đình đối với em không những là mái ấm, là nơi chở che và là nơi sẵn sàng đón lấy em khi em vấp ngã mà còn là nơi cất giữ món quà tuyệt với nhất của cuộc sống – mẹ. Mẹ là người quan trọng nhất đối với em. Mẹ yêu của em đến hôm nay đã đi đến ngưỡng cửa ba mươi hai của cuộc đời – mốc tuổi không quá trẻ, cũng không quá già. Đó là ngưỡng cửa mà người phụ nữ dành trọn vẹn cho gia đình của mình. Mẹ em không xinh đẹp như những người phụ nữ khác nhưng trong ánh mắt của em mẹ mãi mãi là người phụ nữ xinh đẹp nhất trên đời. Dáng người mẹ em nhỏ nhắn, đôi vai gầy gầy mà gánh vác được tất cả những điều lớn lao. Mái tóc đen dài nhẹ nhàng ôm lấy khuôn mặt trái xoan với hai gò má nhỏ gầy. Sống mũi mẹ cao cao, đôi mắt đen luôn đong đầy tình yêu thương dành cho em và đôi môi mỏng luôn nở nụ cười dịu dàng, ấm áp. Là một công nhân may, đôi bàn tay của mẹ từ rất lâu đã không còn mịn màng nữa mà có thêm nhiều vết chai, những vết chai sạn xấu xí nằm trong lòng bàn tay mẹ vậy mà lại xinh đẹp lạ thường. Nếu có người hỏi em thần tượng của em là ai, em sẽ không ngần ngại trả lời đó là mẹ. Mẹ không có đũa phép thuật như những bà tiên trong truyện cổ tích nhưng vẫn tạo ra những điều hết sức diệu kỳ. Mẹ dành trọn vẹn thời gian của mình để chăm lo cho từng bữa ăn, giấc ngủ của em, chăm lo cho tổ ấm của gia đình em. Mẹ rời nhà từ sáng để đến nơi làm việc, tỉ mỉ may từng chiếc áo, chiếc quần để gửi đi khắp các vùng miền trong nước, xuất khẩu sang cả những đất nước xa xôi. Đến khi trở về nhà, lại lo lắng chăm sóc em. Mẹ không biết nhiều điều nhưng chưa bao giờ quên hỏi han tình hình học tập của em và giảng giải cho em nghe bao nhiêu câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ hay, ý nghĩa. Mẹ dịu dàng chăm lo, bao dung tha thứ cho tất cả lỗi lầm của em. Từ bé đến lớn, mẹ chưa từng nặng lời trách móc em dù chỉ một câu mà ân cần khuyên bảo để em nhận ra lỗi sai, cổ vũ và động viên em sửa chữa, khắc phục. Mẹ chu đáo và thân thiện với tất cả mọi người, từ những người thân trong gia đình đến hàng xóm láng giềng và cả những người xa lạ. Mẹ chính là người thầy đầu tiên của em, dạy cho em những bài học làm người đầy nhân ái và sâu sắc. Mẹ dạy em biết yêu thương mọi người, biết trân trọng những gì mình đang có và biết cố gắng, nỗ lực sống, tìm kiếm và theo đuổi hạnh phúc trong cuộc đời. “Những ngôi sao thức ngoài kia Chắng bằng mẹ đã thức vì chúng con…” Mẹ là người đầu tiên dang tay chào đón em đến với cuộc đời này, “mẹ” cũng là tiếng nói đầu tiên khi em tập nói. Mẹ em luôn sẵn sàng hi sinh để trao cho em những điều tốt đẹp nhất. Mẹ từng thủ thỉ với em nụ cười của em là niềm hạnh phúc của mẹ, suốt bao năm tháng qua, mẹ luôn cố gắng kiên trì vì điều đó. Mẹ là niềm hạnh phúc, niềm may mắn lớn nhất trong cuộc đời. Em luôn tự nhủ phải cố gắng chăm ngoan để mẹ được hạnh phúc, giống như mẹ luôn lo lắng cho em. Từ sâu thẳm đáy lòng mình, em muốn nói cảm ơn và yêu mẹ rất nhiều. Tả người mẹ của em – Bài mẫu 2 Mẹ dạy em những bài học cuộc sống quý giá, biết quý trọng từng nhành cây, nâng niu từng đóa hoa hay biết nói lời chào và cảm ơn với mọi người. Mẹ còn dạy em về lòng nhân ái, biết chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn. Không chỉ nuôi nấng em khôn lớn, mẹ đã giúp em trưởng thành hơn, biết yêu thương và trân trọng cuộc sống. Bài văn tham khảo: Nếu được hỏi ai là người em yêu quý nhất, thì đó chính là người mẹ của em. Mẹ cho em cuộc sống quý giá, nuôi nấng em từ thuở lọt lòng. Mẹ như vầng trăng đêm khuya, ru em vào những giấc ngủ bình yên. Với em, hình ảnh của mẹ luôn khắc sâu trong tâm trí và trái tim của mình. Mẹ em năm nay đã 44 tuổi, mẹ cao khoảng 160 cm, người mẹ mảnh khảnh và dáng đi rất nhanh nhẹn. Mẹ để mái tóc dài óng mượt, xoăn nhẹ phần đuôi tóc. Khuôn mặt mẹ tròn nhìn rất phúc hậu. Đôi môi của mẹ phớt hồng nằm dưới chiếc mũi cao thanh tú càng tô điểm thêm nét dịu hiền trên khuôn mặt mẹ. Mỗi khi nhìn em, mẹ đều luôn nở nụ cười tươi với ánh mắt trìu mến. Đôi bàn tay mẹ không còn tròn trịa như ngày mẹ trẻ mà đã gầy guộc và chai sạn hơn, đó là dấu vết của thời gian, của những năm tháng vất vả mẹ đã hi sinh vì chăm sóc cho hai chị em em. Giọng nói của mẹ rất ấm áp, lúc mượt mà lúc trầm bổng, ngân vang. Em thích nhất thói quen ngày bé khi được mẹ đọc truyện cổ tích mỗi tối. Mẹ như hóa thân vào từng nhân vật với giọng nói truyền cảm để giúp em hiểu nội dung câu chuyện hơn. Công việc của mẹ em là một nhân viên văn phòng, mẹ thường xuyên phải tiếp khách với khách hàng để xử lí công việc. Vì vậy mẹ rất khéo léo trong cách ứng xử và trò chuyện hàng ngày, mọi người xung quanh đều quý mến mẹ em. Dù công việc bận rộn là thế nhưng hàng ngày mẹ vẫn luôn sắp xếp nhà cửa gọn gàng và nấu những bữa ăn ngon cho cả gia đình. Mỗi chiều đi làm về, mẹ lại tất tả chuẩn bị bữa cơm chiều. Mẹ dạy em nấu những món ăn từ đơn giản đến phức tạp. Mẹ nói niềm hạnh phúc nhất của mình là được nấu các món ăn ngon cho người mình yêu thương. Em thường giúp đỡ mẹ những việc trong gia đình như gấp quần áo, quét nhà, rửa ấm chén…. Buổi tối, mỗi khi em có bài tập khó, mẹ thường giảng cho em hiểu. Điều em nhớ nhất là những khi em ốm, mẹ luôn lo lắng, quan tâm và chăm sóc cho em. Bàn tay mẹ luôn che chở và vỗ về. Những lúc vậy, em chỉ muốn được ôm mẹ và nói: “Mẹ ơi, con yêu mẹ lắm! Con thấy mình thật hạnh phúc vì có mẹ. Mẹ ơi! Có mẹ, con thấy sướng vui. Có mẹ, con thấy ấm lòng. Trong trái tim con, mẹ là tất cả, mẹ là cô tiên tuỵêt vời nhất trong cuộc đời con. Con luôn yêu thương mẹ và tự hào vì được làm con của mẹ.” Em luôn tự hào về mẹ. Mẹ là tấm gương, là món quà quý giá nhất mà cuộc sống này dành riêng cho em. Tình yêu thương của em dành cho mẹ thực sự không thể đo đếm bằng lời. Em mong sao cho mình mau lớn để có thể giúp cho mẹ đỡ vất vả hơn. Em hứa sẽ chăm học và cố gắng học thật giỏi để trả ơn cho mẹ và thầy cô đã dạy dỗ, nuôi nấng em nên người. Tả người mẹ của em – Bài mẫu 3 Đặc biệt, mẹ của em sở hữu một chiếc cổ cao, mặc áo dài lên trông rất đẹp. Các cô trong trường mầm non vì điều này thường hay khen mẹ em giống như thiếu nữ mười tám đôi mươi, thướt tha duyên dáng. Đôi bàn tay mẹ nhỏ nhắn, xinh xắn, chỉ bé bằng một nửa đôi bàn tay của bố thôi mà đảm đang tháo vát đủ việc lớn việc nhỏ.. Bài văn tham khảo: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con…” Lời giảng của cô giáo tựa như lời bài hát ngọt ngào, nhẹ nhàng lan tỏa trong trái tim em rồi dần tái hiện lên hình ảnh thân thương của người mà em yêu nhất trong cuộc đời mình – mẹ của em. Mẹ! Chỉ một tiếng gọi ấy thôi mà sao thiêng liêng quá. Mẹ đối với em chính là người phụ nữ xinh đẹp nhất trên thế gian. Từ những ngày em còn bé xíu cho đến hôm nay, 10 năm đã trôi đi nhưng mẹ dường như vẫn trẻ mãi với thời gian. Mẹ em năm nay đã ba mươi tuổi, là một cô giáo mầm non. Dáng người mẹ mảnh mai, thon gọn. Mái tóc mẹ óng mượt, dài và đen bóng, làm nổi bật nước da trắng hồng rạng rỡ, lúc nào mẹ cũng cẩn thận kẹp mái tóc dài trong chiếc kẹp tóc màu tím xinh xắn, dịu dàng phía sau gáy. Khuôn mặt trái xoan thanh tú với sự kết hợp hài hòa của đôi mắt bồ câu màu nâu sẫm, cái mũi dọc dừa cao cao và đôi môi luôn mỉm cười hiền dịu càng khiến cho mẹ em trở nên xinh đẹp. Hình ảnh xinh đẹp của mẹ qua bao năm tháng qua đã in sâu vào tâm trí em, mỗi lần nhắm mắt lại là em có thể nhìn thấy nụ cười ấm áp hiền từ của mẹ. Rồi sau này, thời gian qua đi, mẹ của em sẽ già hơn, không được trẻ trung như hiện tại nữa nhưng những dấu vết thời gian ấy sẽ càng khiến cho mẹ xinh đẹp hơn, vẻ đẹp của một người phụ nữ đảm đang tháo vát, hết lòng vì gia đình. “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào Tình mẹ thiết tha như dòng suối hiền ngọt ngào” Được trở thành con gái của mẹ đối với em là niềm may mắn lớn nhất. Mẹ sinh thành và dành tất cả yêu thương để nuôi dưỡng, chăm lo cho em. Từ bữa ăn đến giấc ngủ của em, dù bận bịu đến đâu mẹ cũng không bao giờ quên. Mẹ dành thời gian cho gia đình em nhưng cũng không quên sứ mệnh cao cả của mình. Mẹ nói sứ mệnh của mẹ là chăm sóc những đứa trẻ, cùng bố mẹ chúng đỡ nâng chúng những bước chân đầu tiên vào đời. Mẹ cẩn thận, chu đáo nên mọi người ai cũng yêu quý. Mẹ yêu thương chồng con, hiếu thảo với ông bà nội ngoại của em, là dâu thảo vợ hiền trong gia đình. Mẹ sống gần gũi, chan hòa, luôn sẵn sàng giúp đỡ hàng xóm, láng giềng. Ở trường mầm non, mẹ yêu thương những đứa trẻ giống như con ruột của mình, chăm lo chu đáo, phụ huynh ai nấy đều yên tâm, tin tưởng và quý mến mẹ của em. Giọng hát ngọt ngào của mẹ đã mang đến cho em cũng như cho bao đứa trẻ mầm non khác những giấc ngủ trưa êm đềm, những thể giới cổ tích thần kỳ, nhân hậu. Vòng tay mẹ đã vỗ về bao trái tim trẻ thơ, ấm áp và đầy yêu thương. “Vũ trụ có rất nhiều kỳ quan vĩ đại, nhưng kỳ quan đẹp nhất là trái tim người mẹ”. Mẹ chính là món quà quý giá nhất trong cuộc đời em. Mẹ bao dung và hết lòng yêu thương. Mẹ là phép thuật diệu kỳ nhất của cuộc sống, em sẽ luôn yêu và hiếu thảo với mẹ để mẹ em hạnh phúc và vui vẻ.
Bài văn tả người mẹ thân yêu của em lớp 5 rất hay
2,155
Bài văn tả quang cảnh trường em trước buổi học Hướng dẫn Ta quang canh truong em truoc buoi hoc – Em hãy viết bài văn tả quang cảnh trường em trước buổi học. Bài làm của một học sinh lớp 5 tại Phú Thọ. Dàn bài I. MỞ BÀI Giới thiệu cảnh trường em (Trường gì? Ở đâu?) trước buổi học (Sáng sớm hay buổi trưa?). II. THÂN BÀI a. Tả bao quát – Sân trường vắng lặng. Cổng trường còn khép kín. – Cảnh học sinh mỗi lúc một đông dần, đồng phục gọn gàng, tươm tất. b. Tả chi tiết – Cảnh trước buổi học: Trống báo, cổng trường mở. Học sinh vào tấp nập trường náo nức hẳn lên. Đây đó rộn rịp tiếng cười nói. Học sinh chơi bi, đá cầu, truy bài, trực nhật. – Cảnh khi tiết học đầu tiên chuẩn bị: Trống vang lên. Học sinh bỏ dở cuộc chơi xếp hàng trước lớp. Thầy cô về lớp cho học sinh vào. III. KẾT LUẬN Sân trường vắng lặng, buổi học bắt đầu. Bài làm: Trưa nay, sau khi các bạn học buổi sáng ra về, là em đã có mặt trước cổng trường. Vẫn là chiếc cổng trường quen thuộc với hai cánh cửa to bên dưới tấm biển lớn rành rành dòng chữ: “Trường tiểu học Tam Lạch”. Lúc này, từ khe cổng nhìn vào, sân trường thênh thang vắng lặng, hiện rõ trước mắt em, mấy cây phượng già mượt xanh im lìm rủ bóng. Ngoài đây, học sinh đã lũ lượt đến. Các bạn nhỏ được cha mẹ chở. Các bạn lớn đi xe đạp hoặc đi bộ. Bạn nào cũng gọn gàng, tươm tất trong trang phục quen thuộc: áo sơ mi trắng, quần soóc xanh. Nhiều bạn khăn quàng đỏ thắm trên vai, tung tăng bên nhau ríu rít trò chuyện. Bất chợt, từ phòng giám hiệu, một hồi trống vang lên, nhịp trống nhanh dần rồi nhỏ đi và sau cùng là ba tiếng trống điếm thật to. Vừa lúc hai cánh cửa trường mở rộng. Chúng em ào nhanh vào. Giây lát cả ngôi trường bỗng náo nức thấy rõ. Ba dãy lớp học, mỗi dãy tám căn xếp thành hình chữ U, đều mở toang cả cửa ra vào và cửa sổ. Trên các hàng hiên chạy dài thẳng suốt, chỗ nào cũng nhộn nhịp tiếng bước chân, tiếng cười nói râm ran và rộn ràng những màu trắng, màu xanh, màu đỏ. Hầu hết các bạn nhỏ của em đều chạy nhanh vào lớp học, để cặp vào hộc bàn rồi vội vã ra sân chơi. Có nhóm rủ nhau đá cầu bên hiên. Có nhóm đánh bi trên hành lang. Một số bạn tụm năm tụm ba trao đổi bài, chuyện trò sôi nổi. Thỉnh thoảng lại vạch những nét gì trên mặt đất chắc là họ đang tranh luận với nhau về một đề toán khó. Trong khi đó các nhóm trực nhật gấp rút làm nhiệm vụ của mình. Chẳng mấy chốc mà trống vào học sáu tiếng đã vang lên dồn dập. Chúng em từ phía của sân trường dồn về xếp hàng, lớp nào vào lớp ấy. Từ văn phòng, các thầy cô tỏa về lớp của mình. Sau khi đã thấy học trò xếp thành hàng ngay ngắn, thầy giáo em mới ra hiệu cho vào.
Bài văn tả quang cảnh trường em trước buổi học
552
Bài văn tả thầy giáo, cô giáo đã từng dạy dỗ mà em yêu quý Hướng dẫn Nhưng với khoảng thời gian năm năm học ở đây, biết bao kỉ niệm về những thầy cô giáo đã dạy dỗ mình. Một lần nghe gọi tên Luân là tôi khẽ giật mình, bởi một lẽ rất tự nhiên, đó là tên của cô giáo dạy tôi trong những ngày đầu chập chững cắp sách đên trường. Với dáng người thon thả, mái tóc dài đen mượt, dù mới gặp hay đã quen thân lâu, ai cũng phải trầm trồ khen cô thật xinh đẹp. Quê tôi, vốn là một vùng quê xa trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh, giáo viên đến lớp không mặc áo dài thướt tha, lộng lẫy như các cô giáo ở những nơi khác. Dẫu thế với chiếc áo sơ mi trắng cô hay mặc, nhìn dáng cô cũng thật duyên dáng, mượt mà và đáng yêu làm sao! Ngày đó – ngày đầu tiên tôi học lớp Một, tôi rụt rè không dám bước vào lớp. Mẹ và cô đã dỗ dành mãi tôi mới chịu nghe. Trong tâm trí tôi lúc ấy, cô là một người dễ sợ lắm. Với cái thước trên tay, cô sẽ đánh bất cứ một bạn nào nghịch ngợm, làm trái ý cô. Nhưng không, thời gian dần dần đã làm tan biến những ý nghĩ vẩn vơ của tôi. Mỗi lần nhìn cô, tôi bắt gặp một khuôn mặt hiền từ, phúc hậu. Nổi bật trên khuôn mặt của cô là cặp mắt to, sâu và sáng. Đôi mắt ấy luôn ánh lên những nét tươi vui, ấm áp. Mỗi khi tôi học hành tấn tới, ánh mắt cô ánh lên một niềm vui khó tả. Còn mỗi khi chúng tôi mắc lỗi, ánh mắt cô thật nghiêm và cũng thật buồn. Đôi mắt của cô dường như biết nói, biết xoa dịu, vỗ về, biết uốn nắn những lỗi lầm của trẻ thơ… Đôi mắt cô là thế, còn đôi bàn tay cô cũng thật đẹp. Những ngón tay thon thon như th.áp bút. Đôi bàn tay ấy đã giúp chúng tôi nắn nót từng con chữ thật đẹp trên trang vở. Văng vẳng đâu đây lời ca của một nhạc phẩm: Mẹ của em ở trường Là cô giáo mến thương Cô yêu em vô hạn Dạy dỗ em ngày tháng. Ôi! Yêu biết bao nhiêu tấm lòng yêu mến vô tư của cô. Làm sao tôi quên được người cô giáo đầu tiên đã mở cửa tâm hồn mình, đón ánh hào quang kì diệu của cuộc đời mình. Tôi nguyện ra sức học tập và rèn luyện để sau này trở thành người tài đức vẹn toàn như sự mong đợi của cô. BÀI LÀM 2 Ai cũng có một tuổi thơ đi học và có một người cô giáo dạy mình mà mình không thể quên. Trong kí ức của em, cô Thuỷ là một cô giáo mà em xem như người mẹ thứ hai của mình, cô đã dạy em trong năm học cuối cùng ở trường Tiểu học. Năm nay, cô đã ngoài ba mươi tuổi. Vóc người cân đối, mảnh mai. Mái tóc cô đen và dày, thường buông ra sau lưng. Đôi mắt cô đen lay láy, nó luôn nhìn chúng em bằng một vẻ đầy yêu thương, trìu mến. Nổi bật trên khuôn mặt của cô là hàng mi dài cong vút. Cái miệng nhỏ xinh hay tươi cười. Cô kể chuyện rất hay. Cô thường mặc bộ áo dài màu xanh mỗi khi đến trường. Mái tóc màu hạt dẻ, uốn lượn, thả ngang lưng. Đôi mắt to, sáng long lanh, hàng mi cong vút. Mũi cô cao, rất hợp với đôi mắt đẹp của cô. Đôi môi cô đỏ hồng, cô hay mỉm cười khi chúng em chăm ngoan, học giỏi. Hàm răng của cô trắng nõn, đều đặn. Bàn tay cô mềm mại. Đôi tay cô thon dài, làm việc nhanh nhẹn. Em yêu quý, gắn bó với cô như một người mẹ rất quan trọng với em. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Bài văn tả thầy giáo, cô giáo đã từng dạy dỗ mà em yêu quý
699
Bài văn tả trường em trước buổi học Hướng dẫn Cùng những cảnh vật buổi sáng thật truyệt bài văn tả trường em trước buổi học, nó in đậm trong tôi khoảng khắc còn cào làm sao. Những buổi sáng đẹp trời, em cùng các bạn thường cắp sách tới trường với tâm trạng háo hức phấn khởi. Bởi niềm vui của tuổi thơ chúng em là những giây phút túm năm tụm bảy trước giờ học hay giờ ra chơi, những gây phút ngắm cảnh sân trường vào buổi sớm mai. Bầu trời trong xanh, thoáng đãng, không khí rất trong lành. Chỉ có tiếng lá cây xào xạc và tiếng chim hót líu lo. Lúc này, sân trường thật tĩnh mịch, yên ả. Có rất ít học sinh đến trường. Những ánh đèn trong lớp học dần được thắp sáng, những chiếc quạt cũng dần bật lên, để lộ những hàng ghế màu vàng. Ba dãy nhà tầng được xếp theo hình chữ L, để lại một khoảng sân trống rỗng với lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới, cũng chẳng có tiếng học sinh nô đùa. Mặt trời đã nhô lên, trông giống như quả bóng khổng lồ.Những tia nắng dìu dịu chiếu xuống sân trường làm nó sáng hẳn lên. Những giọt sương sáng sớm đọng lại trên những chiếc lá xanh non long lanh như những hạt ngọc. Một vài phút sau, học sinh đến nhiều hơn. Bây giờ, sân trường đã náo nhiệt hơn lúc trước. Tiếng học sinh cười, nói vang dội khắp sân trường. Mỗi bạn chơi một trò, bạn thì đá cầu, bạn thì nhảy dây…Chốc chốc tiếng reo hò lại rộ lên thán phục cổ vũ cho những người thắng cuộc. Trên cành phượng, cành xà cừ những chú chim sẻ, chim chích bông đua nhâu nhảy nhót, cất tiếng hót líu lo như muốn cổ vũ, hoà mình với những cuộc vui phía dưới. Các thầy, cô giáo đều đã đến trường để chuẩn bị bài giảng của mình. Bác trống nằm im nhìn chúng em. Các khu nhà sáng rực lên như được rát vàng. Mấy phút sau, tiếng trống vào học vang lên: “Tùng! Tùng! Tùng!”, thế là giờ học bắt đầu. Bên ngoài không khí lại tĩnh mịch, yên lặng trở lại. Chỉ còn lá cờ bay phần phật và tiếng cô giáo giảng bài vang vang. Em rất thích quang cảnh của buổi sớm mai vì đó là một quang cảnh yên tĩnh và thơ mộng đáng nhớ. Nguồn:
Bài văn tả trường em trước buổi học
419
Bài văn tả vườn hoa vào một buổi sáng đẹp trời Hướng dẫn Những bông hoa nhài trắng tinh đang toả hương thơm ngào ngạt. Hoa vi-ô-lét mảnh mai, dịu dàng khoác lên mình chiếc áo màu tím nhạt. Hoa thược dược đỏ thẫm đang căng mình uống những giọt sương mai. Những đoá hoa hồng đỏ rực đẹp lộng lẫy dưới ánh mặt trời buổi sáng, cánh hoa mịn màng như nhung. Một vài nụ hoa e lệ, khép mình như còn đang ngủ mơ trong làn gió xuân nhè nhẹ. Mấy chú bướm vàng, bướm nâu đang khẽ rung rung đôi cánh như sợ làm thức giấc nàng công chúa trong thế giới hoa diệu kì. Nhưng nổi bật nhất là màu vàng tươi của hoa cúc đại đoá đẹp mê hồn. Chúng như làm dịu đi vẻ rực rỡ của hoa hồng, hoa thược dược,… Mặt trời đang chiếu những tia nắng vàng ấm áp xuống khu vườn, rọi vào những giọt sương mỏng manh còn đọng lại trên những cánh hoa làm cho em có cảm giác như đang bồng bềnh trong một không gian lung linh, huyền ảo. BÀI VĂN 2 DÀN Ý TẢ VƯỞN HOA Mở bài – Nhà em có một mảnh vườn nhỏ ở trước nhà, ỏ đây ông em đã trồng rất nhiều loại hoa và biến mánh vườn thành một vườn hoa vô cùng đẹp đẽ. b) Thân bài * Tả vườn hoa – Mảnh vườn này được ông em chăm bón rất kĩ lưỡng, ông trồng nhiều loại hoa nên rất sinh động và đa dọng. – Ngay từ cổng đi vào, ông em làm một lối đi ở giữa để chia vườn làm hai luống. Hai bên lối đi, ông trồng những vạt hoa mười giờ xanh mượt. Loài hoa nhỏ bé nhưng có sức sống rất kì lạ, đặc biệt nó như một chiếc đồng hồ báo hiệu giờ hàng ngày vậy. Cứ đến mười giờ sáng, từng bông mười giờ đỏ đậm lại thi nhau bung nở, tím ngắt cả lối đi. – Trước cửa hai bên, ông đặt hai chậu vạn tuế uy nghi như hai người lính đứng gác cho những nàng công chúa hoa ở bên trong. – Bên tay trái, ông em trồng những khóm hồng nhung. Những chị hoa cúc được trồng bên phải cạnh khóm hoa huệ. – Đến mùa xuân, dưới làn mưa bụi ngọt lành và tiết trời ấm áp, những loài hoa trong vườn thi nhau đua nở và khoe sắc rực rỡ. Từng chị hồng nhung khoác chiếc áo màu đỏ thắm, những nàng cúc e ấp màu vàng tươi… – Ở cuối vườn, bác bưởi già cũng khoác lên minh bộ cánh trắng tinh. * Tác dụng của vườn hoa – Vườn hoa ông em trồng làm cho nhà em thêm đẹp và trang nhã hơn. – Có những ngày hoa nở nhiều, ông em thường cắt hoa để cắm vào lọ đem bày trang trí trong nhà rất đẹp mắt. c) Kết bài – Em rất thích ngắm vườn hoa của ông em. Nhìn dáng ông chăm sóc vườn hoa em như thấy ông trẻ lại. Em ước ông sẽ mãi mạnh khỏe để em cùng ông chăm sóc cho những cây hoa ấy.
Bài văn tả vườn hoa vào một buổi sáng đẹp trời
530
Bài văn tả về bố của em – văn hay lớp 5 Hướng dẫn Năm nay, bố em đã ngoài tuổi bốn mươi, một độ tuổi trung niên mạnh mẽ. Dáng người bố cao lớn, vạm vỡ, dáng đi nhanh nhẹn. Thời gian đã làm cho mái tóc đen ngày nào của bố phải điểm bạc. Tuy thế, mái tóc bố rất đẹp bởi được cắt cao và chải gọn gàng. Mỗi khi em nhìn kĩ những sợi tóc bạc đầy óng ánh, em lại hình dung một sự nhọc nhằn, vất vả mà bố đang gánh trên cả hai vai. Đó là sự lo toan về gia đình và công việc ở cơ quan. Tuy vậy, nhưng bố không chút buồn phiền. Những lúc rảnh rỗi, bố đọc báo để giải trí, đôi mắt của bố bị cận nên bố phải đeo kính trắng. Ân trong đôi kính ấy là ánh mắt đầy vẻ lo lắng, ưu tư. Mỗi khi bố vui, bố cười thật tươi và để lộ hai hàm răng trắng nõn, đều đặn. Em rất thích nhìn bố cười, thích nắm lấy bàn tay của bố. Tay bố không trắng đâu, nó ngăm ngăm và nổi lên những đường gân rắn rỏi. Những ngón tay không thon thả mà chai sần vì bố đã trải qua những tháng ngày lao động, bươn chải trong cuộc sống. Em rất thích theo bố đến công trường xây dựng – nơi bố đang làm việc. Nhìn trang phục của một kĩ sư xây dựng, em rất tự hào về bố. Em đã hình dung những cây cầu vững chắc, những con đường nhựa phẳng phiu mà bố cùng các chú công nhân đã bỏ mồ hôi, công sức mỗi ngày. Tuy không gần bố nhiều nhưng em biết chắc chắn rằng bố em là người khoan dung, độ lượng. Bố quan tâm đến từng thành viên trong gia đình, quan tâm đến mọi người xung quanh. Bố thường nhắc nhở em chăm lo học tập. Mỗi khi đi công tác về, bố không quên mua quà cho em, lúc bánh kẹo, lúc sách bút, bố còn mua cho em những chú búp bê xinh xắn. Bố quan tâm đến gia đình và quan tâm đến công việc ở cơ quan. Bố thường đi ra công trường xây dựng, bố mong những cây cầu vững chắc được sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng. Bố quan tâm đến đời sống của các chú công nhân, ở cơ quan, bố được nhiều người quí mến. Em rất tự hào về bố. Bố là người soi sáng cho tâm hồn em. Khi nghĩ về bô”, em lại càng thấm thìa câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Em nguyện học thật giỏi để xứng đáng là con ngoan của bố.
Bài văn tả về bố của em – văn hay lớp 5
471
Đề bài: Bài Văn Tả Về Chiếc Trống Trường Em Bài Làm Đối với một người học sinh, tiếng trống trường luôn là một âm thanh quen thuộc. Tiếng trống báo hiệu thời gian giải lao đã đến. Sân trường đang vắng lặng không một bóng học sinh, chỉ có những chú chim nhỏ đang bay nhảy khắp nơi. Bỗng nhiên “tùng, tùng, tùng” – âm thanh ấy kéo lên vang vọng khắp sân trường khiến cho mấy chú chim nhỏ giật mình bay vọt. Không đầy một phút sau, trong các lớp, học sinh chạy ùa ra ngoài khiến sân trường đang im ắng bỗng nhiên trở nên vui nhộn và nô nức tiếng cười. Chiếc trống thì lại nằm im ngắm nhìn những cô cậu học sinh thỏa sức vui đùa. Nhưng trong tâm trí mỗi học sinh, thì không ai lại không quý chiếc trống trường, một chiếc trống thân thuộc và luôn gắn bó trong suốt những tháng ngày học tại trường. Chiếc trống của trường em đặt đặt tại ngay đầu dãy nhà mà em đang học. Mỗi khi đi vào lớp em đều đi qua chiếc trống, nên nó dường như trở nên rất thân thuộc với em. Thân trống hình trụ, mặt trống hình tròn, trên đó được đóng bằng một lớp da trâu rất dày để có thể tạo ra âm vang mỗi khi đánh trống. Thân trống được sơn bằng một lớp sơn đỏ tươi, mặt trông được phủ bằng lớp da trâu có màu vàng. Trống có hai đầu của một vỏ hình trụ. Trông có thể cao bằng một em học sinh lớp 1, thân hình thì căng tròn. Chân trống được thiết kế vững chắc để trống có thể đặt lên trên mà không sự bị đổ. Bên cạnh thân trống là dùi trống. Dùi trống là một thanh gỗ được mài tròn, và đầu dùi được bọc một lớp vải màu đỏ để khi đánh trống có thể tạo ra độ rung và tiếng vang trong thân trống. Em rất yêu quý chiếc trống trường của em, nó luôn là một ‘thành viên’ không thể thiếu của nhà trường và của mỗi học sinh khi cắp sách đến trường.
Bài Văn Tả Về Chiếc Trống Trường Em
368
Bài văn tả về một người giáo viên mà em ấn tượng nhất Hướng dẫn Bài văn tả về một người giáo viên mà em ấn tượng nhất Bài làm 1 Năm nay là năm cuối cùng của bậc Tiểu học. Vì hoàn cảnh gia đình nên em phải chuyển trường về Thành phố Hồ Chí Minh. Sống giữa thầy bạn mới với bao ngỡ ngàng, xa lạ, em lại càng nhớ đến cô Mai, cô giáo dạy em năm lớp Bốn vừa rồi tại thị xã Bến Tre.Cô Mai còn rất trẻ. Cô vừa tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học vài năm nay. Dáng cô thon thả, cao cao nhưng không gầy, mái tóc buông xõa ngang lưng, lại được trời phú cho những gợn sóng tự nhiên càng tôn thêm vẻ mềm mại, duyên dáng của một thiếu nữ trong độ xuân xanh. Trên gương mặt trái xoan trắng hồng nổi bật đôi mắt bồ câu trong và sáng, pha lẫn vẻ hiền dịu, ấm áp và hồn nhiên. Đôi môi hình trái tim lúc nào cũng ươn ướt đỏ tươi như được thoa một lớp son mỏng Mỗi khi cô cười, chiếc răng khểnh bên phải nhú ra tạo cho nụ cười một nét duyên thầm đến dễ thương.Nhà cô Mai ở ngã ba Tân Thành, cách trường học vài cây số. Cô đi dạy bằng chiếc Dream II mà anh cô để lại trước lúc lên đường làm nghĩa vụ quân sự. Mùa nắng hay mùa mưa, hễ nghe thấy trống điểm báo giờ học thì đã thấy cô trong bộ áo dài màu thiên thanh bước vào lớp với nụ cười tươi trẻ chào đón chúng em. Tiếp xúc với cô, cái cảm giác đầu tiên theo em nghĩ có lẽ là sự thiện cảm và sau đó là sự cảm mến thân thương. Cho nên tụi nhỏ chúng em thường ríu rít xung quanh cô như một bầy chim non sum vầy quanh mẹ. Em thích nhất là giờ Tập đọc, Dù đã được đọc bài thơ, bài văn nhiều lần ở nhà nhưng em vẫn chưa thấy được cái hay cái đẹp của nó. Ấy vậy mà đến lớp nghe cô đọc, cô giảng bài em mới thấy hấp dẫn làm sao. Giọng đọc của cô thật truyền cảm, lúc thì trầm trầm ấm như tiếng mẹ ru con, lúc thì thánh thót ngân vang như tiếng chim họa mi buổi sớm, đưa chúng em vào thế giới huyền ảo của ngôn từ lúc nào không biết. Cô đã biến một giờ Tập đọc thành một giờ đi tìm cái hay, cái đẹp của cuộc sống, đến nỗi trống báo hiệu giờ chơi rồi mà tụi em cứ như muốn nán lại học thêm ít phút nữa. Trong suốt cả năm học, em chưa bao giờ thấy cô trách mắng một học sinh nào. Nếu ai đó không thuộc bài, cô nhẹ nhàng góp ý, khuyên bảo chân tình như một người mẹ, người chị của chúng em. Em còn nhớ có một lần bạn Huy lớp em bị xỉu ở trong lớp khi ngoài trời lại đang mưa tầm tã, cô vội vàng lấy áo mưa của mình mặc vào cho Huy rồi nhờ một cô giáo dạy ở lớp kế bên bế ra xe, còn cô thì chạy lấy xe chở Huy đến bệnh viện tỉnh cấp cứu. Cô thương chúng em như những đứa em ruột của mình: bảo bọc, che chở, bao dung, độ lượng nên cả lớp em, trong ngày tổng kết năm học đứa nào đứa nấy khóc sướt mướt trước lúc chia tay cô về nghỉ hè.Cô Mai là vậy đó. Em ước có một ngày nào đó trở lại Bến Tre và nơi mà em đến đầu tiên là nhà cô giáo Mai của em. Cứ mỗi năm em đều được học với một thầy hoặc một cô giáo. Mỗi thầy cô đều để lại cho em những ấn tượng đẹp. Nhưng có lẽ năm học lớp Năm này, cô giáo Thương đã để lại cho tuổi thơ của em những ấn tượng đẹp đẽ nhất dưới mái trường Tiểu học quê em.Cô có dáng người thon thả mà một số thầy giáo ở trường em thường nói là dáng người mẫu. Em không biết chính xác cô cao bao nhiêu, chỉ đoán chừng một mét sáu mươi trở lên. Nước da trắng hồng, mái tóc đen mượt, óng ả luôn được buông xuống quá vai. Thỉnh thoảng, những làn gió mát thổi qua làm những gợn mây trên mái tóc thề ấy bồng bềnh nhấp nhô như sóng gợn. Đôi mắt cô to và đen lay láy ấn dưới cặp lòng mày thanh mịn. Em cứ tưởng như lúc nào cô cũng trang điểm, nhưng kì thực không phải. Khuôn mặt trắng mịn như được thoa một lớp phấn hồng ấy là trời phú cho cô Thương của em đấy. Vẻ đẹp xuân xanh ấy của cô được nụ cười luôn nở trên đôi môi hồng tươi mỗi khi tiếp xúc với mọi người, càng tôn thêm vẻ đẹp lộng lẫy của cô. Có lẽ cô thích màu trắng bởi hàng ngày cô đến lớp thường là những chiếc áo dài màu mây của tuổi học trò, trắng trong như tuổi thơ của chúng em vậy. Mỗi lần tiếp xúc với mọi người hay giảng bài cho chúng em nghe, bao giờ cô cũng dịu dàng, nhỏ nhẹ, tạo sự chú ý ở người nghe bằng cả cử chỉ, ánh mắt và nụ cười. Có lẽ nhờ các yếu tố ấy mà chúng em trong suốt cả buổi học luôn chăm chú vào bài học không một chút lơ đễnh. Từ khi học cô cho đến bây giờ chưa một lần em thấy cô em cáu giận với ai bao giờ, Cũng có vài buổi học, có những bạn quá ham chơi không thuộc bài, cô chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng. Cô bao dung và độ lượng lắm! Tất cả các bạn trong lớp em ai cũng mến cô, thương cô. Giờ ra chơi, chúng em thường quây quần bên cô nghe cô kể chuyện.Những câu chuyện mà cô kể cho chúng em nghe đều là những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò và những kinh nghiệm quý báu trong học tập mà cô đã từng trải qua để tuổi nhỏ chúng em học theo. Thương cô, mỗi chúng em đều có ý thức trong học tập và rèn luyện. Trong kiểm tra chất lượng giữa kì I vừa qua, lớp em đạt giải Nhất toàn trường. Trung cấp y dược Hà Nội liên tục xét tuyển hồ sơ các lớp trung cấp dược học, trung cấp y học cổ truyền và trung cấp nha khoa đi học ngay tại Hà Đông- Hà Nội trong năm 2016 Hôm sinh hoạt lớp, cô nói: “Cô cám ơn tất cả các em, các em đã tặng cho cô một phần quà lớn nhất chúc mừng cô vào ngày Nhà giáo Việt Nam 20 — 11. Cô mong thi học kì I sắp tới lớp ta vẫn giữ được thành tích này để đạt danh hiệu “Lớp về đích đầu tiên” trong phong trào thi đua “Hai giỏi” của trường”. Đối với em, cô Thương là hình ảnh tuyệt vời nhất để lại những ấn tượng đẹp đẽ và sâu sắc nhất trong tuổi thơ của mình. Cô là người mẹ thứ hai của em. Bài làm 3 Cho mãi đến tận bây giờ, hình ảnh cô giáo Hạnh vẫn còn in đậm trong trí nhớ của em. Cô Hạnh — người cô đầu đời đã dạy em năm học đầu tiên ở trường Tiểu học, năm lớp Một.Cô Hạnh có dáng người thon thả, không mập cũng không gầy, đầv đặn và cân đối. Em không biết chính xác cô bao nhiêu tuổi chi biết rằng cô còn rất trẻ, trẻ hơn mẹ em rất nhiều. Hàng ngày đến lớp, cô thường mặc những chiếc áo dài màu nhạt, lúc thì màu xanh da trời hay đọt chuối, lúc thì hồng phấn hay tím cà, cũng có lúc trắng tinh như màu muối biển, rất hợp với dáng hình và độ tuổi xuân xanh của cô. Mái tóc cô đen huyền, óng ả như màu than đá lại mềm mại mịn màng như những sợi tơ luôn buông xõa đến quá vai. Khuôn mặt trái xoan được trời phú cho một cặp mắt trong xanh với đôi hàng mi dày và cong vút tưởng như cô đeo mi giả. Chiếc mũi tuy không cao nhưng lại rất hợp với khuôn mặt. Mỗi lần cô cười trông cô tươi và xinh hơn cả những diễn viên, người mẫu. Hàm răng trắng như mây trời lại được tô điểm bằng một chiếc răng khểnh bên trái khóe miệng làm cho nụ cười vốn đã rất tươi lại còn tươi hơn, hấp dẫn hơn.Mỗi lúc cô nói chuyện hay giảng bài trên lớp thì giọng nói cô phát ra nghe mới ngọt ngào làm sao! Khi thì nhẹ nhàng, êm dịu thướt tha như làn gió mát, lúc thì trầm bổng, du dương như tiếng hót chim họa mi, khiến chúng em như lạc vào thế giới của đàn ca. Những buổi học đầu tiên biết bao là khó nhọc. Cô cầm tay từng bạn uốn nắn từng chữ, từng dòng, tập cho từng em phát âm, đánh vần từng tiếng. Những giờ giải lao, cô nắn lại gạch hàng, viết mẫu trong tập cho từng em để chúng em viết được đúng mẫu tự, ngay hàng thẳng lối.Giờ đây, tuy đã học lớp Năm rồi nhưng lòng em luôn kính trọng và biết ơn cô giáo Hạnh. Em hứa với lòng mình phải cố gắng học thật tốt để khỏi phụ công dạy dỗ của cô. Năm nay, tôi đã xa ngôi trường Hồng Hà thân yêu rồi. Tôi đã không còn rụt rè bước vào ngôi trường này như ngày đầu tiên bước vào lớp Một. Chính những ngày đầu tiên ấy đã để lại trong tôi một ấn tượng không bao giờ phai bởi đó là ngày đầu tiên tôi giáo cô giáo Ngọc. Cô Ngọc bây giờ chắc vẫn còn trẻ đẹp như hồi nào. Ngày đầu tiên tôi gặp cô, cô chỉ mới ngoài hai mươi tuổi, nhìn cô hệt như một nữ sinh mới ra trường. Cô mặc bộ áo màu hồng ngọc, dáng đi thướt tha đến bên tôi khi tôi đang đứng ngẩn người ra nhìn chăm chú vào cô.Cô hỏi tôi: – Em tên là gì? Giọng nói của cô thật ngọt ngào. Lúc ấy, tôi mới thấy rõ khuôn mặt cô. Đó là một khuôn mặt trái xoan với mái tóc đen nhánh chấm ngang vai. Tôi lễ phép nói: – Dạ em tên Lê Diệu ạ! Cô nở trên đôi môi đỏ hồng một nụ cười tươi rồi cầm tay tôi dắt vào lớp. Tay cô thon thả, mềm và mát lạnh nắm lấy tay tôi, truyền cho tôi lòng tự tin của buổi học đầu tiên và như nhắn nhủ tôi. “Hãy bình tĩnh như một người lính ngày đầu ra trận, cậu bé ạ!”Suốt cả năm học, cô rất tận tụy dạy dỗ chúng tôi. Có những bài cô giảng rồi, chúng tôi chưa thật hiểu, cô từ từ giảng lại chậm hơn, kĩ hơn cho đến lúc chúng tôi thực sự hiểu cô mới chuyển sang luyện tập. Nhờ hiểu sâu về lí thuyết mà các bài tập thực hành, chúng tôi đều làm được cả khiến cô rất vui. Nhưng cô cũng rất nghiêm khắc mỗi khi tụi nhỏ chúng tôi nghịch ngợm không phải lúc, phải nơi. Các bạn trong lớp tôi ai cũng muốn làm những điều hay điều tốt để cô vui. Tôi là một học sinh giỏi toán của lớp nhưng chữ viết thì vào loại tệ nhất lớp. Cô thường viết mẫu cho tôi trước để tôi viết theo. Có nhiều lần tôi quá ham chơi, chữ viết nguệch ngoạc, cẩu thả, cô bắt viết lại. Thậm chí giờ ra chơi, cô bắt tôi ngồi viết lại bài học, xong rồi mới cho ra. Nhờ vậy mà giờ đây chữ viết của tôi đã trở nên đẹp vào loại nhất, nhì lớp. Gặp phụ huynh nào, cô cũng báo rõ những mặt mạnh, yếu của học sinh để phụ huynh biết để kết hợp với giáo viên chủ nhiệm giáo dục rèn luyện thêm cho học sinh. Cô Ngọc là cô giáo mà tôi gặp đầu tiên ở bậc Tiểu học. Cô đã làm cho tôi hiểu được tấm lòng của các thầy cô và dạy cho tôi những điều mới lạ mà tôi chưa biết. Cô là người thầy đầu tiên dắt tôi bước vào cuộc đời học sinh, dạy tôi những nét chữ đầu tiên. Tôi không bao giờ quên công ơn dạy dỗ của cô – người mẹ thứ hai ở trường của tôi.
Bài văn tả về một người giáo viên mà em ấn tượng nhất
2,167
Bài văn tả về ngôi nhà của em Hướng dẫn Bài văn tả về ngôi nhà của em Bài làm 1 Sau mỗi buổi học ở trường, em thường mong mẹ đến đón về tổ ấm của mình là ngôi nhà nhỏ bé. Nơi ấy, mọi thứ đã quá đỗi thân thương đối với em. Đó là một ngôi nhà nằm khiêm tốn trong khu tập thể bệnh viện cách trường em học khoảng hai cây số. Nó được xây cách đây ba năm nhưng trông còn rất mới. Tường nhà được phun sơn hồng nhạt nên bền màu và sáng sủa lắm. Cánh cửa chính ra vào mới được bố em sơn lại tuần trước, trông mới và bóng loáng. Cửa kính, cửa chớp đều được mẹ em lau chùi sạch bóng. Ngôi nhà gồm hai tầng. Tầng một là phòng khách và bếp. Tầng hai có hai phòng: một phòng của bố mẹ và một phòng dành riêng cho em nghỉ ngơi và học tập. Giữa phòng khách được kê bộ sa lông màu nâu trông thật trang nhã. Trên bàn, mẹ em đặt một lọ hoa tươi làm cho căn phòng càng thêm sinh động. Trên tường được treo bức tranh phong cảnh một vùng quê ven biển chiều hoàng hôn. Phía tường đối diện cũng là một bức tranh thủy mặc của Trung Quốc trông thật hài hòa. Kia nữa, chiếc đồng hồ quả lắc ông bà em để lại lâu lắm rồi, sau mỗi giờ lại buông những tiếng chuông thánh thót ngân nga. Phía trong, là gian bếp nấu ăn một bàn ăn đặt cạnh đó. Mẹ em sắp xếp đồ rất gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ: một chạn bát mi ni, một bộ bếp ga nhỏ và tủ lạnh để đồ ăn… Trên tầng hai, phòng của bố mẹ em có kê một giường ngủ, một tủ đựng quần áo, một bàn làm việc. Ở cửa sổ trông về hướng nam làm cho căn phòng này luôn luôn thoáng mát. Bố mẹ em xếp đặt rất ngăn nắp, trong căn phòng này lúc nào cũng sạch sẽ ấm cúng. Phòng dành cho em được bố mẹ quan tâm nhiều hơn cả. Năm ngoái, bố mua về cho em một bộ bàn ghế có gắn cả giá sách rất tiện lợi. Em thích lắm. Nằm cạnh chiếc giường xinh xinh là chiếc tủ đựng quần áo. Mẹ em luôn nhắc nhở và giúp em sắp xếp đồ đạc gọn gàng. Chỗ nào trong ngôi nhà em cũng thấy yêu thích. Tuy nó không có đồ đạc sang trọng nhưng có đủ tiện nghi và thoáng mát.Em yêu quý tổ ấm của em. Nó gắn bó với em như ruột thịt, sống ở ngôi nhà này, cả nhà em đều thương yêu nhau. Bài làm 2 Không biết bố mẹ em đã xây cất ngôi nhà này được bao lâu rồi, em chỉ biết được rằng, em đã sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà này cùng chị em, sống trong vòng tay âu yếm của bố mẹ từ nhỏ cho đến bây giờ.Ngôi nhà một lầu, nằm trên một khu đất cao ráo thuộc quận Gò Vấp, gần sân bay Tân Sơn Nhất. Chiều ngang của ngôi nhà chừng bốn mét rưỡi, chiều dài độ hai mươi mét, lầu suốt. Ngôi nhà khá rộng mặc dầu gia đình em chỉ có bốn người: bố mẹ và hai chị em em. Bố nói: “Cất rộng như thế này là để phòng khi ông bà chú bác, cậu dì và các người bạn thân quen đến chơi có chỗ nghỉ ngơi”. Bài làm 3 Mỗi lần hết buổi học trở về nhà, nhìn thấy ngôi nhà thân thuộc, em lại thầm reo lên: “Nhà của mình đây rồi!”.Nhà của em đang ở cùng với gia đình nằm giữa con phố nhỏ. Đó là một ngôi nhà không có lầu, cánh cửa sắt luôn luôn đóng, bên trên có một cái chuông bé xíu. Em nhón chân, nhấn chuông “Reng… Reng”. Thế là bố hoặc mẹ ra mở cửa. Đang đi ngoài đường nóng, ồn ào em cảm thấy mát hẳn khi đặt chân trần lên sàn gạch bông sạch bóng. Bốn bức tường xanh dịu, chiếc quạt trần quay tít càng làm cho không khí trong nhà thoáng mát hơn. Em đặt cặp sách vào bàn học rồi mắc quần áo lên. Bố em thường dặn em, để đâu gọn đấy vì nhà chỉ có một căn buồng chính. Bàn học của em được đặt kề cửa sổ cạnh hông nhà. Sát ngoài cửa là bộ bàn ghế để tiếp khách. Kế đó là chiếc tủ đứng đựng quần áo. Sâu bên trong là hai chiếc giường và một cái tủ dài thấp. Em rất thích ngắm cái tủ kính này vì bên trong trưng bày những li thủy tinh, thố đựng bánh kẹo mứt ngày tết và mấy thứ đồ chơi của em từ hồi còn học lớp Một. Trên tủ đặt chiếc máy thu hình Sony mười bốn inch. Sát tường và sát đầu giường lớn là kệ sách. Bố mẹ đặt sách rất ngăn nắp, gáy sách quay ra ngoài đều tăm tắp. Ai cần cuốn gì, chỉ cần nhìn vào gáy sách là lấy được liền. Ớ góc học tập của em, chiếc đồng hồ hình vuông treo tường chạy rất đúng giờ. Nhờ nó mà em biết thời gian để thực hiện thời khóa biểu trong ngày: thời gian học và giải trí. Phía dưới chiếc đồng hồ là lich treo tường. Bên phải đối diện với tấm lịch là một bức tranh. Nhìn bức tranh, em thấy như mùa xuân luôn có ở trong nhà. Chỗ nào trong nhà, em cũng thấy yêu thích. Từ bàn em học nhìn qua cửa sổ thấy lá xanh, đôi lúc bướm vờn quanh mấy chậu kiểng trông thật nên thơ. Chỗ bộ bàn ghế gỗ thường đầy tiếng nói cười vui vẻ của bố mẹ và mấy vị khách thân quen. Cái tủ li, dưới ánh điện sáng càng thêm đẹp hơn. Buổi tối cả nhà em đều hướng về đó xem truyền hình. Không có những buổi phim hoạt hình nào là em không xem cả. Em thích nhất là những bộ phim “Hãy đợi đấy”, “Vịt Đô-nan”, ‘Tôn Ngộ Không”… Cũng có những ngày mưa lớn nhà bị thấm nước nhiều chỗ, em phụ bố lấy chậu hứng và giẻ lau.Mùa mưa bị dột, mùa nắng thì nóng hầm. Những ngày không có điện không khí rất oi nồng. Vậy mà em vẫn thấy không ở đâu bằng ở nhà. Đi Vũng Tàu, Đà Lạt một hai ngày em đã thấy nhớ nhà rồi, nhớ chiếc giường con, cái bàn học, nền gạch bông sạch bóng và những đồ dùng, đồ chơi quen thuộc. Nằm khuất sau rặng dừa cao vút là ngôi nhà em đang ở thuộc địa phận ngoại ô thị xã. Ngôi nhà được bố em xây cất từ khi em mới bước vào lớp Một. Đó là một ngôi nhà tường xâỵ theo kiểu mới thường thấy ở khu trung tâm thị xã hiện nay. Trông xa xa, ngôi nhà như một hình hộp chữ nhật nằm trên một khu đất cao ráo, rợp bóng cây ăn quả. Nhà không rộng lắm nhưng gọn và đẹp mắt, chiều ngang chừng năm mét, chiều dài độ hai chục mét, được chia làm bốn phòng. Bố bảo: “Lúc nào có tiền bố sẽ lên lầu cho hai chị em học tập và sinh hoạt ở trên cho yên tĩnh. Còn bây giờ, mỗi chị em một phòng ở dưới”.Thoáng nhìn từ ngoài vào là những cột hàng ba được đúc bằng những cột xi măng cốt thép kiên cố. Nền nhà, kể từ hàng ba trở đi, đều được lát bằng gạch bông của hãng “Đồng Tâm” nổi tiếng, bóng loáng như những tấm đá mài, in hình hoa văn kiểu cách. Cửa ra vào được làm bằng hai lớp. Phía trong là cửa kiếng màu nâu sẫm, phía ngoài là cửa sắt xếp, mỗi lần mở ra khép vào rất nhẹ nhàng và tiện lợi.Căn phòng thứ nhất đặt một chiếc tủ thờ được chạm trổ kì công. Bộ lư hương bằng đồng óng ánh màu vàng diệp như tôn thêm vẻ kính cẩn và trang nghiêm của nơi thờ phụng ông bà, tổ tiên. Trước tủ thờ là bộ ghế sa lông bằng cẩm pha gỗ còn thơm mùi vẹc-ni bóng loáng, sờ vào mát lạnh cả tay. Phía bên trái là chiếc tủ ly nơi đặt chiếc tivi màu hiệu Sony mười chín inch. Đây cũng chính là phòng tiếp khách của ba mẹ và cũng là chỗ tụ hội của gia đình em sau bữa cơm chiều.Phòng cuối cùng là của ba mẹ, hai phòng giữa dành cho hai chị em mỗi đứa một phòng vừa làm chỗ ngủ vừa là nơi học tập ở nhà. Cái “thế giới riêng biệt” ấy, em được làm chủ từ năm lên sáu. Sau những buổi đi học về hay những lúc xem xong chương trình “Bông hoa nhỏ”, em thường vào căn phòng mình ôn lại bài và chuẩn bị cho bài học ngày mai. Căn phòng thoáng mát có cửa sổ hướng về phía đông. Buổi sáng ngồi học ở trong phòng, đón những tia nắng ban mai rọi vào, em cảm thấy thật khoan khoái và dễ chịu.Trước sân nhà, hai hàng chậu kiểng lâu năm được bố đặt ngay hàng thẳng lối, đẹp không kém những chậu kiểng được chụp trong các tờ lịch bày bán ở các hiệu sách. Ai đến đây cũng đều tấm tắc khen các chậu kiểng vừa đẹp vừa quý. Lối nhỏ vào nhà được lát bằng những tấm đan kế tiếp nhau từ cổng đến hàng ba, chạy song song với hai hàng chè mạn hảo được cắt xén kĩ càng. Hai chị em lớn lên dưới mái ấm của ngôi nhà nhỏ xinh này với bao nhiêu kỉ niệm đẹp của tuổi ấu thơ. Hôm xem truyền hình trên làn sóng màn ảnh nhỏ, nhà em được giới thiệu với khán giả xem đài về nếp sống sinh hoạt của một gia đình văn hóa tốt, em la to lên: – Chị Hai! Nhà mình được lên truyền hình kìa!– Chị biết rồi! Hôm em đi học, các cô chú ở Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh đến đây quay hình và phỏng vấn bố mẹ đấy!– Sao chị không nói cho em biết?– Chị muốn đem đến cho cưng một niềm vui bất ngờ. Từ nay về sau, cưng cần phải ngoan hơn nữa, chăm học, chăm làm để bố mẹ vui lòng. Hai chị em mình phải ráng giúp bố mẹ, xứng đáng là những đứa con ngoan của một gia đình văn hóa mới.Em rất yêu quý ngôi nhà của mình, nơi mà em được sống và lớn lên trong vòng tay âu yếm của bố mẹ và mái ấm gia đình với bao kỉ niệm êm đềm của tuổi thơ. Ngôi nhà và cuộc sống thân yêu của gia đình em là thế đấy. Em cảm thấy thật hạnh phúc khi được sống trong ngôi nhà này.
Bài văn tả về ngôi nhà của em
1,877
Bài văn tả ông nội của em – văn hay lớp 5 Hướng dẫn Năm nay ông đã bước vào tuổi bảy mươi, một độ tuổi mà người ta thường nói: “Nhân sinh thất thập cổ lai hi”. Em không hiểu hết ý nghĩa của câu nói ấy, nhưng em biết chắc chắn rằng tuổi ông đã già, một độ tuổi tương đối hiếm của người đời. Mái tóc ông đã bạc phơ, có lẽ ông đã tắm gội nước thời gian nhiều quá. Tuy tóc bạc nhưng mái đầu rất đẹp bởi ông luôn cắt tóc cao và chải gọn gàng. Mái tóc bạc phơ ấy rất hợp với khuôn mặt hiền từ của ông. Mỗi lúc ông mặc bộ bà ba màu xám, trông ông thật giống ông tiên nhân đức trong truyện cổ tích, ông tiên hay giả người phàm để thử lòng dạ con người, vẻ hiền từ, nhân hậu của ông không chỉ thể hiện trên khuôn mặt mà còn hiện rõ trong ánh mắt. Đôi mắt ông không còn tinh anh nhưng ẩn trong đôi mắt ấy một cái gì đó khác lạ với nhiều người mà em thường gặp. Có lẽ đó là sự bao dung, rộng lượng, lòng nhân ái khôn cùng. Mỗi khi ông mỉm cười, đôi mắt ông dịu hiền khó tả, hàm răng đã bị mai một bởi tuổi già cũng lộ ra. Hàm răng mất đi mấy chiếc nên cái miệng ông hơi móm mém khi nói, khi cười. Và nụ cười của ông cũng toát lên vẻ hiền từ, nhân hậu. Điều đáng chú ý nhất là đôi bàn tay ông – một đôi tay khéo léo. Bàn tay gầy gầy, xương xương và chai sần nhưng ông làm đâu ra đấy. ông thường đan lát những đồ dùng bằng tre để bố mẹ em có cái sử dụng. Những lúc khỏe, ông vun xới cây trồng, chăm bón từng cây con. Bởi vậy, cây trái trong vườn nhà ông em lúc nào cũng xanh tốt, sum sê. Những ngày thơ ấu, em thường quấn quýt bên ông. Bố mẹ em đi làm xa, em ở nhà với ông, đòi ông kế chuyện, hát ru. Giọng nói của ông thật ấm, nó như một âm thanh không thể không vang vọng trong em. Em nhớ nhất từng lời kể chuyện ngọt ngào mà ông chậm rãi kể cho em nghe. Em lại nhó’ từng thao tác làm việc của ông trong vườn nhà. Có lần em đã nói với ông khi chăm chú nhìn ông cần mẫn làm việc: – Ông ơi, ông có “đôi tay vàng” đấy ạ! Ông mỉm cười nhìn em, một nụ cười trìu mến vô cùng. Ông cứ cần mẫn làm việc, hết vun xới gốc cho cây này lại tỉa cành khô lá úa cho cây nọ. Rõ ràng, ông rất thích làm việc, ít muốn nghỉ ngơi. Tuy tuổi cao lại luôn làm lụng trong vườn nhưng ông luôn quan tâm đến con cháu, ông nhắc nhở từng công việc làm của bố và mẹ em, ông quan tâm đến cái ăn và giấc ngủ của em, quan tâm đến cả việc học hành. Mỗi khi em đạt điểm mười, ông thật vui, thật hài lòng, ông thường dạy em những điều hay, lẽ phải, ông nhắc bố em cách “đối nhân xử thế”, cách sống với họ hàng, với bà con làng xóm. Ông luôn gần gũi với con cháu, gần gũi với láng giềng, coi trọng “tình làng nghĩa xóm”, luôn giúp đỡ những người nghèo, quan tâm đến người có hoàn cảnh khó khăn. Sự quan tâm ấy của ông đã làm ông không ngần ngại khi tham gia công tác của Hội người cao tuổi, Hội khuyến học ở phường, ông luôn dành những phần quà cho trẻ em nghèo, những phần thưởng cho những học sinh vượt khó học giỏi. Ai cũng nói ông đặc biệt quan tâm đến trẻ thơ. Em kính yêu ông vô hạn. Em quyết chăm ngoan, học giỏi, để sau này trở thành người “hiền tài” như sự mong đợi của ông.
Bài văn tả ông nội của em – văn hay lớp 5
684
Bài văn tự sự lớp 8: Kể chuyến tham quan mà em nhớ nhất Hướng dẫn Bài văn tự sự lớp 8: Kể chuyến tham quan mà em nhớ nhất Bài mẫu 1: Kể lại chuyến tham quan em nhớ nhất Mặt trời lên cao thì chúng tôi cũng rời khỏi lăng, theo dòng người đông đúc hướng về khu di tích phủ Chủ tích. Địa điểm đầu tiên là nhà sàn Bác Hồ, căn nhà được phục chế theo nhà sàn mà Bác ở những ngày cuối cuộc đời vĩ đại của mình. Ngôi nhà nhỏ đơn sơ nằm khiêm tốn tại một góc, hòa vào thiên nhiên bình dị, xinh đẹp Bài mẫu tham khảo Cuộc đời mỗi người là sự nối tiếp của những chuyến đi. Mỗi chuyến đi đều mang lại những ý nghĩa, để lại ấn tượng khác nhau. Trong số những chuyến đi ấy, có một chuyến tham quan mà tôi nhớ nhất là chuyến tham quan khu vực Lăng Bác và khu di tích Phủ Chủ tịch. Cuối năm học lớp 5, nhà trường bất ngờ tổ chức cho lớp tôi chuyến tham quan Phủ Chủ tịch tại thủ đô Hà Nội vào hai ngày cuổi tuần. Đây là chuyến đi xa đầu tiên của cả lớp trong suốt năm năm học nên ai cũng háo hức, giờ ra chơi nào cũng tụm đầu lại với nhau, bàn tán sôi nổi về chuyến đi này. Ngày xuất phát, khuôn mặt ai cũng rạng rỡ, vui tươi. Các thầy cô quyết định sắp xếp di chuyển từ trường vào buổi chiều thứ 7 để được viếng Lăng Bác vào sáng chủ nhật hôm sau. Xe lăn bánh, mỗi đứa một ba lô, tạm biệt miền quê giản dị thanh bình để hướng về thủ đô. Xe chạy bon bon suốt 3 tiếng đồng hồ mà cả lũ cứ mở tròn mắt, chỉ chỉ cảnh vật bên đường đầy thích thú. Tới thủ đô thì đã chiều muộn, cả đoàn dừng chân tại khách sạn, ăn cơm rồi tắm rửa và về phòng, nghỉ ngơi để buổi sáng dậy sớm. Một đêm nhanh chóng qua đi, đúng 6 giờ chúng tôi đã có mặt tại sảnh lớn của khách sạn, ăn mặc quần áo học sinh nghiêm trang, lịch sự. Theo sự hướng dẫn của các thầy cô rồi đi đến lăng Bác. Dù đã liên lạc với người quản lý viếng lăng từ trước nhưng chủ nhật, khách tham quan đến viếng quá đông, chúng tôi phải chờ gần một tiếng đồng hồ mới được vào lăng viếng Bác. Người trưởng đoàn đọc bài viếng, giới thiệu tên đoàn xong thì cả đoàn cùng đứng ngay ngắn, chầm chậm bước theo hai người lính gác lăng dâng hoa phía trước tiến vào lăng Bác. Khác hẳn với nhiệt độ bên ngoài nắng chói chang, trong lăng mát lạnh và yên tĩnh, ai cũng tỏ lòng thành kính với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu, bước đi nhẹ nhàng không một tiếng động. Người nằm trên giường ở giữa lăng, ánh sáng nhu hòa màu vàng chiếu lên khuôn mặt hiền từ của Người, yên bình vô cùng… Con đường dẫn vào nhà sàn ôm ấp lấy ao cá Bác Hồ với diện tích khá lớn,nước hồ trong veo, cá chép đủ màu sắc thi nhau bơi lội tung tăng trong nước mát. Có những con cá rất to, hai bên miệng còn có râu, cô giáo tôi bảo nó chắc hẳn đã già lắm rồi. Vừa đi, cô hướng dẫn viên vừa giới thiệu về lịch sử của ao cá, kể những câu chuyện của Bác với ao cá ấy. Du khách trong nước và quốc tế xen lẫn với nhau, ai cũng trầm trồ về vẻ đẹp của ao cá. Vì phải trở về vào buổi chiều nên chúng tôi không được tham quan toàn bộ khu di tích, sau khi tham quan ao cá, địa điểm cuối cùng là Khu Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Viện Bảo tàng trang nghiêm, trưng bày rất nhiều hiện vật, tư liệu về cuộc đời và con người của Bác. Bên cạnh mỗi hiện vật đều chú thích tên, thời gian mà Bác sử dụng và những câu chuyện xung quanh. Có rất nhiều câu chuyện mà chúng tôi chưa bao giờ nghe đến. Vừa tham quan, chúng tôi vừa cảm thán về cuộc đời và những năm tháng kháng chiến của Người, tiếp thu được bao điều ý nghĩa và thú vị. Thời gian trôi qua nhanh, chiều đến, chuyến tham quan của chúng tôi cũng phải kết thúc. Cả đoàn cùng chụp một bức ảnh lưu niệm rồi lên xe ra về. Dù chuyến đi ngắn ngủi nhưng để lại rất nhiều ấn tượng, lần đầu tiên tôi được tận mắt nhìn thấy một phần cuộc đời của Bác Hồ kính yêu. Để rồi sau này, cảm giác tự hào và xúc động khi vào lăng viếng Bác vẫn còn in đậm mãi trong tôi. Dù những người mẹ này vô cùng hiền dịu, chăm sóc quan tâm hết mực đến các em nhưng vì cuộc sống chung nên tình cảm ít nhiều bị san sẻ, điều kiện vật chất cũng không đủ để các em sinh hoạt, những em nhỏ hơn thường phải mặc lại những bộ quần áo của các anh chị lớn chứ không có điều kiện mua mới Bài mẫu tham khảo Trường tôi không chỉ nêu là ngôi trường cao truyền thống đoàn kết, lá lành đùm lá rách, và đặc biệt là không chỉ các thầy cô- những người tổ chức các hoạt động từ thiện tham gia tích cực, phát động chúng em tham gia, mà bản thân chúng tôi cũng nhận thức được hành động đúng đắn, hữu ích nhân văn này nên không chỉ em mà học sinh toàn trường đều chủ động, tình nguyện tham gia. Năm nào cũng vậy, cứ ra ngoài Tết nguyên đán thì trường em lại phát động phong trào “Tết mang yêu thương” nhằm huy động tấm lòng hảo tâm của học sinh cũng như thầy cô trong trường để giúp đỡ cho những người có hoàn cảnh khó khăn, gặp phải những biến cố, bất hạnh trong cuộc sống. Vì là hoạt động từ thiện nên các thầy cô cũng như các bạn học sinh trong trường đều tham gia với tấm lòng tự nguyện, chân thành nhất, không hề có việc ép buộc hay tham gia với thái độ không thoải mái. Để đóng góp cho phong trào này, chúng em sẽ mang đến những đồ dùng học tập như: sách vở, bút viết hay những chiếc quần, chiếc áo cũ không mặc đến để quyên góp. Những món đồ dùng cá nhân tuy không có giá trị với mình nhưng khi được mang đi làm từ thiện thì đó lại là những vật dụng hữu ích có thể giúp đỡ cho các bạn nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, không có những điều kiện sinh hoạt như những đứa trẻ cùng trang. Lớp tôi được thầy giáo phụ trách phân công cho việc mang đồ dùng quyên góp của lớp em đến nơi nhận đồ quyên góp, đó chính là làng trẻ em SOS. Đây là ngôi làng tập trung những bạn nhỏ có hoàn cảnh khó khăn, những trẻ em lang thang, mồ côi cha mẹ hoặc sống lanh thang không nơi lương tựa vào ở. Có thể nói các bạn này có số phận vô cùng bất hạnh, cuộc sống của các bạn ở làng trẻ SOS cũng thiếu thốn, không được đầy đủ như những bạn bè cùng trang lứa. Mặc dù được sự hỗ trợ của nhà nước nhưng cuộc sống của các bạn vẫn cần rất nhiều những tấm lòng hảo tâm, họ cần những tấm lòng yêu thương để tạo cho họ cơ sở, động lực vươn lên trong cuộc sống bất hạnh ấy. Dù những người mẹ này vô cùng hiền dịu, chăm sóc quan tâm hết mực đến các em nhưng vì cuộc sống chung nên tình cảm ít nhiều bị san sẻ, điều kiện vật chất cũng không đủ để các em sinh hoạt, những em nhỏ hơn thường phải mặc lại những bộ quần áo của các anh chị lớn chứ không có điều kiện mua mới. Việc học tập của các em cũng rất khó khăn, sách vở các em dùng cũng là đồ quyên góp của những người có tấm lòng hảo tâm. Khi đến làng trẻ em SOS làm công tác từ thiện thì tôi cũng như các bạn cùng lớp đã rất xúc động vì những hoàn cảnh đáng thương của các bạn nhỏ nơi đây. Có những em rất nhỏ nhưng cũng có những bạn bằng tuổi đã phải trải qua rất nhiều những biến cố của cuộc sống, phải một mình đương đầu với cuộc sống đầy đáng sợ này. Chứng kiến những hoàn cnahr ấy chúng em thấy mình hạnh phúc hơn, may mắn hơn vì chúng em có bố mẹ, có một cuộc sống no đủ. Hôm đó chúng tôi đã có một ngày rất ý nghĩa, cùng các em chơi đùa, kể chuyện cho các em. Em và các bạn tự hứa sẽ luôn giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn nơi đây, dù ít dù nhiều thì chúng em cũng muốn các bạn có cuộc sống tốt đẹp, đủ đầy hơn.
Bài văn tự sự lớp 8_ Kể chuyến tham quan mà em nhớ nhất
1,569
Bài văn tự sự lớp 8: kể lại những kỷ niệm ngày đầu tiên em đi học Hướng dẫn Bài văn tự sự lớp 8: kể lại những kỷ niệm ngày đầu tiên em đi học Bài mẫu 1: Kể lại những kỷ niệm ngày đầu tiên đi học Mẹ đứng nhìn chúng tôi một lúc mới yên tâm quay người, trở về nhà. Mái trường tiểu học này tôi đã đi qua nhiều lần nhưng hôm ấy là lần đầu tiên được đặt chân vào và ngắm nhìn nó một cách toàn diện. Ngôi trường rộng lớn, khang trang và đẹp đẽ Bài làm tham khảo Đã bao năm tháng trôi qua kể từ ngày đầu tiên đi học. Bạn có bao giờ nghĩ lại ngày trọng đại mà thiêng liêng ấy? Có bao giờ thấy lòng mình bồi hồi hoài niệm về cảm giác ngày hôm ấy? Tôi luôn vô tình nhớ lại ngày đầu tiên đi học mỗi khi đi qua con đường quen thuộc. Những kỉ niệm về ngày hôm ấy dường như vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi. Đó là một buổi sáng mùa thu, trời cao và trong xanh. Khi ông mặt trời vừa lấp ló đằng Đông, tôi đã vội vàng thức dậy sau một đêm đầy lo lắng và mong đợi. Cả tối hôm trước, tôi cứ bám lấy mẹ, ríu rít bày tỏ cảm xúc về ngày trọng đại trong cuộc đời mình. Mẹ đã gấp gọn bộ đồng phục từ đêm qua, tôi làm vệ sinh, ăn sáng và tự hào khoác lên mình chiếc áo trắng tinh khôi, chiếc váy kẻ ca – rô đều in lô gô của ngôi trường tiểu học tôi sắp bước chân vào. Nhìn bé gái 6 tuổi đang thắt bím đuôi sam mỉm cười trong gương, tôi thấy mình dường như trưởng thành hơn một chút. Trường tiểu học ở gần nhà tôi nên mẹ không lấy xe mà dắt tay tôi đến trường. Trên con đường làng quen thuộc, lòng tôi chợt rộn ràng, vui tươi lạ thường. Vẫn con đường mà lũ trẻ chúng tôi ngày ngày chạy đuổi bắt ấy thôi mà cảm giác hôm nay lạ quá. Ánh nắng buổi sáng nhảy nhót trên lá cây, nghịch ngợm nhảy trên vai tôi. Tiếng chim hót líu lo và lá cây rì rào trong gió hòa vào nhau như tấu lên khúc nhạc chào đón tôi đến trường. Trên đường, nhiều bạn nhỏ cũng được bố mẹ dắt tay đến trường như tôi, ánh mắt ai cũng thơ ngây và đầy mong đợi. Mẹ nắm tay tôi, vừa đi vừa chào hỏi người quen trên đường. Các cô, các chú nhìn thấy tôi cũng mỉm cười cổ vũ: – Con gái lớn quá, chúc con có ngày học đầu tiên thật vui nhé! Tôi lễ phép cảm ơn rồi lại theo mẹ hướng về phía trường học. Không bao lâu sau, ngôi trường tiểu học sơn màu vàng cổ kính đã xuất hiện trong tầm mắt tôi. Mẹ dắt tay tôi đi về phía cổng, chỉnh lại cặp sách trên vai cho tôi rồi ân cần hỏi han: – Con có thể tự vào được không? – Có chứ ạ, con đã hẹn với Mai Anh rồi, mẹ cứ về đi ạ. Không giống như nhiều bạn khác rụt rè và sợ hãi, tôi chỉ lo lắng một chút nhưng vô cùng kiên quyết, giơ nắm tay nhỏ vẫy vẫy mẹ rồi bước đến gần cổng hơn. Bước qua cánh cổng màu trắng này, một thế giới khác sẽ mở ra, đó là thế giới của tri thức. Khi còn bé, tôi đã nghĩ như vậy, và muốn mình trưởng thành hơn, không dựa dẫm vào bố mẹ mãi nữa. Mai Anh đã đứng bên kia cổng, nhìn thấy tôi liền kiễng chân, gọi lớn. Lúc ấy, tôi đã quay lại nhìn mẹ, mỉm cười thật tươi để đáp lại ánh mắt tự hào và nụ cười hiền từ của mẹ rồi tự mình bước qua cổng. Đúng 7 giờ, tiếng trống báo hiệu tập trung vang lên, học sinh lớp 1 chúng tôi theo sự hướng dẫn của các thầy cô, xếp hàng ngay ngắn. Cô hiệu trưởng đọc diễn văn chào đón chúng tôi vào trường rồi đọc danh sách lớp học, tôi và Mai Anh được ở cùng lớp 1A, chúng tôi vui mừng ôm chầm lấy nhau. Sau đó, học sinh lớp nào về lớp ấy, chúng tôi vào lớp, nhìn nhiều gương mặt lạ lẫm không quen, chủ động nở nụ cười làm quen. Không khí lớp học thân thiện hẳn lên. Cô giáo chủ nhiệm giúp chúng tôi làm quen với nhau, sự bỡ ngỡ dần biến mất. Bài học đầu tiên là bài tập đọc, tiếng đọc bài của đám chúng tôi theo sau tiếng đọc rõ ràng, ngọt ngào của cô tạo nên bản nhạc của ngày học đầu tiên, bài học mà sau này tôi vẫn luôn hoài niệm. Ngày đầu tiên đi học của tôi trôi qua nhẹ nhàng và vui vẻ như thế. Nhiều năm sau này, mỗi khi nhìn thấy các em học sinh rụt rè bên bố mẹ trong buổi học đầu tiên, tôi lại nhớ về mình 8 năm trước, háo hức mà tung tăng giống như một con chim non tò mò và mong đợi vào không gian mà mình sẽ neo đậu suốt 5 năm liền. Kỉ niệm ngày đầu tiên đi học trở thành những kỉ niệm đẹp nhất trong quãng đời học trò của tôi. Bài mẫu 2: Kể lại những kỷ niệm ngày đầu tiên đi học Rồi dần dân ngôi trường hiện ra mang trong mình vẻ nghiêm trang dưới nắng thu nhè nhẹ. Tôi lờ mờ nhận ra như vậy vì thấy nó khang trang và to lớn không giống như lớp học mần non mà tôi theo học. Mẹ mỉm cười xoa đầu tôi, nhẹ nhàng nói: “Đến nơi rồi con”. Bài làm tham khảo “Ngày đầu tiên đi học Mẹ dắt em tới trường Em vừa đi vừa khóc Mẹ dỗ dành yêu thương…” Đó là những cảm xúc đầu tiên của tôi khi chuẩn bị vào lớp một. Khi tôi ngân nga bài hát này thì lòng tôi lại nhớ đến những kỉ niệm đẹp của ngày đầu tiên đi học. Rồi dần dân ngôi trường hiện ra mang trong mình vẻ nghiêm trang dưới nắng thu nhè nhẹ. Tôi lờ mờ nhận ra như vậy vì thấy nó khang trang và to lớn không giống như lớp học mần non mà tôi theo học. Mẹ mỉm cười xoa đầu tôi, nhẹ nhàng nói: “Đến nơi rồi con”. Quả thực tâm trạng tôi mỗi lúc thay đổi. Bây giờ tôi không còn cảm thấy quá sợ nữa nhưng không hiểu sao chân tôi cứ díu lại. Dù vậy nhưng tôi vẫn cố nhảy theo những bước chân của mẹ. Đi được một đoạn thì ngôi trường đã hiện rõ trước mắt. Trước mặt tôi là một cái cổng trường to lớn với những chữ viết lằng nhằng khó hiểu. Xung quanh đó là hàng trăm các bạn học sinh khác cùng với biết bao tâm trạng, suy nghĩ. Bạn thì níu chân mẹ, người thì mếu máo. Chợt có tiếng khóc òa sau lưng tôi, tôi liền chạy lại úp mặt vào mẹ và cũng nghẹn ngào khó tả. Nước mắt tôi đã dưng dưng đến tận cổ họng. Mẹ an ủi tôi cùng những lời nói ngọt ngào, làm tôi lấy lại can đảm lau nhẹ nước mắt và mồ hôi, đứng thẳng người. Cùng lúc đó, có một cô giáo đi lại phía tôi. Tôi ngơ ngác nhìn thì cô nhẹ nhàng cất tiếng nói: “Chị cho cháu vào lớp đi. Đó là lớp của em” Giọng nói ấm ấm, thanh thanh mà ngọt ngào của cô đã khiến tôi không còn cảm giác sợ hãi nữa. Cô nhẹ nhàng nắm tay tôi dắt vào lớp, tôi đi theo sau cô và cảm nhận mùi thơm từ tà áo dài của cô. Bỗng có hồi trống cái vang lên làm tôi giật nảy mình ôm chầm lấy cô giáo. Cô giáo cười, xoa đầu tôi bảo: “Đấy là tiếng trống trường. Trống báo đã đến giờ tập trung rồi”. À, thế ra đấy là tiếng trống trường. Từ trước tôi vẫn chỉ nghe tiếng trống cơm bung bung nhỏ bé của những đêm rằm Trung thu nào đã được nghe tiếng trống trường bao giờ. Sáng ấy, lần đầu tiên tiếng trống trường dội vào lòng tôi – tiếng trống rộn ràng, giục giã, nao nức khiến tim tôi cũng muốn nhảy nhót và lòng tôi hồi hộp muốn khóc lên. Tiếng trống đầu đời đi học ấy – ai ngờ sẽ là nguồn cảm xúc đi theo tôi suốt cuộc đời học tập. Rồi chúng tôi xếp hàng trước lá cờ đỏ sao vàng. Một thầy giáo hô chào cờ rất to. Chúng tôi đứng im phăng phắc mà không hát vì lúc đó hầu hết đều chưa biết bài hát Quốc ca. Chỉ sau đấy vào lớp, tiết học đầu tiên cô giáo mới dạy bài hát Quốc ca. Chúng tôi hát rất say sưa, hát hào hùng, thuộc rất nhanh vì cô giáo bảo để sau này mỗi lần chào cờ chúng tôi sẽ hát dưới cờ chứ không đứng im như hôm nay. Với tôi, nếu không có ngày khai trường đầu tiên đi học chữ – phút đầu tiên được “thưa cô giáo”, lần đầu tiên nghe tiếng trống trường và đứng dưới lá cờ tổ quốc hát quốc ca ấy… tôi sẽ có gì sâu sắc với mái trường và tuổi thơ nhỉ? Những kỷ niệm đẹp đẽ trong ngày khai trường đầu tiên ấy đã góp phần bồi đắp nên tâm hồn thơ của tôi đấy thơ ơi!
Bài văn tự sự lớp 8_ kể lại những kỷ niệm ngày đầu tiên em đi học
1,638
Bài văn văn biểu cảm tả về cây khế lớp 7 Hướng dẫn Vườn nhà em có nhiều cây cảnh đẹp, được trồng trong những chiếc chậu bồng sứ xinh xắn, nào là cây lộc vừng, hoa chiếu thủy, cây xương rồng, địa lan… nhưng em thích nhất là cây khế ngọt. Cây có cành lá xum xuê, che kín một góc vườn. Quan sát kĩ hơn, cây lại giống như một anh chàng võ sĩ khỏe mạnh, lực lưỡng. Cây cao gần một mét, tán lá rộng chừng nửa mét vuông. Thân cây chỉ to hơn cổ chân em bé, vỏ màu nâu đậm, sần sùi, từ đó vươn ra những cành cây mập mạp, chắc chắn, gánh đỡ những chùm quả nặng trĩu. Lá khế màu xanh nhạt, mọc đểu tăm tắp. Xen kẽ giữa màu xanh của lá và quả là những chùm hoa màu tím nhỏ li ti, hứa hẹn cho những quả ngọt trái mùa. Quả khế có năm múi, ban đầu là màu xanh, khi chín chuyển màu vàng tươi trông thật hấp dẫn. Khi ăn, nó có vị ngọt thuần khiết, mát giòn. Hằng ngày, sau khi đi học về, em lại chăm sóc, tưới nước cho cây. Cây khế rung rinh theo làn gió, mừng vui đón nhận những làn nước mát tắm đều cho cơ thể, ngày càng phô ra những chùm quở nặng trĩu trông thật thích mắt. Em coi cây khế như người bạn thân của mình và luôn tự nhắc nhở rằng: “Chăm lo cho cây Chính là tự chăm lo, làm đẹp cho cuộc sống của minh “.
Bài văn văn biểu cảm tả về cây khế lớp 7
265
Bài văn xúc động của người con gái bị mẹ bỏ rơi Hướng dẫn Bài văn xúc động của người con gái bị mẹ bỏ rơi Lượt xem: 1335 Nguyễn Thị Kiều Vân,học sinh lớp 8, sinh ngày 17/1/1997, dự thi môn Ngữ văn ngày 17/9/2010.10 điểm là số điểm dành cho bài văn của em. Cùng đó là dòng nhận xét “Bài viết quá xúc động, cảm ơn con”. Nội dung bài ăn của Nguyễn Thị Kiều Vân: “Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này. Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. Như hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi. Mẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc. Mẹ dạy tôi rất nhiều điều “Phải sống trung thực, ngay thẳng. Phải biết ơn nhưng không được nhớ oán. Phải biết tha thứ yêu thương người khác. Nhất định chị em phải đoàn kết với nhau mà sống, đừng để mọi người chê cười con không có dạy”. Đó là tất cả những gì mẹ để lại cho tôi trước lúc ra đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu gì cả, tôi sống vô tư có mẹ cũng như không có mẹ. Nhưng Mẹ ơi? Giờ con mới hiểu mồ côi mẹ là gì? Giờ con mới biết những lời nói đó là tài sản quý giá nhất mà mẹ đã dành cho con. Con nhớ mẹ nhiều lắm, nhất định con sẽ làm theo những gì mẹ dạy. Mẹ tôi đã vượt qua khó khăn để sống và tôi cũng sẽ thế. Mẹ luôn là một vầng ánh sáng soi dẫn đường tôi. Những nụ cười của mẹ sao nó cứ hiện mãi trong đầu tôi cả lúc mẹ ra đi nữa. Giờ tôi muốn được nắm tay mẹ, muốn được ngồi vào mẹ nhưng tôi không thể! Mẹ tôi rất thương yêu tôi, mẹ đã hi sinh cuộc đời mình để tôi được sống tốt hơn. Ngày ấy, lúc mẹ đau đớn giữa đêm khuya, thấy mẹ đau tôi chẳng biết làm gì mà chỉ biết khóc. Mẹ nắm tay tôi và cười trong những giọt nước mắt “Mẹ không sao đâu con. Thế là tôi đã ngủ thiếp đi, sao tôi lại khờ dại đến ngu ngốc thế chứ? Tôi hiểu mẹ yêu tôi nhường nào và tôi cũng vậy. Tuy giờ không có mẹ bên cạnh nhưng mẹ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi sẽ sống thật tốt để mẹ được vui lòng, giờ tôi chỉ có thể làm được thế thôi. Hỡi những ai còn mẹ thì đừng làm mẹ mình phải khóc, dù chỉ là một lần!”
Bài văn xúc động của người con gái bị mẹ bỏ rơi
613
Bàn luận về lý tưởng sống của thanh niên ngày nay Hướng dẫn Là thanh niên nhất định phỉ sống có lý tưởng Mở bài: Thanh niên (tuổi trẻ) là thế hệ những người trẻ tuổi trong xã hội. Lịch sử đã chứng minh rằng, một đất nước có hùng mạnh và phồn vinh ở tương lai hay không chính là do thế hệ thanh niên hôm nay dốc sức xây dựng. Bởi thế, xây dựng lý tưởng sống đúng đắn, phù hợp với thời đại ngày nay cho thế hệ thanh niên là một nhiệm vụ hết sức cần thiết. Thân bài: Thanhniên là gì? Khái niệm về lứa tuổi thanh niên ở mỗi quốc gia có sự khác biệt nhau. Tại Việt Nam, thanh niên là những người trong độ tuổi từ 19 – 24 tuổi. Họ được pháp luật công nhận, tôn trọng và bảo vệ. Trong bài viết này, hàm nghĩa thanh niên được hiểu là những người trẻ tuổi, đang học tập ở trường hoặc làm việc tại các cơ sở. Họ là lớp người có nhiều cống hiến đối với sự phát triển của xã hội và đất nước. Lý tưởng sống là gì? Lý tưởng sống là mục đích sống tốt đẹp, có ý nghĩa trong cuộc đời mà mỗi con người muốn hướng tới. Lý tưởng sống cũng đồng nghĩa với sống sống có lý tưởng. Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn, giúp ích cho bản thân, gia đình, xã hội, đất nước và nhân loại. Tại sao phải rèn luyện lý tưởng sống cho thanh niên? Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Điều đó khẳng định vai trò của thanh niên là vô cùng to lớn và bao trùm rất nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, thanh niên luôn sung sức, năng động, sáng tạo nhất trong xã hội. Với sự tinh nhạy của tuổi trẻ, họ nắm bắt thông tin nhanh nhạy, có năng lực tiếp cận, sáng tạo với công nghệ mới và luôn nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội. Thanh niên là lớp người sống có khát vọng, có ý chí vươn lên, có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái. Vì cộng đồng và lợi ích quốc gia họ luôn sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, gian khổ, xung kích hoàn thành mọi nhiệm vụ của mình. Thanh niên chính là lực lượng trẻ tuổi, đang học tập và làm việc, có đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội và đất nước. Cơ cấu dân số nước ta là cơ cấu dân số trẻ. Nghĩa là lực lượng lao động trẻ, trong đó có thanh niên chiếm một số lượng đông đảo nhất. Họ chính là động lực để phát triển nền kinh tế đất nước. Thanh niên là thế hệ kế thừa và phát huy các thành quả lao động của cha ông trong hiện tại và tương lai. Thanh niên cũng là thế hệ gánh vác các trọng trách đối với gia đình, xã hội và đất nước. Sống có lý tưởng giúp thanh niên có ý thức, trách nhiệm đối với gia đình, xã hội và đất nước. Lý tưởng sống cao đẹp giúp thanh niên biết sống vì người khác. Vì cộng đồng mà không ngại ngần gian khổ để hành động. Người sống có lý tưởng luôn biết trọng danh dự. Họ luôn gương mẫu, làm gương sáng cho người khác. Họ không tham lam, ích kỉ, tham nhũng hay hối lộ trong công việc. Lý tưởng quyết định sự thành bại trong cuộc sống. Lý tưởng cao cao đẹp dẫn dắt sự nghiệp đi đúng hướng. Nó cũng tăng thêm sức mạnh cho con người vượt qua trở ngại để đạt thành công. Lý tưởng cho ta sức mạnh để chiến thắng mọi nghịch cảnh trong cuộc sống. Một thanh niên sống có lý tưởng sẽ trở thành tấm gương sáng để người khác học tập và làm theo. Thanh niên phải hình thành lý tưởng sống như thế nào? Thanh niên phải biết yêu nhân dân, yêu đất nước, quyết tâm xây dựng và giữ gìn nền hòa bình của đất nước. Thanh niên phải biết xây dựng lối sống văn hóa, văn minh, lành mạnh, tiến bộ và phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc trong thời kì hội nhập quốc tế. Thanh niên phải luôn phấn đấu học tập rèn luyện mình. Có ý thức nâng cao, bồi dưỡng tri thức, rèn luyện nhân cách, nhân phẩm tốt đẹp. Cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ người khác trong công việc và trong cuộc sống. Phê phán, tố cáo, đả kích những hành vi gây hại cho xã hội. Biểu dương ca ngợi những tấm gương sáng ngời về tinh thần học tập, ý chí vươn lên, có đóng góp thiết thực trong cuộc sống. Kết bài: Mỗi thanh niên trong thời kì hội nhập quốc tế phải ra sức xây dựng cho mình một lý tưởng sống cao đẹp, tiến bộ và phù hợp với thời đại mới. Ngay từ bây giờ, mỗi học sinh cũng phải ra sức rèn luyện mình và hướng đến hình thành một lý tưởng sống tốt đẹp. Phấn đấu học tập và rèn luyện mình trở thành một người hữu ích, mai này đem sức mình xây dựng quê hương, đất nước.
Bàn luận về lý tưởng sống của thanh niên ngày nay
960
Đề bài: Bàn luận về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội, giữa một người và mọi người Bài làm Đã ai từng một lần đọc những lời thơ đầy giục giã của nhà thơ Nazim Hilsmet: “Nếu tôi không đốt lửa Nếu anh không đốt lửa Nếu chúng ta không đốt lửa Thì làm sao Bóng tối Sẽ trở thành Ánh sáng!” Bóng tối sẽ tan đi và ánh sáng sẽ ngập tràn nếu anh hành động, tôi hành động và chúng ta cùng hành động. Trong cái ánh sáng rạng ngời xua tan bóng tối ấy có ánh sáng của tôi, của anh và của tất cả chúng ta. Và hôm nay, nhà thơ Tố Hữu đã mượn tiếng ru dịu êm của mẹ qua bài thơ “Tiếng ru” của mình, một lần nữa gợi cho chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội, giữa một con người và mọi người. Một ngôi sao không làm nên bầu trời đêm rực sáng. Một bông lúa chin chẳng làm nên mùa vàng bội thu. Một con người nhỏ bé đáng kể gì trong cõi nhân gian rộng lớn. Đất thấp thế nhưng nhờ có đất mà núi mới cao. Sông nhỏ thế thôi nhưng nhờ sông mà biển mới mênh mông đến vậy. Bàn luận về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể Một cá nhân bé nhỏ sẽ không là gì cả so với một cộng đồng to lớn. Nhưng ngược lại, những gì lớn lao, vĩ đại lại được tạo nên từ những điều hết sức nhỏ bé mà thôi. Sống trên đời, ai cũng mong muốn mình được thể hiện và khẳng định bản thân, phần cá nhân của mình. Đó là mong ước tự nhiên và chính đáng. Phần riêng ấy được thể hiện ở những khát khao, hoài bão của bản thân, là niềm mong mỏi mình phải có vị trí nào đó trong mắt mọi người. Phần cá nhân bé nhỏ của mỗi người ấy cần được thể hiện, được khẳng định, được tôn trọng và ghi nhận. Chính “cái tôi” ấy tạo nên giá trị và bản sắc của mỗi cá nhân trong cộng đồng, làm cá nhân đó không bị hòa tan, không lẫn vào người khác. Tôi yêu những vạt nắng trải dài trên cánh đồng bát ngát, yêu những triền đê xanh thơm mùi cỏ non. Còn bạn, bạn yêu những ánh đèn màu rực rỡ của thành phố hoa lệ về đêm, yêu những tòa nhà chọc trời nguy nga tráng lệ. Tôi và bạn có những tình yêu khác nhau, quan điểm sống khác nhau, và chính sự khác nhau ấy đã làm nên “cái tôi” riêng của mỗi cá nhân chúng ta. Phần tôi ấy được thể hiện bằng nhiều cách: bằng sự yêu thương, bằng những nỗ lực, phấn đấu học tập, lao động hay chỉ đơn giản là những sở thích riêng của chúng ta mà thôi. Ở mỗi thời kì, ta đều thấy sự xuất hiện của những cá nhân vĩ đại, xuất sắc. Bằng tài năng của mình, họ đã đóng góp rất nhiều cho cộng đồng, xã hội. Họ có thể là những nhà khoa học, bằng những phát minh của mình đem lại sự phát triển cho đời sống của nhân loại như Đác-uyn, Marie Curie… Họ có thể là những nhà Cách mạng, bằng sự nghiệp chính trị của mình mà đem lại hòa bình cho cả một dân tộc, một đất nước như Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam ta. Nhưng dù cá nhân có hoàn thiện, có lớn lao vĩ đại đến đâu đi chăng nữa nhưng cũng sẽ không là gì so với sức mạnh của cả một dân tộc. Cá nhân ấy khác nào một hạt cát với một sa mạc, một giọt nước với một đại dương rộng lớn, một thân cây giữa bạt ngàn rừng xanh… Mất đi một hạt cát thì sa mạc vẫn cứ mênh mông; mất đi một giọt nước thì đại dương vẫn cứ bao la; mất đi một bông hoa thì mùa xuân vẫn cứ muôn phần rực rỡ… Một vĩ nhân, một anh hùng làm sao làm nên sự nghiệp lớn nếu không có sự kề vai góp sức của mọi người. Một cá nhân bé nhỏ làm sao tạo được sự nghiệp lớn lao khi chỉ làm một mình mình. Ta phải biết rằng cùng với ta, bên cạnh ta còn có sự chung tay góp sức cùng ta làm nên việc lớn. Nhìn lại lịch sử chiến đấu hào hung của dân tộc, ta thấy rằng sở dĩ ta có thể dệt nên những trang sử vẻ vang, ta có thể anh dũng chiến đấu giành thắng lợi, đem lại hòa bình, tự do cho dân tộc được vì sự đồng lòng, đoàn kết của nhân dân. Chính những cá nhân nhỏ bé, riêng lẻ đã tạo nên một sức mạnh tập thể vô cùng lớn lao, có thể quét sạch quân thù. Hay hình tượng người anh hùng Thánh Gióng, nhờ có cơm áo của bà con làng xóm mà Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ, xông pha trận mạc đánh tan giặc Ân. Hình tượng ấy đã được truyền thuyết hóa, thực chất đó chính là tinh thần đoàn kết của nhân dân đồng lòng chống giặc. Qua đó, ta thấy sự khiêm tốn nhìn nhận, đánh giá vai trò của mỗi cá nhân trong cộng đồng quan trọng biết bao. Biết là thế nhưng chúng ta cũng đừng vì mỗi cá nhân vô cùng nhỏ bé mà quên đi sự đóng góp của bản thân để tạo nên cộng đồng, chúng ta đừng chỉ biết hưởng thụ những đóng góp của người khác mà làm mờ nhạt đi vai trò của mình, làm mình trở thành gánh nặng cho người khác, cho cộng đồng, xã hội. Bởi lẽ tất cả mọi thứ lớn lao đều được hình thành từ những gì bé nhỏ nhất. Một hạt cát bé nhỏ thật nhưng nếu không có những hạt cát kia thì làm gì sa mạc mênh mông đến vậy. Một giọt nước không là gì cả nhưng biển làm sao bao la khi không còn những giọt nước ấy. Vì vậy, ta có thể thấy cá nhân là một nhân tố quan trọng, là cơ sở để hình thành nên cộng đồng, tập thể. Để những cá nhân có thể đóng góp sức mình vào phần chung to lớn, chúng ta không được quyền quên đi những đóng góp của họ. Vì biết đâu nỗi buồn bị lãng quên sẽ làm giảm đi nhiệt huyết trao tặng của họ, dù cho những đóng góp kia cho đi không phải mục đích là được nhận về. Như những người lính tuổi còn rất trẻ đã cho đi tuổi xuân, cho đi xương máu của mình vì một cái chung to lớn. Hay những người mẹ Việt Nam anh hùng đã đóng góp từng củ khoai, bát gạo cho các chiến sĩ, đóng góp cả những đứa con ưu tú của mình, để rồi âm thầm khóc nghẹn trong lặng lẽ khi hay tin các anh hi sinh, các anh không về. Các mẹ đã hi sinh hạnh phúc riêng của mình vì cộng đồng, vì tập thể to lớn kia. Những con người ấy họ đã cho đi mà có nề hà chi. Họ hi sinh cái phần cá nhân bé nhỏ của mình đâu phải vì huy chương, vì chiến công. Họ cho đi mà không cần đền đáp lại. Nhưng những lòng biết, những niềm cảm thông, chia sẻ của chúng ta sẽ làm họ vui hơn rất nhiều, sẽ giúp họ cảm thấy ấm áp mà nhiệt tình hơn trong trao tặng. Chúng ta cũng không nên đóng góp sức mình mà lại lại đòi hỏi một sự công nhận thật tương xứng với công lao mà mình bỏ ra. Vì đó thực chất chỉ là một cuộc trao đổi chứ không phải cho đi vì cộng đồng. Vì vậy, chúng ta phải có quan niệm: mình vì mọi người, mọi người vì mình. Chúng ta cho đi thì ta sẽ được nhận về. Dù có lớn hay không thì sự nhận về ấy vẫn luôn có ý nghĩa. “Ta là con chim hót Ta là một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến” (Thanh Hải) Nhà thơ Thanh Hải cũng đã từng suy nghĩ về triết lí này trong cuộc đời sáng tác văn chương của ông. Ông muốn làm một chú chim để dâng cho đời tiếng hót, muốn làm một bông hoa điểm tô thêm sắc hương cho cuộc sống, một nốt nhạc trầm để lại cho người nghe những dư âm xao xuyến. Và ông gọi đó là “Mùa xuân nho nhỏ” của mình. Khát khao của ông, ước muốn của ông nhỏ bé thật nhưng nó đáng quý biết bao. Vậy đấy, cuộc sống của chúng ta là thế. Ông chỉ muốn được là góc nhỏ của mùa xuân vì ông biết rằng mùa xuân lớn kia là mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Từ mùa xuân bé nhỏ ấy, ta mời thấy ước muốn đóng góp lúc nào nó cũng đáng quý, dù đóng góp nhỏ bé hay lớn lao thì nó cũng có ý nghĩa vô cùng. Ta và tôi, cá nhân và cộng đồng… tất cả đã tạo nên mối quan hệ mật thiết giữa những điều bé nhỏ và những thứ lớn lao trong cuộc sống. Đó chính là triết lí sống vô cùng đúng đắn mà con người đúc kết được từ những thực tế cuộc sống. Tiếng ru giản dị, mượt mà, êm đềm nhưng ẩn chứa trong nó là bài học lớn lao. Và tiếng ru dấy vẫn luôn đồng hành trong hành trang cuộc đời của chúng ta, từ thuở bé cho đến khi trưởng thành, giúp ta nhận thức được mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng trong cuộc sống, dạy ta biết đóng góp, biết cho đi để tạo nên những bông hoa, những bài ca, những mùa xuân rực rỡ cho đời, cho người và cho cả chính chúng ta.
Bàn luận về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, xã hội, giữa một người và mọi người
1,726
Bàn luận về phẩm chất vui tính, yêu đời Hướng dẫn Bàn luận về phẩm chất vui tính, yêu đời Bài làm Mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta đều cần phải nở một nụ cười thật tươi để cảm ơn cuộc đời, cảm ơn cha mẹ đã sinh ra ta trên cõi đời này, để cho ta được sống và yêu thương. Chúng ta yêu đời, yêu mọi thứ trong cuộc sống, ta sẽ cảm thấy cuộc sống trở nên tươi đẹp, có ý nghĩa hơn. Chính vì vậy, mỗi người cần phải luôn vui vẻ, yêu đời để có một cuộc sống hạnh phúc như chúng ta mong muốn. Chúng ta biết là cần phải vui vẻ, yêu đời để mỗi ngày trôi qua trở nên có ý nghĩa hơn. Nhưng ý nghĩa thật sự của phẩm chất vui tính là gì? Người yêu đời là người như thế nào? Người vui tính là người luôn vui vẻ, nụ cười luôn nở trên môi. Những người vui tính đôi khi mang đến cả niềm vui cho người khác, khiến cho người xung quanh cảm thấy yêu đời hơn khi nhìn thấy họ. Còn người yêu đời là người luôn lạc quan, vui vẻ, tâm hồn lúc nào cũng luôn biết tự tìm kiếm niềm vui cho mình và những người xung quanh. Chúng ta cần vui vẻ, yêu đời bởi cuộc sống của chúng ta mỗi ngày đều có những sự biến động khó lường trước được. Ai cũng cần phải lo toan cuộc sống, cơm áo gạo tiền….đó là nỗi lo về vật chất. Nhưng nỗi lo về tinh thần cũng được quan tâm không kém. Nếu chúng ta ngày nào cũng ủ rũ, tâm trạng chán chường, không thiết tha làm gì, sẽ ảnh hưởng rất xấu đến cuộc sống của chúng ta. Niềm vui, nỗi buồn luôn đan xen nhau làm nên gia vị của cuộc sống. Nhưng nếu biết tự cân bằng, lấy niềm vui để vượt qua nỗi buồn, thì ta sẽ cảm thấy cuộc sống thật nhẹ nhàng, dễ dàng hơn bao giờ hết. Có đôi lúc, chúng ta hãy cùng nhau ca lên một bài ca, một bài thơ, để giúp chúng ta có thêm sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Thật vậy, niềm vui, tiếng cười, sự lạc quan yêu đời rất cần thiết với mỗi chúng ta. Nụ cười, sự yêu đời sẽ giúp chúng ta có được cuộc sống viễn mãn hơn, ta có thể tự đem lại niềm vui, cũng như động lực sống cho chính bản thân mình và những người thân xung quanh ta
Bàn luận về phẩm chất vui tính, yêu đời
435
Bàn luận về vấn đề sử dụng nước trong sinh hoạt và cuộc sống Hướng dẫn Bàn luận về vấn đề sử dụng nước trong sinh hoạt và cuộc sống Bài làm Chắc hẳn ai cũng biết một điều rằng, trong những yếu tố cơ bản cần thiết nhất để con người có thể tồn tại, thì nước sạch là một thứ rất quan trọng và cần thiết đối với con người. Không có nước chúng ta sẽ không thể tồn tại. Nhưng hiện nay, nguồn nước từ thiên nhiên đang dần cạn kiệt, do việc sử dụng chưa thực sự hợp lý của con người. Vậy phải làm sao để có thể sử dụng hợp lý nguồn nước trong sinh hoạt và cuộc sống? Nước sạch, nước nguyên chất là nguồn nước được khai thác, đưa lên mặt đất từ những nguồn nước ngầm, trở thành những nguồn nước sử dụng sinh hoạt như nước máy, nước giếng, hoặc nguồn nước tự nhiên nữa là nước mưa. Tất cả những nguồn nước này đều được sử dụng để phục vụ cho mục đích sinh hoạt của con người như ăn uống, tăm giặt…hay phục vụ cho mục đích sản xuất, mà không ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Nước sạch vô cùng quan trọng với con người. Bởi chúng ta có thể nhịn ăn từ vài ngày đến hàng tuần nhưng vẫn có thể cố gắng tồn tại, nhưng lại không thể thiếu nước một vài ngày. Bởi 70% cơ thể con người là nước, không có nước ta sẽ khó có thể tồn tại được. Vì vậy vai trò của nước sạch với con người là rất quan trọng. Nước giúp thanh lọc cơ thể, chuyển hóa các chất đi nuôi cơ thể… Không chỉ vậy, nước sạch sử dụng trong sinh hoạt cũng rất cần thiết. Không có nước, chúng ta không thể làm sạch thực phẩm, hay những vật dụng sử dụng phục vụ cuộc sống. Điều này là rất nguy hiểm, bởi dễ dẫn đến những mầm bệnh tật ảnh hưởng đến sức khỏe con người bởi sự ô nhiễm của mọi thứ xung quanh và môi trường sống của chúng ta. Nước sạch còn được sử dụng để phục vụ cho sản xuất. Rất nhiều công việc từ trồng trọt, sản xuất, nuôi trồng… đều phải cần sử dụng đến nước. Như vậy có thể nói, không có nước sạch chúng ta không thể sống, cũng như không thể tạo ra giá trị phục vụ cho cuộc sống, nên nước là rất quan trọng với con người,. Nhưng thực trạng đáng báo động hiện nay là nguồn nước sạch đang dần cạn kiệt do sự biển đổi khí hậu. Trái đất nóng lên, các mạch nước ngầm giảm dần, rất nhiều nơi dù cố gắng đào sâu nhưng cũng không tìm thấy nguồn nwocs giếng khoan. Hay những con sông, bờ biển mực nước cũng xuống rất thấp hơn so với trung bình những năm trước. Chưa kể đến nguồn nước sạch của chúng ta hiện nay bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến việc chúng ta muốn sử dụng nguồn nước đó cho sinh hoạt, phục vụ cuộc sống. Chính vì thế, chúng ta cần phải hành động thật sớm, cần phải có những hành động thiết thực để khắc phục, bảo tồn tài nguyên nước của nhân loại. Lên án gay gắt và xử lý nghiêm, triệt để những trường hợp cố ý phá hoại nguồn nước từ thiên nhiên. Mỗi cá nhân cũng nên tự có ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước xung quanh mình. Có như vậy, chúng ta mới có thể gìn giữ được nguồn nước quý giá, phục vụ cho chính nhu cầu của bản thân chúng ta.
Bàn luận về vấn đề sử dụng nước trong sinh hoạt và cuộc sống
632
Bàn về chuyện được và mất trong cuộc sống Hướng dẫn Bàn về chuyện được và mất trong cuộc sống Bài làm Theo quy luật của cuộc sống, mỗi người đều sẽ nhận được nhiều thứ và cũng mất đi những thứ tương tụ, đó là luật bù trừ không gì có thể thay thế được. Vậy nên khi ta được nhận những điều tốt đẹp, ta cũng cần phải biết cảm thông, chia sẻ với những người xung quanh, từ đó ta sẽ cảm thấy hạnh phúc mỗi khi nghĩ đến hai từ được và mất. Định nghĩa của hai phạm trù được và mất rất đơn giản, gần gũi với chúng ta. Được có thể hiểu là khi ta được nhận một điều gì đó ta mong muốn, đó là điều tốt đẹp được người khác trao tặng, hoặc tự bản thân ta cố gắng có được. Đó chính là cái được của mỗi người, khi được nhận những thứ ta mong muốn, khi đó nghĩa là ta đã thành công trong cuộc sống. Vậy còn mất thì sao? Hai từ ngữ mang ý nghĩa trái ngược hẳn nhau. Mất đi khi ta đánh mất đi tình cảm, tiền bạc, địa vị, hoặc mất đi một điều gì đó rất quan trọng đối với bản thân chúng ta. Nhưng chung quy lại, không có gì là toàn diện trong cuộc sống, chúng ta nhận được một điều gì đó thì phải chấp nhận mất đi một thứ khác, đó mới là cuộc sống. Về mặt tinh thần, ranh giới giữa được và mất lại rất mong manh. Đôi khi chỉ là ta làm một việc tốt rất nhỏ giúp đỡ người qua đường thôi, khi nhận được sự biết ơn của người đối diện, ta cũng cảm thấy như mình vừa nhận được một điều gì đó quý giá và tốt đẹp. Bên cạnh đó, đôi khi ta lại vô tâm với những người thân yêu nhất xung quanh mình., khiến cho những người yêu thương ta cảm thấy buồn và đau lòng vì ta. Khi đó cũng chính là khi ta đang dần đánh mất đi những tình cảm quý giá mà người thân dành cho ta. Không ai được quá nhiều và cũng không ai mất quá nhiều trên cuộc đời này. Ai đó đã từng nói: Ông trời không cho không ai cái gì, và cũng không lấy mất của ai cái gì. Có những người sinh ra đã sống trong sự giàu sang nhung lụa, nhưng cuộc sống tinh thần lại không được an yên, gia đình không được hạnh phúc. Nhưng cũng có những người không có đầy đủ vật chất nhưng cuộc sống gia đình lại ấm êm, đầy ắp tiếng cười. Bởi thế, chúng ta hãy cứ sống hết mình mỗi ngày, cố gắng nỗ lực vì đam mê, vì những thứ ta yêu quý, chắc chắn khi đó, ta sẽ cảm thấy tâm hồn thanh thản, an yên. Nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải biết quý trọng bản thân cũng như những thứ xung quanh mình, không nên theo đuổi những điều phù du, xa vời, để khi nhìn lại mới cảm thấy hối tiếc.
Bàn về chuyện được và mất trong cuộc sống
531
Đề bài: Bàn về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội Bài làm HOA VÀ MĨ NHÂN Hoa không nên thấy rụng, trăng không nên thấy chìm, mĩ nhân không nên thấy chết yểu. Trông hoa nên thấy hoa nở, đón trăng nên thấy trăng tròn, viết sách nên viết cho xong, mĩ nhân nên thấy vui vẻ, sung sướng, nếu không thì uổng công. Ngắm đàn bà buổi sáng, nên đợi lúc phấn son xong. Có những bộ mặt xấu mà dễ coi, có những bộ mặt không xấu mà khó coi: có những áng văn viết không thông (mẹo) mà khả ái, có những áng văn viết thông mà đọc rất chán. Điều đó, không dễ gì giảng cho hạng nông cạn hiểu được. Bàn về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội Lấy lòng yêu hoa và yêu mĩ nhân thì tất cả có cái thú riêng; lấy lòng yêu mĩ nhân mà yêu hoa thì thêm cái thâm tình và thêm lòng nâng niu thương tiếc. Mĩ nhân, hơn hoa ở chỗ biết nói; hoa hơn mĩ nhân ở chỗ tỏa hương. Nếu không được cả hai thì bỏ hương mà lựa biết nói. Thường hoa đẹp thì không thơm, cánh nhiều tần thì không trái. Gọi mĩ nhân thì mặt đẹp như hoa, tiếng nói như chim, tinh thần như trăng, vẻ như liễu, xương như ngọc, da như băng tuyết, dáng như nước thu, lòng người thơ, ta không còn chỗ nào chê cả. Trong thiên hạ không có sách thì thôi, có thì phải đọc: không có rượu thì thôi, có thì phải uống; không có núi đẹp thì thôi, có thì phải tới chơi; không có hoa có trăng thì thôi, có thì phải mến yêu, thương tiếc. Người đàn bà xấu không cho gương là thù địch vì nó là vật vô tri, nếu gương mà hữu tri thì tất cả đã tan tành rồi. Mua được một chậu hoa đẹp còn nâng niu thương tiếc, huống là đối với một “đóa hoa biết nói”. Không có thơ thì rượu sơn thủy cũng vô nghĩa; nếu không có đàn bà đẹp thì trăng hoa cũng vô ích. Tài tử mà lại đẹp, giai nhân mà lại biết làm văn đều là không thọ được. Không phải chỉ vì tạo vật đố kị, mà còn vì hạng người đó không phải là bảo vật của một thời, mà là bảo vật cổ kim vạn đại, cho nên tạo hóa không muốn cho lưu lại lâu trên đời mà hóa nhàm.
Bàn về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội
418
Bàn về câu nói “Đoàn kết là sức mạnh vô địch” – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Từ ngàn xưa, dân tộc ta luôn coi trọng tinh thần đoàn kết. Đó chính là sức mạnh đã giúp dân tộc ta vững bước đến ngày nay cho dù đã trải qua bao nhiêu khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ nhất tổ chức ở Hà Nội tháng 4 năm 1955, Bác Hồ có nói: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch”. Câu nói tuy ngắn gọn, dễ hiểu, chính xác nhưng là một chân lí tồn tại muôn đời. Đoàn kết là tập hợp các phần tử lẻ tẻ hoặc các bộ phận thành một khối thống nhất. Song thống nhất không có nghĩa là không đấu tranh với những biểu hiện sai trái của mỗi thành viên. Ví như ở lớp, ở trường, chúng ta đoàn kết chính là yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu phấn đấu tốt, đồng thời biết góp ý, phê phán những khuyết điểm của bạn để bạn tiến bộ. Đoàn kết được thể hiện bằng động cơ, mục đích đúng đắn vì lợi ích tập thể phù hợp với sự phát triển chung của xã hội. Nếu tập hợp lại chỉ vì lợi ích nhỏ hẹp của tập thể mà đi ngược lại sự phát triển chung của xã hội thì đó là tư tưởng cục bộ, là chủ nghĩa cá nhân. Đoàn kết còn làm tăng sức mạnh trí tuệ. Chính sự đoàn kết trong nghiên cứu khoa học là nguồn gốc của biết bao thành tựu kĩ thuật. Nhóm kiến trúc sư trẻ do kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào làm nhóm trưởng đã đạt giải thưởng thế giới năm 1994 về quy hoạch đổi mới làng gốm Bát Tràng. Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhóm trưởng Hoàng Thúc Hào có nói: “Một trong những nguyên nhân thành công cơ bản là sự thương yêu, đoàn kết của toàn nhóm”. Quả thật không sai. Hiểu được câu nói của Bác Hồ, học sinh chúng ta cần phải rèn luyện thường xuyên, cần có tinh thần đoàn kết trong công việc của lớp, của trường, cùng nhau xây dựng một tập thể vững mạnh. Trong cuộc sống ở gia đình, khu phố cũng vậy, phải luôn luôn có ý thức đoàn kết đúng đắn. Tuy câu nói của Bác Hồ ra đời cách nay hơn nửa thế kỉ nhưng giá trị của nó vẫn còn nguyên và mang giá trị hiện thực sâu sắc. Ngày nay, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hơn lúc nào cần phải quán triệt câu nói của Bác Hồ, để tất cả mọi người cùng chung tay góp sức xây dựng nước Việt Nam giàu đẹp như Bác Hồ hằng mong ước. Tags:Văn 8
Bàn về câu nói “Đoàn kết là sức mạnh vô địch” – Đề và văn mẫu 8
481
Đề bài: Nghị luận xã hội về lòng dũng cảm Bài làm Lòng dũng cảm là một trong những đức tính vô cùng cần thiết và đáng quý trọng ở mỗi con người. Dù ở nơi đâu, khi làm bất cứ một việc gì, con người đều cần lòng dũng cảm Trong những cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc chúng ta đã có rất nhiều những tấm gương dũng cảm, vì nước quên thân, luôn sẵn sàng đối mặt với kẻ thù, với khó khăn gian khổ, thậm chí cả hy sinh mất mát. Những anh vệ quốc quân, giải phóng quân đã trở thành những biểu tượng đẹp về lòng dũng cảm. Lòng dũng cảm là một trong những phẩm chất vô cùng quan trọng của con người. Bởi trong cuộc đời mình, chúng ta luôn phải đối diện với khó khăn, thử thách. Bàn về lòng dũng cảm của con người Lòng dũng cảm là nghị lực, là sức mạnh, là ý chí kiên cường để con người có thể vượt lên mọi gian nan thử thách, để có được sức mạnh chế ngự thiên nhiên, chiến thắng kẻ thù … và nhiều khi là để chiến thắng chính bản thân mình. Người chiến sĩ ung dung, bình thản, không hề run sợ trước mũi súng quân thù, đó là dũng cảm. Chú bé thoăn thoát bước đi dưới làn đạn quân thù để đưa cho được bức thư đề “thượng khẩn”. Chị Trần thị Lí không hề run sợ và không chịu khuất phục trước những đòn tra tấn dã man của giặc. Trước những khó khăn, hiểm nguy, con người vẫn quyết tâm làm việc, hoàn thành nhiệm vụ, đó là dũng cảm. Dũng cảm là sẵn sàng đối diện với gian khó để thực hiện cho được mục đích đề ra. Trong cuộc sống hoà bình, chúng ta vẫn hàng ngày hàng giờ chứng kiến những hành động dũng cảm. Dũng cảm vạch trần những việc làm sai trái của người khác dù đó là những kẻ có chức có quyền, những chiến sĩ công an dũng cảm bắt tội phạm để giữ cho nhân dân có cuộc sống thanh bình, một bạn học sinh sẵn sàng lao xuống dòng nước chảy xiết đề cứu bạn… Những con người dũng cảm ấy đã góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Chiến thắng được người khác đã rất khó khăn, nhưng chiến thắng được chính bản thân mình còn khó khăn hơn nhiều. Dũng cảm để nhìn ra và công nhận những sai lầm khuyết điểm của mình. Dũng cảm để chiến thắng những ham muốn cá nhân, những tham vọng và những nhu cầu vô tận của mình. Không đủ nghị lực để vượt qua khó khăn đã bao người rơi vào cạm bẫy của những cám dỗ, để rồi trở nên nghiện ngập, trộm cắp… Không đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào sự thật, để sửa chữa sai lầm mà bao người ngày càng dấn sâu vào con đường tội lội để rồi khi có đủ dũng khí nhìn lại thì đã quá muộn. Chúng ta đã nghe nói rất nhiều đến lòng dũng cảm. Đó là một phẩm chất của những người anh hùng, làm nên những tấm gương anh dũng, song đó cũng là phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người. Cuộc sống ngày càng khó khăn, để tồn tại con người phải đối diện với bao nhiêu thử thách, gian nan. Nếu không có đủ nghị lực và nếu không có lòng dũng cảm, chúng ta sẽ rất khó có được sự thành công trong cuộc sống. Dũng cảm là một phẩm chất mà chúng ta có thể bồi dưỡng thông qua rèn luyện. Cùng với lòng trung thực, dũng cảm sẽ là tố chất để mỗi người có thể là một người tốt.
Bàn về lòng dũng cảm
645
Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học Hướng dẫn Dàn ý Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học 1. Mở bài . Giới thiệu: lợi ích và hứng thú của việc tự học. 2. Thân bài a. Việc tự học là gì? – Giải thích: . Học là gì? Học là việc học sinh tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo. . Tự học là gì? Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm. b. Ai là người tự học? – Những tấm gương của những người tự học: . Bác Hồ: tấm gương tự học và học tập suốt đời. . Lưỡng Quốc Trạng Nguyên Mạc Đình Chi. . Ê đi xơn, Macxim Gorki. c. Tại sao phải tự học? . Vì sao tự học lại bổ ích? Bởi vì kiến thức của nhân loại bao la mênh mông như biển cả … . Vì sao tự học lại hứng thú? Bởi vì tự học cũng là một người du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm du lịch bằng chân, vì nó là du lịch trong không gian lẫn thời gian. d. Việc tự học bằng cách nào? . Thật đáng tiếc là có những người làm ngược lại với tinh thần tự học. Đó là những học sinh lười biếng không cố gắng chăm lo học tập. . Tự học có ích lợi như thế nào? Tự học giúp chúng ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách báo, từ truyền hình, từ bạn bè hoặc từ những người xung quanh, những kinh nghiệm sống của nhân dân. 3. Kết bài . Đánh giá chung: lợi ích và hứng thú của việc tự học. Bài làm 1 Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học. BÀI LÀM “Đường đời là chiếc thang không nấc chót, việc học là quyển sách không trang cuối cùng” (Kalinin) Học hỏi là quyển sách không trang cuối cùng, đồng thời là một việc rất quan trọng đối với cả nhân loại từ ngàn xưa cho đến nay. Nó giúp con người mở mang kiến thức, giúp cho đất nước văn minh, tiến bộ. Chính vì vậy con người đã sáng tạo ra rất nhiều cách học nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho bản thân, trong đó tự học là cách học tốt nhất đem lại lợi ích và hứng thú, giúp ta tiến bộ hơn trong quá trình học tập. Vậy học là gì? Học là việc học sinh tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo… Học là quá trình con người tiếp thu những kiến thức, kĩ năng do người khác truyền lại về khoa học tự nhiên như toán, lí, hoá… và khoa hoaxã hội như văn, sử, địa… Còn tự học là gì? Tự học là việc con người tự mình tiếp thu những kiến thức, kĩ năng đã được truyền lại bằng chính sức lực, khả năng của riêng mình. Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Trạng nguyên lừng danh Mạc Đĩnh Chi, lúc nhỏ nhờ biết chủ động tự học, sáng tạo cách học bằng việc bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để lấy ánh sáng đọc sách mà sau đỗ Trạng, đi sứ làm rạng danh nước nhà, được phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên”, được ghi vào sử sách nhân loại về những tấm gương tự học sáng ngời. Lịch sử khoa học – nghệ thuật thế giới đã có những tấm gương tự học vĩ đại: nhà bác học Ê-đi-xơn, tác giả của hàng ngàn phát minh khoa học có ích cho nhân loại; đại văn hào Nga Mácxim Gorki, người coi cuộc sống là “những trường đại học của tôi”… Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng là tấm gương tự học tập và học tập suốt đời. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Bác viết: “Lấy tự học làm cốt”.Ngày 21/7/1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lí luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, tr. 215). Bác phê phán nghiêm khắc tệ giấu dốt, lười biếng học tập, tự cho mình là giỏi nhất thiên hạ.Năm 1957, Người nói với lớp lí luận chính trị khoá I trường Nguyễn Ái Quốc: “Cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết.Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” (Sđd, tập 8, tr. 499). Trước khi ra đi tìm đường cứu nước (1911), Bác đã học lớp trung đẳng (lớp nhì) tại Trường Quốc học Huế và lớp cao đẳng (lớp nhất) ở Trường Tiểu học Quy Nhơn với thầy Phạm Ngọc Thọ. Nhưng Bác chỉ nhận mình tự học và trên thực tế, cả cuộc đời Bác vẫn tự học là chính. Năm 1935, dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, Người ghi vào phiếu lí lịch của mình như sau: Trình độ học vấn: tự học; ngoại ngữ: Pháp, Anh, Nga, Đức, Ý, Trung Quốc. Bác học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây. Người biết và sử dụng thông thạo trên mười ngoại ngữ nhờ tự học chứ không qua một trường đào tạo chính quy nào. Người học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân. Người học từ thực tiễn sinh động ở các nước đế quốc, nước thuộc địa, ở phong trào cách mạng trên thế giới. Đại tướng Hoàng Văn Thái kể rằng, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thường thấy trên chiếc bàn con bên giường của Bác để đầy sách báo đang xem. Ông lo lắng đến sức khoẻ của Bác, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức”. Bác trả lời, giọng như tâm sự mà rành rẽ, dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ư? Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là để nắm vững tình hình chứ!”. Những cuốn sách Người đọc ở thời gian cuối đời là các cuốn: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông, Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, The truth about Vietnam (Sự thật về vấn đề Việt Nam, NXB Green Leaf Classic, 1966). Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi Những đất tự do những trời nô lệ Những con đường cách mạng đang tìm đi…”. Vì sao tự học lại bổ ích? Bởi vì kiến thức của nhân loại bao la mênh mông như biển cả, còn sự hiểu biết của mỗi người trong chúng ta chỉ nhỏ như giọt nước. Hơn thế nữa, mỗi giây phút trôi qua, trên hành tinh của chúng ta lại có một phát minh mới ra đời, vì thế không bao giờ chúng ta học được hết những kiến thức đó và cũng vì thế mà chúng ta phải luôn luôn học tập không ngừng.Ởbất cứ bộ môn nào, lĩnh vực nào, kiến thức cũng liên tục thay đổi theo những kết quả nghiên cứu mới, đáp ứng yêu cầu do cuộc sống đặt ra. Trong khi đó, kiến thức ở trường học phải theo mộtkhung chương trình nhất định, phù hợp với nhiều đối tượng, nên có khì không bắt kịp sự thay đổi đó, không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của người học.Tự học giúp chúng ta bổ khuyết nền giáo dục ở trường, bắt kịp những thức phong phú, mới mẻ, đáp ứng được nhu cầu của thời đại. Dù làm ngành gì, nghề gì cũng cần tự học thường xuyên. Nếu không kiến thức của chúng ta sẽ trở nên lạc hậu, cũ mòn. “Nhà bác học không có nghĩa là ngừng học”. (Đác-uyn) Vì sao tự học lại hứng thú? Bởi vì cũng giống như V. Huy-gô từng ca tụng thú di chơi bộ: “Người ta được tự chủ, tự do, người ta vui vẻ. Người ta đi, người ta ngừng, người ta lại di, không có gì bó buộc, không có gì ngăn cản”. Cái thú tự học cũng giống cái thú đi chơi bộ ấy. Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm du lịch bằng chân, vì nó là du lịch trong không gian lẫn thời gian. Ta cũng được tự do, muốn đi đâu thì đi, ngừng đâu thì ngừng. Tóm lại, tự học là một thú vui rất thanh nhã, nó nâng cao tâm hồn ta lên. Ta thấy như tự bắc được một cái cầu giữa tâm hồn ta và tâm hồn của các danh nhân trong muôn thuở. “Sự học xua đuổi sự chán ngán, khuây khoả được nỗi buồn rầu, tiêu tan được niềm đau đớn. Nó làm vui vẻ và đông đúc cái cảnh cô tịch”. (Lê-guy) Nhưng thật đáng tiếc là có những người làm ngược lại với tinh thần tự học. Trong nhà trường, đó là những học sinh lười biếng, không cố gắng chăm lo học tập, kiến thức nông cạn, dở dang. Trong xã hội còn có những kẻ tự kiêu, tự mãn khi đã đạt được bằng cấp mà không chịu tiếp tục học hỏi. Và đương nhiên những kẻ dó đáng bị chê trách vì đã không nghe theo lời khuyên bảo tốt đẹp này. Ngoài ra, thực tế ngày nay cho thấy nhiều cách học chưa mang lại hiệu quả cao. Học sinh ngày nay đã quá phụ thuộc vào các bài giảng của thầy cô trên lớp, thầy cô dạy như thế nào thì hiểu và học như thế ấy dẫn đến quá trình thụ động, thiếu suy nghĩ và sáng tạo trong lúc học để đào sâu kho tàng kiến thức còn ẩn sâu trong các bài giảng của thầy cô. Việc học thêm tràn lan càng khiến học sinh không chịu tự học, càng thêm phụ thuộc vào việc học thêm. Thêm vào đó, ngày nay, việc học được nâng cao, có quá nhiều sách tham khảo, văn mẫu, hướng dẫn… dẫn đến việc học sinh lười suy nghĩ trong khi làm các bài tập. Hậu quả của những điều đó rất nặng nề vì như vậy sẽ dễ dẫn đến hiện tượng “học vẹt”, học thuộc bài nhưng không hiểu nội dung, vấn đề được nêu ra trong bàinên học xong là quên ngay, kiến thức không bền, sẽ không làm được các bài tập thực hành, chỉ học lí thuyết suông, kiến thức sẽ ngày càng rỗng, thành tích học tập sẽ càng sút kém khiến học sinh nản chí. Kiến thức đã trang bị không chắc chắn thì kết quả học tập sẽ không bao giờ cao. “Sự học như con thuyền đi ngược dòng nước, không tiến ắt phải lùi.” Vậy chúng ta sẽ tự học như thế nào? Chính những thực tế dược nêu trên lại càng khẳng định việc tự học cho bản thân là rất quan trọng. Nó chính là một chiếc chìa khoá đưa ta đến kho tàng tri thức, là điều kiện giúp ta thành công trong học tập. Nếu chúng ta biết tự học cho bản thân thì chúng ta chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của chính mình. Tự học giúp con người có được ý thức tốt nhất trong quá trình học: chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề, từ đó, tự học giúp ta tiếp thu được kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau như sách báo, truyền hình, bạn bè hoặc từ những người xung quanh, những kinh nghiệm sống của nhân dân. Tự học giúp ta có thể chủ động ghi nhớ các bài giảng trên lớp, tiết kiệm được thời gian, có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn mà vẫn hiểu và nắm chắc bài học. Và qua tự học, từ lí thuyết, chúng ta biết chủ động luyện tập thực hành, giúp ta có thể nhanh chóng hình thành kĩ năng, củng cố và nâng cao kiến thức đã học. Vì vậy, chủ động tự học sẽ giúp ta tìm ra được phương pháp học tốt nhất, mang lại hiệu quả cao cho chính bản thân mình. Tóm lại, tự học là cách tốt nhất đem lại lợi ích và hứng thú, mang lại một kết quả học tập cao nhất. Nếu chúng ta biết nỗ lực tự học, chúng ta sẽ thành công, sẽ có một tương lai rộng mở cho chính mình. Nếu học tập thành công, chúng ta sẽ trở thành những người có ích cho xã hội, cho đất nước. “Cần phải học thường xuyên. Nghĩa là việc học tập không chỉ là công việc ở nhà trường. Nhà trường chỉ cho ta chiếc chìa khoá đểta có học thức. Học ở ngoài trường là một việc suốt đời! Con người phải suốt đời trau dồi cho mình có kiến thức ngày càng rộng thèm”. (A. Lu-na-sác-xki Bài làm 2 Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học. Theo tôi nghĩ và tôi hiểu là có hai hình thức học tập: học theo trường lớp và tự học. Học theo trường lớp là cách học tập có hệ thống, học dưới sự giảng dạy của thầy theo một chương trình nhất định. Bởi vậy nhân dân ta mới có những câu tục ngữ. câu ca: “Không thầy đố mày làm nên:, “Muốn sang thì bắc cầu kiều – Muốn con hay chữ phái yêu kính thầy". Những câu ca dân gian ấy đã nói lên tầm quan trọng cùa việc học tập theo trường lớp và tình cảm “tôn sư trọng đạo” của nhân dân ta. Từ tuổi ấu thơ được cắp sách đến trường học tập là một điều hạnh phúc nhất. Truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh, bài kí Cổng trường mở ra của Lý Lan đã cho ta thấy rõ niềm sung sướng hạnh phúc của tuổi thơ là được đi học. Ngoài việc cắp sách đến trường học tập còn có hình thức tự học. Có người thất học từ thuở bé nhưng nhờ tự học mà làm được bao việc tốt. đẹp. Có người vì lí do nào đó mà việc học hành dở dang nên phải tự học. Ê-đi-xơn chưa được học cấp II mà trở thành nhà sáng chế phát minh lừng danh nước Mĩ trong thế ki XIX. đâu phải do thần linh phù trợ mà chính là do ông miệt mài tự học và lao động sáng tạo, Bin-ghết chưa học hết chương trình đại học, không phải là tiến sĩ giáo sư thế mà ông trở thành tỉ phú, trở thành “vua máy tính”. Báo chí gần đây cho biết bao chuyện “lạ” về nhân vật thần kì này. ông Lũy, một nông dân Nam Bộ chỉ học cấp I mà biết “dời nhà”, có thể di chuyển những đình chùa, công trình, biệt thự… từ vị trí này qua vị trí khác mà các kĩ sư không làm được, tài năng đó là do tự học mà có. Tự học rất có ích vì nhờ tự học mà phát triển tài năng, nhờ tự học mà mở rộng kiến thức, đúc rút kinh nghiệm, biến lí thuyết, kiến thức sách vớ thành kĩ năng, kĩ xảo. Cuộc sống thực tế, cuộc đời rộng lớn là quyển sách quý nhất cho bất cứ ai. “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” là lời nhắc nhở của dân gian, nói về lợi ích của việc tự học. Phương châm học với hành đi đôi, học tập gắn liền với lao động sản xuất, xét cho cùng là đề cao việc tự học. Tự học là niềm thích thú. say mê. Đọc sách là hình thức tự học. Nhờ đọc sách mà ta có kiến thức sâu rộng, “học một, biết mười", tầm mắt được mở mang. Đọc các truyện lịch sử mà ta biết được những trang sử vàng của dân tộc. Đọc sách du kí, mà ta cảm thây tự tin hơn mỗi khi bình minh cắp sách tới trường. Học ban ngày ớ trường, nhưng đêm về học sinh phải tự học. Câu thơ của Nguyễn Trải được nhiều người hay nhắc đến: Án sách cây đèn, hai bạn cũ. Đêm đêm chong đèn đọc sách mới biết tự học. Sau khi làm được một bài toán khó, làm được bài văn vừa ý. dịch được một bài tiếng Anh, em thấy vô cùng thú vị và sung sướng. Biển học rộng bao la. “Nhà bác học cũng phải học” lời nhắc nhở ấy làm cho ta hiểu sâu sắc hơn lợi ích và hứng thú của công việc tự học! Học thầy, học bạn, học trong cuộc sống, tự học… mới thành người có ích. Thế kỉ XXI là thế kỉ phát triển nền kinh tế thị trường, nền kinh tế tri thức, nên mỗi chúng ta càng cần phải biết không ngừng học tập, chuyên cần tự học. Nguồn:
Bàn về lợi ích và hứng thú của việc tự học
2,977
Bàn về mối quan hệ giữa học và hành Hướng dẫn Học và hành phải đi đôi với nhau Mở Bài: Từ xưa đến nay, mối quan hệ giữa học và hành luôn được con người quan tâm. Bàn về mối quan hệ giữa học và hành Bác Hồ có dạy: “học phải đi đôi với hành”. Mục đích của mỗi con người là học để có kiến thức. (Dàn ý học và hành). Nhưng quan trọng là những kiến thức ấy có áp dụng vào đời sống được không và tương tự nếu học thật nhiều mà không hành thì mọi tri thức trở nên vô nghĩa. Thân bài: “Học” là quá trình tiếp nhận, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm từ sách vở và thực tiễn vào bên trong đầu óc của con người. Học còn có thể hiểu là nắm bắt lí thuyết, biến lí thuyết thành kĩ năng, năng lực của mình. “Hành” là quá trình vận dụng tri thức, kinh nghiệm ấy vào trong cuộc sống thực tiễn nhằm hoàn thành một công việc cụ thể và tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Hành còn có thể hiểu là quá trình biến lí thuyết thành hành động cụ thể. Nhận xét: “học” và “hành” có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ. Nếu “học” mà không “hành” thì nắm vững lí thuyết mà thiếu kĩ năng, thiếu kinh nghiệm thực tế, làm việc dễ thất bại, trở thành người vô dụng. Một kĩ sư không thể xây gạch khéo léo như một người thợ lành nghề bởi anh ấy chỉ chú trọng lí thuyết kĩ thuật, ít được thực hành xây dựng dù lúc nào cũng có mặt ở công trình. Người học cao không thực hành sẽ thiếu kinh nghiệm thực tiễn, thường hay nói nhiều. Họ thường thích chỉ đạo người khác, bắt bẻ công việc nhưng thực tế lại không làm được điều gì. Nếu “hành” mà không “học” thì có kĩ năng, kinh nghiệm thực tế nhưng thiếu hiểu biết, không có sự chỉ đạo của lí thuyết, dễ mắc sai lầm trong công việc, trở thành kẻ phá hoại. Ví như người thợ lành nghề kia, tuy có thể xây tường gạch khéo léo nhưng lại không thể tự mình chỉ đạo xây dựng công trình lớn vì thiếu học thức, thiếu tri thức khoa học tổng thể. Nếu vẫn cố chấp làm điều mà mình không biết rõ có thể sẽ gây ra hậu quả lớn. Anh công nhân trong xưởng máy vận dụng lí thuyết để cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa vận dụng vừa học tập. Bác nông dân áp dụng kĩ thuật khoa học vào đồng ruộng để có được những vụ mùa bội thu. Từ thành công rút kết thành kinh nghiệm đem truyền đạt cho bà con… Học sinh vận dụng những điều thầy dạy để làm một bài toán, một bài văn… Đó là hành. Và từ kiến thức trường học đem cận dụng vào cuộc sống. Lí thuyết không thể tạo nên của cải vật chất mà thông qua hành động nó gián tiếp tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống con người. Thực tế cho thấy phương châm học đi đôi với hành là hoàn toàn đúng đắn. Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở… phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống trước hết là để hoàn thiện kĩ năng con người. Sau đó là tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần phục vụ con người. Bàn luận về bản thân: khi học môn điện dân dụng, học sinh nắm vững lí thuyết mạch điện nhưng không chịu thực hành lắp ráp nên học nhiều mà vẫn không lắp được mạch điện đúng nguyên tắc và gọn gàng có tính thẩm mĩ. Nếu học sinh nắm vững nguyên tắc lắp ráp và quan sát giáo viên thực hành sau đó tự vận dụng làm lại thì chắc chắn sẽ ghi nhớ lâu dài. Lí thuyết có thể phai mờ theo thời gian nhưng kĩ năng và năng lực sẽ còn mãi với con người. Qua những dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy học và hành có một sự gắn kết mật thiết không thể tách rời. Kết bài: Bài làm 2: Học và hành có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Nhưng trước tiên phãi làm làm rõ về học và hành. Học là tiếp thu kiến thức, lí thuyết từ ghế nhà trường, sách vở, phương tiện thông tin đại chúng và những người xung quanh. Học từ thấp đến cao, học từ dễ đến khó. Học phải hiếu, phải suy ngẫm, mài mò. Hiểu rộng, hiểu sâu và phải biết tóm gọn những gì đã học. Hành là quá trình vận chuyển, áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Vì học và hành luôn đi đôi với nhau. Như ông bà đã nói, học mà không hành thì không làm được gì, hành mà không học thì cũng chẳng làm được gì cả.Hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào những công việc hằng ngày. Ví dụ như một bác sĩ được những kiến thức tiếp thu được trong suốt quá trình đào tạo sáu, bảy năm ở trường đại học để vận dụng vào việc chữa bệnh cho nhân dân. Những kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng đem kiến thức đã học để thiết kế và thi công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, trường học, công viên… để phục vụ đời sống con người. Ngược lại, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Học và hành luôn là hai đường thẳng song song để đi đến con đường thành công và không thể tách rời. Học và hành cũng không thể so sánh với nhau, vì học tạo nền tảng cho việc thực hành, áp dụng; còn hành thì bổ sung kinh nghiệm, kĩ năng cho việc học. Trong học tập, học sinh muốn làm được một bài văn hay một bài toán thì không những phải nắm vững lí thuyết mà còn phải biết vận dụng lí thuyết để làm từng kiểu bài cụ thể. Trong công việc, nếu ta chỉ làm theo thói quen, theo kinh nghiệm mà không có lí thuyết soi sáng thì năng suất công việc sẽ thấp và chất lượng không cao. Trong giai đoạn khoa học phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức các công việc phức tạp. Lí thuyết đúng đắn có tác dụng soi sáng, dẫn đường cho thực hành. Con người sẽ rút ngắn thời gian mò mẫm, thử nghiệm và tránh được những sai lầm đáng tiếc. Lí thuyết gắn với thực hành sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển nhanh hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Do đó, chúng ta không thể coi nhẹ vai trò to lớn của việc học mà phải nhìn nhận, đánh giá đúng mức môi liên quan giữa học và hành. Học và hành phải đi đôi vì chúng có tác động hai chiều với nhau. Học hướng dẫn hành. Hành bổ sung, nâng cao và làm cho việc học thêm hoàn thiện. Có học mà không có hành thì chỉ là ôm mớ lí thuyết suông. Trái lại, chỉ chú trọng thực hành mà không chịu học hỏi thì làm việc gì cùng khó khăn. Học và hành là hai mặt của một quá trình, không thể xem nhẹ mặt này hay mặt khác. Thực tế cho thấy trong tất cả các cấp học ngày nay, phương châm học đi đôi với hành là hoàn toàn đúng. Những kiến thức mà chúng ta tiếp thu được từ nhà trường, sách vở… phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống để sáng tạo ra những thành quả vật chất, tinh thần phục vụ con người. Chúng ta phải lấy phương châm “học đi đôi với hành”. Nó sẽ giúp chúng ta có tinh thần học tốt hơn.
Bàn về mối quan hệ giữa học và hành
1,348
Bàn về phép học-La Sơn Phu Tử Hướng dẫn Mối quan hệ giữa học và hành qua Bàn luận về phép học-La Sơn Phu Tử Mở bài: Mối quan hệ giữa học và hành là vấn đề vốn được các nhà giáo dục rất chú trọng. Ở mỗi thời đại có những quan niệm khác nhau nhưng chung quy lại là không thể biệt lập hai quá trình này. Có thể nói “học” và “hành” là hai yếu tố tồn tại trong một mối quan hệ tương hỗ, gắn kết bền chặt không thể tách rời. Qua “Bàn luận về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng đã nói rõ điều này. Thân bài: La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp chú trọng vào hai việc: Thứ nhất là học cái gì? Thứ hai là học như thế nào? Theo ông, mục đích của việc học là để làm người tốt, có nhân cách cao thượng, biết phân biệt lẽ đúng sai, phải trái. Học để giữ gìn đạo lí và đem tài năng ra giúp ích cho đời. Ông chủ trương giáo dục đạo làm người, lấy đạo làm gốc rễ, thông qua giáo dục đào tạo nên những con người có tri thức vững vàng, có đạo đức trong sáng phù hợp với quy phạm đạo đức phong kiến. Có thể nói đó là một quan niệm đúng đắn, hết sức tiến bộ. Lấy giáo dục làm phương tiện để duy trì, phát triển và cai trị xã hội, phục vụ đắc lực cho triều đình. Thế nhưng, ông vẫn xem mục đích tối thượng của việc học là để nâng cao hiểu biết cho con người. Con người có hiểu biết thì mới làm đúng, xã hội ổn định, triều đình ngay ngắn, đất nước thái bình. Đạo đức được đề cao, luật pháp nghiêm minh, kẻ xấu cũng ít đi. Nền chính học vì thế mà cũng được lưu truyền đời đời. Đạo học cũng vì thế mà cũng được đề cao, tỏa sáng. Thực hiện việc học, Nguyễn Thiếp cho rằng học tập là một quá trình gian nan, cần phải có thời gian để tiến hành và đạt được hiệu quả. Trước hết là học từ thấp đến cao. Sau đó học rộng rồi tóm lại cho gọn, cứ theo điều học mà làm. Học rộng có nghĩa là học nhiều thứ trong đời sống, miễn cái gì cần thiết là bắt buộc phải học. Có hiểu biết con người mới tự tin làm việc, không còn sợ hãi hay lầm lẫn trong công việc, hạn chế được những rủi ro. Thực tế cho thấy, con người luôn tồn tại trong những mối quan hệ cộng sinh, tương tác trực tiếp với thế giới tự nhiên và xã hội. Bởi thế, để thành công chúng ta buộc phải có hiểu biết về thế giới một cách rõ ràng và chặt chẽ. Mục đích của việc học rộng là giúp ta thông tuệ và tiến đến làm chủ tri thức. Nguyễn Thiếp cũng khuyến khích “cứ theo điều học mà làm”. Giữa hành động và hiểu biết phải được gắn kết chặt chẽ. Học tập lí thuyết phải hướng đến hành động để không lệch hướng. Hành động phải được sự chỉ đạo của lí thuyết để khỏi sai lầm. Đó là mối quan hệ biện chứng của học và hành mà Nguyễn Thiếp đã rất quan tâm. Thực tế cho thấy, nếu ta chỉ chú trọng học để nắm lí thuyết mà không thực hành thì có kiến thức mà không có kĩ năng, kinh nghiệm, trải nghiêm thực tế, làm việc dễ sai lầm, thất bại. Một người chỉ hay chữ mà không vận dụng vào công việc, tạo ra một giá trị hữu ích thì tri thức đó cũng trở nên vô dụng. Họ chỉ giỏi nói mà không biết làm, giỏi khoa trương, phù phiếm, lừa dối người khác mà thôi. Còn nếu chỉ chăm chú thực hành theo kinh nghiệm mà không học bài bản thì có kĩ năng, biết làm việc nhưng lại thiếu hiểu biết, chỉ làm những việc nhỏ, đơn sơ chứ không thể làm những việc phức tạp, lớn lao cần nhiều trí tuệ. Nhiều khi họ cố chấp sẽ dễ mắc sai lầm, vô tình trở thành kẻ phá hoại. Lời dạy “Cứ theo điều học mà làm” của Nguyễn Thiếp hết sứ đúng đắn. Nếu đã học kĩ càng thì cứ theo cái hiểu biết mà từng biết tiến hành công việc, không gì phải vội vã. Nếu điều học chưa đứng thì chỉnh sửa, nếu điều học đã đúng thì phát huy cao lên. Không những công việc vững vàng mà tri thức cũng được rèn luyện và tăng thêm, sai lầm được phát hiện và hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Qua thực tế mà kiểm chứng điều đã học, hoàn thiện bản thân, tránh được những tổn thất không đáng có. Cuộc sống vốn rất khắc nghiệt, thêm một vài lần thất bại, làm mất đi của cải sao có thể gặt hái hạnh phúc được. Kết bài: Biết phân biệt lẽ đúng sai, phải trái, đề cao lẽ phải, xa rời cái xấu, cái ác, giữ gìn đạo đức và nền chính học là nhiệm vụ của người đi học. Nghĩa là, sự hiểu biết phải phục vụ cho cái tốt, cái đẹp, hướng đến phục vụ con người, vì con người. Biết kiểm nghiệm tri thức, rút kết kinh nghiệm cho bản thân và có lựa chọn đúng đắn nhất, sáng suốt nhất. Bởi tri thức không phải lúc nào cũng đúng, có khi nó sai lệch, không nên áp dụng một cách khiên cưỡng, rập khuôn máy móc. Nâng cao giá trị tri thức tự những kinh nghiệm thực là một nhiệm vụ không thể xem nhẹ. Chúng ta không chỉ biết tận hưởng các giá trị tri thức do cha ông để lại mà trách nhiệm của chúng ta là tiếp tục tạo ra các giá trị mới mẻ và tiến bộ, gìn giữ lại cho muôn đời sau.
Bàn về phép học-La Sơn Phu Tử
1,008
Bàn về vấn đề đạo đức của học sinh hiện nay Hướng dẫn Suy nghĩ về vấn đề đạo đức của học sinh hiện nay Mở bài: Đạo đức là vẻ đẹp đầu tiên của con người. Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh gặp nhiều khó khăn. Học sinh ngày càng hư hỏng, suy thoái đạo đức nghiêm trọng, gây nhiều bức xúc trong xã hội. Thân bài: Khái niệm Đạo đức là gì? Đạo là đạo lí, là những nguyên tắc ứng xử được xã hội quy định, quy ước và cam kết thực hiện. Đức là đức tính, là phẩm chất tốt đẹp của con người. Đạo đức có nghĩa là những đức tính tốt đẹp phù hợp với đạo lí làm người được xã hội quy định và tôn trọng. Hiện trạng vấn đề đạo đức của học sinh trong trường học hiện nay Có thể thấy, khi các nguyên tắc ứng xử trong xã hội cũ bị xóa bỏ, các chuẩn mực đạo đức chưa kịp hình thành làm cho một bộ phận giới trẻ lúng túng khi rèn luyện mình. Họ hoang mang không biết như thế nào là đúng, là phù hợp chuẩn mực. (Dàn ý đạo đức học sinh) Một hiện trạng dễ thấy đó là đạo đức học sinh đang trên đà suy thoái trầm trọng. Học sinh ngày càng trở nên thiếu lễ độ với người khác. Hiện tượng học sinh bỏ học, đánh nhau, nói tục chửi thề, ngang ngược, bướng bỉnh, vi phạm pháp luật,… trở nên phổ biến. Dù nhà trường, gia đình, xã hội đã vận dụng nhiều biện pháp giáo dục, tuyên truyền, vận động song không mang lại hiệu quả. Hành vi xấu của học sinh có xu hướng lan nhanh trong các trường học. Số học sinh vi phạm kĩ luật nhà trường ngày càng tăng. Số vụ vi phạm pháp luật ở lứa tuổi học sinh có xu hướng tăng cao. Giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm, ý thức trách nhiệm trong thời đại mới cho học sinh trở thành vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Trước hết là do sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường làm đảo lộn nhận thức của con người về các giá trị sống. Con người chạy theo lối sống thời thượng, đề cao vật chất, xem thường đạo đức và các giá trị nhân văn. Áp lực công việc từ cuộc sống khiến cho con người không còn thân thiện nữa. Tất cả ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và nhạn thức của mỗi học sinh. Do ảnh hưởng của các trào lưu văn hóa đang trên đà nở rộ. Sự mở cửa kinh tế đất nước tạo cơ hội xâm nhập của các nền văn hóa ngoại lai vốn không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Điều đó, tạo nên các trào lưu lệch chuẩn, gây ảnh hưởng đến nhận thức và đạo đức học sinh. Chương trình giáo dục đạo đức cho học sinh thiếu hiệu quả, không còn phù hợp với yêu cầu phát triển nhân cách con người trong thời đại mới. Gia đình thiếu quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, nhân cách, lối sống cho con em. Ông bà, cha mẹ thiếu gương mẫu. Văn hóa gia đình không được đề cao. Xã hội thiếu định hướng đúng đắn, thiếu nghiêm khắc với những hiện tượng lệch chuẩn, tha hóa nhân cách ở giới trẻ. Các hành vi lệch lạc, thiếu lễ độ không được nhắc nhở. Con người thờ ơ, vô cảm. Những hành vi nghiêm túc bị đem ra trêu đùa. Lối sống văn hóa chuẩn mực dần dần mất đi ý nghĩa. Nhà trước chưa có biện pháp kiểm soát chặt chẽ các luồng văn hóa. Sự chậm trễ ấy đã để cho những sản phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy, bạo lực, lệch lạc ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của học sinh và giới trẻ, khiến họ bắt chước một cách mù quáng, sai lầm. Tệ nạn xã hội có xu hướng xâm nhập xâu hơn vào nhà trường. Học sinh ngày càng hư hỏng, suy thoái đạo đức nghiêm trọng. Các giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức truyền thống không còn được tôn trọng, đề cao. Kết quả học tập kém, chất lượng giáo dục suy giảm. Học sinh mất định hướng trong học tập. Nhiều học sinh thiếu lý tưởng sống, sa đà vào tệ nạn xã hội. Gia đình lo lắng trước tình hình phát triển lệch chuẩn gia tăng của con em mình. Xã hội bất lực trước hiện tượng suy thoái dạo đức ở giới trẻ. Giá trị đạo đức trong xã hội xuống cấp trầm trọng. Do suy thoái về đạo đức khiến của một số học sinh khiến cho môi trường học tập có nhiều xáo trộn. Ngày càng có nhiều học sinh vô lễ với thầy cô. Hiện tượng học sinh đánh nhau là chuyện bình thường. Học sinh xúc phạm hay đe dọa thầy cô giáo diễn ra phổ biến. Vai trò của người thầy trong xã hội bị phai nhạt. Truyền thống tôn sư trọng đạo cũng mất dần ý nghĩa và sự tôn nghiêm. Sự suy thoái đạo đức của học sinh không những diễn ra theo chiều rộng mà còn cả ở chiều sâu. Học sinh hoang mang không biết như thế nào mới đúng chuẩn mực, đúng đạo lí. Sự bất thường ấy lại đáng lo ngại hơn khi mọi người đều cho rằng điều đó là bình thường. Giải pháp khắc phục suy thoái đạo đức ở học sinh Trước hết cần tăng cường hơn nữa việc giáo dục đạo đức, nhân cách nhân phẩm học sinh theo định hướng mới, đúng đắn và hiệu quả. Giáo dục phải đúng cách, đúng đối tượng. Giáo dục những gì cần thiết chứ không giáo dục tràn lan, kém hiệu quả. Tăng cường kỉ luật trong nhà trường và ngoài xã hội. Nghiêm khắc với những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật. Giáo dục phải giúp học sinh nhận thức sai lầm và cải thiện bản thân mình. Kết hợp giáo dục và kỉ luật để dần định hình các giá trị đạo đức ở con người. Đến khi con người có thể tự giác rèn luyện mình thì giáo dục và kiện toàn các phẩm chất. Tạo nhiều sân chơi bổ ích có tính giáo dục cao, thu hút học sinh tham gia. Xã hội phải giúp học sinh tìm thấy được ý nghĩa của các giá trị đạo đức truyền thống. Khi học sinh được quan tâm và tôn trọng sẽ tự rèn luyện mình theo chuẩn mực tốt đẹp. Nhà nước quản lí chặt chẽ các trào lưu văn hóa lệch lạc. Cần kiên quyết laoij bỏ các văn hóa phẩm có ảnh hưởng tiêu cực đối với nhận thức và đạo đức học sinh. Tạo một môi trường trong sạch, vững mạnh, nhân văn và tiến bộ. Kết bài: Một xã hội phát triển là một xã hội ở đó có nhiều người tốt, đạo đức được đề cao, con người sống bằng tình thương, lòng nhân ái. Dù có cứng rắn trong hành động giáo dục đạo đức, giúp học sinh tiến bộ song phải xuất phát từ tấm lòng bao dung, độ lượng, vị tha vì con người. Có làm được như vậy chúng ta mới tin rằng những học sinh hư hỏng sẽ nhận ra lỗi lầm, tự thay đổi mình. Khi các giá trị đạo đức đã định hình, học sinh sẽ tìm thấy động lực học tập, trở thành người hữu ích cho xã hội.
Bàn về vấn đề đạo đức của học sinh hiện nay
1,316
Bàn về đức tính giản dị Hướng dẫn Bàn về đức tính giản dị Bài làm Đức tính giản dị của con người luôn là phẩm chất được coi trọng trong cuộc sống. Đức tính giản dị là truyền thống của dân tộc ta, đã được cha ông truyền lại từ đời này qua đời khác. Giản dị là một đức tính tốt đẹp, được coi trọng như vậy nhưng chúng ta đã thật sự hiểu ý nghĩa của sự giản dị chưa? Giản dị là gì? Giản dị là khi người ta lựa chọn một cuộc sống bình thường, nhẹ nhàng, không xa hoa, khoe mẽ, thể hiện sự giàu có ra bên ngoài. Những người giản dị luôn được mọi người yêu quý và trân trọng. Người có đức tính giản dị luôn biết chấp nhận thực tại, nhưng họ vẫn biết ước mơ và cố gắng đạt được những điều họ mong muốn. Họ không bao giờ kiêu ngạo, hay đua đòi, a dua thể hiện mình là người có điều kiện, nhưng khi cần thiết, họ sẵn sàng giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn ở xung quanh mình. Những người giản dị là những người biết và hiểu được giá trị của cuộc sống. Họ biết được rằng khi họ đang có đầy đủ mọi thứ thì biết đâu xung quanh họ, vẫn còn vô số những hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ, cảm thông. Vậy nhưng người giản dị cũng phải là người biết thể hiện đúng lúc, đúng hoàn cảnh. Giản dị chứ không phải là xuề xòa, tiết kiệm. Ta phải biết ăn mặc, cư xử sao cho đúng với nơi ta đang sống và làm việc. Chẳng hạn khi ta ở nhà, ta có thể ăn mặc thoải mái theo ý thích của ta. Nhưng khi đi làm, hoặc đến những nơi tiệc tùng sang trọng, ta không thể tự hạ thấp bản thân mà phải ăn mặc sao cho đúng tầm với nơi mà chúng ta đang đứng. Bởi nếu chúng ta xuề xòa, không coi trọng nơi ta đang đến, cũng đồng nghĩa với việc có thể những người xung quanh sẽ cảm thấy không được tôn trọng. Từ đó dẫn đến những hậu quả mà chúng ta không hề mong muốn. Bởi thế nên chúng ta giản dị nhưng cũng cần đúng lúc, đúng chỗ. Giản dị chứ không phải xuề xòa, tự ti, cư xử không đúng mực, khi đó không phải giản dị nữa, không phải đức tính tốt đẹp nữa mà là một vấn đề khác cần chú ý thay đổi của mỗi chúng ta mất rồi. Xung quanh chúng ta có rất nhiều tấm gương sáng về đức tính giản dị mà chúng ta cần phải noi theo. Đầu tiên phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Người được tất cả mọi người trên thế giới khâm phục về đức tính giản dị, chân chất. Bởi dù là Chủ tịch nước nhưng Hồ Chí Minh lại sống một lối sống vô cùng giản dị, không khoa trương. Nơi ở của Người chỉ trang bị những dụng cụ đơn giản, thô sơ và cần thiết nhất phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Trang phục thường mặc thì chỉ có vài bộ quần áo đơn giản, đi đôi dép cao su màu đen. Hàng ngày Bác cũng chỉ ăn những món ăn dân dã cùng mọi người, chứ hoàn toàn không có chuyện mâm cao cỗ đầy như những nguyên thủ quốc gia khác. Không chỉ thế, trong cách sống, cách cư xử của Bác với mọi người xung quanh cũng phần nào thể hiện được con người cũng như đức tính của Bác. Bác cư xử đúng mực, nhẹ nhàng với mọi người, luôn quan tâm đến những người xung quanh. Bác còn lo lắng cho đồng bào ở khắp nơi khi gặp thiên tai, đói khổ. Đức tính giản dị, thương người của Bác từ lâu đã trở thành một tấm gương sáng cho bao thế hệ noi theo. Để làm được như Bác không phải điều dễ dàng, nhưng nếu chúng ta cố gắng thay đổi, rèn luyện thì không điều gì là không thể.
Bàn về đức tính giản dị
703
Bàn về đức tính khiêm tốn Hướng dẫn Bàn về đức tính khiêm tốn Bài làm Cuộc sống thay đổi không ngừng. Con người cũng phải không ngừng hoàn thiện bản thân mình, tự trang bị cho mình những hành trang cần thiết để có thể tồn tại được trong xã hội đầy khó khăn và thử thách. Và khi giao tiếp bên ngoài xã hội, chúng ta cần phải học hỏi, rèn luyện đức tính khiêm nhường, khiêm tốn để có thể tự tin giao tiếp với mọi người. Từ đó, chúng ta mới có thể dễ dàng đạt được những điều mình mong muốn. Vậy như thế nào là khiêm tốn? Và tại sao khiêm tốn lại cần thiết trong cuộc sống? Khiêm tốn là một phẩm chất rất tốt trong cuộc sống. Người có tính cách khiêm tốn là người luôn biết mình biết ta, nhưng không bao giờ tự đề cao giá trị của bản thân mình mà luôn khiêm nhường, nhường nhịn mọi người xung quanh. Người khiêm tốn biết mình đang ở đâu và luon không ngừng học hỏi, hòa nhã trong cư xử với xã hội. Bên cạnh đó, người có đức tính khiêm tốn rất biết cư xử, tôn trọng người khác nên thường dành được tình cảm và được nhiều người yêu mến. Đức tính khiêm tốn rất cần thiết với mỗi chúng ta. Bởi lẽ mỗi một con người sinh ra không ai là hoàn hảo, hội đủ mọi yếu tố mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ, học hỏi của những người xung quanh. Có thể chúng ta am hiểu, giỏi giang về một lĩnh vực, nhưng trong những lĩnh vực khác của cuộc sống, ta chỉ như ếch ngồi đáy giếng, hạt cát nhỏ trong sa mạc tri thức bao la rộng lớn mà thôi. Vậy nên dù trong bất cứ hoàn cảnh nào hay bất cứ đâu, chúng ta cũng cần có thái độ khiêm tốn, khiêm nhường với mọi người, để có thể học hỏi được những điều hay lẽ phải, cũng như những kiến thức rộng lớn xung quanh ta. Có thể thấy, khiêm tốn là một đức tính tốt, góp phần nâng cao phẩm giá của con người. Những người biết khiêm tốn, cư xử đúng mực chắc chắn sẽ đạt được những gì mình mong muốn dù sớm hay muộn. Tuy không phải ai sinh ra cũng đã có bản tính khiêm tốn, nhưng chúng ta hãy cùng cố gắng rèn luyện, trau dồi bản thân mỗi ngày để hoàn thiện hơn nữa nhé!
Bàn về đức tính khiêm tốn
425
Bày tỏ ý kiến của mình về phương châm học đi đôi với hành. Hướng dẫn Gợi ý viết bài Các ý chính cần đạt trong bài trình bày ý kiến về phương châm học đi đôi với hành: – Khẳng định phương châm học đi đôi với hành là điều quan trọng tối ưu trong phương pháp học tập. – Giải thích thế nào là học đi đôi với hành? • Học ở đây được hiểu là lí thuyết, là một quá trình mà ở đó chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô. Học cũng có thể là một quá trình tự thân vận động. Quá trình ấy là quá trình tự học: học trong sách vở, tài liệu hay ngay cả trong cuộc sống. Quá trình này nhằm đạt đến một cái đích chung đó là làm phong phú những hiểu biết của mình, giúp mình phát triển toàn vẹn nhân cách và đặc biệt trang bị cho chúng ta những kĩ năng, kiến thức nghề nghiệp để từ đó tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, nhằm đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và đất nước. • Hành xưa nay vẫn được hiểu là quá trình vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Hành là đem những cái đã học được áp dụng vào thực tế, làm cho nó sinh động và có ích. Hành có nhiều cấp độ khác nhau. Nó tùy thuộc vào tri thức mà chúng ta học được phong phú và sâu sắc đến đâu. Những ngườinông dân làm ruộng thực hành sẽ khác hẳn với những kĩ sư thực hành vận hành máy móc trong sản xuất và lại càng khác hẳn nếu như đem so sánh với một nhà văn hay một nhà giáo. • Học phải đi liền với thực hành. Nó là hai bộ phận thống nhất và có quan hệ gắn bó với nhau, bổ sung, làm hoàn chỉnh cho nhau. • Trong mối quan hệ giữa học với hành, học đóng vai trò quyết định nhưng hành cũng có chức năng không kém. Nếu như chúng ta chỉ biết học lí thuyết màkhông vận dụng thực hành thì những lí thuyết mà chúng ta đã thu nhận cũng chỉ là những kiến thức chết, vô ích. Chúng ta không chỉ học những kiến thức mang tính lí thuyết mà phải biết đem nó vận dụng vào trong cuộc sống, biến nó thành sức mạnh vật chất để phục vụ cuộc sống, chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả của nó. Đồng thời, muốn việc thực hành có kết quả như mong đợi đòi hỏi chúng ta phải nắm thật chắc những kiến thức lí thuyết. Tuy nhiên, đôi lúc, chúng ta lại gặp phải rất nhiều khó khăn khi áp dụng những lí thuyết đã học vào thực tế. Chúng ta phải biết kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn và đôi lúc vận dụng cả sự sáng tạo vào những điều đã học. Có như thế, kiến thức sẽ trở nên sâu hơn, bền vững hơn. Không chỉ học lí thuyết suông mà phải thực hành vận dụng để biến nó thành sức mạnh phục vụ cho cuộc sống của chính mình và xã hội, có như vậy, việc học mới có ý nghĩa thực sự đúng đắn.
Bày tỏ ý kiến của mình về phương châm học đi đôi với hành.
557
Bày tỏ ý kiến về phương châm học đi đôi với hành – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài Học ở đây được hiểu là lí thuyết, là một quá trình mà ở đó chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại dưới sự hướng dẫn của thầy cô. Học cũng có thể là một quá trình tự thân vận động. Quá trình ấy là quá trình tự học: học trong sách vở, tài liệu hay ngay cả trong cuộc sống. Quá trình này nhằm đạt đến một cái đích chung đó là làm phong phú những hiểu biết của mình, giúp mình phát triển toàn vẹn nhân cách và đặc biệt trang bị cho chúng ta những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp để từ đó tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, nhằm đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và đất nước. Hành xưa nay vẫn được hiểu là quá trình vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Hành là đem những cái đã học được vào thực tế để kiểm tra độ chính xác của nó, làm cho nó sinh động và có ích. Hành có nhiều cấp độ khác nhau. Nó tùy thuộc vào tri thức mà chúng ta học được phong phú và sâu sắc đến đâu. Những người nông dân làm ruộng thực hành sẽ khác hẳn với những kĩ sư thực hành vận hành máy móc trong sản xuất và lại càng khác hẳn nếu như đem so sánh với một nhà văn hay một nhà giáo. Học phải đi liền với thực hành. Nó là hai bộ phận thống nhất và có quan hệ gắn bó với nhau, bổ sung làm hoàn chỉnh cho nhau. Trong mối quan hệ giữa học với hành, học đóng vai trò quyết định nhưng hành cũng có chức năng không kém. Nếu như chúng ta chỉ biết học lí thuyết mà không vận dụng thực hành thì những lí thuyết mà chúng ta đã thu nhận cũng chỉ là những kiến thức chết, vô ích. Chúng ta không chỉ học vẹt những kiến thức mang tính lí thuyết mà phải biết đem nó vận dụng vào trong cuộc sống, biến nó thành sức mạnh vật chất để phục vụ cuộc sống, chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả của nó. Đồng thời, muôn việc thực hành có kết quả như mong đợi đòi hỏi chúng ta phải nắm thật chắc những kiến thức lí thuyêt. Tuy nhiên, đôi lúc, những lí thuyết chúng ta học khi đem vào áp dụng thực tế lại gặp phải rất nhiều khó khăn. Chúng ta phải biết kết hợp khéo léo,nhuần nhuyễn và đôi lúc vận dụng cả sự sáng tạo vào những điều đã học. Có như thế, kiến thức sẽ trở nên sâu hơn, bền vững hơn. Học không phải là lí thuyết suông mà phải thực hành vận dụng để biến nó thành sức mạnh phục vụ cho cuộc sống của chính mình và xã hội, có như vậy, việc học mới có ý nghĩa thực sự đúng đắn.
Bày tỏ ý kiến về phương châm học đi đôi với hành – Đề và văn mẫu 8
518
Bác Hồ có bài thơ khuyên thanh niên. Em hãy giải thích nội dung lời khuyên của Bác. Hướng dẫn Bác Hồ có bài thơ khuyên thanh niên: Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên. Em hãy giải thích nội dung lời khuyên của Bác. Bài làm Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm giáo dục thanh thiếu niên Việt Nam. Trong một cuộc tiếp xúc với thanh niên, Bác Hồ dạy: Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên. Lời dạy đó bao năm qua đã cổ vũ, khích lệ thanh niên phấn đấu khắc phục muôn vàn khó khăn trong cuộc sống. Không biết ai đã nói rất đúng “sống là hành trình khắc phục khó khăn”. Con người ta muốn sống thì phải có ăn, có mặc, có chỗ ở, có kiến thức, có việc làm, được bảo vệ… Muốn có các thứ ấy con người phải vượt qua bao nhiêu khó khăn mới đạt được. Các Mác từng nói: “Sống tức là đấu tranh”, cũng có nghĩa là đấu tranh khắc phục mọi khó khăn, trở ngại trên con đường đi tới. Nhưng người ta thường có thái độ khác nhau trước khó khăn. Có người thấy khó khăn thì run sợ, chùn bước, ngã lòng, né tránh. Kết quả là họ buông xuôi, mặc cho số phận rủi may xô đẩy. Trái lại, đốivới một số người thì khó khăn không làm họ thối chí, mà chỉ làm cho họ thêm mạnh mẽ. Lời khuyên của Bác Hồ nhằm tăng thêm sức mạnh cho tuổi trẻ. Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên. Lời dạy của Bác Hồ đề cao vai trò sức mạnh ý chí của con người trong mọi việc, đặc biệt là ý chí của nhân dân, của tập thể, của người cách mạng. Người từng dạy quân dội ta: “Nhiệm vụ nào củng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người từng khuyên cán bộ ta: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũngxong”. Đây hoàn toàn không phải là Bác Hồ khinh thường khó khăn, chủ trương “ý chí luận”, mà là Người rất coi trọng yếu tốchủ quan của con người. Bởi vì nếu thiếu đi yếu tốđó thì dù điều kiện có thuận lợi đến đâu cũng dễ dàng bị bỏ qua, không được tận dụng. Trong lời khuyên của Bác có một câu rất quan trọng: “Chỉ sợ lòng không bền”. Không sợ khó mà lại sợ lòng không bền. Câu nói đó nói lên một nhược điểm thường gặp của con người là sợ gian khổ, dễ ngã lòng. Chính vì con người thường sợ khó cho nên việc khó lại càng khó! Đặc biệt là khi làm việc lớn, như đào núi lấp biển, kháng chiến chông giặc thì lại càng phải bền lòng hơn nữa. Có người nói: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông” cũng là nói về ý này. Đi đường mới biết gian lao, Núi cao rồi lại núi cao chập chùng, Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Ở đây lại xuất hiện tinh thần khắc phục khó khăn: Nếu quyết tâm bền bỉ leo lên đến tận cùng thì rừng núi trùng điệp cũng bị khuất phục. Tóm lại, với một bài thơ ngắn năm chữ, dễ thuộc, Bác Hồ đã khuyên thanh niên ta nêu cao vai trò quyết định của nhân tốcon người trong việc khắc phục khó khăn. Vâng lời Bác Hồ dạy, quân dân ta đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và quân xâm lược Mĩ. Tiếp tục vâng theo lời Bác, nhất định nhân dân ta sẽ còn giành được nhiều thắng lợi hơn nữa trong công cuộc xây dựng đất nước ngày nay.
Bác Hồ có bài thơ khuyên thanh niên. Em hãy giải thích nội dung lời khuyên của Bác.
666
Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người Hướng dẫn hay
Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người
36
Bác là Hồ Chí Minh – Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Về bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ Ngữ Văn 6 “Bác để tình thương cho chúng con” (Bác ơi – Tố Hữu). Tình thương ở Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc về một nhân cách lớn. Là nét chân dung không hẳn là phổ biến với các bậc vĩ nhân, nó trở nên độc đáo, độc đáo trong sự hồn nhiên như bản chất Người sinh ra là vậy. Chính vì thế, dù lớn lao, Bác không xa lạ với đồng bào. Tình thương ấy đã gắn lãnh tụ với nhân dân thành một khối, trở nên một sức mạnh vô song. Chân lí ấy đã được chứng minh trong hai cuộc chiến tranh giữ nước: chống Pháp và chống Mĩ, “hai tên đế quốc to”, mở ra thời đại vẻ vang của lịch sử dân tộc, thời đại Hồ Chí Minh. Ý nghĩa lớn lao đó là tinh thần của một bài thơ nhỏ. Bài thơ khiêm nhường như một ghi chép đơn sơ nhưng cảm động về cuộc gặp gỡ tình cờ giữa “anh đội viên” với lãnh tụ của mình trong một đêm khuya nơi rừng lạnh, giữa những năm gian khổ khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cách ghi không khoa trương mà chân thực như lối kể vè, hát dặm của chính quê Người. Bài thơ đã đi vào lòng dân với tư cách một tác phẩm văn chương đích thực từ đó. – Bài thơ có hai cách phân tích: theo chiều dọc và chiều ngang, ở phương án “chiều dọc” (cũng có thể gọi là phương án tách rời): hình tượng anh đội viên riêng và hình tượng Bác riêng. Còn cách thứ hai theo chiều ngang cũng gọi là phương pháp kết hợp gắn hai hình tượng với nhau. Cách thứ nhất có ưu điểm là tái hiện được hình tượng một cách trọn vẹn, còn cách thứ hai lại nêu bật được mối tương quan: tình cảm của người kể và cơ sở hiện thực nảy sinh ra tình cảm ấy. Bài viết này đi theo cách thứ hai cố gắng làm rõ một đặc điểm bao trùm về nghệ thuật của bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự với yếu tố trữ tình. 1. Lần thứ nhất, anh đội viên thức dậy, sau một giấc ngủ ngắn nhưng chắc ngon lành. Anh không khỏi ngạc nhiên: Bác Hồ vẫn chưa hề ngủ dù đêm đã rất khuya, trời thì lạnh. Thực ra nhà thơ không tả cái lạnh, nhất là cái lạnh ở chốn rừng núi hoang vu mà chỉ viết: “Ngoài trời mưa lâm thâm – Mái lều tranh xơ xác” nhưng ta vẫn cảm nhận được cái rét thấu xương, thấm vào da thịt. Cái lạnh làm run rẩy những câu thơ tuy rất khẽ khàng. Mái lều là nơi ở tạm đơn sơ của bộ đội, dân công nghỉ lại trong rừng làm sao che gió che sương. Vì vậy mà những nơi này thường hay đốt lửa sưởi. Bác ngồi bên bếp lửa, điều ấy không đáng ngạc nhiên. Nhưng cái băn khoăn đến khắc khoải ở anh đội viên là vì sao Bác không ngủ? Không ngủ nên “vẫn ngồi”, và “không ngủ” khác với “chưa ngủ”. Chưa ngủ thì rồi sẽ ngủ, còn “không ngủ” thì hoàn toàn ngược lại. Sự “không ngủ” đối với con người có thể do hai tác động ngoại cảnh và nội tâm. Gần mười năm về trước, trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Người không ngủ được một phần vì lí do ngoại cảnh, vì cái lạnh thời tiết bên ngoài: Gối quắp lưng còng ngủ chẳng an ; (Đêm thu) Còn trong trường hợp bài thơ của Minh Huệ hoàn toàn không phải thế. Vẻ “trầm ngâm” trên nét mặt, cái “lặng yên” bên bếp lửa lúc canh khuya càng không phải là thanh thản. Nó phản chiếu một tâm tư không hề lặng lẽ ở bên trong. Khối tâm tư ấy của người chèo lái gắn chặt với con thuyền kháng chiến còn phải vượt qua bao nhiêu ghềnh thác cam go trước khi đến được với thắng lợi cuối cùng. Anh đội viên lo cho Bác đơn giản là nỗi lo lắng của một đứa con. Song, dù chỉ đơn giản vậy thôi mà đã đau đáu thiết tha tâm trạng. “Trời khuya lắm rồi” là một cách chủ quan hoá “trời khuya”, “vẫn ngồi” là chủ quan hoá tư thế bất động “ngồi”. Nhưng, những thắc mắc đến băn khoăn ấy được gỡ dần ra từ khổ thứ ba, từ dáng dấp người cha, “Người Cha mái tóc bạc”. Thì ra cái không “an lòng” trước hết, Bác dành cho những người xung quanh, đồng đội của anh đội viên “Ngày mai đi đánh giặc”. Tấm lòng ấy nói bằng hành động: đốt lửa, dém chăn. “Đốt lửa” là khơi ngọn lửa cho bốc to lên, còn “dém chăn” là giắt lại chăn cho ấm. Hành động dịu dàng và lặng lẽ ấy là tiếng nói của tình thương. Không phải tình ruột thịt thì làm sao có những cử chỉ ân cần chu đáo đối với từng đứa con như thế? (“Từng người, từng người một”). Có lấy hạnh phúc của người khác làm hạnh phúc của mình thì mới phải nhẹ nhàng “nhón chân” để những chiến sĩ không giật mình thức giấc. Hình tượng Bác, dưới con mắt của anh đội viên, lớn lao, kì vĩ hẳn lên. Đó là ông tiên trong truyện cổ tích. Chỉ ông tiên mới “lồng lộng”, mới hiện ra từ một thứ hào quang kì diệu như một giấc chiêm bao. Cảm giác ấm áp mà người nằm mơ nhận được mới có thể “Âm hơn ngọn lửa hồng”. Song, cốt lõi của giấc chiêm bao lại là một con người bằng xương, bằng thịt. Vì vậy, đây là tiếng nói thầm thì của con người có thật: –Bác ơi! Bác chưa ngủ? Bác có lạnh lắm không? Từ kính phục đến cảm thông, từ “mơ màng” trở về cõi thực, câu thơ thật day dứt, xót xa. Anh đội viên thương Bác đến đứt ruột mà không biết làm gì để biểu lộ tình thương ấy. Từ “thổn thức”, anh chỉ còn biết “bồn chồn” ngổn ngang: Bác sẽ ốm mất vì cứ “thức hoài”, thức như thế, lấy sức đâu mà đi, chiến dịch còn dài, đường đi lại gập ghềnh dốc, ụ,… Cách tính của anh đội viên giống cái bấm đốt ngón tay của người nông dân chất phác quen nghĩ đến công việc mùa màng giống má, thời vụ để cho cây lúa trĩu bông. 2. Lần thứ ba, khi thức dậy, anh đội viên đã kinh ngạc nhận ra, Bác vẫn ngồi y như lần thứ nhất: … Lần thứ ba thức dậy Anh hốt hoảng giật mình: Bác vẫn ngồi đinh ninh Chòm râu im phăng phắc Như vậy, “đinh ninh” là biến thái của “lặng yên”, còn “Chòm râu im phăng phắc” là biến thái của “Vẻ mặt Bác trầm ngâm”. Thời gian lặng lẽ trôi đi, anh đội viên đã ngủ thêm được một giấc, nhưng đêm đã sắp tàn. Sự “hốt hoảng” của anh cũng dễ hiểu. Cái lo lắng của anh ở lần thứ nhất được đẩy tới cao trào, nó cuồn cuộn dâng lên. “Thổn thức” mới chỉ là những xáo động trong lòng (tuy đã có cường độ mạnh đến mức không kìm nén được) còn “hốt hoảng” là sự sợ hãi đến cuống quýt lộ hẳn trên nét mặt. Hình thức thay đổi, nội dung cảm xúc không thể đứng yên. Khi nghịch lí hiện ra: cái phần hữu hạn người làm sao chống chọi được với cái vô hạn thời gian, giọng nói của anh không còn có thể “thầm thì” được nữa. – Mời Bác ngủ Bác ơi! Trời sắp sáng mất rồi Bác ơi! Mời Bác: ngủ! Cầu khẩn đến van nài, tha thiết đến rưng rưng, câu thơ không còn mạch lạc vì người nói không giữ được tư thế trang nghiêm cần thiết trước một bậc vĩ nhân, khổ thơ loạn nhịp (câu thứ tư lặp lại câu hai), ngôn ngữ thơ có được cái sinh động của sự chất phác, chân thành gần với ngôn ngữ ở ngoài đời vốn có. Đến đây, ta thấy hai mạch cảm xúc đã hình thành và gặp nhau ở cái điểm bất ngờ tưởng như ngẫu nhiên mà thực ra là tất yếu. về phía anh đội viên, trước việc Bác Hồ không ngủ đêm nay, từ ái ngại đến thổn thức băn khoăn, lo lắng, rồi cuối cùng mời Bác ngủ bằng được. Còn về phía Bác, câu đối thoại “Chú cứ việc ngủ ngon – Ngày mai đi đánh giặc” chỉ là cách trả lời một nửa câu hỏi của người chiến sĩ mà thôi. Chính vì một nửa còn lại kia mà người chiến sĩ không yên “Vâng lời anh nhắm mắt – Nhưng bụng vẫn bồn chồn”. Đến lần thứ ba, biết được tâm trạng “bồn chồn” đó, Người không thể không thổ lộ. Đến đây, cái nửa còn lại mà người đội viên băn khoăn mới được điền vào khoảng trống: – Chú cứ việc ngủ ngon Ngày mai đi đánh giặc Bác thức thì mặc Bác Bác ngủ không an lòng Trong lúc anh đội viên thương Bác vì Bác không ngủ thì Bác cũng thương bộ đội, dân công đang giá lạnh ngoài rừng: “Rải lá cây làm chiếu – Manh áo phủ làm chăn”. Chỉ khác nhau ở mức độ: tình thương của người chiến sĩ trong thơ hướng tới một người, còn tình thương của Bác đang hướng tới hàng ngàn, hàng vạn người. Chính vì thế mới xuất hiện hai tâm lí trái chiều, trong khi anh đội viên đang mong đêm dài ra (để Bác có thể chợp mắt một lần), thì Người lại mong trời mau sáng. Hai cường độ của mong ước lúc này cũng mãnh liệt ngang nhau, riêng cái “nóng ruột” của Bác Hồ thì như có lửa đốt. Cũng phải tới lúc này, với anh đội viên, hình tượng Bác Hồ mới hiện ra toàn vẹn. Đó là một sự thống nhất từ hình dáng, cử chỉ đến lời nói. Toàn bộ con người ấy toả sáng tình thương: thương các chiến sĩ đang yên ngủ để “Ngày mai đi đánh giặc”, thương bộ đội, đồng bào vì kháng chiến mà gánh chịu gian khổ, hi sinh. 3. Về nghệ thuật, nhà thơ đã thành công trong việc miêu tả nhân vật. Ớ đây có hai loại nhân vật. Đó là nhân vật cảm nghĩ (chủ quan – nhà thơ) và nhân vật được nha thơ khắc hoạ (khách quan – Bác Hổ). Mỗi nhân vật có một cách miêu tả riêng. Nhân vật cảm nghĩ – nhà thơ ở ngôi thứ nhất, là người kể chuyện vừa ghi chép theo lối kí hoạ về những điều nhìn thấy, vừa diễn tả tâm trạng của mình. Đó là cả một thế giới nội tâm phong phú, sinh động và chân thực. Diễn biến tâm trạng cũng lại vừa đa chiều vừa có một lô gích phát triển từ thấp đến cao. Đỉnh cao của sự phát triển ấy là khi những băn khoăn, thắc mắc- của anh đội viên về Bác đột ngột có hồi âm thì bài thơ kết thúc với cảm xúc: Bác lớn lao, Bác cũng bình dị lạ thường. Nhà thơ sung sướng được “thức luôn cùng Bác” như câu thơ của Tố, Hữu: “Ta bên Người, Người toả sáng trong ta – Ta bỗng lớn ở bên Người một chút” (Sáng tháng Năm). Còn nhân vật thứ hai được thực hiện bằng lối kí hoạ chân dung thể hiện ở góc quan sát và lựa chọn đường nét. Bỏ qua những chi tiết ngoại hình không nói lên đặc điểm mà tập trung vào những gì tiêu biểu nhất: dáng ngồi, nét mặt, chòm râu, ta bắt gặp một nhà hiền triết phương Đông, một chiến sĩ cách mạng lão thành. Đó là một lãnh tụ kiểu mới phối hợp được hai nét hài hoà: vừa đức độ, bao dung vừa tinh anh, hiền triết. Thể thơ và ngôn ngữ bài thơ cũng có nét độc đáo. Tác giả sử dụng thể thơ năm chữ, về hình thức giống như thơ ngũ ngôn trường thiên của văn chương bác học trước đây, nhưng thực chất lại là một loại vè dân gian, một lối hát dặm của dân ca Nghệ – Tĩnh. Chúng ta nhận ra cách gieo vần ở hai câu liền nhau (câu hai với câu ba, rồi câu bốn với câu một khổ tiếp). Vần lại nhịp nhàng: cứ hai vần bằng (rồi, ngồi) rồi tiếp hai vần trắc (ngủ, lửa) và luân phiên cho đến hết bài. Còn ngôn ngữ của bài thơ là ngôn ngữ của lời kể, một thứ ngôn ngữ đời thường nhưng chân thực và sinh động. Người kể dùng nhiều từ láy và thành công trong việc dùng nó để xây dựng nhân vật. Có từ láy tạo hình (miêu tả Bác), có từ láy biểu cảm (diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhà thơ). Những từ láy dùng trong thơ cũng phong phú, dồi dào như kho tàng ca dao, dân ca xứ Nghệ mà những nhà thơ như Trần Hữu Thung (Thăm lúa) cùng thời với Minh Huệ đã vận dụng khá thành công.
Bác là Hồ Chí Minh – Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ Ngữ Văn 6
2,284
Bánh trôi nước – một bài thơ đa nghĩa – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Trong đội ngũ những nhà thơ nữ của thời kì văn học trung đại Việt Nam, Hồ Xuân Hương được coi là nhà thơ tài hoa và độc đáo nhất. Tuy cuộc đời gặp nhiều éo le ngang trái, nhưng tác phẩm thơ ca của bà vẫn thấm đẫm tình thương con người, ngời sáng niềm tin yêu và trân trọng đối với con người, trước hết là đối với người phụ nữ. Hồ Xuân Hương đã để lại cho đời trên dưới 50 bài thơ Đường luật bằng chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó, nổi tiếng nhất là những bài thơ Nôm. Do đó, bà được tôn xưng là Bà Chúa Thơ Nôm. Một trong những bài thơ Nôm đặc sắc của Hồ Xuân Hương là bài Bánh trôi nước. Đây là một tác phẩm biểu cảm đa nghĩa, vừa đậm đà tính dân tộc vừa tập trung nét tiêu biểu của hồn thơ Hồ Xuân Hương. Tên bài thơ Bánh trôi nước, ta hiểu nhà thơ viết về cái bánh trôi – một đặc sản của dân tộc ta mà những người dân bình thường Việt Nam từ thành thị đến nông thôn ai cũng biết. Điều thú vị là tác giả không đứng ngoài quan sát rồi miêu tả mà hoá thân, nhập hồn vào bánh trôi để cất tiếng tự miêu tả mình, tự giãi bày tâm sự của mình. Nói khác đi, Hồ Xuân Hương đã nhân hoá cái bánh trôi, để cho chiếc bánh trò chuyện, giao tiếp với người đọc: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mù em vẫn giữ tấm lòng son. Tuy bài thơ thuộc thể Đường luật thất ngôn tứ tuyệt, nhung trừ một từ ghép “nước non” là từ Hán Việt, còn lại tất cả từ ngữ trong bài thơ đều thuần Việt, nôm na, giản dị mà rất trong sáng, đẹp đẽ. Thêm nữa, trong bài thơ mở đầu bằng hai tiếng Thân em, dùng thành ngữ “bảy nổi ba chìm…” và cụm từ “tấm lòng son” rất gần với cách nói của nhân dân trong văn học dân gian. Như vậy, từ đề tài đến ngôn ngữ, giọng điệu, bài thơ Bánh trôi nước đậm đà bản sắc dân tộc, rất đáng quý. Đáng quý hơn nữa là ở tính đa nghĩa, giàu cảm xúc của bài thơ. Nghĩa thứ hai của bài thơ rõ ràng là nói về nhan sắc, thân phận và phẩm chất của con người, những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Hai câu thơ đầu vừa tả nhan sắc, vừa kể về thân phận con người. Nhân vật trữ tình dùng đại từ “em” để xưng hô: “Thân em”, gần gũi với cách nói của biết bao bài ca dao – dân ca quen thuộc, nghe vừa dịu dàng, khiêm tốn vừa có chút tội nghiệp đáng thương. Tiếp sau, cô gái, hay người phụ nữ tự giới thiệu mình “vừa trắng lại vừa tròn”. Nghệ thuật dùng từ thật khéo. Nghĩa tả thực đúng là vẻ đẹp của chiếc bánh trôi. Nhưng nghĩa ẩn dụ thì đây chính là nhan sắc, phẩm hạnh người phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam đẹp quá, da dẻ trắng trẻo, thân hình tròn lẳn, phúc hậu. Phẩm hạnh cũng nhân hậu, ứng xử trước sau trọn vẹn, thuỷ chung. Với từ “tròn” ý nghĩa của thơ trở nên lấp lánh, tỏ mờ khiến người đọc không thể suy nghĩ vội vàng. Ai đó hiểu giản đơn rằng: câu thơ tả hình ảnh người phụ nữ vừa trắng trẻo vừa tròn trịa… thì thật nực cười. Đọc thơ, nhất là thơ trữ tình, ta không chỉ dừng lại ở nghĩa tả thực mà phải tưởng tượng, suy ngẫm rộng và sâu để hiểu hết, hiểu đúng ý nghĩa ẩn dụ, hiểu đúng, tinh thần của ngôn ngữ và cảm xúc của tác giả. Giới thiệu về người phụ nữ như cách nói ờ câu thơ thứ nhất, Hồ Xuân Hương không chỉ ca ngợi nhan sắc, vẻ đẹp bên ngoài mà còn trân trọng cả tâm hồn, đức hạnh bên trong, cách nói năng ứng xử khiêm nhường duyên dáng của chị em. Tiếp sau, đến câu thơ thứ hai, giọng thơ có chút chùng xuống để kể về thân phận chị em: “Bảy nổi ba chìm với nước non”. Thành ngữ dân gian ta có câu: “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh” dùng để tóm tắt cuộc đời con người, nhất là người phụ nữ trong xã hội xưa. Hồ Xuân Hương đã sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo trong thơ của mình, nêu rõ cuộc đời long đong, vất vả của con người. Cụm từ với nước non nhấn mạnh thêm cuộc đời long đong, chìm nổi, vất vả ấy. Giới từ “với” đi liền cùng hình ảnh “nước non” cho ta hiểu số phận, cuộc đời người phụ nữ bấp bênh, chìm nổi, xuống ghềnh, lên thác vì chồng, vì con và vì cả mọi người, cả non sông, đất nước. Một cuộc đời xả thân, vị tha như thế cao cả biết bao nhiêu, đáng cảm thương và đáng trân trọng biết bao nhiêu. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mù em vẫn giữ tấm lòng son. Nếu câu thứ hai, nhà thơ cùng chị em than thở về số phận chìm nổi, long đong thì đến câu ba, lại bổ sung thêm một cấp độ tệ hại hơn nữa của số phận là: sự phụ thuộc. Câu thơ “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” đã hình tượng hoá cuộc đời không được làm chủ, không được tự quyết định tương lai hạnh phúc của người phụ nữ xưa… Hai từ “rắn, nát…” đọc lên nghe thật tội nghiệp, thân phận con người ngỡ như một vật dụng nhỏ nhoi, tầm thường nhất. Nhưng bản lĩnh của con người, nhất là phụ nữ Việt Nam, trong đó có nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì luôn luôn vượt trên cảnh ngộ. Do đó, hai câu thơ cuối có cấu trúc liền mạch theo kiểu câu ghép kết nối nhau bằng liên từ ghép “Mặc dầu… mà”, tạo nên hai nghĩa đối lập rất ấn tượng. Ta có thể diễn xuôi cặp câu đó thế này được chăng: Mặc dầu cuộc đời em rắn nát, phụ thuộc tay kẻ nặn, nhưng em vân giữ vững tấm lòng son sắt, thuỷ chung… Rõ ràng, những người phụ nữ Việt Nam đã vượt lên trên, đã thách thức và chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng số phận, để giữ vũng phẩm chất, đạo đức, tấm lòng nhân hậu, tròn đầy, chung thuỷ với cuộc đời, với con người. Hình ảnh tấm lòng son ở cuối bài thơ ánh lên vẻ đẹp của bản lĩnh lam người, thắm đỏ tình người, sẽ sáng mãi trong tâm hồn bạn đọc chúng ta. Xem lại bài bình giảng Cuộc chia li ngập tràn sầu muộn
Bánh trôi nước – một bài thơ đa nghĩa – Bình giảng văn 7
1,194
Báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ em Hướng dẫn Báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ em I. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Đọc kĩ lại bài tập đọc Báo cáo kết quả tháng thi đua “Noi gương chú bộ đội” nắm trình tự và nội dung của bản báo cáo để vận dụng vào bài báo cáo của mình cho phù hợp: – Tên của báo cáo là gì? – Bài báo cáo gồm những nội dung gì? (Hai nội dung chính) + Nhân xét các mặt. + Đề nghị khen thưởng. II. NHỮNG BÀI THAM KHẢO Bài làm 1 – Học bài và làm bài tập về nhà đầy đủ. – Phát biểu xây dựng bài tương đối đồng đều. Bạn nào cũng đạt từ 10 lần phát biểu trong một tuần. Nhiều nhất là bạn Trúc Thanh 15 lần trong 2 tuần cuối của tháng. – Kết quả: 18 điểm giỏi, 14 điểm khá, không có điểm trung bình, yếu, kém. 2. Lao động: – Trong tháng có 2 buổi lao động làm vệ sinh lớp học và trồng cây xanh xung quanh lớp. Bạn nào cũng chấp hành tốt. B. ĐỀ NGHỊ KHEN THƯỞNG 1- Tập thể: nhóm 1 2- Cá nhân: Bạn Trúc Thạnh. Trên đây là toàn bộ báo cáo kết quả hoạt động trên 2 mặt học tập và lao động của tổ tháng qua, và danh sách đề nghị cô chủ nhiệm biểu dương khen thưởng tập thể và cá nhân tổ 1 lớp 3C. BÁO CÁO KẾT QUẢ HỌC TẬP, LAO ĐỘNG TRONG THÁNG 12 CỦA TỔ 3 LỚP 3A. Thưa các bạn! Tôi xin trình báo kết quả học tập và lao động của tổ ta trong tháng qua như sau: A. NHẬN XÉT CÁC MẶT 1. Học tập: – Nhìn chung các bạn trong tổ đi học chuyên cần, đúng giờ, thực hiện nghiêm túc những quy định và nề nếp học tập do trường, lớp đề ra. – Học bài và làm bài đầy đủ. Có ý thức xây dựng bài khi học bài mới. Người phát biểu nhiều nhất là bạn Thu Hằng 12 ý kiến, ít nhất là bạn Đức Khôi 6 ý kiến – Kết quả: 8 điểm 10, 12 điểm 9, 6 điểm 8, 10 điểm 7, điểm 5, 6 có 4 con, không có điểm yếu. 2. Lao động: Trong tháng qua chỉ có 1 buổi lao động làm cỏ xung quanh lớp học. Các cá nhân đều tham gia đầy đủ và tích cực. B. ĐỀ NGHỊ KHEN THƯỞNG: 1- Tập thể: Nhóm 2 2- Cá nhân: Bạn Thu Hằng. Trên đây là báo cáo tình hình trong tháng của tổ ta. Bài làm 3 BÁO CÁO KẾT QUẢ HỌC TẬP, LAO ĐỘNG TRONG THÁNG 12 TỔ 2 LỚP 3B Thưa các bạn! Tôi xin báo cáo hoạt động của tổ và kết quả thực hiện 2 mặt học tập và lao động của tổ trong tháng qua như sau: A. NHẬN XÉT VỀ CÁC MẶT 1. Học tập: – Cả tổ đi học chuyên cần không có trường hợp nào nghỉ học – Không có trường hợp nào đi học trễ. – Các bạn đều học thuộc bài, làm bài tập đầy đủ. – Có ý thức phát triển xây dựng bài tốt. – Kết quả: Có 2 điểm 10, 18 điểm 9, 16 điểm 7, 8, 4 điểm 5, không có điểm yếu. Tiêu biểu nhất trong học tập bạn: Lệ Hà. B. ĐỀ NGHỊ KHEN THƯỞNG: 1. Tập thể: Cả 3 nhóm 1, 2, 3. 2. Cá nhân: Lệ Hà, Phương Trinh và Hồng Đức. Trên đây là toàn bộ hoạt động của tổ trong tháng.
Báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ em
602
Báo cáo về thành tích học tập của lớp em với thầy cô chủ nhiệm Hướng dẫn CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP – Tự DO – HẠNH PHÚC TP. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 2 năm 2015 BÁO CÁO THÀNH TÍCH CỦA LỚP TRONG HỌC KÌ I Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3C Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng. Em tên là: Phan Thị Thu Thủy, em xin báo cáo với cô về thành tích mà lớp mình đã đạt được trong học kì I vừa qua: 1. Học tập: Lớp đạt danh hiệu: Lớp tiên tiến xuất sắc. Cụ thể: 25 bạn đạt học sinh giỏi xuất sắc, 10 bạn đạt học sinh giỏi và 7 bạn xếp loại khá với tổng số lớp là 42 bạn. 2. Lao động: Các bạn đã trang trí lại lớp theo đúng yêu cầu của nhà trường quy định. Lớp được tuyên dương là lớp có môi trường sạch đẹp. Đặc biệt trong học kì I vừa qua, toàn lớp đã đến thăm trại trẻ mồ côi "Hoa Anh Đào" và làm vệ sinh sạch sẽ ở đó. Lớp được tặng một giấy khen do Ban Giám hiệu trại trẻ tặng. 3. Công tác khác: – Lớp ra được 2 số báo tường: Chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11; Ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22-12. – Đóng góp được 150 cuốn tập, 1.200.000 đổng ủng hộ trẻ em và đồng bào bị bão lụt ở miền Trung. – Tham gia phong trào "Kế hoạch nhỏ" do nhà trường đề ra. – Đóng góp 5 tiết mục văn nghệ cho đêm liên hoan văn nghệ toàn trường. Trên đây là những thành tích mà lớp em đã đạt được trong học kì I vừa qua. Hiện nay cả lớp em đang quyết tâm phấn đấu học tập tốt hơn, hoàn thành tốt mọi công việc được giao để cuối năm cả lớp sẽ đạt được những thành tích cao hơn. Nguồn:
Báo cáo về thành tích học tập của lớp em với thầy cô chủ nhiệm
326
Bình bài ca dao: Công cha … nghĩa mẹ Bài làm Ca dao, dân ca là cây đàn muôn điệu của người dân quê Việt Nam. Tiếng đàn ngọt ngào vời vợi từng lan xa theo hương lúa và cánh cò trầm bổng ngân nga trên sóng nước theo nhịp chèo của con thuyền xuôi ngược thiết tha âu yếm qua lời ru của mẹ hiền nhịp nhàng theo tiếng võng kẽo kẹt trưa hè… Khúc hát tâm tình của quê hương đã thấm sâu vào tâm hồn tuổi thơ của mỗi chúng ta mà năm tháng không thể phai mờ. Ta nhớ mãi lời ru của bà, của mẹ… “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Bài ca ca dao chứa chan nghĩa tình. Nó ca ngợi công cha nghĩa mẹ vô cùng to lớn, sâu nặng và nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Giọng điệu của bài ca dao sao thân thương thế! Hai câu đầu nói về công cha nghĩa mẹ. Nhà thơ dân gian đã sử dụng biện pháp ví von để tạo ra hai hình ảnh cụ thể, sóng đôi nhau: công cha đi liền với nghĩa mẹ, câu trên nói về núi Thái Sơn thì câu dưới mượn nước trong nguồn…, tạo ra một sự đăng đối hài hòa, lời thơ sâu bền thấm sâu vào hồn dân tộc. “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Cha mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng, dạy bảo con nên người. Cha thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả, lo cho con có cơm ăn, áo mặc, đựoc học hành. Dòng sữa ngọt ngào, lời ru của mẹ, ngời con nào có thể quên? Lúc con ốm đau tật bệnh,… cha mẹ lo lắng. Lúc con ngoan ngoãn, lớn khôn… cha mẹ vui sướng, tự hào. Thật vậy, công on của cha mẹ không thể nào kể xiết. Vì thế nhân dân ta có biết bao câu ca, bài hát ca ngợi công ơn cha mẹ: “Mẹ già như chuối ba lương, Như xôi nếp mật, như đường mía lau”. Hai câu 3, 4 nói về đạo làm con. Nhân dân ta muốn nhắc nhở mọi người một bài học về chữ hiếu. Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ; phải htể hiện bằng hành động cụ thể, tình cảm cụ thể là phải “thờ mẹ, kính cha” nghĩa là săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, cả về tinh thần lẫn vật chất. Đó là sự đền ơn đáp nghĩa. Hai chữ “một lòng” nói lên sự đinh ninh, sắt son, không thay đổi. Chữ “tròn” diễn tả sự trọn vẹn, con cái ăn ở thuỷ chung, tình nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ. Mỗi câu, mỗi chữ chứa đựng bao tình cảm: Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Có làm “tròn chữ hiếu” mới xứng đáng là đạo làm con. Hiếu thảo là cái đức của con cháu. Đạo lý của dân tộc ta đề cao chữ hiếu và chữ trung. Kẻ bất hiếu, bất trung bị nhân dân nguyền rủa, lên án. Bài học về đạo lý được diễn tả một cách ngắn gọn, bình dị mà sâu sắc, thấm thía. Câu ca dao có tính giáo dục rất cao, làm ta cảm động. Bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn…” cũng như phần lớn hàng nghìn bài ca dao, dân ca khác đã được sáng tác bằng thể thơ lục bát của dân tộc. Nghệ thuật so sánh ví von, sát hợp và gợi cảm, cách dùng từ chọn lọc, chính xác, lời thơ cân xứng hài hòa, giọng thơ êm ái nhẹ nhàng… đã tạo nên bản sắc của bài thơ dân gian này. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao đặc sắc nhất nói về tình cảm gia đình. Nó xứng đáng là “viên ngọc” của thơ ca dân gian. Tính truyền cảm, nội dung giáo dục của bài ca dao tạo nên giá trị nhân bản và tính nhân văn lâu bền, sống mãi qua hàng ngàn năm với đất nước và con người Việt Nam.
Bình bài ca dao_ Công cha … nghĩa mẹ
704
Bình bài ca dao: Gió đưa cành trúc la đà … Bài làm Hình ảnh quê hương đất nước được nói đến nhiều trong ca dao dân ca. Có con “đường vô xứ Nghệ quanh quanh – Non xanh nước biếc như trnah họa đồ”. Nơi ải BẮc xa xôi là “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa – Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, Huế đẹp mộng mơ có “Núi Truồi ai đắp mà cao – Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?…”. Và có cảnh sáng sớm mùa thu trên Hồ Tây, nơi kinh thành Thăng Long “ngàn năm văn vật”: “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Mịt mù khói tỏa ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”. Bài ca dao mang màu sắc một bài thơ cổ điển, đẹp như một bức tranh thuỷ mặc. Cảnh vật Hồ Tây được miêu tả thật nên thơ: hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh hài hòa, sống động. Những khóm trúc ven hồ, cành lá um tùm rậm rạp, đeo nặng sương mai “la đà” sát mặt nước, sát mặt đất, rung rinh, đu đưa trước làn gió nhẹ. Từ láy tượng hình “la đà” – một nét vẽ thoáng và gợi cảm, đầy ấn tượng: “Gió đưa cành trúc la đà Cây tre, cây trúc rất gần gũi, thân thuộc với con người Việt Nam. Tre, trúc là cánh sắc làng quê. Tre, trúc là biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn người thiếu nữ quê ta: Em xinh em đứng nơi nào cũng xinh”. Sau khi tả cành trúc, tác giả nói về âm thanh gần, xa: “Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương”. Câu ca dao ngắt thành hai nhịp chẵn 4-4, hai vế tiểu đối cân xứng, hòa hợp như âm thanh tiếng chuông đền Trấn Vũ và tiếng gà gáy sang canh từ làng Thọ Xương vọng tới. Đền Trấn Vũ còn gọi là đền Quan Thánh nằmn cạnh Hồ Tây là nơi thờ đức Huyền Thiên Trấn Vũ. Tiếng chuông Trấn Vũ ngân lên trong sương sớm như ru hồn người vào huyền thoại, lắng hồn núi sông ngàn năm, để ta yêu hơn non nước quê nhà: “Quán Trấn Vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam Rùa” (“Tụng Tây Hồ phú” – Nguyễn Huy Lượng). Tiếng gà gáy sang canh… lại làm ta tỉnh mộng, songs lại nhịp sống đời thường dân đã “Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay giắt con trâu…”. Cùng với tiếng gà gáy báo sáng là nhịp chày giã đó làm giấy ở phường Yên Thái vàng lên rộn rã, nhịp nhàng. Lụa làng Trúc, giấy Yên Thái là sản phẩm nức tiếng kinh kỳ Thăng Long từ thời nhà Lý xa xưa, là niềm tự hào của những người thợ thủ công tài hoa: “Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng May áo chàng cùng sóng áo em,…” (Ca dao) “Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co Liễu bờ kia bay to biếc phất phơ, thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm…” (“Tụng Tây Hồ phú”) Nhà thơ dân gian như đang đứng trầm ngâm, lặng ngắm cảnh Hồ Tây lúc sáng sớm. Mùa thu, sáng sớm cảnh vật phủ mờ sương khói. Phố phường, làng mạc, cảnh vật, cỏ cây “mịt mờ” trong “ngàn sương” và “khói tỏa”. Sương phủ trắng bao la; mênh mông và mịt mù. Huyền ảo và thơ mộng qúa. Câu thưo cổ kính, chứa chan thi vị: “Mịt mù khói tỏa ngàn sương”. Từ láy tượng hình “mịt mờ” và hình ảnh ẩn dụ “ngàn sương” đã làm cho câu ca dao mang màu sắc cổ điển, dẫn giắt cảm xúc người đọc liên tưởng đến những vần cổ thi. Cuối bài ca dao là hình ảnh Hồ Tây trong sương sớm được ví với “mặt gương”. Biện pháp tu từ ẩn dụ được vận dụng thần tình, vẽ lên một cảnh sắc tuyệt đẹp: “Mặt gương Tây Hồ”. Hồ Tây yên tĩnh mênh mông và bao la, nước trong xanh, phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ. Hồ Tây, qua hàng nghìn năm là một thắng cảnh của thành Thăng Long cố đô của các triều đại Lý, Trần, Lê, chói lọi trong sử sách, biểu tượng thiêng liêng của hồn nước nghìn năm. Ngày nay, nó là Hà Nội, thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bài ca dao làm đẹp tâm hồn mỗi con người Việt Nam, nó làm ta thêm yêu Hà Nội. Nhớ Thăng Long nghìn xưa, lòng ta bồi hồi tự hào về nền văn hiến Đại Việt.
Bình bài ca dao_ Gió đưa cành trúc la đà …
776
Bình bài ca dao: Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng … Bài làm Có câu hát nào đẹp như ca dao dân ca? Ca dao dân ca đã hoà nhập một cách hồn nhiên, kỳ diệu vào tâm hồn tuổi thơ của mỗi người. Ca dao dân ca Việt Nam giàu bản sắc, vô cùng đẹp đẽ và phong phú. Nó là tiếng hát tâm tình nơi bờ xôi ruộng mặt, nơi bến cũ đò xưa… lưu luyến trong dân gian, phản ánh cuộc sống và ước mơ của nhân dân ta từ bao đời nay. Có những khúc hát ru ngọt ngào chứa chan tình nghĩa. Có những bài hát giao duyên say đắm lòng người. Có những bài ca nói về đất nước quê hương, với nương dâu, ruộng lúa, với hình ảnh duyên say đắm lòng người. Có những bài ca nói về đất nước quê hương, với nương dâu, ruộng lúa, với hình ảnh người dân quê một nắng hai sương, cần mẫn, hiền lành, đáng yêu. Cánh cò “bay lả bay la” đầm sen “lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”. Cô thôn nữ tát nước đêm trăng “múc ánh trăng vàng đổ đi”,… tất cả đều đem đến cho lòng ta biết bao niềm thương nỗi nhớ. Ấy là ca dao. Ấy là tuổi thơ của mỗi chúng ta. Cánh đồng làng quê và hình ảnh cô thôn nữ được nói đến trong bài ca dao sau đây là hình ảnh thân thuộc đáng yêu đối với mỗi người Việt Nam từ ngàn xưa” “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông. Thân em như chẹn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”. Ca dao thường được viết bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài ca dao này, nhà thơ dân gian đã viết bằng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ. Cô thôn nữ không làm chuyện văn chương thơ phú như ai, mà cô chỉ nói lên những rung động, những cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của lòng mình khi ngắm nhìn cánh đồng lúa thân yêu của làng mình. Trước mắt là cánh đồng lúa “ bát ngát mênh mông… mênh mông bát ngát”, thắng cảnh cò bay, càng trông càng “ngó”, càng thích thú tự hào. Câu ca dài mãi ra cùng với chân trời, với sóng lúa: Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông. “Ngó” gần nghĩa với với nhìn, trông, ngắm nghía… Từ “ngó” rất dân dã trong văn cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn không chán mắt, một cách quan sát kỹ càng. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước sự “mênh mông bát ngát… bát ngat mênh mông” của cánh đồng thân thuộc. Hai tiếng “bên ni” và “bên tê” vốn là tiếng nói của bà con Thanh, Nghệ dùng để chỉ vị trí “bên này”, “bên kia”, được đưa vào bài ca thể hiện đức tính mộc mạc, chất phác của cô thôn nữ, của một miền quê. Nghệ thuật đảo từ ngữ: “mênh mông bát ngát // bát ngát mênh mông” góp phần đặc tả cánh đồng lúa rộng bao la, tưởng như không nhìn thấy bến bờ “lúa hai mùa cuộn sóng, đến chân trời”…Có yêu quê hương tha thiết mới có cái nhìn đẹp, cách nói hay như thế! Tục ngữ có câu: “Ngắm núi, nhìn sông, trông đồng, trông chợ”. Nghĩa là ngắm nhìn sông núi để biết xứ lạ ít hay nhiều nhân tài; trông đồng, trông chợ mà biết miền quê giàu hay nghèo. Cánh đồng lúa là cảnh sắc của làng quê ta. Cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” nói lên sự giàu có của quê “em”. Bằng tấm lòng yêu mến, tự hào nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mảnh đất đã thấm biết bao máu và mồ hôi của ông bà tổ tiên, của đồng bào từ bao đời nay thì nhà thơ dân gian mới có thể viết nên những lời ca mộc mạc mà đằm thắm nghĩa tình đọc lên làm xao xuyến lòng người như vậy. Câu ca không hề nói đén mà xanh và hương thơm của lúa, sắc trắng của cánh cò “chớp trắng” trên nền trời xanh bao la, mà ta vẫn cảm thấy cái ngào ngạt của “hương lúa nếp thơm nồng”, “mùa thu hương cốm mới”, nơi bờ ruộng mật quyện lấy tâm hồn ta. Nhờ thế, ta yêu thêm đất mẹ quê cha, với hoài niệm tuổi thơ: Cánh cò bay trong sắc trời lá mạ” (Lê Anh Xuân) Hai câu tiếp theo nói về cô thôn nữ ra thăm đồng. Niềm vui sướng trào dâng trong long. Nhìn lúa tốt tươi rồi cô nghĩ về mình. Cô không mặc cảm thân phận mình là “hạt mưa sa”, “là tấm lụa đào”, là “củ ấu gai”…như ai đó, thân phận vui ít buồn nhiều. Trái lại, cô đã so sánh mình với chẹn lúa đòng đòng trên cánh đồng quê hương. “Chẹn lúa” còn gọi là dảnh lúa, một bộ phận của khóm lúa. “Chẹn lúa đòng đòng” nói lên sự trưởng thành, sinh sôi nẩy nở, hứa hẹn một mùa sây hạt, trĩu bông. Hình ảnh so sánh “Thân em như chẹn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi, một sức lực căng tràn hứa hẹn. Đây là một hình ảnh trẻ trung, khoẻ khoắn, hồn nhiên nói về cô gái Việt Nam trong ca dao, dân ca: “Thân em như chẹn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”. “Phất phơ” là nhẹ nhàng đung đưa, uốn lượn… “Chẹn lúa đòng đòng” phất phơ nhẹ bay trước làn gió trên đồng nội một buổi sớm mai hồng tuyệt đẹp. “Em” sung sướng hân hoan thấy hồn mình phơi phới niềm vui trước một bình minh đẹp. Có thể dùng hình ảnh “tia nắng”, “làn nắng” mà ý câu ca dao vẫn không thay đổi. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn, vì đó là làn nắng, tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp, ánh hồng rạng đông đang nhuốm hồng ngọn lúa đòng đòng xanh ngào ngạt. Tóm lại, bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và thôn nữ. Cảnh và người rất thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến thể sống động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn, là tình yêu ta mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng…”, ta cảm thấy như thế, Hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn ta, đem đến cho ta “tình yêu và mơ ước”…
Bình bài ca dao_ Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng …
1,197
Bình giảng 8 câu cuối trong đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích Hướng dẫn Bình giảng 8 câu cuối trong đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích …Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Đoạn thơ 8 câu như thấm đầy lệ làm vương vấn hồn ta: “Chanh thương cô Kiều như đời dân tộc Sắc tài sao mà lại lắm truân chuyên” (Chế Lan Viên). Bi kịch nội tâm của Thúy Kiều trong những ngày đầu trên con đường lưu lạc đã được ngòi bút thiên tài của nhà thơ miêu tả qua hình thái ngôn ngữ nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Những vần thơ buồn thương mênh mang đã gieo vào lòng người đọc nỗi xót xa khôn nguội về con người tài sắc “bạc mệnh.” – Thúy Kiều. Saụ khi bị lừạ, bị “thất thân” với Mã Giám Sinh, rồi lại bị Tú Bà làm nhục, Kiều dùng dao tự vẫn. Nghiệp chướng còn dài, nợ đời còn nặng – Nàng đã được cứu sống. Tú Bà lập mưu mới, dỗ dành Kiều ra ở lầu Ngưng Bích. Thân gái nơi đất khách quê người, bơ vơ, lo sợ. Những ngày bão tố, hãi hụng vừa qua. Chặng đường phía trước mịt mờ, đầy cạm bẫy. Thúy Kiều vô cùng cay đắng và đau khổ. Giờ đây, nàng sống một mình trong lầu Ngưng Bích với bao tâm trạng “bẽ bàng, chán ngán”. Biết lấy ai, cùng ai tâm sự? Nỗi nhớ thương như lớp lớp sóng dâng lên trong lòng. Kiều nhớ thương cha mẹ già yếu, không ai đỡ dần nương tựa “quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?”, Nàng nhớ chàng Kim “Bên trời góc bể bơ vơ – Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?”. Sau nỗi nhớ là nỗi đau buồn tê tái, sự hoang mang và lo sợ triền miên.. Nỗi đau buồn như vò xé tâm can nàng. Đoạn thơ 8 câu đầy ắp tâm trạng. Nguyễn Du đã lấy khung cảnh thiên nhiên làm nền cho sự vận động nội tâm của nhân vật trữ tình. Còn đâu nữa cảnh vật thân quen ở vườn Thủy? Tất cả đều nhuốm màu bi thương “hoa trôi man mác”, “nội cỏ dầu dầu”, màu xanh xanh của mặt đất, chân mây, gió cuốn và tiếng sóng vỗ ầm ầm. Chính những cảnh vật ấy, âm thanh ấy đã góp phần đặc tả tâm trạng Kiều, một bi kịch đang giày vò tan nát lòng nàng suốt đêm ngày. Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm Xa xa? Cảnh chiều tà luôn gợi cảm giác cô liêu, buồn lặng. Không gian nơi lầu Ngưng Bích như càng thu hẹp lại, một cánh buồm thấp thoáng càng khơi gợi thêm ý nghĩ chán ngán về một tương lai mờ mịt. “Cánh buồm xa xa” thấp thoáng trên “cửa bể chiều hôm” như gợi ra một hành trình lưu lạc, đầy những sầu đau, đơn chiếc. Phải chăng số phận của nàng như “chiếc bách giữa dòng”, là con thuyền không lái lênh đênh trên mặt nước sóng vỗ lề xô biết rồi sẽ trôi dạt về đâu? Cửa biển trong ánh chiều tà yếu ớt bao trùm luôn cả những con thuyền căng buồm lộng gió ngoài xa – những con thuyền chở hi vọng của nàng Kiều để vượt khỏi cái tù túng tẻ nhạt nơi lầu. son gác tía. Nhưng cánh buồm ở rất xa, thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh hoàng hôn trĩu buồn, như niềm hi vọng của nàng chỉ là những chấm nhỏ ngoài khơi xa mịt mờ. Những từ “thấp thoáng, xa: xa” càng khiến cho hi vọng nhạt nhòa. Tâm trạng của nàng Kiều càng được tô đậm qua hai câu thơ tiếp: Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu? Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Rồi đôi mắt Kiều chợt nhận ra cái sắc xanh ảm đạm nối tiếp của trời và đất. Tuy nhiên, bãi cỏ không mang màu xanh tươi như tiết thanh minh tháng ba, từ láy “rầu rầu” gợi cho ta sự tàn úa đến thảm thương. Xanh trời nối tiếp xanh đất nhưng xanh nào cũng là màu xanh tàn úa, héo hắt. Đất trời xã mờ héo hon, ảm đạm, tất cả lẫn vào nhau không nhìn thấy đâu là bến bờ, không nhìn thấy chút ánh sáng nào khác như cuộc đời ảm đạm, không lối thoát của Kiều: Gần hơn nữa, ngay dưới chân Kiều lúc này đây là biển trời dữ dội “ầm ầm tiếng sóng” đang vỗ, đang “kêu”, đang bủa vây lấy nàng: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi Trong lúc tuyệt vọng nhất, Kiều thấy mình dường như chao đảo. Từng ngọn gió mạnh thổi sóng vỗ ầm ầm. Quang cảnh đã thôi yên lặng, mặt biển dậy sóng như muốn nuốt chửng lấy Kiều, lòng Kiều cũng dậy sóng đầy lo âu và hãi hùng. Những đợt sóng dữ dội như dự báo trước điều bất an, báo một tương lai bão táp đang chờ Kiều trước mắt. Mỗi câu thơ mỗi hình ảnh, ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên, miêu tả ngoại cảnh mang ý nghĩa và giá trị như một ẩn dụ, một tượng trưng về tâm trạng đau khổ và số phận đen tối của một kiếp người trong bể trầm luân. Một hệ thống từ láy: thấp thoáng, xa xa, man mác dầu dầu, xanh xanh, ầm ầm – tạo nên âm điệu hiu hắt, trầm buồn, ghê sợ. Ở vị trí đầu dòng thơ, điệp ngữ “buồn trông” bốn lần cất lên như một tiếng ai oán, não nùng kêu thương, diễn tả nét chủ đạo chi phối tâm trạng Thúy Kiều làm cho người đọc vô cùng xức động: … Buồn trông ngọn nước mới sa … Buồn trông nội cỏ rầu rầu, … Buồn trông gió cuốn mặt duềnh… Với điệp ngữ “buồn trông”, nỗi buồn của Kiều như tầng tầng lớp lớp, không bao giờ dứt, càng ngày càng xoáy sâu thêm. Tám câu thơ, câu nào cũng vừa thực vừa hư, vừa là thực cảnh, vừa là tâm cảnh. Toàn là hình ảnh về sự vô vọng, sự dạt trôi, sự bế tắc, sự chao đảo, nghiêng đổ. Đây chính là lúc tình cảm Kiều trở nên mong manh và yếu đuối nhất, là lúc mà nàng rất dễ rơi vào cạm bẫy, như nàng sẽ rơi vào tay Sở Khanh sau đó. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích như một bức tranh lớn mà trong đó chứa đựng bốn bức tranh nhỏ liên hoàn nhau với điểm nhìn từ xa đến gần của nàng Kiều. Mỗi bức tranh lại khắc họa một khung cảnh và một cung bậc tâm trang khác nhau của Kiều..Nhưng tất cả đều hướng đến nỗi đau buồn, sợ hãi mà Kiều đang nếm trải, dự báo sóng gió bão bùng mà nàng phải trải qua trong những năm trời lưu lạc “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, có lửa nồng, có dấm thanh, cười ra tiếng khóc, khóc nên trận cười… Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du vô cùng điêu luyện. Cảnh mang hóa người. Cảnh và tình hòa hợp, sống động, hình tượng, biểu cảm. Tả cảnh để tả tình, trong cảnh có tình, lấy cảnh để phô diễn tâm trạng, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!”. Đoạn thơ cộ giá trị nhân bản sâu sắc. Nó gợi lên trong lòng mỗi chúng ta nồi xót thương về con người tài sắc bạc mệnh. Một trái tim yêu thương, một tấm lòng nhân hậu, cảm thông, chia sẻ của nhà thơ đối với nỗi đau của Thúy Kiều đã để lại ấn tượng sâu sắc trong trái tim người đọc qua hàng thế kỉ. Tố Hữu đã viết: “Tố Như ơi! lệ chảy quanh thân Kiều”.
Bình giảng 8 câu cuối trong đoạn thơ Kiều ở lầu Ngưng Bích
1,363
Bình giảng 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Hướng dẫn Bình giảng 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu «Việt Bắc« – khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Mà ở đó, từng câu từng chữ chứa đựng bao nỗi nhớ niềm thương của tác giả về những ngày tháng dài chiến đấu gam go quyết liệt nơi núi rừng Tây Bắc: «Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…« Những vần thơ ngọt ngào thiết tha được cất lên từ tiếng lòng của Tố Hữu – một nhà thơ đi đầu trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Cả cuộc đời ông đã gắn bó với sự nghiệp chung của đất nước. Thế nên, thơ ông cũng luôn gắn bó với những sự kiện chính của lịch sử nước nhà. “Việt Bắc” cũng vậy, bài thơ được viết năm 1954, sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về xuôi, trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Trong cuộc chia tay đầy xúc động ấy, Tố Hữu đã gửi gắm tất cả tâm tư tình cảm của mình vào bài thơ. Đặc biệt là 8 câu thơ đầu như tiếng nấc nghẹn ngào thay cho giọt nước mắt trong buổi phân li. “Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” “Tiếng ai”, là tiếng của ai thiết tha khiến cho lòng ai bâng khuâng, bồn chồn không nỡ cất bước ra đi? Những vần thơ bịn rịn khiến người đọc cũng thấy xao xuyến theo. Mặc dù tác giả đã bỏ ngỏ phần chủ ngữ nhưng đọc câu thơ, ta vẫn hiểu được ai là người rối bời bao cảm xúc trong tâm trí. Có lẽ trong giây phút ấy, kẻ ở người đi chỉ có thể “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”. Dấu ba chấm bị bỏ lửng thay cho bao điều muốn nói. Xúc động và nghẹn ngào, hẳn là trong giây phút này có không ít người đang rưng rưng nước mắt. Lúc gian khó ở bên nhau, giờ hòa bình độc lập lại phải xa nhau. Tình nghĩa sắt son, mặn nồng nhưng cuộc gặp gỡ nào rồi cũng đến lúc phải chia ly. Hình ảnh “áo chàm” ở đây chính là những người dân miền núi, Tố Hữu đã khéo léo tận dụng hình ảnh ẩn dụ này càng thể hiện sự gần gũi, giản dị giữa quân và dân miền núi. Họ không cùng một quê hương, nhưng chung một đất nước, có thể lý tưởng sống của mỗi người cũng khác nhau nhưng một khi đã gặp nhau trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lấn, trong lòng họ không ai bảo ai đều chung một niềm tin chiến đấu, chiến đấu đến cùng đập tan quân giặc.
Bình giảng 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
551
Bình giảng 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc Hướng dẫn Bình giảng 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn Quả thật hai câu thơ của Chế Lan Viên mãi mãi luôn làm sống dậy những tình cảm chân thành và thiết thực nhất khi ta phải rời xa một nơi đã trở nên quá quen thuộc. Nơi ấy, cây cỏ đất đai giờ cũng như hóa thành một tâm hồn sống động,cũng quyến luyến như chia tay với người đi. Việt Bắc cũng là một bài thơ như vậy,lấy cảm hứng từ cuộc chia tay của các cán bộ lãnh đạo từ Việt Bắc về Hà Nội, những tình cảm gắn bó, như tình anh em bằng hữu sống dậy và cuộn trào. Việt Bắc cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ thời kì kháng chiến chống Pháp. Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam trong thời kì đất nước chia cắt bị xâm lược. Những vần thơ giản dị đã trở thành những bài thơ thuộc lòng không chỉ có những tầng lớp cách mạng biết đến mà còn là nhiều tầng lớp khác. Thơ ông đậm đà tính dân tộc trong nội dung và hình thức thể hiện. Ngay từ đầu bài thơ Việt Bắc, những câu thơ vang lên như một lời thủ thỉ tâm tình của người Đi với người Ở dành cho nhau. Với cách xưng hô hết sức thân thiết “ Mình – Ta” mà khổ thơ cũng như toàn bài thơ tạo được dấu ấn sâu sắc trong long người đọc: Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?” Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” Chỉ với 8 câu thơ, nhưng những gì mà Tố Hữu khắc họa ngay từ đầu đã mang lại cho độc giả những cảm giác thật gần gũi, “ Mình và Ta “ như anh em trong một nhà vậy, bây giờ” Mình về, Ta ở lại “ bao nhiêu cảm xúc dâng trào. Có thể nói Tố Hữu là nhà thơ vận dụng các yếu tố nghệ thuật của dân tộc. Một điều chúng ta có thể thấy ngay đó chính là thể thơ của bài thơ.Lục bát với câu sáu câu tám xen kẽ, là một thể thơ truyền thống của Việt Nam, khiến nhà thơ có thể dễ dàng bộc lộ tình cảm đắm thắm. Hơn nữa thể thơ lục bát này thực sự rất uyển chuyển, giống như lời ăn tiếng nói hàng ngày mà con người ta vẫn thường trao cho nhau. “ Mình về “ Ta ở lại nhưng câu hỏi “ có nhớ ta ở giữa câu thơ như kéo tình cảm thân thiết của mình và ta lại với nhau. Tình cảm đó không dễ gì mà gây dựng cũng không dễ gì mà quên đi được. Cách dùng mình ta trong bài thơ giúp người ở lại thể hiện tình cảm một cách dễ dàng nhất. Tình cảm nào bằng tình cảm quyến luyến này. Hơn nữa mình và ta lại có thời gian gắn bó lâu dài” 15 năm ấy” thời gian dài và đầy khó khăn vất vả cũng đầy những chia sẻ ngọt bùi, làm sao mà dễ dàng quên được. Câu hỏi ở cuối giống như một lời bộc bạch từ đáy lòng, “ nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”. đấy, một khi tình cảm gắn bó với nhau thì tất cả mọi thứ xung quanh đều trở thành cái cớ cho sự nhớ nhung, sông núi, nguồn cuội. “ Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” Hình ảnh và âm thanh trong ngay câu đầu tiên cũng gợi ra cho chúng ta nhiều liên tưởng. “ ai “ đó có thể là người ra đi, người về miền xuôi nhưng cũng có thể là những người dân Việt Bắc, họ cũng quyến luyến bịn rịn với nhau, không muốn tách rời, có ai có thể hiểu đc chứ, sống trong hoàn cảnh ấy ta mới thấy tình người thật cao quí biết bao. Hai tính từ trong bài là “ bâng khuâng, bồn chồn” như càng tô đậm tâm trạng và cảm xúc của khung cảnh chia tay. cảm xúc đó là buồn vui lẫn lộn, tới lúc chia tay rồi nhưng chân thì phải bước nhưng lòng thì lại bối rối, chưa dám bước. Hình ảnh áo chàm trong khổ thơ xuất hiện như là hình ảnh giản dị của những con người áo mộc mạc trong cuộc sống giản dị đời thương nhưng hình ảnh này cũng gợi tới màu áo của sự nghèo khó của người dân Việt Bắc. Hình ảnh áo chàm là ẩn dụ cho những con người Việt Bắc nhưng cũng góp phần ám chỉ tình cảm son sắt khó phai của “ mình và ta”. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” đầy tính chất biểu cảm, đây không phải là không có gì để nói mà là vì xúc động nghẹn ngào không thốt được nên lời. Những lời không nói ấy có lẽ đã nằm hết trong ba chữ “Cầm tay nhau”. “Cầm tay” là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết. “Cầm tay” là đã đủ nói lên bao cảm xúc trong lòng rồi. Cũng giống trong bài thơ “ Những chiếc xe không kính” những cái bắt tay qua cửa kính vơi đi rồi như chắp nối thêm động lực cũng như tình cảm gắn bó,tình đồng đội tình đồng chí, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong chiến tranh ác liệt. Nguồn: Bài văn hay
Bình giảng 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc
1,000
Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu Hướng dẫn Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu Bài Làm Tố Hữu là một trong những nhà thơ đi đầu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Những sáng tác của ông đều mang lại những dấu ấn riêng, để lại nhiều dư âm tốt đẹp trong trái tim độc giả. Việt Bắc là một trong những sáng tác như thế. Bài thơ được sáng tác nhân sự kiện Hiệp đình Giơ-ne-vơ được ký kết sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại ở miền Bắc, các cơ quan trung ương của Đảng rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tám câu đầu trong bài thơ đã thể hiện một sự lưu luyến, bịn rịn giữa những người cán bộ và nhân dân miền ngược khi sắp phải rời xa nhau sau bao năm gắn bó với biết bao ân tình. Khổ thơ đầu bài thơ là tiếng lòng của những người ở lại nói với cán bộ chiến sĩ chuẩn bị về dưới xuôi: “Mình về mình có nhớ ta? Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không? Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.” Với cách sử dụng cặp đại từ “mình – ta”, người đọc cảm nhận được sự ngọt ngào, gần gũi thân thương vô cùng giữa chiến sĩ và người dân. Bởi lẽ, con người ta phải thật sự thân thiết lắm mới gọi nhau bằng “mình”, bằng “ta” như thế. Nhà thơ đã rất tài tình khi sử dụng câu hỏi “mình về mình có nhớ” tạo cho người đọc cảm giác rất đỗi thân quen như trong ca dao, dân ca Việt Nam “Mình về mình có nhớ ta – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Điệp từ “Mình về mình có nhớ” được điệp lại hai lần trong khổ thơ, cũng là hai câu hỏi tu từ đắt giá nhất trong đoạn đầu đã cho thấy sự trào dâng cảm xúc, lưu luyến khôn nguôi của người ở lại. Lưu luyến như thế, chân thành như thế cũng vì “mười lắm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Thì ra đây là cuộc chia tay của những con người đã từng gắn bó keo sơn, đã cùng nhau trải qua bao khó khăn trong suốt quãng thời gian “mười lăm năm” dài. Chỉ với bốn từ “thiết tha mặn nồng” đủ để nhà thơ diễn tả được sự gần gũi, sự sẻ chia đắng cay ngọt bùi và tấm chân tình sâu sắc của những cán bộ chiến sĩ và nhân dân dành chon nhau trong suốt bao năm tháng. Hình ảnh đặc trưng, giản dị của Việt Bắc được nhà thơ đưa vào trong câu thơ như “cây”, “núi”, “sông”, “nguồn” là lời nhắc nhở những người về xuôi có nhớ về những hình ảnh gần gũi thân thương của mái nhà chung đã nuôi dưỡng bao người con của cách mạng. – Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” Những người ở lại thì cứ “tha thiết” như thế khiến cho người ra đi cũng không khỏi trào dâng một nỗi niềm “bâng khuâng” xúc động trong lòng, “bồn chồn” khó tả trong từng bước đi. Các từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” dường như đã diễn tả rất đúng tâm trạng của người ra đi lúc này. Đó là lưu luyến khôn nguôi, là bịn rịn chẳng muốn xa rời. Làm sao không bâng khuâng cho được khi mà phải chia tay những người dân thật thà, chất phác đã cùng đồng cam cộng khổ với chiến sĩ suốt bấy nhiêu năm. Hình ảnh “áo chàm” trong câu thơ là hình ảnh hoán dụ của toàn thể đồng bào Việt Bắc, những con người giản dị, nghèo khó nhưng luôn chứa chan tình nghĩa. Hiện lên trong tâm trí người đọc qua hình ảnh “áo chàm” là những cụ già làng râu tóc bạc phơ, là các mế đôn hậu vẫn giã gạo nuôi bộ đội, vá áo cho các anh hàng đêm, là các em thơ hàng ngày vẫn vui đùa dưới gốc cây trước mỗi ngôi nhà sàn. Bao nhiêu kỷ niệm gắn bó cùng tình cảm chân tình của những người con Việt Bắc khiến chiến sĩ không khỏi nghẹn ngào. Nỗi nghẹn ngào thật khó có thể diễn tả bằng lời trong không khí chia tay xúc động ấy, khiến cán bộ về xuôi chỉ có thể “cầm tay” mà “không biết nói gì hôm nay”. Không nói gì không phải không có gì để nói mà có lẽ có quá nhiều thứ để nói nhưng sự nghẹn ngào khiến các anh khó có thể diễn tả được bằng lời nói. Chỉ hành động “cầm tay nhau” thôi cũng đủ để thể hiện sự trân trọng và biết ơn sâu sắc tới đồng bào đã cưu mang người chiến sĩ cách mạng. Bằng việc sử dụng ngôn ngữ tài tình, các biện pháp tu từ khéo léo, chỉ với tám câu thơ ngắn gọn nhưng bao trùm nỗi nhớ, nhà thơ Tố Hữu đã tái hiện lại sự lưu luyến, bịn rịn lúc chia tay giữa đồng bào miền núi với cán bộ chiến sĩ trước khi rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội sau một khoảng thời gian dài gắn bó. Đoạn thơ đầu chứa chan ân tình cũng góp một phần tạo nên thành công cho toàn bài thơ, để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong trái tim người đọc. Nguồn: Tài liệu văn học
Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
954
Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng rau Cho em vui ké dây trầu một bên… Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng rau Cho em vui ké dây trầu một bên… Tình yêu đôi lứa luôn là chủ đề mới mẻ và đi sâu và lòng người vì thế đề tài này trở nên rất phong phú và đa dạng trong văn chương. Đồng thời nó có ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với mỗi con người bởi nó là tình cảm thiêng liêng mà ai cũng có trong cuộc đời. Có những bài ca dao nói tình yêu đẹp nhưng có những bài lại nói về sự chia ly và xa cách. Tuy nhiên ở mỗi góc độ khác nhau thì những câu ca dao những bài thơ lại mang một màu sắc văn học riêng. Trong đó tiêu biểu là bài ca dao: Ai về cuốc đất trồng cau Cho em vun kéo dây trầu một bên Chừng nào trầu nọ bén lên Cau kia có trái lập lên cửa nhà. Thông thường chúng ta hay thấy những bài ca dao mở đầu là người con trai hỏi và tỏ tình với người con gái. Nhưng trong bài ca dao này lại ngược lại, đây là lời của người con gái hỏi con trai muốn thổ lộ tình cảm với con trai. Như vậy ta thấy được con gái thật là táo bạo và mạnh mẽ không chỉ có trong thời hiện đại mà ngay cả xa xưa đã có rồi. Đây là thứ tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng nên cô gái rất là tự tin nói với người con trai mà cô thích. Trong kho tàng văn học dân gian cũng có rất nhiều câu nói như vậy: Để em làm cỏ mồ hôi ướt đầm. Có phải đạo vợ, nghĩa chồng, Thì mang ô xuống cánh đồng mà che. Ôi! Tình yêu thật là đẹp đẽ nó khiến cuộc sống của con người trở nên vui vẻ hơn dù cả trong những lúc lao động mệt mỏi.Mở đầu bài thơ tác giả đã cho ta thấy được sự khéo léo của cô gái gắn liền với cuộc sống lao động lúc bấy giờ: Ai về cuốc đất trồng cau Cho em vun kéo dây trầu một bên Ta đã thấy “Trầu cau” từ xa xưa đã trở thành biểu tượng đẹp của tình yêu và tình nghĩa vợ trồng sâu sắc. Do đó “ trầu cau” mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam dù ở thời hiện đại thì trong những đám ăn hỏi đám cưới vẫn phải có trầu cau. Người ta nói: “ Miếng trầu là đầu câu chuyện” nên cô gái này cũng khéo léo dùng hình ảnh trầu cau để tỏ tình với người con trai và ý cô muốn hỏi người con trai về việc nên duyên vợ chồng về sống chung một nhà. Cô gái giãi bày tâm sự muốn có một hạnh phúc, một mái ấm gia đình: Chừng nào trầu nọ bén lên Cau kia có trái lập lên cửa nhà Tình cảm lứa đôi cũng giống như cây cau với cây trầu từ lúc mới trồng cho đến lúc ra hoa kết trái. Cô gái trong bài ca dao này tin rằng tình yêu của mình cũng vậy sẽ đến ngày đơm hoa và trái trái chính là lúc cô hạnh phúc nhất có được người mình yêu thương hai người cùng xây dựng tổ ấm dưới một mái nhà. Qua đây ta thấy được trong ca dao thì đề tài tình yêu đôi lứa luôn được thể hiện một cách vô cùng sâu sắc và chân thành. Vì thế khiến người đọc ở mọi thời đại có cái nhìn mới mẻ và mang đậm chất truyền thống dân tộc. Những hình ảnh đại diện cho tình yêu luôn là những hình ảnh gần gũi đồng thời những ngôn từ cũng gắn liền với cuộc sống lao động và sinh hoạt mang đậm chất nông thôn của nhân dân ta. Bài ca dao này như những giá trị tinh tình đẹp mà con người xưa muốn gửi gắm đến những thế hệ mai sau. Dù đất nước có phát triển đến mấy cũng không được quên những vẻ đẹp truyền thống của dân tộc. Đặc biệt trong tình yêu cần phải biết xây dựng và vun vén đồng thời cũng cần phải có sự kiên trì để có một hạnh phúc thực sự.
Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng rau Cho em vui ké dây trầu một bên…
738
Bình giảng bài ca dao Bài ca chàng thợ mộc Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Bài ca chàng thợ mộc Bài làm Tiếng hát giao duyên, tỏ tình của trai gái làng quê xưa được thể hiện trong ca dao, dân ca rất hay, rất đậm đà: “Gặp đây Mận mới hỏi Đào,.” “Hôm qua em đi hái dâu..”, “Tát nước đầu đình…”, và “Bài ca chàng thợ mộc”. Với 20 câu lục bát đi liền một mạch, qua ánh mắt và nụ cười, chàng thợ mộc tài hoa và đa tình mượn chuyện chạm trổ của mình để tỏ tình với cô thôn nữ. Bốn câu đầm ấm áp với bao tình quê vơi đầy. Chàng trai đã xưng danh, xưng nghề, xưng quê hương bản quán. Cũng như nhiều thiếu nữ khác đã bẽn lẽn nói về mình: “Em là cô gái đồng trinh.. ”, “Em là con gái kẻ Mơ..”, chàng trai thật đàng hoàng tự tin nói với cô thôn nữ: Anh là thợ mộc Thanh Hoa Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay! Lựa cột anh dựng đòn tay, Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề. Tục ngữ có câu: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh kì”, hoặc; “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Thuận Quảng”. Thợ mộc dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả. Chỉ có thợ mộc làm cung điện vua chúa mới được gọi là thợ cả. Xây cung điện thời Lê – Trịnh, thời Nguyễn sau này, phần lớn là thợ mộc Thanh Hoa. Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là “Anh làm thợ mộc Thanh Hoa”, vì quen miệng theo đà ba chữ “làm” trong câu ca thứ hai nên mới nhầm lẫn như vậy! Một chữ “là” biểu lộ biết bao tự hào về quê hương bản quán, về nghề nghiệp truyền thông của mình. Không phải là một tay “đục đẽo” tầm thường, mà anh chính là thợ mộc Thanh Hoa từng xây dựng cung điện, nổi danh tài ba. Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng định mình là một người làm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, nổi đanh tài ba, biết “làm cầu, làm quán, làm nhà”, biết “lựa cột dựng đòn tay”, biết “bào trơn đóng bén”. Hai chữ “khéo thay” là tự khen, tự khoe tài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương và được chúng ta đồng tình. Vả lại, thói đời xưa nay vẫn thế: “Gái tham tài, trai tham sắc”. Câu 3, 4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc “bào trơn, đóng bén…” mà khoe? Anh thợ mộc Thanh Hoa cũng chạm rồng, nhưng chỉ là “trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo”. Con rồng dưới bàn tay chạm trổ của anh đã được cách điệu đậm đà màu sắc nghệ thuật dán gian, và trong một chừng mực nào đó, nó gợi ra một khát vọng sống trong sinh sôi nảy nở, trong hạnh phúc tròn đầy, tươi vui. Bốn cửa anh chạm bốn dê, Bốn con dê đực chầu về tổ tông. Dân gian quan niệm con quạ và con dê là hai loài vật tình nghĩa nhất. Đã từng có lời ca truyền tụng: Quạ còn móm mỗi lại, Dê còn giữ lề quỳ, Khuyên ai đạo làm con, Đọc sách nên có hiểu. Bức chạm “bốn con dê đực chầu về tổ tông” biểu lộ một cách kín đáo về một tấm lòng ân nghĩa thuỷ chung, thoáng hiện chất hóm hỉnh, tinh nghịch, phong tình. Sau lời giới thiệu chạm bốn con dê đực là một tiếng cười khẽ đưa duyên… Anh khoe tài, không chỉ biết chạm dê, chạm rồng mà còn biết chạm những con vật gần gũi với đời sống dân dã, gắn bó với mọi người nơi đồng nội, trong vườn tược của mỗi gia đình chốn quê: Bốn cửa anh chạm bốn hoa, Trên là hoa sói, dưới là hoa sen. Bốn cửa anh chạm bốn đèn, Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ. Mèo bắt chuột, gà gáy… con vật nào cũng đáng yêu, có ích, sống động, biểu tượng cho đức tính chăm chỉ, cần mần, hay lam hay làm. Bức chạm lươn thật kì lạ! Con lươn có gì mà đáng chạm? Là người đồng hương của Trạng Quỳnh nên anh mới chạm lươn chăng? “Thân lươn bao quản lấm đầu” ấy đã được chàng thợ mộc Thanh Hoa chạm trổ rất bay bướm và có thần: Bốn cửa anh chạm bốn lươn, Con thì thắt khúc, con trườn bò ra. “Thắt khúc” và “trườn bò ra” là hai nét chạm cực khéo, làm cho con vật đơn sơ, bình dị được nghệ thuật “thổi hồn vào”. “Lòng đời chắc nặng lắm – Hoa sói hoài không thôi” (Hoa về – Huy Cận). Sau bức chạm hoa là bức chạm đèn. Mỗi cây đèn soi tỏ một nét tâm tình dưới tổ ấm gia đình hạnh phúc. “Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ” hướng về cô nàng khéo tay hay làm. Cây đèn thứ ba: “Một đèn đọc sách ngâm thơ” chiếu sáng một tâm hồn thanh cao nho nhã. Cây đèn thứ tư là “cây đèn thần”, cây đèn ước hẹn chờ mong, “đèn thương nhớ ai – mà đèn không tắt”… Lời tỏ tình thật hồn nhiên, chân tình, duyên dáng: Một đèn anh dể đợi chờ nàng đây. Đó là một tiếng nói yêu thương, nồng nàn, dịu ngọt, một tiếng nói có mùi thơm của hương hoa, có ánh sáng của lửa đèn và chứa chan hi vọng về ngày mai hạnh phúc. Cuộc sống vốn thế, tình yêu vốn thế: Trên thì rồng ấp // dưới thì rồng leo Con thì bắt chuột // con leo xà nhà Đêm thì nó gáy / / ngày ra ăn vườn Con thì thất khúc / / con trườn bò ra Trên là hoa sói // dưới là hoa sen Một đèn dệt cửi / / một đèn quay tơ. Bài ca chàng thợ mộc còn là một bài hát ngành nghề đậm đà ý vị mang tình quê hương. Con người có bàn tay vàng ấy đã đem tài nghệ, tài hoa làm đẹp cuộc đời, xây đắp hạnh phúc cuộc đời trong tình yêu và hi vọng: Một đèn anh để đợi chờ nàng đây. Có thực tài và dám đàng hoàng đem tài hoa ra để tỏ tình, để giao duyên như chàng thợ mộc Thanh Hoa mới thật đáng yêu.
Bình giảng bài ca dao Bài ca chàng thợ mộc
1,091
Bình giảng bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm Kho tàng ca dao dân ca của nước ta có rất nhiều bài hay nói về hình ảnh con cò. Hình ảnh con cò người ta thường để tượng trưng cho thân phận của người nông dân, người phụ nữ và hơn hết con cò còn thể hiện lời hát ru của bà, của mẹ. Trong đó bài “Con cò mà đi ăn đêm” là một bài ca dao hát ru và có triết lí cao cả: “Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con Mở đầu bài thơ là cách nói ngược rất độc đáo: “Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” Mọi người thường chỉ thấy con cò đi kiếm ăn ban ngày chứ không phải đi kiếm ăn ban đêm. Mà chỉ có con vạc mới biết kiếm ăn ban đêm vì thế có câu: “Ngán cho con vạc đi mò Bán ruộng cho cò nên phải ăn đêm” Chính vì cách mở đầu độc đáo này ta mà ta hiểu rõ hơn về cuộc sống thiếu thốn và cơ cực. Ban ngày họ vốn làm lụng vất vả nhưng vì cuộc sống mưu sinh vẫn thiếu thốn nên họ phải kiếm ăn vào cả ban đêm. Ấy vậy mà “Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” con cò thường đậu ở những cành cây thanh mảnh và cao để bám nên không bao giờ có hình ảnh lộn cổ xuống ao. Đây là một nghịch lí tương phản ở đời càng nhấn mạnh sự gian truân vất vả, nhiều người đã cố gắng vượt qua nhưng không được họ vẫn bị lún sâu trong cái cơ cực của cuộc sống ấy. Tôi có lòng nào ông hãy sao măng” Dù con cò bị lộn cổ xuống ao nhưng nó vẫn cầu xin lòng rủ thương của con người. Ý muốn nói về tình thương và sự giúp đỡ trong cuộc sống không chỉ giúp đỡ con người lẫn nhau và đôi khi chúng ta cũng nên giúp những loài động vật. Nhưng có một điều lạ là thường thì những con cò khi thấy người chúng sẽ bay đi chứ không đợi con người tiến lại bắt nó. Còn con cò trong bài ca dao này lại cầu xin người bắt nó. Đây là một nghịch lí trong cuộc sống. Nghịch lí còn được thể hiện rõ hơn trong các câu tiếp theo: “Có xáo thì xáo nước trong Chớ xáo nước đục đau lòng cò con”. Dù cuộc sống có thiếu thốn và lao động mệt nhọc nhưng những người nông dân vẫn vô tư và hài hướng. Làm nên những câu ca dao vừa âm đậm triết lí ở đời vừa mang những yếu tố hóm hỉnh khiến người đọc thích thú. Như nghịch lí ở trong câu ca dao này cũng vậy. Con cò thật đáng yêu khi xin xáo mình trong nước trong. Dù vốn dĩ nó sống mò mẫm trong bùn lầy rất đục và rất bẩn. Trong khi loài cò rất ít chất dinh dưỡng đồng thời lại nhỏ bé nên nước thường rất trong. Hình ảnh con cò này trong bài đại diện cho người phụ nữ trong xã hội xưa, họ tần tảo sớm hôm vất vả kiếm miếng cơm manh áo để nuôi chồng nuôi con. Họ không phàn nàn hay oán trách mà vẫn một mình lặng lẽ âm thầm việc cuộc sống của gia đình. Trong câu cuối của bài ca dao “ Chớ xáo nước đục đau lòng cò con” thể hiện cái chết cũng muốn trong sạch để tiếng cho đời sau. Người phụ nữ ở đây cũng vậy muốn mình luôn trong sạch và hết mực về cuộc sống tươi đẹp.
Bình giảng bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm
663
Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai Nghĩa chàng nhớ mãi chàng ơi, Nhớ chàng như nước hồ vơi lại đầy. Tình yêu, nỗi nhớ là những đề tài rất phong phú trong kho tàng ca dao dân của dân tộc. Trong đó tiêu biểu là bài ca dao “khăn thương nhớ ai”. Bài ca dao này nói về nỗi thương nhớ không nguôi đến người mình yêu. Cô gái đã dùng chiếc khăn, đèn và hỏi cả ánh mắt của mình để diễn tả nỗi nhớ cứ buồn chồn không nguôi trong tâm trí mình. Mở đầu bài ca dao người con gái hỏi chiếc khăn để diễn tả nỗi nhớ của mình: Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt Theo quan niệm của người xưa chiếc khăn là vật giao duyên, kỉ vật của người yêu. Ở trong đoạn này câu thơ “Khăn thương nhớ ai” láy đi láy lại ba lần càng nhấn mạnh nỗi nhớ thiết tha, da diết. Chiếc khăn tuy là vật vô tri vô giác không biết tự rơi xuống đất, tự vắt nên vai, tự chùi nước mắt. Nhưng qua con mắt tinh tế và nỗi nhớ khôn xiết và tác giả đã nhân hóa chiếc khăn tự làm được mọi thứ. Câu thơ thật hay và ý nghĩa khiến người đọc rất dễ hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài thơ. Đồng thời qua đoạn thơ này ta càng hiểu được tình yêu nó nồng cháy đến như thế nào. Nói về chiếc khăn trong kho tàng ca dao nước ta cũng có rất nhiều câu như: Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa” Những câu thơ trên diễn tả nỗi nhớ mênh mông khắp không gian thì bốn câu thơ sau là nỗi nhớ trải dài suốt thời gian: “Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên”. Đến đây nỗi nhớ vẫn dâng trào nhưng tác giả lại chuyển nỗi nhớ từ nhớ khăn sang đèn để thể thời gian nỗi nhớ xuyên suốt ngày đêm. Nhớ đến mức đèn vẫn sáng không muốn tắt đi. Và mắt cũng vậy nhớ thương đến mức không ngủ được. Như vậy ta thấy rằng nỗi nhớ người thương thật là mãnh liệt. Hình ảnh người thương luôn ở trong tâm trí dù là đang ở hoàn cảnh, thời gian nào dù là ngày hay đêm. Có rất nhiều câu nói về sự thao thức nhớ người yêu như: “Đêm nằm lưng chẳng tới giường. Trông cho mau sáng ra đường gặp anh” Như vậy ta thấy được điệp khúc “thương nhớ ai” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần như thể nhấn mạnh nỗi nhớ người thương da diết, nhớ đến bồi hồi rồi lại không ngủ được. Đặc biệt từ “ai” thể hiện nỗi nhớ mênh mông sâu rộng không có điểm dừng đồng thời cũng không nói rõ đối tượng ở đây là ai mà chỉ xoáy sâu vào nỗi nhớ mênh mông ấy. Tuy câu ca dao không nói cụ thể đối tượng nhưng khi đọc lên ta đã biết ngay đây là nỗi nhớ người thương bởi chỉ có trong tình yêu con người ta mới bồi hồi da diết như vậy. Nhớ nhung đến không không ăn không ngủ thật là bao la. Nỗi nhớ người yêu ấy tưởng chừng không có điểm dừng nhưng rồi cô gái lại kết thúc bằng hai câu: Lo vì một nỗi không yên một bề… Nhớ thương nhiều quá mà không có sự đáp lại cô gái lại trở nên lo phiền cho chính bản thân mình. Cô sợ rằng duyên phận sẽ không đến được với nhau. Bởi yêu thương càng nhiều thì cô càng sợ cho hạnh phúc bấp bênh. Từ “lo” được lập lại hai lần ở hai câu thơ cuối lại càng nhấn mạnh nỗi lo sợ hạnh phúc này. Như vậy qua bài ca dao Khăn thương nhớ ai ta càng thấy rõ được tình yêu nồng cháy và mãnh liệt của tuổi trẻ. Khi yêu rồi hình bóng người thương luôn hiện diện trong tâm trí mãi không thôi dù là đang làm gì đang ở đâu hay cả trong ban ngày và ban đêm. Yêu nhau là vậy đấy nhưng ai rồi cũng phải lo sợ giống cô gái trong bài ca dao yêu nhau nhưng lo sợ không đến được với nhau.
Bình giảng bài ca dao khăn thương nhớ ai
744
Bình giảng bài ca dao Núi truồi ai đắp mà cao trong chương trình văn học lớp 10. Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Núi truồi ai đắp mà cao trong chương trình văn học lớp 10. Nếu có dịp đến với Huế chắc hẳn các bạn sẽ không thể quên được cảnh đẹp nơi đây với nét dịu dàng thơ mộng.Khi nghe đến Huế qua những vần thơ thì chúng ta lại mong một lần được đặt chân đến đó và thật như vậy bởi chúng ta không chỉ là biết đến với Huế với dòng sông Hương quanh co uốn khúc mà còn được nghe những câu hò mượt mà,khúc nhã nhạc Huế….mà chúng ta còn được biết đến với núi Truồi như một phong cảnh hữu tình, chính vì thế mà đã có hẳn một bài ca dao viết về chốn này. “Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu? Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”. Đọc từ câu đầu tiên chúng ta đã thấy vẽ nên một bức tranh của sông núi xứ mộng mơ. Cái tên Huế nó đã mộng mơ chắc có lẽ được bắt nguồn từ những cảnh non nước hữu tình như chính núi Truồi vậy. Tác giả viết nên bài thơ này có lẽ là một nghệ sĩ vẽ tranh thì mới viết nên được những ngôn từ đẹp như vậy. Thế mới biết được sự tài tình của nguồn văn chương trong cuộc sống của chúng ta: Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?” Từ “ai” được nhắc đi nhắc lại ba lần giống như một câu hỏi để khoe lên vẻ đẹp đầy thân thiên của dòng sông hương và núi Truồi.Khi đến với Huế thì chúng ta không thể không đến địa danh nổi tiếng như thế này được. Dòng sông đẹp hiền hòa giống như một cô gái nằm mơ màng giữa một cánh đồng đầy cỏ dại,với dòng nước thay đổi theo theo giờ giống như nhịp sống của con người nơi đây. Dòng sông chứng kiến biết bao thế hệ sinh ra của chúng ta,với truyền thống văn hóa tốt đẹp,và những góc quanh co khúc khuỷu của dòng chảy đó lại xuất hiện một ngọn núi và nếu như nhã nhạc cũng đình Huế không xuất hiện trên dòng sông hương thì không còn gì gọi là nhã nhạc cũng đình. Núi Truồi gắn với bao huyền thoại,hướng về phía tây kinh thành, từ cửa biển của Thuận An nhìn lên thì núi truồi có một màu xanh thẫm trong ánh dương. Núi trầm mặc và uy nghiêm như đang nghiêng mình để lắng nghe tiếng chuông ngân vang của chùa Thiên Mụ, một ngôi chùa nổi tiếng ở Huế. Rồi tiếp đến câu thơ “ai mà đắp cao, ai đào bới “ như một nghi vấn được đặt ra thể hiện sự hiển diện của tự nhiên hay chính là quá trình lao động của ông cha ta, không biết có từ bao giờ và cũng không ai lí giải được nhưng chỉ biết từ xa xưa, từ khi sinh ra đã thấy núi đứng sừng sững ngày qua ngày. “Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò” Vẻ đẹp của Huế còn được nhắc đến với những hình ảnh như ao cá,nong tằm và nương dâu. Từ đó gợi lên một vùng đất trù phú màu mỡ quanh năm,mảnh đất với biết bao mồ hôi và xương máu để làm nên và trong những hình ảnh đẹp như vậy lại hiện lên một tình yêu mộc mạc và chân thành càng khẳng định được vẻ đẹp mơ mộng đó. Đò và bến là những hình ảnh quen thuộc trong tình yêu, và luôn hiển hiện trong thơ văn, trong cuộc sống hằng ngày. Và một lần nữa nó lại được xuất hiện ở đây mang một tình yêu đằm thắm, mộng mơ như chính cái địa danh đó vậy. Qua đây, những câu ca dao cho chúng ta thấy được một bức tranh tuyệt đẹp với những ngôn từ xứ huế, Huế mộng Huế mơ trong chính tình yêu của đôi trai gái,mộng mơ với cả dòng sông Hương, với nương xanh ngắt cùng ao cá. Bức tranh ấy không chỉ đẹp hùng vĩ của hình ảnh núi sông mà còn có cả sự mộc mạc chân thành của cô gái Huế nhẹ nhàng thướt tha như đò xưa bến cũ đợi chờ nhau.
Bình giảng bài ca dao Núi truồi ai đắp mà cao trong chương trình văn học lớp 10.
749
Bình giảng bài ca dao Núi Truổi ai đắp mà cao Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Núi Truổi ai đắp mà cao Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ Khi chúng ta biết để Huế không chỉ qua dòng sông Hương quanh co uốn lượn như cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, những câu hò Huế mượt mà đằm thắm, khúc nhã nhạc cung đình,…mà chúng ta còn biết đến núi Truồi. Vì thế mà trong ca dao xưa có bài: Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu? Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn Mở đầu bài ca dao tác giả vẽ lên một bức tranh của sông núi rất thơ mộng và hữu tình. Và tên Huế thơ mộng phải chăng cũng bắt nguồn từ vẻ đẹp non nước hữu tình như chính sông Hương và núi Truồi. Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu Hai câu ca dao đầu đã đặt ra câu hỏi mà không cần có sự trả lời mang âm điệu nhẹ nhàng mà có ý nghĩa lớn đối với mỗi người đọc. Đó là sự thể hiện tình yêu sâu sắc đối với quê hương. Từ “ai” láy lại ba lần như một điệp khúc nhấn mạnh hai địa danh này. Sông Hương đẹp đẽ và nên thơ uốn lượn mình như một cô gái di-gan với sắc nước rất đặc biệt thay đổi theo ngày. Sông Hương như một minh chứng lịch sự bởi nó đã chứng kiến biết bao trận đánh oanh liệt chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta. Tác giả thật tinh tế dùng hai câu đầu để tả cảnh và hai câu sau để tả con người và cuộc sống nơi đây: Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò Từ hai câu này ta đã thấy được vùng đất nơi đây là một vùng đất màu mỡ quanh năm bằng những hình ảnh “nong tằm”, “ao cá”, “nương dâu”. Cùng sự chăm chỉ cần mẫn của con người. Họ ta phải đổ biết bao mồ hôi công sức mới làm nên được sự mầu mỡ như vậy. Ở nơi đây có nghề truyền thống là nuôi tằm. Nó hiện lên sự chăm chỉ cần mẫn và dịu dàng của người con gái xứ Huế. Đồng thời cùng với việc nuôi tằm con người nơi đây còn nuôi cá, trồng dâu. Đò và bến là những hình ảnh rất quen thuộc và gần gũi thể hiện tình yêu trai gái đậm đà thủy chung. Bài ca dao như một lời giới thiệu về vẻ đẹp nên thơ trữ tình của sông Hương, núi Truổi và cuộc sống của con người nơi đây. Đồng thời thể hiện tình yêu quê hương đất nước nồng cháy. Và những hình ảnh này đã được đi vào ca dao thể hiện lòng chung thủy của con người sẽ không bao giờ quên được những gì đẹp đẽ của Huế và con người Huế cần cù chăm chỉ.
Bình giảng bài ca dao Núi Truổi ai đắp mà cao
515
Bình giảng bài ca dao Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ Hà Nội là trái tim của Việt Nam, là nơi nghìn năm văn vật và cũng là nơi chiến đấu oanh liệt để bảo vệ tổ quốc. Ở đây có rất nhiều vị anh hùng có công với đất nước. Để tưởng nhớ họ nên có bài ca dao: “Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ” nói về sự nhớ ơn tới những con người có công lao xây dựng nên lên quê hương. Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này? Mở đầu bài ca dao là lời ru nói về cảnh đẹp nên thơ của quê hương đất nước. Hình ảnh được nhắc đến trong bài ca dao là hồ, cầu Thuê Húc, chùa Ngọc Sơn, Nghiên Tháp…những hình ảnh này được nhắc đến ở Hồ Gươm Hà Nội. Những hình ảnh đó mãi in sâu vào tâm trí con người Việt Nam. Mỗi một người đến với thủ đô Hà Nội thì sẽ mãi không quên được nơi này. Bởi nó có một vẻ đẹp nguy nga mà vừa cổ kính lại mang đậm chất dân tộc sâu sắc. Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Kiếm Hồ là Hồ Hoàn Kiếm ( Hồ Gươm), nơi mà Lê Lợi trả kiếm báu “Thuận Thiên” cho Rùa Vàng. Một cảnh đẹp “Rồng bay lên Cầu Thê Húc” là cầu đón ánh sáng, biểu tượng rất đẹp nói lên niềm tự hào về mọi tinh hoa của đất trời, Tổ quốc, của dân tộc hội tụ về Thăng Long, Hà Nội. Chùa Ngọc Sơn hay còn được gọi là đền Ngọc Sơn là một nét đẹp cổ kính của Hồ Gươm. Như vậy ta thấy được những địa danh này có phong cảnh và không khí rất trong lành và tươi đẹp. Khách du lịch ở khắp nơi cũng đến để ngắm cảnh và hưởng ngoại không khí nơi đây. Hiện nơi đây trở thành điểm du lịch lớn ở Hà Nội. Những hình ảnh đó trở nên rất gần gũi và quen thuộc bởi đó là một vẻ đẹp hào hùng và ghi dấu ấn lịch sử sâu sắc. Trong cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp nên thơ ấy chúng ta luôn ghi nhớ và tưởng nhớ về những vị anh hùng đã xây dựng nên đất nước, một đất nước hào hùng với những chiến thắng vẻ vang và những dấu ấn đậm nét nhất. Mở đầu bài ca dao ý nhắc nhở chúng ta về hình ảnh quê hương đất nước. Dù sau này chúng ta có đi đâu và ở đâu thì cũng không được quên cảnh sắc của đất nước nơi mà chúng ta sinh ra và lớn lên. Hãy in sâu những hình ảnh đó của quê hương vào sâu trong tận trái tim để cảm nhận và lưu giữ. Khi nhớ đến những cảnh đẹp của quê hương đất nước chúng ta liền nhớ ngay đên công lao to lớn của các vị anh hùng cho ta cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay. Hỏi ai gây dựng nên non nước này? Hai từ “hỏi ai” đã nhấn mạnh chúng ta nhớ đến những người có công lao to lớn gây dựng nên non sông đất nước. “Ai” ở đây có thể hiểu là ông cha, tổ tiên của ta đã chiến đấu với giặc ngoại xâm để giành lại tổ quốc. Vì thế chúng ta luôn phải nhớ và tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc tộc.
Bình giảng bài ca dao Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ
620
Bình giảng bài ca dao sau Núi Truổi ai đắp mà cao Hướng dẫn Trong bài thơ “Bài ca quê hương”, thi sĩ Tố Hữu thiết tha ân cần: “Ai đi qua đó miền Trung, Xin mời ghé lại, vui cùng Huế tôi” (Tháng 5-1975) Huế là cố đô vương triều Nguyễn. Huế đẹp và thơ. Núi sông diễm lệ. Câu hò Giã Gạo, giọng hò Mái Đẩy, Mái Nhì, khúc Nam Ai, Nam Bình dịu ngọt từng làm say lòng người gần xa gần 400 năm nay. Ai đã một lần ghé thăm Huế? Ai đã một lần được nghe cô gái Huế hát bài ca: “Núi Truồi ai đắp mà cao, Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu? Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”. Núi Truồi và sông Hương là vẻ đẹp cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế. Núi Truồi hùng vĩ và thiêng liêng đã để lại trong lòng người bao huyền tích, huyền thoại. Núi ở về phía tây Kinh thành. Từ cửa biển Thuận An nhìn lên, núi Truồi xanh thẫm trong ánh tà dương. Núi trầm mặc uy nghiêm tưởng như đang lắng nghe tiếng chuông diệu huyền của chùa Thiên Mụ. Sông Hương (có văn bản khác ghi là sông Dinh, tên cũ của Hương Giang) là bài thơ tình của cố đô mộng mơ. Dòng sông nhẹ trôi uốn lượn như dải thắt lưng xanh của nàng tiên bỏ quên từ ngàn năm vắt ngang Kinh thành xưa. Có một nhà thơ đã viết: “Nếu không có điệu Nam Ai Sông Hương thức suốt đêm dài làm chi…” (Hà Thúc Quả) Hai câu hỏi tu từ nối tiếp xuất hiện. Hỏi núi “ai đắp mà cao?”. Hỏi sông “ai bới, ai đào mà sâu?”. Câu hỏi của du khách hay của cô gái Huế? Hỏi để bày tỏ sự ngạc nhiên, trầm trồ, niềm tự hào xúc động khi ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên tráng lệ: Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?” Ba chữ “ai” gợi lên bao nỗi niềm man mác bâng khuâng như dẫn hồn người ngược thời gian năm tháng khi ngắm nhìn sông núi thân thương. Coi. sông Hương với Hàn Mặc Tử đã trở thành con sông trăng có bến mơ bến đợi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?” (“Đây thôn Vĩ Dạ”) Với Tố Hữu, quên sao được màu xanh của dòng sông quê mẹ? Nó đã gợi thương gợi nhớ trong lòng đứa con li hương suốt đêm ngày trong những năm dài máu lửa, đất nước bị cắt chia: “Hương Giang ơi, dòng sông êm, Qua tim ta, vẫn ngày đêm tự tình” (“Bài ca quê hương”) Hai câu đầu bài ca đã gieo vào lòng ta bao bồi hồi xao xuyến, bao liên tưởng đẹp về sông núi xứ Huế yêu thương. Ai đó đã có lần hát: “Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ – Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt…”. Phải chăng “tình yêu dịu ngọt” ấy trước hết hướng về núi Truồi, sông Hương và nhiều thắng cảnh khác: “Đông Ba, Gia Hội hai cầu, Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông” Và tiếng hò Mái Nhì, Mái Đẩy trên sông Hương những đêm trăng như đưa hồn du khách vào giấc mộng Thiên Thai: “Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá, Lờ đờ bóng ngả trăng thanh, Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non” Trở lại hai câu cuối bài ca dao, ta thoáng gặp hình bóng cô gái Huế: “Nong tằm, ao cá, nương dâu, Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò” “Nong tằm, ao cá, nương dâu”là những nét đẹp của một miền quê có đất đai màu mỡ, có ngành nghề thủ công lâu đời trồng dâu, nuôi tằm dệt lụa. “Ngàn dâu xanh ngắt một màu” trải dài, trải rộng vườn tược, bờ bãi, xóm thôn. “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”(“Đây thôn Vĩ Dạ”). Sau màu xanh của lúa dâu là sân nhà, ngõ xóm vàng óng tằm tơ trong nắng mới. Thấp thoáng bên những “nong tằm, ao cá, nương dâu” là hình bóng cô gái Huế dịu hiền, khéo tay, hay lam hay làm và rất đa tình từng làm si mê nhiều sĩ tử một thời: “Học trò trong Quáng ra thi, Thấy cô gái Huế mà đi không đành” “Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”là câu hay nhất, đậm đà nhất, trong bài ca dao này. “Đò xưa bến cũ” là sắc màu thời gian, là hình bóng què hương yêu dấu. Là hoài niệm chất chứa trong lòng mang nặng tình người đi xa, kẻ ở lại. “Nhớ câu hẹn hò”là nhớ lời thể nguyền giữ trọn một tình yêu son sắt thủy chung. Một chữ “nhớ” thiết tha đinh ninh lời thề. Dù xa cách, em vẫn nhớ mong đợi chờ: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Câu tâm giao, câu hẹn hò thuở ấy của đôi lứa, của kẻ ở lại, người đi xa có bao giờ phai nhạt trong lòng: Cây đa, bến cũ, con dò vẫn dưa”… Bi kịch tình yêu không phải là chuyện hiếm thấy xưa nay? Với cô gái Huế vẫn đinh ninh “Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò”. Cây đa, giếng nước, sân đình, cũng như “đò xưa bến cũ” không chi là “hồn xưa đất nước” mà còn là những chứng nhân cho bao mối tình đẹp thủy chung xưa nay. Bài ca dao từ âm điệu đến ngôn từ, hình tượng đều đẹp mượt mà như một bức tranh lụa tuyệt tác. Gam màu sáng thanh tao. Có màu xanh xanh của núi. Màu xanh trong của* sông. Màu vàng óng của tơ tằm. Màu xanh non của nương dâu. Màu thời gian của “đò xưa bến cũ”. Và màu tím thủy chung của lời thề “nhớ câu hẹn hồ”. “Núi Truồi ai đắp mà cao”là bài ca dao trữ tình đặc sắc nói lên tình yêu quê hương và vẻ ‘đẹp tâm hồn của cô gái Huế. Bài ca dao đã để lại trong tâm hồn mỗi chúng ta một ấn tượng sâu sắc về thiên nhiên và con người xứ Huế. Thi sĩ Thu Bồn từ đất Quảng ra thăm Huế, trong bài thơ “Tạm biệt”có viết: “Xin chào Huế một lần anh đến Đế’ ngàn lần anh nhớ trong mơ Em rất thực mà nắng thì mờ ảo Xin dừng lầm em với cố đô“ Cùng với bài ca dao, mấy vần thơ trên đây, gọi là một chút quà lưu niệm gửi tới những ai gần xa chưa một lần đến thăm Huế quê em.
Bình giảng bài ca dao sau Núi Truổi ai đắp mà cao
1,093
Bình giảng bài ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng Hướng dẫn Trong“Trường ca mặt đường khát vọng” nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu, Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hồn Trống Mái..,” Tinh cảm cao đẹp ấy của người đàn bà nước Nam đã được nói lên thật hay, thật cảm động trong ca dao dân ca của dân tộc. Bài ca dao: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” đã neo giữ trong tâm hổn hàng triệu con người Việt Nam xưa nay. Có thể nói đây là một bài thơ tình dân gian kiệt tác. Thuyền và bến là 2 hình ảnh ấn dụ – nhân hóa giao kết, giao hòa bằng những tình cảm sáu nặng. Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền, khăng khăng mãi trong lòng, không bao giờ có thể đổi thay, phai nhạt. Thuyền và bến tượng trưng cho tình nghĩa sắt son, chung thủy của lứa đôi trong cuộc đời. 1. Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ ngàn vang bồi hồi tha thiết: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng” Chữ “ơi” và chữ “chăng” đã hoa thanh tạo nên nhạc điệu du dương, réo rắt ấy. Tiếng gọi “thuyền ơi” xao xuyến vang lên, lan xa trong không gian, thấm sâu tỏa rộng trong hồn người. Câu hỏi tiếp theo “có nhớ bến chăng” đầy ắp nỗi thương nhớ của đôi lứa ở hai phía chân trời. Sóng cứ vỗ, nước mải miết trôi, bến mồ côi phủ mờ sương khói thời gian. Thuyền đi xa từ dạo ấy, nay đang lênh đênh trên dòng sông nào, ngọn thác nào, góc bể chân trời nào xa lắc? Thuyền đi mãi đi mãi chưa về. “Thuyền ơi có nhớ bến chăng”, câu ca cất lên như một lời than tự thương mình và thương người thấm đầy lệ. Dòng nước chảy xuôi là vô tận. Dòng chảy thời gian là vô cùng. Con thuyền lênh đênh không bến. Bến mồ côi, bến đợi, bến hẹn phủ mờ sương khói tháng năm. Thuyền xa bến, thuyền nhớ bến cũng như chồng xa vợ, vợ chồng thương nhớ nhau, đó là bi kịch biệt li trong cõi nhân gian xưa nay. 2. Hai thanh trắc “một dạ” làm cho giọng thơ trĩu xuống như một nỗi niềm cứ thấm sâu vào hồn người: “Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Bến và thuyền nằm ở hai vị trí đầu, cuối câu ca, cấu trúc ấy mang ý nghĩa thấm mĩ đặc sắc gợi tả một không gian cách biệt xa xăm, một thời gian li biệt dằng dặc. “Khăng khăng” nghĩa là đinh ninh không đổi thay. “Một dạ khăng khăng dơi thuyền” là một lời thề nguyền đã khắc sâu vào lòng, đã “khắc cốt ghi tâm”, đinh ninh son sắt, không bao giờ phai nhạt, đổi thay! Thuyền vẫn đi xa, đi xa mãi chưa trở về, bến vẫn mong, bến vẫn đợi, bến vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”. Càu ca “Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi nhớ thương đợi chờ, tấm lòng son sắt thủy chung của người vợ hiền đối với người chồng thân yêu đi mãi chưa về. Câu ca còn biểu lộ niềm tin và hi vọng vào một ngày mai, thuyền sẽ trở lại bến, bến sẽ gặp lại thuyền, vợ chồng sẽ được đoàn tụ yên vui hạnh phúc. 3. Trong các thế kỉ 17, 18, 19, đất nước ta chìm đắm trong loạn lạc và nội chiến kéo dài. Hàng triệu trai tráng phải ra trận, dãi thây trên các chiến địa. Khắp nơi diễn ra cảnh li biệt buồn thương: “Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non” Biết bao người phụ nữ, nhan sắc, tuổi trẻ mỏi mòn trong những năm tháng chờ đợi. Họ sống trong cô đơn lạnh lẽo, nỗi thương nhớ chồng chất, lòng dạ héo hon: “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời, Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nổi nhớ chàng đau đáu nào xong…” (“Chinh phụ ngâm”) Bài ca dao này chỉ có thể ra đời trong bối cảnh lịch sử và xã hội ấy. Nó đã phản ánh bi kịch gia đình và thời đại, nỗi đau buồn thương nhớ, đợi chờ của lứa đôi. Nó đã ca ngợi tình nghĩa thủy chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam. Ca dao dân ca Việt Nam có nhiều bài lấy hình tượng “thuyền – bến” để nội về tình thương nỗi nhớ trong biệt li xa cách: Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau. Chẳng nên tình trước nghĩa sau, Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền” Bài ca dao “Thuyền ơi có nhớ bến chăng” là tiếng đồng vọng của lòng người vào thời gian năm tháng. Nó giàu giá trị nhân bản phản ánh một thời li loạn và bi kịch cuộc đời. Với giai điệu ngọt ngào thiết tha, nó ca ngợi tấm lòng đôn hậu, tình nghĩa thủy chung của những người vợ, người mẹ trong xã hội. Thuyền và bến là hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp nhân văn, thể hiện một cách độc đáo cảm hứng nhân đạo về tình thương nỗi nhớ, khát vọng được sống trong sum họp yên vui hạnh phúc của lứa đôi. Nó mãi mãi là bài học vô giá về tình nghĩa thủy chung và lòng biết ơn những người mẹ, người chị, người vợ quê ta. Cái hay cái đẹp của bài ca là tính hàm súc, tính truyền cảm, và tính hình tượng. Cuốn “Ngữ văn 7 – tập 2”, văn bản bài ca dao này được ghi như sau: “Thuyền về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Hai chữ “thuyền về” đã làm cho bài ca trở nên nhạt nhẽo và vô nghĩa.
Bình giảng bài ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng
990
Bình giảng bài ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa Trong kho tàng văn học nước ta có rất nhiều bài ca dao nói về tình yêu lứa đôi. Có bài ca dao nói về tình yêu đẹp của đôi trai gái có bài thì nó về sự chia xa của đôi trai gái. Mặc dù học không đến được với nhau nhưng họ vẫn rất thân mật và lịch sự đối đáp với nhau đặc biệt họ sử dụng những ngôn từ văn học để để nói. Và bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa” là một bài ca dao tiêu biểu về sự chia xa không đến được với nhau của một đôi trai gái: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em đã có chồng anh tiếc lắm thay! Ba đồng một mớ trầu cay, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra? Mở đầu của bài ca dao là hành động của chàng trai: “Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân” Hành động “trèo lên” và “bước xuống” là hình ảnh ẩn dụ về cuộc sống đi tìm tình yêu của chàng trai. Nhưng một điều là thời gian thì mãi trôi và rồi con người cũng trở lên có tuổi hơn. Mùa xuân thì qua đi rồi “hoa bưởi” cũng phải kết trái, người con gái xinh đẹp ngày nào đâu còn nữa mà chỉ còn “nụ tầm xuân”. Nhưng sự thật thì lại phũ phàng: Em có chồng anh tiếc lắm thay!”. Thường người ta biết đến loài hoa tầm xuân với màu trắng nhưng trong câu ca dao này nó lại trở thành màu xanh. Vì sao lại ví nụ tầm xuân là màu xanh? Bởi vì màu xanh trong ánh mắt của chàng trai là sự tiếc nuối khôn nguôn khi mà người con gái đã có người yêu và lấy chồng. Từ “xuân” và “nụ tầm xuân” gợi cho người đọc nghĩ về tuổi trẻ và những kỉ niệm tình yêu đẹp ấy vậy mà giờ đây người con gái đã đi lấy chồng. Chàng trai không biết làm gì chỉ than thở tiếc nuối “Em đã lấy chồng anh tiếc lắm thay!”. Như vậy chàng trai này giờ là một kẻ si tình chỉ biết đứng nhìn người con gái mình yêu đã đi lấy chồng. Sau khi nghe những giãi bầy của chàng trai cô gái cũng liền đáp lại: “Ba đồng một mớ trầu cau Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không” Trông gái trách chàng trai sao không hỏi cưới cô lúc cô chưa đi lấy chồng. Cô cũng muốn cùng anh xây dựng hạnh phúc vậy mà sao anh không hỏi. Cô đâu có đòi hỏi những gì quá là cao xa “ba đồng” với “mới trầu cau” tất cả rất giản dị ấy vậy mà chàng trai cũng không làm. Khiến cô gái giận hờn và trách chàng trai không yêu mình nên đã đi lấy chồng. Đến đây ta càng thấy rõ được chàng trai rất thích cô gái nhưng vì không dám thổ lộ về chuyện cưới xin nên cô gái không biết và đã chấp nhận làm trầu cau nhà khác. Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu. Cô gái muốn nói với chàng trai rằng cô đã lấy chồng “ chim vào lồng”, “cá cắn câu” không còn tự do như lúc trước nữa. Vì thế có câu: “Gái có chồng khi gông đeo cổ” Rồi cô gái lại nói tiếp về hoàn cảnh của mình: “Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra” Hai câu thơ này nói về cuộc sống thực tại của cô gái khi ở nhà chồng. Người phụ nữ khi đi lấy chồng đã trở thành con nhà người ta mọi thứ phải nghe theo sự sắp đặt của nhà chồng chứ không được lên tiếng mà phải chăm chịu sống phận. “Chim vào lồng” thể hiện sự chặt hẹp và ngột ngạt trong tâm hồn của cô gái khi đã về nhà chồng. Mà chim đã vào lòng rồi thì làm sao mà ra được cô gái hoàn toàn mất tự do và phải chịu sự nghe lời của nhà chồng. mặc dù cô gái đi lấy chồng nhưng khi gặp chàng trai cô vẫn còn tình cảm với chàng và chàng trai vẫn còn tình cảm với cô. Biết vậy nhưng cả hai người đều chẳng thể làm gì để đến được với nhau và họ cũng không thể vượt qua được khuôn khổ đạo lí của lễ giáo từ đây trở thành một bi kịch lớn trong tình yêu khiến cả hai đều rất day dứt trong lòng. Cô gái trong bài thơ cũng rất ý thức được cuộc sống và hoàn cảnh của bản thân nên hiện tại chỉ than thở để cho chàng trai hiểu mình.
Bình giảng bài ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa
853
Bình giảng bài ca dao Tát nước đầu đình Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Tát nước đầu đình Kho tàng văn học nước ta rất phong phú và đa dạng với những câu ca dao, tục ngữ luôn in sâu vào tâm hồn con người việt. Như những câu ca dao về mẹ, về thầy cô, về anh em bạn bè, về tình yêu đôi lứa…Từ đó làm cho chúng ta thấy được hình ảnh cũng như tình cảm mộc mạc giản dị của con người xưa. Và bài ca dao “Tát nước đầu đình” cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu rất hay về tình yêu đôi lứa. Đây là một bài tỏ tình, bài giao duyên bắt đầu bằng những câu thơ giản, dị mộc mạc mà quen thuộc. “Hôm qua tát nước đầu đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen. Có được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà? Áo anh sứt chỉ đường tà, Vợ con chưa có, mẹ già chưa khâu, Áo anh sứt chỉ đã lâu. Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng”. Chàng trai này có một cách tán gái rất độc đáo, chàng viện cớ bỏ quên áo trên cành hoa sen để được bắt chuyện cùng nàng. Mà trong khi đó như chúng ta đã biết đã là sen thì làm gì có cành vậy mà chàng trai trong câu ca dao lại nói quên áo ở cành hoa sen. Có lẽ cô gái mà anh chàng nhắc đến là người anh thương nhớ rất lâu rồi nhưng do ngại nên anh chưa dám bắt chuyện để hôm nay anh đã viện cớ để cùng nói chuyện với cô. Chúng ta đã từng thấy trong kho tàng văn học có rất nhiều bài giao duyên nhắc về chiếc áo: Đêm khuya em đắp, gió tây lạnh lùng”. Từ đây chiếc áo đã trở thành vật nối duyên. Câu nó thật hay và mộc mạc đúng chất dân dã của thôn quê xưa. “Có được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà?” Chàng trai vừa viện cớ vừa đùa khiến cô gái cười e thẹn. Có lẽ khi con gái đến tuổi dậy thì là độ tuổi xinh xắn và đẹp nhất nên nụ cười e thẹn của cô cũng khiến chàng trai khá là tâm đắc và yêu thầm. Để từ đó đơn phương mà bây giờ mí có dịp bầy tỏ. Rồi chàng trai lại kể về gia cảnh của bản thân: “Áo anh sứt chỉ đường tà, Vợ con chưa có, mẹ già chưa khâu” Theo ý chàng trai nói anh chưa có vợ con mà mẹ thì già mắt đã kém nên áo anh bị sứt chỉ đã lâu mà chưa được ai vá giúp. Hôm nay gặp cô gái nên anh muốn cô giúp anh khâu chiếc áo. Chàng trai này thật ngụ ý “sứt chỉ” không chỉ nó về chiếc áo mà nó cả về đường tình duyên của mình. Đã lâu chưa có người yêu và bây giờ muốn lấy cô về làm vợ. Đồng thời mẹ chàng trai đã già anh muốn có người chăm sóc để anh có thể yên tâm lập nghiệp. Anh đến với cô hoàn toàn bằng tình yêu chân thành nên anh muốn hai người được nên duyên vợ chồng nên hỏi ý cô ra sao. Rồi chàng lại nói tiếp: Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng. Khâu rồi anh sẽ trả công Đến lúc lấy chồng, anh sẽ giúp cho, Giúp cho một thúng xôi vò Một con lợn béo, một vò rượu tăm, Giúp cho đôi chiếu em nằm, Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo, Giúp cho quan tám tiền cheo, Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau…” Như vậy qua đoạn ca dao này ta càng thấy rõ tình cảm của chàng trai. Chàng trai như hứa hẹn với cô gái về một đám cưới đầy đủ lễ nghi theo phong cách truyền thống của dân tộc, một cuộc sống tuy không mấy giàu sang nhưng cũng đủ cơm áo để ăn để mặc. “Giúp cho quan tám tiền cheo, Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau…” Chàng đến với cô bằng tình yêu chân thành, mãnh liệt và thủy chung. Chàng trai mong cô gái sẽ về làm vợ mình và con dâu ngoan hiền của mẹ. Để cho cô gái hiểu hết về hoàn cảnh của gia đình mình. Tiếp đó chàng trai lại nhắc đến trầu cau. Thường trầu câu dùng để mở đầu chuyện và tượng trưng cho tình cảm nên duyên vợ chồng. Ca dao xưa có rất nhiều câu nói về trầu cau: Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau khô ăn với trầu vàng xứng không? Tình yêu ngày xưa thật mộc mạc và giản dị họ đến với nhau bằng những câu hát giao duyên, những gần gặp gỡ ở đầu đình. Họ không nói anh yêu em mà thay vào đó là những hình ảnh mộc mạc chứng tỏ tình yêu chân thành của mình đối với người con gái mà họ yêu thương.
Bình giảng bài ca dao Tát nước đầu đình
833
Bình giảng bài ca dao Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng… Hướng dẫn Bình giảng bài ca dao Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng… Cô kia cắt cỏ một mình Cho tôi cắt với chung tình làm đôi Cô còn cắt nữa hay thôi Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng. Nước ta có một kho tàng văn học rất phong phú và đa dạng. bao gồm những câu hát giao duyên, những câu đối tỏ tình đầy lãng mạn nhưng mang đậm truyền thống dân quê của nước ta. Đây là nét đẹp truyền thống của nhân dân ta mang tính nhân văn sâu sắc. Trong đó có bài ca dao: “Đêm trăng thanh, anh mới hỏi nàng, Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng? Đan sàng thiếp cũng xin vâng, Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng?”. Đây là một bài giao duyên rất hay về tình yêu đôi lứa. Trong khung cảnh đêm hè mùa thu có trăng thanh gió mát phong cảnh thật là hữu tình. Đồng thời trai gái trong xóm cũng đang ở dưới một mái sân đình tụ tập đông vui cùng múa hát và đối đáp giao duyên đầy tình nghĩa. Từ đó, mà các chàng trai đã mở lời tỏ tình mới những người con gái mà họ thích. Cách tỏ tình của các chàng trai cực kì là tình tứ và tế nhị và các cô gái đối đáp lại cũng như thế. Đây là một nét đẹp của con người việt nam xưa. “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng” Tình yêu chốn thôn quê thật là mộc mạc và giản dị gắn liền với những hình ảnh mộc mạc của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Chàng trai trong bài ca dao tận dụng khung cảnh đất trời lúc này để dãi bầy tâm ý với cô gái. Trong khung cảnh đẹp đẽ nên thơ ấy có một người con gái rất xinh đẹp đứng trước mặt nên chàng trai. Chàng trai rất mạnh mẽ đã bắt đầu mở lời với cô gái. Chàng trai mượn hình ảnh “tre non” ý muốn nói cây tre non mới mọc đang độ tuổi xanh thì giống người con gái đang ở độ tuổi xuân xanh đẹp nhất của cuộc đời đã lớn và đủ tuổi để lập gia đình “Tre non đủ lá, đan sàng nên chăng”. Chàng hỏi cô đã đủ tuổi lập gia đình chưa và ý chàng muốn nói nếu đủ rồi và cô chưa có người thương thì chàng muốn lấy cô về làm vợ. Qua đây ta thấy hình ảnh cây tre thật đẹp tượng trưng cho độ tuổi và tình yêu của đôi trai gái đồng thời người ta chặt che để làm sàng. Chàng trai lấy hình ảnh “nên sàng” để tượng trưng cho một đám cưới và hạnh phúc sau này. “Gặp đây anh nắm cổ tay, Anh hỏi câu này có lấy anh không?” Sau đó là lời đối đáp của cô gái cũng tế nhị và hài hước không kém: “Đan sàng thiếp cũng xin vâng, Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?”. Đây là một cô gái cũng rất thông minh và tinh tế cô cũng dùng hình ảnh ẩn dụ để nói về bản thân mình. Bốn chữ “ thiếp cũng xin vâng” có âm điệu nhẹ nhàng và đầy sự dịu dàng và lễ phép một phẩm chất đẹp của người con gái. Người con gái như muốn nói với chàng trai rằng cô chấp nhận lời tỏ tình của chàng trai. Ở đây cô không dùng từ “em” để đáp lại mà cô dùng từ “thiếp” ý muốn nói về sự đoan trang và đức hạnh đẹp của con người cô. Nói về “thiếp Hồ Xuân Hương có câu “ Thiếp bén duyên chàng có thế thôi”. Chỉ khi nói Chữ thiếp thì với sánh được với chữ chàng để tạo sự hài hòa và đồng thuận ở trong tâm của hai con người. Ở trong câu nói này người con gái đã chấp nhận lời tỏ tình của chàng trai và ý đáp nhận mình là vợ tương lai của chàng. Người con gái nhấn mạnh “ tre vừa đủ lá” nghĩa là cô gái vừa đủ tuổi lập gia đình nên rất là tươi đẹp. Tiếp câu khẳng định về độ tuổi của mình cô gái lại nhẹ giọng nói tiếp “non chăng hỡi chàng” ở đây cô muốn nói rằng cô đã lớn và cô khẳng định nhân cách của mình có đủ phẩm hạnh để bước vào đời bước vào cuộc sống hôn nhân của mình. Một lần nữa bài ca dao này đã khẳng định nét đẹp và kho tàng văn học truyền thống nước ta rất là phong phú và đa dạng. Những bài ca dao như âm hưởng của cuộc sống luôn vang vọng trong tâm trí con người Việt không bao giờ quên về lịch sử dân tộc.
Bình giảng bài ca dao Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng…
820
Bình giảng bài ca dao Đồng Đăng có phố Kì Lừa Hướng dẫn ‘Đồng Đăng hữu phố, Kì Lừa quyết danh. Thạch hữu Tô Thị, Tự hữu Tam Thanh. Dư giã giai hĩ, Vô thiếm sơ sinh…’ Đối chiếu thơ chữ Hán của Tam Nguyên Yên Đổ, ta có thể xác định được diện mạo bài ca dao gồm có 14 câu lục bát. Bài ca dao là lời nhắn gửi bạn tình phương xa, cùng anh lén xứ Lạng, nói như thi sĩ Tản Đà, đó là ‘Thư đưa người tình không quen biết’ nghe mênh mang. Hai cáu cuối mang máng như một lời sấm kí truyền kì: ‘Bao giờ chùa lở xuống sông, Đá tảng trôi mất, ngô đồng chơ vơ” Bốn câu trong đoạn đầu là hay nhất, dễ hiểu nhất: ‘Đồng Đăng có phố Kì Lừa, Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh, Ai lên xứ Lạng cùng anh, Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…’ Hai câu đầu với cách ngắt nhịp 2/4/4/4/ bằng ba nét vẽ, nhà thơ dân gian đã giới thiệu một cách khái quát cảnh sắc Đồng Đăng thuộc tỉnh Lạng Sơn của đất nước ta: ‘Đồng Đăng/ có phô’Kì Lừa, Có nàng Tô Thị/ có chùa Tam Thanh’ Phố Kì Lừa có chợ Kì Lừa nổi tiếng phồn hoa đô hội. Đó là một chợ biên giới Việt – Trung, không chỉ phong phú về hàng hóa, về lâm thổ sản, mà còn nổi tiếng về chợ tình vùng cao. Giai điệu dân ca miền núi lơ lửng, chơi vơi, với sắc phục màu chàm, với những ngựa thồ sa nhân, hồi, măng khô, mộc nhĩ, những cô gái, chàng trai Nùng, Thổ, Tày… quấn quít bên nhau, đã trở thành nếp sống vật chất, tinh thần, một nét đẹp văn hóa giàu bản sắc đã bao đời nay. Mấy trăm năm về trước đã thế, ngày nay vẫn thế, tuy màu sắc có hiện đại hơn. Ai đã một lần trong đời mình đến thăm phố Kì Lừa, đi xem chợ Kì Lừa? Kì Lừa tiếng Thổ là Khâu Lừ. Đồng bào Thổ Lạng Sơn gọi chợ Kì Lừa là háng Khau Lừ (háng: chợ; khau: núi đất; lừ: lửa). Chợ Kì Lừa nằm gần bờ sông Kì Cùng ngày nay. Hai câu ca dao đã giới thiệu và ca ngợi cảnh sắc kì thú hữu tình của Đồng Đăng, là ‘nơi phên giậu thứ ba về phía Bắc’ (‘Dư địa chí’ – Nguyễn Trãi) của Đại Việt. Nó như dẫn hồn người gần xa, những du khách chìm sâu vào huyền tích, huyền thoại, tìm thấy bao niềm vui, bao nỗi niềm man mác bàng khuâng về một địa danh trên ải Bắc, giàu truyền thống lịch sử và có nền văn hóa lâu đời. Chữ ‘có’ được điệp lại ba lần diễn tả niềm say mê, hứng thú và tự hào của người dân xứ Lạng, của du khách khi đứng trước bao cảnh đẹp, bao di tích văn hóa. Cũng là lối tả ít mà gợi nhiều, hai câu ca đã mở ra một không gian nghệ thuật, như một cuộn phim mẩu. Cảnh vật từ từ xuất hiện: phố Kì Lừa…, nàng Tô Thị,… chùa Tam Thanh,… có biết bao liên tưởng đồng hiện về cảnh vật con người xứ Lạng. Về mặt cấu trúc, hai câu ca dao này mang tính định hình cho những bài nói về quê hương đất nước: – ‘Bắc Cạn/ có suối đãi vàng, Có hồ Ba Bể I có nàng áo xanh’ – ‘Bình Định/ có núi Vọng Phu, Có đầm Thị Nại/ có cù lao Xanh’ Hai câu tiếp theo là lời nhắn gọi, vẫy gọi: ‘Ai lên xứ Lạng cùng anh, Bõ công bác mẹ sinh thành ra em’ ‘Ai’là đại từ phiếm chỉ, nói về tất cả mọi người. Đọc ca dao, nghe hát dân ca nhiều lúc ta cảm nhận có mình trong đó. Trong ca dao dân ca, trong văn cảnh này, chữ ‘ai’ thường hướng về những cô gái xinh đẹp trên mọi miền đất nước. ‘Ai lên xứ Lạng cùng anh’ để có đôi, có bạn tình cùng san sẻ niềm vui nơi phồn hoa đô hội. Được ‘cùng anh’ hành hương đến văn cảnh chùa Tam Thanh, đến chiêm ngưỡng nàng Tô Thị, em sẽ ‘cùng anh’ đi chơi phố, chơi chợ Kì Lừa. Hai chữ ‘cùng anh’ – cùng sánh vai anh, thể hiện chít phong tình, hào hoa của chàng trai đang nhắn gọi, vẫy gọi trong du xuân, trẩy hội: ‘Dập dìu đôi lứa thanh tân, Cùng đi trẩy hội chùa gần chùa xa’ Có đi lên xứ Lạng ‘cùng anh’ mới thỏa nỗi ước mong, mới ‘bõ công bác mẹ sinh thành ra em’, kẻo phí đi, kẻo hoài đi một thời xuân trẻ. ‘Bõ công’ nghĩa là đáng công, xứng công. Công ở đây là công sinh thành của cha mẹ đã sinh đẻ, bú mớm, nâng niu, nuôi dưỡng, dạy bảo em nên người. ‘Công cha nghĩa mẹ đức cù lao’. Chữ ‘bác mẹ’ nghĩa là cha mẹ, một cách gọi tôn kính người cha. Với phong cách phong tình hào hoà, với lối nói thậm xưng, tác giả đã ca ngợi cảnh đẹp Đổng Đăng là một cảnh đẹp hiếm có trên đời. Một cách tỏ tình bâng quơ thế mà đã làm xao xuyến tâm hồn bao thiếu nữ gần xa xưa nay. – ‘Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu, Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cẩu nhuộm thâm. Nào ai đi chợ Thanh Lăm, Mua anh một áo vải thâm hạt dền’ – ‘Ai về Tuỳ Phước ăn nem, Ghé qua Hưng Thịnh mà xem Tháp Chàm’ Đoạn ca dao trên đây đã phản ánh một nét đẹp trong tâm hồn con người Việt Nam: Đó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm khao khát được sống trong tình duyên hạnh phúc khi lễ hộì mùa xuân đã về. Chất dân dã với chất phong tình hào hoà, vẻ đẹp văn hóa với sinh hoạt đời thường kết hợp một cách hài hòa nên thơ. Phép liệt kê, cách nói thậm xưng đã tạo nên sức hấp dẫn hồn nhiên, tình tứ, gợi cảm. Đọc đoạn ca dao trên, ta như được sống lại trong không khí lễ hội mua xuân, tưởng như đang được cùng ‘ai’ hành hương về Đồng Đăng xứ Lạng, cùng đến chơi phố, chơi chợ Kì Lừa, cùng say mê ngắm nàng Vọng Phu, cùng thăm hang động, chùa Tam Thanh. Để rồi cùng ‘ai’ trầm ngâm: ‘Ai ơi đứng lại mà trông, Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ’
Bình giảng bài ca dao Đồng Đăng có phố Kì Lừa
1,074