text
stringlengths 78
4.36M
| title
stringlengths 4
2.14k
| len
int64 18
943k
| gen
stringclasses 1
value |
|---|---|---|---|
Bài viết số 2 lớp 9 (bài tổng hợp)
Hướng dẫn
Bài viết số 2 lớp 9 đề 1: Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường xưa vào 1 ngày hè, hãy viết thư cho 1 bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động đó.
Nam Hải thân mến!
Đã lâu rồi không gặp lại cậu. Thời gian vun vút như thoi đưa, mới gặp nhau kỳ Tết vậy mà bây giờ hè đã sang. Hải có khỏe không? Cuộc sống gia đình bạn thế nào? Thùy và hai cháu vẫn ổn cả chứ? Còn gia đình mình vẫn bình thường. Hai cháu Anh Dũng và Đỗ Uyên vẩn khỏe, ngoan và học giỏi.
Nam Hải à! Thời gian này bạn hay về quê không? Bạn có biết tin gì về tập thể lớp 9E ngày xưa không? Tháng trước, sau khi đã chuẩn bị xong công việc cho buổi hội thảo ngày mai ở công ty, mình bật Ti-vi theo dõi chương trình buổi tối, mình vô cùng ngạc nhiên khi mình thấy chuyên mục Văn hóa – Xã hội đang giới thiệu về trường THCS Hòa Phú, nơi chúng mình học ngày xưa. Vẫn còn những quang cảnh ấy nhưng khi ngắm nhìn trên màn ảnh nhỏ, mình thấy vừa quen vừa lạ. Kỷ niệm cũ bỗng được đánh thức sau một thời gian dài ngủ yên trong tiềm thức. Vừa qua, sau khi bàn bạc với gia đình, mình quyết định cùng người thân về thăm quê và trên hết là để thăm lại mái trường thân yêu mà ngày nào chúng mình đã học.
Những tia nắng rực rỡ của mùa hè như theo bước mình tới trường. Trường nằm cạnh đường quốc lộ, nhưng cổng lại cách trường khá xa. Con đường rải đá vụn đến cổng trường ngày xưa nay đã được rải nhựa. Thấp thoáng sau những rặng cây um tùm, ngôi trường thân yêu sừng sững như một vị thần khổng lồ hiện ra trước mắt người học trò cũ. Trước cổng trường, hàng cây hoa sữa vẫn còn đó, trang nghiêm như nhũng người gác cổng trung thành với ngôi trường mến yêu. Khi đi dưới hàng hoa sữa mùi hương của nó làm mình buâng khuâng, cái mùi bùi bùi khiến mình nhớ lại rất nhiều kỷ niệm của tuổi học trò đầy ước vọng và khao khát đó. Nhưng nay hàng cây này đã lớn dần theo năm tháng và nó cũng mang theo bao ước mơ của chúng mình Hải nhỉ! Phía sau dãy hoa sữa là hai cột cổng khá cao, được xây vững chắc, đỡ tấm biển màu trắng với hàng chữ ngay ngắn, sắc nét: "Trường trung học cơ sở Hòa Phú".
Nam Hải à! Bước vào sân, điều gây ấn tượng với mình đầu tiên đó là dãy bàng ngày xưa tụi mình trồng nhân ngày khai trường, giờ đã xòe tán rộng giữa sân giang tay chào đón bạn bè xưa trở lại. Phía hai đầu sân là những cây phượng, với từng chùm hoa đỏ thắm khoe sắc giữa vòm trời xanh biếc. Màu hoa phượng, màu sắc của tuổi học trò. Nó làm mình nhớ khi ngày xưa tụi mình thi nhau trèo lên bứt nhụy của hoa phượng để chơi trọi gà. À mà này! Hải ơi, trên một cành phượng mình vô tình phát hiện ra một tổ ong với những chú ong thợ tất tả bay đi bay lại, chăm chỉ làm việc. Đó cũng là một kỉ niệm đẹp phải không? Khi mình bị ong đốt vào má sưng vù lên, còn bạn thì bị đốt vào cổ trông to như cái bướu. Chẳng lẽ thời gian trôi nhanh vậy sao? Mình không khỏi chạnh lòng khi nhớ lại kỷ niệm của ngày xưa. Vậy mà giờ đây mỗi người mỗi ngã với những số phận, những công việc, những môi trường khác nhau.
Ngoài dãy lớp học ba tầng cũ, trường xây thêm hai dãy lớp ba tầng nữa được xếp theo hình chữ U ôm lấy chiếc sân được đổ bê tông. Giữa sân là cột cờ cao chót vót với lá quốc kỳ uốn mình trong gió. Trường vừa được sơn lại màu hồng phấn còn mới. Dọc theo hành lang trước các phòng học ở tầng một vẫn là những bồn hoa, được bao bọc bởi hàng tóc tiên, bên trong là những đám hoa mười giờ xen lẫn với những đám bông nhỏ như những chiếc cúc áo sặc sỡ. Trước mỗi lớp học đều có bảng ghi tên lớp với nền màu xanh và chữ trắng. Tầng ba của khu mới xâycó những phòng vi tính, phòng thiết bị, thư viện, căng-tin…cửa kính sáng choang. Tất cả tạo nên khung cảnh vừa hiện đại vừa cổ kính. Và mình cũng biết được thầy hiệu trưởng năm xưa dìu dắt lớp mình, trước khi về hưu đã cố gắng xây dựng được một ngôi trường khang trang và đầy đủ tiện nghi như bây giờ cho các học sinh thân yêu của mình được học tập trong một môi trường tốt đẹp nhất.
Sân trường vắng lặng và yên tĩnh khiến cho mình nhớ đến khi xưa khoảng cuối tiết ba bỗng ba tiếng trống vang lên không khí ồn ào bắt đầu nổi lên từ các lớp. Rồi từng đợt, từng đợt học sinh chạy ra như ong vỡ tổ. Sân trường im lặng bổng trở nên nhộn nhịp, giá như bây giờ tụi mình được trở về thời học trò ngày xưa thì tốt biết mấy nhỉ?
Nam Hải à! Khi lên phòng hiệu trưởng, mình nói chuyện với thầy Minh hiệu trưởng mới. Nghe thầy nói, mình mới biết phần lớn các thầy cô dạy chúng mình ngày xưa giờ đã nghỉ hưu hoặc đã chuyển trường. Cô chủ nhiệm lớp mình đã chuyển về quê cùng gia đình.
Hải à! Bây giờ nhớ lại những kỷ niệm về cô thì mình lại ân hận vì đã nhiều lần làm cô buồn, nhưng cô không một lời trách mắng mà còn ân cần như một người mẹ hiền nhắc nhở con của mình đừng nên mắc lỗi nữa, mà hãy cố gắng học tập để không phụ lòng thầy cô và cha mẹ. Cũng vì những lời đó mà mình đã cố gắng học tập và có được như ngày hôm nay. Ước gì bây giờ được gặp lại cô, mình sẽ cảm ơn cô rất nhiều vì đã rộng lượng bỏ qua nhưng lỗi lầm trước đây của mình. Mặc dù không gặp được cô nhưng mình mong cô có một cuộc sống hạnh phúc và an dưỡng tuổi già bên người thân của mình.
Sau một hồi trò chuyện, thầy Minh cho mình biết, nhiều năm qua trường mình đứng đầu toàn thành phố về kết quả học tập và còn được công nhận là lá cờ đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Mặc dù trường mình chỉ là trường ven thành phố nhưng cũng đã có nhiều anh chị đi trước thi đỗ vào những trường danh giá của tỉnh như: trường chuyên Nguyễn Du, THPT Buôn Ma Thuột, trường thực hành Cao Nguyên…Cậu có thấy tự hào không?
Tạm biệt ngôi trường để trở về với cuộc sống và công việc thường ngày, mình luôn nhớ lại những kỷ niệm đẹp về nó. Trong cuộc đời mỗi con người, thời học trò là quãng đời đẹp nhất và trong sáng nhất. Vì vậy chúng mình cần nâng niu và trân trọng nó Hải nhé!
Cuối thư mình mong bạn và gia đình gặp nhiều điều tốt lành trong cuộc sống. Nhớ hồi âm cho mình sớm nhé.
Có thể tham khảo thêm tại đây: Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường xưa vào 1 ngày hè, hãy viết thư cho 1 bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động đó
Bài viết số 2 lớp 9 đề 2: Kể lại 1 giấc mơ, trong đó em gặp lại người thân lâu ngày xa cách.
Đã bao giờ bạn tin rằng sau một giấc mơ những điều bạn hằng mong ước bấy lâu nay sẽ biến thành sự thật, y như một câu chuyện cổ tích chưa? Đã có lúc tôi rất tin vào điều đó và rồi lại phải thất vọng. Nhưng tôi luôn nhớ khoảnh khắc mà chỉ giấc mơ kì diệu mới đem đến cho tôi, như vừa mới xảy ra đây thôi.
Năm tôi học lớp năm, vào Tết năm ấy cũng là lúc ông tôi qua đời. Người ông mà tôi hằng kính yêu đã vĩnh biệt tôi trước khi kịp đón Tết cùng tôi. Tôi buồn bã vô cùng và tự nhủ sẽ không bao giờ tôi được đón một cai tết có ông bên cạnh nữa. Mấy năm sau vào lúc sắp sửa bốc mộ ông tôi và gần đến tết, lòng tôi lại bâng khuâng nhớ đến cái tết năm nào. Tôi thắp một nén hương lên bàn thờ ông, hi vọng cháy bỏng được nhìn lại ông bên mâm cơm giao thừa lại bùng lên trong tôi, y như hồi còn nhỏ. Hôm đó là ngày 29 Tết, trước đúng một ngày vào cái năm buồn bã ấy, ông tôi mất. Tôi nghe mẹ đi ngủ sớm để ngày mai còn theo mẹ đi chợ. Lòng tôi chộn rộn mãi không sao ngủ được. Mắt tôi nhòa đi.
Tôi đang nằm trên chính chiếc giường mà ông tôi đã nằm ngày trước. Đến khi mẹ tôi tắt đèn đầu giường, tôi mới thiếp đi.
Một lúc sau có tiếng bước chân bên giường tôi, tôi choàng tỉnh dậy. Thật hay mơ đây, trước mắt tôi là người ông hiền hậu đã xa cách tôi bấy lâu nay. Ông bảo tôi dậy rửa mặt để đi cùng mẹ, sáng đó đã là ngày 30 Tết. Tôi ôm lấy ông, bảo sao ông đi lâu thế. Ông chỉ mỉm cười, lấy tay lau nước mắt cho tôi. Tôi nhìn ông không chớp mắt, vẫn dáng người cao cao như thế, vẫn khuôn mặt hồng hào, phúc hậu như xưa. Mái tóc ông bạc trắng, tôi còn nhớ lúc ông ra đi tóc ông mới chỉ lốm đốrn bạc. Ông tôi bận bộ com-lê màu ghi, tuy cũ mà phẳng phiu, trông ông thật đẹp lão. Tôi chưa được ngồi cùng ông lâu thì nghe tiếng mẹ gọi: “Con ơi mau đi chợ với mẹ, Tết đến rồi mà còn ngủ à?” – Tôi dạ và vội nói với ông: “Ông ơi ông ở nhà nhé! Ông chờ cháu về rồi dẫn cháu đi chơi ông nhé!”. Ông gật đầu, bảo tôi đi kẻo mẹ chờ.
Sau khi đi chợ xong, tôi chạy ù té vào phòng quên cả đặt thức ăn vào bếp. Nhìn thấy ông đang đọc sách, tôi mừng lắm. Ông bảo với tôi rằng ông sẽ dẫn tôi đi chợ Tết, chọn một cành đào thật đẹp về cắm trong nhà. Tôi mừng rỡ, tíu tít giục ông đi ngay. Ông vẫn nhớ ý thích của tôi như hồi tôi còn nhỏ. Ông chở tôi trên chiếc xe đạp cọc cạch ông vẫn thường đi. Trên chiếc xe đạp này, đã bao lần ông đèo tôi đến nhà trẻ. Tôi sẽ nhớ mãi những giây phút ấy. Tôi cùng ông đi giữa phố phường, cảm thấy Tết năm nav nhộn nhịp hơn các năm trước. Phố xá đông nghìn nghịt, dường như ai ai cũng muốn ra đường để sắm sửa cho Tết.
Rồi hai ông cháu cũng đến được chợ hoa ngày Tết. Mới từ đầu vào tôi đã thấy tấp nập bao nhiêu là người, từ những cô gái đến những người phụ nữ lớn tuổi. Phải một lúc lâu sau, ông tôi mới gửi được xe và dẫn tôi đi xem cây cảnh. Chợ hoa ngày Tết mở ra trước mắt tôi vô số loài hoa rực rỡ khoe sắc. Nào là hoa lay-ơn, hoa thược dược, nào hoa cúc, hoa vi ô- lét. Có những loài hoa tôi chưa biết tên, có những loài hoa tôi không hề biết. Ông tôi vốn là thầy giáo dạy Sinh học nên chỉ cho tôi biết bao nhiêu là hoa thật độc đáo. Vừa nghe ông nói vừa ngắm các loại hoa, tôi bỗng thấy mở mang thêm nhiều điều. Nhiều điều trước đây tôi thờ ơ giờ hiện lên rõ ràng trong trí óc tôi tựa như những bông hoa ngày càng tươi tắn, đầy sức sống hơn. Ông dẫn tôi xem hoa một lúc rồi cùng tôi chọn một cành đào ưng ý. Tôi rất thích cành đào với đầy hoa màu hồng nở rộ. Nhưng ông tôi chỉ chọn một cành đào mới chớm nở vài ba bông hoa, còn lại là biết bao nụ hoa xanh mướt và những lá non. Ông bảo với tôi rằng, tuy bây giờ cành đào không đẹp nhưng chỉ một hai hôm sau Tết đào sẽ nở đầy hoa rất đẹp và lâu tan. Tôi mới vỡ lẽ cành đào ấy bây giờ đây ẩn chứa bao điều đẹp đẽ với tôi và ông trở thành một ông tiên hiểu tất cá những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
Tôi giữ sự ngưỡng mộ ấy như hồi thơ bé, ông như người thầy giáo mở ra cho tôi bao điều lí thú để tôi khám phá. Và ông đã thay mẹ tôi dạy tôi học khi còn tiểu học. Ông cháu tôi ra về. Tôi ngồi sau giữ cành đào còn ông mải miết đạp xe về đến nhà, tôi khoe ngay cánh đào, bà bảo có cành đào nhiều lộc này, Tết năm nay sẽ vui lắm đây. Ông chỉ mỉm cười, nụ cười đồng tình lẫn niềm vui rạng rỡ. Đêm đến, gia đình tôi sum họp quanh mâm cơm giao thừa. Tôi hạnh phúc biết nhường nào bởi có ông tôi bên cạnh, ông không xa tôi nữa. Chỉ còn ba tiếng nữa là đến giao thừa, tôi chỉ mong được sống mãi những giờ phút này, mong thời gian đừng trôi quá nhanh để luôn có tình yêu thương của mọi người trọn vẹn bên tôi. Tôi cũng thầm hứa với bản thân sẽ mãi ngoan ngoãn như hôm nay để ông khỏi phiền lòng. Vậy mà sao ngày hôm nay qua thật mau. Đã đến giao thừa rồi. ông vuốt lên mái tóc tôi, bảo tôi ở nhà, ông sẽ hái lộc đầu năm mới cho tôi. Tôi dạ và hứa sẽ thức đợi ông về.
Ông đi rồi tôi cố thức, nhưng sao cơn buồn ngủ cứ kéo đến, kéo sụp hai mí mắt tôi lại. Tôi thiếp đi lúc nào không biết. Tôi nghe thấy những tiếng gọi rồi tiếng lịch kịch. Tôi mở mát choàng dậy. Bây giờ đã sáng rồi sao? Tôi ngạc nhiên quá. Tôi nháo nhác tìm ông mà không thấy đâu Thật kì lạ, mới lúc trước tôi còn mường tượng bàn tay khẳng khiu ông đặt lên đầu tôi cơ mà. Tôi xem lại lịch, hôm nay là ngày ba rnươi Tết. Tôi òa khóc, vậy đó chỉ là một giấc mơ. Giấc mơ quá thực khiến tôi hụt hẫng và buồn rầu. Ông tôi đã ra đi thật chứ không về lại với tôi như tôi tưởng. Tôi nuối tiếc giấc mơ hạnh phúc. Tôi thầm tự hỏi: Liệu trong mơ nếu tôi thức chờ ông, tôi có gặp lại ông không? Nhưng cuộc sống không dừng lại để tôi nuối tiếc, tôi chuẩn bị quần áo đi chợ cùng mẹ. Tôi có kể lại cho mẹ giấc mơ, mẹ chỉ im lặng, chắc tâm trạng mẹ khó có thể nói thành lời.
Giấc mơ chỉ là sự mong ước tưởng tượng, chuyện cổ tích vẫn là chuyện cổ tích. Tôi sẽ vẫn nuối tiếc nhưng chỉ là nhỏ nhoi thôi. Tôi đã học được nhiều điều từ giấc mơ ấy, học được niềm tin và hi vọng và cả nỗ lực cố gắng cho giấc mơ của chính mình.
Bài viết số 2 lớp 9 đề 3: Kể lại một việc làm khiến em rất ân hận.
Năm nay tôi học lớp 8. Nhà tôi tuy nghèo nhưng tôi luôn được cha mẹ quan tâm và cũng luôn cố gắng là con ngoan trò giỏi. Ấy vậy mà, cuối năm học lớp 7 tôi đã một lần làm mẹ buồn.
Hôm đó, tôi dậy sớm để đánh răng rửa mặt chuẩn bị đi học. Hàng sáng, mẹ tôi thường để chảo cơm trên bếp, sao hôm nay lại chẳng thấy đâu. Tôi lên hỏi mẹ: "Mẹ ơi sao mẹ vẫn chưa rang cơm cho bọn con ăn hả mẹ?". Mẹ nhẹ nhàng nói: "Hôm nay nhà mình hết tiền mua gạo, phải đợi tiền lương của bố và chị con, hay con chịu khó bỏ ăn sáng một buổi có làm sao đâu?". Tôi bực mình dậm chân dậm tay tỏ vẻ không bằng lòng. Tôi thoáng nhìn thấy nét mặt mẹ rất buồn. Mẹ bảo: "Thôi đi học đi con, mẹ phải đi làm việc của mẹ". Tôi tức quá phát khóc lên, bỏ cả cặp sách lên giường ngủ tiếp. Tôi không nhớ là hôm nay có bài để chuẩn bị cho tiết kiểm tra ngày mai, thú thực lúc đấy tôi rất bực nên chỉ vì chuyện nhỏ mà quên hết mọi thứ. Tôi chỉ khóc và lẳng lặng lấy chăn ra đắp. Lúc mẹ tôi đánh răng rửa mặt song mẹ lên nhà khoá cửa để đi làm, mẹ có biết đâu là tôi ở trong nhà. Thế là tôi nằm trong chăn ấm áp, chiếc chăn ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Đến khi thức dậy thì đã quá muộn. Tôi giật mình, bổ chổng bổ choảng vùng dậy thì chao ôi, cửa nhà đã khoá. Tôi ngồi trong nhà kêu ầm ĩ lên nhưng vô hiệu, mọi người đều đi làm hết. Nhà tôi là nhà tập thể, xung quanh lúc đó chỉ có mấy đứa trẻ con. Tôi gọi chúng và bảo: "Các em giúp chị mở cửa ra với". Một đứa nhanh nhảu nói: "Thế chìa khoá nhà chị để đâu thì chúng em mới mở được chứ!". Tôi đứng ngẩn người ra, quay lại nhìn đồng hồ thì thấy đã mời giờ rưỡi. Bụng tôi lúc này như có móng tay sắc nào cào vào. Mắt tôi hoa lên vì đói. Tôi lục hết mọi thứ trong nhà xem có cái gì ăn không nhưng vô hiệu, chả có gì cả. Tôi nhìn ra ô cửa sổ thì thấy bạn Lan nhà bên bảo: "Nguyệt ơi sao hôm nay bạn không đi học? Thầy giáo phê bình bạn đấy". Tôi liền nói: "Lan ơi, hôm nay có bài nào không cho tớ mượn để tớ chép?". Lan rút trong cặp ra đưa cho tôi bài chuẩn bị cho tiết kiểm tra. Tôi học vẹt được vài bài nhưng không chịu nổi cơn đói. Vừa hay lúc đó mẹ tôi về bảo: ”ơ, sao hôm nay con không đi học?". Tôi bảo: "Mẹ nhốt con trong nhà thì làm sao con đi được". Mẹ bảo: "Mẹ không biết, cho mẹ xin lỗi". Rồi mẹ rút trong túi ra gói mỳ. Tôi không kịp bỏ vào bát mà vơ lấy vơ để ăn sống. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi ăn, chảy cả nước mắt. Tôi nhìn mẹ cũng cảm thấy mẹ không có lỗi trong chuyện này mà chính là mình đã làm mẹ lo. Sáng hôm sau đi học, tôi cố gắng làm bài kiểm tra một tiết, may sao được 5 điểm. Tôi ngượng quá vì mình làm lớp phó học tập mà điểm kém như thế.
Tôi rất ân hận vì đã làm đau lòng mẹ, và phí công thầy cô đã bỏ sức ra để dạy tôi. Tôi hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa.
Bài viết số 2 lớp 9 đề 4: Đã có lần em cùng bố mẹ (hoặc anh, chị) đi thăm mộ người thân trong ngày lễ, Tết. Hãy viết bài văn kể về buổi đi thăm mộ đáng nhớ đó.
Sắp Tết rồi! Phải, sắp Tết! Đã hơn hai năm trôi qua, không có bà ở bên chăm sóc, vỗ về, bà chỉ hiện lên trong những dòng kí ức, trong trí tưởng tượng non nớt của tôi. Và năm nay sẽ là lần đầu tiên tôi đi tảo mộ bà. Trong tôi rộn lên bao nỗi niềm cảm xúc…
Chớm xuân! Trời đất, vạn vật choàng tỉnh khỏi giấc ngủ mùa đông, khoác tấm áo mới tươi tắn mừng xuân về. Những giọt nắng đầu tiên đã xuất hiện, rơi xuống con đường đất nâu sậm thành từng vùng nắng ấm áp, dìu dịu, làm tan đi cái lạnh lẽo, u ám vốn thấy ở mùa đông. Bên vệ đường, những bông lau, những vạt cỏ mới mọc, khẽ đưa mình trước làn gió thoảng, gợn sóng mềm mại. Trời đất như rộng thêm ra! Cái phong vị mùa xuân đang lan tỏa khắp nơi.
Đường vắng vẻ, mọi người rảo bước đi nhanh hơn. Còn tôi, tôi thấy mình thật lạ! Tôi đã rất muốn gặp, rất muốn thăm bà nhưng thực tình tôi không muốn bước chân vào khu nghĩa trang này, nó như cho tôi cái cảm giác phải tin là bà đã mãi đi xa vậy. Dòng suy nghĩ vẩn vơ, chân bước tiếp, rồi tự bao giờ tôi đã đứng trước nơi bà yên nghỉ.. Mọi thứ xung quanh chợt mờ đi trước mắt tôi, tôi muốn dùng nước mắt như cố để phủ nhòa đi cái cảnh tượng trước mắt. Mẹ tôi đã chuẩn bị đầy đủ trong chiếc làn nặng trĩu những thứ cần thiết: nào nhang, hoa và cả đồ lễ nữa. Mẹ cùng chị sửa sang phần mộ chu đáo, cẩn thận, nhổ cỏ quanh bia đá. Đưa tôi mấy nén nhang thơm đã đốt sẵn, mẹ bảo hai chị em đi thắp nhang cho các ngôi mộ xung quanh. Mẹ tôi vẫn đang sửa cỗ. Xa xa nơi một góc nghĩa trang, một nhà đang hóa vàng và lục tục chuẩn bị ra về. Lũ trẻ nhà đó chạy lăng xăng đi trước, người lớn sửa soạn đi sau.
… Tôi giờ đang đứng lặng ở đây, trước mộ bà, chắp tay làm lễ như mẹ và chị tôi. Những kỉ niệm chợt ùa về với tôi thật rõ nét, tất cả chỉ như vừa mới qua thôi. Tôi nhớ những ngày bà bế tôi rong chơi khắp làng, nhớ cả hơi ấm đặc biệt của bà nữa. Quên sao được hình bóng bà chập chờn trên vách bếp mỗi sớm tinh sương, bà nấu những nồi chè nóng, nướng những củ khoai thơm phức cho chị em tôi. Lúc nào bà cũng dành cho tôi phần hơn, phần ngon. Tôi cũng là đứa thường hay thích chải tóc cho bà, mái tóc bà dài, xòa ngang lưng, lốm đốm những sợi bạc và thoang thoảng mùi sả thơm. Tôi nhớ khôn nguôi cái mùi hương nồng ấm làm cay cay sống mũi ấy! Tôi cũng biết rằng hồi đó tôi chỉ là đứa trò hậu đậu, vụng về, làm đâu đổ đấy. Nhưng bà chẳng bao giờ quở trách tôi, cũng chẳng bao giờ bảo tôi hậu đậu cả. Bà dạy tôi mọi thứ, bà cho tôi niềm tin ở những việc mình làm, cho tôi cả những niềm hạnh phúc lớn lao. Bây giờ, tôi đã khôn lớn hơn, đã bớt hậu đậu, vụng về thì tôi chẳng còn có dip cho bà thấy những việc mình làm nữa. Bây giờ, ông cũng vẫn thường cho tôi những quả lộc nhưng cái cảm giác ngày xưa đã mãi không còn nữa, nó không phải là cảm giác thích thú, hớn hở khi được bà cho quà… Ngày trước, cứ mỗi đợt đông về, bà luôn nhắc tôi phái mặc áo cho ấm, sợ tôi ho và ốm, bà sợ tôi lạnh. Vậy mà bây giờ bà nằm đây, trong đất lạnh, cô đơn và trống trải. Bà có cảm nhận được không một mùa xuân ấm áp sắp về.
Một làn gió thoảng qua kéo tôi trở lại với thực tại, đưa tôi ra khỏi thế giới của tuổi thơ tràn ngập bóng bà. Chị và mẹ đang gọi tôi. Mẹ đang hóa vàng, những tro tiền giấy theo gió bay khắp cả một khoảng không trước mộ.
Tôi nhận ra ràng, bà đi thật rồi… Tôi trở về khi ánh hoàng hôn dán buông, cảnh vật nhuốm một màu vàng nhàn nhạt, ảm đạm. Tôi quay gót, ngước nhìn phía sau con đường vừa bước. Dường như tôi mong chờ một hình bóng ai đó hay một điều kì diệu làm phai bớt di gam màu buồn này, có thể gạt đi trong tôi bao ý nghĩ miên man ùa về.
Cho đến bây giờ, tôi mới thực sự hiểu câu nói: “Hoa tàn đi nở lại sẽ đẹp hơn, người chết đi sẽ mãi sống trong lòng mọi người”. Có thể bà đã đi xa nhưng bà vẫn đang và sẽ mãi mãi sống trong lòng lôi, trong lòng tất cả những người thân trong gia đình. Tôi tin bà đang dõi theo từng bước của tôi trên đường đời dài rộng, tôi nhất định sẽ khiến bà mỉm cười và tự hào về tôi.
CHÚC CÁC BẠN HỌC GIỎI
|
Bài viết số 2 lớp 9 (bài tổng hợp)
| 4,261
| |
Bài viết số 2 lớp 9 (văn tự sự)
Hướng dẫn
Bài viết số 2 lớp 9 đề 1: Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường xưa vào 1 ngày hè, hãy viết thư cho 1 bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động đó.
Hải Dương, ngày … tháng … năm
Tường Vi thân!
Chưa bao giờ nghĩ đến bạn mà mình thấy bồi hồi như lúc này. Bao nhiêu cảm xúc ùa về và mình biết khoảnh khắc này chỉ bạn mới có thể chia sẻ với mình. Hôm nay, mình về thăm ngôi trường cấp 2 thân yêu của chúng ta, sau hai mươi năm xa cách…
Cái nắng gay gắt của mùa hè vẫn còn vương lại dù đã là buổi xế chiều, những tia nắng vẫn đang mải đùa nghịch trên mấy tán cây, ngôi trường cũ hiện ra thân thương, quen thuộc và không còn vẻ nghiêm trang như hồi trước nữa… Mình lặng lẽ dạo quanh sân, ngắm nhìn từng vòm cây để cảm nhận sự khác biệt trong lòng cái khung cảnh đã từng quá thân thuộc này. Có lẽ, dù đã hai mươi năm xa cách, dù có bao lớp học sinh đến rồi lại đi, thì trường vẫn thế, vẫn chẳng thay đổi gì trong tâm hồn mỗi người, mãi mãi…
Đã đến giờ tan trường, mình tạm lánh vào một góc khuất – Tuấn đoán xem, đó là chỗ nào? Cái gầm cầu thang mà chúng mình thường trốn ngày xưa khi chơi trò ú tim ấy! Ba hồi trống vang lên khiến trống ngực mình cũng rung theo run rẩy. Lũ trẻ ùa ra từ các phòng học, chúng hồn nhiên gọi nhau, cãi nhau, ríu rít đùa nhau, nhí nhảnh như bọn mình hồi xưa … Màu áo trắng, sao mà nhớ thế! Chỉ một hai năm nữa thôi, ngày chia tay, chúng sẽ giống chúng mình ngày xưa, chìa lưng áo trắng cho nhau ghi dòng lưu bút…
Học sinh đã về hết. Mình tần ngần nhìn lại ngôi trường. Cả sân trường rợp bóng cây xanh, thoắt cái đã không còn ai, lại trở nên lặng lẽ. Xa xa, nơi góc hồ nước, một cây me cao lớn trông tràn đầy sức sống. Mình chợt nhận ra đó chính là gốc me non tụi mình trồng năm nào, tự nhiên lại thấybồi hồi. Bước dần lên cầu thang, mình tìm lại phòng học cuối tầng ba, nơi ngày xưa bốn mươi sáu quỷ sứ lớp mình từng trú ngụ. Đây rồi, lớp học đó, cá cái ban công quen thuộc đang ở ngay trước mắt, chờ mình bước vào và tìm kiếm lại hình ảnh của hai mươi năm trước. Chỗ ngồi cạnh cửa sổ bàn ba là của mình, nơi đã từng chứng kiến mình khóc, mình cười và cả khi mình nói chuyện riêng nữa. Còn cách đó hai bàn, là chỗ của bạn đó nhớ không? Cách xa như thế mà hai đứa còn nói chuyện riêng được thì thật tài!
Hôm ấy mình không gặp được thầy cô giáo cũ, chỉ còn thấy lại những kỷ niệm thuở học trò, những buổi ngồi truy bài dưới gốc cây phượng, những giờ kiểm tra gay cấn, hồi hộp đến toát mồ hôi… Tất cả đã rất xa mà cũng lại như vừa mới hôm qua.
Tuấn ơi! Nhất định hôm nào chúng ta gặp nhau nhé! Biết rằng công việc của ai cũng bận rộn nhưng mình tha thiết muốn gặp bạn dưới những vòm cây của ngôi trường cũ yêu dấu này để ôn lại những ngày xưa!
Hẹn gặp bạn một ngày không xa.
Thân ái!
Bạn của cậu
Nguyễn Thùy Linh
Bài viết số 2 lớp 9 đề 2: Kể lại 1 giấc mơ, trong đó em gặp lai người thân cách xa lâu ngày.
Cầm đề bài tập làm văn trong tay, tôi thật sự lo lắng vì không biết làm bài tập đó như thế nào. Cô giáo cho đề bài Kể về bà của em và hẹn ngày mai phải nộp. Bà tôi ra đi từ lúc tôi chưa lọt lòng mẹ nên bà tôi ra sao, tính tình thế nào, giọng nói ra làm sao,… tôi đều không biết. Cơn gió thổi nhè nhẹ, bầu trời trong xanh, ngồi trước bàn học tôi cứ miên man suy nghĩ đến hình phạt mà bố mẹ sẽ dành cho tôi khi bị điểm kém. Thế rồi, không biết từ lúc nào, tói ngủ thiếp đi mất và có một giấc mơ tuyệt đẹp. Trong mơ, tôi thấy mình được gặp lại bà và được nghe bà kể rất nhiều chuyện mà tôi chưa biết.
Suốt cả ngày hôm đó, tôi cứ bám lấy bà như cái đuôi. Bà đi xuống bếp tôi cũng di theo, bà ra vườn tôi cũng chẳng rời nửa bước, ớ ngoài vườn, cây cối xum xuê, trĩu trịt quả. Tôi với một quả ổi, gặm thấy ngon hơn những quả ổi mà mẹ mua ở chợ. Bà cười nheo nheo mắt và nói: Cả vườn cây này bà trồng dành cả cho cháu. Người ta cũng tới mấy lần muốn mua hoa quả đấy nhưng bù không muốn vì sợ cháu về lại không có cái gì ăn… Hơn lúc nào hết, tôi cảm nhận được tình yêu thương của bà dành cho tôi. Lúc đó tôi chỉ muôn nói thật to: Bà ơi, cháu yêu bà lắm nhưng lại thấy nghẹn ngào không nói được thành lời. Trong lòng tôi, tôi chỉ muốn thời gian ngừng trôi để cho tôi luôn được sống trong sự chở che, yêu thương của bà dành cho tôi. Lúc ăn cơm, bà chẳng ăn mấy, chỉ chăm chăm gắp hết cho tôi. Vừa gắp cho tôi, bà vừa nói: Món này bà biết cháu thích ăn nhất nên bà làm. Ăn nhiều vào cho chóng lớn.
Tôi ước rằng tuần nào mình cũng được gặp lại bà trong giấc mơ. Những người thân đã xa ta, có thể là xa mãi mãi nhưng họ vẫn luôn hiện hữu bên ta. Dù chỉ là trong những giấc mơ thì ta vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc, có một sự động viên, an ủi lớn lao. Bà ơi, bà có nghe thấy cháu nói gì không? Dẫu bà có ở chốn thiên đường hay hư vô cháu vẫn luôn muốn nói rằng: Bà ơi, cháu yêu bà nhiều lắm! Bà sẽ mãi mãi là thiên thần hộ mệnh tuyệt vời và thân thương nhất của cháu!
Năm nay tôi học lớp 8. Nhà tôi tuy nghèo nhưng tôi luôn được cha mẹ quan tâm và cũng luôn cố gắng là con ngoan trò giỏi. Ấy vậy mà, cuối năm học lớp 7 tôi đã một lần làm mẹ buồn.
Hôm đó, tôi dậy sớm để đánh răng rửa mặt chuẩn bị đi học. Hàng sáng, mẹ tôi thường để chảo cơm trên bếp, sao hôm nay lại chẳng thấy đâu. Tôi lên hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao mẹ vẫn chưa rang cơm cho bọn con ăn hả mẹ?”. Mẹ nhẹ nhàng nói: “Hôm nay nhà mình hết tiền mua gạo, phải đợi tiền lương của bố và chị con, hay con chịu khó bỏ ăn sáng một buổi có làm sao đâu?”. Tôi bực mình dậm chân dậm tay tỏ vẻ không bằng lòng. Tôi thoáng nhìn thấy nét mặt mẹ rất buồn. Mẹ bảo: “Thôi đi học đi con, mẹ phải đi làm việc của mẹ”. Tôi tức quá phát khóc lên, bỏ cả cặp sách lên giường ngủ tiếp. Tôi không nhớ là hôm nay có bài để chuẩn bị cho tiết kiểm tra ngày mai, thú thực lúc đấy tôi rất bực nên chỉ vì chuyện nhỏ mà quên hết mọi thứ. Tôi chỉ khóc và lẳng lặng lấy chăn ra đắp. Lúc mẹ tôi đánh răng rửa mặt song mẹ lên nhà khoá cửa để đi làm, mẹ có biết đâu là tôi ở trong nhà. Thế là tôi nằm trong chăn ấm áp, chiếc chăn ru tôi vào giấc ngủ êm đềm. Đến khi thức dậy thì đã quá muộn. Tôi giật mình, bổ chổng bổ choảng vùng dậy thì chao ôi, cửa nhà đã khoá. Tôi ngồi trong nhà kêu ầm ĩ lên nhưng vô hiệu, mọi người đều đi làm hết. Nhà tôi là nhà tập thể, xung quanh lúc đó chỉ có mấy đứa trẻ con. Tôi gọi chúng và bảo: “Các em giúp chị mở cửa ra với”. Một đứa nhanh nhảu nói: “Thế chìa khoá nhà chị để đâu thì chúng em mới mở được chứ!”. Tôi đứng ngẩn người ra, quay lại nhìn đồng hồ thì thấy đã mời giờ rưỡi. Bụng tôi lúc này như có móng tay sắc nào cào vào. Mắt tôi hoa lên vì đói. Tôi lục hết mọi thứ trong nhà xem có cái gì ăn không nhưng vô hiệu, chả có gì cả. Tôi nhìn ra ô cửa sổ thì thấy bạn Lan nhà bên bảo: “Nguyệt ơi sao hôm nay bạn không đi học? Thầy giáo phê bình bạn đấy”. Tôi liền nói: “Lan ơi, hôm nay có bài nào không cho tớ mượn để tớ chép?”. Lan rút trong cặp ra đưa cho tôi bài chuẩn bị cho tiết kiểm tra. Tôi học vẹt được vài bài nhưng không chịu nổi cơn đói. Vừa hay lúc đó mẹ tôi về bảo: ”ơ, sao hôm nay con không đi học?”. Tôi bảo: “Mẹ nhốt con trong nhà thì làm sao con đi được”. Mẹ bảo: “Mẹ không biết, cho mẹ xin lỗi”. Rồi mẹ rút trong túi ra gói mỳ. Tôi không kịp bỏ vào bát mà vơ lấy vơ để ăn sống. Mẹ tôi ngồi nhìn tôi ăn, chảy cả nước mắt. Tôi nhìn mẹ cũng cảm thấy mẹ không có lỗi trong chuyện này mà chính là mình đã làm mẹ lo. Sáng hôm sau đi học, tôi cố gắng làm bài kiểm tra một tiết, may sao được 5 điểm. Tôi ngượng quá vì mình làm lớp phó học tập mà điểm kém như thế.
Tôi rất ân hận vì đã làm đau lòng mẹ, và phí công thầy cô đã bỏ sức ra để dạy tôi. Tôi hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa.
Hôm ấy là ngày đầu xuân, trời thật đẹp, trăm hoa đua nở như đón sự an khang, thịnh vượng đến với mọi nhà. Gia đình tôi đón xuân trong niềm vui đầm ấm và tưởng nhớ về tổ tiên – cội nguồn của mình. Lòng biết ơn sâu sắc đó đã thôi thúc gia đình tôi đi thăm mộ ông bà vào ngày Tết – ngày mở đầu của một năm mới mà tôi cho là quan trọng nhất.
Trước đó mấy ngày, tôi thật phấn khởi trong không khí đón Tết, sắp được về quê chúc Tết bà con và thăm mộ ông bà. Tôi háo hức nhất là trong đêm 30 tháng chạp, cả nhà quay quần bên chiếc bàn xinh xắn để bàn chuyện đi thăm mộ ông bà vào ngày hôm sau. Nồi bánh chưng bốc nghi ngút, sôi sùng sục. Tôi thầm nghĩ:
– Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thôi là bước sang năm mới. Xuân sẽ đến với đất trời, đến với mọi nhà, đến với gia đình mình.
Tôi mong trời mau sáng để cùng bố mẹ về quê đi thăm mộ ông bà và đi chúc Tết bà con ở quê.
Sáng hôm sau, tôi được bố mẹ đưa đi thăm mộ ông bà. Khí trời se lạnh, mây trắng nhởn nhơ trên bầu trời xanh thẳm, cảnh vật dường như đẹp hơn mọi ngày. Những ngôi nhà hai bên đường đã mở cửa, nhà nào cũng có hoa, có những câu đối đỏ treo trên những cành mai đang trổ lộc. Đâu đó, nghe tiếng chim hót lảnh lót như đón chào xuân đang tới. Ra đến nghĩa trang, khói hương xung quanh nghi ngút. Bà con ở gần đi viếng mộ rất sớm, trẻ em chạy nhảy tung tăng trên bãi cỏ với những bộ quần áo mới. Bố tôi kính cẩn đặt hoa tươi, bánh mứt để cúng ông bà. Tôi bồi hồi tưởng nhớ cội nguồn của mình và dấy lên một lòng biết ơn sâu nặng. Khói hương bốc lên lan tỏa khắp các mộ ở nghĩa trang. Người nào cũng tưởng nhớ đến người quá cố. Duy chỉ có những em bé là hồn nhiên, vô tư, chúng đang tinh nghịch trên lề đường đằng xa. Gặp lại những đứa bạn ở quê cùng đi viếng mộ, tâm trạng tôi cũng vui lên sau những phút giây bùi ngùi thương nhớ về ông bà của mình đã yên nghỉ nơi phần mộ. Làn khói hương vẫn bay bay, hòa quyện với đám sương mờ đang bao phủ. Tôi, bố mẹ tôi và mọi người vẫn đứng trước những ngôi mộ tổ tiên của mình. Bố tôi nói:
– Ngày trước, bố cũng thường đi viếng mộ tổ tiên cùng ông bà trong dịp Tết.
Nghe bố nhắc đến ông, bà nội thì tôi lại bâng khuâng nhớ về ngày ông, bà nội tôi chưa mất. Lúc ấy, tôi được sống trong tình thương bao la của ông, bà. Nhớ những đêm trăng sáng, tôi cùng bà ngồi trò chuyện trên chiếc võng đầu hè, nghe bà kể chuyện thời xưa. Tôi lại ứa nước mắt khi nghĩ đến điều này. Bố tôi cũng thế! Dường như bố mẹ tôi cũng xúc động khi nhắc đến ông, bà nội.
Cúng viếng xong, hương trầm cũng dần tàn theo bánh xe thời gian đang di chuyển. Bố và tôi cúi lạy ông bà, lấy bánh mứt phân phát cho các em nhỏ rồi bố tôi đưa tôi về nhà dì chúc Tết.
Dịp đi thăm viếng mộ ông bà lần này đã cho tôi một tình, yêu sâu sắc; Tình yêu gia đình, quê hương, đất nước bền chặt trong tôi. Tôi thầm nhắc mình phải cố gắng học giỏi, thành tài để xứng đáng với cội nguồn tổ tiên, cội nguồn dân tộc Việt Nam.
|
Bài viết số 2 lớp 9 (văn tự sự)
| 2,356
| |
Bài viết số 3 lớp 10 (bài hay)
Hướng dẫn
Bài viết số 3 lớp 10 đề 1. Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn.Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc thứ ba.
Lúc ấy trời chuẩn bị hừng đông, những giọt sương đêm qua vẫn còn đọng lại trên thân chúng tôi. Cũng như những cây Lau khác, tôi đang run rẩy bởi cái lạnh và hi vọng lát nữa mặt trời lên sẽ được sưởi ấm. Phía đằng kia, dòng Hoàng Giang chầm chậm trôi xuôi như còn đang chìm trong giấc ngủ sâu. Bỗng một cơn gió nhẹ lướt qua làm những giọt sương trên thân tôi rơi xuống, trong tiếng gió tôi nghe hình như có tiếng ai đó đang khóc. Khi cơn gió vừa dứt, chúng tôi – đám lau – lắng tai nghe, đúng là có tiếng người nào đó đang khóc ở phía xa đang dần tiến lại.
Tiếng khóc càng lúc càng gần, chỉ trong khoảnh khắc bóng của ai đó đã tiến lại gần hơn. Gương mặt của người ấy đã rõ hơn khi nàng ngồi bệt xuống bên cạnh đám lau chúng tôi. Không phải ai xa lạ, đó chính là Vũ Nương, người vẫn thường ra đây giặt giũ quần áo hằng ngày. Nhưng thật lạ, vì sao hôm nay nàng ấy chỉ đến một mình mà đứa con trai không lẽo đẽo đi sau? Vả lại, giờ này tại sao lại ra đây một mình và khóc nữa chứ?
Tiếng nấc cứ liên tục, đôi vai mỏng manh không áo ấm cứ run lên từng đợt, nàng ngồi bệt dưới đám cỏ ướt, tay bụm miệng khóc liên hồi. Tôi thấy nàng rất tội nghiệp, cố gắng hỏi han nhưng nàng không hề nghe thấy những gì chúng tôi đang bàn tán. Bỗng nàng vụt đứng dậy hướng về phía đông mà than rằng:
– Cầu xin đấng trên cao hãy làm chứng cho tấm lòng sắc son của Vũ Nương này. Những ngày tháng qua tôi luôn mong ngóng người chồng nơi chiến trận sẽ sớm trở về, được sớm thấy ngày gia đình đoàn viên. Thế nhưng, mong ước ấy của tôi dường như tan biến chỉ trong chốc lát. Suốt ba năm trời, tôi không một ngày ngừng mong chờ đến ngày chồng trở về mà tần tảo không nề hà khó khăn để chăm sóc người mẹ già và đứa con thơ. Luôn giữ gìn tiết hạnh một lòng một dạ chờ chồng nào dám có ý nghĩ lang chạ với ai. Lời dỗ dành đứa con thơ đòi cha lúc chỉ bóng mình in trên vách dưới ánh đèn hiu hắt “Cha Đản về kìa!” mà thành ra nông nỗi như thế này. Mặc dù Trường Sinh rất yêu thương tôi nhưng tính chàng ấy rất đa nghi. Cho dù tôi có thanh minh, thề thốt như thế nào chàng ấy vẫn không tin, vì sao vậy? Mọi việc đều không thể cứu vãn được nữa, chỉ biết gieo mình xuống sông để mong rửa sạch những lời hàm oan.
Trước khi chết,tôi xin có một lời nguyền: “Nếu tôi đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con,dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”.
Nghe đến đây, tôi cảm thấy đau xót cho người thiếu phụ. Những ngày qua chúng tôi sống ở bờ sông đã chứng kiến bao cảnh éo le nhưng chưa bao giờ thấy một chuyện đau lòng đến thế này. Lời than vãn bị ngắt đoạn bởi những tiếng nấc oan ức, tôi cảm thấy nàng ấy thật tội nghiệp và biết rằng đằng sau nó là một bi kịch lớn. Nếu như có thể tôi chỉ muốn khuyên vài lời với người thiếu phụ. Trong lúc tôi và những người hàng xóm đang băn khoăn chưa kịp suy đoán điều gì thì nàng ấy lại khóc nức nở:
– Đản! Con trai yêu quý của mẹ! Mẹ thật có lỗi với con khi bỏ đi giữa lúc này. Nhưng mẹ không còn sự lựa chọn nào khác khi cha con hoài nghi sự chung thủy của mẹ. Mẹ không thể sống thêm được nữa khi cha con luôn ngờ vực mẹ như vậy. Mẹ hi vọng rằng con sẽ được nuôi nấng trưởng thành như bao đứa trẻ khác. Mẹ có lỗi với con khi không làm tròn trách nhiệm của một người mẹ. Thiết nghĩ cái chết này có thể mang đến cho con nhiều nỗi bất hạnh nhưng chỉ có thể làm như vậy để rửa sạch nỗi oan này thôi con à.
Vừa dứt lời, nàng leo nhanh lên mõm đá gần đấy quay mặt về phía sau nói câu cuối cùng:
– Trường Sinh, thiếp có lỗi với chàng, với con trai chúng ta
Chúng tôi giật mình và bàng hoàng khi nàng gieo mình xuống nước. Mặt nước đang yên tĩnh bị động và nổi sóng dâng cao. Cả đám lau chúng tôi chết lặng trước sự việc mà không thể làm gì hơn. Có lẽ lúc này, mọi đau khổ không còn giày vò người thiếu phụ đáng thương này nữa. Chúng tôi cảm thấy oán giận người chồng mù quáng kia vô cùng, nhưng biết làm gì đây khi chúng tôi chỉ là những cây lau bé nhỏ bên bờ Hoàng Giang. Lúc này không gian trở nên tĩnh mịch và lạnh lẽo đến ghê người. Không biết rồi người thiếu phụ khốn khổ kia sẽ trôi dạt theo dòng nước hay đã chìm vào không gian lạnh lẽo ảm đạm dưới đáy sông.
Ít ngày sau, đám lau chúng tôi nghe người dân trong làng đi ngang kể lại rằng đứa con của Vũ Nương trong những đêm sau đó đã chỉ lên tường nơi bóng của người cha mà nói “Cha Đản về kìa”. Trường Sinh đã thấu hiểu mọi chuyện và rất đau lòng bởi chính mình gây ra cái chết của người vợ đoan chính nết na.
Một buổi chiều tối kia, theo lời vợ báo mộng Trường Sinh lập đàn tế Vũ Nương ven bờ sông. Chúng tôi cũng được chứng kiến mọi việc khi một lát sau có một đoàn xe ngựa, võng lọng ẩn hiện thấp thoáng giữa dòng sông. Vũ Nương nói vọng vào những lời thương nhớ và căn dặn chồng săn sóc chu đáo đứa con thơ. Thoáng chốc,tất cả mờ dần rồi tan biến hẳn. Cảm thương tấm lòng của Vũ Nương, dân làng đã lập miếu thờ nàng ngay cạnh khóm lau, nơi nàng ngồi than thở trước khi trầm mình xuống Hoàng Giang.
Bài viết số 3 lớp 10 đề 2. Hóa thân vào những que diêm kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc của truyện Cô bé bán diêm (hoặc diễn biến sự việc tương tự, nhưng kết thúc khác)
Trời đã tối, cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Giây phút đón giao thừa sắp đến. Vậy mà chúng tôi vẫn cùng cô bé tội nghiệp rong ruổi qua từng con phố. Chúng tôi tự nhủ hãy nằm yên, nằm yên và cầu nguyện để tất cả chúng mình sẽ đi về nhà ai đấy. Chỉ có vậy và chỉ có vậy thôi, cô chủ mới được về nhà để đón Tết trong ấm cúng.
Thế nhưng thật oái oăm thay. Đêm ba mươi, ai còn đi mua diêm làm chi nữa. Giờ này họ đã yên ổn cả rồi. Họ đang ngồi bên lò sưởi và chờ đến giờ phá cỗ. Chúng tôi biết vậy và cả cô chủ nhỏ tội nghiệp của chúng tôi cũng thế. Nhưng cô vẫn cứ đi, lang thang trong rét mướt và hy vọng. Niềm hy vọng ấy trong cái đêm nay thật quá nhỏ nhoi. Vậy mà nó chỉ chực chờ để tan biến mất.
Trời đã về khuya. Và chúng tôi cảm thấy đôi bàn tay của cô chủ đang cứng lại. Cô dừng lại và ngẫm nghĩ về một điều gì đó. Bỗng đột nhiên, cô rút một trong số chúng tôi ra và quẹt sáng. Anh bạn của chúng tôi bén lửa rất nhanh loáng qua rồi biến đi trên nền than hồng rực. Chúng tôi không biết cô bé nghĩ gì nhưng ánh mắt cô bé rất vui và hình như miệng cô còn ánh lên cả một nụ cười thì phải.
Cô bé duỗi chân ra nhưng đờ đẫn nhìn que diêm vụt tắt. Cô lại bần thần và suy nghĩ hồi lâu. Chắc cô bé đang lo không bán được diêm, về nhà sẽ bị cha chửi mắng.
Thế rồi, mạnh mẽ hơn, cô lại quẹt lửa anh bạn thứ hai. Lửa lại cháy và sáng rực. Ánh mắt cô bé lại vui lên. Khuôn mặt đỏ hồng rạng rỡ. Nhưng không đầy một phút sau, anh bạn tôi vụt tắt. Trước mặt cô bé chỉ còn là những bức tường lạnh lẽo, dày đặc, tối tăm. Phố xá vẫn vắng teo và lạnh buốt. Tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến nơi hò hẹn.
Cô chủ không còn nghĩ về cha. Cô không còn sợ. Cô quẹt thêm một que diêm nữa. Lần này cảm giác như anh bạn của chúng tôi bốc cháy lâu hơn. Niềm vui cũng dừng lại trên khuôn mặt của cô chủ tôi lâu hơn đôi chút. Không biết lúc này cô bé đang nghĩ đến cái gì, đến cây thông Nô-en hay đến người bà yêu quý.
Cô bé lại quẹt thêm một que diêm nữa. Một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Cô bé cười và reo lên hạnh phúc:
– Bà ơi! Cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây thông Nô-en ban nãy. Nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi đây. Trước khi bà về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết nhường nào. Dạo ấy bà từng chủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà. Bà ơi! Cháu van bà, bà xin với Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.
Anh bạn thứ tư của chúng tôi vụt tắt. Thế là cái ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt cô chủ nhỏ cũng biến mất luôn. Nhưng cô bắt đầu lôi ra tất cả chúng tôi và quẹt sáng. Dường như cô chủ của chúng tôi đang muốn níu kéo một điều gì. Chúng tôi nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Và chúng tôi nhận ra trên khuôn mặt kia đang nở ra một nụ cười mãn nguyện. Một xó tường bỗng vụt sáng lên nhưng cũng chỉ một phút sau nó lại trở về với cái tối tăm lạnh lẽo. Chúng tôi đã thắp lên những tia sáng cuối cùng còn cô chủ của chúng tôi thì bỗng nhiên gục xuống. Có lẽ cô mệt quá. Cô đã không ăn và không nghỉ suốt những ngày qua nên chắc bây giờ đang đói lả. Chúng tôi thương cô chủ quá và cầu mong sao cho đêm giao thừa qua thật là nhanh.
Sáng ngày mùng một, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng và chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Chúng tôi – những que diêm còn sót lại trong túi của cô chủ đêm qua bỗng nghe thấy tiếng gọi của một người phụ nữ:
– Cháu bé ơi! Cháu bé ơi! Cháu là con cái nhà ai mà ra nông nỗi thế này.
Người đi đường cũng bắt đầu xúm lại. Họ tò mò đoán và ngắm nghía cô gái có đôi má hồng và đôi môi đang cười mỉm nằm giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết hẳn. Người đàn bà khi nãy rẽ đám đông ra để chen vào. Tay bà mang theo một cốc sữa đang còn nóng và một chiếc áo lông cừu đang còn mới. Uống một cách khó khăn vài ngụm sữa, cô chủ đã mơ màng tỉnh lại. Mấy người đàn ông giúp người phụ nữ đưa cô chủ về một ngôi nhà nhỏ rồi họ tản mác đi chơi. Bây giờ cô chủ đã tỉnh hẳn và đang ngồi bên lò sưởi.
– Cháu cảm ơn bà! Cô chủ nói.
Người phụ nữ nhanh nhảu đáp:
– Không có gì đâu cháu ạ! Nhìn cháu ta đã đoán ra tất cả mọi việc rồi. Ta cũng buồn như cháu. Trước đây ta cũng có một cô cháu gái nhưng Thượng đế chí nhân đã rước nó đi. Giờ ta gặp cháu đâu phải chăng là Thượng đế thương ta mà trả cho ta đứa cháu. Ta tuy nhỏ nhưng rất rộng lòng thương. Nếu cháu muốn, cháu có thể ở đây với ta làm bạn.
Cô bé không đáp lời người phụ nữ. Mắt cô bé rưng rưng nhìn những bông tuyết đang rơi trắng xóa ngoài khung cửa. Nhưng rồi bỗng nhiên cô quay lại, sà vào vòng tay âu yếm của người thiếu phụ và nức nở: Bà ơi! Bà ơi! Bà thương cháu mà trở về với cháu thật hay sao!
Oanh Liệt là tên tôi, cái tên mà trước đây cậu chủ đã tặng cho tôi nhờ những trận đấu bất bại của tôi trên các sới chọi gà trong làng. Cái tên đó trước đây quí giá bao nhiêu, tôi tự hào và kiêu hãnh bao nhiêu, thì giờ đây, mỗi khi nghĩ đến tôi lại càng thấy buồn và thất vọng bấy nhiêu… Bởi đơn giản một lẽ là, say mê một trò chơi nào rồi cũng đến lúc chán, cậu chủ tôi cũng vậy, cậu đã bỏ tôi để chạy theo những cuộc vui mới, nơi mang lại cho cậu chủ những cảm giác mới lạ, và thế giới đó không có tôi…
Tôi sinh ra và lớn lên tại một vùng quê rất yên bình, cảnh đồng ruộng lũy tre đã rất quen thuộc với tôi, tôi cùng bố mẹ và các em sống rất hạnh phúc bên nhau cho đến khi tôi gặp cậu, cái ngày định mệnh đó đã thay đổi cả cuộc đời tôi sau này…
Hôm đó, bố mẹ dẫn tôi và các em ra phía bờ sông sau làng chơi, vì lần đầu được đi chơi xa, lại mãi lo ngắm cảnh lạ đẹp mắt mà khi nhận ra, tôi biết mình đã lạc… Hốt hoảng, tôi chạy khắp nơi chiếp chiếp gọi nhưng không thấy ai trả lời, vừa đói vừa mệt, khản giọng, tôi yếu ớt gọi những tiếng cuối cùng rồi thiếp đi trong ánh hoàng hôn cuối ngày, khi tỉnh giấc, tôi nhận ra mình đang nằm trong một cái tổ rơm ấm áp, xung quanh tôi là bao nhiêu cô gà, chú gà đang tò mò đáp trả ánh nhìn của tôi… “kéttt..” Cánh cửa chuồng mở ra, tôi giật mình nhìn tới hướng đó, ánh sáng tràn vào làm tôi chói mắt, chỉ kịp nhìn thấy một bóng người gầy gầy đang tiến lại phía mình, một bàn tay nhỏ chụp lấy tôi, tôi run run người, bàn tay còn lại đưa lên vuốt lấy người tôi, tôi mở mắt ngước nhìn gương mặt đối diện mình, đó là một cậu trai khoảng chừng 15 tuổi, cậu nhìn tôi ấm áp lắm, chính ánh nhìn đó đã làm tôi tin cậu ngay… Kể từ đó, tôi và cậu chủ bầu bạn sớm hôm, cậu luyện tập tôi trở thành một chú gà khỏe nhất đàn, cơ bắp trên người tôi nổi lên săn chắc, mấy chú gà choi ghen tỵ với tôi cũng vì lẽ đó… Một hôm, cậu bế tôi đến một hội trong làng, từ xa tôi đã nghe thấy tiếng hò hét inh ỏi, dường như đám đông đó đang cổ vũ cho một trò chơi thú vị nào đó, cậu bế tôi chạy vào xem… Tôi nhìn vào, thì ra là chọi gà, tôi có nghe cậu chủ nhắc đến trò này, nghe đâu là rất thú vị, cậu chủ đặt tôi xuống đất, vỗ vỗ tay vào người tôi rồi cậu cùng lũ bạn hò hét, tôi biết chắc là mình sẽ không làm cậu chủ thất vọng nên cũng đã lấy hết bình sinh mà lao vào, không dễ như tôi nghĩ, đối phương là một kẻ rất mạnh và dày dạn kinh nghiệm, hắn lao vào tôi và tấn công tới tấp, lúc đầu tôi còn sợ, tôi mất đà té lăn ra, cậu chủ thấy thế liền vỗ nhẹ vào đầu bảo tôi cố lên, gương mặt cậu tràn đầy hi vọng, tôi như khỏe hẳn ra, đứng dậy, tôi vươn đôi cánh vững chắc và lao vào hắn, tôi quyết liệt tấn công, hắn dường như cũng đã đuối sức, tôi dồn sức đá nhát cuối cùng vào ức của hắn, hắn lăn ra đất thất bại…. Cậu chủ vui mừng nhấc bỗng tôi lên, một cảm giác thật tuyệt, lần đầu tiên tôi cảm thấy cậu chủ cười vui như vậy, cậu đặt cho tôi tên Oanh Liệt vì cậu bảo tôi đã chiến đấu rất dũng cảm, tôi kiêu hãnh cất tiếng gáy thật to, mặc cho thời gian có trôi đi, mặc cho mọi điều có thay đổi, tôi chỉ muốn giữ mãi niềm hạnh phúc ngày hôm nay, lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy mình sống thật có ích… Từ đó về sau, cậu chủ mang tôi đến với mọi nơi trong làng, từ làng trên xóm dưới, không nơi đâu mà không nghe danh tôi, tôi trở thành tay đá cừ khôi bậc nhất nhì làng, cậu chủ ngày càng yêu tôi hơn, những tháng ngày đó, tôi sẽ không bao giờ quên được…
Nhưng tôi cũng biết, đâu có niềm vui nào là mãi mãi, và niềm vui của tôi cũng nào có ngoại lệ, khi tôi nhận ra, cậu chủ đã dường quên mất trò đá gà ngày nào, quên mất Oanh Liệt ngày nào, cậu thờ ơ với tôi, cả mấy tuần rồi không thấy cậu đâu, tôi lân la dò la thì biết được, cậu đã chạy theo lũ bạn trong làng đến với thế giới của biết bao trò chơi mới, nơi mà người ta gọi là Internet, ngày nào cậu cũng ra đó chơi, tôi đối với cậu giờ chỉ là quá khứ, đá gà với cậu lại càng là một thú vui xa vời… Tôi buồn, cô đơn và cả thất vọng, cái tên Oanh Liệt giờ với tôi cũng vô nghĩa wa’, bây giờ nào có ai cần tới tôi, còn có ai nhắc đến Oanh Liệt này đâu… Thế là tôi quyết định rời xa cậu chủ, đi đâu cũng được, nhưng tôi chắc chắn sẽ không quay lại đây, cái thế giới này đã không còn là giang sơn của tôi nữa rồi…
Lang thang cho đến cuối ngày, tôi lạc đến một dòng sông nào đó rất xa nơi cậu chủ sống, cảnh vật nơi đây quen lắm, rồi kí ức tìm về trong tôi, tôi nhớ lại gia đình mình, nhớ lại bố mẹ của tôi, nhớ lại mấy đứa em bé bỏng ngày nào của tôi… và nhớ lại cả ngày đầu tiên tôi gặp cậu chủ… Nhìn qua phía bên kia sông, tôi chỉ thấy thấp thoáng một hàng tre xanh rì rào… có phải đó là nơi tôi đến chăng…
Bài viết số 3 lớp 10 đề 4: Sáng tác một truyện ngắn (đề tài tự chọn, mang ý nghĩa xã hội) có tác dụng giáo dục thiết thực đối với tuổi trẻ hiện nay.
NƠI BẮT ĐẦU CỦA TÌNH BẠN
Cha tôi vẫn luôn dạy rằng, mỗi người trên đời này, bằng cách nào mà gặp được nhau, làm quen và gần gũi với nhau là đều đã mang nợ nhau từ kiếp trước. Có lẽ đến tuổi 15, tôi mới thực sự thấu hiểu lời cha nói.
Tôi vốn là dân ở tỉnh lẻ, cuộc sống trải qua những ngày tháng vô cùng yên ả. Tuổi thơ của những đứa trẻ như tôi ở làng quê miền núi gắn liền với những chiều hè oi ả lội bờ tung tăng bên bờ sông, những ngày trời xanh ngắt và nắng óng chiếu xiên qua vòm lá bưởi và mùi hương đồng nội đặc trưng sau những mùa gặt thoang thoảng ngọt ngào. Tôi đã từng tâm niệm rằng, bất kì thời điểm nào của cuộc đời tôi cũng sẽ gắn liền với nơi này. Nhưng, một cơ duyên đưa đẩy dẫn con đường đời tôi đi theo một ngã rẽ mới. 15 tuổi tôi trở thành học sinh của trường Nguyễn Tất Thành, nghĩa là tôi phải dời đổi nơi ở từ xóm núi thanh bình xuống thủ đô Hà Nội náo nhiệt. Sự kiện này thực sự đem lại một bất ngờ lớn cho tôi. Tính cách tôi vốn mang nét ôn hòa của cha và sự khép mình của mẹ, nên việc phải rời xa gia đình không khỏi khiến tôi hoang mang, lo lắng.
– “Không! Đây sẽ là một cơ hội mới cho mình. Nơi đó chắc chắn sẽ cho mình một môi trường tốt hơn!”- tôi đã tự trấn an mình như vậy!
Cha tôi ngồi bên vỗ về tôi và khuyên rằng:
– Chẳng bao lâu là con sẽ có nhiều bạn mới. Phải cố gắng hòa nhập nhanh để học hành chứ con!
Mẹ tôi động viên thêm:
– Con ở đó được gần với bà ngoại nữa mà!
Tuy cũng nghĩ như vậy nhưng thực sự tâm trạng của tôi không khá lên được mấy. Tôi hằng hi vọng mỗi ngày có thể dài thêm một chút, tôi vẫn còn những nỗi tiếc nuối vẩn vơ với nơi này.
……….
……………..
…………………..
Đã đến ngày tôi nhập trường, tâm trạng thật khó diễn tả, tôi không biết phải làm cách nào để tự tin hơn, để bắt đầu các mối quan hệ mới mẻ ở phía trước.
“Tùy cơ ứng biến vậy, mong là mọi việc sẽ suôn sẻ”- tôi suy nghĩ mông lung khi bước tới bảng tin xếp lớp.
– Ồ! 10D2. Số 2 là số may mắn! Mong trời phù hộ cho, đây sẽ là một lớp học thú vị?!
Sáng ngày hôm sau, tôi đến nhận lớp, trong lòng có chút thư thái hơn những ngày trước, linh tính báo hiệu rằng điều tốt lành đến với tôi như chính thời tiết đẹp tuyệt của ngày cuối hè này.
“Tùng…… tùng……… tùng………” – tiếng trống trường vang lên gióng giả.
Tôi nhanh chóng bước nhanh lên bậc thang cuối cùng hướng đến lớp học mà chỉ trong vài giây nữa thôi tôi sẽ trở thành thành viên chính thức. Bước vào lớp, tôi nhận ra đã có khá nhiều bạn đã đến sớm hơn, tôi nhanh chóng tìm được chỗ ngồi cho mình ở bàn đầu tiên. Mọi người nói chuyện với nhau rất nhỏ, có lẽ vì các bạn cũng giống tôi, không quen biết nhiều bạn bè trong lớp.
– Cậu ơi! Tớ ngồi đây được không?- một bạn nữ tiến đến.
– Cậu ngồi đi! Chỗ ấy chưa có ai ngồi cả- tôi mời bạn ấy ngồi kèm theo nụ cười thân thiện nhất có thể, vì chắc đây sẽ là người đầu tiên tôi quen trong lớp. Tôi đang mừng thầm trong bụng thì một cô giáo bước vào, chắc hẳn đây là cô chủ nhiệm.
– Chào tất cả các bạn, cô sẽ là cô giáo chủ nhiệm lớp mình. Nhưng cô sẽ giới thiệu về cô sau, trước hết cô muốn xếp lại chỗ ngồi cho các em đã- cô giáo mới của tôi có vẻ rất nhiệt tình.
Tôi được chuyển xuống bàn cuối cùng, ngồi cạnh một bạn nam cao nhất lớp. Bạn này cao hơn tôi gần một cái đầu, thú thực đứng gần bạn ấy có phần hơi tự ti. Nhưng được một phần an ủi là bạn nữ vừa rồi ngồi ngay bàn phía trước tôi.
– Tớ với cậu lại được ngồi gần nhau này- tôi gọi bạn ấy.
Và tôi nhận lại từ bạn gái đáng yêu ấy một nụ cười thật tươi. Tôi thấy lòng nhẹ nhõm hẳn, tan biến cả những cảm giác căng thẳng trĩu nặng suốt những ngày qua. Hóa ra làm quen với một môi trường mới không khó khăn như tôi từng nghĩ.
Qua một vài buổi học, tôi với bạn nữ ấy dần trở nên thân thiết. Bạn ấy tên là Diệu Trinh, cũng đến từ một nơi rất xa, xa hơn tôi- là vùng biển Vũng Tàu xinh đẹp. Có một sự việc trùng hợp đã khiến chúng tôi xích lại gần nhau hơn. Đó là ngay buổi học thứ hai, cả hai đứa đều đi học muộn và bị phạt ở lại đóng cửa lớp- một hình phạt rất nhẹ nhàng, để nhắc nhở là chính. Khi ra về, không ngờ rằng hai đứa lại chung đường vì chỗ ở khá gần nhau. Tôi và Trinh nói chuyện khá hợp “cạ”, từ mấy vấn đề âm nhạc đến truyện tranh rồi kể về kỉ niệm quê nhà nữa… Những ngày sau, lớp học cũng trở nên vui vẻ hơn, vì các bạn đã dần hòa nhập và quen nhau dần.
Theo truyền thống của trường, học sinh khối 10 sẽ tham gia một khóa học quân sự trong một tuần để rèn luyện và để có cơ hội hòa đồng, gần gũi nhau hơn. Đây là một hoạt động rất có ý nghĩa đối với chúng tôi.
– Để xem nào, mình sẽ mang cái này…… này ……. này……
Trước ngày khởi hành, mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi. Giờ tôi chỉ mong học kì quân sự sẽ giúp tôi có thêm nhiều bạn bè hơn.
Hôm ấy trời mưa rất to, thời tiết có vẻ chưa ủng hộ chúng tôi cho lắm. Chờ đợi một lúc lâu, cuối cùng chiếc xe dán số của lớp D2 đã đến. Chúng tôi nhanh chóng mang đồ đạc ra sau xe rồi từng người tìm chỗ yên vị cho mình. Sau khoảng hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã đến nơi. Điều khiến tôi thích thú đó là những bộ quân phục và giường ngủ hai tầng, chúng thật sự rất ấn tượng. Nhưng điều thú vị hơn cả đối với tôi đó là việc mỗi buổi chiều đi tập về lại hối hả đi đến “phòng tắm dịch vụ”. Ở mỗi phòng tắm này chúng tôi có thể có đến 4 hay 5 người cùng ngồi đợi chờ xếp hàng. Chúng tôi có rất nhiều thời gian để chuyện trò, nên tôi nhanh chóng quen rồi thân với một cô bạn mới, có cái tên rất hay và lạ- Lan Nhi. Tôi, Nhi và Trinh trở thành bộ ba thân thiết. Vào những buổi tối nóng nực, ba đứa tôi trải chiếu nằm trên sàn cùng nhau, đi đâu cũng rủ nhau cùng đi. Cuộc sống sinh hoạt tập thể quả thực đã giúp chúng tôi gắn kết với nhau thật dễ dàng.
Thời gian trôi qua khá nhanh, mới ngày thứ 2 hôm nào chúng tôi xuất phát lên đường, mà hôm nay đã đến ngày thứ 7 chúng tôi phải nói lời tạm biệt với nơi này. Trên chuyến xe trở về, tôi vừa lưu luyến, bâng khuâng với mảnh đất đã níu giữ một phần tâm hồn mình, lại cũng vừa vui mừng vì mình đã tìm được những người bạn thân đồng hành trong chặng đường THPT sắp tới.
Bắt đầu từ đây, tình bạn giữa chúng tôi đơm hoa kết trái. Trở nên gần gũi lạ lùng bởi dường như duyên phận đã kết nối chúng tôi lại với nhau. Tôi đã từng đọc một câu như thế này: “ Tình bạn là tình yêu không có cánh”. Tôi rất thích sự so sánh này vì chúng tôi chẳng đứa nào có cánh cả nên nhất định chúng tôi sẽ mãi là bạn tốt của nhau. Tôi có cảm giác chúng tôi giống như con diều và cơn gió. Luôn nhẹ nhàng quấn quýt lấy nhau và tôn cao nhau lên. Một tình bạn mộc mạc giản dị nhưng bền vững và rất thấu hiểu nhau. Nhờ thế mà việc học tập của tôi ở môi trường mới mẻ này thuận lợi hơn rất nhiều. Chúng tôi được chia sẻ, động viên, giúp đỡ, và mỗi ngày lại thêm cứng cáp, trưởng thành…
Tôi nhớ lại mới ngày đầu tới lớp, sợ hãi vô cùng cái cảm giác lẻ loi xa lạ, còn bây giờ tôi không hề cô độc, tôi đã có một trong số những tài sản vô giá là “tình bạn đẹp tuổi học trò”. Một tình bạn đã được nuôi dưỡng không phải do năm tháng mà chính là do sự thấu hiểu và cảm thông với nhau khi cùng trải qua nhiều tình huống cả trong cuộc sống lẫn trong lớp học. Tôi lại nhớ câu nói mà cha tôi vẫn nói rằng: mỗi người trên đời này, bằng cách nào mà gặp được nhau làm quen và gần gũi với nhau đều đã mang nợ nhau từ kiếp trước. Tôi và các bạn phải chăng cũng mang nợ lẫn nhau- một mối duyên nợ tuyệt vời! Nếu hỏi tôi, ngay lúc này muốn nói gì với họ, chắc chắn tôi sẽ nói “ Mình luôn muốn được mắc nợ các bạn cho đến hết đời này để kiếp sau mình lại có cơ hội để gặp và trả nợ các bạn thêm lần nữa!”.
Một môi trường mới, sẽ là những tình bạn mới – thật tuyệt vời phải không các bạn?
Tác giả: Bùi Thị Hồng Ngọc – lớp 11D2
Cuộc sống ta luôn đối mặt với những bộn bề, những khó khăn và cả những thử thách. Có những lúc ai đó sẽ nghĩ đến những phút giây chán chường. Những lúc chán nản và bỏ cuộc. Nhưng Có nhiều người lại tìm đến những chuyến dã ngoại cùng người thân, những chuyến picnic với bạn bè hay đi chơi với ai đó. Và tôi- Tôi tìm cho mình giải pháp thứ hai.
Đó là tìm đến những nơi thanh bình hay cảnh đẹp nào đó để thả hồn vào thiên nhiên. Lấy lại tinh thần để tiếp tục những khó khăn mới. Và Chuyến đi để lại cho tôi ấn tượng nhiều nhất là chuyến về quê ngoại cùng với người mẹ dịu hiền vào dịp hè vừa rồi.. Nó giúp tôi có thêm nghị lực sống và lòng can đảm khi bước vào đời.
Xa rời chốn phồn hoa đô thị. Tôi đc mẹ dẫn về quê- nơi thanh bình yên ả với những lời hát ru, những câu hò thân thuộc. Tôi đã đc nghe mẹ kể nhiều về nơi mẹ đã sinh ra nhưng đây là lần đầu tiên tôi đc chứng kiến. Ngồi trên xe taxi. đâu đó tôi nghe thấy những tiếng gọi của lũ trẻ chăn trâu. Những tiếng à ơi quen thuộc……Xe dừng lại ngay trước nàh bà ngoại, tôi vội vàng xách vali xuống với tâm trạng thật háo hức. Tôi mong cái ngày này đã lâu và giờ đây tôi đang ở với bà. Ông mất khi tham gia cuộc kháng chiến chống mĩ. Bà phải lủi thủi một mình. Mẹ tôi và cậu tôi thì ở thành phố. Đã nhiều lần mẹ tôi có ý định đón bà lên nhưng bà k chịu. Phải chăng bà đã gắn bó với mảnh đất này khá lâu nên bà k thể xa nó. Hay nơi đây gắn với những kỉ niệm của ông khiến bà k nỡ rời bỏ nó mà đi……Hay còn một nguyên nhân nào khác.
Bà mừng rỡ ra đón hai mẹ con tôi. Bà ở 1 ngôi nhà k to, k rộng như nhà tôi trên TP nhưng nó tạo cho tôi một cảm giác lạ lùng khó tả. Bà dẫn tôi vào và cất đồ đạc giúp tôi. Biết mẹ con tôi đi xa mệt nên bà k để tôi phải làm gì.
Mấy ngày ở nhà bà, tôi thấy mình như nhẹ nhõm hơn. k phải bận tâm chuyện học hành, k phải nghĩ đến những lúc bạn bè cãi nhau… Và nơi đây thật sự bình yên. K ồn ào tiếng xe cọ, tiếng còi giao thông……Mấy ngày đầu lạ lẫm. nhưng rồi tôi nhanh chóng bắt kịp nhịp sống nơi đây.
Và rồi, một ngày tôi vô tình nhìn thấy một cậu bé gần nhà tôi. người nó đen thui, hơi gầy và có vẻ rất bụi. Đó là vào buổi trưa hè nắng cháy, tôi thấy nó xách cái giỏ và đi về hướng những đồng ruộng.Tôi k bít nó sẽ làm gì và nó làm gì vào giờ này. và đến chiều mới thấy nó về. Tôi phân vân nhưng k dám đi theo. Với bản chất tò mò của một cô bé mới lớn, hôm sau tôi cố tình k ngủ trưa và xem cậu bé đó có tiếp tục việc đó k. Và mọi việc cứ tiếp diễn như ngày hôm qua. Tôi bát đầu để ý nó và hình như buổi tối nó cũng như vậy. Bắt đầu đi từ chập tối và đến khuya mới về. Thế rồi tôi quyết định tìm hiểu về thằng bé này. Nó là bảo, nhà ở gần bên. nó bằng tuổi tôi nhưng sao tôi thấy nó bé thế. nó thấp và nhỏ hơn tuổi của nó nhiều. Nhà nó nghèo, bố mất tưg sớm, mẹ k có khả năng lao động vì bệnh tật liên miên. Nó học giỏi lắm nhưng k đủ tiền để đi học. Suốt ngày nó phải ra đồng mò cua bắt ốc để kiếm tiền nuôi mẹ. Ai thuê nó làm gì nó cũng làm. Một lần, tôi bắt gặp nó ngồi dưới gốc đa đầu làng. Tôi mạnh dạn lại làm quen và bắt đầu trò chuyện. Thấy nó lạnh lùng thế mà sao bắt chuyện có vẻ thân thiện gê. Phải chăng tại sự lam lũ của nó khiến cho khuôn mặt nó xám nắng và khó nhìn. Dần dần, tôi bắt đầu thân với nó. Và hình như nó cũng khá hiểu tôi. 1 tuần rồi hai tuần. Mỗi lúc buồn nó lại ngồi ở gốc cây đa và tôi lại trò chuyện với nó. K biết tự lúc nào tôi thấy thương nó vô cùng. Có những lúc tôi chợt động lòng, nhỏ những giọt nước mắt khi thấy nó làm lụng vất vả. Một lần, tôi hỏi nó có muốn đi học k? nó im lặng nước mắt bỗng ứa ra. Rồi mỉm cuời đáp: ” Sống cho qua ngày đã rồi tính tiếp” Tôi lặng người, nhìn nó. Nhìn vào con mắt nó, tôi biết nó muốn đi học lắm nhưng k dám nói ra. Tôi cũng chẳng biết làm gì vì hiện tại tôi cũng chỉ là một đứa học sinh đang phụ thuộc vào gia đình. Tôi chỉ biết tâm sựvaf đọng viên nó những lúc nó cần. Quân tâm nó những ngày tôi về quê ngoại. Thời gian bỗng trôi thật mau từ khi tôi quen và thân nó. Thế là đã gần 1 tháng tôi về quê. Rồi bất thình lình mẹ bảo ngày mai thu dọn hành lý chuẩn bị về. Bố đi công tác và cần có người ở nhà. Thế là đột xuất tôi và mẹ pahir về. Về để kịp cho bố đi công tác. Tôi buồn và ước ao níu kéo đc thời gian ở lại. Tôi muốn muốn nhiều lắm nhưng có lẽ chẳng làm đc gì.
|
Bài viết số 3 lớp 10 (bài hay)
| 6,026
| |
Bài viết số 3 lớp 11 đề 1: So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều
Hướng dẫn
Bài viết tập làm văn số 3 lớp 11
Bài viết số 3 lớp 11 đề 1: So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều là tài liệu học tốt Ngữ văn 11 bổ ích mà VnDoc muốn gửi đến các em, không chỉ có dàn ý bài viết số 3 mà tài liệu còn đính kèm bài văn mẫu hay để học sinh tham khảo.
Đề bài: So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều được thể hiện trong đoạn trích: “Đầu lòng hai ả tố nga,…. Tường đông ong bướm đi về mặc ai.” (Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Dàn ý bài viết tập làm văn số 3 lớp 11 đề 1
1. Mở bài:
Chị em Thúy Kiều là đoạn trích nằm ở phần mở đầu Truyện Kiều của Nguyễn Du – nhà thơ nhân đạo xuất sắc cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn, đồng thời cũng là đỉnh cao nghệ thuật của thơ ca tiếng Việt, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nhân vật mà đoạn trích này là một ví dụ tiêu biểu: (trích dẫn thơ)
2. Thân bài: Các ý chính:
– So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều, Nguyễn Du đã tả Thúy Vân bằng những câu thơ:
Vân xem trang trọng khác vời,…. Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu. Nó là vẻ đẹp của sự hài hòa và dung hòa được với “xung quanh”.
– Vân đã đẹp, Kiều còn đẹp hơn:
Kiều càng sắc sảo mặn mà,…. Sắc dành đòi một tài đành họa hai.
Thúy Kiều chẳng những rất đẹp mà còn tài hoa nữa: Kiều giỏi thơ, giỏi họa, giỏi đàn, … Và tâm hồn đa sầu, đa cảm ấy còn tìm đến những khúc ca ai oán:
Khúc nhà tay lựa nên chương, Một thiên “bạc mệnh” lại càng não nhân.
– Tả Thúy Kiều và Thúy Vân, Nguyễn Du chịu ảnh hưởng bởi quan niệm tạo hóa hay ghen ghét với những người tài sắc (Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen). Qua cách miêu tả có thể thấy, tài sắc của Thúy Kiều như báo trước một cuộc đời dữ dội với đầy gian nan, trắc trở sau này. Đoạn trích thể hiện kín đáo dụng ý nghệ thuật nêu trên của Nguyễn Du.
Qua đoạn trích này, Nguyễn Du đã hết sức trân trọng đề cao vẻ đẹp con người, vẻ đẹp hoàn thiện, hoàn mỹ của hai chị em Kiều. Đây chính là một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo, nhân văn trong Truyện Kiều vậy. Tuy “mỗi người một vẻ” nhưng có thể thấy rõ vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp phúc hậu đài các, còn vẻ đẹp Thúy Kiều là vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, đa tình. Đây là nét khác biệt cơ bản giữa hai chị em.
Bài văn mẫu số 3 lớp 11 đề 1
Thơ cổ viết về giai nhân thì đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” trích trong “Truyện Kiều” cảu thi hào Nguyễn Du là một trong những vần thơ tuyệt bút. 24 câu thơ lục bát đã miêu tả sắc, tài và đức hạnh chị em Thuý Kiều, Thuý Vân – hai tuyệt thế giai nhân – với tất cả tấm lòng quý mến và trân trọng của nhà thơ thiên tài dân tộc.
Bốn câu đầu, Nguyễn Du giới thiệu vị thứ trong gia đình: “Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân”: Kiều là con đầu lòng của ông bà Vương Viên ngoại. “Hai ả tố nga” là hai cô gái xinh xắn, xinh tươi. Cốt cáchthanh cao như mai (một loài hoa đẹp và quý), tinh thần trinh trắng như tuyết. Hai chị em có nhan sắc và tâm hồn hoàn mĩ “mười phân vẹn mười”, tuy thế, mỗi người lại có một nét đẹp riêng “mỗi người một vẻ”. Một cái nhìn phát hiện đầy trân trọng: lấy mai và tuyết làm chuẩn mực cái đẹp. Nguyễn Du miêu tả tâm hồn trong sáng, trinh trắng làm rõ cái thần bức chân dung thiếu nữ.
Bốn câu tiếp theo tả nhan sắc Thuý Vân. Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân. Cử chỉ, cách đi đứng… rất trang trọng quý phái. Cách ứng xử thì đoan trang. Mày nở nag, thanh tú như mày con bướm tằm. Gương mặt xinh tươi như trăng rằm. Nụ cười tươi thắm như hoa. Tiếng nói trongnhw ngọc. Tóc mềm, bóng mượt đến nỗi “mây mưa”. Da trắng mịn làm cho tuyết phải nhường. Cách miêu tả đăc sắc, biến hoá. Lúc thì Nguyễn Du sử dụng ẩn dụ, nhân hóa tài tình:
“Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang”.
Lúc thì ông lại dùng biện pháp so sánh, nhân hóa:
“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.
Các từ ngữ: “trang trọng”, “đoan trang” là 2 nét vẽ tinh tế, gợi tả cái thần của bức chân dung ả tố nga: vẻ đẹp quý phái, phúc hậu. Đoạn thơ cho thấy một cái nhìn nhân văn đầy quý mến và trân trọng của nhà thơ khi miêu tả Thuý Vân.
Mười hai câu tiếp theo tả sắc, tài Thuý Kiều. Nguyễn Du tả Thuý Vân trước, tả Thuý Kiều sau, chỉ dùng 4 câu tả Thuý Vân, dùng đến 12 câu tả Thuý Kiều, đó là một dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Kiều không chỉ đẹp mà còn giàu tài năng. Vẻ dẹp của Kiều là “sắc sảo, mặn mà”, đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”. Kiều là tuyệt thế giai nhân “sắc đành đòi một”. Tài năng thì may ra còn có người thứ hai nào đó bằng Kiều: “tài đành họa hai”. Nguyễn Du dùng biện pháp tu từ ẩn dụ so sánh kết hợp với nhân hóa thậm xưng để ca ngợi và miêu tả nhan sắc Thuý Kiều:
“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn.
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
Mắt đẹp xanh trong nước hồ thu, lông mày thanh tú như dáng vẻ, nét núi mùa xuân. Mỗi hồng má thắm làm cho “hoa ghen”: nước da trắng xinh làm cho liễu phải “hờn”. Vẫn là vẻ đẹp thiên nhiên (thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu) làm chuẩn mực cho cái đẹp nhân gian, đó là bút pháp ước lệ trong thơ cổ. Tuy nhiên, nét vẽ của Nguyễn Du tài hoa quá, nét vẽ nào cũng có thần rất đẹp, vẻ đẹp nhân văn.
Kiểu “thông minh vốn sẵn tính trời”, nghĩa là thông minh bẩm sinh, cho nên các môn nghệ thuật như thi, họa, ca ngâm, chỉ là các thú tao nhã nhưng nàng rất sành điệu, điêu luyện: “lầu bậc”, “ăn đứt” hơn hẳn thiên hạ:
“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lầu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương”.
Kiểu giỏi về âm luật, giỏi đến mức “lầu bậc”. Cây đàn mà nàng chơi là cây Hồ cầm; tiếng đàn của nàng thật hay “ăn đứt” bất cứ nghệ sĩ nào. Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một “thiên bạc mệnh” nghe buồn thê thiết “não nhân”, làm cho lòng người sầu não, đau khổ. Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, hoạ hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân – tạo nên một hệ thống ngôn ngữ cực tả tài sắc và hé lộ, dự báo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”.
Bốn câu cuối đoạn nói về đức hạnh của 2 ả tố nga: Tuy là khách “hồng quần”, đẹp thế, tài thế, lại “phong lưu rất mực”, đã tới tuần “cập kê” nhưng sống một cuộc đời nền nếp, gia giáo:
“Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai”.
Câu thơ “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê” là một câu thơ độc đáo về thanh điệu, về sử dụng phụ âm x” (xuân xanh xấp xỉ), phụ âm “i” (tới tuần), phụ âm “c-k” (cập kê) tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, êm đềm của cuộc sống yên vui êm ấm của thiếu nữ phòng khuê.
Đoạn thơ nói về “Chị em Thuý Kiều” là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất trong “Truyện Kiều” được nhiều người yêu thích và thuộc. Ngôn ngữ thơ tinh luyện, giàu cảm xúc. Nét vẽ hàm súc, gợi cảm, nét vẽ nào cũng có thần. Các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa được thi hào vận dụng thần tình tạo nên những vần thơ ước lệ mà trữ tình, đầy chất thơ. Hàm ẩn sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quý mến trân trọng. Đó là nghệ thuật tả người điêu luyện của thi hào Nguyễn Du mà ta cảm nhận được
|
Bài viết số 3 lớp 11 đề 1_ So sánh tài sắc của Thúy Vân và Thúy Kiều
| 1,540
| |
Bài viết số 3 lớp 11 đề 2: “Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau” làm rõ ý kiến đó.
Hướng dẫn
Bài viết tập làm văn số 3 lớp 11
Bài viết số 3 lớp 11 đề 2: “Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau”. Anh (chị) hãy làm rõ ý kiến trên, là tài liệu học tốt Ngữ văn 11 do VnDoc sưu tầm và đăng tải. Hy vọng với dàn ý bài viết số 3 cùng bài văn mẫu hay sẽ giúp các em học sinh có được bài viết nghị luận văn học tốt.
Dàn ý bài viết tập làm văn số 3 lớp 11 đề 2
1. Mở bài:
Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai nhà thơ cùng sống trong một thời đại (buổi đầu của xã hội thực dân nửa phong kiến ở nước ta, với bao điều nhố nhăng, bất công, tàn ác, …)
Cả hai ông đều sáng tác và đều có những bài thơ nổi tiếng. Tuy vậy, giọng thơ của hai ông lại có những điểm khác nhau. Giọng thơ của Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, thâm thuý, còn giọng thơ Tú Xương mạnh mẽ, cay độc.
Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của hai ông, chúng ta thấy rõ điều đó.
2. Thân bài:
a. Nỗi niềm tâm sự của hai ông
– Hai ông đều sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến, đầy rẫy bất công, hai ông đã chứng kiến bao cảnh nhiễu nhương, chứng kiến cuộc sống cực khổ của người lao động.
– Hai ông đều có nỗi niềm tâm sự giống nhau:
Tâm sự yêu nước, tâm sự thời thế.
Tình cảm bạn bè và gia đình.
Đau xót trước cảnh lầm than của người dân, trước những điều nhố nhăng của xã hội đương thời.
Tố cáo, đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội.
b. Sự khác nhau giữa giọng thơ của Nguyễn Khuyến và Tú Xương
– Nguyễn Khuyến
Thơ trào phúng: tiếng cười hóm hỉnh, nhẹ nhàng, thâm trầm đầy ngụ ý.
Thơ trữ tình của Nguyễn Khuyến: giọng thơ khi thì đằm thắm, khi thì đau xót.
– Tú Xương
Tiếng cười trào phúng của Tú Xương là tiếng cười suồng sã, chua cay, dữ dội.
Mảng thơ trữ tình: Tiêu biểu là bài Thương vợ. Nhà thơ viết về người vợ đảm đang, chịu thương chịu khó của mình với tất cả lòng yêu thương, trân trọng, cảm phục. Bài thơ khắc hoạ thành công hình ảnh người vợ, người mẹ giàu đức hi sinh.
Nguyễn Khuyến tài cao học rộng, thuận lợi hơn trong con đường thi cử. Ông đỗ đạt cao. Thi Hương, thi Hội, thi Đình, ông đều đỗ đầu. Ông là người tài năng, có cốt cách thanh cao, có lòng yêu nước, thương dân.
Tú Xương học giỏi nhưng lại long đong, lận đận trong con đường thi cử. Đi thi nhiều lần nhưng ông cũng chỉ đậu tú tài. Cuộc sống gia đình khó khăn. Gánh nặng gia đình đè nặng lên vai bà Tú. Ông chẳng giúp được gì cho vợ con. Vì lẽ đó, giọng thơ của ông vừa chua chát, vừa mạnh mẽ, phẫn uất.
3. Kết bài:
Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hai nhà thơ nổi tiếng của nước ta. Hai ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị về nội dung cũng như về mặt nghệ thuật.
Hai ông đều có tâm sự giống nhau: căm ghét xã hội thực dân nửa phong kiến nhố nhăng, đầy rẫy cảnh bất công.
Học thơ hai ông, chúng ta càng hiểu hơn tâm sự của mỗi nhà thơ, hiểu hơn giọng thơ của mỗi người và biết vì sao lại có sự khác nhau về giọng thơ như vậy. Đồng thời, ta cũng hiểu về sự đóng góp lớn lao của hai ông cho nền văn học của dân tộc.
Bài văn mẫu số 3 lớp 11 đề 2
Nỗi từng trải ấy đẻ ra cái nhìn hiện thực trào lộng vỗ mặt vào thứ khoa cử cuối mùa, đào tạo tôi tớ cho thực dân xâm lược:
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
Đầu đối với đít là nhục thì lấy động từ ngỏng mà trả thù. Hiện thực ấy là hiện thực của thành Nam, nó nhỡn tiền đối với Tú Xương, nơi có trường thi lôi thôi sĩ tử.
Một tỷ lệ lớn thơ Tú Xương là thơ nói việc đi thi, hỏng thi, gắn nhiều tên đất, tên người của Nam Định. Tú Xương khi trữ tình thì còn tiêu tao ước lệ Tam Đảo Ngũ Hồ, chớp bể mưa nguồn chứ Tú Xương khi đã hiện thực thì nhân chứng vật chứng cụ thể lắm, chi tiết đủ độ tin cậy làm hồ sơ cho lịch sử:
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang
Rồi những ông lang Xán, chú ích Sinh, kẹo Thiều Châu, bánh Hanh Tụ…
Nguyên liệu tạo nên thơ Tú Xương là Nam Định. Từ Nam Định hồn thơ ông đã ôm và đất nước, bao quát một giai đoạn lịch sử. Tú Xương hộ khẩu thường trú ở phố hàng Nâu, ở phố hàng Nâu có phỗng sành.
Phố hàng Nâu bây giờ là phố Minh Khai, căn nhà số 280. Gia đình ông Trần Ngọc Thành đã ở đây từ năm 1952, căn nhà sửa chữa nhiều lần, giờ đây lại xây một căn mới phía trước. Nhưng vẫn còn giữ được căn nhà gác hai tầng của Tú Xương nằm khuất phía sau. Khách thăm xin phép vẫn được gia chủ rộng lòng cho vào thăm. Nhưng phải là người biết, chứ khách vãng lai đi qua ngoài phố không ai biết đây là nơi ăn ở của Tú Xương. Căn gác đã ọp ẹp lắm. Phải chăng người chủ thổ cư này chưa phá đi xây lại là vì trong lòng một cư dân Nam Định cũng còn lưu luyến chút hơi hướng Tú Xương.
Thơ Tú Xương đã tạo nên phần đặc sắc cho một giai đoạn thơ ca dân tộc và độc đáo hơn, nó đã thành tâm hồn của phố phường Nam Định. Những dấu tích còn lại của cuộc đời ông đã thành phần tài sản quý báu của thành phố, thành sức thu hút, thành nơi chiêm ngưỡng của đồng bào cả nước khi về Nam Định. Thời gian càng lùi xa, đời sống văn hóa của dân ta càng được nâng cao, những dấu tích ấy càng trở nên vô giá.
Nghĩ vậy nên mong muốn ủy ban tỉnh, ngành văn hóa nên mua lại căn nhà 280 Minh Khai, chỉ có 102 mét vuông đất, để rồi tôn tạo, phục hồi giữ lại nguyên dạng căn nhà cũ, gắn biển kỷ niệm, gìn giữ cho đồng bào cả nước di tích của nhà thơ và cũng là dấu vết kiến trúc một Nam Định cái thời Trời đất xoay ra phố cả làng.
Đối diện với căn nhà ở của ông Tú, bên kia đường, còn gian nhà ông ngồi dạy học. Gian nhà giột nát, người ta đã phải trùm tấm tôn lên một nửa mái ngói, nhưng vẫn còn tường vách rui mè cũ và phía trước, cuối cái sân con, còn một bức phù điêu vôi vữa hình cuộn thư, có chữ triện. Mưa nắng phôi pha nhưng vẫn đủ gợi bâng khuâng thương nhớ người xưa.
Tiếng gọi đò trong bài thơ Sông Lấp của Tú Xương làm xao xuyến mọi lòng dân Việt bởi cái âm hưởng như gọi hồn đất nước. Theo tôi đấy là bài thơ hay nhất của Tú Xương, và cũng là bài thơ của một giai đoạn lịch sử, của hồn vía Việt Nam sâu nặng.
Hai câu thơ trích từ bài này đã được các nhà quản lý văn hóa khắc trên bia mộ Tú Xương, nơi vườn hoa Vị Xuyên. Ngôi mộ được di dời từ những năm đất nước còn gian khổ. Ngày ấy có người kêu, trách ngành văn hóa: ép cụ Tú rời xa đồng ruộng, vào nằm nơi bụi bậm thị thành, vườn hoa bóng liễu, trai gái trăng hoa. Bây giờ nhìn cả quần thể kiến trúc nơi đây, một vùng trang trọng nhất của thành phố, nơi mọi du khách đều đến thăm viếng, mới thấy việc chuyển mộ Tú Xương năm ấy là có lý. Chỉ tiếc trong hai câu thơ trích, khắc quốc ngữ trên bia, có một chữ sai, nên sửa.
Trở lại bài thơ Sông Lấp, bài thơ mang hồn ông Tú. Nam Định ta nên cố định dáng vẻ tâm hồn gọi đò đêm này bằng một bức tượng Tú Xương, y phục dân tộc, chới với gọi đò. Bức tượng nhìn ra sóng nước sông Đào, bên chỗ Cầu Đò Quan thoáng đãng. Tú Xương gọi hồn nước. Chúng ta gọi hồn ông. Chúng ta tự hào truy lĩnh tài sản tâm hồn ông để lại và qua bức tượng chúng ta cũng bàn giao lòng biết ơn Tú Xương với mai sau.
Một ông Nguyễn Khuyến thì đau đáu với thời cuộc, chửi kẻ ác thâm thúy (Hoàng Cao Khải, mụ Tư Hồng…) Một ông Tú Xương thơ hay mà thi cử thì lận đà lận đận nên ngông cuồng trong hồn thơ.
|
Bài viết số 3 lớp 11 đề 2_ “Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ lại có điểm khác nhau” làm rõ ý kiến đó.
| 1,570
| |
Bài viết số 3 lớp 11 đề 4: Những cảm nhận sâu sắc của anh (chị) qua tìm hiểu cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
Hướng dẫn
Bài viết tập làm văn số 3 lớp 11
Để có thể hoàn thành và làm tốt Bài viết số 3 lớp 11 đề 4: Những cảm nhận sâu sắc của anh (chị) qua tìm hiểu cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, VnDoc xin gửi tới các bạn bài văn mẫu hay được biên soạn kỹ lưỡng cũng đồng thời giúp học sinh học tốt Ngữ văn 11.
Bài văn mẫu số 3 lớp 11 đề 4
Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước, nhà văn hóa cận đại của Việt Nam sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm 1888 tại Ba Tri, Bến Tre.Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước, nhà văn hóa cận đại của Việt Nam sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm 1888 tại Ba Tri, Bến Tre.
Tiểu sử
Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những chuỗi ngày gia biến và quốc biến nghiêm trọng đã tác động đến nhận thức của ông. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc.
Năm 1833, Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) gửi Nguyễn Đình Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học.
Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849. Nhưng sau đó, mẹ ông mất, ông trở về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Về quê, chịu tang mẹ xong, ông lại bị một gia đình giàu có bội ước. Từ ấy ông vừa dạy học vừa làm thơ sống giữa tình thương của mọi người. Về sau có người học trò cảm nghĩa thầy đã gả em gái. Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.
Khi Pháp xâm chiếm Gia Định, ông về ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tiếp tục dạy học và làm thuốc. Vốn nhiệt tình yêu nước, ông liên hệ mật thiết với các nhóm nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là, lãnh binh Trương Định. Ông tích cực dùng văn chương kích động lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân. Biết ông là người có uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu cao khí tiết, không chịu khuất phục.
Người Việt Nam đánh giá ông không những là một nhà thơ lớn mà còn là một nhà yêu nước, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ 19.
Quan điểm văn chương
Nguyễn Đình Chiểu tuy không nghị luận về văn chương nhưng ông có quan điểm văn chương riêng. Quan điểm “văn dĩ tải đạo” của ông khác với quan niệm của nhà Nho, càng khác với quan niệm chính thống lúc bấy giờ. Nhà Nho quan niệm Đạo là đạo của trời, còn Đồ Chiểu trên nguyên tắc đạo trời được đề cao nhưng trong thực tế đạo làm người đáng quý hơn nhiều. Đó là quan niệm bao trùm văn chương Đồ Chiểu.
Quan điểm văn chương Đồ Chiểu tuy không được tuyên ngôn nhưng đây là quan điểm tiến bộ và gần gũi với văn chương dân tộc: Văn chương chiến đấu, vị nhân sinh, đầy tinh thần tiến công và tinh thần nhân ái.
Tác phẩm chính
Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, có tính chất tự truyện.
Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Ngư Tiều y thuật vấn đáp (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861)
Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định (1864)
Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868)
Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874)
Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (chưa xác định thời điểm sáng tác)
Hịch đánh chuột (chưa xác định thời điểm sáng tác).
Và thêm cái này nữa
Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam.
Nhìn từ góc độ văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu là một con người Việt Nam trọng đạo lý, nặng tình người, đậm đà bản sắc dân tộc, yêu ghét rõ ràng, khen chê dứt khoát. Vì người, cụ sẵn sàng hy sinh xả thân không màng danh lợi. Vì đời,cụ chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo, khổ cực, không hám lợi, không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền.Với tất cả vai trò xã hội và sứ mạng của con người mà Nguyễn Đình Chiểu phải gánh vác: Nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, người công dân, chiến sĩ yêu nước… cho đến cuối đời cụ vẫn kiên cường vượt qua số phận, hoàn thành xuất sắc thiên chức của mình, để lại cho đời sau một tấm gương về cách sống trong sáng đến tuyệt vời:
“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”
Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng nhân cách của con người không chỉ là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh.Ngày xưa cụ Nguyễn Du từng cho rằng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận.Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu.
Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen,biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam, Nhà thơ mù lòa ấy là một trong những người đầu tiên đưa ra thông điệp tố cáo hành động phản văn hóa, mất tính người của bọn thực dân xâm lược. Về tội ác hủy diệt cuộc sống yên lành của nhân dân, ông viết:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim nháo nhác bay”.
Với tội ác xâm lược phản văn hóa ngang nhiên đoạt tài sản và hủy hoại một cách dã man những di sản văn hóa của nhân dân ta:
“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.
Của tiền là sự tích góp của một đời người lao động sáng tạo vô cùng vất vả.
Tranh ngói là cả một dinh cơ sự nghiệp, nhà cửa, đền, miếu, đình, chùa phải mấy trăm năm với bàn tay và khối óc của nhiều người mới dựng nên cơ nghiệp lớn lao ấy.
Trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, một bọn người mang danh kẻ sĩ đã hèn nhát đầu hàng kẻ thù, phản bội đất nước. Nguyễn Đình Chiểu là người sớm biểu lộ thái độ khinh miệt bọn đê hèn và phản văn hóa ấy:
Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
Dù đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình”.
Với quan điểm xem ngòi bút là vũ khí chiến đấu “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”,Nguyễn Đình Chiểu đã trực tiếp đả kích bọn Việt gian khoác áo văn chương như loại Tôn Thọ Tường thường mượn màu chữ nghĩa làm đảo lộn trắng đen. Cụ viết:
“Thây nay cũng nhóm văn chương
Vóc dê da cọp khôn lường thực hư”.
Các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Chiểu có sức sống bền vững trong tình cảm nhân dân. Lý tưởng thẩm mỹ trong các nhân vật anh hùng đã nêu bật một lối sống có văn hóa và khí phách anh hùng đặc trưng bản sắc Việt Nam. Đó là lối sống trọng đạo lý và công bằng xã hội, trọng con người và căm ghét áp bức bất công. Cái “hào khí Đồng Nai” ấy được thể hiện qua hành động của các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên, trong các nghĩa sĩ Cần Giuộc và nghĩa sĩ lục tỉnh thời Nam Kỳ kháng Pháp đến nay vẫn còn được tiếp nối và phát huy trong đời sống văn hóa của nhân dân ta ở miền Nam. Trong một thời gian khá dài từ đầu thế kỷ XX đến nay, truyện thơ Lục Vân Tiên đã là nội dung diễn xướng dân gian với các loại hình như nói thơ, hò, vè, ca ra bộ trong sinh hoạt văn hóa quần chúng và chính đề tài Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga sớm thể hiện trên sân khấu ca kịch cải lương khi bộ môn nầy vừa mới ra đời trên kịch trường Nam bộ. Gần nay đề tài nầy đã và đang được dựng lên thành nhạc kịch hiện đại, dựng thành phim truyện v.v… Hơn một thế kỷ qua, hiếm thấy nhà văn nào mà tác phẩm có tính phổ cập sâu rộng và có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa của nhân dân như vậy.
Trên lĩnh vực giáo dục, là một nhà giáo, trọn đời thầy Đồ Chiểu chăm lo dạy dỗ môn sinh, truyền thụ cho thế hệ tương lai những điều cốt lõi của văn hóa Việt Nam về đạo lý truyền thống của dân tộc và nhân cách của một kẻ sĩ. Hào khí Đồng Nai, một nét đẹp văn hóa của con người Nam bộ được nuôi dưỡng và phát huy chính là nhờ sự nghiệp giáo dục của biết bao thế hệ người thầy đầy tâm huyết mà được truyền thụ đến ngày nay, trong đó nhà thơ – nhà giáo Nguyễn Đình Chiểu là một trong những người có công lớn. Chúng ta đều biết Nguyễn Đình Chiểu là học trò đời thứ hai của nhà giáo Võ Trường Toản ở Gia Định, một ông thầy nổi tiếng về phương pháp giáo dục tri ngôn, dưỡng khí, tập nghĩa, một nhà trí thức sớm nổi tiếng ở đất Đồng Nai – Gia Định, không màng danh lợi, suốt đời chăm lo đào tạo thế hệ moan sinh có chí, có tài, biết lấy “thảo ngay làm nghĩa cả”.
Võ Trường Toản là thầy học của Nghè Chiêu.
Nghè Chiêu là thầy dạy Nguyễn Đình Chiểu.
Từ lò đào tạo Hòa Hưng của Võ Trường Toản mà thế hệ các nhà văn thơ trước đó và cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu dù vận nước đến thế nào cũng tràn đầy “hơi chính khí”. Kẻ sĩ Gia Định chính là sản phẩm của phong cách rèn luyện của một ông thầy giỏi, giỏi đến mức dạy nên những người học trò nổi tiếng hơn mình.
Thầy Đồ Chiểu dạy học trò theo phong cách ấy.
Nhiều thế hệ môn sinh của Đồ Chiểu tiếp thu sự giáo dục của thầy nuôi dưỡng ý chí, rèn luyện tinh thần để sẵn sàng trở thành “trang dẹp loạn” mà sinh thời cụ Đồ Chiểu hằng mong ước. Từ Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày cuối thế kỷ XIX đến các trí thức Nho học Lê Văn Đẩu, Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn ở Ba Tri nửa đầu thế kỷ XX đều là những thế hệ môn sinh đầy nhiệt huyết mang đậm dấu ấn giáo dục của thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu.
Nguyễn Đình Chiểu còn là một thầy thuốc giỏi, một lương y thông hiểu sâu sắc y lý phương Đông và y lý Việt Nam cả về y thuật và y đức mà y đức của cụ chính là đạo cứu người lồng trong nghĩa vụ cứu dân cứu nước. Tác phẩm lớn cuối đời của Nguyễn Đình Chiểu là quyển “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”, một quyển sách dạy đạo làm người và đạo làm thầy thuốc cứu người. Yêu nước và yêu thương con người chính là tư tưởng chủ đề của tác phẩm:
“Xưa rằng quốc thử lời khen phải
Giúp sống dân ta trọn lẽ trời”
Giáo sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa quyển “Ngư tiều y thuật vấn đáp” lần xuất bản năm 1982: “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc trong hằng trăm bộ sách của mấy mươi thế kỷ. Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người và chiều sâu lịch sử dân tộc hằng mấy ngàn năm. Nhưng cả hai đều đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lý sống, một con đường phù hợp cho những con người yêu nước bình thường trong tình hình quê hương rơi vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có ý nghĩa vừa giúp dân, vừa giúp nước…”.
Đối với lương y Nguyễn Đình Chiểu, y đạo tức là nhân đạo, mà chủ nghĩa nhân đạo của cụ là chủ nghĩa nhân đạo nhân dân rất gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản:
“Thấy người đau giống mình đau
Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành.
Đứa ăn mày cũng trời sanh
Bịnh còn cứu đặng thuốc dành cho không”.
Cảm ơn đức của cụ, khi cụ Đồ Chiểu mất, nhiều bịnh nhân được cụ cứu khỏi bịnh ngặt nghèo đến xin để tang cụ như con cháu trong nhà.
Kỳ Nhân Sư một hình tượng lý tưởng trong tác phẩm “Ngư Tiều y thuật vấn đáp” của Nguyễn Đình Chiểu đã tự xông đui đôi mắt của mình cho tròn y đạo và nhân đạo để không phải đem nghề y ra phục vụ cho kẻ thù của Tổ quốc và nhân dân. Nhân cách cao thượng ấy của Nguyễn Đình Chiểu còn để lại dấu ấn sâu sắc trong các thế hệ lương y sau nầy. Người thầy thuốc chân chính trong nhân dân làm nghề thuốc còn vì mục đích từ thiện chớ không phải chỉ có kinh doanh trên sự đau khổ của đồng bào.
Nguyễn Đình Chiểu làm thơ để biểu lộ lòng yêu nước, thương dân và lấy đó làm vũ khí chống giặc; làm ông Đồ dạy học không biết mệt mỏi vì sự nghiệp nuôi dưỡng “hào khí Đồng Nai” giữ gìn bản sắc Việt Nam trong đời sống văn hóa của nhân dân giữa thời loạn ly; làm thầy thuốc vì đạo cứu người chứ không chỉ vì nghề để vụ lợi. Đó là lối sống có văn hóa, biết tự hào dân tộc, biết tự trọng của một người trí thức chân chính, biết trân trọng phẩm giá của con người, giữ đúng tiết tháo của một kẻ sĩ.
Bằng cuộc đời và sự nghiệp của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần xứng đáng cho đời sống văn hóa dân tộc trải qua thử thách nghiệt ngã được bảo tồn và phát triển. Sống trong tình thương và sự kính trọng của nhân dân, những người làm nên lịch sử và sáng tạo văn hóa, Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi là một nhân cách lớn, một nhà văn hóa chân chính của nhân dân.
|
Bài viết số 3 lớp 11 đề 4_ Những cảm nhận sâu sắc của anh (chị) qua tìm hiểu cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
| 2,670
| |
Bài viết số 3 lớp 12 đề 1: Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu
Hướng dẫn
Viết bài tập làm văn số 3 lớp 12
Bài viết số 3 lớp 12 đề 1: Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ, do VnDoc sưu tầm và đăng tải là tài liệu tham khảo bổ ích dành cho các em học sinh để học tốt Ngữ văn 12.
Học tốt Ngữ văn 12 – Bài viết số 3
Đề bài: Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ.
Bài làm
Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra ở Thừa Thiên Huế. Ông là đại biểu suất sắc của thơ ca cách mạng và kháng chiến.
Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi. Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội sau chín năm kháng chiến gian khổ, trường kì. Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khăng khít, nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ và chiến sĩ cách mạng. Cũng như và hơn hẳn nhiều bài thơ khác, bài thơ Việt Bắc mang tính dân tộc rất sâu đậm. Qua đoạn trích học trong SGK Ngữ văn 12, ta sẽ thấy được điều đó.
Tính dân tộc chính là tất cả những đặc điểm thuần Việt, gần gũi với tâm hồn người Việt Nam. Ở bài thơ này, tính dân tộc biểu hiện trên nhiều phương diện như: kết cấu, hình ảnh, thể thơ, giọng điệu…
Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc thể hiện trước hết ở kết cấu đối đáp kiểu ca dao giao duyên.
Rất nhiều bài ca dao xưa thường dùng kiểu đối đáp để diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình:
– Mình nói với ai mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ, thấy con mình bò …
– Mình nói với ta mình chửa có chồng
Ta đi qua ngõ mình bồng con ra …
Kiểu kết cấu đối đáp trong cao dao giao duyên là một kiểu kết cấu độc đáo để nhân vật trữ tình có thể vừa kể lể sự việc bộc lộ cảm xúc, thể hiện thái độ tình cảm với “đối phương” hoặc đối tượng được nói tới. Đây cũng là kiểu kết cấu tạo ra những khả năng vô hạn cho nhân vật trữ tình một “diện mạo” như ý muốn.
Tố Hữu đã vận dụng kiểu kết cấu tuyệt vời ấy trong một bài thơ mà mục đích của nó không phải để nói tới tình yêu của chàng – nàng, anh – em mà là một bài thơ ngợi ca mối quan hệ khăng khít gắn bó giữa chính phủ cách mạng và quê hương cách mạng với nhân dân Việt Bắc.
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng?
– Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Ở đây 2 chữ “mình – ta” biến hóa chỉ là sự phân đôi của một chủ thể. Cái “tôi” trữ tình của nhà thơ tự tách mình ra, một phần tâm hồn đã “thấm đất Việt Bắc” đang tâm tình với người cán bộ về xuôi. Nhân vật trữ tình đã bộc lộ tâm trạng nớ thương, tình cảm ân nghĩa thủy chung giữa cán bộ cách mạng và mảnh đất Việt Bắc. Mình – ta cùng nhớ về những ngày tháng đồng cam cộng khổ: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, nhớ những ngày tháng reo ca lớp học i tờ; nhớ những ngày liên hoan vang ngân núi rừng; nhớ những tiếng mõ rừng chiều, nhớ tiếng chày đêm nện cối, nhớ người mẹ nắng cháy lưng, cô em gái hái măng một mình, nhớ người đan nón, nhớ những đuốc sáng từng đoàn quân điệp điệp trùng trùng tiến bước nhau ra trận địa… Các tiếng mình – ta, các tiếng gọi, hỏi, đáp cứ liên tiếp, xoắn xuýt lấy nhau, gối lên nhau, liên tiếp như những đợt sóng cảm xúc không ngừng nghỉ.
– Mình về mình có nhớ không
– Mình đi có nhớ những ngày
– Mình về có nhớ chiến khu
– Mình về, rừng núi nhớ ai
– Mình đi, có nhớ những nhà…
“Mình – ta” điệp khúc đan xen tạo ra âm hưởng từ những đợt sóng hoài niệm, những vùng kí ức tươi đẹp về sống động như vừa mới diễn ra. Tất cả tỉ mỉ, cụ thể tới mức người đọc có thể hình dung và tái hiện từng đường nét, dáng vẻ của mảnh đất Việt Bắc và con người nơi đây.
Kiểu kết cấu đối đáp mình – ta được Tố Hữu vận dụng một cách độc đáo, sáng tạo. Nó tạo nên giọng điệu tâm tình ru vỗ lúc như thủ thỉ, tâm tình, lúc lắng sâu vào nỗi nhớ, niềm thương, lúc trào dâng như những đợt sóng cảm xúc ào ạt, dạt dào. Sử dụng kiểu đối đáp trong ca dao, người đọc cứ tự nhiên bước vào tác phẩm mà không bị vướng cản bởi câu chữ, ngôi từ. Giọng điệu ru vỗ tha thiết của bài thơ cứ tự nhiên khiến hồn người đọc hòa chung vào dòng cảm xúc của “mình-ta” lúc nào không hay.
Có thể nói, đối đáp đã trở thành một kiểu kết cấu mở, có khả năng bộc lộ, mời gọi cảm xúc hết lớp này đến lớp khác tưởng chừng như không có điểm dừng. Đây là kiểu kết cấu giúp cho nhân vật trữ tình có khoảng rộng để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mình. Và với mỗi người Việt Nam luôn tìm thấy cho mối liên hệ rất gần gũi khi bắt gặp kiểu kết cấu đối đáp này khi thưởng thức bài thơ Việt Bắc như họ đã từng được nghe trong những bài ca dao, từ thuở xa xưa.
Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc còn biểu hiện ở thể thơ lục bát và tiết tấu mềm mại, nhịp nhàng của câu thơ.
Thể thơ lục bát là thể thơ gắn bó với dân tộc Việt Nam, được người Việt Nam sử dụng phổ biến nhất. Thể thơ này thường có tác dụng đặc biệt khi diễn tả tình cảm tha thiết, những nối nhớ triền miên, dai dẳng, và khi bộc lộ nghĩa tình sâu nặng giữa các đối tượng và chủ thể trữ tình. Bởi vậy, ta không hề ngạc nhiên khi ca dao, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm … đều rất thành công khi sử dụng thể thơ này.
Tố Hữu đã sử dụng thể thơ lục bát như một cách đắc địa, và đặc biệt thành công khi diễn tả nghĩa tình sâu sắc của cán bộ cách mạng với quê hương kháng chiến. Giả sử Tố Hữu dùng thể thơ ngũ ngôn, lục ngôn, hay thơ tám chữ trong bài thơ này thì chắc chắn cái vị ngọt ngào tình nghĩa của con người Việt Bắc, cái đằm thắm nhớ thương của những cán bộ cách mạng … sẽ thật khó thể hiện.
Người đọc cảm nhận được nỗi xúc động, nghẹn ngào thực sự của “người đi – kẻ ở”:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sua trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.
Những câu thơ lục át khoa thai, nhịp nhàng đã có tác dụng đặc biệt trong việc khơi gợi cảm xúc của người đọc. Người đọc tự nhieenn hòa nhịp cùng dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình, sống với nó, cùng thổn thức với nó. Từ rừng nứa, bờ tre, mái đình, cây đa; từ hoa chuối, hoa mơ, Ngòi Thia, sông Đáy đến Phủ Thông, đèo Giàng…, tất cả đã làm cho con người nhớ thương da diết. Những hình ảnh ấy đã ăn sâu vào tâm khảm, trở thành “cõi nhớ” trong lòng mỗi người, đã từng gắn bó với Việt Bắc.
Chính thể thơ lục bát đã quyết định giọng điệu, tiết tấu của bài thơ. Tiết tấu của mỗi câu thơ trong Việt Bắc viết nhịp nhàng, thường có nhịp 2/2/2; 3/3; 2/2/2/2; 4/4. Chẳng hạn:
– Ở đâu u ám quân thù (2/2/2)
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi (4/4)
– Mình đi mình lại nhớ mình (2/2/2)
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu (4/4)
Nhịp thơ cũng chính là nhịp điệu cảm xúc, giúp cho những kỉ niệm được gợi dậy, vang ngân trong lòng người đi – kẻ ở và trong cả người thưởng thức. Những cặp lục bát bắt vần, thả nhịp đều đặn thiết tha. Cứ mỗi cặp lục bát lại điểm một nốt nhạc cảm xúc “có nhớ”. Những tiếng ấy lại liên hồi xô đuổi, dồn dập như những đợt sóng thương nhớ cồn cào:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Việt Bắc hiện ra trong bức tranh toàn cảnh: con người nhiều dáng vẻ, không gian rộng lớn, thời gian bốn mùa được chắt lọc, dồn nén nổi bật sắc thái núi rừng Việt Bắc. Một cặp lục bát vẽ một bức tranh “hoa cùng người”. Bốn cặp lục bát kết thành bộ tự bình cân xứng cổ điển.
Bên cạnh đó, cấu trúc tiểu đối đồng loạt ở các câu hát đã tạo ra một bè trầm của âm hưởng thương nhớ trong lòng người đi, kẻ ở. Cấu tạo đối vừa tô đậm ý cho từng vế vừa mở ra ý ở ngoài lời. Những câu thơ cùng với tiết tấu của nó đã tạo ra ý nghĩa ở ngay khoảng trống giữa các từ, các câu hay giữa các đoạn thơ.
Có thể nói rằng, tính dân tộc là đặc điểm nổi bật ở Việt Bắc. Chính đặc điểm này đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ. Tính dân tộc của bài thơ đã giúp nhà thơ chuyển tải được tư tưởng hiện đại, tiên tiến. Đây là một tác phẩm thành công nhất của Tố Hữu, một tác phẩm đã ngợi ca những ngày hào hùng vẻ vang của dân tộc, những ngày mà toàn dân nô nức ra trận, những ngày mà mảnh đất Việt Bắc in dấu bao thời khắc, chiến công hào hùng, tươi đẹp của dân tộc… Tất cả đều được tái hiện trong một hình thức đặc biệt phù hợp mà Tố Hữu đã lựa chọn và sử dụng. Rõ ràng, bài thơ Việt Bắc đã mang tinh thần và tư tưởng của thời đại nhưng người ta có thể ngân ngợi như những bài ca dao.
|
Bài viết số 3 lớp 12 đề 1_ Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc – Tố Hữu
| 1,854
| |
Bài viết số 3 lớp 12 đề 2: Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong bài Tây Tiến
Hướng dẫn
Viết bài tập làm văn số 3 lớp 12
Bài viết số 3 lớp 12 đề 2: Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong bài Tây Tiến, đây là bài văn mẫu hay lớp 12 giúp các em học sinh có thể tham khảo, tìm hiểu nhằm học tốt Ngữ văn 12 cũng như ôn luyện môn Văn cho kì thi THPT Quốc gia 2018.
Đề bài: Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong bài Tây Tiến ở đoạn thơ sau:
Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đềm đêm Mường Hịch cọp trêu người
nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Bài làm
Ai đã từng là người lính, ai đã từng đi qua một thời trận mạc trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên. Kỉ niệm ấy thao thức và sống dậy mỗi khi nhắc nhớ. Quang Dũng cũng vậy. Những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây Tiến anh hùng của người lính – nhà thơ này đã thôi thúc ông viết Tây Tiến – một bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực khốc liệt. Đoạn đầu bài thơ chính là đoạn ghi lại những kỉ niệm những kỉ niệm đầy ắp và nỗi nhớ của nhà thơ về những ngày tháng gắn bó cùng binh đoàn:
..,Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Hai câu thơ mở đầu đã tạo ngay ấn tượng về nỗi nhớ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.
Thì ra đã có một khoảng lùi xa thời gian để thành ám ảnh, đê thành nỗi nhớ và tiếc nữa. Những tiếng “xa rồi Tây Tiến ơi” thốt lên từ trong lòng nhà thơ như một niềm nuối tiếc.Tiếng lòng đó cất lên sao mà tha thiết đến thế, đồng thời như có tiếng vọng đáp lại vào vách núi, ngân nga không dứt trong không gian bởi Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi.”. Những hình ảnh thiên nhiên như đột ngột hiện lên trong không gian. Đó là con sông Mã kì vĩ và kiêu hãnh chảy từ thượng Lào về đất Việt, đó là rừng, là núi điệp trùng, những nơi đã in dấu chân của binh đoàn Tây Tiến một thời trận mạc, thế mà giờ đây đã xa rồi thì làm sao tránh khỏi nỗi nhớ dâng lên trong lòng người chiến sĩ Tây Tiến năm xưa. Nỗi nhớ ấy có địa chỉ, địa danh như đã bắt rễ trong lòng người, nỗi nhớ ấy lại trong một trạng thái thật chơi vơi, mơ hồ như một thoáng buồn xa xôi… Có lẽ nhà thơ đã đạt được cái tài cái tình ấy trong câu thơ “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi!”.
Từ hai câu thơ khơi nguồn ấy, mạch chảy dòng tâm sự hoài niệm của nhà thơ mở ra lan toả như một chuỗi kỉ niệm giờ đây thức dậy, lay động và xôn xao trong lòng. Và đây, hình ảnh đoàn quân mỏi giữa Sài Khao sương lấp –rất ấn tượng. Sự chân thực sinh động của hình ảnh thơ khiến ta như hình dung thấy tư thế, dáng vẻ của đoàn quân trong gian lao, cơ cực của những ngày phải đương đầu với trận mạc, đối đầu với thiếu thốn, khó khăn. Chân thực song cũng rất lãng mạn khi hình ảnh đoàn quân mỏi lại được miêu tả trong một khung cảnh đẹp huyền ảo của thiên nhiên. Những tiếng sương lấp, đêm hơi… khiến cho toàn bộ cảnh thực chợt nhoà đi, gây được ấn tượng nhiều chiều trong tâm trí người đọc. Cũng với hình ảnh đoàn quân cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Tố Hữu lại mở ra một trường liên tưởng khác:
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Thiên nhiên như cùng hát lên, cùng âm điệu với khúc quân hành của người lính ra trận.
Còn với Quang Dũng, bối cảnh thiên nhiên hiện ra trong kí ức và tâm trạng là những hình ảnh sóng đôi của sự trái ngược:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Bước hành quân gian lao của người lính vệ quốc mở ra trong không gian nhiều chiều. Ta như nghe thấy bước chân và hơi thở trên đường trường chinh gian lao của người lính qua câu thơ đầy những vần trắc: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thắm”. Ta cũng thấy hiển hiện một lộ trình đầy gian lao, đầy bất ngờ, khi Quang Dũng viết: Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống. Đặc biệt hơn nữa, hình ảnh “Heo hút cồn mây, súng ngửi trời“ thì câu thơ không phải chỉ diễn tả bước gian lao trên đường hành quân đánh giặc mà ta còn thấy cả chất của lính, tính của lính qua sự liên tường bất ngờ mà thú vị: súng ngửi trời.
Biết bao nhiêu gian lao thử thách, vừa như muốn quật ngã người lính cách mạng, lại vừa như kích thích họ đi tới, dẫn tới của sự chinh phục. Cảnh rừng núi hiểm trở với dốc lên khúc khuỷu, với hun hút cồn mây, với độ cao thấp đến choáng ngợp của “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, thế mà hình ảnh của sự sống vẫn chợt hiện ra như tạo nên thế cân bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi’. Bên cái hiểm trở dữ dội của thiên nhiên là sự sống thanh bình của con người khiến cho giọng điệu và tâm tình trong thơ Quang Dũng chợt như mềm lại, tạo nên sự linh hoạt đã thành rất đỗi tài hoa trong bút pháp thể hiện:
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Với những kỉ niệm về binh đoàn Tây Tiến rất khó mờ phai trong tâm trí, lại thêm bút pháp hoài niệm rất đỗi tài hoa, qua hàng loạt những hình ảnh trái ngược mà hài hoà bổ sung cho nhau, Quang Dũng đã làm sống dậy hình ảnh người lính Tây Tiến, rừng núi Tây Tiến trong nỗi nhớ thật chơi vơi về Tây Tiến.
Những chuỗi kỉ niệm về thiên nhiên và con người đó như những thước phim vừa chân thực sinh động vừa rất huyền ảo, tình cảm và tài hoa đã góp phân tạo nên thành công cả về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
Có người nhận định rằng với bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài bằng thơ về hình tượng ngựời lính đánh Pháp trong cuộc kháng chiến gian lao mà dũng cảm và cũng đầy chất thơ của nhân dân ta.
Đọc đoạn thơ, ta hiểu thêm về người lính Tây Tiến, hiểu thêm những điều ẩn phía sau của “đoàn binh không mọc tóc” và hiểu hơn về nguồn cội của sức mạnh mà người lính đem vào trận chiến. Yêu quý, khâm phục, tự hào là những dư vang tha thiết trong lòng người đọc khi biết về binh đoàn Tây Tiến qua những vần thơ của Quang Dũng.
|
Bài viết số 3 lớp 12 đề 2_ Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong bài Tây Tiến
| 1,333
| |
Bài viết số 3 lớp 12 đề 3: Hình tượng đất nước trong hai bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm
Hướng dẫn
Viết bài tập làm văn số 3 lớp 12
Bài viết số 3 lớp 12 đề 3: Hình tượng đất nước trong hai bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm, do VnDoc sưu tầm và đăng tải nhằm giúp các em học sinh học tốt Ngữ văn lớp 12 cũng như có cơ hội được tham khảo, tìm hiểu những bài văn mẫu 12 hay nhất.
Đề bài: Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong đoạn trích Đất Nước (trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm) và bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi.
Dàn ý bài viết số 3 lớp 12 đề 3
a. Mở bài:
Giới thiệu khái quát về hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm.
Giới thiệu vấn đề nghị luận: Hình tượng đát nước trong hai bài thơ
b. Thân bài:
Làm rõ đối tượng thứ nhất: Hình tượng đất nước trong Bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi
Làm rõ đối tượng thứ 2: Hình tượng đất nước trong Bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật
Những đặc điểm giống nhau về hình tượng đất nước của 2 bài thơ
Nguyễn Đình Thi khởi đầu bài thơ bằng những xúc cảm trước vẻ đẹp mùa thu.
Đây là một quyết định khéo léo bởi vì trước kia mùa thu bao giờ cũng là thu thảm thu sầu còn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 trở đi thì mùa thu vui – mùa thu cách mạng, mùa thu khai sinh ra đất nước.
Khởi đầu bằng những cảm xúc trước vẻ đẹp mùa thu giúp cho Nguyễn Đình Thi có được những suy tư về đất nước một cách tự nhiên và thoải mái hơn.
Nguyễn Khoa Điềm khắc họa hình tượng đất nước mình bằng cách đặt hình tượng này trong mối liên hệ với thời gian và không gian cụ thể còn về sau là thời gian không gian trừu tượng.
đất nước được nhìn qua chiều dài của thời gian và mặt khác đất nước được xác định bởi những không gian có thể là những không gian nhỏ, không gian cụ thể và cũng có thể là những không gian mênh mông không gian trừu tượng trong lòng người.
Hình tượng đất nước sẽ rất hoàn thiện khi nó đươc đặt trong 2 mối liên hệ này.
* Còn khi xét về phương diện con nghệ thuật thì hình tượng đất nước trong 2 bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm có khá nhiều nét tương đồng.
Vì đây là hình tượng đất nước được khắc họa trong thơ ca mà hình tượng thơ lại là hình tượng cảm xúc, cho nên cả 2 tác giả đều viết về đất nước bằng niềm tự hào sâu sắc, bằng những nhận thức thấm thía về lịch sử về truyền thống dân tộc.
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hình tượng đất nước của mình với 2 đặc điểm rất lớn, vừa trái ngược nhau lại vừa rất hài hòa với nhau.
Đấy là một đất nước vất vả đau thương với những cảnh đồng quê chảy máu dây thép gai đâm nát trời chiều, với cái cảnh “bát cơm chan đầy… còn giằng khỏi miệng ta”. Tuy nhiên đất nước chúng ta còn là một đất nước anh hùng quật khởi và một cái đất nước quật cường đã khiến cho kẻ thù bất lực.
“Xiềng xích chúng bay …
… Lòng dân ta yêu nước thương nhà”
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn miêu tả những hình ảnh dân tộc bằng cách nối liền hiện tại với quá khứ và tương lai. Từ điểm nhìn hiện tại, Nguyễn Đình Thi lắng nghe những tiếng rì rầm trong lòng đất của quá khứ vọng về.
Đấy là tiếng nói hình ảnh của đất nước chưa bao giờ khuất. Đồng thời cảm hứng thơ còn đưa Nguyễn Đình Thi hướng tới tương lai. Ông như nhìn trước một nước Việt Nam từ trong máu lửa rũ bùn đứng dậy sáng lòa.
Còn ở trong bài thơ đất nước của mình, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại bộc lộ niềm tin sâu sắc của ông về những hình ảnh văn hóa lâu đời.
Để viết nên bài thơ đất nước của mình, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng với một mật độ rất cao các chất liệu văn hóa dân gian. Dựa trên rất nhiều câu ca dao tục ngữ, để viết nên những câu thơ của mình.
Ông còn đưa vào bài thơ rất nhiều truyền thuyết, những sinh hoạt phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm còn ý thức một cách rất sâu sắc về những đóng góp lớn lao của nhân dân cho đất nước.
Đó là những đóng góp từ nhỏ nhặt cho đến lớn lao, những đóng góp được ghi lại trong sử sách và cả những đóng góp âm thầm lặng lẽ không ai biết. Đó còn là những đóng góp kiên nhẫn, bền bỉ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Những điểm khác nhau của hình tượng đất nước ở 2 tác phẩm
Đây là 2 bài thơ được ra đời ở 2 thời điểm rất khác nhau và chính điều đó đã khiến cho hình tượng đất nước ở 2 bài thơ này có nhiều chỗ khác biệt.
Nguyễn Đình Thi thì khắc họa hình tượng đất nước với 2 đặc điểm và đặt hình tượng đất nước trong mối quan hệ với quá khứ và tương lai.
Trong khi ấy Nguyễn Khoa Điềm lại viết bài thơ này theo một định hướng tư tưởng nhằm chứng minh: “đất nước này là đất nước của người dân”, mà tư tưởng cơ bản này đã chi phối toàn bộ bài thơ và nó qui định bút pháp, nó buộc Nguyễn Khoa Điềm phải chọn cái giải pháp đi từ cụ thể đến khái quát.
Điều này là rất dễ explain bởi vì bản thân tư tưởng đất nước của người dân vốn đã là trừu tượng. Để cho sáng tỏ nó chỉ có 1 cách là đi từ rất nhiều những hình ảnh cụ thể, những đóng góp của người dân cho đất nước, những chất liệu văn hóa dân gian… để rồi từ rất nhiều hình ảnh cụ thể ấy tư tưởng đất nước của người dân mới được làm sáng tỏ.
– Do sự khác biệt về phong cách: Thơ Nguyễn Đình Thi thường giàu nhạc tính có chất hội họa và điều đặc sắc nhất là có cả những suy tư sâu sắc của một tư duy triết học. Còn thơ NKĐ thường viết về cuộc đấu tranh cách mạng.
Ông hay đề cao phẩm chất của những bà mẹ anh hùng, những chiến sĩ giải phóng kiên cường… Đặc biệt ông có những cảm nhận rất phong phú và sâu sắc về đất nước trong những năm chống Mĩ.
– Về phương diện bố cục: Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy ở 2 bài thơ đất nước đều chia làm 2 phần nhưng sự liên kết 2 phần ở mỗi bài lại rất khác nhau.
Bài đất nước của Nguyễn Đình Thi được bắt đầu bằng những xúc cảm trước vẻ đẹp của mùa thu, mùa thu Hà Nội trong hồi tưởng và mùa thu Việt Bắc trong hiện tại. Để rồi sau đó mới chuyển sang quá khứ 2 thời điểm để diễn tả những suy tư cả tác giả đối với đất nước.
Trong khi ấy thì bố cục 2 phần của bài thơ đất nước của Nguyễn Khoa Điềm lại theo một cách hoàn toàn khác. Phần 1 dành cho việc khắc họa hình tượng đất nước trong mối liên hệ với thời gian. Để rồi toàn bộ phần 2 nhằm chứng minh cho tư tưởng với đất nước của người dân.
c. Kết bài:
Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
Bài viết số 3 lớp 12 đề 3
Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu. Nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về mình mẹ lặng im…(Tạ Hữu Yên). Cứ mỗi lần nghe lại bài hát này lòng ta xốn xanh da diết! Nhớ những ngày bé thơ đến lớp, cô giáo dạy tôi viết hai chữ “Việt Nam” và gọi đó là Đất Nước. Tôi mơ hồ chả hiểu, chỉ biết rằng đó là cái gì lớn lao và thật quý báu lắm! Thời gian trôi qua nhanh, mang tuổi thơ bé bỏng của tôi đi xa. Cho đến hôm nay, qua bao nhiêu vần thơ đọc được tôi đã thấm thía hai tiếng thiêng liêng “Đất Nước”. Nhưng rất buồn là tôi không thể viết thành thơ. Trong những vần thơ “ Đất nước” mến yêu dạt dào cảm hứng ấy, có tác phẩm của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm.
Hai nhà thơ đã truyền cho tôi cảm xúc mạnh mẽ. Những vần thơ giúp tôi nhìn ra chân dung của đất nước. Bình dị và trong sách, hồn hậu và nhân ái, nghèo khổ nhưng oai hùng. Có lẽ chính những điều ấy đã khơi gợi cảm hứng cho các bài thơ, đã gieo vào lòng từng nhà thơ bao suy tư và trăn trở. Từ cảm xúc của những ngày sống hết mình với chiến đấu, từ vốn tri thức khá phong phú của mình, qua chương “Đất nước” Nguyễn Khoa Điềm đã cắt nghĩa sâu xa cho tuổi trẻ thành thị miền Nam lúc này. Những hiểu biết về lịch sử dân tộc như sống dậy, lay động tâm hồn tác giả. Mỗi câu chuyện cổ tích, những thời khắc lịch sử của những cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước ngày càng thiêng liêng, tha thiết hơn bao giờ ….
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”…mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre và đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.
Trong hai câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm man mác âm hưởng sử thi. Yếu tố cổ điển và hiện đại hoà quỵên vào nhau tạo thành một cấu trúc hai cực. Đất nước mình chân thật như cuộc sống. Những câu thơ dài tuôn chảy êm dịu như dòng sông. Một dòng cảm xúc dào dạt âm thầm nhưng mãnh liệt. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại: “Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”. Dường như nhà thơ đã huy động vào đây nhiều vốn liếng, trí tuệ, sự từng trải, gửi gắm vào đây bao kỉ niệm suy tư. Nguyễn Khoa Điềm đã cùng ta hành hương về với cội nguồn dân tộc và rồi tham gia vào cuộc chiến đấu chung là con đường đúng đắn duy nhất đối với người thanh niên yêu nước. Nhà thơ mạnh dạn để cái “tôi” của mình xuất hiện. Có thể nói rằng, muốn viết những vần thơ tuyệt vời về Đất nước không chỉ đơn thuần là nhà thơ biết rung động trước một vầng trăng, một tia nắng, một điệu dân ca hay một tiếng thơ cổ điển. Đây là cả một quá trình suy ngẫm, và “nhìn lại” đất nước. Từng lời thơ đầm ấm giàu ý thức của tuổi trẻ đã nhận ra vai trò của mình trước thời đại và nhận thức được đất nước này là của nhân dân. Chúng ta phải chiến đấu để bảo vệ đất nước tươi đẹp. Nhà thơ cảm nhận phát hiện ra đất nước từ cái nhìn tổng hợp, nhiều mặt và dường như đã toàn vẹn. Với Nguyễn Đình Thi cảm hứng về đất nước bắt nguồn từ những chất liệu hình ảnh cụ thể, sinh động của cuộc kháng chiến chín năm cứu nước thần thánh của chúng ta. Bài thơ mang tính khái quát về cảm hứng lịch sử và truyền thống của dân tộc. Có phải chăng, cái cảm hứng ấy của hai nhà thơ này đều bắt nguồn từ lòng yêu nước sâu sắc? Do hoàn cảnh và thời điểm lịch sử mà mỗi nhà thơ lại có cảm nhận khác nhau. Cảm hứng về đất nước đến với Nguyễn Đình Thi trong lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra dữ dội và tàn khốc. Người thanh niên Hà Nội ấy, cũng đã bước vào cuộc kháng chiến nhưng tâm hồn anh thanh niên vẫ đủ sức cảm nhận:
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa.
Chính “mùa thu Hà Nội” ngày hôm nay đã gợi cảm hứng cho tác giả. Nhìn mùa thu này nhà thơ lại nhớ đến mùa thu xưa. Dường như lời hát “Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến. Rên khắp trời, lời hoan hô quân, dân ta tiến ra trận tiền” còn vang vọng bên tai. Hôm nay đứng giữa đất trời chiến khu trong buổi sáng mùa thu mát lành nhà thơ suy tư về đất nước. Cái cảm giác đầu tiên mà Nguyễn Đình Thi bắt gặp là cái rất riêng, rất đặc trưng về, rất Hà Nội: mùi hương cốm mát. Phải là một chàng trai Hà Nội chính gốc mới có được cái cảm nhận ấy. Phải gắn bó máu thịt với thủ đô mới chan hoà tình thương nơi này đến thế! Niềm cảm xúc dâng trào. Những hồi tưởng về mùa thu trước tuy êm ái nhưng thật ra lòng nhà thơ dạt dào biết bao
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Người ra đi mang dáng dấp của cậu học trò, tỏng sáng lưu luyến bao nhiêu kỉ niệm đẹp với từng con phố dài xao xác hơi may. Có một chút lưu luyến bâng khuâng trong lòng người, nhưng không hề bi luỵ. Câu thơ mang màu sắc lãng mạn tươi mát trong lành:
Sau lăng thềm nắng lá rơi đầy
Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Đình Thi cũng bắt đầu vui phơi phới của người tự do. Đứng giữa một vùng chiến khu tự do nhà văn đón nhận đất nước với những điều mới mẻ:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Phải có con mắt tinh tế, giao cảm với thiên nhiên nhà thơ mới nhận được sự”thay áo mới” của mùa thu. Tất cả như nô nức, muôn âm thanh trong trẻo xanh biếc của trời thu như hoà quyện vào nhau; đất nước như “đang cười, đang nói”. Tâm hồn nhà thơ dạt dào mênh mông thấy đất nước mình như “rừng tre phấp phới”. Hình ảnh cây tre cũng được các nhà thơ nhắc đến khi viết về đất nước:
Ta yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ bát ngát câu Kiều bờ tre, mái rạ
Mái đình cong con như em gái giữa đêm chèo
Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xấm xoen cò lả
Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo
(Chế Lan Viên)
Từ xúc cảm mãnh liệt dạt dào nhà thơ cảm nhận được đất nước mình không giống Chế Lan Viên với lối trầm ngâm, lắng đọng mà ở đây, đất nước hiện lên nô nức, tươi mát nhưng cũng hết sức hào hùng:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nhà thơ không thiên tả cảnh mà nghiêng về yếu tố tượng trưng. Chỉ một vài hình ảnh cụ thể như: “ núi rừng, những cánh đồng, ngả đường, dòng sông” nhà thơ đã vẽ nên đất nước. Một đất nước được khẳng định chủ quyền “ Trời xanh đây là của chúng ta”, giống Lý Thường Kiệt ngày xưa đã khẳng định: “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Mượn một vài hình ảnh cụ thể nhưng có tính khái quát cao nhà thơ đã gửi găm stình cảm, gửi gắm tâm trạng của mình trong đó. Niềm tự hào nhà thơ thể hiện qua điệp nhữ “của chúng ta”. Rất đẹp, rất thơ với “những cánh đồng, những dòng sông, rừng núi”…Cảm hứng lịch sử với truyền thống dân tộc đã nhắc nhở nhà thơ đừng quên:
Nước chúng ta
Nước của những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Có nhìn về quá khứ xa xôi mới quý hơn những ngày mình đang sống. ở đây càng thấy quý hơn bởi chữ “tâm” của nhà thơ. Không chỉ có cảm nhận đất nước trong hiện tại với biết bao niềm vui chào đón mà còn nhìn lại lịch sử dân tộc. Có phải chăng những tiếng “rì rầm” trong đất ấy, những buổi ngày xưa vọng về thôi thúc bước chân và trái tim nhà thơ? Cảm hưúng thời đại đã kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng lịch sử truyền thống đã tạo ra những câu thơ tuyệt vời. Thi sĩ Gớt( Đức) có nói rằng: “Nhà thơ phải biết nắm lấy cái riêng biệt và từ đó, nếu cái riêng biệt là chân chính nhà thơ biểu hiện cái khái quát”. Nguyễn Đình Thi đã đi theo cái hướng này và đã thành công. Bằng những liên kết sóng đôi nhà thơ thường đi từ cái cụ thể đến cái khái quát.
Do đó mạch thơ tuôn trào theo cảm xúc không bị dàn trải. Nhà thơ cảm nhận đất nước bằng chính cái tâm hồn của mình, đáy lòng mình, không triết lý, không ồn ào nhưng đầy khích lệ. Chính vì vậy mà đất nước Việt Nam hiện lên rất hiện thực. Đó là một đất nước tạo hình trong đau khổ. Chíên tranh kéo dài không biết bao năm từ Đinh, Lý, Trần, Lê và cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hết. Đất nước vẫn còn:
Những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều.
Từ xúc cảm khôgn chỉ là niềm vui mà còn là nỗi đau nên trong bài thơ Đất nước lại có những vần thơ “đẫm nước mắt” như thế. Hình ảnh “cánh đồng quê chảy máu” đã tố cáo tội ác của giặc. Lấy “máu đỏ mà tưới trên cánh đồng vàng” không phải là tàn nhẫn hay sao? Cái hay của Nguyễn Đình Thi là ở chỗ đó. Hiện thực, quá khứ đã hội tụ về đây đó trong bài thơ nhưng với tâm hồn của một người lính mang dáng dấp học trò. cảm hứng lãng mạn luôn luôn chi phối.
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Tình cảm riêng tư cũng đã trở thành cảm hứng về đất nước. Trong cái chung bao giờ cũng có cái riêng Nguyễn Đình Thi đã từng nói “Ta yêu em như yêu đất nước”. Chính những tình cảm này đã góp phần tạo nên “Đất nước” đôn hậu, ân tình và trìu mến hơn. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cũng được khơi gợi từ chuyện giữa “anh và em”.
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
Nguyễn Khoa Điềm đã tiếp nhận đất nước trên nhiều phương diện. Từ địa lý cho đến lịch sử, rất cụ thể. Những câu thơ dài xen lẫn những câu ngắn và lối chiết tự khiến cho lời thơ có vẻ trầm tư. Tình yêu lứa đôi nảy sinh trong tình yêu đất nước. Cảm hứng đất nước bắt nguồn từ cách cảm nhận của nhà thơ qua những trắc nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tư tưởng của nhân dân đã chi phối toàn bộ cảm hứng, cấu từ hình tượng thơ. Nhà thơ cảm nhận rằng chính nhân dân đã làm nên đất nước và đất nước đã muôn đời là của nhân dân. Đất nước đối với nhà thơ vừa cụ thể mà cũng huyền ảo. Bởi vì cảm hứng ấy bắt nguồn từ những câu chuyện cổ, từ những điều gần gũi thân thương với cuộc sống của chúng ta:
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
Rất cụ thể, gần gũi và bình dị: “Tóc mẹ…gừng cay muối mặn”. Nhưng đây cũng là sự sáng tạo. Nhà thơ cảm nhận đất nước theo chiều dài, lẫn chiều sâu, xuyên suốt từ quá khứ cho đến hiện tại. Truyền thống, phong tục được coi là chất sống vĩnh hằng. Đất nước là tất cả những gì có trong cuộc sống, là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
…Em ơi em Đất Nước là một phần trong máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
Lời nhắn nhủ có vẻ riêng tư nhưng thật ra tác giả muốn nói chung với tất cả chúng ta. Không phải là lời giáo huấn mà là nỗi tâm tình, đầm ấm và thắm thiết. Những gì đã qua mà nhà thơ chứng kiến, đã biết, đã hiểu là nguồn cảm hứng chủ yếu của bài thơ. Tình yêu nước thể hiện thầm kín trong từng câu thơ. Dường như đối với Nguyễn Khoa Điềm đất nước mênh mông rông lớn lắm nhưng nó không xa lạ gì với chúng ta, nó ở ngay trong ta. Tất cả những gì có trong cuộc sống đều góp phần tạo nên đất nước. Đó là cảm nhận của lớp người đi trước. Nhà thơ đã khắc hoạ lại đất nước hết sức điển hình. Một đất nước Việt Nam với những chuyện cổ tích, ca dao, bình dị, chân tình nhưng người dân giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hi sinh mình để tạo nên dáng hình xứ sở. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm không dừng lại ở một giới hạn nào, bởi vì đất nước kết tinh trong mỗi con người. Đất nước hoá thân trong đời sống của mỗi cá nhân và mỗi cá nhân đang sống đều mang di sản đất nước của cha ông để lại.
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta
Vì vậy, chúng ta hôm nay có trách nhiệm giữ gìn và truyền cho thế hệ mai sau. Cảm hứng thời đại xen với cảm hứng truyền thống. Lịch sử dân tộc tạo ra mạch thơ dài không ngơi nghỉ. Nhưng điều đó khiến ta liên tưởng đến đất nước mình…Trong từng thời điểm, đất nước có những phút giây thơ mộng nhưng qua bao nhiêu chặng đường mà nhà thơ đã đi đất nước sống trong cực nhọc, nặng nề dưới bom đạn, chiến tranh. Nhưng mà cha ông ta:
Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươmg ta mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà
(Huy Cận)
Chính nỗi đau đớn mà đất nước đã phải chịu đựng làm xốn xang tâm hồn của nhà thơ. Thật vậy, bốn ngàn năm qua tổ quốc ta chưa hề chấm dứt chiến tranh:
“Đất nước tôi, đất nước tôi, từ thuở còn nằm nôi sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa…”
Những buổi trưa hè giọng ca dao vẫn cất lên trên đất nước đau thương. Cùng là một đất nước Việt Nam nhưng mỗi nhà thơ đều cảm nhận ở những điều khác nhau. Cảm hứng về “đất nước” bắt đầu từ hiện thực. Nhưng ở mỗi nhà thơ đều mang hình nét lãng mạn, lạc quan:
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước cả ca dao thần thoại
Dạy anh biết “Yêu em từ thuở trong nôi”
“Đất nước” là chủ đề bao trùm thơ Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975. Biết bao nhà thơ đã viết về đề tài nay. Nhưng tôi cho rằng trong tất cả những bài thơ Đất nước Nguyễn Đình Thi là người thành công hơn cả. Đất nước của Nguyễn Đình Thi rất chân thật nhưng rất nghệ thuật nhờ nhà thơ đã chọn hình tượng đặc sắc. Tuy nhiên ở mỗi bài thơ Đất nước nhà thơ nào cũng có nét hay riêng.
Tóm lại, cảm hứng đất nước của nhà thơ bắt nguồn từ lòng yêu nước chân thành, sâu sắc! Cảm hứng đó không bắt gặp trong hiện tại mà họ còn tìm về quá khứ. Với những năm tháng gian khổ chiến tranh với truyền thống tốt đẹp của dân tộc…Chính các nhà thơ cũng có một phần tạo ra: “Nam quốc sơn hà” tươi đẹp! Để chúng ta có thể tự hào: “Đất nước tôi…sáng ngời muôn thuở. Khi trăng đã vào cửa sổ đòi thơ…”
|
Bài viết số 3 lớp 12 đề 3_ Hình tượng đất nước trong hai bài thơ của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm
| 4,281
| |
Bài viết số 3 lớp 12
Hướng dẫn
Bài viết số 3 lớp 12 đề 1:
a) Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu) được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ.
Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ra ở Thừa Thiên Huế. Ông là đại biểu suất sắc của thơ ca cách mạng và kháng chiến.
Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi. Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội sau chín năm kháng chiến gian khổ, trường kì. Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khăng khít, nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ và chiến sĩ cách mạng. Cũng như và hơn hẳn nhiều bài thơ khác, bài thơ Việt Bắc mang tính dân tộc rất sâu đậm. Qua đoạn trích học trong SGK Ngữ văn 12, ta sẽ thấy được điều đó.
Tính dân tộc chính là tất cả những đặc điểm thuần Việt, gần gũi với tâm hồn người Việt Nam. Ở bài thơ này, tính dân tộc biểu hiện trên nhiều phương diện như: kết cấu, hình ảnh, thể thơ, giọng điệu…
Tính dân tộc của bài thơ Việt Bắc thể hiện trước hết ở kết cấu đối đáp kiểu ca dao giao duyên.
Rất nhiều bài ca dao xưa thường dùng kiểu đối đáp để diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình:
– Mình nói với ai mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ, thấy con mình bò …
– Mình nói với ta mình chửa có chồng
Ta đi qua ngõ mình bồng con ra …
Kiểu kết cấu đối đáp trong cao dao giao duyên là một kiểu kết cấu độc đáo để nhân vật trữ tình có thể vừa kể lể sự việc bộc lộ cảm xúc, thể hiện thái độ tình cảm với “đối phương” hoặc đối tượng được nói tới. Đây cũng là kiểu kết cấu tạo ra những khả năng vô hạn cho nhân vật trữ tình một “diện mạo” như ý muốn.
Tố Hữu đã vận dụng kiểu kết cấu tuyệt vời ấy trong một bài thơ mà mục đích của nó không phải để nói tới tình yêu của chàng – nàng, anh – em mà là một bài thơ ngợi ca mối quan hệ khăng khít gắn bó giữa chính phủ cách mạng và quê hương cách mạng với nhân dân Việt Bắc.
– Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng?
– Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Ở đây 2 chữ “mình – ta” biến hóa chỉ là sự phân đôi của một chủ thể. Cái “tôi” trữ tình của nhà thơ tự tách mình ra, một phần tâm hồn đã “thấm đất Việt Bắc” đang tâm tình với người cán bộ về xuôi. Nhân vật trữ tình đã bộc lộ tâm trạng nớ thương, tình cảm ân nghĩa thủy chung giữa cán bộ cách mạng và mảnh đất Việt Bắc. Mình – ta cùng nhớ về những ngày tháng đồng cam cộng khổ: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, nhớ những ngày tháng reo ca lớp học i tờ; nhớ những ngày liên hoan vang ngân núi rừng; nhớ những tiếng mõ rừng chiều, nhớ tiếng chày đêm nện cối, nhớ người mẹ nắng cháy lưng, cô em gái hái măng một mình, nhớ người đan nón, nhớ những đuốc sáng từng đoàn quân điệp điệp trùng trùng tiến bước nhau ra trận địa… Các tiếng mình – ta, các tiếng gọi, hỏi, đáp cứ liên tiếp, xoắn xuýt lấy nhau, gối lên nhau, liên tiếp như những đợt sóng cảm xúc không ngừng nghỉ.
– Mình về mình có nhớ không
– Mình đi có nhớ những ngày
– Mình về có nhớ chiến khu
– Mình về, rừng núi nhớ ai
– Mình đi, có nhớ những nhà…
“Mình – ta” điệp khúc đan xen tạo ra âm hưởng từ những đợt sóng hoài niệm, những vùng kí ức tươi đẹp về sống động như vừa mới diễn ra. Tất cả tỉ mỉ, cụ thể tới mức người đọc có thể hình dung và tái hiện từng đường nét, dáng vẻ của mảnh đất Việt Bắc và con người nơi đây.
Kiểu kết cấu đối đáp mình – ta được Tố Hữu vận dụng một cách độc đáo, sáng tạo. Nó tạo nên giọng điệu tâm tình ru vỗ lúc như thủ thỉ, tâm tình, lúc lắng sâu vào nỗi nhớ, niềm thương, lúc trào dâng như những đợt sóng cảm xúc ào ạt, dạt dào. Sử dụng kiểu đối đáp trong ca dao, người đọc cứ tự nhiên bước vào tác phẩm mà không bị vướng cản bởi câu chữ, ngôi từ. Giọng điệu ru vỗ tha thiết của bài thơ cứ tự nhiên khiến hồn người đọc hòa chung vào dòng cảm xúc của “mình-ta” lúc nào không hay.
Có thể nói, đối đáp đã trở thành một kiểu kết cấu mở, có khả năng bộc lộ, mời gọi cảm xúc hết lớp này đến lớp khác tưởng chừng như không có điểm dừng. Đây là kiểu kết cấu giúp cho nhân vật trữ tình có khoảng rộng để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc của mình. Và với mỗi người Việt Nam luôn tìm thấy cho mối liên hệ rất gần gũi khi bắt gặp kiểu kết cấu đối đáp này khi thưởng thức bài thơ Việt Bắc như họ đã từng được nghe trong những bài ca dao, từ thuở xa xưa.
Tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc còn biểu hiện ở thể thơ lục bát và tiết tấu mềm mại, nhịp nhàng của câu thơ.
Thể thơ lục bát là thể thơ gắn bó với dân tộc Việt Nam, được người Việt Nam sử dụng phổ biến nhất. Thể thơ này thường có tác dụng đặc biệt khi diễn tả tình cảm tha thiết, những nối nhớ triền miên, dai dẳng, và khi bộc lộ nghĩa tình sâu nặng giữa các đối tượng và chủ thể trữ tình. Bởi vậy, ta không hề ngạc nhiên khi ca dao, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm … đều rất thành công khi sử dụng thể thơ này.
Tố Hữu đã sử dụng thể thơ lục bát như một cách đắc địa, và đặc biệt thành công khi diễn tả nghĩa tình sâu sắc của cán bộ cách mạng với quê hương kháng chiến. Giả sử Tố Hữu dùng thể thơ ngũ ngôn, lục ngôn, hay thơ tám chữ trong bài thơ này thì chắc chắn cái vị ngọt ngào tình nghĩa của con người Việt Bắc, cái đằm thắm nhớ thương của những cán bộ cách mạng … sẽ thật khó thể hiện.
Người đọc cảm nhận được nỗi xúc động, nghẹn ngào thực sự của “người đi – kẻ ở”:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sua trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”.
Những câu thơ lục át khoa thai, nhịp nhàng đã có tác dụng đặc biệt trong việc khơi gợi cảm xúc của người đọc. Người đọc tự nhieenn hòa nhịp cùng dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình, sống với nó, cùng thổn thức với nó. Từ rừng nứa, bờ tre, mái đình, cây đa; từ hoa chuối, hoa mơ, Ngòi Thia, sông Đáy đến Phủ Thông, đèo Giàng…, tất cả đã làm cho con người nhớ thương da diết. Những hình ảnh ấy đã ăn sâu vào tâm khảm, trở thành “cõi nhớ” trong lòng mỗi người, đã từng gắn bó với Việt Bắc.
Chính thể thơ lục bát đã quyết định giọng điệu, tiết tấu của bài thơ. Tiết tấu của mỗi câu thơ trong Việt Bắc viết nhịp nhàng, thường có nhịp 2/2/2; 3/3; 2/2/2/2; 4/4. Chẳng hạn:
– Ở đâu u ám quân thù (2/2/2)
Nhìn lên Việt Bắc cụ Hồ sáng soi (4/4)
– Mình đi mình lại nhớ mình (2/2/2)
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu (4/4)
Nhipjf thơ cũng chính là nhịp điệu cảm xúc, giúp cho những kỉ niệm được gợi dậy, vang ngân trong lòng người đi – kẻ ở và trong cả người thưởng thức. Những cặp lục bát bắt vần, thả nhịp đều đặn thiết tha. Cứ mỗi cặp lục bát lại điểm một nốt nhạc cảm xúc “có nhớ”. Những tiếng ấy lại liên hồi xô đuổi, dồn dập như những đợt sóng thương nhớ cồn cào:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Việt Bắc hiện ra trong bức tranh toàn cảnh: con người nhiều dáng vẻ, không gian rộng lớn, thời gian bốn mùa được chắt lọc, dồn nén nổi bật sắc thái núi rừng Việt Bắc. Một cặp lục bát vẽ một bức tranh “hoa cùng người”. Bốn cặp lục bát kết thành bộ tự bình cân xứng cổ điển.
Bức tran thiên nhiên được dệt bằng nỗi nhớ. Nỗi nhớ thấm đượm trên từng dáng người, từng màu hoa. Bức tranh được đệt bằng màu sắc của núi rừng tươi đẹp. Cảnh làm nền cho con người xuất hiện, bóng dáng con người lặng lẽ là điểm sáng sinh động trên các phòng thiên nhiên tươi thắm, hữu tình. Hoa và người hòa quyện vào nhau làm cho cảnh thêm tươi sáng. Bức tranh mùa đông đặc trưng bởi hoa chuối đỏ tươi, giữa thảm rừng trên đèo cao tỏa nắng, bóng dáng con người xuất hiện với nét riêng của vùng cao. Hình ảnh “dao gài thắt lưng” tô đậm một nét rất đặc trưng của người Việt Bắc. Bức tranh mùa xuân được dệt bằng thảm hoa mơ và dáng người đan nón mềm mại đang “chuốt từng sợi giáng”. Bức tranh mùa hạ thêm long lanh bởi tiếng ve cùng hình ảnh lặng lẽ của “cô em gái hái măng một mình”. Và bức tranh mùa thu ấn tượng bởi ánh trăng thu hòa bình yên ả cùng tiếng hát ân tình thủy chung ngọt ngào. Chính thể thơ lục bát đã làm nên linh hồn bộ tranh tứ bình Việt Bắc. Nói sao cho hết những cảm xúc, nỗi nhớ niềm thương của con người được gửi gắm vào đó.
Bên cạnh đó, cấu trúc tiểu đối đồng loạt ở các câu hát đã tạo ra một bè trầm của âm hưởng thương nhớ trong lòng người đi, kẻ ở. Cấu tạo đối vừa tô đậm ý cho từng vế vừa mở ra ý ở ngoài lời. Những câu thơ cùng với tiết tấu của nó đã tạo ra ý nghĩa ở ngay khoảng trống giữa các từ, các câu hay giữa các đoạn thơ.
Có thể nói rằng, tính dân tộc là đặc điểm nổi bật ở Việt Bắc. Chính đặc điểm này đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ. Tính dân tộc của bài thơ đã giúp nhà thơ chuyển tải được tư tưởng hiện đại, tiên tiến. Đây là một tác phẩm thành công nhất của Tố Hữu, một tác phẩm đã ngợi ca những ngày hào hùng vẻ vang của dân tộc, những ngày mà toàn dân nô nức ra trận, những ngày mà mảnh đất Việt Bắc in dấu bao thời khắc, chiến công hào hùng, tươi đẹp của dân tộc… Tất cả đều được tái hiện trong một hình thức đặc biệt phù hợp mà Tố Hữu đã lựa chọn và sử dụng. Rõ ràng, bài thơ Việt Bắc đã mang tinh thần và tư tưởng của thời đại nhưng người ta có thể ngân ngợi như những bài ca dao.
b) Phân tích tâm trạng của tác giả khi nhớ về miền Tây Bắc Bộ và những người đồng đội trong những bài thơ sau:
Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khủyu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đềm đêm Mường Hịch cọp trêu người
nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Bài làm
Ai đã từng là người lính, ai đã từng đi qua một thời trận mạc trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên. Kỉ niệm ấy thao thức và sống dậy mỗi khi nhắc nhớ. Quang Dũng cũng vậy. Những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây Tiến anh hùng của người lính – nhà thơ này đã thôi thúc ông viết Tây Tiến – một bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực khốc liệt. Đoạn đầu bài thơ chính là đoạn ghi lại những kỉ niệm những kỉ niệm đầy ắp và nỗi nhớ của nhà thơ về những ngày tháng gắn bó cùng binh đoàn:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!…
..,Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Hai câu thơ mở đầu đã tạo ngay ấn tượng về nỗi nhớ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.
Thì ra đã có một khoảng lùi xa thời gian để thành ám ảnh, đê thành nỗi nhớ và tiếc nữa. Những tiếng “xa rồi Tây Tiến ơi” thốt lên từ trong lòng nhà thơ như một niềm nuối tiếc.Tiếng lòng đó cất lên sao mà tha thiết đến thế, đồng thời như có tiếng vọng đáp lại vào vách núi, ngân nga không dứt trong không gian bởi Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi.”. Những hình ảnh thiên nhiên như đột ngột hiện lên trong không gian. Đó là con sông Mã kì vĩ và kiêu hãnh chảy từ thượng Lào về đất Việt, đó là rừng, là núi điệp trùng, những nơi đã in dấu chân của binh đoàn Tây Tiến một thời trận mạc, thế mà giờ đây đã xa rồi thì làm sao tránh khỏi nỗi nhớ dâng lên trong lòng người chiến sĩ Tây Tiến năm xưa. Nỗi nhớ ấy có địa chỉ, địa danh như đã bắt rễ trong lòng người, nỗi nhớ ấy lại trong một trạng thái thật chơi vơi, mơ hồ như một thoáng buồn xa xôi… Có lẽ nhà thơ đã đạt được cái tài cái tình ấy trong câu thơ “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi!”.
Từ hai câu thơ khơi nguồn ấy, mạch chảy dòng tâm sự hoài niệm của nhà thơ mở ra lan toả như một chuỗi kỉ niệm giờ đây thức dậy, lay động và xôn xao trong lòng. Và đây, hình ảnh đoàn quân mỏi giữa Sài Khao sương lấp –rất ấn tượng. Sự chân thực sinh động của hình ảnh thơ khiến ta như hình dung thấy tư thế, dáng vẻ của đoàn quân trong gian lao, cơ cực của những ngày phải đương đầu với trận mạc, đối đầu với thiếu thốn, khó khăn. Chân thực song cũng rất lãng mạn khi hình ảnh đoàn quân mỏi lại được miêu tả trong một khung cảnh đẹp huyền ảo của thiên nhiên. Những tiếng sương lấp, đêm hơi… khiến cho toàn bộ cảnh thực chợt nhoà đi, gây được ấn tượng nhiều chiều trong tâm trí người đọc. Cũng với hình ảnh đoàn quân cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Tố Hữu lại mở ra một trường liên tưởng khác:
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Thiên nhiên như cùng hát lên, cùng âm điệu với khúc quân hành của người lính ra trận.
Còn với Quang Dũng, bối cảnh thiên nhiên hiện ra trong kí ức và tâm trạng là những hình ảnh sóng đôi của sự trái ngược:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Bước hành quân gian lao của người lính vệ quốc mở ra trong không gian nhiều chiều. Ta như nghe thấy bước chân và hơi thở trên đường trường chinh gian lao của người lính qua câu thơ đầy những vần trắc: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thắm”. Ta cũng thấy hiển hiện một lộ trình đầy gian lao, đầy bất ngờ, khi Quang Dũng viết: Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống. Đặc biệt hơn nữa, hình ảnh “Heo hút cồn mây, súng ngửi trời“ thì câu thơ không phải chỉ diễn tả bước gian lao trên đường hành quân đánh giặc mà ta còn thấy cả chất của lính, tính của lính qua sự liên tường bất ngờ mà thú vị: súng ngửi trời.
Biết bao nhiêu gian lao thử thách, vừa như muốn quật ngã người lính cách mạng, lại vừa như kích thích họ đi tới, dẫn tới của sự chinh phục. Cảnh rừng núi hiểm trở với dốc lên khúc khuỷu, với hun hút cồn mây, với độ cao thấp đến choáng ngợp của “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”, thế mà hình ảnh của sự sống vẫn chợt hiện ra như tạo nên thế cân bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi’. Bên cái hiểm trờ dữ dội của thiên nhiên là sự sống thanh bình của con người khiến cho giọng điệu và tâm tình trong thơ Quang Dũng chợt như mềm lại, tạo nên sự linh hoạt đã thành rất đỗi tài hoa trong bút pháp thể hiện:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Với những kỉ niệm về binh đoàn Tây Tiến rất khó mờ phai trong tâm trí, lại thêm bút pháp hoài niệm rất đỗi tài hoa, qua hàng loạt những hình ảnh trái ngược mà hài hoà bổ sung cho nhau, Quang Dũng đã làm sống dậy hình ảnh người lính Tây Tiến, rừng núi Tây Tiến trong nỗi nhớ thật chơi vơi về Tây Tiến.
Những chuỗi kỉ niệm về thiên nhiên và con người đó như những thước phim vừa chân thực sinh động vừa rất huyền ảo, tình cảm và tài hoa đã góp phân tạo nên thành công cả về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.
Có người nhận định rằng với bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài bằng thơ về hình tượng ngựời lính đánh Pháp trong cuộc kháng chiến gian lao mà dũng cảm và cũng đầy chất thơ của nhân dân ta.
Đọc đoạn thơ, ta hiểu thêm về người lính Tây Tiến, hiểu thêm những điều ẩn phía sau của “đoàn binh không mọc tóc” và hiểu hơn về nguồn cội của sức mạnh mà người lính đem vào trận chiến. Yêu quý, khâm phục, tự hào là những dư vang tha thiết trong lòng người đọc khi biết về binh đoàn Tây Tiến qua những vần thơ của Quang Dũng.
Bài viết số 3 lớp 12 đề 2:
a) Vẻ đẹp bi tráng cùa hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi, bụi thời gian có thể phủ dày lên hình ảnh của những anh hùng vô danh nhưng văn học với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách vĩnh viễn vào tâm hồn người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước đã ngã xuống vì nền độc lập của Tổ quốc trong suốt trường kỳ lịch sử. ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian
“Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hnội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
“Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của
nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ. Chính vì thế QDũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà “đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và QDũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân. QDũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dtộc. Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ
“Tây Tiến đoàn quân ….. khúc độc hành”
Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu:
” Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ”
hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của QDũng
đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét
rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói). Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá nguỵ trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tuỵ. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo. Cái giỏi của QDũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc”. Nhờ những thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh. 2 chữ “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ “Tây Tiến” mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây. Thủ pháp tương phản mà QDũng sử dụng ở câu thơ “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc văn hoá của dân tộc. ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như chúa sơn lâm, không phải muốn “động vật hoá” người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu
Tam quan kỳ hổ khí thôn ngưu” Và ngay cả Hồ Chí Minh trong “Đăng sơn” cũng viết
“Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu Thể diện sài long xâm lược quân”
Có thể nói QDũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ mang âm vang của lsử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền thống của dtộc. Đọc câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” ta như nghe thấy âm hưởng của một hào khí ngút trời Đông á.
Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi QDũng bổ sung vào bức tượng
đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tquốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở
nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về HNội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:
“Từ thuở mang gươm đi mở nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”
Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam. QuDũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.
Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản
lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng của thơ QDũng.
Nếu như ở 4 câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những
bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ. Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến. Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu QDũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.
Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng ra rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết, về nấm mồ của người lính Tây Tiến ở nơi “viễn xứ”. Từng chữ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Chẳng phải thế sao? Nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ “rải rác” dễ gợi sự hoang lạnh, lại là “rải rác” nơi “viễn xứ”, những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. QDũng muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội
Trong Chinh phụ ngâm:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
“Hồn tử sĩ gió về ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn”
Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Đồng thời cũng chính câu thơ thứ 2 đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ QDũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy.
Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ
“Áo bào thay chiếu anh về đất”
Bao nhiêu thương yêu của QDũng trong một câu thơ như vậy về một đồng đội của mình. Ai bảo QDũng không xót thương những người đồng đội của mình ra đi trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong “Viếng bạn” cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế
” Ở đây không manh ván Chôn anh bằng tấm chăn Của đồng bào Cứa Ngàn Tặng tôi ngày sơ tán”
Chỉ có điều câu thơ của QDũng không dừng lại ở mức tả thực mà đẩy lên thành cảm hứng tráng lệ, coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có chính tấm áo của người lính. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy QDũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hy sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất nước, với núi sông. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. Mạch cảm xúc ấy đã dẫn tới câu thơ đầy tính chất tráng ca “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Từ sự kết hợp một cách hài hoà giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, QDũng đã dựng lên bức chân dung, một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại cả dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp. Đó là bức tượng đài được kết tinh từ âm hưởng bi tráng của cuộc kháng chiến ấy. Đó là bức tượng đài được khắc tạc bằng cả tình yêu của QDũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước của mình. Vì thế từ bức tượng đài đã vút lên khúc hát ngợi ca của nhà thơ cũng như của cả đất nước về những người con anh hùng ấy.
b) Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta vê, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Bài làm
“Ôi! Nỗi nhớ, có bao giờ thế!”. Nỗi nhớ đi qua thời gian, vượt qua không gian. Nỗi nhớ thấm sâu lòng người… Và nỗi nhớ ấy cứ ray rứt, da diết trong tầm hồn người chiến sĩ cách mạng miền xuôi khi xa rồi Việt Bắc thân yêu – nơi đã từng nuôi nấng mình trong những ngày kháng chiến gian lao…
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngàv xuân mơ nờ trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai-tiếng hát ân tình thủy chung.
Trong cùng một đoạn thơ ngắn nhưng từ “nhớ” đã được lặp lại năm lần. Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối đoạn. Hai dòng đầu là lời khơi gợi, “nhắc khéo”: mình có nhớ ta không? Riêng ta, ta vần nhớ! Cách xưng hô gợi vẻ thân mật, tình cảm đậm đà tha thiết. Ta với mình tuy hai mà một, tuy một mà hai.
Người ra đi nhớ những gì? Việc Bắc có gì để mà nhớ, đế mà thương? Câu thơ đã trình bày rất rõ?
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Núi rừng, phong cảnh Việt Bắc được ví như “hoa”. Nó tươi thắm, rực rỡ và “thơm mát”. Trong bức tranh thiện nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên giản dị, chân chất, mộc mạc mà cao đẹp vô cùng! Con người và thiên nhiên lồng vào nhau, gắn kết với nhau tạo nên cái phong thái riêng của Việt Bắc.
Bốn mùa đất nước đi qua trong những câu thơ ngắn gọn bằng các hình ảnh, chi tiết chắt lọc, đặc trưng. Mỗi mùa mang một hương vị độc dáo riêng.
Mùa đông, rừng biếc xanh, điểm lên những bông hoa chuối “đỏ tươi” và ánh nắng vàng rực rỡ. Xuân đến, cả khu rừng bừng sáng bởi màu trắng của hoa mơ. Hè sang, có ve kêu và có “rừng phách đổ vàng”. Và khi thu về, thiên nhiên dược thắp sáng bởi màu vàng dìu dịu của ánh trăng. Đoạn thơ tràn ngập những màu sắc chói lọi, rực rờ: xanh, đỏ, vàng, trắng… Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan của người đọc. Tiếp xúc với những câu thơ của Tố Hữu, ta như được chiêm ngưỡng một bức tranh sinh động. Trong đó, những gam màu được sử dụng một cách hài hòa tự nhiên càng tôn thêm vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc.
Thời gian vận hành nhịp nhàng trong những dòng thơ. Nó bước những bước rắn rỏi, vững chắc khiến ta chẳng thế thấy phút giao mùa. Thiên nhiên Việt Bắc còn được mô tả theo chiều dọc thời gian. Buổi sáng hoa “mơ nở trắng rừng”, trưa nắng vàng rực rỡ và khi đêm về, trăng rọi bàng bạc khắp nơi… Núi rừng Việt Bắc như một sinh thế đang biến dổi trong từng khoảnh khắc…
Và cái phong cảnh tuyệt vời, đáng yêu ấy càng trơ nên hài hòa nắng ấm, sinh động hẳn lên khi xuất hiện hình ảnh cùa con người. Con người đang lồng vào thiên nhiên, như một đóa hoa đẹp nhất, có hương thơm ngào ngạt nhất. Mồi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người. Cảnh và người đan xen vào nhau một cách hài hòa. Đây là những con người lao động, gắn bó, hăng say với công việc. Kẻ “dao gài thắt lưng”, người “đan nón”, “cô em gái hái măng một mình” và tiếng hát ân tình cua ai đó vang lên giữa đêm rừng núi xôn xao… Hình ảnh con người làm nét đẹp cúa thiên nhiên thêm rực rỡ. Chính họ đã gợi nên nỗi nhớ da diết cho người ra đi. Đọc đoạn thơ, ta có cảm nhận những vẻ dẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn người Việt Bắc. Ở đó họ đối xừ với nhau bằng tình nghĩa mặn mà, chân thật, bằng sự thủy chung “trước sau như một”. Họ đã nuôi chiến sĩ, nuôi cách mạng, nuôi cuộc kháng chiến cùa dân tộc… Những con người Việt Bắc tuy bình dị nhưng thật anh hùng.
Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, Tố Hữu đã thể hiện một tình cảm tha thiết, ân tình sâu nặng và nỗi nhớ thương sâu sắc. Ta với mình, mình với ta đã từng:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Đã từng san sẻ những ngọt bùi, gian nan vất vả như thế! Ta, mình làm sao có thể quên nhau được. Tình cám mến thương ấy đã ăn sâu vào tâm hồn kẻ ở, người đi. Vì thế, khi ra đi, nhớ là nỗi niềm khắc đậm sâu trong tâm khảm, tình cảm của tác giả.
Giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng. Cả khổ thơ ôm chứa niềm lạc quan, vui sống và tin tưởng vào cuộc sống. Nó mang âm điệu trữ tình, thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước thiết tha của Tố Hữu. Cuối đoạn thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi bao kỉ niệm. Ki niệm ấy theo mãi dấu chân người đi và quấn quýt bên lòng kẻ ở lại…
Những câu thơ cùa Tô Hữu có tính khái quát cao so với toàn bài. Lời thơ giản dị mà trong sáng thể hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc. Nỗi nhớ trong thơ của Tố Hữu đã đi vào tâm hồn người đọc, như khúc dân ca ngọt ngào đê lại trong lòng ta những tình cảm sâu lắng, dịu dàng
Bài viết số 3 lớp 12 đề 3:
a) Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong đoạn trích Đất Nước ( trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm) và bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi.
Bài làm
“Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu. Nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về mình mẹ lặng im…(Tạ Hữu Yên). Cứ mỗi lần nghe lại bài hát này lòng ta xốn xanh da diết! Nhớ những ngày bé thơ đến lớp, cô giáo dạy tôi viết hai chữ “Việt Nam” và gọi đó là Đất Nước. Tôi mơ hồ chả hiểu, chỉ biết rằng đó là cái gì lớn lao và thật quý báu lắm! Thời gian trôi qua nhanh, mang tuổi thơ bé bỏng của tôi đi xa. Cho đến hôm nay, qua bao nhiêu vần thơ đọc được tôi đã thấm thía hai tiếng thiêng liêng “Đất Nước”. Nhưng rất buồn là tôi không thể viết thành thơ. Trong những vần thơ “ Đất nước” mến yêu dạt dào cảm hứng ấy, có tác phẩm của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm.
Hai nhà thơ đã truyền cho tôi cảm xúc mạnh mẽ. Những vần thơ giúp tôi nhìn ra chân dung của đất nước. Bình dị và trong sách, hồn hậu và nhân ái, nghèo khổ nhưng oai hùng. Có lẽ chính những điều ấy đã khơi gợi cảm hứng cho các bài thơ, đã gieo vào lòng từng nhà thơ bao suy tư và trăn trở. Từ cảm xúc của những ngày sống hết mình với chiến đấu, từ vốn tri thức khá phong phú của mình, qua chương “Đất nước” Nguyễn Khoa Điềm đã cắt nghĩa sâu xa cho tuổi trẻ thành thị miền Nam lúc này. Những hiểu biết về lịch sử dân tộc như sống dậy, lay động tâm hồn tác giả. Mỗi câu chuyện cổ tích, những thời khắc lịch sử của những cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước ngày càng thiêng liêng, tha thiết hơn bao giờ ….
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa”…mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân ta biết trồng tre và đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó.
Trong hai câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm man mác âm hưởng sử thi. Yếu tố cổ điển và hiện đại hoà quỵên vào nhau tạo thành một cấu trúc hai cực. Đất nước mình chân thật như cuộc sống. Những câu thơ dài tuôn chảy êm dịu như dòng sông. Một dòng cảm xúc dào dạt âm thầm nhưng mãnh liệt. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại: “Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”. Dường như nhà thơ đã huy động vào đây nhiều vốn liếng, trí tuệ, sự từng trải, gửi gắm vào đây bao kỉ niệm suy tư. Nguyễn Khoa Điềm đã cùng ta hành hương về với cội nguồn dân tộc và rồi tham gia vào cuộc chiến đấu chung là con đường đúng đắn duy nhất đối với người thanh niên yêu nước. Nhà thơ mạnh dạn để cái “tôi” của mình xuất hiện. Có thể nói rằng, muốn viết những vần thơ tuyệt vời về Đất nước không chỉ đơn thuần là nhà thơ biết rung động trước một vầng trăng, một tia nắng, một điệu dân ca hay một tiếng thơ cổ điển. Đây là cả một quá trình suy ngẫm, và “nhìn lại” đất nước. Từng lời thơ đầm ấm giàu ý thức của tuổi trẻ đã nhận ra vai trò của mình trước thời đại và nhận thức được đất nước này là của nhân dân. Chúng ta phải chiến đấu để bảo vệ đất nước tươi đẹp. Nhà thơ cảm nhận phát hiện ra đất nước từ csai nhìn tổng hợp, nhiều mặt và dường như đã toàn vẹn. Với Nguyễn Đình Thi cảm hứng về đất nước bắt nguồn từ những chất liệu hình ảnh cụ thể, sinh động của cuộc kháng chiến chín năm cứu nước thần thánh của chúng ta. Bài thơ mang tính khái quát về cảm hứng lịch sử và truyền thống của dân tộc. Có phải chăng, cái cảm hứng ấy của hai nhà thơ này đều bắt nguồn từ lòng yêu nước sâu sắc? Do hoàn cảnh và thời điểm lịch sử mà mỗi nhà thơ lại có cảm nhận khác nhau. Cảm hứng về đất nước đến với Nguyễn Đình Thi trong lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra dữ dội và tàn khốc. Người thanh niên Hà Nội ấy, cũng đã bước vào cuộc kháng chiến nhưng tâm hồn anh thanh niên vẫ đủ sức cảm nhận:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa.
Chính “mùa thu Hà Nội” ngày hôm nay đã gợi cảm hứng cho tác giả. Nhìn mùa thu này nhà thơ lại nhớ đến mùa thu xưa. Dường như lời hát “Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến. Rên khắp trời, lời hoan hô quân, dân ta tiến ra trận tiền” còn vang vọng bên tai. Hôm nay đứng giữa đất trời chiến khu trong buổi sáng mùa thu mát lành nhà thơ suy tư về đất nước. Cái cảm giác đầu tiên mà Nguyễn Đình Thi bắt gặp là cái rất riêng, rất đặc trưng về, rất Hà Nội: mùi hương cốm mát. Phải là một chàng trai Hà Nội chính gốc mới có được cái cảm nhận ấy. Phải gắn bó máu thịt với thủ đô mới chan hoà tình thương nơi này đến thế! Niềm cảm xúc dâng trào. Những hồi tưởng về mùa thu trước tuy êm ái nhưng thật ra lòng nhà thơ dạt dào biết bao
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Người ra đi mang dáng dấp của cậu học trò, tỏng sáng lưu luyến bao nhiêu kỉ niệm đẹp với từng con phố dài xao xác hơi may. Có một chút lưu luyến bâng khuâng trong lòng người, nhưng không hề bi luỵ. Câu thơ mang màu sắc lãng mạn tươi mát trong lành:
Sau lăng thềm nắng lá rơi đầy
Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Đình Thi cũng bắt đầu vui phơi phới của người tự do. Đứng giữa một vùng chiến khu tự do nhà văn đón nhận đất nước với những điều mới mẻ:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha.
Phải có con mắt tinh tế, giao cảm với thiên nhiên nhà thơ mới nhận được sự”thay áo mới” của mùa thu. Tất cả như nô nức, muôn âm thanh trong trẻo xanh biếc của trời thu như hoà quyện vào nhau; đất nước như “đang cười, đang nói”. Tâm hồn nhà thơ dạt dào mênh mông thấy đất nước mình như “rừng tre phấp phới”. Hình ảnh cây tre cũng được các nhà thơ nhắc đến khi viết về đất nước:
Ta yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ bát ngát câu Kiều bờ tre, mái rạ
Mái đình cong con như em gái giữa đêm chèo
Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xấm xoen cò lả
Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo
(Chế Lan Viên)
Từ xúc cảm mãnh liệt dạt dào nhà thơ cảm nhận được đất nước mình không giống Chế Lan Viên với lối trầm ngâm, lắng đọng mà ở đây, đất nước hiện lên nô nức, tươi mát nhưng cũng hết sức hào hùng:
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nhà thơ không thiên tả cảnh mà nghiêng về yếu tố tượng trưng. Chỉ một vài hình ảnh cụ thể như: “ núi rừng, những cánh đồng, ngả đường, dòng sông” nhà thơ đã vẽ nên đất nước. Một đất nước được khẳng định chủ quyền “ Trời xanh đây là của chúng ta”, giống Lý Thường Kiệt ngày xưa đã khẳng định: “Nam quốc sơn hà nam đế cư”. Mượn một vài hình ảnh cụ thể nhưng có tính khái quát cao nhà thơ đã gửi găm stình cảm, gửi gắm tâm trạng của mình trong đó. Niềm tự hào nhà thơ thể hiện qua điệp nhữ “của chúng ta”. Rất đẹp, rất thơ với “những cánh đồng, những dòng sông, rừng núi”…Cảm hứng lịch sử với truyền thống dân tộc đã nhắc nhở nhà thơ đừng quên:
Nước của những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Có nhìn về quá khứ xa xôi mới quý hơn những ngày mình đang sống. ở đây càng thấy quý hơn bởi chữ “tâm” của nhà thơ. Không chỉ có cảm nhận đất nước trong hiện tại với biết bao niềm vui chào đón mà còn nhìn lại lịch sử dân tộc. Có phải chăng những tiếng “rì rầm” trong đất ấy, những buổi ngày xưa vọng về thôi thúc bước chân và trái tim nhà thơ? Cảm hưúng thời đại đã kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng lịch sử truyền thống đã tạo ra những câu thơ tuyệt vời. Thi sĩ Gớt( Đức) có nói rằng: “Nhà thơ phải biết nắm lấy cái riêng biệt và từ đó, nếu cái riêng biệt là chân chính nhà thơ biểu hiện cái khái quát”. Nguyễn Đình Thi đã đi theo cái hướng này và đã thành công. Bằng những liên kết sóng đôi nhà thơ thường đi từ cái cụ thể đến cái khái quát.
Do đó mạch thơ tuôn trào theo cảm xúc không bị dàn trải. Nhà thơ cảm nhận đất nước bằng chính cái tâm hồn của mình, đáy lòng mình, không triết lý, không ồn ào nhưng đầy khích lệ. Chính vì vậy mà đất nước Việt Nam hiện lên rất hiện thực. Đó là một đất nước tạo hình trong đau khổ. Chíên tranh kéo dài không biết bao năm từ Đinh, Lý, Trần, Lê và cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hết. Đất nước vẫn còn:
Những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều.
Từ xúc cảm khôgn chỉ là niềm vui mà còn là nỗi đau nên trong bài thơ Đất nước lại có những vần thơ “đẫm nước mắt” như thế. Hình ảnh “cánh đồng quê chảy máu” đã tố cáo tội ác của giặc. Lấy “máu đỏ mà tưới trên cánh đồng vàng” không phải là tàn nhẫn hay sao? Cái hay của Nguyễn Đình Thi là ở chỗ đó. Hiện thực, quá khứ đã hội tụ về đây đó trong bài thơ nhưng với tâm hồn của một người lính mang dáng dấp học trò. cảm hứng lãng mạn luôn luôn chi phối.
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Tình cảm riêng tư cũng đã trở thành cảm hứng về đất nước. Trong cái chung bao giờ cũng có cái riêng Nguyễn Đình Thi đã từng nói “Ta yêu em như yêu đất nước”. Chính những tình cảm này đã góp phần tạo nên “Đất nước” đôn hậu, ân tình và trìu mến hơn. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cũng được khơi gợi từ chuyện giữa “anh và em”.
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
Nguyễn Khoa Điềm đã tiếp nhận đất nước trên nhiều phương diện. Từ địa lý cho đến lịch sử, rất cụ thể. Những câu thơ dài xen lẫn những câu ngắn và lối chiết tự khiến cho lời thơ có vẻ trầm tư. Tình yêu lứa đôi nảy sinh trong tình yêu đất nước. Cảm hứng đất nước bắt nguồn từ cách cảm nhận của nhà thơ qua những trắc nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tư tưởng của nhân dân đã chi phối toàn bộ cảm hứng, cấu từ hình tượng thơ. Nhà thơ cảm nhận rằng chính nhân dân đã làm nên đất nước và đất nước đã muôn đời là của nhân dân. Đất nước đối với nhà thơ vừa cụ thể mà cũng huyền ảo. Bởi vì cảm hứng ấy bắt nguồn từ những câu chuyện cổ, từ những điều gần gũi thân thương với cuộc sống của chúng ta:
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
Rất cụ thể, gần gũi và bình dị: “Tóc mẹ…gừng cay muối mặn”. Nhưng đây cũng là sự sáng tạo. Nhà thơ cảm nhận đất nước theo chiều dài, lẫn chiều sâu, xuyên suốt từ quá khứ cho đến hiện tại. Truyền thống, phong tục được coi là chất sống vĩnh hằng. Đất nước là tất cả những gì có trong cuộc sống, là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng:
Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
…Em ơi em Đất Nước là một phần trong máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
Lời nhắn nhủ có vẻ riêng tư nhưng thật ra tác giả muốn nói chung với tất cả chúng ta. Không phải là lời giáo huấn mà là nỗi tâm tình, đầm ấm và thắm thiết. Những gì đã qua mà nhà thơ chứng kiến, đã biết, đã hiểu là nguồn cảm hứng chủ yếu của bài thơ. Tình yêu nước thể hiện thầm kín trong từng câu thơ. Dường như đối với Nguyễn Khoa điềm đất nước mênh mông rông lớn lắm nhưng nó không xa lạ gì với chúng ta, nó ở ngay trong ta. Tất cả những gì có trong cuộc sống đều góp phần tạo nên đất nước. Đó là cảm nhận của lớp người đi trước. Nhà thơ đã khắc hoạ lại đất nước hết sức điển hình. Một đất nước Việt Nam với những chuyện cổ tích, ca dao, bình dị, chân tình nhưng người dân giàu lòng yêu thương, sẵn sàng hi sinh mình để tạo nên dáng hình xứ sở. Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm không dừng lại ở một giới hạn nào, bởi vì đất nước kết tinh trong mỗi con người. Đất nước hoá thân trong đời sống của mỗi cá nhân và mỗi cá nhân đang sống đều mang di sản đất nước của cha ông để lại.
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta
Vì vậy, chúng ta hôm nay có trách nhiệm giữ gìn và truyền cho thế hệ mai sau. Cảm hứng thời đại xen với cảm hứng truyền thống. Lịch sử dân tộc tạo ra mạch thơ dài không ngơi nghỉ. Nhưng điều đó khiến ta liên tưởng đến đất nước mình…Trong từng thời điểm, đất nước có những phút giây thơ mộng nhưng qua bao nhiêu chặng đường mà nhà thơ đã đi đất nước sống trong cực nhọc, nặng nề dưới bom đạn, chiến tranh. Nhưng mà cha ông ta:
Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươmg ta mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà
(Huy Cận)
Chính nỗi đau đớn mà đất nước đã phải chịu đựng làm xốn xang tâm hồn của nhà thơ. Thật vậy, bốn ngàn năm qua tổ quốc ta chưa hề châm dứt chiến tranh:
“Đất nước tôi, đất nước tôi, từ thuở còn nằm nôi sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa…”
Những buổi trưa hè giọng ca dao vẫn cất lên trên đất nước đau thương. Cung xlà một đất nước Việt Nam nhưng mỗi nhà thơ đều cảm nhận ở những điều khác nhau. Cảm hứng về “đất nước” bắg đầu từ hiện thực. Nhưng ở mỗi nhà thơ đều mang hình nét lãng mạn, lạc quan:
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước cả ca dao thần thoại
Dạy anh biết “Yêu em từ thuở trong nôi”
“Đất nước” là chủ đề bao trùm thơ Việt Nam trong giai đoạn 1945-1975. Biết bao nhà thơ đã viết về đề tài nay. Nhưng tôi cho rằng trong tất cả những bài thơ Đất nước Nguyễn Đình Thi là người thành công hơn cả. Đất nước của Nguyễn Đình Thi rất chân thật nhưng rất nghệ thuật nhờ nhà thơ đã chọn hình tượng đặc sắc. Tuy nhiên ở mỗi bài thơ Đất nước nhà thơ nào cũng có nét hay riêng.
Tóm lại, cảm hứng đất nước của nhà thơ bắt ngùôn từ lòng yêu nước chân thành, sâu sắc! Cảm hứng đó không bắt gặp trong hiện tại mà họ còn tìm về quá khứ. Với những năm tháng gian khổ chiến tranh với truyền thống tốt đẹp của dân tộc…Chính các nhà thơ cũng có một phần tạo ra: “Nam quốc sơn hà” tươi đẹp! Để chúng ta có thể tự hào: “Đất nước tôi…sáng ngời muôn thuở. Khi trăng đã vào cửa sổ đòi thơ…”
b) Cảm nhận của anh chị về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh mà lá dữ oai hùng
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Bài làm
I. Đặt vấn đề:
– Tây Tiến là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Quang Dũng. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh khi ông đã xa đơn vị Tây Tiến một thời gian.
– Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947. Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả học sinh, sinh viên.
– Đoạn thơ cần phân tích là đoạn thứ ba của bài thơ, trong đó Quang Dũng đã khắc họa hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến bằng bút pháp lãng mạn, thấm đẫm tinh thần bi tráng.
II. Giải quyết vấn đề:
1. Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến:
Hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn với khuynh hướng tô đậm những cái phi thường, sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập để tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng phong phú của người đọc.
– Trong bài thơ, Quang Dũng đã tạo được một không khí, chuẩn bị cho sự xuất hiện trực tiếp của những người lính Tây Tiến ở đoạn thơ thứ ba này. Trên cái nền hoang vu hiểm trở vừa hùng vĩ vừa dữ dội khác thường của núi rừng (ở đoạn một), và duyên dáng, mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình ảnh những người lính Tây Tiến trực tiếp xuất hiện với một vẻ đẹp độc đáo và kì lạ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
… Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
– Quang Dũng đã chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể đặng khái quát những gương mặt chung của cả đoàn quân. Qua ngòi bút của ông, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc. Quang Dũng không hề che giấu những sự thực tàn khốc đó. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường. Và ngòi bút lãng mạn của ông đã biến họ thành những bức chân dung lẫm liệt, oai hùng. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của ông, vẫn toát lên cái oai phong của những con hổ nơi rừng thiêng. Cái vẻ oai phong, lẫm liệt ấy còn được thể hiện quan ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ …
– Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của những người lính Tây Tiến là những tâm hồn còn rất trẻ, những trái tim rạo rực, khao khát yêu đương (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm). Như vậy, trong bốn câu thơ trên, Quang Dũng đã tạc lên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc họa dáng vẻ bề ngoài mà con thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ.
2. Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến:
– Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Cảm hứng lãng mạn đã khiến ngòi bút ông nói nhiều tới cái buồn, cái chết như là những chất liệu thẩm mỉ tạo nên cái đẹp mang chất bi hùng:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
….Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
– Khi miêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi lụy. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.
– Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.
III. Kết thúc vấn đề:
– Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại.
– Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.
|
Bài viết số 3 lớp 12
| 10,539
| |
Bài viết số 3 lớp 6 đề 5: Kể về những đổi mới ở quê em (có điện, có đường, có trường mới, cây trồng,…)
Hướng dẫn
Kể về những đổi mới ở quê em (có điện, có đường, có trường mới, cây trồng)
Bài viết số 3 lớp 6 đề 5: Kể về những đổi mới ở quê em (có điện, có đường, có trường mới, cây trồng,…). Đây là tài liệu văn mẫu lớp 6 hay dành cho quý thầy cô và các em học sinh tham khảo. Tài liệu này bao gồm nhiều bài văn mẫu lớp 6 với đề bài Kể về những đổi mới ở quê em, hi vọng sẽ giúp các em biết cách làm bài văn kể chuyện, hoàn thành tốt bài tập làm văn số 3.
Dàn bài
A. Mở bài.
– Giới thiệu khái quát về quê em.
B. Thân bài.
– Quê em trong quá khứ như thế nào?
– Quê em ngày nay đã đổi mới ra sao?
+ Quang cảnh?
+ Nhịp sống?
+ Tinh thần hăng say lao động?
– Nhìn quê hương đổi mới, cảm giác của em thế nào?
C. Kết bài.
– Em mong ước như thế nào về quê hương trong tương lai?
Bài tham khảo 1
Đã rất lâu rồi em không có dịp về thăm quê nội. Hôm nay, sau một năm học vất vả, em được bố mẹ thưởng một chuyến về quê chơi. Chao ôi! Quê em đổi mới nhiều quá!
Từ xa nhìn lại quê hương em như một bức tranh nhiều màu sắc. Đến gần là rặng tre làng, cánh đồng lúa,… Đứng lên trần nhà bà nội, em phóng tầm mắt nhìn dòng sông Đáy hiền hoà chảy quanh năm. Những trưa hè nóng bức, chúng em thường lội xuống dòng sông để rửa chân, tay và tắm mát. Dòng nước như ôm những đứa con vào lòng. Đông vui và tấp nập nhất là lúc 6 – 7 giờ sáng. Lúc đó là các bạn học sinh đi học, các bác đi làm và các cô đi chợ trên chiếc cầu phao bằng gỗ nối từ bờ sông này sang bờ sông kia. Ở dưới sông, tàu bè xuôi ngược. Trước mặt em là cánh đồng lúa. Từ xa cánh đồng như một tấm thảm màu xanh, lác đác có vài bác nông dân đi thăm lúa. Ra về, ai cũng khen lúa năm nay tốt thật. Em nghe bà kể rằng: “Xưa kia cánh đồng lúa này mọc toàn cỏ, một sào chỉ thu hoạch được gần một tạ thế mà giờ đây một sào có thể thu hoạch được ba tạ thóc. Phía bên phải em là những dãy núi, dãy núi này chồm lên dãy nọ. Những cây mọc quanh sườn núi trông xanh mượt. Em xuống dưới nhà, chỉ cần bước qua khỏi cổng là đã đứng trên con đường làng. Mẹ em nói: “Con đường này trước đây còn là đường đất, khi trời đổ mưa thì đường lầy lội, trơn như đổ mỡ và có rất nhiều ổ gà. Ngày ấy, mẹ đi học toàn bị ngã, nước bắn bẩn hết quần áo, phải về nhà thay”. Thế mà giờ đây được sự quan tâm của xã, con đường làng em đã được khoác trên mình một tấm áo bê tông.
Hai bên đường trước dãy là những ngôi nhà mái tranh vách đất, cứ lúc mưa là lại bị dột. Ngày ấy cũng chưa có điện, cứ đến chập tối là thắp đèn dầu và đóng cửa ở trong nhà, ngại sang nhà hàng xóm chơi vì trời tối quá. Thế mà giờ đây hai bên đường san sát những ngôi nhà hai tầng mọc lên. Đèn điện được thắp sáng trưng. Những cột giàn ăng ten dựng lên cao ngất. Chắc hẳn ở khắp các miền quê trên đất nước ta, có rất nhiều nơi có cảnh đẹp và sự đổi mới giống như quê em
Sẽ không lớn nổi thành người
Câu hát trên cứ văng vẳng bên tai. Em nghĩ lớn lên dù có đi đâu xa, em cũng không thể quên nơi chôn rau, cắt rốn. Hiện nay, đang ngồi trên ghế nhà trường em nghĩ sẽ học tập giỏi để mai này lớn lên, xây dựng quê hương em ngày càng giàu đẹp, để không phụ công lao dưỡng dục của cha mẹ và thầy cô.
Bài tham khảo 2
Quê hương –hai tiếng thiêng liêng vang lên mỗi khi ai đó nhớ về chốn đã từng chôn rau cắt rốn, gắn bó với biết bao kỉ niệm, bao kí ức đẹp đẽ. Quê hương tôi, một miền quê trù phú với sông nước hữu tình, đang từng ngày đổi mới, thay da đổi thịt, trở nên đẹp đẽ và văn minh hơn.
Tôi thường được nghe bà kể lại về những khó khăn vất vả thời xưa, thời mà đường làng vẫn còn đất đỏ, chỉ cần một trận mưa thì trơn như đổ mỡ, còn nắng thì con đường trở thành cơn lốc bụi, người đi sau không thấy người đi trước. Bà vẫn hay kể, ngày xưa, cây cối ở đây um tùm, toàn phải sống trong nhà tranh, nhà nào có nhà ngói thì phải gọi là giàu nhất làng. Bà còn bảo, ngày xưa nước sông trong veo, cứ mỗi sáng mọi người lại rủ nhau đi gánh nước tấp nập không khác gì đi hội. Bà hay đi chợ phiên, mỗi hôm có chợ phiên là bà và ông phải dậy thật sớm, đi bộ hàng ki lô mét mới tới chợ. Mà ngày xưa nghèo lắm, chẳng như bây giờ, mua được bao nhiêu thứ thì cũng phải nhìn trước nhìn sau. Tôi thích nghe những câu chuyện như thế, để tôi thấy bây giờ cuộc sống và quê hương mình thay đổi như thế nào. Thật là mọi thứ đã thay đổi, không còn như ngày xưa, sống động, giàu có và văn minh hơn.
Trên con đường đi học, tôi cùng bạn bè trang lứa được đi trên những con đường trải nhự tăm tắp, nắng hay mưa cũng không lo như thời của bà của mẹ nữa. Nhìn những con đường uốn lượn trải dài y như những con rồng chạy quanh khắp xóm làng. Những ngôi nhà mái đỏ, nhấp nhô những ngôi nhà cao tầng đủ màu sắc càng tô điểm thêm khung cảnh của quê hương. Những quán ăn, hàng tạp hóa,chợ được xây dựng khang trang hơn, thuận tiện cho mọi người mua sắm. Cây cối cũng được phát quang, nhà mọc lên như nấm, người ta thường trồng nhiều loại cây cảnh để trang trí cho ngôi nhà. Không chỉ có nhà cửa cảnh quan thay đổi mà từ khi công nghệ phát triển, mạng internet có khắp mọi nơi, khiến cho công việc và tím kiếm thông tin càng trở nên dễ dàng. Những dự án mới ngày càng được chú trọng xây dựng cho quê hương ngày càng giàu đẹp hơn. Sân vận động cho các hoạt động thể dục thể thao, trạm phát thanh của xã được xây dựng và phát triển đi vào hệ thống. Những chương trình sự kiện được tổ chức thường xuyên nhằm thúc đẩy hoạt động văn hóa văn nghệ. Đền đài và các di tích lịch sử được tu sửa, đời sống tinh thần của con người cũng phong phú đa dạng hơn.
Trên con đường đổi mới từng ngày, tôi lại càng thấy quê hương mình giàu đẹp và trù phú biết bao nhiêu. Tôi lại càng yêu quê hương và lại nhẩm mấy câu hát “quê hương em biết bao tươi đẹp, đồng lúa xanh núi rừng hàng cây..”
Bài tham khảo 3
Cách đây mấy năm mẹ có đưa em về thăm quê nội, một vùng đất lịch sử nổi tiếng của cả nước, đó là Điện Biên. Gia đình em ít khi về được vì khi về sẽ phải đi bằng máy bay, vừa nhanh lại vừa an toàn, đi bằng ô tô sẽ phải qua nhiều con đường đèo quanh co hiểm trở, rất nguy hiểm, tuy vậy nếu đi ô tô cũng có cái thú vị riêng của nó, vì hay được dừng lại nghỉ giữa đường tha hồ ngắm nhìn cảnh vật núi non trùng điệp, cây cối xanh tươi hòa vào bầu trời xanh trong bát ngát. Nhưng đi bằng máy bay là tuyệt vời nhất, lên máy bay ngồi chỉ khoảng vài chục phút đồng hồ đã chuẩn bị đáp xuống mặt đất, lúc sắp hạ cánh là lúc mình được nhìn rõ nhất cả cánh đồng Mường Thanh, một lòng chảo khum khum mênh mông xanh một màu lúa non mơn mởn, nhìn thấy được cả đường băng dài chạy dọc cánh đồng, máy bay sẽ lượn một vòng tròn như là muốn cho mình được ngắm kỹ hơn mảnh đất yêu dấu của mình vậy, rồi nó mới từ từ đáp xuống đường băng.
Lần về ấy, em quen mấy người bạn trong xóm, cạnh nhà ông bà nội em, các bạn cũng tầm tuổi em, các bạn ấy đã dẫn em sang bên trường học, hồi đó trường xây bé xíu, thấp lè tè, tường rêu xanh rì, hình như trước kia là khu đóng quân của quân đội, về sau giao lại cho trường vì nó gần đường cái lớn, tiện cho việc đi lại và đưa đón con đi học của các cha mẹ. Ngay trước cổng trường là một khu chợ rất mất trật tự, hàng hóa bán tràn hết ra lề đường, hóa ra vì người ta thấy các mẹ đưa con đi học thì cũng tiện thể muốn đi chợ luôn hay sao ý cho nên người ta họp chợ ở đây rất đông, nhiều khi còn gây tắc nghẽn giao thông nữa cơ.
Khu nhà ông bà nội em ở là khu nhà mới ông bà cùng với nhiều gia đình khác được giao đất khi chuyển từ vùng kinh tế mới về, là một khu nằm rìa thành phố, ngay bên cạnh một khối núi to, hồi em về, nhà còn chưa có điện thắp sáng vì chưa có đường dây đi qua, cột điện chưa được lắp. Mùa hè, tuy ở trên cao, thời tiết vẫn nóng lắm, đêm em không thể ngủ được vì nóng, mẹ em, bà nội em cứ phải thức để quạt cho em.
Em còn nhớ những đặc sản của quê, ngon lắm, có gạo Điện Biên ăn ngọt và thơm, có gà thả đồi, có ngô khoai sắn… món gì cũng ngon. Thích nhất là được theo bà em đi chợ, bà dẫn em ra chỗ những người dân tộc ở vùng sâu vùng xa, họ đi bộ cả buổi mới ra đến chợ, vậy mà gùi theo bao nhiêu là hàng hóa, bao nhiêu là thực phẩm ngon lành của núi rừng, những tấm khăn, tấm vải thổ cẩm được thêu vô cùng công phu, vô cùng sáng tạo, em cứ mê mẩn mấy chiếc ghế tròn được tết bằng mây mà người dân tộc hay ngồi trên nhà sàn, bên bếp lửa, mấy chiếc ghế đó ngồi rất vừa chân, lại có hoa văn thật đẹp, biết em thích nên mỗi khi có ai về xuôi là bà nội lại gửi xuống cho em.
Thế là cả nhà lên đường, em lại được đi máy bay, từ trong máy bay nhìn ra em có thể thấy loáng thoáng núi đồi bên dưới, thấy dòng sông lượn quanh co qua những xóm làng vì máy bay cũng ko bay cao lắm, loáng một cái lại đã đến Điện Biên, lòng chảo Mường Thanh đây rồi, vẫn một màu xanh mát rượi của lúa, một đường băng trải dài như miếng lụa phất dọc cánh đồng. Những đường dây điện giăng giăng khắp nơi, hình như có sự đổi mới thực sự rồi. A, nhà ông bà đã có điện, có điện là có các đồ dùng hiện đại không kém gì dưới xuôi. Vừa bỏ balo khỏi vai, em đã chạy tót ngay sang nhà các bạn hàng xóm, vì đã được ông bà em nói trước nên các bạn đã tụ tập ở đó chờ em, sau mấy phút ban đầu bẽn lẽn, các bạn lại lôi tuột em ra trường. Chao ôi, một khu trường mới khang trang còn tươi màu vôi ve mới, mấy hàng cây xanh được trồng dọc đường đi giờ đã um tùm vươn mình trong nắng. Con đường phía trước ngôi trường dường như rộng thêm ra nhờ hai vỉa hè sạch bong được lát gạch phẳng lỳ, chợ đã chuyển địa điểm về phía cuối con đường, khu chợ cũng được xây dựng khang trang, có quầy có ô đàng hoàng, sạch sẽ, đẹp đẽ. Em cùng các bạn chạy chơi tung tăng trong sân trường, dưới bóng cây xanh mát.
Rồi ông nội và bố mẹ em mượn xe máy chở tất cả bọn em ra thăm khu tượng đài Chiến sĩ Điện Biên, cũng vừa khánh thành năm ngoái, khu tượng đài nằm ở trên cao, phải leo mỏi chân mới tới, cụm tượng thể hiện hình ảnh người chiến sĩ với lá cờ phất phới, như đang ngất ngây trong niềm vui chiến thắng, một em bé đang ngồi trên vai người lính reo vui hạnh phúc. Từ trên khu tượng đài nhìn xuống trung tâm thành phố, thấy những ngôi nhà mái xanh, mái đỏ tươi mới, những con đường được mở rộng thêm ra chạy suốt đến tận những dãy núi trùng điệp bao xung quanh thành phố.
Cuộc sống đang đổi thay đem đến những điều tốt đẹp cho mọi người.
Quê hương em ngày càng giàu đẹp nhờ những bàn tay và khối óc con người luôn muốn dựng xây quê hương.
|
Bài viết số 3 lớp 6 đề 5_ Kể về những đổi mới ở quê em (có điện, có đường, có trường mới, cây trồng,…)
| 2,300
| |
Bài viết số 3 lớp 6 đề 6: Kể về thầy (cô giáo) của em (người quan tâm, lo lắng và động viên em học tập)
Hướng dẫn
Đề 6: Kể về thầy (cô giáo) của em (người quan tâm, lo lắng và động viên em học tập)
Bài viết số 3 lớp 6 đề 6: Kể về thầy (cô giáo) của em (người quan tâm, lo lắng và động viên em học tập). Đây là tài liệu văn mẫu lớp 6 hay dành cho quý thầy cô và các em học sinh tham khảo. Tài liệu này bao gồm nhiều bài văn mẫu lớp 6 với đề bài Kể về những đổi mới ở quê em, hi vọng sẽ giúp các em biết cách làm bài văn kể chuyện, hoàn thành tốt bài tập làm văn số 3.
Dàn bài
I. Mở bài
– Vai trò của người thầy (cô) đối với học trò: Mang đến tri thức, động viên, nhắc nhở, lo lắng việc học tập, dạy dỗ em nên người…
– Giới thiệu khái quát về người thầy (hay cô giáo) mà em sắp kể: Đó là thầy cô nào, dạy em lớp mấy?
– Khái quát về tình cảm quan tâm, yêu thương của thầy, cô đối với em: Luôn hết lòng giúp đỡ em học tập, giúp em tiếp cận phương pháp học mới có hiệu quả hơn,…
II. Thân bài
– Miêu tả một vài nét nổi bật về ngoại hình của người thầy (hoặc cô) mà em sẽ kể (có thể viết riêng hoặc đan xen vào những phần dưới đây): Vóc dáng, phong thái, giọng nói, cử chỉ,…
– Khái quát về lối sống, tác phong sư phạm của người thầy (cô) đó: Mẫu mực, hết lòng thương yêu học sinh…
– Đối với riêng em, thầy (cô) đã hết lòng với việc học tập của em ra sao?
+ Nhắc nhở, động viên em học tập: Gặp riêng để trò chuyện, đến nhà để thăm hỏi, động viên.
+ Giúp đỡ về tinh thần, vật chất (nếu có): Hướng dẫn cách học, tặng sách vở, đồ dùng học tập,…
– Tình cảm của em đối với thầy (cô) giáo đó ra sao: Yêu mến, cảm phục (có thể ban đầu thấy khó chịu nhưng sau này có sự biến đổi rõ rệt).
– Bài học về cách sống mà thầy (cô) đã mang lại cho em.
III. Kết bài
– Khẳng định tình cảm yêu quý, trân trọng của bản thân đối với thầy (cô).
– Những suy nghĩ khái quát, sâu sắc về tình cảm thầy trò.
Bài tham khảo 1
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Có danh có vọng nhớ thầy khi xưa”
Đó chính là những câu thơ nói về nghề giáo, nghề mà luôn được yêu quý, kính trọng. Tôi rất yêu mến các thầy cô giáo của mình, nhưng người để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc nhất chính là cô Kim Anh- cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi.
Cô có mái tóc rất dài, mượt mà, đen nhánh và luôn phảng phất hương thơm. Đôi mắt cô to tròn, đen láy, vô cùng cương nghị nhưng cũng không kém phần dịu dàng. Khi chúng tôi đạt thành tích cao trong học tập, cô luôn nhìn chúng tôi với ánh mắt trìu mến. Còn mỗi khi chúng tôi mắc lỗi, đôi mắt cương nghị của cô lại đượm buồn. Đôi bàn tay cô thon dài, luôn viết ra những mạch văn giàu cảm xúc để chuyển tải bài học đến với chúng tôi. Cô còn giúp chúng tôi nhớ bài lâu hơn bằng giọng nói của mình. Giọng nói của cô thật truyền cảm, khi thì dịu dàng, ấm áp, lúc lại dí dỏm, vui tươi khiến cho chúng tôi luôn tập trung vào bài học, quên cả thời gian. Tính cách cô hiền lành, chính trực, cô luôn nghiêm túc với công việc của mình. Hàng ngày, cô rất hay vui đùa với chúng tôi nhưng khi đã vào tiết học, cô cũng rất nghiêm khắc. Với cô dạy học không chỉ là một nghề, mà còn là một niềm đam mê. Cô luôn chuẩn bị rất kỹ cho bài giảng của mình, nhiều khi cô còn sử dụng cả những đoạn clip ngắn về bài học, giúp chúng tôi có thể tiếp thu bài nhanh nhất. Dù cô đã là một giáo viên nhưng cô vẫn học, đó là sở thích của cô. Cô luôn thức đến ba, bốn giờ sáng mới đi ngủ vì sau khi soạn giáo án, cô lại tiếp tục học bài. “Học như một con đò ngược dòng vậy, các con ạ!” Lời cô nói thấm thía lòng chúng tôi.
Một kỉ niệm đáng nhớ khác là khi tôi học hè. Khi ấy, tôi khá lo sợ do tôi đã nghỉ mất hai tuần. Tôi bước vào lớp với tâm trạng lo lắng. Cô biết là tôi đã nghỉ học, cô bèn giảng lại cho tôi những chỗ tôi chưa biết, chưa hiểu, rồi nhờ bạn cho tôi mượn vở để chép bù bài. Lúc đó tôi thấy mình nhẹ nhõm, thầm cảm ơn cô và các bạn.
Quả thật, nghề giáo thật là cao quý, giống như câu ví: “Nghề giáo là người lái đò tri thức qua sông”. Đó cũng là nghề mà tôi mong ước sau này khi trưởng thành. Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi muốn gửi lời chúc tới cô rằng: “Con chúc cô luôn mạnh khỏe! Con yêu cô nhiều lắm!”
Bài tham khảo 2
Năm lớp 5 tôi được may mắn hoc thầy Phong. Cho đến giờ chúng tôi vẫn còn nhớ mãi những kỉ niệm về thầy.
Dáng người thầy cao to, phải đến hơn mét bảy, gần mét tám. Tầm tuổi thầy mà cao như vậy thật hiếm có. Tóc thầy đã điểm hoa râm, xoăn tít rất lạ. Mắt thầy to, sáng. Ánh nhìn sắc lạnh và rất nghiêm. Nhưng khi cười trông thầy thật hiền từ.
Thầy Phong dạy hay nhất là môn Toán. Bình thường lúc giảng bài thầy rất say sưa. Giọng nói chậm rãi nhưng nhịp tay cứ thoăn thoắt ghi những công thức lên bảng. Thầy không thích ngồi trên bàn giáo viên lâu. Thầy thường hay đi lại quanh lớp nhìn chúng tôi loay hoay tính toán. Và đặc biệt, thầy rất vui khi chúng tôi tìm ra những cách giải mới, hay và khác cách giải của thầy.
Đầu năm học, khi mới học thầy, trong lớp đứa nào cũng sợ thầy một phép. Thầy cứ vào là lớp im phăng phắc, không dám ho he một tiếng. Gọi dạ bảo vâng. Bởi trông thầy nghiêm nghị quá. Mái tóc xoăn chải gọn ra sau, chiếc áo sơ mi trắng cộc tay và chiếc quần âu luôn được là phẳng nếp. Thầy ít khi nói đùa. Đang giảng bài mà phát hiện anh chàng nào hí hoáy làm việc riêng hay cười đùa là thầy dừng lại ngay. Bằng ánh mắt nghiêm nghị, thầy nhìn thẳng vào người đó. Lúc ấy, chàng ta chỉ có nước xấu hổ mà tự động đứng lên xin lỗi thầy. Xong, thầy không nói gì, lại tiếp tục giảng bài say sưa như chưa có chuyện gì xảy ra. Chính vì thầy nghiêm nghị thế nên chúng tôi ít khi dám trò chuyện với thầy bên ngoài giờ học.
Khi đã gần gũi với thầy hơn, chúng tôi phát hiện ra nhiều điều mới từ thầy. Thầy là một nhà giáo rất tâm huyết với nghề. Thầy thường bỏ hàng giờ đồng hồ, thậm chí cả buổi chiều thứ bảy chủ nhật để kèm thêm cho những bạn kém mà không lấy tiền. Thầy rất kiên nhẫn. Thầy giảng thật chậm, thật kĩ. Khi chúng tôi đã hiểu thầy mới chuyển sang bài khác.
Năm học cuối cấp của tôi trôi qua rất nhanh. Ngày chúng tôi ra trường cũng là ngày thầy về hưu. Thầy buồn lắm khi phải xa chúng tôi, xa lớp học trò cuối cùng của thầy, xa nghề dạy học. Cho đến giờ tôi còn nhớ mãi bài thơ thầy đọc trong buổi lễ chia tay:
“Hãy nhìn đi em – con đường phía trước
Còn rất dài, cũng thật nhiều chông gai.
Thầy cô sẽ không dắt em đi suốt con đường dài
Chỉ mong sao
Mỗi bước em đi trên chặng đường mới.
Em vững vàng, vấp ngã – biết đứng dậy,
Chẳng bao giờ đánh mất niềm tin”.
Bài tham khảo 3
Trường Trung học cơ sở Nam Trung Yên là mái nhà của tình thương, của kỷ luật. Trong trường, học sinh luôn luôn quý mến các thầy, các cô và đáp lại đó các thầy, cô luôn luôn chăm sóc, quan tâm đến các học sinh của mình. Tôi, riêng tôi đây, tôi luôn luôn kính trọng giáo viên toán của mình: Cô Trang, người giáo viên đã giúp tôi như một sự thần kỳ.
Cô Trang có vóc dáng dong dỏng cao, mái tóc cô màu đen cắt đầu vuông trông thật đẹp, vào tầm khoảng này, cô đang mang một bé trai trong bụng, giờ đã được khoảng năm, sáu tháng (cũng không rõ lắm). Cô rất hiền lành, nhân hậu, trên đôi môi cô vẫn luôn nở một nụ cười tươi, giúp cô vốn đã xinh nay còn xinh hơn! Theo các giờ toán trên lớp của chúng tôi cho biết: Hẳn cô vẫn luôn muốn trên bảng của lớp có tám từ: “Tổ một: Đủ; tổ hai: Đủ; tổ ba: Đủ; tổ bốn: Đủ”.
Hẳn sẽ có rất nhiều người đang tự hỏi: “Tại sao cô giáo chủ nhiệm là cô văn: Vừa hiền, vừa xinh hay còn nhiều thầy cô khác rất tuyệt sao lại kể cô toán?” Thật ra cũng chỉ vì lí do sau: Hồi tôi còn học cấp I, cái từ “toán” với tôi chỉ là một môn vô dụng: “Một phụ nữ ra chợ mua sáu mươi quả dưa hấu, mỗi quả…vân và vân…”; vậy, tôi thường phân tích nó: “Bà ấy mua để làm gì và mang chúng về như thế nào?”, “Cấp I ta được học một cộng một bằng hai; cấp II ta được biết âm một cộng ba bằng hai; cấp III rồi Đại học…” Chung quy, lớn lên, trên máy tính của ta có mấy chữ “Một cộng một bằng hai???“… Nói chung, trong mắt tôi, “Toán” chỉ là một khối gạch vô tri, vô giác, không có ích cho đời.
Tôi rất biết ơn cô Trang! Cô là người dẫn lối cho tôi trước khi quá muộn, trước khi nó (khái niệm về “toán”) bị đóng khuôn, không thể thay đổi được nữa… “Con cảm ơn Cô!” – Đây là lần thứ hai con phải gián tiếp nói hai chữ “cảm ơn”. “Con sẽ cố gắng cô ạ, vào ngày nào đó, chính con sẽ tự nói chúng trước cô, Cô ạ!”.
|
Bài viết số 3 lớp 6 đề 6_ Kể về thầy (cô giáo) của em (người quan tâm, lo lắng và động viên em học tập)
| 1,802
| |
Bài viết số 3 lớp 7 văn biểu cảm
Hướng dẫn
Bài viết số 3 lớp 7 đề bài: Cảm nghĩ về người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, bạn, thầy, cô…)
MẸ
Bài làm viết về người mẹ
“Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.”
Trong cuộc đời này, có ai lại không được lớn lên trong vòng tay của mẹ, được nghe tiếng ru hời ầu ơ ngọt ngào, có ai lại không dược chìm vào giấc mơ trong gió mát tay mẹ quạt mỗi trưa hè oi ả. Và trong cuộc đời này, có ai yêu con bằng mẹ, có ai suốt đời vì con giống mẹ, có ai săn sàng sẻ chia ngọt bùi cùng con như mẹ. Với tôi cũng vậy, mẹ là người quan tâm đến tôi nhất và cũng là người mà tôi yêu thương và mang ơn nhất trên đời này.
Tôi vẫn thường nghĩ rằng mẹ tôi không đẹp. Không đẹp vì không có cái nước da trắng, khuôn mặt tròn phúc hậu hay đôi mắt long lanh… mà mẹ chỉ có khuôn mặt gầy gò, rám nắng, vấng trán cao, những nếp nhăn của cái tuổi 40,của bao âu lo trong đời in hằn trên khóe mắt. Nhưng bố tôi bảo mẹ đẹp hơn những phụ nư khác ở cái vẻ đẹp trí tuệ. Đúng vậy, mẹ tôi thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát lắm. Trên cương vị của 1 người lãnh đạo, ai cũng nghĩ mẹ là người lạnh lùng, nghiêm khắc. có những lúc tôi cũng nghĩ vậy. nhưng khi ngồi bên mẹ, bàn tay mẹ âu yếm vuốt tóc tôi, mọi ý nghĩ đó tan biến hết. Tôi có cả giác lâng lâng, xao xuyến khó tả, cảm giác như chưa bao giờ tôi được nhận nhiều yêu thương đến thế. Dường như 1 dòng yêu thương mãnh liệt qua bàn tay mẹ truyền vào sâu trái tim tôi, qua ánh mắt, đôi môi trìu mến, qua nụ cười ngọt ngào, … qua tất cả những gì của mẹ. tình yêu ấy chỉ khi người ta gần bên mẹ lâu rồi mói cảm thấy đuợc thôi. Từ nhỏ đến lớn, tôi đón nhận tình yêu vô hạn của mẹ như 1 ân huệ, 1 điều đương nhiên. Trong con mắt 1 đứa trẻ, mẹ sinh ra là để chăm sóc con. Chưa bao giờ tôi tư đặt câu hỏi: Tại sao mẹ chấp nhận hy sinh vô điều kiện vì con?. Mẹ tốt, rất tốt với tôi nhưng có lúc tôi nghĩ mẹ thật quá đáng, thật… ác. Đã bao lần, mẹ mắng tôi, tôi đã khóc. Khóc vì uất ức, cay đắng chứ đâu khóc vì hối hận. Rồi cho đến 1 lần… Tôi đi học về, thấy mẹ đang đọc trộm nhật ký của mình. Tôi tức lắm, giằng ngay cuốn nhật ký từ tay mẹ và hét to:“ Sao mẹ quá đáng thế! Đây là bí mật của con, mẹ không có quyền động vào. Mẹ ác lắm, con không cần mẹ nữa! ” Cứ tưởng, tôi sẽ ăn 1 cái tát đau điếng. Nhưng không mẹ chỉ lặng người, 2 gò má tái nhợt, Khóe mắt rưng rưng. Có gì đó khiến tôi không dám nhìn thẳng vào mắt mẹ. Tôi chạy vội vào phòng, khóa cửa mặc cho bớ cứ gọi mãi ở ngoài. Tôi đã khóc, khóc nhiều lắm, ướt đẫm chiếc gối nhỏ. Đêm càng về khuya, tôi thao thức, trằn trọc. Có cái cảm giác thiếu vắng, hụt hẫng mà tôi không sao tránh được. Tôi đã tự an ủi mình bằng cách tôi đang sóng trong 1 thế giới không có mẹ, Không phải học hành, sẽ rất hạnh phúc. Nhưng đó đâu lấp đầy dược cái khoảng trống trong đầu tôi. Phải chăng tôi thấy hối hận? Phải chăng tôi đang thèm khát yêu thương? … Suy nghĩ miên man làm tôi thiếp đi dần dần. Trong cơn mơ màng, tôi cảm thấy như có 1 bàn tay ấm áp, khẽ chạm vào tóc tôi, kéo chăn cho tôi. Đúng rồi tôi đang mong chờ cái cảm giác ấy, cảm giác ngọt ngào đầy yêu thương. Tôi chìm đắm trong giây phút dịu dàng ấy, cố nhắm nghiền mắt vì sợ nếu mở mắt, cảm giác đó sẽ bay mất, xa mãi vào hư vô và trước mắt ta chỉ là 1 khoảng không thực tại. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi cảm thấy căn nhà sao mà u buồn thế. Có cái gì đó thiếu đi. Sáng đó, tôi phải ăn bánh mỳ, không có cơm trắng như mọi ngày. Tôi đánh bạo, hỏi bố xem mẹ đã đi đâu. Bố tôi bảo mẹ bị bệnh, phải nằm viện 1 tuần liền. Cảm giác buồn tủi đã bao trùm lên cái khối óc bé nhỏ của tôi. Mẹ nằm viện rồi ai sẽ nấu cơm, ai giặt giữ, ai tâm sự với tôi? Tôi hối hận quá, chỉ vì nóng giận quá mà đã làm tan vỡ hạnh phúc của ngôi nhà nhỏ này. Tại tôi mà mẹ ốm. Cả tuần ấy, tôi rất buồn. Nhà cửa thiếu nụ cười của mẹ sao mà cô độc thế. Bữa nào tôi cũng phải ăn cơm ngoài, không có mẹ thì lấy ai nấu những món tôi thích. Ôi sao tôi nhớ đén thế những món rau luộc, thịt hầm của mẹ quá luôn. Sau 1 tuần, mẹ về nhà, tôi là người ra đón mẹ đầu tiên. Vừa thấy tôi, mẹ đã chạy đến ôm chặt tôi. Mẹ khóc, nói: “ Mẹ xin lỗi con, mẹ không nên xem bí mật củacon. Con … con tha thứ cho mẹ, nghe con.” Tôi xúc động nghẹn ngào, nước mắt tuôn ướt đẫm. Tôi chỉ muốn nói: “ Mẹ ơi lỗi tại con, tại con hư, tất cả tại con mà thôi. ”. Nhưng sao những lời ấy khó nói đến thế. Tôi đã ôm mẹ, khóc thật nhiều. Chao ôi! Sau cái tuần ấy tôi mới thấy mẹ quan trọng đến nhường nào. Hằng ngày, mẹ bù đầu với công việc mà sao mẹ như có phép thần. Sáng sớm, khi còn tối trời, mẹ đã lo cơm nước cho bố con. Rồi tối về, mẹ lại nấu bao nhiêu món ngon ơi là ngon. Những món ăn ấy nào phải cao sang gì đâu. Chỉ là bữa cơm bình dân thôi nhưng chứa chan cái niềm yêu tương vô hạn của mẹ. Bố con tôi như những chú chim non đón nhận từng giọt yêu thương ngọt ngào từ mẹ. Những bữa nào không có mẹ, bố con tôi hò nhau làm việc toáng cả lên. Mẹ còn giặt giũ, quét tước nhà cửa… việc nào cũng chăm chỉ hết. Mẹ đã cho tôi tất cả nhưng tôi chưa báo đáp được gì cho mẹ. Kể cả những lời yêu thương tôi cũng chưa nói bao giờ. Đã bao lần tôi trằn trọc, lấy hết can đảm đẻ nói với mẹ nhưng rồi lại thôi, chỉ muốn nói rằng: Mẹ ơi, bây giờ con lớn rồi, con mới thấy yêu mẹ, cần mẹ biết bao. Con đã biết yêu thương, nghe lời mẹ. Khi con mắc lỗi, mẹ nghiêm khắc nhắc nhở, con không còn giận dỗi nữa, con chỉ cúi đàu nhận lỗi và hứa sẽ không bao giờ phạm phải nữa. Khi con vui hay buồn, con đều nói với mẹ để được mẹ vỗ về chia sẻ bằng bàn tay âu yếm, đôi mắt dịu dàng. Mẹ không chỉ là mẹ của con mà là bạn, là chị… là tất cả của con. Con lớn lên rồi mới thấy mình thật hạnh phúc khi có mẹ ở bên để uốn nắn, nhắc nhở. Có mẹ giặt giũ quần áo, lau dọn nhà cửa, nấu ăn cho gia đình. Mẹ ơi, mẹ hy sinh cho con nhiều đến thế mà chưa bao giờ mẹ đòi con trả công. mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất, cao cả nhất, vĩ đại nhất. Đi suốt đời này có ai bằng mẹ đâu. Có ai sẵn sàng che chở cho con bất cứ lúc nào. Ôi mẹ yêu của con! Giá như con đủ can đảm đẻ nói lên ba tiếng: “ Con yêu mẹ! ” thôi cũng được. Nhưng con đâu dũng cảm, con chỉ điệu đà ủy mỵ chứ đâu được nghiêm khắc như mẹ.
Con viết những lời này, dòng này mong mẹ hiểu lòng con hơn. Mẹ đừng nghĩ có khi con chống đối lại mẹ là vì con không thích mẹ. Con mãi yêu mẹ, vui khi có mẹ, buồn khi mẹ gặp điều không may. mẹ là cả cuộc đời của con nên con chỉ mong mẹ mãi mãi sống để yêu con, chăm sóc con, an ủi con, bảo ban con và để con được quan tâm đến mẹ, yêu thương mẹ trọn đời. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trên đời này. Tình cảm ấy đã nuôi dưỡng bao con người trưởng thành, dạy dỗ bao con người khôn lớn. Chính mẹ là nguời đã mang đến cho con thứ tình cảm ấy. Vì vậy, con luôn yêu thương mẹ, mong được lớn nhanh để phụng dưỡng mẹ. Và con muốn nói với mẹ rằng: “ Con dù lớn vẫn là con mẹĐi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con. ”
Bài làm viết về bố 1
Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.
Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.
Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?
Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.
Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.
Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.
Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật.
Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.
Bài làm viết về bố 2
Trong đời sống tinh thần đa dạng và phong phú của con người thì tình cha con là tình cảm máu thịt thiêng liêng, sâu đậm nhất. Công lao to lớn của người cha được nhắc đến rất nhiều trong ca dao, dân ca: Công cha như núi Thái Sơn,.., Con có cha như nhà có nóc, Phụ tử tình thâm…
Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái… thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ!
Có biết bao người cha chấp nhận thiệt thòi về mình, dành tất cả thuận lợi cho con cái. Em đọc trên báo và xem truyền hình thấy những người cha lam lũ, quần quật làm những việc như: quét rác, đội than, đội trấu, đạp xích lô… không từ nan bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện đế kiếm tiền nuôi đàn con ăn học đến nơi đến chốn. Gần nhà em có một bác người Quảng Ngãi, tuổi hơn năm chục, làm nghề mài dao kéo. Ngày ngày, bác rong ruổi khắp nơi trên chiếc xe đạp cà tàng với vài hòn đá mài và thùng nước nhỏ. Bác vào thành phố đã hơn ba năm, kể từ khi anh con trai lớn thi đậu đại học Bách khoa. Mỗi lúc kể về những đứa con ngoan, bác cười rất mãn nguyện, đôi mắt ánh lên vẻ tự hào: – Nhà bác nghèo lắm! Được mấy đứa con, đứa nào cũng ham học và học giỏi. Năm nay, cô con gái thứ hai cũng đậu Đại học Sư phạm. Bác ráng làm kiếm ngày vài chục ngàn, cha con đùm túm nuôi nhau. Mình chẳng có chi cho các con thì cho chúng cái chữ, cái nghề!
Em thấy ở bác có những nét rất giống cha em, một người thợ cơ khí bình thường, quanh năm làm việc với máy móc, dầu mỡ. Đôi bàn tay cha chai sần, thô ráp, mạnh mẽ nhưng ấm áp lạ thường. Có thể nói rằng trong gia đình em, cha làm nhiều nhất và hưởng thụ ít nhất; Cha giống mẹ ở chỗ nhường nhịn hết cho đàn con những miếng ngon miếng lành, còn mình chỉ cơm dưa cơm mắm qua ngày.
Đức tính nổi bật của cha em là cần cù chịu khó, hết lòng vì vợ con. Tuy công việc thường xuyên bận bịu, cha vẫn cố dành thời gian quan tâm săn sóc đến việc học hành của các con. Cha em ít lời, chỉ nói những câu nào đáng nói như nhắc nhở, uốn nắn khuyết điểm hay động viên, khen ngợi khi các con làm được điều tốt, điều hay. Cha dạy chúng em lòng tự trọng và tính tự lập. Có lần cha bảo: – Đã là người thì phải có ý chí, không được ngại khó ngại khổ.
Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ.
Chúng em yêu kính cha, cố gắng chăm học, chăm làm để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách đáp đền chữ hiếu cụ thể và thiết thực nhất. Cảm ơn nhạc sĩ Phạm Trọng cầu đã nói giúp tuổi thơ chúng em những suy nghĩ tốt đẹp về cha mẹ: Cha sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực. Cha mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con… Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương!
BẠN BÈ
Con người, đặt bản thân là trung tâm, luôn có rất nhiều mối quan hệ xoay quanh. Có những người, những mỗi quan hệ chỉ thoáng qua nhưng cũng có những người hay những mối quan hệ bằng một cách nào đó luôn gắn bó với ta, đi theo ta trong suốt cuộc đời. Tình bạn là một mối quan hệ như vậy.
Trong cuộc đời mình, ai cũng có ít nhất là một vài người bạn. Tình bạn không đến từ một người, nó là sự sẻ chia, thông cảm, là sự thấu hiểu về nhau giữa hai người. Một tình bạn đẹp phải xuất phát từ sự chân thành, trong sáng, vô tư và tin tưởng. Những điều này tưởng như đơn giản nhưng đó lại là điều kiện tiên quyết để khởi đầu một tình bạn đẹp. Con người luôn sợ cô đơn, luôn muốn có người đáng tin tưởng để có thể sẻ chia, tâm sự nhưng cũng luôn dè chừng, cảnh giác với những người muốn chạm vào cảm xúc của họ. Cũng phải thôi, thật tồi tệ nếu một người bạn coi là bạn, lắng nghe những điều họ sẻ chia biết đâu sau đó lại đem những câu chuyện của bạn ra làm trò đùa. Tình bạn cũng không thể bền vững nếu không trong sáng, có mục đích hay để lợi dụng lẫn nhau. Chúng ta không thể gọi một người là bạn mà luôn phải đề phòng họ.
Để hai người khác nhau trở thành bạn của nhau cần rất lớn sự thấu hiểu. Bởi mỗi người sẽ có một tính cách khác nhau. Dẫu có thể có nét tương đồng nhưng điểm khác nhau sẽ vẫn rất lớn. Sự thấu hiểu đối với nhau không dễ dàng có được, nó cần phải có thời gian để vun đắp, có khó khăn hoạn nạn để thử thách và trưởng thành. Phải có sự sẻ chia, thông cảm và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai người bạn mới có thể khiến họ hiểu nhau hơn. Mặt khác, con người không hoàn hảo, luôn có những thói quen xấu bên cạnh những cái tốt. Muốn tình bạn được bền lâu, ta không được bao che dung túng trước những thói quen xấu này.
Tình bạn là một món quà thiêng liêng và cao quý mà chúng ta cần trân trọng. Phải có tình bạn thì cuộc sống của chúng ta mới thật sự có ý nghĩa. Coi trọng tình bạn, nó sẽ đơm hoa kết trái và nảy nở mãi mãi không tàn lụi, là một vi thuốc tinh thần giúp ta luôn vững vàng trong cuộc sống hay khi đối mặt với khó khăn thử thách.
THẦY CÔ
Bài làm cảm nghị về người thầy
Ngày xửa ngày xưa, trái đất tưới thắm hót ca chào mừng một cô giáo tương lai ra đời…Thiên sứ đã giao nhiệm vụ cho cô giáo ấy phải đưa những cô, cậu bé lần lượt lên đò sang bờ bên kia củ kiến thức và đỉng cao của thành đạt…. Đều đặn hằng năm cô giáo ấy lại đón rồi đưa, lại chắp thêm đôi cánh cho mấy đứa nhóc tẹo vừa ngoan vừa dễ thương và hãy còn ngây ngô khờ khạo bay vào trời xanh… (trích lưu bút)
Thế đấy các bạn ạ…Thầy cô của chúng ta hàng năm đều thầm lặng đưa đò, đưa chúng ta đến đỉnh cao của thành đạt…nhưng có bao giờ khi thành đạt xong chúng ta đã quay lại thăm hỏi thầy cô chưa? Phần lưu bút ở trên là của cô giáo lớp 5 viết cho mình…bạn sẽ không biết được niềm vui của những người thầy, người cô khi thấy học trò mình thành đạt…và bạn sẽ càng không thể biết được cảm giác hạnh phúc của thầy cô khi thấy những chuyến đò đã qua sông rồi nhưng vẫn luôn nhớ đến chuyến đò năm cũ…
Nhiều khi những cử chỉ nhỏ bé của bạn thôi nhưng cũng đủ kết thành vòng hoa tô thắm cho cái nghề cái nghiệp của thầy cô…
20/11 lại sắp đến rồi…năm nay tôi không thể về thăm trường được nhưng vẫn muốn gửi một chút tấm lòng theo gió, theo mây vượt ngàn dặm để gửi đến thầy cô những lời biết ơn trân tình nhất…..
Vượt gió, vượt mây
Vượt ngàn đại dương
Con đến bên Người……những chuyến đò thầm lặng….
“Nhất tự vi sư.. bán tự vi sư..”
Quay tới quay lui, lại một mùa 20/11 nữa về.
Từ giảng đường thênh thang bâng khuâng nhìn lại mái trường xưa… Cuộc đời em là mười hai mùa 20/11, 12 mùa mưa nắng, 12 mùa buồn vui.. còn thầy chỉ là cả đời đưa đò.. thầm lặng..
Em biết khóc, biết cười trước những cảnh đời.. biết đứng lên khi té ngã.. biết nhặt lấy cây gai trên đường để bảo vệ bàn chân những người đi sau.
Em biết thế nào là hy sinh, thế nào là cuộc sống.. biết yêu gia đình và yêu quê hương..
Thầy dạy em biết quý thời gian, trọng chữ tín, biết giữ lòng trong sạch.. để ngẩn cao đầu với bạn bè..
Cuộc đời thầy đưa biết bao nguời qua dòng sông tri thức..
Dòng sông vẫn cứ êm trôi.. tóc thầy bạc đi, mắt thầy nheo lại nhưng vẫn luôn vững tay chèo và hết lòng vì thế hệ trẻ.. bao nhiêu người khách đã sang sông? bao nhiêu khát vọng đã vào bờ? bao nhiêu ước mơ thành sự thực..? Có mấy ai sang bờ biết ngoái đầu nhìn lại thầy ơi..
Xin dành riêng nơi đây để chúng em nhìn lại dòng sông xưa, nhìn lại thầy, nhìn lại chính bản thân mình. Và gởi tới thầy cô lời biết ơn trân trọng nhất.
Bài làm cảm nghị về cô giáo
Mái trường là ngôi nhà thân yêu của em. Đó là tổ ấm gia đình mà linh hồn của trường là thầy, cô giáo. Năm nay em học lớp năm, lớp cuối cùng của bậc tiểu học. Em sắp sửa tạm biệt mái trường thân yêu đã gắn bó với em năm năm trời. Khi xa trường điều mà em muốn nói đầu tiên là lòng biết ơn vô hạn với thầy cô giáo. Cô Hằng ơi, người mà em ngậm ngùi thương nhớ nhất là cô.
Cô Hằng nếu còn sống năm nay khoảng ba mươi tuổi. Ngày cô dạy em lớp một, cô còn trẻ lắm. Trong kí ức của em còn lưu giữ một cô giáo dáng vẻ cao ráo thanh mảnh. Ngày đầu tiên đi học lớp một, ngày đầu tiên vào học lớp hai cô đều mặc áo dài màu hoàng yến. Cô có khuôn mặt nhỏ,gò má hơi cao cằm thuôn. Sống mũi cao nên các nét của khuôn mặt sáng rõ. Em còn nhớ cô hay cười. Nụ cười xòa trẻ trung. Có khi cô tủm tỉm cười để lộ lún đồng tiền tròn sâu nơi má như dấu phẩy rất có duyên. Đôi mắt hai mí dài đen. Cô thường buộc tóc cao gọn gàng, phía trước có hai mái trông cô càng trẻ hơn.
Ba năm đã trôi qua, thỉnh thoảng em vẫn gặp cô giáo dạy lớp ba, lớp bốn. Nhưng cô Hằngmãi mãi không còn trên sân trường nữa. Nhưng nhữngkỉ niệm về cô thì em không baogiờ quên.
—————Ngày đầu tiên vào lớp một, hầu như bạn nào cũng khóc. Lớp nhốn nháo, lộn xộn. Bạn nào cũng ngơ ngơ ngác ngác, chưa biết tên nhau. Cô liền tổ chức trò chơi đoàn tàu. Cô làm đầu tàu, các bạn nối đuôi theo. Nhà ga là tên của mỗi bạn. Thế là tiếng cười đã thay cho tiếng khóc. Chúng em đã biết tên của nhau. Cô có đôi tai rất thính, phát hiện rất nhanh bạn nào phát âm sai. Cô sửa từng người một. Cô uốn từng nét chữ, nét thẳng, nét cong, nét thắt. Khó nhất là chữ k, o, miệng đứa nào cũng tròn theo chữ. Cô luôn nhắc cầm bút cho đúng, ngồi cho thẳng, đừng để mắt cận thị.,Cô hay đứng trên bục giảng đi đi lại lại trong lớp để bao quát học sinh. Bạn nào nói chuyện hay không chép bài, không làm bài tập là cô biết ngay. Giọng cô rõ ràng truyền cảm vang vọng. Ai học giỏi siêng năng cô khen ngợi tặng quà. Quà của cô nhỏ bé có khi là chiếc kẹo, cặp nơ nhưng ai cũng thích. Cô có tài kể truyện vui, truyện cổ tích. Lớp em như nín thở lắng nghe câu chuyện của cô
Vậy mà cô Hằng đã ra đi mãi mãi. Cô bị tai nạn giao thông… Cô ra đi vào mùa phượng nở. Khi đó chúng em đang nghỉ hè. Có bạn viếng được cô, có bạn không biết được. Từ đó hoa phượng trong em như một sự chia li. Mỗi lần nhìn lên màu phượng đỏ, lòng em lại nhớ tiếc thương cô.
Giờ đây sắp sửa xa ngôi trường thân yêu, lòng em trào dâng niềm thương nhớ. Biết bao kỉ niệm trong sáng, êm đềm của tuổi học trò bên mái trường dấu yêu mà thầy cô đã vun đắp cho chúng em. Cô Hằng đã ra đi mãi mãi nhưng em tin rằng bóng cô vẫn hiển hiện trong sân trường, trong trái tim chúng em.
|
Bài viết số 3 lớp 7 văn biểu cảm
| 5,393
| |
Bài viết số 3 lớp 7
Hướng dẫn
Trong đời người ai cũng có một hình ảnh để tôn thờ, để yêu thương. Bên cạnh chúng ta có biết bao nhiêu người thân yêu, ông bà là người luôn yêu thương ta nhất, bố mẹ luôn dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho ta, thầy cô luôn dạy dỗ thương yêu…Nhưng với tôi người để lại trong tôi nhiều tình cảm và là ngườ ảnh hưởng lớn nhất trong đời chính là bố tôi. Với tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này.
Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.
Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không?
Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.
Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.
Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi.
Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật.
Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình.
Bài làm viết về người mẹ
“Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.”
Trong cuộc đời này, có ai lại không được lớn lên trong vòng tay của mẹ, được nghe tiếng ru hời ầu ơ ngọt ngào, có ai lại không dược chìm vào giấc mơ trong gió mát tay mẹ quạt mỗi trưa hè oi ả. Và trong cuộc đời này, có ai yêu con bằng mẹ, có ai suốt đời vì con giống mẹ, có ai săn sàng sẻ chia ngọt bùi cùng con như mẹ. Với tôi cũng vậy, mẹ là người quan tâm đến tôi nhất và cũng là người mà tôi yêu thương và mang ơn nhất trên đời này.
Tôi vẫn thường nghĩ rằng mẹ tôi không đẹp. Không đẹp vì không có cái nước da trắng, khuôn mặt tròn phúc hậu hay đôi mắt long lanh… mà mẹ chỉ có khuôn mặt gầy gò, rám nắng, vấng trán cao, những nếp nhăn của cái tuổi 40,của bao âu lo trong đời in hằn trên khóe mắt. Nhưng bố tôi bảo mẹ đẹp hơn những phụ nư khác ở cái vẻ đẹp trí tuệ. Đúng vậy, mẹ tôi thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát lắm. Trên cương vị của 1 người lãnh đạo, ai cũng nghĩ mẹ là người lạnh lùng, nghiêm khắc. có những lúc tôi cũng nghĩ vậy. nhưng khi ngồi bên mẹ, bàn tay mẹ âu yếm vuốt tóc tôi, mọi ý nghĩ đó tan biến hết. Tôi có cả giác lâng lâng, xao xuyến khó tả, cảm giác như chưa bao giờ tôi được nhận nhiều yêu thương đến thế. Dường như 1 dòng yêu thương mãnh liệt qua bàn tay mẹ truyền vào sâu trái tim tôi, qua ánh mắt, đôi môi trìu mến, qua nụ cười ngọt ngào, … qua tất cả những gì của mẹ. tình yêu ấy chỉ khi người ta gần bên mẹ lâu rồi mói cảm thấy đuợc thôi. Từ nhỏ đến lớn, tôi đón nhận tình yêu vô hạn của mẹ như 1 ân huệ, 1 điều đương nhiên. Trong con mắt 1 đứa trẻ, mẹ sinh ra là để chăm sóc con. Chưa bao giờ tôi tư đặt câu hỏi: Tại sao mẹ chấp nhận hy sinh vô điều kiện vì con?. Mẹ tốt, rất tốt với tôi nhưng có lúc tôi nghĩ mẹ thật quá đáng, thật… ác. Đã bao lần, mẹ mắng tôi, tôi đã khóc. Khóc vì uất ức, cay đắng chứ đâu khóc vì hối hận. Rồi cho đến 1 lần… Tôi đi học về, thấy mẹ đang đọc trộm nhật ký của mình. Tôi tức lắm, giằng ngay cuốn nhật ký từ tay mẹ và hét to:“ Sao mẹ quá đáng thế! Đây là bí mật của con, mẹ không có quyền động vào. Mẹ ác lắm, con không cần mẹ nữa! ” Cứ tưởng, tôi sẽ ăn 1 cái tát đau điếng. Nhưng không mẹ chỉ lặng người, 2 gò má tái nhợt, Khóe mắt rưng rưng. Có gì đó khiến tôi không dám nhìn thẳng vào mắt mẹ. Tôi chạy vội vào phòng, khóa cửa mặc cho bớ cứ gọi mãi ở ngoài. Tôi đã khóc, khóc nhiều lắm, ướt đẫm chiếc gối nhỏ. Đêm càng về khuya, tôi thao thức, trằn trọc. Có cái cảm giác thiếu vắng, hụt hẫng mà tôi không sao tránh được. Tôi đã tự an ủi mình bằng cách tôi đang sóng trong 1 thế giới không có mẹ, Không phải học hành, sẽ rất hạnh phúc. Nhưng đó đâu lấp đầy dược cái khoảng trống trong đầu tôi. Phải chăng tôi thấy hối hận? Phải chăng tôi đang thèm khát yêu thương? … Suy nghĩ miên man làm tôi thiếp đi dần dần. Trong cơn mơ màng, tôi cảm thấy như có 1 bàn tay ấm áp, khẽ chạm vào tóc tôi, kéo chăn cho tôi. Đúng rồi tôi đang mong chờ cái cảm giác ấy, cảm giác ngọt ngào đầy yêu thương. Tôi chìm đắm trong giây phút dịu dàng ấy, cố nhắm nghiền mắt vì sợ nếu mở mắt, cảm giác đó sẽ bay mất, xa mãi vào hư vô và trước mắt ta chỉ là 1 khoảng không thực tại. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi cảm thấy căn nhà sao mà u buồn thế. Có cái gì đó thiếu đi. Sáng đó, tôi phải ăn bánh mỳ, không có cơm trắng như mọi ngày. Tôi đánh bạo, hỏi bố xem mẹ đã đi đâu. Bố tôi bảo mẹ bị bệnh, phải nằm viện 1 tuần liền. Cảm giác buồn tủi đã bao trùm lên cái khối óc bé nhỏ của tôi. Mẹ nằm viện rồi ai sẽ nấu cơm, ai giặt giữ, ai tâm sự với tôi? Tôi hối hận quá, chỉ vì nóng giận quá mà đã làm tan vỡ hạnh phúc của ngôi nhà nhỏ này. Tại tôi mà mẹ ốm. Cả tuần ấy, tôi rất buồn. Nhà cửa thiếu nụ cười của mẹ sao mà cô độc thế. Bữa nào tôi cũng phải ăn cơm ngoài, không có mẹ thì lấy ai nấu những món tôi thích. Ôi sao tôi nhớ đén thế những món rau luộc, thịt hầm của mẹ quá luôn. Sau 1 tuần, mẹ về nhà, tôi là người ra đón mẹ đầu tiên. Vừa thấy tôi, mẹ đã chạy đến ôm chặt tôi. Mẹ khóc, nói: “ Mẹ xin lỗi con, mẹ không nên xem bí mật củacon. Con … con tha thứ cho mẹ, nghe con.” Tôi xúc động nghẹn ngào, nước mắt tuôn ướt đẫm. Tôi chỉ muốn nói: “ Mẹ ơi lỗi tại con, tại con hư, tất cả tại con mà thôi. ”. Nhưng sao những lời ấy khó nói đến thế. Tôi đã ôm mẹ, khóc thật nhiều. Chao ôi! Sau cái tuần ấy tôi mới thấy mẹ quan trọng đến nhường nào. Hằng ngày, mẹ bù đầu với công việc mà sao mẹ như có phép thần. Sáng sớm, khi còn tối trời, mẹ đã lo cơm nước cho bố con. Rồi tối về, mẹ lại nấu bao nhiêu món ngon ơi là ngon. Những món ăn ấy nào phải cao sang gì đâu. Chỉ là bữa cơm bình dân thôi nhưng chứa chan cái niềm yêu tương vô hạn của mẹ. Bố con tôi như những chú chim non đón nhận từng giọt yêu thương ngọt ngào từ mẹ. Những bữa nào không có mẹ, bố con tôi hò nhau làm việc toáng cả lên. Mẹ còn giặt giũ, quét tước nhà cửa… việc nào cũng chăm chỉ hết. Mẹ đã cho tôi tất cả nhưng tôi chưa báo đáp được gì cho mẹ. Kể cả những lời yêu thương tôi cũng chưa nói bao giờ. Đã bao lần tôi trằn trọc, lấy hết can đảm đẻ nói với mẹ nhưng rồi lại thôi, chỉ muốn nói rằng: Mẹ ơi, bây giờ con lớn rồi, con mới thấy yêu mẹ, cần mẹ biết bao. Con đã biết yêu thương,
nghe lời mẹ. Khi con mắc lỗi, mẹ nghiêm khắc nhắc nhở, con không còn giận dỗi nữa, con chỉ cúi đàu nhận lỗi và hứa sẽ không bao giờ phạm phải nữa. Khi con vui hay buồn, con đều nói với mẹ để được mẹ vỗ về chia sẻ bằng bàn tay âu yếm, đôi mắt dịu dàng. Mẹ không chỉ là mẹ của con mà là bạn, là chị… là tất cả của con. Con lớn lên rồi mới thấy mình thật hạnh phúc khi có mẹ ở bên để uốn nắn, nhắc nhở. Có mẹ giặt giũ quần áo, lau dọn nhà cửa, nấu ăn cho gia đình. Mẹ ơi, mẹ hy sinh cho con nhiều đến thế mà chưa bao giờ mẹ đòi con trả công. mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất, cao cả nhất, vĩ đại nhất. Đi suốt đời này có ai bằng mẹ đâu. Có ai sẵn sàng che chở cho con bất cứ lúc nào. Ôi mẹ yêu của con! Giá như con đủ can đảm đẻ nói lên ba tiếng: “ Con yêu mẹ! ” thôi cũng được. Nhưng con đâu dũng cảm, con chỉ điệu đà ủy mỵ chứ đâu được nghiêm khắc như mẹ.
Con viết những lời này, dòng này mong mẹ hiểu lòng con hơn. Mẹ đừng nghĩ có khi con chống đối lại mẹ là vì con không thích mẹ. Con mãi yêu mẹ, vui khi có mẹ, buồn khi mẹ gặp điều không may. mẹ là cả cuộc đời của con nên con chỉ mong mẹ mãi mãi sống để yêu con, chăm sóc con, an ủi con, bảo ban con và để con được quan tâm đến mẹ, yêu thương mẹ trọn đời. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trên đời này. Tình cảm ấy đã nuôi dưỡng bao con người trưởng thành, dạy dỗ bao con người khôn lớn. Chính mẹ là nguời đã mang đến cho con thứ tình cảm ấy. Vì vậy, con luôn yêu thương mẹ, mong được lớn nhanh để phụng dưỡng mẹ. Và con muốn nói với mẹ rằng: “ Con dù lớn vẫn là con mẹĐi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con. ”
Bài làm cảm nghĩ về người thầy
Ngày xửa ngày xưa, trái đất tưới thắm hót ca chào mừng một cô giáo tương lai ra đời…Thiên sứ đã giao nhiệm vụ cho cô giáo ấy phải đưa những cô, cậu bé lần lượt lên đò sang bờ bên kia của kiến thức và đỉng cao của thành đạt…. Đều đặn hằng năm cô giáo ấy lại đón rồi đưa, lại chắp thêm đôi cánh cho mấy đứa nhóc tẹo vừa ngoan vừa dễ thương và hãy còn ngây ngô khờ khạo bay vào trời xanh… (trích lưu bút)
Thế đấy các bạn ạ…Thầy cô của chúng ta hàng năm đều thầm lặng đưa đò, đưa chúng ta đến đỉnh cao của thành đạt… Nhưng có bao giờ khi thành đạt xong chúng ta đã quay lại thăm hỏi thầy cô chưa? Phần lưu bút ở trên là của cô giáo lớp 5 viết cho mình…bạn sẽ không biết được niềm vui của những người thầy, người cô khi thấy học trò mình thành đạt…và bạn sẽ càng không thể biết được cảm giác hạnh phúc của thầy cô khi thấy những chuyến đò đã qua sông rồi nhưng vẫn luôn nhớ đến chuyến đò năm cũ…
Nhiều khi những cử chỉ nhỏ bé của bạn thôi nhưng cũng đủ kết thành vòng hoa tô thắm cho cái nghề cái nghiệp của thầy cô…
20/11 lại sắp đến rồi…năm nay tôi không thể về thăm trường được nhưng vẫn muốn gửi một chút tấm lòng theo gió, theo mây vượt ngàn dặm để gửi đến thầy cô những lời biết ơn trân tình nhất…..
Vượt gió, vượt mây
Vượt ngàn đại dương
Con đến bên Người……những chuyến đò thầm lặng….
"Nhất tự vi sư.. bán tự vi sư.."
Quay tới quay lui, lại một mùa 20/11 nữa về.
Từ giảng đường thênh thang bâng khuâng nhìn lại mái trường xưa… Cuộc đời em là mười hai mùa 20/11, 12 mùa mưa nắng, 12 mùa buồn vui.. còn thầy chỉ là cả đời đưa đò.. thầm lặng..
Em biết khóc, biết cười trước những cảnh đời.. biết đứng lên khi té ngã.. biết nhặt lấy cây gai trên đường để bảo vệ bàn chân những người đi sau.
Em biết thế nào là hy sinh, thế nào là cuộc sống.. biết yêu gia đình và yêu quê hương..
Thầy dạy em biết quý thời gian, trọng chữ tín, biết giữ lòng trong sạch.. để ngẩn cao đầu với bạn bè..
Cuộc đời thầy đưa biết bao nguời qua dòng sông tri thức..
Dòng sông vẫn cứ êm trôi.. tóc thầy bạc đi, mắt thầy nheo lại nhưng vẫn luôn vững tay chèo và hết lòng vì thế hệ trẻ.. bao nhiêu người khách đã sang sông? bao nhiêu khát vọng đã vào bờ? bao nhiêu ước mơ thành sự thực..? Có mấy ai sang bờ biết ngoái đầu nhìn lại thầy ơi..
Xin dành riêng nơi đây để chúng em nhìn lại dòng sông xưa, nhìn lại thầy, nhìn lại chính bản thân mình. Và gởi tới thầy cô lời biết ơn trân trọng nhất.
Bài làm cảm nghĩ về cô giáo
Mái trường là ngôi nhà thân yêu của em. Đó là tổ ấm gia đình mà linh hồn của trường là thầy, cô giáo. Năm nay em học lớp năm, lớp cuối cùng của bậc tiểu học. Em sắp sửa tạm biệt mái trường thân yêu đã gắn bó với em năm năm trời. Khi xa trường điều mà em muốn nói đầu tiên là lòng biết ơn vô hạn với thầy cô giáo. Cô Hằng ơi, người mà em ngậm ngùi thương nhớ nhất là cô.
Cô Hằng nếu còn sống năm nay khoảng ba mươi tuổi. Ngày cô dạy em lớp một, cô còn trẻ lắm. Trong kí ức của em còn lưu giữ một cô giáo dáng vẻ cao ráo thanh mảnh. Ngày đầu tiên đi học lớp một, ngày đầu tiên vào học lớp hai cô đều mặc áo dài màu hoàng yến. Cô có khuôn mặt nhỏ,gò má hơi cao cằm thuôn. Sống mũi cao nên các nét của khuôn mặt sáng rõ. Em còn nhớ cô hay cười. Nụ cười xòa trẻ trung. Có khi cô tủm tỉm cười để lộ lún đồng tiền tròn sâu nơi má như dấu phẩy rất có duyên. Đôi mắt hai mí dài đen. Cô thường buộc tóc cao gọn gàng, phía trước có hai mái trông cô càng trẻ hơn.
Ba năm đã trôi qua, thỉnh thoảng em vẫn gặp cô giáo dạy lớp ba, lớp bốn. Nhưng cô Hằngmãi mãi không còn trên sân trường nữa. Nhưng nhữngkỉ niệm về cô thì em không baogiờ quên.
—————
Ngày đầu tiên vào lớp một, hầu như bạn nào cũng khóc. Lớp nhốn nháo, lộn xộn. Bạn nào cũng ngơ ngơ ngác ngác, chưa biết tên nhau. Cô liền tổ chức trò chơi đoàn tàu. Cô làm đầu tàu, các bạn nối đuôi theo. Nhà ga là tên của mỗi bạn. Thế là tiếng cười đã thay cho tiếng khóc. Chúng em đã biết tên của nhau. Cô có đôi tai rất thính, phát hiện rất nhanh bạn nào phát âm sai. Cô sửa từng người một. Cô uốn từng nét chữ, nét thẳng, nét cong, nét thắt. Khó nhất là chữ k, o, miệng đứa nào cũng tròn theo chữ. Cô luôn nhắc cầm bút cho đúng, ngồi cho thẳng, đừng để mắt cận thị.,
Cô hay đứng trên bục giảng đi đi lại lại trong lớp để bao quát học sinh. Bạn nào nói chuyện hay không chép bài, không làm bài tập là cô biết ngay. Giọng cô rõ ràng truyền cảm vang vọng. Ai học giỏi siêng năng cô khen ngợi tặng quà. Quà của cô nhỏ bé có khi là chiếc kẹo, cặp nơ nhưng ai cũng thích. Cô có tài kể truyện vui, truyện cổ tích. Lớp em như nín thở lắng nghe câu chuyện của cô
Vậy mà cô Hằng đã ra đi mãi mãi. Cô bị tai nạn giao thông… Cô ra đi vào mùa phượng nở. Khi đó chúng em đang nghỉ hè. Có bạn viếng được cô, có bạn không biết được. Từ đó hoa phượng trong em như một sự chia li. Mỗi lần nhìn lên màu phượng đỏ, lòng em lại nhớ tiếc thương cô.
Giờ đây sắp sửa xa ngôi trường thân yêu, lòng em trào dâng niềm thương nhớ. Biết bao kỉ niệm trong sáng, êm đềm của tuổi học trò bên mái trường dấu yêu mà thầy cô đã vun đắp cho chúng em. Cô Hằng đã ra đi mãi mãi nhưng em tin rằng bóng cô vẫn hiển hiện trong sân trường, trong trái tim chúng em.
Nguồn:
|
Bài viết số 3 lớp 7
| 4,065
| |
Bài viết số 3 lớp 8 văn thuyết minh
Hướng dẫn
Bài viết số 3 lớp 8 đề 1: Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam.
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng miền và trang phục truyền thống riêng. Phụ nữ Nhật tự hào với Kimono, phụ nữ Hàn Quốc nổi tiếng với Hanbok, phụ nữ Ấn Độ để lại cho ta ấn tượng rất đặc biệt với bộ Sari. Còn phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn mãi song hành với chiếc áo dài duyên dáng và thướt tha.
Cho đến nay, vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài. Nhưng nối ngược dòng thởi gian, tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà áo thướt tha đã được tìm thấy ở các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm.
Áo dài có rất nhiều loại. Nhưng sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giai lãnh: cũng giống như áo tứ thân nhưng khi,mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Vì sau này, phụ nữ phải làm việc đồng áng hay buôn bán nên áo giai lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân: gồm bốn vạt nửa trước phải, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái. Nhưng với những người phụ nữ tỉnh thành nhàn nhạ, muốn có một kiểu áo dài dược cách tân thế nào đó dể giảm chế nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng, khuê các. Thế là áo tứ thân được biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay lại được thu bé trở lai thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước trở thành áo ngũ thân.
Ngoài ra còn áo dài Le Mor của một họa sĩ vào đầu thập niên 1930, áo dài Lê Phổ của họa sĩ Lê Phổ được thiết kế vào năm 1934, áo dài với tay giác lăng vào thập niên 1960, áo dài miniraglan danh cho các nữ sinh…
Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại, có thể mặc ở mọi lúc mọi nơi: dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc để tiếp khách trang trọng trong nhà… Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài guốc, hay giày đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm ái dài và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hay một chiếc miện Tây tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.
Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện sự thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài, thướt tha, xõa tóc dài chạy xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo, những người mẹ thứ hai của các học sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài mới thực sự toát lên vẻ đằm thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài lại thêm một lần nữa thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của trời mới đất mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào náo động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải quay lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong bản tính mỗi con người bân rộn.
Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ đến trên vòng eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng thướt tha tôn lên vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người và chỉ dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử và chỉnh sửa lại thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được.
Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo dài, và mở đầu bài phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí thân thương trìu mến. Trong hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo dài đã được vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị. Áo dài, như vậy có thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam cùng hòa chung vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới, là một nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung.
Áo dài là hiện thân của dân tộc Việt, một vẻ đẹp mĩ miều nhưng đằm thắm, là một phần tất yếu trong mỗi phụ nữ Việt, là đặc trưng cho một quốc gia có người phụ nữ chịu thương chịu khó, luôn hy sinh, đứng phía sau để cổ động tinh thần cho nước nhà, cùng nhau hòa nhịp và phát triển. Trải qua từng thời kì, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu đời của nước Việt ngàn năm văn hiến.
Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa – chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.
Tham khảo thêm: Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam
Bài viết số 3 lớp 8 đề 2: Thuyết minh về chiếc nón bảo hiểm.
Chúng ta dễ dàng bắt gặp được hình ảnh người điều khiển xe máy trên đường phố hôm nay, ai ai cũng đội mũ bảo hiểm. Để có được hình ảnh ngày hôm nay, chính quyền các cấp đã bỏ nhiều công sức mở các chiến dịch tuyên truyền, vận động và nhân dân đã phải trải qua 1 thời gian dài để thích nghi. Vậy nón bảo hiểm có điều gì mà phải mất cả năm trời để vận động, để thích nghi? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé!
Mũ bảo hiểm là loại mũ được cấu tạo đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người khi bị tai nạn giao thông. Mũ cấu tạo gồm ba lớp. Lớp thứ nhất ở bên ngoài là lớp vỏ cứng được làm từ nhựa đặc biệt, cao cấp hơn người ta còn sử dụng sợi carbon siêu nhẹ… Lớp thứ hai là miếng xốp dày để giảm chấn động cho đầu khi bị va đập mạnh. Lớp trong cùng được cấu tạo bằng một chất liệu mềm và thưa để làm thoáng khí và làm êm đầu khi đội mũ.
Bên dưới nón là dây quai nón có tác dụng giữ nón chặt vào đầu người sử dụng kể cả khi người sử dụng bị té ngã hay chịu lực tác động khác thì nó vẫn giữ chặt vào đầu người. Dây được may từ sợi dây dù vừa rẻ, bền, chắc hay cao cấp hơn thì dây được làm bằng da. Để giúp cho việc đội nón vào bỏ nón, người ta chia dây thành hai phần gắn lại với nhau bằng một móc khóa nhựa rất chắc nhưng thao tác tháo mở thì cực kì đơn giản. Trên sợi dây dài được gắn một miếng cao su hay nhựa dẻo có thể di động được phù hợp với vị trí cằm để góp phần giữ chặt nón vào đầu. Trên sợi dây còn có một khớp để có thể nới dây dài ra hoặc thu ngắn lại giúp nón giữ chặt với đầu có các kích thước lớn nhỏ khác nhau.
Về hình dạng nón ta thường thấy có hai loại là: nón nửa đầu và nón trùm đầu. Đặc điểm nón nửa đầu là có trọng lượng nhẹ và rẻ hơn so với nón trùm đầu được người dân yêu thích vì nón trùm đầu giống như “nồi cơm điện” úp trên đầu. Phải chăng lúc ban đầu các nón bảo hiểm đều chủ yếu có màu trơn như trắng, đen nhìn rất đơn điệu. Sau này, các nhà sản xuất đã tiếp thị được nhu cầu của người sử dụng nên đã dán decal, in hình, hay làm màu sắc đa dạng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Thậm chí màu sắc, hình ảnh trên nón còn thể hiện cái tôi, cái cá tính riêng của từng người. Ngoài ra, còn có chương trình hướng dẫn cho các bạn trang trí theo cá tính riêng của mình. Qua sự việc này ta thấy nón bảo hiểm đã trở thành một hình ảnh rất thân thiện không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta.
Để tăng thêm tiện ích cho mũ bảo hiểm, các nhà sản xuất đã gắn thêm lưỡi trai ngắn hay kính để che bụi giúp cho nón. Hiện nay, đôi khi ta vẫn thấy có những nón có nhiều phụ kiện làm đẹp thái quá, rất phản khoa học như các phụ nữ thường gắn thêm miếng vải che nắng hoặc do thói quen đội nón vải mà nhiều người đã gắn thêm miếng lưỡi trai quá dài. Điều đáng nói là tất cả nón này đều không được các nhà sản xuất lớn, có uy tín sản xuất ra vì đây là phản khoa học và những cái nón đấy lại được sản xuất ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, chuyên sản xuất hàng nhái… gây nguy hiểm cho người sử dụng khi gặp tai nạn.
Đôi khi ra đường ta vẫn bắt gặp những người công nhân đi xe máy đội nón bảo hộ lao động. Đấy là sự thiếu hiểu biết của người tham gia giao thông. Nón bảo hộ lao động chịu tác động tốt từ trên xuống chứ không chịu được tác động mạnh ở mọi hướng. Mà nón bảo hiểm được cấu tạo để bảo vệ khắp vùng đầu nên chúng ta cần phải sử dụng nón bảo hiểm thay cho sử dụng nón bảo hộ lao động khi đi ra ngoài đường sau khi ra khỏi công trường.
Bên cạnh những cửa hiệu bán nón bảo hiểm nghiêm túc, chúng ta cũng thấy được không ít người bán hàng rong nón bảo hiểm kém chất lượng, hàng nhái hàng giả với giá thành cao nhất chỉ bằng 1/10 giá gốc, chính hãng. Sự tồn tại và phát triển của những loại nón nhái chính là ý thức của một bộ phận người dân trong việc bảo vệ họ khi tham gia giao thông. Họ sợ công an hơn là tính mạng của họ khi tham gia giao thông. Họ không nhận thức được quyền lợi của họ khi đội nón bảo hiểm. Điều này nói lên rằng công tác tuyên truyền của ta chưa tốt, nón nhái kém chất lượng vẫn còn đất để sống.
Hiện nay, mũ bảo hiểm có quá nhiều giá, nhiều loại và nhiều chất lượng khác nhau. Vậy để mua được một nón bảo hiểm chất lượng, ta nên chọn mua như thế nào? Mũ bảo hiểm thật gồm hai loại mũ trong nước sản xuất và mũ nhập khẩu. Với mũ bảo hiểm trong nước phải có dấu CS (dấu do tự doanh nghiệp công bố sản phẩm của mình phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam), mũ ngoại nhập không có dấu CS nhưng phải có tem kiểm tra. Kiểm tra các thông số ghi trên mũ: Tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, cỡ mũ, ngày sản xuất, hướng dẫn sử dụng… và những kí hiệu này phải rõ ràng, không lu mờ, trơn bóc.
Vậy để sử dụng nón được lâu, ta nên biết cách để bảo quản nón một cách tốt nhất. Ta nên tránh để va đập quá nhiều làm giảm chất lượng sản phẩm. Thường xuyên sử dụng nước khử mùi hay giặt miếng lót bên trong. Tránh việc đội chung mũ với người lạ đặc biệt là nón của xe ôm để tránh lây các bệnh da đầu. Không nên treo mũ trên tay lái bởi dễ gây trầy xước hoặc hỏng quai mũ, không nên dùng nước nóng, các chất tẩy rửa mạnh để lau chùi, bởi dễ làm hỏng mũ.
Cuối cùng thì việc chiếc nón bảo hiểm của chúng ta sẽ chỉ có thể phát huy tác dụng cho việc bảo vệ cuộc sống của chúng ta tùy thuộc vào tần suất sử dụng chúng có thường xuyên hay không. Vậy khi nào chúng ta sẽ phải thay một chiếc nón bảo hiểm mới?
1. Nón bảo hiểm đã bị va đâp và chịu lực va đập lớn do tai nạn.
2. Những chi tiết phụ kiện của nón bảo hiểm bị hư hỏng do thường xuyên sử dụng, hoặc xuất hiện những dấu hiệu của sự xuống cấp.
3. Những tấm đệm lót bên trong nón bảo hiểm có dấu hiệu xuống cấp hư hỏng do sử dụng thường xuyên. Bạn có thể kiểm tra bằng cách: Đội nón bảo hiểm, cài dây khoá nón, và lắc mạnh đầu bạn theo bên trái và bên phải. Nếu nón bảo hiểm bị lỏng và không ôm theo đầu bạn có nghĩa nón đã không còn đảm bảo an toàn.
4. Trên bề mặt của vỏ nón bảo hiểm có những đường nứt màu trắng hoặc những khe nứt nhỏ.
5. Tuy nhiên dù cho bạn không phát hiện bất kỳ dấu hiệu gì tương tự như được nêu trên. Nhưng bạn nên thay chiếc nón bảo hiểm mới sau 5 năm sử dụng theo lời khuyến cáo của các nhà nghiên cứu.
Theo các báo cáo từ các bệnh viện, ngay từ khi luật đội nón bảo hiểm được áp dụng, số ca chấn thương do tai nạn giao thông lập tức giảm thấy rõ. Ở Bệnh viện Việt Đức số bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đã giảm từ 40 ca/ngày năm ngoái xuống còn 30 ca/ngày chỉ sau 3 ngày luật được áp dụng. Ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh, báo chí cũng cho biết các ca chấn thương sọ não đã giảm rõ rệt sau khi luật đội nón bảo hiểm có hiệu lực.
Khi việc đội mũ bảo hiểm đã được pháp luật quy định thì tình hình giao thông nước ta đã trở nên đặc biệt không giống ai. Trong khi các nước phát triển, người dân sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, kế đến là xe hơi và xe gắn máy thì được sử dụng rất hạn chế. Người ta quy định những làn đường đi riêng không chung với xe hơi như ở nước ta. Chúng ta đã phát triển một cách sai lầm khi không tập trung xây dựng mạng lưới giao thông công cộng mà trao cho người dân một phương tiện rất hữu ích đó là xe gắn máy. Chính vì thế mà hiện nay số lượng xe gắn máy ở nước ta lên hàng chục triệu chiếc xe gắn máy. Nếu mỗi xe gắn máy cần phải 2 cái nón thì như vậy nước ta sẽ là thị trường khổng lồ của nón báo hiểm, một sự phát triển dị dạng không giống ai. Nhưng trong tương lai nước ta sẽ phải phát triển mạng lưới giao thông công cộng và tiến đến cấm xe gắn máy ở một số thành phố lớn. Điều này có nghĩa là chiếc nón bảo hiểm sẽ có một ngày không còn là nỗi ám ảnh của mỗi người dân khi ra đường. Lúc đó nhận thức của người dân về nón bảo hiểm sẽ thực tế hơn, đúng ý nghĩa với sự tồn tại của nó.
Có thể bạn quan tâm:
Thuyết minh về cây bút bi (bút máy)
Thuyết minh về chiếc nón bảo hiểm
Thuyết minh về một loài hoa mà em yêu thích
Thuyết minh về cây hoa đào
Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi
Bài viết số 3 lớp 8 đề 3: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi.
Bài làm thuyết minh về cây bút máy
Trong rất nhiều loại bút mà con người sử dụng hằng ngày thì cây bút máy tiện dụng và cần thiết đối với tầng lớp học sinh, sinh viên, giáo viên và công chức.
Cây bút máy có nguồn gốc từ châu Âu, được đưa vào nước ta từ đầu thế kỉ XX, nhưng phải đến giữa thế kỉ nó mới trở thành vật dụng quen thuộc và phổ biến.
Cây bút dài 14 cm, đường kính khoảng 1 cm. cấu tạo của bút máy gồm hai phần chính: bên ngoài và bên trong, vỏ bút gồm nắp và thân. Đa số nắp làm bằng nhựa, cùng loại nhựa với thân bút, phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên. Hoặc được làm bằng kim loại (nhôm, sắt mạ bạc, mạ vàng), có cái để gài vào túi áo hoặc sách vở. Thân bút hình trụ rỗng, thon dần về phía đuôi, vỏ bút có nhiệm vụ bảo vệ cho các bộ phận bên trong.
Bên trong bút gồm các bộ phận: ngòi bút, lưỡi gà, ống dẫn mực và ruột đựng mực. Ngòi bút làm bằng kim loại không rỉ, ở đầu có chấm tròn nhỏ gọi ià hạt gạo. Nửa trên của ngòi có rãnh giữa để dẫn mực khi viết. Nửa phần dưới cong, ốp sát vào bộ phận lưỡi gà có các rãnh ngang làm nhiệm vụ giữ không cho mực tràn ra đầu bút. Ống dẫn mực ngắn độ 3 cm, nhỏ như cây tăm, làm bằng nhựa trong và dẻo. Đầu trên gắn vào lỗ tròn của lưỡi gà, đầu kia thông với ống chứa mực. Ống chứa mực dài khoảng 5 cm, bằng cao su hoặc nhựa mềm, được bảo vệ bằng lớp kim loại mỏng.
Khi ta nhúng đầu ngòi bút vào bình mực, lấy ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp nhẹ vào ruột bút thì mực sẽ được hút vào ống chứa (ruột bút). Xong xuôi, cho đầu bút vào phần thân bút, xoay từ từ cho gắn chặt vào nhau là có thể sử dụng được.
Lúc viết xong, ta nhớ lấy giấy mềm hoặc miếng giẻ ẩm, lau kĩ ngòi bút cho mực không đóng cặn. Cứ dùng khoảng 1 tháng thì tháo rời các bộ phận ra cho vào nước lã; rửa và thông thật sạch rồi lau khô, lắp lại như cũ. Nếu bảo quản tốt, bút máy có thể sử dụng được trong một thời gian rất dài. Tuyệt đối không được đâm ngòi bút vào vật cứng, đầu ngòi sẽ hư, không viết được nữa.
Đối với lứa tuổi học sinh, cây bút máy là vật dụng không thể thiếu. Viết bằng bút máy, nét chữ sẽ đều và đẹp hơn hẳn viết bằng bút bi. Chiếc bút máy Hồng Hà mà bố mua tặng cho em từ năm ngoái đến giờ trông vẫn như còn mới. Ngày ngày, cây bút cùng em tới trường. Nó đã trở thành người bạn nhỏ thân thiết của em.
Bài làm thuyết minh về cây bút bi
Trong cuộc sống của mỗi con người, đặc biệt là lứa tuổi học trò. Bút bi là một vật dụng quen thuộc vì nó đã gắn bó với chúng ta suốt chặng đường tiếp thu học vấn.
Cây bút bi là một vật dụng rất phổ biến đối với học sinh. Nó có nguồn gốc từ phương tây. Sau một thời gian dài, nó đã du nhập vào nước ta khoảng từ những năm 70,80 của Thế kỉ XX.
Bút bi có nhiều bộ phận tạo thành. đầu tiên là vỏ bút chất liệu làm bằng nhựa (hay kim loại được phủ sơn). nó được sử dụng để bào vệ các thiết bị bên trong, ngoài ra còn làm đẹp và làm sang trọng hơn nữa cho cây bút. Thứ hai là khoảng chân không có chức năng phân cách phần vỏ bút với phần bên trong và chứa không khí. tiếp theo là ruột bút có vai trò quan trọng trong số các bộ phận của cây bút vì nó có chứa mực (mực xanh, mực đỏ, mực đen,…)có tác dụng giữ mựcđể đẩy mực ra ngoài. Trong ru6ột bút ở phần đầu có một viên bi nhỏ để làm điều hòa lượng mực có trong bút. Ở phần vỏ có một lớp đệm làm bằng cao su mềm và daigiúp người cầm bút có một cảm giác dễ chịu, êm ái. Lò so hoặc ren để gắn kệt các bộ phận. Nhìn chung, bút bi có hình dạng trụ tròn, dài. Chiều dài có kích thước khoảng 13 đến 15cm, đường kính khoảng 1cm. Màu sắc bút có rất nhiều như trắng, xanh, đen.
Về chủng laọi gồm có hàng ngoại nhập và nội nhập. Có người cho rằng:”hàng ngoại nhập là tốt nhất” nhưng thực ra chưa phải là như thế. So về mặt giá cả, bút bi nội nhập có giá trung bình từ 1000 đồng đến 4000 đồng một chiếc còn bút ngoại nhập có giá từ 5000 đồng đến 10000 đồng, thậm chí còn lên đến 15000 đồng một chiếc. Về chết lượng, bút bi nội nhập và bút bi ngoại nhập cũng có cùng dung tích mực, đeộ bền như nhau. Nhìn chung, bút bi nội nhập và ngoại nhập cũng tương tự v6è mọi mặt nhưng về giá cả thì có sự chênh lệch khá lớn nên bút nôi nhập được lứa tuổi học sinh sử dụng nhiều hơn.
Cách sử dụng bút bi thì rất đơn giản. Chúng ta chỉ cần vặn nhẹ và rút nắp bút lên. Sau đó thì dặt bút xuống để viết. Nấu ực nhạt, ta chỉ cầm phần cuối thân bút vẩy nhẹ vài cái để lưu thông mực. Khi viết xong, chúng ta cần đậy nắp bút lại cẩn thận, tráh làm rớt bút.
Cây bút bi là đồ vật không thể thiếu đối với người học sinh, nó vừa tiện lợi mà cũng rất thông dụng lại hiệu quả cao cho mọi công việc. Không chỉ học sinh mà cả giới doanh nghiệp cũng cần đến bởi họ luôn phài kí những hợp đồng hay những công trình nhận thi công. Bởi lẽ thế nó luôn gắn bó với con người.
Bút bi có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. nó luôn có tác dụng và hiệu quả cao nên có rất nhiều người ưa chuộng và sử dụng vì thế em rất yêu quý nó.
Tham khảo thêm: Thuyết minh về cây bút bi (bút máy)
Bài viết số 3 lớp 8 đề 4: Thuyết minh về cái kéo.
Cái kéo được phát minh ở đâu và bao giờ là chuyện ngày nay vẫn còn gây tranh cãi. Xuất phát điểm cho sự phát triển của cái kéo dường như bắt đầu từ việc dùng đồng thời một cặp dao một lúc. Đó là hai lưỡi dao rời nhau. Trong khi một tay giữ lưỡi dao nằm dưới, tay kia thực hiện động tác cắt. Những di vật thuộc thế kỷ 2 – 3 sau Công nguyên (CN) tìm thấy ở khu vực La Mã- sông Ranh đã chứng minh cho điều đó. Nhưng có thể kéo đã xuất hiện trước đó rất lâu.
Kéo chốt đuôi: Bước phát triển tiếp của kéo là chiếc kéo có chốt ở đuôi. Đó là hai lưỡi kéo mà phần đuôi của chúng được gắn một cái chốt tạo thành khớp nối. Sử dụng chiếc kéo kiểu này trong thực tế khá rắc rối, vì để cắt được cần phải ấn các lưỡi kéo vào nhau, và sau đó phải dùng tay tách chúng ra khỏi nhau.
Kéo kẹp: So với kéo khớp, kéo kẹp với cần kéo hình chữ U nằm ngang có tiến bộ hơn hẳn, vì nó có thể sử dụng được bằng một tay do sức đàn hồi của vật liệu mà cánh kéo có thể tự mở ra. Kép kẹp chỉ xuất hiện khi người ta sản xuất được đồng thau hay hợp kim của sắt có thể rèn được vào khoảng năm 1000 trước CN. Đó là điều kiện để cánh kéo có thể đàn hồi được. Vì độ đàn hồi của đồng thau mau chóng giảm đi, nên kéo kẹp bằng đồng thau ngày một hiếm dần. Người ta đã tìm được kéo kẹp bằng sắt ở Trung Âu được sản xuất vào khoảng năm 500 trước CN. Có những mẫu kéo thời đó có lò xo hình chữ U, để tăng độ căng, người ta dần chuyển cần kéo sang dạng gần tròn. Thời Đường ở Trung Quốc đã có dạng kéo kẹp mà cần kéo có dạng cần bắt chéo lên nhau như hai chữ oo liền nhau. Đến tận thế kỷ 17, kéo kẹp là dạng kép phổ biến nhất ở châu Âu.
Kéo khớp: Dạng kéo khớp được sử dụng ngày nay xuất hiện khoảng năm 300 trước CN. Vì chỉ còn rất ít di vật còn lại nên không thể xác định chính xác năm xuất hiện. Vào thế kỷ 17 và từ đó trở đi những loại kéo chuyên dụng được phát triển: kéo cắt giấy dài và lưỡi mỏng, kéo bản lưỡi rộng để cắt vải và kéo đa năng có lưỡi nhọn dần.
Kéo được cấu tạo bằng hai thanh kim loại được mài sắc tạo thành lưỡi kéo, phần đuôi uốn cong tạo thành tay cầm. Lưỡi kéo có thể được làm bằng sắt hay một hợp chất sắt pha gang, phần tay cầm được bọc bởi một lớp nhựa dẻo hoặc nhựa cứng.
Có thể nói, kéo là một dụng cụ chủ yếu dùng để cắt, tuy nhiên, tùy theo mục đích sử dụng mà kéo cũng có nhiều loại khác nhau như: kéo cắt vải để thợ may tạo nên quần áo đẹp, đa dạng và hợp thời trang; các em bé thì dùng kéo cắt giấy để cắt giấy xếp tàu bay, tên lửa…; thợ hớt tóc không thể tỉa ra các mô-đen nếu không có kéo; kéo cắt tôn cắt sắt; kéo phục vụ cho việc bếp núc để cắt cá, cắt bánh tráng, khô bò…; còn có kéo dùng trong y tế khi phẫu thuật…
Kéo là một vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống, tuy nhỏ nhưng kéo thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiêp, thủ công nghiệp và sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, kéo có rất có ích cho cuộc sống của con người, không có kéo, chúng ta sẽ rất vất vả khi xử lý một việc nào đó mà dùng dao hoặc sức bằng tay của chúng ta không thể làm tốt được.
Tham khảo thêm: Thuyết minh về cái kéo
Bài viết số 3 lớp 8 đề 5: Thuyết minh về cái cặp.
Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì vật dụng để đựng các thứ kể trên chính là chiếc cặp – một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm!
Cặp sách được sử dụng nhiều trong quá trình học tập cũng như trong đời sống. Chắc chắn một điều rằng, cặp sách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Việc phát minh ra cặp sách là do người Mỹ nghĩ ra vào năm 1988.
Về cấu tạo, bên ngoài, ta dễ thấy nhất: nắp cặp, quai xách, kẹp nắp cặp, một số cặp có quai đeo, một số khác có bánh xe nhỏ được dùng để kéo trên đường,… Cấu tạo bên trong, có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng tập sách, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có ngăn đựng ví tiền hay cả đồ ăn, nước uống nữa,…
Về quy trình, cho dù quy trình làm ra chiếc cặp như thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ có những công đoạn chính gồm: lựa chọn chất liệu, xử lí, khâu may, ghép nối. Chất liệu thì có rất nhiều loại cho phù hợp với yêu cầu của người dùng: vải nỉ, vải bố, da cá sấu, gải da,… Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp, ví dụ như con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi.
Một số lời khuyên về việc sử dụng cặp cho đúng cách: chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch. Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều càn thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải,…
Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,… phổ biến ở khắp mọi nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó, chẳng hạn như quăng chúng ình ình mỗi khi gặp chuyện bực mình hoặc ham vui mà quăng nó đi. Thế nên, chúng ta không nên quăng cặp bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên lau chùi cặp cho sạch sẽ.
Nói tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong việc học tập và cả trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể được coi là người bạn luôn luôn đồng hành với mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh- chủ nhân tương lai của đất nước.
Tham khảo thêm: Thuyết minh về cái cặp sách
|
Bài viết số 3 lớp 8 văn thuyết minh
| 5,433
| |
Bài viết số 3 lớp 9 (Bài văn tuyển chọn)
Hướng dẫn
Đề bài 1: – Hãy kể về 1 lần trót xem nhật ký của bạn
Mỗi người đều có những bí mật riêng mà không ai được xâm phạm, đó là câu nói mà tôi luôn tự nhủ mỗi khi máu tò mò nổi lên trong người tôi cũng là bài học nhớ đời làm tôi suýt đánh mất tình bạn vì trót tò mò xem trộm nhật ký của bạn. Trong ngăn kí ức của tôi,chắc chắn tôi sẽ quên đi nhiều thứ,nhưng tôi sẽ không bao giờ quên được một lần tôi trót xem nhật kí của Nga.Nga là cô bạn thân của tôi từ hồi còn bé nên tôi rất hiểu tính Nga. Vừa dễ mến vừa khoan dung,độ lượng lại còn rất được lòng các bạn trong lớp.
Trong một buổi sáng chủ nhật đẹp trời,tung tăng trên vỉa hè vừa đi vừa hát trên tay cầm mấy quyển sách mà tôi mới vừa mua định mang sang cho Nga cùng đọc vì sở dĩ hai đứa có cùng sở thích. Như thường lệ tôi biết chắc hôm nay ba mẹ Nga không có nhà nên vừa bước vào cổng,tôi vừa cười vừa nhìn quanh vừa kêu to:
-Lép ơi!Mình đến rồi!
Lép là cái biệt danh thân quen mà tôi vẫn gọi Nga thường ngày.Từ sau nhà,tiếng dép lạch cạch cung với giọng nói của Nga vang lên:
-Ừ!Tớ đây! Vào nhà đi chờ tớ một lát, đang rửa bát!
Tôi chạy ào lại phòng Nga, nằm dài trên chiếc giường đầy gấu bông của bạn ấy. Đưa mắt nhìn quanh một lượt tôi bật dậy, lại góc học tập của Nga. Là bạn rất thân nên chúng tôi thích đọc sách như nhau, nhất là truyện tranh. Kệ sách của Nga đủ các loại đến nỗi đầy kín cả. Tôi đang lựa cho mình một quyển sách ưng ý nhưng sao quanh đi quẩn lại tìm chẳng thấy. Đang loay hoay thì tôi thấy một khe hở nhỏ cạnh kệ sách, vốn dĩ bản tính hay tò mò nên tôi bèn thò tay vào lấy ra xem thử. Thì rút ra được một cuốn sổ. Lúc này mắt tôi bỗng sáng bừng lên khi thấy một cuốn sổ được trang trí rất đẹp mắt, xinh xắn và trông thật dễ thương. Trên mặt cuốn sổ còn được ghi dòng chữ "Những dòng tâm sự của tôi". Ôi không đây là nhật kí của Nga. Tôi nghĩ thầm và định để vào chỗ cũ, nhưng sao lại cứ ngập ngừng, tôi…hình như tôi muốn biết thêm về Nga…tôi muốn biết xem Nga ghi những gì? Tôi không kiềm chế được đôi tay mình và đã mở nó ra.Tôi biết hành động như thế này là đã xâm phạm đời tư cá nhân của Nga nhưng sao tôi lại không kìm được đôi mắt mình,không kìm được sự tò mò của bản thân."Trời ơi! Lẽ nào cuộc sống của Nga là như vậy?".Bỗng tôi giật bắn mình,Nga đang đứng ngay trước mặt tôi,Nga hét lên:
-Bạn…bạn thật là quá đáng!
Thời gian ngay lúc này đây trong tưởng tượng của tôi cứ như nó đang tạm ngừng…ngừng lại để đếm từng nhịp tim,hơi thở của cả hai.Chợt đâu đó,một cơn gió thoáng qua nhè nhẹ từ khung cửa sổ kế bên làm tóc tôi bay, gió như đang muốn xoa dịu đi cái không khí căng thẳng lúc này.Mọi vật như cũng đã đứng yên,ngay lúc này tôi cảm nhận được nhịp đập trái tim của Nga…hình như…nó cũng đang giận dữ. Tay tôi run cầm cập, cuốn nhật kí như nặng hơn rơi bộp xuống đất vì đôi tay của tôi không còn một chút sức lực nào nữa, tôi đứng trân trân,bất động,không nói được lời nào. Ánh mắt Nga lúc này sáng bừng lên nhìn thoáng qua có thể cảm nhận biết đó là một ánh mắt tức giận…nhưng…tôi nhìn kĩ và thấy được ẩn chứa bên trong là sự yếu đuối. Ánh mắt như đang muốn khóc…nó cứ rưng rưng..làm lòng tôi thêm nặng trĩu. Lúc đó,nét mặt Nga đỏ bừng lên,như đang ngại ngùng điều gì đó…Chắc tôi sẽ không bao giờ quên được ánh mắt rưng rưng,đôi môi run lẩy bẩy đầy tức giận của Nga lúc đấy.Tôi vụt chạy đi như thể để trốn tránh ánh mắt ấy,mà lòng nặng trĩu…Tôi có cảm giác như đường về hôm nay xa hơn.Cứ chạy mãi…chạy mãi mà chân tay cứ mỗi lúc một nặng hơn…
Từ lúc quen nhau đến giờ,tôi và Nga đã cùng nhau trải qua bao nhiêu là chuyện vui buồn nhưng…đó là lần đầu tiên tôi thấy Nga giận dữ với tôi như vậy.Tôi chạy,chạy như có ai đó đang đuổi theo mình-là ánh mắt ấy.Tôi muốn khóc quá.Tôi rất sợ,sợ sự giân dữ mà Nga đã ném cho tôi,sợ cả chính việc mà mình vừa làm.Về đến nhà,tôi đóng sập cửa phòng mình lại,thở hổn hển như một kẻ ăn trộm vừa bị rượt bắt,bần thần ngồi xuống ghế,tôi tự trách mình tại sao lại làm như vậy?Tại sao tôi lại không thể chiến thắng nổi sự tò mò của chính mình?…Tại sao?…Tôi buồn bực quăng cả chồng sách xuống đất,vậy là tiêu tan ý định khai trương mấy quyển sách mới,Sự xấu hổ và hối hận làm tôi day dứt không yên.
Tối hôm đó,tôi nằm trên giường mà lòng cứ day dứt mãi,trằn trọc không thể nào chợp mắt được.Tôi thầm ước…ước gì chuyện đó chưa bao giờ xảy ra và ngày mai tôi lại có thể cùng Nga vui vẻ đến lớp.Tôi suy nghĩ miên man,nhớ lại những trang nhật kí viết trong nước mắt của lép tôi buồn.Làm sao có thể tưởng tượng được rằng gia đình Lép không hề hạnh phúc,suốt ngày Lép phải nghe những trân cãi vã của bố mẹ mình.Tôi không tin vào những gì mình đã đọc,càng nghĩ tôi lại càng thấy thương Lép hơn.Lúc này,trong đầu tôi tưởng tượng ra hình bóng của Lép cô đơn và buồn bã trong căn nhà lớn.Vậy mà lâu nay tôi cứ tưởng mình hiểu về Lép rõ lắm.Tôi muốn chia sẻ cùng Lép,muốn an ủi và làm hòa với Nga.Giờ tôi mới hiểu,mới biết Lép đúng là một cô bé cá tính,tự tin và đầy nghị lực sống.Mọi ngày qua lại với Lép thường xuyên nhưng chính sự tự tin,bản lĩnh và nghị lực của Lép đã lấp đi những nỗi buồn của Lép đến nỗi chính tôi cũng không thể nào nhận ra.Nhưng tôi lo Nga vẫn trách móc,vẫn giận tôi và Nga sẽ chẳng bao giờ nói với tôi một lời nào cả bởi tôi đã vô tình xen vào bí mật đau buồn mà Nga hằng cất giữ trong sâu thẳm trái tim mình lâu nay không hề chia sẻ tâm sự với ai.Cứ thế,suốt cả một đêm,tôi không sao thoát khỏi sự ăn năn,day dứt…
Sáng hôm sau,tôi quyết định sẽ nói lời xin lỗi với Nga.Tôi đi học sớm hơn thường ngày,đứng chờ Nga dưới gốc cây đầu đường nơi mà chúng tôi vẫn thường hẹn nhau cùng đi học.Vừa đứng ngóng về phía Nga tôi vừa tự nhủ lòng lấy hết can đảm để giải thích cho Nga hiểu.Nga đang từ từ rảo bước đến gần tôi,đứng đối diện với tôi nét mặt Nga khác hẳn mọi ngày,im lặng,nghiêm khắc nhìn tôi rồi bước đi tiếp không một lời chào hỏi.Tôi bồn chồn,quay lưng lại,chưa biết nên làm gì.Chạy thất nhanh về phía Nga,tôi nắm lấy tay Nga nhìn thẳng vào mặt cậu ấy nói khẽ:
-Lép ơi!Cho mình xin lỗi nha!Mình…không cố ý làm vậy đâu mà.
Nga nhìn tôi với nét mặt buồn,nói nhỏ:
-Những gì cậu đã đọc,đừng nói với ai nha! giữ bí mật giúp mình.
Tôi cười khì:
-Được mà.
Rồi Nga cười,tôi biết lúc đó Nga đã tha lỗi cho tôi.Mọi nỗi buồn lúc đầu tan biến đi đâu mất.Tôi và Nga vẫn nói cười vui vẻ như ngày nào.
Trông kìa!những chú chim bay lượn trước mắt chúng tôi như đang múa hát ríu ron,nắng dường như cũng ấm áp hơn ban đầu để sưởi ấm chúng tôi hay đang sưởi ấm tình bạn thân thiết này.Giớ thì như đang chọc ghẹo mấy chị hoa cỏ dại bên đường,cứ thổi mãi…thổi mãi.Tất cả..tất cả như đang chúc mừng,vui vẻ vì tôi và Nga đã thân mật như xưa.
Vừa nói cười vui vẻ với Nga tôi vừa thầm nghĩ về những điều mà tôi đã lén đọc được trong quyển nhật kí của Nga.Như thể nhắc với tôi rằng tôi chưa bao giờ hiểu được người bạn thân,những biểu hiện bên ngoài không thể nói lên được phẩm chất bên trong của một con người.Tôi tự nhủ với bản thân mình rằng từ nay nên quan tâm,chia sẻ,tâm sự với Nga nhiều hơn để phần nào vơi đi được nỗi cô đơn,tủi thân của Nga.
Tuy đó là một lần sai phạm nhưng cũng từ đó tôi mới rút ra được một bài học đáng quý,đáng nhớ cho bản thân mình:"không nên xâm phạm đời tư cá nhân của người khác,ai cũng có những bí mật cần phải giấu kín,không thể chia sẻ với người khác.
Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong bài thơ về tiểu dội xe không kính của phạm tiến duật.viết bài văn vế cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó
Bài làm
Tôi vừa đưa chiếc xe đạp vào khoảng sân hẹp thì đã nghe vọng ra tiếng cười giòn giã của bố tôi và một vị khách. Đó chắc chắn là một vị khách quý bởi vì ít khi có sự ồn ã, sôi động như thế ở người cha hiền hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ của tôi.
Tôi bước vội vào nhà. Bố tôi cùng người khách hướng ánh nhìn rạng rỡ, trìu mến đón tôi:
_ Con gái, đây là bác Trung Trực, bạn học hồi trung học với bố, lại cùng bố nhập ngũ. Bác là chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa đấy con ạ!
Bác Trực trạc tuổi bố tôi. Khuôn mặt bác cương nghị nhưng lại rất đôn hậu. Đôi mắt tuy đã hằn nhiều vết chân chim nhưng vẫn ánh lên những tia vui vẻ và trìu mến. Tôi có đang nằm mơ không nhỉ? Tôi vừa học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Những lời thơ, những lời cô giảng và hình ảnh người chiến sĩ lái xe dũng cảm, kiên cường cứ đọng mãi trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi đang được đứng trước một người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đích thực. Thật là một may mắn không ngờ. Tôi cuống quýt:
_ Bố ơi! Bác ơi! Con có thể được ngồi với bố và bác một lát để biết thêm về những ngày tháng chiến đấu năm xưa được không ạ?
Bác cười và đáp:
_ Sao lại không? Đó là khoảng thời gian đẹp nhất của bố cháu và bác.
_ Thưa bác, bác chính là người chiến sĩ lái xe Trường Sơn, người lính mà cháu đã được học trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật, phải không bác?
_ Ồ, bài thơ ấy nổi tiếng lắm cháu à. Ngày đó, có lẽ lính lái xe Trường Sơn ít ai là không biết bài thơ ấy. Nó nói hộ phần nào khát vọng chiến đấu, những gian khổ, lòng dũng cảm và sự lạc quan của những người lính như bác.
_ Chính bác cũng đã từng lái những chiếc xe không kính ấy phải không ạ?
_ Không phải “đã từng” đâu cháu ạ. Mà là bác luôn lái những chiếc xe bị xước, bị va đập, bị bom đạn làm cho rơi vỡ, méo mó những bộ phận bên ngoài như thế. Chiến tranh mà! Để bác kể rõ hơn cho cháu hiểu nhé. Ngày đó, bác lái xe tải, cùng đồng đội chuyên chở lương thực, thuốc men, khí tài,… vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Có những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời, gian khổ lắm cháu ạ. Nhất là những đoạn đường xuyên qua dãy Trường Sơn, giặc bắn phá rất dữ dội. Chúng muốn san phẳng tất cả, cắt đứt con đường huyết mạch nối liền Bắc Nam ấy. Tiểu đội xe của bác ban đầu được trang bị toàn xe mới để phục vụ mặt trận. Lúc đó, xe có kính như muôn vàn chiếc xe khác. Nhưng ngày nào xe cũng lao đi giữa bom gầm, đạn nổ khiến kính rạn vỡ, mất dần hết cả. Rồi cả mui xe cũng bị đạn pháo cày hất tung lên. Thùng xe va quẹt nhiều cũng chằng chịt vết xước. Chẳng còn chiếc xe nào còn nguyên vẹn cháu à.
Tôi vẫn còn tò mò, tiếp tục hỏi bố:
_ Lái xe không kính, không mui, không đèn như thế chắc nguy hiểm lắm bác nhỉ?
Bác sôi nổi tiếp lời:
_ Nguy hiểm lắm, cái sống cái chết lúc nào cũng trong gang tấc. Lái xe không kính thì mối nguy hiểm gần nhất là bụi đấy. Đường Trường Sơn mùa khô bụi cuốn mù trời sau làn xe chạy. Bụi cuốn vào mặt, vào quần áo. Bụi dày đặc đến mức mắt cay xè, không thể mở nổi. Lúc ấy, râu, tóc, quần áo và cả xe rực lên một màu đất đỏ Trường Sơn. Rồi cả mưa nữa chứ. Mưa Trường Sơn thường bất ngờ. Đang bụi bám đầy thì bỗng cả người nặng chịch vì ướt sũng nước mưa. Mưa xối xả quất vào người, vào mặt, vào mắt. Những làn nước cay xè, buốt rát khiến việc lái xe khó hơn gấp trăm ngàn lần. Thế nhưng, những người lính lái xe như bác không bao giờ dừng lại, luôn phải tranh thủ tránh giờ cao điểm cháu ạ. Cũng vì xe không kính nên mưa gió vứt vào cabin đủ thứ, nào là lá rừng, nào là cành cây gãy, … Bác đã bao lần bị cành cây cứa vào mặt, vào tay cầm vô lăng, đau rát vô cùng. Gian khổ là thế đấy cháu! Mỗi chuyến chở hàng về tới đích thật sự là một kỳ tích. Vậy mà ký tích vẫn luôn xuất hiện đấy!
Bác mỉm cười, khuôn mặt ánh lên vẻ rạng rỡ và tự hào. Lời bác kể như chất chứa bao nhiệt huyết, bao sôi nổi của một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Bác dường như đang được sống lại những phút giây lịch sử ấy. Không hiểu sao ngay lúc này, những lời thơ của Phạm Tiến Duật lại ùa về, ngân nga trong lòng tôi. Đó chính là một thực tế ở chiến trường ngày ấy. Thế mà, những người lính cụ Hồ vẫn tràn đầy lạc quan, yêu đời, và tin tưởng vào một ngày mai chiến thắng.
Tôi chợt thấy bác Trực trầm ngâm, ánh mắt xa xôi như đang lạc trong dòng hồi tưởng. Còn bố tôi thì ngồi lặng lẽ, khuôn mặt đầy vẻ xúc động. Bác Trực chợt nói:
_ Xe không kính thế mà lại hay cháu ạ. Gặp bạn cũ, gặp đồng đội, gặp đồng hương đều tay bắt mặt mừng qua ô kính vỡ. Giữa đại ngàn mênh mông, bác chợt thấy lòng mình ấm lại vì được chiến đấu bên cạnh những đồng chí yêu thương.
Giọng bác chợt rung lên, đầy xúc động:
_ Cháu không thể hiểu tình đồng chí thiêng liêng, quý giá thế nào với người lính các bác đâu. Dừng xe, ghé vào một bếp Hoàng Cầm, chỉ cần thêm bát thêm đũa là thấy thân thuộc như anh em một nhà. Dù chốc lát nữa thôi, mỗi người sẽ đi mỗi hướng, có khi chẳng bao giờ gặp lại nhau giữa chiến trường ác liệt. Bác và ba cháu có thể trở về hạnh phúc bên gia đình, nhưng bao nhiêu đồng đội của bác đã ngã xuống. Có một đồng đội của bác đã hy sinh ngay sau vô lăng vì quyết tâm lái xe vượt qua làn đạn dù đang bị thương nặng. Ngày ấy, khẩu hiệu “Yêu xe như con, quý xăng như máu” luôn khắc ghi trong tim những người lính lái xe. Dù có hy sinh, các bác vẫn quyết tâm bảo vệ xe và hàng.
Bác chợt im lặng. Không khí cả căn phòng bỗng chốc trở nên thật trang nghiêm.
_ Cháu gái của bác, hai câu cuối của bài thơ có phải là:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
Chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng cho đến tận hôm nay, bác và bố cháu không phút nào quên được mình đã từng là người lính. Bác rất tự hào vì mình đã là người lính lái xe Trường Sơn năm xưa, đã tham gia chiến đấu góp phần giành độc lập tự do cho quê hương đất nước.
Trong tôi bỗng trào dâng một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa khâm phục, vừa tự hào. Ngày hôm nay tôi đã hiểu thêm rất nhiều điều. Trước đây, tôi chỉ biết đến cuộc sống êm đềm trong vòng tay ấm áp, chở che của gia đình, thầy cô trong một đất nước hòa bình. Đó là thành quả của bao thế hệ cha anh đã vất vả, hy sinh. Họ chính là bố tôi, bác tôi và những người tôi chưa từng gặp mặt. Tôi phải thật trân trọng cuộc sống hòa bình này và cố gắng trau dồi, hoàn thiện để góp phần xây dựng đất nước thêm tươi đẹp trong thời đại mới. Cảm ơn bác, người lính lái xe năm xưa của Trường Sơn oanh liệt, đã giúp cháu lớn thêm lên nhiều lắm!
Bài viết số 3 lớp 9 đề 3: Nhân ngày 20/11,kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy, cô giáo cũ
Bài làm
“Đại d¬ương lớn bởi dung nạp trăm sông,con ng¬ười lớn bởi rộng lòng bao dung cả những điều lầm lỗi”.Đó là bài học đầu tiên tôi học đ¬ược từ cô giáo của mình và cho đến tận bây giờ,những kỉ niệm yêu th¬ương về cô giáo đầu tiên vẫn còn in đậm trong tâm trí của tôi!
Ngày ấy tôi mới vào học lớp 1.Cô giáo của tôi cao,gầy,mái tóc không m¬ướt xanh mà lốm đốm nhiều sợi bạc,cô ăn mặc giản dị nh¬ưng lịch thiệp.ấn t¬ượng nhất ở cô là đôi mắt sáng,nghiêm nghị mà dịu dàng.Cái nhìn vừa yêu th¬ương vừa nh¬ư dò hỏi của cô cho đến bây giờ tôi vẫn chẳng thể nào quên…
Hôm ấy là ngày thứ 7.Mai có một chiếc bút máy mới màu trắng sọc vàng với hàng chữ “My pen”lấp lánh và những bông hoa nhỏ xíu tinh xảo ẩn nấp kín đáo mà duyên dáng ở cổ bút.Tôi nhìn cây bút một cách thèm thuồng,thầm ao ¬ước đ¬ược cầm nó trong tay…
Đến giờ ra chơi,tôi một mình coi lớp,không thể c¬ưỡng lại ý thích của mình,tôi mở cặp của Mai,ngắm nghía cây bút,đặt vào chỗ cũ rồi chẳng hiểu vì sao tôi bỗng không muốn trả lại nữa.Tôi muốn đ¬ược nhìn thấy nó hàng ngày,đ¬ược tự mình sở hữu nó,đ¬ược thấy nó trong cặp của chính mình…
Hết giờ ra chơi, các bạn chạy vào lớp,Mai lập tức mở cặp và khóc oà lên khi thấy chiếc bút đã không cánh mà bay!Cả lớp xôn xao,bạn thì lục tung sách vở,bạn lục ngăn bàn,có bạn bò cả xuống gầm bàn ngó nghiêng xem chiếc bút có bị rơi xuống đất không…Đúng lúc đó,cô giáo của chúng tôi vào lớp!Sau khi nghe bạn lớp tr¬ưởng báo cáo và nghe Mai kể chi tiết về chiếc bút:nào là nó màu gì,có chữ gì, có điểm gì đặc biệt,ai cho,để ở đâu,mất vào lúc nào…Cô yên lặng ngồi xuống ghế.Lớp tr¬ưởng nhanh nhảu đề nghị:
-Cô cho xét cặp lớp mình đi cô ạ!
Cô hình nh¬ không nghe thấy lời nó nói, chỉ chậm rãi hỏi:
-Ra chơi hôm nay ai ở lại coi lớp?
Cả lớp nhìn tôi,vài giọng nói đề nghị xét cặp của tôi,những cái nhìn dò hỏi,nghi ngờ,tôi thấy tay mình run bắn,mặt nóng ran nh¬ có trăm ngàn con kiến đang bò trên má. Cô giáo tôi nổi tiếng là nghiêm khắc nhất tr¬ờng,chỉ một cái gật đầu của cô lúc này,cái cặp bé nhỏ của tôi sẽ đ¬ược mở tung ra…Bạn bè sẽ thấy hết,sẽ chê c¬ười,sẽ chẳng còn ai chơi cùng tôi nữa…Tôi sợ hãi,ân hận,xấu hổ,bẽ bàng…Tôi oà khóc,tôi muốn đ¬ược xin lỗi cô và các bạn…Bỗng cô giáo của tôi yêu cầu cả lớp im lặng,cô hứa thứ hai sẽ giải quyết tiếp,giờ học lặng lẽ trôi qua…
Sáng thứ hai,sau giờ chào cờ,cô bước vào lớp,gật đầu ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống.Cô nhẹ nhàng đến bên Mai và bảo:
-Hôm thứ bảy bác bảo vệ có đưa cho cô cây bút và nói rằng bác nhặt được khi đi đóng khoá cửa lớp mình,có phải là cây bút của em không?
Mai cầm cây bút,nó sung sướng nhận là của mình,cô dặn dò cả lớp phải giữ gìn dụng cụ học tập cẩn thận,giờ học trôi qua êm ả,nhẹ nhàng…Ra chơi hôm ấy,các bạn lại ríu rít bên tôi như muốn bù lại sự lạnh nhạt hôm trước.Chỉ riêng tôi là biết rõ cây bút thật của Mai hiện ở nơi đâu…
Sau đó vài ngày cô có gặp riêng tôi,cô không trách móc cũng không giảng giải gì nhiều.Cô nhìn tôi bằng cái nhìn bao dung và thông cảm,cô biết lỗi lầm của tôi chỉ là sự dại dột nhất thời nên đã có cách ứng xử riêng để giúp tôi không bị bạn bè khinh thường,coi rẻ…
Năm tháng qua đi,bí mật về cây bút vẫn chỉ có mình tôi và cô biết.Nhưng hôm nay,nhân ngày 20/11, tôi tự thấy mình đã đủ can đảm kể lại câu chuyện của chính mình nh¬ là một cách thể hiện lòng biết ơn và kính trọng đối với ng¬ười đã dạy tôi bài học về sự bao dung và cách ứng xử tế nhị trong cuộc sống.
Giờ đây tôi đã lớn,đã biết cân nhắc đúng sai trước mỗi việc mình làm, tôi vẫn nhớ về bài học thuở thiếu thời mà cô đã dạy: Bài học về lỗi lầm và sự bao dung! Và có lẽ trong suốt cả cuộc đời mình,tôi sẽ chẳng lúc nào nguôi nỗi nhớ về cô như nhớ về MỘT CON NG¬ỜI CÓ TẤM LÒNG CAO CẢ!
Nguồn:
|
Bài viết số 3 lớp 9 (Bài văn tuyển chọn)
| 3,784
| |
Bài viết số 3 lớp 9 văn tự sự
Hướng dẫn
Bài viết số 3 lớp 9 đề 1: Hãy kể về 1 lần trót xem nhật ký của bạn.
Nhật ký là nơi mà mỗi chúng ta gửi vào đó tất cả tâm tư, tình cảm của mình mỗi ngày. Nhật ký là góc nhỏ riêng tư nhất, thầm kín nhất của riêng mình bạn, chẳng ai có quyền xâm phạm. Vậy mà tôi lại đi đọc nhật ký của người bạn thân nhất của mình.
Lê là cô bạn gái thân thiết nhất của tôi. Thế nhưng, tính cách của Lê lại trái ngược hẳn với tôi. Tôi là một người cực kỳ vui vẻ và lạc quan. Lê thì trầm lặng, e dè, ít nói. Dù hai đứa chơi thân với nhau đã lâu, nhưng cái cảm giác chưa hiểu hết về Lê luôn thôi thúc trong tôi ý muốn tìm hiểu thêm về Lê bằng mọi cách. Sự tò mò ấy đã khiến tôi phạm phải một lỗi lầm không thể tha thứ được. Đó là xem trộm nhật ký của Lê.
Hôm ấy, tôi và Lê cùng hẹn nhau học nhóm tại nhà Lê. Tôi đã lên đến tận phòng mà Lê chẳng hề hay biết, vẫn cắm cúi viết vào một cuốn sổ màu hồng khá dày. Đến khi tôi chào Lê thì Lê bỗng giật mình, tỏ ra lúng túng, vừa giấu vội quyển sổ vào trong tủ vừa nói:
_ Lan đấy à, làm Lê hết cả hồn luôn!
Đúng lúc ấy, có tiếng mẹ Lê gọi từ dưới lầu, bảo Lê xuống mang bánh và nước lên để hai đứa học nhóm cho thoải mái. Lê bảo tôi ngồi chờ rồi líu ríu chạy xuống. Tôi nghĩ thầm trong bụng:
_ Nhật ký à? Đọc một chút không biết có sao không nhỉ?
Tôi rón rén như kẻ ăn trộm, mở tủ lấy quyển nhật ký ra. Bàn tay tôi cứ nửa như muốn lật từng trang, nửa như muốn cất nó đi vì không muốn xâm phạm đến bí mật riêng tư của người khác. Tôi giật thót tim khi nghe tiếng bước chân Lê bước lên cầu thang. Tôi vội vàng cất quyển nhật ký vào chỗ cũ rồi giả vờ như đang đọc cuốn sách toán một cách chăm chú. Lúc ấy, tim tôi đập nhanh ghê lắm. May mà Lê không phát hiện ra.
Suốt buổi hôm ấy, tôi chẳng thể tập trung vào học được. Quyển nhật ký lúc nãy vẫn tiếp tục khơi gợi trí tò mò của tôi. Lê viết gì trong cuốn sổ ấy nhỉ? Tôi lén nhìn gương mặt của bạn tôi. Có lẽ vì chơi thân với nhau khá lâu nên tôi và Lê trông hơi giống nhau, cùng làn da trắng mịn, cùng mái tóc đen dài thẳng mượt. Điều duy nhất khác biệt giữa hai chúng tôi là đôi mắt, cửa sổ tâm hồn. Mọi người đều bảo đôi mắt tôi tròn xoe, luôn ánh lên những nét rạng rỡ khi có niềm vui. Còn đôi mắt Lê thì rất đẹp với đôi hàng mi cong vút, nhưng lúc nào cũng đượm buồn. Chỉ cần đọc cuốn nhật ký ấy thì tôi đã có thể biết được hết những gì ẩn chứa trong đôi mắt ấy. “Đọc một chút thôi, chỉ một chút thôi chắc không sao đâu”. Tôi nghĩ thầm và quyết tâm thực hiện ý định ấy.
Hôm sau, biết Lê phải đi học thêm trước giờ học nhóm, tôi bèn đến nhà Lê sớm hơn thường lệ. Quyển nhật ký của Lê vẫn cất trong chiếc tủ ấy. Bàn tay tôi run run lần giở từng trang.
“Ngày… tháng… năm…
Hôm nay là ngày đầu tiên của mình ở trường cấp hai. Mình cảm thấy thật vui vì đã có một cô bạn đáng yêu đến làm quen với mình. Nhật ký biết không, bạn ấy như một thiên thần hạnh phúc vì đã giúp mình thoát khỏi sự cô đơn và buồn chán khi lần đầu tiên bước vào môi trường xa lạ này. Một tình bạn khởi đầu thật đẹp. Mong là sẽ luôn như thế.”
“Ngày… tháng… năm…
Nhật ký ơi, mình buồn quá! Mình đã hy vọng vào tình bạn này thật nhiều. Thế mà hôm nay Lan lại bảo rằng không thể nào chịu được sự lặng lẽ của mình. Lan nói đôi mắt đượm buồn của mình luôn khiến Lan lo lắng nhưng mình không bao giờ chịu nói lý do để Lan yên tâm. Lan ơi, hãy thông cảm cho mình nhé. Mình đã thật có lỗi khi không nói ra sự thật về gia đình mình cho Lan biết. Ba mẹ mình đã ly dị nhau từ hồi mình mới ba tuổi. Ba mình không đi công tác nước ngoài như mình từng kể với Lan. Thật ra, ba mình đã có gia đình riêng ở xa lắm. Mình luôn muốn được gọi tiếng “ba”, được ba chăm sóc, chiều chuộng như ba Lan thương yêu Lan vậy. Đôi khi mình ganh tỵ với Lan lắm, Lan biết không. Xin Lan hãy tha lỗi cho Lê nhé!”
“Ngày… tháng… năm…
Mình và Lan đã làm hòa với nhau rồi. Lan luôn dặn mình phải lạc quan hơn, cười nhiều hơn và sống vui vẻ hòa đồng hơn. Mình biết Lan rất yêu quý mình. Từ nay mình phải luôn cười và yêu đời mới được. Tại sao không cười vì hạnh phúc khi mình có một người bạn tuyệt vời như Lan.”
Đọc đến đây, tôi không thể đè nén những cảm xúc của mình nữa. Tôi cất cuốn nhật ký vào chỗ cũ rồi xin phép mẹ Lê về nhà. Về đến phòng mình, tôi nằm trên giường và khóc thật nhiều. Khóc vì thương bạn tôi phải chịu những nỗi buồn như thế, khóc vì Lê hết mực yêu quý tôi mà tôi lại lén lút đọc nhật ký của bạn ấy.
Ngay sau đó, vừa đi học thêm về, Lê đã sang thăm tôi ngay vì nghĩ rằng tôi bị bệnh. Lúc ấy, tôi đã ôm chầm lấy Lê, nói trong nước mắt:
_ Lê ơi, mình xin lỗi cậu nhé! Tụi mình là bạn tốt của nhau mãi nha!
Lê ngạc nhiên, rồi cũng ôm chầm lấy tôi. Lê đâu biết tôi đã làm gì. Nhưng có một điều mà cả tôi và Lê đều biết. Đó là hai đứa đã là bạn tri kỷ của nhau rồi.
Thế là sau bao suy nghĩ sai lầm, thật may mắn rằng điều đó đã dẫn đến một tình bạn đẹp nhất mà chúng tôi từng có. Nhưng chắc chắn rằng nếu có lần sau, tôi sẽ không bao giờ phạm phải cái sai lầm rất lớn là đọc trộm nhật ký của ai đó. Mỗi người đều có một khoảng trời riêng mà chúng ta phải tôn trọng. Sự thiện chí và chân thành sẽ giúp con người dần hiểu nhau và yêu thương nhau nhiều hơn.
Bài viết số 3 lớp 9 đề 2: Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò truyện với người lính lái xe trong bài thơ về tiểu dội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Viết bài văn vế cuộc gặp gỡ và trò chuyện đó.
Chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược kết thúc cách đây đã gần 40 năm (1975 – 2014), nhưng ấn tượng về một thời đau thương và oanh liệt đã khắc sâu trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam, không thể nào quên. Trong những năm tháng hào hùng ấy, ông nội em và hai người bác ruột của em cũng tham gia vào sự nghiệp cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Ông nội đã từng là binh trạm trưởng của một binh trạm,trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Giờ đây, ông là Hội trưởng Hội cựu chiến binh của huyện Phong Châu. Trong số người ngày trước từng là lính của ông, em thích nhất bác Đạt vì bác ấy hay kể chuyện về những ngày tháng chiến đấu ở Trường Sơn. Điều thú vị hơn cả là bác Đạt chính là một nhân vật trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ quân đội Phạm Tiến Duật.
tieu doi xe khong kinh pham tien duat
Sau một lớp huấn luyện ngắn ngày, bác được phân công về một tiểu đội xe vận tải chuyên chở vũ khí, đạn dược và những thứ hàng hóa đặc biệt phục vụ chiến trường. Con đường mòn xuyên Trường Sơn đã trở thành con đường giao thông huyết mạch. Hàng vạn thanh niên xung phong làm nhiệm vụ mở đường, phá bom, bắc cầu, dẫn lối cho xe ra tiền tuyến, với khẩu hiệu thể hiện một quyết tâm cao độ: “Giặc phá, ta cứ đi”.
Suốt mấy năm ròng, không thể nào đếm hết những trận mưa bom máy bay Mĩ ném xuống con đường nhưng từng đoàn, từng đoàn xe màu xanh được nguy trang bằng lá cây vẫn xuyên rừng, băng băng tiến lên phía trước.
Mất mát, hi sinh là tất yếu. Những chiếc xe từ trong bom rơi đạn nổ đã về đây họp thành tiểu đội xe không kính, chẳng chiếc xe nào nguyên vẹn vì đã trải qua bao lần bị máy bay giặc rượt đuổi, bắn phá. Đã thế, khí hậu ở Trường Sơn lại vô cùng khắc nghiệt. Đường Trường Sơn mưa lầy, nắng bụi. Xe không kính, người lái cực khổ gấp mấy lần. Ngày mưa, ngồi trong ca bin mà vẫn bị mưa tuôn, mưa xối vào người ướt sũng như ngồi ngoài trời. Nhưng ướt thì mặc ướt, các chiến sĩ vẫn tiếp tục lái xe chạy hàng trăm cây số nữa. Họ bảo nhau rằng không cần nghỉ, bởi mưa mãi cũng phải ngừng; gió lùa, quần áo sẽ khô thôi. Mưa đã khổ vậy, nắng cũng chẳng sướng hơn. Bụi Trường Sơn mùa khô mù mịt như lốc cuốn. Xe không kính, chỉ cần chạy một quãng là cánh lái xe bị bụi phun tóc trắng như người già. Toàn thân phủ đầy bụi, riêng đôi mắt các chiến sĩ vẫn sáng lên vẻ trẻ trung, tinh nghịch. Bụi kệ bụi, chưa cần rửa mặt làm gì! Châm điếu thuốc, chuyền tay nhau phì phèo, anh nọ cười anh kia mặt lấm. Tiếng cười ha ha vui nhộn vang khắp rừng già. Bao gian nan mệt nhọc tan biến cả.
Cứ thế, ngày lại ngày, các chiến sĩ lái xe kiên cường, dũng cảm, thông minh đối đầu với bom đạn giặc, chở những chuyến hàng tiếp viện cho đồng bào miền Nam đánh Mĩ. Xe ra, xe vào, qua ô kính vỡ, những cái xiết tay của đồng đội vội vã nhưng rất chặt, truyền hơi ấm và quyết tâm chiến đấu cho nhau.
Bác Đạt kể đời chiến sĩ lái xe ra mặt trận lắm gian nan, nhiều thử thách nhưng cũng không thiếu niềm vui và những kỉ niệm đẹp đẽ. Mỗi lần giao xong một chuyến hàng, tâm hồn phơi phới như được chắp cánh bay. Đồng đội quây quần bên nhau, cùng ăn bữa cơm nấu vội. Cánh võng chông chênh, đong đưa theo nhịp bánh xe lăn. Xe không kính lúc này lại hóa ra tiện lợi. Người chiến sĩ lái xe như được gần gũi, gắn bó với thiên nhiên hơn. Ban ngày thì cánh chim, ban đêm thì sao trời, như sa, như ùa vào buồng lái. Trên đầu là bầu trời xanh cao vời vợi. Thơ mộng biết chừng nào! Cận kề cái chết nhưng không ai thối chí, nản lòng. Dẫu không kính, rồi không đèn, không mui… thì xe vẫn hướng về phía trước – tiền tuyến lớn miền Nam; chỉ cần trong xe có một trái tim sôi sục dòng máu nóng yêu nước và nhiệt tình cách mạng.
Những câu chuyện của bác Đạt tác động rất nhiều đến suy nghĩ và tình cảm của em. Em tự hào về thế hệ ông cha đã lập nên những chiến công và vinh quang lừng lẫy, đánh gục tên đế quốc tự xưng là hùng mạnh nhất thế giới; tôn vinh tên tuổi của dân tộc và đất nước Việt Nam trước toàn nhân loại. Ngày nay, đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa, đã được mở mang thành đại lộ Hồ Chí Minh xuyên suốt chiều dài Tổ quốc. Em ao ước có dịp được đi trên con đường huyền thoại ấy để hiểu sâu hơn và thấm thìa hơn về giá trị của hai chữ tự do thiêng liêng mà các thế hệ đi trước đã phải đổ bao nhiêu máu xương mới giành lại được.
Bài viết số 3 lớp 9 đề 3: Nhân ngày 20/11, kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy, cô giáo cũ.
Các bạn thân mến!
Trong đời học sinh, ai cũng có những kỉ niệm vui buồn về thầy cô, bè bạn. Có những kỉ niệm sâu sắc đến mức nó sẽ theo ta suốt cả cuộc đời. Sau đây, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm như thế về thầy Đức, chủ nhiệm lớp 8A năm ngoái.
Thú thật với các bạn, tôi chẳng thể nào yêu thích nổi môn Toán. Không phải do thầy dạy dở mà là vì tôi dốt. Cho nên cứ đến giờ Toán là tôi cảm thấy chán ngán, đầu óc vẩn vơ đâu đâu. Lời thầy giảng vào tai nọ ra tai kia, chẳng đọng chút gì trong óc tôi cả. Nhìn các bạn giải bài tập vừa nhanh, vừa đúng, lại trao đổi với nhau hào hứng, sôi nổi, tôi phục lắm!
Nhiều lần, thầy Đức khuyên tôi không nên học lệch, phải cố gắng học các môn tự nhiên để đạt kết quả tốt hơn. Nếu không, sang năm lên lớp 9 là gay. Nghe lời thầy, tôi đã nhờ bạn Trí kèm thêm môn Lí và bạn Hùng kèm thêm môn Hoá. Còn thầy Đức, thầy sẵn sàng giảng lại thật kĩ những bài nào tôi chưa hiểu hoặc hiểu lơ mơ. Nhiệt tình của thầy khiến tôi cảm động. Tôi tự nhủ sẽ nghiêm túc và tự giác học tập để thầy vui.
Thê nhưng chuyện buồn lại xảy ra ngay sau đó. Mà nguyên nhân cũng lại do tính chủ quan, lơ là của tôi trong học tập.
Tôi còn nhớ hôm ấy là thứ năm. Đầu tiết 1, thầy Đức cho làm bài kiểm tra 15 phút về lí thuyết của bài Hình học tuần trước. Tôi hoảng sợ và lúng túng mất hồi lâu vì đã quên hết cả. Nhìn sang bên cạnh, các bạn đang chăm chú viết. Tôi loay hoay cô vắt óc nhớ lại nhưng nội dung định lí cứ trốn đâu mất cả. Năm phút trôi qua. Mồ hôi đã bắt đầu rịn ra trên trán và chảy dọc sống lưng tôi.
Bất chợt, trong đầu tôi loé lên một tia sáng và tôi bám chặt lấy nó như người chết đuối vớ được phao: Giờ Hình tuần trước, tôi quên mang theo vở nên đã chép bài vào cuốn nháp, mà cuốn nháp thì tôi đang dùng để kê tờ giấy làm bài kiểm tra. May quá! Nhân lúc thầy nhìn sang dãy bàn bên trái, tôi lật giở rất nhanh, tìm đúng chỗ và cố giữ vẻ mặt thản nhiên, tôi chép lia chép lịa, không sót chữ nào.
Thầy Đức báo đã hết giờ kiểm tra. Bạn Hùng lớp trưởng đi thu bài mang lên nộp cho thầy. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì hành động gian dối không bị ai phát hiện. Tuy thế, trong thâm tâm, tôi vẫn lo lắng.
Đúng một tuần sau, thầy Đức trả bài. Tôi đi học muộn, chẳng dám vào, đành ngồi nép dưới chân tường chỗ cửa sổ cuối lớp. Tiếng thầy Đức nói, tôi nghe rõ mồn một:
– Hôm nay, thầy tuyên dương bạn Hải đã có tiến bộ vượt bậc. Hải rất thuộc bài. Thầy cho Hải điểm 10 toán đầu tiên. Rất tiếc, Hải không có mặt ở đây! Các em hãy học tập tinh thần phấn đấu vươn lên của Hải!
Trời ơi! Giá như lúc ấy đất dưới chân tôi nứt ra để tôi chui xuống trốn thì hay biết mấy! Tôi xấu hổ vô cùng và không ngớt thầm mắng nhiếc mình là đồ dối trá vô liêm sỉ. Cũng may mà đi học muộn chứ nếu ở trong lớp lúc này, chỉ cần các bạn nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ và giễu cợt thì tôi cũng đủ “chết đứng” rồi!
Tôi lom khom cúi rạp xuống để không ai phát hiện ra rồi len lén vòng qua hồ nước, ngồi ở đó chờ hết tiết Toán mới dám vào. Vừa thấy tôi, đám bạn trai cùng bàn hét tướng lên: Hải được 10 điểm Toán, chuyện lạ thế giới! Tâm đưa bài cho tôi. Tôi giật phắt lấy rồi cất ngay vào cặp, cúi mặt chẳng dám nhìn ai.
ke ve thay co giao cu cua em
Cái điểm 10 không xứng đáng ấy hành hạ tôi đến mức ăn không ngon, ngủ không yên. Nửa tháng sau, tôi đã gặp thầy Đức, trình bày mọi chuyện và thành thật xin lỗi thầy, mong thầy giữ kín. Thầy Đức hứa và đã giữ đúng lời hứa. Thầy tha lỗi cho tôi, khen tôi dám dũng cảm nhận khuyết điểm như vậy là tốt.
Từ đó, tôi đề ra cho bản thân một nội quy học tập khá chặt chẽ, nghiêm túc. Các bạn thấy đấy, học kì I vừa qua, điểm kiểm tra các môn tự nhiên và xã hội của tôi chênh nhau không đáng kể. Được kết quả như vậy, tôi biết ơn thầy Đức rất nhiều bởi thầy đã kiên trì giúp đỡ và động viên tôi học tập. Có được một người thầy tận tụy, hết lòng vì học sinh như thế, quý biết bao, phải không các bạn?!
Bài viết số 3 lớp 9 đề 4: Kể về cuộc gặp gỡ với các anh bộ đội nhân ngày thành lập quân dội nhân dân Việt Nam (22/12). Trong buổi gặp đó,em được thay mặt các bạn phát biểu những suy nghĩ của thế hệ mình về thế hệ anh đã chiến đấu, hi sinh đễ bảo vệ tổ quốc.
Trong chúng ta chắc hẳn ai cũng biết ngày 22-12 là ngày gì. Và ngày này có ý nghĩa lịch sử rất lớn đối với dân tộc, với đất nước và với mỗi con người Việt Nam chúng ta. Nó không chỉ trở thành ngày lễ của các chú, các bác trong quân ngũ mà nó còn là ngày vui chung của mọi người trên đất nước Việt Nam.
Để kỉ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, giáo dục học sinh truyền thống lịch sử lâu dài của dân tộc, trường em đã tổ chức một buổi tham quan Viện Bảo tàng Quân đội. Chuyến đi này đã để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc và nhiều bài học lí thú, bổ ích. Hơn thế nữa, trong buổi tham quan này, chúng em đã được vào Phòng Truyền thống của Viện bao tàng, gặp gỡ những con người đã đi vào lịch sử dân tộc: Đại tá Bùi Quang Thận – người trực tiếp lái xe tăng tiến thẳng vào Dinh Độc lập Ngày 30-4; Đại tá Lê – người trực tiếp kéo cờ trong ngày Quốc khánh 2-9.
Cuộc trò chuyện thật là vui vẻ, bổ ích. Chúng em quây quanh hai bác.
Gương mặt ai ai cũng hớn hở lạ thường; bởi trong lòng mỗi người đều có niềm hãnh diện đã được gặp mặt những người anh hùng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Linh Hương – lớp trưởng đứng lên thay mặt cả lớp hỏi thăm sức khỏe của các bác. Nhìn những tấm huân chương sáng lấp lánh trên ngực áo, em thấy một phần công lao của các bác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Bác Lê dịu dàng hỏi:
– Có ạ, có ạ! Học kì một, lớp cháu hầu hết đều được học sinh giỏi, hạnh kiếm tốt đấy bác ạ. – Cả lớp nhao nhao.
– Thế là rất tốt, rất tốt. Các cháu đã thực hiện tốt năm điều Bác Hổ dạy, ngoan lắm! Bác Lê gật gù:
Bây giờ các cháu muốn hỏi gì nào?
Một loạt cánh tay giơ lên nhưng Quý nhanh nhảu giơ tay lên trước:
– Bác ơi! Tại sao có ngày 22-12 ạ?
Bác Thận gật đầu, mĩm cười rồi trả lời:
– Thế này cháu ạ! Vào ngày 7-5-1944, Tổng bộ Việt Minh ta ra chỉ thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân “sắm vũ khí đuổi thù chung”. Không khí lúc bấy giờ sôi sục trong tất cả các khu căn cứ. Chính bác cũng cảm nhận được bầu không khi bận rộn. Tình hình thời cuộc lúc này rất khẩn trương, vào khoảng tháng 10-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc nêu rõ “Phe xâm lược gần đón ngày bị tiêu diệt… Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”. Sau đó, theo chỉ thị của Cụ Hồ, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập ngày 22- 12-1944 nhằm phát động phong trào đấu tranh cả chính trị và quân sự để thúc đẩy quá trình cách mạng tiến lên mạnh mẽ hơn nữa. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã đánh thắng liên tiếp hai trận ở Phay Khắt và Nà Ngần. Từ đó ngày 22-12-1944 đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Các cháu đã rõ chưa nào?
Bây giờ thì em đã hiểu xuất xứ ngày 22-12 qua lời kể của bác Thận, hiểu về truyền thống yêu nước và ý chí chiến đấu bảo vệ đất nước của dân tộc và đặc biệt là các chú, các bác trong quân đội. Càng hiểu nơi bắt đầu thì càng phải trân trọng, càng cần phải khắc ghi nó vào tiềm thức. Đó cũng là việc làm thể hiện lòng biết ơn của mình đối với các bậc tiền bốì đã hi sinh để ngày lễ này càng có ý nghĩa và sâu sắc.
Kế tiếp là câu hỏi của Trang dành cho bác Lê:
– Thưa bác? Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường lịch sử Ba Đình, bác là người trực tiếp kéo cờ Việt Nam lên cột cờ trong lúc mọi người hát Quốc ca. Cho cháu hỏi: Tâm trạng của bác lúc ấy như thế nào ạ?
– Đúng là lúc ấy bác giữ trọng trách nặng nề. Bác vừa mừng lại vừa lo. Các cháu có biết vì sao không? Mừng vì bác là người trực tiếp kéo cờ trong một buổi lễ hết sức quan trọng; rất vinh dự và tự hào. Lo là vì phải kéo cờ làm sao cho vừa hết bài Quốc ca thì cờ cũng phải kéo lên đỉnh cột cờ. Trong lúc đang kéo cờ thì bác có một cảm xúc rất khó tả nhưng vô cùng mãnh liệt: Sự xúc động đã lấn át trái tim bác. Lòng bác như muốn nói thật to: Việt Nam tự do! Việt Nam độc lập! Hồ Chủ tịch muôn năm!”.
Khuôn mặt bác thể hiện rõ nỗi xúc động cứ đan xen vào nhau. em thấu hiếu rằng ngày 2 -9 có ý nghĩa cực kì to lớn trong mỗi con người Việt Nam, làm đẹp thêm tâm hồn con người và làm vẻ vang thêm trang sử hào hùng của dân tộc Việt. Khuôn mặt mỗi thành viên của lớp 9A6 cũng khác nhau. Có người bộc lộ nét tươi tắn, sung sướng, hãnh diện và tự hào vì đất nước ta đã giành chiến thắng từ tay thực dân Pháp bằng rất nhiều nỗ lực phi thường, cũng có bạn vẻ mặt trầm tư, suy nghĩ. Có lẽ bạn đang nghĩ, để có được hòa bình, độc lập như hôm nay, dân tộc ta đã đổ không biết bao nhiêu xương máu, bao con người đã ngã xuống cho Tổ quốc quyết sinh.
Sau đó, bác Thận lại kể cho chúng em nghe về chiến thắng lịch sử ngày 30-4. Nhờ có lời kể của bác mà chúng em biết được chiến thắng lẫy lừng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân ta và sự giúp đỡ to lớn của bạn bè năm châu.
Chính lúc này đây, em thật sự cảm động. Sự biết ơn, niềm tự hào, một chút hãnh diện, một chút hổ thẹn đã tạo nên trong lòng em một cảm xúc khó tả. Em đứng lên phát biểu những suy nghĩ và tình cảm của mình.
Cháu xin thay mặt cho các bạn ngồi đây có đôi lời phát biểu. Thế hệ chúng cháu may mắn sinh ra đã được hưởng một nền hòa bình. Chúng cháu biết, để có được ngày hôm nay, cả dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi rất nhiều. Chúng cháu rất biết ơn các bác, những người đã hi sinh biết bao công sức và xương máu để bảo vệ đất nước. Chúng cháu hứa nguyện sẽ nỗ lực rèn luyện, học tập và tu dưỡng đạo đức để mai sau xây dựng đất nước vững mạnh hơn. Và ngày mai bắt đầu từ ngàv hôm nay. Ngay bây giờ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng cháu sẽ cố gắng học tập tốt, để khi vào đời góp phần đưa nước ta sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Chúng cháu sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy những truyền thống mà cha anh đi trước để lại. Cuối cùng, cháu xin chúc các bác một sức khỏe dồi dào để công tác tốt.
Em vừa kết thúc câu nói, một tràng pháo tay rộn rã vang lên. Tiếp theo, chúng em cùng các bác đi thăm Viện Bảo tàng. Vừa đi, các bác vừa giảng giải cho chúng em về truyền thống yêu nước của dân tộc ta. Trời gần trưa, ánh nắng bắt đầu gay gắt, chúng em luyến tiếc chia tay các bác để lên xe ô tô trở về trường.
Buổi ngoại khóa tuy kết thúc nhưng đã để lại trong lòng chúng em biết bao cảm xúc. Đối với riêng em, đây là một dịp để nói lên những suy nghĩ của mình với thế hệ cha anh đi trước, tăng thêm lòng quyết tâm và niềm tin vào một ngày mai tươi sáng hơn.
|
Bài viết số 3 lớp 9 văn tự sự
| 4,491
| |
Bài viết số 5 lớp 7
Hướng dẫn
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, muốn xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh thì cần có một đội ngũ nhân lực thực sự mới có thể đáp ứng yêu cầu phát triển được. Để có được điều đó mỗi học sinh chúng ta ngay từ bây giờ phải có thái độ học tập thật nghiêm túc, chăm chỉ chịu khó học tập để xây dựng cho mình vốn kiến thức và kinh nghiệm sống để sau này trở thành những con người có ích cho xã hội. Vì vậy việc học tập nghiêm túc rất quan trọng với đời sống trong tương lai của chúng ta. Nhưng gần đây trong lớp một số bạn có phần lơ là học tập.
Như các bạn đã biết vấn đề nghe giảng ở lớp cũng rất cần thiết. Vì nó là điều kiện đầu tiên giúp bạn trong việc học bài ở nhà sau đó.. Bạn nghĩ: "Ðã là học sinh khi đến lớp chú tâm nghe giảng hay không thì cần gì mà phải nhắc suốt!". Không đâu bạn ơi!. Nếu tất cả các bạn đều "chú tâm nghe giảng" thì tôi có thể quả quyết với bạn rằng: Hầu hết những học sinh ấy đều là những học sinh giỏi. Bài giảng họ tiếp thu tốt thì tất nhiên sẽ học bài mau thuộc. Nhưng nếu tất cả như vậy, chắc chắn tôi sẽ không viết bài văn này. Vậy thái độ nghe giảng của các bạn phải ra sao?Bạn cũng có thể nhìn lên bục giảng, nhìn thầy cô chăm chú, tưởng chừng như bạn đã "nuốt" từng lời giảng của thầy cô vậy. Nhưng nếu bạn không có nghe gì cả, mà thầy cô hỏi bạn một câu, chắc chắn bạn sẽ lúng túng ngay. Phải, bạn sẽ không thể đáp lại câu hỏi của thầy cô một cách chính xác được. Và như vậy là bạn chỉ "nhìn" chứ bạn có "nghe" đâu. Ðầu óc bạn mơ màng, bạn đang ngồi ở lớp mà nghĩ tới những cuộc chơi ở xa. Nào là chiều nay sẽ đi hồ bơi, đi đánh cầu lông, bóng đá, đi ra quán điện tử chơi vào tiếng cho đã… các bạn nữ thì mơ tưởng đến những đồ hàng hiệu, hàng mới.v.v…
Nói chung, bạn đang nhìn thầy cô mà hồn bạn đang "lang thang" một cuộc viễn du nào đó chứ không có tại lớp. Thầy cô thì khản tiếng, hết nước bọt để trình bày bài dạy của mình, những mong học sinh hiểu sâu, hiểu rộng mà nào được có mấy ai chịu khó nghe! Bạn phải biết rằng bạn đang ở trong lớp học, và bạn đang có nhiệm vụ "nghe giảng bài". Bạn phải xác định như vậy mới gạt phăng mọi vấn đề khác để tập trung cho việc nghe giảng bài. Nếu như bạn không chú tâm nghe giảng thì đâu phải bạn có động cơ đi học. Mà động cơ học tập thì đúng là điều rất quan trọng của tuổi trẻ. Vậy bạn phải tự hỏi mình. Ta đến lớp để làm gì? Học, học thì phải nghe lời giảng của thầy cô. Nếu không, bạn chỉ có tiếng đi học, mang danh là một học sinh, nhưng kỳ thực không phải là học sinh. Vì một học sinh thì phải biết học, chăm học và học giỏi nữa. Chịu bao lao nhọc để đặt kỳ vọng vào bạn, vậy mà bạn nỡ phụ lòng ba mẹ bạn sao? Dù sau này bạn là ai, bất cứ địa vị nào trong xã hội, mà tuổi trẻ bạn chây lười trong học tập là bạn đã mắc nợ với đời. Trước nhất là cha mẹ. Sau đến là thầy cô và cuối cùng là với xã hội. Vì bạn sống trong lòng xã hội là bạn phải có trách nhiệm phục vụ xã hội. Ai làm ra những phẩm vật cho xã hội? Con người. Muốn làm một con đường phải có kỹ sư tính toán. Cái áo bạn mặc, quyển vở bạn đọc đều do tay con người làm ra. Bệnh tật, bạn cần bác sĩ và viên thuốc bạn uống cũng cần dược sĩ bào chế. Nhưng tất cả những thành phần đó là ai? Do đâu mà họ được như vậy? Tất cả cũng phải học và họ cũng đã trải qua quá trình gian lao để ngày nay có được công thành danh toại đó,nhằm góp bàn tay xây dựng và kiến tạo xã hội. Ðó cũng có thể gọi là "trả nợ áo cơm", hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội…Ngay bây giờ, còn trẻ đến lớp mà bạn không học thì lớn lên bạn sẽ góp phần gì cho xã hộ? Chắc bạn đã từng nghe câu: "Trẻ mà không học, già sẽ ân hận" rồi chứ?
Nếu bạn đã thực sự chăm chú nghe giảng, nhất định là bạn sẽ nắm chắc kiến thức của bài mà bạn vừa tiếp thu. Khi đã tiếp thu kỹ, còn phải biết vận dụng tốt vào bài học, bài làm của mình. Tất nhiên nghe, hiểu, nắm được toàn bộ bài dạy, thì việc học bài của bạn sẽ mau thuộc một cách dễ dàng. Học bài mau thuộc là một chuyện, ngoài ra bạn cần phải nhớ dai. Nhớ chính xác và không lẫn lộn đó là điều cần thiết. Có thể bạn học bài thuộc rất mau, nhưng đồng thời cũng mau quên.. Vậy làm cách nào để bạn có thể nhớ bài được lâu. Bạn phải hiểu bài trước khi học. Muốn hiểu kỹ bài bạn phải nghe giảng, vận dụng nhiều phương pháp của riêng bạn để hiểu một cách chính xác bài giảng. Học bằng tâm não của bạn chứ không phải "học vẹt". Cũng có bạn học rất thuộc nhưng lại không cần hiểu bài, cách học này người ta gọi là "học vẹt". Nếu bạn học theo cách thuộc lòng này, thì nguy hiểm cho bạn, vì đây là cách học đối phó, thuộc để trả bài cho xong nợ rồi thôi, sau đó bạn chỉ còn là một khối óc rỗng. Muốn tránh tình trạng này, bạn nên xác định lại cách học bài của bạn chẳng những sao cho học mau thuộc mà còn phải hiểu và nhớ lâu nữa. Nghĩa là phải học bằng khối óc và mọi giác quan. Phần quan trọng nhất giúp bạn nhớ dai là tâp trung nghe giảng. Ghi chép những đề mục hay những phần quan trọng. Tóm tắt nội dung, bài cô đọng nhưng đủ ý. Nghiên cứu bài ngay sau khi nghe giảng vì như thế giúp bạn củng cố lại các phần quan trọng hầu khắc sâu vào tâm não bạn hơn. Ghi những chi tiết dễ quên ra giấy nháp, bỏ túi rồi lâu lâu mở ra xem lại cho tới bao giờ vấn đề đó đã hiểu mới thôi. Với các môn Toán – Lý – Hóa – Sinh, nói chung các môn có công thức, bạn càng cần ghi vào giấy nháp bỏ túi để bất cứ lúc nào, ở đâu bạn cũng có thể mở ra xem lại được. Hoặc bạn cũng có thể ghi các công thức ấy lên bảng, nơi bàn học để các công thức ấy luôn đập vào mắt bạn. Nhất định là bạn sẽ nhớ lại mau và nhớ mãi. Bạn cứ giữ nguyên bảng như vậy cho đến khi các công thức đã "nằm lòng" trong óc bạn mới xóa đi, viết các công thức khác. Những cách học này chắc chắn sẽ có hiệu quả tốt.
Bạn cần biết cách ghi những trọng tâm của bộ môn. Mỗi một môn học đều có những yêu cầu và những phần trọng tâm của nó. Bạn nên tập trung vào phần này để đào sâu suy nghĩ. Các môn về tự nhiên (Toán, Lý, Hóa, Sinh….) có đặc thù riêng so với các môn về xã hội (như Văn, Sử, Ðịa..). Do vậy bạn phải biết cách ghi nhớ những trọng tâm của nó. Các môn tự nhiên thường có các công thức, định lý, định đề… phải ghi tóm tắt vào sổ tay riêng và cần ghi thêm ra tờ giấy bỏ túi và cũng cần ghi lên bảng nơi bàn học ở nhà để thường xuyên trông thấy. Các môn học thông thường khác như: Văn, Sử Địa.Với môn Văn:Bạn cần có quyển sổ tay riêng, để ghi chép những đoạn văn hay tên tác phẩm, tác giả mà bạn cần sưu tầm, hoặc những phần cần ghi nhớ cho môn bài quan trọng. Môn học này xin nhắc lại là bạn đừng xem nhẹ nó, như tôi đã nhắc đi nhắc lại ở các chương trước. Môn Sử, Ðịa: Chỉ cần ghi kỹ địa danh, năm tháng thật chính xác, nắm nội dung bài thật kỹ là được. Với môn Sử mà bạn tập trung nghe giảng là đã thuộc bài rồi vậy. Bạn tóm tắt mỗi bài sao cho cô đọng nhưng đầy đủ những vấn đề trọng tâm. Môn Sinh ngữ cần phải có cách học riêng mang tính đặc thù như đã trình bày.
Vậy nên nếu chúng ta không chăm chỉ học tập ngay từ bây giờ thì rất có thể sau này dễ bị nghèo nàn, lạc hậu, cá nhân bất tài vô dụng, không biết lý lẽ, phân biệt đúng sai, dễ bị cám dỗ… Học sinh chúng ta hôm nay ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường hãy nỗ lực phấn đấu trong học tập, quyết tâm học thật giỏi và rèn luyện tính cần cù, chăm chỉ trong việc học để sau nay chúng ta sẽ thành công trong công việc sau này, có một cuộc sống ổn định.
Bài viết số 5 lớp 7 đề 2: Hãy chững minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta.
Bài làm
Suốt chiều dài Tổ quốc, từ mục Nam Quan cho tới mũi Cà Mau đâu đâu cũng có rừng. Những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc, Việt Bắc, Trường Sơn,miền Đông Nam Bộ… Những khu rừng nguyên sinh Cúc Phương, Cát Tiên, Bạch Mã, Cần giờ,… là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá đã tồn tại từ bao đời nay. Tục ngữ có câu “ Rừng vàng, biển bạc”, quả là rừng đã đem lại cho con người những lợi ích lớn lao. Con người không thể sống thiếu rừng, cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.
Suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, rừng gắn bó thân thiết với con người:
“ Núi giăng thành lũy thép dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”
Núi rừng Việt Bắc đã trở thành thủ đô của cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp. Núi rừng Trường Sơn với con đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đau thương và oanh liệt.
Trong thực tế, ai cũng biết rừng là nơi cung cấp nguyên liệu làm gỗ, xây dựng nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Thậm chí, phút cuối của đời cũng nằm trong mấy tấm gỗ của rừng…Cảnh quang đẹp đẽ của rừng cùng với không khí trong lành là cơ sở cho những tua du lịch xanh cho thỏa trí tò mò mà biết bao người muốn khám phá, đem lại cho ta những phút thư giãn tuyệt vời sau những ngày làm việc, học tập căng thẳng.
Rừng còn là kho dược liệu vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Các loại cây quý hiếm có thể trị được các bệnh nan y thường có trong rừng sâu. Ngoài ra, từ những cảnh rừng già, rừng nguyên sinh ấy còn là nơi nuôi dưỡng của các loài vật quý phục vụ cho con người như hổ, báo, hươu, nai… và cả những động thực vật nằm trong sách đỏ cũng chọn rừng làm nơi sinh sống.
Nhưng quan trọng hơn hết, rừng chính là môi trường cho loài người, các quá trình quang hợp của cây xanh liên tục xảy ra, cây hút khí cacbonic và thải ra khí Oxi, một thứ rất cần thiết cho cuộc sống. Đơn giản hơn, rừng chính là “ nhà máy lọc bụi tối tân nhất”. Rừng điều tiết khí hậu. Rừng là lá chắn vững chắc nhất, là rào cản đầu tiên trước mọi biến động thiên tai. Rừng cản lũ lụt, rừng chống sa mạc hóa, rừng ngăn cát, rừng giữ đất giữ nước…
Rừng bị tàn phá sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Diện tích rừng của nước ta ngày càng bị thu hẹp một cách đáng lo ngại, một phần bởi nạn “lâm tặc” phá rừng lấy gỗ quý, làm giàu bất chính, một phần bởi sự kém hiểu biết của người dân địa phương phá rừng lấy đất trồng trọt. Cũng cách làm thô sơ, lạc hậu như đốt rừng, làm nương rẫy, đốt ong lấy mật… chỉ sơ ý một chút là gây ra tổn hại khôn lường, hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh bị cháy rụi, hàng ngàn động vật bị tiêu diệt, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ… thế mấy trăm năm nữa mới khôi phục lại được những cánh rừng như thế.
Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống con người là việc làm cần thiết nhưng muốn hưởng lợi ích lâu dài thì con người phải biết bảo vệ rừng. Cùng với việc chặt cây lấy gỗ, chúng ta phải biết trồng cây gây rừng. Khai thác lâm sản rừng phải có kế hoạch, có mức độ, nếu không, chẳng mấy chốc mà tài nguyên rừng cạn kiệt. Khi đó, thử hỏi con người lấy gì để chống đỡ với gió, với cát, với nước lũ…
Rừng thực sự bị đe dọa. Cái chết của những cánh rừng đang báo động hiểm họa với nhân loại cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ chính môi trường sống của chính con người. Hi vọng màu xanh của rừng sẽ trở lại, của chúng ta được trong lành và con tim chúng ta sẽ nghe được nhạc rừng từ những giọng chim ca.
Bài viết số 5 lớp 7 đề 3: Dân gian ta có câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Nhưng có bạn lại bảo: Gần mực chưa chắc đã đèn, gần đèn chưa chắc đã rạng. Em hãy việt bài văn chứng minh thuyết phục bạn ấy theo ý kiến của em.
Từ xưa trong cuộc sống lao động và chiến đấu của mình, nhân dân ta đã rút ra biết bao bài học, kinh nghiệm quí báu, đó là cách nhìn nhận của nhân dân ta về mối quan hệ giữa môi trường xã hội và nhân cách con người,để diễn tả cách nhìn nhận này,nhân dân ta đã thể hiện qua câu tục ngữ:
"Gần mực thì đen gần đèn thì rạng"
Mực và đèn đều là những hình ảnh của sự vật có quan hệ với tư cách của con người được ông cha ta sử dụng để thể hiện ý của mình. Mực có màu đen tượng trưng cho những cái không tốt đẹp,những gì xấu xa,đèn là vật phát ra ánh sáng,soi rõ mọi vật xung quanh,tượng trưng cho cái tốt đẹp,sáng sủa. Từ hai hình ảnh tương phản nhau là mực và đèn,câu tục ngữ đã đưa ra một kết luận đúng đắn:gần người tốt thì sẽ tốt gần người xấu thì sẽ xấu.
Dựa vào thực tế cuộc sống con người ta thấy câu tục ngữ rất đúng khi xét trong mối quan hệ giữa môi trường xã hội với việc hình thành nhân cách mỗi người vì con người không sống lẻ loi cô độc một mình mà luôn có mối liên hệ với mọi người xung quanh. Ở trong gia đình nhà trường và ngoài xã hội,do đó sẽ bị ảnh hưởng tốt hoặc xấu,dẫn chứng:
Lưu Bình sống cạnh Dương Lễ nên đã thành tài trở thành người hữu ích cho xã hội.
Thuở nhỏ để tạo điều kiện tốt cho con học tập mà mẹ của Khổng Tử đã phải dời nhà mấy lần.
Trong kho tàng văn học dân gian cũng có một số câu thơ,tục ngữ nói về quan niệm đó như:"Ở bầu thì tròn ở ống thì dài" hay "Thói thường gần mực thì đen,anh em bạn hữu phải nên chọn người"
Nhưng trong vài trường hợp đặc biệt thì có một vài trường hợp gần mực chưa chắc đã đen gần đèn chưa chắc đã rạng. Đối với trường hợp gần mực chưa chắc đã đen ta có thể nói đến Nguyễn Văn Trỗi, Trần Văn Ơn trong thời Mỹ đang chiếm đóng miền nam nước ta các anh là những bông sen thơm ngát tỏa hương trong bùn lầy hôi tanh như bài ca dao:
" Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
Câu tục ngữ trên xứng đáng là một lời khuyên quý báu,giúp cho chúng ta xác lập được ý chí của mình khi đứng trước mọi cám dỗ và sẽ mãi là ngọn đèn tỏa sáng trong bóng đen của cuộc sống.
Bài viết số 5 lớp 7 đề 4: Hãy chứng minh đời sống của chúng ta đã bị tổn hai rất lớn nếu mỗi người ko có ý thức bảo vệ môi trường sống
Bài làm
Trái Đất chúng ta là một tạo vật kì diệu. Địa Cầu như người mẹ nuôi chúng ta, luôn chiều chuộng cung cấp cho hàng tỷ đứa con bé nhỏ những điều tuyệt vời nhất. Nơi chúng ta sống, mọi thứ xung quanh đều được dùng 1 từ để diễn tả: “Môi trường” – không phải là một vật thể sống nhưng với tầm vóc của nó, nó có sức ảnh hưởng hết sức lớn lao đối với chúng ta. Môi trường, khi hiền hoà, khi dễ chịu, khi lại phẫn nộ, giận dữ – nó dựa vào những hành động chúng ta làm với nó và trả lại đủ – môi trường sẽ cuốn phăng đi mọi thứ đang hiện hữu, để chúng biến mất vào hư vô nếu chúng ta không quan tâm bảo vệ nó.
Môi trường sống là gì? Môi trường sống xung quanh ta là những điều kì diệu, là những điều kiện tự nhiên về vật chất, tinh thần, bao gồm: nhà cửa, đất, nước, không khí, cây cối, bầu trời…Thời gian trôi qua, khi công nghệ hiện đại ngày càng phát triển, những mẩu sắt thép đã dần thay thế cho những khúc gỗ đơn sơ, và những ánh đèn dầu mập mờ đã không còn nữa, nhường chỗ cho những bóng đèn điện quang sáng rực giữa màn đêm. Mọi người cứ nghĩ thiên nhiên đã không còn vĩ đại như xưa, đều có thể thế bởi những thứ tạo ra từ đôi bàn tay đầy kĩ thuật của con người, rằng gỗ chẳng thể nào sánh được với sắt, hay bóng cây so với quạt máy vẫn còn kém xa. Nhưng, đã có ai từng tự hỏi kim loại từ đâu mà ra, hay chiếc quạt tiện dụng ấy được cấu tạo từ thứ gì? Câu trả lời lại đơn giản lắm: những thứ ta sử dụng hôm nay, đều có nguồn gốc xuất xứ từ môi trường đó thôi!
Đất đai? Đất là một tài nguyên vô cùng quý giá, là mầm móng cho tất cả mọi thứ, là điểm khởi đầu cho những sự vật chúng ta gây dựng nên, là nơi chôn cất bao nhiêu bí mật, là nơi cất giữ thật nhiều khoáng sản. Cao ốc, trường học, nhà cửa,…. Nơi ta đang sống, gắn bó, nơi bảo vệ ta, nơi ta chơi đùa và nghỉ ngơi phải chăng đều được xây dựng bằng gạch, bằng cát, bằng cốt thép xi măng hay tự mọc lên? Đất còn là nguồn tài nguyên khoáng sản.Vòng vàng, trang sức, dầu mỏ, hay các vũ khí chiến tranh đều từ dưới lòng đất mà lên cả thôi đấy chứ! Có đất, cây cối, rau củ,động vật,… mới có thể sống và phục vụ con người chứ nhỉ?
Chúng ta cũng không thể sống nếu thiếu không khí. Không khí là yếu tố sống của nhân loại. Không có không khí, không có khí O2 và khí CO2, liệu con người và các loài động,thực vật có thể sống và làm việc như thế này? Không chỉ những nguyên tố ấy, nước cũng là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống. Nước dùng để uống, để sinh hoạt và phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp…
Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng biết, môi trường sống tạo nên hạnh phúc, niềm vui một bầu trời trong xanh cho chúng ta. Nó cung cấp ô-xi, mang lại không khí trong lành, dễ chịu. Môi trường sống trong sạch bảo vệ sức khỏe con người, ngăn cản các vi sinh vật có hại, nước sạch ngăn cản bọ gậy, ruồi muỗi… Mang lại cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trù phú, là nguồn giải trí của con người. Có cây cối, thì sẽ có rừng, rừng ngăn chặn lũ lụt, sóng thần,…Tất cả đều thật quý giá biết bao. Thật sung sướng khi được sống trong một môi trường như vậy. Quả thật không sai khi nói thiên nhiên, môi trường sống của ta là “rừng vàng biển bạc” mà!
Cuộc sống ấy quá đỗi yên bình và tràn ngập hạnh phúc. Thế nhưng, trong những năm trở lại đây, môi trường sống đang là chủ đề được nhắc đến như “điểm nóng” của tình hình thế giới. Các hội thảo, các hội nghị quốc tế….đều xoay quanh một bức thông điệp thiết tha: Hãy cứu lấy môi trường! Vì sao vậy? Vì khi môi trường sống xanh,sạch,đẹp này biến mất đi, loài người cũng sẽ nhanh chóng bị tiêu diệt, đời sống chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn. Nên mỗi người chúng ta phải có ý thức bảo vệ nó vậy mà không biết bao nhiêu người thiếu ý thức đang nhúng bàn tay của mình vào phá hoại thiên nhiên – phá hoại môi trường sống.
Con người- một động vật thông minh nhất hành tinh.Họ đã làm gì vậy, có ai thấy được không? Xả rác bừa bãi, rác thải công nghiệp, xả rác ra kênh rạch ao hồ,…Chẳng hạn như việc rác thải bị xả ra sông Thị Vải, sông Tô Lịch năm 2008, hay ở khu công nghiệp Vedan thải ra sông Đồng Nai làm chết biết bao nhiêu sinh vật dưới nước, làm cho biết bao nhiêu người dân ở khu đó phải khổ sở. Hay là phá rừng xây dựng công trình và đem bán như các vụ lâm tặc ở Nghệ An, Đắc Lắc…Ngoài ra, còn có các vụ cháy rừng ở Ấn Độ, Malaysia,… hoặc vụ cháy rừng U Minh ở Việt Nam năm 2003,…Đào xới đất bừa bãi, phá vỡ đê điều, sử dụng thuốc trừ sau, diệt cỏ hay phân bón hóa học, đổ dầu ra biển cũng không ngoại lệ.Làm Trái Đất nóng lên, tạo ra hiện tượng nhà kính khiến băng tan hay chế tạo vũ khí chiến tranh hạt nhân một cách bừa bãi cũng là một hành động tàn ác trong danh sách phá hoại của con người.
Để rồi ta thấy được rằng không khí bị ô nhiễm do không có cây cối và do khí thải. Con người mất nơi giải trí, vui chơi. Tầng ozon bị thủng, tia cực tím chiếu thẳng xuống mặt đất làm hại làn da của con người. Đất bị xói mòn, đồi trọc, nông nghiệp sa sút. Triệu triệu cây gỗ, màu xanh của Trái Đất dần mất đi và không khí không còn được điều hòa, mất cân bằng sinh thái. Tạo ra bệnh tật (ung thư,…dị biến lâu dài của chất độc màu da cam…) chưa hết mà bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán còn xảy ra liên tiếp. Khiến các sinh vật trên cạn và dưới nước bị diệt vong, khiến hàng ngàn loài vật bị tuyệt chủng. Không chỉ dừng lại như vậy mà họ còn phá hoại nền kinh tế trầm trọng, gây ra khủng hoảng kinh tế cả thế giới…
Hãy tưởng tượng xem, lỡ như một lúc nào đó ta không còn được nhìn thấy những cánh chim sải cánh bay lượn tự do nữa, không còn được bước đi trên bãi cát trắng mịn và nghe tiếng hát du dương, vỗ về của biển, không còn con thuyền êm đềm sông nước, không còn dòng suối róc rách hay cá bơi lội tung tăng, không còn những ngày hạnh phúc và yên bình…nữa. Mà thay vào đó là bầu trời tối đen không ánh nắng, mặt biển bập bềnh những rác, cá chết trôi,dòng nước sạch bị đục ngầu, hay các hiện tượng sạt lở đất,sóng thần, băng tan,động đất, hạn hán xảy ra thường xuyên…Liệu con người có thể sống chứ? Liệu rằng lúc đó, con người có thể an nhàn khi sống trong một hành tinh như vậy chứ? Hãy tự hỏi mình và suy nghĩ đến điều đó đi nhé.
Biết rằng con người ai cũng sợ hãi cảnh đó nhưng sao cứ phá hoại thiên nhiên, phá hoại môi trường sống và phá hoại nhà ở của động, thực vật? Chúng ta có thể biết chắc rằng vì họ cần tiền để mưu sinh, nhưng vấn đề đang nói đến là họ chỉ biết nhìn cái lợi trước mắt mà không biết suy nghĩ đến cái xã hội tương lai về sau này, vì họ nghĩ thiên nhiên là của chung nên họ không cần phải bảo vệ…Họ luôn tàn khốc mọi thứ, kể cả nhà ở của những loài động, thực vật hay những sinh vật vô tội,… Con người thật đáng sợ!
Năm 1992, Severn, cô gái Canada 12 tuổi và những người bạn của mình đã đến với Hội thảo vì môi trường (Rio) bằng chính tiền của cô và các bạn dành dụm được.Severn đã chỉ cho những con người được gọi là thông minh, những đất nước được cho là văn minh, phát triển về những gì họ đã và đang gây ra cho thế hệ tương lai những lời hứa hẹn mà chưa một lần hành động của họ.Giờ đây, Severn đã 31 tuổi nhưng bài diễn văn của cô cách đây gần 20 năm vẫn sống mãi với thời gian bởi những lời lẽ và lập luận sắc bén, đanh thép của mình, cũng như phản ánh rất đúng thực tại cuộc sống xã hội của ngày ấy và bây giờ.
Như chúng ta thấy đó, khi chỉ là một đứa trẻ, cô đã mạnh dạn đứng lên bày tỏ suy nghĩ của mình một cách đúng đắn nhất. Vậy tại sao chúng ta, những người học sinh đang ở độ tuổi này, hay những con người đã thành đạt, không biết suy nghĩ đến cái tương lai của xã hội, đến một lúc nào đó nhân loại ta sẽ bị diệt vong?Hãy nhắm mắt lại và suy nghĩ đến điều đó, bạn nhé!
Môi trường sống rất quan trọng, hơn bất cứ thứ gì.Khi còn là một học sinh, còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta hãy biết nhận thức diều đó và hãy biết hành động. Ta có thể: thường xuyên dọn vệ sinh khu phố, xóm làng, nhà cửa, nơi mình ở, không xả rác bừa bãi hay ném rác ra kênh rạch, ao hồ, tích cực trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, không đốn cây, tuyên truyền cho mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường, cứu lấy lá phổi xanh của chúng ta,… Nếu mỗi nhóm, mỗi đơn vị, mỗi người đều hành động, thương yêu chăm sóc cho thiên nhiên thì có lẽ thế giới của chúng ta sẽ khác. Mỗi hành động của chúng ta đều mang một ý nghĩa tiêu biểu. Khi chúng ta làm việc gì đó với ý định muốn bảo tồn, lực lượng đầy lòng thương yêu quan tâm này sẽ truyền ra từ một góc của chúng ta trên thế giới tới toàn thể tinh cầu. Địa cầu sẽ được bảo toàn, gìn giữ ; mùa màng sẽ được bảo vệ, kinh tế toàn cầu sẽ được duy trì, và mọi người sẽ có thức ăn. Thế giới sẽ có đủ tài nguyên và đủ thực phẩm cho tất cả mọi người. Chúng ta làm như vậy không phải vì tiền, mà là để chúng ta được sống, tiếp tục làm việc, tiếp tục cảm nhận sự trong xanh của thiên nhiên mà thôi.Đó! Bạn thấy đó, thay vì ngồi một chỗ thì sao ta không bắt đầu hành động ngay trước khi quá muộn, hãy nhớ lấy điều này nhé!
Môi trường sống quanh ta, người bạn thân thiết của ta đang bị đe dọa. Đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu môi trường sống bị phá hoại, do chính bàn ta chúng ta…Thiên nhiên mang đến mọi điều tuyệt vời nhưng có thể lấy đi tất cả nếu chúng ta làm nó nổi giận,dù rằng trước đó nó không hề đòi hỏi gì, hãy nhớ điều này! Vì thế nên hãy dừng bàn tay độc ác đó lại, tôi cầu xin các bạn, và hãy hành động để bảo vệ môi trường sống của chúng ta đi nhé!
Bài viết số 5 lớp 7 đề 5: Hãy trình bày lối sống vô cùng giản dị, thanh bạch của Bác Hồ
Bài làm
Trong bao nhiêu con đường có thể hình thành nên nhân cách của con người, tự rèn luyện cho mình một lối sống là cả một quá trình bạn tìm hiểu xã hội và chính bản thân. Bởi vì xã hội là môi trường còn bản thân bạn là hạt giống. Cũng không khó để bắt gặp trong cuộc sống này một lối sống mà ta thường gọi là "lối sống giản dị" của con người. Có bao giờ bạn tự hỏi: Thế nào là lối sống giản dị chưa?
Theo quan niệm của tôi, lối sống giản dị là biết chấp nhận cuộc sống hiện tại nhưng vẫn có những ước mơ. Ước mơ đó chỉ là những điều mà khả năng của ta có thể làm được. Trong cuộc sống, ta luôn khiêm nhường, hòa đồng với mọi người cả về phong cách và lối sống. Không kiêu ngạo, bon chen, ghen tị hay sống xa hoa, đua đòi những của cải vật chất vô nghĩa. Ta không nghĩ nhiều cho bản thân và luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần thiết.
Nhưng tóm lại, lối sống giản dị luôn là điều cần có ở mỗi con người, đó là một đức tính tốt đẹp, ko nhất thiết chỉ có người ở nông thôn mới sống giản dị hay người ở thành phố thì ko thể sống giản dị. Lối sống đó là một cách sống ko khoa trương, ko chú trọng quá nhiều ở hình thức bên ngoài. Nói như thế cũng ko có nghĩa là cứ ăn mặc luộm thuộm lôi thôi rồi tự xưng là người sống giản dị được. Giản dị trong mỗi điều kiện, hoàn cảnh lại có những cách biểu hiện khác nhau. Có người sống giản dị chân chính đúng với bản chất của mình và tất nhiên cũng có người sống giản dị một cách giả tạo. Nhưng "bản chất rồi sẽ lộ ra", nếu giản dị ko phải là đức tính của họ thì họ sẽ ko thể sống mãi với cái vỏ bọc đó được. Lối sống giản dị ko phải là cuộc sống đơn giản, cứ lặp đi lặp lại, nhàm chán như nhiều người đã nghĩ. Trái lại, sống giản dị giúp người ta có thể thoải mái, thư thái về mặt tâm hồn. Bởi lẽ khi ta đã sống đơn giản thì sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ cho nhiều vấn đề khác quan trọng hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, ta còn được nhiều người yêu mến, kính trọng. Lối sống giản dị bao gồm nhiều phương diện khác nhau: ăn mặc, giao tiếp, sở thích cá nhân, cách cư xử…
Giản dị trong cách ăn mặc là không bận những trang phục quá cầu kì hay trở nên khác người khi đi ra đường. Ăn mặc đúng theo thời đại và đơn giản như quần jean, áo thun hay quần tây, áo sơ mi. Trang phục ấy phải luôn hòa hợp với mọi người xung quanh. Giản dị trong cách ăn mặc cũng không có nghĩa là trở nên quá bê tha, cẩu thả và lôi thôi. Khi giao tiếp hay cư xử với người khác, ta luôn dùng từ ngữ dễ hiểu và lời lẽ đầy thiện cảm. Cư xử một cách đúng đắn và chuẩn mực đạo đức. Không nên “trọng phú khinh bần” hay cư xử một cách thô bạo. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình như ông bà, cha mẹ, thầy cô thì nên “gọi dạ bảo vâng” cũng như khi nói chuyện với bạn bè, những người đồng trang lứa hay những người nhỏ hơn mình thì nên chọn từ ngữ và cách cư xử thích hợp nhất…Từ xưa ông cha ta cũng đã có nhiều câu ca dao, tục ngữ hay danh ngôn nói về điều này như:
Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Khi nói đến lối sống giản dị thì không ai lại không nghĩ tới chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì thế ta có thể học tập rất nhiều ở Bác kính yêu lối sống ấy. Nói về sự giản dị của Bác, có lẽ ấn tượng nhất phải kể đến đôi dép cao su và bộ quần áo ka ki. Đôi dép cao su được Bác dùng hơn 20 năm đến khi mòn gót phải lấy một miếng cao su khác vá vào, các quai hay bị tuột phải đóng đinh giữ lại. Còn bộ quần áo ka ki Bác mặc đến khi bạc màu, sờn cổ áo. Những người giúp việc xin Bác thay bộ quần áo mới thì Bác bảo: “Bác mặc như thế phù hợp với hoàn cảnh của dân, của nước, không cần phải thay”. Thế đấy, cuộc sống giản dị của Bác tuy rất đơn sơ, mộc mạc nhưng toát lên vẻ thanh thoát, lịch lãm mà không kiểu cách của một con người sống vì dân vì nước suốt cả cuộc đời. Và Bác cũng rất xưng đáng là một tấm gương sáng cho mọi người ngày hôm nay.
Người xưa có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.” dùng để chỉ hình thức bên ngoài không quan trọng bằng bản chất bên trong của con người. Sống khiêm tốn, thật thà, giản dị hay sống xa hoa, bon chen, đua đòi theo vật chất, danh lợi là tùy cách nhận thức của mỗi người. Nhưng sống sao cho đẹp lòng người, sống có ích và không cảm thấy hối tiếc thì thật sự là một điều rất khó. Bởi thế chúng ta hãy chọn cho mình một cách sống tốt nhất bằng cách cùng tạo dựng cho bản thân một “lối sống giản dị” riêng.
Nguồn:
|
Bài viết số 5 lớp 7
| 5,963
| |
Bài viết số 5 lớp 8-Thuyết minh về danh lam thắng cảnh
Hướng dẫn
Bài viết số 5 lớp 8 – Thuyết minh về danh lam thắng cảnh
Ngũ Hành Sơn là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của nước ta, đây là một cụm núi đá vôi gồm có năm ngọn núi thuộc Thành phố Đà nẵng. Ngũ Hành Sơn nhóm núi đá (trong đó có cả đá cẩm thạch) nằm kề với biển, liền sông, năm ngọn núi nằm rải giữa một bên là sông Hàn và một bên là bãi biển Non Nước quanh năm cuồn cuộn những con sóng bạc đầu. Năm ngọn núi ấy được vua Minh Mạng đặt tên mỗi ngọn núi tượng trưng cho các yếu tố cấu thành vũ trụ là Kim Sơn, Thuỷ Sơn, Thổ Sơn, Mộc Sơn và Hoả Sơn.
Ngũ Hành Sơn nằm cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 8 km về phía đông nam, trên một bãi cát mênh mông gần bờ biển, thuộc làng Hoà Khuê, ấp Sơn Thủy, huyện Hòa Vang quận Ngũ Hành sơn. Thuở xa xưa người Chiêm Thành, thờ thần linh theo tín ngưỡng của họ, ngày nay còn lưu lại di tích qua những tượng thần bằng đá, những đền tháp và hình tượng khắc trong vách đá ở Chùa Linh Ứng, trong động Huyền Không. Ngũ Hành Sơn bao gồm 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn, Hoả Sơn(Âm Hỏa sơn va Dương Hỏa sơn), Thổ Sơn.
Thuở xa xưa người Chiêm Thành, thờ thần linh theo tín ngưỡng của họ, ngày nay còn lưu lại di tích qua những tượng thần bằng đá, những đền tháp và hình tượng khắc trong vách đá ở Chùa Linh Ứng, trong động Huyền Không. Ngũ Hành Sơn bao gồm 5 ngọn Kim Sơn, Mộc Sơn, Thuỷ Sơn,Hỏa sơn(được chia làm 2 loại: Âm Hỏa sơn và Dương Hỏa sơn) va Thổ sơn.
* Kim sơn (Metall – metal) là hòn núi khiêm tốn nhất trong 5 ngọn núi kéo dài từ đông sang tây, sông Trường nối dài ra sông Đà Nẵng, có đò Bến ngự ngày xưa Vua chúa thường cập bến nơi đây để ngọan cảnh, qua thời gian biển dâu biến thành ruộng đồng, sông Trường có tên „Lộ Cảnh Giang là sông Cổ Cò“, đã bị vùi lấp biến thành ruộng hoặc hồ nước còn dấu tích của những đoạn sông chưa bị lấp kín
* Mộc sơn (Holz – wood) phiá đông nam nằm song song với núi Thủy sơn dù mang tên là mộc, nhưng cây cối mọc rất ít núi cũng có hang động nhỏ, Mộc sơn có khối đá cẩm thạch trắng giống hình người
* Thuỷ sơn (Wasser – water) phiá đông bắc là núi đẹp nhất, du khách thường đến ngoạn cảnh gọi là Chùa Non Nước, phong cảnh hữu tình có thể nói núi Thủy sơn nằm dài từ đông sang tây rộng 15 ha, có nhiều Chùa được xây cất lâu đời, có động Thạch nhũ, có hai chùa đẹp chùa Tam Thai và chùa Linh Ứng, đường lên núi làm bằng từng cấp lót đá, trên đỉnh 3 ngọn núi mang tên là „Tam Thai“ bởi vì nó giống như „Sao Tam Thai“ tức là 3 ngôi sao làm thành cái đuôi của chùm sao Đại Hùng Tinh. Du khách từ vùng biển muốn lên thăm Linh Ứng phải bước lên khoảng 108 tầng cấp, nếu đến chùa Tam Thai nằm ở phiá nam phải đi xa hơn những tầng cấp dài 156 bậc. Ngày nay phần lớn du khách đến Thuỷ sơn bằng xe từ đường Huyền Trân, hai bên đường là làng chuyên về nghề điêu khắc tạc tượng, bằng đá cẩm thạch
* Hỏa sơn (Feuer – fire) ngọn núi hướng về phiá tây nam sườn núi hiểm dốc hang động hoàn toàn im lặng, đối diện với hòn Kim Sơn, bên trái đường Sư Vạn Hạnh, trên dãy núi Hỏa sơn còn lại những đống gạch vụn từng mảnh hay đôi khi nguyên vẹn, trong những hố đá gạch sụp lở đó là di tích đền tháp của người Chiêm Thành. Hoả sơn nơi người ta khai thác lấy đá cẩm thạch. Đá cẩm thạch non nước có nhiều vân, sắc đẹp hồng, xám, trắng, những loại đá khác nhau rất hữu ích cho công nghiệp, đá vụn để trãi đường, tô tường nhà. Hỏa Sơn gồm có một hòn Âm và một hòn Dương, nối liền với nhau bằng một đường đá thiên tạo nhô cao hẳn lên.
Hòn Âm Hỏa Sơn nằm phía đông, gần đường Lê Văn Hiến, chóp núi tròn nhô lên cao hơn. Sườn núi có nhiều thớ đá nằm nghiêng và chạy nghiêng cắt ra từng đoạn, cây cối mọc ở các kẻ đá, ở mỏm núi phía đông có một cái hang thông từ sườn phía nam ra sườn phía bắc. Nhân dân địa phương thường đi theo đường này đến các hòn Kim Sơn và Thổ Sơn.
Hòn Dương Hỏa Sơn nằm ở phía tây. Ngày xưa, khi còn giao lưu được giữa Hội An và Đà Nẵng bằng đường thủy, ở đây có một bến sông, ghe thuyền đi về buôn bán vô cùng tấp nập. Trên bờ sông, sát chân hòn Dương Hỏa Sơn có khu miếu Ông Chài, hiện đã bị đổ nát. Tên dân dã “núi Ông Chài” có thể bắt nguồn từ đó. Tại một điểm cao trên sườn núi cheo leo, vách đá thẳng đứng, phía bắc Dương Hỏa Sơn nhìn về phía Kim Sơn, có ba chữ Hán lớn, nhìn từ xa rất rõ “Dương Hoả Sơn” và một dòng chữ nhỏ phải đến gần mới thấy: “Sắc Minh mạng thập bát niên thất nguyệt nhật cát lợi”.
* Thổ sơn (Erde – earth) là núi thấp nằm chính giữa có dạng vuông, cạnh không đều nhau, Thổ sơn không có phong cảnh đẹp chỉ có đất sét đỏ và đá cát lẫn lộn. Theo truyền thuyết Thổ sơn là nơi linh địa ngày xưa người Chiêm Thành đồn trú nơi đây, còn tìm thấy những nét về văn minh người Chiêm Thành điêu khắc vào đá như một cứ điạ từ đó xuất phát đi cướp phá các vùng biển có tàu buôn đi từ Trung hoa xuống đến vùng biển Mã lai. Thổ sơn thấp bao quanh những ngọn núi cao hơn.
Bài 2:
Hạ Long theo nghĩa đen có nghĩa là Rồng bay xuống. Cái tên này gắn liền với một truyền thuyết đã được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Truyền thuyết kể lại rằng ngay từ những ngày đầu lập nước, người Việt đã bị giặc ngoại xâm tấn công theo đường biển. Biết trước được điều này Ngọc Hoàng đã sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Khi thuyền giặc chuẩn bị ồ ạt tiến vào bờ cũng là lúc đàn Rồng từ trời cao bay xuống. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá ngọc bích trên biển. Những hòn đảo liên kết với nhau tạo nên bức tường thành vững chắc làm đoàn thuyền giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột, đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc ngoại xâm bị đánh đuổi ra khỏi bờ cõi, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời nữa vì họ đã say mê vẻ đẹp của nước và biển nơi hạ giới. Họ quyết định ở lại chính nơi mà trận chiến đã diễn ra. Vị trí mà Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long và nơi mà Rồng con đáp xuống, cúi đầu chào mẹ của mình chính là Bái Tử Long, nơi những chiếc đuôi quẫy mạnh được gọi là Bạch Long Vĩ.
Vịnh Hạ Long là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Vịnh Hạ long được hình thành do sự vận động của đá và nước, là một tác phẩm nghệ thuật địa lí được hoàn thành sau hàng triệu năm biến đổi của địa chất. Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553km² bao gồm 1.960 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi.
Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt mỹ, tài hoa của tạo hoá, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng kia trở nên những tác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, vừa rất quen thuộc vừa như xa lạ với con người. Hàng ngàn đảo đá nhấp nhô trên sóng nước lung linh huyền ảo, vừa khoẻ khoắn hoành tráng nhưng cũng rất mềm mại duyên dáng, sống động. Đi giữa Hạ Long với muôn ngàn đảo đá, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá nơi đây. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền – hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước – Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá – hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu lực lưỡng đang rẽ sóng nước ra khơi – hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước – hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất – hòn Lư Hương… Tất cả đều rất thực, thực đến kinh ngạc. Những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo thời gian và góc nhìn. Tới đây ta mới nhận ra tất cả chúng không phải là những hòn đảo vô tri tĩnh lặng mà như có hồn và đều sống động.
Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung… Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao”. Bao tao nhân mặc khách từ khắp năm châu khi đặt chân đến đây đều cảm thấy bàng hoàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của Hạ Long, dường như họ đều cảm thấy lúng túng và bất lực bởi vốn từ hiện có vẫn chưa đủ để mô tả vẻ đẹp của Hạ Long.
Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn – nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ thứ 12; có núi Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa dòng sông Bạch Đằng – là chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm. Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng…
Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới… Với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng như tôm, cá, mực… Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.
Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng. Đến vịnh Hạ Long, chúng ta có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí… Vùng vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại.
Hiện nay, vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Hạ Long là một điểm du lịch hấp dẫn vì cảnh quan nơi đây thật đẹp và hữu tình. Phong cảnh Hạ Long không bao giờ bị tẻ nhạt, mỗi một mùa lại mang đến cho Hạ Long một sắc thái riêng đầy ấn tượng. Vịnh Hạ Long là nơi có nguồn tài nguyên dồi dào, hằng năm cung cấp hải sản cho các nhà máy chế biến.
Vịnh Hạ Long là một di sản văn hóa đáng tự hào của dân tộc. Ngày nay, vnh Hạ Long vẫn đang thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, mang lại nhiều lợi ích cho nước nhà, chúng ta cần ra sức bảo vệ và giữ gìn vịnh Hạ Long để vịnh ngày càng xanh tươi hơn, mãi mãi là niềm tự hào của đất nước..
|
Bài viết số 5 lớp 8-Thuyết minh về danh lam thắng cảnh
| 2,325
| |
Bài viết số 5 lớp 9, bài văn mẫu lớp 9
Hướng dẫn
Bài viết số 5 lớp 9 đề 1: Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giợi hay viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người.
Bài làm
Có một con người mà khi nhắc đến tên, những người Việt Nam đều vô cùng kính yêu và ngưỡng mộ, đó là Hồ Chí Minh: vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
Trước hết ta thấy Bác Hồ là vị lãnh tụ cực kì vĩ đại. Với vai trò của một lãnh tụ cách mạng, Bác đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình đối với dân, với nước. Bác là người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, cùng Đảng dẫn đường chỉ lối cho dân tộc vùng lên phá bỏ xích xiềng nô lệ thực dân, phong kiến, giành quyền sống tự do. Người chiến sĩ cộng sản lão thành Nguyễn Ái Quốc đã trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của Chính phủ lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chủ quyền độc lập thiêng liêng. Nếu so sánh sự nghiệp đấu tranh chống xâm lăng, bảo vệ Tổ quốc kéo dài suốt ba mươi năm của dân tộc ta là một con tàu giữa đại dương đầy bão tố thì Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thuyền trưởng tài ba, sáng suốt, đã đưa con tàu vượt qua trùng trùng sóng gió, cập bến vinh quang.
Tư tưởng của Người có giá trị vô cùng to lớn đối với Cách Mạng Việt Nam,nhân dân Việt Nam.Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc,Người yêu nước thương dân sâu sắc,bởi vậy triệu triệu người dân Việt Nam đều là con cháu của Người.Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi:
“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người.”
Sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ vĩ đại như non cao, biển rộng nhưng Bác lại sống một cuộc sống vô cùng giản dị và tuyệt vời trong sáng. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như thế: Người mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc rương nhỏ và mấy bộ quần áo bạc màu, nếp sống giản dị của Bác rất gần gũi với cuộc sống của nhân dân. Bữa ăn chỉ vài món cá kho, rau luộc, cà muối… Chỗ ở là căn nhà sàn bằng gỗ đơn sơ, xung quanh là vườn cây, ao cá. Quan niệm sống của Bác là: Mình vì mọi người, cho nên Bác lấy cống hiến làm niềm vui, làm hạnh phúc của bản thân. Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam, Bác Hồ không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính yêu và ngưỡng vọng.
Bác Hồ còn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới.Bác dã từng là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ ”ở Pháp, đã từng viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”gây tiếng vang lớn.Người còn là nhà văn,nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam với những tập truyện ký bằng tiếng Pháp, “Tuyên ngôn độc lập”và“ Nhật ký trong tù”cùng rất nhiều những vần thơ khác nữa…Bác Hồ đã từng đi khắp các châu lục trên thế giới, thông thạo nhiều thứ tiếng, am hiểu nền văn hoá của nhiều dân tộc.Bác đã rèn giũa và tạo dựng cho mình một phong cách riêng, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, thanh cao và giản dị, giữa tinh hoa văn hoá nhân loại và tinh hoa văn hoá Việt Nam.
Trước lúc đi xa vào cõi vĩnh hằng, Bác viết trong Di chúc: “Tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng…” Sự ra đi của Bác là một tổn thất lớn lao không gì bù đắp được. Bác đã hóa thân vào sông núi, biển trời… của đất nước Việt Nam mà Người hằng yêu dấu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại vinh quang cho đất nước Việt Nam dân tộc Việt Nam. Các thế hệ tiếp nối đã đi theo con đường cách mạng đúng đắn mà Bác đã dẫn đường chỉ lối, biến khát khao cháy bỏng của Người thành hiện thực: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh để sánh vai với các cường quốc năm châu khắp thế giới.
Bài viết số 5 lớp 9 đề 2: Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tập thanh công (như anh “Nguyễn Ngọc Lí” bị hỏng tay, dùng chân viết chữ; anh “Đỗ Trọng Khơi” bị bại liệt đã tự học, trở thành nhà thơ; anh “Trần Văn Thước” bị tai nạn lao động, liệt toàn thân đã tự học, trở thành nhà văn). Lấy nhan đề “những người không chịu thua số phận” em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về những con người ấy.
Bài làm
Có những con người không may mắn khi chào đời. Tạo hóa đã thật bất công với họ. Trong số ấy không ít người chấp nhận số phận, thở ngắn than dài ngậm ngùi cho qua ngày tháng. Nhưng, vẫn có rất nhiều người trong số họ đã ko chấp nhập sự bằng lòng, họ đã dũng cảm và bền bỉ vượt lên sự an bài của tạo hóa. Thật đáng quý!
Một Nguễn Ngọc Kí liệt cả hai tay vẫn kiên trì tìm cách viết bằng chân. Từ chỗ viết dc, đến viết đẹp là cả một quá trình. Không dừng lại ở đó, anh còn quyết tâm thực hiện giấc mơ đại học. Và, giấc mơ ấy đã trở thành hiện thực của đời anh. Để hôm nay, anh trở thành thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí trên giảng đường Sư phạm. Đó còn là một Nguyễn Minh Phú, nạn nhân cảu chật độc màu da cam, mất cả hai tay tử khi cất tiếng khóc chào đời, không chịu thua số phận, vươn lên học tốt và học giỏi, giúp đỡ gia đình. Họ là những tấm gương vượt lên số phận, học tập thành công đáng để cho ta ngưỡng mộ, tự hào
Những tấm gương vượt lên số phận, thànnh công trong học tập ấy không chỉ giúp chúng ta thấm thía giá trị của ý chí và nghị lực mà còn hiểu sâu hơn ý nghĩa về một cuộc sống có ý nghĩa. Có lẽ hơn ai hết, họ hiểu cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta biết sống có ích, sống đẹp với nó. Sự thua thiệt lúc này lại trở thành phép thử đối với tình yêu cuộc sống trong mỗi trái tim con người ấy. Vậy nên họ đã không chịu an bải trưước số phận. Họ đã chứng tỏ được rằng, cuộc đời cuộc đời vẫn rất cấn đến sựa có mặt của họ trên thế gian này. Những gì họ đã làm, đang làm và sẽ làm vẫn đang từng ngày, từng phút. từng giây góp mặt cho đời. Sự đóng góp của họ thật đáng để chúng ta soi ngắm lại chính mình.
Thật buồn khi trong chúng ta, những học sinh, sinh viên đuợc tạo hóa ban tặng, ưu ái nhiều điều, vậy mà, một số họ lại chỉ biết ăn chơi, hưởng thụ. Xem nhẹ việc học tập, trau dồi đạo đức, nhân cách làm người, họ lao vào các chôu tò ra rất tự hào khi thấy mình sành điệu. Được khuyên nhủ, nhắc nhở, họ lại cuời nhạo vào những tấm gương cao đẹp ấy và buông ra những lời bất nhẫn. Thật đáng tiếc!
Hiểu vậy, biết để mỗi người trong chúng ta, nhất là thế hệ trẻ càng phải hiểu mình phải sống ra sao, sống thế nào cho xứng với chân giá trị làm người. Soi vào những tấm gương cao cả ấy để không ngừng hoàn thiện bản thân. Con đừơng dẫn đến thành công không bằng phẳng bao giờ. Vậy nên, càng phải thấm rằng: “ Trên đường dẫn đến thành công không có vết chân của kẻ lười biếng “. Trên vạn dặm, hãy biết chọn một dặm đường và đi cho đến. Để một lúc nào đó quay lại nhìn lại. ta hiểu rằng, cuộc đời này đã có gương mặt của ta.
Bài viết số 5 lớp 9 đề 3: Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển,nhưng đã có nhiều học sinh đật huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế về toán, lí ngoại ngữ,… năm 2004,tân sinh viên Việt Nam lại đoạt giải robocon châu á tại hàn quốc. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó.
Bài làm
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Quyết tâm thực hiện tốt lời Bác dạy, ngày nay đất nước Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiều học sinh đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế. Đó là những tấm gương tiêu biểu cho lòng say mê, cần cù học tập, năng động, sáng tạo và ý chí vượt lên hoàn cảnh để bước đến thành công.
Nhắc đến thành tích của đội tuyển Việt Nam khi tham dự các kỳ thi Toán Quốc tế, nhiều người hẳn vẫn chưa quên hình ảnh cậu học sinh Việt Nam nhỏ nhắn, người đã vinh dự được đích thân tổng thống nước Cộng hòa Ru-ma-ni tro huy chương vàng Toán quốc tế lần thứ 40 tổ chức tại Bu-ca-rét năm 1999. Đó là Lê Thái Hoàng, học sinh lớp 12A khối phổ thông chuyên Toán trường Đại học sư phạm Hà Nội. Tại cuộc thi này, Hoàng đã cùng đội tuyển Việt Nam vươn lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Nếu như Lê Thái Hoàng nổi tiếng với tấm huy chương vàng bộ môn Toán, thì Nguyễn Bích Hoàng Anh, sinh viên năm I ngành Công nghệ thông tin Đại học Khoa học tự nhiên, đã xuất sắc đem về cho đất nước tấm huy chương bạc Olympic Tin học quốc tế tại Ba Lan. Và gần đây nhất là sinh viên Đại học Bách Khoa Việt Nam đoạt giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc 2004.Đó chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng số những gương mặt học sinh, sinh viên Việt Nam tiêu biểu. Chúng ta được biết đến họ qua các phương tiện truyền thông và đều thật sự rất thán phục họ. Thế nhưng tại sao họ có thể đạt được những kỳ tích vẻ vang như thế?Đó trước hết là nhờ lòng hăng say, miệt mài học tập. Thomas Edison đã từng nói: “Thiên tài là 1% cảm hứng cộng với 99% khổ luyện”. Nếu như bạn không cố gắng học tập, rèn luyện, trau dồi tri thức và đem áp dụng những kiến thức mới đó vào cuộc sống thì liệu bạn có thể nhớ nổi hàng ngàn, hàng vạn kiến thức đã được học hay không? Khi bạn gặp một vấn đề khó thì chớ nên đầu hàng, mà hãy tiếp tục nỗ lực trau dồi, học hỏi để tìm ra cách giải quyết tốt nhất. Luôn có một tinh thần học tập cao thì bạn sẽ thành công. Đó chính là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên một thiên tài.Ngoài ra, còn một phẩm chất quan trọng nữa cần phải có để học tốt là năng động, sáng tạo. Khi ta giải quyết được một vấn đề, hầu hết chúng ta đều rất vui mừng. Ít ai còn nghĩ đến việc tìm ra một con đường ngắn hơn, thuận tiện hơn để đạt được mục tiêu đặt ra. Tìm ra những cách giải quyết mới vừa giúp chúng ta trau dồi và bổ sung vốn kiến thức sẵn có của mình, vừa giúp chúng ta có được những kinh nghiệm quý báu để giải quyết những khó khăn khác. Chính óc sáng tạo đã giúp con người Việt Nam tạo nên được những kỳ tích.Trong số những gương mặt tiêu biểu của sinh viên, học sinh Việt Nam đạt thành tích cao trong học tập, có không ít những người hoàn cảnh gia đình rất khó khắn, hoặc bị khuyết tật. Nhưng họ đã xuất sắc vượt qua trở ngại to lớn đó để đem vinh quang về cho đất nước. Một tấm gương tiêu biểu là bạn Lê Vũ Hoàng. Tuy sống trong một ngôi nhà lá dột nát, sáng cắt rau cho lợn ăn, chiều đánh bắt cá trầu, vừa chăm bà chăm em, vừa chăm mẹ nằm viện,… nhưng Hoàng vẫn đạt được giải Nhất trong cuôc thi “Đường lên đỉnh Olympia”. Ý chí và nghị lực kiên cường đã giúp những con người ấy vượt lên hoàn cảnh khó khăn của bản thân. Hơn nữa, sinh viên Việt Nam khi tiếp xúc với các cuộc thi quốc tế thật sự gặp nhiều bất lợi vì họ không có đủ điều kiện để học tập, thực hành nhiều như sinh viên nước ngoài, càng không được nhận một nền giáo dục dân chủ, hiện đại, nhưng họ đã vượt qua hạn chế ấy. Vậy mới biết, bằng ý chí, nghị lực, quyết tâm vượt qua khó khăn, không đầu hàng số phận cũng là một yếu tố quan trọng để đạt được những thành tích cao. Nếu chỉ biết khoang tay đầu hàng trước những khó khăn thì đến bao giờ bản thân mới có thể tiến bộ.Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, khi thế giới vẫn không ngừng thay đổi dù chỉ trong một giây, thì những gương mặt sinh viên, học sinh ưu tú, những tấm huy chương, thành tích cao thật sự là những phương tiện quý giá để đất nước Việt Nam từ một quốc gia lạc hậu vươn lên sánh ngang tầm với thế giới. Để thực hiện điều đó, trước hết, học sinh, sinh viên Việt Nam cần rèn luyện những phẩm chất đã nêu ở trên để vượt qua những giới hạn về vật chất, khắc phục những điểm yếu của bản thân để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh hơn.
Bài viết số 5 lớp 9 đề 4: Một hiện tượng khá phổ biến ngày nay là vứt rác ra đường hoắc ở những nơi công cộng. ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống… em hãy đặt một nhan đề gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.
Bài làm
Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Ở các quốc gia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường rất được chú trọng nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa. Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Đáng buồn thay, ở nước ta, hiện tượng vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng, không giữ gìn vệ sinh đường phố rất phổ biến. Việc làm này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về hiện tượng này.
Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng. Ăn xong một que kem hay một chiếc kẹo, người ta vứt que, vứt giấy xuống đất. Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối, vứt lon, vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần. Thậm chí khi ăn xong một tép kẹo cao su, họ cũng không mang đến thùng rác mà vo tròn rồi trét lên ghế đá và cứ thế bỏ đi chỗ khác. Công viên, nơi được xem là có bầu không khí trong lành, sạch đẹp, giúp con người thư giản, hay chùa chiền, vốn là nơi tôn nghiêm cũng không tránh khỏi hiện tượng này. Bến tàu, nhà ga, kênh rạch đâu đâu cũng có rác. Một biểu hiện phổ biến khác là một số tài xế chở gạch,đá phế thải ở các công trinh xây dựng đem đổ khắp nơi và cả trên dưới phố. Con người ta còn vô ý thức đến mức mang xác súc vật chết như chó, mèo, chuột, gia cầm như gà, vịt ném xuống hồ,ao, sông rạch và ra đường. Ở một số hàng, quán bán trên vỉa hè người ta đổ tất cả đồ ăn dư thừa, nước rửa chén, bát xuống cống khiến cho nước thải bị ứ đọng,cống bị tắt nghẽn. Thế nhưng hiện tượng xả rác đó còn lan sâu vào một tầng lớp trí thức trẻ ngày nay. Biểu hiện cụ thể ở một số sinh viên làm gia sư. Họ thường đứng ở các ngã ba, ngã tư đường để phát tờ rơi quảng cáo nhóm gia sư của mình một cách bừa bãi khiến khắp đường phố rải rác đầy những tờ rơi. Trong lớp học, sân học, học sinh cũng ngang nhiên xả rác ở hộc bàn, góc lớp, hành lang,… Nguy hiểm hơn cả là tình trạng bệnh viện chôn rác xuồng lòng đất ngay bên cạnh khu dân cư, hay mới đây là vụ nhà máy bột ngọt Vedan đã thải nước xuống dòng sông Thị Vãi mấy chục năm biến dòng sông thành dòng sông chết.
“Của mình thì giữ bo bo
Của người thì thả cho bò nó ăn ”
Họ nghĩ đơn giản rằng chỉ cần nhà mình sạch thì được còn bẩn thì ai bẩn mặc ai. Những nơi công cộng không phải là của mình, vậy thì việc gì mà phải mất công gìn giữ. Cứ ném rác vội ra là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp. Cách nghĩ như thế thật là thiểu cận và nguy hại làm sao. Nguyên nhân tiếp theo là do thói quen đã có từ lâu, khó sửa đổi, phải có sự nhắc nhở thì người ta mới không xả rác bừa bãi. Ở các lớp học, hằng ngày, các thầy cô và ban cán sự lớp phải thường xuyên nhắc nhở thì mới giữ cho lớp học sạch đẹp. Nhưng xã hội là một phạm vị rộng lớn hơn lớp học rất nhiều. Mọi người đều bận rộn với công việc của mình và không một ai có đủ thời gian để đi nhắc nhở từng người một. Không được nhắc nhở, con người ta lại quay về với thói quen trước kia. Việc giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tổ chức thường xuyên. Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi, không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hòi của người dân. Do đó mà trình độ hiểu biết của người dân còn thấp dẫn đến thái độ tuân thủ nội quy nơi công cộng chưa đi vào nề nếp. Một phần là do sự quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, kém hiệu quả, …chưa có hình thức xử lý nghiêm khắc những cá nhân, đơn vị, công ty vi phạm, hay nói cách khác là biết mà làm ngơ. Cứ thử phạt thật nặng một người nào đó xả rác ra đường phố làm gương, thì còn ai dám xả rác nữa.
Với tình hình vứt rác bừa bãi hiện nay, thì những hậu quả kéo theo nó cũng không phải nhỏ. Trước tiên là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Rác bị xả bừa bãi liên tục, ngày càng nhiều nếu không được thu dọn sẽ bốc mùi, gây ô nhiễm môi trường không khí. Nguồn nước bị ô nhiễm nặng do dân cư ven các con sông thải chất thải sinh hoạt xuống sông, tệ hại hơn, họ còn ném xác gia cầm bị H5N1 xuống sông. Người dân chẳng may sử dụng phải nguồn nước nay, hay sống gần những bải rác sẽ dễ mắc các bệnh về đường ruột, bệnh ngoài da, ệnh đau mắt hột…Đặc biệt gần đây ở nước ta có nhiều người tử vong vì bị tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn tả từ nước bị ô nhiễm. Về vấn đề kinh tế mà nói, ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất là ngành nuôi trồng thủy sản. Do môi trường sinh thái bị ô nhiễm, cá tôm chết nhiều hoặc bị bệnh tác hại nghiêm trọng đến sản lượng, kinh tế người dân và tốn kém nhiều tiền bạc trong việc cải tạo môi trường. Rác trong lớp học, sân trường, nếu không thu dọn kịp thời sẽ bốc mùi hôi thối khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự tiếp thu bài của học sinh, sự truyền đạt kiến thức của giáo viên và còn làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của ngôi trường. Và độc hại hơn cả, là rác thải y tế với những mầm bệnh ung thư, nước nhiễm chì, nhiễm bẩn. Rác tồn đọng, ứ lại trên các kênh rạch, cống rãnh gây nên ngập lụt vào mùa mưa gây ảnh hưởng đến đời ống của người dân, nhà nước, địa phương phải tốn thêm một khoản chi phí không nhỏ để thuê nhân công thu dọn, nạo vét, khai thông cống rãnh, ao hồ, kênh rạch. Và một thiệt thòi đối với nước ta nếu hiện tượng xả rác còn tràn lan là sẽ để lại ấn tượng không tốt đẹp cho khách du lịch. Thử hỏi còn ai dám đến tham quan một đất nước đầy rác ngoài phố, mùi hôi khó chịu, mất vệ sinh!!? Lúc ấy, chúng ta sẽ mất một nguồn lợi khá lớn về du lịch.
Vậy làm thế nào để giảm thiểu được hiện tượng xả rác này. Nhà trường phối hợp với các ban ngành thướng xuyên nhắc nhở, tuyên truyền, kiểm tra ý thức tự giác của mọi người về việc giữ gìn vệ sinh. Nên có những hình thức khiển trách đúng mức đối với những học sinh có thói quen vứt rác bừa bãi. Đối với người dân vi phạm thì họp tổ dân phố kiểm điểm. Còn công ty nào vi phạm thì thẳng tay phạt nặng, rút giấy phép hoạt động. Tốt nhất là các cơ quan nhà nước cần đưa ra những bộ luật thật cụ thể về vấn đề xâm hại môi trường.
Hành vi xả rác nơi công cộng đang là vấn đề đau đầu của các cơ quan chức năng bởi mức hiệt hại cảu nó đối với XH,. Bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sống của mọi người, vì vậy mỗi người chúng ta cần có ý thức, góp phần chung tay xây dựng một môi trường xanh-sạch-đẹp.
|
Bài viết số 5 lớp 9, bài văn mẫu lớp 9
| 4,043
| |
Bài viết số 5 lớp 9
Hướng dẫn
Trong trái tim của mỗi con người Việt Nam luôn có một hình ảnh thiêng liêng Bác, kể cả những thế hệ như chúng ta chưa từng một lần được gặp Người mà chỉ qua lời kể của ông bà, cha mẹ, qua những câu chuyện về Người thôi mà hình ảnh của Bác có sự ảnh hưởng lay động hàng triệu con tim Việt. Đó là Hồ Chí Minh: Vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.
Trước hết ta thấy Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại,anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.Bác là người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận cứu nước đầy gian khổ, lãnh đạo dân ta tới chiến thắng,khai sáng nền độc lập tự do ở đất nước Việt Nam.Người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường đi và tương lai cho đất nước,giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.Người đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo,đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp.Tư tưởng của Người có giá trị vô cùng to lớn đối với Cách Mạng Việt Nam,nhân dân Việt Nam.Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc,Người yêu nước thương dân sâu sắc,bởi vậy triệu triệungười dân Việt Nam đều là con cháu của Người.Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi:
“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người.”
(Tố Hữu )
Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như thế:Sống trong ngôi nhà sàn nhỏ,ăn những món ăn dân dã, mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc rương nhỏ và mấy bộ quần áo bạc màu …Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam, Bác Hồ không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính yêu và ngưỡng vọng.
Bác Hồ còn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới.Bác dã từng là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ ”ở Pháp, đã từng viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”gây tiếng vang lớn.Người còn là nhà văn,nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam với những tập truyện ký bằng tiếng Pháp,“Tuyên ngôn độc lập”và“ Nhật ký trong tù”cùng rất nhiều những vần thơ khác nữa…Bác Hồ đã từng đi khắp các châu lục trên thế giới,thông thạo nhiều thứ tiếng,am hiểu nền văn hoá của nhiều dân tộc.Bác đã rèn giũa và tạo dựng cho mình một phong cách riêng, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại,thanh cao và giản dị,giữa tinh hoa văn hoá nhân loại và tinh hoa văn hoá Việt Nam.
Mặc dù Bác đã đi xa nhưng trong lòng mọi người dân Việt Nam Bác vẫn là người đẹp nhất:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.
Càng tìm hiểu về cuộc đời vĩ đại và cao đẹp của Bác,em càng kính yêu và tự hào về Bác hơn.Điều đó khơi dậy trong em mong muốn học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện để trở thành con người có ích cho xã hội.
Bác là tinh hoa khí phách của dân tộc,cuộc đời của Bác là một tấm gương sáng. Bởi vậy mà chúng ta cần “Sống, chiến đấu,lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại ”.
Bài viết số 5 lớp 9 đề 2:
Bài làm
Cô Bùi Thị Kính-người phụ nữ độc thân tình nguyện phục vụ tại Cô nhi viện đưa chúng tôi thăm các phòng nuôi dưỡng 70 trẻ mồ côi, bị bỏ rơi khi mới sinh, hoặc khi được mấy tháng, vài năm tuổi. Phần lớn trong số các em đều khuyết tật như bại liệt, thần kinh, khoèo chân, sứt môi, các di chứng của chất độc da cam, có em giờ chỉ sống “đời sống thực vật”. Không quản nắng mưa, đêm ngày, gần 30 tình nguyện viên Cô nhi viện tận tình chăm chút các em từng bữa ăn, giấc ngủ, cốc nước, viên thuốc. Tùy khả năng từng em, Cô nhi viện cho các em học văn hóa, học nghề để giúp các em hòa nhập cộng đồng sau này.
Lặng lẽ bên các nhà nguyện, mái nhà Cô nhi viện lúc nào cũng ríu rít tiếng trẻ vui đùa, ê a đánh vần học chữ; tiếng dệt chiếu, làm hoa rộn ràng. Ai đến Cô nhi viện cũng cảm nhận được sức sống toát ra từ những tâm hồn trẻ thơ trong trắng, từ ngọn lửa nghĩa tình tràn ngập. Thành lập từ năm 1852, qua bao thăng trầm thời gian, Cô nhi viện vẫn lặng lẽ âm thầm che chở cho những hài nhi bị vùi dập sau những lỗi lầm hay chuyện đời ngang trái của những bậc sinh thành. Từ 1993 đến nay, Cô nhi viện đã đón nhận 201 trẻ mồ côi bị bỏ rơi, đã có 23 em được nhận làm con nuôi, 8 em lớn lên đi học đại học, 9 em học THPT, 22 em học từ mẫu giáo đến THCS, 6 em đã trưởng thành và đi làm ở Hà Nội, Nam Định, TP Hồ Chí Minh… Nhiều em khi lớn vẫn tình nguyện ở lại phục vụ (nay đã trở thành cụ) như các cụ Phạm Thị Mây, Nguyễn Thị Nhan, giờ đã 70 tuổi, gắn bó với Cô nhi viện từ khi còn đỏ hỏn. Em Phạm Thị Vui ở Cô nhi viện hơn chục năm, hiện đang học trường THPT Xuân Trường, khi được hỏi em về ước mơ, em cười rất hồn nhiên và trả lời: Em sẽ học tiếp rồi về phục vụ tại Cô nhi viện, em sẽ là người mẹ, người chị của các em nhỏ có cảnh đời như em ngày xưa. Vui còn hào hứng khoe: Em mới được đi tham quan Thủ đô Hà Nội, phần thưởng dành cho học sinh tiên tiến và được phát một chiếc xe đạp để đi học, em rất quý chiếc xe ấy, các em nhỏ ở đây, kể cả những em bại liệt, ai cũng thích xe đạp anh ạ!
Năm 1993, Đức cha Giuse Phạm Ngọc Oanh được cử làm Giám đốc Cô nhi viện Thánh An, khi đó Cô nhi viện nhà cửa dột nát, xung quanh toàn ao, bụi rậm hoang dại, các em sống chủ yếu nhờ vào 50-80kg gạo trợ cấp hàng tháng. Đức cha đã cùng với những người thiện nguyện củng cố và phát triển Cô nhi viện ngày một khang trang, đời sống các em được bảo đảm dần. Song bao khó khăn trước mắt vẫn đang thách thức Ban giám đốc và đội ngũ anh chị em thiện nguyện nơi đây. Với các trẻ khuyết tật, nhất là các em não liệt thì đòi hỏi phải có nhiều người chăm sóc, phục vụ, Cô nhi viện hiện đang rất cần những tình nguyện viên, có thể phục vụ trọn đời hoặc một thời gian ngắn. Mỗi tháng Cô nhi viện cần chi khoảng 15 triệu đồng bảo đảm lương thực-thực phẩm, đó là chưa kể các khoản phụ khác thì việc chỉ trông chờ vào nguồn thu chính từ việc sản xuất lương thực-thực phẩm và làm các nghề phụ khó bảo đảm tốt được đời sống cho các em. Lo lắng nhất là việc chữa trị cho các em lúc ốm nặng và khám, chữa bệnh, giám định HIV và các bệnh truyền nhiễm. Do bị bỏ rơi khi còn quá nhỏ nên các em thường mắc bệnh viêm phổi và sức đề kháng rất yếu. Hiện nay, có em bé hơn 2 tuổi bị bệnh não ống thủy mà các bệnh viện và các bác sĩ hiện nay đều bó tay không có cách chữa.
Khi chiều xuống, những người cha, người mẹ lại trở về với tổ ấm gia đình quây quần bên đàn con thơ. Trong giây phút hạnh phúc ấy có bao người biết nơi Cô nhi viện Thánh An các cô nhi đang kết thúc một ngày khi tiếng chuông bắt đầu ngân vang trên tháp giáo đường. Trên con đường nhỏ lát gạch lổn nhổn dẫn vào Cô nhi viện, cô Bùi Thị Kính bùi ngùi: “Chúng tôi chỉ ước con đường nhỏ này sẽ được bê tông hóa, các em rồi sẽ có xe lăn, đàn học âm nhạc, máy trợ thính, có sách vở để đọc, để viết…”. Tâm huyết của người phụ nữ đã hy sinh trọn đời vì hạnh phúc của những trẻ thơ có cảnh đời bất hạnh giản dị và xúc động biết bao. Cô nhi viện Thánh An đang dự định xây dựng củng cố, xây mới các cơ sở hạ tầng; hoàn thiện trang thiết bị phục hồi chức năng, hồi sức cấp cứu; xây trường dạy trẻ khiếm thính, khiếm thị; xây nhà dưỡng lão cho những người nghèo khó không nơi nương tựa… Song, để biến những dự định trên thành hiện thực thì Cô nhi viện rất cần những trái tim từ thiện hảo tâm giúp đỡ…
Bài viết số 5 lớp 9 đề 3:
Bài làm
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Quyết tâm thực hiện tốt lời Bác dạy, ngày nay đất nước Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiều học sinh đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế. Đó là những tấm gương tiêu biểu cho lòng say mê, cần cù học tập, năng động, sáng tạo và ý chí vượt lên hoàn cảnh để bước đến thành công.
Nhắc đến thành tích của đội tuyển Việt Nam khi tham dự các kỳ thi Toán Quốc tế, nhiều người hẳn vẫn chưa quên hình ảnh cậu học sinh Việt Nam nhỏ nhắn, người đã vinh dự được đích thân tổng thống nước Cộng hòa Ru-ma-ni tro huy chương vàng Toán quốc tế lần thứ 40 tổ chức tại Bu-ca-rét năm 1999. Đó là Lê Thái Hoàng, học sinh lớp 12A khối phổ thông chuyên Toán trường Đại học sư phạm Hà Nội. Tại cuộc thi này, Hoàng đã cùng đội tuyển Việt Nam vươn lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Nếu như Lê Thái Hoàng nổi tiếng với tấm huy chương vàng bộ môn Toán, thì Nguyễn Bích Hoàng Anh, sinh viên năm I ngành Công nghệ thông tin Đại học Khoa học tự nhiên, đã xuất sắc đem về cho đất nước tấm huy chương bạc Olympic Tin học quốc tế tại Ba Lan. Và gần đây nhất là sinh viên Đại học Bách Khoa Việt Nam đoạt giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc 2004.Đó chỉ là một phần rất nhỏ trong tổng số những gương mặt học sinh, sinh viên Việt Nam tiêu biểu. Chúng ta được biết đến họ qua các phương tiện truyền thông và đều thật sự rất thán phục họ. Thế nhưng tại sao họ có thể đạt được những kỳ tích vẻ vang như thế?Đó trước hết là nhờ lòng hăng say, miệt mài học tập. Thomas Edison đã từng nói: “Thiên tài là 1% cảm hứng cộng với 99% khổ luyện”. Nếu như bạn không cố gắng học tập, rèn luyện, trau dồi tri thức và đem áp dụng những kiến thức mới đó vào cuộc sống thì liệu bạn có thể nhớ nổi hàng ngàn, hàng vạn kiến thức đã được học hay không? Khi bạn gặp một vấn đề khó thì chớ nên đầu hàng, mà hãy tiếp tục nỗ lực trau dồi, học hỏi để tìm ra cách giải quyết tốt nhất. Luôn có một tinh thần học tập cao thì bạn sẽ thành công. Đó chính là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên một thiên tài.Ngoài ra, còn một phẩm chất quan trọng nữa cần phải có để học tốt là năng động, sáng tạo. Khi ta giải quyết được một vấn đề, hầu hết chúng ta đều rất vui mừng. Ít ai còn nghĩ đến việc tìm ra một con đường ngắn hơn, thuận tiện hơn để đạt được mục tiêu đặt ra. Tìm ra những cách giải quyết mới vừa giúp chúng ta trau dồi và bổ sung vốn kiến thức sẵn có của mình, vừa giúp chúng ta có được những kinh nghiệm quý báu để giải quyết những khó khăn khác. Chính óc sáng tạo đã giúp con người Việt Nam tạo nên được những kỳ tích.Trong số những gương mặt tiêu biểu của sinh viên, học sinh Việt Nam đạt thành tích cao trong học tập, có không ít những người hoàn cảnh gia đình rất khó khắn, hoặc bị khuyết tật. Nhưng họ đã xuất sắc vượt qua trở ngại to lớn đó để đem vinh quang về cho đất nước. Một tấm gương tiêu biểu là bạn Lê Vũ Hoàng. Tuy sống trong một ngôi nhà lá dột nát, sáng cắt rau cho lợn ăn, chiều đánh bắt cá trầu, vừa chăm bà chăm em, vừa chăm mẹ nằm viện,… nhưng Hoàng vẫn đạt được giải Nhất trong cuôc thi “Đường lên đỉnh Olympia”. Ý chí và nghị lực kiên cường đã giúp những con người ấy vượt lên hoàn cảnh khó khăn của bản thân. Hơn nữa, sinh viên Việt Nam khi tiếp xúc với các cuộc thi quốc tế thật sự gặp nhiều bất lợi vì họ không có đủ điều kiện để học tập, thực hành nhiều như sinh viên nước ngoài, càng không được nhận một nền giáo dục dân chủ, hiện đại, nhưng họ đã vượt qua hạn chế ấy. Vậy mới biết, bằng ý chí, nghị lực, quyết tâm vượt qua khó khăn, không đầu hàng số phận cũng là một yếu tố quan trọng để đạt được những thành tích cao. Nếu chỉ biết khoang tay đầu hàng trước những khó khăn thì đến bao giờ bản thân mới có thể tiến bộ.Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, khi thế giới vẫn không ngừng thay đổi dù chỉ trong một giây, thì những gương mặt sinh viên, học sinh ưu tú, những tấm huy chương, thành tích cao thật sự là những phương tiện quý giá để đất nước Việt Nam từ một quốc gia lạc hậu vươn lên sánh ngang tầm với thế giới. Để thực hiện điều đó, trước hết, học sinh, sinh viên Việt Nam cần rèn luyện những phẩm chất đã nêu ở trên để vượt qua những giới hạn về vật chất, khắc phục những điểm yếu của bản thân để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh hơn.
Tóm lại, học sinh chúng ta cần học tập những tấm gương học sinh, sinh viên Việt Nam tiêu biểu để đạt được thành tích cao, học tập về những phẩm chất như kiên trì, say mê học tập, năng động, sáng tạo, nghị lực vượt lên khó khăn của họ nhằm đạt được thành tích cao trong học tập, góp phần thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới như lời Bác dạy.
Bài viết số 5 lớp 9 đề 4:
Bài làm
Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Ở các quốc gia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường rất được chú trọng nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa. Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Đáng buồn thay, ở nước ta, hiện tượng vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng, không giữ gìn vệ sinh đường phố rất phổ biến. Việc làm này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về hiện tượng này.
Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng. Ăn xong một que kem hay một chiếc kẹo, người ta vứt que, vứt giấy xuống đất. Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối, vứt lon, vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần. Thậm chí khi ăn xong một tép kẹo cao su, họ cũng không mang đến thùng rác mà vo tròn rồi trét lên ghế đá và cứ thế bỏ đi chỗ khác. Công viên, nơi được xem là có bầu không khí trong lành, sạch đẹp, giúp con người thư giản, hay chùa chiền, vốn là nơi tôn nghiêm cũng không tránh khỏi hiện tượng này. Bến tàu, nhà ga, kênh rạch đâu đâu cũng có rác. Một biểu hiện phổ biến khác là một số tài xế chở gạch,đá phế thải ở các công trinh xây dựng đem đổ khắp nơi và cả trên dưới phố. Con người ta còn vô ý thức đến mức mang xác súc vật chết như chó, mèo, chuột, gia cầm như gà, vịt ném xuống hồ,ao, sông rạch và ra đường. Ở một số hàng, quán bán trên vỉa hè người ta đổ tất cả đồ ăn dư thừa, nước rửa chén, bát xuống cống khiến cho nước thải bị ứ đọng,cống bị tắt nghẽn. Thế nhưng hiện tượng xả rác đó còn lan sâu vào một tầng lớp trí thức trẻ ngày nay. Biểu hiện cụ thể ở một số sinh viên làm gia sư. Họ thường đứng ở các ngã ba, ngã tư đường để phát tờ rơi quảng cáo nhóm gia sư của mình một cách bừa bãi khiến khắp đường phố rải rác đầy những tờ rơi. Trong lớp học, sân học, học sinh cũng ngang nhiên xả rác ở hộc bàn, góc lớp, hành lang,… Nguy hiểm hơn cả là tình trạng bệnh viện chôn rác xuồng lòng đất ngay bên cạnh khu dân cư, hay mới đây là vụ nhà máy bột ngọt Vedan đã thải nước xuống dòng sông Thị Vãi mấy chục năm biến dòng sông thành dòng sông chết.
Vậy do đâu mà hiện tượng xả rác bừa bãi lại tràn làn như vậy? nguyên nhân Đầu tiên là do những thói quen xấu lười biếng và lối sống lạc hậu ích kỷ chĩ nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số người. Họ sống theo kiểu
“Của mình thì giữ bo bo
Của người thì thả cho bò nó ăn ”
Họ nghĩ đơn giản rằng chỉ cần nhà mình sạch thì được còn bẩn thì ai bẩn mặc ai. Những nơi công cộng không phải là của mình, vậy thì việc gì mà phải mất công gìn giữ. Cứ ném rác vội ra là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp. Cách nghĩ như thế thật là thiểu cận và nguy hại làm sao. Nguyên nhân tiếp theo là do thói quen đã có từ lâu, khó sửa đổi, phải có sự nhắc nhở thì người ta mới không xả rác bừa bãi. Ở các lớp học, hằng ngày, các thầy cô và ban cán sự lớp phải thường xuyên nhắc nhở thì mới giữ cho lớp học sạch đẹp. Nhưng xã hội là một phạm vị rộng lớn hơn lớp học rất nhiều. Mọi người đều bận rộn với công việc của mình và không một ai có đủ thời gian để đi nhắc nhở từng người một. Không được nhắc nhở, con người ta lại quay về với thói quen trước kia. Việc giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tổ chức thường xuyên. Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi, không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hòi của người dân. Do đó mà trình độ hiểu biết của người dân còn thấp dẫn đến thái độ tuân thủ nội quy nơi công cộng chưa đi vào nề nếp. Một phần là do sự quản lý, kiểm soát của các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, kém hiệu quả, …chưa có hình thức xử lý nghiêm khắc những cá nhân, đơn vị, công ty vi phạm, hay nói cách khác là biết mà làm ngơ. Cứ thử phạt thật nặng một người nào đó xả rác ra đường phố làm gương, thì còn ai dám xả rác nữa.
Với tình hình vứt rác bừa bãi hiện nay, thì những hậu quả kéo theo nó cũng không phải nhỏ. Trước tiên là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Rác bị xả bừa bãi liên tục, ngày càng nhiều nếu không được thu dọn sẽ bốc mùi, gây ô nhiễm môi trường không khí. Nguồn nước bị ô nhiễm nặng do dân cư ven các con sông thải chất thải sinh hoạt xuống sông, tệ hại hơn, họ còn ném xác gia cầm bị H5N1 xuống sông. Người dân chẳng may sử dụng phải nguồn nước nay, hay sống gần những bải rác sẽ dễ mắc các bệnh về đường ruột, bệnh ngoài da, ệnh đau mắt hột…Đặc biệt gần đây ở nước ta có nhiều người tử vong vì bị tiêu chảy cấp do nhiễm khuẩn tả từ nước bị ô nhiễm. Về vấn đề kinh tế mà nói, ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất là ngành nuôi trồng thủy sản. Do môi trường sinh thái bị ô nhiễm, cá tôm chết nhiều hoặc bị bệnh tác hại nghiêm trọng đến sản lượng, kinh tế người dân và tốn kém nhiều tiền bạc trong việc cải tạo môi trường. Rác trong lớp học, sân trường, nếu không thu dọn kịp thời sẽ bốc mùi hôi thối khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự tiếp thu bài của học sinh, sự truyền đạt kiến thức của giáo viên và còn làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của ngôi trường. Và độc hại hơn cả, là rác thải y tế với những mầm bệnh ung thư, nước nhiễm chì, nhiễm bẩn. Rác tồn đọng, ứ lại trên các kênh rạch, cống rãnh gây nên ngập lụt vào mùa mưa gây ảnh hưởng đến đời ống của người dân, nhà nước, địa phương phải tốn thêm một khoản chi phí không nhỏ để thuê nhân công thu dọn, nạo vét, khai thông cống rãnh, ao hồ, kênh rạch. Và một thiệt thòi đối với nước ta nếu hiện tượng xả rác còn tràn lan là sẽ để lại ấn tượng không tốt đẹp cho khách du lịch. Thử hỏi còn ai dám đến tham quan một đất nước đầy rác ngoài phố, mùi hôi khó chịu, mất vệ sinh!!? Lúc ấy, chúng ta sẽ mất một nguồn lợi khá lớn về du lịch.
Vậy làm thế nào để giảm thiểu được hiện tượng xả rác này. Nhà trường phối hợp với các ban ngành thướng xuyên nhắc nhở, tuyên truyền, kiểm tra ý thức tự giác của mọi người về việc giữ gìn vệ sinh. Nên có những hình thức khiển trách đúng mức đối với những học sinh có thói quen vứt rác bừa bãi. Đối với người dân vi phạm thì họp tổ dân phố kiểm điểm. Còn công ty nào vi phạm thì thẳng tay phạt nặng, rút giấy phép hoạt động. Tốt nhất là các cơ quan nhà nước cần đưa ra những bộ luật thật cụ thể về vấn đề xâm hại môi trường.
Hành vi xả rác nơi công cộng đang là vấn đề đau đầu của các cơ quan chức năng bởi mức hiệt hại cảu nó đối với XH,. Bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sống của mọi người, vì vậy mỗi người chúng ta cần có ý thức, góp phần chung tay xây dựng một môi trường xanh-sạch-đẹp.
Nguồn:
|
Bài viết số 5 lớp 9
| 4,164
| |
Bài viết số 6 lớp 10, tập làm văn lớp 10
Hướng dẫn
VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 6: VĂN THUYẾT MINH VĂN HỌC
(Bài làm ở nhà)
A- GỢI Ý GIẢI QUYẾT CÁC ĐỀ THAM KHẢO
I- Đề thuyết minh về một tác phẩm văn học:
Đề 1- Giới thiệu “Bài phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu.
Gợi ý:(Xem bài Bài phú sông Bạch Đằng)
– Bài viết cần đảm bảo nội dung kiến thức và hình thức kết cấu của một văn bản giới thiệu tác phẩm văn học.
– Đối với Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu, phải giới thiệu được hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật đặc biệt là lối cấu tứ, bố cục, việc lựa chọn chi tiết, nhân vật, lối kết hợp tự sự – trữ tình… tạo nên một bản tráng ca bất hủ ca ngợi lịch sử với lòng tự hào sâu lắng.
– Lời văn giới thiệu cần đĩnh đạc, lựa chọn từ ngữ, cách diễn đạt phù hợp đối tượng giới thiệu là một tác phẩm văn học cổ điển.
Đề 2. Giới thiệu “Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ.
Gợi ý:
Đây là bài giới thiệu về một tác phẩm văn xuôi viết theo thể truyền kì. Bài viết cần nêu rõ xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, tóm tắt cốt truyện, giới thiệu nhân vật, nội dung ý nghĩa và những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Thuyết minh rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và nghệ thuật truyền kì đặc sắc mà Nguyễn Dữ đã sáng tạo trong “thiên cổ kì bút” của mình.
Đề 3. Giới thiệu Bài tựa sách “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương.
Gợi ý:
– Dựa vào bài học (SGK tập 2) và cách viết bài thuyết minh đã học, tham khảo bố cục các bài viết vừa nêu trên, xây dựng dàn ý trước khi viết.
– Qua lời giới thiệu, cần làm nổi bật lòng yêu nước, ý thức trân trọng di sản văn hoá của cha ông.
II- Đề thuyết minh về một tác giả văn học:
Đề 1: Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi.
Gợi ý:
Bài giới thiệu có thể theo các ý chính sau đây:
– Nguyễn Trãi là nhân vật toàn tài, hiếm có trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời phong kiến. Ông là một nhà quân sự đại tài, nhà văn hoá xuất sắc và nhà văn lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới.
– Lúc nhỏ ông được học hành thế nào? Đỗ đạt gì?
– Khi giặc Minh sang xâm lược, đất nước, gia đình, và bản thân ông đã gặp hoạ gì?
– Ông theo Lê Lợi và được Lê Lợi tin dùng như thế nào? Vai trò của ông trong cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống giặc Minh?
– Tác phẩm chính của ông trên các phương diện quân sự – chính trị (Bình Ngô sách, Binh thư yếu lược, Quân trung từ mệnh tập), văn hoá – khoa học (Dư địa chí) v.v…
Đặc biệt ông có nhiêu đóng góp trên lĩnh vực văn học. Các tác phẩm chính: Phú núi Chí Linh, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Bình Ngô đại cáo…
– Các tác phẩm của ông toát lên tư tưởng yêu nước, thương dân, đồng thời cũng thể hiện một tâm hồn phóng túng, lãng mạn, tài hoa, nhưng rất cương trực, có bản lĩnh vững vàng, tầm nhìn sáng suốt…
– Nguyễn Trãi có vị trí rất quan trọng trong lịch sử văn hoá, văn học dân tộc.
Đề 2. Giới thiệu với bạn đọc Việt Nam về tác giả của những bài thơ hai-cư nổi tiếng của Ma-su-ô Ba-sô (Nhật Bản).
Gợi ý:
Dựa vào phần Tiểu dẫn bài Thơ hai-cư của Ma-su-ô Ba-sô, bài thuyết minh gồm các ý sau:
– Ma-su-ô Ba-sô là nhà thơ hàng đầu Nhật Bản, tác giả của những bài thơ hai-cư nổi tiếng thế giới.
– Tóm tắt tiểu sử của Ma-su-ô Ba-sô: năm sinh, năm mất; quê quán, gia đình; các mốc lớn trong cuộc đời; những phẩm chất, tính cách con người Ba-sô.
– Sự nghiệp văn học của Ba-sô: những tác phẩm tiêu biểu; đặc điểm tư tưởng và nghệ thuật của các sáng tác.
– Công lao của Ma-su-ô Ba-sô đối với thể thơ hai-cư.
– Đánh giá chung: Ma-su-ô Ba-sô với thể thơ hai-cư của ông không chỉ nổi tiếng ở Nhật Bản mà còn có ảnh hưởng lớn đến nền thi ca nhân loại, đi biệt là ở khu vực Đông Nam Á.
Gợi ý:
Nội dung kiến thức chủ yếu dựa vào phần Tiểu dẫn bài Hồi trống Cổ Thành. Tuy nhiên người viết cần đọc thêm các sách tham khảo để bài viết thêm phong phú, sinh động và hấp dẫn. Bố cục của bài viết chia làm hai phần chính:
Phần thứ nhất: Tiểu sử La Quán Trung.
Phần thứ hai: Sự nghiệp văn học của La Quán Trung.
III- Đề kết hợp thuyết minh về tác giả – tác phẩm văn học:
Đề 1: Giới thiệu về Trương Hán Siêu và ” Bài phú sông Bạch Đằng” nổi tiếng của ông.
Gợi ý.
(Xem phần Tiểu dẫn bài Bài phú sông Bạch Đằng).
Có thể thuyết minh theo dàn ý sau:
+ Mở bài: Giới thiệu khái quát chung về Trương Hán Siêu và Bài phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu là một vị tướng, là người giỏi văn chương, Bài phú sông Bạch Đằng là khúc tráng ca trong dòng thơ văn Bạch Đằng).
+ Thân bài: Giới thiệu chi tiết theo hai phần chính.
Phần thứ nhất:giới thiệu về Trương Hán Siêu:
– Tiểu sử, cuộc đời và con người.
– Sự nghiệp thơ văn.
Phần thứ hai:Giới thiệu về Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu:
– Thể phú.
– Hoàn cảnh ra đời của Bài phú sông Bạch Đằng.
– Nội dung tư tưởng và giá trị nhiều mặt của Bài Phú sông Bạch Đằng.
+ Kết bài: Nhận xét, đánh giá về vị trí, giá trị, ảnh hưởng của tác giả Trương Hán Siêu và tác phẩm Bài phú sông Bạch Đằng (tác giả được lưu danh sử sách, tác phẩm sống mãi cùng non sông tổ quốc)
Đề 2. Giới thiệu Nguyễn Trãi và Đại cáo bình Ngô – một áng “thiên cổ hùng văn”
Gợi ý:
Nội dung kiến thức chỉ cần dựa vào hai bài là đủ: bài Nguyễn Trãi và bài Đại cáo bình Ngô (SGK Ngữ văn 10, tập 2). Nội dung bài viết có thể triển khai như sau:
a- Mở bài: Giới thiệu khái quát chung về Nguyễn Trãi và Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi là nhân vật toàn tài số một trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến; Đại cáo bình Ngô là một áng văn bất hủ có giá trị nhiều mặt).
– Nguyễn Trãi (xem phần hướng dẫn đề 1, phần đề tham khảo thuyết minh về tác gia văn học).
– Đại cáo bình Ngô:
+ Hoàn cảnh ra đời: sau chiến thắng quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn (1428).
+ Thể Cáo và đặc điểm của bài Đại cáo bình Ngô (Cáo là thể văn cổ dùng để công bố sự kiện quan trọng; Đại cáo bình Ngô viết theo lối văn biền ngẫu, thể chính luận, chữ Hán, bố cục bốn phần,…).
+ Giá trị nội dung tư tưởng (tư tưởng bao trùm, xuyên suốt là tư tưởng nhân nghĩa,…)
+ Giá trị nghệ thuật (Các yếu tố làm nên một thiên anh hùng ca, một áng văn chính luận mẫu mực).
c- Kết bài: Đánh giá chung (Nguyễn Trãi là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá. Đại cáo bình Ngô là bản tuyên ngôn độc lập làm rạng rỡ non sông, nêu cao niềm tự hào dân tộc của người Việt).
Đề 3. Giới thiệu về Nguyễn Dữ, thể loại Truyền kì, “Truyền kì mạn lục”, và “Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên” (Trích” Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ).
Gợi ý:
Đề bài có tới bốn yêu cầu cần thuyết minh. Bài viết sẽ lần lượt thuyết minh từng đối tượng:
– Thuyết minh về tác giả Nguyễn Dữ.
– Thuyết minh về thể truyền kì.
– Thuyết minh về tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
– Thuyết minh về Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên (Trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ).
Nội dung kiến thức chủ yếu ở bài Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên (SGK Ngữ văn 10, tập 2). Điều quan trọng là thể hiện trình tự kết cấu bài viết, khả năng vận dụng phối hợp các phương pháp thuyết minh, khả năng diễn đạt,… sao cho bài viết không chỉ chuẩn xác mà còn sinh động, hấp dẫn, thu hút người đọc, người nghe.
|
Bài viết số 6 lớp 10, tập làm văn lớp 10
| 1,450
| |
Bài viết số 6 lớp 12, tập làm văn lớp 12
Hướng dẫn
Bài viết số 6 lớp 12 đề 1: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương […] có loại đáng thờ. Có loại ko đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại ko đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên.
Bài làm
Không đợi đến thế kỉ XX này con người mới có nhiều quan điểm về văn chương mà ngay ở thế kỉ XiX, Nguyễn Văn Siêu, một danh sĩ thời Nguyễn đã từng có ý kiến “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Song nói như Lê Quý Đôn “Văn chương là của công thiên hạ, ý kiến của mỗi người mỗi khác, phân tích thì đuợc chứ không nên chê mắng”. Cho nên, ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đáng nên hiểu lại và hiểu như thế nào cho đúng.
Nguyễn Văn Siêu là một văn sĩ có tài, là bạn thân của Cao Bá Quát từng được người đời tôn thờ là “Thần Siêu, Thánh Quát”. Quan niệm của ông không phải là một quan niệm dễ dãi, điều quan trọng là ta phải hiểu cho đúng ý nghĩa của câu nói “Văn chương chuyên chú ở văn chương”, “văn chương chuyên chú ở con người” là như thế nào?
“Văn chương chuyên chú ở văn chương” là loại văn chương chỉ chăm chút gò câu đẽo chữ, tìm những chữ thật kêu, những điển tích cổ bí ẩn…nói chung đấy là loại văn chương thuần tuý, là “văn” kkhông cần biết nội dung, về tư tưởng, là loại văn chương thuần túy về hình thức.
“Văn chuyên chú ở con người” chính là loại hình văn chương viết lên từ cuộc sống của con người, hướng đến con người, “làm cho người gần người hơn” (Đời thừa – Nam Cao). Ở đây là các yếu tố hình thức là sự phát tiết anh hoa một cách tự nhiên, không cố ý. “Vọt lên từ suối là nước, từ tim người là máu” (Lỗ Tấn).
Như vậy đại ý của câu nói của họ Nguyễn là: Văn chương có giá trị khi lấy đề tài cảm hứng từ con người và vì con người.
Đầu tiên Nguyễn Văn Siêu nói “Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ”. Ông thẳng thắn phủ nhận loại văn chương không đem đến một cái gì tốt lành cho con người, văn chương như thế là loại “không đáng thờ” không đáng để đọc, để học hỏi. Văn chương là gì nếu không nói về con người, về nhân sinh? Văn chương đầu cần đến những người thợ mà văn chương chỉ cần những khối óc của những “kĩ sư tâm hồn”. Văn chương mà chỉ như những đoá hoa đẹp nhưng hữu sắc mà vô hương, thì nó đâu còn là văn chương nữa. Quan niệm của Nguyễn Văn Siêu rất giống như Cao Bá Quát đương thời:
“Đáng phàn nàn cho ta đóng chửa mà gọt giũa câu văn
Lải nhải nhai lại từng câu từng chữ
Có khác chi con sâu đo muốn đo cả đất trời?”
(Đề sát viện Bùi Công, yên đài anh ngữ khúc hậu)
Không giao cảm với đời, văn chương tuôn ra ngọn bút không bắt đầu từ lòng thương cảm sâu sắc mà vì đời thì chỉ là văn chương “một tấc đến trời”, chỉ là một con sâu bé nhỏ hèn mọn ngạo mạn lố bịch có những ý nghĩa ngông cuồng, múôn đo cả vũ trụ. Những lời văn viết ra bằng sự khổ công gọt giũa trong bốn bức tường văn lạnh lẽo sẽ như một sinh vật tự dưỡng, văn chương thiếu cái mở lòng ra đón những vang động cuộc đời, thiếu sự hô hấp các dưỡng khí ngoài cuộc sống thì chỉ nhạt nhẽo, bủng beo có chăng chỉ là những đồ lạ mắt! Họ Cao cho đó là “đồ con trẻ” là sản phẩm của một đôi tay khéo léo trong tâm hồn rỗng toếch và giả dối. Anh đóng cửa phòng văn để viết những gì? Trong khi văn chương của anh là kia, là bầu trời bạt ngàn gió mới, là nắng ban mai hồng tươi sắc ngói. Anh đóng cửa để làm nghệ thuật, để đuổi bắt nghệ thuật khi nghệ thuật của anh ở ngoài kia, ở ngoài thanh sắc trần gian đầy sôi động: Anh có biết rằng:
Bài thơ anh làm chỉ một nửa mà thôi
Còn một nửa do mùa thu làm lấy
(Chế Lan Viên)
Văn chương chỉ biết lấy chủ nghĩa duy mĩ làm đích thì thử coi có đáng thờ chăng? “Văn chương phải có quan hệ với đời” (Ngô Thi Sĩ ) và “ Cuộc đời là nơi đi tới cũng là điểm khởi đầu của văn chương” (Tố Hữu). Nếu L. Tônxtôi vĩ đại bởi kiệt tác “Chiến tranh và hoà bình” thì cũng chính là kết quả của những lần ông xông pha nơi chiến trận tìm hiểu, ghi chép. Nếu “đóng cửa phòng văn hì hục viết thì Chiến tranh và hoà bình nó có ra đời không? Nếu không gắn bó, đau đời Nguuyễn Du có một Đoạn trường tân thanh không?
Văn chương không thể là như thế, văn chương để người ta gần gũi và tôn kính chứ không phải văn chương “hũ nút” mà người ta có thể “kính nhi viễn chí”. Văn chương như vậy tuyệt đối là không đáng thờ. Khổng Tử đã từng dạy học trò rằng “Từ đạt nhi dĩ hí” (nghĩa là: văn từ cần đạt mà thôi, dễ hiểu mà thôi) điều quan trọng là cái “tâm” của người viết, nghĩa là thực tế, phải sống trong cuộc đời. Quan niệm của Nguyễn Văn Siêu gần giống như những văn học hiện thực Việt Nam vào giai đọn 1930-1945, lấy con người làm chủ thể sáng tạo, ngòi bút hướng vào con người.
Cuộc đời cũ vốn cuồn cuộn sóng gió bão táp đau khổ ngày đêm cứ đổ dồn dập vào con người, vào nhân loại, là “lương tâm của mọi thời đại” (Balzac). “Văn phải chở đạo”, phải làm cho con người tốt hơn tự hoàn thiện hơn hay ít ra cũng bắt gặp mình trong đó thì đấy mới là “văn đáng thờ”.
Bùi Huy Bích, học trò của Lê Quý Đôn đã viết những ý kiến thật xác đáng: “Người quân tử đời sau biết chăm học chỉ học hỏi để sửa mình rồi dần dần trở thành người có văn chuơng ấy là người bậc nhất. Những người tập làm văn chương rồi thấy đươc nghĩa lí trong đó, là bậc thứ ahi. Còn hạng bét thì chỉ biết có văn chuơng mà thôi”.
Nói đến “Văn chương đáng thờ” Nguyễn Văn Siêu múôn nói đến cái giá trị của văn chương. Là nghệ thuật đi sâu vào thế giới tâm hồn của con người thì văn chương phải vì con người, vì cuộc sống con người, là chiếc đũa thần gợi mở trong con người những cái đẹp cái hay mà triệt tiêu những gì xấu xa, có hại. Văn chương phải hướng đến Chân – thiện- mĩ phải khơi ở lòng người những tình cảm nhân ái, phải đem đến cho con người một tia nhìn mới. Có ai đã không từng thấy một thằng say nhâng nháo chửi đời nhưng có ai nhìn ra một anh Chí ao ứôc một thiên đường lương thiện như Nam Cao chưa? Có ai thấy đựơc thế giới tâm hồn của A. Q chưa? Và có ai đã nhìn thấy được cái tình yêu cao quý của một “thằng gù” cực kì xấu xí như Quazimôđô dành cho Extiranđa chưa? Đọc số phận của chàng Quazimôđô hay Chí Phèo ai mà khôgn nghe dâng lên một tí gì của xốn xanh, của một niềm thương yêu tủi hận như muốn nghẹn ngào…Và ta khẳng định rằng: Vâng, chỉ có những hình tượng xúc động lòng người mói là văn chương, còn thuần tuý dùng kĩ thuật chạm trổ cầu kì, làm xiếc ngôn từ để người ta xem như một trò giải trí, “đọc rồi quên ngay sau lúc đọc” đấy chỉ là “thợ” đàu với những con chữ, chứ không là nhà văn, nhà thơ. Người ta thường truyền giai thoại cụ Nguyễn Công Trứ đả kích lối sống sáo rỗng. Ông gặp các thầy cử trên đưòng khoa bảng, theo yêu cầu của họ, ông ngồi trên lưng bò vàng tủm tỉm đọc “Sông Nhị Hà sâu ba mươi sáu thước. Chim ăn chưa béo, cá không ăn bay về núi Hồng Sơn. Nhớ thủa xưa vua Thần Nông giá sắt, vua ĐẾ Thuấn canh vấn. Cùng quăng, cùgn quẳng, cùng quằng, tổng bất ngoại bò vàng chi liếm lá”. Một mớ ngôn từ vô cùng như thế mà ai cũng cho văn hay ý lạ. Cái tủm tỉm của Tồn Chất thâm thuý hay thay.
Ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đúng song nếu so sánh với quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam – Thế hệ hậu bối của “Thần Siêu” – thì có lẽ nhà văn trẻ này phát biểu toàn diện hơn: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại,văn chương là một thứ khi giới thanh cao và đắc lực mà chúgn ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc đựơc thêm trong sạch và phong phú hơn”
Không phải ngẫu nhiên hay vô tình mà cụ Nguyễn Du viết:
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài
(Truyện Kiều)
Rõ ràng, thi sĩ Tiên Điền không hề phủ nhận chữ “tài”. Nhưng nếu coi văn học là một cái cây thì chữ “tài” chỉ là lá cành mà chữ “tâm” kia mới là gốc là ngọn. Cho nên nếu “văn chương” mà chỉ đơn thuần “chuyên chú ở con người” mà không “chuyên chú ở văn chương” thì liệu có còn giá trị nữa không? Còn là một bộ môn nghệ thuật nữa chăng?
Có văn chương nào lại không lấy con người làm đối tượng. M.Gorki đã khẳng định: “Văn học là nhân loại”, ta phải hiểu rằng không thể tách rời văn chương và con người cũng như tách rời nội dung và hình thức biểu đạt của nó. Đành rằng người ta nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” nhưng nếu cả gỗ và nước sơn đề tốt thì sao? Lẽ dĩ nhiên là tốt hơn! Cho nên nếu cái đẹp đích thực thì có chăng là ở thế giới của con người, và vì vậy văn chương chân chính ( nghĩa là văn chương của cái đẹp ) là văn chương luôn đi đến con người và thế giới con người. Văn chương là nghệ thuật, tức là nó đi tìm kiếm, sáng tạo cái đẹp nhưng không thể có một cái đẹp thuần tuý lung linh nào ngoài cái thế giới con người. Đề tài cái đẹp văn chương không cần đâu xa lạ mà ở ngay những giản đơn bình thường nhất. Thực ra, văn chương chuyên chú ở văn chương và “văn chương chuyên chú ở con người” là hai mặt của một tờ giấy trắng. “Văn chương chuyên chú ở con người” nhưng không hề quay lưng với cái Đẹp, và ngược lại. Đỗ Phủ đã từng viết “Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu” ngôn ngữ phải làm cho người ta kính phục nhưng cái chứa đựng trong ngôn ngữ kia là gì mới là quan trọng. Một tác phẩm có giá trị thì không bao giờ là một tác phẩm thô vụng về ý thức: Khi anh nhìn thấy được những gì ẩn chứa sâu xa nhất của cuộc sống, anh đã có một cái tâm vĩ đại thì ắt hản anh không phải là một con người tầm thường, mà anh biết làm thế nào để nhân laọi này hiểu anh, hiểu cái “tâm” của anh – Nguyễn Du để lại một Đoạn trường tân thanh tràn ngập lòng nhân đạo, nhưng ông cũng để lại một công trình nghệ thuật ngôn từ rất đặc sắc phong phú mà nếu thiếu chúng thì nội dung truyện Kiều chẳng làm say mê bao thế hệ con người.
Ở trên ta bàn đến cái khả năng có thể có sự kết hợp giữa “văn chương chuyên chú ở văn chương” và “văn chương chuyên chú ở con người”.Nhưng nếu có một ai đó đưa bạn một sản phẩm và yêu cầu lựa chọn “Đây cái này là tốt gỗ” và đưa một sản phẩm khác bảo là tốt nước sơn, nếu biết giá trị của một cái hào nhoáng nhưng không ra gì và một cái giản dị nhưng vĩ đại bạn sẽ chọn bên nào?
Câu hỏi đó có lẽ sẽ là thừa. Cho nên, nếu văn chương chuyên chú ở con người thì dễ có giá trị hơn, nhưng “văn chương chuyên chú ở văn chương” thì chưa hẳn đã hay vì người ta chỉ đọc “đọc rồi quên ngay sau khi đọc”.
Cái “tâm” là nguồn nuôi dưỡng để phát huy cái tài. Còn dù có tài đến đâu nếu dửng dưng trước đồng loại đến số phận con người thì cũng khó làm nên một ánh văn chương có giá trị. Vì tâm hồn con người không chỉ tiếp thu cái đẹp mà còn lại cái “nhân” rộng lớn, cái “tình” muôn thuở.
Cho nên, dẫu là gì đi nữa thì “chất” ở bên trong vẫn là yếu tố quyết định. Chữ “tâm” là động lực là yếu tố cần thiết nhất. Lịch sử văn học đã có ghi những hiện tượng có những người không hề có ý định làm văn, làm thơ nhưng lại là những người nghệ sĩ lớn, còn có những nhà văn nàh thơ trọn đời cũng không viết được một câi thơ có giá trị nào dù rất kiên tâm, rất dày công đẽo gọt ngôn từ.
Bài viết số 6 lớp 12 đề 2: Buy_phông, nhà văn Pháp nổi tiếng, có viết: ” Phong cách chính là người”. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào?
Bài làm
Cần lưu ý những ý chính sau:
-Phong cách chính là nét độc đáo và phần đóng góp riêng của nhà văn cho đời sống văn học.
– Phong cách bao gồm cả phương diện nội dung và nghệ thuật:
+ Độc đáo về nội dung thể hiện ở quan niệm về cuộc sống và con người từ việc lựa chọn đề tài, xác định chủ đề, cách lí giải những vấn đề về cuộc sống và con người….
+ Độc đáo về nghệ thuật thể hiện ở phương thức biểu hiện, ở việc lựa chọn các thủ pháp nghệ thuật, tổ chức kết cấu, sử dụng ngôn ngữ….
– Điều thú vị khi đọc tác phẩm văn học là phát hiện được những nét độc đáo trong phong cách của mỗi nhà văn.
Bài viết số 6 lớp 12 đề 3: Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e:” Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra”.
Bài làm
Ý kiến của nhà văn pháp có thể hiểu như sau: một tác phẩm có giá trị và thật sự hay khj nó khiến cho tâm hồn và tinh thần con người thêm cao đẹp,trau dồi những phẩm chất có sẵn và xây dựng những phẩm chất chưa có,cũng như khơi nguồn những j tốt đẹp nhất trong tận sâu con người ta.Ý kiến của ông cũng được nhiều nhà văn đồng tình,vậy hãy cùng tìm hiểu về sự đồng tình đồng ý đồng chí này nhé!
Nam Cao cũng có viết “một tác phẩm thật giá trị,phải vượt lên bên trên tất các bờ cõi và giới hạn,phải là một tác phẩm chung cho cả loài người.Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao,mạnh mẽ.vừa đau đớn lại vừa phấn khởi.Nó ca tụng lòng thương,tình bác ái,sự công bình..Nó làm cho người gần người hơn”.Chỉ nhiêu câu chữ thôi cũng đủ cho ta thấy với Nam Cao (tin rằng cũng như với các nhà văn khác) thì một tác phẩm tuyệt mỹ là một tác phẩm mang lại nhiều lợi ích và tác dụng cho con người và cuộc sống,tác phẩm đó phải có tính “nhân đạo hóa” sâu sắc, và sẽ được thời gian công nhận giá trị,sẽ trường tồn bất diệt nếu nó hoàn hảo,và ta cũng đã thấy trong thực tế,những Truyện Kiều của Nguyễn Du,Chí Phèo của Nam Cao,Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng …đều là những tác phẩm đã gây được dấu ấn trong lòng người đọc từ thế hệ này sang thế hệ khác,nó mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, ko ai có thể phủ nhận được.Chính thế, những nhân vật trong truyện cũng trở thành tiêu biểu,bước ra đời sống hàng ngày, những hoàn cảnh sống, tư tưởng đạo lý được truyền đạt trong tác phẩm cũng trở thành chân lý cho cuộc sống.
|
Bài viết số 6 lớp 12, tập làm văn lớp 12
| 2,946
| |
Bài viết số 6 lớp 6 văn tả mẹ
Hướng dẫn
Đề bài: Nửa đêm, một cơn giá lớn làm em giật mình thức giấc và em đã thấy bên ngọn đèn khuya mẹ vẫn ngồi cặm cụi ngồi vá áo cho em. Hãy tả lại hình dáng và cử chỉ của mẹ em trong lúc ấy.
Bài làm
Em đang đi nhe bay, chợt một cơn gió lạnh và mạnh tạt vào khiến em chới với té xuống! Thì ra đó là một giấc mơ. Tỉnh giấc, nhìn quanh em thấy chiếc chăn đã bị em đạp sang một bên.
Ánh đèn bên phòng mẹ còn sáng, em trở dậy nhè nhẹ định sang tắt. Có lẽ mẹ đã quên và ngủ say, sau một ngày làm lụng vất vả, mệt nhọc. Kìa! Thật bất ngờ, chiếc lưng cong cong của mẹ vẫn còn cặm cụi bên bàn máy may với chồng áo cần may gia công.
Tình yêu thương mẹ mãnh liệt dâng trào trong lòng em. Mẹ rất hiền, rất dịu dàng, nét nhân từ hiện rõ trên gương mặt trái xoan đã có vài nếp nhăn. Tuổi ngoài bốn mươi của mẹ được mọi người thấy rõ hơn bởi mái tóc bắt đầu có sợi bạc. Đặc biệt, đôi mắt mẹ đen láy của mẹ luôn ánh lên những tia sáng ấm áp. Mẹ không la rầy nhiều nhưng em và các anh chị trong gia đình rất kính sợ. Từ trong sâu thẳm ánh mắt của mẹ, chúng e, nhận và hiểu được những điều mà mẹ muốn các con của mẹ làm và những việc không nên làm. Sự lo lắng của mẹ cho đàn con thật âm thầm. Còn nhớ một lần trong lớp, em xô bạn bị té chảy máy, thầy rất giận và quở trách em trước lớp. Em sợ lắm, tự động lên gặp thầy để xin lỗi, nhưng thật bất nhờ, thầy bảo: « Người mà em cần xin lỗi là mẹ em đấy! ».
Đêm đã khuya lắm rồi, bên ngoài gió vẫn thổi. Tay mẹ đưa miếng vải nhanh hơn. Mẹ ơi, cô Tiên trong giấc ngủ mà con thường gặp chính là mẹ đó. Con hứa sẽ chăm ngoan hơn để trán mẹ bớt nhăn, vai mẹ bớt gầy. Con yêu mẹ lắm, mẹ ơi!
|
Bài viết số 6 lớp 6 văn tả mẹ
| 382
| |
Bài viết số 6 lớp 6, tập làm văn lớp 6
Hướng dẫn
Bài viết số 6 lớp 6 Đề 1: Em hãy viết bài văn tả người thân yêu và gần gũi nhất với mình ( Ông, Bà, Mẹ, Bố, Anh, Chị, Em, ….).
Tả mẹ của em
“Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này.
Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. Nhưng hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi.
Mẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc.
Mẹ dạy tôi rất nhiều điều “Phải sống trung thực, ngay thẳng. Phải biết ơn nhưng không được nhớ oán. Phải biết tha thứ yêu thương người khác. Nhất định chị em phải đoàn kết với nhau mà sống, đừng để mọi người chê cười con không có dạy”. Đó là tất cả những gì mẹ để lại cho tôi trước lúc ra đi. Lúc đó, tôi chẳng hiểu gì cả, tôi sống vô tư có mẹ cũng như không có mẹ. Nhưng Mẹ ơi? Giờ con mới hiểu mồ cô mẹ là gì? Giờ con mới biết những lời nói đó là tài sản quý giá nhất mà mẹ đã dành cho con. Con nhớ me nhiều lắm, nhất định cn sẽ làm theo những gì mẹ dạy.
Mẹ tôi đã vượt qua khó khăn để sống và tôi cũng sẽ thế. Mẹ luôn là một vầng ánh sáng soi dẫn đường tôi. Những nụ cười của mẹ sao nó cứ hiện mãi trong đầu tôi cả lúc mẹ ra đi nữa. Giờ tôi muốn được nắm tay mẹ, muốn được ngồi vào mẹ nhưng tôi không thể! Mẹ tôi rất thương yêu tôi, mẹ đã hi sinh cuộc đời mình để tôi được sống tốt hơn. Ngày ấy, lúc mẹ đau đớn giữa đêm khuya, thấy mẹ đau tôi chẳng biết làm gì mà chỉ biết khóc. Mẹ nắm tay tôi và cười trong những giọt nước mắt “Mẹ không sao đâu con. Thế là tôi đã ngủ thiếp đi, sao tôi lại khờ dại đến ngu ngốc thế chứ? Tôi hiểu mẹ yêu tôi nhường nào và tôi cũng vậy. Tuy giờ không có mẹ bên cạnh nhưng mẹ vẫn sống trong tâm trí tôi. Tôi sẽ sống thật tốt để mẹ được vui lòng, giờ tôi chỉ có thể làm được thế thôi.
Hỡi những ai còn mẹ thì đừng làm mẹ mình phải khóc, dù chỉ là một lần!”
Bài viết số 6 lớp 6 Đề 2: Hãy miêu tả hình ảnh mẹ hoặc cha trong những trường hợp sau:
– Lúc em ốm
– Khi em mắc lỗi
– Khi em làm được một việc tốt
Bài viết số 6 lớp 6 Đề 3: Hãy tả lại hình ảnh một cụ già đang ngồi câu cá bên hồ.
Bài viết số 6 lớp 6 Đề 4*: Em đã có dịp xem vô tuyến, phom ảnh, báo chí, sách vở về hình ảnh một người lực sĩ cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấy.’
Bài viết số 6 lớp 6 Đề 5: Em hãy tả lại một người nào đó tùy theo ý thích của bản thân mình.
Bài làm
Không hiểu sao mỗi khi nhắc đến hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, tôi lại nghĩ ngay đến mẹ. Hình ảnh mẹ tôi mỗi sáng đội chiếc nón lá đi chợ đã khắc sâu trong tâm trí tôi tự thuở nào.
Tôi còn nhớ hồi lớp 3 có thi tập đọc. Có 4 đề và tôi bốc trúng đề “Đôi bàn tay của mẹ”. Tôi không nhớ mình được bao nhiêu điểm, chỉ nhớ rằng tôi đã đọc bằng cả tấm lòng. “Em yêu nhất là đôi bàn tay mẹ, những ngón tay gầy gầy xương xương”. Khi tôi cầm tay mẹ, có cảm giác như cầm một khúc gỗ. Tay mẹ thô quá, cứng quá, dường như chỉ có da bọc xương. Và tay mẹ cũng không hề ấm áp chút nào, lúc nào cũng mát rười rượi. Bởi vậy mà tôi rất thích khi mẹ đặt tay lên trán lúc tôi bị nóng sốt. Bàn tay của mẹ lúc nào cũng mạnh mẽ. Bất cứ thứ gì tôi không mở được chỉ cần đưa mẹ là mở được ngay. Những lúc đó mẹ hay cười, chọc tôi sao yếu quá.
Tôi cao 1m60, một chiều cao trung bình nhưng khi đứng với mẹ, tôi vẫn cao hơn mẹ một chút. Thế mà chưa bao giờ tôi thấy mẹ thấp cả. Trong mắt tôi, mẹ lúc nào cũng là người hoàn hảo nhất.
Có một hôm đi học về, thấy mẹ đang nằm ngủ. Tôi lặng lẽ tới gần và ngồi xuống. Tôi cứ nhìn mẹ chăm chú suốt 15 phút cho đến khi mẹ thức dậy và nhìn tôi mỉm cười. Cô giáo tôi từng bảo “Các em thử nhìn gương mặt cha mẹ mình lúc ngủ, sẽ thấy được nỗi nhọc nhằn trên khuôn mặt họ”. Tôi nhìn mẹ nhưng chỉ có một cảm giác duy nhất: đó là sự yên bình.
Ngay chỗ xương vai của mẹ có 2 cái hốc thật sâu. Và da của mẹ thì bủng beo, không săn chắc như người khác. Thương mẹ quá.
Mẹ tôi bị viêm xoan. Đó là do ngày xưa mẹ hít bụi than quá nhiều. Bây giờ, căn bệnh này cứ hành mẹ tôi mãi. Mẹ hay bị nhức đầu, còn sổ mũi là chuyện như cơm bữa. Thế nhưng không ngày nào mẹ tôi nghỉ ngơi. Trong khi tôi hễ bệnh một chút là chẳng làm gì cả, chỉ nằm đó để mẹ chăm sóc.
Mẹ dành tình thương cho ai cần nó nhất. Lúc nhỏ, tôi bé nhất nên mẹ quan tâm chăm sóc tôi nhiều nhất. Nhưng giờ lớn rồi, anh chị tôi đều đã đi làm thì mẹ thương chị nhất. Đơn giản vì chị tôi làm việc rất cực khổ nhưng lương lại thấp và mẹ nghĩ rằng cần bù đắp cho chị bằng tình thương của mẹ. Có những việc không cần phải nói ra nhưng ta cũng hiểu, phải không nào?
Những chuyện về mẹ có kể hoài cũng không hết. Nếu được quay ngược thời gian thì bài tập làm văn “Hãy tả mẹ của em” chắc chắn tôi sẽ viết khác.
|
Bài viết số 6 lớp 6, tập làm văn lớp 6
| 1,216
| |
Bài viết số 6 lớp 7, tập làm văn lớp 7
Hướng dẫn
Bài viết số 6 lớp 7 đề 1: Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.
Bác Hồ muốn khuyên dạy chúng ta điều gì qua 2 dòng thơ này? Vì sao việc trồng cây trong mùa xuân của đất trời lại có thể góp phần làm nên mùa xuân của đất nước?
Bài làm
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm và gần gũi với thiên nhiên. Khi đất nước hoà bình, Người kêu gọi: “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây” để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người. Người đã xây dựng phong trào Tết trồng cây và phong trào ấy ngày càng được nhân rộng.
Đầu năm 1960, Người đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy: “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Bác nói: “Trong 10 năm nữa phong cảnh nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hoà hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Ngày 5/01/1961 (ngày 9 tháng Chạp năm Canh Tý), Bác Hồ về thăm Hợp tác xã Lạc Trung của tỉnh Vĩnh Phúc – nơi có phong trào trồng cây hai bên đường và trên các bãi đất trống, Bác ôm ghì 2 đồng chí lãnh đạo của xã thật chặt và hỏi: “Các chú có thấy khó chịu không?”. Rồi Bác ôn tồn bảo: “Cây cũng như người, nó phải có khoảng cách để sống và phát triển, các chú cần hướng dẫn nhân dân trồng cây theo kỹ thuật, trồng cây nào tốt cây đó”.
Trong những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc, Bác Hồ vẫn kêu gọi nhân dân trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước. Bác viết: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Bác thường xuyên theo dõi, động viên, cổ vũ phong trào Tết trồng cây. Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, Bác vừa viết báo nhắc nhở nhân dân thực hiện Tết trồng cây, vừa đi thăm và tham gia trồng cây cùng với nhân dân. Trong bài viết cuối cùng của mình về Tết trồng cây ngày 5/2/1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”. Tự tay Bác đã trồng nhiều cây đa mà nhân dân ta thường gọi bằng cái tên trìu mến “Cây đa Bác Hồ”. Trong khu nhà đơn sơ của mình, Bác đã tạo ra một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp, Bác trồng cây trong vườn, chăm cây như chăm người. Bác thả cá dưới hồ và không cho phép ai được câu, xua đuổi và săn bắt chim trong vườn. Bác nói: “Chim là của quý của thiên nhiên ta phải bảo vệ chúng”.
Trong những lần thăm nước bạn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia đến thăm Việt Nam, Bác đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Người đã trồng cây đại ở ấn Độ, trồng cây sồi ở Nga và còn gọi đó là “những cây hữu nghị”. Cây lớn lên theo thời gian, không chỉ thể hiện của tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới mà còn thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.
Ngay cả đến giờ phút Bác sắp đi xa, trong Di chúc Bác cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng: “Nếu có kế hoạch trồng cây trên đồi, ai đến thăm thì trồng 1 cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.
Từ lời dạy, việc làm của Bác Hồ, chúng ta nhận thấy rằng, con người sống không thể tách rời khỏi thiên nhiên, không thể thiếu trời mây, cây cỏ, phải biết giá trị to lớn mà thiên nhiên ban tặng. Người kêu gọi nhân dân ta phải bảo vệ rừng như bảo vệ ngôi nhà của chính mình vậy.
Ngày nay, khi “ngôi nhà chung” của chúng ta vang lên tiếng kêu cứu, khi con người nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc trồng và bảo vệ rừng có thể chống nguy cơ thay đổi khí hậu thì lời dạy của Người càng có ý nghĩa biết bao.
Ngoài ra:
Một vấn đề được Bác Hồ quan tâm đặc biệt lŕ sự nghiệp trồng cây, trồng người: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Rięng về việc trồng cây, vào khoảng giữa năm 1959, Bác viết bài thơ kêu gọi nông dân trồng cây.
“Muốn làm nhà cửa tốt
Phải ra sức trồng cây
Chúng ta chuẩn bị từ nay
Dăm năm sau sẽ bắt tay dựng nha”
Sau đó, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng và đón Tết âm lịch, Bác Hồ chính thức phát động phong trŕo Tết trồng cây trong cả nước. Phong trào diễn ra trong vòng 1 tháng từ 6/1 đến 6/2/1960.
“Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”
Kể từ khi phát động phong trào cho đến khi Bác qua đời, mỗi năm cứ khi tết đến, xuân về Bác đều tự měnh trồng cây trong Phủ chủ tịch để lŕm gương. Trực tiếp kêu gọi, theo dõi, nhắc nhở, động viên, vận động phong trào. Và không biết tự khi nào, Tết trồng cây đã trở thành một nếp sống đẹp, một truyền thống gắn bó không thể thiếu trong mỗi người dân khi xuân về.
Xã hội hiện đại lŕ xã hội điện tử, tin học và công nghệ. Nhưng phía sau nó, xã hội hiện đại lại thải ra một lượng chất thải khổng lồ dẫn đến ô nhiễm môi trường, nguồn nước, thức ăn… ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe con người, thě việc trồng cây là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Mỗi nhà, mỗi khu phố, mỗi ban ngành… đều phải có trách nhiệm trồng cây xanh ở khu vực mình hay ở, những nơi công cộng để bảo vệ môi trường. Đúng như những điều Bác đă dạy trong lời phát động Tết trồng cây khi xưa: “Miền Bắc có độ 14 triệu người, trong số đó độ 3 triệu trẻ em thơ ấu, 1 triệu người từ 8 tuổi trở lęn đều có thể trồng cây… Như vậy, mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây” thě chẳng mấy chốc đất nước ta sẽ phủ xanh.
Hãy tìm hiểu người xưa muốn nhắn nhủ điều gì qua câu ca dao ấy
Bài làm
Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Để diễn đạt tình nghĩa tha thiết này, ca dao có câu:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.”
Những hình ảnh trong câu ca dao thật dễ hiểu nhưng ý nghĩa của nó thì thật là sâu sắc. “Nhiễu điều” là tấm vải đỏ; “giá gương” là giá đỡ tấm gương. Hình ảnh “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” có nghĩa đen là tấm vải đỏ che phủ, giữ cho sạch và làm đẹp cho giá gương cùng cả tấm gương. Hai tiếng “phủ lấy” nhắc nhở, thể hiện sự gắn bó không tách rời giữa giá gương và nhiễu điều. Hình ảnh đó còn gợi lên nghĩa bóng đó là sự yêu thương, đùm bọc, che chở. Lấy nghĩa bóng đó, dân gian muốn nhắn nhủ mọi người trong cùng một cộng đồng cần phải biết yêu thương, đùm bọc, che chở cho nhau: “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Đó là một lời khuyên nhủ đậm đà tình nghĩa.
Vậy thì tại sao người trong một nước phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau? Trong tâm thức mỗi người Việt Nam đều tin các dân tộc trên đất nước ta là anh em. Con người cùng một nước, có cùng chung một nguồn gốc lịch sử. Mọi người trong cùng cộng đồng, cùng làng, cùng nước,… đời sống vật chất, tinh thần luôn gắn bó với nhau, rất cần đến sự quan tâm động viên giúp đỡ lẫn nhau; nhất là lúc có ai đó gặp khó khăn hoạn nạn. Hơn nữa, không ai có thể sống lẻ loi trong xã hội mà phải hoà nhập vào cộng đồng. Thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau là lẽ sống của mỗi người, nó đã trở thành một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta. Tình cảm yêu thương đoàn kết tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần sẽ giúp con người vượt qua bao khó khăn, chiến thắng kẻ thù và thiên tai, đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Có thể kể đến các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của nhân dân ta. Rồi những tấm lòng hảo tâm đóng góp vào các quỹ từ thiện đã giúp nhiều người nghèo khó, bệnh tật khắc phục được hoàn cảnh, vượt qua bệnh tật hiểm nghèo trở về với cuộc sống bình thường.
Chúng ta phải làm thế nào để phát huy được đạo lí tốt đẹp đó? Chúng ta cần tránh quan điểm: “Đèn nhà ai người ấy rạng.”, có thái độ dửng dưng đứng trước nỗi đau khổ của họ hàng, làng xóm, dân tộc. Và yêu thương giúp đỡ lẫn nhau phải xuất phát từ lòng chân thành, tự nguyện thì đó mới là nghĩa cử cao đẹp, đáng trân trọng. Để phát huy được đạo lí tốt đẹp của nhân dân Việt Nam, chúng ta phải biết quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh khi họ gặp khó khăn hoạn nạn với thái độ chân thành, kịp thời. Thương yêu, đùm bọc lẫn nhau là biểu hiện sự đoàn kết dân tộc. Mỗi người cần phải biết giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó.
Ý nghĩa của câu ca dao đã trở nên muôn đời. Vì đó là bài học đã đúc kết bằng tâm huyết của nhân dân ta. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp đó.
Bài viết số 6 lớp 7 đề 3: Hãy giải thích ý nghĩa câu tục ngữ: Thất bại là mẹ thành công.
Bài làm
Trong cuộc sống lao động và học tập, con người ai cũng gặp phải khó khăn, gian nan, thử thách và sẽ có lần vấp ngã. Có người có thể tự đứng lên được, nhưng cũng có người ngã quỵ dưới thất bại của chính mình. Để khuyên bảo, động viên, nhắc nhở con cháu, ông cha ta đã có câu:” Thất bại là mẹ thành công”.
“Thất bại là mẹ thành công” có nghĩa là gì? Thất bại chính là những lần vấp ngã, là khi công việc của ta gặp khó khăn, không có kết quả tốt như chúng ta mong đợi. Còn thành công thì ngược lại. Thành công có nghĩa là đạt được những kết quả mà ta mong muốn và hoàn thành công việc ấy một cách thuận lợi và tốt đẹp. Mẹ là những người sinh ra con, nhờ có mẹ mới có con cũng như có thất bại mới có thành công. ” Thất bại là mẹ thành công mang một ngụ ý đó là: đừng nản long trước thất bại mà phải học tập rút kinh nghiệm thì ” thất bại” sẽ dạy cho ta cách đạt kết quả cao hơn.
Vì sao nói ” Thất bại là mẹ thành công”? Mới đầu ta thấy câu nói trên có vẻ mâu thuẫn với nhau. Thất bại và thành công là hai chuyện trái ngược nhau hoàn toàn, không hề có liên hệ gì với nhau cả. Nhưng sau một hồi suy ngẫm, ta thấy được rằng câu tục ngữ này chẳng hề vô lý chút nào cả mà trái lại, nó rất liên kết với nhau. Bởi vì sau khi mỗi lần thất bại, ta sẽ tìm ra nguyên nhân dẫn đến những sai sót của ta, từ đó rút ra được những kinh nghiệm quý báu, giúp ta tránh phạm những sai lầm đó nữa và ngày càng tiến tới bước đường thành công hơn.
Đối với những người sợ thất bại thì điều này hoàn toàn không đúng với họ, bởi vì họ không có ý chí để vươn lên, lúc nào cũng muốn mình sống trong một cuộc đời không phạm sai lầm nào cả thì đó là người ảo tưởng hay hèn nhát đối mặt với cuộc sống. Còn những người mà khi ngã gục giữa đường đời thì họ lại dũng cảm đứng dậy, càng quyết tâm làm lại từ đầu. Biết phân tích, mổ xẻ nguyên nhân thất bại để tìm cách tránh sai lầm lần nữa. Và qua đó người ta có được những bài học cũng như kinh nghiệm quý báu để công việc trở nên tiến triển tốt hơn. Như thế câu tục ngữ mới có giá trị, ý nghĩa với họ.
Vậy tại sao ta phải kiên trì bền bỉ trước những khó khăn thất bại? Đó là vì cuộc sống khó tránh khỏi những khó khăn. Khi ta làm một việc lớn thì khó khăn lại càng lớn. Khó khăn có thể do chủ quan hoặc khách quan gây nên. Khi gặp khó khăn, thất bại mà ngã lòng thì sẽ thất bại hoàn toàn, mất hết ý chí, ảnh hưởng đến công việc và cuộc đời. Ngược lại, nếu vững vàng, lấy thất bại làm bài học để rút kinh nghiệm thì ý chí vững vàng, kinh nghiệm dày dặn hơn, tiếp tục vươn lên và đạt được thành công.
Không chỉ vậy, thất bại còn là động lực để chúng ta tiếp tục tìm tòi, học hỏi. Những người thực sự khao khát học hỏi, khám phá thế giới thường có lòng tự trọng rất cao. Trong số họ, ít ai dễ dàng chịu đầu hàng. Thất bại khiến niềm kiêu hãnh và lòng tự trọng của họ bị tổn thương. Chính điều đó thúc đẩy họ tìm tòi, học hỏi và làm việc nhiều hơn nữa để thực hiện bằng được công việc của mình. Ngoài ra thất bại còn rèn luyện cho con người ý chí quyết tâm.
Thực tế trong cuộc sống, có rất nhiều tấm gương không sợ thất bại. Điển hình như: Thomas Edison từng thất bại cả trăm lần trước khi sáng tạo ra bóng đèn điện; trước khi sáng lập ra Disneyland, Walt Disney đã từng bị tòa báo sa thải vì thiếu ý tưởng; Lép Tôn-xtôi tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng Chiến tranh và hòa bình từng bị đình chỉ học tập vì vừa không có năng lực và thiếu ý chí học tập;…
Vậy xin chớ lo thất bại. Điều đáng sợ hơn là chúng ta bỏ qua nhiêù cơ hội chỉ vì không cố gắng hết mình. Lời khuyên đó giúp ta vững vàng trong cuộc sống. Chúng ta cần phải rèn luyện ý chí, sự kiên trì ngay từ khi còn nhỏ, cả những việc bình thường trong cuộc sống.
Bài viết số 6 lớp 7 đề 4: Dân gian có câu: Lời nói gói vàng, đồng thời lại có câu: Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Qua 2 câu trên, em hãy cho biết dân gian đã hiểu như thế nào về giá trị, ý nghĩa của lời nói trong cuộc sống.
Bài làm
Trong cuộc sống, chúng ta thường dùng lời nói để trao đổi thông tin, để diễn đạt ý tưởng hoặc để bày tỏ, biểu lộ tâm tư tình cảm của mình… Nói chung, nhờ lời nói mà con người có thể hiểu nhau và dễ đến gần nhau hơn. Nói thì dễ nhưng nói như thế nào để không mất lòng người nghe, nói như thế nào để “lọt” đến xương, nói làm sao để “mật ngọt chết ruồi” thì không dễ chút nào, nhất là những lúc ta đang “nổi khùng” thì ta càng dễ nói tầm bậy. Vì thế cha ông ta có khuyên: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”, vì lời nói bay đi thì không thể lấy lại được, nên ta hãy cẩn thận trước khi nói.
Tâm lý chung của con người là thích nghe ngọt. Những lời nói tốt đẹp không làm chúng ta tốn kém tiền bạc hay hao tổn sức lực, nhưng nó đem lại nhiều ích lợi và làm cho người nghe được an ủi, khích lệ và làm cho tình thân giữa ta với người khác được thêm thắm thiết đậm đà. Dĩ nhiên, chúng ta không nên vì “lựa lời” mà nói với nhau những lời giả dối. Trái lại, chúng ta cần nói thật với nhau bằng tấm lòng yêu thương.
Lại có một câu chuyện kể lại rằng:
Ngày xưa có một ông vua nước Ai-cập gửi cho nhà hiền triết Bias một con vật vừa quý lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng, ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triết một vố, bèn phán:
– Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quý hiếm ấy.
Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi trao cho ông vua. Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng:
– Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.
Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín; nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông. Lưỡi đóng một vai trò quan trọng như vậy, song cái lưỡi cộng với lời nói lại chính là nguyên cớ làm cho chúng ta dễ vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm ở bất kỳ đâu, trong bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai.
Tục ngữ cũng đã có câu:
“Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi”. Hay:
“Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”.
Một lời nói thiếu suy nghĩ được sánh ví như đổ thêm dầu vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu huỷ hết tình ruột thịt cũng như tình nghĩa anh em. Hơn nữa, trong cộng đoàn tu trì gồm những con người từ “khắp tứ phương thiên hạ”, mỗi người mỗi tính nết, mỗi người một kiểu sống khác nhau, nên không thể tránh được hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền… Nhiều khi chính chúng ta lại là những người gây ra những đau khổ, buồn phiền cho người khác chỉ bằng những lời nói thiếu cân nhắc trước sau.
Cụ thể ngay trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi có thể vô tình thôi, chúng ta chọc ghẹo anh chị em mình bằng những lời nói nghe hơi… “rát tai”, nghe mà “đau nhói cả tim”. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn nói cho sướng cái miệng của mình, nhưng lại không để ý đến nỗi đau của người anh chị em mình khi phải nghe những lời chọc ghẹo đó.
Do vậy, trong cộng đoàn tiếng cười là cần thiết, nó đem lại niềm vui cho cộng đoàn là điều cần làm và nên làm. Nhưng chúng ta cũng cần phải ý tứ hơn nữa trong những lời chọc vui để những lời chọc vui đó không những đem lại niềm vui cho mình mà còn làm cho người bị chọc cũng được vui cười thoải mái. Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn của chúng ta. Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ, một phần lớn là do cái lưỡi và lời nói của chúng ta. Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mỗi người, như một câu danh ngôn đã dạy: “Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang”. Bởi đó, ta cần phải biết đắn đo cân nhắc trong cách ăn nói của mình để tránh đi những hiểu lầm, đau khổ cho người khác. Phải sử dụng lời nói như một phương tiện, giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau hơn “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” là vậy. Ý thức được tầm quan trọng của ngôn từ, chúng ta hãy chú ý những ngôn từ chúng ta dùng trong ngày. Phải có trách nhiệm khi sử dụng ngôn từ, bởi vì qua những lời chúng ta nói, chúng ta có thể đem lại niềm vui Phục sinh nhưng cũng có thể đem lại đau khổ thập giá cho những anh em trong cộng đoàn và chúng ta cũng nên lắp đặt một… “Cái thắng” vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “stop” lại đúng nơi và đúng lúc. Để kết thúc, xin mượn câu nói của cha ông ta nói về ngôn từ: Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói. Hoặc Lựa lời mà nói khó thay! Tiếng chì, tiếng bấc thường hay “chàng ràng” Khi ai mở miệng nói ngang Thì ta chắc chẳng ngại “phang”…. “mỹ từ” Một tia lửa nhỏ sơ sơ Khu rừng lớn mấy mặc dù, cháy tiêu Giữa ngàn thế sự đảo điên Có ai áp dụng lời khuyên bao giờ Lời nói không mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Bài làm
Bác Hồ, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Người đi vào lòng dân với bao nét tinh hoa đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam, được hoà quyện và nâng cao thêm bởi tinh hoa của văn hoá thế giới.Bác có một lối sống vô cùng giản dị và thanh bạch.
Trong ăn mặc, sinh hoạt thường ngày, Bác Hồ giản dị thế nào ta hằng biết và truyền tụng. Ăn thì vẫn cà pháo, tép đồng kho, rau muống luộc; lúc ăn Bác không để rơi vãi một hạt cơm,ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại thì được sắp xếp tươm tất.Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người va kính trọng như thế nào người phục vụ. Mặc thì, đại lễ có bộ ka-ki, ngày thường bộ bà ba mầu nâu lụa Hà Ðông, đi guốc gỗ hay dép cao-su.Cái nhà sàn của Bác tiện nghi thì rất ít, đơn sơ thì nhiều. Căn nhà sàn chỉ vẻn vẹn ba phòng,và trong lúc tâm hồn của bác lộng gió thời đại,thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng,phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao!Còn lúc tiếp xúc với quần chúng, Người gần gũi, thân tình như người bác, người cha, người ông, không hề có sự phân cách giữa lãnh tụ và nhân dân, Bác tặng kẹo cho trẻ thơ, tặng luạ cho cụ già, vỗ tay cất nhịp cùng hát bài kết đoàn…Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc,từ việc rất lớn: cứu nước,cứu dân đến việc rất nhỏ,trồng cây trong vườn,viết thưcho các đồng chí,nói chuyện với các cháu miền nam,đi thăm nhà tập thể của công nhân, từ nơi làm việc đến phòng ngủ, nhà ăn…
Trong đời sống của mình,việc gì Bác cũng tự làm được thì không cần người giúp,cho nên bên cạnh bác người giúp việc và phục vụ có thể đếm trên đầu ngón tay,và Bác đã đặt cho số đồng chí đó những cái tên mà gộp lại là ý chí chiến đấu vŕ chiến thắng: Trýờng, Kì, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi!
Nhưng chớ hiểu lầm rằng Bác sống khắc khổ theo lối nhà tu hành,thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật.Bác Hồ sống giản dị,thanh bạch như vậy, bởi vì Người sống sôi nổi,phong phú đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhân dân. Đời sống vật chất giản dị càng hoà hợp với đời sống tâm hồn phong phú,với những tư tưởng,tình cảm,những giá trị tinh thần cao đẹp nhất.Đó la đời sống thực sự văn minh mà Bác Hồ nêu gương sáng trong thế giới ngày nay.
Bác là người thông tuệ, không chỉ ngôn ngữ dân tộc mà còn biết nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bác là nhà chính trị, ngoại giao sắc sảo, là nhà văn, nhà thơ lớn đã từng viết những áng văn tuyệt tác như Tuyên ngôn Độc lập, những vần thơ Nhật ký trong tù, sắc nét của Đường thi. Nhưng bao giờ Bác cũng lấy sự giản dị, trong sáng làm đầu. Bác lấy sự học làm đầu và rất khiêm tốn học hỏi.
Suy cho cùng chân lí,những chân lí lớn của nhân dân ta cũng như của thời đại là giản dị:”Không có gì quý hơn độc lập,tự do”,”Nước Việt Nam là một,dân tộc Việt Nam là một,sông có cạn,núi có thể mòn,song chân lí ấy không bao giờ thay đổi”…Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Tại sao Bác giản dị đến nhường ấy? Bởi con người Bác là sự kết tinh của nhiều nền văn hóa. Bác làm chủ hoàn toàn được mình về trí tuệ, tình cảm, bởi Bác sống “như trời đất của ta”, hiểu được lẽ Trời Ðất, thiên mệnh, sống hòa nhịp với con người, với thời gian hiện tại nhưng lại hướng về tương lai, nghĩa là Người là biểu tượng của nhân loại ở thời kỳ “từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của Tự do”.
Nhắc lại vài nét về nếp sống cần kiệm, giản dị, khiêm tốn của lãnh tụ vĩ đại để mỗi chúng ta cùng suy ngẫm, tự nhìn lại mình, cố gắng thực hiện những điều Bác dạy, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng vào cuộc sống, xây dựng đất nước ta đàng hoàng, to đẹp hơn trong thời hội nhập như Bác Hồ hằng mong muốn.
|
Bài viết số 6 lớp 7, tập làm văn lớp 7
| 4,497
| |
Bài viết số 6 lớp 8, tập làm văn lớp 8
Hướng dẫn
Bài viết số 6 lớp 8 đề 1: Dựa vào văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn với vận mệnh của đất nước.
Bài làm
1) Mở bài:
_ Có thễ nói dân tộc VN đã trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, đó là 1 truyền thống rất đáng tự hào. Đất nước sống đời thái bình, no ấm chính là nhờ tài đức của các vị vua, các vị tướng sĩ văn võ song toàn như Lý Công Uẩn (tức vua Lý Thái Tổ), Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo Vương). Họ là những người lãnh đạo anh minh suốt đời vì vận mệnh của đất nước. Dựa vào văn bản “Chiếu dời đô” Lý Công Uẫn và văn bản “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn chúng ta sẽ làm sáng tỏ điều đó.
2) Thân bài:
Như chúng ta đã biết, Lý Công Uẩn vốn là người thông minh nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công. Vì thế, khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên.
Lý Công Uẫn lên ngôi đã lập tức quyết định dời kinh đô Hoa Lư ra thành Đại La, bởi nhà vua hiễu rõ Đại La chính là vùng đất mà nhân dân sẽ sống no ấm, đất nước được hưng thịnh đời đời. Lý Công Uẩn quyết định như thế không phải theo ý riêng mình mà chính là lo cho vận nước, hợp với lòng dân.
Người viết “Chiếu dời đô” bày tỏ mục đích dời đô là: “vân mệnh trời”, “theo ý dân”, “thấy thuận thiên thì thay đổi”, dời đến nơi “trung tâm trời đất”, tiện hướng “nhìn sông dựa núi”,… “nơi đây là thánh địa”. Đọc văn bản “chiếu dời đô” ta cảm nhận Lý Công Uẩn không chỉ là 1 vị vua có tài mà còn có đức, ông xứng đáng là vị vua anh minh bậc tiên đế muôn đời. Quyết định dời đô của ông là rất sáng suốt bởi vì kinh đô Đại La đã vững mạnh suốt 200 năm, có nghĩa là nhân dân thái bình, no ấm trong suốt thời gian đó (kinh đô Đại La_Thăng Long_chính là thủ đô Hà Nội ngày nay, linh hồn của VN)
Thời kì nhân dân Đại Việt phải đương đầu với quân Nguyên_Mông hung hãn, vị nguyên soái Trần Quốc Tuấn tức Hưng Đạo Vương đã 3 lần cầm quân đánh bại quân xâm lược. Ông xứng đáng là 1 vị anh hùng của dân tộc.
Trước năm 1285, Trần Quốc Tuấn đã viết bài “Hịch tướng sĩ” với mục đích kêu gọi tướng sĩ học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ đễ chuẩn bị đánh quân xâm lược. Bài Hịch có sức thuyết phục rất cao bởi lập luận sắc bén, có tình có lý.
Trong bài Hịch Trần Quốc Tuấn sáng suốt nêu gương các trung thần nghĩa sĩ của Trung Quốc đễ đánh vào lòng tự tôn của các tướng sĩ dưới quyền. Ông nhắc lại cách đối xử thân tình của mình đến với họ, chỉ cho họ thấy tội ác của giặc, bày tỏ tấm lòng của mình trước vận mệnh của đất nước.
Trần Quốc Tuấn đã phản ánh phê phán sự bàng quan vô trách nhiệm của các tướng sĩ. Vạch ra nguy cơ nước mất nhà tan, rồi lật ngược vấn đề: Nếu tướng sĩ lo học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ thì mọi người được sử sách lưu danh.
Với cách lập luận như thế, Trần Quốc Tuấn đã khơi dậy, khích lệ lòng yêu nước, căm thù giặc của tất cả mọi người.
Trần Quốc Tuấn vốn là con nhà võ nhưng thấu đáo sự học làm người, nắm rõ “tam cương, ngũ thường”. Ông xứng đáng là 1 tấm gương để chiến sĩ noi theo. Trong kho tàng văn học nước nhà “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn xứng đáng là 1 “An thiên cỗ hùng văn”, “tiếng kèn xung trận hào hùng”, mãi mãi nhân dân thời Trần (thế kỉ 13) và mọi đời sau sẽ không bao giờ quên công đức của ông.
Nói tóm lại, lịch sử đất nước Việt Nam có những trang vàng chói lọi là nhờ vào những vị vua, vị tướng anh minh như Lý Công Uẫn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,… Họ là tấm gương sáng ngời đễ đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta tưởng nhớ đến Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân giành độc lập ngày hôm nay. Chúng ta chắc chắn Bác đã noi gương những người đi trước. Sống xứng đáng với sự hi sinh của họ. Bác đã từng nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Và người cũng đã ân cần dạy tuổi trẻ “có tài mà không có đức thì là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
Bài viết số 6 lớp 8 đề 2: Câu nói của M. Go-rơ-ki ” Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. gợi cho em suy nghĩ gì?
Bài làm
1.Mở Bài:
Đã từ lâu. sách luôn là một món ăn tinh thần không thể thiều được trong cuốc sống hàng ngày của chúng ta. Sách là gì?(là một kho tàng huyền bí làm kích thích sự tò mò của biết bao người….)
Nếu chúng ta không sống thiếu bạn thì ta cũng không thể thiếu sách được….
Nó là chìa khóa mở mang tầm hiểu biết và làm đẹp cuộc sóng
Cho nên khi nhận định về sách, M.Go-rơ-ki đã nói:”Hãy yêu sách…”
2.Thân Bài:
Người đời thường nói:” Bộ lông làm đẹp con công,tri thức làm đẹp con người”. Trong đời sống Xã hội hiện nay,nếu không có tri thức thì sao?Con người có tồn tại và phát triển không?….
Sách báo,một nguồn thông tin để biết được mọi diễn biến xảy ra trong và ngoài nước đồng thời tiếp thu được các kiến thức lạ.
Sách là nơi con người lưu trữ và truyền lại những kiến thức lịch sử.Sách có sức sống phi thường vượt qua mọi giới hạn về không gian và thời gian.Chính vì vậy,cuộc sống nhờ có sách mà con người cảm thấy thế nào?(thoải mái,mở rộng tầm hiểu biết hay là nâng cao hơn)
Sách bao giờ cũng mang đến cho ta nhiều điều mới mẻ.Sách có nhiều loại,nhiều đề tài khác nhau.Do đó nó giúp ta có gì?
Đến với sách,ta có thể biết bất cứ gì xảy ra trong đâu?.Chẳng hạn sách lịch sử giúp ta hình dung những cuộc đấu tranh ác chiến thời vàng song của các triều đại
Sách và học thể hiện tài năng của nhiều nhà văn,cho ta biết thưởng thức thơ văn,bồi dưỡng tâm hồn,toán học lại khiến ta phải tư duy đầu óc….
Sách còn giới thiệu với ta nhiều kinh nghiệm,thành tựu về KH,nông-công nghiệp và cả chính trị.Ngoài ra sách còn là hường dẫn viên đưa ta đến những danh lam thắng cảnh,kì quan thế giới
Tất cả đều dùng để khẳng định sách là nguồn kiến thức như thế nào?Nó dạy ta biết bao điều hay lẽ phải trong cuộc sống,giúp ta ngày một hoàn thiện bản thân nhân phẩm,đạo đức.
Cho nên có thể nói sách là người bạn thân như thế nào?(hữu ích mang lại niềm tin yêu…).Sách không chỉ giúp mở mang kiến thức mà con đem đến nguồn hạnh phúc,sự thanh thản cho tâm hồn
Do vậy,câu nói của M.Go-rơ-ki rất đúng đắn…
Bên cạnh mặt tốt luôn có cái xấu.Vì vậy,cần phải biết chọn sách phù hợp với lứa tuổi của mình.
Mục đích của chúng ta khi đọc sách là gì?(giải trí một cách lành mạnh,thêm kiến thức…..)
Nhưng coi sách cũng có khi là cách tự học nên phải đọc sách đúng lúc,đúng chỗ.Tuy nhiên không phải lúc nào củng đọc như con mọt sách hay đọc để rồi không còn thực tế chàng Đôn-ki-hô-tê
Chúng ta cần sắp xếp hợp lí về thời gian đọc sách đúng cách,biến kiến thức của sách thành của riêng mình.Nó sẽ là người bạn tốt cho ai biết nâng niu,trân trọng và học hỏi.
Kiến thức còn giúp cho XH văn minh thoát khỏi nền lạc hậu.Một XH chú trọng nhiều đến tài trí thì sẽ có nhiều nhân tài.Một đất nước có nhiều đội ngũ KH thì sẽ có những phát minh máy móc hiện đại tân tiến
Cho nên kiến thức là con đường sống của mọi người.Đó là con đường của ước mơ và hy vong,biết hướng về tương lai bằng niềm tin tự khám phá mình để hoàn thiện nhân cách của mình.
Vì thế nếu không có sách con người sẽ sống trong tối tăm,dốt nát,mất tự do
Quả thật câu nói của M.Go-rơ-ki là một lời khuyên chí tình.Sách rất quí nhưng không tự đến với con người mà con người phải tìm lấy sách để đọc.
Ta phải đọc sách một cách ham mê và đọc với tinh thần chủ động,suy nghĩ,nghiền ngẫm. Đọc và làm theo sách sẽ giúp ta trau dồi,nâng tầm hiểu biết của ta một cao hơn
Sách đúng là kho tàng trí tuệ của nhân loại là giá trị vô giá của loài ngươi.
Bài viết số 6 lớp 8 đề 3: Từ bài “Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ về mối quan hệ của “học” và “hành”
Bài làm
Trong bài tấu gửi vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791,ở phần “ Bàn luận về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp có viết: “Học rộng rồi tóm lại cho gọn, theo điều học mà làm”. Như vậy, cách chúng ta mấy trăm năm, La Sơn Phu Tử đã nhận ra được tầm quan trọng của phương pháp học tập kết hợp giữa lí thuyết với thực hành. Điều đó cho chúng ta biết rằng giữa hai yếu tố “học” và “hành” có mối quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời.
Vậy, “học” là gì? Học là quá trình tiếp thu tri thức và biến những tri thức được tiếp thu ấy thành vốn hiểu biết của bản thân. Việc học không chỉ đơn thuần thông qua việc hướng dẫn giảng dạy của thầy cô, sự truyền thụ kinh nghiệm của những người lớn tuổi mà còn thông qua sự trao đổi với của bạn bè, qua việc đọc, nghiên cứu tài liệu, sách vở và quan sát từ thực tế cuộc sống. Tuy nhiên, “học” chỉ dừng lại ở khâu lí thuyết. Muốn biến những điều đã học thành thực tế, nhất thiết phải thông qua lao động thực hành.
“Hành” là những thao tác nhằm vận dụng các kĩ năng, kiến thức đã tiếp thu vào việc giải quyết những tình huống, những vấn đề cụ thể. Không một môn học nào lại không có phần thực hành.Việc thực hành thể hiện qua các bài tập sau khi vừa học lí thuyết,qua các tiết thí nghiệm thực hành các bộ môn Lý,Hóa,Sinh; qua các thao tác vận động ở bộ môn Thể dục.Theo La Sơn Phu Tử trình bày trong phần “ bàn luận về phép học” thì “hành” là việc vận dụng đạo lý của thánh hiền vào cuộc sống, biến những triết lý trừu tượng thành việc làm cụ thể nhằm thể hiện nhân cách, phẩm giá của con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: ‘Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Lời dạy trên của Bác cũng góp phần khẳng định mối quan hệ mật thiết và tương hỗ giữa hai yếu tố “học” và “hành” trong cuộc sống.
Việc thực hành có tác dụng củng cố kiến thức, khắc sâu những điều đã học. Người có học mà không biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế thì việc học ấy trở thành vô ích. Sau mỗi bài học lí thuyết là bài bài tập để củng cố, sau mỗi tiết thí nghiệm thực hành là kiến thức đã học được khắc sâu hơn. Nếu không có những tiết bài tập và thí nghiệm thì những điều chúng ta đã học sẽ trở thành mớ lý thuyết suông không có tác dụng gì.
Đối với sĩ tử ngày xưa, đi học là để hiểu rõ Đạo. Đó là lẽ đối xử hằng ngày giữa con người với nhau. Người đi học mà không hiểu rõ đạo, không biết vận dụng đạo lý thánh hiền để cư xử với nhau mà chỉ “đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi,không còn biết đến tam cương, ngũ thường”. Chắc chắn điều đó sẽ dẫn đến kết quả “chúa tầm thường thần nịnh hót”. Và hậu quả tất yếu sẽ là “ nước mất nhà tan”.
Ngược lại, nếu mọi người biết vận dụng lẽ đạo vào trong cuộc sống thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn nhiều. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã nhấn mạnh “Đạo học thành thì người tốt nhiều,người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”
Tuy nhiên việc thực hành muốn đạt đến thành công cần phải có vai trò khơi gợi dẫn dắt của lí thuyết. Những kiến thức đã học luôn có tác dụng định hướng, dẫn dắt để việc thực hành được tốt hơn. Người thực hành mà không có sự dẫn dắt của học vấn thì khó có hy vọng đạt được mục đích, chẳng khác gì một người đi trong bóng đêm mà không có ánh sáng của ngọn đuốc soi đường.Không một học sinh nào có thể làm được bài tập mà không căn cứ vào những công thức hay định lý đã học. Cũng không một ai thành công ngay ở thí nghiệm đầu tiên mà không có sự hướng dẫn thao tác của thầy cô. Qua bài tấu, để củng cố và phát huy vai trò của việc học, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã thiết tha đề nghị xin vua Quang Trung thay đổi phương pháp học tập sao cho thích hợp: “Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm.”
Có một phương pháp học tập tốt và đúng đắn, kết hợp với những thao tác thực hành bài bản, chắc chắn kết quả học tập sẽ được nâng cao và “nhân tài mới lập được công. Triều đình nhờ thế cũng được vững yên”.
Tóm lại, từ viếc tìm hiểu bài tấu “Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, em nhận thấy hai yếu tố “học” và “hành” đều có tầm quan trọng như nhau và quan hệ mật thiết cùng nhau. “Học” có vai trò dẫn dắt việc “hành” và “hành” có tác dụng củng cố khắc sâu và hoàn chỉnh việc “học”. Từ đó, em phải thay đổi phương pháp học tập sao cho đúng đắn, biết kết hợp vận dụng tốt cả hai yếu tố “học” và “hành” để nâng cao trình độ học vấn của bản thân và áp dụng linh hoạt vào thực tế.
|
Bài viết số 6 lớp 8, tập làm văn lớp 8
| 2,581
| |
Bài viết số 6 lớp 8
Hướng dẫn
1) Mở bài:
_ Mỗi con người Việt Nam đều tự hào về lịch sử dân tộc hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, đó là 1 truyền thống rất đáng tự hào. Làm nên lịch sử oanh liệt đó là nhờ những anh hùng dân tộc những vị vua, các vị tướng sĩ văn võ song toàn như Lý Công Uẩn (tức vua Lý Thái Tổ), Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo Vương) để đất nước sống đời thái bình, no ấm. Họ là những người lãnh đạo anh minh suốt đời vì vận mệnh của đất nước. Dựa vào văn bản "Chiếu dời đô" Lý Công Uẫn và văn bản "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn chúng ta sẽ làm sáng tỏ điều đó.
2) Thân bài:
Như chúng ta đã biết, Lý Công Uẩn vốn là người thông minh nhân ái, có chí lớn và lập được nhiều chiến công. Vì thế, khi Lê Ngọa Triều mất, ông được triều thần tôn lên làm vua lấy niên hiệu là Thuận Thiên.
Lý Công Uẫn lên ngôi đã lập tức quyết định dời kinh đô Hoa Lư ra thành Đại La, bởi nhà vua hiễu rõ Đại La chính là vùng đất mà nhân dân sẽ sống no ấm, đất nước được hưng thịnh đời đời. Lý Công Uẩn quyết định như thế không phải theo ý riêng mình mà chính là lo cho vận nước, hợp với lòng dân.
Người viết "Chiếu dời đô" bày tỏ mục đích dời đô là: "vân mệnh trời", "theo ý dân", "thấy thuận thiên thì thay đổi", dời đến nơi "trung tâm trời đất", tiện hướng "nhìn sông dựa núi",… "nơi đây là thánh địa". Đọc văn bản "chiếu dời đô" ta cảm nhận Lý Công Uẩn không chỉ là 1 vị vua có tài mà còn có đức, ông xứng đáng là vị vua anh minh bậc tiên đế muôn đời. Quyết định dời đô của ông là rất sáng suốt bởi vì kinh đô Đại La đã vững mạnh suốt 200 năm, có nghĩa là nhân dân thái bình, no ấm trong suốt thời gian đó (kinh đô Đại La_Thăng Long_chính là thủ đô Hà Nội ngày nay, linh hồn của VN)
Thời kì nhân dân Đại Việt phải đương đầu với quân Nguyên_Mông hung hãn, vị nguyên soái Trần Quốc Tuấn tức Hưng Đạo Vương đã 3 lần cầm quân đánh bại quân xâm lược. Ông xứng đáng là 1 vị anh hùng của dân tộc.
Trước năm 1285, Trần Quốc Tuấn đã viết bài "Hịch tướng sĩ" với mục đích kêu gọi tướng sĩ học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ đễ chuẩn bị đánh quân xâm lược. Bài Hịch có sức thuyết phục rất cao bởi lập luận sắc bén, có tình có lý.
Trong bài Hịch Trần Quốc Tuấn sáng suốt nêu gương các trung thần nghĩa sĩ của Trung Quốc đễ đánh vào lòng tự tôn của các tướng sĩ dưới quyền. Ông nhắc lại cách đối xử thân tình của mình đến với họ, chỉ cho họ thấy tội ác của giặc, bày tỏ tấm lòng của mình trước vận mệnh của đất nước.
Trần Quốc Tuấn đã phản ánh phê phán sự bàng quan vô trách nhiệm của các tướng sĩ. Vạch ra nguy cơ nước mất nhà tan, rồi lật ngược vấn đề: Nếu tướng sĩ lo học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ thì mọi người được sử sách lưu danh.
Với cách lập luận như thế, Trần Quốc Tuấn đã khơi dậy, khích lệ lòng yêu nước, căm thù giặc của tất cả mọi người.
Trần Quốc Tuấn vốn là con nhà võ nhưng thấu đáo sự học làm người, nắm rõ "tam cương, ngũ thường". Ông xứng đáng là 1 tấm gương để chiến sĩ noi theo. Trong kho tàng văn học nước nhà "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn xứng đáng là 1 "An thiên cỗ hùng văn", "tiếng kèn xung trận hào hùng", mãi mãi nhân dân thời Trần (thế kỉ 13) và mọi đời sau sẽ không bao giờ quên công đức của ông.
3) Kết bài:
Nói tóm lại, lịch sử đất nước Việt Nam có những trang vàng chói lọi là nhờ vào những vị vua, vị tướng anh minh như Lý Công Uẫn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,… Họ là tấm gương sáng ngời đễ đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta tưởng nhớ đến Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân giành độc lập ngày hôm nay. Chúng ta chắc chắn Bác đã noi gương những người đi trước. Sống xứng đáng với sự hi sinh của họ. Bác đã từng nói: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Và người cũng đã ân cần dạy tuổi trẻ "có tài mà không có đức thì là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó".
Bài viết số 6 lớp 8 đề 2: Câu nói của M. Go-rơ-ki " Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống". gợi cho em suy nghĩ gì?
Bài làm
1.Mở Bài:
Đã từ lâu. sách luôn là một món ăn tinh thần không thể thiều được trong cuốc sống hàng ngày của chúng ta. Sách là gì?(là một kho tàng huyền bí làm kích thích sự tò mò của biết bao người….)
Nếu chúng ta không sống thiếu bạn thì ta cũng không thể thiếu sách được….
Nó là chìa khóa mở mang tầm hiểu biết và làm đẹp cuộc sóng
Cho nên khi nhận định về sách, M.Go-rơ-ki đã nói:”Hãy yêu sách…”
2.Thân Bài:
Người đời thường nói:” Bộ lông làm đẹp con công,tri thức làm đẹp con người”. Trong đời sống Xã hội hiện nay,nếu không có tri thức thì sao?Con người có tồn tại và phát triển không?….
Sách báo,một nguồn thông tin để biết được mọi diễn biến xảy ra trong và ngoài nước đồng thời tiếp thu được các kiến thức lạ.
Sách là nơi con người lưu trữ và truyền lại những kiến thức lịch sử.Sách có sức sống phi thường vượt qua mọi giới hạn về không gian và thời gian.Chính vì vậy,cuộc sống nhờ có sách mà con người cảm thấy thế nào?(thoải mái,mở rộng tầm hiểu biết hay là nâng cao hơn)
Sách bao giờ cũng mang đến cho ta nhiều điều mới mẻ.Sách có nhiều loại,nhiều đề tài khác nhau.Do đó nó giúp ta có gì?
Đến với sách,ta có thể biết bất cứ gì xảy ra trong đâu?.Chẳng hạn sách lịch sử giúp ta hình dung những cuộc đấu tranh ác chiến thời vàng song của các triều đại
Sách và học thể hiện tài năng của nhiều nhà văn,cho ta biết thưởng thức thơ văn,bồi dưỡng tâm hồn,toán học lại khiến ta phải tư duy đầu óc….
Sách còn giới thiệu với ta nhiều kinh nghiệm,thành tựu về KH,nông-công nghiệp và cả chính trị.Ngoài ra sách còn là hường dẫn viên đưa ta đến những danh lam thắng cảnh,kì quan thế giới
Tất cả đều dùng để khẳng định sách là nguồn kiến thức như thế nào?Nó dạy ta biết bao điều hay lẽ phải trong cuộc sống,giúp ta ngày một hoàn thiện bản thân nhân phẩm,đạo đức.
Cho nên có thể nói sách là người bạn thân như thế nào?(hữu ích mang lại niềm tin yêu…).Sách không chỉ giúp mở mang kiến thức mà con đem đến nguồn hạnh phúc,sự thanh thản cho tâm hồn
Do vậy,câu nói của M.Go-rơ-ki rất đúng đắn…
Bên cạnh mặt tốt luôn có cái xấu.Vì vậy,cần phải biết chọn sách phù hợp với lứa tuổi của mình.
Mục đích của chúng ta khi đọc sách là gì?(giải trí một cách lành mạnh,thêm kiến thức…..)
Nhưng coi sách cũng có khi là cách tự học nên phải đọc sách đúng lúc,đúng chỗ.Tuy nhiên không phải lúc nào củng đọc như con mọt sách hay đọc để rồi không còn thực tế chàng Đôn-ki-hô-tê
Chúng ta cần sắp xếp hợp lí về thời gian đọc sách đúng cách,biến kiến thức của sách thành của riêng mình.Nó sẽ là người bạn tốt cho ai biết nâng niu,trân trọng và học hỏi.
Kiến thức còn giúp cho XH văn minh thoát khỏi nền lạc hậu.Một XH chú trọng nhiều đến tài trí thì sẽ có nhiều nhân tài.Một đất nước có nhiều đội ngũ KH thì sẽ có những phát minh máy móc hiện đại tân tiến
Cho nên kiến thức là con đường sống của mọi người.Đó là con đường của ước mơ và hy vong,biết hướng về tương lai bằng niềm tin tự khám phá mình để hoàn thiện nhân cách của mình.
Vì thế nếu không có sách con người sẽ sống trong tối tăm, dốt nát, mất tự do
3. Kết Bài:
Quả thật câu nói của M.Go-rơ-ki là một lời khuyên chí tình.Sách rất quí nhưng không tự đến với con người mà con người phải tìm lấy sách để đọc.
Ta phải đọc sách một cách ham mê và đọc với tinh thần chủ động,suy nghĩ,nghiền ngẫm. Đọc và làm theo sách sẽ giúp ta trau dồi,nâng tầm hiểu biết của ta một cao hơn
Sách đúng là kho tàng trí tuệ của nhân loại là giá trị vô giá của loài ngươi.
Bài viết số 6 lớp 8 đề 3: Từ bài “Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ về mối quan hệ của “học” và “hành”
Bài làm
Trong bài tấu gửi vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791,ở phần “ Bàn luận về phép học”, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp có viết: “Học rộng rồi tóm lại cho gọn, theo điều học mà làm”. Như vậy, cách chúng ta mấy trăm năm, La Sơn Phu Tử đã nhận ra được tầm quan trọng của phương pháp học tập kết hợp giữa lí thuyết với thực hành. Điều đó cho chúng ta biết rằng giữa hai yếu tố “học” và “hành” có mối quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời.
Vậy, “học” là gì? Học là quá trình tiếp thu tri thức và biến những tri thức được tiếp thu ấy thành vốn hiểu biết của bản thân. Việc học không chỉ đơn thuần thông qua việc hướng dẫn giảng dạy của thầy cô, sự truyền thụ kinh nghiệm của những người lớn tuổi mà còn thông qua sự trao đổi với của bạn bè, qua việc đọc, nghiên cứu tài liệu, sách vở và quan sát từ thực tế cuộc sống. Tuy nhiên, “học” chỉ dừng lại ở khâu lí thuyết. Muốn biến những điều đã học thành thực tế, nhất thiết phải thông qua lao động thực hành.
“Hành” là những thao tác nhằm vận dụng các kĩ năng, kiến thức đã tiếp thu vào việc giải quyết những tình huống, những vấn đề cụ thể. Không một môn học nào lại không có phần thực hành.Việc thực hành thể hiện qua các bài tập sau khi vừa học lí thuyết,qua các tiết thí nghiệm thực hành các bộ môn Lý,Hóa,Sinh; qua các thao tác vận động ở bộ môn Thể dục.Theo La Sơn Phu Tử trình bày trong phần “ bàn luận về phép học” thì “hành” là việc vận dụng đạo lý của thánh hiền vào cuộc sống, biến những triết lý trừu tượng thành việc làm cụ thể nhằm thể hiện nhân cách, phẩm giá của con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: ‘Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Lời dạy trên của Bác cũng góp phần khẳng định mối quan hệ mật thiết và tương hỗ giữa hai yếu tố “học” và “hành” trong cuộc sống.
Việc thực hành có tác dụng củng cố kiến thức, khắc sâu những điều đã học. Người có học mà không biết ứng dụng những điều đã học vào thực tế thì việc học ấy trở thành vô ích. Sau mỗi bài học lí thuyết là bài bài tập để củng cố, sau mỗi tiết thí nghiệm thực hành là kiến thức đã học được khắc sâu hơn. Nếu không có những tiết bài tập và thí nghiệm thì những điều chúng ta đã học sẽ trở thành mớ lý thuyết suông không có tác dụng gì.
Đối với sĩ tử ngày xưa, đi học là để hiểu rõ Đạo. Đó là lẽ đối xử hằng ngày giữa con người với nhau. Người đi học mà không hiểu rõ đạo, không biết vận dụng đạo lý thánh hiền để cư xử với nhau mà chỉ “đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi,không còn biết đến tam cương, ngũ thường”. Chắc chắn điều đó sẽ dẫn đến kết quả “chúa tầm thường thần nịnh hót”. Và hậu quả tất yếu sẽ là “ nước mất nhà tan”.
Ngược lại, nếu mọi người biết vận dụng lẽ đạo vào trong cuộc sống thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn nhiều. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã nhấn mạnh “Đạo học thành thì người tốt nhiều,người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”
Tuy nhiên việc thực hành muốn đạt đến thành công cần phải có vai trò khơi gợi dẫn dắt của lí thuyết. Những kiến thức đã học luôn có tác dụng định hướng, dẫn dắt để việc thực hành được tốt hơn. Người thực hành mà không có sự dẫn dắt của học vấn thì khó có hy vọng đạt được mục đích, chẳng khác gì một người đi trong bóng đêm mà không có ánh sáng của ngọn đuốc soi đường.Không một học sinh nào có thể làm được bài tập mà không căn cứ vào những công thức hay định lý đã học. Cũng không một ai thành công ngay ở thí nghiệm đầu tiên mà không có sự hướng dẫn thao tác của thầy cô. Qua bài tấu, để củng cố và phát huy vai trò của việc học, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã thiết tha đề nghị xin vua Quang Trung thay đổi phương pháp học tập sao cho thích hợp: “Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm.”
Có một phương pháp học tập tốt và đúng đắn, kết hợp với những thao tác thực hành bài bản, chắc chắn kết quả học tập sẽ được nâng cao và “nhân tài mới lập được công. Triều đình nhờ thế cũng được vững yên”.
Tóm lại, từ viếc tìm hiểu bài tấu “Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, em nhận thấy hai yếu tố “học” và “hành” đều có tầm quan trọng như nhau và quan hệ mật thiết cùng nhau. “Học” có vai trò dẫn dắt việc “hành” và “hành” có tác dụng củng cố khắc sâu và hoàn chỉnh việc “học”. Từ đó, em phải thay đổi phương pháp học tập sao cho đúng đắn, biết kết hợp vận dụng tốt cả hai yếu tố “học” và “hành” để nâng cao trình độ học vấn của bản thân và áp dụng linh hoạt vào thực tế.
Nguồn:
|
Bài viết số 6 lớp 8
| 2,546
| |
Bài viết số 6 lớp 9 (bài hay)
Hướng dẫn
Bài viết số 6 lớp 9 đề 1: Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân VN thời kháng chiến chống thực dân Pháp?
Bài làm
“Làng quê”, hai tiếng thật êm đềm và thân thuộc biết bao. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ hướng ngòi bút của mình về giếng nước, gốc đa, con đò… hướng về những người nông dân thật thà, chất phác. Kim Lân là một trong những nhà văn viết truyện ngắn và khai thác rất thành công về đề tài này. Truyện ngắn “Làng” là một truyện ngắn thành công của Kim Lân gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.
Kim Lân vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc với cuộc sống và con người ở nông thôn Việt Nam nên các truyện gắn của ông thường gây ấn tượng độc đáo, rất giản dị, chân chất về đề tài này. Truyện ngắn Làng cũng vậy, truyện ra đời trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc. Câu truyện xoay quanh nhân vật ông Hai và tình yêu làng Chợ Dầu. Với những chuyển biết trong nhận thức và suy nghĩ, ông Hai đã trở thành một điển hình của người nông dân Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.
Như bao con người Việt Nam khác, ông Hai cũng có một quê hương yêu thương, gắn bó. Làng Chợ Dầu luôn là niềm tự hào và là kiêu hãnh của ông. Ông luôn khoe về làng mình, đức tính ấy như đã trở thành bản chất. Ông cũng như mọi người nông dân Việt Nam khác, có quan niệm rằng “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, đối với họ, không có bất cứ đâu đẹp hơn nơi chôn rau cắt rốn của mình. Trước cách mạng, mỗi khi kể về làng, ông đều khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc sừng sững ở cuối làng. Sau Cách mạng, làng ông đã trở thành làng kháng chiến, ông đã có nhận thức khác. Ông Hai không còn khoe về cái sinh phần ấy nữa mà ông lấy làm hãnh diện với sự cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê mình. Ông khoe làng có “những hố, những ụ, những giao thông hào”, “có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”… Kháng chiến bùng nổ, ông Hai bất đắc dĩ phải rời làng đi tản cư. Trong những ngày buộc phải rời xa làng tâm trí ông luôn nhớ về nơi ấy, về những anh em đồng chí của mình, ông muốn “cùng anh em đào đường, đáp ụ, xẻ hào,khuân đá…’’.
Ở nơi tản cư, ông luôn đến phòng thông tin để theo dõi và mong ngóng tin tức về làng nhằm nguôi ngoai nỗi nhớ. Trong lúc mong tin làng, những tin vui chiến thắng ở khắp nơi khiến ông vui sướng vô cùng, “ruột gan cứ múa cả lên”. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà đi tản cư, ông Hai vô cùng sửng sốt, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Đến khi nghe kể rành rọt, không thể không tin vào điều xấu ấy, niềm tin và tình yêu bấy lâu nay của ông về làng như sụp đổ. Ông đã “gầm mặt xuống”, đánh trống lảng rồi bước đi như kẻ trốn nợ. Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người nhưng lại không tin họ theo giặc. Mấy hôm liền, ông không dám đi đâu vì xấu hổ, luôn bị ám ảnh cái tinh khủng khiếp ấy và hay hốt hoảng giật mình. Những ngày này mâu thuẫn nội tâm trong con người ông Hai diễn ra một cách quyết liệt và ngày càng dâng cao. Đã có lúc ông nghĩ đến việc “quay về làng” nhưng ông đã dứt khoát “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”, “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Tuy quyết định như thế nhưng ông vẫn rất đau đớn xót xa. Tất cả những cử chỉ của ông Hai khẳng định tình yêu làng của ông đã hòa quyện vào cuộc kháng chiến của dân tộc và ông sẽ gắn bó cả cuộc đời với nó bằng suy nghĩ và hành động. Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông trút nỗi lòng vào lời nói với đứa con út ngây thơ: “Bố con mình theo kháng chiến, theo Cụ Hồ con nhỉ?” để giãi bày tâm sự, trút bỏ, an ủi lòng mình. Đồng thời, ông cũng truyền cả tình yêu nước sang cho con mình và khẳng định tình cảm của bố con ông với kháng chiến, với Cụ Hồ là trước sau như một.
Đau khổ là thế, lo âu là thế nhưng cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã được cải chính. Niềm vui trong ông Hai như vỡ òa. Ông chạy đi khoe ngay với bác Thứ rồi gặp bất cứ ai ông cũng khoe Tây đã đốt nhà mình như muốn chứng minh làng mình không theo giặc với tất cả niềm tin và tình cảm của ông. Đối với ông hai cũng như mọi người nông dân khác, con trâu, mảnh ruộng, gian nhà là vô cùng quý giá nhưng họ thà mất đi tất cả chứ không chịu mất nước và ý chí ý đã trở thành một truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta.
Cách mạng và sự nghiệp kháng chiến đã tác động mạnh mẽ, đem lại những nhận thức, những tình cảm mới lạ cho những người nông dân. Từ đó khiến họ nhiệt tình tham gia kháng chiến và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng, vào lãnh tụ. Ở nhân vật ông Hai, tình cảm đẹp đẽ có tính chất truyền thống của người nông dân Việt Nam là tình yêu làng quê đã được nâng lên thành tình yêu nước. Sự hòa quyện và gắn bó của tình yêu quê hương và tình yêu đất nước là nét mới mẻ trong nhận thức của người nông dân, của quần chúng cách mạng trong giai đoạn văn học chống Pháp.
Với kếu cấu đơn giản, xoay quanh nhân vật ông Hai với tình yêu làng sâu sắc, “Làng” đã để lại trong lòng người đọc nhiều ý vị sâu sắc. Làng Nhà văn Kim Lân đã xây dựng rất thành công nhân vật ông Hai với các phẩm chất tốt đẹp của người nông dân. Đồng thời nhà văn còn khôn khéo xây dựng tình huống thử thách làm bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật. Tác giả đã miêu tả đặc biệt tài tình nội tâm của nhân vật với những suy nghĩ phức tạp, giằng xé. Tác giả đẩy các chi tiết đến cao trào rồi giải quyết một cách nhẹ nhàng, thỏa đáng và có hậu, tạo hứng thú và bất ngờ cho người đọc, người nghe. Cách sử dụng từ ngữ địa phương mộc mạc, gần gũi với nông dân trong đối thoại, giao tiếp kết hợp với sự hiểu biết sâu sắc về cuộc sống của họ khiến những trang viết của Kim Lân thật gần gũi nhưng không kém phần sâu sắc.
Nhân vật ông Hai gây ấn tượng mạnh mẽ và để lại nhiều tình cảm tốt đẹp, sự yêu mến, trân trọng và cảm phục trong lòng người đọc. Tình yêu làng của ông Hai mang tinh chất truyền thống đã được nâng lên thành tình yêu nước nồng nàn như “ dòng suối đổ vào sông, dòng sông đổ vào dải trường giang Vônga, dòng sông Vônga đi ra biển..”. Qua nhân vật ông Hai như là nông dân với những phẩm chất tốt đẹp bước từ đời thực vào tác phẩm, có được những biểu hiện cụ thể, sinh động vè tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc.
“Làng” đã trở thành một truyện ngắn đặc sắc, Kim Lân đã thành công trong việc thể hiện những chuyển biến mới mẻ trong nhận thức và tình cảm của người dân Việt Nam. Nhân vật ông Hai đã trở thành một hình tượng điển hình cho những người nông dân Việt Nam cần cù, chất phác nhưng luôn cháy bỏng tình yêu quê hương, yêu đất nước. Họ đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng và là nhân tố trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Bản thân mỗi chúng ta cần phải học tập tấm gương của họ, ngày càng yêu thương quê hương, đất nước mình hơn.
Bài viết số 6 lớp 9 đề 2: Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Bài làm
Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… Nam Cao là một cái tên không thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo. Tham gia vào dòng văn học 1930-1945 tuy là muộn so với các nhà văn khác nhưng bằng cách “khơi những nguồn chưa ai khơi” Nam Cao đã ghi vào lòng độc giả những ấn tượng riêng và có một vị trí đứng vững chắc. Ông viết rất nhiều tác phẩm như “Sống mòn”, “Một bữa no”, “Đời thừa”… nhưng không thể không kể tới tác phẩm “Lão Hạc”. Nhân vật Lão Hạc trong truyện là một nhân vật đã để lại trong người đọc ít nhiều suy nghĩ.
Lão Hạc là một lão nông nghèo nhưng có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đáng quý.Nhân vật Lão Hạc là nhân vật điển hình, đại diện cho mỗi tầng lớp người nông dân rơi vào hoàn cảnh trớ trêu nhưng toát lên những vẻ đẹp tâm hồn sáng trong.
Lão Hạc có một cuộc đời hết sức bi thảm. Vợ lão mất sớm, một mình lão gà trống nuôi con. Đến tuổi anh con trai lấy vợ thì nhà lão nghèo quá, nhà gái lại thách cao, nên anh con trai không lấy được vợ, phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su. Lão ngày ngày, vò võ mong mỏi con về, đơn độc, chỉ có con chó Vàng – kỉ vật của con bầu bạn cùng. Lão sống qua ngày, trong cái đói nghèo và đơn độc. Và chính vì đói, vì nghèo như thế, nên cuối cùng, lão phải bán đi người bạn duy nhất của lão, chỗ dựa cuối cùng của lão – cậu Vàng. Để giữ được tấm lòng thanh sạch của mình, lão phải ăn bả chó tự tử, chết như một con chó. Cuộc đời của lão Hạc là một cuộc đời đơn độc, quay quắt trong cái đói nghèo, bị cái đói nghèo đày đọa. Nam Cao đã thông qua cuộc đời của lão Hạc để tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến, dồn đẩy người nông dân tới bước đường cùng bằng tiếng nói đanh théo, nhưng không kém phần chua xót.
Tuy ở một hoàn cảnh đáng buồn như vậy, nhưng lão Hạc có một tấm lòng vị tha, nhân hậu.Với cậu Vàng – kỉ vật của con trai lão, lão yêu quí nó như “một bà mẹ hiếm hoi yêu quý đứa con cầu tự”. Lão cưng nựng, vỗ về, vuốt ve nó; cho nó ăn cơm như nhà giàu ăn cơm bát; lão ăn gì cũng không quên phần nó, gắp cho nó một miếng, lão ăn bao nhiêu, nó cũng ăn như thế, thậm chí có phần hơn lão… Lão cũng coi nó như một người bạn, ngày ngày lão tâm sự, trò chuyện với nó như thể nó cũng là một con người. Lão đối với một con chó, một loài vật mà ông giáo cho là sinh ra để người ta giết thịt lại nhân hậu, yêu thương đến vậy thì với con người, lão con đối xử đến như thế nào nữa? Tấm lòng của lão quả thật khiến chúng ta cảm phục.
Đối với cậu Vàng, lão yêu quí như vậy, thì đối với anh con trai của lão, thì tình cảm ấy còn được nhân lên gấp vạn lần. Chỉ vì nhà nghèo, không cưới được vợ cho con, làm con uất chí, bỏ đi đồn điền cao su mà lão tự dằn vặt mình mãi. Để cưới vợ, anh con trai đòi bán mảnh vườn, nhưng lão không cho không phải vì lão muốn giữ mảnh vườn cho lão, mà lão nghĩ nếu cưới vợ về, vườn bán rồi thì ở đâu mà làm ăn sinh sống, và rồi có bán thì cũng làm sao mà đủ tiền. Lão nghĩ thế, nhưng anh con trai có thấu cho lão?Anh bỏ đi đồn điền cao su, để lại lão ở nhà vò võ chờ con.Lão nghĩ tốt, lo cho tương lai con, nhưng khi con trai bỏ đi, lão lại tự dằn vặt mình, đày đọa tinh thần mình.Những câu nói lão nói với cậu Vàng, nhưng lại chất chưa biết bao nhiêu tình cảm nhớ thương cho anh con trai. Lão nói với cậu Vàng đấy, nhưng lại như nói với con mình.Lão làm việc gì, lão suy nghĩ gì cũng là hướng về con trai mình. Tiền bòn vườn lão để dành, không tiêu tới để khi con trai về, lão nhẩm tính sẽ có gần trăm đồng bạc, thêm vào cho con cưới vợ và làm kế sinh nhai.Thế nhưng, lão lại ốm. Một cơn ốm kéo dài buộc lão phải tiêu tới số tiền đó.Chỉ vậy thôi mà lão đã thấy đau lòng.Lão ăn vào tiền của con trai lão – số tiền mà khi con trai về lão định trả con. Điều này làm lão khổ tâm hết sức. Hành động của lão gửi ông giáo mảnh vườn, nhờ ông giáo giữ hộ cũng là để giữ hộ cho con lão: “của mẹ nó thì nó hưởng”. Mọi suy nghĩ, việc làm của lão đều hướng tới con trai. Thậm chí, cái chết của lão cũng là vì con.Lão chết để mở ra đường sống cho con lão, lão chết một cái chết trong sạch để lại tiếng thơm cho con vì lão sống ngày nào là ăn vào tiền, vào đường sống của con ngày ấy. Xưa nay, không ít người cha, người mẹ hi sinh cơm ăn, áo mặc vì con, hi sinh một phần thân thể vì con nhưng hi sinh cả mạng sống của mình như lão Hạc lại là một trường hợp hiếm thấy. Tình yêu con của lão Hạc thật đặc biệt. Không ồn ào, sôi nổi, không thể hiện qua hành động hay lời nói, lão lặng lẽ yêu con trong tâm tưởng, mọi hành động của con lão đều cho là do lão. Là do lão đẩy con tới những hành động ấy rồi tự dằn vặt mình, tự gánh lấy những suy nghĩ, hành động để chuộc lại lỗi lầm. Quả thật, tình yêu thương con của lão khiến chúng thật vô cùng cảm động.
Lão Hạc mang một tấm lòng tự trọng cao cả. Lão tự trọng từ với một con chó, với con trai lão, với bà con hàng xóm, với ông giáo và với cả chính bản thân mình.Khi bán con chó, lão đau khổ, vì lão “bằng này tuổi đầu mà còn trót lừa một con chó”. Lão nhớ ánh mắt của cậu Vàng, mà theo như lời lão là một ánh mắt đầy trách móc, mắng lão tệ hại: “A!Lão già tệ lắm!Tôi ăn ở với lão thế mà lão đối xử với tôi thế này à?”. Ánh nhìn đó làm lão ám ảnh và day dứt không nguôi. Lão từ chối mọi sự giúp đỡ của ông giáo, lão lại chuẩn bị sẵn tiền làm ma cho bản thân, gửi ông giáo, để khi lão có việc thì ông giáo đưa ra, coi như là của lão có chút ít, còn lại thì nhờ bà con hàng xóm cả. Lão làm vậy để không phiền lụy tới ai. Từ đó, lão bòn vườn, mò cua,ốc, trai ăn để sống qua ngày, thà chết chứ không chịu mắc nợ ai. Có lẽ hành động bán cậu Vàng của lão chính là bước chuẩn bị cho cái chết của lão. Lão xin Binh Tư ít bả chó với lý do bắt cho nhà khác – một lý do làm Binh Tư tự nghĩ lão giả bộ hiền lành thế nhưng cũng ghê ra phết, một lý do làm ông giáo hiểu lầm lão, hiểu lầm một con người đã “khóc vì trót lừa một con chó, một con người nhịn ăn để có tiền làm ma”.Vậy nhưng hóa ra, lão ăn bả chó để tử tự, để giữ vẹn nguyên tấm lòng trong sáng của lão. Lão ăn bả chó, lão chết như một con chó, vật vã, quằn quại trong đau đớn, để chuộc tội với cậu Vàng. Lão ăn bả chó cũng là để không bị cuộc sống dồn đẩy, bị tha hóa biến chất như Binh Tư, hay Chí Phèo… Cái chết của lão cũng chính là sự tự trọng của lão với con lão. Lão sống mà phải dựa vào tiền của con thì thà lão chết con hơn. Lão Hạc có một tấm lòng thật đáng. Lão Hạc có một tấm lòng thật đáng trân trọng – lòng tự trọng của lão nông nghèo nhưng trong sạch. Lão chọn “chết trong còn hơn sống đục” khi bị dồn vào đường cùng.Tấm lòng nhân đạo của Nam Cao đã được thể hiện rất rõ. Thông qua cuộc đời bi thảm, nhưng phẩm chất thì sáng trong của lão Hạc, Nam Cao quả đã “khơi được những nguồn chưa ai khơi” và chính điều này đã đưa ông lên một vị trí vững chắc trong dòng văn học 1930-1945.
Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc. Đây là một nhân vật điển hình, đại diện cho tầng lớp những người nông dân trong xã hội cũ: tuy đói nghèo nhưng có những phẩm chất cao đẹp. Nam Cao đã rất thành công trong cách xây dựng nhân vật. Thông qua cái nhìn ông giáo – một nhà trí thức, Nam Cao đã gián tiếp thể hiện tấm lòng của mình với người nông dân và đặt ra vấn đề “đôi mắt”: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…”. Tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật rất rõ nét. Tâm lý nhân vật lão Hạc được thể hiện qua những hành động, lời nói của lão, nhiều đoạn đối thoại mà như độc thoại. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng nhiều khẩu ngữ, làm câu chuyện chân thực, sinh động, gần gũi với người nông dân.
Nhân vật lão Hạc quả thật đã để lại trong lòng người đọc ít nhiều suy nghĩ. Qua đó cũng thể hiện tài năng,tấm lòng của Nam Cao. Phải là một cây bút xuất sắc, một nhà văn thấu hiểu, am tường về người nông dân tới tận cùng, dành cho họ những tình cảm yêu mến, trân trọng cảm thông sâu sắc mới viết nên một truyện ngắn hay như thế. Với một nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, Nam Cao đã khẳng định được tên tuổi của mình. Ông đã “khơi được những nguồn chưa ai khơi” và ghi lại trong lòng độc giả những tình cảm yêu mến.
Bài viết số 6 lớp 9 đề 3: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện “Chiếc lược ngà"
Bài làm
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một truyện cảmđộng về tình cha con của những gia đình Việt Nam mà ở đó “lớp cha trước, lớpcon sau, đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Trong truyện đoạn cảm độngnhất là đoạn “ba ngày nghỉ phép về quê của anh Sáu”.
Năm 1946, năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, anh Sáu lên đường theo tiếnggọi của quê hương. Bấy giờ, bé Thu, con gái anh chưa đầy một tuổi. Chín nămđằng đẳng xa quê, xa nhà, anh Sáu vẫn mong có một ngày trở về quê gặp lại vợcon. Thế rồi, kháng chiến thắng lợi, anh được nghỉ 3 ngày phép về thăm quê, mộtlàng nhỏ bên bờ sông Cửu Long. Về đến nhà, anh tưởng tượng bé Thu – con gái anhsẽ rất vui mừng khi được gặp cha. Giờ đây, nó cũng đã mười tuổi rồi còn gì. Mangmột nỗi niềm rạo rực, phấn chấn, anh nôn nóng cho mau về đến nhà.
Không chờ xuồng cập bến, anh đã nhảy lên bờ vừa bước, vừa gọi: “Thu! Con!” thậttha thiết. Ta co thể tưởng tượng nỗi vui sướng của anh như thế nào. Khi anh vừabước đi, vừa lom khom người xuống đưa tay chờ con. Thế nhưng ngược lại vớinhững điều anh Sáu mong chờ.
Bé Thu tròn mắt nhìn anh ngạc nhiên rồi bỏ chạy. Phản ứng của bé Thu khiến anhSáu sửng sờ, đau khổ. Còn gì đáng buồn hơn khi đứa con mà anh hết lòng thươngyêu và khắc khoải từng ngày để được gặp mặt, giờ đây trở nên xa lạ đến mức phũphàng ấy.
Thế rôì, anh Sáu tìm mọi cách gặp con để làm quen dần vì anh nghĩ rằng khi anhđi nó vừa mấy tháng tuổi nên nó lạ. Anh mong sao nó gọi một tiếng “ba”, vào ăncơm nó chỉ nói trống không “Vô ăn cơm!”
Bữa sau, cũng là ngày phép thứ hai, bé Thu trông hộ mẹ nồi cơm để chị Sáu chạymua thức ăn. Trước khi đi, chị Sáu dặn nó có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nồicơm quá to mà bé thu thì còn nhỏ, vậy mà khi nồi cơm sôi không tìm được cáchnào để chắt nước, loay hoay mãi, nó nhìn anh Sáu một lúc rồi kêu lên: “Cơm sôirồi, chắt nước dùm cái!” anh Sáu vẫn ngồi im, chờ đợi sự thay đổi của nó. Thếnhưng, nó nghĩ ra cách lấy vá múc ra từng vá nước chứ nhất định không chịu gọianh Sáu bàng “Ba”. Con bé thật đáo để!
Đến bữa ăn cơm, anh Sáu gắp cho bé Thu một cái trứng cá to, vàng bỏ vào chén.Lúc đầu nó để đó rồi bất thần hất cái trứng ra làm cơm đổ tung toé. Giận quá,không kìm được nữa, anh Sáu vung tay đánh vào mông nó. Thế là bé Thu vội chạyra xuồng mở “lòi tói” rồi bơi qua sông lên nhà bà ngoại.
Phép chỉ còn ngày cuối cùng, anh Sáu phải trở về đơn vị để nhận nhiệm vụ mới.Bao nhiêu mơ ước được hôn, ôm con vào lòng từ bấy lâu nay của anh Sáu giờ chỉcàng làm cho anh thêm đau lòng và gần như anh không còn để ý đến nó nữa.
Thân nhân, họ hàng đến chia tay anh cũng khá đông nên anh cứ bịn rịn mãi. ChịSáu cũng lo sắp xếp đồ đạc cho chồng, không ai quan tâm bé Thu đang đứng bơ vơmột mình bên cửa nhà. Thì ra nó theo bà ngoại trở về vì bà ngoại sang đây đểtiễn chân anh Sáu. Giờ này, trên gương mặt Thu không còn cái vẻ bướng bỉnh,ương ngạnh nữa, mà thoáng một nét buồn trông đến dễ thương. Nó nhìn mọi người,nhìn anh Sáu. Đến lúc mang ba lô và bắt tay với mọi người, anh Sáu mới nhìnquanh tìm bé Thu. Thấy con, dường như mọi việc trong ba ngày phép hiện lêntrong anh nên anh chỉ đứng nhìn con với bao nỗi xót xa… cuối cùng, anh cũngphải nói lên lời chia tay với con mà không hy vọng bé Thu sẽ gọi một tiếng “ba”thiêng liêng ấy.Thật là đột ngột và không ngờ, bé Thu chạy đến bên anh Sáu vàtiếng “Ba!” được thốt lên thật cảm động biết nhường nào. Nó ôm chầm thật chặtnhư không muốn rời ba nữa. Nó khóc, khóc thật nhiều và thét lên những lời khiếnmọi người xung quanh đều xúc động: “Không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con!”
Sung sướng, hạnh phúc và cũng thật đau lòng, anh Sáu cũng chỉ biết ôm con vàkhóc cùng với con. Rồi cũng đến lúc phải chia tay, thật bịn rịn vô cùng. Vừamới nhận được tiếng “ba” của đứa con thân yêu cũng là lúc phải nghẹn ngào chiatay với con để trở về đơn vị làm tròn trách nhiệm khi đang ở quân ngũ.
Trước kia anh Sáu đã thương con, giờ đây anh càng thương con gấp bội. Bởi lẽanh đã hiểu lí do vì sao bé Thu quyết định từ chối không gọi anh bằng “ba” từba hôm nay.
Làm sao chấp nhận một người xa lạ mà khuôn mặt không giống trong tấm ảnh mà mẹnó thường ngày vẫn nói với nó đó là “ba” được. Chính vết sẹo quái ác kia đã làmcho bé Thu không nhận anh Sáu, hằn học với anh Sáu. Sau khi hiểu rõ nguyên nhâncủa vết sẹo hằn trên gương mặt của ba, bé Thu mới thấy hổ thẹn và ăn năn. Tìnhcảm cha con bỗng dâng đầy, tràn ngập trong lòng em. Tình cảm đó được thể hiệnbằng thái độ, cử chỉ dồn dập, gấp rút khi nó gọi và ôm chầm lấy anh Sáu.] Ba ngày phép ngắn ngủi nhưng lại rấtngặng nề với anh Sáu và bé Thu. Nghịch cảnh này là một trong muôn ngàn nghịchcảnh khác mà đã có biết bao gia đình phải ngậm ngùi vì những ngộ nhận đángthương. Đó cũng là một sự thật đau lòng của nước Việt Nam ta trong những năm kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Chúc các bạn học giỏi!
|
Bài viết số 6 lớp 9 (bài hay)
| 4,503
| |
Bài viết số 6 lớp 9, tập làm văn lớp 9
Hướng dẫn
Bài viết số 6 lớp 9 đề 1: Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân VN thời kháng chiến chống thực dân Pháp?
Bài làm
“Làng quê”, hai tiếng thật êm đềm và thân thuộc biết bao. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ hướng ngòi bút của mình về giếng nước, gốc đa, con đò… hướng về những người nông dân thật thà, chất phác. Kim Lân là một trong những nhà văn viết truyện ngắn và khai thác rất thành công về đề tài này. Truyện ngắn “Làng” là một truyện ngắn thành công của Kim Lân gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.
Kim Lân vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc với cuộc sống và con người ở nông thôn Việt Nam nên các truyện gắn của ông thường gây ấn tượng độc đáo, rất giản dị, chân chất về đề tài này. Truyện ngắn Làng cũng vậy, truyện ra đời trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc. Câu truyện xoay quanh nhân vật ông Hai và tình yêu làng Chợ Dầu. Với những chuyển biết trong nhận thức và suy nghĩ, ông Hai đã trở thành một điển hình của người nông dân Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.
Như bao con người Việt Nam khác, ông Hai cũng có một quê hương yêu thương, gắn bó. Làng Chợ Dầu luôn là niềm tự hào và là kiêu hãnh của ông. Ông luôn khoe về làng mình, đức tính ấy như đã trở thành bản chất. Ông cũng như mọi người nông dân Việt Nam khác, có quan niệm rằng “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, đối với họ, không có bất cứ đâu đẹp hơn nơi chôn rau cắt rốn của mình. Trước cách mạng, mỗi khi kể về làng, ông đều khoe về cái sinh phần của viên tổng đốc sừng sững ở cuối làng. Sau Cách mạng, làng ông đã trở thành làng kháng chiến, ông đã có nhận thức khác. Ông Hai không còn khoe về cái sinh phần ấy nữa mà ông lấy làm hãnh diện với sự cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê mình. Ông khoe làng có “những hố, những ụ, những giao thông hào”, “có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”… Kháng chiến bùng nổ, ông Hai bất đắc dĩ phải rời làng đi tản cư. Trong những ngày buộc phải rời xa làng tâm trí ông luôn nhớ về nơi ấy, về những anh em đồng chí của mình, ông muốn “cùng anh em đào đường, đáp ụ, xẻ hào,khuân đá…’’.
Ở nơi tản cư, ông luôn đến phòng thông tin để theo dõi và mong ngóng tin tức về làng nhằm nguôi ngoai nỗi nhớ. Trong lúc mong tin làng, những tin vui chiến thắng ở khắp nơi khiến ông vui sướng vô cùng, “ruột gan cứ múa cả lên”. Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc từ người đàn bà đi tản cư, ông Hai vô cùng sửng sốt, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Đến khi nghe kể rành rọt, không thể không tin vào điều xấu ấy, niềm tin và tình yêu bấy lâu nay của ông về làng như sụp đổ. Ông đã “gầm mặt xuống”, đánh trống lảng rồi bước đi như kẻ trốn nợ. Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi”. Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người nhưng lại không tin họ theo giặc. Mấy hôm liền, ông không dám đi đâu vì xấu hổ, luôn bị ám ảnh cái tinh khủng khiếp ấy và hay hốt hoảng giật mình. Những ngày này mâu thuẫn nội tâm trong con người ông Hai diễn ra một cách quyết liệt và ngày càng dâng cao. Đã có lúc ông nghĩ đến việc “quay về làng” nhưng ông đã dứt khoát “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”, “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Tuy quyết định như thế nhưng ông vẫn rất đau đớn xót xa. Tất cả những cử chỉ của ông Hai khẳng định tình yêu làng của ông đã hòa quyện vào cuộc kháng chiến của dân tộc và ông sẽ gắn bó cả cuộc đời với nó bằng suy nghĩ và hành động. Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông trút nỗi lòng vào lời nói với đứa con út ngây thơ: “Bố con mình theo kháng chiến, theo Cụ Hồ con nhỉ?” để giãi bày tâm sự, trút bỏ, an ủi lòng mình. Đồng thời, ông cũng truyền cả tình yêu nước sang cho con mình và khẳng định tình cảm của bố con ông với kháng chiến, với Cụ Hồ là trước sau như một.
Đau khổ là thế, lo âu là thế nhưng cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã được cải chính. Niềm vui trong ông Hai như vỡ òa. Ông chạy đi khoe ngay với bác Thứ rồi gặp bất cứ ai ông cũng khoe Tây đã đốt nhà mình như muốn chứng minh làng mình không theo giặc với tất cả niềm tin và tình cảm của ông. Đối với ông hai cũng như mọi người nông dân khác, con trâu, mảnh ruộng, gian nhà là vô cùng quý giá nhưng họ thà mất đi tất cả chứ không chịu mất nước và ý chí ý đã trở thành một truyền thống vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta.
Cách mạng và sự nghiệp kháng chiến đã tác động mạnh mẽ, đem lại những nhận thức, những tình cảm mới lạ cho những người nông dân. Từ đó khiến họ nhiệt tình tham gia kháng chiến và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng, vào lãnh tụ. Ở nhân vật ông Hai, tình cảm đẹp đẽ có tính chất truyền thống của người nông dân Việt Nam là tình yêu làng quê đã được nâng lên thành tình yêu nước. Sự hòa quyện và gắn bó của tình yêu quê hương và tình yêu đất nước là nét mới mẻ trong nhận thức của người nông dân, của quần chúng cách mạng trong giai đoạn văn học chống Pháp.
Nhân vật ông Hai gây ấn tượng mạnh mẽ và để lại nhiều tình cảm tốt đẹp, sự yêu mến, trân trọng và cảm phục trong lòng người đọc. Tình yêu làng của ông Hai mang tinh chất truyền thống đã được nâng lên thành tình yêu nước nồng nàn như “ dòng suối đổ vào sông, dòng sông đổ vào dải trường giang Vônga, dòng sông Vônga đi ra biển..”. Qua nhân vật ông Hai như là nông dân với những phẩm chất tốt đẹp bước từ đời thực vào tác phẩm, có được những biểu hiện cụ thể, sinh động vè tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc.
“Làng” đã trở thành một truyện ngắn đặc sắc, Kim Lân đã thành công trong việc thể hiện những chuyển biến mới mẻ trong nhận thức và tình cảm của người dân Việt Nam. Nhân vật ông Hai đã trở thành một hình tượng điển hình cho những người nông dân Việt Nam cần cù, chất phác nhưng luôn cháy bỏng tình yêu quê hương, yêu đất nước. Họ đã góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng và là nhân tố trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Bản thân mỗi chúng ta cần phải học tập tấm gương của họ, ngày càng yêu thương quê hương, đất nước mình hơn.
Bài viết số 6 lớp 9 đề 2: Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Bài làm
Cùng với Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng,… Nam Cao là một cái tên không thể thiếu khi nhắc tới những nhà văn hiện thực nhân đạo. Tham gia vào dòng văn học 1930-1945 tuy là muộn so với các nhà văn khác nhưng bằng cách “khơi những nguồn chưa ai khơi” Nam Cao đã ghi vào lòng độc giả những ấn tượng riêng và có một vị trí đứng vững chắc. Ông viết rất nhiều tác phẩm như “Sống mòn”, “Một bữa no”, “Đời thừa”… nhưng không thể không kể tới tác phẩm “Lão Hạc”. Nhân vật Lão Hạc trong truyện là một nhân vật đã để lại trong người đọc ít nhiều suy nghĩ.
Lão Hạc là một lão nông nghèo nhưng có nhiều phẩm chất tốt đẹp, đáng quý.Nhân vật Lão Hạc là nhân vật điển hình, đại diện cho mỗi tầng lớp người nông dân rơi vào hoàn cảnh trớ trêu nhưng toát lên những vẻ đẹp tâm hồn sáng trong.
Lão Hạc có một cuộc đời hết sức bi thảm. Vợ lão mất sớm, một mình lão gà trống nuôi con. Đến tuổi anh con trai lấy vợ thì nhà lão nghèo quá, nhà gái lại thách cao, nên anh con trai không lấy được vợ, phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su. Lão ngày ngày, vò võ mong mỏi con về, đơn độc, chỉ có con chó Vàng – kỉ vật của con bầu bạn cùng. Lão sống qua ngày, trong cái đói nghèo và đơn độc. Và chính vì đói, vì nghèo như thế, nên cuối cùng, lão phải bán đi người bạn duy nhất của lão, chỗ dựa cuối cùng của lão – cậu Vàng. Để giữ được tấm lòng thanh sạch của mình, lão phải ăn bả chó tự tử, chết như một con chó. Cuộc đời của lão Hạc là một cuộc đời đơn độc, quay quắt trong cái đói nghèo, bị cái đói nghèo đày đọa. Nam Cao đã thông qua cuộc đời của lão Hạc để tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến, dồn đẩy người nông dân tới bước đường cùng bằng tiếng nói đanh théo, nhưng không kém phần chua xót.
Tuy ở một hoàn cảnh đáng buồn như vậy, nhưng lão Hạc có một tấm lòng vị tha, nhân hậu.Với cậu Vàng – kỉ vật của con trai lão, lão yêu quí nó như “một bà mẹ hiếm hoi yêu quý đứa con cầu tự”. Lão cưng nựng, vỗ về, vuốt ve nó; cho nó ăn cơm như nhà giàu ăn cơm bát; lão ăn gì cũng không quên phần nó, gắp cho nó một miếng, lão ăn bao nhiêu, nó cũng ăn như thế, thậm chí có phần hơn lão… Lão cũng coi nó như một người bạn, ngày ngày lão tâm sự, trò chuyện với nó như thể nó cũng là một con người. Lão đối với một con chó, một loài vật mà ông giáo cho là sinh ra để người ta giết thịt lại nhân hậu, yêu thương đến vậy thì với con người, lão con đối xử đến như thế nào nữa? Tấm lòng của lão quả thật khiến chúng ta cảm phục.
Đối với cậu Vàng, lão yêu quí như vậy, thì đối với anh con trai của lão, thì tình cảm ấy còn được nhân lên gấp vạn lần. Chỉ vì nhà nghèo, không cưới được vợ cho con, làm con uất chí, bỏ đi đồn điền cao su mà lão tự dằn vặt mình mãi. Để cưới vợ, anh con trai đòi bán mảnh vườn, nhưng lão không cho không phải vì lão muốn giữ mảnh vườn cho lão, mà lão nghĩ nếu cưới vợ về, vườn bán rồi thì ở đâu mà làm ăn sinh sống, và rồi có bán thì cũng làm sao mà đủ tiền. Lão nghĩ thế, nhưng anh con trai có thấu cho lão?Anh bỏ đi đồn điền cao su, để lại lão ở nhà vò võ chờ con.Lão nghĩ tốt, lo cho tương lai con, nhưng khi con trai bỏ đi, lão lại tự dằn vặt mình, đày đọa tinh thần mình.Những câu nói lão nói với cậu Vàng, nhưng lại chất chưa biết bao nhiêu tình cảm nhớ thương cho anh con trai. Lão nói với cậu Vàng đấy, nhưng lại như nói với con mình.Lão làm việc gì, lão suy nghĩ gì cũng là hướng về con trai mình. Tiền bòn vườn lão để dành, không tiêu tới để khi con trai về, lão nhẩm tính sẽ có gần trăm đồng bạc, thêm vào cho con cưới vợ và làm kế sinh nhai.Thế nhưng, lão lại ốm. Một cơn ốm kéo dài buộc lão phải tiêu tới số tiền đó.Chỉ vậy thôi mà lão đã thấy đau lòng.Lão ăn vào tiền của con trai lão – số tiền mà khi con trai về lão định trả con. Điều này làm lão khổ tâm hết sức. Hành động của lão gửi ông giáo mảnh vườn, nhờ ông giáo giữ hộ cũng là để giữ hộ cho con lão: “của mẹ nó thì nó hưởng”. Mọi suy nghĩ, việc làm của lão đều hướng tới con trai. Thậm chí, cái chết của lão cũng là vì con.Lão chết để mở ra đường sống cho con lão, lão chết một cái chết trong sạch để lại tiếng thơm cho con vì lão sống ngày nào là ăn vào tiền, vào đường sống của con ngày ấy. Xưa nay, không ít người cha, người mẹ hi sinh cơm ăn, áo mặc vì con, hi sinh một phần thân thể vì con nhưng hi sinh cả mạng sống của mình như lão Hạc lại là một trường hợp hiếm thấy. Tình yêu con của lão Hạc thật đặc biệt. Không ồn ào, sôi nổi, không thể hiện qua hành động hay lời nói, lão lặng lẽ yêu con trong tâm tưởng, mọi hành động của con lão đều cho là do lão. Là do lão đẩy con tới những hành động ấy rồi tự dằn vặt mình, tự gánh lấy những suy nghĩ, hành động để chuộc lại lỗi lầm. Quả thật, tình yêu thương con của lão khiến chúng thật vô cùng cảm động.
Nhân vật lão Hạc đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc sâu sắc. Đây là một nhân vật điển hình, đại diện cho tầng lớp những người nông dân trong xã hội cũ: tuy đói nghèo nhưng có những phẩm chất cao đẹp. Nam Cao đã rất thành công trong cách xây dựng nhân vật. Thông qua cái nhìn ông giáo – một nhà trí thức, Nam Cao đã gián tiếp thể hiện tấm lòng của mình với người nông dân và đặt ra vấn đề “đôi mắt”: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…”. Tác giả cũng đã sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật rất rõ nét. Tâm lý nhân vật lão Hạc được thể hiện qua những hành động, lời nói của lão, nhiều đoạn đối thoại mà như độc thoại. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng nhiều khẩu ngữ, làm câu chuyện chân thực, sinh động, gần gũi với người nông dân.
Nhân vật lão Hạc quả thật đã để lại trong lòng người đọc ít nhiều suy nghĩ. Qua đó cũng thể hiện tài năng,tấm lòng của Nam Cao. Phải là một cây bút xuất sắc, một nhà văn thấu hiểu, am tường về người nông dân tới tận cùng, dành cho họ những tình cảm yêu mến, trân trọng cảm thông sâu sắc mới viết nên một truyện ngắn hay như thế. Với một nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, Nam Cao đã khẳng định được tên tuổi của mình. Ông đã “khơi được những nguồn chưa ai khơi” và ghi lại trong lòng độc giả những tình cảm yêu mến.
Bài làm
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một truyện cảmđộng về tình cha con của những gia đình Việt Nam mà ở đó “lớp cha trước, lớpcon sau, đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Trong truyện đoạn cảm độngnhất là đoạn “ba ngày nghỉ phép về quê của anh Sáu”.
Năm 1946, năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, anh Sáu lên đường theo tiếnggọi của quê hương. Bấy giờ, bé Thu, con gái anh chưa đầy một tuổi. Chín nămđằng đẳng xa quê, xa nhà, anh Sáu vẫn mong có một ngày trở về quê gặp lại vợcon. Thế rồi, kháng chiến thắng lợi, anh được nghỉ 3 ngày phép về thăm quê, mộtlàng nhỏ bên bờ sông Cửu Long. Về đến nhà, anh tưởng tượng bé Thu – con gái anhsẽ rất vui mừng khi được gặp cha. Giờ đây, nó cũng đã mười tuổi rồi còn gì. Mangmột nỗi niềm rạo rực, phấn chấn, anh nôn nóng cho mau về đến nhà.
Không chờ xuồng cập bến, anh đã nhảy lên bờ vừa bước, vừa gọi: “Thu! Con!” thậttha thiết. Ta co thể tưởng tượng nỗi vui sướng của anh như thế nào. Khi anh vừabước đi, vừa lom khom người xuống đưa tay chờ con. Thế nhưng ngược lại vớinhững điều anh Sáu mong chờ.
Bé Thu tròn mắt nhìn anh ngạc nhiên rồi bỏ chạy. Phản ứng của bé Thu khiến anhSáu sửng sờ, đau khổ. Còn gì đáng buồn hơn khi đứa con mà anh hết lòng thươngyêu và khắc khoải từng ngày để được gặp mặt, giờ đây trở nên xa lạ đến mức phũphàng ấy.
Thế rôì, anh Sáu tìm mọi cách gặp con để làm quen dần vì anh nghĩ rằng khi anhđi nó vừa mấy tháng tuổi nên nó lạ. Anh mong sao nó gọi một tiếng “ba”, vào ăncơm nó chỉ nói trống không “Vô ăn cơm!”
Bữa sau, cũng là ngày phép thứ hai, bé Thu trông hộ mẹ nồi cơm để chị Sáu chạymua thức ăn. Trước khi đi, chị Sáu dặn nó có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nồicơm quá to mà bé thu thì còn nhỏ, vậy mà khi nồi cơm sôi không tìm được cáchnào để chắt nước, loay hoay mãi, nó nhìn anh Sáu một lúc rồi kêu lên: “Cơm sôirồi, chắt nước dùm cái!” anh Sáu vẫn ngồi im, chờ đợi sự thay đổi của nó. Thếnhưng, nó nghĩ ra cách lấy vá múc ra từng vá nước chứ nhất định không chịu gọianh Sáu bàng “Ba”. Con bé thật đáo để!
Đến bữa ăn cơm, anh Sáu gắp cho bé Thu một cái trứng cá to, vàng bỏ vào chén.Lúc đầu nó để đó rồi bất thần hất cái trứng ra làm cơm đổ tung toé. Giận quá,không kìm được nữa, anh Sáu vung tay đánh vào mông nó. Thế là bé Thu vội chạyra xuồng mở “lòi tói” rồi bơi qua sông lên nhà bà ngoại.
Phép chỉ còn ngày cuối cùng, anh Sáu phải trở về đơn vị để nhận nhiệm vụ mới.Bao nhiêu mơ ước được hôn, ôm con vào lòng từ bấy lâu nay của anh Sáu giờ chỉcàng làm cho anh thêm đau lòng và gần như anh không còn để ý đến nó nữa.
Thân nhân, họ hàng đến chia tay anh cũng khá đông nên anh cứ bịn rịn mãi. ChịSáu cũng lo sắp xếp đồ đạc cho chồng, không ai quan tâm bé Thu đang đứng bơ vơmột mình bên cửa nhà. Thì ra nó theo bà ngoại trở về vì bà ngoại sang đây đểtiễn chân anh Sáu. Giờ này, trên gương mặt Thu không còn cái vẻ bướng bỉnh,ương ngạnh nữa, mà thoáng một nét buồn trông đến dễ thương. Nó nhìn mọi người,nhìn anh Sáu. Đến lúc mang ba lô và bắt tay với mọi người, anh Sáu mới nhìnquanh tìm bé Thu. Thấy con, dường như mọi việc trong ba ngày phép hiện lêntrong anh nên anh chỉ đứng nhìn con với bao nỗi xót xa … cuối cùng, anh cũngphải nói lên lời chia tay với con mà không hy vọng bé Thu sẽ gọi một tiếng “ba”thiêng liêng ấy.Thật là đột ngột và không ngờ, bé Thu chạy đến bên anh Sáu vàtiếng “Ba!” được thốt lên thật cảm động biết nhường nào. Nó ôm chầm thật chặtnhư không muốn rời ba nữa. Nó khóc, khóc thật nhiều và thét lên những lời khiếnmọi người xung quanh đều xúc động: “Không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con!”
Sung sướng, hạnh phúc và cũng thật đau lòng, anh Sáu cũng chỉ biết ôm con vàkhóc cùng với con. Rồi cũng đến lúc phải chia tay, thật bịn rịn vô cùng. Vừamới nhận được tiếng “ba” của đứa con thân yêu cũng là lúc phải nghẹn ngào chiatay với con để trở về đơn vị làm tròn trách nhiệm khi đang ở quân ngũ.
Trước kia anh Sáu đã thương con, giờ đây anh càng thương con gấp bội. Bởi lẽanh đã hiểu lí do vì sao bé Thu quyết định từ chối không gọi anh bằng “ba” từba hôm nay.
Làm sao chấp nhận một người xa lạ mà khuôn mặt không giống trong tấm ảnh mà mẹnó thường ngày vẫn nói với nó đó là “ba” được. Chính vết sẹo quái ác kia đã làmcho bé Thu không nhận anh Sáu, hằn học với anh Sáu. Sau khi hiểu rõ nguyên nhâncủa vết sẹo hằn trên gương mặt của ba, bé Thu mới thấy hổ thẹn và ăn năn. Tìnhcảm cha con bỗng dâng đầy, tràn ngập trong lòng em. Tình cảm đó được thể hiệnbằng thái độ, cử chỉ dồn dập, gấp rút khi nó gọi và ôm chầm lấy anh Sáu.] Ba ngày phép ngắn ngủi nhưng lại rấtngặng nề với anh Sáu và bé Thu. Nghịch cảnh này là một trong muôn ngàn nghịchcảnh khác mà đã có biết bao gia đình phải ngậm ngùi vì những ngộ nhận đángthương. Đó cũng là một sự thật đau lòng của nước Việt Nam ta trong những năm kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
|
Bài viết số 6 lớp 9, tập làm văn lớp 9
| 3,830
| |
Bài viết số 6 lớp 9
Hướng dẫn
Nói đến nhà văn Kim Lân người ta sẽ liên tưởng ngay đến một con người mộc mạc của làng quê miền Bắc. Bởi vì hầu như các tác phẩm của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Truyện “Làng” là một tác phẩm khá thành công khi viết về lòng yêu nước, yêu làng của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Truyện được được đăng trên tạp chí văn nghệ năm 1948. Nhân vật chính của truyện là hình ảnh tiêu biểu và chân thực của người nông dân trong mới ngày đầu tiếp xúc với cách mạng, với lòng yêu làng, yêu nước sâu sắc, với sự hồ hởi say mê, tin yêu, chung thuỷ với kháng chiến, với Bác Hồ.
Ông hai nhân vật chính trong truyện là một người yêu làng, yêu nước tình yêu làng của ông có những nét đặc sắc, riêng biệt được thể hiện thành một đức tính đáng quý. Là một nông dân suốt cuộc đời sống ở quê hương, gắn bó máu thịt với từngcon đường, từngnếp nhà, thửa ruộng, từngngọn cỏ, cành cây và biết bao người ruột thịt, xóm giềng, họ hàng gần xa, vậy mà giờ đây vì giặc ngoại xâm, ông 2 phải xa rời quê hương đi tản cư, sống nhờ nơi đất khách quê người. Do đó lòng ông đau đáu nhớ quê. Ban ngày lo bận việc sản xuất, ổn định cuộc sống, chiều rồi buổi tối ông hai lại sang haàg xóm giãi bày nỗi nhớ của mình. Trong câu chuyện, ông không ngớt lời khoe những cái đẹp, điều hay ở quê hương mình. Làng Chợ Dầu quê ông đẹp lắm, đường là phong quang sạch sẽ, cái cổng làng rộng như cổng thanh… Ông khoe cả cái “sinh phần”- lăng mộ- của viên tổng đốc người làng, mặc dầu đó là một chứng tích đau khổ của dân làng, trong đó có ông. Đặc biệt là ông hai khoái nhất khoe và kể nhiều nhất là những ngày đầu CMT8. Quê hương được giải phòng, thoát khỏi ách cươờghào phong kiến và lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Đêm đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài… lại cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân… nghe những chuyện ấy, mọi người đều thông cảm với lòng nhớ quê da diết của ông. Không chỉ nhớ mà ông còn luôn tự hào, cho rằng làng chợ Dầu của ông đẹp nhất nhfi thiên hạ. Đó là một người yêu quê hương tha thiết bằng một tình cảm tự nhiên, hồn nhiên. Tình cảm đó bắt nguồn từ nững kỉ niệm trong cuộc sống hằng ngày,từ những sự vật, con người gắn bó hàng ngày … Tình cảm đó thuầnphác và trong sáng biết bao.
Khi nghe tin làng chợ dầu theo Tây ông hai “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”. Trước hết là sự xót xa của ông về làng mình, sự phản bội của nơi chôn rau cắt rốn của mình. Ông lão tủi hổ, bàng hoàng trước sự việc đó. Tình yêu làng vẫn thắm thiết trong ông, làng chợ Dầu vẫn là nới ông gửi gắm sinh mệnh, danh dự và niềm hãnh diện, tự hào. Vaỵa mà bây giờ… ông lão nghĩ tới việc trở về làng. Song ý nghĩ đó ông gạt phắt đi. Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng chợ Dầu loé lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm. Từ lau ông yêu làng ông, mong được trở về với làng ông song trong ông tình yêu nước mạnh hơn, thiêng liêng hơn: không vì làng mà bro nước, bỏ kháng chiến. Giưũa sự giằng co trong tâm hồn, ông hai đã thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy, nhưng làng theo Tây thì phải thù.. Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì bao giờ dám đơn sai.” Khi ông tâm sự với con, ông Hai muốn bảo connhớ câu”nàh ta ở làng chợ dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự nhắc mình “Ủng hộ Hồ CHí MInh”. Tình quê và lòng yêu nước của những người nông dân ấy rất sâu nặng và thiêng liêng biết bao. Ông hai đã trải qua những buồn vui, đau khổ, những tự hào, chua chát, những nguyện vọng và hi vọng… hài hoà, gắn bó giưũa quê hương và tổ quốc.
Trong cuộc kháng chiên gian khổ ấy thì cách mạng đã đổi đời cho những người nhân dân như ông, ông nguyện đi theo và trung thành với cách mạng. Gặt sangmột bên tình cảm riêng của mình mà đi theo kháng chiến, không chịu theo Tây, sống với Tây. Tình cảm gắn bó với cách mạng, với Bác Hồ của những người nông dân như ông nó chất phác, mộc mạc, sâu sắc, nó xuất phát từ đáy lòng, máu thịt.
Thấy được tình yêu làng, yêu nước của ông hai, ta hiểu và cũng mừng cho sự hớn hở của ông hai khi ngeh tin làng mình theo Tây được cải chính. Tình yêu làng, tình yêu nước lại trở về gắn bó với nhau ngày càng sâu sắc, thắm thiết hơn trong lòng người nông dân chân chất này. Từ ngày ông hai không pảhi dằn vặt trong sự lựa chọn khắc nghiệt giữa làng và nước, cái vui của ông hai là cái vui của một con người yêu quê hương, đất nước sâu sắc. niềm vui khiến ông lão như trẻ con” lật đật,bô bô” kể về làng mình bị đốt nhẵn. Nhà của ông bị cháy rụi mà ông không để í, không đau buồn, ông chỉ biết rằng lúc này ông làm kháng chiến và ông lão bây giờ có thể tự hào, hãnh diện ngồi kể về cái làng chợ dầu kháng chiến của mình.
Vốn là những con người chân thực, chất phác, những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng họ vẫn có sự bỡ ngỡ và lạ lẫm ban đầu. Cảm giác ấy nhanh chóng tan đi, người ông dân đón nhận cách mạng với một tình cảm chân thành một lòng hăm hở. Cuộc đời nông dân Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt mới tươi sáng hơn. Họ nô nức, háo hức hoà chung vào phong trào cách mạng cả nước, họ hăng hái cầm súng bảo vệ quê hương. Cách mạng trở thành một phần máu thịt của người nông dân, có những người như ông hai day dứt, tủi hổ, khổ sợ khi mình bị hiểu lầm là không trung thành với cách mạng song vẫn không bỏ cách mạng. Đó là lòng trung thành, là tình cảm sâu sắc, bền chặt mà người nông dândành cho cách mạng. Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong lòng họ. người nông dân đứng lên kiên quyết giữ làng, giữ nước, đâu còn là hình ảnh con người khổ nhục,khiếp sợ từ tên đầy tớ nhà giàu. Họ- những người như ông hai đứng lên đào hào, đắp luỹ trực tiếp chống lại quân thù. Lòng yêu nước nồng nàn, sự trung thành với cách mạng tất cả trở thánh sức mạnh khiến họ đứng lên bảo vệ quê hương, bảo vệ chính mình. Cách mạng mang đến cho họ cuộc đời mới, họ phải bảo vệ lấy hạnh phúc đó của mình.
Vẻ đẹp tâm hồn của ông hai làng Chợ Dầu tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam tuy trình độ văn hoá thấp nhưng đã có ý thức giác ngộ cao, tha thiết yêu quê hương, Tổ quốc. Nói cách khác, quê hương- Tổ quốc đối với mỗi người Việt Nam chúng ta luôn gắn bó trong niềm tự hào nồng thắm! Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trongtình yêu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà vănhọc thời kháng chiến chống pháp đã trú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý ấy!
Bài viết số 6 lớp 9 đề 2: Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Bài làm
1. Diễn biến tâm trạng của lão Hạc xung quanh việc bán cậu Vàng.
– Tình cảnh túng quẫn ngày càng đe dọa lão Hạc lúc này.
– Giàu lòng tự trọng, không nỡ tiêu phạm vào những đồng tiền cố dành dụm cho đứa con trai vì nghèo mà phẫn chí bỏ làng đi làm.
– Suy tính, đắn đo nhiều lần => Việc rất hệ trọng bởi cậu Vàng là người bạn thân thiết, là vật kỉ niệm của anh con trai còn lại.
– Day dứt ăn năn vì già bằng nấy tuổi mà còn đánh lừa một con chó. Cả đời ông già nhân hậu này nào đã nỡ lừa ai!
– Cười như mếu, đôi mắt ầng ậng nước. Mắt co rúm lại; Vết nhăn xô lại ép cho nước mắt chảy ra; Đầu ngọeo về một bên, miệngmãm mém mếu, hu hu khóc.
=> Một cõi lòng đang vô cùng đau đớn, đang xót xa ân hận.
– Lão Hạc lµ một người sống tình nghĩa, thủy chung, rất trung thực. Đặc biệt ta cµng thấm thía lòng thương con sâu sắc của người cha nghèo khổ
2. Nguyên nhân cái chết của lão Hạc.
– Tình cảnh đói khổ, túng quẫn đã đẩy lão Hạc đến cái chết như một hành động tự giải thoát.
=> Số phận cơ cực đáng thương của những người nông dân nghèo khổ trước CMT8.
– A. Đó là bi kịch của sự đói nghèo.
– B. Đó là bi kịch của tình phụ tử.
– C. Đó là bi kịch của phẩm giá làm người.
– Hay suy nghĩ và tỉnh táo nhận ra tình cảnh của mình lúc này.
– Tính cẩn thận, chu đáo và lòng tự trọng cao => âm thầm chuẩn bị chu đáo cho cái chết của mình từ khi bán cậu Vàng.
3. Thái độ tình cảm nhân vật tôi đối với lão Hạc.
– Thái độ: Say sưa.
– Tình cảm: Xót thương, đồng cảm, an ủi và chia sẽ.
=> Lòng nhân ái dựa trên sự chân tình và đồng khổ, hiểu đời, hiểu người và có lòng vị tha cao cả.
– Ngỡ ngàng: Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn.
– Chứng kiến cái chết đau đớn thì ông giáo lại cảm nhận: Cuộc đời…một nghĩa khác.
– Ông lão là người nhân hậu trung thực chưa đánh lừa một ai; Lần đầu tiên trong đời lão phải lừa cậu Vàng người bạn thân thiết của mình và cậu Vàng
phải chết thì giờ đây lão cũng phải chết theo kiểu một con chó bị lừa.
– Muốn trừng phạt càng chứng tỏ được tính trung
thực, lòng tự trọng đáng quý gây ấn tượng mạnh cho người đọc.
4. Nghệ thuật kể chuyện.
Diễn biến câu chuyện được kề bằng nhân vật tôi: Câu chuyện gần gũi, chân thực dẫn dắt tự nhiên, linh hoạt cốt truyện có thể kết hợp tự nhiện giữa kể và tả với hồi tưởng bộc lộ trử tình.
– Có nhiều giọng điệu: Vừa tự sự vừa trữ tình
Bài viết số 6 lớp 9 đề 3: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện “Chiếc lược ngà"
Bài làm
Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng là một truyện cảmđộng về tình cha con của những gia đình Việt Nam mà ở đó “lớp cha trước, lớpcon sau, đã thành đồng chí chung câu quân hành”. Trong truyện đoạn cảm độngnhất là đoạn “ba ngày nghỉ phép về quê của anh Sáu”.
Năm 1946, năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, anh Sáu lên đường theo tiếnggọi của quê hương. Bấy giờ, bé Thu, con gái anh chưa đầy một tuổi. Chín nămđằng đẳng xa quê, xa nhà, anh Sáu vẫn mong có một ngày trở về quê gặp lại vợcon. Thế rồi, kháng chiến thắng lợi, anh được nghỉ 3 ngày phép về thăm quê, mộtlàng nhỏ bên bờ sông Cửu Long. Về đến nhà, anh tưởng tượng bé Thu – con gái anhsẽ rất vui mừng khi được gặp cha. Giờ đây, nó cũng đã mười tuổi rồi còn gì. Mangmột nỗi niềm rạo rực, phấn chấn, anh nôn nóng cho mau về đến nhà.
Không chờ xuồng cập bến, anh đã nhảy lên bờ vừa bước, vừa gọi: “Thu! Con!” thậttha thiết. Ta co thể tưởng tượng nỗi vui sướng của anh như thế nào. Khi anh vừabước đi, vừa lom khom người xuống đưa tay chờ con. Thế nhưng ngược lại vớinhững điều anh Sáu mong chờ.
Bé Thu tròn mắt nhìn anh ngạc nhiên rồi bỏ chạy. Phản ứng của bé Thu khiến anhSáu sửng sờ, đau khổ. Còn gì đáng buồn hơn khi đứa con mà anh hết lòng thươngyêu và khắc khoải từng ngày để được gặp mặt, giờ đây trở nên xa lạ đến mức phũphàng ấy.
Thế rôì, anh Sáu tìm mọi cách gặp con để làm quen dần vì anh nghĩ rằng khi anhđi nó vừa mấy tháng tuổi nên nó lạ. Anh mong sao nó gọi một tiếng “ba”, vào ăncơm nó chỉ nói trống không “Vô ăn cơm!”
Bữa sau, cũng là ngày phép thứ hai, bé Thu trông hộ mẹ nồi cơm để chị Sáu chạymua thức ăn. Trước khi đi, chị Sáu dặn nó có gì cần thì gọi ba giúp cho. Nồicơm quá to mà bé thu thì còn nhỏ, vậy mà khi nồi cơm sôi không tìm được cáchnào để chắt nước, loay hoay mãi, nó nhìn anh Sáu một lúc rồi kêu lên: “Cơm sôirồi, chắt nước dùm cái!” anh Sáu vẫn ngồi im, chờ đợi sự thay đổi của nó. Thếnhưng, nó nghĩ ra cách lấy vá múc ra từng vá nước chứ nhất định không chịu gọianh Sáu bàng “Ba”. Con bé thật đáo để!
Đến bữa ăn cơm, anh Sáu gắp cho bé Thu một cái trứng cá to, vàng bỏ vào chén.Lúc đầu nó để đó rồi bất thần hất cái trứng ra làm cơm đổ tung toé. Giận quá,không kìm được nữa, anh Sáu vung tay đánh vào mông nó. Thế là bé Thu vội chạyra xuồng mở “lòi tói” rồi bơi qua sông lên nhà bà ngoại.
Phép chỉ còn ngày cuối cùng, anh Sáu phải trở về đơn vị để nhận nhiệm vụ mới.Bao nhiêu mơ ước được hôn, ôm con vào lòng từ bấy lâu nay của anh Sáu giờ chỉcàng làm cho anh thêm đau lòng và gần như anh không còn để ý đến nó nữa.
Thân nhân, họ hàng đến chia tay anh cũng khá đông nên anh cứ bịn rịn mãi. ChịSáu cũng lo sắp xếp đồ đạc cho chồng, không ai quan tâm bé Thu đang đứng bơ vơmột mình bên cửa nhà. Thì ra nó theo bà ngoại trở về vì bà ngoại sang đây đểtiễn chân anh Sáu. Giờ này, trên gương mặt Thu không còn cái vẻ bướng bỉnh,ương ngạnh nữa, mà thoáng một nét buồn trông đến dễ thương. Nó nhìn mọi người,nhìn anh Sáu. Đến lúc mang ba lô và bắt tay với mọi người, anh Sáu mới nhìnquanh tìm bé Thu. Thấy con, dường như mọi việc trong ba ngày phép hiện lêntrong anh nên anh chỉ đứng nhìn con với bao nỗi xót xa… cuối cùng, anh cũngphải nói lên lời chia tay với con mà không hy vọng bé Thu sẽ gọi một tiếng “ba”thiêng liêng ấy.Thật là đột ngột và không ngờ, bé Thu chạy đến bên anh Sáu vàtiếng “Ba!” được thốt lên thật cảm động biết nhường nào. Nó ôm chầm thật chặtnhư không muốn rời ba nữa. Nó khóc, khóc thật nhiều và thét lên những lời khiếnmọi người xung quanh đều xúc động: “Không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con!”
Sung sướng, hạnh phúc và cũng thật đau lòng, anh Sáu cũng chỉ biết ôm con vàkhóc cùng với con. Rồi cũng đến lúc phải chia tay, thật bịn rịn vô cùng. Vừamới nhận được tiếng “ba” của đứa con thân yêu cũng là lúc phải nghẹn ngào chiatay với con để trở về đơn vị làm tròn trách nhiệm khi đang ở quân ngũ. Trước kia anh Sáu đã thương con, giờ đây anh càng thương con gấp bội. Bởi lẽanh đã hiểu lí do vì sao bé Thu quyết định từ chối không gọi anh bằng “ba” từ ba hôm nay.
Làm sao chấp nhận một người xa lạ mà khuôn mặt không giống trong tấm ảnh mà mẹnó thường ngày vẫn nói với nó đó là “ba” được. Chính vết sẹo quái ác kia đã làmcho bé Thu không nhận anh Sáu, hằn học với anh Sáu. Sau khi hiểu rõ nguyên nhâncủa vết sẹo hằn trên gương mặt của ba, bé Thu mới thấy hổ thẹn và ăn năn. Tìnhcảm cha con bỗng dâng đầy, tràn ngập trong lòng em. Tình cảm đó được thể hiệnbằng thái độ, cử chỉ dồn dập, gấp rút khi nó gọi và ôm chầm lấy anh Sáu.] Ba ngày phép ngắn ngủi nhưng lại rấtngặng nề với anh Sáu và bé Thu. Nghịch cảnh này là một trong muôn ngàn nghịchcảnh khác mà đã có biết bao gia đình phải ngậm ngùi vì những ngộ nhận đáng thương. Đó cũng là một sự thật đau lòng của nước Việt Nam ta trong những năm kháng chiếnchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Nguồn:
|
Bài viết số 6 lớp 9
| 3,025
| |
Bài viết số 6 văn mẫu lớp 8, văn nghị luận
Hướng dẫn
VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 6 – VĂN NGHỊ LUẬN
(Làm tại lớp)
A. YÊU CẦU
– Vận dụng kĩ năng trình bày luận điểm vào việc viết bài văn chứng minh (hoặc giải thích) một vấn đề xã hội hoặc văn học gần gũi với các em.
– Tự đánh giá chính xác hơn trình độ tập làm văn của bản thân, từ đó, rút ra những kinh nghiệm cần thiết để các bài làm văn đạt kết quả tốt hơn.
B. GỢI Ý MỘT SỐ ĐỀ BÀI ĐỂ BÀI THAM KHẢO
Đề 1. Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước.
Đề 2. Từ bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ mối quan hệ giữa “học” và “hành”.
Đề 3. Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?
Gợi ý
a) Lưu ý những Yêu cầu nêu trong SGK (trang 85).
b) Những vấn đề nêu ra trong đề bài tham khảo là những nội dung các em được luyện tập trước đó. Lần này, các em phải kết hợp trình bày nhiều luận điểm nối tiếp nhau để thành một bài tập làm vãn (kiểu bài chứng minh hoặc giải thích).
* Ví dụ, ở để 1 có thể đưa ra các luận điểm sau:
– Giới thiệu văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ và vai trò của những người lãnh đạo anh minh.
– Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đểu là những người lãnh đạo anh minh. Trước hết, cả hai đều là những người có lòng yêu nước thiết tha, căm thù sâu sắc: Lí Công Uẩn dời đô vì muốn đất nước hưng thịnh dài lâu, Trần Quốc Tuấn yêu nước đến “thường tới bữa quên, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa ; chỉ cảm tức chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”.
– Nghiêm khắc phê phán những điểu sai trái, khồng có lợi cho quốc gia: Lí Công Uẩn phê phán hai triều Đinh, Lê không biết nhìn xa trông rộng mà dời đô khiến cho muôn dân cơ cực; Trần Quốc Tuấn phê phán tướng sĩ không biết lo cho vận mệnh đất nước, chỉ ham ăn chơi hưởng lạc.
– Cả hai đều là những người sáng suốt, mưu lược: Lí Công Uẩn nhìn ra Thăng Long là nơi thuận lợi để đóng đô, Trần Quốc Tuấn khích lệ tướng sĩ lòng tự hào dân tộc, tự trọng cá nhân, ý chí diệt giặc cứu nước, viết Binh thư yếu lược để tướng sĩ học tập binh pháp.
– Hai vị có công đánh giặc cứu nước và xây dựng quốc gia hưng thịnh, bển vững.
* Ví dụ. ở đề 2 có thể đưa ra các luận điểm sau:
– Hiểu được: “hành” là thực hành, luyện tập, áp dụng lí luận vào thực tiễn; “học” là nắm lí thuyết, nắm kiến thức.
– “Học” và “hành” phải đi đôi với nhau, quan hệ gắn bó, hỗ trợ nhau.
– “Học” mà không “hành” thì chỉ là lí thuyết suông, là học không có mục đích.
– “Hành” mà không “học” thì làm sẽ không biết đường hướng, phải mày mò, mất nhi^u thời gian và dễ sai lệch mục đích.
Bài làm
Bài viết số 6 lớp 8 đề 1: Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước.
Đối với một quốc gia, nhắc đến những nhà lãnh đạo đất nước là nhắc đến những người đứng đầu bộ máy hành chính nhà nước hay tổ chức quân sự, văn hoá…
Đứng trên cương vị một nhà lãnh đạo, trước hết họ phải là những người có tầm nhìn xa trông rộng, nhận định đúng tình hình đất nước, từ đó xác định đúng nhiệm vụ của cả dân tộc.
Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đều là những nhà lãnh đạo tài ba, uyên bác thông hiểu kim cổ đông tây. Vị vua đầu tiên của triều Lý đã nhắc đến gương chuyển đô của vua Bàn Canh nhà Thương, nhà Chu. Trần Quốc Tuấn lại nêu gương những anh hùng hào kiệt, biết xả thân vì chủ tướng vì đất nước: Do Vu, Dự Nhượng, Kỉ Tín,… Có thể nói, biết “ôn cố” để “tri tân” là một trong những tố chất không thể thiếu của một nhà lãnh đạo. Và từ việc “nhớ chuyện cũ”, các nhà lãnh đạo tài ba đã thể hiện thiên năng “biết chuyện mới, chuyện đời nay” rất tài tình.
Trần Quốc Tuấn cũng vậy. Từ thực tế của việc giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta lần một và thái độ của chúng hiện nay, ông đã thấu rõ nguy cơ của một cuộc chiến chống xâm lược. Sang nước ta, quân Nguyên Mông “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt Tể phụ”, “đi lại nghênh ngang”, bắt dân ta cống nạp khoáng sản, vàng bạc.. Vậy rõ ràng, chúng chưa hề thấm thía bài học từ thất bại của cuộc xâm lược lần một và đang mưu mô cuộc chiến tranh ăn cướp lần hai.
Giặc như vậy còn lực lượng quân sĩ ta thì sao? Vị nguyên soái lỗi lạc thêm một lần đau xót khi chứng kiến thực cảnh binh sĩ dưới quyền lơ là mất cảnh giác trước nguy cơ mất nước. Họ “hoặc thích chọi gà, hoặc mê tiếng hát”, chơi cờ… Ông cay đắng chỉ ra một điều tất yếu là khi giặc đến những thú vui ấy chỉ trở thành tai họa “cựa gà trống không đâm thủng áo giáp của giặc”, “tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai”, “mẹo đánh cờ không thể dùng làm mưu lược nhà binh”…
Từ việc nhìn nhận thấu suốt tình hình đất nước, các nhà lãnh đạo anh minh đều xác định rõ nhiệm vụ của quân và dân. Điều quan trọng là họ có những quyết định đúng đắn, những hành động táo bạo để đưa đất nước đển được bến bờ của sự bình yên và phát triển.
Lí Thái Tổ xác định nhiệm vụ hiện tại là cần dời đô khỏi Hoa Lư. Nhưng dời đô đến đâu? “Thành Đại La.. là nơi trung tâm trời đất,có thế rồng cuộn hổ ngồi lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta chỉ có nơi đây là thánh địa”. Từ việc có ý thức sâu sắc ưu thế của thành Đại La đối với việc phát triển đất nước, Lí Thái Tổ đã có quyết định đúng đắn là thiên đô về mảnh đất văn hiến này.
Trần Quốc Tuấn trên cương vị Tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông đã khẳng định ý chí đánh giặc của toàn dân tộc đồng thời khuyên khích, động viên tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Ông khuyên quân sĩ phải biết “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”, phải biết ra sức tập luyện để sẵn sàng chiến đấu. Không chỉ vậy, ông còn soạn thảo “Binh thư yếu lược” làm sách lược cho binh sĩ tập luyện, rèn quân.
Bài viết số 6 lớp 8 đề 2: Từ bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ mối quan hệ giữa “học” và “hành”.
“Học để hành,học với hành phải đi đôi.Học mà không hành thì học vô ích.Hành mà không học thì hành không trôi chảy”., phải chăng lời nó của bác chỉ là suông vậy thôi sao, nó không có ý nghĩa hay một mối quan hệ nào giữa học và hành. Không đâu, học và hành luôn luôn đi dôi với nhau.
Nhiều năm gần đây, đất nước mở cửa, ta luôn luôn tiếp nhận các phương pháp học mới của nước ngoài. Nhưng những phương pháp này hầu như chưa đạt dến hiệu quả, yêu cầu trình độ đủ để phát triển đất nước.
Nhiều thầy cô giáo vẫn lúng túng trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá lý thuyết qua thực tiễn… Kết quả là, vẫn còn tình trạng các bậc phụ huynh và học sinh kêu trời vì mớ lý thuyết và bài tập nặng nề mà thầy cô giáo giao cho.
Và hậu quả sâu xa hơn là, có những học sinh kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều thủ khoa vẫn chưa biết việc chọn trường chọn ngành của mình đã đúng hay chưa…
Để giúp vua Quang Trung trị nước, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã trình lên vua một bài tấu, trong đó phần cuối, ông đã bàn về phép học( Luận học pháp).”Học phải rộng sau đó tóm gọn theo điều học mà làm”. Rõ ràng từ xưa ông cha ta đã đề cao việc học phải đi đôi với hành.
Trước hết ta cần phải hiểu học và hành là gì. Học là tiếp thu kiến thức đã được tích lủy trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tiếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước. Học là trao dồi kiến thức, mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của mình, không để tụt lùi, lạc hậu, học là tìm hiểu, khám phá những tri thức cuả loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ. Còn hành nghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết cho thực tiễn đời sống. Nhưng nếu không khéo, không đưa ra điều mình học mà thực hành hợp lý thì khác nào ta chính là kẻ phá hoại mục đích của việc học. bởi vậy học và hành là mũi tên hai chiều nhắm đến cùng một cái đích. Nếu chỉ cần thiếu đi một chiều, thì chiều kia cũng sẽ chẳng có tác dụng gì.
Hiện nay tỉ lệ học sinh giỏi, đậu đại học, tốt nghiệp đại học loại giỏi, được cấp bằng thạc sĩ ngày ngày càng nhiều, không thua kém gì các nước trong khu vực. Song thực tế cho thấy khả năng và trình độ của không ít người chưa thực sự ngang tầm với học vị mà họ có được. Đó là do cái lối học vẹt, cái lối học hình thức, lối học cầu danh vọng mà La Sơn Phu Tử đã đề cập tới ở bài:”bàn luận về phép học”.Học phải đúng cách thì mới có thể đạt hiệu quả. Nhũng điểm số, những thành tích trong nhà trường chỉ là phương tiện để động viên, để khích lệ tinh thần học tập chăm chỉ của chúng ta mà thôi.
Vậy học với hành quan hệ thế nào với nhau? “Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc.Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm”. Đúng thế, nhưng đó là cách học thời xưa của La Sơn Phu Tử. Còn bây giờ ta phải học thế nào? Học Tiếng việt, học văn để hiểu rõ thêm về văn hoá của dân tộc/, góp phần xây dựng tinh hoa văn hoá của đất nước. Người biết ứng dụng văn chương vào trong giao tiếp, họ sẽ được mọi người kính nể. Học khoa học để có thể giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên, các thành tựu khoa học kĩ thuật trong đời sống. Một ví dụ nhỏ: học được thành phần các chất dinh dưỡng trong thức ăn, về nhà chúng ta áp dụng vào bữa cơm gia đình, nâng cao chất lượng dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu thiết thực của cơ thể. Học ngoại ngữ để ta biết them nhiều thứ tiếng trên thế giới, ta có thể dễ dàng giao tiếp với người nước ngoài, không chỉ vậy ta còn có thể học hỏi cách nhanh chóng nền văn minh của các nước khác…
Xác định được tầm quan trọng của việc học trong nhà trường vẫn chưa đủ. Chúng ta còn cần phải học thêm các kiến thức khác chung quanh ta. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn trong học tập, ta còn phải chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài, không có kiểu vừa chơi vừa học, làm ồn lớp,mất trật tự. Đặc biệt là phải biết vận dụng bài học vào ngay trong cuộc sống theo cách hiểu của mình. Có như vậy hiệu quả học, hành mới được nâng cao.
Học mà không hành chẳng khác gì chuẩn bị hết tất cả các vật liệu(gạch, xi măng, cát,…) mà không bắt tay vào thi công. Cũng vậy hành mà không học như muốn xây nhà mà thiếu vật liệu, thì ngôi nhà có hoàn thành chắc chắn được hay không? Thực tế, có nhiều anh chị sinh viên ra trường khi trong tay có bằng kế toán lại đi làm Marketting, học quản trị kinh doanh lại đi làm công nghệ thông tin… Vậy chẳng khác nào phá huỷ ngôi nhà kiến thức của chính mình?
Vì vậy, mỗi người cần chọn cho mình một lối đi vào đời, theo từng ngành nghề mà mình yêu thích. Đừng học một đàng hành một nẻo. Vừa phí công học tập, lại không giúp ích gì được cho nước nhà.
Bài viết số 6 lớp 8 đề 3: Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?
Câu nói của M.Gorki vận dụng lối diễn đạt rất logic: Hãy yêu sách – sách là tri thức – tri thức là con đường sống. Vậy nhà văn Nga lỗi lạc muốn nhắn nhủ với người đọc rằng: Hãy biết yêu sách vì đó là con đường sống của nhân loại.
Vậy sách là gì? Trước đây, khi chưa có giấy, người cổ đại thường viết lại những hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân lên giấy papyrus (người Ai Cập), mai rùa, thân trúc (người Trung Quốc), đất sét, xương động vật (người Lưỡng Hà). Đó là cách đo đạc ruộng đất, cách xây dựng Kim tự tháp, các cuộc chiến tranh… Khi giấy viết ra đời, những hiểu biết ấy lại được sao chép và lưu truyền rộng rãi. Chúng được gọi là sách – là nơi lưu giữ những kho tàng tri thức nhân loại.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, sách trở thành nơi kết tụ những hiểu biết phong phú, đa dạng của con người về tự nhiên và xã hội. Những công thức toán học, những thí nghiệm vật lí, hóa học., giúp con người khám phá thế giới còn được lưu lại trong sách. Nhờ sách, ta biết đến ơclit, Pitago, Edison, Giêm Oát.. biết đến những vườn treo, những Kim tự tháp, những bóng đèn điện, đầu máy hơi nước… Cũng nhờ sách, ta biết đến những đất nước xa xôi, hiểu được các phong tục tập quán, các nền văn hóa, các mối quan hệ xã hội phong phú, đa dạng… Đó là dân tộc Nhật giàu ý chí nghị lực; dân tộc Trung Hoa thâm thúy, sâu sắc; con người Vương quốc Anh lại “phớt Ăng-lê” rất độc đáo… Đó còn là đạo Phật từ bi hỉ xả, là đạo Lão thần bí cao siêu, đạo Thiên Chúa bác ái nhân văn.. Có thể nói, sách là nguồn tri thức vô tận giúp con người hiểu biết tận tường về thế giới bao la.
Nhưng tại sao chỉ có tri thức – chỉ có sách mới là con đường sống?
Sống là quá trình con người tác động vào thế giới tự nhiên và xã hội để tạo ra giá trị vật chất và tinh thần phục vụ đời sống cho bản thân và xã hội. Vậy muốn chinh phục đối tượng ấy phải có hiểu biết về chúng và tri thức chính là phương tiện giúp đỡ con người trên hành trình gian khó ấy.
Thật vậy, muốn trồng được cây lúa cho hạt thóc hạt gạo, người nông dân phải có hiểu biết về giống lúa, về cách cấy cày, chăm bón, gặt hái. Muốn làm được chiếc máy, người công nhân phải biết cách chế tạo các chi tiết máy, cách lắp ráp các bộ phận… Muốn dựng được một tiết mục múa người nghệ sĩ phải hiểu biết về văn hóa, về các động tác múa, về âm nhạc,… Muốn quản lí một doanh nghiệp, người giám đốc phải hiểu về cách thức quản lí, có tri thức về vấn đề nhân sự, về công việc… Có thể nói, tri thức là cây cầu dẫn đến sự sống và những cuốn sách đã hiến thân mình để làm nên những nhịp cầu ấy.
Sách có vai trò quan trọng như vậy, vậy chúng ta cần có thái độ như thế nào với sách? M.Gorki đã nhắn nhủ: “Hãy yêu sách”. Đúng vậy, hãy biết nâng niu, gìn giữ những cuốn sách và đọc hiểu chúng. Cha ông ta từng nói: “Mười kho vàng không bằng một nang sách”. Chính bởi những điều quí giá mà con người thu lượm được khi đọc sách. Và điều quan trọng là chúng ta cần biết cách đọc sách cũng như chọn lựa sách để đọc. Đọc sách có phương pháp mới giúp ta đọc nhanh, đọc nhiều và nắm được thông tin cần thiêt. Đọc sách cũng cần chọn lọc để tránh đọc phải sách mang nội dung xấu.
Là những người còn đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa có nhiều hiểu biết cũng như kinh nghiệm cuộc sống, với người học sinh, việc đọc sách vô cùng quan trọng. Chúng ta đọc sách giáo khoa, đọc các sách tham khảo, đọc báo… Đó chính là chìa khóa giúp chúng ta mở cánh cửa vào cuộc sống.
|
Bài viết số 6 văn mẫu lớp 8, văn nghị luận
| 3,098
| |
Bài viết số 7 lớp 8 đề 1: Hãy nóí không với các tệ nạn.
Hướng dẫn
Chúng ta đang sống trong một đất nước không ngừng phát triển trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ. Để làm được điều đó,chúng ta phải vượt qua các trở ngại,khó khăn. Một trong số đó là các tệ nạn xã hội như: ma túy, cờ bạc, văn hóa phẩm đồi trụy. Nhưng đáng sợ nhất chính là ma tuý. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về tác hại to lớn của ma túy để phòng tránh cho bản thân, gia đình và xã hội.
Để phòng chống một tệ nạn thì chúng ta cần biết rõ về tệ nạn đó. Ma túy là một loại chất kích thích, gây nghiện có nguồn gốc từ cây túc anh hoặc nhựa cây thuốc phiện được trồng ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc Việt nam hay từ lá, hoa, quả cây cần sa được trồng ở các tỉnh giáp ranh biên giới Việt Nam – Campuchia. Đặc biệt là ma túy có một ma lực dẫn dụ ghê gớm, khiến người bị dính vào không thể cưỡng lại được, chẵng khác gì “ma đưa lối, quỷ đưa đường”. Ma túy tồn tại ở nhiều dạng như tép, nước, bột, hồng phiến, bạch phiến, thuốc…và được sử dụng bằng nhiều hình thức hút, chích, hít…Nó được coi là tệ nạn đáng sợ nhất vì sức dẫn dụ con người không kể tuổi tác và khả năng gây nghiện nhanh chóng. Hơn thế nữa, ma túy còn là ngọn nguồn của những tệ nạn xã hội khác.
Trước tiên, nó gây hại trực tiếp đến người nghiện. Về sức khỏe, ma túy gây ra các bệnh khôn lường cho cơ thể. Người nghiện sẽ bị hư hại niêm mạc mũi nếu dùng ma túy theo dạng hít, có khả năng ngưng thở đột ngột, gây nguy hiểm tính mạng. Còn dùng theo dChúng ta thường nghe nói ma túy rất có hại nhưng mấy ai hiểu được tác hại thật sự của nó! ạng hút thì cơ quan chịu ảnh hưởng là phổi. Phổi sẽ bị tổn thương nghiêm trọng, gây ung thư phổi, viêm đường hô hấp, nhiễm trùng phổi…Và nguy hiểm nhất là dùng ma túy dạng chích, đây là con đường ngắn nhất dẫn đến AIDS. Người tiêm đâu có biết rằng trên mũi kim là hàng vạn quả cầu gai gây căn bệnh thế kỉ hiểm nghèo, cứ thế họ truyền tay nhau tiêm chúng, đưa virus vào máu của mình. Ở những tụ điểm tiêm chích, họ còn pha thêm các chất bẩn gây áp-phê, hậu quả là các con nghiện phải cưa cụt tay chân hay nhiễm trùng máu. Ấy là chưa kể đến tình trạng bị chết do sốc thuốc. Câu chuyện “cái chết trắng” của nhà tỉ phú trẻ Raphael, chết ngay bên đường do dùng bạch phiến quá liều. Những người nghiện lâu ngày rất dễ nhận ra, người gầy gò, da xám, tóc xơ xác. Hệ thần kinh bị tổn thương nặng do ảnh hưởng của thuốc, kém tập trung, suy nghĩ, chán nản và thiếu ý chí vươn lên nên việc cai nghiện cũng khó khăn. Không chỉ dừng ở đó, tiêm chích ma túy còn hủy hoại con đường công danh, sự nghiệp của người nghiện. Đã có bao bài học, biết bao câu chuyện kể về những công nhân, kĩ sư… đã gục ngã trước ma túy, để rồi bị bạn bè, đồng nghiệp xa lánh, con đường tương lai tươi sáng bỗng vụt tắt, tối tăm. Và nhất là những bạn học sinh, tuổi đời còn quá dài mà chỉ vì một phút nông nỗi, bị bạn bè rủ rê đã đánh mất tương lai. Thật đáng thương!
Không dừng lại ở đó, ma túy còn như một con sâu đục khoét xã hội. Khiến cho an ninh, trật tử, quốc phòng bất ổn. Khi muốn thõa mãn cơn ghiền, con nghiện không từ một thủ đoạn, hành vi trộm cắp, giết người nào để có tiền mua heroin, hoặc nổi máu anh hùng xa lộ, đua xe, lạng lách. Những con nghiện mà không được gia đình chấp nhận sẽ đi lang thang làm mất vẻ mỹ quan,văn minh lịch sự của xã hội,vật vờ trên những con đường. Không chỉ thế, nhà nước, xã hội còn phải tốn tiền để tổ chức lực lượng phòng chống và giải quyết những thiệt hại do con nghiện gây ra. Mất tiền xây dựng các trại cải tạo, giáo dục, điều trị cho người nghiện. Một thiệt hại lớn mà ma túy gây ra cho nền kinh tế quốc gia là ngành du lịch bị giảm sút. Các bạn thử nghĩ xem, có ai dám đi du lịch sang một đất nước, một thành phố mà toàn người bị HIV/AIDS. Rồi họ sẽ nghĩ gì về nước ta, họ sẽ nhìn nước ta với ánh mắt khinh thường, chẳng ai dám đầu tư vào đây nữa. Quả là một mất mát, thiệt hại cho nước nhà!
Nhưng các bạn đừng lo, nếu chúng ta biết cách phòng chống thì những mối nguy ngại trên sẽ được giải quyết, sẽ không còn tệ nạn ma túy nữa. Mỗi người phải có trách nhiệm, tích cực tuyên truyền, giáo dục cho người thân mình sự nguy hiểm của ma túy để không ai bị chết vì thiếu hiểu biết. Luôn tránh xa với ma tuý bằng mọi cách, mọi người nên có ý thức sống lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, luôn tỉnh táo, đủ bản lĩnh để chống lại mọi thử thách, cám dỗ của xã hội. Đồng thời cũng lên án, dẹp bỏ tệ nạn bằng cách không tiếp tay cho chúng. Nếu lỡ vướng vào thì phải dùng nghị lực, quyết tâm, vượt lên chính mình để từ bỏ con đường sai trái. Bên cạnh đó nhà nước cũng phải đưa những người nghiện vào trường cai nghiện, tạo công ăn việc làm cho họ, tránh những cảnh ” nhàn cư vi bất thiện”, giúp họ nhanh chóng hoà nhập với cuộc sống cộng đồng, không xa lánh, kì thị họ.
Ma túy quả là một con quỷ khủng khiếp nhất của gia đình và xã hội, còn hơn cả bệnh tật và đói khát. Chúng ta vẫn có thể phòng trừ nanh vuốt của con quỷ dữ này. Mỗi chúng ta phải nêu cao cảnh giác, chung tay ngăn chặn nó, mở rộng vòng tay đỡ lấy những người nghiện, đừng để họ lún quá sâu vào bóng tối. Đặc biệt là học sinh chúng ta phải kiên quyết nói không với ma túy, xây dựng một mái trường, một xã hội không có ma túy.
Bài viết số 7 lớp 8 đề 2: Văn học và tình thương.
Bài làm
Mở bài
– Vẻ dẹp của văn chương là hướng người đọc đến với sự hiểu biết và tình yêu thương.
– Những tác phẩm học trong chương trình Ngữ Văn giúp ta hiểu rằng: văn học của dân tộc ta luôn tôn vinh những ai biết “Thương người như thể thương thân” và luôn phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước hoạn nạn của đồng loại.
Thân bài
* Văn học dân tộc ta đã ca ngợi những ai có lòng nhân ái “Thương người như thể thương thân”.
– Tình cảm xóm giềng:
+ Ông giáo với lão Hạc
+ Bà lão láng giềng với vợ chồng chị Dậu
– Tình cảm gia đình:
+ Tình cảm vợ chồng: Chị Dậu ân cần chăm sóc chồng, quên mình bảo vệ chồng
+ Tình cảm cha mẹ với con cái
Cha mẹ thương con: Lão Hạc thương con, Giangvangiang yêu con gái nuôi Cô-dét,…
Con cái thương bố mẹ: Bé Hồng thông cảm, bênh vực, bảo vệ mẹ; cái Tí hết lòng thương yêu bố mẹ mình trong tác phẩm “Tắt đèn”,..
* Văn học phê phán những kẻ bất nhân
+ Tội ác của thực dân Pháp với nhân dân ta nói riêng, nhân dân Đông Dương nói chung trong văn bản “Thuế máu”
+ Bản chất độc ác của bọn cường hào địa chủ Nghị Quế
Kết bài
Văn học đã khơi dậy tình cảm yêu ghét đúng đắn cho con người để con người sống tốt đẹp hơn.
Bài viết số 7 lớp 8 đề 3: Tuổi trẻ và tương lai đất nước
Bài làm
Mở bài
Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Bác đã viết thư cho các cháu học sinh, trong đó có câu:
” Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.”
Thân bài
– Giải thích câu nói:
+ Dùng những hình ảnh đẹp đẽ, Bác đã cho ta hiểu “công học tập” của học sinh hôm nay sẽ ảnh hưởng đến tương lai đất nước.
+ Bác khẳng định vai trò của tuổi trẻ với tương lai dân tộc, việc học tập của học sinh là quan trọng với đất nước.
+ Như vậy: Bác động viên các cháu học tập tốt.
– Vì sao việc học tập của thế hệ trẻ lại ảnh hưởng đến tương lai đất nước?
+ Thanh niên học sinh hôm nay sẽ là thế hệ tiếp tục bảo vệ, xây dựng đất nước sau này.
+ Vốn tri thức được học và nếp đạo đức được nhà trường giáo dục là quan trọng, cơ bản để tiếp tục học cao, học rộng, đem ra thực hành trong cuộc sống khi trưởng thành.
+ Một thế hệ trẻ giỏi giang, có đạo đức hôm nay hứa hẹn có một lớp công dân tốt trong tương lai gần. Do đó, việc học hôm nay là rất cần thiết.
+ Thế giới không ngừng phát triển, muốn “sánh vai các cường quốc thì đất nước phải phát triển về khoa học kĩ thuật, văn minh – điều đó do con người quyết định mà nguồn gốc sâu xa là từ việc học tập, tu dưỡng thời trẻ.
– Việc học tập của tuổi trẻ tác động đến tương lai đất nước như thế nào?
+ Ngày xưa: những người tài như Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,… từ thời trẻ đã chăm chỉ luyện rèn, trưởng thành lập những chiến công làm rạng danh đất nước.
+ Ngày nay: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng. Các nhà khoa học xã hội có nhiều đóng góp cho đất nước trong mọi lĩnh vực như nhà bác học Lương Định Của, tiến sĩ Tạ Quang Bửu, anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa,…
Kết bài
Làm thế nào để thực hiện lời dạy của Bác?
– Mỗi học sinh phải hiểu lời Bác, chăm chỉ học hành, rèn luyện đạo đức.
– Nhà trường phải đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ về tài, đức.
|
Bài viết số 7 lớp 8 đề 1_ Hãy nóí không với các tệ nạn.
| 1,834
| |
Bài viết số 7 lớp 9 hay nhất
Hướng dẫn
Bài viết số 7 lớp 9 đề 1: Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương.
Bài làm
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – đã cống hiến trọn đời mình vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Người ra đi năm 1969, để lại biết bao nỗi thương nhớ và xót xa cho Tổ quốc. Có nhiều nhà thơ đã viết bài thơ tưởng nhớ về Bác, và “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một trong những bài thơ xuất sắc nhất. Chúng ta hãy cùng đến với bài thơ để cảm nhận được cảm xúc ấy.
Năm 1976, sau ngày đất nước ta được hoàn toàn giải phóng, lăng Bác được khánh thành. Nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam đã ra thăm lăng Bác. Cảm xúc dâng trào, nhà thơ đã làm một bài thơ như một lời bộc bạch chân tình của hàng triệu người con miền Nam với Bác. Đây là một bài thơ đặc sắc, giàu ý nghĩa, làm cho người đọc xúc động.
Hai khổ thơ đầu là những dòng cảm xúc ban đầu của nhà thơ khi được lần đầu đến thăm lăng Bác: một chút tự hào, xen lẫn vui sướng, lẫn xúc động khi sắp đc kề cận bên Người cha thân yêu của dân tộc. Bằng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, nhôn ngữ bình dị mà hàm súc, tinh tế, đoạn thơ đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc vô cùng sâu sắc.
Hai khổ cuối bài thơ như những nốt nhạc du dương, trầm bổng, réo rắt như tấm lòng tha thiết yêu mến của nhà thơ với Bác. Bằng những ngôn từ ẩn dụ đặc sắc,từ ngữ bình dị mà giàu sức gợi, câu thơ đã khơi gợi trong lòng người đọc những rung động sâu sắc và đáng quý.
Bài thơ được phân chia theo bố cục thời gian, và khổ thơ đầu tiên nói về cảm xúc của tác giả khi nhìn thấy lăng Bác từ xa.
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”
Câu thơ đầu tiên thật ngắn gọn nhưng nó lại là một lời tâm sự chân tình của nhà thơ cũng như hàng triệu người con miền Nam. Một tiếng “con” thật ấm áp, gần gũi, thể hiện lòng kính yêu to lớn đối với Bác. Bác thật gần gũi với người dân, như là một vị cha già của dân tộc. “Con ở miền Nam” – mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi đau và một niềm tự hào. Miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam đi trước về sau, miền Nam thành đồng Tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo trở về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Nhà thơ mong nhìn thấy Bác một lần sau khi đất nước đã giải phóng nhưng thật đau xót, Bác đã không còn. Vì vậy, từ “viếng” đã được nhà thơ thay bằng từ “thăm” để giảm nhẹ nỗi đau cũng như bày tỏ niềm tin rằng Bác vẫn sống mãi.
“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”
Đập vào mắt nhà thơ là hình ảnh hàng tre xanh ngắt trước lăng Bác. Cây tre – biểu tượng cho sự bất khuất, kiên cường nhưng giản dị, thanh cao của người dân Việt Nam – đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lòng tác giả trước khi bước vào lăng Bác. Hàng tre bát ngát – Hàng tre xanh xanh – Hàng tre Việt Nam: hàng tre bao đời như một dấu hịêu đặc biệt của dân tộc. Hàng tre trùm bóng mát rượi lên bao thế hệ cuộc đời, hàng tre mang bao phẩm chất của con người Tổ quốc ta: dẻo dai, đoàn kết, bất khuất, kiên cường. Ở Bác có tất cả những gì mà những con người Việt Nam từng có, cũng cái dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng cái kiên cường “đứng thẳng hàng” trong “bão táp mưa sa” ấy. Dân tộc ta thật sự có sức sống mãnh liệt, cho dù những thử thách của thiên nhiên, của lịch sử có khắc nghiệt cách mấy thì vẫn kiên cường chống chọi, và vẫn cố gắng đứng thẳng chứ nhất quyết không chịu bị bẻ cong. Hàng tre đứng đó, bên lăng Bác như ru giấc ngủ ngàn thu của Bác, gắn bó mãi mãi với Bác như dân tộc Việt Nam vẫn kính trọng Bác mãi mãi.
Đến gần lăng Bác, xếp hàng vào viếng thì tác giả có thêm nhiều cảm xúc mới.
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
Hai câu thơ sinh động với nhiều hình ảnh gợi cảm được tạo nên từ những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi với nhau. Một mặt trời thực đi qua trên lăng, là mặt trời của tự nhiên, của muôn loài, soi sáng cho muôn loài, đem lại sức sống cho thế giới. Từ mặt trời thật ấy, một mặt trời ẩn dụ khác hiện ra trong lăng, rất đỏ. Bác nằm trong lăng với ánh sáng đỏ xung quanh như một mặt trời. Bác tồn tại vĩnh cửu trong lòng mỗi người dân Việt Nam như sự tồn tại của một mặt trời thật. Bác soi sáng đường cho dân tộc ta đi, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giành độc lập của Tổ quốc.
Bác giúp nhân dân ta thoát khỏi kiếp sống nô lệ, trở thành một con người tự do để bây giờ được hạnh phúc. Công lao của Bác đối với dân tộc ta cũng như mặt trời, to lớn không kể xiết. Bác là một mặt trời. Cái ẩn dụ mặt trời ở đây không biết đã đủ nói về Bác chưa?. Không, nếu nói Bác là mặt trời thì phải nhấn mạnh thêm cho rõ cái đặc tính của vầng mặt trời ấy: rất đỏ. Cái mặt trời đang tỏa sáng trên cao kia, cái mặt trời của thiên nhiên, tượng trưng của nguồn nóng, nguồn sáng, nguồn sự sống ấy, không phải bao giờ cũng nguyên vẹn thế đâu, không phải lúc nào cũng ấm nóng thế đâu! Vầng mặt trời ấy có thể bị bóng đêm lấn át. Nhưng vầng mặt trời Bác Hồ của ta thì mãi mãi đỏ thắm, mãi mãi là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi đường cho con người Việt Nam. Hôm nay có hai mặt trời chiếu rọi trên đường đời: một mặt trời tỏa sáng trước mặt, một mặt trời tỏa sáng tâm hồn…Như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu. Bác sẽ sống mãi trong lòng mỗi con người Việt Nam.
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…"
Cùng với mặt trời đi qua trên lăng, ngày ngày dòng người vẫn đi qua lăng trong thương nhớ. Điệp ngữ “ngày ngày” ý nói rằng nhân dân ta mãi luôn ghi nhớ công lao to lớn của Bác, mãi mãi là như vậy. Nhịp thơ của đoạn chậm, diễn tả đúng tâm trạng khi đứng xếp hàng trước lăng chờ đến lượt vào, ngậm ngùi tưởng nhớ đến Bác đã khuất.
Tuy vậy, nhịp thơ chầm chậm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm mà sao câu thơ vẫn không buồn? Phải rồi. Chúng ta không làm cái việc tưởng niệm bình thường với Bác như một người đã khuất. Dòng người đang đi đây là đang đi trong cuộc hành trình ngợi ca vinh quang của Bác. Và tràng hoa vinh quang này không phải được kết bằng những bông hoa bình thường như mọi tràng hoa vinh hiển khác trên đời đâu. Tràng hoa đây là một hình ảnh ẩn dụ của tác giả, đó chính là những đoá hoa thật sự của đời, là đàn con mà Bác đã cố công tạo nên suốt bảy mươi chín mùa xuân Bác sống trên đời. Những bông hoa trong vườn Bác nay đã lớn lên, nở rộ ngát hương kính dâng lên Bác.
Vào bên trong lăng Bác, thấy Bác đang nằm đó, nhà thơ lại một lần nữa cố giấu tiếng nấc nghẹn ngào:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”
Khung cảnh bên trong lăng thật êm dịu, thanh bình. Lúc này, trước mặt mọi người chỉ có hình ảnh Bác. Bác nằm đó trong giấc ngủ vĩnh hằng. Bác mất thật rồi sao? Không đâu. Bác chỉ nằm đó ngủ thôi, Bác chỉ ngủ thôi mà! Suốt bảy mươi chín năm cống hiến cho đất nước, bây giờ đất nước đã bình yên, Bác phải được nghỉ ngơi chứ. Bao quanh giấc ngủ của Bác là một “vầng trăng sáng dịu hiền”. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho những năm tháng làm việc của Bác, lúc nào cũng có vầng trăng bên cạnh bầu bạn. Từ giữa chốn tù đày, đến “cảnh khuya” núi rừng Việt Bắc, rồi “nguyên tiêu”…
Tuy vậy, Bác chưa bao giờ thảnh thơi để ngắm trăng đúng nghĩa. Khi thì “trong tù không rựơu cũng không hoa”, khi thì “việc quân đang bận”. Chỉ có bây giờ, trong giấc ngủ yên, vầng trăng ấy mới thật sự là vầng trăng yên bình, để Bác nghỉ ngơi và ngắm. Trăng dịu hiền, soi sáng hình ảnh Bác. Nhìn Bác ngủ ở đấy thật bình yên, nhưng có một sự thật dù đau lòng cách mấy ta vẫn phải chấp nhận: Bác đã thật sự ra đi mãi mãi.
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!”
Trời xanh bao la kia kéo dài đến vô tận, không bao giờ chấm dứt. Dù lí trí vẫn luôn trấn an lòng mình rằng Bác vẫn sống đấy, vẫn còn dõi theo Tổ quốc mãi mãi như màu xanh thanh bình trên nền trời Tổ quốc độc lập nhưng con tim ta vẫn nhói đau vì một sự thật đau lòng. Một từ “nhói” của nhà thơ nói hộ ta nỗi đau đớn, nỗi đau vượt lên mọi lí lẽ, mọi lập luận lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn sống trong tâm tưởng mỗi chúng ta, Bác mãi hiện diện trên mỗi phần đất, mỗi thành quả, mỗi phần tử tạo nên đất nước này.
Nhưng mà Bác mất thật rồi, ta không còn có Bác trong cuộc đời thường này. Mất Bác, cái thiếu vắng ấy liệu có thể nào bù đắp được? Tổ quốc ta đã thật sự không còn Bác dõi theo từng bước chân, không còn được Bác nâng đỡ mỗi khi vấp ngã. Bác ra đi, nỗi đau ấy liệu có từ ngữ nào diễn tả hết? Cả đàn con Việt Nam luôn tiếc thương Bác, luôn nhớ về Bác như một cái gì đó thật vĩ đại, không thể xoá nhoà. Dù Bác ra đi thật sự rồi nhưng những điều Bác đã làm vẫn sẽ đọng lại trong tâm hồn, hình ảnh Bác vẫn tồn tại trường kì trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.
Cuối cùng dẫu thương tiếc Bác đến mấy, cũng đến lúc phải rời lăng Bác để ra về. Khổ thơ cuối như một lời từ biệt đầy xúc động:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”
Ngày mai phải rời xa Bác rồi. Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên, gợi về miền đất xa xôi của Tổ quốc, một nơi từng có vị trí sâu sắc trong trái tim người. Một tiếng “thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng cuộc đời cao thượng, vĩ đại của Người. Đó là tiếng thương của nỗi đau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước mắt trào ra, thật đúng là tình thương của người Việt Nam, vô bờ bến và rất thật.
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời tự nguyện. Điệp ngữ “muốn làm” khẳng định mạnh mẽ những ước nguyện ấy. Ước chi ta có thể biến hình thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng Bác, cuộc đời và tâm hồn của Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót làm vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp mùi hương làm thơm không gian quanh Bác hay một cây tre trong hàng tre xanh xanh VN tỏa bóng mát dịu dàng quê hương của Bác, tất cả đều làm Bác vui và ngủ an giấc hơn. Đây cũng chính là nguyện ước chân thành, sâu sắc của hàng triệu con tim người Việt sau một lần ra thăm lăng Bác. Bác ơi! Bác hãy ngủ lại bình yên nhé, chúng cháu về miền Nam tiếp tục xây dựng Tổ quốc từ nền móng Bác đã tạo ra đây! Câu thơ trầm xuống để kết thùc, ngừng lặng hòan toàn.
Về nghệ thuật, bài thơ Viếng lăng Bác có nhiều điểm nghệ thuật rất đặc sắc, giúp biểu hiện thành công thêm về những giá trị nội dung. Bài thơ viết theo thể tám chữ, trong có có xen một vài câu bảy và chín chữ. Nhiều hình ảnh trong bài thơ lấy từ ngoài đời thực đã được ẩn dụ, trở thành một cách thể hiện cảm xúc thành kính của tác giả. Nhịp thơ của bài linh hoạt, lúc nhanh là biểu hiện cho ước nguyện đền đáp công ơn Bác, lúc chậm là lúc thể hiện lòng thành kính với Bác. Giọng điêu của bài trang trọng, tha thiết, ngôn ngữ thơ bình dị mà cô đúc.
Bằng những từ ngữ, lời lẽ chân thành, giàu cảm xúc, nhà thơ Viễn Phương đã bày tỏ được niềm xúc động cùng lòng biết ơn sâu sắc đến Bác trong một dịp ra miền Bắc viếng lăng Bác. Bài thơ như một tiếng nói chung của toàn thể nhân dân Việt Nam, biểu lộ niềm đau xót khi thấy Bác kính yêu ra đi. Qua bài thơ, tôi cảm thấy rằng đất nước ta có hoà bình như ngày hôm nay một phần lớn là nhờ công lao của Bác, như vậy chúng ta cần phải biết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, để những công ơn to lớn của Bác không bị bỏ phí.
Bài viết số 7 lớp 9 đề 2: Nêu cảm nhận của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Bài làm
Bài thơ là những cảm nhận,những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa.Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,
Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ.Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm, hương thơm lựng, vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê.Và không chỉ có thế,cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn:
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sương thu đã được nhân hoá,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu,gió thu, thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi: Hình như thu đã về? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu.
Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại,những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái, hữu tình và chứa chan thi vị, đặc biệt là hình ảnh:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ,trắng xốp,kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi, nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian: thu bắt đầu sang, hạ chưa qua hết, mùa thu vừa chớm, rất nhẹ, rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …
Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây, song chỉ là “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động.Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa.
Hình ảnh thơ đẹp, ngôn từ tinh tế, giọng thơ êm đềm và những rung động man mác,bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả. Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha, nồng hậu của quê nhà.
Bài viết số 7 lớp 9 đề 3: Phân tích bài thơ mùa xuân nho nhỏ của thanh hải.
Bài làm
Núi Ngự sông Hương là quê hương thân yêu của nhà thơ Thanh Hải. Ông là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Mồ anh hoa nở, Những đồng chí trung kiên, Mùa xuân nho nhỏ… là những bài thơ đặc sắc nhất của Thanh Hải.
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được ông viết vào năm 1980, trong khung cảnh hòa bình, xây dựng đất nước. Một hồn thơ trong trẻo. Một điệu thơ ngân vang. Đất nước vào xuân vui tươi rộn ràng.
Sáu câu thơ đầu như tiếng hát reo vui đón chào một mùa xuân đẹp đã về. Trên dòng sông xanh của quê hương mọc lên "một bông hoa tím biếc”. Động từ “mọc” nằm ở vị trí đầu câu thơ gợi tả sự ngạc nhiên vui thú, một niềm vui hân hoan đón chào tín hiệu mùa xuân:
Mọc giữa dòng sông xanh,
Một bông hoa tím biếc.
"Bông hoa tím biếc" ấy chỉ có thể là hoa lục bình, hoặc hoa súng mà ta thường gặp trên ao hồ, sồng nước làng quê:
Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm
Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng
Hoa lục bình tím cả bờ sông…
(Trở về quê nội – Lê Anh Xuân)
Màu xanh của nước hòa hợp với màu "tím biếc"của hoa đã tạo nên bức tranh xuân chấm phá mà đằm thắm.
Ngẩng nhìn bầu trời, nhà thơ vui sướng lắng tai nghe chim chiền chiện hót Chim chiền chiện còn gọi là chim sơn ca, bạn thân của nhà nông. Từ "ơi" cảm thán biểu lộ niềm vui ngây ngất khi nghe chim hót:
Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời.
Hai tiếng "hót chi" là giọng điệu thân thương của người dân Huế được tác giả đưa vào diễn tả cảm xúc thiết tha giữa người với tạo vật. Chim chiền chiện hót gọi xuân về. Tiếng chim ngân vang, rung động đất trời đem đến bao niềm vui. Ngắm dòng sông, nhìn bông hoa đẹp, nghe chim hót, nhà thơ bồi hồi sung sướng:
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
"Đưa tay… hứng" là một cử chỉ bình dị trân trọng, thể hiện sự xúc động sâu xa. "Giọt long lanh" là sự liên tưởng đầy chất thơ. Là giọt sương mai, hay giọt âm thanh tiếng chim chiền chiện? Sự chuyển đổi cảm giác (thính giác – thị giác) đã tạo nên hình khối thẩm mĩ của âm thanh.
Tóm lại, chỉ bằng ba nét vẽ: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót…, Thanh Hải đã vẽ nên một bức tranh xuân đẹp tươi và đáng yêu vô cùng. Đó là vẻ đẹp và sức sống măn mà của đất nước vào xuân.
Bốn câu thơ tiếp theo nói về mùa xuân sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta. Cấu trúc thơ song hành để chỉ rõ hai nhiệm vụ chiến lược ấy:
Mùa xuân người cầm súng,
Lộc giắt đầy quanh lưng.
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.
"Lộc" là chồi non, cành biếc mơn mởn. Khi mùa xuân về cây cối đâm chỗi nảy lộc. "Lộc"trong vãn cảnh này tượng trưng cho vẻ đẹp mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc, mang theo sức sống mùa xuân, sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc. Người nông dân đem mồ hôi và sức lao động cần cù làm nên màu xanh cho ruộng đồng, "trải dài nương mạ " bát ngát quê hương. Ý thơ vô cùng sâu sắc: máu và mồ hôi của nhân dân đã góp phần tô điểm mùa xuân và để giữ lấy mùa xuân mãi mãi.
Cả dân tộc bước vào mùa xuân với khí thế khẩn trương và náo nhiệt:
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
"Hối hả" nghĩa là vội vã, gấp gáp, khẩn trương. "Xôn xao" nghĩa có nhiều âm thanh xen lẫn vào nhau, làm cho náo động; ở trong câu thơ, "xôn xao "cùng với điệp ngữ "tất cả như… " làm cho câu thơ vang lên nhịp điệu vui tươi, mạnh mẽ khác thường. Đó là hành khúc Mùa Xuân của thời đại Hổ Chí Minh.
Đoạn thơ tiếp theo nói lên những suy tư của nhà thơ về đất nước và nhân dân:
Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
Chặng đường lịch sử của đất nước với bốn nghìn năm trường tồn, lúc suy vong, lúc hưng thịnh với bao thử thách "vất vả và gian lao". Thời gian đằng đẵng ấy, nhân dân ta từ thế hệ này qua thế hệ khác đã đem xương máu và mồ hôi, lòng yêu nước và tinh thần quả cảm để xây dựng và bào vệ đất nước. Dân ta tài trí và nhân nghĩa. Bốn nghìn năm lập quốc tỏa sáng nền văn hiến Đại Việt đã khẳng định sức mạnh Việt Nam. Câu thơ "Đất nước như vì sao" là một hình ảnh so sánh đẹp và đầy ý nghĩa. Sao là nguồn sáng lấp lánh, là vẻ đẹp bầu trời, vĩnh hằng trong không gian, và thời gian. So sánh đất nước với vì sao là biểu lộ niềm tự hào đối với đất nước Việt Nam anh hùng, giàu đẹp. Hành trang đi tới tương lai của dân tộc ta không một thế lực nào có thể ngăn cản được: "Cứ đi lên phía trước". Ba tiếng "cứ đi lên" thể hiện chí khí, quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng một Việt Nam "dân giàu, nước mạnh
Sau lời suy tư là điều tâm niệm của Thanh Hải. Trước hết là lời nguyện cầu được hóa thân:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
"Con chim hót" dể gọi xuân về, đem đến niềm vui cho con người. "Một cành hoa" để tô điểm cuộc sống, làm đẹp thiên nhiên sông núi. "Một nốt trầm" củ a bản "hòa ca” êm ái để làm xao xuyến lòng người, cổ vũ nhân dân. "Con chim hót", "một cành hoa ", "một nốt trầm…” là ba hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho cái đẹp, niềm vui, cho tài trí của đất nước và con người Viêt Nam.
Với Thanh Hải, hóa thân là để hiến dâng, để phục vụ cho một mục đích cao cả:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Lời thơ tâm tình thiết tha. Mỗi con người hãy trờ thành "một mùa xuân nho nhỏ" để làm nên mùa xuân bất diệt của đất nước. Ai cũng phải có ích cho đời. "Mùa xuân nho nhỏ" là một ẩn dụ đầy sáng tạo khắc sâu ý tưởng: "Mỗi cuộc đời đã hóa núi sông ta" (Nguyễn Khoa Điềm). "Nho nhỏ" và "lăng lẽ" là cách nói khiêm tốn, chân thành. "Dâng cho đời" là lẽ sống đẹp, cao cả. Bởi lẽ "Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình " (Tố Hữu). Sống hết mình thủy chung cho đất nước, đem cả cuộc đời mình phục vụ đất nước, cả từ lúc "tuổi hai mươi" trai tráng cho đến khi về già "tóc bạc". Thơ hay là ở cảm xúc chân thành. Thanh Hải đã nói lên những lời gan ruột của mình. Ông đã sống như lời thơ ông tâm tình. Khi đất nước bị Mỹ – Diệm và bè lũ tay sai âm mưu chia cắt làm hai miền, ông hoạt động bí mật trong vùng giặc, gây dựng phong trào cách mạng, coi thường cảnh máu chảy đầu rơi. Cảm động hơn nữa là bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được ông viết ra trên giường bệnh, một tháng trước lúc ông qua đời.
Thanh Hải sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ rất tài tình: "Ta làm… ta làm… ta nhập…", "dù là tuổi… dù là khi… "đã làm cho âm điệu thơ, giọng thơ tha thiết, sâu lắng, ý thơ được khắc sâu và nhấn mạnh. Người đọc xúc động biết bao trước một giọng điệu thơ trữ tình, ấm áp tình đời như vậy. Có thể xem đoạn thơ này là những lời trăng trối cùa ông.
Khổ thơ cuối là tiếng hát yêu thương:
Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Nam ai và Nam bình là hai điệu dân ca Huế rất nổi tiếng mấy trăm năm nay. Phách tiền là một nhạc cụ dân tộc để điểm nhịp cho lời ca, tiếng đàn tranh, đàn tam thập lục. Câu thơ "Mùa xuân ta xin hát" diễn tả niềm khao khát bồi hồi của nhà thơ đối với quê hương yêu dấu buổi xuân về. Quê hương đất nước trải dài ngàn dặm, chứa chan tình yêu thương. Đó là "ngàn dặm mình", "ngàn dặm tình" đối với non nước và xứ Huế quê mẹ thân thương! Câu thơ của người con đất Huế quả là "dịu ngọt".
Mùa xuân là đề tài truyền thống trong thơ ca dân tộc. Thanh Hải đã góp cho thơ ca dân tộc một bài thơ xuân đẹp, đậm đà tình nghĩa. Thể thơ năm chữ, giọng thơ lúc mạnh mẽ, lúc tha thiết ngân vang. Ngôn ngữ thơ trong sáng và biểu cảm, hàm súc và hình tượng. Các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, song hành đối xứng, điệp ngữ… được vận dụng sắc sảo, tài hoa. Tình yêu mùa xuân gắn liền với tình yêu đất nước, quê hương được Thanh Hải diễn tả một cách sâu sắc, cảm động. Mỗi một cuộc đời hãy là một mùa xuân. Đất nước ta mãi mãi sẽ là những mùa xuân tươi đẹp.
Chúc các bạn học giỏi!
|
Bài viết số 7 lớp 9 hay nhất
| 4,794
| |
Bài viết số 7 lớp 9
Hướng dẫn
Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một tác phẩm đặc sắc thành công cả về mặt nội dung lẫn nghệ thuật. Bài thơ ấy ấy như một nguồn nước giếng trong, khơi mãi vẫn không hết cái ngọt ngào, lắng sâu của tình yêu con người, vẫn không cạn nguồn sức mạnh truyền vào trong cuộc sống. Được sáng tác vào năm 1976, bài thơ mang đậm chất trữ tình này đã ghi lại tình cảm sâu lăng, thành kính cảu nhà thơ khi hoà vào dòng người viếng lăng Bác. Bài thơ cũng là tiếng nói, là nỗi niềm tâm sự của nhận dân Nam bộ và nhân dân cả nước dành cho Bác.
Mở đầu bài thơ là cảm xúc của tác giả khi vừa bước chân vào lăng. Nhà thơ xưng “con” và gọi “Bác”; lời thơ giản dị, mộc mạc mà chát chức bao tình cảm gần gũi, thân thương, kính trọng chủ tịch Hồ Chí Minh của ông. Điều đó càng cho thấy Bác là một con nguời rất hoà đồng và gần gũi. Chính vậy nhà thơ Tố hữ có viết “Người là Cha, là Bác, là Anh”. Chi tiết thơ “Con ở miền Nam” còn mang một sắc thái đầy xúc độgn. Khúc ruột miền Nam là miền đất xa xôi mà Bác không nguôi ngóng chờ, cho đến những ngày trước luc lâm chung thì trái tim ngươờ vẫn luôn huớng về mìen Nam ruột thịt. Nơi đó có biết bao đồng bào ta đang ngày đêm chiến đấu và anh dũng hy sinh vì một nàgy mai nước nhà thống nhất. Nhưng…Bác đã không chờ được đến ngày đó. Người đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng để lại muôn vàn niềm thương tiếc cho nhân dân ta. Câu thơ đầu gọn như một lời thông báo nhưng lại chứa chan bao tình cảm xúc độgn, bồi hồi của tác giả đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.
Và trong cái mênh mang sương mù của mọt ngày mùa thu Hà Nội, qua con mắt thi nhân của Viễn Phương, ta chợt tìm thấy một “hàng tre” Việt Nam. Đến với Bác, đến với hàng tre, ta như đến với quê hương làng mạc, đến với mái nhà tranh âm vang lời ru của bà, của mẹ; đén với Bác là đến với dân tộc mình, thế mới đẹp làm sao! Hình ảnh nhân hoá hàng tre “bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” còn là biểu tượng bất diệt của con người VN kiên cường, bất khuất biền bỉ. Màu xanh của tre chính là màu xanh của sức sốg VN, màu xanh của hy vnọg, hạnh phúc và hoà bình. Đây quả là một tứ thơ độc đáo, giàu ý nghĩa tượng trưng:
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàg”
Và nhà thơ phải kính yêu Bác lắm mới viết được những hình ảnh ẩn dụ tài tình này:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
Cũng là “mặt trời” nhưng “mặt trời” ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của thiên nhiên vũ trụ, ngày ngày tỏ sáng, đem sự sống cho muôn loài, vạn vật, nó cũng có lúc quạnh quẽo, u ám. Còn “mặt trời” của nhận dân VN. “mặt trời” trong lăng thì vẫn luôn chiếu ánh sáng vĩnh hằng, đỏ mãi. Bác chính là vầng mặt trời hồng toả tia sáng soi rọi con đừơng giúp dân tộc ta thoát khỏi kiếp đời nô lệ, là sức mạnh giúp nhân dân ta chèo lái con thuyền cách mạng cập bến vinh quang, đi đến bờ thắng lợi. Dù rằng đã ra đi mãi mãi nhưng Bác vẫn luôn bất tử, tư tưởng HCM vẫn luôn trường tồn, soi đường dẫn lối cho dân tộc ta đứng lên.
Hoà nhịp với gần trăm triệu bàn chân VN, hàng triệu bàn chân lao độgn trên thế giới, Viễn Phương bùi ngùi xúc động bước vào lăng:
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”
Hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác được tác giả ví như nhưng trànghoa dâng lên người. “Bảy mươi chín” tràng hoa, ấy là bày mươi chín màu xuân, bày mươi chín năm cống hiến, hy sinh hết mình của Bác đối với dân tộc và nhân dân ta. Và quả thật, Bác chính là mùa xuân, và mùa xuân ấy đã làm cho cuộc đời người dân VN nở hoa. Điệp ngữ “ngày ngày” đứng mỗi ý thơ giữ vị trí “nhãn tự”, vừa thể hiện một qui luật trình tự của dòng người vào lăng viếng Bác, lại vừa thể hiện một qui luật tự nhiên của tạo hoá.
Đứng trước sự vĩ đại, to lớn của Bác, ta cũng vô thức bị dòng thơ cuốn và trong lăng lúc nào không hay:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vãn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
Bác đang nằm đây, ngay trước mắt nhà thơ, hiền hậu, nhân từ như một vầng trăng “dịu hiền”, mát mẻ mà vãn trong sáng rạng ngời.Ta có cảm giác như Bác vẫn chưa đi xa, vẫn chưa rời khỏi thế gian này mà Người đang ngủ đấy thôi. Lí trí thì nói bác đang ngủ, nghĩa là Bác vẫn còn sống mãi với đất nước, với dân tộc ta như trời xanh còn mãi trên đầu. Mỗi ngày ngẩng đầu nhìn ta lại thấy trời xanh, lại thấy Bác. Bác không bao giờ mất, Bác sống mãi cùng dân tộc ta, trong mỗi cuộc đời, trong mỗi sự việc mà chúng ta làm vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Ta biết thế, ta nghĩ thế nhưng sao tim ta vẫn “đau nhói”, mắt ta vẫn trào dâng khi nhận ra rằng: Bác đã không còn nữa! Khổ thơ thứ hai và ba là một chuỗi các hình ảnh vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh lồng vào nhau như để ca ngời tầm vóc lớn lao của Bác; đồng thời thể hiện lòng tôn kíh vô hạn của tác giả, của nhân dân đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.
Bài thơ bắt đầu bằng sự kiện “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” và cũng kết thúc bằng chi tiết “Mai về miền Nam”. Đây là giờ phút sắp chia tay với Bác, tâm trạgn nhà thơ tràn đầy niềm cảm thương xen lẫn bùi ngùi, lưu luyến. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh cuờng điệu: “Thương trào nước mắt”:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Tình thương xót nén giữa tam hồn đã làm nảy sinh bao ước muốn: “muốn là con chin” để dâng lên tiếng hót vui, “muốn là đoá hoa” dâng hương thơm ngát, “muốn làm cây tre trung hiếu” canh gác chi giấc ngủ yên lành của Bác. Nhịp điệu khổ thơ lúc này dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần và các hình ảnh liên tiếp xuất hiện như một dòng khát khao mãnh liệt của nhà thơ muốn được gần Bác mãi mãi.
Bằng tất cả tình cảm chan thành, Viễn Phương đã làm “Viếng lăng Bác” trở thành một bản tình ca bất tận để lại ấn tượng sâu sắc cho bao người dân Việt Nam. Bài thơ hay không chỉ vì các nghệ thuật, kĩ sảo độc đáo mà quan trọgn hơn, đó là sự kết hợp nhuẫn nhị giữa cái “tâm” của một nguời con yêu nước và cái “tài” của người nghệ sĩ. Rất nhiều năm tháng đã đi qua nhưng mỗi thế hệ đọclại “Viếng lăng Bác” đều đón nhận vào tâm hồn mình một ánh sáng tư tưởng, tình cảm của nhà thơ và đồng thời cũng thấm nhuần vẻ đẹp trong suốt, lấp lánh toả ra từ chính cuộc đời, trí tuệ và trái tim Bác Hồ.
Bài viết số 7 lớp 9 đề 2: Nêu cảm nhận của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Bài làm
Bài thơ là những cảm nhận,những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa.Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,
Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ.Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian.Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm.Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm, hương thơm lựng, vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê.Và không chỉ có thế,cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn:
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sương thu đã được nhân hoá,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu. Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu,gió thu, thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi: Hình như thu đã về? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu.
Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại,những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái, hữu tình và chứa chan thi vị, đặc biệt là hình ảnh:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ,trắng xốp,kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi, nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian: thu bắt đầu sang, hạ chưa qua hết, mùa thu vừa chớm, rất nhẹ, rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …
Khổ thơ thứ ba diễn tả rất rõ sự biến chuyển của không gian và cũng là một thoáng suy tư của nhà thơ trước cảnh vật, đất trời:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Vẫn là nắng, mưa, sấm, chớp của mùa hạ vương lại đâu đây, song chỉ là “vẫn còn”, “đã vơi dần”, “ cũng bớt bất ngờ” bởi mùa thu đã đến.Ý thơ còn gợi liên tưởng đến con người khi đã lớn tuổi và từng trải thì những giông gió, thăng trầm của cuộc đời ít làm con người ta bất ngờ, bị động.Những suy tư đó của tác giả có lẽ đã góp phần làm cho “Sang thu” trở nên giàu ý nghĩa.
Hình ảnh thơ đẹp, ngôn từ tinh tế, giọng thơ êm đềm và những rung động man mác,bâng khuâng của tác giả trong buổi giao mùa đã tạo nên một dấu ấn không dễ phai mờ trong lòng bao độc giả. Có lẽ vì vậy mà sau khi đọc “Sang thu” của Hữu Thỉnh ta càng thấy yêu hơn mùa thu thiết tha, nồng hậu của quê nhà.
Bài viết số 7 lớp 9 đề 3: Phân tích bài thơ mùa xuân nho nhỏ của thanh hải.
Bài làm
Mùa xuân là để tài bất tận của thơ ca. Song, cái cảm nhận về mùa xuân của các nhà thơ theo thời gian có nhiều thay đổi. Đối với Mãn Giác Thiền sư, một cao tăng nổi tiếng thời Lý, mùa xuân mang một tính triết lý sâu sắc:
“Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai”
Còn đối với những nhà thơ trước cách mạng, mùa xuân gợi lên một nét sầu cảm:
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu,
Mang chi xuân đến gợi thêm sầu.” (Chế Lan Viên)
Nhưng đối với nhà thơ Thanh Hải, mùa xuân mang một nét đẹp đáng yêu tươi thắm; gợi lên trong lòng người đọc nhiều hình ảnh rạo rực tươi trẻ. Vì thế, mùa xuân trong thơ của TH là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ của quê hương, dân tộc. Tất cả đã được thể hiện rõ nét trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, một bài thơ đặc sắc được nhà thơ viết không lâu trước khi qua đời.
Người xưa có câu: “Thi trung hữu họa”. Thơ ca vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp của cuộc sống. Mở đầu bài thơ, TH đã phác họa nên một bức tranh xuân giản dị mà tươi đẹp:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chim mà vang trời”
“Dòng sông xanh” gợi nhắc hình ảnh những khúc sông uốn lượn của dải đất miền Trung quanh co, đó có thể là dòng sông Hương thơ mộng, một vẻ đẹp lắng đọng của xứ Huế mộng mơ.Trên gam màu xanh lơ của dòng sông thơ mộng, nổi bật lên hình ảnh “một bông hoa tím biếc”. Không có màu vàng rực rỡ của hoa mai, cũng không có màu đỏ thắm của hoa đào, mùa xuân của TH mang một sắc thái bình dị với màu tím biếc của bông hoa lục bình. Đây là một hình ảnh mang đậm bản sắc của cố đô Huế. Không biết tự bao giờ màu tím đã trở thành màu sắc đặc trưng của con người và đất trời xứ Huế. Màu tím biếc gợi nhớ hình ảnh những nữ sinh xứ Huế trong những bộ áo dài màu tím dịu dàng thước tha. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ, đưa động từ ” mọc” lên đầu câu như một cách để nhấn mạnh vẻ đẹp tươi trẻ, đầy sức sống của mùa xuân thiên nhiên. Trong bức tranh mùa xuân của TH, không chỉ có hình ảnh, mà còn có âm thanh xao xuyến, ngân nha của con chim chiền chiện. Tiếng chim lảnh lót vang lên làm xao động cả đất trời, làm xao xuyến cả tâm hồn thi sĩ nhạy cảm của nhà thơ. Những từ ngữ cảm thán “ơi, hót chi” đã thể hiện rõ nét cảm xúc của nhà thơ. Mùa xuân của thiên nhiên đã đem đến cho nhà thơ một cảm giác ngây ngất. Mùa xuân ấy không có gì khác lạ, vẫn là một mùa xuân rất giản dị trên quê hương xứ Huế của nhà thơ. Nhưng nhà thơ bỗng nhận ra vẻ đẹp lạ kì của mùa xuân, một vẻ đẹp mà bấy lâu nhà thơ không để ý. Phải chăng vì đây là lần cuối cùng được ngắm nhìn mùa xuân quê hương nên nhà thơ cảm thấy mùa xuân ấy đẹp hơn, tươi sáng hơn?
Say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp giản dị và nên thơ của mùa xuân, nhà thơ bồi hồi xúc động:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng:
“Giọt long lanh” là giọt mưa xuân, giọt nắng vàng hay giọt sương sớm? Theo mạch cảm xúc của nhà thơ thì có lẽ đây là giọt âm thanh của tiếng chim ngân vang. Bằng một cảm nhận tinh tế, nhà thơ đã hình tượng hóa tiếng chim thành một sự vật có hình dáng, đây là một sự sáng tạo rất mới mẻ chỉ có thể có được nhờ tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ. Như vậy, chỉ bằng ba nét vẽ: dòng sông xanh, bông hoa tím và tiếng chim ngân vang khắp đất trời, nhà thơ đã phác họa nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp trên cố đô Huế.
Từ vẻ đẹp thanh khiết của mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ liên hệ đến mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ”
Bốn câu thơ mang cấu trúc song hành thể hiện rõ hai nhiệm vụ của nhân dân: chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và sản xuất làm giàu nước nhà. Hai nhiệm vụ ấy đặt nặng lên vai của người chiến sĩ – “người cầm súng” và người nông dân – “người ra đồng”. Nét đặc sắc của đoạn thơ là việc sáng tạo hình ảnh “lộc”. “Lộc” là chồi non, cành biếc; “lộc” còn tượng trưng cho sự may mắn, niềm an lành trong năm mới. Đối với người chiến sĩ, “lộc” là cành lá ngụy trang che mắt quân thù. Đối với người nông dân, “lộc” là những mầm mạ non trải dài trên đồng ruộng bát ngát, báo hiệu một mùa bội thu. Người chiến sĩ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc sẽ đem về “lộc” là sự an lành niềm vui, niềm tự hào chiến thắng cho dân tộc. Người nông dân gieo trồng lúa trên đồng ruộng sẽ đem về “lộc” là những hạt gạo trắng ngần, những bát cơm ngon ngọt cho đồng bào cả nước. Cả dân tộc bước vào xuân với khí thế khẩn trương và náo nhiệt:
“Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao…”
Bằng cách sử dụng từ láy “hối hả-xôn xao” cùng với điệp từ, tác giả đã mang đến cho câu thơ một nét rộn ràng, nhộn nhịp. “Hối hả” nghĩa là vội vả, khẩn trương. “Xôn xao” là có nhiều âm thanh trộn lẫn vào nhau, làm cho náo động. Từ những âm thanh xôn xao và sự hối hả của con người, nhà thơ lại suy tư về sự phát triển của đất nước qua bốn ngàn năm lịch sử:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Chặng đường lịch sử của đất nước qua bốn ngàn năm trường tồn đã trải qua biết bao thăng trầm, với bao nhiêu là “vất vả và gian lao”. So sánh đất nước với vì sao sáng, nhà thơ đã thể hiện niềm tự hào đối với đất nước và dân tộc. Sao là nguồn sáng bất diệt, là vẻ đẹp vĩnh hằng trong không gian và thời gian. Ngôi sao sáng đã trở thành vẻ đẹp lộng lẫy trên lá cờ VIệt Nam, trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp ngời sáng của con người và đất nước Việt Nam. Đất nước vẫn không ngừng phát triển, vẫn “cứ đi lên phía trước” để sánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới. Đoạn thơ thể hiện ý chí vươn lên không ngừng của con người và dân tộc Việt Nam.
Trong không khí tưng bừng của đất nước vào xuân, nhà thơ cảm nhận được một mùa xuân tươi trẻ, rạo rực trỗi dậy trong tâm hồn. Đó là mùa xuân của lòng người, mùa xuân của sức sống tươi trẻ, mùa xuân của sự cống hiến và hòa nhập:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Nhịp thơ dồn dập và điệp từ “ta làm” diễn tả rõ nét khát vọng cống hiến của nhà thơ. Nhà thơ muốn làm một con chim, muốn làm một nhành hoa thắm trong vườn hoa xuân để dâng tiếng hót tha thiết, để tỏa hương sắc tô điểm cho mùa xuân đất nước. “Nốt trầm” là nốt nhạc tạo nên sự lắng đọng sâu xa trong một bản nhạc. Trong cái không khí tưng bừng của ngày hội mùa xuân, nhà thơ muốn làm một nốt nhạc trầm để góp vào khúc ca xuân của dân tộc một chút vấn vương, xao xuyến. Từ khát vọng hòa nhập, nhà thơ thể hiện rõ hơn khát vọng cống hiến của mình ở những câu thơ tiếp theo:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
“Mùa xuân nho nhỏ” là cách nói ẩn dụ đầy sáng tạo của nhà thơ. Mỗi con người đều có thể góp một phần công sức của mình như “một mùa xuân nho nhỏ” để tô hương thêm sắc cho quê hương đất nước. “Dâng” là một hành động cống hiến, cho đi mà không dòi hỏi sự đền đáp. Phép đảo ngữ nhằm nhấn mạnh khát vọng cống hiến chân thành của nhà thơ. Nhà thơ muốn góp công sức của mình trong công cuộc xây dựng đất nước nhưng chỉ với một thái độ hết sức khiêm tốn, không khoa trương mà chỉ “lặng lẽ”, âm thầm nhưng lại là toàn tâm toàn ý, như nhà thơ Tố Hữu đã khẳng định:
“Lẽ nào cho vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhân riêng mình.”
Điệp từ “dù là” được điệp lại hai lần thể hiện rõ sự tự tin, bất chấp thời gian và tuổi tác của nhà thơ. Qua khổ thơ, nhà thơ đã nhấn mạnh một ý nghĩa hết sức sâu sắc: nhiệm vụ cống hiến xây dựng đất nước là của mọi người và là mãi mãi. Không ai là không có nghĩa vụ xây dựng đất nước, và nghĩa vụ ấy kéo dài cả một đời người, từ tuổi đôi mươi cho đến khi đầu đã điểm bạc theo năm tháng. Đây là lời kêu gọi mọi người cùng chung vai gánh vác công việc xây dựng và phát triển đất nước, để đất nước có thể vững vàng mà tiếp tục “đi lên phía trước”.
Khổ thơ cuối là tiếng hát yêu thương nhà thơ ban tặng cho đất nước và dân tộc, như một sự hiến dâng cuối cùng cho quê hương đất nước:
“Mùa xuân-ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế”
Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, TH muốn hát lại hai làn điệu dân ca quen thuộc của quê hương xứ Huế. Có lẽ trong những ngày tháng nằm trên giường bệnh, khi bị tử thần rình rập, nhà thơ lại thấy quê hương của mình đẹp hơn, bản sắc quê hương mình cũng đáng tự hào hơn. Đây cũng là cách để nhà thơ thể hiện tình yêu quê hương, nguồn cội. Đoạn thơ cho ta thấy rõ nhà thơ rất yêu mến quê hương thơ mộng của mình, có lẽ cũng từ đó mà nhà thơ có thể mở rộng tình cảm để yêu mến đất nước, mới có thể cống hiến cả cuộc đời cho nước nhà. Bởi lẽ, chỉ có những người biết yêu thương quê hương xóm làng thì mới có thể mở rộng lòng mình để yêu mến đất nước dân tộc.
Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được viết theo thể thơ năm tiếng, với cấu trúc gồm bảy khổ, mỗi khổ từ bốn đến sáu câu. Những hình ảnh ẩn dụ sáng tạo, biện pháp nhân hóa, điệp ngữ và những từ ngữ tượng hình được sử dụng thành công đã tạo nên nét đặc sắc của bài thơ. Qua đó, ta có thể cảm nhận được cái thi vị trong hồn thơ TH.
Tình yêu thiên nhiên, sự xúc động trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân cách mạng và khát vọng cống hiến đã được TH gửi gắm qua bài thơ “mùa xuân nho nhỏ”. Tuy là tác phẩm được viết không lâu trước khi nhà thơ qua đời nhưng bài thơ vẫn để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc những cảm xúc sâu lắng khó phai mờ. Và, Bài thơ vẫn sẽ tiếp tục trường tồn cùng với những bước đi lên của đất nước, gợi nhắc cho những thế hệ trẻ một cách sống đẹp: góp một “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc, để đất nước ta sẽ mãi tươi đẹp như trong tiết xuân. Thế mới biết, cuộc đời của con người thì có hạn những những giá trị tinh thần mà con người để lại cho đời sau thì có giá trí vĩnh hằng.
Nguồn:
|
Bài viết số 7 lớp 9
| 4,175
| |
Bài viết về chủ đề Con người với thiên nhiên
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể: “Những người bạn tốt”)
Cá heo là loài cá thông minh, thích nghe ca hát và nhảy múa. Cá heo rất gần gũi với con người. Chúng sẵn sàng cứu giúp người gặp tai nạn ởbiển. Câu chuyện kể sau đây minh hoạ cho nhận định đó.
A-ri-ôn là nghệ sĩ nối tiếng của nước Hi Lạp cổ.Trong một cuộc thi hát ở đảo Xi-rin, ông đạt giải nhất và nhận được nhiều tặng phẩm quý giá. Trên đường trở về kinh đô, đến giữa biển thì thuỷ thủ trên tàu chỗ ông nổi lòng tham, cướp hết tặng phẩm và đòi giết A-ri-ôn.
Nghệ sĩ xin được hát bài hát ông yêu thích trước khi chết. Bọn cướp đồng ý. A-ri-ôn đứng trên boong tài cất tiếng hát, đến đoạn mê say nhất ông nhảy xuống biển. Bọn cướp đinh ninh ông đã chết và dong buồm trở về đất liền. Những tên cướp không hề biết rằng khi tiếng đàn và tiếng hát của A-ri-ôn vang lên, có một đàn cá heo đã bơi đến, vây quanh con tàu, say sưa thưởng thức tiếng hát của người nghệ sĩ tài ba. Bầy cá heo đă cứu A-ri-ôn. Chúng đưa A-ri-ôn quay trở về đất liền nhanh hơn con tàu của bọn cướp biển. A-ri-ôn tâu với vua toàn bộ sự việc nhưng nhà vua không tin, sai giam ông lại.
Hai hôm sau, bọn cướp mới quay về tới đất liền. Vua cho gọi bọn chúng và gặng hỏi về cuộc hành trình. Bọn cướp bịa chuyện A-ri-ôn ở lại đảo. Đúng lúc đó, A-ri-ôn bước ra. Đoàn thuỷ thủ sững sốt, không tin vào mắt mình. Vua truyền lệnh trị tội bọn cướp và trả tự do cho A-ri-ôn.
Sau câu chuyện kì lạ ấy, ở nhiều thành phốHi Lạp và La Mã xuất hiện những đồng tiền được ra đời để ghi lại tình cảm của con người với loài cá thông minh.
Do có tập tính khác với những loài cá thông thường nên cá heo là đối tượng được nuôi và nghiên cứu nhiều nhất. Cá heo thích nghe ca hát và nhảy múa. Chúng thường cứu những thuyền chài đi biển gặp nạn. Vì thế, ởnhững làng chài, cá heo được lập bàn thờ để thờ và được ngư dân tôn quý gọi bằng Ông.
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể: “Người đi săn và con vượn”)
Thiên nhiên tươi đẹp, kì thú, hoà hợp tương hỗ lẫn nhau. Mọi vật xung quanh ta đều tồn tại trên cơ sở đó. Nhưng con người, vì những nhu cầu cá nhân hoặc tính tham lam đã làm tổn hại những yếu tố tự nhiên theo một cách thiếu suy nghĩ. Câu chuyện “Người đi săn và con vượn” em đã học lúc lớp Ba đáng để loài người suy ngẫm.
Có một người thợ săn lành nghề, bắn rất giỏi, bách phát bách trúng, chưa hề bắn trượt một con thú nào. Con thú nào gặp người thợ săn đó là cầm chắc cái chết.
Một hôm, ông xách nỏ vào rừng săn bắn. Ông thấy một con vượn mẹ ngồi ôm con trên tảng đá, ông nhẹ nhàng giương nỏ bắn một mũi tên trúng tim nó. Vượn mẹ giật mình, nó hết nhìn mũi tên lại nhìn người thợ săn một cách căm giận. Tay vượn mẹ vẫn không rời vượn con. Máu ởvết thương của nó rỉ ra, ướt hết cả ngực. Bỗng vượn mẹ đặt
con xuống, vơ nắm bùi nhùi gối đầu cho con. Đoạn nó hái cái lá to, vắt sữa vào và đặt lên miệng vượn con. Vượn mẹ chăm chú nhìn vượn con, nét mắt của nó vô cùng đau khổ. Sau đó, vượn mẹ nghiến răng, giật phắt mũi tiên ra, hét lên thật to rồi ngã xuống.
Chứng kiến cái chết của vượn mẹ, người thợ săn đứng lặng, nước mắt chảy ròng. Người đi săn vô cùng hối hận. Lúc ấy, một câu hỏi vang lên trong đầu ông: “Vượn mẹ chết, rồi đây vượn con sẽ sống ra sao?”. Càng nghĩ càng thấy đau lòng, người đi săn bẻ gãy chiếc nỏ và lẳng lặng quay gót ra về. Từ đấy, người thợ săn bỏ nghề săn thú.
Tình yêu con của vượn mẹ đã đánh thức tâm trí của người thợ săn, để đọng lại trong tim ông nỗi niềm ân hận day dứt. Ông bỏ nghề thợ săn là quyết định đúng. Chuyện kể cũng là lời cảnh báo cho toàn thể loài người, khơi dậy trong tâm hồn con người lòng từ ái đối với vạn vật, hoa lá, chim muông. Bảo vệ thiên nhiên là bảo vệ chính mình. Cái chết của vượn mẹ, cái lá đựng sữa của vượn mẹ đặt gần con là thông điệp tốcáo sự tàn nhẫn của con người, rất may mắn là bác thợ săn đã nhận thức đúng lúc: bác bỏ nghề đểkhông còn bắn giết thú rừng nữa.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Con người với thiên nhiên
| 836
| |
Bài viết về chủ đề Giữ lấy màu xanh
BÀI LÀM
(Chuyện kể: “Người gác rừng tí hon”)
Nhà nước ta kêu gọi nhân dân phải bảo vệ rừng, trồng rừng để chống lũ lụt, xói mòn, tránh, thiên tai. Ý thức đó được tuyên truyền, giáo dục trong toàn dân. Chuyện kể sau đây cho thấy: chỉ cần có ý thức, chúng ta sẽ bảo vệ được rừng. Chuyện kể có tựa đề: “Người gác rừng tí hon”.
Một bạn nhỏ có bố là người gác rừng. Bạn nhỏ cũng yêu rừng như bố mình. Sáng hôm đó, ba bạn nhỏ về thăm bà nội ốm. Chiều đến, bạn nhỏ đi loanh quanh theo lối ba em vẫn thường đi tuần rừng. Phát hiện những dấu chân người lớn hằn trên đất, bạn nhỏ thắc mắc: “Hai ngày nay đâu có đoàn khách tham quan nào?”. Thấy lạ, bạn nhỏ lần theo dấu chân. Khoảng hơn chục cây to đồ sộ đã bị chặt từng khúc dài. Bọn phá rừng bàn bạc:
– Mày đã dặn lão Sáu Bơ tối đánh xe ra bìa rừng chưa?
Qua kẽ lá, bạn nhỏ thấy hai gã trộm. Lừa khi hai gã mải cột các khúc gỗ, bạn nhỏ lén bỏ chạy. Bạn ấy theo đường tắt về đến quán bà Hai, xin bà cho gọi điện thoại. Một giọng nói rắn rỏi vang lên ở đầu dây bên kia:
– A lô! Công an huyện đây.
Sau khi nghe bạn nhỏ báo tin có bọn trộm gỗ, các chú công an dặn dò bạn ấy cách phối hợp với các chú để bắt bọn trộm, thu lại gỗ.
Đêm ấy, lòng bạn nhỏ bồn chồn, như lửa đốt. Thấy tiếng bành bạch của xe chở gỗ, bạn nhỏ lao ra. Chiếc xe tới gần… tới gần, vướng vào sợi dây căng ngang đường, gỗ văng ra. Bọn trộm đang loay hoay lượm lại gỗ thì xe công an trờtới.
Ba gã trộm đứng sững lại như rô-bốt hết pin. Tiếng còng tay vang lên lách cách.
Một chú công an vỗ vai bạn nhỏ:
– Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm.
Trên thực tế, rừng đại ngàn đã bị chặt phá rất nhiều. Cây rừng giữ nước cho suối, điều hoà lượng nước tự nhiên. Phá rừng tạo nên đất hoang đồi trọc nên lũ lụt và hạn hán liên tiếp xảy ra. Con người gián tiếp hoặc trực tiếp phá hỏng cân bằng sinh thái của thiên nhiên nên phải đối mặt với nhiều thiên tai. Việc cần làm là ngay bây giờ, ta phải tích cực trồng lại rừng và kiểm soát chặt chẽ việc khai thác gỗ mới mong hồi phục rừng tốt được. Việc làm này đã được tiến hành trong nhiều năm kiền. Kết quả đem lại cũng có nhiều chuyển biến. Em rất ủng hộ việc ta tái tạo màu xanh cho cây rừng.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Giữ lấy màu xanh
| 478
| |
Bài viết về chủ đề Nam và Nữ
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể: “Con gái”)
Được bố mẹ sinh ra, dù là nam hay nữ cũng đều đáng quý. Thế nhưng, theo cảm tính thông thường của người châu Á cũng đều mong có một mụn con trai cho “nối dõi tông đường”. Truyện kể sau đây cho ta thấy con gái cũng giỏi và cư xử đúng mực, là niềm vui của cả nhà.
Mẹ của Mơ sắp sinh em bé. Cả nhà Mơ mong đợi, háo hức. Thế rồi mẹ sinh một em bé gái. Dì Hạnh bảo: “Lại một vịt trời nữa.”, cả bố và mẹ đều có vẻ buồn buồn.
Đêm, Mơ trằn trọc không ngủ. Cô bé không hiểu vì sao mọi người lại không vui lắm khi mẹ sinh em gái. Mơ thì kém gìcon trai nhỉ? Ởlớp, em luôn là học sinh giỏi. Tan học, các bạn trai còn mải đá bóng thì Mơđã về nhà cặm cụi tưới rau, chăm chỉ chẻ củi giúp mẹ nấu cơm. Thế mà đám con trai còn dám trêu Mơ, các bạn nói rằng con gái chả được tích sự gì. Thật tức ghê!
Mẹ phải nghỉ ở nhà, bốđi công tác xa. Mơ làm hết mọi việc trong nhà giúp mẹ. Tối, mẹ ôm Mơ vào lòng dịu dàng nói nhỏ: “Đừng vất vả thế, đểsức mà lo học, con ạ!”. Mơ nép vào ngực mẹ, thì thào: “Mẹ ơi! Con sẽ cố gắng thay một đứa con trai trong nhà, mẹ nhé!”. Mẹ ôm chặt Mơ, xúc động trào nước mắt.
Tối đó, bố về đến nhà. Bố ôm Mơ chặt đến nghẹt thở. Cả bố và mẹ đều rơm rớm nước mắt. Chỉ có em bé nằm trên nôi là cười rất tươi. Chắc là em khen chị Mơ giỏi đó. Dì Hạnh tự hào nói:
– Biết cháu tôi chưa? Con gái như nó thì một trăm đứa con trai vẫn không bằng.
Chuyện kể cho ta thấy xã hội Việt Nam vẫn còn coi trọng việc có con trai nối dõi, sinh con sao có một đứa con trai còn hơn sinh hai ba bốn đứa con gái. Suy nghĩ đó thật lạc hậu. Theo em, trai hay gái thì đều là con người, một đứa con thảo hiền, giỏi giang, có giáo dục tốt đều là niềm tự hào của bố mẹ… như Mơ ở trong truyện vừa kể thì liệu có ai dám chê con gái là “vô tích sự” không?
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể: “Công việc đầu tiên”)
Lịch sử Việt Nam ta có biết bao anh hùng, lãnh tụ là phụ nữ. Trải qua mấy nghìn năm, em vẫn nghe âm vang nước triều sông Hát với oai phong lẫm liệt của Hai Bà Trưng; thoảng trong gió tiếng cồng voi của Bà Triệu… Những tấm gương oanh liệt ngã xuống: Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu… tất cả những anh hùng đó đều là phụ nữ và họ đều đã hi sinh oanh liệt. Có những người phụ nữ ngoan cường, thông minh, dũng trí trong đấu tranh giải phóng Tồ quốc. Bài tập đọc “Công việc đầu tiên” giới thiệu cho em biết chiến công của thiếu tướng Nguyễn Thị Định.
Một hôm, anh Ba Chẩn gọi bà Định vào trong buồng, đúng cái nơi anh giao việc cho ba bà Định ngày trước. Anh lấy từ mái nhà xuống bó giấy lớn rồi hỏi bà Định (lúc ấy bà Định còn là thiếu nữ):
– Út có dám rải truyền đơn không?
Bà Định vừa mừng vừa lo, nói:
– Được, nhưng rải thế nào anh phải chỉ vẽ, em mới làm được chớ!
Anh Ba cười rồi dặn dò bà Định tỉ mỉ, cuối cùng anh nhắc:
– Rủi địch nó bắt em tận tay thì em một mực nói rằng có một anh bảo đây là giấy quảng cáo thuốc. Em không biết chữ nên không biếtđây là giấygì!
Nhận được công việc vinh dự đầu tiên này, bà Định thấy trong người cứ bồn chồn, thấp thỏm không yên. Đêm đó, bà nôn nao không ngủ được, lục đục dậy từ nửa đêm, ngồi nghĩ cách rải truyền đơn. Khoảng ba giờ sáng, bà Định giả đi bán cá như mọi hôm. Tay bà bê rổ cá, còn bó truyền đơn thì giắt trên lưng quần. Bà Định rảo bước và truyền đơn cứ từ từ rơi xuống đất. Gần tới chợ thì vừa hết, trời cũng vừa sáng tỏ, nhân dân xì xào ầm lên: “Cộng sản rải giấy nhiều quá!”. Mấy tên lính mã tà hớt hải xách súng chạy rầm rầm. Về nhà, bà Định khoe ngay kết quả với anh Ba. Anh Ba lại giao cho bà Định rải truyền đơn tại chợ Mỹ Lồng. Bà Định đều hoàn thành những công việc được giao. Làm được vài việc, bà Định bắt đầu ham hoạt động. Bà tâm sự với anh Ba:
– Em chỉ muốn làm nhiều việc cho cách mạng. Anh cho em thoát ly hẳn nghe anh!
Bà Định thoát ly khỏi gia đình và thực sự tham gia quân Giải phóng Miền Nam. Bà là Thiếu tướng, Phó tư lệnh quân Giải phóng miền Nam, phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Tên tuổi của bà gắn liền với phong trào Đồng Khởi và “Đội quân tóc dài” được khai sinh từ Bến Tre, quê hương bà.
Thừa kế và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, bà Định đã trở thành bà Trưng, bà Triệu của thế kỉ XX. Ngày nay, đất nước đã thống nhất, em nguyện học hành chăm chỉ, noi gương bà, phát huy truyền thông dựng và giữ nước, cống hiến hết sức mình cho Tổ quốc giàu đẹp mai sau.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Nam và Nữ
| 955
| |
Bài viết về chủ đề Người công nhân
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể: “Người công nhân số Một”)
Sau những tiếng đại bác bắn vào cảng Đà Nẵng năm 1858 của tàu chiến Pháp, nước ta bị rơi vào vòng kiềm tỏacủa thực dân Pháp. Nhân dân ta một lần nữa rên xiết dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Anh Thành (Nguyễn Tất Thành), tên của Bác Hồ thời trẻ, sinh ra trong thời loạn lạc nước mất nhà tan đã phản kháng ách đô hộ của thực dân Pháp. Anh muốn đi khắp năm châu, bốn bể để tìm cách giải phóng đất nước và nhân dân ra khỏi ách thống trị này, giành lại độc lập, tự do.
Bác Hồ có một người bạn thân là bác Lê. Đi một mình cũng khá mạo hiểm, vì thế, anh Thành muốn rủ người bạn tên Lê cùng đi với mình. Anh Lê không dám đi cùng Bác. Vì thế anh Thành đã ra đi một mình. Anh nói: “Tôi muốn đi sang nước họ. Để giành lại non sông, chỉ có hùng tâm tráng khí chưa đủ, phải có trí, có lực… Tôi muốn sang nước họ, xem cách làm ăn của họ, học cái trí khôn của họ về cứu dân mình,”.
Bác Hồ đã nhờ một anh bạn tên Mai, quê ở Hải Phòng, làm bếp dưới tàu La-tút-sơ Tơ-rê-vin xin cho bác một chân phụ bếp trên tàu để bác có thế đến Pháp. Anh Lê lúc ấy không dám mạo hiểm đi cùng anh Thành. Còn anh Mai thì chỉ rõ cho anh Thành biết mọi nỗi gian truân khó nhọc trên đường đi. Anh Thành vẫn cương quyết ra đi tìm đường cứu nước. Anh Thành nói: “Tôi nghĩ kĩ rồi. Làm thân nô lệ mà muốn xoá kiếp nô lệ thì sẽ thành công dân, còn yên phận nô lệ thì mãi mãi là đầy tớcho người ta…”. Ngay buổi tối anh Mai báo tin, anh Thành đi ngay đến tàu La-tút-sơ Tơ-rê-vin. Đó là ngày năm tháng 6 năm 1911.
Cuối thế kỉ XIX, Việt Nam tuy chia thành ba miền những thực chất đều bị thực dân Pháp kiểm soát. Tất cả sĩ phu yêu nước đều đứng lên chống lại thực dân nhưng họ nhanh chóng bị chính quyền đô hộ đàn áp và tiêu diệt. Chỉ một người ra đi tìm phương cách tiến bộ hơn để giải phóng nước nhà. Đó là Bác Hồ thân yêu của chúng ta. Một sáng mùa hè năm 1911, tàu La-tút-sơ Tơ-rê-vin chở người phụ bếp mới đến Pháp: Nguyễn Tất Thành, đề ba mươi tư năm sau, sáng ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập" tại quảng trường Ba Đình. Bác Hồ của chúng ta chính là người công dân số Một, đầu tiên của nước nhà.
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể: “Anh hùng chống Pháp Nguyễn Trung Trực”)
Không chịu khuất phục trước sự đô hộ của thực dân Pháp, sĩ phu trên toàn lãnh thổ Việt Nam dựng cờ khởi nghĩa. Một trong những vị anh hùng đó là Nguyễn Trung Trực với chiến thắng vẻ vang trên dòng sông Nhật Tảo, làm rung động quân thù.
Nguyễn Trung Trực người gốc Trung Kì, nhưng sống ở Nam Kì, xuất thân làm nghề thuyền chài. Ông có tinh thần thượng võ và lòng yêu nước nồng cháy.
Đồng thời với cuộc dấy binh của Trương Công Định ở Gò Công (Gia Định), Nguyễn Trung Trực chiêu mộ dũng sĩ trong các xóm ấp, lập thành một đội quân mang danh hiệu “Dân chúng tự vệ”, đặt căn cứ tại Thủ Thừa (Tân An), tấn công các đồn lính của giặc. Lúc ấy, triều đình Huế còn chủ trương chống Pháp nên khen ngợi hành động của Nguyễn Trung Trực, phong cho ông chức Quản cơ.
Ngày 11 tháng 12 năm 1861, chiếc tàu chiến L’Espérance của giặc nghênh ngang đậu án ngữ trên sông Nhật Tảo (Tân An), cỗ đại pháo trên boong tàu chĩa thẳng vào đất liền, đe doạ mọi sự phản kháng củanhân dân bản địa.Quân Pháp dương dương tự đắc sẽ đánh chiếm Gia Định và Định Tường một cách dễ dàng. Nhưng chúng đã lầm. Nguyễn Trung Trực dẫn đầu nghĩa quân, bất ngờ mở một cuộc đột kích táo bạo, đốt cháy chiếc tàu L’Espérance. Chiến công oanh liệt này làm nức lòng nhân dân Nam Kì và kích động tinh thần chiến đấu chống Pháp của vua quan triều Nguyễn. Nguyễn Trung Trực được thăng lên đến chức Đốc binh. Song, khốn nạn thay, triều đình Huế hèn nhát đã lần lượt kí các hiệp ước nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kì vào tháng 6 năm 1862 và mấy năm sau đó lại tiếp tục dâng cho Pháp ba tỉnh miền Tây Nam Kì vào tháng 8 năm 1867. Nguyễn Trung Trực không chịu nổi nỗi nhục mất nước bèn tự mình xây dựng lực lượng rút về Hòn Chông và đảo Phú Quốc, xây dựng căn cứ tiếp tục kháng chiến.
Đêm ngày 16 tháng 6 năm 1868, Nguyễn Trung Trực dẫn đầu nghĩa quân bất ngờ tấn công thành Kiên Giang, tỉnh An Giang, giết năm sĩ quan Pháp, sáu mươi tên lính, đoạt một trăm khẩu súng và nhiều đạn dược, lương thực.
Đơn thương độc mã chông Pháp nhưng Nguyễn Trung Trực đã làm thất điên bát đảo lũ giặc Tây Dương.
Tên Việt gian Huỳnh Công Tấn đã bắt mẹ và những người thân cận của Nguyễn Trung Trực làm con tin rồi đưa yêu sách đòi ông đầu hàng. Sau những trăn trở, suy nghĩ kĩ càng, Nguyễn Trung Trực đi đến một quyết định. Ông ra lệnh giải tán nghĩa quân, trả họ lại với kênh rạch, đồng ruộng. Một mình ông tự đến nộp mình cho giặc tại Dương Đông. Bọn Pháp khuyến dụ ông từ bỏ ý chí chống đối, ông khẳng khái trả lời:
– Tôi về đây là để chết thay cho mẹ tôi, và chết để trang trải lòng trung với quốc dân chứ đâu phải đênghe những lời khuyến dụ của các ông.
Biết không thể khuất phục được người anh hùng, giặc Pháp kết án tử hình và hành quyết ông tại chợ Rạch Giá.
Cái chết oanh liệt của ông làm rung động kẻ thù và khích lệ sĩ phu yêu nước. Nguyễn Trung Trực là Trần Bình Trọng của thế kỉ XIX, đã lưu danh sử sách. Tại đền thờ người anh hùng ởRạch Giá, còn hai câu thơ khắc thành câu đối.
“Lửa bừng Nhật Tảo rền trời đất.
Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần”
Tấm gương trung liệt của Nguyễn Trung Trực làm rơi lệ nhân dân đương thời lúc ấy và gieo vào lòng quốc dân ngày nay nỗi ngậm ngùi, kính phục. Gấp sách lại, em dường như thấy ngọn lửa hồng bừng NhậtTảo cháy đâu đây, soi đường cho con cháu nước Nam gương trung nghĩa, bất khuất. Ngày nay, đất nước ta được hoà bình là nhờ vào sự hi sinh của biết bao thế hệ cha anh, trong đó có Nguyễn Trung Trực. Em xin hứa học tập tốt kế thừa ý chí phấn đấu của cha anh, góp phần xây dựng quê nhà, Tổ quốc trở nên hùng mạnh.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Người công nhân
| 1,223
| |
Bài viết về chủ đề Nhớ nguồn
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể “Nghĩa thầy trò”)
Nhớ nguồn là truyền thông mà tổ tiên để lại cho nhân dân ta. Chính vì thế, mỗi học sinh vào những dịp Xuân Tết dù xa mấy cũng về thăm thầy, người dạy dỗ chúng ta nên người. Và tương tự như thế, thầy giáo của chúng ta cũng có thầy để đến thăm và dâng lễ tạ ơn thầy của những vị thầy.
Từ sáng sớm, các môn sinh đã tề tựu trước nhà cụ giáo Chu Văn An để mừng thọ thầy. Cụ giáo đội khăn ngay ngắn, mặc áo dài thâm ngồi trên sập. Mấy cậu học trò cũ từ xa về làng dâng biếu thầy những cuốn sách quý. Cụ giáo hỏi thăm công việc của từng người, bảo ban học trò nhỏ, rồi nói:
– Thầy cảm ơn các anh. Bây giờ, nhân có đủ môn sinh thầy muốn mời các anh đến thăm một người thầy mà thầy mang ơn rất nặng.
Các môn sinh đồng thanh dạ vâng.
Thếlà cụ giáo Chu đi trước, học trò theo sau. Các anh có tuổi đi ngay sau thầy, người ít tuổi hơn nhường bước, cuối cùng là mấy chú tóc để trái đào. Cụ giáo Chu dẫn học trò đi về cuối làng, sang tận thôn Đoài, đến một ngôi nhà tranh đơn sơ mà sáng sủa, ấm cúng. Một cụ già râu tóc bạc phơ, trên tám mươi tuổi, đang ngồi sưởi nắng trước hiên nhà. Cụ giáo Chu bước vào sân, chắp tay cung kính vái và nói to:
– Lạy thầy! Hôm nay con đem tất cả các môn sinh đến tạ ơn thầy.
Cụ già tóc bạc ngước lên, nghiêng đầu lắng nghe. Cụ đã nặng tai.
Thầy giáoChu lại gần nói to câu nói một lần nữa. Thì ra, cụ đồ ấy là thầy giáo dạy vỡ lòng cho thầy giáo Chu Văn An,
Tiếp theo thầy giáo Chu, các môn sinh của cụ lần lượt theo lứa tuổi vái tạ cụ đồ già. Ngày mừng thọ thầy giáo Chu Văn An năm đó, họ được thêm một bài học thấm thìa về nghĩa tình thầy trò.
Truyền thống tôn sư trọng đạo của nhân dân ta là nề nếp đẹp cần phát huy và gìn giữ. Truyền thống ấy rèn luyện con người tính cách “Uống nước nhớnguồn”, bồi dưỡng lòng yêu nước, kính trọng tổtiên và người lớn tuổi. Ngày nay, ngành giáo dục có ngày hai mươi tháng mười một hàng năm là ngày lễ tôn vinh các thầy giáo, cô giáo. Thực tế, có biết bao người học trò được làm thầy và cũng có biết bao vị thầy đã từng làm học trò đểphát huy truyền thống hiếu học, không ngừng tiến bộ của nhân dân ta. Sự nghiệp trồng người là sự nghiệp vẻ vang mà ông cha ta đã trau dồi, như Bác Hồ dạy:
“Vìlợi ích mười năm trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm trồng người.”
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể: “Tác giả bài Quốc tế ca”)
Lực lượng công nhân và nông dân chiếm đa sốcác dân tộc trên thế giới. Giai cấp công nông vẫn đoàn kết chiến đấu dưới lá cờQuốc tế vô sản. Nhân học về Quốc tế vô sản, cô giáo kể cho chúng em nghe về tác giả bài Quốc tế ca.
Ơ-gien Pô-chi-ê sinh trưởng trong một gia đình công nhân nghèo ở Pa-ri, thủ đô nước Pháp. Thuởnhỏ, ông không có đủ điều kiện để đi học. Năm mười lăm tuổi, ông theo cha làm thợ đóng gói, rồi chạy việc cho một hiệu bán giầy. Mãi về sau, ông mới học đọc, học viết và làm thợ in hoa trên vải.
Tháng ba năm 1871, Pô-chi-ê tham gia công xã Pa-ri. Công xã thất bại, ông bị truy nã gắt gao, phải trốn trong nhà một người bạn. Chính trong giờ phút khó khăn này, nhớ lại những ngày chiến đấu hào hùng, ông đã sáng tác bài thơ "Quốc tế ca". Bài thơđược nhạc sĩ Pi-e Đơ-gây-tê phổnhạc năm 1883. Bản nhạc "Quốc tế ca" nhanh chóng được truyền đi khắp nơi và trở thành bài ca của giai cấp công nhân thế giới:
“Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian,
Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn.”
Lời ca hùng tráng vang lên trong các cuộc đấu tranh sục sôi của người lao động có sức mạnh kì lạ, lay động hàng triệu con tim, thôi thúc những người bị áp bức, bóc lột siết chặt hàng ngũ phấn đấu cho một ngày mai tươi sáng, một thế giới công bằng.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều quốc gia trên thế giới giành lại quyền làm chủ của mình. Chủ nghĩa thực dân tan rã nhường chỗ cho chính quyền công nông và dân nghèo lao động, trong đó có Việt Nam. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của giai cấp vô sản, chúng em xin hứa học chăm, học giỏi, cống hiến sức mình cho Tổ quốc theo lời dạy của Bác Hồ:
“Tuổi nhỏ làm việc nhỏ,
Tùytheo sức của mình.
Lời Bác dạy đinh ninh,
Chúng em luôn ghi nhớ.”
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Nhớ nguồn
| 860
| |
Bài viết về chủ đề Những chủ nhân tương lai
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể: “Út Vịnh”)
Những thanh thiếu niên của hôm nay chính là chủ nhân tương lai của Tổquốc. Các em là lực lượng to lớn do gia đình, xã hội nuôi dưỡng và đào tạo. Đa phần thế hệ trẻ đều ý thức điều đó. Chuyện kể về Út Vịnh giúp em hiểu biết thêm về hành động, việc làm mà những công dân nhỏ tuổi đã thực hiện.
Nhà Út Vịnh ở ngay bên đường sắt. Mấy năm nay, đoạn đường này thường có sự cố. Lúc thì tảng đá nằm chềnh ềnh trên đường tàu chạy, lúc thì ai đó tháo cả ốc gắn các thanh ray. Lắm khi trẻ chăn trâu còn ném đá lên tàu.
Tháng trước, trường của Út Vịnh đã phát động phong trào “Em yêu đường sắt quê em”. Học sinh cam kết không chơi trên đường tàu, không ném đá lên tàu, học sinh cùng nhau bảo vệ an toàn cho những chuyến tàu đi qua. Vịnh nhận việc khó nhất là thuyết phục Sơn, một học sinh rất nghịch, thường chạy thả diều trên đường tàu. Vịnh thuyết phục mãi, Sơn mới hiểu ra và hứa không chơi trên đường tàu nữa.
Một buổi chiều đẹp trời, gió thổi từ sông Cái vào mát rượi. Vinh đang ngồi học bài, bỗng nghe tiếng còi tàu vang lên từng hồi dài như giục giã. Chưa bao giờ tiếng còi lại kéo dài như vậy. Thấy lạ, Vịnh nhìn ra đường tàu. Thì ra hai cô bé Hoa và Lan đang ngồi chơi chuyền thẻ trên đó. Vịnh lao ra như tên bắn, la lớn:
– Hoa, Lan, tàu hoẳ đến!
Nghe tiếng la, bé Hoa giật mình, ngã làn ra khỏi đường tàu còn bé Lan đứng ngây người, khóc thét lên.
Đoàn tàu vừa réo còi, vừa ầm ầm lao tới. Không chút do dự, Vịnh nhào tới ôm lăn lăn xuống mép ruộng, cứu sống cô bé trong đường li, kẽ tóc.
Biết tin, ba mẹ Lan chạy đến. Cả hai cô chú ôm chầm lấy Vịnh, xúc động nói không nên lời.
Chuyện kể Út Vịnh cho em biết về lòng can đảm, việc làm cần kíp của Út Vịnh. Cũng như em, Út Vịnh là học sinh, là những công dân tương lai của đất nước. Chúng em cần phải học tập giỏi, nhanh nhẹn và can đảm và cần thiết nhất là phải hiểu biết để đừng làm sai trái như Hoa và Lan.
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể “Lớp học trên đường”)
Trẻ em ở khắp mọi nơi trên thế giới đều là những công dân mai sau. Trong bất kì hoàn cảnh nào, trẻ em cũng cần phải được học tập, rèn luyện. Có những trẻ em được đến trường trong vòng tay nâng niu của bố mẹ và cô giáo. Có những em phải lưu lạc, cơ nhỡ, mồ côi… Tất cả dù trong hoàn cảnh nào cũng cần phải học tập. Câu chuyện “Lớp học trên đường” giúp em hiểu rõ hơn về điều đó.
Cụ Vi-ta-li nhặt trên đường một mảnh gỗ mỏng, dính đầy bụi.Cắt mảnh gỗ thành nhiều miếng nhỏ, cụ bảo:
– Ta sẽ khắc trên mỗi miếng gỗ một chữ cái. Con sẽ học nhận mặt từng chữ, rồi ghép các chữ ấy lại thành từng tiếng.
Từ hôm đó, trong túi của Rê-mi lúc nào cũng đầy những mảnh gỗ dẹt. Không bao lâu, Rê-mi đã thuộc tất cả các chữ cái. Nhưng biết đọc lại là chuyện khác, không phải ngày một, ngày hai mà đọc được.
Khi dạy Rê-mi, cụ Vi-ta-li nghĩ rằng cùng lúc có thể dạy cả chú chó Ca-pi làm xiếc. Dĩ nhiên, Ca-pi không thể đọc lên những chữ nó thấy vì nó không biết nói, nhưng nó biết lấy ra những chữ mà thầy Vi-ta-li đọc lên. Buổi đầu, Rê-mi học tấn tới hơn Ca-pi nhiều. Những nếu Rê- mi thông minh thì Ca-pi có trí nhớ rất tốt. Cái gì đã vào đầu nó rồi thì nó không baogiờ quên. Một hôm, Rê-mi đọc sai, thầy Vi-ta-li nói:
– Ca-pi sẽ biết đọc trước Rê-mi.
Con chó có lẽ hiểu nên đắc chí vẫy vẫy cái đuôi. Từ đó, Rê-mi không dám sao nhãng một phút nào. ít lâu sau, Rê-mi đã biết đọc trong khi con Ca-pi đáng thương chỉ biết “viết” tên nó bằng cách rút những chữ gỗ trong bảng chữ cái. Cụ Vi-ta-li hỏi Rê-mi:
– Bây giờ con có muốn học nhạc không?
Rê-mi trả lời thầy Vi-ta-li:
– Đấy là điều conthích nhất. Nghe thầy hát, có lúc con muốn cười, lúc lại muốn khóc. Có lúc tự nhiên con nhớ đến mẹ con và tưởng như đang trông thấy mẹ con ở nhà.
Bằng một giọng cảm động, thầy Vi-ta-li bảo Rê-mi:
– Con thật là một đứa trẻ có tâm hồn.
Lưu lạc, cơ nhỡ nhưng Rê-mi là một đứa trẻ hiếu học. So với chúng em, Rê-mi thiếu mọi phương tiện. Nhân vật Rê-mi trong tác phẩm “Không gia đìnli” rất đáng, khâm phục.
Nhà cách mạng lỗi lạc người Nga Vla-đi-mia I.lích Lê-nin đã từng nói: “Học, học nữa, học mãi”. Bể học mênh mông, kiến thức của nhân loại là vô tận, gần như là không có giới hạn. Thế nên, thế hệ của chúng em phải biết tự chủ chọn lựa ngành học phù hợp khả năng của mình thì mới có thể phát triển, tự nuôi sống mình, giúp đỡ bố mẹ và cống hiến cho xã hội.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Những chủ nhân tương lai
| 919
| |
Bài viết về chủ đề Việt Nam Tổ quốc em.
BÀI LÀM
(Chuyện kể: "Con Rồng cháu Tiên")
Sinh ra ở đời, mỗi cá nhân con người đều có quê hương, Tổ quốc. Nơi chôn nhau cắt rốn ấy lắng đọng trong tim chúng em niềm tự hàovề đất nước quê hương mình. Thật hãnh diện ngả nón chào bạn bè quốc tế và được giới thiệu: em là người Việt Nam, là con Rồng cháu Tiên.
Ngày xửa ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, có một vị thần tên là Lạc Long Quân. Theo truyền thuyết, ông là con của Kinh Dương Vương, chính tên là Sùng Lãm. Thần mình rồng, sức khoẻ vô địch, lại có nhiều phép lạ. Bấy giờ ở vùng núi cao có nàng Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần, nghe vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ bèn tìm đến thăm. Âu Cơ là con gái của Đế Lai, thuộc dòng dõi Thần Nông. Âu Cơ gặp Lạc Long Quân kết thành vợ chồng. Đến kì sinh nở, Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng. Kì lạ thay, trăm trứng nở ra một trăm người con đẹp đẽ hồng hào và lớn nhanh như thổi, sống với nhau được ít lâu, Lạc Long Quân bảo vợ:
– Ta vốn nòi rồng ở vùng nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ trên cạn người dưới nước, tập quán khác nhau, khó mà ở cùng nhau lâu dài được. Nay ta đem năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương, khi có việc thì giúp đỡ lẫn nhau đừng quên lời hẹn.
Một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ sau này trở thành tổ tiên của người Việt Nam ta. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam thường tự hào là con Rồng cháu Tiên và thân mật gọi nhau là đồng bào.
Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên không chỉ thể hiện tính cách lãng mạn thần thoại của dân tộc Việt mà còn nhấn mạnh cho thế hệ trẻ biết đoàn kết như anh em của một mẹ sinh ra. Người Kinh ở đồng bằng và sáu mươi dân tộc anh em ở trên lãnh thổ trải dài của Tổ quốc, tuy phân chia vùng miền khác nhau nhưng thực chất chỉ là một. Em rất tự hào mình là người Việt và hãnh diện kế thừa, phát huy truyền thông văn hoá của tổ tiên để lại.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Việt Nam Tổ quốc em.
| 423
| |
Bài viết về chủ đề Vì cuộc sống thanh bình
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể: “Bình Tây Đại tướng quân Trương Công Định”)
Đểbảo vệ sự thanh bình cho cuộc sống, hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã bỏ mình theo lời kêu gọi của núi sông. Một trong những anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn là Bình Tây Đại tướng quân Trương Công Định.
Trương Công Định sinh năm 1820, mất năm 1864, ông người gốc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, lấy vợ và lập nghiệp ở Nam Kì. Cha ông là quan lãnh binh triều Nguyễn. Ông nổi tiếng về tinh can đảm và cương trực. Năm 1850, ông đứng ra chiêu mộ dân xiêu tán, khẩn hoang đồn điền và được triều đình ban chức quản cơ.
Năm 1858, khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, ông tòng quân chống Pháp rất quyết liệt, được phong chức phó lãnh binh Gia Định, đóng đồn ở Gò Công. Năm 1861, tòng sự dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, ông đã chiến đấu anh dũng tại chiến lũyKì Hoà (Gia Định) chống trả cuộc tấn công của giặc Pháp. Ông được triều đình Huế thăng chức lãnh bình An Giang nhưng ông đã khước từ. Trương Công Định đại diện cho tinh thần và sức mạnh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Sau khi Kì Hoà thất thủ, ông rút quân về miệt Gò Công, chiêu mộ nghĩa sĩ trong làng ấp, tập hợp các lực lượng chống Pháp khác ở Nam Kì, đưa sốnghĩa quân lên tới hàng vạn người. Nghĩa quân của ông đánh phá các đồn trại của quân Pháp tại Gò Công, Tân An, Cần Giuộc, Gò Nổi…
Triều đình Huế hèn nhát đầu hàng nhường cho Pháp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Kì. Trương Định lại được lệnh của triều đình phải giải tán lực lượng nghĩa quân. Quần chúng yêu nước vây quanh vị chủ soái, tha thiết yêu cầu ông ở lại tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến. Trương Công Định đã quyết định bỏ triều đình, đi theo lương tri và ý chí của nhân dân. Chính hành động dứt khoát và sáng suốt này đã khiến tên ông trở thành bất tử.
Trương Công Định dưới danh xưng Bình Tây Đại nguyên soái đã chỉ huy nghĩa quân lục tỉnh tung hoành ngang dọc trên nhiều vùng đất NamKì như Rạch Tra, Thuộc Nhiêu, Kiến Phước, Binh Xuân, Bình Thạnh… gây cho quân Pháp những tổn thất nặng nề, đuổi được chúng ra khỏi thị xã Gò Công và làm chủ thị xã từ năm 1862 đến giữa năm 1863.
Thiếu tướng Pháp là Bonard khi được viện binh đã dốc toàn bộ lực lượng đánh pháp Gò Công để tiêu diệt nghĩa quân. Trương Công Định rút khỏi Gò Công và triển khai chiến đấu du kích. Ngày hai mươi tháng tám năm 1864, tại bờ sông Vàm Láng, ông bị tên Việt gian Huỳnh Công Tấn mai phục tấn công bất ngờ, ông đã tử trận.
Khóc Trương Công Định, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu viết:
“Trong Nam tên họ nổi như cồn,
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn.
Dấu đạn hãy rèm tàu bạch quỷ,
Hơi gươm thêm rạng vẻ hoàng môn.
Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ,
Quả ấn “Bình Tây” đất vội chôn!
Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy
Lâm râm ba chữ điếu linh hồn.”
Triều đình Huếhèn nhát mà từng bước để cho thực dân Pháp đô hộ nước ta. Cái ngai vàng mục ruỗng của vua chúa cố đô Huế thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt của sĩ phu và nhân dân. Ngày nay, quê hương đất nước được thanh bình, nhân dân ta biết ơn bao anh hùng đã đổ máu cho sự độc lập của đất nước, cho trang sử xanh oai hùng của dân tộc. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang đó, em nguyện học tập giỏi đểxây dựng đất nước, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp.
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể “Phân xử tài tình”)
Trật tự, an ninh trong xã hội là mặt chủ yếu trong cuộc sống thanh bình. Để đem đến bình an cho nhân dân, tài xử kiện của các quan thanh liêm chính trực là bài ca hùng hồn xác nhận việc đem lại công bằng cho nhân dân như câu chuyện em đã được học: chuyện kể “Phân xử tài tình”.
Xưa, có một vị quan rất tài. Vụ án nào ông cũng tìm ra manh mối và phân xử công bằng.
Một hôm có hai người đàn bà đến công đường. Một người mếu máo:
– Bẩm quan, con mang vải đi chợ, bà này hỏi mua rồi cướp tấm vải, bảo là của mình.
Người kia rưng rưng nước mắt:
– Tấm vải kia là của con. Bà này lấy trộm.
Không có ai làm chứng. Quan cho lính về nhà họ xem. Cả hai đều có khung cửi như nhau, cùng mang vải ra chợ bán hôm ấy. Ngẫm nghĩ một lát quan án ôn tồn bảo:
– Hai người đều có lí nên ta xử thế này. Tấm vải xéđôi, mỗi người một nửa.
Vâng kệnh quan án, lính đo vải xé ngay. Một người đàn bà bật khóc. Lập tức, quan bảo đưa cả tấm vải cho người này rồi thét lính trói người kia lại. Sau một hồi tra hỏi, kẻ kia phải cúi đầu nhận tội.
Có lần, quan tới vãn cảnh một ngôi chùa. Sư cụ đón tiếp kính cẩn rồi nhờtìm hộ sốtiền nhà chùa bị mất. Quan nói sự cụ bày biện lễ cúng Phật, rồi gọi hết sư vãi, kẻ ăn người ở trong chùa, giao cho mỗi người cầm một nắm thóc và bảo:
– Chùa ta mất tiền, chưa rõ thủ phạm. Mỗi người hãy cầm một nắm thóc đã ngâm nước vừa chạy đàn, vừa niệm Phật. Đức Phật rất thiêng, ai gian, Phật sẽ làm cho nắm thóc trong tay người đó nảy mầm. Như vậy, ngay gian sẽ rõ.
Mới vài vòng chạy, đã thấy một chú tiểu thỉnh thoảng hé bàn tay cầm thóc xem. Quan lập tức cho bắt chú tiểu vì chỉ kẻ có tộimới hay giật mình. Chú tiểu kia đành nhận tội.
Không phải chỉ có ra trận đánh giặc mới là yêu nước và xây dựng hoà bình. Làmquan thanh liêm, phân xử tài tình cũng đem lại trật tự cho xã hội, cho từng người dân. Trộm cắp là sai trái, phạm pháp sẽ bị trừng trị. Thế nên, chúng em hứa rèn luyện tính chân thật của mình để có thể sống tốt, làm công dân lương thiện mai sau.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Vì cuộc sống thanh bình
| 1,115
| |
Bài viết về chủ đề Vì hạnh phúc con người
BÀI LÀM 1
(Chuyện kể: “Chuỗi ngọc lam”)
Mọi người đều muốn sống hạnh phúc. Và mỗi người cần hạnh phúc theo mỗi cách khác nhau. Chủ điểm của tuần mười bốn “Vì hạnh phúc con người” giới thiệu câu chuyện “Chuỗi ngọc lam” rất cảm động.
Chiều hôm ấy, có một em gái đứng áp trán cửa tủ kính cửa hàng của Pi-e, nhìn từng đồ vật. Bỗng em ngẩng đầu lên:
– Cháu có thểxem chuỗi ngọc này không ạ?
Pi-e lấy chuỗi ngọc ra đưa cho cô bé, cô bé thốt lên:
– Đẹp quá! Xin chú gói lại cho cháu.
Pi-e ngạc nhiên quá đỗi:
– Ai sai cháu đi mua?
Cô bé hãnh diện một cách hồn nhiên:
– Cháu mua tặng chị cháu nhân lễ Nô-en. Chị đã nuôi cháu từ khi mẹ cháu mất.
Pi-e hỏi:
– Cháu có bao nhiêu tiền?
Cô bé mở khăn tay ra, đổ trên bàn một nắm xu và nói:
– Cháu đã đập con lợn đất đấy!
Pi-e trầm ngâm nhìn cô bé. Anh quyết định bán chuỗi ngọc cho cô bé. Anh vừa lúi húi gỡ mảnh giấy ghi giá tiền, vừa hỏi:
– Cháu tên gì?
– Cháu là Gioan.
Pi-e đưa Gioan chuỗi ngọc gói trong bao lụa đỏ:
– Đừng đánh rơi nhé!
Cô bé mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt đi. Cô đâu biết chuỗi ngọc này Pi-e dành tặng vợ chưa cưới của mình, nhưng rồi một tai nạn giao thông đã cướp đi người anh yêu thương.
Ngày lễ Nô-en tới. Khách hàng ai cũng vui làm Pi-e buồn lòng vì nỗi cô đơn, trống vắng của mình. Khi người khách cuối cùng bước ra, anh thởphào. Thế là qua được năm nay, cửa lại mở, một thiếu nữ bước vào. Cô lấy trong túi xách ra chuỗi ngọc lam:
– Chuỗi ngọc này có phải của tiệm ông không ạ?
– Phải? – Pi-e trả lời.
– Thưa… có phải là ngọc thật không?
– Không phải là thứ ngọc quý nhất nhưng là ngọc thật.
– Ông có nhớ đãbán cho ai không?
Pi-e từ tốn trả lời:
– Một cô bé tên là Gioan mua tặng chị của mình.
– Giá bao nhiêu ạ? – Cô gái hỏi.
– Tôi không bao giờ nói giá tiền của quà tặng.
– Gioan chỉ có ít tiền tiêu vặt. Làm sao em mua nổi chuỗi ngọc này?
Pi-e gói lại chuỗi ngọc và bảo:
– Em đã trả giá rất cao, bằng toàn bộ số tiền em có.
Cả hai đều im lặng. Mỗi người đều có nỗi niềm riêng tư. Tiếng chuông từ một giáo đường gần đó bắt đầu đổ. Cô gái nói:
– Nhưng sao ông lại làm vậy?
Pi-e vừa đưa chuỗi ngọc cho cô gái, vừa nói:
– Hôm nay là ngày Nô-en. Tôi không có ai để tặng quà. Cho phép tôi được đưa cô về nhà và chúc cô một lễ Nô-en vui vẻ nhé!
Trong tiếng chuông đổ hồi, Pi-e cùng thiếu nữ bước qua một năm mới hạnh phúc trong hi vọng tràn trề.
Hạnh phúc của Pi-e là được tặng chuỗi ngọc lam cho cô bé Gioan. Hạnh phúc của bé Gioan là được tặng quà cho chị mình một cách hồn nhiên, vô tư. Pi-e đã giúp hai chị em được hạnh phúc và bản thân Pi-e cũng được chia sẻ hạnh phúc. Và em hi vọng Pi-e sẽ tìm được hạnh phúc lứa đôi với cô thiếu nữ trong câu chuyện này. Thế là những gì Pi-e cho đi sẽ được nhận lại bằng chính hạnh phúc, niềm vui của mình.
BÀI LÀM 2
(Chuyện kể “Thầy thuốc như mẹ hiền”)
Trong các bài tập đọc em đã học có nhiều câu chuyện hay và bổ ích. Sách Tiếng Việt giới thiệu cho em biết nhiều danh nhân lịch sử Việt Nam và thế giới, ví dụ: Thái sư Trần Thủ Độ, Bác Hồ. Trong tất cả danh nhân mà chương trình Tập đọc giới thiệu, em thích nhất câu chuyện “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Đó là câu chuyện kể về Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Lê Hữu Trác là nhà nghiên cứu y học lớn. Ông sinh ngày 11 tháng 12 năm 1720 tại làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Hưng (nay là huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên) trong một gia đình nhiều người đậu tiến sĩ, làm quan to. Ông là con thứ bảy của quan thượng thư Lê Hữu Mưu, nên ông còn có tên thường gọi là Chiêu Bảy, hiệu là Hải Thượng Lãn Ông. Thuở còn trẻ, ông chăm chỉ học tập, mang chí làm quan, lập công danh lớn. Có lần, ông đã cầm quân theo chúa Trịnh, đàn áp phong trào nông dân. Nhưng rồi nhận ra tính độc tài thối nát của quan lại phong kiến, ông từ bỏ mộng công hầu khi chưa tròn hai mươi. Những năm bốn mươi của thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam suy tàn, nhân dân sống trong cảnh lầm than, cơ cực. Lưỡi gươm, cây bút của kẻ làm quan chẳng giúp gì được cho xã hội. Vì vậy, đầu năm 1741, Lê Hữu Trác về quê ngoại là làng Tình Diệm, huyện Hương Sơn (Nghệ Tĩnh) nuôi mẹ già và học thuốc, làm thuốc, nghiên cứu y học giúp người, giúp đời. Từ người tìm danh lợi cá nhân, ông đã trở thành người mưu lợi ích cho xã hội, là danh y nổi tiếng trong cả nước thời bấy giờ. Năm 1781, Chúa Trịnh Sâm triệu ông ra Thăng Long chữa bệnh cho Chúa và Thế tử. Ông ở lại Kinh đô gần một năm rồi lại trở về Hương Sơn.
Hải Thượng Lãn ông là một thầy thuốc giàu lòng nhân ái, xem lợi danh là phù vân. Ông chữa bệnh cho dân nghèo rất tận tình. Có lần, một người thuyền chài có đứa con bị bệnh đậu mùa nặng, nhưng nhà nghèo không có tiền chữa. Lãn Ông biết tin liền đến thăm. Giữa mùa hè nóng nực, cháu bé nằm trong khoang thuyền chật hẹp, người đầy mụn mủ, mùi hôi tanh bốc lên nồng nặc. Nhưng Hải Thượng Lãn Ông vẫn không ngại khổ. Ồng ân cần chăm sóc đứa bé suốt một tháng trời và chữa khỏi bệnh cho nó. Khi từ giã thuyền chài, ông chẳng những không lấy tiền mà còn cho thêm gạo củi.
Một lần khác, có người phụ nữ được ông cho thuốc và giảm bệnh. Nhưng rồi bệnh tái phát, người chồng đến xin đơn thuốc mới. Lúc ấy trời đã khuya nên ông hẹn hôm sau đến khám kĩ mới cho thuốc. Hôm sau ông đến thì được tin người chồng đã lấy thuốc khác nhưng không cứu được vợ. Lãn Ông rất hối hận. Ông ghi vào sổ thuốc của mình: “Xét về việc thì người bệnh chết do tay thầy thuốc khác song về tình thì tôi như mắc phải tội giết người. Càng nghĩ càng hối hận.”.
Sự nghiệp y dược nổi tiếng của ông được tập hợp trong bộ "Y tông tâm lĩnh" gồm sáu mươi sáu quyển, được biên soạn trong bốn mươi năm và được in toàn bộ vào năm 1886. Đây là công trình to lớn, kế thừa và phát huy sáng tạo, có phê phán những tri thức y học lạc hậu của nhiều thế hệ trước.
Lãn Ông còn là một nhà thơ, nhà văn hiện thực phê phán và trữ tình. Tác phẩm văn học nổi tiếng của ông là tập “Thượng kinh kí sự” ghi chép lại lần ông lên kinh chữa cho chúa Trịnh và Thế tử. Ông được tiến cử vào chức Ngự y nhưng đều khéo léo từ chối. Suốt đời, Lãn Ông không vướng vào vòng danh lợi. ông từng bộc bạch:
“Thuốc gì chữa được mệnh khanh tướng
Lòng khác tâu lên với quỷ thần
Chỉ có tiếng thơm đời để mãi,
Giàu sang, giả dối với phù vân.”
Ông cương trực, khẳng khái bày tỏ:
“Công danh trước mắt trôi như nước,
Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương.”
Ông mất năm 1791 tại Nghệ An. Sống vào giữa thế kỉ XVIII đầy sóng gió, Lê Hữu Trác là con người trong sạch, là thầy thuốc vĩ đại và là một nhà văn xuất sắc.
Gấp sách lại, em như nhìn thấy hình ảnh của ông hiện lên trong tâm trí. Không màng danh lơi, hết sức tận tụy cứu giúp người, Lê Hữu Trác như tiên ông của Việt Nam, cứu giúp người dân Việt khỏi tật bệnh. Tấm lòng giản dị thanh cao của ông sáng chói nghìn thu.
Nguồn:
|
Bài viết về chủ đề Vì hạnh phúc con người
| 1,424
| |
Bài văn biểu cảm Tả cây dừa quê em
Hướng dẫn
Từ đằng xa, em đã thấy sừng sững cây dừa ở bờ ao. Thân dừa to bằng hai vòng tay em. Thân dừa khoác chiếc áo cứng sần sùi màu nâu đất. Rễ dừa thuộc loại rễ chùm, bám sâu vào lòng đất. Bởi thế thân dừa cao nhưng đứng vững vàng. Cây dừa có dáng nghiêng rất đẹp, vẻ đẹp của nó một phần nhờ vào lá. Lá tập trung ở phần ngọn, ngoại em gọi là tàu dừa. Lá dừa màu xanh đậm, gân và phiến lá song song, mọc đối xứng nhau như răng lược trên tàu dừa. Bởi thế nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: Tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh.
Tàu dừa bám chắc vào thân dừa trên ngọn. Khi lá già, tàu rụng đi để nhường chỗ cho lá non phát triển. Gặp làn gió thoảng qua, lá dừa xôn xao đung đưa thật duyên dáng.
Khi có gió mạnh, lá dừa xào xạc như tiếng gươm khua, trông dừa hiên ngang, cứng cáp dẻo dai. Vào mùa, dừa ra hoa. Từ nách của các tàu dừa, những bẹ non lộ ra. Hoa mọc thành chùm trên một cái cuống dài và có nhiều nhánh phụ. Hoa dừa màu vàng nhạt, hoa li ti rụng trắng cả góc vườn, hương thơm dịu nhẹ. Nhìn hoa rụng em thật sốt ruột bởi em đâu nghĩ đó là sự hi sinh cao cả. Hoa đang nhường chỗ cho quả non chào đời. Chùm quả như đàn lợn con bám chặt vào thân mẹ, rồi cứ thế chúng mỗi ngày một lớn. Quả non có màu xanh non của lá. Quả già, vỏ khô ráp lại, có màu nâu của thân. Nước dừa non uống thật ngon, thật mát lành. Nước dừa thức uống giải khát mà ai cũng thích.
Dừa là đặc sản của quê em. Dừa tăng thêm vẻ đẹp duyên dáng của làng quê Việt Nam. Em mong dừa vẫn mãi mãi xanh tươi. Nhìn màu xanh của dừa em nhớ về quê nội yêu dấu của mình.
|
Bài văn biểu cảm Tả cây dừa quê em
| 354
| |
Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất
Hướng dẫn
Mỗi loài cây có một vẻ đẹp riêng của nó mà không thể lẫn vào đâu được. Cây chuối cũng vậy, nó giản dị, đơn sơ như cô gái miền quê. Nhưng nó cũng mang vẻ quý phái như cô gái thành thị.
Cái màu đặc trưng mà cây chuối tạo ra cho chúng ta là màu xanh, xanh từ thân cây đến ngọn lá cuối cùng. Cây chuối bám rễ sâu vào lòng đất, thân cây láng bóng như làn da của những đứa trẻ thơ nhưng khi chuối già thì thân cây có một lớp vỏ bọc màu nâu xám, thân thẳng như cột nhà. Lũ trẻ con chúng tôi lúc đó thích ôm lấy thân cây lắm vì nó không có gai hay gì cả nên chúng tôi ôm nó như một người bạn.
Lá chuối tản ra như những cái quạt nan to lớn. So với các loài cây khác thì chuối là loài cây không có cành. Bắp chuối có màu đỏ tím và vỏ bọc bên ngoài của nó như những cánh hoa sen to lớn nên nhìn rất đẹp.
Ở mỗi vùng miền sẽ có những cây riêng biệt mà các vùng khác không thể trồng được nhưng riêng cây chuối đi khắp dải đất việt nam này đâu đâu ta cũng thấy hình ảnh của nó.
Chuối dường như chẳng bỏ được thứ gì. Nó tạo ra nhiều hữu ích cho con người. Không chỉ bởi nó đem đến cho con người những quả chuối ăn rất ngon với hương vị ngọt lịm, màu vàng hấp dẫn. Món bánh truyền thống trong mỗi gia đình việt nam ngày tết là bánh chưng, bánh giày thì lá chuối là lớp vỏ ngoài để tạo nên hương vị đặc sắc của món bánh truyền thống đó. Thân chuối có thể cho lợn ăn. Thỉnh thoảng có người còn xin cả rễ chuối về làm thuốc.
Em yêu quý cây chuối lắm và thầm cảm ơn thiên nhiên đã đem đến cho con người loài cây có ích này.
|
Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất
| 350
| |
Bài văn biểu cảm về cây hoa sữa
Hướng dẫn
Những ngày cuối thu đang đến cũng chính là lúc hương thơm hoa sữa làm nứt lòng những con người Thủ đô. Nơi đây, hoa sữa như bao trùm khoảng không gian của những phố, phường tấp nập xe cộ.
Cái cảm nhận đầu tiên khi ta nhắc đến loài hoa này đó là hương thơm của nó, không lẫn vào đâu được. Mỗi người có những cảm nhận riêng về vị hương của loại hoa này. Có người thấy hương hoa này cực kì thơm nhưng cũng có người không quen khi ngửi hương thơm hoa sữa. Con riêng em, hoa sữa mang hương thơm của sự quyến rũ. Ban đầu là mùi hương lướt qua mũi thấy thật nhẹ nhàng nhưng nếu đứng lâu dưới gốc cây hoa sữa thì mùi của nó càng ngày càng đậm dần lên.
Em có thể ví hoa sữa như những chai nươc hoa của chúng ta vậy, khi chỉ thoáng qua thì nghe mùi nhẹ nhàng, tinh tế làm sao; còn khi ngửi lâu hơn thì nó mang lại sự nồng nàn của hương thơm đó. Ắt hẳn vì hương thơm của loại hoa này nên con người cảm nhận nó mang hơi thở tình yêu. Đó là tình yêu từ nhẹ nhàng đến mãnh liệt. Tình yêu đôi lứa dưới những cây hoa sữa thật lãng mạn và xao xuyến lòng làm sao.
Hương hoa cuốn theo ngọn gió mang sắc hương lan cả một vùng trời Hà Nội. Sang thu là đông cũng chính là lúc con người cảm thấy lạnh se trong lòng cộng hưởng với vị hoa sữa ngào ngạt làm con người muốn mùa đông nhanh tới hơn. Cái lạnh giá của Hà Nội được mọi người yêu thích cũng chính là bởi cái lạnh Thủ đô mang hương vị loài hoa này.
Hoa sữa dường như khiến cho con người ta trở về những hoài niệm xa xôi
Hoa sữa là loài hoa tinh túy biết bao; em rất thích những ngày đông về để có thể ngắm những bông hoa xinh xinh đó và ngửi mùi hương nồng nàn mà em rất thích. Những màn đêm Hà NỘi kéo tới cũng chính là lúc loài hoa này đi vào lòng người, càng ngửi càng thấy dịu êm, nhẹ nhàng trong lòng biết bao
|
Bài văn biểu cảm về cây hoa sữa
| 392
| |
Bài văn biểu cảm về cây phượng
Hướng dẫn
Khi trời bắt đầu nắng nóng, mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng chói trang xuống mặt đất, tiếng ve vang lên gọi hè thì cũng là lúc hoa phượng nở rực trời. Hoa phượng rất gần gũi và thân quen với tuổi học trò, nó gắn liền với những kỉ niệm vui buồn của học trò chúng tôi.
Hầu như trong trường nào cũng trồng một vài cây phượng. Trường của tôi cây phượng được trồng ở giữa sân, dịu hiền với chiếc mũ bông đỏ thắm màu hoa. Thân cây cao to khoác nên mình chiếc áo nâu xù xì,mốc meo màu thời gian. Thời gian trôi, thấm thoắt mà cũng đến mùa thi,tôi nhớ khi trên vòm cây kia ve râm ran tiếng hát là phượng bắt đầu lấp ló những bóng lửa hồng. Phượng ra hoa. Hoa phượng có năm cánh,nở đồng loạt, từng cánh son mềm mịn như nhung kết thành từng bông, từng chùm,từng tán lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau. Giữa những cánh bướm thắm là nhị hoa dài phủ phấn vàng e lệ.
Trong khung trời trong xanh không gợn mây trôi hoa phượng hồng thắm nổi bật lên kiêu sa mà dễ thương đến lạ. tôi nhớ lại mùi hương hoa phượng không nồng nàn như hồng nhung mà mang một mùi riêng rất riêng chỉ thoảng nhẹ trong gió làm lắng đọng bao tâm hồn học trò…
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng tôi có rất nhiều kỉ niệm với cây phượng. Nhớ lắm những giờ ra chơi,lũ học trò quây quần bên gốc phượng. Nhớ lắm ngày chia tay, “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”, chở cả tiếng cười giòn tan trong nắng,chở cả nỗi nhớ, nỗi buồn sầu chia li. Nhớ lắm cánh phượng mong manh ép chặt trong trang lưu bút, lưu giữ lại một thời hồn nhiên, mơ mộng của tôi. Nhớ lắm những chiều tan trường, mái tóc tôi bay bay trong gió, đùa giỡn, vờn với lá phượng, lá phượng vấn vít, vương trên tóc. Nhớ lắm hình ảnh những cậu học trò bẽn lẽn với chùm hoa phượng giấu sau lưng vì còn ngại ngùng đợi trao tay cho một ai đó. Phượng vui buồn với tuổi học trò, chứng kiến biết bao cuộc chia li để rồi chỉ còn lại một mình phượng cô đơn,buồn bã..Phượng đẹp,phượng rực rỡ,nhưng nhiều khi phượng hờn,phượng tủi vì chính mình. Bởi vẻ đẹp đó có được ai chiêm ngưỡng khi mà học trò đã nghỉ hè hết. Gió ghé qua đùa bỡn,trêu chọc, phượng chạnh lòng, phượng khóc. Lá phượng rơi, hoa phượng rụng.
|
Bài văn biểu cảm về cây phượng
| 454
| |
Bài văn biểu cảm về Cây tre
Bài làm
Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”
Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.
Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.
Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.
Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.
|
Bài văn biểu cảm về Cây tre
| 668
| |
Bài văn biểu cảm về Hoa sen lớp 7
Hướng dẫn
Nếu Quốc hoa của đất nước Nhật Bản là hoa anh đào, Quốc hoa của Hàn Quốc là hoa mugung thì Quốc hoa của đất nước Việt nam là hoa sen.
Hoa sen được xem là quốc hoa việt nam bởi lẽ nó mọc khắp đất nuwocs việt nam, từ nam ra bắc. Nó để lại một ấn tượng khá sâu đậm đối với những con người việt nam nói riêng và khách du lịch các nước nói chung.
Hình ảnh hoa sen bên cạnh tà áo dài của các cô gái việt nam sẽ làm cho các nước bạn cảm thấy thật tuyệt đẹp. Ta sẽ không còn thắc mắc nữa là vì sao trên tà áo dài của người con gái VIệt luôn thêu lên những bông hoa sen?
Những gánh hàng rong Hà Nội ta bắt gặp ở đó những cành sen bên cạnh những món hàng mà các thương gia đang gánh giữa phố phường Thủ đô.
Hoa sen không chỉ là loài hoa để ngắm mà nó còn mang lại kinh tế đối với người dân việt nam. Cánh sen được người dân làm thành những đồ thủ công mỹ nghệ. Nhụy sen thu hoach để nấu ra các món ăn. Đài sen thì dùng để nàu nước uống.
Hoa sen là biểu trưng cho người dân VIệt Nam, dân Việt cũng giống như hoa sen vậy đó? Hoa sen sống trong bùn lầy nhưng nó luôn luôn muốn lớn lên để thoát khỏi cái bùn lầy đó, nó vươn cao thể hiện những gì tinh túy nhất của một bông hoa. Nó không chịu số phận phải sống trong những gì đen tối mà luôn muốn vươn lên bầu trời xanh: ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’
Con người Việt Nam cũng thế tuy bắt đầu xuất phát là một đất nước nhỏ bé, với những con người thân hình nhỏ bé, với những sự ràng buộc thống trị của ách đô hộ, với những gì chiến tranh đem lại bi thuwong cho họ. Nhưng họ không gục ngã mặc kệ số phận mà họ với ý chí tự cường, tự hào dân tộc họ luôn ngẩng cao đầu, vươn lên khỏi những thứ dơ duốc đó để xây dựng một đất nước có tiếng nói với bạn bè năm châu.
Hoa sen vẫn cứ nở, vẫn cứ tỏa sắc mặc kệ dưới chân nó là bùn lầy_nó không bị vấy bẩn. Nó như là những người con gái Việt Nam duyên dáng, thanh cao.
Hoa sen làm cho người dân Việt nam rút ra một bài học sâu sắc rằng: hoàn cảnh nó không chi phối được những ước muốn con người, hoàn cảnh có thể sẽ có chút rào cản ngay từ bước đầu nhưng những gì ta luôn cố gắng thì rào cản đó sẽ nhanh chóng biến mất.
Hoa sen chính là biểu hiện cho cốt cách nhân văn của con người Việt, dân tộc Việt Nam tự hào và luôn muốn giới thiệu loài hoa đẹp này đến các bạn bè năm châu. Hoa sen mãi mãi là loài hoa thanh khiết đáng quý mà thiên nhiên đã dành tặng cho con người.
|
Bài văn biểu cảm về Hoa sen lớp 7
| 536
| |
Đề bài: Em hãy viết một bài văn biểu cảm về mùa thu trong đó có sử dụng yếu tố nghị luận
Bài làm
Có biết bao lí do đế tôi yêu mùa thu – một mùa đẹp trong vòng tuần hoàn của thời gian trôi chảy: Xuân – Hạ – Thu – Đông. Yêu lắm các vòm trời cao trong xanh vời vợi, vắt ngang vài dải mây trắng lơ lửng trôi! Yêu lắm nắng mùa thu sao dịu dàng đến thế! Nắng thu mỏng mảnh như tơ trời vàng óng phù khắp mọi nơi. Vạn vật được đắm mình tha hồ vùng vẫy trong cái nắng dịu, tươi sáng, trong trẻo như đôi mắt trong veo của bé thơ. Nắng thu không chói chang như nắng mùa hạ, không hanh hao, vàng vọt, yếu ớt như nắng mùa đông. Có ai bảo: Sao giống nắng xuân đến thế! Nhưng không phải! Mùa xuân nắng mong manh không thành màu, đâu trong sáng như nắng mùa thu. Không những thế, nắng thu còn đánh thức cả lương tâm cây trái, báo hiệu một mùa quả chín đỏ mọng hay vàng ươm đang trĩu trên cành.
Thuở bé, tôi được nghe những câu chuyện “Vỉ sao hoa cúc có nhiều cành?” mà khòng khôi xúc động trước tình cảm của em bé đối với bà mẹ. Phải chăng bóng hoa cúc – đặc trưng của mùa thu là minh chứng cho tình mẫu tử cao đẹp ấy? Dần lớn lên, bài học ấy vẫn mãi theo tôi. Chính loài hoa này đã dạy cho tôi biết thế nào là tình yêu, là sự hy sinh, là hạnh phúc? Có lẽ vậy nên mỗi độ thu về, được ngắm loài Liêu Chi, lòng tôi lại trào dâng bao nỗi niềm khó tả, nó đánh thức và nhắc nhở tôi bài học về lòng hiếu thảo.
Bạn đã bao giờ ngắm nhìn hoa quỳnh nở dưới trăng chưa? Trên nền trời cao thăm thẳm, trăng dịu dàng như cô tiên nữ với chiếc váy trắng óng ánh đang nô đùa cùng muôn ngàn sao lấp lánh. Khoảng giữa là không trung bao la thoáng đãng, còn dưới mặt đất này, bầu không khi tĩnh lặng yên bình, được ngắm hoa quỳnh nở trong cảnh gió mát trăng thanh còn gì thú bằng? Hoa cựa mình khẽ khàng, rồi từ từ, từ từ nhẹ nhàng nở bung ra, tắm mình dưới ánh trăng ngân, thật đắm say lòng người. Không chọn cho mình cái rộn ràng của buổi bình minh, không lựa lúc cuộc sống ồn ào, hối hả ban ngày quỳnh chọn cho mình cái khoảnh khắc tĩnh mịch này để nhẹ nhàng tỏa hương. Hoa nhẹ nhàng tỏa hương ngọt ngào của mình trong đêm để quyến rũ hồn người, khiến cho lòng người bâng khuâng, man mác. Và kìa! Trăng nhỡ ngàng, sững sờ, sà xuống hôn lên những cánh hoa trắng muốt, tinh khôi, lưu lại đấy một phết vàng lung linh huyền ảo. Chao ôi, đẹp đến mê người!
Nhắc đến mùa thu tôi lại nhớ đến những chiều tà! Thật thanh thản khi thả mình giữa những cơn mưa lá, bước dần lên thảm lá vàng rụng dày, sực nức một hương thơm thôn dã. Hít thở cái hương vị thiên nhiên mang dáng vể đồng nội ấy đã thấy lòng mình mênh mang. Chợt nghe đâu đây lời ru ngọt ngào: “À ơi! Gió mùa thu mẹ ru con ngủ (…) Hãy ngủ, ngủ đi con,Con hời con hỡ…”, lòng ta lại nao nao, bâng khuâng đến lạ.
Nhưng đặc biệt, tôi yêu mùa thu vì đây là mùa mà tôi cất tiếng khóc chào đời. Thật hạnh phúc biết bao bởi từ lúc hé mắt nhìn cha mẹ, người thân, cuộc đời… tôi lại được đón nhận khoảng trời thu, làn gió thu, ánh nắng thu… Cứ mỗi mùa thu, tôi lại háo hức chờ đón ba ngày vui cùng lúc: một là ngày sinh nhật với riêng mình, hai là ngày tết trung thu với cả niềm vui của trẻ con trên đời này và ngày thứ ba là ngày tựu trường tràn đầy hạnh phúc khi được mẹ đưa đến trường trên con đường thân thuộc – đến cái nơi mà khi chiếc cổng mở ra là có biết bao điều kì diệu.
Thu đẹp lắm nhưng thật khó thể hiện ra. Bao bức tranh tôi đã từng được ngắm, được xem, song bức tranh thu trong tâm hồn tôi mãi đẹp hơn cả. Xin cảm ơn mùa thu đã cho tôi bao xúc cảm, niềm hạnh phúc lớn lao. Và trên tất cả là thu đã dang rộng vòng tay chào đón tôi khi tôi cất tiếng khóc đầu đời. Yêu lắm, mùa thu ơi!
|
Bài văn biểu cảm về mùa thu trong đó có sử dụng yếu tố nghị luận
| 796
| |
Bài văn chứng minh và giải thích câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn
Hướng dẫn
Trong quá trình lao động và học tập, một đạo lý mà ta không thể nào bỏ qua, đó là cái truyền thống quý báu của dân tộc ta. Bài văn chứng minh và giải thích câu tục ngủ uống nước nhớ nguồn này sẽ giải thích cho chúng ta biết. Qua quá trình lao động của nhân dân ta và trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã chống lại ngoại xâm và thiên tai khắc nghiệt, lập nên bao chiến công hiển hách, những trang sử vẻ vang, nhiều câu ca dao, tục ngữ thấm nhuần nhiều đạo lí làm người. Qua đó, chúng khuyên bao thế hệ người Việt Nam những lời khuyên bổ ích cho việc làm người. Chính đặc điểm lịch sử đó đã tạo nên một truyền thống tốt đẹp và quý báu của dân tộc ta, đó là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” thể hiện lòng biết ơn đối với những ai đã tạo nên thành quả cho người đời sau hưởng thụ.
Trước hết, chúng ta phải hiểu thế nào là “uống nước nhớ nguồn”. “Uống nước” là sự hưởng thụ thành quả, sản phẩm vật chất và tinh thần. “Nguồn” chỉ nguồn gốc, nguồn cội và tất cả những thành quả mà con người được hưởng bao gồm cả con người, lịch sử, truyền thống. “Nhớ nguồn” là hành động mang tính đạo đức cao, hưởng thụ những thành quả không tự nhiên mà có, do đó, người hưởng thụ phải biết tri ân, giữ gìn, phát huy thành quả của người làm ra chúng.
Câu tục ngữ như lời khuyên răn biết bao thế hệ sau về việc nhớ đến những người đã làm ra những thành quả cho mình hưởng thụ ngày nay. Cuộc đời có nhiều loại người cùng chung sống. Không phải ai cũng hiền lành, trung thực, đạo đức tốt, cũng có lắm kẻ dữ tợn, giả dối, vong ân bội nghĩa người làm ra thành quả. Câu tục ngữ thể hiện thật chính xác và sâu sắc ý nghĩa của mình nhằm khuyên răn những kẻ “khỏi vòng cong đuôi”, “có mới nới cũ”, “qua cầu rút ván”, “khỏi rên quên thầy”, “ăn cháo đá bát”,…
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
Cùng với việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã chú ý rất nhiều đến chính sách xã hội để làm sao cho tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, xã hộ. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với cải thiện đời sống của đại đa số nhân dân lao động cũng như kết hợp với xóa đói, giảm nghèo. Chúng ta đã cố gắng làm được nhiều việc để đền đáp công ơn thương binh, liệt sĩ, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, người có công với nước. Vào dịp 27-7 hằng năm, ngày thương binh liệt sĩ, toàn Ðảng, toàn dân ta có dịp nhìn lại những việc đã làm để đền ơn đáp nghĩa thương binh, liệt sĩ.
Cùng với các chuyến hành hương thăm lại chiến trường xưa, tổ chức lễ cầu siêu cho các linh hồn liệt sĩ đã hy sinh vì đất nước, nhiều hoạt động tri ân khác cũng đồng loạt diễn ra với sự thành kính, biết ơn những người đã ngã xuống. Chắc khó có nơi nào trên thế giới, hoạt động đền ơn đáp nghĩa lại có sức lan tỏa rộng khắp như ở Việt Nam, để rồi trở thành phong trào tri ân trong toàn xã hội, trở thành đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước, nhớ nguồn”… Dân tộc Việt Nam là vậy, con người Việt Nam là vậy – chung thủy, nghĩa tình.
Gần gũi với chúng ta hơn đó là cha mẹ. Từ khi mới lọt lòng, mỗi người đều đã ở trong vòng tay của mẹ. Ai ai cũng lớn lên qua những câu hát chứa chan tình thương. Rồi chính bố là người dẫn dắt ta đi khắp nẻo đường đời. Dù khôn lớn nhường nào, trong mắt cha mẹ, các con luôn là những đứa trẻ, luôn cần sự bảo bọc, che chở. Các thầy cô giáo là những người dạy dỗ chúng ta nên người. Họ trang bị cho chúng ta những hành trang vững chắc nhất để vào đời, đó là kiến thức. Do đó, ai cũng rất yêu mến cha mẹ, kính trọng thầy cô, không quên công lao to lớn của họ đã giúp chúng ta khôn lớn. Một lần nữa, đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” được thể hiện cụ thể nhất.
Một đất nước, gia đình, xã hội mà giữ được đạo lí “uống nước nhớ nguồn” thì đất nước, gia đình, xã hội ấy tốt đẹp, bền vững biết bao. Đây là đạo lý cần có ở mỗi người, nó luôn có sẵn trong mỗi người, thể hiện tuỳ vào từng người. Mỗi khi nhận định một người, người ta vẫn hay quan tâm đến cách thực hiện và thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” ở người ấy. Bởi vì đó là chuẩn mực quan trọng để đánh giá một con người có đạo đức tốt đẹp.
“Uống nước nhớ nguồn” là lời nhắn nhủ hết sức ngắn gọn và giản dị. Nhưng chính nó là một chân lí muôn đời. Nó là bài học sâu sắc, có giá trị từ ngàn xưa đến mai sau. Nếu chúng ta biết thực hành tốt lời dạy này, ta sẽ sống đẹp, sống có nhân cách, góp phần làm đẹp truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam ta.
Trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta luôn phải gồng mình chống lại ngoại xâm và thiên tai khắc nghiệt, lập nên bao chiến công hiển hách, những trang sử vẻ vang. Ði liền với những vinh quang đó phải kể đến những tổn hại hết sức to lớn về người và của. Chính đặc điểm lịch sử đó đã tạo nên một truyền thống tốt đẹp và quý báu của dân tộc ta, đó là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”.
|
Bài văn chứng minh và giải thích câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn
| 1,064
| |
Bài văn cảm nghĩ của em về cây tre
Hướng dẫn
Đề bài: Em hãy viết bài văn cảm nghĩ của em về cây tre trong Tùy bút Cây Tre của nhà văn Thép Mới?
Tuổi thơ ai cũng thường gắn liền với cây tre, bởi tre luôn ở xung quanh ta: trên đường làng, trên bờ đê, trong vườn nhà… Cây tre còn là nguyên liệu trong gia đình chúng ta hàng ngày như: cột tre, giường tre, bàn ghế tre…
Chính vì thế, cây tre dường như là một loài cây khắc sâu vào tâm khảm của mỗi người như câu thơ: Tre xanh, xanh tự bao giờ…
Dưới đây là những bài văn cảm nghĩ của em về cây tre được chúng tôi sưu tầm:
Bài 1. Em Trần Thanh Tâm đã viết bài văn cảm nghĩ của em về cây tre:
Cây tre Việt Nam là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Thép Mới. Hình tượng cây tre trong tác phẩm là phẩm chất của người Việt Nam, chí khí của tre Việt Nam là chí khí của dân tộc Việt Nam trên mọi chặng đường lịch sử, tâm hòn của tre là tâm hồn của nhân dân lao động Việt Nam…
Đọc văn bản Cây tre Việt Nam, ta bắt gặp hình ảnh cây tre thật gần gũi với người lao động, cây tre in đậm trong tâm hồn chúng ta, nó là người bạn thân thiết của nông dân và nhân dân Việt Nam. Tác giả đã nhấn mạnh vị thế của cây tre trong lòng người. Cây tre thật mộc mạc, giản dị nhưng được đề cập đến hơn muôn ngàn cây lá khác. Tuy đất nước ta có nhiều loại cây quý, nhưng gắn bó nhất với con người vẫn là tre, nứa. Tre bao bọc xóm thôn, tre có mặt khắp nơi trên đất nước, tre gần gũi với con người.
Tác giả đã phát hiện rất tinh tế về họ nhà tre. Dù mấy chục loại khác nhau nhưng đều có một điểm chung là có mầm non măng mọc thẳng. Dáng tre vươn cao thanh mảnh, màu tre xanh tươi, lá nhọn, mượt mà. Khi lớn lên, tre cứng cáp, dẻo dai, tre trông thanh cao, giản dị và chí khí như con người lao động cần cù.
Bài văn cảm nghĩ của em về cây tre – Ảnh minh họa
Tuy mộc mạc nhưng tre Việt Nam có vẻ đẹp như chiều sâu của tâm hồn con người. Tre là vẻ đẹp của phong cảnh quê hương, là vẻ đẹp của nền văn hóa lâu đời. Dưới bóng tre, xóm làng hiện lên thật đẹp, một vẻ đẹp thanh bình, yên ả. Đặc biệt vẻ đẹp trang nghiêm của những mái đình chùa thấp thoáng dưới bóng tre xanh, vẻ đẹp thơ mộng của ánh trăng vàng lơ lửng trên ngọn tre. Hình ảnh đẹp của tre không chỉ có như thế, không chỉ đơn thuần là màu xanh cây lá, không chỉ là cái dáng nghiêng nghiêng ôm ấp xóm làng mà vẻ đẹp của tre là sự cần cù, chất phác. Nhà nông xem cây tre như cánh tay phải của mình:
Cánh đồng ta năm đôi ba vụ
Tre với người vất vả quanh năm.
Tre là bạn của nông dân, tre chia sẻ ngọt bùi cùng con người, tre là bạn tâm giao cho mọi lứa tuổi, tre gắn bó với tuổi già, chiếc điếu cày giúp các cụ già trong làng khoan khoái hút thuốc làm vui, nhớ vụ mùa trước, nghĩ đến vụ mùa sau, hay nghĩ đến một ngày mai tươi đẹp. Tre đem lại niềm vui cho trẻ thơ, cái ống sáo hay que chuyền cũng đủ giúp cho lũ trẻ chúng tôi có được niềm vui thú. Tre đem lại hạnh phúc cho từng đôi nam nữ:
Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng.
Đặc biệt hơn nữa là hình ảnh cây tre trong chiến đấu. Gậy tre, chông tre, mũi tên tre đã chiến thắng kẻ thù từ những buổi đầu. Tre mang chí khí như người chiến sỹ vệ quốc đang tung hoành ngang dọc: giữ làng, giữ nước, giữ hòa bình hạnh phúc cho bao người. Hình ảnh cây tre thật đáng tự hào.
Chiến tranh đã đi qua, tre trở lại với nét đẹp duyên dáng của mình. Tre rì rào khúc hát giữa làng quê yên ả, tre vi vút những bài ca xây dựng trong cuộc sống sôi động đang hướng tới tương lai. Tre hiên ngang đứng giữa công chào thắng lợi.
Trong tương lai, tre vẫn còn mãi mãi. Búp măng non luôn trên phù hiệu ở áo học sinh, áo của thanh thiếu niên Việt Nam. Đó là hình ảnh lớp trẻ đang lớn mạnh. Tre vẫn còn mãi mãi với dân tộc Việt Nam, cũng như sức mạnh dẻo dai luôn còn mãi với bao thế hệ. Tre, nứa luôn giúp ích cho người, nứa làm nên trang giấy trắng để chứa đựng bao nguồn tri thức, tre làm nên chiếc nôi êm nuôi dưỡng trẻ thơ, các mặt hàng bằng tre sẽ đi khắp mọi nơi để làm đẹp cho đời.
Hình ảnh cây tre Việt Nam thật cao quý: cần cù, bất khuất, thủy chung. Tre gắn bó với người, cùng người lao động và chiến đấu, cùng con người xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình tượng cây tre Việt Nam là hình tượng của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Phẩm chất của tre là phẩm chất của người Việt Nam yêu nước. Tôi ước mong họ nhà tre sẽ mãi xanh, một màu xanh của tâm hồn, của nền văn hóa, của cuộc sống tươi đẹp đang hướng tơi tương lai. Đúng như nhà thơ Nguyễn Duy đã nói:
Mai sau
Mai sau
Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh.
————————-
Bài 2. Em Huỳnh Quốc Dũng đã viết bài văn cảm nghĩ của em về cây tre:
Tuỳ bút Cây tre Việt Nam được nhà báo, nhà văn Thép Mới viết vào năm 1956, để thuyết minh cho bộ phim Cây tre Việt Nam của một số nhà điện ảnh Ba Lan. Cảm hứng tự hào dạt dào, bút pháp tài hoa đã tạo nên chất thơ trữ tình của áng văn xuôi này.
Mở bài là một câu văn 18 chữ, Thép Mới giới thiệu cây tre trong tâm hồn nhân dân ta, nó là người bạn thân gần gũi thân thiết yêu thương. Câu văn đầy ấn tượng: Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam.
Bài văn cảm nghĩ của em về cây tre – Ảnh minh họa
Phần thứ hai, tác giả nói đến cây tre trong đời sống vật chất và tinh thần, trong sản xuất, trong tâm hồn, trong chiến đấu của nông dân Việt Nam, của nhân dân Việt Nam qua trường kỳ lịch sử. ý tưởng đẹp, giàu có, cách diễn đạt và giọng văn biến hoá, hấp dẫn, đã tạo cho tre có một vị trí đặc biệt trong mỗi chúng ta.
Nước ta thuộc vùng nhiệt đới, chan hoà ánh nắng, cây cỏ tốt tươi xanh muôn ngàn cây lả khác nhau. Tác giả so sánh để ca ngợi vị thế cây tre trong lòng người: Cây nào củng đẹp, cây nào củng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa. Tre có mặt khắp mọi miền đất nước: Đồng Nai, Việt Bắc, Điện Biên Phủ, là luỹ tre thân mật làng tôi. Tre được nhân hoá, trở nên gần gũi yêu thương: đâu đâu ta củng có nứa tre làm bạn.
Họ hàng nhà tre thật đông đúc: tre, nứa, trúc, mai, vầu mấy chục loại khác nhau, nhưng lại có một điểm tương đồng, đó là cùng một mầm non măng mọc thẳng. Một phát hiện tinh tế, ý vị. Tre có một sức sống vô cùng mạnh mẽ vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt. 15 năm sau, nhà thơ Nguyễn Duy cũng có những vần thơ xúc động về sức sống của cây tre:
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu.
(Tre Việt Nam)
Nhìn dáng tre, màu tre, sự sinh sôi nảy nở của tre, nhà văn phát hiện ra bao vẻ đẹp riêng của tre như mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre được nhân hoá trở thành một biểu tượng sáng giá: Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người. Phẩm chất của tre cũng là phẩm chất của con người Việt Nam xưa nay.
Thép Mới trích dẫn câu thơ của Tố Hữu: Bóng tre trùm mát rượi để từ đó nói lên vẻ đẹp của luỹ tre làng quê, một vẻ đẹp êm đềm của xứ sở: Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Tre là vẻ đẹp của cảnh sắc làng quê, là vẻ đẹp của nền văn hoá lâu đời của dân tộc, là nếp sống lao động cần cù và cuộc sống yên vui êm đềm của nhân dân ta qua hàng nghìn năm lịch sử. Các từ ngữ, hình ảnh: bóng tre, dưới bóng tre của ngàn xưa, dưới bóng tre xanh,… được điệp lại, láy lại đã tạo nên giọng văn nhẹ nhàng mênh mang biểu cảm:
Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoảng mái đình, mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền văn hoá lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu dời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang Tre ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp. Màu xanh của tre cũng là màu tâm hồn, màu thời gian, màu sắc của nền văn hoá, màu chung thuỷ.
Cánh tay là hình ảnh hoán dụ ca ngợi cây tre là người bạn cần cù trong lao động của nhà nông, từng chia ngọt sẻ bùi, từng một nắng hai sương với bà con dân cày Việu Nam:
Cánh đồng ta năm đôi ba vụ
Tre với người vất vả quanh răm.
Nói về cối xay tre thủ công Thép Mới gợi nhớ một thời gian khổ. Câu văn xuôi được cắt thành những vế ngắn 3, 4 chữ, có vần, nhằm tạo ra một trường liên tưởng về nền kinh tế lạc hậu, đời sống thiếu thốn của nhân dân ta sau một thế kỷ bị thực dân thống trị: Cối xay tre / nặng nề quay từ, nghìn đời nay / xay nắm thóc.
Tre được nhân hoá: Tre ăn ở với người, tre … giúp người…, tre vẫn phải còn vất vả mãi với người, tre là người nhà,… Từ một vật thể, cây tre trở nên có tâm hồn, có linh hồn gắn bó với cuộc đời vất vả, ấm no, hạnh phúc của nhân dân ta trong dòng chảy thời gian. Tre gắn bó với tâm tình của nhân dân. Lạt giang mềm để gói bánh chưng; sự hiện hữu của nó trong sính lễ như “khít chặt” những mối tình quê thắm thiết; thuỷ chung. Cách viết của Thép Mới rất tài hoa, cách dẫn thơ đạm đà, lí thú.
Giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình què cái thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa:
Lạt này gói bánh chưng xanh
Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng.
Chiếc điếu cày tre làm niềm vui tuổi già, chiếc nôi tre là sự ấm êm hạnh phúc của tuổi thơ, cái giường tre bình dị gắn bó với mọi người mọi nhà sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ. Qua cây tre, tác giả ca ngợi tình nghĩa thuỷ chung là đạo lí cao đẹp của dân tộc.
Buổi đầu, không một tấc sắt trong tay, tre là tất cả, tre là vũ khí. Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng nên Thành đồng Tổ quốc! Và sông Hồng bất khuất có cái chồng tre. Trong đoạn văn sau, tre được nhân hoá mang chí khí người nông dân mặc áo lính, người dũng sĩ anh hùng lẫm liệt hiên ngang. Chữ “tre” được điệp lại 7 lần, câu văn ngắn dồn dập diễn tả không khí chiến đấu và chiến thắng giòn giã của quân và dân ta trong 9 năm kháng chiến chống Pháp.
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh để bảo vệ con người. Tre anh hùng lao động! Tre, anh hùng clúển đấu!.
Đây là một trong những đoạn văn tráng lệ nhất, mang âm điệu anh hùng ca trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Không khí, lịch sử thời đại, chiến thắng Điện Biên Phủ thần kỳ đã đem đến sức tung hoành của ngòi bút của Thép Mới.
Nhạc của tre là khúc nhạc đồng quê. Nhạc của khóm tre làng rung lên man mác trong nồm nam con gió thổi, là diều lá tre là sáo tre sáo trúc giữa lồng lộng trời cao. Đoạn văn xuôi giàu tính nhạc và chất thơ cho ta bao cảm xúc và ấn tượng:
Diều bay, diều lá tre bay lưng trời…
Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời..
Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều
Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng
nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre…
Phần thứ ba của bài tuỳ bút nói về cây tre trong tương lai. Như một quy luật của sự sống vĩnh hằng: Tre già măng mọc. Búp măng non sẽ còn mãi trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam. Tre, nứa sẽ còn mãi… còn ựiãi… còn mãi… với dân tộc ta, “chia bùi sẻ ngọt” với nhân dân ta trong hạnh phúc, hoà bình.
Đất nước sẽ được công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sẽ có nhiều sắt thép, nhưng cây tre vẫn sống mãi trong tâm hồn dân tộc. Bóng mát của tre xanh, khúc nhạc tâm tình của tre, cổng chào thắng lợi, những chiếc đu tre, tiếng sáo diều tre vẫn trường tồn cùng đất nước và nhân dân ta trên dặm đường trường của những ngày mai tươi hát…
Cây tre Việt Nam, cây tre xanh với bao phẩm chất nhũn nhặn, ngay thẳng, thuỷ chung, can đảm là biểu trưng cao quý của dân tộc Việt Nam”. Thép Mới đã dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi cây tre với tất cả tình yêu và niềm tự hào về quê hương xứ sở, về đất nước và con người Việt Nam.
|
Bài văn cảm nghĩ của em về cây tre
| 2,441
| |
Bài văn cảm nghĩ về cây hoa Giấy
Hướng dẫn
Ngôi nhà em được tô điểm thêm phần xinh xắn hơn là nhờ cây hoa giấy trước cổng mà ba em trồng. Mùa hè đang đến, nhưng bông hoa xinh xắn đó sắp nở rộ và nhà em lại được ngắm loài hoa đẹp này.
Hoa giấy nhẹ nhàng làm sao; hương của nó cũng như sắc hoa giấy làm con người muốn chìm đắm một cách dễ chịu. Hương hoa giấy chỉ thoảng thoảng trong gió, sắc hoa thì như những cô thiếu nữ nhỏ nhỏ xinh xinh mặc trên mình những bộ bày đẹp tuyệt trần.
Hoa giấy mang đến cho ta cảm giác êm đềm, nó giản đơn không quá bí hiểm, càng ngắm nhìn ta càng thấy hoa giấy thanh lịch lắm. Cái tên của loài hoa này làm cho chúng ta cảm giác mỏng manh, nhẹ nhàng.
Hoa giấy là loài hoa giản dị nhất nhưng cũng là loài hoa mang sức sống mãnh liệt nhất. Quanh năm hoa giấy luôn nở nhưng vào mùa hè thì nó nở nhiều hơn, bung ra cả cây khiến chợt nhìn vào chúng ta không thấy lá đâu nữa mà chỉ thấy những chùm hoa khoe màu áo mới.
Thân cây hoa giấy không to, nó cũng không cao lớn là bao nhưng sự chống chọi với thiên nhiên, với bão lũ không làm khuất phục nó.
Với em cây hoa giấy không chỉ đẹp mà nó còn có ý nghĩa về ba. Ba đã trồng nên cây hoa giấy trước cổng nhà em; một mình tay ba đã tỉa lá, vun lên loài cây đẹp này. Đặc trưng của hoa giấy là loài cây dễ trồng, trồng ở bất cứ chỗ nào nó cũng thành cây, thành hoa. Hoa giấy không nở riêng lẻ từng bông hoa mà nó chụm vào nhau, dính lấy nhau như sự khăng khít của mỗi thành viên trong gia đình.
|
Bài văn cảm nghĩ về cây hoa Giấy
| 322
| |
Bài văn cảm nghĩ về loài hoa cúc
Hướng dẫn
Nếu hoa hồng là biểu tượng của tình yêu thì hoa cúc lại là biểu tượng của lòng biết ơn, sự tôn kính thì hoa cúc mang vẻ đẹp thanh nhã đến lịch thiệp.
Hoa cúc là loại hoa có nhiều cánh xếp chồng lên nhau, cánh hoa cúc mềm mịn như những tấm vải nhung. Vì nhiều cánh nên khi bung ra hoa cúc mang vẻ đẹp của sự dâng trào. Đầu cánh hoa có dạng hình chữ ‘V’ vì thế khi hoa nở những cánh hoa tạo thành một vòng tròn đẹp mắt không có kẽ hở. Hoa cúc thân mềm và phỗng.
Mỗi lần tết về, mẹ em thường chọn những bông cúc đẹp nhất trong vườn và cắm vào bình, ngày qua ngày hết tháng giêng đến giao thừa rồi hết mồng hoa cúc vẫn hiện diện đó, nó thực sự lâu tàn hơn em nghĩ; em yêu sức sống của nó đối với cuộc sống này.
Mỗi màu của hoa cúc mang lại nhiều ý nghĩa khác nhau đối với cuộc sống này. hình ảnh hoa cúc gắn liền với sự hiếu thảo, yêu thương cha mẹ. Nếu cúc vàng thể hiện lòng kính mến, niềm vui, sự hân hoan, hoa cúc trắng: Tượng trưng cho lòng cao thượng, sự chân thực, còn ý nghĩa của hoa cúc tím: Bày tỏ sự lưu luyến khi phải chia tay, chia ly… Và còn vô số các màu cúc khác mang nhiều ý nghĩa khác nhau.
Với vẻ đẹp dịu dàng, hương thơm thoang thoảng hoa cúc được nhiều người yêu thích là vì vậy
Em rất thích ngắm nhìn những bông hoa cúc xinh xinh, hoa cúc không chỉ đẹp bởi vẻ ngoài của nó mà nó còn có một tâm hồn với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Thiên nhiên đã tạo ra loài hoa đẹp này để con người được chiêm ngưỡng. cảm ơn thiên nhiên, cảm ơn khí trời đã tạo nên vẻ đẹp khó quên của loài hoa này trong lòng mọi người.
|
Bài văn cảm nghĩ về loài hoa cúc
| 344
| |
Bài văn Cảm nhận về người chị
Hướng dẫn
Mỗi lần trời mưa dông em chỉ nhớ tới chị, một người chị ngày đem lo cho e gái mình, em rất muốn dành thời gian tâm sự cũng chị nhưng em không có cơ hội. Hôm nay, trời đã cho em cơ hội đó, cho em có khả năng viết bài văn cảm nhận về người chị. Có lẽ đây là lần đầu tiên em viết những dòng tâm sự cùng chị. Có thể những dòng chữ này không thể nói hết được những suy nghĩ của em về chị, bởi những tình cảm em dành cho chị từ trong sâu thẳm tâm hồn khó có thể nói hết bằng lời.
Người ta thường nói “Một giọt máu đào còn hơn ao nước lã” để nói đến sự gắn kết vốn có của tình thân, nhưng với em lúc này thì mọi suy nghĩ về chị đã xoá tan đi sự hoài nghi đó.
Khi con người ta đang ở tột cùng của sự đớn đau tuyệt vọng thì cũng chính là lúc người ta nhìn thấy tình cảm của người khác dành cho mình một cách rõ nét nhất. Có thể nói những ngày qua là những ngày em thấy mình thật hạnh phúc. Sự quan tâm, săn sóc của chị dành cho em đã làm cho em thật sự xúc động. Em nhận ra rằng bao giờ chị cũng là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng ở bên cạnh em trong mọi lúc vui buồn em có. Một lời động viên, một sự chia sẻ dẫu nhỏ nhoi nhưng nếu xuất phát từ con tim sẽ làm cho người nhận cảm thấy thật ấm áp, và đó cũng sẽ là động lực để họ mạnh mẽ hơn, cứng cáp hơn trước cuộc sống đầy thăng trầm, nghiệt ngã.
Chị yêu thương!
Trong cuộc đời mình có lẽ đây là lần đầu tiên em thương yêu và quý trọng một người không phải chị ruột của mình đến vậy. Một năm không phải là dài, nhưng chừng đó cũng đủ cho em nhận rõ sự gắn kết đang ngày một lớn dần trong em. Và em hiểu rằng trong trái tim em chị đã chiếm một vị trí quan trọng…
Mấy ngày qua tinh thần em không được tốt, chuyện gia đình đã làm cho một con người cứng rắn như em mềm yếu đi rất nhiều…Bờ vai yêu thương của chị đã chìa ra đúng lúc để những giọt nước mắt của em thấm ướt trái tim nhân hậu của chị. Chị đã ngồi hàng giờ bên máy tính cùng em dù chúng ta chẳng nói với nhau một lời nào nhưng vẫn cảm nhận được nỗi đau đang len lỏi trong tim từng người. Và đó cũng chính là giây phút em nhìn thấy rõ lòng chị nhất chị thân yêu ạ.
Cảm ơn chị về tất cả. Tình yêu thương và lòng nhân ái của chị sẽ theo em trên suốt chặng đường đời và chị sẽ mãi là người chị gái thương yêu nhất của em.
|
Bài văn Cảm nhận về người chị
| 516
| |
Đề bài: Bài Văn Giới Thiệu Về Quê Hương Em
Bài làm
Quê hương em – Quảng Ngãi, một vùng đất hẹp miền Trung, mặt hướng ra biển Đông mênh mông, bát ngát; lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Thiên nhiên ở đây đã tạo cho vùng đất miền núi Ấn sông Trà này những cảnh đẹp nổi tiếng như: Thiên Ấn niêm hà, Thiên Bút phê vân, Long đầu hí thủy, Thạch Bích tà dương,…đã từng làm say lòng nhà thơ Chu Mạnh Trinh, khiến ông đã viết nên mười hai bài thơ vịnh cảnh đẹp nơi đây.
Được sinh ra và lớn lên nơi đây, em như cảm nhận được cái chất ngọt ngào của cây mía đã từ bao đời chọn nơi đây làm quê hương. Khí thiêng sông núi đã tạo cho vùng đất này biết bao nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như Lê Văn Duyệt, Trương Định, Trương Đăng Quế, Lê Trung Đình, Phạm Văn Đồng…Đây cũng là quê hương của những thi sĩ đã đi vào thơ ca của dân tộc như Tế Hanh, Bích Khê,…
Ai về quê hương em sẽ có dịp đến Thạch Bích để ngắm cảnh chiều về trên sông Trà Khúc thật mơ màng, làm say đắm lòng người. Đến núi Thiên Ấn, một hòn núi vương vức nằm bên sông Trà Khúc trông như một chiếc ấn trời đóng trên sông. Khi đi ta sẽ cảm nhận được cái vẻ đẹp vừa tráng lệ, vừa nên thơ, trữ tình:
Càng lên cao mới thấy càng xinh
Đứng trên đỉnh núi, trông ra bốn hướng ta sẽ nhìn thấy mênh mông đồng ruộng, cỏ cây, sông nước, làng mạc chập chùng ẩn hiện dưới khói sương huyền ảo, trông như một cảnh tiên. Ở đây còn có một ngôi chùa cổ kính, uy nghiêm, có kiến trúc độc đáo. Đặc biệt là cạnh ngôi chùa này có một cái giếng sâu gần 100m, và ta sẽ nghe các vị sư kể về truyền thuyết cái giếng Phật ấy:
Có thầy đào giếng trên non
Đến khi có nước không còn tăm hơi
Từ núi Thiên Ấn, xuôi về Sơn Mĩ, ta sẽ ghé thăm nhà chứng tích Sơn Mĩ để có dịp nhìn rõ tội ác của đế quốc Mĩ đối với nhân dân ta trong cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo của chúng. Nơi đây, chúng ta sẽ tận mắt chứng kiến cái mương nước mà lính Mĩ đã bắn chết 668 người mà hầu hết là người già, đàn bà, trẻ em. Chúng ta sẽ không cầm được nước mắt khi nghe lời thuyết minh đầy xúc cảm của cô hướng dẫn viên khu du tích này trong vụ thảm sát đó. Lắng lại bao nỗi đau, chúng ta tiếp tục cuộc hành trình về bãi biển Mỹ Khê, một bãi biển sạch và đẹp nhất nước, với nước trong xanh và bờ cát trắng thoai thoải chạy đến hút tầm mắt. Bên bờ biển là cả một rừng dương quanh năm hát lời ru với sóng.
Quê em còn có khu di chỉ văn hóa Sa Huỳnh với bãi biển Sa Huỳnh tựa lưng vào vách núi, nước xanh trong, bãi cát vàng óng ả. Sa Huỳnh và Mỹ Khê là hai nơi nghỉ mát lí tưởng của du khách đến quê em. Hình ảnh hai bãi biển này đã ăn sâu vào tâm hồn em ngay những ngày em còn thơ bé. Em không thể quên được những ngày chủ nhật hoặc những ngày hè, em cùng gia đình đi tắm biển.
Ngày nay, do công việc làm ăn của bố mẹ, em phải xa quê hương, sống trên đất khách quê người, nhưng lòng em vẫn luôn nhớ về quê hương với những cảnh đẹp nên thơ ấy. Em luôn mong tới ngày tết hoặc nghỉ hè để được cùng gia đình trở về thăm quê, để em được tắm mát trên dòng sông tuổi thơ.
|
Bài Văn Giới Thiệu Về Quê Hương Em
| 656
| |
Đề bài: Bài văn giới thiệu về tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
Bài làm
Truyện Kiều là một trong những kiệt tác hàng đầu của văn học dân tộc ở mọi thời đại, kết tinh nhiều giá trị vĩnh cửu. Truyện được sáng tác bởi Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc.
Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, đời Thanh ở Trung Quốc để sáng tạo ra Truyện Kiều. Truyện gồm 3254 câu thơ lục bát, là kiệt tác số một của nền thơ ca cổ điển Việt Nam.
Cốt truyện xoay quanh câu chuyện về một gia đình sống ở đời Minh bên Trung Quốc. Vào thời kì đó, có gia đình Vương Viên ngoại sinh thành được ba người con: Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương Quan. Hai chị em Kiều nhan sắc tuyệt trần, riêng Kiều còn có tài thi họa, ca, ngâm. Nhân ngày hội Đạp Thanh, ba chị em Kiều đi chơi xuán, gặp một văn nhân tên là Kim Trọng. Kim – Kiều tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Kim Trọng tìm cách gặp gỡ Kiều, nhờ cành kim thoa mà hai người ước hẹn, thề nguyền dưới trăng: “Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Khi Kim Trọng về Liễu Dương hộ tang chú, gia đình Kiều gặp tai biến, Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để lấy tiền chuộc cha. Nàng trao duyên cho Thúy Vân rồi theo họ Mã về Lâm Truy. Kiều mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bà làm nhục Kiều vào lầu xanh lần thứ nhất. Kiều được Thúc Sinh chuộc ra lấy làm vợ lẽ. Hoạn Thư đánh ghen. Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư, lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh. Kiều vào lầu xanh lần thứ hai tại Châu Thai. Kiều được Từ Hải chuộc, lấy Từ Hải và trở thành mệnh phụ phu nhân. Kiều báo ân báo oán. Kiều và Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến. Từ Hải bị giết chết, Kiều bị ép lấy viên thổ quan, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn nhưng được cứu thoát rồi đi tu.
Kim Trọng trở lại vườn Thúy, kết duyên với Thúy Vân. Kim Trọng và Vương Quan thi đỗ được bổ làm quan. Cả gia đình qua sống Tiền Đường may mắn gặp vãi Giác Duyên, tìm đến ngôi chùa Kiều đi tu. Kiều gặp lại cha mẹ, hai em và chàng Kim sau 15 năm trời lưu biệt.
Truyện có giá trị nội dung hết sức sâu sắc. Đó là giá trị tố cáo hiện thực, lêu án xã hội phong kiến thối nát, những thế lực hắc ám tàn bạo, dã man đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc con người như bọn quan lại tham ô thối nát, bọn buôn thịt bán người, bọn ma cô lưu manh tàn ác; lên án mặt trái của đồng tiền hôi tanh…
Giá trị nhân đạo của truyện thể hiện ở việc xót thương cho nỗi đau khổ của con người tài sắc bị dập vùi, nói lên ước mơ về hạnh phúc, tự do và công bằng, đề cao quyền sống của con người…
Nguyễn Du còn thể hiện nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, tạo ra những mẫu người với những tính cách tiêu biểu cho cái đẹp, cái xấu, cái thiệu, cái ác… trong xã hội phong kiến suy tàn, thôi nát. Bên cạnh đó là nghe thuật tự sự hấp dẫn, cảm động, tạo ra những tình huống, những bi kịch. Lúc miêu tả, lúc tả cảnh ngụ tình, lúc đôi thoại, câu chuyện về nàng Kiều diễn biến qua trên ba nghìn câu thơ liền mạch.
Trong ngôn ngữ thi ca, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bá( học, sử dụng điển tích, thi liệu văn học cổ Trung Hoa với ca dao, tục ngữ. thành ngữ… nâng lên thành một ngôn ngữ văn chương trong sáng, trau chuốt, mượt mà, mẫu mực. Cho đến nay chưa có nhà thơ Việt Nam nào viết thơ lục bát trên ba nghìn câu hay bằng Nguyễn Du Truyện Kiều xứng đáng là “tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày” (Tố Hữu).
Truyện Kiều đã được nhiều độc giả trong và ngoài nước biết đến, nó được liệt vào hàng những tác phẩm còn sống mãi với thời gian và tên tuổi của Nguyễn Du vì thế mà cũng không còn giới hạn ở trong nước nữa.
|
Bài văn giới thiệu về tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
| 757
| |
Bài văn giới thiệu về tổ em và hoạt động của tổ em trong tháng qua
Hướng dẫn
Sáng nay, trường em được vinh dự đón đoàn khách của sở Giáo dục về thăm.
Khi đoàn đến lớp 3C của chúng em, cô giáo chủ nhiệm yêu cầu từng tổ tự giới thiệu về tổ của mình cũng như hoạt động trong tổ.
Vân Anh – tổ trưởng thay mặt các bạn trong tổ báo cáo:
Tổ của chúng em gồm sáu bạn nữ: em là Vân Anh có năng khiếu về bộ môn Tiếng Việt, Lan Hương giỏi môn Toán, Quỳnh Trang có đôi bàn tay rất khéo léo được mệnh danh là người có đôi "bàn tay vàng", Tuyết Mai có giọng hát hay, đó là "con chim sơn ca" của lớp, Sơn Khanh có dáng đi uyển chuyển nên múa rất đẹp. Còn Kim Dung có tài hùng biện.
Mặc dù chúng em mỗi người có một sở thích khác nhau nhưng chúng em rất thương yêu và đùm bọc nhau như chị em một nhà. Ngay từ đầu năm, Vân Anh và Lan Hương đã giật giải nhất trong kì thi học sinh giỏi cấp quận, các bạn mang về cho lớp, cho trường niềm tự hào và vinh dự. Hiện nay, toàn tổ đang tập hai bài hát để chuẩn bị cho đêm liên hoan văn nghệ toàn trường nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Bên cạnh đó toàn tổ chúng em quyết tâm học tập tốt để đạt thành tích cao trong học kì một này.
BÀI LÀM 2
Hôm nay là một ngày đặc biệt, trường em vinh dự và vui mừng được đón đoàn cán bộ Phòng Giáo dục đến thăm.
Cô giáo chủ nhiệm vui vẻ dẫn đoàn vào lớp và yêu cầu tUng tổ tự giới thiệu về mình cũng như hoạt động trong tổ.
Anh Tuấn – tổ trưởng đứng lên báo cáo:
– Thưa các thầy cô! Tổ của chúng em là tổ 2 gồm 10 bạn trong đó có 6 bạn trai và bốn bạn gái:
Bạn Quốc Dũng là một thủ môn xuất sắc của đội bóng lớp. KI Nam là một tay ghita và là cán sự văn nghệ của lớp. Nam Trung được mệnh danh là "nhà bác học", vừa qua bạn đã đạt giải nhất môn Toán trong kì thi học sinh giỏi cấp quận. Tuấn Tài có đôi bàn tay khéo léo, phụ trách báo tường của lớp. Chí Hùng người cao nhất lớp được gọi bằng một cái tên rất dễ thương "Đông ki sốt". Bốn bạn gái trong tổ là: Anh Đào, Mĩ Hạnh, Diệu Lan, Mĩ Trang đều là những cô gái chăm ngoan và học giỏi. Hiện nay tổ em dang gấp gáp chuẩn bị vở kịch "Cóc kiện Trời" để biểu diễn phục vụ cho các cô chú thương bệnh binh tại bệnh viện quân y nhân ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam.
Để giúp các bạn trong tổ học tập tốt, tổ em đã xây dựng đôi bạn học tập. Toàn tổ quyết tâm không đi học trễ, không nói chuyện riêng, học bài và làm bài đầy đủ trước khi đến lớp, Cuối học kì một này, toàn tổ sẽ đạt thành tích cao trong học tập.
Nguồn:
|
Bài văn giới thiệu về tổ em và hoạt động của tổ em trong tháng qua
| 543
| |
Bài văn hay bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’
Hướng dẫn
…Vừa đặt chân tới làng thì gặp một sự việc bất ngờ khiến ông xúc động. Thế là ông ngẫu hứng viết bài thơ này. Bài thơ có hai chữ ‘ngẫu thư’ không có nghĩa đây là sự tình cờ bộc lộ một cách tự nhiên mà bắt nguồn từ một nỗi niềm day dứt, một tình yêu quê hương sâu nặng, thường trực bất cứ lúc nào cũng có thể bật ra thành tiếng nói, thiết tha, chân thành nhất. Do đó, bài thơ có kết cấu cũng như hình ảnh, ngôn ngữ không có gì cầu kì trau chuốt. Lời thơ cứ tự nhiên kể theo sự việc đã xảy ra, nhưng nội dung cảm xúc thật là sâu lắng, xúc động. Bài thơ thuộc thể Đường thi, thất ngôn tứ tuyệt – bản dịch chuyển thành lục bát – gồm hai phần.
Hai câu đầu vừa kể, vừa tả về bản thân mình:
‘Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,.
Hương âm vô cải, mấn mao tồi’
(Khi đi trẻ, lúc về già,
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)
Nhà thơ sử dụng từ trái nghĩa và hình ảnh đối chọi rất chỉnh. Ở câu một, từ tiểu li (nhỏ đi) trái nghĩa với đại hồi (lớn về). Hình ảnh tuổi trẻ xa gia đình đối chọi với hình ảnh lúc già về lại quê hương. Ở câu hai cũng xuất hiện hình ảnh đối: tiếng nói không thay đổi – tóc đã rụng nhiều (chữ Hán Vớcải:không đổi, tồi:thay đổi). Hai câu thơ ngắn gọn, với những từ trái nghĩa, những hình ảnh đối chọi như thế khái quát được quãng đời xa quê, làm nổi bật sự thay đổi về vóc dáng và tuổi tác, đồng thời bước đầu hé lộ tình cảm quê hương của nhà thơ. Câu một tự sự để biểu cảm, câu hai miêu tả để biểu cảm. Đây là phương thức bộc lộ tình cảm một cách gián tiếp. Ngôn từ và hình ảnh cứ nhẹ nhàng cất lên, thấm thía biết bao cảm xúc, nghe như đằng sau có một tiếng thở dài. Nhà thơ nhìn thấy quê hương, cất tiếng nói theo giọng của quê hương (hương âm), rồi tự ngắm mình, tự nghĩ về mình, thấy mình thay đổi nhiều quá trước quê hương, làng xóm.
Sang hai câu sau thì sự lạ ấy đã xảy ra:
‘Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?’
(Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng: Khách ỏ nơi nào lại chơi?)
Bản thân nhà thơ thay đổi đã đành. Song dường như đằng sau sự việc trẻ con gặp mặt không nhận ra người quen cũng phần nào nói lên sự thay đổi của quê hương. Điều độc đáo ở đây là nhà thơ tả hình ảnh và tiếng cưới nói ríu rít hồn nhiên của trẻ con khi gặp nhà thơ. Các cháu không những không chào đón thân mật trong quan hệ họ hàng, làng xóm mà lại hỏi một câu nghe đến não nuột: ‘Ông là khách ở nơi nào, ở làng nào, thành phô’nào đến chơi…?’. Rõ ràng, trong khi mình thay đổi, thì quê hương cũng đổi thay. Mình thì đi từ trẻ đến già mới quay về, còn ở quê hương thì tuổi già, bạn bè cùng trang lứa đã vắng bóng, chỉ còn lại lũ trẻ ngây thơ. Ngẫm ra, trong hoàn cảnh cụ thể bấy giờ của nhà thơ, một ông lão 86 tuổi thì điều đó đúng và thật xót xa. Làng quê chỉ còn nhi đồng ra đón, chứng tỏ những người cùng tuổi với nhà thơ nay đã thưa vắng nhiều. Ở thế kỉ thứ VIII (năm 744, Hạ Tri Chương về quê) xa xưa ấy ‘nhân sinh thất thập cổ lai hi’ – người thọ bảy mươi xưa nay hiếma>. Do đó, trở về nơi chôn nhau cắt rốn, mà bị xem như khách thì quả là chua xót. Các em nhỏ càng ngây thơ cười nói, hỏi han bao nhiêu, nỗi lòng nhà thơ càng tan nát bấy nhiêu. Tình huống và giọng điệu của hai câu cuối bài thơ vừa hài, vừa bi như muốn cười ra nước mắt.
|
Bài văn hay bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’
| 711
| |
Đề bài: Bài Văn Hay Giới Thiệu Về Món Phở Hà Nội
Bài làm
Hà Nội là nơi tập trung đông dân cư ở nhiều vùng miền khác nhau, vì vậy, đây là nơi hội tụ của rất nhiều những nét đẹp văn hóa. Nhắc đến Hà Nội, người ta không thể không nhắc đến món phở, mang hương vị đặc trưng của đất Hà Thành.
Phở là một món ăn rất tinh tế đã có từ rất lâu đời và mang rất nhiều những hương vị khác nhau tùy tay người nấu. Tuy nhiên, thành phần chính của phở bao gồm bánh phở, nước dùng có mùi thơm từ gừng, quế, hồi và thảo quả nướng kết hợp với vị ngọt từ xương lợn được ninh nhừ, thịt bò được thái mỏng và trần vào bát phở cùng với các loại rau thơm. Khi ăn phở, ta thường ăn kèm với quẩy nóng và các loại gia vị như dấm ớt, chanh tươi vắt vào nước dùng để có vị chua chua thanh thanh. Phở có mùi thơm kì lạ rất cuốn hút người ăn. Không có gì tuyệt vời hơn, một buổi sáng mùa đông lạnh, được thưởng thức một bát phở nóng rồi đi làm. Phở là món rất dễ ăn, mọi người ở mọi lứa tuổi đều có thể ăn được mà không sợ béo hay ngấy. Chúng ta có thể thưởng thức phở Hà Nội ở các nhà hàng sang trọng, các quán ven đường…Ngoài phở bò, ta có thể thưởng thức món phở khác như phở gà cũng rất ngon và hấp dẫn.
Ta có thể thưởng thức rất nhiều các món được làm từ phở: phở nước, phở xào, phở chiên phồng…tuy nhiên món phở nước luôn là món ăn hấp dẫn nhất. Đối với người Việt Nam và cả khách du lịch nước ngoài thì phở được coi là một món ăn tinh tế. Phở phải được đựng trong chiếc bát sứ thì mới thấy được hết tính ẩm thực và tính thẩm mĩ của nó. Bát phở thật hấp dẫn với rất nhiều gia vị đi kèm và màu sắc đẹp mắt. Chỉ cần ngửi mùi thơm của nước dùng, cũng đủ để ta cảm thấy ngất ngây. Các hương vị của thịt, xương, rau thơm quyện hòa vào nhau, tạo nên mùi thơm đặc biệt đi vào lòng người. Khi ăn phở, ta nên ăn chậm để cảm nhận được vị ngon của nó. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cái cay dịu của gừng, cái cay nồng của ớt, cái thơm nhè nhẹ của rau và mùi thơm nồng của hành lá. Tất cả hòa quyện ngọt ngào, tạo nên vị thơm ngon đặc trưng của món phở.
Không có từ ngữ nào có thể diễn tả một cách đầy đủ sự tinh tế và cảm giác tuyệt vời khi thưởng thức món phở Hà Nội. Chỉ biết rằng, đó là một món quà đặc biệt, không lẫn với bất cứ món nào khác. Cuộc sống càng hiện đại, con người luôn sáng tạo để chế biến những món ăn ngon, nhưng món phở Hà Nội chắc chắn sẽ luôn là sự lựa chọn tin cậy đối với những người dân Hà Thành và các khách du lịch khi đặt chân tới Hà Nội.
|
Bài Văn Hay Giới Thiệu Về Món Phở Hà Nội
| 554
| |
Bài văn kêu gọi ủng hộ người đồng tính của nữ sinh lớp 10
Hướng dẫn
Bài văn kêu gọi ủng hộ người đồng tính của nữ sinh lớp 10
Đây là bài làm trong giờ kiểm tra 15 phút môn Văn, với chủ đề “Nghị luận một vấn đề xã hội mà em quan tâm” vào ngày 13/9. Bạn nữ lớp 10 chuyên văn, tại một trường chuyên THPT ở TP.HCM đã chọn đề tài về người đồng tính.
Quả đúng thế thật, mỗi người khi sinh ra đều mang trong mình một vẻ đẹp riêng, một nét khác biệt cũng như một phong cách sống khác nhau. Không ai khi sinh ra có quyền lựa chọn giới tính, cũng như lựa chọn tính cách của bản thân. Vì vậy đồng tính không phải là một vấn đề không tốt, mà ngược lại đó còn là một vấn đề cả xã hội cần quan tâm.
Trước hết đồng tính không phải là căn bệnh và cũng không có phương thuốc, cách đặc trị riêng nào như mọi người vẫn tưởng. “Đồng tính” là từ ghép của hai từ “đồng”, có nghĩa là “cùng, giống”. Con “tính” chính là tính hướng, giới tính của mỗi người. Nói cách khác, đồng tính là một thể loại giữa những người cùng giới.
Ngày nay trong cuộc sống, đồng tính dần trở thành một vấn đề “nóng” được cả xã hội chú trọng và quan tâm. Những người đồng tính, theo một cách nào đó, luôn cố gắng che giấu tính hướng thật của mình. Họ đa phần thường là những người thích sự lặng yên, sống lặng lẽ và đôi khi một trong số họ rất ngại giao tiếp với thế giới xung quanh.
Tuy là nam, nhưng gay, tự sâu thẳm vẫn tồn tại một phần mềm yếu cũng như gay thường sẽ nhạy cảm và thận trọng với thế giới trước mắt họ hơn những người khác. Les cũng vậy, họ cũng là những người đồng tính như gay nhưng phải mất một khoảng thời gian khá lâu để chúng ta gặp gỡ và tiếp xúc mới có thể nhận ra. Họ phần lớn thích sự tĩnh lặng và tình cảm, sự nhận thức mọi người, mọi vật xung quanh cũng rất lặng lẽ. Vì vậy les ít khi nào dám nói lên tính hướng thật của mình.
Đồng tính nói chung, cả les và gay cũng chỉ là những con người vô cùng bình thường như chúng ta, cùng đứng chung một bầu trời, cùng hít chung một bầu không khí. Vậy thì vì sao chúng ta phải kì thị, miệt thị họ bằng những từ ngữ cay đắng? Tại sao chúng ta lại dùng hai từ “ghê tởm, dơ bẩn” để gán cho họ? Chúng ta có chắc rằng, mỗi lời ta thốt ra chỉ là một câu nói bình thường? Chúng ta có chắc rằng họ sẽ không đau khổ, buồn tủi thậm chí là nhục nhã? Chúng ta có bao giờ chắc rằng họ sẽ không cảm thấy chán nản với thế giới đầy rẫy những người miệt thị họ?
Mỗi lời chúng ta, dù vô tình hay cố ý cũng đều tựa như một nhát dao đam xuyên qua trái tim họ. Sau này dù đã nguôi ngoai cơn đau nhưng vết thương trong tâm hồn và trái tim ấy vẫn sẽ là một cơn đau âm ỉ. Nó sẽ bám lấy tâm hồn họ dai dẳng, ám ảnh lấy tâm trí họ và trở thành những vết cứa trong hồi ức.
Vì vậy ta hãy dang rộng vòng tay đón nhận lấy những đồng tình nữ, nam, yêu thương cảm thông, chia sẻ với họ. Dù là les hay gay chung quy cũng chỉ là nhưng người bình thường nhưng bị xã hội kì thị. Vì vậy, chúng ta những người có học thức, hiểu biết rõ ràng hãy dũng cảm đứng lên bảo vệ họ. Bởi vì người đi nói người khác quái dị, tự sâu thẳm họ cũng chỉ là mong muốn có được sự dũng cảm, dám nói lên sự thật như họ. Les, gay đúng là những con người sống thật với giới tính của mình, không trốn tránh hay lừa dối bản thân.
Đúng như câu hát của Lady Gaga: “Tôi xinh đẹp trên phong cách của mình, bởi vì Chúa đã tạo ta tôi như thế”. Chúng ta hãy tự tin sống với giới tính thật của mình và tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng.
Bài văn gây chấn động mạnh tới cộng đồng. Ngày nay giới tính thứ 3 đang được quan tâm,rất nhiều người đã bạo dạn sống với giới tính thực của mình. Chúng ta hoan nghênh điều đó! Chúc mọi người đều sống tốt!
|
Bài văn kêu gọi ủng hộ người đồng tính của nữ sinh lớp 10
| 790
| |
Bài văn kể lại một việc tốt của em đã làm để bảo vệ môi trường
Hướng dẫn
GỢI Ý LÀM BÀI:
a) Một số việc tốt góp phần bảo vệ môi trường:
– Chăm sóc bồn hoa, vườn cây của trường (hoặc khu phố, làng, xã…)
– Bảo vệ hàng cây mới trồng trên đường đến trường.
– Nhặt rác, giữ vệ sinh và cảnh đẹp của hồ nước ở địa phương.
– Dọn vệ sinh cùng các bạn ở khu phố (hoặc làng, xã…)
b) Cách kể:
– Em đã làm việc gì? (việc đó có thể là chăm sóc cây hoa, nhặt rác, dọn vệ sinh khu vực nơi em sinh sống, có thể là ngăn chặn những hành động làm hại cây, hoa, làm bẩn môi trường sống…)
– Kết quả ra sao?
– Cảm tưởng của em sau khi làm việc đó.
BÀI THAM KHẢO
Hôm nay, xóm nhà em ở phát động phong trào "dọn dẹp làm sạch xóm làng".
Mới tờ mờ sáng sớm, khi ông mặt trời vừa ló rạng nhô lên chiếu những tia sáng chiếu xuống mặt đất, Cả xóm em đánh kẻng thông báo buổi tổng vệ sinh xóm nên nhà nào, nhà nấy mang theo nào cào, cuốc, chổi… đổ ra đường để làm vệ sinh. Em cũng mang chiếc chổi cùn theo mẹ ra quét rác đường làng. Em và mẹ được bác trưởng thôn phân công nhiệm vụ quét một đoạn đường. Mẹ và em chia nhau quét, em quét từ dưới lên, mẹ quét từ trên xuống. Em quét rất cẩn thận, moi từng cọng rác ở hai bên đường, quét đến đâu, em thu gom rác lại đến đó, rồi lấy mo hốt rác xúc đổ vào thùng. Nhiều cọng rác "cứng đầu" bám chặt vào đất khiến em phải lấy bao tay đeo vào kéo nó lên, vừa làm em vừa lẩm bẩm "cho mày chết này…"
Chẳng mấy chốc, lũ rác ở đoạn đường do mẹ và em quét đã nằm gọn trong thùng rác. Con đường đã trở nên sạch sẽ. Bác tổ trưởng đi kiểm tra lại một lần, bác dừng ở trước cửa nhà em và khen em ngoan, tích cực lao động.
Em rất vui vì đã góp một phần sức lao động của mình để bảo vệ môi trường sạch đẹp.
BÀI ĐỌC THÊM
Hôm nay, vừa làm xong bài toán khó, em ra ghế đá công viên ngồi chơi. Những làn gió mát dịu nhẹ thoảng qua hôn lên má em, vuốt tóc em như một người mẹ hiền. Em thấy lòng mình thanh thản hon. Bỗng em thấy đất dưới chân em như động đậy. Em nghe như tiếng của đất muốn tâm tình với em thì phải. Em chăm chú lắng nghe.
Cô bé ạ! Bây giờ tôi đang buồn lắm. Tôi chẳng còn biết tâm sự với ai ngoài cô cả. Tôi sợ mọi người không hiểu được lòng tôi. Cô bé ơi, nỗi buồn đó cứ giằng xé tâm hồn tôi như một hòn đá nặng khiến tôi day dứt mãi. Cô có nhìn thấy quả đồi lớn trước mặt không? Chắc rằng cô cũng tưởng nó ở gần đây phải không? Không phải thế đâu! Nó ở cách xa hàng ngàn cây số cơ, người dân ở đó ăn mặc khác cô nhiều. Họ ưa mặc váy dài đến chân. Cả tiếng nói nữa, họ cũng rất khác.
Cô lên đấy có lẽ không hiểu họ nói gì đâu. Họ sống rất thanh bình. Ngày ngày, họ làm việc quần quật một nắng hai sương. Họ lên rẫy làm nương. Từ một quả đồi trọc, họ đã biến tôi thành những nương lúa tốt. Từ một vùng đất hoang sơ, họ đã biến tôi thành miền đất chứa đầy hạnh phúc. Chắc hẳn cô sẽ nghĩ rằng số họ hạnh phúc từ đây.
Nhưng không, có một sự kiện xảy ra khiến tôi day dứt mãi. Khi đó, nhà nước phát động trồng rừnq "Pam". Nhân dân ở đó cũng hồ hởi khi nhận được dự định này, cả đến các em học sinh nữa. Họ chia nhau đi tìm cây về trồng. Tôi nhìn họ làm việc mà cũng thấy trong lòng vui biết nhường nào.
Chẳng mấy chốc, một nửa phần quả đồi đã như đầy màu xanh. Màu xanh của những cây non, màu xanh của hòa bình tự do. Những người dân vừa làm vừa hát vui vẻ. Họ hát những bài hát về màu xanh, màu vàng. Tôi muốn cười thật to cho thỏa mãn nỗi lòng. Nhưng tôi sợ mọi người ngạc nhiên sẽ cản trở công việc, cho nên tôi chỉ cười thầm mà thôi. Cô có biết lúc đó tôi vui như thế nào không? Chắc hẳn cô sẽ không thể nói ra đâu vì chính tôi, tôi cũng không biết sẽ nói thế nào nữa, một niềm vui thật khó tả, chứ không như bây giờ đâu cô bé ạ!
Hai năm sau, rừng cây đó đã tươi tốt. Ngày ngày, chim chóc ríu rít chơi với nhau trên cành, hót véo von nghe như một bản nhạc rừng vui tai. Bỗng từ phía dầu rừng, có một người dân đến, trên tay cầm một bao diêm và một lọ gì đó. Cô bé ơi, cô có biết không? Nỗi buồn day dứt của tôi cũng có lẽ từ đây. Nghĩ lại tôi càng thấy căm thù gã đó. Gã đến gần rừng, tôi thấy một điều gì đó không lành rồi. Gã thu gom lá cây khô lại thành một đống to, rồi gã dùng cái lọ có đựng nước ban nãy đổ lên các cành cây, đổ xuống đống lá khô và đổ té tát xuống tôi. Thứ nước đó ngấm vào lòng tôi. Trời ơi! Đắng quá. Đó không phải là thứ rượu vang trắng mà người dân lành cho tôi mà nó là một thứ nước đáng sợ. Chúng tôi muốn gọl người đến cứu giúp. Nhưng mà, trời ơi!
Người dân ở đây sao không đến. Có lẽ họ không hiểu được tiếng nói của chúng tôi đâu. Lúc đó, tôi cầu mong ông trời sẽ cho tôi tiếng nói của con người để tôi gọi người dân ở đây đến. Nhưng đã muộn rồi, ngọn lửa đã hiện ra trước đống lá khô rồi "bùng" lên cao. Cả đám lá khô cháy rực lên. Lửa lan dần, lan dần và tỏa ra khắp khu rừng. Lưỡi lửa liếm dần từng gốc cây đến ngọn cây. Cả khu rừng kêu thất thanh. Tiếng kêu cứu lúc đầu còn to, càng về sau càng nhỏ dần nhỏ dẩn. Chim chóc bay nháo nhác. Chỉ mấy phút sau, ngọn lửa giận dữ lan tỏa đi khắp khu rừng, cả khu rừng đã chìm trong biển lửa đỏ. Tôi đau đớn vô cùng. Hỡi ôi, sao họ lại tàn nhẫn thế! Đất đây, cây đây, chúng tôi có tội tình gì mà con người nỡ hành hạ. Chẳng lẽ họ không hề biết rằng kết quả sẽ ra sao ư? Những trận mưa to sẽ đổ xuống, nước sẽ ào ào chảy, sẽ cuốn phăng những ngôi nhà của họ vì không có rừng cây bảo vệ. Đó, cô có nhìn thấy không, thân cây đang gục ngã đó. Còn đâu vùng đất xanh tươi đẹp giàu nữa. Tôi cầu xin cô hãy ngăn chặn bàn tay phá hoại cây rừng, đừng để cho chúng tôi phải đau khổ.
Thế rồi, mặt đất bỗng im lặng. Một giọt nước rơi xuống tay em, rồi hai giọt, rồi nhiều dần. Mưa lã chã rơi. Hình như ông trời bây giờ mới thấu hiểu nỗi buồn của đất nhưng đã muộn rồi.
Em lủi thủi đi về nhà dưới trời mưa. Chợt nhớ tới lời nói của đất, em mong sao có một lời khuyên nhủ với những người đốt rừng kia để họ có thể hiểu ra sai lầm của mình và sửa chữa nhanh chóng cho đất đởbuồn.
Nguồn:
|
Bài văn kể lại một việc tốt của em đã làm để bảo vệ môi trường
| 1,322
| |
Bài văn kể về một bữa cơm sum họp đầm ấm trong gia đình ngày tết
Hướng dẫn
Buổi mai hôm ấy,một buổi mai đầy nắng ấm, gia đình tôi cùng gia đình cô, chú tôi về chúc Tết ông bà nội và ăn bữa cơm sum họp đầu năm cùng ông bà. Tết năm nay, số thành viên trong nhà đã là mười hai người. Ngày hôm ấy, đại gia đình nhà tôi vui vẻ hẳn lên.
Bữa cơm thân mật cùng đại gia đình đối với tôi là ngon nhất trong năm. Hạnh phúc nhất là có đầy đủ các thành viên trong gia đình, trên kính dưới nhường. Bà tôi đã tự tay nấu các món ăn truyền thống, đậm đà hương vị ngày Tết. Cả nhà tôi ai cũng công nhận bà nấu ăn ngon. Cả nhà vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ,ông tôi kể cho cả nhà nghe về những thành quả công việc của năm qua và dự định cho năm tới. Những tiếng cười mãn nguyện trên khuôn mặt của từng người. Nhưng hình như người vui nhất chính là bà tôi. Bà rất vui sướng khi nhìn thấy con cháu tập trung đông đủ như thế này. Mẹ tôi nói:
– Sang xuân, chúng ta sẽ nuôi một bầy gà trong vườn này! Để những ngày chúng ta sum họp về đây sẽ được hưởng những gì mà chúng ta tự làm được.
Cả nhà ai cũng đồng tình với ý kiến của mẹ tôi. Và hình như trong tôi có những cảm giác vui mừng khó tả. Chị em tôi được vui đùa thoả thích với những đứa con của cô, chú. Chúng thật hiếu động, đó là sự tinh nghịch của những đứa trẻ mới lớn.Tuy tinh nghịch nhưng chúng thật đáng yêu. Cả bọn trẻ chúng tôi chạy nhảy hò reo, nô đùa quanh sân; chơi ví bắt trốn tìm trong khu vườn râm mát bóng cây. Người lớn thì mải miết trò chuyện trong nhà. Trên bàn thờ gia tiên, nhang trầm, đèn nến luôn nghi ngút khói hương. Đại gia đình tôi thật đầm ấm biết bao!
|
Bài văn kể về một bữa cơm sum họp đầm ấm trong gia đình ngày tết
| 356
| |
Bài văn kể về quê hương nơi em đang sống
Hướng dẫn
1./Dàn ý tả cảnh quê hương
Mở bài: Giới thiệu quê hương em ở đâu?
Có thể mở bài nhiều cách. Ví dụ: Mở bài trực tiếp: Quê hương em nằm ở…..
Mở bài bằng một lời mời: Nếu có dịp đến với…, mời các bạn ghé thăm…….Nơi đó là quê hương em.
Mở bài bằng một câu hỏi: Các bạn đã đến mảnh đất…………bao giờ chưa? Các bạn biết không, nơi đó là nơi chôn nhau cắt rốn, quê hương hằng yêu dấu của mình.
Mở bài bằng một câu thơ/ khổ thơ/ lời bài hát.
Quê hương là gì hở mẹ?
Mà sao cô giáo dạy phải yêu.
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
Ai cũng có cho mình một mành đất quê hương yêu dấu, để khi xa quê mãi nhớ về. Em cũng vậy. Em thiết tha yêu mến quê hương của mình – thành phố…..
Thân bài: Giới thiệu những điểm đặc sắc về truyền thống lịch sử, cảnh đẹp của quê hương.
Quê hương em có truyền thống đấu tranh như thế nào? Hoặc quê hương em có những làng nghề truyền thống/ loại hình văn hóa dân gian nào độc đáo?
Quê hương em có những phong cành gì đẹp? Hoặc có địa điểm du lịch nào nổi tiếng?
Người dân quê em ra sao?
Tình cảm của em đối với quê hương mình?
Kết bài: Bày tỏ tình cảm của em vói quê hương mình.
BÀI VĂN MẪU
Nếu có dịp đến với Việt Nam, mời bạn ghé qua thủ đô Hà Nội – thành phố của tôi – thành phố vì hòa bình. Tôi yêu biết bao nhiêu nét đẹp oai hùng và hoa lệ của mảnh đất ấy.
Hà Nội tọa lọc giữa trung tâm của vùng đồng bằng miền Bắc và có dòng sông Hồng lịch sử vát ngang qua. Hà Nội giống như một chứng nhân lịch sử chứng kiến các cuộc đấu tranh bền bỉ của cha ông, chống lọi quân thù. Giặc Pháp, giặc Mĩ đã từng nhiều lân tàn phá ndl đây. Thế mà, Hà Nội vân vưdn mình sống dậy, để trỏ thành trung tâm kinh tế – văn hóa phồn hoa của cả đất nước. Hà Nội ngày nay đẹp lắm. Đến với Hà Nội, các bạn sẽ được thăm, hồ Gưdm. Khi xưa, vua Lê Thái Tổ sau khi dẹp loạn giặc Minh đã trở lại gươm cho Rùa vàng tại hồ này. Mặt hồ xanh ngát như ngọc, yên bình và tĩnh lặng giữa lòng thủ đô. câu Thê Húc sdn đỏ, cong cong dân vào đền Ngọc Sdn. Các bọn còn được đến thăm lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại mà câ thế giới đều ngưỡng mộ. Trước lăng là bây mưdi chín ô cỏ xanh mướt, tượng trưng cho bảy mươi chín tuổi xuân mà người đã cống hiến cho dân tộc. Tôi còn dẫn các bạn đi thăm Bảo tàng Dân tộc học, chùa Một Cột,… nơi ghi dấu truyền thống văn hóa của dân tộc. Và tôi không thể nào quên giới thiệu Văn Miếu Quốc Tử Giám – trường đại học đàu tiên của Việt Nam – biểu tượng cho tinh thân hiếu học của người Việt. Hà Nội còn có rất nhiều món ăn ngon, có phố cổ xưa cũ, có chợ đêm sôi động. Người Hà Nội thanh lịch, tốt bụng và giàu lòng hiếu khách. Chắc hẳn, rồi bọn sẽ nhớ thương Hà Nội như tôi.
Mới chỉ kể thế thôi, các bạn đã rất muốn đến với Hà Nội rồi phải không? Hà Nội bốn ngàn năm còn vô vàn điều thú vị để bọn khám phá. Còn tôi, tôi ngày càng yêu và tự hào về thành phố quê hương mình. Tôi mong muốn nay mai sẽ góp sức mình xây dựng, làm quê hương thêm giàu đẹp.
BÀI LÀM 2
Quê hương là gì hở mẹ?
Mà sao cô giáo dạy phải yêu.
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổl thành người.
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
Trong trái tim, ai cũng có cho mình một mảnh đất quê hương yêu dấu, để khi xa quê mãi nhớ về. Em cũng vậy. Em thiết tha yêu mến quê hương của mình – "thành phố hoa phượng đỏ" – Hải Phòng.
Bố em bảo, Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất ở miền Bác. Chẳng thế mà, chiều nào, em cũng nằm nghe thấy tiếng sóng biển rì rào vỗ vào bờ cát tráng. Tại các cảng, thuyền bè đi lại tấp nập. Có những chiếc thuyền khổng lồ, nhìn như một con cá kình lớn cõng cả tòa nhà trên lưng. Em rất tự hào vì Hải Phòng có bãi biền Đồ Sơn,
Cát Bà tuyệt đẹp. Mùa hè, nước biển trong vắt như một tấm kính vừa được ai lau sạch. Biển xanh, cát tráng của Hải Phòng… là địa điểm du lịch yêu thích của rất nhiều người. Mùa hè, các con phố ở Hải Phòng đỏ rực hoa phượng vĩ; tiếng ve kêu râm ran. Những ngôi nhà cổ kính, tường ngả màu thời gian đứng san sát bên cạnh các tòa nhà hiện đại. Mỗi ô cửa xanh xanh bé nhỏ, hoa hồng leo khoe sắc thắm. Hải Phòng như một cô gái yêu kiều. Quê hương Hải Phòng có thật nhiều lễ hội, khu vui chơi,… Ai đã từng đến với Hải Phòng, hẳn sê không quên người dân nơi đây hiền lành, giản dị mà giàu lòng mến khách. Hải Phòng ngày càng phát triển và sâm uất, em rất yêu mảnh đất quê hương này.
Mỗi vùng quê, mỗi thành phố lọi có một vẻ đẹp riêng. Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên vẻ đẹp của đất nước. Em mong muốn nay mai minh sẽ học thật giỏi để trở thành một người lái tàu, có thể đi hết vùng biển của quê hương, xây dựng Hải Phòng giàu có hơn nữa.
Nguồn:
|
Bài văn kể về quê hương nơi em đang sống
| 1,007
| |
Bài văn kể về thành thị hoặc nông thôn lớp 3
Hướng dẫn
Bài làm 1: Em sinh ra và lớn lên ở thủ đô Hà Nội, Đây là một thành phố lớn, sâm uất và hiện đại bậc nhất của cả nước. Nếu có dịp đến nơi đây, bạn sẽ thấy đường phố rất rộng rãi và được phân ra làm nhiều làn đường qua lại. Hai bên đường là vỉa hè dành cho người đi bộ và hàng cây xanh mát. Nhà cửa mọc lên như nấm và san sát vào nhau. Có những tòa nhà cao chót vót lên đến tận mây xanh. Chúng đều được khoác lên mình những tấm áo choàng là các biển hiệu quảng cáo màu xanh đỏ, rất bắt mát. Dưới lòng đường, xe cộ đi lại như mắc cửi. Những chiếc xe ô tô nối đuôi nhau từng hàng, từng hàng rốt ngăn nắp. Tiếng còi xe vang lên inh ỏi. Thật hiếm khi thấy lúc nào Hà Nội không đông đúc, không sôi động. Bên cạnh đó, Hà Nội còn có nhiều chỗ vui chơi. Các bạn nhỏ rất thích được vào sở thú. Ở đó có rất nhiều con vật ngộ nghĩnh. Từ những chú chim nhỏ bé đến những chú sư tử, hổ, báo hung dữ từ khắp nơi đều được mang về đây, Em còn thích được ba mẹ cho đi chơi siêu thị, vào rạp chiếu phim. Ở đó, kể cả lúc tối muộn cũng sáng trưng như ban ngày. Em thấy thành phố của mình rất hiện đại, sôi động và đẹp đẽ. Em mong sao Hà Nội sẽ mãi luôn giữ được vẻ đẹp của mình và ngày càng phát triển hơn. Muốn vộy, em sẽ không bao giờ vứt rác ra đường và sẽ chung tay cùng mọi người giữ gìn thành phố sạch đẹp.
Bài làm 2: Hè năm ngoái, em được theo chân bố vào thành phố Hồ Chí Minh công tác vài hôm, Dù thời gian ngổn ngủi nhưng bố đã tranh thủ đưa em đi chơi một vài nơi. Chao ôi! Thành phố mới ồn ào, sôi động làm sao! Bước xuống đường, xe cộ nối đuôi nhau từng hàng đi lọi như mắc cửi. Ở quê, em thường được mẹ chèo xuồng dẫn đi học. Còn ở đây, mọi người ai cũng đi xe máy và ô tô. Có chiếc xe to như cái nhà di động, cao đến tận hai tâng. Bên lề đường, nhà cửa sát nhau chẳng có kẽ hở với đủ màu sác. Thật là sặc sỡ và bắt mắt. Có tòa nhà, em ngước lên nhìn mãi mà Châng thấy nóc đâu, trông nó như những cột trụ trời vậy. Em vừa thích, vừa sợ khi được bố dân đi thang máy. Thật tài tình, chỉ trong có mấy giây, em đã lên đến lưng chừng trời. Hằng ngày, mẹ em thường đi chợ của các bà bán hàng trên ghe thuyền. Nếu lên đây, chác mẹ phải ngọc nhiên và lọ lâm lâm. Bởi lẽ, hàng hóa được bày bán trong siêu thị rộng lớn, đèn điện lốp lánh, nhìn cái gl cũng đẹp. Siêu thị còn được trang trí lộng lây với các dây màu và đèn nhâ'p nháy, Em thích thú chạy nhảy khắp nơi. Thố nhưng, em vân thích nhất là được bố cho đến thủy cung chơi. Bố bảo nơi đây được xây dựng sâu dưới lòng đất. Khi vào, em ngỡ ngàng đến nỗi không thốt lên lời. Không phải biển cả, mà chú cá heo vân bơi lội tung tăng, Em thậm chí còn được nhìn sát mặt chú, sờ vào chú. Lại còn vô vàn loài vột dưới đáy đại dương cũng ở đây nữa chứ. Chao ôi, đẹp làm sao! Em rất muốn đưa mẹ lên đây chơi một lân, Chắc chắn mẹ sẽ thích. Cuộc sống thành phố khác hỏn cuộc sống ở thôn quê. Em rất yêu thích nơi này. Em muốn được bố đưa lên đây nhiều làn hơn nữa.
HƯỚNG DẪN LẬP DÀN Ý LÀM BÀI
Với đề này, chắc hân em sẽ có rất nhiều điều để kể về thành thị. Tuy nhiên, em cần lựa chọn những chi tiết thật điển hình, cho thấy đặc điểm riêng biệt của thành thị, khác với nông thôn. Nếu có điều kiện, các em cân quan sát từ thực tế nơi mình sinh sống. Nếu không, các em có thể tìm hiểu qua sách báo, tranh ảnh, ti vi, in-tơ-nét hoặc qua những lời kể của người xung quanh. Các em viết đoạn văn dựa vào những gợi ý sau:
•Em muốn kể về thành phố nào? Đó là nơi em sống hay đã từng được tham quan?
•Trong thành phố có những gì?
+ Phố xa rộng rãi, thoáng mát, phân ra các làn đường đi lại.
+ Các tòa nhà mọc lên cao chọc trời, san sát nhau với những cửa hàng, biển hiệu rất bắt mắt.
+ Người người, xe cộ đi lại ngược xuôi, tấp nộp. Tiếng còi vang lên inh ỏi.
+ Có rất nhiều ô tô, xe tải.
+ Có công viên rộng lớn, nhiều trò chơi, con thú.
•Sống/ được thăm quan thành phố, em câm thấy điều gì?
+ Em cảm thấy ở thành thị rất thuận tiện, hiện đại.
+ Em rất thích bố mẹ cho đi siêu thị, công viên chơi.
+ Em rất thích nơi này.
• Em sẽ làm gl để thành phố xanh – sạch – đẹp?
+ Luôn có ý thức giữ gìn, bảo vệ, không vứt rác bừa bãi, trồng nhiều cây xanh.
Nguồn:
|
Bài văn kể về thành thị hoặc nông thôn lớp 3
| 929
| |
Đề bài: Bài Văn Kể Về Ông Ngoại Của Em
Bài làm
Ông ngoại em là sĩ quan quân đội về hưu với hàm đại tá. Gần như suốt cuộc đời, ông xa nhà, giờ đây mới có điều kiện được chung sống với gia đình. Ông em rất vui vì được ở nhà với đàn cháu thân yêu.
Ông em năm nay trạc sáu mươi tuổi, dáng người vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Ngày nào cũng vậy, cứ tang tảng sáng là ông em dẫn đầu “nửa tiểu đội” cháu ngoại nội chạy dọc con đường làng dẫn ra cánh đồng để hít thở không khí trong lành. Gió sớm mát lộng, bầu trời quang đãng. Em khoan khoái hít căng lồng ngực hương vị quen thuộc của đất đai, cây cỏ quê hương. Tập thể dục buổi sáng xong, ông nhắc nhở các cháu đánh răng rửa mặt, ăn sáng và thay quần áo, chuẩn bị đến trường. Nhìn đàn cháu ngoan, lễ phép khoanh tay cúi đầu đồng thanh cất tiếng chào, ông em sung sướng lắm, mỉm cười chào lại chúng em: “Các cháu nhớ học ngoan nhé!”. Em rất thích tác phong làm việc nhanh nhẹn, dứt khoát của ông. Trước khi làm bất cứ việc gì, ông đều cân nhắc kỹ. Ông thường bảo: “Làm việc cũng như đánh trận ấy các cháu ạ. Phải xem xét cẩn thận, tìm ra cách thực hiện nhanh nhất và có hiệu quả nhất.” Ông nói được, làm được và rèn luyện cho đàn cháu nề nếp ấy. Từ ngày ông về, ngôi nhà khang trang, sáng sủa hẳn lên, đồ đạc được sắp xếp gọn gàng đâu vào đấy. Không còn cảnh giày dép, đồ chơi, sách vở bạ đâu vứt đấy bừa bãi như trước đây. Bàn tay của ông chai sần, thô ráp, hơi nhăn nheo nhưng ấm áp lạ thường. Ông dạy chúng em lòng tự trọng và tính tự lập. Có lần ông bảo: “Đã là người thì phải có ý chí, không được ngại gian khổ, càng khó càng phải làm bằng được”.
Em quý nhất ở ông em là thái độ tôn trọng mọi người trong gia đình. Có việc gì không vừa ý, ông bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính ông nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời ông nói, nhìn những việc ông làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Mặc dù gắn bó với môi trường quân đội gần bốn mươi năm nhưng ông em vẫn giữ nguyên bản chất của người nông dân chất phác, thật thà, cần cù, chăm chỉ. Mọi việc lớn nhỏ, ông chẳng nề hà vất vả. Khu vườn nhà em dạo trước chỉ có dăm ba cây ổi, cây táo cằn cỗi, bây giờ đã xanh tốt với những dãy chuối, bưởi, cam, nhãn, vải…Mùa nào thức ấy, trong nhà em lúc nào cũng có hoa quả tươi mới, ngọt ngào. Đó là do công sức của ông đổ ra mấy năm nay. Ông em thích mang lại niềm vui cho mọi người. Đặc biệt, ông em rất yêu thích cây cảnh. Chúng em thường hay ra vườn xem ông làm việc. Đôi tay khéo léo, tài hoa của ông uốn từng nhánh cây, tỉa từng chiếc lá, nâng niu, vun xới từng gốc hoa. Ông giải thích cặn kẽ cho chúng em hiểu ý nghĩa sâu xa chứa đựng trong mỗi hình dáng mà ông mất bao công phu để tạo nên. Cây si bon sai đặt trong chiếc khay gốm hình bầu dục có năm tầng lá so le, ông bảo rằng tượng trưng cho năm điều cốt yếu trong đạo làm người là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Hai gốc đinh lăng, gốc cao gốc thấp, ông tỉa thành dáng phụ tử tình thâm. Mấy cây đào bích có thế rồng bay phượng múa…Thật thích thú biết bao khi em được ông cầm tay, dạy cho cách uốn những sợi dây thép vô tri thành hình những chú nai, chú hươu xinh xắn, để làm khung cho cây mọc theo ý muốn của người trồng. Ông bảo em rằng, nghề nào cũng đòi hỏi con người chúng ta phải kiên trì, chịu khó, nhẫn nại, nhất là làm vườn thì đặc biệt phải yêu mến thiên nhiên, dễ dàng rung động trước cảnh vật. Em thích được nghe ông giải thích ý nghĩa một số loài cây, loài hoa quý như tùng, cúc, trúc, mai, sen, bởi nó tượng trưng cho cốt cách thanh cao, khí tiết hiên ngang và quan niệm sống trong sạch của bậc chí nhân quân tử. Mỗi tháng, hội cựu chiến binh của xã lại họp ở nhà em một lần vì ông em là chủ tịch hội. Gặp gỡ nhau, các ông thường nhắc đến những kỉ niệm vui buồn thời chiến tranh, đến những người đồng đội đã hi sinh bằng giọng bùi ngùi, xúc động. Em không thể hình dung ra được người ông giản dị, hiền hậu của em cách đây gần ba mươi năm đã từng là tiểu đoàn trưởng của một cách quân từ miền Đông Nam Bộ tấn công vào giải phóng Sài Gòn. Ngày lễ tết, ông lấy bộ quân phục mới nhất ra mặc, huy chương cài đầy trên ngực, trông oai phong lắm. Được đi bên ông, em không giấu nổi vẻ hãnh diện, tự hào trước đám bạn cùng xóm, cùng trường. Em ước sau này trưởng thành cũng được vào trường quân đội, được cầm súng bảo vệ Tổ quốc, sẽ in dấu chân trên mọi miền đất nước như ông ngoại của em. Không thể kể hết những kỉ niệm vui buồn về tình ông cháu. Rất giản dị, tự nhiên, ông đã truyền cho chúng em ngọn lửa đam mê cuộc sống và những bài học quý báu trên cuộc đời.
|
Bài Văn Kể Về Ông Ngoại Của Em
| 1,004
| |
Bài văn lớp 5 hay: Tả người bố thân yêu của em
Hướng dẫn
Bài văn lớp 5 hay: Tả người bố thân yêu của em
Bài văn tả bố – bài mẫu 1
Bố dịu dàng và bao dung, dù nghiêm khắc với những lỗi lầm của em nhưng chưa bao giờ bố nặng lời trách mắng hay đánh đòn em. Bố luôn là tấm gương để em học tập và noi theo từ những ngày còn bé xíu. Bố của em rất tốt bụng và rộng rãi, hàng xóm xung quanh chỉ cần có lời nhờ vả, bố sẵn sàng bỏ cả công việc sang giúp đỡ. Mọi người ai cũng quý mến sự nhiệt tình và chất phác của bố. Em cũng luôn tự hào về tính cách vô cùng tốt đẹp ấy ở bố.
Bài làm tham khảo:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…”
Chúng ta lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ và trong cả sự chở che, bảo vệ của cha. Tình cha con đối với em cũng là một thứ tình cảm thiêng liêng quý giá. Bố của em là người mà em yêu thương, quý trọng vô cùng trong cuộc đời mình.
Thời gian đi qua đã âm thầm ghi lại những dấu vết trên dáng hình của bố. Bố em năm nay đã bước qua tuổi bốn mươi nhưng vẫn rất khỏe mạnh và trẻ trung, trẻ hơn cả tuổi thật của bố. Dáng người bố cao lớn, mạnh mẽ với làn da rám nắng khỏe khoắn, bờ vai dài rộng và vô cũng rắn chắc. Mái tóc bố đã điểm thêm một vài sợi tóc trắng nhưng nhìn xa vẫn đen bóng, lúc nào cũng được bố cắt tỉa gọn gàng. Khuôn mặt bố vông hình chữ điền nghiêm nghị với hàng lông mày đậm và đôi mắt sáng ngời. Nụ cười ấm áp luôn thường trực trên môi khiến khuôn mặt ấy nhiều thêm sự gần gũi và hiền từ. không hề nghiêm khắc.
Bố của em chỉ là một người nông dân hiền lành, chất phác. Đôi bàn tay to lớn của bố qua năm qua tháng đã dày thêm những vết chai, mỗi lần sờ vào em càng thấy kính trọng và thương bố nhiều hơn. Đôi bàn tay ấy đã chèo chống bao năm tháng, bảo vệ gia đình em khỏi giông tố cuộc đời.
Bố chính là cây cột vững chãi, chống đỡ cho tổ ấm nho nhỏ của gia đình em. Ngày ngày, bố thức dậy từ rất sớm, giúp mẹ chuẩn bị từng bữa ăn cho chúng em. Những món ăn chính tay bố nấu không thua kém mẹ một chút nào, rất ngon và hấp dẫn. Bố sở hữu công thức nấu ăn riêng, bố hài hước bảo đó là bí mật của bố. Bố không ngại nắng mưa, giúp mẹ chăm lo ruộng lúa của gia đình để mẹ yên tâm đến xưởng làm việc. Cánh đồng lúa xanh tươi mơn mởn rồi làm đòng, trổ bông, mang tới cho gia đình em những sân thóc vàng ươm, những hạt gạo dẻo thơm muôn phần.
Không những thế, bố còn khéo léo chăm sóc mảnh vườn rộng lớn phía sau nhà em. Thửa vườn rộng nhờ đôi bàn tay khéo léo của bố, năm nào cũng xanh tốt, rau quả ngập tràn khắp nơi. Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mùa nào cũng có rau xanh trái ngọt, hàng xóm láng giềng ai cũng ngưỡng mộ gia đình em. Bố giống như có thật nhiều phép thuật, không việc gì có thể làm khó được bố.
Bố của em có lẽ không hoàn hảo như nhiều người đàn ông khác, nhưng trong mắt em, bố mãi mãi là người đàn ông tuyệt vời nhất, đáng quý nhất. Bố là người trao cho em hình hài để em được đến với thế gian xinh đẹp này, là người sẵn sàng hi sinh những điều tốt đẹp nhất để nuôi nấng và bảo vệ em, nguyện ước cho em trưởng thành trong tình yêu thương và niềm vui, hạnh phúc. Từng ánh mắt, từng cử chỉ của bố em luôn ghi nhớ tận sâu trong trái tim mình, ghi nhớ công ơn bao la trời biển của bố.
Mai sau, khi em khôn lớn trưởng thành, đến ngày rời xa bố mẹ để cất cánh bay cao bay xa, hành trang em mang theo chính là tình yêu thương và sự hi sinh cao cả của bố. Từng ngày trôi qua em luôn tự nhủ phải cố gắng, xứng đáng với công lao mà bố đã dành cho em.
Bài văn tả bố – bài mẫu 2
Bố dạy em rất nhiều điều hay lẽ phải trong cuộc sống: phải biết mạnh mẽ sau những thất bại, biết khiêm nhường trước những thành công đạt được và hãy sẻ chia với những người bạn lúc khó khăn. Bố là người thầy với những lời khuyên bổ ích, người cho em động lực và niềm tin để vượt qua mọi giây phút buồn vui.
Bài làm tham khảo:
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ,
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha.
Đó là hai câu thơ luôn khắc sâu trong tâm trí em, nhắc nhở em nhớ về công ơn của bố mẹ. Nếu mẹ như vầng trăng dịu hiền, ru em vào những giấc ngủ đêm khuya thì bố là ánh mặt trời ấm áp, dạy em luôn phải mạnh mẽ và trưởng thành trong cuộc sống. Bố là người thầy tuyệt vời nhất trong em.
Bố em năm nay đã tròn 40 tuổi, bố có dáng có người cao và gầy. Làn da của bố rám nắng vì công việc hàng ngày phải làm việc nhiều dưới ánh nắng mặt trời. Mọi người thường nói em rất giống bố ở khuôn mặt nhỏ nhắn, vầng trán cao, đôi mắt đen láy và hiền từ. Em rất vui và tự hào về điều đó vì mang trong mình những nét di truyền của bố. Giọng nói trầm và nụ cười ấm áp khiến em luôn cảm thấy hạnh phúc khi được gần bên bố. Đôi bàn tay của bố thô ráp, em biết đó là những dấu vết của thời gian, của bao vất vả bố đã hi sinh để lo lắng cho chúng em một cuộc sống đủ đầy hơn.
Bố em làm nghề lái xe, công việc của bố là chuyển những chuyến hàng đi đến khắp mọi miền tổ quốc. Vì vậy, bố thường xuyên phải xa nhà. Mỗi khi có ngày nghỉ, bố thường hướng dẫn làm những công việc nhà như sửa xe đạp, chữa lại chiếc ghế bị hỏng…. Bố luôn lo lắng và rất thương hai mẹ con em. Bố dặn em phải chăm chỉ học hành, không được làm mẹ buồn và lo lắng vì mẹ phải làm rất nhiều công việc hàng ngày. Mỗi lần bố về, đều tặng em những món quà nhỏ từ nhừng miền đất nơi bố đi qua. Bố luôn nói với em về quê hương đất nước Việt Nam vô cùng tươi đẹp và rộng lớn, đó là động lực thôi thúc em cố gắng học thật tốt để sau này có thể đặt chân đến những miền xa.
Bố dạy em rất nhiều điều hay lẽ phải trong cuộc sống: phải biết mạnh mẽ sau những thất bại, biết khiêm nhường trước những thành công đạt được và hãy sẻ chia với những người bạn lúc khó khăn. Bố là người thầy với những lời khuyên bổ ích, người cho em động lực và niềm tin để vượt qua mọi giây phút buồn vui.
Cô giáo từng nói với chúng em rằng quê hương và gia đình là hai điều quý giá nhất mà cuộc đời ban tặng mỗi người. Em cảm thấy mình thật hạnh phúc và may mắn khi được làm con của bố mẹ. Em sẽ luôn nỗ lực học tập thật tốt để đền đáp công ơn nuôi dưỡng đó. Và mong rằng, bố sẽ luôn mạnh khỏe để mãi là điểm tựa vững chãi cho em trong cuộc sống này.
Bài văn tả bố – bài mẫu 3
Từ những ngày còn bé xíu, bố đã là người hùng trong mắt em. Ở trường học, bố em là người đồng nghiệp tốt, là người thầy mà rất nhiều học sinh yêu mến, kính trọng. Năm tháng trôi đi, bố lần lượt dìu dắt hết lớp học trò này đến lớp học trò khác, dạy dỗ và đưa họ cập bến bờ tri thức. Để rồi nhiều năm sau, các anh chị vẫn nhớ tìm về, hàng năm đều đến nhà em cảm ơn và thăm hỏi.
Bài làm tham khảo:
Tình cha con là thứ tình cảm âm thầm, lặng lẽ mà thiêng liêng và da diết vô cùng. Đối với em, tình cảm ấy vô cùng quý giá bởi lẽ bố chính là người vô cùng quan trọng, vô cùng đặc biệt trong cuộc đời của em.
Bố em năm nay đã bước sang tuổi bốn mươi, dù cuộc sống vất vả để chăm lo cho gia đình nhưng bố trông vẫn trẻ hơn nhiều so với tuổi thật của mình. Dáng người bố cao gầy nhưng bờ vai rộng và vững chãi, sẵn sàng là điểm tựa cho mẹ con em. Tóc bố vẫn còn đen, lúc nào cũng được cắt tỉa gọn gàng. Khuôn mặt bố vuông chữ điền với những đường nét cương nghị. Hàng lông mày rậm kết hợp với đôi mắt luôn toát lên vẻ nghiêm túc càng khiến bố thêm phần chính trực. Nhưng đôi mắt ấy khi nhìn mẹ và em lại toát lên tình yêu thương và sự chở che dịu dàng hiếm thấy.
Từ những ngày còn bé xíu, bố đã là người hùng trong mắt em. Ở trường học, bố em là người đồng nghiệp tốt, là người thầy mà rất nhiều học sinh yêu mến, kính trọng. Năm tháng trôi đi, bố lần lượt dìu dắt hết lớp học trò này đến lớp học trò khác, dạy dỗ và đưa họ cập bến bờ tri thức. Để rồi nhiều năm sau, các anh chị vẫn nhớ tìm về, hàng năm đều đến nhà em cảm ơn và thăm hỏi.
Trở về tổ ấm thân yêu của em, bố lại là người đàn ông hoàn hảo của gia đình. Bố không ngại xuống bếp giúp mẹ nấu cơm, tự tay nấu những món ăn ngon cho cả nhà. Những lúc nhìn bố đứng trong phòng bếp, cẩn thận nấu từng món, từng món em đều cảm thấy rất hạnh phúc và may mắn. Dành tình yêu cho gia đình và sự nghiệp trồng người cao quý của mình, bố còn dành tình yêu cho thiên nhiên, cỏ cây. Thời gian rảnh, bố chẳng đi đâu, chỉ dành thời gian nghiên cứu thêm bài học, cho gia đình và cho vườn cây nhỏ trước sân. Cả khu vườn không rộng bao nhiêu vạy mà dưới đôi bàn tay khéo léo của bố, vườn cây ngày càng tươi tốt. Mùa nào thức ấy, gia đình em luôn có trái thơm quả ngọt thưởng thức và mang tặng mọi người xung quanh.
Đảm đương nhiều việc như vậy nhưng bố vẫn không quên dành thời gian quan tâm việc học hành của chị em em. Bố không đặt nặng yêu cầu mà luôn thoải mái với kết quả học tập của chúng em. Em vẫn nhớ rõ lời nói đầy yêu thương của bố khi em còn nhỏ “Bố không cần các con phải giỏi như người này như kia, bố chỉ mong hai công chúa của bố cố gắng hết sức mình, là chính mình là được.” Bố chỉ dạy cho em từ những bài tập cơ bản nhất đến những bài học đạo lý mà bố học được trong cuộc đời. Bố bao dung nhưng luôn nghiêm khắc mỗi khi em mắc lỗi, tất cả chỉ vì bố mong em nên người.
Bố là thần tượng của em, là chỗ dựa vững chắc mỗi khi em vấp ngã. Bố dành tất cả tình thương cho gia đình nhỏ của em. Em luôn cố gắng phấn đấu để xứng đáng là con gái ngoan của bố.
|
Bài văn lớp 5 hay_ Tả người bố thân yêu của em
| 2,044
| |
Bài văn miêu tả con vật em yêu thích
Hướng dẫn
Bài văn miêu tả con vật em yêu thích
Sinh nhật năm lớp 4, anh trai đã mua tặng em một chú mèo, em đặt cho chú biệt danh là Mèo Mun. Chú mèo đáng yêu và tinh ranh lắm.
Ban đầu chú mèo nhỏ xíu, được anh đặt trong một cái hộp, chú vui sướng nhảy ra khỏi hộp khi nhìn thấy ánh sáng. Ban đầu em phải nhốt chú vào trong lồng nhỏ vì sợ chú chưa quen.
Bây giờ Mun đã được gần 2 tuổi rồi, chú lớn lên trông thấy, từ một chú Mèo con ngộ nghĩnh, xinh xắn giờ chú thực sự ra dáng một anh chàng vạm vỡ. chú nặng hơn 1kg. Bố nói:
– Mèo lớn nhanh và mập mạp thế này nhờ công của con trai đấy!
Điều đó làm em rất vui và tự hào. Mun là loại mèo tam thể, chú sở hữu bộ lông màu vàng chanh, trắng và đen, sự hòa trộn của ba màu ấy làm chú nổi bật trước các loài động vật nuôi trong gia đình. Chú cũng kiêu hãnh trước đám bạn vì được em yêu quý, chiều chuộng hơn. Mun có bộ ria mép hình cánh quạt xòe ra hai bên trông rất oai phong, mỗi lần em tắm cho Mun, chú thường dùng chân vuốt bộ ria mép của mình cho thẳng. Đôi mắt của chú tròn trịa, trong, sáng xanh màu ngọc bích, vào ban đêm, em phát hiện ra chú bởi đôi mắt sáng xanh ấy. Đôi mắt giúp chú phát hiện kẻ thù rất nhanh.
Mun có cho mình bệ đỡ nhờ hai đôi chân chắc chắn, chú chạy nhanh lắm, thoắt ẩn, thoắt hiện. Chỉ cần thấy bóng con chuột nào đó là chú lao như bay tới và vài phút sau, chuột đã chịu thua anh mèo tài tình ấy. Nhờ có mèo mà bố không mất công đánh bẫy chuột như trước kia nữa. Mèo tỏ ra không sợ bất cứ đối thủ nào bởi chú có bộ móng vuốt rất sắc, nhọn. Đó cũng là thứ vũ khí lợi hại mà chú có được.
Mỗi lần em cho Mun ăn, nó lại quấn lấy em nũng nịu. Mun ăn rất chậm, lúc quan sát chú ăn em mới nhận thấy sự điềm tĩnh, tha thẩn của chú. Em thích nhất sự tinh nghịch của mèo, mỗi tối căng màn đi ngủ, mèo rón rén nằm gọn dưới cuối giường và giả vờ ngủ thiếp đi. Nhưng đến sáng hôm sau, không hiểu bằng cách nào chú lại cuốn mình trên đỉnh màn và ngủ ngon lành. Có lần tỉnh dậy, em hốt hoảng kêu to lên, ngỡ mình vừa gặp một sinh vật lạ, lúc ấy, chú vội vã kêu: Meo… meo… để báo hiệu.
Từ khi anh trai tặng mèo Mun, em thấy mình có trách nhiệm phải chăm sóc chú chu đáo, em thật vui khi có mèo ở bên cạnh.
|
Bài văn miêu tả con vật em yêu thích
| 499
| |
Bài văn mẫu lớp 5: Tả cảnh vườn cây vào buổi sáng sớm
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 5: Tả cảnh vườn cây vào buổi sáng sớm
Bài mẫu 1 – Miêu tả khung cảnh vườn cây vào buổi sáng sớm
Có những cảnh vật rất đỗi thân quen nhưng mỗi lần trông thấy, trái tim em vẫn nhảy lên rung động. Một trong những cảnh vật ấn tượng như thế là cảnh buổi sáng trong vườn cây nhà em. Khung cảnh ấy đẹp như một bức tranh nhưng sinh động vô cùng.
Tiếng gà vang vọng khắp làng quê như tiếng chuông báo thức, gọi mọi người tỉnh dậy từ giấc ngủ say. Ông mặt trời từ từ nhô lên sau lũy tre đầu làng, ánh nắng ban mai bao trùm lên cảnh vật, lan tràn khắp nơi nơi, âu yếm vuốt ve vườn cây nho nhỏ trước nhà. Trong ánh ban mai hồng hồng, vườn cây thật đẹp biết bao!
Cả vườn cây xanh tốt như choàng tỉnh dậy trong nắng. Trên những chiếc lá, bông hoa vẫn còn đọng lại những hạt sương sớm long lanh như những viên pha lê xinh đẹp. Ánh nắng khẽ xuyên qua giọt sương làm nó lấp lánh lấp lánh, cuốn hút ánh mắt người xem. Cây chuối, cây cam, cây ổi, cây xoài vai kề vai đứng sát bên nhau, nhuộm màu xanh lên cả vườn cây. Trên tấm thảm xanh ấy điểm tô thêm màu sắc rực rỡ của những bông hoa. Hoa hồng đỏ rực say đắm, hoa thủy tiên màu trắng tinh khôi và cả những cành hoa cải vàng rạng rỡ. Chúng thi nhau khoe sắc tỏa hương, vẫy tay mời gọi ong bướm bay tới hút mật, lấy phấn.
Nổi bật giữa vườn là những luống rau cải xanh non mơn mởn, lá to lá bé lấp ló rung rinh trong gió, vô tình đánh rơi những giọt pha lên trong suốt khiến mặt đất ẩm ướt, dường như run lẩy bẩy vì lạnh. Những quả chuối non cuối vườn cũng nhút nhát giấu mình trong tán lá của mẹ như những đứa trẻ rụt rè. Xung quanh vườn là hai hàng cau cao lớn, thẳng tắp, vươn thẳng lên để đón ánh mặt trời.
Chậu hoa mười giờ đầu vườn vẫn còn say giấc, những cánh hoa màu hồng, màu đỏ vẫn e ấp giấu mình chưa tỉnh. Chúng chỉ lặng yên vùi mình trong những lá xanh mọng nước, chờ đợi kim đồng hồ ddierm mười giờ sáng để nở rộ đón ánh mặt trời, bướng bỉnh mà cũng thật đáng yêu. Thú vị nhất là cây hoa xấu hổ khiêm tốn đứng ở góc vườn, những cơn gió tinh nghịch thổi qua khiến sương đọng trên lá của chúng run rẩy rơi xuống, vậy mà chúng cũng xấu hổ thu lại tán lá giống như nàng thiếu nữ đang ngượng ngùng, trông thật buồn cười.
Ánh nắng ngày càng rực rỡ, chói chang hơn, xua tan ẩm ướt và những giọt sương long lanh, vườn cây như khoác lên mình chiếc áo bàng bạc tuyệt đẹp. Tất cả vẽ lên một bức tranh thiên nhiên gần gũi nhưng cũng không kém phần diễm lệ.
Bài mẫu 2 – Miêu tả khung cảnh vườn cây vào buổi sáng sớm
Có lẽ đối với mọi người, hình ảnh những con sóng gợn lăn tăn trên mặt hồ yên ả hay một buổi chiều hoàng hôn lãng mạn là những khung cảnh vô cùng tuyệt đẹp. Thế nhưng trong lòng em đẹp nhất vẫn là khung cảnh vườn cây vào một buổi sáng, đó là bức tranh sống động tràn ngập cả màu sắc và âm thanh.
Khi màn đêm tĩnh lặng đi qua cũng là lúc bình minh bắt đầu hé rạng, cảnh vật xung quanh vẫn khoác lên mình một vẻ êm đềm như đang say giấc. Những giọt sương đêm long lanh, trong veo như những viên ngọc đang ẩn mình lấp ló đằng sau vòm cây, kẽ lá. Xa xa, những áng mây phớt hồng cùng cô bạn mây trắng tinh khôi đang vui vẻ bay lượn trên bầu trời. Hàng cây nằm im lìm như đang nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả, những chú chim cũng đang chìm trong giấc mộng khiến không gian càng thêm yên bình, tĩnh lặng hơn bao giờ hết. Em hít một hơi thật sâu để cái mùi mát lạnh và trong lành của vườn cây vào buổi sớm tràn vào lồng ngực, cảm giác thật khoan khoái và dễ chịu làm sao!
Đâu đó trong không gian nghe thấy tiếng gọi khẽ của những cô gió, đánh thức ông mặt trời tỉnh dậy. Vài tia nắng đã bắt đầu xuất hiện, nhảy nhót trên những phiến lá xanh. Dần dần, vô số những tia nắng khác cũng thay nhau chiếu xuống trần gian, vàng rực cả một góc trời. Cây cối trong vườn như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, vươn mình đón ánh nắng ấm áp mà ông mặt trời ban tặng. Trên những cánh hóa đỏ thắm vẫn còn vương lại vài giọt sương đêm, dưới ánh nắng mặt trời càng trở nên trong suốt, long lanh như đang tỏa sáng. Thỉnh thoảng, có vài cơn gió nhẹ thổi qua làm những chiếc lá xanh đan vào nhau, phát ra âm thanh xào xạc nghe thật vui tai. Trên vòm lá xanh, đàn chim non bắt đầu ca hót líu lo để chào mừng ngày mới. Đâu đó xung quanh còn nghe tiếng rì rầm của những chú ve báo hiệu mùa hè về. Tất cả hòa trộn vào nhau tạo nên một bản nhạc sớm thật sôi động, vui vẻ.
Khu vườn vào buổi sáng thật đẹp, vừa huyền ảo, vừa thơ mộng làm tâm hồn em vô cùng khoan khoái để có thể bắt đầu một ngày mới tràn đầy năng lượng, vui vẻ và hạnh phúc.
Bài mẫu 3 – Miêu tả khung cảnh vườn cây vào buổi sáng sớm
Quê hương em có rất nhiều cảnh đẹp nào con sông hiền hòa thơ mộng, cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay nhưng có lẽ đối với em thì khung cảnh đẹp nhất vẫn là vườn cây vào một buổi sáng sớm.
Sớm mai, trên bầu trời phía đằng đông bắt đầu xuất hiện những áng mây màu hồng đào phớt nhẹ hòa cùng với những đám mây trắng tinh khôi đang nhởn nhơ bay lượn. Cây cối trong vườn im lìm nằm nghỉ bù lại cho một ngày làm việc mệt nhọc đã qua đi, chim chóc cũng đang chìm trong giấc ngủ sâu khiến không gian trong khu vườn vào buổi sớm thật tĩnh lẵng và yên bình. Cảm tưởng chỉ cần hắt hơi một cái cũng có thể đánh thức mọi sinh vật đang nghỉ ngơi nơi đây. Em hít một hơi thật sâu cái mùi mát lạnh và trong lành của vườn cây vào trong lồng ngực. Tia nắng đầu tiên xuất hiện trên cành lá như một đồng tiền vàng nhỏ xinh mà ông mặt trời vô tình đánh rơi xuống nhân gian đánh thức vạn vật. Cây cối trong vườn như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài mà vươn mình đón những tia nắng đầu tiên của vầng thái dương ấm áp.
Ánh nắng dần trở nên rực rỡ và nóng cháy hơn nhưng không khí trong vườn vẫn thoáng đãng và mát mẻ hệt như lúc ban đầu vì đơn gainr những vòm cây xanh thẫm đã che hết ánh nắng mất rồi. Cây cối trong vườn gục đầu vào nhau thì thầm trò chuyện, thi thoảng lại theo cơn gió nhẹ mà cười khúc khích. Em có thể ngửi thấy trong không gian của khu vườn có mùi hương của nhãn, của ổi và cả ủa cây xoài cát mà ông em trồng góc vườn nữa. Hình ảnh khu vườn lúc này giống như một bức tranh vậy. Bức tranh ấy có màu sắc là màu vàng của nắng, màu xanh của da trời; bức tranh ấy còn có cả âm thanh vui tươi, rộn rã tràn đầy sức sống của các loài chim và hương thơm của trái cây chín ngọt.
Em sẽ không bao giờ có thể quên được cảnh tượng vào buổi sáng sớm trong khu vườn. Khu vườn lúc ấy thật đẹp, vừa huyền ảo, thơ mộng, vừa như thực như mơ.
|
Bài văn mẫu lớp 5_ Tả cảnh vườn cây vào buổi sáng sớm
| 1,402
| |
Bài văn mẫu lớp 6 số 7 đề 4: Từ bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn miêu tả lại trận mưa theo quan sát và tưởng tượng của em
Hướng dẫn
Từ bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn miêu tả lại trận mưa theo quan sát và tưởng tượng của em
Nhằm giúp các bạn học sinh lớp 6 có thêm nhiều tư liệu tham khảo hay cho bài viết văn số 7 của mình, đã sưu tầm và xin được gửi tới bạn: Bài văn mẫu lớp 6 số 7 đề 4: Từ bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn miêu tả lại trận mưa theo quan sát và tưởng tượng của em. Tài liệu mang lại nhiều ý tưởng, giúp bài viết của các bạn thêm sinh động.
DÀN BÀI
I. Mở bài
Trời đang nắng bỗng chuyển dông, mây đen xuất hiện, bầu trời xám xịt, cơn mưa rào ập đến.
II. Thân bài
* Tả cơn mưa:
– Gió thổi giật, nước hơi mát lạnh.
– Những con mối tần ngần bò ra rồi cả đàn tranh nhau bay cao, bay thấp. Đàn gà thi nhau đớp mồi.
– Mưa đổ xuống trên sân nhà, trên cành cây, kẽ lá. Mưa xối xả.
– Gió thổi mạnh. Bãi mía lay động trong gió, lá mía nhọn hoắt, vươn dài như múa gươm.
– Đàn kiến tìm nơi tránh nước, chúng đi hành quân, bụi tre đung đưa trong gió cùng hàng bưởi sau nhà như vẫy tay đưa tiễn.
– Trên tròi xuất hiện những tia chớp, sấm vang rền.
– Mưa ù ù như xay lúa. Mưa chéo mặt sân, nước sủi bọt trắng xóa rồi kéo nhau đổ ra mương rãnh. Đất trời mù trắng nước.
– Ngoài đồng nước lai láng. Những bác nông dân hối hả đi về
– Bố đi làm về, đội sấm, đội chớp, đội cả bầu trời đang đổ mưa.
* Tả quang cảnh sau cơn mưa:
– Mây tan dần, trời xanh thấp thoáng lộ ra.
– Trời sáng hơn, những tia nắng chiếu xuống sân nhà.
– Hoa lá lại đua nhau đón khí ấm mặt trời.
– Cóc nhảy ồm ồm, lũ chó sủa vang.
– Đàn gà kéo ra, những chú chim hót líu lo,…
III. Kết bài
– Cơn mưa rào mùa hạ đã giúp cho cảnh vật tươi mát.
– Mưa giúp ích cho mọi người, giúp ích cho nhà nông.
– Mưa giúp cho em có được niềm vui thú.
Bài tham khảo 1
Trời đang nắng đẹp, bỗng một cơn gió mạnh nổi lên và ngay sau đó những hạt mưa xối xả trút xuống. Em vội chạy vào trú dưới mái hiên một cửa hàng bên đường. Nhiều người đi đường cũng đổ vào đứng trú mưa. Những người đi xe đạp, xe máy cũng vội dừng xe, chạy vào trú. Có người lao cả xe lên hè phố để mong tránh được cơn mưa. Có những anh thanh niên cứ phóng xe chạy tới trên đường mặc cho mưa rơi, rạp người trên tay lái mà đầu tóc ướt sũng nước. Chỉ những chiếc xe ô tô là chẳng sợ gì, cứ ung dung chạy, làm bắn tóe nước ra hai bên khi băng qua các vũng nước trên đường.
Mưa càng lúc càng to. Trời đen xám màu chì. Những hạt mưa đan thành một tấm lụa mờ che tầm nhìn của mọi người. Em đứng bên này đường mà không nhìn rõ được xe cộ chạy trên mặt đường chứ đừng nói tới nhìn sang hè phố bên kia. Nước mưa chảy ào ào hai bên rãnh, không kịp thoát xuống cống, dâng lên gần che kín mặt đường, rồi ngập cả mặt hè. Mấy đứa trẻ bằng tuổi em, từ các nhà bên phố chạy ra đùa nghịch. Đứa nào cũng chỉ mặc chiếc quần xà lỏn. Chúng chạy dọc theo rãnh nước, thích thú vung tay cho nước bắn tung lên. Có đứa còn nằm lăn mình trong nước.
Gần một giờ sau, mưa nhẹ hạt rồi dứt hẳn. Anh thanh niên trú mưa đứng cạnh em giơ tay ra hứng nước mưa, xem mưa đã thật hết chưa. Một vài người khác cũng làm theo. Thế rồi khi thấy mưa đã dứt, mọi người sung sướng, rời chỗ trú, túa ra hè phố. Mấy chị còn cẩn thận tay kéo cao ống quần, dò từng bước cẩn thận trên hè phố còn nhiều vũng nước. Mấy anh thanh niên chạy ào đi, bước chân dẫm trúng vũng nước làm bắn tóe cả lên những người đi trên hè. Anh thanh niên đi xe gắn máy lúc nãy chạy ào vào trú mưa, giờ đã lại lên xe, nổ máy, vọt lao đi như muốn bù lại thời gian phải đứng chờ.
Mưa mùa hạ đến rồi đi bất chợt mang theo không khí mát dịu, trong trẻo xóa tan nắng hè đổ lửa. Kỷ niệm ùa về. Cơn mưa đầu mùa mang đến mùa màng bội thu, nhưng có lúc lại lấy đi đồng lúa đang thì của người nông dân khắc khổ.
Trời đang nắng như đổ lửa, không khí xung quanh ngột ngạt, nhễ nhại. Trong khoảnh khắc, trời nhạt dần. Đi chưa hết một con phố, trời nổi giông quay cuồng. Và mưa đến. Bất ngờ. Có rất nhiều người không kịp tìm nơi trú ẩn. Không gian nhòa trong màn trắng của mưa hạ.
Tôi lao xe vào quán cóc bên đường, vừa để tránh mưa, vừa để hưởng cái ngọt lành, mát mẻ của mưa đầu mùa. Cái quán nhỏ đã chật cứng người. Mưa mỗi lúc thêm nặng hạt. Và trời càng sầm sì báo hiệu trận mưa dài. Phải chăng, đã lâu không được trút xuống nhân gian nguồn nước vô tận, mà hôm nay mưa càng xối xả!
Nhấp ngụm trà nóng tôi suy nghĩ miên man chờ mưa tạnh. Trong mớ suy tưởng hỗn độn, nhộn nhạo không đầu không cuối, một chút lắng đọng… những trận mưa quê của tuổi thơ chợt ùa về, hiện lên trong tôi rõ ràng, trong sáng và đẹp như cổ tích.
Quê tôi ở vùng văn hoá Kinh Bắc. Cũng như bao làng quê Bắc Bộ khác, trồng lúa nước là công việc chính. Những việc mua, bán, sắm sửa, làm nhà, cưới hỏi… đều trông vào hạt thóc, hạt gạo, và một chút khoai sắn, con gà, con lợn. Chăn nuôi, trồng trọt, bên cạnh bàn tay chăm bón, săn sóc của con người, thì việc nắng, việc mưa đóng vai trò quan trọng.
Tôi còn nhớ, mỗi lần khi trời đất vào độ tháng tư âm lịch, lúc những đồng lúa đang độ sung mãn nhất, hay như người ta thường gọi: Lúa đang thì con gái, bà tôi và người dân quê lại ngày đêm mong chờ một trận mưa rào. Chỉ cần một trận mưa thôi, sáng hôm sau thức dậy đi thăm lúa, thật kỳ diệu, cả đồng lúa trở nên xanh mướt, những nụ đòng đòng tách ra khỏi lá vươn thẳng lên trời cao, để lộ những bông lúa non căng mẫm.
Người dân quê tôi chắc mẩm: Năm nay chắc được mùa to! Trận mưa rào đầu hạ đối với người nông dân quý giá biết nhường nào.
Nhưng có đợt, khi đồng lúa đang trổ đòng đòng, trời không phù hộ mang mưa kéo dài đến cả tuần. Mưa lâu khiến bà tôi ăn không ngon ngủ không yên… vì mấy sào ruộng sẽ ngập đầy nước.
Mưa… nước đọng tràn trề. Nước ở mương con tràn vào đồng. Con mương cái ngày thường to là thế, vậy mà cũng không đủ lớn để thoát nước nhanh ra sông. Mưa mãi rồi cũng tạnh.
Hàng ngày, bà tôi, những người dân quê tôi đứng trên bờ ruộng buồn rầu, ngao ngán nhìn đồng lúa ngập trắng nước. Những ruộng lúa ngâm cả tuần trời trong nước đang thối dần. Một năm thất bát được báo trước. Tiếc của, nhiều người xắn quần, xắn áo dầm mình xuống đồng múc nước đổ đi, và cố chọn những cây lúa còn xanh, nâng niu trong tuyệt vọng. Những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy gò, khắc khổ của những người nông dân quanh năm vất vả.
Người lớn khổ sở là thế, ấy vậy mà lũ trẻ con chúng tôi vẫn vui mừng khôn xiết. Những ngày mưa, sau mỗi bữa cơm độn khoai sắn, hôm nào chúng tôi cũng mang rổ, mang dậm ra chặn đầu dòng nước để bắt cá. Chờ một lúc, quãng mười phút, nhấc lên, những con cá rô, cá giếc ngửa cái bụng trăng trắng nhẩy nhót trong rổ. Cả lũ cười hả hê, khoái trá…
Tôi lao ra đường, trong nháy mắt quần áo ướt sũng. Lạ thay, cái lạnh biến đi đâu hết, thay vào đó là sự mát mẻ, sáng khoái, có cảm giác những bụi bẩn, nhọc nhằn, toan tính… đã được mưa gột rửa. Lòng lại trắng trong, nguyên sơ như thuở nào; mà chắc không chỉ riêng tôi có cảm giác sảng khoái này. Mưa làm cho người nhẹ nhàng, “sạch sẽ” hơn. Mọi vật xung quanh như mới hơn, đáng yêu hơn. Những con đường đã hết bụi bặm. Những hàng cây được tắm mát. Những ao hồ ăm ắp nước sau mùa khô cạn…
Trong mưa, lẫn vào dòng người vội vã, hối hả, đẹp nhất, vô tư nhất có lẽ là những cô cậu học trò thủng thẳng cùng chiếc xe đạp thong dong trên đường. Những đôi xăng đan được bỏ vào giỏ xe làm lộ đôi chân trần trắng trẻo xinh xắn. Chốc chốc, các cô cậu lại vung tay té mưa, đùa giỡn, khúc khích cười. Những đôi chân thiên thần thi thoảng chìa ra khoả nước, vung vẩy…Có lẽ chỉ tuổi học trò ngịch ngợm, vô tư mới đủ sức để đùa giỡn trong mưa.
Qua tiếp một con phố nữa, mưa ngớt dần. Phóng mắt về phía xa xa, mặt trời ló rạng trên những vầng mây trắng. Muôn ngàn tia nắng túa ra làm cho không gian rực rỡ trở lại. Nắng, mưa mùa hạ đỏng đảnh, hay hờn giận như tâm tình thiếu nữ…
Mưa đến bất ngờ và đi cũng bất ngờ. Mưa hạ như cuộc tình nồng nàn tuổi học học trò chưa kịp nhung nhớ đã vội chia ly. Mưa hạ như hai kẻ yêu nhau gặp nhau lần nào cũng vội…
Mưa tạnh hẳn!
Không hiểu vô tình hay cố ý, từ đâu đó, hình như nơi ô cửa nhỏ, ai đó đã “tặng” cho tôi những lời ca mượt mà, đằm thắm, và day dứt trong bài hát Cỏ và mưa: Em cỏ khát anh mưa rào đầu hạ. Cỏ úa mưa run rẩy cỏ đang thì. Mưa rào đến rồi đi, ngơ ngác em xanh. Em cỏ khát anh mưa rào nơi nào. Ngày nắng chang em chờ chẳng thấy mưa…
Bài tham khảo 3
Quê em là vùng đất nắng lắm mưa nhiều. Những cơn mưa đầu hè luôn mang lại sự tươi mát cho quê em. Chiều qua cũng có một cơn mưa như vậy.
Trời đang nắng to, khí trời thật ủ dột, oi bức, không có tới một cơn gió nào thổi qua cả. Cây cối đứng im lìm. Nắng như cái lò “bát quái” phả xuống mặt đất. Hàng chuối xơ xác đứng rủ lá. Chú chó nhà em nằm dài ngoài hiên, thè cái lưỡi ra thở hừng hực vì không chịu được nóng.
Bỗng nhiên trời đang nắng đó mà tối sầm ngay lại. Ông mặt trời sợ gì mà trốn đâu mất. Thấy vậy lũ gà nhao nhác chạy vào chuồng vì tưởng trời sắp tối. Từ phía xa xa, em đã nghe thấy tiếng gió rào rào chạy lại. Mây đen cũng rủ nhau ùn ùn kéo đến. Mây như mang hơi nước nặng trĩu che kín đen cả một góc trời. Gió mỗi lúc một giật mạnh, bốc từng đám cát bụi mù mịt như táp vào mặt người đi đường ran rát. Trên đường, người mỗi lúc một thưa dần. Ai cũng cố đạp thật nhanh để về nhà cho kịp khỏi ướt.
Rồi, sấm nổ đùng đoàng. Chớp như xé toạc bầu trời đen kịt. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái tôn. Tiếng mưa loong boong trong chiếc thùng hứng nước, đồm độp trên phiến nứa, gõ chan chát vào tàu lá chuối…
Thế nhưng, chỉ một lát sau mưa đã tạnh dần. Lũ gà chạy ra kiếm mồi. Trời rạng dần. Những chú chim lại bay ra hót ríu ran. Bầu trời như cao và xanh hơn. Ông mặt trời ló ra, chói lọi trên vòm lá bưởi lấp lánh.
Mưa đã ngớt nhưng nước vẫn chảy từ mái nhà xuống ồ ồ. Những rạch nước nhỏ lênh láng trên khoảng vườn. Hết mưa rồi. Mọi người lại vội vàng đổ ra đường tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Cơn mưa chiều qua đã làm cho đất trời quê em thêm sức sống mới. Nhờ cơn mưa này, lúa thêm tươi tốt. Em thầm nghĩ chắc năm nay quê mình lúa được mùa lắm đây.
Bài tham khảo 4
Suốt mấy tháng nay không có lấy một trận mưa. Tiết trời ngột ngạt, oi bức, thật là khó chịu! Nước trong ao trong đầm cạn cả. Mặt ruộng nứt nẻ, lúa ngô héo úa. Từ con trâu con bò cho đến đàn gà, đàn vịt… đều lờ đờ, uể oải vì nóng. Vườn cây của ông em trước đây xanh tươi là thế mà bây giờ cũng ủ rũ trong cái nóng như nung. Mọi người trong làng ai cũng ao ước được vài cơn mưa rào cho mặt đất tươi nhuần trở lại.
Thế rồi cơn mưa mong đợi bấy lâu cũng tới.
Giữa trưa, trời đang, nắng chang chang bất chợt tối sầm. Mây đen ùn ùn kéo tới. Tiếng sấm ì ầm nổi lên bốn phía. Chớp nhoang nhoáng như xẻ rách bầu trời. Gió càng lúc càng mạnh. Muôn nghìn cây mía lá như những lưỡi gươm đang múa tít. Đàn mối vỡ tổ, bay tán loạn. Mối trẻ bay cao. Mối già bay thấp. Bầy gà hoảng hốt kêu chiêm chiếp, cuống quýt chạy tìm nơi ẩn nấp. Kiến đen, kiến vàng nối đuôi nhau, hối hả tha trứng lên những nơi cao ráo. Những cơn lốc cuốn lá vàng bay ràn rạt.
Lộp bộp! Lộp bộp! Trời đã đổ mưa. Hạt mưa lớn và thưa rơi trên mặt đất. Hơi đất bốc lên nóng hổi. Chỉ vài phút sau, đất trời trắng xoá trong màn mưa dày đặc. Từ ngoài cánh đồng và trong các ao chuôm, tiếng ếch nhái kêu vang, tiếng côn trùng rả rích hoà lẫn tiếng mưa tuôn rào rào, tạo thành một âm thanh náo nức, xôn xao. Lũ trẻ thi nhau chạy ra đồng để bắt cá rô rạch từ dưới ruộng lên. Đứa xách giỏ, đứa mang thùng, mang rổ, đứa tay không… Bất chấp gió mưa, chúng hí húi kiếm tìm trên bờ, dưới lạch. Mỗi khi bắt được cá, tiếng reo hò thích thú lại vang lên.
Cơn mưa kéo dài hơn một tiếng đồng hồ mới tạnh. Đồng ruộng, ao chuôm đầy nước. Cây cối trôi hết bụi bặm, như được hồi sinh, vui mừng vẫy lá. Mấy chú chim rỉa lông rỉa cánh, lích rích kêu trong vòm nhãn. Họ hàng nhà cò đậu trắng cả luỹ tre ven làng.
Sau cơn mưa, bầu trời quang đãng, không khí mát rượi, dễ chịu vô cùng! Mặt trời lại từ từ ló ra, cảnh sinh hoạt trở lại bình thường. Nhiều người vác cuốc ra thăm đồng, vẻ hồ hởi hiện rõ trên nét mặt. Ông em bảo trận mưa này quả là mưa vàng mưa bạc đối với nhà nông.
|
Bài văn mẫu lớp 6 số 7 đề 4_ Từ bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa, em hãy viết bài văn miêu tả lại trận mưa theo quan sát và tưởng tượng của em
| 2,638
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể truyền thuyết con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể truyền thuyết con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em
Âu Cơ nghe theo, từ biệt chồng, đưa năm mươi người con lên núi, đến vùng đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (vùng Bạc Hạc, Lâm Thao, Phú Thọ ngày nay). Triều đình có quan văn, quan võ (Lạc tướng, Lạc hầu).
Bài làm tham khảo
Mỗi chúng ta, ai sinh ra cũng mang trong mình niềm tự hào dân tộc sâu sắc. Người Việt Nam ngay từ những ngày còn thơ bé đã vô cùng tự hào về giống nòi tổ tiên mình qua lời kể của bà, của mẹ từ truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”. “Con Rồng cháu Tiên” không chỉ là một truyền thuyết tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam mà còn là câu chuyện giải thích nguồn cội cha ông đầy vẻ vang của đất nước ta, là truyền thuyết mà mãi đến muôn đời sau vẫn còn lưu truyền.
Truyền thuyết kể lại rằng: Thuở xưa, ở vùng đất Lạc Việt Lạc Việt – bây giờ chính là vùng Bắc Bộ nước ta, có một vị thần tên là Lạc Long Quân, con trai của thần Long Nữ. Thần mình Rồng, sức khỏe phi thường và có nhiều phép lạ. Thần sinh sống dưới thuỷ cung, thỉnh thoảng lên cạn, giúp nhân dân diệt trừ yêu quái như Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh và dạy nhân dân cách trồng trọt, chăn nuôi.
Ít lâu sau, Âu Cơ mang thai. Nhưng thật kì lạ, đến kì sinh nở, nàng lại sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra trăm người con trai trắng trẻo, hồng hào, khôi ngô tuấn tú. Cả một trăm người con cứ lớn nhanh như thổi, chẳng cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi, khỏe mạnh như thần.
Một thời gian sau, Lạc Long Quân vì không quen sống trên cạn và nhớ biển cả nên chàng trở về thuỷ cung, để lại Âu Cơ cùng đàn con trên cạn. Ngày qua ngày, Âu Cơ chờ mãi chờ mãi, nàng sốt ruột trông ngóng chồng với tâm trạng buồn tủi. Cuối cùng, nàng gọi chồng lên mà than thở:
– Sao chàng nỡ bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi dạy các con?
Lạc Long Quân nghe vậy, đành phải nói với Âu Cơ rằng:
– Ta vốn nòi Rồng, quen sống ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên, quen sống ở chốn non cao. Kẻ trên cạn người dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó lòng nào mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chúng ta chia nhau cai quản các phương. Kẻ trên miền núi, người dưới miền biển, khi có việc gì khó khăn thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.
Cho đến hôm nay, khi nhiều thập kỉ đã qua đi, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên vẫn được lưu giữ trong nhân dân ta, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Truyền thuyết không chỉ giải thích nguồn gốc cao quý của tổ tiên mà còn khẳng định nhân dâm Việt Nam đều là anh em một nhà, phải đoàn kết yêu thương lẫn nhau, sống xứng đáng với cội nguồn con cháu Rồng Tiên của mình.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể truyền thuyết con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em
| 595
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể truyện cổ tích cây tre trăm đốt bằng lời văn của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể truyện cổ tích cây tre trăm đốt bằng lời văn của em
Về phần anh Khoai cày, anh hì hụi trèo đèo lội suôi, luồn hết bụi này bờ khác tìm kiếm mà chỉ thấy những cây tre thấp bé bình thường, cây cao nhất cũng chưa được năm chục đốt. Anh buồn quá, ngồi bưng mặt khóc. Nghe tiếng khóc, Bụt hiện lên hỏi:
Bài làm tham khảo
Những câu chuyện cổ tích luôn song hành cùng thế hệ tuổi thơ của trẻ nhỏ, nuôi dưỡng ước mơ trẻ thơ. Tôi cũng như bao đứa trẻ khác, rất thích nghe những câu chuyện bà kể. Và như đã thành lệ, đêm nào, trước khi đi ngủ, bà nội cũng kể chuyện cổ tích cho tôi nghe. Câu truyện “cây tre trăm đốt” là câu truyện tôi thích nghe nhất
Ngày xưa có một anh chàng cày hiền lành, khoẻ mạnh, đi ở cho một lão nhà giàu. Anh rất chăm chỉ lại thạo việc đồng áng nên lão nhà giàu muôn anh làm lợi thật nhiều cho lão. Một hôm, lão gọi anh đến và ngon ngọt dỗ dành:
– Con chịu khó thức khuya dậy sớm làm lụng giúp ta, chớ quản nhọc nhằn. Ba năm nữa, ta sẽ gả con gái cho.
Anh trai cày tưởng lão nói thật, cứ thể quần quật I làm giàu cho lão. Ba năm sau, nhờ công sức anh, lão chủ có thêm nhà ngói, sân gạch, tậu thêm được ruộng, được vườn. Tuy nhiên, lão nhà giàu chẳng giữ lời hứa năm xưa. Lão đã ngấm ngầm nhận lời gả con gái cho con trai một nhà giàu khác trong vùng. Một hôm, lão làm ra vẻ thân mật bảo anh Khoai cày:
anh Khoai cày mừng rỡ xách dao lên rừng. Anh không biết ở nhà hai lão nhà giàu đã sắp sẵn cỗ bàn để làm lễ cưới con trai, con gái chúng. Hai lão hí hửng bảo nhau: “Cái thằng ngốc ấy có đi quanh năm suốt tháng cũng đố mà kiếm được cây tre đủ trăm đốt! Thế nào rồi cũng bị rắn cắn, hổ vồ!”
Về phần anh Khoai cày, anh hì hụi trèo đèo lội suôi, luồn hết bụi này bờ khác tìm kiếm mà chỉ thấy những cây tre thấp bé bình thường, cây cao nhất cũng chưa được năm chục đốt. Anh buồn quá, ngồi bưng mặt khóc. Nghe tiếng khóc, Bụt hiện lên hỏi:
– Làm sao con khóc?
anh Khoai cày thưa rõ dầu duôi câu chuyện. Bụt cười và bảo:
– Khó gì việc ấy! Con hãy chặt đủ một trăm đốt tre, đem xếp nối với nhau rồi hô: “Khắc nhập, khắc nhập” thì sẽ có ngay cây tre trăm đốt.
Nói xong, Bụt biến mất. anh Khoai cày làm đúng lời Bụt bảo, quả nhiên cả trăm dốt tre dính liền nối nhau thành một cây tre đủ trăm dốt. Anh sung sướng nâng lên vai vác về. Song, tre dài quá, vướng bờ vướng bụi, không sao đưa ra khỏi rừng được. Anh lại ngồi xuống khóc, Bụt lại hiện lên hỏi:
Anh nói tre dài quá không vác về nhà được, Bụt liền bảo:
– Con hãy hô: “Khắc xuất, khắc xuất”, những đốt tre ấy sẽ rời ra!
Anh làm theo lời Bụt, quả nhiên cây tre rời ra trăm đốt, anh kiếm dây rừng buộc làm hai bó, mừng rỡ gánh về.
Lúc anh về tới nơi, thấy hai họ ăn uống linh đình và sửa soạn đón dâu, anh mới biết rõ là lão nhà giàu đã lừa anh và đã lén lút đem con gái gả cho người khác. Anh giận lắm nhưng không nói năng gì, lẳng lặng xếp trăm đốt tre nối nhau và hô: “Khắc nhập, khắc nhập”. Một cây tre đúng trăm đốt tươi xanh óng ả hiện ra trước mắt mọi người. Lão chủ thấy lạ, chạy lại gần xem. Anh đọc luôn: “Khắc nhập, khắc nhập”. Lão ta dính liền ngay vào cây tre, không tài nào rứt ra được. Lão thông gia thấy vậy chạy lại định gỡ cho nhà chủ. Anh đợi cho hăn tới gần, rồi lại đọc: “Khắc nhập, khắc nhập”. Thế là lão ta cũng dính chặt luôn vào cây tre. Hai lão nhà giàu kêu khóc thảm thiết, van lạy anh Khoai cày xin anh gỡ ra cho và hứa trước hai họ sẽ gả con gái cho anh ngay hôm đó. Lúc bấy giờ, anh mới khoan thai đọc: “Khắc xuất, khắc xuất”. Tức thì cả hai lão kia rời khỏi cây tre và cây tre cũng chia thành trăm đốt. anh Khoai cày làm lễ cưới cô gái và hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc suốt đời.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể truyện cổ tích cây tre trăm đốt bằng lời văn của em
| 810
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể truyện cổ tích Sọ Dừa bằng lời văn của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể truyện cổ tích Sọ Dừa bằng lời văn của em
Bài văn: Kể truyện cổ tích Sọ Dừa bằng lời văn của em
Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt, thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn hiền lành, tốt bụng, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế.
Bài mẫu
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích đặc sắc. Mỗi câu chuyện cổ tích đều dạy cho chúng ta một bài học làm người ý nghĩa. Sọ Dừa chính là câu chuyện cổ tích như thế. Truyện vừa kể về cuộc đời của Sọ Dừa vừa nhắc nhở con người đạo lý sống đúng đắn.
Qua lời kể của bà, câu chuyện vẫn luôn in rõ trong tâm trí em. Ngày xưa, ngày xưa có hai vợ chồng nông dân rất nghèo, phải đi ở cho nhà phú ông nọ. Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng mãi đến năm mươi tuổi mà vẫn chưa có lấy một mụn con.
Một hôm, người vợ vào trong rừng hái củi. Trời nắng to, khát nước quá mà bà chẳng tìm thấy con suối nào. Bỗng nhìn thấy một cái sọ dừa đầy nước mưa bên gốc cây to, bà vội uống cho đỡ khát. Thế rồi, về nhà, bà có thai.
Ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như quả dừa. Bà buồn quá, định vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo:
Thương con, bà để lại nuôi và đặt tên là Sọ Dừa.
Lớn rồi Sọ Dừa vẫn như lúc nhỏ, cứ lăn bên chân mẹ, chẵng làm được việc gì. Bà mẹ phiền lòng lắm, than phiền. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ:
– Chuyện gì chứ chăn bò con cũng làm được. Mẹ nói với phú ông cho con chăn bò nhé!
Nghe con nói, bà đánh liều đến hỏi phú ông. Ban đầu, phú ông ngần ngại vì hình dạng của Sọ Dừa, nhưng nghĩ nuôi ít tốn cơm, công chăn bò cũng ít nên ông đồng ý.
Từ đó Sọ Dừa đến ở nhà phú ông. Cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà, đàn bò béo tốt hẳn ra. Phú ông mừng lắm.
Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt, thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn hiền lành, tốt bụng, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế.
Một hôm, như thường lệ đến phiên cô út mang cơm cho Sọ Dừa. Từ xa, cô bỗng nghe có tiếng sáo véo von. Cô rón rén nấp sau bụi cây và nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đang ngồi trên võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Nhưng nghe tiếng động, chàng trai biến mất, chỉ thấy Sọ Dừa nằm đấy. Nhiều lần như thế, cô út biết Sọ Dừa không phải là người trần, dần đem lòng yêu mến, có thức ăn nào ngon đều giấu đem cho chàng.
Một hôm, Sọ Dừa về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Bà lão sửng sốt lắm, nhưng thấy con năn nỉ mãi bà cũng chiều lòng.
Mẹ Sọ Dừa đến hỏi, phú ông cười mỉa mai:
– Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm mang sang đây.
Bà lão ra về, nghĩ chắc con mình sẽ từ bỏ ý định, nhưng Sọ Dừa lại nói rằng sẽ có đủ lễ vật. Không ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà trong nhà không những có đầy đủ sính lễ mà còn có cả gia nhân khiêng đồ sính lễ sang nhà phú ông. Phú ông thấy thế hoa cả mắt, gọi ba con gái ra hỏi ý. Hai cô chị chê bai Sọ Dừa xấu xí, chỉ có cô út là cúi đầu tỏ ý bằng lòng. Phú ông đành nhận lễ vật và gả cô gái út cho Sọ Dừa.
Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa xấu xí đâu, chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Ai nấy đều sửng sốt và mừng rỡ, còn hai cô chị thì vừa tiếc nuối vừa ghen tức.
Hai vợ chồng sống hạnh phúc, Sọ Dừa còn rất thông minh, ngày đem miệt mài đèn sách và thi đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, nhà vua truyền chiếu sai chàng đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giữ luôn các thứ ấy bên mình để có lúc cần dùng đến.
Sọ Dừa quả thực là câu chuyện cổ tích vô cùng ý nghĩa, nhắc nhở chúng ta “ở hiền gặp lành”, người nhân hậu sẽ được hạnh phúc, kẻ ác sẽ chịu đau khổ. Mỗi chúng ta phải sống nhân hậu, tránh tham lam, ích kỉ mà nhận lại quả báo.
Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy vang ba lần:
– Ò… ó… o…Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.
Quan trạng cho thuyền vào xem, hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Về nhà, quan trạng mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em út rủi ro, tỏ vẻ thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể truyện cổ tích Sọ Dừa bằng lời văn của em
| 1,052
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về anh trai của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về anh trai của em
Kể về anh trai của em – bài mẫu 1
Vì vẻ ngoài của mình, bạn bè hay trêu chọc anh yếu đuổi, nhưng anh Minh rất khỏe mạnh. Anh thẳng thắn và thật thà, từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ nói dối bố mẹ. Hồi bé rất nghịch ngợm, phá phách nhưng vẫn giúp bố mẹ việc nhà, chăm em. Càng lớn anh ấy càng chín chắn và trầm tính hơn, giống như thừa hưởng gen của bố, anh rất ít nói, chỉ là hay thích cười. Mỗi khi cười sẽ lộ ra má núm và răng khểnh
Bài mẫu tham khảo
Gia đình – hai tiếng đơn giản ấy thôi mà sao thân thương quá. Gia đình là món quà vô giá, là điều quan trọng nhất đối với em. Em may mắn được sinh ra và lớn lên trong một gia đình hạnh phúc, không những có bố mẹ ông bà yêu thương, chở che mà còn có một người anh trai cưng chiều hết mực.
Khi em còn bi bô tập nói, anh trai em đã biết đá bóng, chơi cầu lông. Anh ấy hơn em những chín tuổi nên rất yêu thương và chiều chuộng em. Anh trai em được bố mẹ đặt tên là Minh, mang ý nghĩa mong anh ấy trưởng thành thông minh, chính trực. Năm nay anh Minh đã 21 tuổi, hiện đang là sinh viên năm cuối một trường đại học về công nghệ thông tin. Ngày trước, anh trai em rất gầy và nhỏ con, vậy mà lên đại học được một năm, anh ấy chợt trở nên khỏe mạnh và cao lớn hơn rất nhiều. Anh cao khoảng gần một mét tám, em đứng kiễng chân cũng chỉ cao đến ngực anh ấy. Mái tóc anh đen và thường được cắt tỉa gọn gàng lộ ra vầng trán cao thông minh. Khuôn mặt anh nghiêm nghị, chín chắn, mũi cao và đôi mắt đen láy, nhưng hàm răng trắng lại nhô lên chiếc răng khểnh rất dễ thương. Không giống như nhiều thanh niên cùng tuổi khác, phơi nắng sẽ ngăm ngăm đen mà da anh trai em lúc nào cũng trắng, hồi còn nhỏ mẹ bảo anh ấy nghịch ngợm suốt ngày vẫn không bị đen da, em ghen tị vô cùng.
Giống như hi vọng khi bố mẹ đặt tên, anh trai em rất thông minh, trong quá trình học tập thành tích luôn ổn định, chăm ngoan lại tốt bụng nên bạn bè và thầy cô đều yêu quý. Các bạn cùng lớp em hay kể học sinh độ tuổi như anh em lúc 16 17 tuổi nổi loạn và thường đánh nhau, nhưng em chưa bao giờ thấy anh ấy xô xát với ai.
Bố mẹ bận làm việc, em không có chị gái hay bạn bè hàng xóm cùng tuổi nên thường bám lấy anh trai hỏi đủ thứ chuyện trên đời. Dù anh bận học, bận ôn thi vẫn kiên nhẫn giải đáp mười vạn câu hỏi vì sao của em, không hề nổi cáu. Tất cả đồ mẹ mua cho anh đều nhường nhịn em chọn trước, chẳng bao giờ giành với em. Cũng bởi vì thế mà em rất yêu quý anh. Anh em còn nấu ăn rất giỏi, bố mẹ đi vắng đều không lo vì cơm nước anh trai sẽ lo hết. Em thường kể cho bạn trong lớp nghe, đứa nào cũng ngưỡng mộ.
Lúc em lên lớp 3 thì anh Minh vào đại học, hôm anh chuẩn bị lên thành phố, em cứ khóc mãi. Anh Minh phải vừa cười vừa dỗ hứa khi nào về sẽ mua búp bê em mới cho đi. Anh trở thành sinh viên nhưng tháng nào cũng đều đặn về nhà, tiền làm thêm lần đầu tiên của anh để mua cho em một con búp bê rất to, xinh đẹp. Anh không chơi bời, tiêu tiền phung phí mà rất tiết kiệm, chẳng bao giờ gọi về nhà xin tiền mẹ. Bố mẹ vì vậy yên tâm và tự hào về anh lắm.
Em cảm thấy rất vui và hạnh phúc khi có người anh trai thông minh, ngoan ngoãn và tài giỏi. Anh Minh không chỉ là người anh trai mẫu mực luôn yêu thương, nhường nhịn em mà còn là người em vô cùng ngưỡng mộ, tự hào. Em luôn tự nhủ phải cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện để trưởng thành như anh, xứng đáng với sự yêu thương, tin tưởng của anh trai và bố mẹ.
Kể về anh trai của em – bài mẫu 2
Tôi vẫn còn nhớ hồi lớp một, em là một cô bé nhút nhát, hay bị các anh chị lớn trong trường bắt nạt, một lần, khi đi học về, anh thấy tôi bị một đám anh chị bắt nạt liền chạy tới đánh nhau một trận với những người đó để giải vây cho em
Bài làm tham khảo
“ Làm anh khó lắm
Đâu phải chuyện đùa
Với em bé gái
Phải người lớn cơ.”
Tôi là con út trong một gia đình bốn người. Và nhiễm nhiên tôi có một người anh trai. Anh là người luôn yêu thương và chiều chuộng tôi nhất trong gia đình.
Anh trai tôi tên là Khánh, anh hơn tôi năm tuổi, năm nay anh đã học lớp mười một. Anh em có dáng người cao, hơi gầy, nước da bánh mật khỏe khoắn rắn rỏi. Mái tóc đen mượt cắt gọn gàng để lộ cái trán cao, trắng, lộ vẻ thông minh lanh lợi. Nổi bật trên khuôn mặt thanh tú là đôi mắt to đen, kiên định, chỉ cần nhìn vào đôi mắt ấy cũng đủ biết anh là người thông minh, quyết đoán. Anh trai tôi có một nụ cười rất đẹp, mỗi khi anh cười, để lộ hàm răng đều trắng muốt, đó là một nụ cười luôn tươi tắn, rạng rỡ, làm sáng bừng cả vầng không gian. Anh trai tôi có tính cách trầm ổn, đôi lúc rất vui tính, là một người dễ gần và dễ mến.
Tôi rất yêu quý anh trai của mình. Dù sau này lớn khôn, tình cảm của tôi dành cho anh trai cũng không bao giờ thay đổi. Anh mãi mãi là tấm gương sáng cho chúng tôi noi theo.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể về anh trai của em
| 1,070
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về bố của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về bố của em
Kể về bố của em – Bài mẫu 1
Những đêm thức khuya học bài, lúc nào bố cũng chờ tôi đi ngủ rồi mới an giấc. Bố luôn yêu thương và chiều chuộng tôi nhưng vẫn nghiêm khắc chỉ bảo mỗi khi tôi mắc lỗi. Bố dạy tôi cách sống, cách làm người, hiểu được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, ý nghĩa của sự trung thực, ngay thắng, lòng khoan dung và biết ơn. Cả cuộc đời bố đã vất vả hi sinh vì gia đình, thế nhưng, vẫn có lúc tôi vô tình làm bố buồn, chẳng thể đáp ứng được sự kì vọng của bố.
Bài tham khảo
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trog nguồn chảy ra”
Cha mẹ là những người có công ơn sinh thành nuôi dưỡng chúng ta thành nên người. Không giống với mẹ, cha luôn là người sát cánh bên ta, dạy dỗ ta biết bao điều bằng chính sự cứng rắn, trưởng thành nhưng cũng chan chứa tình yêu.
Bố tôi năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi. Dáng người bố cao gầy. Trong mắt tôi, dáng hình ấy lúc nào cũng thật to lớn và vững chãi để che chở cho cả gia đình. Làn da bố rám nắng vì phơi nắng dầm sương, trải qua đủ khó khăn, khổ cực vì cuộc mưu sinh vất vả. Khuôn mặt bố vuông chữ điền, toát lên vẻ hiền lành và đôn hậu. Đôi mắt bố đen láy, trong đôi mắt ấy chứa đựng cả bầu trời yêu thương bố dành cho các con. Mỗi khi mỉm cười, đôi mắt bố thật đỗi dịu dàng, thể hiện sự trìu mền pha chút nuông chiều. Mái tóc bố không còn đen nữa mà đã lấm tấm bạc. Nhìn những sợi tóc bạc ấy, tôi càng thương bố nhiều hơn vì những gian lao, vất vả bố phải trải qua để nuôi chúng tôi khôn lớn. Tôi thích nhất là những lúc bố cười. Nụ cười ấy mới ấm áp làm sao. Những lúc như thế, tôi tự nhủ phải chăm ngoan hơn nữa để nụ cười ấy có thể xuất hiện nhiều hơn trên đôi môi của bố. Đôi bàn tay bố chai sần, thô ráp nhưng tôi vẫn luôn yêu đôi bàn tay ấy. Đôi bàn tay khó nhọc vì gia đình. Đôi bàn tay hi sinh vì sự bình yên, hạnh phúc của các con.
Sau này lớn lên, rồi tôi sẽ phải rời xa vòng tay của bố nhưng tôi tin rằng bố sẽ mãi là người che chở, dõi theo và bảo vệ cho tôi trong suốt cuộc đời. Những bài học của bố sẽ là hành trang theo tôi suốt cuộc đời, tình yêu của bố sẽ là động lực để tôi tiến lên phía trước.
Kể về bố của em – bài mẫu 2
Đôi mắt hiền từ thường ngày nheo nheo lại, vết nhăn mờ mờ nơi khóe mắt sau nhiều năm gánh vác gia đình thấp thoáng hiện lên. Bố nở nụ cười tươi, đôi tay gầy gầy khẽ vuốt ve cây đàn rồi nhẹ nhàng đặt nó lên, kẹp giữa bờ vai rộng và cần cổ.
Bài văn tham khảo
Cây vĩ cầm đã câm lặng từ lâu, con còn nhớ khi chai sạn chiều hôn lên tay cha. Cây vĩ cầm vẫn ngân nga hằng đêm, bay mãi vào một thời ấu thơ là cây vĩ cầm. Trải bao giông bão, bao tháng năm kiếp người vẫn còn với cha cây vĩ cầm”…
Lời bài hát vang lên da diết làm em chợt nhớ về hình bóng yêu thương của bố – người cha muôn vàn kính yêu, người nghệ sĩ trong gia đình em.
Thấy bóng bố ngồi yên tĩnh bên cây vĩ cầm, câu chuyện về những ngày còn trẻ của bố mà mẹ hay kể lại ùa về. Hơn hai mươi năm trước, bố còn là chàng thanh niên hai mươi tuổi, nhiều ước mơ và hoài bão. Bố từ nhỏ đã kế thừa tình yêu âm nhạc từ bà nội, đặc biệt đam mê với loại hình nghệ thuật này.
Khi em ra đời thì bà nội đã mất, mẹ bảo bà hát dân ca hay lắm, bà còn biết kéo đàn nhị nữa. Nhưng bố không thích đàn nhị như bà nội, lúc bố 13 tuổi, hay sang nhà người hàng xóm từ bên nước ngoài về Việt Nam định cư, nghe người ta kéo đàn vĩ cầm – loại nhạc cụ hiếm có ở Việt Nam rồi theo người ta học kéo đàn.
Nhiều năm sau đổi mới, người hàng xóm kia quay lại quê hương họ tặng cho bố một cây vĩ cầm màu nâu nho nhỏ. Cứ như vậy, cây vĩ cầm ấy theo bố đến hôm nay đã qua hơn hai mươi năm.
Sau này, bố gặp mẹ, bố là chàng trai Hà thành hào hoa, mẹ lại thiếu nữ Sài Gòn sôi nổi, cảm mến chàng thanh niên chơi vĩ cầm giỏi, ít lâu sau thì về chung một nhà. Mẹ bảo sau khi lập gia đình, bố không chơi vĩ cầm thường xuyên như trước nữa, chỉ chăm chú làm ăn lo cho vợ con. Mãi đến khi em lên lớp 2, thấy bố đem cây vĩ cầm đã cũ ra lau chùi, tò mò hỏi mẹ mới biết.
Em cứ nghĩ chắc mình sẽ không được nghe bố đàn vĩ cầm. Cho đến năm ngoái, anh trai đi xa về tặng cho bố một cây vĩ cầm màu nâu bóng, được thiết kế tỉ mỉ, đặt trong hộp gỗ. Em vẫn nhớ như in hình ảnh bố khi ấy, khuôn mặt vuông chữ điền chất phác của người đàn ông đã ngoài bốn mươi với nước da hơi ngăm bỗng bừng sáng hẳn lên.
Đôi mắt hiền từ thường ngày nheo nheo lại, vết nhăn mờ mờ nơi khóe mắt sau nhiều năm gánh vác gia đình thấp thoáng hiện lên. Bố nở nụ cười tươi, đôi tay gầy gầy khẽ vuốt ve cây đàn rồi nhẹ nhàng đặt nó lên, kẹp giữa bờ vai rộng và cần cổ.
Kéo đàn xong, bố nâng niu cây vĩ cầm, cẩn thận bỏ lại nó vào hộp rồi đem cất đi. Bóng dáng cao gầy, bước chân vững chắc, bình ổn thường ngày nhanh nhẹn hẳn lên. Sau đó, em cũng không được nghe bố kéo đàn vĩ cầm thêm lần nào nữa.
Bố trở về với cuộc sống thường ngày, vừa lo làm ăn nhỏ, vừa phụ giúp mẹ chăm lo gia đình. Bố là thần tượng của em từ ngày còn bé, luôn ân cần, dịu dàng, thậm chí nhiều món ăn bố nấu còn ngon hơn cả mẹ. Bố không bao giờ khắt khe trong việc học hành của em, thỉnh thoảng sẽ quan tâm con gái học hành có vất vả không, giúp em giảng giải nhiều bài tập khó. Nhiều lần, trời mưa gió mà vẫn phải đến trường, bố đều bỏ công việc, đưa đón em mới yên tâm.
Bố em vốn là người ít nói nhưng rất chu đáo, quan tâm đến mọi người. Những ngày đặc biệt như 20 – 10, 8 – 3, mẹ và em đều sẽ có quà, hai mẹ con lần nào cũng cảm động. Hàng xóm ai cũng yêu mến bố, đặc biệt là các cụ già, lúc nào cũng khen bố còn trẻ mà kiên nhẫn ngồi chơi cờ, tán gẫu với các cụ, các cụ bớt cô đơn hẳn.
Mỗi lần như vậy, em đều tự hào vô cùng. Bố chính là người mà em ngưỡng mộ nhất. Bố không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho gia đình em mà còn là người luôn nhẹ nhàng dạy cho em nhiều bài học đạo lý làm người, sống đúng đắn và nhân hậu. Em luôn cảm thấy mình may mắn rất nhiều khi được trưởng thành trong sự bảo vệ yêu thương của bố mẹ.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể về bố của em
| 1,342
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về em trai hoặc em gái của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về em trai hoặc em gái của em
Kể về em trai hoặc em gái – bài mẫu 1
Năm nay Chi cũng đã bắt đầu vào học lớp 1. Nhớ những ngày hai chị em cùng học bài, chỉ bài cho em rất vui vẻ. Ngọc tuy bé những rất ham học, những bông hoa điểm mười hay chiếc phiếu bé ngoan luôn được em mang về
Bài mẫu tham khảo
Từ xưa ông cha ta đã luôn đề cao tình cảm anh chị em ruột thịt, có câu: “Chị ngã em nâng” cũng là để răn dạy con cháu mình như thế. Và Chi là đứa em gái mà tôi thương nhất trong nhà.
Em gái tôi, tròn 6 tuổi. Ở độ tuổi mà em còn mang trong mình những nét hồn nhiên, ngay thơ rất đỗi đáng yêu của một đứa trẻ thơ. Chi mũm mĩm, mập mập trông rất đáng yêu. Đôi mắt trong veo với hàng mi dài là điểm nhấn trên khuôn mặt em, đôi mắt dường như đẫm nước, long lanh khiến cho người đối diện rất có thiện cảm. Cùng với đó là nước da trắng hồng hào cùng đôi má phúng phính khiến em càng ghi điểm trong mắt mọi người. Đó cũng là cội nguồn của cái tên “ Bông tròn” được ra đời. Đôi má ấy luôn khiến mọi người khi gặp bé đều muốn “cắn” yêu một miếng. Bé bé con con, đôi chân lon ton luôn tinh nghịch hiếu động chạy đây đó đi chơi. Hình ảnh một bé gái với mái tóc mềm mại được buộc củ tỏi hai bên đầu luôn in đậm trong tâm trí tôi mỗi khi nhớ về cô em gái Ngọc của mình.
Năm nay Chi cũng đã bắt đầu vào học lớp 1. Nhớ những ngày hai chị em cùng học bài, chỉ bài cho em rất vui vẻ. Ngọc tuy bé những rất ham học, những bông hoa điểm mười hay chiếc phiếu bé ngoan luôn được em mang về với niềm hứng khởi trên mặt sau những giờ học trên lớp khiến tôi cũng vui lây. Nét chữ xinh xắn, cùng những lần tập đọc bài của em luôn là những phút giây khiến gia tôi rất vui vẻ. Học hành chăm chỉ là thế nhưng Chi cũng biết phụ ba mẹ dù tuổi còn rất nhỏ. Có những hôm thấy tôi cầm chổi quét nhà, em cũng chạy lại lấy thêm chiếc nữa và tung tẩy hát: “chổi to bà quét sân to, chổi nhỏ bà để dành bé ăn no quét nhà…” khiến ai nhìn cũng thấy vui vẻ trở nên. Đặc biệt em còn rất biết nghe lời, lễ phép, luôn cư xử rất có nề nếp. Thi thoảng chị em có đi chơi, giải khuây, em luôn miệng kể vè những ước mơ muốn đạt khi lớn lên: làm cô giáo hiền, làm bác trồng hoa cho công viên…..thật bình dị mà trong sáng nhường nào. Những giây phút bên Chi luôn là lúc tâm hồn tôi thêm trẻ lại, trong sáng hẳn nhường nào.
Kể về em trai hoặc em gái – bài mẫu 2
Bé luôn làm những hành động rất đáng yêu. Mới ba tuổi nhưng rất nghịch ngợm. Con gái nhưng đi học hay bắt nạt bạn nam cùng lớp, nhiều lần mẹ đến đón, cô giáo nói chuyện mà giật mình. Vậy mà mỗi lần mắc lỗi, chưa đợi bị mắng đã xịu mặt “Bông biết lỗi rồi mà. Lần sau Bông không như thế nữa”, thế là thoát tội. Mọi người cũng bó tay với con bé quá thông minh và giỏi nịnh nọt này. Nhà em dần trở thành lãnh địa của bé.
Bài mẫu tham khảo
Có những điều nhỏ bé nhưng vô cùng ý nghĩa với mỗi chúng ta. Gia đình chính là điều kỳ diệu đó. Gia đình có những người thân yêu nhất. Đối với em, mọi người trong gia đình đều quan trọng và đáng quý. Nhưng có một người rất đặc biệt, đó là em gái Gia Linh của em. Bé giống như một thiên thần nhỏ đáng yêu.
Gia Linh chào đời cách đây ba năm, ngày hôm qua là ngày sinh nhật ba tuổi của bé. Được bảo bọc và yêu thương, Gia Huy mũm mĩm, mập mạp như một chiếc bánh bao nhỏ. Da trắng như trứng gà bóc, mềm mềm mịn mịn. Khuôn mặt tròn xoe, đôi mắt đen trong veo, lấp lánh, mi cong cong, hai má phúng phính. Cái miệng nhỏ chúm chím, mỗi khi cười sẽ hở ra mấy cái răng nhỏ trắng tinh rất đáng yêu. Dáng người bé nhỏ xíu, đôi chân ngắn cũn, mỗi khi bé lon ton chạy đi chạy lại trông cứ như chú lật đật, mọi người trông thấy đều bật cười. Tóc bé đặc biệt đen láy, mềm mại như tơ.
Tháng thứ 9 bé bắt đầu bi bô tập nói, tháng thứ 15 thì chập chững bước đi. Gia Linh không tập bò mà tập đi luôn. Mọi người trong nhà ai cũng kinh ngạc. Đến khi sinh nhật hai tuổi bé đã chạy nhảy vững vàng và nói rõ như trẻ 5 tuổi, thậm chí có những từ bé còn phát âm chuẩn hơn bé trai tiểu học nhà hàng xóm. Bé thích hát, thích học hỏi và rất thích xem những bài hát tiếng anh. Hai tuổi bé đã thuộc Bà ơi bà, Một gia đình nhỏ một hạnh phúc to,… hát được bài Happy Birthday. Mọi người vào chơi ai cũng ngạc nhiên về sự thông minh, đáng yêu của bé.
Điều đặc biệt nữa là Gia Linh có trí nhớ rất tốt, có lần bà ngoại và bà nội nói chuyện với nhau, nói đùa rằng mẹ em không ngoan, đánh mẹ nhé. Lúc ấy bé bảo “mẹ ngoan mà” làm hai bà giật mình. Tối về, bé leo lên người mẹ, giơ tay nhỏ kiện cáo “bà bảo mẹ không ngoan” làm cả nhà em bật cười.
Gia Linh đến với gia đình em bất ngờ và như một món quà quý giá. Bé là em út, anh trai và em đều hết mực yêu thương nhường nhịn bé. Dù bé khá nghịch ngợm và hay bày trò, nhưng từ khi có bé, gia đình em thường ngập tràn tiếng cười và ấm áp hơn. Chỉ cần mỗi khi đi học, cảm thấy mệt mỏi nghĩ đến về nhà sẽ được gặp cục bông trắng trẻo, mũm mĩm là em thấy rất hạnh phúc.
Gia Linh cũng thường quấn quýt lấy em, hỏi cái này cái kia, cả thế giới trở thành mười vạn câu hỏi vì sao của bé. Bé còn kể chuyện ở lớp, hôm nay bé học bài gì, ăn bao nhiêu, bạn này bạn kia như thế nào, không lúc nào ngừng nói chuyện. Mỗi lần thấy em buồn, bé cũng phát hiện ra, dụi dụi cái trán, vô cùng đáng yêu. Lúc mọi người đều bận, không chơi với bé, bé rất ngoan ngoãn, tự ngồi ghép hình, vẽ tranh một mình.
Gia Linh là người thân mang ý nghĩa đặc biệt với em. Bé là em gái dễ thương, là thiên thần nhỏ đáng quý của gia đình em. Em luôn tự nhủ phải làm gương cho bé để bé noi theo.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể về em trai hoặc em gái của em
| 1,241
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về mẹ của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về mẹ của em
Kể về mẹ của em – bài mẫu 1
Tuy bận rộn nhưng mẹ chưa bao giờ quên quan tâm chị em em, mỗi tối mẹ vẫn dành thời gian trò chuyện, hỏi han tình hình học tập của hai đứa, có chỗ nào không hiểu, nếu mẹ giải được mẹ sẽ giúp. Mỗi lần em ốm, mẹ vẫn như thường lệ bao năm qua, cẩn thận nấu cháo, đắp khăn ướt, mua thuốc và túc trực bên cạnh đến đêm khuya, chờ em hạ sốt mới yên tâm.
Bài văn tham khảo
“Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan đẹp nhất là trái tim người mẹ…”
Ai đó đã từng nói với em như thế. Mẹ quả thực là tiếng gọi thiêng liêng nhất, có mẹ quả thực là niềm hạnh phúc lớn lao nhất. Mẹ đối với em mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, là món quà lớn nhất của em trong cuộc đời này.
Mỗi chúng ta, khi sinh ra đã được bảo bọc trong vòng tay của mẹ. Mẹ vất vả chăm lo cho gia đình em nhiều năm, đến năm nay, mẹ đã bước qua cái tuổi bốn mươi, đi hết gần nửa đời người. Mẹ sinh ra trong một gia đình nông dân nhưng sau này lại trở thành một người công nhân. Cuộc sống vất vả, không an nhàn như nhiều người phụ nữ khác khiến mẹ nhìn có vẻ già hơn so với tuổi thật. Dáng người mẹ gầy gầy, nhìn từ xa nhỏ bé, mong manh nhưng đôi vai gầy lại kiên cường vô cùng. Mẹ có khuôn mặt trái xoan nhỏ, mái tóc đen thường búi gọn gàng sau gáy, sống mũi cao cao thanh tú và đôi mắt hiền từ ấm áp. Có lẽ vì vậy mà dù nhìn vào những nếp nhăn mờ mờ nơi khóe mắt của mẹ, em vẫn cảm thấy mẹ vô cùng dịu hiền, dễ gần.
Mẹ không bao giờ cười rộ lên mà chỉ hơi mỉm cười, hiền hậu và tạo cho người đối diện cảm giác ấm áp, dễ chịu. Ngày mới lập gia đình, mẹ và bố đều là nông dân, vừa chăm lo đồng lúa, vừa chăn nuôi gia súc, gia cầm, lo cho chị em em. Sau này, bố đi làm ăn xa, mẹ cũng xin được vào một nhà máy ở địa phương, làm công nhân môi trường, chuyên quét dọn xung quanh sân xưởng của nhà máy.
Tuy bận rộn nhưng mẹ chưa bao giờ quên quan tâm chị em em, mỗi tối mẹ vẫn dành thời gian trò chuyện, hỏi han tình hình học tập của hai đứa, có chỗ nào không hiểu, nếu mẹ giải được mẹ sẽ giúp. Mỗi lần em ốm, mẹ vẫn như thường lệ bao năm qua, cẩn thận nấu cháo, đắp khăn ướt, mua thuốc và túc trực bên cạnh đến đêm khuya, chờ em hạ sốt mới yên tâm.
Có những lần học bài đến khuya, em và chị gái đều gục đầu ngủ quên trên bàn học, mẹ dù đi nằm từ sớm vẫn để ý, thấy vậy liền nhẹ nhàng tắt đèn, thu dọn sách vở và buông màn cho chúng em. Nhiều lần, lo chúng em buổi sáng vội vàng quên sách vở, mẹ còn xem kĩ thời khóa biểu, soạn đầy đủ đồ dùng, sách các môn, đặt ngay ngắn trong cặp sách cho chúng em. Nhờ vậy mà chưa lần nào em quên đồ dùng học tập khi đến lớp.
Mẹ không chỉ là người mẹ dịu hiền, bao dung mà còn là người vợ mẫu mực, chu đáo. Bố hay đi làm xa nhưng mẹ luôn ân cần gọi điện quan tâm, thỉnh thoảng nhắc nhở bổ giữ gìn sức khỏe, lo lắng mọi việc trong nhà chu toàn, không để bố bận tâm. Mẹ luôn dặn em ngoan ngoãn, cố gắng đừng làm phiền bố kẻo bố phiền lòng, không yên tâm làm việc. Mẹ cố gắng chăm lo cho chị em em đầy đủ, không quá xa hoa nhưng bằng bạn bằng bè.
Đối với hàng xóm láng giềng, mẹ là người hiền lành tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ khi mọi người cần. Có lần bà cụ hàng xóm bị bệnh, không có con cái chăm sóc, mẹ không ngại vất vả, ngày nào cũng sang lo cơm nước, giặt giũ như đối với người thân ruột thịt. Nếu lỡ có bận cũng dặn chị em em sang giúp bà. Mọi người xung quanh ai cũng yêu mến mẹ.
Mẹ không chỉ chăm sóc, nuôi dưỡng em mà còn dạy em những bài học làm người, sống nhân hậu và không ngừng cố gắng vươn liên, lạc quan, tin tưởng vào tương lai. Mẹ chính là niềm may mắn lớn lao của em. Em sẽ cố gắng phấn đấu trở thành người có ích để không phụ lòng mẹ, nỗ lực đến ngày có thể báo đáp công ơn, chăm sóc cho mẹ.
Kể về mẹ của em – bài mẫu 2
Từ ánh đèn hắt ra, mẹ tôi ngồi đó, tay đưa chỉ, tiếng bàn đạp từ máy khâu vang lên nhịp nhàng đều đều trong đêm vắng. Nhìn cảnh tượng đó tôi cảng thương mẹ hơn, lòng thầm tự hứa với mẹ, con sẽ trở thành đứa con ngoan trò giỏi để không phụ công ơn của mẹ
Bài văn tham khảo
“ Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ
Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.”
Trong mỗi chúng ta, đều có một người thân yêu chiếm vị trí quan trọng nơi trái tim, là duy nhất, mãi mãi không thể thay thế đó chính là người mẹ. Người cho ta nhìn thấy ánh sáng mặt trời, người chịu bao đớn đau khó nhọc chín tháng mười ngày bao bọc chúng ta bằng tình yêu thương ấm áp. Và chính vì thứ tình cảm thiêng liêng mẫu tử không thể tách rời mà trong mắt tôi mẹ là người vĩ đại nhất.
Qua bao thời gian, giờ đây, mẹ đã ngoài ba mươi tuổi nhưng trông mẹ tôi vẫn còn rất trẻ lắm. Mẹ không cao lắm, dáng người mẹ nhỏ nhắn, đầy đặn. Thời gian Thời gian trôi qua, những gánh nặng vất vả của cuộc giống làm phai màu tóc mẹ. Đôi vai gầy ấy đã gánh vác biết bao điều để lo toan cho cuộc sống của chị em tôi. Khuôn mặt trái xoan của mẹ luôn tạo nên sự gần gũi, thân thiện. Bởi vậy, trong công việc, hầu như ai cũng yêu quý mẹ. Nét mặt của mẹ rất hài hòa. Ngay từ lần đầu gặp mặt, ba đã bị thu hút bởi đôi mắt long lanh như biết nói của mẹ.Với đôi lông mày rậm, mẹ thật cá tính, mạnh mẽ. Cùng với đó là đôi mắt to, đen láy như chứa bao điều tâm sự luôn nhìn đàn con với vẻ trìu mến, đầy yêu thương. Đôi môi dày, đỏ thắm lúc nào cũng cười tươi để lộ hàm răng trắng muốt, đều tăm tắp.Cũng không thể quên được đôi bàn tay đầy vết chai sạn; đã dạy cho tôi những nét chữ đầu tiên, dìu dắt tôi bước đầu trên đường đời. Mẹ tôi tần tảo sớm hôm chăm lo cho tôi và gia đình nhỏ, mỗi khi đi làm về dù rất mệt nhưng mẹ vẫn phải nấu cơm. Nhìn mẹ thật khổ nhưng tôi cũng chỉ có thể giúp mẹ những việc có thể làm được, hình ảnh của mẹ mỗi khi làm việc lúc nào cũng in sâu trong tâm trí tôi. Tôi nhớ nhất một hôm, lúc nào đó vào buổi tối, mẹ bảo tôi đi ngủ, tôi chỉ lên gường và giả vờ ngủ. Vì mẹ tôi là thợ may, nên để kiếm thêm thu nhập, mỗi tối mẹ thường nhận thêm công việc sửa chữa quần áo. Từ ánh đèn hắt ra, mẹ tôi ngồi đó, tay đưa chỉ, tiếng bàn đạp từ máy khâu vang lên nhịp nhàng đều đều trong đêm vắng. Nhìn cảnh tượng đó tôi cảng thương mẹ hơn, lòng thầm tự hứa với mẹ, con sẽ trở thành đứa con ngoan trò giỏi để không phụ công ơn của mẹ.
“Dù con lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời, lòng mẹ vẫn theo con”
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể về mẹ của em
| 1,405
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về người bà của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về người bà của em
Kể về người bà của em – bài mẫu 1
Năm tháng qua đi, gánh nặng cuộc đời đã khiến sức khỏe bà yếu hơn nhưng bà vẫn trồng rau, nuôi gà. Khu vườn nhỏ của bà được bà tỉ mỉ chăm bón, mùa nào cũng có rau xanh, trái ngọt. Đến mùa rau trưởng thành, quả chín bà lại hái rồi đem chia cho từng nhà.
Bài làm tham khảo
Mỗi chúng ta, ai sinh ra cũng được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình. Mẹ cha trao cho ta hình hài và nuôi dưỡng ta khôn lớn. Nhưng trong hành trình khôn lớn ấy, không chỉ mẹ cha, có những người khác cũng nuôi dưỡng tâm hồn ta trở nên tốt đẹp. Với em, người đó là bà nội.
Bà nội là người vô cùng quan trọng trong tuổi thơ của em. Bà em năm nay đã bước sang tuổi bảy mươi, dáng người bà nhỏ nhắn, gầy gầy nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và minh mẫn lắm. Mái tóc bà bạc trắng như cước, lúc nào cũng được vấn gọn gàng trong chiếc khăn màu nâu. Khuôn mặt bị thời gian lấy đi tuổi trẻ, những nếp nhăn đã không còn thẳng hàng, đôi mắt nheo nheo lại dưới hàng lông mày và miệng bà đã móm mém. Tuy vậy, nụ cười hiền hòa và ánh mắt của bà khiến em cảm thấy giống như những bà Tiên trong câu chuyện cổ tích của bà.
Bố mẹ em bận bịu làm ăn, ông nội đã qua đời từ khi bố em còn bé xíu, bà nội là người chăm sóc và nuôi nấng em suốt từ ngày em cất tiếng khóc chào đời đến tận bây giờ. Ông nội qua đời sớm để lại bố em và hai bác trai, một tay bà vất vả làm lụng chăm lo, nuôi lớn các con rồi dựng vợ, xây nhà. Vậy mà khi con cái tỏ ý đón bà về phục dưỡng, bà xua tay phản đối. Khi các cháu sinh ra lại lật đật chạy đi chạy lại giữa các nhà, chăm chút cho từng đứa.
Bà đua võng ru em những ngày còn chưa biết bò, biết lẫy. Mẹ từng bảo với em, khi em bi bô tập nói, tiếng đầu tiên em gọi là “Bà”. Trong các cháu, em là đứa nhỏ tuổi nhất và do một tay bà chăm bẵm từ nhỏ đến lớn, em thường hay quấn quýt bên bà nên bà rất yêu thương và chiều chuộng. Bà một mình sống trong ngôi nhà nhỏ cạnh nhà em. Ngày trước bố và các bác cứ khuyên ngăn bà về ở chung để con cháu được chăm sóc bà, bà đỡ vất vả. Em nhớ khi ấy bà chỉ bảo rằng: “Tao đi với chúng mày, thì bố chúng mày ở một mình à. Mẹ ở ngay đây thôi, có chuyện, chúng mày vẫn chăm nom được, chẳng vấn đề gì cả.” Từ đó, bố không nhắc lại chuyện này nữa. Mọi người sau đó thường tụ tập tại nhà bà cuối tuần và các dịp lễ, tết, bận mấy cũng không quên. Bà mừng lắm, bà thường bảo với em bà chỉ mong vậy chứ không mong gì hơn nữa.
Bà chính là một phần của tuổi thơ em. Những câu chuyện cổ tích thần kỳ, những bài học ý nghĩa về lối sống, đạo đức đều được bà mang đến bên em. Bà biết nhiều món bánh, ba miền Bắc Trung Nam, thứ bánh nào ngon bà cũng biết: bánh giò, bánh gio, bánh khúc, bánh bột lọc…Trừ dịp Tết, cúng giỗ, cứ ngày nào trời đổ mưa là bà lại gọi em sang cùng bà làm bánh. Mưa ngoài trời rả rích, hai bà cháu quây quần bên nhau, tự tay làm những món bánh thơm ngon và nghe bà thủ thỉ câu chuyện ngày xưa, những câu chuyện mà bà đã gặp, đã nghe qua trong suốt bao năm tháng cuộc đời.
Bà cho em rất nhiều yêu thương và kỉ niệm đẹp, nhiều đến nỗi không thể ghi hết bằng giất bút. Những chuyện vui, chuyện buồn hàng ngày, chuyện gì em cũng kể với bà, bà lắng nghe, vỗ về và nhẹ nhàng khuyên nhủ bằng lời lẽ nhẹ nhàng, dễ hiểu. Có lần, em mắc lỗi, bố vốn nghiêm khắc nên giận dữ định dùng roi đánh em. Bà vội vàng can ngăn, quát bố không được đánh rồi khuyên bảo em, đến khi em nhận ra lỗi của mình bà mới bảo về xin lỗi bố.
Tuổi thơ của em là những năm tháng ngọt ngào, hạnh phúc trong tình yêu thương của bố mẹ và bà nội. Bà giống như bà tiên hiền hậu, biết nhiều phép thuật, phù phép cho tuổi thơ của em trọn vẹn hơn, tươi đẹp hơn.
Kể về người bà của em – Bài mẫu 2
Tôi thương bà nhiều lắm. Trong trái tim tôi trước đây, bây giờ, và mãi mãi bà sẽ luôn là bà tien đẹp nhất, hiền nhất và đáng kính nhất. Sự yêu thương niềm vui của bà sẽ mãi lan tỏa xung quanh làm rạng ngời tâm hồn tôi.
Bài văn tham khảo
Hai tiếng bà ngoại trong tôi là hai từ vô cùng đẹp và thiêng liêng. Cả tuổi ấu thơ của tôi đều gắn liền với những kỉ niệm về bà yêu quý. Những kỉ niệm ấy được bà vun đắp và gieo trồng tạo nên một góc đẹp trong tâm hồn tôi. Đó là những lời tự tận đáy lòng mà tôi muốn nói với bà – bà tuyệt với nhất trong trái tim tôi.
Bà tôi năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi. Tóc bà trắng như những bà tiên trong các câu chuyên cổ tích. Lưng bà còng lắm rồi. Làn da nhăn nheo với nhiều chỗ có chấm đồi mồi. Bà đã hi sinh cả tuổi xuân, tần tảo, bươn chải, thức khuya dậy sớm nuôi nấng mẹ và các dì tôi. Đôi mắt bà không còn tinh tường như trước nhưng cái nhìn thì vẫn như ngày nào: trìu mến và nhân hậu. Đôi bàn tay thô ráp, chai sần bởi suốt đời lặn lội, vất vả kiếm cơm áo cho các con.
Nghe mẹ kể lại tôi nhỏ xíu bố mẹ đi làm xa tôi khóc suốt, bà thì cũng có tuổi thế mà ngày nào cũng phải thức để dỗ dành kể chuyện hát ru cho tôi ngủ. Cho tới tận bây giờ cái mùi trầu thơm đượm bà nhai vẫn còn mơn man trong tâm hồn tôi. Ngày còn thơ bé, tôi được sống trong vòng tay yêu thương vô bờ bến của bà. Đêm nào tôi cũng chìm trong giấc ngủ êm đềm nhờ những câu chuyện cổ tích bà kể. Sáng sớm, bà gọi tôi dậy đi học. Lời gọi: “Cháu ơi, dậy đi nào, đã đến giờ đi học rồi” luôn làm tôi tỉnh táo sau giấc ngủ dài. Bà dắt tay, đưa tôi đến trường. Chờ cho cánh cổng trường khép hẳn, bà mới an tâm ra về. Chiều chiều, vẫn cái dáng đi lặng lẽ ấy, bà đưa tôi trở về nhà. Mỗi khi ở cạnh bà, tôi cảm thấy ấm áp vô cùng. Có lần bị ngã, tôi đã nằm ăn vạ rất lâu. Bà ẩy con lật đật và bảo: “Con lật đật luôn biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Cháu của bà cũng vậy, đúng không nào? Cháu được như con lật đật là bà rất vui”. Nghe lời bà, tôi nín khóc và tự đứng dậy. Bà cười móm mém “Cháu ngoan lắm, lại đây bà phủi đất cho nào”. Những hôm học khuya, buồn ngủ quá, tôi gục luôn xuống bàn thiếp đi. Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang đắp chăn, nằm trên giường. Trên bàn học, đèn đã tắt từ lúc nào, sách vở được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp. Bà đã bế tôi lên giường, xếp lại sách vở cho tôi. Bà luôn chăm lo việc nhà. Mẹ tôi không muốn bà làm, sợ bà mệt nhưng bà không nghe. Tôi mong mình lớn thật nhanh để đỡ đần cho bà nhưng nhiều khi, tôi lại ước ao thời gian trôi thật chậm để tôi mãi mãi nằm trong vòng tay yêu thương của bà
Tôi thương bà nhiều lắm. Trong trái tim tôi trước đây, bây giờ, và mãi mãi bà sẽ luôn là bà tien đẹp nhất, hiền nhất và đáng kính nhất. Sự yêu thương niềm vui của bà sẽ mãi lan tỏa xung quanh làm rạng ngời tâm hồn tôi.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể về người bà của em
| 1,466
| |
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về người ông của em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 6: Kể về người ông của em
Kể về người ông của em – bài mẫu 1
Ông tôi nhiều con cho nên cũng lắm cháu. Tôi chưa thấy ai yêu và quyến luyến với lũ cháu như ông. Ông thường thẳng thắn bộc bạch: Khi có cháu, lại thấy yêu cháu hơn con rất nhiều!”. Lũ chúng tôi cũng yêu quý và gắn bó với ông lắm. Nhất là tôi, thằng cháu “đích tôn” như ông vẫn trìu mến gọi vậy.
Bài văn tham khảo
Trong gia đình, tôi yêu quý tất cả mọi người, nhưng người mà tôi yêu mến nhất, kính trọng nhất vẫn là ông nội. Bất cứ lúc nào, hình ảnh của ông cũng thật ngọt ngào trong trái tim tôi.
Nội tôi nam nay đã ngoài sáu mươi. Khuôn mặt ông vuông vuông chữ điền trông thật hiền từ phúc hậu. Dòng chảy của thời gian đã làm nước da ông sạm lại với nhiều chấm đồi mồi, đuôi mắt lại đầy những vết chân chim. Trong mắt tôi, mặc ông vẫn còn trẻ trung lắm. Mái tóc nội đã điểm bạc rất nhiều. Có lẽ với tôi, hạnh phúc nhất là được nằm trong lòng ông, tay vuốt ve chòm râu điểm bạc, ngước nhìn đôi mắt ấm áp, hiền từ của ông. Lúc đó tôi có cảm giác như đang ở trong truyện cổ tích, như có ông Bụt ở bên với bao phép màu tốt lành và đẹp đẽ.
Tôi rất thích nắm tay ông, được thấy hơi ấm nóng từ tay ông truyền sang, thật là khoan khoái. Bố mẹ đi làm suốt ngày, ông với tôi sao mà thân thiết thế. Giọng nói của ông trầm trầm và rất truyền cảm, bởi hồi trẻ ông đã là một cây” kịch nói nghiệp dư nổi tiếng của trung đoàn. Chính vì thế, ông ru hoặc kể chuyện, lũ cháu chúng tôi nghe, chỉ được một lúc là dip cả mắt lại. Ông tôi nhiều con cho nên cũng lắm cháu. Tôi chưa thấy ai yêu và quyến luyến với lũ cháu như ông. Ông thường thẳng thắn bộc bạch: Khi có cháu, lại thấy yêu cháu hơn con rất nhiều!”. Lũ chúng tôi cũng yêu quý và gắn bó với ông lắm. Nhất là tôi, thằng cháu “đích tôn” như ông vẫn trìu mến gọi vậy.
Ông tôi thương bà tôi lắm. Thế nên ông vẫn thường phụ bà nấu ăn hay dọn dẹp. Tôi thấy ông tôi nấu ăn còn giỏi hơn cả bà tôi nấu. Đứng cạnh ông, bà tôi trờ nên vụng về, lúng túng. Bà thường tự nhận “Bà của cháu mồ côi sớm nên việc bếp núc, nội trợ đi làm đoảng vị quá!”. Cứ sáng sớm, sau khi tập thể dục, luyện vài bài dưỡng sinh là ông lại xách giỏ đi chợ. Ông đâm nghiện những tiếng chào mời, lời kì kèo qua lại của cái chợ nhỏ nằm tại khu chung cư của chúng tôi. Những thứ ông mua đều tươi rói, vừa ngon lại vừa đẹp mắt bởi nhiều màu sắc. Ông nấu nướng ngon lắm, mời các bạn đến nhà tôi mà xem, ông tôi sẽ trổ tài nghệ tuyệt vời của mình để các bạn thưởng thức. Đố có mà chê nổi. Tôi còn quên chưa nói tới sự quan tâm đặc biệt nữa của ông mình về tình hình thời sự trong và ngoài nước. Không có chương trình thời sự nào của Truyền hình, của Đài Tiếng nói Việt Nam, của báo chí nào mà ông bỏ qua. Đã thế ông còn năng trao đổi với bạn bè, không gặp gỡ, không họp hành thì ông lại gọi điện thoại. Có lẽ, điện thoại của ông tôi chỉ để làm hai việc, hỏi thăm con cháu và bàn bạc về thời sự nóng hổi. Khi nói, ông tỏ ra say sưa, nhiệt tình như có bạn mình ở trước mặt vậy. Hầu hết các thông tin về thời sự, tôi được biết qua ông mình. Mĩ đánh I-rắc cũng khiến ông tôi buồn bực, phiền muộn vô cùng, làm cả nhà xót cả ruột.
Tôi yêu quý yà kính mến ông rất nhiều và cũng biết ông yêu lại tôi như vậy. Ông là người hay là ông Bụt, tôi cũng không biết nữa.
Kể về người ông của em – bài mẫu 2
Ông ngoại không bao giờ khoe khoang chiến tích của bản thân lúc đánh giặc. Những câu chuyện ông kể chỉ là những kỉ niệm của ông về những người đồng chí, về xóm làng nơi ông hành quân rồi dừng chân nghỉ tạm. Có những người đồng chí còn sống như ông, cũng có những người đã hi sinh
Bài làm tham khảo
Mỗi chúng ta, ngay từ khi còn bé xíu đã được sống trong vòng tay yêu thương của mọi người, đặc biệt là những người thân yêu trong gia đình. Ngoài bố mẹ chở che, mỗi đứa trẻ còn được ông bà yêu quý. Em cũng là một đứa trẻ may mắn như thế. Với em, bên cạnh bố mẹ, ông ngoại cũng là người vô cùng quan trọng.
Trong trí nhớ của em, khuôn mặt ông vuông chữ điền chất phác, tuy nhiên hai gò má hơi gầy, đôi mắt đen ấy vậy mà sáng lắm, ông có thể nhận ra từng đứa cháu dù khoảng cách xa mỗi lần các anh chị đến thăm. Mái tóc ông đã bạc trắng như cước, chỉ thấp thoáng vài sợi tóc đen. Ông lúc nào cũng cười hiền từ giống như ông Tiên, ông Bụt trong truyện cổ tích ngày xưa.
Tuy vậy, xuất thân từ một chiến sĩ, mẹ bảo ông luôn nghiêm khắc trong việc dạy dỗ mẹ và các cậu trong nhà. Mẹ em là con gái duy nhất nhưng ông lúc nào cũng giám sát, yêu cầu, nhiều lúc giống hệt như phép tắc trong quân đội. Các cậu nhờ vậy đều rất chính trực, có ý chí, được mọi người kính trọng, yêu quý. Mãi sau này, khi cháu chắt lần lượt ra đời, ông ngoại dường như bớt nghiêm khắc hơn, chỉ hay ôn tồn giảng giải ý nghĩa sau mỗi câu chuyện, động viên em và các anh chị phải chăm ngoan, cố gắng trở thành người đàng hoàng, liêm khiết và nhân hậu.
Ông đặc biệt quan tâm và yêu thương cháu chắt trong nhà. Có đồ gì ngon, hiếm lạ mà bạn bè, đồng chí hay họ hàng xa biếu tặng, ông đều để phần chia cho cháu chắt. Những anh chị lớn rồi thì ông không cho, chỉ cho tiền mỗi khi các anh chị đi học xa về thăm hoặc lấy vợ, sinh con. Còn bánh kẹo, đồ ăn vặt thì cho hết mấy đám nhỏ như em. Mẹ bảo ngày em còn bé xíu, bố mẹ bận làm ăn, ông bà nội mất sớm, một mình ông nội chăm sóc em cả thời gian dài. Vì thế nên lớn hơn, em lúc nào cũng quấn quýt bên ông cả ngày, xem ông tỉ mỉ tỉa cây, theo ông đi đến nhà đồng chí cùng chiến đấu ngày xưa và đòi ông kể những câu chuyện về kháng chiến.
Nhờ có ông, em mới hiểu được phần nào những năm tháng kháng chiến gian khổ, những hi sinh, mất mát mà bao nhiêu người đã phải trả giá để đổi lấy độc lập tự do. Ông dạy em cách sống nhân hậu và ghi nhớ công ơn các anh hùng, liệt sĩ, sống sao cho xứng đáng với công ơn của họ.
Sau Tết Nguyên Đán năm em học lớp 5, ông đổ bệnh nặng, nằm cả ngày trên giường vẫn hỏi thăm từng đứa cháu. Dặn dò đủ việc, đến hè năm ấy, ông qua đời. Ai cũng tiếc thương, hàng xóm láng giềng yêu mến kính trọng cách làm người, cách hành xử tốt bụng của ông nên đến đưa tiễn rất đông…
Dù ông ngoại đã đi xa nhưng tình yêu thương của ông dành cho con cháu em vẫn ghi nhớ mãi. Em vô cùng kính trọng và quý mến ông, sâu trong nội tâm em vẫn luôn tự nhủ phải cố gắng sống như những gì ông đã dặn dò để ông ngoại tự hào về cháu gái yêu quý của ông.
|
Bài văn mẫu lớp 6_ Kể về người ông của em
| 1,405
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Em hãy tả lại con đường từ nhà đến trường
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Em hãy tả lại con đường từ nhà đến trường
Bài mẫu 1: Tả lại con đường từ nhà tới trường
Nằm ngay cạnh đường là cánh đồng lúa mênh mông. Lúa đang thì con gái, những giọt sữa trắng thơm ẩn mình trong lớp vỏ trấu còn, hương sữa non thơm dìu dịu, ngọt ngào, là kết tinh của trời đất và đôi bàn tay chăm sóc của người dân quê tôi. Gió lùa qua mặt đường, nhảy nhót xuống đồng lúa xanh, tạo nên những gợn sóng lúa lăn tăn, xô nhau chạy tít tận chân trời.
Bài mẫu tham khảo
Trong hành trình của cuộc đời, chúng ta phải bước đi trên những con đường khác nhau. Giữa muôn nẻo con đường, có một con đường thân quen và gần gũi nhất, gắn bó cùng chúng ta trong suốt những tháng năm học trò. Đó là con đường từ nhà đến trường, con đường ấy ngay cả khi nhắm mắt lại tôi vẫn có thể hình dung rõ ràng từng chi tiết.
Trường trung học cơ sở của tôi nằm ngay cạnh mái trường tiểu học nên con đường đến trường này tôi đã quen đi lại hơn 6 năm. Mỗi buổi sáng, chờ ông mặt trời thức dậy, ánh nắng ban mai hồng chan hòa khắp muôn nơi, tôi vui vẻ chuẩn bị cặp sách, khoác lên mình bộ đồng phục sạch sẽ, xinh tươi chào tạm biệt bố mẹ và dắt theo chiếc xe đạp màu xanh, thong thả đạp xe trên con đường đến trường thân thương, quen thuộc.
Tôi sinh sống ở một vùng quê thanh bình, yên ả. Đắm chìm trong không khí buổi sớm làng quê trong lành, đễ chịu, con đường đến trường dường như sinh động hẳn lên. Ánh nắng nhẹ nhàng ôm ấp cả mặt đường, phản chiếu bóng tôi đang đạp xe, bóng cây xanh và cảnh vật trên đường. Con đường đến trường dài quanh co, uốn lượn, mềm mại giống như dải lụa đào màu trắng. Đường được lát đá từ nhiều năm trước, nhưng người dân luôn giữ gìn bảo vệ nên vẫn còn đẹp và mới như ngày mới làm. Hai bên đường là hai hàng phi lao xanh rì rào ẩn hiện những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi, nhỏ nhắn xinh xinh. Trên khoảng đất giữa những cây phi lao, người ta trồng dải hoa màu xanh mát. Những chiếc lá cây còn đọng lại vài giọt sương sớm long lanh, lấp lánh như những viên pha lê quý giá. Cây cối giống như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài, ánh nắng xuyên qua lá, phản chiếu màu xanh ngọc bích trong veo, ngập tràn sức sống. Cơn gió tinh nghịch chạy qua, lướt qua mặt đường và làm cây lá khẽ rung rinh như vẫy tay chào người đi đường.
Con đường quanh co đi qua chợ rồi mới thong thả đến mái trường của tôi. Chợ phiên buổi sáng ồn ào và phong phú, tôi nghe tiếng chào mua hỏi giá. Học sinh như tôi thì vừa đi vừa trò chuyện về bài tập về bộ phim yêu thích, ríu rít như bầy chim non. Hòa trong bóng áo trắng tinh khôi là hình ảnh các bà, các mẹ, các chị tay nọ tay kia xách làn đi chợ sáng. Con đường trở nên thật náo nhiệt và rộn rã. Gương mặt ai nấy đều rạng rỡ, vui tươi, hăm hở đón chào ngày mới. Tiếng nói cười râm ran, tiếng lá cây xào xạc và tiếng chim hót líu lo như tấu lên một bản nhạc du dương đặc biệt của buổi sáng. Tôi cúi người đạp xe nhanh hơn, phía cuối con đường đi học quen thuộc tôi dường như đã trông thấy ngôi trường cổ kính phía xa. Lòng rộn vang niềm vui và háo hức.
Bốn mùa nối nhau trôi qua, mỗi mùa sang, cây bên đường thay lá, cảnh vật thay màu, con đường đến trường cũng thay một chiếc áo mới nhưng vẫn mỉm cười ôm ấp xóm làng, đồng hành cùng tôi tới trường, cùng tôi đến lớp rồi cùng tôi trở về mái nhà nhỏ, giống như người bạn tri âm tri kỷ.
Thời gian thấm thoắt trôi qua, con đường từ nhà đến trường dần trở nên thân thiết vô cùng. Con đường nhỏ bé mà lưu giữ bao cảm xúc của tôi, trở thành một phần của tuổi học trò hồn nhiên và tươi đẹp. Nó nâng niu bước chân tôi, giống như cầu nối kì diệu, nối giữa tổ ấm yêu thương và chân trời tri thức rộng lớn mênh mông. Một con đường nhỏ mà thân thương, ý nghĩa vô cùng.
Bài mẫu 2: Tả lại con đường từ nhà tới trường
Đi trên đường, tôi có thể nghe thấy tiếng chim hót lảnh lót trên cao, ngắm những bông hoa dại ở ven đường, nhìn thấy những giọt sương còn đọng lại ở cánh hoa hay phiến lá. Hai bên đường là hai hàng cây xanh mát. Vào buổi sớm, cây cối dường như mới tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, ánh nắng chiếu qua cành cây làm cựa mình sự sống
Bài mẫu tham khảo
Trong kí ức của mỗi người, có những cảnh vật đã hằn sâu trong tâm trí mà suốt đời ta không thể nào quên. Con đường đi học là một trong số đó. Ta có thể đi qua nhiều nẻo đường khác nhau, nhưng con đường đi học thì luôn thân thuộc và gần gũi với bất kì người nào.
Không còn là con đường đất đỏ mỗi mùa mưa lầy lội khiến người người đi lại khó khăn, con đường giờ đây đã đổi thay mang trong mình diện mạo mới. Con đường quê giờ đã được trải bê tông phẳng lì thuận tiện cho người đi lại. Con đường đi học đã gắn liền với tuổi thơ của tôi. Hàng sáng, mỗi khi ông mặt trời vén màn mây và tỏa ánh nắng chan hòa khắp muôn nơi, tôi lại cùng đám bạn đi đến trường trên con đường làng quen thuộc. Không khí buổi sáng thật trong lành và mát mẻ. Nắng sớm và gió mát làm tâm hồn tôi thật dễ chịu và thư thái.
Trên con đường đi học, tôi cũng gặp các bạn học sinh vai đeo khăn quàng đỏ tíu tít đang đi thành từng tốp trên đường, vừa đi vừa trò chuyện về chuyện bài vở, trường lớp. Các bà, các mẹ xách làn đi chợ sớm. Vài bác nông dân cùng chú trâu đang thong thả đi làm đồng buổi sớm, họ hỏi thăm nhau về việc đồng áng, tin tưởng vào một vụ mùa bội thu. Con đường buổi sớm thật náo nhiệt và rộn rã, gương mặt ai cũng ánh lên vẻ vui tươi, nụ cười thường chực trên môi. Tiếng nói, tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới, tiếng còi xe ồn ào suốt cả con đường. Đi trên đường, tôi còn cảm nhận được mùi ngai ngái của đất, mùi của hương đồng gió nội quyện phả vào nhau.
Con đường đi học đã trở thành một phần quan trọng trong tuổi thơ của tôi. Con đường đi học cũng là con đường đưa tôi đến với tri thức, chắp cánh cho những ước mơ của tôi được bay cao bay xa.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Em hãy tả lại con đường từ nhà đến trường
| 1,250
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện lý thú em gặp ở trường
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện lý thú em gặp ở trường
Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện lý thú ở trương – bài mẫu 1
Chiều hôm qua, để muốn xem rõ các tiết mục con đã đi từ rất sớm. Con ngồi ỏ hàng hai thế nên nhìn rõ lắm. Tiết mục của các em lớp 6 được giới thiệu trong tràng pháo tay hoan nghênh nhiệt liệt. Con nghe nói để chuẩn bị cho tiết mục này các em đã chuẩn bị từ tận một tuần trước
Bài làm tham khảo
Bố mẹ biết không? Ở trường của con thì có rất nhiều chuyện xảy ra và vào các ngày trong tuần. Chuyện vui, chuyện buồn, những chuyện lí thú hay là chuyện giữa học trò và giáo viên, đều có cả. Hôm nay trường con tổ chức văn nghệ rất vui bố mẹ ạ và con ấn tượng nhất là tiết mục của các em nhỏ lớp 6A.
Chiều hôm qua, để muốn xem rõ các tiết mục con đã đi từ rất sớm. Con ngồi ỏ hàng hai thế nên nhìn rõ lắm. Tiết mục của các em lớp 6 được giới thiệu trong tràng pháo tay hoan nghênh nhiệt liệt. Con nghe nói để chuẩn bị cho tiết mục này các em đã chuẩn bị từ tận một tuần trước. Sau khi được bạn dẫn chương trình giới thiệu tiết mục:” Thầy bói xem voi” con thấy từ trong cánh gà các em ấy đẩy ra một chú voi giấy rất là to. Con cũng không biết tại sao các bạn lớp 6 lại tạo được một chú voi trông như thật. Từ đầu, mình, chân đến đuôi đều không sai khác voi thật bao nhiêu. Cái đuôi và tai voi còn phe phẩy được nữa chứ. Bắt đầu tiết mục, chú voi giả được khiêng ra giữa sân khấu khiến khán giả như con ngồi phía dưới đã ồ lên và ai cũng nghĩ sẽ có một tiết mục hay. Tiếp đó, lần lượt năm ông thầy bói tí hon, đầu chít khăn, mặc áo dài đen, đeo kính đen và không quên mang theo cây gậy dò đường trông thật đáng yêu. Năm ông chia ra, mỗi người sờ một bộ phận của voi, sau đó chụm lại bàn tán xem con voi thế nào. Ông sờ vòi thì bảo:
Ông sờ ngà liền cãi:
-Không, nó như cái đòn càn!- Vừa nói cái miệng em ấy chúm chím nhìn đáng yêu lắm.
Tiếp đến, ông sờ tai cũng không đồng ý:
-Nó giống cái quạt mo chứ!
Ông sờ chân bình tĩnh hơn: “Các ông nối sai cả, nó giống cái cột đình”.
Người sờ đuôi nãy giờ lắng nghe mới lên tiếng:” Nó giống một cái chổi không hơn không kém.”
Năm ông thầy không ai chịu ai, thế là đánh nhau chạy loạn xạ và chạy luôn vào trong cánh gà. Cả khán đài ôm bụng cười giòn tan. Cuối vở kịch, một em nhỏ trong khán đài cầm mic rút ra bài học từ vở kịch đó chính là không nên đánh giá vẻ ngoài của người khác từ góc nhìn cá nhân, phiến diện mà phải suy xét tất cả để không có cái nhìn nhận sai như năm ông thầy bói mù ấy. Con thấy vở kịch rất ý nghĩa với chúng ta và lí thú.
Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện lý thú ở trường – Bài mẫu 2
Cả lớp tôi kinh ngạc nhìn Hùng nói, hùng hổ như diễn viên phim truyền hình kiếm hiệp, nghe đến chỗ sốt 42 độ đã có đứa cười sặc sụa, cô Vân vốn nghiêm nghị, miêng cũng hơi mỉm cười. Nhưng cô nào tin lời nói nịnh bợ của Hùng, cô lại truy hỏi:
Bài mẫu tham khảo
“Tùng! Tùng! Tùng!”
Tiếng trống tan trường vừa điểm, cả lớp tôi liền ào lên, vừa thu dọn sách vở vừa tạm biệt nhau. Nhưng hôm nay, đứa nào đứa nấy cứ tủm tỉm nhìn cậu bạn tên Hùng cười mãi. Nhớ lại câu chuyện lí thú đầu buổi sáng tôi cũng thấy vui, lòng chợt háo hức muốn nhanh chóng về nhà để kể chuyện này cho bố mẹ
Tôi đạp xe trên con đường làng quen thuộc, vừa đi vừa ngân nga bài hát mình yêu thích. Chẳng mấy chốc cánh cổng trắng thân yêu đã hiện ra trước mắt, mẹ đang chuẩn bị cơm trưa, còn bố thì đang xem chương trình thời sự. Như thường lệ, tôi cất tiếng chào:
Mẹ ân cần đưa cho tôi một cốc nước mát, bảo đi rửa mặt, đợi một lát là có cơm ăn rồi. Tôi làm theo rồi quay lại phòng khách. Bố nhìn khuôn mặt vui vẻ khác thường của con gái, tò mò hỏi:
– Hôm nay ở trường có chuyện vui hay sao mà con cứ cười cười thế kia.
Tôi như bắt được vàng, gật đầu lia lịa rồi kể lại câu chuyện đầy lí thú ở trường cho bố mẹ nghe. Hôm nay là thứ hai đầu tuần, như thường lệ có tiết mục chào cờ. Trùng hợp là thời khóa biểu hôm nay lại có tiết thể dục ngay sau tiết chào cờ, thế là lớp tôi không ai bảo ai đều tự động mặc đồng phục thể dục trước, cô Vân – cô giáo thể dục rất nghiêm khắc, chúng tôi rất sợ cô phạt.
Vậy mà khi cả lớp vừa xếp hàng ngay ngắn trên sân thể dục, lớp trưởng vừa báo cáo lớp vắng bạn Hùng do bị ốm thì Hùng lù lù xuất hiện. Cậu bạn vốn to cao nhất lớp, mặc nguyên áo đồng phục bình thường, lễ phép xin cô:
– Thưa cô em đến muộn, em bị hỏng xe ạ.
Cô Vân quét mắt nhìn một lượt mới hỏi sao lớp trưởng lại xin nghỉ cho bạn. Lớp tôi nơm nớp lo sợ, bình thường hay bao che cho nhau, thấy Hùng đi muộn một tiết cho rằng cậu nghỉ nên mới nói như thế. Lớp trưởng đang định xin lỗi cô thì Hùng lại nhảy ra:
– Thưa cô, đúng là em bị ốm ạ, đêm qua em sốt đến 42 độ, thập tự nhất sinh, suýt chút nữa là không gặp được các bạn yêu quý, không được học tiết học thể dục vô cùng bổ ích của cô. Nhưng trong cơn nguy kịch em mơ thấy được cùng các bạn chạy nhảy trong tiết thể dục ngày hôm nay nên vượt qua, bảo toàn tính mạng, quả thực là kỳ tích ạ.
– Vậy sao em lại đi muộn, đồng phục đâu rồi?
– Cô không biết đấy thôi, em khó khăn lắp mới qua nguy hiểm. Mãi mới rời được giường, bố mẹ em can ngăn, nhất quyết không cho em đi học, em kiên quyết lắm bỏ nhà trốn đi nên không kịp thay đồ thể dục ạ. Trên đường đạp xe gấp quá nên xe bị hỏng luôn ạ.
Hùng tiếp tục bịa chuyện không xấu hổ, lúc này thì lớp tôi liền cười ầm lên, cô Vân cũng bật cười. Lần đầu tiên thấy cô cũng dễ gần đến vậy, cô khẽ phẩy tay:
– Bạn Hùng thích học thể dục như vậy, tuy hôm qua mới sốt cao nhưng bây giờ tinh thần tốt. Cả lớp chạy khởi động 1 vòng, riêng Hùng chảy nửa vòng thôi rồi quay về nhảy cóc.
Khuôn mặt hay tươi cười của Hùng nhăn như khỉ ăn gừng xong cũng làm theo. Chúng tôi chạy xong đứng xem Hùng nhảy cóc, mặt đau khổ mà thấy buồn cười, từ đó đến khi tan học cứ trêu chọc cậu ấy mãi.
Tôi kể xong, mẹ ở trong bếp với giọng ra:
– Cậu bạn to cao da ngăm ngăm đen, lúc nào cũng cười đùa trong lớp con đó hả. Không ngờ nhỏ tuổi mà còn có tài ăn nói như thế nữa.
Tôi nghĩ lại dáng vẻ đăm chiêu của Hùng lúc nói chuyện cũng bất ngờ. Buổi học hôm nay thật sự rất thú vị, không những được nghe Hùng diễn trò mà còn thấy được mặt khác của cô Vân. Và câu chuyện lí thú ấy thì chắc chắn lớp tôi sẽ còn mang ra nói mãi.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện lý thú em gặp ở trường
| 1,393
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Kể lại một chuyến đi mà em cảm thấy có ý nghĩa nhất đối mình
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Kể lại một chuyến đi mà em cảm thấy có ý nghĩa nhất đối mình
Bài mẫu 1: Kể lại 1 chuyến đi ý nghĩa
Buổi gặp gỡ, trò chuyện kết thúc lúc nửa đêm vậy mà sáng hôm sau ai cũng thức dậy sớm, chuẩn bị trang phục nghiêm trang nhất để đến thăm ngã ba Đồng Lộc.
Bài mẫu tham khảo
Ai đó đã từng nói với em: “Cuộc đời là những chuyến đi, đi để nhìn thấy nhiều hơn và trưởng thành hơn.” Người ta thường tin những điều mình tận mắt nhìn thấy hơn là những điều mình nghe thấy. Mỗi chuyến đi đều mang một ý nghĩa của riêng nó. Chuyến đi mang ý nghĩa lớn nhất đối với em là chuyến tham quan đến ngã ba Đồng Lộc.
Trước khi năm học lớp 6 kết thúc, trường tổ chức cho lớp em một chuyến đi xa. Đó là chuyến tham quan địa danh lịch sử của đất nước, ngã ba Đồng Lộc ở tỉnh Hà Tĩnh. Chuyến đi kéo dài hai ngày một đêm. Đi cùng chúng em có cô giáo chủ nhiệm, hai bác hội trưởng hội phụ huynh và các bác từng chiến đấu ở Hà Tĩnh ngày trước.
Một buổi sáng đầu tháng 4 nắng vàng rực rỡ, đoàn tham quan bắt đầu xuất phát. Chiếc xe chở năm mươi người, với sự háo hức và tò mò của chúng em, sự hoài niệm và nhung nhớ của các bác cựu chiến binh hướng về ngã ba Đồng Lộc anh hùng. Xe bon bon không ngừng nghỉ trên cả chặng đường dài, đi qua gần một nửa chiều dài của mảnh đất hình chữ S thân yêu. Thỉnh thoảng mới dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống.
Đến Hà Tĩnh thì trời đã xẩm tối, đoàn chúng em dừng chân tại một nhà trọ cho khách phương xa cách ngã ba Đồng Lộc 3km. Chúng em tắm rửa, nghỉ ngơi rồi tụ tập lại bên mái hiên nhà trọ, nghe các bác cựu chiến binh kể chuyện, nhưng câu chuyện của năm tháng chiến tranh đau thương khốc liệt. Đó là những lần địch thả bom tàn phá cả vùng quê thanh bình yên ả, là những mất mát, hi sinh của bao người chiến sĩ. Có những chuyện chúng em chưa nghe đến bao giờ. Đặc biệt, bác kể về quá trình kháng chiến kiên cường dũng cảm của 10 cô gái thanh niên xung phong nơi ngã ba Đồng Lộc lịch sử này. Nghe xong, chúng em vừa cảm động vừa nôn nóng muốn đến thăm ngã ba Đồng Lộc thật nhanh.
Buổi gặp gỡ, trò chuyện kết thúc lúc nửa đêm vậy mà sáng hôm sau ai cũng thức dậy sớm, chuẩn bị trang phục nghiêm trang nhất để đến thăm ngã ba Đồng Lộc.
Ánh nắng vẫn rực rỡ khắp nơi, cả đoàn di chuyển về khu bảo tàng, chưng bày những kỉ vật của các cô thanh niên xung phong thời kháng chiến. Trong những căn phòng thoáng mát, đủ loại đồ dùng, vũ khí chiến tranh được bày trong tủ kính. Trên tường, trong tủ treo đầy đủ bức ảnh của 10 nữ thanh niên xung phong. Những cô thiếu nữ xinh đẹp khoác trên mình tấm áo bà ba, khăn tràm, ảnh thì chắc tay súng ảnh lại dịu dàng đứng bên nhau, nở nụ cười tươi rạng rỡ. Nhìn những bức ảnh ấy, nhiều người đến tham quan đã không kìm được nước mắt, em nghe tiếng mọi người khẽ thì thầm với nhau:
– Mười cô gái, cô nào cũng trẻ, cũng xinh xắn. Vậy mà, mệnh khổ quá.
Chúng em sẽ trở về vào buổi chiều nên chỉ xem hết màn biểu diễn mô hình trong phòng biểu diễn rồi ăn cơm, nghỉ ngơi một lát. Màn biểu diễn tái hiện lại những ngày đêm kháng chiến của dân tộc cùng lời kể về ngã ba Đồng Lộc, những kì tích và quá trình chiến đấu, hi sinh của mười nữ thanh niên xung phong. Lần đầu tiên, em hình dung được rõ ràng khung cảnh hiểm nguy của những năm đánh Mĩ. Ngã ba Đồng Lộc là con đường huyết mạch nối liền hai miền Nam – Bắc, địch âm mưu phá hủy tuyến đường này để ngăn miền Bắc cứu trợ cho miền Nam, bom vùi dày dưới từng lớp đất. 10 cô gái thanh niên xung phong, tuổi còn rất trẻ, đêm đêm đào hố bom để mở đường cho xe đi qua với khấu hiệu “máu có thể chảy, tim có thể ngừng nhưng mạch máu giao thông không bao giờ tắt”. Nhưng khi trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống họ hi sinh, tất cả đều chưa lập gia đình. Xem đến đó, cả căn phòng đã vang lên tiếng khóc nức nở.
Em còn nhìn thấy lá thư của một cô gái được khắc trên bia đá to dựng trước cửa khu trưng bày, lá thư của nữ thanh niên xung phong tuổi mới mười tám đôi mươi gửi về cho mẹ, kể về những ngày kháng chiến của cô, hồn nhiên, lạc quan và vô cùng xúc động.
Qúa trưa, chúng em trở về. Tạm biệt ngã ba Đồng Lộc với chiến tích anh hùng của 10 cô gái đã anh dũng hi sinh, lòng mỗi người đều mang một cảm xúc khác nhau, song tất cả đều là sự khâm phục, xúc động về câu chuyện của những cô gái lịch sử. Chuyến đi ngắn nhưng đã để lại ý nghĩa rất lớn với em, giúp em hiểu hơn về chiến tranh, biết ơn những người đã dùng máu và tính mạng để bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Bài mẫu 2: Kể lại 1 chuyến đi ý nghĩa
Chúng tôi ra vườn vun nốt mây vồng khoai cho mẹ, dọn một đống rác, chọc mây quả ổi, chuyện trò một lát rồi quay vào nhà. Hương tàn, mẹ mang khoai luộc xuông. Mây bà cháu ngồi ăn khoai, uống nước chè tươi. Chúng tôi chuyện trò về bộ phim đang chiếu trên ti vi
Bài mẫu tham khảo
Nhân dịp kỉ niệm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, lớp chúng tôi tổ chức đi thăm một số gia đình thương binh liệt sĩ. Chuyến đi này chúng tôi đến thăm mẹ Hoa- người mẹ của hai liệt sĩ: Liệt sĩ Bùi Anh Dũng hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Liệt sĩ Bùi Trọng Nghĩa hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Chúng tôi chuẩn bị một bó hoa thật to và chút bánh trái hoa quả cho mẹ Hoa. Sáng hôm ấy chúng tôi chuẩn bị rất chu đáo để chuyến đi thật ý nghĩa. Nhà mẹ Hoa ở cuối con đường quanh co đất đỏ. Xa xa, ngôi nhà của mẹ trông thật yên bình giản dị. Cổng nhà được làm từ cây hoa giấy, xanh mát, nở hoa thật đẹp. Ngay khi bước vào nơi đây chúng tôi thấy choáng ngợp bởi màu xanh mát của vườn cây ao cá, tiếng chim hót, những bông hoa khoe sắc nở rộ. Không gian nơi đây thật trong lành mát mẻ. Chúng tôi thấy mẹ Hoa đang đứng vẩy chậu nước rửa mặt thừa vào đám hoa vạn thọ, hoa mào gà trồng trước sân.
– Cháo cháu đến thăm già đấy à.
Chúng tôi đồng thanh đáp lại:
-Chúng con chào mẹ ạ.
Mẹ Hoa nhìn chúng tôi mỉm cười. Trông mẹ trẻ ra, và còn minh mẫn linh hoạt lắm. Dường như dòng chảy thời gian dù có trôi qua như thế nào cũng không làm mẹ thay đổi gì nhiều. Mẹ cười thật tươi, những nếp nhăn xô lại vương trên khóe mi nhưng thay vì thể niện sự già nua trông người thật đẹp lão. Chúng tôi chạy về phía mẹ tíu tít chuyện trò. Chúng tôi nhanh nhẹn giúp mẹ dọn dẹp nhà cửa để lát nữa đón phái đoàn Mặt trận Tổ quốc tỉnh đến thăm. Ngọc lau chùi bàn thờ, đánh sáng các đồ đồng như đỉnh đốt trầm, chân đèn và cắm hoa tươi vào lọ. Trên bàn thờ, ảnh hai liệt sĩ nhìn nó như phấn khích, như tru tư. Minh lau bàn ghế, rửa cốc tách uống nước, quét nhà, quét sân. Trông dáng nó lầm lũi, siêng năng nhưmột cô dâu thứ thiệt. Còn tôi đi nhóm bếp luộc khoai. Mẹ Hoa rửa mấy lá trầu, bửa cau và quan sát chúng tôi làm việc. Trong mắt mẹ, nỗi buồn xưa đã tĩnh lặng như mặt hồ nhưng không phải không ánh lên một chút buồn. Mặt trời lên chừng một con sào thì mọi việc tươm tất, nhà cửa quang đãng, đồ đạc gọn gàng.
Chúng tôi ra vườn vun nốt mây vồng khoai cho mẹ, dọn một đống rác, chọc mây quả ổi, chuyện trò một lát rồi quay vào nhà. Hương tàn, mẹ mang khoai luộc xuông. Mây bà cháu ngồi ăn khoai, uống nước chè tươi. Chúng tôi chuyện trò về bộ phim đang chiếu trên ti vi, cố không đả động đến chuyện mất mát lớn lao của mẹ, nhưng thực ra trong dạ ai cũng có một dòng chảy tâm tưởng hướng về những người đã khuất.
Rời nhà mẹ Hoa, lòng chúng tôi cứ bùi ngùi khôn nguôi. Chúng tôi thống nhất với nhau: còn ở nhà ngày nào thì còn năng đi lại cho mẹ đỡ đơn côi trong tuổi già. Tuổi già vốn đã nặng nhọc, ở hoàn cảnh mẹ càng nặng nhọc hơn:
“Thân côi cút bơ vơ xóm nhỏ
Bởi các con đã bỏ mẹ đi
Bao năm chinh chiến xuân thì
Hồn về đất mẹ hiến vì núi sông.”
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Kể lại một chuyến đi mà em cảm thấy có ý nghĩa nhất đối mình
| 1,645
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Kể về một buổi cắm trại em được tham gia hoặc chứng kiến
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Kể về một buổi cắm trại em được tham gia hoặc chứng kiến
Bài mẫu 1: Kể về chuyến cắm trại
Phần mong chờ nhất của buổi cắm trại là đốt lửa trại. Ánh đuốc bừng cháy lên giữa vòng tròn lớp lớp học sinh nắm tay nhau. Chúng em cùng ngân vang khúc hát đốt lửa trải, cùng nhau trải qua Tết Trung Thu đầu tiên ở trung học cơ sở.Sau đó, cả lớp rủ nhau đi mua những chiếc đèn lồng đủ hình thù, nối đuôi nhau đi khắp sân trường
Bài làm
Tuổi học trò là những kỉ niệm vui buồn đan xen, xuyên suốt những tháng năm còn ngồi trên ghế nhà trường. Tuổi học trò của em cũng có những kỉ niệm như thế. Nhưng mãi sau này, có một kỉ niệm em không thể nào quên.Đó chính là buổi cắm trại em được tham gia khi học lớp 6.
Khi ấy, chúng em chỉ là những cô bé, cậu bé mười một tuổi bỡ ngỡ như con chim non dưới mái nhà trung học mới lạ. Ai nấy đều rụt rè, nhút nhát. Bất ngờ, một buổi cuối tuần gần Tết Trung Thu, cô chủ nhiệm thông báo nhà trường tổ chức cho học sinh khối 6, 7, 8 cắm trại đêm Trung Thu, các anh chị lớp 9 sẽ hướng dẫn, giúp đỡ chúng em. Cả lớp em vừa mừng, vừa lo, dưới sự hướng dẫn cảu cô, chúng em chia nhau vụng về chuẩn bị mọi thứ.
Trước buổi cắm trại một tuần, không khí vui tươi nhẹ nhàng bao trùm cả lớp học.Tiếng chuông báo giờ ra chơi vừa vang lên, chúng em liền tụm lại bàn bạc kế hoạch trang trí trại như thế nào.Hình như mọi người dần thân thiết với nhau hơn.Em được giao nhiệm vụ mang cờ Tổ quốc và ảnh Bác Hồ, hai thứ này ở nhà ông nội đều có, ông đã hứa sẽ cho em mượn.Những bạn còn lại chuẩn bị bạt trải, cọc, cổng trại, giấy dán, ruy băng, đèn nhấp nháy.
Một tuần nhanh chóng qua đi, cả trường bùng nổ trong không khí tưng bừng, náo nhiệt. Giữa sân trường rực rỡ màu sắc và đông đúc học sinh đi lại, lớp em bắt đầu dựng trại. Hai anh lớp 9 được phân công hướng dẫn chúng em. Các anh tỉ mỉ chỉ cho chúng em cách đo, đóng cọc, kéo dây, căng trại và dựng cổng. Mặt trời lên cao, ánh nắng gay gắt khiến ai nấy đều ướt đẫm mồ hôi. Vậy mà nhìn trại lớp đứng ngay ngắn, xinh xắn như một ngôi nhà thu nhỏ với màu xanh da trời làm chủ đạo, chúng em đều toe toét cười. Các bạn nữ khéo léo xếp bánh kẹo, hoa quả trước ảnh Bác. Tấm biển đề chữ “Chi đoàn 6A” nhấp nháy trên nóc cổng trại cong cong đẹp vô cùng. Dựng trại xong, các thầy cô phụ trách tuyên bố khai mạc buổi cắm trại.Các lớp sẽ thi đấu văn nghệ, các trò chơi và đốt lửa trại, sau đó chấm trại, công bố giả và bế mạc kết thúc.Cô trò chúng em lại vội vàng chuẩn bị trang phục cho đội văn nghệ. Hòa trong hàng trăm học sinh các lớp khác, tiếng hò reo “6A cố lên!” vang vọng khắp sân trường. Lớp em biểu diễn khá ấn tượng, được mọi người ủng hộ nhiệt tình. Hoàn thành phần thi văn nghệ xong, cả lớp phải chia nửa đi tham gia các trò chơi. Một nửa đi thi kéo co, đá cầu, nhảy dây. Một nửa đi thi hái hoa dân chủ. Thỉnh thoảng, nhóm này lại chạy sang sân khu thi của nhóm kia, hò reo cổ vũ. Ai nấy nhìn nhau nở nụ cười rạng rỡ.Chơi đã thấm mệt và giành được nhiều giải thưởng, cả lớp về trại, chia nhau bánh kẹo, hoa quả, nước uống, trò chuyện về những điều thú vị mình bắt gặp.Bồng chốc, chúng em đều cảm thấy giống như một gia đình gắn bó.
Buổi cắm trại kết thúc mà dư âm của nó vẫn còn đọng lại mãi.Đó không chỉ là buổi cắm trại đầu tiêntrong cuộc đời học sinh của chúng em mà còn là kỉ niệm gắn kết tập thể những con người xa lạ lớp em. Buổi cắm trại ấy là kỉ niệm đẹp đẽ trong năm tháng tuổi học trò của em.
Bài mẫu 2: Kể về chuyến cắm trại
Ánh mặt trời dần nhuộm đỏ không gian, phần đốt lửa trại mà chúng em mong chờ nhất đã đến. Cây đuốc đỏ rực bùng cháy lên, chúng em quây thành vòng tròn, cùng nắm tay nhau, hát vang ca khúc đốt lửa trại. Sau đó chúng em lại rủ nhau đi mua đèn lồng, đem những chiếc đèn lồng đủ màu sắc, hình dáng chạy khắp sân trường.
Bài làm
Người ta thường nói tuổi học trò là tuổi hồn nhiên, ngây thơ là độ tuổi đẹp nhất. Khi ấy chúng ta được sống vui vẻ bên bạn bè, thầy cô và có được nhiều kỉ niệm đẹp đẽ. Tuổi học trò của em cũng có những kỉ niệm như thế. Đặc biệt, có một kỉ niệm mà em luôn bồi hồi mỗi khi nhớ lại, đó là kỉ niệm về buổi cắm trại mà em được tham gia khi học lớp 6.
Ngay sau khi tin cắm trại được thông báo, cả trường dường như náo nhiệt hẳn lên. Lớp em cũng như vậy. Tiếng chuông báo giờ ra chơi vừa vang lên, chúng em liền tụm lại bàn bạc kế hoạch với nhau, cảm giác xa lạ dần biến mất giữa các bạn với nhau. Tiếng cười đùa, tranh cãi làm lớp học rộn rã hẳn lên. Cả lớp dần thân thiết hơn với nhau. Cô chủ nhiệm giúp chúng em liệt kê danh sách những thứ cần chuẩn bị. Ai cũng xung phong nhận làm thứ này thứ kia. Em xung phong mang lá cờ Tổ quốc. Những bạn còn lại chuẩn bị bạt trải, cổng trại, giấy dán, ruy băng, đèn nhấp nháy và các loại phụ kiện linh tinh. Một số khác thì tập văn nghệ để biểu diễn.
Cô giáo và hai bác hội trưởng phụ huyn làm cho chúng em chiếc cổng trại hình mái vòm rất đẹp. Một tuần nhanh chóng qua đi. Tạm gác lại sách vở và bài tập, ngôi trường ngập tràn niềm vui và không khí tưng bừng, náo nhiệt.
Sân trường nhộn nhịp và rực rỡ màu sắc, từng gian trại lần lượt được dựng lên. Phụ huynh và các thầy phụ trách giúp chúng em đóng cọc, kéo dây trại, căng lều và dựng cổng, trang trí họa tiết đèn nhấp nháy. Đến khi gian trại nhỏ nhắn được dựng lên thì ai nấy đều lấm tấm mồ hôi. Gian trại như một ngôi nhà nhỏ, màu xanh da trời lad chính, xinh xắn vô cùng, trên cổng trại để rõ dòng chữ “Chi đoàn 6A”. Các bạn nữ tiếp tục trải thảm bên trong, dựng bàn, treo ảnh Bác Hồ và xếp hoa quả, bánh kẹo lên mâm trong trại.
Ánh mặt trời dần nhuộm đỏ không gian, phần đốt lửa trại mà chúng em mong chờ nhất đã đến. Cây đuốc đỏ rực bùng cháy lên, chúng em quây thành vòng tròn, cùng nắm tay nhau, hát vang ca khúc đốt lửa trại. Sau đó chúng em lại rủ nhau đi mua đèn lồng, đem những chiếc đèn lồng đủ màu sắc, hình dáng chạy khắp sân trường.
Chẳng mấy chốc, buổi cắm trại đã đến hồi kết thúc. Ban giám khảo công bố giải các trại sau khi đã mất một thời gian thăm và đánh giá trại của tất cả các lớp. Gian trại nhỏ của chúng em vinh dự được giải Nhất. Ban giám khảo gọi tên lớp 6A lên nhận giải, chúng em ôm chầm lấy nhau, nhảy lên và reo hò. Cô chủ nhiệm và mẹ của chúng em đã chuẩn bị sẵn cho mỗi đứa một phần quà nhỏ xinh, chúng em cùng nhau chúc mừng Trung thu rồi thu dọn ra về.
Dù về muộn nhưng ai cũng vui. Buổi cắm trại nhanh chóng qua đi nhưng dư âm của nó vẫn đọng lại mãi. Đó là buổi cắm trại đầu tiên trong đời học sinh của chúng em, nhộn nhịp vui tươi và ngập tràn tiếng cười, là kỉ niệm đẹp của tập thể lớp chúng em.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Kể về một buổi cắm trại em được tham gia hoặc chứng kiến
| 1,445
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Kể về một người có ảnh hưởng nhất với em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Kể về một người có ảnh hưởng nhất với em
Bài mẫu 1: Kể về người ảnh hưởng nhất với em – Bố
Có lần em tò mò hỏi bố: “Bố ơi, tại sao bố cái gì cũng giỏi ạ. Con thấy việc nào khó, bố cũng làm được hết. Vậy mà con thì vụng về.” Bố cười và xoa đầu em: “ Không phải, có rất nhiều việc bố cũng không biết làm, ví dụ như việc cấy lúa này, việc may quần áo cho các con. Con có thể vẽ những bức tranh rất đẹp nhưng bố thì không. Ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm của mình, đừng vội nhìn nhận ưu điểm của người khác mà thấy tự ti nha con gái.”
Bài làm tham khảo
Mỗi người xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta đều mang giá trị và ảnh hưởng ít nhiều đến chúng ta. Có người ảnh hưởng ít, có người ảnh hưởng nhiều, cũng có người ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ. Trong số rất nhiều người xuất hiện trong cuộc đời của em, bố chính là người ảnh hưởng lớn nhất đến em.
Từ ngày còn bé xíu, bố đã là thần tượng của em. Bố em là một thầy giáo tiểu học bình thường, dạy môn toán học. Dáng người bố cao gầy nhưng bờ vai lại rất vững chắc, là điểm dựa cho mẹ con em. Bố dạy học đã hơn 15 năm, năm nay bố đã 42 tuổi. Khuôn mặt hiền lành, chính trực. Mái đầu lấm tấm hoa râm, tuy không rõ nhưng vẫn có một vài sợi tóc bạc. Đôi tay cầm phấn và bút nhiều đã dần trở nên thô ráp, nhiều vết trai sạn.
Ngày xưa, ông bà không quản ngại khó khăn, quyết tâm nuôi bố ăn học nên bố rất cố gắng và trân trọng công việc hiện tại của mình. Bố là thầy giáo mà tất cả học sinh và thầy cô kính trọng, yêu quý. Bố dạy toán nhưng môn nào bố cũng giỏi, nhiều câu ca dao, tục ngữ em hỏi mẹ mẹ cũng lắc đầu không biết mà bố đều hiểu và giải thích tường tận cho em. Mẹ bảo bố viết văn cũng hay lắm khiến chị em em ngạc nhiên vô cùng. Bố nấu ăn cũng rất ngon, mẹ có thể thoải mái vắng nhà mà không cần lo lắng, bố sẽ lo cơm nước chu đáo cho chúng em.
Có lần em tò mò hỏi bố: “Bố ơi, tại sao bố cái gì cũng giỏi ạ. Con thấy việc nào khó, bố cũng làm được hết. Vậy mà con thì vụng về.” Bố cười và xoa đầu em: “ Không phải, có rất nhiều việc bố cũng không biết làm, ví dụ như việc cấy lúa này, việc may quần áo cho các con. Con có thể vẽ những bức tranh rất đẹp nhưng bố thì không. Ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm của mình, đừng vội nhìn nhận ưu điểm của người khác mà thấy tự ti nha con gái.”
Đối với học sinh ở lớp của mình, bố luôn quan tâm và thông cảm. Có học sinh mắc lỗi, bố đều dễ dàng tha thứ và động viên, dùng lời khuyên nhẹ nhàng để thay đổi các bạn ấy. Các anh chị là học trò của bố, ai cũng kích trọng bố. Có những người hàng năm đều nhớ ghé nhà em thăm hỏi và trò chuyện với bố về những khó khăn, những câu chuyện trong cuộc đời của họ. Lúc đầu, em rất tò mò, sao bố có thể khiến nhiều người tin tưởng như vậy. Mẹ giải thích rằng bố sống tình cảm và chân thành, với người chân thành đối đãi, ai cũng tin tưởng và yêu quý.
Em luôn ghi nhớ và làm theo những lời dạy của bố, cố gắng học tập, tu dưỡng đạo đức, sống tích cực hơn. Trước mỗi khó khăn, hình ảnh bố luôn hiện lên tiếp thêm sức mạnh cho em. Được sinh ra và trở thành con gái của bố với em là một niềm hạnh phúc và may mắn. Em sẽ luôn trân trọng và cố gắng từng ngày để không phụ tình yêu thương của bố mẹ.
Một buổi chiều, sau khi từ trường trở về, tôi đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy cha ở trong phòng mình, trên tay là bài văn được điểm 9 của tôi. Tôi cứ tưởng cha sẽ rất vui vì tôi, vì bài văn đạt điểm cao này.Thế nhưng sự việc lại hoàn toàn không như tôi tưởng tượng.Cha không nói gì, cha bước ra ngoài với vẻ mặt đượm buồn, để lại mình tôi trong phòng với những suy nghĩ khó hiểu.
Bài làm tham khảo
Trong cuộc sống, chúng ta chịu ảnh hưởng rất lớn từ những người xung quanh.Và cha tôi chính là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất đối với tôi.
Lúc nhỏ tôi thường mặc cảm về xuất thân của mình, về người cha của tôi. Đám bạn thường xuyên trêu chọc tôi về cái việc mà tôi chẳng thể nào quyết định được, đó là bàn tay bị tật của cha tôi. Chính nguyên nhân đó đã khiến tôi từ một đứa trẻ yêu thương, kính trọng cha mình hết mực thành một người trầm cảm, thụ động. Ngoài giờ học trên lớp, tôi hầu như không ra ngoài, không nói chuyện với ai. Cha tôi chẳng thể nào hiểu được việc gì đang xảy ra với tôi lúc ấy. Để giúp đứa con gái bé bỏng của mình, cha đã luôn cố gắng nói chuyện với tôi, mua cho tôi những thứ đồ chơi mà trẻ con thường thích. Nhưng đáp lại thái độ yêu thương của cha là sự lạnh nhạt và ánh mắt hờn dỗi của một đứa trẻ chưa hiểu chuyện đã vội kết tội cha mình như tôi. Trong đầu óc thơ dại của tôi lúc đó luôn văng vẳng câu nói của đám bạn: “Cha mày làm việc xấu nên tay cha mày mới như vậy, cha mày là người xấu, mày cũng là người xấu”.
Trong một lần làm bài tập làm văn, khi được yêu cầu miêu tả về người cha của mình, tôi đã viết rất hăng say. Nhưng người cha mà tôi miêu tả trong bài văn của mình không phải là người cha hiện tại của tôi mà là một người cha hoàn toàn xa lạ do tôi tưởng tượng nên. Người cha ấy là một người khỏe mạnh với đôi bàn tay cứng cỏi chứ không phải một người với đôi bàn tay bị tật như cha tôi. Bài văn ấy tôi được điểm rất cao và tôi luôn nâng niu nó, xem nó như là một lời động viên, một mẫu người cha lý tưởng của mình.
Cha tôi vẫn thường làm thế, sửa lại chăn cho tôi, đóng lại cánh cửa sổ để tôi không bị lạnh. Dù với đôi tay bị tật, rất khó để làm những việc đó nhưng cha tôi cố gắng làm chúng vì tôi. Nhìn dáng dấp cha tôi lúc đó mà nước mắt tôi rơi từ khi nào không hay, tôi đã cố gắng không khóc ra tiếng nhưng hình như cha vẫn có thể cảm nhận được đứa con gái bé bỏng của ông đang khóc. Lại một lần nữa cha bước đến giường tôi, nhưng lần này không phải để kéo chăn cho tôi mà là lau nước mắt cho tôi.Cha bắt đầu nói.Tiếng của cha rất nhỏ chỉ đủ để tôi và cha có thể nghe thấy, tránh làm mọi người trong nhà thức giấc. “Con khóc vì nhận ra cha không phải là một người xấu phải không con gái?”, tôi chẳng biết nói gì hơn ngoài việc gật đầu.
Cha lại nói tiếp: “Cha đã hiểu tất cả khi một lần tình cờ đến trường con, nhìn thấy thái độ của các bạn đối với con và sau khi đọc bài văn của con thì cha càng thấu hiểu con hơn bao giờ hết. Thật ra tay cha không phải do tật bẩm sinh. Nó là di chứng của vụ tai nạn khi ba cố gắng cứu một cậu bé trên đường.
Từ đó về sau, tôi không còn mặc cảm về người cha của mình mà thay vào đó là niềm tự hào vô bờ, tự hào về cha, tự hào về đôi bàn tay tuyệt vời ấy. Đám bạn của tôi họ cũng nhận ra được rằng đã là bạn bè phải thấu hiểu hoàn cảnh của nhau và không nên đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài và xuất thân của họ.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Kể về một người có ảnh hưởng nhất với em
| 1,475
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả chân dung người bạn của em(bạn nam)
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả chân dung người bạn của em(bạn nam)
Bài mẫu 1: Miêu tả chân dung người bạn của em – bạn nam
Tuy nhiên việc đó không khiến tôi cau có với Hòa. Chúng tôi chơi với nhau từ lúc còn học mẫu giáo, sau này học tiểu học, lên cấp 2 vẫn học cùng lớp với nhau, đi học về cùng nhau. Cậu ấy là bạn thân của tôi, lại luôn giúp đỡ tôi.
Bài làm tham khảo
Cuộc sống luôn mang đến cho chúng ta những món quà vô cùng quý giá. Gia đình là món quà vô giá, còn bạn bè là một trong những món quà kỳ diệu nhất. Ai cũng có những người bạn tốt. Thật may mắn, tôi cũng vậy. Trong số những người bạn tốt ấy, có một người bạn rất đặc biệt, người bạn đã đồng hành cùng tôi từ khi còn bé xíu – Minh Hòa. Hòa là người bạn nam thân nhất của tôi.
Nhà Hòa ở ngay cạnh nhà tôi, thế nên chúng tôi không chỉ là bạn thân mà còn là hàng xóm. Hòa học cùng với tôi nhưng cậu bạn này lớn hơn tôi 1 tuổi, lý do đi học muộn một năm là hồi bé cậu ấy quá nghịch, lười học nên đến tận 3 tuổi mới đi nhà trẻ, học cùng lớp với tôi từ đó.
Hồi nhỏ, Hòa rất béo, giống như một quả bóng tròn, nhưng trông lại đáng yêu. Vậy mà không hiểu sao Hòa càng lớn càng gầy và cao hơn. Lớp 4 tôi còn tự hào kiêu ngạo cao hơn cậu ấy, vậy mà vừa lên lớp 6 cậu ấy đã cao hơn tôi một cái đầu. Bây giờ Hòa cao khoảng 1 mét bảy, nước da trắng như con gái ngày bé do phơi nắng nhiều mà ngăm đen đi trông rất khỏe mạnh. Điều duy nhất không thay đổi là khuôn mặt tròn xoe của cậu ấy. Hai má vẫn phúng phính, mắt to màu nâu sẫm, lông mày rậm và vầng trán cao. Có lẽ vì thế mà cậu ấy luôn thông minh hơn tôi. Tóc Hòa màu đen, lúc nào cũng được cắt tỉa gọn gàng. Điều đặc là Hòa có một chiếc răng khểnh, các bạn lớp tôi hay khen Hòa cười lên lộ răng khểnh trông rất có duyên. Sau đó cậu ấy hình như cười nhiều hơn trước.
Trong lớp khối tự nhiên chúng tôi, Hòa là bạn nam hiếm hoi vừa giỏi môn tự nhiên vừa giỏi văn. Cậu ấy viết văn rất hay, nhiều lần cô giáo dạy văn còn khen cậu ấy viết cảm xúc hơn lũ con gái chúng tôi. Chuyện này sau đó tôi cũng hay đem ra trêu chọc Hòa làm cậu ấy ngại đỏ bừng cả mặt. Tôi thầm nghĩ có đứa con trai nào như vậy đâu, hay xấu hổ hơn cả con gái.
Không những học giỏi, Hòa chơi thể thao cũng rất khá. Dáng vẻ cậu ấy đuổi theo bóng trên sân nhìn rất cuốn hút. Hòa còn có một năng khiếu nữa là hát hay. Giọng Hòa trầm trầm, ấm áp. Mỗi lần trường có yêu cầu lớp biểu diễn văn nghệ, chúng tôi đều tích cực đề cử Hòa lên hát. Lúc đầu cậu ấy cũng ngại lắm nhưng vì cô chủ nhiệm cũng động viên nên cậu ấy quen dần, có việc là chủ động tham gia. Hơn nữa, Hòa dù là học sinh giỏi nhưng chưa bao giờ tỏ ra kiêu căng, ngạo mạn, khiêm tốn và tốt bụng, luôn sẵn sàng giúp đỡ, kèm cặp các bạn học yếu hơn mình. Thái độ của cậu ấy khiến mọi người rất nể phục.
Hòa vừa là trò giỏi ở trường vừa là con ngoan ở nhà. Hồi bé cậu ấy nghịch ngợm bao nhiêu thì lớn lên lại ngoan ngoãn bấy nhiều, thỉnh thoảng mới xin phép bố mẹ ra ngoài đá bóng với bạn. Cậu ấy thường ở nhà hoặc chạy sang nhà tôi học chung, giúp tôi cải thiện một số môn chưa tốt. Hòa lễ phép và hiểu chuyện hơn nhiều bạn nam ngang tuổi, biết kính trên nhường dưới, luôn lễ phép chào hỏi người lớn tuổi, đối với em trai cậu ấy luôn nhường nhịn, chăm sóc. Lớp 4 Hòa đã biết nấu cơm rồi. Cậu ấy còn chăm chỉ hơn tôi, biết giúp đỡ bố mẹ việc nhà. Bố mẹ tôi thường hay khen cậu ấy trước mặt tôi, bảo tôi con gái mà vụng về.
Cùng nhau đồng hành một thời gian dài, tình bạn của chúng tôi ngày càng bền vững. Tôi cảm thấy mình vô cùng may mắn khi có một cậu bạn thân như thế. Dù nhiều lần vẫn trêu chọ nhau nhưng luôn đối xử tốt với nhau. Tôi luôn hi vọng tình bạn này sẽ tốt đẹp.
Bài mẫu 2: Miêu tả chân dung người bạn của em – Miêu tả bạn Nam
Dũng là một người bạn rất thân thiện, luôn tươi cười, cởi mở với mọi người xung quanh. Học nhóm, chơi thể thao, học rất giỏi môn toán, lúc nào em và Dũng cũng thành một cặp, gắn bó với nhau như hình với bóng. Cứ chiều chiều rảnh rỗi chúng em lại đi đá bóng với nhau.
Bài làm tham khảo
Trong cuộc sống con người chúng ta luôn có những niềm vui, nỗi buồn, luôn có những khó khăn cần được chia sẻ và giúp đỡ. Chính vì vậy chúng ta cần có những người bạn tốt để giúp ta trong những lúc như vậy. Và em cũng có một người như vậy ngay từ tuổi nhỏ. Cậu ấy tên Dũng.
Dũng là một người bạn rất thân thiện, luôn tươi cười, cởi mở với mọi người xung quanh. Học nhóm, chơi thể thao, học rất giỏi môn toán, lúc nào em và Dũng cũng thành một cặp, gắn bó với nhau như hình với bóng. Cứ chiều chiều rảnh rỗi chúng em lại đi đá bóng với nhau. Không chỉ thông minh, nhanh nhẹn, Dũng còn rất biết quan tâm giúp đỡ người khác, nhất là với em. Vì em học kém môn Toán nên Dũng ngày nào cũng sang nhà em làm gia sư bất đắc dĩ. Anh bạn gia sư của em còn là một cây văn nghệ cừ khôi. Cậu ấy rất tích cực tham gia các hoạt động của lớp. Mỗi dịp có lễ hội, nhìn cậu ấy hát trên sân khấu nhà trường, em thấy cậu ấy rất chuyên nghiệp và trong lòng em có cảm giác tự hào khi có được người bạn như Dũng.
Không chỉ học giỏi, hát hay, Dũng còn rất ngoan ngoãn và biết giúp đỡ cha mẹ. Mỗi chiều đi học về em thường thấy Dũng giúp bố mẹ cơm nước, dọn dẹp nhà cữa. Không những thế, những món ăn mà Dũng nấu cũng không thể chê vào đâu được. Trong mắt em Dũng trở thành một người bạn hoàn hảo. Là tấm gương xứng đáng cho em học tập và cố gắng noi theo.
Mỗi người bạn đều đem lại cho chúng ta những tình cảm tốt đẹp. Nhưng người bạn thân thiết gắn bó khiến ta tự hào, ngưỡng mộ mà trở nên cố gắng tốt đẹp hơn càng đáng quý. Em mong tình cảm giữa em và Dũng mãi mãi như bây giờ.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Miêu tả chân dung người bạn của em(bạn nam)
| 1,250
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp núi rừng em có dịp quan sát trong kì nghỉ hè
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp núi rừng em có dịp quan sát trong kì nghỉ hè
Bài mẫu 1: Miểu tả cảnh đẹp núi rừng
Từ xa nhìn lại đã thấy những dãy núi san sát, trùng điệp bên nhau. Từng ngọn núi cao thấp khác nhau, nhấp nhô nối tiếp nhau như một đường dích dắc chạy xa mãi tận chân trời. Ánh mặt trời rực rỡ bao phủ khắp muôn nơi. Cây xanh giăng kín núi, chỉ trơ ra một số quả đồi trồng cây non, những cây nhỏ nhỏ, xinh xinh, bị bao phủ bởi tầng tầng lớp lớp cây cao trông như những đứa trẻ cần được bảo vệ.
Bài làm tham khảo
Mùa hạ là mùa thi, mùa chia li, nhưng cũng là mùa của những chuyến đi – những chuyến đi trong thời gian nghỉ hè. Kết thúc năm học đầu tiên tại mái trường trung học, tôi đón chào kỳ nghỉ hè bằng chuyến về thăm quê ngoại ở Yên Bái. Cảnh rừng núi Yên Bái là một cảnh đẹp mà tôi vô cùng ấn tượng trong hai tháng nghỉ hè.
Quê ngoại tôi thuộc tỉnh Yên Bái – một địa phương nổi tiếng bởi núi rừng thơ mộng, hùng vĩ. Tôi cùng chị gái rời xa vùng thị thành ồn áo, nóng nực, lên xe và đi tới nơi không khí bình yên, thoáng mát. Chiếc xe khách lăn bánh, bỏ lại sau lưng cảnh vật thành phố xa hoa và đầy khói bụi, cảnh núi rừng Yên Bái dần dần hiện ra trong tầm mắt tôi.
Từ xa nhìn lại đã thấy những dãy núi san sát, trùng điệp bên nhau. Từng ngọn núi cao thấp khác nhau, nhấp nhô nối tiếp nhau như một đường dích dắc chạy xa mãi tận chân trời. Ánh mặt trời rực rỡ bao phủ khắp muôn nơi. Cây xanh giăng kín núi, chỉ trơ ra một số quả đồi trồng cây non, những cây nhỏ nhỏ, xinh xinh, bị bao phủ bởi tầng tầng lớp lớp cây cao trông như những đứa trẻ cần được bảo vệ.
Sườn núi ngay trước mặt bao phủ bởi những vườn trè, nương ngô xanh ngắt. Đan xen trong đó có những cánh rừng hoa chuối đỏ tươi như những bông hoa điểm tô chonuis rừng xanh mát. Xa xa kia là những thửa ruộng bậc thang xanh màu lúa mới, ánh nắng hè vượt qua những đồi núi, chiếu xuống mặt nước ruộng long lanh lấp lánh. Thấp thoáng bóng dáng người địa phương thăm lúa, nhổ cỏ.
Không giống như nhiều năm trước, vùng quê này chỉ toàn nhà sàn. Hôm nay, xen giữa những ngôi nhà sàn nhỏ là nhiều làng xóm mới của người từ xuôi lên sinh sống, làm ăn. Nhà sàn qua nhiều năm cũng được xây dựng và làm mới rộng rãi, hiện đại hơn. Thấp thoáng xung quanh đã có những ngôi nhà xây bằng gạch vữa, mái ngói đỏ khang trang. Nhà bà ngoại cũng là nhà ngói đỏ, nhỏ nhỏ xinh xắn.
Sáng sớm, xung quanh đỉnh núi cao, sương mờ nhạt bao phủ, uốn lượn. Ông mặt trời lặng lẽ thức dậy, ánh nắng ban mai dần lan tỏa khắp muôn nơi. Từ những làng bản xung quanh, tiếng gà trống vang lên, cả vùng rừng núi cùng thức dậy, Khói bếp trăng trắng bay lượn trong làng bản, quyện vào nhau trên không trung. Cảnh núi rừng buổi sáng mùa hè bình yên và mát rượi.
Một ngày qua đi, khi hoàng hôn dần buông xuống, đàn trâu, đàn bò lộc cộc kéo về. Tiếng dê kêu be be, tiếng gà chiều và tiếng nói cười của những người đi làm về, tiếng nô đùa của đám trẻ con hòa vào nhau, vui tươi, nhộn nhịp. Các bếp nhà đã lên lửa, hương thơm ngọt ngào của cơm nếp xôi nhẹ nhàng lan tỏa, làm say lòng du khách thập phương và người dân nơi đây. Những con gà rừng được nướng vàng ươm, tỏa hương thơm hấp dẫn trong ánh lửa. Mùi hoa quả từ rừng xa bay về, khiến người ta cảm thấy cuộc sống núi rừng không ồn ào mà nhàn nhã, thoải mái.
Rừng núi nơi đây là một trong rất nhiều cánh rừng, núi đồi trên dải đất hình chữ S thân yêu. Cảnh rừng núi yên bình, trong lành thực sự khiến con người thoải mái, hạnh phúc. Dù chỉ vài lần ghé thăm nhưng khung cảnh nơi đây là khung cảnh đẹp nhất trong thời gian nghỉ hè mà tôi gặp được.
Bài mẫu 2: Miêu tả cảnh đẹp núi rừng
Khi nắng lên, lá chè óng ánh và lấp lánh đến lạ. Những đồi chè từ thoai thoải rồi đến nhấp nhô, uốn lượn. Chè được trồng cuộn tròn, những thân chè ôm lấy nhau, rồi cùng quấn lấy những quả đồi. Chè ở miền bán sơn địa này chưa bao giờ có thương hiệu như chè Tà Xùa, Tân Cương, San Tuyết…
Bài làm tham khảo
Tây Bắc luôn đẹp và đầy lôi cuốn một cách khó tả. Và nói tới Tây Bắc, có lẽ không nhiều người chưa từng nghe cái tên Mộc Châu, cao nguyên rộng lớn, tuyệt đẹp với những hang động, thác nước, rừng thông, đặc biệt là những đồi chè chạy dài tới cuối chân trời, tới mức chỉ những cánh chim mới biết khi nào con đường xanh ấy dừng lại và thật thú vị làm sao khi kì nghỉ này em được đi tham quan nơi đây.
Qua nhiều thế hệ, ở vào gia cảnh giàu sang hay bần hàn, người Việt vẫn giữ nét văn hóa với chén nước chè mời khách. Thưởng trà cũng trở thành thú chơi tao nhã với những ai thích sự sâu lắng khi được ngồi nhâm nhi hương vị lắng kết của đất trời. Hay như bát nước chè xanh dân dã chứa chan tình làng nghĩa xóm. Chính vì thế cây chè đã đi vào đời sống như thế, ấy vậy mà chẳng phải ai cũng một lần được sống giữa những đồi chè để tận hưởng hết vẻ đẹp của màu xanh đã làm nên thứ nước uống say đắm lòng người. Chè được trồng ở nhiều nơi nhưng phải lên miền trung du mới thấy chè mênh mông, xanh đến mát mắt.
Bấy lâu nay sống ở thành phố với sự ồn ào, bon chen, bụi bặm, oi bức, với những li nước có ga uống vội đôi khi lại thấy thèm được đắm mình trước màu xanh bất tận của những đồi chè. Qua bao năm tháng, chè vẫn một màu xanh, một hương vị bền bỉ chí có chúng đã làm thay đổi nó bằng những cách chế biến xô bồ, vội vã. Hương chè tinh khôi sẽ vẫn mãi là vẻ đẹp mở đầu câu chuyện trong văn hóa giao tiếp của người Việt muôn đời.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Miêu tả cảnh đẹp núi rừng em có dịp quan sát trong kì nghỉ hè
| 1,176
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp trên cánh đồng ở quê em trong những ngày hè
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp trên cánh đồng ở quê em trong những ngày hè
Bài mẫu 1: Miêu tả cảnh đẹp trên cánh đồng lúa quê em
Mặt trời dần dần lên cao, ánh nắng hè dần trở nên gay gắt và rực rỡ hơn, xuyên qua những làn mây trắng bồng bềnh chiếu sáng cả cánh đồng mênh mông, bát ngát. Chiếc nón đã ngả màu và màu áo của các bác nông dân thoáng ẩn hiện, nhấp nhô giữa cánh đồng, tiếng lội nước bì bõm vang lên mang đến cho cả miền quê vẻ thanh bình, êm ả lạ thường.
Bài mẫu tham khảo
Xuân qua, hè tới, ánh nắng gay gắt bao trùm khắp nơi nơi, nhiều gia đình vội vàng đi nghỉ mát, tạm tránh xa cái nóng như đổ lửa này. Gia đình tôi thì khác, chúng tôi vẫn ở lại quê hương, vui vẻ trải qua những tháng hè. Nếu có ai hỏi tôi: “Thời gian nghỉ hè, bạn có gặp đươc cảnh đẹp nào không?” tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời rằng: “Có chứ, đó là cánh đồng lúa quê tôi.”
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nơi được biết đến là một trong hai vựa lúa lớn nhất cả nước. Có lẽ vì vậy mà ngay từ khi còn rất nhỏ, tôi đã dành tình cảm đặc biệt cho cánh đồng lúa mênh mông rộng lớn. Cánh đồng lúa quê hương tôi đẹp như một tấm thảm khổng lồ, mỗi mùa vụ qua đi, tấm thảm xinh đẹp ấy lại khoác lên một màu áo mới, thân thương và gần gũi vô cùng.
Mùa hạ đến mang theo đêm ngắn, ngày dài. Không giống như mùa đông đêm dài đằng đẵng, tiếng gà trống vừa cất lên, trời đã dần sáng tỏ. Cả miền quê cựa mình thức giấc. Đằng Đông, ông mặt trời cũng dần nhô lên cao, ánh nắng sớm tinh mơ dìu dịu hòa quyện cùng làn khói bếp màu trắng đục, quanh quẩn những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi. Ánh nắng khẽ vuốt ve, mơn trớn cả quê hương, tràn lan ra tới cánh đồng lúa. Nắng và gió khẽ vỗ về, đánh thức cánh đồng. Lúa mới cấy được một tháng, xanh mơn mở, những giọt sương sớm long lanh còn đọng lại trên lá lúa, lấp lánh dưới ánh mặt trời như những viên pha lê trong suốt, xinh đẹp. Ven các bờ lúa, mấy chú cò trắng phau phau thơ thẩn cúi đầu mổ mổ, chỉ cần nghe tiếng động nhẹ là hoảng hốt bay vù lên cao. Những cơn gió tinh nghịch đuổi nhau làm biển lúa dập dờn như sóng võ, những gợn sóng lúa lăn tăn, nối đuôi nhau chạy tít tận chân trời.
Ngày lặng lẽ trôi đi, dù nắng vẫn gay gắt nhưng gió trên đồng vẫn vù vù thổi, đứng cạnh cánh đồng lúa, mọi nóng bức, oi ả của mùa hè dường như tan biến hết. Rồi hoàng hôn dàn buông xuống, nắng bớt gay gắt hơn, ánh nắng chói chang dịu dịu màu đỏ rực, điểm tô lên màu xanh mơn mởn của lúa mới một sắc đỏ óng ánh. Các bác nông dân ra thăm lúa, nhổ cô lục tục ra về, cánh đồng lúa lại chìm vào khoảng không vô tận vốn quen thuộc cuối ngày.
Mặt trời xuống núi đằng Tây, bóng tối bắt đầu kéo quân xâm chiếm cả không gian. Trời xẩm tối dần, ánh điện sáng trưng lần lượt bừng lên trong mỗi nhà. Mọi người đã quây quần bên nhau, chỉ còn cánh đồng hòa mình vào màn đêm, lặng lẽ nuôi nấng những mầm non trong từng cây lúa. Âm thanh của côn trùng vang lên khắp cánh đồng, râm ran xao động. Trăng lên, ánh trăng bàng bạc lại vuốt ve, ôm ấp cánh đồng, đưa đồng lúa vào giấc ngủ yên bình, còn lúa vẫn bám chặt lấy đất và nước, sức sống vẫn chảy trong thân, nuôi dưỡng những tinh hoa của đất trời và con người, để một mai thức dậy đem đến những hạt gạo trắng trong.
Một ngày, cánh đồng lúa mang nhiều sắc thái khác nhau. Một năm nó lại đem về cho vùng quê nhỏ bé này một sắc màu riêng biệt. Một năm hai mùa vụ, mùa xuân và mùa hè chính là mùa gieo mạ, làm đất và cấy trồng. Mạ non mới cấy, xanh mơn mởn trong gió. Thời gian trôi đi, nhờ có nắng mưa của đất trời và tấm lòng của người nông dân, lúa lớn lên rồi kết tinh thành những hạt sữa non, thơm ngon ẩn mình trong lớp vỏ, tiếp tục hấp thụ đủ tinh hoa trở nên săn chắc. Hè bây giờ, lúa còn chưa vào thì con gái. Chịu đủ nắng đủ mưa, vượt qua những cơn bão tháng 7, một ngày kia, cả cánh đồng sẽ bảo nhau cùng chín, dần ngả màu vàng ươm. Cánh đồng lúa khi ấy giống như một tấm thảm màu vàng khổng lồ, rực rỡ và đong đầy ấm no. Hương lúa chín khẽ lan tỏa khắp không gian hứa hẹn một mùa màng bội thu. Đến ngày thu hoạch, cả gia đình cùng nhau ra đồng gặt lúa. Những bông lúa chĩu nặng lấp lánh trong mắt người nông dân. Đem lúa về sân phơi, cả cánh đồng chỉ xòn lại những gốc rạ trơ trọi. Rồi người ta lại bận rộn làm đất, gieo mạ, cấy cày, mùa này nối tiếp mùa kia. Đã thành quy luật, cánh đồng lúa bận rộn quanh năm với con người.
Tôi yêu sao cánh đồng lúa quê mình, không chỉ là điểm tựa của bao gia đình nơi đây mà còn là khung cảnh đẹp nhất của vùng quê đơn sơ, giản dị. Nó dần trở thành biểu tượng quê hương trong trái tim mỗi người con quê tôi, để rồi khi xa quê vẫn bồi hồi, thổn thức:
“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.”
Bài mẫu 2: Tả cảnh trên lúa em quan sát được trong kỳ nghỉ hè
Cây lúa đóng vai trò chính, chủ yếu trong việc cung cấp lương thực cho nhân dân Việt Nam, nó góp phần làm giàu đất nước qua việc xuất khẩu thu ngoại tệ. Ngày nay, Việt Nam được xem là một trong các nước có sản lượng lúa, gạo xuất khẩu thứ hai trên thế giới
Bài mẫu tham khảo
“Quê hương em biết bao tươi đẹp
Đồng lúa xanh núi rừng ngàn cây”
Đây là câu hát mà tôi thích nhất. Hè đã về, bố mẹ quyết định cho tôi về thăm quê ngoại. Quê ngoại tôi ở xa nên đây là lần đầu tiên tôi được về thăm. Từ trung du được về đồng bằng, tôi thấy rất nhiều điều mới lạ và tôi thích thú nhất chính là cánh đồng lúa trải rộng tít tắp tới tận chân trời.
Vừa bước xuống xe, tôi đã choáng ngợp trước cánh đồng. Nơi tôi đứng nhìn thẳng ra cánh đồng lúa đang rộ chín. Có lẽ đã bắt đầu vào mùa thu hoạch. Cánh đồng lúa trải một màu vàng óng, nhìn từ xa trông như một tấm thảm khổng lồ. Một làn gió nhẹ thoảng qua, cả cánh đồng xào xạc một âm thanh dịu nhẹ. Hương lúa thoang thoảng lan theo trong gió. Những tia nắng đầu tiên phớt nhẹ đây đó trên các thửa ruộng còn chìm trong màn sương bạc làm cho cả biển lúa xao động tạo thành những làn sóng nhẹ xô đuổi nhau chạy mãi ra xa. Ánh nắng ban mai đã tỏa sáng khắp nơi trên cánh đồng. Ngọn gió thổi rì rào như các cây lúa đang nói chuyện với nhau. Nắng đã lên cao, cánh đồng lúa bây giờ đã ánh lên màu pha vàng tươi sáng. Xa xa, đàn cò trắng bay rập rờn làm tăng thêm vẻ đẹp của đồng quê. Đã đến giờ các cô chú đã bắt đầu vào công việc của mình. Những chiếc nón trắng xen giữa biển lúa vàng trông thật đẹp mắt. Họ đang đưa những chiếc liềm để cắt lúa thật là nhanh. Người các cô chú ướt đẫm mồ hôi. Vừa làm việc, họ vừa ca hát rất vui. Từng khóm lúa ngả nghiêng vì bông lúa vừa dài lại vừa to. Bông lúa trĩu nặng hạt đều tăm tắp, chắc mẩy uốn cong mềm mại, ngả vào nhau thì thầm trò chuyện. Lúa là cây có một lá mầm, rễ chùm. Lá bao quanh thân, có nhiều phiến dài và mỏng. Trong một năm có hai vụ lúa: Vụ chiêm và vụ xuân. Nhìn những hạt lúa mẩy vàng tôi thầm nghĩ: Không biết có bao nhiêu giọt mồ hôi rơi xuống thước đất kia, bao nhiêu trí tuệ của những người nông dân đã tạo nên những hạt thóc mẩy vàng. Tôi chợt nhớ đến câu ca dao:
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Cây lúa đóng vai trò chính, chủ yếu trong việc cung cấp lương thực cho nhân dân Việt Nam, nó góp phần làm giàu đất nước qua việc xuất khẩu thu ngoại tệ. Ngày nay, Việt Nam được xem là một trong các nước có sản lượng lúa, gạo xuất khẩu thứ hai trên thế giới. Cây lúa không chỉ mang lại đời sống no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. Trước đây, cây lúa hạt gạo chỉ đem lại no đủ cho con người, thì ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu chúng ta biết biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị.
Nắng tháng năm vẫn trải rộng trên cánh đồng gay gắt, gương mặt của những người nông dân thêm ửng hồng, khỏe mạnh. Nụ cười làm gương mặt họ bừng sáng lên. Ngắm nhìn tất cả cảnh vật trên cánh đồng lúa quê tôi, tôi thấy những hình ảnh ấy thân thương làm sao. Tôi thấy yêu quê ngoại vô cùng và tự hào về quê hương đất nước của mình…
Bây giờ, mỗi khi về quê, nhìn cánh đồng lúa chín mà lòng tôi dâng lên 1 nỗi tự hào. Tự hào vì quê hương mình, tự hào về những hạt lúa nhỏ nhỏ xinh xinh kia mà biết bao mồ hôi, nước mắt mới có. Ôi! Sao mà yêu cánh đồng lúa chín làng quê.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Miêu tả cảnh đẹp trên cánh đồng ở quê em trong những ngày hè
| 1,803
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp ở một địa điểm nghỉ mát
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp ở một địa điểm nghỉ mát
Bài mẫu 1: Miêu tả địa điểm nghỉ mát Nha Trang
Khung cảnh thiên nhiên biển Nha Trang rất đẹp, ngập tràn trong sắc xanh tươi mát, êm dịu của trời xanh, biển xanh và những hàng cây xanh cùng sắc màu của trang phục du khách. Đẹp như một thế giới thần tiên. Nhiều khu đảo cá được tạo nên bằng những chiếc hồ nhân tạo xây ngay trên mặt biển. Trong hồ, những chú cá đủ loại, hình dáng, màu sắc rực rỡ bơi qua bơi lại mắt khiến cho người thích thú.
Bài mẫu tham khảo
Trên khắp dải đất hình chữ S thân yêu, nơi đâu cũng có những danh lam thắng cảnh xinh đẹp. Nếu Sa Pa nổi tiếng với sương mù huyền ảo, Hà Nội nổi tiếng với những dãy phố cổ kính, thì Nha Trang lại gắn với biển đẹp trong ấn tượng của tất cả mọi người. Nha Trang là địa điểm nghỉ mát vừa qua của gia đình tôi. Nơi đây là một trong những nơi đẹp nhất mà tôi gặp trong thời gian nghỉ hè.
Kết thúc một năm học với nhiều điều như ý, bố quyết định thưởng cho hai chị em tôi một chuyến du lịch, nghỉ mát tránh nóng ở Nha Trang. Đeo ba lô, chúng tôi theo máy bay rời xa thành phố ồn ào, khói bụi và háo hức đón chờ cuộc hẹn với Nha Trang xinh đẹp. Máy bay cất cánh để lại phía xa bầu trời Hà Nội, Nha Trang chào đón du khách bằng ánh nắng dịu nhẹ của mùa hè.
Xe lại lăn bánh đến bãi biển Nha Trang, những làn gió nhẹ thổi qua đã thoang thoảng hương vị mặn mà của biển. Nha Trang phía trước mặt là biển, phía sau lưng là núi, phong cảnh xinh đẹp vô cùng. Là địa điểm nghỉ mát nổi tiếng, bãi biển Nha Trang được đánh giá là một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới.
Cả một vùng biển bao la rộng lớn, mênh mông không thấy điểm kết thúc. Nước biển trong xanh thăm thẳm, đong đầy như cái thau nước khổng lồ, chứa đựng vẻ đẹp của đại dương. Bờ biển cong cong mềm mại, thoai thoải dần xuống theo mép sóng. Bãi cát dài, trắng xóa, những hạt cát mịn màng, mát rượi, linh hoạt trượt qua những ngón chân. trắng phau, mịn màng dưới chân. Từng đợt sóng nối đuôi nhau, ào ạt xô vào bờ, bọt bắt lên rồi lại chạy đuổi nhau ra tít khơi xa như lũ trẻ con tinh nghịch, chơi đùa mãi mà không biết mệt. Ánh mặt trời rực rỡ phản chiếu xuống mặt nước, lấp lánh như dát một lớp bảng mỏng. Trên bờ, những hàng dừa nước nghiêng nghiêng tỏa bóng mát xuống ghế nghỉ mát, cửa hàng quán nước phục vụ du khách đến tham quan, tắm biển.
Dưới biển gần bờ, mọi người kéo nhau chơi đùa, người ngụp lặn cùng phao bơi đủ sắc màu dưới khu tắm, người nằm dài trên cái xây lâu đài. Những lâu đài nhỏ yếu bằng cát, có cơn sóng lớn chợt ập vào, theo sóng biến mất. Gió biển mát lành thổi vào bờ khiến những tàu dừa rung rinh, vẫy vẫy. Tiếng cười đùa râm ran hòa cùng tiếng gió thổi và tiếng sóng vỗ tạo nên bản nhạc mùa hè vui tươi.
Ngồi trên thuyền, ca – nô ra phía xa khám phá, bốn bề mênh mông sóng nước, cảm giác như mình đang nằm trong lòng đại dương, được đại dương ôm ấp, vỗ về. Chiếc ca-nô màu trắng, cắm lá cờ đỏ sao vàng trước buồng lái lao vuin vút trên mặt biển, lá cờ Việt Nam bay phần phật theo gió. Du khách trên ca – nô thích thú cười vang, vừa tận hưởng không khí trên biển, vừa ngắm nhìn mặt biển náo động theo ca – nô.
Khung cảnh thiên nhiên biển Nha Trang rất đẹp, ngập tràn trong sắc xanh tươi mát, êm dịu của trời xanh, biển xanh và những hàng cây xanh cùng sắc màu của trang phục du khách. Đẹp như một thế giới thần tiên. Nhiều khu đảo cá được tạo nên bằng những chiếc hồ nhân tạo xây ngay trên mặt biển. Trong hồ, những chú cá đủ loại, hình dáng, màu sắc rực rỡ bơi qua bơi lại mắt khiến cho người thích thú.
Bãi biển mùa hè đông đúc khách du lịch, du khách trong nước và quốc tế, ai cũng tỏ ra yêu thích vẻ đẹp và không khí nơi đây, trầm trồ khen ngợi hòn ngọc quý của thiên nhiên. Tôi rất thích cảm giác chạy nhảy trên cát trắng, trốn những con sóng cứ tha thiết đòi bám lấy chân người. Nhặt những vỏ sò lẫn trong cát, áp lên tai dường như có thể nghe thấy tiếng nhạc du dương tựa lời thì thầm của biển Nha Trang. Ngâm mình trong dòng nước tự nhiên, trong xanh và mát rượi, mọi âu lo dường như tan biến hết, chỉ còn lại sự hòa hợp với thiên nhiên.
Bài mẫu 2: Miêu tả địa điểm nghỉ mát Hạ Long
Nhưng phải đến với các hang động mới thấy được hết vẻ đẹp kì lạ của Hạ Long. Bước vào hang Sửng Sốt (có lẽ vì hang đẹp đến sửng sốt chăng?) ta thấy trong lòng hang có những mạch nước ngầm nhỏ,những giọt nước từ trên trần hang nhỏ xuống mang theo vài ba hạt cát tí xíu
Bài mẫu tham khảo
Thế là mùa hè đã đến, để thưởng cho thành tích học tập kì này của em bố đã thưởng cho em được cùng cả nhà đến thăm Hạ Long, một kì quan thiên nhiên nổi tiếng mà không ai là không biết đến.
Em đến Hạ Long với bao nhiêu là háo hức! Em đã nghe truyền thuyết về vịnh, về những con rồng trầm mình làm nên những hòn đảo muôn hình vạn trạng trong lòng vịnh. Trên đường đi, hình ảnh những làng mạc, nhà cửa, phố xá trải dài ra trước mắt…Xe dừng lại. Thật là trời nước một màu trong xanh thăm thẳm. Trước mắt em, trải ra ngút ngàn là màu nước biển mát lành và những hòn đảo nhỏ đan xen nhấp nhô trong lòng vịnh. Lên thuyền ra vịnh mới thấy hết cái tươi đẹp kì vĩ của khung cảnh nơi đây. Đứng trên khoang thuyền, em nghe gió mát lồng lộng mơn man trên mái tóc. Nắng trải ra làm nước biển xôn xao lấp lánh.
Càng vào sâu trong lòng vịnh càng có cảm giác nước trong vịnh là một khối ngọc bích nhưng mềm mại uyển chuyển. Nhìn bốn bề thấy mênh mang là sóng nước hiền hòa. Xa xa, cây cầu treo Bãi Cháy nổi tiếng trông như một bàn tay xinh xắn đang vẫy chào du khách. Đi sâu thêm chút nữa, quanh ta đều là những hòn đảo nhỏ đan xen vào nhau như một mê cung đầy hấp dẫn. Mỗi hòn đảo mang một hình dáng riêng, rất kì lạ. Truyền thuyết kể rằng có 99 con rồng đã trầm mình xuống vịnh khiến cho nước biển nơi đây xanh một màu xanh biêng biếc kì diệu. Mỗi con rồng đã hóa thành một hòn đảo nên nơi đây mới có tên là vịnh Hạ Long. Tên mỗi hòn đảo lại được đặt theo hình dáng mà người ta tưởng tượng về hòn đảo đó, nào là hòn Trống Mái, nào là đảo Con Gà, nào là hang Đầu Gỗ,… lại còn hang Ti Tốp, hang Sửng Sốt nữa chứ! Có lẽ con người quá ngỡ ngàng về những gì tạo hóa diệu kì ban cho vịnh Hạ Long. Đến gần, ta mới thấy ‘những hòn đảo nơi đây được tạo nên bởi những khối đá vôi khổng lồ. Qua mưa nắng thời gian, chúng đã bị bào mòn nên có hình dáng kì lạ như ngày nay. Mỗi hòn đảo lại được phủ xanh bởi những loài cây kiên cường dũng cảm: bản thân loại đá vôi có rất ít chất dinh dưỡng, cây phải tự bám đá, rễ của chúng tiết ra một loại dịch để có thể “tiêu hóa” thứ đá khô cằn kia.
Nhưng phải đến với các hang động mới thấy được hết vẻ đẹp kì lạ của Hạ Long. Bước vào hang Sửng Sốt (có lẽ vì hang đẹp đến sửng sốt chăng?) ta thấy trong lòng hang có những mạch nước ngầm nhỏ,những giọt nước từ trên trần hang nhỏ xuống mang theo vài ba hạt cát tí xíu. Những hạt cát này không theo nước rơi xuống mà ôm ấp lấy nhau, qua hàng nghìn hàng triệu năm, chúng tạo thành những mảng thạch nhũ lấp lánh. Những cái hang ở đây đều được tạo nên bởi những mảng thạch nhũ như thế, đó là kết quả của một sự vận động tự nhiên bền bỉ diệu kì đến kinh ngạc. Hang rất sâu và rộng, có thể chứa đến nghìn người. Nền hang là đá thường, còn trần hang đầy những thạch nhũ. Thạch nhũ cũng có muôn hình vạn trạng khiến du khách sửng sốt. Đặc biệt, có những nơi, thạch nhũ tạo thành những hình có ý nghĩa trên vách hang, trần hang. Đó là hình đôi vợ chồng trong ngày cưới, là hình con gà, con khỉ,… Dưới ánh đèn, những hình ảnh đó lấp lánh kì ảo đẹp đến khó tin. Bước ra khỏi hang là đặt chân lên đỉnh của hòn đảo. Đứng trên cao nhìn ra bao la bát ngát vịnh Hạ Long, một lần nữa ta lại được thấy quanh mình cái mênh mông trời bể trong xanh mát lành. Những hòn đảo nhỏ nhấp nhô như ôm ấp lòng vịnh. Còn những chiếc thuyền nhỏ của ngư dân, của những đoàn khách du lịch quây quần dưới chân đảo như đàn con đang làm nũng cha mẹ…
Rời vịnh Hạ Long, em vẫn còn cảm giác ngỡ ngàng thích thú trước vẻ đẹp của vịnh – một kì quan hiếm có của Tổ quốc. Em thấy tự hào hơn về non sông gấm vóc của mình và càng thấm thìa hơn trách nhiệm phải góp phần giữ gìn và xầy dựng đất nước. Kì nghỉ hè của em đã trôi qua với bao điều thú vị và bổ ích như thế.
Sa Pa còn nổi tiếng có thung lũng của bãi đá cổ điêu khắc nhiều hình dáng khác nhau – Thung lũng Mường Hoa. Thung lũng nằm xen giữa cỏ cây và những thửa ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc. Hàng trăm tảng đá sa thạch có khắc những hình vẽ, những ký tự kỳ lạ hấp dẫn. Và đến thăm Sa Pa, nhất định phải lên Thác Bạc – thác Tình Yêu. Đi từ xa, bạn đã có thể nghe thấy tiếng thác nước đổ ào ào, tuôn trào như suối bạc.
Bài mẫu tham khảo
Mùa hè là mùa của những chuyến du lịch, nghỉ mát. Mọi người từ khắp mọi miền của tổ quốc cùng tránh đi cái nắng như đổ lửa của mùa hè, đến những địa điểm nghỉ mát yêu thích. Mùa hè năm nay, gia đình tôi cũng tổ chức đi chơi. Địa điểm được chọn là Sa Pa – nơi khí hậu đặc biệt đầy cuốn hút. Vẻ đẹp của Sa Pa đã để lại cho em những rung động khó phai.
Thành phố vào mùa hè nóng nực và đầy khói bụi, gia đình tôi nhanh chóng chuẩn bị để đi tránh nóng, chị em tôi thì vui sướng với kỳ nghỉ hè của mình. Bánh xe lăn nhanh, bỏ lại thành phố ồn ào chật hẹp, xe băng qua những con đường ngập nắng và gió, tiến lên Sa Pa – địa điểm du lịch bốn mùa của Việt Nam.
Sa Pa chào đón đoàn du lịch chúng tôi bằng một cơn mưa nhẹ, khác hẳn với cái nóng của thành phố, dù đã về trưa khí trời ở đây mát mẻ lạ thường. Từng chiếc xe du lịch lớn nhỏ, ô tô xe máy lần lượt theo con đường mòn dẫn vào khu nhà trọ. Dường như đã lường trước khí hậu nơi đây, những bộ quần áo phong cách mùa thu thấp thoáng qua lại trước mắt tôi. Mùa hè nên lượng khách du lịch đặ biệt đông, khu nghỉ chân xã Lao Chải mà gia đình tôi chọn cũng rất đông vui.
Thời tiết Sa Pa tháng 7 tương đối ôn hòa, không quá lạnh như mùa mưa tháng 2, tháng 3. Trời trở lạnh vào sáng sớm và về đêm, còn ban ngày thì vẫn có nắng ấm nhảy nhót. Mỗi buổi sáng thức dậy, đứng ở trên tầng của nhà nghỉ, bạn có thể thu vào tầm mắt không gian rộng lớn với dãy núi mờ ảo trong màn sương mù của Sa Pa, đẹp huyền bí như những bức tranh thủy mặc được phác họa thời trung cổ. Nhiệt độ sáng sớm khá thấp, bước ra ngoài, mọi người đều mặc áo khoác, ngăn cản cái lạnh mùa hè ngấm vào da thịt.
Đoàn du lịch theo xe di chuyển đến các địa điểm tham quan nổi tiếng của Sa Pa. Cỏ hoa bên đường đi đều nhuộm một màu xanh, nắng đã lên nhưng tiết trời vẫn mát mẻ. Mọi người vừa đi vừa dừng chân để chụp ảnh, quay phim, tiếng nói cười huyên náo. Đặc biệt hơn, tháng 7 là tháng lúa ở Sa Pa đẹp nhất, bạn sẽ được hòa mình vào sắc xanh mơn mởn của thiên đường ruộng bậc thang ở Sa Pa. Mọi người ai cũng trầm trồ say mê trước cảnh tượng tuyệt diệu một năm chỉ có một lần.
Muốn ngắm toàn cảnh Sa Pa, chỉ cần leo lên núi Hàm Rồng cách thị trấn Sa Pa khoảng 3 km. Từ trên núi nhìn xuống, thung lũng Mường Hoa ẩn hiện trong sương khói. Du khách đến đây như lạc vào khu vườn thần tiên tiên với những đám mây bồng bênh trôi. Nhà thờ cổ Sa Pa hay còn là nhà thờ Đá Sapa – dấu ấn kiến trúc cổ toàn vẹn nhất của người Pháp còn sót lại. Qua thời gian, nhà thờ đã được tôn tạo lại, trở thành hình ảnh không thể thiếu khi nhắc đến thị trấn Sapa mù sương.
Sa Pa còn là nơi tập trung các bản dân tộc: Cát Cát, Tả Van, Bản Hồ, Tả Phìn. Du khách cũng thường lui tới những nơi này, vừa tham quan, vừa khám phá đời sống sinh hoạt thường ngày của người dân vùng cao Sa Pa. Phong cảnh núi rừng nguyên sơ và quyến rũ, bầu không khí trong lành khiến tâm hồn con người trở nên thoải mái lạ thường. Người dân vùng cao lặng lẽ tận hưởng cuộc sống yên bình của họ, những trang phục dân tộc rực rỡ thi nhau khoe sắc với thiên nhiên xung quanh, làm người xem vui mắt vui lòng.
Sa Pa còn nổi tiếng có thung lũng của bãi đá cổ điêu khắc nhiều hình dáng khác nhau – Thung lũng Mường Hoa. Thung lũng nằm xen giữa cỏ cây và những thửa ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc. Hàng trăm tảng đá sa thạch có khắc những hình vẽ, những ký tự kỳ lạ hấp dẫn. Và đến thăm Sa Pa, nhất định phải lên Thác Bạc – thác Tình Yêu. Đi từ xa, bạn đã có thể nghe thấy tiếng thác nước đổ ào ào, tuôn trào như suối bạc.
Cảnh vật Sa Pa xinh đẹp và lãng mạn, con người Sa Pa thân thiện và gần gũi. Đất và người nơi đây hòa quyện với nhau, tạo nên vẻ đẹp đặc biệt của địa danh này. Để rồi khi tạm biệt Sa Pa, quay lại với không gian ồn ào, náo nhiệt, người ta lại thơ thẩn nghĩ về một buổi sáng mờ sương, trong lành và xao xuyến lòng người.
Bài mẫu 4: Miêu tả địa điểm nghỉ mát Đà Lạt
Em bước đi thỉnh thoảng cũng phải dè dặt, vì sợ dẫm lên những đoá hoa vàng bé xíu, mọc từ một loài cỏ dại trên đất đồi. Một lúc thong dong, em bước vào các vườn lan Đà Lạt. Từng lá lan mọng lên, từng chồi lan nõn nà, xanh xanh, trong trong và bóng mượt như nhựa. Nhìn lá hoa thật mà cứ ngỡ như hoa giả vì nó sặc sỡ lắm, tươi thắm lắm, đợi đến khi hương lan tỏa ra, em mới biết là hoa thật
Bài mẫu tham khảo
Còn gì thú vị hơn khi mình được đi đây đó khám phá những vùng đất mới. Khì hè này gia đình em tổ chức một chuyến du lịch Đà Lạt.
Nếu miêu tả một cảnh đẹp ở Đà Lạt thì rất khó, vì khi đã đặt chân đến Đà Lạt là ta cú ngỡ như đã bước vào một xứ sở mộng mơ: ta bước vào tranh giăng mắc bốn bề. Một không gian bốn chiều là tranh. Còn gì tú vị hơn khi chính bản thân mình được trải nghiệm đắm chìm trong bức tranh trữ tình ấy. Khi đến đây em cứ ngỡ như mình lạc vào xứ sở châu Âu với rừng thông hẻm vực, sương mù,… Nhưng Đà Lạt không chỉ mang những nét đẹp châu Âu mà còn mang đậm hơi thở châu Á. Bầu không khí Đà Lạt lúc nào cũng mát rười rượi. Ba em thường đùa rằng: Đà Lạt có một cái máy lạnh mấy trăm ngàn cây số. Nhưng máy lạnh này không tốn điện lại có gió trời. Và nhìn được bầu trời đám mây, cỏ hoa khắp chốn. Buổi sáng của ngày nghỉ đầu tiên, đút tay vào túi, em đi từ nhà thờ Con Gà ra chợ, qua hồ Xuân Hương, thấy sương chưa tan, còn mờ mờ khắp chốn. Vậy mà bên bờ hồ đã nhộn nhịp người làm vườn rửa cà rốt, những thúng cà rốt màu da cam rực lên một màu chói mắt bên bờ hồ.
Buổi trưa, dọc theo mọi ngả đường, em được các cành thông che nắng, phấn thông vàng bay bay trong gió như những hạt bụi tinh khôi tìm về tương lai. Giữa những bụi cây xanh ngắt lại rực lên những đoá hoa hoang dại: nào dã quỳ vàng chói, nào hoa ngũ sắc sặc sỡ, nào tường vi trĩu nặng từng chùm. Nếu vui chân vượt qua vài dốc ta sẽ đến Cam Ly. Thác Cam Ly không hùng vĩ mà hiền hoà, rộn ràng và tươi mát cheo leo bên sườn dốc, lại có cỏ xanh hoa dại nở vàng, nở tím… Em bước đi thỉnh thoảng cũng phải dè dặt, vì sợ dẫm lên những đoá hoa vàng bé xíu, mọc từ một loài cỏ dại trên đất đồi. Một lúc thong dong, em bước vào các vườn lan Đà Lạt. Từng lá lan mọng lên, từng chồi lan nõn nà, xanh xanh, trong trong và bóng mượt như nhựa. Nhìn lá hoa thật mà cứ ngỡ như hoa giả vì nó sặc sỡ lắm, tươi thắm lắm, đợi đến khi hương lan tỏa ra, em mới biết là hoa thật. Lan Đà Lạt trăm thứ vạn loài, không thể đếm xuể cả địa lan, lẫn phong lan cả vũ nữ, cát-laya, đến loài Hồ Điệp, và Đại Châu… Rồi bên cạnh đó là những cây kì hoa dị thảo… thầm lặng mà tươi tắn như sen đất tươi xanh, hồng môn rực đỏ, cẩm tú cầu tím nhẹ, hoa lồng đèn xinh xinh và thiên hài lửng lơ. Vào Dinh Ba, chúng ta sẽ thấy những đoá hồng nào hồng nhung, hồng bê bê, hồng phấn, hồng trắng. Chưa kể những nhà kính trồng hồng, trồng li rực rỡ như những xứ sở Ba Lan kiêu sa và tươi thắm như những phim tình diễm lệ.
Ngày xa Đà Lạt, em lưu luyến bước không vui. Trong lòng thầm nhủ: “Tạm biệt thôi, mai này mình lại về Đà Lạt” nhưng biết đến bao giờ? Đà Lạt ơi! Bao giờ em gặp lại?
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Miêu tả cảnh đẹp ở một địa điểm nghỉ mát
| 3,420
| |
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp ở vùng biển mà em có dịp quan sát trong kì nghỉ hè
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 7: Miêu tả cảnh đẹp ở vùng biển mà em có dịp quan sát trong kì nghỉ hè
Bài mẫu 1: Tả cảnh đẹp vùng biển
Suốt cả kì nghỉ tôi ấn tượng nhất với cảnh biển lúc hoàng hôn trên biển. Hoàng hôn trên biên mang một vẻ đẹp nguyên sơ động lòng người.Khi thủy triều bắt đầu lên những cơn sóng táp mạnh vào bờ đem theo hơi gió muối mằn mặn, cũng là lúc hoàng hôn buông dần phai. Mặt trời lặn xuống để nghỉ ngơi sau ngày dài
Bài làm tham khảo
Thế là một mùa hè nữa lại đến! Tôi hân hoan trong niềm vui rạo rực đón chào kì nghỉ hè đầy! Qua đi những tháng ngày học tập vất vả, bỏ qua sách vở một bên tôi trở về bên gia đinh cũng bạn bè đón chào một kì nghỉ hè đầy sôi động. Để thưởng cho sự cố gắng học tập của tôi trong suốt bao ngày qua bố mẹ đã thưởng cho tôi một chuyến chơi biển thật thú vị.
Tôi đã rất háo hức để đón chờ chuyến đi biển này. Ba tôi đã chuẩn bị cho cả nhà tôi một chuyến đi ba ngày hai đêm đến một bãi biển thật thơ mộng. Ngày đầu khi đặt chân đến đây tôi chóng ngợp trước khung cảnh rộng lớn toàn một màu xanh: xanh trời, xanh biển và xanh cây lá hoà quyện vào nhau, tạo nên thế giới thần tiên Tiếng sóng vỗ bờ, tiếng hàng dừa rì rào trong gió tất cả hòa cùng nhau khiến cho tâm hồn tôi thư thái sảng khoái lạ kì. Những căng thẳng mệt mỏi của kì thi như được biển gội rửa sạch. Đứng trước biển tôi thấy bản thân mình nhỏ bé đến lạ kì. Qủa thật biển là một trong những điều kì diệu mà con người được thừa hưởng từ bà mẹ thiên nhiên. Những người yêu thiên nhiên luôn thích đến biển để được hòa mình cùng từng con sóng xô vào bờ cát. Từng đợt, từng đợt sóng trắng nối nhau ào ạt vỗ bờ rồi lại rút ra xa, chẳng khác nào đám trẻ mê mải nô đùa không biết mệt. Mặt trời trên cao toả nắng vàng rực rỡ xuống biển xanh. Hàng ngàn người vui vẻ, ồn ào trên bãi tắm, tận hưởng không khí trong lành và làn nước mát lạnh của đại dương. Những chiếc phao nhiều màu dập dềnh trên sóng biếc. Những đứa bé bì bõm tập bơi, người tắm biển cả bãi biển ồn ão tấp nập. Trên bãi cát vàng những đứa trẻ nô đùa xếp những lâu đài cái, người lớn thì nằm tắm nắng dưới bóng ô bóng dừa tắm nắng,… Xa xa phía chân trời thỉnh thoảng ta trông thấy những cánh buồm của những con thuyền của ngư dân ra ngoài khơi đánh cá.
Sau những ngày tham quan nơi đây em biết thêm được bao điều mới mẻ và thú vị. Thiên nhiên xung quanh ta quả là đẹp đẽ, hấp dẫn vô cùng! Tạm biệt với biển xanh, cát trắng, lồng lộng làn gió đại dương, tôi thấy trong lòng dâng lên một cảm xúc rưng rưng khó tả.
Bài mẫu 2: Tả cảnh đẹp vùng biển
Chiều rồi, biển vẫn trong xanh, gió rì rào thổi, xua tan cái nóng bức của mùa hè, Ngoài người dân quê tôi dạo chơi trên cát, khách phương xa, người trong thị trấn cũng kéo nhau đến đây chơi. Họ tụ tập, chụp ảnh, ngôi nhà thờ Đổ lúc nào cũng đầy người. Đó là một nhà thờ nhỏ, nằm nghiêng nghiêng gần phía bờ, thiết kế phương Tây và màu sơn đã bị thời gian, gió biển làm mờ nhạt của nó khiến nhiều người thích thú
Bài làm tham khảo
Thời gian như một cỗ xe vô hình lăn bánh, một năm học nhanh chóng trôi đi, chúng tôi chính thức bước vào kì nghỉ hè. Trong cái nắng chói chang của mùa hè, các khu vui chơi, nghỉ mát là sự lựa chọn yêu thích của rất nhiều người. Nhưng thật may mắn, tôi không cần phải chen chân ở những chốn đông đúc đó. Nơi tôi sống gần biển, và nơi đây cũng là nơi đẹp nhất mà mỗi mùa hè tôi được chiêm ngưỡng.
Tôi sinh ra và lớn lên ở một ngôi làng nhỏ gần bờ biển của thành phố Nam Định, một vùng biển yên bình, đầy nắng và gió. Cát và cái vị mặn mòi của gió biển đã dần trở nên quen thuộc trong kí ức của tôi.
Không giống như mùa đông lạnh lẽo, đêm dài, ngày mới bừng sáng ở vùng biển quê tôi từ sớm. Không có tiếng gà gáy vang như những miền đồng bằng, sáng sớm, phía Đông, ông mặt trời lặng lẽ nhô lên trên mặt biển, ánh nắng ban mai hồng hồng dần buông xuống khắp không gian, lẳng lặng trôi theo dòng nước biển ra xa xa mãi. Những cơn gió chạy lại từ khơi xa, làm mặt biển gợn sóng to sóng bé, xô đuổi nhau vỗ vào bờ cát trắng. Gió nô đùa với sóng rồi thổi vào đất liền, đánh thức những ngôi nhà ven biển bằng cái vị mặn mà nó mang theo. Trên cao, những chú chim hải âu dang rộng đôi cánh, chao liệng. Tiếng gió, tiếng sóng biển rì rào và tiếng chim hải âu ríu rít khiến cả vùng biển náo động hẳn lên.
Khói bếp từ những ngôi làng bay lên như tấm lụa mỏng, quyện vào nhau trên không trung. Âm thanh từ tất cả ngôi nhà trong vùng cùng vang lên, vùng biển trở vui tươi lạ thường. Một ngày mới lại bắt đầu trên quê tôi. Người lớn lục tục đi làm, trừ những người đánh bắt cá, những người khác đều có công việc trong thị trấn. Trẻ con được nghỉ hè, không đi học, chúng sung sướng í ới gọi nhau đi chơi, nô đùa trên những bờ cát ven biển. Tôi cũng cùng anh trai dạo chơi trên cát. Tôi thích cảm giác để chân trần chạy trên bờ cát trắng, những hạt cát mịn màng, mát rượi nhẹ nhàng chảy trôi qua những kẽ ngón chân, tinh nghịch như những đứa trẻ. Những vỏ sò thấp thoáng trên cát, mỗi vỏ sò đều mang trong mình tuổi thơ của rất nhiều đứa trẻ. Mùa hè, ánh nắng càng về trưa càng trở nên gay gắt. Lúc ấy, chạy trên cát, bạn sẽ thấy bỏng rát đôi chân.
Nhiều người dân quê tôi vẫn làm nghề đánh cá. Vì ngày hè oi nóng nên công việc đánh bắt cá bắt đầu từ sáng sớm. Người đánh cá nối nhau đẩy thuyền ra khơi, bước chân chắc nịch in rõ trên cát. Họ tạm biệt người nhà, hướng về phía khơi xa, quyết tâm giăng buồm cùng niềm hi vọng một ngày đánh bắt bội thu. Khi hoàng hôn dần buông xuống mặt biển, ánh nắng đỏ rực lại nhuộm kín không gian, đoàn thuyền đánh cá nối đuôi nhau trở về. Thuyền cập bến, khoang thuyền đầy cá, cá lục, cá chim…mang còn phì phò bong bóng xếp lẫn cùng những con tôm tươi roi rói, càng còn búng tanh tách là thành quả của một ngày đánh bắt. Người trên bờ đã chờ từ sớm, họ nhanh chóng chuyển cá tôm lên bờ. Tiếng lao xao trả giá, tiếng lịch kịch thúng mủng của người bán, người mua đông vui, náo nhiệt.
Trời vãn chiều, mọi người dần tan, cá tôm được bán một phần, còn lại mang về gia đình để chế biến. Những sọt cá, sọt tôm được thương lái thu mua nằm gọn trên xe hàng, theo tiếng động cơ xa dần về phía các chợ trong thị trấn. Bãi cát trở về trạng thái bình yên, người về hết chỉ còn những con thuyền lặng im gối đầu nghỉ ngơi sau một chuyến đi dài. Bóng tối dần bao trùm lấy biển, chờ khi trăng sao lên, mặt biển lấp lánh như tấm thảm nhung đen dập dờn, phản chiếu cả dải ngân hà xinh đẹp.
Mùa hè cũng là mùa của nhiều cơn bão. Những ngày biển động, sóng nổi lên dữ dội. Những con sóng bạc đầu điên cuồng xô ầm ầm vào vách đá. Bão qua, biển lại trở về trạng thái hiền hòa của nó.
Biển đã trở thành biểu tượng của quê hương tôi, là niềm tự hào, là quê hương thân thương trong trái tim mỗi con người. Để rồi khi xa quê, nhớ về quê hương, người ta lại nghe tiếng rì rào sóng vỗ.
|
Bài văn mẫu lớp 7_ Miêu tả cảnh đẹp ở vùng biển mà em có dịp quan sát trong kì nghỉ hè
| 1,485
| |
Bài văn mẫu lớp 8: Em hãy kể lại kỷ niệm sâu sắc của em với người bạn thân
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 8: Em hãy kể lại kỷ niệm sâu sắc của em với người bạn thân
Bài mẫu 1: Kể kỷ niểm sâu sắc với bạn thân
Cả buổi chiều hôm ấy, lòng tôi tràn đầy khó chịu, tôi không hiểu tại sao Linh lại đối xử với mình như thế. Nghĩ lại lời nói của Hà Anh trước đây rằng “Đứa nhát gan lờ đờ như cậu, sớm muộn gì Phương Linh cũng chán. Người đâu mà lúc nào cũng tỏ ra rụt rè, nhìn thật khó chịu” tôi dường như hiểu ra. Tan học, mặc kệ Phương Linh gọi với theo, tôi làm lơ đạp xe về nhà, thầm nghĩ sẽ không chơi chung với cậu ấy nữa.
Bài làm tham khảo
Tuổi học trò là tuổi thần tiên, tuổi của những mộng mơ, hồn nhiên và tươi đẹp nhất. Tuổi học trò đối với tôi còn là quãng thời gian quý giá nhất khi nó là nơi lưu giữ những kỉ niệm đẹp nhất đối với tôi. Trong số đó, có một kỉ niệm mà tôi luôn bồi hồi xúc động mỗi khi nhớ lại – kỉ niệm sâu sắc với người bạn thân của tôi.
Phương Linh là bạn thân của tôi. Nhà Linh ở gần nhà tôi, hai đứa chơi với nhau từ những ngày còn bi bô tập nói, sau này lại luôn học cùng lớp với nhau. Khác với dáng người dong dỏng cao của tôi, Phương Linh là một cô bé nhỏ nhắn, chỉ cao khoảng một mét bốn mươi, nước da trắng hồng xinh xắn. Mái tóc đen ngang vai mềm mại kết hợp với khuôn mặt bầu bĩnh khiến Linh càng thêm phần đáng yêu. Đôi mắt Phương Linh tròn xoe, đen lay láy, đôi môi đỏ mọng chúm chím. Khi cười lên sẽ để lộ ra má núm đồng tiền và hai cái răng khểnh trắng tinh trông rất có duyên. Phương Linh xinh xắn, cởi mở và tốt bụng nên ai cũng yêu quý, trái ngược hẳn với tính cách của tôi, trầm và nhút nhát.
Chính vì thế, các bạn trong lớp rất tò mò, tại sao hai đứa hoàn toàn trái ngược nhau lại có thể chơi thân với nhau như vậy? Phương Linh có rất nhiều bạn tốt vì sự thân thiện và hoạt bát của mình, còn tôi thì chủ yếu chỉ có một vài người bạn. Điều này đã dẫn đến một câu chuyện mà tôi mãi mãi không bao giờ quên.
Giữa năm học lớp 5, bỗng nhiên Phương Linh bảo với tôi vào giờ ra chơi:
– Tuần này, tan học cậu cứ về trước nhé, tớ có việc phải ở lại trường.
– Tớ ở lại đợi cũng được, không sao đâu. – Tôi trả lời ngay.
Nhưng Phương Linh vẫn kiên quyết:
– Cậu cứ về trước đi, chiều đi học tớ lại sang gọi. Cậu còn phải nấu cơm cho bé Ngọc nữa.
Nhưng chiều hôm ấy, tôi đợi mãi mà không thấy Phương Linh đâu. Nhìn đồng hồ sắp đến 2 giờ kém 15 phút, tôi quyết định vòng ngược đường vào nhà gọi Linh. Nhìn thấy tôi vẫn dắt xe đứng ngoài cổng, mẹ Linh ngạc nhiên:
– Có bạn tên Hà Anh sang nhà gọi Linh, chúng nó đi được nửa tiếng rồi con ạ.
Tôi bất ngờ, dường như không tin vào tai mình. Hà Anh là cô bạn luôn tỏ ra ghét tôi nhất lớp. Tôi buồn bã, thất vọng, vội chào mẹ Linh rồi đạp xe đến trường. Vừa dựng xe xong thì trống đánh vào lớp, tôi cố gắng chạy thật nhanh nhưng vẫn vào lớp muộn hơn cô giáo. Cô thấy tôi thở gấp, cũng mỉm cười nói không sao, cho tôi vào lớp. Trước ánh mắt của các bạn khác, tôi chợt thấy xấu hổ và giận dữ vô cùng. Phương Linh hôm ấy còn tự chuyển sang chỗ Hà Anh, nhìn tôi đến muộn, tỏ ra rất ngạc nhiên.
Cả buổi chiều hôm ấy, lòng tôi tràn đầy khó chịu, tôi không hiểu tại sao Linh lại đối xử với mình như thế. Nghĩ lại lời nói của Hà Anh trước đây rằng “Đứa nhát gan lờ đờ như cậu, sớm muộn gì Phương Linh cũng chán. Người đâu mà lúc nào cũng tỏ ra rụt rè, nhìn thật khó chịu” tôi dường như hiểu ra. Tan học, mặc kệ Phương Linh gọi với theo, tôi làm lơ đạp xe về nhà, thầm nghĩ sẽ không chơi chung với cậu ấy nữa.
Tâm trạng không vui, đến khi mẹ nhắc tới sinh nhật của tôi sắp tới, tôi cũng không buồn để ý. Tôi cứ tránh mặt Phương Linh nhiều lần, cô bạn hình như cũng không quan tâm, mấy ngày liền, tôi đi học và về nhà một mình. Hà Anh nhìn thấy tôi cũng không tỏ ra khó chịu như trước, thấy kì lạ nhưng nghĩ chắc là bây giờ thân với Linh nên không thích nói này nói nọ nữa. Cứ như vậy cho đến hôm sinh nhật tôi, trưa thứ 7, tiết sinh hoạt kết thúc, tôi cất sách vở, định đứng dậy đi về thì Hà Anh xuất hiện, giọng hiếm khi thân thiện:
– Cậu ở lại một chút đi, bọn mình có cái này.
Tôi chưa kịp trả lời thì hai mắt bị ai đó che lại, cửa lớp đóng, cả lớp tối om. Vừa được thả che mắt ra thì tôi nghe thấy tiếng hát “Happy birthday…” của nhiều người, Phương Linh bưng một chiếc bánh kem, nến sáng lung linh tiến vào từ cửa lớp, xung quanh cả mười lăm bạn nữ lớp tôi đều ở đây. Ai cũng vừa hát vừa mỉm cười chúc mừng sinh nhật tôi. Tôi kinh ngạc,vui sướng, mãi mà không nói được lời nào.
Sinh nhật năm đó là sinh nhật vui nhất mà tôi trải qua, đồng thời cũng là kỉ niệm sâu sắc về Phương Linh, biết mình hiểu lầm, hai chúng tôi ôm nhau khóc nức nở. Từ đó, tình bạn của chúng tôi càng thêm gắn bó. Dù chúng tôi có rất nhiều kỉ niệm nhưng kỉ niệm ấy vẫn là kỉ niệm xúc động tôi không thể nào quên.
Bài mẫu 2: Kể kỷ niểm sâu sắc với bạn thân
Tôi giật mình ngạc nhiên. Lúc này không hiểu sao tôi thấy cậu ta rất đáng ghét. Cái bảnh mặt của cậu ta lúc này không phù hợp tẹo nào. Giờ tôi hiểu ra có lẽ lúc đấy là tôi ghen ghét với cái vẻ ngoài tự tin của cậu, cũng có thể là do bản thân mình để câu ta thấy mình nhút nhát nên xấu hổ.
Bài làm tham khảo
Tình bạn la một trong những điều quan trọng nhất đối với mỗi người song hành cùng chúng ta suốt chặng đường đời. Với em thì tình bạn đẹp nhất chính là tình bạn của thời học sinh bởi khi ấy, chúng ta chỉ là những đứa trẻ ngây thơ, không chút tạp niệm và không có bất cứ điều gì ảnh hưởng tới tình bạn. Khi ấy, chúng ta thận thiết với nhau bởi tình cảm thực sự xuất phát từ chính trái tim của mình mà không hề toan tính. Và em cũng có rất nhiều những kỉ niệm khó quên với Linh- người bạn thân trong suốt những năm đi học của mình.
Linh và tôi chơ cùng với nhau từ lớp một. Tôi còn nhớ rõ ngày ấy tôi còn là một cô bé ngại ngùng núp sau lưng mẹ. Với tôi lúc này, ngôi trường mới là một nơi xa lạ và tôi sợ bản thân mình sẽ lạc lõng ở nơi đây. Tôi nắm chặt vạt áo mẹ không rời. Có lẽ cũng giống nhu tôi suy nghĩ, ngày đầu tiên đi học mấy cậu nhóc rất sợ sệt thế nên có cô bé không kìm ném được mà bật khóc òa sau lưng mẹ. Thế nhưng lúc này điều mà tôi bị thu hút lại được chuyển hướng sang cậu bạn đứng cạnh tôi. Cậu ấy không hề rụt rè như các bạn khác mà trông rất tự tin háo hức nhìn quanh ngó nghiêng với khuôn mặt nôn nóng mong chờ. Thấy tôi nhìn chằm chằm mình, cậu ấy quay sang cười với tôi và nói:
Tôi giật mình ngạc nhiên. Lúc này không hiểu sao tôi thấy cậu ta rất đáng ghét. Cái bảnh mặt của cậu ta lúc này không phù hợp tẹo nào. Giờ tôi hiểu ra có lẽ lúc đấy là tôi ghen ghét với cái vẻ ngoài tự tin của cậu, cũng có thể là do bản thân mình để câu ta thấy mình nhút nhát nên xấu hổ. Tôi ngoảnh mặt quay đi không thèm trả lời cậu ta. Thế nhưng đúng là người tính không bằng trời tính thế nào tôi và cậu ta lại ngồi cùng với nhau. Từ đấy oan gia ngõ hẹp, chúng tôi chí chóe nhau suốt ngày. Cậu ta thường chọc tôi tức điên lên, lấy tôi làm niềm vui cho cậu ta. Tôi không học giỏi môn toán thế nên bài kiểm tra của tôi không được cao như cậu ấy. Mỗi lần phát bài tôi đều giấu không cho cậu ta biết điểm của tôi. Thế nhưng không hiểu sao một lần tôi vô tình cậu ấy phát bài nên thấy. Tôi thấy cậu ta nhíu mày nhìn tôi, còn mắng tôi:
Cậu ngốc à, bài này mà cậu không hiểu sao. Từ mai không hiểu chỗ nào bảo tớ.
Thế là chẳng hiểu vì sao thây vì chí chóe nhau những chuyện vặt vãnh giờ đây là những mẩu hội thoại:
– Cậu làm bài này đi.
– Chỗ này chưa hiểu sao
– Đúng là ngốc hết chỗ nói.
Tôi cũng không hiểu sao lúc đấy tôi lại không thấy ghét cậu ta nữa. Thay vào đố dần dần chúng tôi chơi thân với nhau, thân đến tận bây giờ kể cũng lạ. Vẫn chí chóe nhau như lửa với nước vẫn luôn miệng nào là không ưu nhau nhưng hễ có chuyện gì lại bênh vực, giúp đỡ nhau.
Các bạn ạ, tình bạn đẹp nhất là khi mà chúng ta luôn có xuất phát điểm từ chính trái tim và tấm lòng của mình. Theo thời gian, con người sẽ dần lớn lên nhưng những kỉ niệm của chúng ta thì vẫn còn mãi cho tới tận bây giờ. Bởi thế cho nên chúng ta ai cũng nên học cách nâng niu những kỉ niệm để có thể không hối hận vì đã để thời gian trôi qua một cách nhanh chóng mà không đọng lại được bất cứ một điều gì.
|
Bài văn mẫu lớp 8_ Em hãy kể lại kỷ niệm sâu sắc của em với người bạn thân
| 1,802
| |
Bài văn mẫu lớp 8: Kể về người thân đã lâu mà em không gặp
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 8: Kể về người thân đã lâu mà em không gặp
Bài mẫu 1: Kể về người thân mà lâu em chưa gặp
Khi tôi bắt đầu hiểu chuyện thì chị đang bận bịu với công việc thực tập của sinh viên y năm cuối và tìm kiếm công việc nên ít khi về nhà, nhưng gần như tuần nào chị cũng phải gọi điện về, hỏi thăm tôi thì mới yên tâm, quà sinh nhật, quà tết Trung thu, chị chưa bao giờ quên. Bạn cùng lớp ai cũng ngưỡng mộ tôi có chị gái xinh đẹp, tài giỏi mà tâm lý
Bài làm tham khảo
Gia đình – hai tiếng ấy thôi mà nghe thân thương quá. Nhắc đến gia đình, người ta nghĩ đến vòng tay yêu thương của mẹ, bờ vai vững chắc của cha, nụ cười hiền từ, nhân hậu của ông bà,…Còn bạn, bạn nghĩ tới những ai? Riêng bản thân tôi, khi nhớ tới gia đình, người mà tôi nghĩ tới đầu tiên lúc này lại là chị gái của tôi – người mà tôi đã lâu không gặp.
Chị gái của tôi tên Mai Trang. Lúc tôi sinh ra chị đã 18 tuổi, năm nay chị đã 30 tuổi, là một người phụ nữ có gia đình và sự nghiệp. 5 năm trước chị đã kết hôn và 2 năm sau đó thì định cư ở Hàn Quốc, chị là một nữ bác sĩ xinh đẹp và tài giỏi. Tôi vẫn còn nhớ lần gần nhất gặp chị là Tết Nguyên Đán khi mình học lớp 5. Vậy là đã 2 năm, chị tôi chưa về Việt Nam. Trong ấn tượng của tôi, chị tôi dong dỏng cao, nước da trắng, thu hút người nhìn bởi khuôn mặt trái xoan thanh tú và nụ cười hết sức thân thiện, gần gũi. Nhiều lần chị bảo, nhờ có nụ cười ấy mà bệnh nhân ai cũng yêu quý chị.
Khi tôi còn nhỏ xíu chị đã là một thiếu nữ xinh đẹp và duyên dáng. Bố mẹ bảo, tôi sinh ra là sự kiện tình cờ và bất ngờ, cũng là niềm vui rất lớn của gia đình. Anh trai và chị đều đã lớn, tôi trở thành viên ngọc quý trong tay cả gia đình. Mẹ bảo chị đặc biệt rất yêu thương và chiều chuộng tôi, tháng nào đi học trên thành phố về cũng dành cả mấy ngày nghỉ để bế bồng tôi đi khắp xóm để khoe em gái. Nhiều thanh niên cùng xóm khi ấy không biết, còn giật mình tưởng chị tôi đã có con, chị tôi khi ấy còn đùa bảo đứa bé còn nhỏ xíu là tôi chính là con gái chị đấy.
Khi tôi bắt đầu hiểu chuyện thì chị đang bận bịu với công việc thực tập của sinh viên y năm cuối và tìm kiếm công việc nên ít khi về nhà, nhưng gần như tuần nào chị cũng phải gọi điện về, hỏi thăm tôi thì mới yên tâm, quà sinh nhật, quà tết Trung thu, chị chưa bao giờ quên. Bạn cùng lớp ai cũng ngưỡng mộ tôi có chị gái xinh đẹp, tài giỏi mà tâm lý. Ngày chị đi lấy chồng, tôi cứ khóc mãi, mếu máo bảo không cho chị đi lấy chồng đâu, bố mẹ phải dỗ mãi, hứa hẹn chị đi lấy chồng còn về thường xuyên thì tôi mới lau nước mắt, nhìn chị mặc váy cô dâu lộng lẫy lên xe hoa.
Chị trở thành một bác sĩ ở bệnh viện lớn, rồi kết hôn 2 năm thì chuyển công tác và theo chồng sang Hàn Quốc định cư. Biết tin ấy, bố mẹ tôi vừa buồn vừa vui, dù sao ở nước ngoài cũng xa xôi. Trước khi đi, chị bế cả con trai mới ba tháng tuổi đến, đưa cho mẹ tôi rồi ôm tôi như hồi còn bé, thủ thỉ “Chị Trang đi ra nước ngoài rồi hàng năm lại về thăm em, mua cho em nhiều búp bê nữa nhé! ở nhà phải nghe lời bố mẹ và anh trai, khi nào nhớ chị thì gọi điện này, đợi lớn thêm nữa rồi chị xin bố mẹ cho em sang đó nghỉ hè nha”. Sau đó, anh chị đi. Năm đầu tiên chị về Việt Nam hai lần, 1 lần Trung thu và 1 lần Tết Nguyên Đán, giữ lời hứa mua cho tôi nhiều đồ lắm. Nhưng hai năm vừa rồi, công việc của chị bận rộn hơn, lại có thêm một bé gái nên không thể về nước, chị bảo Tết năm nay chị nhất định sẽ về.
Thỉnh thoảng, chị vẫn gọi điện cho mẹ, nói chuyện với tôi và gửi quà về đúng ngày sinh nhật. Nghe giọng nói nhẹ nhàng của chị ở đầu dây bên kia, tôi chợt nhớ chị và mong gặp chị hơn bao giờ hết. Chị là người chị gái yêu quý của tôi, người mà nâng niu, chiều chuồng tôi giống như con gái của mình. Tôi rất mong đến ngày được gặp lại và ôm lấy chị.
Bài mẫu 2: Kể về người thân mà lâu em chưa gặp
Nghe được những lời này, tôi lại càng khó kìm chế trái tim xúc động của mình nhưng rồi cũng quệt nước mắt, ngẩng đầu nhìn bà và cười trong niềm hạnh phúc lấp lánh. Bà vẫn y như ngày còn ở với tôi, hay thích đan len bên gốc dừa và quàng chiếc khăn màu nâu sáng
Bài làm tham khảo
Giấc mơ là những gì bạn mong ước, nhớ nhung rồi đêm nằm mộng thành sự thật. Và rồi đến một ngày tôi chợt mơ thấy bà, người mà luôn yêu thương cưng chiều tôi hết mực.
Nội tôi đã qua đời được ba năm, cho đến tận bây giờ, tôi vẫn chỉ muốn tin rằng bà chỉ là đã đi đâu đó xa lắm chứ không muốn tin rằng bà mãi mãi rời xa thế gian này. Người ta vẫn hay nói, nếu lòng luôn nghĩ về một người nào đó, trong mơ sẽ gặp được người. Trong mơ, tôi chỉ nhớ rằng mình xuất hiện trong ngôi nhà cũ của bà ở quê, có một mảnh vườn nhỏ cây trái um tùm. Tôi cứ bất giác bước đi theo linh tính qua làn sương mờ đi tiếp vào vườn và như muốn tìm lại tuổi thơ khi tôi chơi đùa ở đây ngày còn bé nhỏ ngây thơ.Sương mù giăng bao trùm lấy tôi, cảnh vật chợt mò dần. Tôi hoảng hốt.. Trong màn sương mù ảo ảnh, đôi chân tôi cứ cất bước và chợt sững lại khi thoáng thấy hình ảnh quen thuộc. Bên gốc cây dừa, hình dáng quen thân thương hiện ra khiến cho trái tim tôi vỡ òa vì vui sướng, đó là bà nội. Vẫn y như ngày nào, bà ngồi dưới gốc dừa khoan thai độ lượng như một bà tiên với giỏ len đan trên tay. Mái tóc bạc phơ của bà càng khiến cho tôi liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích mà trước kia bà hay kể. Như chừng thấy tôi, bà ngẩng lên, nở một nụ cười hiền từ như một vị thánh, bà dang hai tay ra như chờ đón tôi vào lòng. Trong lòng tôi bấy giờ chẳng còn điều gì ngoài khao khát được vỗ về chở che của một đứa cháu xa cách bà kính yêu của mình đã lâu. Tôi liền chạy nhanh tới ôm chầm lấy bà để bà che chở, vuốt ve với những dòng nước mắt hạnh phúc. Thấy tôi xúc động, bà vuốt mái tóc tôi:
Nghe được những lời này, tôi lại càng khó kìm chế trái tim xúc động của mình nhưng rồi cũng quệt nước mắt, ngẩng đầu nhìn bà và cười trong niềm hạnh phúc lấp lánh. Bà vẫn y như ngày còn ở với tôi, hay thích đan len bên gốc dừa và quàng chiếc khăn màu nâu sáng. Vậy là trong lòng bà, bà hỏi tôi về chuyện học tập, về cha, về mẹ, rồi bà lại dặn tôi phải học hành chăm chỉ, nghe lời bố mẹ, lớn lên nhất định phải thành người tốt, nhưng tôi chỉ trả lời qua loa rồi cứ thế cuộn mình trong vòng tay yêu thương của bà mà tận hưởng sự hạnh phúc. Bà ôm tôi thật chặt, âu yếm vuốt ve, hôn vào má, vào trán vào tóc tôi như những ngày tôi còn thơ dại. Chợt tôi nhớ đến những tháng ngày trước đây, bà hay kể chuyện cho tôi nghe và tôi muốn nghe lại giọng kể ấy:
– Bà ơi, bà kể chuyện cháu nghe, bà nhé.
Đáp lại tôi, bà nở một nụ cười đẹp như bà tiên rồi giọng bà vang lên trong không gian huyền bí của sương mờ và khói bay. Vẫn là giọng kể truyền cảm ngày nào, giống cái ngày còn bé, đã đưa tôi vào những giấc mơ đẹp nhất. Câu chuyện mà bà kể tôi đã nghe không biết bao nhiêu lần nhưng đều không thấy chán, và đặc biệt ngay lúc này đây, tôi còn thấy cả sự thiêng liêng diệu kì trong từng nhịp ngắt của bà, bà ơi, ước gì cháu được mãi nghe bà kể những câu chuyện như vậy trước khi đi vào giấc ngủ!
Nhưng chưa kịp nghe hết câu chuyện, giọng kể của bà đã đưa tôi về với hiện tại, tôi choàng tỉnh do tiếng chuông đồng hồ báo thức và tôi nhận ra đó chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ đẹp tuyệt vời vì tôi được gặp bà nội.
Bà là người mà tôi thương nhất. Giấc mơ làm tôi thêm nhớ bà nhưng cũng đem lại cho tôi động lực trong cuộc sống vì lời hứa với bà sẽ chăm ngoan học giỏi để trở thành người có ích. Và tôi mong mình có thể có thêm nhiều giấc mơ đẹp như vậy nữa!
|
Bài văn mẫu lớp 8_ Kể về người thân đã lâu mà em không gặp
| 1,688
| |
Bài văn mẫu lớp 8: Người mẹ sống mãi trong lòng tôi
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 8: Người mẹ sống mãi trong lòng tôi
Bài mẫu 1: Người mẹ sống mãi trong lòng tôi
Mẹ tôi là một người nông dân chân chất, hiền lành. Cuộc sống thường ngày của mẹ là bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, làm bạn với ruộng đồng, hoa màu. Đôi bàn tay thô ráp đầy vết chai ngày qua ngày tỉ mỉ và khéo léo chăm bón, lúa và rau củ cứ mơn mởn sức sống
Bài làm tham khảo
“ Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ
Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha.”
Trong mỗi chúng ta, đều có một người thân yêu chiếm vị trí quan trọng nơi trái tim, là duy nhất, mãi mãi không thể thay thế đó chính là người mẹ. Người cho ta nhìn thấy ánh sáng mặt trời, người chịu bao đớn đau khó nhọc chín tháng mười ngày bao bọc chúng ta bằng tình yêu thương ấm áp. Và chính vì thứ tình cảm thiêng liêng mẫu tử không thể tách rời mà trong mắt tôi mẹ là người vĩ đại nhất.
Trong kí ức thơ ngây của đứa trẻ mười hai mười ba tuổi, hình ảnh mẹ chưa bao giờ nhạt phai. Cuộc đời tần tảo, dãi nắng dầm mưa đã cướp đi tuổi thanh xuân của mẹ. Mẹ tôi năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi. Cha tôi đi làm xa thế nên gánh nặng gia đình từng ngày đè nặng lên đôi vai gầy của mẹ. Dáng người mẹ cao cao, mong manh mà kiên cường, trước phong ba bão táp số phận, mẹ chưa lần nào gục ngã. Mái tóc dài đã lấm tấm hoa râm ôm lấy khuôn mặt trái xoan nhỏ bé. Mỗi sợi tóc bạc điểm trên mái đầu mẹ và một nếp nhăn nơi khóe mắt là một minh chứng cho đức hi sinh của mẹ. Chỉ mới ở tuổi ngoài bốn mươi, từ mẹ đã toát lên đủ nỗi vất vả, nhọc nhằn của đời người. Nhưng trên khuôn mặt ấy luôn hiện diện ánh mắt đong đầy yêu thương và nụ cười ấm áp của mẹ. Một ánh mắt, một nụ cười có sức mạnh xua tan những bất hạnh, lạnh lẽo âm u của tuổi thơ không trọn vẹn.
Mẹ tôi là một người nông dân chân chất, hiền lành. Cuộc sống thường ngày của mẹ là bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, làm bạn với ruộng đồng, hoa màu. Đôi bàn tay thô ráp đầy vết chai ngày qua ngày tỉ mỉ và khéo léo chăm bón, lúa và rau củ cứ mơn mởn sức sống. Hình dáng mẹ gánh đòn gánh những buổi chợ sớm như gánh cả cuộc đời chị em tôi trên vai, giọng nói quan tâm, dặn dò trước lúc ra khỏi cửa và cả mùi bùn ngai ngái theo chân mẹ từ cánh đồng xa là những gì em yêu thương cả cuộc đời. Tà áo vải nâu theo bước chân mẹ, xuôi ngược ngược xuôi, giản dị mà toát lên vẻ đẹp như chiếc áo lụa quý giá.
Nghĩ về mẹ, là nhớ về tình yêu thương ấm áp bao la như biển Thái Bình. Trong đầu tôi vẫn ngân vang câu thơ ngày nào:
“Dù con lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời, lòng mẹ vẫn theo con”
Bài mẫu 2: Người mẹ sống mãi trong lòng tôi
Mẹ chưa bao giờ nổi giận hay đánh mắng chị em tôi. Nếu chúng tôi có mắc lỗi, mẹ chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo, kiên trì giảng giải để chúng tôi nhận ra khuyết điểm. Nhưng có một lần, em gái tôi đã gây ra lỗi lầm lớn, làm mẹ vô cùng đau lòng. Hôm ấy, con bé hỏi tôi một bài toán khó, tôi giải mãi cũng không ra đáp án
Bài làm tham khảo
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn thương con”
“Mẹ” là tiếng gọi thiêng liêng nhất mà chúng ta cất lên trong cuộc đời mình. Mẹ là món quà quý giá nhất mà cuộc sống ban tặng cho chúng ta. Mẹ còn là người luôn sống mãi trong lòng tôi.
Tai nạn ập xuống gia đình chúng tôi, cướp đi bố khi em gái tôi vừa tròn 1 tuổi, tôi 6 tuổi. Gánh nặng gia đình ập lên đôi vai gầy của mẹ kể từ ngày đó. Mẹ chịu đựng tất cả, âm thầm cố gắng ngày này qua ngày khác, nuốt ngược nỗi đau để trở thành chỗ dựa cho hai chị em tôi. Mẹ hiền lành và nhân hậu, luôn bao dung với chúng tôi và sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Cả xóm tôi ai cũng yêu quý và thương cho số phận lận đận vất vả của mẹ.
Mẹ dậy sớm để chuẩn bị chu đáo từng bữa ăn cho chúng tôi, dù tôi có thể nấu cơm và đưa em đến lớp học của nó nhưng mẹ vẫn cẩn thận nấu sẵn cơm, để sẵn quần áo và cặp sách cho hai chị em xong mới yên tâm đến công ty. Bận rộn cả ngày ở công ty nhưng về đến nhà mẹ vẫn không nghỉ tay, mẹ bảo mẹ vẫn lo được, mẹ chỉ mong hai chị em sống vui vẻ, hạnh phúc. Từ nhỏ đến lớn, đồ của mẹ luôn giản dị còn hai chị em tôi, mẹ luôn lo lắng không thiếu một thứ gì, chúng tôi được bằng bạn bằng bè còn mẹ cứ tiết kiệm dành dụm mãi.
– Mẹ chẳng bao giờ giúp con bài tập nào cả. Không có bố, con đã xấu hổ lắm rồi, tại sao mẹ cũng vậy chứ, con chẳng thích gì cả.
Tôi ngỡ ngàng không tin một đứa bé 7 tuổi sao có thể nói ra những lời như thế. Còn mẹ chỉ nhẹ nhàng quay mặt đi, tôi thấy khóe mắt mẹ dường như ươn ướt. Mẹ đi nhanh về phía nhà bếp để che giấu tâm trạng của mình. Em gái tôi vẫn không nhận ra lỗi của mình, phụng phịu ngồi vẽ nghuệch ngoạc lên giấy. Tối ấy, mẹ vào phòng ngủ sớm, tôi kéo em gái sang phòng mình để con bé ngủ ở đấy rồi sang xem mẹ. Tôi nghe tiếng mẹ khóc trong phòng, lòng cũng nặng chĩu. Đắn đo mãi, tôi mới mở cửa, bước vào. Mẹ vội lau đi nước mắt trên đôi mắt đỏ hoe, giọng tôi lí nhí:
– Mẹ, em còn nhỏ, nó không hiểu chuyện, mẹ đừng khóc.
Rồi tôi cũng ôm chầm lấy mẹ, khóc nức nở. Mẹ cũng không kìm nén được nữa, lần nữa rơi nước mắt. Đêm hôm ấy, mẹ ôm tôi, kể rất nhiều câu chuyện về bố, mẹ cứ xin lỗi vì để chị em tôi thiệt thòi như vậy. Lần đầu tiên tôi hiểu được mẹ đã phải gồng mình gánh chịu những gì, tôi càng thương mẹ nhiều hơn.
Hôm sau, tôi phải kiên trì giảng giải nhiều, em gái tôi mới nhận ra lời nói vô tình của nó, con bé dần hiểu ra sự vất vả của mẹ, ngoan ngoãn hơn nhiều. Nhưng kỉ niệm ấy đã khắc sâu trong trái tim tôi khiến mỗi lần nhớ lại, tôi đều thấy đau lòng, cay cay khóe mắt. Mẹ không chỉ là người sinh ra tôi mà còn gánh vác trách nhiệm của người cha, che gió chắn mưa cho ngôi nhà nhỏ của tôi. Mẹ chính là tượng đài bất tử, là người đã, đang và sẽ sống mãi trong lòng tôi.
|
Bài văn mẫu lớp 8_ Người mẹ sống mãi trong lòng tôi
| 1,273
| |
Bài văn mẫu lớp 8: Người thầy sống mãi trong lòng tôi
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 8: Người thầy sống mãi trong lòng tôi
Bài mẫu 1: Người ấy sống mãi trong lòng tôi – Người thầy
Trong thời gian được thầy dìu dắt, có một kỉ niệm mà mãi sau này, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn thấy lòng mình trào dâng niềm xúc động. Một ngày cuối tháng 10, trời bất ngờ đổ mưa rào, vì đến phiên tôi trực nhật nên tôi là người ra về sau cùng. Khóa cửa lớp xong khi nhìn vào ngăn cặp trống tôi mới biết mình quên áo mưa ở nhà, nhà tôi cách trường học 4km, nhìn cơn mưa ngày càng nặng hạt…
Bài mẫu tham khảo
“Thầy kể về vầng trăng trong ca dao thuở nào. Thầy kể về cơn mưa trên đồng ruộng bao la. Vầng trăng vàng lục bát, ai đem xẻ làm đôi. Cơn mưa từng câu hò, chập chờn cánh cò bay…”
Lời ca khúc “Những điều thầy chưa kể” tha thiết vang lên trên radio khiến lòng tôi bồi hồi, xao xuyến. Bao kỉ niệm về thầy Nam – thầy giáo dạy văn lớp 5 chợt kéo nhau ùa về. Thầy Nam là người thầy sống mãi trong lòng tôi.
Đã một thời gian tôi chưa được gặp thầy, thầy ở lại mái trường tiểu học thân yêu, lưu giữ những kỉ niệm một thời để nhớ của chúng tôi. Trong tâm trí tôi hiện lên hình ảnh người thầy mới bước sang tuổi 30, dáng người cao gầy, luôn gọn gàng trong áo sơ mi phẳng phiu và quần đen lịch sự. Khuôn mặt trẻ tuổi với đôi mắt sáng và vầng trán rộng, tóc đen cắt tỉa gọn gàng, nụ cười ấm áp luôn thường trực trên môi. Giọng thầy truyền cảm và nhẹ nhàng, mỗi bài thơ, mỗi câu chuyện thầy đọc ra đều cuốn hút lạ thường. Thầy hiền hòa và rất yêu thương học sinh, yêu nghề, hết lòng với công việc cao quý của mình.
Thầy là thầy giáo trẻ nhất và là thầy giáo duy nhất trong tổ văn vủa trường, kinh nghiệm không nhiều nhưng thầy rất giỏi văn. Các thầy cô khác ai cũng khâm phục kiến thức và phương pháp dạy văn của thầy. Thầy chính là người truyền cảm hứng học văn cho tôi ngay từ những ngày đầu lớp 5 đến tận bây giờ. Rất nhiều bạn lớp tôi khi ấy không thích môn văn, thậm chí sợ hãi môn học này nhưng nhờ những bài giảng ngắn gọn, dễ hiểu mà sâu sắc và sự tận tình kiên nhẫn của thầy, môn văn trở thành môn mà cả lớp mong chờ và thích học nhất. Khác những tiết văn có phần ồn ào ở trường trung học hiện tại, giờ văn của chúng tôi năm ấy lúc nào cũng yên tĩnh. Cả lớp học chỉ nghe tiếng giảng bài của thầy, tiếng phấn lạch cạch trên bảng và tiếng đọc bài của chúng tôi. Thầy vừa giảng vừa kể những câu chuyện về bài học ấy, rất thú vị và ý nghĩa.
Tôi đang loay hoay nhìn sân trường vắng thì thấy thầy tiến lại từ phòng bác bảo vệ, xuyên qua màn mưa trắng xóa, thầy hỏi:
– Sao em lại về muộn thế?
– Dạ, em ở lại trực nhật nhưng quên mang áo mưa nên chưa về được ạ. Tôi lễ phép thưa
Thầy cũng nhìn cơn mưa, bảo tôi:
– Em gửi xe ở bác bảo vệ, thầy chở em về kẻo bố mẹ lo lắng.
Tôi từ chối ngay, nhà thầy ở ngược đường nhà tôi, tôi không dám làm phiền nhưng thầy kiên quyết dắt xe tôi đi gửi bác bảo vệ rồi chở tôi về. Chiếc áo mưa che kín người tôi nhưng thầy lái xe ở phía trước, mưa vẫn tạt ướt. Tôi vừa thấy xúc động vừa hối hận, sợ thầy sẽ bị ốm. Thầy vừa lái xe máy vừa trấn an tôi, bảo tôi không phải ngại, thầy cũng như cha anh trong nhà, nếu là các bạn lớp khác thầy cũng sẵn sàng chở về, chỉ mất ít phút thôi. Khi ấy, tôi mới cảm nhận được sự bao dung và tấm lòng của một người thầy hết lòng với học sinh.
Căn nhà quen thuộc nhanh chóng xuất hiện trước mắt tôi, thầy tạt xe vào tận hiên để tôi không bị ướt, trước sự bất ngờ của bố mẹ, thầy giới thiệu là giáo viên dạy văn rồi tạm biệt gia đình tôi. Tôi trông thấy người thầy đã ướt mưa, nước mưa rỏ tí tách. Mẹ tôi cứ áy náy và cảm ơn thầy mãi, tôi cũng biết ơn và thêm kính trọng thầy. Hôm sau đến lớp, thầy bị ốm, giọng nói khàn khàn như bị đau họng, tôi càng cảm động hơn.
Sau này, mỗi năm về thăm thầy chúng tôi vẫn nhắc lại kỉ niệm lần đó, thầy vẫn cười hiền hòa bảo thầy không sao, vì thầy đã bị cảm trước hôm mưa ấy rồi, dặn tôi không cần áy náy. Thầy Nam là người mà tôi kính trọng, ngưỡng mộ nhất. Trong lòng tôi, hiếm có người thầy nào sẵn lòng và nhiệt tình vì học sinh như thế. Thời gian trôi qua, thầy vẫn là người sống mãi trong lòng tôi với tấm lòng cao đẹp của mình.
Bài mẫu 2: Người ấy sống mãi trong lòng tôi – Người thầy
Nhưng giờ đâỵ thầy là một người thầy rất thành công. Không chỉ là thầy giáo dạy giỏi mà thầy còn được tất cả học trò chúng tôi yêu quý. Tuy còn trẻ nhưng trong mắt chúng tôi thầy rất chững chạc, vững vàng. Thầy nghiêm khắc trong giờ học nhưng ngoài giờ thầy như một người khác, gần gũi, thân thiện và hài hước
Bài mẫu tham khảo
“ Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Trong đời học sinh mỗi người chắc hẳn ai cũng có những thầy cô giáo giống như những người cha người mẹ của mình đã bồi dưỡng tâm hồn ta nuôi dưỡng trí tuệ ta để ta có được những thành quả như ngày hôm nay. Tôi cũng vậy tôi cũng có những người thầy giáo những người cô giáo như thế mà đến suốt cuộc đời nay tôi cũng không thể quên được họ. Vàcó lẽ người để lại nhiều ấn tượng nhất đối với tôi có lẽ chính là thầy Tuấn là thầy giáo chủ nhiệm của tôi khi tôi học lớp 5.
Người ta vẫn thường nói nghề giáo là nghề cao quý nhất nhưng cũng là nghề vất vả nhất bởi nghề giáo là nghề dạy dỗ, giáo dục không học về kiến thức mà cả về nhân cách của mỗi con người. Thầy giáo tôi, thầy Lâm lại là người rất say mê với sự nghiệp trồng người này. Thầy coi chúng tôi như con mình mà dạy dỗ, tận tình chỉ bảo thế nên thầy và lũ học trò chúng tôi thường tâm sự kể với nhau rất nhiều điều. Chúng tôi tâm sự hỏi thầy những điều mà chúng tôi không biết, những khúc mắc trong lòng. Thầy cũng thỉnh thoảng kể cho chúng tôi nghe câu chuyện cuộc đời thầy. Thầy từng tâm sự với chúng tôi, thầy muốn làm thầy giáo từ khi học cấp 2. Mỗi lần ngồi nghe thầy giáo giảng bài thích lắm. Trông thầy đứng trên bục giảng chững chạc, tự tin và được học trò yêu mến, thầy đã nuôi ước mơ từ đó. Về nhà, thầy bắt tụi em nhỏ ngồi sắp hàng ngay ngắn và thầy giả làm thầy giáo. Lạ lùng thay, bọn trẻ lại ngồi nghe đến say mê. Không biết chúng hiểu mấy phần “thầy” giảng nhưng đứa nào mặt mũi cũng ngơ ngẩn, say sưa. Có khi “thầy” nói xong rồi mà chúng vẫn ngồi bần thần, lúc đó phải gọi lớn chúng mới như sực tỉnh. Đó là động lực đầu tiên giúp cho ước mơ của thầy thành hiện thực.
Con đường đến với nghề của thầy cũng lắm gian nan. Vì thế mà bây giờ thầy dành cho nghề một tình yêu thật mãnh liệt. Là con trai cả trong gia đình có truyền thống làm bác sĩ, thầy được bố mẹ định hướng cho thi vào trường đại học Y. Ngay từ nhỏ, gia đình thầy đã mong muốn như thế: Thầy vốn học giỏi lại thông minh, nhanh nhẹn nên cả nhà đặt niềm hi vọng rất lớn. Nhưng năm lớp 12, bất ngờ thầy thông báo với gia đình sẽ thi vào Trường Cao đẳng Sư phạm, Khoa Tiểu học. Đó là một cú sốc với gia đình, nhất là người cha của thầy. Gia đình kịch liệt phản đối quyết định của thầy, nhiều lúc làm thầy rất khổ sở nhưng chưa có lúc nào thấy dao động. Thấy vững vàng với quỵết tâm của mình và kiên trì thuyết phục mọi người. Ngày đi thi cũng là ngày thầy buồn nhất. Không một lời chúc, không một sự động viên, thầy đi thi chỉ có một mình. Nhìn chúng ban có người thân châm sóc, thây cũng thấy tủi thân. Nhưng lúc đó thầy nghĩ mình càng phải cứng rắn và mạnh mẽ. Rồi khi đỗ thủ khoa, niềm vui của thầy cũng không được trọn vẹn. Gia đình thông báo sẽ không trợ cấp cho thầy ăn học trong ba năm. Thế là một mình thầy lại phải chống đỡ, xoay sở với biết bao khó khăn trong những năm học Cao đẳng. Vừa đi làm thêm vừa đi học, thầy bất chấp khó khăn để đạt được ước mơ của mình và để chứng minh cho gia đình sự lựa chọn của thầy không sai….Nhìn thầy giáo trẻ của chúng tôi lạc quan, hài hước đứng trên bục giảng ít ai có thể nghĩ rằng con đường thầy đã đi thật dài khi phải vượt qua một mình.
Thầy đã mở một cánh cửa rất lớn trong tâm hồn tôi không chỉ về kiến thức mà cong là về đạo đức. Thầy không tha thứ cho những lỗi lầm mà chúng tôi gây ra mà thầy khiến chúng tôi phải chuộc lại những lỗi lầm đó. Cả cuộc đời này có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được thầy quên được một người đã dìu dắt từng bước chân tôi.
|
Bài văn mẫu lớp 8_ Người thầy sống mãi trong lòng tôi
| 1,744
| |
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh cách làm một món ăn truyền thống(hoặc đặc sản) ở quê em
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh cách làm một món ăn truyền thống(hoặc đặc sản) ở quê em
Bài làm tham khảo
Xứ Kinh Bắc không chỉ nổi tiếng với những làn điệu dân ca quan họ say đắm mà còn hấp dẫn du khách thập phương bởi hương vị khó quên của bánh khúc. Món bánh khúc đặc sản của làng Diềm, Bắc Ninh với màu xanh dân dã, bình dị mà thắm đượm, thảo thơm tình người đã trở thành niềm tự hào của tất cả người dân làng quê Kinh Bắc.
Bánh khúc có tên gọi khác là xôi khúc, xôi cúc, là loại bánh có nguồn gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm từ lá rau khúc, gạo nếp, nhân đậu xanh, thịt lợn mỡ. Bánh thường được làm vào mùa rau khúc – dịp tháng 2, tháng 3 Âm lịch. Qua thời gian, bánh khúc có ở nhiều nơi. Ở Hà Nội, bánh thường được rao bán vào các buổi tối, người bán đi dọc các phố và rao “Xôi nóng bánh khúc đê, xôi nóng bánh khúc nào…” hay “Ai bánh khúc nóng đây!” cùng rất nhiều cách rao khác nhau với một âm điệu rất đặc biệt trở thành nét đặc trưng của người Hà Nội. Tuy nhiên, làng Diềm, Bắc Ninh lại la nơi nổi tiếng nhất về bánh khúc. Không ai biết bánh khúc làng Diềm có từ khi nào, chỉ biết vào những ngày lễ tết, hội hè, rằm hay mùng một, bánh mới được làm để mời họ hàng, quan khách, từ lâu đã trở thành đặc sản nơi đây.
Rau khúc được hái về từ vườn, đem rửa sạch, băm nhỏ ra rồi luộc. Sau gó gạn nước sôi, chỉ lấy phần rau đã chín rồi đem giã nhuyễn cùng bột gạo tẻ, làm vỏ bánh. Người làng Diềm thường dùng loại gạo Kháng Dân có độ kết dính nhưng không quá dẻo. Màu xanh của rau và màu trắng của gạo hòa quyện vào nhau, chuyển sang màu xanh nhạt đều và mịn.
Phần nhân bánh gần giống như nhân bánh chưng. Đỗ xanh đồ chín, giã nhỏ đến khi mịn, hạt tiêu thơm phức và thịt ba chỉ thái nhỏ. Ngoài ra có thêm một chút mỡ băm nhỏ trộn lẫn trong đỗ xanh khiến cả chiếc bánh thêm vị béo ngậy hấp dẫn. Nhân bánh chuẩn bị xong sẽ vô thành nắm tròn nhỏ, véo một phần vỏ đã làm từ trước, dàn đều và mỏng rồi bọc lấy nhân, nặn hình tròn hoặc hình tai voi tùy theo ý thích. Vỏ phải bọc kín và mỏng đều quanh nhân, không để nhân lộ ra ngoài.
Thưởng thức bánh khi còn nóng hổi là thơm ngon nhất. Khi ấy, vỏ bánh bóng mọng còn bốc hương thơm nghi ngút. Vị bánh ngậy béo nhân đỗ thịt, bùi vị hạt tiêu và dẻo vị bột bánh. Các vị hòa quyện với nhau khiến chiếc bánh trở nên hấp dẫn vô cùng. Chiếc bánh khúc dường như là sự kết hợp hoàn hảo các sản vật đặc trưng của làng Diềm, mang đến hương vị độc đáo, hấp dẫn không dễ gì trộn lẫn.
Ngày nay, bánh khúc đã có mặt ở nhiều nơi, với cách làm đơn giản, bánh khúc được rất nhiều người yêu thích và hứng thú thử làm. Bánh khúc dần đi vào đời sống của con người Việt Nam, góp thêm vào văn hóa ẩm thực phong phú của nước nhà.
Với nhiều loại bánh khác, người ăn có thể dùng một hai cái đã cảm thấy ngán nhưng với bánh khúc làng Diềm, ăn đến 4-5 chiếc mà vẫn thòm thèm, luyến tiếc. Bởi thế, không ít người ăn xong phải mua thêm để làm quà và ăn dần khi nhớ. Bánh hấp xong để nguội có thể cất trong tủ lạnh trong vòng một tháng, khi ăn đem hấp lại hương thơm như vẫn nguyên vẹn.
|
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh cách làm một món ăn truyền thống(hoặc đặc sản) ở quê em
| 679
| |
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh Dinh Độc Lập – một di tích, thắng cảnh ở tp.Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh Dinh Độc Lập – một di tích, thắng cảnh ở tp.Hồ Chí Minh
Bài làm tham khảo
Nếu thủ đô Hà Nội nổi danh Quảng trường Ba Đình lịch sử thì thành phố Hồ Chí Minh lại hấp dẫn du khách thập phương bởi những công trình kiến trúc đặc trưng, di tích, địa danh đã đi vào lịch sử giải phóng dân tộc – Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập là công trình kiến trúc đặc trưng, in đậm dấu ấn thời gian và lịch sử của Hồ Chí Minh.
Dinh Độc Lập hay còn gọi là Dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất tọa lạc trên một mảnh đất 15ha, nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh. Lịch sử ra đời và phát triển của nó gắn với một quá trình dài trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Nó làm bằng gỗ giữa bạt ngàn cây xanh, được xây dựng bề thế vào năm 1863. Đến khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ngày 23 tháng 2 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn thay cho dinh cũ được dựng bằng gỗ vào năm 1863, đặt tên là Dinh Norodom. Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50 cm, có lỗ bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng có chạm hình Napoleon đệ tam. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo. Gần như vật liệu xây dựng được chở từ Pháp sang. Năm 1887 đổi tên Dinh Toàn Quyền Đông Dương. Tháng 3/1945, trở thành nơi làm việc của Phát Xít Nhật tại Việt Nam. 6 tháng sau, người Pháp tái chiếm Nam Bộ. Năm 1954, nơi đây là cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa với tên gọi Dinh Độc Lập và là nơi ở, làm việc của Tổng Thống nên có người gọi là “Dinh Tổng Thống” cho đến 30.4.1975. Từ tháng 11.1975 có tên gọi mới là Hội trường Thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh (Dinh Độc lập) – được xếp hạng là Di Tích Quốc Gia đặc biệt.
Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây với gần 2000 cây, 99 loài khác nhau. Bên ngoài hàng rào phía trước và phía sau Dinh là 2 công viên cây xanh. Các hệ thống phụ trợ bên trong Dinh hiện đại: điều hòa không khí, phòng chống cháy, thông tin liên lạc, nhà kho. Tầng hầm chịu được lực oanh tạc, công kích của bom lớn và pháo đáp ứng mục tiêu phòng thủ quân sự hiện đại nhất thời bấy giờ. Chi phí xây dựng vào thời điểm đó là 150.000 lượng vàng. Mặt trên của Dinh được trang trí cách điệu các đốt mành trúc phỏng theo phong cách các bức mành tại các ngôi nhà Việt và họa tiết các ngôi chùa cổ tại Việt Nam. Các phòng của Dinh được trang trí nhiều tác phẩm non sông cẩm tú, tranh sơn mài, tranh sơn dầu. Từ trên máy bay nhìn xuống, Dinh Độc Lập là một tổng thể kiến trúc độc đáo; hài hòa, có thể nói là đẹp nhất Việt Nam.
Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời. Sân trước là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m màu xanh rì. Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.
Những tháng năm lịch sử đã lùi vào quá khứ, nhưng dấu vết của nó vẫn còn mãi với Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập không chỉ là di tích đặc trưng của Sài Gòn mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.
|
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh Dinh Độc Lập – một di tích, thắng cảnh ở tp.Hồ Chí Minh
| 762
| |
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một làng nghề truyền thống – Làng nghề hoa giấy Thanh Tiên
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một làng nghề truyền thống – Làng nghề hoa giấy Thanh Tiên
Bài làm tham khảo
“Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu…”
(Thu Bồn)
Ai đã một lần đến Huế, hẳn sẽ không bao giờ quên xứ sở mộng mơ ấy. Trên dòng Hương Giang dùng dằng không chảy, những cánh hoa giấy lặng lẽ trôi theo dòng. Những cánh hoa ấy gợi nhắc cả làng nghề truyền thống của Huế – Làng nghề hoa giấy Thanh Tiên.
Hoa giấy là một phần không thể thiếu vào ngày tết, đặc biệt là ở Cố đô Huế – Kinh đô của chế độ phong kiến cuối cùng ở nước ta. Làng hoa giấy Thanh Tiên thuộc xã Phú Mậu huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra đời gần 400 năm trước dưới thời các Chúa Nguyễn. Nhưng mãi cho đến 1802 mới được mọi người biết đến.
Người làng kể lại năm đó, sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, nhân lễ Thượng tuần, nhà vua ban chiếu đề nghị mỗi một trấn đem về Kinh một loài hoa quý để dâng lên vua. Lúc này trong triều đình có một vị quan, người làng Thanh Tiên, làm ở Bộ Lễ chức Tả Hữu Đồng Nghị, dâng lên nhà vua một loài hoa ngũ sắc với đầy ý nghĩa độc đáo tượng trưng đầy đủ đạo lý Tam Cương – Ngũ Thường, ông tâu rằng: “Mỗi cành bao giờ cũng có 8 hoa chính. Ba cành hoa ở giữa tượng trưng cho Trung – Hiếu – Nghĩa. Trong đó luôn luôn có một chiếc hoa màu vàng hoặc màu đỏ được làm to nhất tượng trưng cho Mặt trời, đấng minh quân, còn 5 bông hoa hai bên tượng trưng cho Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín”. Nghe xong, nhà vua hiểu được ý nghĩa của loại hoa giấy Thanh Tiên, lấy làm thích thú, và sau đó ban chiếu khuyến khích người dân làng Thanh Tiên làm hoa giấy để bày biện, bán lên kinh đô và phổ biến nghề làm hoa giấy cho mọi người biết. Từ đó, nghề làm hoa giấy của làng nổi tiếng khắp đất nước
Hoa giấy Thanh Tiên tuy đơn giản nhưng làm lại không dễ. Bởi lẽ ngoài sự khéo tay, người thợ còn phải có óc thẩm mỹ cao mới có thể cho ra đời những sản phẩm đẹp và tinh tế. Đặc biệt, người thợ phải có đức tính kiên trì, cần mẫn. Hoa giấy Tiên đặc biệt và đẹp nổi bật ở sự phong phú về màu sắc và có nhiều loại hoa khác nhau trên một cây bông, hình thức đẹp. Hoa để được lâu lại thể hiện sự trang nghiêm, một năm chỉ thay một lần vào dịp tết nên nó dễ được chấp nhận và tồn tại dài lâu. Những bông hoa giấy dưới đôi tay người nghệ nhân làng Thanh Tiên dù bằng giấy nhưng giống y như hoa thật, thậm chí còn sinh động hơn hoa thật.
Hoa giấy đã trở thành một phần của Huế, tạo nên nét đẹp mộng mơ của xứ sở này. Hoa giấy tô điểm thêm cho cảnh sắc thiên nhiên. Hằng năm, đầu tháng Chạp, người dân làng Thanh Tiên đã bận rộn với việc chăm chút từng nhành hoa để kịp đón xuân về, tết đến, tô điểm thêm nét đẹp của tín ngưỡng dân gian Huế, của vùng đất Thần Kinh. Trên bàn thờ của người Huế luôn có một cây hoa giấy với nhiều màu sắc. Người dân xứ Huế đều ngưỡng mộ trước sự tài hoa, khéo léo và nghệ thuật làm Hoa sen giấy của làng Hoa giấy Thanh Tiên. Hoa sen giấy Thanh Tiên còn là món quà mà nhiều du khách quốc tế yêu thích, mang về tận quốc gia của mình như: châu Âu, châu Mỹ, châu Úc.
Trải qua bao biến động của thời gian, dù nhiều loại hoa nhựa ra đời nhưng làng nghề hoa giấy Thanh Tiên vẫn luôn giữ được vị trí của mình. Không chỉ là một làng nghề truyền thống lâu đời, làng nghề hoa giấy Thanh Tiên còn là niềm tự hào của người Huế, lưu giữ nét đẹp văn hóa tinh thần mang đậm màu sắc Huế thương.
|
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh một làng nghề truyền thống – Làng nghề hoa giấy Thanh Tiên
| 748
| |
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một lễ hội ngày xuân – Lễ hội đền Trần
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một lễ hội ngày xuân – Lễ hội đền Trần
Bài làm tham khảo
Ngày xuân gia đình xum vầy, ngày xuân chim muông khoe sắc, cây cối đâm chồi nảy lộc. Ngày xuân cũng là thời điểm diễn ra rất nhiều lễ hội đặc sắc. Từ xa xưa, những lễ hội đã trở thành một phần không thể thiếu của ngày xuân về trên đất Việt. Nhắc đến lễ hội đặc trưng ngày xuân, không thể không nhắc lễ hội khai ấn đền Trần.
Lễ hội khai ấn đền Trần là một trong những lễ hội đầu xuân nổi tiếng nhất Việt Nam nhằm tri ân công đức các vị vua Trần. Sự ra đời của lễ hội gắn với lịch sử của đền Trần.
Đền Trần ở đường Trần Thừa, thành phố Nam Định là nơi thờ 14 vị vua cùng các quan lại phò tá nhà Trần. Đền Trần được được xây dựng trên nền Thái Miếu cũ của nhà Trần đã bị quân Minh phá hủy vào thế kỉ XV. Dòng họ Trần dựng nghiệp ở vùng đất Tức Mạc. Đó là vùng đất phát tích đế vương. Năm 1239, vua Trần cho dựng cung điện nhà cửa. Năm 1262, vua Trần Thánh Tông mở yến tiệc đổi Tức Mạc thành phủ Thiên Trường, xây hành đô, cung điện nguy nga tráng lệ. Phủ Thiên Trường là kinh đô thứ 2 sau Thăng Long. Sau khi nhà Trần suy vong, đền đài cung điện thành phế tích.
Sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Minh, người dân nơi đây luôn tưởng nhớ tới công lao to lớn của vương triều Trần. Nhân dân dựng đền thờ phụng và mở hội để ghi lại những dấu ấn không thể phai mờ, bày tỏ lòng tri ân.
Theo tư liệu ghi lại thì đền Trần lúc đầu gọi là nhà thờ Đại tôn. Đến năm 1695, đền mới được dựng bằng gỗ lim. Năm 1705 chính thức gọi là Trần Miếu (miếu nhà Trần). Năm 1852, đền Thiên Trường được sửa lớn, khi đó đào được tấm bia đá có dòng chữ “Hưng Đạo thân vương Cố Trạch” (Nhà của Hưng Đạo vương ở Cố Trạch). Từ đó dân dựng đền Cố Trạch để thờ Hưng Đạo Vương, phụ mẫu ông và vợ của ông là Thiên Thành công chúa.
Thời chống quân Nguyên Mông nhà Trần thực hiện chính sách vườn không nhà trống nên rút toàn bộ quân về Thiên Trường. Trải qua bao phong ba lịch sử, ấn cũ của triều Trần bị thất lạc. Cho đến những năm 1822, vua Minh Mạng có ghé thăm Thiên Trường và cho khắc lại ấn. Ấn cũ khắc là “Trần triều chi bảo”, ấn mới khắc là “Trần triều điển cố” để nhắc lại tích cũ, dưới đó có thêm câu “Tích phúc vô cương”. Lễ hội đền Trần trước khi bắt đầu phải khai ấn.
Lễ khai ấn đầu tiên được bắt đầu vào thời đại nhà Trần vào khoảng thế khỉ thứ XIII, sử sách ghi lại là vào những năm 1239. Đây là nghi lễ tế tổ tiên của dòng họ nhà Trần. Vua Trần mở tiệc chiêu đãi và phong chức cho những vị quan có công với triều đình tại Phủ Thiên Trường. Đến khi chống giặc Mông lễ hội bị gián đoạn, không được tổ chức. Năm 1269 mới được Trần Thánh Tông mở lễ lại.
Từ đó lễ khai ấn Đền Trần được cố định thường niên vào ngày rằm tháng Giêng lúc 11 giờ đêm ngày 14 đến 1 giờ sáng ngày 15. Đây cũng được coi là tín hiệu nhắc nhở kết thúc những ngày tết cổ truyền dân tộc để tiếp tục công cuộc lao động sản xuất.
Khi vào hội, các làng phải rước kiệu về đền Thiên Trường tế các vua Trần. Các lão ông, lão bà mặc áo dài khăn xếp cùng dân làng tề tựu tại đền Cố Trạch làm lễ tế thánh rồi dự lễ khai ấn. Hòm ấn được đặt trang trọng trên bàn thờ. Trong hòm có 2 con dấu bằng gỗ. Trên mặt ấn nhỏ có khắc hai chữ “Trần Miếu”, còn trên mặt ấn lớn có dòng chữ “Trần triều tự điển” cùng hàng chữ nhỏ “tích phúc vô cương”.
Vào đúng giờ Tý khoảng 23 giờ – 1 giờ, người tế chính làm lễ ở đền Cố Trạch, xin rước ấn lên kiệu sang đền Thiên Trường, dâng hương tế cáo trời đất tại bàn thờ Trung thiên, rồi rước ấn vào nội cung, đặt ấn tại ban công đồng làm lễ xin khai ấn.
Người bồi tế đặt giấy “điệp”- 1 loại giấy dân gian của Việt Nam lên trước tế chính, chiêng trống nổi lên. Chủ tế trịnh trọng đóng ấn mực đỏ vào tờ “giấy điệp”, cạnh dấu son trên tờ điệp phải đề rõ ngày, tháng, năm, viết sao cho đủ chữ để khi tính đến chữ cuối phải là chữ sinh. Người được tờ “điệp” đã được đóng ấn đưa về treo tại đền, phủ, từ đường, hay tại nhà, với hy vọng trừ được ma quỷ và mọi rủi ro, được may mắn trong công việc và đời sống trong năm, được mọi sự tốt lành như ý.
Sáng ngày 15 tháng Giêng, tổ chức rước nước. Trước khi đi, người tế chính vào lễ xin một nén hương ở bát hương tổ và 14 nén hương ở các bát hương Hoàng đế, cắm vào bát nhang công đồng trên kiệu 8 chân. Đoàn rước mặc lễ phục trang nghiêm cùng cờ biển uy nghi, nghênh kiệu ra cổng đền, rồi dừng lại làm lễ tế trời đất. Đám rước tiếp tục ra bến sông Hồng trên bến Hữu Bị cách đền khoảng 3 km.
Sáng ngày 16 tháng Giêng, có lệ tế cá tại đền Thiên Trường. Cá được đựng trong các thúng sơn đỏ có nước gồm cá quả, chép ứng với Trần Kinh và Trần Lý là hai vị tổ họ Trần. Trước đây cá đựng trong 11 thúng sơn đỏ. Một đôi cá quả nặng chừng 2kg, còn cá chép mỗi con nặng 2kg. Tế cá từ sáng sớm tới trưa, rồi rước cá thả ra sông Hồng. Bên ngoài tổ chức các trò chơi dân gian đông vui.
Hằng năm, người dân từ khắp nơi đổ về đền Trần vào đêm khai ấn, bày tỏ lòng thành kính biết ơn và dâng lễ cầu mong công danh, sức khỏe, sự nghiệp.
Lễ khai ấn đền Trần là một phong tục tốt đẹp, một hoạt động văn hóa mang tính nhân văn sâu sắc thể hiện truyền thống yêu nước và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Đồng thời đây cũng là một lễ hội đặc trưng ngày xuân,là niềm tự hào của người dân Nam Định từ bao đời nay.
|
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh một lễ hội ngày xuân – Lễ hội đền Trần
| 1,167
| |
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một lễ hội truyền thống lâu đời – Tết cổ truyền
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh một lễ hội truyền thống lâu đời – Tết cổ truyền
Bài làm tham khảo
“Mừng ngày Tết ta chúc cho nhau
Một năm thêm sung túc an vui…”
Lời bài hát vui tươi ấy luôn ngân vang khắp mọi nơi mỗi dịp Tết đến, xuân về. Trong đó không chỉ ngập tràn không khí vui xuân mà còn gợi nhắc một phong tục đã có từ lâu đời ở đất nước ta – phong tục chúc Tết.
Tết Nguyên Đán là ngày tết cổ truyền của dân tộc. Ngày Tết, mọi người tạm gác lại rất cả công việc để trở về sum họp bên gia đình, cùng đón một năm mới tốt lành, như ý. Ngoài gói bánh chưng xanh, dựng cây nêu đỏ, đi chùa hái lộc thì chúc Tết chính là một phong tục không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên Đán. Phong tục chúc Tết đã xuất hiện ở nước ta từ rất lâu đời, trải qua nhiều biến động của lịch sử, cha ông ta vẫn hết mực trân trọng, giữ gìn, truyền lại cho con cháu hết đời này sang đời khác, cho đến tận hôm nay vẫn vẹn nguyên.
Phong tục chúc Tết của người Việt được gói gọn trong câu thành ngữ: “Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy”.
Sang mồng Hai Tết, vợ chồng con cái, anh chị em lại sang chúc Tết bên nhà ngoại giống như chúc bên nhà nội. Sau những nghi thức trang trọng, đầm ấm và thân tình như ngày mồng Một, hai bên gia đình nội ngoại thường quây quần, sum họp bên nhau cùng thưởng thức bữa cỗ Tết đông vui, nhằm thắt chặt tình cảm giữa hai nhà để con dâu con rể đều vui vẻ, hạnh phúc.
Người xưa có câu “Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy” vậy nên Tết cha, Tết mẹ xong, đến ngày mồng Ba, người Việt sẽ dành riêng để chúc Tết thầy cô giáo.”Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” ngụ ý chỉ một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, thầy cô có công lao dạy dỗ ta lên người, đầu xuân người học trò sẽ đến nhà và gửi lời chúc Tề thầy cô một năm mới an khang, tốt lành.
Những lời chúc chân thành, tốt đẹp trao đi hàng năm đã tạo nên phong tục đáng quý, trở thành nếp sống đẹp của người Việt mỗi dịp xuân sang. Phong tục ấy được lưu truyền, gìn giữ từ thế hệ này sang thhệ khác thể hiện lòng hiếu thảo, sự tri ân của thế hệ trước với thế hệ sau, với bậc sinh thành, dưỡng dục. Phong tục ấy thể hiện tinh thần vô cùng đáng quý của dân tộc ta “Uống nước nhớ nguồn”. Dịp trọng đại, ý nghĩa nhất trong năm, không hẹn mà cùng nhau hướng về cội nguồn của mỗi con người, bày tỏ tấm lòng chân thành nhất, trao đi những lời nói yêu thương, những ước nguyện cao quý.
|
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh một lễ hội truyền thống lâu đời – Tết cổ truyền
| 527
| |
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh nhà thờ Đức Bà – một di tích, thắng cảnh ở tp.Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh nhà thờ Đức Bà – một di tích, thắng cảnh ở tp.Hồ Chí Minh
Bài làm tham khảo
Mỗi thành phố đều mang trong mình nét đẹp riêng với những công trình, kiến trúc, di tích, thắng cảnh riêng. Nếu Hà Nội nổi tiếng với phố cổ thì Hồ Chí Minh lại thu hút du khách đến nhà thờ Đức Bà. Với kiến trúc độc đáo, ẩn chứa ý nghĩa lịch sử và tôn giáo sâu sắc, nhà thờ Đức Bà đã trở thành một di tích thắng cảnh đặc trưng của Sài Gòn ngày nay.
Tọa lạc tại số 1, Công xã Pari, phường Bến Nghé, giữa trung tâm Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Nhà thờ Đức Bà đồ sộ với kiến trúc cổ của Pháp, không gian thông thoáng với cây xanh tươi mát, là một trong những biểu tượng tiêu biểu của Sài Gòn.
Về nguồn gốc lịch sử, Nhà thờ được xây dựng cách đây đã nhiều năm. Năm 1960, sau khi chiếm Sài Gòn, Pháp cho sửa lại một ngôi chùa của người Việt bị bỏ hoang ở đường số 5 thànhnhà thờ để làm nơi cử hành Thánh Lễ cho người theo đạo Công giáo. Sau đó, qua từng năm phụ thuộc vào nhu cầu mở rộng, nhà thờ ban đầu được cải tạo và xây dựng lớn hơn, cầu kỳ hơn. Đến tháng 8/1876, thống đốc Nam Kì Duperre đã tổ chức một cuộc thi đồ án thiết kế kiến trúc cho một nhà thờ mới. Kiến trúc sư J.Bourad giành chiến thắng với bản thiết kế mang phong cách kiến trúc Roma cải biên pha lẫn đặc trưng Gothic. Ông chính là người xây dựng lên nhà thờ sau này. Công trình của J.Bourad khởi công từ 10/1977 đến 4/1880, khi hoàn thành có tên là nhà thờ Nhà Nước vì được nhà nước đầu tư và xây dựng. Tháng 2/1959, bức tượng Đức Mẹ được tạc tại Pietrasanta mang đến đặt phía trước nhà thờ, nhà thờ đổi tên là nhà thờ Đức Bà cái tên đó vẫn duy trì cho đến hôm nay.
Gần 140 năm đã qua đi nhưng nhà thờ Đức Bà vẫn đứng vững, thách thức với sự tàn phá của thời gian. Nhà thờ được thiết kế theo dạng thánh thất Basilica với mặt bằng hình chữ thập dài, gồm một gian lớn ở chính giữa, hai hành lang cánh và hậu cung hình bán nguyệt, mang đậm kiến trúc La Mã. Bên ngoài cải tiến với cuốn vòm gãy mang đặc trưng Gothic. Bên trong có kết cấu vòm thép hiện đại chống đỡ cả công trình. Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.
Toàn bộ chất liệu xây dựng và các phụ kiện kim khí khác đều được chuyển từ Pháp sang. Bề mặt công trình được ốp hết bằng gạch trần và đá xanh, được tính toán tỉ mỉ, chính xác đến từng đường nét. Thời gian trôi đi, một vài bộ phận bị xuống cấp, hư hại và được thay thế bằng vật liệu trong nước, tuy nhiên vẫn đảm bảo được tính thẩm mĩ ban đầu của nó. Kiến trúc thánh đường đã tạo nên hiệu ứng ánh sáng tuyệt vời trong nội thất, mang đến cho con người cảm giác thanh thản, yên tĩnh và trang nghiêm.
Năm tháng cứ trôi đi, nhà thờ Đức Bà vẫn kiên cường đứng vững giữa lòng thành phố, trở thành một biểu tượng cho chốn Sài Thành sầm uất, đồng thời cũng trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây.
|
Bài văn mẫu lớp 9_ Thuyết minh nhà thờ Đức Bà – một di tích, thắng cảnh ở tp.Hồ Chí Minh
| 675
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.