text
stringlengths 78
4.36M
| title
stringlengths 4
2.14k
| len
int64 18
943k
| gen
stringclasses 1
value |
|---|---|---|---|
Bình giảng bài ca dao Đứng bên ni đồng
Hướng dẫn
Bình giảng bài ca dao Đứng bên ni đồng
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông
Thân em như chẹn lúa đòng đòng
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Bài làm
Có câu hát nào đẹp như ca dao dân ca? Ca dao dân ca đã hòa nhập một cách hồn nhiên, kì diệu vào tâm hồn tuổi thơ của mỗi người. Ca dao dân ca Việt Nam giàu bản sắc, vô cùng đẹp đẽ và phong phú. Nó là tiếng hát tâm tình nơi bờ xôi ruộng mặt, nơi bến cũ đò xưa., lưu luyến trong dân gian, phản ánh cuộc sống và ước mơ của nhân dân ta từ bao đời nay. Có những khúc hát ru ngọt ngào chứa chan tình nghĩa. Có những bài hát giao duyên say đắm lòng người. Có những bài ca nói về đất nước quê hương, với nương dâu, ruộng lúa, với hình ảnh người dân quê một nắng hai sương, cần mẫn, hiền lành, đáng yêu. Cánh cò “bay lả bay la”, có đầm sen “lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”. Cô thôn nữ tát nước đêm trăng “múc ánh trăng vàng đổ đi”… tất cả đều đem đến cho lòng ta biết bao niềm thương nỗi nhớ. Ấy là ca dao. Ấy là tuổi thơ của mỗi chúng ta. Cánh đồng làng quê và hình ảnh cô thôn nữ được nói đến trong bài ca dao sau đây là hình ảnh thân thuộc đáng yêu đối với mỗi người Việt Nam từ ngàn xưa:
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
Thân em như chẹn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.
Ca dao thường được viết bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài ca dao này, nhà thơ dân gian đã viết bằng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ. Cô thôn nữ không làm chuyện văn chương thơ phú như ai, mà cô chỉ nói lên những rung động, những cảm xúc tự nhiên, hồn nhiên của lòng mình khi ngắm nhìn cánh đồng lúa thân yêu của làng mình. Trước mắt là cánh tồng lúa “bát ngát mênh mông… mênh mông bát ngát”, thẳng cánh cò bay, càng trông càng “ngó”, càng thích thú tự hào. Câu ca dài mãi ra cùng với chân trời, với sóng lúa: Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông. “Ngó” gần nghĩa với với nhìn, trông, ngắm nghía.. Từ “ngó” rất dân dã trong văn cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn không chán mắt, một cách quan sát kĩ càng. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô rồi lại “đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng”, dù ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng thân thuộc. Hai tiếng “bên ni” và “bên tê” vốn là tiếng nói của bà con Thanh, Nghệ dùng để chỉ vị trí “bên này”, “bên kia”, được đưa vào bài ca thể hiện đức tính mộc mạc, chất phác của cô thôn nữ, của một miền quê.
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông
Tục ngữ có câu: “Ngắm núi, nhìn sông, trông đồng, trông chợ”. Nghĩa là ngắm nhìn sông núi để biết xứ lạ ít hay nhiều nhân tài; trông đồng, trông chợ mà biết miền quê giàu hay nghèo. Cánh đồng lúa là cảnh sắc của làng quê ta. Cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” nói lên sự giàu có của quê “em”. Bằng tấm lòng yêu mến, tự hào nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mảnh đất đã thấm biết bao máu và mồ hôi của ông bà tổ tiên, của đồng bào từ bao đời nay thì nhà thơ dân gian mới có thể viết nên những lời ca mộc mạc mà đằm thắm nghĩa tình đọc lên làm xao xuyến lòng người như vậy. Câu ca không hề nói đến màu xanh và hương thơm của lúa, sắc trắng của cánh cò “chớp trắng” trên nền trời xanh bao la, mà ta vẫn cảm thấy cái ngào ngạt của “hương lúa nếp thơm nồng”, “mùa thu hương cốm mới”, nơi bờ ruộng mật quyện lấy tâm hồn ta. Nhờ thế, ta yêu thêm đất mẹ quê cha, với hoài niệm tuổi thơ:
Cánh cò bay trong sắc trời lá mạ.
(Lê Anh Xuân) Hai câu tiếp theo nói về cô thôn nữ ra thăm đồng. Niềm vui sướng trào dâng trong lòng. Nhìn lúa tốt tươi rồi cô nghĩ về mình. Cô không mặc cảm thân phận mình là “hạt mưa sa”, “là tấm lụa đào”, là “củ ấu gai”., như ai đó, thân phận vui ít buồn nhiều. Trái lại, cô đã so sánh mình với chẹn lúa đòng đòng trên cánh đồng quê hương. “Chẹn lúa” còn gọi là dảnh lúa, một bộ phận của khóm lúa. “Chẹn lúa đòng đòng” nói lên sự trưởng thành, sinh sôi nẩy nở, hứa hẹn một mùa sây hạt, trĩu bông. Hình ảnh so sánh “thân em như chẹn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp duyên dáng, xinh tươi, một sức lực căng tràn hứa hẹn. Đây là một hình ảnh trẻ trung, khỏe khoắn, hồn nhiên nói về cô gái Việt Nam trong ca dao, dân ca: Thân em như chẹn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. “Phất phơ” là nhẹ nhàng đung đưa, uốn lượn… “Chẹn lúa đòng đòng” phất phơ nhẹ bay trước làn gió trên đồng nội một buổi sớm mai hồng tuyệt đẹp. “Em” sung sướng hân hoan thấy hồn mình phơi phới niềm vui trước một bình minh đẹp. Có thể dùng hình ảnh “tia nắng”, “làn nắng” mà ý câu ca dao vẫn không thay đổi. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn, vì đó là làn nắng, tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp, ánh hồng rạng đông đang nhuốm hồng ngọn lúa đòng đòng xanh ngào ngạt.
Đọc bài ca dao này có người tự hỏi: buổi sớm mai hồng của mùa xuân hay mùa thu? Mùa xuân mới có “ngọn nắng hồng ban mai” đẹp rực rỡ như thế. Vả lại đã có thiếu nữ thì phải có mùa xuân. Người đọc xưa nay vẫn cảm nhận là cô thôn nữ vác cuốc ra thăm đồng một sáng sớm mùa xuân đẹp.
Tóm lại, bài ca dao nói về mùa xuân, đồng xanh và thôn nữ. Cảnh và người rất thân thuộc, đáng yêu. Cảnh vừa có diện vừa có điểm, câu ca đồng hiện không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật “đơn sơ mà lộng lẫy”. Thơ lục bát biến thể sống động, lối so sánh ví von đậm đà, ý vị. “Thơ ca là sự chắt lọc tâm hồn, là tình yêu ta mơ ước…”. Đọc bài ca dao “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng…”, ta cảm thấy như thế, hương quê và tình quê làm vương vấn tâm hồn ta, đem đến cho ta “tình yêu và mơ ước”.
|
Bình giảng bài ca dao Đứng bên ni đồng
| 1,289
| |
Bình giảng bài ca dao: Bây giờ mận mới hỏi đào…
Hướng dẫn
Bình giảng bài ca dao: Bây giờ mận mới hỏi đào…
Hỏi xa anh lại hỏi gần
Hỏi em phỏng độ đương xuân thế nào
Thấy em là gái má đào
Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên
Quê hương chúng ta không những chỉ tự hào về những truyền thống thống tốt đẹp, những di sản văn hóa và còn tự hào về kho tàng văn học rất phong phú và đa dạng. Trong đó có những bài ca dao dân ca về đạo lí làm người, những cung cách ứng cử trong cuộc sống và về tình yêu tươi đẹp của tuổi xuân lứa đôi:
“Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
Bài ca dao này nói về tình yêu tươi đẹp của người con gái và người con trai mới lớn. Nó giống như một giai điệu của một bản nhạc không lời nhưng da diết và thiết tha khiến ai trong cuộc đời cũng muốn nghe.
Mở đầu là hai câu dặm hỏi:
“Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”
Tác giả thật khéo léo trong việc lựa chọn ngôn từ để diễn tả. Ở đây tác giả ý muốn mượn hình ảnh của mận và đào để bắt đầu về tình yêu đôi lứa. “Mận” là hình ảnh đại diện cho người con trai còn “Đào” là hình ảnh đại diện cho người con gái. “Bây giờ mận mới hỏi đào” chàng trai muốn ngỏ lời với cô gái liền hỏi cô gái. Cách đối đáp giao duyên này thật hay và ý nghĩa về nét đẹp của nhân dân ta. Đây là một phần dạm hỏi rất là tế nhị và cũng đầy hài hước “Vườn hồng đã có ai vào hay chưa” Chàng trai muốn hỏi cô gái đã có người thương chưa nếu chưa có hãy cho chàng cơ hội để chàng có thể mang lại hạnh phúc cho cô.
Hai câu sau là lời đáp đầy táo bạo và hài hước của cô gái:
“Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lỗi nhưng chưa ai vào”
Cô gái liền nói “xin thưa” thể hiện sự nhẹ nhà và tế nhị cộng sự đoan trang, cung kính với người khác. Đây là một đức tính đẹp của người con gái trong bài thơ nói riêng và của người phụ nữ Việt nam nói chung. Đó không phải là vẻ đẹp bề ngoài da trắng, mặt xinh mà đó là vẻ đẹp sâu thẳm bên trong cn người. Thời gian có trôi vẻ đẹp bên ngoài có thể tàn phai theo năm tháng nhưng vẻ đẹp tâm hồn thì vẫn mãi khắc sâu trong tâm hồn. Rồi cô gái trả lời rõ một cách rành mạch “Vườn hồng có lỗi nhưng chưa ai vào” ý cô muốn nói cô chưa có người thương và cô cũng chưa thương ai để cho chàng trai hiểu hơn về cô gái.
Đồng thời qua những ý đáp của cô gái cũng cho ta thấy được cô gái cũng có ý thích đối với chàng trai, vì là con gái cô rất ngại và thẹn thùng không dám ngỏ lời trước đến khi chàng trai hỏi thì người con gái mới dám ngỏ lời nên qua câu đó chúng ta cũng hiểu được rằng đôi trai gái này đang thích nhau.
Như vậy ta thấy được kho tàng văn học nước ta rất đẹp và phong phú nó chất chứa được biết bao tình cảm đẹp và thiêng liêng. Dù thời gian có trôi đi nhưng những âm hưởng của nó vẫn ngân vang trong cuộc sống về một nét đẹp bình dị của dân tộc. Tình yêu lứa đôi luôn là nguồn cảm hướng bất diệt để con người ta làm nên những trang văn đẹp và ý nghĩa.
|
Bình giảng bài ca dao_ Bây giờ mận mới hỏi đào…
| 655
| |
Bình giảng bài ca dao: Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lại đứt…
Hướng dẫn
Bình giảng bài ca dao: Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lại đứt…
Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lại đứt
Chàng nhớ thiếp, khi đắng nuớc lúc nghẹn cơm
Ba trăng là mấy mươi hôm
Mai nam vắng trước, chiều nồm quạnh sau
Người Việt Nam vốn là những con người trọng tình trọng nghĩa nên khi xa rồi họ có những nỗi nhớ đầy vơi khôn xiết. Nói về chủ đề này có bài ca dao:
Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lại đứt
Chàng nhớ thiếp, khi đắng nuớc lúc nghẹn cơm
Ba trăng là mấy mươi hôm
Mai nam vắng trước, chiều nồm quạnh sau
Có lẽ chỉ có yêu thương tự nguyện và thật sự thì nỗi nhớ mới đầy vơi khôn xiết như vậy. Nỗi nhớ bắt đầu khi hai người cách xa.
Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lại đứt
Chàng nhớ thiếp, khi đắng nuớc lúc nghẹn cơm
Hai câu đầu tác giả ý nói về sự xa cách tình yêu của một đôi vợ chồng, người chồng cứ xa mãi không về còn người vợ thì cứ ở nhà mòn mỏi chờ mong chồng về. Nỗi nhớ ấy da diết làm sao “thiếp nhớ chàng” và “Chàng nhớ thiếp” lại càng nói rõ hơn về sự xa cách. Hai con người tuy xa nhau nhưng tâm hồn, sự yêu thương họ vẫn luôn dành những tình cảm đẹp nhất cho nhau. Nhưng vì nhà quá nghèo chồng lại đi xa một mình người phụ nữ chân yếu tay mềm cô đơn trước túp lều tệch toạch “Chiếc phiến hư, nuộc lại đứt”. Mỗi khi nắng mưa thất thường nàng biết làm sao đây. Cuộc sống thật biết trêu lòng người. Giờ đây một mình người phụ nữ cô đơn bên mái lều tranh chỉ biết ngậm ngùi thở dài mà ứa lệ vì mong ngóng chồng trở về.
Thiếp xa chàng hái rau quên giỏ
Chàng xa thiếp bứt cỏ quên liềm…
Tình yêu tuổi trẻ thật đẹp và cuồng nhiệt khiến con người ta dù đi đâu hay làm gì cũng luôn nhớ về nhau. Chàng trai trong bài ca dao này cũng vậy đứng ngồi không yên lúc nào trong tâm trạng cũng đầy ắp nỗi nhớ, nhớ cả khi ăn, nhớ cả khi uống nước. Điều này được diễn tả rất sâu trong hai từ “đắng”,”nghẹn”. Cách thể hiện tình yêu và nỗi nhớ này thật bình dị mà xâu sắc khiến ai cũng có thể thấy được tình yêu lòng cháy của tuổi trẻ.
Nếu chỉ đọc hai câu đầu thôi thì ta hoàn toàn không hiểu được lí do mà người chồng đi xa là gì. Phải chăng chàng trai trong bài ca dao đi làm ăn xa, đi lính hay là đi làm gì? Chỉ khi ta đọc đến câu thứ ba ta mới hoàn toàn hiểu rõ được lí do người chồng đi xa:
Ba trăng là mấy mươi hôm?
Ba năm trấn thủ lưu đồn,
Ngày thì canh điểm, tối dồn việc quan.
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai!
Miệng ăn măng trúc, măng mai,
Những giang cùng nứa, biết ai bạn cùng?
Ba năm là thế đó người chồng thì cứ biền biệt ở nơi phương xa còn người vợ thì vẫn ngồi nhà đợi chồng về. Qua câu nó này ta cũng thấy được hoàn cảnh đất nước chiến tranh khiến tình yêu tuổi trẻ, tình cảm vợ chồng bị chỉ xa. Đôi vợ chồng này là nhân vật đại diện cho sự ly biệt của tình yêu trong xã hội xưa. Họ mong ngóng chiến tranh nhanh kết thúc để về cùng đoàn tụ với gia đình.
Mai nam vắng trước, chiều nồm quạnh sau
Một câu nói tuy có tám chữ nhưng đồng thời thể hiện được thời gian nghệ thuật “mai man”, Không gian nghệ thuật “trước, sau”, tâm trạng nghệ thuật “vắng, quạnh” của bài ca dao. Đây là lời của người phụ nữ muốn nhắn nhủ đến người chồng ở phương xa trong túp lều tranh đã buộc nạt ở nhà trước và sau đều vắng lặng và hưu quạnh. Những khi gió nam hay những buổi chiều nồm cũng chỉ có một mình thiếp cô đơn mòn mỏi chờ chàng về. Căn nhà vốn đã vắng vẻ giờ lại càng hưu quạnh hơn khiến nỗi buồn tủi của người phụ nữ càng dâng cao.
|
Bình giảng bài ca dao_ Thiếp nhớ chàng tấm phên hư nuộc lại đứt…
| 738
| |
Bình giảng bài ca người thợ mộc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Hướng dẫn
Bình giảng bài ca người thợ mộc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Hình ảnh trong thơ Việt Nam phong phú đa dạng từ những hình ảnh thiên nhiên, tới cảnh vật con người. Những hình ảnh từ sang trọng chỉn chu cho tới những hình ảnh giản dị. Hình ảnh của người thợ mộc với khúc nhạc trữ tình mà thơ lục bát mang lại đã khiến người đọc có những cảm giác thật gần gũi và chân thực
Mở đầu bài thơ là những dòng giới thiệu về người thợ mộc và những thứ liên quan tới anh, như quê quán, anh làm gì tay nghề ra sao và đặc biệt những câu thơ miêu tả sự khéo léo điêu luyện và tay nghề coa của anh thợ mộc
Anh là thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo tay
Lưu cột anh dựng đòn tay
Bảo trơn đóng bén nó ngay một bề
Những người thợ mộc thanh hóa từ lâu đã được biết đến là những người tài hoa có khả năng làm mộc đẹp và công phu. Vòa đề bằng câu thơ ANH LÀ thợ mộc thanh hoa như dẫn dắt người đọc vào thẳng vấn đề.
Với tài năng của mình người thợ mộc ấy có thể bằng sự khéo léo và tài nghệ của mình để làm được nhiều thứ. Anh tự mình có thể nâng cột gỗ trong nhà để làm ra những tác phẩm đẹp. Khúc gỗ nào bị hỏng anh lại bào hết chúng đi cho ngay ngắn. và những gì anh giới thiệu đưuọc phô ra với những câu nói đầy mãn nguyện và tự hào với người con gái mà anh đem lòng quí mến
Bốn con dê đực chầu về tổ tong
Bốn cửa anh chạm bốn rồng
Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo
Tài năng của anh thợ mộc thục sự đã đưuọc biết đến qua cách giới thiệu của anh tới với mọi người, đặc biệt là người con gái. Những thứ anh làm không chỉ có nói suông nữa mà là những tác phẩm có thật cụ thể và chi tiết đó là những hìn ảnh về những thứ mà anh thợ mộc chạm khắc ở những công trình có sự góp mặt của anh
Những con thú mà được coi là linh thú thời kì bấy giờ như rồng ấp hay rồng đang leo đang cuộn mình, những tư thế thật cực kì khó để làm và chạm khắc nhưng anh thợ mộc vẫn làm được
Quạ còn móm mỗi lại
Dê còn giữ lề quý
Khuyên ai đạo làm con
Đọc sách nên có hiếu
Qua những con vật mà anh chạm khắc và những đức tính của chúng thì anh thợ mộc như có ý nhắc khéo với người anh thương rằng chính anh đây cũng là người giữ tình trọng tình trọng nghĩa và thuye chung son sắt, yêu thương một người cho tới hết cuộc đời
Bốn cửa anh chạm bốn mèo
Con thì bắt chuột, con leo xà nhà
Bốn cửa anh chạm bồn gà
Đêm thì nó gáy, ngày ra ăn vườn
Bốn cửa anh chạm bốn lươn
Bên cạnh chạm trổ và làm ra những con vật quyền quí linh thiêng thì còn có những con vật khác những con vật gần gũi với cuộc sống của mỗi một gia đình người dân Việt Nam như con mèo, con gà, con lươn chúng đều là những con vật luôn chăm chỉ và cực kì gần gũi với mỗi người.
Bốn cửa anh chạm bốn hoa
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen
Bốn cửa anh chạm bốn đèn
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ
Một đen đọc sách ngâm thơ
Một đèn anh để anh chờ nàng đây
Tiếp đến là những hình ảnh cây cỏ hết sức bình dị như những bông hoa sói, hoa sen. Chúng luôn mang một vẻ đẹp thuần khiết và thanh tao là hình ảnh ẩn dụ của người con gái anh thương. Và dường như hiện ra theo lời kể của anh còn là hình ảnh của một gia đình hạnh phúc, ấm áp, qua đó chúng ta cũng thấy được những nét hồn nhiên tâm hồn đôn hậu và cũng hết sức nhạy cảm của anh thợ mộc
Hình ảnh của anh thợ Mộc là tiêu biểu cho người nông dân chất phác nhưng cũng hết sức tài nghệ và có tâm hồn hết sức hồn nhiên và đầy lòng yêu thương và vun đắp. anh thợ Mộc cũng là hình ảnh điển hình cho hình ảnh của người dân lao động cần cù, luôn cố gắng trong công việc mang trong mình những tâm hồn hết sức nghệ sĩ và tình yêu với con người, với cuộc sống.
|
Bình giảng bài ca người thợ mộc trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
| 796
| |
Đề bài: Bình giảng Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
Bài làm
Xưa nay, thông thường với loại thơ tự trào, tự vịnh thế này, các tác giả hay mượn bút pháp ngoa ngôn, lộng ngữ pha chút khẩu khí để thể hiện mình. Nguyễn Công Trứ ở “Bài ca ngất ngưởng ” này khác hẳn. Ông đã khách thể hoá từ những sự, những việc rất thực của cuộc đời chỉ riêng ông mới có để khẳng định con người ông. Trong bài thơ, bốn lần ông nhắc lại hai chữ “ngất ngưởng”. “Ngất ngưởng" không chỉ còn là một từ gợi hình nữa, mà đã thành biểu tượng tính cách của một con người không phải ngẫu nhiên mà trên một trăm bài thơ, trong đó có sáu mươi mốt bài ca trù, chỉ có bài này tác giả đặt tên là "Bài ca ngất ngưởng”. Đương thời và hậu thế đều thừa nhận Nguyễn Công Trứ: một chàng trai, một ông quan, một vị tướng, một lão già ngất ngưởng. Cái ngất ngưởng in bóng vào một thời đại, chính là ông.
Nguyễn Công Trứ cũng như hầu hết các nhà nho xưa, đều thành đạt từ cửa Khổng, sân Trình. Trước sau ông vẫn là một tín đồ tuyệt đối trung thành của Khổng giáo:
“Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ
không quân thần phụ tử đếch nên người".
Và hẳn ông cũng biết rằng: một trong những điều cốt lõi của nhà nho là cách xử thế hợp lẽ trung dung, kị những gì thái quá. Nhưng rồi Nguyễn Công Trứ nhiều mặt đã quá ngưỡng, vượt qua biên giới người thường… Có lẽ không một nhà nho nào mà lại như Nguyễn Công Trứ; nâng tất cả mọi mặt sinh hoạt đời thường của người “quân tử”, của kẻ sĩ lên một thứ đạo, một triết lí. Trong văn thơ, ông nói đến rất nhiều thứ nợ: nợ cầm thư, nợ tang bồng, nợ phong lưu, nợ trần hoàn, nợ anh hùng, nợ công danh. Đã là cái nợ thì phải đa mang, phải vay trả, trả vay… “Ông Hi Văn tài bộ" đã tự ví mình như cây cau:
“Kinh thiên một cột giơ tay chống
Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao”
hoặc với chiếc trống đại:
“Hiên bệ giỏ đưa dùi cắc cắc,
Giang sơn sấm động tiếng tùng tùng”.
Không có sự khẳng định tài năng ấy thì làm gì nghĩ được đến nhiều cái nợ như vậy, và làm sao đủ sức mà trang trải công nợ với đời? Sự thực là với món nợ nào, Hi Văn tiên sinh cũng "hăm hở ra tài kinh tế”, cũng “vẫy vùng cho phỉ ức", cũng “làm nên tiếng lẫy lừng đâu đấy tỏ”. Cái “Ngất ngưởng", cái “nết ương” của Nguyễn Công Trứ còn ở chỗ: ông ống rất thực với mình, thực với người, thực với đời. Các thi nhân xưa thường viết về những gì phổ quát, tập trung vào thiên chức của kẻ sĩ; còn về cái bản ngã thì không nói đến, hoặc là hàm ẩn trong dòng chảy “Văn dĩ tải đạo”. Riêng thơ văn Nguyễn Công Trứ thì khác: ông không hề giấu giếm, không hề né tránh, ông sống đời thường thế nào thì thơ văn ông cũng ánh lên như thế vậy. Ví như khi đã ngoài vòng cương toả, tuổi ngoài bảy mươi, ông vẫn nặng nợ phong lưu, quen thói đa tình:
“Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề,
Có yến yến hường hường mới thú ”
Từ đó, có lẽ Nguyễn Công Trứ là nhà thơ lớp cổ cận đại trong văn học lịch sử nước nhà viết về tình yêu nhiều nhất, có cả “Yêu hoa”, “Duyên gặp gỡ", có cả “Vịnh chữ tình", “Vịnh sầu tình”, lại có cả “Tương tư”, “Bỡn cô đào già”… Say thơ và thú ả đào, là hai mặt tài và tình nổi bật ở Nguyễn Công Trứ. Ông vẫn tự cho mình là khách sành chơi.Ông từng nói “Trong tuần mấy mặt làng chơi… Biết mùi chưa dễ mấy người”. Già lão rồi, ông vẫn cổ suý: "Chơi xuân kẻo hết xuân đi", “Nếu không chơi, thiệt ấy ai bù"… Nguyễn Công Trứ trước sau “vãn giữ nết ương". Chất Nguyễn Công Trứ là chất nhất quán. Cái ngất ngưởng tự tin thời loạn hải ba đào đã trở thành cái ngất ngưởng ngang tàng khi đã ngoài vòng cương tỏa.
Lúc về hưu trí ở quê nhà, ông đi đâu cũng “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng". Nhưng ngất ngưởng hơn nữa là ở đuôi con bò cái vàng úp một tấm mo cau, người ta hỏi thì ông nói là “để che miệng thế gian". Nhiều giai thoại nói chi tiết “Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì". Ông thường đi chơi các chùa, gần thì như chùa Cấm Sơn trên núi Đại Nại, xa như chùa Hương Tích, chùa Thiên Hương trên núi Hồng Lĩnh, lúc nào cũng dẫn theo mấy cô hầu gái “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng"…
Cái nết ương, cái ngất ngưởng, cái ngạo nghễ kiêu bạc ở Nguyễn Công Trứ là thái độ sống của một người tự tin, tự khẳng định tài năng của mình, ý thức rõ ràng về bản ngã của mình giữa một thuở giao thời:
“Được, mất dương dương… không vướng tục".
Lâu nay người ta vẫn cho rằng thơ văn Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn; thực ra nó rất thống nhất, rất nhất quán. Cái ngất ngưởng trong thơ ông là sự định hình một tính cách, một bản lãnh trong cuộc sống, trong sáng tạo nghệ thuật. Cái ngất ngưởng ấy là của riêng Nguyễn Công Trứ và cũng là sản phẩm của một thời triều Nguyễn, của một vùng quê, của ông đồ xứ Nghệ. Ba mươi năm làm quan, bảy lần bị thất sủng, giáng chức, không hề làm suy giảm bản chất của ông, trái lại, nhân cách ấy càng được khẳng định. Ngày nay, nhớ đến Nguyễn Công Trứ là nhớ đến một “ công trình sư" có công khai phá, tạo lập hai huyện trù phú Tiền Hải, Kim Sơn, nhớ đến một nghệ sĩ tài hoa, và nhớ đến một nhân cách sớm khẳng định bản ngã trong lịch sử tư tưởng Việt Nam – mà bài thơ ca trù “Bài ca ngất ngưởng” là một biểu hiện.
|
Bình giảng Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
| 1,069
| |
Đề bài: Bình giảng bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh để làm nổi bật vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ
Bài làm
Tháng 10 năm 1942, trên đường bị giải đi từ nhà tù Thiên Bảo đến nhà ngục Long Tuyền trên đất Quảng Tây, Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết bài thơ "Chiều tối" (Mộ). Đây là bài thơ số 31 trong "Ngục trung nhật kí”, bài thất ngôn tứ tuyệt mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại:
"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô văn mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”.
Bài thơ tả cảnh chiều tối nơi xóm núi xa lạ và thể hiện cảm xúc, nỗi niềm của người chiến sĩ trên con đường đi đày.
Bức tranh thiên nhiên xóm núi lúc chiều tối được miêu tả bằng hai nét rất gợi cảm. Một cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) bay về rừng tìm cây trú ẩn. Một áng mây cô đơn, lẻ lơi (cô vân) lơ lửng giữa bầu trời. Cảnh đẹp và thoáng buồn (mệt mỏi, cô đơn), đối nhau rất hài hòa. Chỉ hai nét vẽ, tả ít mà gợi nhiều đã làm hiện lên cái hồn của cảnh vật. Cánh chim nhỏ nhoi nhẹ hay, áng mây cô đơn nhẹ trôi; tác giả đã vận dụng thi pháp cổ rất sáng tạo, đã lấy điểm để vẽ diện, lấy động để tả tĩnh, gợi lên một bầu trời mênh mông, bao la, một không gian vô cùng tĩnh lặng, vắng vẻ. Bức tranh thiên nhiên chiều tối mang vẻ đẹp cổ điển đầy thi vị:
"Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên khôn)".
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không).
Ngoại cảnh đã thể hiện tâm cảnh của nhân vật trữ tình. Cánh chim và áng mây, chữ "quyện" (quyện điểu) và chữ "cô" (cô vân) có giá trị biểu hiện cảm xúc một mỏi, nỗi niềm cô đơn của nhà thơ sau một ngày dài bị giải đi nơi đất khách quê người. Bức tranh thiên nhiên "Chiều tối" mang tính ước lệ tượng trưng đặc sắc, nó đem đến cho ta bao liên tưởng về những vần thơ đẹp:
"Chim hôm thoi thót về rừng"
(Truyện Kiều)
"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa".
(Tràng giang)
Hai câu thơ cuối bài "Chiều tối" tả cảnh dân dã đời thường nơi xóm núi. Hai nét vẽ vừa trẻ trung vừa bình dị hiện đại: thiếu nữ xay ngô và lò than đã rực hồng:
"Sơn thân thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng".
Ba chữ "ma bao túc" được điệp lại, đảo lại thành "bao túc ma hoàn” có giá trị thẩm mĩ đặc sắc. Nó vừa gợi tả sự chuyển động liên tục, mải miết của cái cối xay ngô, vừa thể hiện đức tính cần mẫn của cô thiếu nữ nơi xóm núi, đồng thời tạo nên âm điệu nhịp nhàng của vần thơ. Hình ảnh "lò than đã rực hồng” (lô dĩ hồng) gợi lên một mái ấm gia đình yên vui.Trên đường đi đày nơi đất khách xa lạ, tâm hồn nhà thơ vẫn gắn bó với nhịp sống cần lao, hướng về ngọn lửa hồng, làm vợi đi ít nhiều cô đơn lẻ loi, thầm mơ ước về một cảnh gia đình đoàn tụ đầm ấm. Chữ "hồng'"đặt cuối bài thơ, thi pháp cổ gọi là "thi nhãn", làm sáng bừng bức tranh xóm núi trong chiều tối. "Hồng'' là ánh sáng của lò than rực cháy, cũng là ánh sáng của tâm hồn Hồ Chí Minh. Một tâm hồn rất lạc quan, yêu đời.
Bức tranh "Chiều tối" từ tư tưởng đến hình tượng, từ không gian, thời gian đến cảm xúc đều được miêu tả, diễn tả trong trạng thái vận động. Vận động từ cảnh sắc thiên nhiên bầu trời đến bức tranh sinh hoạt trong gia đình, từ ngày tàn đến tối mịt, từ nỗi buồn mệt mỏi cô đơn đến niềm vui ấm áp đoàn tụ, từ bóng tối hướng tới ánh sáng. Nghệ thuật lấy sáng, lấy ánh lửa hồng để tả bóng tối màn đêm rất đặc sắc. Trong nguyên tác bài "Mộ" không có chữ "tối" mà người đọc vẫn cảm thấy trời đã tối hẳn rồi. Câu thơ dịch đã thêm vào một chữ "tối", đó là điều ta cần biết:
"Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò thun đã rực hồng".
Bài thơ tứ tuyệt "Chiều tối" mang vẻ đẹp cổ điển, hiện đại. Ngôn ngữ hàm súc gợi cảm. Hình tượng cánh chim, áng mây mang tính ước lệ, đẹp mà thoáng buồn. Bút pháp tinh tế, điêu luyện. Một tâm hồn trong sáng, hồn hậu, giàu cảm xúc: yêu thiên nhiên và yêu đời. Đi đày mà phong thái nhà thơ thật ung dung tự tại.
|
Bình giảng bài Chiều tối của Hồ Chí Minh để làm nổi bật vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ
| 826
| |
Bình giảng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch
Hướng dẫn
… Suốt cuộc đời mấy mươi năm ‘chống kiếm bỏ quê hương, từ biệt cha mẹ viễn du’ và khi qua đời ở tỉnh An Huy, hình ảnh của quê hương, nhất là những đêm trăng sáng thanh tĩnh đối với ông rất tha thiết, đầy nỗi nhớ thương. Tinh cảm sâu lắng đó Lí Bạch đã diễn tả trong bài thơ ‘cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ (Tĩnh dạ tứ).
Nếu bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là một bài thơ tả cảnh thiên nhiên hùng tráng, thì ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là một bức tranh thiên nhiên thanh tĩnh. Thời gian trong bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là ban ngày, ánh nắng mặt trời chiếu rọi. Thời gian trong bài ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là ban đêm, ánh trăng sáng bàng bạc. Bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ ca ngợi cảnh đẹp thác nước. Bài ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là tình cảm suy tư trong đêm trăng sáng.
Như tựa đề, bài thơ mang hai nội dung – Nội dung miêu tả ‘đêm thanh tĩnh’ (tĩnh dạ) và suy nghĩ (tư) của tác giả trong đêm thanh tĩnh đó. Để làm nổi bật nội dung thứ nhất, Lí Bạch đã dùng ba câu thơ ‘Ngũ ngôn tứ tuyệt’. Ba câu thơ ngắn gọn, hàm súc, miêu tả cảnh ban đêm thanh tĩnh. Đêm thanh tĩnh là đêm bầu trời trong xanh, mát mẻ, không có tiếng động, cảnh vật vắng lặng, êm ả, thơ mộng, trữ tình. Ngay từ câu thơ đầu, chủ đích của Lí Bạch là tả ánh trăng sáng để tượng trưng cho đêm thanh tĩnh. Ánh trăng ở đây chẳng những sáng mà còn tràn ngập, chan hòa và dịu hiền. Qua âm điệu khoan thai của câu thơ 5 chữ, sự thanh tĩnh, yên tĩnh hiện lên một cách tự nhiên, đáng yêu. Ánh trăng chiếu sáng trên bầu trời, ở mặt đất và ở đầu giường.
Ba câu thơ đầu đơn thuần là miêu tả cảnh vật. Mà cảnh vật tưởng tượng ở đây là ánh trăng sáng. Từ miêu tả ngoại cảnh, Lí Bạch đi sâu vào miêu tả nội tâm. Nội tâm mà tác giả diễn tả trong câu thơ cuối là tâm trạng. Hai câu thơ cuối tuy hai mà một. Tuỳ câu 3 và câu 4 có khác nhau, ngôn từ, ý tứ không tương đồng, nhưng nó đều bộc lộ hai trạng thái tâm trạng (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng – Cúi đầu nhớ cô’hương).
Từ ‘vọng’ bao hàm sự ngưỡng mộ, ưu ái. Từ ‘minh nguyệt’ được lặp lại nhưng không hề tạo cảm giác thừa mà trái lại làm người đọc thấy được tâm tình thiết tha, quyến luyến của Lí Bạch đối với trăng sáng mông lung.
Tình yêu quê hương đậm đà, như máu trong tim, như hơi thở của tác giả. Tính cách thâm trầm, kín đáo được tác giả thể hiện rất cảm xúc, đầy suy tư ở hai câu thơ sau. Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh từng từ, từng ý. Mối liên hệ chặt chẽ giữa vẻ đẹp thiên nhiên với tình yêu, cảm xúc của con người trước sự vật. Ba câu thơ đầu gợi lên hình ảnh rất đẹp của thiên nHiên, nhưng chính câu thơ cuối mới là ‘câu thơ thần’, ‘điểm gút’ của bài thơ. Đây là câu thơ ‘khép’, là đỉnh cao của cảm xúc tác giả dồn nén lại.
‘Ý tại ngôn ngoại’.Với hai mươi chữ giản đơn mà chan chứa cả tâm tình ngưỡng mộ vẻ đẹp thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên mơ mộng tuyệt vời, tình cảm nhớ thương quê hương tha thiết của Lí Bạch được thể hiện lên qua từng câu, từng chữ của bài thơ ‘ngũ ngôn tứ tuyệt’ tuyệt vời này.
Nếu cái hay của bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là sự rộng lớn, hùng tráng của thiên nhiên được diễn tả bằng sức tưởng tượng phi thường, phong phú, thì cái hay của bài ‘Suy nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là độ sâu của cảm xúc, ở sự thầm kín, bình dị và đầy chất thơ của cảnh vật. Cảnh thác núi Lư ‘ngỡ dải Ngân Hà tuột khỏi mây’ làm cho người đọc bàng hoàng sửng sốt, thì hình ảnh ‘đầu giường ánh trăng rọi, ngỡ mặt đất phủ sương’ cũng làm cho người đọc bàng hoàng, sửng sốt vì sự quan sát và miêu tả tinh vi của Lí Bạch.
|
Bình giảng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch
| 761
| |
Đề bài: Bình giảng bài Mới ra tù, tập leo núi của Hồ Chí Minh
Bài làm
"Lại thương nỗi đọa đày thân Bác
Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Ôi chân yếu mắt mờ tóc bạc
Mà thơ bay… cánh hạc ung dung".
(Theo chân Bác)
Đoạn thơ cảm động trên đây của Tố Hữu đã làm hiện lên trong tâm trí chúng ta hình ảnh Bác Hồ sau khi thoát khỏi nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch tại Liễu Châu, Trung Quốc, đồng thời giúp chúng ta cảm nhận "Ngục trung nhật kí" của Người.
Ngay sau khi giành được tự do, để phục hồi thể lực, Bác Hồ kiên trì tập luyện: tập khí công, tập bơi, tập leo núi,… tích cực chuẩn bị ngày lên đường trở về Tổ quốc thân yêu. Ngày Bác được tự do là ngày 10-9-1943; dự đoán bài thơ "Mới ra tù, tập leo núi" được Bác viếi vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 năm 1943. Chữ "tân" trong nhan đề hài thơ cho ta niềm tin khẳng định đó.
Tác giả hồi kí "Vừa đi đường vừa kể chuyện" có ghi rõ là khi Bác đã trèo lên tận đỉnh ngọn núi cao. Bác đã xúc động viết bài thơ này:
"Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần;
Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh,
Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân".
Bác đã ghi bài thơ vào rìa một tờ báo Trung Quốc, kèm theo dòng chừ sau: "Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên". Bài thơ không chỉ mang tính chất "đưa tin" một cách bí mật mà còn mang ý nghĩa của một văn kiện lịch sử của Cách mạng Việt Nam. Theo hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, hồi ấy các yếu nhân của Tổng bộ Việt Minh tại căn cứ địa Cách mạng Cao -Bắc – Lạng vô cùng phấn khởi khi nhận được bài thơ này và đã phái người đi đón Bác.
Về phương diện thi ca, bài "Mới ra tù, tập leo núi" là một tác phẩm văn chương toàn bích thể hiện cốt cách thi sĩ Hồ Chí Minh: tâm hồn trong sáng, thiết tha yêu thiên nhiên, nặng tình đối với đất nước và bạn bè yêu quý. Cảnh sắc thiên nhiên và bức tranh tâm cảnh đều rất đẹp, rất đậm đà:
“ Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần”
Cảnh mây núi nhấp nhô trập trùng. Mây, núi được nhân hóa, trở nên hữu tình: núi ấp ôm mây, mây ấp núi. Mây núi quấn quýt, bao bọc lấy nhau. Một câu thơ bảy chữ mà chữ "vân", chữ "ửng", chữ "sơn" được điệp lại hai lần gợi tả cảnh mây núi tầng tầng lớp lớp, ngắm nhìn không chán mắt. Hình ảnh "trùng sơn" làm nổi bật vẻ đẹp hùng vĩ cảnh núi mây và cảm xúc dào dạt của nhà thơ lúc leo núi.
Câu thứ hai tả lòng sông (giang tâm). Mặt sông trong vắt, phẳng lặng được ví với tấm gương không một chút bụi mờ. Bầu trời có trong sáng thì người đứng trên núi cao mới cảm nhận gương sông đẹp như thế. Hai câu đầu bài thơ đã vẽ nên một bức tranh sơn thủy hùng vĩ, hữu tình. Với tâm trạng sảng khoái của nhà thơ chiến sĩ mới thoát cảnh tù ngục thì mới có cái nhìn say mê, nồng nàn, thú vị như vậy. Người xưa có nói: "Văn vô sơn thủy phi kì khí", nghĩa là văn chương không nói đến sông núi (không mang tình đất nước) thì không có khí chất kì lạ. Qua đó, ta cảm thấy thơ Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp "kì khí" đáng yêu. Cảnh mây núi, sông nước ở đây là cảnh thực ở Liễu Châu về cuối thu hơn nửa thế kỉ trước. Đồng thời nó mang ý nghĩa tượng trưng cho lòng người, cho tình người. Ngoại cảnh thì hùng vĩ, hữu tình. Tâm cảnh thì trong sáng, yêu đời. Thi nhân vừa leo núi vừa ngắm nhìn vẻ đẹp sông núi, mây trời với phong thái ung dung và tâm hồn thanh cao tuyệt đẹp. Mây, núi, gương sông ấy là ba ẩn dụ mà nhà thơ Hồ Chí Minh gửi gắm tâm hồn mình, trạng thái mình:
"Đằng sau bức tranh phong cảnh này, đằng sau những mây núi trập trùng, đằng sau dòng nước sông trong dưới chân Tây Phong Lĩnh, ấn tượng không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn của độc giả chính là tâm trạng vừa trong trắng sâu sắc, vừa cao cả của con người” (Đặng Thai Mai)
Chỉ với ba nét vẽ (vân, trùng sơn, giang tâm) mà tác giả đã gợi lên cái hồn vũ trụ. Mượn cảnh để tả tình, ngôn ngữ hàm súc, hình tượng – đó là vẻ đẹp cổ điển đầy thi vị trong bài thơ này của Bác. Câu thơ dịch khá hay:
"Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng bụi không mờ”
Đã 2 mùa thu li hương, nếm trải đủ mùi cay đắng, thế mà tấm lòng nhà thơ vẫn đêm ngày nhớ nước khôn nguôi. Hai câu thơ 3, 4 nói lên tâm tình ấy:
"Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh,
Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân".
Tây Phong Lĩnh là dãy núi trập trùng ở Liễu Châu, Trung Quốc. Nam thiên là trời Nam hai địa danh ở 2 phía chân trời. Chữ "bồi hồi", chữ "dao vọng" và ba tiếng "ức cố nhân" diễn tả tâm trạng của Bác Hồ lúc leo núi.
"Bồi hồi" nghĩa là bồn chồn, không yên dạ. "Độc bộ" nghĩa là một mình bước đi; trong văn cảnh gợi lên sự lẻ loi, đơn độc. Càng leo núi lên cao càng hồi hồi, càng cảm thấy mình lẻ loi, đơn độc, mà dõi nhìn về phía chân trời xa. Người xưa khi đứng trên lầu cao mà man mác buồn, bởi lẽ "Nhật mộ hương quan hà xứ thị” người con gái lưu lạc ngậm ngùi xót xa: "Lòng quê đi một
bước đường một đau"… Tình cố hương, tình cố quốc là một trong những tình cảm sâu sắc thắm thiết của con người xưa nay:
"Quê hương nghĩa nặng tình sâu,
Bể dâu biến đối biết đâu là nhà".
Bác Hồ đã trải qua những năm dài bôn ba hải ngoại, đi tìm đường cứu nước, canh cánh trong lòng nỗi thương, nỗi nhớ vơi đầy: "Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước…" ("Người đi tìm hình của nước"). "Giờ đây" mỗi bước leo núi lên cao, Người lại hồi hồi thương nhớ: "Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân". Dao vọng là trông vời, trông xa, ức cố nhân nghĩa là nhớ người xưa, nhớ bạn cũ, ở đây là Bác nhớ đồng chí thân yêu. Câu thơ 7 chữ nói lên được 2 nỗi nhớ: nhớ nước và nhớ bạn. Thơ hàm súc và biểu cảm là vậy.
Nhớ nước, nhớ bạn là tình cảm thường trực, thiết tha của Bác. Nhớ nước cả lúc thức và cả trong lúc mơ: "Saovàng năm cánh mộng hồn quanh" (“Không ngủ được"). Nhớ nước, nhớ quê suốt ngày suốt đêm, suốt cả năm tháng: "Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng – Tin tức bên nhà bữa bữa trông" (“Tức cảnh"). Càng xa nước, Bác càng nhớ nước:
"Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,
Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay".
( Đêm thơ)
"Ức hữu" (Nhớ bạn) là một trong những chủ đề nổi bật trong "Nhật kí trong tù". Nhớ bạn với bao kỉ niệm, với bao nỗi khắc khoải chờ mong. Trong cảnh tù đày, Bác càng nhớ bạn:
"Ngày đi bạn tiễn đến bên sông,
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng.
Nay gặt đã xong, cày đã khắp,
Quê người tôi vẫn chốn lao lung"
(Nhớ bạn)
Tình yêu nước là tình yêu sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất của Hồ Chí Minh. Bác có nhiều bài thơ hay nói lên một cách chân thành, cảm động tình yêu nước ấy. Bài thơ "Mới ra tù, tập leo núi" đã thể hiện rất đẹp cảm hứng thiên nhiên trữ tình và cảm hứng yêu nước. Mỗi câu, mỗi chữ, mỗi vần thơ đều dạt dào tình yêu tạo vật sông núi mây trời, tình nhớ nước, nhớ bạn. Một cái ngóng nhìn xa, một nỗi bồi hồi lúc leo núi, một niềm mong nhớ Tổ quốc, nhớ bạn bè – được diễn tả và thể hiện qua một bài tứ tuyệt mang màu sắc cổ điển, một bút pháp lả cảnh ngụ tình đặc sắc. Người chiến sĩ cách mạng "Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh" ấy có một bản lĩnh phi thường, một phong thái ung dung tự tại, và có một hồn thơ đẹp được nhân dân ta kính yêu và nhớ mãi.
|
Bình giảng bài Mới ra tù, tập leo núi của Hồ Chí Minh
| 1,488
| |
Đề bài: Bình giảng bài Ngóng gió đông của Nguyễn Đình Chiểu
Dàn ý
A – TÌM HIỂU ĐỀ
Đây là bài thơ trong tác phẩm Ngư Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu. Xúc cảnh là lời ngâm của Đường Nhập Môn, một kẻ sĩ đi học nghề thuốc để cứu đời nhưng không gặp thời và đành ngậm ngùi nhìn cảnh nước mất nhà tan. Qua lời ngâm của nhân vật Đường Nhập Môn, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm tâm sự của mình.
Khi bình giảng bài thơ, cần nắm đươc biện pháp dùng cảnh ngụ tình kín đáo mà thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu. Ngóng gió đông mang nhiều tầng nghĩa mà tiếng lòng, ao ước của tác giá được cất lên trực tiếp ở phần kết.
Cũng cần hiểu kết cấu một bài thơ Đường luật và bình giảng Ngóng gió đông theo bốn phần (đề, thực, luận, kết). Đặt bài thơ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Nam Bộ, của đất nước ta lúc bấy giờ thì mới hiểu hết nỗi niềm thiết tha của Nguyễn Đình Chiểu.
B – DÀN BÀI CHI TIẾT
1)MỞ BÀI
Nguyễn Đình Chiểu là ngọn cờ đầu của thơ ca yêu nước Nam Bộ mấy mươi năm cuối thế kỉ 19. Cuộc đời ông đã nêu cao tấm gương trung nghĩa với đất nước, nhân dân. Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Nam Bộ bằng những tác phẩm văn thơ của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã giương cao lá cờ nghĩa cứu nước, đã cổ vũ cho cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân.
Nguyễn Đình Chiểu xót xa khi Nam Bộ quê hương dần dần lọt vào tay giặc. Sống trong vòng kìm kẹp của kẻ thù, dù chúng ra sức dụ dỗ, ông vẫn bất hợp tác, giữ trọn tấm lòng tiết nghĩa. Từ đây, văn thơ Nguyễn Đình Chiểu thấm đượm nỗi đau buồn và khắc khoải niềm trông đợi vào ngày mai, hi vọng vào sự khôi phục giang sơn, đất nước. Bài thơ Ngóng gió đông bộc lộ những xúc cảm thiết tha ấy:
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.
Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay hà đội trời chung.
Chừng nào Thánh để ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
2) THÂN BÀI
a) Nhận xét chung: Bao trùm cả bài thơ là niềm ngóng trông vời vợi, khát vọng thiết tha. Qua đề tài ngóng gió mùa xuân mát lạnh, qua những hình ảnh thiên nhiên, Nguyễn Đình Chiểu kí thác tâm sự thành thực của mình. Lời kí thác này được diễn đạt bằng một bài thơ Đường luật theo thể thất ngôn bát cú với kết cấu chặt chẽ.
b)Hai câu đề: Nỗi niềm buồn rầu trông ngóng và lời hỏi vô vọng:
Hoa cỏ ngùi ngùi ngông gió đông
Chúa xuân đâu hỡi có hay không?
Trong cả bài thơ, phần đề này được viết theo lối ẩn dụ kín đáo mà thiết tha nhất. Nói “hoa cỏ“ mà ngụ ý nói quê hương, đất nước, nói cả sông núi, nhân dân. Hoa cỏ đang trông ngóng đón đợi gió đông (gió mùa xuân) mát lành, đầm ấm để nảy nở tốt tươi cũng chính là nhân dân đang mong đợi những bậc anh hùng nào đó ra tay cứu nước. Vị thần mùa xuân có quyền lực đem lại sức sống cho muôn loài (chúa xuân) hay những bậc vua thánh tôi hiền đâu cả rồi, có hay không? Chữ “ngùi ngùi” biểu hiện tâm trạng buồn rầu như muốn khóc. Chữ “ngóng” càng tô đậm vẻ thiết tha, nóng lòng của sự mong đợi. Có lẽ phải đợi phải ngóng lâu lắm rồi mới thiết tha và ngấm xót xa đến thế. Bởi vậy lời hồi tim dồn dập mà không gặp lời đáp, như vang vào không gian mông lung, trông không. Nam Bộ lần lượt rơi vào tay giặc. Lòng dân li tán. Triều đình, không tổ chức kháng chiến. Chúa xuân đâu hỡi có hay không?
c) Hai câu thực: Càng mở rộng hơn, tô đậm hơn cái không gian mông lung xa vắng, cái cảm giác vô vọng ở hai câu đề:
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.
“Mây giăng ải Bắc”, “Ngày xế non Nam”, thủ pháp đối này diễn tả không gian mênh mông, thời gian đằng đẵng. Bốn phương trời đất nước, ngày cũng như đêm, ngày nọ sang tháng kia đều mịt mờ, đều bặt mọi tin tức! “Mây giăng ải Bắc”, gợi ta không gian xa vắng, ảm đạm. “Ngày xế non Nam” gợi lên cảm giác tàn lụi. Chim nhạn hay chim hồng đâu mà chẳng thấy để phải ngóng trông vò võ thế này! vẫn dùng các hình ảnh ước lệ những hai câu thực này biểu hiện cảm động nỗi niềm trông ngóng rất thực ở nhà thơ. Mặt khác, nó cũng kín đáo thể hiện sự trách móc thái độ hờ hững của Chúa Xuân.
d) Hai câu luận: Cái mờ mịt của không gian, sự vô vọng trong thời gian ở trên đến đây hiển hiện trên bức tranh sông núi. Hai câu luận đưa ta trở về với hiện thực đau đớn của đất nước và nói lên tấm lòng trung trinh của con người:
Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.
Ngẫm ra, ta thấy lời thơ vừa xót xa căm giận, vừa oán trách. Ở đây có sự đối lập giữa “bờ cõi xưa” và “đất khác”. “Bờ cõi xưa” là giang sơn có chủ quyền, là sông núi thiêng liêng được tạo đựng, giữ gìn bằng mồ hôi, xương máu của bao thế hệ cha ông. Ấy vậy mà giờ đây bờ cõi muôn đời ấy bỗng bị cắt chia cho kẻ khác, đã thành “đất khác. Câu thơ nghe như tiếng khóc nức nở, căm giận. “Bờ cõi xưa” đã thành “đất khác” thì làm sao ta có thể “đội trời chung” với những kẻ mắt xanh mũi lõ, những kẻ can tâm ôm chân lũ giặc! Câu thơ sau vang lên như một lời thề. Trong lời thề ấy cố thái độ dứt khoát, quyết liệt nhưng cũng có cả niềm uất hận quằn quại chịu đựng. Khi triều đình dâng ba tình miền Đông cho giặc, cũng như nhiều nhân sĩ yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Đình Chiểu đã chuyển sang sống ở miền Tây Nhưng rồi ba tỉnh miền Tây cũng mất luôn. Nhà thơ không đi nữa. Kẻ thù nhiều lần thuyết phục, dụ dỗ. Nhưng sống trong vùng địch chiếm mà đâu chịu đội trời chung. Ấy là tấm lòng kiên trung, thủy chung trọn vẹn với “bờ cõi xưa”, với nhân dân của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu.
e) Hai câu kết: Mở đầu bài thơ còn ngóng “gió đông”, còn tìm “Chúa Xuân”, giờ đây Nguyễn Đình Chiểu gọi, hỏi thẳng ra, trực tiếp. Phải chăng đó là thế hiện của niềm ước vọng thiết tha, đau đớn không còn kìm nén nổi:
Chừng nào Thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông?
Núi sông đầy bóng giặc. Dân tình khốn khổ bơ vơ. Bao giờ mới xuất hiện một vị vua sáng suốt, anh minh để rửa nhục cho non sông này. Nhà thơ ao ước một trận mưa lớn có thể cuốn phăng đi mọi thứ rác rưởi tanh hôi, tắm gội lại cho non nước quê hương mình. Là một nhà nho nên Nguyễn Đình Chiểu vẫn khao khát đợi một “Thánh dể”. Giọng thơ ở hai câu này vừa nghi vấn vừa cảm thán. Nó vừa chứng tỏ nỗi chờ đợi thiết tha, cũng vừa toát lên sự vô vọng.
3 – KẾT BÀI
Mượn lời nhẫn vật Đường Nhập Mòn, qua bài Ngóng gió đông, Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm tâm sự của mình. Bài thơ là nỗi trông ngóng cảm động của một tấm lòng yêu nước, thương dân. Lòng người kín đáo gửi và cảnh vật và cuối cùng cất lên thành niềm ước mong tha thiết. Ngóng gió đông khiến ta trân trọng hơn tấm lòng, nhân cách Nguyễn Đình Chiểu – một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc nửa sau thế kỉ XIX.
|
Bình giảng bài Ngóng gió đông của Nguyễn Đình Chiểu
| 1,398
| |
Bình giảng bài Thu vịnh để thấy được chân dung của nhân vật trữ tình
Hướng dẫn
Bình giảng bài Thu vịnh để thấy được chân dung của nhân vật trữ tình
BÀI LÀM
Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu. Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm (Xuân Diệu). Trong ba kiệt tác ấy, Thu vịnh dường như có thần hơn cả. Bài thơ không chỉ là một minh chứng về tài năng mà còn mang đậm hình ảnh Nguyễn Khuyến với những băn khoăn, trăn trở đáng trọng. Trăn trở ấy hiện ngay trong câu thơ đầu tiên.
Trời thu xanh ngắt mấy từng cao
Có phải vô tình chăng khi cả ba bài thơ mùa thu của cụ, da trời đều mang màu “xanh ngắt”? Xanh ngắt chứ không phải xanh lơ, xanh dịu hay xanh lục. Chỉ riêng mấy tiếng “mấy từng cao” đã thấy một độ cao khá lớn. Nhưng khi bàn tay Nguyễn Khuyến tô vẽ cho da trời một màu “xanh ngắt” thì trời thu như bị đẩy lên cao hơn, xa hơn, chẳng dừng lại ở mấy tầng nữa mà gấp bội lần như thế.
Đến câu thơ sau:
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Câu thơ vẻn vẹn bảy âm tiết mà đã có tới hai từ láy song vẫn không hề thúc ép, gượng gạo “lơ phơ” là một từ láy chỉ số lượng chẳng mấy đông đúc, thậm chí rất thưa thớt, vả chăng, khi thu sang, thân măng đã thành thân tre, có hình cong như cần câu và lá hãy còn thựa thớt lắm. Không chỉ mô tả được dáng điệu của sự vật, từ láy này còn gợi cả một chuyển động, dù rất nhỏ – nếu không tinh mắt, thì khó mà phát hiện ra. Ngay đến gió thu cũng chi “hắt hiu” chứ không phải là cơn gió mạnh mẽ căng đầy nhựa sống, cũng không phải là cơn gió lay lắt cuối mùa. Hơi “gió hắt hiu” gợi một cảm giác buồn sầu thanh nhẹ, ngắm dần vào con người. Và khi đã ngắm rồi thì buồn và sầu sẽ bị đẩy lên tới đỉnh điểm.
Nước biếc trông như từng khói phủ.
Đáng chú ý là sự xuất hiện hình ảnh so sánh đầu tiên và duy nhất trong bài thơ. So sánh, không phải để cụ thể hóa đối tượng, sự vật mà để cho nó trở nên huyền ảo, mông lung hơn. Do vậy, cảnh thu như nhiều hơn là thực.
Có trời, có nước, có trúc và bây giờ đến trăng:
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Ngỡ là thêm sự vật thì bức tranh thu sẽ trở nên đông đúc, rộn rã hơn. Nào ngờ càng thêm vào thì cái lạnh lẽo đơn độc càng tăng lên gấp bội. Lúc này, trăng không khơi gợi được cảm xúc của thi nhân cũng tỏ ra hờ hững với trăng nên mới “để mặc”. Hờ hững với trăng hay là còn hờ hững cả với đời nữa vậy?
Đúng! vẫn chưa rõ duyên cớ. Song tôi chắc chắn rằng nỗi buồn của Nguyễn Khuyến chưa đến mức tuyệt vọng, bởi nếu tuyệt vọng thì cụ còn nhìn cảnh âu sầu hơn thế rất nhiều. Tâm trạng của cụ Tam Nguyên lúc này vui thì không vui mà tuyệt cùng không phải là tuyệt vọng. Chỉ buồn, chỉ cứ ngồi bất động mà buồn. Con người ta nếu nằm ở hai trạng thái tình cảm minh bạch, rõ ràng: Vui thì vui mà buồn tuyệt vọng thì tuyệt vọng rõ đi – thì chẳng có gì đáng nói. Cứ như trường hợp nửa nọ nửa kia của Nguyễn Khuyến thì quả là một sự khó chịu khủng khiếp. Con người như vô cảm (?), nửa muốn phó mặc những gì đang diễn ra trước mát, nửa lại không.
Nếu như bốn câu thơ đầu bộc lộ một nỗi buồn vô cớ thì đến hai câu luận đã thấy rõ lí do:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Chỉ trong khoảng thời gian năm ngoái đến năm nay đã xảy ra những biến cố gì để thi nhân phải quay về cảm xúc trong “hoa năm ngoái” và xót xa trước tiếng “ngỗng nước nào”? “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” là một câu hỏi hoài nghi song cũng là một câu trả lời chắc chắn. Thế mới đau, thế mới uất, mới rầu… Âm thanh duy nhất của bài thơ cất lên không chút rộn rã đà đành, lại chỉ duy nhất “một tiếng” và đặt vào chú “ngỗng nước nào” thì u hoài, lạc lõng biết bao nhiêu.
Mà toàn bộ bài thơ, hình như cái gì cũng ít ỏi: trúc thì “lơ phơ”, song thì “thưa”, hoa thì “mấy chùm”, ngỗng thì “một tiếng”… Lạ! Vì mải mê suy nghĩ mà hững hờ với cảnh hay đấy chỉ là những âm thanh, sự vật của tâm tưởng, của cảm giác? Dù sao những sự vật đó đều tạo cho bài thơ một không gian lí tưởng để con người tự đối diện với chính mình mà giãi bày tâm sự. Cho vơi bớt đi chăng? Có lẽ càng giãi bày bao nhiêu thì nỗi niềm ấy càng hun đúc lại bấy nhiêu; bởi làm gì có tri âm mà giãi bày giữa cõi đời ô trọc này?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
Song lại là con người vô ngôn, bất động mặc dù có hành động “toan cất bút” – nhưng chỉ là “toan”. Chỉ có cuộc sống nội tâm là hoàn toàn xáo trộn. Vì “thẹn với ông Đào” chăng? Một cái “thẹn” đáng trân trọng đã nâng cao tầm vóc Nguyễn Khuyến hơn, đẹp hơn, đáng kính hơn.
Có một điều tôi chợt băn khoăn. Chẳng rõ thời điểm thi nhân viết bài thơ này là khi nào? Băn khoăn và cũng chợt nhận ra rằng, bài thơ được viết ở nhiều khoảnh khắc khác nhau “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” là hiện hữu rành rành của ngày, nhưng đến “Song thưa đế mặc bóng trăng vào” thì đã chuyển sang đêm mất rồi. Không rõ có phải do công việc bộn bề nên vần thơ dang dở thi nhân phải gác lại chờ trăng lên viết tiếp? Hay là cái nỗi sầu kia cứ hút lấy thi nhân, không dứt ra được và Nguyễn Khuyến cứ chìm trong cái bể sâu bất tận ấy từ ngày tới đêm?
Bài thơ có một không gian rất rộng. Trời thì bị đẩy lên cao tít tắp, nước như sâu hơn và cảnh thì thờ ơ lãnh đạm: Giữa một khu cảnh rộng rãi khác thường ấy, con người co lại như một chấm nhỏ. Bỗng thấy chơ vơ, lạc lõng. Buồn đến nao lòng.
Có thế nói, mỗi dòng thơ, mỗi âm tiết thơ ở bài này đều ắp đầy những băn khoăn trăn trở của cụ Tam Nguyên trước cuộc đời. Đọc kĩ bài Thu vịnh, phần nào, cũng thấy rõ thêm tính cách thi nhân của Nguyễn Khuyến là vậy.
|
Bình giảng bài Thu vịnh để thấy được chân dung của nhân vật trữ tình
| 1,202
| |
Bình giảng bài thơ Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu
BÀI LÀM
Trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt Nam, Phan Bội Châu là một nhà yêu nước nồng cháy thiết tha, một nhân vật lịch sử kiệt xuất, tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc mấy chục năm đầu thế kỷ XX.
Phan Bội Châu có một tiểu sử oanh liệt. Ngay đến những năm cuối đời, khi bị giặc Pháp giam lỏng ở Huế, Phan Bội Châu vẫn được sự quan tâm đặc biệt của đồng bào, đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Ông rất có ý thức bồi dưỡng thế hệ trẻ và đặt vào họ những hy vọng lớn lao. Đầu năm 1927, học sinh trường Quốc học và trường Dòng ở Huế tổ chức chúc thọ ông tròn tuổi 60. Đáp lại tình cảm ấy, Phan Bội Châu đã ứng khẩu đọc bài Bài ca chúc Tết thanh niên, theo thể hát nói. Thông qua những lời bộc bạch chân thành, tác giả thiết tha kêu gọi thanh niên hãy từ bỏ lối sống tầm thường, quyết tâm tu dưỡng, vươn tới lý tưởng cách mạng cứu nước, bắt kịp thời đại mới. Đó chính là sự kỳ vọng và sự bàn giao trách nhiệm của thế hệ Phan Bội Châu cho thế hệ thanh niên kế tiếp. Binh giang bai ca chuc Tet thanh nien cua Phan Boi Chau.
Mở đầu Bài ca là tiếng gọi đột ngột, khẩn cấp, giục giã: “Dậy! Dậy! Dậy”. Đây là lời của ai? Hãy đọc kỹ những câu thơ tiếp theo:
Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy.
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng.
Cách mở đầu thật độc đáo. Tác giả muốn lay tỉnh mạnh mẽ lớp hậu sinh hãy mở mắt nhìn ra một ngày mới bắt đầu: Trời đã sáng, chim chóc đã cất tiếng hót tưng bừng rộn rã. Điều đáng nói ở đây là tiếng gà, tiếng chim kia đều có sức thôi thúc, giục giã khác thường. Thì ra, những âm thanh đời thường vốn rất là quen thuộc ấy được “nghe” qua tâm trạng hy vọng, mong chờ một thời cơ mới và thế hệ mới của tác giả bỗng trở thành có tính biểu tượng đầy ý nghĩa của “vận hội mới”. Cảm động biết bao khi ta hiểu đây là tâm trạng của một người đang sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã, bị kẻ thù kìm kẹp hòng cắt lìa khỏi thực tế đấu tranh của dân tộc, nhưng vẫn gắn bó với cuộc sống, tin tưởng ở thế hệ tương lai của đất nước.
Đoạn thơ tiếp theo, Phan Bội Châu dành mấy dòng nói về bản thân mình. Lời thơ chân thành, tha thiết khiến cho người đọc vô cùng xúc động:
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng,
Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót.
Trời đất may còn thân sống sót,
Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh.
Khác với giọng vui tươi, phấn khởi phần đầu, những câu thơ ở đây có nhịp điệu chậm rãi, nặng trĩu ưu tư, phiền muộn. Trước “tân vận hội”, Phan Bội Châu cảm thấy chạnh buồn khi tâm sự với mùa xuân của đất trời và cũng là tâm sự với thế hệ trẻ, những người tri âm, tri ki của nhà thơ. Ở đây có nhiều cách hiểu về mùa xuân; xuân vừa có nghĩa là đất nước quê hương vừa để chỉ những lớp người trẻ tuổi. Phan Bội Châu bộc bạch hết nỗi niềm tâm sự. Đấy trước hết là nỗi đau của một người đã từng phải làm “khách không nhà trong bốn biển”, suốt nai mươi năm bôn tẩu, nhưng rốt cuộc “trăm thất bại không một thành công”. Đúng là trong nỗi đau này không chỉ có “thẹn” mà còn có thêm nỗi “buồn” và nỗi “tủi” lẫn cả sự chua xót đắng cay. Đây là nỗi đau xót của một trượng phu, một anh hùng, một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Đây còn là nỗi đau của cả một dân tộc, một đất nước. Câu thơ “Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng” được ngắt đều thành ba nhịp, ba vế đối nhau, mỗi trạng thái tình cảm đặt vào trong quan hệ của một hình ảnh biểu tượng của đất nước, thể hiện nỗi đau của tầm vóc núi sông, tầm vóc thời đại. Ta liên tưởng đến nỗi đau lớn của Đặng Dung thời trước trong bài thơ Cảm hoài đầy bi tráng: “Thù nước chưa xong, đầu đã bạc”. Đây là tâm sự của một con người đã từng trải qua mấy chục năm tung hoành, khi ở Nhật Bản, lúc ở Trung Quốc, lúc ở Xiêm La, nay phải sống trong vòng kiềm tỏa của quân thù và tuổi già đã đến, chỉ còn biết trông cậy vào “lũ đầu xanh” để khuây khỏa “tháng ngày”. Như vậy, Phan Bội Châu ý thức sâu sắc vai trò lịch sử của mình đã chấm dứt và cụ nghiêm khắc tự đánh giá bản thân mình. Điều này chứng tỏ sự sáng suốt nhân cách cao đẹp của nhà cách mạng. Riêng việc hiểu được bản thân mình, thấy được giới hạn của mình cũng đã thể hiện một phần tầm vóc lớn của tác giả, khiến người đọc vô cùng cảm phục.
Thất bại, nhưng không thất vọng; nhà thơ đặt hy vọng vào thế hệ thanh niên:
Thưa các cô, các cậu, lại các anh.
Một chữ thưa mà hàm chứa bao nhiêu niềm trân trọng và tin yêu. Đó vừa là đức khiêm nhường, vừa thể hiện tấm lòng thiết tha của nhà cách mạng lão thành đối với vận mệnh của đất nước. Thì ra, đối với Phan Sào Nam, dẫu ở tuổi 60, dẫu đã là một nhân vật lừng danh, nhưng bất kể già trẻ gái trai, ai có tinh thần cứu nước, biết thương xót giống nòi thì đều phải kính trọng. Ta còn nhớ có lần, Phan đã “ngàn vạn lạy” các chú lính tập để họ quay về với Tổ quốc (Việt Nam vong quốc xứ). Hơn nữa, cách xưng hô thích hợp để tác giả trình bày những vấn đề trọng đại tiếp theo. Bởi vậy, có thể nói, ở đây, cụ Phan đã chọn lựa được những lời lẽ và giọng điệu thích hợp nhất để phô diễn ý tưởng của mình.
Tâm sự với thanh niên, Phan Bội Châu khẳng định “đời đã mới, người càng nên đổi mới”. Câu thơ có cách diễn đạt tăng cấp: lúc nào cũng cần đổi mới, huống chi đời đã đổi mới, tức là có cơ hội mới, vận hội mới. Đến câu tiếp theo “Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn”, tác giả nói cụ thể hơn nhiệm vụ của thanh niên phải cùng nhau đoàn kết giành lại chủ quyền cho giang sơn mà cha ông từ ngàn xưa để lại. Công việc này thật khó khăn, nặng nề, vì thế không những phải dũng cảm, mà còn phải khôn khéo kiên trì, nhất là phải biết đoàn kết, biết “liên hiệp lại” thành một khối vững chắc:
Đây đoàn thể quyết ghe phen liên hiệp lại.
Trải qua những năm tháng hoạt động cách mạng, cụ Phan ý thức rất rõ về tầm quan trọng của sự đoàn kết. Ngay những năm đầu ra nước ngoài, trong Thư gửi người trong nước khuyên nhân dân giúp tiền cho học sinh đi học ngoại quốc, Phan Bội Châu đã nêu rõ: “Hễ người đông thì xong công việc, đồng tâm thì sức sẽ khỏe; góp nhiều mảnh da để may áo cừu, góp nhiều cây lại để chống nhà. Muôn búa vào rừng cây to cũng ngã; xe cát suốt ngày, biển sâu cũng lấp”. Những câu thơ trên đây hấp dẫn người đọc không phải chỉ ở nội dung mà chính là ở cách nói, ở bầu nhiệt huyết. Nó còn có sức thuyết phục lớn vì được bảo chứng bằng cách cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi của nhà đại ái quốc.
Lời khuyên nhủ có lúc chuyển sang giọng dịu dàng, nhỏ nhẹ, như vỗ về:
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi
Xếp bút nghiêng mà tu dưỡng lấy tinh thần,
Đừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn…
Có lúc lại sôi nổi, hào hùng và quyết liệt:
Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
Nhưng đấy mới thực là giọng chủ đạo của thơ Phan Bội Châu – đúng như Tố Hữu nhận xét: “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng”. Qua giọng thơ và hình ảnh thơ, ta thấy hiện lên thật rõ nét một Phan Bội Châu tuy tuổi đã già, thân bị giam cầm nơi Bến Ngự, mà tinh thần vẫn hăm hở sục sôi, vẫn khao khát tung hoành và đặc biệt là vẫn muốn chuyển mình theo “tân vận hội”.
Khát vọng ấy ông muốn truyền tới lớp đầu xanh với tất cả niềm tin của mình:
Chữ rằng: Nhật nhật tân, hựu nhật tân.
|
Bình giảng bài thơ Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu
| 1,551
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
Bài làm
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là nhà thơ lớn cua dân tộc kinh bang tế thế, lưu danh sử sách. Lúc sống cuộc đời một hàn sĩ, lúc cầm quân chinh chiến, lúc làm lính thú, lúc làm đại quan, vinh nhục đã từng, thăng trầm đã trải, nhưng lúc nào ông cũng hăm hở chí nam nhi, sòng phẳng với nợ tang bồng, sống vì một khát vọng phi thường:
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Công Trứ vô cùng rạng rỡ, cho thấy một cá tính sáng tạo rất độc đáo được thể hiện tuyệt đẹp qua bài phú Nôm Hàn nho phong vị phú và trên 60 bài thơ hát nói cực kì tài hoa. Bài ca ngưởng là một trong những bài thơ hát nói kiệt tác trong nền thơ ca dân tộc. Bài hát nói này có hai khổ đôi, tất cả có 19 câu thơ đầy vần điệu, nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, lúc khoan thai, lúc hào hùng, đọc lên nghe rất thú vị. Hát nói là một thể thơ dân tộc, có bố cục chặt chẽ, chất thơ chất nhạc kết hợp rất hài hòa, hấp dẫn.
Nguyễn Công Trứ về trí sĩ năm 1848, sau gần 30 năm làm quan với triều Nguyễn. Bài thơ Bài ca ngất ngưởng được ông viết sau khi đã về trí sĩ tại quê nhà. Bài thơ vang lên như một lời tự thuật về cuộc đời, qua đó ông Hi Văn tự hào về tài năng và công danh của mình, biểu lộ một cá tính, một phong cách sống tài tử, phóng khoáng ở đời.
Ngất ngưởng nghĩa là không vững, ở chỗ cheo leo dễ đổ, dễ rơi (Từ điển tiếng Việt). Trong bài thơ này nếu hiểu ngất ngưởng là một con người khác đời, một cách sống khác đời và bất chấp mọi người. Và ngất ngưởng đã được Nguyễn Công Trứ nâng lên thành bài ca, thành điệu tâm hồn với tất cồ niềm tự hào và sự say sưa hiếm thấy.
Khổ đầu cất cao một tiếng nói, một lời tuyên ngôn của đấng nam nhi, đấng làm trai. Rất trang trọng và hào hùng: Vũ trụ nội mạc phi phận sự – mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không là phận sự của ta. Một cách nói phủ định để khẳng định tâm thế của một nhà nho chân chính. Mà đâu chỉ có một lần? Lúc thì ông viết: Vũ trụ giai ngô phận sự (Những việc trong vũ trụ đều thuộc phận sự của ta – Nợ tang bồng); Vũ trụ chứa phận nội (Việc trong vũ trụ là chức phận của ta – Gánh trung hiếu). Có cái tâm thế ấy chính vì Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. Tài bộ là tài năng lớn, nhiều tài năng. Chữ lồng trong câu thơ có nhiều cách hiểu khác nhau. Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa nhưng vẫn là chật hẹp, tù túng trái với cái tài bộ đội trời đạp đất của óng. Có người lại giải thích: lồng là trời đất, vũ trụ. Nguyễn Công Trứ đã nhiều lần nói: Đã mang tiếng ở trong trời đất, hoặc Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn (trần hoàn: cõi đời, cõi trần). Cách hiểu thứ hai hợp lí hơn, vì có lồng vũ trụ thì mới có ý chí đua tranh như ông nói.
Sau khi đã xưng danh, nhà thơ tự khẳng định tâm thế của mình, tài bộ của mình, chí nam nhi của mình mang tầm vóc vũ trụ.
Ông Hi Văn là một người có thực tài và thực danh. Học hành thi cử, ông dám thi thố với thiên hạ: Cái nợ cầm thư phải trả xong. Năm 1819, Nguyễn Công Trứ đỗ thả khoa trường Nghệ An. Làm quan võ, giữ chức Tham tán; làm quan văn, là Tổng đốc Đông (Hải Dương và Quảng Yên). Tiếng tăm lừng lẫy, Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ (Chí anh hùng). Đứng trên đỉnh cao danh vọng bởi có văn võ toàn tài, bởi có gồm thao lược, và chính lúc đó ông Hi Văn mới trở thành tay ngất ngưởng, một con người hơn đời và hơn thiên hạ. Câu thơ với ngắt nhịp (3-3- 1-3-3-2), ba lần điệp lại chữ khi đã tạo nên một giọng điệu hào hùng, thể hiện một cốt cách phi thường, một chí khí vô cùng mạnh mẽ:
Khi Thủ khoa / khi Tham tán / khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược / đã nên tay / ngất ngưởng.
Bốn câu tiếp theo (khổ giữa), ý thơ mở rộng, tác giả tự hào, khẳng định mình là một con người, một kẻ sĩ có tài kinh bang tế thế. Thời loạn thì xông pha trận mạc, giữ trọng trách trước ba quân: Bình Tây cờ Đại tướng. Thời bình thì giúp nước giúp vua, làm Phủ doãn Thừa Thiên. Đó là năm 1847, Nguyễn Công Trứ đã lên tới đỉnh cao nhất danh vọng. Ông đã từng nói: Lúc làm Đại tướng, ta chẳng lấy thế làm vinh, lúc làm lính thú, ta cũng chẳng lấy thế làm nhục. Sau 30 năm làm quan, Nguyễn Công Trứ về trí sĩ ở quê nhà, năm đó, ông vừa tròn 70 tuổi (1848):
Đô môn giải tô chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Trở lại đời thường, cụ Thượng Trứ đã hành động một cách ngược đời, hình như để giễu đời với tất cả sự ngất ngưởng. Vị đại quan thuở nào ngựa ngựa xe xe nay chỉ cưỡi bò vàng và cho bò đeo đạc ngựa. Cả người và bò vàng đều ngất ngưởng. Như một sự thách đố với miệng thế gian. Cho đến nay dân gian vẫn cười và truyền tụng bài thơ để vào chiếc mo cau của ông Hi Văn thuở nào:
Xuống ngựa, lên xe, nọ tướng nhàn,
Lợm mùi giáng chức vơi thăng quan,
Điền viên dạo chiếc xe bò cái,
Sẵn tấm mo che miệng thế gian.
Tám câu tiếp theo trong hai khổ đôi nói lên cách sông ngất ngưởng. Xưa kia là một vị đại thần, một danh tướng – tay kiếm cung – thế mà nay sống cuộc đời hiền lành, bình dị nên dạng tử bi. Đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh, ông đã mang theo một đôi dì, những nàng hầu xinh đẹp với gót tiên đủng đỉnh..
Kia núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi,
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…
Ông đã sống hết mình và chơi cũng hết mình. Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng là một tứ thơ độc đáo. Câu thơ tự trào nhiều hóm hỉnh. Bụt cười hay thiên hạ cười? Hay ông Hi Văn tự cười mình? Đã thoát vòng danh lợi rồi, thì chuyện được, mất là lẽ đời, như tích Thất mã tái ông mà thôi, cũng chẳng bận tâm làm gì? Chuyện khen, chê của thiên hạ, xin bỏ ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua. Có bản lĩnh, có tự tin về tài đức của mình mới có thái độ phủ định như thế, dám sống vượt lên trên mọi thế tục. Có biết Nguyễn Công Trứ là một nhà nho được đào luyện nơi cửa Khổng sân Trình, một vị đại quan của triều Nguyễn thì mới thấy được một phần nào các tính cốt cách khác đời, một nhân cách khác đời, rất phóng túng và tài tình hiếm thấy của ông. Không quan tâm đến chuyện được, mất. Bỏ ngoài tai mọi lời thị phi, khen chê, ông đã sống một cách hồn nhiên, vô cùng thảnh thơi, vui thú. Tuy ngất ngưởng mà trong sạch, thanh cao. Đây là hai câu thơ tuyệt hay trong Bài ca ngất ngưởng:
Khi ca / khỉ tửu / khi cắc / khi tùng
Không phật / không tiên / không vướng tục.
Cách ngắt nhịp 2, nghệ thuật hòa thanh (bằng, trắc), lối nhân, lối diễn tả trùng điệp (khi… không…) đã tạo cho câu thơ phong phú về nhạc điệu, biểu lộ một phong thái ung dung yêu đời, ham sống, thanh cao chẳng vướng chút bụi trần. Có đọc to và hát lên, có lắng nghe tiếng đàn đáy, nhịp phách, tiếng trống chầu, ta mới cảm được chất thơ, chất nhạc hòa quyện trong những vần thơ đẹp như thế! Ngất ngưởng và tài hoa, tài tử.
Khổ xếp của bài hát nói chỉ có ba câu. Câu cuối gọi là câu keo chỉ có sáu từ. Nên ghi đúng như văn bản Tuyển tập thơ ca trù – NXB Văn học 1987 mới đúng thi pháp:
Chẳng Trái, nhạc cũng vào phường Hàn, Phú.
Nghĩa vua, tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Đời ai ngất ngưởng như ông!
Nguyễn Công Trứ tự hào khẳng định mình là một danh thần thủy chung, trọn vẹn nghĩa vua tôi – ông đã viết trong bài Nợ tang bồng.
Chí tang bồng hẹn với giang san,
Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác.
Tài năng, công danh mà Nguyễn Công Trứ để lại cho đất nước và nhân dân có kém gì Trái Tuân, Nhạc Phi, Hàn Kì, Phú Bật – những anh tài đời Hán, đời Tống bên Trung Quốc. Hai so sánh gần xa, trong ngoài, phương Bắc và phương Nam, tác giả đã kết thúc bài hát nói bằng một tiếng ông đĩnh đạc, hào hùng: Đời ai ngất ngưởng như ông!. Cái bản ngã phi thường của nhà thơ đã được phô bày cực độ.
Tóm lại, với Nguyễn Công Trứ, thì phải có thực tài, thực danh, phải vẹn đạo vua tôi mới trở thành tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng được. Và cách sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử, không ô trọc, không vướng tục, cũng không thoát li. Ngất ngưởng thế mới sang trọng.
Cái nhan đề, thi đề Bài ca ngất ngưởng của ông Hi Văn độc đáo. Cách bộc lộ bản ngã của nhà thơ rất độc đáo. Một thế kỉ sau, thi sĩ Tản Đà cũng có nhiều bài thơ hát nói, thơ trường thiên đậm đặc chất ngông. Một đàng ngất ngưởng mà tài danh, một đằng ngông mà chán đời và lãng mạn.
Thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Các câu thơ chữ Hán đem lại sự bề thế, uyên bác. Chất thơ, chất nhạc phối hợp hài hòa, lôi cuôn, hấp dẫn.
Trong nền thi ca cổ điển Việt Nam, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát.. Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, là nhũng nhà thơ cự phách để lại một số bài hát nói tuyệt tác. Nguyễn Công Trứ đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng, chất tài tử hòa nhập với Chí anh hùng, Nợ tang bồng, Chí nam nhi. Đó là phong cách nghệ thuật, là cốt cách, là bản sắc thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. Bài ca ngất ngưởng đích thực là bài ca từ đáy lòng của ông Hi Văn cho ta nhiều thú vị.
|
Bình giảng bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
| 1,906
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Chùa Non Nước của Lê Thánh Tông trích "Hồng Đức quốc âm thi tập”.
Bài làm
Trong phần "Phong cảnh môn" (Môn loại về phong cảnh) của "Hồng Đức quốc âm thi tập" (Hội Tao Đàn) hiện có 66 bài thơ vịnh những danh lam thắng cảnh của giang sơn gấm vóc Đại Việt. Trong đó có bài thơ “Chùa Non Nước” tương truyền là sáng tác của Tao Đàn đô nguyên súy Lê Thánh Tông.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục ngôn bát cú (sáu chữ, tám câu). Bao trùm bài thơ là một cái nhìn man mác với bao suy ngẫm về thiên nhiên va cuộc đời:
"Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược.
Hai bên góp làm Non Nước.
Đá chông hòn thấp, hòn cao.
Sóng trục lớp sau lớp trước.
Phật hư vô cảnh thiếu thừa.
Khách danh lợi, buồm xuôi ngươc.
Vẳng nghe trên gác boong boong,
Lẩn thẩn dưới chùa lần bước.”
Bài thơ chia làm 2 phần. Bốn câu đầu miêu tả cảnh sắc chùa Non Nước. Bốn câu cuối nói lên những suy ngẫm của tác giả về Phật, về con người trong cuộc đời.
Núi Non Nước nằm bên bờ sông Đáy thuộc thị xã Ninh Bình. Xa xưa gọi là Băng Sơn nằm giữa cửa biển. Trong thế kỉ XIII, Trương Hán Siêu đổi tên núi thành Dục Thúy Sơn. Ông có bài thơ "Dục Thúy Sơn khắc thạch" và bài văn "Dục Thúy Sơn linh tế tháp kí” đều nói về núi này. Nguyền Trãi cũng có bài thơ “Dục Thúy Sơn". Từ thời Lê, núi được đổi tên thành núi Non Nước. Từ xa xưa đến nay, trên núi Non Nước vẫn có chùa, người đời gọi là chùa Non Nước, núi, chùa ấy là một trong những cảnh đẹp nổi tiếng trên miền Bắc nước ta.
Hai câu thơ đầu ca ngợi vẻ đẹp độc đáo, vẻ đẹp thần tiên của núi Non Nước. Núi có sông Đáy uốn quanh: cảnh sơn thủy hữu tình, nên thơ và độc đáo: "Hai bên góp làm Non Nước". Hai chữ “góp làm" rất bình dị, rất nôm nói lên bàn tay sáng tạo kì diệu của Hóa công (Trời). Nguyễn Trãi đã từng ví Dục Thúy Sơn là “Cảnh tiên rơi cõi tục", là “Cửa biển có non tiên". Ở đây Lê Thánh Tông lại viết:
“Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược"
Bồng Lai, Nhược Thủy tương truyền là nơi tiên ở. Núi Non Nước trong cảm nhận của thi nhân mang vẻ đẹp cõi tiên. Một cách viết ước lệ hàm súc gợi lên bao tưởng tượng, biểu lộ một tâm hồn chan hòa tình sông núi.
Hai câu 3, 4 đối nhau. Núi đá chông cao lên, nơi thì “‘hòn thấp" nơi thì "hòn cao" vừa lạ vừa đẹp mắt. Dưới sông, sóng đuổi nhau “lớp sau, lớp trước". Hai chữ ''chồng" và “trục" đăng đối, làm nổi bật cái hồn sơn thúy vừa sống động vừa hài hòa. Cảnh sông núi càng ngắm càng mê say, quyến rũ:
“Đá chồng hòn thấp, hòn cao.
Sóng trục lớp sau, lớp trước.''
Qua vần thơ đẹp, ta cảm nhận được cảnh sắc núi Non Nước, chùa Non Nước là cảnh sơn thủy hữu tình, cảnh tiên kì diệu.
Bốn câu cuối nói lên những suy ngẫm của nhà thơ. Trước hết là suy ngẫm về Phật, về người đời:
“Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,
Khách danh lợi, buồm xuôi ngược."
“Hư vô" nghĩa là thế nào? Hư vô nghĩa là trống không. Chùa Non Nước thờ Phật, mà Phật chỉ là hư vô, một thế giới tưởng tượng, trong đó không có cái gì tồn tại. Câu thơ nào cũng ngắt thành 2 vế tiểu đối. Nếu cảnh chùa chiền, cảnh Phật là cõi hư vô, thì trái lại, cảnh thiên nhiên, cảnh sông núi ở đây lại cao, thấp, trước, sau, thiếu, thừa hiển hiện. Trong cuộc mưu sinh, giữa dòng đời xưa nay, xét đến cùng con người (số đông) chỉ là khách danh lợi, tất tả ngược xuôi chẳng khác nào những cánh buồm xuôi ngược trên sông. Sự cảm nhận của nhà thơ về đạo Phật, về đời người giữa cuộc sống thể xác và cõi tâm linh được thể hiện qua những vần thơ thâm trầm, đầy ý vị. Phải chăng đó là bi kịch của kiếp người trong dòng chảy thời gian?
Tiếng chuông boong boong trên mái chùa vẳng lên như làm cho du khách chợt tinh giấc mộng, “lẩn thẩn" dạo bước ngắm cảnh chùa Non Nước. Hai chữ "lẩn thẩn" chứa đầy tâm trạng của một du khách thanh nhàn mang tình sông núi. Bút pháp nghệ thuật lấy động để tả tĩnh rất đặc sắc: tiếng chuông vẳng lén "boong boong" đã làm nổi rõ cảnh chùa Non Nước trên núi cao vô cùng tĩnh lặng, vắng vẻ; du khách tưởng như tinh mộng:
“Vẳng nghe trên gác boong boong,
Lẩn thẩn dưới chùa lần bước."
Bài thơ “Chùa Non Nước" là một thành công đặc sắc và độc đáo về thơ lục ngôn mà Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn để lại cho nền thi ca dân tộc. Bài thơ lại được gieo vần trắc, tạo nên âm diệu trầm bổng, gập ghềnh như leo núi: “Nhược – nước – trước – ngược – bước". Tác giả sử dụng nghệ thuật bình đối và tiểu đối rất thành công. Hình tượng sông núi, sơn thủy, non nước, cảnh Phật và đời người in đậm và bao trùm bài thơ. Ngoài sự suy ngẫm giàu tính nhân bản về Phật và đời người, bài thơ còn thể hiện một tâm hồn thanh cao, giàu tình yêu thiên nhiên đất nước. Đáng quý nhất, đó là tâm hồn của mội ông vua vào hàng minh quân thánh đế của Đại Việt.
|
Bình giảng bài thơ Chùa Non Nước của Lê Thánh Tông
| 963
| |
Đề bài: Hãy bình giảng bài thơ Chợ Đồng của Nguyễn Khuyến.
Bài làm
Chợ Đồng
Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng.
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xao xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.
Thi sĩ Xuân Diệu từng mệnh danh Nguyễn Khuyến là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam. Yên Đổ, Bình Lục, tỉnh Hà Nam, môt vùng đồng chiêm trũng là nơi chôn nhau cắt rốn của Nguyễn Khuyến. Với tuổi đời 75, chỉ có 12 năm đi làm quan, còn lại trên nửa thế kỉ, ông gắn bó với làng xóm quê hương đi “Vườn Bùi, chốn cũ”, với núi An Lão, chợ Đồng,… thân yêu.
Nguyễn Khuyến đã mất non thế kỉ nhưng thơ ông, trái tim ông vẫn sống, vẫn gắn bó với cảnh dân tình dân. Cuộc sống thôn dã bình dị như thấm vào câu chữ bài thơ “Chợ Đồng" này:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
……………………………..
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng".
Ta đã biết nhiều tên chợ, phiên chợ trong ca dao, dân ca. “Chợ huyện một tháng sáu phiên – Gặp cô hàng xén kết duyên Châu – Trần; "Chợ Viềng năm có một phiên – Cái nón em đội cũng tiền anh trao”. Và chợ Đồng quê hương Tam Nguyên Yên Đổ.
Hai câu thơ đầu như một lời nhẩm tính chợt nhớ ra và còn hỏi, tự hỏi mình hay còn hỏi bà con đi chợ về?
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?”.
Làng Vị Hạ, quê hương Nguyễn Khuyến có chợ. Và còn gọi là chợ Đồng, mỗi tháng có chín phiên họp vào ngày chấn: 4, 6,10, 14, 16, 20, 24, 26, 30. Ba phiên chợ cuối năm, chợ không họp trong làng nữa, chợ Tết nên họp ở cánh nương mạ, cạnh một ngôi đền cổ ba gian. Những năm được mùa, chợ Đồng, ba phiên chợ Tết đông vui lắm. Trái lại, những năm mất mùa, chợ Đồng thưa thớt người mua hán. Câu thơ thứ nhất nhắc đến một nét đẹp của quê hương. Tết đã đến, ngày hai mươi bốn tháng chạp, chợ Đồng vào phiên. Hai tiếng “năm nay" thời gian không xác định. Có phải đó là năm Quý Tị (1983), năm Ất Tị (1905) đê sông Hồng bị vỡ, vùng Hà Nam bị lụt lớn: “Tị trước Tị này chục lẻ ba – Thuận dòng nước cũ lại bao la…" (Vịnh lụt). Năm tiếng “chợ họp có đông không” như một tiếng thở dài đằng sau câu hỏi nhỏ. Cầu thơ chứa đầy tâm trạng; tâm trạng của một nhà nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than.
Tiếp theo là hai câu thơ 3, 4 trong phần “thực” thêm mội câu hỏi nữa, diễn tả nỗi lòng nhà thơ. Ta như cảm thấy một ông già lụ khụ, tay chống gậy trúc, ngơ ngác nhìn trời, tự hỏi:
"Dở trời mưa bụi còn hơi rét,
Uống rượu tường đền được mấy ông”
Dở trời là thời tiết không thuận. Mưa bụi, mưa phùn liên miên, đường sá, “ngõ trúc quanh co" nơi làng quê lại bùn lầy, nhớp nháp, cả một miền quê năm hết Tết đến chỉ còn “hơi rét”. Cái rét trong lòng người rét rà, hơi rét của đất trời cùng với mưa bụi trắng trời như vây chặt lấy bà con nơi chốn quê lam lũ. Câu thơ "Dở trời mưa bụi còn hơi rét” mang hàm nghĩa về cảnh lầm than, nỗi cơ hàn của nhân dân, của bà con dân cày nghèo khổ, cực nhọc. Chợ Đồng đang họp trong mưa rét.
“Nếm rượu tường đền” là một nét đẹp, cổ truyền diễn ra trong ba phiên chợ Đồng cuối năm. Các bô lão làng Vị Hạ vẫn ngồi tựa lưng vào tường đền “nếm rượu ", xem thứ rượu nào ngon thì mua để tế lễ thánh trong dịp Tết và đầu xuân. Chỉ một nét đẹp trong phong tục quê hương vẫn được Nguyễn Khuyến nhắc đến với bao tình cảm mến yêu và trân trọng. “Được mấy ông?” vì còn có bao cụ già nữa, thưa thớt, vắng vẻ cả rồi. Câu thơ thứ tư ý tại ngôn ngoại, đã thể hiện nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí, như ông đã nói trong bài “Gửi bạn”:
“Đời loạn đi về như hạc độc,
Tuổi già hình bóng tựa mây côi”
hoặc
“Xuân về ngày loạn cùng lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ".
(Ngày xuân dặn các con)
Hai câu 3, 4 chỉ một vài nét đơn sơ, tác giả đã tái hiện lại khung cảnh, không khí buồn tẻ của phiên chợ Đồng “năm nay" thưa thớt vắng vẻ, buồn trong mưa rét. Nó có giá trị hiện thực phản ánh cảnh dân, tình trên miền Bắc nước ta một trăm năm về trước.
Nguyễn Khuyến có tài ghi lại không khí cuộc sống dân dã vào trong những câu thơ của mình. Đây là cảnh chợ tan nhà thơ tả những âm thanh, những tiếng đời ông nghe được:
"Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung”.
Có người cho rằng bài thơ “gợi lên không khí rộn rịp cảnh chợ Đồng” trong hai câu 5, 6 này. Xuân Diệu đã hiểu ngược lại, thi sĩ nói: “người về” không phải là về họp mà là ra về; càng về cuối chợ, có cái huyên thuyên của sự rã đám, kẻ đòi nợ càng thúc người chịu nợ… Cái âm "xáo xác" đối với cái thanh “ lung tung”. Xao xác nghĩa là ồn ào mà ngơ ngác. Lung tung là rắc rối, loạn xạ cả lên. Tan chợ, phiên chợ Tết mà chỉ có tiếng đòi nợ, thúc nợ lung tung. Cái nghèo túng đang đè nặng xóm làng quê.
Cảnh hàng quán mua bán “nghe xáo xác". Cái buồn của sự đói nghèo càng được nhân lên khi năm hết Tết đến rồi. Hai câu trong phần thực nói về cái rét, hai câu trong phần luận tả cái nghèo. Có nỗi khổ nào lớn hơn cái nỗi khổ cơ hàn? Vạn khổ bất như bần? Dân gian có câu: “Thứ nhất con đói, thứ hai nợ đòi, thứ ba nhà dột". Đó là ba cái khổ của người nghèo xưa nay. Nguyễn Khuyến đã nghe được bao nỗi đời cay cực của nhân dân trong xã hội cũ, nên ông mới viết thâm thía như vậy: “Nợ nần năm hết hồi lung tung”. Ông đã chỉ ra nguyên cớ của cái nghèo, cái rét ấy:
“Năm nay cày cấy vẫn chan thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Tằn tiện thế mà không khá nhỉ?
Nhờ trời rồi cũng mấy gian kho! ”
(Chốn quê)
Trở lại bài “Chợ Đồng” hai câu kết chứa chất bao tâm trạng. Người đi chợ về đã vãn. Một mình nhà thơ đứng bơ vơ nhẩm tính. “Dăm ba ngày nữa tin xuân tới”, năm cũ dần qua, năm mới dần sang. Cái nghèo, cái rét vẫn là nỗi lo, nỗi buồn man mác. Chợt nhà thơ giật mình trước cái âm thanh “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng”. Tác giả vận dụng tài tình điển tích về tiếng pháo trúc xua đuổi ma quỷ của Lý Điền ngày xưa bên Trung Quốc để tạo ra một ý mới. Tiếng pháo trúc “nhà ai" nổ “một tiếng đùng” như muốn xua đi cái nghèo đói của năm cũ để “Co cẳng đạp thằng bần ra cửa… Giơ tay bồng ông phúc vào nhà " (Nguyễn Công Trứ). Nguyễn Khuyến đã từng chợt tỉnh khi nghe “Cú đâu đớp động dưới chân bèo”, và giờ đây trong cảnh "Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng” vãn, ông lại bồi hồi ngơ ngác lúc nghe “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng". “Nhà ai” – không rõ, mơ hồ, xa xăm. Nỗi cô đơn của nhà thơ không thể nào kể xiết được:
“Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng”.
“Tin xuân tới” với bao nỗi mong chờ cho dân cày mát mặt “nhờ trời" để dân làng Vị Hạ “được bát cơm no". Nguyễn Khuyến tả cảnh chợ Đồng với bao nỗi buồn lo, le lói một niềm ước mong cho dân nghèo khi “tin xuân tới”. Đó là tấm lòng thương dân, lo đời đáng quý.
Nguyễn Khuyến mất năm 1909, đúng bốn mươi năm sau, giặc Pháp kéo quân tới chiếm đóng làng Vị Hạ, càn quét bắn phá dã man. Chợ Đồng tan từ đây, và tục họp chợ Đồng vào cuối năm cũng mất. Bài thơ “Chợ Đồng” của Nguyễn Khuyến như một tấm bia nói về cuộc sống và phong tục làng quê xưa. Bài thơ thất ngôn bát cú cho ta nhiều ấn tượng. Ngôn ngữ bình dị, thuần Nôm. Giọng thơ trầm lặng, đượm một nỗi buồn man mác, cô đơn. Cảnh dân và tình dân được thể hiện qua một bút pháp điêu luyện. Cái hồn quê, cái tình quê như kết đọng qua âm thanh “xao xác”, qua hình ảnh “nếm rượu tường đền" của các bô lão tóc bạc phơ dưới làn mưa bụi “Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng’’… Nguyễn Khuyến vẫn đang hiển hiện cùng làng nước quê hương.
|
Bình giảng bài thơ Chợ Đồng của Nguyễn Khuyến
| 1,607
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Cuốc kêu cảm hứng của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Trong các nhà thơ cổ điển Việt Nam chưa có thi sĩ nào trong thơ mình lại xuất hiện nhiều bóng hình con vật đến như thế. Đó là những con vật gắn bó gần gũi với người dân cày Việt Nam, với bà con xóm thôn đồng chiêm trũng. Theo Nguyễn Văn Huyền, tác giả cuốn "Nguyễn Khuyến – Tác phẩm" thì có tới sáu, bảy chục con vật khác nhau xuất hiện trong thơ Yên Đổ. Có "Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè". Có "Ngoài luỹ nhấp nhô cò cụ Tổng", có "Trâu già gốc bụi phì hơi nắng – Chó nhỏ bên ao cắn tiếng người"
Bình giảng bài thơ Cuốc kêu cảm hứng của Nguyễn Khuyến
Riêng về con chim cuốc, thấy ba lần xuất hiện. Lần thứ nhất tiếng chim như nhắc nhở, như giục giã chí hăm hở vào đời:
"Quyên đã gọi hè quang quác quác".
Lần thứ hai là bài thơ "Cuốc kêu cảm hứng", lần thứ ba là bài "Điệu quyên" (Viếng con cuốc) được viết vào thời gian Nguyễn Khuyến về sống giữa làng xóm quê hương, nơi "Vườn Bùi chốn cũ”. Bài thơ Nôm "Cuốc kêu cảm hứng" là một trong những bài thơ được nhiều người yêu thích và truyền tụng. Giọng thơ thê thiết, réo rắt, thấm một nỗi buồn mênh mông. Tiếng cuốc như gợi lên trong lòng nhà thơ nỗi đau mất nước, nỗi buồn bơ vơ, nỗi xót xa tủi nhục trước cảnh lầm than của dân tộc. Mỗi câu thơ là một tiếng lòng, là một nỗi buồn tê tái:
"Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
………………………………..
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ".
Hai câu đề tả âm thanh tiếng cuốc. Tiếng cuốc kêu "khắc khoải" nghe buồn buồn, lặp đi lặp lại triền miên, thê thiết; giọng cuốc "lửng lơ" chơi vơi trong không trung. Càng nghe càng buồn không kể xiết. Nghe tiếng cuốc kêu mà xúc động nhớ đến chuyện Thục Đế xa xưa vì để mất nước mà xót xa tủi hận biến thành con chim cuốc. Một liên tưởng thấm thía, gợi tả tiếng cuốc kêu như một tiếng gọi đau thương của một oan hồn. Ba chữ “thác bao giờ" diễn tả tâm trạng buồn đau cực độ đến ngơ ngác, ngẩn ngơ:
"Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ".
Hai câu đề giới thiệu rất tài tình nhan đề bài thơ. Nghe tiếng cuốc kêu trong hiện tại mà cảm hứng, man mác buồn đau nghĩ về một chuyện xưa đau buồn. Thơ Nguyễn Khuyến tinh tế trong biểu cảm là vậy!
Hai câu thực làm hiện lên một không gian nghệ thuật và một thời gian nghệ thuật khi nhà thơ cực tả tiếng cuốc kêu:
"Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ"
Tiếng cuốc gọi hè vô cùng ám ảnh. Nỗi đau như "máu chảy", nỗi buồn như nát ruột "hồn tan". Tiếng cuốc kêu mãi, kêu hoài, kêu khắc khoải triền miên suốt năm canh đến sáu khắc, từ ngày này qua đêm khác. "Đêm hè vắng” và "bóng nguyệt mờ" hô ứng, đối xứng diễn tả nỗi đau, nỗi buồn như thấm vào thời gian, toả rộng trong không gian. Đêm hè trở nên "vắng" để nghe rõ tiếng cuốc “khắc khoải đưa sầu…". Bóng trăng như "mờ" đi trong tiếng cuốc "lửng lơ” đau đớn và tê tái. Đúng là "lời văn thanh thoát, tình nghĩa rất ứng đọng lại", như Xuân Diệu đã cảm nhận: "Chúng ta tưởng nghe da diết, ám ảnh, chì chiết một tiếng chim kêu, có sắc đỏ, khóc nức nở, gào thảm thiết, tiếng kêu có máu, tiếng huyết kêu mất nước! nhớ nước!". Trong bài thơ Chữ Hán "Điệu quyên" (Viếng con cuốc), Nguyễn Khuyến cũng diễn tả "tiếng huyết kêu mất nước! nhớ nước!" bằng một tứ thơ rỉ máu, tan nát, bi thương:
"Bi đề dạ dạ huyết triêm y"
(Đêm đêm kêu gào thảm thiết, máu chảy đầm áo)
Hai câu luận nói lên chiều sâu một tâm trạng:
"Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ".
"Có phải" và "hay là" câu hỏi mơ hồ, giả định ấy diễn tả những băn khoăn, những day dứt đè nặng trong lòng. Tiếng cuốc gọi hay vì "tiếc xuân" mà cuốc cất tiếng gọi? Hay là oan hồn Thục Đế "nhớ nước vẫn nằm mơ". Câu luận rất tinh tế trong biểu cảm, Nguyễn Khuyến mượn tiếng cuốc để giãi bày niềm thao thức của mình. Cuốc thì tiếc xuân mà đứng gọi, kêu khắc khoải suốt đêm. Còn Tam nguyên Yên Đổ thì đêm đêm vẫn nằm mơ mà nhớ nước. Hồn nước đi đâu về đâu? Nỗi buồn bơ vơ nhớ nước như thấm vào câu chữ. Các cặp hô ứng nhau rất chỉnh: Có phải – hay là / tiếc xuân – nhớ nước / mà đứng gọi – nằm mơ, làm cho nỗi buồn thương nhà nhớ nước trở nên thấm thía. Tiếc rồi nhớ, đứng rồi nằm, gọi và mơ, trạng thái nào, tâm trạng nào cũng bồn chồn, xót xa đau đớn.
Giữa thế kỉ XIX, Bà Huyện Thanh Quan đứng trên đỉnh đèo Ngang lúc hoàng hôn, trong nỗi buồn của người lữ khách mà thổn thức:
"Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia".
(Qua Đèo Ngang)
Có điều là Bà Huyện Thanh Quan lúc bấy giờ tuy mang tâm trạng cô đơn, nhưng còn có nước để mà “nhớ nước”, còn có nhà để mà "thương nhà” còn Nguyễn Khuyến, nửa thế kỉ sau sống trong cảnh ngộ, nước mất nhà tan nên ra đi “nhớ nước vẫn nằm mơ”, thao thức, đắng cay, đau buồn…
Nỗi đau buồn nằm mơ… nhớ nước ấy được Yên Đổ gửi gắm trong nhiều bài chữ Hán giàu ý tưởng thâm trầm, kín đáo. Đây là nỗi niềm lưu lạc tha hương “Giang sơn y cựu phong quang cải – Thiếu vọng đê mê dục đoạn hồn ” (Túc Phú Xuyên đồn) – (Sông núi vẫn như xưa nhưng quang cảnh đã đổi thay – Ngắm thấy cảnh lờ mờ mà tâm hồn những muốn nát tan). Trong bài thơ "Hung niên 1 – Năm mất mùa), giọng thơ lại càng thêm đau đớn:
"Cố quốc sơn hà chân thảm đạm
Thu hương hồng nhạn tối bi ai".
(Núi sông nước cũ âm thầm,
Lạc loài cánh nhạn không cầm nỗi đau)
Bùi Văn Cường dịch
Có thể nói “nhớ nước vẫn nằm mơ" là một tứ thơ hay nhất, cảm động nhất của Nguyễn Khuyến khi luận về “cuốc kêu… ”
Hai câu kết là một lời tự hỏi, một tâm trạng bồi hồi không yên:
"Thâu canh ròng rã kêu ai đó,
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ".
Kêu ai, giục ai, hay lời kên gọi, thúc giục của ai đó đối với mình. Ngẩn ngơ nghĩa là đờ đẫn như mất hết tinh thần, đau đớn bồn chồn không yên dạ. Chính tiếng cuốc kêu ròng rã thâu canh kiến cho khách giang hồ bồn chồn ngẩn ngơ cả dạ. Yêu nước nhưng bất lực nên mới ngẩn ngơ như thế! Nhà thơ thao thức suốt năm canh, suốt những đêm hò đau xót, tủi buồn, bơ vơ vì nước mất. Tình yêu nước son sắt thuỷ chung nên tâm trạng đầy bi kịch, rối bời, ngẩn ngơ. Một thế kỷ sau, trong vận hội mới đất nước, độc giả ngày nay vẫn còn cảm thấy ngẩn ngơ, bồi hồi nghe tiếng cuốc kêu rỉ máu, tiếng thương tiếng đau, tiếng thở dài và giọt khóc… của Tam Nguyên Yên Đổ, của ông cha thuở ấy…
Qua “Cuốc kêu cảm hứng”, Nguyễn Khuyến đã giãi bày một tấm lòng yêu nước không nguôi, một tâm trạng đầy bi kịch: xót xa đau buồn, tủi nhục vì nước mất nhà tan. Tâm trạng ấy của nhà thơ cũng là tâm trạng của một thế hệ nhà nho yêu nước mà bất lực trước thời cuộc. “Cuốc kêu cảm hứng” là tiếng đồng vọng bi thương, để con cháu cảm thông với nỗi lòng ông cha, trân trọng và tự hào về cái giá của độc lập tự do với bao nhiêu máu, nước mắt mà cả dân tộc phải trả. “Cuốc kêu cảm hứng" tiêu biểu nhất cho hồn thơ Nguyễn Khuyến sau khi đã cáo quan lui về sống giữa xóm làng quê hương: man mác bâng khuâng buồn, cô đơn… Bài thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Khuyến: điêu luyện, hàm súc, giọng điệu ám ảnh, ngôn ngữ hình ảnh đối xứng hài hoà tạo nên một bài thơ toàn bích, cổ điển, vần thơ chơi vơi lửng lơ man mác: lửng lơ – bao giờ – bóng nguyệt mờ – nằm mơ – dạ ngẩn ngơ. Các từ láy tượng thanh, biểu cảm rất tinh luyện cực tả tiếng cuốc và tâm trạng nhà thơ: khắc khoải, lửng lơ, ròng rã, ngẩn ngơ… Tiếng cuốc kêu hoài lòng ta khi đọc “Cuốc kêu cảm hứng”, ta cảm thấy Tam Nguyên Yên Đổ đang thao thức ngồi dưới “bóng nguyệt mờ” đôi mắt già đẫm lệ, ngẩn ngơ lắng nghe tiếng cuốc “khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ…”
|
Bình giảng bài thơ Cuốc kêu cảm hứng của Nguyễn Khuyến
| 1,557
| |
Bình giảng bài thơ Cảm xúc mùa thu của tác giả Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Cảm xúc mùa thu đã tái hiện đầy sinh động bức tranh mùa thu đẹp nhưng ảm đạm, u buồn, bên trong bức tranh mùa thu ấy là bức tranh tâm trạng đầy những lo lắng, xót xa của Đỗ Phủ trước thời cuộc loạn lạc của thời cuộc. Dựa vào văn bản thơ đã học, anh chị hãy bình giảng bài thơ Bình giảng bài thơ “Cảm xúc mùa thu” của Đỗ Phủ.
I. Dàn ý chi tiết cho đề bình giảng bài thơ Cảm xúc mùa thu
1. Mở bài
Giới thiệu về tác giả Đỗ Phủ và tác phẩm “Cảm xúc mùa thu”
– Trong nền văn học đỉnh cao thời Đường, Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực lớn và được tôn xưng là “Thi Thánh”. Trong thơ Đỗ Phủ, chúng ta thấy được sự đặc sắc trong giá trị nội dung và nghệ thuật, đồng thời thấy được nỗi niềm đồng cảm, thương xót thầm đẫm nước mắt đối với đời sống cực khổ của nhân dân thời buổi loạn lạc và chan chứa tinh thần yêu nước.
– “Thu hứng” (“Cảm xúc mùa thu”) là một trong những bài thơ thể hiện rõ điều này. Thông qua thi phẩm, chúng ta thấy được bức tranh về mùa thi hiu hắt, ảm đạm quyện hòa cùng bức tranh tâm trạng buồn lo của tác giả trong thời cuộc loạn lạc
2. Thân bài
– “Thu hứng” đã phác họa thành công bức tranh mùa thu ảm đạm, hiu hắt thông qua những nét vẽ chấm phá tài tình:
+ Bức tranh mùa thu ảm đạm, hiu hắt với “ngọc lộ”, “phong thụ”
+ Cảnh vật càng thêm hoang vu với sóng cuồn cuộn và mây đùn sà xuống mặt đất.
– Bức tranh tâm trạng của tác giả được làm nổi bật ở nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi niềm “dân nước”:
+ Tầm nhìn trong bài thơ có sự vận động giữa bốn câu thơ trên và bốn câu thơ dưới:
Ở bốn câu thơ đầu, cảnh vật được miêu tả trong tầm nhìn rộng và xa: rừng phong, núi vu, kẽm vu, sóng dợn, mây trùm cửa ải,…
Ở bốn câu thơ sau, không gian bị thu hẹp lại ở những sự vật ở tầm nhìn gần và cụ thể và cuối cùng là đi vào tình và cảm xúc của nhà thơ.
→ thể hiện mạch vận động của tứ thơ: từ cảnh đến tình.
+ Nỗi nhớ quê hương luôn khắc khoải trong tâm hồn thi nhân.
“Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ”: khóm cúc nở hoa hai lần chính là những giọt lệ ngày trước; tạo nên sự đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại
“Cô chu” không chỉ là hình ảnh ẩn dụ cho ý niệm về sự trôi nổi mà còn là phương tiện duy nhất để tác giả gửi gắm tấm lòng của mình về nơi chôn rau cắt rốn.
3. Kết bài
Khái quát về giá trị của bài thơ: Như vậy, trong bài thơ “Thu hứng”, mùa thu được nói đến xuyên suốt và giữa “thu tình” và “thu cảnh” có sự thống nhất. Thông qua mối quan hệ này, một lần nữa tài năng cũng như nỗi niềm của tác giả Đỗ Phủ đã được thể hiện rõ.
Theo
|
Bình giảng bài thơ Cảm xúc mùa thu của tác giả Đỗ Phủ
| 551
| |
Bình giảng bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
… Mùa thu năm 1947, khi chiến dịch Việt Bắc đang diễn ra vô cùng ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài thơ ‘cảnh khuya’ thể hiện cảm hứng yêu nước mãnh liệt bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Cả bài thơ dào dạt ánh sáng và âm thanh để lại trong lòng chúng ta ấn tượng vô cùng sâu sắc:
Cảnh khuya
Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bống lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà.
1947
Hồ Chí Minh
Cùng với bài thơ: ‘Cảnh rừng Việt Bắc’ (1946), ‘Đi thuyền trên sông Đáy’ (1949), bài ‘Cảnh khuya’ đã thể hiện tình yêu. nước thiết tha của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bài thơ ‘Cảnh khuya’tả cảnh suối rừng chiến khu Việt Bác một đèm thu đẹp và nói lên nỗi thao thức của Bác Hồ kính yêu.
1. Hai câu thơ tả cảnh khuya núi rừng chiến khu Việt Bắc. Tiếng suối chảy êm đềm, nghe rất ‘trong’ rì rầm từ xa vọng đến ‘như tiếng hát xa’. Đêm khuya thanh vắng mới có thể nghe rõ tiếng suối chảy như vậy. Đó là nghệ thuật lấy động để tả tĩnh, lấy tiếng suối đặc tả đêm chiến khu thiêng liêng, thanh vắng. Ví tiếng suối với tiếng hát là một nét vẽ tinh tế gợi tả núi rừng chiến khu thời máu lửa mang sức sống và hơi ấm con người:
Sáu trăm năn về trước, Nguyễn Trãi đã tả suối Côn Sơn:
‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’
Đầu thế kỷ 20, Nguyễn Khuyến có viết:
‘Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo…’
Đó là những vần thơ tuyệt bút tả suối trong nền thơ ca dân tộc.
Câu thứ 2, Bác Hồ tả trăng chiến khu. Câu thơ có ba nét vẽ: tầng cao là trăng, tầng giữa là cổ thụ, tầng thấp là hoa – hoa rừng. Câu thơ đầy ánh sáng trăng rất đẹp. Phải là đêm thanh, trăng tròn mới có ánh sáng chan hòa như vậy:
‘T răng lồng cổ thụ II bóng lồng hoa’
Chữ ‘lồng’ điệp lại hai lần, đã nhân hóa trăng, cổ thụ và hoà, làm cho vần
thơ dào dạt trữ tình, thi vị. Chữ ‘lồng’ trong câu thơ này gợi nhớ đến vần thơ cổ cũng tả trăng, hoà:
‘Hoá giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoà, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa hoà nguyệt trùng trùng…’
(Chinh phụ ngâm)
Hai vế tiểu đối: ‘Trăng lồng cổ thụ II bóng lồng hoà’ tạo nên bức tranh tạo vật cân xứng, hài hòa, ngôn ngữ thơ trang trọng, điêu luyện. Có thể nói 2 câu đầu tả cảnh thiên nhiên rất đẹp đầy chất thơ: cảnh khuya trong sáng, lunh linh huyền ảo, thơ nên họa nên nhạc. Thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang sống những giây phút thần tiên giữa cảnh khuya chiến khu Việt Bắc.
‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’
3. ‘Cảnh khuya’là bài thất ngôn tứ tuyệt kiệt tác. Là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác Hồ. Người xưa đến với chốn lãm tuyền để lánh đục tìm trong, để được nhàn. Còn Bác Hồ đến với suối rừng Việt Bắc là để lập chiến khu đánh Pháp. Giữa cảnh khuya, có suối trăng… đẹp như vẽ, nhưng Người vẫn thao thức, vẫn ‘Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’. Tâm hồn thi sĩ lồng vào cốt cách chiến sĩ. Màu sắc cổ điển hòa hợp với màu sắc thời đại – cảnh khuya trong kháng chiến. Đó là nét đẹp riêng bài thơ này của Bác. Cảm hứng thiên nhiên chan hòa với cảm hứng yêu nước được diễn tả một cách hàm súc nhuần nhị, trong sáng và đầy chất thơ.
|
Bình giảng bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
| 656
| |
Đề bài: Bình giảng bài Thơ duyên của thi sĩ Xuân Diệu
Bài làm
Thơ duyên đúng là một bài thơ tình. Tình yêu ở đây sinh ra giữa đất trời và phát triển theo lẽ tương giao của vạn vật. Tất cả được tạo hóa xếp đặt trong một quan hệ tưởng vô tình mà hữu ý, tưởng hờ hững, vu vơ mà mối lái, ràng buộc. Đúng nửa số câu của bài thơ được dành để nói về thiên nhiên và nửa số câu còn lại dùng để tả người, và cách miêu tả thì luân phiên với từng đối tượng. Nhưng theo cách nhìn khác, thiên nhiên vẫn hiện diện liên tục trong bài thơ, làm bản nhạc đệm cho những bước chân tìm đến tình yêu. Tuy nhiên, sự hiện diện đó mỗi lúc một khác. Khi nhẹ êm len lỏi vào khoảng cách giữa những bước chân đi dạo ngập ngừng để gợi ý, dẫn dụ, rủ rê, khi trỗi dậy với những tiết tấu giục giã, thúc bách, đòi hỏi. Đúng là một cái "nền" tuyệt diệu, biết nói những lời cần thiết đúng lúc và đầy sức nặng.
Từ khúc dạo đầu, bản nhạc đệm đã trào lên những giai điệu hạnh phúc:
"Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chìm chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”
Sao nhiều sự vật và lắm động tác thế! Tất cả đều tìm đến nhau và tìm đôi, ríu rít cả lên. Những đường biên giới cách ngăn bị xóa mờ. Chiều trở thành chiều mộng và nhánh là nhánh duyên. Nhà thơ đã cố tình lướt qua những sắc màu và dáng nét cụ thể của chúng cho âm hưởng cuộc hòa thơ càng ngân nga. Câu thứ ba có ngữ pháp rất lạ. Cái gì đã đổ trời xanh ngọc. Chủ thể hành động ấy là ai? Thật khó giải thích. Chỉ biết rằng nếu câu thơ được viết lại cho đúng khuôn phép hơn, ví như Trời xanh đổ ngọc… thì có lẽ không còn gì. Chút choáng ngợp trong cảm xúc mất đi và vẻ ăm ắp, no đầy, tự dưng nghiêng đổ của thiên nhiên cũng sẽ không được cảm nhận một cách sâu sắc. Đừng quá rạch ròi ở đây. Ngay tiếng huyền ở câu thứ tư không chắc là một thứ tiếng gì rõ rệt. Chẳng qua "vạn vật nức xuân tâm" bỗng dưng phát tiếng, thật mơ hồ mà như có giai điệu dìu dặt, và có lẽ càng dìu dặt hơn trong vẻ mơ hồ ấy.
Rõ là thiên nhiên đang gây áp lực cho con người theo kiểu riêng của nó. Ý niệm về hạnh phúc được khơi lên cứ không ngừng tỏa lan những vòng sóng nơi tâm hồn, khiến ta nhìn vào đâu cũng chạm phải nỗi rung động mới mẻ của chính mình.
"Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang, nắng trở chiều".
So với mây câu thơ đầu, cảnh vật ở đây được nhìn gần và đượm tính "người" hơn. Các từ láy âm nhỏ nhỏ, xiêu xiêu, lả lả vừa mô phỏng tài tình các dáng điệu cùng những sắc thái chuyển động tinh vi của sự vật, vừa diễn tả rất đắt nỗi xao xuyến của lòng người khi lắng nghe những giao lưu bí ẩn trong trời đất. Có một thoáng nhìn hoang vắng phủ trùm lên cảnh vật lúc nắng trở chiều. Lạ, cũng trên con đường nhỏ nhỏ thân thuộc ấy, sao chiều nay trong gió xiêu xiêu, lòng ta bỗng mất vẻ an bằng, cũng chống chếnh, xiêu xiêu? Và cành lả lả, sao khéo giống con người đang trạng thái ngây ngất, bỗng phút chốc thấy mất hết sức lực vì một ảo giác nào đó? Thật không ngờ khuôn mặt tình yêu đã hiện lên giữa bộn bề những môi xúc cảm không rõ hình, rõ nét ấy:
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu.
Sự thực từ đây con người đã bắt được vào nhịp điệu của thiên nhiên và cộng hưởng với nó.
Khổ thơ thứ ba mở ra một khoảng không gian bằng lặng và rộng rãi. Nhịp thơ trở lại điều hòa, khoan thai. Nhân vật trữ tình dường như muốn ngừng bước một vài giây để xác nhận lại, kiểm nghiệm lại chất lượng mới trong tình cảm của mình. Bản nhạc đệm thiên nhiên cũng chìm lắng đi để những bước chân vô tư lự của anh, của em trở thành đối tượng quan sát chính:
"Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần
Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần".
Không còn nghi ngờ gì nữa, trong bài thơ dịu của đất trời, anh với em như một cặp vần. Tuy nói điềm nhiên, chẳng theo gần, nhưng sự thật xúc cảm của nhân vật trữ tình đã mất đi vẻ "điềm nhiên". Anh ta muốn reo lên, muốn kết luận nói lời ràng buộc. Sự vô tâm lúc này chỉ còn là cái vỏ nữa thôi.
Khổ thơ thứ tư quay trở lại với hình ảnh thiên nhiên và thừa tiếp rất khéo ý thơ trên:
"Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần".
Âm thanh bản nhạc lúc này nổi lên có vẻ thúc giục và khuyến dụ ráo riết hơn, nhờ hiệu quả của các từ láy âm gấp gấp, phân vân nằm ở cuối câu, cuối nhịp và một mật độ dày đặc các động từ hoặc trạng từ, tính từ được động từ hoá: về, bay, gấp gấp, phân vân, nghe, giang, lạnh, xuống. Nó xui người ta tìm đôi hoặc thổ lộ yêu đương và nói lời "dứt điểm" vào đúng lúc chiều sắp tắt, sương xuống lạnh để trời thành quá rộng. Ngay cả làn mây biếc và con cò trên ruộng cũng đâu có nhởn nhơ duyên tương – chúng đang lựa chọn hay mải miết tìm về một chốn nào. Quả có mối ngộ giữa anh và em, khiến anh phải ngơ ngẩn trước tình yêu đang nảy nở, để rồi bật thốt lên một tiếng kêu đắm đuối: “Lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Trong từ cưới đó nghe ran một niềm hoan lạc.
Thơ duyên có một bố cục chặt chẽ, sáng sủa, thể hiện khá sâu cảm hứng lí giải của nhà thơ. Mặc dù có lần nói "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu" (Vì sao), nhưng trong dự án làm "pho tự vị" thật đầy đủ về nó, Xuân Diệu đã không chịu bỏ trống mục từ nào, kể cả mục từ Duyên đầy hóc búa. Bao nhiêu lần người ta đã nói đến sự lạ lùng của "cơ duyên" (Cơ duyên đâu bỗng lạ sao – Kiều) nhưng có lẽ chỉ đến Xuân Diệu, cái nghịch lí của phạm trù này mới được tường giải. Ta cảm thấy rõ rệt bàn tay xếp đặt của tạo hóa, tuy vô hình mà có sức mạnh rất hiện thực. Dưới sức ép của quy luật tìm đôi và giữa muôn ngàn sợi tư tình giăng mắc, làm sao người ta có thể không đến cùng nhau, làm sao có thể không yêu được? Duyên là thế – ở phần chìm của nó!
Nhưng "Thơ duyên'' còn được hợp thành từ một nguồn cảm hứng khác nữa: cảm hứng bảy tỏ tình yêu và bộc lộ niềm ao ước được kết duyên cùng em của nhân vật trữ tình, ở đây cần phải có sự phân biệt giữa anh ta và nhà thơ. Nhà thơ luôn tỉnh láo và không quên nhiệm vụ "cắt nghĩa" của mình, còn nhân vật trữ tình thì say đắm đến ngẩn ngơ trước niềm xốn xang giao cảm của vạn vật. Anh ta đã nhìn thấy hay chỉ muốn thấy thiên nhiên trong vai trò xe kết tình duyên của nó. Không những thế, anh còn muốn tin ngay đó là chân lí – một chân lí vàng – cần được kể ra, nói lên cho đối tượng của mình cùng chia sẻ, để cùng đẩy sự điềm nhiên lui về thì quá khứ, ở đây, nhà thơ đã "về hùa" với nhân vật trữ tình, cho thiên nhiên hiện ra đúng khớp với niềm mong mỏi của anh ta, dẫu thừa hiểu rằng chẳng có thiên nhiên khác toàn bộ tâm giới trẻ đang yêu trong một biểu hiện trá hình mà thôi.
Sự giao thoa của hai nguồn cảm hứng nói lên chính cơ sở nhận thức và tình cảm vững chắc giúp Xuân Diệu phái hiểu một quan niệm sâu sắc về tình yêu: tình yêu là sản phẩm của tạo hóa, "nó chiếm hồn ta” một cách tự nhiên, vô hình mà không cưỡng nổi. Chính vì vậy, yêu là thuận theo lẽ trời, vô tội và đẹp. Nhiều năm tháng đã qua đi, cái duyên của bài Thơ duyên vẫn còn mặn mà như thách thức thời gian. Vâng, làm sao có được một bài thơ mà bao nhiêu độc giả đã yêu, đã thuộc và đã dùng làm "nhịp cầu tơ chắp ý duyên" bắc về muôn nẻo tình yêu.
|
Bình giảng bài Thơ duyên của thi sĩ Xuân Diệu
| 1,551
| |
Bình giảng bài thơ Dương phụ hành của Cao Bá Quát
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Dương phụ hành của Cao Bá Quát
Trong cuộc đời chìm nổi của mình, Cao Bá Quát có dịp đi lại nhiều nơi. Nhà thơ ở vào số ít các quan lại triều Nguyễn được ra nước ngoài. Đó là khoảng cuối năm 1841, hoặc đầu năm 1842, sau khi ông bị triều đình bắt giam vì tội sửa hộ bài thi của thí sinh. Chuyến đi ấy thật ra cũng chẳng có gì là vẻ vang, bởi phái đoàn của ông sang Indonesia và Campuchia nhằm mục đích đem đường đi bán để đổi lấy những thứ hàng xa xỉ về cho triều đình. Với Cao Bá Quát, có thể đây lại là dịp may, vì nhà thơ được có dịp ra khỏi một đất nước đang bế quan tỏa cảng, nhìn ngắm thiên hạ.
Trong chuyến đi ấy, Cao Bá Quát đã sáng tác khá nhiều thơ. Bài Dương phụ hành là một trong những bài được viết trong cuộc hành trình vất vả đó. Bài thơ thế hiện cái nhìn tinh tế, phóng khoáng của một vị quan phương Đông, vốn là nơi rất cổ hủ, khe khắt, đối với cảnh tình tự, âu yếm của một đôi vợ chồng trẻ Tây dương. Chính vì lẽ đó, có người đã xem đây như một “bài kí”.
Phiên âm:
Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên tọa thanh nguyệt,
Khước vọng Nam thuyền đăng hỏa minh,
Bá duệ nâm nâm hướng lang thuyết.
Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cảnh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.
Dịch nghĩa:
Người thiếu phụ Tây dương áo tráng như tuyết,
Dựa vai chồng dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rẩm với chàng.
Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Nghiêng mình đòi chồng nâng dậy,
Há có biết người Nam đang ở cảnh biệt li.
Đúng! Dương phụ hành là một bài kí bằng thơ kể chuyện vào một đêm thanh vắng, giữa biển cả, có một người phụ nữ (Tây dương) đang nũng nịu với chồng. Nàng có thấy ánh đèn sáng ở một chiếc thuyền gần đó (Nam thuyền). Song, mặc, bây giờ nàng chỉ biết có chồng. Gió bể thổi lạnh đến không chịu nổi (Dạ hàn vô ná hải phong xuy), nàng cùng mặc. Tình yêu khiến người ta có thể quên đi tất cả!
Vậy thì, có gì đáng nói ở cảnh trên Tây thuyền đêm ấy? Cái lạ là con người đang lặng lẽ ngắm nhìn, thậm chí tỉ mỉ nữa. Người ấy nhìn thấy tất cả mọi chi tiết của cảnh tượng kia: thiếu phụ là người Tây dương; nàng mặc chiếc áo trắng như tuyết; nàng tựa vai chồng dưới bóng trăng thanh; nàng nhìn sang Nam thuyền thấy đèn sáng trưng rồi kéo áo chồng ríu rít chuyện trò… Đến chi tiết nhỏ: người thiếu phụ cầm cốc sữa trên tay với dáng vẻ hờ hững, uể oải (sữa đối với nàng có quan trọng gì đâu!). Đã thế, nàng còn nũng nịu đòi chồng nâng mình dậy. Bài thơ như một cuốn phim quay chậm, từng chi tiết một hiện ra, không sót bất kì hình ảnh nào. Dù hai thuyền khác nhau, nhưng qua cách miêu tả, ta thấy gần lắm. Cặp uyên ương kia dường như chẳng để ý tới ai. Và, cái người đang lặng lẽ nhìn ngắm kia mới lặng lẽ, kín đáo làm sao! Người ấy quan sát tỉ mỉ chứ không phải tò mò. Đôi mắt ông không hề xoi mói. Trái lại, cảnh ấy như là chuyện đương nhiên, bình thường ở trên đời. Đây mới chính là cái lạ của bài thơ. Cao Bá Quát là nhà nho lẽ ra phải “khó chịu” với cảnh đó, nhưng nhà thơ lại nhìn chúng bình thường chẳng phải là điều rất lạ sao?
Bài thơ có 8 câu thì 7 câu đầu là miêu tả cảnh trên tàu Tây dương, thể hiện khách thể. Qua sự miêu tả ấy, ta hiểu tư tưởng của Cao Bá Quát. Nhà thơ chỉ dành có một câu để nói về mình:
Khởi thức Nam nhản hữu biệt li.
(Biết đâu nỗi khách đang sầu biệt li)
Chỉ có một câu thơ thôi nhưng người đọc giật mình, thảng thốt. Hóa ra, con người suốt từ đầu đến giờ cứ lặng lẽ ngắm nhìn đôi uyên ương kia đang đau đớn nhường nào! Câu thơ ấy cung xóa đi ý nghĩ cho rằng con người đó nhìn đôi uyên ương khá tò mò. Không! Mắt ông đang nhìn chăm chú, không bỏ sót chi tiết nào nhưng lòng lại nghĩ về hướng khác, hướng của quê nhà, nơi mịt mù xa cách. Như đã nói, cả bảy câu thơ trên bộc lộ một tư tưởng, còn chỉ một câu thơ cuối lại bày ra cả một nỗi lòng. Thế là, tất cả trên kia đều đối lập với nó. Nào là bầu trời cùng ánh trăng thanh, nào là cảnh thiết tha thân mật, nào là những cơn gió bể buốt lạnh… Khi nào cũng vậy Cao Chu Thần luồn đối lập, luôn một mình trơ trọi trên thế gian. Không một ai có thể chia sẻ cùng ông!
Một điều cũng nên lưu ý. Đó là cấu trúc của bài thơ. Nhiều tập thơ Cao Bá Quát in liền như là một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường. Sách giáo khoa Văn học II (NXB Giáo dục, 2004, tr.20) in thành hai khổ, mỗi khổ bốn câu. Lẽ thường khi tách ra như thế phải đánh số (1 và 2), bài thơ có hai thủ. Tuy nhiên, Dương phụ hành không giống với những bài thơ hai thủ khác. Bốn câu đầu có vần “uyết” bốn câu sau là vần “i”. Song, Dương phụ hành không thể tách ra thành hai bài thơ tứ tuyệt độc lập, dù chỉ tạm thời vì hình tượng thơ thống nhất. Nếu tách ra, không ai hiểu gì cả! Như vậy sự chia cắt, phân bố có vẻ rõ ràng kia chỉ là bề ngoài, mang tính hình thức. Chắc chắn “thánh thơ” Cao Bá Quát khá rành rè về cấu trúc, âm luật của thể thơ Đường. Ông làm như thế hẳn là cố tình. Cả bài thơ có nhiều sự đối lập (và ngay cả hình thức!). Vì thế, nỗi lòng của người đang ôm nỗi sầu “biệt ly”, dù được miêu tả rất ít (có một câu thơ) nhưng nó như chiếc neo đã thả xuống biển, và biết bao năm rồi nỗi sầu ấy không tan!
Nguồn: Tài liệu văn học
|
Bình giảng bài thơ Dương phụ hành của Cao Bá Quát
| 1,131
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải
Bài làm
Trần Tuấn Khải (1894 – 1983) bút danh chính là Á Nam; ngoài ra còn các bút Hiệu khác: Tiểu Hoa Nhân, Lâm Tuyền, Xử Sĩ, Giang Hồ Tản Nhân… Cụ quê ở Nam Định. Là nhà thơ cùng thời với thi sĩ Tản Đà. Nổi tiếng với bài thơ "Tiễn chân anh khóa xuống tàu". Thơ của Trần Tuấn Khải mang nội dung yêu nước và nỗi niềm tâm sự bất đắc chí của một tâm hồn yêu đời, yêu quê hương nhưng rồi buồn chán vì bất lực. Giọng thơ du dương thiết tha cứ quyện lấy vương vấn hồn người.
Tác phẩm của Trần Tuấn Khải gồm có: "Duyện nợ phù sinh" (1921), "Bút quan hoài" (1927), "Với sơn hủ" (1936).
Bài thơ "Cánh nước đêm" được sáng tác năm 1917, in trong tập "Duyên nợ phù sinh" (1921) chứa chan nặng tình non nước. Bài thơ mượn chuyện một cô gái gánh nước đêm khuya để kín đáo gửi gắm tâm sự của nhà thơ: trân trọng, cảm thương và kính phục những người yêu nước, những chiến sĩ cách mạng, ngầm thức tỉnh lòng yêu nước và tinh thần cứu nước.
Cuộc đầu độc ở Hà Thành thất bại, tiếng súng đánh Pháp của người anh hùng Đề Thám giữa núi rừng Yên Thế cũng không còn vang rền nữa (1913), Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đi tìm đường cứu nước mãi chưa về. Tình hình đất nước ta lúc bấy giờ nặng nề, u ám "Chứa chan máu quốc, nước vẩn vơ hồn –
Xao xác tiếng gà, trời mờ mịt tối" (Phan Bội Châu). Thơ văn của những thi sĩ như Tản Đà, Trần Tuấn Khải… phải tìm đến một cách nói xa xôi bóng gió để gửi gắm tâm sự và khêu gợi lòng yêu nước. Bài "Thề non nước" của Tản Đà, bài "Gánh nước đêm" của Trần Tuấn Khải là những bài thơ đa nghĩa, kín đáo bày tỏ lòng yêu nước thiết tha.
Một không gian "xa tít", "mù mịt", sông thì rộng, trời thì khuya. Tương phản với cảnh tối tăm, bao la… ấy là chỉ có một mình "em", một mình cô gái. Càng trở nên bé nhỏ, cô đơn và lẻ loi. Cảnh khuya vắng vẻ, thân gái dặm trường, càng nghe rõ tiếng "kĩu kịt" của đòn gánh. Câu thơ bốn tiếng, nhịp thơ gấp như tiếng thở hồi hộp, lo âu của người con gái gánh nước đêm:
"Em bước chân xa
Con đường xa tít
Con sông mù mịt
Nặng gánh em trở ra về…"
Câu thơ ngắn 4 từ được mở rộng dần đến 10 từ, 12 từ, người đọc cảm nhận rõ và sâu hơn tâm trạng người gánh nước đêm:
"Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya
Vì chưng nước cạn, nặng nề em dám kêu ai".
Vần thơ như một tiếng thở dài. Bao nhiêu khó khăn: "Giời khuya", "sông rộng", "nước cạn", "nặng nề". Bóng tối như bủa vây, vì sông rộng và nước sâu, nước lại cạn thì việc gánh nước càng nhiều khó khăn hơn. Cái cử chỉ "Ngoảnh cổ trông", biểu lộ nỗi cô đơn, lẻ loi, trông đợi, kiếm tìm. Sự "nặng nề" đôi vai là do hoàn cảnh, nên "em dám kêu ai"', than mà chẳng hề dám trách. Hình ảnh cô gái gánh nước đêm khuya chính là hình ảnh người yêu nước, người làm cách mạng thời bấy giờ; gặp nhiều khó khăn, lẻ loi, tận lòng trung hiếu. Đó là cảm nhận của Á Nam Trần Tuấn Khải. Ông đã dành nhiều cảm thương cho họ. Con đường cứu nước những năm bài thơ ra đời thật mù mịt và xa tít – Nhà thơ đã thể hiện đúng thực trạng lịch sử thời bây giờ. Tâm trạng và điệu thơ, vần thơ man mác buồn, bi quan… Cái đáng quý nhất là tấm lòng nhà thơ cần biết "Khi Đảng chưa ra đời, tình hình đen tối như không có đường ra…" (Hồ Chí Minh)
Có biết bao tấm gương ái quốc nhiệt thành. Có biết bao chí sĩ dứt bỏ gia đình quê hương, ôm chí lớn lên đường. Họ là những con người phi thường "đội đá vá trời", nhưng chí lớn không thành chẳng khác nào công con dã tràng xe cát lấp bể. Cảm hứng thơ khơi nguồn từ thần thoại, ca dao, cho ta nhiều liên tưởng về một sự đánh giá: "nghĩ tiếc công", "Biết đời nào xong?”. Đó là sự trân trọng, cảm phục, biết ơn, lo âu. Màu sắc bi quan thời cuộc bao trùm vần thơ.
Mặc dù sông rộng, trời khuya, em vẫn dấn thân "em trở vai này”. Câu thơ "Nước non gánh nặng cái đức ông chồng hay hỡi có hay?" là một câu thơ hàm ẩn, một câu hỏi có giá trị lay tỉnh. Những ai đó, những "đức ông chồng" còn "ngủ yên trong đời chật" hãy biết rằng gánh nước non vô cùng nặng nề, vẫn còn đó, sao lại nỡ để "Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng…"
Qua đó, ta cảm thấy bài "Gánh nước đêm" không chỉ là bài thơ gửi gắm tâm sự yêu nước mà còn là bài thơ khêu gợi, thức tỉnh trước cảnh "nước cạn" và "nước non gánh nặng"…
Hoàn cảnh lịch sử bấy giờ đen tối, mù mịt cho nên bài thơ và tâm trạng nhà thơ không tránh khỏi bi quan, buồn. Con đường gánh nước "xa tít", gánh nước đè nặng đôi vai, mà cô gái "trở vai này" bước tiếp, dù "đêm khuya thân gái ngại ngùng''. Đó cũng là niềm tin của nhà thơ về con đường cứu nước và hình ảnh người cứu nước, rất đáng khâm phục với tất cả lòng biết ơn trân trọng.
Xuân Diệu cho biết bài "Gánh nước đêm" được viết theo điệu bỏng mạc vỉa sa mạc (một điệu dân ca Bắc Bộ). Câu thơ ngắn, dài biến hóa. Ngoài những vần chân, tác giả còn dùng nhiều vần lưng để tạo nên âm điệu phong phú, gợi cảm:
"Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya…
Nghĩ tiếc công cho bà Nữ Oa đội đá vá trời,
Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng…
Cái đức ông chồng hay hỡi có hay ”
"Gánh nước đêm" ngay từ ngày mới ra đời đã được độc giả, báo chí tán thưởng. Hoàng Ngọc Phách trân trọng mời bạn đọc "thưởng giám một lối văn chương đặc biệt". Một tờ báo đương thời nhận xét: “Bài Gánh nước lời văn giản dị mà ý tứ sâu xa biết bao nhiêu…". Thi sĩ Xuân Diệu viết: "Nước ta độc lập rồi, bài thơ ngắn nhỏ vẫn cứ rộng sâu và hay".
|
Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải
| 1,128
| |
Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm
Trần Tuấn Khải hay còn được gọi là Á Nam Trần Tuấn Khải, là nhà thơ cùng thời với thi sĩ Tản Đà. Thơ của Trần Tuấn Khải mang khuynh hướng chính là yêu nước và nỗi niềm tâm sự bất đắc chí của một tâm hồn yêu đời, yêu quê hương nhưng rồi buồn chán vì bất lực. Gánh nước đêm là một trong những sáng tác của những năm 1917, được, in trong tập “Duyên nợ phù sinh” (1921) chứa chan nặng tình non nước. Những câu thơ giản dị nhưng lại chứa một nỗi niềm sâu xa, khiến khi đọc,độc giả lại tưởng tượng ra nhiều ý nghĩa thú vị.
Mượn hình ảnh của cô gái gánh nước đêm khuya, tác giả đã kín đáo bộc bạch tâm sự của mình. Bài thơ Gánh nước đêm chính là sự trâm trọng cảm thương và kính phục những người yêu nước, những chiến sĩ cách mạng, ngầm thức tỉnh lòng yêu nước và tinh thần cứu nước. Hình ảnh của cô gái mỏng manh nhưng lại có sức gợi mạnh mẽ, càng đọc càng thấm thía sự tinh tế của tác giả trong bộc lộ tâm sự của mình qua từng câu từng chữ của bài thơ.Để thể hiện những sâu kín,tác giả Trần Tuấn Khải cùng với những nhà thơ cùng thơi như Phan Bội Châu hay Tản Đà, phải mượn đến những hình ảnh khác để nói bóng gió và khơi gợi lòng yêu nước thiết tha.
Mở đầu bài thơ là không gian hun hút, không biết điểm kết thúc là đâu, mờ mịt. Những từ ngữ như “xa tít”, “mù mịt”, sông thì rộng, trời thì khuya. Giữa cảnh không gian rộng lớn mênh mông ấy,hình ảnh cô gái chỉ có một mình bước đi trong khi trời mù mịt. hình ảnh cô gái lại càng có vẻ lẻ loi yếu đuối khi càng về đêm khuya thanh vắng, tiếng đòn gánh kéo kịt khiến cho sự thanh vắng tĩnh lặng càng trở nên rõ nét. Câu thơ bốn tiếng, nhịp thơ gấp như tiếng thở hồi hộp, lo âu của người con gái gánh nước đêm:
Con đường xa tít
Con sông mù mịt
Nặng gánh em trở ra về…”
Những câu thơ ngắn khiến nhịp thơ bỗng chùng lại, nhanh và dồn dập. Nó giống như tiếng chân bước đều đều trên con đường vắng lặng, xa tít tắp. Đường còn xa, con sông mù mịt,mỗi bước chân em như gợi ra một sự lo lắng,hồi hộp cho người đọc. Những câu thơ tiếp theo, không phải là những câu thơ ngắn nữa mà là được mở ra với những câu thơ dài hơn khiến người đọc cảm nhận rõ và sâu hơn tâm trạng người gánh nước đêm:
“Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya
Vì chưng nước cạn, nặng nề em dám kêu ai”.
Giữa bao nhiêu khó khăn, những vần thơ như là một tiếng thở dài “Giời khuya”, “sông rộng”, “nước cạn”, “nặng nề”. Quanh “em” bóng tối như bủa vây, vì sông rộng và nước sâu, nước lại cạn thì việc gánh nước càng nhiều khó khăn hơn. Cử chỉ “Ngoảnh cổ trông”, biểu lộ nỗi cô đơn, lẻ loi, trông đợi, kiếm tìm cũng như bộc lộ sự buồn bã mênh mang của đất trời ảnh hưởng tới cả lòng người. Sự “nặng nề” đôi vai là do hoàn cảnh, nên “em dám kêu ai”’, than mà chẳng hề dám trách. Qua hình ảnh nhỏ nhắn của cô gái với hành động gánh nước đêm chính là hình ảnh người yêu nước, người làm cách mạng thời bấy giờ; gặp nhiều khó khăn, lẻ loi, tận lòng trung hiếu. Cách nói bóng gió của Tác giả Trần Tuấn Khải, cũng bộc lộ sự cảm thương sâu sắc cho số phận và hoàn cảnh của họ. Con đường cứu nước những năm bài thơ ra đời thật mù mịt và xa tít – Nhà thơ đã thể hiện đúng thực trạng lịch sử thời bây giờ. Tâm trạng và điệu thơ, vần thơ man mác buồn, bi quan thể hiện qua ngôn từ và giọng thơ.
Bao nhiêu khó khăn vất vả,sông rộng trời khuya nhưng “em” vẫn dấn thân “em trở vai này”. Câu thơ “Nước non gánh nặng cái đức ông chồng hay hỡi có hay?” là một câu thơ hàm ẩn, một câu hỏi có giá trị lay tỉnh. Câu thơ như muốn nhắn nhủ tới những người an phận hãy biết đứng lên để gánh nước non trên đôi vai, san sẻ vất vả, sao lại nỡ để “Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng…”
Cái hay và sâu sắc của bài thơ chính là giá trị của nó,” Gánh nước đêm” không chỉ là bài thơ gửi gắm tâm sự yêu nước mà còn là bài thơ khêu gợi, thức tỉnh trước cảnh “nước cạn” và “nước non gánh nặng”…Hoàn cảnh lịch sử bấy giờ rối ren, mù mịt cho nên bài thơ và tâm trạng nhà thơ không tránh khỏi bi quan, buồn. Con đường gánh nước “xa tít”, gánh nước đè nặng đôi vai, mà cô gái “trở vai này” phải bước tiếp, dù “đêm khuya thân gái ngại ngùng”. Đây cũng là niềm tin của nhà thơ về con đường cứu nước và hình ảnh người cứu nước, rất đáng khâm phục với tất cả lòng biết ơn trân trọng.
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm
| 917
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh
Bài làm
Bài thất ngôn tứ tuyệt “Lai Tân" là bài thơ số 97 trong số 133 bài thơ của “Ngục trung nhật kí" của Hồ Chí Minh. Bài thơ số 98 sau đó, với nhan đề "Dáo Liễu Châu", tác giả ghi rõ ngày viết là 9-12-1942, có câu: “Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu – Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng…". Từ nhà lao Thiên Giang, Bác Hồ viết bài "Thiên Giang ngục" ngày 1-12-1942 (bài 94), rồi bị giải đi Lai Tân bằng tàu hỏa, được ngồi trên đống than, Bác hóm hỉnh viết: “Nhưng so với đi bộ còn sang chán!". Qua đó, ta biết bài thơ “Lai Tân" được Hồ Chí Minh viết vào tuần đầu của tháng 12-1942. Vì là "Nhật kí…” nên phải tìm hiểu cặn kẽ như thế!
“Lai Tân" là một bài thơ nhằm tố cáo cái hiện thực xấu xa, thối nát của xã hội Trung Quốc thời ấy hay chỉ là tiếng cười châm biếm của nhà thơ về những “con người" trong đám chức sắc ở Lai Tân mà nhà thơ nhìn thấy? Một câu hỏi rất thú vị được đặt ra.
Đây là bản dịch bài thơ của Nam Trân:
"Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,
Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh,
Chong đèn Huyện trưởng làm công việc,
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình".
Lai Tân là một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Câu thơ thứ nhất nói về tên Ban trưởng – một tên cai ngục. Hắn không hung dữ, không quắt quay như những tên chúa ngục khác, mà chỉ "ngày ngày đánh bạc" (thiên thiên đổ). Hắn đã biến nhà tù thành một sòng bạc giữa thanh thiên bạch nhật. Nhà tù không phải là nơi cải tạo phạm nhân, không phải là nơi để thực thi luật pháp và công lí. Ban trưởng và tù nhân đều có vị thế như nhau: tất cả đều là con bạc, đều cùng hội đỏ đen, đang sát phạt lẫn nhau, cùng máu mê như nhau. Câu thơ chữ Hán nghĩa là: “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc” được dịch thành “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc" kể cũng hay, ở đây tiếng cười bật ra ở cái nghịch lí của sự vật, của con người, của hiện tượng mà nhà thơ nói đến, nhà thơ nhìn thấy, tiếng cười khẽ, thâm trầm, sâu sắc giàu trí tuệ.
Vì đã trải qua “hơn trăm ngày ác mộng", bị giải lui giải tới mấy chục nhà lao tỉnh Quảng Tây, Người đã nhìn thấy bao nghịch lí, nghịch cảnh của bức tranh tù ngục, "cái oái oăm của sự đời":
"Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,
Trong tù đánh bạc được công khai,
Vào tù con bạc ăn năn mãi:
Sao trước không vô quách chốn này!?".
( Đánh bạc)
Mỗi bức tranh là một tiếng cười khẽ, châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thuý, bài thơ “đánh bạc" giúp ta cảm và hiểu sâu hơn, thú vị hơn bức chân dung “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc".
Câu thơ thứ 2, tác giả hình như nhìn thấy trên đường chuyển lao một cảnh sát trưởng:
“Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền".
Nam Trân đã dịch: “Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh".
Nguyên tác: Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải.
Câu 1 đối xứng với câu 2, mỗi bức chân dung biếm họa có một nét riêng. Ban trưởng thì lo ăn chơi cờ bạc. Cảnh trưởng thì trắng trợn “móc túi" ăn tiền phạm nhân. Chuyện bọn cai ngục, cảnh sát trưởng ăn tiền phạm nhân đã thành “lệ” mà nhà thơ đã nhiều phen trở thành “nạn nhân". “Mới đến nhà giam phải nộp tiền – Lệ thường ít nhất năm mươi nguyên" (“Tiền vào nhà giam"), “ Vào lao phải nộp khoan tiền đèn – Tiền Quảng Tây vừa đúng sáu nguyên" (“Tiền đèn").
Bình diện không gian xã hội trong bài thơ “Lai Tân" được mở rộng ở bức chân dung thứ ba:
“Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự".
“’Thiêu đăng" là chong đèn, “biện công sự" nghĩa là làm việc công. Câu thơ dịch đã đảo việc công thành công việc. Những năm 60, nhiều bài viết về “Ngục trung nhật kí" đều cho rằng tên Huyện trưởng này chong đèn đêm đêm hút thuốc phiện, từ đó nhấn mạnh giá trị tố cáo hiện thực xấu xa, thôi nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Sự thật không phải như thế, chính Hồ Chủ tịch đã lấy mực đỏ gạch bỏ ba chữ “hút thuốc phiện" trong bức thư của nhóm dịch giả gửi hỏi ý kiến Người.
Trong xã hội cũ, bọn quan lại tự cho mình là “phụ mẫu” của dân, là “đèn trời soi xét”. Trong câu thơ chữ Hán có một chữ “đăng” rất đặc biệt:
“Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự".
Không phải là ngọn đèn công lí tỏa sáng vầng trán Huyện trưởng, một vị quan to mặt lớn quang minh chính đại? Ông ta có vẻ “mẫn cán" lắm, lo công việc quan suốt ngày chưa đủ, đêm đêm còn chong đèn làm việc công? Nhưng đâu phải thế, ông huyện trưởng Lai Tân là một kẻ rất quan liêu! Chuyện đánh bạc của Ban trưởng, chuyện ăn tiền phạm nhân bị giải của cảnh trưởng sờ sờ ra đó, sao ông ta không hay, sao ông ta không biết? Hay ông Huyện trưởng Lai Tân này là “cái ô” để bao che bọn thuộc hạ làm bậy “kiếm ăn quanh"!. Ba bức chân dung biếm họa song hành, cùng nối tiếp xuất hiện, mang một ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc, nó cho thấy một hệ thống quan lại Lai Tân là thế! Bộ máy quan liêu của chính quyền Quảng Tây thuở ấy là thế!
Trước những “gương mặt" ấy, thái độ nhà thơ như thế nào?
Câu cuối bài thơ, Người viết:
“Lai Tân y cựu thái bình thiên"
(Lai Tân vẫn thái bình như xưa).
Câu thơ toát lên một nụ cười châm biếm nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhà thơ như hỏi một cách bâng quơ: Lai Tân với hệ thống quan lại và chính quyền như vậy, thế mà!‘vẫn thái bình như xưa". Cách mỉa mai, châm biếm của tác giả “'Ngục trung nhật kí” là thế! Tính “hướng nội" của “Nhật kí trong tù” được thể hiện rất rõ về mặt đặc điểm thể loại, nó vừa là nhật kí lại vừa là thơ, chủ yếu là thơ trữ tình, tác giả viết cho mình, để mà suy ngẫm, để mà chiêm nghiệm, "Vừa ngẫm vừa đợi đến ngày tự do". Vì thế, bài thơ “Lai Tân" tuy có nêu ra ba chân dung về Ban trưởng, Cảnh trưởng, Huyện trưởng tiêu biểu cho cái xấu xa, đồi bại của bọn quan lại chính quyền Tưởng Giới Thạch thuở ấy, nhưng chỉ là để mỉa mai, châm biếm cái nghịch lí, nghịch cảnh mà nhà thơ đã và đang phải đối diện và cam chịu.
Đọc “Ngục trung nhật kí", ta bắt gặp một số “quan chức" nhân hậu, đáng yêu. Là Sở trưởng Long An họ Lưu “Ai ai cũng bảo bác công bình". Là Tiên sinh họ Quách “ân cần đối đãi ta". Là Trưởng ban họ Mạc “chẳng dùng quyền thế, chỉ dùng ân". Khoa viên họ Trần thì “nho nhã”, Chủ nhiệm họ Hầu thì “anh minh"… Cách nhìn của nhà thơ rất nhân hậu, trọng thị và công bằng, giữa cái xấu xa vẫn tìm thây cái tốt đẹp, cái tình người mà trân trọng. Chính nhờ những con người này, tấm lòng này, mà ta hiểu thêm cảm hứng chủ đạo bài thơ “Lai Tân": một nụ cười châm biếm tỏa rộng. Sau 3 chân dung biếm họa là một nhận xét trào lộng thâm trầm, sâu sắc. Nụ cười châm biếm trong bài thơ “Lai Tân” là nụ cười của một nhân cách văn hoá lớn: giàu trí tuệ và đạo đức cao đẹp.
Trong bài “Một tiếng nói hướng nội: Thế giới nhà tù và con người kiên nghị – trữ tình của tác giả ”, Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn Huệ Chi có viết:
“Có khi điều trái ngược đã vượt ra khỏi khung cảnh một nhà tù, trở thành tính chất tiêu biểu cho cả xã hội Trung Hoa thời ấy (mà thật ra cũng chẳng riêng gì cho Trung Hoa và cho thời ấy): quan trên trì trệ, vô trách nhiệm, cấp dưới chỉ lo xoay xở kiếm ăn, mặc cho mọi tệ nạn cứ tự do hoành hành:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,
Giải người Cảnh trưởng kiếm ăn quanh,
Chong đèn, Huvện trưởng bàn công việc,
Trời đất Lai Tân vẫn thái bĩnh”.
(Lai Tân)
Tất cả những việc kì cục bày ra trước mắt như thế có ý nghĩa gì?Phải chăng đây không là một sự “lưỡng phân" tiếp tục trong nhận thức của nhà thơ: ngay khi đã phải “nhập thân" vào thực tại như một hiện hữu không thể chối bỏ, ông vẫn lần lượt đi tìm ý nghĩa của cái thực và cái giả ở từng khía cạnh khác nhau và trong các hình thức tồn tại khác nhau hiển nhiên của nó, có khi điều rút ra là một nụ cười buồn…".
|
Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh
| 1,559
| |
Bình giảng bài thơ Lai Tân
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Lai Tân
Nhật kí trong tù (1942 – 1943) là tập thơ xuất sắc, giàu tính chiến đấu, chất trí tuệ và đậm chất trữ tình của nhà thơ lớn Hồ Chí Minh.Tập thơ có hình thức nhật kí, đa dạng về bút pháp, giọng điệu. Trong đó, nổi bật nhất là bút pháp tự sự trào phúng. Các tác phẩm sử dụng bút pháp tự sự trào phúng chủ yếu để chế giễu, châm biếm, lên án nhà tù và chế độ xã hội Trung Hoa dân quốc. Một trong những ví dụ tiêu biểu nhất là bài thơ “Lai Tân”.
Lai Tân là bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian bốn tháng đầu Hồ Chí Minh bị giam giữ tại các nhà tù quốc dân Đảng ở Quảng Tây, Trung Quốc. “Lai Tân” được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, là bài thơ số 97 trong số 133 bài thơ của “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh. Bài thơ mang nội dung phê phán chế độ nhà tù và xã hội Trung Quốc với nghệ thuật châm biếm sắc sảo.
Lai Tân là một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Bối cảnh đầu bài thơ là một nhà tù ở Lai Tân, với kết cấu tự sự trào phúng, ba câu thơ đầu khắc họa hình ảnh và việc làm của 3 nhân vật có quyền hành lớn:
“Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ
Cảnh trưởng thư, thôn giải phạm tiền
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”…
Câu thơ thứ nhất Hồ Chí Minh dành để nói về tên Ban trưởng – một tên cai ngục. Xuất hiện trong thơ của Hồ Chí Minh, tên cai ngục này không hung dữ, tàn bạo, hách dịch như những tên chúa ngục cửa quyền, tàn ác thường thấy, mà ngược lại, hắn chỉ ngày ngày đánh bạc. Bản dịch viết:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc”
Công việc của cai ngục là quản lý tù nhân, quản lý nhà tù, nhưng với tên cai ngục trong “Lai Tân” thì không!. Dưới bàn tay của hắn, nhà tù đã biến thành một sòng bạc giữa thanh thiên bạch nhật. Nhà tù không là là nơi cải tạo phạm nhân, không phải là nơi để thực thi luật pháp và công lý nữa, mà nó biến thành một song bạc- theo đúng nghĩa đen. Ở sòng bạc ấy, Ban trưởng và tù nhân đều có vị thế như nhau. Bởi vì tất cả đều là con bạc, đều cùng hội đỏ đen, đang sát phạt lẫn nhau, cùng máu mê như nhau.
Nghĩa gốc của câu thơ chữ Hán chỉ là “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc” được dịch thành “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc” chính là một điểm nhấn hay. Qua cách dịch mỉa mai này, tiếng cười bật ra ở cái nghịch lí của sự vật, của con người, của hiện tượng mà nhà thơ nói đến. Chúng ta như thấy được cái nhà thơ nhìn thấy, lại cũng bật cười theo tiếng cười khẽ, thâm trầm, sâu sắc giàu trí tuệ của chính nhà thơ.
“Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền”.
Nghĩa là “Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải” được Nam Trân dịch thơ thành “Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh”. Cách dịch thơ này không những sát nội dung câu thơ Hán mà còn tiến thêm một bước trong việc thể hiện sự mỉa mia, khinh bỉ hành động xấu xa, nhơ nhớp của tên cảnh sát trưởng chốn Lai Tân. Về kết cấu, câu một đối xứng với câu hai, mỗi bức chân dung biếm họa có một nét riêng, nhưng lại rất “ăn nhập”, rất hài hòa. Ban trưởng thì lo ăn chơi cờ bạc, Cảnh trưởng thì trắng trợn “móc túi” ăn tiền phạm nhân. Qua cách sử dụng từ “chuyên đánh bạc” và “kiếm ăn quanh” càng làm nổi bật ý thơ rằng chuyện bọn cai ngục, cảnh sát trưởng ăn tiền phạm nhân đã thành “lệ”. Thậm chí, đó giống như việc hiển nhiên, như chân lý rằng đó mới chính là công việc hằng ngày thực sự của bọn chúng vậy!
Bức tranh biếm họa ngày càng được phác họa rõ nét và đầy đủ qua câu thơ thứ ba:
“Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”.
Dịch thơ:
“ Chong đèn, huvện trưởng bàn công việc”
Câu thơ mở ra một ý mới, nói tới một nhân vật có quyền cao hơn ở ngoài phạm vi nhà giam, là người đứng đầu của huyện Lai Tân. “Thiêu đăng” ở đây là chong đèn, “biện công sự” nghĩa là làm việc công. Câu thơ dịch đã đảo việc công thành công việc. Câu thơ không khỏi làm người đọc băn khoăn! Phải chăng đây là một vị quan tốt, một vị quan mẫu cán biết lo cho nước cho dân? Không mắc phải những tật xấu, không dính đến những tội lỗi như bản trưởng, cảnh trưởng? Nhưng nếu đặt câu thơ trong mạch thơ xuyên suốt toàn bài, ta phát hiện ý châm biếm mỉa mai hết sức sâu cay. Nếu đây là một vị quan tốt, biết lo cho nước cho dân, làm việc không quản ngày đêm thì tại sao dưới quyền ông lại có những thuộc hạ mắc nhiều nhược điểm xấu xa?! Vậy ông chồng đèn làm công việc gì?
Trong xã hội cũ, quan lại tự cho mình là “phụ mẫu” của dân, là “đèn trời soi xét”. Thơ chữ Hán có một chữ “đăng” rất đặc biệt. Nhưng “đăng” ở đây không phải là ngọn đèn công lí tỏa sáng vầng trán Huyện trưởng, một vị quan to mặt lớn, anh minh, đường đường chính chính. Thoạt tiên, câu thơ miêu tả ông ta có vẻ “mẫn cán” lắm, lo công việc quan suốt ngày chưa đủ, đêm đêm còn chong đèn làm việc công, nhưng đâu phải thế, ông huyện trưởng Lai Tân là một kẻ rất quan liêu! Nếu không, chuyện đánh bạc của Ban trưởng, chuyện ăn tiền phạm nhân bị giải của cảnh trưởng sờ sờ ra đó, sao ông ta không hay, sao ông ta không biết? Hay ông Huyện trưởng Lai Tân này là “cái ô” để bao che bọn thuộc hạ làm bậy “kiếm ăn quanh”.
Qua ba câu thơ đầu, từ ba bức chân dung biếm họa song hành, cùng nối tiếp xuất hiện tạo nên một bức biếm họa lớn, hoàn chỉnh; mang một ý nghĩa thẩm mỹ đặc sắc, nó cho thấy một hệ thống quan lại Lai Tân nói riêng và bộ máy quan liêu của chính quyền Quảng Tây thời bấy giờ vô cùng mục ruỗng, thối nát, xấu xa đến tệ hại. Nhưng trước cái hiện thực tệ hại ấy, Hồ Chí Minh lại viết:
“Lai Tân y cựu thái bình thiên”
Được Nam Trân dịch thơ rằng:
“Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.
Nhịp thơ và giọng theo đột ngột thay đổi. Theo logic, người đọc chờ đợi ở câu kết một lời mỉa mai châm biếm, tố cáo mạnh mẽ mẽ, lên án quyết liệt tình trạng thối nát của bọn quan lại ở Lai Tân, nhưng Hồ Chí Minh lại hạ một câu thơ có vẻ hờ hững, dửng dưng vô cảm.Tuy nhiên, thực chất câu kết là đòn đánh rất hiểm mà trong văn chương xưa gọi là “tiền văn không đoán được hậu văn”. Câu thơ tuy nhẹ nhàng nhưng sức đã kích thật quyết liệt, nó cho thấy tình trạng thối nát của bọn quan lại ở Lai Tân diễn ra hết sức bình thường, không có gì là đặc biệt, là bất ngờ, không phải là chuyện của thời loạn. Tình hình của bọn quan lại ở Lai Tân xưa nay vẫn thế, cái guồng máy chính vẫn cứ thế mà vận hành. Ban trưởng cứ ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng cứ ăn tiền của dân lúc dẫn giải, huyện trưởng cứ đêm đêm chong đèn mà chẳng làm việc công. Hiện thực thối nát ấy rất đáng phê phán, đáng lên án quyết liệt, thế nhưng nó lại cứ vẫn diễn ra suốt bao năm như vậy, như thể tiền lệ, khiến người ta nhìn nhiều hóa quen, không còn thấy lạ lùng, cũng không cần căm phẫn nữa!
Chỉ vỏn vẹn qua bốn câu thơ, không cần nhiều lời cay nghiệt, không miêu tả cụ thể từng chi tiết mà toàn bộ bộ mặt xấu xa, thối nát xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã hiện lên một cách cụ thể sinh động. Đó chính là cái tài trong cách dụng thơ, cách dùng từ và cách vận dụng nghệ thuật tự sự trào phúng bậc thầy của Hồ Chí Minh. Có thể nói rằng “Lai Tân” là một tiếng cười đả kích xuất sắc của thơ Hồ Chí Minh trong “Nhật ký trong tù”: không đao to búa lớn, chỉ nhẹ nhàng mà thâm trầm sâu cay, có sức mạnh đã kích mãnh liệt nhắm thẳng vào đối tượng, mãi mãi về sau vẫn còn nguyên giá trị.
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng bài thơ Lai Tân
| 1,528
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Mây và sóng của đại thi hào Ta – go
Bài làm
Ta-go (1861 – 1941) là đại thi hào của đất nước Ấn Độ. Ông là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ… Năm 1913, với tập thơ Thơ Dâng (Gitanjali), ông được giải thưởng Nô-ben – Giải thưởng văn chương. Nhân dân Ấn Độ vô cùng tự hào về Ta-go. Tên tuổi thi hào đã rạng rỡ quê hương xứ sở. Thơ của Ta-go là “bài ca về tình nhân ái", là “ước mơ vù khát vụng về tự do, hạnh phúc". Ông để lại hàng nghìn bài thơ tựa như “hoa th(fm, trái ngọt đôi bờ sông Hằng" đã làm phong phú tâm hồn nhân dân Ấn Độ.
Ông đem tấm lòng thương yêu mênh mông đến với trẻ em. Ông có hàng trăm bài thơ viết về tuổi thơ bằng những hình tượng tuyệt vời với tấm lòng nhân hậu bao la. Đó là một “thế giới thơ ngây", một “miền thơ ấu êm đẹp và dịu hiền". Ông đã viết:
…Những người đi tìm ngọc
thì lặn xuống mò ngọc trai.
Còn những người lái buôn
Dong thuyền của họ
Trong khi đó thì các em
Các em nhặt những viên đá cuội rồi lại ném đi…
(Trên bờ biển)
Mây và Sóng là bài thơ nổi tiếng của Ta-go rút trong tập thơ Trăng non xuất bản năm 1915. Qua bản dịch thơ của Nguyễn Đình Thi, ta cảm nhận về một thế giới tâm hồn tuổi thơ kỳ diệu của em bé thông minh, hiếu thảo đang sống hạnh phúc bên mẹ hiền. Bài thơ là câu chuyện tâm tình của em bé ngây thơ với mẹ về những giây phút giao cảm thần tiên của em với thiên nhiên, với mây và sóng. Mây và sóng đang thủ thỉ trò chuyện với em.
Với mây: bằng trí tưởng tượng tuyệt vời vô biên, em bé đang chơi đùa với mẹ. Bỗng em ngước mắt nhìn trời xanh, lắng nghe mây trên chín tầng cao vẫy gọi. Mây ân cần rủ em bé cùng du ngoạn “từ tinh mơ đến hết ngày" cùng nhau thỏa thích vui chơi "giỡn với sớm vàng" và "đùa cùng trăng bạc”, từ lúc bình minh cho đến tận đêm khi trăng lên. Mây trở thành nhân vật trữ tình, được nhân hóa, có gương mặt nụ cười và giọng nói thủ thỉ, tâm tình. Mây, trăng bạc, sớm vàng (rạng đông) là những hiện tượng thiên nhiên mà con người từ xưa tới nay, lừ em bé tới cụ già, từ người dân thường đến các nghệ sĩ, các tao nhân mặc khách,… ai cũng thích chiêm ngưỡng và khám phá vẻ đẹp huyền diệu và sự vĩnh hằng của nó.
Tâm hồn tuổi thơ vốn hồn nhiên, trong sáng và giàu trí tưởng tượng. Vì thế cm bé “trò chuyện” với mây và muốn được cùng mây đi chơi đó đây. Nhưng có tình yêu nào mãnh liệt hơn, đằm thắm hơn tình yêu mẹ của đứa con ngoan? Từ thích thú muốn được đi chơi cùng mây, em bé phân vân, lưỡng lự rồi lừ chối: "Nhưng mà làm thế nào tôi lên trên ấy được?’’, và "Mẹ đợi tôi ở nhà, tôi có lòng nào bỏ được mẹ tôi?".
Tình yêu mẹ là tình cảm rất sâu sắc, rất đẹp của con người, đó là điều mà thi hào Ta-go muốn tâm sự với các em bé gần xa trên trái đất. Yêu mẹ cha, yêu anh chị em, yêu căn nhà êm ấm, yêu những kỉ niệm tuổi thơ… là những tình cảm đằm thắm, đầy ắp trong tâm hồn em bé ngây thơ đang trò chuyện với áng mây trời. Và đó cũng là cảm xúc chủ đạo của bài thơ Mây và sóng.
Có gì sung sướng hơn khi:
Con làm mây nhé, mẹ làm mặt trăng
Hai tay con ôm mặt mẹ, còn mái nhà ta là trời xanh…
Với sóng, có nhà thơ Việt Nam đã viết:
Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu…
(Sóng – Xuân Quỳnh)
Trong bài thơ của Ta-go, sóng như vị sứ giả của đại dương xa xôi đến với em bé. Sóng reo rì rầm. Sóng vẫy gọi chào mời em bé. Tuổi thơ nào mà chẳng từng khát khao, mơ ước? Sóng thủ thỉ cùng với em bé về một cuộc viễn du: ‘‘Chúng ta ca hát sớm chiều, chúng ta đi mãi mãi”, và rồi “cứ đi đến bờ biển…sóng sẽ cuốn con đi" đến mọi bến bờ, mọi chân trời xa lạ. Đây là một câu thơ diễn tả hình tượng con sóng vỗ vào bờ, liếm vào bãi cát, rồi lại rút ra xa, lại vồ vào… và cái nhìn lưu luyến, băn khoăn của em bé theo con sóng xa vời trên biển:
Họ (sóng) bèn mỉm cười, và nhảy nhót, họ dần đi xa Mơ ước được đi xa, nhưng rồi em bé lại đắn đo, băn khoăn. Em đã không thể đi du ngoạn cùng mây (bay cao) nên em cũng không thể đi chơi với sóng (đi xa). Với em, chỉ có mẹ, nguồn vui cao cả thiêng liêng mà tạo hóa đã dành cho phần hơn: tình mẫu tử. Em không nỡ để mẹ nhớ, mẹ buồn. Em cũng không thể nào "rời mẹ ” một giây, một phút. Niềm vui cứ chói ngời mãi hồn em:
Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển
Con lăn, lăn như làn sóng vỗ, tiếng con cười giòn tan vào gối mẹ.
Và không ai trên đời này biết được là mẹ con ta đang ở đâu…
Câu thơ "Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển" là một câu thơ hàm nghĩa, giàu tính triết lý. Không có mặt biển thì không thể có sóng. Có biển mới có sóng, cũng như có mẹ mới có con. Lúc sóng vỗ cũng là lúc biển hát. Lúc "con cười giòn tan vào gối mẹ” là lúc mẹ vô cùng sung sướng. Vì thế, con ngoan và vui chơi là lòng mẹ hạnh phúc. Qua đó, ta thấy nhà thơ lấy sóng và biển để nói với tuổi thơ bao điều.
Tính độc đáo của bài thơ là ở cấu trúc bằng 2 mẩu đối thoại giữa em bé với mây và sóng và lồng vào đó là tiếng nói thủ thỉ của cm với mẹ yêu thương. Một bài thơ trong sáng và đẹp như mây, như sóng, nói về miền sâu kín nhất, đằm thắm nhất của tâm hồn tuổi thơ. Yêu thiên nhiên, trí tưởng tượng phong phú, thích phiêu lưu mạo hiểm là đời sống tinh thần tuổi thơ ấu. Em bé được nói đến trong bài thơ này rất yêu thương mẹ. Cánh chim còn non yếu nên chưa dám bay cao cùng mây, chưa thể đi xa cùng sóng, mặc dù em có nhiều mơ mộng, nhiều khát khao muốn đi tới mọi chân trời góc biển.
Bài thơ Mây và Sóng thật đặc sắc và giàu ý nghĩa, lấp lánh vẻ đẹp nhân văn của một hồn thơ vĩ đại.
|
Bình giảng bài thơ Mây và sóng của đại thi hào Ta – go
| 1,180
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử
Bài làm
Không biết mùa xuân có tự bao giờ và thơ xuân có tự bao giờ, chỉ biết người ta sinh ra đã có mùa xuân đẹp đầy sức sống và thổi vào các hồn thơ, sống trong cuộc đời, nếu thiếu đi mùa xuân, thiếu đi những câu thơ xuân thì thật buồn. Hôm qua, hôm nay và ngày mai kia lại có những vần thơ xuân cho con người, cho cuộc sống. Và hôm qua đã có Hàn Mặc Tử với "Mùa xuân chín" khi cảm xúc trong con người lữ khách đó đã đến độ tràn đầy.
Nói đến mùa xuân, có ai không hiểu đó là những phút rạo rực nhất của cuộc đời, của cuộc sống. Mùa xuân mỗi khoảnh khắc một vẻ, lúc là "mùa xuân nho nhỏ", lúc là "mùa xuân xanh"… và đây "Mùa xuân chín" nghe vừa mới, vừa sôi nổi, vừa có một sức sống dồn nén đang thầm nảy nở giống như cái mới, cái lãng mạn và khao khát trong tâm hồn Hàn Mạc Tử.
Mỗi dòng thơ đều phảng phất hơi xuân, đều thấm đượm cái đẹp của tâm hồn thi sĩ. Mùa xuân bắt đầu từ cái nắng mới lạ thường:
"Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí bóng xuân sang".
Đúng là nắng xuân, chẳng phải tia nắng, hạt nắng, chẳng phải giọt nắng mà là "làn nắng". Chữ "làn" như gợi một hơi thở nhẹ nhàng, nắng như mỏng tang, mềm mại trải đều trong thơ và trong không gian. Làn nắng lại "ửng" lên trong "khói mơ tan". Cảnh sắc nhẹ nhàng, đẹp dân dã mà huyền diệu. Sương khói quyện với nắng; cái "ửng" của nắng được tôn lên trong làn khói mơ màng đang "tan" ấy. Ngòi bút thi sĩ vẫn hướng đến một nét thơ truyền thống, cổ điển, cảnh như có hồn, như có tình chan chứa. Trân trọng đón lấy cái nắng mới tinh khiết ấy là "Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng'!. Sự hô ứng trong vần thơ tạo ra một cảm xúc ấm áp, cảnh vật cân xứng hài hòa, đầy thơ mộng. Vài nét chấm phá đơn sơ mà tinh tế gợi cảm, dung dị mà đáng yêu. Chỉ có "đôi mái nhà tranh" hiện lên trong "làn nắng ửng" nhưng vẫn gợi lên một sức sống đang lay động, dân dã bình yên rất thân thuộc với mọi người. Nắng như đang rắc lên "đôi mái nhà tranh" chút sắc xuân và hương xuân: "Sột soạt gió trêu tà áo biếc". Cái âm thanh của gió "trêu" tà áo và cái gam màu "biếc" của, lá ây là cái tình xuân. Một chữ "trêu" đáng yêu quá, thân thương quá, có gì như mang hương sắc đồng quê từ những câu ca dao, hát ghẹo tình tứ thuở nào cứ ngân nga mãi trong lòng ta… Gió cũng chọn áo mà "trêu", phải chọn áo biếc mới thật thơ, thật đẹp. Mùa xuân là như thế, "chín" là như thế!
Từ cụ thể, từ làn nắng, từ mái nhà tranh, từ gió rồi mới khái quát: "Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang". Câu thơ có một sự ngưng đọng, ngập ngừng cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng, vấn vương đón “bóng xuân sang", cảm xúc ngưng tụ như nín thở ấy ẩn mình vào dấu chấm giữa dòng thơ. Mạch thơ ngập ngừng như mạch cảm xúc. Bên giàn thiên lí, mùa xuân đã sang. Mùa xuân nhẹ nhàng bước… như có thể cầm được, có thể ngắm được ngay trước mắt mỗi chúng ta.
Sau dấu châ'm (.), sau cái ngưng tụ và run rẩy như dây đàn căng lên trong tâm hồn nhà th ơ thì mùa xuân ào đến:
"Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi".
Cỏ như xanh mãi, tươi mãi trong không gian mênh mông, bao la. Hình ảnh ẩn dụ "sóng cỏ" và ba chữ "gợn tới trời" gợi tả làn cỏ xanh dập dờn trong làn gió xuân nhè nhẹ thổi. Chẳng biết ngoài kia là sóng cỏ thật, hay lòng thi sĩ cỏ xanh tươi mới gợn thành "sóng" như thế? Mùa xuân bao giờ chẳng có màu xanh của cỏ. "Cỏ xanh như khói bến xuân tươi" (Độ đầu xuân thảo lục như yên – Nguyễn Trãi). "Cỏ non xanh tận chân trời" (Nguyễn Du)… Gam màu "xanh tươi" đầy sức sống yên bình ấy trong thơ Hàn Mặc Tử cứ gợn tới trời", trải dài mãi như không dứt, trải mãi, ngâm vào hồn thơ. Trong sắc xuân ấy, tình cảm con người cũng đến độ chín. Tiếng hát giữa mùa xuân thân quen quá, yêu thương quá. Một nét đẹp truyền thống của dân tộc, đẹp như ca dao, dân ca, như lễ hội mùa xuân muôn thuở của cái xứ sở này được nói đến qua tiếng hát "vắt vẻo" và "thơ ngây" của những nàng xuân, của bao cô thôn nữ. Câu thơ gợi lên cái "chín" trong hồn bao cô thôn nữ qua âm thanh “vắt vẻo", trong trẻo, tươi mát của câu hát giao duyên, của trai gái nơi đồng quê, mộc mạc mà tình tứ. Tâm hồn nhạy cảm, yêu cuộc sống thiết tha của thi sĩ Hàn Mặc Tử đã bắt vào lời hát ấy nhiều xao xuyến. Mùa xuân mới thực sự "chín" khi có con người và có dư âm tiếng hát:
"Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây
Thầm thì với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây".
Âm thanh đọng lại trong từng tiếng thơ, độ ngân rung, "vắt vẻo" hòa nhịp với âm trầm "hổn hển" thể hiện một sự chuyển đổi cảm giác rất tinh tế, tài tình. Tâm hồn thi sĩ đã hòa nhập hẳn vào cái thế giới âm thanh mùa xuân ấy.
Tiếng ca như vút lên cao, như ngập ngừng, như lưu luyến giữa "lưng chừng núi". Dư âm tiếng hát dường như giăng mắc, rung lên “vắt vẻo" gợi lên nhiều xao xuyến bâng khuâng trong lòng nhà thơ. Tiếng hát "hổn hển" được so sánh "với lời của nước mây", lời của thiên nhiên. Hai tiếng "hổn hển" như nhịp thở gấp gáp, vội vàng đầy hương xuân, tình xuân, cảm xúc vừa thực vừa mơ đến lạ kì. Lời hát của các cô thôn nữ sao mà đáng yêu thế, như hút hồn người, như tràn ngập cả không gian, góp phần làm nên một "mùa xuân chín". Và còn có tiếng thầm thì "thầm thì với ai…" dưới bóng trúc, hẳn là tâm sự, là thân thương rồi. "Vắt vẻo”, "hổn hển", "thầm thì" là ba cung bậc của ba âm thanh mùa xuân đang chín, thấm sâu vào hồn người đến nhẹ nhàng lắng dịu, chan chứa thương yêu. Sự phong phú về giai điệu và phức điệu của khúc hát đồng quê, làm say mê mọi người, để rồi cùng nhà thơ bâng khuâng cảm nhận: "Nghe ra ý vị và thơ ngây…".
Tiếng hát mùa xuân dân dã, tình tứ và đáng yêu quá, sắc xuân, hương xuân, tình xuân "đang chín" dần trong lòng thôn nữ, bỗng ngập ngừng như có sự hẫng hụt, băn khoăn:
"Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi".
"Đám xuân xanh ấy" là các cô thôn nữ đang hát, đang "thầm thì với ai ngồi dưới trúc" kia sẽ chín cùng mùa xuân và sẽ "theo chồng bỏ cuộc chơi… Thiên nhiên và lòng người như quyến luyến mùa xuân dần trôi qua, tuổi xuân hồn nhiên dần trôi qua. Hàn Mặc Tử như chợt thấy buồn, thấy hẫng hụt, bâng khuâng, như mất mát đi một cái gì trong lòng khi mùa xuân đang chín… "Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua – Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già" (Xuân Diệu).
Hàn Mặc Tử chính là người lữ khách đi qua mùa xuân gặp cái ý vị của mùa xuân: "Khách xa gặp lúc mùa xuân chín…". Một nét bút truyền thống cổ điển "xuân hướng lão" xen lẫn cái hiện đại, mới mẻ làm cho ý thơ thêm đậm đà hơn.
Gặp lúc mùa xuân chín ấy mà thổn thức:
"Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang".
Hình ảnh của kí ức hiện lên một thoáng buồn đẹp và trải rộng mênh mông xa vắng. Nhà thơ nhớ đến con người như khao khát một tình người, một tình quê. Mỗi một nổi nhớ đều rất bâng khuâng. Nhớ một công việc cụ thể: "gánh thóc" trong một không gian cụ thể: "Dọc bờ sông trắng nắng chang chang". Chỉ có "chị ấy" là người đọc không thể biết mà chỉ có tác giả mới biết để mà "sực nhớ", mà thầm hỏi. Mà man mác sợ "mùa xuân chín" ấy sẽ trôi qua. Hình như đó là néi thơ Hàn Mặc Tử, là tâm hồn Hàn Mặc Tử khao khát giao cảm với đời mà luôn có một nỗi niềm cô đơn, trống vắng, hẫng hụt như thế.
"Mùa xuân chín" là một bài thơ xuân rất hay, là một bức tranh xuân mới nhất, trong sáng, rạo rực, say mê, thơ mộng mà thoáng buồn nhất. Hàn Mặc Tử vơi cảm hứng thiên nhiên trữ tình, màu sắc cổ điển hài hòa với chất dân dã, trẻ trung bình dị đã làm hiện lên một bức tranh xuân tươi tắn thơ mộng. Mùa xuân đẹp. Con người trẻ trung, hồn nhiên, xinh đẹp, đáng yêu. Yêu mùa xuân chín cũng là yêu đồng quê, yêu làn nắng ửng, yêu mái nhà tranh, yêu giàn thiên lí, yêu tiếng hát vắt vẻo của những nàng xuân trên "sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”.
"Mùa xuân chín" lúc thì dạt dào, lúc thì lắng dịu trong tâm hồn thi sĩ. Có lúc vồn vã, có lúc mênh mang, như đang lắng hồn mình vào bước đi của mùa xuân rồi bồi hồi, "sực nhớ… " và "bâng khuâng". Cái nhớ bâng khuâng của người lữ khách mãi mãi là tình thương mến, nỗi khát khao giao cảm với hương sắc và khúc nhạc mùa xuân, với làng quê thân thuộc nơi miền Trung "Dọc bờ sông trắng nắng chang chang"…
|
Bình giảng bài thơ Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử
| 1,753
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính
Bài làm
Thơ Nguyễn Bính viết nhiều về mùa xuân. Cuộc sống ở làng quê không gì vui bằng ngày xuân. Xuân là mùa hồi sinh của đất trời. Cây cối nẩy lộc, đâm chồi sau những ngày đông giá lạnh, xơ xác, tiêu điều. Mùa xuân ấm áp cũng là mùa của lễ hội. Nhiều bài thơ hay trong Thơ mới được khơi nguồn từ cảm hứng xuân. Đoàn Văn Cừ với "Đám cưới mùa xuân" đã miêu tả không khí hội xuân và thiên nhiên cũng chia sẻ niềm vui với con người:
"Sau trái đồi lấp lánh ánh sương ngân
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân
Ca ánh ỏi trên cành xuân tắm nắng"
Anh Thơ trong Chiều Xuân cũng gợi được không khí xuân qua những hình ảnh thanh bình của làng quê, dòng sông, con đò, mưa bụi trên bến vắng…
"Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời"
Hàn Mặc Tử với "Mùa xuân chín" đã thâu tóm được sự sống và vẻ đẹp của bức tranh mùa xuân.
"Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang".
Ở thơ Hàn Mặc Tử còn có một "Xuân như ý" và "Xuân đầu tiên" với cảm hứng mới lạ, tinh khôi về một đất trời xa lạ nhưng cũng không thể đẹp bằng mùa xuân giữa cuộc đời: "Mùa xuân chín". Một số nhà thơ lại cảm nhận mùa xuân của thiên nhiên và cuộc đời không qua những hình ảnh cụ thể mà ở sức xuân, hơi xuân như trường hợp Huy Cận:
"Xuân gội tràn đầy
Giữa lòng hoan lạc
Trên mình hoa cây…
Nắng vàng lạt lạt
Ngày đi chầy chầy…
… Mái rừng gió hầy
Chiêu xuân đầy lời"
( Chiều xuân)
Nguyễn Bính viết nhiều về mùa xuân, về những cảnh xuân chân thực của làng quê: "Mưa xuân", "Xuân về", ''Xuân tha hương", "Rượu xuân", "Nhạc xuân", "Thơ xuân", "Mùa xuân xanh". Mùa xuân quả là có duyên thơ với Nguyễn Bính. Những bức tranh của đồng quê và làng quê thật trong sáng, tươi vui khi xuân về. Thiên nhiên như hồi sinh, cỏ cây xanh tươi, con người lấy lại sức lực…:
"Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong".
(Xuân về)
Ở khổ thơ trên, Nguyễn Bính chưa trực tiếp tả cảnh vật mùa xuân. Chỉ với một tín hiệu nhỏ, khi ngọn gió đông về đã thấy hơi xuân ấm áp. Cô gái làng quê là người nhạy cảm nhất với những dấu hiệu giao mùa. Cặp mắt trong ngước nhìn trời, và đôi má ửng hồng của cô gái là những dấu hiệu phản quang chính xác của mùa xuân. Nguyễn Bính trong hài "Xuân về" đã miêu tả thật đẹp làng quê trong khung cảnh mùa xuân với "trời quang nắng mới hoe" và đồng quê “Lúa thì con gái mượt như nhung”. Và đặc biệt là phong tục và văn hóa của làng quê trong ngày xuân, các cô gái "yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa" và những cụ già "Tay lần tràng hạt miệng nam mô'' nói lên nếp sống gần gũi từ lâu đời.
"Mưu xuân" lại giới thiệu một khung cảnh đặc biệt của mùa xuân. Mưa xuân, đêm hội chèo, sự hò hẹn của đôi lứa và những nỗi niệm vui buồn của cô gái quê. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bính giới thiệu khung cảnh một gia đình sống nền nếp với nghề canh cửi, có mẹ già và cô giá tuổi hoa niên. Cô gái như đỡ lời tác giả và tự nói về mình:
"Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa".
Dịu dàng, ngây thơ và trong trắng. Khuôn khổ của đời sống gia đình và công việc lao động cần mẫn quanh năm tưởng như tách biệt cuộc sống của người con gái với thế giới bên ngoài. Hình ảnh thơ gợi nhớ đến câu ca "Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai". Ở đây hình ảnh cây lụa trắng gợi lên một cái trinh trắng của cô gái ít giao lưu tiếp xúc. Có lẽ còn lâu lắm cô gái mới nghĩ đến chuyện gia đình. Nguyễn Bính đã đưa khung cảnh thiên nhiên của một đêm xuân để gợi mở cho câu chuyện:
"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy".
Chỉ có hai câu thơ mà xốn xang và gợi không khí quá. Những cụm từ "phơi phới bay "lớp lớp rụng vơi đầy" vừa diễn tả đúng trạng thái của hiện tượng lại mang màu sắc thẩm mĩ riêng biệt. Bình thường là những giọt mưa rơi, nhưng với "Mưa xuân" Nguyễn Bính viết mưa bay là đúng và phơi phới bay" lại rất gợi tả. Hoa xoan quen thuộc ở vùng quê không khoe hương, khoe sắc. Nhưng hình ảnh gợi cảm nhất của những chùm hoa xoan là khi tàn rụng, những cánh hoa nhỏ bay lớp lớp phủ trên đường. Anh Thơ đã rất có lí và nghệ thuật khi viết "Bên chòm xoan, hoa tím rụng tơi bời!''. Cùng với hiện tượng đó, Nguyễn Bính rất sáng tạo khi viết "Haa xoan lớp lớp rụng vơi đầy". Tô Hoài đã nhắc đến hai câu thơ trên của Nguyễn Bính với lời khen trân trọng:
"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy".
"Tầm vóc, thật tầm vóc mỗi câu thơ Nguyễn Bính!"
Thiên nhiên nhiều màu vẻ ấy đã làm mất đi không khí và cảm xúc bình lặng, nhất là gánh chèo làng Đặng đi qua ngõ càng gợi lên không khí vui chơi hội hè của làng quê. Cô gái nết na và kín đáo không còn giữ được sự bình thản. Có thể giấu được mẹ già và người xung quanh nhưng không thể tự giấu được mình. Dường như có một cô gái khác tình tứ hơn đã nhập vào mình:
”Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến mình".
Nguyễn Bính đã diễn tả tình yêu của cô gái quê thật nhẹ nhàng tinh tế; khởi đầu là những rung cảm thật nhẹ như tơ vương, gợi chút xao xuyến trong lòng. Những rung động lớn dần, con thoi cần mẫn của khung cửi không đi về được theo nhịp bình thường khi trái tim cô gái đã có những nhịp đập khác thường Dấu hiệu ngừng công việc của cô gái đang độ tuổi yêu đương để theo đuổi hết ý nghĩ của lòng mình đã được nhắc đến trong thơ xưa. Sư Huyền Quang trong bài "Xuân nhật tức sự" đã miêu tả cảm xúc của cô gái đẹp tuổi đôi tám với cảnh sắc mùa xuân, cô gái đã dừng mũi kim thêu để cảm nhận cho hết xuân ý, xuân tình:
"Người con gái đẹp tuổi đôi tám chầm chậm thêu
Dưới bóng hoa tử kinh, chim hoàng li nhảy nhót
Đáng kêu là cái ý thương xuân vô hạn
Đọng lại tất cả ở lúc dừng kim không nói năng".
Sự việc vẫn được tiếp nối và phát triển. Hình bóng người con trai đến đây đã xuất hiện trong ý nghĩ của cô gái mà cô như cảm thấy có chút ngượng ngùng. Không soi gương mà biết má mình bừng đỏ. Đó là trạng thái tự nhận biết của các cô gái trẻ đang yêu đương. Khổ thơ với những từ ngữ gợi không khí như xưa: "giăng tơ", "thoi xinh" nhưng lại rất mới mẻ với trạng thái diễn tả không xác định qua các từ "có lẽ", hình như chấp nhận một tình cảm thực của lòng mình trong yêu đương cũng e ấp, ngượng ngùng. Phải chăng đó là đặc điểm của các cô gái còn ngây thơ, trong trắng? Nhưng rồi người đọc cũng khó đoán định được diễn biến của tâm tình và sự việc.
"Mưa xuân'' cũng như nhiều bài thơ khác của Nguyễn Bính thường có yếu tố của cốt truyện. Từ tâm tình đã chuyển dần sang hành động. Cô gái nghĩ đến chàng trai và những lời hò hẹn. Trời đã tối, hàng xóm đã lên đèn, mưa xuân vẫn bay và bao phủ bầu trời đêm. Nguyễn Bính đã miêu tả những chi tiết nghệ thuật gợi cảm. Cô gái như có chút đắn đo, ngập ngừng trước trời mưa lạnh, nhưng ý nghĩ ấy nhanh chóng bị lướt qua khi nghĩ đến sự có mặt của chàng trai trong đêm hội:
"Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chẳng sang xem!"
Tình yêu như có sức mạnh kì diệu đã tiếp sức cho cô gái đang tuổi yêu đương. Thật khó hình dung những đổi thay của cô gái quê, lúc đầu còn e ấp, ngượng ngùng và sau đó đã trở nên mạnh dạn, kiên quyết hơn. Dường như không có gì cản trở được tình yêu. "Mưa bụi nên em không ướt áo – Thôn Đoài cách có một thôi đê". Cô gái xin phép mẹ và vội vàng đi. Những chi tiết trên gợi nhớ đến một nàng Kiều "xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" và khi gặp người yêu Thuý Kiều giãi bày những ý nghĩ chân thực, đáng trọng, đáng yêu và cũng gợi bao thương cảm:
"Nàng rằng: "Quãng vắng đêm trường”,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa.
Bây giờ rõ một đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chăng là chiêm bao?".
Nhưng dù sao nàng Kiều cồn được bù đắp, còn gặp gỡ được người yêu để tâm tình. Hình ảnh cô gái trẻ mải miết tìm người yêu trong đêm hội, không thiết đến chuyện xem hát cũng nói lên mãnh lực của tình yêu và gợi biết bao thương cảm ở người đọc. Không còn là chuyện lầm lẫn trong hẹn hò. Nguyễn Bính đã đẩy tứ thứ vận động và phát triển đến cao điểm của những tương phản mang tính bi kịch: niềm tin yêu mong đợi của tuổi trẻ mạnh dạn dân thân và sự bất ngờ đến đau đớn của cảnh ngộ, tình yêu tin cậy chung thuỷ và sự bội bạc phũ phàng, khung cảnh hội hè vui vẻ và cảnh cô đơn, tủi phận của riêng ai:
"Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bày tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng".
Trong ý thơ có lời trách cứ, giận hờn. Chính ở phút giây đáng giận, đáng căm ghét này, cô gái vẫn tỏ ra hiền dịu và chỉ biết trách cứ chàng trai. "Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn" nhưng đã sớm quên lời hẹn ước. Từ đây tứ thơ và cảm xúc thơ mang nặng tủi buồn. Nếu ở những khổ thơ đầu nhân vật trữ tình còn mong đợi, còn náo nức, còn hăng hái thì đến đây tất cả như đảo ngược. Thời gian trôi qua chưa lâu và cũng vẫn là đêm xuân ấy nhưng sự cảm nhận của người trong cuộc về thời gian đã hoàn toàn khác biệt: "Để ả mùa xuân cũng nhỡ nhàng". Sự lỡ hẹn trong tình yêu đôi lứa có thể dẫn tới sự nhỡ nhàng. Tác giả không nổi hẳn vào cảnh ngộ của nhân vật mà chọn một cách nói tinh tế và giàu tính nghệ thuật hơn. Từ đây, mùa xuân với đơn vị thời gian vốn có đã được tác giả sử dụng với nhiều dụng ý nghệ thuật. Con đường trở về với cô gái chắc chắn là con đường Xa. Nếu trước đây "Thôn Đoài cách có một thôi đê" thì bây giờ là "có ngắn gì đâu một dải đê”. Nếu trước đây mưa xuân còn nhẹ hạt "Mưa bụi nên em không ướt áo" thì bây giờ "Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt". Và nỗi tủi thân của cô gái canh khuya lặn lội đường trường. Nguyễn Bính đã thật sự cảm thương nhân vật qua những dòng thơ. Tác giả cũng không thể an ủi được gì hơn và cũng muốn để cho nhân vật được lặng lẽ với tâm trạng riêng của mình:
"Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya".
Không có một âm thanh nào của cuộc sống và thiên nhiên tạo vật. Không có một hình ảnh nào lấp lánh mở ra một tia hi vọng. Chỉ có nỗi buồn của nhân vật và sự cảm thương ở người đọc. Tứ thơ đã dần khép lại với những hình ảnh da diết gợi cảm. "Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay", câu thơ gợi không khí và xôn xao ấy không còn nữa, ý thơ khép lại mưa xuân với những hình ảnh nặng nề và tủi buồn:
"Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: "Mùa xuân đã cạn ngày"."
Nguyễn Bính đã tỏ ra hăng hái trong nghề khi vận dụng lại hàng loại những ý thơ và hình ảnh thơ ban đầu với những sắc thái mới tương phản, đối lập. Mưa xuân không "phơi phới" mà đã "ngại bay", hoa xoan bị chà đạp trên lối đi về. Cảnh tượng ấy phải chăng cũng phù hợp với cảnh ngộ của con người? "Mùa xuân đã cạn ngày", câu nói của người mẹ như khép lại. Nếu còn chăng chính là nỗi buồn của người con gái, một nỗi buồn phẳi âm thầm chịu đựng. Tuổi trẻ tin cậy vẫn chưa mất hẳn niềm hi vọng. Một câu hỏi không thể tìm được lời đáp "Bao giờ em mới gặp anh đây?". Những cô gái làng quê trong trắng, chung tình trong thơ Nguyễn Bính vẫn chờ đợi. Mùa xuân qua, lại chờ đợi một mùa xuân tới. Cô lái đò chờ đợi đến ba xuân mà vẫn vô vọng. Người con gái trong "Mưa xuân" liệu có đi lại con đường ấy. Mùa xuân của đất trời hàng năm lại trở lại. Mưa xuân lại phơi phới bay, nhưng mùa xuân của cuộc đời thì chỉ đến có một lần. Bài thơ "Mưa xuân'' đã ghi lại cả hai mùa xuân ấy và gợi lên bao ngậm ngùi xót xa về số phận và hạnh phúc của tuổi trẻ trong cuộc đời cũ những tháng năm qua.
|
Bình giảng bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính
| 2,467
| |
Bình giảng bài thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là người thi sĩ vừa tài vừa có sắc được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm. Bà là nữ thi sĩ mang lại cho người đọc nhiều ấn tượng về các tác phẩm vừa có giá trị cao lại mang được những nét tài hoa trong sáng tác. Thơ Hồ Xuân Hương mang những bản sắc đậm đà mà hơn thế ở đó còn nói lên những tâm tư tình cảm của bà gửi vào trong tác phẩm. Ngoài chum thơ như tự tình, bánh trôi nước thì chúng ta còn biết đến bài thơ Mời Trầu. Nhắc tới trầu nhắc tới tình yêu, đúng vậy đó là nỗi khát khao cháy bỏng tình yêu được gửi gắm qua những vần thơ đong đầy tình cảm
Xuất hiện trong toàn bài chỉ có bốn câu thơ, vẻn vẹn được bốn câu ngắn ngủi những toát lên tất cả những cảm xúc khát khao của cá nhân nhà thơ Xuân Hương hay một phần nào đó cũng là khát khao của những người phụ nữ. những tình cảm ấy là những điều thường thấy là tình cảm đời thường và cũng rất thiêng liêng
Nhân vật trữ tình được nhắc tới không ai khác chính là nữ thi sĩ Xuân HƯơng, và ngay từ đầu thì nữ thi sĩ cũng đã nhắc tới một sự tích một nét văn hóa của dân tộc Việt Nam đó chính là miếng trầu.
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Không chỉ xuất hiên trong bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương mà nó còn xuất hiện ở nhiều tác phẩm văn học của các tác giả thơ ca khác.Miếng trầu đong đầy tình cảm gợi nhớ tới câu chuyện thấm đẫm tình cảm an hem tình cảm vợ chồng dành cho nhau.Miếng trầu còn là những thức mà người lớn tuổi hay những thanh niên thường ăn trong các dịp cưới xin. Miếng trầu trong ca dao xưa vẫn văng vẳng qua những lời ru của bà của mẹ, và đến sau này miếng trầu ấy là miếng trầu có bốn nghìn năm tuổi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, la miếng trầu hàng hóa của người mẹ già trong thơ Hoàng Cầm nữa.
Ở đây nữ thi sĩ Xuân Hương nói rằng đó chính là miếng trầu hôi, quả cau nho nhỏ với miếng trầu hôi. Không phải là trầu có vị hôi mà là vị của trầu không thường rất hăng và cay cho nên thi sĩ đã khéo sử dụng tính từ “hôi” cho nó. Câu thơ này của Xuân HƯơng đã quệt rồi như mời mọc người quân tử đến ăn miếng trầu ấy. Miếng trầu của Xuân HƯơng têm hãy vẫn tươi xanh, hãy còn ngon ngọt vì mới quẹt vôi. Tấm lòng của Hồ Xuân Hương thắm đượm như miếng trầu kia và sự tươi tắn giống như sự tươi tắn của miếng trầu ấy.
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi
Từ miếng trầu đã khơi gợi ra biết bao nhiêu là lời tâm sự của một tâm hồn tươi tắn và đẹp đẽ của Xuân Hương, nó giống như những miếng trầu cau kia vậy. Hồ Xuân Hương không e dè khi quyết định nói đến những tâm sự và ý nghĩ của cá nhân mình đối với những người quân tử có ý định tìm đến tình duyên với bà hay cũng như với những người phụ nữ khác.
Đừng bao giờ phụ bạc lấy tình duyên mà phải bén lại với nhau chứ đừng nên bạc bẽo như vôi, xanh như lá. Tình yêu đó như dây trầu quấn lấy thân cau, cứ cao vút và thấm đượm tình cảm. bén duyên là duyên thắm lại, tình cảm phải có bén lửa thì mới có kết thúc đẹp đẽ được.
Chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi thôi mà nữ thi sĩ Hồ Xuân HƯơng đã khơi gợi biết bao nhiều điều. Qua đay, tác giả cũng muốn trải lòng và gửi gắm hết những tâm trạng và nỗi lòng mà Xuân Hương giữ kín bấy lâu. Môi câu thơ mang những tình cảm trong sáng thiêng liêng mà cũng là những phút trải lòng của tác giả.
|
Bình giảng bài thơ mời trầu của Hồ Xuân Hương
| 725
| |
Bình giảng bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh.
Hướng dẫn
“Nguyên tiêu” nằm trong chùm thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh viết trong chín năm kháng chiến chống Pháp, tại chiến khu Việt Bắc: “Nguyên tiêu”, “Báo tiệp”, “Thu dạ”… Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, sang xuân hè 1948, quân ta lại thắng lớn trên đường số Bốn. Niềm vui thắng trận tràn ngập cả tiền tuyến và hậu phương. Trong không khísôi động và phấn chấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác Hồ xuất hiện trên báo Cứu quốc như một đóa hoa xuân ngào ngạt và rực rỡ sắc hương. Xuân Thủy đã dịch khá hay bài thơ này. Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt:
“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên;
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền”.
Đêm nguyên tiêu trăng sáng ngời trên một không gian bao la. Bài thơ nói lên cảm xúc và niềm vui dào đạt trong tâm hồn lãnh tụ đêm nguyên tiêu lịch sử.
Hai câu đầu vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì mùa xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng cũng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình. Đất nước quê hương bao la một màu xanh bát ngát. Màu xanh lấp lánh của “xuân giang”. Màu xanh ngọc bích của “xuânthủy” tiếp nối với màu xanh thanh thiên của “xuân thiên”. Ba từ “xuân” trong câu thơ thứ hai là những nét vẽ đặc sắc làm nổi bật cái “thần” của cảnh vật sông, nước và bầu trời.
“Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên”.
(Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)
“Xuân” trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả mùa xuân, của sông nước, đất trời vào xuân. Nó thể hiện vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của đất nước ta: trong lừa đạn vẫn dạt dào một sức sống trẻ trung, tiềm tàng. Ngoài giá trị miêu tả cảnh đẹp đêm nguyên tiêu, vần thơ còn biểu hiện tinh tế cảm xúc tự hào, niềm vui sướng mênh mông của một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến.
Với Bác Hồ, yêu vẻ đẹp đêm nguyên tiêu, yêu thiên nhiên cũng là yêu đời tha thiết. Bác yêu thiên nhiên nên sông, núi, cỏ cây, hoa lá, tạo vật trong thơ Bác rất hữu tình. Có “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”; có “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” trong niềm vui thắng trận. Bác yêu hoa núi, chim rừng Việt Bắc: “Xem sách, chim rừng vào cửa đậu – Phê văn hóa núi ghé nghiên soi”; yêu ngọn núi, chim rừng báo mùa thu chợt đến… Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh là một trong những yếu tố tạo nên sắc điệu trữ tình và màu sắc cổ điển.
Hai câu thơ cuối nói về dòng sông, khói sóng và con thuyền trăng:
“Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.
Ánh trăng ngày trước (1942-1943) chiếu vào ngục lạnh nơi đất khách quê người, thì đêm nguyên tiêu này là (1948), trăng lại soi xuống con thuyền trong đó Bác đang “đàm quân sự” (bàn bạc việc quân). Trăng nguyên tiêu là trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm, được nhân dân đón đợi với bao hi vọng, bao tình cảm nồng hậu. Lại nữa, trường hợp thưởng trăng không phải là trường hợp bình thường diễn ra trên sân nhà, ngõ xóm, hay “đăng lâu vọng nguyệt”… mà là thưởng trăng trên khói sóng, nơi “yên ba thâm xứ” – cõi sâu kín, bí mật trên dòng sông, giữa núi rừng chiến khu bao la! Người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa, mà còn là con người hành động, người chiến sĩ đánh giặc, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân” để lãnh đạo nhân dân kháng chiến, bảo vệ non sông đất nước. Quả thật, đây là một trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. “Yên ba” là khói sóng, một thi liệu cổ được Bác vận dụng rất sáng tạo làm cho bài thơ “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi. Ba chữ “Đàm quân sự” đã khu biệt thơ Bác với thơ của người xưa, làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại.
Sau những canh dàibàn bạc việc quân căng thẳng nơi khói sóng sâu kín, trời đã về khuya. Nửa đêm (dạ bán), Bác trở về bến, tâm hồn sảng khoái vô cùng. Con thuyền của vị thông soái, con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng của thi nhân nhẹ bơi trên sông nước mênh mông, chở đầy ánh trăng vàng:
“Dạ bán quy lai, nguyệt mãn thuyền”.
(Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền).
“Nguyệt mãn thuyền” là một hình ảnh rất đẹp và trữ tình, nó làm ta nhớ đến những vần thơ hoa lệ:
“Bạn chơi năm ngoái nào đâu tá?
Trăng nước như xưa chín với mười”.
(Triệu Hỗ – Đường thi)
“Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông…”.
(Bạch Cư Dị)
“Nước biếc non xanh thuyền gối bãi,
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu”.
(Nguyễn Trãi)
Trở lại bài thơ Hồ Chí Minh, ta thấy conthuyền đang trôi nhẹtrên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng, mang theo bao ánh trăng, hiện lên một thủ lĩnh quân sự giàu hồn thơ dang lãnh đạo quân dân ta kháng chiến để giành lại độc lập, tự do, để giữ mãi những đêm nguyên tiêu trăng đầy trời của đất nước quê hương thanh bình. Hình ảnh con thuyền trăng trong bài thơ này cho thấy tâm hồn Bác giàu tình yêu thiên nhiên, trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan yêu đời.
Qua bài thơ “Nguyên tiêu”, ta có thể nói, trăng nước trong thơ Bác rất đẹp. Chính vầng trăng ấy đã thể hiện phong thái ung dung, tâm hồn thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc mang cốt cách nghệ sĩ, nhà hiền triết phương Đông.
“Nguyên tiêu” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, man mác phong vị Đường thi. Bài thơ có đầy đủ những yếu tốcủa bài thơ cổ: một con thuyền, một vầng trăng, có sông xuân, nước xuân, trời xuân, có khói sóng. Điệu thư thanh nhẹ. Không gian bao la, yên tĩnh… Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú từ chương, mà chỉ “đàm quân sự”. Bài thơ như một đóa hoa xuân đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức của Hồ Chí Minh.
Văn tức là người. Thơ là tấm lòng, là tiếng lòng cộng hưởng từ một người đến với muôn người. Thơ Bác Hồ tuy nói đến “trăng, hoa, tuyết, nguyệt…” nhưng đã phản ánh tâm tư, tình cảm, lẽ sống cao đẹp của Bác. Bác yêu nước, thương dân tha thiết nên Bác càng yêu đêm nguyên tiêu với vầng trăng xuân thơ mộng. Trong kháng chiến gian khổ, Bác đã hướng tới vầng trăng rằm tháng giêng, hướng tới bầu trời xuân với tâm hồntrong sáng và phong thái ung dung. Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Biết yêu trăng cũng là biết sống đẹp. “Nguyên tiêu” là một bài thơ trăng tuyệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Con thuyền chở đầy ánh trăng cũng là con thuyền kháng chiến đang hướng tới chiến công và niềm vui thắng trận.
Nguồn:
|
Bình giảng bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh.
| 1,351
| |
Bình giảng bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng riêng) – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
“Nguyên tiêu” nằm trong chùm thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh viết trong chín năm kháng chiến chống Pháp, tại chiến khu Việt Bắc: “Nguyên tiêu”, “Báo tiệp”, “Thu dạ”.. Sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, sang xuân hè 1948, quân ta lại thắng lớn trên đường số Bôn. Niềm vui thắng trận tràn ngập cả tiền tuyến và hậu phương. Trong không khi sôi động và phấn chấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác Hồ xuất hiện trên báo Cứu quốc như một đóa hoa xuân ngào ngạt và rực rỡ sắc hương. Xuân Thủy đã dịch khá hay bài thơ này. Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt:
“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên;
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền”.
Đêm nguyên tiêu trăng sáng ngời trên một không gian bao la. Bài thơ nói lên cảm xúc và niềm vui dào đạt trong tâm hồn lãnh tụ đêm nguyên tiêu lịch sử.
Hai câu đầu vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì mùa xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng cũng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình. Đất nước quê hương bao la một màu xanh bát ngát. Màu xanh lấp lánh của “xuân giang”. Màu xanh ngọc bích của “xuân thủy” tiếp nối với màu xanh thanh thiên của “xuân thiên”. Ba từ “xuân” trong câu thơ thứ hai là những nét vẽ đặc sắc làm nổi bật cái “thần” của cảnh vật sông, nước và bầu trời.
“Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên”.
(Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)
“Xuân” trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả mùa xuân, của sông nước, đất trời vào xuân. Nó thể hiện vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của đất nước ta: trong lửa đạn vẫn dạt dào một sức sống trẻ trung, tiềm tàng. Ngoài giá trị miêu tả cảnh đẹp đêm nguyên tiêu, vần thơ còn biểu hiện tinh tế cảm xúc tự hào, niềm vui sướng mênh mông của một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến.
Hai câu thơ cuối nói về dòng sông, khói sóng và con thuyền trăng:
“Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.
Ánh trăng ngày trước (1942-1943) chiếu vào ngục lạnh nơi đất khách quê người, thì đêm nguyên tiêu này là (1948), trăng lại soi xuống con thuyền trong đó Bác đang “đàm quân sự” (bàn bạc việc quân). Trăng nguyên tiêu là trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm, được nhân dân đón đợi với bao hi vọng, bao tình cảm nồng hậu. Lại nữa, trường hợp thưởng trăng không phải là trường hợp bình thường diễn ra trên sân nhà, ngõ xóm, hay “đăng lâu vọng nguyệt”… mà là thưởng trăng trên khói sóng, nơi “yên ba thâm xứ” – cõi sâu kín, bí mật trên dòng sông, giữa núi rừng chiến khu bao la! Người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa, mà còn là con người hành động, người chiến sĩ đánh giặc, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân” để lãnh đạo nhân dân kháng chiến, bảo vệ non sông đất nước. Quả thật, đây là một trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. “Yên ba” là khói sóng, một thi liệu cổ được Bác vận dụng rất sáng tạo làm cho bài thơ “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi. Ba chữ “Đàm quân sự” đã khu biệt thơ Bác với thơ của người xưa, làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại.
Sau những canh dài bàn bạc việc quân căng thẳng nơi khói sóng sâu kín, trời đã về khuya. Nửa đêm (dạ bán), Bác trở về bến, tâm hồn sảng khoái vô cùng. Con thuyền của vị thống soái, con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng của thi nhân nhẹ bơi trên sông nước mênh mông, chở đầy ánh trăng vàng:
“Dạ bán quy lai, nguyệt mãn thuyền
(Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền).
“Nguyệt mãn thuyền” là một hình ảnh rất đẹp và trữ tình, nó làm ta nhớ đến những vần thơ hoa lệ:
“Bạn chơi năm ngoái nào đâu tá?
Trăng nước như xưa chín với mười”.
(Triệu Hỗ – Đường thi)
“Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông…”.
(Bạch Cư Dị)
“Nước biếc non xanh thuyền gối bãi,
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu”.
(Nguyễn Trãi)
Trở lại bài thơ Hồ Chí Minh, ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng, mang theo bao ánh trăng, hiện lên-một thủ lĩnh quân sự giàu hồn thơ đang lãnh đạo quân dân ta kháng chiến để giành lại độc lập, tự do, để giữ mãi những đêm nguyên tiêu trăng đầy trời của đất nước quê hương thanh bình. Hình ảnh con thuyền trăng trong bài thơ này cho thấy tâm hồn Bác giàu tình yêu thiên nhiên, trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan yêu đời.
“Nguyên tiêu” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, man mác phong vị Đường thi. Bài thơ có đầy đủ những yếu tố của bài thơ cổ: một con thuyền, một vầng trăng, có sông xuân, nước xuân, trời xuân, có khói sóng. Điệu thơ thanh nhẹ. Không gian bao la, yên tĩnh… Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú từ chương, mà chỉ “đàm quân sự”. Bài thơ như một đóa hoa xuân đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức của Hồ Chí Minh.
Văn tức là người. Thơ là tấm lòng, là tiếng lòng cộng hưởng từ một người đến với muôn người. Thơ Bác Hồ tuy nói đến “trăng, hoa, tuyết, nguyệt…” nhưng đã phản ánh tâm tư, tình cảm, lẽ sống cao đẹp của Bác. Bác yêu nước, thương dân tha thiết nên Bác càng yêu đêm nguyên tiêu với vầng trăng xuân thơ mộng. Trong kháng chiến gian khổ, Bác đã hướng tới vầng trăng rằm tháng giêng, hướng tới bầu trời xuân với tâm hồn trong sáng và phong thái ung dung. Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Biết yêu trăng cũng là biết sống đẹp. “Nguyên tiêu” là một bài thơ trăng tuyệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Con thuyền chở đầy ánh trăng cũng là con thuyền kháng chiến đang hướng tới chiến công và niềm vui thắng trận.
Tags:Văn 8
|
Bình giảng bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng riêng) – Đề và văn mẫu 8
| 1,199
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Nói với con của Y Phương
Bài làm
Y Phương, người con của dân tộc Tày là tác giả bài thơ Nói với con. Nhan đề bài thơ rất bình dị, lời thơ và chất thơ rất hồn nhiên.
Hai mươi tám câu thơ tự do, câu ngắn nhất chỉ có hai chữ, câu thơ dài nhất là mười chữ, phần nhiều là những câu thơ bốn chữ năm chữ; lại có câu thơ cất lên như một khẩu ngữ, nhưng rất gợi rất đậm đà vì thấm đẫm tình cha, vì cách biểu cảm chân tình, mộc mạc
Tràn ngập những vần thơ là tình thương con, là niềm tự hào đối với quê hương xứ sở. Các câu thơ:
Người đồng mình yêu lắm con ơi
-Người đồng mình thương lắm con ơi
-Người đồng mình thô sơ da thịt
-Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương.
đứng chốt ở bốn trọng điểm, như những luyến láy, những điệp cú, điệp khúc làm cho âm điệu, nhạc điệu thơ ngân vang, dào dạt.
Tôi đã sinh ra và lớn lên ở đôi bờ con sông Hương thơ mộng, thuở tấm bé đã được uống vào lòng những lời thiết tha, dịu ngọt: bà conmình, “ chị em mình” "anh em mình",… của má tôi, của chị gái tôi, của bè bạn tôi. Rồi những năm dài chiến tranh trên những nẻo đường hành quân, tôi đã xúc động khi chợt nghe một tiếng ru buồn, dìu dịu cất lên tự một mái nhà gianh nơi xóm vắng xa lạ:… “Nàng về nuôi cái cùng con – Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng"… Và khi đọc thơ Y Phương, ba tiếng “người đồng mình" đã vương vấn tâm hồn tôi bao bâng khuâng man mác. Tôi bồi hồi nhớ về tuổi thơ, nhớ giọng nói dịu hiền của má tôi, nhớ về xứ Huế, và thật kì lạ, tôi bâng khuâng nghĩ về Cao Bằng, nơi “gạo trắng nước trong”, nơi mà tôi chưa hề một lần đi tới. Thơ có hồn, có hay mới gợi nhớ gợi thương như thế. "Người đồng mình” đã kết tụ bao tình yêu thương, tự hào của Y Phương đối với “ nước non Cao Bằng ”, nơi chôn nhau cắt rốn nặng tình nặng nghĩa của mình.
Hãy khẽ ngâm lên những vần thơ của anh:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Ta tưởng như đang được ngắm một bức tranh tứ bình có bốn hình ảnh: chân phải, chân trái, tiếng nói, tiếng cười của một em bé đang chập chững tập đi, đang bi bô tập nói. Lúc thì sà vào lòng mẹ, lúc thì níu lấy tay cha. Điệp ngữ “bước tới" và động từ “chạm" dùng rất khéo, làm nổi bật cái hồn bức tranh về gia đình hạnh phúc: đôi vợ chồng trẻ với đứa con thơ đầu lòng.
“Người đồng mình yêu lắm con ơi"! – Sao không yêu? Phải yêu nhiều yêu lắm chứ!
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng.
Nhà văn Nguyễn Tuân từng ca ngợi ông lái đò sông Đà có "bàn tay lái ra hoa”.. Một nhà thơ nọ, trước vẻ đẹp yêu kiều của cô văn công đã thốt lên: "mười nụ hoa trắng ngần thơm ngát bàn tay em". Chữ “hoa”, chữ “câu hát”, chữ “tấm lòng ” trong thơ Y Phương cũng rất ý vị. Đan lờ đánh cá, dưới bàn tay người Tày, những nan nứa, nan trúc, nan tre đã trở thành “nan hoa”. Vách nhà không chỉ ken bằng gỗ mà được ken bằng “câu hát". Rừng đâu chỉ cho nhiều gỗ quý, cho măng, cho lâm sản quý giá mà còn "cho hoa". Con đường đâu chỉ để đi ngược về xuôi, lên non xuống biển mà còn “cho những tấm lòng" nhân hậu bao dung, đó là con đường tình nghĩa:
Gập ghềnh xuống biển lên non,
Con đường tình nghĩa ai còn nhớ chăng?
(Ca dao)
Với Y Phương, con đường mà anh nói với con là hình bóng thân thuộc của quê hương. Đường gần là con đường làng bản, đi vào thung vào rừng, đường ra sông ra suối. Là con đường đi học, con đường làm ăn. Đường xa, là đường đi tới mọi chân trời, đến mọi miền đất nước. Con đường tình nghĩa ấy được Y Phương nói lên một cách hàm súc, giản dị:
Con đường cho những tấm lòng
Sung sướng ôm con thơ vào lòng, nhìn con khôn lớn, suy ngẫm về tình nghĩa làng bản quê nhà, nhà thơ nghĩ về cội nguồn hạnh phúc:
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời
“Người đồng mình’' không chỉ cần cù và khéo léo, tình nghĩa và tài hoa, yêu đời mà còn có bao phẩm chất tốt đẹp, đáng “ thương lắm con ơi". Trong bao gian khổ khó khăn thử thách, bao niềm vui nỗi buồn cuộc đời, trải dài theo năm tháng, bà con quê hương mình, "người đồng mình" đã rèn luyện, đã hun đúc chí khí, đã “cao đo nỗi buồn – xa nuôi chí lớn", nâng cao tâm thế đẹp. Câu thơ bốn chữ, đăng đối như tục ngữ, đúc kết một thái độ, một phương châm ứng xử cao quý. Các từ ngữ: “cao đo”, “xa nuôi" đã thể hiện một bản lĩnh sống đẹp của dân lộc Tày, của con người Việt Nam.
Nếu người Kinh dùng lối nói: ăn chắc mặc bền, chém to kho mặn, chân đất lưng trần, niêu cơm quả cà, mần răng nói rứa…”, đẻ phản ánh bản chất giản dị, mộc mạc của người dân quê chân lấm tay bùn quanh năm, thì Y Phương cũng dùng cách nói cụ thể, hình ảnh cụ thể của bà con dân tộc Tày như: “thô sơ da thịt ”, “chẳng mấy ai nhỏ bé ", “tự đục đá kê cao quê hương” để khẳng định và ngợi ca tinh thần cần cù, chịu khó trong lao động, sống giản dị chất phác thật thà, không hề "nhỏ bé" tầm thường trước thiên hạ. Nếp sống tốt đẹp ấy đã tạo nên chất thơ trong sáng đáng yêu của Y Phương. Bản chất dân tộc, tinh thần nhân văn đã hoà quyện vào hồn thơ thi sĩ:
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương tự làm phong tục.
Cha “nói với con" cũng là Y Phương cho chúng ta bài học về quê hương sau những năm dài chiến tranh, chưa giàu chưa đẹp, nên con phải biết gắn bó với quê hương: “Không chê… không chê… không lo…". Trước thử thách khó khăn, con không được sống tầm thường, sống hèn kém, sống "nhỏ bé”. Phải lao động sáng tạo để xây dựng, để “kê cao” quê hương:
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc…
Chuyển vào lời thơ là những ẩn dụ so sánh, những thành ngữ dân gian. Điệp ngữ “sống” ba lần vang lên đã khẳng định một tâm thế, một bản lĩnh, một dáng đứng…, điều mà cha "vẫn muốn", cha mong con, hi vọng ở con. Lời thơ giản dị, chắc nịch mà lay động, thâm thía.
Lời cuối “nói với con” càng trở nên tha thiết. Cha nhắc con khi “lên đường” không bao giờ được sông tầm thường, sống “nhỏ bé” trước thiên hạ. Phải biết giữ lấy cốt cách giản dị, mộc mạc của “người lao động". Hai tiếng “ nghe con ” là cả một tấm lòng cha bao la:
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Một cảnh tượng cảm động đang diễn ra trước mắt chúng ta. Cha hiền từ âu yếm nhìn con, xoa đầu con. Đứa con cúi đầu lắng nghe cha nói, cha dặn. Y Phương đã tạo nên một không khí gia đình ấm áp tình cha con.
Y Phương là một người cha rất thương con. Anh là một người tình nghĩa chung thủy với quê hương. Thơ anh rất hồn hậu và đậm đà.
Y Phương là người đồng hương với Kim Đồng. Quê hương anh có hang Pắc Bó, nơi mà hơn 60 năm về trước, Bác Hồ đã sống và hoạt động giữa lòng dân để “nhóm lửa”.
Bạn đọc yêu quý gần xa có nhớ, có biết bài dân ca:
Nàng về giã gạo ba giăng
Để anh gánh nước Cao Bằng về ngâm
Nước Cao Bằng ngâm thì trắng gạo…
Theo tôi nghĩ, bài thơ “Nói với con” của Y Phương là một gáo nước Cao Bằng đấy, có thể làm trong, làm mát tâm hồn mỗi chúng ta. Hãy khẽ ngâm lên…
Bài làm 2
Nhà thơ Y Phương sinh năm 1948, là người dân tộc Tày, quê ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Nói đến ông, chúng ta không thể không nhắc đến bài thơ Nói với con. Bài thơ là một lời tâm sự của cha đối với đứa con của mình.
Đọc bài thơ, ta thấy được qua lời nói với con, nhà thơ muốn thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương, dân tộc mình. Hơn nữa bài thơ còn giúp người đọc hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống. Bài thơ nói về tình yêu thương, sự chăm sóc của cha mẹ, sự chở che đùm bọc của quê hương đối với con. Bài thơ còn cho ta thấy những đức tính cao đẹp của người đồng mình và những lời nhắc nhở, mong ước của người cha.
Tình yêu thương của cha mẹ và sự đùm bọc của quê hương đối với con được thể hiện rõ qua khổ thơ thứ nhất:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Bốn câu thơ đầu đã cho thấy người con được lớn lên từng ngày trong sự yêu thương, nâng đỡ của cha mẹ. Cha mẹ luôn ở bên cạnh che chở cho nó, một bước tới cha, rồi một bước lại tới mẹ. Cả bốn câu thơ đã tạo nên một không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt tràn đầy niềm vui với từng bước đi, từng tiếng nói tiếng cười. Và cũng qua đó, người cha gợi cho con nhớ về cội nguồn sinh dưỡng. Con không chỉ lớn lên trong tình yêu thương, chăm sóc của cha mẹ mà còn lớn lên trong tình cảm trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng, trong nghĩa tình của quê hương:
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Người con được lớn lên trong cuộc sống cộng đồng, trong cuộc sống lao động qua những hình ảnh: đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát. Câu thơ vừa miêu tả động tác, vừa diễn tả sự gắn bó, quấn quýt. Qua đó ta thấy được: quê hương cho người con tình yêu thương, cho nó một cuộc sống lao động vui vẻ, cần cù.
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Con lớn lên trong cảnh thiên nhiên thơ mộng của núi rừng. Thiên nhiên đã che chở cho con. Cả đoạn thơ là một lời tâm sự của người cha dành cho con.
Không chỉ có vậy, bài thơ còn nói lên những đức tính cao đẹp của người đồng mình và lời nhắc nhở, mong ước của người cha:.
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Câu thơ cho ta thấy một cuộc sống vất vả nhưng mạnh mẽ, khoáng đạt, bền bỉ. Câu thơ cũng nói lên một cuộc sống gắn bó quê hương tuy còn cực nhọc, đói nghèo: Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con.
Người đồng mình là những người mộc mạc, giản dị nhưng là những người giàu chí khí, giàu niềm tin:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Người đồng minh bằng sự lao động cần cù đã làm nên quê hương với những phong tục, truyền thống tốt đẹp. Thông qua những đức tính cao đẹp của người đồng mình, người cha muốn nhắc nhở con:
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Và:
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ được nhỏ bé Nghe con.
Người cha muốn nhắc nhở con phải sống có nghĩa, có tình, thuỷ chung với quê hương, biết chấp nhận, biết vượt qua gian lao, thử thách bằng ý chí và niềm tin của mình. Người con phải biết tự hào với truyến thống của quê hương, cần tự tin để vững bước trên đường đời. Thông qua những lời nhắc nhở, tình cảm của cha dành cho con là tính yêu thương trìu mến, thiết tha và niềm tin tưởng của người cha qua lời nói với con. Đồng thời người cha muốn truyền cho con lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ với truyền thống cao đẹp của quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời.
Qua bài thơ Nói với con, tác giả đã cho chúng ta một bài học về đường đời, về lối sống của một con người. Tuy chỉ là những lời mộc mạc nhưng lại rất chân tình và thấm thía sâu trong lòng người đọc.
|
Bình giảng bài thơ Nói với con của Y Phương
| 2,320
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Gợi ý
Thơ tình yêu là mảng thơ đặc sắc nhất của Xuân Quỳnh. Bài Sóng là một trong những bài hay của mảng thơ này.
Cuộc đời Xuân Quỳnh có nhiều điều không may mắn. Tình yêu của chị cũng có nhiều trắc trở.
Nhưng đây là bài thơ tình ở giai đoạn đầu khi người con gái còn chưa trải nghiệm nhiều trong đời tình ái. Bài Sóng vì thế dạt dào sôi nổi, tươi mát và tràn đầy tin tưởng ở hạnh phúc, ở tương lai.
Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Phân tích thơ tình, đừng tìm hiểu nó theo logic thông thường. Nó có logic, có quy luật riêng của nó, chỉ cảm nhận được, miêu tả được, không giải thích được, tuy nhà thơ có lúc cũng muốn lí giải, muốn phân tích.
1. Trước hết tình yêu là một trạng thái tâm lý khác thường (Vừa dữ dội vừa dịu êm. Vừa ồn ào vừa lặng lẽ). Và đã yêu thì bao giờ cũng tự cảm thấy lớn rộng nên không chịu được nơi chật chội. Nó là con sóng, dòng sông chật hẹp không hiểu nổi phải tìm ra biển lớn.
Vì sao thế? Giải thích sao được. Tình yêu muôn đời vẫn thế:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
2. Nhưng khi yêu người ta lại cứ muốn tìm, muốn giải thích (Em nghĩ về anh, em). Vì tình yêu đòi hỏi tuyệt đối và triệt để. Vì sao ta yêu nhau? Ta yêu nhau từ bao giờ? Từ ngày nào? Giờ nào? Hỏi người yêu và tự hỏi mình. Nhưng cũng như sóng biển và gió trời vậy thôi, làm sao mà biết được.
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Xuân Diệu ngày xưa từng viết ''Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”. Tình yêu không cắt nghĩa được. Nó cứ chiếm lấy lòng ta không biết từ lúc nào và bằng cách nào.
3.Yêu bao giờ cũng đi với nhớ. Yêu thì tương tư. Nhớ da diết, nhớ không gì khuây nguôi được. Đoạn thơ từ câu thứ 17 đến câu thứ 26 là một tâm trạng tình xao xuyến, trăn trở, nồng nhiệt, say mê. Tình yêu của người đàn bà thật chân thành, mãnh liệt – con sóng tình yêu đã nổi lên dào dạt triền miên, dù trên mặt nước hay dưới lòng sâu. Nhớ nên luôn luôn tỉnh thức – thức cả trong mơ, như sóng biển triền miên dào dạt:
Ôi con sóng nhờ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Như em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Cả bài thơ Sóng, nhưng rõ nhất là ở đoạn thơ này, nhịp thơ là nhịp sóng và nhịp sóng đến đoạn thơ này như mãnh liệt hơn, nồng nhiệt hơn, sôi nổi hơn. Tình yêu qua nỗi nhớ dường như đạt tới cao trào. Lời thơ hăm hở, náo nức hơn:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương
4. Ba khổ thơ cuối phơi phới một niềm tin:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Yêu và tin đi liền với nhau. Khi đã đắm say thì không còn nghi ngờ gì nữa. Sau này qua nhiều trải nghiệm đắng cay, thơ tình Xuân Quỳnh sẽ không còn tin yêu phơi phới như thế nữa.
Cảm động nhất là niềm tin chắc chắn ở hạnh phúc, nhà thơ muốn tình yêu trở thành vĩnh viễn:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
* Kết luận về bài thơ Sóng:
a) Sóng là bài thơ xinh xắn, trong sáng, tình yêu sôi nổi chân thực phát biểu thẳng thắn từ phía người đàn bà là một điều không có nhiều trong văn học ta.
Một tình yêu như thế khiến ta thêm tin yêu cuộc sống. Nó tăng cường sức sống làm cho con người trở nên đẹp hơn, cao cả hơn.
b) Bài thơ có hai nhân vật Sóng và em. Hai nhân vật tuy hai mà một, tuy một mà hai. Hai nhân vật so chiếu lẫn nhau. Tình yêu soi vào sóng, càng hiểu mình hơn. Đặc biệt trước biển lớn, con người không cảm thấy bé nhỏ, bơ vơ, mà ngược lại thấy mình lớn lao hơn, tin tưởng hơn, mạnh mẽ hơn.
|
Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
| 765
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Thu điếu (Câu cá mùa thu) của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Đi câu là một cái thú thanh tao của các bậc trí giả. Có bậc hiền nhân có tài, bất đắc chi đi câu để chờ thời. Ngồi trên bờ ai mà nghĩ đến chuyện năm châu bốn biển, nghĩ đến thế sự đảo điên. “Cá ăn đứt nhợ vểnh râu ngồi bờ” (có người còn dùng lưỡi câu thẳng như Khương Tử Nha – Trung Quốc). Có bậc đại nhân vác cần đi câu để hương thú nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên, suy tư trong trạng thái thư giãn. Nguyễn Khuyến đi câu theo kiểu này. Ông đã mở hết các giác quan để cảm nhận mùa thu, cũng là mùa câu của xứ Bắc. Như những đứa trẻ trong xóm, ông câu cá cũng chăm chú, cũng hồi hộp, cũng say mê. Kết quả của cuộc chơi ấy là ông đã được một bài thơ “Thu điếu” vào loại kiệt tác của nền vãn học nước nhà:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt.
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Hình ảnh mùa thu hiện lên trong bài thơ với một không gian hẹp ở chốn làng quê của tác giả, trong một cái ao nhỏ với chiếc thuyền câu nhẹ thênh thênh:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Cái tôi trữ tình lặn phía sau ngôn từ. Cảm giác của thi nhân thì hiện lên sắc sảo và tinh tế. Mùa thu đã vào chiều sâu, “ao thu lạnh lẽo” với mặt nước “trong veo” rất muốn nhìn, ao thu như là chiếc gương tròn của làng quê. Làng Bùi của nhà thơ là đồng chiêm trũng rất nhiều ao, ao nhỏ. Ao nhỏ thì thuyền câu cũng nhỏ theo “bé tẻo teo”, vần eo là thử vận hiểm hóc, vậy mà câu thơ trôi chảy tự nhiên như không, như không có chút gì là kĩ xảo cả.
Thuyền câu đã hiện ra đấy mà người câu đâu chẳng thấy. Cũng chưa thấy cần thấy nhợ gì cả. Người đi câu còn mải mê với trời nước của mùa thu:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng, trước gió khẽ đưa vèo.
Ao thu không còn tĩnh lặng nữa mà đã nổi sóng với hai thanh trắc ở đầu câu (sóng biếc) và hai thanh trắc ở cuối câu (gợn tí). Sóng nhỏ vì ao nhỏ, lại là trong chỗ khuất. Gió nhẹ, gió heo may mùa thu. Sóng lại có màu sắc, “sóng biếc” thật đẹp. Ngòi bút của tác giả tinh tế đến từng chi tiết nhỏ. Hai câu thực đối rất chỉnh “sóng biếc" đối với “lá vàng”, đều là màu sắc đặc trưng của mùa thu. “Hơi gợn tí” đối với “khẽ đưa vèo”, vận động của chiều dọc tương xứng với vận động của chiều ngang thật tài tình.
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Nhà thơ đã thả hồn theo chiếc lá vàng “khẽ đưa vèo" trên mặt ao trong veo. Cái màu vàng của mùa thu mà bao nhiêu thi nhân đã ngợi ca:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Lưu Trọng Lư)
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
(Bích Khê)
Và đây là chiếc lá vàng của Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu điếu” dưới ánh mắt của Xuân Diệu: “Cái thú vị của bài Thu Điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…”. Lời bình của Xuân Diệu thật là tâm đắc.
Nhà thơ mở không gian lên chiều cao tạo nên không khí khoáng đạt và không gian được mở rộng nên bức tranh "Thu điếu” thêm đường nét, thêm màu sắc:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Màu da trời “xanh ngắt” thật là đẹp, màu xanh xao mà tha thiết. Trong màu “xanh ngắt” có cái thăm thẳm của chiều cao. Mây không trôi mà “lơ lửng” những áng mây trắng “lơ lửng” trên bầu trời “xanh ngắt” thật là thanh bình. Rồi tác giả lại trở về cận cảnh với hình ảnh của làng quê. “Ngõ trúc quanh co”, đường làng quanh co thân thuộc với bóng tre trùm mát rượi. Nhưng bao giờ trong thơ Nguyễn Khuyến tre cũng nói là trúc, “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” (Thu vịnh), “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”. Nguyễn Khuyến thích cái hình thể loại cây chí khí ấy “Trúc dầu cháy đốt ngay vẫn thẳng”. Những nét trúc thẳng đốì lập với những nét quanh co của đường làng thật là gợi cảm. Trời lạnh, đường quê vắng vẻ, “khách váng teo”. Bức tranh thu đượm buồn. Các thi sĩ thích miêu tả cảnh thu trong tĩnh lặng, đẹp, nhưng buồn. Sau Nguyễn Khuyến, nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu cũng viết:
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
(Đây mùa thu tới)
Bài thơ kết thúc với hình ảnh của người đi câu như một nét tự họa:
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Nhà thơ thu mình lại “tựa gối ôm cần”, dường như để tương xứng với khung ao nhỏ, với chiếc thuyền “bé tẻo teo”. Người đi câu đang đắm chìm trong suy tư thì một cử động đã làm cho nhà thơ sực tỉnh:
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Ba chữ “đ” (đâu, đớp, dộng) miêu tả một chút xao động trong làn ao và rất nhiều xao động trong lòng thật là tài tình.
Có ý kiến cho rằng cử chỉ đi câu của Nguyễn Khuyến giống với Khương Tử Nha và nhà bình luận đó hết lời ngợi ca cả hai ông. Không! Nguyễn Khuyến đâu có còn chờ thời. Nhà thơ chỉ muôn tan hòa vào thiên nhiên, vào non nước. Toàn bộ hình tượng thơ “Thu điếu” đã sửa soạn cho thái độ này. Khung cảnh hẹp, làn ao nhỏ, chiếc thuyền “bé tẻo teo”. Nhà thơ thu mình lại “tựa gối ôm cần” hòa điệu với thiên nhiên, tan hòa với non nước. Thế thì làm sao thái độ đi câu của Nguyễn Khuyên lại giống với thái độ đi câu của Khương Tử Nha được? Còn đồng tình với ai đó là chuyện riêng. Tôi đồng tình với Nguvễn Khuyến.
Trong chùm thơ bài viết về mùa thu của Nguyễn Khuyến, nếu được chọn một bài thì đó là bài “Thu điếu”. Bài thơ "Thu điếu” là kiệt tác trong nền thơ cổ điển nước nhà. Bức tranh mùa thu được miêu tả bằng những hòa sắc tinh tế, những đường nét gợi cảm. Nhạc điệu cũng độc đáo. vần gieo hiểm hóc mà tự nhiên, hồn nhiên. Theo Xuân Diệu, cả bài thơ không còn lép chữ nào. Thật là một nghệ sĩ cao tay. Cái tình của nhà thơ cũng theo kịp cái tài. Cái tình của nhà thơ đối với quê hương làng cảnh, với non sông đất nước thấm trong mỗi chữ mỗi lời làm xúc động hết thảy mỗi tâm hồn Việt Nam.
|
Bình giảng bài thơ Thu điếu (Câu cá mùa thu) của Nguyễn Khuyến
| 1,230
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan
Bài làm
Bài “Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan, chỉ đọc qua một lần, nhưng cái điệu thơ, hồn thơ làm ta bâng khuâng mãi:
“Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm tương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”
Bà Huyện Thanh Quan sống vào nửa đầu thế kỉ XIX ở nước ta. Bà chỉ để lại khoảng 6 bài thơ Nôm, thể thất ngôn bát cú Đường luật. "Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà", “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”… là những bài thơ kiệt tác trong nền thi ca trung đại của dân tộc. Ngôn ngữ trang nhã, giọng thơ du dương, điệu thơ chậm và buồn, màu sắc cổ kính, tài hoa… là phong cách thơ của nữ sĩ.
Làng Nghi Tàm ven Hồ Tây là quê cha đất tổ của Bà Huyện Thanh Quan. Xuất thân trong một gia đình quý tộc đời Lê, nên Thăng Long mãi mãi để lại trong tâm hồn nữ sĩ những tình cảm vô cùng sâu sắc. Đầu thế kỉ XIX, Phú Xuân trở thành Kinh đô của triều Nguyễn, Thăng Long được đổi thành Hà Nội. Nỗi niềm tâm sự nhớ xưa kinh thành Thăng Long là nỗi niềm của người đi xa. Có thể Bà Huyện Thanh Quan viết bài thơ này trong thời gian làm nữ quan “Cung trung giáo tập” tại Phú Xuân, những tháng ngày xa cố hương, xa nơi nghìn năm văn vật.
Hai câu trong phần “đề” như một tiếng than cất lên, suy ngẫm về lẽ phế, hưng, đổi thay trong cuộc đời:
"Tạo hoá gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”.
“Hí trường” là sân khấu, là nơi diễn trò mua vui. Ông Trời gây ra làm chi cái cảnh đời như sân khấu, diễn hết trò này đến trò khác. Hai tiếng “gây chi” vừa là lời trách, vừa là lời than. “Cuộc hí trường” ấy cứ diễn ra bao nhiêu trò: khóc, cười, buồn, vui, đã nhanh chóng trải qua nhiều năm tháng. Thăng Long… Đông Đô… Thăng Long… Hà Nội… Sau vần thơ là đôi mắt buồn, nhìn sâu thẳm vào dòng đời, thời gian lịch sử, một cái nhìn xa vắng mênh mông. Có cả tiếng thở dài ngao ngán.
Gần một thiên niên kỉ đã trôi qua. Còn đâu những “vàng son” một thời chói lọi nữa? Hai câu 3, 4 đối nhau, diễn tả cảnh hoang tàn, phế tích của kinh thành xưa:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương"
Đường bàn cờ dọc ngang nơi Long Thành xưa kia từng suốt đêm ngày rộn rịp ngựa xe của các ông hoàng, bà chúa, những xe tứ mã của các vương công, quốc thích. Nhưng nay chỉ còn lại "thu thảo”, cỏ mùa thu vàng úa. “Thu thảo” như một chứng nhân buồn và tàn tạ. Cái hồn mùa thu cũng là cái hồn thiêng sông núi, cái hồn thiêng Thăng Long được cảm nhận từ sắc màu cỏ thu úa vàng, cỏ cây cũng mang nỗi buồn. Con đường càng trở nên vắng vẻ. Những cung điện
nguy nga, những lầu son gác tía, những bệ ngọc hành cung huy hoàng, tráng lệ thời Lê – Trịnh vì chiến tranh loạn lạc, vì sự thay chủ đổi ngôi, nay đổ nát hoang tàn, chỉ còn lại “nền cũ"'.
“Nghìn năm dinh thự thành quan lộ,
Một dải tàn thành lấp cố cung”.
“Thành Thăng Long" – Nguyễn Du)
Cảnh vật càng trở nên ảm đạm dưới “bóng tịch dương”, bóng mặt trời lúc sắp lặn. Bao trùm lên vần thơ là một màu vàng tàn tạ: màu vàng úa của “thu thảo”, màu vàng nhạt nhòa của “bóng tịch dương”. Nỗi hoài cổ, nỗi nhổ xưa như dồn nén bao nỗi buồn chất chứa trong lòng nữ sĩ.
Phép đối được sử dụng thần tình: “lối xưa” với "nền cũ", “xe ngựa” với “lâu đài”, “hồn thu thảo” với “bóng tịch dương” được cấu trúc cân xứng, hài hòa. Thanh điệu bằng, trắc hô ứng nhau tạo nên âm điệu du dương, trầm bổng như đưa hồn ta về xa xưa, năm tháng, những thuở vàng son của Kinh thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê, cái buổi hưng thịnh thanh bình…
Nỗi buồn hoài cổ ấy, một lần nữa lại được nữ sĩ diễn tả rất hay trong bài thơ “Chùa Trấn Bắc”, cảnh vật cỏ hoa như còn vương hương một thời quá vãng:
“Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Khách qua đường dễ chạnh niềm đau.
Mấy dò sen rớt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu…”
Nhà thơ như đứng lặng trầm ngâm nhìn sắc màu thời gian, nỗi buồn tỏa rộng, càng trở nên thâm thía.
Vật có đổi, sao có dời, nhưng tàn “nước” và, “đá” vẫn còn đó, vẫn thách thức cùng tuế nguyệt, cùng tang thương. Hai câu trong phần "luận ” nói về “nước” và “đá ” như những chứng nhân của lịch sử, của phế tích hoang tàn:
“Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương”
"Đá" và “nước” được nhân hóa, mang tình người và hồn người. Trên cái “nền cũ lâu đài”, đá thách thức cùng năm tháng “vẫn trơ gan” đau đớn, buồn thương. Nơi bến cũ, hồ xưa, “nước còn cau mặt” với mọi đổi thay, “với tang thương” cuộc đời. Lấy cái bất biến: “vẫn trơ gan", “còn cau mặt” của đá và nước để làm nổi bật cái tang thương cuộc đời là một nét vẽ “hoài cổ" làm rung động lòng người gần hai trăm năm qua. Có trải qua loạn lạc, chiến ưanh và phế hưng ở đời mới thấy hay, mới thấy thấm thía. Phép đối chặt chẽ, cách sử dụng, từ Hán Việt (tuế nguyệt, tang thương) tinh tế, đã làm tăng chất súc cảm của vần thơ. Qua hình ảnh ẩn dụ "đá” và “nước", nữ sĩ gửi gắm nỗi buồn thương nhớ và tiếc nuối kinh thành Thăng Long một thời vàng son, huy hoàng và chói lọi. Chất hoài cổ như thấm vào đáy tầng sâu của lòng người, cảnh vật, cỏ hoa…
Hai chữ "tang thương" (tang điền thương hải), “bể dâu” xuất hiện đậm nét trong thơ văn Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XIX, nhất là trong “Truyện Kiều”, trong không ít bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Đó là dấu ấn một thời:
“Cuộc thương hải tang điền mấy lớp,
Cõi nhân gian thành quách đổi dời.
Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi,
Mà làng ca vũ một người còn trơ!”.
(Long Thành cầm giả ca- thơ dịch)
Cảm xúc hoài cổ dồn nén dâng lên ở hai câu trong phần kết:
“Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”
“Gương cũ” là chuyện đời, là quá khứ và hiện tại, là Thăng Long xưa, là Hà Nội nay (thời nhà Nguyễn). Cảnh đấy là “lối xưa”, là “nền cũ”, “hồn thu thảo ” và “bóng tịch dương”, là “đá” và “nước”, là hồn nước thiêng liêng, là Kinh thành xa xưa… “Người đây” là nữ sĩ, là nhân vật trữ tình trong bài thơ. “Đoạn trường" nghĩa là đứt ruột, nỗi đau ghê gớm. Nữ sĩ vô cùng đau đớn trước cảnh hoang phế, hoang tàn của Kinh thành Thăng Long. Nhớ xưa thành Thăng Long là nhớ tới tất cả niềm tự hào những trang sử vàng chói lọi của tiền nhân… Hai chữ “ngàn năm" gợi nhớ thiên niên kỉ Thăng Long huy hoàng. Hai vế tiểu đối: “cảnh đấy" "người đây” làm nổi bật sắc điệu thẩm mĩ tả cảnh ngụ tình. Câu 1 nói về “cuộc hí trường”, câu 8 cực tả "đoạn trường" – đó là cảm xúc chủ đạo của bài thơ. Có chứng kiến, có nhìn thấy sự đổi thay đến thấm thoắt nhanh chóng nơi Kinh thành xưa thì mới có nỗi đau “đoạn trường” đến như vậy.
“Thăng Long thành hoài cổ” xứng đáng là viên ngọc quý trong nền thi ca cổ điển Việt Nam. Từ nhan đề đến thi liệu, từ phép đối đến cách lựa chọn từ Hán Việt, từ ngôn ngữ trang nhã đến nhạc điệu du dương – tất cả tạo nên màu sắc cổ điển, thi vị. Màu sắc hoàng hôn, bóng tịch dương đã tô đậm chất hoài cổ buồn man mác. Nỗi buồn hoài cổ mang tính nhân văn: nhớ tiếc một thời vàng son của Thăng Long cũng là trở về cội nguồn của dân tộc, tự hào về sức sống và nền văn hiến Đại Việt. Bài thơ giúp mỗi chúng ta yêu thêm, gắn bó tâm hồn mình với Thăng Long, Đông Đô, Hà nội, “hồn núi sông ngàn năm”…
|
Bình giảng bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan
| 1,502
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Thương vợ của Tú Xương
Bài làm
Bà Tú Xương có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được: Ngay lúc còn sống bà đã đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng. Trong thơ Tú Xương, có một mảng lớn viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất.
Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và phẩm chất cao đẹp của người vợ.
Câu thơ mở đâu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Hoàn cảnh vất vá, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. Quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Quanh năm còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu, lại như một bối cảnh làm hiện lên hình bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi:
Quanh năm buôn bán ở mom sông..
Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có diều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện
trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng, tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian, đã làm hao hụt cả ý thơ. So với câu ca dao: Con cò lặn lội bờ sông, câu thơ của Tú Xương: Lặn lội thân cò khi quãng vắng là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ – đưa ra từ lặn lội lên đầu cáu, cách thay từ – thay từ con cò bằng thân cò – càng làm tăng nỗi vất vá gian truân của bà Tú. Từ thân
cò gợi cả nỗi đau thân phận, so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc thấm thía hơn.
Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc thì câu thứ tư lại làm rõ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú:
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng. Trong ca dao, người mẹ từng đặn con rằng:
. Con ơi nhớ lấy câu này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua.
Buổi đò đông không chi có những lời phàn nàn, mè nheo, cáu gắt, những sự chen lấn, xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy. Hai câu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn chải trong hoàn cảnh chèn chúc làm ăn. Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương, đó là tấm lòng
xót thương da diết.
Cuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú. Bà là người đảm đang tháo vát:
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý, từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức:
Cơm hai bữa: cá kho rau muống
Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô
(Thầy đồ dạy học)
Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cám phục sự hy sinh rất mực của vợ:
Năm nắng mười mưa dám quản công
Ở câu thơ này, nắng mưa chỉ sự vất vả, năm mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khô, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.
Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới thấy. Khi đã thấy rồi thì ấn tượng thật sâu đậm. ờ bài thơ thương vợ cũng vậy. ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ.
Về câu thơ Nuôi đủ năm con với một chồng, có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi mình là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi. Tú Xương đã không gộp mình với con để nói mà tách riêng, con riêng rất rạch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ. Nhà thơ không chỉ cảm phục, biết ơn sự hi. sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách, tự lên án bản thân. ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên
một mà nợ hai. Tú Xương tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu Nợ gấp đôi duyên, duyên ít nợ nhiều. ông chửi thói đời bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ.
Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời. Sự hờ hững của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ Tú Xương tự rủa mát mình cũng là lời tự phán xét, tự lên án:
Cô chồng hờ hững cũng như không
Ở cái thời mà xã hội đã có luật không thành văn đối với người phụ nữ: xuất giá tòng phu (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì phu xướng, phụ tùy (chồng nói, vợ theo), ‘thế mà có một nhà nho đám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, đám tự thừa nhận mình là quân ăn lương vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn đám tự nhận khuyết điểm. Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao?
Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ về đẹp nhân bản của hồn thơ Tú Xương. ở bài thơ này, tác giả không chỉ thương vợ mà còn ơn vợ, không chỉ lên án thôi đời mà còn tự trách.
Nhà thơ dám tự nhận khuyết điểm, càng thấy mình khiếm khuyết càng thương yêu, quý trọng vợ hơn.
Tình thương yêu, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ánh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.
|
Bình giảng bài thơ Thương vợ của Tú Xương
| 1,315
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Nguyễn Khuyến có đến trên 50 câu đối và bài thơ trào phúng; câu đối nào, bài thơ nào cũng hóm hỉnh, đầy ý vị sâu xa:
Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề".
(Lởi vợ anh phường chèo)
"Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,
Tiên là ý chú muốn vòi xu".
(Bỏ tiên thi)
"Trời đất khéo thương chàng bạch quỷ,
Giang Stm riêng sướng ủ hổn}’ nhan".
(Lấy Tây)
Bài "Tiến sĩ giấy" (bài 2) cũng là một bài thơ trào phúng độc đáo của Nguyễn Khuyến, được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật:
"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!".
"Tiến sĩ giấy" còn được gọi là "Ông nghè tháng Tám " – một thứ đồ chơi trong dịp Tết Trung thu của trẻ em. Bài thơ có hai lớp nghĩa: vịnh Ông nghè tháng Tám, qua đó, Nguyễn Khuyến châm biếm những tiến sĩ giấy – hư danh, bất tài, vô dụng – trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
Hình ảnh Ông nghè tháng Tám, thứ đồ chơi của trẻ em được tác giả miêu tả cụ thể, sinh động và hay bằng nhiều chi tiết: cờ, biển, cân đai, mảnh giấy, nét son, xiêm áo, ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe. Câu thứ tám rất hóm hỉnh. Ông nghè tháng Tám chỉ là một thứ đồ chơi nhưng lại làm cho mọi người tưởng lầm là đồ thật:
"Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi".
Sắc phục rực rỡ, tư thế "ngồi bảnh choẹ" rất buồn cười. Một thứ đồ chơi của trẻ em mà làm được như thế phải nói là khéo tay. Vì thế trong bài "Tiến sĩ giấy" (bài 1), Nguyễn Khuyến mới viết:
"Rõ chú hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu"…
Lớp nghĩa thứ hai của bài "Tiến sĩ giấy" thể hiện cái nhìn sâu sắc của tác giả về thân phận các ông nghè giữa thời buổi "Nào có ra gì cái chữ nho" (Tú Xương).
Hai câu đề, chữ "cũng" được điệp lại bốn lần đã làm cho giọng điệu giễu cợt cất lên cùng với cái cười mỉm về cờ biển, cân đai… của các ông nghè. Trang phục ấy, cờ biển ấy… đều là của vua ban cho "có kém ai". Cách so sánh để hỏi ấy cũng hàm ý giễu cợt:
"Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai?".
"Có kém ai" về mặt "ân tứ vinh quy", hay "có kém ai" về mặt tài đức?
Hai câu thực nói về "thân giáp bảng" và "mặt văn khôi" của ông nghè. "Thân giáp bảng" chỉ là "mảnh giấy" mỏng manh được "làm nên". "Mặt văn khôi" chỉ là "nét son", được "tô vẽ", được "điểm rõ". Câu 3 và câu 4 đối chọi nhau tài tình. Ngôn từ và giọng điệu gợi cho người đọc nghĩ về sự tầm thường của những tiến sĩ giấy trong cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái danh giá hão của ông nghè chỉ là "mảnh giấy dễ rách, chỉ là "nét son" dễ nhoè mà thôi!
"Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi".
Cũng nói về cái hư danh của những ông nghè, có lúc nhà thơ giễu cợt:
"Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu!
( Tiến sĩ giấy- bài 1)
Cặp câu luận là sự bình phẩm, đánh giá về xiêm áo, về khoa danh của ông nghè: "sao mà nhẹ", "thế mới hời". Hời là tiếng cổ, nghĩa là dễ dãi, giá rẻ. Nhẹ và hời vì tầm thường. Không phải là thực tài, thực danh nên mới nhẹ, nên mới hời. Nhẹ và hời vì vô dụng và chỉ là hư danh, hư vị mà thôi. Tác giả sử dụng câu nghi vấn và câu cảm thán khẳng định, đối chọi nhau rất tài tình để châm biếm, để giễu cợt; giọng điệu thơ nhẹ nhàng mà mỉa mai:
"Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời".
Hai câu kết,tác giả sử dụng nghệ thuật tương phản thật sắc sảo:
"Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi".
Cái tư thế ngồi rất oai: "ngồi bảnh chọe" trên "ghế tréo", "dưới lọng xanh". Ra vẻ vênh vang và tự đắc, hợm mình về sự cao sang phú quý. Nhưng "chỉ là đồ chơi". Tương phản ý ở câu 7 và câu 8, tương phản giữa "đồ thật" với "đồ chơi". Tương phản để châm biếm cái hư danh, hư vị của những tiến sĩ giấy dưới thời Pháp thuộc.
Trong gần một nghìn năm, chế độ khoa cử của nước ta đã đào tạo được hàng nghìn tiến sĩ. Có biết bao ông nghè đã đem đức tài làm rạng danh đất nước và dân tộc, lưu danh sử sách. Dưới thời Pháp thuộc, cả dân tộc là vong quôc nô, thì “ông nghè, ông cống cũng nằm co", hoặc thì trở thành hư danh, hư vị mà thôi. Nguyễn Khuyến là một nhà nho thực tài, ba lần đỗ đầu thi Hương, thi Hội, thi Đình. Thế nhưng trong cảnh ngộ đất nước bị ngoại bang thống trị, có lúc ông cảm thấy "thẹn":
"Sách và ích gì cho buổi ấy,
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già".
(Ngày xuân dặn các con)
Có lúc ông lại tự cười mình, cười cái hư danh của mình:
"Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng".
(Tự trào)
"Tiến sĩ giấy" là bức tranh biếm hoạ chế giễu, châm biếm những ông nghè trong thế kỉ XIX ở nước ta, tuy "Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai" nhưng chỉ là thứ "đồ chơi" của bọn Toàn quyền, Khâm sứ, Công sứ – những ông Tây bụng phệ mà thôi.
Tiếng cười trong "Tiến sĩ giấy" là tiếng cười trong nước mắt. Bài thơ cho thấy nghệ thuật dùng từ, các đối xứng, tạo giọng điệu rất điêu luyện, đúng là cụ Tam nguyên Yên Đổ xuất khẩu thành thơ.
Ngày nay, trong xã hội đã và đang xuất hiện không ít những tiến sĩ giấy mà báo chí từng nói đến. Đọc bài thơ này, ta càng cảm phục tài thơ Nguyễn Khuyến.
|
Bình giảng bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến
| 1,098
| |
Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu
Chế Lan Viên là nhà thơ để lại cho hậu thế số lượng thơ lớn, thơ của ông rất dễ đi vào lòng người. Những câu thơ với âm hưởng mượt mà như những làn điệu trữ tình mà sâu sắc mà cũng mang chất giọng lạ táo bạo và đầy trí tuệ. “ Tiếng hát con tàu” là khúc hát yêu thương của một tấm lòng hướng về nguồn cội khi đã hóa thân “tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”.Nhà thơ ý thức rõ nhiệm vụ của người cầm bút và hướng tới cuộc sống mới bằng một tâm hồn khát khao mãnh liệt qua Tiếng hát con tàu.
Những kí ức những khát khao bùng cháy với miền Tây Bắc “Xứ thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng”, những kỉ niệm ngày nào về tình nghĩa dân quân cả nước lại được sống dậy trong tâm tư tác giả. ”, nhớ mế: “Năm con đau mế thức một mùa dài”. Nhân dân được hiện ra trong quầng sáng ấp ám của nghĩa tình ruột thịt, đây là những người anh với “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách”, Nhà thơ nhớ “thằng em liên lạc”, “người anh du kích những người mẹ “lửa hồng soi tóc bạc” đã hết lòng cưu mang đùm bọc che chở tác giả trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Bên cạnh đó còn có những người mẹ, người anh không là “núm ruột rứt ra”, nhưng tấm lòng của nhân dân đáng quý đáng trọng đến dường nào!những tình cảm tha thiết được tác giả gửi gắm qua tác phẩm và từng câu chữ.
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Đây là hai câu thơ hay nhất và đúng là một chân lí dung dị và sâu sắc nhất. Nhẹ như không “hình tượng thơ trong đoạn thơ trên đã vận động từ cảm xúc đến suy tưởng. Từ những tình cảm nhớ thương mảnh đất con người, tác giả đã nâng cảm xúc lên thành một suy nghĩ. Đất là nơi vô tri vô giác nhưng khi con người gắn bó với nó thì nó cũng là một mảnh hồn của chính con người chúng ta. Đi xa thì phải nhớ phải thương.
Đoạn thơ trên có cái gì đó thật mông lung, mơ hồ như một thứ trái chín đỏ lấp ló giữa vườn xanh gợi cho ta biết bao háo hức, suy tưởng. Điều đó khiến người đọc như cùng chung dòng tâm tưởng của nhà thơ nhớ về những miền đất đã qua và đã sống, nhớ về những con người tuy “không phải hòn máu cắt” nhưng “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. Phải chăng chính sợi dây nghĩa tình ấy đã làm sống lại mảnh đất ngỡ như vô tri mà:
Khi ta ở đất chỉ là nơi đất ở.
Chính nghĩa tình sâu nặng dân quân đã hóa thân vào mảnh đất khiến cho nó cũng có tâm hồn:
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.
Không những thế mạch thơ đang vận động một cách đều đặn theo dòng suy tường đột nhiên bị chặn đứng lại bởi nỗi nhớ “bỗng” tràn về. Nhà thơ dành hẳn một đoạn thơ để viết cho “em”:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoa quê hương.
Đoạn thơ như một nốt đệm rất lạ sang ngang dòng tâm tưởng. Vâng, lạ ngay từ câu đầu:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét.
Câu thơ dường như có cái gì đó phi logic nhưng vẫn rất đúng với tình yêu. Và để minh chứng thêm cho điều đó nhà thơ đưa ra một loạt so sánh về tình yêu giữa anh và em như “Đông về nhớ rét” như “cánh kiến hoa vàng” như “xuân đèn chim rừng lông trở biếc”. Giữa muôn vàn định nghĩa về tình yêu phải chăng Chế Lan Viên đang tìm cho mình một định nghĩa mới về tình yêu? Phải chăng nhà thơ đang định nghĩa tình yêu thông qua những so sánh táo bạo đầy bất ngờ.
Đêm nay lạnh chăn chia làm hai nửa
Nửa đắp cho em ở vùng biển lạnh
Nửa đắp cho mình ớ phía không em.
Khi tình yêu đến một cách bất ngờ chữ “bỗng”thể hiện nỗi nhớ mà nỗi nhớ đã thiết tha như thật. Và cái giây phút “bỗng” ấy đã giúp họ tìm thấy nhau và tìm thấy chính mình.Tình yêu bỗng hiện ra lung linh sắc màu, giản dị mà thiêng liêng đến nhường nào. Và chính tình yêu ấy khiến
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Không gì giản dị mà sâu sắc, khi trong tình yêu riêng dành cho em còn có cả tình yêu đốì với quê hương đất nước. Bản thân chúng ta cũng chợt nhận ra rằng càng biết yêu thương những điều riêng tư, ta càng yêu quê hương tha thiết hơn.
Bằng những lời thơ tràn trề cảm xúc và mạch chảy của nó là vô tận. Độc giả như chìm đắm vào thế giới của ông, của những nỗi nhớ của tình yêu đẹp đẽ. Và bài thơ chính là sự kết tinh của những vần thơ đẹp nhất là những vần thơ viết về tình yêu, về quê hương đất nước. Tiếng hát con tàu đã rất thành công với tình cảm trong sáng, chân thành, tha thiết được thể hiện qua trí tưởng tượng phong phú và khả năng liên kết, sáng tạo táo bạo, bất ngờ. Tác phẩm đã để lại nhiều dư vị trong lòng độc giả.
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu
| 982
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận
Bài làm
Tràng giang là một trong những bài thơ xuất sắc cùa nhà thơ Huy Cặn thời kì Thơ mới. Đã có khá nhiều bài viết về tác phẩm này. Mỗi bài có những khám phá riêng, đôi chỗ rất sâu sắc và vượt quá phạm vi, cách hiểu đối với trình độ một học sinh trung học phổ thông. Để có bài viết tốt, cần hiểu hồn thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám, một hồn thơ đượm nỗi buồn rầu, triền miên, dằng dặc. Nỗi buồn ấy vươn tới cả vũ trụ, vượt qua thời gian, gợi nỗi buồn trần thế, xuất phát từ chính cuộc đời nhà thơ đang sống. Ngoài ra, bài thơ còn là một công trình điêu luyện về ngôn ngữ thi ca tiếng Việt. Tràng giang là Thơ mới nhưng đã đạt đến trình độ cổ điển về ngôn ngữ. Bởi vậy, khi bình giảng, ngoài việc hiểu, còn đòi hỏi phải tỏ ra tinh tế, cần nắm một số điểm sau:
Tiêu đề bài thơ
Bài thơ có tên Tràng giang, một từ Hán Việt. Đây cũng là điểm lạ đối với một nhà thơ mới. Nhiều bài thơ trong tập Lửa thiêng, Huy Cận đặt tên khá mộc mạc, bình dị như: Em về nhà, Trông lên, Gánh xiếc, Ngủ chung, Áo trắng. Tràng giang có nghĩa là sông dài. Riêng chữ tràng thường đọc là trường. Huy Cận đặt tên bài thơ của mình là Tràng giang, chứ không phải là Trường giang, càng không phải là Sông dài – tất cả những từ đồng nghĩa. Lí do có lẽ là như thế vừa gợi cho người đọc nhiều liên tưởng về văn hóa, mà cụ thể là con sông dài, khá nổi tiếng là Trường giang ở Trung Hoa. Song, nhà thơ đã thay trường bằng tràng, tạo ra sự phối âm (ang), gợi lên cảm giác mênh mang, dài rộng huyền hoặc hơn.
Thời thơ mới, Huy Cận hay ghi dòng đề từ trên các bài thơ là tặng một người nào đó, thường là những nhà văn, nhà thơ, những nghệ sĩ thân thiết với ông như Nhất Linh, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Tô Ngọc Vân. Bài này Huy Cận đề tặng Khái Hưng, người đã cùng với nhà văn Nhất Linh lập nên nhóm Tự Lực văn đoàn. Nhưng, Huy Cận không ghi bút danh quen thuộc của nhà văn này mà lại ghi tên thật của ông ta (Trần Khánh Dư). Khó có thể biết rõ lí do Huy Cận dành bài Tràng giang cho Khái Hưng. Có thể một phần vì do tình cảm quý mến, trân trọng đối với một bậc tài hoa, có công tạo đựng nên một phong trào văn chương, cũng có thể là vì Khái Hưng, bên cạnh nhiều tác phẩm viết về đề tài hôn nhân, tình yêu trong buổi đầu Âu hóa, đã viết không ít tác phẩm xuất sắc về các thời kì lịch sử đã qua như tiểu thuyết Tiêu Sơn tráng sĩ. Bên cạnh đó, trên phần đề từ còn có câu thơ của Chính Huy Cận (Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài). Câu thơ này phần nào đã thâu tóm được cả tình (bâng khuâng, nhớ thương) lẫn cảnh (trời rộng, sông dài) của Tràng giang.
Khổ hai
Mở ra một cảnh sông nước mênh mông, tưởng chừng như vô tận. Trên cái nền không gian rộng lớn ấy, hình bóng một con thuyền đơn chiếc càng thêm lẻ loi và sự xuất hiện của nó lại càng khiến cho cảnh thêm hoang vắng:
Nắng xuống chiều lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Khổ ba
Đến khổ thơ thứ ba, mọi âm thanh của cuộc sống con người đều không còn nữa, chỉ còn có cảnh vật với nhau mà cũng hết sức lặng lẽ:
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật.
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Bèo dạt mây trôi vô định; bờ xanh tiếp nối bãi vàng. Tất cả ở bên nhau mà dường như không biết có nhau, không cần có nhau. Thế mới lạ làm sao? Chỉ có một người biết rõ sự cô đơn ấy và cũng chỉ có người khao khát sự sống, cần thiết sự giao hòa. Song, mọi cánh cửa có lẽ khép, mọi mối tương giao đã không còn. Người ấy làm sao tránh nổi cô đơn?
Khổ bốn
Khổ cuối vừa có cảnh, vừa có diễn tả nỗi lòng của chủ thể trữ tình:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Cảnh ấy, tình này là lẽ đương nhiên!
Khổ thơ câu nào, hình ảnh nào cũng dễ hiểu được. Chỉ có một câu lạnh lùng:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Xưa nay, thơ cổ điển phương Đông viết nhiều về cảnh hoàng hôn. Cảnh nào cũng đẹp, nhưng đều buồn:
Ngày mai, gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu, sương sa khách bước dồn.
(Cảnh chiều hôm – Bà Huyện Thanh Quan)
Thơ Huy Cận có cảnh hoàng hôn như thế và nỗi buồn man mác. Có người nói, khi viết: Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà, nhà thơ đã liên tưởng đến tình ý của bài Hoàng Hạc Lâu trong thơ Thôi Hiệu:
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Dịch thơ:
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
(Tản Đà)
Nhà thơ mới tiếp thu vốn văn hóa cổ, nhưng vẫn khác nhà thơ cổ. Nỗi buồn trong thơ của người xưa đôi khi do cảnh vật tạo ra, cảnh khiến người buồn. Còn ở nhà thơ hiện đại, nhất là với Huy Cận, nỗi buồn ấy như tiềm ẩn. Vì thế, người ta làm thơ không cần mượn cớ của thiên nhiên, tạo vật. Và họ thành thật giãi bày nỗi lòng mình cùng với trời đất!
Tràng giang bao trùm một nỗi buồn thương mênh mang và nhớ mong tha thiết. Bài thơ tiêu biểu cho chặng đường thơ của Huy Cận trước năm 1945, khi mà ở đó cái buồn tỏa ra từ một hồn người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh (Hoài Thanh). Song, đó cũng là nỗi buồn của một thế hệ. nỗi buồn mang tính thời đại. Nỗi buồn ấy xuất phát từ sự bơ vơ, lạc loài và luôn khao khát được cảm thông chia sẻ trước cuộc đời. Buồn nhưng lại sáng trong và rất đáng trân trọng. Vì thế, nói như nhà thơ Xuân Diệu. “Tràng giang” là một bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc.
Huy Cận đã dựng lên nỗi buồn của cả thế hệ mình. Người đã dựng và khắc ghi nó bằng cả hình ảnh lẫn âm thanh của một ngôn ngữ trác tuyệt. Vì thế. biết bao năm tháng đã trôi qua, dòng Tràng giang ấy vẫn chảy trong tâm hồn người yêu thơ Việt Nam.
|
Bình giảng bài thơ Tràng giang của Huy Cận
| 1,180
| |
Bình giảng bài thơ Trèo lên cây bưởi hái hoa
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bài làm
Trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam ngoài những bài thơ nói về cuộc sống của người dân lao động vất vả nhưng luôn có niềm vui,thì bên cạnh đó còn có những bài ca dao nói về tình yêu đôi lứa. Nổi bật trong đó phải kể đến nhất đó là bài ca dao rất đỗi thân thương mộc mạc chân thành nhưng không đến được với nhau, đó là bài ”trèo lên cây bưởi hái hoa”. Bài thơ kể về chuyện tình cảm động của một đôi trai gái yêu nhau nhưng lại không có duyên đến với nhau.
Hai câu thơ đầu mở ra trước mắt chúng ta thật mộc mạc và chân thành đó là:
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”
Có thể hiểu được đây là hành động gian khổ của chàng trai khi phải trèo lên rồi lại bước xuống thềm nhà để hái hoa bưởi rồi hái nụ tầm xuân. Trèo lê cây bưởi hái hoa chủ yếu nhằm gợi hứng và có tác dụng đưa đẩy bắt vần rất khéo léo. Chắc hẳn có rất nhiều người tò mò vì hành động của chàng trai, tạo sao lại không làm việc khác mà lại đi hái hoa? nhưng khi chúng ta hiểu được rõ tâm ý của nhà thơ thì chúng ta mới thấy được cái hay của nó. Thực chất đây chỉ là một hành động trong tâm trí, trong tưởng tượng của chính nhà thơ hay đó là những hành động trong tâm trí của chàng trai để chống lai sự nhớ nhung của mình giành cho cô gái. Trước hết chúng ta thấy được rằng nụ tầm xuân là một loài hoa họ với hoa hồng mộc hoang dại, nó được biết đến là một loài hoa có màu trắng nhưng ở đây nụ tầm xuân lại có màu xanh “nụ tầm xuân nở ra xanh biếc” màu xanh ấy phải chăng là màu xanh của những chàng trai si tình, màu xanh của hi vọng nhưng cuối cùng người con gái người anh yêu thương đã đi lấy chồng. Từ “xuân” trong “nụ tầm xuân” gợi mở cho người đọc về một tuổi trẻ, hoài niệm về thời thơ ấu.
Vẫn xanh biếc nụ, vẫn ngần ấy hương. ”
Người con trai si tình ấy bất lực khi người con gái mình yêu thương đã đi lấy chồng, điều đó càng khẳng định được rõ ràng ở trong những vần thơ” Em đã có chồng anh tiếc lắm thay”, đây như một lời than thân của chàng trai, câu thơ hiện lên một cách cao đẹp của chàng trai si tình, biết buồn tủi cho thân phận mình, tiếc vì không được cưới người mình yêu.
Tiếp theo chúng ta thấy rõ được đến lượt cô gái giãi bày tâm trạng của mình. Những lời nói giống như đang trách móc và than thở nhưng vẫn dùng những lời nhẹ nhàng:
“Ba đồng một mớ trầu cau
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không”
Cô gái trách móc chàng trai pha chút giận hờn nhưng cũng không hề nặng lời mà nhẹ nhàng tình cảm.Chỉ ba đồng một mớ trầu cau thế mà chàng trai lại không mua làm tan vỡ hết tất cả những dự định của hai người. Thì ra đến đây chúng ta mới hiểu rõ được hai người yêu nhau nhưng vì chàng trai không ngỏ lời cho nên cô gái đã đi lấy chồng,làm vợ người khác và bây giờ không còn là ngày xưa nữa.
“Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng, cá cắn câu ý nói người phụ nữ khi đã lấy chồng rồi thì không thể tự do được nữa, cũng không thể gặp gỡ hẹn hò. Hoa đã có chủ thì không thể thay đổi được gì. Câu thơ trên đã nêu lên thực tại của người con gái khi đã về nhà chồng chỉ biết cam chịu theo số phận chứ không thể làm được gì hơn. Hai câu”như cá cắn câu, như chim vào lồng” diễn tả một cuốc sống sau khi về nhà chồng giống như bị bó hẹp. Và hai câu cuối cùng như một câu hỏi tu từ giống như hai người vẫn đang còn quyến luyến nhau không nỡ xa rời.
Câu hỏi cuối bài thơ cũng chính là câu hỏi của những người phụ nữ ở xã hội thời phong kiến xưa mà không có lời giải đáp.Từ nỗi đau đó hiện lên một lễ giáo phong kiến khắt khe nghiệt ngã, đằng sau đó là niềm khát khao tha thiết cháy bỏng về một tình yêu thực sự.
|
Bình giảng bài thơ Trèo lên cây bưởi hái hoa
| 810
| |
Bình giảng bài thơ Tùng của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Tùng của Nguyễn Trãi
Một nhà chính trị tài giỏi, là một trong những tác gia lớn của dân tộc Việt Nam, ông là tác giả Nguyễn Trãi. Ông (1380-1442), hiệu là Ức Trai, là một nhà chính trị, nhà thơ dưới thời nhà Hồ và nhà Lê Sơ Việt Nam. Ông từng “Thái học sinh”, từng làm quan dưới triều Hồ sau đó nhà Minh xâm lược ông đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách xâm lược nhà Minh. Ông có vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa này. Đến năm 1442 thì biến cố lớn đã xảy ra, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Đến sau này vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông vào năm 1464. Ông nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam, không chỉ vậy mà ông còn là một nhà văn hóa lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Ông có rất nhiều các tác phẩm để đời, ông làm thơ làm văn gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của ông. Các tác phẩm lớn của ông như là: “Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập, Chí linh sơn phú,…” toàn là những tác phẩm nổi tiếng, những viên ngọc quý để lại cho nền văn học Việt Nam. Trong đó có một tác phẩm tiêu biểu đó là bài “Tùng” được trích trong tập “ Quốc âm thi tập”.
Tùng là một đề tài trong hệ thống đề tài Đông thiên tam hữu( Ba người bạn mùa đông) rất phổ biến trong văn học trung đại Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á. Thơ vịnh tùng thường thì được các thi sĩ viết nhiều hơn và cả người đọc họ nhớ và thuộc hơn so với hai người bạn là trúc và mai. Tùng có ý nghĩa là hình tượng, phẩm chất của kẻ sĩ quân tử: sự chịu đựng gian khổ, thử thách, sống kiên cường, thanh cao, được dùng vào việc lớn, có khả năng giúp ích đất nước,.. Nhưng còn tùy vào hoàn cảnh của mỗi thi sĩ sẽ vịnh tùng ở cách khía cạnh khác nhau. Ví dụ Mộng Nguyên qua hình tượng cây tùng trong chậu đã thể hiện ý chí, hoài bão của nam tử hán không chịu sống trong sự gò bó, sống cuộc đời quẩn quanh, chật hẹp. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vịnh tùng, ông vẫn nói đến chí khí, tài năng của người anh hùng nhưng trong bài Tùng của Nguyễn Bỉnh Khiêm mục đích chính của ông là bày tỏ thái độ đối với xã hội: “Dùng thì ra giúp đời,không dùng thì ẩn náu. Ai bảo cây to là khó dụng”.
Vịnh tùng, Nguyễn Trãi đã chú ý làm nổi bật đặc điểm của cây tùng đó là tác giả muốn nói nên phẩm chất của kẻ sĩ và khả năng đóng góp to lớn của kẻ sĩ đối với xã hội như công dụng của cây Tùng. Hai nội dung này được đề cập và xuyên suốt trong cả bài. Ngoài điều đó thì còn có tâm sự cá nhân của tác giả.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã nói lên một đặc điểm rất quý, hiếm có của cây Tùng, mà hầu như ở các cây khác không có:
“ Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai rặng già làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng.”
Ở câu mở đầu bài Tùng là một mệnh đề mang tính chất khẳng định: hầu hết các loại cây “cây nào” khi mùa thu đến cũng rụng lá, cành cây khẳng khiu, khi lá rụng hết chỉ còn mỗi cành cây trơ trọi, còn cây tùng thì khác cây tùng vẫn xanh tươi, cành lá xum xuê, vượt qua cái giá lạnh của màu đông được thể hiện càng rõ ở câu thứ hai biểu thị rõ nhất ở từ “lạt”- ý niệm về sự vượt qua mùa đông không có gì là khó khăn, nhưng cái hay ở đây đó là cách rút gọn câu chỉ còn sáu chữ và dùng tiểu đối “một mình- ba đông” lại càng cho ta thấy sự chống chọi mạnh mẽ mạnh liệt của cây tùng một mình trước thời tiết khắc nghiệt lạnh giá và dữ dội. Tác giả ý muốn nói người quân tử có phẩm chất vượt khó, thắng mọi gian lao, thử thách của hoàn cảnh khách quan như cây tùng vậy dù là tác động thời tiết khách quan nhưng nó vẫn tươi tốt. Như trong bài Tùng của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Vui cùng suối đá, tính cách riêng thanh cao
Ngoại với tuyết sương, sắc xanh không biến đổi”
Tùng xanh tươi trong khi bao nhiêu loại cây khác bị tác động và biến đổi theo mùa, cũng giống như “quân tử cố cùng” chứ không chịu a dua theo đời.
“Đông lương tài có mấy bằng mày
Nhà cả đòi phen chống khỏe thay
Cội rễ bền dời chẳng động
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.”
Ở khổ tiếp theo, khổ II tác giả tiếp tục khắc họa một đặc điểm nữa của cây tùng mà ít loài cây có được thể hiện rõ ở 2 câu cuối, tiếp ý của hai câu thơ đầu của khổ I như vừa giải thích, vừa chứng minh thêm vào làm nổi bật đặc biệt của cây Tùng. Cây tùng sở dĩ “lạt thuở ba đông”, “đặng nhiều ngày” tuyết sương, là do “cội rễ bền” dễ bám chặt, cắm sâu dưới lòng đất. Dù gió to, bão lớn thế nào vẫn không lay chuyển. Ở câu thơ “Cội rễ bền dời chẳng động” còn thể hiện sự khỏe khắn, kiên cường, mạnh mẽ của cây tùng. Qua những thử thách lớn về cả cường độ và thời gian (nhiều ngày) mới bộc lộ sức mạnh không chỉ trong chốc lát mà là sự bền bỉ, bền vững của cây tùng. Trong ca dao ta cũng có câu nói về phẩm chất, kiên cường cứng cỏi của cây tùng trong những ngày dông bão:
“Có gió lay mới biết tùng bách cứng,
Có ngọn lửa lừng mới biết thức vàng cao.”
Hình tượng câu tùng qua câu thơ “cội rễ bền dời chẳng động” chính là biểu tượng về người quân tử có ý chí kiên định, không bị tác động của những thứ như vàng, bạc, châu báu, quyền thế,.. làm mờ mắt.
Tiếp đến là một đặc điểm khác của cây tùng, tùng có “hổ phách”, “phục linh” mà không loài cây nào khác có được, đây là đặc điểm rất riêng của cây tùng. Xưa tương truyền thì “hổ phách” đẹp như ngọc là do tinh dầu tùng qua một nghìn năm hóa thành, còn tùng khẩn qua một trăm năm thì thành “phục linh”, nếu có lõi sẽ thành phục thần. Hổ phách là trang sức quý hiếm, còn phục linh, phục thần thì là những vị thuốc quý làm tăng tuổi thọ. Tuy rằng, tùng có loại thuốc quý như vậy nhưng những thần dược được tạo ra lại nằm dưới đất, phải nhìn mới biết, cũng như người quân tử có đức lớn, tài cao nhưng lúc nào cũng khiêm nhường, khiêm tốn đó là một đức tính tốt của người quân tử: “Quân tử khiêm nhi bất kiêu”. Những đặc điểm trên cho chúng ta thấy rằng cây tùng rất quý, nhưng đáng quý hơn cả là công dụng của nó: làm rường cột cho ngôi nhà thể hiện ở câu bốn khổ I “Tài đống lương cao ắt cả dùng”, công dụng tiếp theo là chống đỡ cho nhà lớn “Nhà cả đòi phen chống khỏe thay” và công dụng đặc biệt của nó có vị thuốc quý để chữa bệnh, tăng tuổi thọ, nâng cao sức khỏe cho nhân dân: “ Có thuốc trường sinh càng khỏe thay- Hổ phách, phục linh nhìn mới biết”. Tác giả đã sử dụng hình thức nghệ thuật liên hoàn pha ô thước kiều- câu cuối của khổ thơ trước được nhắc lại toàn bộ hay một phần ở câu đầu của khổ thơ tiếp theo. Nhưng ý của tác giả đâu chỉ muốn nói đến công dụng về mặt sinh học cảu cây tùng mà tác giả đã có ngụ ý muốn thông qua công dụng của cây tùng để nói về người quân tử.
Bài thơ cho chúng ta thấy Nguyễn Trãi là một nhà chính trị với ý chí, lí tưởng sống vì nước, vì dân. Thông qua bài thơ ta còn thấy được ông là một người “văn võ song toàn” không chỉ giỏi về mặt thao lược binh đao mà ông còn giỏi về văn chương với những chùm thơ hay để người đời sau thán phục. Bài thơ của ông giúp thức tỉnh ý chí của thế hệ trẻ hiện nay cần cố gắng hơn nữa để khắc phục những mặt yếu kém, tạo thêm ý chí kiên cường, chí khí vững chắc bảo vệ nền độc lập nước nhà.
|
Bình giảng bài thơ Tùng của Nguyễn Trãi
| 1,556
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
Bài làm
Tương tư là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tâm hồn và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính. Bài thơ viết về đề tài khá quen thuộc trong đời sống và văn chương: sự tương tư, tức một trạng thái tình cảm nam nữ khi yêu nhau, hoặc phải xa cách, hoặc không được đáp lại. Nhà thơ lại sáng tác bằng thể thơ cũng rất quen thuộc – lục bát.
Song, để bài thơ có thể sống dài lâu trong lòng bạn đọc không phải là chuyện dễ. Tương tư của Nguyễn Bính vừa có vẻ thân quen như một làn điệu dân ca khiến bao người thuộc lòng. Thậm chí trở thành một bài hát ru em, vừa mang tâm tình mới của thanh niên thời bấy giờ. Nói cách khác, Tương tư cũng như rất nhiều bài thơ khác của Nguyễn Bính trước năm 1945, đậm đà chất dân tộc, trong điệu tâm hồn, cả trong lối diễn đạt, nhưng lại là tiếng thơ của một thời đại mới. Vì thế, khi bình giảng cần biết rằng Tương tư là nỗi nhớ, là tâm trạng của một chàng trai đối với một cô gái. Cô gái ấy vô tình, hay hữu ấy không biết nỗi lòng ấy. Tình cảm của chàng trai rất đỗi tha thiết. Tương tư là một thứ bệnh của tình yêu. Chàng trai ấy đang mang bệnh đó. Anh ta buồn, anh ta nhớ, anh ta thao thức và cả trách móc nữa. nhưng là sự trách móc của một người đang yêu nên cũng rất đáng yêu:
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Khi bình giảng lại lần theo tâm trạng đó. Tuy nhiên, không phải là sự diễn xuôi, kể lại (vì có gì đáng kể đâu) mà để thấy từng cung bậc tình cảm trong trái tim chàng trai đang tương tư.
Tương tư là bài thơ tình yêu, bài thơ diễn tả nỗi tương tư. Thành công của nó ở chỗ bao tâm hồn đã tìm thấy ở đó sự đồng điệu, tiếng thơ. Điều này tưởng chừng bình thường, đơn giản, song thật ra không phải ai cũng làm được. Nhiều bài thơ tuy rất hay, rất nổi tiếng, nhưng người ta nhận ra trước hết đó là nỗi lòng rất đơn chiếc của một người, và nếu có chỉ là tiếng lòng rất người, một bộ phận tương đốỉ hẹp nào đó. Chẳng hạn:
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh sầu khổ
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân.
(Lưu Trọng Lư – Một mùa đông)
hoặc:
Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng
Mà sầu trong dạ đã mang mang
Tình yêu như bóng trắng hiu quạnh
Lạnh lẽo đêm trường, giãi gió sương.
(Lưu Trọng Lư – Một chút tình)
Thơ Nguyễn Bính, ở Tương tư, cũng như nhiều bài thơ khác, không phải vậy. Rất đông thanh niên, nhất là những người bình thường, thời bây giờ và sau đó nữa, tìm thấy sự đồng điệu ở thơ ông. Có được như vậy, trước hết là do thơ Nguyễn Bính có nhiều hình ảnh quen thuộc của thế giới ruộng đồng, dân dã (ở bài thơ này là bướm, hoa, thôn Đoài, thôn Đông, đình làng, bến đò, hàng cau, giàn trầu…) Dường như tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính được cất lên từ chính thế giới thân thuộc đó, là một phần cùa thế giới ấy, chứ không là sự vay mượn. Thành ra lối diễn đạt cũng thế. Nó mang dáng vẻ mộc mạc, chân thành, bình dị (Ngày qua ngày lại qua ngày/ Bao giờ bến mới gặp đò?/ Nhà em có một giàn giần..) Và dĩ nhiên, đây là hình thức thể hiện của một ai khác, sâu xa hơn, ở thơ Nguyễn Bính, đó chính là chân quê, hồn quê thấm đẫm trong tâm hồn nhà thơ. Chính cái tình, cái hồn ấy làm nên sự quen thuộc, gần gũi và thân thiết của thơ Nguyễn Bính đối với bao người Việt Nam, dù ở bất cứ thời đại nào.
|
Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
| 731
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tảo giải (Giải đi sớm) của Hồ Chí Minh
Bài làm
"Nhật kí trong tù" gồm 133 bài thơ chữ Hán, phần lớn viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Tập nhật kí bằng thơ này ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cứ, dày đọa và giải lui giải tới khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc:
"Quảng Tây giải khắp mười ba huyện,
Mười tám nhà lao đã ở qua"…
"Nhật kí trong tù" biểu hiện một cách cảm động vẻ đẹp của một tâm hồn lớn, một trí tuệ lớn và một dũng khí lớn của người chiến sĩ vĩ đại trong cảnh tù đày.
Bài thơ "Giải đi sớm" (Tảo giải) rút trong "Nhật kí trong tù" ghi lại một lần chuyển lao vô cùng gian khổ mà Bác phải nếm trải, qua đó ta thấy hình ảnh tuyệt đẹp của "ông tiên trong tù".
Hai câu thơ đầu nói về thời điểm cuộc chuyển lao diễn ra lúc nửa đêm về sáng:
"Nhất thứ kê đề dạ vị lan".
Tiếng gà gáy một lần, đêm chuyển canh, trời chưa sáng. Tiếng gà gáy, cái âm thanh dân dã thân thuộc ấy đêm nay lại vang lên nơi đất khách quê người, gợi lên trong lòng người tù bị giải đi bao nỗi niềm. Câu thứ hai tả cảnh bầu trời một đêm thu phương Bắc:
"Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san".
Trăng sao được nhân hóa: Chòm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi mùa thu. Một nét vẽ tạo hình trong trạng thái động của thiên nhiên, làm cho cảnh trăng sao càng trở nên hữu tình. Trong khổ ải "chinh nhân" không cảm thấy cô đơn, vẫn ngước mắt nhìn lên bầu trời, hướng về "thu san" để tận hưởng vẻ đẹp của vũ trụ. Trăng sao như cùng đồng hành với Bác trên chặng đường khổ ải. Đây là một nét vẽ rất tinh tế mang vẻ đẹp cổ điển: chấm phá cảnh trăng sao, lấy ngoại cảnh để biểu hiện tâm cảnh của nhân vật trữ tình: nhà thơ – chinh nhân.
Phải có một tình yêu đời tha thiết, một bản lĩnh phi thường, một hồn thơ dào dạt tình yêu thiên nhiên, người tù mới làm chủ hoàn cảnh gian khổ, đọa đày để cảm thụ vẻ đẹp đêm thu. Một nét vẽ, một câu thơ đầy ánh sáng trong một cuộc đời còn nhiều tăm tối và cay đắng. "Chinh nhân" đang hướng về ánh sáng mà đi tới:
"Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,
Nghênh diện thu phong trận trận hàn"
(Người đi cất bước trên đường thẳm
Rút mặt đêm thu trận gió hàn).
Hai câu 3, 4 miêu tả cảnh người đi đày – người đi xa đang bước đi trên con đường xa (chinh đồ thượng). Lúc bấy giờ, Bác đã trải qua những ngày dài bị đày ải, phải đắp chăn giấy, áo quần rách tả tơi. Thân hình tiều tụy, đôi chân mang xiềng xích, lê bước đi trước mũi súng bọn lính áp giải. Từng trận… từng trận gió thu phương Bắc lạnh lẽo tới tấp thổi vào mặt Bác. Hai câu thơ này, có nhà phê bình văn học rất thú vị ở chữ "nghênh diện" vì nó gợi tả tư thế hiên ngang, bất khuất của Bác trên bước đường khổ ải. Cũng có ý kiến khác chú ý nhiều hơn đến các từ "chinh nhân" – "chinh đồ" ở câu thứ ba và hai chữ "trận" trong hình ảnh "trận trận hàn" ở câu 4. Bốn tiếng ấy hòa nhịp với nhau tạo nên âm hưởng trầm hùng. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã viết: "… Nhịp điệu ấy, âm hưởng ấy khiến cho bài thơ không phải là tiếng hát đi đày mà là hành khúc trầm hùng".
Phần hai của bài thơ nói về cảnh rạng đông, cả trời đất bừng sáng trong khoảnh khắc, bầu trời từ màu trắng (bạch sắc) chuyển sang màu hồng (dĩ thành hồng). Bao la một màu hồng. Cảnh bình minh hiện lên vô cùng tráng lệ:
"Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng, u ám tàn dư tảo nhất không!"
Ánh sáng chuyển hóa: "bạch sắc" – "thành hồng", màu sắc tương phản đối lập: "hồng" / "u ám". Một đêm thu lạnh lẽo đã trôi qua. Thơ viết về rạng đông đầy màu sắc rạng rỡ. Đúng là "thi trung hữu họa". Sau này, trơng bài thơ "Đi thuyền trên sông Đáy", Bác cũng viết:
"Thuyền về trời đã rạng đông,
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi".
(1949)
Một đằng là cảnh rạng đông khi bị lưu đày, một đằng là cảnh rạng đông trên chiến khu thời kháng chiến, cảnh ngộ tuy khác nhau nhưng đều biểu hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, một tâm thế lạc quan yêu đời của người chiến sĩ vĩ đại.
Hai câu cuối toát lên một phong thái, một cốt cách thi sĩ rất đẹp:
"Noãn khí bao la toàn vũ trụ,
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng".
Hơi ấm bao la bao trùm cả vũ trụ lúc rạng đông bỗng chốc hồn thơ của người đi đường càng thêm đượm nồng. "Chinh nhân" trở thành "hành nhân”. "Bác như quên hết mọi đau khổ, lồng ấm lên, vui lên cùng vạn vật". “ Thi hứng " dâng lên: dào dạt trong lòng. Câu thơ tràn đầy xúc cảm. Bác không nói đến "thép" mà vẫn sáng ngời chất thép vì vần thơ đã thể hiện một cách tuyệt đẹp phong thái ung dung, tâm hồn thư thái lạc quan của người chiến sĩ vĩ đại trong khổ ải.
Đọc "Nhật kí trong tù" ta bắt găp nhiều cảnh chuyển lao. Có trường hợp bỉ giải đi trong mưa gió: "Năm mươi ba cây số một ngùy – Áo mũ đầm mưa, rách hét giày". Lại có lần bị đày đọa: "Hôm nay xiềng xích thay dây trói – Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung". Có cảnh "Lủng lẳng chân treo tựạ giảo hình…". Thật trăm lần khổ ải, nghìn điều đắng cay! Tuy nhiên, trong khổ cực đày đọa, lúc nào phong thái của Bác cũng hết sức ung dung tự tại, lạc quan, làm chủ hoàn cảnh: "Vật chất uy đau khổ – Không nao núng tinh thần".
Tóm lại, "Giải đi sớm" là một bài thơ đặc sắc. Tính nhật kí và hướng nội của bài thơ rất rõ nét. Cảnh đêm thu gió rét. Con đường đi đày xa lắc. Có sương sa trên núi thu. Có cảnh bình minh tráng lệ và ấm áp. Và có tâm cảnh: "Hành nhân thi hứng hốt gia nồng".
Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng bị quân thù giải đi trong gió rét trên con đường xa, với tâm thế ung dung, lạc quan và yêu đời… là một hình ảnh đẹp mà người đọc cảm nhận được qua bài thơ này. Nét vẽ chấm phá về trăng sao, về rạng đông đã tô đậm chất trữ tình và sắc thái cổ điển của bài thơ"Tảo giải".
Bài thơ "Tảo giải" là bài hát đi đày của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại. Chân tay bị xiềng xích mà vẫn ung dung lạc quan. Nó giúp ta khám phá vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh:
"… Mười bốn trăng tê tái gong cùm
Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc
Mà thơ hay… cánh hạc ung dung!".
|
Bình giảng bài thơ Tảo giải (Giải đi sớm) của Hồ Chí Minh
| 1,255
| |
Bình giảng bài thơ Tỏ lòng
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Tỏ lòng
Triều đại nhà Trần (1226 – 1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi ca là “hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng — thi sĩ dào dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tuớng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, “Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu… là những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.Bài thơ “Thuật hoài” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của người anh hùng khi tổ quốc bị xâm lăng. Đó là bức chân dung tự họa của danh tướng Phạm Ngũ Lão.
Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo (tì hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Với khí thế ngút trời, đội quân “phụ tử chi binh” ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, cao rộng như vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh đâu thắng đấy mà còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:
“Thuyền bè muôn đội;
Tinh kì phấp phới
Tì hổ ba quân
Giáo gươm sáng chói
(Bạch Đằng giang phú)
“Giang sơn hoành sóc, khí thôn Ngưu”.
(Vịnh Phạm Ngũ Lão – Đặng Minh Khiêm)
Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng! “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm sự nghiệp anh hùng của Vũ hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:
“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”.
Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dùng cảm. Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thế bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng bài thơ Tỏ lòng
| 797
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Tống biệt hành
Bài làm
Đời người và đời thơ của Thâm Tâm đều ngắn ngủi. Ngày 18.8.1950, nhà thơ mất trên đường hành quân tham gia chiến dịch Cao Bắc Lạng. Năm ấy, ông mới ba mươi tuổi. Còn nếu tính từ năm 1938, khi Thâm Tâm cùng gia đình lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ tranh, viết văn, làm thơ thì “tuổi nghề” của ông vỏn vẹn chỉ 12 năm.
Đã thế,Thâm Tâm làm thơ ít, số bài thơ bây giờ tập hợp được chỉ độ vài ba chục. Nhưng thơ Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi. Đây là không kể chuyện Thâm Tâm với các bài thơ về hoa ti gôn, màu hoa như tím vỡ, mọc vô vàn trên các bờ giậu nhưng khi có thơ, loài hoa ấy ai cũng phải ngắm nhìn một cách đặc biệt.
Tống biệt hành là bài thơ đặc sắc nhất của Thâm Tâm, cũng là bài thơ Mới có nhiều ý kiến, bình giá khác nhau nhất và cơ hồ chưa phải đã kết thúc.
Bài thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào. Năm sau, được đưa vào tuyển thơ Thi nhân Việt Nam, với lời bình của Hoài Thanh:
Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
Ý kiến của Hoài Thanh thật xác đáng:Tống biệt hành vừa giống thơ cổ vừa không phải thơ cổ đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. Đó cũng là lí do khiến từ bấy đến nay có biết bao ý kiến khác nhau về Tống biệt hành mà khổ nỗi lại là ý kiến của những người uyên thâm,hoặc có quan hệ gần gũi với tác giả.
Tên bài thơ:
Tên bài thơ không có gì là khó hiểu, rõ ràng đằng khác: tiễn đưa nhau khi li biệt. Chỗ dễ gây khó hiểu duy nhất ở đây là chữ hành. Hành vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là khúc hát, bài ca. Bởi vậy, khi dịch nghĩa tên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Can hành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… mặc dù Trường Can, Lũng Tây đều là địa danh. Xa hơn nữa, người ta thấy, hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ, Lục Triều, có cội nguồn từ trong Nhạc phủ, tức những bài thơ có thể phổ nhạc, nhưng chỉ để dùng trong cung cấm. Do đó, Trường Can hành là một khúc Nhạc phủ, song cũng là tên một bài thơ của Đỗ Phủ. Nội dung hai bài hoàn toàn khác nhau. Khi thoát khỏi cung cấm, thể thơ hành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết. Các bài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài: tình yêu nam nữ, về chiến tranh, loạn lạc, chia li… Thời Đương, các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn (Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài, ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).
Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông, thơ hành không thiếu. Ở Việt Nam, có bài khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du. Tuy nhiên,nhìn chung, số lượng vẫn khá ít ối với những bài thơ khác. Bẵng đi thời gian khá dài, ở nước ta những năm cuối của phong trào Thơ mới bỗng xuất hiện nhiều bài hành của các nhà thơ Thâm Tâm (Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành). Nhiều bài thơ của các ông dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu. Cả ba vốn là bạn bè thân thiết nên có người gọi đây là trường phái thơ hành, bên cạnh các trường phái thơ Loạn,thơ Say,thơ Đạo …thời ấy.
Sau năm 1954, ở miền Nam,cũng có một vài nhà thơ trẻ làm thơ hành như Hoàng Lộc, Duynh Trầm Ca… Thơ của họ, tuy nội dung có khác, nhưng gần gũi với các bậc “tiền bối” ở cái giọng kiêu bạc, khinh đời:
– Chẳng lẽ giận đời đi uống rượu
Mà say chưa chắc đã quên đời
Và chưa chắc ấm sầu xa xứ
Đỏ mặt hoàng hôn cũng hổ người
(Hoàng Lộc)
Rượu cuối năm gió lọt lòng ly
Vọng tiếng hú ma Hời buồn quê cũ
Đêm viễn xứ vang vang pháo nổ
Giao thừa giao thừa hề ta lăn quay
Rượu hết làm sao chết giữa cơn say…
(Đuynh Trầm Ca)
Nói mông lung như vậy đẻ thấy không thể đơn giản khẳng định Tống biệt hành của Thâm Tâm là bài thơ theo thể hành thời trước,bởi nào ai chỉ ra thi pháp của thể thơ ấy như kiểu thơ luật Đường hay văn biền ngẫu …Có giống chãng chỉ là nhà thơ mượn chữ hành thường tỏ ra khá phóng túng,như muốn nói cho bằng hết ý mình,mà đó thường là những điều khó nói,khó được chấp nhận.Ví như bài Lũng Tây hành của Trần Đào là một mặt trái của chuyện đời:
Quên mình, thề giết Hung Nô
Năm ngoái tướng sĩ bụi Hồ vùi thân.
Bên sông Vô Định xương tàn,
Vẫn người trong giấc mộng xuân khuê phòng.
(Trần Trọng San dịch)
Hay Nguyễn Bính, nhà thơ đồng quê nhưng với Hành phương Nam lại tỏ ra khá ngang tàng, kiêu bạc:
Rãy ruồng châu ngọc, thù son phấn
Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay
Hỡi ơi nhiếp chính mà băm mặt
Giữa chợ ai khóc mà nhân thay
Rõ ràng, thơ hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân là thơ hành của chính các ông, những nhà thơ Mới bởi vậy mới đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
Chuyện Tống Biệt
Tống biệt là chuyện muôn thuở, đề tài quen thuộc của văn chương. Nhưng với Thâm Tâm,chuyện tống biệt chừng như khác. Đấy không phải là chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa tiễn ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ).Cũng không phải là sự ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương ),hay ra đi mà lòng hẹn quyết: Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi nan…Non sông ấy chờ ta thêu đặc dệt.Kìa tụ tán chẳng qua là tiêu biểu ( Huỳnh Thúc Kháng-Bài ca lưu biệt ).Người ra đi ở tống biệt hành có phần gần gũi với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của Thế Lữ:
Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.
Những chỉ gần mà không giống. Cách nhau độ năm, mười năm mà đã thế, làm sao bảo li khách có “họ hàng” với chàng Kinh Kha ở nước Yên cả ngàn năm trước?
Ra đi là một mô típ không chỉ trong văn chương mà trước hết là trong đời sống của không ít thanh niên Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Đi đã trở thành nhu cầu.Vì lí do gì ư? Nhiều lắm! Ngay ở một nhà thơ của Hoa niên vẫn không hiếm những câu:
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt,
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.
( Tế Hanh -Những ngày nghỉ học )
Vì sao có chuyện kỳ cục ấy? Người trong cuộc giải thích:
Kẻ về không nói bước vương vương…
Thương nhớ lan xa mấy dặm trương.
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ
Tâm hồn ngơ ngẩn nhó muôn phương.
Những năm 40 của thế kỷ trước, đi càng trở nên bức bách khi mà bao câu hỏi cứ xoáy mãi trong lòng họ:
Ôi! Ta đã làm chi đời ta?
Ai đã làm chi lòng ta?
……………………………………
Ta đã làm chi đời ta xưa?
Ta đã dùng chi đời ta chưa?
Thiên thu? ngờ sự nghiệp!
Chiều mưa rồi đêm mưa;
Gió lùa gian gác xép,
Đời tàn trong ngõ hẹp.
( Vũ Hoàng Chương – Đời tàn trong ngõ hẹp )
Với các nhà thơ trường phái thơ hành, nỗi đời còn bức bách hơn. Trần Huyền Trân gào thét:
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đưa giam cõi bụi, đứa đày rừng sâu
Vai cày chẳng kẻo làm trâu
Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm
Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại đông từng cơm lá rừng…
(Độc hành ca )
Đi không đòng nghĩa với sung sướng. Nhưng là sự giải thoát với khỏi thực tại: Kinh thành mây đỏ như son, Cái lồng chật chội giam con chim trời (Trần Huyền Trân-Vô đề). Người đi có phần bất chấp:
Mơ gì Áp tiết thiên văn tự,
Giày cỏ gươm cùn ta đi đây.
(Nguyễn Bính –Hành phương Nam )
Sau này, khi nhiều người thắc mắc về người đi trong bài thơ của mình (cũng là một cuộc ra đi từ trước năm 1945), Nguyễn Đình Thi giải thích: Người ra đi này cũng không phải là tác giả hoặc một người cụ thể -người ấy ra đi,có thể đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng… (Đỗ Tiến Bảng -Về bài thơ Đất Nước,Văn nghệ,số 53/1994).
Trường hợp Thâm Tâm,trong số những bài thơ ít ỏi trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành. Ở Tráng ca (1994), có Bọn ta một lớp lìa nhà. Ở Can trường hành (1944), có chàng là bậc trẻ không biết sợ… Vợ con thí tất cho thiên hạ… Ta lênh đênh hoài sâu biết mấy! Còn trước đó, vào năm 1940, người ra đi với bao quyết tâm:
Trời hỡi! Mai này tôi phải đi
Thơ này rồi chẳng đọc ai nghe
Đời nhiều nhưng có dăm người bạn
Thì viễn li không có đường về
……………………………………………
Ngày mai ngược gió tôi đi ngược
Ai có quan tâm gọi trở về
Trời hỡi,ngày mai ngày mốt thôi
Ngày mai cay đắng nhất li bôi…
( Ngược gió )
Đến năm 1944, chuyện ra đi lại đặt ra ở một bài thơ mang tên Lưu biệt hẳn hoi mà người đi lại rất cụ thể:
Tiệc này đêm cuối mai chia li
Anh cố lưu tôi có ích gì
………………………………….
Đất trời rộng quá tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè
……………………………………………
Sáng mai qua bến Ninh Cơ lạnh
Sẽ thấy se lòng trận gió tê
Giọng đàn lưu luyến làm chi nữa
Tôi quyết đi rồi tôi phải đi.
Cách đây không lâu, nhiều người đã tìm các tư liệu khá cụ thể về cuộc chia li và li khách ở bài thơ Tống biệt hành. Rất tiếc, các tư liệu ấy, có độ tin cậy cao (một người bạn thân của Thâm Tâm, một người là nhà văn cùng thời), nhưng lại trái ngược nhau. Tôi đồ rằng, sẽ còn những phát hiện như thế nữa. Song tất cả các phát hiện ấy càng khiến việc tiếp cận bài thơ thêm khó khăn. Giả dụ rằng, không có cuộc chia tay với những con người cụ thể kia thì thế nào vẫn có Tống biệt hành, bởi muốn đi, quyết ra đi thật sự không ai khác là chính nhà thơ Thâm Tâm!
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Chuyện ra đi là thế,nhưng người ta bàn luận nhiều về Tống biệt hành có lẽ vì đây là bài thơ hay nhất của Thâm Tâm.
Bài thơ mở đầu theo lối trực tiếp, như một thông báo, không nhiều lời:
Đưa người, ta không đưa qua sông.
Song, đây lại là câu mở đầu,khiến người ta liên tưởng rất xa. Đây là chuyện Kinh Kha,người nước Tề, thời chiến quốc. Chàng vốn là kiếm khách nổi tiếng. Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên, thái tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch),tỏ rõ quyết tâm của mình:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn.
(Gió vi vu,sông Dịch lạnh,
Tráng sĩ một đi không trở về).
Việc hành thích Tần vương của Kinh Kha không thành.Chàng bị đam chết giữa cung điện Tần.Nhưng câu chuyện về Khinh Kha thíống mãi trong cuộc đời và văn chương. Đời Đường, Lạc Tần Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.
(Người xưa đã khuất rồi.
Nước sông còn lạnh buốt).
Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha,song lưu ý mọi người đây không phải là chuyện xưa: Đưa người,ta không đưa qua sông.Cuộc đưa tiễn không biết diễn ra tại đâu,nhưng buồn hiu hắt,chất đầy tâm trạng:
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm,không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Dường như ngoại cảnh không liên quan gì tới tâm trạng:không có bờ sông dậy sóng nhưng trong lòng lại nổi phong ba ;buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tà dương!Cách diễn tả thật lạ lùng.Thông thường,người ta hay lấy cảnh vật để tả nỗi lòng,theo kiểu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.Nhà thơ Mới Thâm Tâm thừa biết điều đó, nhưng đã làm theo chiều ngược lại.Trong bức tranh ngược sáng ây, tâm trạng nổi bật hẳn lên,nỗi buồn,sự tê tái mang vóc dáng,hình thù hẳn hoi.
Người ta hay bàn cãi,nỗi buồn của ai đây?Theo lô gíc hình thức, chắc chắn đây là nỗi buồn của người đưa tiễn.Người ấy đang nói, đang kể chuyện rành rành ra đó.Bởi vậy,mới có những câu thơ tiếp theo:
Đưa người,ta chỉ đưa người ấy,
Một gã gia đình, một dửng dưng…
Chẳng lẽ ở trên nói người rađi rất u buồn,liền sau đó lại khẳng định: không,người ấy rất dửng dưng?Từ đầu đến câu thơ này,tất cả đều diễn tả tâm trạng của người đưa tiễn.Nhưng nhân vật trung tâm lại là người ra đi: vì người ấy mà tôi buồn ;vì người ấy mà tôi đau;chỉ có một người ấy thôi!Khổ nỗi,người ấy lại nhất quyết ra đi,không gì có thể cưỡng lại đuợc:
– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm,mẹ già cũng đừng mong.
Không ai biết lí do nào khiến người phải ra đi.Song, chắc đấy không là lí do đơn giản,bình thường.Việc gì người ta phải đánh đuổi, kể cả nỗi lòng chờ mong của người mẹ thiêng liêng để ra đi, nếu đó không là lí do thật cao cả? Câu thơ vẫn theo điệu kể,nhưng chủ thể lời nói thì chuyển dịch dần từ người đưa tiễn sang người ra đi,từng lời,từng lời,một,thật rắn rỏi, việc ra đi khó lòng thay đổi ý định ở người ra đi:
Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị,hai chị, cùng như sen,
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu,tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ, đôi mắt biếc,
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
Chỗ dựa ấy là hoàn cảnh và tâm trạng của li kahchs.Về hoàn cảnh, người ấy có mẹ già và “một chị,hai chị, cùng như sen” mùa hạ. Đông đấy,nhưng vẫn lẻ loi, đơn chiếc.Người ấy có người “em nhỏ thơ ngây, đôi mắt biếc” đang rất nặng tình với mình ( ). Hoàn cảnh và tình cảm sâu nặng như thế,ra đi lòng sao không trĩu nặng. Nhưng tình không lớn bằng nghĩa. Năm 1944, trong bài thơ Lưu biệt, Thâm Tâm thêm một lần nói rõ điều đó:
Đời người say tỉnh được bao dịp
Xin cạn chén rượu để tôi đi
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri
Mắt xanh cùng gửi ngoài mưa gió
Lòng không cùng sống với cầm thi…
Người ấy vẫn cứ đi.Chỗ dựa đẻ níu kéo hoá ra không cầm giữ được
Vì thế,người trong cuộc,dù biết rất rõ,hiểu rất kỹ nhưng lòng vẫn bàng hoàng, ngơ ngác:
Người đi? Ừ nhỉ,người đi thực!
Mẹ già coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
Khi bàng hoàng, ngơ ngác trước một cuộc chia li thì người ra đi mãi mãi in dấu trong tâm hồn người ở lại và cuộc chia li vẫn như đang diễn ra. Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm khiến người đời nhớ mãi vì lẽ đó.
|
Bình giảng bài thơ Tống biệt hành
| 2,793
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
Bài làm
Tố Hữu là nhà thơ lớn, gần gũi với bao thế hệ người Việt Nam. Thơ Tố Hữu có sức sống lâu bền trong lòng bạn độc bởi chất men say của lí tưởng cao cả của tình yêu thương chân thành cho con người, của niềm tin bất diệt vào tương lai. Bài thơ Từ ấy đã ghi lại giây phút mê say của nhà thơ khi bắt gặp ánh sáng của Đảng soi đường. Đó không chỉ là cảm xúc vui sướng, phấn khởi mà còn là phẩm chất cao đẹp của người cộng sản muốn hoà nhập và cống hiến hết mình áo cuộc đời.
Bình giảng bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
Mỗi người đều có những giây phút trọng đại, thiêng liêng trong cuộc đời. Với người mẹ đó là khi đứa con yêu ra đời và bập bẹ biết nói, biết đi. Với người yêu nhau là khi họ bắt gặp nhau lần đầu liên đã tưởng chừng như quen biết tự bao giờ. Nhà thơ Xuân Diệu từng có giây phút đó:
Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi
Còn riêng Tố Hữu, hạnh phúc nhất là lúc nhận ra con đường đi đúng đắn của mình, bắt gặp ánh sáng lí tưởng của Đảng. Đó là cái mới đánh dấu bước ngoặt lớn trong đời người thanh niên yêu nước đầy nhiệt tình, hăm hở. Tố Hữu vào Đảng khi còn rất trẻ – mười bảy tuổi, vậy mà mối duyên với cách mạng sớm đưa lại những đổi thay kì diệu về tình cảm và tâm hồn, nhận thức:
Từ ấy trong tôi bừnq nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
Từ ấy đặt ngay đầu bài thơ như bức tường vạch chia ranh giới rõ ràng giữa hai khoảng thời gian. Thời gian cuộc đời của nhà thơ tự phân làm hai nửa trước và sau Từ ấy cho chúng ta sự khác biệt trong một con nsười. Trước Từ ấy, cuộc sống bế tắc không lối thoát, cô đơn tuyệt vọng chán chường:
Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi
Bâng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi dòng quanh quẩn
Muốn thoát than ôi, bước chẳng rời.
(Nhớ đồng)
Đó không phải là tâm trạng của riêng minh nhà thơ mà là chúng cho cả một hệ trẻ lúc bấy giờ vừa rời ghế nhà trường liền va đập ngay với những cảnh trớ trêu. Họ bi quan, không xác định cho mình một hướng đi, hay một lí tưởng dứt khoát Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước, Chọn một dòng hay để nước trôi đi. Từ ấy khép lại chuỗi ngày dằn vặt, đau khổ, bóng tối, mở ra một cuộc sống đầy hứa hẹn. Nó toát lên từ sức sống mạnh mẽ bên trong, từ sự thức tỉnh kì diệu. Tố Hữu ghi lại giây phút đổi thay ấy bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng bừng nắng hạ, thứ ánh nắng sáng tươi, rực rỡ chiếu soi tỏ khắp nơi đặc biệt soi sáng cả những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn, trí tuệ, nhận thức Mặt trời chân lí là hình ảnh ẩn dụ chỉ lí tưởng Đảng, nó có sức mạnh vừa cảm hoá, lay động vừa thức tình không chỉ nhận thức, lí trí mà cả tình cảm, con người của nhà thơ. Dường như có một cuộc đổi thay nhanh chóng giống như người đang sống trong đêm tối, tâm hồn khô kiệt bỗng chốc đèn pha bật sáng như ngày mai lên, mọi vật hiện ra, rõ ràng đến từng chi tiết và cảm xúc nảy sinh. Niềm vui sướng thật sự đang trào khi tâm hồn nhà thơ có cuộc sống mới tươi vui, rộn rã:
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Hình ảnh so sánh hồn tôi – vườn hoa lá diễn tả quá đầy đủ về cuộc sống, sức sống dào dạt, sinh sôi. Những xao xuyến, hứng khởi trong tâm hồn sâu kín nhà thơ được phơi trải ra thật sông động. Đó là cuộc sống đầy màu sắc, am thanh và mùi vị, có màu xanh yên bình của lá, của hoa, có mùi thơm của hoa và tiếng chim rộn ràng. Tất cả những âm vang của cuộc sống được nhà thơ chắt lọc đẻ nuôi dưỡng sức sống của tâm hồn người. Nó được đẩy đến ngưỡng cao nhất. Bằng việc sử dụng các tính từ chỉ mức độ như bừng, chói, rất, đậm, rộn Tố Hữu cho thấy sự say mê, ngây ngất của người chiến sĩ cộng sản khi bước theo ánh sáng lí tưởng đời mình. Ghi lại bước chuyển quan trọng trong đời nhưng nhà thơ không lên gân, vẫn giọng thơ nhẹ nhàng dứt khoát mà thấm đẫm cảm xúc vui tươi, tha thiết như mạch sống lan tỏa khắp nơi và ngay cả nơi sâu kín nhất.
Từ ấy là sự đánh dấu một cuộc đổi đời, cao hơn là sự hồi sinh của một con người. Từ đây, sức sống đó sẽ được nhân lên mạnh mẽ, tâm hồn sẽ như một vườn hoa lá: trong sáng, hồn nhiên:
Rồi một hôm nào tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
Say đồng hương nắng vui ca hát
Trên chín tầng cao bát ngát trời.
Sau những phút giây sung sướng nhận ra lí tưởng cao cả cần đi, người chiến sĩ cộng sản phải xác định một tâm thế, một hành động cho xứng đáng. Đó trước hết là ý thức trách nhiệm trước cuộc đời. Nhà thơ thay lời cái tôi chiến sĩ nói lên tâm nguyện, khái vọng ấy:
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Con người cá nhân đến đây đang tan biến dần nhường chỗ cho cái tôi rộng lớn – cái tôi hướng đến cuộc đời và mọi người. Những ích kì, hẹp hòi ngăn cách cái tôi đến với mọi người không còn nữa, con đường hoà nhập rộng mở thênh thang. Làm được điều đó không phải dễ dàng, cần phải đấu tranh, cân nhắc, lựa chọn bằng ý thức trách nhiệm xuất phát từ sự chân thành, tự nguyện. Tôi – nhà thơ tự buộc lòng mình với mọi người. Đó là thái độ dứt khoát, mạnh mẽ xác định bởi lí trí sáng suốt. Mối dây ràng buộc với mọi người đã xoá bỏ sự đối lập chất chứa, đầy căm phẫn ngự trị trong tâm hồn tôi trước đây đồng thời thiết lập tình yêu thương, gắn kết giữa người và người. Đó là sự cảm thông, chia sẻ trước nỗi đau, vui buồn của bao kiếp người. Tinh thần tự nguyện buộc để tạo nên khối đời, gần gũi, mạnh mẽ là mục đích cuối cùng nâng cao phẩm chất của người cách mạng. Tình nhân ái làm cho mỗi người hoà vào cuộc đời chung trở thành con người đúng theo nghĩa của nó.
Khổ thơ cuối tiếp tục nhấn mạnh ý thức trách nhiệm của con người cụ thể trước cuộc đời rộng lớn:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ.
Ba từ là xuất hiện liên tiếp trong đoạn thơ như lời khẳng định chắc nịch, rắn rỏi, dứt khoái cho sự hoà nhập tuyệt đối. Người chiến sĩ đã ở giữa đời và mọi người rất khiêm tốn mà không làm mất đi vẻ tự nhiên vốn có, là con của gia đình, là em của kiếp đời phôi pha, là anh của các em thơ nghèo khổ, đói cơm rách áo. Khối đời to lớn ở đây được tạo bởi từng số phận với những cảnh ngộ riêng là em Phước trong bài Đi đi em sớm chịu cảnh nô lệ, cả người vú em để con mình đói khát phải đi chăm con người và biết bao người khác nữa. Nhà thơ bắt gặp cuộc đời mình trong những mảnh đời cơ cực ấy, số từ được sử dụng tăng dần từ một, mọi, trăm, khối, vạn như mở rộng khối đời đồng thời kết nối tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ, ở đó không còn là sự cảm thông mà cao hơn nhà thơ tự thấy mình là thành viên của gia đình rộng lớn phải truyền cho họ tình yêu và trách nhiệm trước số phận của mình. Phải chiến đấu để đem lại cuộc sống tốt hơn cho gia đình, cho mọi người và dìu dắt, bảo ban những em thơ.
Đến đây phẩm chất của người cách mạng được soi sáng. Tâm hồn, nhận thức, quan hệ đều được soi chiếu nhờ ánh sáng lí tưởng Đảng. Không có sự tri nghiệm, người cộng sản – nhà thơ không thể có những đổi thay lớn lao như vây. Từ ấy là bản đàm đạo khúc vui đầu tiên của người cộng sản khi gặp lí tưởng của Đảng. Đó là lúc tâm hồn được hồi sinh, trí tuệ bừng sáng, nhận thức trách nhiệm lớn lao với cuộc đời. Thơ Tố Hữu hay khi kết hợp sâu sắc lí tưởng cộng sản, tình thương yêu con người và niềm vui hướng về tương lai. Từ ấy đã đã kết tinh cái hay ấy và tạo nên sức hút lớn đối vđi những con người chân chính đã và đang đi theo lí tưởng của mình. Nhà thơ khơi lên lòng nhiệt huyết, quyết của biết bao thế hệ để họ hôm nay và mai sau thực hiện ước nguyện xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.
|
Bình giảng bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
| 1,652
| |
Bình giảng bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Gợi ý
Bài thơ “Việt Bắc” là một trong những sáng tác tác tiêu biểu trong thời kì kháng chiến chống Pháp và đem lại nhiều thành công cho Tố Hữu. Bài thơ là những xúc cảm, kỉ niệm của người chiến sĩ Cách mạng với thiên nhiên, con người Việc Bắc nồng hậu mà ân tình.
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.
Mình về có nhớ ta chăng,
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Sử dụng lối nói giao duyên “mình” – “ta”, nhà thơ dang diễn tả cảnh chia li đầy nhung nhớ giữa người đi – kẻ ở. Người ở băn khoăn không biết người đi liệu có còn nhớ những tháng ngày bên nhau biết bao kỉ niệm. Lời thơ trầm buồn, da diết, tạo một nối nhớ khắc khoải khôn nguôi.
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Người ra đi chợt nghe có tiếng ai níu bước:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Mặt đối mặt, hai người chỉ biết cầm tay nhau, bịn rịn không nói nên lời:
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Người ở băn khoăn tự hỏi về lòng thuỷ chung son sắt của người ra đi:
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm dà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
Và ngược lại người ra đi khẳng định nghĩa tình đó mãi không phai nhòa trong kí ức:
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh.
Như để khẳng định lại một lần nữa tình cảm của mình dành cho Việt Bắc, người đi nhắc lại từng kỉ niệm, kí ức những tháng ngày từng ở nơi đây (Binh giang bai tho Viet Bac cua To Huu):
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc như hiển hiện trước mắt người đọc. Mảnh đất Việt Bắ màu mỡ giúp cho cây cối muôn loài được sinh sôi, nảy nở và phát triển. Con người Việt Bắc hòa cùng thiên nhiên, cần cù lao động. Nhớ cảnh nhớ người, người ra đi nhớ cả những tháng ngày gian khổ cùng nhau chiến đấu:
Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân quân đỏ đước từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Con người Việt Bắc anh dũng, bất khuất, thiên nhiên núi rừng Việt Bắc cũng đóng góp một phần không nhỏ trong cuộc chiến chống quân thù. Tất cả đều tạo nên một không khí hào hùng, những năm tháng không thể nào quên đối với cả người đi – người ở. Lời thơ hào hùng, mạch thơ nahn, mạnh và dồn dập. Bài thơ khép lại với hình ảnh một Việt Bắc kiên cường đầy bản lĩnh.
Bài thơ “Việt Bắc” mang đậm phong cách thơ của nhà thơ Tố Hữu. Viết theo thể thơ lục bát với hình thức đối đáp giao duyên đã làm cho bài thơ thêm phần duyên dáng mà gần gũi, dễ đi vào lòng người.
|
Bình giảng bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
| 684
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Vội vàng của thi sĩ Xuân Diệu
Bài làm
Mỗi lần đọc những dòng thơ trên, nhạc điệu,vần điệu "Vội vàng" cứ ngân vang dào dạt mãi trong lòng ta, tình yêu đời, yêu sông như tát mãi không bao giờ vơi cạn… Cảm thức về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ về như những lớp sóng vỗ vào tâm hồn ta. "Vội vàng" là bài thơ độc đáo nhất, "mới nhất" của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập "Thơ thơ" (1933-1938) đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh môt tài thơ thế kỉ.
Bài thơ "Vội vàng" nói lên nhịp điệu sống, khát vọng sống của tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết trân trọng, quý trọng và sống hết mình với tuổi trẻ, với mùa xuân và với thời gian.
Trong "Tiểu dẫn" về bài thơ "Vội vàng" này. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống".
Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên "đồng nội xanh rì", của lá "cành tơ phơ phất". "Tuần tháng mật" của ong bướm. "Khúc tình si" của yến anh. "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi". Chữ "này đây" được năm lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu. Vì lẽ đó nên phải vội vàng "tắt nắng đi" và "buộc gió lại". Trong cái phi lí có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn.
Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Bình minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc "thần vui hằng gõ cửa". Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, "ngon như cặp môi gần". Một chữ "ngon" chuyển đổi cảm giác thần tình, một cách so sánh vừa mới lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu.
Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi – cái tuổi thanh niên bừng sáng. Nhưng thi sĩ đã "vội vàng một nửa", một cách nói rất thơ – chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa dòng thơ, rất mới, thơ cổ không hề có. Như một tuyên ngôn “vội vàng":
"Tháng giêng ngon như cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân".
Vội vàng vì thiên nhiên quá đẹp, vì cuộc sống quá yêu, vì tuổi trẻ quá thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đã “Vội vàng một nửa"… Cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ. Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại. Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái "lượng trời" cho một đời người chỉ có một thời xuân xanh mà tuổi trẻ một đi qua không bao giờ trở lại:
"Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non. nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…".
Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới – qua, non – già, rộng – chật, tuần hoàn – bất phục hoàn, vô hạn – hữu hạn – để khẳng định một chân lí – triết lí: tuổi xuân một đi không trở lại, phải quý tuổi xuân.
Cách nhìn nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế độc đáo, nhạy cảm. Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và đã hé lộ mầm tương lai, cái đang có lại đang mất dần đi…
Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn "chia phôi",hoặc "tiễn biệt", nên phải "hờn" vì xa cách, phải "sự" vì "độ phai tàn sắp sửa", cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vậi thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương "vội vàng" của tạo vật. Với Xuân Diệu hầu như cuộc sông nơi “vườn trần" đều ít nhiều mang "bi kịch" về thời gian:
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt".
Cũng là, “gió” ", là "chim".:, nhưng gió khẽ "thì thào" vì "hờn", còn "chim" thì bỗng ngừng hót, ngừng reo vì "sợ"! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lí giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian:
“Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?"
Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì "mùa chưa ngủ chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
"Chẳng bao giờ ôi chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm".
Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh":
"Xuân xanh chưa dễ hai phen lại
Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên".
(Bài số 3)
"Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm".
(Bài số 7)
Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong “Vội vàng" về màu thời gian, về sắc thời gian, về tuổi trẻ. Thật yêu đời, thật ham sống.
Mở đầu bài thơ là cái tôi hăm hở "tôi muốn tắt nắng đi". Kết thúc bài thơ là "ta", là mọi tuổi trẻ. Một sự hòa nhập và đồng điệu trong một đời người, trong dòng chảy thời gian: sống mãnh liệt, sống hết mình, sống nồng nàn say mê. Nghệ thuật trùng điệp trong diễn tả gợi lên cái ham hố, yêu đời. Ngôn từ đậm màu sắc cảm giác, xúc giác, rạo rực: "Ta muốn ôm", "Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thâu…
"Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơm mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong mỗi cái hôn nhiều
Và non nước, và cây và cỏ rạng".
Sống cũng là để yêu, yêu hết mình. Thơ hay vì màu sắc lãng mạn. Vì giọng thơ sôi nổi. Nghệ thuật "vắt đồng" với ba từ "và" đồng hiện trong một dòng thơ làm nổi bật cảm xúc. Say mê vồ vập cảnh đẹp, tình đẹp nơi vườn trần. Tất cả mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc, xuân hồng… đều là nỗi niềm khao khát của thi nhân:
"Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!".
Sống vội vàng không có nghĩa là sống gấp, sống ích kỉ trong hưởng thụ. "Vội vàng" thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yêu; tình yêu lứa đôi, tình yêu tạo vật. Tình cảm ấy đã thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ, cấp tiến. Bảy thập kỉ sau bài thơ "Vội vàng" ra đời, nhiều câu thơ của Xuân Diệu vẫn còn làm cho không ít người ngỡ ngàng! Xuân Diệu đã sống "Vội vàng" như vậy. Với hơn 50 tác phẩm, hơn 400 bài thơ tình, ông đã góp phần làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại.
Bài thơ "Vội vàng" cho thấy một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, rất nhân văn, một giọng thơ sôi nổi, dâng trào và lôi cuốn, hấp dẫn. Có chất xúc giác trong thơ. Có cách dùng từ rất bạo, cách câu trúc câu thơ, đoạn thơ rất tài hoa. "Vội vàng" tiêu biểu nhất cho "Thơ mới", thơ lãng mạn 1932-1941.
Nhà thơ Xuân Diệu đã đi vào thế giới vĩnh hằng những tao nhân mặc khách, nhưng ta vẫn cảm thấy ông đang hiện diện giữa cuộc đời và hát ca:
-"Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"
-"Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi… "
(Giục giã)
|
Bình giảng bài thơ Vội vàng của thi sĩ Xuân Diệu
| 1,527
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
Bài làm
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biếu nhất cúa phong trào thơ mới 1932-1945. Trong “Thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình Hoài Thanh đã viết: “Với Thể Lữ, thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới”. Bài thơ “Vội vàng” đã minh chứng cho nhận xét thiên tài đó.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Bốn câu thơ mở đầu nói cái ước muốn giữ mãi vè đẹp cùa những chốn trần gian. Rồi nhà thơ cầm tay chúng ta và náo nức chỉ những cảnh thật đáng yêu đang phô bày ra trước mắt:
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này dây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa.
Một bức tranh tuyệt tác của Tạo hóa có màu sắc tươi mát (xanh rì), có âm thanh vui (khúc tình si) và chứa chan ánh sáng. Trái đất ta đang sống quả là một Thiên đường! Và trong Thiên đường đó, đáng yêu nhất là hình ánh:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Nghệ thuật xưa coi thiên nhiên là chuẩn của cái đẹp, cho nên Nguyễn Du viết: “Làn thu thủy, nét xuân sơn”.
Vẻ đẹp của đôi mắt nàng Kiều được so sánh với làn nước mùa thu; lông mày nàng Kiều được so sánh với nét núi thanh tú của mùa xuân. Nghệ thuật Xuân Diệu ngược lại, coi con người là chuẩn của cái đẹp, cho nên mới có câu thơ xuất thần đó đem so sánh thiên nhiên với con người.
Đang vui. nhà thơ bỗng giật mình:
“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa”.
Câu thơ bị bẻ gãy làm hai, nói lên cái lo sợ của con người khi nhận ra một sự thật đau đớn:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Xuân ờ đây có hai nghĩa: Vừa là mùa xuân – mùa đẹp nhất trong năm. vừa là tuổi xuân – tuổi đẹp nhất của đời người. Cụm từ “Nghĩa là” lặp lại ba lần như một sự hoảng hốt khi hiểu ra một qui luật: Tuổi xuân chỉ có một thời; con người không thế trẻ mãi đề tận hưởng niềm vui sướng của chôn “vườn trần” này.
Nhà thơ lên tiếng hỏi cảnh vật:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Thì ra không chỉ thi nhân mà thiên nhiên tươi thắm kia cũng đang tiếc nuối mùa xuân sẽ đi qua, sẽ trôi qua, thời gian một đi không trỏ lại.
Trước quy luật nghiệt ngã đó của tạo hóa, con người phải làm gì? Cái ước mong “tắt nắng”, “buộc gió" là không thế thực hiện được. Thi nhân đã gợi cho chúng ta một cách sông mới mẻ:
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muôn riết mây đưa và gió lượn
Ta muôn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã dầy ánh sáng
Cho no né thanh sắc của thời tươi.
– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Đây là đoạn thơ nồng cháy nhất, hay nhất của bài thơ vì cảm xúc của thi nhân đã đạt đến cao trào.
Tác giả đã nhân cách hóa thiên nhiên, làm cho thiên nhiên hiện lên như một người đẹp đầy vẻ hấp dẫn. Cách dùng đại từ đã khác so với phần mở đầu trên dùng đại từ nhân xưng ngôi t hứ nhất số ít (tôi) một cách dè dặt coi đây lại dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều vì qua sự truyền cảm của bài thơ đã hòa điệu tâm hồn cùng bạn đọc. Sự “vội vàng” của thi nhân cũng phát triển dần qua cách sử dụng các động từ: “ôm” đã thân thiết, nhưng “riết" còn mạnh mẽ hơn đến “say” thì đã nồng nàn, và đến “thâu” thì đã thu tất cả mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu vào trong tâm hồn mình.
Câu kết đã gói trọn tâm tình của thi nhân:
“Hỡi xuân hồng, ta muốn căn vào ngươi!”
Nghệ thuật làm thơ khó nhất là viết câu cuối cùng. Nó phải nâng cao xúc cảm phải chứng tỏ rằng sự vận động của tứ thơ đến đây là hết không thể viết thêm một câu nào nữa. Xuân Diệu đã thật cao tay khi viết câu thơ trên. “Cần” là tột đỉnh cùa sự cuồng nhiệt, sự nồng cháy cùa cảm xúc. Câu thơ cảm thán như một tiếng kêu sung sướng, thỏa mãn vì tâm hồn đã “chếch choáng”, "đã đầy”, đã “no nê” khoái lạc của thiên đường trên mặt đất.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều điệp từ: “ta muốn”, “và”, “cho” làm cho nhịp thơ đoạn cuối trở nên dồn dập, diễn đạt rất đúng tâm trạng cúa con người “vội vàng”.
Thi phẩm này quả là một bài thơ hay, rất tiêu biểu cho phong cách tài hoa, phong tình lãng mạn của Xuân Diệu — nhà thơ mới nhất của phong trào thơ mới.
“Vội vàng’’ bộc lộ một nhân sinh quan lành mạnh. Đó là tình yêu đời, là cách sống chân thành, sống hết mình vì một cuộc đời dầy ý nghĩa.
Quả thật, “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chôn nước non lặng lẽ này’’ (Hoài Thanh).
|
Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
| 979
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Xúc cảnh của Nguyễn Đình Chiểu
Bài làm
Bài thơ "Xúc cảnh" còn có một cái tên nữa: "Ngóng gió đông". Nhan đề ấy do người đời sau đặt ra, vốn là lời cảm khái của nhân vật Đường Nhập Môn trong truyện thơ "Ngư Tiều y thuật vấn đáp". Mượn chuyện chữa bệnh cứu người, Nguyễn Đình Chiểu kín đáo gửi gắm nỗi niềm tâm sự u uất về vận nước đen tối và cảnh lầm than của dân tộc. Tác giả viết "Ngư Tiều y thuật vấn đáp" trong những năm cuối của đời mình, và sau khi đất Lục tỉnh Nam Kì đã rơi trọn vào tay giặc Pháp.
"Xúc cảnh" là một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú mang vẻ đẹp toàn bích, cổ kính và trang nghiêm. Qua một hệ thống tượng trưng với những ẩn dụ, nhà thơ mù Gia Định đã bày tỏ một cách cảm động niềm đau vong quốc và nỗi mong phục quốc khi đồng bào và quê hương "Đều mắc hại cùng cờ ba sắc".
Hai câu đề là nỗi chờ mong:
"Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa xuân đâu hỡi có hay không?".
Hoa cỏ đang tàn lụi mong ngóng gió đông (gió mùa xuân) thổi về để được hồi sinh. Chúa xuân-chúa của muôn loài có thấy nỗi chờ mong ấy? Câu hỏi tu từ diễn tả nỗi khắc khoải ngóng trông, có ít nhiều trách móc, vì ngóng mãi trông hoài rồi. Câu thơ mang hàm nghĩa. Hoa cỏ là một ẩn dụ, là cách nói của nho gia, của các nhà thơ xưa, chỉ sĩ phu và dân chúng. "Ngùi ngùi" là buồn lặng, buồn lâu, là sự héo hon tàn lụi. Có ngóng có trông đã nhiều ngày đêm mới có tâm trạng “ngùi ngùi" đau đáu ấy. Chúa xuân là ai, ở đâu và có hay không? Chúa xuân được nói rõ ở câu 7, ấy là Thánh đế, trong tâm hồn nhà thơ là một ông vua lí tưởng, ra tay dẹp loạn, cứu nước yên dân. Hai câu đầu gợi tả cảnh tang thương của đất Nam Kì và nỗi đau thương khắc khoải chờ mong của đồng bào Lục tỉnh, mà tác giả nhiều lần nói tới: "Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa" (Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc) hoặc "Cỏ cây đưa nhánh đón đường – Như tuồng muốn hỏi Đông Hoàng ở đâu?" (Ngư Tiều y thuật vấn đáp), vần thơ tuy chỉ nói hoa cỏ nhưng tràn ngập tình cảm thương xót nhân dân lầm than. Đó là chất thơ thâm trầm, đậm đà bản sắc cổ điển.
Phần thực mở rộng và khắc sâu ý thơ: "Ngóng gió đông" ở hai câu đề:
"Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn,
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng".
Ải Bắc thì "mây giăng mù mịt". Trông mãi trông hoài tin nhạn – một đạo hùng binh từ ải Bắc kéo vào. Nhưng ở non Nam, chờ đợi mãi, bao tháng ngày đã trôi qua, ngày đã "xế"… trong cảnh hoàng hôn vẫn "bặt tiếng hồng". Ải Bắc và non Nam là hai miền đất nước, là xứ sở quê hương. Nhạn và hồng (ngỗng trời), trong thơ văn cổ, là loài chim đưa tin, là biểu tượng cho tin tức. "Trông tin nhạn" với "bặt tiếng hồng" đối nhau làm nổi bật sự ngóng và trông đến tuyệt vọng. Đó là nỗi lòng của đồng bào Lục tỉnh và thảm cảnh của đất nước ta trước và sau năm 1884. Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ mù đầy mẫn cảm. Trong thơ ông, những từ như "ngóng", "trông", "chừng nào", "đợi" mang nhiều ám ảnh và đầy tâm trạng:
"Nhớ câu vạn bệnh hồi xuân,
Đôi ngày luống đợi Đông quân cứu đời?".
(Ngư Tiều y thuật văn đáp)
Nguyễn Đình Chiểu còn "trông tin nhạn", còn "luống đợi Đông Quân cứu đời"… nhưng hơn 20 năm sau, Yên Đổ thao thức giữa đêm thu và bồn chồn, ngơ ngác hỏi: "Một tiếng trên không ngỗng nước nào" (Thu vịnh).
Giọng thơ từ thương cảm nghẹn ngào ở bốn câu đầu chuyển thành căm thù uất hận, vang lên như một lời thề nung nấu ở phần luận. Cách ngắt nhịp 3/4 tạo thành một biến tấu đầy rung động:
"Bờ cõi xưa /đà chia đất khác,
Nắng sương nay /há đội trời chung".
"Bờ cõi xưa" là Tổ quốc ngàn đời "dù chia đất khác" đã bị quân thù giày xéo, đã bị Triều đình cắt cho giặc Pháp ba tỉnh miền Đông, rồi cắt nốt ba tỉnh miền Tây, dâng nộp cho chúng. "Nắng sương" là ngày, đêm. "Há" – tiếng cổ, nghĩa là quyết không thể. "Há đội trời chung" là quyết không đội trời chung với giặc Pháp. Cũng là cách nói truyền thống biểu lộ một tinh thần quyết tử trong thơ văn cổ. Trong phần luận bài thơ này là một lời thề trang nghiêm. Trong "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", ông đã nguyền: ''Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia…". Thái độ quyết liệt ấy còn được thể hiện ở sự chối từ của nhà thơ khi chính quyền thực dân hứa trả lại ruộng cho ông, ông đã dứt khoát bảo chúng: "Đất chung còn bị mất, đất riêng còn có được sao? Thái độ quyết không đội trời chung với giặc của Nguyễn Đình Chiểu, của các chiến sĩ yêu nước mãi mãi là bài học về lòng trung nghĩa cho mỗi chúng ta.
Nếu ở câu 1 là "Ngón gió Đông", câu 3 là "trông tin nhạn", thì hai câu trong phần kết là một tiếng hỏi, một lời chất vấn, là một sự mong đợi:
"Chừng nào Thánh đế ăn soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông".
Câu thứ 2 hỏi: "Chúa xuân đâu hỡi có hay không?", hỏi bằng một ẩn dụ. Câu thứ 7 trực tiếp hỏi: "Thánh đế" tức là hỏi vua. Đằng sau câu hỏi là một lời trách nhà vua chưa "soi thấu", chưa hết lòng vì nước vì dân. Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho, cho nên trong cảnh "súng giặc đất rền", tâm hồn ông trước sau vẫn hướng về một "Thánh đế", một "Đông quân", một "Đông hoàng". Vua đã phản bội đầu hàng rồi, còn đâu "Thánh đế" nữa? Đó là một hạn chế của thời đại mà Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho khó lòng vượt qua.
Câu thứ 8, niềm mơ ước được thể hiện qua hình ảnh ẩn dụ "một trận mưa nhuần". Trận mưa ấy "rửa núi sông", rửa sạch hận thù, rửa sạch nỗi đau, nỗi nhục mất nước, rửa sạch "mùi tinh chiên vấy vá"… mùi dơ bẩn của loài dê chó, của lũ sài lang. Đất nước trở lại thanh bình, hoa cỏ được hồi sinh, nhân dân được sống trong yên vui hạnh phúc là mơ ước của ông.
Tóm lại, "xúc cảnh" là một bài thơ cổ điển kiệt tác. Một hệ thống ẩn dụ tượng trưng tạo nên tính đa nghĩa của bài thơ. Nỗi niềm chờ trông mong đợi, một quyết tâm không đội trời chung với giặc, lúc cảm thương, khi căm giận, giọng điệu đa thanh, biến hoá, vô cùng xúc động, tạo nên hồn thơ Nguyễn Đình Chiểu. "Xúc cảnh" đích thực là một bài ca yêu nước, thể hiện tâm hồn trung nghĩa của nhà thơ mù miền Nam mãi mãi vằng vặc như sao Bắc Đẩu.
|
Bình giảng bài thơ Xúc cảnh của Nguyễn Đình Chiểu
| 1,268
| |
Đề bài: Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Bài làm
Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? Cả một thế giới trăng trong thơ ông:
Trăng nằm sóng soài trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi..”
("Bẽn lẽn").
"Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quỳ
Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu".
(“Hãy nhập hồn em")
"Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn".
(Đêm không ngủ)
Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng, sóng trăng… Cả một thế giới trăng mộng ảo, huyền diệu. Thơ Hàn Mặc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện một tâm hồn "say trăng" với tình yêu tha thiết cuộc đời, vừa thực vừa mơ. Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong trào Thơ mới (1932 – 1941). Với 28 tuổi đời (1912 – 1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng trăm bài thơ và một số kịch thơ đặc sắc. Thơ của ông như trào ra từ máu và nước mắt, có không ít hình tượng kinh dị. Cũng chưa ai viết hay về mùa xuân và thiếu nữ ( mùa xuân chín), về Huế đẹp và thơ (Đây thôn Vĩ Dạ) như Hàn Mặc Tử.
"Đây thôn Vĩ Dạ" rút trong "Tập thơ Điên" xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ đã qua đời. Bài thơ nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái duyên dáng, đa tình, đáng yêu. Hàn Mặc Tử đã viết về một tình yêu – tình yêu đơn phương thơ mộng đắm say, lung linh trong sáng đến huyền ảo. Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng khuâng, một khát khao về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Dạ.
Câu đầu "dịu ngọt” như một lời chào mời, vừa mừng vui hội ngộ, như vừa nhẹ nhàng trách người thương xiết bao thương nhớ, đợi chờ. Giọng thơ êm dịu, đằm thắm và tình tứ: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?". Có mây xa xôi. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm. Bao kỉ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ:
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?".
Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp nơi thôn Vĩ. Nhìn từ xa, thi nhân say mê ngắm nhìn những ngọn cau, tàu cau ngời lên dưới màu nắng mới, "nắng mới lên" rực rỡ. Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc của thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay. Hàng cau như chào mừng, như vẫy gọi.
Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược Vĩ Dạ: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Sương đêm ướt đẫm cây cỏ, hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, hóng lên dưới ánh mai hồng, trông "mướt quá" một màu xanh ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu thuận hòa, con người cần cù chăm bón mới có màu sắc "xanh như ngọc" ấy. Thiên nhiên như rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: "Để trời xanh ngọc qua muôn lá…" ("Thơ duyên”). Hai chữ "vườn ai" gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác bâng khuâng. Câu thơ thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn xuân: "Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Mặt trái xoan, mặt hoa da phấn, khuôn mặt búp sen là vẻ đẹp của giai nhân. Mặt chữ điền là gương mặt đầy đặn, vuông vắn, phúc hậu. ”Lá trúc che ngang là một nét vẽ thần tình đã tô đậm một nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu. Hàn Mặc Tử hơn một lần nói về trúc và thiếu nữ. Khóm trúc như tỏa bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nở:
"Thầm thì với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây"
( Mùa xuân chín)
Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ, thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ (xanh như ngọc…, mặt chữ điền), cảnh và người nơi Vĩ Dạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu.
Vĩ Dạ – một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Dạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đây thường dìu dặt câu hát Nam ai, Nam bình, qua tiếng đàn tranh, đàn tam thập lục huyền diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Dạ đẹp nên thơ. Hàn Mặc Tử đã đành cho Vĩ Dạ vần thơ đẹp nhất với tất cả tấm lòng tha thiết mến thương. Xa cách Huế và Vĩ Dạ đã bao năm tháng rồi. Thế mà cảnh sắc và con người nơi thôn Vĩ vẫn được nhà thơ ôm ấp trong lòng, càng trở nên lung linh, biểu lộ niềm ước mong tha thiết được trở lại cố đô thăm cảnh cũ người xưa. Bức tranh tâm cảnh đã được thể hiện một cách tài hoa qua bức tranh thân Vĩ hữu tình nên thơ.
Khổ thơ thứ hai nói về cảnh mây trời, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn. Nghệ thuật đối tạo nên bốn phiên cảnh hài hoà, cân xứng và sống động. Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần đây mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm đềm trôi lững lờ, trong tâm tưởng thi nhân trở nên "buồn thiu", nhiều bâng khuâng man mác. Hoa bắp lay, nhè nhẹ đung đưa trong gió thoảng. Nhịp điệu khoan thai, thơ mộng của miền sông Hương núi Ngự được diễn tả rất tinh tế! Các điệp ngữ luyến láy gợi nhiều vương vấn mộng mơ. Ngoại cảnh mênh mang chia lìa… như nỗi lòng, như tâm tình thi nhân vậy:
"Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay".
Hai câu tiếp theo, nhà thơ hỏi "ai" hay hỏi mình khi nhìn thấy, hay nhớ tới hình ảnh con đò nằm mộng bến sông trăng. Sông Hương quê em trở thành "sáng trăng". Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Dạ đã sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với những con đò dưới vầng trăng. Nguyễn Công Trứ đã từng viết: "Gió trăng chứa một thuyền đầy". Hàn Mặc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một vần thơ trăng độc đáo:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền. Thuyền em hay "thuyền ai" vừa thân quen, vừa xa lạ. Chất thơ mộng ảo trong "Đây thôn Vĩ Dạ” là ở những thi liệu ấy. Câu thơ gợi tả một hồn thơ đang rung động trước vẻ đẹp thơ mộng của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng, thơ mộng và thoáng buồn, ở đây bức tranh tâm cảnh tràn ngập ánh trăng, thấm thía một nỗi buồn cô đơn li biệt của khách đa tình.
Khổ thơ thứ ba nói về cô gái Huế và tâm tình thi nhân. Đương thời, nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về thiếu nữ sông Hương: ''Những nàng thiếu nữ sông Hương – Da thơm là phấn, má hường à son…”. Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà lắm sương khói. "Sương khói" trong Đường thi thường gắn liền với tình cố hương, ở đây sương khói đã làm nhòa đi, mờ đi áo trắng em, nen anh nhìn mãi vẫn không nhận ra dáng hình em (nhân anh). Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa. Thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, bâng khuâng. Ta đã biết Hàn Mặc Tử từng có một mối tình đẹp đơn phương với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp. Phải chăng nhà thơ nói về mối tình này?
"Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trăng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà".
"Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có…" các điệp ngữ và luyến láy ấy tạo nên nhạc điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang. Sự cách biệt và nỗi buồn xa vắng chia li như kéo dài trong không gian và thời gian vô tận. Người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với mối tình đơn phương nhưng suốt đời phải sống trong cô đơn và bệnh tật.
Cũng cần nói một đôi lời về chữ "ai" trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ "ai" xuất hiện đều mơ hồ, ám ảnh: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc?" – "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?" – "Ai biết tình ai có đậm đà?". Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm, bâng khuâng. Nhà thơ luôn luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi vơi trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ ảo cùng sương khói?.
Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay và cảm động, cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ,… bao hình ảnh và cảm xúc đẹp mà buồn hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. "Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơ tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, con thuyền ai đậu bến sông trăng, và cái màu trắng của áo em như dẫn hồn ta đi về miền sương khói Vĩ Dạ thôn một thời xa vắng, tìm lại bóng giai nhân, thương nhớ nhà thơ tài hoa, đa tình mà mệnh bạc. Bức tranh tâm cảnh trong "Đây thôn Vĩ Dạ" vương vấn mãi lòng ta. Nhà thơ Thu Bồn đã nói hộ lòng ta:
"Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực mà nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô".
(Tạm biệt)
|
Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
| 1,852
| |
Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi văn học 12
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi văn học 12
Cảm hứng về đất nước luôn là cảm hứng của biết bao nhiêu thế hệ nhà thơ. Đất nước luôn là tiếng gọi thiêng liêng nhất mà mỗi nhà thơ đều dùng những từ ngữ hay nhất để nói về. Góp phần làm giàu thêm đề tài này Nguyễn Đình Thi đã mang đến cho nền văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp bài thơ mang tựa đề Đất Nước. Có thể nói bài thơ đã gửi gắm hết những tâm tư tình cảm của Nguyễn Đình Thi đối với đất nước mình. Mặt khác chúng ta hiểu thêm về định nghĩa đất nước và sự đứng lên của nhân dân.
Bài thơ đất nước được ghép từ hai bài thơ khác nhau. Đó là sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và đêm mít tính (1955). Tuy có sự chắp ghép thế nhưng khi đọc lên ta không hề thấy sư rời rạc. Nó liền mạch cảm xúc thành một bài thơ về đất nước thực sự.
Mở đầu tác phẩm Nguyễn Đình Thi viết về cảm xúc của mình khi nhớ về mùa thu Hà Nội:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
Mùa thu ấy đã xa, và ngày hôm nay khi đứng ở chiến khi Việt bắc nhà thơ chạnh lòng nhớ mùa thu Hà Nội xưa. Có lẽ là do sáng nay mát trong như sáng năm xưa ở Hà Nội. Mùa thu đến mang theo hương cốm mới trong làn gió thu se lạnh nhẹ nhàng. Cái cảm giác ấy lại càng làm cho nhà thơ nhớ về mùa thu hà Nội. Đó là kỉ niệm một buổi sáng chớm lạnh, những con phố dài xao xác hơi gió heo may. Trong hoàn cảnh người chiến sĩ ra đi không ngoảnh đầu lại nhưng vẫn biết sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Hành động không ngoảnh lại thể hiện cho lý tưởng của nhà thơ với cách mạng. Quyết ra đi gìn giữ đất nước này, không ngoảnh đầu lại để không thấy nước mắt của người ở lại rơi.
“Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha”
Mùa thu nay không còn vẻ buồn ảm đạm như mùa thu chia li trước. Nó là mùa thu vui tươi. Nhà thơ đứng giữa núi đồi nghe tiếng vui theo làn gió thu mang về. Rừng tre phấp phới hay chính lòng người đang phấp phới. Nhà thơ vui vẻ trong tiếng cười nói thiết tha.
Đến đoạn thơ tiếp theo nhà thơ khẳng định chủ quyền đất nước mình. Đất nước tồn tại trong những cái hữu hình và trong cả những cái vô hình nữa:
“Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về!”
Các hình ảnh lần lượt được nhà thơ liệt kê kết hợp với điệp từ “của chúng ta” đã nhấn mạnh rằng những hình ảnh trời xanh, núi rừng, cánh đồng thơm mát và những ngả đường bát ngát kia là của chúng ta. Những hình ảnh hữu hình ấy thể hiện được đất nước tồn tại trong chính những gì là hữu hình, là đất đai sông núi mà bấy lâu nay ta vẫn ở. Điều đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ vùng trời vùng đất vùng biển của ta. Không chỉ tồn tại ở những cái hữu hình mà đất nước còn tồn tại ở những cái vô hình. Đó chính là những linh hồn của con người Việt Nam. Nước chúng ta những con người chưa bao giờ khuất. Dẫu có chết đi thì cũng chỉ về với đất mẹ kính yêu ngày đêm những linh hồn ấy vẫn thì thầm trong tiếng đất.
Sau hoàn cảnh ra đi, sau mùa thu tươi vui rạo rực, sau những lời khẳng định về chủ quyền đất nước ta Nguyễn Đình Thi đi vào thể hiện sự đứng lên của nhân dân ta từ những năm tháng đau thương:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Từ những năm đau thương chiến đấu
Ðã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Ðã bật lên những tiếng căm hờn”
Cảnh tượng dây thép của quân thù như tố cáo tội ác của chúng đối với nhân dân ta. Cánh đông quê hương yên bình là thế nhưng lại bị chúng biến thành cánh đồng máu. Hay cũng có thể nhà thơ nói cách điệu đó là trời khi hoàng hôn buông xuống mang một màu đỏ máu dữ dội. Những người lính ngày đêm nung nấu chiến đấu bảo vệ tổ quốc thì bỗng bồn chồn nhớ đôi mắt của người yêu. Từ những năm tháng thương đau nhân dân ta đã chuyển tư những người chỉ biết đến gốc lúa củ khoai đã bật lên tiếng căm hờn.
Nhà thơ nói lên những tội ác mà chúng đã đang tâm làm với nhân dân ta. Đó cũng chính là những đau thương mà ông cha ta phải chịu.Những người nông dân hiền lành chất phác quanh năm chỉ có biết đến ruộng nương nhưng cuối cùng cũng không thể nhịn được chúng:
“Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc Tây, thằng chúa đất
Ðứa đè cổ, đứa lột da…”
Chúng đến không chỉ cướp tài nguyên của đất nước ta mà chúng còn biến nhân dân ta thành nô lệ. Bát cơm chan đầy nước mắt mà chúng còn ác tâm giằng khỏi miệng ta. Thằng giặc tây ấy nhân dân ta chỉ muốn đè cổ ra mà lột da xẻ thịt.
Nhân dân ta tuy hiền hậu như thế nhưng khi đã bật lên những tiếng căm hờn thì chúng cũng không thể nào ngăn chúng ta được:
“Xiềng xích chúng bay không khóa được
Trời đầy chim và đất đầy hoa
Súng đạn chúng bay không bắn được
Lòng dân ta yêu nước thương nhà!”
Xiềng xích của chúng bay không thể nào khóa được ý chí con người Việt nam ta. Chúng bay có xiềng xích được thân thể cũng không thể nào khóa luôn tinh thần ta được. Trời đầy chim và đất đầy hoa thể hiện con người Việt Nam chống lại chúng rất nhiều. Súng đạn của chúng bay có nhiều có nã liên tục thì cũng không thể bắn hết được người Việt Nam yêu nước.
“Khói nhà máy cuộn trong sương núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nước những người áo vải
Ðã đứng lên thành những anh hùng.
Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”
Tiếng kèn gọi quân như thúc giục những người lính lên đường. Đó la không khí hồ hởi hăng say, chuẩn bị tinh thần để bước vào trận đấu một mất một còn. Những người áo vải chân chất giờ đã đứng lên thành những anh hùng. Biết rằng ra chiến trận là nguy hiểm là mỗi bước đều gian nan vất vả thế nhưng nhân dân ta rực sáng về một tương lai tốt đẹp lại hào hứng và quyết tâm dù hi sinh cũng phải dành lại độc lập cho dân tộc. Vậy là nhân dân ta đứng lên với hình ảnh súng nổ rung trời giận dữ. Những người lính áo vải ấy ra chiến trận mang theo những đau thương và nhưng hi vọng về ngày mai. Người lên như nước vỡ bờ. Nước Việt nam ta đưng lên từ máu lữa rũ bùn đứng dậy khiến cho quân thù phải khiếp sợ.
Như vậy bằng giọng văn khi thắm thiết thân thương, khi vui tươi nhung nhớ, lúc lại căm thù giận dữ, rồi hào hùng khí thế nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã mang đến cho chúng ta một hình ảnh đất nước từ những đau thương tủi nhục đến một đất nước đứng lên với hình ảnh sáng lòa. Áp bức thì sẽ có đấu tranh chính vì thế mà bọn thực dân kia ác đến đâu thì nhân dân ta lại kiên cường đứng lên đến đấy.
|
Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi văn học 12
| 1,481
| |
Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi
Đình Thi là một người có nhiều tài năng như là vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn, làm thư… Và ở lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu xuất sắc nhưng đáng kể đến nhất đó chính là thơ ca. Trong thơ ông chứa đựng nhiều suy tư và cảm xúc về chiến tranh, về con người tình yêu đất nước. Đặc biệt ông có bài thơ đằm thắm và thiết tha khi viết về quê hương đất nước trong đau thương đã vùng lên chiến đấu và giành thắng lợi. Và Đất Nước là một bài như thế.
Đất nước là cảm hứng thi ca mang tính chất tổng hợp về chủ Đất Nước, đó là cảm xúc về mùa thu Hà Nội, chiến khu Việt Bắc và cao hơn nữa đó là những cảm xúc về ca dao cho đất nước từ trong thương đau.
Trước hết tới với những câu thơ đầu tiên nói về cảm xúc của mùa thu Hà Nội, đó là những câu thơ mang chan chứa tình cảm yêu thương và gắn bó của nhà thơ đối với quê hương mình:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi màu thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thèm nắng lá rơi đầy”
Câu thơ mở ra với không gian buổi sáng sớm tinh khôi. Tác gỉa đang đứng ở chiến khu Việt Bắc và nhớ tới những tháng năm xưa ở Hà Nội. Mùa thu Hà Nội hiện lên có cả cảnh vật và cả con người. Cảnh vật lúc đó có cái chớm lạnh, chớm ở đây có nghĩa là chỉ mới se lạnh thoảng những cơn gió. Đây chính là khoảnh khắc giao mùa và phải chăng đây chính là cái lạnh tỏa ra từ lòng người? Đến với câu thơ “ Những phố dài xao xác hơi may”, tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng biện pháp đảo trật tự cú pháp cộng với từ láy tượng thanh, từ “xao xác” thể hiện cái buồn nhẹ của buổi chiều heo may.
Sang ở đoạn thơ thứ hai, nhà thơ đã thể hiện cảm xúc của mình về mùa thu hiện tại ở chiến khu việt Bắc:
“Mùa thu nay đã khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc tiếng nói cười thiết tha”
Câu thơ giống như lời chuyển đọan về cảm xúc của mùa thu. Cùng là một mùa thu nhưng ở chiến khu Việt Bắc tác giả cảm thấy lòng mình vui đến là, đó là tiếng vui reo của mùa thu đất trời tự do. Nó thể hiện được sự phấn chấn của thi nhân trước những đổi thau của đất nước. Ba câu thơ sau tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hóa,nhà thơ đã khoác lên mùa thu một chiếc áo mới được dệt bằng niềm hạnh phúc và sự tự do.
Ở câu cuối cùng có sự kết hợp giữa âm thanh và giai điệu để có thể mở ra một không gian rộng lớn hơn.
“ Trời xanh đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”
Bằng các điệp ngữ cùng với các thủ pháp điệp,nhà thơ đã khẳng định được chủ quyền của đất nước. đó là đất,là trời, là dòng sống đỏ nặng phù sa…tất cả đều là truyền thống chiến đấu quý báu của dân tộc ta. Và ở đoạn thơ này đã khắc họa rõ nét nhất về khí thế mới tươi vui của dân tộc và náo nức phấn chấn tự hào về đất nước
Sang phần đoạn thơ sau đó là hình ảnh về đất nước ta từ trong đau thương tiến lên đấu tranh giành được chiến thắng.
Đầu tiên đó là hình ảnh đất nước ở trong đau thương, tác giả bắt đầu bằng những câu thơ có sức gợi tả cao:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Bọn thực dân đã làm cho những cánh đồng quê của chúng ta chảy máu, đó là máu của hoàng hôn hay là tội ác của quân giặc làm nhuốm máu của đồng bào ta. Con đường hành quân của chúng ta đầy rẩy những bẫy của kẻ thù, những đồn bốt của địch. Những đồn ấy có những hàng thép gai đâm nát cả trời chiều, nó in đậm lên cả nền trời. Rồi những đêm dài trên đường hành quân làm cho những người chiến sĩ yêu nước nhớ tới mắt người yêu của mình.
Đất nước hiện lên khi đau thương nhưng từ cái đau thương ấy đất nước ta lại vùng lên để chiến đấu anh dũng hơn:
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn”
Đất nước nhân dân ta phải chịu nhiều đắng cay tủi nhục
“bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta”
Đó là những tiếng khóc, tiếng than xé đau lòng, sự ngang tàng ấy đã làm cho dân ta thấy căm hờn, căm hờn đó nhân rộng ra cả một dân tộc, cả dân tộc đó đang rên xiết ở dưới mũi giày của chúng. Nhân dân ta quanh năm chỉ biết đến với lũy tre làng nhưng khi chúng đã xâm phạm tới thì những gốc lúa bờ tre ấy cũng quật lên để khởi nghĩa.
Và những người áo vải đã đứng lên thành anh hùng:
“Ôm đất nước những người áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng”
Dẫu biết rằng có thể hi sinh ngoài mặt trận nhưng mà nghĩ đến đất nước độc lập thì ý chí của những người chiến sĩ lại rực sáng lên soi sáng ngọn lửa đấu tranh. Đoạn thơ cuối chính là hình ảnh quật khởi chiến thắng của nhân dân ta. Một loạt việt Nam đau thương đứng lên khởi nghĩa có âm thanh của tiếng súng và tức nước thì vỡ bờ, người áo vải đã rũ bùn đứng dậy sáng lòa:
“Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
Qua đây chúng ta có thể thấy được Nguyễn Đình Thi đã mang tới cho chúng ta một hình ảnh về đất nước vô cùng tươi đẹp, đó là một đất nước trải qua nhiều thương đau nhưng cuối cùng cũng thành công, mang đến niềm hi vọng vào tương lại tươi sáng hơn.
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi
| 1,152
| |
Bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’
Hướng dẫn
Hồi hương ngẫu thư
Hạ Tri Chương (659 – 744)
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?
Dịch thơ.
Khi đi trẻ, lúc về già,
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
Phạm Sĩ Vĩ dịch Trẻ đi, già trở lại nhà,
Giọng quê không đổi, sương pha mái đẩu.
Gặp nhau mà chẳng biết nhau,
Trẻ cười, hỏi: ‘Khách từ đâu đến làng?’
Trần Trọng San dịch
Gợi ý phân tích
Hạ Tri Chương (659 – 744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, là bạn vong niên của Thi tiên Lí Bạch. Quê ông ở Cối Kê, thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Đậu tiến sĩ năm 36 tuổi, là đại quan của triều Đường, được hoàng đế Đường Thái Tông và quần thần trọng vọng.
Thơ của Hạ Tri Chương thanh đạm, nhẹ nhàng, gợi cảm, biểu lộ một trái tim hồn hậu đáng yêu. ‘Hồi hương ngẫu thư’ là bài thơ xuất sắc của ông, được nhiều người truyền tụng. Tình yêu quê hương là cảm xúc chủ đạo của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt này:
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi dồng tương kiến, bất tương thức,
1. Câu thơ thứ nhất dùng thủ pháp tiểu đối nêu lên một cảnh ngộ: phải li biệt gia đình từ ấu thơ, sống nơi đất khách quê người, mãi đến lúc về già mới được trở về thăm cố hương:
‘Thiếu tiểu li gia II lão đại hồi’
(Khi đi trẻ, lúc về già)
‘Thiếu tiểu’với ‘lão đại’, ‘li gia’ với ‘hồi’ hương, đối nhau. Với Hạ Tri Chương, thời gian li biệt quê hương gia đình không chỉ 3 năm, 15 năm mà hơn nửa thế kỉ, gần suốt một đời người, sao không thương nhớ? Cảnh ngộ ấy là bi kịch của vị đại quan đời Đường trên con đường công danh? Với Hạ Tri Chương, công danh thì thành đạt, nhưng suốt cuộc đời phải ‘li gia’. Nỗi sầu ‘li gia’ là một trong những nỗi đau của đời người xưa nay.
Câu thơ thứ hai, tác giả một lẩn nữa sử dụng tiểu đối tương phản rất đặc sắc, để nói lên sự gắn bó thiết tha với quê nhà:
‘Hương âm vô cải II mấn mao tồi’
(Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu)
Suốt một đời xa quê, khách li hương giờ đây mái tóc đã bạc phơ, tóc mai đã rụng, nhưng ‘giọng quê’ (hương âm) vẫn không đổi thay! Chi tiết ‘hương âm vô cải’ (giọng quê không đổi) là một biểu hiện cảm động về tấm lòng tha thiết gắn bó với quê hương. Dòng sữa ngọt ngào, tiếng ru, tình thương của mẹ hiền, công ơn của mẹ cha, đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi đứa con. ‘Giọng quê’ chính là tâm hồn của mỗi con người yêu thương, gắn bó với đất mẹ quê cha. Chỉ có kẻ mất gốc, kẻ bạc tình mới thay đổi ‘giọng quê’, mới coi thường tiếng mẹ đẻ!
2. Hai càu cuối rất hóm hỉnh ghi lại một tình huống nói về một nghịch lí trong cuộc đời. Có câu hỏi và nụ cười hồn nhiên khi gặp ‘người khách lạ’:
‘Nhi đồng tương kiến bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?’
Kẻ đi xa, nay trở về làng đã trở thành khách lạ. Trẻ con gặp mà không biết. Thời gian xa quê dài dằng dặc bao năm tháng. Bạn bè tuổi thơ ngày xưa, ai còn ai mất? Vì thế mới có chuyên lạ đời:
‘Trẻ con nhìn lạ không chào,
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?’
Một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng để lại bao man mác, bâng khuâng trong lòng li khách. Vì cảnh ngộ mà phải xa quê. Tuổi già sức yếu vẫn trở lại cố hương. Tình yêu quê hương của Hạ Tri Chương mới thắm thiết biết bao! Tinh cảm ấy rất đẹp, rất chân thành: son sắt và thủy chung. Nhà thơ Tô’ Hữu đã từng viết:
„ Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về!’
(‘Nước non ngàn dặm’)
‘Hồi hương ngẫu thừ’của Hạ Tri Chương là một bài thơ hay, cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối rất thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, nói ít mà gợi nhiều, đem đến chongười đọc bao liên tưởng về bi kịch và nỗi lòng của khách li hương. Một hồn thơ thâm trầm, nhẹ nhàng và hồn hậu. Tình yêu thương và tấm lòng son sắt thủy chung của nhà thơ đối với quê hương thấm đẫm trên từng vần thơ.
‘Thơ là tiếng lòng trang trải…’, ‘Hồi hương ngẫu thư’là tiếng lòng của Hạ Tri Chương. Tiếng lòng ấy mới hồn hậu và đằm thắm biết bao!
|
Bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’
| 820
| |
Bình giảng bài thơ ‘Nguyệt’ của Trần Nhân Tông
Hướng dẫn
Trần Nhân Tông (1258 – 1308)
Bán song đãng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu dinh dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
Trăng
Bóng đèn soi nửa cửa đổ, sách đầy giường,
Sương thu rơi ngoài sân, ban đêm khí trời trống không, lặng lẽ.
Thức dậy, tiếng chày đập vải đã vắng ngắt,
Bóng trăng vừa hé gọi trên chùm hoa mộc.
Bên song, đèn rạng, sách đầy giường,
Khí lạnh, đêm thu, đượm giọt sương.
Thức dậy, tiếng chày đà lặng ngắt,
Trên chùm hoa mộc, nguyệt lồng hương.
(Bản dịch ‘Hoàng Việt thi tuyển’)
‘Nguyệt’là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Trần Nhân Tông (1258 – 1308), nhà vua anh hùng – thi sĩ của Đại Việt trong thế kỉ 13. Ta dự đoán, bài thơ có thể được viết khi đất nước ta đã ‘rửa sạch mấy lần giáp hĩnh’ bước vào một kỉ nguyên mới: ‘Giặc tan muôn thuở thanh hình’ (‘Bạch Đằng Giang phú’ – Trương Hán Siêu).
Bao trùm bài thơ là một không khí, một không gian nghệ thuật êm đềm, trong sáng và thơ mộng.
Bài thơ tả cảnh một đêm thu nơi cung cấm. Nhà vua không đắm chìm trong tửu sắc, không chuếnh choáng trong nhã nhạc, mà thức khuya đọc sách. Một không gian thoáng đãng: cửa sổ rộng mở, đầy ánh sáng, ánh sáng của ngọn đèn, ánh sáng của tri thức của trí tuệ. Hình ảnh ‘mãn sàng thư’ (sách đầy giường) đã thể hiện một tâm hồn, một cốt cách cần mẫn, cao nhã và hiếu học. Sử sách cho biết Trần Nhân Tông là một con người siêng năng, giản dị và thông tuệ. Một câu thơ, một con người:
(Bên song đèn rạng, sách đầy giường)
Sau này Lê Thánh Tông cũng sống đẹp như thế:
‘Trống dời canh còn đọc sách,•
Chiêng xế hóng chửa thôi chầu’
(Tự thuật)
Câu thơ thứ hai tả cảnh đêm thu. Sương rơi. Trời đêm trong sáng mênh mỏng, êm đềm lặng lẽ. Câu thơ lấy ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm phong phú, vô cùng thư thái. Nhà vua vừa đọc sách vừa nghe tiếng sương thu nhẹ rơi ngoài sân. Câu thơ thứhai đượm màu sắc cảm giác, xúc giác; cảnh diễn tả tinh tế nhẹ nhàng: ‘Lộ trích thu đình dạ khí hư’
(Khí lạnh đêm thu đượm giọt sương)
Hai câu 3, 4 tả cảnh nhà vua từng đọc sách suốt đêm khuya nhưng dậy rất sớm. Chưa nghe tiếng gà gáy. Chưa nghe tiếng chày đập vải. Bốn bề vắng lặng, gợi lên không khí thanh bình của đất nước. Nhà thơ ngắm nhìn hoa, nhìn trăng. Hình tượng ‘trăng lồng hoa’ rất thơ mộng hữu tình:
‘Thụy khởi chàm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ’
(Thức dậy, tiếng chày đà lặng ngắt,
Trên chùm hoa mộc, nguyệt lồng hương)
‘Trong động cổ tĩnh, trong tĩnh có động’là một trong những thủ pháp nghệ thuật của Đường thi. Trong bài thơ ‘Trăng’ này, Trần Nhân Tông đã lấy tĩnh để tả động, làm nổi bật ‘trong tĩnh có động’, đó là ngoại cảnh thì bốn bề lặng ngắt (châm thanh vô mịch xứ), bóng trăng thì hé gọi trên chùm hoa mộc, nhưng trong lòng nhà thơ thì xao động, dào dạt sức sống và tinh thần lạc quan yêu đời. Vừa đắm mình vào sách (thi thư), vừa chan hòa vào hương hoa và ánh trăng. Đó là tâm hồn thanh cao, giàu trí tuệ, giàu tình yêu thiên nhiên.
|
Bình giảng bài thơ ‘Nguyệt’ của Trần Nhân Tông
| 588
| |
Bình giảng bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ của Trương Kế
Hướng dẫn
Phong Kiều dạ bạc
(Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều)
Trương Kế
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Dịch thơ.
Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
…Bài thơ tả cảnh Phong Kiều một đêm sương khuya và tâm trạng thao thức của ly khách đang nằm trong thuyền. Trương Kế viết bài thơ theo thể thất 136 ngôn tứ tuyệt Đường luật: luật trác, vần bằng, có 3 vần thơ (thiên – miên – thuyền); gồm 11 chữ (thanh trắc) và 17 chữ (thanh bằng) gợi lên âm điệu mênh mang, lan tỏa… Bản dịch thành thơ lục bát, có 9 chữ (thanh trắc) và 19 chữ (thanh bằng), nhạc điệu trầm buồn, man mác; là một trong những bản dịch thơ Đường hay nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho biết bản dịch thơ lục bát này là của Tản Đà thi sĩ (?).
1. Hai câu thơ đầu tả cảnh một đêm khuya trên bến Phong Kiều. Năm chi tiết nghệ thuật, tả ít mà gợi nhiều: trăng xế, quạ kêu, sương đầy trời, cây phong bên sông, ánh lửa chài. Cảnh vật được liệt kê, nối tiếp xuất hiện, đồng hiện. Một li khách đang mơ ngủ trong con thuyền trên bến sông. Cảnh vừa có màu sắc vừa có âm thanh. Màu vàng của vầng trăng xế, vầng trăng tà. Màu trắng bao la của sương đêm phủ đầy trời. Màu lửa chài le lói trong các khoang thuyền. Lùm cây phong đen sẫm ẩn hiện bên bờ sông. Và có tiếng quạ; quạ giật mình thấy sương trắng phủ đầy trời, ngỡ là trời đã sáng, cất tiếng kêu… Một cảnh buồn trên bến Phong Kiều. Và đó cũng là tâm trạng buồn của li khách đang nằm mơ ngủ trong thuyền. Ba chữ ‘đối sầu miên’ cho thấy không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện. Cảnh buồn, tình buồn; nhịp thơ buồn là vậy. Hãy khẽ đọc lên, ngâm lên:
Giang phong/ ngư hỏa/ đối sầu miên’
(Trăng tà/ chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài/ cây bến/ sầu vương giấc hồ)
Thơ chỉ gợi, tạo nên nhiều liên tưởng. Thủ pháp lấy động để tả tĩnh, lấy sáng để tả tối; tiếng quạ kêu sương nghe rõ trong đêm thanh vắng, ánh lửa chài le lói, màn sương trắng bao la đầy trời đã cho thấy bến Phong Kiều mịt mờ, mịt mùng khi trăng xế. Qua đó, ta thấy bút pháp nghệ thuật của Trương Kế rất tinh tế, biểu cảm.
2. Thời gian trôi đi lặng lẽ. Đêm đã về khuya. Khách nằm trong thuyền vẫn mơ màng… Bốn bề Phong Kiều im lìm, vắng vẻ. Bỗng một tiếng chuông, một âm thanh trong vắt từ chùa Hàn Sơn ở ngoại thành Cô Tô vọng tới, lay động hồn li khách…:
‘Cô Tô thành ngoại/ Hàn Sơn tự,
Dạ bán/ chung thanh/ đáo khách thuyền’
(Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)
Chùa Hàn Sơn toạ lạc trên lưng chừng núi. ‘Sư cụ nằm chung với khối mây’ như nhà sư chùa Đọi mà Nguyễn Khuyến đã nhắc tới? Sư cụ thỉnh chuông hay chú tiểu đánh chuông sang canh? Chùa Hàn Sơn cách bến Phong Kiều bao xa? Tiếng chuông ngân vang từ chùa xa vọng tới, li khách nghe rất rõ. Khách chợt tỉnh hồn mai. Nghệ thuật lấy động để tả tĩnh của thi pháp cổ, một lần nữa được Trương Kế sử dụng rất đặc sắc.
Hơn một nghìn năm đã trôi qua, ai đã từng đọc thơ Đường, ai đã yêu thơ Đường, nhất là những khách li hương đó đây, vẫn cảm thấy tiếng chuông chùa Hàn Sơn được Trương Kế nói đến vẫn còn làm rung động hồn mình, làm nao nao, làm thổn thức lòng mình?
Bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ là một bức tranh tĩnh xinh xắn. Thi phẩm này từng phủ mờ bao lớp sương giai thoại, huyền thoại. Có tiếng quạ kêu buồn. Có tiếng chuông chùa trong canh khuya buồn thấm thía. Trăng đã xế, lửa chài le lói con thuyền, những lùm cây phong mờ tỏ ẩn hiện, màn sương trắng phủ đầy trời. Li khách buồn nhớ cố hương đang thao thức trong con thuyền! Mơ màng và vắng lặng bao trùm cảnh vật và hồn người. Thi liệu chắt lọc, hình tượng gợi cảm, mở ra bao liên tưởng đầy chất thơ. ‘Phong Kiều dạ bạc’ đẹp như một bức tranh thủy mặc của một danh họa; lối vẽ chấm phá, lấy động để tả tĩnh, lấy sáng để tả tối, lấy ngoại cảnh thể hiện tâm cảnh… Cái hồn của cảnh vật, nỗi lòng li khách thấp thoáng hiện lên qua những vần thơ thanh đạm đáng yêu.
|
Bình giảng bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ của Trương Kế
| 839
| |
Bình giảng bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan
Hướng dẫn
Hãy khẽ ngâm và lắng nghe âm điệu réo rắt, du dương của bài thơ kiệt tác
này:
‘Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoà.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
*, Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta’
Bài thơ thất.ngôn bát cú Đường luật tả cảnh Đèo Ngang lúc chiều tàn và nỗi lòng của người lữ khách.
1. Câu thơ phá đề mở ra một không gian nghệ thuật là ‘Đèo Ngang’, một thời gian nghệ thuật là ‘bóng xế tà’, một tâm trạng nghệ thuật, đó là sự ngạc nhiên của người lữ khách lần đầu ‘bước tới’ một miền đất lạ. ‘Bóng xế tà’ là lúc ngày tàn, mặt trời đã gác núi, cảnh vật đi dần vào trạng thái yên tĩnh nghỉ ngơi. Khoảnh khắc ấy đối với li khách đứng trước con đèo xa lạ, sao mà chẳng buồn? Chữ ‘tà’ của vần thơ như một tiếng lòng ngân nga, rung động man mác buồn:
‘Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà’
Hai chữ ‘bước tới’ gợi cho người đọc đoán định thời điểm nữ sĩ viết bài thơ này 150 năm về trước, đó là khi nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Phú Xuân nhận chức nữ quan ‘Cung trung giáo tập’ của triều Nguyên.
Câu thơ thứ hai mở ra một thế giới, một cảnh sắc nơi con đèo ‘Đệ nhất hùng quan’ của Đại Việt. Cũng có cỏ và cây, tất cả phải ‘chen’ với đá. Cũng có lá nhưng phải ‘chen’ với hoà, hoa dại, hoa mua, hoa sim. Điệp từ ‘chen’ gợi tả cảnh hoang vu, hoang dại của thiên nhiên nơi con đèo. Hai tiếng ‘đá’ và ‘lá’ ở giữa câu thơ vần với nhau (vần lưng) phối âm với vần chân (tà – hoà) đã làm cho nhạc điệu trầm bổng, réo rắt, đọc lên nghe rất thú vị:
Cỏ cây chen đá, lá chen hoà’
2. Từ trên con đèo, người lữ khách nhìn về chân núi, trông về dòng sông dưới chân đèo xa xa. Điểm nhìn hướng về mấy chú tiều phu đang ‘lom khom’ gánh củi dưới núi, rồi trông về mấy nhà ‘lác đác’ chợ bên sông. Từ láy ‘lom khom’ gợi tả sự vất vả của tiều phu khi gánh củi đè nặng trên vai, đang từng bước từng bước xuống dốc núi. Từ tượng hình ‘lác đác’ làm nổi bật sự thưa thớt, lèo tèo mấy lều chợ miền núi ngày xưa. Nghệ thuật đảo ngữ và phép đối làm cho không gian nghệ thuật Đèo Ngang thêm phần hoang sơ, hoang vắng. Trước cảnh vật ấy, thế giới ấy, lữ khách càng cảm thấy lẻ loi, cô đơn. Bút pháp tả cảnh ngụ tình của nữ sĩ rất tinh tế. Cảm xúc của thi nhân như thấm sâu vào dáng hình ‘lom khom’, vào đường nét ‘lác đác’ trong màu vàng nhạt, vàng thẫm của ‘bóng xế tà’:
‘Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà’
Miền đất lạ, tuy có núi và sông, có mấy nhà chợ, có vài chú tiều phu, nhưng đối với lữ khách lúc chiều tàn vẫn hoang vắng cô liêu.
3. Trời tối dần, bóng hoàng hôn bao phủ Đèo Ngang. Bút pháp nghệ thuật của thi pháp Đường thi được nữ sĩ vận dụng tài tình. Cảnh đèo trở nên hoang vắng khi tiếng chim cuốc gọi đàn, khi tiếng chim gia gia giục giã. Con cuốc cuốc kêu hoài như tiếng của ‘người xưa’ thiết tha ‘nhớ nước đau lòng’… Cái gia gia gọi bầy trong nỗi niềm ‘thương n?à mỏi miệng’. Tiếng chim rừng gọi đàn cũng chính là tâm trạng ‘nhớ nước’, ‘thương nhà’ của li khách. Nữ sĩ từ Kinh kì Thăng Long của đất ‘Đàng Ngoài’, nơi chôn nhau cắt rốn của mình lần đầu đi vào xứ ‘Đàng Trong’ sao không khỏi ‘nhớ nước’ và ‘đau lòng’? Thương loài chim rừng ‘đau lòng’ và ‘mỏi miệng’ chính là tiếng than tự thương mình, ở phần luận bài ‘Qua Đèo Ngang’ khúc nhạc rừng cũng là khúc nhạc lòng buồn thương của nữ sĩ:
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia’
Một lần nữa, phép đối của luật Đường, biện pháp đảo ngữ được vận dụng một cách điêu luyện làm cho vần thơ vang lên trong nhạc điệu du dương, trong ngôn từ hài hòa cân xứng. Có thể nói đây là những vần thơ truyền cảm nhất, khi nói về một nỗi buồn đẹp: nhớ nước, thương nhà.
4.Hai câu kết cực tả nồi niềm cô đơn, lẻ loi của lữ khách khi đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc hoàng hôn. Chầm chậm bước, rồi ‘dừng chân đứng lại’ nhìn cao, nhìn xa, nhìn về bốn phía chỉ thấy ‘trời non nước’ bát ngát mênh mông. Giữa vũ trụ bao la ấy, nữ sĩ cảm thấy nỗi riêng của lòng mình tan ra thành ‘mảnh’. Chẳng thấy quê nhà, chẳng có người thân thương (chồng, con), chỉ có ‘ta với ta’:
‘Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta’
Ba chữ ‘ta với ta’ đã thể hiện một cách sâu sắc xúc động nỗi buồn nhớ gia đình quê hương, nỗi niềm lẻ loi, cô đơn của nữ sĩ. Tâm trạng ấy một lần nữa tác giả nói đến rất thơ trong bài ‘Chiều hôm nhớ nhà’:
‘Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn’
‘Thơ là tiếng lòng của thi nhân’,thi sĩ Tô Đông Pha đã nói như vậy. Ba chữ ‘ta với ta’ trong bài ‘Qua Đèo Ngang’ nói lên nỗi buồn cô đơn lẻ loi của khách li hương. Trong câu thơ của Nguyễn Khuyến:
Bác đến chơi đáy ta với ta’
thì ba chữ ‘ta với ta’ thể hiện một tình bạn tri âm tri kỉ. Bác cũng là ta, ta cũng là bác, hai ta chan hòa trong một tình bạn thắm thiết thủy chung, cao đẹp. Qua đó, ta càng thấy rõ cá tính sáng tạo của hai nhà thơ Nôm lỗi lạc của dân tộc.
Trong bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ có tả thực, có ước lệ tượng trưng, có lối tả phác họa chấm phá, có lấy động nói tĩnh, lấy điểm để gợi diện, lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm cảnh, cho thấy một hồn thơ rất tài hoà. Cảm xúc và tâm hồn nữ sĩ, nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ quê, nhớ nhà của khách li hương như thấm sâu vào cảnh vật.
Nghệ thuật gieo vần, phép đổi và đảo ngữ, tả cảnh ngụ tình đã làm cho nhạc điệu thơ du dương, réo rắt. Ngôn từ trang nhã, điệu thơ trang trọng, khoan thai. Đó chính là ma lực tuyệt vời của áng thơ tuyệt bút này. Đó là hồn thơ của Bà Huyện Thanh Quan từng làm cho triệu triệu người ngâm nga ngưỡng mộ ‘Qua Đèo Ngang’ gần hai thế ki nay.
|
Bình giảng bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan
| 1,190
| |
Bình giảng bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng’ của Trần Nhân Tông
Hướng dẫn
… ‘Để biểu cảm, người viết biến đồ vật, cảnh vật, sự việc, con người… thành hình ảnh bộc lộ tình cảm của mình’.Hai bài thơ Thiên Trường văn vọng của vua Trần Nhân Tông, Côn Sơn ca của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi chính là hai văn bản như thế. Qua bức tranh cảnh vật và con người, hai tác giả đã bộc lộ những tình cảm thật chân thành của mình. Hai bức tranh thiên nhiên hai hồn thơ thắm thiết tình yêu quê hương, đất nước, niềm lạc quan, yêu đời, rất đáng trân trọng.
“Thiên Trường văn vọng’(Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra):
‘Thôn hậu thôn tiền đạm tư yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền’
Nhà văn Ngô Tất Tố dịch là:
‘Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không.
Mục đồng sáo vẳng trâu vê hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng’
Tương truyền: Sau khi lãnh đạo quân dân ta chiến đấu chống giặc Mông – Nguyên thắng lợi, đất nước trở lại thanh bình, nhân dịp về thăm quê hương ở Thiên Trường (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng sáng tác bài thơ này. Bài thơ được viết theo thể thơ Đường, thất ngôn tứ tuyệt, âm điệu hài hòa, nhẹ nhàng, thanh thoát.
‘Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không’
Thôn xóm, nhà tranh mái rạ nối nhau, sum vầy phía trước, phía sau, bốn bề san sát, khói phủ nhạt nhòa, mờ tỏ, ‘bán vô bán hữu’ nửa như có, nửa như không. Khói tỏa từ đâu ra thế? Phải chăng, đó là những làn sương chiều lãng đãng hòa quyện với những vầng khói thổi cơm ngay từ những mái nhà lan tỏa thành một màn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng thanh thản khiến người ngắm cảnh cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không. Cảnh thoáng, nhẹ, khiến tàm hồn con người như cũng lâng lâng. Hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy làng xóm, khói sương êm ả, thanh bình như thế? Ngoại cảnh và tâm cảnh hòa hợp rất tự nhiên. Xuống hai câu sau, trong cảnh có chút xao động:
‘Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng’
Bức tranh thôn dã có thêm âm thanh, màu sắc và vài ba cử động. Nơi gần, có mấy ‘mục đồng’ lùa trâu về xóm, vừa đi vừa thổi sáo, tiếng sáo vi vu, văng vẳng cất lên. Nơi xa, mấy cánh cò trắng, từng đôi, từng đôi sà xuống đồng như muốn tìm mồi, hay định nghi ngơi! Người, vật, thiên nhiên, đồng ruộng, âm thanh và màu sắc,… tất cả đã hòa nhập với nhau vẽ nên bức tranh quê hương thanh bình, êm vắng mà thật có hồn. Nhà thơ chỉ chọn vài chi tiết tiêu biểu, rồi chấm phá vài nét như muốn thổi cả tâm hồn mình vào cảnh vật. Cảnhvốn đẹp, qua hồn người càng đẹp thêm. Cả một miền quê rộng lớn được thu lại trong bốn dòng thơ hàm súc và biểu cảm. Rõ ràng cảnh tượng buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh tượng vùng qué trầm lặng mà không đìu hiu vì ở dây vẫn cố sự sống con người trong mối giao
|
Bình giảng bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng’ của Trần Nhân Tông
| 592
| |
Lập dàn ý cho đề văn: Bình giảng bài thơ ‘Thăng Long thành hoài cổ’
Hướng dẫn
I. Mở bài:
… Bà còn để lai 6 bài thơ Nôm đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: ‘Qua Đèo Ngang’, ‘Chiều hôm nhớ nhà’, ‘Thăng Long thành hoài cổ’, ‘Chùa Trấn Bắc’, ‘Chơi đài Khán Xuân Trấn Võ’, ‘Tức cảnh chiều thu’.
Ngôn ngữ thơ trang nhã, điêu luyện, âm điệu du dương, réo rắt, giọng thơ buồn man mác, hoài cổ,… là những nét đặc sắc trong hồn thơ của Bà Huyện Thanh Quan.
Bài thơ nói lên nỗi nhớ xưa thành Thăng Long và nỗi đau buồn về cuộc đời tang thương.
1. Đề:
Như một lời than, nhẹ trách tạo hóa. Hí trường: sân khấu. Tinh sương: Tinh là sao, sương là sương giá. Mấy tinh sương là đã nhiều năn tháng. Ong trời gây chi thế, làm cho cuộc đời luôn biến đổi, chẳng khác gì có các lớp kịch, lớp này tiếp sang lớp khác trên sân khấu. Cho đến nay đã mấy năm thấm thoắt trôi nhanh qua. Ý thơ sâu lắng buồn man mác về cuộc đời bể dâu:
‘Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương’
2.Thực:
Kinh thành xưa – thuở vàng son nay còn đâu nữa? Chỉ còn vẻ hoang tàn:
‘Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương’
Đường bàn cờ dọc ngang, xưa kia xe ngựa của ông hoàng bà chúa đi lại rầm rập… nay chỉ còn lại ‘hồn thu thạo’ – hồn cỏ thu tàn tạ. Lâu đài xưa đổ nát, đã hoàng tàn nay chỉ còn lại cái ‘nền cũ’, vẻ tang thương hiện lên dưới ‘bóng tịch dương’ – bóng mặt trời chiều tối. Hai câu thơ đối nhau làm nổi bật cái hoang phế, tàn tạ, thương tâm. ‘Lối xưa’ với ‘nền cũ’, ‘xe ngựa’ với ‘Tâu đài’, ‘hồn thu thảo’ với ‘bóng tịch dương’ đăng đối, hòa hợp; nỗi đau buồn tang thương từ cảnh vật đã và đang thấm sâu vào lòng người. Đó là nỗi buồn hoài cổ về kinh thành xưa. ‘
Nỗi đau về cuộc đời tang thương biến đổi như chất chứa dồn nén vào cảnh vật:
‘Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương’
Đá và nước đã được nhân hóa, như hai chứng nhân lịch sử. Như thách thức (trơ gan) cùng năm tháng (tuế nguyệt). Như đau đớn, giận hờn (cau mặt) với sự đổi thay, với dâu bể (tang thương). Nghê thuật chọn từ, phối thanh (bằng trắc), phép đối – được nữ sĩ vận dụng rất điêu luyện. Các triều đại đã nối tiếp nhau hưng phế. Kinh thành xưa, đế đô nghìn năm xưa, nay đã xuống cấp trở thành một tỉnh dưới triều Nguyễn. Với nữ sĩ, ông cha đã mấy đời ăn lộc triều Lê, Thăng Long lại là chốn cũ quê nhà thì nỗi đau buồn không thể nào kể xiết. Đá và nước được nói đến trong phần luận chính là nỗi lòng buồn thương của thi nhân.
4.Kết:
Hai câu kết nói về dòng chảy thời gian và nỗi đoạn trường của Bà Huyện Thanh Quan – nỗi buồn hoài cổ:
‘Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường’
Gương cũ nghĩa bóng là lịch sử, là trang đời. Kim cổ là hiện tại và quá khử. Chuyện lịch sử qua hàng năm như soi vào quá khứ và hiện tại. Nhìn ‘cảnh đấy’ – cảnh Thăng Long tang thương, cảnh ‘sóng lớp phế hưng’ mà ‘người đây’ (nữ sĩ) đau đớn tưởng như đứt ruột (luống đoạn trường). Đó là nỗi đau của một con người, cũng là nỗi buồn của một lớp người khi nhớ về Kinh thành xưa một thời vàng son, hoa lệ.
‘Thăng Long thành hoài cổ’được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ tả cảnh ngụ tình. Cảnh thì tang thương. Tình thì hoài cổ với nỗi đau đoạn trường. Có hồn thu thảo, bóng tịch dương, đá và nước… như chứng nhàn lịch sử, san sẻ nỗi đoạn trường với thi nhân.
Thi liệu và từ ngữ chọn lọc tinh tế. Một gam màu nhạt của bóng tịch dương, phủ mờ bài thơ. Âm điệu du dương, réo rắt như một tiếng than mà ta cảm nhận được. Các từ Hán Việt (tạo hóa, hí trường, thấm thoắt, tinh sương, thu thảo, lâu đài, tịch dương, tuế nguyệt, tang thương, kim cổ, đoạn trường…) tạo nên cốt cách trang trọng, cổ kính. Điêu luyện nhất là phép đối, nghệ thuật phối thanh và nhân hóa. Bài thơ mang vẻ đẹp trang nhã và một nỗi buồn hoài cổ thấm thía. ‘Thăng Long thành hoài cổ’ – bài thơ để ta yêu, ta nhớ mãi…
|
Bình giảng bài thơ ‘Thăng Long thành hoài cổ’
| 801
| |
Bình giảng bài thơ ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ sáu bài của Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Phân tích
…. Nếu đặt tên cho bài thơ có thể viết như thế này được chăng: ‘Cảnh mưa rào buổi chiều’, hay ‘Chiều muộn, mưa rào’Khương Hữu Dụng đã dịch rất hay bài thơ theo đúng nguyên điệu của nó:
‘Chân suối mưa rào lướt,
Lưng cây bóng xế lồng.
Oanh vàng gù cách tổ,
Cá trắng nhảy tung rong’.
Đọc bài thơ này, ta có nhiều suy ngẫm. Năm 764, Đỗ Phủ và gia đình đang sống trên một con thuyền nhỏ bé trên sông Tương, ven núi. Cảnh nghèo, tuổi già, tóc bạc, ốm đau thường xuyên. Và chỉ có sáu năm sau nữa thôi, ông đã qua đời trên con thuyền rách nát ấy. Có điều bài thơ, cả bốn câu, câu nào cũng đẹp, đặc biệt câu 1 và câu 4, cảnh vật đầy sức sống. Câu 2, 3 phảng phất một nỗi buồn. Cảm giác chung khi đọc bài thơ, ta thấy hiện lên, thoáng lên một vẻ trầm ngâm, hình như sau khi mưa rào vừa tạnh, Đỗ Phủ ra đứng ở mui thuyền, hay ngồi trong khoang thuyền ngắm cảnh chiều.
Thơ Đường cũng như thơ cổ thường tả ít gợi nhiều. Bài thơ này lại được viết bằng ngũ ngôn nên rất hàm súc. Cảnh và tình, ngôn ngữ và hình ảnh như dồn nén lại. Mỗi câu là một cảnh đẹp đầy chất thơ.
Hai câu đầu đăng đối: ‘Mưa rào’ với ‘ánh tà’, ‘lướt’ với ‘chuyển’, ‘chân suối’ với ‘lưng cây’ đều đối nhau, hô ứng nhau. Sau cơn mưa rào, nước suối ào ào chảy mạnh. Câu thơ không hẻ nói đến âm thanh, nhưng qua từ ‘sảo’ (lướt qua), người đọc không chỉ nhìn thấy nước suối chảy rất mạnh mà còn như nghe thấy nước suối chảy ào ào. Nói về ‘động và tĩnh’ trong thơ Đường, Tuỳ Lý Vương đời Nguyễn có viết: ‘Đổ Tử Mỹ sở dắc cái cực độ của động’. Câu thơ tả cảnh nước suối chảy sau trận mưa rào thể hiện ‘cái cực độ của động’ trong thơ Đỗ Phủ vậy. Câu thứ hai tả ánh chiều tà (tà huy). Chiều đã muộn, ở dưới thuyền nhìn lên, nhìn cao và xa. Mặt trời lúc ấy đã gác núi, vì thế mới có cảnh ‘Lưng cây bóng xế lồng’. Câu thơ chữ Hán không có từ ‘lồng’, đó là dịch thoát. Chữ ‘chuyển’ cũng diễn tả ‘cái động’ của ánh ‘tà huy’ – chiều tà – ánh chiều tà đang chuyển dần xuống chiếu vào lưng cây, thân cây. Ngòi bút miêu tả chính xác, một nét vẽ tinh tế, gợi lên màu vàng nhạt, mờ dần, một không gian bao la êm đềm và thoáng buồn man mác.
– ‘Tà huy, tà huy hựu tà huy’(Cổ thi)
– ‘Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng’
(‘Truyện Kiểu’ – Nguyễn Du)
– Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn’…
(‘Chiều hôm nhớ nhà’ – Bà Huyện Thanh Quan)
– ‘Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi…’
(‘Tiếng sáo Thiên Thai’ – thế Lữ)
Trở về bài thơ của Đỗ Phủ, hai câu 3, 4 đối nhau. Cảnh vật và màu sắc hòa hợp. Thơ giàu chất hội họa. Cái cao cái thấp, sắc trắng, sắc vàng, cá trên sông và chim trên cây. Màu xanh thẫm của cây nổi lên màu vàng tươi của chim hoàng anh.
Màu nước sông xanh trong, màu rêu xanh nhạt điểm tô bởi sắc trắng của cá. Cảnh vật đẹp đầy sức sống hữu tình. Câu thơ dịch rất hay, chất thơ, hồn thơ, ý thơ, hình thơ đều đạt được cả. Đọc lên nghe rất thích:
‘Oanh vàng gù cách tổ,
Cá trắng nhảy tung rong’
Nói đến ‘cái động’ trong thơ Đường, không thể không nhắc đến câu tả cá này – bạch ngư – cá trắng: ‘Phiên tảo bạch ngư khiêu’. Tung rong cá trắng nhảy. ‘Phiên’ là động từ, đặt ở vị trí đầu câu thơ cuối bài, góp phần đặc sắc tả cái thần của cảnh vật, làm «tôn ‘cái động’ của dòng suối, của cá, dòng sông sau cơn mưa rào. Mỗi lần đọc đến câu thơ này của Đỗ Phủ, tôi cứ miên man nghĩ đến những câu thơ tả cá trong thơ văn Việt Nam. Tả cá sông Đà, thi sĩ Tản Đà có câu: ‘Sóng gợn sông Đà con cá nhảy’. Chắc là con cá Anh Vũ, một loài cá quý hiếm, đặc sản sông nước quê ta? Cũng tả cá Đà giang, nhà văn Nguyễn Tuân viết: ‘Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến…’ (Người lái đò sông Đà). Nói rằng đó là những câu thơ, câuvăn mang ‘hồn Đường’ cũng không phải là thiếu căn cứ?
Bài thơ của Đỗ Phủ làm người đọc liên tưởng đến bài thơ tả cảnh mưa rào trên Tây Hồ của Tô Thức đời Tống. Nguyên tác là thất ngôn tứ tuyệt. Đây là bản dịch của Nam Trân:
‘Mây đen trút mực chưa nhòa núi,
Mưa trắng gieo châu nhảy rộn thuyền.
Trận gió bỗng đâu lôi cuốn sạch,
Dưới cẩu nước gợn sống thanh thiên’
Hai câu đầu tả cơn mưa rào ập đến nhanh và dữ dội. Hai câu sau tả cảnh cơn mưa. Mưa tạnh rất nhanh. Một mái lầu hiện lên tuyệt đẹp trên mặt hồ gợn sóng, dưới bầu trời xanh. Một cái nhìn khoáng đạt, mênh mông. Tứ thơ vân động biến hóa. Cảnh tả từ cao đến thấp, từ xa đến gần. Cũng có mây, mưa, gió, cũng có núi, có thuyền, có bầu trời, con sóng trên mặt hồ và mái lầu. Câu thơ thứ tư tả cảnh trung tâm của bài thơ. Cảm hứng của bài thơ càng về cuối càng vui, chứa chan bao hi vọng.
Tóm lại, bài thơ ‘Tuyệt cú’ trên đây của Đỗ Phủ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Mỗi câu thơ là một nét vẽ tinh tế, giàu hình tượng. Cảnh vật chiều tà sau cơn mưa rào trên dòng Tương giang cách xa trên 13 thế kỉ thấm một nỗi buồn của khách li hương. Thơ viết về thiên nhiên của Đỗ Phủ bao giờ cũng hàm súc, hữu tình. Tâm hồn ông lúc vui cũng như lúc’ buồn đều chan hòa và thấm sâu vào cảnh vật, làm cho cảnh sắc thiên nhiên trở nên hữu tình đáng yêu.
|
Bình giảng bài thơ ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ sáu bài của Đỗ Phủ
| 1,085
| |
Bình giảng bài thơ ‘Xa ngắm thác núi Lư’ của Lí Bạch
Hướng dẫn
Nếu thơ Đỗ Phú là những bức tranh hiện thực của bao nỗi cơ cực buồn thương thì thơ Lí Bạch là tiếng lòng lãng mạn trữ tình lành mạnh. Chúng ta dễ bắt gặp ở thơ ông sự liên tưởng độc đáo, mạnh mẽ của một trí tưởng tượng phong phú, sự rung động sâu xa của một tấm lòng yêu đất nước nồng nàn và tha thiết. ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là một minh chứng. Sâu đây là bản dịch của bài thơ ấy:
‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mảy’
Đầu đề của nguyên tác là: ‘Vọng Lư Sơn bộc bố’, nghĩa là xa ngắm thác bạc trên Lư Sơn. Lư Sơn là dãy núi ở Giang Tây Trung Quốc có nhiều ngọn chạy dài, nhưng chỉ có một ngọn là có thác đổ:
‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này’
Hương Lô hay Hương Lư là núi Lư Hương, một ngọn của dãy núi Lư trông giống như chiếc bình hương. Hai câu đầu của bài thơ là cảnh tổng quát của bức tranh sông núi hùng vĩ. Nhà thơ’đứng ngắm thác từ phía xa và ở một vị trí thấp hơn nhiều so với chiều cao của thác. Do đó, trước mắt ông, cảnh dòng thác và núi Lư đâu khác gì một bức tranh sơn thủy trẹo ở lưng chừng trời. Bức tranh này có nhiều màu sắc và có vẻ đẹp huyền ảo. Ở độ cao ba nghìn thước, dòng thác đổ xuống như bay, hơi nước bốc lên thành những làn khói. Các làn khói nước này với muôn ngàn thấu kính li ti được ánh nắng mặt trời rọi vào, tạo nên một sắc tía cầu vồng kì ảo, đó là khói tía. Màu vàng của nắng, sắc tía có khói nước gợi lên vẻ đẹp huyền ảo của toàn cảnh. Dáng núi lại gợi hình giống chiếc bình hương. Bởi vậy, khi nhìn vào, nhà thơ chợt nghĩ đến chiếc bình hương khổng lồ đang toả khói nghi ngút giữa trời và nước.
Bức tranh kì vĩ của núi sông này như được bàn tay của người thợ vẽ tài hoa là tạo hóa đã pha màu tạo sắc. Giữa nền xanh cùa núi, hơi nước nắng rọi tỏa bay như khói hương là dòng nước bạc đồ sộ, tuôn dài như một tấm vải trắng. Chữ Hán bộc là thác, bố là tấm vải. Bộc bố ý nói thác nước tuôn như một tấm vải trắng: ‘Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước’
Lời thơ và nhịp thơ mạnh mẽ làm nổi bật hẳn lên hình ảnh hùng vĩ kì diệu của một dòng thác từ trên cao gần ba ngàn thước ‘bay thẳng xuống’.
Chỉ với ba câu thơ ngắn, ngòi bút tài tình của nhà thơ Lí Bạch, khung cảnh Lư Sơn hiện ra trước mắt ta với đầy đủ màu sắc, hình khối, đường nét… Nhưng dường như ba câu thơ ấy chỉ để chuẩn bị. Sức mạnh của bài thơ, vẻ đẹp huyền ảo kì v và đồ sộ của dòng thác núi Lư đã được dồn vào câu kết:
‘Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây’
Câu thơ, trước hết là cảm nghĩ của nhà thơ khi đứng trước cảnh thực. Ông so sánh thác bay thẳng xuống như dải Ngân Hà tuột khỏi mây. Thật là một so sánh sáng tạo bất ngờ đầy thú vị và sảng khoái cho người đọc: ‘Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên’. Dải Ngân Hà là nơi tập trung dày đặc muôn vàn vì tinh tú vắt ngang trời. Ánh sáng của dải sao này được so sánh với dòng sông bạc trên trời. Cách so sánh ấy cũng làm tôn thêm vẻ đẹp kì vĩ của dòng thác núi Lư có thực ở trấn thế.
Bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ của Thi tiên Lí Bạch đã lưu lại cho muôn đời bằng phương tiện văn học cái đẹp hùng vĩ của một dòng thác khổng lồ kì lạ.
Càng đọc thơ ông, ta càng thêm yêu thiên nhiên đất nước và càng khâm phục sự phóng khoáng của một nhà thơ có trí tưởng tượng dồi dào, phong phú, có nghệ thuật sử dụng ngôn từ và tài hoa vào bậc nhất đời Đường.
|
Bình giảng bài thơ ‘Xa ngắm thác núi Lư’ của Lí Bạch
| 746
| |
Bình giảng bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu
Thôi Hiệu (704-754) quê ở Biện Châu, phủ Khai Phong, tỉnh Hà Nam. Ông là thi nhân thời Đường, đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 11, làm quan đến chức Tư Huân viên ngoại lang. Ông sáng tác ra rất nhiều bài thơ với những đề tài khác nhau nhưng bài nào cũng trở thành những bài được dân gian lưu truyền qua hàng ngàn năm. Tiêu biểu nhất có bài “Hoàng hạc lâu”, bài thơ thể hiện tâm trạng u hoài của tác giả trước thời thế mà tác giả sống, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú. Thi sĩ Tản Đà đã sáng tạo dịch thành thơ lục bát, nhiều nhà thơ Việt Nam đã thử bút dịch bài thơ này, nhưng không ai có thể dịch hay hơn Tản Đà:
“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói song cho buồn lòng ai?”
Lầu Hoàng Hạc là một thắng cảnh ở Vũ Xương thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu đẹp, phong cảnh nên thơ, lại được bao phủ bởi một lớp sương mờ càng trở lên đẹp và hấp dẫn lòng người. Xưa tương truyền rằng Phí Văn Vi, tu tiên đắc đạo, thường cưỡi hạc vàng đến chơi. Có biết bao tao nhân mặc khách, những kẻ sĩ đã đến thăm chốn này và làm nhiều bài thơ hay.
“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ”
Niềm thương nhớ cảm hoài mỗi lúc một dâng cao, hạc vàng đã cùng tiên bay đi và có khi chẳng bao giờ quay về nữa. Nỗi lòng của tác giả chợt dâng lên một nỗi man macs sầu thương. Nhìn mây trắng phủ trên mái lầu, lơ lửng bay theo gió trên bầu trời xanh kia, làm cho nhà thơ sực tỉnh:
“Hạc vàng đi mất từ xưa!
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay”
Hạc vàng với mây trắng, quá khứ và hiện tại, cái mất đi từ nghìn đời xưa với cái hữu hình “còn bay” đối ứng tạo nên những vần thơ đẹp khiến người đọc như chìm sâu vào từng câu chữ. Trong phần đề và thực của “hoàng hạc lâu”, từ “hoàng hạc” xuất hiện ba lần chỉ trong bốn câu thơ lại xuất hiện cùng với nền mây trắng làm cho bài thơ có màu sắc hài hòa tươi đẹp làm gợi lên cảnh sắc mỹ lệ cho bài thơ. Sáu thanh chắc ở câu thứ tư đã làm cho luật thơ Đường bị phá cách “Hoàng Hạc nhất khứ khất phục phản. Âm hưởng câu thơ đột nhiên như bị “thắt” lại thể hiện cảm giác ngẩn ngơ, tiếc nuối của những thi nhân, du khách khi tới thăm lầu vàng. Tác giả phối thanh hòa sắc để tạo nên những vần thơ xuất sắc cho ta nhiều cảm xúc.
Ngắm trời xanh, mây trắng, lầu vàng mỗi bước chân của thi nhân như dẫn hồn mình phiêu du vào nơi thần tiên. Rồi nhà thơ bâng khuâng nhìn ra phía chân trời xa xa, mặt sông lúc trời tạnh, sáng trong như tấm gương phản chiếu cây cối của nơi Hán Dương rõ ràng. Hai câu luận tiếp theo được cấu trúc đăng đối hài hòa, cặp từ láy “lình lịch- “thê thê” là hai nét vẽ tinh tế khắc họa cái hồn nơi cảnh trí non sông. Tác giả đã vẽ lên một kiệt tác với gam màu tươi sáng giúp sống dậy thiên nhiên nơi đây:
“Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu”.
Thiên nhiên đẹp như một bức tranh sơn thủy với đường nét màu sắc dịu nhẹ: nắng chiếu trên hàng cây trên bến Hán Dương còn thêm cả màu xanh của thảm cỏ non trên bãi xa Anh Vũ. Với nghệ thuật miêu tả tinh tế chỉ vài nét chấm phá mà tác giả đã thể hiện được thần thái cảnh vật. Tuy cảnh vật tươi mới nhưng nói có cái gì đó phảng phất cô lieu và hoang vắng như thế lại càng làm cho con người cảm thấy sầu thêm.
Kết thúc bài thơ, với nhịp văn chậm và trầm tĩnh có lẽ ở hai câu cuối này đã làm cho người đọc cảm thấy tiếc nuối và xót xa nhất, buồn nhất do nhịp thơ 2/2/1/2 trong bản phiên âm và nhịp thơ 2/2/2 trong bản dịch của Tản Đà. Ở hai câu cuối thể hiện sư nhớ quê hương da diết của tác giả:
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Hình ảnh thấy khói sóng nhớ nhà làm ta lại liên tưởng tới bài Tràng Giang của Huy Cận cũng có câu nhắc tới “khói sóng”:
Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Thôi Hiệu và Huy Cận đều có chung một nỗi nhớ của một người xa quê hương khi chiều về. Nhưng Thôi Hiệu là nhìn thấy khói và sóng nên mới sinh ra tâm trạng buồn thương ấy, còn trong thơ của Huy Cận ông lại nói rằng “không khói hoàng hôn” phải chăng là không có gì gợi nhớ, nhưng vẫn nhớ tới nhà tới quê hương.
Khi đọc bài thơ của Thôi Hiệu đã làm cho người đọc có những cảm xúc khác nhau. Tuy rằng có rất nhiều các thi nhân tới đây vì tức cảnh sinh tình nhưng bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu vẫn là xuất sắc hơn cả. Bài thơ nhuốm màu buồn, trải dài từng nhịp từng câu thơ chậm rãi, nhẹ nhàng như da diết đến kết thúc bài thơ thì lại cảm thấy chua xót, nuối tiếc.
|
Bình giảng bài thơ “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu
| 1,005
| |
Bình giảng bài thơ “Thương vợ” của Trấn Tế Xương
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Thương vợ” của Trấn Tế Xương
Hướng dẫn
Tú Xương nổi bật trong nền văn học Việt Nam với ngòi bút trào phúng đầy sắc nhọn chĩa về xã hội thối nát thực dân phong kiến đương thời. Tuy nhiên, bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài thơ cảm động, mà tiêu biểu phải kể đến “Thương vợ”.
Ngay từ cái nhan đề đã toát lên tình cảm thương yêu chứa chan của nhà thơ dành cho bà Tú. Mở đầu bài thơ, bà Tú hiện lên với hình ảnh của một phụ nữ tất bật với công việc, gia đình:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng”
“Mom sông” là nơi có mỏm đất nhô ra, rất chênh vênh. Nó cho thấy cái nỗi vất vả, cơ cực của bà Tú khi phải lặn lội kiếm sống từ ngày này qua ngày khác để chăm chồng, chăm con. Dường như mọi gánh nặng trong gia đình đều đổ dồn lên một vai bà.
“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Bình giảng bài “Thương vợ” của Tú Xương
“Eo sèo” chỉ sự rầy rà bằng lời gọi liên tiếp dai đẳng. Để có thể trang trải được mọi chi phí cho gia đình, bà Tú đã phải chật vật, giành giật từng miếng cơm, manh áo trong thời buổi cơ cực.
“Một duyên hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa dám quản công.”
Tú Xương đã rất thành công trong việc sử dụng hai câu thành ngữ quen thuộc của nhân dân ta: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”. “Duyên” ở đây ý chỉ đến cái duyên phận, duyên “nợ” mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. “Nắng”, “mưa” vốn là những hình ảnh tượng trưng cho sự vất vả. Bà Tú đã phải âm thầm chịu đựng mọi khó khăn để đảm bảo cuộc sống no đủ cho cả gia đình. Bà mang dáng dấp tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam: chịu thương, chịu khó, âm thầm hi sinh tất cả vì gia đình. Có lẽ bởi vậy mà ông Tú lại càng thấy trách chính bản thân mình:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Ông tự thấy bản thân là một kẻ “ăn bám vợ”, vô tích sự trong gia đình, thậm chí còn “hờ hững” với cả vợ, cả con. Câu thơ như lời tâm sự của nhà thơ, khiến ta không thể giận ông, mà chỉ có thể căm ghét xã hội đã đẩy con người phải sống một cuộc đời lam lũ, khó khăn.
Lời thơ giản dị, gần gũi, bài thơ “Thương vợ” đến với độc giả một cách nhẹ nhàng, đầy sâu lắng. Hình ảnh bà Tú đẹp như bao người mẹ, người chị trong gia đình Việt Nam, khiến ta cảm thấy quen thuộc, mến yêu hơn.
|
Bình giảng bài thơ “Thương vợ” của Trấn Tế Xương
| 495
| |
Bình giảng bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên
Tình yêu quê hương đất nước luôn là một trong những chủ đề nóng hổi của nền thơ ca thời kháng chiến. Trong đó, không thể không kể đến khúc tâm tình da diết, nặng trĩu những yêu thương, những khát khao về một tình yêu cháy bỏng dành cho Tổ quốc của Chế Lan Viên. Khúc tâm tình ấy mang tên “Tiếng hát con tàu” với những vần thơ rất đỗi gần gũi, giản dị và thấm đượm phong cách giàu chất trí tuệ, tư duy, sáng tạo đến tạo bạo của nhà thơ.
Có thể nói “Tiếng hát con tàu” là điểm sáng trong đời thơ miệt mài của thi sĩ. Với tất cả tâm tư, tình cảm vừa trong sáng, vừa mãnh liệt, Chế Lan Viên đã bộc bạch ngay tấm chân tình của mình qua những lời tựa đề ngắn gọn, xúc tích:
“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu“
Có quá vội vàng không khi nhà thơ ngay lập tức hướng lòng mình đến Tây Bắc với câu hỏi rất ngẫu nhiên “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc”. Rồi ông lại vội vàng tự mình trả lời câu hỏi, vội vàng giang cả cánh tay, mở cả tấm lòng ôm trọn lấy Tây Bắc. Chưa đủ, nhà thơ còn trực tiếp khẳng định “Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”. Thế mới hiểu tình yêu quê hương đất nước chứ không riêng gì Tây Bắc của Chế Lan Viên mãnh liệt đến nhường nào. Ông không hề dùng những từ ngữ cao sang mỹ miều nhưng những vần thơ mộc mạc vẫn đi vào lòng người một cách rất ngọt ngào, tự nhiên.
“Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng
Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”
Trăn trở với lời mời gọi lên đường kháng chiến cứu nước, nhà thơ không mảy may nghĩ gì đến những gian lao vất vả của cuộc hành trình tiến về Tây Bắc đầy chông gai. Thay vào đó là tinh thần hào hứng, là tấm lòng đầy nhiệt huyết được thể hiện trong từng vần thơ, từng câu chữ. Lẽ ra, một khi đã gọi là thơ thì phải có những từ ngữ hoa mỹ, nhưng ở đây, Chế Lan Viên lại đưa ra câu thơ hết sức bình dị, như thể đang nói chuyện trực tiếp với mọi người: “Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?”. Rồi ông lại gán cho những cơn gió “đang rú gọi” như một lời mời gọi rất tha thiết. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy tấm lòng của ông đang cồn cào da diết muốn đến ngay với Tây Bắc, với mảnh đất đã thấm đượm bao vần thơ của ngòi bút thi ca. Ông tự nhận “Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp”. Nhà thơ đã vô tình hay cố ý lấy cái bao la của đất nước mênh mông so sánh với sự nhỏ hẹp của cuộc đời mình? Chính sự táo bạo này càng thể hiện niềm khắc khoải đang bùng cháy trong ông. Và một lần nữa ông đặt ra câu hỏi “Tàu gọi anh đi, sao anh chửa ra đi”. Nỗi niềm da diết mỗi lúc càng tăng lên. Rõ ràng tay cầm bút viết thơ nhưng ông lại nói “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép” vì “Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia”. Chế Lan Viên không quên khẳng định viết thơ là phải có tâm hồn, có suy nghĩ nhưng vì “trên kia” đã chiếm trọn hồn ông và đang “chờ gặp” ông. Có lẽ ông muốn bỏ ngay cây bút để chạy đến miền đất mình đang thương nhớ.
Hướng về Tây Bắc, bao nhiêu kỷ niệm dạt dào lại ùa về trong tâm trí ông:
“Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con
Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư
Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chi là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương
Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương”
Tây Bắc – “Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng”, Tây Bắc – một địa danh cụ thể nhưng đại diện cho mọi miền Tổ quốc, đã thấm đẫm bao giọt máu anh hùng để có được những “chín trái đầu xuân”, Tây Bắc – như một phần máu thịt của nhà thơ, khiến ông phải thốt lên:
“Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”
Không có một mối tình nào gắn bó hơn, thiêng liêng hơn mối tình mẫu tử. Chính vì vậy, Chế Lan Viên đã thu mình lại làm một đứa con bé bỏng mong ước được đến ngày trở về “gặp lại mẹ yêu thương”, gặp lại những con người, những tháng ngày chất chứa bao kỷ niệm rất đơn sơ, giản dị nhưng đầy nghĩa tình. Đặc biệt, nhà thơ đã dùng hết tất cả những hình ảnh có tính gắn kết nhất có thể để nói lên nỗi niềm thương nhớ của mình:
“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
Nỗi nhớ ấy không đơn thuần chỉ là những hình ảnh chân thực, giản dị mà hơn hết là quy luật của tự nhiên. Bởi còn gì vui hơn khi “nai về suối cũ”, “chim én gặp mùa”, “trẻ thơ đói lòng gặp sữa”, “chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”. Lại một lần nữa, Chế Lan Viên mượn tình mẫu tử để thể hiện tấm lòng nhớ thương da diết của mình dành cho Tây Bắc. Tình cảm ấy thật cao quý, thiêng liêng. Chưa dừng lại ở đó, nhà thơ dường như không kìm được cảm xúc của mình khi nhớ lại tất cả những gì đã in dấu nơi đây. “Anh con”, “em con” – hai đại từ sở hữu rất ngọt ngào – là đại diện cho tất cả mọi người trong lớp trẻ đã anh dũng đứng lên cầm súng chiến đấu chứ không riêng gì ai. Trong hoàn cảnh khó khăn trăm bề, nhưng tình cảm lúc nào cũng chất chứa và thiêng liêng. Đặc biệt là chi tiết:
“Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”
“Chiếc áo nâu” khiến lòng người không khỏi xúc động, xuyến xao. Trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn, chiếc áo ấy tuy “một đời vá rách” nhưng lại là kỷ vật mang đậm nghĩa tình nặng sâu để đến đêm cuối cùng, “anh cởi lại cho con”. Một hình ảnh rất đẹp, rất chân thật và đáng trân trọng. Nhà thơ cũng không quên “thằng em liên lạc” tuy bé nhưng ý chí kiên cường, vượt bao sóng gió để hoàn thành nhiệm vụ. Hình ảnh này lại khiến ta nhớ đến chú bé liên lạc rất đáng yêu của Tố Hữu:
“Chú bé loắt choắt
Cái sắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh …”
(Trích “Lượm” – Tố Hữu)
Ở đây, chú bé liên lạc của Chế Lan Viên cũng đầy can đảm, hi sinh để “Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư”. Tất cả những hình ảnh ấy vừa thể hiện tình cảm yêu thương mãnh liệt của nhà thơ với đất nước, vừa ca ngợi ý chí anh hùng của cả một thế hệ đi trước đã không tiếc thân mình hi sinh cho nền hòa bình độc lập. Khi nỗi nhớ lên đến cao trào, ta bắt gặp một cảnh tượng đẹp vô cùng:
“Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi“
Cảm xúc vẫn nồng nàn tuôn chảy từ ngòi bút của nhà thơ. “Mế” bên ánh bếp lửa hồng, mái tóc mế lộ những sợi bạc vì năm tháng pha sương, vì dãi dầu mưa nắng che chở cho đàn con. Có thể nói đây là hình ảnh đắt giá nhất trong cả bài thơ. “Lửa hồng” vừa là ánh lửa thực tế bập bùng trong đêm, vừa là ánh lửa bùng cháy những nỗi nhớ niềm thương trong lòng tác giả, là ánh lửa của sự khát khao độc lập tự do, ánh lửa rực cháy của tinh thần chiến đấu quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trong tim mọi người. Quay trở lại với những tiếng lòng thổn thức của nhà thơ, ông thừa nhận:
“Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”
Có lẽ trong lúc này, ông đang nhớ “mế” vô cùng. Dù không phải ruột thịt nhưng những gì “mế” dành cho “con” trong suốt những năm tháng dài của cuộc kháng chiến, “con” sẽ mãi mãi ghi nhớ trong lòng. Dù không quen biết, không máu mủ ruột thịt nhưng trên hết có cùng chung một tinh thần yêu nước nồng nàn, những con người ấy đã gắn bó với nhau, trao cho nhau những ân tình sâu nặng. Trong thơ của Tố Hữu cũng từng có một cảnh tượng tương tự:
“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”
(“Việt Bắc” – Tố Hữu)
Hay những người lính của Chính Hữu:
“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”
(“Đồng chí” – Chính Hữu)
Nhớ con người, nhớ cả mảnh đất đầy yêu thương:
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chi là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn! ”
Hình ảnh vừa đẹp, vừa thể hiện địa hình hiểm trở của nơi rừng thiêng nước độc “bản sương giăng”, “đèo mây phủ”. Thế nhưng nơi nào cũng khiến cho lòng người luyến lưu, để khi bước chân đi, mảnh đất bất động hàng ngày bỗng “hóa tâm hồn”. Động từ “hóa” càng làm tăng tình cảm nồng nàn mà nhà thơ dành cho miền quê Tây Bắc xa xôi. Và rồi, nỗi nhớ càng lúc càng tăng, ông bỗng thốt lên:
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương
Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương”
Hình ảnh người con gái thân thương trong trái tim ông bỗng nghẹn ngào bao cảm xúc với những kỷ niệm rất gần gũi thân thương. Nhưng cũng như trên, nỗi nhớ ấy lại được hiện thực hóa bằng những hình ảnh rất đơn sơ giản dị: “đông về nhớ rét”, “cánh kiến hoa vàng”, “chim rừng lông trở biếc”. Bằng ngôn từ chân thực, giàu hình ảnh cùng dòng cảm xúc đang dạt dào ùa về, tình yêu đôi lứa hòa trộn với tình yêu đất nước khiến “đất lạ hóa quê hương”. Những tháng ngày chiến đấu gắn bó bên nhau, cùng trải qua bao gian nan vất vả, phút chia xa khiến “anh” nao lòng nhung nhớ, nhớ giây phút “anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch” và những lần “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng”.
Tình yêu Tây Bắc cũng là tình yêu đất nước được tác giả đặt lên trên đầu rồi mới đến tình yêu đôi lứa. Điều đó cho thấy tâm hồn cao cả và tấm lòng trong sáng của nhà thơ. Và rồi từ đó ông hào hứng cất lên khúc hát khởi hành đầy say mê, tin tưởng:
“Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga
Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng
Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào
Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến
Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao
Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta
Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”
Những hình ảnh thật đẹp lại tràn trề trên trang thơ cùng âm điệu hào hứng, sôi nổi. Nào là “tình em”, nào là “tình mẹ” đang mong đang chờ. Dường như ông muốn phi thẳng ngay lập tức đến với “mẹ” với “em”, với “mái ngói đỏ trăm ga” để được tận mắt nhìn mặt, được trực tiếp nghe tiếng của những con người rất đỗi thân thương ấy. Khoảng thời gian mười năm tuy không phải dài những cũng không hề ngắn để thấm đượm bao tình cảm mến yêu của cả người lẫn cảnh vật nơi đây. Đến nỗi, Chế Lan Viên phải khẳng định rằng “Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ”. Trong lúc này, tâm trí ông chỉ có một điều duy nhất là nhớ Tây Bắc như nhớ một người mẹ hiền hòa, vĩ đại. Nhớ những ngày dài chiến đấu oanh liệt để “lấy cả những con mơ”. Đặc biệt hình ảnh “Ai bảo con tàu không mộng tưởng, mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng” là biểu tượng mang ý nghĩa vô cùng lớn lao.
“Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”
Tác giả đã lấy cái cụ thể “mặt hồng em” so sánh với cái rộng lớn của “mùa xuân”. Mùa xuân ở đây cũng không phải là một mùa xuân bình thường mà là cả “suối lớn mùa xuân”. Đây là một trong những cách so sánh rất mới lạ, độc đáo và táo bạo. Từ đó cho ta thấy niềm vui phơi phới, niềm tin yêu lớn lao trong lòng tác giả đang trào dâng. Ông tin rằng bằng tinh thần anh dũng, quả cảm, đất nước nhất định sẽ hòa bình, độc lập tự do để đàn em được đón thật nhiều, thật nhiều “mùa xuân” như “suối lớn”.
Như vậy, xuyên suốt cả bài thơ, từ nỗi niềm băn khoăn đến nỗi nhớ thương dạt dào và cuối cùng là niềm tin yêu vào con người, vào đất nước, Chế Lan Viên đã truyền lại cho thế hệ sau niềm cảm hứng tiếp bước cha anh xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh. Bài thơ cũng chính là khúc hát da diết đầy xúc động được cất lên từ tấm chân tình của tác giả với những biểu tượng chân thực, giàu hình ảnh thể hiện rất thành công “mười năm nhân dân đổ máu” không riêng gì Tây Bắc mà ở tất cả mọi miền của Tổ quốc thân yêu.
|
Bình giảng bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên
| 2,794
| |
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão
Hướng dẫn
Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần, văn võ song toàn. Ta không chỉ biết đến ông là một danh tướng mà ông còn là một nhà thơ có tiếng. “Tỏ lòng” là một bài thơ được ông sáng tác để bày tỏ nỗi lòng của mình khi đất nước bị xâm lăng.
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”
“Hoành sóc” là tư thế chiến đấu mà tay cầm ngang ngọn giáo – một tư thế hiên ngang, dũng mãnh. Cùng với không gian rộng lớn bao trùm – “giang sơn” kết hợp với thời gian trải dài theo lịch sử – “kháp kỉ thu”, Phạm Ngũ Lão đem lại một hình tượng người chiến sĩ anh dũng, hào hùng. Trải qua bao tháng năm, người chiến sĩ ấy vẫn hiên ngang cầm ngọn giáo chiến đấu để bảo vệ non song gấm vóc.
“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
Trong khi đó, đội quân thì lại vô cùng hùng hậu, trùng điệp “tam quân” mà sức mạnh phi thường tựa “tì hổ”. “Khí thôn Ngưu” – khí thế ngùn ngụt che lấp cả ánh sao Ngưu – lại càng thể hiện được sức mạnh vô song của đoàn quân bách chiến bách thắng, ý chí kiên cường quyết tâm đánh bại mọi kẻ thù.
Hai câu cuối sử dụng điển tích Vũ Hầu để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc:
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.”
“Công danh” ở đây không phải là những thứ bổng lộc, chức tước do triều đình ban tặng. Đó là công danh của một đấng nam nhi đầu đội trời, chân đạp đất muốn được vẫy vùng, lập chiến công hiển hách cho nước nhà. Họ sẵn sàng hi sinh xương máu để đất nước được trường tồn. Vậy nên, họ luôn khiêm nhường, cho rằng mình kém cỏi mà ra sức rèn luyện bản thân, học tập binh pháp, binh thư để bảo vệ quê hương, tổ quốc.
Bài thơ viết theo thể thơ tứ tuyệt – tuy không dài nhưng từng câu, từng chữ đã chứa đựng những giãi bày của Phạm Ngũ Lão. Bài thơ như một bản nhạc hào hùng, trang nghiêm của các anh hùng tướng sĩ đời Trần – hết lòng tận trung với đất nước.
|
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão
| 405
| |
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão- Văn lớp 12
Bài làm
Phạm Ngũ Lão là một nhà thơ trong thời kỳ cổ đại, đồng thời ông cũng là một vị tướng lẫy lừng, anh hùng tài ba xuất chúng. Phạm Ngũ Lão không sáng tác nhiều tác phẩm những mỗi tác phẩm của ông đều để lại một dấu ấn cá nhân riêng biệt, đi sâu vào lòng người đọc.
Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện nỗi lòng của tác giả trước cảnh quê hương chìm trong binh đao khói lửa, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước mãnh liệt của tác giả, thể hiện khát khao muốn đòi lại độc lập, chủ quyền dân tộc của của Phạm Ngũ Lão.
Bài thơ thể hiện tinh thần khát khao tự do, thể hiện ý chí của người nam nhi quân tử “Nam nhi chí ở bốn phương” của những người thanh niên trẻ thời xưa.
Trong những câu ca dao, tục ngữ của dân tộc Việt Nam ta từ xa xưa đã có nhiều bài thơ thể hiện tính cách nam nhi đại trượng phu của những người trai tráng như bài”
Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên”
Thể hiện khát khao lập nghiệp thành danh, người đàn ông thì phải có ý chí, phải có tinh thần khát khao lập được nghiệp lớn, báo đáp công lao cha mẹ, quê hương đất nước, có như vậy mới xứng đáng làm nam nhi.
Bài thơ không dài chỉ có bốn câu nhưng đã lột tả được nhiều tâm trạng của tác giả trong đó:
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Trong hai câu thơ này tác giả Phạm Ngũ Lão khắc họa lên hình ảnh người nam nhi anh hùng, kiên cường cầm mũi giáo múa lên thể hiện cho tinh thần anh dũng, xông pha trận mạc, không sợ hiểm nguy. Đồng thời thể hiện cho hình ảnh người nam nhi văn ôn võ luyện vừa có ý chí vừa có uy lực sức mạnh.
Trong mỗi câu thơ toát lên phong thái khí chất của một người lính xông pha trận mạc, thể hiện sự uyển chuyển, nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, kiên cường của một tướng lĩnh cầm đầu ba quân trên chiến trường.
Khí phách hào hùng của người lính khi ra trận giết giặc vô cùng ngút trời, khí thế ấy như có thể làm nuốt trôi cả một con trâu mộng to lớn. Tác giả Phạm Ngũ Lão vô cùng tinh tế khi mà lấy cái vô hình để so sánh với cái hữu hình. Chí khí anh hùng của người con trai xông pha trận mạc với hình ảnh một con trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn khi nghe chuyện vũ hầu
Người con trai được sinh ra trên đời này cần phải có chí khí, có ước mơ hoài bão. Dù cuộc sống có khó khăn, nghiệt ngã thì người nam nhi cũng phải cố gắng phấn đấu gây dựng sự nghiệp của mình.
Câu thơ của Phạm Ngũ Lão không chỉ nói tới công danh bình thường như việc thăng quan tiến chức, hay thi cử đỗ đạt, mà nói tới đường công danh binh trường, làm nên sự nghiệp trong việc bảo vệ quê hương đất nước, được lưu danh thiên sử.
Chữ “nợ” được tác giả Phạm Ngũ Lão viết lên sự hổ thẹn của bản thân mình với quê hương đất nước, bởi người anh hùng khi chưa làm được việc lớn, chưa tạo ra những thành tích huy hoàng giống như cha ông mình đời trước thì sẽ cảm thấy hổ thẹn với bản thân với tổ tiên dòng họ.
Trong bối cảnh đất nước ta còn đang lao đao khốn đốn bởi nạn giặc xâm lăng thì người anh hùng như Phạm Ngũ Lão sẽ cảm thấy day dứt không yên, cảm thấy xấu hổ với thế hệ cha ông đi trước.
|
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão- Văn lớp 12
| 674
| |
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
Bài làm
Phạm Ngũ Lão không chỉ là một danh tướng tài ba đối với đất nước, mà ông còn là một tác giả sáng tác rất nhiều những tác phẩm có ý nghĩa sâu sắc dành cho dân tộc. Trong đó, bài thơ “ Tỏ lòng” là một tác phẩm nổi tiếng của ông về khát vọng tự do, khát vọng được làm chủ bản thân, được là chính mình cũng như mong mỏi giành được độc lập tự do của những người trẻ, những đấng nam nhi cùng chung chí hướng.
“ Tỏ lòng” là bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, với bố cục rõ ràng, chặt chẽ. Chỉ qua bốn câu thơ nhưng cũng nói lên được ý chữ cũng như lý tưởng sống của nhà thơ. Mở đầu bài thơ là câu thơ:
” Múa giáo non sông trải mấy thu”.
Chiến tranh thuở xưa không thể thiếu hình ảnh cây giáo, một hình ảnh gợi lên sự mất mát và tàn khốc. Từ xa xưa, dân tộc ta đã phải trải qua không biết bao nhiêu lần đau thương, chịu bao mất mát, hy sinh cả máu và nước mắt để giành lại độc lập dân tộc. Đọc câu thơ, ta thấy được một phong thái mãnh mẽ của người ra trận. Sự uyển chuyển múa giáo, dù mềm mại nhưng vẫn có sự dứt khoát, oai phong. Việc đó không chỉ trải qua ở một giai đoạn, một thời điểm, mà là “ trải mấy thu”. Đó là khoảng thời gian không thể đo đếm được, nhưng phần nào đó đã lột tả rõ được cốt cách cũng như khí chất của người anh hùng thời chiến.
Tác giả đã khắc họa phong thái, khí chất của người anh hùng ra trận ở câu thơ đầu tiên. Đến câu thơ thứ hai, tác giả lại khuấy lên không khí, ý chí chiến đấu sục sôi, dũng mãnh của cả dân tộc. Từng đoàn quân ra trận như một trần cuồng phong có thể nuốt trôi trâu. Hình ảnh “ nuốt trôi trâu” là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho sức mạnh phi thường, không gì có thể đánh bại được.
Hai câu thơ với giọng thơ mạnh mẽ, dứt khoát, làm bật lên hình tượng những người anh hùng ra trận trong thời kỳ đất nước lâm nguy.
Đến hai câu thơ cuối, quan điểm và lý tưởng sống của đấng nam nhi đã được tác giả bày tỏ:
” Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn khi nghe chuyện vũ hầu”.
Sinh ra là đấng nam nhi, sống cần phải có ý chí, có tham vọng và ước mơ. Cho dù có gặp bao nhiêu khó khăn, sự vất vả, đau thương đến đâu cũng phải dũng cảm đứng lên để phấn đấu. Và một trong những động lực để đấng nam nhi phấn đấu chính là công danh. Đã là nam nhi thì phải có công danh, có sự nghiệp vẻ vang. Ở đây, Phạm Ngũ Lão đã dùng hình ảnh Vũ Hầu( Khổng Minh) để nói đến chí khí, cũng như sự tài ba của người anh hùng trong thiên hạ.
“ Tỏ lòng” là bài thơ giãi bày tâm tư, nguyện vọng cũng như lý tưởng của những đấng nam nhi trong xã hội dù là thời xưa hay thời nay. Nhân cách, tâm hồn của Phạm Ngũ Lão thật cao đẹp và đầy chí khí, cũng như tài năng của ông xứng đáng được ca ngợi đến muôn đời sau.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến
|
Bình giảng bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
| 613
| |
Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm
Bài làm
Thơ mới chỉ có hai cuộc tiễn đưa đặc biệt: một của Thế Lữ – “Giây phút chạnh lòng” và một nửa của Thâm Tâm – “Tống biệt hành”. Còn thì chỉ là những cuộc biệt ly thông thường, cuộc chia tay giữa người tình với người tình, giữa người thân với người thân. Thương nhớ chỉ quẩn quanh nơi những không gian xa cách, những mối tình phôi pha…
Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương khe
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về.
(Thái Can – Anh biết em đi)
Tất nhiên, những khúc ly biệt ấy đều có những giá trị, những hấp dẫn. Nhưng ta càng biết quý những cuộc biệt ly của những tầm cao nhân cách.
Đó là những khúc biệt ly mang chất thẩm mỹ bi tráng.
Thế Lữ và Thâm Tâm đã cảm hứng từ cuộc tiễn đưa con người chí lớn, con người khát vọng cái cao cả – khát vọng lý tưởng nồng cháy:
Non nước đang chờ gót lãng du
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ
Anh đi vui cảnh lạ đường xa
Đem chí bình sinh giải nắng mưa
Thân đã hiến cho đời gió bụi
Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ
(Giây phút chạnh lòng)
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về, bàn tay không
Thì đừng bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
(Tống biệt hành)
Trong bi kịch, các nhân vật trữ tình này vẫn lồng lộng chất tráng ca.
Đó cũng chính là tâm hồn thời đại trong bối cảnh không khí thời đại.
Thuở ấy, những thanh niên trí thức, sinh viên học sinh đã cảm nhận được cái vô nghĩa của những nhân cách an phận, nhàn du nhỏ bé mà sau này, Chế Lan Viên viết:
Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn
…
Lương thiện đấy, nhưng không có nội dung!
Thậm chí, có những người “vô tư”
Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua lê
Lòng ta đã hóa thành rêu phong chuyện cũ.
Những con người nhỏ bé ấy đã đứng ngoài những cảm nhận về nỗi dân tộc đang trong gông xiềng nô lệ, về nỗi nhân dân đang đói khổ, đau khổ… Kiếp người cơm vãi cơm rơi, Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi…” (Tố Hữu), về nỗi những Chí Phèo đang lâm vào thảm trạng tha hóa, và đang bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện… (nhân vật của Nam Cao).
Có một tầng lớp thanh niên có học biết nặng lòng với đất nước, với nhân dân. Họ ưu tư, trăn trở trên đời sống chung của dân tộc. Nhưng nhìn quanh, họ chỉ thấy những bức tường bế tắc!
Thuở ấy, không khí thời đại ảm đạm lắm.
Một lá cờ Cần Vương phất cao với bao tâm huyết. Rồi từ Bắc chí Nam, Cần Vương đi vào thất bại. Những chiến sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục ra quân, những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… cũng lâm vào thất bại. Vận hội may mắn của cái dân tộc điêu linh này chưa tới? Rồi Việt Nam Quốc Dân đảng nồng nhiệt liều thân… cũng chỉ để lại một tiếng bom của Phạm Hồng Thái. Không thành công cũng thành nhân”…
Đúng như sau này, Chế Lan Viên viết:
Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời.
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa
Những pho tượng chùa Tây Phương không biết cách trả lời.
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ
Văn chiêu hồn từng giọt thấm mưa rơi…
Trong không khí thời đại ấy, những con người có học, có tâm huyết đã buồn. Ai đã chê Thơ Mới buồn? Thậm chí, ai đã cho Thơ Mới là bạc nhược? Hơn nữa, ai đã kết tội Thơ Mới là có lợi cho địch? Đến bây giờ, khi không khí của hai cuộc chiến tranh đã lùi xa, khi mọi lí lẽ đã được suy ngẫm, kiểm nghiệm, chúng ta mới biết sợ những thái độ “khoa học” chưa hoàn chỉnh này.
Chất buồn của Thơ Mới là chất buồn mang tầm cao thời đại. Đó là chất buồn nhân tính.
“Tống biệt hành” là khúc trữ tình buồn ấy, là khúc bi tráng ca của một tâm hồn non nước.
Đưa người ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Trên bình diện nội dung công khai, đã có hai nhân vật trữ tình: người ra đi và người đưa tiễn. Rồi cả ở những đoạn thơ sau, vẫn là hai con người ấy:
… Ta biết người buồn chiều hôm trước
… Ta biết người buồn sáng hôm nay
Nhưng có thật là có hai người không? Hay chỉ là một nhân vật trữ tình ở dạng phân thân? Hai con người này có những ranh giới nhập nhoạng mơ hồ, có khi chập vào nhau:” ”… tiếng sóng ở trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt trong”; có khi ở trong nhau mà tự vấn:
Người đi? ừ nhỉ, người đi thật!
Đoạn thơ đầu, bằng thể thất ngôn cổ điển, bằng nghi vấn tu từ thể điệp… Thâm Tâm đưa ta vào một không khí Đường thi trang trọng. Ta chìm vào trong một trầm tư.
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Như một hành động chọn lọc “…ta chỉ đưa người ấy” cuộc tiễn đưa bắt đầu đi vào chiều hoành tráng “một giã gia đình, một dửng dưng”. Tính cách thời đại xuất hiện. Con người ấy có dáng dấp Kinh Kha “Ai đồng chí trong đám người tiểu kỷ, Trên kinh thành lơ lửng một thanh gươm…” con người ấy mang phong thái chiến sĩ “Tráng sĩ một đi không trở về…”.
Cái chất lãng mạn hoành tráng này, về sau sẽ được tái diễn trong những vần thơ của Quang Dũng, Chính Hữu ở giai đoạn thơ thời đầu kháng chiến chống Pháp (1946-1947-1948):
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Nhớ đếm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa…
(Ngày về – Chính Hữu)
Cao cả trác tuvệt như vậy mà ai lại dám bảo đó là những vần thơ “buồn rớt, mộng rớt… yêng hùng…” ai lại dám bắt “lột xác, nhận đường…”
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Vì sao người buồn? Không phải vì cuộc ra đi bịn rịn. Người buồn vì nỗi những nhân cách ở tầm thông thường không thể hiểu người. Đó là những “một chị, hai chị cũng như sen, khuyên nốt em trai dòng lệ sót”
Nỗi buồn ấy hiện ra trong buổi chiều.
Ta biết người buồn sáng hôm nay
Vì sao người buồn? Vì phải xa những tấm lòng trẻ thơ, xa những “em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc”. Nỗi buồn ấy lấy bối cảnh một ban mai rực rỡ (Trời chưa mùa thu tươi lắm thay) tương ứng hài hòa với ánh sáng tinh khôi trong mắt trẻ. Đó là thẩm mỹ của cái đẹp – buồn.
Người đi? Một dấu hỏi.
Ừ nhỉ, người đi thực!
Một trả lời trong cảm thán. Cũng có thể là một tự hỏi mình.
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Nhân vật bà mẹ đến đây mới thật sư xuất hiện. Trước, trong câu: Ba năm mẹ già cũng đừng mong, chỉ là một cách nói. Bi kịch của lòng mẹ là bi kịch của:
Lá vàng thì ở trên cây
Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời
(Ca dao)
Chị thà coi như là hạt bụi
Đó là một câu tâm lý học. Các bà chị đã tự bằng lòng mình về việc thương em (Khuyên nốt em trai dòng lệ sót); bây giờ, lòng thành thanh thản.
Em thà coi như hơi rượu say
Thâm Tâm dành cho “em” cái ngôi kết thúc. Người tình của Dũng là nàng Loan (nhân vật của Nhất Linh), trong tiến đưa đã:
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Dưa tiễn anh ra chốn hải hồ
Thế Lữ
Người tình của chàng trai chí lớn này thì, trong ly biệt, hoài niệm một chất nồng say đã được hưởng… Câu thơ không tiếc nuối, chỉ là man mác. Nó ngân vang tạo ra dư âm chung của toàn bài…
Sau 1945, Thâm Tâm cùng với dân tộc, đi vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp. Và anh đã chết cái chết đẹp của người chiến sĩ.
Phải chăng, bằng chính cuộc đời mình, Thâm Tâm đã thực hiện hóa cái giấc mơ của nhân vật trữ tình trong thơ mình?
|
Bình giảng bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm
| 1,541
| |
Bình giảng bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu
Hướng dẫn
Bình giảng bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu
Phiên âm:
Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
Dịch thơ:
Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở, há không ai?
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
(Tôn Quang Phiệt dịch)
GỢI Ý LÀM BÀI
Xuất dương lưu biệt (Lưu biệt trước khi ra nước ngoài) là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng, tâm hồn và phong cách nghệ thuật của Phan Bội Châu. Bài thơ đã được bình giảng, phân tích ở nhiều tài liệu. Về nội dung, cơ bản các tài liệu thống nhất trong cách đánh giá lý tưởng của Phan Bội Châu gắn với hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ (thực dân Pháp xâm chiếm, nhân dân nô lệ, chế độ phong kiến suy tàn, bạc nhược). Tuy nhiên, về mặt nghệ thuật, có những đánh giá khác nhau. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú luật Đường, nhưng không thể chỉ căn cứ vào hình thức thể loại để khẳng định đây là một sáng tác hoàn toàn nằm trong phạm trù văn học trung đại. Chính tư tưởng, quan niệm mới mẻ của Phan Bội Châu trước thời đại đã khiến bài thơ, cùng với nhiều sáng tác khác của ông, đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam trên con đường hiện đại hóa. Vì thế, Xuất dương lưu biệt chưa phải là bài Thơ mới, nhưng cũng không thuần túy là một sáng tác của những nhà nho ở thế kỉ XVIII, XIX. Khi phân tích, bình giảng cần thấy được đặc điểm này để hiểu đúng giá trị của tác phẩm.
BÀI LÀM
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thời kì nào cũng xuất hiện những đấng anh hùng làm rạng danh sông núi. Có người anh hùng lẫy lừng chiến công. Có người anh hùng “thất thế nhưng vẫn hiên ngang”. Những anh hùng ấy được văn chương ghi tạc hay tự mình bày tỏ chí khí. Bài Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu là một cách bày tỏ thật mạnh mẽ chí khí của đấng anh hùng trong hoàn cảnh đầy bi kịch của đất nước ta ở những thập niên đầu của thế kỉ hai mươi.
Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Lập nên sự nghiệp là khát vọng của những bậc tài danh trong lịch sử. Thời nào, khát vọng ấy cũng được thể hiện. Chúng ta từng có hoài bão của Phạm Ngũ Lão:
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu
Tam quẩn tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
Và, cách Phan Bội Châu trước đó không xa, là chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ:
Thông minh nhất nam tử,
Yếu vi thiên hạ kì.
(Người con trai thông minh phải làm việc kì lạ cho thiên hạ).
Khẩu khí có lẽ giống nhau, nhưng ý tứ mồi thời đã có khác. Phạm Ngũ Lão thời Trần cảm thấy hỗ thẹn Gia Cát tiên sinh vì chưa trả xong nợ công danh. Nguyễn Công Trứ quả quyết đà là người tài trai thì phải làm nên những việc kì lạ cho thiên hạ. Dĩ nhiên, cái “công danh” hay việc “kì lạ” mà họ Phạm và họ Nguyễn từng nêu không phải là chuyện cá nhân, tất thảy đều mang ý nghĩa cao cả. Song, dù sao đi nữa cả hai ông đều nói đến sự phấn đấu của đấng nam nhi nhưng không vượt ra ngoài “con Tạo”. Có lẽ, thời Phạm Ngũ Lão, “thiên định” đang rất phù hợp với lòng người. Thời Nguyễn Công Trứ tuy có suy vi, xáo trộn, song vẫn còn đang ở trong bối cảnh chung ấy. Nhưng đến Phan Bội Châu, chuyện kinh thiên động địa đã xảy ra: non sông đất nước lần lượt rơi vào tay giặc, những người “thừa mệnh trời” vẫn còn ở đó nhưng bất lực, yếu đuối. Vì thế, chuyện “kì lạ” mà Phan Sào Nam muốn làm không phải là tôn vinh hay duy trì một trật tự đã có. Ông khao khát làm việc lớn hơn nhiều:
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Hai câu đề đã nói khá rõ chí nam nhi của Phan Bội Châu. Soi rọi vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước Việt Nam thời kì đó sẽ thấy sự mãnh liệt của nó. Câu thơ có thể biến thành một khẩu hiệu, một lời tuyên ngôn mới của một thế hệ, một giai đoạn lịch sử.
Hai câu thực bày tỏ niềm tin tưởng của nhà thơ vào tiền đồ của đất nước:
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy.
Có người đã bình một ý của câu thơ này như sau: “Cụm từ “trăm năm này (hiện nay) phải có ta” đối lập cụm từ “ngàn năm sau không có ai” – câu trên khẳng định, câu dưới phủ định – thể hiện một ý thức cao cả và một nỗi lo, một dự cảm xa rộng của nhà cách mạng trẻ tuổi đối với hiện trạng đất nước lúc bấy giờ”. Thực ra, ở đây chẳng có câu phủ định nào cả. “Trong khoảng trăm năm cần có tớ / Sau này muôn thuở há không ai” là sự khẳng định một nhân cách, một tài năng, một bản ngã, dĩ nhiễn sắc thái có phần cường điệu để bày tỏ thật triệt để khát vọng của mình chứ không phải đề cao cá nhân. Vì thế, câu thơ kế tiếp cũng là một lời khẳng định dưới hình thức câu hỏi. Phan Bội Châu là bậc trượng phu luôn hiểu rõ và đề cao lịch sử, truyền thống của dân tộc. Đồng thời, ông cũng là người lại luôn có niềm tin vào những thế hệ mới. Chỉ thấy Phan Bội Châu đề cao chí khí của mình là hạ thấp một nhân cách kì vĩ và không hiểu vì sao chính ông đã luôn tìm cách đưa những người trẻ tuổi ra nước ngoài để học tập đặng trở về cứu nước.
Để thực hiện được hoài bão của mình, Phan Bội Châu phải kiếm tìm con đường cứu nước. Ở vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước thời đó, Phan Bội Châu đã nhìn thấy trước sự thất bại nếu đứng lên khởi nghĩa khi lực lượng quá yếu so với kẻ thù. Khoa cử là con đường lập thân của biết bao đấng nam nhi ngày trước bây giờ đã không còn phù hợp, vì cả triều đình đă trở thành bù nhìn cho ngoại bang. Vì thế, hai câu luận thực chất là sự cắt nghĩa về tính tất yếu của cuộc “lưu biệt”:
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!
(Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài).
Non sông đất nước một khi đã rơi vào tay giặc coi như đã mất. Sống cam chịu, nhục nhã trong kiếp nô lệ thực chất là đã chết. “Hiền thánh” là những người kì tài, xuất chúng, nhưng cũng có nghĩa là các bậc khai sáng ra một hệ tư tưởng (Nho giáo) không còn (và bản thân hệ tư tưởng ấy không còn cơ sở hiện thực) thì việc học và xa hơn là sự lập thân bằng con đường cử nghiệp liệu có ích gì? Luận bàn về lý do mình phải ra đi như vậy thật triệt để. Có thể nói, Phan Bội Châu đã thực sự phủ định hệ tư tưởng mà mình vốn đã từng tiếp thu, Vì thế không thể xem chí làm trai của Phan Bội Châu vẫn còn nằm trong phạm trù ý thức hệ Nho gia như cố người đã từng đánh giá.
Hai câu kết là sự thể hiện khát vọng được biến hoài bão của đấng nam nhi thành hiện thực:
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.
(Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi).
Con đường phía trước không bằng phẳng. Trái lại, đầy phong ba bão tố. Nhưng đấy mới chính là chỗ để đấng nam nhi thể hiên ý chí, khát vọng của mình.
Cuộc đời Phan Bội Châu như ông từng nhận xét, trăm lần thất bại, không một lần thành công, song ông đã sống đúng với lý tưởng, hoài bão của mình. Nhà chí sĩ không thành công trong sự nghiệp mong được cứu nước, cứu dân, nhưng hình bóng, nhân cách, tâm hồn ông vẫn luôn là một biểu tượng đẹp đẽ và hào hùng cho những thế hệ trẻ Việt Nam. Và cũng chính nhân cách, tâm hồn ấy, khi được thể hiện bằng thơ, dù trong lớp áo cũ kĩ của thể thơ thất ngôn luật Đường, đã vang lên mạnh mẽ, như khúc tráng ca, lời ly biệt trở thành tiếng thúc giục lên đường vì non sông đất nước.
Nguồn: Tài liệu văn học
|
Bình giảng bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu
| 1,586
| |
Đề bài: Bình giảng bài Tự tình của Hồ Xuân Hương
Bài làm
Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ tài ba với phong cách sáng tác thơ nôm tả cảnh ngụ tình sâu sắc cùng ý tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự lòng mình.
Bà là một hiện tựơng khá độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam, đó là nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình. Nổi bật trong sáng tác của bà là tiếng nói thưong cảm đối với phụ nữ, là sự khẳng định đề cao vẻ đẹp và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt trong trái tim họ. Và một lần nữa ta bắt gặp điều đó qua những câu thơ rất đỗi chân thành trong bài thơ Tự tình 2 trong chùm thơ Tự tình được viết nên từ những cung bậc tình cảm dừơng như đang làm rối bời tâm trạng nhà thơ…
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
…
Mảnh tình san sẻ tí con con
Tình là gì ai biết không? Tình là vầng dương, tình là ngàn sao hay tình chỉ là vầng trăng khuyết, câu hát vang lên bằng một câu hỏi tu từ hỏi đời rằng trên thế gian còn gì hạnh phúc bằng tình yêu hay có gì làm lòng người đau khổ bằng thất bại trong tình cảm, nỗi đau khổ đó không chỉ làm bão giông trong bao trái tim người đời và trong đó có trái tim hồ xuân hương, nỗi cô đơn đã dằn vặt làm thao thức tác giả trong cái yên ắng và lạnh lùng của đêm khuya.
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Trong cái tĩnh mịch u buồn của đêm giá lạnh thoáng nghe tiếng trống canh văng vẳng từ môt chòi canh xa vọng đến báo hiệu đã nữa đêm, tiếng trống mỗi lúc một dồn dập hơn xa đến gần càng lúc như nhanh hơn trôi theo từng khoảnh khắc của thời gian và rút ngắn tuổi đời của một ng phụ nữ “hồng nhan” nhưng “trơ” đi trước cuộc đời, trước cảnh vật tựa như gỗ đá đã bị mất hết cảm giác vì bao nỗi phiền muộn đợi chờ một thứ hạnh phúc mong manh, giọng thơ trĩu xuống tăng thêm nỗi chán chường và cái cô đơn đang bủa quanh tác giả. Cách sử dụng đão ngữ nhấn mạnh thêm sự trơ trọi bẽ bàng và tủi hổ.
Trước cuộc đời, trước duyên phận hẩm hiu người phụ nữ ấy chua xót cho chính mình, thân phận lẻ loi mong manh giữa bao vùi dập của cái xã hội đầy bất công thị phi ngang trái. Thân phận hồng nhan bây giờ phải trải qua những đêm dài cay đắng cho tấm lòng thủy chung vì cuộc tình dang dở.Tiếng thở dài ngao ngán và ý nguyện muốn thoát khỏi nỗi sầu muộn dấy lên trong lòng nhưng cuối cùng cũng rơi vào bế tắc, dừong như nghịch cảnh khôg buông tha cho người phụ nữ ấy, mựợn rựou quên đi nhưng lại càng nhớ:
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Chén rượu cầm hững hờ trên tay mặc cho hương nồng của rựơu phả vào mặt xộc vào mũi, tác giả mong rượu có thể giải tỏa hộ nỗi lòng của mình, mong cơn say mau tìm đến để đưa ng đến một nơi yên bình dù trong thời gian ngắn ngủi cũng đỡ hơn khi phải một mình đối diện nỗi cô đơn đang giày xéo tâm can.Nhưng say rồi lại tỉnh cứ chập chờn chập chờn mơ hồ trong cái vòng lẩn quẩn.Thời gian thì cứ trôi tác giả lúc thì tỉnh để nhận ra cái éo le của cuộc đời lúc thì chìm vào cơn say quên đi bao tuyệt vọng, mong mỏi phút giây nào đếy có thể gạt dc tất cả qua một bên để sống với những khao khát của chính mình nhưng mong ứơc bé nhỏ ấy cũng bị cuốn phăng đi vô tình. Nỗi buồn tủi bắt đầu xâm chiếm, bao đêm dài thao thức đợi chờ nhưng vô vọng, chờ nhiều đợi nhiều mà hạnh phúc chẵng bao nhiêu trong khi cái xuân thì ngày càng rời xa tác giả.
Vầng trăng xuất hiện để làm chứng nhân cho bao cuộc tình mà sao khi tác giả thấy trăng thì lại không dc tròn đầy mà là hình ảnh đối lập là khuyết, phải chăng cuộc tình này cũng thế chẳng bao giờ có một cái kết trọn vẹn. Đến bao giờ thì trăng mới tròn đến khi nào thì hạnh phúc mới trong tầm tay và bao lâu nữa thì nỗi cô đơn này thôi xuất hiện làm xót lòng. Tác giả khao khát và mong chờ, nỗi niềm đó nhân lên theo ngày tháng, nhưng càng hi vọng thì càng đau khổ, bi kịch có bao giờ được kết thúc cho những người phụ nữ quá lứa lỡ thì cùng tình duyên ngang trái trong cái XHPK ngày xưa. Nỗi buồn dâng đầy trong lòng rồi lan tỏa ra không gian khắp bốn bề, khẽ đưa mắt nhìn ra khoảng trống trước mặt những hình ảnh thiên nhiên đập vào mắt và như hòa vào tâm trạng nhuốm nỗi buồn phiền của tác giả.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Câu thơ tả cảnh với cấu trúc tương phản hình ảnh những đám “rêu” bé nhỏ yếu ớt với sức mạnh “xiên ngang” cả lớp đất dày vưon lên với sức sống mãnh liệt hay “đá mấy hòn” nhưng lại có khả năng đâm toạc chân mây trứoc mắt. Thái độ phản ứng khá mạnh mẽ trứoc duyên tình lận đận thể hiện qua cả gịong thơ ngang ngạnh phản kháng và ấm ức. Thiên nhiên trong mắt nhà thơ tiềm ẩn một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên mãnh liệt. Ta thấy rõ được tác dụng của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ở hai câu thơ này, dừơng như có một điểm giống nhau giữa tâm hồn thơ và những hình ảnh thiên nhiên ấy. Rêu và đá bé nhỏ là thế nhưng chúng giống nhau ở sức sống mạnh mẽ vô cùng và nhà thơ cũng vậy.
Dù trong hoàn cảnh xót xa nhưng tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy một niềm hy vọng, bi kịch dẫu đắng cay nhưng bằng cả nghị lực tác giả vẫn cố gắng gựơng mong chờ vựơt qua để đến bến bờ bình yên cho mình. Hai câu thơ hay ẩn dụ được khát vọng rất lớn không chỉ của riêng Hồ Xuân Hương mà là tiếng lòng chung của bao số phận hồng nhan hẩm hiu về một cuộc đời hạnh phúc hơn. Dâng tràn trong họ là tất cả hy vọng mong chờ bằng cả niềm tin dù bao nghịch cảnh. Nhưng đáng buồn thay vòng xoay cuộc đời một lần nữa làm người rơi vào bế tắc.
Cuộc đời nhà thơ là những thắng ngày buồn tủi không chỉ một mà đến hai lần người đều là vợ lẽ và âu cũng vì vậy mà bao phẫn uất kết tụ đến hồi bộc phát khi thực tại vẫn là bao chua xót não nề. Khao khát được yêu thương được sống hạnh phúc như những người phụ nữ bình thường nhưng càng vô vọng, đêm đã khuya mà nhà thơ vẫn còn trằn trọc thao thức ưu tư, nỗi đau bị dồn tụ khi tác giả nhìn lại chính mình thì cũng là lúc nỗi cô đơn đâng đầy hơn bao giờ hết trong tâm trạng chán chừờng và mệt mỏi thậm chí là thất vọng với sự thực trước mắt
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
Tiếng lòng than thở của nhà thơ vang lên qua từ “ngán” được rõ nét hơn.Mùa xuân có đi rồi cũng đến ngày sẽ quay về với thiên nhiên nhưng còn tình duyên thì mới bao giờ trở lại với con tim chung tình đang chịu nỗi đau.Tuổi xuân người phụ nữ trôi nhanh nhưng cũng không bằng cuộc tình dang dở, hạnh phúc ngắn ngủi để rồi bây giờ chỉ còn nhà thơ quạnh hiu trong nỗi cô đơn đang ngấm buốt tê lòng. Tình duyên lỡ làng tan vỡ như mảnh vụn chỉ dành nhà thơ được một chút nhưng lại phải “san sẻ” để còn trong nhà thơ là “tí con con”. Buộc lòng cam chịu cảnh ngộ đơn chiếc đang ngày đêm trải qua sự đợi chờ mỏi mòn. Nỗi đau như thế chưa đủ hay sao mà còn tình cảm nhận được chẳng những quá ít mà còn quá vô tình, quá hờ hững.
Câu thơ tả thực nỗi chua chát ngấm từ trong lòng. Nỗi trống trải cô đơn làm tác giả chán nản nới những mong chờ mà đáp lại chỉ là sự lành lùng tàn nhẫn. Mổi từ như một giọt nước mắt rưng rưng chỉ chực trào ra theo những tủi hờn trách móc. Có mấy ai hiểu được những gì đang hành hạ tâm hồn mỏng manh của người, thấu chăng nơi đây đang có bóng hình chờ và đợi. Đau lắm nhưng cũng phải tự nén lòng và nuốt nghẹn đắng vào trong. Cuộc đời thì cứ đùa cợt trêu đùa với những người làm vợ lẽ, phải chịu bao phân biệt và bất công có ai thấu hiểu dùm.
Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng
Cầm lòng làm mướn mướn không công
Cả bài thơ là muôn vàn sắc thái tình cảm của nhà thơ có buồn có hờn có giận có chua chát có lúc phản kháng dữ dội nhưng rồi chán chường vì thất vọng. Tiếng thơ táo bạo chân thành thễ hiện khát vọng mưu cầu hạnh phúc lứa đôi của bao hồng nhan trong xã hội phong kiến bấy giờ, qua đó đã dẫn dắt cho người đọc đi vào thế giới tâm hồn đa dạng của họ và có cơ hội cảm thông với bao nỗi buồn mà họ phải gánh chịu.Ngôn ngữ thơ mang đậm chất dân gian được sử dụng khéo léo giàu sức biểu cảm tinh tế. Tài thơ nôm của Hồ Xuân Hương còn thể hiện qua việc viết thơ đường luật bằng tiếng Việt thật tài tình, quả không hổ danh là bà chúa thơ nôm.
|
Bình giảng bài Tự tình của Hồ Xuân Hương
| 1,750
| |
Bình giảng bài ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ bốn bài của Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Tuyệt cú
Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lí thuyền.
Đỗ Phủ
Đôi chim oanh vàng hót trong liễu biếc,
Một hàng cò trắng bay lên trời xanh.
Cửa sổ ngậm tuyết Tây Lĩnh đọng hàng nghìn năm, Trước cửa, thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến đỗ.
Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc Một hàng cò trắng vút trời xanh.
Nghìn năm tuyết núi song in sắc,
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.
Tản Đà dịch
Liễu xanh hót cặp oanh vàng,
Trời xanh trắng điểm một hàng cò bay.
Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đổ ngay cửa ngoài.
Tương Như dịch
Gợi ý làm bài
… đã bị gió thu thổi tốc mái. Sau đó, gia đình nhà thơ đã xuống ở trong một chiếc thuyền trên sông Tương bồng bềnh theo sóng nước.
Có người gọi bài ‘Tuyệt cú’ này là một bức tranh tứ bình tuyệt mĩ. Mỗi câu thơ là một bức tiểu họa xinh xắn. Câu thứ nhất có hình ảnh khóm liễu xanh biếc, trong đó cất lên tiếng hót của đôi chim oanh vàng. Bức tranh đẹp lộng lẫy: nổi lên trên nền biếc của liễu là màu Vàng của đôi chim oanh bé nhỏ hót ríu rít. Thơ vừa có nhạc vừa có họa đầy mĩ lệ và ấn tượng:
Câu thơ thứ hai tả bầy cò ở phía xa và trên tầm cao. Cò trắng bay thành hàng, bay hướng lên trời xanh, sắc trắng của hàng cò nổi bật trên nền xanh của bầu trời. Bức tiểu họa này cho thấy nghệ thuật phối sắc thần tình. Đàn cò được miêu tả trong trạng thái ‘động’ đang bay giữa trời xanh: ‘Một hàng cò trắng vút trời xanh’.
Câu 1 và câu 2 được cấu trúc đăng đối hài hòa. Cảnh vật thiên nhiên đang cùng tồn tại, vật này cảnh này hòa hợp với vật kia, cảnh kia:
‘Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh’
‘Hai cái oanh vàng hót’đối với ‘một hàng cò trắng bay’, ‘liễu biếc’ đối với ‘trời xanh’. Thiên nhiên vốn đẹp như vậy. Có liễu biếc và trời xanh, có oanh vàng và hàng cò trắng. Màu sắc tươi sáng, rực rỡ: vàng, biếc, xanh. Có liễu bay, chim hót, có hàng cò vỗ cánh giữa trời xanh. Có điểm và diện, có cái nhỏ bé và cái bao la. Thật là mĩ lệ và thần tình trong bút pháp miêu tả.
Càu thứ 3 đích thực là cảnh thu phương Bắc rồi. Ở câu thơ trên mới nói đến trời xanh, câu này nói đến núi tuyết. Cảnh sắc bao la một màu ‘thiên thu tuyết’–,
tuyết trùm lên các đỉnh non Tây, tuyết tràn ra ‘cửa sổ ngậm tuyết’. Cả không gian là một màu trắng lạnh, vắng lặng mênh mông. Nhà thơ hình như đang đứng trong con thuyền – ngôi nhà mình, vén bức màn thư nơi cửa sổ khoang thuyền bâng khuâng ngắm tuyết:
Câu thứ tư miêu tả dòng sông tương. Có cơ man nào thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến đỗ trước cửa – con thuyền nhà thơ. Hình ảnh những thuyền từ Đông Ngô xa muôn dặm đến đã gợi lên trong lòng nhà thơ – kẻ tha hương biết bao nỗi niềm: ’.
‘Muôn dặm thuyền Ngô của rập rình’
Nhiều nhà nghiên cứu thơ Đường cho rằng Đỗ Phủ dùng hình ảnh những chiếc thuyền này để gửi gắm ý định rời Tứ Xuyên đi về phía Đông rồi vòng lên quê nhà tại Hà Nam. Trong những bài thơ cuối đời, Đỗ Phủ luôn gửi gắm ý định về quê vào hình ảnh những chiếc thuyền:
– ‘Con thuyền buộc chặt mối tình nhà’…
(Thu hứng)
‘Bạn bè một chữ vẫn không,
Thán già ma bệnh chiếc bồng lẻ loi…’
(Lên lầu Nhạc Dương)
Hai câu thơ 3, 4 cũng cấu trúc đăng đối: ‘ngoài song’với ‘trước cửa’, ‘Tây Lĩnh’với ‘Đông Ngô’, ‘thiên thu tuyết’với ‘vạn lí thuyền’đã làm hiện lên bức
tranh thu lạnh lẽo, mênh mông, xa vời; bức tranh thiên nhiên ấy trải dài, trải rộng trên một không gian tuyết đầy núi, thuyền đầy sông. Cảnh đẹp mà lòng nhà thơ nhiều man mác:
‘Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền’ ị Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đố ngay cửa ngoài)
Bài thơ này chỉ có hai vần: ‘thiên’ câu 2 vần với ‘thuyền’ câu 4. Câu 1 và 2 câu 3 và 4 đối nhau từng cặp một. Có thể nói bài tuyệt cú này là hình ảnh phần thực và phần luận của một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.Mỗi câu thơ là một cảnh thu. Câu nào cũng có màu sắc, đường nét hoặc âm thanh. Có chim hót, liễu buông, có cò bay, có sắc biếc của liễu, có màu trắng bầy cò xếp hàng chữ nhất trên nền trời xanh, có màu trắng tuyết lạnh của Tây Lĩnh,… Cảnh đẹp nhưng chứa ẩn bao nỗi niềm của kẻ tha hương: gia cảnh nghèo, tuổi già, lắm bệnh, bâng khuâng nhớ quê buổi thu về.
|
Bình giảng bài ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ bốn bài của Đỗ Phủ
| 872
| |
Bình giảng bài ‘Tụng giá hoàn kinh sư’của Trần Quang Khải
Hướng dẫn
…Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về Kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’.Bàithơ nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể thơ Đường ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn đầu tiêncủa dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Trước thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa được đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó,, bài thơ ‘Phò giá về kinh’ của vị thượng tướng – thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán:
‘Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san’.
Và đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim:
‘Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu’.
bố cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầu:
‘Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù’
Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhít là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chỉ nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định để giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước (tháng 4 năm 1285), chiến thắng Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285). Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị.
Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, chắc quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú… Song, tác giả chí đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết. Ớ mỗi chiến thắng, cũng đúc lại bằng hai từ: ‘Đoạt sáo’ (cướp giáo), ‘cẩm Hồ’ (bắt quân Hồ). Cần chú ý câu thơ nguyên tác ‘đoạt sáo’. ‘Đoạt’ nghĩa gốc là ‘lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác’w. Như vậy, dùng từ ‘đoạt sáo’, nhà thơ vừa ghi chiến công, vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ ‘cướp giáo’ làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng, Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quàn giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng.
Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau bổ sung cho nhau, thật hài hòa, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động ‘đoạt sáo’, ‘cầm Hồ’. Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta.
Xuống hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lại đất nước:
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng ‘tu trí lực’, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực. Đồng thời động viên quân dân ‘gắng sức, đồng lòng’ phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết ‘Vạn cổ thử giang san’ vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa niềm tin, niềm hi vọng.
Ba năm sau khi bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông), đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơ:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng’
Phải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của thượng tướng Trần Quang Khải? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hàokhí Đông – A? Hào khí Đông – A nghĩa là thế nào? Đông A là chiết tụ tên họ Trần, gồm hai chữ: Chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu.nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chí là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, XIII.
Trở lại với bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu SẶC, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như: ‘Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn’. Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta vẫn hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả – người sống cách chúng ta gần một ngàn năm.
Nếu ta gọi bài thơ ‘Sông núi nước Nam’là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, thì cũng có thể coi ‘Phò giá về kinh’là khúc khải hoàn ca đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt Nam. Bằng hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bài thơ ‘Phò giá về kinh’ đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ỏ thời đại nhà Trần.
|
Bình giảng bài ‘Tụng giá hoàn kinh sư’của Trần Quang Khải
| 1,311
| |
Bình giảng bài “Côn sơn ca” của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Bình giảng bài “Côn sơn ca” của Nguyễn Trãi
Ông nằm trong danh sách 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam. Không chỉ là một vị tướng tài giỏi, ông còn là một nhà văn hóa lớn, có đóng góp to lớn vào nền văn học Việt Nam. Ông là Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, là một nhà chính trị nhà thơ dưới thời nhà Hồ và Lê sơ Việt Nam. Thi đỗ Thái học sinh, làm quan dưới triều nhà Hồ, nhưng sau đó nhà Minh xâm lược ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ông đóng một vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa này. Các tác phẩm thơ ca văn học của ông kể ra không xuể, tiêu biểu là có tác phẩm Côn Sơn Ca trích trong tập “Ức trai thi tập” của tác giả Nguyễn Trãi. Bài thơ được học giả Đào Duy Anh xếp vào bài thơ số 87 của tập “Ức trai thi tập”. Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể ca, gồm có 36 câu, câu ngắn nhất gồm bốn chữ, câu dài nhất là mười chữ, phần lớn là ngũ ngôn và thất ngôn. Dịch giả đã chuyển thành thơ lục bát, thể hiện tâm hồn của nhà thơ lúc ở ẩn tại động Thanh Hư thuộc Côn Sơn Ca. Côn Sơn không chỉ là mảnh đất quê mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ của nhà thơ. Nguyễn Trãi đã viết rất nhiều về Côn Sơn và Côn Sơn là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn của hồn thơ ông.
Bài thơ Côn Sơn ca (bài ca Côn Sơn) là bài ca thiên nhiên và là bài ca mà thể hiện rõ tâm trạng của nhà thơ lức bấy giờ. Trong bài ca, nhà thơ nói về cảnh vật Côn Sơn khá nhiều như: dòng suối, phiến đá, rừng tùng, rừng trúc. Đáng lưu ý hơn cả chính là cảnh vật Côn Sơn được gợi lên bằng ngòi bút “đặc tả”: suối chảy róc rách, rì rầm như tiếng đàn lúc khoan, lúc nhặt; phiến đá Thạch Bàn qua mưa, rêu phô xanh biếc như phủ chiếu tiêu; cây tùng xòe tán lá như chiếc lọng xanh; rừng trúc bạt ngàn màu xanh tươi mát. Cảnh Côn Sơn hiện lên mang những đặc điểm riêng không lẫn với bất cứ bức tranh sơn thủy hữu tình nào chỉ bằng nét vẽ đặc tả này.
Tác giả về ở Côn Sơn như về với ngôi nhà của mình. Chỉ cần chú ý ta sẽ thấy trong thơ có giọng thơ phóng khoáng, nhịp thơ thoải mái, câu thơ tự do trong phần phiên âm chữ Hán:
“Côn Sơn hữu tuyền,
Kì thanh linh tinh nhiên
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.”
Đọc bài thơ nên ta thấy như có tiết tấu, nhạc điệu vậy. Chính chất hào sảng trong tâm hồn của nhà thơ đã tạo nên chất hào sảng của thơ. Ông là một vị tướng tài, làm quan có vị trí quan trọng, bận rộn với việc nước, cống hiến sức lực vì nước vì dân, những năm cuối đời sống trong vòng ganh ghét đố kị, khi trở về với Côn Sơn ông thật sự cảm thấy tự do,thoải mái. Đọc thơ, ta thấy Nguyễn Trãi ở trong thơ, thấy ông lúc nằm nghỉ, lúc dạo chơi, khi trò chuyện tâm sự, lúc lại ngâm nga,… Lúc này, ông thật sự tự do, thanh bạch, hào phóng, cởi mở, ông như con chim xổ lồng vui say giữa chốn quê thanh bình. Bản dịch thơ lục bát đã cố gắng lột tả tâm trạng tự do, khoáng đạt của ông khi về với Côn Sơn, nhưng cái nhịp điệu như tiếng suối reo, như bước chân lên xuống, khi chạy, khi rừng thì bản dịch thơ lại không thể lột tả được.
“Về đi sao chẳng sớm toan,
Nửa đời vương vấn bụi trần làm chi”
Câu hỏi khiến ta thấy lạ. Ngạc nhiên hơn nữa khi Nguyễn Trãi ca khúc “Quy khứ lai từ” của Đào Tiềm với tâm trạng thanh thản, nhẹ tênh. Có vẻ như tác giả còn đi xa hơn cả Đào Tiềm, đi lạc hơn Đào Tiềm với những câu thơ triết lí đầy chất phóng nhiệm:
“Trăm năm trong cuộc nhân sinh.
Người như cây cỏ thân hình nát tan.”
Còn thơ Nguyễn Trãi là: “ Núi gò đài các đó đây,
Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh”
Một người yêu ghét phân minh, rạch ròi như Nguyễn Trãi lẽ nào lại xếp Nguyên Tải cùng với Bá Di, Trúc Tề vào chung một số kiếp để người đời cảm thông?
Nguyễn Trãi viết bài Côn Sơn ca trước bao lâu vụ án Lệ Chi Viên xảy ra? Tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần cuối của bài ca là một nỗi buồn thầm sâu, tảo rộng trong tâm hồn Ức Trai. Bi kịch của Nguyễn Trãi là bi kịch của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến, là một bi kịch không ai có thể hiểu thấu.
“Sào Do bằng có tái sinh,
Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn”
Nguyễn Trãi có đồng ý với ý kiến của Sào Phủ, còn Hứa Do là hai cao sĩ ẩn dật thời vua Ngô. Lời giả mã hai câu thơ trên vẫn chưa được làm rõ. Có điều là sau đó không lâu, Nguyễn Trãi lại hăm hở tham gia xây dựng đất nước theo lời mời của vua Lê Thái Tông.
Qua bài Côn Sơn ca ta thấy rõ được tài năng của Nguyễn Trãi và tâm hồn thanh bạch, ông dám sống thật với chính mình. Ông là người anh hùng yêu thiên nhiên, yêu con người, quê hương đất nước, ông luôn một lòng vì nước vì dân.
|
Bình giảng bài “Côn sơn ca” của Nguyễn Trãi
| 993
| |
Đề bài: Bình giảng bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc
Bài làm
Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng, nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa, lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi.
Và cứ thế sợi nhớ, sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi “Ta – mình” của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết ” Khi ta ở đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga, với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được.
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve keo rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ nhàng mà cũng thật đậm sâu. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã “Thủ đô gió ngàn” về với “Thủ đô Hoa vàng nắng Ba Đình”. Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong bài ca Việt Bắc có lẽ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân – hạ – thu – đông.
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”
Câu thơ đầu tiên sử dụng câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, câu thơ thứ hai là tự trả lời, điệp từ “ta” lặp lại bốn lần cùng với âm “a” là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa, tha thiết nồng nàn. Với Tố Hữu, người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”, mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của Hoa cùng Người. Ở đây, hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc. Còn con người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa và Người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài
hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này.Chính điều ấy đã tạo nên cái
cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ.Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành cho nhớ hoa, nhớ cảnh, câu tám dành cho nhớ người.Cảnh và Người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.
Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da, cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Từ xa trông tới, bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa,vừa cổ điển vừa hiện đại.Cái màu “đỏ tươi” – gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:
“ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tịn mùi hương”
Từ liên tưởng ấy ta thấy, mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữa màu xanh của núi rừng.
Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn.Ở đây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng. Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất – ” đèo cao”. Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi rừng, tự do ” Núi rừng đây là của chúng ta/ Trời xanh đây là của chúng ta”. Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.
Đông qua, xuân lại tới. Nhắc đến mùa xuân ta liên tưởng ngay đến sức sống mới của cỏ cây, hoa lá, của trăm loài đang cựa mình thức dậy sau mùa đông dài. Mùa xuân Việt bắc cũng vậy:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”. “trắng rừng” được viết theo phép đảo ngữ và từ “trắng” được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá, và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát của hoa mơ. Động từ “nở” làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống. Đây không phải là lần đầu tiên Tố Hữu viết về màu trắng ấy, năm 1941 Việt Bắc cũng đón bác Hồ trong màu sắc hoa mơ:
“ Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
Mùa xuân càng trở nên tươi tắn hơn nữa bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động ” chuốt từng sợi giang”. Con người đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày. Từ “chuốt” và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần mẫn, tỉ mẩn, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút đó cũng chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc.
Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, bức tranh Việt Bắc lại sống động hơn bao giờ hết:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Thời điểm ve kêu cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng. Động từ “đổ” là động từ mạnh, diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè. Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh.Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây Phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc.
Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn
đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến: “Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.
Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mát:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình dọi sáng niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc. Ta cũng từng biết đến mùa thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:
“Trăng vào cửa sổ đòi thơ
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu
Ấy tin thắng trận liên khu báo về”
Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát. Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình. Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc của núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng.
Vâng! Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và
khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát “ân tình thủy chung” gợi cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước.
Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố
Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.
Bài làm 2
“Ôi! Nỗi nhớ,có bao giờ thế!”.Nỗi nhớ đi qua thời gian,vượt qua không gian.Nỗi nhớ thấm sâu lòng người…Và nỗi nhớ ấy cứ ray rứt,da diết trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng miền xuôi khi xa rồi Việt Bắc thân yêu-nơi đã từng nuôi nấng mình trong những ngày kháng chiến gian lao….
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Trong cùng một đoạn thơ ngắn nhưng từ “ nhớ” đã được lặp lại năm lần.Nỗi nhớ xuyên suốt từ câu đầu đến câu cuối đoạn.Hai dòng đầu là lời khơi gợi, “nhắc khéo”:mình có nhớ ta không?Riêng ta,ta vẫn nhớ!Cách xưng hô gợi vẻ thân mật,tình cảm đậm đà tha thiết.Ta với mình tuy hai mà một,tuy một mà hai. Người ra đi nhớ những gì?Việt Bắc có gì để mà nhớ,để mà thương?Câu thơ đã trình bày rất rõ?
“Ta về,ta nhớ những hoa cùng người’
Núi rừng,phong cảnh Việt Bắc được ví như “ hoa”.Nó tươi thắm,rực rỡ và “thơm mát”.Trong bức tranh thiên nhiên ấy,hình ảnh con người hiện lên,giản dị,chân chất,mộc mạc mà cao đẹp vô cùng!Con người và thiên nhiên lồng vào nhau,gắn kết với nhau tạo nên cái phong thái riêng của Việt Bắc.
Bốn mùa đất nước đi qua trong những câu thơ ngắn gọn bằng các hình ảnh,chi tiết chắc lọc,đặc trưng.Mỗi mùa mang một hương vị độc đáo riêng.
Mùa đông,rừng biếc xanh, điểm lên những bông hoa chuối “đỏ tươi” và ánh nắng vàng rực rỡ.Xuân đến, cả khu rừng bừng sáng bởi màu trắng của hoa mơ.Hè sang, có ve kêu và có “ rừng phách đổ vàng”.Và khi thu về,thiên nhiên được thắp sáng bởi màu vàng dìu dìu của ánh trăng. Đoạn thơ tràn ngập những màu sắc chói lọi,rực rỡ: xanh, đỏ, vàng, trắng…Những màu sắc ấy đập mạnh vào giác quan của người đọc.Tiếp xúc với những câu thơ của Tố Hữu,ta như được chiêm ngưỡng một bức tranh sinh động.Trong đó,những gam màu được sử dụng một cách hài hoà tự nhiên càng tôn thêm vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc.
Thời gian vận hành nhịp nhàng trong những dòng thơ.Nó bước những bước rắn rỏi,vững chắc khiến ta chẳng thể thấy phút giao mùa.Thiên nhiên Việt Bắc còn được mô tả theo chiều dọc thời gian. Buổi sáng hoa “mơ nở trắng rừng”,trưa nắng vàng rực rỡ và khi đêm về,trăng dọi bàng bạc khắp nơi…Núi rừng Việt Bắc như một sinh thể đang biến đổi trong từng khoảnh khắc….
Và cái phong cảnh tuyệt vời,đáng yêu ấy càng trở nên hài hoà,nắng ấm,sinh động hẳn lên khi xuất hiện hình ảnh của con người.con người đang lồng vào thiên nhiên,như một đoá hoa đẹp nhất,có hương thơm ngào ngạt nhất.Mỗi câu thơ tả cảnh đi cặp với một câu thơ tả người.Cảnh và người đan xen vào nhau một cách hài hoà.Đây là những con người lao đông,gắn bó,hăng say với công việc.Kẻ “dao gài thắt lưng”,người “ đan nón”, “cô em gái hái măng một mình” và tiếng hát ân tình của ai đó vang lên giữa đêm rừng núi xôn xao…Hình ảnh con người là nét đẹp của thiên nhiên thêm rực rỡ.Chính họ đã thắp sáng thiên nhiên,làm cho thiên nhiên thêm rực rỡ.Chính họ đã gợi nên nỗi nhớ da diết cho người ra đi.Đọc đoạn thơ,ta có cảm nhận những vẻ đẹp bình dị mà trong sáng của tâm hồn người Việt Bắc.ở đó họ đối xử với nhau bằng tình nghĩa mặn mà,chân thật,bằng sự thuỷ chung “trước sau như một”.Họ đã nuôi chiến sĩ,nuôi cách mạng,nuôi cuộc
kháng chiến của dân tộc….Những con người Việt Bắc tuy bình dị nhưng thật anh hùng.
Khơi gợi hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây,TốHữu đã thể hiện một tình cảm tha thiết,ân tình sâu nặng và nỗi nhớ thương sâu sắc.Ta với mình,mình với ta đã từng:
“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa,chăn sui đắp cùng.”
Đã từng san sẻ những ngọt bùi,gian nan vất vả như thế!Ta,mình làm sao có thể quên nhau được.Tình cảm mến thương ấy đã ăn sâu vào tâm hồn kẻ ở,người đi.Vì thế,khi ra đi,nhớ là nỗi niềm khắc đậm sâu trong tâm khảm,tình cảm của tác giả.
Giọng thơ lục bát nhẹ nhàng mà sâu lắng.Cả khổ thơ ôm chứa niềm lạc quan,vui sống và
tin tưởng vào cuộc sống.Nó mang âm điệu trữ tình,thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người tha thiết và tấm lòng yêu nước thiết tha của Tố Hữu.Cuối đoạn thơ vang lên tiếng hát ngọt ngào khơi gợi bao kỉ niệm.Kỉ niệm ấy theo mãi dấu chân người đi và quấn quýt bên lòng kẻ ở lại….
Những câu thơ của Tố Hữu có tính khái quát cao so với toàn bài.Lời thơ giản dị mà trong sáng thể hiện niềm rung động thật sự trước vẻ đẹp của núi rừng và con người Việt Bắc.Nỗi nhớ trong thơ của TốHữu đã đi vào tâm hồn người đọc,như khúc dân ca ngọt ngào để lại trong lòng ta những tình cảm sâu lắng,dịu dàng…..
Bài làm 3
Trong những năm kháng chiến chống Pháp khi mà cánh đồng văn chương Việt Nam đang được làn gió “Thơ mới” thổi qua thì Tố Hữu lại tìm về với những vần thơ truyền thống. Khi đọc “Việt Bắc” ấn tượng ban đầu mà người đọc dễ dàng nhận thấy là tính dân tộc, tính dân gian rất đậm đà của bài thơ. Trong khi “Thơ mới’ đang chiếm ưu thế một cách tuyệt đối thì ta lại thấy xuất hiện trên thi đàn tập thơ “Từ ấy” nổi bật là bài “Việt Bắc” là đỉnh cao của sự tìm về cội nguồn văn thơ dân tộc. “Việt Bắc” là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ ra đời và đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình thuỷ chung như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của người con rời “ thủ đô kháng chiến” mà trong thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương. Trong tâm trạng kẻ ở – người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay những câu thơ còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng chiến khu, hơi ấm của người tình lan toả:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao ắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng, Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hoà bình,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”
Đọc “Việt Bắc” ta thấy rằng việc tác giả chọn cho bài thơ thể lục bát, lối đối đáp với một cặp đại từ nhân xưng “mình – ta” là rất phù hợp và hiệu quả. Hẳn không ít người đọc thắc mắc trong ca dao, tục ngữ có rất nhiều cặp đại từ nhân xưng được dùng phổ biến như: “chàng-nàng”, “anh-em”, “ta-nàng”, “mình-ta”, vậy tại sao Tố Hữu lại chọn cho bài thơ cặp “mình-ta”. Ở đây dường như nhà thơ có ẩn ý. Mình là ta và ta cũng có thể là mình. Cặp đại từ nhân xưng này có khả năng bao quát hết những cặp còn lại. “Mình-ta” có thể hiểu là anh em, mẹ con, hai người đang yêu nhau hay xa hơn là mối quan hệ trừu tượng giữa con người với núi rừng Việt Bắc. Chỉ là một cặp đại từ nhân xưng thôi mà có thể nói đến nhiều khía cạnh tình cảm khác nhau. Tố Hữu quả là người biết vận dụng văn thơ truyền thống một cách tinh tế và điêu luyện đến khâm phục.
Cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ Tố Hữu. Với tâm tình lẽ sống của nhà thơ “Việt Bắc” là kết tinh của tình cảm riêng – chung. Hoà điệu tự nhiên của hai luồng tình cảm: dân tộc và cách mạng. Tiếng nói từ nhân vật trữ tình nhập vai cũng chính là những lời suy ngẫm, tình cảm của nhà thơ thật khó tách bạch chủ thể và nhân vật. Ở đó cái tôi gắn với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng tư “mình-ta” đã nói hộ tấm lòng của nhân dân và những người con cách mạng. Chất tự sự trữ tình chính trị như những lời thầm thì tâm sự cùng mọi người thuyết phục lòng người. Nổi nhớ là cảm xúc chủ đạo của bài thơ, gắn với “mình – ta, ta – mình”, là cung bậc thiết tha của tình cảm, là miền ký ức không phai mờ của người ra đi. Nỗi nhớ ở đây mựơn nguyên màu sắc ca dao, là sự nối tiếp, là khía cạnh tinh vi trong mối quan hệ khắng khít: hoa – người. Quê hương hiện hình trong vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh tuý của thiên nhiên (hoa) hoà hợp với vẻ đẹp và sức sống của con người. Mỗi một hình ảnh “hoa cùng người” như đem lại ấn tượng riêng biệt về nét đẹp của núi rừng Việt Bắc. Sự nối tiếp, đan xen sắc màu làm nên mạch cảm xúc của đoạn thơ, nỗi nhớ qua từng câu thơ càng trở nên đậm đà, mãnh liệt và da diết hơn. Nhà thơ dường như hướng toàn bộ tâm tư, ngòi bút của mình về con người nơi đây với những phẩm chất bình thường mà vĩ đại.
Tố Hữu đã khéo léo vận dụng thành công đặc trưng tái hiện không gian vô cực của thi ca gói trọn bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông trong những sắc màu đẹp nhất, hài hoà nhất. Mỗi bức tranh gồm hai mảng: một mảng xa, một mảng gần. Mỗi bức đều có sự gắn bó giữa thiên nhiên với con người, sự gắn bó trong nỗi nhớ những hoa cùng người của nhà thơ:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Nét son của bức tranh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối khiến cho núi rừng đã xanh lại càng thêm xanh. Chấm phá của tranh thuỷ mặc điểm một sắc đỏ trong không gian xanh bao la, không gian mang sức sống mãnh liệt.
Mùa đông trong câu thơ của Tố Hữu cũng lan toả hơi ấm mùa hè, không hề có cảm giác lạnh lẽo, bởi sắc đỏ của hoa chuối như phun trào từ giữa màu xanh của rừng. Bên cạnh nét đẹp của hoa là nét đẹp khoẻ khoắn của người. “Nắng ánh dao gài thắt lưng” là hình ảnh của người dân miền sơn cước. Cách doán dụ không phải tình cớ ngẫu nhiên mà chọn con dao đi rừng-vật bất ly thân của người miền núi-nét đặc trưng của cuộc sống Việt Bắc. Con người nổi bật trong không gian đèo cao, càng nổi bật trong ánh nắng, thành một điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông mang trong mình nét hiên ngang hùng vĩ của núi rừng.
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Không gian mùa xuân bừng sáng trong sắc hoa mơ. Sức sống mùa xuân lan toả khắp núi rừng Việt Bắc. Giữa nền trắng hoa mơ nổi bật “người đan nón”. Nỗi nhớ ở đây cụ thể đến từng chi tiết “chuốt từng sợi giang”. Dường như đối với Tố Hữu bao nhiêu sợi giang là bấy nhiêu sợi nhớ. Nỗi nhớ cứ liên tiếp, đan xen vào nhau và kéo dài suốt bốn mùa trong năm. Trong tả cảnh không có một âm vang nào của nùi rừng nhưng vẻ đẹp của mùa xuân vẫn sinh động nhờ hoạt động của con người. Sợi nhớ, sợi thương đan dày trong tâm tưởng, con người đẹp tự nhiên trong những công việc tỉ mẩn hàng ngày.
“Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Không gian nỗi nhớ hình như rõ nét nhất, đậm đà nhất trong bức tranh này- nỗi nhớ mùa hạ. Và cũng đọng lại hình ảnh ngọt ngào thân thương nhất của “cô em gái hái măng”. Câu thơ tả cảnh giàu sức biểu cảm, tiếng ve ran gọi màu vàng tràn ngập không gian, không gian lung linh hơn khi sắc vàng đổ xuống. Ấn tượng màu vàng đẹp như bức vẽ tả thực vừa làm xao xuyến lòng người trong tiếng ve dóng dả gọi hè, như gọi cả màu vàng đất trời về phủ kín cánh rừng.
“Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
Không gian chuyển về đêm như hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mĩ của núi rừng Việt Bắc. Đêm thu và ánh trăng nhẹ nhàng như lan toả vào màu xanh của núi rừng. Vẻ đẹp của khu rừng dưới ánh trăng gợi lên sự huyền ảo, khung cảnh gợi hồn thơ. Nỗi nhớ cũng mênh mang như ánh trăng trở thành “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Nhớ không cụ thể một đối tượng nào. Chúng ta liên tưởng đến câu ca dao:
“Nhớ ai ra vào ngẩn ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai”
Tình người bâng khuâng trong câu thơ gợi cảm xúc đồng điệu giữa kẻ ở người đi. Đọng lại trong nỗi nhớ là “ân tình thuỷ chung” dào dạt. Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng và bốn mùa hoà chung sắc màu đa dạng làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh phong cảnh trữ tình. Thời gian diễn tả tuần tự, nhưng không làm phai nỗi nhớ, mà thờ gian trôi đi càng làm nỗi nhớ thêm tha thiết,sâu lắng. mỗi mùa đến đều có một không gian đặc trưng và khi đi qua đều để lại một khoảnh khắc đẹp và đáng cất giữ trong tâm hồn – đó là khi nhà thơ bắt nhịp cùng không gian – cảnh vật. Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ. Cũng là tấm lòng của những người con kháng chiến sâu nặng với “thủ đô kháng chiến”.
Bài làm 4
“Việt Bắc” là một trong những tập thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu. Linh hồn của tập thơ này chính là bài thơ cùng tên “Việt Bắc”. Bao trùm lên cả bài thơ là nỗi nhớ của anh bộ đội Cụ Hồ với người dân áo tràm, của người miền xuôi với người miền ngược. Đoạn thơ bình giảng là lời tâm tình của chàng trai với cô gái, khẳng định những tình cảm, những kỷ niệm, những ấn tượng không bao giờ phai cho dù phải chia xa xứ sở Việt Bắc:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trắng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
Trích đoạn bình giảng bao gồm mười câu thơ đơợc chia thành năm cặp lục bát. Cặp đầu tiên là lời nói có tính chất đưa đẩy nhưng không phải không giấu kín những tình ý sâu xa. Ở đây người con trai ướm hỏi cô gái:
“Ta về mình có nhớ ta”
Nhưng khi cô gái còn chưa kịp trả lời thì chàng trai cũng đã khẳng định tình cảm của mình:
“Ta về ta nhớ nhuẽng hoa cung người”
Ẩn ý của người về ở đây là: chẳng biết ta về mình có nhớ ta hay không nhưng ngay cả khi mình không nhớ ta thì ta vẫn cứ nhớ mình. Nội dung chính của trích đoạn bình giảng tập trung vào tám câu thơ còn lại. Tám câu thơ là bốn cặp lục bát, mỗi cặp là một bức tranh thiên nhiên tương ứng với một mùa nào đó ở núi rừng Việt Bắc. Bốn bức tranh hợp lại thành một bộ tứ bình hoàn chỉnh.
Có lẽ trong bộ tranh tứ bình này, Việt Bắc hiện ra đầu tiên trong bức tranh mùa đông. Gam màu chủ đạo của bức tranh này đó là gam màu xanh:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”
Đọc câu thơ này ta nhận thấy nghệ thuật quen thuộc trong thơ ca cổ điển được Tố Hữu sử dụng khá nhuận nhuyễn: nghệ thuật chấm phá. Tố Hữu nghiêng về gợi nhiều hơn tả, không hề miêu tả rừng xanh như thế nào mà chỉ gợi lên qua hai tiếng “rừng xanh”. Chúng ta có thể hình dung ra những cánh rừng già với một màu xanh vừa thâm u, vừa yên tĩnh. Trên nền xanh thâm u, trầm mặc ấy, Tố Hữu đả điểm thêm vào đó những bông hoa chuối rừng. Màu đỏ của nó làm sáng rực cả khung cảnh. Những bông hoa chuối rừng chẳng khác nào những bó đuốc đang bập bùng cháy. Màu đỏ của hoa chuối trong bài thơ này còn tượng trưng cho màu đỏ của lý tưởng của Cách mạng.
Hiện lên trên bức tranh này, người Việt Bắc đang trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào lưỡi dao lóe sáng làm cho cảnh càng sống động hơn:
“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Hình ảnh người Việt Bắc trên đỉnh đèo cao đã làm toát lên phẩm chất của họ. Đó là những con người tự tin, hào hùng, đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ núi rừng. Cũng có thể, hình ảnh con người trên đỉnh đèo cao trong câu thơ này chính là những anh bộ đội Cụ Hồ đã hơn một lần bước vào trong thơ Tố Hữu.
Trong bộ tranh tứ bình, gam màu Tố Hữu sử dụng rất linh hoạt: từ màu xanh thâm u, trầm mặc của rừng già trong những ngày mùa đông nay đã chuyển sang màu trắng thanh khiết của hoa mơ khi mùa xuân đến:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng”
Giờ đây, trước mắt chúng ta là những cánh rừng Việt Bắc hiện lên với màu trắng thanh khiết của hoa mơ. Nó vừa gợi lên sự trang trọng, thiêng liêng nhưng không kém phần bình dị, gần gũi. Ở bức tranh Việt Bắc những ngày mùa xuân, ta không chỉ thấy màu trắng của rừng mơ mà màu trắng còn hiện ra qua những chiếc nón, màu trắng của những sợi giang. Người Việt Bắc lại hiện lên trong bức tranh này qua nỗi nhớ của người về. Đó là những con người lao động:
“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Hai chữ “chuốt từng” đã làm toát lên phẩm chất của con người Việt Bắc: cần mẫn, tài hoa, chịu thương chịu khó.
Có lẽ bức tranh đẹp nhất trong bộ tranh tứ bình này chính là Việt Bắc với mùa hè bởi ở đây không chỉ có sắc màu của núi rừng Việt Bắc mà còn có âm thanh của mùa hạ. Đó là tiếng ve kêu:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng”
Câu thơ chỉ có sáu âm tiết mà chứa đựng cả một chuỗi vận động liên hoàn: ve kêu gợi mùa hè đến, mùa hè nhuộm vàng rừng phách. Nhưng dường như chính tiếng ve đã nhuộm cho rừng phách ngả vàng. Nghĩa là âm thanh đã chuyển hóa thành màu sắc. Những ngày cuối xuân cả rừng phách vẫn còn non tơ đến mơ màng thế mà chỉ cần vài tiếng ve trong những ngày đầu tiên của mùa hè thì cả rừng phách nhất loạt chuyển sang màu vàng. Vì tốc độ mau lẹ như vậy, Tố Hữu sử dụng từ “đổ” là hoàn toàn chính xác. Chỉ có chữ “đổ” mới thể hiện được trong chốc lát cả rừng phách kia bỗng lênh láng sắc vàng. Chữ “đổ” đã đạt đến độ chính xác của văn chương bởi nó là những ngôn từ mô tả đúng tình, đúng cảnh, đúng người. Hiện lên trong bức tranh ấy, người Việt Bắc lại xuất hiện trong công việc:
“Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Hình ảnh cô em gái trong câu thơ này hiện lên trong nỗi nhớ của người về, được bao bọc trong cái nhìn đầy thương cảm của nhân vật trữ tình. Hai chữ “một mình” đã khắc họa hình ảnh những con người lao động Việt Bắc thầm lặng, giàu đức hi sinh, kiên trì, nhẫn nại. Kết thúc bộ tứ bình, vầng trăng hòa bình đã xuất hiện:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình”
Nếu ba bức tranh trên Tố Hữu đều vẽ nên cảnh Việt Bắc vào ban ngày thì đến đây Việt Bắc lại hiện về trong đêm tối. Thiên nhiên Việt Bắc đã hiện lên thêm phần phong phú và đa dạng. Ta không chỉ thấy cảnh sắc hiện ra trước ánh ngày với màu vàng của nắng, màu vàng của rừng phách, màu vàng của những đọn măng, màu trắng của hoa mơ, của những chiếc nón, và màu đỏ tươi của hoa chuối rừng, … Cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc còn hiện về dưới ánh trăng lung linh, huyền ảo. Bức tranh này đã hiện ra cùng với tiếng hát:
“Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Nghe tiếng hát của những con người Việt Bắc ta lại toát lên phẩm chất mới của họ. Đó là những con người suốt cả cuộc đời thủy chung son sắt với Đảng, với Cách Mạng.
Đọc lại đoạn trích bình giảng, ta nhận thấy cặp từ xưng hô nhất quán mà Tố Hữu sử dụng là “ta” và “mình”. Ấy vậy mà ở câu thơ cuối cùng ta lại bắt gặp đại từ phiếm chỉ “ai” và “nhớ ai”. Suy đến cùng, “ai” chính là mình trong lòng ta mà thôi.
Hiện lên trong nỗi nhớ của người về là thiên nhiên với bốn mùa và con người Việt Bắc cùng bốn dáng điệu khác nhau. Tình cảm Cách Mạng đã hòa chung vào tình yêu lứa đôi. Đây là một nét đẹp, một thành công của Tố Hữu trong đoạn thơ này.
|
Bình giảng bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc
| 5,737
| |
Bình giảng câu ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau…
Hướng dẫn
Bình giảng câu ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau…
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Bài làm
Kho tàng ca dao dân gian Việt Nam vô cùng phong phú và đẹp đẽ. Nó rực rỡ và thơm ngát như bông sen trong đầm. Nó thân thuộc với người dân cày Việt Nam như luỹ tre xanh bao bọc làng quê, như cánh cò “bay lả bay la” trên đồng lúa.. Nó gắn bó với tâm hồn nhân dân ta từ bao đời nay. Trong đó, những bài ca dao nói về tình cảm gia đình sao hồn hậu, thắm thiết thế. Tình cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương anh chị em, tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng…, những giai điệu tâm tình ấy từng làm say đắm hồn người xưa, nay… Nhiều câu ca dao “sống” với ta như một kỉ niệm đẹp không bao giờ quên.
Bài ca dao nói về tình thương nỗi nhớ của người con gái đối với mẹ già là một ví dụ làm cho ta cảm động: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều”. Thơ lục bát vốn nhịp nhàng, êm đềm. Hai câu ca dao này, cũng vậy, nhịp hai cân đối hài hòa, với chín thanh bằng quá bán, với ba tiếng “chiều chiều… chiều” đứng ở đầu và cuối câu đã tạo nên nhạc điệu, giai điệu nhè nhẹ, buồn thương. Điệu tâm hồn của câu ca dao là vô cùng đặc sắc, nó quyện lấy người đọc người nghe. Sức hấp dẫn trước hết ở giọng điệu tâm tình.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều
Quê mẹ khuất sau lũy tre xanh. Có cây đa, bến nước, sân đình. Có con đò nhỏ và dòng sông xanh uốn quanh. Có cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” ngào ngạt bốn mùa hương lúa. Có bà con chất phác, hiền lành và lam lũ sớm hôm. Có ngôi nhà gianh nhỏ bé thân yêu, nơi người con gái sinh ra với bao kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ, của thời thiếu nữ. Quê mẹ là nơi anh chị em ruột thịt quây quần xung quanh mâm cơm dẻo thơm có “canh rau muống… cà dầm tương”: Quê mẹ giờ đây có người mẹ già tóc bạc phơ đang tựa cửa thương nhớ đứa con gái đi xa.. Chính trong cảnh hoàng hôn, nghe tiếng chim vịt gọi bầy, kẻ tha hương lại càng bâng khuâng nhớ mẹ hiền không xiết kể:
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau”
Ca dao nói ít, tả ít mà gợi nhiều bởi nó là “cây đàn muôn điệu” của dân gian. Chỉ hai chữ “Quê mẹ” thôi mà đâ đem đến cho người đọc một trường liên tưởng chứa chan tình quê hương. Người con “trông về quê mẹ”, càng trông càng nhớ day dứt, tha thiết, nhớ khôn nguôi. Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả cực hay nỗi nhớ đó. Nhà thơ dân gian không sử dụng một bổ ngữ, một trạng ngữ mà lại dùng số từ “chín chiều” để biểu lộ tâm trạng, thật là độc đáo. Tục ngữ, thành ngữ có “chín nhớ mười thương” thì ở câu ca dao này lại có “ruột đau chín chiều”. Buổi chiều nào cũng thấy nhớ thương, đau đớn. Đứng trông về chiều hướng nào, phương hướng nào, người con tha hương cũng buồn đau tê tái, nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người thân thương vơi đầy dâng lên, nên càng thấy cô đơn lẻ loi vô cùng.
Tình mẹ con, tình yêu quê hương được nói đến trong bài ca dao trên đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn mỗi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn của người con gái đi xa đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình, sâu lắng dàn trải khắp vần thơ, một nỗi buồn đẹp khơi dậy trong lòng người đọc bao liên tưởng về quê hương vêu dấu, về tuổi thơ. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao trữ tình hav nhất nói về tình thương nhớ mẹ già, một đóa hoa đồng nội tươi thắm mài với thời gian và con người quê ta.
|
Bình giảng câu ca dao_ Chiều chiều ra đứng ngõ sau…
| 739
| |
Đề bài: Bình giảng cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du
Bài làm
Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi chốn thanh lâu, Kiều trở thành một mệnh phụ phu nhân. Chẳng bao lâu sau, Từ Hải đã có binh cường tướng mạnh:
Trong tay mười vạn tinh binh,
Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri.
Kiều đã dựa vào uy thế Từ Hải để báo ân báo oán.
Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ước mơ công lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu 2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7 tên khác bị báo oán:
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà với Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?
ở đây, chúng ta chỉ nói đến hai tình tiết: Kiều báo ân Thúc Sinh và báo oán Hoạn Thư. Tâm lí và cách ứng xử của Thúy Kiều, tính sáng tạo của Nguyễn Du là những điều mà ta có thể tìm hiểu và cảm nhận trong đoạn thơ này.
Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Bà bắt ép làm gái lầu xanh. Và Kiều đã gặp Thúc Sinh "cũng nòi thư hương”, là con rể của quan Thượng thư, một con người phong tình "quen thói bốc rời". Lúc đầu chỉ là "trăm gió", nhưng về sau, Thúc Sinh và Thúy Kiều trở thành "đá vàng”. Thúc Sinh đã chuộc Kiều, lấy làm vợ lẽ: "Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai". Mặc dù sau này có chuyện đánh ghen, bị làm nhục, nhưng Thúc Sinh trong điều kiện có thể, nói với Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm các "giữ chùa, chép kinh", thoát khỏi kiếp tôi đòi. Tuy "thấp cơ thua trí đàn bà" nhưng tình cảm của Thúc Sinh đối với Thúy Kiều, trong bi kịch vẫn "nặng lòng":
Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
Biết bao giờ lại nối lời nước non?
Có thể chê trách Thúc Sinh này nợ, nhưng Thúc Sinh là ân nhân của Kiều, đã giúp Kiều hoàn lương. Kiều là một người phúc hậu, nên nàng không bao giờ có thể quên ơn chàng.
Trong cuộc tầm nã của ba quân, gia đình Thúc Sinh đã được Kiều quan tâm “ giữ giàng":
Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ "mời" rất trọng vọng "cho gươm mời đến Thúc Lang". Kiều nói về "nghĩa", về chữ "tòng", đề cao đạo lí thủy chung. Thúc Sinh là "người cũ", là "cố nhân" mà Kiều "há dám phụ".
Nàng khẳng định cái tình nghĩa của Thúc Sinh đối với mình ngày xưa là vô cùng to lớn, sâu nặng: "nghĩa nặng nghìn non…". Kiều đã dùng một số từ như: "nghĩa, nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, người cũ, cố nhân…" cùng với giọng điệu ôn tồn, biểu lộ một tấm lòng trân trọng, biết ơn một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân tình, nhân hậu; cách ứng xử của nàng đối với Thúc Sinh là giàu ân nghĩa thủy chung:
Nàng rằng: "Nghĩa nặng nghìn non,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Cái lễ vật chất mà Kiều báo ân Thúc Sinh cũng thật "hậu", khẳng định cái nghĩa đối với "cố nhân" trong những năm tháng ở Lâm Tri là vô cùng sâu nặng:
Gấm trăm cuốn, ạục nghìn cân.
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Sau đó, Kiều dùng lời lẽ dân dã, sắc sảo để nói về "vợ chàng". Bao năm tháng đã trôi qua, lòng Kiều vẫn chưa nguôi. "Miếng ngon nhớ mãi, đòn đau nhớ đời" có phải như thế không? Vị thế đã đổi thay: kẻ là phạm tội, người là quan tòa đang ngồi trong trướng hùm giữa cảnh "gươm lớn giáo dài":
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kè cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.
Kiều đã có 2 cách nói khác nhau: nói về ân nghĩa thì trang trọng, ôn tồn; nói về oán thì nôm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời của Thúy Kiều, điều đó cho thấy thi hào rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật.
Dù là được báo ân, nhưng đứng trước cảnh “Vác đòng chật đất, tinh kì rợp sân", Thúc Sinh cực kì khủng khiếp: "Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run", mồ hôi toát ra "ướt dầm", không nói được một lời nào, sống trong tâm trạng vừa "mừng", vừa "sợ":
Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.
2.Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người "chiến thắng" ra tay báo oán, Kiều đã "chào thưa" bằng những lời "mát mẻ":
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Giọng nói trở nền chì chiết, đay nghiến. Các chữ "mấy tay", "mấy mặt", "mấy gan" như những mũi dao sắc lạnh:
"Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!"
Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: "Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều".
Là "thủ phạm" đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt nắp ra", Hoạn Thư "hồn lạc phách xiêu". Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt? Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của "họ Hoạn danh gia" đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái "khấu đẩu" giữ lễ, khi chân tay đang bị trói. Trước hết nhận tội "ghen tuông" và lí giải đó là chuyện "thường tình" của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút "ân tình" ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các "giữ chùa chép kinh", không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. "Nghĩ cho" là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương". Tuy "chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai", nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư "kính yêu" Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.
Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải "khen cho” "Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời". Không thể là "người nhỏ nhen", Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:
Đã lòng tri quá thì nên:
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người, vốn là một phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác. Tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.
Ai đã từng đọc bản dịch Kim Vân Kiều truyện, đem đối chiếu với Truyện Kiều, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, nhất là trong cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm! Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ, Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo. Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.
Nguyễn Du đã sáng tạo nên những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân báo oán là một tinh tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều.
|
Bình giảng cảnh Thúy Kiều báo ân báo oán trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du
| 1,452
| |
Bình giảng hai câu thơ đầu trong tập thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Hướng dẫn
Bình giảng hai câu thơ đầu trong tập thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Hàn Mặc Tử là nhà thơ có tâm hồn nhạy cảm, những sáng tác của ông được sáng tác và đi vào lòng người cũng một cách rất tự nhiên sâu lắng, để lại nhiều suy ngẫm cho độc giả. Một trong những bài thơ như thế chính là bài thơ “ Đây thôn vĩ dạ”, bài thơ nhắc tới miền quê xứ Huế thơ mộng, với vẻ đẹp vừa giản dị vừa yêu kiều như chính người con gái mà tác giả đang thầm thương trộm nhớ. Không những thế, bài thơ còn nói lên niềm khát khao, tình yêu quê và sự gắn bó thiết tha của thi sĩ.
Không giống với các bài thơ khác,mở đầu bài thơ “ đây thôn Vĩ Dạ” lại không phải là một câu miêu tả hay câu cảm thán, mà là câu hỏi tu từ:” Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Cảm hứng của bài thơ được khơi nguồn từ bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc, viết cho Hàn Mặc Tử, những lời thơ khiến cảm xúc của tác giả ùa về, lại khơi gợi ra những nỗi nhớ về một miền thơ mộng hữu tình. Mở đầu chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi thôi, nhưng cảm xúc lay động tới độc giả là không hề nhỏ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Lại nói về câu hỏi tu từ ở câu đầu của bài thơ, mở đầu một câu hỏi đã lạ, lại mở đầu với câu hỏi mà không có người trả lời,khiến mạch cảm xúc của bài thơ trở nên bâng khuâng khó tả. Tuy không ở gần, không được một lần về thăm Vĩ Dạ, nhưng bằng với nỗi nhớ diết da đã đưa Hàn Mặc Tử về với quê hương. Câu hỏi tu từ như một lời trách móc,hờn giỗi của một cô gái như thủ thỉ ràng, sao lâu rồi mà tác giả không về thăm quê lấy một lần. Câu hỏi vốn đưa ra không phải để trả lời, mà gợi ra cảm giác bâng khuâng, khó tả. Nó giống như một lời mời gọi, vừa như là một lời giới thiệu mà cũng là sự tiếc nuối của chính tác giả lâu không về thăm thôn Vĩ. “ Sao anh không về chơi thôn Vĩ” như một lời tự vẫn, tự trách móc mình.
Câu thơ thứ nhất như một lời hờn trách nhẹ nhàng: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Trách mà ngụ ý mời mọc ân cần, lại bằng cái giọng ngọt lịm của người con gái Huế nên chỉ mới nghe qua, khách đã thấy lòng xao xuyến, bởi tấm chân tình cùng với nỗi khắc khoải đợi mong của người con gái thôn Vĩ ẩn chứa trong lời mời ấy.
Không trực tiếp ở Vĩ Dạ, nhưng với nỗi niềm nhớ Vĩ Dạ tha thiết khiến tác giả có thể tượng tương ra cảnh chính mình đang đặt bước chân về với quê hương thân yêu. Mỗi câu thơ như dẫn ra một vẻ đẹp của nơi đây, không những thế, ngôn từ dùng để miêu tả khung cảnh, không chỉ đẹp mà còn có tính gợi. Mọi thứ như đều hoà hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú, thuần khiết. HÌnh ảnh hàng cau gợi ra những vẻ đẹp thanh thoát, cao vút và vươn lên đón ánh nắng sớm mai. Len lỏi vào đó là những tia nắng bình minh vừa rực rỡ lại vừa dịu dàng, như trải lên cho Vĩ Dạ một vẻ thân thiện lại đầy sự mời mọc. Nắng ở đây càng trở nên đẹp hơn, kì lạ hơn khi tác giả khoác cho nó với ngôn từ “ nắng mới lên thật tinh khiết mà cũng thật trong trẻo,không một chút gợn của một ngày dài đã trải qua. Chỉ với hai câu thơ ngắn ấy thôi mà mọi thứ của thôn Vĩ dần hiện ra thật đẹp thật thơ mộng. Hai câu mở đầu chính là cái hồn cho toàn bài thơ, và còn cả là cái cớ để tác giả bộc bạch tâm sự.
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng hai câu thơ đầu trong tập thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
| 726
| |
Đề bài: Bình giảng hai khơ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh
Bài làm
Nếu mùa xuân là mùa hội tụ của những bàn tay nghệ sĩ tài hoa thì mùa thu bước vào trong thơ ca cũng tự nhiên và gần gũi. Trước đây, Nguyễn Khuyến nổi tiếng với ba bài thơ thu: Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm, sau này Xuân Diệu có Đây mùa thu tới. Nhỏ nhẹ, khiêm nhường, Hữu Thỉnh cũng góp vào cho mùa thu đất nước một góc quê hương sang thu:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Đoạn thơ có cái hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ. Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra là hương vị ổi phả trong gió. Mùi hương quê nhà mộc mạc được gió đưa trong không gian cứ lan tỏa, thoang thoảng bay. Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ: “bỗng nhận ra". Một sự bất ngờ mà như đã đợi sẵn, đợi từ lâu rồi, để giờ đây có dịp là buông ra ngay. Trong số chúng ta chắc chắn không ai chưa một lần nếm vị ổi: giòn ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi. Cái dư vị của hương thơm đó cứ vấn vít vương lại trong ta khi chợt đọc câu thơ của Hữu Thỉnh. Có hương ổi. Và gió. Và sương. Những hạt sựơng thu mềm mại, ươn ướt giăng màn qua ngõ. Mùa thu lại về. Mùa thu mang theo hương quê và mang theo sương mờ ướt lạnh. Dường như có thêm sương nên thu dễ nhận hơn. “Sương chùng chình qua ngõ", “chùng chình" hay là đợi chờ gì đây? Cứ dần dần như thế, cứ nhẹ nhàng, mềm mại như thế, thu đến tự lúc nào không hay. “Hình như thu đã về". Nhà thơ giật mình, hơi bối rối. Tự bao giờ nhỉ? Thu về? Từ hương ổi hay từ gió, hay từ sương? Hữu Thỉnh cũng hơi ngỡ ngàng trước thoáng đi bất chợt của mùa thu. Thu về, thu lại về trên quê hương, trên những con đường bờ đê và trên cả những con sông, cánh chim trời.
Cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho sự rung cảm mãnh liệt trước mùa thu:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Con sông quê hương dềnh nước chở mùa thu. Những cánh chim hay vội vã. Tất cả đều hối hả, xôn xao khi thu về. Không còn cái gay gắt của mùa hè nóng nực, chỉ còn lại một bầu không gian ẩm ướt và se lạnh. Một thoáng để rồi nhường lại cho thu. Mùa thu vừa chớm rất nhẹ rất dịu, rất êm, mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới. Hữu Thỉnh không tả trời thu “xanh ngắt mấy tầng cao" như Nguyễn Khuyến mà chỉ điểm vào bức tranh thu một chút mây vương lại của mùa hè vừa qua:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Mây trời vắt nửa mình sang thu. Lối diễn đạt của nhà thơ thật độc đáo. Hình như trong đám mây đổ còn lại một vài làn nắng ấm mùa hè nên mới "vắt nửa mình". Thu về làm cho bao cảnh vật đổi thay và đám mây cũng khác lạ.
Với một đoạn thơ ngắn vẻn vẹn hai khổ mà nhà thơ đã dựng lại một bức tranh thu nồng đượm hơi ấm cuộc đời, hơi ấm quê nhà. Những hình ảnh sang thu thân quen, giản dị mà tươi tắn, sống động. Với những từ ngữ lấp láy: "chùng chình", “vội vã”, "dềnh dàng", và một giọng thơ vừa có thoáng ngỡ ngàng, vừa vui sướng, Hữu Thỉnh đã đưa ta về một miền quê dân dã mà ấm áp tình người.
Sang thu – một hình ảnh quê hương tự nó đã tôn thêm vẻ đẹp cho đất nước, cho quê nhà, cho đồng quê trong mùa thu chung của cả đất trời Việt Nam.
|
Bình giảng hai khơ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh
| 703
| |
Bình giảng hai khổ thơ cuối trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh
Hướng dẫn
Bình giảng hai khổ thơ cuối trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh
Tình yêu là một đề tài muôn thuở của thơ ca. Không ít nhà thơ đã gửi gắm nỗi niềm tương tư của mình vào những trang thơ đầy cảm xúc. Xuân Quỳnh cũng vậy – một người con gái trẻ tuổi đã không ngại ngần bộc bạch niềm khát khao về tình yêu của mình qua những con sóng « dữ dội và dịu êm«, «ồn ào và lặng lẽ«:
«Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ«.
Sau những trải nghiệm về sóng, Xuân Quỳnh đã hóa thân mình vào biển lớn của tình yêu, của những con sóng ngàn năm vẫn xô bờ cát trắng… Hai khổ thơ trên nằm ở phần cuối trong tác phẩm «Sóng« của Xuân Quỳnh. Từng câu từng chữ như cuồn cuộn cùng những lớp sóng xa xăm.
Có lẽ lúc này, nỗi khát khao về tình yêu đang rực cháy trong trái tim nhà thơ. Đứng trước biển cả là sóng, là nước mênh mông và bao la rộng lớn nhưng trong trái tim cô lại là lửa, lửa của tình yêu, của khát vọng. Nhưng càng yêu mãnh liệt bao nhiêu, Xuân Quỳnh lại càng thổn thức, băn khoăn bấy nhiêu. Cuộc đời người không ai có thể đo đếm được, những tưởng như dài lắm, xa lắm, nhưngg rồi ngày tháng cũng vẫn đi qua. Và biết bao nhiêu cuộc đời đã đi vào dĩ vãng. Thời gian là vô tận đấy, nhưng đời người có ai tồn tại mãi được với thời gian? Tình yêu cũng thế. Không có một định lý hay định nghĩa nào có thể đong đếm được tình yêu nhưng khi đời người khép lại, tình yêu cũng vụt tắt theo. Giống như biển kia, dẫu có rộng lớn mênh mông nhưng vẫn có bờ, và vì có bờ nên sóng mới xô được vào bến đỗ. Tình yêu dù là trừu tượng, nhưng khi yêu con người ta vẫn có thể cảm nhận được rất rõ qua những rung động, những xúc cảm. Và giờ đây, Xuân Quỳnh – người con gái trẻ tuổi đang thổn thức, đang bồi hồi với một tình yêu cô ấp ủ trong tim. Những con sóng trước mắt cô tự bao giờ đã nhuốm màu cảm xúc, khiến người con gái ấy muốn hóa mình thành sóng – những con sóng của biển lớn tình yêu. Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từng vì yêu, yêu cuồng nhiệt, yêu si mê nhưng lại băn khoăn:
(«Vội vàng« – Xuân Diệu)
Nếu như Xuân Diệu yêu cuộc sống đến điên dại, thì ở đây Xuân Quỳnh yêu thiết tha và mãnh liệt đến nỗi cô muốn được tan ra thành hàng trăm con sóng nhỏ, để được vỗ vào bờ cả ngàn năm. Ngàn năm không biết cụ thể là bao nhiêu năm, chỉ biết rằng, sẽ mãi mãi Xuân Quỳnh vẫn một lòng chung thủy với người mình yêu.
Tình yêu của Xuân Quỳnh thật đẹp biết bao. Chỉ có những cô gái mạnh mẽ, can đảm và tâm hồn trong sáng mới có được những cảm xúc như vậy. Có lẽ, ở bên kia bến bờ, người con trai mà Xuân Quỳnh ngày đêm thương nhớ cũng cảm nhận được bao nỗi niềm của người con gái phương xa đang hướng về mình. Giữa biển rộng bao la, có thể nhà thơ không hiểu Sóng bắt đầu từ đâu và gió thổi từ phương nào, ngay cả tình yêu của mình, Xuân Quỳnh cũng không nhớ «khi nào ta yêu nhau«. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, con sóng của tình yêu mà Xuân Quỳnh đang ấp ủ sẽ chạy dài từ con tim cô đến nơi người con trai kia đang công tác. «Dẫu xuôi về phương bắc «hay có «ngược về phương nam«, con sóng ấy đến cuối cùng vẫn xô vào bến bờ hạnh phúc như một lẽ tự nhiên. Đó cũng chính là niềm tin son sắt của người con gái trẻ, cô tin chắc chắn rằng mình sẽ vượt qua được tất cả, dẫu có gian nan hay trắc trở, chỉ cần tình yêu ấy là đúng đắn, là chính đáng thì hạnh phúc nhất định sẽ đến.
Các bạn chẳng giống như những con sóng chung thủy của Xuân Quỳnh, luôn nỗ lực cố gắng vượt qua bão bùng mưa gió để xô vào bến bờ hạnh phúc. Đó mới là một tình yêu đẹp, tình yêu đúng đắn và trưởng thành. Tình yêu ngọt ngào của Xuân Quỳnh vừa mang đến cho người đọc sự cảm nhận về lòng chung thủy và niềm tin yêu của một cô gái trẻ có người yêu phương xa, vừa làm thức tỉnh các bạn trẻ nghĩ suy lại về tình yêu của chính mình. Yêu sao cho đúng đắn, cho thủy chung và bền vững.
|
Bình giảng hai khổ thơ cuối trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh
| 857
| |
Bình giảng khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Hướng dẫn
Bình giảng khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
BÀI LÀM
Tây Tiến, đối với con sông Mã và núi rừng miền Tây xa xôi. Đó là nỗi nhớ “ chơi vơi” bao kỉ niệm đẹp và cảm động một thời trận mạc đầy gian khổ, hi sinh. Đây là đoạn thơ thứ ba trong bài Tây Tiến, đã khắc họa khí phách anh hùng và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong máu lửa:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc (…)
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Trên những nẻo đường hành quân chiến đấu, vượt qua bao núi cao dốc thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, đoàn binh Tây Tiến hiện ra giữa màu xanh của núi rừng trùng điệp, vừa kiêu hùng vừa cảm dộng. Người chiến binh với quân trang màu xanh của lá rừng, với nước da xanh phong sương vì sốt rét rừng, thiếu thuốc men, lương thực: “không mọc tóc”. Câu thơ trần trụi như hiện thực chiến tranh những năm đầu kháng chiến vốn thế. “Không mọc tóc” là hình ảnh phán ánh cái khốc liệt của chiến trường:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Cái hình hài không lấy gì làm đẹp: “quân xanh màu lá”, “không mọc tóc” tương phản với “dữ oai hùm” là một nét chạm khắc tài tình làm nổi bật chí khí hiên ngang, tình thần quả cảm xung trận của các chiến binh Tây Tiến từng làm cho quân giặc phải khiếp sợ. “Dữ oai hùm” là một hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí người lính mang tính kế thừa và sáng tạo của Quang Dũng. Các chiến binh “Sát Thát” đời Trần: “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” (Phạm Ngũ Lão); “Tì hổ ba quân, giáo gươm sáng chói” (Trương Hán Siêu). Nghĩa quân Lam Sơn xung trận trong khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” (Bình Ngô đại cáo) — Một dân tộc anh hùng trên trận tuyến đánh quân thù, thời đại nào cũng có những chiến sĩ “ti hổ” và “dữ oai hùm” như thế đó! Với niềm tự hào, Quang Dũng đã viết nên mội câu thơ rất hay: “Quân xanh màu lá dữ oai hùng”, lấy cái “thô”, cái “mộc” để tô đậm cái đẹp, cái dũng khí ẩn chứa trong tâm hồn người chiến sĩ.
Mát trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Mộng và mơ gửi về hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, nơi còn đầy bóng giặc. “Mắt trừng” – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của người lính trong khói lửa ác liệt. “Mộng qua biên giới” – mộng tiêu diệt quân thù, bảo vệ biên cương, lập nên bao chiến công nêu cao truyền thông anh hùng của đoàn binh Tây Tiến. Lại có những giấc mơ đẹp. Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những học sinh, sinh viên, những chàng trai Hà hành “xếp bút nghiên theo việc đao, cung”, giàu lòng yêu nước, phong độ hào hoa: “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Vàn Nghệ). Sống giữa núi rừng miền Tây, gian khổ, ác liệt, cái chết bủa vây, lửa đạn mịt mù, nhưng các anh vẫn mơ về Hà Nội. Quên sao dược những hàng me, hàng sấu, nhưng phố cũ trường xưa, “Những phố dài xao xác hơi may?”… Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thương yêu, những “dáng kiều thơm” từng hò hẹn. Hình ảnh “dáng kiều thơm” trong câu thơ của Quang Dũng đem đến cho người đọc nhiều thú vị: ngôn từ vốn có trong thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng dưới ngòi bút nhà thơ – chiến sĩ nó trở nên có hồn, đặc tả chất lính hào hoa, trẻ trung, lãng mạn của người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến trong trận mạc.
Nếu người nông dân mặc áo lính trong thơ Chính Hữu mang theo nỗi nhớ ‘giếng nước gốc đa”, nhớ mái nhà gianh, nhớ ruộng nương…; trong thơ Hồng Nguyên là nỗi nhớ “người vợ trẻ – Mòn chân bên cối gạo canh khuya”, … thì người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ gắn liền với “mộng” và “mơ”. Mộng lập chiến công, mơ “dáng kiều thơm”. Hữu Loan trong bài thơ Màu tím hoa sim cũng viết rất hay về nỗi nhớ của người lính chống Pháp:
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến tranh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mìnlh không về
Thì thươmg người vợ bé bỏng chiều quê…
Viết về “ruộng’’ và “mơ” của người chiến binh Tây Tiến, Quang Dũng đã ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời của đồng đội. Đó là một nét khám phá của nhà thơ khi vẽ chân dung “anh bộ đội Cụ Hồ” xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong chín năm kháng chiến chống Pháp.
Bốn câu thơ tiếp theo là những nét vẽ bổ trợ, tô đậm bức chân dung người lính.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ.
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Trong gian khổ và chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuông trên chiến trường miền Tây. Họ nằm lại nơi chân đèo góc núi. Nấm mồ người chiến sỉ “rải rác biên cương”. Câu thơ để lại trong lòng ta nhiều thương cảm, biết ơn, tự hào: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hiu hắt, đem đến nhiều xót thương. Nhưng nằm trong văn cảnh, đoạn mạch, câu thơ tiếp theo: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, đã nâng cao chí khi và tầm vóc người lính. Các anh đã ra trận vì một lí tưởng rất đẹp. “Đời xanh’ là: trai trẻ, là tuổi thanh xuân của “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…” những học sinh, sinh viên Hà Nội. Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn của chí khí làm trai. Họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Câu thơ “Chiến truờng đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời thề thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Anh bộ đội cũng như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến với quyết tâm sắt đá: “ Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu làm nô lệ”. Quang Dũng ghi lại cảnh bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy:
Áo bào thay chiếu anh vế đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Các tráng sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ, với tấm “áo bào” bình dị ấy: “anh về đất”. Một cái chết nhẹ nhàng, thanh thản. Anh ra trận giết giặc vì quê hương. Anh ngã xuống là: “về đất”, nằm trong lòng Mẹ Tổ quốc thân yêu. Nhà thơ không dùng từ “chết”, từ “hy sinh” mà lấy cụm từ “về đất” để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng mà thanh thản, nhẹ nhàng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh Tây Tiến đã sống và chiến đấu cho quê hương, đã chết vì đất nước quê hương. “Anh về đất” bằng tất cả tấm lòng chung thủy của người chiến sĩ. Tiếng thác sông Mã “gầm lên” giữa núi rừng miền Tây như tiếng kèn trong bài “Chiêu hồn liệt sĩ” tống tiễn linh hồn liệt sĩ về nơi an giấc ngàn thu. Câu “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ hay vì gợi tả được không khí thiêng liêng, trang trọng, đồng thời tạo nên âm điệu trầm hùng, thương tiếc. Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng rất đặc sắc, bên cạnh những từ ngữ bình dị đời lính như: gục, không mọc tóc, dữ, trừng, về đất, chiếu, gầm lên… lại có một số từ Hán Việt như: mộng, mơ, biên giới, dáng kiều, biên cương, viễn xứ, áo bào, khúc độc hành – nhờ đó mà cái bình dị làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm cái anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng và màu sắc lãng mạn từ vần thơ tỏa rộng trong không gian và chiều dài lịch sử.
Nguồn: Tài liệu trực tuyến
|
Bình giảng khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
| 1,471
| |
Đề bài: Bình giảng khổ cuối bài Tương tư của Nguyễn Bính
Bài làm
"Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhà thôn Đông,
Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?".
"Nắng mưa là bệnh cửa giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng"… Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong "Thi nhân Việt Nam" cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi hai mươi đã làm gần một nghìn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều thể thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát, ở những bài thơ ấy, "ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta", ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là "hồn xưa của đất nước".
Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ cứ thấm vào hồn ta mãi:
"Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhà thôn Đông,
Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?".
Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ "Tương tư", rút trong tập thơ "Lỡ bước sang ngang" (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm có 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tôi hờn: "Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?"… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.
Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên, tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà tôi, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ước ao khao khát. Từ chỗ gọi "nàng": "Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng" đã chuyển thành một tiếng "em” gần gũi, thân thiết yêu thương: "Nhà em có một giàn trầu… ". Cách xưng hô từ "tôi" – "nàng" dẫn đến "em" – "anh" thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.
Giầu với cau đã cố kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mới có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:
"Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng."
Điệp ngữ "nhà… cố một" làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng "hai thôn chung lại một làng", chẳng xa xôi mấy, nhưng "giàn giầu" nhà em và "hàng cau liên phòng" của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ "có một" chưa chưa có đôi. Chữ một trong hai câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong về hạnh phúc lứa đôi: duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.
Trong bài "Tương tư", Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư "mãi chẳng ra":
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
Bao giờ bến mới gặp đò?
Và khép lại bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:
"Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhờ giầu không thôn nào?"
Cả một trời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có "Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông". Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: "Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?" Một lối nói nhỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cũng là thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với câu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một ước mơ hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.
Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả đã vận dụng sáng tạo các chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài – thôn Đông, câu thơ lục bát giàu vần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khát khao tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. "Tương tư" thấm một nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân trời hi vọng…
|
Bình giảng khổ cuối bài Tương tư của Nguyễn Bính
| 773
| |
Đề bài: Bình giảng khổ thơ thứ hai bài Tràng giang của Huy Cận
Bài làm
"Tràng giang" là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ "Lửa thiêng" (1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài". Tác giả đã có lần nói: "Tràng giang” là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn". "Tràng giang" tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế "sầu trăm ngả".
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của "Tràng giang":
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".
Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô "lơ thơ" như nối tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ "đìu hiu" gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:
"Non Kì quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò
(Chinh phụ ngâm)
Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảnh khắc tan chợ. vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm "lơ thơ" và "đìu hiu", có vần lửng: "nhỏ – giỏ", có vần chân: "hiu – chiều". Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:
"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều"…
(Thơ duyên").
Các điệp thanh: "nhỏ nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả"', các vần thơ, như vần lưng "nhỏ" với "gió” vần chân "xiêu” với "chiều". Những vần thơ "tươi nhạc tươi vần" ấy đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học.
Trở lại đoạn thơ trong bài "Tràng giang” của Huy Cận, ta như được nhập hồn minh vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời, vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Thu vịnh); "Trời cao xanh ngắt – Ồ kìa…" (Tiếng sáo Thiên Thai), "Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng" (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, "sâu chót vót":
"Nắng xuống /trời lên sâu chót vót"
Bầu trời và lòng sông "sóng gợn" là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường nói "cao chót vót" và "sâu thăm thẳm", nhưng Huy Cận lại cảm nhận là "sâu chót vót” vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: "nắng xuống" // "trời lên", vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ. Dòng sông như dài thêm ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn, xa vắng, quạnh hiu hơn. Lời đề từ nhà thơ đã viết: "Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài", cảm hứng ấy đã được láy lại ở câu thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đầy ám ảnh về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ hé, hữu hạn:
"Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".
Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật đẹp mà buồn, vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân, vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến. "Tràng giang" đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi. Đọc đoạn thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước cách mạng: "Chàng Huy Cận khi xưa hay xấu lắm…
|
Bình giảng khổ thơ thứ hai bài Tràng giang của Huy Cận
| 913
| |
Đề bài: Bình giảng khổ thơ đầu bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
Bài làm
Thơ là cái đẹp muôn đời, cái đẹp của thiên nhiên, cái đẹp của con người. Có lẽ mùa xuân là thời gian hội tụ bao vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam nên thơ xuân mới hay và đậm đà như thế. Ta bâng khuâng một nét xuân trong thơ vua Trần Nhân Tông:
Song song đôi bướm trắng
Phất phới phấn hoa bay.
(Buổi sớm mùa xuân)
Ta cảm một sắc xuân tươi xinh rực rỡ trong thơ của thi hào Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
(Truyện Kiều)
Ta rạo rực dõi nhìn một cánh đu bay trong ngày hội xuân của làng quê thân thuộc:
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
(Đánh du- Hồ Xuân Hương)
Và đây là thơ xuân của Thanh Hải:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
ơi con chim chiền chiện
Hót chi mù vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng…
Có người đã cho rằng: “Đoạn thơ đẹp như bức tranh”. Đó là bức tranh xuân của "Huế đẹp và thơ", quê mẹ hương yêu của thi sĩ Thanh Hải.
Hai câu thơ đầu là một sắc xuân tươi xinh rực rỡ tắm mát tâm hồn chúng ta. Vần thơ như một tiếng nói thốt lên khi ngạc nhiên chợt thấy một cảnh đẹp mà lòng xôn xao xúc động:
Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc.
Có sông và hoa. Có màu “xanh” của dòng sông làm nền để tô điểm màu "tím biếc" của hoa, bông hoa xuân mới "mục", mới nở. Dòng sông hiện hữu trong bài thơ Thanh Hải không phải là con sông chung chung nào, mà người đọc dễ nhận ra, đó là sông Hương “bùi thư trữ tình cố đô Huế” như thi sĩ Tố Hữu tâm sự:
Hương Giang ơi, dòng sông êm
Qua tim ta, vẫn ngày đêm tự tình…
“Bông hoa tím biếc" mọc giữa dòng sông xanh chỉ có thể là hoa súng, hoa lục bình dân dã mà Lê Anh Xuân từng say mê ngắm nhìn sau những năm dài xa cách mới trở về quê nội:
Hoa lục bình tím củ bờ sông.
Chữ “mọc” nằm đầu câu thơ “Mọc giữa dòng sông xanh" thể hiện một nét xuân đột hiện, một sức xuân mạnh mẽ xuất hiện xinh đẹp, non lơ, lộng lẫy như một nàng xuân trong sắc áo “tím biếc” kiêu sa trên cái nền xanh của dòng sông. Thanh Hải đã sử dụng hai gam màu tươi sáng để vẽ lên một nét xuân đẹp trên bức tranh xuân đẹp.
Ngắm dòng sông, bâng khuâng nhìn hoa xuân đẹp, nhà thơ khẽ reo lên khi bỗng nghe chim hót “vang trời”:
Ơi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời.
“Ơi” là từ cảm thán biểu đạt sự xúc động bồi hồi của nhà thơ khi nghe chim chiền chiện hót. Tiếng chim hót là khúc nhạc đồng quê. Chim chiền chiện làm tổ trên luống cày, nó là người bạn thân thiết của nhà nông. Nghe chiền chiện hót mà mừng vui, chim báo sẽ được mùa:,"Chiền chiện hót lúa tốt bời bời "(Tục ngữ). Hai tiếng "hót chi” rất gợi cảm, là cách nói "dịu ngọt” của bà con “xứ Huế chúng miềng". Qua đó, ta thấy nét xuân thứ hai được nhà thơ cảm nhận là một nét vui. Qua tiếng chim hót mà ta cảm được cái mênh mông trong sáng của bầu trời xuân. Ta cảm được tấm lòng hồn hậu của đứa con xứ Huế. Một cử chỉ rất tao nhã đáng yêu:
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
Không hề nói đến nắng mà ta vẫn cảm nhận được ánh hồng bình minh làm long lanh những giọt sương tròn như hòn ngọc bé tí treo trên đầu ngọn cỏ, lá cây. "Từng giọt long lanh rơi" cũng có thể là những chuỗi âm thanh, từng chuỗi tiếng chim chiền chiện từ trời cao vọng đến, "rơi" xuống? Cái cử chỉ “đưa tay… hứng” thể hiện một hồn thơ chan hòa với thiên nhiên, đất ười, tạo vật.
Thơ đích thực mở ra trong lòng người đọc những sắc màu và chân trời bao la. Tiếng chim hót, giọt long lanh trong thơ Thanh Hải cũng vậy, nó mở ra bao thế giới về cảnh sắc ban mai trên đồng quê. Cảnh sắc thân thuộc đáng yêu biết bao:
Mặt trời lên càng tỏ
Bông lúa chín thêm vàng
Sương treo trên đầu cỏ
Sương lại cùng long lanh
Bay vút tận trời xanh
Chiền chiện cao tiếng hót…
(Thăm lúa – Trần Hữu Thung)
Đoạn thơ ngũ ngôn sáu câu ba mươi chữ của Thanh Hải quả là một bức tranh xuân đẹp và tươi vui. Có bầu trời và dòng sông. Có hoa khoe sắc và chim cất tiếng hót. Có giọt sương mai long lanh. Hình ảnh con người xuất hiện trên bức tranh xuân với cử chỉ tao nhã, ung dung, với tâm hồn trong sáng, lạc quan yêu đời và giàu tình yêu thiên nhiên.
Mùa xuân nho nhỏ là một bức thơ xuân kiệt tác của Thanh Hải. Ông viết bài thơ này vào tháng 11 năm 1980, một tháng trước lúc ông qua đời. Có thể nói, đoạn thơ trên đây là khát vọng mùa xuân muôn đời.
|
Bình giảng khổ thơ đầu bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
| 897
| |
Bình giảng khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
Hướng dẫn
Đến với thơ từ khi mới 16 tuổi, sự nghiệp sáng tác của ông phôi thai và phát triển cực điểm cho đến tận hơi thở cuối cùng. Dù ở đề tài nào, người đọc vẫn tìm thấy chính cuộc đời thăng trầm, dâu bể của ông sau những vần thơ. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một tác phẩm nổi tiếng đã góp phần đưa tên tuổi của Hàn Mặc Tử bừng sáng giữa bầu trời lấp lánh sao của văn thơ Việt Nam buổi nào.
“Đây thôn Vĩ Dạ” được nhà thơ lấy cảm hứng từ sự khơi gợi về một kỷ niệm của người yêu cũ. Bài thơ có 12 câu, chia làm 3 khổ, mỗi khổ thơ như một bức tranh tuyệt đẹp về xứ Huế mộng mơ. Khổ đầu tiên là bức tranh hừng đông nơi thôn, khổ thứ hai là cảnh trăng về trên thôn và khổ cuối cùng là hoài niệm về người xưa nơi thôn Vĩ. Chúng ta cùng thưởng thức cảnh bình minh trên thôn Vĩ qua khổ thơ đầu để cảm nhận được sức sáng tạo tuyệt mĩ, hồn nhiên, trong trẻo lạ thường nơi tâm hồn thơ Hàn Mặc Tử.
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền"
Nhà thơ mở đầu bài bằng một câu hỏi tu từ đa phong cách “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Lời mời mọc tế nhị, kín đáo này của người con gái xứ Huế xinh đẹp và nên thơ, chở đầy sức hấp dẫn lạ kỳ. Đó cũng được xem là lời trách yêu của người con gái ấy đối với thi nhân. Câu thơ đầy ý nhị, với nỗi nhớ nhung da diết của cô thiếu nữ đang yêu, nhưng dù là lời mời, lời trách cứ hay lời nhắc yêu đi nữa vẫn dễ mến lạ lùng. Không lồ lộ, bỗ bã, nói anh về thăm em, mà nói anh về thăm thôn Vĩ, nhắc nhở anh rằng, hãy nhớ quê hương, anh nhớ quê hương thì anh nhớ em, nơi quê hương có em. Quê hương là em, thôn Vĩ là em và ngược lại.
Câu thơ tiếp theo đã gợi lên trước mắt độc giả một bức tranh hừng đông nơi thôn Vĩ có "nắng mới lên" phơn phớt hồng đượm vẻ tinh khôi của bình minh long lanh trên những tàu cau còn đọng những giọt sương đêm.
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”
Cau là loại cây thân nhỏ và cao vút, có quả dùng để ăn với trầu và thường được trồng ở trước nhà. Vì có dáng cao vút nên cây cau dễ dàng tiếp nhận những tia nắng đầu tiên của một ngày mới. Tác giả sử dụng nghệ thuật lặp từ ngữ "nắng…nắng". Bút pháp nghệ thuật giản dị nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc nhấn mạnh vẻ đẹp và cái thần của sắc nắng ban mai. Chỉ với một câu thơ tác giả đã làm hiện lên trước mặt người đọc những nét đẹp đầu tiên của vườn cây nơi thôn Vĩ. Cũng qua đó chúng ta cảm nhận sâu sắc cái nhìn âu yếm, thiết tha như chờ đón cái đẹp xuất hiện từ lưng chừng trời của thi nhân.
Ở câu thơ thứ ba, “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, “Ai” – đây là một đại từ nhân xưng phiếm chỉ được tác giả sử dụng để nói về khu vườn đẹp này chính là khu vườn nhà cô gái ông yêu. Với vhir một từ mà khẳng định được vẻ đẹp của khu vườn nhà người con gái mà mình từng đắm say mơ mộng, từng khao khát hạnh phúc lứa đôi. Tiếp sau đó nữa là “mướt quá”, giá trị của từ “mướt” trong câu thơ này gợi cái sắc vẻ bóng láng và mỡ màng nhìn thấy thích mắt của những lá cành vươn lên trong khu vườn trù mật, phì nhiêu được con người cần cù chăm sóc. Thêm vào đó, chữ "quá" làm tăng màu sắc biểu cảm của tứ thơ. Thông thường từ "quá" nói lên cái mức độ vượt ra ngoài ngưỡng trung bình. Nhưng ở câu thơ này, nó mang âm hưởng của một tiếng reo trong niềm sung sướng, ngất ngây, một lời trầm trồ buột ra tự nhiên khi chợt nhận ra một vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn ở một khoảnh khắc đặc biệt. Cùng với nghệ thuật so sánh từ "xanh như ngọc", nhà thơ càng làm tăng cái vẻ đẹp đến thanh cao, quý phái của khu vườn, mơn mởn dưới ánh sáng bình minh.
Câu thơ cuối khổ là một khám phá nghệ thuật độc đáo và rất đẹp của thi sĩ Hàn Mặc Tử “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mới đọc xong câu thơ, chúng ta thườn nghĩ ngay đến là tác giả đang ca tụng khuôn mặt chữ điền nào đó thấp thoáng sau nhành trúc. Mặt chữ điền chỉ tướng mạo đẹp của một người có bản chất tốt, phúc hậu, thủy chung. Nhưng nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen kia thì e rằng chưa thực thấu hiểu hết suy tư của tác giả. Cần hiểu câu thơ theo nghĩa của nghệ thuật cách điệu hóa chứ không phải tả thực, tuy cách điệu hóa cũng xuất phát từ hiện thực. Cách điệu hóa thường chỉ giữ lại một dáng điệu, cái đường nét chung của sự vật, từ đó, sáng tạo nên một hình tượng có ý nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp của sự vật ấy. Ở đây thi nhân muốn diễn tả những gương hiền lành, phúc hậu thấp thoáng sau tre trúc nơi vườn cây cảnh, cây trái xinh đẹp ở thôn Vĩ Dạ mỗi buổi sớm mai.
Sâu xa hơn nữa, ẩn sau mỗi ý thơ là nỗi niềm luyến tiếc, vấn vương về cái đẹp của cảnh và người xứ Huế ở thôn Vĩ, sông Hương đối với nhà thơ tại thời điểm ấy chỉ còn là hoài niệm. Tình cảm yêu quý, trân trọng của thi nhân gửi gắm qua cái nhìn cảnh vật ấy, chợt gợi nhớ, gợi thương trong tâm hồn độc giả chúng ta hai câu thơ của Bích Khê:
"Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn
Biếc che cần trúc không buồn mà say."
(Huế đa tình)
Bức ảnh phong cảnh Huế của Hoàng Thị Kim Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử là nguồn cảm hứng để tác giả cho ra đời bài thơ. Người gửi đã nhiều thâm tình, người nhận được – nhà thơ lại càng sắc sảo hơn. Tác giả nghe như có lời mời mọc, lời trách yêu, hờn dỗi vang lên của người con gái xứ Huế. Từ đó ùa về trong tâm tưởng của ông, khung cảnh thôn Vĩ hừng đông vần vật nhựa sống. Phải là một con người yêu Huế mãnh liệt, nồng nàn, găn bó máu thịt với thôn Vĩ, sông Hương, thi nhân Hàn Mặc Tử mới lột tả cảnh và người xứ Huế có hồn đến thế. Và cái làm cho người đọc thực sự cảm kích cũng chính cái đẹp nhất của đoạn thơ là "tâm hồn tác giả luôn hướng về cái thánh thiện, khát khao với cái đẹp của tình người, tình đời dù xa xôi mờ ảo."
Nguồn:
|
Bình giảng khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
| 1,243
| |
Đề bài: Bình giảng khổ thơ đầu trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Bài làm
Hàn Mặc Tử (1912-1940) là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào "Thơ mới" (1932-1941). Ông là nhà thơ đa phong cách. Bên cạnh những kịch thơ huyền ảo thơ mộng là những bài thơ "thuận nghịch độc" cực kì điêu luyện, bên cạnh những vần thơ điên loạn, thi sĩ nhiều khi lại sáng tạo nên những hình ảnh tuyệt mĩ và hồn nhiên, trong trẻo lạ thường. "Mùa xuân chín", "Đây thôn Vĩ Dạ",… là những bài thơ tuyệt bút đầy hương sắc trong vườn thơ Việt Nam hiện dại.
"Đây thôn Vĩ Dạ" viết về cảnh sắc thiên nhiên và con người xứ Huế đáng yêu, nói lên nỗi niềm khao khát được hòa hợp, gắn bó với người, với cảnh của nhà thơ đối với một miền quê thơ mộng. Đây là khổ đầu của áng thơ trữ tình này:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?"
Vĩ Dạ, một làng cổ nổi tiếng, nơi cố đô Huế, nằm bên bờ Hương Giang. Cảnh vườn tược xanh tươi, cây trái bốn mùa, với sông nước con đò và những nếp nhà duyên dáng, êm đềm… Vĩ Dạ từng gắn liền với những câu hò Mái nhì, Mái đẩy, hò Giã gạo…, từng làm say đắm lòng người đã mấy trăm năm qua:
"Núi Truồi ai đắp mà cao,
Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?
Nong tằm ao cá nương dâu
Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò "
Những tiếng "ai" thân thương trong câu hò xứ Huế ấy đã vọng vào thơ Hàn Mặc Tử, gợi nên bao ám ảnh thương nhớ bồi hồi: "Vườn ai… Thuyền ai… Ai biết tình ai có đậm đà”.
Câu thơ đầu mang tính lưỡng ngôn vừa như một lời chào mời thân mật, vừa như một lời trách nhẹ nhàng sơ sơ mà nghe rất đáng yêu: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?". Câu hỏi tu từ chứa đựng bao hoài niệm bâng khuâng. Sáu thanh bằng liên tiếp, rồi đọng lai một thanh trắc "Vĩ", âm điệu vần thơ lâng lâng, tình tứ: đã lâu anh không về thăm thôn Vĩ và thăm… em. Vĩ Dạ phải là nơi để lại trong lòng Hàn Mặc Tử nhiều kỉ niệm đẹp mới thoáng hiện chút tâm tình ấy.
Câu thứ 2, thứ 3 tả cảnh sắc Vĩ Dạ:
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc".
"Nắng mới lên" là nắng sớm bình minh, cảnh được nhìn từ xa với bao trìu mến, vẫy gọi. Hàng cau cao vút, thẳng tắp là hình ảnh thân thuộc của Vĩ Dạ, ở đây, hầu như vườn nhà nào cũng có một, hai hàng cau thẳng tắp, vút cao lên như đón chào du khách từ xa, như trầm mặc trong sương sớm, lắng nghe chuông chùa Diệu Đế, Thiên Mụ, và tắm ánh hình minh rạng ngời tàu cau. Nhịp thơ 1- 3-3: "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên" như nhịp bước khoan thai của khách xa, rồi đứng dừng lại, trầm ngâm ngắm nhìn nắng mới trên những tàu cau xanh biếc rạng ngời.
Câu thơ "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc" như một lời trầm trồ, ngạc nhiên thốt lên trước vẻ đẹp lộng lẫy của cỏ cây, hoa trái. "Vườn ai" không xác định, một chút ngỡ ngàng bâng khuâng. Đích thị là vườn xuân của cô gái, của nhà em; của lòng em, vẫn là cảnh cũ người xưa, nhưng đã lâu chưa về chơi nên ngỡ ngàng mới thốt lên như vậy. Vườn tược Vĩ Dạ xanh tươi và sum sê bốn mùa. Lá xanh mỡ màng ướt đẫm sương đêm, láng mướt lên, ánh ngời lên dưới nắng hồng bình minh màu xanh ngọc bích. Hai tiếng "mướt quá" và hình ảnh so sánh "xanh như ngọc” là những nét vẽ thần tình đã tô đậm cái hồn của cây lá trong "vườn ai. Tưởng như nghe thấy tiếng nhựa đang chuyển lên cành lá xôn xao. Tất cả đều tưng hừng, rạo rực, đầy sức sống. Chỉ có vườn xuân mới có màu xanh mướt mỡ màng như ngọc vậy. Chỉ có "vườn em" mới đáng yêu và hữu tình như thế!
Sau cảnh đẹp là hóng hình thôn nữ:
"Lá trúc che ngang mặt chữ điền?"
Gương mặt cô gái Huế thường gắn liền với chiếc nón bài thơ. "Lá trúc che ngang" là một nét vẽ tài hoa, gợi tả thấp thoáng gương mặt thiếu nữ. Một nét vẽ rất đẹp gợi tả vẻ dịu dàng, duyên dáng và tình tứ của thiếu nữ sông Hương. Lá trúc thanh mảnh biếc xanh đã làm tôn thêm vẻ đẹp phúc hậu của gương mặi chữ điền. Đã có giai nhân vin cành mẩu đơn. Đã có mĩ nhân ngắm hoa tử kim nở, hức thêu dở dang trên đôi tay thon nhỏ, nõn nà. Và ở đây, trong thư Hàn Mặc Tử lại có "gương mặt chữ điền" ẩn hiện thấp thoáng sau cành trúc, lá trúc. Cây đẹp, cảnh đẹp và người đẹp là thế! Hàn Mặc Tử cũng tả ít mà gợi nhiều như các tao nhân nghìn xưa. Có màu phơn phới hồng bình minh. Có màu ngọc xanh mướt của cây lá. Có đường nét thanh mảnh xinh xắn của lá trúc. Và còn có gương mặt dịu dàng, e ấp, phúc hậu của thiếu nữ. Nếu tách riêng khổ thơ này ra khỏi bài thơ, nó là một bài tứ tuyệt đặc sắc. Cảnh và người đều thình lình thương mến, bâng khuâng. Bức tranh quê hương xinh đẹp, tràn đầy sức sống mơn mởn và có sức quyến rũ lạ lùng.
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ ". Cảnh đẹp thế, người đáng yêu thế sao đã lâu anh không về chơi? Đâu chỉ là sự mời chào, hay lời nhẹ trách mà còn hàm chứa cả niềm tiếc nuối, bâng khuâng của thi sĩ. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy, vương vấn một hoài niệm, một tiếng thầm thì của tình yêu.
Người đọc tưởng như nhà thơ đang đi tìm bóng hình giai nhân, bóng hình cô gái Huế sau lá trúc của "vườn ai" mờ sương khói nơi Vĩ Dạ.
|
Bình giảng khổ thơ đầu trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
| 1,072
| |
Bình giảng khổ thơ “Dốc lên khúc khuỷu…mưa xa khơi” trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Bình giảng khổ thơ “Dốc lên khúc khuỷu…mưa xa khơi” trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng- Văn lớp 12
Bài làm
Quang Dũng là một nhà thơ nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhạc sĩ, một họa sĩ, nhà điêu khắc… Nên trong thơ ông thường có chất nhạc, chất họa, trữ tình lãng mạn, nhưng không kém phần anh hùng, bi tráng.
Bài thơ Tây Tiến là một bài thơ hay, với đề tài người lính trong kháng chiến tuy không phải là lạ lẫm với người đọc, nhưng thông qua cái nhìn của nhà thơ Quang Dũng thì hình ảnh người lính hiện lên vô cùng sinh động, chân thực, nhưng cũng rất lãng mạn đậm chất trữ tình, oai hùm.
Trong khổ thơ này thể hiện sự khó khăn, vất vả của người lính trên con đường hành quân gian nan của mình, gặp nhiều khó khăn, nhiều tình huống bi ai, đau xót khi người lính phải đối diện với cái chết, nhưng tất cả hiện lên vô cùng đơn sơ, chân thực, nhẹ tựa lông hồng, khiến người đọc cảm nhận được sự anh hùng của người lính.
“Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.
Đoạn thơ thể hiện cảnh chiến trường vô cùng gian nan nguy hiểm. Trong khổ thơ này tác giả sử dụng nghệ thuật đối lập giữa lên và xuống thể hiện sự trùng điệp của núi non hiểm trở, những khó khăn mà binh đoàn Tây Tiến phải vượt qua trong quá trình hành quân của mình.
Cảnh rừng Tây Bắc vô cùng hiểm trở hoang sơ, được tác giả Quang Dũng tái hiện lại vô cùng rõ nét, như một bức tranh thiên nhiên hoang vu, hiểm ác, khắc họa sự chân thực của cuộc sống người lính trong rừng như thế nào.
Người lính Tây Tiến phải đối diện những thử thách ghê gớm, rợn người với những giờ phút sinh tử có thể cận kề bất cứ lúc nào ám ảnh người đọc bởi sự thiếu thốn về vật chất, những trận sốt rét rừng.
Có những lúc người lính leo lên tới đỉnh núi cảm nhận thấy như ngọn súng chiến đấu của mình chạm tới những đám mây trên trời. Hình ảnh heo hút cồn mây súng ngửi trời thể hiện sự hiểm trở, hẻo lánh của vùng núi rừng Tây Bắc.
Nhưng cũng là hình ảnh nghệ thuật vô cùng tươi đẹp, thể hiện chất nhạc chất họa trong thơ của Quang Dũng. Thể hiện tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ lúc nào cũng sẵn sàng cho tình huống đối diện với giặc, nên ngọn súng dương cao không bao giờ ngủ yên, hay cúi xuống, tư thế sẵn sàng chiến đấu của người lính trong binh đoàn Tây Tiến.
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.
Hình ảnh đoàn quân nghỉ chân giữa lưng chừng núi, giữa bốn bề hoang vu không gian bao la, người lính nhìn thấy những ngôi nhà xa xa những khói bếp quê nhà gợi lên ấm áp tình cảm quê hương, con người thân thiết.
Đó chính là sự tài tình của Quang Dũng khi viết bài thơ Tây Tiến, sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ tạo cho bài thơ những âm hưởng giai điệu riêng, vô cùng độc đáo phóng khoáng.
Bài thơ Tây Tiến là bài thơ thể hiện khí chất anh hùng, bi tráng nhưng không kém phần lãng mạn của những người chiến sĩ bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc.
|
Bình giảng khổ thơ “Dốc lên khúc khuỷu…mưa xa khơi” trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng- Văn lớp 12
| 654
| |
Bình giảng truyện cổ tích Tấm Cám
Hướng dẫn
Bình giảng truyện cổ tích Tấm Cám
Truyện cổ tích là một loại truyện vô cùng phong phú và đa dạng nó nói về cách sống và đạo lí ở đời. Mỗi một câu chuyện cổ tích là một bài học sâu xa cho mỗi người ở một thời đại khác nhau. Và trong đó truyện Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu được rất nhiều người biết đến. Truyện kể về đạo đức và cái thiện cái ác ở đời. Dù như thế nào thì cái thiện luôn luôn thắng cái ác.
Truyện kể về một cô gái có tên là Tấm rất xinh đẹp và ngoan ngoãn hiền lành. Do mẹ mất sớm cha đi thêm bước nữa nên Tấm có dì ghẻ. Gì ghẻ của Tấm sinh ra một người con gái có tên là Cám. Là chị em cùng cha, khác mẹ nên Cám có tính cách vô cùng ngang ngược và xấu xa. Từ nhỏ Cám đã được nuông chiều vì thế mà hay bắt nạt Tấm. Nhưng Tấm không than trách mà vẫn lặng lẽ hàng ngày nghe lời mẹ con Cám. Một hôm dì ghẻ gọi tấm và Cám vào bảo đi bắt cá nếu ăn bắt được nhiều hơn sẽ có thưởng. Tấm miệt mài dưới áo để bắt cá, Tấm bắt được rất nhiều cá còn Cám chỉ biết ham chơi không chịu làm. Khi thấy giỏ cá của Tấm để trên bờ được nhiều Cám liền lừa tấm ra xa rồi chút hết vào giỏ của mình mang về khoe mẹ để được thưởng. Lúc này Tấm lên mà thấy trong giỏ trống trơn. Tấm không biết làm gì chỉ biết khóc lóc rồi có ông bụt hiện lên. May trong giỏ của Tấm còn một con bống nhỏ, Tấm nghe lời ông bụt mang bống về nuôi ở giếng. khi về tấm đã bị ghì ghẻ quát mắng đánh cho một trận.
Như vậy ta thấy Tấm là một người luôn bị chịu đau đớn và hanh hạ từ mẹ con Cám. Nhưng Tấm không một lời oán trách Tấm vẫn ngày ngày chịu đựng. Còn Cám thì như được nước càng ngày càng lấn tới. Đồng thờ Cám càng ngày càng dở trò để bắt nạt Tấm. Cám quả là một người xấu xa mà. Không những Cám xấu xa mà rất nhẫn tâm.
Tấm chỉ có duy nhất mình con bống làm bạn vậy mà mẹ con Cám cũng bắt thịt nốt của Tấm khiến Tấm không có lấy một người bạn thân để bầu bạn. Mẹ con cám đúng là những người xấu xa và tàn nhẫn không còn gì để nói.
Trong ngày hội còn không cho Tấm đi hội và trộn các loại đỗ thành một thúng lớn mang ra bắt Tấm nhặt hết mới cho đi chơi. Mà tấm chỉ có hai tay trong khi hai đỗ thì rất nhỏ mà nhiều tấm nhặt đến bao giờ mới hết. Tấm chỉ biết than khóc ngậm ngùi và chịu đựng bởi Tấm chỉ là con ghẻ. Cám xảo trá tới mức giành luôn chiếc hài của Tấm đánh rơi khi nhà vua tuyên bố ai đeo vừa sẽ lấy làm vợ.
Nhưng sự ngoan hiền và chăm chỉ của Tấm cũng được đáp lại tấm được nhà vua lấy về làm vợ và rất thương yêu Tấm. Tấm cảm thấy rất hạnh phúc vì cuối cùng những gì mình chịu đựng cũng được ông trời đền đáp. Nhưng mọi chuyện chưa được dừng lại ở đây mẹ con Cám nhân ngày giỗ cha Tấm về và độc ác giết Tấm rồi để Cám thay tấm về làm vợ vua.
Câu chuyện kết thúc thật có hậu. Những yếu tố kì ảo trong truyện thể hiện khát vọng cái thiện luôn luôn thắng cái ác. Mới đầu ta thấy Tấm xuất hiện là một cô gái hiền lành nhưng càng về sau thì Tấm càng mạnh mẽ và quyết định quay về trả thù mẹ con Cám. Điều này cũng nhấn mạnh cái xấu phải bị trừng trị thì xã hội mới tốt đẹp lên được.
Những lần mà Tấm hóa thân đều là để khẳng định những quyền lợi mà Tấm vốn có nhưng mỗi lần cô hóa thân đều bị Cám giết. Tấm uất ước không thể chịu được bắt đầu vùng lên để giết Cám và đòi quyền lợi dành cho mình. Chỉ có như vậy thì mẹ con Cám mới hết đi hại người khác bởi Tấm đã bị hành hạ quá dã man. Dù là con ghẻ nhưng vẫn là con vậy mà người mẹ độc ác này nhẫn tâm đi giết cả con. Em cùng cha cũng vậy đi giết cả chị để hưởng thụ cuộc sống của chị. Điều này càng thể hiện bản chất quá xấu xa và tàn nhẫn của mẹ con Cám.
Câu chuyện như một bài học quý báu giáo dục nhân cách và phẩm chất con người. Hướng cho con người có những suy nghĩ tốt đẹp và biết sống vì mọi người. Đừng sống ộc ác và xấu xa như mẹ con Cám rồi sẽ chẳng có kết cục đẹp. Hãy sống biết mình biết mọi người, sống phù hợp với chuẩn mực của đạo đức không nên đi hãm hại người khác. Từ đó ta cảm thấy cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn. Người ta thường nói ông trời có mắt nên “gieo nhân nào thì gặp quả đấy”. Vậy nên hãy hoàn thiện nhân cách tốt đẹp từ nhỏ sau này lớn lên sẽ là những người có ích.
Qua truyện cổ tích Tấm Cám để lại bài học vô cùng sâu sắc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Và truyện muốn nói nên một chân lí “ Cái thiện luôn luôn thắng cái ác”. Vì thế chúng ta hãy sống sao cho cuộc sống có ý nghĩa hơn chứ đừng như mẹ con Cám xấu xa quá đến lúc chết cũng không được trọn vẹn.
|
Bình giảng truyện cổ tích Tấm Cám
| 1,009
| |
Đề bài: Bình giảng tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
Bài làm
Thông qua câu chuyện kể về chuyến đi của một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng biển miền Trung để chụp ảnh nghệ thuật, với một cốt truyện nhiều tình huống bất ngờ với hệ thống nhân vật đa dạng, nhà văn đề cập đến tính trung thực của người nghệ sĩ, nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học và hiện thực cũng như những vấn để phức tạp của cuộc sống, kể cả bi kịch số phận con người.
Trước hết cần đặt truyện ngắn này trong cảm hứng sáng tác chung của Nguyễn Minh Châu giai đoạn đầu những năm 80 ở thế kỷ trước, đó là cảm hứng luận đề. Cảm hứng luận đề thể hiện ở một loạt truyện Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Hương và Phai, Bến quê, Khách ở quê ra, Mẹ con chị Hằng, Sống mãi với cây xanh, Mảnh đất tình yêu, Một lần đối chứng, Chiếc thuyền ngoài xa … có tính luận đề ở chỗ nhà văn đã cho “đối chứng” với các quan niệm lạc hậu, lỗi thời, cổ hủ, xưa cũ… về con người, về cuộc đời và cả về nghệ thuật. Ngay chính Nguyễn Minh Châu, lúc sinh thời cũng có lần tâm sự rằng chính mình cũng chưa thích “một vài truyện tính chất luận đề về đạo đức để lộ ra quá rõ”(1). Chiếc thuyền ngoài xa cũng thể hiện điều này ở một vài câu văn, ví dụ: “Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khoắc trong phần của tâm hồn”. Nó chỉ là một vài vết gợn để lộ ra mục đích thuyết giáo của tác giả, không ảnh hưởng tới chủ đề chính của tác phẩm là luận đề về quan niệm giữa chân lý nghệ thuật và cuộc sống. Chính cảm hứng luận đề này đã chi phối Chiếc thuyền ngoài xa và Một lần đối chứng: nhà nghệ sĩ phải nhìn kĩ, nhìn sâu vào những gì tưởng là đẹp đẽ, hài hoà để nhận ra bản chất của nó, từ đó mà có trách nhiệm cao hơn, sâu sắc hơn với cuộc đời và con người.
Bình giảng tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
Truyện được viết xong trong tháng 8 năm 1983, nghĩa là ở những năm trước của công cuộc đổi mới (tính từ năm 1986). Đầu những năm 80 của thế kỷ XX nước ta lâm vào cơn khủng hoảng kinh tế nặng nề. Thực tế đòi hỏi chúng ta phải có những cơ chế mới thích hợp để thay thế cơ chế quan liêu bao cấp đã lỗi thời, kể cả phải thay đổi lối bao cấp về tư tưởng. Nhìn ở phương diện văn học ta mới thấy những truyện như Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một sự báo hiệu công cuộc đổi mới trong văn học, từ đề tài, nhân vật cho đến cách viết … Chính vì thế mà nhà văn được đánh giá rất cao, “là người cảm nhận ra sớm nhất, sâu xa nhất, tận máu thịt tâm tưởng mình cái yêu cầu bức bách sống còn của cuộc trở dạ nọ, mà ngày nay chúng ta gọi là công cuộc đổi mới” (2), “là một hiện tượng văn học mới” (3)… Phải đặt Chiếc thuyền ngoài xa vào bối cảnh những năm trước đổi mới chúng ta mới thấy rõ vị trí tiên phong của nhà văn trong việc đổi mới văn học nước nhà.
Do đặc trưng thể loại là dung lượng ngắn, chi tiết cô đọng, hàm súc, cốt truyện thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế để hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện ra một nét bản chất trong đời sống, nên các tác giả truyện ngắn rất chú ý tới việc sáng tạo tình huống. Tiến hành phân tích giảng dạy một tác phẩm truyện ngắn chúng ta cũng rất nên quan tâm tới yếu tố này. Xét dưới góc độ lý thuyết thì tình huống đóng vai trò bộc lộ các mối quan hệ, địa vị xã hội và tính cách nhân vật, thể hiện chủ đề tác phẩm. Chiếc thuyền ngoài xa đã sáng tạo ra một tình huống nghịch lý, oái oăm, trớ trêu. Vì là một truyện mang tính luận đề, mang tính tư tưởng, nhân vật trong truyện cũng là nhân vật tư tưởng, không phải là nhân vật tính cách nên trọng tâm phân tích truyện ngắn này nên đi sâu hơn vào phương diện tình huống. Bởi nhờ tình huống này mà tính tư tưởng của tác phẩm mới được thể hiện rõ.
Có thể tạm xếp vào các nhóm tình huống sau:
Một là, nghịch lý giữa đời sống và nghệ thuật. Cả một tập thể nghệ sĩ nhiếp ảnh trong “dăm tháng” trời đã chụp được “hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu …”, được ông Trưởng phòng “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến” đánh giá là “đẹp thì đẹp thực … và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những bức ảnh nghệ thuật”. Thế mà, cũng chính vì Trưởng phòng thông minh này lại “không thể chọn đủ cho mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ”. Thì ra người nghệ sĩ dù có cố gắng bao nhiêu, nỗ lực bao nhiêu, đầu tư nhiều thời gian, bỏ ra nhiều tâm huyết và trí tuệ bao nhiêu cũng chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống. Người nghệ sĩ không bao giờ được thoả mãn, phải luôn coi mục đích nghệ thuật luôn ở phía trước để phấn đấu. Đây có thể coi là thông điệp nghệ thuật thứ nhất của nhà văn.
Hai là, nghịch lý giữa cảnh đẹp của thiên nhiên thơ mộng trữ tình và di hoạ chiến tranh. Cái bờ biển ấy cách Hà Nội hơn sáu trăm cây số, được Phùng – nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn bằng con mắt “nhà nghề”, nó “thật là thơ mộng”, “thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu …”, thế nhưng lại có “những bãi xe tăng do bọn thiết giáp nguỵ vứt lại trên đường rút chạy hồi “tháng ba bảy nhăm” (bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước gặm mòn và làm cho sét gỉ)…”. Theo tôi từ chi tiết này ít nhất cũng mang ba dụng ý nghệ thuật sau. Thứ nhất, nó nhắc nhở người nghệ sĩ đừng bao giờ quên cái nghịch lý của đời sống. Nghệ thuật không chỉ ở cảnh đẹp thơ mộng mà còn ở cả cái hiện thực sần sù gai góc kia. Thứ hai, để bạn đọc khỏi ngỡ ngàng nó như là một sự báo hiệu đưa dần bạn đọc vào chủ đề chính thể hiện ở những tình huống nghịch lý căng thẳng dữ dội hơn. Đây có thể coi là một biện pháp tâm lý mời gọi bạn đọc theo dõi những diễn biến tiếp sau của câu chuyện. Thứ ba, nó nhắc khéo bạn đọc bối cảnh ra đời của câu chuyện là chưa xa một thời chiến tranh (chú ý một chi tiết nhỏ “sau gần mười năm”). Mà chiến tranh bao giờ cũng đi liền với sự mất mát, đau thương nên di hoạ, cả ở phương diện vật chất và phương diện tinh thần vẫn còn tồn tại dai dẳng. Do vậy, những điều gì xấu, phi nhân tính được đề cập ở phần sau của câu chuyện cũng không có gì lạ. Cái mà chúng ta cần là làm sao xoá bớt dần di hoạ chiến tranh, làm liền sẹo những nỗi đau mà chiến tranh để lại. Đây cũng là một ẩn ý cần được khai thác sâu hơn.
Ba là, nghịch lý giữa cảnh thiên nhiên đẹp thơ mộng hữu tình và cái đẹp vô hồn. Chúng ta tạm quy ước “đẹp” là một khái niệm mang tính ước lệ cao để khỏi phải vướng vào hàng rào của đường biên khái niệm này, và thống nhất với nhau, ở ngoài đời cũng như trong văn chương vẫn tồn tại cái đẹp có hồn và cái đẹp vô hồn. Lần thứ nhất Phùng không lấy “cảnh người ta đẩy một chiếc thuyền xuống nước” vì “ cảnh đẩy thuyền đầy không khí vui nhộn… thật hùng tráng” này lại có gì “hơi thô lỗ”. Lần thứ hai Phùng cũng không thể lấy cảnh “thuyền đánh cá thu lưới vào lúc nhập nhoạng sáng” vì đó là “một cảnh chết” có quá nhiều người đã khai thác. Lần thứ ba Phùng cũng không lấy cảnh “Đằng đông đã trắng sáng. Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn trên mặt tấm thép dát màu xám đục ”. Nhưng cũng chính cảnh này “sao mà tẻ nhạt, tiếng sóng ồ ồ dội vào giấc ngủ suốt đêm chạy trốn đi đâu hết, biển im thít và không màu sắc, như một con sứa khổng lồ giạt vào bãi”. Phải đến lần thứ tư Phùng mới quyết định bấm máy để thu vào ống kính “… vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hoà tấu ánh sáng và bóng tối, tượng tưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời”.
Đúng là một cảnh đẹp có hồn, khoẻ khoắn, trong sáng, tươi vui!
Đó là một cảnh thật hài hoà về hình ảnh, màu sắc. Nhà hoạ sĩ đã hoà phối sắc màu có cả ánh sáng và bóng tối, cả cận cảnh và viễn cảnh “văn trong hữu hoạ” trong văn có hoạ và có cả “văn trung hữu nhạc” trong văn có nhạc (mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc), có cả cảnh thiên nhiên và cảnh con người lao động, có cảnh khách quan và có cả chủ quan của chủ thể (chói mắt).
Để có được cảnh này Phùng phải qua bốn lần quyết định. Nghệ thuật là như vậy, phải là sự công phu, tìm tòi biết chờ đợi, đòi hỏi một sự kiên nhẫn cao độ. Và cũng trớ trêu thay, nghệ thuật không chỉ thế là có được mà còn phải là “giời cho” nữa. Chính Phùng đã tâm niệm điều này: “… nếu không có thêm sự sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với tài ba đến bao nhiêu, anh cũng chỉ … thu được những tấm ảnh vô hồn”.
Bốn là, nghịch lý giữa “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” và cảnh con người lam lũ, vất vả, khổ đau. Phải đến lần thứ năm Phùng mới được “một cảnh “đắt” trời cho”: “… Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?”.
Phải có một bút lực mạnh mẽ, một sự am hiểu sâu sắc về hội hoạ, một sự nhạy cảm trước cái đẹp mới có thể viết nổi đoạn văn miêu tả “cái đẹp tuyệt đỉnh”, “toàn bích” này. Câu đầu là ước lệ, là cảm nhận chung “một bức tranh mực tàu …”. Các câu sau là những hình ảnh cụ thể với mũi thuyền trôi trong bầu sương mù, vài bóng người cả người lớn lẫn trẻ con, rồi những cái mắt lưới và tấm lưới … Cảnh thật huyền ảo (bầu sương mù trắng như sữa), tinh khôi, tinh khiết (màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào), vừa tĩnh tại (im phăng phắc), vừa sống động (hướng mặt vào bờ). Các tính từ láy loè nhoè, hồng hồng, phăng phắc, khum khum tăng cường thêm độ huyền ảo, như hư như thực. Các so sánh tinh tế trắng như sữa, im phăng phắc như tượng, y hệt cánh một con dơi làm đậm thêm chất tạo hình của bức tranh. Dường như ngôn từ bất lực trước cái đẹp, nhà hoạ sĩ buộc lòng phải đưa “cái tôi” chủ quan tham gia vào “quá trình thưởng thức”: “… đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?” Làm cho bức tranh kia nhuốm thêm “sắc màu” tâm trạng.
Nhưng oái oăm thay, nghịch lý và trớ trêu thay, cảnh đẹp nhất, có hồn nhất lại là cảnh ẩn chứa những điều tệ hại nhất, xót xa nhất!
Đó là tiếng quát của gã ngư phủ: “Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”.
Đó là “một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ..”.
Đó là một gã đàn ông “mái tóc như tổ quạ … chân đi chữ bát … hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ…”
Chưa hết, tiếp theo là cảnh hành hung đánh đập, phi nhân tính rùng rợn: “Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay gắt, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két …”
Nghiệt ngã thay! Khát vọng tìm đến cái đẹp để mong muốn làm cho con người đẹp lên là rất đáng quý nhưng người nghệ sĩ phải tỉnh táo để nhận ra cái thực tế phũ phàng của đời sống. Và đây cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi người: hãy tỉnh táo trước cái đẹp. Bất cứ cái đẹp nào cũng rất có thể ẩn chứa những điều phức tạp đi ngược lại hạnh phúc của con người. Cái tình huống nghịch lý này trong Chiếc thuyền ngoài xa đã xua tan màn khói lãng mạn phủ lên hình ảnh tuyệt đẹp kia để làm trơ ra cái sự tàn nhẫn của đời thường. Người nghệ sĩ không chỉ nhận thấy cảnh đẹp lãng mạn bên ngoài kia mà còn phải nhìn thấy cả cảnh hành hạ man rợ của lão ngư phủ nọ. Đây là bài học, là trách nhiệm, cũng là lương tâm của nghệ thuật.
Dưới góc độ nhân vật chúng ta cũng thấy nhà văn đã sử sụng nguyên tắc nghịch lý, đối lập trong xây dựng nhân vật: cái tốt cái xấu lẫn lộn, đan cài với nhau. Người đàn bà xấu xí thô kệch ấy có vẻ bề ngoài thật quá nhẫn nhục, cam chịu “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng vẫn không chịu “chia tay” với gã chồng vũ phu tàn bạo. Bởi vì, như lời giãi bày gan ruột của người mẹ đáng thương ta mới thấy bà có một tấm lòng hi sinh vô bờ “ … đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa… Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình…”. Còn gã đàn ông kia cũng không hẳn hoàn toàn xấu. Vì đâu mà lão trở lên vũ phu tàn độc như vậy? Khi xưa, theo lời vợ lão thì đó “ là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập..”. Vẫn theo lời vợ lão thì là do lão “khổ quá” vì làm ăn nuôi con. Rồi đói, khi “ông trời làm biển động suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối… ”. Trước sau thì hắn vẫn là người lao động lương thiện, hơn nữa lại là lao động chính, kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt của mình để nuôi mười mấy miệng ăn. Lão đánh vợ để giải toả những bức bối. Ta hãy để ý khi đánh vợ lão cũng đau đớn “Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”. Lão cũng không phải là kẻ hiếu chiến, không phải là kẻ chỉ thích gây gổ đánh đấm người khác, bằng cớ là ngay Phùng cũng khẳng định “lão đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ”. Còn thằng Phác đứa trẻ ham hiểu biết (cặn kẽ giải thích cho tôi nghe cuộc sống của những giống chim trên rừng), sớm lam lũ lao động, hồn nhiên chơi với “tôi” như một người bạn thân và rất thương mẹ… Bên cạnh những phẩm chất ấy trong nó cũng ẩn chứa một tính côn đồ nguy hiểm: sẵn sàng cầm dao đâm bố để cứu mẹ. Nó sớm đã có ý thức báo thù bằng cách lấy bạo lực để ngăn cản bạo lực.
Như vậy, nhân vật trong Chiếc thuyền ngoài xa được cấu trúc với tất cả sự phức tạp của nó, không hẳn xấu cũng không hẳn là kẻ tốt. Xét đến cùng lão chồng vừa là thủ phạm gây ra cảnh đau đớn cho người vợ, cho con đẻ đồng thời cũng lại là nạn nhân của cuộc sống còn tăm tối khốn khổ. Người vợ cũng vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, mà theo chính lời mụ thì là do “cái lỗi…là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá”. Thằng Phác cũng thế, vừa là nạn nhân của thói côn đồ lại vừa là thủ phạm kích động thói côn đồ và chính nó cũng sớm có tính côn đồ. Những nhân vật đó chưa mang chiều kích của nhân vật tính cách với những quá trình phát triển tâm lý nhưng nó đã làm tốt chức năng thể hiện chủ đề tác phẩm.
Một phương diện rất thành công của truyện ngắn là cách chọn điểm nhìn trần thuật. Nhà văn trao điểm nhìn trần thuật cho Phùng, nhân vật – người kể chuyện là cách chọn tối ưu. Phùng kể lại kể chuyện mình trực tiếp chứng kiến, trực tiếp tham gia vào biến cố câu chuyện (nói chuyện với Phác – đứa con ; đánh lại gã chồng để tránh đòn cho người đàn bà ; nghe lời trần tình, giãi bày của người vợ) nên câu chuyện kể ra rất thật, vì đó là chuyện của người kể, kể lại chuyện của mình. Cách kể này chúng tôi đã khái quát thành khái niệm “kịch hoá nhân vật – người kể chuyện ” (4). Người kể chuyện đóng vai nhân vật nhảy vào các biến cố, tham gia trực tiếp vào các diễn biến của cốt truyện, rồi kể lại cho bạn đọc nghe; điều đó đã tạo ra xu hướng trần thuật tiệm tiến gần hơn với sự thật ngoài đời. Thứ nữa, Phùng là người trải nghiệm, giàu vốn sống(từng có mười năm cầm súng đánh giặc, nay làm nghề chụp ảnh được đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người) nên lời văn trần thuật chứa nhiều yếu tố triết lý, ví như “ ở đời cái gì cũng thế, con người bản tính vốn lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc phải làm, không khéo lại làm được một cái gì”. Phải là người như Phùng, nghề nghiệp như Phùng bạn đọc mới tin và thấm thía triết lý này. Hơn nữa Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nên tất yếu phải có yếu tố nghề nghiệp trong lời kể. Thế cho nên lời văn ở đây tràn đầy chất thơ, chất trữ tình và cũng đậm chất hoạ, chất điện ảnh thì đó cũng là điều dễ hiểu. Và các thủ pháp nghệ thuật trong lời kể cũng rõ cái dấu ấn nghề nghiệp gắn với nhân vật ví dụ một phép so sánh tả một ngư phủ. Ngư phủ thì bao giờ cũng đi liền với cái thuyền và lưới, thế nên:
“Tấm lưng rộng và cong như chiếc thuyền”
“Những món tóc vàng hoe có chỗ đỏ quạch như mớ lưới to đã bợt bạt”
“Cặp mắt thật đen gợi cho tôi nghĩ đến con mắt người ta vẽ trên đầu mũi thuyền”
Chủ thể trần thuật là ngôi thứ nhất, người kể chuyện đồng nhất với nhân vật đã thống nhất cả hai điểm nhìn, của nhân vật vốn bị chia cắt vào từng cảnh, của người kể vốn luôn xuyên suốt các sự kiện trên một trục thời gian đã tạo nên sự nhất quán của lời văn trần thuật trong cấu trúc văn bản, vừa đi sâu, cụ thể vào các sự kiện vừa quy chiếu một cách toàn diện, hệ thống cốt truyện. Vậy nên truyện cứ lôi kéo ta vào từng chi tiết vừa hấp dẫn mời gọi ta dõi theo cái kết cục của câu chuyện sẽ như thế nào, liệu người vợ có bỏ lão chồng kia không, liệu tòa có xử cho họ ly hôn không, rồi số phận những đứa con họ sẽ ra sao…???
Đối với nhà văn tài năng thì có khi người đọc chỉ cần đọc cái tên truyện là đã nhận chân ra được phong cách của ông ta. Các tiêu đề truyện Bức tranh, Một lần đối chứng, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa… đã góp phần làm rõ hơn nội dung tác phẩm, rõ cái dấu ấn của nhà văn Nguyễn Minh Châu. ở đây “ chiếc thuyền” nghệ thuật đang trôi trên “ ngoài xa” cuộc đời đã nói lên rất hay mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nghệ thuật nằm trong cuộc sống này, biểu hiện cuộc sống. Người nghệ sĩ chèo lái con thuyền nghệ thuật ấy vừa phải hiểu sâu sắc con thuyền nghệ thuật vừa phải nắm bắt rõ những luồng lạch, độ nông sâu của biển cả cuộc đời. Có vậy mới đưa nghệ thuật tới chân trời lý tưởng của hạnh phúc và cái đẹp của con người.
Share
Facebook
Twitter
Pinterest
Bình giảng tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Hướng dẫn
Bình giảng tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Sau kháng chiến chống Mỹ thành công đất nước đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tất cả các nhà văn hăng say nói về công cuộc đổi mới khám phá nét đẹp con người. Nguyễn Minh Châu cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Ông đã chuyển từ cảm hứng lãng mạn trữ tình sang cảm hứng thế sự. Nếu như Nguyễn Khải đi khám phá về phong cách sống và tính tình của người Hà Nội trong tác phẩm Một người Hà Nội thì Nguyễn Minh Châu khám phá những vấn đề xã hội, nghệ thuật và con người trong tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa. Có thể nói đây là một trong những tác phẩm đặc sắc và giàu giá trị nhất của ông.
Mở đầu tác phẩm Nguyễn Minh Châu nói về chuyến công tác của một nhân vật trong truyện là nghệ sĩ Phùng. Anh là một nhà nhiếp ảnh, anh được giao chụp một bức ảnh thuyền và biển trong lịch năm ấy. Và cảnh thuyền và biển bắt đầu hiện lên với một vẻ đẹp toàn bích. Người nghệ sĩ say mê trước “cảnh đắt trời cho”. Bức tranh ấy đẹp đến mức khiến cho nghệ sĩ Phùng tưởng rằng mình đang được chiêm ngưỡng một bức tranh mực tàu của họa sĩ thời cổ. Nó hiện lên với một vẻ đẹp toàn bích, đầu thuyền mui thuyền in một nét lòa nhòa trong làn sương sớm ấy. Anh chợt nhận ra cái đẹp là đạo đức là chân thiện mỹ. Phùng cảm nhận trong trái tim mình như có ai bót thắt lại, anh xao xuyến bâng khuâng. Dường như trong tâm hồn anh đây là khoảnh khắc trong ngần nhất. Chiêm ngưỡng cảnh đẹp nhưng anh không quên ấn máy ảnh liên tục để chụp lại khoảnh khắc tuyệt vời đó.
Thế nhưng một sự thật đằng sau cái đẹp mà anh coi là đạo đức ấy lại khiến anh ngạc nhiên hết sức. Chiếc thuyền mau chóng gần lại bờ. Một người đàn ông và một người đàn bà cùng nhau đi lên. Nhưng họ không đi cùng nhau mà người đàn ông mặt lầm lì đi trước. Người đàn bà thì cũng lầm lũi đi sau. Dáng vẻ trông đến là khắc khổ. Bỗng chốc họ dừng lại ở bãi xe già phá mìn. Đó là tàn dư của chiến tranh còn sót lại, ông chồng bỗng rút chiếc thắt lưng Mỹ Ngụy đánh liên tiếp vào người đàn bà thô kệch ấy. Điều đáng ngạc nhiên là người đàn bà ấy không hề chống cự, bà chỉ cắn răng chịu đau không kêu la một lời nào. Sự việc ấy khiến cho Phùng ngỡ ngàng sau phút giây thăng hoa cùng cảnh đẹp. Thế rồi một thằng bé cầm dao lao tới. Đó là thằng Phác con của hai người đó. Nó phi thẳng vào bố nó như muốn lấy mạng ông ta. Và sức của nó không thể làm gì được, nó bị bố tát cho một cái lăn quay xuống cát. Người đàn bà đau thương xót xa ôm lấy con mình mà khóc còn người đàn ông lại bỏ xuống thuyền. Cảnh tượng ấy chứa đựng sự nghịch lý và thể hiện mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống này. Phùng làm nghề bao nhiêu năm đến nay anh mới nhận ra được mới quan hệ gắn bó không tách rời ấy.
Ban đầu chị kể về cuộc đời gia cảnh nhà chị. Ngày xưa nhà chị cũng là một nhà khá giả, nhưng sau một trận đậu mùa chị bị giỗ hết mặt cho nên cũng không ai thèm ngó đến. Lúc ấy ông chồng chị bây giờ là một anh cắt cỏ thuê cho nhà chị. Anh ta vô cùng hiền lành và tốt bụng. Bố mẹ chị cũng không thể sống với chị được đến hết đời nên khi họ chết đi chỉ còn mình chị bơ vơ. Khi ấy ông chồng đã cưu mang chị đưa chị ra biển sống với nghề thuyền chài. Chính vì thế mà chị thấy biết ơn chồng mình nên dẫu cho hắn có đánh đập chị vẫn cứ thương.
Không những thế cuộc sống trên biển cần lắm một người đàn ông chèo chống. Nếu như không có họ thì mấy người đàn bà chẳng làm được gì. Thế nên chị không thể bỏ chồng được. Chỉ thương chồng mà quên đi bản thân mình. Lí do thương chồng vì chị đẻ quá nhiều khiến cho chồng phải vất vả gấp mấy lần. Thế nên chị không hề oán trách khi bị chồng đánh. Chị cho rằng việc đẻ nhiều là tại chị, chính chị đã làm cho chồng mình trở nên như thế. ban đầu thì chồng đánh chị dưới thuyền nhưng lâu sau chị xin ông ta được lên bờ để đánh. Chị không muốn các con của chị chứng kiến cảnh cha mẹ nó đánh nhau.
Trên thuyền ngoài những lúc sóng gió ra thì vợ chồng con cái cũng có những phút giây đầm ấm vui vẻ bên nhau.
Đó là những nguyên nhân mà chị không thể bỏ người chồng vũ phu của chị được. Qua câu chuyện ấy Phùng và Đẩu thấy được rằng cuộc sống này có nhiều điều phức tạp mà họ chưa khám phá ra được. Câu chuyện về bạo lực gia đình kia cũng tạm thời phải gác lại. Tòa án như chánh án Đẩu cũng phải bó tay thông cảm với hoàn cảnh gia đình người đàn bà hàng chài. Như vậy mới thấy không phải pháp luật lúc nào cũng có thể giải quyết được mọi vấn đề.
Sau câu chuyện phùng và Đẩu đành để người đàn bà hàng chài ra về. Hai người không nói gì với nhau nhưng cùng chung suy nghĩ. Chuyến công tác kết thúc, Phùng trở về với những bức ảnh đẹp. Bộ lịch năm ấy có hình thuyền và biển thật. Còn phùng mỗi lần nhìn lên bức ảnh ấy anh lại thấy một đốm lửa màu hồng sáng lấp lánh. Đó phải chăng chính là người đàn bà hàng chài. Nét đẹp trong tâm hồn của chị khiến cho Phùng không làm sao quên được.
|
Bình giảng tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
| 5,058
| |
Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trấn Tế Xương
Hướng dẫn
Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trấn Tế Xương
Thương vợ của Trấn Tế Xương là một bài thơ gây xúc động rất lớn cho người đọc. Đọc thơ bạn đọc không khỏi rơi nước mắt trước nỗi vất vả, khổ cực mà người vợ-người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ phải chịu đựng.
Bà Tú Xương đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc lớn lao đó là ngay lúc còn sống bà đã đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng.Thơ Tú Xương có một mảng lớn viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất.
Câu thơ mở đầu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Đó là cảnh vất vả, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. Thời gian quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Nơi bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu, lại như một bối cảnh làm hiện lên hình bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi:
Quanh năm buôn bán ở mom sông.
Thấm thìa nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng, tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian, đã làm hao hụt cả ý thơ. So với câu ca dao: Con cò lặn lội bờ sông, câu thơ của Tú Xương:
Là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ – đưa ra từ lặn lội lên đầu câu, cách thay từ – thay từ con cò bằng thân cò, càng làm tăng nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Từ thân cò gợi cả nỗi đau thân phận, so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc, thấm thía hơn.
Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc thì câu thứ tư lại làm rõ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú:
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buôi dò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng. Trong ca dao, người mẹ từng dặn con rằng:
Con ơi nhớ lấy câu này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qụa.
Buổi đò đông không chỉ có những lời phàn nàn, mè nheo, cáu gắt, những sự chen lấn, xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy. Hai cáu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn chải trong hoàn cảnh chen chúc làm ăn. Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương, đó là tấm lòng xót thương da diết.
Cuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú. Bà là người đảm đang tháo vát:
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý, từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức:
Cơm hai bữa: cá kho rau muống
Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô
(Thầy đồ dạy học)
Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự hy sinh rất mực của vợ:
Năm nắng mười mưa dám quản công
Ở câu thơ này, nắng mưa chỉ sự vất vả, năm mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.
Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới thấy. Ở bài thơ thương vợ cũng vậy. Ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Phía sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ. về câu thơ Nuôi đủ năm con vói một chồng, có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi mình là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi.Tác gỉa đã không gộp mình với con để nói mà tách riêng, con riêng rất rạch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ.
Nhà thơ không chỉ cảm phục, biết ơn sự hi sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách, tự lên án bản thân. Bản thân không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Việc bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên một mà nợ hai. Tác giả tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu. Nợ gấp đòi duyên, duyên ít nợ nhiều, ồng chửi thói đời bạc bèo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời. Sự hờ hừng của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ Tú Xương tự rủa mát mình cũng là lời tự phán xét, tự lên án:
Ở cái thời mà xả hội đã có luật không thành văn đối với người phụ nữ: xuất giả tòng phu (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì phu xướng, phụ tùy (chồng nói, vợ theo), thế mà có một nhà nho dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quán ăn lương vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhận khuyèt điểm. Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao.
Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ vẻ đẹp nhân bản của hồn thơ mình. Tác giả không chỉ thương vợ mà còn ơn vợ, không chỉ lên án thói đời mà còn tự trách.
Tình thương yêu, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Một cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vần có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.
Lòng thương vợ của Tú Xương thể hiện qua bài thơ thật khiến người ta phải khâm phục!
|
Bình giảng về bài thơ Thương vợ của Trấn Tế Xương
| 1,310
| |
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua trích trong Truyện Lục Vân Tiên của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu
Bài làm
Không thể nào mua chuộc, ép buộc Kiều Nguyệt Nga lấy con trai mình, quan thái sư đã trả thù một cách xảo quyệt, hèn hạ. Ăn không được thì phải đạp đổ. Kiều Nguyệt Nga trở thành vật hi sinh. Người đẹp trở thành cống phẩm dâng chúa Ô Qua để giặc lui binh.
Đoạn thơ ghi lại tâm trạng đau khổ của Nguyệt Nga trên đường đi cống giặc và ca ngợi tấm lòng son sắt thủy chung trong tình yêu của nàng.
Nguyệt Nga là một thiếu nữ xinh đẹp "’vóc ngọc mình vàng" có thị tì Kim Liên hầu hạ. Nàng xuất thân trong tầng lớp quý tộc, là “con quan tri phủ ở miền Hà Khê". Nguyệt Nga là một con người giàu lòng trung nghĩa; trước hành động nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên, nàng đã nói:
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.
Cảm phục trước hành động: anh hùng và hào hiệp của người con trai xa lạ vừa đánh cướp cứu mình, Kiều Nguyệt Nga đã khắc sâu trong trái tim mình hình ảnh Lục Vân Tiên, và nàng đã vẽ bức tượng hình chàng luôn mang theo bên mình. Con gái Kiều Công quả là một thiếu nữ đa cảm, đa tình. Mối tình đơn phương ấy thật đẹp và son sắt thủy chung.
Bị bắt đi cống giặc là một thử thách đầy bi kịch. Đã mười ngày trôi qua, Kiều Nguyệt Nga đã đi tới ải Đồng, bên này là quê hương mình, bên kia là xứ người, là đất giặc Ô Qua.
Dòng sông bao la “mênh mông", tiếng sóng vỗ “đùng đùng”, trăng "vằng vặc", sao “mờ mờ" gần xa, cả một bầu trời “lặng lẽ như tờ". Nguyễn Đình Chiểu đã lấy ngoại cảnh sông, nước, trăng, sao để diễn tả tâm trạng cô đơn của người đẹp trên đường đi cống; lấy tĩnh để tả động, trời thì “lặng lẽ" mà trong lòng kẻ bạc mệnh thì quặn đau tê tái và cô đơn. Sóng vỗ trên sông hay đang vỗ trong lòng nàng?
Mười ngày đã tới ải Đồng,
Minh mông biển rộng, đùng đùng sóng xao.
Đêm nay chẳng biết đêm nào,
Bóng trăng vằng vặc bóng sao mờ mờ.
Trên trời lặng lẽ như tờ.
Trước cảnh xa lạ, bao la và mịt mờ ấy, Kiều Nguyệt Nga cất lời than. Vừa thương mình vừa thương người quân tử mà mình đã mang nặng ân sâu; chàng trai anh hùng hào hiệp mà mình đã yêu dấu sắt son, đã thủ tiết đợi chờ:
Than rằng: “Nợ nước kìa non,
Cảnh thời thấy đỏ, người còn về đâu?
“Người" mà Kiều Nguyệl Nga nhắc đến chính là Lục Vân Tiên. Câu hỏi “‘người còn về đâu" chứa đầy tâm trạng đau đớn, cô đơn và sầu tủi.
Nếu như Nguyễn Du dùng hai câu tả cảnh vật giờ khắc quyết định tự tử của Kiều trên sông Tiền Đường: “Cửu bồng vội mở rèm châu – Trời cao sông rộng một màu bao la", thì ở đây, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã viết cái phút đớn đau ấy của Kiều Nguyệt Nga bằng những vần thơ ứa lệ:
Quân hầu đều đã ngủ lâu,
Lén ra mở bức rèm châu một mình.
Giai nhân mệnh bạc tự thương và tự than thân, vầng trăng trên trời cao là chứng nhân cho lời thề son sắt thủy chung, cho quyết tâm “ giữu ngọc gìn vàng" của người thiếu nữ, “thủ tiết" bằng cái chết để giữ trọn “một tấm lòng ngay" với tình nhân mà mình đã từng tôn thờ, đã từng ôm ấp:
Vắng người có bóng trăng thanh,
Trăm năm xin gởi chút tình lại đây.
Vân Tiên anh hỡi có hay?
Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng.
Bao nhiêu nước mắt đã chảy xuống? Để giữ trọn “tấm lòng ngay với chàng”, Kiều Nguyệt Nga đã hành động một cách quyết liệt:
Than rồi lấy tượng vai mang,
Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.
Lúc xa cách thì vẽ chân dung người yêu để sớm tối được ôm ấp, ngắm nghía. Lúc sống trong lận đận khó khăn, hình tượng người yêu là nơi nương tựa tinh thần. Lúc nhảy xuống sông tự tử, Kiều Nguyệt Nga vẫn vai mang tượng Lục Vân Tiên đi sang thế giới bên kia với lời nguyền son sắt thuỷ chung.
Cũng là bi kịch giai nhân xưa nay, nhưng mỗi người một khác. Cũng là “phận hồng nhan”, “chốn đoạn trường" nhưng nào ai giống ai? Sau khi Từ Hải vì mắc lừa Hồ Tôn Hiến mà bị giết chết, Kiều phải hầu rượu đánh đàn trong bữa tiệc quan, rồi bị ép lấy viên thổ quan, nàng phải nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử:
Giết chồng mà lại lấy chồng,
Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?
Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông.
Kiều phải tự tử vì đau khỏ và ân hận. Kiều Nguyệt Nga phải nhảy xuống sông để “ gửi chút tình" với trăng nước, để giữ tròn “tấm lòng ngay" với Lục Vân Tiên. Tiết hạnh của Kiều Nguyệt Nga vằng vặc như trăng sao. Hành động tự tử của Kiều Nguyệt Nga là để thủ tiết với Lục Vân Tiên, là để chống lại mọi âm mưu hèn hạ, xảo quyệt của tên thái sư, vị đại quan đầu triều.
Đoạn thơ đã thể hiện bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Đình Chiểu. Sự kết hợp hài hòa giữa miêu tả, tự sự và độc thoại trữ tình đã tô đậm tính cách Kiều Nguyệt Nga: son sắt, thủy chung và tiết hạnh.
Nhân vật Kiều Nguyệt Nga là một nhân vật lí tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, đã nêu cao tấm gương tiết hạnh của một giai nhân:
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Phẩm giá của người con gái khuê các trong xã hội ngày xưa được thể hiện qua đoạn thơ này vẫn ít nhiều làm ta xúc động.
|
Bình giảng đoạn thơ Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua trích trong Truyện Lục Vân Tiên của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu
| 1,022
| |
Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’
Hướng dẫn
1. Trông bến nam bãi che mặt nước,
Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh,
Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.
2. Trông đường bắc đôi chòm quán khách,
Rườm rà cây xanh ngất núi non,
Lúa thành thoi thót bên cồn
Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu.
3. Non đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ xập xòe, mai cũng be’ bai,
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió, lạc loài kêu sương.
4. Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn triện không, sóng giục thuyền câu,
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
… Mỗi cảnh là một phương hướng, trong một mùa. Có nam, bắc, đông, tây. Có xuân, hạ, thu, đông. Bút pháp miêu tả ước lệ, tượng trưng, cấu trúc cân xứng qui phạm theo ‘tứ bình’, đó là vẻ đẹp cổ điển.
Mùa xuân đến, người vợ trẻ ‘trông bển nam’ chỉ nhìn thấy một màu xanh của ‘cỏ biếc um’, của ‘dâu mướt’ mà thôi. Thấy nhà thôn ‘chông chênh’ xa gần mấy xóm, thấy đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm. sắc của cỏ, dâu thì mơn mởn. Cảnh đàn cò kết bầy kết đôi. Ngoại cảnh ấy gợi lên trong lòng nàng chinh phụ còn trẻ nhiều khao khát, mong đợi. Tủi cho thân phận cô đơn của mình.
Mùa hè đến, nàng ‘trông đường bắc’ nhìn xa chỉ thấy ‘rườm rà cây xanh ngất núi non’, mịt mù; trông gần chỉ thấy ‘đôi chòm quán khách’ cũng gợi tả nỗi buồn lẻ loi đơn chiếc. Câu thơ ‘Lúa thành thoi thót bên cồn’ cũng mượn ngoại cảnh ngọn lúa bay rập rờn trước gió bên bờ thành để đặc tả nỗi ám ảnh buồn thương tiêu điều của hàng chinh phụ. Nàng chợt nghe tiếng sáo ngọc ngân lên véo von, dồn dập. Cũng là âm thanh gợi nhớ, gợi thương, não nùng thê thiết!
Nghe thôi ngọc địch véo von trên lầu’
Mùa thu đến, nàng thấy ‘non đông’ lá rụng ‘chất đống’ tàn tạ buồn thương. Trĩ từng đôi ‘xập xòe’, khóm mai ‘bẻ bai’ uốn lượn. Câu thơ ‘Trĩ xập xòe, mai cũng bẻ bai’ là một nét vẽ tương phản đầy ấn tượng, cỏ hoa, chim chóc được sánh đôi múa lượn còn nàng thì gối chiếc chăn đơn. Nàng càng thêm sầu tủi, cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết khi nghe tiếng nhạn lạc bầy kêu lên trong màn sương khói mịt mù: ‘Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu sương’
Ngọn gió thu lạnh thổi bạt cánh nhạn lạc bầy. Và đó cũng là bão táp chiến tranh làm cho những lứa đôi trở nên lẻ loi, đơn chiếc, lạnh lùng. Nàng chinh phụ thổn thức thương mình bao nhiêu lại thương chồng nơi ải xa đang dãi dầu sương tuyết bấy nhiêu.
Mùa đông đến, nàng lại nhìn về phương tây, nhìn về Lũng Tây bãi chiến trường núi xương sông máu,… Nàng chỉ nhìn thấy sông nước mịt mù, ngàn thông, rừng lau trùng điệp. Cánh nhạn chao liệng trên từng không. Xa xa thấp thoáng có bóng người đi về… Cánh nhạn và bóng người thấp thoáng là hai nét vẽ đầy ấn tượng. Nhìn cánh nhạn, cô phụ ngỡ là cánh nhạn đưa thư. Nhìn về phía bên kia ghềnh, thấy thấp thoáng ‘người đâu đi về’, chinh phụ tưởng là người chồng thân yêu từ chiến trường xa trở về… Nhớ quá, thương nhiều, đợi chờ, mòn mỏi, nên chinh phụ mới cảm nhận hư ảo ấy. Hi vọng lắm nên càng thất vọng nhiều. Càng thất vọng lại càng sầu tủi!
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về’
Nét đặc sắc nghệ thuật là vẻ đẹp màu sắc cổ điển.
Cảnh vật mang tính ước lệ tượng trưng (ngọc địch, mai, trĩ, nhạn, thuyền câu, thông, lau, Lũng Tây, bóng người…), cấu trúc cân xứng: xuân, hạ, thu, đông; nam, bắc, đông, tây. Lối diễn đạt cũng hài hòa cân xứng:
… Trông bến nam…
… Trông đường bắc…
… Non đông thấy…
… Lũng Tây thấy…
Bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, điêu luyện.Thi sĩ mượn ngoại cảnh bôn phương trời, bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; lấy cỏ, dâu, lúa, thông, lau, bãi, núi, sông, ghềnh; lấy khói mù, sương, gió, lấy đàn cò, chim trĩ, chim nhạn,v.v… bấy nhiêu nét vẽ ngoại cảnh đều góp phần đặc tả tâm cảnh, khắc họa những biến thái, những rung động trong tâm hồn, những nhớ mong, thương nhớ, đợi chờ, cô đơn, hi vọng để rồi thất vọng mà thêm sầu tủi…
Ngôn ngữ thi ca giàu hình tượng và biểu cảm.Các từ chỉ màu sắc (cỏ biếc um dâu mướt màu xanh… Khói mù nghi ngút ngàn khơi…), các từ tượng thanh tượng hình (chông chênh, rườm rà, thoi thót, véo von, xập xòe, bẻ bai, nghi ngút, chen chúc, thấp thoáng’ được thi sĩ (dịch giả) vận dụng rất thần tình, cho thấy bút pháp điêu luyện, sự giàu có về từ ngữ, trí tưởng tượng tuyệt vời. Đến bản dịch
Vần điệu, âm điệu, nhạc điệucủa ‘Chinh phụ ngâm khúc’là một thành tựu tuyệt mĩ.
Thơ song thất lục bát còn gọi là song thất, một điệu ngâm, một thể thơ dân tộc giàu có về vần điệu, âm điệu, nhạc điệu. Trong bốn câu thơ ‘song thất lục bát’ có đến bảy tiếng để gieo vần, vừa có vần chân vừa có vần lưng, vừa có vần bằng vừa có vần trắc, tạo nên điệu ngâm du dương, réo rắt, trầm bổng, đọc lên nghe rat thú vị (xem các từ in nghiêng, đọc đúng trọng âm các từ gieo vần). Sự phối hợp giữa nhịp lẻ và nhịp chẵn ở câu 7 và câu lục bát làm cho âm điệu thơ, giai điệu thơ biến hóa đa thanh, phức điệu.
Đoạn thơ ‘Trông bến nam… người đâu đi về’ giúp ta cảm nhận vẻ đẹp văn chương qua bút pháp tả cảnh ngụ tình và sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Bút pháp điêu luyện, thơ giàu cảm xúc, giàu hình tượng. Lấy thời gian bôn mùa, lấy không gian bôn phương trời để tả tâm trạng nhân vật trữ tình, tác giả và dịch giả đã làm nổi bật nỗi mong nhớ đợi chờ chồng, nỗi buồn cô đơn… của nàng chinh phụ trong một thời loạn lạc. Giá trị nhân bản của đoạn thơ lay động mọi tâm hồn người xưa nay.
|
Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’
| 1,089
| |
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Sóng của Xuân Quỳnh
Hướng dẫn
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Sóng của Xuân Quỳnh:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương.
( Văn học 12, tập một, phần Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002, tr. 229)
Các ý cơ bản cần có:
1. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn trích:
– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
– Sóng là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh: luôn luôn trăn trở, khát khao được yêu thương gắn bó. Bài thơ được in ở tập Hoa dọc chiến hào (1968).
– Đoạn thơ trích nằm ở phần giữa của bài thơ. Có thể xem đó là đoạn tiêu biểu của tác phẩm. Giống như toàn bài, ở đoạn thơ này, hai hình tượng sóng và em luôn tồn tại đan cài, khắc họa rõ nét nỗi nhớ, sự thủy chung tha thiết của nhà thơ. Mỗi trạng thái tâm hồn của người phụ nữ đều có thể tìm thấy sự tương đồng với một đặc điểm nào đó của sóng.
– Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: lòng sâu – mặt nước, ngày – đêm.
– Nỗi nhớ thường trực, không chỉ tồn tại khi thức mà cả khi ngủ, len lỏi cả vào trong giấc mơ, trong tiềm thức (Cả trong mơ còn thức).
– Cách nói có cường điệu nhưng đúng và chân thành biểu hiện nỗi nhớ của một tình yêu mãnh liệt (Ngày đêm không ngủ được).
– Mượn hình tượng sóng để nói lên nỗi nhớ vẫn chưa đủ, chưa thoả, nhà thơ trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ của mình (Lòng em nhớ đến anh).
3. Bình giảng 4 câu tiếp theo:
– Khẳng định lòng chung thủy: dù ở phương nào, nơi nào cũng chỉ hướng về anh – một phương.
– Trong cái mênh mông của đất trời, đã có phương bắc, phương nam thì cũng có phương anh. Đây chính là “phương tâm trạng”, “phương” của người phụ nữ đang yêu say đắm, thiết tha.
4. Một số điểm đặc sắc về mặt nghệ thuật của cả đoạn thơ:
– Thể thơ 5 chữ được dùng một cách sáng tạo, thể hiện nhịp của sóng biển, nhịp lòng của thi sĩ.
– Các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp góp phần tạo nên nhịp điệu nồng nàn, say đắm, thích hợp cho việc diễn tả nỗi nhớ mãnh liệt: con sóng (3 lần), dưới lòng sâu – trên mặt nước, dẫu xuôi – dẫu ngược…
– Trong đoạn thơ, Xuân Quỳnh đã thể hiện rất gợi cảm, sinh động những trạng thái cảm xúc, những khát khao mãnh liệt của một người phụ nữ đang yêu.
– Từ đoạn thơ, có thể nói tới tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam trong tình yêu: táo bạo, mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được nét truyền thống tốt đẹp (sự thuỷ chung, gắn bó).
|
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài Sóng của Xuân Quỳnh
| 542
| |
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong Truyện Lục Vân Tiên: "Thưa rằng….phi anh hùng"
Bài làm
“Thưa rằng: Tôi Kiều Nguyệt Nga"
Con này tì tất tên là Kim Liên.
…
Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”
Nếu đọc “Truyện Kiều”, người đọc vô cùng sảng khoái với hành động khuấy nước chọc trời của Từ Hải thì đọc “Lục Vân Tiên" người đọc lại vô cùng hả hê với hành động đánh cướp cứu Kiều Nguyệt Nga của Lục Vân Tiên. Một anh học trò trên đường đi thi, “giữa đường gặp sự bất bằng”, “bẻ cây làm gậy" đánh tan bọn cướp cứu người lương thiện. Để cho cái thiện toàn thắng là một cách nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu biểu dương sức mạnh của chính nghĩa, của vị nghĩa.
Khi “ tả đột hữu xông" đánh cướp, Lục Vân Tiên chỉ biết cứu dân, dẹp bọn “ hồ đồ hại dân", hành động anh hùng của Vân Tiên thật là trọn vẹn (nếu Vân Tiên biết mình đánh để cứu người đẹp, thì lòng dũng cảm của người anh hùng bị hoài nghi). Nhưng gieo cái gì thì gặt cái đó. Sau khi “dẹp rồi lũ kiến chồm ong”, người được chàng cứu nạn lại là một giai nhân.
Đoạn thơ dưới đây, nhà thơ kể lại cuộc hội ngộ buổi đầu giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga, anh hùng và giai nhân:
"… Thưa rằng: tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất tên là Kim Liên.
…..
Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”
Trước đoạn đối thoại này là thái độ ngạc nhiên của Lục Vân Tiên khi nhìn thấy trong xe hai tiểu thư đẹp như mộng. Chàng hỏi:
“Tiểu thư con gái nhà ai,
Đi đâu đến nỗi mang tai bất kì.
Chẳng hay tên họ là chi,
Khuê môn phận gái việc gì đến đây?
Trước sau chưa hãn dạ này,
Hai nàng ai tớ ai thầy nói ra?”
Nguyệt Nga trả lời ngay vào điều mà Vân Tiên cần biết ấy là tên tuổi của nàng: "… Thưa rằng: tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất tên là Kim Liên."
Lời thưa của tiểu thư lễ độ, tỏ ra là con nhà gia giáo. Nàng chọn đại từ "tôi" trung hòa về tình cảm, lịch thiệp mà không suồng sã. Lời lẽ của nàng chân thật:
"Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ớ miền Hà Khê. ”
Thì ra tiểu thư là con của một viên quan tri phủ. Tất nhiên là qua lời kể. Lục Vân Tiên mới hay. (Nếu Lục Vân Tiên biết trước là cứu con quan thì người ta cũng dễ nghi lòng dũng cảm của người anh hùng. Người ta có thể luận rằng vì cứu con quan nên anh chàng mới đánh hãng như vậy…)
Có một chi tiết rất khó nói, vậy mà Kiều Nguyệt Nga lại nói trôi chảy và tự nhiên:
"Sai quan đem bức thư về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia. "
Nói ra lời đó, chứng tỏ nàng là một người chân thật. Lời thành thật của nàng gây ra mội chút kịch tính trong buổi đàm thoại. Anh học trò Vân Tiên làm sao khỏi bị “sốc" trước sự “định bề nghi gia" của người cha như vậy. Kịch tính càng tăng lên thêm khi tiểu thư càng thành thật:
'"Làm con đâu dám cãi cha,”
Trái tim người anh hùng cảm thấy êm ái là khi nghe Kiều Nguvệt Nga "bình công" xứng đáng cử chỉ dũng cảm của chàng:
"Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi."
Vân Tiên chưa kịp đáp thì Kiều Nguyệt Nga tiếp lời, tìm cách đền ân cho chàng:
“Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
Chút tôi liễu yếu đào tơ,
Giữa đường gặp phải bụi dơ đã phần.
Hà Khê qua đó cũng gần
Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng."
Từ cách xưng hô nhún nhường (tiện thiếp) cho đến cử chỉ “lạy" rất thành kính chứng tỏ Kiều Nguyệt Nga hết sức thấm thía với cử chỉ nghĩa hiệp của Vân Tiên. Lời mời mọc của nàng cũng khéo léo:
"Gặp đây đương lúc giữa đàng, của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không?”
Trong lời phân bua của Nguyệt Nga, cái gì cũng không "của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không", vậy mà có, có cái còn quí hơn của tiền, bạc vàng là tấm lòng thành của kẻ chịu ơn, là cái tình của nhi nữ.
Lục Vân Tiên nghe Kiều Nguyệt Nga giãi bày hẳn là mát lòng, mát dạ, nhưng với tư cách là một anh học trò, bụng đầy chữ của thánh hiền thì từng lời của Nguyệt Nga có chỗ không tránh khỏi nữ nhi thường tình:
“Vân Tiên nghe nói liền cười,
Làm ơn há để cùng người trả ơn.''
Nụ cười của Vân Tiên là nụ cười của một người anh hùng, hồn nhiên, vô tư, không vụ lợi. Lời nói "làm ơn há để trông người trả ơn" cũng chân thành. Hành động đánh cướp cứu dân của Vân Tiên là hành động cao cả, thể hiện lý tưởng của người anh hùng:
"Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng."
Người Nam Bộ thích Lục Vân Tiên chính là lý tưởng vì nghĩa này.
Đây là một đoạn truyện hay trong “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu. Bằng lối kể chuyện nôm na mà chân thật, tác giả đã dựng lên cuộc gặp gỡ sinh động giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga, anh hùng và giai nhân. Lòng biết ơn chân thành của Kiều Nguyệt Nga và thái độ vì nghĩa của Lục Vân Tiên tạo ra sức hấp dẫn của đoạn thơ. Người đọc “'Lục Vân Tiên", nếu còn một chút gì để nhớ thì chính là ở cái triết lý này đây:
“Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng."
|
Bình giảng đoạn thơ sau đây trong Truyện Lục Vân Tiên_ “Thưa rằng ….phi anh hùng”
| 989
| |
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ thứ hai trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu
Bài làm
Tập thơ "Từ ấy" – tập thơ 10 năm của Tố Hữu (1937-1946) gồm có 72 bài thơ, trong đó, những bài trong phần "Xiềng xích" nói lên nỗi buồn cô đơn, niềm khao khát tự do và tự khẳng định bản lĩnh mình của người thanh niên cộng sản trong cảnh tù đày. Đây là đoạn thơ hay nhất, xúc động nhất trong bài thơ. Giọng thơ bồi hồi, náo nức:
" Cô đơn thay là cảnh thân tù,
…Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về”.
Bài thơ này được viết vào ngày 29.4.1939, khi nhà thơ bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đó là một thời kì đen tối: giặc Pháp khủng bố trắng, biết bao nhiêu chiến sĩ của Đảng bị giặc giết hại và cầm tù. Cả đoạn thơ ghi lại diễn biến tâm trạng của Tố Hữu trong những ngày đầu sống trong cảnh tù ngục.
Đoạn thơ gồm có 8 câu,; 4 câu đầu như một điệp khúc, hai lần được nhắc lại thiết tha bồi hồi. Nỗi buồn cô đơn đầy ắp tâm trạng. Lần đầu tiên người chiến sĩ trẻ bị đế quốc bắt giam và cầm tù. Cảnh ngộ mới bi thảm, sao mà chẳng cô đơn khi bị nhốt "giữa bốn tường vôi khắc khổ'"? Trước đó không lâu, tác giả còn là một thanh niên học sinh, được giác ngộ lí tưởng cộng sản, hăng hái hoạt động cách mạng, trong phong trào sinh viên học sinh yêu nước. Niềm vui dào dạt trái tim tuổi thanh xuân:
"Ô vui quá! Rộn ràng trên vạn nẻo
Bốn phương trời và sau dấu muôn chân
Cũng như tôi, tất cả tuổi đương xuân
Chen bước nhẹ trong gió đầy ánh sáng".
(Hi vọng – 1938)
Tâm hồn người chiến sĩ cách mạng trẻ "lù một vườn hoa lú – Rất đậm hương vù rộn tiếriỊ> chim". Cuộc đời phía ưước là những mùa xuân bát ngát với bao niềm say mê lạc quan yêu đời: "Bạn đời ơi, vui chút với trời hồng!". Thế mà giờ đây bị cùm trói, nằm trên xà lim lạnh lẽo, tốì tăm, bị ngăn cách hoàn loàn với thế giới bên ngoài. Đữ là những thử ihách hết sức nặng nề. Làm sao tránh khỏi cảm giác cô đơn?
"Cỏ đơn thay lù cảnh thân tù!". Đó không phải là sự than thở, một tiếng kêu rên hèn yếu. Đó là sự xác nhận – xác nhận một sự thật phũ phàng, cay đắng. Thời gian trôi qua trong nhà tù dài lê thê, nặng nề: "Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại". Lại bị cách biệt với đồng chí, đồng bào nên càng cô đơn. Suốt đêm ngày, người chiến sĩ trẻ bị giam hãm trong ngục tối luôn luôn hướng ra bện ngoài với bao day dứt và khao khát:
"Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực,
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!".
Hai thế giới cách biệt bởi song sắt nhà tù. Một chút ánh sáng "nhỏ nhẹ" cũng phải len qua khe cửa nhà ngục mới đến đưực với người chiến sĩ. Nhà thơ chỉ còn biết "lắng nghe" mọi âm thanh, ngoài đời vọng đến. Người tù cấm cố đón nhận mọi âm thanh, với một thái độ náo nức, mãnh liệt, với tấm lòng ham sống, thiết tha, yêu đời, để rồi thốt lên tiếc nuối: "Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!".
Chữ "nghe” được nhắc lại nhiều lần. Tâm trạng bồn chồn như được xoáy sâu. Giọng thơ trở nên xúc động bồi hồi, tha thiết. Cuộc sống trào lên như nhắc nhở, nghe như vẫy gọi. Phải gắn bó với nhịp sống bên "ngoài kia". Phải gắn bó với phong trào cách mạng. Nhà thơ lắng tai nghe tiếng chim hót ban mai, tiếng gió thổi, tiếng dơi chiều đập cánh lúc hoàng hôn. Những âm thanh xa, gần, mơ hồ, thân thuộc ấy, giờ đây cảm thấy mới hơn, sôi động và náo nức hơn. Chim không chỉ hót mà “ reo”, gió không chỉ thổi mà dâng lên như thủy triều vỗ sóng, và tiếng dơi chiều đập cánh nghe “ voojij vã” khác thường! Nằm trong phòng biệt giam, người chiến sĩ trẻ rung lên vì cảm động. Bức tranh sinh hoạt của quê hương được đặc tả qua tiếng nhạc ngựa, tiếng guốc gõ trên con đường nghe nhỏ, gần rồi xa dần trong đêm khuya:
"Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh,
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về…
Thật là tinh tế trong gợi tả và biểu cảm. Một sự tiếc nuối dâng lên. Chỉ một tiếng lạc ngựa cũng đủ khơi gợi bao cảm xúc và tưởng tượng. Nhà thơ cảm nhận và hình dung ra cái "rùng chân" của con ngựa bên giếng cổ, và cả cái lạnh đã thấm sâu vào làn nước ở đáy tầng sâu. Người tù thao thức càng cảm thấy mình cô đơn và lạnh lẽo hơn bao giờ hết! ở hoàn cảnh tù đày, sự cô đơn không hề làm cho người chiến sĩ cách mạng tàn lụi và bé nhỏ đi, mà trái lại, cô đơn là để thức tỉnh, lay gọi và vươn tới, khẳng định một tâm thế giữ trọn "trinh bạch linh hồn trong bụi bẩn".
Câu thơ "Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về" là một câu thơ rất hay, vần thơ bình dị mộc mạc ấy lại có sức lay động lòng người một cách thấm thía. Tất cả mọi âm thanh được nhắc đến bên trên (chim reo, tiếng dơi chiều đập cánh, tiếng gió thổi, tiếng lạc ngựa rung chân,…) chỉ là những nốt nhạc dạo đầu, khơi dòng tâm tư,… Và chỉ khi tiếng guốc to, nhỏ xa dần xuất hiện mới nhức nhối lòng người, mới xoáy sâu vào trái tim lòng người. Bởi lẽ, tất cả mọi âm thanh ấy đều hãy còn xa con người, chưa mang hơi ấm của con người. Chỉ có tiếng guốc bình dị yêu thương, mới là cuộc sống đích thực, mới nghe qua tưởng chừng lạc lõng, thậm chí còn tầm thường nữa. Tiếng guốc ấy gắn liền với mồ hôi, nước mắt của cần lao với bao lo toan về cơm áo hàng ngày. Tiếng guốc ấy cũng nhức nhối như "một tiếng rao đêm” nghe được giữa đêm khuya sau song sắt nhà tù:
"Rao đi em, kẻo nữa quá khuya rồi,
Anh nằm nghe qua cửa khám, xa xôi
Tiếng em bước trên đường đêm nhỏ nhỏ
Nhưng cũng đủ cho lòng anh nắm rõ”
(Xà lim Quy Nhơn, tháng 11.1941 )
Từ mái trường đến với con đường cách mạng, rồi bị tù đày, tiếng guốc gợi nhớ gợi thương một thời trai trẻ với bao mộng đẹp. Nó chạm tới nơi sâu thẳm đáy tâm hồn và cuộc sống nên vang động sâu xa trong tâm tư nhà thơ. Mà nhà thơ lại đang bị tách khỏi cuộc sống, trong cảnh ngộ thân tù cô đơn, tiếng guốc dưới đường xa đi về càng nhói mạnh, càng quặn thắt nhói đau tim gan.
Có đặt tám câu thơ trên vào trong cả bài thơ và gắn nó với ba tiếng "Bạn đời ơi” như một điệp khúc vang ngân trong tập thơ "Từ ấy" mới cảm nhận đầy đủ ý nghĩa sâu xa, lòng khao khát tự do cháy bỏng. Và tâm hồn người chiến sĩ trẻ lúc nào cũng hướng về ánh sáng, muốn thoát khỏi cảnh tù đày cùng đồng chí dấn thân vào gió bụi. Cũng như "Tâm tư trong tù", bài thơ "Khi con tu hú…" chứa đầy tâm trạng:
"Ta nghe hè dậy bên lòng,
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột lùm sao, chết uất thôi,
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!".
Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Thơ hay là ở sự chân thực, là sự diễn tả tinh tế những rung động của hồn người trong chiều sâu và tầm cao của mạch sông và cuộc đời. Đoạn thơ trên vừa hướng nội, vừa hướng ngoại. Tưởng là cô đơn sầu não, nhưng sôi sục, trào dâng nhiệt huyết, bừng bừng khí thế. Nó là khúc tráng ca tự do.
|
Bình giảng đoạn thơ thứ hai trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu
| 1,395
| |
Bình giảng đoạn thơ Trao Duyên trong Truyện Kiều
Hướng dẫn
Bình giảng đoạn thơ Trao Duyên trong Truyện Kiều
Trao duyên là đoạn thơ hay và có ý nghĩa rất lớn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đoạn thơ nói về bi kịch tình yêu của Kiều và mở đầu cuộc đời mười năm năm lưu lạc chốn phương xa. Đoạn thơ này dài 84 câu, từ cầu 693-776, như thấm đẩy giọt lệ của người con gái xinh đẹp “ Hồng nhan bạc mệnh”.
Kiều quyết định bán thân để cứu cha và em trai vượt qua cơn hoạn nạn. Trong lúc đó Kiều đã nghĩ đến tình yêu son sắc của mình và quyết định sang trao duyên cho e gái Thúy Vân để đàn đáp tình cảm đôi lứa.
Mở đầu bài thơ là lời khẩn cầu của Thúy Kiều nhờ Thúy Vân:
Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư.
Keo loan chắp mỏi tơ thừa mặc em.
Tác giả đã xây dựng nên tình huống éo le thật độc đáo. Ngôn từ mà Kiều giành cho Thúy Vân cũng không phải những lời lẽ hàng ngày mà là nhưng lời nói nề nếp gia giáo khi nhờ người khác giúp mình. Kiều cảm thấy sót xa cho bản thân khi rơi vào bi kịch tình yêu bị tan vỡ. Trong khi tình yêu giữ Kiều và Kim “Người quốc sắc, kẻ thiên tài”, Kiều muốn giữ lời thề nên “Cậy” Thúy Vân. Vì chỉ có Thúy Vân mới hiểu được mình. Kiều biết làm vậy sẽ rất khó cho Thúy Vân nhưng sau khi bán mình chuộc cha Kiều cũng không biết cuộc đời mình chôi dạt về đâu nên chỉ còn cách khẩn khoản cầu xin em gái giúp mình. Hai chữ “keo loan” và “mặc em” là lời phó thác đầy tin cậy, tin tưởng. Kiều tĩnh trí nói với em về mối tình của chị đối với chàng Kim là vô cùng sâu nặng và thắm thiết.
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Kiều đã mang cả cái chết của mình ra để nói bởi khi Kiều khi ra khỏi nhà rồi Kiều sẽ không biết cuộc đời mình ra sao và mất đi lúc nào. Lời thỉnh cầu của Kiều vừa chân thành vừa tha thiết khiến Thúy Vân nghẹn ngào trong lòng buộc phải chấp nhận để giúp chị. Dù gì cũng là chị em ruột thịt lớn lên cùng nhau thôi thì chuyện đã đình nên Thúy Vân đã chấp nhận hi sinh tình yêu và tuổi xuân của mình để giúp chị cũng như giúp cho gia đình.
Một chữ “cười”, hai chữ “thơm lây” cũng đủ cho ta thấy Thúy Kiều là thiếu nữ nhân hậu, luôn nghĩ đến tình nghĩa thuỷ chung. Lúc đau khổ tột cùng, lòng nàng vẫn trong sáng hướng tới hạnh phúc người khác. Tấm lòng ấy mang vẻ đẹp đôn hậu, đức hi sinh của người phụ nữ người chị quê ta.
Vậy mà khi trao những kỉ vật cho Vân, Kiều lại thấy mất mát to lớn không gì bù đắp nổi. Tay Kiều thì trao nhưng lòng Kiều còn cố níu kéo giữ lại một chút gì cho mình:
Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung.
Mai sau dù có bao giờ
Đốt là hương ấy, so tơ phím này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.
Hồn còn mang nặng lời thề,
Nát thân, bồ liễu đền nghi trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chém nước cho người thác oan.
Những lời Kiều nói đầy tang thương như thể người ở thế giới bên kia đang nói chuyện với người ở thế giới bên này. Điều này càng thể hiện rõ tình yêu rất sâu đậm mà Kiều giành cho Kim Trọng một lòng son sắc thủy chung. Khi đã cố gắng gồng mình nên để trao duyên cho em gái nhưng trong lòng thì vẫn sót xa. Kiều là cô gái tài sắc vẹn toàn nhưng bị xã hội xưa vùi dập nên cuộc đời bấp bênh rơi vào bi kịch tình yêu lớn, hạnh phúc lớn tưởng trừng không gì chia cắt được ấy vậy mà bây giờ bị tan vỡ. Kiều đau đớn lắm nhưng vì chữ “Hiếu” nên Kiều chấp nhận hết.
Bây giờ trâm gãy gương tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.
Kiều đang đối diện với Thuý Vân, thế rồi nàng chuyển sang nói với người yêu trong tâm tưởng. Kiều khóc cho “tơ duyên ngắn ngủi”, khóc cho “trâm gãy bình tan”, đau đớn cam chịu số phận.
Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng”.
Càng khóc, Kiều càng vật vã đau đớn, nàng chìm dần trong mê sảng.. Hai lần nàng nhắc đến tên người yêu. Nghe nàng khóc mà người đời xót xa thương cảm:
“Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.
Câu thơ thật hay nói hết nên tâm trạng bị tịch tình yêu tan vỡ nên tột đỉnh. Nàng Kiều sống hết mình trong nỗi đau tột cùng của mình, nhưng trước sau vẫn là một con người giàu lòng vị tha. Kiều thương chàng Kim hơn cả chính bản thân mình, Kiều không đổ lỗi cho hoàn anh mà tự nhận trách nhiệm về mình. Có thể nói, chỉ một chữ phụ thôi mà đã im sáng lên vẻ đẹp nhân cách cao thượng, giàu lòng vị tha của nàng Kiều.
Đoạn thơ “Trao duyên” thật hay và ý nghĩa mặc dù là bi kịch tình yêu tan vỡ đầy đau buồn nhưng qua đó thể hiện tình yêu chung thủy mà Kiều giành cho Kim. Kiều chấp nhận hi sinh bản thân đêm hạnh phúc của mình cho người khác phù hợp nhằm đáp lại tình cảm của Kim giành cho mình. Đồng thời qua đoạn trích đã làm toát nên phẩm chất cao đẹp của người con gái xưa vừa hiền lành giỏi giang lại có hiếu. Nguyễn Du đã phác họa rất thành công nhân vật điển hình trong xã hội xưa và miêu tả rất tinh tế tâm lí, trạng thái của nhân vật để người đọc dễ hiểu và cảm nhận một cách sâu sắc hơn.
|
Bình giảng đoạn thơ Trao Duyên trong Truyện Kiều
| 1,062
| |
Bình giảng đoạn thơ trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu
Hướng dẫn
Bình giảng đoạn thơ trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu
“Tôi muốn tắt nắng đi
…
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
BÀI LÀM
Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu, được in trong tập Thơ Thơ, xuất bản lần đầu năm 1938. Vội vàng là tiếng nói của tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt và quan niệm nhân sinh mới chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống. Đoạn thơ đầu của bài thơ thể hiện cảm xúc: Với rộn ràng, say đắm của nhà thơ khi mùa xuân đến.
Mở đầu đoạn thơ là ý nguyện của thi sĩ – một tâm hồn yêu đời:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
Bằng biện pháp điệp ngữ, bài thơ thể hiện ý chí của chủ thể trữ tình cái “tôi” muốn tắt nắng để đừng mất màu đẹp rực rỡ, buộc gió không cho hương bay đi, để được hưởng thụ nó, thưởng thức nó. Ý nguyện của thi sĩ là muốn tác động vào vũ trụ để giữ nguyên vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp thực của nó trong hiện tại, vẻ đẹp chóng mất, chóng phai tàn. Đó là một ý nguyện chủ quan của thi sĩ. Điều đó dường như vô lí “xa rời cuộc sống”, “thoát li hiện thực” nhưng nó lại có lí trong tâm hồn thi sĩ yêu đời, trân trọng và nâng niu cuộc sống.
Tình yêu thiên nhiên – một tình cảm muôn đời của người nghệ sĩ nhưng sự cảm nhận của Xuân Diệu – thi sĩ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) thật lạ. Dường như mọi giác quan của thi sĩ đều run lên đón nhận mọi âm thanh, mọi sắc màu, đón nhận cái hữu tình và cả cái vô tình vấn vương của tạo hóa. Từ ý nguyện dẫn đến hành động; ý nguyện giữ mãi cuộc sống, để hưởng thụ cuộc sống. Điều đó thể hiện nhiệt tình sống của tác giả khi chợt đến mùa xuân.
Rồi đây nữa, hình ảnh của sự sống muôn màu sắc, thật tốt tươi, thật ngon lành đang dạt dào ùa vào tâm hồn thi sĩ:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”.
Điệp ngữ “này đây” liệt kê một loạt những hình ảnh đẹp miêu tả xuân: hoa của đồng nội xanh rì; lá của cành tơ phơ phất; của yến oanh khúc hát tình ca say mê cuồng nhiệt trong tình yêu; ánh sáng chớp hàng mi.
Những hình ảnh thơ thật chân thật, tươi nguyên và tràn trề nhựa sống. Nhà thơ lãng mạn đón nhận sự sống thanh xuân bằng – cặp mắt “xanh non”, cặp mắt, “biếc rờn” ngơ ngát và đầy vui sướng. Nhà thơ đã phát hiện ra biết bao vẻ đáng yêu, đáng say đắm của thế giới thiên nhiên và con người trần thế rất đỗi bình dị và gần gũi này. Phát hiện ra nó, đón nhận nó và cao hơn nữa là sự níu giữ sự sống bằng cả tấm lòng, bằng cả ý muốn chủ quan của mình. Điều đó giải thích tại. sao “tôi muốn”, lí giải ý nguyện của mình vì: Mùa xuân đẹp lắm.
Sự sống mùa xuân quanh ta thật hấp dẫn, thật say lòng người khiến tâm hồn thi sĩ như cất lên tiếng reo vui:
“Mỗi buổi sớm thần Vui hàng gõ cửa”
Vẻ đẹp mùa xuân – một vẻ đẹp say đắm, xanh non, tươi trẻ, vẻ đẹp thực của trần thế rất bình dị và gần gũi, nó không phải là vẻ đẹp ở chốn tiên thơ mộng, huyền ảo và hấp dẫn mà Thế Lữ đã tìm ra:
“Trời cao – xanh ngắt – Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai
Theo chim, tiếng sáo lên khơi
Lại theo dòng suối bên người tiên nga”
(tiếng sáo thiên thai – Thế Lữ)
Vẻ đẹp mà Xuân Diệu cảm thấy là vẻ đẹp của thiên nhiên quanh ta nhưng nó đẹp – một vẻ đẹp tươi trẻ, say đắm, nó hợp với con người nơi trần thế và trong vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân ấy, cảm xúc của nhà thơ thật vui, rộn ràng và say đắm.
Niềm say mê ấy thật cuồng nhiệt và mãnh liệt biết bao khi thi sĩ thốt lên: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”.
Hình ảnh thơ độc đáo, hình ảnh so sánh rất Xuân Diệu. Nhà thơ đã so sánh khái niệm thời gian “tháng giêng” – một hình ảnh vô hình với một hình ảnh cụ thể “cặp môi” và truyền cho người đọc một cảm giác thật cụ thể “ngon”, “gần”.
Sau cái phút giây bồng bột cảm hứng ấy, nhà thơ chợt tỉnh lại được và tự ý thức được về thời gian:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Một trạng thái đối lập mở ra một trạng thái tâm hồn mới: mùa xuân đẹp hấp dẫn làm cho thi sĩ “sung sướng” nhưng rồi có cái gì đó khiến cho thi sĩ phải “vội vàng”, phải hưởng thụ mùa xuân ngay lúc mùa xuân đến, phải hưởng thụ ngay cái vẻ say đắm của nó trong hiện tại, phải tận hưởng mùa xuân khi nó còn tươi non, hấp dẫn và phải hưởng ngay khi nó còn “mới bắt đầu” để sau này khi mùa xuân đã qua, mùa hạ đến không phải nuối tiếc, ân hận.
Nhà thơ bộc lộ niềm say mê, vui sướng bất chợt khi mùa xuân vừa đến nhưng rồi nhà thơ chợt tỉnh lại được, ý thức được về thời gian mà từ đó hưởng thụ mùa xuân ngay trong thực tại.
Đoạn thơ làm nổi bật phong cách thơ Xuân Diệu: dùng diệp ngữ, sử dụng biện pháp thậm xưng, hình ảnh đẹp, độc đáo, táo bạo. Thơ xưa nào đã mấy ai dám bộc lộ tiếng nói cương quyết và dứt khoát như sự lên tiếng của Xuân Diệu? Và đã mấy ai dám so sánh mùa xuân với hình ảnh cụ thể, rất thực “cặp môi gần” trong tình yêu lứa đôi, vật chất hóa khái niệm trừu tượng là thời gian ca ngợi vẻ hấp dẫn của mùa tháng giêng, mùa xụân. Không có tình yêu tha thiết, yêu cuộc sống đến mức cuồng nhiệt làm sao có được những vần thơ mê say và cháy bỏng ấy.
Ta hãy lật giở những trang thơ mùa xuân của các thi sĩ xưa và nay xem họ tìm thấy và cảm nhận được những gì ở mùa xuân:
“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Một vẻ đẹp kiều diễm. Còn đây hình ảnh rất gần gũi, bình dị nhưng gợi buồn:
“Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời”
(Chiều Xuân – Anh Thơ)
Còn xuân ở đây rất đẹp, tràn trề sức sống, rạo rực niềm vui:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ôi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Tôi đưa tay, tôi hứng”
(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)
“Nhà thơ thực sự đón nhận mùa xuân với tất cả tài hoa của ngòi bút, sự thăng hoa của tâm hồn… Nghe bằng tai chưa đã, anh nghe cả bằng trái tim xáo động, bằng trí tưởng tượng, liên tưởng độc đáo” (Vũ Dương Quỹ).
“Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đây buồng lạ, mầu thâu đêm
Tình như một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem”
(Cây chuối)
Một sự giao cảm của thiên nhiên, một hình ảnh rất thực, đẹp đẽ và thanh tú nhưng cũng hết sức phong tình. Bài thơ làm ta liên tưởng một mối tình vừa chớm nở trong trắng, say đắm, kín đáo, e ấp. Điều đó càng làm chúng ta thấy rõ: xưa và nay các nhà thơ đã viết và viết nhiều về mùa xuân nhưng nó rất giản dị, rất đời thường và có chăng chỉ bộc lộ một cách kín đáo, tế nhị như Nguyễn Trãi đã viết trong bài thơ trên mà thôi. Và càng chứng minh cho chúng ta thấy sự táo bạo của Xuân Diệu.
Thi sĩ cảm nhận thiên nhiên, cuộc sống bằng con mắt tươi non và từ đó diễn tả niềm ham sống say mê, mãnh liệt, một khát vọng hưởng thụ vẻ đẹp có thực nơi trần thế.
Niềm khao khát giao cảm với đời đặt vào hoàn cảnh thanh niên sống nỗi sầu thế kỉ, nỗi buồn thời đại, những dòng thơ này có ý nghĩa giúp cho con người tình yêu cuộc sống và tận hưởng niềm hạnh phúc trần thế, giúp cho chúng ta – mỗi con người phải biết quý trọng tuổi thanh xuân của mình, tuổi thanh xuân không phải bao giờ trở lại để cho chúng ta sau này không phải ân hận, nuối tiếc. Đoạn thơ cũng thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ. Tuy Xuân Diệu không nói đến sự cống hiến nhưng chúng ta phải nhận thức được điều đó: yêu đời, yêu cuộc sống để có trách nhiệm với đời, để làm cho cuộc sống có ý nghĩa xứng đáng chứ không phải chỉ tận hưởng, hưởng thụ những gì tốt đẹp nhất của mùa xuân, của tuổi thanh xuân cho thỏa mãn,
Đoạn thơ càng làm cho chúng ta hiểu hơn về Xuân Diệu một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt và hiểu được cách nhìn, đón nhận một cảm xúc của ông khi mùa xuân đến. Đoạn thơ cũng giúp cho chúng ta càng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống hơn. Trân trọng biết bao biết bao một tâm hồn – một nhà thơ của mùa xuân và tuổi trẻ, luôn luôn sôi nổi tình yêu, dạt dào tình đời đã, đang và sẽ mãi mãi sống trong lòng những người biết và yêu thơ ông
|
Bình giảng đoạn thơ trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu
| 1,706
| |
Đề bài: Bình giảng đoạn thơ trong Tây Tiến của Quang Dũng
Bài làm
Chín năm kháng chiến chống Pháp với bao gian khổ, hi sinh, mất mát nhưng đã để lại một dâu son chói lọi trong lịch sử dân lộc. Chín năm kháng chiến kháng chiên ấy tạo ra nhiều giá trị bất hủ và cũng tạo ra nguồn cảm ứng lớn cho thi ca. Nhiều bài thơ ra đời ngay từ những ngày đầu kháng chiến và đi suôt hành trình đánh giặc, tạo nên sức mạnh cho người lính đi tới thắng lợi cuối cùng, trong những bài thơ đặc sắc đó là Tây Tiến của Quang Dũng.
Bình giảng đoạn thơ trong Tây Tiến của Quang Dũng
Bài thơ giàu chất hiện thực nhưng lại dạt dào cảm hứng lãng mạn. Hình ảnh người chiến sĩ hiện lên trong bài thơ vừa hào hùng vừa hào hoa như nhiều người đã nhận xét. Đoạn thơ sau dù chỉ là trích đoạn, cũng cho thấy rất rõ đặc sắc ấy của bài thơ:
…..Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
…..Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Bài thơ Tây Tiến có thể chia làm 4 đoạn. Trích đoạn trên bao gồm đoạn 2 và đoạn 3. Đó là những đoạn thơ tái hiện lại hình tượng những con người Tây Bắc trong gian khổ hy sinh vẫn hiên ngang và đẹp một cách hào hoa, thanh lịch.
Từ "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói" đến "trôi dòng nước lũ hoa đong đưa" là bức tranh tuyệt vời mỹ lệ về cảnh và người Tây Bắc. Đoạn sau, những câu còn lại, dựng chân dung người lính Tây Tiến với giọng thơ trầm hùng, bi tráng.
Nếu chỉ đọc phần đầu của đoạn trích này ta như lạc vào một thế giới khác một thế giới bình yên, một xứ sở mà cảnh vật và con người đều đẹp đẽ, mộng mơ như một bức tranh thuốc nước tươi mát. Cái cảm giác no ấm, yên bình gợi lên trong ta trước hết do làn khói lam chiều và mùi hương nếp xôi nồng nàn quyến rũ. Mai Châu, cái địa danh ấy dù ta chưa một lần đặt chân tới, nhưng trở nên thân thiết biết bao nhờ câu "thơm nếp xôi” và nỗi nhớ không thể không cất lên thành lời của Quang Dũng: "nhớ ôi Tây Tiến…". Tiếp theo, người đọc lại như lạc vào một thế giới của ánh sáng, vũ điệu và âm thanh; một thế giới vừa vừa hư, đầy mộng và thơ.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm ảo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thư
Có một cái gì đó thật lãng mạn và say đắm trong tâm hồn Quang Dũng khi ông viết những dòng thơ này. Trong ánh lửa đuốc của đêm liên hoan, hình ảnh nàng e ấp trong áo xiêm lộng lẫy và tiếng khèn man điệu khiến nhà thơ thực sự say sưa và kinh ngạc. Hai tiếng kìa em bộc lộ tất cả cái gì ngỡ ngàng; ngỡ ngàng và vui sướng. Kìa em..câu thơ như một tiếng reo vui. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng như được chắp cánh bởi vẻ đẹp của con người và cảnh vật nơi đây. Một vẻ đẹp vừa mới lạ vừa huyền ảo, xa xôi và có gì đó bí ẩn của một khung tinh nơi đất lạ, trời xa… Những chữ xiêm áo, man điệu, khèn, hồn thơ gợi lên rong la cầm giác ấy.
Nếu như bốn câu thơ trên tràn ngập ánh sáng, âm thanh và vũ điệu thì bốn câu thơ tiếp theo lại giầu chất thơ và chất hoạ. Một chiếc thuyền độc mộc với dáng người mềm mại in trên nền "dòng nước lũ hoa đong đưa". Những bông lau bên bờ bỗng trở nên có hồn và gợi nhớ da diết. Tất cả đều thấp thoáng, mờ ảo xong chiều sương Châu Mộc. Người xưa nói "thi trung hừu hoạ". Bốn câu thơ của Quang Dũng quả là một bức tranh lụa với những nét vẽ tài hoa, tinh tế và mềm mại lạ thường:
Người đi Mộc Châu chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Trên cái nền diễm lệ, hào hoa, mềm mại và rất đổi nên thơ, nên nhạc cút núi rừng Tây Bắc, nhà thơ dựng lên tượng đài của người chiến sĩ Tây Tiến có vẻ đẹp thật là bi hùng, bi Iráng:
Tâv Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá giữ oai hùm
Nhà thơ không che giấu những gian khổ hy sinh của người lính Tây Tiến. Chỉ có điều những gian khổ khó khăn, những mất mát hy sinh ấy được thể hiện bằng một bút pháp lãng mạn. Qua cách nhìn của nhà thơ, cái bi bỗng trở nên cái Hùng, mang đến cho hình ảnh người lính Tây Tiến một vẻ đẹp riêng. Cái sự thực tàn khốc mà đoàn lính Tây Tiến phải chịu đựng: tóc trụi, da xanh ngắt mài lá rừng vì sốt rét, qua con mắt nhà thơ bỗng trở nên lẫm liệt "dữ oai hùm". Cả dáng vẻ ấy cộng với đôi "mắt trừng gửi mộng” tạo nên hình ảnh người lính Tây Tiến vừa phảng phất gương mặt những trang anh hùng hào kiệt ngày xưa như nét hận cừu nguyên sơ, phú bẩm của lớp trẻ trai "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" thời đánh Pháp, lại vừa như hằn vết tàn phá của thuỷ tận sơn cùng nơi rừng thiêng nước độc mà người chiến sĩ đã từng qua. (Nguyễn Đình Thi – Tây Tiến, đường lên heo hút, nỗi nhớ chơi vơi – Tiếng nói tri âm T2, NXB Trẻ 1996) I
Cái đẹp hào hùng, bi tráng của người chiến sĩ Tây Tiến còn được nhà thơ lại bằng những dòng thơ thật trang trọng khi nói về những mất mát hy sinh:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Người lính Tây Tiến ngã xuống không một manh chiếu bọc thân, nhưng trong tâm hồn nhà thơ, các anh lại được bọc trong những chiếc áo bào chói lọi. Những nầm mồ người lính nằm rải rác biên cương, nơi rừng hoang biên cương bỗng trở thành những nấm mồ tôn nghiêm nhờ những từ Hán Việl cổ kính trang trọng: biên cương, viễn xứ… Đoạn thơ kết thúc bằng tiếng gầm dữ dội và đầy uất hận của dòng sông Mã. Đó cũng là khúc nhạc bi hùng của núi rừng Tây Bắc như nói lời vĩnh biệt tiễn đưa những người không hẹn ước từ mùa xuân năm ấy còn vọng mãi đến bây giờ. Cũng chính là tiếng lòng cùa những người lính Tây Tiến còn sống nguyện trả thù cho đồng đội mình. Tiếng “gầm” ấy đã tạo ra sức mạnh phi thường, vang trong tâm thức người lính thôi thúc họ chiến đấu đến ngày toàn thắng. Và còn mãi trong lịch sử dân tộc một binh đoàn Tây tiến anh hùng, còn mãi trong lòng người đọc người lính Tây tiến hào hoa mà anh dũng tuyệt vời.
|
Bình giảng đoạn thơ trong Tây Tiến của Quang Dũng
| 1,241
| |
Bình giảng đoạn thơ “Ôi những cánh đồng quê chảy máu..mắt người yêu” trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi- Văn lớp 12
Hướng dẫn
Bình giảng đoạn thơ “Ôi những cánh đồng quê chảy máu..mắt người yêu” trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi- Văn lớp 12
Bài làm
Đất nước là một nguồn cảm hứng sáng tác bất tận đối với các nhà thơ nhà văn. Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đinh Thi được tác giả sáng tác trong nhiều năm trải dài theo chiều dài của đất nước, và theo diễn biến của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sau năm 1945-1955
Tác phẩm này chính là những thực tế dung động, tình cảm chân thực tinh tế của nhà thơ khi nhìn thấy quê hương, đất nước của mình trải qua nhiều gian lao, trong cuộc kháng chiến ác liệt của lịch sử.
Trong suốt bài thơ cảm hứng tự hào xen lẫn xót xa về quê hương đất nước chúng ta trong cuộc chiến chống thực dân Pháp chính là nguồn cảm hứng bất diệt của tác phẩm.
Tác giả đã phác họa lại hình ảnh, con người và đất nước của chúng ta những người nông dân áo vải nhưng vô cùng anh dũng, kiên cường trong chiến đấu. Nhờ sự kiên cường, anh dũng của họ mà đất nước của chúng ta mới có ngày độc lập, tự do như hôm nay.
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Trong khổ thơ này Nguyễn Đình Thi đã vẽ lên một bức tranh quê hương với những nét căm hơn về sự tàn bạo độc ác của thực dân Pháp khi chúng gây ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa, chà đạp lên quyền làm người của dân tộc ta.
Những tội ác mà giặc Pháp đã gây ra không có lời lẽ nào diễn tả được, sự căm hận của đồng bào ta cũng dâng cao ngút ngàn. Trong từng câu thơ thể hiện sự căm hận, phẫn uất của tác giả Nguyễn Đình Thi với những tội ác của giặc.
Bọn chúng âm mưu chia cắt người dân với lực lượng vũ trang cách mạng, không cho những chiến sĩ của ta tiếp cận nhận sự ủng hộ giúp đỡ của người dân. Nên đã thực hiện lập khu bình định, xây dựng những căn cứ,đồn bốt gần khu người dân ở, ngăn bằng những bức tường dây thép gai.
Những bức tường thép gai đó nhưng đâm thủng bầu trời trong xanh yên lành của một vùng quê vốn yên ả, thơ mộng:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Trong hai câu cuối của khổ thơ tâm trạng của những người chiến sĩ lại hoàn toàn ngược lại với cảm xúc căm hận phẫn uất ban đầu, mà thay đổi bằng tâm trái tim rung động của tuổi trẻ.
Trong những đêm dài hành quân, trong khối óc các anh nung nấu một ý chí quyết tâm tiêu diệt kẻ thù khát khao thống nhất đất nước. Nhưng trong trái tim lại bâng khuâng những tình cảm rung động đầu đời khi nhớ tới người con gái mình thầm thương trộm nhớ nơi quê nhà. Nhớ đôi mắt của người trước khi tiễn các anh lên đường nhập ngũ.
Đôi mắt của người yêu thể hiện ngàn lời muốn nói, những tình cảm nhung nhớ, lo lắng, những xúc cảm của một trái tim đang yêu mãnh liệt. Chính đôi mắt ấy đã khiến cho bàn chân các anh thêm vững vàng tiến lên phía trước.
Tình yêu cá nhân cùng với tình yêu tổ quốc như hòa vào nhau tan chảy thành một tình yêu lớn. Bởi trong tổ quốc có những người yêu, người thương của các chiến sĩ, có mái nhà, kỷ niệm tuổi thơ thân thương.
Chính vì vậy, chiến đấu bảo vệ tổ quốc bảo vệ mảnh đất quê hương của mình cũng chính là chiến đấu bảo vệ người yêu, bảo vệ người thân nơi quê nhà. Tình yêu đó khiến cho các anh thêm vững vàng tiến lên.
Tác phẩm Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ hay thể hiện tình cảm yêu nước tha thiết, nồng nàn của tác giả. Hình ảnh các anh bộ đội cụ hồ được tái hiện một cách chân thực, anh dũng, bị tráng. Tác giả đã vẽ lên một bức tranh quê hương nhuốm màu tang thương bởi dòng máu đỏ, thể hiện sự căm hận của những tâm hồn yêu nước.
|
Bình giảng đoạn thơ “Ôi những cánh đồng quê chảy máu..mắt người yêu” trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi- Văn lớp 12
| 780
| |
Bình giảng đoạn thơ: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ – Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên
Hướng dẫn
“Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.
Bài làm
Việt Bắc vùng đất được biết đến như cái nôi của cuộc kháng chiến và đã đi vào những trang viết của rất nhiều nhà văn, nhà thơ. Ta đã từng bắt gặp trong “Việt Bắc” – Tố Hữu hay “Tây Tiến” – Quang Dũng tình cảm gắn bó mặn nồng của nhà thơ với mảnh đấtm với con người nơi ấy. Và giờ đây, chính mảnh đất Tây Bắc lại khơi nguồn cảm hứng về Chế Lan Viên sáng tác nên bài thơ “Tiếng hát con tàu”. Với những câu thơ đã trở thành triết lí sống của một thời:
“Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.
Chế Lan Viên xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam từ những năm 1932 – 1945 với tập thơ “Điêu tàn”. Lúc ấy thơ Chế Lan Viên “như một niềm kinh dị”. Cùng chung nỗi buồn của phong trào Thơ mới, người ta thấy một hồn thơ ủ rũ, sầu não, một cái tôi cô đơn, bế tắc trước cuộc đời. Cách mạng thánh Tám thành công, ánh sáng của Đảng đã soi sáng một hồn thơ bơ vơ, quẩn quanh như Chế Lan Viên. Thi nhân đã có những tìm tòi, suy ngẫm để rồi cho ra đời tập “Ánh sáng và phù sa” . Tác phẩm đánh dấu bước chuyển mình trong phong cách Chế Lan Viên “từ thung lũng đau thương” đến “cánh đồng vui”, từ “điêu tàn” đến “phù sa ánh sáng”.
Bài thơ Tiếng hát con tàu là một trong những bài thơ đặc sắc in trong tập “Ánh sáng và phù sa”. Và đoạn thơ trên đã thể hiện rõ nét phong cách thơ Chế Lan Viên. Triết lí mà không khô khan, giản dị nhưng cũng thật sâu sắc thấm thía.
Tiếng hát con tàu gắn liền với một sự kiện chính trị xã hội những năm 1958 – 1960. Đó là phong trào xây dựng và phát triển kinh tế miền núi. Nhưng sự kiện này chỉ là một sự gợi ý là điểm xuất phát để Chế Lan Viên thển hiện những suy nghĩ về cuộc đời, về nghệ thuật. Tuy nhiên, bài thơ được sáng tác không phải với mục đích tuyên truyền vận động cho một chính sách của Đảng và Nhà nước.
Với Chế Lan Viên, sự kiện ấy chỉ là một gợi ý, là điểm xuất phát để nhà thơ thể hiện khát vọng để về với nhân dân được sống lại với những nghĩa tình sâu nặng của nhân dân trong những năm kháng chiến giang khổ, đồng thời là cũng tìm về cội nguồn của hồn thơ. Nhà thơ đang nói đến Tây Bắc như là một nơi ghi dấu những năm kháng chiến giang khổ; cũng như cội nguồn của kháng chiến để rồi trân trọng gọi ơi ba từ “Mẹ yêu thương”. Khát vọng trở về với nhân dân được biểu hiện qua những tình cảm cụ thể, con người cụ thể thì giờ đây nó lại được khái quát thành triết lí sống:
Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.
Bao trùm lên bốn câu thơ là nỗi nhớ về núi rừng, bản làng Tây Bắc. Nghệ thuật tiểu đối được sử dụng rất thành công (nhớ bản – nhớ đèo, sương giăng – mây phủ). Câu thơ mở đầu đoạn thơ như một lời tự bạch thật giản dị nhưng lại được bắt nguồn từ một mạch cảm xúc mãnh liệt. Hình ảnh những bản làng chìm trong sương đã để lại biết bao dấu ấn trong lòng thi nhân. Tố Hữu đã từng viết:
“Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”.
(Việt Bắc – Tố Hữu)
Nhà thơ Quang Dũng cũng đã có những câu thơ thật đẹp viết về bản làng Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến:
“Nhớ ai Pha Luông mưa xa khơi”.
(Tây tiến – Quang Dũng)
Và giờ đây, cũng chỉ bằng vài nét chấm phá, kết hợp khéo léo nghệ thuật tiểu đối: “Nhớ bản – nhớ đèo”, “sương giăng – mây phủ” Chế Lan Viên đã khắc họa thật rõ nét những gì là đặc trưng nhất của bản làng Tây Bắc. Khung cảnh bản làng mới thật thơ mộng và yên bình làm sao. Vẻ đẹp hoang sơ đến hùng vĩ của nó đã làm rung động trái tim người thi sĩ. Có lẽ chính vì thế mà Chế Lan Viên đã khẳng định:
“Nơi nao qua lòng chẳng yêu thương”.
Câu thơ có hình thức như một lời tự hỏi. Nhưng hỏi chỉ là để khẳng định chắc chắn thêm tình cảm yêu thương gắn bó của nhà thơ với mảnh đất Tây Bắc, với mọi miền quê khác nhau của đất nước.
Đến câu thơ thứ hai, nhà thơ mạnh mẽ khẳng định tình cảm yêu thương, gắn bó với mình. Ý thơ đã nâng tầm khái quát lên một mức độ cao hơn. Không phải chỉ là những bản, những đèo mà là “nơi nào qua” cũng để lại cho nhà thơ những tình cảm gắn bó tha thiết.
Như vậy, từ những sự vật cụ thể, Chế Lan Viên đã nâng lên thành những khái quát mang tính triết lý. Triết lý ấy không phải đâu xa. Nó được đúc kết từ những trải nghiệm của tác giả. Đó là triết lý về mối quan hệ giữa con người với những miền đất:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”.
Câu thơ nêu lên qui luật trong đời sống tình cảm con người giản dị mà thật thấm thía. Tưởng chừng ai cũng có thể nghĩ tới nhưng không phải ai cũng có thể biểu đạt một cách sâu sắc như Chế Lan Viên. Cuộc đời mỗi con người, ai cũng gắn bó với một miền đất. Đó có thể là nơi ta sinh ra. Đó cũng có thể là nơi ta an cư lập nghiệp. Mỗi miền đất ta gắn bó là một quãng đời, nhiều quãng đời kết lại thành một cuộc đời. Cuộc đời mỗi con người là sự tiếp nối không ngừng của hai quá trình “ở” và “đi”.
Trong quy luật tiếp nối đó, mỗi mảnh đất kia có ý nghĩa gì? “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở” – mảnh đất lúc này là hiện tại và ta chưa cảm thấy trong tâm hồn mình tình cảm gắn bó với mảnh đất ấy. Nhưng khi ta đi, khi xa rời mảnh đất ấy, mảnh đất lúc này đã ở lại đằng sau và trở thành quá khứ. Lúc này, nhận ra “đất đã hóa tâm hồn”.Vậy điều gì đã biến mảnh đất vô tri vô giác kia trở nên có “tâm hồn”.
Thực ra, mảnh đất ấy vẫn thế, trước đây và sau này vẫn vậy, chỉ có nhận thức của chúng ta là thay đổi. Quá trình để “đất hóa tâm hồn” là một quá trình vận động của tiềm thức, nó diễn ra âm thầm và bền bỉ, tự lúc nào ta không hay biết. Chính cái khoảng cách thời gian giữa “khi ta ở” và “khi ta đi”, vô hình chung đã tạo nên một quá trình bồi đắp tình cảm con người với vùng đất ấy. Và khi ta chợt nhận ra “đất đã hóa tâm hồn” cũng là lúc phải rời xa nó với những luyến tiếc, nhớ thương không dứt, tất cả chỉ còn là khỉ niệm.
Sang khổ thơ thứ hai, mạch thơ có sự chuyển đổi từ nỗi nhớ nhung, nhớ cảnh, nhớ người, Chế Lan Viên chuyển sang một nỗi nhớ có tính chất riêng tư thầm kín:
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc”.
Ba câu thơ trên đã sử dụng những hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ, tạo nên những hiệu quả thẩm mỹ bất ngờ. Nỗi nhớ là một trạng thái cảm xúc rất thường thấy trong tình yêu và thơ Chế Lan Viên. Nỗi nhớ ấy hết sức tự nhiên. Những qui luật của đất trời như mùa đông ắt phải có cái rét. Hơn thế nữa từ “bỗng” trong câu thơ đã làm cho nỗi nhớ càng trở nên cồn cào, da diết hơn. Cũng cùng diễn tả nỗi nhớ, nhưng nữ sĩ Xuân Quỳnh lại có những cảm nhận khác:
“Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Hay như Nguyễn Bính trong bài thơ “Tương tư” cũng viết
“Tương tư suốt mấy đêm rồi
Viết cho ai hỏi, ai người viết cho”.
(Tương tư – Nguyễn Bính)
Nhưng không thầm kín như Xuân Quỳnh hay Nguyễn Bính, nỗi nhớ trong thơ Chế Lan Viên thật tha thiết, mãnh liệt. Tuy là “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”, nhưng Chế Lan Viên chỉ muốn nói đến một tình cảm có một tính chất riêng thầm kín. Cũng có ý kiến “em” ở đây chính là Tây Bắc. Đây cũng là một cách nói rất quen thuộc trong thơ ca. Nhà thơ Lê Anh Xuân cũng đã từng gọi miền Nam là “em” trong bài thơ “Ta yêu em”:
“Ta yêu em! Ta yêu em biết mấy
Ôi miền Nam tên của em đấy”.
(Ta yêu em – Lê Anh Xuân)
Và Tố Hữu cũng đã từng viết về Hà Nội:
“Ngọc Hà em, lộng lẫy hoa tươi”.
Cái độc đáo ở câu thơ Chế lan Viên đó là ông chọn cảm nhận về Tây Bắc bằng sự nhạy cảm của giác quan. Đó là sự rung động mãnh liệt, toàn diện và sâu sắc nhất. Sang đến câu thơ thứ hai, nhà thơ lại có những định nghĩa thật độc đáo về tình yêu:
Có hai cách hiểu về hình ảnh thơ “cánh kiến hoa vàng”. Thứ nhất, đó là loại cánh kiến thường là tổ ở cây hoa vàng. Như vậy, hình ảnh “cánh kiến hoa vàng” dùng để chỉ một mối quan hệ gắn bó không thể tách rời. Thứ hai, tổ của loài kiến lúc đến mùa thu hoạch có màu sắc lấm tấm vàng.
Như vậy, hình ảnh “cánh kiến hoa vàng” chỉ một tình yêu đã đạt đến độ chín của nó: một tình yêu đẹp lấp lánh những sắc màu. Ba câu thơ trên với những hình ảnh sóng đôi: “mùa đông – cái rét”; “cánh kiến – hoa vàng”; “mùa xuân – chim rừng lông trở biếc” đã tạo nên những kí ức tình yêu nhịp nhàng âm điệu, óng ánh sắc màu, sâu xa cảm giác. “Cánh kiến” và “hoa vàng” đã gợi lên sự chín mùi son sắt của lứa đôi. Đó là tình yêu thật đẹp, thật rực rỡ, lung linh sắc màu.
Không những thế, tình yêu còn được Chế Lan Viên diễn tả như một nguồn mạch tiếp thêm sức sống cho con người, đánh thức những gì là tiềm ẩn trong mỗi con người, sự vật. Nếu như ở câu thơ đầu, người đọc mới chỉ cảm nhận được tình cảm của riêng nhà thơ thì sang đến câu hai, ba, nó đã trở thành “tình yêu ta”. “Anh” và “em” như đã hòa quyện làm một trong tình yêu chung. Tình yêu đó mới thật đẹp, thật trọn vẹn biết bao. Đến đấy, ta những tưởng Chế Lan Viên sẽ đi vào cắt nghĩa về tình yêu nhưng câu thơ kết của đoạn thơ lại được nâng lên một tầm khái quát mới:
“Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.
Chế Lan Viên đã không đi sâu nói về tình cảm lứa đôi. Ông chỉ mượn nó để nói về qui luật vận động trong tình cảm của con người. Tình yêu đã biến mảnh đất xa xôi kia biến thành máu thịt, biến cái xa thành gần, cái lạ thành thân. Vai trò của tình yêu trong quá trình vận động của nhận thức. Nó quả thật kì diệu không phải gì khác mà chính là tình yêu đã biến “đất lạ” hóa thành “quê hương”. Bởi lẽ nếu không có tình cảm với con người, với cảnh vật nơi ấy thì sao ta có thể cảm nhận thấy mảnh đất ấy thật thân thương, gần gũi như chính quê hương mình vậy. Một điều tưởng chừng thật giản dị nhưng không phải ai cũng nhận ra.
Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Thơ ông lúc nào cũng giàu hình ảnh và đa chiều. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ đối với cuộc sống.
Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng – triết lý. Chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa. Khai thác triệt để các tương quan đối lập. Và nổi bật nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú, độc đáo nhiều ý nghĩa biểu tượng.
|
Bình giảng đoạn thơ_ Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ – Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên
| 2,351
| |
Đề bài: Bình giảng đoạn văn trong truyện ngắn Rừng xà nu: "Làng ở trong tầm đại bác…. tới chân trời"
Bài làm
Mở đầu tác phẩm Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành viết: “Làng… gà gáy”. Đó là cách giới thiệu "ngược”, ông đã đem sự việc giới thiệu trước khi giới thiệu cái làng ấy tên gì, ở đâu bằng giọng văn bình thản nhưng không kém phần gần gũi, thân thiết. Bình thản bởi sự việc giặc bắn đại bác đã thành lệ mỗi ngày hai bận như cơm ăn, nước uống của người dân Xô man. Gần gũi, thân thiết bởi mỗi người đều tìm thấy nét chung, nét đồng cảm trong những năm khốc liệt ta bắt gặp những làng trong “tầm đại bác” và bắn thành thông lệ như ở Xô man không ít trên đất nước Việt Nam này.
Bình giảng truyện ngắn Rừng xà nu
Chung nhưng không lẫn, làng Xô man vẫn mang những nét rất riêng. Kiêu hãnh và gan góc với “ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn" đã tạo ra sự khác biệt ấy. Có lẽ chính vì tính chất “riêng”, “mới lạ”, “đặc sắc”, có tính đại điện, phổ quát cao cho các dân tộc Tây Nguyên nên Rừng xà nu được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật sinh động, gan góc như một sinh thể có hồn.
Tính chất tàn phá mãnh liệt của chiến tranh in đậm trên mỗi thân cây “ cả rừng xà nu hàng vạn cây, không có cây nào không bị thương. Có cây bị chặt đứng ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão, ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn". Chỉ cần ba câu văn thôi nhưng ta có thể thấy trước mắt mình của một rừng xà nu sau mỗi lần “chúng nó bắn”. Nhưng nét đẹp và sự gợi cảm của mỗi câu văn không chỉ là nói lên một hình tượng tàn khốc mang tính tàn phá huỷ diệt như thế. “Một tác phẩm sẽ chết nếu nó miêu tả chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là sự thôi thúc mạnh mẽ mang tính chủ quan của tinh thần thời đại” (M. Gorki), “của niềm vui và nổi đau khổ, của nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt cay đắng” (Rãnu Gamzatop). Những thương của cây xà nu không chỉ là sự phản quang tội ác của giặc, không chỉ mất mát hoàn toàn. Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cây xà nu không chỉ là loại cây thông thường mà dưới góc độ khác, góc độ như một con người, con người Tây Nguyên gan góc, dũng mãnh, đầy quả cảm. Cây xà nu hiên ngang từ dáng đứng thẳng tắp dám hứng “hầu hết đạn đại bác”, đến phẩm chất “thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt”. Tác giả không miêu tả một cây, ông miêu tả cả một rừng cây. Phải chăng một chi tiết nhỏ đó thôi cũng bao hàm một lời hứa lớn. Đó là sự khái quát cao độ của hình tượng cây xà nu đông đảo, toàn diện và có phần chung chung nhưng lại không vô nghĩa, và đặc biệt không hề nhạt hoà, bé nhỏ. Nó cũng như con người: bị thương và chết đi, nhựa của nó chảy ra “dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành cục máu lớn”. Đây không phải là một phép so sánh giản đơn mà giường như trong tiềm thức của người nghệ sĩ, cây xà nu gần gũi thân yêu thật sự không phải là vật vô tri vô giác, ông đó là một sinh thể, là một con người. Lẽ dĩ nhiên trong văn chương có những điều “bất khả giải”, chỉ có thể cảm nhận bằng cảm giác, đôi khi rất khó tin, thậm chí không có sự “trùng khít giữa cái miêu tả và cái được miêu tả” nhưng cái tài của Nguyễn Trung Thành chính là ông đã tạo ra được “ảo tưởng giống như thiệt" (Focdine) của sự vật được phản ánh. Ông đã truyền sự rung cảm từ con tim chủ quan của người nghệ sĩ sang mỗi chúng ta là người tiếp nhân, khiến chúng ta không những yêu mà còn tin vào sức sống cũng như vẻ đẹp rất '"người” tiềm ẩn trong mỗi cây xà nu tưởng hết sức thông thuộc, bình dị. Sức sống mãnh liệt của cây xà nu chính nằm trong sự nối tiếp “cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”. Đúng như Nguyễn Trung Thành nói: “Trong rừng ít có loài cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”, sức sống và sự kế tiếp của cây rừng xà nu không khỏi khiến ta cảm phục, dường như có chút gì đó rạo rực, bâng khuâng… ta chợt nhớ đến một câu thơ của Tố Hữu:
Lớp cha lớp trước thân sau,
Đã thành đồng chí chung câu quán hành.
Có thể Nguyễn Trung Thành cũng đâu có viết về sự tiếp nối mạnh mẽ của cây rừng xà nu? Phải chăng đằng sau sức sống và sự “sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy”, còn có một sức sống tiềm ẩn khác của con người Tây Nguyên, của dân làng Xô-man trong kháng chiến. Họ cũng dũng mãnh như cây xà nu với “hình nhọn mũi lên lao thẳng lên bầu ười”. Sức mạnh ngòi bút Nguyễn Trung Thành chính là ở ông đã nắm bắt nhuần nhuyễn đặc điểm đó, miêu tả tài hoa và tinh tế sự hoà hợp giữa con người và thiên nhiên Tây Nguyên, khiến ta thấy thấp thoáng ẩn hiện sau mỗi cây xà nu là sự gan góc, sức sống mạnh mẽ và nụ cười cởi mở của dân làng Xô-man. Sự hoà nhập đó đã tạo nên sức gợi cũng như sống tiềm tàng của mỗi câu chữ mà Nguyễn Trung Thành sử dụng. Tuy nhiên cái khéo chính là ông đã miêu tả cây xà nu tuy trong góc độ như một con người nhưng lại không phải là con người, ông không biến một sinh vật thành một người đơn giản để cuối cùng mất đi bản sắc riêng của nó. Xà nu là loại “ham ánh sáng mặt trời”. “Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng, ánh sáng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lá vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, mươi hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã.”
Thật là quật cường và cũng thật kì diệu! Có lẽ bản thân những câu văn cũng đã nói lên sức sống cùng phẩm chất ham sống tuyệt vời của cây xà nu. Nhà văn không miêu tả phiến diện đến nổi khó tin là tất cả các loại cây dưới tầm đại bác đều còn sống và đều vươn lên với sức mạnh kì diệu. Nhưng có điều rất thật “nhà văn có quyền, nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa, ghê tởm, thấp hèn. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, thuỷ chung” (Nguyễn Khải). Nguyễn Trung Thành có miêu tả cái chết của đó là quy luật không tránh khỏi của cuộc sống, đặc biệt là trong chiến tranh nhưng ngay cả khi nó chết, cái còn lại vẫn là chỗ nhựa thơm “long lanh nắng gay gắt”, và đặc biệt là vẫn những cây vượt lên, sinh sôi và phát triển. Hơn bao giờ hết ta hiểu cái giá của sự sống và sức mạnh của sự sống khi nó được châm ngòi, khi nó được “cháy lên để mà toả sáng” (Raxun Gamzatop), trở nên có ích trong cộng đồng của mình “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng.
Cây xà nu là như vậy, đẹp đẽ và kiêu hãnh biết bao. “Tấm ngực lớn” của nó không chỉ thể hiện sức tráng kiện, dũng mãnh đến gai góc của một loại cây ở thời kì ưưởng thành đang nhập nhoà trong sức mạnh cộng đồng như cả dân làng Xô-man mà còn thể hiện chút chân thực đến say lòng người, cùng niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của chính mình.
Cái hay và đặc sắc của đoạn văn chính là ở chỗ nhà văn đã nhìn rừng xà nu như một sinh thể có hồn hoà nhập vào đời sống nhiệl thành của con người Tây Nguyên nói chung, của dân làng Xô-man nói riêng. Khép lại đoạn văn và cũng là toàn tác phẩm là một câu văn đầy sức gợi: “Đứng trên đồi xà nu trông ra xa, đến hết tầm ngắm cũng không thấy gì khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”. Không phải ngẫu nhiên nhà văn Nguyễn Trung Thành sử dụng câu văn này hai lần, ở trong đoạn này và đoạn cuối tác phẩm. Rừng xà nu dường như đã lớn lên đến sức sống căng tràn nhất, trải dài khắp nẻo đường. Ta như cám giác cánh tay rừng xà nu đang vươn dài ôm lấy làng Xô-man vào lồng ngực lớn của mình, yêu thương, che trở và bảo vệ. Sức mạnh của khu rừng, của làng Xô -man và của cả một chút gì bí ẩn, hoang sơ gợi sự khát khao, kiếm tìm với người biết yêu thương và lời đe doạ đối với kẻ thù xâm lược: “Chừng nào chúng ta còn tồn tại thì các ngươi đừng hòng xâm nhập vào đây phá tan cuộc sống yên bình nơi đây".
Rừng xà nu là câu chuyện của cả đời được kể trong một đêm do đó những cảm xúc về cây xà nu chính là những rung cảm mãnh liệt nhất của người nghệ sĩ “được viết ra khi cảm xúc tràn đầy” (Tố Hữu). Theo lời tác giả kể, câu truyện viết ra chỉ trong hai liếng rưỡi nhưng lại được thai nghén hàng chục năm. Ta chợt hiểu sâu sắc đằng sau mỗi dòng chữ kia là tấm lòng yêu thương chất chứa, dồn nén của người nghệ sĩ. Có lẽ ông đã dồn rất nhiều tâm huyết để dựng lên hình tượng cây xà nu đẹp, đầy gợi cảm, mang sức chứa và khái quát cao độ. Nó xứng đáng là kết tinh của thiên nhiên và con người Tây Nguyên dũng mãnh, gan góc và quật cường. Thành công lớn ở đoạn văn chính là hình tượng cây xà nu đã diễn tả sâu sắc và tinh tế nội dung toàn tác phẩm cũng như điều mà nhà văn gửi gắm, ở mỗi cây xà nu ta nhìn thấy hình ảnh một người dân Xô man. Thấy cụ Mết, Tnú, Dít, Heng và lớp lớp dân làng kiêu hãnh, gan góc bất diệt như“ Rừng xà nu”
|
Bình giảng đoạn văn trong truyện ngắn Rừng xà nu_ “Làng ở trong tầm đại bác…. tới chân trời”
| 1,955
| |
Bình giảng đoạn đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’
Về Nguyễn Trãi, chúng ta biết rằng: ông là người có công lớn trong việc phụ tá vua Lê Lợi cầm quân đánh thắng giặc Minh xâm lược thế kỉ XV. Nhưng khi hòa bình trở lại, đất nước đi vào công cuộc xây dựng và phát triển thì ông bị ghen ghét, nghi ngờ bởi những kẻ xấu xa. Đang làm quan, Nguyễn Trãi phải cáo quan về ờ ẩn. Sau đó, ông lại bị chết thảm thương trong vụ án Lệ Chi Viên năm 1442. Với công lao to lớn và tài năng toàn diện, Nguyễn Trãi đã được nhân dân ta tôn vinh là anh hùng dân tộc và thế giới đã tặng ông danh hiệu Danh nhân văn hóa. Bài thơ ‘Côn Sơn ca’ có thể được ra đời khi Nguyễn Trãi cáo quan về nghỉ tại Côn Sơn. Với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là vùng đất gắn bó bằng nhiều kỉ niệm từ thuở ấu thơ đến lúc tuổi già. Nơi đây có núi non hùng vĩ, cây cối tốt tươi, sơn thủy hữu tình. Đây là đất được phong của quan tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại Nguyễn Trãi. Cha Nguyễn Trãi từng đến dạy học nơi đây, rồi kết duyên với tiểu thư con gái quan Tư đồ. Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã nhiều năm tuổi trẻ sống ờ đây. Khi cáo quan, Nguyễn Trãi về Côn Sơn như về với nơi chôn nhau, cắt rốn, về với bạn bè tri ki tri âm. Mỗi hòn đá, gốc cây, ngọn suối, đất nước và mây trời Côn Sơn gắn bó với người anh hùng, vị danh nhân văn hóa bàng tình cảm máu thịt. Vì thế, bài ‘Côn Sơn ca’ là tiếng nói cất lên từ trái tim sâu nặng, da diết của Nguyễn Trãi.
Sống giữa Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã nhìn ngắm, suy ngẫm và làm những việc gì? Đoạn thơ chia làm hai đoạn nhỏ thể hiện hai khía cạnh nội dung. Tã hãy đọc bốn dòng thơ đầu:
‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn cố đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm’
Nghe tiếng suối rì rầm, nhà thơ mường tượng ra tiếng đàn khi trầm, khi bổng, réo rắt bên tai. Nhìn thấy mặt đá phẳng có rêu phơi, nhà thơ ngồi trên đá mà ngỡ như đang ‘ngồi chiếu êm’. Trí tưởng tượng và nghệ thuật so sánh của Nguyễn Trãi thật lãng mạn, thật tài hoà. Tạo vật thiên nhiên bỗng hóa thành những vật dụng của con người, gần gũi, thân thương với con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến cho nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút. Xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hóa thân cho mặt đá vốn khô rắn thành mặt chiếu dịu êm. Những biến đổi ấy kì diệu làm sao! Nguyễn Trãi đã thưởng thức những nét đẹp ấy ở Côn Sơn một cách say mê, hào hứng.
‘Trong ghểnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’
Câu năm và câu sáu tiếp tục nghệ thuật so sánh tài hoa và một cử chỉ thanh thản tuyệt vời. Đọc thơ, ta ngỡ Nguyễn Trãi đang nằm giữa một rừng thông xanh ngắt, mát rợp, thả hồn trong sắc màu của cỏ cây, đắm chìm trong bóng râm, gió thoảng, ngủ một giấc ngon lành, để quên hết sự đời, rũ bỏ mọi vướng bận, để hóa thân vào hư vô, vũ trụ. Nhưng đến hai câu cuối thì bất ngờ thay, Nguyễn Trãi không ngủ, trái lại ông đã cất tiếng ngâm thơ, những bài ‘thơ nhàn’. Nếu có điều kiện đọc tiếp những dòng thơ sau đoạn này, ta sẽ thấy những bài ‘thơ nhàn’ của Nguyễn Trãi không phải nói về thú vui nhàn tản vô vị như nhiều nhà nho bế tắc thời trung đại mà là những suy nghĩ, những quan niệm sâu sắc mang tính triết lí thời đại, triết lí nhân sinh tiến bộ.
Tóm lại, đoạn thơ tám dòng của ‘Bài ca Côn Sơn’cho ta thấy một sự giao hòa tuyệt đối giữa Nguyễn Trãi với cảnh vật Côn Sơn. Sự giao hòa đó vừa nói lên nhân cách thanh cao, vừa nói lên phẩm chất thi sĩ lớn lao của Nguyễn Trãi và tất cả là dựa trên một triết lí sâu xa: con người và thiên nhiên là một, muốn sống thanh thản, con người hãy đến với thiên nhiên, tìm ở thiên nhiên những vẻ đẹp, những biến dổi kì diệu để có cách ứng xử đúng nhất…’.
|
Bình giảng đoạn đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn Trãi
| 820
| |
Bình giảng đoạn đầu của bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
Hướng dẫn
Bình giảng đoạn đầu của bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
“Đất nước” là một bài thơ xuất sắc của Nguyễn Đình Thi nói riêng và của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Chủ đề bao trùm toàn bộ bài thơ là lòng yêu nước nồng nàn và ý thức độc lập tự chủ, niềm tự hào dân tộc đã đứng lên đấu tranh để bảo vệ đất nước. Đặc biệt là với khổ thơ đâu đã mang tới cho chúng ta một cảm xúc và ấn tượng riêng của mùa thu Hà Nội qua cái nhìn của tác giả.
Đất nước là cảm hứng thi ca mang tính chất tổng hợp về chủ Đất Nước, đó là cảm xúc về mùa thu Hà Nội, chiến khu Việt Bắc và cao hơn nữa đó là những cảm xúc về ca dao cho đất nước từ trong thương đau.
Trước hết tới với những câu thơ đầu tiên nói về cảm xúc của mùa thu Hà Nội, đó là những câu thơ mang chan chứa tình cảm yêu thương và gắn bó của nhà thơ đối với quê hương mình:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi màu thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thèm nắng lá rơi đầy”
Từ “lạnh” này gợi cho chúng ta liên tưởng về một Hà Nội đẹp, có lá vàng rơi, có hơi lạnh của đầu mùa nhưng cũng chưa thực sự là lạnh. Cái lạnh đang đến dần với người dân Hà Nội nhưng vẫn còn e ấp giống như một sự báo hiệu bắt đầu của thiên nhiên. Cái lạnh đó không phải là cắt da cắt thịt mà giống như một sự ban tặng từ thiên nhiên, đặc biệt là cho người nghệ sĩ.
Đến với câu thơ “ Những phố dài xao xác hơi may”, tác giả đã rất khéo léo khi sử dụng biện pháp đảo trật tự cú pháp cộng với từ láy tượng thanh, từ “xao xác” thể hiện cái buồn nhẹ của buổi chiều heo may.
Con người ở đây cũng hiện lên với một hình ảnh vô cùng đẹp, đó là tư thế “người ra đi đầu không ngoảnh lại” thể hiện được sự dứt khoát từ giã phố cũ trường xưa để đi chiến đấu. Bước đi đó dứt khoát nhưng vẫn có thể cảm nhận được sau lưng có tiếng lá rơi, không khỏi sự bịn rịn vấn vương.
Như vậy, chỉ với đoạn đầu của bài thơ chúng ta đã có thể thấy được hình ảnh đẹp đẽ của mùa thu Hà Nội qua sự hoài niệm của nhà thơ. Một mùa thu thật đẹp và đáng nhớ trong kí ức của mỗi người.
Nguồn: Bài văn hay
|
Bình giảng đoạn đầu của bài thơ Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
| 485
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.