text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Em hãy xây dựng một câu chuyện với ba nhân vật: một con ong, một bó hoa và một bạn học sinh
Hướng dẫn
Một buổi sáng đẹp trời, Nam đang hào hứng bước tới ngôi trường thân yêu để bắt đầu một ngày mới với bao niềm vui và sự bất ngờ đang chờ đợi.
Đang vui vẻ bước đi, bỗng Nam nghe văng vẳng đâu đây có tiếng khóc nỉ non. Cậu tò mò đi theo hướng phát ra tiếng khóc ấy nhưng không hề thấy một ai. Cậu đang định quay đi thì bỗng bắt gặp một cảnh tượng rất lạ lùng mà cậu chưa bao giờ được chứng kiến: một bông hoa đang rơi nước mắt. Những giọt nước mắt của bông hoa xinh đẹp ấy rơi xuống như những hạt pha lê long lanh rơi. Quá bất ngờ với những gì nhìn thấy được, Nam chỉ biết đứng nhìn cái cảnh tượng thần kì ấy. Bỗng có một con ong bay lại gần bông hoa đang khóc. Cảnh tượng tiếp sau đó còn làm cậu ngạc nhiên hơn. Con ong bỗng cất tiếng hỏi bông hoa: “Tại sao cậu lại khóc?” Bông hoa mắt ướt, ngẩng lên nhìn ong và càng khóc to hơn. Hoa vừa khóc vừa nói: “Tôi buồn lắm! Tôi chẳng làm được gì cho cuộc đời này cả. Những hạt phấn của tôi không bay được đi nơi khác mà cũng chẳng có con ong nào hút mất của tôi cả. Tôi thật vô dụng phải không bạn ong?. Nghe thấy vậy, con bật cười và bảo: “Bạn đừng nghĩ vậy! Mình sẽ giúp bạn góp công sức cho cuộc sống.”. Nói rồi, ong hút mật của hoa và đem phấn hoa bay đi.
Xem thêm: Biểu cảm về cây treNam ngơ ngẩn nhìn theo con ong đang bay về phía xa và tự nhủ với lòng mình: Một bông hoa nhỏ bé còn mong được góp công sức cho cuộc sống thì chẳng lẽ một con người như mình lại không làm được gì cho cuộc sống này hay sao? Rồi Nam tự hứa với lòng mình rằng sẽ cố gắng học thật giỏi để mai này góp phần xây dựng quê hương, đất nước thêm giàu đẹp.
Nguồn: | Em hãy xây dựng một câu chuyện với ba nhân vật_ một con ong, một bó hoa và một bạn học sinh | 374 | |
Em hãy đáp lại lời cảm ơn trong những trường hợp sau đây
Gợi ý
Đề 1: Em hãy đáp lại lời cảm ơn trong trường hợp: Em cho bạn mượn quyển truyện. Bạn em nói: "Cảm ơn bạn. Tuần sau mình sẽ trả".
Bài làm
– Có gì đâu. Quyển truyện này hay lắm, cậu cứ bình tĩnh mà đọc.
– Lúc nào đọc xong, cậu trả mình cũng được, mình chưa cần ngay đâu.
– Bạn đừng ngại. Bạn cứ đọc đi, quyển truyện này hay lắm.
Đề 2: Em hãy đáp lại lời cảm ơn trong trường hợp: Em đến thăm bạn ốm. Bạn em nói: "Cảm ơn bạn. Mình sắp khỏi rồi".
Bài làm
– Ôi, thích quá! Mọi người mong bạn lắm đấy.
– Thế thì hay quá. Để mình nói cho mọi người biết. Chắc cả lớp sẽ mừng lắm đấy.
Đề 3: Em hãy đáp lại lời cảm ơn trong trường hợp: Em rót nước mời khách đến nhà, khách nói: "Cảm ơn cháu. Cháu ngoan quá!"
Bài làm
– Dạ có gì đâu ạ. Cháu mời bác uống nước kẻo nguội ạ.
– Dạ, cảm ơn bác. Cháu mời bác uống nưổc, bố cháu ra ngay đây ạ.
Vanmau.edu.vn | Em hãy đáp lại lời cảm ơn trong những trường hợp sau đây | 192 | |
Em hãy đáp lại lời xin lỗi trong những trường hợp sau đây
Gợi ý
Đề 1: Em hãy đáp lại lời xin lỗi trong trường hợp: một bạn vội nói với em trên cầu thang: "Xin lỗi. Cho tớ đi trước một chút".
Bài làm
– Ừ, bạn đi trước đi.
– Có gì đâu. Mời bạn.
Đề 2: Em hãy đáp lại lời xin lỗi trong trường hợp: Một bạn vô ý đụng vào người em, vội nói: "Xin lồi. Tớ vô ý quá!"
Bài làm
– Có gì đâu. Bạn không cố tình mà.
– Tớ không sao đâu. Bạn đừng lo.
Đề 3: Em hãy đáp lại lời xin lỗi trong trường hợp: Một bạn nghịch, làm mực bắn vào áo em, xin lỗi em: “Xin lỗi bạn. Mình lỡ tay thôi".
Bài làm
– Thôi, đằng nào cũng bẩn rồi. Mình sẽ về tẩy vết mực đi vậy.
– Thôi, bạn cũng không cố ý. Lần sau bạn cẩn thận hơn nhé.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Anh cưa em nhé, được không? | Em hãy đáp lại lời xin lỗi trong những trường hợp sau đây | 161 | |
Em hãy đóng vai Cô út kể lại chuyện Sọ Dừa
Gợi ý
Tối hôm đó, nàng Út đang ngồi may áo cho chồng thì con nàng chạy đến bên cạnh. Bằng giọng nói ngây ngô, đứa con hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, tại sao cha lại tên là Sọ Dừa. Tụi bạn con cứ bảo cái tên ấy xấu ơi là xấu mẹ ạ!
Mỉm cười hiền từ, nàng út nhìn con âu yếm: “Tên của cha là do bà nội đặt cho. Xung quanh cái tên đó có rất nhiều chuyện kì lạ. Mẹ sẽ kể cho con nghe”.Đứa bé tròn mắt ngạc nhiên, ngồi im chờ đợi.
Ngày xưa, ông bà nội rất nghèo, phải đi làm thuê cho nhà phú ông – ông ngoại con. Ông bà nội hiền lành, chịu khó nhưng đã ngoài năm mươi mà vẫn chưa có một mụn con nên buồn lắm. Chính bởi vậy nên có lẽ trời đất thương tình mới tạo ra một chuyện lạ kì.
Một ngày nọ, trời nắng to, bà con vào rừng hái củi, khát nước quả mà không tìm thấy suối. Chợt bà nhìn thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bưng lên uống. Chẳng ngờ khiến bà có mang cha con.
Thật là buồn, chẳng bao lâu sau, vì tuổi già sức yếu nên ông con mất. Bà sinh ra cha con. Lúc đó cha không có hình dáng giống như bây giờ.
– Thế hình dáng cha con thế nào hả mẹ?
– Cha con không chân, không tay, tròn như một quà dừa. Bà buồn lắm, toan vứt đi thi cha con lên tiếng.
– Cha con vừa sinh ra mà đã nói được ạ? Thằng bé ngạc nhiên.
Nàng út mỉm cười. Đúng vậy. Cha con bảo: “Mẹ ơi, con là người đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp”. Nghĩ lại thấy thương, bà con đành để cha lại nuôi và đặt tên là Sọ Dừa. Lớn lên cha con vẫn không khác lúc nhỏ; cứ lăn lông lốc trong nhà chẳng làm được việc gì. Trông thấy con người khác mới tám tuôi đã biết chăn bò giúp cha mẹ, bà buồn lắm. Cha con biết chuyện nên cũng muốn đi chăn bò giúp bà. Ban đầu bà cũng lưỡng lự, sau thấy cha con cương quyết quá, bèn đến gặp ông ngoại con. Ông ngoại mới đầu không đồng ý vì ông nghĩ với hình dáng kì dị như vậy làm sao cha con chăn bò được nhưng sau lại đồng ý.Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim LânKhác với suy nghĩ của mọi người, cha con chăn bò rất giỏi. Hàng ngày cha lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về chuồng. Ngày nắng cũng như ngày mưa, bò con nào con nấy bụng no căng. Ông ngoại mừng lắm.
Mẹ cũng nghe gia nhân trong nhà bàn tán nhiều về cha con nhưng cũng chưa có dịp gặp mặt. Thế rồi đến ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm cả, mẹ và các chị thay phiên nhau đưa cơm cho cha con. Các bác của con vốn không ưa cha nên thường hắt hủi chàng. Mẹ thấy thương cảm cho cha nên đối xử với ông như với mọi người khác, không hề phân biệt.
Một hôm, cũng như mọi ngày, mẹ mang cơm đến chân đồi thì nghe thấy tiếng sáo véo von. Giữa nơi đồng không mông quạnh này tại sao lại có tiếng sáo hay đến vậy? Nghĩ thế nên mẹ rón rén bước lên, nấp vào bụi cây xem ai mà lại tài giỏi đến vậy. Mẹ rất ngạc nhiên khi trước mắt mình là một chàng trai khôi ngô đang ngồi trên chiếc võng đào mắc vào hai cành cây, thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Lúc đó mẹ không biết đó là cha con. Mải nghe tiếng sáo, mẹ lỡ chân đạp vào một cành khô. Nghe thấy tiếng động, chàng trai biến mất, chỉ thấy cha con ở đó. Nhiều lần như vậy, mẹ biết cha con không phải người phàm trần, mẹ đem lòng yêu cha, có của ngon vật lạ đều giấu đem cho.
Dường như cũng hiểu tâm ý của mẹ nên cuối mùa, cha con về giục bà đến hỏi mẹ về làm vợ. Bà hết sức sửng sốt, nhưng cha con năn nỉ dữ quá nên đành chiều lòng. Bà đem buồng cau đến nhà ông ngoại. Ông ngoại con đương nhiên không đồng ý vì hình dáng cha con kì dị quá, nhà lại nghèo, ông ngoại sợ mẹ và các bác khổ. Ồng ngoại muốn bà nội từ bỏ ý định đó nên thách cưới rất nặng: một chỉnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm. Nhưng ông ngoại không ngờ rằng những thứ đó không gây khó khăn nổi cho cha. Đúng ngày hẹn, cha sai cả chục gia nhân khiêng lề vật đến. Ông ngoại đành bằng lòng. Các bác con không ai muốn lấy cha, chỉ có mẹ đã yêu cha từ lâu nên đã ưng thuận theo cha con về làm vợ.Xem thêm: Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ về thói ích kỉ và lòng vị tha trong xã hội ngày nayTrong ngày cưới của cha mẹ, một điều ngạc nhiên đã xảy ra. Cha con bỏ lớp sọ dừa, biến thành hình dáng đẹp đẽ như bây giờ. Mọi người ai ai cũng ngạc nhiên và sửng sốt. Mẹ và bà có lẽ là hai người hạnh phúc nhất.
Cha và mẹ sống với nhau rất hạnh phúc. Nhưng cha con là bậc thần tiên, được trời cử xuống giúp dân giúp nước nên mẹ không thể luôn giũ ở mãi bên mình được. Cha con đã tu chí học tập và vào kinh ứng thí. Bằng tài năng của mình, cha đã đậu Trạng nguyên và được nhà vua cử đi sứ. Trước khi đi cha có cho mẹ một con dao, một hòn đá lửa và hai quả trứng gà. Mẹ không biết cha có ý gì nhưng vẫn nghe lời cha, đi đâu cũng mang theo bên mình.
Từ ngày cha con đi, mẹ ở nhà buồn nên thường đến chơi với các bác con. Một hôm, các bác rủ mẹ đi thuyền ra biển chơi mẹ vui vẻ đồng ý. Mẹ có ngờ đâu các bác con từ khi thấy mẹ và cha lấy nhau đã sinh lòng ghen ghét, luôn tìm cách hãm hại mẹ. Thuyền ra đến biển, nhân lúc mẹ không để ý, hai bác xô mẹ xuống nước. Khi mẹ đang chới với giữa dòng thì ở đâu xuất hiện một con cá kình rất to. Nó há miệng nuốt chửng lấy mẹ. Tuy rất hoảng sợ nhưng nhớ lời cha dặn, mẹ đem dao ra đâm chết cá, xác cá nổi lềnh bềnh trên mặt nước rồi dạt vào bờ. Mẹ mổ bụng cá chui ra thì thấy mình đang ở trên một hòn đảo hoang, không một bóng người. Thật may vì cha đã cho mẹ những vật dụng cần thiết để có thể sống sót trên đảo hoang. Mẹ lấy hai hòn đá cha cho cọ vào nhau, bật lửa lên, rồi xẻo thịt cá nướng ăn, sống qua ngày, chờ có thuyền đi qua cứu. Cũng may mẹ có hai chú gà nở ra từ hai quả trứng mà cha cho mẹ làm bạn nếu không mẹ sẽ buồn lắm.Xem thêm: Gần nhà em có một hồ nước gần đây một số người hay đổ phế thải xây dựng xuống hồ. Em hãy giúp Bác Tổ trưởng Tổ dân phố viết đơn gửi Ủy ban nhân dân Phường để ngăn chặn hành động thiếu ý thức này
Một hôm, có một chiếc thuyền cắm cờ đuôi nheo lướt qua đảo. Con gà trống mẹ nuôi gáy to ba lần:
Ò…ó… o
Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về. ”
Mẹ cũng như linh tính đó là thuyền của cha con nên vội chạy ra phía bờ biển. Quả nhiên đó là thuyền của cha con. Nghe tiếng gà kêu kì lạ, cha cho thuyền vào xem. Mẹ gặp lại cha vui mừng khôn xiết. Cha rất ngạc nhiên vì gặp mẹ nơi đảo hoang này. Khi nghe rõ sự tình, cha vô cùng tức giận, người bèn đưa mẹ về nhà, mở tiệc mừng. Bà con đều đến chia vui. Cha không cho mẹ ra ngay mà bảo mẹ ngồi đợi ở trong buồng. Các bác của con khi nghe tin cha con về vẫn không hay biết mẹ cũng về theo nên tranh nhau đến gặp cha con, kể lại mọi việc và còn tỏ ra đau xót lắm. Mẹ không ngờ các chị lại ác với mình như vậy, mẹ buồn không thể nói được gì. Cha con tức giận lắm khi thấy thái độ đó. Cha bèn đưa mẹ ra giới thiệu với mọi người. Hai bác lúc đó xấu hổ quá bèn bỏ đi, đến giờ cũng không biết là đi đâu. Mẹ cũng đã tha thứ cho hai bác và rất mong gặp lại các bác ấy. Còn về phần mình, con thấy đấy, mẹ rất hạnh phúc khi sống cùng cha và càng hạnh phúc hơn khi giờ có thêm con – đứa con ngoan ngoãn bé bỏng của mẹ.
Vừa nói, nàng út vừa lấy tay xoa đầu con Đứa bé cười tươi và nói: “Mẹ ơi, cha thật là cừ. Bây giờ con thấy không có cái tên nào hay hơn tên của cha đâu mẹ ạ!” Nàng út cười và ôm bé vào lòng.
Vanmau.edu.vn | Em hãy đóng vai Cô út kể lại chuyện Sọ Dừa | 1,619 | |
Em hãy đóng vai Lang Liêu kể lại truyện Sự tích bánh chưng, bánh giầy
Gợi ý
Mỗi dịp Tết đên, xuân về, trên bàn thờ tổ tiên, bên cạnh mâm ngũ quả, cành đào, cành mai còn có bánh chưng bánh giầy cũng được bày lên một cách trang trọng. Nhà tôi cũng thế thì dù bận rộn đến đâu cũng không đổi thay lệ ấy.
Nhờ thế năm rồi, vào đêm ba mươi tháng chạp, tôi cùng gia đình thức cạnh nồi bánh chưng chờ đón giao thừa, đêm càng khuya mọi vật đều chìm vào im lặng, chỉ còn nghe thấy nồi bánh sôi đều, củi cháy đượm, thỉnh thoảng vang lên tiếng nổ nhỏ lép bép. Tôi ngồi nhìn bếp lửa hồng,và thiếp đi, thả hồn theo những đóm sao từ đó bay lên.
Bỗng một tiếng nói dõng dạc của Vua Hùng phán:
– Cha biết mình gần đất xa trời. Cha muốn truyền ngôi cho một người trong mỗi chúng con. Các con hãy làm cỗ để cúng tổ tiên. Ai làm được món ăn quý vừa ý ta thì sẽ được ta chọn.
Nghe vua cha phán truyền như thế, các hoàng tử kia thi nhau cho người đi khắp nơi tìm kiếm thức ăn quý, nào là sơn hào hải vị, nem công, chả phượng chỉ để mong được làm vua. Họ đâu biết rằng có một thứ rất quen thuộc và nuôi sống họ hàng ngày chính là hạt gạo, có lẽ họ coi cái đó là sự bình thường vô dụng. Tôi đang lo sợ không biết làm món gì để cúng Tiên Vương vì trong nhà hiện giờ chỉ có lúa, gạo, khoai, sắn. Thì được Thần tiên mách bảo:Xem thêm: Bình luận bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy
– Hãy lấy gạo làm bánh mà tế lễ. Tôi thấy lời thần thật đúng, ai cũng có thể làm ra lúa gạo, miễn là cần cù chịu khó, các thứ của ngon vật lạ kia ăn mãi rồi cũng chán, còn lúa gạo thì dùng được mãi. Vua Hùng là người yêu nước thương dân, yêu ruộng lúa đồng khoai nên hiểu sâu sắc ý nghĩa của hạt gạo. Bánh hình vuông tượng trưng cho đất, có cây cỏ muôn thú, bánh hình tròn tượng trưng cho trời. Đó là hai loại bánh chưng và bánh giày bày tỏ được lòng hiếu thảo của con cháu kính trọng tổ tiên. Và vua Hùng trân trọng tuyên bố Lang Liêu được giải nhất và được truyền ngôi. Tôi định tạ ơn vua cha thì bỗng có tiếng gọi:
– Thêm nước vào nồi bánh đi kẻo cạn hết rồi.
Tôi mở mắt ra thì là một giấc mơ, một giấc mơ thú vị. Đúng, người nôi ngôi vua phải nối chí vua và Lang Liêu lên làm vua là vô cùng xứng đáng. Những thứ thịt, đậu, gạo trắng rất tươi tốt, thơm ngon mà còn nói lên đất nước chúng mình, lúc nào cũng vui tươi thơm nồng như vườn cây đầy nhựa sông. Cũng vì hạt gạo đáng quý nên cả nước ta từ đó chăm nghề trồng trọt, cày sâu, cuốc bẫm và lúa gạo cũng ngày càng phát triển tốt hơn, thơm dẻo hơn. Em thấy một ông vua tốt, hiền thực sự phải một lòng vì dân vì nước, coi nước là nhà, coi dân là con như Vua Hùng và Lang Liêu. Xem thêm: Nghị luận xã hội - Một giờ không điện - một giờ tự tâmGiờ đây, mỗi khi ngồi bên bếp lửa, thưởng thức vị ngon thơm quyến rũ của hai loại: bánh chứng bánh giầy này, em lại nghĩ tới câu chuyện "Sự tích bánh chưng bánh giầy". Em rất tôn trọng những người làm lụng một nắng hai sương để làm nên lúa gạo nuôi sống con người.
Vanmau.edu.vn | Em hãy đóng vai Lang Liêu kể lại truyện Sự tích bánh chưng, bánh giầy | 641 | |
Em hãy đóng vai Rùa Vàng kể lại truyền thuyết Hồ Gươm
Gợi ý
Ta là Rùa Vàng, một vị quan dưới trướng Lạc Long Quân. Hôm ấy, trong lúc ta đang ghi chép sổ sách trong thư phòng thì được tin Đức Long Quân triệu kiến gấp. Ta bèn tức tốc vâng mệnh, đến điện gặp Ngài. Vừa tới nơi ta đã nghe giọng nói như sấm rền của Long Quân:
– Ngày mai, lúc Lê Lọi cưỡi thuyền rồng trên hồ Tả Vọng dạo chơi, ngươi hãy nổi lên đòi lại thanh gươm thần cho ta.
Vâng mệnh Long Quân ta lui về thư phòng, chuẩn bị ngày mai thực thi mệnh lệnh.
Nhớ lại năm xưa, vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, nhân dân cực khổ vô cùng. Bởi bọn giặc vô cùng hung ác, chúng coi người dân như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ ai ai cũng căm giận đến tận xương tuỷ. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng. Nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên đã nhiều lần thất bại. Thấy vậy, để giữ đúng lời hứa với nàng Âu Cơ năm xưa “khi có việc cần thì giúp đỡ lẫn nhau”, Đức Long Quân đã quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần Ngài vẫn đeo bên người để con cháu đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại đất nước. Lúc đó chính ta là người mang gươm cho nghĩa quân mượn.Xem thêm: Tả cánh đồng lúa quê em lớp 5 hay nhất
Ta đã tìm hiểu rất kĩ và biết rằng ở vùng Thanh Hoá có một người đánh cá tên là Lê Thận, tính tình hiền lành, chất phác, sau này sẽ tham gia nghĩa quân nên ta quyết định chọn chàng làm sứ giả trao gươm báu.
Như thường lệ, vào một đêm trăng sáng, gió thổi mát lạnh, Lê Thận đem lưới thả xuống sông bắt cá. Đã chờ sẵn từ lâu, ta bí mật bở lưỡi gươm vào trong lưới của anh ta. Lúc kéo lưới lên, thấy nằng nặng, chàng đã mừng thầm, chắc hẳn là có cá to. Nhưng khi thò tay xuống chẳng thấy cá đâu mà chỉ thấy gươm báu dưới dạng một thanh sắt chàng, bèn vứt đi và lại thả lưới tiếp. Phải vất vả ba lần ta mới khiến anh chàng nhận ra đó là lưỡi gươm và chịu mang về.
Quả nhiên, về sau Lê Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng, hăng hái, gan dạ, không nề nguy hiểm. Vì vậy, một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy tuỳ tòng đến nhà Thận. Thanh gươm thần gặp được chủ tướng nên tự động sáng rực lên trong túp lều tối om. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lên xem và thấy hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi gươm. Song chuyện đó cũng nhanh chóng bị quên đi, không ai biết đó là báu vật.
Cho tới một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng sĩ rút lui mỗi người một ngả. Lúc chạy ngang qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy có ánh sáng trên ngọn cậy đa. Ông trèo lên mới biết đó là một chuôi gươm nạm ngọc. (Đó chính là phần chuôi của thanh gươm thần vốn do Đức bà Âu Cơ cất giữ. Người cho chim thần đem đến đặt trên ngọn đa). Lê Lợi nhớ đến phần lưỡi gươm ở nhà Lê Thận bèn lấy chuôi gươm giắt vào lưng.Xem thêm: Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử của emBa ngày sau, khí gặp lại mọi người trong nhà Thận, Lê Lợi bèn đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho họ nghe. Và khi đem lưỡi gươm tra vào chuôi thì vừa như in.
Lê Thận bèn nâng gươm lên ngang đầu, cung kính nói vói mọi người:
– Đây là ý trời phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!
Đến đây, nhiệm vụ của ta đã hoàn thành, thanh gươm thần đã được đặt vào đúng vào vị trí của nó.
Thế mà cũng đã một năm trôi qua rồi. Quả nhiên từ khi có thanh gươm thần giúp sức, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng mạnh, liên tiếp giành được thắng lợi, làm cho quân Minh bạt vía, kinh hồn. Lê Lợi giờ đã lên làm vua, lấy hiệu là Lê Thái Tổ.
Miên man trong những kỉ niệm của một năm trước, ta không ngờ trời đã sáng. Ta liền vội vã lên đường, thực hiện nhiệm vụ mà Long Quân giao. Kia rồi! Đoàn thuyền rồng đã hiện ra trước mắt. Ta từ từ nổi lên mặt nước và bơi ra đón trước mũi thuyền. Ta cất giọng chậm rãi: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”.
Sau khi nghe ta nói, Lê Lợi nâng gươm hướng về phía ta và nói: “Xin Thần Kim Quy về báo lại với Đức Long Quân rằng Lê Lợi thay mặt muôn dân kính cẩn đội ơn Ngài đã cho mượn gươm báu gịúp dân, giúp nước. Xin cho chúng dân đổi tên hồ này thành hồ Hoàn Kiếm để đời đời nhớ đến công đức của Ngài”. Nghe xong, ta bèn ngậm gươm thần rồi lặn xuống nước.Xem thêm: Cảm nhận về tình yêu quê hương của con người gần trọn đời xa quê qua bài thơ Ngẫu nhiên vịết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri ChươngTrở về Long Cung, ta tâu lại những điều Lê Lợi đã nói vói Long Quân. Người rất vui và hài lòng. Người giao cho ta nhiệm vụ hàng năm nổi lên mặt hồ một lần để xem xét dân tình, kịp thời báo cho người khi con cháu lâm nguy. Rùa Thần ta rất đỗi vinh hạnh nhận sứ mệnh cao cả đó.
Vanmau.edu.vn | Em hãy đóng vai Rùa Vàng kể lại truyền thuyết Hồ Gươm | 1,004 | |
Em hãy đóng vai Rùa Vàng để kể lại truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm”
Gợi ý
DÀN BÀI
Mở bài:
+ Rùa Vàng – vị tướng dưới trướng của Đức Long Quân tự giới thiệu.
+ Giới thiệu chuyện về Lê Lợi và Hồ Gươm.
Thân bài:
+ Kể về tình hình nước ta khi bị giặc Minh giày xéo và cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi.
+ Chuyện Đức Long Quân và việc ngài phái Rùa Vàng đem gươm thần đi giúp nghĩa quân.
+ Chuyện lưỡi gươm thần hiện mình ba lần trong lưới của Lê Thận và chàng đã nhận được gươm.
+ Chuyện vỏ gươm hiện mình trong rừng và Lê Lợi nhận được.
+ Rùa Vàng tiết lộ ý nghĩa của việc chia gươm làm hai phần, hiện lên ở hai nơi.
+ Chuyện lưỡi gươm và vỏ gươm gặp nhau ở nhà Lê Thận.
+ Chuyện gươm thần giúp Lê Lợi và nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh xâm lược.
+ Đất nước sạch bóng quân thù, gươm thần được vua yêu quý, trân trọng, luôn mang bên mình.
+ Chuyện vua đi dạo trên hồ Lục Thủy, Rùa Vàng nổi lên xin lại gươm thần; gươm thần cảm nhận được "thần khí" từ Rùa Vàng nên khi tay vua vừa rời khỏi gươm, gươm thần đã bay về phía Rùa Vàng, cả hai lặn xuống và trở về Thủy cung.
Kết bài:
+ Rùa Vàng được Đức Long Quân khen ngợi.
+ Bày tỏ mong ước được chứng kiến cuộc sống hòa bình.Xem thêm: Đóng vai một người khách đến mua cá, em hãy kề lại truyện ngụ ngôn “Treo biển”Vanmau.edu.vn | Em hãy đóng vai Rùa Vàng để kể lại truyền thuyết “Sự tích Hồ Gươm” | 261 | |
Em hãy đóng vai đôi mắt của một người học trò chăm ngoan (hoặc ham chơi) để kể chuyện về mình
Gợi ý
Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của con người, là nơi để con người nhìn nhận cuộc sống. Sẽ ra sao nếu con người không có đôi mắt? Có lẽ đó là điều không may mắn nhất của cuộc đời. Làm một đôi mắt đã là hạnh phúc nhưng được là đôi mắt của cậu học trò chăm ngoan thì với tôi không còn gì trọn vẹn hơn nữa.
Từ khi cất tiếng khóc chào đời ai cũng khen cậu bé có đôi mắt sao mà đẹp và sáng thế. Đôi mắt tròn, lúc nào cũng mở to đen láy, dường như nhìn vào đôi mắt ấy soi sáng được tất cả. Những lời khen ấy càng khiến tôi hãnh diện hơn.
Càng lớn cậu bé càng khôi ngô và điểm sáng nhất trên khuôn mặt vẫn là đôi mắt toát lên vẻ thông minh. Rồi cậu bé cũng đến tuổi đi học. Cậu trở thành cậu học trò chăm ngoan, được thầy cô bạn bè yêu quý. Cha mẹ cậu vô cùng tự hào. Còn tôi hạnh phúc vì lúc nào củng được chăm sóc rất chu đáo. Những bài học về giữ gìn sức khỏe, nhất là đôi mắt mà cậu học được ở trường đã mang về nhà và chăm sóc tôi một cách khoa học. Sáng nào cậu cũng dùng khăn sạch lau rửa đôi mắt. Suốt ngày, dù ở trường học hay ngoài đường cậu cũng luôn cẩn thận không để bụi bẩn làm đau tôi. Không bao giờ cậu dùng tay dụi mắt hay làm thứ gi rơi vào tôi. Khi học bài hay ngồi xem ti vi, vui chơi giải trí cậu chủ bao giờ cũng chú ý khoảng cách tốt nhất cho tôi. Tối đến, sau khi rửa tôi sạch sẽ bằng dòng nước mát lành, cậu chủ còn giúp tôi sảng khoái hơn sau một ngày mệt nhọc bằng thuốc tra mắt. Lúc nào tôi cũng có cảm giác an toàn tuyệt đối.Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Hành trình của bầy ong
Không chỉ được cậu chủ chăm sóc về sức khỏe, tôi còn được sống trong thế giới tinh thần tuyệt vời. Hàng ngày tôi được nhìn, được học biết bao điều thú vị. Nhờ cậu chủ chăm học nên tôi được đọc rất nhiều cuốn sách hay, có thêm nhiều tri thức. Những cuốn sách của cậu rất hợp với lứa tuổi, lúc nào cũng được cậu nâng niu. Những chùm điểm tốt hôm nào tôi cũng được chiêm ngưỡng. Nhận được ánh mắt ngưỡng mộ của các bạn, trìu mến của thầy cô, bố mẹ tôi thấy hạnh phúc thay cho cậu chủ. Đặc biệt, vào mỗi buổi sáng và buổi tối tôi được cùng cậu chủ ngắm cảnh vật xung quanh. Cảnh đẹp, khí hậu trong lành thật tốt cho chúng tôi. Những lúc đó, tôi mơ màng nhắm lại cảm nhận hơi thở của thiên nhiên. Thật thú vị. Nhất là những đêm trăng rằm, tôi được thỏa thuê ngắm chị Hằng xinh đẹp. Trăng rằm lung linh và kì ảo lắm….Cuộc sống còn rất ý nghĩa bởi tôi là phương tiện giúp cậu chủ truyền tải nhiều cảm xúc. Thường tôi được nhận những ánh mắt yêu thương, ấm áp nên lúc nào nom tôi cũng dịu dàng, dễ chịu, ai cũng muốn ngắm nhìn. Chẳng khi nào thấy cậu chủ cau mặt hay giận dữ khiến tôi trở nên xấu xí cả. Trong mắt mọi người tôi đẹp hoàn hảo.
Cuộc sống của tôi cứ thế yên bình trôi qua nếu không có một chuyện xảy ra. Hôm đó ở lớp học, trong lúc nô đùa một người bạn của cậu chủ vô tình làm tôi đau. về nhà, tôi đỏ rồi sưng lên. Tôi có đau một chút thôi nhưng lo cho cậu chủ hơn. Cậu ấy lo cho tôi quá nên cứ khóc mãi. Đến khi bác sĩ nói khóc nhiều sẽ làm mắt đau thêm thì cậu mới thôi. Điều gì tốt cho tôi cậu đều làm hết. Vì thế tôi cũng không muốn cậu chủ buồn lâu nên cố gắng chóng khỏi. Bao nhiêu thuốc và thức ăn bổ dưỡng tôi đều dùng hết, chỉ mong nhanh lành bệnh. Và mấy hôm sau khi nhận được tin vui từ bác sĩ là tôi hoàn toàn bình phục, cậu chủ sung sướng nhảy lên cười rạng rỡ, nụ cuời ấy đã vắng bóng suốt mấy hôm tôi bệnh. Tôi mừng quá, nước mắt bỗng dưng rơi xuống…Xem thêm: Tả cảnh thiên nhiên ở quê em Nếu ai cũng có tấm lòng như cậu chủ tôi thì tất cả những đôi mắt trên thế gian này thật hạnh phúc và yên bình. Giá trị của chúng tôi không đơn giản chỉ để nhìn mà còn để hiểu, để cảm nhận và làm việc để thành người có ích. Những đôi mắt cũng có cuộc sống tâm hồn đấy các bạn.
Vanmau.edu.vn | Em hãy đóng vai đôi mắt của một người học trò chăm ngoan (hoặc ham chơi) để kể chuyện về mình | 847 | |
Em hãy đọc bài thơ Gọi bạn (Định Hải) rồi kể lại thành bài văn xuôi
Gợi ý
Đề bài:
Em hãy đọc bài thơ dưới đây rồi kể lại thành bài văn xuôi.
GỌI BẠN
Từ xa xưa thuở nào
Trong rừng xanh sâu thẳm
Đôi bạn sống bên nhau
Bê vàng và dê trắng
Suối cạn cỏ héo khô
Lấy gì nuôi đôi bạn
Chờ mưa đến bao giờ
Bê vàng đi tìm cỏ
Lang thang trên đường về
Dê trắng thương bạn quá
Chạy khắp nẻo tìm Bê
Đến bây giờ Dê trắng
Vẫn gọi hoài: Bê! Bê!
ĐỊNH HẢI
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
– Giới thiệu chuyện (khổ thơ)
– Giới thiệu tình bạn giữa Bê vàng và Dê trắng trong rừng xanh.
B. THÂN BÀI:
Diễn biến câu chuyện: (khổ thơ 2 và 3)
+ Trời hạn hán: suối cạn, cỏ héo khô
+ Bê vàng đi tìm cỏ, lạc lối về. Dê trắng đi tìm bạn.
C. KẾT LUẬN:
Đến nay Dê trắng không ngừng gọi bạn.
BÀI LÀM
Ngày xưa, xưa lắm rồi, trong khu rừng nọ, có đôi bạn sống bên nhau. Khu rừng ấy rất đẹp. Những hàng cây cổ thụ cao to, tán chạm trời xanh là nơi trú ngụ của những chú chim xinh xắn, nghịch ngợm, ngày đêm líu lo ca hát. Những dòng suối trắng bạc trong veo, len lỏi khắp nơi. Tiếng róc rách như cung đàn thần tiên, đánh thức mọi chú cá đang nằm trong khe suối thức dậy để tung tăng bơi lội. Và dọc theo con suối ấy là bờ cỏ thơm, nơi đôi bạn Bê vàng và Dê tráng vẫn đi tìm thức ăn.Xem thêm: Bài viết số 2 lớp 7: Cảm nghĩ về loài cây em yêu
Bê vàng và Dê trắng là đôi bạn rất thân trong khu rừng này. Có lẽ hai bạn sẽ vui đùa, sẽ sống cùng nhau mãi mãi nếu không có câu chuyện này xảy ra.
Hôm ấy, cô Mây lang thang sang khu rừng nào chẳng biết. Chị Mưa lại ngủ suốt ngày, chỉ một mình bác Mặt Trời to đi làm. Bác Mặt Trời miệt mài với công việc. Bao nhiêu nắng bác đổ, bác dội xuống trần gian.
Thế là hạn hán. Mọi người đều khổ sở. Cả đôi bạn Bê vàng và Dê trắng của chúng ta cũng không thoát khỏi.
Bê vàng thức dậy vào buổi sớm mai. Nóng nực quá! À… mà sao… Bê vàng nhìn nhìn chung quanh. Sao dòng suối hôm nay buồn bã thế? Sao không rung lên chuỗi nhạc réo rắt, thần tiên? Hàng cây cổ thụ lại rũ lá héo khô? Tiêng hót véo von của bầy chim xinh xắn, tinh nghịch đâu rồi? Bao câu hỏi cứ vọng lên mãi, nhung Bê vàng không tài nào trả lời được.
– Dê trắng ơi! Dê trắng ơi – Bê vàng khẽ lay Dê trắng – Bạn dậy đi.
Dê trắng bừng tỉnh giấc và cũng thấy ngay khung cảnh buồn bã đang hiện rõ trước mắt mình. Đôi bạn nhìn nhau… Hạn hán rồi đấy! Bây giờ biết làm sao?
– Bê vàng à. Mình đi khắp khu rừng xem như thế nào. Chẳng lẽ…
Bê vàng gật đầu. Cả hai bạn cùng đi khắp khu rừng. Những bãi cỏ héo khô. Bờ suối cạn, trơ lớp cát bỏng dưới sâu. Nước chỉ còn đọng lại trong các khe đá vài giọt long lanh. Dê trắng nhường cho Bê vàng uống. Bê vàng lại nhường cho Dê trắng. Bạn nào cũng không chịu uống. Dê trắng thủ thỉ:Xem thêm: Viết một bức thư ngắn cho một bạn nước ngoài– Thôi, Bê vàng ạ! Còn nước thì bạn cứ uống đi, mình chẳng sao đâu.
Nhưng thương bạn ai lại làm thế bao giờ.
Ngày tháng nối tiếp nhau trôi mãi. Lá vàng đã rơi đầy mặt đất. Hàng cây trơ trụi, khắp rừng không tìm được đâu một ngọn cỏ, một chiếc lá non. Nhìn những chiếc lá úa, Bê vàng và Dê trắng nhớ lại các ngày trước.
Vào những buổi sáng, khi cây rừng còn đẫm sương đêm, hai bạn đã thức dậy, vui vẻ đuổi theo đàn bướm bay lượn rập rờn.
Bê vàng thấy thương bạn quá và cũng đói khắt lắm rồi. Cổ Bê vàng khô, đắng, người mỏi. Hôm ấy Bê vàng thức dậy trước bạn, lang thang khắp nơi mong tìm đứợc thức ăn. Nhưng rừng sâu quá đội, Bê vàng đi, đi mãi đến quên đường về. Bê vàng bật khóc, sợ hãi. Giọt nước mắt lăn dài rơi xuống. Bê vàng càng thổn thức. Bê vàng khóc vì bị lạc, vì sợ Dê trắng buồn. Thật vậy, khi thức dậy, không thấy bạn, Dê trắng hối hả đi tìm.
– Bê… Bê… ê…ê…
Dê trắng cố gọi thật to và… khóc. Dê trắng thương bạn quá. Ngày nào hai bạn còn vui đùa, tìm thức ăn cùng nhau. Thế mà bây giờ… Chỉ vì ông trời ác quá. Sao ông nỡ làm như vậy?
Dê trắng đi khắp rừng, không tài nào tìm được bạn Bê vàng. Cho đến tận bây giờ, Dê trắng cứ đi tìm, vẫn gọi mãi “Bê…ê… Bê… ê…”Xem thêm: Bằng sự tưởng tượng, em hãy kể một câu chuyện với nội dung: “Mọi vật trong cuộc sống đều có ích nhất định” Tiếng kêu nghe buồn, đầy tình yêu thương bạn bè. Tiếng gọi ấy tuy Bê vàng không nghe được để trở về, nhưng là một lời nhắn nhủ chúng ta: Hãy biết thương yêu bạn bè.
Vanmau.edu.vn | Em hãy đọc bài thơ Gọi bạn (Định Hải) rồi kể lại thành bài văn xuôi | 897 | |
Em nhận thức như thế nào về đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
* Giới thiệu về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
– Đạo đức Hồ Chí Minh là những nét đẹp về đạo đức cách mạng và đạo đức tiêu biểu trong lối sống của con người Việt Nam.
– Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là ý tưởng cách mạng, sự hi sinh cá nhân vì sự nghiệp cách mạng, ý chí chiến đấu với kẻ thù, vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để đi đến đích cuối cùng.
– Về đạo đức tiêu biểu trong lối sống của con người Việt Nam bao gồm: nhân ái, bao dung, giản dị, tiết kiệm… (Được biểu hiện qua những việc làm cụ thể, câu chuyện cảm động mà đông đảo mọi người đã biết).
* Phân tích, đánh giá:
– Cội nguồn của những nét đẹp đó là truyền thống gia đình, quê hương cộng với sự thông minh, tài năng, lí tưởng sống và trên hết là tình yêu đất nước, lòng yêu thương con người tha thiết.
– Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh tiêu biểu, sáng ngời, mọi người dân Việt Nam và bạn bè thế giới phải khâm phục.
– Đạo đức trong lốì sống làm cho mọi người thấy kính yêu và gần gũi Bác.
* Định hướng hành động:
– Đây là một phong trào tốt, hữu ích, mọi người cần phải hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả bằng những việc làm cụ thể.Xem thêm: Phân tích đoạn trích Trao Duyên– Cần làm tốt hơn nữa công tác vận động tuyên truyền, giáo dục để phong trào thực sự phát huy được tác dụng của nó.
Vanmau.edu.vn | Em nhận thức như thế nào về đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” | 296 | |
Em nói như thế nào trong những trường hợp sau
Gợi ý
Đề 1: Em hãy nói lời mời cô hiệu trưởng đến dự buổi họp mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 ở lớp em.
Bài làm
– Thưa cô, con xin thay mặt lớp mời cô đến dự buổi họp mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 với lớp 2D chúng con ạ.
– Thưa cô, lớp chúng con kính mời cô đến dự buổi họp mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam với lớp chúng con ạ.
Đề 2: Em hãy nói lời nhờ bạn khênh giúp cái ghế.
Bài làm
– Hải làm ơn khênh giúp mình cái ghế này với.
– Nam ơi, khênh giúp mình một tay nhé.
Đề 3: Em hãy nói lời đề nghị các bạn ở lại họp Sao Nhi đồng.
Bài làm
– Xin mời cả lớp mình ở lại họp Sao Nhi đồng.
– Đề nghị tất cả các bạn ở lại họp Sao Nhi đồng.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu: “Bác sống như trời đất của ta. Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa. Tự do cho mỗi đời nô lệ. Sữa để em thơ, lụa tặng già!” | Em nói như thế nào trong những trường hợp sau | 195 | |
Em rất vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên mới. Em hãy viết thư cho bạn kể về niềm vui đó
Gợi ý
Hà Nội, ngày… tháng… năm…
Diệp Trinh thân!
Dạo này cậu thế nào, công việc học hành vẫn tốt cả chứ?
Tớ thì vẫn khoẻ, học vẫn đều đều. Nhưng dạo này tớ rất vui. Trinh biết vì sao không? Tớ đã được làm chị của môt bé gái xinh xắn và đáng yêu. Bé đã được ba tháng rồi. Đôi mắt đen, tròn xoe như hạt nhãn, đôi môi be bé xinh xinh cứ đỏ như tô son, cái tay nhỏ xíu nhưng rất mềm của bé khiến tớ rất thích. Lúc nào tớ cũng quanh quẩn chơi với em. Ban đầu lạ, bé hay khóc, nhưng bây giờ bé ngoan lắm. Bé biết a a nói chuyện với tớ rồi đấy. Tớ mà trêu thì cứ cười khanh khách, dễ thương ghê. Sau này lớn lên bé nhất định sẽ rất xinh đẹp và thông minh. Khi nào cậu rảnh nhớ ghé nhà tớ chơi thăm tớ và bé Bi nhé! Chị em tớ sẽ luôn chào đón cậu.
Tớ phải dừng bút đây. Chúc cậu mạnh khoẻ và học giỏi.
Bạn gái
Hồng Anh
Nguyễn Thị Hồng Anh
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Giới thiệu trò chơi Rồng rắn lên mây | Em rất vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên mới. Em hãy viết thư cho bạn kể về niềm vui đó | 217 | |
Em rất yêu ngôi nhà của mình bởi đó là tổ ấm là hạnh phúc được sống trong tình yêu thương của ông bà, cha mẹ, anh chị em. Hãy tả lại ngôi nhà đó của em.
Hướng dẫn
Không biết bố mẹ em đã xây cất ngôi nhà này được bao lâu rồi, em chỉ biết được rằng, em đã sinh ra và lớn lên trong ngôi nhà này cùng chị em, sống trong vòng tay âu yếm của bố mẹ từ nhỏ cho đến bây giờ.
Đó là một ngôi nhà được xây cất theo phong cách hiện đại pha trộn sắc thái cổ kính. Ngôi nhà một lầu, tọa lạc trên một khu đất cao ráo thuộc quận Gò vấp, gần sân bay Tân Sân Nhất. Chiều ngang của ngôi nhà chừng bốn thước rưỡi, chiều dài độ hai mươi thước, lầu suốt. Mặc dầu gia đình em chỉ có bốn người: Bố mẹ và hai chị em em. Bố nói: “Cất rộng như thế này là để phòng khi ông bà, chú bác, cậu dì và những người bạn thân quen đến chơi có chỗ nghỉ ngơi”.
Dáng dấp ngôi nhà vừa mang tính cố kính vừa pha phong cách hiện đại nên rất hấp dẫn. Ai đến đây cũng khen ngôi nhà em đẹp và sáng sủa, vừa gọn lại vừa xinh, phù hợp với kiểu cấu trúc nhà cửa bây giờ.
Ở phía dưới gồm có bốn phòng: phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn và một khoảng trông chừng ba mét làm bể nước và phơi quần áo. Bố mẹ em ngủ ở tầng trệt. Đến giữa nhà là một cái cầu thang đúc, rộng khoảng một thước dẫn lên lầu. Phía trên chia làm ba phòng và một sân thượng để những chậu kiểng quí. Mỗi chị em sinh hoạt, nghỉ ngơi một phòng. Còn một phòng nữa để trống dành cho khách. Nền nhà được lát bằng thứ gạch bông xuất khẩu của hãng Đồng Tâm nổi tiếng. Bố chọn màu trắng có vân hoa lát suốt từ ngoài vào trong. Màu sắc không cầu kì nhưng lại rất sáng. Hình như sự phản chiếu của màu gạch kết hợp với màu sơn xanh lơ của tường, tạo nên cái không gian trong từng phòng cái cảm giác rộng, thoáng mát, thật dễ chịu.
Tại phòng khách nơi đặt tủ thờ ông bà tổ tiên cao khoảng hai thước, rộng một thước sáu mươi, mang dáng dấp một cái tủ kiếng hơn là tủ thờ. Bố bảo: “Mình phải làm một cái gì đó mới hơn thế hệ các cụ ngày xưa. Không chạm trổ cầu kì, đơn giản hiện đại nhưng vẫn tôn nghiêm. Bộ ghê sa lông bằng nệm mút màu nâu có vân hoa được đặt ngay giữa phòng khách trông rất lịch sự. Hàng ngày, mỗi khi học bài xong, em thường chạy xuống tầng trệt, lây chối lông gà quét nhẹ lên mặt ghế, rồi nhẹ nhàng gieo mình xuống mặt nệm thư giãn đầu óc, thật là tuyệt vời.
Ngôi nhà của em là vậy đấy. Nó gắn bó với em như máu thịt. Đi đâu một vài ngày, dù thích thú bao nhiêu, em cũng luôn nghĩ về ngôi nhà của mình. Đó là tổ ấm là hạnh phúc của gia đình em.
Xem thêm: Với nhan đề “Hoa hậu nhặt rác và dòng nước thải từ Vê-đan” báo Tuổi trẻ Online (Thứ hai, ngày 15 tháng 9 năm 2008) có đoạn: “Ngẫu... trên biển cần Giờ”. Dòng tin trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì | Em rất yêu ngôi nhà của mình bởi đó là tổ ấm là hạnh phúc được sống trong tình yêu thương của ông bà, cha mẹ, anh chị em. Hãy tả lại ngôi nhà đó của em. | 594 | |
Em sẽ nói gì trong những trường hợp sau đây
Gợi ý
Đề 1: Em sẽ nói gì trong trường hợp bạn đến thăm nhà em. Em mở cửa và mời bạn vào chơi.
Bài làm
– Chào Lan, mời cậu vào nhà tớ chơi!
– Hoa đấy à? Cậu vào nhà đi!
Đề 2: Em sẽ nói gì trong trường hợp em thích một bài hát mà bạn đã thuộc. Em nhờ bạn chép lại cho mình.
Bài làm
– Linh à, cậu chép giùm cho tớ bài hát "Đi cấy" nhé!
– Ôi, tớ thích bài hát này lắm. Cậu làm ơn chép giùm tớ với.
Đề 3: Em sẽ nói gì trong trường hợp bạn ngồi bên cạnh nói chuyện trong giờ học. Em yêu cầu (đề nghị) bạn giữ trật tự để nghe cô giáo giảng bài.
Bài làm
– Cô đang giảng bài, cậu đừng nói chuyện nữa nhé.
– Hương ơi, trật tự đi! Để khi nào ra chơi mình nói tiếp nhé!
– Bạn nói chuyện làm tớ không nghe rõ lời cô giảng. Thôi để đến giờ chơi rồi nói nhé.
Đề 4: Em sẽ nói gì trong trường hợp bạn hướng dẫn em gấp chiếc thuyền giấy.
Bài làm
– Cảm ơn bạn nhé!
– Cảm ơn bạn, nhờ có bạn mình đã biết gấp thuyền rồi đây này!
– Xem chiếc thuyền giấy mình gấp đẹp không này, nhờ có cậu đấy! Cảm ơn nhiều nhé!
Đề 5: Em sẽ nói gì trong trường hợp em làm rơi chiếc bút của bạn.Xem thêm: Em đã được học rất nhiều cô giáo và có những kỷ niệm đẹp, em hãy kể lại câu chuyện đóBài làm
– Xin lỗi bạn nhé!
– Xin lỗi cậu, mình vô ý quá!
– May mà cái bút không hỏng, mình nhỡ tay, xin lỗi bạn!
Đề 6: Em sẽ nói gì trong trường hợp em mượn sách của bạn và trả không đúng hẹn.
Bài làm
– Xin lỗi bạn, mình quên mất ngày hẹn trả cho bạn.
– Xin lỗi bạn nhé, mình đọc chậm quá!
– Mình xin lỗi vì không đúng hẹn, mình có làm phiền bạn không?
Đề 7: Em sẽ nói gì trong trường hợp khách đến chơi nhà em, biết em học tập tốt, chúc mừng em.
Bài làm
– Dạ, cháu cảm ơn bác. Cháu còn phải cố gắng nhiều hơn nữa ạ.
– Cháu cảm ơn cô. Cháu cũng chưa giỏi lắm đâu ạ.
– Cháu cảm ơn bác. Cháu sẽ cố gắng nhiều hơn.
Đề 8: Em sẽ nói gì khi nhờ mẹ mua giúp em một tấm thiệp chúc mừng cô giáo (thầy giáo) nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11.
Bài làm
– Mẹ ơi, mẹ mua giúp con một tấm thiệp chúc mừng cô giáo nhân ngày 20-11 nhé!
– Mẹ ơi, tối nay mẹ mua cho con một tấm thiệp chúc mừng cô giáo nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11.
Đề 9: Em phụ trách phần văn nghệ trong buổi liên hoan của lớp mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam. Em mời các bạn hát (hoặc múa, chơi đàn, kể chuyện…). Em sẽ nói gì?Xem thêm: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ngợi ca lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trênBài làm
– Tôi xin mời bạn Mai Lan sẽ thay mặt lớp lên hát tặng thầy, cô bài hát "Mẹ của em ở trường".
– Sau đây, tôi xin giới thiệu một tiết mục múa đặc sắc sẽ được các bạn tổ 1 dành tặng các thầy cô nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam.
Đề 10: Trong giờ học, cô giáo (hay thầy giáo) đặt câu hỏi, nhưng em chưa nghe rõ hoặc chưa hiểu rõ. Em sẽ nói gì?
Bài làm
– Thưa cô, xin cô nhắc lại giúp em câu hỏi vừa rồi ạ!
– Thưa cô, em chưa nghe rõ câu hỏi. Cô có thể nhắc lại giúp em được không ạ?
– Thưa thầy, xin thầy nhắc lại để con nghe rõ câu hỏi vừa rồi của thầy ạ.
Vanmau.edu.vn | Em sẽ nói gì trong những trường hợp sau đây | 666 | |
Em sẽ đáp lời như thế nào khi được nhờ giúp những công việc sau
Gợi ý
Đề 1: Em sẽ đáp lời như thế nào khi bà bảo em giúp bà xâu kim.
Bài làm
– Vâng, bà đưa cháu xâu cho ạ.
– Dạ vâng, bà chờ cháu một chút ạ.
Đề 2: Em sẽ đáp lời như thế nào khi chị bảo em giúp chị nhặt rau nhưng em chưa làm bài xong.
Bài làm
– Chị chờ em một lát nhé. Khi nào làm xong bài em sẽ giúp chị.
– Chị ơi, để em làm nốt bài tập này rồi em giúp chị nhé!
Đề 3: Em sẽ đáp lời như thế nào khi một bạn ở lớp nhờ em giúp bạn làm bài trong giờ kiểm tra.
Bài làm
– Cậu cố tự làm đi, mình không thế làm bài hộ cậu được.
– Bạn thông cảm nhé. Mình không thế giúp bạn việc này được đâu.
Đề 4: Em sẽ đáp lời như thế nào khi bạn mượn em cái gọt bút chì.
Bài làm
– Cậu cứ dùng đi.
– Chờ mình một chút nhé!
– Tiếc quá, mình bị mất từ mấy hôm nay rồi.
– Ôi, tiếc quá. Hôm nay, mình lại không mang rồi.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Vẻ đẹp nhân cách Tú Xương qua các bài thơ mà em biết | Em sẽ đáp lời như thế nào khi được nhờ giúp những công việc sau | 210 | |
Em thích con chó nhà em. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó
Gợi ý
Nhà em có một chú chó tên là Milu. Milu có bộ lông màu vàng và đen rất mượt. Cái mặt hóm hỉnh, tỏ rõ nó là chú chó tinh nghịch. Nhờ có đôi mắt tinh và đôi tai rất thính nên Milu có thể bắt được chuột đấy. Chú rất thích chạy nhảy và nô đùa với mọi người và các chú chó nhà hàng xóm. Mọi người trong nhà, ai cũng yêu quý Milu, riêng em cảm thấy chú như một thành viên trong gia đình mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Từ câu châm ngôn: ‘Thà thắp lên một ngọn lửa nhỏ còn hơn chỉ ngồi than phiền bóng tối’, anh (chị) hãy viết một bài văn dài ngắn tuỳ ý, tên bài tự đặt, kiểu bài tuỳ chọn. | Em thích con chó nhà em. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó | 142 | |
Em thích con heo con mẹ mới mua về. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó
Gợi ý
Tháng trước, mẹ em mua về một chú heo con rất xinh xắn, bây giờ, chú heo con đã to bằng cái phích nước rồi. Toàn thân chú có màu trắng hồng, lông như những sợi cước bé xíu, trắng mịn. Cái mõm ngắn tũn có hai lỗ mũi rất to, đôi tai chú lúc nào cũng vểnh lên. Không giống với mẹ, chú heo này có cái bụng thon dài, bốn chân cao và đuôi luôn ngoe nguẩy. Mỗi khi mẹ em bưng chậu cám ra, chú lại chạy ngay đến sục mõm vào ăn, vừa ăn vừa kêu ụt ịt và vẫy đuôi thích thú. Em rất yêu chú heo này, em se giúp mẹ chăm sóc để cho chú ta mau lớn.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh con đường mòn phân chia ranh Giới hai bên nghĩa địa trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn | Em thích con heo con mẹ mới mua về. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó | 169 | |
Em thích một con khỉ trong công viên. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó
Gợi ý
Chủ nhật vừa rồi bố con em đến chơi ở công viên Thủ Lệ, em rất thích ngắm nhìn chú khỉ vàng mới sinh ở đó. Chao ôi, nó mới đáng yêu làm sao! Bộ lông vàng mượt, đôi mắt đen láy luôn mở to như ngơ ngác. Cái chân, cái tay bé tí xíu mà đã thoăn thoăn thoắt trèo từ cành này sang cành khác, có lúc lại đánh đu lơ lửng trên không. Em thích chú ta lắm, em nhìn ngắm chú mãi không thôi.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả con vật mà em yêu thích (con khỉ) | Em thích một con khỉ trong công viên. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó | 114 | |
Em thích nhân vật nào nhất trong truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh”? Hãy thử coi mình là nhân vật ấy và kể lại câu chuyện nói trên.
Gợi ý
Xin chào các em. Các em có biết tôi là ai không. Nếu không thì anh xin được phép tự giới thiệu: anh là thần núi Tản Viên. Được bạn bè và người thân gọi là Sơn Tinh. Chúng ta xưng hô anh em có được không? Để cho thân thiết hơn đấy mà. Mục đích hôm nay anh đến đây là để tái hiện lại sự việc anh đi cầu hôn chị Mị Nương.
Chắc các em cũng biết lâu nay anh quen sống ở rừng sâu, núi cao hiểm trở. Quanh năm chỉ có cây cối, hoa lá, đá, suối và thác làm bạn. Hôm đó đẹp trời nên anh đi cưỡi ngựa bắn cung. Thế là tình cờ nghe được cuộc đôi thoại của hai bác tiều phu đang đốt củi bên gốc đa già. Họ nói:
– Ở thành Phong Châu, vua Hùng Vương thứ mười tám muốn kén chồng cho con là Mị Nương nên đã treo bảng báo tin cho mọi người gần xa được biết. Nghe nói cô công chúa ây xinh đẹp như hoa nở giữa xuân vậy. Nghe vậy anh liền phi ngựa đến kinh thành ngay. Một là yết kiến vua, hai là cầu hôn nàng Mị Nương và anh được vua cho truyền vào gặp mặt. Cùng lúc đó lại xuất hiện một chàng râu ria quăn xanh rì. Tự xưng là con của Long Vương dưới biển. Mệnh danh là thần nước tên gọi là Thủy Tinh. Khoác lác nói to:Xem thêm: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên – Tâu bệ hạ hôm nay thần đến đây chỉ vì mục đích là cầu hôn nàng Mị Nương. Mong bệ hạ chấp thuận. Anh phản đối, liền tâu:
– Tâu bệ hạ không thể chấp nhận yêu cầu của chàng ta vì thần đến trước và ngỏ ý trước hơn chàng ấy.
Các em biết không anh và chàng ta cãi vã quá trời làm cho nhà vua phân vân khó xử vô cùng. Cuối cùng vua phán, bảo anh và chàng trai kia về nhà lo đủ sính lễ mới tới cầu hôn. Vua nhấn mạnh sính lễ gồm:
– Một trăm ván cơm nếp, hai trăm thẹp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Ai đem đến trước thì được rước dâu.
Vua phán xong anh lập tức lên ngựa phi thẳng về núi để lo đồ sính lễ. Vì nhừng thứ ấy vốn có ở chỗ anh sinh sống nên anh tìm rất mau. Hôm sau trời vừa tờ mờ sáng là anh lập tức đem sính lễ đến cầu hôn ngay. Vua đồng ý và anh được phép rước dâu về núi. Nhưng ngờ đâu, đi khoảng nửa đường thì anh bị quân của Thủy Tinh đuổi theo. Hắn khăng khăng bảo anh giao trả Mị Nương. Anh không đồng ý, hắn liền hô mưa gọi gió, dâng nước cao sóng lớn để đánh anh. Anh liền chống trả quyết liệt, băng cách đọc câu thần chú:
– Hời các tảng đá lớn, hỡi những người bạn của ta hãy đến đây để chống lại kẻ thù.Xem thêm: Top 10 website những bài văn mẫu hay lớp 7 mới nhất Anh vừa nói dứt lời thì những tảng đá lớn bốc lên tụ lại một chỗ và anh dùng nhiều phép lạ dựng những tảng đá lên cao thành một bức tường để ngân dòng nước của Thủy Tinh. Hắn càng tức tối và làm cho nước dâng cao lên, mưa to gió lớn hơn làm rung chuyển cả bầu trời. Nhưng không thể qua nổi bức tường đá của anh. Anh và chàng ta đánh nhau mấy tháng ròng rã cuối cùng hắn kiệt sức, binh lính hao tổn nhiều. Lớp thì bị thương, lớp thì hy sinh. Thừa biết không thể thắng nổi anh nên chàng ta đành lui quân về thủy cung.
Vậy là anh đã thắng chàng ta. Nhưng thù cũ vẫn không nguôi nên hàng năm chàng ta vẫn tìm anh để trả thù riêng. Câu chuyện anh kể hết rồi. Chào các em, hẹn gặp lại vào dịp sau.
Vanmau.edu.vn | Em thích nhân vật nào nhất trong truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh”_ Hãy thử coi mình là nhân vật ấy và kể lại câu chuyện nói trên. | 747 | |
Em thường xem các buổi ca nhạc trên sân khấu hoặc màn ảnh nhỏ. Hãy tả lại một ca sĩ đang biểu diễn bài hát mà em thích.
Hướng dẫn
Đang ngồi chơi, bỗng em nghe thấy tiếng giới thiệu trên ti vi nhà mình: “Các bạn thân mến, chương trình ca nhạc hôm nay, ca sĩ Trần Tiến sẽ biểu diễn bài Mặt trời bé con”. Em vội bật dậy, chạy lên xem. Hay quá! Bài này em rất thích mà!
Em chăm chú nhìn lên màn ảnh nhỏ. Chú Trần Tiến ôm cây đàn ghi-ta nhanh nhẹn bước ra sân khấu. Em hồi hộp chờ đợi. Chú ca sĩ gảy đàn, điệu nhạc quen thuộc vọng vào tai em. Một giọng hát trầm trầm vang lên: “Ngoài kia có cô bé…”. Hay quá! Chú Trần Tiến giả bộ nhìn ngó rồi lấy năm ngón tay làm mắt tròn y như trong lời hát, thật buồn cười và ngộ nghinh. Em vừa nghe vừa rung đùi hát thầm theo. Giọng chú Trần Tiến trầm xuống. Hai tay đặt trên ngực, cái đầu chú lắc lắc ve hóm hỉnh “Hạnh phúc quá đơn sơ mà tôi đâu có ngờ…”. Bỗng chú hát cao lên, mắt nheo nheo: “Trời mưa quá em ơi…”. Thật là vui nhộn, em vỗ tay bom bốp kèm theo lời tán thưởng: Tuyệt thật! Tuyệt thật! Nhìn cái miệng chu cười, hai mép nhếch rộng ra thật tươi, thật thoải mái. Đang hát vui như vậy, đột ngột chú gập người lại, mặt nhăn nhăn, nhó nhó, vẻ thương tiếc. Chú hạ giọng: “Bài ca ướt mất rồi, còn đâu?” Em reo lên: “Tài quá' Không chê vào đâu được!”. Cái miệng rộng của chú luôn xuất hiện những nụ cười hóm hỉnh. Đôi mắt chú mở to, nhịp điệu nhanh và vui nhộn khi đến đoạn: “La la lá, là la la..”. Vừa đánh đàn chú vừa đi lại trên sân khấu, mắt nhìn về xa xăm, thỉnh thoảng chú vuốt mái tóc điểm bạc, hai khóe miệng nhếch rộng ra hai bên làm cho nụ cười thêm rạng rỡ, tinh nghịch.
Thôi! Thế là bài hát chấm dứt rồi, em tiếc ngẩn tiếc ngơ, chỉ muốn chú xuất hiện thêm ít phút nữa để được tận hưởng cái vui nhộn và cái hóm hỉnh của bài ca mà em thích.
Bài văn tả ca sĩ Mỹ Tâm nè các bạn
Đang ngồi chơi, bỗng em nghe thấy lời giới thiệu " Chào các bạn! Mở đầu chương trình sẽ là giọng ca trong trẻo của nữ ca sĩ Mỹ Tâm, các bạn hãy chú ý đón xem nhé". Em vội vàng chạy lên gác, bật ti vi xem. Bao nhiêu tiếng hò reo, cổ vũ nhiệt tình của khán giả thật rộn ràng, sôi động.
Em chăm chú nhìn lên màn hình. Cô Mỹ Tâm xuất hiện trong bộ váy trắng có kim tuyến óng ánh, cùng với cây đàn ghi ta, rất hợp với nội dung bài hát. Dáng người nhỏ nhắn. Khuôn mặt vui tươi, rạng rỡ dưới ánh đèn màu của sân khấu. Mái tóc dài hơi xoăn tự nhiên, ánh vàng được buông xõa xuống ngang lưng. Cô đội chiếc mũ nồi hơi lệch ở trên đầu trông thật xinh xắn. Cô ngồi trên chiếc ghế ghỗ, gảy cây đàn ghita, và cât tiếng hát: " Tôi có cây đàn ghita…." Vẫn điệu nhạc, điệu hát quen thuộc vọng vào tai em. Giọng cô lúc trầm bổng, lúc ngân nga như đưa mọi người đến một thế giới âm nhạc tuyệt đẹp. Ánh mắt trong sáng, đầy tự tin nhìn về phía khán giả. Nội dung bài hát khá giản dị và có phần vui nhộn: " la lá la là là la, đời tôi có hay….." Không ai có thể hát hay bài này bằng cô Mỹ Tâm. Ôi! hay quá! Em vỗ tay đồm độp như mưa. Hát hết lời một cô đứng dậy, đi đi lại lại giao lưu cùng khán giả. Em và rất nhiều người khác còn hát thầm theo cô. Đoạn cuối, cô hát rất hay, khiến nhiều người phải nhún nhảy thích thú. Cái miệng chúm chím, đỏ chót nở một nụ cười tươi rạng rỡ, để lộ hàm răng trắng bóng, đều như ngọc trông rất duyên. Cô hát cao dần lên, ai cũng tưởng như mình đang bay đến tận trời xanh. Nghe nhạc dạo một lát để chuyển sang đoạn hai, từng nốt nhạc, từng tiếng trống vang rộn lên. Em đến gần ti vi, mở to tiếng hơn: " la lá la la, cây đàn ghita….." Ôi, chán quá, bài hát đã xong rồi! Lúc đó, em ngẩn ngơ, chỉ muốn cô hát thêm mấy bài nữa cho vui. Trên ti vi tiếng vỗ tay ào ào, tiếng huýt sáo của cả hội trường vang lên ầm ĩ. Những bó hoa xinh đẹp của các bạn trẻ hâm mộ được mang lên tặng cô. Cô cười tươi, cảm ơn các quí vị khán giả.
Xem thêm: Kể một kỉ niệm về chiếc xe đạp của tôi.
Với bài hát mà cô vừa biểu diễn, cô đã mang lại niềm vui cho bao nhiêu người. Em mong cô sẽ thành công trên con đường âm nhạc đó.
Thêm một bài văn hay nữa về ca sĩ Mĩ Tâm biểu diễn tại Hồ Gươm
Chủ nhật, em được bố mẹ cho đi chơi chợ đêm. Chợ được trang trí khá đẹp mắt. Ra Hồ Gươm, em bỗng thấy một sân khấu ngoài trời dán áp phích: "Buổi biểu diễn của ca sĩ Mĩ Tâm".
Không khí buổi biểu diễn thật sôi động. Sân khấu lớn được trang hoàng lộng lẫy và lung linh màu sắc. Phía dưới sân khấu, khán giả ngồi chật ních tưởng như không còn cả một chỗ đứng. Tuy phải giành nhau từng chỗ ngồi nhưng họ vẫn vui vẻ. Dường như để được xem Mĩ Tâm biểu diễn, mọi người không quan tâm tới một điều gì cả. Buổi biểu diễn bắt đầu. Không gian ồn ào lúc trước đã được thay bằng những điệu nhạc du dương. Từ sau tấm màn đỏ chói, cô ca sĩ trẻ bước ra sân khấu, vẻ mặt tươi cười chào khán giả. Âm thanh bài hát "Cây đàn sinh viên" vang lên thật tươi vui. Mĩ Tâm thướt tha trong tà áo dài trắng muốt. Với mái tóc được tết thành hai bím, trông Mĩ Tâm như một cô sinh viên ngây thơ. Cô cất lên giọng hát trong sáng, hồn nhiên của tuổi học trò. Điệu hát lúc trầm, lúc bổng khiến người ta nhớ lại thời sinh viên. Trên sân khấu, cô sinh viên thả hồn trôi theo bài hát. Ca sĩ Mĩ Tâm bước đi uyển chuyển, nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng, cô bước về một góc sân khấu hay xuống khán đài. Đến đâu, mọi người cũng hò hét, cuồng nhiệt hát theo cô và giơ cao băng rôn:"Mĩ Tâm là số một". Cả buổi tối hôm ấy, cô hát hết mình. Cô như không thấy mệt mỏi khi đem giọng ca tuyệt vời của mình phục vụ "fan" hâm mộ. Phía dưới khán đài, khán giả cổ vũ hết mình. Khán giả cảm thấy thực sự hạnh phúc khi được thưởng thức giọng hát ấm áp của Mĩ Tâm.
Ôi, sao mà nhanh vậy. Bài hát đã kết thúc. Mĩ Tâm tươi cười chào khán giả và đón những bó hoa từ tay khán giả. Nghe những tràng pháo tay không ngớt của "fan hâm mộ, em biết tình cảm và sự hâm mộ của khán giả dành cho Mĩ Tâm nồng nhiệt đến mức nào.
Thêm bài văn hay về ca sĩ Ngọc Ánh
Trong làng ca sĩ trẻ của Việt Nam, ai cũng có một phong cách, tài năng riêng. Đan Trường thì cuồng nhiệt, mê say. Mỹ Nhung duyên dáng, thướt tha… Nhưng ca sĩ mà tôi yêu thích nhất vẫn là ca sĩ Ngọc Ánh bởi cô có một phong cách rất riêng, rất Ngọc Ánh.
Tôi rất yêu thích ca sĩ Ngọc Ánh. Không chỉ riêng tôi hâm mộ chị đâu nhé mà tất cả các bạn trong gái lớp tôi ai cũng thích chị và muốn được xem chị biểu diễn. Mỗi khi nghe thấy tên chị trên ti vi là tôi lại thu xếp công việc và chạy ngay đến chiếc ti vi nhỏ để xem chị biểu diễn. Nhất là hôm liên hoan tiếng hát văn nghệ toàn quốc vừa rồi. Ôi thật là tuyệt!
Năm nay chị Ngọc Ánh ngoài 20 tuổi. Chị có dáng người dong dỏng cao cùng với chiếc đầm hoa lóng lánh kim tuyến trông chị thật xinh đẹp. KHuân mặt của chị được trang điểm một cách rất hài hòa làm cho chị sắc sảo hơn. Mái tóc xõa ngang vai nhìn chị thật duyên dáng. Đôi mắt chị lóng la long lanh luôn ánh lên sự bình tĩnh, tự tin mà ít ai có được. Chiếc mũi dọc dừa thanh tú cộng với cái miệng rất tươi, hay nói hay cười cùng với làn môi tươi đỏ. Chao ôi, chị cất tiếng hát thật trong trẻo và tha thiết làm sao! Một tay chị cầm mi-cờ-rô, tay kia múa phụ họa theo lời của bài hát thật đẹp và độc đáo. Mỗi lúc chị lại đi xuống, bát tay với tùng khán giả làm cho hội trường thật sôi động.
Tôi luôn khao khát được một lần xem chị biểu diễn trên sân khấu bằng sương bằng thịt để được bát tay chị và nói: " Chị Ngọc Ánh ơi, em yêu và hâm mộ chị nhiều lắm!".
Xem thêm: Em hãy tả con chó mà em từng trông thấy hay nhất | Em thường xem các buổi ca nhạc trên sân khấu hoặc màn ảnh nhỏ. Hãy tả lại một ca sĩ đang biểu diễn bài hát mà em thích. | 1,623 | |
Em thấy trên tivi có thông báo quyên góp từ thiện ủng hộ các bạn học sinh nghèo vượt khó, em muốn ủng hộ số tiền tiết kiệm của mình trước khi nói bố mẹ em trao đổi với anh chị
Gợi ý
– Em: Chị Lan ơi! Em có chuyện muốn hỏi ý kiến chị
– Chị: Có chuyện gì? Em cứ hỏi đi!
– Em: Em thấy mấy hôm nay ở trên ti vi có thông báo về việc quyên góp từ thiện ủng hộ các bạn học sinh nghèo vượt khó. Em thấy các bạn ấy rất đáng khâm phục chị ạ! Gia đình nghèo ơi là nghèo, không có tiền cho các bạn ấy ăn học nhưng các bạn vẫn cố gắng học giỏi, lại còn biết giúp đỡ gia đình nữa. Em tuy không có nhiều tiền, chỉ có chút tiền mừng tuổi đầu năm. Em định quyên góp ủng hộ cho các bạn. Chị thấy có được không?
– Chị: Em thật là một cô bé ngoan và biết thương người. Chị nghĩ ý kiến của em rất tốt. Có lẽ chị cũng phải học theo em ủng hộ cho các bạn ấy.
– Em: Nhưng em chưa dám hỏi ý kiến bố mẹ. Em sợ bố mẹ không
đồng ý.
– Chị: Em yên tâm, cứ nói đi. Có gì chị sẽ nói giúp cho. Mà chị nghĩ bố mẹ sẽ đồng ý ngay thôi. Thậm chí sẽ cho em thêm tiền ủng hộ các bạn ấy chứ!Xem thêm: Nghị luận xã hội về nghị lực sống của con người– Em: Thật không chị?
– Chị: Thật chứ sao không. Đây là một việc tốt mà.
– Em: Nếu thế thì hay quá. Em cám ơn chị nhiều.
Vanmau.edu.vn | Em thấy trên tivi có thông báo quyên góp từ thiện ủng hộ các bạn học sinh nghèo vượt khó, em muốn ủng hộ số tiền tiết kiệm của mình trước khi nói bố mẹ em trao đổi với anh chị | 285 | |
Em tưới dể chăm sóc hàng cây hè phố mới trồng. Hãy kể lại việc làm đó
Gợi ý
Hè phố nơi em ở vừa được tôn tạo lại, hai bên vỉa hè được lát gạch đều tăm tắp và những hàng cây mới vừa được trồng còn rất yếu ít. Trời ngày hè nắng to, hàng cây cứ héo dần, héo dần. Nhìn hàng cây có nguy cơ sẽ bị chết vì nắng cháy, buổi chiều mát đi học về, em lại đi xách từng xô nước tưới cho cây. Buổi sáng em cố gắng dậy sớm hơn mọi ngày và cũng đi tưới cây. Cứ như vậy một thời, gian ngắn hàng cây đã xanh tốt. Những mầm non mới nhú như đang thầm cảm ơn em. Em sung sướng ngắm nhìn chúng và thầm nói: "Tớ sẽ không để cho các bạn phải thất vọng đâu". Hàng cây bây giờ đã lớn nhiều, chẳng mấy mà sẽ cho bóng mát. Em cảm thấy rất vui vì mình đã làm được một việc có ích như vậy.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết một bức thư thể hiện tình cảm của em với người thân yêu của mình | Em tưới dể chăm sóc hàng cây hè phố mới trồng. Hãy kể lại việc làm đó | 194 | |
Em tưởng tượng và kể lại câu chuyện: Sau một buổi học, một chiếc bàn bị gãy chân than phiền với một chiếc ghế hỏng
Gợi ý
– Bác Ghế ơi!
Em đang đóng nốt cánh cửa cuối cùng, chợt có một giọng khàn khàn cất lên từ cuối phòng học. Em dừng lại lắng nghe.
– Bác Ghế ơi! Bác còn thức hay ngủ rồi đó? – Giọng nói đó lại vang lên.
Một giọng nói ngái ngủ trả lời:
– Tôi đây! Có chuyện gì thế hả bác Bàn?
Bác Bàn nhìn ra xa, ngẫm nghĩ, rồi bằng một giọng buồn buồn bắt đầu kể:
– Như bác đã biết đấy. Tôi với bác cùng ra đời một lúc lại họ hàng với nhau. Dạo ấy… – giọng bác Bàn trầm xuống – Học sinh trường này không có bàn ghế ngồi học. Các cô cậu phải ngồi chật chội hoặc phải ngồi dưới đất mà học. Nhờ sự quan tâm của trường, họ đã đóng ra chúng ta và đặt vào phòng học này đây.
Nói tới đây, bác Bàn dừng lại. Ghế giục:
– Bác cứ kể đi, tôi nghe đây mà!
Bác Bàn cất giọng kể tiếp:
– Lúc mới vào tôi và bác đều sạch sẽ, thơm mùi gỗ mới. A! Cái thầy gì ấy nhỉ?… Thầy ấy luôn dặn dò các cô, các cậu học sinh giữ gìn chúng ta, không được xô đẩy, khắc tên và giấy mực trên thân thể chúng ta. Tôi thấy các cô, cậu học sinh cứ vâng vâng dạ dạ, tôi tưởng – nào ngờ… mới hôm qua đây, cái cậu Hùng hỗn láo trèo lên mặt tôi, dẫm thình thịch, làm gãy cả chân tôi. Thế có khổ không chứ.Xem thêm: Có một câu chuyện xảy ra vào một buổi sáng cuối năm học: đó là sự ngỡ ngàng của những cô cậu điểm 9, điểm 10 chợt bắt gặp một chú điểm 2 trong căn nhà tập bài kiểm tra của cậu (cô) học sinh. Em hãy ghi lại câu chuyện đóBác Ghế lắc đầu nói:
– Thế thì có khác gì tôi. Cái cậu gì ấy nhỉ? Cái cậu mà bác mới nói ấy mà. À, ừm à! Cậu Hùng! Cũng chiều hôm qua thôi, cậu lấy tôi dùng làm vũ khi để chơi đánh nhau. Bác biết không? Tôi đau quá, vùng vẫy mãi nhưng không thoát được, cậu ấy càng ghì chặt tôi hơn. Bỗng xoàng một tiếng, tôi choáng váng cả đầu óc, thét lên rồi ngất lịm. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đau ê ẩm. Một chiếc xương chân của tôi bị gãy ra. Tôi cố lê về đây đấy, bác ạ!
Bác Bàn buồn rầu:
– Vết thương của tôi nặng quá, tôi sợ mình không qua khỏi…
Bác Ghế vội vàng:
– Ấy, ấy, bác đừng nghĩ đến chuyện đó, tôi sợ lắm.
– Tôi và bác phải thoát ra khỏi chốn này – bác Bàn thét lên.
– Tôi không đi với bác được đâu.
Bàn ôm mặt rầu rĩ:
– Sao tôi không chết đi cho rồi.
Ghế vội an ủi bạn:
– Thôi bác đừng khóc nữa. Bác khóc thế có lợi gì đâu? Nhiệm vụ của chúng ta phải ra sức phục vụ cho các cô, các cậu học sinh cơ mà!
Bàn ôm chầm lấy Ghế, vừa cảm động về tấm lòng cao thượng của Ghế, vừa ân hận về thái độ bi quan của mình. Mấy giây trôi qua, hai người bạn ấy nhìn nhau bằng ánh mắt đầy nghị lực: Ngày mai chúng ta sẽ đề nghị nhà trường đưa đi chữa bệnh. Chúng ta sẽ lên tiếng khuyên các cô, cậu học sinh giữ gìn của công, phải có ý thức mới được. Nhất định sẽ là như vậy, sẽ là như vậy”.
Vừa lúc đó, đội Sao đỏ của trường đi tới. Em vội báo cáo về việc bàn và ghế bị hư hỏng cần được đi chữa bệnh. Hình như Bàn và Ghế cũng nghe được câu nói đó, quên cả đau nhảy lên vì vui sướng.Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương- văn lớp 7Vanmau.edu.vn | Em tưởng tượng và kể lại câu chuyện_ Sau một buổi học, một chiếc bàn bị gãy chân than phiền với một chiếc ghế hỏng | 681 | |
Em viết đơn xin được cấp thẻ đọc sách trong thư viện của trường hoặc xã (phường)
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày….. tháng……. năm……
ĐƠN XIN CÁP THẺ ĐỌC SÁCH
Kính gửi: Ban Quản lí Thư viện, TrườngTrung học cơ sở Tam Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
Em tên là: Nguyễn Văn Tùng
Học sinh lóp: 7B – Trường THCS Tam Hiệp
Hôm nay em viết đơn này xin trình bày một việc như sau:
Để phục vụ cho việc học tập trên lớp cũng như nâng cao trình độ học vấn của mình, ngoài việc đọc sách giáo khoa em muốn tìm đọc thêm một số sách tham khảo khác. Vì vậy, em viết đơn này kính mong Ban Quản lí Thư viện Trường THCS Tam Hiệp cấp cho em thẻ đọc sách tại thư viện của nhà trường.
Kính mong Ban Quản lí Thư viện chấp nhận nguyện vọng của em.
Em hứa sẽ thực hiện đúng nội quy của thư viện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Học sinh
Tùng
Nguyễn Văn Tùng
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Em hãy tả một chú lợn hay ăn chóng lớn. | Em viết đơn xin được cấp thẻ đọc sách trong thư viện của trường hoặc xã (phường) | 187 | |
Em và bố trong gia đình cùng đọc một truyện nói về một người có nghị lực, ý chí vươn lên (Văn hay chữ tốt). Em trao đổi với bố về tính cách đáng khâm phục của nhân vật đó
Gợi ý
Bố: Con đang đọc truyện gì đây?
Con: Dạ thưa bố, con đang đọc truyện Văn hay chữ tốt ạ!
Bố: Câu chuyện nói về ông Cao Bá Quát phải không? Thế đọc truyện này con có cảm nhận như thế nào? Nói bố nghe xem?
Con: Con thấy Cao Bá Quát quả là một người có ý chí vươn lên. Ông biết mình viết chữ xấu nên đã cần cù luyện tập rất chăm chỉ. Hầu như cứ lúc rảnh rỗi ông lại tập viết. Khi chữ viết đã đẹp hơn ông cũng không vội tự kiêu mà còn đi mượn những cuốn sách chữ đẹp về làm mẫu để học theo. Ý chí của ông thật đáng để mọi người học tập.
Bố: Ô! Con bố giỏi quá! Con biết nói thế bố rất vui. Thế ngoài việc khâm phục Cao Bá Quát con còn có suy nghĩ gì nữa không?
Con: Dạ! Thưa bố, con nhận thấy chữ con vẫn chưa thực sự đẹp ạ! Con sẽ như Cao Bá Quát ngày xưa chăm chỉ tập viết cho chữ thật đẹp, thật tròn và viết thật nhanh nữa. Con nghĩ thế có đúng không ạ!
Bố: Rất đúng con ạ! Bố tin là con sẽ làm được. Cố lên con trai.Xem thêm: Kể lại câu chuyện Giọng quê hươngVanmau.edu.vn | Em và bố trong gia đình cùng đọc một truyện nói về một người có nghị lực, ý chí vươn lên (Văn hay chữ tốt). Em trao đổi với bố về tính cách đáng khâm phục của nhân vật đó | 256 | |
Em và người thân trong gia đình cùng đọc truyện về một người có nghị lực, có ý chí vươn lên. Em trao đổi với người thân về tính cách đáng khâm phục của nhân vật đó
Gợi ý
– Mẹ: Hôm qua, mẹ thấy con đọc truyện “Bàn chân kì diệu”. Con có thể nói cho mẹ nghe cảm nghĩ của con về anh Nguyễn Ngọc Kí không?
– Con: Con thực sự rất khâm phục anh Nguyễn Ngọc Kí. Tuy bị liệt cả hai tay như vậy mà anh vẫn có ước mơ được đi học, anh thật sự là một người giàu ý chí và nghị lực. Rất đáng quý đúng không mẹ?
– Mẹ: Đúng vậy. Con cứ nói tiếp suy nghĩ của mình đi.
– Con: Con thấy ít ai có nghị lực phi thường như anh. Không cầm bút viết bằng tay được, anh đã dùng chân tập viết trên nền đất. Dù đau, dù mỏi nhưng anh vẫn tập rất miệt mài. Chính ý chí quyết tâm, lòng say mê đó đã cảm phục cô giáo. Anh đã được đi học. Khi được đi học rồi, anh cũng rất cố gắng vượt qua bệnh tật, khó khăn, giữ vững ý chí, kiên trì luyện tập. Và cuối cùng, anh đã thành công. Cánh cửa đại học đã mở rộng đón anh. Con rất kính trọng và khâm phục ý chí phi thường của anh. Mẹ thấy con nói có đúng không?Xem thêm: Soạn bài Khao khát hiểu biết– Mẹ: Con nói rất đúng. Vậy qua tấm gương của anh con có suy nghĩ gì không
– Con: Có chứ mẹ! Con tự thấy rằng mình rất may mắn vì có đôi tay lành lặn, được đi học. Con hứa sẽ lấy anh Kí làm gương để phấn đấu học tập. Con cũng sẽ đỗ vào trường đại học để bố mẹ vui lòng.
– Mẹ: Mẹ rất vui khi con nghĩ được như vậy. Con trai của mẹ đã lớn thật rồi! Cố lên con trai. Mẹ tin là con sẽ làm được.
– Con: Con cảm ơn mẹ.
Vanmau.edu.vn | Em và người thân trong gia đình cùng đọc truyện về một người có nghị lực, có ý chí vươn lên. Em trao đổi với người thân về tính cách đáng khâm phục của nhân vật đó | 348 | |
Em đang đi trên đường thì gặp một vụ ẩu đả nghiêm trọng. Em là nhân chứng duy nhất của vụ ẩu đả đó. Hãy viết bản tường trình giúp công an xã (phường) điều tra sự việc
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hoà Bình, ngày 17 tháng 09 năm 2009
BẢN TƯỜNG TRÌNH
Về vụ ẩu đả trên đường Bình Minh
Kính gửi: Ban Công an phường Bình Minh
Tên tôi là Trần Bình Thuận, hiện là học sinh lớp 8B Trường THCS Bình Minh, trú quán tại số nhà… phường Bình Minh
Vào khoảng 18h 30′ ngày 17 tháng 09 nãm 2009, tôi đang trên đường đi học thêm về thì thấy một nhóm khoảng 4, 5 người đang cầm gậy đánh hai người khác (sau này tôi được biết đó là anh Nguyễn Vĩnh Tiến và Trần Văn Hoàng) ở khu vực Ngã Năm. Đến gần, tôi phát hiện nhóm người có những hành vi xấu kia gồm 5 thanh niên. Do trời tối, tôi không nhìn rõ mặt năm người này. Khi tôi hô "Cứu! Cứu! Đánh người!" thì nhóm thanh niên kia lên hai chiếc xe máy bỏ chạy. Nhờ đèn hậu của xe mà tôi còn nhớ rõ biển số là…. và…. Hai chiếc xe một chiếc là WaveS màu đỏ, một chiếc là Wave an pha màu bạc.
Tôi xin cam đoan những điều tôi tường trình trên đây là sự thật. Nếu sai, tôi xin chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen Người viết tường trình
Thuận
Trần Bình Thuận
Vanmau.edu.vn | Em đang đi trên đường thì gặp một vụ ẩu đả nghiêm trọng. Em là nhân chứng duy nhất của vụ ẩu đả đó. Hãy viết bản tường trình giúp công an xã (phường) điều tra sự việc | 282 | |
Em đi học nhóm, do sơ ý nên bị kẻ gian lấy mất chiếc xe đạp. Em hãy viết văn bản gửi lên Ban công an xã để các chú công an nắm được tình hình nhằm giúp em truy tìm thủ phạm
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản tường trình
Kính gửi Ban Công an xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Tên tôi là Nguyễn Thị Diệu Hương, học sinh lớp 7E Trường THCS Nam Hồng
Vào hồi 13h 00 ngày… tháng… năm…, tôi đến học nhóm tại nhà bạn Nguyễn Hồng Hương (tức gia đình bác Nguyễn Minh Hồng) tại khu cầu Lớn, xã Nam Hồng. Khi đến, tôi để xe đạp ngoài sân có khóa dây. Khoảng 30 phút sau tôi ra xe lấy sách (để ở làn xe) thì chiếc xe đã mất. Chiếc xe của tôi là loại xe mini Nhật, màu xanh ngọc, còn khá mới; trên thân xe có dán đề can hình 12 con giáp.
Nay tôi làm bản tường trình này nhằm báo cáo sự việc đã xảy ra. Rất mong Ban Công an xã giúp tôi truy tìm hung thủ tìm lại chiếc xe đã mất.
Tói xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày… tháng… năm…
Người viết bản tường trình
Nguyễn Thị Diệu Hương
(Đã kí)
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng) | Em đi học nhóm, do sơ ý nên bị kẻ gian lấy mất chiếc xe đạp. Em hãy viết văn bản gửi lên Ban công an xã để các chú công an nắm được tình hình nhằm giúp em truy tìm thủ phạm | 239 | |
Em đã chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình. Hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó.
Hướng dẫn
Miền Trung là nơi sảy ra bão lụt nhiều nhất trong tất cả các vùng trong cả nước. Mỗi trận lũ qua đi ở miền Trung đều để lại cảnh xơ xác tiêu điều, nhà cửa bị tàn phá, các phương tiện sinh sống của con người cũng bị cuốn trôi. Cứ đến mùa lũ về tôi lại có cảm giác sợ hãi trước những hậu quả nặng nề mà nó gây ra.
Khi bão đã ập đến bầu trời trở nên u tối. Gió quay cuồng, gào rít. Cây cối ngả nghiêng rồi nạp mình thành những cơn gió xoáy. Những cơn mừa ào ào đổ xuống, xối xả trên sân nhà, mái ngói, ngọn cây. Trận này chưa qua, trận khác lại kéo đến. Mưa ròng rã suốt ngày đêm. Thế rồi, nước ở sông bắt đầu dâng cao, màu nước đỏ ngầu. Nước tràn qua đê vào thôn xóm, làng mạc, thành phố. Nước ngập các con đường. Ruộng đồng chỉ một màu trắng xóa. Gió to kèm theo mưa lớn, chúng cứ tiếp nối nhau. Nước ồ ạt đổ vào các rãnh cống, kênh rạch. Nước sông sôi sục, chảy xiết, cuốn theo bao khúc gỗ từ miền ngược xa xôi. Cơn bão lũ vẫn diễn ra rất dữ dội, mọi tầng lớp nhân dân ở đây cùng các lực lương vũ trang ra sức chống đỡ. Hàng nghìn người dùng bao đất và cọc tre để chắn giữ đê, chắn giữ bờ sông, không cho sạt lở, ngăn dòng nước tràn vào thành phố, làng mạc. Tiếng rào rào bất tận của mưa, tiếng ào ào của nước chảy cùng tiếng gọi í ới của bao người đang chống lũ làm thính giác của người ta thêm mệt mỏi. Tuy vậy, họ vẫn cương quyết chống chọi với bão lũ. Nước vẫn dâng lên cao, tràn mênh mông. Từng chiếc thuyền lòa nhòa ẩn hiện trong cơn mưa bao phủ. Người dân ở gần bờ sông họ đều di dời tài sản đến nơi an toàn trước khi cơn lũ đến. Thanh niên cùng các lực lượng cứu hộ phải lênh đênh trong biển nước để làm nhiệm vụ. Từng chiếc thuyền dập dềnh sóng nước, mọi người tất bật, khẩn trương. Cơn bão lũ vẫn cứ tiếp tục, nước ở các sông ầm ầm đổ ra biển. Gió biển thổi mạnh vào đất liền, từng cơn bão dữ tiếp nhau đe dọa. Nhiều ngôi nhà bị tóc mái, bay loảng choảng. Hàng loạt ngôi nhà bị sạt móng, ngã vách. Có những ngôi nhà chỉ còn là đống gạch vụ, mặc dù nó là nơi mà mọi người phải làm từ lâu lắm mới có được. Tài sản bị bão lũ cướp đi, mạng người cũng không tránh khỏi. Trường học, bênh viện, nhà máy đều bị hư hại, khủng khiếp vô cùng đến mấy ngày liền.
Xem thêm: Những cảm nhận của em về bài "Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng" của Nguyễn Đăng Mạnh
Cơn bão lũ qua đi, làng mạc, phố phường nơi đây một màu đơn điệu, quang cảnh thật lặng lẽ trầm buồn, mọi người nhìn cảnh mất mát mà nát cả lòng, thất vọng tràn trề.
Mùa lũ đến với quê tôi thật khủng khiếp, nó tàn phá làng mạc, trường học, tài sản của dân. Đã nhiều năm nay nhân dân miền trung phải hững chịu những đợt bão lũ lạ thường. Người miền Trung chịu đựng bao nhiêu khó khăn như vậy đấy. Chúng ta cần phảỉ đoàn kết để giúp đỡ mọi người
Nguồn: | Em đã chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình. Hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó. | 616 | |
Em đã có dịp xem vô tuyến, phim ảnh báo chí, sách vở về hình ảnh một lực sĩ đang cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấy
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
1. Mở bài
Giới thiệu chung về đối tượng định tả:
+ Lực sĩ ấy tên là gì? Em nhìn thấy ở đâu? (trên ti vi, sách vở hay báo chí…).
+ Ân tượng chung của em về lực sĩ ấy.
2. Thân bài
+ Tả hình dáng của lực sĩ:
– Khoảng bao nhiêu tuổi, còn trẻ hay đã già?
– Kích thước, tầm vóc: cao to, rắn chắc, mạnh mẽ…
– Nước da: nâu bóng rất đặc biệt và ấn tượng.
– Những điểm nổi bật trên khuôn mặt khiến em ấn tượng: mái tóc, vẻ mặt cương nghị, đôi mắt…
– Những bắp thịt: nổi lên cuồn cuộn, săn chắc…
+ Tả hoạt động nâng tạ của lực sĩ:
– Hoạt động: cúi người, nhấc bổng tạ, chân khuỳnh, mở rộng ra, người cúi xuống, tay giơ cao nâng tạ trên đầu…
– Hành động nhanh nhẹn, dứt khoát…
– Nâng được tạ nặng gần trăm ki-lô-gam.
3. Kết bài
– Cảm nghĩ của em:
+ Thích thú và khâm phục
+ Rút ra bài học: muốn thành công thì phải kiên trì luyện tập và có quyết tâm cao.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bình giảng "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ | Em đã có dịp xem vô tuyến, phim ảnh báo chí, sách vở về hình ảnh một lực sĩ đang cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấy | 218 | |
Em đã có dịp đi thăm một di tích lịch sử, một phong cảnh đẹp hoặc một công trình kinh tế – văn hóa mới xây dựng. Hãy thuật lại và nói rõ cảm tưởng của em
Gợi ý
Đến nay, em vẫn nhớ mãi buổi đi chơi đầy lý thú trong dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn từ năm ngoái. Với chủ đề về nguồn, chúng em được đến thăm mảnh đất lịch sử của địa đạo Củ Chi. Sinh ra và lớn lên ở thành phố, lần đầu tiên được đi tham quan, em rất hồi hộp, chờ mong. Ngày đi đã đến, em và các bạn đến trường thật sớm.
Buổi sáng hôm ấy, trời quang đãng không gợn chút mây đen. Trước cổng trường, năm chiếc xe ca đã đậu sẵn từ lúc nào. Học sinh toàn trường nhốn nháo, náo nức chuẩn bị cho chuyến đi tham quan xa này. Không khí lớp em náo nhiệt vô cùng, mỗi người một việc. Các bạn trai thì hì hụi khiêng giỏ đựng trái cây ra xe, chao ôi cái giỏ mới to làm sao ấy, nặng nhưng ai cũng cố gắng. Các bạn gái thì lo xách các túi nhựa, bình nước, tấm bạt để trải khi cắm trại. Bạn nào cũng chuẩn bị sẵn cho mình đầy đủ mọi thứ cần thiết. Em cũng như mọi người, cũng mang theo cơm, nước, võng và đèn pin (để xuống địa đạo). Mấy phút sau, tất cả chúng em lên xe. Chiếc xe ca to lớn, chở một lớp còn rộng nên trường phân thêm mỗi xe chở gần hai lớp. Lớp chúng em ngồi chung xe với lớp Văn. Đúng bảy giờ mười lăm, đoàn xe bắt đầu khởi hành. Xe của chúng em chạy ở vị trí thứ hai. Trên đường đi, chúng em say sưa ngắm cảnh phố xá lùi dần. Xe chạy hon bon, thỉnh thoảng lại lách bên này bên kia tránh người. Mỗi lần như vậy, xe chồm lên, chúng em nghiêng ngả theo chiều xe làm các bạn nam thích thú, reo cười phấn khởi.Xem thêm: Hiện nay rất ít học sinh giỏi chọn nghề sư phạm cho tương lai của mình. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) Tiếng nói, tiếng cười hòa lẫn với âm thanh khác nhau làm cho không khí càng thêm náo nhiệt, vui nhộn. Xa ra ngoại thành, không khí trong lành hơn, gió mai mát rượi, từng đám ruộng chín vàng lùi dần…
Tám giờ, xe chúng em dừng lại ở Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Củ Chi, cả đoàn xếp thành hàng nghiêm trang đi theo cô giáo dẫn đường tuần tự vào viếng nghĩa trang. Đến đài “Tổ quốc ghi công” tất cả đứng lại, làm lễ chào cờ. Trong giây phút nghiêm trang đó chúng em tưởng niệm để tưởng nhớ đến những người đã hy sinh vì Tổ quốc.- Không khí lúc này rất trầm lắng, không gian yên ắng không một tiếng động dù chỉ là nhỏ nhất.
Viếng nghĩa trang xong, chúng em tiếp tục lên đường. Đúng mười giờ ba mươi phút, đoàn chúng em tới vùng địa đạo. Chúng em xuống xe, kiếm địa điểm để căng bạt ni lông. Một số bạn có đem võng, mắc võng vào cành cây điều rồi nằm vắt vẻo nói chuyện, ở chỗ tập trung của lớp, các bạn gái tất bật, dọn dẹp các túi đồ, chuẩn bị cho buổi ăn trưa.
Nghỉ ngơi khoảng mười lăm phút, chúng em đem cơm nắm mang theo ra ăn.. Tất cả tập trung lại một chỗ ăn uống, cười nói vui vẻ. Sau đó, tất cả nghe thầy phổ biến lịch tham quan.
Ba giờ chiều chúng em mới được tham quan địa đạo, cả lớp tập trung để đi xuống hầm đất, trên tay ai cũng cầm một cây đèn pin, đi theo chú hướng dẫn viên. Đầu tiên chúng ẹm vào căn hầm của đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Linh, không khí thật là ngột ngạt, ẩm thấp. Tất cả chúng em đều phải bật đèn lên mới thấy đường, lần đầu tiên được đi vào “lòng đất” chúng em cảm thấy thú vị lắm! Em nghĩ, nhân dân ta thật anh hùng. Nơi hầm tối này, trước đây, du kích Củ Chi đã làm quân thù khiếp sợ.Xem thêm: Truyện cổ tích “Cây tre trăm đốt” đã kết thúc bằng thắng lợi của anh Khoai nhờ có phép lạ của Bụt. Theo em, anh Khoai có xứng đáng được Bụt giúp đỡ như vậy không? Sau đó, toàn trường tập trung lại để cô Loan (cô Tổng phụ trách) tổng kết cuộc đi tham quan bổ ích này. Sau khi làm lễ xong, chúng em thu dọn lều, bạt, đồ đạc rồi ra về.
Đoàn xe chầm chậm rời khỏi khu địa đạo, tiến ra quốc lộ, rồi thẳng tiến về Thành phố Hồ Chí Minh. Ngồi trên xe, chúng em hồi tưởng lại diễn biến buổi đi chơi, ai ai cũng cảm thấy tiếc khi phải ra về. Hình ảnh làng quê Củ Chi, lũy tre, đồng ruộng và hầm địa đạo cứ chờn vờn trong em. Buổi đi chơi này đã để lại trong chúng em những kỷ niệm đẹp và sâu sắc. Em thầm cám ơn các thầy cô giáo đã tổ chức cho chúng em có một buổi đi lý thú, bổ ích. Qua đó, chúng em học hỏi thêm được nhiều điều mà trước đó chúng em chưa biết. Em biết rõ sự hy sinh của các anh giải phóng quân trước đây để làm nên chiến thắng hôm nay. Di tích lịch sử này thật quý giá! Chúng em tự hào về những tháng năm lịch sử đó. Không ai bảo ai, chúng em đều thầm nghĩ mình sẽ cố gắng hơn trong học tập để xứng đáng là con em của dân tộc anh hùng.
Vanmau.edu.vn | Em đã có dịp đi thăm một di tích lịch sử, một phong cảnh đẹp hoặc một công trình kinh tế – văn hóa mới xây dựng. Hãy thuật lại và nói rõ cảm tưởng của em | 990 | |
Em đã gặp một ông tiên trong truyện cổ tích. Hãy miêu tả lại hình dáng của ông theo trí tưởng tượng và từ đó cho cảm nghĩ của bản thân
Gợi ý
Màn đêm vẫn buông úp chụp mọi vật trong cái lòng chảo đen khổng lồ. Em vừa đắm chìm cùng vạn vật vào trong giấc ngủ đêm dài và đêm hôm ấy em đã mơ thấy một ông tiên trong truyện cổ tích "Cây tre trăm đốt", ông đã gây một tình cảm yêu quý và kính trọng trong tâm trí em.
Theo giấc mơ, thì năm nay ông cũng khoảng tám mươi tuổi. Dáng đi nhanh nhẹn, nhưng lưng đã hơi còng. Khuôn mặt phúc hậu, ông hiện ra trước mắt em trong bộ quần áo trắng, cái đai thắt lưng thêu kim tuyến, tay chống gậy trúc nhẵn bóng. Nước da hồng hào khác hẳn người thường. Mái tóc trắng búi cao, gài trâm vàng còn lất phất vài sợi tóc bạc sau gáy. Bộ râu trắng mềm như mây càng làm cho ông có vẻ hiền từ hơn. Lông mày, lông mi dày, rậm bạc như cước. Đôi mắt sáng như sao để nhận ra mọi sự hiểm ác dưới dương gian, ông luôn tươi cười để lộ ra hàm răng đen nhánh. Những bước đi khoan thai nhẹ nhàng đang đến gần một anh chàng to, cao, vạm vỡ. Điều đó làm em chú ý. Em lại gần nấp sau một bụi cây gần đó và lắng nghe, ông tiên nói: "Tại sao con khóc?", anh thưa: "ông chủ con bắt con làm lụng vất vả trong 3 năm rồi hứa gả con gái cho con mà đến nay đã hết thời hạn ông chủ lại bắt đi tìm cây tre một trăm đốt thì mới được lấy vợ". Xem thêm: Tưởng tượng em là một người sống cùng thời với nguyễn đình chiểu, tác giả đã kể lại tâm tình của mình khi viết bài Chạy Tây cho em nghe. Em hãy ghi lại câu chuyện giữa hai người.
Ông tiên nghiêm nghị hơn và có thái độ phản lại sự trâng tráo, giả dối của tên nhà giàu, ông bảo với anh "Hãy đi chặt một trăm đốt tre và hô khắc nhập, khắc nhập", ông biến đi mất. Quả đúng theo lời ông tiên anh đã có một cây tre trăm đốt xanh mượt óng ả. Nhưng vì cây tre cao quá mà giờ đưa dâu lại sắp đến nên anh lại ngồi khóc. Thấy vậy ông tiên lại hiện ra và hỏi anh "Tại sao lại chưa về?". Anh thưa" Cây tre cao quá bây giờ con vác về thì cũng không kịp vì con chỉ còn ít phút nữa". Cháu cứ yên tâm, ông tiên nói "Ta sẽ giúp con", ông cầm cái phất, vẫy qua lại một vòng trên bầu trời bỗng hiện ra một cái cầu vồng trong trẻo và thỉnh thoảng lại ánh lên trên cầu những tia sáng như những hòn ngọc quý báu. Từ xa nhìn lên cây cầu, anh chàng chỉ bé như một con kiến li ti bò lên cây cầu rồi đột nhiên biến mất với cả cây cầu. Ngồi xuống và nghĩ: em lại thấy kính trọng ông hơn, ông đúng là một vị tiên tốt. Do sơ ý em đã để bị phát hiện, ông hỏi em từ đâu đến, em nói "cháu bị lạc vào đây ông ạ", ông đã đưa về nhà của ông. Bị ngạc nhiên đột ngột, em đứng ngây người ra vì chưa bao giờ em thấy cảnh ở đâu lại đẹp như thế. Tứ phía núi bao quanh. Ngôi nhà gỗ đơn sơ nổi trên mặt nước, trước nhà có một cái sân cũng nổi trên mặt nước. Xem thêm: Tả cảnh Hồ GươmBao quanh ngôi nhà là hồ nước xanh biếc. Thác dội nhẹ nhàng xuống hồ. Muốn vào nhà phải đi qua cây cầu tre cong vút. Cây cối, hoa cỏ mọc xung quanh, toả mùi hương thơm mát. Vào nhà ông lấy trong tay áo ra quả cầu ngũ sắc màu nhiệm toả ra những ánh hào quang chói lọi. Cái phất của ông đã làm cho quả cầu hiện lên cảnh đám cưới của anh chàng to lớn. Thật vui vì anh ta đã cưới được vợ. Ông tiên bảo "Trời giao cho ta một trách nhiệm nặng nề và rất khó khăn. Ta là một ông tiên để cứu giúp mọi người, giúp đỡ muôn dân lầm than có cuộc sống ấm no. Ta khuyên con ăn ở phải có đạo, phúc đức thì sẽ gặp may mắn. Em nói: "Thế mai kia cháu muốn làm tiên như ông thì sao?". Ông tiên cười phúc hậu bỗng ò…ó…0 tiếng gà gáy cất lên, em chợt tỉnh dậy và biết đây chỉ là giấc mơ. Nhưng câu nói ấy của ông vẫn vang bên tai em, như thôi thúc em.
Giấc mơ đã cho em bài học rất đáng quý về đạo lý làm người. Em mong các bạn và mọi người hãy ăn ở hiền lành, làm nhiều việc phúc đức để gặp nhiều may mắn về sau, cũng như câu tục ngữ" Thương người như thể thương thân".
Vanmau.edu.vn | Em đã gặp một ông tiên trong truyện cổ tích. Hãy miêu tả lại hình dáng của ông theo trí tưởng tượng và từ đó cho cảm nghĩ của bản thân | 877 | |
Em đã học bài ca dao về hoa sen. Từ đó, em hãy tưởng tượng và kể một câu chuyện để ca ngợi hương thơm của hoa sen
Gợi ý
Suốt buổi chiều, ngọn gió nằm nghỉ trên một đầm sen đang nở đầy hoa. Đến tối, ngọn gió đi vào làng. Một cô bé đang ngồi chơi trước sân nhà. Chợt cô bé kêu lên:
– Trời, gió thơm quá!
Ngọn gió nghĩ bụng mình quả thơm thật. Nhưng chiều nay mình đã nghỉ trên một cánh đầm lầy, chắc cũng bớt thơm đi.
Hôm sau, ngọn gió bay tít lên cao để đi vào làng. Cô bé đang ngồi chơi trước sân nhà. Nhưng ngọn gió không nghe cô nói gì cả.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết thư cho chị gái | Em đã học bài ca dao về hoa sen. Từ đó, em hãy tưởng tượng và kể một câu chuyện để ca ngợi hương thơm của hoa sen | 125 | |
Em đã nhắc nhở khi thấy có người vút rác bữa bãi. Hãy kể lại việc làm đó
Gợi ý
Nơi em ở là một khu tập thế 5 tầng khá rộng rãi. Phía dưới tầng 1 được bố trí nơi đồ rác cho cả khu nhà. Nhưng thật kì Tạ, nhiều người lại không giữ vệ sinh cho chính ngôi nhà của mình. Có hôm em đi học về, bỗng vù vù, vài ba “chiếc đĩa bay” bay qua đầu rồi rơi bịch xuống đất. Em ngước mắt nhìn lên thấy hai cô, chú đang nhoẻn miệng cười. Em bực mình nói: “Sao cô chú lại làm như vậy, nhỡ vào đầu người đi đường thì Sao? Hơn nữa rác rơi xuống đất như vậy cô chú không thấy ô nhiễm môi trường sao?” Thế rồi em nhặt những túi rác đó bỏ vào đúng nơi quy định.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Thuyết minh về vai trò của cây cối bảo vệ môi trường sống | Em đã nhắc nhở khi thấy có người vút rác bữa bãi. Hãy kể lại việc làm đó | 161 | |
Em đã nhắc nhở khi thấy có người vứt rác bừa bãi. Hãy kể lại việc làm đó.
Bài làm
Nơi em ở là một khu tập thể năm tầng khá rộng rãi. Phía dưới tầng một được bỏ trí nơi đổ rác cho cả khu nhà, nhưng thật kì lạ, nhiều người lại không giữ vệ sinh cho chính ngôi nhà của mình. Có hôm em đi học về bỗng vù vù vài ba “chiếc đĩa bay“ bay qua đầu rồi rơi bịch xuống đất. Em ngước mắt nhìn lên thấy hai cô chủ đang nhoe miệng cười. Em bực mình nói: “Sao cô chú lại làm như vậy, nhớ vào đầu người đi đường thì sao? Hơn nữa rác rơi xuống đất như vậy cô chú không thấy ô nhiễm môi trường sao?”. Thế rồi em nhặt những túi rác đó bỏ vào đúng nơi qui định.
Xem thêm: Ôn tập giữa kì 1 lớp 5 tiết 7 + 8 (Bài Luyện Tập) | Em đã nhắc nhở khi thấy có người vứt rác bừa bãi. Hãy kể lại việc làm đó. | 162 | |
Em đã từng chứng kiến chú công an đang làm nhiệm vụ
Gợi ý
Đường phố Hà Nội vào giờ cao điểm rất hay bị ùn tắc giao thông. Đặc biệt là vào gần tết, hiện tuợng tắc đường lại càng nhiều hơn. Hôm nay là ngày 29 Tết, em cùng mẹ đi chợ sắm sửa mọi thứ. Trong lúc đó, em đã tình cờ được chứng kiến một chú công an đang làm nhiệm vụ. Chú hướng dẫn từng dòng xe cộ tham gia giao thông, giải quyết hiện tượng ách tắc giúp đường phố thông thoáng, không gây cản trở việc đi lại của người dân trong dịp xuân sang khi ai ai cũng đang rất khẩn trương, vội vã.
29 Tết, một ngày rất gần Tết Nguyên Đán, cái Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Không khí Tết đã đến rất gần. Cái lạnh như cắt da cắt thịt, mưa phùn rơi khiến cho những người tham gia giao thông, ai cũng muốn thật nhanh trở về nhà sum họp bên tổ ấm gia đình. Đường Trường Chinh vốn là một con đường thường xuyên xảy ra hiện tượng ách tắc. Gần Tết, số người tham gia giao thông lại càng đông hơn, khiến cho con đường tắc cả một đoạn dài. Em và mẹ phải cố gắng lắm mới nhích lên được một chút. Trời mưa khiến cho con đường trơn và bẩn. Bỗng nhiên em thấy thấp thoáng bóng dáng một chú công an. Chú mặc bộ quần áo công an màu vàng rất đẹp. Bên ngoài khoác một chiếc áo mưa màu xanh. Tay chú cầm một chiếc dùi cui. Đầu chú đội một chiếc mũ công an ngay ngắn. Khuôn mặt chú hơi vuông toát lên vẻ hiền lành. Làn da hơi ngăm đen lộ vẻ rắn rỏi, khoẻ mạnh, trên ngực chú đeo một chiếc biển hiệu đề tên và chức vụ. Khi chú đi ngang qua xe của mẹ con em, em nhìn rõ tên chú Trung uý Nguyễn Trung Thành. Chú đeo một chiếc còi, vừa đi vừa thổi, tay cầm chiếc dùi cui chỉ hướng cho xe đi.Xem thêm: Bớc-na-sô cho rằng: “Vũ trụ có nhiều kì quan nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trải tim người mẹ”. Trình bày ý kiến của anh (chị)
Trên đường, các phương tiện tham gia giao thông rất hỗn loạn: xe buýt, xe ô tô con, xe tải nhỏ, xe đạp, xe máy đỗ trên đường rất hỗn độn không thành hàng lối. Một số xe máy thiếu ý thức còn leo lên cả vỉa hè. Trước tình hình đó, chú vừa thổi còi vừa hướng dẫn cho một số chiếc xe máy đi lùi vào phía trong và tiến lên phía trên để lấy chỗ cho chiếc xe ô tô phía sau tiến thẳng lên không lấn sang phần đường ngược chiều. Chú cố gắng chia đường làm hai: một dòng đi lên, một dòng đi xuống. Chú nhanh nhẹn, bình tĩnh, hướng dẫn cho xe đi đúng phần đường qui định. Dòng xe cộ lộn xộn bây giờ đã được phân thành hai luồng giao thông. Luồng đi lên luồng đi xuống không bên nào lấn đường bên nào. Chú nhanh nhẹn chạy lại phía đầu ngã tư, chỗ đèn xanh đèn đỏ rồi ra hiệu cho luồng xe đi lên được phép rẽ phải. Được khoảng mười phút khi luồng ngược chiều đã nhiều xe, chú lại ra hiệu cho luồng xe rẽ phải dừng lại nhường đường cho luồng xe đi thẳng. Cứ thế hai luồng xe thay phiên nhau đi. Em và mẹ cũng tuân thủ rất tốt hiệu lệnh của chú công an. Khoảng một tiếng sau đường đã thông hơn. Em thoáng nhìn thấy khuôn mặt chú khẽ hở một nụ cười. Khi chú cười khẽ để lộ một má lúm đồng tiền phía bên phải trông rất duyên. Bây giờ em mới nhìn kỹ hình dáng chú công an. Với vầng trán cao rộng biểu lộ sự thông minh nhanh nhẹn. Chú có thân hình khá cao và cân đối. Với chiều cao khoảng gần 1,80m, trông chú lại càng thêm oai vệ.Xem thêm: Viết đoạn văn về tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau: Bóng Bác cao lồng lộng/ Ấm hơn ngọn lửa hồng (Minh Huệ)
Dưới sự hướng dẫn của chú công an, đoạn đường đã trở nên thông thoáng và hết tắc. Mọi người ai nấy cũng nhìn chú và nở một nụ cười thật tươi như thầm cảm ơn. Giao thông Việt Nam hiện tại vẫn còn là nỗi lo cho người dân và các nhà chức trách, để giải toả một vụ ách tắc là rất vất vả và mất nhiều thời gian, công sức. Các chú công an phải có tinh thần trách nhiệm rất cao mới có thể hoàn thành xuất sắc được công việc.
Em thầm cảm ơn tất cả những chú công an. Nhờ có các chú mà đường phố trở nên thông thoáng hơn, an toàn trật tự xã hội được đảm bảo. Em tự hứa với bản thân mình sẽ học tập thật tốt để sau này cũng trở thành một chú công an nhân dân, giúp ích cho dân cho nước, góp đức để cho Việt Nam ngày càng phát triển hơn.
Vanmau.edu.vn | Em đã từng chứng kiến chú công an đang làm nhiệm vụ | 895 | |
Em đã từng chứng kiến cảnh bão lũ ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình. Hãy viết bài văn miêu tả trận bão lũ khủng khiếp đó
Gợi ý
Từng ngày, từng ngày, đồng bào miền Trung đang phải gánh chịu hậu quả do bão lũ gây ra. Trận lũ năm hai nghìn là một trong những trận lũ có sức công phá mạnh mẽ nhất trong thập kỷ qua.
Bầu trời tối sầm, mưa không ngớt, xung quanh toàn một màn nước trắng xóa. Đó là cảnh tượng của những nơi trận lũ đến.
Tất cả những gì ở nơi đây bao trùm một thứ gì đó đơn điệu mà ẩn chứa bao nguy hiểm cùng với màn trắng của nước là màu xanh của ngọn cây, những cây cổ thụ dám đương đầu với dòng nước lũ và những mái ngói nhấp nhô – nơi duy nhất để người dân bám trụ. Mọi người từ cụ già đến trẻ em đều sống trong tâm trạng lo lắng, hoang mang, lo sợ, làn da xám đi vì lạnh. Có những đứa trẻ mới sinh ra mới vài tháng, cơ thể như không còn chút sinh lực. Họ sống trong tình trạng thiếu thốn không điện, không thức ăn, nước uống. Nhiều thanh niên đi mò trong biển nước những cây lúa còn sót lại một cách vô vọng.
Chính phủ đã kêu gọi tinh thần "lá lành đùm lá rách". Đâu đây, những chiếc xuồng cứu trợ màu da cam tươi cười đến với nhân dân. Rồi cả những chiếc trực thăng cũng được huy động, dù chỉ là những gói mì nhỏ bé nhưng trong đó chan chứa tất cả tình cảm của nhân dân khắp mội miền hướng về miền Trung thân yêu. Màu áo xanh của bộ đội, của thanh niên tình nguyện; màu áo vàng của các chiến sĩ công an ngày đêm gắn bó với bà con vùng lũ. Nhân dân lấy lại tinh thần và sửc lực, dũng cảm vượt qua những tháng ngày gian khổ. Trên những mái nhà ẩm ướt, khói đã bốc lên và nhờ những gói mì và hạt gạo ít ỏi đó mà đôi môi con trẻ trở lại hồng hào. Những chiếc bè đỗ dập dềnh chờ đợi một điều kỳ diệu.Xem thêm: Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Gia Thiều
Trận lũ đã đi qua nhưng nó để lại bao cảnh thương tâm. Người nông dân "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời", không quản ngại "một nắng hai sương" giờ lại tay trắng. Nhà cửa, ruộng vườn, trâu bò đều trôi theo dòng nước lũ. Chỉ mới tháng trước ở đây còn là một khu dân cư đông đúc mà bây giờ đã là bãi đất bằng. Không chỉ có thế, trận lũ còn cướp đi bao sinh mạng người vô tội. Bao gia đình lâm vào cảnh "tan đàn sẻ nghé": đứa trẻ mắt đỏ hoe gọi cha, người vợ mất chồng, người mẹ mất con. Tôi có thể nhìn rõ gương mặt bạo tàn và nụ cười nham hiểm của Thủy Tinh độc ác. Hắn cười trên nỗi đau khổ của người khác, tiếng cười nghe thật ghê rợn. Những hòm ủng hộ đồng bào lũ lụt ngày ngày vẫn được ăn no để làm vơi đi phần nào đau khổ của người dân nhưng có một điều chắc chắn rằng: nỗi khổ mất đi một người thân là không gì bù dắp được.
Cơn lũ dữ rồi cũng qua đi. Cuộc sống của người dân dần trở lại nhịp thường ngày nhưng nỗi lo âu, phấp phỏng thì vẫn còn đó. Còn tôi, tôi nghĩ rằng trí thông minh do tạo hóa ban cho con người, vậy chúng ta sẽ dùng nó để chế ngự thiên nhiên. Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi mà tôi chưa trả lời được: "Đến khi nào nhân dân ta mới không phải chịu hậu quả của nước lũ, đến khi nào trận lũ như năm 2000 mới không tái diễn?".Xem thêm: Hãy viết bài văn miêu tả cây Phượng vĩ vào một ngày hèVanmau.edu.vn | Em đã từng chứng kiến cảnh bão lũ ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình. Hãy viết bài văn miêu tả trận bão lũ khủng khiếp đó | 686 | |
Em đã từng chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
Mở bài:
+ Cảm nhận của em về tác hại của bão lụt.
+ Giới thiệu đối tượng định tả: cơn bão lụt em từng chứng kiến ở quê hay xem trên truyền hình.
Thân bài:
+ Khái quát những nét chung về cơn bão: mức độ to hay nhỏ, tính chất nguy hại nhiều hay ít, kéo dài trong bao lâu…
+ Tả cảnh trước cơn bão: bầu trời mấy hôm âm u, xám xịt; mây đen vần vũ đầy trời…
+ Tả cảnh trong cơn bão:
– Gió thốc ào ào, cây cối ngả nghiêng, rũ rượi
– Mưa ào ạt trút nước xối xả, bầu trời chuyển qua màu trắng đục… Mưa suốt cả một tuần không dứt…Sấm,sét…
– Nước dâng lên cao, cuồn cuộn chảy cuốn phăng mọi thứ nó gặp và nhấn chìm đồng ruộng, những ngôi nhà thấp,…
– Nhà cửa, cây cối, đồng ruộng, mùa màng,… bị nước lũ tàn phá, nhấn chìm.
– Con người: vật lộn chống lại sức mạnh của dòng nước (dầm mưa để đắp đê, chuyển người già và trẻ em đến nơi an toàn, chuyển đồ đạc lên chỗ cao, phát hàng cứu trợ…).
+ Tả cảnh sau cơn lũ:
– Cây cối nhà cửa tiêu điều, tan tác, xác xơ…
– Con người đang ra sức khắc phục lại những hậu quả do cơn lũ để lại.Xem thêm: Viết tiếp phần kết truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng Kết bài:
,+ Cảm nghĩ của em về cơn bão lũ đó: bàng hoàng, kinh sợ…
+ Thái độ và hành động để hạn chế những cơn bão lũ.
Vanmau.edu.vn | Em đã từng chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó | 291 | |
Em đã từng chứng kiến cảnh đường phố ồn ào, nhộn nhịp, hối hả trong lúc trời vần vũ chuyển mưa – Rồi mưa ào ào đổ xuống. Hãy tả lại cảnh đó
Hướng dẫn
1.Mở bài:
Giới thiệu quang cảnh cần tả: Trên đường phố ồn ào hối hả, gió bắt đầu thổi mạnh, mây đen kéo đến che kín cả bầu trời… Ra khỏi sân trường, em vội vã trở về nhà.
2.Thân bài:
a.Tả bao quát:
-Mây xám kéo đến che kín cả bầu trời; gió bắt đầu chuyển mạnh.
-Tiếng sấm, sét thỉnh thoảng gầm lên…
-Gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn.
-Trên đường những đám bụi bay mù trời, đây đó những ngọn gió xoáy bốc từng cột bụi cuốn theo những rác rưởi trên đường tạo thành những cột rác xoay tròn bốc cao lên không trung.
b.Tả chi tiết:
-Cây hai bên đường rạp mình cúi xuống theo chiều gió. Cành cây khô rơi gãy đầy đường.
-Hàng quán hai bên đường đông chật người đứng.
-Trên đường các phương tiện giao thông bấm còi, bật đèn lao nhanh.
-Mưa ào ào đổ xuống như người ta vãi cát…
-Trời dịu lại, mọi người lại hối hả ra đường trở về.
3.Kết luận:
-Quang cảnh sau khi mưa: cảnh vật, đường phố và con người?
-Cảm nghĩ của em về cơn mưa.
Bài làm
Trước hồi trông tan trường chừng năm, bảy phút, bất chợt một cơn giông kéo đến, không gian như tối hẳn lại. Học sinh các lớp nhốn nháo vì những đợt gió mạnh từ ngoài lùa vào. Các cánh cửa đánh sầm sầm, chúng em ai nấy đều sắp gọn sách vở bỏ vào cặp.
Xem thêm: Tả người mẹ kính yêu của em văn 5
Vừa mới ra khỏi sân trường, mây đen ồ ạt kéo đến che kín cả bầu trời. Gió thối mỗi lúc một mạnh hơn. Những đám bụi mù trời theo gió bay cao. Thỉnh thoảng những luồng gió xoáy bốc cát bụi rác rưởi dựng thành những cột bụi di chuyển trên mặt đường rồi bốc cao lên không trung. Hàng cây cao vút hai bên đường rạp mình theo gió, cành cây khô rơi xuống lòng đường loạn xạ. Trên đường xe ô tô, xe máy bấm còi inh ỏi. Mấy chiếc xe đạp lao đi vun vút bất chấp các cành cây khô nằm chắn trên đường. Mấy người đi bộ tạt sang hai lề đường vừa chạy vừa ngước nhìn trời. Những hàng quán hai bên đường đã chật cứng người. Nhừng người bán cà phê hủ tiếu… vội vàng căng những tấm bạt che.
Gió hơi dịu lại một ít và mưa bắt đầu đổ xuống. Hết đợt này đến đợt khác, dường như có bao nhiêu nước trời đổ xuống bấy nhiêu. Hai lề đường nước chảy thành từng dòng cuốn theo bao nhiêu là rác rưởi. Mặt đường sạch bóng, cứ tưởng như ai đó vừa mới quét dọn xong.
Mưa tạnh hẳn, bầu trời trong trở lại, không gian thật thoáng đãng. Em cảm thấy như vạn vật tươi trở lại. Cây cối rùng mình hắt những giọt mưa còn lại rơi xuống lòng đường lộp độp. Con người như khỏe ra, rạng rỡ hơn, tươi vui hơn. Lúc này em mới thầm cảm ơn cơn mưa.
Xem thêm: Ôn tập giữa kì 1 lớp 5 tiết 3 | Em đã từng chứng kiến cảnh đường phố ồn ào, nhộn nhịp, hối hả trong lúc trời vần vũ chuyển mưa – Rồi mưa ào ào đổ xuống. Hãy tả lại cảnh đó | 548 | |
Em đã từng gặp ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh ông Tiên theo trí tưởng tượng của mình
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
1. Mở bài
+ Cảm nhận của em khi đọc truyện cổ dân gian: thích thú và bị lôi cuốn.
+ Giới thiệu đối tượng miêu tả: ông Tiên hay giúp ngươi hiền lành, lương thiện và trừng trị cái ác….
2. Thân bài
+ Hoàn cảnh tiếp xúc và gặp gỡ với ông Tiên: trong một giấc mơ.
+ Ngoại hình của ông Tiên:
– Xuất hiện trong ánh hào quang và hương thơm…
– Cụ già râu tóc bạc phơ, vẻ mặt phúc hậu, tay chống gậy trúc…
– Giọng nói nhẹ nhàng, ấm áp…
+ Tính nết:
– Thương yêu, giúp đỡ người nghèo khổ…
– Căm ghét và trừng trị kẻ xấu xa, độc ác…
+ Tài năng:
– Có phép thần thông, biến hoá…
– Đi mây về gió, thoắt ẩn thoắt hiện…
3. Kết bài
+ Đánh giá về hình ảnh ông Tiên: đại diện cho công lí của nhân dân…
+ Cảm nghĩ của em: thấy gần gũi, quen thuộc, in đậm trong trí nhớ của em.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tường thuật lại một bữa cơm thân mật trong gia đình nhân dịp đón người thân đến thăm | Em đã từng gặp ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh ông Tiên theo trí tưởng tượng của mình | 205 | |
Em đã từng gặp Ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh đó theo trí tưởng tưởng của em
Gợi ý
Trong truyện cổ tích dân gian Việt Nam thường hay có sự xuất hiện của những nhân vật được gọi là ông Tiên (Phật, Bụt). Đó là những nhân vật đại diện cho công bằng trong xã hội. Ông Tiên thường là những vị thần đem lại hạnh phúc cho người nghèo khó, tốt bụng và trừng phạt những kẻ độc ác, xấu xa.
Theo trí tưởng tượng của em, Tiên ông là một ông lão quắc thước, râu tóc bạc phơ, trán cao, da đỏ hồng hào, mắt sáng, miệng tươi, dáng điệu khoan thai. Trang phục ông mặc thường mang màu trắng. Chiếc áo tay dài, đôi hài,… tất cả đều trắng tinh một màu. Ông thường cầm trên tay một chiếc gậy đầu rồng hoặc đơn giản chỉ là thanh trúc vàng óng ả. Bao quanh người ông là một làn khói mỏng mờ ảo và những làn ánh sáng lấp lánh, ông còn sở hữu một giọng nói trầm ấm khác thường, giọng nói đó đã an ủi biết bao con người khốn khổ trong bước đuờng cùng.
Mỗi khi ông Tiên hiện ra là một người tốt được giúp đỡ. Khi thì ông giúp cô Tấm có được quần áo đẹp để đi dự dạ hội, khi lại giúp anh Khoai kiếm được cây tre trăm đốt theo lời phú ông… Tiên ông chính là nơi bám víu cuối cùng của những con người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội cũ. Đau đớn trước số phận của mình, họ thường viện vào thần tiên để thể hiện ước mơ và khát khao hạnh phúc.Xem thêm: Trong bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu có đoạn: Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân... Đành như thân gái sóng xao Tiền Đường! Hãy phân tích đoạn thơ, làm rõ sự thương cảm của nhà thơ cách mạng với số phận, cảnh ngộ của Thúy Kiều và đại thi hào Nguyễn DuTiên ông không chỉ là nhân vật cứu giúp người nghèo mà còn là nhân vật đại diện cho lẽ công bằng, cho quan niệm: “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” của nhân dân ta. Trước những kẻ xấu xa, mưu mô và thủ đoạn ông thường thẳng tay trùng trị:
"Tưởng rằng hoá đẹp như tiên
Ngờ đâu bỗng nổi ngứa điên, gãi hoài.
Khắp mình lông lá mọc dài,
Thành tiên chẳng thấy, hoá loài đông sơn… "
Còn đối vói những người hiền lành, tốt bụng thì lại được đền đáp xứng đáng. Có thể là trở nên xinh đẹp, giàu có hay đạt được những ước muốn của mình.
"Ta là Phật Tổ Như Lai,
Trời sai xuống thử lòng người trần gian,
Ai hiền ta sẽ ban ơn,
Cho người tích đức tu nhơn nức lòng. "
Để thử lòng người trần gian, ông Tiên thường biến thành những hình dạng khác nhau. Có khi là trong hình dáng một ông lão ăn mày rách rưới, xác xơ; người cùng đường lỡ bước hay người mẹ bồng con đang trong cơn hoạn nạn bơ vơ xin nương nhờ.
"Một ông cụ già nua tuổi tác,
Râu rườm rà, tóc bạc phất phơ
Nói rằng: nhỡ bước sa cơ.
Xin ăn một bữa, ngủ nhờ một dêm… ”
(Bà Túng)
"Hoá ra người mẹ tay bồng con thơ.
Gặp cơn hoạn nạn bơ vơ,
Đến xin làm giúp ăn nhờ nương thân ”
(Người hoá khỉ)
Ông Tiên trong truyện cổ tích việt Nam luôn luôn đại diện cho lẽ phải, cho những con người yếu đuối trong xã hội. Chính bởi vậy mà hàng ngàn năm nay trẻ em vẫn mong ước một lần được gặp ông Tiên, được ông Tiên ban cho phép màu. Và em cũng rất mong như thế.Xem thêm: Suy nghĩ về hiện tượng nghiện internet trong giới trẻ hiện nayVanmau.edu.vn | Em đã từng gặp Ông Tiên trong những truyện cổ dân gian, hãy miêu tả lại hình ảnh đó theo trí tưởng tưởng của em | 651 | |
Em đã từng nuôi dưỡng một chú chim và có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Hãy kể lại một kỷ niệm của em với chú chim ấy
Hướng dẫn
Một lần về quê, được tha hồ thong dong trên những con đường rợp bóng hàng cây, phong cảnh thật là thơ mộng. Bỗng, tôi nghe tiếng “chiếp! chiếp! ” từ một bụi rậm gần đó. Tôi mon men đến gần, chầm chậm dò xét. Tôi thấy một chú chim non đang cố gắng thét lên những tiếng “chiếp! chiếp” yếu ớt như cầu cứu dưới móng vuốt sắt nhọn của một con mèo mun. Không chần chừ, tôi chộp ngay một cành khô gần đấy, đánh vào lưng mèo xua đi để cứu chú chim non tội nghiệp.
Trông chú chim lúc ấy đã quá kiệt sức, tôi cầm nó lên, nó gục cánh và đầu vào tay tôi. Đối với tôi, việc có được một chú chim là quý giá lắm. Tôi vội đưa chú về nhà đưa mẹ xem và nhờ chữa giúp chỗ bị thương của nó. Mẹ vui vẻ đồng ý. Sau khi xức thuốc vào, tôi cho nó vào một chiếc lồng xinh đẹp và để đầy đủ thức ăn và nước mát cho nó.
Một hai ngày sau, nó đã lành vết thương và có thể hót trở lại. Tôi vui lắm! Chú chim như biết ơn tôi, mỗi lần tôi đứng ngắm nó, nó ríu rít như mừng tôi. Cứ thế, chúng tôi càng thêm thần thiết. Tình bạn sẽ thật tốt đẹp nếu không có ngày hôm ấy…
Xem thêm: Tả quang cảnh xung quanh lúc cơn mưa vừa tạnh lớp 5Hôm ấy là một ngày xui xẻo sao ấy! Trong tiết kiểm tra, điểm của tôi thật là thảm hại. Thế là cả ngày hôm ấy, tâm trạng của tôi cứ bực mình mãi. Đang yên, tôi nghe tiếng hót của chú chim, bỗng tức mình. Tôi quay lại, mắng nómột hồi. Chẳng biết nó có hiểu không nhưng trông nó buồn lắm. Tôi vào phòng ngủ…
Một cụ già mặc áo trắng toát bước tới và bảo: “Ta thật thất vọng về cháu, ta cứ nghĩ cháu rất yêu thương loài vật thế mà hôm nay cháu lại xử sự như thế. Ta sẽ phạt cháu làm chim đến khi cháu biết hối lỗi mới thôi.” Nói rồi ông phất cây gậy tiên và tôi hóa thành một con chim. Tôi phớt lờ lời nói ấy và cảm thấy thật thích thú khi được hóa thành chim. Tôi vui sướng bay đi, tung cánh giữa bầu trời. Bỗng tôi đâm đầu vào một gốc cây, đau chết khiếp. Tôi bị một cậu bé đem về dùng một cây que đánh khắp mình và mắng nhiếc đủ lời. Giờ đây tôi hối hận lắm vì hồi sáng đã mắng chú chim non, tôi khóc thầm.
Bỗng có tiếng gọi “Con ơi, dậy xuống ăn cơm” làm tôi bừng tỉnh. Thì ra chỉ là một giấc mơ, tôi vui mừng chạy xuống nhà thì thầm xin lỗi chú chim và từ đó tình bạn của chúng tôi lại đẹp như xưa. Đó cũng là bài học quý mà tôi sẽ không bao giờ quên.
Nguồn: thêm: Tả khu vườn trong một buổi sáng đẹp trời | Em đã từng nuôi dưỡng một chú chim và có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Hãy kể lại một kỷ niệm của em với chú chim ấy | 545 | |
Em đã xem một chương trình ca nhạc do các bạn nhỏ biểu diễn. Em hãy thuật lại buổi biểu diễn đó
Gợi ý
Đó là một buổi biểu diễn đầy ấn tượng. Nếu chỉ nghe mà không thấy tận mắt, có lẽ em sẽ hình dung đây chỉ là buổi biểu diễn của các anh các chị. Nhưng không các bạn ạ, tất cả các diễn viên đều thắt khăn quàng đỏ.
Mở màn buổi biểu diễn bằng tiết mục hòa tấu với hai chục cây măng đô lin thật sinh động, sôi nổi hấp dẫn, lạc quan. Cảm xúc của em lúc ấy, không có từ nào có thể nói đúng được.
Em chưa hết bồi hồi thì màn đã khép, rồi lại kéo lên, sân khấu hiện ra hoàn toàn khác với bố trí lúc trước. Tiếng đàn không vang lên chói chang, lảnh lót, chất liệu kim loại, nhưng trầm mà êm, lắng sâu, chất liệu tơ, gỗ, có thể nói đó là chất liệu dân tộc. Sau các bản Hành vân Lưu thủy, bay vút, mênh mang, trôi chảy mà vẫn man mác buồn, xa vắng, bản Tứ đại cảnh, dồn dập, tiêng đục tiếng trong, như chạm vào nhau, hỏi nhau, cười nói với nhau, nghe đến say lòng.
Với những ngón tay nhấn, lướt thành thạo trên cây đàn tranh xinh xắn, một bạn gái hát hai bài dân ca của hai miền. Có lẽ tiếng hát của bạn ấy không được chuẩn bằng tiếng hát của các anh chị danh ca mà em đã nghe, nhưng cũng đủ khiến em say mê, xúc động, nghĩ về người phụ nữ ngày xưa, chung thủy, nhẫn nại, buồn thương…Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Hoa xuân
Với cây sáo trúc, một bạn nam đã tạo nên những âm thanh của đồng ruộng, gợi lên trong tâm trí người nghe những cánh đồng thẳng cánh cò bay, tiếng suối chảy rì rào… Tiếp đến là tiết mục độc tấu đàn bầu. Mọi người như lặng đi khi một tiếng đàn rất trầm, ngân vang, để rồi từ từ cao vút chỉ trên một sợi dây đàn. Bàn tay người biểu diễn tưởng như hờ hững đặt lên cần đàn, thỉnh thoảng mới vuốt lên rất nhẹ, thế mà những âm thanh thì cứ vang mãi, ngân mãi, lan tỏa khắp phòng.
Rồi phần ca nhạc mới được một bạn mở đầu với cây đàn viôlông. Tiếng vỗ tay vang dội, thể hiện sự đánh giá cao tiếng đàn trong trẻo mà sâu sắc của bạn.
Hai bạn gái cùng chơi trên một đàn pianô, bản nhạc của Môda. Em không thạo về nhạc, nên không thể đánh giá tiếng đàn của hai bạn, chỉ biết tiếng nhạc vang lên từ bốn bàn tay mềm mại đó, thật điêu luyện và sôi nổi.
Buổi biểu diễn chỉ kéo dài trong một giờ đồng hồ, nhưng để lại trong em những cảm xúc khó phai nhạt. Một niềm vui mới đã mang đến cho em: niềm vui âm nhạc. Và em nghĩ, tuổi thơ Việt Nam thật đầy tài năng và đáng tự hào.
Vanmau.edu.vn | Em đã xem một chương trình ca nhạc do các bạn nhỏ biểu diễn. Em hãy thuật lại buổi biểu diễn đó | 523 | |
Em đã xem nhiều chương trình về biển (trên ti vi, qua sách báo,…), hãy tả lại cảnh biển một nơi mà em nhớ nhất
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
Mở bài:
+ Cảnh biển mà em miêu tả ở đâu? Vào thời điểm nào? (Bình minh hay hoàng hôn hay đêm tối…).
+ Ân tượng chung của em về cảnh biển đó.
Thân bài:
+ Miêu tả khái quát khung cảnh biển: sự mênh mông, rộng lớn, màu xanh ngắt bất tận,…
+ Miêu tả cụ thể khung cảnh biển trong thời điểm đã chọn:
– Khung cảnh bầu trời.
– Mặt biển.
– Sóng, gió.
– Bờ cát, cây cối
– Các hoạt động trên biển: động vật, con người.
Kết bài:
+ Cảm xúc của em đối với khung cảnh đó.
+ Liên hệ tới những cảnh đẹp quê hương khác -> Tình yêu quê hương đất nước.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Cảm nghĩ về người bà (bà ngoại) | Em đã xem nhiều chương trình về biển (trên ti vi, qua sách báo,…), hãy tả lại cảnh biển một nơi mà em nhớ nhất | 144 | |
Em đã được học rất nhiều cô giáo và có những kỷ niệm đẹp, em hãy kể lại câu chuyện đó
Gợi ý
Tôi đã được học và tiếp xúc với rất nhiều cô. Nhưng tôi không thể nào quên được cô Nguyệt đã dạy tôi hồi còn học cấp I mà tôi từng có lỗi.
Tôi còn nhớ, giờ học Tập Đọc. Cô giáo đang viết trên bảng, nét chừ rung rung, không thẳng hàng, lớp tôi xì xào, đưa mắt nhìn nhau. Tôi thấy khó chịu trong lòng nên đứng lên nói:
– "Thưa cô! Chữ cô viết khó đọc quá ạ!"
Dường như cô Nguyệt đứng lặng người. Đôi mắt cô chớp chớp, mặt cô đỏ bừng rưng rưng nước mắt. Phải mất mấy phút mới học được nên hôm nay về muộn. Trước khi nghỉ cô Nguyệt nhỏ nhẹ nói:
– "Cô xin lỗi các em vì dạy quá giờ. Còn chữ viết thì… cô sẽ cố gắng trình bày đẹp hơn."
Hôm đó, đến phiên tôi và Hoàng trực nên phải đến lớp sớm hơn mọi người. Thấy Hoàng thấp thoáng ngoài lớp, tôi khẽ bước đến bên cậu ấy và nhìn vào.
Trời! C…ô… đang mải mê nắn nót chữ viết. Thảo nào, mấy hôm nay cô viết chữ khác hẳn đi.
Cô ấy đang viết bỗng viên phấn trên tay cô rơi xuống, cô ngồi thụp xuống đất, mặt cô ấy có vẻ đau đớn lắm.
Cô dùng tay trái nắm bóp tay phải. Hình như rất đau, cô lấy tay lau nước mắt. Bỗng tôi và Hoàng chạy vào ôm lấy tay cô, và hỏi:Xem thêm: Thay ngôi kể để bộc lộ tâm tình của một nhân vật cổ tích mà em yêu thích – "Cô ơi! Cô làm sao thế! Cô có sao không!
Không sao đâu các em ạ, một lát sẽ khỏi. Thỉnh thoảng cô lại bị đau tấy lên khi trời se lạnh. Cô nói:
Tôi thấy hối hận vì tôi đã hiểu lầm cô. Tôi rớm nước mắt, giọng nói nghẹn ngào:
– "Cô ơi! Cô tha cho em nhé, em có lỗi với cô! Cô đứng dậy, quàng tay lên vai tôi và Hoàng, cô nhìn với vẻ trìu mến:
– "Không sao, cô không giận các em đâu. Thôi chúng ta chuẩn bị đi sắp tới giờ học rồi.
Mặc dù, cô tha thứ cho tôi, nhưng tôi cảm thấy rất hối hận. Tôi tự như sẽ học thật giỏi để làm quà tặng cô.
Vanmau.edu.vn | Em đã được học rất nhiều cô giáo và có những kỷ niệm đẹp, em hãy kể lại câu chuyện đó | 405 | |
Em đã được học rất nhiều thầy cô giáo và có những kỉ niệm sâu sắc, em hãy kể lại một trong những kỉ niệm đó
Gợi ý
Tôi đã được học và liếp xúc với rất nhiều thầy cô giáo. Nhưng tôi không thể nào quên được cô Nguyệt đã dạy tôi hồi còn học lớp 3 trường Tiểu học mà tôi từng có lỗi.
Tôi còn nhớ đó giờ học Tập đọc trong buổi học đầu tiên với cô. Cô giáo đang viết trên bảng, nét chữ rung rung, không thẳng hàng, lớp tôi xì xào, đưa mắt nhìn" nhau. Tôi thấy khó chịu trong lòng nên đứng lên nói:
– Thưa cô! Chữ cô viết khó đọc quá ạ!
Dường như cô Nguyệt đứng lặng người. Đôi mắt cô chớp chớp, mặt cô đỏ bừng, rưng rưng nước mắt. Phải mất mấy phút lớp mới học được. Trước khi nghỉ cô Nguyệt nhỏ nhẹ nói:
– Cô xin lỗi các em vì dạy quá giờ. Còn chữ viết thì… cô sẽ cố gắng trình bày đẹp hơn.
Hôm đó, đến phiên tôi và Hoàng trực nên phải đến lớp sớm hơn mọi người. Thấy Hoàng thấp thoáng ngoài lớp, tôi khẽ bước đến bên cậu ấy và nhìn vào.
Trời! Cô đang mải mê nắn nót chữ viết. Thảo nào, mấy hôm nay cô viết chữ đã đẹp hon.
Cô đang viết bỗng viên phấn trên tay cô rơi xuống, cô ngồi thụp xuống đất, mặt cô ấy có vẻ đau đớn lắm. Cô dùng lay trái nắm bóp tay phải. Hình như rất đau. Tôi và Hoàng chạy vào ôm lấy tay cô, và hỏi:Xem thêm: Tả lại cảnh một lần đi học bị trời mưa– Cô ơi! Cô làm sao thế? Cô có sao không?
– Không sao đâu các em ạ, một lát sẽ khỏi. Thỉnh thoảng cô lại bị đau tấy lên khi trời se lạnh. – Cô nói.
Tôi thấy hối hận vì tôi đã hiểu lầm cô. Tôi rớm nước mắt, giọng nói nghẹn ngào:
– Cô ơi! Cô tha cho em nhé, em có lỗi với cô!
Cô đứng dậy, quàng tay lên vai tôi và Hoàng, cô nhìn với vẻ trìu mến:
– Không sao, có không giận các em đâu. Thôi chúng ta chuẩn bị đi, sắp tới giờ học rồi.
Mặc dù, cô tha thứ cho tôi, nhưng tôi cảm thấy rất hối hận. Tôi tự hứa sẽ học thật giỏi để làm quà tặng cô.
Vanmau.edu.vn | Em đã được học rất nhiều thầy cô giáo và có những kỉ niệm sâu sắc, em hãy kể lại một trong những kỉ niệm đó | 404 | |
Em đã đọc bài ca dao: “Con cò mà đi ăn đêm… Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”. Từ bài ca dao trên, em hãy kể một câu chuyện tưởng tượng về con cò
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
(Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh):
+ Quá nửa đêm mà lũ cò con vẫn còn rục rịch chưa ngủ.
+ Cò mẹ biết con đói nó đi kiếm mồi.
B. THÂN BÀI
Phát triển câu chuyện:
– Chị cò đã kiếm ăn quần quật suốt ngày, tối mịt mới có mấy con tép nhỏ. Con chị đói còn làm chị đau khổ.
– Chị ngủ thiếp đi vì mệt và thức giấc khi con mình không ngủ. Chị nhớ đến cái ao nhỏ mà mình bỏ quên. Ở đó rất nguy hiểm, chị đã suýt chết. Nhưng đêm khuya, vả lại thương con chị quyết định đi tìm mồi.
– Chị đậu vào cành tre và sa mình xuống nước.
C. KẾT BÀI
Tâm trí chị cò chỉ nhớ lại hình ảnh những đứa con thân yêu còn đói khát.
BÀI LÀM
Đã quá nửa đêm mà mấy chú cò con vẫn không ngủ được. Chôc chốc chúng lại rục rịch cựa quậy trong tổ… Cò mẹ biết chúng đang đói.
Lòng chị đau như cắt. Suốt cả ngày chị gắng hết sức nhưng vẫn không kiếm được miếng nào đáng kể. Mãi đến tối mịt, chị mới mò được vài ba con tép tí ti còn sót lại trên thửa ruộng gần đây. Con chị đói, nhưng chính chị còn đói hơn.Xem thêm: Suy nghĩ của em về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long Ở chân trời trăng đã lên, ánh trăng trải mờ xuống cánh đồng. Chị cò nằm yên bất động, dường như sự mệt mỏi và cái đói đã khiến chị không đủ sức cựa quậy… và chị thiếp đi lúc nào không biết.
Tiếng gà trong xóm vọng ra văng vẳng làm cò mẹ giật mình. Trời sắp sáng, chị nhìn mấy đứa con tội nghiệp, chúng hãy còn say sưa, có lẽ hồi hôm này chúng không ngủ được. Bỗng dưng chị thương chúng quá, thương hơn bao giờ hết; trong trí cò mẹ hiện ra một cái ao nhỏ đầy tôm tép cách tổ không xa, mà hôm qua chị không dám đến vì ở đó có người. Từ hôm bị viên đạn xuyên qua cánh chị không dám liều lĩnh đến gần người, nhỡ… Nhưng thôi, liều một chuyến xem sao. Cò mẹ nhìn các con… linh tính báo cho chị biết trước có thể lần này là lần cuối cùng chị trông thấy các con.
Cò mẹ bay lướt đi không một tiếng động. Chị đáp mình đậu xuống một cành tre thấp là là mặt ao. Mắt chị cố soi thật rõ làn nước… Gió thổi, cành tre cứ đung đưa như võng. Bỗng có tiếng gì như cả đoàn người đi lại. Cò mẹ hốt hoảng. Cò mẹ cất cánh lên… nhưng không kịp nữa chị đã rơi khỏi ngọn tre và nằm gọn trong lòng nước lạnh. Tiếng bước chân mỗi lúc một gần… Thoảng trong tâm trí chị hình ảnh các con đang mỏi mòn chờ mẹ về.Xem thêm: Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về một đức tính cần có ở con người
—————————
Cơn mưa từ trưa đến tận giờ vẫn chưa dứt. Bầu trời nặng mây xám xịt, mọng như nước. Cánh đồng nước tràn mênh mông, trắng mờ mờ qua màn ; mưa dăng dăng. Tiếng ếch nhái kêu não ruột. Cò mẹ đậu trên cành tre nhìn i cái tổ xơ xác, buồn rầu. Mấy chú cò con run rẩy, ngước cái cổ gầy guộc nhìn mẹ, kêu gào:
– Mẹ ơi, con đói quá.
– Mẹ ơi, sao mẹ không đi kiếm cá về đi mẹ.
Cò mẹ nhìn con rồi ngúc ngoắc cái cổ dài. Nước mưa thấm ướt cả lông, trông chị còm cõi, xơ xác làm sao. Nghe con kêu, chị như đứt cả ruột. Tội nghiệp, đang sức lớn mà sáng đến giờ chỉ có mấy con tép ranh, giọng chúng đã khản đặc rồi. Chị dỗ dành:
– Thôi ngoan đi con, chút nữa rồi mẹ kiếm cá về cho con ăn.
Lũ cò nhao nhao:
– Nhanh đi mẹ, con đói lắm.
– Bắt thật nhiều nghe mẹ.
Cò mẹ dặn con:
– Con ngủ đi. Một chút nữa tha hồ ăn.
Cò mẹ do dự mãi. Từ hôm chồng chị bị trúng đạn, đến nay chị chưa dám trở về chỗ cũ. Nghĩ đến cái chết của chồng, chị cảm thấy bàng hoàng. Có anh, chị đỡ vất vả hơn. Bao giờ anh cũng lo kiếm ăn cho con.
Cò mẹ bay đi không một tiếng động. Mưa vẫn rơi nhạt nhòa. Hôm nay mưa to, cá tôm đi chơi nhiều lắm. Chị đáp xuống cánh đồng ít người nhất, hối hả bắt tép. Ngậm con cá to kềnh trong mỏ, chợt cảm thấy đói cồn cào, chị mới nhớ rằng mình cũng chưa ăn gì. Nhưng cò mẹ tự nhủ: “Đợi các con ăn xong rồi mình đi ăn sau. Có lẽ chúng đang đói lắm đây”.Xem thêm: Kể lại một cuộc gặp gỡ với các em học sinh nghèo vượt khó học tốt. Một con, hai con, ba con… Chợt có ánh đèn loang loáng, chị hốt hoảng bay vụt lên, tim đập thình thịch. “Thoát rồi”, chị thở phào, sung sướng nghĩ đến các con. Nhưng sao hoa mắt thế này, không thấy gì cả. Cò mẹ cảm thấy đất trời đảo lộn xung quanh. Chị gắng gượng đậu lên cành cây sát ngay đấy, cứ chực ngã chúi về phía trước. Một cơn gió mạnh thổi ào qua, cành cây oằn xuống, những hạt mưa hất tung vào mặt chị bỏng rát. Bàn chân dính đầy bùn trơn của chị trượt trên cành cây mong manh, ướt nước. Chưa kịp định thần, cò mẹ đã rơi xuống con mương. Nước chảy cuồn cuộn cuốn chị đi. Thân chị như có ai kéo xuống. Chị cảm thấy chìm dần, chìm dần. Cổ như bị ai thít chặt, chị ngước lên, khắc khoải, tuyệt vọng. Trong cái màn tối đen ấy, chị như thấy rõ mồn một mấy cái mỏ đang há ra, kêu gào khản tiếng. Trong cơn mưa, chúng vẫn mong mỏi mẹ trở về…
Vanmau.edu.vn | Em đã đọc bài ca dao_ “Con cò mà đi ăn đêm… Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”. Từ bài ca dao trên, em hãy kể một câu chuyện tưởng tượng về con cò | 1,065 | |
Em đã đọc bài thơ “Lượm” của Tố Hữu. Em hãy chuyển nội dung bài thơ thành một câu chuyện
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
1. TÌM Ý, CHỌN Ý
a. Nhân vật của truyện
– Em Lượm.
– "Tôi", người mà Lượm gọi là chú.
– Người đưa tin về Lượm.
Trong các nhân vật trên, chỉ có Lượm là nhân vật cần được kể ra. Còn "tôi" và người đưa tin chỉ là người kể chuyện về em Lượm. Như vậy, muôn kể chuyện này, em hãy đóng vai người chú và người đưa tin mà kể về Lượm.
b. Sự việc trong truyện
Bài thơ giới thiệu cho ta biết về em Lượm qua hai sự việc:
– Cuộc gặp gỡ với Lượm ở Huế.
– Lượm đi liên lạc và bị hy sinh.
Em hãy tưởng tượng, hình dung hai sự việc ấy.
c. Cách xưng hô: Đây là thay mặt người chú để kể chuyện về em Lượm thì em phải gọi Lượm là emy hoặc cháu. Không thể gọi Lượm là bạn hay anh được.
2. DÀN BÀI SƠ LƯỢC
a) Mở bài: Giới thiệu khái quát về Lượm.
b) Thân bài: Kể về hai sự việc:
– Cuộc gặp Lượm tại Huế.
– Cuộc gặp người quen, nghe kể việc hy sinh của Lượm.
c) Kết bài: Lòng thương tiếc và ý nghĩ về cái chết của em.
3. DÀN BÀI CHI TIẾT
a) Mở bài: Giới thiệu về em Lượm.Xem thêm: Bình giảng bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên – Trong kháng chiến, nhiều thiếu nhi đã tham gia và hy sinh anh dũng.
– Lượm là một trường hợp rất đáng thương và cảm phục.
b) Thân bài:
– Cuộc gặp Lượm tại Huế
+ Giới thiệu cuộc gặp
+ Miêu tả chân dung Lượm.
+ Trò chuyện với Lượm.
+ Chia tay.
– Trường hợp hy sinh của Lượm
+ Giới thiệu người chứng kiến ra kể.
+ Lượm nhận nhiệm vụ liên lạc.
+ Lượm hi sinh, cảnh tượng hi sinh.
c) Kết bài:
– Lòng thương tiếc.
– Ý nghĩ của em về cái chết của Lượm.
BÀI LÀM
Trong cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc ta chống quân xâm lược, tôi đã biết nhiều trường hợp hi sinh. Trong số đó, sự hi sinh của các em thiếu nhi làm tôi rất xúc động.
Ngày ấy, khi giặc Pháp đánh đến Huế, thì tôi vừa ở Hà Nội về, tình cờ gặp cháu Lượm. Đó là chú bé nhỏ loắt choắt, đeo cái xắc bé xíu. Đặc biệt chú thích đội nghiêng chiếc mũ calô trên đầu, vừa huýt sáo, vừa nhảy chân sáo, nom hệt như một chú chim chích trên đường những buổi sớm mai.
Tôi hỏi:
– Cháu đi làm liên lạc cho cơ quan kháng chiến, có nhớ nhà không?
Cháu cười rạng rỡ, hai mắt híp lại, hai má đỏ hồng như trái bồ quân, nói:
– Ở đồn Mang Cá vui lắm chú ạ, còn vui hơn ở nhà nhiều!
Tôi từ biệt cháu, lại lên đường ra Bắc, còn cháu lại trở về Mang Cá. Từ đó công việc liên miên tôi không còn dịp nào trở về Huế nữa.Xem thêm: Viết đoạn văn chỉ ra những nét riêng về nghệ thuật miêu tả trong hai văn bản Sông nước Cà Mau và Vượt Thác Một hôm, tôi gặp một người quen từ Huế ra công tác. Trong giờ nghỉ, người ấy nói:
– Cháu Lượm hi sinh rồi, anh biết không?
– Sao? Lượm hi sinh rồi sao, trong trường hợp nào? Tôi hấp tấp hỏi đôi mắt như nhòa đi.
Người quen ấy kể:
– Cháu Lượm vẫn làm liên lạc cho cơ quan chúng tôi. Một hôm có công văn khẩn phải đưa đi gấp. Đường đi băng qua đồn địch, rất nguy hiểm. Chúng tôi căn dặn:
– Phải cẩn thận, đường nguy hiểm lắm đấy, qua đồn cháu phải coi chừng mới được.
Cháu mỉm cười, bừng đỏ đôi má bồ quân.
– Nguy hiểm cháu cũng không sợ, việc cần thì phải đi.
Nói rồi cháu bỏ thư vào bao, đội mũ ca lô ra đi. Từ xa tôi trông theo vẫn thấy cái mũ ca lô nhấp nhô trên đồng lúa như thể cháu vừa đi vừa nhảy, vừa huýt sáo vậy. Bỗng từ phía đồn địch một chớp đỏ lóe lên rồi một tiếng nổ vọng lại. Cái mũ ca lô biến mất. Khi chúng tôi tìm đến thì cháu đã hi sinh. Máu đỏ thấm ướt ngực cháu, nhưng nét mặt thanh thản như là đang ngủ, một tay nắm chặt bụi lúa bên đường. Đồng lúa đang trổ đòng đòng, hương thơm ngào ngạt như đang ấp cho cháu ngủ.
Tin cháu Lượm hi sinh làm tôi xót xa bàng hoàng. Từ độ kháng chiến đến nay, tôi đã nghe nhiều tin tức hi sinh của đồng bào đồng chí, nhưng tin cháu Lượm bỏ mình làm tim tôi xao xuyến mãi. Cháu còn bé bỏng quá, vô tư quá, đã hiểu thế nào là sống chết đâu. Trước mắt tôi bỗng xuất hiện lên hình ảnh một chú Lượm nhỏ bé, đeo cái xắc xinh xinh, đội cái mũ ca lô lệch, vừa huýt sáo vừa nhảy tâng tâng như con chim chích của vườn ruộng Việt Nam.Xem thêm: Kể chuyện về một người bạn tốtVanmau.edu.vn | Em đã đọc bài thơ “Lượm” của Tố Hữu. Em hãy chuyển nội dung bài thơ thành một câu chuyện | 861 | |
Em được tặng một chiếc máy bay đồ chơi, hãy tả lại món quà đó
Gợi ý
Năm tôi học lớp bốn, cạnh nhà tôi có một cậu bé thường được gọi là Hùng Sún. Tôi và nó chơi với nhau rất thân. Đi đâu hai đứa cũng có nhau, như hình với bóng. Những đám đánh đáo, đánh khăng, chơi quay hay đổ dế đều thấy hai chúng tôi hiện diện.
Tháng sáu, Sún sinh nhật lần thứ chín. Nó được bố tặng cho một chiếc máy bay đồ chơi rất đẹp. Và cũng chính vì chiếc máy bay này mà chúng tôi đâm ra chành choẹ cãi nhau, rồi giận nhau mấy tuần liền.
Ngày thứ mười lăm, không chịu nổi, tôi sang nhà Sún tìm cu cậu nhưng hàng xóm bảo nó và gia đình đã chuyển lên thành phố từ hai hôm trước. Nó còn gửi tặng tôi chiếc máy bay đồ chơi làm kỉ niệm. Nhìn chiếc máy bay mà tôi ân hận vô cùng. Tôi đã có lỗi với Sún.
Từ đó về sau, chiếc máy bay trở thành bảo vật bất li thân của tôi. Hàng ngày, tôi thườg đem nó ra ngắm nghía và lau chùi. Vì vậy mà chiếc phi cơ nhãn hiệu Trung Quốc của tôi vẫn rất mới và bắt mắt. Nó không phải chiếc phi cơ chở khách như dạng Bô-ing mà là chiếc trực thăng lên thẳng đời mới. Nó khoác trên mình bộ áo rằn ri màu xanh rêu loang những đốm vàng đất. Trên đầu nó gắn ba cánh quạt mảnh và dài cỡ gang tay, màu xanh lam đậm nối với đầu máy bởi một trục nhỏ như cột thu lôi. Thân máy bay thuôn thuôn ở phía đầu, nhỏ và hẹp dần về phía đuôi. Trước đầu máy bay là khoang phi cơ ngăn cách với bên ngoài bởi một lớp giả kính bằng mica trắng. Bên trong khoang là buồng lái gồm vô lăng, bộ điều khiển và một chú phi công đồ chơi trông y như thật. Đỡ phía dưới máy bay là hai chiếc chân dài như hai chiếc ván trượt tuyết. Góc sau gắn hai chiếc bánh nhỏ để chiếc trực thăng có thể dễ dàng di chuyển trên mặt đất. Xem thêm: Nêu tóm tắt tình huống “nhặt” vợ trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân, từ đó nhận xét về thái độ của nhà văn đối với con người và thực trạng xã hội đương thời được bộc lộ qua tình huống truyện độc đáo này
Mỗi khi buồn, nhớ bạn, tôi thường bấm nút khỏi động trong bộ điều khiển cho máy chạy. Ngay lập tức chiếc trực thăng kêu lên ro ro, ba cánh quạt trên đầu quay tít rồi từ từ nhấc bổng thân máy bay lên khoảng không. Theo sự điều khiển của tay cầm từ xa, chiếc phi cơ chuồn chuồn nhào lộn trên không như diễn viên xiếc đang thực hiện tiết mục nhào lộn.
Tôi rất thích chơi với nó bởi những khi nhìn máy bay tôi lại nhớ đến cậu bạn thân của mình. Tôi sẽ giữ mãi chiếc trực thăng như một kỉ niệm đẹp trong tình bạn.
Vanmau.edu.vn | Em được tặng một chiếc máy bay đồ chơi, hãy tả lại món quà đó | 533 | |
Em được tặng một con búp bê, hãy tả lại món đồ chơi đó
Gợi ý
Sinh nhật lần thứ mười một của tôi được bố mẹ tổ chức thật vui và ý nghĩa. Hôm đó mọi người đến chơi rất đông và tặng tôi nhiều quà. Trong số đó, tôi thích nhất là em búp bê mẹ tặng.
Tuy đã lớn rồi nhưng sở thích chơi búp bê từ nhỏ của tôi vẫn còn. Đến nay, tủ đồ chơi của tôi chiếm một phần lớn là những con búp bê xinh xắn. Có con nhỏ xíu nhưng cũng có con lớn ôm vừa vòng tay, có búp bê bằng vải nhưng cũng có búp bê bằng nhựa, và đa số là quà tặng trong những dịp sinh nhật… Nhìn tủ đồ, mọi người gọi đùa tôi là nhà sưu tập búp bê. Tưởng tượng những con búp bê là em mình, nhiều khi tôi cưng nựng dỗ đành như thật.
Em búp bê mẹ mới mua cho tôi lớn lắm. Nó to gần bằng cái gối ôm của tôi. Nhìn xa, tưởng nó là một em bé nhỏ. Em búp bê này cũng có làn da hồng hào, mềm mịn. Hai cái má căng hồng như trái đào chín. Đôi mắt tròn mở to màu xanh nước biển. Đó là một đôi mắt biết cười với hàng lông mi dài cong vút. Cái miệng hồng chúm chím luôn luôn tươi cười. Những nét đáng yêu ấy càng làm cho khuôn mặt tròn trĩnh của em rạng rỡ. Tôi thích nhất là mái tóc dài, mượt mà màu vàng của em. Mái tóc tết thành hai bím thả ra phía trước trông rất duyên. Trên đầu, tôi thắt một cái nơ nhỏ gọn gàng. Xem thêm: Tả một nam nghệ sĩ hài được yêu thích
Tất cả những bộ quần áo của em búp bê đều do tay tôi thiết kế. Những bộ trang phục ấy thể hiện rất nhiều tính cách khác nhau. Có khi là một em búp bê tinh nghịch với quần bò yếm màu xanh lam, có khi lại dịu dàng, thướt tha với tà áo dài trắng, có lúc điệu đà với chiếc váy dạ hội, khoẻ khoắn trong quần áo thể thao… Có những kiểu quần áo nào tôi cũng dành cho búp bê; Với mỗi bộ trang phục ấy tôi lại thiết kế một kiểu tóc phù hợp. Búp bê đúng là một người mẫu chuyên nghiệp. Từ bé tôi đã ước mình là một nhà thiết kế thời trang nổi tiếng. Nhờ có em mà tôi có cảm giác ước mơ ngày nào đã được thực hiện. Thế là những lúc rảnh rỗi, tôi cặm cụi cắt cắt, may may. Em búp bê có một tủ quần áo đầy. Ai đến nhà cũng trầm trồ khen đẹp khiến tôi sung sướng lắm.
Em búp xinh tươi là người bạn nhỏ của tôi. Mỗi khi đi học về tôi lại hôn nhẹ lên má em một cái thật tình cảm.
Vanmau.edu.vn | Em được tặng một con búp bê, hãy tả lại món đồ chơi đó | 501 | |
Em được tặng một con lật đật, hãy tả lại món quà đó
Gợi ý
“Mỗi bước con đi trên chặng đường mới,
Con vững vàng,
Vấp ngã – biết đứng dậy
Chẳng bao giờ đánh mất niềm tin”.
Đó là những lời nhắn nhủ mẹ gửi gắm trong con lật đật – món quà cuối cùng của mẹ dành cho tôi.
Con lật đật của tôi đã cũ. Trông người nó béo ú na ú núc như hai quả bóng đè lên nhau. Ngoài mái tóc đen tuyền, cánh tay trắng phau và khuôn mặt màu hồng nhạt thì toàn thân lật đật là một màu đỏ đậm, rất nổi bật. Phía đằng sau có một vết xước dài do bị mèo cào. Màu áo đỏ cũng không còn độ bóng như khi còn mới. Nhưng đôi mắt lật đật vẫn thế, luôn mở to, lóng lanh rất đáng yêu. Chiếc môi của nó thì bé xíu, đỏ mọng như tô son.
Lật đật rất nghịch ngợm. Nó ít khi chịu đứng yên một chỗ. Lúc nghiêng sang phải, lúc lại ngả sang trái, có khi lại đổ ập ra phía trước hoặc đằng sau. Nhưng lật đật không ăn vạ bao giờ. Ngã xuống đất là tự đứng lên ngay, miệng vẫn tươi rói nụ cười.
Lật đật quả là dũng cảm và kiên cường. Dù khó khăn, gian khổ đến đâu chú cũng biết cố gắng phấn đấu: “Vấp ngã/ Biết đứng dậy/ Chẳng bao giờ đánh mất niềm tin”. Xem thêm: Tả câu chuyện có công mài sắt có ngày nên kim Tôi sẽ học tập chú lật đật, nghe theo lời mẹ để trở thành một cô bé kiên cường và dũng cảm – cô bé lật đật.
Vanmau.edu.vn | Em được tặng một con lật đật, hãy tả lại món quà đó | 284 | |
Em ước mơ được trở thành tiếp viên hàng không. Hãy viết một bức thư ngắn kể cho bạn em về ước mơ đó
Gợi ý
Hà Nội, ngày… tháng… năm…
Hà Giang thân!
Hồi này cậu thế nào? vẫn khoẻ chứ? Chắc việc học tập của cậu vẫn tốt đúng không? Sức học của cậu khá thế cơ mà.
Lớp mình dạo này vẫn vậỵ, học vẫn giỏi nhưng nghịch cũng tài. Lớp lúc nào cũng vui như hội. Chỉ thiếu cậu nữa thôi là đủ bộ.
Mình có một bí mật muốn kể cho cậu nghe. Mình muốn trở thành một nữ tiếp viên hàng không, được mặc những bộ trang phục áo dài truyền thống thật đẹp, được đi rất nhiều nơi trên thế giới. Lúc đó, mình sẽ giới thiệu với bạn bè năm châu về các phong tục tập quán, các nét đẹp truyền thống của người Việt Nam. Thật tuyệt phải không? Mình biết là rất khó để thực hiện ước mơ này, nhưng mình sẽ cô gắng học tập từ bây giờ. Mình tin là sẽ thành công. Cậu cũng nghĩ như vậy chứ?
Thôi, thư đã dài, mình dừng bút đây. Khi nào rảnh nhớ viết thư cho mình nhé! Tạm biệt cậu.
Bạn thân
Quỳnh Anh
Phạm Quỳnh Anh
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả cảnh công viên vào buổi sáng | Em ước mơ được trở thành tiếp viên hàng không. Hãy viết một bức thư ngắn kể cho bạn em về ước mơ đó | 216 | |
Ghi lại cuộc trò chuyện của em trong những tình huống gọi điện sau
Gợi ý
Đề 1: Nếu bố (mẹ) của bạn cầm máy, em xin phép nói chuyện với bạn thế nào?
Bài làm
– Em phải nói:
+ Chào bố (mẹ) bạn.
+ Tự giới thiệu về mình: tên, quan hệ thế nào vời bạn (bạn cùng lớp, cùng sinh hoạt ở cung thiếu nhi,…).
+ Xin phép bố mẹ của bạn cho mình nói chuyện với bạn.
+ Cảm ơn bố mẹ bạn.
Đề 2: Bạn em gọi điện cho em, rủ em đến thăm một bạn trong lớp bị ốm. Em đồng ý và hẹn bạn ngày giờ cùng đi. Ghi lại cuộc trò chuyện đó.
Bài làm
– A lô! Lan đấy à? Mình là Hà đây. Bạn Hoàng lớp mình bị ốm đấy. Chiều nay, mình muốn rủ cậu cùng đi thăm bạn ấy.
– Ừ, chiều nay cậu qua nhà tớ rồi mình cùng đi nhé!
Đề 3: Em đang học bài, bỗng bạn em gọi điện rủ em đi chơi. Em từ chối (không đồng ý) vì còn bận học. Ghi lại cuộc trò chuyện đó.
Bài làm
– Alô! Cường đấy à? Mình, Hải đây. Cậu sang nhà mình chơi điện tử nhé!
– Tiếc quá, Hải ơi. Mình còn mấy bài tập chưa làm xong. Để khi khác nhé!
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Dàn ý cho bài viết: Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” ka-ra-ô-kê và internet trong giới trẻ hiện nay | Ghi lại cuộc trò chuyện của em trong những tình huống gọi điện sau | 237 | |
Ghi lại những sự việc chính trong truyện “Dế mèn bênh vực kẻ yếu”
Gợi ý
– Sự việc 1: Dế Mèn gặp Nhà Trò đang gục đầu khóc bên tảng đá.
– Sự việc 2: Nhà Trò kể lại tình cảnh khốn khó của mình.
– Sự việc 3: Dế Mèn phẫn nộ cùng Nhà Trò đến chỗ mai phục của bọn Nhện.
– Sự việc 4: Gặp bọn Nhện, Dế Mèn ra oai.
– Sự việc 5: Bọn Nhện sợ hãi phải nghe theo. Nhà Trò được tự do.
Vanmau.edu.vn | Ghi lại những sự việc chính trong truyện “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” | 85 | |
Ghi vào sổ tay những ý chính trong bài vươn tới các vì sao
Gợi ý
– Chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ là trên con tàu Phương Đông 1 của Nga.
– Người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng là Am-xtơ-rông.
– Người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ là Phạm Tuân.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết thư cho anh trai của em | Ghi vào sổ tay những ý chính trong bài vươn tới các vì sao | 64 | |
Ghi vào sổ tay những ý chính trong các câu trả lời của Đô-rê-mon trong bài báo: “Alô, Đô-rê-mon thần thông đây!”
Gợi ý
– Sách đỏ: là sách ghi tên các loài động vật, thực vật quý hiếm đang giảm sút mạnh về số lượng và có nguy cơ tuyệt chủng, cần được bảo vệ.
– Các loài động vật, thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng:
+ ở Việt Nam: Sói đỏ, cáo, gấu chó… trầm hương, trắc, kơ-nia….
+ Trên thế giới: Kền kền, cá heo xanh, gấu trúc….
-> Chúng ta không được săn bắn hoặc phá hoại môi trường sống của chúng.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Một liện tượng khá phổ biến hiện nay: vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng. Em hãy đặt một nhan đề gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình | Ghi vào sổ tay những ý chính trong các câu trả lời của Đô-rê-mon trong bài báo_ “Alô, Đô-rê-mon thần thông đây!” | 139 | |
Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, cách xa ngôi trường cũ em đang học. Hãy viết một lá đơn gửi đến ban Giám hiệu trường em để được chuyển trường
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày…tháng…năm
ĐƠN XIN CHUYỂN TRƯỜNG
Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường THCS Mai Hoàng, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Em tên là: Nguyễn Thị Mai Anh
Học sinh lỚp 6D, Trường THCS Mai Hoàng, quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Em viết đơn này xin trình bày một việc như sau:
Hiện nay, gia đình em đang sinh sống tại quận Thanh Xuân, Hà Nội, rất thuận tiện cho em đến trường. Nhưng vào năm học mới, vì một số lí do, gia đình em sẽ chuyển tới nơi ở mới tại huyện Đông Anh, cách xa nơi em đang sống.
Vì vậy, em viết đơn kính mong Ban Giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho em được chuyển trường về Trường THCS Ngọc Khê, Đông Anh, để thuận lợi cho việc học tập.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy cô giáo.
Học sinh
Mai Anh
Nguyễn Thị Mai Anh
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Hướng dẫn phân tích tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải | Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, cách xa ngôi trường cũ em đang học. Hãy viết một lá đơn gửi đến ban Giám hiệu trường em để được chuyển trường | 209 | |
Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, em muốn học tiếp lớp 6 ở trường nơi mới đến. Hãy viết lá đơn gửi đến Ban giám hiệu của ngôi trường mới
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN XIN NHẬP HỌC
Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường Trung học cơ sở Phương Đông
Tên em là Nguyễn Văn Hùng
Sinh ngày 13 tháng 08 năm 1998
Nguyên quán: xã A huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Em đang học lớp 6 tại trường THCS Mai Thúc Loan (xã A huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Nay, gia đình em chuyển đến xã B, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Việc tiếp tục theo học tại trường THCS Mai Thúc Loan của em gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, em làm đơn này, xin Ban giám hiệu nhà trường cho phép em được tiếp tục theo học tại quý trường.
Nếu được nhận vào trường, em xin hứa sẽ chấp hành nội quy của trường và nỗ lực học tập.
Kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô!
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Bình, ngày… tháng… năm…
Người viết đơn (kí tên)
Nguyễn Văn Hùng
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Hãy tả lại ngôi nhà mà em và gia đình đang sống | Gia đình em chuyển đến nơi ở mới, em muốn học tiếp lớp 6 ở trường nơi mới đến. Hãy viết lá đơn gửi đến Ban giám hiệu của ngôi trường mới | 210 | |
Gia đình em và cửa hàng vật liệu xây dựng làm hợp đồng thống nhất với nhau về mua bán. Em hãy giúp bố mẹ làm bản hợp đồng đó
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
* * * * * *
HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẬT LIỆU XÂY DỰNG
– Căn cứ vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày… tháng… năm… của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản hướng dẫn thi hành của các cấp các ngành.
– Căn cứ vào nhu cầu và khả năng của hai bên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 05 năm 2009
Tại địa điểm: Trung tâm Thương mại huyện Nam Sách, Hải Dương Chúng tôi gồm:
Bên A:
Cửa hàng vật liệu xây dựng Thành Phong
Địa chỉ: tầng 2 Trung tâm Thương mại huyện Nam Sách, Hải Dương Điện thoại: 0320… Fax: 0320…
Tài khoản:…
Mã số thuế:…
Đại diện là ông Nguyễn Văn Quyền
Chức vụ: Trưởng-phòng Kinh doanh
Bên B:
Bà Trần Thị Minh Việt
Địa chỉ số nhà… đường… thành phố Hải Dương Điện thoại: 0906868XXX
Hai bên thoả thuận kí kết Hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng với nội dung và các điều khoản sau:
Điều 1. Nội dung giao dịch bao gồm việc mua và bán vật liệu xây dựng gồm sắt, thép.
Điều 2. Trách nhiệm và nghĩa vụ bên A
– Bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời sắt, thép cho bên B theo đúng đơn giá đã công bố;Xem thêm: Nhà văn lớn người Pháp, Mác-xen Pruts cho rằng: “Đối... biết đến”. Vận dụng phong cách nghệ thuật của một tác giả để phân tích và chứng minh ý kiến trên– Vận chuyển hàng hoá bảo đảm, an toàn đến giao tận địa chỉ đã đăng kí của bên B.
Điều 3. Trách nhiệm và nghĩa vụ của bên B.
– Kiếm tra số lượng, chủng loại, chất lượng và bốc xếp hàng hoá tư phương tiện chuyên chở vào cửa hàng.
– Thanh toán đầy đủ theo đơn giá của bên A và đúng thời gian cho bên A.
Điều 4 Phương thức thanh toán
– Bên B thanh toán cho bên A chậm nhất là 7 ngày sau khi nhận hàng;
– Bên B chủ động gặp bên A để hoàn tất việc thanh toán.
Điều 5. Hiệu lực của hợp đồng.
Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 16 tháng 05 năm 2009 đến hết ngày 16 tháng 11 năm 2009. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có điểm nào chưa phù hợp thì hai bên sẽ bàn bạc đi đến thống nhất cách giải quyết. Những nội dung hiệu chỉnh sẽ được ghi lại trong bản "Phụ lục hợp đồng". "Phụ lục hợp đồng" có giá trị như hợp đồng chính thức.
Hợp đồng này được lập. thành 04 bản có giá trị như nhau, mỗi bên giữ 02 bản.
Đại diện bên A Đại diện bên B
Quyền Việt
Nguyễn Văn Quyền Trần Thị Minh Việt
Vanmau.edu.vn | Gia đình em và cửa hàng vật liệu xây dựng làm hợp đồng thống nhất với nhau về mua bán. Em hãy giúp bố mẹ làm bản hợp đồng đó | 482 | |
Đề tài: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh
Lê Hữu Trác xuất thân trong một gia đình quí tộc, giỏi binh thư,võ nghệ. Làm quan dưới thời chúa Trịnh được một thời gian,ông nhận thấy xã hội thối nát,cương thường lỏng lẻo, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất (1746), ông liền viện cớ cáo quan về nuôi mẹ già. Từ đó ông chuyên nghiên cứu y học vừa chữa bệnh cứu đời, vừa soạn sách và mở trường dạy học truyền bá y đức, y lí,y thuật.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43(1782),Lê Hữu Trác nhận được lệnh chúa triệu về kinh xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán.Sau đó một thời gian thì chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong nhiều chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long đã thôi thúc ông cầm bút. Năm 1783 ông viết xong tập “Thượng kinh kí sự” bằng chữ Hán. Tập kí sự này là một tác phẩm văn học đích thực, đặc sắc giá, có giá trị sử liệu cao. Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” trong sách Ngữ văn 11-Nâng cao,tập 1(Nxb.Giáo dục,H,2007) thể hiện được đầy đủ những nét độc độc đáo trong bút pháp kí sự của Lê Hữu Trác.
Như ta biết: kí là là tên gọi chung cho một nhóm thể loại có tính giao thoa giữa báo chí với văn học. Kí viết về cuộc đời thực tại,viết về người thật,việc thật. Người viết kí miêu tả thực tại theo tinh thần của sử học. Mẫu hình tác giả kí gần gũi với nhà sử học. Tác giả kí coi trọng việc thuật lại có ngọn ngành và không bao giờ quên miêu tả khung cảnh. Kí bao gồm nhiều thể văn như: bút ký, phóng sự, du kí, hồi kí,nhật kí, …Trong số đó kí sự thiên về ghi chép chi tiết, tỉ mỉ sự việc- câu chuyện có thật. Tất nhiên đan xen vào mạch tự sự còn có những đoạn thể hiện nhận xét chân thực,tinh tường của nhà văn trước sự việc.
Đoạn trích “ Vào phủ chúa Trịnh” vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của chúa Trịnh. Lê Hữu Trác sử dụng người trần thuật ngôi thứ nhất,trực tiếp tiếp cận cung cách sinh hoạt xa hoa của chúa Trịnh. Nhà văn quan sát tỉ mỉ, ghi chép trung thực, tả cảnh sinh động, thuật việc khéo léo.
Mở đầu đoạn trích là một sự kiện cụ thể, chân thực. Tính chất kí trong bút pháp của Lê Hữu Trác thể hiện rõ ở cách ghi tỉ mỉ sự việc, thời gian.Nhà văn kết hợp biện pháp kể khách quan với nghệ thuật gợi không khí nhằm làm nổi bật hành động khẩn trương,gấp gáp của nhân vật: “ Mồng một tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở cửa. Thì ra một người đầy tớ quan Chánh đường….”. ở đây “trong việc có người”, người gắn chặt với cảnh,với môi trường hoạt động cụ thể. Câu văn của Lê Hữu Trác ngắn gọn, giàu thông tin, được viết ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên,không một chi tiết thừa.Lời văn giản dị, chắc mà bay bổng, vừa “truyền cảm” vừa truyền nhận thức.Người đọc có thể hình dung được rất rõ một cảnh huống đặc biệt đang xảy ra.
Lần theo mạch tự sự, người đọc có cảm giác hồi hộp lo âu rồi bất ngờ nhận ra một con người gần gũi, quen thuộc như cảm nhận của nhân vật “ Tôi” trong tác phẩm này. Trước mắt ta: hình ảnh nhân vật tôi đã dừng bước với tâm trạng ngạc nhiên, thoáng một chút thất vọng. Nhịp kể đột ngột chậm lại để ghi người, ghi việc rõ nét hơn, đầy đủ hơn. Hai chữ “thì ra” vừa tạo ấn tượng về sự khám phá, vừa gọi ra được người thật,việc thật.
Nhân vật “tôi” không hiện ra qua hình dáng cụ thể. Trước hết anh ta xuất hiện qua giọng nói, qua cảm nhận về âm thanh, và rõ hơn ở hành động. Nhân vật “tôi”” xuất hiện với tư cách một người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào sự việc được miêu tả trần thuật. Vì thế ngay từ đầu truyện người đọc đãcó cảm giác đây không phải câu chuyện hư cấu, mà chính là bức tranh cuộc sống đang hiện hữu.
Khi kể việc, tả người Lê Hữu Trác không vay mượn những khuôn mẫu, chất liệu có sẵn,tác giả hướng tới khai thác chất liệu đời thường, đời tư. Chẳng hạn lời đối thoại của nhân vật người đầy tớ được thể hiện một cách tự nhiên, đúng với vị thế chức phận của hắn: “có thánh chỉ triệu cụ vào. Quan truyền mệnh hiện đang ở nhà cụ lớn con,con vâng mệnh chạy đến đây báo tin…”.
Lê Hữu Trác coi trọng việc kể lại có ngọn ngành. Nhà văn ưa sắp xếp sự việc cho đầy đủ mạch lạc có đầu có cuối, nên dường như cứ một đoạn hay một câu nói về hành động của tên đầy tớ lại tiếp đoạn tự thuật về hành động, cảm nhận của Lê Hữu Trác. “Nghe tiếng gõ cửa…..tôi chạy ra…”, “người đầy tớ nói…..tôi bèn”, “tên đầy tớ chạy…tôi bị xóc một mẻ,khổ không nói hết”. Mạch văn chặt chẽ nhờ sự thể hiện thành công cái lô gíc nhân quả của sự kiện, hành động.Ban đầu ta tưởng như nhân vật “tôi” chủ động, nhưng càng đọc càng thấy nhân vật “tôi” bị cuốn vào hết sự việc này đến sự việc khác.
Mở đầu đoạn trích cấu trúc câu văn ngắn gọn. Mỗi câu văn tương ứng với một tâm tình, một sự việc, hành động. Người đọc vừa đồng cảm với nỗi vất vả và hành động bất đắc dĩ của nhân vật tôi vừa đồng tình với Lê Hữu Trác ở thái độ mỉa mai châm biếm sự lộng quyền,tiếm lễ của chúa Trịnh Sâm lúc bấy giờ.
Xem thêm: Phân tích sức hấp dẫn trong bài thơ Vội vàng của Xuân DiệuQuang cảnh và cung cách sinh hoạt trong phủ chúa được ghi lại khá tỉ mỉ qua con mắt quan sát của một thầy thuốc lần đầu tiên bước chân vào thế giới mới lạ. Không gian nghệ thuật của tác phẩm ngày càng được mở rộng hơn theo bước chân, và cách nhìn của nhân vật xưng “tôi”.Bức tranh toàn cảnh về phủ chúa Trịnh không chỉ có bề rộng mà còn có chiều sâu, với một sức gợi mạnh mẽ.
Theo nhân vật “tôi” quanh cảnh ở phủ chúa cực kì xa hoa, tráng lệ- không ở đâu sánh bằng: Khi vào phủ phải qua nhiều lần cửa với những hành lang quanh co nối tiếp nhau,ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác. Khuôn viên phủ chúa rộng, có trạm dừng chân được kiến trúc thật kiểu cách, với cảnh trí thiên nhiên kì lạ. Trong vườn, chim kêu ríu rít,danh hoa đua thắm,gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong là những Đại đường, gác tía với kiệu son, võng điều. Đồ dùng của chúa được son son thiếp vàng, đồ dùng tiếp khách ăn uống cũng đều là mâm vàng, chén bạc, của ngon vật lạ…. Đến nội cung của thế tử phải trải qua 6 lần trướng gấm. Nơi ở của thế tử rất sang trọng,có sập thếp vàng, ghế rồng bày nệm ấm,xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt…
Lê Hữu Trác khéo kết hợp tả tập trung với điểm xuyết, chọn lọc được những chi tiết đắt, nói lên quyền uy tối thượng cùng nếp sống hưởng thụ cực kì xa xỉ của gia đình chúa Trịnh Sâm. Giọng kể khách quan, trang nghiêm, đan xen với thái độ ngạc nhiên và hàm ý phê phán kín đáo chúa Trịnh.Nhà văn khéo kết hợp giữa văn xuôi và thơ ca. Bài thơ vịnh cảnh, tả việc của Lê Hữu Trác ý tứ sâu xa, lời thơ hóm hỉnh,ẩn giấu một nụ cười châm biếm, mỉa mai.
Lời nhận xét trong văn phẩm khá đa dạng: Trước tiên Lê Hữu Trác đánh giá khái quát vẻ đẹp. Tiếp theo nhận xét về cảnh giàu sang. Tiếp nữa nêu ấn tượng về cách bày trí, kiến trúc kiểu cách. Nhà văn dừng lại bình giá tỉ mỉ,sắc sảo các đồ dùng xa hoa từ nhà Đại đường đến Gác tía. Lời đánh giá nào của lê Hữu Trác cũng đích đáng,tinh tế và có chừng mực. Nói tác phẩm giàu chất trữ tình vì thế.
Tác giả quan sát các công trình kiến trúc, cảnh trí thiên nhiên qua hình khối, dáng vẻ kích cỡ, tả khuôn viên chủ yếu qua những ấn tượng về hương thơm âm thanh, kể về mức độ xuất hiện của thị vệ, quân sĩ để nhấn mạnh vẻ trang nghiêm của nơi đây. Lê Hữu Trác đặc biệt ưa tả đường đi, lối vào phủ chúa. Ta có cảm tưởng đằng sau mỗi cánh cửa là một bức tranh.Đoạn trích gồm nhiều bức tranh với những mảnh màu tối sáng, nhạt đậm khác nhau, nối liền nhau.
Qua mấy lần cửa đầu tiên, trước mắt tác giả giống như một cảnh tiên huyền ảo, cây cối um tùm, hương hoa thơ mộng. Đi tiếp, cảnh giàu sang của phủ chúa được bày ra chân thật,đầy đủ hơn. Càng đi sâu vào trong, Lê Hữu Trác càng có dịp quan sát không gian nội thất, không gian cao rộng của lầu gác với các đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, nhất là được biết cái phong vị của nhà đại gia.
“Vào phủ chúa Trịnh” trở thành một quá trình tiếp cận sự thật đời sống xa hoa vương giả hơn là thăm bệnh,chữa bệnh. Thăm bệnh, chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán tưởng chỉ như một cái cớ, một dịp may giúp người viết kí hoàn thiện bức tranh về cuộc sống thâm nghiêm, giàu sang đầy uy quyền.
Lê Hữu Trác tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Có đoạn sự việc được kể theo quan sát của nhân vật xưng tôi. Có đoạn nhà văn để cho nhân vật quan truyền chỉ miêu tả,giới thiệu. Người đọc có cảm tưởng không chỉ có Lê Hữu Trác dẫn ta vào phủ chúa để tự do quan sát ngắm nhìn mà cả những kẻ hầu cận chúa cũng đưa ta thâm nhập, khám phá sự thật ở “Đông cung”. Những đoạn nhân vật tôi độc thoại toát lên cái nhìn sắc sảo và sự cảm nhận tinh tế. Những đoạn kể tả, cho thấy nhân vật tôi bao quát được một không gian rộng lớn, nắm bắt được thần thái, bản chất của sự vật hiện tượng. Trong tư cách một người thầy thuốc quê mùa, nhân vật tôi luôn tỏ ra là một người hoà nhã kính nhường, ham học hỏi y thuật của đồng nghiệp. Sự đối lập về vị thế so với các vị lương y của sáu cung hai viện,không khiến nhân vật tôi trở nên nhỏ bé, trái lại càng tôn cao hơn nhân cách và tài năng của nhân vật này. Vẻ đông đúc của lương y nơi triều đình tự phơi bày hết sự thực ở phú chúa đang tồn tại một hệ thống quan lại bất tài, ăn bám
Các nhà nho xưa ít khi nói về mình. Nhưng trong đoạn trích này,tác giả đã không ngần ngại để cái “Tôi”đóng một vai trò quan trọng. “Vào phủ chúa Trịnh” thể hiện trực tiếp cái tôi cá nhân người cầm bút. Qua đoạn trích ta thấy tác giả Lê Hữu Trác là một thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Bên cạnh tài năng ông còn là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ. Lê Hữu Trác xem nghề thuốc vô cùng thiêng liêng cao quí,người làm thuốc phải nối tiếp lòng trung của cha ông mình,phải luôn giữ đức cho trong, giữ lòng cho sạch. Lê Hữu Trác yêu thích tự do, nếp sống thanh đạm. Vượt lên trên những danh lợi tầm thường ông trở về hành đạo cứu đời với quan niệm: “Thiện tâm cốt ở cứu người. Sơ tâm nào có mưu cầu chi đâu/ Biết vui, nghèo cũng hơn giàu/ Làm ơn nào phải mong cầu trả ơn”.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài "Từ ấy" của nhà thơ Tố Hữu: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim, Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim..." | Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh | 2,138 | |
Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ qua hai nhân vật Mị và A Phủ
Nếu như tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài mang một giọng hồn nhiên trong sáng thì tác phẩm Vợ chồng A Phủ của ông mang lại màu sắc dân tộc đậm đà, chất thơ chất trữ tình thấm đượm. Qua tác phẩm, nhà văn đã dựng nên một bức tranh hiện thực của hai cuộc đời: Mị và A Phủ, những bức tranh đó cũng chứa chan một tấm lòng nhân đạo của Tô Hoài.
Mị, một cô gái xinh đẹp trẻ trung, nhưng lại mang một kiếp sống nghèo của kẻ “thấp cổ bé họng”. Cha mẹ cô không thể trả nổi món nợ nhà thống lí thế là món nợ ấy truyền sang Mị. Tên thống lí tàn bạo ấy lại muốn bắt Mị làm con “dâu gạt nợ”. Mà quan đã muốn là trời muốn, cô Mị về làm dâu nhà quan mà trong lòng mang một mối uất ức không thể giãi bày. Tiếng làm dâu nhưng lại là một thứ nông nô không hơn không kém, cô mất tất cả quyền sống, quyền được xem là một con người. Ngày trước dẫu nghèo nhưng được tự do, yêu đời, giờ đây vẫn nghèo vẫn cực nhọc lại nhục nhã chịu kiếp sống nô lệ qua kiếp sống của Mị, nhà văn bộc lộ một tấm lòng thương người, chua xót cho số phận con người, và cũng qua đó Tô Hoài đã vạch trần cái bản chất bóc lột giai cấp. Người ta dùng cái thế lực và tiền bạc “cướp người đàn bà đem về trình ma”, thế là người đàn bà cũng bị cái “ma” vô hình trói cả cuộc đời trong nhà ấy. Nếu chẳng may chồng chết thì người ấy phải làm vợ người khác trong nhà, có khi là một người anh chồng già lụ khụ, có khi là một người em chồng còn ở tuổi trẻ con, và nếu chồng lại chết, lại phải ở với người đàn ông khác vẫn ở trong nhà ấy. … Phải suốt đời ở trong nhà ấy.
Mị đã khổ nhiều rồi, trong cái địa ngục trần gian ấy, lại càng khổ hơn khi phải chấp nhận mình là kiếp trâu kiếp ngựa. Cả những con người cứng rắn, có lẽ không khỏi động lòng khi đọc đến câu “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa”… Khổ mà đến “quen” rồi quả thật ý thức con người đã bị tê liệt, đã mất đi cái “yếu tố xã hội” để được xem là con người. Chuỗi ngày cực nhục đã cướp đi của Mị sức sống tài năng cướp đi những thất vọng tuổi trẻ những “lúc hồi hộp chờ đợi người yêu”. Lúc nào và bao giờ cũng thế, công việc cứ giăng trải ra trước mặt Mị, cứ những công việc quen thuộc làm đi làm lại “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp… Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế”. Khổ quá, cái khổ cứ chực bóp nát cuộc đời Mị, thế sao Mị không tự tử chết đi cho rồi? Không được bởi “Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ. Mị đành trở lại nhà thống lí”.
Cuộc sống trong cái địa ngục khủng khiếp đã bào mòn đi trái tim yêu đời của Mị, giờ đây nó đã trở nên trơ lì, chai sạn. Mị chỉ còn biết vùi đầu vào công việc “lùi lũi như một con rùa nuôi trong xó cửa”. Thế giới của Mị thu vào một “chiếc cửa sổ ô vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Ý thức đã hoàn toàn biến dạng, Mị nhìn ra cuộc đời bằng ô cửa sổ, mà lại chẳng biết gì ngoài ấy thì có phải Mị đã quên mình là con người! Rõ ràng Tô Hoài đã tuân thủ nguyên tắc biện chứng của chủ nghĩa hiện thực một cách nghiêm ngặt: hoàn cảnh đã tác động vào tính cách Mị. Vợ chồng A Phủ chính là một bản cáo trạng đanh thép kết án những bọn cường hào thống lí và Tô Hoài đã mở rộng tấm lòng mình để bao bọc, che chở, bênh vực cho những người phụ nữ miền núi chịu hai tầng bóc lột.
Xem thêm: Tư tưởng "Đất nước của Nhân dân" được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện như thế nào trong chương "Đất nước" (Trích trường ca "Mặt đường khát vọng")Bức tranh hiện thực được hoàn chỉnh hơn với sự xuất hiện của A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh cường tráng, trung thực. Chỉ vì những cuộc ẩu đả thường tình mà A Phủ bị đưa ra xử kiện có phải là vô lí không? Nhưng vấn đề ở chỗ: Người đúng là con dân còn kẻ sai là con quan, hơn nữa, quan lại là người xử kiện. Như thế chẳng biết “công lí” có còn ngự trị nơi quan đường? Chỉ biết rằng A Phủ đang là một con chim xoãi cánh trong bầu trời tự do bỗng chốc bị nhốt trong lồng, bị trở thành nô lệ. Dường như cuộc đời A Phủ có lặp lại ít nhiều những biến thái của cuộc đời Mị. Đó là số phận chung cho những người miền núi thời bấy giờ.
Nhắc đến tác phẩm, người ta nhắc đến tính hiện thực và giá trị nhân đạo. Hiện thực mà chỉ bằng tố cáo phê phán thì còn khiếm khuyết, “nhân đạo” mà chỉ có yêu và ghét thì chưa phải là nhân đạo. Nhà văn cần phải hiểu nhân vật và tìm ra con đường tất yếu mà nhân vật phải đi. Tính cách nhân vật phát triển theo hoàn cảnh và được Tô Hoài phân tích theo con đường phát triển của tâm lí nhân vật. Thiết nghĩ đây mới là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo độc đáo của tác phẩm. Nhân cách Mị bị tha hóa trong cái địa ngục trần gian là hợp lí, sống cho ra người thì không sống được muốn chết cũng ko chết được. Có phải Mị đã ở cái trạng thái “sống dở chết dở”. Rồi Mị phải quen, phải chịu đựng, và trở nên chai lì như một cỗ máy. Liệu Mị có còn lối thoát? Nếu như có một hoàn cảnh đã làm tê liệt ý thức con người thì sẽ có một hoàn cảnh để vực dậy trong lòng họ một sức sống. Nghe như mơ hồ nhưng đó là sự thực. Dòng nước mắt của A Phủ chính là “hoàn cảnh” đã giúp Mị sống dậy. “Lúc ấy đã khuya.Trong nhà đã ngủ yên Mị trở dậy thổi lửa.Ngọn lửa bập bùng sáng lóe Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở.Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Mị bắt gặp dòng nước mắt ấy và nhớ về mình, Mị cũng phải trói đứng thế kia và Mị cũng khóc “nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”. Dòng nước mắt là sự đồng cảm giữa hai con người. Dòng nước mắt của A Phủ đã làm bỏng rát vết thương trong lòng Mị. Tất cả thôi thúc Mị cởi trói cho A Phủ và cả hai người “lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi”. Họ đến lập nghiệp ở Phiềng Sa. Thế rồi chẳng bao lâu sau, cái đồn Tây, lại lù lù xuất hiện, cha con thống lí lại vào ở đó. Trước mắt hai người chỉ còn một sự lựa chọn: trở về kiếp sống nô lệ hoặc chống kẻ thù. Cách mạng rồi sẽ đến với họ và họ sẽ trở thành người của cách mạng.
Muốn phân biệt giữa giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo là điều không phải dễ. Thực ra, cả hai hòa quyện vào nhau, đan xen vào nhau. Có ghét nhà văn mới tố cáo bọn thống lí Pá Tra, có thương cảm nhà văn mới viết được những câu văn đầy xúc động, có hiểu nhà văn mới đi sâu vào cuộc sống tâm lí con người. Và Tô Hoài có thong cảm với nhân vật lắm mới có thể xét đoán tinh tế cuộc sống tinh thần của Mị. Những ngày tháng đầu tiên ở nhà thống lí Mị cứ khóc có đến hàng tháng, thế rồi định ăn lá ngón để tự tử vì không chịu nhục. Nhưng vẫn cố sống, sống một cách gượng gạo vì chữ hiếu. Mị nghèo vật chất nhưng không nghèo tình thương, lòng Mị vẫn âm ỉ một khao khát sống khao khát được tự do. Nếu như nhà văn lạnh lùng theo chủ nghĩa hiện thực khách quan thì làm sao nhà văn nắm bắt được cái khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng vẫn “tồn tại đời đời” ấy. Rõ rang nhà văn Tô Hoài tuân theo chủ nghĩa hiện thực nhưng ông tin rằng hoàn cảnh dẫu có khắc nghịêt vẫn không thể vùi dập hoàn toàn nhân tính. Hoàn cảnh tác động tính cách nhưng không giết chết tính cách.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh | Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện Vợ chồng A Phủ qua hai nhân vật Mị và A Phủ | 1,611 | |
Giá trị lịch sử và nhân văn của Tuyên ngôn Độc lập
Gợi ý
55 năm quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng là 55 năm dân tộc ta có bản Tuyên ngôn Độc lập – áng thiên cổ hùng văn thứ ba, tiếp nối Thơ Thần của Lý Thường Kiệt (thế kỷ XI) và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (thế kỷ XV)…
Thông thường, bất cứ tác phẩm văn học nào cũng gắn liền với số phận của một cá nhân nào đó. Tuyên ngôn Độc lập lại là một trường hợp khác. Đây là áng văn đặc biệt, có thể nhìn nhận từ nhiều góc độ: sử học, văn học, triết học, pháp lý… và lại gắn liền với số phận của cả một dân tộc, một quốc gia.
Một ngày ghi mãi sử xanh
Trong vòng 10 ngày, từ 19.8.1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết trong mặt trận Việt Minh, đã đứng lên tổng khởi nghĩa, làm chủ toàn bộ đất nước. Sau Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, ngày 26.8, Hồ Chủ tịch trở về Hà Nội, chuẩn bị cho việc ra mắt chính phủ mới và chính thức công bố quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Trên tầng 2 của ngôi nhà 48, phố Hàng Ngang, Bác Hồ đã chủ trì phiên họp của Thường vụ Trung ương Đảng đầu tiên ở Hà Nội và bắt tay vào viết bản Tuyên ngôn Độc lập. Văn bản này được Bác Hồ đọc giữa trưa 2.9.1945, trước nửa triệu đồng bào, tại quảng trường Ba Đình.
Một văn kiện lịch sứ to lớn
Bản Tuyên ngôn Độc lập chỉ có vỏn vẹn 1.120 từ. Thế nhưng, những giá trị lịch sử của nó lại hết sức to lớn. Cho đến hiện nay, không ai có thể tìm được một văn bản thứ hai, khái quát đầy đủ, toàn diện về lịch sử Việt Nam của hơn 80 năm trước ngày độc lặp. Ở đó, có những đánh giá khái quát:… hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Lại có những chi tiết thật cụ thể, điển hình: Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Song, giá trị lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập không chỉ ở sự khái quát lịch sử. Với trí tuệ mẫn tiệp đến kỳ lạ, Hồ Chủ tịch đã phân tích thế cuộc trong và ngoài nước một cách sắc sảo và dự báo những gì sẽ diễn ra sau đó. Vì thế, giữa Ba Đình, trên đất nước Việt Nam vừa mới được độc lập, Người “trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng”: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Hai cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta sau đó đã được Bác Hồ chuẩn bị tâm thế từ buổi trưa mùa thu lịch sử ấy! Điều này cũng giải thích vì sao sau khi viết xong bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ dành cho ông Archimedes L.A. Patti, một người Mỹ trong toán OSS, sau này trở thành nhà báo nổi tiếng, vinh dự làm người đầu tiên được nghe toàn vàn văn kiện đặc biệt này trước khi Người công bố với quốc dân và thế giới (Archimedes L.A. Patti, Tại sao Việt Nam?).
Xem thêm: Nghị luận xã hội về cách ứng xử văn hóa trong giao thông hiện nayNền tảng của chủ nghĩa nhân văn mới
Năm 1946, trả lời các nhà báo Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bực là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Sau này, khi đất nước bị chia cắt, Người nói: Miền Nam trong trái tim tôi. Còn trước đó, ở Tuyên ngôn Độc lập, một văn bản chính trị, Bác Hồ vẫn không giấu tình cảm của mình. Trái tim Người nghẹn ngào khi nói về những nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít: Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của dân ta trong bể máu… Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Nhưng trái tim ấy cũng vang lên sung sướng, tự hào khi: Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập… Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Hồ Chủ tịch là người yêu nước, dĩ nhiên phải chứa chất lòng căm thù thực dân Pháp. Song, Bác lại là người có trái tim nhân đạo lớn. Trái tim ấy thuộc về truyền thống khoan dung 4000 năm của dân tộc Việt Nam. Trước thế giới, Người nói về nhân nghĩa mà dân tộc này đã đối xử với kẻ thù của mình: …đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Không chỉ đấu tranh cho quyền độc lập, tự do của dân tộc, đất nước mình, Hồ Chủ tịch còn khẳng định: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Ngày nay, những lý lẽ như thế không phải xa lạ, nhưng không phải ở đâu trên trái đất này nó cũng được tôn trọng. Còn 55 năm về trước, đây lại là điều hoàn toàn mới mẻ. Bác Hồ là vị lãnh tụ đầu tiên trên thế giới đã gắn vấn đề quyền con người với quyền dân tộc. Ở Người, không có một chủ nghĩa nhân đạo chung chung, trừu tượng, được khởi thuỷ từ nhận định của K.Marx: Một dân tộc đi áp bức dân tộc khác không phải là một dân tộc tự do. Và, cũng vì thế, không thể có quyền con người khi quyền dân tộc chưa giành được. Chính chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và cách mạng này sẽ là ngọn cờ tư tưởng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa mấy mươi năm qua.Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích nét phong cách triết luận trữ tình của Nguyễn Khoa Điềm trong chương Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) Với người cộng sản, lòng thương xót con người không chưa đủ. Tình thương ấy phải trở thành khát vọng và hiện thực về một cuộc sống tự do và hạnh phúc hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người như thế.
1.9.2000
Vanmau.edu.vn | Giá trị lịch sử và nhân văn của Tuyên ngôn Độc lập | 1,337 | |
Đề bài: Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Tương đồng với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều trên phương diện khẳng định những giá trị nhân văn và phản ánh số phận người phụ nữ cũng như khả năng vận dụng nhuần nhuyễn thể loại ngâm khúc và thể thơ song thất lục bát, song bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm lại có phần giản lược những suy tưởng triết lý cao siêu và hướng nhiều hơn tới cuộc sống đời thường. Tâm tình người chinh phụ tiêu biểu cho nỗi nhớ mong chồng, khát khao cuộc sống gia đình bình dị và ước mong về một ngày đoàn tụ vợ chồng. Đặt trong tương quan chung, ước mơ của người chinh phụ cũng hiền hoà, dung dị, gần gũi hơn so với người cung nữ. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cho thấy rõ tâm trạng cô đơn của người vợ nhớ chồng ra trận và nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của hai tác giả Đặng – Đoàn, trong đó phải kể đến nghệ thuật diễn Nôm đặc biệt xuất sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Tâm trạng nổi bật trong đoạn trích gồm 36 câu thơ trong tổng số 408 câu của toàn tác phẩm là sự thể hiện nỗi đơn côi, trống vắng của người chinh phụ. Trước hết đó là sự ý thức về con người cá nhân chiếu ứng trong các quan hệ với cảnh vật và con người, đặt trong tương quan với thời gian và không gian. Nhân vật chủ thể trữ tình – người chinh phụ xuất hiện như có như không, vừa tỉnh thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Trong khổ thơ mở đầu (từ câu 1 – 16) có hai hình ảnh quan trọng được tô đậm, nhấn mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn. Người chinh phụ "ngồi rèm thưa" mà trông ra ngoài ngóng đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu. Cuộc sống nơi "trong rèm" chính là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng. Câu thơ chuyển tiếp Trong rèm dường đã có đèn biết chăng càng tôn thêm vẻ vắng lặng, đơn côi, một mình chinh phụ đối diện với bóng mình, đối diện với người bạn vô tri vô giác Đèn có biết dường bằng chẳng biết và đi đến kết cuộc Hoa đèn kia với bóng người khá thương… Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị "vật hoá" tựa như tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc, con người bây giờ chỉ còn là "bóng người" trống trải, vừa đối xứng vừa đồng dạng và là hiện thân của chính kiếp hoa đèn tàn lụi. Ngay đến cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tang thương, vô cảm, chập chờn bất định, không dễ nắm bắt với những "gà eo óc gáy sương", "hoè phất phơ rủ bóng"… Bên cạnh đó, dòng thời gian tâm lý cũng chuyển hoá thành sự đợi chờ mòn mỏi, thời gian đầy ắp tâm trạng đơn côi nhưng không có sự sống, không sự kiện, không thấy đâu bóng dáng hoạt động của con người:
Khắc chờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Trong sự chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang. Những trạng từ "đằng đẵng", "dằng dặc" tạo nên âm điệu buồn thương, ngân xa như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng. Rút cuộc, hình bóng người chinh phụ có xuất hiện trở lại thì trước sau vẫn là nỗi chán chường, buông xuôi, vui gượng "Hương gượng đốt", "Gương gượng soi", "Sắt cầm gượng gảy" mà không sao che đậy nổi một hiện thực bất như ý "hồn đà mê mải", "lệ lại châu chan" và "Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng"…
đoạn thơ tiếp theo (câu 17 – 28) là sự phản ánh nỗi lòng chinh phụ khi nhớ về người chồng. Có điều, nếu hình ảnh người chồng hiện diện như một ý niệm xa mờ thì bản thân nỗi nhớ mong cũng chỉ như một ảo giác. Sự gặp gỡ là điều không thể bởi tin tức mịt mờ, bởi khoảng cách về không gian, về địa danh có tính phiếm chỉ, biểu tượng của miền "non Yên", "đường lên bằng trời", "xa vời khôn thấu"… Các từ "thăm thẳm", "đau đáu", "thiết tha" gợi nhớ gợi thương, day đi dứt lại trong tâm can người chinh phụ. Sắc thái nỗi nhớ tăng tiến, rộng mở từ những suy tưởng dõi theo người chồng nơi phương xa đến sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa, đắng cay nối dài bất tận:
– Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
– Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên:
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Xem thêm: Phân tích giá trị của những từ Hán Việt.trong bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan: "Tạo hoá gây chi cuộc hí trường... Cảnh đấy người đây luống đoạn trường."Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa, bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa, xẻ héo cành ngô.
Hình ảnh so sánh "sương như búa", "tuyết dường cưa" là sự cực tả những xao động của thế giới bên ngoài thông qua cách hình dung của chinh phụ, khi nàng bất chợt không còn chịu đựng nổi ngay cả vẻ bình dị đời thường và bột phát thành những ám ảnh dị thường. Đó là những tâm trạng khác biệt nhau cùng tồn tại trong một con người, sự phân thân trong cách cảm nhận về thiên nhiên, cuộc sống. Trong bản chất, chính tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã tạo nên những xung đột tình cảm khác biệt nhau và phổ vào thế giới tự nhiên tất cả những trái ngang, những thất vọng và cả niềm hy vọng mong manh, những giây lát yên tĩnh nhất thời và những cơn bão lòng dường như không thể nguôi khuây.
Bước vào đoạn cuối (câu 29 – 36), người chinh phụ vươn tới không gian thoáng rộng hơn với những hàng hiên, ngọn gió, bóng hoa, ánh trăng nhưng đó cũng chỉ là thiên nhiên lạnh lùng, thiếu hẳn niềm tin và hơi thở ấm áp của sự sống. Cảnh vật như tách khỏi con người và không thấy đâu hoạt động của con người. Tất cả chỉ đơn thuần là cảnh vật và vì thế càng tôn thêm vẻ lạnh lùng, đối lập với tâm tư con người và hình ảnh nhân vật chinh phụ đang khuất lấp, ẩn chìm đâu đó:
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!
Đến hai câu thơ cuối bắt đầu hé mở tâm trạng so sánh. Người chinh phụ nhìn cảnh hoa nguyệt mà trạnh lòng bâng khuâng xót xa cho thân phận mình, tủi phận mình lẻ loi trước cảnh nguyệt hoa. Từ đây có thể nói tới những dự cảm về ý thức cá nhân của người chinh phụ và xa gần liên hệ tới quyền sống, quyền hưởng niềm vui, hạnh phúc lứa đôi giữa chốn nhân gian.
Trên phương diện nghệ thuật, thể thơ song thất lục bát với sự kết hợp hai câu thơ bảy chữ kiểu Đường thi hàm súc, trang nhã, đăng đối và câu thơ lục bát truyền thống giàu âm điệu, gợi cảnh gợi tình đã tạo nên nhịp thơ buồn thương man mác, nối dài không dứt. Quan sát kỹ có thể thấy từng bốn câu thơ đi liền nhau tạo thành một tiết đoạn, trong đó hai câu thất ngôn đóng vai trò khơi dẫn ý tứ, hai câu lục bát tiếp theo hướng tới luận bình, khai triển, mở rộng. Cứ như thế, các ý thơ, khổ thơ tiếp tục luân chuyển, nối tiếp nhau như những ngọn sóng cảm xúc đang trào dâng. Ngay trong từng câu thơ cũng xuất hiện những tiểu đối tạo nên tính chất hô ứng, đăng đối, tạo ấn tượng và sự nhấn mạnh:
– Dây uyên kinh đứt/ phím loan ngại chùng
– Cành cây sương đượm/ tiếng trùng mưa phun
– Sâu tường kêu vắng/ chuông chùa nện khơi
Thêm nữa, tác phẩm diễn Nôm bên cạnh việc giữ lại và Việt hoá được cả hệ thống điển tích và từ Hán Việt (non Yên, sắt cầm, dây uyên, phím loan, gió đông…) thì nhiều ý tứ trong nguyên tác đã được chuyển dịch, nâng cấp thành lời thơ thật sự giàu chất thơ. Chẳng hạn, với câu Sầu tự hải – Khắc như niên (nguyên ý nghĩa chỉ là Sầu tựa biển – Khắc như năm) đã được chuyển dịch thành câu thơ mang sắc thái nội tâm hoá, giàu cảm xúc, khơi gợi âm điệu cảm thương:
Khắc chờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Đoạn trích nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ cũng như toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm là tiếng kêu thương của người phụ nữ chờ chồng, nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa. Tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong sự cảm nhận về thời gian đợi chờ đằng đẵng, không gian trống vắng vây bủa bốn bề và cuộc sống hoá thành vô vị, mất hết sinh khí. Trên tất cả là tâm trạng cô đơn và sự ý thức về thảm trạng mất đi niềm tin, đánh mất niềm vui sống và mối liên hệ gắn bó với cuộc đời rộng lớn. Trạng thái tình cảm đó một mặt có ý nghĩa tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và hệ quả tiếp theo là bao nhiêu số phận chinh phụ héo hon tựa cửa chờ chồng, mặt khác xác nhận nhu cầu nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Không có gì khác hơn, đó chính là khả năng mở rộng diện đề tài, khai thác sâu sắc hơn thế giới tâm hồn con người, xác định nguồn cảm xúc tươi mới và khẳng định những giá trị nhân văn cao cả mà khúc ngâm đã đem lại, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của giai đoạn văn chương thế kỷ XVIII trong tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang thu | Giá trị nhân văn trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ | 1,924 | |
Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Chí Phèo?
Hướng dẫn
a) Tư tưởng nhân đạo của tác phẩm thường biểu hiện ở ba nội dung sau:
– Miêu tả số phận bất hạnh và sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc với ngườinông dân.
– Khẳng định phẩm chất tốt đẹp ởhọ.
– Lên án hành vi vô nhân đạo.
b) Cái mới mẻ và sâu sắc của truyện ngắn Chí Phèo là:
– Phát hiện, miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi họ bị xã hội thực dân nửa phong kiến tàn ác biến thành thú dữ. Chí Phèo có lúc muốn trở lại làm người lương thiện… nhưng làm sao có được? Chí Phèo đáng thương nhiều hơn là đáng trách.
– Nam Cao căm ghét xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy nhanh quá trình tha hoá, cướp đi cả tính người, hình người và đẩy Chí Phèo vào bi kịch cự tuyệt quyền làm người.
Nguồn:
Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành | Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Chí Phèo_ | 178 | |
Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao
Gợi ý
Nhắc đến Nam Cao, người ta nhớ đến một ngòi bút hiện thực phê phán xuất sắc của văn học Việt Nam những năm trước và sau Cách mạng tháng Tám. Đọc văn Nam Cao, đôi lúc người ta không khỏi rùng mình bởi cái sắc lạnh trong ngôn ngữ, trong miêu tả, trong cách nhìn nhận sự việc. Nhưng đằng sau đó lại luôn ẩn chứa một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, xót thương con người, xót thương số phận từ đó mơ ước về một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. ông như chiếc phích nước nóng đã được người đời mệnh danh, ngoài lạnh, mà trong thì luôn ấm nóng tình người. Đọc “Chí Phèo”, tác phẩm thực sự đánh dấu sự nghiệp văn học và định hướng sáng tác của nhà văn, dõi theo cuộc đời và số phận của các nhân vật trong chuyện, ta cảm nhận được một cách thật sâu sắc tấm lòng nhân đạo cao cả ấy.
Nhân đạo là đạo đức thể hiện ở sự thương yêu, quí trọng và bảo vệ con người. Giá trị nhân đạo trong một tác phẩm văn học thường thể hiện ở việc tác phẩm ấy quan tấm như thế nào đến vấn đề con người? Nó ngợi ca gì? Phê phán gì? Thể hiện tình cảm thương yêu, quí trọng con người, hướng tới việc phản ánh ước mơ, nguyện vọng của con người ra sao? Nói tóm lại, một tác phẩm nhân đạo là một tác phẩm hướng tới, đề cao, trần trọng, bảo vệ những giá trị thuộc về con người, xây dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. ớ mỗi thời kì khác nhau, về mặt bản chất, chủ nghĩa nhân đạo không có gì thay đổi nhưng có nhiều những biểu hiện không giống nhau. Nếu như trong văn học dân gian, nhân đạo là phát hiện ra vẻ đẹp con người, đề cao và ca ngợi người dân lao động cùng những ước mơ, khát vọng của họ thì trong văn học thời chiến, nhân đạo còn thể hiện ở thái độ lến án, tố cáo, chống lại kẻ thù. Thời bình, nhân đạo là quan tâm đến đời sống thường ngày, không xa lạ, hoa mĩ mà gần gũi, chân thực của con người, hiểu và cảm thông cho những bi kịch do thời đại mang lại của họ. Là một tác phẩm ra đời trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám, khi dân tộc ta còn đang chìm trong “đêm trường nô lệ”, cuộc sống nhân dân khổ cực, tối tăm, bế tắc, “Chí Phèo” của Nam Cao đã diễn tả sâu sắc bi kịch của người nông dân trên con đường bị bần cùng hoá, bị tha hoá cả về nhân hình và nhân tính từ đó lớn tiếng phê phán và tố cáo xã hội sâu sắc.
Trước hết, tác phẩm dựng lên một bức tranh hiện thực về cuộc đời và số phận nhân vật bất hạnh. Tất cả những người nông dân trong tác phẩm đều là những người bất hạnh. Bà cô Thị Nở khổ vì cảnh “gái già”, không chồng, không con, o ép mình trong những định kiến xã hội. Thị Nở khổ vì có một hình hài không bình thường, thậm chí là dưới mức bình thường, khổ vì là một người đàn bà dở người… Và hơn tất cả, Chí Phèo nổi bật lên là một điển hình cho những nỗi khổ chung của người nông dân trong xã hội ấy. Chí Phèo bất hạnh ngay từ khi sinh ra: Người ta nhặt được hắn trần truồng, tím ngắt trong cái lò gạch bỏ không. Rồi Chí bị chuyền hết từ tay người này sang tay người khác và cuối cùng năm hai mươi tuổi thì trở thành canh điền nhà Bá Kiến. Ra khỏi cảnh lang thang, Chí lại rơi vào tay một con cáo già nham hiểm. Vì ghen, Bá Kiến đẩy Chí Phèo vào trong nhà tù, bước đầu quá trình lưu manh hoá, biến hình một anh thanh niên trước đó vốn hiền lành như đất thành một con quỹ. Bằng tình thương và lòng nhân đạo sâu sắc của mình, Nam Cao đã phát hiện ra ở nhân vật một thân phận đầy bi kịch. Đầu tiên, đó là bi kịch của một người bị đẩy vào cảnh bần cùng hoá. Chí Phèo cũng từng là một người nông dân có thân phận nghèo hèn như bao người nông dân khác trong làng Vũ Đại. Hắn phải đi ở dợ, đi làm thuê cho nhà giàu để kiếm cớ sinh nhai. Nhưng nếu như Chị Dậu bị đẩy vào cảnh bị bần cùng hoá đến cảnh phải bán con, bán chó, gia đình không còn gì có thể bán được nhưng vẫn còn có một mái nhà để chui ra chui vào. Anh Pha của Nguyễn Công Hoan bị đẩy từ một người có chút máu mặt trong làng, có ruộng, có vườn trở thành một kẻ vô sản. Bi kịch bần cùng hoá của Chí Phèo còn đau đớn hơn. Chí Phèo bị bần cùng đến mức phải doạ nạt, phải cướp giật, phải đập phá của người ta mới có cái để ăn, mới có nơi để sống. Bi kịch đầu tiên đã đầy đau xót nhưng bi kịch thứ hai còn đau đớn hơn gấp nhiềú lần. Đó là bi kịch của một con người bị tha hoá, biến chất, biến thành con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Từ một người lương thiện, Chí Phèo bị nhà tù thực dân lưu manh hoá. Rồi Bá Kiến, bằng sự nham hiểm của mình hoàn thiện nốt quá trình tha hoá thằng lưu manh ấy thành con quỉ dữ. Một con người mà bị xã hội của mình gạt ra ngoài lề, một người bị cô độc đến tuyệt đối và cách giao tiếp duy nhất có thể là qua tiếng chửi nhưng đáp lại cũng chỉ là mấy con chó, còn dân làng thì “không ai chịu ra Ịời”; Một kẻ mà người ta tránh như tránh một con vật nào đó rất đáng sợ như Chí cũng thật đáng thương. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, Nam Cao còn khiến người ta xót xa hơn cho Chí Phèo bởi hắn làm tất cả những việc đó trong lúc say. Chí phèo say tràn từ hết cơn say này sang cơn say khác. Và “hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì mà người ta sai hắn làm”, “hắn đã phá đi bao nhiêu cơ nghiệp, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm đổ máu và nước mắt của biết bao người lương thiện”. Hắn trở thành con quỉ dữ trong mắt mọi người. Chí Phèo trở thành nạn nhân của những mưu mô xảo quyệt, thành nạn nhân của chính xã hội ây. Vì hắn say nên hắn gây tội ác. Và cũng chính vì hắn say nên hắn làm tất cả những điều đó một cách vô thức. Hắn trở thành một công cụ trong tay người khác, càng đáng sợ bao nhiêu hắn lại càng đáng thương bấy nhiêu. Ngòi bút của Nam Cao cứ thế, lạnh lùng, miêu tả một cách chân thực mà không bộc lộ một thái độ chủ quan nào nhưng đọc lên người ta vẫn thấy một tâm hồn cũng đang đau đớn, quằn quại trong những bi kịch của chính các nhân vật của mình.Xem thêm: Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) khi đọc đoạn văn miêu tả thác nước và “thạch trận" mà ông lái đò sông Đà phải vượt qua trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Nhà văn từng quan niệm: “Đôi mắt của người nghệ sĩ hoàn toàn không phải là đôi mắt ráo hoảnh" của phường ích kỉ mà là đôi mắt của tình thương, đôi mắt của lòng nhân đạo”. Và ông đã dùng đôi mắt ấy để phát hiện, cảm thông cho bi kịch của con người. Đằng sau cái thằng Chí Phèo ngật ngưỡng say rượu tưởng chừng chỉ biết rạch mặt ãn vạ, đánh đập, dọa nạt người khác, Nam Cao phát hiện ra vẫn tồn tại tính người, tồn tại cái mà người ta gọi là lương thiện. Phải có một lòng thương yêu và niềm tin sâu sắc vào con người ông mới có thể khám phá ra trong tâm hồn tưởng chừng như đã thành sỏi đá ấy nhịp đập thoi thóp của một trái tim ấm nóng. Thằng Chí Phèo của hiện tại đã từng là một anh Chí nông dân, hiền lành, nhút nhát, bị bà Ba gọi lên bóp chân còn thấy run. Anh nông dân ấy đã từng sống lương thiện bằng chính sức lao động của mình, cũng đã từng có những ước mơ lương thiện: “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”.. Không ai có thể tin hay nghĩ rằng cop quỉ dữ ấy có thể một lần lột xác trở lại làm người. Vậy mà Nam Cao lại tin điều đó. ông đã để cho một điều kì diệu xảy ra, dù ngắn ngủi, dù bát thường nhưng là một điều kì diệu vĩ đại, điều kì diệu có hể thay đổi một con người. Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở không chỉ đơn giản là một cuộc đụng chạm về xác thịt. Đó chỉ là khởi đầu. Buổi tối bên bờ sống trong cái rười rượi của trăng chỉ làm khơi dậy thứ tình yêu mang tính bản năng con người. Trận ốm lúc nửa đêm mới thực sự bắt đầu cho những dấu hiệu của sự thức tỉnh. Lần đầu tiên, sau bao nhiêu lâu không rõ, Chí Phèo không say. Lần đầu tiên, hắn cảm nhận được những âm thanh của cuộc sống: “Mặt trời đã lên cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết. (…) Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chẳng có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy..”. Và cũng lần đầu tiên, sau bao ngày chìm trong men say, hắn biết thế nào là buồn. Một người bắt đầu biết suy nghĩ về cuộc sống có nghĩa là cũng đã biết tự chiêm nghiệm về mình. Và hắn đau đớn khi nhận ra rằng: Hắn là một kẻ trắng tay. Đứng ở bên kia dốc cuộc đời, hắn biết mình đã già, “Ngoài bốn mươi tuổi đầu..”.. Dầu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn, rằng những ước mơ lương thiện từng có ở một anh nông dân lương thiện đã không thể nào thực hiện được, dù chỉ là một phần rất nhỏ. Và rồi, Thị Nở lại sang. Thị sang mang theo cho hắn bát cháo hành, mang cho hắn sự quan tầm chăm sóc chân thành, mang cho hắn tình yêu và từ đó nhen nhóm lại trong hắn giấc mơ được trở lại kiếp người lương thiện. Tình người cùng với hương cháo hành đã dẫn dắt tính người quay lại trong hình hài của một con quỉ dữ, đánh thức khát khao, đánh thức ước mơ, đánh thức niềm mong muôn được trở về với xã hội loài người. Và hắn hi vọng: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muôn làm hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được. Họ sẽ nhận thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại ai. Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện”. Chí Phèo đâu có hoàn toàn đáng sợ như người ta tưởng. Hắn đáng sự chỉ vì bởi ngườỉ ta đã lợi dụng để biến hắn thành như vậy. Bản tính lương thiện vẫn tồn tại trong con người Chí Phèo và giờ đây, khi được một tình người chân thành cảm hoá, nó được khơi dậy thành một khát khao mãnh liệt. Tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn đã khiến ta thâm thía rằng: “ Chao ôi! Đốì với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tà nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”. Nhưng khi lương thiện và tính người trở về thì cũng là lúc bi kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm chỉ còn cách giải quyết cuối cùng là cái chết. Đến đây, khi lương thiện và ý thức về cuộc đời đã quay trở lại, Chí không thể tiếp tục cuộc đời của một con quỉ dữ nhưng cũng không thể trồ lại làm người. Và Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình. Bằng tấm lòng yêu thương cao cả và ngòi bút nghệ thuật đặc sắc của mình, Nam Cao đã diễn tả một cách sâu sắc diễn biến tâm lí của Chí Phèo từ hi vọng, đến thất vọng đau đớn, phẫn uất và cuối cùng là tuyệt vọng. Chí Phèo quằn quại trong vũng máu cũng là quằn quại trong bi kịch của chính mình. Người ta thấy thương xót cho số phận Chí Phèo còn nhiều hơn là ghét, giận.Xem thêm: Viết đoạn văn để bác bỏ hai quan niệm dưới đây, rồi đề xuất một vài kinh nghiệm học Ngữ văn tốt nhất: a) Muốn học giỏi môn Ngữ văn... thơ văn. b) Không cần đọc nhiều sách, ...về tư duy, về cách nói, cách viết là có thể học giỏi môn Ngữ văn Yêu thương con người, phát hiện và trân trọng những ước mơ, khát vọng của họ, thể hiện niềm tin vào cái “thiên lương” trong sáng trong tâm hồn con người, Nam Cao cũng lớn tiếng lên án, tố cáo xã hội tàn ác chà đạp lên quyền sống, quyền làm người, quyền hạnh phúc của con người. Lưu manh hoá Chí Phèo là nhà tù thực dân, còn tha hoá và biến hắn thành con quỉ dữ là Bá Kiến. Chế độ thực dân và phong kiến đã cùng nhau thống trị, đẩy người dân vào cảnh “một cổ hai tròng”, không thể nào ngóc đầu lên được. Làng Vũ Đại là mảnh đất “quần ngư tranh thực” mà ở đó người dân chỉ là những miếng mồi béo bở đế bọn cường hào địa chủ tranh giành, cắn xé. Bá Kiến có hẳn cả một kho kinh nghiệm để thống trị người ta, để biến người ta thành tay sai của mình, để áp bức, bóc lột. Trong khi hắn chiêm nghiêm, tâm đắc với “đường lối” sáng suốt của mình thì biết bao người dân vô tội vẫn tiếp tục bị đẩy vào cảnh bần cùng, tha hoá. Đã có những Binh Chức, Năm Thọ, Chí Phèo, và không biết sẽ còn bao nhiêu những “Chí Phèo con” sẽ ra đời. Cái chết của Chí Phèo và Bá Kiến ở cuối truyện là kết quả tất yếu của những mâu thuẫn đã được đẩy lên đến cao trào. Nó thể hiện lòng nhân đạo rộng lớn của nhà văn. Chí Phèo chết là một sự giải thoát, còn Bá Kiến chết là một sự trừng phạt. Tuy tất cả chỉ mang tính tự phát và tương lai phía trước vẫn còn mờ mịt, nhưng nó đã ẩn chứa trong đó khát khao mãnh liệt của Nam Cao về sự thay đổi xã hội, hướng tới xã hội mới tốt đẹp hơn.Xem thêm: Người nào không biết ngày mai mình sẽ làm gì, thì người đó là kẻ khốn khổ Đọc toàn bộ tác phẩm, không thấy xuất hiện một lời bình luận, nhận xét hay thương cảm về số phận nhân vật và những bi kịch trong xã hội. Nam Cao đã miêu tả tất cả với một thái độ lạnh lùng của một ngòi bút sắc lạnh. Nhưng vượt lên trên tất cả, người ta vẫn cảm nhận được ỗ đó tình thương yêu con người sâu sắc. Tất cả làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm nghệ thuật đích thực: “vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn”, “là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn…”
Vanmau.edu.vn | Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao | 2,843 | |
Giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Hướng dẫn
1. Mở bài
Giới thiệu chung về truyện ngắn Vợ nhặt và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
2. Thân bài
a) Nạn đói khủng khiếp năm 1945
Trong truyện đã diễn tả, với tất cả niềm xót thương thông cảm của tác giả về tình cảnh bi thảm của quần chúng lao động trong nạn đói khủng khiếp năm 1945.
a1. Cái đói bao trùm khắp nơi và tràn đến cái xóm nghèo của dân ngụ cư.
Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình lũ lượt đội chiếu, dắt díu bòng bế nhau lên, xám lại như những bóng ma. Buổi sáng nào cũng có vài người chết nằm còng queo bên đường, toả mùi gây gây của xác chết.
Toàn bộ câu chuyện của Tràng diễn ra trên cái cảnh đói khổ và tang tóc ấy: Cảnh xóm ngụ cư vào buổi chiều Tràng đưa người vợ theo về; tiếng hờ khóc trong đêm, mùi đốt đống ram.
a2. Tình cảnh của gia đình Tràng
– Tràng: nghèo, không lấy nổi vợ.
– Vợ Tràng: Vì đói mà phải theo không về làm vợ, không có cưới cheo gì.
– Tình cảm xót xa của bữa cơm đón nàng dâu mới (nồi cháo loãng và bát chè cám).
b) Sự cưu mang, niềm hi vọng của người lao động nghèo khổ
Truyện đã làm sáng lên trên cái nền đen tối ảm đạm ấy sức sống, khát vọng về mái ấm gia đình và sự nương tựa, che chở cho nhau của những người lao động nghèo khổ, sáng lên niềm tin hi vọng của họ.
Xem thêm: Tóm tắt tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thànhb1. Tình huống Tràng có vợ, “nhặt” được vợ và ý nghĩa của nó
– Thái độ của Tràng từ lúc chỉ coi là chuyện tầm phào đến lúc xem đó là chuyện nghiêm túc của đời mình (Dẫn và phân tích những lời nói, hành động của Tràng khi mới gặp người đàn bà và trong cảnh đưa chị ta về nhà).
b2. Ánh sáng của hod ấm hạnh phúc gia đình giữa lúc nạn đói hoành hành
– Cảnh gia đình Tràng, căn nhà, mảnh vườn trong buổi sáng hôm sau.
– Sự biến đổi trong tâm trạng của Tràng, của người vợ nhặt.
– Ý nghĩa và thái độ của bà cụ Tứ, nỗi xót xa, thương cảm và niềm hi vọng của người mẹ
– Niềm hi vọng của họ về sự đổi thay số phận hướng về cuộc cách mạng.
c) Giá trị nhân đạo của tác phẩm
– Một tư tưởng nhân đạo hướng về quần chúng lao động, khẳngđịnh phẩm chất và sức sống bền bỉ của họ.
– Niềm tin của tác giả đặt vào những khát vọng bình dị mà chân chính của những con người vẫn muốn sống, vẫn khát khao tình thương và sự gắn bó, việc nương tựa vào nhau đã cho họ niềm tin để sống.
– Chủ nghĩa nhân đạo của tác phẩm dựa trên sự am hiểu sâu sắc, gắn bó với đời sống người nông dân của Kim Lân. Tác giả không tô vẽ, lí tưởng hoá các nhân vật của mình.
3. Kết bài
– Tóm tắt các ý chính trong hai đoạn A, B.
– Mở rộng đến thời đại ngày nay.
Nguồn: thêm: Cảm nhận của anh (chị) về sự giống nhau và khác nhau giữa nhân vật Tnú (truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) và nhân vật A Phủ (truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài). | Giá trị nhân đạo sâu sắc trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. | 589 | |
Giá trị nhân đạo trong bài thơ Bánh trôi nước của Hô Xuân Hương
Gợi ý
Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ với phong cách thơ độc đáo của nền văn học cổ Việt Nam. Bà đã để lại cho đời nhiều tác phầm có giá trị. Thơ của bà là tiếng nói bênh vực người phụ nữ và đả kích chế độ nam quyền – thần quyền. Bài thơ Bánh trôi nước thể hiện rõ tiếng nói đồng cảm, tiếng lòng của nữ sĩ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tắm lòng son
Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước, nhà thơ Hồ Xuân Hương bộc lộ tình cảm về số phận éo le, bạc bẽo của mình đồng thời chính là sự đồng cảm với số phận của người phụ nữ trong xã hội nói chung. Viên bánh trôi trắng mịn, xỉnh xắn là hình ảnh tượng trưng cho số phận người phụ nữ. Người phụ nữ với hình thể xinh đẹp khoẻ mạnh:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Điệp từ vừa ở đây như muốn nhấn mạnh sự tự hào, kiêu hãnh của cô gái về mình: vừa trắng lại vừa tròn nhưng
Bảy nổi ba chìm với nước non
Cuộc đời của người phụ nữ không yên ả mà số phận chìm nổi lênh đênh. Câu thơ tả hình dạng chiếc bánh trôi và hình dạng ấy tròn méo thế nào là do người nặn. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũng thế, được may mắn hay bất hạnh, sống sung sướng hay đau khỗ là do những kẻ có quyền thế trong xã hội "thần quyền" nhào nặn. Cảnh chồng chúa vợ tôi trong xã hội phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, cuộc sống của người phụ nữ xưa là như vậy. Sinh ra là một con người nhưng họ không làm chủ được cuộc đời mình. Nhà thơ Hồ Xuân Hương là một trong những người chịu nhiều cay nghiệt như vậy: yêu Chiêu Hỗ rồi bị phụ tình, làm vợ lẽ Tổng Cóc, làm lẽ Phủ Vĩnh Tường… Cuộc đời không chỉ dừng lại ở bảy nổi ba chìm mà có lẽ là hàng chục, hàng trăm điều cay đắng. Không riêng gì nữ sĩ họ Hồ mà chính Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương cũng đức hạnh, nết na, hiếu thảo, thuỷ chung nhưng vẫn phải chịu kết cục trẫm mình xuống bến Hoàng Giang. Nguyễn Du đã từng chia sẻ, cảm thông với Thúy Kiều hồng nhan bạc phận, mười lăm năm lưu lạc còn gì là thân. Phải chăng lời thơ sau đây cũng là lời của mọi người phụ nữ trong xã hội cũ: Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Thương người như thể thương thân, thương cho số phận của mình, thương cho những người cùng cảnh ngộ. Bằng lời thơ tự bạch nữ sĩ đã nói lên những điều bức xúc nhất về cuộc đời của những người phụ nữ. Lời thơ cũng chính là lời phản kháng, lên án xã hội bất công. Đồng thời nữ sĩ còn lên án chế độ nam quyền độc đoán làm cho cuộc đời của họ là những chuỗi ngày đau khổ.
Không những đại diện cho phụ nữ nói lên số phận của mình. Hồ Xuân Hương còn khẳng định phẩm giá của chính họ. Dù cuộc đời chao đảo ra sao nhưng:
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
Sự thuỷ chung, đức hạnh, nhân phẩm, tài năng dù trong hoàn cảnh nào họ vẫn giữ trọn, vẫn sáng ngời, sáng chói như những hạt ngọc long lanh. Hơn thế nhà thơ còn hoàn toàn tin vào bản thân mình, tin vào phụ nữ, bởi họ đã chứng tỏ phẩm chất đáng quý đó.
Như vậy ta thấy rằng bài thơ này không chỉ đơn thuần tả chiếc bánh trôi mà còn tượng trưng cho thân phận người phụ nữ. Ẩn trong những dòng thơ đó là tiếng nói phản kháng lại cả một hệ thống chính trị – xã hội, cả một ý thức hệ tư tưởng cổ hủ lạc hậu. Đồng thời là tiếng nói cảm thông chia sẻ. Ta nghe trong lời thơ của bà là những "tiếng lòng chung" đầy phẫn nộ. Lời thơ khảng khái, cứng cỏi nhưng tràn đầy tình nhân đạo cao cả. Xem thêm: Tả phiên chợ quêVanmau.edu.vn | Giá trị nhân đạo trong bài thơ Bánh trôi nước của Hô Xuân Hương | 774 | |
Giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều – Nguyễn Du
Gợi ý
Không phải đến Nguyễn Du, tinh thần nhân đạo mới được phổ vào văn chương nghệ thuật nhưng có thể khẳng định từ khi phôi thai nền văn học tiếng Việt, tinh thần nhân bản được kết tinh đậm nét nhất ở tác giả này. Và Truyện Kiều là một trong những sáng tác tiêu biểu mang nặng giá trị nhân đạo hơn cả.
Xét đến cùng, nhân đạo là tình cảm yêu thương giữa con người với con người. Lòng nhân đạo được biểu hiện trên nhiều khía cạnh mà trước hết nó là thái độ tố cáo, vạch trần tội ác của những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người; biểu dương, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người; thông cảm, thấu hiểu những tâm tư, tình cảm cũng như những nguyện vọng của con người, giúp họ nói lên những ước nguyện đấu tranh để giành được ước nguyện ấy. Cả ba biểu hiện này đều có trong giá trị nhân đạo Truyện Kiều.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có hẳn một tuyến nhân vật lí tưởng mà ông yêu thích. Viết về những con người này, cảm hứng của thi nhân bao giờ cũng là cảm hứng ngợi ca. Nguyễn Du ngợi ca nhan sắc của Thuý Kiều, Thuý Vân, của Kim Trọng, Từ Hải… bằng những lời thơ đẹp vô cùng. Họ đẹp từ nhan sắc:
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
và tài năng thì khó ai sánh kịp:
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.
Đó là cách Nguyễn Du ngợi ca phụ nữ. Đối với những trang nam tử như Kim Trọng, Từ Hải, nhà thơ cũng luôn lựa những lời đẹp nhất để miêu tả ngoại hình, tài năng của họ:
Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất thông minh tính trời.
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Không chỉ khẳng định vẻ đẹp con. người từ hình thức, Nguyễn Du còn rất đề cao phẩm chất, nhân cách của các nhân vật lí tưởng. Nhân vật trung tâm trong Truyện Kiều (Thuý Kiều) có một lòng hiếu nghĩa sâu nặng với cha mẹ và thuỷ chung son sắt với người yêu. Để đáp đền công ơn cha mẹ, khi gia đình gặp biến, cha bị bắt, Kiều đã quyết định bán mình chuộc cha với một suy nghĩ dứt khoát:Xem thêm: Không chỉ mang nặng một nỗi niềm, bài thơ “Bánh trôi nước” còn lắng đọng một cái nhìn Xuân Hương về “phận đàn bà” của thời xưa cũ. Em nghĩ gì về cái nhìn ấyLàm con trước phải đền ơn sinh thành
Để rồi, khi phải dứt bỏ mối tình với chàng Kim, nàng vô cùng đau xót:
Bây giờ trâm gãy gương tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Tấm lòng trinh bạch đó qua mười lăm năm lưu lạc tuy bị vùi dập đau đớn nhưng vẫn luôn được nàng gìn giữ.
Không dừng lại ở việc ngợi ca những vẻ đẹp thuộc về con người, Nguyễn Du còn luôn đứng về phía những con người nhỏ bé. Trên lập trường nhân bản, nhà thơ lên án, tố cáo tất cả những thế lực chà đạp lên quyền sống con người. Từ kẻ “vô danh tiểu tốt” như thằng bán tơ đến lũ vô loài như Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, đến những kẻ “ăn trên ngồi chốc”, thuộc hàng phương diện quốc gia như Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến… tất cả đều bị Nguyễn Du vạch trần bộ mặt xấu xa, tàn ác, đê tiện, bỉ ổi. Chúng tồn tại trong câu chuyện của thi nhân như những thế lực hắc ám, phản động, lúc nào cũng gieo rắc những hành động thiếu nhân tính xuống số phận những con người nhỏ bé, bất hạnh. Vì chúng mà gia đình Thuý Kiều đang yên ấm phải thất tán. Vì chúng mà người con gái xinh đẹp, tài hoa như Thuý Kiều bị vùi dập một cách không thương tiếc. Mười lăm năm lưu lạc chính là mười lăm năm Kiều phải nếm trải, chịu đựng mọi nỗi oan khuất kinh khủng nhất. Phát hiện vĩ đại nhất và cũng đau đớn nhất của Nguyễn Du về thân phận con người là phát hiện về thân phận con người trong xã hội phong kiến. Con người bị coi như mệt món hàng, có lúc bị mang ra mặc cả, cân đo:Xem thêm: Soạn bài Phò giá về kinh
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá, vàng ngoài bổn trăm.
Con người hai lần bị bán chác vào chốn nhơ bẩn nhất trần gian:
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần
Con người bị đòn roi vùi dập:
Uốn lưng thịt đổ, dập đầu máu sa
Con người bị đòn ghen oan khuất; Con người bị lợi dụng, bị biến thành kẻ phản bội…
Chà đạp lên con người là cơ man nào những thế lực phi nhân tính. Chúng châu tuần, hợp sức để bóp nghẹt sự sống con người. Có lẽ trong lịch sử nỗi đau thương, chưa người phụ nữ nàọ phải chịu nỗi đau dằng dặc, chồng chất, đầng sợ như Thuý Kiều của Nguyễn Du.
Tố cáo các thế lực huỷ hoại con người cũng có nghĩa Nguyễn Du đã thấu hiểu nỗi đau khổ mà con người phải chịu đựng. Hơn một lần trong các sáng tác của mình, nhà thơ khóc:
Đau đớn thay phận đàn bà!
Và khi viết về Thuý Kiều – người đàn bà mang số phận oan nghiệt nhất trong xã hội phong kiến, ngòi bút thi nhân luôn lặn sâu vào tâm trạng nhân vật, phát hiện ra những nỗi đau đớn và miêu tả một cách cảm động về chúng. Có thể coi Trao duyên là một trong những đoạn trích hay nhất, thể hiện sâu sắc lòng thương cảm của nhà thơ. Trao kỉ vật cho Thuý Vân mà Kiều như còn nuổì tiếc khôn nguôi và dường như muốn níu kéo:Xem thêm: Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh- Văn 12Duyên này thì giữ vật này của chung
Haí chữ của chung mà tác giả lựa chọn đu để thể hiện nét tâm trạng đó. Dường như giữa Thuý Kiều và Nguyễn Du có một sự đồng cảm kì lạ. Đó là lí do mọi nỗi đoạn trường của Kiều đều được Nguyễn thấu hiểu và diễn tả bằng một xúc cảm yêu thương đến lạ. Để Từ Hải bước vào đời Kiều, Nguyễn Du không nhằm mục đích xây dựng cho nàng một tình yêu mới. Quan trọng hơn, ông muốn người anh hùng này sẽ giải thoát nàng khỏi kiếp đoạn trường, sẽ trả lại cho nàng lẽ công bàng mà nàng đã bị lũ người tráo trở, bạc ác, tinh ma tước mất. Và hơn hết, từ các nhân vật Thuý Kiều, Từ Hải, Nguyễn Du còn có thể nói lên khát vọng của con người thời đại mình: khát vọng tình yêu và khát vọng công lí. Chưa khi nào trong văn học trung đại có người con gái dám xé rào đêm, xăm xăm băng lối vườn khuya một mình sang nhà người yêu tự tình như Kiều..Chưa khi nào trong văn học trung đại có người anh hùng dám dang tay cứu mĩ nhân và giúp nàng lây lại công bằng như Từ Hải. Ớ thời đại Nguyễn Du, khát vọng của ông là khát vọng không tưởng. Nhưng rõ ràng, tư tưởng của nhà thơ cho thấy cái nhìn tiến bộ vượt tầm thời đại và thấm đượm tinh thần nhân bản. Nói Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời là bởi vậy.
Cùng với những giá trị nghệ thuật, giá trị nhân đạo là một trong những phương diện làm nên thành công của Truyện Kiều. Nhưng hơn hết, giá trị nhân đạo đó là bằng chứng về một tấm lòng, một nhân cách cao cả của thời đại, của dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều – Nguyễn Du | 1,384 | |
Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Ô-hen-ri
Bài làm
Trong xã hội ngày nay, khi mà đồng tiền ngày càng chi phối mọi mặt của đời sống con người, con người đối xử với nhau dường như đã chẳng còn tình người. Tuy nhiên chính trong cuộc sống ấy có những con người nghèo khổ lại rất biết yêu thương nhau, hi sinh vì nhau. Tình người ấy đã được nhà văn O Henry thể hiện một cách cảm động trong tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng”.
Truyện đã kể lại cuộc sống nghèo khổ của các họa sĩ Mỹ sống ở một khu trọ nhỏ phía Tây Oa-Sinh-Tơn. Ba người hoa sĩ là hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi cùng với cụ họa sĩ già Bơ-men. Họ là những người nghệ sĩ, cống hiến nghệ thuật nhưng phải sống rất vất vả và chật chội trong những gian buồng nhỏ bé, họ ăn uống rất thiếu thốn nhưng phải làm việc cật lực để kiếm tiền. Đó là về mặt vật chất, mưu sinh, còn về mặt tinh thần, họ là những con người có tình yêu thương sâu sắc và đằm thắm. Chúng ta cảm nhận được tình cảm chân thành rất cảm động giữa ba người họa sĩ, sự thủy chung, tận tình của Xiu đối với Giôn-xi.
Khi Giôn-xi bị ốm nặng, Xiu đã không bỏ rơi bạn mà còn cố gắng làm việc hết sức mình, kiếm tiền nuôi bản thân và chữa chạy cho Giôn-xi. Xiu luôn luôn tận tình chăm sóc, trông nom, lo từng li từng tí cho Giôn-xi, lúc nào cô cũng động viên để Giôn-xi thêm lạc quan, tin tưởng mình sẽ hết bệnh, cô tìm mọi cách gặt đi những sự yếu đuối của bạn. Những hành động và việc làm của Xiu đã chứng tỏ cho ta thấy một tình bạn thủy chung đáng trân trọng, dù vui buồn hay hoạn nạn đều có nhau và không bỏ rơi nhau.
Xem thêm: Một kỷ niệm sâu sắc của tuổi thơ em
Xiu là một cô gái hoàn toàn không vụ lợi, không một chút suy tính nhỏ nhen, cô chỉ có một ước nguyện duy nhất và người bạn Giôn-xi của mình có thể khỏi bệnh và có thể tiếp tục mơ ước vẽ bức tranh về vình Na-plơ. Trong cuộc sống này, những người bạn và tình bạn như thế thật đáng quý và đáng trân trọng biết bao. Nổi bật nhất vẫn là kiệt tác “chiếc lá cuối cùng” của cụ Bơ-men, nó chính là bài ca ca ngợi tấm lòng nhân đạo cao cả của cụ họa sĩ già Bơ-men. Tuy chỉ là người ở cùng nhà với hai nữ họa sĩ nhưng khi biết tin Giôn-xi mắc bệnh lại thêm tâm lí tuyệt vọng, cụ đã vẽ một bức tranh kiệt tác của cuộc đời mình, bức tranh về chiếc lá cuối cùng, cũng là bức tranh cuối cùng của cụ. Bức tranh được vẽ trong đêm đen, giữa đêm mưa gió tuyết giá lạnh, dưới ánh sáng của một cây đèn bão. Người họa sĩ vẽ bức tranh lại là một họa sĩ già ốm yếu đang trong cơn viêm phổi nặng. Bức tranh ấy là sản phẩm của tấm lòng yêu thương sâu sắc, tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim nhân đạo đầy tình người. Chiếc lá không rụng, Giôn-xi đã trở lại với cuộc đời còn cụ Bơ-men đã trút hơi thở cuối cùng sau kiệt tác ấy.
Cả hai nhân vật là Xiu và cụ Bơ-men đều là những hình tượng tiêu biểu cho tình thương yêu bạn bè, đồng loại, cuộc đời và hành động của họ luôn để lại dấu ấn khó phai trong lòng người đọc. Qua tác phẩm, tác giả O-Henry muốn thể hiện tâm sự kín đáo của mình, nhắn gửi tới người đọc lời kêu gọi đầy chân tình, rằng mỗi con người hãy yêu thương nhau và quan tâm đến nhau nhiều hơn.
Xem thêm: Kể lại câu chuyện Cây bút thần theo lời kể của em | Giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Ô-hen-ri | 689 | |
Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân thể hiện qua nhân vật Vợ Tràng
Gợi ý
Văn học Việt Nam sau năm 1945 không chỉ giàu tính chiến đấu mà còn giàu tính nhân đạo. Hai tính chất này không tách rời nhau bởi cuộc chiến đấu của dân tộc hơn ba mươi năm nhằm mục đích khẳng định con người, giải phóng con người. Tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân được hoàn thành vào thời gian sau năm 1955, trên cơ sở một bản thảo cũ viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Khoảng cách mười năm giúp Ông thể nghiêm sâu sắc tư tưởng của tác phẩm, qua tác phẩm mà bộc lộ quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Ấy là: “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và. bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn vói ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai…” (Lời nhà văn). Nhân vật vợ Tràng, không tên tuổi, không lai lịch nhưng lại chính là nhân vât có vai trò, ý nghĩa tích cực trong việc thê’ hiện tư tưởng nhân đạo cao cả của Kim Lân.
Vợ Tràng là nhân vật không có lai lịch, không có gia đình, không có nhà cửa thậm chí một cái tên cũng không có. Cô xuất hiện trong tác phẩm bằng những “tên” gọi khác nhau: “thị”, “cô ả”, “người đàn bà”. Chỉ có bà cụ Tứ nhân hậu xem vợ Tràng là nàng dâu, con dâu và được Tràng gọi là “nhà tôi”. Trước khi về nhà cụ Tứ, cô cùng với mấy chị con gái ngồi vêu ở cửa nhà kho thóc Liên đoàn chờ nhặt hạt rơi, hạt vãi hay ai có công việc nhờ đến thì làm. Trong nạn đói năm âấy, thân phân con người thật rẻ rúng! Đâu chỉ vợ Tràng mới là người không tên, không tuổi, còn biết bao người con gái như thế.
Có thể thấy dụng ý nghệ thuât của Kim Lân khi ông để cho nhân vật của mình không có tên, không rõ lai lịch. Người phụ nữ ấy chỉ là một trong số hàng ngàn, hàng vạn thân phận phụ nữ cùng thời. Do đó, người ấy rất dễ bị lãng quên, ít ai chú ý tới, nhưng với Kim Lân, đó là một sô’ phận không thể bỏ qua, một số phận gây nhức nhôi, trăn trở.
Chân dung của vợ Tràng lại là một bức kí họa khác của tự nhiên đặt bên bức chân dung của Tràng với những đường nét thật tai hại cho những người phụ nữ: “Cái ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt… gầy xọp, rách mướp”, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”.Xem thêm: Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình Tương đồng với bức chân dung trên là những nét tính cách “đặc biệt” của thị. Thị là người đanh đá, táo bạo tới mức trở nên trơ trẽn. Nghe anh chàng phu xe hò một câu cho đỡ nhọc: “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! Lại đây mà đẩy xe bò với anh nỉ”, thì đã “cong cớn”, “vùng đứng dậy” rồi “ton ton chạy lại” đẩy xe cho Tràng. Gặp lần thứ hai khi.Tràng vừa trả hàng xong, bỗng từ đâu thị “sồn sập chạy đến”. “Thị đứng trước mặt hắn sưng sỉa nói: _ Điêu! Người thế mà điêu!" Khi thấy Tràng có vẻ dễ bắt nạt, thị tiếp tục cong cớn. Thấy có miếng ăn, hai con mắt thị tức thì sáng lên rồi “thị ngồi sà xuống ăn thật”.
Mỗi lần đọc lại đoạn văn này tôi đều tự hỏi: làm sao mà Kim Lân có thể tả cái đanh đá, cái trơ trẽn của người đàn bà lao động nghèo tài đến thế, sinh động đến thế. Cứ như chị ta đi thẳng từ cuộc đời vào giữa trang vãn mà không hề bị cản ngăn bởi hàng rào chữ nghĩa. Mãi sau này, đọc lời Kim Lân kể rằng thời đó, nhà vãn cũng đã từng cùng vợ từ nhà quê ra Hà Nội bán cám, đẩy xe bò. Tôi dần hiểu, ở đây, Kim Lân đã hội đủ cả hai điều kiện: tài năng văn xuôi và vốn sống. Cái tài, cái tâm của nhà văn là ở chỗ: ông miêu tả nhân vật vợ Tràng có cong cớn nhưng không nanh nọc, có trơ trẽn nhưng không đĩ thõa. Và cái cong cớn, sưng sỉa, đanh đá, trơ trên kia có thể sinh ra từ dốt nát, đói nghèo, tăm tối chứ tuyệt đối không sinh ra từ cái ác, cái xấu.
Sự đối thay đã đến với người vợ của Tràng. Người đàn bà ấy đến với Tràng trước hết như đến với một chốn có thể nương tựa trong cái thì đói kém. Hiểu như thế nên Kim Lân đã rất tinh khi thi thoảng điểm vào truyện một vài biểu hiện thất vọng thầm kín trước cảnh cùng túng của nhà chồng: một tiếng thở dài cố nén trong “cái ngực gầy lép nhô hẳn lên” trước túp nhà rách nát và rúm ró; cái nhếch cười nhạt nhẽo và nét mặt bần thần khi bước vào nơi ở của anh chàng mới lúc ban nãy còn vỗ túi khoe “rích bố cu”; hai con mắt thoáng tối lại khi được bà lão đon đả mời ăn bát cháo cám. Nhưng không thể không thấy chị ta đã trở thành một người đàn bà khác kể từ khi làm vợ. Trên con đường “dẫn dâu” dài dặc giữa xóm ngụ cư, cái cô nàng cong cớn và trơ trẽn hồi nào bỗng trở nên e dè, ngượng ngập; và có khó chịu lắm trước những sự tò mò trêu cợt thì cũng chỉ dám càu nhàu trong miệng, khẽ đến mức anh chồng đi bên cũng không nghe thấy. So với Tràng, người vợ nhặt đến với cuộc đời nhiều phấp phỏng hơn. Nhưng cả đôi mắt tư lự khi bỡ ngỡ đặt bước chân trên con đường mới, cả cái dáng điệu khép nép ngồi mớm ở mép giường và tiếng chào u lung túng… tất cả những cái đó chỉ làm cho người đàn bà gầy rạc, xám xịt và rách rưởi kia bỗng nhiên có được cái cảm giác của một nàng dâu. Đến chính Tràng cũng còn phải ngạc nhiên trước sự thay đổi của vợ mình: “Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. Cuộc đời éo le và nhân hậu làm sao dưới ngòi bút của Kim Lân. Chị vợ kia chịu đi theo một kẻ đàn ông xấu xí và xa lạ thoạt tiên hình như chỉ để tránh sự cô đơn, sự đói. Vậy mà, đã về đến nhà chồng, cái cảnh đói quay đói quắt xem ra vẫn không tránh được. Nhưng đời đã bất ngờ dành cho chị ta một sự đền bù: Không tránh được đói rách, nhưng chị ta dần dần đã có tình thân, có được tình thương, có được ý thức về bổn phận đối với những con người khác. Ý nghĩa nhân vật vợ Tràng chính là ở chỗ: dù trong túng đói tột cùng thì tình thương, tình thân vẫn cứ quý hơn bát cơm, manh áo, vì chỉ có tình thương chứ không phải bát cơm mới khiến cho cái sinh vật khôn khổ ấy được sống như một con người. Người đàn bà ấy đã sống với bản chất tốt đẹp của mình, của một người phụ nữ Việt Nam.Xem thêm: Học tập là công việc vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với người học sinh. Em có suy nghĩ gì về công việc này của học sinh thời nay? Kim Lân đã khắc họa nhân vật người phụ nữ rất điêu luyện. Nhà văn không tập trung miêu tả tâm lí nhân vật để giữ vẻ xa lạ, phù hợp với hoàn cảnh của nhân vật vợ Tràng. Tác giả lại chú trọng khắc họa hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc tự hiểu tâm trạng của người phụ nữ. Chẳng hạn, chi tiết lấy nón che mặt diễn tả tâm trạng xâu hổ vì biết mình là ngườị phụ nữ theo không về nhà chồng; hoặc thị nén một tiếng thở dài kín đáo khi đảo mắt nhìn chung quanh căn nhà của Tràng, rồi chi tiết hai con mắt thị tối sầm lại khi đón nhận bát cháo cám nhưng vẫn thản nhiên đưa vào miệng. Thị đã không nỡ làm mất đi niềm vui tội nghiệp của người mẹ già nua kiạ. Hóa ra người vợ nhặt ấy tuy vô danh mà không vô nghĩa… Nhiều chi tiết nho nhỏ, vụn vặt như thế nhưng đã nói được khá rõ tâm tư, tình cảm của một con người.
Rõ ràng, nhân vật vợ nhặt không phải là nhân vật chính nhưng thiếu nhân vật này truyên sẽ thiếu đi chiều sâu nhân bản.’Người đàn bà này hiện ra không lộng lẫy nhưng gợi lên một sự ấm áp. Chị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tối tăm bên bờ cái chết. Có thể thấy cuộc đời Tràng đã bước sang trang mới kể từ khi gặp chị. Để rồi chúng ta tin một tương lai tốt đẹp đang mở ra đối với cả ba nhân vật.Xem thêm: Cảm nghĩ về bài ca dao “Đi cấy”- văn lớp 7 Vai trò của nhân vật vợ Tràng là giúp nhà văn gián tiếp tố cáo một xã hội đã đẩy con người đến sự rẻ rúng, tha hóa về nhân phẩm chỉ vì đói khát. Nhưng cao hơn cả là giá trị nhân đạo mà nhà vãn muốn gửi gắm: trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai vẫn còn nhiều điều có thể nói về “Vợ nhặt”. Như về cái vốn liếng ngôn ngữ giàu có và đặc sắc của Kim Lân, cái lô’i viết văn tưởng như dễ dàng mà không dễ phỏng theo, giản dị vô cùng mà sao cứ thấy ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc. Như về cách làm cho những tâm trạng kín đáo nhất phải hiện lên qua những cử chỉ mà chỉ cần thiếu đi một chút tinh tế, người ta sẽ bỏ qua… Nhưng cái đọng lại cuối cùng trong tôi vẫn là cách nhìn đời, nhìn người đầy xa xót và thương yêu của nhà vãn, là niềm tin mà dường như ông muốn trao gửi đến tất cả chúng ta qua nhân vật vợ Tràng nói riêng và tác phẩm “Vợ nhặt” nói chung. Và nếu có ai ngờ vực niềm tin cuộc sống ấy ở nhà văn mà cho rằng cuộc đời độc ác, đắng cay không dành một chỗ nào cho niềm hi vọng, thì tôi tin tưởng Kim Lân có thể mượn hai câu thơ của L.Aragông để đáp lời:
“Các anh có thể tin hay không điều tôi nói
Tôi đã khổ dau nên có đủ quyền…”
Vanmau.edu.vn | Giá trị nhân đạo trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân thể hiện qua nhân vật Vợ Tràng | 1,959 | |
Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều
Hướng dẫn
Giá trị nội dung thể hiện qua giá trị hiện thực và nhân đạo.
Giá trị hiện thực của tác phẩm là phản ánh hiện thực xã hội đương thời với bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị. Sức mạnh của đồng tiền và số phận những con người bị áp bức, nạn nhân của đồng tiền, đặc biệt là người phụ nữ. Gia đình nhà Vương Ông đang sống bình yên, chỉ vì một lời không đâu vào đâu của thằng bán tơ “vu oan giá hoạ”, thế là cuộc sống yên lành bị phá vỡ, tai hoạ ở đâu ập xuống nhà Kiều. Sau cái cớ ấy bọn sai nha tiến vào nhà Kiều cướp phá đánh đập, chúng đã được một lũ quan lại dung túng, bảo hộ, giật dây. Kẻ cầm đầu lũ vô lại đấy đã thẳng thắn đòi: “Có ba trăm lạng, việc này mới xong”. Tên quan xử kiện vụ án của Kiều được Nguyễn Du đặc tả: “Trông lên mặt sắt đen sì”. Hồ Tôn Hiến, tên quan lớn nhất trong Truyện Kiều, đại diện cho triều đình phong kiến với tư cách là một Tổng đốc trọng thần nhưng lại “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”. Sức mạnh của đồng tiền khi nó nằm trong tay kẻ xấu thật kinh khủng, đồng tiền đã thành một thế lực vạn năng chi phối mọi hoạt động, làm băng hoại lương tâm, nhân phẩm của con người. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết về đồng tiền trong Truyện Kiều: “Quan lại vì tiền mà bất chấp công lí, sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương Ông, Tú Bà, Mã Giám Sinh vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người, Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm, Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác, cả một xã hội chạy theo đồng tiền”. Cuộc đời đầy nước mắt của người con gái tài sắc Thuý Kiều cũng bắt đầu từ chính sức mạnh và sự bất nhân của đồng tiền.
Giá trị nhân đạo được thể hiện trước hết là sự trân trọng đề cao con người từ ngoại hình, phẩm chất, tài năng khát vọng đến ước mơ và tình yêu chân chính, về ngoại hình, ta thấy Thuý Vân là một thiếu nữ đoan trang phúc hậu, Thuý Kiều đẹp thuộc diện “sắc trung chi thánh”- quá ư là hơn người, hơn đời, Kim Trọng mang vẻ đẹp của một văn nhân thư sinh, Từ Hải đẹp kiểu người anh hùng: vai năm tấc rộng thân mười thước cao. về phẩm chất Thuý Vân là một cô gái ngoan. Kim Trọng – một chàng trai chung tình. Thuý Kiều tài năng (Cầm, kì, thi, hoạ) – một người conhiếu thảo, giàu đức hy sinh, người yêu chung thuỷ. Tình yêu Kim Kiều – Tinh yêu hồn nhiên trong trắng, nó vượt sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến trong thời điểm chế độ phong kiến suy tàn.
Xem thêm: Tả cảnh bình minh trên biểnBên cạnh đó Truyện Kiều còn lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo đã chà đạp lên quyền sống của con người, đề cao tự do và công lí. Thuý Kiều điển hình cho người phụ nữ trong xã hội xưa, mười lăm năm lưu lạc của nàng là một chuỗi bi kịch. Dường như bao nhiêu nỗi cực khổ của người đàn bà thời trước đều ập xuống vai nàng. Từ một cô tiểu thư khuê các, Kiểu trở thành hàng hoá để cho người ta mua bán, rồi Kiều bị lừa gạt bị rơi vào lầu xanh tới hai lần, đem thân đi làm lẽ, làm đứa ở, rồi bị đánh đòn, lăng nhục trở thành tội phạm ở công đường, bị sỉ nhục, bị rơi vào cảnh giết chồng, kết thúc là phải tự vẫn. Cuộc đời Thuý Kiều là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội phong kiến bất nhân, xã hội ấy làm cho người lương thiện phải tìm đến cái chết. Còn khát vọng tự do và công lý được ông gửi gắm qua nhân vật Từ Hải và màn báo ân báo oán.
Mặt khác Truyện Kiều còn thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của con người đặc biệt là người phụ nữ. Nguyễn Du như khóc cùng tiếng đàn và cuộc đời của Thuý Kiều, ông cũng bày tỏ thái độ trân trọng Kiều cho dù có lúc nàng đã là hạng người dưới đáy của xã hội.
Mặt khác, Truyện Kiều của Nguyễn Du có thể khắc sâu trong lòng nhân dân như vậy còn ở giá trị nghệ thuật. Trong tác phẩm của mình ông đã bộc lộ sự tài hoa, sắc sảo trong nghệ thuật tự sự, miêu tả nhân vật, tả cảnh, sử dụng ngôn từ… hay nói đúng hơn là giá trị nghệ thuật của tác phẩm, về ngôn ngữ: Truyện Kiều là một kiệt tác nghệ thuật, với bút pháp của một nghệ sĩ thiên tài, tiếng Việt trong Truyện Kiều đã đạt đến độ giàu và đẹp. về nghệ thuật tự sự, thành công của Truyện Kiều trên tất cả các phương diện: ngôn ngữ kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhàn vật, nghệ thuật miêu tả – tả cảnh ngụ tình.
Nhận xét về Nguyễn Du và Truyện Kiều, tác giả Mộng Liên Đường trong lời tựa Truyện Kiều đã viết: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thìa, ngậm ngùi, đau đớn đến đút ruột. Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh cũng hệt, đàm tình đã thiết, nếu không có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy” chính là đã khái quát rất tuyệt vời về giá trị của Truyện Kiều trên mọi phương diện.
Từ quê hương, xã hội, gia đình, cuộc đời, năng khiếu bẩm sinh, đã tạo cho Nguyễn Du có trái tim yêu thương vĩ đại, một thiên tài văn chương với sự nghiệp văn học có giá trị lớn. Ông là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là danh nhân văn hoá thế giới, đóng góp to lớn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam. Nguyễn Du và Truyện Kiều sẽ sống mãi với dân tộc và trở thành linh hồn của dân tộc.
Nguồn: thêm: Một lần, trả lời câu hỏi của các cô con gái: “Đức tính mà cha quý nhất là gì”. Các Mác đã trả lời bằng hai tiếng “giản dị”. Em hiểu thế nào về đức tính ấy | Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều | 1,150 | |
Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tiễn dặn người yêu
Hướng dẫn
Tiễn dặn người yêu là câu chuyện là tình yêu đôi lứa. Cảm hứng chủ đạo của tác phẩm mang âm hưởng ngợi ca tình yêu tự do, chống lại mọi sự ràng buộc tinh thần, bày tỏ khát vọng đổi thay số phận người phụ nữ giữa đời thường, khi mà cái xấu xa đáng lên án lại được nêu lên thành chuẩn mực, cái tốt đẹp đáng được nâng niu trân trọng lại bị dập vùi. Có lẽ vì cái lệ ngược đời ấy đã trở thành phổ biến ở ngoài đời phải được yêu thương đã trở thành nguồn cảm xúc tuôn chảy dào dạt, khiến cho mỗi khúc trong tác phẩm đều có thể được coi như là một khúc đoạn trường. Hơn thế, cái tên Anh yêu và Em yêu được đặt cho hai nhân vật chính trong tác phẩm và được cố định trong văn bản bằng chữ viết hoa đã nâng giá trị tư tưởng tình cảm thẩm mĩ của tác phẩm lên một bậc thang mới, có ý nghĩa khái quát rất rộng lớn. Phải chăng, sự lao động đấu tranh mà con người đã phải tổn hao nhiều nước mắt, mồ hôi, xương máu bao thế hệ vì nó, xét cho cùng thì cũng là để được gọi nhau bằng Anh yêu và Em yêu.
Bức tranh hiện thực bi thảm lay động lòng người. Tiễn dặn người yêu đưa hai nhân vật chính vào những tình huống cực đoan. Đúng như Đỗ Bình Trị nhận xét: chỗ tinh vi của truyện ở đây là đã thay vào cái vô lí, cái ngang trái của cuộc đời, dường như để tô đậm cái – không – thể – hiểu nổi thường được gọi là số mệnh. Chính nó đã khiến cho mối tình đẹp bỗng hóa ra một chuyện đời ngang ngửa nát tan. Thật cay đắng và bi thảm khi Em yêu bị ép duyên với một kẻ đầu trơ trọc lốc và nói năng giả dối ngọt xớt mà từ bà mẹ đến người thân trong nhà đều không mảy may động lòng, đều quay lưng ngoảnh mặt. Thật lạnh lùng và tàn nhẫn khi người ta thản nhiên biến một người con gái ngoan nết và tốt bụng, lại xinh đẹp thành mộtmón hàng để bán mua một cách điêu trá, để dìm giá một cách dã man. Mối tình đẹp như trong mộng của chàng trai và cô gái kia càng ngời lên trong ý nghĩ và cung cách ứng xử của họ, thì những thói đời phũ phàng lại như tầng lớp sóng dữ sông Đà chồm tới, xô đẩy hai tâm hồn đã từng ứ mật dâng hương vào một ốc đảo cô đơn đến rợn người. Ở đó, số phận trớ trêu đã biến mọi niềm vui thành nỗi đau, mọi niềm tin thành sự thất vọng ấm ức ê chề. Thật ra, cái kết thúc có hậu trong tác phẩm làhợp đạo lí nhưng cũng không đủ giá trị lập lại thế cân bằng. Có điều, những thảm cảnh trong câu chuyện lay động lòng người ấy đã thật sự có ý nghĩa thức tỉnh, thanh lọc tâm hồn con người, nêu cao sự phấn khích tranh đấu.
Xem thêm: Phân tích nghệ thuật lập luận kết hợp với biểu cảm của trong bài Tựa “Trích diễm thi tập"Tiễn dặn người yêu có kết cấu độc đáo, tràn đầy kịch tính và có thủ pháp hư cấu nghệ thuật một cách chân thực, sâu sắc, có khả năng tái hiện thẩm mĩ cái bản chất của đời sống được chọn lựa phản ánh đạt đến giá trị khái quát cao độ, trong phong cách dân gian trữ tình đằm thắm.
Trước hết, Tiễn dặn người yêu là chuyện trong thơ. Ở đây, câu chuyện tình bi thảm được kể lại trong không gian nghệ thuật đa chiều, đồng hiện, nghĩa là nhiều sự kiện trái ngược nhau cùng hiện ra đến tận chi tiết, trong cùng một bối cảnh chứa đầy mâu thuẫn. Vì thế, thời gian thực của chuyện đời rõ ràng được tính bằng hàng chục năm, nhưng thời gian tâm lí dường như lại dồn nén kì lạ đến độ dằng dặc buồn thương.
Mặt khác, Tiễn dặn người yêu là thơ trong truyện. Ở đây, câu chuyện ngôn ngữ kể chuyện nhiều khi đã được gọt giũa trở thành lời thơ, câu thơ đầy sức gợi cảm, có thể diễn tả được mọi chiều sâu tinh tế của thế giới bên trong tâm hồn con người, trong những trạng thái éo le phức tạp nhất. Đó là thứ ngôn ngữ nghệ thuật dân gian Thái, nhuần thấm điệu tâm hồn Thái giữa cảnh vật thiên nhiên miền Tây Bắc trập trùng hoa ban nở, trong mây trắng bồng bềnh, trên ngọn thác sông Đà gió thốc. Chính đặc điểm này có ý nghĩa quyết định tạo thành bản sắc nghệ thuật riêng của Tiễn dặn người yêu, khiến tác phẩm trở thành vật báu của mọi nhà trong truyền thống văn hóa của đồng bào Thái.
Nguồn: thêm: Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh cho chữ trong ngục (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân). Tại sao tác giả gọi đây là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có" | Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tiễn dặn người yêu | 905 | |
Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh cho chữ trong ngục (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân). Tại sao tác giả gọi đây là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”
Gợi ý
Trong lịch sử nền văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân nổi bật lên với một phong cách ngông đầy ấn tượng. Bằng ngòi bút tài hoa và những kiến thức lịch lãm, uyên thâm của mình, ông được coi là người suốt đời đi tìm cái đẹp. Nếu là miêu tả thiên nhiên, cảnh vật thiên nhiên của Nguyễn Tuân phải thật đẹp, thật thơ, thật hùng vĩ, dữ dội. Nếu tả người, người đó phải thật tài hoa, nghệ sĩ. Đến với "Chữ " người tử tù", ta được bắt gặp một Huân Cao như thế, một người tử tù tài hoa, khí phách và có cái tâm thật đẹp. Tất cả được thể hiện một cách tập trung nhất ở cảnh cho chữ. Với đoạn văn tả cảnh cho chữ này, Nguyễn Tuân đã để lại cho nền văn học dân tộc một "cảnh tượng xưa nay chưa từng có".
Câu chuyện mở đầu bằng chi tiết quản ngục tỉnh Sơn nhận phiến trát thông báo tiếp nhận sáu tên tử tù và kết thúc bằng một cảnh cho chữ đầy ấn tuợng.
Huấn Cao – tên tử tù là người cầm đầu cuộc nổi loạn chống lại triều đình người có văn võ song toàn và đặc biệt có tài viết chữ, nay đang chờ ngày chết chém. Quản ngục – người đại diện cho quyền lực thực dân, phong kiến lại là người có cặp mắt "biệt nhỡn liên tài". Kẻ tử tù với bản lĩnh của mình đã khiến người quản ngục phải cảm phục. Trải qua thời gian, ngày xử chém sắp đến, quản ngục mong muốn có được chữ của Huân Cao để treo ở trong nhà mà chưa được. Chỉ đến khi phiến trát thông báo ngày xử tử được đưa xuống, vào cái ngày cuốì cùng mà Huấn Cao còn được sống, họ đã cởi bỏ được hết những nghi ngờ, hiểu lầm để thực sự hiểu nhau và cuối cùng có được một cảnh cho chữ thật cảm động, về mặt vị thế, họ vẫn đứng ở hai cực đối lập nhau, nhưng về mặt tình cảm và nghệ thuật, họ đã trở thành những người tri kỉ:
"Đêm hôm ấy, trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã bày ra trong một buồng tối chặt hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhẹn, đất bừa bãi phân chuột, phân gián.
Trong một không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực cùa một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bộc tỏa cay mắt làm họ dụi mắt lia lịa.
Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô từng nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gày gò thì “run run bưng chậu mực”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất Trải qua biết bao khó khăn, hiểu nhầm, cuối cùng thì Huấn Cao và quản ngục cũng đã gặp nhau. Sự hoà hợp về tâm hồn và sự đốì lập về vị thế đã khiến cho cảnh gặp gỡ đầy kịch tính, từ đó, nhà văn bộc lộ. những giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc. Cảnh cho chữ không diễn ra ngay từ đầu, lúc Huân Cao và các.bạn tù mới được chuyển đến. Nó diễn ra vào ngày cuối cùng trong cuộc đời của Huấn Cao. Chúng ta tự hỏi: Vì lí do gì mà Huấn Cao lại thay đổi thái độ, đồng ý cho chữ quản ngục? Nếu như.quản ngục chỉ là một quản ngục, giống như bao kẻ khác, còn Huấn Cao chỉ là một tên tử tù, coi quản ngục giống như biết bao những kẻ tiểu nhân khác thì sẽ không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Ai cũng biết, Huấn Cao sinh thời, nhất sinh không vì tiền bạc hay quyền thế mà ép mình cho chữ bao giờ. Bởi vậy nên cả cuộc đời mình ông mới chỉ dành chữ của mình cho ba người bạn mà ông coi là tri kỉ. Vậy, khi quyết định cho chữ quản ngục cũng có nghĩa là ông đã đồng ý kết nạp quản ngục trở thành một trong những người bạn tri kỉ hiếm hoi của mình. Từ thái độ khinh bỉ đến tột cùng, ông đã dành cho quản ngục sự ưu ái đặc biệt. Giữa xã hội phong kiến nhơ nhuốc, quản ngục như "một thanh âm trong trẻo trong một bản nhạc mà nhạc luật đều xô bồ, hỗn loạn". Huấn Cao chấp nhận thầy quản bởi thầy có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” và một sở thích cao quý khác hẳn với những kẻ tiểu nhân khác. Cho chữ, hành động của Huấn Cao không phải đang dâng nộp báu vật cho người coi giữ mình; cũng không phải là cách của một người trả ơn kẻ đã biệt đãi mình; và đặc biệt, đó càng không phải là hành động của một người sợ hãi trước quyền thế. Tất cả chỉ xuất phát từ lí do duy nhất: ông hiểu và cảm động và không muôn phụ mất "một tấm lòng trong thiên hạ”. Người tử tù ấy giờ đây giành đêm cuối cùng của mình để sáng tạo ra những nét chữ bay bổng, chứa “hoài bão tung hoành của cả một đời người”. Cuộc đời mình, Huân Cao chỉ "nhất sinh đệ thủ bái mai hoa" nhưng đứng trước một người có nhân cách cao khiết, sống trong môi trường nhơ nhuốc nhưng vẫn hướng tâm hồn mình ra ánh sáng của lương thiện. Cảnh cho chữ đã trở thành nơi hoà hợp của hai tâm hồn luôn khát khao hướng tới cái đẹp. Họ đang gặp nhau trong từng nét chữ đang được hiện ra trên tấm lụa trắng và cùng nhau toả sáng chói lọi trong ánh sáng của xã hội đương thời.Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài: Đây mùa thu tớì của Xuân Diệu
Cảnh cho chữ diễn ra trong khung cảnh xứng đáng như lời bình giá của tác giả: "Cảnh xưa nay chưa từng có". Chơi chữ từ bao đời nay đã là một thú chơi tao nhã không chỉ của dân tộc ta, còn được gọi là thư pháp – nghệ thuật thư pháp. Thú chơi ấy thường diễn ra ở những nơi nếu không sang trọng, đài các thì cũng rất tao nhã và tất nhiên, người sáng tạo ra những nét chữ ây cũng là một người nghệ sĩ tài hoa. Cảnh cho chữ trong "Chữ người tử tù" thì có lẽ sẽ là cảnh đầu tiên và duy nhất mà ở đó, nơi diễn ra cho chữ không phải là những thư phòng mà là nơi ngục tối ẩm ướt, "tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián". Người hoạ sĩ trổ tài không như những nhà nho bình thường mà cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang khoan thai, ung dung đậm tô từng nét chữ, còn kẻ lẽ ra có quyền thế thì lại "khúm núm", "run run".
Những sự đối lập được dựng lên và phát huy tác dụng một cách triệt để trong việc làm nổi bật lên vẻ đẹp của cảnh cho chữ. Đó là sự đối lập giữa cái tối tăm, chặt hẹp và nhân cách tuyệt vời của người tù. Nhà tù càng tối tăm ẩm uớt thì ở đó, nhân cách Huấn Cao hiện lên càng cao đẹp. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để cho Huấn Cao vẫn viết chữ với "cổ đeo gông, chân vướng xiềng"; tác giả đã không để cho quản ngục mở xiềng xích cho ông Huấn và chính vì lẽ đó mà cái ung dung của Huấn Cao càng làm cho ông tỏa sáng, càng khiến cho người ta phải cảm phục. Chính từ nơi tối tăm ngục tù, cái đẹp đã sinh thành và được nâng niu, toả sáng bằng những tâm hồn đẹp. Một sự thay bậc đổi ngôi đã diễn ra, không còn người tù, mà cũng không còn quản ngục, chỉ còn người nghệ sĩ và sự cuốn hút say mê, ngưỡng mộ những nét chữ đang dần hiện ra trên nền lụa trắng. Người tử tù, sau khi sáng tạo cái đẹp đã đứng lên cao hơn để giáo huấn: "Tôi bảo thực đấy, thày quản nên tìm về quê mà ở đi đã. Thày hãy thoát khỏi cái nghề này đi rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến lem luốc cái đời lương thiện đi". Những lời ấy khiến quản ngục phải rơi nước mắt mà nghẹn ngào vái lạy: "Kẻ ngu muội này xin bái lĩnh". Với cảnh này, nhà tù là hiện thân của cái xấu, cái ác, của bộ máy thống trị đã sụp đổ hoàn toàn để nhường chỗ cho cái đẹp, cái thiên luơng. Với cảnh này, tuy ngày mai lên đoạn đầu đài nhưng Huấn Cao không đi vào cõi chết mà đang đi vào cõi sông vĩnh hằng. Nét chữ vuông vắn, tươi tắn thể hiện chí tung hoành của cả một đời người kia sẽ còn lại mãi trong lòng thơ lại, trong quản ngục. Nó chứng minh cho sức mạnh phi thường của cái đẹp. Chỉ có nghệ thuật và cái Tâm mới có khả năng bất tử hoá, vĩnh viễn hoá cái Đẹp.Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng Cảnh cho chữ trở thành nơi tập trung cao nhất vẻ đẹp của Huân Cao với cái Tài, khí phách và cái tâm cao đẹp. Sự trùng lặp nhiều chi tiết giữa nhân vật này với ông huân đạo Cao Bá Quát, người mà cuộc đời và sự nghiệp đã trở thành giai thoại ở triều Tự Đức, cho phép ta nghĩ rằng Nguyễn Tuân đã mượn Huấn Cao để viết một thiên tụng ca về Cao Bá Quát đồng thời gửi gắm vào đó thái độ ca ngợi những người yêu nước đang sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn trong hoàn cảnh mất nước. Qua đó, ta hiểu được tấm lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc của Nguyễn Tuân được thể hiện một cách kín đáo và tế nhị. Trong hầu hết những nho sĩ sống buông xuôi, bất lực, quay lưng trước thực tại, cố giữ mình trong sạch của "Vang bóng một thời" thì Huân Cao lại là một người chủ xướng chống lại triều đình. Ông xứng đáng như một dâu son đỏ rực trên nền trời vàng úa của vang bóng một thời, toả sáng trong niềm lạc quan của tác giả. Cũng thông qua cảnh cho chữ này, chúng ta hiểu hơn về tài năng nghệ thuật của Nguyền Tuân và quan điểm thẩm mĩ của ông. Với lời khuyên mà Huấn Cao giành cho quản ngục, tác giả đã chứng tỏ mình không chấp nhận cái xâu, cái ác ở lẫn với nhau. Người yêu căi đẹp không thể làm điều ác. Cái Đẹp phải gắn liền với cái Thiện, người theo đuổi cái Đẹp phải là người có thiên lương. Lời di huấn của Huấn Cao xứng đáng được đời lắng nghe và gìn giữ.
Câu chuyện khép lại bằng cảnh cho chữ xứng đáng ià "cảnh tượng xưa nay chưa từng có". Nó trở thành nơi biểu tượng cao nhất cho những tâm hồn đẹp. Xây dựng được hình ảnh này, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ ngòi bút tài năng sắc sảo trong việc miêu tả của mình, của một nhà văn mà "gọi là bậc thầy của ngôn từ ta không hề thấy ngại miệng, một nhà văn độc đáo vô song…” (Anh Đức).
Vanmau.edu.vn | Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh cho chữ trong ngục (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân). Tại sao tác giả gọi đây là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” | 2,068 | |
Đề bài: Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáo
Đã nhiều thập kỷ nay, Bình Ngô đại cáo được đưa vào chương trình dạy-học môn Văn (sau gọi là môn Ngữ văn) ở cấp cuối trường phổ thông.
Thường thì người ta cứ mặc nhiên dạy- học nó như một văn bản văn chương mà không mấy người đặt ra vấn đề phải chăng nội dung dạy- học đó phù hợp với tính chất môn học hay đã lấn sân sang môn học khác, môn Lịch sử chẳng hạn, và cùng với điều đó lại có thể bỏ sót một số giá trị văn chương nào đó bởi trước tác này mang tính chất nguyên hợp, không chỉ là “văn sử bất phân” mà ngay ở phần văn cũng là tổng hoà của nhiều loại văn: văn nghị luận, văn tự sự, văn trữ tình… Và mặc dầu bản hùng văn này đã được nhiều người nghiên cứu dưới các góc độ, đạt được nhiều thành tựu, song vẫn có những vấn đề cần phải nhận thức lại.
Bình Ngô đại cáo trước hết là một văn kiện lịch sử. Cuối năm 1427 (cũng có những tài liệu cổ cho rằng đầu năm 1428) được lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo và văn bản này được công bố tháng 4 năm 1428 bố cáo cho toàn quân dân biết sự nghiệp bình Ngô đã hoàn toàn thắng lợi, quân thù đã thảm bại và phải cút khỏi nước ta, một vận hội mới đã mở ra cho giang sơn xã tắc. Chỉ với tư cách văn bản quan phương Bình Ngô đại cáo mới được đưa vào bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư(1) chứ không phải vì nó là tác phẩm văn chương xuất sắc của một bề tôi. Tuy nhiên, các thể loại văn chương Việt Nam thời trung đại-như viện sĩ Đ.X. Likhatsôp nhận thấy ở thể loại văn học Nga cổ- “là để phục vụ nhằm thoả mãn cả một kết hợp phức tạp những nhu cầu xã hội và tồn tại gắn liền với điều đó trong một sự lệ thuộc với nhau rất chặt chẽ”(2), nên từ khi ra đời, Bình Ngô đại cáo không phải chỉ được tiếp nhận chủ yếu như một văn bản hành chính mà còn như một kiệt tác văn chương.
Cáo là một thể trong loại văn chiếu lệnh, loại văn được người xưa coi trọng nhất. Luận ngữ ghi lời của đức Khổng Tử khen nước Trịnh cẩn trọng khi soạn thảo loại văn bản này: Tử viết: “Vi mệnh, Tỳ Thầm thảo sáng chi. Đông Lý Tử Sản nhuận sắc chi Thế Thúc thảo luận chi. Hành nhân Tử Vũ tu sức chi” (Đức Khổng Tử nói rằng: “Khi nước Trịnh làm tờ từ mệnh gửi cho nước khác, ông Tỳ Thầm khởi thảo, ông Thế Thúc khảo cứu bàn bạc, quan hành nhân là ông Tử Vũ sửa chữa thêm bớt, ông Tử Sản ở đất Đông Lý trau chuốt lại”). Tỳ Thầm, Thế Thúc, Tử Vũ, Tử Sản là những người tài nổi tiếng đương thời, cả bốn người hợp sức lại để viết cho thấy thái độ của người đương thời về loại văn liên hệ trực tiếp với chính sự này. “Chính giả, chính dã” (Chính trị là chính nghĩa – Luận ngữ). Một phương tiện để làm rõ chính nghĩa của các đế vương và các triều đại chính là văn chiếu lệnh. Văn chương thẩm mỹ để ngâm ngợi, chỉ cho thấy tài năng của cá nhân trong khi văn chiếu lệnh phục vụ đắc lực cho chính sự, gắn bó với sự hưng vong của vương triều và quốc thể. Văn chương thời trung đại khác văn chương hiện nay ở nhiều phương diện, trong đó bộ phận khác biệt lớn nhất là những thể loại chức năng, bởi như Đ.X. Likhatsôp đã chỉ rõ những thể loại này nhằm đáp ứng đồng thời nhiều nhu cầu xã hội, khác với hiện nay đã có sự khu biệt về thuộc tính và chức năng của các hình thái ý thức. Tìm hiểu những văn bản loại này cần kết hợp linh động giữa tư duy lịch đại và tư duy đồng đại. Hiển nhiên người ngày nay tiếp nhận chúng không giống người thời trung đại, nếu không có quan điểm lịch sử cụ thể sẽ bỏ qua hoặc không đánh giá đúng những giá trị đặc thù, mà đây lại là một trong những nguyên cớ để chúng có mặt trong chương trình dạy-học ngữ văn ngày nay.
Cáo là một thể của loại văn học chức năng, loại trước tác có yêu cầu đầu tiên và cao nhất là “từ nghiêm nghĩa chính” (ngôn từ chuẩn mực, ý nghĩa chính đáng). Bình Ngô đại cáo là một tác phẩm đỉnh cao nên nó mang thuộc tính phổ quát của các hiện tượng điển hình, là nghiên cứu nó sẽ không chỉ biết về một cá thể mà còn nhận thức được một phạm vi rộng hơn thuộc cấp độ loại – ở đây là loại văn học chức năng. Trước tác này ra đời cách đây đã năm thế kỷ, khi ấy các thể loại văn học chức năng còn mang đậm tính chất nguyên hợp, bởi vậy bản đại cáo còn tích hợp nhiều giá trị khác, mà ở đây chúng ta quan tâm tìm hiểu là giá trị văn chương. Với đặc điểm của tư duy người đương thời, giá trị văn chương không ngăn trở, chế ước giá trị hành chính của văn bản, trái lại, như thực tế cho thấy, đã tạo thêm sức sống cho văn bản quan phương này.
Giá trị của Bình Ngô đại cáo trước hết là ở phương diện một trước tác chính luận, loại văn bản được đánh giá cao khi có hệ thống lập luận chặt chẽ, thể hiện sâu sắc và sinh động những vấn đề có ý nghĩa trọng đại của quốc gia dân tộc. Với Bình Ngô đại cáo, không phải nhà chuyên môn cũng dễ nhận ra được lôgic lớn của toàn bài và sự thứ lớp trong lập luận của từng phần. Tiêu biểu cho tầm khái quát của văn bản là đoạn đầu (Nhân nghĩa chi cử… quyết hữu minh trưng). Đoạn này như một định nghĩa rất tiêu biểu về quốc gia phong kiến, được đánh giá là cống hiến có ý nghĩa thế giới, khiến cho các thế hệ sau thán phục, tự hào. Đây là thành tựu đột xuất của lịch sử tư tưởng Việt Nam thời ấy, nhưng với Nguyễn Trãi, là thành tựu tất yếu vì tất cả mọi ý niệm đó đều đã có trong Quân trung từ mệnh tập, đây chỉ là tập đại thành. Thành quả đó do ba nguyên nhân. Trước hết do tài năng siêu việt của nhà trí thức-người anh hùng Nguyễn Trãi vì chính ông chứ không ai khác đã từ tầm cao thời đại, khái quát những giá trị to lớn của đất nước và đồng bào, của văn hoá Việt. Nguyên nhân thứ hai thuộc thời đại đầy biến động to lớn, khiến vấn đề dân tộc dân chủ được đặt ra cực kỳ gay gắt. Người trí thức Nguyễn Trãi đã được tôi luyện trong hoàn cảnh đó, ông nhìn thấy giang sơn và dân nước mình trong máu và nước mắt trước khi thấy họ trong hào quang chiến thắng. Với một chút hài hước có thể nói nguyên nhân thứ ba thuộc “công” của giặc Minh. Chính vì trong thời gian dài phải thường xuyên đương đầu với kẻ thù mạnh, thâm độc và gian xảo như giặc Minh khiến tư duy Nguyễn Trãi thêm sắc sảo. Chẳng hạn luận điểm vĩ đại của ông Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân chính là để phản bác luận điệu xảo trá của quân Minh, vạch rõ bộ mặt thật của chúng đằng sau chiêu bài nhân nghĩa “hưng diệt kế tuyệt”, tư tưởng này đã được bộc lộ cụ thể hơn ở Hựu đáp Phương Chính thư (số 5)(3), Tái phục Phương Chính thư (số 8).
Giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo thấm nhuần ở toàn bộ tác phẩm do người viết luôn nhìn nhận sự vật, hiện tượng cùng với một trí tuệ sắc sảo là một tâm hồn tinh nhạy, con tim giàu cảm xúc. Điều này thể hiện kín đáo nhưng mạnh mẽ ở ngay cả đoạn đầu, đoạn chứa đựng những khái quát về lịch sử dài lâu và quang vinh của đất nước, đoạn chứa đựng những tư tưởng lớn của một bản tuyên ngôn độc lập. Niềm tự hào to lớn, kiêu hãnh vì được làm con dân của một dòng giống anh hùng và văn hiến được tác giả thể hiện cô đúc qua những phó từ ngắn gọn: thực (Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang = Nước Đại Việt ta thật là nước văn hiến)(4), ký (Sơn xuyên chi phong vực ký thù = Núi sông bờ cõi đã chia), diệc (Nam Bắc chi phong tục diệc dị = Phong tục Bắc Nam cũng khác). Ở những đoạn sau, khi lên án tội ác quân xâm lược, kể lại những khốn khó của nghĩa quân buổi đầu dựng nghiệp, miêu tả những bước đường thắng lợi của quân dân, đặc biệt đoạn bố cáo kết thúc chiến tranh… thì cảm xúc càng có điều kiện biểu lộ mạnh mẽ, phong phú.
Giá trị văn chương còn biểu hiện ở sự sáng tạo hình tượng và hình ảnh, điều này liên quan, hay nói đúng hơn là hệ quả của đặc điểm trên. Từ những năm tuổi trẻ đến những ngày tháng cuối đời, Nguyễn Trãi luôn biểu hiện một cốt cách nghệ sĩ lớn, chỉ có những điều kiện nào đó buộc ông phải tiết chế phẩm chất đẹp đẽ này, còn khi tình huống cho phép, ông tự bộc lộ một cách tự nhiên sinh động. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần nhân văn sâu sắc của Bình Ngô đại cáo có sức tác động mạnh mẽ, có sự trường tồn một phần lớn là do điều này. Nguyễn Trãi diễn tả tư tưởng bằng những hình tượng sinh động, thật khó phân định đâu là từ nguồn sách vở, đâu là sáng tạo riêng. Biểu hiện sức mạnh to lớn của nghĩa quân, ông không liệt kê số liệu mà dựng hình ảnh Ẩm tượng nhi hà thuỷ can; Ma đao nhi sơn thạch khuyết (Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; Voi uống nước, nước sông phải cạn). Diễn tả sự đồng tâm nhất trí trong quân ngũ vì nghĩa lớn, tác giả mô tả cảnh Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm (Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào). Chú dẫn câu này có người đưa ra điển tích Trung Hoa thời Chiến Quốc, còn người đi thực địa cho biết ngày nay ở miền tây Thanh Hoá còn di tích hòn đá Khao và suối Rượu, cũng là nêu những sự thực hiển nhiên.
Nguyễn Trãi vâng mệnh của đấng chí tôn, soạn một văn bản hành chính, điều đó đã rõ ràng, nhưng cũng không kém phần hiển nhiên là trong tâm thế tác giả có cả hai mục đích đều lớn và không mâu thuẫn: soạn một văn bản hành chính và sáng tạo một công trình văn chương. (Ăngghen, trong Thư gửi Stáckenbua có viết rằng con người sáng tạo ra lịch sử của mình, nhưng là sáng tạo trong những điều kiện thực tế đương tồn tại và những quan hệ mà người ta phải thích ứng). Điều này biểu hiện ở chỗ ông sử dụng nhiều thủ pháp tu từ, nhiều chất liệu văn chương điển phạm và nhất là rất có ý thức, có năng lực tạo nên tính nhạc cho ngôn từ. Văn biền ngẫu chỉ yêu cầu cơ bản là mỗi câu gồm hai vế cân xứng còn độ dài câu văn, sự ngắt nhịp là do cảm quan của từng người viết. Có người chỉ thấy thuận lợi (do “có khuôn”) mà không thấy khó khăn đối với tác giả xưa. Trong cái khuôn chung ấy mà biểu lộ được thần thái riêng của từng nội dung và từng cá tính là điều khó khăn, tài năng lớn cộng với bản lĩnh cao mới tạo nên được. Nguyễn Trãi rất linh hoạt chính ở chỗ đầy bó buộc này. Nhạc tính của câu văn Bình Ngô đại cáo đa dạng, phù hợp với nội dung câu văn tự sự, trữ tình hay nghị luận. Ông tuyên ngôn bằng câu súc tích, chắc nịch Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Miêu tả tội ác quân thù, ông lại sử dụng thủ pháp trùng điệp, như cố ghi hết tội ác to lớn, trời không dung, đất không tha của chúng.
Chúng tôi quả rất băn khoăn trước nhận định: “Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu”(5). Nhận định này có thể làm cho người dạy- học Bình Ngô đại cáo ở trường phổ thông trung học hình dung theo hai hướng. Một là cho rằng ở nước ta, ngoài “thiên cổ hùng văn” này còn có những bản cáo khác nữa, thực ra, trong những bộ quốc sử hiện còn đều không nói tới các bản đại cáo nào khác. Đọc sử sách cũ đôi khi chúng ta gặp cụm từ “đại cáo thiên hạ” thì chỉ với ý nghĩa là nhà vua hoặc triều đình, hoặc người đứng đầu một phong trào ban bố rộng rãi điều gì đó, còn không dễ mà có được những bản đại cáo như thời kỳ đầu của nhà Hậu Lê. Phải có điều kiện song hành, bên cạnh một chiến công chính nghĩa lừng lẫy còn phải có một thiên tài văn chính luận. Ngoài thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi, chúng ta thấy còn có thời Quang Trung Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm. Biết đâu vị hoàng đế anh hùng và thiên tài họ Ngô từng nghĩ đến điều này, nhưng đứng trước Bình Ngô đại cáo các vị lại có cảm nghĩ như Lý Bạch xưa lên lầu Hoàng Hạc cảm xúc dồi dào mà ngần ngại không đề thơ vì có thơ Thôi Hiệu trên đầu! Ngoài ra người dạy- học Ngữ văn ở phổ thông trung học có thể sẽ hình dung rằng trước Bình Ngô đại cáo, ở Trung Quốc thể văn này đã được viết bằng văn biền ngẫu và cùng với nó, đã có hình thức hoàn chỉnh, và theo cách ứng xử của văn chương thời trung đại, Nguyễn Trãi chỉ còn “lắp” câu chữ của mình vào.
Xem thêm: Về câu ca dao: Uớc gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.Thực ra, cho đến nay khi nói về thể cáo, ngoài Bình Ngô đại cáo các chuyên gia văn học trung đại Việt Nam cũng chỉ nhắc đến các bài cáo trong Thượng Thư. Các văn bản trong Thượng Thư ra đời trước công nguyên nhiều thế kỷ(6) còn văn biền ngẫu xuất hiện thời Hán, Ngụy và thịnh hành thời Lục triều. GS. Mai Quốc Liên cho rằng: “Nguyễn Trãi đã với tay ra hàng hai mươi thế kỷ để dùng lại một thể loại cổ xưa hầu như đã chết trong văn học Trung Quốc- cáo- và đưa vào đó một nội dung hoàn toàn mới”(7). Thật vinh dự cho Nguyễn Trãi và Bình Ngô đại cáo vì đã làm nên sự độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam là chỉ một tác phẩm làm nên một thể loại, và nhìn trong sự liên thông thể loại văn học Việt-Trung thời trung đại, đã làm nên đỉnh cao của một thể loại. Với những gì chúng ta đã biết, có thể nói rằng Nguyễn Trãi chỉ kế thừa tên gọi và chức năng thể loại của thể cáo Trung Hoa.
Bình Ngô đại cáo được viết để bố cáo việc hoàn tất một chiến công vệ quốc vĩ đại, bởi vậy đương nhiên phần lớn ngôn từ sẽ dành cho việc ghi chép lại quá trình chiến đấu gian khổ và chiến thắng của quân dân ta và quá trình thất bại dẫn đến thảm bại hoàn toàn của quân Minh. Giá trị sử học của đoạn văn này rất nổi bật thể hiện ở sự ghi chép trung thực nhiều sự kiện lịch sử và khái quát sâu sắc nhiều chân lý lớn của thời đại. Bên cạnh đó nghệ thuật sáng tạo văn chương của tác giả cũng hết sức xuất sắc. Những chặng đường chính của quá trình chinh chiến hàng chục năm được kể lại tường tận mà không bề bộn vì bút pháp của tác giả rất linh hoạt: vừa kể lại những chiến thắng của quân ta, vừa đúc kết những nguyên lý quân sự và những chân lý nhân sinh; vừa tự sự về những thất bại liên tiếp của quân giặc vừa kết hợp luận tội chúng, đặt chúng trong sự tương phản với quân ta. Sự lúng túng, thất bại của quân xâm lược không chỉ thấy qua những sự kiện mà còn thể hiện bằng những bức biếm họa từ vua quan đến tướng sĩ phương Bắc.
Cho đến gần đây quả là vẫn còn có vấn đề trong cách ứng xử với một câu văn của Bình Ngô đại cáo, câu Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu nhi trí nhiên dã (Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy). Bản chữ Hán trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (in theo Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích) có câu này, bản phiên âm Hán- Việt cũng có. Toàn tập sử dụng hai bản dịch, bản dịch thứ hai không dịch nghĩa câu này. Trước đây ba thập kỷ, cuốn Lịch sử Việt Nam tập I, do Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam biên soạn (Nxb. KHXH 1976) in gần như toàn bộ bản dịch Bình Ngô đại cáo (tr.258-261) chỉ lược bỏ câu trên, thay bằng dấu ba chấm (…). Một chuyên gia văn học Việt Nam trung đại coi câu văn này là “một tỳ vết nhỏ”(8). Những cách nhìn nhận như vậy cách đây hai, ba thập kỷ có thể hiểu được nhưng ngày nay thiết tưởng cần thay đổi cho tương xứng với các thành quả của khoa học xã hội và mặt bằng dân trí. Chúng ta cùng nhìn lại xem trong bản đại cáo, Nguyễn Trãi thể hiện lực lượng siêu hình như thế nào. Kết thúc bản cáo trạng quân xâm lược, tác giả viết:
Thần nhân chi sở cộng phẫn,
Thiên địa chi sở bất dung.
(Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được).
Khi nhìn lại khó khăn chồng chất của buổi đầu khởi nghĩa, Nguyễn Trãi cho rằng: Cái thiên dục khốn ngã, dĩ giáng quyết nhiệm/ Cố dư ích lệ chí, dĩ tế vu gian (Trời thử lòng giao cho mệnh lớn, Ta gắng chí khắc phục gian nan). Ở đoạn miêu tả cảnh hai bên giao tranh đẫm máu, tác giả viết: Phong vân vị chi biến sắc/ Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang (Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi, Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ).
Còn câu văn bị đánh giá tiêu cực, thậm chí bị lược bỏ là ở đoạn cuối, cắt nghĩa nguyên nhân của chiến công bình Ngô vĩ đại. Chúng ta đã thấy ở cảm nhận của Nguyễn Trãi thể hiện trong suốt bản đại cáo, lực lượng siêu hình luôn song hành, tương giao với con người. Ở thế kỷ XV mà không thụ cảm thế giới như vậy thì mới là lạ. Xoá bỏ hoặc đánh giá tiêu cực câu văn đó là chỉ phủ nhận một khâu trong cả chuỗi mắt xích, hơn nữa theo chúng tôi, đây lại là trường hợp dễ được người ngày nay cảm thông nhất. Suốt bản đại cáo Nguyễn Trãi đã trình bày một cách hệ thống và biện chứng những yếu tố vật chất và tinh thần đưa đến toàn thắng của quân ta, thảm bại của kẻ thù, bởi vậy câu văn này không nhằm phủ nhận sự nỗ lực chiến đấu hy sinh để chiến thắng của quân dân ta trong hàng chục năm trời, nó chủ yếu biểu lộ lòng tri ân tổ tiên, là một cách khẳng định chính nghĩa tất thắng (những điều đã trở thành nội dung đạo lý Việt Nam). Ngày nay tất nhiên các văn bản quan phương không còn viết như thế nhưng trong rất nhiều tình huống của đời sống, người Việt Nam thuộc nhiều tầng lớp còn trữ tình theo cách đó. Câu văn làm cho tính chất biểu cảm của văn bản thêm đậm đà, giá trị văn chương càng nổi bật.
Đã có mấy cách giải thích về chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo, trong đó có người cho rằng Nguyễn Trãi sử dụng cách gọi của dân gian, “Nguyễn Trãi đã dùng một từ mà nhân dân quen dùng”, “để chỉ quân Trung Quốc, người Trung Quốc xấu xa, tàn ác, với hàm ý khinh bỉ, phê phán”(9). Cách hiểu này đầu tiên do một nhà nghiên cứu văn học dân gian nêu lên trong dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi (1980) và được một số nhà nghiên cứu tán đồng. Bản thân chúng tôi cũng có lúc tin như thế nhưng về sau, khi có điều kiện đọc trước tác của Nguyễn Trãi nhiều hơn, kết hợp với ngẫm nghĩ thêm thấy rằng cách giải thích đó chưa hợp lý. Trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi gọi kẻ thù bằng hai cách, Ngô và Minh, mỗi cách dùng một lần, Ngô dùng ở nhan đề và Minh ở câu Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân (Giặc Minh thừa dịp tàn hại dân ta- Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Sđd, tr.37). Chỉ căn cứ vào Bình Ngô đại cáo thì sự đối lập về sắc thái ý nghĩa của hai cách gọi chưa rõ, chưa đủ để kết luận, bởi vậy cần nhìn nhận thêm hai cách gọi này trong các trước tác khác của Nguyễn Trãi, có ý nghĩa nhất là những văn bản viết trước bản đại cáo, trong Quân trung từ mệnh tập. Chúng tôi đã khảo sát tỷ mỉ và trình bày trong một tiểu luận(10), ở đây chỉ nêu vắn tắt một số kết luận. Trong Quân trung từ mệnh tập cả hai cách gọi đều được sử dụng nhiều lần (Những văn bản sưu tập được có lẽ chưa đầy đủ – có một khoảng trống mấy năm không thấy có văn bản nào- bởi vậy thống kê số lần sử dụng hai từ này không phản ánh đúng tình hình). Tình trạng một văn bản dùng cả hai tên gọi hoặc chỉ dùng một trong hai đều phổ biến. Có những trường hợp rất đáng lưu ý. Chẳng hạn nếu cách gọi là Ngô mang ý nghĩa trên thì trong văn bản có tính chất đối nội như Tấu cáo văn (số 22) hẳn sẽ dùng cách định danh này, nhưng không, ở đây chỉ dùng cách gọi Minh (hai lần: Minh tặc, cường Minh). Tuy nhiên trường hợp có sức nặng nhất để phản bác ý kiến cho rằng đương thời cách gọi Ngô đã mang ý khinh bỉ chính là văn bản Tái dụ Vương Thông thư (số 35). Trong thư này Nguyễn Trãi chỉ dùng cách gọi Ngô, ba lần: Kim Ngô chi cường bất cập Tần (Nay Ngô mạnh không bằng Tần), phi Ngô quốc sở năng đoạt dã (thì Ngô làm sao có thể cướp được), cập Ngô quốc chi nhân (cũng như người Ngô). Vương Thông là tổng binh, là viên quan có quyền cao nhất trong đám tướng lĩnh viễn chinh ở nước ta, là võ tướng nhưng y thuộc loại thông hiểu chữ nghĩa. Đối với tên này, Nguyễn Trãi luôn chủ trương binh vận (thư cho Vương Thông nhiều nhất, xưng hô nhã nhặn, viết dài, dùng nhiều tri thức kinh điển để bàn bạc, thuyết phục). Bức thư này viết lúc thế thắng đã thuộc về ta, nhưng Nguyễn Trãi vẫn giữ cách ứng xử lịch sự với một đại quan của thiên triều- một kiểu “lạt mềm buộc chặt”, là cách khéo léo nhắc nhở hắn cách hành xử cho hợp với một đại nhân, đề phòng “chó cùng rứt dậu”. Là người hiểu sâu sắc nhân tình thế thái, lẽ nào Nguyễn Trãi hành xử bằng cách miệt thị tổ tiên kẻ mà mình đang áp dụng chiến thuật “tâm công”? Trong Ngữ văn 10, bức thư này được in gần kề Bình Ngô đại cáo, nếu giải thích chữ Ngô trong bản đại cáo là cách định danh biểu thị sự khinh bỉ thì không thuyết phục được người dạy- học.
Tóm lại, chỉ căn cứ vào Bình Ngô đại cáo thì sự đối lập sắc thái ý nghĩa giữa hai cách gọi Minh và Ngô không rõ, và tìm hiểu những văn bản trước đó được tập hợp trong Quân trung từ mệnh tập thì chưa có sự đối lập này.
Ngoài những trường hợp đã được các nhà nghiên cứu dẫn ra, chúng tôi thấy thêm vài trường hợp gọi người phương Bắc là Ngô với ý khinh thị. Đây là một câu trong bài Dăn đời phú (khuyết danh):
Báng đầu thằng trọc, không nể đầu ông sư; cứng cổ cứng đầu, ai xá những ngu dại – Vắng mặt thằng Ngô, lúc có mặt ông sứ, sấp mày sấp mặt vẫn nghe nhời nói xưa nay. Về đoản ngữ Vắng mặt thằng Ngô, lúc có mặt ông sứ, soạn giả Vũ Khắc Tiệp giải thích: “Khi trước nước ta phải phục về nước Tàu, khi có quan sứ ở nước Tàu sang, thì ta phải chiều chuộng rất cung kính, nhưng khi vắng mặt thì lại gọi đó là thằng Ngô”(11). Và đây là câu mà theo tác giả Thượng Chi văn tập, là một câu ca dao:
Ba mươi tết, tết lại ba mươi,
Vợ thằng Ngô đốt vàng cho chú Khách.
Ở một số nước, Trung Quốc chẳng hạn, sáng tác dân gian được văn bản hoá rất sớm (ví dụ Kinh Thi), còn ở ta những ghi chép văn học dân gian xuất hiện muộn, tạo nên một khó khăn khi nghiên cứu mối quan hệ giữa hai bộ phận văn chương dân tộc-văn chương bác học và văn chương dân gian, là có những giá trị rất gần gũi, có thể khẳng định được rằng có sự tiếp thụ, nhưng không thể chỉ rõ được tác giả văn học viết sử dụng của dân gian hay sáng tác của họ được dân gian hoá. Riêng trường hợp chữ Ngô đang bàn, có thể phân định được bằng phép loại trừ. Chúng tôi đã chứng minh, trong trước tác Nguyễn Trãi chữ Ngô chưa đối lập với chữ Minh về sắc thái ý nghĩa, điều này chỉ xuất hiện về sau, bởi vậy nên khẳng định trên cơ sở những chứng cớ khách quan, “chính những trước tác của Nguyễn Trãi mà tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo đã góp phần quan trọng đối với việc lưu giữ ký ức lịch sử về quân Minh xâm lược thâm độc, tàn bạo và tư thế vĩ đại của nước Việt thời ấy góp phần hình thành trong tâm thức dân gian Việt Nam cách gọi người phương Bắc bằng từ Ngô với ý nghĩa như chúng ta đã thấy”(13). Chúng ta đều biết có nhiều cách để lưu giữ ký ức lịch sử trong đó tác phẩm văn chương đích thực có ưu thế các lĩnh vực khác khó bì, vì ở đây có sự hài hoà giữa nhận thức và cảm xúc, là “hình thức nhuần nhị nhất của tư tưởng”. Sức sống của chữ Ngô cũng là một cứ liệu khẳng định giá trị văn chương xuất sắc của Bình Ngô đại cáo.
Trước tác này của Nguyễn Trãi đã trở thành một giá trị cổ điển, gắn với nó có một nhận định cũng đã trở thành cổ điển, rằng đây là một “thiên cổ hùng văn” (Vũ Khâm Lân, thế kỷ XVII). Nhận định này rất tiêu biểu cho sự thụ cảm của người xưa về Bình Ngô đại cáo, xem nó như một sáng tác văn chương.
Bình Ngô đại cáo đã được nhiều dịch giả thuộc nhiều thế hệ chuyển ra quốc ngữ và nhìn chung có thể thấy rằng người dịch đến với nguyên tác trước hết cũng không phải như một văn kiện lịch sử, qua việc theo các chuẩn mực tín, đạt, nhã của một văn bản văn chương. Điều này thấy rõ ở xu hướng triệt để bảo lưu tính chất biền ngẫu và nhạc tính của câu văn, ngay cả ở những trường hợp để đạt được điều đó phải dịch đảo câu trong nguyên tác (các câu Nhân tài thu diệp, tuấn kiệt thần tinh; Ẩm tượng nhi hà thuỷ can, Ma đao nhi sơn thạch khuyết). Có những câu dịch so với nguyên tác đã được hình tượng hoá (Tuấn sinh linh chi huyết, dĩ nhuận kiệt liệt chi vẫn nha được dịch thành “Thằng há miệng đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”).
Chỉ với Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã xứng đáng là nhà văn chính luận kiệt xuất, song ông còn có Quân trung từ mệnh tập- tập văn chính luận quy mô đầu tiên của nước ta. Những trước tác này cùng với thơ của thi hào đã làm nên một hiện tượng độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam: Nguyễn Trãi là tác gia duy nhất có sự tương xứng kép, ở bậc cao, tương xứng giữa văn chính luận và văn chương thẩm mỹ, tương xứng giữa trước tác bằng chữ Hán và bằng quốc âm.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi ban? Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp? Lấy ví dụ thực tế để chứng minh | Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáo | 5,119 | |
Giáo dục thay đổi số phận của cá nhân, thậm chí số phận của một dân tộc
Hướng dẫn
Có ý kiến cho rằng:, "Giáo dục thay đổi số phận của cá nhân, thậm chí sốphận của một dân tộc".
Anh (chị) có đồng ý với ý kiến đó không?
Sau đây là gợi ý cho mỗi luận điểm:
– Giải thích:
+ Giáo dục thay đổi số phận cá nhân, "giáo dục" ở đây được hiểu là quá trình học tập, trau dổi kiến thức, kĩ năng, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp. Được "giáo dục", con người sẽ có học vấn và đạo đức – những hành trang không thể thiếu để bước vào cuộc sống. Được giáo dục, mỗi người có thể thay đổi số phận của mình (có nghề nghiệp, có thu nhập, có cuộc sống tốt đẹp…).
+… thậm chí số phận của cả một dân tộc: Một đất nước mà mọi công dân được giáo dục tốt thì đất nước ấy sẽ vượt qua những khó khăn, thách thức để phát triển.
– Bàn luận, liên hệ thực tế:
+ Đây là ý kiến đúng. Ý kiến này nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục đối với cá nhân và với dân tộc.
+ Thực tế cho thấy nhiều người nhờ được giáo dục, nhiều dân tộc nhờ phát triển giáo dục mà thay đổi được số phận của mình (cho ví dụ minh hoạ).
+ Vấn đề đặt ra là: cần phải có mục tiêu giáo dục đúng đắn và kết hợp nhiều hình thức giáo dục khác nhau, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự giáo dục và giáo dục suốt đời.
Nguồn: thêm: Giải thích và bình luận câu tục ngữ: ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’ | Giáo dục thay đổi số phận của cá nhân, thậm chí số phận của một dân tộc | 290 | |
Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học… văn học yêu nước”. (Theo Trần Văn Giàu, Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam). Bình luận ý kiến trên
Gợi ý
Thực hiện chức năng phản ánh sinh động đời sống con người, văn học Việt Nam là cuốn “Bách khoa thư” về đời sống phong phú, đa dạng của con người Việt Nam. Song nói như giáo sư Đặng Thai Mai, sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử văn học dân tộc vẫn là tinh thần yêu nước: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng, nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước”. (Theo Trần Văn Giàu, Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam).
Thật vậy, xét một cách tổng thể, văn học Việt Nam đã phản ánh phong phú, đa dạng thiên nhiên, đất nước và con người Việt Nam. Ta có thể bắt gặp muôn hình đời sống trên những trang văn, trang thơ của dân tộc. Đó là tình cảm gia đình: công cha – nghĩa mẹ như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn; tình vợ chồng mặn mà nồng ấm như muối mặn gừng cay; nghĩa chị em keo sơn “chị ngã em nâng”,… Đó là tình cảm bạn bè, đó là những sự yêu ghét và muôn vàn trạng thái tình cảm con người, đó còn là sự khuyên nhủ, dặn dò về mọi lẽ hơn thiệt ở đời, mọi cách thức đi đứng, nói năng, ăn mặc trong đời sống,…Xem thêm: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy nêu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài Nhưng như giáo sư Đặng Thai Mai nhận định, quả thực, nếu cần tìm một dòng chảy xuyên suốt không ngơi nghỉ “quán thông kim cổ” trong nền văn học nước nhà thì đó phải là văn học yêu nước.
Từ xa xưa, những con chữ ngợi ca cảnh đẹp thiên nhiên đất nước đã làm sáng bừng những trang giấy dó:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Nương
Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ”.
Từ ca dao đến văn học Trung đại, thiên nhiên đất nước vẫn là niềm say mê của thi sĩ muôn đời. Trong "Bạch Đằng giang phú", Trương Hán Siêu từng tự hào về vẻ đẹp hùng vĩ của dòng sống anh hùng:
"Bút ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời: một sắc, phong cảnh ba thu".
Chẳng những vậy, đọc những “Dục Thuý sơn” của Nguyễn Trãi, “Thiên Trường vãn vọng” của Trần Nhân Tông, “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ,… ta lại bồi hồi với những cảnh đẹp của giang sơn gấm vóc.
Tiếp nối dòng chảy đó, văn học Việt Nam hiện đại lại tiếp tục dâng trào cảm hứng về thiên nhiên. Người đọc có thể dễ dàng tìm thây những áng thơ đẹp đẽ như vậy trong trang viết của Hồ Chí Minh với “Cảnh khuya”, “Rằm tháng Giêng”,… của Nguyễn Đình Thi với “Bài ca Hắc Hải”, “Đất nước”, rồi Nguyễn Trung Thành với “Rừng xà nu”, của Anh Đức với “Đất”, của Nguyễn Tuân với bút kí “sống Đà”,… Không thể phủ nhận rằng, trong những trang thơ văn ấy, đằng sau vẻ đẹp của mỗi nắm đất, mỗi con sống,… là một tấm lòng yêu nước nồng nàn say đắm.Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Tám trong truyện “Đất” của nhà văn Anh Đức Nhưng nhấc đến văn học ýêu nước Việt Nam, minh chứng tiêu biểu hơn cả là những tác phấm văn học mang tính chiến đấu trực tiếp chông lại quân thù. Nói như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, đó là những tác phẩm mà ngòi bút văn học “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
Theo dòng chảy cúa lịch sử dân tộc, có thể nói, chẳng khi nào văn học Việt Nam thiếu vắng những dòng thơ đánh giặc. Có thể kể đến lời nguyền của Hai Bà Trưng khi dựng cờ khởi nghĩa:
“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẽo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.
Theo dấu voi đi của hai bà, những “Nam quốc sơn hà”, “Đại cáo bình Ngô”, “Hịch tướng sĩ”,… đã thể hiện những tấm lòng đau đáu, quằn quại vì Tổ quốc lúc lâm nguy; những tinh thần, khí thế quật cường trước bạo tàn của dân tộc. Tất cả đế vươn lên, tất cả để trỗi dậy để chứng minh dòng máu Đại Việt anh hùng đang tuôn trào trong huyết quản.
Thời đại mới, văn học Việt Nam vẫn xứng đáng kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc. Chúng ta không thể nào quên lời “Tuyên ngôn độc lập” của Bác Hồ ngân vang trong lịch sử, không thể nào quên lời thơ Tố Hữu hào sảng khắp non sống, cũng không thể nào quên những “Đất nước”, những “Mặt đường khát vọng”, những “Rừng xà nu”, những “Đất”, những “Người mẹ cầm súng”,… Văn học yêu nước đã tự nó chứng minh cho sức sống bền bỉ lâu dài trong lòng dân tộc.Xem thêm: Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống” Vị trí của dòng văn học yêu nước được lí giải bởi truyền thống yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam. Bác Hồ từng tự hào: “Dân ta có một lòng nồn nàn yêu nước”. Chính tình càm sôi nổi, nồng nhiệt âỳ là cội rễ của mọi tác phẩm văn học thấm đầm cảm hứng tự hào, yêu mến và quyết tâm bảo vệ đất nước đến cùng của nhân dân.
Ý kiến của giáo sư Đặng Thai đã chỉ ra một trong những nội dung quan trọng nhất của văn học Việt Nam: cảm hứng yêu nước. Điều đó có ý nghĩa to lổn đối với quá trình nghiên cứu, tìm hiểu cũng như tiếp nhận nền văn học dân tộc của mỗi chúng ta
Vanmau.edu.vn | Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng_ “Nhìn chung văn học… văn học yêu nước”. (Theo Trần Văn Giàu, Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam). Bình luận ý kiến trên | 1,033 | |
Giáo viên chủ nhiệm lớp em cần biết tình hình của lớp em trong tháng qua. Em hãy viết một văn bản gửi cho thầy (cô) giáo
Gợi ý
Trường THCS Lê Quý Đôn
Lớp 7A2
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Báo cáo tình hình lớp
Tháng 3 năm 2009
Kính gửi cô giáo chủ nhiệm lớp 7A2 Dương Tố Nga
Tên em là Phạm Bảo An, lớp trưởng lớp 7A2
Dưới đây, em xin báo cáo về tình hình lớp 7A2 trong tháng 3 năm 2009 (từ ngày 01/3/2009 đến 31/3/2009) như sau:
1. Về kỉ luật, nề nếp
– Số lượt học sinh đi muộn: 05 lượt
– Số học sinh nghỉ học: 02 lượt
Trong đó có phép là 02/02 lượt
– Số học sinh bỏ giờ, trốn tiết: không có
– Số học sinh vi phạm kỉ luật giờ học (bị ghi vào sổ ghi đầu bài): 03 lượt
– Số học sinh bị kỉ luật (từ cấp lớp trở lên): không có
– Xếp loại kỉ luật của lớp trong khối: Tốt, xếp vị trí 02/08 lớp
* Xếp loại kỉ luật của lớp trong trường: Tốt, xếp vị trí thứ 05/27 lớp
2. Về học tập
+ Tống số giờ học là: 103 tiết Trong đó số tiết học được xếp loại tốt là 84 tiết Số tiết học được xếp loại khá là 19 tiết
+ Tổng số lượt kiểm tra miệng: 52
Trong đó số lượt học sinh nhận điểm khá, giỏi là 37 lượt Số lượt học sinh nhận điểm trung bình là 11 lượt Số lượt học sinh nhận điểm yếu là 04 lượtXem thêm: Tổ chức một cuộc họp trao đổi về trách nhiệm của học sinh trong cộng đồng + Số lượt học sinh không học bài, không chuẩn bị bài (bị ghi vào sổ ghi đầu bài): 12 lượt
3. Về các hoạt động văn thể
Tham gia sôi nổi các hoạt động của trường nhân kỉ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Trong đó:
– Có 2 tiết mục tham gia hội diễn văn nghệ, 1 tiết mục đạt giải nhất, một tiết mục đạt giải ba;
– Bước vào chung kết hội khỏe ở các môn thi: cầu lông, cờ vua, bơi. Cả ba môn đều đạt giải nhì;
– Dựng trại và trang trí trại đạt giải ba.
* Kết thúc đợt thi đua chào mừng ngày 26/3, tập thể lớp đạt loại xuất sắc.
Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm 2009
Học sinh
Phạm Bảo An
(Đã kí)
Vanmau.edu.vn | Giáo viên chủ nhiệm lớp em cần biết tình hình của lớp em trong tháng qua. Em hãy viết một văn bản gửi cho thầy (cô) giáo | 407 | |
Giả sử anh (chị) tham gia cuộc thảo luận về một cuốn sách được các bạn học sinh quan tâm, chú ý và được phát biểu những ý nghĩ của mình. Hãy ghi lại suy nghĩ của chính anh (chị)
Gợi ý
Có học giả nào đó từng nói: Sách là một người bạn tốt nhất, thân thiết nhất và trung thành nhất. Quả đúng là như thế, ngày nay có rất nhiều cuốn sách hay.
Có thể nói sách vô cùng đa dạng, có mặt ở mọi nơi và sách chính là một loại công cụ, phương tiện để chúng ta tìm hiểu và tiếp cận tri thức. Nhưng chúng ta muốn tiếp cận kiến thức một cách đúng đắn, chính xác thì điều trước tiên chúng ta phải xem sách nào nên dùng, sách nào không nên dùng. Chính vì vậy, những cuộc thảo luận là rất cần thiết cho việc chọn sách.
Là một học sinh thuộc thế hệ 9X, tôi đang được sống trong thời đại của công nghệ thông tin và quan trọng hơn là tôi có cơ hội tiếp rận với rất nhiều cuốn sách đặc biệt là những cuôn sách được giới trẻ quan tâm. Tôi thấy cuốn sách
Những hài văn hay dành cho học sinh khối Trung học Phổ thông được các bạn trẻ rất quan tâm và yêu thích. Đây có thể coi là cuố’n cẩm nang cho những người thích học văn và không thích học Văn. Đối với các bạn thích học Văn và các bạn học khối Xã hội cuốn sách này không chỉ mang lại những bài tham khảo để các bạn làm phong phú thêm giọng văn của mình mà quan trọng hơn nữa, cuốn sách này củng cố thêm lối viết văn cho các bạn, để chúng ta có tư duy tốt hơn để học văn và yêu quí môn văn hơn. Quả thật, không có sách thì không có tri thức, những bài Văn trong cuốn sách này không chỉ tăng thêm nguồn cảm xức mới mà cuốn sách này còn giúp các bạn biết cách chọn từ, sử dụng từ, cuốn sách này giúp tôi viết câu đúng, phù hợp với từng loại bài văn. Có thể thấy, cuốn sách Những, bài làm văn hay khối Trung học Phổ thông là cuốn sách các bạn trẻ nên tìm đọc..Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về bạn và chọn bạn Song song với những ưu điểm mà cuốn sách Những bài văn hay dành cho học sinh khổi Trung học Phổ thông đem lại còn có những hạn chế cần phải khắc phục, vẫn biết rằng, vật chất luôn có tính hai mặt của nó và cuốn sách này cũng vậy, chỉ cần chúng ta coi thường một chút, hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Một số bạn đã dùng cuốn sách này để làm cho bài văn của mình trở nên lủng củng, chắp vá. Chúng ta phải lưu ý để vận dụng vào bài viết của mình một cách tốt nhất.
Nhìn chung, cuốn sách Những bài văn hay cho học sinh khối Trung học Phổ thông là cuốn sách hay được giởi trẻ quan tâm và yêu thích. Cuốn sách sẽ thật sự hữu ích cho chúng ta khi chúng ta biết đọc và cảm thụ nó bằng tất cả cảm xúc của mình.
Vanmau.edu.vn | Giả sử anh (chị) tham gia cuộc thảo luận về một cuốn sách được các bạn học sinh quan tâm, chú ý và được phát biểu những ý nghĩ của mình. Hãy ghi lại suy nghĩ của chính anh (chị) | 558 | |
Giải nghĩa câu nói của Tuân tử: “Băng ở nước ra mà lạnh hơn nước, màu xanh ở chàm ra mà thẫm hơn chàm”
Gợi ý
DÀN BÀI
I. Mở bài
Quy nạp tương đồng: Dùng câu ca dao:
Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài.
Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi.
Con người ta có khác gì.
Học hành quý giá ngu si hư đời.
II. Thân bài
1. Băng: là nước đá, nước đá là do nước đông lạnh lại mà thành nhưng cái chất khác hơn trước. Đó là sự rèn luyện mà được như thế.
– Sức lạnh của trời đất làm cho nước thành băng và đổi tính chất.
– Sự biên chuyển của máy nước đá làm cho nước thành băng và đổi tính chất.
2. Chàm: là một cây lấy vỏ để nhuộm màu xanh.
– Vỏ chàm tự nó đã xanh rồi, nhưng đem nâu cô lại thì thành màu xanh thẫm hơn chàm.
3. Ngọc: là một chất đá quý, nếu không ai giũa thì cũng không có giá trị.
Ví dụ: Biên Hòa không cho đập hòn đá thì Vua không thấy ngọc.
4. Tóm lại: cái gì ở đời cũng phải rèn luyện mới có giá trị.
– Thanh sắt có rèn luyện thì mới thành con dao, lưỡi cày.
– Khúc gỗ có được bào đục thì mới trở thành bàn ghế.
– Tảng đá có được gọt đẽo thì mới thành ra cái cối xay, cái bia tốt.Xem thêm: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước cuộc vận động nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục– Nên biết cách đối xử khéo léo ở đời.
– Nên biết những điều lợi nước, an dân.
* Những việc không nên biết:
– Không nên tìm hiểu đời tư của kẻ khác (tò mò vô ích)
– Không nên tìm hiểu những bí mật của quốc gia.
– Không nên tò mò tìm hiểu những vấn đề không thuộc phạm vi phụ trách của mình.
– Những việc không nên quên:
– Phải quên những thù hằn, oán giận.
– Phải quên việc riêng mà nghĩ tới việc chung.
Danh ngôn:
“Dùng nhân để trị người, dùng nghĩa để trị ta” – Đổng Trọng Thư
Ca dao:
“Ai mà phụ nghĩa quên công
Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”
III. KẾT BÀI
Ớ đời không nên quá rộng mà cũng không nên quá hẹp, xử sự sao cho đúng chỗ là được.
Vanmau.edu.vn | Giải nghĩa câu nói của Tuân tử_ “Băng ở nước ra mà lạnh hơn nước, màu xanh ở chàm ra mà thẫm hơn chàm” | 391 | |
Đề bài: Cha ông chúng ta cho rằng:
Cá không ăn muối cá ươn,
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.
Em hãy giải thích và bình luận câu ca dao trên.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống tôn trọng đạo lí từ ngàn xưa. Trong các quan hệ tình cảm thì quan hệ giữa cha mẹ và con cái là thiêng liêng nhất. Trách nhiệm lớn lao của cha mẹ là nuôi dạy các con nên người. Ngược lại, bổn phận của con cái là phải lễ phép và vâng lời cha mẹ. Vâng lời là biểu hiện của lòng hiếu thảo, của đạo làm con. Nếu trái lời cha mẹ, phụ lòng cha mẹ, con cái khó trở nên người tốt. Để khẳng định vai trò răn dạy, chỉ bảo của cha mẹ đối với con cái, người xưa đã có câu:
Cá không ăn muối cá ươn,
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.
Bài học lớn về đạo làm người được rút ra từ một thực tế hết sức giản đơn. Thường thường, mua cá ở chợ về, muốn giữ được tươi lâu, người ta mổ sạch sẽ rồi đem ướp muối. Cá thấm muối, thịt săn chắc, khi chế biến thành món ăn, hương vị sẽ đậm đà. Ngược lại, nếu để lâu không ướp muối, cá sẽ ươn, ăn mất ngon.
Con cái không nghe lời dạy bảo của cha mẹ khác nào như cá không ăn muối, sẽ hư hỏng, không thể trở thành người tốt được.
Vấn đề mà câu tục ngữ đặt ra rất đúng. Sự hiểu biết, từng trải trong xã hội khiến cha mẹ có nhiều kinh nghiệm sống. Những kinh nghiệm ấy phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt, có khi cả bằng máu nên lại càng quý báu. Với tình thương yêu vô bờ và trách nhiệm lớn lao, các bậc làm cha làm mẹ không tiếc công sức của mình để nuôi dạy con cái ngày một lớn khôn cả về thể xác lẫn tâm hồn. Con váng mình, sốt mẩy, cha mẹ lo đêm, lo ngày. Con học hành tấn tới, cha mẹ vui mừng. Con có biểu hiện không ngoan, cha mẹ đau lòng xót ruột, tìm mọi cách dạy dỗ, giáo dục, giúp con hướng thiện.
Xem thêm: Kể lại câu chuyện Những ngôi sao xa xôi cúa Lê Minh KhuêNgười xưa có câu: Nước mắt chảy xuôi; lại có câu: Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ. Mong muốn duy nhất của cha mẹ là con cái trở thành người hữu dụng làm rạng rỡ cho gia đình, Tổ quốc. Cho nên, những bậc cha mẹ chân chính đều dạy con những điều đúng đắn, tâm huyết, có khi như là cắt ruột truyền cho con. Đó là nhiệm vụ, là lo toan, mong ước sâu xa, tha thiết nhất của cha mẹ.
Phận làm con nên biết rằng trên đường đời, người thầy đầu tiên của con cái chính là cha mẹ. Cha mẹ dìu dắt con những bước chập chững đầu tiên. Cha mẹ dạy con những bài học đầu tiên. Cha mẹ chuẩn bị hành trang cho những đứa con khi bước vào đời. Vì vậy, nghe lời, vâng lời cha mẹ trước tiên là biết vâng theo, tập theo cái đúng. Sau đó là tự mình nhận thấy đúng mà tự giác tiếp thu. Bấy giờ mới rõ những điều cha mẹ khuyên răn, dạy dỗ là điều hay, lẽ phải. Biết nghe, biết vâng lời cha mẹ là tỏ ra biết kính, biết thương, hiếu thảo với cha mẹ.
Trước đây, ông cha chúng ta quan niệm rằng con cái phải tuyệt đối phục tùng cha mẹ; chỉ một lòng thờ mẹ kính cha, nhất thiết không được trái lời. Ngày nay, quan niệm truyền thống ấy có phần thay đổi. Con cái vâng lời cha mẹ, đồng thời cũng có quyền bàn bạc, góp ý với cha mẹ để công việc đạt kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, khi góp ý, con cái phải giữ thái độ lễ phép và đúng mực.
Cha mẹ gánh vác trách nhiệm chính trong gia đình nên có quyền quyết định mọi việc, song cha mẹ cũng nên biết lắng nghe tâm tư, tình cảm của các con, hiểu rõ tính nết của con, để từ đó đưa ra những biện pháp giáo dục thích hợp, có hiệu quả hơn.
Có như vậy, quan hệ giữa cha mẹ và con cái mới thật sự gắn bó và gia đình sẽ sống trong không khí đầm ấm thuận hòa, tôn trọng lẫn nhau. Đó là các yếu tố để tạo nên hạnh phúc gia đình.
Thực tế xung quanh chúng ta cho thấy có nhiều người con tài đức vẹn toàn. Những Lê Bá Khánh Trình, Đặng Thái Sơn, Trần Bình Gấm, hai anh em Từ Hoàng Thông, Từ Hoàng Thái… và bao nhiêu bạn con ngoan, trò giỏi là niềm tự hào của gia đình, nhà trường và xã hội.
Bài học đạo đức mà câu tục ngữ trên nêu ra từ xưa đến nay vẫn là một kinh nghiệm quý, nhắc nhở mọi người phải giữ đạo làm con. Nó có liên quan đến chữ hiếu và chữ hiếu ngày nay dù có mang nét mới của thời đại nhưng vẫn là đức lớn trong đạo làm người của dân tộc ta.
Xem thêm: Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết) | Giải thích bài ca dao “Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư” | 908 | |
Đề bài: Anh (chị) hãy giải thích bài ca dao:
Rủ nhau đi hái mẫu đơn,.
Mẫu đơn không hái, hái cơn dành dành, (cơn = cây)
Rủ nhau đi hái dành dành,
Dành dành không hái, hái cành mẫu đơn.
BÀI LÀM
Nói đến niềm vui của đôi lứa yêu nhau, nhất là ở buổi ban đầu, văn chương xưa nay chẳng thiếu lời hay, ý đẹp. Trong ca dao, có niềm vui chi làm bằng cái giả đò ngó lơ im lặng, mặc dù thương em đứt ruột Nhưng niềm vui sau đây mới thực sự lạ lùng:
Rủ nhau đi hái mẫu đơn,
Mẫu đơn không hái, hái cơn dành dành.
Rủ nhau đi hái dành dành,
Dành dành không hái, hái cành mẫu đơn.
Hai người đang yêu rủ nhau đi chơi với mục đích rõ ràng là đi hái mẫu đơn, sao lại hái dành dành? Và lần khác, mục đích cũng không kém rõ ràng là đi hái dành dành mà cuối cùng lại hái mẫu đơn? Sao có chuyện kì lạ vậy?!
Có lẽ đây là lời của những trái tim đang yêu, đang say đắm trong hạnh phúc. Ta bắt gặp cái mô típ quen thuộc của những bài ca dao cùng chung một chủ đề với nó: Rủ nhau xuống biển mò cua…, Rủ nhau lên núi đốt than… Vậy đích thị từ nhau ở đây là để chỉ hai người: chàng trai và cô gái. Bao yêu thương ẩn chứa đằng sau cái từ mộc mạc, dân dã ấy. Đã rủ nhau thì tất có hò, có hẹn.
Chúng ta hãy để cho trí tưởng tượng của mình chắp cánh bay bổng. Thử hình dung ra cảnh hội hè, tế lễ ở đình làng hay ở hội đền này chùa nọ vào các dịp Tết Nguyên Đán, Thanh minh, tế xuân, tế thu, hát chèo, hát bội… Đó là những cơ hội lí tưởng cho trai gái hò hẹn. Có điều, mọi người thì đến lễ hội chung, còn các cặp trai gái yêu nhau thì đi đến lễ hội riêng của trái tim họ.
Xem thêm: Phân tích truyện Tấm Cám. Thường thường, sân chùa, hiên đền, sau đình là nơi hò hẹn. Ồn ào ở nơi xa, đây vắng. Vắng người nhưng có lá có hoa đủ loại. Nhưng sao cặp uyên ương này cứ quanh quẩn vậy? Rõ ràng là: Rủ nhau đi hái mẫu đơn mà rốt cuộc lại hái dành dành và lẽ ra phải hái dành dành thì lại hái mẫu đơn.
Thử đọc những câu ca dao sau dây: Lá này gọi lá xoan đào, Tương tư gọi nó thế nào hở em? Lá khoai anh ngỡ lá sen, Bóng trăng anh tưởng bóng đèn anh khêu. Hoặc: Thẩn thơ đứng gốc cây mai, Bóng mình lại ngỡ bóng ai, mình lầm… Trăm sự lẫn lộn buồn cười ấy đều do tình yêu đã đến độ say mê.
Mẫu đơn là một loại hoa quý, dành dành là loại hoa thường. Mẫu đơn được trồng ở chốn cao sang, dành dành đặt đâu sống đó. Có bao giờ hai loại hoa này mọc chung một chỗ đâu? Vậy thì làm sao lại có chuyện nhầm lẫn giữa hoa nọ và hoa kia được? Hóa ra cả mẫu đơn lẫn dành dành chi là cái cớ để bộc bạch cung bậc cao nhất của tình yêu: say sưa đến mê mẩn, đến thẩn thơ, nhìn bóng mình mà lầm là bóng ai; đến mất trí, mất hổn: lá khoai nhìn ra lá sen, bóng trăng mà ngỡ bóng đèn định khêu lên cho tỏ…
Mê mẩn tạo ra ảo giác, bởi vậy mới có những nhầm lẫn đáng yêu như thế. Trước con mắt của người đang yêu, cái gì mà chẳng đẹp? Cho nên mẫu đơn hay dành dành không phải là điều quan trọng. Quan trọng là anh yêu em, em yêu anh, chúng ta yêu nhau.
Ngẫm kĩ hơn nữa thì trái tim đang yêu không chỉ thấy mọi vật xung quanh mình đều đẹp mà nó còn xem nhẹ tất cả, quên khuấy tất cả. Vũ trụ chỉ còn có hai người, hai trái tim đang nồng cháy tình yêu ngoài ra không còn gì khác. Rốt cuộc, mẫu đơn chẳng có mà dành dành cũng không. Chi có anh vả em, chi có tình yêu của đôi ta mà thôi!
Bốn câu ca dao quẩn quanh, quanh quẩn bởi thế giới của anh và em đã đầy đủ, trọn vẹn, khép kín trong hạnh phúc vô biên của tình yêu.
Nếu chỉ đọc qua bài ca dao trên vài lần, chúng ta sẽ không hiểu hết cái hay, cái đẹp của nó. Nhưng nếu chịu khó đọc đi đọc lại và suy nghĩ, nghiền ngẫm, ta sẽ thấy sau lớp vỏ chữ nghĩa là cả một ý tứ sâu xa và thấp thoáng đâu đây nụ cười bao dung, đôn hậu của người đời đối với những đôi lứa đang yêu.
Xem thêm: Nêu suy nghĩ của em về chức năng giáo dục của tác phẩm văn học- Văn 12 | Giải thích bài ca dao “Rủ nhau đi hái mẫu đơn, Mẫu đơn không hái hái cơn dành dành ..” | 840 | |
Đề bài: Giải thích bình luận câu nói của Nam Cao trong Đời thừa “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay…”
Bài làm
Trong nghệ thuật, cụ thể là văn thơ, con người luôn đặt sự sáng tạo lên hàng đầu và là nền tảng cho sự nghiệp. Với Văn Cao – một tác giả có quan điển nghệ thuật tiến bộ, bằng tác phẩm “ Đời thừa”, qua nhân vật Hộ, Nam Cao đã gởi gắm những suy tư và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mạng của người cầm bút chân chính. Ông viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.
Sáng tác văn chương khác với người thợ tạo ra sản phẩm. Mỗi sản phẩm của một tác giả chỉ có thể là có một, người thợ có thể tạo ra hàng nghìn sản phẩm giống nhau. Nếu đứa con tinh thần của mỗi tác giả giống những tác phẩm khác thì không bao giờ đạt được chỗ đứng trong lòng người đọc và giới văn học. Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một kiều mẫu đưa cho ám chỉ thứ văn chương đẽo gọt, khuôn sáo, hời hợt. Người thợ dù là người thợ khéo tay thì cùng chỉ sản xuất ra những thành phẩm hàng loạt theo mẫu mã có sẵn, dù có khéo léo cùng chỉ là một hình thức bắt chước, theo khuôn mẫu. Để tạo ra sản phẩm của mình thì một nhà văn cần cả một quá trình nghiền ngẫm, tìm tòi những nội dung mới và hình thức diễn tả mới để tạo ra những sản phẩm không đụng hàng mang dấu ấn riêng của bản thân, để mỗi khi đọc hay xem tác phẩm đó, người đọc có thể nhận ra tác giả, chứ không phải một người thợ điêu luyện. Văn chương chỉ công nhận đó là một tác giả khi người đó tự tạo ra một đứa con tinh thần của bản thân, người đó biết đi tìm những thứ chưa ai khám phá và khơi những nguồn cảm xúc chưa được mọi người cảm nhận tới.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhà thơ Nguyễn Du
Là nghệ sĩ, không ai bằng lòng với lối sao chép, rập khuôn hay phản ánh hiện thực cuộc sống trên bề mặt của nó. Họ phải tự tạo cho mình cái nhìn nhạy bén và sâu xa hơn người để phát hiện những vấn đề mới lạ, hay mặt khác của sự vật hiện tượng trong cuộc sống để đem đến cho người đọc những trải nghiệm mới đầy bất ngờ, sâu sắc, thú vị. Văn chương đạt đến thành công khi chạm tới trái tim của độc giả, giúp họ giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và thỏa mãn những vướng mắc khó khăn. Người ta cũng ví nhà văn như nhà địa chất, với ý nghĩa rằng vai trò khám phá, tìm tòi, phát hiện cũng đầy gian nan.
Nói về chủ đề này, cũng có rất nhiều nhà văn đóng góp tư tưởng của bản thân. Gorki, nhà văn Nga, cũng đã từng nói: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là của riêng mình, hãy săn sóc nó phát triển tự do. Lúc một nghệ sĩ không có cái là của riêng mình thì phải thấy người đó không có gì hết”. Cái riêng, tất nhiên không phải sự sao chép, mà là sự tìm tòi, nó không đơn giản là một ngày một ngày hay mà là cả một quá trình để người đọc, người xem ghi nhớ về cái riêng về cái riêng biệt của người nghệ sĩ ấy. Nhà văn Nga L.Tôn-xtôi cũng đã từng nói: “Một phần mười là thiên bẩm còn chín phần mười là nước mắt, mồ hôi”. Như thế để thấy quan niệm của Nam Cao không phải hoàn toàn mới lạ. Tuy nhiên, ở Nam Cao đó không phải là một nhận thức lí luận được nhập cảng mà là một quan niệm được hình thành từ một cây bút có trách nhiệm, có tài năng với nền văn học nước nhà luôn luôn băn khoăn trăn trở về nghề và đã trở thành một ý thức thường trực, thành máu thịt, thành cảm hứng sáng tạo chi phối ngòi bút trong hầu hết các sáng tác của mình.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu và nói lên cảm nghĩ của em
Chốt lại, không chỉ là sáng tác, Văn Cao đã gửi gắm bao tâm tư tình cảm của thân vào những sáng tác của bản thân, về quan niệm “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”. Là một lời nhắc nhở tới giới văn nghệ sĩ và những người có ý định bước chân vào sự nghiệp sáng tác của bản thân.
Nguồn: Văn mẫu hay | Giải thích bình luận câu nói của Nam Cao trong Đời thừa “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay…” – văn 12 | 892 | |
Giải thích câu nói cùa nhà văn M. Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”
Gợi ý
Đời sống xã hội càng hiện đại, nhu cầu đọc sách càng phát triển. Thực tế ấy đã được lịch sử chứng minh qua nhiều thiên niên kỉ. Tại sao vậy? Nhà văn M. Gorki từng nhận định: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”.
Câu nói của nhà văn Nga mang ý nghĩa gì?
Trong cuộc sống của mình, con người luôn luôn có ý thức học tập, tìm hiểu khám phá thế giới tự nhiên và xã hội. Những kinh nghiệm, suy nghĩ của con người được ghi chép, lưu giữ lại để truyền cho muôn đời con cháu mai sau. Và vì vậy, sách trở thành một con đường quan trọng để con người đến với tri thức. Con người lưu lại vào sách những suy nghĩ tâm tư, tình cảm của mình về những vấn đề trong cuộc sống,… Tuỳ vào loại tri thức con người lưu giữ mà sách có nhiều loại: sách khoa học, sách nghệ thuật, sách đời sống,…
Do những điều trên mà khi con người đọc sách, sách sẽ cung cấp tri thức cho con người, con người biết được mọi chuyện Đông, Tây, kim cổ, trên vũ trụ xa vời hay dưới lòng đất thẳm sâu. Đến với sách, ta sẽ được “du lịch miễn phí” đến những quốc gia xa xôi, bay đến những vì sao, thám hiểm trong lòng biển. Không chỉ thế, ta còn có thể ngược dòng lịch sử trở về quá khứ thậm chí bay vào thế giới viễn tưởng để hình dung về cuộc sống trong tương lai. Kì diệu hơn, ta còn có thể thâm nhập vào thế giới vi mô của sự vật hiện tượng để biết về nguồn gốc chung của cả vũ trụ…Xem thêm: Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Mỗi trang sách không những chứa đựng những thông tin mà qua đó sách còn giúp con người giao lưu với thế giới bên ngoài. Khi đọc sách, người đọc cũng bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ của mình. Nếu Hoài Thanh viết trong “Ý nghĩa văn chương”: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có luyện những tình cảm sẵn có…”, thì ta cũng có thể nói rằng: sách đã cho ta những tình cảm ta chưa có, còn bồi đắp cho ta những tình cảm ta sẵn có. Khi đọc sách sử, người ta có thể thêm yêu nước, thêm yêu đồng loại. Sách có thể cho ta một cách sông thế nào cho ý nghĩa mà có thể trường học, đường đời chưa dạy ta. Đó là những triết lí cuộc sống mà chúng ta tìm được khi đọc một câu chuyện,, một lời tâm sự trên trang sách. Khi đọc sách ta có thể nhận ra cuộc sống muôn màu muôn vẻ, và chứa trong đó nhiều giá trị cao đẹp, giúp ta nhìn nhận chính mình cũng như người xung quanh chính xác hơn.
Như vậy, trong câu nói của nhà văn Nga, “chân trời mới” có thể được hiểu là những chân trời tri thức mới, những chân trời cảm xúc mới. Tất cả đã giúp con người đẹp thêm, có văn hóa hơn, nhân ái hơn…
Vậy vấn đề đặt ra là đọc sách thế nào để có hiệu quả, làm thế nào để sách thật sự là người bạn thân thiết của mỗi người? Khi còn trẻ nên đọc sách để tiếp thu những tri thức nhân loại, để tôn trọng những thế hệ trước. Còn những người có tuổi, bản thân họ đã là một quyển sách, một bộ tiếu thuyết nhưng không vì thế mà họ không cần đọc sách. Những người đã già cũng cần đọc sách để giải trí, để suy ngầm,_để thấy cuộc sống có ý nghĩa ngay cả khi ta sắp lìa đời. Nói như Đác-uyn: “Bác học không có nghĩa là ngừng học”. Nói rằng sách là sự thu nhỏ của biển trời tri thức nhưng không phải lúc nào sách cũng làm được điều như vậy, vì có người tạo ra sách không vì mục đích trong sáng, không hướng tới mục tiêu giáo dục. Lịch sử càng tiến lên, di sản tinh thần của nhân loại càng phong phú thì sách vở tích luỹ những điều đó càng đồ sộ, việc đọc lại trở nên quan trọng. Khi đọc sách phải có phương pháp thích hợp, có mục đích rõ ràng. Khi đọc không chỉ bằng mắt, mà phải tư duy theo sách, phải nhập tâm, và nên kết hợp vớì ghi chép. Bởi những điều trong sách là những điều có ích cho cuộc sống mà tác giả đã chứng kiến hoặc đã trải nghiệm sau đó viết ra để là bài học kinh nghiệm cho đọc giả.Xem thêm: Tình yêu quê hương đất nước trong những bài ca dao mà em đã được học và đọc thêm“Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”. Câu nói của M. Gooc-ki luôn là một tiếng kèn hiệu thúc giục mỗi người chăm chỉ đọc sách để khám phá những chân trời tươi đẹp của nhân loại.
Vanmau.edu.vn | Giải thích câu nói cùa nhà văn M. Gorki_ “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới” | 892 | |
Đề bài Giải thích câu nói của Lê-nin "Học, học nữa, học mãi"
Con người có thể tìm thấy nguồn tri thức rộng lớn cho mình từ những cái mà họ bắt đầu. Và để phát triển toàn diện hơn nữa. Nguồn tri thức rộng lớn ấy đã khởi nguồn trong tiềm thức con người cái gọi là tri thức sáng tạo và tìm hiểu- cái gọi là học tập. Con người đã định hướng được tầm quan trọng của việc học từ thời xa xưa, những tri thức ấy dần dà được tích lũy và truyền đạt cho thế hệ ngày nay. Và việc học có tầm quan trọng vô cùng lớn lao. Vì ý thức được tầm quan trọng ấy của việc học, Lê-nin đã đưa ra một câu nói: “học, học nữa, học mãi”. Xét cho cùng, cái ý nghĩa nằm trong đó chứa đựng rất nhiều điều.
Câu nói đó chính là một lời khuyên, một quan niệm đúng đắn. Điều quan trọng mà việc học mang lại chính là tri thức, một thứ tri thức lớn lao, thứ tri thức quý giá của nhân loại. Thứ tri thức ấy góp phần định hướng khả năng của mỗi người, đưa con người tới bờ cõi của sáng tạo, tìm tòi và khám phá. Nó là điểm đến có giới hạn đối với sức của mỗi người mà họ tự đặt mục tiêu cho mình, để có sự cố gắng học thật nhiều hơn nữa.
Và đối với con người, sức học của họ luôn luôn có giới hạn, nhưng nguồn tri thức mãi mãi không có dấu chấm hết.
Câu nói của Lê-nin, xét cho cùng thì đó chính là chân lí của học tập, rằng việc học chưa bao giờ là trọn vẹn, chưa bao giờ là có giới hạn. Con người cho dù có học đến mấy đi chăng nữa thì nguồn kiến thức mà họ nhận được mãi mãi không bao giờ đầy, và tất nhiên là cũng không khi nào là đủ cả. Nhưng mỗi người không thể nào không cố gắng tích lũy những kiến thức của mình mà bỏ mặc nó, coi như không màng tới, như vậy là chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội được học, được sáng tạo. Câu nói đó muốn khuyên con người phải biết cố gắng học tập, tìm hiểu, dù ít, dù nhiều, cũng là kinh nghiệm sống lớn lao cho đường đời sau này.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu TrinhTrong câu nói, cái “học” ở đây chứa đựng một hàm ý bao quát của việc học, nhưng cũng không là sự đơn thuần của việc học. “Học” không chỉ đơn thuần là tích lũy thật nhiều kiến thức, mà nó còn là sự trau dồi, học hỏi thêm về lối sống đạo đức, những cái hay, cái đẹp của cuộc sống, con người từ trước đến nay được hình thành qua nhiều thế hệ. Đạo đức và nhân phẩm con người là một điều không thể thiếu, vì thế, cái đó cũng cần phải học, và cái đó cũng được coi là một thứ kiến thức sống tốt đẹp mà ai cũng phải học hỏi. Câu nói của Lê-nin muốn nhấn mạnh về những tri thức trong cuộc sống, nó chưa bao giờ có hạn, con người cũng không thể tự nhận thấy những thứ mình học đã đủ, họ cần phải nhận ra, mọi điều họ biết duy chỉ là một hạt cát nhỏ trong nguồn tri thứ vô tận không điểm dừng của nhân loại, của sự sống. Vì thế, ngày nào còn sống, ngày nào còn thấy mình còn sức thì hãy cứ học, hãy cứ tiếp thu những cái mới trong cuộc sống. Cuộc đời con người là cả một quá trình học tập. chưa bao giờ ngừng sáng tạo, ngừng ý tưởng, ngừng đấu tranh, nó là một cuộc đời cần có những việc làm có ý nghĩa, khoan hãy dừng lại và buông xuôi, để thấy chính mình có thể học và làm việc, thấy mình là người không sống một cách vô nghĩa.
Và một người, nếu như không chịu khó học tập, không nhận ra chân lí của việc học, bỏ quên kiến thức và cơ hội được tích lũy kinh nghiệm cho chính họ thì cả cuộc đời chỉ sống trong thế giới kiến thức hạn hẹp, giới hạn trong tâm tưởng, tầm nhìn về xã hội, mọi thứ sẽ trở nên đơn giản, nghèo nàn và trở nên nhàm chán. Ngược lại, một người, nếu biết cố gắng nắm bắt cơ hội học hỏi thật nhiều, tích lũy kiến thức, mở lối cho tri thức của chính họ, thì họ sẽ luôn nhận thấy sự hứng thú tìm hiểu nhiều hơn, cuộc sống từ đó đối với họ là mỗi một trải nghiệm mới hơn, không bao giờ là cũ.
Con người cần học tập để có thể làm được nhiều việc có ích cho xã hội và cho bản thân, cuộc sống là vô nghĩa nếu như không biết đấu tranh cho việc học tập, ngừng tìm hiểu về cuộc sống, về tri thức tức là tự mình bỏ qua cách sống thật sự ý nghĩa, thật sự trọn vẹn.
Nhận ra được chân lí trong câu nói của Lê-nin, là chúng ta đã phần nào định hình cho mình một cuộc sống mà tự mình nhận ra nó thú vị, luôn luôn mới mẻ. Học nữa, và học mãi chính là chân lí cho việc tìm hiểu nhiều hơn, mỗi chúng ta nếu không cố gắng học tập, thì đã tự giam mình vào một cái lồng của thứ kiến thức nhỏ bé, thứ kiến thức không có giá trị.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích hình tượng "sóng” trong bài thơ của Xuân Quỳnh, Anh (chị) cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này? | Giải thích câu nói của Lê-nin “Học, học nữa, học mãi” | 993 | |
Đề bài: Giải thích câu nói “Sách là người bạn tốt của con người”
Bài làm
Sách vốn là khi tri thức bất tận của con người. Nó mở ra cho con người những nguồn kiến thức mới, mở ra cho chúng ta những chân trời tư duy sáng tạo mới hơn, thoát khỏi kiếp tối tăm không có người chỉ đường dẫn lối. Chính vì vậy, có thể nói sách chính là người bạn tri kỷ của con người từ xưa tới nay.
Trong thời đại bùng nổ thông tin thì sách vẫn luôn là nguồn thông tin đáng tin cậy, giúp con người tra cứu tài liệu, tìm hiểu những kiến thức mình còn chưa biết một cách hiệu quả nhất
Câu nói sách là người bạn tốt của con người nhằm khuyên nhủ con người ta phải biết trân trọng những quyển sách mình có, phát huy những tính năng ưu việt của nó nhằm bổ trợ những kiến thức còn thiếu hụt của mình. Người bạn tốt chính là người bạn giúp đỡ nhau lúc khó khăn, tương trợ cho nhau cùng phát triển, thúc đẩy nhau tiến bộ.
Từ xa xưa sách chính là nơi lưu trữ thông tin duy nhất. Trong thời kỳ đồ đồng đồ đá sách được con người viết lên tường khắc lên cây thông qua những ký hiệu còn lưu giữ lại trong những hang động cổ xưa.
Nhiều nhà khoa học trên thế giới của chúng ta đạt được những thành tựu vang dội nhờ sự đóng góp không nhỏ của những quyển sách mà thế hệ trước lưu giữ lại, tạo thành nguồn kiến thức quý báuXem thêm: Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố hay
Do vậy, sách chính là người bạn thân thiết, tri kỷ của con người trong mọi thời đại. Bởi sách luôn chỉ phục vụ một mục đích là cung cấp kiến thức quý giá cho con người, giúp con người bổ sung những kiến thức còn thiếu hụt của mình, nhằm trau dồi thêm kinh nghiệm của bản thân mình và trở thành người thành đạt của kiến thức uyên bác.
Bác Hồ đã từng nói rằng người luôn coi sách là bạn. Mỗi ngày bác dành rất nhiều thời gian rảnh rỗi để đọc những cuốn sách học tập những kiến thức ở trong đó. Nhờ có những quyển sách mà
Bác Hồ từ một người không học qua trường lớp nào có thể nói thông thạo sáu tiếng ngoại ngữ, biết mười hai thứ tiếng trên thế giới.
Để sách có thể bổ trợ cho chúng ta những kiến thức tốt chúng ta nên lựa chọn loại sách phù hợp, đúng mục đích mình định nghiên cứu, khi lựa chọn sách nên lựa chọn những loại sách ở những nhà xuất bản uy tín như vậy tránh được tình trạng sách giả sách in lậu, làm sai lệch kiến thức.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Giải thích câu nói “Sách là người bạn tốt của con người”- văn lớp 7 | 486 | |
Đề bài: Giải thích câu nói: “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”
Bài làm
Sách chính là sự đúc kết, những trí tuệ của con người sau một quá trình nghiên cứu tìm tòi, phát triển. Nó chính là khối kiến thức vô cùng quý giá, phong phú với rất nhiều người. Nó chính là quá trình ghi chép, tổng hợp có chọn lọc những tinh túy mà người viết đã dày công nghiên cứu để truyền lại những gì mình tích lũy lại cho người khác.
Trong bất kỳ một lĩnh vực nào chúng ta cũng cần có sách, bởi không có sách thì chúng ta sẽ không thể có tài liệu nghiên cứu. Sách chính là tinh hoa của toàn nhân loại. Sách giúp con người có thể những kiến thức hiểu biết về cuộc sống, xã hội, lịch sử, văn minh…
Chúng ta đang sống trong xã hội hiện đại, nhưng nhờ có những ghi chép mà cha ông ta để lại nên khi muốn nghiên cứu một điều gì đó trong lịch sử thì sách là công cụ tìm kiếm hữu hiệu. Nhờ có nó mà chúng ta có thể biết được cuộc sống thời xa xưa như thế nào.
Cuộc sống sẽ thay đổi ra sao nếu chúng ta không có sách? Sẽ thật sự rất khó khăn, bởi từ xa xưa tới nay con người từ thời kỳ sơ khai đã biết ghi chép sách trên đá, trên giấy hoặc trên những gốc cây để viết lại những gì mình muốn nói. Sau này khi cuộc sống, nền văn minh của con người phát triển hơn con người có giấy, mực, thì họ đã ghi chép lại những cuốn sách cổ…Rồi thời đại vi tính sách online…Xem thêm: Tuần 1: Cấu tạo của bài văn tả cảnh (tập làm văn 5)
Dù trong xã hội nào thì vẫn cần có sách. Sách chính là nguồn trí tuệ phong phú của con người. Chính là sự đúc kết những kinh nghiệm, hiểu biết của con người. Sách là tinh hoa được người đời trước truyền lại cho đời sau chắt lọc trong quá trình nghiên cứu, lao động, học tập, sản xuất, trong các mối quan hệ từng thời kỳ chế độ xã hội khác nhau.
Ví dụ như sách chăn nuôi giúp con người biết cách chăn nuôi lợn không bị cúm, gà đẻ nhiều trứng, rồi sách nuôi tôm hùm, cá Ba Sa…Sách trồng trọt giúp người nông dân nuôi cây bưởi, cây dâu tây, cây vải thiều…
Đối với học sinh các loại sách nghiên cứu phương pháp giải toán, bài văn hay, rồi sách lịch sử … giúp cho học sinh, sinh viên có thêm vốn hiểu biết, tích lũy nhiều kiến thức hơn cho môn học của mình.
Trong cuộc sống hàng ngày sách giúp ích vô cùng to lớn cho con người mở mang sự hiểu biết và hoàn thiện kinh nghiệm của bản thân mình. Nếu không có sách con người sẽ mất rất nhiều thời gian để tìm hiểu, ra những điều mà nếu có sách thì chúng ta sẽ không phải tốn nhiều thời gian nghiên cứu.
Giá trị của những quyển sách mang lại là rất hữu ích. Chính vì vậy mà ngay từ ngày hôm nay các bạn trẻ cần phải chăm chỉ đọc sách nhiều hơn, giữ gìn sách. Hiện nay chúng ta có rất nhiều loại sách để lựa chọn, có hàng ngàn cuốn sách khiến bạn sẽ cảm thấy bối rối trong việc lựa chọn một quyển sách phù hợp với mìnhXem thêm: Bàn về truyện ngắn có ý kiến cho rằng: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh”. Hãy từ một truyện ngắn mà anh (chị) thích, bày tỏ quan niệm của mình về ý kiến trên
Đặc biệt có những cuốn sách mà trong đó cái tâm của người viết không được sáng. Nó chỉ nhằm mục đích phục vụ một nhóm lợi ích của ai đó, vì vậy viết sai sự thật, xuyên tạc hư cấu, vì vậy các bạn cũng cần tỉnh táo để tránh xa những cuốn sách này.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Giải thích câu nói_ “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”- văn lớp 7 | 711 | |
Giải thích câu tục ngữ “Có chí thì nên”
Bài làm
Sự thất bại không đánh giá con người bạn, việc bạn để mình có trở thành kẻ thất bại đúng nghĩa hay đứng dậy đi tiếp mới là điều khẳng định giá trị của bản thân. Trên con đường bước đến thành công không có thảm hoa hồng, không có bất cứ thành công nào mà không đổi bằng mồ hôi nước mắt. Thế nên ý chí đã trở thành động lực để dẫn dắt con người đến với tương lai. Và những bài học ý nghĩa về vấn đề ấy vẫn luôn được lưu truyền đến ngày nay qua câu tục ngữ “Có chí thì nên”.
Như vậy, ta có thể hiểu câu tục ngữ này thế nào? “Có chí” là có ý chí, niềm tin, sự nỗ lực phấn đấu, ước mơ, hoài bão hướng tới một mục đích có ích cho bản thân, cuộc sống… Chỉ cần đặt ra mục tiêu, chí hướng, chúng ta sẽ dễ dàng đạt được những kinh nghiệm, bài học cần thiết cho bản thân. Đề cao ý chí sẽ tôi luyện bản thân tính kiên cường, sức chịu đựng, tiến lên không ngừng và đạt được những thành tựu đáng có, nếu không cũng là kinh nghiệm, bước đệm cho mai sau. “Có chí thì nên” là một đạo lý tất yếu, đúng đắn trong mọi thời đại. Nếu như con người luôn hướng đến khát vọng chinh phục những cột mốc mình đề ra và quyết chí đạt được nó thì không gì là khó khăn và không thể làm được cả. Câu tục ngữ là lời răn dạy, bài học thiết thực, lời động viên chính đáng cho những người luôn cố gắng vươn lên, đó cũng là lời cảnh tỉnh cho những kẻ lười biếng, ham ăn lười làm chỉ muốn hưởng thụ, không có ý chí phấn đấu.Xem thêm: Những bài văn tả cảnh hay nhất
Giải thích câu tục ngữ Có chí thì nên
“Có chí thì nên”, ý chí là điều tiên quyết giúp bạn hoàn thành những điều tưởng chừng như không thể. Trên đỉnh Phanxipang không khí loãng, nhiệt độ giảm sâu, muốn chinh phục nó người leo núi không chỉ đơn thuần có sức khỏe tốt, kỹ năng xuất sắc trên địa hình trắc trở mà còn cần một ý chí kiên cường, sức chịu đựng và quyết tâm hơn người mới có thể chinh phục được nó. Nhắc đến câu tục ngữ lâu đời “Có chí thì nên”, chúng ta không thể quên ngày xạ thủ Hoàng Xuân Vinh đã đem lại vinh quang cho nước nhà với tấm Huy chương vàng Olympic 2016 ở môn thể thao bắn súng. Để có được niềm tự hào ấy, không ai biết xạ thủ kỳ tài này đã từng do dự trước niềm đam mê bị ngăn cản bởi sự khắc nghiệt về cơ sở vật chất, không có tiền để nuôi dưỡng ước mơ. Thế nhưng anh vẫn cố gắng vượt qua, kiên cường tập luyện trong thời tiết khắc nghiệt, rèn luyện được kỹ năng đứng yên tại chỗ… Sự kiên trì quyết tâm, ý chí phi thường ấy đã làm nên những điều kỳ diệu, từ một con người bình thường giản dị. Không chỉ thế, chúng ta còn được thấy một trận đá bóng ghi vào lịch sử nước nhà, đốt lên một ngọn lửa hừng hực trên sân Thường Châu trắng xóa tuyết của đội tuyển U23 Việt Nam. Vinh quang ấy phải đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, cả máu của toàn đội tuyển. Nào có ai ngờ một Việt Nam nhỏ bé, chưa từng đá bóng trong điều kiện khắc nghiệt như vậy có thể kiên cường chiến đấu đến tận giây cuối cùng của trận đấu chung kết. Mưa tuyết lạnh buốt nhưng chúng ta vẫn làm nên bàn thắng cầu vồng trong tuyết làm sống lại niềm tin của người hâm mộ Việt Nam. Nếu như kỹ thuật, thể lực và sự chăm chỉ chiếm 100% thì ý chí, nghị lực phi thường lại chiếm tới 200%. Tất cả những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống đều có thể vượt qua nếu chúng ta thực sự tin rằng mình sẽ làm được và quyết chí thực hiện. Câu tục ngữ “Có chí thì nên” luôn là bài học đúng đắn, tiêu biểu cho những tấm gương, thành tích đạt được trong quá khứ và tương lai.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích mà em đã đọc ở tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài
Sự nhẫn nại, kiên trì luôn là điều tốt nhất để tôi luyện ý chí. Chinh phục ước mơ, hoài bão nếu không có ý chí thì tất cả chỉ là điều mà con người hướng tới, hy vọng nhưng khó lòng đạt được. Thế nhưng, đối với những kẻ lười biếng, ý chí chỉ là lời nói xuông và là việc của những người thành công. Họ cho rằng những điều người khác làm được mình chưa chắc làm được, những điều người khác giỏi chắc chắn là điều mình không làm được. Những người như vậy thường có tâm lý bi quan, thụ động, thích an nhàn, hưởng thụ từ người khác, không muốn phấn đấu, bỏ qua sự nỗ lực và cho rằng ý chí là vô ích… Họ đang là một thành phần khá đông trong xã hội không có khát vọng tiến lên, thấy việc khó là bỏ, thấy việc nặng nề là chối từ trách nhiệm, đùn đẩy cho người khác. Không có ý chí, không chỉ mất đi những cơ hội tích cực cho bản thân, mà còn làm cho chính mình trở nên thụt lùi, lạc hậu so với xã hội, giữ mãi tư tưởng thụ động, yên phận và sống một cuộc sống vô nghĩa không tích góp gì được cho xã hội.
Vì vậy, câu tục ngữ “Có chí thì nên” là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những kẻ chỉ biết làm việc một cách hời hợt, không có mục đích, hy vọng vào tương lai. Khuyên con người ta hãy luôn cố gắng phấn đấu hoàn thiện mình, luôn nỗ lực không ngừng và tin vào chính bản thân. Câu tục ngữ này từ muôn đời nay vẫn đúng, là lời dạy của cha ông cho con cháu đời sau, chỉ cần có ý chí, chúng ta sẽ đạt được những điều chúng ta mong muốn và hãy duy trì điều đó như một đức tính tốt đẹp.Xem thêm: Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (cảm động, hoặc buồn cười,...) mà em gặp ở trường
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Có chí thì nên hay nhất | 1,126 | |
Giải thích câu tục ngữ “Học, học nữa, học mãi”
Bài làm
Thời kỳ khoa học hiện đại phát triển, từ các cuộc cách mạng công nghệ 1.0 đến 4.0, con người vẫn luôn vươn tới đỉnh cao tri thức chinh phục các giá trị nổi bật và tạo ra thế giới văn minh bằng chất xám. Vì vậy, việc tìm tòi học hỏi tri thức để có thể tiếp tục tạo ra những bước đột phá của nền văn mình luôn là điều cần thiết trong cuộc sống. Cho nên câu tục ngữ “Học, học nữa, học mãi” vẫn luôn đúng trong mọi thời đại và phát huy bài học khách quan của nó đến bây giờ.
Ta có thể hiểu câu tục ngữ “Học, học nữa, học mãi” là một lời động viên, thôi thúc con người bước những bước sải dài trên con đường đến với tri thức. “Học” thôi chưa đủ, phải tiếp tục bồi dưỡng kiến thức, có rồi, phải biết nhiều hơn nữa, sâu hơn nữa, rộng và khái quát hơn nữa. Việc học không chỉ đơn giản dừng lại ở việc tiếp thu tri thức trong phạm vi tìm hiểu của mình, việc học là phải biết cả những cái mình trước nay chưa từng biết, hoặc là điều đó làm phong phú thêm cho nhận thức của bản thân. Người Nhật có nói rằng “Nếu người khác làm được, tôi cũng có thể làm được. Nếu người khác không làm được, tôi sẽ là người tạo ra kỳ tích.” Cũng chẳng sai nếu nói Nhật Bản là một trong những nước có trình độ tư duy và nền kinh tế phát triển bậc nhất hiện nay . Bởi vì sự học của họ luôn là một cuộc hành trình kéo dài không ngừng nghỉ, không có điểm kết. Bởi lẽ kho tàng tri thức là vô tận.Xem thêm: Theo phương hướng mới, thầy dạy Văn đã tổ chức một cuộc thi đọc diễn cảm. Cuộc thi diễn ra sôi nổi và thú vị. Em hãy thuật lại cuộc thi đó
Vì vậy, sự học không chỉ dừng ở “Học, học nữa” mà còn phải “học mãi”. Hàng năm, những ấn bản mới ra của các nhà danh nhân, chính trị gia, học giả… những bậc giáo sư, nghiên cứu đều vô cùng nhiều. Tri thức chúng ta chưa nạp xong đã có vô vàn những tri thức mới. Nếu sự học dừng lại ở thời điểm chúng ta kết thúc những bậc học theo chương trình giáo dục thì chẳng mấy chốc chúng ta lại trở nên lạc hậu, thụt lùi và trượt ra khỏi guồng quay của nền văn minh tân tiến. Cho nên câu tục ngữ “Học, học nữa, học mãi” là một bài học cần thiết mà chúng ta luôn phải ghi nhớ. Trong tiến trình vận động không ngừng của xã hội, việc học hỏi luôn là điều vô biên. Biển trời tri thức và việc học không bao giờ làm chúng ta chết đuối mà nó còn là bước đệm nâng chúng ta đến với những chân trời mới tươi sáng và rực rỡ hơn.
Giải thích câu tục ngữ Học, học nữa, học mãi
Nước càng chảy xiết bề mặt sẽ càng tĩnh lặng, núi một khi đã cao sẽ ẩn mình trong mây. Chúng ta học tập, không phải để khẳng định mình tài giỏi mà học để biết cách tồn tại, mưu sinh, đóng góp cho con người, xã hội. Trong hai chữ “con người”, việc học sẽ át đi phần con và nâng cao phần người. Chúng ta sẽ trở nên hoàn thiện nhân cách, biết sống có đạo đức, văn minh,.. sống và làm việc có ích cho xã hội. Con người có càng nhiều tri thức, việc ứng phó trước giông bão cuộc đời sẽ trở nên bình tĩnh. Thường ta thấy những nạn trộm cắp, giết người đều do kém hiểu biết, không theo lý trí mà sử dụng cảm tính.. nhưng những trường hợp đó thường xuất hiện ở tầng lớp dân trí thấp, kém hiểu biết và mưu sinh bằng lao động chân tay. Thế nên chúng ta không thể coi thường việc học tập vì nó cũng là một phần làm nên đạo đức của cá nhân và xã hội.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây bàng hay nhất
Quá trình trưởng thành, việc học luôn là một con đường không ngừng nghỉ, kéo dài đến suốt đời. Từ khi chúng ta còn trên ghế nhà trường đến khi bước chân vào giảng đường đại học, sau lại đến việc đi làm, không có nơi nào không cần việc học. Học để rõ con đường mình nên đi, học để biết, để vượt qua, để phát triển bản thân và tạo cho mình những cơ hội mới. Không có ai muốn ra nước ngoài làm việc mà không phải học tiếng, văn hóa và kỹ năng sống của đất nước mình muốn đến. Không có ai có một công việc làm ăn tốt, cơ hội lớn mà không phải học về thị trường, giá cả và những kỹ năng lập nghiệp… Chúng ta sẽ không có cơ hội nếu chúng ta không học. Câu tục ngữ “học, học nữa, học mãi” là một hướng đi đúng đắn, là kim chỉ nam vĩ đại trong sự phát triển của chúng ta.
Cũng bởi việc học là muôn thuở, bất tận, kéo dài… và là một cuộc hành trình trường kỳ nên chúng ta hãy học cách tiếp thu tri thức từ bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp, những người đi trước…Ở họ, việc học không chỉ đơn thuần là những lý thuyết mà lý thuyết ấy đã được kiểm chứng qua thực tế thành những kinh nghiệm cho nên giá trị của tri thức sẽ càng trở nên bác học và đúng đắn hơn. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp… đều chưa từng ngừng lại sự học. Những người đã trở thành vĩ nhân, niềm tự hào dân tộc ấy luôn coi việc học là bước đệm để cứu dân cứu nước và việc học chưa bao giờ là đủ. Huống hồ chúng ta chỉ là những người bình thường, thứ chúng ta cần thực hiện là những ước mơ, hoài bão. Càng vì thế mà chúng ta phải luôn cố gắng phấn đấu, nỗ lực không ngừng để vươn tới biển khơi tri thức. Đừng để sự lười nhác gián đoạn, ngăn trở và tàn phá việc học. Trong sự học, kẻ thù lớn nhất là chính mình. Vượt qua bản thân mới có thể tiến đến vùng trời tri thức.Xem thêm: Nghị luận Thành công chỉ đến khi chúng ta cố gắng hết sức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình
Như vậy, câu tục ngữ “Học, học nữa, học mãi” là lời vinh danh việc học, định hướng con đường đúng đắn nhất cho thế hệ trẻ và muôn đời sau. Chỉ có học tập mới có thể đưa ta đến bờ tri thức, chỉ có học mới có thể hòa nhập vào nền văn minh đồ sộ của nhân loại mà tìm tòi, phát triển bản thân, gia đình, xã hội. Đó là hành trang thiết yếu nhất chúng ta có thể mang theo trong thế giới phát triển như vũ bão này.
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Học, Học Nữa, Học Mãi | 1,236 | |
Giải thích câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”
Bài làm
"Dân ta nhớ một chứ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng long, đồng minh."
Trải qua 4000 năm dựng nước và giữ nước, bao nhiêu cuộc chiến đẫm máu để lại cảnh tang thương, “máu chảy ruột mềm”, nhân dân ta luôn là người hiểu rõ nhất việc thương yêu, che chở lẫn nhau, đồng cam cộng khổ. Cũng bởi thế mà nhiều câu tục ngữ đã lưu truyền lại mang đầy tính nhân văn, thể hiện truyền thống tương thân tương ái của dân tộc ra. Một trong số đó có câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”.
Câu tục ngữ bắt nguồn từ một hình ảnh thực tế, khi người dân gói bánh, những chiếc lá rách, không lành lặn, xấu sẽ để bên trong, lá lành bọc bên ngoài. Như vậy bánh luộc lên không chỉ đẹp mà còn không bị lộ nhân. Nhìn vào cuộc sống đời thường, câu tục ngữ ấy là một triết lý sâu xa và đậm chất tình người. Đó là một hình ảnh ẩn dụ trong cuộc đời, những chiếc “lá rách” tượng trưng cho những mảnh đời bất hạnh, cùng khổ, đáng thương. Còn những chiếc “lá lành” là hình ảnh những người mạnh khỏe, no ấm, hạnh phúc, lành lặn… Câu tục ngữ “lá lành đùm lá rách” là ý nghĩa tượng trưng cho lời khuyên răn con người hãy biết thương yêu lấy nhau, biết xót xa, che chở cho những mảnh đời bất hạnh yếu kém hơn mình.
Tình thương giữa người với người là vô biên, chúng ta không ai là không có lúc sa cơ lỡ vận, việc đưa tay ra che chở, thương yêu, giúp đỡ nhau thật là điều đẹp đẽ biết mấy trong cuộc sống hiện tại mà “nhà nào biết nhà nấy”, cuộc sống con người khép kín sau những cánh cửa nặng nề thiếu tình thương yêu. Đặc biệt trong xã hội hiện nay nơi mà tình thương lại trở nên khan hiếm và sự vô cảm lên ngôi, câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” càng là lời cảnh tỉnh khi đạo đức xã hội xuống cấp. Chúng ta hãy biết mở lòng hơn, thương yêu nhau trong cảnh thất thế, khổ hạnh, bớt chút miếng cơm, manh áo chia nhau. Nào có ai quên hình ảnh “hũ gạo cứu đói” những năm kháng chiến trường kỳ.Xem thêm: "Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra" (“Cổng trường mở ra”, Lí Lan). Em có suy nghĩ gì khi đọc câu văn trên
Câu tục ngữ ấy vẫn đúng khi mà hình ảnh các tình nguyện viên, nhóm từ thiện, quyên góp những chiếc khăn, tấm áo, cái chăn cho người vô gia cư, người nghèo khổ nằm la liệt ngoài đường những lúc trời đông trở rét. Những hòm quần áo miễn phí, ai cần thì lấy ai nhiều thì cho, những thùng bánh mỳ nóng hổi, nước trà ngoài đường, những hộp cơm, bát phở 2000 dành cho những người lao động nghèo… Còn cả cắt tóc miễn phí, sửa xe miễn phí cho người tàn tật, neo đơn. Cuộc sống bộn bề nhưng có lẽ chúng ta chưa từng quên đi truyền thống tốt đẹp của cha anh, câu tục ngữ “lá lành đùm lá rách” vẫn ẩn hiện, âm vang đâu đây, dù ít dù nhiều cũng làm cho người ta ấm lòng vì tình người có thật giữa cuộc sống quá nhiều chật chội. Vẫn tinh rằng đâu đây có người tốt lẫn trong đám đông mà chúng ta không nhận ra.
Giải thích câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách
Quả thật, câu tục ngữ ấy là một bài ca âm vang trong lòng mỗi người. Ai cũng có tình thương, lòng tốt, chỉ cần nó được nhen nhóm đều bùng lên những ánh lửa ấm áp. Có lẽ học theo câu tục ngữ ấy, chúng ta sẽ duy trì tâm tính thiện lương nơi cuộc sống xuất hiện nhiều gian trá, chúng ta sẽ giữ được sự chân thật và tấm lòng thành thương người không cần đáp trả, chúng ta sẽ biết bao dung, sống vì cộng đồng mà trưởng thành hơn.Xem thêm: Cùng kết thúc bằng cụm từ "ta với ta" nhưng ý nghĩa của cụm từ đó trong hai bài thơ Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan và Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến khác hẳn nhau. Em hãy chứng minh điều đó
Nhưng có lẽ những truyền thống đạo lý tương thân tương ái giữa con người chúng ta sẽ bị cản trở, “lá lành đùm lá rách” cũng khó phát huy nếu như sự lừa đảo và lợi dụng lòng tin, tình thương vẫn còn tiếp diễn và nan giải như thế. Có người giả tàn tật, có người giả điên, giả bệnh, giả có bầu để lừa lấy tiền mà không muốn lao động. Những nhóm người lợi dụng tình thương của người lớn với trẻ em mà bắt chúng đi xin tiền, bán đồ… Đầy rẫy những bất cập như vậy nên tình thương ít nhiều bị bó hẹp lại cũng bởi sợ sự lừa đảo.
Nhưng chúng ta hãy luôn duy trì truyền thống “lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta, luôn yêu thương, giúp đỡ, cho đi không đòi hỏi nhận lại, biết yêu thương người khác rồi có ngày bạn không may xảy ra chuyện thì chính những người bạn từng giúp sẽ lại giúp đỡ bạn. Trên đời này không ai đánh thuế ước mơ và tình thương cả. Chúng ta biết thương người, người sẽ lại thương chúng ta. Cuộc sống đã quá gian nan nên hãy dung tình thương yêu, sự đùm bọc, che chở nhau để cùng vượt qua những năm tháng khó khăn nhất. Bất kể bạn là người giàu, hay nghèo, đói khổ hay tàn tật, chỉ cần có lòng tin, “lá lành đùm lá rách” thì không có ai có thể đối xử tệ với bạn.Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Cảm nghĩ về mái trường của em
Câu tục ngữ “lá lành đùm lá rách” là một truyền thống tốt đẹp về sự yêu thương, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, là keo sơn đoàn kết dân tộc, nối liền những mảnh đời bất hạnh và che chở nhau. Muốn phát huy truyền thống ấy, chúng ta hãy biết thương yêu, đùm bọc những người quanh chúng ta, thấy ai khó thì thương, thấy ai khổ thì giúp, đơn giản chỉ dắt một bà cụ qua đường, thấy người tai nạn đưa vào bệnh viện… Những việc đơn giản thôi, không chỉ làm bản thân chúng ta vui mà còn cứu giúp biết bao nhiêu người trên bờ vực tuyệt vọng. Hãy tích cực phát huy đạo lý truyền thống mà câu tục ngữ đem lại và khiến chúng ta mỗi ngày đều mỉm cười vì đã giúp ích được cho xã hội.
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Lá Lành Đùm Lá Rách | 1,196 | |
Giải thích câu tục ngữ “Lời nói gói vàng”
Bài làm
Tạo hóa luôn là điều kỳ diệu. Tạo hóa ban cho ta trái tim để biết yêu thương, bàn tay để nâng niu những gì đáng quý, đôi mắt nhìn đời thấu suốt và một trí não tỉnh táo. Và tạo hóa còn ban cho chúng ta phương thức để truyền đạt những tâm tư, tình cảm, gắn kết con người với con người thông qua lời nói. Lời nói tưởng chừng như vô hại, nhưng nếu không dùng đúng cách nó có thể tạo ra sức sát thương rất lớn trong lòng chúng ta. Vì thế mà tục ngữ có câu “Lời nói gói vàng”.
Vậy, có thể hiểu câu tục ngữ này như thế nào? “Lời nói” là thanh âm truyền qua miệng, là cách thức để bộc lộ suy nghĩ, cảm giác cho người đối diện nghe. Còn “gói vàng” là biểu trưng cho những vật quý báu, giá trị cao về vật chất trong đời sống con người. Người xưa quả thật rất tinh tế khi so sánh một thứ vô hình với một vật hữu hình để làm sang tỏ ý nghĩa của câu tục ngữ. Lời nói tuy chỉ là âm thanh nhưng nó giống như gói vàng, mỗi lời nói ra đều cần chuẩn xác và ý nghĩa, đáng giá. Không thể nào nói năng bừa bãi làm mất đi giá trị của lời nói.
Lời nói có giá trị như vậy cũng bởi lời nói có thể làm nên nhân cách của một người. Nếu như một người thường xuyên nói dối, nói sai sự thật, vu khống, đặt điều, ắt hẳn chẳng có một ai tin tưởng hay coi trọng người đó. Những người khi đã nói ra lời một là một, hai là hai, luôn giữ đúng lời hứa đương nhiên vị thế của họ trong lòng người khác sẽ được đề cao hơn. Lời nói cũng thể hiện sự văn minh của một người hay là người đó thô bỉ, vô duyên đều có thể hiện ra qua lời nói. “Lời nói gói vàng”, quả thực không sai. Nếu chúng ta không hiểu rõ được giá trị của lời nói mà nói bậy bạ, không suy nghĩ không chỉ khiến cho người khác đánh giá xấu về bản thân mà còn đánh mất cả giá trị cho lời nói sau đấy của chúng ta.Xem thêm: Bằng sự tưởng tượng, em hãy kể một câu chuyện với nội dung: “Mọi vật trong cuộc sống đều có ích nhất định”
Giải thích câu tục ngữ Lời nói gói vàng
Từ khi sinh ra, chúng ta đã được học nói. Nhưng chúng ta lại cần cả một đời để học nói cái gì nên và không nên. Lời nói rất quan trọng trong cuộc sống, yêu, ghét, giận, hờn gì đều thông qua nó mà biểu đạt. Bạn bè với nhau, khi chúng ta nói lời thật lòng, ắt sẽ nhận được sự hồi đáp chân thành của người đối diện. Trong gia đình, những lời yêu thương cũng luôn là điều cần thiết để bày tỏ sự hiếu thuận, hòa hợp, lòng yêu thương với người thân trong gia đình. Ngoài xã hội cũng vậy, lời nói sẽ giúp chúng ta nắm bắt được những điều mình đang làm, nên học hỏi điều gì, ở đâu. Có những người chỉ cần dùng lời nói có thể có một mối quan hệ tốt, một công việc tốt, người bạn đời tốt. Lời nói có thể nói bất cứ đâu, bất cứ khi nào nhưng giá trị mà nó đem lại có hiệu quả hay không là điều mà câu tục ngữ hướng đến. Nói lời giá trị, không chỉ thể hiện trình độ học vấn của một người, mà còn là đạo đức của người đó rèn luyện đến đâu. Những người nói chuyện thô lỗ cộc cằn, dễ xảy đến những sự mất lòng, thậm chí ẩu đả, gây ra những tai nạn thương tâm. Trong cuộc sống rất nhiều trường hợp vì lời nói không suy nghĩ mà xảy ra những chuyện đáng tiếc.Xem thêm: Phân tích bài thơ Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt) của Hồ Chí Minh
Thế kỷ XXI, thời kỳ đỉnh cao tri thức, lời nói trở thành một vật báu giúp con người tiến đến đỉnh cao thành công và danh vọng. Một chính trị gia muốn trở thành tổng thống, phải có được lòng tin của người dân qua những bài diễn thuyết. Muốn có một bản hợp đồng thành công, lời nói phải có trọng lượng và thuyết phục. Muốn kinh doanh tốt, lời nói cũng là một cách thức dùng để thu hút khách.
Lời nói tuy không khó để thốt ra nhưng lời nói có giá trị lại mang một ý nghĩa khác. Để cho mối quan hệ trở nên tốt đẹp, không nên tiếc những lời nói hòa nhã, êm ái, những lời “có cánh” giành cho đối phương. Kiềm chế sự nóng nảy, cục cằn, tức giận không chỉ thể hiện bạn là một người có văn hóa mà còn giữ vững được mối quan hệ người thân, bạn bè, đồng nghiệp một cách bền chặt.
Câu tục ngữ “Lời nói gói vàng” là lời khuyên bổ ích, con người hãy rèn dũa lời nói cho đẹp đẽ, giá trị hẵng nói ra, cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, cuộc sống hiện tại. Có thế, “gói vàng” mà lời nói đem lại sẽ là mối giao hảo đẹp đẽ, đáng quý, kinh tế và giữ gìn hòa khí người với người.
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Lời Nói Gói Vàng | 935 | |
Giải thích câu tục ngữ “Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Bài làm
Thành ngữ, tục ngữ từ lâu đã trở thành một vẻ đẹp bất diệt trong kho tàng văn học Việt Nam, nó không chỉ tôn vinh văn học dân gian mà còn làm đẹp thêm kho tàng tri thức, những bài học, đạo lý của người xưa. Và trong số đó là câu tục ngữ
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Đó là tiếng vang êm ái nhắc nhở đến con cháu muôn đời hãy biết đùm bọc, che chở, thương yêu và san sẻ lẫn nhau.
Từ bao đời nay, trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tình yêu thương đùm bọc, một dân tộc “trọng nghĩa nặng tình” đã để lại cái riêng rất đặc biệt cho con người Việt Nam. Dường như tình yêu thương, sự đùm bọc đã trở thành bản năng tất yếu có sẵn từ khi sinh ra. Câu tục ngữ trên là một trong những biểu hiện ấy, lưu truyền lại muôn đời nhắc nhở con cháu về truyền thống đạo lý của người xưa cũng như càng khẳng định thêm tinh thần tương thân tương ái của người Việt. Ta biết rằng, “nhiễu điều” là một loại vải đỏ mềm, mịn thường được dùng để phủ trên giá gương của người xưa. Tấm vải đẹp, quý trọng lại che cho chiếc gương hứng lấy những bụi bặm, nhơ bẩn để giá gương tuy tầm thường nhưng vẫn được sạch sẽ. Hai thứ ấy hoàn toàn tách biệt, không liên quan tới nhau nhưng vẫn gắn bó, tôn vinh nhau. Có tấm gương, “nhiễu điều” mới phát huy được công dụng của mình và “tấm gương” được sạch sẽ, láng bóng đều nhờ nhiễu điều phủ bên ngoài. Người xưa quả thật vô cùng tinh tế khi sử dụng hình ảnh “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” để nói lên ý “Người trong một nước phải thương nhau cùng.” Cũng bởi hai sự vật đùm bọc nhau nhưng có nguồn gốc khác biệt, huống chi người Việt cùng một nòi giống “con rồng cháu tiên” cớ gì lại không yêu thương nhau. Tình yêu thương ấy được ví như tấm “nhiễu điều” đỏ rực son sắt, tuy hứng lấy bụi bẩn, gió bão nhưng không mất đi được vẻ đẹp vốn có, đó cũng là tấm lòng rộng lớn của người dân Việt Nam từ trước đến nay chưa từng thay đổi. Câu tục ngữ là lời dạy bảo của cha ông rằng tình yêu thương, sự đùm bọc không bao giờ mất đi giá trị trân quý vốn có của nó. Dặn con cháu cùng “một nước” hãy thương yêu nhau bằng sự chân thành, không tính toán.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về tình bạn
Trải qua mấy nghìn năm dựng nước, dòng máu của chúng ta đã hòa lẫn đất mẹ và chảy trong nhau, huyết thống quý báu không phân tách ấy xuất phát từ tình thương yêu, đùm bọc như anh em trong nhà của người dân Việt Nam. Chúng ta cùng nguồn cội, cùng sinh ra và lớn lên trong một nền văn hóa truyền thống lâu đời. Cũng bởi lẽ vậy nên không ai sinh ra có thể sống tách biệt mà không cần đến mọi người xung quanh được. Đoàn kết lại, che chở và gắn bó với nhau sẽ tạo nên những sức mạnh to lớn, giúp chúng ta vượt qua thiên tai, hạn hán, lũ lụt, mất mùa,… Ta vẫn thấy những bao tải quần áo, những thùng đồ ăn lớn được đưa lên vùng Tây Bắc, miền Trung cứu trợ cho mùa lạnh đỉnh điểm hay những đợt mưa bão thiệt hại lớn về người và của. Mùa dưa hấu bị thừa quá nhiều, là các doanh nghiệp vận động người dân mua ủng hộ bà con không bị lỗ tiền. Những trung tâm bảo trợ, tình thương được dựng lên nhờ các mạnh thường quân, nhà hảo tâm cũng là biểu hiện rõ nét nhất của tình yêu thương, đoàn kết, bao bọc, hỗ trợ lẫn nhau của người dân Việt Nam.
Giải thích câu tục ngữ Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Truyền thống tốt đẹp thể hiện trong câu tục ngữ vẫn được lưu truyền đến tận bây giờ, chỉ cần nơi nào có đói, khổ, đau ốm không có tiền, rất nhiều người sẵn sang quyên góp, ủng hộ. Tình yêu thương trở nên đẹp đẽ và mãnh liệt qua các thời kỳ, nhất là thời điểm phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay phát triển rầm rộ, việc giúp đỡ, quyên góp lại càng thuận tiện. “Người trong một nước phải thương nhau cùng”, câu tục ngữ vẫn cứ tiếp nối qua mọi thế hệ, tình yêu thương, chở che luôn được vun trồng ngày một lớn lên, để rồi đất nước phát triển, con người tốt đẹp và xã hội văn minh.
Xem thêm: Phân tích một đoạn thơ mà anh (chị) thích nhất trong bài Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Hãy biết quan tâm lấy những người nghèo khổ, khó khăn, hoạn nạn. Không có ai giàu nếu nọ nghèo nàn tình thương. Người có tình thương yêu mọi người, quê hương, dân tộc nhiều nhất là người giàu có nhất. Xóa dần đi khoảng cách giữa người với người, cố gắng gạt bỏ những nghi kỵ về lòng tin, sự tốt đẹp, chúng ta sẽ thấy một thế giới tươi sáng hơn. Đừng sống theo lẽ sống ích kỳ, chỉ biết có mình, như vậy không ai thật lòng với ai, không ai biết thương yêu ai, sống trong xã hội như vậy quả thật đau lòng biết mấy.
Mỗi chúng ta, biết yêu thương kịp thời, yêu thương chưa bao giờ là muộn, xuất phát từ sự chân thành, tự nguyện mới là yêu thương đẹp đẽ nhất. Đừng vì danh tiếng hay quyền lợi mới yêu thương bất cứ ai, như thế chúng ta cũng sẽ chỉ nhận lại giả dối và bất hạnh.
Câu tục ngữ “Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một nước phải thương nhau cùng” đã đúc kết, cô đọng lại không chỉ truyền thống đạo lý nhân ái yêu thương mà còn là bài học cho cả thế hệ tiếp theo lẫn mai sau, không bao giờ được quên đi việc sống để yêu thương người xung quanh. Yêu thương, che chở lấy những đồng bào ruột thịt, lưu truyền muôn đời truyền thống tốt đẹp này và khẳng định một Việt Nam giàu niềm tự hào về tình yêu thương cũng như sự đùm bọc có từ lâu đời.Xem thêm: Hình ảnh “chú tôi” và “cậu cai” trong ca dao châm biếm
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một nước phải thương nhau cùng | 1,144 | |
Giải thích câu tục ngữ “Rừng vàng biển bạc”
Bài làm
Không giống như Nhật Bản chịu thảm họa thiên tai sóng thần, động đất liên miên hay hoang mạc ở Châu Phi, nước Việt Nam được thiên nhiên ban tặng cho vô vàn thuận lợi về thực vật, động vật, khoáng sản… Tự hào với đất đai màu mỡ, trù phú, tục ngữ đã lưu truyền lại thế hệ sau một câu “Rừng vàng biển bạc.”
Câu tục ngữ trên là lời ngợi ca, biết ơn, cảm kích sâu sắc đất mẹ Việt Nam đã để cho chúng ta vô vàn những thứ quý báu, giá trị. Cũng bởi thế mà “rừng” và “biển” được so sánh với “vàng”, “bạc”. Vàng bạc đều là những vật có giá trị cao có thể lưu hành trên thế giới không có sự phân biệt, việc so sánh như vậy như một phần khẳng định vị thế đất nước ở một vị trí địa lý vô cùng đắc địa và giàu có.
Đất nước chúng ta có bờ biển dài hơn 1000 km trải dọc từ bắc xuống nam, vùng biển nóng, lạnh đan xen với các loài cá quý, hiếm, các loại cá có giá trị kinh tế xuất khẩu cao. Nhiều vũng vịnh ăn sâu vào đất liền tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thủy, hải sản nước mặn, ngọt. Với vốn sinh vật biển phong phú, nền kinh tế đương nhiên sẽ gia tăng giá trị. Không chỉ vậy, những khu rừng nguyên sinh với hàng loạt các loại gỗ quý, cây có thể khai thác sản xuất vật liệu tương đối nhiều. Đặc biệt thời tiết nóng ẩm tạo điều kiện phát triển rất nhiều các loại cây ăn quả có năng suất cao. Hơn thế, rừng cây tươi tốt sẽ hình thành đa dạng sinh học nơi các loài thú phát triển. Những điều kiện về rừng và biển như vậy, điều chúng ta tự hào là có cơ sở. Câu tục ngữ “Rừng vàng biển bạc” đã khái quát những điểm mạnh cơ bản của đất nước chúng ta.
Xem thêm: Hưởng ứng đợt thi đua Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát dộng, chi đoàn lớp 10A tổ chức hội thảo với chủ đề: Hãy vì một môi trường xanh, sạch, đẹp. Anh (chị) hãy viết bài nghị luận tham gia hội thảo đó
Thế nhưng, câu tục ngữ ấy có còn đúng với thực trạng cuộc sống hiện nay không? Khi mà quá trình xói mòn đất ngày càng gia tang trước thực trạng phá rừng triền miên, những cây cổ thụ quý hiếm trong rừng nguyên sinh nay chỉ còn dấu tích của việc chặt phá. Thời xưa ngà voi, sừng tê giác quý hiếm vì việc săn bắt rất khó, ngày nay trên thị trường bán tràn lan những thứ này phục vụ người có tiền. Thử hỏi rừng cây bị tàn phá, môi trường sinh thái bị xáo trộn, động vật bị săn bắt trái phép dẫn đến việc xuất hiện tên trong sách đỏ thì “rừng vàng biển bạc” có còn đúng nữa không? Chưa kể ô nhiễm môi trường, nước thải, thuốc trừ sâu, độc hóa học xả thẳng ra nguồn nước, ra biển, hủy diệt các tầng sinh thái khiến các rặng san hô, sinh vật biển chết liên tục khiến cho môi trường sinh vật biển bị tàn phá nặng nề… Những tội ác không thể kể xiết của một số bộ phận con người vô ý thức đã khiến cho ý nghĩa tốt đẹp của câu tục ngữ gần như cạn kiệt và con người bất lực trước “rừng vàng biển bạc” đang dần biến mất ngay trước mắt chúng ta.
Giải thích câu tục ngữ Rừng vàng biển bạc
Câu tục ngữ để lại biết bao nhiêu niềm tự hào, tự tôn dân tộc về một dân tộc trù phú, hạnh phúc, ấm no giờ chỉ còn thất vọng nặng nề. Tuy rằng chỉ đúng trong quá khứ nhưng câu tục ngữ vẫn mang theo lời răn, lời nhắc nhở thống thiết của người xưa với thế hệ sau. Chúng ta có thể tự hào với những gì giàu có mà thiên nhiên để lại cho chúng ta nhưng không được phép quên đi việc bảo vệ, trân trọng và giữ gìn những thứ quý báu ấy. Việc bảo vệ những giá trị của “rừng vàng biển bạc” là vô cùng cần thiết. Muốn như vậy, chúng ta cần phải tuyên truyền, vận động trồng rừng, hạn chế việc du canh du cư đốt nương làm rẫy. Triệt phá triệt để nạn lâm tặc, buôn bán động vật quý hiếm… Nâng cao ý thức người dân không xả rác ra môi trường, nghiêm phạt những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Khai thác khoáng sản có chừng mực, sử dụng tiết kiệm khoáng sản, ngăn chặn việc khai thác cát trái phép làm sụt lún đất đai và hỏng diện tích trồng rừng phòng hộ…Xem thêm: Kể lại câu chuyện “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ -văn lớp 7
Câu tục ngữ “Rừng vàng biển bạc” sẽ còn mang theo ý nghĩa tự hào của nó nếu chúng ta, thế hệ trẻ có những định hướng đúng đắn về việc bảo vệ môi trường, giữ gìn những nguồn tài nguyên có từ lâu đời. Nếu chúng ta không hành động, “rừng vàng biển bạc” sẽ thật sự biến mất dần và câu tục ngữ với niềm tự hào ngày xưa mãi chỉ còn là dĩ vãng để tưởng nhớ. Mỗi chúng ta là tương lai của đất nước, vì thế cần biết sống tiết kiệm, đúng mực, hiểu đúng đắn về những gì chúng ta còn và cần biết bảo vệ môi trường một cách đúng đắn nhất.
Tóm lại, câu tục ngữ “rừng vàng biển bạc” nói lên một Việt Nam giàu đẹp, tài nguyên phong phú nhưng chúng ta không nên lấy đó làm tự mãn, hãy biết giữ gìn, trân trọng những gì còn lại và bảo vệ nó. Có như vậy, câu tục ngữ trên mới thực sự có ý nghĩa.
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Rừng Vàng Biển Bạc | 1,048 | |
Đề bài: Em hãy giải thích câu tục ngữ "Tiên học lễ, hậu học văn"
Từ bao đời nay, ông cha ta nêu cao và giữ gìn truyền thống đạo đức của dân tộc. Bao giờ mọi người cũng xử sự với nhau bằng lễ nghĩa, xem nghĩa là bài học hàng đầu đối với con người. Ngay từ lúc bé thơ, chúng ta cũng luôn được cha mẹ dạy dỗ và nhắc nhở ta phải thuộc lòng câu tục ngữ Tiên học lễ hậu học văn. Trãi qua mấy nghìn năm văn hiến, câu tục ngữ ấy vẫn luôn có giá trị, luôn là bài học quý đối với chúng ta.
Đây là câu tục ngữ bằng chữ Hán, là một trong những lời răn dạy của Khổng Tử. “Lễ” ở đây được Nho giáo quy định bằng những lễ giáo, đạo lý phong kiến, đưa con người vào khuôn khổ phép tắt kỉ cương (trai thì tam cương ngũ thường, gái thì tam tòng tứ đức). Con người có được những lễ giáo này thì mới bắt đầu học văn. Học văn theo nghĩa xưa là học những điều được ghi trong sách thánh hiền. Lời của Khổng Tử khuyên răn con người trước hết phải học cho được cái cốt cách, cái đạo lý làm người, rồi sau đó hãy học đến những điều khác. Giờ đây câu tục ngữ ấy trở thành lời nhắc nhở của nhân dân ta: mọi người nên chú trọng quan tâm việc rèn luyện đạo đức, nhân cách làm người trước, rồi mới học đến văn hóa, chữ nghĩa.
Xem thêm: Vào vai Giôn-xi kể lại câu chuyện Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-ri Thật vậy, học lễnghĩa đầu tiên là hết sức cần thiết. Chính vì vậy mà ngay từ lúc con bé thơ, ta được biết đến lễ nghĩa qua lời ru của bà, của mẹ từ những câu ca dao, câu hát trong dân gian đã đúc kết bao truyền thống đạo đức tốt đẹp. Lớn lên một chút, ta được cha mẹ hướng dẫn cách xử sự từ những điều đơn giản nhất như lời: “cảm ơn”, tiếng ‘xin lỗi”, “dạ thưa” với người lớn tuổi…hoặc đi phải thưa, về phải trình… Như vậy, lễ nghĩa đạo lý ấy hầu như đã thấm nhuần trong nhận thức của mỗi chúng ta từ lúc chưa bước chân đến trường; nghĩa là ta đã được học lễ nghĩa trước từ trong gia đình. Đến khi đi học, song song với việc tiếp thu kiến thức, ta cũng vẩn được thầy cô giáo dục lễ nghĩa, đạo đức như biết kính yêu người thân, quý mến bạn bè và giúp đỡ mọi người xung quanh. Như vậy, ở môi trường nào, đạo lý cũng đóng vai trò chủ đạo và có mối quan hệ chặc chẽ với nhau.
Nếu như môt đứa con ở nhà không biết vâng lời cha mẹ, bất hiếu, ngỗ ngược thì vào trường không thể là một học sinh ngoan và chắc chắn sau này ra đời cũng không bao giờ là một công dân tốt được. Ta cũng nên hiểu rằng, gia đình là một tế bào của xã hội, nếu gia đình không có kỷ cương, nề nếp thì sẽ dẫn đến xã hội bị rối loạn, không thể nào tiến bộ văn minh được. Bài học đạo lý làm người này không bao giờ cũ, vẩn có giá trị mãi mãi với thời gian. Bởi vậy học kiến thức văn hóa ta có thể học mười năm, còn học làm người ta phải học suốt đời. Chính vì vậy, câu tục ngữ là một lời răn dạy, đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh những ai xem nhẹ đạo đức và việc rèn luyện nhân cách làm người.Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Rừng Vàng Biển Bạc Tóm lại đạo đức là cái đáng quý nhất, đáng trân trọng vì nó thể hiện phẩm giá con người. Cho nên bài học làm người, bài học “lễ nghĩa” bao giờ cũng là bài học đầu tiên, là bài học mà ai cũng học suốt cả cuộc đời. Nếu phấn đấu trở thành người công dân tốt ta cần thấm nhuần câu Tiên học lễ, hậu học văn. Ngoài ra ta cũng nên ghi nhớ thêm lời dạy của Bác Hồ kính yêu: Có tài mà không có đức là người vô dụng, Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.
Nguồn Edufly | Giải thích câu tục ngữ Tiên học lễ, hậu học văn | 748 | |
Giải thích câu tục ngữ “Tấc đất tấc vàng”
Bài làm
Việt Nam trước thời kỳ Pháp thuộc là một quốc gia nông nghiệp. Người dân sinh sống chủ yếu nhờ việc cày cấy, trồng trọt. Đất đai phì nhiêu, màu mỡ phát triển là nguyên nhân giúp nền công nghiệp lúa nước đến cực thịnh. Cho nên, việc giữ gìn, trân trọng, bảo vệ đất đai đã trở thành điều cần thiết trong cuộc sống của người Việt xưa và nay. Tục ngữ, thành ngữ là những kinh nghiệm quý báu, lời dạy dỗ, bài học cho thế hệ mai sau, ắt hẳn vậy nên câu tục ngữ lưu truyền nhiều nhất chính là “Tấc đất tấc vàng”. Đó không chỉ đơn thuần là sự ca ngợi đất đai phì nhiêu màu mỡ đem đến cho dân ta cơm no áo ấm mà còn là lời nhắc nhở con cháu hãy giữ gìn đất đai như giữ gìn vật báu.
Vậy thế nào là “Tấc đất tấc vàng.”? “Tấc” là giá trị đo lường của người xưa chỉ chiều dài, một tấc bằng 10cm. Tuy khoảng cách chỉ ngắn như vậy thôi nhưng “tấc đất” lại được ví như “tấc vàng”. Thường thì xưa nay, “vàng” là vật phẩm để trao đổi, buôn bán những mặt hàng lớn, trong quá trình quy đổi ra tiền rất giá trị vì nó không bị hao mòn theo thời gian. Đất được ví như vàng, như khẳng định giá trị của đất vô cùng đáng quý, to lớn và cần phải giữ gìn. Đất quý báu, vì vàng không thể nào sinh sôi được nhiều và nó chỉ có số lượng nhất định, còn đất có thể tạo ra rất nhiều của cải vật chất quy đổi được thành vàng. Như vậy, đất càng thêm quý trọng hơn.Xem thêm: Bài văn của con gái bị mẹ bỏ rơi
Người Việt xưa chủ yếu trồng trọt kiếm sống, ngày nay đất để trồng lúa cũng chiếm diện tích lớn trong quá trình sản xuất lúa gạo. Đất là miếng cơm, manh áo, là kế sinh nhai, là cuộc sống của chúng ta hàng ngày. Người xưa coi trọng đất vì có đất mới có thể kiếm ăn, xây nhà, dựng cơ ngơi. Ngày nay cũng vậy, không phải là có nhiều tiền, vàng bạc là giàu có, sự giàu có là có thể sở hữu được bao nhiêu mảnh đất. Từ xưa đến nay, đất ở những khu như nội thành, kinh tế, giao thương phát triển đều đắt giá hơn đất ở khu vực khác. Đất phù sa sẽ quý hơn đất cát hay đất phèn. Câu tục ngữ “Tấc đất tấc vàng” lưu truyền từ kinh nghiệm của người xưa đến nay vẫn đúng. Giá trị của đất đai vô cùng quý báu, chỉ có thể đem vàng ra mà đánh giá ngang hàng được.
Giải thích câu tục ngữ Tấc đất tấc vàng
Bởi thế nên câu tục ngữ còn có một ý nghĩa sâu xa nữa là lời nhắc nhở con cháu đời sau hãy biết coi đất như vật báu mà trân trọng. Đất không chỉ là cuộc sống mà còn là tương lai của chúng ta. Hãy chăm sóc và bảo vệ đất đai cho đất đai thêm màu mỡ, tươi tốt, có vậy thì cuộc sống mới no đủ. Không được để đất xói mòn, bạc màu, đất sẽ mất đi giá trị vốn có của nó và mảnh đất đó sẽ không thể sử dụng được cho nhiều mục đích. Đất đai có tốt tươi, vững chắc, cây cối phát triển, môi trường mới tốt đẹp, xây nhà dựng cửa, phát triển kinh tế mới có thể yên tâm.Xem thêm: Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng)
Không chỉ thế, câu tục ngữ “tấc đất tấc vàng” còn mang một ý nghĩa lớn lao hơn về chủ quyền dân tộc. Từ bao đời nay, giặc phương Bắc, giặc ngoại xâm vẫn luôn lăm le bờ cõi nước ta vì mục đích kinh tế, chính trị… Việc giữ nước trở thành cuộc kháng chiến trường kỳ không chỉ trong thời loạn mà còn cả trong thời bình. Từng tấc đất được làm nên, giữ gìn bởi xương máu, nước mắt và hy sinh của tiền nhân, chính bởi vậy đất đai càng trở nên vô giá. Đất mẹ cho ta hạt gạo, củ khoai, củ sắn… cho chúng ta nơi sống, thức ăn, cho chúng ta niềm tự hào về văn hóa muôn đời với nền tảng truyền thống, đất mẹ cũng sẽ tiễn đưa chúng ta, là nơi chôn cất anh linh mồ mả của bao đời tổ tiên. Đất đai không chỉ mang giá trị về mặt kinh tế mà còn về cả tinh thần. Đất là niềm tự hào, là nguồn động lực nuôi dưỡng mỗi cá nhân. Càng bởi vậy chúng ta càng cần giữ gìn và bảo tồn đất.
Đất đai của chúng ta, tổ quốc của chúng ta, một tấc cũng không thể thiếu. Đất đai bao dung những thứ con người đốn ngã, vứt đi, đất đai rộng lượng cho chúng ta cây cối quý báu, khoáng sản trăm triệu năm, đất đai là nguồn cơm cháo nuôi chúng ta trưởng thành. Đất mẹ thiên nhiên chưa bao giờ phụ bạc chúng ta, nên chúng ta cũng phải biết ơn những điều đó mà chăm sóc, giữ gìn và trân quý đất. Chỉ cần có đất đai, chúng ta sẽ có lãnh thổ, có văn hóa, bản sắc, truyền thống lâu đời được giữ gìn, là giang sơn gấm vóc mà bao đời nay cha ông vẫn luôn hướng đến.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Hồi hương ngẫu thư" (Hạ Trí Chương)
Câu tục ngữ “tấc đất tấc vàng” là lời dạy sâu sắc, ý nghĩa nhất cho muôn đời sau. Có đất đai, có cuộc sống, có lãnh thổ, có con người. Hãy bảo vệ lấy những giá trị đất đai đem lại cho chúng ta và bảo vệ lấy từng tấc đất cha ông ta đã khai khẩn, hy sinh để giữ gìn.
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Tấc Đất Tấc Vàng | 1,030 | |
Giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”
Bài làm
Trong cuộc sống vận động không ngừng, xã hội hóa, hiện đại hóa, sự hội nhập của nền kinh tế thế giới, giao lưu văn hóa,,, khiến con người trở nên năng động và đa dạng trong nền văn minh thế giới. Thế nhưng dân tộc Việt nam vẫn luôn giữ được những đạo đức truyền thống từ đời cha ông để lại, một trong số đó là đạo lý biết ơn, tri ân được lưu truyền thể hiện qua những câu ca dao, tục ngữ. Và câu tục ngữ vẫn luôn được nhắc tới trong những bài học, quan niệm sống từ muôn đời về đạo lý ấy chính là “Uống nước nhớ nguồn.”
Trước hết, có thể hiểu “Uống nước nhớ nguồn” theo hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Theo nghĩa đen, “nguồn” là nơi bắt đầu của sông, suối cũng có thể hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra, nơi cung cấp nguồn sống… Từ nguồn mới có thể có nước chảy ra sông, bể làm nước sinh hoạt cho người dân, cung cấp cho ruộng lúa, đất đai phì nhiêu. Việc sử dụng những giá trị mà thiên nhiên mang lại cần phải biết trân trọng, ghi nhớ. Và đồng thời theo nghĩa bóng, câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” là lời khuyên nhủ, dạy dỗ của ông cha ta cho con cháu đời sau, hãy biết ghi nhớ công lao, trân trọng, giữ gìn thành quả của thế hệ cha anh đời trước.
Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu?
Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn.
Từ muôn đời nay, vạn vật sinh trưởng và phát triển đều có nguồn gốc. Hoa nảy nở từ hạt mầm, nước trong suối chảy ra, con người đời đời nối tiếp nhau từ ơn nuôi dưỡng của tổ tiên, xã hội phát triển từ những sáng kiến khoa học. Không có bất cứ thứ gì tự nhiên sinh ra, tất cả mọi sự phát triển và tồn tại đều trải qua một quá trình rèn luyện, tích lũy. Có được đến ngày hôm nay, được hưởng những thành tựu của nền văn minh thế giới, sự bình yên, hòa thuận, cơm no, áo ấm, tri thức, tinh thần phong phú đều do cha ông chúng ta đã phải đánh đổi rất nhiều thứ. Không phải tự nhiên chúng ta có thể được hưởng một cuộc sống hiện đại, phát triển khi mà Việt Nam là một trong những nước có các cuộc đấu tranh chống xâm lược nhiều nhất. Từng mảnh đất chúng ta có được hôm nay đều là xương máu đã đổ xuống, nước mắt, mồ môi chắt chiu từng hạt gạo cho con cho cháu, sự hy sinh của những người phụ nữ mất chồng trong thời chiến tần tảo nuôi con, sự rèn luyện khó nhọc để đem lại các công trình khoa học, xây dựng đất nước. Từng thứ chúng ta được kế thừa, kho tàng tri thức nhân loại, những giá trị vật chất không thứ gì là không xuất phát từ công lao người đi trước. Vì thế chúng ta phải biết ơn, phải ghi nhớ và tôn vinh những hy sinh cao cả của tổ tiên muôn đời trước. “Uống nước nhớ nguồn”, câu tục ngữ ấy là đạo lý tất yếu bất kể trong thời kỳ nào cũng đều mang một giá trị tinh thần và giáo dục không chối bỏ được. Ấy là chân lý chúng ta hướng đến để trở thành những con người có nhân cách.Xem thêm: Ý nghĩa của câu "Thất bại là mẹ thành công"
Giải thích câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn
Không chỉ thế, “uống nước nhớ nguồn” còn là bài học răn dạy chúng ta trong cả hiện tại.
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Cha mẹ nuôi ta từ thời còn tấm bé, cho ta ăn, học, dạy chúng ta làm người, biết cách sống và tồn tại, thế nên chúng ta không chỉ nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục mà còn phải biết quý trọng, yêu mến, chăm lo cho người đã yêu thương chúng ta vô điều kiện. “Uống nước nhớ nguồn” không chỉ là bài học cho sự tri ân, đạo lý làm người mà còn là sự tưởng nhớ bằng hành động như thờ phượng, phụng dưỡng, chăm nom, báo hiếu cho cha mẹ chúng ta. Đó là cái ơn lớn nhất, cái “nguồn” vĩ đại nhất mà bất cứ ai trong đời người đều phải làm được giữ cho tròn đạo hiếu.
Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” ấy còn là lời khuyên răn chúng ta trong cuộc đời, nhớ công ơn những người nâng đỡ, dìu dắt chúng ta trên con đường đi tới tương lai. Đó là thầy cô giáo, những người góp phần rất lớn trong quá trình dạy dỗ chúng ta thành người, đó là người bạn, người chị, người anh em đã đưa tay đỡ lấy chúng ta khi chúng ta gặp khó khăn, vấp ngã và thất bại. Đó là những người đã yêu quý, bảo vệ và đểlại cho chúng ta những tài sản về tinh thần, vật chất… “Uống nước nhớ nguồn” luôn là đạo lý cốt yếu trong cuộc đời, nhớ đến đạo lý này con người mới có thể sống đúng đắn và tốt hơn.Xem thêm: Phân tích bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng” của Trần Nhân Tông.
Có trăng, phụ đèn
Chanh chua chớ phụ, ngọt bòng chớ ham.
Thật vậy, chẳng có ai trên đời này thành công và trở thành một người có nhân cách trọn vẹn nếu như sống mà vô ơn, phụ bạc. Những người vô ơn đều sống một cách rất ích kỷ, cho rằng điều mình nhận được từ người khác là tất nhiên và rồi họ chỉ nhận được những điều tốt đẹp trong một vài thời điểm cũng như khó nhận được sự chân thành từ người khác. Thế nên câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” lại càng khẳng định giá trị của nó, là bài học khuyên răn cho những ai chỉ biết sống vì mục đích cá nhân, không biết tri ân những thành quả mà mình được hưởng thụ.
Vì vậy, chúng ta cần phải có những hành động thiết thực để thể hiện lòng biết ơn, nhớ đến công lao của những người đi trước. Hãy tự hào về bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ ngày 27/7 hàng năm, nhớ đến tổ tiên Hùng Vương trong ngày giỗ tổ 10/3, tri ân các bà mẹ Việt Nam anh hùng… Và đặc biệt hãy bớt đi cái tôi cá nhân để yêu thương cha mẹ, thầy cô, ngoan ngoãn, lễ phép, chăm chỉ học tập, trở thành người có ích cho xã hội luôn là sự báo đáp đúng đắn nhất. Và hãy biết giữ gìn đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, giữ gìn văn hóa, bản sắc của dân tộc để đạo lý này có thể tiếp tục lưu truyền và phát huy bài học nhân văn của nó.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về tình bạn thời học sinh
Mặc dù cuộc sống hiện đại đầy những bộn bề nhưng đạo lý truyền thống qua câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” vẫn luôn đúng đắn trong việc định hướng nhân cách của con người. Cho nên, hãy sống đúng với truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta, luôn cải thiện bản thân và hướng đến việc tri ân, biết ơn những thành quả mà chúng ta đang được nhận ngày hôm nay. Có thế mới xứng đáng là con người Việt Nam, một dân tộc có truyền thống lâu đời về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”
Ngọc Huyền | Giải thích câu tục ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn hay nhất | 1,342 | |
Giải thích câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
Gợi ý
Tục ngữ là kho tàng vô giá về kinh nghiệm trong sản xuất, trong học tập và trong đấu tranh. Nó cho ta nhiều bài học hay, nhiều nhận xét sâu sắc trong ứng xử, giao tiếp. Trải qua bao đổi thay của thế sự, nhân tình, lớp bụi thời gian có thể phủ mờ lên nhiều thứ, nhiều điều có thể bị lãng quên… nhưng kho tàng vô giá này vẫn có một sức sống lâu bền và còn nhiều ý nghĩa đối với nhân sinh. Câu tục ngữ "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" là một ví dụ tiêu biểu. Chúng ta cần quan niệm như thế nào cho đúng khi học câu tục ngữ này?
Câu tục ngữ có hai vế đối lập: "gần mực thì đen" và "gần đèn thì sáng"; hai biểu tượng tương phản nhau: "mực" và "đèn". Do đó, tác dụng cũng trái ngược nhau: "đen" và "sáng".
Màu đen của mực (mực tàu), nguồn ánh sáng của đèn là hai biểu tượng về cái xấu và cái tốt, về dở và hay, cái lạc hậu, tiêu cực và cái tiến bộ, tích cực. "Gần" là ở bên cạnh, đặt bên cạnh, sống gần gũi. Đối lập với gần là xa, là tách biệt, cách li. "Mực thì đen" nhưng có ở "gần" thì mới "đen". "Đèn thì sáng" nhưng có đặt gần, ở gần thì mới "sáng". Chữ "gần" trong tục ngữ nói lên một mối quan hệ, sự tương quan gần gũi của hai sự vật. Nhân dân ta mượn hai biểu tượng đối lập (mực, đèn) để nói lên tầm quan trọng to lớn của mối quan hệ xã hội, của môi trường tác động đến con người. Xem thêm: Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát Câu tục ngữ "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" chứa đựng một kinh nghiệm sống, một cách sống đúng đắn và hay. Con người ta sinh ra tính vốn thiện và lành nhờ sự dạy dỗ, giáo dục, học tập mà trở thành người hữu ích. Nếu sống trong một môi trường xấu thì dễ trở nên xấu như "gần mực thì đen” vậy. Nhưng nếu sống trong một môi trường tốt, có quan hệ xã hội tốt, thì có thể trở thành người tốt, người có ích cho xã hội, chẳng khác nào "gần đèn thì sáng". Sự nhiễm bẩn lây lan rất đáng sợ, khi sống "gần mực". Điều tốt đẹp, trong sáng, cái hay, cái tốt của người, của đời sẽ toả sáng tâm hồn ta, cảm hoá lòng ta nếu ở "gần đèn".
Mối quan hệ xã hội, môi trường sống… đã tác động vào tâm hồn, làm thay đổi tâm tính mỗi người. Gần người hiền, xa kẻ dữ, chọn bạn mà chơi, học cách làm người, cách làm ăn của những tấm gương cần cù, tài giỏi… là bài học quý báu hàm chứa trong câu tục ngữ.
Đáng ngại biết bao khi phải sống gần những kẻ bất lương, trộm cắp, rượu chè, cờ bạc. Hạnh phúc biết bao khi chúng ta được ở gần những người bạn tốt, láng giềng tốt. Ta sẽ học được bao điều hay lẽ phải ở đời. Phương ngôn có câu: "Bạn tốt quý hơn vàng" là thế! Trong cổ học tinh hoa nhắc lại chuyện bà mẹ Mạnh Tử dời nhà nhiều lần; lần sau cùng, bà chuyển đến gần trường học, bà mới yên tâm. Có bà mẹ vĩ đại như thế mới có Mạnh Tử ở đời. Xem thêm: Từ thái độ vội vàng của Xuân Diệu trong bài thơ cùng tên, hãy viết bài văn bàn về mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của mỗi con người Trong nhân gian có nhiều câu tục ngữ nói về mối quan hệ xã hội. Mỗi câu là một khía cạnh sắc bén nói lên cách sống và mối quan hệ ở đời:
“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài ".
"Ở gần nhà giàu, đau răng ăn cốm,
Sống gần kẻ trộm, ốm lưng chịu đòn ”.
uơ dữ, giữ mình”.
“Thói thường gần mực thì đen,
Anh em bọn hữu phải nên chọn người
Cũng cần phải quan niệm câu tục ngữ "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" một cách toàn diện hơn, đầy đủ hơn. Sự tác động của con người đối với hoàn cảnh, với quan hệ xã hội là rất lớn. Con người giàu bản lĩnh, tài năng có thể góp phần cải tạo hoàn cảnh, làm thay đổi mối quan hệ xã hội. Họ lấy tài năng, đạo đức, tình thương của mình mà cảm hoá đồng loại, giáo dục kẻ bất lương. Câu ca dao "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" càng cho ta cảm nhận thêm sự thật ấy: "Gần mực mà chẳng đen" "Gần đèn thì sáng", chân lí ấy hiển nhiên rồi. Nhưng nếu thiếu chí tiến thủ, không có ý thức tốt trong học tập vươn lên, không khiêm tốn… thì "gần đèn" nhưng khó mà "sáng" lên được! Học lớp chọn, trường chuyên ai mà chẳng thích, nhưng nếu lười học, thiếu cố gắng… thì không thể nào "sáng" hơn chúng bạn. Môi trường, quan hệ xã hội – gia đình, nhà trường, xã hội – rất quan trọng, nhưng sự vận động tự thân của người học sinh còn quan trọng hơn. Bởi vậy, mỗi người phải luôn luôn có ý thức tốt trong học tập, tự rèn luyện, biết nỗ lực phấn đấu vươn lên, tiến bộ không ngừng. Xem thêm: "Đọc “Hai đứa trẻ”, thấy bận bịu vô hạn về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín” (Nguyễn Tuân). Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên? Chứng minh qua tác phẩm "Hai đứa trẻ” của Thạch Lam Tuổi trẻ có bạn bè. Chọn bạn tốt mà chơi. Không đua đòi kẻ xấu. Câu tục ngữ "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" giúp ta định hướng con đường đi tới tương lai tốt đẹp: con đường học tập và lao động để phục vụ gia đình và đất nước.
Vanmau.edu.vn | Giải thích câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” | 1,041 | |
Giải thích câu tục ngữ “Học đi đôi với hành”
Gợi ý
Học tập là công việc suốt đời đối với mỗi một con người. Lê-nin từng nói: "Học, học nữa, học mãi". Nhưng phải học như thế nào cho đúng? Dân gian tạ đã từng nhắc nhở: "Học đi đôi với hành". Chúng ta cần hiểu như thế nào về phương pháp học này?
"Học" là quá trình chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại. Nội dung học là các kiến thức nhân loại được chọn lọc (được phân loại thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) cùng với đó là các kĩ nãng, kĩ xảo tương ứng. Quá trình này nhằm đến một cái đích là làm phong phú những hiểu biết của con người, giúp phát triển vẹn toàn nhân cách và đặc biệt việc học trang bị cho mỗi chúng ta những kiến thức, những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp để từ đó tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội đem đến lợi ích cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước. Như vậy, “học” ở đây được hiểu là gắn với vấn đề lí thuyết. Người học giỏi thường được hiểu là người nắm được nhiều nội dung lí thuyết.
Bên cạnh đó, "hành" là thực hành, là quá trình vận dụng kiến thức vào cuộc sống, là đem những cái đã học được vào thực tế để kiểm tra độ đúng sai hay để làm sinh động nó. “Hành” có nhiều cấp độ: bắt chước người khác làm, làm lại theo những gì còn lưu trong trí nhớ, sáng tạo những cách thức hoạt động mới,… "Hành" được đến đâu, điều đó còn tùy thuộc vào tri thức mà bạn học được phong phú sinh động và sâu sắc đến bao nhiêu.Xem thêm: Hoa sen là loài hoa được chọn làm biểu tượng cho dân tộc Việt Nam. Em hãy viết bài văn giời thiệu loài hoa này với bạn bè thế giới Trong việc học hàng ngày, tại sao lại cần “Học đi đôi với hành”? Vì chúng là hai mặt thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau.
Như ta đã biết, nếu chỉ biết học lý thuyết mà không hề biết đến thực hành thì những lý thuyết ta học cũng chỉ là những tri thức chết, chúng không có tác dụng đốì với đời sống. Đó là trường hợp nhiều học sinh Việt Nam đi thi học sinh giỏi quốc tế các môn khoa học tự nhiên. Chúng ta làm lí thuyết rất xuất sắc, thậm chí đạt điểm tuyệt đối. Nhưng khi thực hành, trong khi bạn bè các nước làm rất tốt thì chúng ta loay hoay hàng giờ, thậm chí phải bỏ cuộc. Đó cũng là trường hợp nhiều học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng hoàn toàn không có kĩ năng sống thực tế. Họ không biết ứng xử sao cho hợp hoàn cảnh giao tiếp, không nấu được một bữa cơm, không tự viết được một lá đơn xin việc,… học như vậy chỉ phí phạm thời gian, công sức tiền bạc bởi thực tế học như vậy để làm gì nếu không thể ứng dụng vào đời sống? Như vậy, chúng ta không chỉ học lý thuyết mà còn phải biết áp dụng những lý thuyết đó phục vụ thực tế.
Mặt khác, có lúc những lý thuyết chúng ta đã được học khi đưa vào thực hành lại gặp phải rất nhiều khó khăn. Vì vậy, chúng ta phải biết kết hợp vừa học lý thuyết, và thực hành nhuần nhuyễn những điều đã học. Có như vậy, thì những kiến thức chúng ta được học sẽ trở nên sâu hơn, giúp chúng ta nắm vững nguồn tri thức. Nếu chỉ học mà không thực hành thì tất cả cũng chỉ là lý thuyết. Chính vì vậy, học phải đi liền với thực hành, có như vậy ta mới có thể đem hết những gì đã học cống hiến phục vụ cho đất nước.Xem thêm: Là người chứng kiến cảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa, em hãy kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen“Học đi đôi với hành” là lời của người xưa đúc kết nhưng vẫn còn là bài học lớn của hôm nay và mai sau dành cho những ai thực sự cầu tiến bộ.
Vanmau.edu.vn | Giải thích câu tục ngữ “Học đi đôi với hành” | 740 | |
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Bài làm
Con người sống trong xã hội sẽ có cộng đồng, người thân, chính tình cảm thân thương, gắn bó với nhau tạo nên sự gắn bó thân thiết, giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Khi một người nào đó có gì đó không vui thì người khác sẽ giúp đỡ sẻ chia, cùng nhau tìm cách giải quyết, tạo ra sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự đoàn kết sẽ giúp cho con người thành công nhanh hơn và vượt qua những khó khăn trở ngại tốt hơn.
Câu tục ngữ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đó. Đây là truyền thống quý báu mà cha ông ta muốn khuyên nhủ con cháu đời sau cần phải giữ gìn và phát huy để tạo nên sức mạnh lớn lao.
Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ là gì? nói lên một con ngựa trong đàn ngựa bị đau ốm thì những con ngựa còn lại không ăn uống, buồn bã. Thể hiện tinh thần đoàn kết, tinh thần tập thể gắn bó vô cùng quan trọng. Trong đó, mỗi cá nhân là một móc xích không thể thiếu để tạo thành một tập thể vững mạnh.
Cha ông ta thời xưa mượn hình ảnh con ngựa để nói lên mối quan hệ giữa con người với con người, thể hiện sự tương thân tương ái “lá lành đùm lá rách” mà ông bà ta thời xưa thường răn dạy con cháu mình.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đi Đường (Tẩu lộ) của Hồ Chí Minh
Trong gia đình, hay trong một tập thể khi có một người bị đau ốm hoặc gặp tai nạn, chuyện buồn khổ nào đó thì những người còn lại cũng đau buồn theo không thiết tha ăn uống gì cả.
Câu tục ngữ nhằm nói tới tình yêu thương, tấm lòng nhân ái của con người khi sống chung với nhau trong một ngôi nhà, một tập thể, cùng một môi trường sống. Chính sự tương thân, tương ái chia sẻ vui buồn sẽ giúp con người gần gũi nhau hơn, xây dựng mối quan hệ gắn bó lâu dài hơn.
Trong xã hội chúng ta ngày nay có rất nhiều người có tinh thần tương thân, tương ái tinh thần sống chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau. Nhưng bên cạnh đó, có những người sống vô cùng ích kỷ, sống không quan tâm tới ai cả, mà chỉ quan tâm tới lợi ích của mình mà thôi.
Những con người đó sẽ bị xã hội loại bỏ, đến lúc họ gặp khó khăn, thử thách sẽ không có ai bên cạnh giúp đỡ sẻ chia. Họ sẽ sống cô độc, buồn tủi đến hết đời.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Giải thích câu tục ngữ “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – văn lớp 7 | 476 | |
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ "Người sống, đống vàng"
Trên thế gian này, con người là quý giá nhất. Con người có thể làm ra mọi thứ. Con người nắm giữ, sử dụng thời gian, làm ra vàng bạc, lúa gạo, biết suy nghĩ. Sức lao động của con người là vô hạn và cũng là cái để con người thực hiện những ước mơ, là phương tiện tồn tại cùng với thời gian. Điều đó cũng được ông cha ta hiểu từ xưa tới giờ và được đúc kết lại bằng câu tục ngữ: “Người sống, đống vàng”.
Câu tục ngữ trên thuộc câu so sánh ẩn dưới hai vế đối xứng với nhau. Vần lưng giữa câu làm cho người nghe dễ nhớ, dễ hiểu. Câu tục ngữ mang hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất dân gian ví con người quý như vàng bạc, làm tôn giá trị tới mức đỉnh cao. Nghĩa thứ hai là có con người thì sẽ có của cải, vật chất. Đúng như câu tục ngữ, người xưa cũng đã từng có câu:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
Thật vậy, từ ngày xưa, nhân dân ta không có những phương tiện máy móc như hiện giờ, mọi người chỉ biết dựa vào sức người, đôi tay và khối não. Đó chính là những công cụ sống mà được truyền từ đời này sang đời khác và bất kì thời nào thì giá trị của con người vẫn luôn được xem là bậc nhất, luôn được mọi người quan tâm hàng đầu. Ngay cả từ thời trái đất còn sơ khai, con người đã biết săn bắt, trồng trọt, chăn nuôi để tồn tại. Trải qua thời gian thì những phát minh được ra đời, những kinh nghiệm được đúc kết lại làm hành trang vững bước cho thế hệ sau. Cứ dần dần như vậy mà ngày nay, chúng ta đã được hưởng một thành quả lớn nhất là đời sống ổn định, có của ăn, của để, có cây trồng, vật nuôi phục vụ đời sống.
Có thể nói con người làm chủ trên trái đất này, không có con người thì tất cả sẽ vô vị, trở nên lạnh lẽo, dù có nhiều của cải đến đâu thì cũng chỉ là vô nghĩa vì không được con người khai thác, sử dụng. Con người với năng lực của mình đã xây dựng nên được những tháp chùa, nhưng toà lâu đài cổ kính trường tồn cùng thời gian. Năng lực của con người sẽ mãi là một thứ vũ khí mạnh nhất để chống lại bất kì kẻ thù nào và cũng là cái để làm nên tất cả.
Nói tóm lại, câu tục ngữ trên khẳng định tầm quan trọng và đề cao năng lực giá trị con người. Nó không chỉ là một sự khẳng định mà nó còn là một lời khuyên, một bài học, một tư tưởng đúng đắn dành cho mỗi chúng ta.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Hãy miêu tả lại cô giáo lúc cô đang say sưa giảng bài | Giải thích câu tục ngữ “Người sống, đống vàng” | 515 | |
Đề bài: Hãy giải thích và bình luận ý nghĩa câu tục ngữ:
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
Tinh thần tự chủ, thái độ tự trọng và niềm tin yêu gắn bó với cội nguồn là những yếu tố cần thiết cho mỗi con người trong cuộc sống. Đất nước Việt Nam suốt mấy ngàn năm lịch sử đã phải trải qua bao thăng trầm, thử thách nghiệt ngã mà vẫn tồn tại và phát triển là bởi dân ta có lòng tự hào, tự tôn và tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở. Ông bà ta xưa thường khuyên con cháu:
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
Ý nghĩa của câu tục ngữ trên là đúng hay sai? Chúng ta hãy cùng nhau bàn luận.
Trước đây, nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Hình ảnh nông thôn với những mái rạ nghèo, chiếc sân đất nện, mảnh vườn nhỏ và cái ao thả bèo, thả muông… rất quen thuộc trong đời thường cũng như trong ca dao, tục ngữ. Cầu ao là nơi người nông dân rửa rau, vo gạo, tắm táp, giặt giũ… Cầu ao còn là nơi gặp gỡ, trao đổi tâm tình làng xóm và nó đã trở thành người bạn âm thầm chứng kiến bao nỗi buồn vui của con người:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ…
Giã ơn cái cọc cầu ao,
Đêm đêm khuya sớm có tao có mày…
Cái ao gắn bó với người nông dân đến thế nên nó đã trở thành một trong những biểu tượng của hình ảnh quê hương; giống như mái đình, lũy tre, con đò, cây đa, giếng nước… Ta thử hình dung người nông dân sau một ngày làm việc vất vả trên đồng ruộng, được ngồi trên chiếc cầu ao nhà mình, thong thả múc từng gáo nước dội lên thân thể cho trôi đi bao giọt mồ hôi nhọc nhằn. Cái mát mẻ thấm vào da thịt khiến cho đầu óc thoải mái, thảnh thơi. Thế là sung sướng, là thích thú bởi mình được tự do, tự chủ, chẳng phải phiền lụy đến ai, giữ kẽ với ai.
Một tình huống khác: vào tiết nông nhàn, người nông dân thường rời quê đi làm ăn xa. Cuộc sống tha phương ít ngọt bùi mà nhiều cay đắng nên nỗi nhớ nhà, nhớ quê càng day dứt không nguôi. Họ phải chịu đựng tất cả vì miếng cơm manh áo, vì sự mưu sinh. Lăn lóc kiếm sống nhưng lòng chỉ mong đến thời vụ để trở về quê hương, sum họp với gia đình, tiếp tục cái cảnh chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa tuy cực nhọc mà đầm ấm. Và nhất là được tắm ở cái ao nhà mình, cái ao cho dù chưa rộng, chưa trong như nhiều ao khác đã gặp trên đường đời nhưng nó gần gũi, thân quen, nông sâu đã tường, nên ta thỏa chí vẫy vùng mà không phải e ngại, đề phòng bất trắc.
Xem thêm: Viết đoạn văn tả con cá heoNghĩa hiển ngôn của câu tục ngữ: Ta về ta tắm ao ta… có thể hiểu là như vậy nhưng người xưa đâu chỉ dừng ở đó. Họ muốn mượn cái hình thức đơn giản ấy để gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng và một triết lí sống tự do, tự chủ và tự tin vào chính bản thân mình. Tất cả những gì của mình (dù chưa hoàn hảo) cũng đều đáng quý, đáng trân trọng.
Nhà mình dẫu sang, dẫu hèn vẫn mang đến cho mình tâm thế của người làm chủ. Tâm thế ấy tạo nên sự tự do, thoải mái tinh thần mà ở những nơi khác, nhà khác không sao có được. Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn là vậy.
Ở thời điểm xuất hiện câu tục ngữ này, ý nghĩa trên của nó là đúng là tích cực vì tinh thần tự chủ, tự tin, tự hào là cần thiết và quan trọng đối với mỗi người, mỗi cộng đồng dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển.
Còn ở thời đại ngày nay, liệu câu tục ngữ trên có còn giữ nguyên giá trị?
Có người cho rằng, quan điểm Ta về ta tắm ao ta… là bảo thủ, tiêu cực, là thái độ an phận và tự mãn cần phê phán. Nhận xét như vậy là đã bỏ qua yếu tố khách quan của lịch sử, yếu tố đạo lí và có phần khắt khe.
Hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ và sự giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới ngày càng được nâng cao, mở rộng. Để hội nhập với xu thế chung của toàn cầu, chúng ta không thể khư khư giữ mãi quan điểm đóng cửa, tự mãn, tự hào về những gì mình đã có mà phải mở cửa học hỏi cái hay, cái đẹp, cái mới, cái tiến bộ của nhân loại. Trên cơ sở tiếp thu những thành quả khoa học kĩ thuật tiên tiến một cách có chọn lọc, sáng tạo, phù hợp với bản thân và đất nước, chúng ta sẽ thực hiện được mục đích cao cả là xây dựng một xã hội giàu mạnh và văn minh. Lúc đó, đất nước Việt Nam sẽ tự hào sánh vai với các cường quốc năm châu như ý muốn của Bác Hồ kính yêu.
Học hỏi nước ngoài không có nghĩa là vọng ngoại, sùng ngoại để rồi đánh mất lòng tin và mất ý thức tự lực, tự cường. Bởi mất những yếu tố quan trọng đó, chúng ta sẽ mất tất cả.
Dân tộc và hiện đại là chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Giữ gìn truyền thông và bản sắc dân tộc vẫn là mục tiêu hàng đầu. Dù hiện đại đến đâu chăng nửa, ta vẫn là ta, hòa nhập chứ không phải hòa tan, không để bị biến thành cái bóng mờ của người khác. Thực tế ở một số nước cho thấy yếu tố dân tộc và yếu tố hiện đại vẫn có thể song song tồn tại, phát triển.
Câu tục ngữ: Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn có mặt tích cực là đã phản ánh cái tâm rất đáng quý của con người Việt Nam: yêu mến, gắn bó, tự hào về quê hương xử sở, đề cao ý thức tự chủ. Song, trong thời đại mới, chúng ta phải biết vận dụng linh hoạt ý nghĩa của nó để tránh thái độ bảo thủ, tự mãn, hẹp hòi và nâng cao ý thức học hỏi, tiếp thu cái hay, cái mới của nhân loại để xây dựng một đất nước văn minh, tiến bộ mà vẫn mang đậm bản sắc dân tộc độc đáo. Đó là ước nguyện, là mục đích của tất cả chúng ta.
Xem thêm: Thi hào Goethe cho rằng: “Dù vua chúa hay dân cày, kẻ nào tìm thấy sự bình an trong gia đình, kẻ ấy là người sung sướng nhất”. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói trên | Giải thích câu tục ngữ “Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” | 1,232 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.