text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Giới thiệu về một món ăn Việt Nam dàn dã
Gợi ý
Muốn ăn bún riêu cua, bạn không thể tìm thây trong thực đơn của nhà hàng hay khách sạn, nó chỉ có ở chợ và quán vỉa hè của Hà Nội. Khác với phở có vị béo ngậy, cháo có vị thanh thanh, man mát, bún riêu có vị ngọt đậm, nước dùng hơi chua, phảng phất mùi cua đồng.
Bún riêu cua làm không khó nhưng tỉ mẩn và công phu. Cua mua về phải ngâm, dùng đũa khoắng xả nước bẩn, lột mai đế riêng, bỏ vỏ yếm và miệng cua. Những bà bán bún riêu cua thường nói, gạch ở mai cua mới tạo nên mùi vị rất riêng của bún riêu. Gạch cua khều ra phải phi hành mỡ cho thật thơm, vàng đều, đảo gạch cua nhanh tay sao cho không nát, tạo màu vàng sẫm mới đạt yêu cầu. Phần thân cua trước khi cho vào cối giã nhuyễn phải xóc qua muối, dội nước lã cho sạch và đê ráo nước, giã nhuyễn sau đó mới đố nước lã vào lọc kỹ, gạn lấy nước trong, bỏ bã. Cua được giã càng nhuyễn thì nước dùng càng có nhiều váng thịt cua.
Quả dọc đem nướng thật kỹ, bóc bỏ vỏ, cà chua rửa sạch, bỏ hạt và thái miếng như miếng cau ăn trầu, mẻ nghiền nát lọc lấy nước, hành rửa sạch, thái thật nhỏ là những gia vị không thế thiếu cho nồi riêu cua.Xem thêm: Nghị luận xã hội - Thời trang nói gì Nồi nước cua đun lửa sao cho váng thịt cua nổi dần trên mặt nước, nêm vừa mắm muối, quả dọc, cà chua vào đun sôi lăn tăn. Rắc hành hoa và rưới gạch cua trưng lên trên là bạn đã có nồi nước dùng thật ngon.
Để làm bún riêu cua ngon, cua phải được giã bằng tay, váng thịt cua mới mềm, mịn và giữ được mùi vị đặc trưng. Nếu đem xay cua bằng máy xay, coi như nồi nước dùng bị giảm đến 50% vị ngon, váng thịt cua thường xốp, sạn. Bún rối được trần bằng nước sôi lăn tăn, chan riêu cua ngập bún, àn nóng cùng ớt bột chưng mỡ và rau diếp.
Yêu cầu đặc trưng nhất của bún riêu cua là váng thịt cua phải đông đặc, nổi màu vàng sẫm của gạch cua, nước dùng mang Vị ngọt đậm, hơi chua, hơi cay.
Mặc dù là món quà sáng bình dân, nhưng bún riêu cua cũng được xếp vào thú "ẩm thực" của người dân Hà Nội.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về một món ăn Việt Nam dàn dã | 437 | |
Giới thiệu về một món ăn độc đáo của địa phương
Gợi ý
Nam Bộ có nhiều món ăn độc đáo, nhưng phổ biến vẫn là món bún. Bún được chế biến nhiều món ăn đa dạng về hình thức, phong phú về chất lượng như: bún thịt xào, bún nem bì, bún cà ri, bún riêu cua, bún nước lèo, bún mắm… được mọi người ưa thích, từ giới bình dân cho đến kẻ giàu sang phú quý, nhưng hấp dẫn vẫn là món bún mắm.
Ở Trà Ồn, Trà Vinh, Sóc Trăng, bún mắm có tiếng là ngon. Ngon từ sợi bún nhỏ nhắn, tròn trịa, dài mềm mại đến nước lèo, chất mắm. Cách nấu bún mắm ở đây được thêm thắt đôi chút cho hợp khẩu vị của người ăn. Từ đó bún mắm tự dưng được mọi người xem như món ăn "đặc trưng" của đồng bằng Tây Nam Bộ.
Nước lèo theo cách gọi chung được nấu chuyên nghiệp cho là đúng "gu" là không dùng bột ngọt và đường, chỉ cốt lấy chất ngọt từ con cá lóc, xương heo cùng chát "tinh tuý" ở loại mắm sặc đồng, miệt Cà Mau, thường gọi là "mắm trở" có mùi nặng đặc biệt. Mắm nâu sôi cho cá rã ra, lọc mắm qua rây lấy nước, bỏ xương. Cá lóc làm sạch cắt thành khúc, cùng xương heo thả trong nước lèo. Cá chín vớt ra, xắt thành từng miếng nhỏ dài chừng ngón tay. Còn đầu cá no tròn, đùm ruột gan mỡ béo ngậy được xếp chồng lên trong đĩa bàn lớn,’ chưng cho "bắt mắt". Cặp trứng cá vàng ruộm bỏ trở lại nồi, dùng "dá" khoả đều cho trứng nổi lên trên mặt, cùng sả băm nhuyễn, nấm rơm búp, tép mỡ óng ánh lềnh bềnh càng tăng thêm chất lượng nồi nước lèo.Xem thêm: Hóa thân vào thanh gươm thần của Đức Long Quân, em hãy kể lại truyện “Sự tích Hồ Gươm” Khi ăn nồi nước lèo sôi ngùn ngụt được chan vào tô bún cho ngập nước, dùng "dá" chặn bún lại cho nước đố trở lại nồi, đó là cách làm cho cọng bún mềm và nóng. Sau đó xếp từng miếng cá, lát thịt ba dọi, vài con tép bạc bên trên, kèm theo rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, nếu thích vắt thêm tí chanh. Công đoạn cuối cùng là chan nước lèo lại lần thứ hai. Tô bún mắm đã đầy đủ sẵn sàng mời khách. Cũng chưa hết, khách yêu cầu thêm cục xương heo hay cái đầu cá, đùm ruột béo ngậy, người bán cũng không từ chối, chỉ cần tính thêm tiền!
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về một món ăn độc đáo của địa phương | 457 | |
Giới thiệu về một nét văn hoá truyền thống: Dân ca quan họ
Gợi ý
Trong dòng văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa, giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca: chèo của Thái Bình, Nam Định, chèo tàu của Hà Tây, hát dặm Nghệ An, Hà Tĩnh, ca trù, ca Huế, dân ca Nam Bộ… vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, tựa như:
Cây trúc xinh tang tình là cây trúc mọc…
Chị Hai xinh, tang tình là chị Hai đứng…
Đó là dân ca quan họ vùng Kinh Bắc – Bắc Ninh.
Quan họ vừa như một làn điệu hội tụ "khí chất" của rất nhiều làn điệu dân ca: cái trong sáng, rộn ràng của chèo; cái thổn thức, mặn mà của hát dặm; cái khoan nhịp sâu lắng của ca trù; cái khoẻ khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam Bộ. Nhưng trên hết, quan họ mang "khí chất" của chính quan họ, là hồn của xứ sở quan họ, là "đặc sản" tinh thần của Kinh Bắc – Bắc Ninh.
Nằm kề cận với thủ đô, có diện tích nhỏ nhất nước, với sáu huyện, thị, nhưng khát vọng trí tuệ, khát vọng sống, khát vọng khẳng định mình của Kinh Bắc chẳng nhỏ tí nào. Sách cổ của người xưa từng ngưỡng mộ: "Kinh Bắc nổi tiếng văn nhã". Đất Kinh Bắc là hơi kết tụ của tài hoa các làng nghề: làng tranh Đông Hồ, làng giấy Đống Cao, làng chạm khắc Phù Khê, làng đồng Đại Bái, làng buôn Phù Lưu:., là đất của hàng nghìn di tích lịch sử, danh thắng của các đình, đền, chùa nổi tiếng. Người Kinh Bắc thông minh, tinh tế. Ở bất cứ thời đại lịch sử nào Kinh Bắc cũng hiến cho đời không ít những danh nhân, nhân tài, kẻ sĩ, các bậc hiền tài… Các cộng đồng làng Kinh Bắc từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, gắn kết với nhau trong tình làng nghĩa xóm, trong lao động cần cù, trong khát vọng yêu thương, vượt lên thiên tai, địch hoạ, vượt lên gian khó, "thương người như thể thương thân", "tứ hải giao tình" (bốn biển một nhà) như lời dân ca quan họ. Chính cái khát vọng sống của người Kinh Bắc, đất Kinh Bắc đã hoá thân thành những làn điệu quan họ kỳ diệu: "lời thì giao duyên, tình thì anh em", vừa thực, vừa mơ, vừa giãi bày, vừa khúc chiết, vừa tình tự, vừa sâu sắc… Các làng quan họ hầu hết ở Bắc Ninh, mà theo các nghệ nhân, từng có tới 49 làng quan họ. Và như sông Cầu không bao giờ cạn, mạch sống của khúc nhạc, lời ca quan họ cũng không khi nào nhạt phai dù đã trải qua bao đời người và bao nhiêu biến động thời thế. Đến bây giờ Hội làng quan họ vẫn là nguồn cảm hứng mùa xuân bất tận của xứ Kinh Bắc. Các Hội làng gắn bó đặc biệt với hát quan họ, không thể nào có hội làng trên mảnh đất Bắc Ninh mà thiếu vắng sắc màu và âm thanh quan họ. Những hội hè này trải dài từ mồng 4 Tết âm lịch đến 28 tháng 3 âm lịch. Đặc sắc nhất vẫn là Hội Lim ở huyện Tiên Sơn. Vào những ngày hội, nam thanh nữ tú các nơi đổ về, trẩy hội tưng bừng, để được nghe các liền anh, liền chị xiêm y mớ bảy mớ ba, hát đốì đáp, hát canh, hát hội, hát mừng…Xem thêm: Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêu Dân ca quan họ quả là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau, ở trong nước và cho cả cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Trong suy nghĩ đó, CLB Văn hoá xin trân trọng giới thiệu những nét đặc sắc nhất của dân ca quan họ, từ khái quát về quê hương quan họ với những truyền thông xứ Kinh Bắc, về các làng quan họ, các lề lối ca hát và phong tục giao du đến lời ca quan họ với sự phân tích về nội dung lời ca và nghệ thuật thơ ca. Âm nhạc trong dân ca quan họ cũng được điểm với những thể dạng, hình thức cấu trúc điển hình, mối quan hệ giữa âm nhạc với hình thức lời ca… Và không thể thiếu được là một số làn điệu quan họ, vừa có kinh điển, vừa có cả cải biên, được trình bày bởi tiếng hát dung dị, trữ tình của chính những liền anh, liền chị trên quê hương quan họ Kinh Bắc.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về một nét văn hoá truyền thống_ Dân ca quan họ | 834 | |
Giới thiệu về một trò chơi dân gian Kéo co
Gợi ý
Kéo co là một trò chơi dân gian phổ biến ở khắp mọi vùng miền trên đất nước Việt Nam. Tục kéo co ở mỗi nơi có thể khác nhau nhưng về cơ bản số người chơi luôn được chia làm hai đội. Giữa hai đội chơi thường, được ngăn cách bằng một vạch vôi dưới đất và một mảnh vải đỏ buộc trên sợi dây thừng hoặc dây song dùng để kéo. Đội nào lấn sang vạch vôi hoặc bị ngã về phía đội bạn thì thua cuộc. Trò chơi này rất phổ biến bởi nó không kén người chơi. Con trai, con gái, người lớn, trẻ nhỏ đều có thể tham gia. Miễn sao hai đội cân đối về sức khoẻ là được. Ở một số nơi, người ta lấy sức tay, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đội trưởng đứng đầu nắm tay vào nhau, còn các người phía sau ôm bụng người trước mặt mà kéo. Trong cuộc chơi, bên nào bị đứt dây bị xem như thua cuộc. Đội nào thắng liền ba keo hoặc thắng ba trên năm keo thì trở thành đội chiến thắng cuối cùng.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Gươm thần là một nhân vật vô cùng quan trọng trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Hãy nêu những cảm nhận của em về nhân vật này | Giới thiệu về một trò chơi dân gian Kéo co | 234 | |
Giới thiệu về một trò chơi dân gian Mèo đuổi chuột
Gợi ý
Mèo đuổi chuột là trò chơi đã có từ lâu trong dân gian và rất được các bạn nhỏ yêu thích. Chơi trò này cần số lượng người khá đông. Thường là từ 8-10 người. Trong mười người đó chọn ra một người làm mèo, một người làm chuột. Những người còn lại xếp thành vòng tròn bao quanh. Trò chơi bắt đầu khi các bạn trong vòng tròn nắm tay nhau, giơ cao qua đầu và hát:
Mèo đuổi chuột
Mời bạn ra đây
Tay nắm chặt tay
Đứng thành vòng rộng
Chuột luồn lỗ hổng
Mèo chạy đằng sau
Thế rồi chú chuột lại đóng vai mèo
Co cẳng chạy theo, bác mèo hóa chuột.
Mèo và chuột đứng tựa lưng vào nhau ở giữa vòng tròn. Đến khi bài hát kết thúc, thì chuột bắt đầu chạy, mèo phải đuổi đằng sau và đặc biệt phải chạy đúng chỗ chuột vừa chạy. Mèo thắng khi đuổi bắt được chuột. Khi đó, mèo chuột đổi vai cho nhau. Trò chơi lại tiếp tục.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Dựa vào nội dung tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, hãy đóng vai nhân vật cô kĩ sư để kể lại cáu chuyện | Giới thiệu về một trò chơi dân gian Mèo đuổi chuột | 205 | |
Giới thiệu về một trò chơi giân gian Nu na nu nống
Gợi ý
Nu na nu nống là trò chơi quen thuộc của trẻ con vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trò chơi này có cách chơi rất đơn giản. Chỉ cần hai người là có thể bắt đầu cuộc chơi. Người chơi ngồi thành hàng ngang, hai chân duỗi ra trước, đặt sát cạnh nhau. Một người trong số đó dùng tay đập vào từng bàn chân theo nhịp từng từ một của bài hát: “Nu na nu nông, đánh trống phất cờ, mở cuộc thi, đua chân ai sạch sẽ, gót đỏ hồng hào, không bẩn tí nào, được vào đánh trống”. Dứt bài, từ “trống” đúng vào chân ai thì phải rụt nhanh chân vào. Nếu để tay của “Cái” đập vào chân thì người đó thua cuộc và phải ra làm “Cái” cho lần chơi kế tiếp hoặc phải chịu một hình phạt nào đó.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bình giảng bài thơ “Thương vợ" của Tú Xương | Giới thiệu về một trò chơi giân gian Nu na nu nống | 167 | |
Giới thiệu về một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt
Gợi ý
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như ngày nay, đối với người học sinh, ngoài những người bạn thân quen như sách vở, bút thước… chúng em còn có thêm một người bạn đặc biệt khác: máy vi tính.
Chiếc máy vi tính đầu tiên ra đời năm 1956. Ban đầu, chiếc máy vi tính có kích thước rất lớn, nó to bằng cả một căn phòng và chỉ thực hiện được một số phép tính đơn giản.
Theo thời gian, bằng sự nỗ lực của các nhà khoa học, kích thước chiếc máy tính đã được thu gọn lại như ngày nay.
Máy vi tính để bàn gồm hai bộ phận lớn tách rời nhau là CPU và màn hình. CPU là bộ phận quan trọng nhất của máy vi tính, đó là nơi xử lí các thông tin dữ liệu rất tinh vi. CPU có hình hộp chữ nhật, kích thước thường là 50 cm * 10 cm * 40 cm. Vỏ ngoài được làm bằng kim loại có phủ sơn cách điện. Bên trong là ổ cứng, bộ vi xử lí, các mạch điện, dây dẫn… Mặt trước của máy vi tính là hình chữ nhật kích thước 10 cm * 40 cm. Tại đây có các bộ phận nhỏ để nhận đĩa mềm, kết nối USB và máy, hệ thống nút điều khiển máy… Mặt sau của CPU là ổ cắm dây nối CPU với nguồn điện, màn hình, bàn phím và con trỏ chuột.Xem thêm: Vai trò của sách đối với đời sống nhân loại Màn hình máy vi tính thường có kích thước và hình dáng tương đương một chiếc ti vi 21 inch. Nhưng ngày nay do sự phát triển của công nghệ, màn hình máy vi tính chỉ mỏng chừng 2 cm đến 3 cm và được làm bằng tinh thể lỏng.
Ngoài hai bộ phận trên còn cần có bàn phím và con trỏ chuột mới có thể hoàn chỉnh một chiếc máy vi tính. Bàn phím có hình chữ nhật, kích thước vào khoảng 16 cm * 25 cm, có các phím chữ nổi lên giúp nhập thông tin vào máy. Con trỏ chuột thon nhỏ, vừa tay nắm, có ba nút để điều khiển các lệnh trên màn hình.
Việc sử dụng máy tính khá đơn giản. Với người học sinh, công dụng chủ yếu là tạo lập văn bản, sử dụng các phần mềm ứng dụng, khai thác Internet và… chơi game!
Để sử dụng máy, trước tiên, ta phải cắm phích vào ổ điện, bật máy CPU và bật máy màn hình. Tiếp đó, nếu tạo lập văn bản, ta nhấn hai lần chuột trái vào biểu tượng “W” (microsolf word) trên màn hình rồi sử dụng các phím chữ, dấu… nhập thông tin vào trang trắng trên màn hình. Để sử dụng các chương trình khác, ta cũng mở máy rồi sử dụng bàn phím và con chuột để nhập thông tin và tạo các lệnh.
Nhờ chiếc máy vi tính, người học sinh có thể trao đổi thông tin học tập, tâm tư tình cảm nhanh chóng, tiện dụng, có thể xem và thực hiện các thí nghiệm vật lí, hóa học, có thể tìm kiếm các thông tin cần thiết cho việc học tập… Ngoài ra, ta có thể giải trí bằng cách chơi trò chơi trên máy tính…Xem thêm: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết) Chiếc máy vi tính là người bạn vô cùng hữu ích đối với người học sinh. Để bảo vệ người bạn đặc biệt này, chúng ta cần thường xuyên vệ sinh bàn phím, phủi bụi cho các bộ phận của máy. Ngoài ra, ta cần để máy nơi khô ráo, tránh ẩm ướt. Đặc biệt, nên cài một chương trình diệt “virus” – tác nhân có thể phá hoại dữ liệu trong máy.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt | 665 | |
Giới thiệu về ngôi nhà thân yêu của em
Gợi ý
Nếu có nơi nào để em dẫu đi xa đến mấy cũng nhớ về với biết bao yêu thương, mong nhớ thì đó chính là ngôi nhà thân yêu của em. Nơi đó có cha, có mẹ, có người anh trai yêu quý và có cả những cảnh trí vô cùng thân quen. Hình ảnh ngôi nhà đã in sâu vào tâm trí của em.
Ngôi nhà được ba mẹ xây dựng vào năm 1994, khi em chưa ra đời, và được hoàn thiện sau ba năm. Mẹ nói, ngôi nhà là kết quả của một quá trình lâu dài bố mẹ lao động, cố gắng: Bố mẹ đã từng đào đất làm gạch rồi xây lò nung gạch lấy nguyên liệu xây nhà. Mỗi lần nghe mẹ kể, em lại xúc động vô cùng.
Nhà em được bao quanh bởi một hàng rào cây găng. Bố em xén tỉa bờ tường tự nhiên ấy rất gọn gàng, đẹp mắt. Cổng nhà cao chừng hai mét, rộng một mét rưỡi được làm bằng sắt dựng trên hai trụ xây bằng gạch. Nhà có hai tầng, mặt tiền rộng bốn mét, cao bảy mét và chiều dài của ngôi nhà là mười hai mét. Mặt tiền quay về hướng nam được sơn màu xanh da trời, trước cửa nhà có trồng một giàn hoa ti-gôn. Trên đường đi học về, từ xa nhìn lại, ngôi nhà của em rất dễ nhận biết bởi giàn ti-gôn xanh tươi và những chùm hoa màu hồng duyên dáng gần như phủ kín phía trước.Xem thêm: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên Tầng một có bốn phòng. Bước qua cánh cửa gỗ màu nâu gụ là phòng khách rộng rãi, thoải mái. Phòng có chu vi 3m*4m và cao 4 mét, ngoài cửa chính còn có hai cửa sổ mở ra hướng đông đón ánh mặt trời. Bộ ghế salon màu trắng sữa được đặt áp tường phía tây. Ở phía Bắc, ngăn cách phòng khách với nhà bếp là một chiếc tủ thấp chừng một mét. Trên tủ đặt ti vi và những đồ trang trí như búp bê Ma-tri-ô-ska, con lật đật,… Giữa chiếc tủ và tường phía đông có một lối đi rộng chừng mét rưỡi. Lối nhỏ ấy dẫn vào phòng bếp. Gọi là phòng bếp nhưng nơi đó kiêm luôn nhà bếp và nhà ăn. Phòng có chu vi 2,5m*4m, ở giữa đặt một chiếc bàn ăn hình tròn. Áp sát phía tây là kệ bếp ga, phía trên kệ bếp là giàn bát bằng gỗ. Liền ngay nhà ăn là cầu thang đi lên tầng hai. Kề tiếp cầu thang là nhà vệ sinh và nhà tắm. Phòng của bố mẹ em nằm sâu trong cùng. Căn phòng khá rộng và được trang trí chủ đạo bằng màu tím – màu mẹ em rất thích – trông vô cùng dịu mát.
Cầu thang dẫn lên tầng hai rộng chừng nửa mét được lát đá ga-ni-to. Đi hết các bậc cầu thang, lên đến tầng hai, nhìn sang bên phải là phòng của anh trai em và bên trái là căn phòng đáng yêu của em. Phòng anh trai em khá gọn gàng thể hiện rất rõ tính cách của anh. Áp sát tường phía tây là bàn thờ gia tiên. Phía đông là hai cửa sổ rất rộng. Tường phía nam được trổ một cửa phụ dẫn ra ban-công đón gió nam mát mẻ mỗi khi hè đến. Căn phòng của em sặc sỡ nhất trong căn nhà yêu dấu. Nó cao tới ba mét và có chu vi là 3m*4m được trang trí bằng một màu hồng rực rỡ. Chiếc giường nhỏ sát tường phía tây được trải ga hồng. Bàn học sát tường phía nam trải khăn hồng; phía trên đó, giá sách của em cũng được bọc dán bằng giấy hồng. Những bức tranh các nhân vật hoạt hình Sakura, Tiểu Anh Đào, Đô- rê-mi,… phần lớn cũng màu hồng. Và đặc biệt, các đồ trang trí "handmade" của em như những chú hạc, những chiếc lọ hoa, những chiếc xúc xích cũng được làm bằng giấy hồng rất đáng yêu! Tường phía đông cũng có một cửa sổ rộng mở và tường phía bắc thì có một cửa trổ ra sân phơi. Khoảng sân khá rộng thường là nơi phơi quần áo hoặc những đồ lặt vặt trong nhà.Xem thêm: Nghị luận xã hội - Nghĩ vể nhân cách, phẩm giá Ngoài ngôi nhà xinh xắn, nhà em còn có một khoảng sân vườn khá rộng. Trong đó, bố em trồng rất nhiều loại cây: cây xoài, cây bưởi, cây trứng gà… Những trưa hè nóng nực, được dạo dưới bóng mát khu vườn thì vô cùng thích thú!
Ngôi nhà thân yêu của em đã bao năm rồi không hề thay đổi, nó gắn bó với em như một người bạn lớn luôn bao dung và sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn tuổi thơ. Nhớ về căn nhà ấm áp, những kỉ niệm xúc động lại ùa về khiến em thêm yêu ngôi nhà hơn nữa…
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về ngôi nhà thân yêu của em | 862 | |
Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Gia Thiều
Gợi ý
CÁC Ý CHÍNH
1. Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), hiệu là Hi Tôn, làm quan được phong tước hầu, nên còn gọi là Ôn Như Hầu, quê ở làng Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Nguyễn Gia Thiều xuất thân trong một gia đình đại quý tộc. Cha là Nguyễn Gia Ngô (1714 – 1757), một quan võ được phong tước hầu gọi là Đạt Vũ Hầu, lúc chết được truy tặng chức Thái Bảo. Mẹ là Quận chúa Quỳnh Liên, húy Ngọc Tuân (1717 – 1786), con gái thứ sáu của chúa Trịnh Cương. Như vậy, Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột và là con cô con cậu với chúa Trịnh Sâm.
Từ nhỏ Nguyễn Gia Thiều đã được cậu ruột là chúa Trịnh Doanh đón vào cung để ăn học, đến khi trưởng thành lại từng giữ nhiều chức quan ở phủ chúa; cho nên, ông có diễu kiện hiểu rõ thói hoang dâm vô độ của vua chúa, cùng cảnh sống bi thảm của biết bao cung nữ.
2. Nguyễn Gia Thiều là một tài năng đa dạng. Ông nổi tiếng là người thông minh học rộng, văn võ toàn tài. Theo các tài liệu cũ để lại, ngoài hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học, triết học, đặc biệt Nguyễn Gia Thiều còn là một người tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật, về âm nhạc, ông sành âm luật, giỏi các bài ca, bài tán, là tác giả của Sơn trung âm và Sở từ điệu phổ vào âm nhạc, về hội họa, ông là cây bút điêu luyện. Nguyễn Gia Thiều có bức tranh Tống san dồ dâng vua xem, được khen thưởng. Về trang trí kiến trúc, ông là người được chúa Trịnh giao cho việc trang hoàng phủ chúa và điều khiển xây dựng tháp chùa ở Tiên Tích. Rất tiếc những công trình nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều hiện nay không còn.Xem thêm: Kể về một người bạn mới quen hay nhất
3. Về sáng tác văn học, Nguyễn Gia Thiều có hai tập thơ chữ Hán: Ôn Như thi tập (tiền, hậu tập), nay chưa tìm thây. Sáng tác bằng chữ Nôm có Tây Hồ thi tập và Tứ Trai tập, cũng bị thất lạc, nay chỉ còn Cung oán ngâm.
Nguyễn Gia Thiều là một nhà thơ trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của dân tộc. Thơ ông là sự kết đọng đẹp đẽ nhất của một tâm hồn thẩm mĩ. Tài năng của ông trong âm nhạc, trong hội họa, trong kiến trúc kết hợp với bộ óc vô cùng uyên bác đã giúp ông tạo nên những lời thơ như hoa, như ngọc. Mỗi chữ trong câu thơ đều được gọt giũa công phu và tế nhị. Âm thanh và màu sắc cùng vẻ đẹp ngôn từ đã tạo cho ông một phong cách đặc biệt chẳng giống bất cứ ai.
Cung oán ngâm thể hiện nỗi niềm ai oán của người cung nữ có tài sắc, được vua yêu chuộng, nhưng rồi bị ruồng bỏ. Ớ trong cung, nàng xót thương cho thân phận của mình và oán trách nhà vua phụ bạc. Qua khúc ngâm, tác giả còn gửi gắm quan niệm của mình về lẽ đời bạc bẽo, phù du. Cả khúc ngâm dài 356 câu song thất lục bát, được thể hiện bằng một ngôn ngữ nghệ thuật tài hoa đài các.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Gia Thiều | 602 | |
Giới thiệu về nhà thơ Thế Lữ và bài thơ Nhớ rừng
Gợi ý
Nhà thơ Thế Lữ sinh năm 1907 mất năm 1989, tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh.
Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung… và có hoài bão xây dựng nền sân khấu dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào hứng chào đón cách mạng, và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.
Tác giả đã xuất bản: Máy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936),… Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động (1947); Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của nhiều vở kịch của sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-le và Pô-gô-đin,…
Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ rừng đã gắn liền với tên tuổi của ông. Nói đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ rừng.
Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới những năm đầu thế kỉ XX đã tạo ra sự bùng nổ mãnh liệt, một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chương, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đường luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với những tư tưởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đưa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa như những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu mới này.Xem thêm: Thuyết minh về cây bút biVanmau.edu.vn | Giới thiệu về nhà thơ Thế Lữ và bài thơ Nhớ rừng | 401 | |
Giới thiệu về nhà thơ Tế Hanh, tác giả của bài thơ Quê Hương
Gợi ý
Nhà thơ Tế Hanh (tên khai sinh là Trần Tế Hanh), sinh năm 1921 tại xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; hiện ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Tham gia cách mạng từ tháng 8-1945, Tế Hanh đã trải qua các công tác văn hoá, giáo dục ở Huế, Đà Năng. Năm 1948, ông ở trong Ban phụ trách Liên đoàn kháng chiến Nam Trung Bộ; Uỷ viên Thường vụ cho Hội Văn nghệ Trung ương. Năm 1957 khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông là Uỷ viên Thường vụ Hội khóa I, II, Uỷ viên Thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1963), ông tham gia nhiều khóa Ban chấp hành Hội Nhà văn, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch (1983), Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).
Ông đã cho xuất bản các tập thơ: Hoa niên (1945); Hoa mùa thi (1948); Nhân dân một lòng (1953); Bài thơ tháng bảy (1961); Hai nửa yêu thương (1963); Khúc ca mới (1966); Đi suốt bài ca (1970); Câu chuyện quê hương (1973); Theo nhịp tháng ngày (1974); Giữa những ngày xuân (1977); Con đường và dòng sông (1980); Bài ca sự sống (1985); Tế Hanh tuyển tập (1987); Thơ Tế Hanh (1989); Vườn xưa (1992); Giữa anh và em (1992); Em chờ anh (1994); Ngoài ra ông còn xuất bản các tập tiểu luận, và nhiều tập thơ viết cho thiếu nhi. Ông cũng đã xuất bản nhiều tập thơ dịch của các nhà thơ lớn trên thế giới.Xem thêm: Cho câu chủ đề: "Những chuyến tham quan, du lịch đem đến cho ta nhiều niềm vui", em hãy viết một đoạn văn tổng phân hợp Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học: Giải Tự lực văn đoàn năm 1939; Giải thưởng Phạm Văn Đồng do Hội Văn nghệ Liên khu V tặng. Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật (năm 1996).
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về nhà thơ Tế Hanh, tác giả của bài thơ Quê Hương | 350 | |
Giới thiệu về nhà văn Lê Minh Khuê và truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi
Gợi ý
Nhà văn Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá. Bà thuộc thế hệ những nhà văn bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Các tác phẩm của Lê Minh Khuê ra đời đầu những năm 70 của thế kỉ XX đều viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn khói lửa. Từ sau năm 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê đã bám sát những biến chuyển của đời sống, đề cập đến nhiều vấn đề bức xúc của xã hội thời đổi mới. Ngòi bút miêu tả tâm lý của Lê Minh Khuê khá sắc sảo, nhất là khi miêu tả tâm lý phụ nữ.
Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi viết về ba cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ phá bom ở một cao điểm trong thời kì cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ đang diễn ra khốc liệt. Ba nữ thanh niên xung phong thuộc tổ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nhiệm vụ của họ là quan sát khi địch ném bom, đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí các quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm. Mặc dù vậy, cuộc sổng của họ vẫn có những niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng và đặc biệt là gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội.Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về thời gian và niềm tin
Truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất, theo lời kể của Định – nhân vật chính. Sự lựa chọn vai kể như vậy rất phù hợp với nội dung tác phẩm cũng thuận lợi cho việc miêu tả, biểu hiện thế giới tâm hồn, những cám xúc và suy nghĩ của ba cô gái. Miêu tả các cô gái hằng ngày, hằng giờ đối mặt với hiểm nguy nhưng sức hấp dẫn của truyện không phải ở những chi tiết, sự kiện hồi hộp, nóng bỏng mà ở khả năng miêu tả đời sống tâm hồn con người khá sinh động, sâu sắc của tác giả.
Lê Minh Khuê đã viết "Những ngôi sao xa xôi" bằng một ngòi bút dung dị đầy nữ tính, thể hiện phong cách riêng của mình. Tác phẩm là truyện ngắn đầy chất thơ miêu tả thành công vẻ đẹp tâm hồn đầy mơ mộng nhưng cũng vô cùng quả cảm, anh dũng của thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về nhà văn Lê Minh Khuê và truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi | 465 | |
Giới thiệu về nhà văn Nguyên Hồng và văn bản Trong lòng mẹ
Gợi ý
Trong văn đàn Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng được đồng nghiệp và bạn đọc ưu ái gọi bằng một "danh hiệu”: Nhà văn của phụ nữ và trẻ em.
Nhà văn Nguyên Hồng sinh năm 1918 mất năm 1982. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Nguyên Hồng, quê ở thành phố Nam Định. Nguyên Hồng sống chủ yếu ở thành phố cảng Hải Phòng. Nguyên Hồng từng có một tuổi thơ bất hạnh. Hồi kí Những ngày thơ ấu được coi là những dòng hồi ức sinh động, chân thực đầy cay đắng về tuổi thơ không êm đềm của nhà văn.
Ông viết nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, thơ. Các tác phẩm chính của Nguyên Hồng: Bỉ vò (tiểu thuyết, 1938); Những ngày thơ ấu (hồi kí, 1938); Trời xanh (tập thơ, 1960); Cửa biển (bộ tiểu thuyết 4 tập: 1961, 1967, 1973, 1976); Núi rừng Yên Thế (bộ tiểu thuyểt lịch sử nhiều tập chưa viết xong); Bước đường viết văn (hồi kí, 1970).
Trong những tác phẩm của Nguyên Hồng, hình ảnh người phụ nữ và trẻ em trong xã hội cũ được nhà văn dành nhiều niềm yêu thương, đồng cảm. Với những đóng góp của Nguyên Hồng dành cho nền văn học dân tộc, ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hộ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
Văn bản Trong lòng mẹ được trích từ tập hồi kí Những ngày thơ ấu. Hồi kí là một thể thuộc loại kí, nhằm ghi những sự việc thuộc quá khứ, qua sự nhớ lại. Hồi kí đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thực của câu chuyện; sự việc, số liệu, thời gian phải chính xác. Bởi thế, tác phẩm được coi là thiên truyện kể về tuổi thơ cay đắng của chính tác giả. Đó là cả một quãng đời cơ cực mồ côi cha, không được sống với mẹ mà phải sống với người cô độc ác được tái hiện lại sinh động. Chính tình mẫu tử thiêng liêng, tình yêu tha thiết đối với mẹ đã giúp chú bé vượt qua giọng lưỡi xúc xiểm độc ác của người cô cùng với những dư luận không mấy tốt đẹp về người mẹ tội nghiệp. Đặc biệt, đoạn truyện tả cảnh đoàn tụ giữa hai mẹ con là một đoạn văn thấm đẫm tình cảm và thể hiện sâu sắc tinh thần nhân đạo. Nó góp phần lí giải tại sao Nguyên Hồng được trân trọng gọi là "nhà văn của phụ nữ và trẻ em".Xem thêm: Truyền thuyết Hồ Gươm văn học lớp 6Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về nhà văn Nguyên Hồng và văn bản Trong lòng mẹ | 451 | |
Giới thiệu về nhà văn Ngô Tất Tố, tác giả của tiểu thuyết Tắt đèn
Gợi ý
Nhắc đến truyện ký Việt Nam trước cách mạng tháng Tám có lẽ không ai là không nhớ đến Ngô Tất Tố, một cây bút lỗi lạc của văn học hiện thực đương thời: "Tắt đèn" là tác phẩm tiêu biểu của ông viết về người nông dân và hiện thực xã hội Việt Nam trong những ngày sưu thuế ở nông thôn mà chương XVIII của tác phẩm với đoạn trích "Tức nước vỡ bờ" đã để lại cho người đọc nhiều ấn tượng.
Ngô Tất Tố sinh năm 1893, mất 1954, quê ở làng Lộc Hà, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, ngoại thành Hà Nội), ông xuất thân là một nhà nho gốc nông dân, là một học giả với nhiều công trình triết học và văn học cổ có giá trị; một nhà báo nổi tiếng với nhiều bài mang khuynh hướng dân chủ tiến bộ và giàu tính chiến đấu; một nhà văn hiện thực xuất sắc chuyên viết về nông thôn trước cách mạng. Sau cách mạng nhà văn tận tuỵ trong công tác tuyên truyền văn nghệ phục vụ kháng chiến chống Pháp. Ông đã hy sinh trên đường công tác ở sau lưng địch. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị thuộc nhiều thể loại tiêu biểu như: Các tiểu thuyết: Tắt đèn (1939), Lều chõng (1940)… ; các phóng sự: Tập án cái đình (1939); Việc làng (1940)…Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống: Bên kia sông Đuống... Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Với những đóng góp lớn lao của bản thân cho nền văn học nghẹ thuật nước nhà, Ngô Tất Tố đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về nhà văn Ngô Tất Tố, tác giả của tiểu thuyết Tắt đèn | 320 | |
Đề bài: Giới thiệu về quê hương em
Tiên Lãng – quê hương tôi là một huyện ven biển của thành phố Hải Phòng. Quê tôi được biết đến như một ốc đảo nhỏ nằm giữa các con sông Thái Bình và Văn Úc.
Có một niềm vui lớn đã đến với bà con Tiên Lãng quê tôi: ngày 6- 10, cây cầu Khuể(nhịp cầu nối những bờ vui giữa quê tôi với huyện bạn An Lão, với trung tâm thành phố, với những miền xa trên đất nước mà có thể tôi chưa từng biết đến) đã được khánh thành trong niềm vui hân hoan, náo nức của mọi người.
Bạn có biết không? Quê hương Tiên Lãng của tôi chính là nơi quê cha đất tổ của thượng thư Nhữ Văn Lan, ông ngoại của danh nhân văn hoá- trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thật tự hào cho tôi là người con của mảnh đất Tiên Lãng, nơi được thừa hưởng một truyền thống vô cùng tốt đẹp của sự học muôn đời!
Không chỉ có vậy, người dân Tiên Lãng còn rất dũng cảm. bất khuất. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Tiên Lãng còn là một hậu phương anh dũng, tiêu biểu là trận càn Cờ- lốt năm 1953 đã để lại tiếng vang lớn cho hậu thế muôn đời. Cũng trong hoàn cảnh đó, huyện Tiên Lãng đã có người anh hùng Phạm Ngọc Đa đã anh dũng hi sinh không khai ra hầm trú ẩn của giặc dù bị chặt chân, tay, máu chảy ròng ròng. Đến thời kì đổi mới, quê tôi lại có thêm những người anh hùng không tiếc thân mình hi sinh vì đàn em thân yêu, vì tổ quốc; đó là gương của chị Bùi Thu Nội, anh Nguyễn Văn Hiệp,…
Nhắc đến Tiên Lãng, những người con xa quê lại nhớ về những mùa hè chói chang bên những
phên thuốc lào- đặc sản mà có lẽ chỉ có ở Tiên Lãng mới có. Từ trung tâm huyện đi xuống khoảng 1-2 cây số là làng nghề chiếu cói Lật Dương. Xa hơn chút nữa, theo con đường 212 liên xã của huyện, xuống đến con đê, ta sẽ bắt gặp những lớp sóng xô dạt dào với rừng thông, phi lao xanh quanh năm.
Nếu có dịp thì xin mời các bạn về thăm Tiên Lãng quê tôi, để hiểu hơn về mảnh đất và con người nơi ven biển này nhé!
Nguồn Edufly
Xem thêm: Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí | Giới thiệu về quê hương em | 422 | |
Đề bài: Em hãy giới thiệu về Sa Pa với bạn
Trong dịp nghỉ lễ ba mươi tháng tư mùng một tháng năm em được bố mẹ cho đi du lịch và địa điểm du lịch của gia đình em là SaPa.
SaPa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, một vùng đất khiêm nhường, lặng lẽ nhưng ẩn chứa bao điều kỳ diệu của cảnh sắc thiên nhiên. SaPa nằm cách thành phố Lào Cai 38km và cách Hà Nội 376km. Do đó từ Hà Nội đi SaPa rất xa nên gia đình em đã đi ô tô. Khi ra khỏi thành phố gần đến Sapa em thấy được những con đường đèo uốn lượn quanh co và có khi đang đi ở giữa quả núi.
Phong cảnh ở SaPa rất trong lành và tươi đẹp do sự kết hợp sáng tạo của con người cùng địa hình đồi núi nên có một màu xanh của rừng núi rất trong lành. Người ta còn gọi Sapa là thành phố mù sương vì ở độ cao khá cao nên nhiều sương vào buổi sớm.
Sa Pa có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn. Ở dãy Hoàng Liên Sơn này có rất nhiều loài thực vật rất là quý giá bởi những loại thực vật này chỉ sống ở núi cao. Nên cảnh sắc thiên nhiên rất đa dạng.
Con người ở SaPa cũng rất gần gũi và thân thiện đối với khách du lịch mới đến đây. Chính vì độ thân thiện như vậy nên khi ai đến đây rồi cũng muốn đến đây thêm một lần nữa.Xem thêm: Tả một vườn thú mà em có dịp đến thăm
Em rất thích phong cảnh và con người nơi đây. Và em sẽ mãi không thể quên được sự đẹp đẽ và thân thiện của thành phố mù sương này. | Giới thiệu về Sa Pa với bạn | 310 | |
Giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao
Gợi ý
Nam Cao là nhà văn Việt Nam đại diện tiêu biểu của trào lưu hiện thực phê phán trong thời kì phát triển cuối cùng (1940 – 1945) và là một trong những cây bút xuất sắc của văn xuôi Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Sự nghiệp sáng tác của ông gắn với cả hai thời kì phát triển của lịch sử văn học trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Và ở cả hai thời kì, Nam Cao đều có những đóng góp rất tiêu biểu.
Nam Cao sáng tác từ rất sớm, năm 1936 đã có thơ, truyện, kịch… đăng báo, lấy các bút danh Nguyệt, Thuý Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê… Những sáng tác thời kì đầu chịu ảnh hưởng của văn học lãng mạn đương thời. Một số tác phẩm có ý nghĩa phê phán xã hội nhưng chưa thật sâu sắc. Sự nghiệp văn chương của ông thực sự bắt đầu với Chí Phèo (1941), một truyện ngắn xuất sắc, khi nhà văn hoàn toàn từ bỏ ảnh hưởng của văn thơ lãng mạn và vượt qua những non nớt buổi đầu. Sáng tác của Nam Cao được chia làm hai thời kì trưởc và sau Cách mạng với hai mảng đề tài chính là viết về người nông dân và người tri thức.
Trước Cách mạng, đối tượng mà tác giả quan tâm là người tư sản nghèo và người nông dân, khai thác từ chính cuộc đời của tác giả và những người nông dân quê ông. Nhân vật chính trong các truyện ngắn viết về người tư sản nghèo thường là viên chức nghèo, học sinh thất nghiệp, “giáo khổ trường tư”, nhà văn nghèo… Miêu tả cuộc sống khó khăn của họ ông đặc biệt chú ý bến những quằn quại đau đớn trong tâm hồn của người ý thức sâu sắc về sự sống và khát khao sự sống nhưng lại phải “sống mòn”, phải sống cuộc “đời thừa”. Các tác phẩm tiêu biểu là “sống mòn”, “Đời thừa”, “Giăng sáng”, “Nước mắt”… Cũng trong giai đoạn này, với hàng chục truyện ngắn viết về người nông dân như Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, Một đám cưới, Lang Rận… Nam Cao đã dựng lên bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam, bần cùng thê thảm, những năm trước Cách mạng và xứng đáng được coi là “nhà văn của nông dân”. Nhà văn thường đi vào cuộc sống bần cùng, bất hạnh của người nông dân nhất íà những nỗi khố đày đọa về mặt tâm hồn từ đó khẳng định mạnh mẽ bản chất tốt đẹp của họ. Tuy nhiên, thời kì này, ông chưa nhìn thấy sức mạnh đổi đời của người nông dân.Xem thêm: Bàn về những lợi ích và hứng thú của việc tự học
Sau Cách mạng, Nam Cao lao minh vào mọi công tác được giao, tận tụy phục vụ kháng chiến. Nhiều sáng tác của nhà văn có giá trị đặc sắc và tiêu biểu cho vãn xuôi thời kì đầu như Nhật kí ở rừng, Đôi mắt, Chuyện biên giới, Vài nét ghi về anh giải phóng… Trong đó Đôi mắt là tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện những quan niệm tiến bộ của nhà văn trong thời đại mới. Ở cả hai thời kì, Nam Cao đều có những đóng góp hết sức to lớn nhưng có lẽ thời kì đánh dấu thành công nhất của ông vẫn là ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Quan niệm sáng tác của ông có biểu hiện khác nhau theo từng thời kì nhưng đều gặp nhau ở lương tâm của người cầm bút, ở thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc cũng như khát khao tìm ra được một thứ nghệ thuật đích thực: nghệ thuật của con người, nghệ thuật phục vụ con người. Sau Cách mạng, quan điểm nghệ thuật tiến bộ ấy hiện thực hoá trong sự hăng hái, tích cực tham gia vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Ông quan niệm: “sống đã rồi hãy viết”, “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” (Nhật kí ở rừng).
Nghệ thuật viết truyện của Nam Cao đặc sắc, độc đáo mà đa dạng. Tác phẩm của ông vừa chân thực lại vừa có tính triết lí, ý nghĩa khái quát sâu sa. Ngòi bút hiện thực tỉnh táo, nghiêm nhặt vừa sắc lạnh, gân guốc, lại vừa thắm thiết trữ tình. Nhà văn tỏ ra có sở trường trong việc miêu tả tâm lí con người nhất là khi đi vào những diễn biến tâm lí tinh tế, phức tạp. Ngôn ngữ văn xuôi của ông cũng mới mẻ, gần với khẩu ngữ quần chúng, giản dị mà sống động, nhất là trong ngôn ngữ đối thoại. Giọng điệu riêng: buồn thương chua chát; dửng dưng lạnh lùng mà lại đầy xót xa thương cảm.Xem thêm: Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Nam Cao là một nhà văn hiện thực, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Sáng tác của ông đã vượt qua thử thách của thời gian để ngày càng toả sáng.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao | 895 | |
Giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của tác gia Hồ Chí Minh
Gợi ý
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ cách mạng, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người không chỉ để lại cho dân tộc một sự nghiệp chính trị vĩ đại mà còn là một nhà báo, một nhà văn, một nhà thơ có vị trí quan trọng trong trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam.
Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã sớm có năng khiếu văn học, yêu thích văn học dân gian, văn thơ cổ điển và thơ yêu nước Việt Nam, am hiểu sâu sắc các thể thơ của Trung Quốc, Trong thời gian hoạt động ở Pháp, Anh, Người say mê tìm hiểu văn hoá, văn học phương Tây và đã có những ảnh hưởng nhất định từ các nền văn học này. Sinh thời không có ý định gây dựng cho mình một sự nghiệp văn học nhưng khi khám phá ra sức mạnh của văn học thì Người đã nắm lấy nó và sử dụng như một thứ vũ khí đắc lực. Hồ Chí Minh luôn coi văn học là một vũ khí và nhà văn cũng phải có tinh thần xung phong như chiến sĩ ngoài mặt trận. Người chú trọng đến tính chân thật, tính dân tộc của văn học, sáng tác bao giờ cũng xuất phát từ mục đích và đối tượng để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. Sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh rất phong phú, bao gồm nhiều thể loại và phong cách khác nhau, phu hợp với từng đối tượng, hoàn cảnh, khi viết bằng tiếng Pháp, khi viết bằng tiếng Hán, khi bằng tiếng Việt. Đáng chú ý nhất là các tác phẩm chính luận, truyện ngắn, thơ ca và hồi kí.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh con đường mòn phân chia ranh Giới hai bên nghĩa địa trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Đầu tiên trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh phải kể đến là văn chính luận với các tác phẩm tiêu biểu như: “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản lần đầu tại Pa-ri năm 1925; “Tuyên ngôn độc lập” mang ý nghĩa lịch sử trọng đại khai sinh ra nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Văn chính luận của Người có lời văn chặt chẽ, súc tích, ngôn ngữ sắc sảo, giàu tính thuyết phục… xứng đáng là áng văn chính luận đanh thép, hùng tráng và mẫu mực. Bên cạnh văn chính luận, di sản văn học của Hồ Chí Minh trong các thời kì khác nhau còn bao gồm nhiều hình thức và thể loại khác, về văn xuôi, đó là những truyện ngắn, truyện kể, phóng sự, hồi kí, truyện vui, tiểu phẩm, kịch… bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Đáng chú ý nhất là những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp trong thời kì hoạt động ở Pháp, có ý nghĩa mở đầu cho nền văn học vô sản Việt Nam và có vị trí đặc biệt trong nền văn học chông thực dân trên thế giới.
Qua các truyện ngắn này người đọc có thể nhận ra một cây bút văn xuôi tài năng với trí tưởng tượng phong phú, vốn văn hoá sâu rộng, một trí tuệ sắc sảo, hóm hỉnh và một trái tim tràn đầy nhiệt huyết yêu nước và tinh thần cách mạng, về thơ, có thể chia sự nghiệp sáng tác của Người ra làm hai loại: thơ trữ tình và thơ ca tuyên truyền. Loại trên thường được sáng tác khi có những rung cảm trước thiên nhiên, cuộc đời, con người, giãi bày tình cảm. Thơ ca tuyên truyền phong phú, đa dạng trong hình thức và ngôn ngữ diễn đạt, gần gũi dễ hiểu với nhân dân. Tên tuổi Hồ Chí Minh gắn liền với tập “Ngục trung nhật kí” (Nhật kí trong tù), một tập nhật kí viết bằng thơ trong thời gian người bị giam cầm ở nhà tù Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943. Đây là một tập thơ đặc sắc, đa dạng linh hoạt về bút pháp, kết tinh giá trị tư tưởng và nghệ thuật thơ ca Hồ Chí Minh. Nổi bật trong thơ là hình ảnh nhân vật trữ tình mang nặng “nỗi nước nhà” mà phong thái vẫn ung dung, tâm hồn chan hoà giao cảm với thiên nhiên, thể hiện bản lĩnh cách mạng luôn vượt qua gian khổ, làm chủ tình thế, tin tưởng vào tương lai tất thắng, ở tất cả các thể loại, sáng tác, Người đều tạo ra những nét phonng cách riêng, độc đáo, hấp dẫn, từ ngôn ngữ, thể loại, bút pháp, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống… vừa cổ điển, vừa hiện đại.Xem thêm: Suy nghĩ về ý kiến của Nguyễn Đình Thi “Văn nghệ phụng sự kháng chiến…” – văn 12 Với một sự nghiệp văn học phong phú và nhiều giá trị như vậy, Hồ Chí Minh thực sự xứng đáng là một nghệ sĩ lớn, một niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của tác gia Hồ Chí Minh | 898 | |
Giới thiệu về thể loại thơ đường
Hướng dẫn
Giới thiệu một vài nét về thơ Đường.
1.Thành tựu:
Thơ Đường là một trong những thành tựu rực rỡ về thơ ca của nền văn học Trung Quốc, là một trong những thành tựu chói lọi của nền văn minh nhân loại. Thơ Đường hiện con khoang 48.000 bài của trên 2.300 thi sĩ trong đó Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư bị và hàng trăm tên tuổi khác đã bất tử với thời gian, được người đời ngưỡng mộ.
2.Nguyên nhân phát triển:
– Triều đại nhà Đường kéo dài ngót 300 năm (618 – 907) tuy có lúc thăng trầm, nhưng xã hội Trung Quốc và chế độ phong kiến Trung Hoa thời ấy vẫn phát triển mạnh. Đời sống vật chất và tinh thần thay đổi lớn lao.
– Kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, hàng hải, thương nghiệp mở mang, phát triển. Nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, âm nhạc đạt đến trình độ cao, chói sáng.
– Chế độ thi cử chọn người làm quan, kẻ sĩ được đề cao, việc học thịnh đạt. Các tao nhân mặc khách được trọng vọng.
– Đó là những nguyên nhân tạo nên bước phát triển kỳ diệu của thơ Đường.
I. Một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật thơ Đường:
1.Nội dung:
– Cảm hứng thiên nhiên trữ tình:Ca ngợi phong cảnh hùng vĩ tráng lệ, miêu tả vẻ đẹp bốn mùa, với hoa lá cây cỏ, trăng, tuyết, gió mây… thể hiện tình yêu thiên nhiên, tạo vật, yêu quê hương đất nước (Lư Sơn bộc bố, Tuyệt cú…).
Xem thêm: Tả cây đào cũng cần văn mẫu– Cảm hứng nhân đạo: Nói lên nỗi khổ của người dân vì cơ hàn, vì chiến tranh loạn lạc, lòng khao khát hạnh phúc, hòa bình, ca ngợi tình vợ chổng, tình bạn (Thạch Hào lại, Nguyệt dạ, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng…).
– Có những vần thơ siêu thoátca ngợi cuộc sống ẩn dật ỏ chốn điền viên, lâm tuyền. Có những vần thơ nói vẽ sinh hoạt thôn dã,đồng nội; thú vui cầm kì, thi, tửu của mặc khách tao nhân. Tài tử giai nhânlà một đề tài có nhiều bài tuyệt bút. Nội dung thơ Đường rất phong phú và đa dạng,là một bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội Trung Quốc thời Đường trong 300 năm.
2. Nghệ thuật:
a. Thể thơ:từ, cổ phong, Đường luật,…
b. Luật thơ:
– Vần thơ (vần chân và vần cách, vần trắc và vần bằng).
– Bằng, trắc.
– Niêm (dính).
– Đối.
– Cấu trúc bài thơ rất chặt chẽ, nhất là Đường luật.
+ Thơ tứ tuyệt: khai, thừa, chuyển, hợp.
+ Thơ bát cú: đề, thực, luận, kết.
c. Ngôn ngữ thơ:tinh luyện, hàm súc. Thi trung hữu họa. Thi trung hữu cầm. Coi trọng lời thơ: thanh, nhã (trong sáng, trang nhã),… ước lệ tượng trưng…
b. Tứ thơ:phong phú, đa dạng, biến hóa, khơi gợi…
Tóm lại, làm thơ Đường phải giỏi, phải có tay nghề và tâm hồn thi sĩ. Học và cảm thụ thơ Đường phải hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Đường.
Nguồn: thêm: Giới thiệu về một trò chơi dân gian Kéo co | Giới thiệu về thể loại thơ đường | 534 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn giới thiệu về thủ đô Hà Nội yêu dấu. Bài làm văn của Nguyễn Thị Việt Phương lớp 8a trường THCS Lương Thế Vinh
Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây… Đây lắng hồn núi sông ngàn năm… Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu… Đó là những lời hát thiết tha ca ngợi Thủ đô của đất nước Việt Nam yêu dấu.
Thành phố Hà Nội diện tích tự nhiên là 921 km2, dân số khoảng 3 triệu người. Sau khi mở rộng có diện tích là 3.324,92 km2, dân số 6.448.837 người, gồm 10 quận: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông; 18 huyện: Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ), Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa (Hà Tây cũ), Mê Linh (từ Vĩnh Phúc) và 1 thị xã: Sơn Tây. Phía Bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Tây giáp Hòa Bình, Phú Thọ; phía Nam giáp Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên. Cái tên Hà Nội có nghĩa là vùng đất bên trong sông. Hà Nội là vùng đất có được sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp qua mấy ngàn năm tạo nên. Đặc điểm địa lí nổi bật của Hà Nội là có rất nhiều hồ (30 hồ lớn nhỏ). Một số hồ nổi tiếng đã đi vào thơ ca, nhạc họa như hồ Gươm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Thiền Quang, hồ Bảy Mẫu… Một đặc điểm nữa là Hà Nội – thành phố của cây xanh. Hầu hết các con đường của trung tâm Hà Nội đều được bao phủ bởi những hàng cây, cho nên không khí rất trong lành.
Kể từ khi dựng nước đến nay, Hà Nội vẫn là đất thiêng, hội tụ tinh hoa truyền thống của dân tộc Việt. Một cột mốc lịch sử đáng ghi nhớ là năm 1010, Lí Công Uẩn tức vua Lí Thái Tổ, người sáng lập ra triều đình nhà Lí đã có một quyết định vô cùng sáng suốt là dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra thành Đại La. Trong một chuyến du hành ra Bắc, lúc thuyền đi đến khúc sông ở sát chân thành, bỗng nhà vua thấy có con rồng bay vụt lên trời, cho là điềm lành nên mới đổi tên là thành Thăng Long. Thăng Long là tên Thủ đô nước ta từ 1010 đến 1804. Đến đời nhà Nguyễn, vua Gia Long đổi tên là Hà Nội. Như vậy là Thăng Long Ị Hà Nội đã có 1000 năm tuổi.
Nhận xét về địa thế của thành Đại La, vua Lí Thái Tổ nêu rõ trong Chiếu dời đô: Thành Đại La… Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngồi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Thủ đô Hà Nội có rất nhiều danh lam thắng cảnh. Văn Miếu – Quốc Tử Giám là khu di tích quý giá thể hiện trình độ văn hóa cao của dân tộc ta và sự quan tâm đào tạo hiền tài cho đất nước của các triều đại phong kiến thời xưa. Văn Miếu có nhà bia, trong đó đặt 82 tấm bia lưu danh các vị đỗ Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến năm 1779. Quốc Tử Giám nằm trong khu Văn Miếu được xây dựng từ năm 1076, lúc đầu là nơi dạy dỗ các hoàng tử, sau mở rộng đối tượng, thu nhận cả những học trò giỏi trong thiên hạ. Có thể coi Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta.
Khu Hoàng Thành Thăng Long được xây dựng và tồn tại suốt 8 thế kỉ trên vị trí của thành Đại La cũ. Kết cấu thành cổ Thăng Long gồm 3 vòng. Vòng ngoài cùng đắp bằng đất, nơi dân cư ở, gọi là Kinh Thành. Vòng giữa là khu triều chính, nơi ở và làm việc của quan lại, gọi là Hoàng Thành. Vòng trong cùng là nơi dành riêng cho vua chúa, hoàng hậu và cung tần mĩ nữ, gọi là Tử cấm Thành. Thời Lê, Kinh Thành Thăng Long có 16 cửa ộ, thời Nguyễn còn 12 cửa và đến đầu thế kỉ XX chỉ còn 5 cửa là: ô Chợ Dừa, ô Đống Mác, ô cầu Dền, ô Cầu Giấy và ô Quan Chưởng. Trong mấy năm trở lại đây, khu Hoàng Thành Thăng Long đã được khai quật và bảo vệ, chuẩn bị đón khách tham quan nhân dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Xem thêm: Kể về kỷ niệm với con vật nuôi em yêuĐến Thủ đô, du khách sẽ thích thú, say mê trước cảnh đẹp hồ Gươm được mệnh danh là chiếc lẵng hoa giữa lòng thành phố. Hồ Gươm với quần thể kiến trúc hài hòa: đài Nghiên, tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng. Hồ Gươm (hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm) gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả lại gươm báu cho Long Quân. Vào thế kỉ XV, quân xâm lược nhà Minh từ phương Bắc tràn sang cướp nước ta.
Lê Lợi đã dấy binh khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Buổi đầu, lực lượng còn yếu, không thể địch nổi thế mạnh của kẻ thù. Long Quân đã ngầm cho Lê Lợi mượn thanh gươm thần để đánh giặc. Nhờ vậy mà sau 10 năm kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn đã quét sạch quân cướp nước ra khỏi bờ cõi, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt. Lê Lợi lên ngôi vua. Nhân một buổi đẹp trời, nhà vua dạo chơi bằng thuyền trên hồ Tả Vọng, Long Quân đã sai thần Kim Quy (Rùa Vàng) nổi lên đòi lại thanh gươm báu. Từ đó, hồ Tả Vọng được đổi tên là hồ Hoàn Kiếm, thường gọi là hồ Gươm. Hồ Gươm với Tháp Rùa là biểu tượng của Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội có hồ Tây, tên chữ là Dâm Đàm (đầm sương mù) vì lúc sáng sớm và chiều tối, mặt hồ sương giăng mù mịt, khung cảnh huyền ảo như chốn thần tiên. Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, chùa Quán Sứ, chùa Trấn Vũ, đường Thanh Niên, làng hoa Nhật Tân, Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Nghi Tàm… là những điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách. Chiều thu, heo may se lạnh, ta ngồi trong nhà hàng Thủy Tạ, nhấm nháp món bánh tôm nóng giòn, nhìn ra mặt hồ mênh mông sóng gợn, quả là thú vị vô cùng!
Giữa quảng trường Ba Đình lộng gió, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá hoa cương xám, mang hình dáng một bông sen cách điệu, in bóng sừng sững lên nền trời mùa thu xanh biếc. Nơi đây, Bác Hồ – vị lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, anh hùng cứu nước vĩ đại, danh nhân văn hóa thế giới… đời đời yên nghỉ. Hằng ngày, lăng mở cửa đón các đoàn đại biểu và du khách muôn phương về đây viếng Bác – CON NGƯỜI tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp truyền thống và sức mạnh bốn ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam. Sau lăng Bác là khu bảo tàng với nhiều kỉ vật, tư liệu quý giá, ghi dấu từng quãng đời hoạt động cách mạng sôi nổi và đầy bão táp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cách đó không xa là chùa Một Cột, tên chữ là chùa Diên Hựu (có nghĩa là phúc lành dài lâu), được xây dựng từ năm 1049, thời vua Lí Thái Tông. Tương truyền rằng vì nhà vua đã cao tuổi mà vẫn chưa có con trai nối dõi nên hay đến. các đền chùa cầu tự. Một đêm, nhà vua nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra trên đài hoa sen ở hồ nước phía Tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai trao cho nhà vua. ít lâu sau, hoàng hậu sinh hoàng tử. Nhà vua đã cho dựng chùa này theo dáng dấp một bông sen nở trên mặt nước như đã thấy trong giấc mộng kì lạ để thờ Phật Bà Quan Âm.
Thủ đô Hà Nội còn rất nhiều danh lam thắng cảnh khác như đền thờ Hai Bà Trưng, đền Chèm, cụm di tích đền thờ Phù.Đổng Thiên vương, đền thờ Đức Thánh Trần, đền thờ vua Lê, vườn bách thú Thủ Lệ, công viên Lê-nin, công viên nước Hồ Tây, các phố cổ, phố nghề (36 phố phường), chợ Đồng Xuân, cầu Long Biên, cầu Thăng Long, làng gốm Bát Tràng… tất cả đều nổi tiếng.
Đất nước bước vào thời kì mở cửa, nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh, dẫn đến sự đổi thay rõ rệt trong đời sống nhân dân và quy mô phật triển của các thành phố, đô thị. Sau khi Quốc hội thông qua quyết định mở rộng Thủ đô (tháng 7 năm 2008), thì Hà Nội bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã của tỉnh Hòa Bình. Diện tích tự nhiên là 3.324,92 krrì2. Dân số là 6.448.837 người. Thủ đô Hà Nội giống như cậu bé làng Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ kiêu hùng, xứng đáng là trung tâm kinh tế, chính trị của Việt Nam, một quốc gia đã và đang từng bước khẳng định tên tuổi của mình trước toàn thế giới.
Xem thêm: Thuyết minh về cây bút bi | Giới thiệu về thủ đô Hà Nội | 1,720 | |
Đề bài: Giới thiệu về Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, Tây Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Tây dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía Đông trông ra biển. Thành phố Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ,Chí Minh 1.080 km, nổi tiếng bỏi phong cảnh tuyệt đẹp và truyền thống văn hóa, lịch sử đặc biệt, có tiềm năng du lịch rất lớn.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5.054 km2, dân số 1.091.600 người. Địa hình rừng núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, nằm ở giáp biên giới Việt – Lào và kéo dài đến Đà Nẵng. Địa hình trung du chiếm khoảng 1/2 diện tích; phần lớn là những dãy đồi lô xô như bát úp, với chiều rộng vài trăm mét và chiều cao không quá 500 mét. Vùng đồng bằng duyên hải bề ngang hẹp, chạy song song với bờ biển, đồng ruộng xen lẫn với cồn cát, đầm phá…
Hầu hết các sông lớn của Thừa Thiên – Huế như ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Truồi… đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy ngang qua đồng bằng rồi đổ ra biển. Sông Hương là con sông lớn nhất, có diện tích lưu vực rộng 300 km2.
Bờ biển dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu 18 – 20 m, có khả năng xây dựng cảng nước sấu. Sân bay Phú Bài nằm cạnh quốc lộ 1A. Đường sắt xuyên Việt chạy dọc qua tỉnh. Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy của Thừa Thiên – Huế đều rất thuận lợi.
Thừa Thiên – Huế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cho nên thời tiết diễn ra theo chu kì 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân ấm áp; mùa hè nóng bức; mùa thu mát mẻ và mùa đông giá rét. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 25°c. Mùa du lịch ở đây đẹp nhất là từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Thừa Thiên – Huế có tỉnh lị là thành phố Huế và 8 huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thuỷ, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông. Các dân tộc: Kinh, Tà-ôi, Bờ-ru, Vân Kiều, Cơ-tu… cùng chung sống đoàn kết trên mảnh đất này.
Thừa Thiên – Huế là một vùng đất cổ. Vào thế kỉ XIII, vùng đất này đã được nhập vào quốc gia Đại Việt bởi nó là món sính lễ của vua Chiêm Thành dâng lên vua Trần khi cưới công chúa Huyền Trân. Phong cảnh tươi đẹp, địa hình hiểm trở đã tạo cho Huế một vị trí đặc biệt trong lịch sử nước ta. Nơi đây đã được vua Quang Trung chọn làm kinh đô của triều đại Tây Sơn (1788 – 1802), vua Gia Long chọn làm kinh đô của triều Nguyễn (1802 – 1945). Suốt mấy trăm năm, Huế đã là trung tâm chính trị, văn hoá của cả nước.
Cảnh quan của Thừa Thiên – Huế đa dạng, vẻ đẹp thiên nhiên kết hợp với vẻ đẹp của các công trình kiến trúc do con người tạo nên đã khiến cho Thừa Thiên 1 Huế trở thành một thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam. Sông Hương êm đềm chảy giữa lòng thành phố, in bóng cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp. Những bãi tắm Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô nước trong, cát mịn, thơ mộng vô cùng! Khu nghỉ mát lí tưởng Bạch Mã đã từng được so sánh với các khu nghỉ mát nổi tiếng khác của Đông Dương.
Tiềm năng du lịch nổi bật của Thừa Thiên – Huế là quần thể các di tích văn hoá với trên 300 công trình kiến trúc cổ bao gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, các kiến trúc cung đình, kiến trúc dân gian, chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ, hệ thống nhà vườn… Vì vậy, ngày 11 tháng 12 năm 1993, Huế đã được công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Thừa Thiên – Huế còn là một địa phương có truyền thống cách mạng oanh liệt, đến nay còn lưu giữ nhiều di tích liên quan đến cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng tiền bối khác, liên quan đến hai cuộc chiến tranh giữ nước, giành độc lập dân tộc.
Tất cả các yếu tố trên là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức nhiều loại hình du lịch, phục vụ cho những đối tượng du khách khác nhau. Vì vậy, du lịch Thừa Thiên – Huế có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và chiến lược phát triển du lịch của cả nước.
Nét đặc trưng của văn hóa ở Thừa Thiên – Huế là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian Và văn hóa cung đình. Những điệu hò, điệu lí dân gian đã được tiếp thu và cải biên để phục vụ vua chúa, quan lại và rồi lại được đưa ra ngoài để trở thành các điệu hát, điệu múa phổ biến như ca Huế, múa cung đình Huế… Nền văn hóa này ngày nay đang được gìn giữ và phát triển.
Nét văn hóa Huế còn biểu hiện ở việc duy trì các làng nghề truyền thống như nghề kim hoàn, nghề đúc đồng, nghề thêu, nghề làm nón… mà mỗi tác phẩm như gửi gắm cả tài năng và tâm hồn của người dân xứ Huế.
Văn hóa ẩm thực ở Huế cũng rất phong phú. Những món ăn cung đình cầu kì, tinh tế cùng hàng trăm loại bánh chỉ ở Huế mới có, sẵn sàng phục vụ du khách muôn phương.
Là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa nên Thừa Thiên – Huế có rất nhiều lễ hội dân gian. Đặc điểm chung của các lễ hội là đều được tổ chức công phu khiến du khách say mê, thích thú. Tiêu biểu như lễ hội Điện Hòn Chén thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na theo phong tục của người Chăm. Lễ hội cầu ngư ở làng Thái Dương Hạ. Hội chợ xuân ở Gia Lạc. Hội vật võ ở làng Sình. Hội đua thuyền trên sông Hương. Hội thả diều trong các ngày lễ lớn…
Huế là kinh đô cổ còn tồn tại khá nhiều công trình gần như nguyên dạng. Giá trị to lớn của Huế được thế giới biết đến chính là quần thể kiến trúc cung đình, thành quách, đền miếu, lăng tẩm… của các vua chúa triều Nguyễn, được xây dựng công phu trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ dọc hai bên bờ sông Hương. Có thể kể đến Ngọ Môn, điện Thái Hoà, Thế Miếu, Hiển Lâm các, cung Diên Thọ, cung Trường Sinh, lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Khải Định, chùa Thiên Mụ, chùa Từ Đàm, chùa Diệu Đế… Nếu vịnh Hạ Long là sự sắp đặt kì diệu của Tạo hóa thì cố đô Huế là sản phẩm được làm nên bởi khối óc và bàn tay tài hoa của con người.
Du khách đến Huế không mấy người bỏ qua chương trình dạo chơi bằng thuyền trên sông Hương. Nói đến Huế là nói đến sông Hương bởi không có sông Hương thì đấu còn là Huế mộng, Huế mơ…
Đi đâu cũng nhớ quê mình,
Nhớ sông Hương gió mát, nhớ Ngự Bình trăng treo.
(Ca dao)
Gọi là sông Hương vì theo truyền thuyết, từ xa xưa, dòng sông này chảy qua những rừng cây có hương thơm nên nước sông cũng đượm mùi thơm. Với độ dài 80 km, đoạn sông chảy qua Huế uốn lượn nhu có sự sắp đặt tài tình làm tôn thêm vẻ kiều diễm cho đất cố đô. Thuyền sẽ đưa du khách dạo bên khu kinh thành, dưới cầu Dã Viên, Phú Xuân, Trường Tiền; đưa du khách lên thăm lăng Minh Mạng, điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ… rồi xuôi về Thuận An tắm biển. Du khách nào thích suy tư, xin mời ngược dòng sông Hương lên với rừng thông lăng Thiên Thọ để lắng nghe vi vút tiếng thông reo…
Dưới ánh trăng khuya, mặt sông lấp lánh như dát bạc. Giọng hò Huế ngọt ngào, tha thiết cất lên, man mác, chơi vơi trên, sóng nước. Du khách đón chén rượu mời từ tay cô gái Huế và thả hồn thưởng thức tiếng đàn, giọng hát như ru người vào cõi mộng.
Nói đến sông Hương là phải nhắc đến Ngự Bình, bởi sông Hương núi Ngự là biểu tượng của kinh đô Huế. Núi còn có tên là Băng Sơn, cách kinh thành Huế khoảng 3 km. Nhìn từ xa, Ngự Bình có dạng hình thang, đỉnh tương đối bằng phẳng, độ cao của núi khoảng 100 m. Xét theo thuật phong thuỷ thì Ngự Bình được coi như tấm bình phong che chở cho kinh thành. Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá của Tạo hóa, làm nên vẻ sơn thuỷ hữu tình rất đặc trưng của xứ Huế.
Xem thêm: Bài văn cảm nghĩ về cây hoa GiấyTừ lâu đời, các thế hệ tao nhân mặc khách từng coi Huế là chốn thưởng ngoạn thiên nhiên kì thú. Vào những ngày đẹp trời, đứng trên đỉnh Ngự Bình, ta có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố Huế với những cung điện nguy nga, mái chùa cổ kính, dòng sông Hương xanh biếc uốn lượn quanh co… Xa xa là những dãy đổi với những rừng thông bạt ngàn nối liền với dải đồng bằng rộng lớn xanh tươi thuộc các huyện Hương Thuỷ, Phú Vang, Hương Trà… Cuối chân trời là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm, ẩn hiện sau những vầng mây bạc. Nhìn về phía Đông, dải cát trắng mờ là bãi biển Thuận An ôm lấy biển Đông nước xanh thăm thẳm…
Cách núi Ngự Bình vài kilômét là đồi Vọng Cảnh duyên dáng soi bóng bên dòng Hương Giang, nhìn qua núi Ngọc Trản. Từ đồi Vọng Cảnh, du khách có thể nhìn thấy những vườn cây ăn quả mướt xanh chen lẫn những mái chùa và lăng tẩm cổ kính. Sông Hương như một dải lụa mềm uốn quanh chân đồi… Du khách đến đây vào buổi bình minh hay lúc hoàng hôn mới thấy rõ vẻ đẹp nên thơ, nên nhạc, nên tranh của một ngọn đồi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế.
Bắc qua sông Hương có rất nhiều cầu và cầu Trường Tiền đã trở thành một trong những biểu tượng của Huế. cầu Trường Tiền từ ngày xây dựng đến nay đã được tu bổ nhiều lần. Đầu cầu phía Bắc có chợ Đông Ba, trung tâm thương mại của thành phố Huế. Nơi đây hầu như có đủ các mặt hàng, từ hàng tiêu dùng thông thường, các đặc sản của địa phương cho đến hàng hoá công nghiệp hiện đại… Chợ Đông Ba còn là điểm du lịch và mua sắm hấp dẫn đối với du khách.
Trong chợ, các sạp bán nón lá thu hút nhiều du khách hơn cả. Đã từ lâu, nón bài thơ Huế nổi tiếng trong nước và ngoài nước. Nón Huế mỏng, nhẹ, thanh thoát. Mỗi chiếc nón có một nét độc đáo riêng khi ta cầm nón soi lên. Nghệ nhân làm nón đã nói hộ chúng ta tình cảm đối với bè bạn và người thân khi trao chiếc nón bài thơ làm quà…
Đến Huế, du khách sẽ được hướng dẫn tới thăm những khu nhà vườn. Theo quan niệm truyền thống của người dân xứ Huế thì nhà bao giờ cũng đi liền với vườn. Nhà và vườn là hai bộ phận hữu cơ của một không gian sống vừa có tác dụng kinh tế, vừa có giá trị thẩm mĩ.
Người dân xứ Huế thường dành một phần diện tích cho vườn để trồng hoa và cây cảnh… Nơi này là khóm trúc, bụi hồng, nơi kia là gốc mai, chậu cúc… Phần đất còn lại để trồng rau hoặc cây ăn quả. Người làm vườn không chỉ cần cù, chịu khó mà cần phải có đôi bàn tay khéo léo đạt tới trình độ nghệ thuật trong cắt tỉa, lai tạo các giống hoa, giống cây. Qua bao đời nay, Huế đã cống hiến cho đất nước những đặc sản nổi tiếng như thanh trà Nguyệt Biểu, quýt Hương cần, nhãn lồng Kim Long, cam Mĩ Lợi…
Huế đẹp, Huế thơ bởi có dòng Hương Giang êm đềm ru vỗ quanh năm. Vẻ đẹp của sông Hương còn được tôn thêm bởi những vườn cây xum xuê nặng trĩu trái ngọt, ngan ngát hương thơm của làng xóm đôi bờ. Đó là những khu vườn đầy mít, chè… của làng Tuần; những vườn hoa muôn sắc: hoa huệ trắng muốt, hoa đồng tiền đỏ thắm trên bãi bồi Nguyệt Biểu. Chùa Huyền Không với vườn hồng, vườn hoa cây cảnh và những giỏ phong lan quý bốn mùa nở hoa. Làng Kim Long, mảnh đất tụ hợp bao loài hoa thơm trái ngọt từ Bắc vào Nam…
Thấp thoáng giữa khu vườn xanh tươi là những ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi với các vì kèo được chạm trổ công phu, bờ nóc, bờ quyết đắp nổi hình rồng, hình phượng. Một mái nhà ngói cổ kính, một mảng tường rêu phủ dấu thời gian cùng với màu mướt xanh cây lá là bức tranh đặc trưng của nhà vườn xứ Huế, nơi mà con người chung sống và hoà nhập với thiên nhiên.
Nói đến Huế, không thể không nhắc tới Bạch Mã. Rừng quốc gia Bạch Mã cách thành phố Huế khoảng 50 km về phía Nam. Đặc điểm khí hậu ở đây gần giống Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, nhưng vì Bạch Mã ở gần biển nên nhiệt độ mùa đông không bao giờ dưới 4°c và nhiệt độ cao nhất vào mùa hè không vượt quá 26°c.
Bạch Mã do một kĩ sư người Pháp có tên là Girard phát hiện. Do có nhiều ưu điểm nên ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX, chính quyền thực dân đã cho xây dựng ở đây một khu nghỉ mát gồm 139 biệt thự và các công trình phụ trợ như bưu điện, ngân hàng, hồ bơi, sân quần vợt.;. Con đường ô tô lên núi dài 19 km nối quốc lộ 1A với Bạch Mã. Trải qua mấy cuộc chiến tranh cùng với những tác động của thiên nhiên và con người, đến nay, các công trình trên đã bị hư hỏng gần hết.
Với tổng diện tích rừng là 22.031 ha cùng hệ động thực vật phong phú, Bạch Mã có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách yêu thích du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học. Tỉnh Thừa Thiên – Huế đang tích cực triển khai dự án về Bạch Mã, nhằm nhanh chóng biến nơi đây thành một điểm du lịch quan trọng của tỉnh và cả nước.
Địa hình Thừa Thiên – Huế có đủ núi non và biển cả. Bãi biển Thuận An là nơi tắm biển thú vị cho du khách sau một ngày tham quan kinh thành, lăng tẩm, chùa chiền… Đây cũng là nơi người dân thường đến hóng mát và tắm biển vào dịp hè, lúc tiết trời nóng bức. Đến Thuận An, du khách có dịp thăm miếu Thái Dương gắn liền với sự tích nữ thần Thái Dương, thăm miếu thờ thần cá voi, con vật linh thiêng của biển cả được ngư dân hết lòng sùng kính.
Bãi tắm Lăng Cô cũng là một thắng cảnh nổi tiếng của Huế. Bãi tắm này dài 10 km, nằm cạnh quốc lộ 1A, gần đèo Hảỉ Vân và cách khu nghỉ mát Bạch Mã 24 km. Ở đây, bờ biển thoai thoải, cát trắng mịn màng. Vào mùa tắm biển (từ tháng 4 đến cuối tháng 7), nhiệt độ trung bình là 25°c. Biển Lăng Cô có nhiều loại hải sản quý như tôm hùm, tôm sú, tôm bạc, tôm hẹ, tôm vằn, tôm đất, cua, cá thu, cá chim, sò huyết… Gần bãi biển này là mũi Chân Mây và làng cá Lăng Cô…
Bãi biển Cảnh Dương dài 8 km, hình vòng cung, nằm giữa mũi Chân Mây Tây và Chân Mây Đông, phong cảnh rất hấp dẫn. Bờ biển có độ dốc thoai thoải, nước biển trong xanh… thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch sinh thái và thể thao dưới nước.
Khu du lịch Suối Voi cách Huế khoảng 40 km về phía Nam, thuộc huyện Phú Lộc, nằm giữa những địa danh Bạch Mã, Lăng Cô, Chân Mây… tạo thành một tua du lịch vô cùng hấp dẫn.
Giữa lòng suối trong mát là những tảng đá lớn nhỏ giống như một đàn voi nằm phủ phục. Nước được phun ra liên tục khiến cho bất cứ ai tới đây cũng đều cảm thấy thú vị và sàng khoái.
Suối Voi dài khoảng 500 m, gồm có Vũng Voi và Vũng Đu. Đến đây, du khách được đắm mình dưới làn nước suối mát lạnh hay ngồi nghỉ trên những tảng đá bằng phẳng, hít thở bầu không khí thoáng mát, trong lánh hoặc đắm mình giữa tiếng nước đổ ào ào, tiếng lá rừng xào xạc, tiếng gọi bầy ríu rít của các loài chim… tạo thành bản hòa tấu du dương bất tận. Du khách có thể bám vào những rễ cây to và dài rủ từ trên cao xuống để đu người qua suối tìm cảm giác mạnh.
Đường đến Suối Voi tương đối thuận tiện. Khu du lịch này không những đã đáp ứng loại hình du lịch cuối tuần của người dân Huế mà còn rất hấp dẫn đối với du khách mọi miền khi tới thăm đất cố đô.
Một điểm du lịch khá hấp dẫn nữa là khu suối khoáng Mĩ An thuộc xã Phú Dường, huyện Phú Vang, cách thành phố Huế 7 km về phía Đông, trên đường từ Huế ra bãi biển Thuận An.
Tháng 6/1979, đoàn địa chất Thuỷ văn đã phát hiện ra nguồn nước tự nhiên này. Sau nhiều năm nghiên cứu và thử nghiệm, các nhà khoa học đã kết luận: Nước khoáng Mĩ An có nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể con người. Chất lượng nước khoáng ở đây có thể so sánh với nhiều loại nước khoáng nổi tiếng trên thế giới. Nước khoáng Mĩ An có thể chữa được một số bệnh ngoài da, viêm khớp, tim mạch, tiêu hoá, thần kinh, hô hấp và các bệnh mãn tính khác.
Hiện nay, nhiều du khách trong cả nước và quốc tế đã đến suối khoáng Mĩ An để chữa bệnh. Công ti du lịch Hương Giang và tỉnh Thừa Thiên – Huế đã và đang khai thác nguồn nước khoáng quý giá này. Mĩ An trở thành một khu dịch vụ du lịch kết hợp với chữa bệnh bằng nước khoáng đầu tiên ỏ vùng đất miền Trung.
Với những vẻ đẹp tự nhiên, thơ mộng, phong phú và bề dày văn hoá, lịch sử… chắc chắn trong tương lai không xa, Thừa Thiên – Huế sẽ phát triển nhanh và mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại mới.
Xem thêm: Em đã đọc bài ca dao: "Con cò mà đi ăn đêm... Đừng xáo nước đục đau lòng cò con". Từ bài ca dao trên, em hãy kể một câu chuyện tưởng tượng về con cò | Giới thiệu về Thừa Thiên Huế | 3,320 | |
Giới thiệu về tiểu thuyết Tắt đèn và đoạn trích Tức nước vỡ bờ của nhà văn Ngô Tất Tố
Gợi ý
"Tắt đèn" là cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của Ngô Tất Tố, cây bút truyện kí tiêu biểu của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
Tác phẩm có 26 chương mà chương XVIII là chương xảy ra xung đột cơ bản nhất của người nông dân với bọn cường hào ác bá trong làng. Qua "Tức nước vỡ bờ" (một đoạn trích của chương XVIII), Ngô Tất Tố đã vẽ lên bức tranh xã hội đương thời, một xã hội thối nát tàn bạo và bẩn thỉu ghê tởm. Cái xã hội thực dân phong kiến đã đày đoạ người nông dân đến đường cùng mà biểu hiện trong "Tức nước vỡ bờ" chính là tên cai lệ hống hách, tàn ác; bọn người nhà lý trưởng hèn yếu mà cũng dã man không kém. Chúng như những con chuột ma ranh cố mà đục, mà khoét. Từ những của cải vật chất nhỏ nhoi của người nông dân đến những người sức lực điền mạnh mẽ nay chỉ còn là những hơi tàn sức kiệt chúng vẫn không buông tha, vẫn "dai như đỉa" mà hành hạ.
Cũng qua vài trang ngắn ngủi mà đậm nét chân thực, sinh động của "Tức nước vỡ bờ", Ngô Tất Tố đã lên án gay gắt, căm ghét tột cùng cái xã hội thực dân phong kiến tàn ác, dã man kia để cho một kết thúc chị Dậu quật ngã tên cai lệ và người nhà lý trưởng; đồng thời tác giả cũng bày tỏ một sự cảm thông sâu sắc chân thành với số phận cùng quẫn, bi thương của người nông dân mà cụ thể là chị Dậu. Ôi! Cái gia đình đầm ấm yên vui của chị đã bị chính sách sưu thuế ác nghiệt kia làm cho tan nát. Số phận và tiền đồ của chị thật tối tăm như bầu trời đêm 30 không trăng sao vậy.Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân
Không chỉ lên án gay gắt xã hội thực dân phong kiến, cảm thông sâu sắc với người nông dân, Ngô Tất Tố còn đề cao những nhân phẩm cao quý của họ với những nét đẹp truyền thống tiềm tàng: phẩm chất thương yêu chồng con tha thiết của chị Dậu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ người chồng ốm yếu; phẩm chất thanh cao "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" không hám danh lợi tiền tài của chị và đặc biệt là sức sống tiềm tàng đã ấp ủ bấy lâu trong lòng người phụ nữ nông dân đã bùng cháy đúng lúc để cứu chồng thoát khỏi nanh vuốt của lũ hùm sói cai lệ và người nhà lý trưởng. Và cuối cùng qua "Tức nước vỡ bờ" Ngô Tất Tố đã quan tâm đến vấn đề hết sức bức thiết trong cuộc sống đương thời, đó là nhu cầu được sống những ngày bình yên, được hưởng hạnh phúc trong mái ấm gia đình bình dị của người nông dân. Đặc sắc nghệ thuật trong "Tức nước vỡ bờ" của Ngô Tất Tố thực sự làm chúng ta khâm phục. Nhà văn đã xây dựng một nhân vật chị Dậu điển hình, là tượng trưng cho tất cả những người phụ nữ nông dân với những phẩm chất cao đẹp, đáng quý nhất của loài người chúng ta. Và đặc biệt nhà văn đã sử dụng những lời lẽ hết sức dân dã, đời thường mà sinh động, chân thực, làm chúng ta như đang sống giữa cuộc sống bất công đương thời để chứng kiến những điều ngang trái. Và chính sự kết hợp tài tình giữa 3 phương thức: tự sự, miêu tả và biểu cảm để làm nổi bật tình huống mâu thuẫn cơ bản của tác phẩm giữa hai giai cấp đối kháng đã thực sự thể hiện tài năng tiểu thuyết xuất chúng của Ngô Tất Tố.Xem thêm: Phân tích bài học nhân sinh được truyền tải qua tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của Ô-hen-ri"Tức nước vỡ bờ" nói riêng và "Tắt đèn" nói chung sẽ mãi là một tác phẩm đặc sắc trong nền văn học hiện đại nước ta. Nó đã có những thành công vang dội và ảnh hưởng rõ rệt đến xã hội đương thời. Song vẫn còn có những hạn chế nho nhỏ. Nhưng "Tức nước vỡ bờ", "Tắt đèn" sẽ luôn là một tuyệt tác để chúng, ta khâm phục và nhớ đến Ngô Tất Tố – nhà văn hiện thực xuất sắc.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về tiểu thuyết Tắt đèn và đoạn trích Tức nước vỡ bờ của nhà văn Ngô Tất Tố | 787 | |
Giới thiệu về trò chơi Cờ người
Gợi ý
Cờ người được tố chức ở nhiều hội làng của đất Hà thành như Thanh Liệt, Xuân Phương, Vĩnh Quỳnh, Minh Khai… nhưng lớn nhất, náo nhiệt nhất là ở hội Chùa Vua (làng Thịnh Yên). Đây chính là nơi tập trung các bậc kì thủ cao tay trong làng cờ. Cờ người đánh cũng giống như cờ tướng, chỉ khác ở hình thức bàn cờ và quân cờ. Cờ người được chơi trên một bàn rộng là sân đình, còn quân cờ là những nam nữ thanh niên đóng giả. Các quân cờ phân biệt với nhau bởi màu sắc của áo và các chữ hán ghi trên ngực và lưng áo. Thường cờ người chia hai đội. Đội áo đỏ là nam, đội áo xanh là nữ. Các quân cờ đứng trên bàn cờ, chỉ riêng tướng được ngồi trên ghế và được che lọng. Người chơi ngồi trên một chiếc chòi cao đế có thể dễ dàng quan sát toàn bộ bàn cờ. Quy tắc di chuyển của các quân cờ giống như cách chơi bình thường: mã lệch, tượng điều, xe liền, pháo lệch… Quân nào bị loại thì ra khỏi sân. Đến khi tướng bị chiếu, hết nước đi là thua.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả bữa ăn của gia đình em | Giới thiệu về trò chơi Cờ người | 221 | |
Giới thiệu về Trần Quốc Tuấn và hoàn cảnh ra đời của văn bản Hịch tướng sĩ
Gợi ý
Trần Quốc Tuấn (1231 – 1300), tức Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc. Năm 1285 và năm 1287, quân Mông – Nguyên xâm lược nước ta, lần nào ông cũng được Trần Nhân Tông cử làm Tiết chế thống lĩnh các đạo quân ra trận, và cả hai lần đều thắng lợi vẻ vang. Đời Trần Anh Tông, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp (nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) rồi mất ở đấy. Nhân dân tôn thờ ông là Đức thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước.
Nửa cuối thế kỉ XIII, chỉ trong ba mươi năm (1257 – 1287), giặc Mông – Nguyên đã ba lần kéo quân sang xâm lược nước ta. Lúc bấy giờ thế giặc rất mạnh, muốn đánh bại chúng phải có sự đồng tình, ủng hộ của toàn quân, toàn dân. Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch này để kêu gọi tướng sĩ hết lòng đánh giặc.
Để kêu gọi lòng dân, người viết có thể dùng nhiều cách khác nhau. Có khi chỉ cần nêu lên thực trạng, khơi gợi truyền thống yêu nước, căm thù giặc… Trong bài hịch này, Trần Quốc Tuấn đã sử dụng một giọng điệu, cách viết rất phong phú. Khi thì ông lấy tấm gương của người đời xưa, khi thì dùng cách "khích tướng", có khi lại an ủi, vỗ về đối với đối tượng… Đó chính là cái hay, cái độc đáo của tác phẩm này.Xem thêm: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về Trần Quốc Tuấn và hoàn cảnh ra đời của văn bản Hịch tướng sĩ | 291 | |
Giới thiệu về tác giả Ai-ma-tốp và văn bản Hai cây phong
Gợi ý
Ai-ma-tốp là nhà văn nước Cộng hoà Cư-rơ-gư-xtan, một nước cộng hoà ở vùng Trung Á, thuộc Liên Xô trước đây. Hoạt động văn học của Ai-ma-tốp bắt đầu từ năm 1952, khi ông là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp Cư-rơ-gư-xtan. Từ năm 1956 đến năm 1958 ông học Trường viết văn M. Goóc-ki ở Mát- xcơ-va. Sau khi tốt nghiệp (1959), Ai-ma-tốp làm phóng viên báo Sự thật thường trú tại Cư-rơ-gư-xtan. Tác phẩm đầu tiên khiến Ai-ma-tốp nổi tiếng là tập truyện Núi đồi và thảo nguyên (được tặng giải thưởng Lê-nin về văn học năm 1963). Các tác phẩm chủ yếu tiếp theo là: Cánh đồng mẹ (1963), Vĩnh biệt Gun-xa-rư (1967), Con tàu trắng (1970),… Đề tài chủ yếu trong các truyện ngắn của Ai-ma-tốp là cuộc sống khắc nghiệt nhưng cũng đầy chất lãng mạn của người dân vùng đồi núi Cư-rơ-gư-xtan, tình yêu, tình bạn, tinh thần dũng cảm vượt qua những thử thách hi sinh thời chiến tranh, thái độ tích cực đấu tranh của tầng lớp thanh niên, trước hết là nữ thanh niên để thoát khỏi sự ràng buộc của những tập tục lạc hậu.
Nhiều tác phẩm của ông từ lâu đã rất quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như Cây phong non trùm khăn đỏ, Người thầy đầu tiên, Con tàu trắng,…
Phần trích Hai cây phong trong sách giáo khoa do người biên soạn đặt. Bốo cảnh của truyện là một vùng quê hẻo lánh thuộc Cư-rơ-gư-xtan giữa những năm 20 của thế kỉ XX khi nơi đây tư tưởng phong kiến và gia trưởng còn nặng nề, do đó phụ nữ và trẻ mồ côi bị coi thường và rẻ rúng.Xem thêm: Giới thiệu về thủ đô Hà Nội Hình ảnh hai cây phong được miêu tả với một tâm trạng đầy xúc động của người kể chuyện. Nó dẫn dắt người đọc trở lại với 40 năm trước để chứng kiến những tình cảm sâu nặng giữa thầy Đuy-sen và cô trò nhỏ An-tư-nai. Người kể chuyện xưng "tôi" (có lúc là "chúng tôi") cũng là người gắn bó với làng quê Ku-ku-rêu, nơi có hai cây phong thân thuộc, gắn với bao kỉ niệm tuổi thơ của mình.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về tác giả Ai-ma-tốp và văn bản Hai cây phong | 386 | |
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Dữ và văn bản Chuyện người con gái Nam xương
Gợi ý
Tác giả Nguyễn Dữ hiện chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng thế kỉ XVI, là người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tinh Hái Dương. Thời ông sống, triều đình nhà Lê đã bắt đầu khung hoàng suy thoái, cấc tập đoản phong kiến tranh giành quyền lực gây ra liên tiếp các cuộc nội chiến kéo dài. Có giả thiết cho rằng ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Binh Khiêm. Cha ông là tiến sĩ đời Lê Thánh Tông, bản thân ông cũng là người học rộng, tài cao nhưng giống như nhiều trí thức đương thời, ông chí làm quan một năm rồi xin về quê ấn dật. Trước tác cùa ông có tác phẩm tiếng Hán nôi tiếng Truyền kì mạn lục (Ghi chép tản mạn những điều kì lạ vần được lưu truyền), một tác phẩm thể hiện quan niệm sống và tấm lòng cùa ông trước cuộc đời.
"Chuyện người con gái Nam Xương" là tác phẩm được rút trong tập truyện Truyền kì mạn lục của tác giả. Đây là một trong hai mươi truyện của tập sách này. Tác phẩm ghi lại cuộc đời thảm thương của Vũ Nương, quê ở Nam Xương (thuộc tỉnh Hà Nam) ngày nay.
Vũ Thị Thiết – người con gái quê ở Nam Xương thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp. Chàng Trương Sinh mến vì đức hạnh xin mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Chẳng bao lâu Trương Sinh phải đi lính. Nàng đang có mang, xa chàng vừa đầy tuần thì sinh ra đứa con trai đặt tên là Đản, nửa năm sau, mẹ chàng vì già yếu và nhớ thương con mà lâm bệnh. Vũ Nương hết lòng săn sóc, cơm cháo thuốc men, mẹ chồng qua đời, nàng lo ma chay tế lễ như đối với cha mẹ mình. Qua năm sau, giặc đã chịu lui, Trương Sinh trở về. Con trai đã vừa học nói nhưng chỉ vì câu nói ngây thơ của đứa con đã dẫn đến Trương Sinh hiểu lầm rằng vợ mình đã thay lòng đổi dạ. Trương Sinh nhiếc mắng, đuổi nàng đi. Nàng thanh minh cho mình, rồi hàng xóm bênh vực nhưng không được. Trước cảnh đau buồn đó Vũ Nương đã. nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Nàng chết rồi, một hôm Trương Sinh ngồi buồn dưới ngọn đèn khuya chợt đứa con nói: "Cha Đản lại đến kìa" rồi chỉ cái bóng trên tường. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ, biết vợ mình chết oan. Lại nói về chuyện Phan Lang đã cứu Linh Phi, là vợ vua biển Nam Hải. Thế rồi Phan Lang không may đắm thuyền chết, được Linh Phi cứu giúp, chữa trị, đền ơn. Trong cuộc hành trình thăm động của Linh Phi, Phan Lang tình cờ gặp Vũ Nương. Nàng gửi về cho chồng một chiếc hoa vàng và dặn chồng con nhớ làm đàn giải oan… Phan Lang trở về kể chuyện cho Trương Sinh. Vũ Nương hiện lên đa tạ tình chàng nhưng nàng không thể trớ về trần gian được.Xem thêm: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Trãi. (Yêu cầu viết bài văn)
Chuyện người con gái Nam Xương nói lên sự xót thương với những người phụ nừ tài sắc, đức hạnh mà chết oan trong bi kịch gia đình. Vũ Nương là một phụ nữ đảm đang, hiếu thảo, một mình nuôi dạy con thơ, phụng dưỡng mẹ già. Cái chết của Vũ Nương có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc, lên án chiến tranh phong kiến đã làm cho lứa đôi phải li biệt, người vợ trẻ sống vất vả, cô đơn, lên án lễ giáo phong kiến khắt khe với tệ gia trưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc. Vì lẽ đó, Chuyện người con gái Nam Xương có giá trị nhân bản sâu sắc.
Với nghệ thuật điêu luyện, bố cục chặt chẽ, chi tiết hoang đường, li kỳ, hấp dẫn, dùng chi tiết gợi mở, thắt nút cởi nút câu chuyện tài tình, giải quyết câu chuyện nhanh chóng, bất ngờ, kết thúc có hậu,… Chuyện người con gái Nam Xương đã khẳng định được nét đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời thể hiện niềm cảm thương cho số phận nhỏ nhoi, đầy tính chất bi kịch của họ dưới chế độ phong kiến. Đây là một áng văn hay, thành công về mặt dựng truyện, dựng nhân vật, kết hợp cả tự sự, trữ tình và bi kịch. Tuy mang yếu tố hoang đường, nhưng chuyện "Người con gái Nam Xương" có giá trị nhân đạo sâu sắc.Xem thêm: Tình cảm nhân đạo biểu hiện trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh Qua "Truyền kì mạn lục", người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về tác giả Nguyễn Dữ và văn bản Chuyện người con gái Nam xương | 851 | |
Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, tác giả của Truyện Lục Vân Tiên
Gợi ý
Trong nền văn học Việt Nam, hiếm có tác giả nào mà cuộc đời lại gặp nhiều nỗi đa đoan như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Nhưng từ trong gian khó, nhà thơ đã cho người đọc chiêm ngưỡng một thứ "ánh sáng khác thường” của nghị lực sống và sáng tạo để ta càng nhìn "càng thấy sáng", càng thêm yêu quý, trân trọng con người ông.
Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 trong một gia đình phong kiến lớp dưới. Là con đầu lòng trong một nhà đông con (7 người con), lại là con của vợ lẽ nên ngay từ nhỏ ông đã sớm chịu cảnh lận đận ngược xuôi. Nơi ông chào đời là đất Gia Định, 11 năm sau đó, sau khi Nam Kì bị chiếm, ông được cha gửi ra Huế ở nhờ nhà một người bạn. Sau 8 năm theo học ở Huế, ông lại trở về Nam chăm lo đèn sách đế chờ thi hương. Năm 1843, ông đỗ tú tài ở trường Gia Định. Năm 1846, Nguyễn Đình Chiểu lại ra Huế học chờ thi hội. Hây quả là thời kì lận đận, gian truân, đầy nhọc nhằn đối với nhà thơ.
Sinh ra trong thời loạn lạc, lớn lên ông cũng gặp cảnh gian nan trong cuộc đời. Đầu năm 1849, sắp thi thì được tin mẹ mất từ cuối năm trước, ông vội vàng về Nam chịu tang mẹ, bỏ dở việc thi cử. Trên đường về quê ông bị ốm. Đường sá xa xôi, tiết trời nóng bức, bệnh ông ngày càng nặng thêm, lại thương khóc mẹ quá nhiều nên chẳng may ông bị mù cả hai mắt. Chuyện tình duyên của ông cũng đầy éo le: Trước đây, khi ông đỗ tú tài, có nhà phú hộ ở vùng quê đã hứa gả con gái cho ông nhưng nay thấy ông bị mù liền bội ước. Vậy là giấc mộng công danh không thành lại thành người “tàn phế”, tình duyên thì trắc trở. Tương lai tướng như chấm hết, cánh cửa cuộc đời tưởng như đóng sập trước ông. Thế nhưng, bằng ý chí và nghị lực phi thường, ông đã vượt qua mọi khó khăn, biến đau thương thành sức mạnh, vươn lên làm chủ số phận của mình. Sau khi mãn tang mẹ, ông mở trường dạy học, học trò theo học ông rất đông và từ đó người ta gọi ông là Đồ Chiểu: Ngoài việc dạy học ông còn nghiên cứu thêm về y học và bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Đây quả đúng là tấm gương sáng về ý chí và nghị lực sống làm nhiều người cảm phục.Xem thêm: Nghị luận xã hội về Game online vấn nạn học đường
Khóng chỉ vậy, cuộc đời ông còn là một tấm gương ngời sáng về lòng yêu nước, thương dân, về tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Tuy bị mù, không thể trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến được nhưng ông vẫn thường bàn bạc việc quân với Đốc binh Là và trao đổi thư từ với Trương Định – những lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp lúc bây giờ. Khi tản cư về quê vợ ở Ba Tri, ông vẫn giao thiệp với các nhà chí sĩ yêu nước và làm thơ văn phục vụ công cuộc kháng chiến của dân tộc. Khi Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, các cuộc khởi nghĩa ở miền Nam đã bị dập tắt, khi mà một số lớn các nhà chí sĩ ra Bình Thuận thì Nguyễn Đình Chiếu vẫn ở lại Ba Tri nêu cao tấm gương bất hợp tác với địch. Mặc dù thực dân Pháp tìm mọi cách để mua chuộc, dụ dỗ ông nhưng ông vẫn một mực cự tuyệt. Khi chiếu Cần Vương được ban bô’, phong trào kháng Pháp lại sục sôi khắp Bạc và Trung Kì, ông lại tràn đầy tin tưởng vào cuộc chiến đấu mới cùa dân tộc.
Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiếu là một tấm gương sáng ngời về ý chí và nghị lực sống, lòng yêu nước, thương dân và tinh thần bất khuất trước kẻ thù. Con người ấy, người đọc đã gặp trong hình ảnh chàng trai Lục Vân Tiên – người thanh niên lý tưởng của thời đại trong "Truyện Lục Vân Tiên".Xem thêm: Em hãy kể lại và phát biểu cảm xúc truyện: “Em bé bán diêm” của Anđecxen Cuộc đời ông làm ta cảm phục và văn thơ ông cũng được ta yêu mến.
Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm quý: Lục Vân Tiên, Dương Tư – Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Văn tế ngliĩa sĩ cần Giuộc, Văn tể nghĩa sĩ trận vong Lục tinh, Văn tế Trương Định,… Giá trị cúa những áng văn thơ ấy vẫn còn sống mãi trong lòng người đọc bởi lý tướng đạo đức, nhân nghĩa và tấm lòng yêu nước thương dàn tha thiết của ông. Trong thơ văn của ông, không có loại thơ văn thuần tuý giải sầu, chúng nhằm mục đích chiến đấu, bảo vệ đạo đức của nhân dân và quyền lợi của Tổ quốc, ở đó lý tưởng nhân nghĩa luôn được đề cao. Lý tưởng ấy phù hợp với truyền thống văn hoá của nhân dân ta.
Vi sao Khuê rực rỡ Nguyền Đình Chiểu gần gũi vô cùng nhưng khi nào ta cũng ngước nhìn với một tấm lòng ngưỡng vọng chân thành. Nguyễn Đình Chiểu, đó là một con người, một tài năng Việt Nam bơn hết thảy.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu, tác giả của Truyện Lục Vân Tiên | 950 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 1
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Mình là Mai Hương – thành viên của tổ một. Tổ của mình gồm có mười hai bạn, trong đó có sáu bạn nam và sáu bạn nữ. Các bạn đều râ’t vui tính và mỗi người có một nét tính cách riêng. Huân hát rất hay, Lan học giỏi, Huy chơi thể thao rất cừ… Tinh thần đoàn kết của tổ thể hiện rất rõ khi chúng mình giúp nhau cùng học tập và sinh hoạt. Nhất là trong đợt làm báo tường vừa qua, tổ mình có rất nhiều bài hay và đẹp, góp phần không nhỏ vào tờ bích báo của lớp. Mọi người trong tổ đều có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, vứt rác đúng nơi qui định. Các bạn biết không, chính vì thế mà mình rất tự hào là một thành viên của tổ một.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Anh (chị) hãy bình luận câu ngạn ngữ Hi Lạp: Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào | Giới thiệu về tổ em, tổ 1 | 178 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 2
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Mình là Xuân Thành, tổ trưởng tổ 2. Xin được giới thiệu về tổ của mình như sau: Chúng mình có tất cả mười thành viên, sáu nam và bôn nữ. Vì các bạn nam đông hơn nên đến phiên tổ mình trực nhật, chúng mình lại phân công mỗi hôm năm bạn, hai bạn nữ giặt giẻ lau bảng, ba bạn nam kê bàn ghế và tưới bồn hoa. Các bạn trong tổ chơi với nhau khá thân và luôn đoàn kết. Niềm tự hào của tổ mình là bạn Như Thành, bạn ấy vừa đoạt giải nhất cuộc thi viết chữ đẹp của thành phố
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về nhân vật hoạt hình Tin Tin | Giới thiệu về tổ em, tổ 2 | 126 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 3
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Tớ là Thanh Thuỷ, tổ trưởng tổ 3. Tớ rất vinh hạnh được giới thiệu với các bạn về tổ của mình. Tổ tớ là toàn bộ dãy bàn thứ 2 từ ngoài cửa chính tính vào. Tố gồm 12 thành viên. Trong đó chủ yếu là nam, chỉ có 3 bạn nữ là bạn Trà My, Hải Hà và tớ – Thanh Thuỷ. Chính vì vậy, những việc nặng nhọc trong tổ đều được các bạn trai xung phong đảm nhiệm. Tổ tở sống với nhau rất đoàn kết. Các bạn luôn yêu thương và giúp đỡ nhau, rất ít khi xảy ra tranh chấp hay cãi vã. Tuy tổ nhiều con trai nhưng các bạn rất ngoan và có ý thức phấn đấu học tập. Bởi vậy nên tháng nào tổ tớ cũng được xếp loại thi đua giỏi, được cô giáo khẹn ngợi.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Nói về người lao động trí óc (giáo viên) | Giới thiệu về tổ em, tổ 3 | 166 | |
Giới thiệu về tổ em, tổ 4
Gợi ý
Xin chào các bạn!
Mình là Minh Thư tổ trưởng tổ 4. Tổ mình chỉ có 9 thành viên, bao gồm 4 nữ, 5 nam. Khá đồng đều phải không các bạn. Tổ mình rất đặc biệt. Các thành viên trong tổ hầu như ai cũng giữ một chức vụ trong lớp. Bạn Trung Dũng là lớp phó học tập, bạn Ngọc Ly là quản ca, bạn Tùng Chi là sao đỏ, bạn Vũ là chi đội trưởng. Chính vì rất đông cán bộ nên tổ mình rất mạnh trong các phong trào của lớp. Tháng nào tổ mình cũng đứng đầu trong danh sách thi đua. Mình rất tự hào là thành viên của tổ 4.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một nhạc sĩ | Giới thiệu về tổ em, tổ 4 | 129 | |
Giới thiệu về văn bân Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
Gợi ý
Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển, của trẻ em là văn bán trích phần đầu Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trể em họp tại trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Oóc ngày 30 – 9 – 1990. Tuyên bố gồm ba phần: Nhiệm vụ, Cam hết và Những bước tiếp theo.
Văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em gồm 17 mục, ngoài phần tuyên bố về mục đích tham dự Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em và nhận thức về nhu cầu, quyền được chàm sóc, phát triển của trẻ em, văn bản được bố cục thành ba phần. Phần Sự thách thức phân tích thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giói (trẻ em trước hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, trẻ em trong thảm hoạ đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh, ma tuý…). Phần Cơ hội chỉ ra những điều kiện thuận lợi của bối cảnh quốc tế trong việc thúc đẩy việc chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em. Và phần Nhiệm vụ đã xác định những nhiệm vụ cần phải thực hiện của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được báo vệ và phát triển của trẻ em. Ba phần của văn bàn này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hai phần trước là cơ sở, căn cứ đế rút ra những nội dung ở phần sau.Xem thêm: Viết bài văn giới thiệu về một mảnh đất đã để lại trong em nhiều ấn tượng Trong phần Sự thách thức, thực trạng cuộc sống trẻ em trên thế giới được khái quát theo nhiều nội dung. Tác giả đã chi ra rằng trẻ em đang trở thành nạn nhân của hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, cùa sự phân biệt chúng tộc, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài. Trẻ em là nạn nhân của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, cúa nạn vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp. Đặc biệt nguy hiếm là tình trạng trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật, ma tuý. Chính thực trạng đó đã đặt ra những nhiệm vụ cấp bách cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế.
Bối cảnh quốc tê hiện nay có những điều kiện thuận lợi cơ bản đế thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Những điều kiện thuận lợi này được chỉ ra trong phần Cơ hội, cụ thể, nhân loại đã có công ước về quyền trẻ em, đó là mối liên kết về phương tiện, kiến thức giữa các quôc gia. Đó còn là sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mở ra khả năng giái quyết những vấn đề về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ngăn chặn dịch bệnh, giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em.
Dựa trên tình hình thực tế, bản Tuyên bố đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Mỗi một mục tương ứng với một phương diện cần quan tâm: từ việc chăm sóc sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, giảm tỉ lệ tử vong, quan tâm đến trẻ em tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bình đẳng trai – gái, xoá mù chữ, quan tâm đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, kế hoạch sinh nở đến việc chú ý tạo môi trường văn hoá xã hội lành mạnh, phát triển kinh tế… Những nội dung này thể hiện tính toàn diện trong việc định hướng hành động.Xem thêm: Em hãy giới thiệu về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Làng"Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” cho chúng ta thấy được tầm quan trọng, tính cập bách, toàn cầu của nhiệm vụ vì sự sống còn, quyền được bảo vệ, phát triển của trẻ em. Trên tinh thần vì tương lai của nhân loại, bản Tuyên bố đã đưa ra những nhiệm vụ cũng là chiến lược hành động một cách toàn diện cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Công việc này còn đòi hỏi sự quan tâm của từng gia đình, từng cá nhân trong mỗi cộng đồng.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu về văn bân Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em | 788 | |
Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Gợi ý
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khác với các phong cách ngôn ngữ khác ở những đặc điểm về tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và những dấu ấn riêng của tác giả.
Về tính thẩm mĩ, cần khẳng định rằng văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ, là sự thể hiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật, với tư cách là chất liệu xây dựng hình tượng, có sự tổng hoà của ngữ âm và ngữ nghĩa, hoà phối để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ.
Về tính đa nghĩa: Nghĩa của văn bản nghệ thuật gồm nhiều thằnh phần: thành phần biểu thị thông tin khách quan, thành phần biểu thị tình cảm; thành phần nghĩa tường minh, thành phần nghĩa hàm ẩn. Các thành phần nghĩa này thống nhất với nhau trong những hình tượng nghệ thuật vừa cụ thể, vừa sinh động. Trong đó, thành phần nghĩa hàm ẩn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong văn bản nghệ thuật, biểu thị những suy ngẫm, gợi liên tưởng, tưởng tượng… tạo nên những tín hiệu thẩm mĩ, những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và con người.
Về dấu ấn riêng của tác giả: Mỗi nhà văn, nhà thơ thường có sở thích, sở trường riêng trong diễn đạt. Sở thích và sở trường ấy được bộc lộ ở những tác phẩm có giá trị và tạo thành nét độc đáo, dấu ấn riêng của tác giả.Xem thêm: Thuyết minh về cái quạt Với ba đặc điểm trên đây, ta có thể xem xét dựa bài Phú nhà nho vui cảnh nghèo của Nguyễn Công Trứ.
Tính thẩm mĩ thể hiện ở cấu trúc văn bản theo thể loại phú: Văn bản Phú nhà nho vui cảnh nghèo thuộc thể phú, ngôn ngữ được tổ chức theo hình thức biền văn, có sáu mươi tám vế sóng đôi; hai mươi vế đầu miêu tả nơi ở, cách sông và ăn mặc của một nhà nho nghèo.
Tính thẩm mĩ còn được thể hiện ở các yếu tố ngôn ngữ, các biện pháp tu từ tập trung diễn tả nơi ở, cách sống và ăn mặc của một nhà nho nghèo: sự lặp lại, sóng đôi, điệp âm (Chém cha… chém cha, rành rành – ấy ấy, bình bịch – kho kho, chát chát chua chua – nhai nhai nhổ nhổ..), hiệp vần o, ô), đối (Bóng nắng rọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô – Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó…), lối nói “phô trương” (mọt tạc vẽ sao, nhện giăng màn gió, mối giãi quanh co, giun đùn lố nhố, lợn nằm gặm máng, chuột cậy khua niêu, vỗ bụng rau bình bịch, an giấc ngáy kho kho, áo vải thô nặng trịch, khăn lau giắt đỏ lòm…).
Về tính đa nghĩa của văn bản: Tác giả không dùng chữ nghèo nào mà vẫn miêu tả được cảnh nghèo của hàn nho. Qua việc miêu tả khách quan cảnh sống nghèo (nơi ở, cách sống, ăn mặc), tác giả đã lột tả được cảnh sống nghèo đến cùng cực, đồng thời cho thấy quan niệm, thái độ sống lạc quan của một nhà nho chân chính.Xem thêm: Nụ cười hài hước trong bài ca dao: Chàng dẫn thế em lấy làm sang… Để cho con lợn, con gà nó ăn
Về dấu ấn riêng của tác giả: Dấu ấn riêng của tác giả thể hiện nổi bật qua giọng điệu mỉa mai, châm biếm (đặc biệt là ở từ phong vị, hay việc sử dụng ngôn ngữ trong cách nói “phô trương”,…). Cũng qua giọng điệu ấy mà hình tượng tác giả hiện ra với một tư thế vừa ngao ngán vừa ngạo nghễ, bất chấp, ngông… Nguyễn Công Trứ thường để lại ấn tượng về một cá tính ngang tàng, đậm chất tài tử.
Không những cần phải hiểu về đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mà còn phải biết cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
Trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, các yếu tố ngữ âm được khai thác tốì đa để xây dựng hình tượng; các hình thức khác nhau của chữ viết cũng được tận dụng để gia tăng giá trị biểu hiện của văn bản: viết hoạ, xuống dòng, các loại dấu câu, khoảng trống…
Một mặt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng có chọn lọc những yếu tố của tất cả các lớp từ ngữ khác nhau để biểu hiện hình tượng. Mặt khác (nhất là trong văn học cổ, văn học lãng mạn) phong cách ngôn ngữ này còn có lớp từ riêng, đó là lớp từ thi ca: giang sơn, hải hà, thiên thu, lệ, nguyệt, chàng, nàng…
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng rộng rãi mọi kiểu câu, đồng thời còn có cách vận dụng đặc thù các kiểu câu, tạo nên kiểu cú pháp thi ca.
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng tối đa mọi biện pháp tu từ (ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp…) để xây dựng hình tượng, tổ chức tác phẩm văn chương.Xem thêm: Chứng minh trong bài thơ của Bác Hồ chứa đầy trăng Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật hết sức coi trọng vẻ đẹp cân đối, hài hoà trong chiều sâu bố cục, trình bày của tác phẩm.
Ở những đặc điểm này, ta có thể chú ý đến biểu hiện đó trong đoạn thơ sau:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
(Tây Tiến – Quang Dũng)
Về ngữ âm, trong đoạn thơ có sự cộng hưởng âm thanh rất độc đáo. Năm tiếng vần trắc trong câu đầu Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm và các tiếng vần bằng trong câu cuối Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi có tác dụng gợi tả, khắc hoạ địa thế hiểm trở của Tây Bắc cùng những cảm nhận của người lính Tây Tiến trên đường hành quân.
Về từ ngứ, các từ láy khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút được sử dụng rất có hiệu quả gợi tả hình ảnh và cảm xúc trong những câu thơ của Quang Dũng.
Về biện pháp tu từ, ta có thể tính đến khả năng biểu cảm cao của biện pháp nhân hoá súng ngửi trời.
Hiểu rõ về các đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật giúp người đọc tiếp nhận các văn bản nghệ thuật được đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn. Mặt khác, công việc ấy cũng góp phần không nhỏ vào hoạt động sáng tạo các văn bản văn học nghệ thuật.
Vanmau.edu.vn | Giới thiệu đặc điểm của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật | 1,159 | |
Giớithiệu về một trò chơi dân gian Đánh quay
Gợi ý
Đánh quay hay còn gọi là chơi vụ rất được các bạn nam ưa thích. Vào mùa hè, ngoài những sạp đồ chơi chúng ta thấy la liệt những chú quay bằng gỗ, bằng sừng, bằng sắt với rất nhiều hình dáng và màu sắc bắt mắt. Có thể là một chú quay chúa bằng gỗ nâu bóng, hay những chàng quay tí hon hình nón cụt với những chiếc xanh, đỏ. Chơi quay rất dễ. Chỉ cần một khoảng sân rộng, một chú quay và một sợi dây là có thể bắt đầu chơi. Người chơi dùng sợi dây quấn quanh thân quay từ dưới lên trên rồi cầm một đầu dây thả mạnh xuống cho quay tít. Ai có con quay quay lâu và tít nhất thì thắng cuộc. Người chơi cũng có thể dùng con quay khác bổ vào con quay đang quay. Nếu con quay cũ vẫn quay tiếp thì người có con quay đó được.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: “Mỗi người đều có thể trở nên vĩ đại chỉ cần trái tim bạn chan chứa lòng khoan dung và tâm hồn bạn luôn tràn ngập tình yêu thương” (Martin Luther King) | Giớithiệu về một trò chơi dân gian Đánh quay | 202 | |
Giữ gìn trong sáng của tiếng Việt đòi hỏi mỗi người phải có hiểu biết về tiếng Việt.
Hướng dẫn
– Cần có nhận thức và những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt. Trước hết phải nắm được các chuẩn mực của tiếng Việt ở các phương diện phát âm, chữ viết, dùng từ, đặt câu, cấu tạo văn bản, tiến hành giao tiếp. Từ nào chưa rõ nghĩa phải hỏi, tra cứu từ điển hoặc xem tài liệu.
– Quá trình này diễn ra liên tục từ kinh nghiệm thực tế giao tiếp như cha ông ta từng chỉ bảo “Học ăn học nói, học gói học mở”. Học nói là một hành động rất cần thiết và bổ ích cho mỗi người để giao tiếp đạt hiệu quả cao. Học nói ở mọi lúc, mọi nơi.
– Tuân thủ chuẩn mực, nhưng cũng cần biết sử dụng tiếng Việt một cách có nghệ thuật, sáng tạo, học tập các nhà thơ, nhà văn dùng từ, đặt câu trong sáng, dễ hiểu.
Nguồn:
Xem thêm: Tầm quan trọng của việc xác định mục đích học tập | Giữ gìn trong sáng của tiếng Việt đòi hỏi mỗi người phải có hiểu biết về tiếng Việt. | 182 | |
Giữa bạt ngàn đá xám trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), những mầm ngô xanh vẫn vươn lên trên từng hốc đá…
Hướng dẫn
Có thể triển khai bài viết theo một số ý sau đây:
– Giải thích về đặc điểm địa lí của cao nguyên đá Đồng Văn: thiên nhiên đã đem đến cho nơi đây điều kiện địa lí đặc biệt, một cao nguyên chỉ có đá và đá, đá bạt ngàn, một màu xám từ bao đời, và nếu chỉ có đá thì sẽ không có cây cối mọc lên được.
– Nhưng bà con ở nơi đây đã tận dụng từng hốc đá để gieo những mầm ngô. Để làm công việc này, bà con phải gùi đất từ dưới chấp núi, từ thung lũng và phải vượt qua bao gian khó để đưa được gùi đất đến với từng hốc đá, từ đó mà ủ những mầm ngô. Đó là công sức vô cùng vất vả mà bà con phải bỏ ra trong cuộc mưu sinh nghiệt ngã này.
– Như vậy, những mầm ngô xanh vươn lên từ đá xám là kết quả của công sức lao động vất vả nhọc nhằn của những người nông dân, là sự cố gắng vươn lên để sống, để tồn tại ở nơi quê hương mình.
– Hình ảnh "mầm xanh trên đá xám" đã mang lại cho cao nguyên đá Đồng Văn một vẻ đẹp, một sức sống, sức hấp dẫn đặc biệt; không chỉ đẹp ở địa bình độc đáo, ở nơi có hoa tam giác mạch kì thú mà đẹp ở sức sống, sức vươn lên để tạo dựng cuộc sống từ chính nơi gian khó này.
– Hình ảnh trên đủ sức đem lại những bài học thấm thìa cho mỗi chúng ta về nghị lực sống, về tinh thần vượt khó, về tình yêu và sự gắn bó tha thiết với quê hương, xứ sở…
Nguồn: thêm: Nhận xét của anh (chị) về nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi | Giữa bạt ngàn đá xám trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), những mầm ngô xanh vẫn vươn lên trên từng hốc đá… | 345 | |
Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp. Phát biểu những suy tưởng của anh (chị) được gợi ra từ hiện tượng trên
Gợi ý
Thiên nhiên tồn tại biết bao điều kì lạ không chỉ đem lại cho con người sự thích thú, say mê, gợi tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp mà đôi khi nó còn ẩn chứa những bài học mang giá trị nhân sinh sâu sắc. Bạn sẽ nghĩ gì khi nhìn thấy giữa vùng sỏi đá khô cằn vẫn mọc lên cây hoa dại nở ra những chùm hoa rực rỡ? Hẳn sẽ không chỉ là sự trầm trồ thán phục, ngỡ ngàng, sửng sốt mà hình ảnh ấy còn gợi cho chúng ta nhiều điều về nghị lực trong cuộc sống của chính bản thân mình cũng như những người xung quanh.
Những cái đối lập đặt cạnh nhau thường làm tôn thêm dáng vẻ của nhau. Bức tranh về sự bình yên vĩnh cửu không phải là bức tranh nơi đồng quê với những cánh đồng xanh mướt, cũng không phải là bức tranh của dòng sông đang êm ả trôi mà lại chính là giữa một thác nước hùng vĩ, nơi thấp thoáng sau đó, chim mẹ đang mớm mồi cho đàn con bé bỏng. Bỏ mặc tất cả những ồn ào bên ngoài của dòng thác, người ta lạc vào thế giới của một sự bình yên tuyệt đối. Chính bởi đặt trong sự đối lập, người hoạ sĩ đã giúp người đọc khám phá ra những vẻ đẹp mà trước đó không ai nghĩ tới. Cũng giống như vậy, trước cảnh sỏi đá khô cằn, hình ảnh chùm hoa mọc lên, rực rỡ và căng tràn nhựa sống dễ đưa người ta đến những ý nghĩ thánh thiện. Sỏi đá tượng trưng cho những đường nét thô cứng, cho nét khô cằn trong tự nhiên. Nhắc đến nó người ta nhớ đến một môi trường sống khắc nghiệt, đầy khó khăn và thử thách. Còn những bông hoa của loài cây dại khẳng định cái đẹp, sức sống mãnh liệt của loài cày, vượt lên cái khô cằn sỏi đá để không chỉ tồn tại mà còn góp những bông hoa cho đời. Nếu không có một sức sống dẻo dai, mãnh liệt, không có sự chắt chu từng giọt nhựa sống cúa đất trời thì chắc hẳn loài hoa dại đã không thể tồn tại được như thế. Hiện tượng cúa thiên nhiên tưởng chừng thoáng qua nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.
Trong cuộc sống con người, “vùng sỏi đá khô càn” làm người ta nghĩ đến một hoàn cảnh sống khắc nghiệt, nơi đó con người để tồn tại được sẽ phải cố gắng rất nhiều với nghị lực phi thường. Đó là hoàn cảnh sống bên ngoài. Nhưng cũng có trường hợp cần phái hiểu đó là những khó khăn nằm trong chính bản thân mỗi người mà chỉ với sự nỗ lực của chính bản thân mình họ mới có thế vượt qua được. Cây hoa dại nở ra những chùm hoa tuyệt đẹp giống như sự sống và cái đẹp vẫn nảy sinh và tự khẳng định. Liên hệ ta thấy có sự tương đồng với những người tuy sống trong hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt nhưng không hề nhụt ý chí vươn lên mà vẫn đầy bản lĩnh đế khẳng định mình trong cuộc sống. Sự khẳng định ấy chứng minh một sức sống mãnh liệt, không chi dừng lại ở việc tồn tại mà còn là tồn tại có ý nghĩa, tồn tại để công hiến. Giữa khó khăn gian khổ, cái đẹp vần náy sinh và tài năng vần đơm hoa, kết trái. Nhắc đến điều này, người ta nhớ đến những tấm gương vượt khó trong cuộc sống. Không ít người đã làm cho chúng ta thán phục bởi nghị lực của chính bản thân họ. Trong hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, hoặc bản thân có những khiếm khuyết, họ vẫn vượt lên tất cả để làm những việc có ích cho cuộc sông của chính mình cũng như những người khác. Thầy giáo Nguyền Ngọc Kí là một tấm gương cho sự nỗ lực ấy. Đôi tay tật nguyền không thể làm nhụt đi lòng ham học và ý chí quyết tâm của thầy từ khi còn là một cậu bé. Ngày ngày, với đôi chân của mình, cậu bé đáng thương cần mẫn oằn mình trên chiếu học, những ngón chân không quen với cống việc không thuộc về nó tê buốt. Chuột rút. Đau đớn. Sự ái ngại…, tất cá đều không làm Kí thôi cố gắng. Và cuối cùng thì mọi nỗ lực cũng được đền đáp xứng đáng. Nguyễn Ngọc Kí không chỉ viết thành thạo mà còn có thế’ làm được mọi thứ bằng đôi bàn chân khéo léo. Rồi trở thành người thầy được kính trọng và tin yêu. Giữa khó khăn gian khổ, thầy nêu cao tinh thần vượt lên chính mình, là bông hoa đẹp, toá ra hương thơm làm say đắm lòng người.Xem thêm: Giới thiệu một thức quà của người Việt Nói đến cái đẹp vượt lên trên hoàn cảnh bên ngoài khắc nghiệt có lẽ không gì hơn là việc nói về những người lính Việt Nam anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chông Pháp và chống Mĩ.
“Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề cổ, súng kề tai
Lũ thân sống chỉ coi còn một nửa”.
“Tù đày”, “gươm kề cổ, súng kề tai”, sự sống mong manh luôn là những điều thử thách có thể xảy ra bất cứ lúc nào với người cách mạng. Sự thật tàn khốc của cuộc kháng chiến không làm nhụt ý chí, người cách mạng vẫn vượt qua tất cả để chiến đấu và chiến thắng. Hơn thế nữa, khó khăn gian khổ còn được biến thành môi trường để rèn luyện mình. Trong gian khổ nổi lên những hình tượng thật đẹp:
“Không có kính ừ thì xe không có kính.
Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
(…) Bạn bè gặp nhau châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”
Bom đạn của chiến tranh chí làm cho người lính có thêm nghị lực. Tấm kính chắn xe bị vỡ có tác dụng tố cáo sự phá hoại tàn khốc của chiến tranh nhưng cũng có tác dụng to lớn để khắc hoạ vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe. Những tâm hồn yêu đời và dạt dào nhựa sống vẫn ngày ngày hát Ịên khúc quân hành hào hùng.
Đó còn là người lính cách mạng trong hoàn cảnh tù đày đói khổ, nhưng vẫn không để cho những cám dỗ vật chất mang tính bản năng khuất phục. Chỉ mấy con cá chột nưa (Con cá chột nưa – Tố Hữu) cứu mình ra khỏi cái đói dày vò nhưng người chiến sĩ đã phải đấu tranh tư tưởng quyết liệt để cuối cùng vẫn giữ được phẩm chất cách mạng kiên cường và tấm lòng trong sạch.Xem thêm: Em hãy miêu tả con sông quê em hay nhất Hình ảnh cây hoa dại giữa sỏi đá khô cằn còn làm ta chợt nhổ đến cây đào Tô Hiệu giờ đây, mỗi mùa xuân về vẫn nở hoa trên mảnh đất Côn Đảo từng là nơi giam giữ tù chính trị năm xưa. Giữa cái tăm tối, ẩm thấp của nhà tù, cây đào mọc lên hiên ngang, nở ra những bông hoa rực rỡ. Nó vượt lên trên, đối lập với hành hạ, với gông cùm, với sự tàn ác của con người. Nó cũng giống như sức mạnh quật cường không chỉ riêng của Tô Hiệu mà còn là tất cà chiến sĩ được giam ở nhà tù Côn Đảo là tất cả những người chiến sĩ Việt Nam bất khuất. Trong cảnh chiến tranh khắc nghiệt, họ xứng đáng là những bông hba rực rỡ và lúc nào cũng ngát hương thơm.
Cuộc sống đầy rầy những khó khăn. Nó đặt con người vào trong những hoàn cảnh, môi trường nhiều khi rất bất lợi. Mặc dù vậy, nếu như con người luôn biết vượt qua thì họ sẽ là người chiến thắng. Cần phải biết khắc phục hoàn cânh không chỉ để làm được những điều có ích cho bản thân mà còn làm nên những điều có ích cho những người xung quanh, cho toàn xã hội. Trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày nay vẫn đưa tin về những tấm gương nông dân nghèo vượt lên trên hoàn cảnh, làm giàu bằng chính bàn tay, khối óc của mình; những học trò nghèo vượt khó, học giỏi; những tấm gương “tàn nhưng không phế”… Đó chính là nhân chứng sống cho nghị lực cả con người, là những bông hoa đẹp mọc lên từ mảnh đất sỏi đá khô cằn.
Hình tượng kì thú trong thiên nhiên còn có thể suy rộng ra ý nghĩa: phải chăng “ngọn lửa chính nghĩa có thể bùng cháy ở nai sự bẩn thỉu, tối tăm, thiên lương cao cả có thể xuất hiện trong môi trường của tội ác”? Một điều khẳng định chắc chắn là hoàn cảnh tuy có tác dụng chi phối còn người nhưng trong trường hợp cụ thể con người vần có thể tác động lại hoàn cảnh, làm thay đổi hoàn cảnh, biến đối nó theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Đó là những hành động mang tính tích cực, đáng được khen ngợi. Chính vì thế mà nhà tù tối tăm bẩn thỉu đầy mạng nhện và phân chuột (Chữ người tử tù – Nguyên Tuân) lại là nơi cho cái đẹp ra đời và toả ánh thiên lương, là nơi chứa đựng hai tâm hồn lớn: một người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” một người có tài năng và đức độ hiếm thấy. Huân Cao vì cảm cho tấm lòng trong sạch của ông quản ngục giữa chốn bùn nhơ mà dành thời khắc cuối cùng trong cuộc đời cho chữ. Quyền lực, gông cùm, xiềng xích không thể khuất phục ông nhưng một “thiên lương” lại làm được điều đó. Cái đẹp ra đời trong sự trân trọng và rưng rưng xúc động của người quản ngục. Nó vượt lên trên tất cả, soi sáng nhà tù tôi tăm, bẩn thỉu. Quan trọng hơn, cái đẹp ấy đã giúp cứu rỗi một linh hồn đang còn "lưu lạc” chưa tìm được lôi thoát cho thiên lương của mình. Nhà tù chẳng phải giống như mảnh đất khô cằn đầy sỏi đá mà cái đẹp mà hai con người có tài năng và đức độ cao cả chính là những bông hoa đẹp đó sao?Xem thêm: Nghị luận xã hội về văn hóa ứng xử- Văn 12 Không chỉ có vậy, hiện tượng thiên nhiên đó còn mở ra cho con người những suy nghĩ về việc nhìn nhận điều gì đó một cách công bằng. Bắt gặp hình ảnh loài hoa dại trước nay vẫn có cái nhìn thành kiến nhất định. Vậy mà ở đây, bông hoa dại được nhìn nhận ở khía cạnh của sức sống mãnh liệt. Và cũng đồng thời, người ta thấy đựợc khả năng đóng góp của nó vào vẻ đẹp chung của tạo vật. Hình ảnh ấy giông như lời khẳng định: Con người không ai toàn vẹn, ai cũng tồn tại trong mình những phần tốt và xấu. Chỉ có điều đối với mỗi người, cái xấu hay cái đẹp chiếm vị trí nhiều hơn, và những cái xấu ấy có phải là những cái xấu có thể sửa chữa và tha thứ? Vì vậy, cần phải có cái nhìn bao dung. Độ lượng với một lỗi lầm đó chính là cách tốt nhất để sửa chữa lỗi lầm đó. Những cây hoa dại vẫn có thể nở ra chùm hoa đẹp cũng như tâm hồn con người dù “xấu xí” cũng vẫn có những nét “người” đáng trân trọng. Điều quan trọng là cần phải có một tấm lòng để khơi dậy tình cảm tốt đẹp của con người, chiến thắng tất cả những xấu xa trước đó.
Bài học thu được từ thiên nhiên này có ý nghĩa lớn lao trong đời sống con người đặc biệt là đốì với những người trẻ tuổi. Không phải lúc nào chúng ta cũng được sông trong một môi trường thuận lợi. Và không phải lúc nào một môi trường thuận lợi cũng thực sự có ích với con người. Nếu như ai đó được bao bọc quá kĩ, quá quen với cuộc sông sung sướng thì một ngày kia, gặp lúc khó khăn nếu không thực sự có gắng sẽ khó có thể vượt qua. Mỗi người cần bồi dưỡng cho mình một nghị lực phi thường để có thể thích nghi và vượt qua những khó khăn trong cuộc sông, cần tự đặt mình vào trong những hoàn cảnh sông khác nhau để rèn luyện khả năng thích nghi tốt nhất. Cuộc sống luôn đầy rẫy những khó khăn thử thách. Sẽ có những thành công hay thất bại nhưng điều quan trọng là dù thế nào đi nữa con người hãy tự đứng lên và đứng vững trên đôi chân của chính mình. Không phải lúc nào mọi thứ cũng toại nguyện. Có những ước mơ chỉ là mơ ước cho dù ta nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó mà ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày. Có những nỗi đau vẫn mãi là nỗi đau một khi ta không thể thoát khỏi chúng, nhưng nhờ có nó mà ta đã trưởng thành hơn. Đó là cuộc sống! Người chiến thắng là người luôn biết vượt lên hoàn cảnh và vượt lên chính mình…
Hình ảnh thiên nhiên tồn tại khách quan là một bài học cho tinh thần, nghị lực của con người. Con người đã, đang và sẽ có thể chiến thắng trước hoàn cảnh dù khó khăn đến mấy nhờ nghị lực phi thường, bản lĩnh lớn lao và sức sống bất diệt…
Vanmau.edu.vn | Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp. Phát biểu những suy tưởng của anh (chị) được gợi ra từ hiện tượng trên | 2,401 | |
Giữa Nguyễn Khuyến và Tú xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ khác nhau? Hãy làm rõ ý kiến của mình
Gợi ý
Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ thứ XX là xã hội thực dân nửa phong kiến với biết bao những thối nát, nhố nhăng. Đây chính là môi trường để văn thơ hiện thực trào phúng thời, kì này phát triển thành dòng, thành hướng riêng. Các tác giả của loại văn thơ này phần lớn là những nho sĩ. Ở họ có những nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng cũng có nhiều nét khác biệt. Ta bắt gặp điều này ở hai nhà thơ tiêu biểu nhất là Nguyễn Khuyến và Tú Xương.
Cả Nguyễn Khuyến và Tú Xương đều xuất thân từ dòng dõi Nho học. Do vậy giữa hai người cũng ít nhiều gặp nhau về mặt tư tưởng. Tuy không cùng sinh ra trong một thời kì (Nguyễn Khuyến sinh ra và lớn lên khi Pháp chưa xâm lược còn Tú Xương sinh ra khi đất nước đang rơi vào cảnh nguy nan khốn đốn, công cuộc xâm lược và bình định của Pháp đang đi vào hồi cực thịnh). Nhưng nhìn chung hai mảnh đời đều trải qua thời kì đen tối nhất của lịch sử dân tộc. Xã hội Việt Nam lúc ấy đã chuyển sang một xã hội mới là xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái xã hội ấy gắn với sự thay đổi trong tình hình giai cấp, sinh hoạt, trạng thái tâm lí xã hội. Đây là lúc ông làm thằng, thằng làm ông, cậu bồi, cậu bếp, thầy thông, thầy kí,… rặt một phường bất tài vô liêm sỉ nhưng sẽ làm anh làm chị, nghênh ngang vênh mặt với đời. Và đây cũng là lúc nho phong tàn tạ, sĩ khí tiêu điều, bút lông đến ngày hết được săn đón, mọi giá trị cũ đang sụp đổ trước uy thế của đồng tiền. Cái xã hội đảo điên tan tác ấy đã tác động đến nhiều nhà nho chân chính, có ý thức trước vận mệnh đất nước trong đó có Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Trước hiện thực cuộc sống ấy, cả hai ông đều có những nỗi niềm giống nhau: sự bất mãn phản kháng trước xã hội, tiếng nói tâm tình của một tấm lòng yêu nước nhưng giọng thơ lại rất khác nhau. Điều này sẽ được thấy rõ khi tìm hiểu về nội dung thơ ca của hai nhà thơ.
Cùng là sự bất mãn với xã hội, châm biếm, tố cáo những người những việc xấu xa nhưng cách thể hiện của hai nhà thơ rất khác nhau. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một nhà thơ châm biếm. Nội dung châm biếm của ông bao giờ cũng có một ý nghĩa xã hội và chính trị phong phú. Động cơ châm biếm của ông xuất phát không phải từ sự bất mãn về quyền lợi cá nhân mà là từ lòng yêu nước nồng nàn. Đối tượng đả kích của ông tập trung xung quanh những người những việc có liên quan đến việc nước mất hay việc thực dân Pháp đặt quyền thống trị trên đất nước ta. Hạng người bị Nguyễn Khuyến châm biếm nhiều hơn cả là bọn thống trị phong kiến. Ông rất khinh và ghét mọi quan lại cũ hay mới vì ông cho rằng khi chủ quyền trong nước đã mất thì làm quan là một điều hổ thẹn, một sự vi phạm không thể tha thứ được đối với đạo đức của một nhà nho chân chính. Nguyễn Khuyến đã đánh một đòn đau vào toàn bộ bọn vua quan đương thời khi chỉ ra tất cả bọn chúng chỉ là một đám hát chèo nghĩa là một đám bù nhìn của thực dân:Xem thêm: Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ: "Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. ( "Câu cá mùa thu" - Nguyễn Khuyến)“Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”
Ông đã hạ bệ những ông tiến sĩ tri thức nhân tài của chế độ phong kiến khi ví chúng vởi những ông tiến sĩ giấy. Tất cả chỉ là một lũ bất tài vô dụng:
“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi”
Nguyễn Khuyến đã lột trần cái bản chất xấu xa giả tạo của bọn quan lai nhưng bằng một cách thể hiện một cách rất nhẹ nhàng sâu kín. Cái bản chất ấy thường được bọc bên trong những hình ảnh ẩn dụ với nhiều hình thức: khi là sự mượn lời của người vợ mắng chồng, khi là qua một đồ vật giả, khi là lời khuyên…Tất cả đều ẩn ý, sâu cay.
Khác với Nguyễn Khuyến, Tú Xương khi phản ánh hiện thực thường miêu tả một cách chân thật đến chua xót, đắng cay chứ không nhẹ nhàng. Tuy nhiên, đó không phải là “một lối chửi đổng, bất lực chứng tỏ một trạng thái đầy ghen tức, oán hờn” như có người phê phán. Ông không hoàn toàn đứng trên lập trường cá nhân, bất mãn rồi phản ánh hiện thực. Tú Xương có vướng mắc trong vấn đề thi cử, có phần bất mãn cá nhân. Điều đó chúng ta không chối cãi. Nhưng điều cần thấy trước là ở Tú Xương có phần bất mãn chung của dân tộc. Nói cho đúng là ở Tú Xương bất mãn cá nhân và bất mãn chung của dân tộc đã kết hợp thành một chỗ đứng, một tư thế cho Tú Xương nhìn hiện thực và phê phán hiện thực. Cũng là châm biếm, đả kích bọn quan lại nhưng hãy xem, quan lại trong thơ Tú Xương hiện lên như thế nào? Với một thái độ khinh ghét đến tột độ, quan lại trong mắt của Tú Xương cũng là món hàng cho nên “đứa thì mua tước, đứa mua quan”, cũng thành chuyện đắt rẻ, “Tri huyện lâu nay giá rẻ mà”. Bộ mặt quan lại trong thơ Tú Xương hiện lên khá đậm nét. Tú Xương đã dựng lên trước mắt người đọc một cuốn phim thời sự đơn sơ nhưng sâu sắc về lai lịch, hành tung của bọn đó. Khi còn là sĩ tử, họ lôi thôi bệ rạc, một chút sinh khí không còn:
“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ”
Họ tranh lộn nhau khoa bảng:Xem thêm: Tóm tắt truyện "Số phận con người" của nhà văn Xô-cô-lốp“Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa
Tuân khoe văn hoạt, nghị văn già”
Khi đỗ đạt được thì chẳng qua là lao sâu vào ô nhục:
“Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”
Rồi lúc làm quan thì sa đọa, trụy lạc, không còn lấy chút đạo lí tối thiểu:
“Chồng chung vợ chạ kìa cô bố
Đậu lạy quan xin nọ chú hàn”
Đặc biệt họ chỉ chuyên nghề vơ vét, bòn rút của nhân dân mà một chút trách nhiệm cũng không hề nghĩ tới:
“Chữ y chữ chiểu không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ tiền"
Dưới ngòi bút của Tú Xương, quan lại là phường tuồng, đeo râu vẽ mặt, hò hét múa may để lừa bịp thiên hạ:
“Nào có ra gì cái lũ tuồng,
Cũng hò cũng hét cũng y uông
Dầu rằng dối được đàn con trẻ,
Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn”
Mô tả bọn quan lại trong buổi đầu của xã hội thực dân nửa phong kiến như Tú Xương là hay lắm.
Trong xã hội thực dân nửa phong kiến, đồng tiền làm mưa làm gió, thêm một bước gây đảo điên trong xã hội. Cùng là sự phản ánh mặt tiêu cực của đồng tiền nhưng ở Nguyễn Khuyến đó là một câu hỏi nghe nhẹ nhàng nhưng hàm ý sâu cay:
“Có tiền việc ấy mà xong nhỉ!
Đời trước làm quan cũng thế a?”
Khác hẳn với cách viết của Tú Xương, dưới ngòi bút của ông, đồng tiền có sức mạnh kì lạ. Nó được người đời âu yếm và tôn thờ. Nó bắt kẻ “tráng sĩ cũng nằm co”, nếu trong túi không có nó, ngược lại nó cho phép hễ ai có nó thì tha hồ nói dơi nói chuột mà vẫn được người khen. Đúng là:
“Kẻ yêu người ghét hay gì chữ
Đứa trọng thằng khinh chỉ vì tiền”.
Vì tiền mà bao nhiêu xấu xa thối nát, bao nhiêu quái gở lố lăng một ngày một diễn ra trong xã hội. Vì tiền mà có cảnh:
“Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là”.
Vì tiền mà bọn tu hành bỏ rơi cả đức độ từ bi của Phật quay sống cái nghề cho vay nợ lãi, vì tiền mà nhiều gia đình lục đục, con khinh bố, vợ chán chồng.
Thật là nguy hiểm. Đồng tiền đã phá hoại nhân tâm, phá hoại đạo lí, phá hoại bao nhiêu tình cảm thiêng liêng của con người.
Như vậy, ở cùng một đối tượng phản ánh nhưng người đọc bao giờ cũng phân biệt được đâu là thơ Nguyễn Khuyến, đâu là thơ Tú Xương chính bởi giọng điệu. Thơ Nguyễn Khuyến bao giờ cũng nhẹ nhàng, thường đùng hình thức ẩn dụ để qua đó đả kích, phê phán đối tượng. Người đọc thấy được cái hàm ý sâu cay thâm thuý ẩn chứa đằng sau con chữ. Đọc thơ Nguyễn Khuyến lúc đầu tưởng là khen đây, hỏi han ân cần thật đấy nhưng để rồi đến câu cuối lại là lời mỉa mai chế nhạo của nhà thơ. Tú Xương thì khác, ông không dùng ẩn dụ mà nói hẳn, đả kích trực tiếp đối tượng với tất cả những xấu xa của nó. Thơ ông như những đòn giáng thẳng vào đối tượng, lôi tuột hết những xấu xa, giả tạo của chúng, phơi bày trước mắt người đọc.Xem thêm: Giới thiệu về thể loại thơ đường Đọc thơ Nguyễn Khuyến người đọc thấy hóm hỉnh và thâm thuý thì đến thơ Tú Xương đó lại là sự bực bội, bất mãn đối với cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Cái xã hội ấy đã đẻ ra những thứ nhố nhăng, lố bịch, ở đây, người đọc luôn thấy được ngay sự xấu xa của đối tượng bị nhắc đến và thái độ gay gắt của nhà thơ thể hiện trên con chữ mà không cần suy ngẫm, đợi chờ.
Tuy nhiên, châm biếm đả kích sự xấu xa của xã hội mới chỉ là một mặt của lòng yêu nước ở hai nhà thơ. Một mặt khác không kém phần quan trọng là những nỗi buồn rầu, đau đớn thương tiếc luôn giày vò tâm can họ. Cả hai đều ý thức được nỗi nhục mất nước, ý thức được trách nhiệm của kẻ sĩ trước vận mệnh nước nhà rồi bất lực. Họ nghĩ đến giống nòi, tổ tông, biết tỏ thái độ bất hợp tác với kẻ thù, biết khinh bỉ những kẻ bán mất lương tâm. Song đến cuối đời vẫn không thoát được cái vòng bế tắc, quẩn quanh, sự day dứt mà chủ yếu vẫn bởi họ không đủ dũng khí bước vào đấu tranh.
Nguyễn Khuyến đã từng làm quan nhưng khi nhận ra những suy đồi của chế độ ông lập tức dứt áo giã từ. Ra đi theo tiếng gọi của lương tâm ông quyết sống cuộc đời dù nghèo khổ nhưng bảo toàn được danh tiết. Tú Xương không làm quan, đi thi tám lần không đỗ chỉ bởi phạm huý, sai luật.
Đứng trước những đổi thay của thế thái nhân tình, nhân cách nhà nho chân chính của hai con người ấy vẫn giữ được sự vững vàng, kiên trung, ở họ ta bắt gặp những quan điểm sống giống nhau. Với Nguyễn Khuyến đó là cách sống giả câm giả điếc “Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà”. Tú Xương cũng vậy, sống chỉ là “âm ờ, giả câm giả điếc”, là “khôn chán thì giả làm ngây” là không cần phô trương chí khí với đời là không màng công danh, ung dung ngoài vòng cương toả mà vẫy vùng cho thoả chí.
Hai con người, hai cách sống, hai cách thể hiện khác nhau, điều đó tạo nên sự độc đáo riêng đối với từng phong cách tác giả đồng thời làm giàu làm đẹp thêm cho vườn hoa văn học đất nước. Nhưng dù khác nhau về hình thức, họ lại gặp nhau nơi tấm lòng yêu nước sắt son, chung thuỷ. Đây chính là yếu tố để cả Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và người thư kí của thời đại Tú Xương luôn đi bên nhau và cùng nhau đường hoàng bước vào cõi bất diệt của văn học Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Giữa Nguyễn Khuyến và Tú xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ khác nhau_ Hãy làm rõ ý kiến của mình | 2,168 | |
Giữa sóng và em trong bài thơ Sóng có quan hệ như thế nào? Anh chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ?
Hướng dẫn
a) Giữa sóng và em có quan hệ tương đồng, vì các chi tiết về sóng chính là những chi tiết ẩn dụ cho tình yêu và tâm hồn nhân vật “em”. Sự tương đồng ấy được biểu hiện:
a1. Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩa và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, nhân quan sát biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng giống như sóng biển, đa dạng và hiến hoá, mạnh mẽ và thuỷ chung. Rồi cô ước ao hoá thành con sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu”. Đấy là kết cấu của một bài thơ trữ tình khó phân thành đoạn rõ ràng
a2. Tuy nhiên, nếu cần phải chia thành mẩy đoạn, có thể chia như sau:
– Đoạn 1: 4 câu đầu (ngẫu hứng về con sóng và tình yêu)
– Đoạn 2: khổ 2, 3 (lí do, nguyên cớ của cảm hứng về sóng biển và tình yêu)
– Đoạn 3: Từ khổ 5 đến khổ 8 (Nối tiếp cảm hứng về sóng biển và tình yêu).
Những biểu hiện muôn vẻ của sóng biển – tình yêu và khát vọng mãnh liệt của nhân vật trữ tình trong việc chinh phục tình yêu.
– Đoạn 4: Khổ cuối (Kết thúc bài thơ bằng ước vọng tình yêu vĩnh hằng)
a3. Người phục nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng tháitâm hồn với những con sóng. Sự tương đồng đó là:
– Đa dạng, muôn hình muôn vẻ:
"Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ”
Xem thêm: Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (từ khi Mị bị bắt làm con dầu gạt nợ đến khi cùng A Phủ trốn chạy khỏi Hồng Ngài)“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước ”
– Không từ cội nguồn, không thể cắt nghĩa
“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau? ”
– Mãnh liệt, sâu sắc:
“Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể ”
“Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức ”
– Thủy chung:
“Dẫu xuôi về phương bắc
Hướng về anh – một phương ”
Cứ như thế, sóng và em xoắn xuýt, sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập vào nhau, hoà tan với nhau ở khổ thơ kết thúc:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Để ngàn năm còn vỗ.
Đó chính là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng sóng của Xuân Quỳnh.
b) Với nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng đôi sóng và em – Âm điệu dào dạt… Bài thơ là bản tình ca ca ngợi tình yêu chân thành, mãnh liệt, thuỷ chung. Thể hiện tâm hồn đôn hậu mà trẻ trung sôi nổi trong khát vọng tình yêu, hạnh phúc.
Nguồn: | Giữa sóng và em trong bài thơ Sóng có quan hệ như thế nào_ Anh chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ_ | 531 | |
Gươm thần là một nhân vật vô cùng quan trọng trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Hãy nêu những cảm nhận của em về nhân vật này
Gợi ý
Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm đã thể hiện niềm tự hào vô bờ về lòng yêu nước, yêu hoà bình của dân lộc Việt Nam ta. Góp phần khẳng định truyền thống quý báu đó của dân tộc là "nhân vật" gươm thần trong tác phẩm.
Gươm thần nguyên là của Đức Long Quân. Ngài đã cho nghĩa quân mượn vì muốn nghĩa quân đánh thắng giặc. Long Quân là một trong những nhân vật thần kì do nhân dân sáng tạo ra. Bằng chi tiết Long Quân cho nghĩa quân Lê Lợi mượn gươm thần, tác giả dân gian đã chứng tỏ rằng cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn hợp chính nghĩa, lòng người; được nhân dân hết lòng ủng hộ. Khi đó, gươm thần trở thành hiện thân cho sự đồng thuận của thần và người đối với sự nghiệp đánh dẹp giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn (trên thanh gươm còn nêu lên hai chữ "Thuận Thiên").
Cách thức gươm thần đến với Lê Lợi cũng rất đặc biệt. Vị chủ tướng của nghĩa quân Lam Sơn không trực tiếp nhận gươm. Người đánh cá Lê Thận sau ba lần quăng lưới vất vả mới nhận được lưỡi gươm dưới nước. Có thể nói chi tiết này hàm ý nhắn nhủ: kháng chiến muốn thắng lợi phải biết kiên trì, nhẫn nại. Lê Lợi nhận được chuôi gươm trên rừng, đem khớp với lưỡi gươm nhận được ở vùng biển của Thận thì "vừa như in". Điều đó chứng tỏ sức mạnh của gươm thần thực chất là sức mạnh đoàn kết, thống nhất nguyện vọng, ý chí chống giặc ngoại xâm của toàn dân tộc, từ miền xuôi cho đến miền ngược, từ đồng bằng cho đến miền rừng núi. Hai chữ "Thuận Thiên" (hợp lòng trời) trên lưỡi gươm thần nhấn mạnh tính chất chính nghĩa, hợp lòng người, lòng trời của nghĩa quân Lam Sơn.Xem thêm: Em hãy thay lời Chuột Chù mẹ để giải thích cho chú Chuột Chù con bằng cách kể lại câu chuyện Đeo nhạc cho mèo
Đến với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, gươm thần đã phát huy sức mạnh thần kì của mình. Từ khi có gươm thần, nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng cao. Sức mạnh của gươm thần làm cho quân Minh bạt vía. Từ bị động và nhiều lần thua trận, nghĩa quân chủ động đi tìm giặc đánh và đã chiến thắng giòn giã, đuổi hẳn quân Minh về nước.
Đất nước đã thanh bình, Long Quân cho Rùa Vàng lên đòi lại gươm. Khi ấy Lê Lợi đang dạo chơi trên hồ Tả Vọng, Rùa Vàng nhô lên, lưỡi gươm đeo bên mình Lê Lợi động đậy. Rùa Vàng nói: "Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân". Vua rút gươm nâng về phía Rùa Vàng, Rùa Vàng ngậm lấy và lặn xuống nước.
Là một "nhân vật" đặc biệt trong truyền thuyết nổi tiếng của văn học nước nhà song gươm thần thực sự mang những ý nghĩa sâu sắc, thấm thía.
Vanmau.edu.vn | Gươm thần là một nhân vật vô cùng quan trọng trong truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm. Hãy nêu những cảm nhận của em về nhân vật này | 542 | |
Gương mặt mẹ em luôn hiện trong tâm trí em
Gợi ý
Với em, gương mặt mẹ là một hình ảnh vô cùng thân thuộc luôn thường trực trong tâm trí.
Mẹ em năm nay đã hơn ba mươi tuổi nhưng gương mặt mẹ trẻ hơn tuổi rất nhiều. Gương mặt mẹ hình trái xoan được ôm lấy bởi mái tóc đã cắt ngắn, đen và thẳng. Cùng những sợi tóc rất đẹp ấy phủ chéo một phần trên trán mẹ. Đôi mắt của mẹ long lanh như lúc nào cũng ánh lên niềm vui. Đuôi mắt dài nhìn thật đáng yêu biết mấy! Mẹ có chiếc mũi dọc dừa và đôi môi nhỏ nhắn, hồng tươi. Mỗi khi mẹ cười, người lại để lộ ra hàm răng trắng và một chiếc răng khểnh thật duyên. Nhưng em thích nhất làn da của mẹ. Da mẹ trắng và mịn, mỗi khi có chuyện gì vui, em chỉ muốn ôm chầm lấy mẹ và thơm nhẹ lên đôi má của mẹ. Gương mặt của mẹ em thật đẹp; em lại thầm hứa sẽ cố gắng học thật giỏi để luôn được thấy những nụ cười nở tươi trên gương mặt mẹ.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả con chó nhà em nuôi | Gương mặt mẹ em luôn hiện trong tâm trí em | 204 | |
Gần cuối năm học, Ban Giám hiệu cần biết tình hình học tập, sinh hoạt và công tác của lớp trong hai tháng cuối năm. Em hãy thay mặt tập thể lớp viết văn bản gửi lên Ban Giám hiệu
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Báo cáo tình hình hai tháng cuối năm học
(Từ 01 – 03 – 2009 đến 30 – 04 – 2009)
Lớp 7A trường THCS Mai Lĩnh
Kính gửi: Ban Giám hiệu Trường THCS Mai Lĩnh
Tên em là Ngô Thị Nguyện, lớp trưởng lớp 7A
Được sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, của Hội Cha Mẹ học sinh và đặc biệt là cô giáo chủ nhiệm Trịnh Ngọc Ánh lớp 7A trong hai tháng cuối năm học vặn được giữ vững ổn định về mọi mặt. Thay mặt tập thề lớp, em xin báo cáo tình hình đó như sau:
Sĩ số lớp: 40 học sinh
– Về học tập:
+ Tổng số giờ học là: 207 tiết
Trong đó số tiết học được xếp loại tốt là 172 tiết
Số tiết học được xếp loại khá là 30 tiết
Số tiết học được xếp loại khá là 05 tiết
+ Tống số lượt kiểm tra miệng: 93
Trong đó số lượt học sinh nhận điểm khá, giỏi là 54 lượt
Số lượt học sinh nhận điểm trung bình là 27 lượt
Số lượt học sinh nhận điểm yếu là 12 lượtXem thêm: Hãy tả lại một trận mưa rào mà em có dịp được quan sát + Số lượt học sinh không học bài, không chuẩn bị bài (giáo viên ghi sổ ghi đầu bài): 21 lượt
– Về kỉ luật:
+ Số học sinh bỏ học: 0
+ Số lượt học sinh đi học muộn: 11 lượt
+ Số lượt học sinh nghỉ học: 05 lượt
Trong đó có phép là 05/05 lượt nghỉ học
+ Số học sinh bỏ giờ, trôn tiết: 0
+ Số học sinh bị kỉ luật: 0
– Các hoạt động văn thể:
+ Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt dưới cờ của nhà trường.
+ Tham gia đầy đủ các buổi lao động của Liên đội.
+ Tham gia tích cực các hoạt động kỉ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, thành lập Đoàn 26/3, ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4… và được Ban thi đua khen thưởng của nhà trường đánh giá cao,.tặng nhiều giải thưởng (giải nhất văn nghệ, giải nhì cờ vua,…).
Mai Lĩnh, ngày 04 tháng 05 năm 2009
Thay mặt tập thể lớp
Lớp trưởng
Ngô Thị Nguyện
(đã kí)
Vanmau.edu.vn | Gần cuối năm học, Ban Giám hiệu cần biết tình hình học tập, sinh hoạt và công tác của lớp trong hai tháng cuối năm. Em hãy thay mặt tập thể lớp viết văn bản gửi lên Ban Giám hiệu | 417 | |
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xa tăng, đại bác.
Hướng dẫn
– Nhịp điệu lời văn khi nhanh khi chậm thể hiện những tình cảm say sưa, tự hào của tác giả đối với cây tre, đối với đất nước thân thương tươi đẹp.
– Nhiều nhịp ngắn, dứt khoát, mạnh mẽ, đanh thép, phù hợp với không khí và tinh thần của nhân dân ta trong những năm kháng chiến.
– Phép nhân hoá về từ vựng và việc sử dụng nhiều động từ với nghĩa hoạt động (chống, xung phong, giữ hi sinh, bảo vệ)
– Hai câu đối vừa lặp từ ngữ vừa lặp kết cấu ngữ pháp, ngắn gọn, không dùng động từ, ngắt nhịp sau từ tre đầu của câu đã ấn tượng rõ rệt về một lời tuyên dương công trạng với tre: làm cho câu văn càng trở nên hùng hồn, mạnh mẽ.
Nguồn:
Xem thêm: Em chọn và phân tích cái hay của một tác phẩm văn học ở lớp 7 mà em thích nhất | Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xa tăng, đại bác. | 176 | |
Gợi ý làm văn giải thích và bình luận câu tục ngữ Tấc đất, tấc vàng
Hướng dẫn
I. Mở bài:
… gắn liền với cuộc sống của mỗi người, mỗi nhà. Đã có biết bao câu ca, bài hát nói về giá trị của đất đai, ruộng vườn… nhưng gắn gọn và sâu'sắc nhất là câu tục ngữ:
‘Tắc đất, tấc vàng’.
II. Thân bài:
1. Phần giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng, ý nghĩa.
‘Tấc’là đơn vị đo lường, theo cách nói, cách tính toán, đo đạc của nhân dân ta ngày xưa. Từ ‘tấc đất’ khái niệm về diện tích chuyển sang cách nói ‘tấc vàng’; 194 một diện tích hạn hẹp, so sánh với một khối lượng và giá trị ‘tấc vàng’. Nhân dân ta đã lấy ‘tấc đất’ so sánh với ‘tấc vàng’, lấy cái bình thường để so sánh với cái quý hiếm, nhăm khẳng định một chân lí: đất quý như vàng, đất đai trồng trọt có giá trị đặc biệt. Câu tục ngữ còn mang một hàm nghĩa, khuyên mọi người phải biết quý trọng và bảo vệ đất đai ruộng đồng để sản xuất.
2. Phần bình luận.
a. Bình:
Câu tục ngữ ‘tấc đất, tấc vàng’ hoàn toàn đúng; ngày xưa, đúng; ngày nay vân đúng. Đất rất quý: đất để làm nhà, ruộng đồng, nương rẫy để trồng trọt, gieo cấy cây trái, lúa, hoa màu… Từ cái ăn cái mặc đến hoa thơm quả ngọt bốn mùa đều do đất mà có. Đất để phát triển nghề nông. Đất cho ta bãi lúa nương dâu xanh biếc.
Đất tồn tại với mọi người, mọi nhà. Đất là tài sản vô giá của quốc gia. Hiểu theo nghĩa rộng: đất là giang sơn Tổ quốc. Trái đất là ngôi nhà chung của nhân loại.
Đất là nguồn sống vô tận của con người, không thể thiếu. Trong lòng đất hàm chứa nguồn nước và bao khoáng sản quý báu.
Tóm lại, đất quý như vàng, đất quý hơn vàng.
b. Luận:
Đất đai, ruộng vườn chỉ quý và vô giá khi có bàn tay, khối óc của con người tác động vào. Con người chăm bón, vun xới, dẫn thủy nhập điền… làm cho đất thêm màu mỡ. Đất trở thành ‘bờ xôi ruộng mật’ thì lúc ấy mới thật sự là ‘tấc đất, tấc vàng’.
Xem thêm: Dựa vào bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu, em hãy tưởng tượng về một lần đi liên lạc được gặp chú bé Lượm và kể lại lẩn gặp gỡ đóQua câu tục ngữ, nhân dân ta khuyên nhủ mọi người biết quan tâm bảo vệ, giữ gìn đất, không được làm cho ruộng đồng, vườn tược… bị bạc màu, khô xác, cằn cỗi. Không ai được lãng phí hoặc bỏ hoang đất. Ca dao có câu:
‘Ai ơi, chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu!’
Nước ta từ một nền nông nghiệp đi lên, đất là tài sản quốc gia. Chính sách khai hoang, lấn biển giao đất giao rừng, mở mang vùng kinh tế mới của Chính phủ hiện nay đã làm cho nền nông nghiệp nước ta phát triển mạnh, cuộc sống của hàng chục triệu nông dân ngày thêm ấm no, giàu có. Cuộc ‘cách mạng xanh’ với nhiều giống lúa mới cho năng suất cao, chống sâu bệnh… là nhân tố quan trọng làm cho đất thực sự là ‘tấc đất, tấc vàng’. Nông nghiệp đang trở thành nền sản xuất hàng hóa trong sự phát triển kinh tế thị trường. Nước ta đã xuất kháu được hơn nhiều triệu tấn gạo đứng thứ hai các nước xuất khẩu gạo trên thế giới. Vấn đề lương thực nuôi sống hơn 80 triệu người đã được giải quyết. Cho nên, mỗi chúng ta càng thêm thấm thía đất quý hơn vàng.
Mồ hôi làm cho đất thêm màu mỡ. Máu đổ xuống mới giữ được ‘đất’, mới bảo vệ được giang sơn gấm vóc. Trong kháng chiến, Hồ Chủ tịch đã từng dạy:
‘Ruộng rẫy là chiến trường,
Cuốc cày là vũ khí,
Nhà nông là chiến sĩ’
Thời nào cũng vậy, tình yêu đất đai, vườn tược, ruộng đồng của con người Việt Nam gắn liền với tình yêu quê hương đất nước.
III. Kết luận:
Tóm lại, câu tục ngữ ‘Tấc đất, tấc vàng’ đã khẳng định giá trị của đất: đất quý như vàng, đất quý hơn vàng. Nó nhắc nhở mọi người phải biết quý trọng, giữ gìn, bảo vệ đất đai; không ai được phá hoại đất đai, lãng phí đất đai. Nhà nông phải chăm bón, vun xới cho vườn tược, ruộng rẫy được màu mỡ, tươi tốt.
Sau chiến tranh, đất đai bị tàn phá nặng nề, rừng đầu nguồn bị chặt phá bừa bãi, đất bị xói mòn, bị bạc màu nghiêm trọng. Dân số tăng nhanh, bình quân đất canh tác tính theo đầu người giảm đi nhanh chóng. Vì thế, hơn bao giờ hết, mỗi người công dân phải có nghĩa vụ giữ gìn và bảo vệ đất đai, đồng ruộng. Đất nuôi sống người. Đất là Tổ quốc thiêng liêng mà ta yêu quý:
‘Tấc đất, tấc vàng’.
Nguồn: thêm: Viết đoạn văn ngắn giải thích tại sao trong văn bản “Mẹ tôi” của A - mi - xi người bố không nhắc nhở En - ri - cô trực tiếp mà lựa chọn cách viết thư | Gợi ý làm văn giải thích và bình luận câu tục ngữ Tấc đất, tấc vàng | 888 | |
Hai anh em chim sẻ sắp bay được. Một hôm, chim mẹ mang về một hạt thóc cho hai anh em. Chim anh nói với chim em: “Hạt thóc cứng quá!” Hãy kể tiếp câu chuyện trên
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
Hai anh em chim sẻ sắp bay được, một hôm, mẹ mang về một hạt thóc cho hai ahh em. Chim anh nói với chim em:
– Hạt thóc này cứng quá!
Hai anh em cố gắng cắn hạt thóc nhưng nó vẫn y nguyên, không hề bị bể. Một chốc sau, chim anh cảm thấy nản chí nên đã vứt đi hạt thóc, chim em thấy vậy liền nhặt lại và nghĩ rằng:
– Đây chính là công sức của mẹ đã bỏ ra để mang về cho ta. Tại sao lại bỏ phí như thế?
Thế là chim em mang hạt thóc cất cẩn thận vào một góc kín. Ngày này qua ngày nọ. Những hạt thóc cứng mà chim anh đã vứt đi lại được chim em cất giữ đã nhiều dần lên. Một hôm nọ, chim mẹ bị bệnh không thể nào đi kiếm ăn được nhưng vẫn cố gắng để đi tìm thức ăn cho con. Chim em ngăn cản mẹ và đem ra số thóc mình đã tiết kiệm bấy lâu nay. Đến bây giờ những hạt thóc cứng không còn là trở ngại đối với hai anh em chim sẻ như ngày nào nữa, cả ba mẹ con vui vẻ với số lương thực tuyệt vời này. Chim mẹ ôm chim em vào lòng âu yếm:Xem thêm: Tóm tắt cốt truyện của văn bản Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật õng Sáu trong truyện– Con của mẹ giỏi lắm, biết tiết kiệm như thế là một đức tính tốt đấy con ạ.
Chim anh cảm thây hổ thẹn trước hành động hoang phí của mình và việc làm cao đẹp của em.
Vanmau.edu.vn | Hai anh em chim sẻ sắp bay được. Một hôm, chim mẹ mang về một hạt thóc cho hai anh em. Chim anh nói với chim em_ “Hạt thóc cứng quá!” Hãy kể tiếp câu chuyện trên | 324 | |
Hai bên thoả thuận với nhau về việc thuê nhà
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
* * * * * *
Hà Nội, ngày… tháng.. năm 2009
HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ LÀM VIỆC
– Căn cứ Luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Chúng tôi gồm:
Bên cho thuê nhà (sau đây gọi tắt là bên A):
Ông (bà):
SỐ CMTND (hộ chiếu)… do CA… cấp ngày…
Địa chỉ:
Điện thoại:
Bên thuê (sau đây gọi tắt là bên B):
Ông (bà):
Số CMTND (hộ chiếu)… do CA… cấp ngày…
Đại diện cho Trung tâm nghiên cứu, hợp tác và bồi dưỡng kiến thức
Điện thoại:
Hai bên thống nhất kí kết Hợp đồng thuê nhà dùng cho mục đích làm văn phòng với các nội dung sau:
I. ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA NHÀ LÀM VIỆC
1. Địa chỉ: p. 402 G4, đường Trung Yên
2. Cấp nhà làm việc: Nhà chung cư.
3. Tổng diện tích bao gồm 4 phòng làm việc, 1 phòng khác, 2 phòng vệ sinh, 2 ban công (diện tích dử dụng 75m2)
4. Trang thiết bị chủ yếu gắn liền với nhà làm việc: đèn chiếu sáng, hệ thống điện nước.
II. GIÁ CHO THUÊ NHÀ LÀM VIỆC VÀ PHƯƠNG THÚC THANH TOÁN
1. Giá thuê: 500.000.000d (năm triệu đồng chẵn) một tháng.
2. Bên B sẽ thanh toán cho bên A những khoản phát sinh hàng tháng từ việc sử dụng điện nước và điện thoại. Mức phát sinh sẽ tuỳ thuộc vào thực tế sử dụng và bên A sẽ thông báo bên B hàng tháng.Xem thêm: Giới thiệu khái quát thể thơ Đường luật trong văn học Việt Nam… Đọc Tỏ lòng, anh (chị) rút ra được bài học gì3. Phương thức thanh toán: Bằng tiền mặt trả vào ngày 05 đầu quý.
III. THỜI HẠN HỢP ĐỒNG
1. Thời hạn cho thuê là 12 tháng kế từ ngày 01/03/2009
2. khi hết hạn hợp đồng tuỳ theo tình hình thực tế 2 bên có thế thoa thuận gia hạn hoặc chấm dứt hợp đồng
3. Một trong 2 bên ngừng thời hạn trước thời hạn đã thóa thuận thì phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 tháng.
IV. QUYỀN HẠN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN
1. Quyền và nghĩa vụ của bên A
– Được lấy lại nhà khi thời hạn thuê đã hết.
– Cam kết báo đảm quyền sử dụng trọn vẹn hợp pháp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để bên B sử dụng mặt bằng cho mượn hiệu quá.
– Bàn giao toàn bộ các trang thiết bị đồ dùng hiện có như đã thoả thuận ngay sau khi hợp đồng được ký
– Trong trường hợp cần chấm dứt hợp đồng thuê nhà trưởc thời hạn cần báo trước cho bên B bằng văn bản trước ít nhất 03 tháng.
2. Quyền và nghĩa vụ của bên B
– Sử dụng nhà đúng mục đích thuê, khi cần sửa chữa cải tạo theo yêu cầu sử dụng riêng sẽ bàn bạc cụ thể với bên A và được thống nhất bằng văn bản.
– Chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động của Trung tâm theo đúng pháp lệnh hiện hành.
– Thanh toán các khoản chi phí phát sinh như tiền điện dùng, tiền nước, điện thoại đầy đủ và đúng hạn trong thời gian thuê nhà.Xem thêm: Kể lại truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu– Trả nhà cho bên A theo đúng thoả thuận. Trường hợp cần chấm dứt hợp đồng thuê nhà trước thời hạn cần báo trước cho bên A bằng văn bản trước ít nhát 03 tháng.
V. CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THO THUÊ NHÀ LÀM VIỆC
Việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà làm việc được thực hiện trong các trường hợp sau:
1. Thời hạn thuê đã hết.
2. Nhà làm việc không còn.
3. Nhà làm việc cho thuê phải phá dỡ do bị hư hỏng nặng có nguy cơ sập đổ hoặc do thực hiện quy hoạch cùa Nhà nước
4. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn
VI. CAM KẾT CỦA CÁC BÊN
1. Hai bên cùng cam kết thực hiện đúng các nội dung đã ký. Trong quá trình thực hiện nếu phát hiện thấy những vấn đề cần thoả thuận thì 2 bên có thể lập thêm phụ lục hợp đồng. Nội dung hợp đồng phụ có giá trị pháp lý như hợp đồng chính
2. Hợp đồng được lập thành 04 bản có giá trị như nhau. Bên cho thuê giữ 01 bản, bên thuê giữ 03 bản.
3. Hợp đồng này có giá trị kể từ ngày 2 bên ký kết.
ĐẠI DIỆN BÊN A ĐẠI DIỆN BÊN B
(ký và ghi rõ họ tên) (ký và ghi rõ họ tên)
Vanmau.edu.vn | Hai bên thoả thuận với nhau về việc thuê nhà | 779 | |
Hai bức tranh đời tương phản trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn
Gợi ý
Bước vào thế kỉ XX, văn học nói chung, truyện (truyện ngắn, truyện dài) Việt Nam nói riêng có nhiều đổi mới, mang tính hiện đại. Truyện ngắn hiện đại thiên về tính chất hư cấu, cốt truyện phức tạp hơn, khắc hoạ được nhiều hình tượng, chi tiết sinh động nhằm phát hiện bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâm hồn con người phong phú, tinh tế hơn các tác phẩm tự sự trung đại. Một trong những tác phẩm mở đầu cho truyện ngắn hiện đại là truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn.
Tác phẩm kể chuyện viên quan phủ làm nhiệm vụ cai quản, chỉ đạo nhân dân đắp đê chống bão lụt ở một vùng sông nước Bắc Bộ trong một đêm vào đầu thế kỉ XX. Câu chuyện có thể chia 3 đoạn. Đoạn 1: từ “Gần một giờ đêm.” đến "… Khúc đê này hỏng mất”: nguy cơ vỡ đê vỡ và sự chống đỡ tuyệt vọng của người dân. Đoạn 2: từ “ấy, lũ con dân…” đến “… Điếu mày”: cảnh quan phủ mà nha lại đánh tổ tôm trong khi “đi hộ đê”. Đoạn 3: phần còn lại: cảnh đê vỡ, nhân dân lâm vào tình trạng thảm sầu. Với tiêu đề sống chết mặc bay, dường như tác giả Phạm Duy Tốn muốn tập trung phát hiện và nghiêm khắc phê phán thái độ vô trách nhiệm, bỏ mặc nhân dân trong tình cảnh khốn cùng của một viên quan phủ khi xuống địa phương chỉ đạo việc hộ đê. Đọc tác phẩm, chúng ta nhận rõ nhà văn đã xây dựng các chi tiết, tình huống tương phản, tăng cấp rất đặc sắc. Hai mặt tương phản đó là: trong khi nhân dân phải vật lộn căng thẳng, vất vả đến cực độ trước bão lụt thì viên quan phủ cùng nha lại, chánh tổng – những kẻ chức sắc ở địa phương – say sưa cờ bạc, không mảy may nghĩ tới việc chỉ đạo dân "hộ đê". Đúng là hai bức tranh đời tương phản, đối lập gay gắt, khiến người đọc phải suy ngẫm và xúc động…
Bức tranh thứ nhất: Cảnh nhân dân chống bão lụt.
Về thời gian, đây là lúc "gần một giờ đêm" nghĩa là thời điểm khuya khoắt, mà khi bình thường, mọi người đang ngủ say. Xác định thời gian nửa đêm như thế, nhà văn muốn nói rằng: cuộc hộ đê của nhân dân nơi đây đã kéo dài suốt cả ngày đến tối, vào tận đêm khuya mà chưa được ngơi nghỉ. Nặng nề và căng thẳng biết bao! Trong khi đó, mưa, gió mỗi lúc một mạnh. "Mưa tầm tã", rồi lại "trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống". Phối hợp với mưa, nước sông cũng mỗi lúc một dâng cao. "Nước sông Nhị Hà lên to quá" rồi lại "nước cứ cuồn cuộn bốc lên". Giữa cảnh trời, nước dữ dằn, bạo liệt như thế, công cuộc hộ đê của nhân dân diễn ra thế nào? Nhốn nháo, căng thẳng, vất vả, cơ cực, khốn khỗ, hiểm nguy vô cùng! "Hàng trăm nghìn con người… kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy… người nào người nấy lướt thướt như chuột lột" khiến cho người đọc có cảm tưởng được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, và đang sống giữa một cuộc hộ đê chống bão lụt có thật. Cùng với những từ ngữ, câu văn tả thực, nhà văn điểm vào vài ba câu cảm thán "xem chừng núng thế lắm… không khéo thi vỡ mất… Tình cảnh trông thật là thảm… Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời. Lo thay! Nguy thay!…". Sự yếu kém của đê điều, sức lực của con người trước thiên tai mỗi lúc một thê thảm rất đáng lo ngại, rất đáng xót thương! Phạm Duy Tốn đã kết hợp ngòi bút tả thực với biểu cảm, trữ tinh, dẫn người đọc vào trung tâm cuộc sống, lay động lòng người, đánh thức những tình cảm đúng đắn trong chúng ta. Xem thêm: Dựa vào dàn ý đã lập ở tuần 1, em hãy viết một bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên trên cánh đồng, trên nương rẫy, đường phố)
Bức tranh đời thứ hai, tương phản với cảnh nhân dân chống lụt cơ cực, vất vả là cảnh viên quan phủ cùng tay chân chơi bời, cờ bạc, hưởng thụ, để dân… "sống chết mặc bay", ở bức tranh này, nhà văn cũng dùng ngòi bút tả thực, chân thực đến… lạnh lùng, về địa điểm, bọn quan lại ấy đang ngồi ở trong đình vững chãi, đê vỡ cũng không sao. Quang cảnh, không khí tĩnh mịch, trang nghiêm, mọi người nhàn nhã đánh tổ tôm: "…đèn thắp sáng trưng… nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ đi lại…". Đặc biệt là hình ảnh viên quan phủ. Hắn "uy nghi, chễm chện ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ dưới đất mà gãi…". Xung quanh hắn là bọn lính lệ chầu chực đợi sai khiến; những vật dụng quý giá, đắt tiền như bát yến hầm đường phèn, khay khảm, tráp đồi mồi đựng trầu vàng, cau đậu… Lại thêm cả đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm bạc, ngoáy tai, ví thuốc… Đúng là hình ảnh của một kẻ giàu sang, phú quý, mang danh đi chỉ đạo dân hộ đê mà như đi chơi, để khoe khoang của cải. Đúng là hắn đi… chơi! Giữa lúc nhân dân đang trảm thảm, nghìn sầu thì tên quan cùng đồng bọn say sưa, đắm mình trên chiếu bạc. Ngồi xung quanh hắn, một lũ tay chân nín thin thít hầu hạ quan, tạo mọi điều kiện để quan thắng bạc. Đến thời điểm ngoài kia đê sắp vỡ, sự gắng sức của dân lên đến đỉnh điểm, thì viên quan hồi hộp đợi chờ ván bài ù to. ở phần cuối bức tranh, quan phủ ngồi đợi thắng bạc, tác giả sử dụng nghệ thuật miêu tả tăng cấp rất ấn tượng, rất hồi hộp. Hình ảnh đối lập vì thế càng gay gắt. Nghe ngoài xa vẳng vào tiếng kêu vang trời, có người khẽ nói: "Bẩm, dễ có khi đê vỡ". Tên quan quát: "Mặc kệ". Khi một người nhà quê hớt hải chạy vào báo tin "Bẩm… quan lớn… đê vỡ mất rồi" thì tên quan đỏ mặt tía tai quát mắng: "Đê vỡ rồi!… thời ông cách cổ chúng mày… bỏ tù chúng mày". Hắn đã quên hết nhiệm vụ giúp dân chống lụt, để chỉ đợi một quân bài. Sự đối lập giữa tình cảnh khốn khổ của dân chúng, nỗi lo âu của mọi người xung quanh và thái độ vô trách nhiệm của tên quan lên đến đỉnh điểm. Nhưng chưa dừng lại. Sự đối lập vẫn tiếp tục tăng cấp. Trong khi thầy đề "tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc…" (nghĩa là người nhân viên này cùng mọi người xung quanh rất lo sợ trước cảnh vỡ đê) thì tên quan sung sướng hả hê ngả ra những quân bài, ù một ván to. Không những thế, hắn còn vỗ tay xuống sập kêu to, miệng vừa cười vừa nói: "Ù! Thông tôm, chi chỉ nảy… Điếu mày!". Nghĩa là kẻ quan liêu, vô trách nhiệm ấy reo vui, sung sướng đến tột đỉnh được hưởng thụ một món tiền lớn, giữa lúc nhân dân đau khổ cũng đến mức độ thảm sầu, không thể đo được. Tình huống truyện diễn biến đến đây quả là căng thẳng; sự tương phản, đối lập quả là gay gắt, mâu thuẫn không thể dung hoà. Người đọc như bị cuốn vào câu chuyện và cũng cảm thấy căng thẳng, ngột ngạt, bức bối, tràn đầy nỗi tức giận, căm ghét tên quan vô trách nhiệm, tham tiền và tràn đầy tình cảm xót thương những người dân khốn khổ bị lãng quên, bị bỏ mặc… Giận và thương, hai cung bực cảm xúc ấy dường như thấm đẫm trong từng từ ngữ, câu văn. Kết thúc truyện, nhà văn viết: "Ấy trong khi quan lớn ù ván to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không có chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!". Câu văn kéo dài, nhấn mạnh hai bức tranh đời tương phản, vừa kể chuyện, vừa miêu tả, vừa biểu ý, vừa biểu cảm. Nhịp câu biền ngẫu, đối xứng lâm li, hài hoà tiếng nấc nghẹn, cảm phẫn với dòng nước mắt xót đau, thương cảm. Xem thêm: Viết một đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) nêu cảm nhận của em về con người Đỗ Phủ qua ước muốn vĩ đại của ông được thể hiện qua bài thơ: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” (Mao Ốc vị thu phong sở phá ca) Vậy đấy, bằng sự khéo léo trong việc vận dụng kết hợp hai phép tương phản và tăng cấp trong nghệ thuật, tác giả sống chết mặc bay đã lên án gay gắt tên quan phủ "lòng lang dạ thú" trước sinh mạng của người dân và bày tỏ niềm cảm thương của mình trước cảnh "nghìn sầu muôn thẳm" của nhân dân do thiên tai và cũng do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền đưa đến. Hai bức tranh đời tương phản, trái ngược ấy đậm đà chất hiện thực và thấm đẫm cảm hứng nhân đạo, nhân văn…
Vanmau.edu.vn | Hai bức tranh đời tương phản trong truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn | 1,682 | |
Hai bức tranh “mùa thu xưa – mùa thu nay” và sự thay đổi về cảm xúc của Nguyễn Đình Thi trong bài thơ “Đất nước”
Gợi ý
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sỹ đa tài, ông thành công trong rât nhiều lĩnh vực như thơ ca, âm nhạc, hội hoạ… Nhưng dường như ông vẫn được người đời nhắc đến nhiều nhất với tư cách một nhà thơ. Và ông là một nhả thơ viết rất hay, rất ấn tượng về hình ảnh một đất nước đau thương mà bất khuất trong chiến tranh, về tình yêu đôi lứa hài hoà trong tình yêu Tổ quốc. “Đất nước” là một đỉnh cao trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Đình Thi. Bài thơ được hình thành trong một khoảng thời gian dài. Tiền thân của Đất nước là bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949). Cả hai bài thơ đều viết từ Việt Bắc kháng Pháp trong tâm trạng nhớ Hà Nội, nỗi nhớ da diết, dạt dào yêu thương.
Nguyễn Đình Thi không sinh ra nhưng lớn lên ở Hà Nội, có lẽ vì thế mà ông có rất nhiều gắn bó với Hà Nội. Trong bài “Người Hà Nội” sáng tác hồi đầu kháng chiến, bằng cả nét nhạc và lời ca, ông đã thể hiện được sâu sắc ý chí cách mạng và cái thần thái tài hoa của ba mươi sáu phố phường:
“Những cửa đầu ô
Tíu tít gánh gồng, đây Ô chợ Dừa, kia ô cầu Dền
Làn áo xanh nâu…”
Trong bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” cũng phảng phất một cái hồn Hà Nội như vậy: đẹp, thơ mộng và đầy không khí lãng mạn chiến đấu. Bài thơ đã mở đầu bằng những câu thơ đẹp, bình yên tựa như mùa thu Hà Nội:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới”
Bài thơ “Đất nước” là sự sắp đặt cạnh nhau của hai bức tranh mùa thu Hà Nội ở hai thời điểm khác nhau nhưng bức tranh nào cũng thật đẹp, thật đậm chất Hà Nội. Đã có rất nhiều nhà.văn nhà thơ khác viết về mùa thu, nhưng Nguyễn Đình Thi có một điểm rất khác, rất độc đáo, ông không cảm nhận mùa thu bằng những hình ảnh ước lệ “sen tàn, cúc nở hoa, lá ngô rụng” cũng không đón nhận mùa thu bằng “rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang ỉ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng” như Xuân Diệu, ông cảm nhận mùa thu bằng “hương cốm mới” rất đặc trưng cho Hà Nội. Người Hà Nội lịch lãm, tinh tế từ lời ăn tiếng nói cho đến những thức quà. Hương cốm gợi lên sự tinh tuý, giản dị rất đặc trưng’cho Hà Nội mỗi độ thu sang. Một hình ảnh giản dị, nhưng lại tả được không gian, thời gian thu, vừa bộc lộ tâm lòng yêu Hà Nội, yêu đất nước sâu lắng, thiết tha của thi nhân.Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ Đứng trước mùa thu Việt Bắc, nhà thơ đã bồi hồi nhớ lại mùa thu đã xa. Đó là mùa thu phải từ biệt quê hương ra đi vì nghĩa lớn:
“Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may”
Nỗi nhớ về Hà Nội vào thu được miêu tả qua những chi tiết cụ thể và đầy ấn tượng “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội”, diễn tả chính xác giây phút chuyển mùa, giây phút giao thoa giữa hơi ấm mùa hè chưa kịp đi qua hết và cái lạnh đầu thu báo hiệu gió rét mùa đông sắp về. Cái “chớm lạnh” tuy còn sẽ sàng, e ấp nhưng dường như đã báo trước một cảnh sắc thiên nhiên đầy thú vị:
“Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung”
(Hồ Dzếnh)
Từ “chớm” là một từ đắt, nói lên cái giây phút ban đầu, giây phút mới hình ảnh của tạo vật và lòng người. Chút lạnh trong lòng Hà Nội vô cớ kéo theo cảm giác lạnh trong tâm hồn con người. Phải là một nghệ sỹ có sự rung động thật sự tinh tế, nhạy bén mới có thể nhận biết được sự “chớm” lan toả khắp không gian, thời gian và lòng người như vậy. Trước Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu đã cảm nhận ở mùa thu chút run rẩy của cây lá:
“Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh"
Bằng sự nhạy cảm trong giác quan, Nguyễn Đình Thi mở rộng tâm hồn lắng nghe “những phố’ dài xao xác hơi may”. Hơi thu mới bắt đầu nhưng cũng đủ để kéo dài cái se lạnh trên đường phố. Phố Hà Nội hẹp thôi, nhỏ thôi nhưng cái hơi lạnh ấy dễ khiến ta cảm thấy phố như dài hơn, vắng hơn. Là “hơi may” chứ không phải “heo may”, mùa thu mới chỉ “chớm” về, chưa đủ mạnh để làm thành heo may, chỉ là những gì nhẹ nhàng nhất, dịu dàng nhất, thi vị như hơi thở của mùa thu Hà Nội, một Hà Nội tài hoa, thanh lịch, cổ kính. Vì nhẹ nên nó mới “xao xác” thổi, xao xác như chính cái cảm giác bâng khuâng, xao xuyến của cấi lạnh không phải toả ra từ gió mà toả ra từ sự trống vắng, buồn hiu hắt của phố phường, của hồn người xa quê. Tâm trạng người xa quê, ra đi vì non sông đất nước lưu luyến khi chia tay Hà Nội, thấm thìa cảm giác lạnh trong lòng Hà Nội và trong chính lòng mình. Giờ phút chia tay, Hà Nội như bỗng trở thành một sinh thể sông với hơi thu hiu hắt trong ngọn gió đầu mùa, những cơn gió gợi nhớ nhung, gợi niềm xa vắng.Xem thêm: Phân tích giá trị lịch sử của bản "Tuyên ngôn độc lập”. Nêu một vài cảm nhận về phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của Hồ Chí Minh qua bản "Tuyên ngôn Độc lập” này
“Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
Sắc thu Hà Nội đã hoá vào đời sống nội tâm con người, trở thành ký ức, thành tình yêu và nỗi nhớ. Bước chân người đi dứt khoát mà lòng lại lưu luyến, ngập ngừng, cái buồn ẩn sau trong “xao xác, hơi may”, “cái buồn của một sự đoạn tuyệt lặng lẽ, tự chủ” (Vũ Quần Phương).
Sau khi hồi tưởng đến mùa thu của những ngày rời Hà Nội ra đi vì nghĩa lớn với cảm xúc “buồn buồn lặng lặng” (Hoài Thanh), tác giả bộc lộ cảm nghĩ của mình về mùa thu mới, thu trên đất nước nhân dân đã làm chủ vận mệnh của mình, đồng thời là mùa thu kháng chiến ở núi rừng Việt Bắc:
“Mùa thu nay khác rồi”
Đó là sự khác biệt về không gian, thời gian, tâm trạng của con người trước mùa thu. Nhưng cái khác trước hết của “mùa thu nay” được người đọc nhận ra ngay ở nhịp điệu, tiết tâu, hình ảnh thơ, từ những câu thơ thất ngốn sâu lắng, cổ kính đậm màu sắc Đường thi, đoạn thơ như một khúc hát của một trái tim chất chứa niềm vui, chất chứa sự tự do, tự chủ. Đứng giữa không gian bao la, giữa đất trời bất ngát thoáng đãng, với trái tim reo vui, tác giả đã lắng nghe, cảm nhận sắc thu, hồn thu mới “Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi” – “vui nghe” niềm vui xuất phát từ trái tim, niềm vui nhuốm cả cảnh vật, đất trời, mây nước.
“Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha”
Phải chăng rừng tre phấp phới chính là sự ẩn dụ cho lá cờ đỏ bay phấp phới giữa chiến khu tự do, là niềm vui phơi phới của con người đang bay lên cùng với đất trời giải phóng, Trong niềm vui ấy, nhà thơ đã cảm nhận được sự thay đổi rất mực tinh tê’ của hồn thu, và bằng biện pháp nhân hoá, Nguyễn Đình Thi không chỉ diễn tả được sự thay đổi của sắc thu mà còn diễn tả được sự thay đổi của long người, của hồn người. Qua câu thơ của Nguyễn Đình Thi, dường như mùa thu đất nước được hồi sinh và hiện lên như một cô gái đầy sức trẻ “trong biếc nói cười thiết tha”. Câu thơ như khúc hát ngân vang cùng đất trời hoà vào lòng người. Không còn là một mùa thu “buồn buồn lặng lặng” mùa thu nay đã tươi sáng hơn, đẹp đẽ hơn, mùa thu từ đây không còn là “không thu thảm thu sầu” mà còn là “thu sướng nhuộm màu xuân mát mát”.Xem thêm: Qua bốn truyện cười đã học, em thấy chúng buồn cười ở chỗ nào? Đứng trước khung cảnh mùa thu đất nước như đang hồi sinh, trào dâng sức sống, niềm vui, với tình yêu thương nồng thắm, tác giả đã bộc lộ ý thức độc lập, tự chủ và niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp. Thông qua tình cảm nồng thắm, yêu thương và chói đỏ tự hào của tác giả, bức tranh đất nước cứ lần lượt được mở ra với không gian ba chiều bát ngát và hiện lên với những đường nét, màu sắc, hình khôi và cả hương vị, thật nên thơ, nên họa:
“Trời xanh dây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa”
Câu thơ mang tính chất khẳng định, cùng đại từ chỉ định “đây” cùng những điệp ngữ “của chúng ta” đã vang lên dõng dạc niềm tự hào, kiêu hãnh về quyền làm chủ đất nước. Nhà thơ như hát chung với dàn đồng ca của nhân dân, hoà chung vào cảm hứng vui sướng, tự hào được làm chủ đất trời thiên nhiên Tổ quốc tươi đẹp.
Hai bức tranh mùa thu với những cảm xúc khác nhau, với không gian, thời gian khác nhau. Hai bức tranh tưởng như đốì lập nhưng thực ra lại là một sự chắp ghép rất hoàn hảo. Mùa thu xưa và mùa thu này – nỗi buồn của người ra đi tìm đường cứu nước và niềm vui của người chiến thắng làm chủ đất nưởc – chiều dài của không gian, thời gian, tất cả đã tạo thành một mạch xuyên suốt toàn bài thơ.
“Tình nào hơn Tổ quốc”. Với tình yêu Tổ quốc sâu nặng, mỗi nhà thơ bằng những cách khác nhau đã góp phần tạo nên những tượng đài cao đẹp về Tổ quốc, là Tổ quốc đau thương dưới gót giầy xâm lược, là Tổ quốc với cảnh sắc nên thơ “Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt”… Với Nguyễn Đình Thi, Tổ quốc là sự hồi sinh tràn đầy sức sông, là ý thức độc lậo tự chủ và niềm tự hào về Tổ quốc giàu đẹp, có truyền thông bất khuất kiên cường.
Vanmau.edu.vn | Hai bức tranh “mùa thu xưa – mùa thu nay” và sự thay đổi về cảm xúc của Nguyễn Đình Thi trong bài thơ “Đất nước” | 1,887 | |
Hai câu thơ cuối trong thơ Sang thu của Hữu Thỉnh đã để lại trong lòng người đọc nhiều liên tưởng khá thú vị. Em hãy viết đoạn văn để làm rõ nhận định đó
Gợi ý
Hai câu thơ cuổì cùng trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh gợi cho ta nhiều suy nghĩ, liên tưởng thú vị. “Sấm cũng bớt bất ngờ. Trên hàng cây đứng tuổi”. Giọng thơ trầm hẳn xuống, câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy nghĩ chiêm nghiệm về đời người. Mùa thu của thiên nhiên hay "mùa thu” của mỗi con người? Nhìn cảnh vật biến chuyến khi thu mới bắt đầu, Hữu Thỉnh nghĩ đến cuộc đời khi đã "đứng tuổi". Phải chăng mùa thu của đời người là sự khép lại những tháng ngày sôi nổi với những bất thường của tuổi trẻ và mỏ ra một mùa mới, một không gian mới, yên tĩnh, trầm lắng hơn. Hai hình ảnh "sấm" và "hàng cây đứng tuổi” vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho thày một Hữu Thỉnh rất đỗi tinh tế, nhạy bén trong cảm nhận và liên tưởng. Mùa thu thường không rạo rực, ấm áp như mùa xuân, không sôi động rộn ràng như mùa hạ, hay lạnh lẽ, thê lương như mùa đông. Thu đến rất nhẹ nhàng và đi rất lặng lẽ. Thu không đánh thức ta bằng những âm thanh vang động, màu sắc lộng lẫy, hương vị ngạt ngào mà gieo vào lòng ta những thoáng xao động, mơ màng, gợi trong ta những suy nghĩ sâu xa về cuộc sống. Có lẽ vì thế mà thơ thu, trong đó có Sang thu của Hữu Thỉnh rất giàu ý nghĩa.Xem thêm: Văn nghị luận: Quan niệm của em về lối sống giản dị của một con ngườiVanmau.edu.vn | Hai câu thơ cuối trong thơ Sang thu của Hữu Thỉnh đã để lại trong lòng người đọc nhiều liên tưởng khá thú vị. Em hãy viết đoạn văn để làm rõ nhận định đó | 319 | |
Hiểu biết của anh (chị) về Chế Lan Viên và hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tiếng hát con tàu”
Gợi ý
“Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”.
Nhắc đến. bài thơ “Tiếng hát con tàu”, ta không thể không nhắc đến tác giả của nó nhà thơ Chế Lan Viên, ông là một nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới. 1930 – 1945. Viết về nhân dân, về cuộc đời rộng lớn, đó chính là nhiệm vụ và sứ mệnh của các nhà văn, nhà thơ cách mạng. Và đôi với các nhà thơ, nhà văn đương đại có lẽ sứ mệnh ấy đã trở thành niềm khát vọng, niềm hạnh phúc. Để diễn tả niềm hạnh phúc ấy, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên bài thơ đặc sắc, độc đáo “Tiếng hát con tàu” và bài thơ này đã, đang và mãi là một trong những bài thơ tiêu biểu của văn học VN.
Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan (1920), ông sinh tại Cam Lộ, Quảng Trị nhưng lại lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung thì thôi học, đi dạy thuê kiếm sống. Quy Nhơn có thể coi như quê hương thứ hai của nhà thơ Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ. Phan Ngọc Hoan bắt đầu làm thơ từ năm 12 tuổi, đến năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên ông đã xuất bản tập thơ Điêu Tàn, có lời tựa đồng thời là tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn”. Từ đầy, cái tên Chế Lan Viên đã trở thành nổi tiếng trên thi đàn văn học Việt Nam. Ông cùng Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn đã được người đương thời gọi là "bán thành tứ hữu” của Bình Định.
Con đường thơ của Chế Lan Viên đã trải qua rất nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ, thậm chí đã từng có một khoảng thời gian dài chỉ là sự im lặng (1945 – 1958). Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thê giói đúng nghĩa "trường thơ Loạn”, là "sự kinh dị, bê tắc của thời Điêu Tàn với xương máu, với những gì đổ nát, với tháp Chàm. Và phải chăng những Tháp chàm "điêu tàn” đã trở thành nguồn cảm hứng lớn lao của nhà thơ, qua những phế tích đổ nát và kinh dị ấy, ta như thấy được hình bóng ẩn hiện của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son cùng với niềm hoài cổ của nhà thơXem thêm: Hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh"Ta lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa tháp
Cả đêm nay vì sao buồn man mác
Ngàn lau vàng hoa trắng ngập bao la
Vàng đâu đây rùng rợn dưới trăng mờ
Tiếng xương người mạnh va sườn quách gỗ
Rùng rợn như tiếng… vỡ sọ dừa ta”
(Mộng – Điêu tàn)
Thế nhưng, sau Cách mạng, thơ Chế Lan Viên dường như có một bước ngoặt mới, đã có những thay đổi rõ rệt. Ông tham gia cách mạng và đã trở thành nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại. vần thơ sau Cách mạng là những vần thơ “ đến vổi cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của Cách mạng”. Trong thời kì 1960 – 1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi, hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về cái "tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống”. Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là "chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa”.
Bài thơ “Tiếng hát con tàu” là một trong những bài thơ đặc sắc của Chế Lan Viên rút ra từ tập thơ "Ánh sáng và phù sa” (1960). Trước đây còn được gọi là "Con tàu Tây Bắc”. "Tiếng hát con tàu” là hình ảnh có tính chất biểu tượng – biểu tượng cho con tàu tâm tưởng, cất tiếng hát về lòng biết ơn, tình yêu, sự gắn bó với nhân dân, đất nước, đó còn là tiếng hát của một tâm hồn thơ đã giác ngộ được một lẽ sống, một chân lý nghệ thuật – hãy trở về với đất nước, nhân dân, cội nguồn sáng tạo thơ ca chân chính.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương khi chảy về đồng bằng đến ngoại vi thành phố Huế trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? (đoạn trích được học) của Hoàng Phủ Ngọc Tường
"Đường lên Tây Bắc xa xôi
Nếp nhà sàn trên vách núi”.
Tây Bắc là chiến trường đã từng diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và Pháp, nổi tiếng nhất là trận "Điện Biên lừng lẫy địa cầu”, "Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Hoà bình lập lại vào những năm 1959 – 1960, chúng ta có phong trào vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế, xã hội ở vùng Tây Bắc, làm giàu cho Tổ quốc. Trong cái không khí hừng hực chiến thắng, cả đất nước chung tay xây dựng cuộc sống mới, hàng ngàn hàng vạn thanh niên đã lên đường đến những công trường, nông trường ở nhiều vùng khác nhau, trong đó có Tây Bắc, đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ có mặt trong những chuyến đi và đã kịp thời cho ra đời những tác phẩm phản ảnh cuộc sống tươi xanh ấy. Trong "Bài ca mùa xuân” (1961), Tố Hữu đã viết:
"Đi ta đi khai phá rừng hoang
Hỏi núi non cao đâu sắt, đâu vàng
Hỏi biển khơi xa đâu luồng cá chạy
Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy
Hỏi đâu thác nhảy cho điện xoay chiều”
Hay như nhà thơ trẻ Bùi Minh Quốc đã từng viết:
"Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi
Lên miền Tây vời vợi nghìn trùng
Ôi miến Tây, dưới xuôi sao nghe nói ngại ngùng
Mà lúc ra đi lửa lòng vẫn cháy
Tuổi 20 khi hướng đời đã thấy
Là xa xôi gấp mấy cũng lên đường
Sống ở thù dô mà dạ để mười phương
Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn”
Hiện thực ấy, xã hội ấy, cảm xúc ấy có lẽ cũng đâ khởi nguồn cho Chế Lan Viên viết nên "Tiếng hát con tàu”. Bài thơ mang không khí của xã hội, nhất là của lớp thanh niên hăng hái lên đường để xây dựng đât nước. Nói đến “Tiếng hát con tàu” là nói đến một khúc ca ca ngợi việc lên đường. "Con tàu” lên Tây bắc tuy chỉ là một con tàu trong tâm tưởng thế nhưng lại là cả một khát khao mãnh liệt của nhà thơ lúc này còn đang nằm trên giường bệnh. Chế Lan Viên đã từng nói “bài thơ Con tàu Tây Bắc được viết ra từ một tâm trạng riêng. Hồi ấy tôi yếu, không đi đâu được và tự đặt câu hỏi nếu mình không đi được thì sao?”.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về khổ thơ: "Dữ dội và dịu êm... Sóng tìm ra tận bể" trong Sóng của Xuân Quỳnh"Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”
Hình ảnh “Khi lòng ta đã hoá những con tàu” là sự thống nhất giữa cái “tôi” và cái “ta”, giữa trách nhiệm của nhà thơ và hoàn cảnh riêng, nhưng tâm hồn thì đã hoà hợp, đã lên đường “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu”.
Con tàu đã trở thành biểu tượng cho khát vọng lên đường, đi xa, trở về với cuộc sống rộng lớn của đất nước và nhân dân, trở về với những kỷ niệm đẹp đẽ, thắm thiết và trở về với ngọn nguồn của thơ ca chân chính “Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi/Ngoài cửa ô, tàu đói những vầng trăng”; “Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp/ Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?”; “Chẳng thấy thơ đâu giữa lòng đóng khép/ Tây Bắc ơi, ngươi là mẹ của hồn thơ”.
Nếu như đối với Tố Hữu, cái giờ phút được giác ngộ lẽ sống, giác ngộ chân lý Cách mạng đã biến tâm hồn ông thành “một vườn hoa lá / Rất đậm hương và rộn tiếng chim” thì giờ phút ấy đã biến tâm hồn thơ Chê Lan Viên thành con tàu tâm tưởng tràn đầy khát vọng, đang háo hức lên đường và muôn mở hết tốc lực trong hành trình đến với nhân dân, với đất nước. Sâu sắc, ân tình và nhiều mới lạ, bài thơ "Tiếng hát con tàu” đã trở thành một bài thơ truyền thông ca ngợi quê hương, đất nước và với Chế Lan Viên, Tây Bắc không chỉ là Tây Bắc mà còh là Tổ quốc bao la, là cuộc sống rộng lớn của nhân dân trên mọi miền đất nước.
Vanmau.edu.vn | Hiểu biết của anh (chị) về Chế Lan Viên và hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tiếng hát con tàu” | 1,594 | |
Hiện nay ngành giáo dục đang thực hiện cuộc vận động trung thực trong thi cử. Theo anh (chị), việc thiếu trung thực trong thi cử có tác hại ra sao? Làm thế nào để khắc phục được thái độ đó?
Gợi ý
I. DÀN BÀI
1. Mở bài
– Tầm quan trọng của thi cử.
– Trong thi cử có những hành vi sai trái, làm giảm hiệu quả của thi cử, gây hậu quả nghiêm trọng cho giáo dục.
2. Thân bài
– Thế nào là những hành vi sai trái trong thi cử? (cóp bài, gian lận, mua điểm, cấy điểm, chạy điểm,…).
– Thực trạng vấn đề:
+ Học sinh quay bài, cóp bài, làm phao,…
+ Phụ huynh chạy điểm, “đi thầy” cho con,…
+ Nhà trường: thầy cô tiếp tay cho sai trái của học trò.
– Hậu quả:
+ Các kì thi không phát huy hết vai trò. Nền giáo dục bị đe dọa vì chất lượng “ảo”.
+ Nhiều học sinh bị thiệt thòi, nhiều học sinh “ngồi nhầm lớp”.
+ Tạo ra thế hệ học sinh bị lệch lạc tư tưởng, hạn chế về năng lực.
+ Tốn kém cho cá nhân, gia đình, xã hội.
– Biện pháp khắc phục:
+ Các cấp các ngành cần quản lí sát sao, giám sát nghiêm túc hoạt động thi cử.
+ Giáo dục học sinh.
+ Xử lí nghiêm minh các trường hợp vi phạm.
3. Kết bài
Chống lại thái độ sai trong thi cử là công việc của toàn xã hội.
II. BÀI LÀM
Mấy năm gần đây, chuyện gian lận trong thi cử luôn là vấn đề giành được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Đây không phải là vấn đề mới. Có chăng đó là vì Bộ Giáo dục và Đào tào đã kiên quyết hơn trong xử lí những mặt khuất bấy lâu bị giấu kín của ngành giáo dục. Điều đó chợt khiến ta phải suy ngẫm về các kì thi và những chuyện sai trái đã trở thành cần bệnh khó chữa trong những kì thi này.
Mọi vấn đề có lịch sử riêng. Những sai trái, gian lận trong thi cử cũng vậy. Cách đây mấy nghìn năm, những cuộc thi đầu tiên đã được tổ chức và chuyện gian lận cũng có bằng ấy thời gian lịch sử. Từ những cuộc thi Olympic người ta đã biết ám hại đối thủ, dùng những mánh lới, thủ thuật để làm hại đối phương. Rồi sau, những cuộc thi văn chương, người ta biết dùng “phao”, biết nhòm bài, móc nối với Ban Giám khảo,… Những thủ thuật trong thi cử nếu kể ra thì không biết bao giờ mới hết và những thế hệ sau luôn có những “phát kiến” hơn thế hệ trước, thúc đẩy gian lận ngày càng “tiến lên”.
Trong thực tế ngày nay, những chuyện gian lận trong thi cử khiến không ít người quan tâm, nhức nhối. Bởi thực tế, trong đời mỗi người phải trải qua vài kì thi (ngay một đứa trẻ vài ba tuổi đã thi “Bé khỏe, bé đẹp”!). Vì vậy, chúng ta có thể tận mắt chứng kiến những gian lận, sai trái; hoặc không cũng nghe đài báo, dư luận hàng ngày nhắc đến nó như một căn bệnh khó chữa của xã hội.Xem thêm: Phân tích đoạn trích trong tác phẩm “Số phận con người” của A. Sô-lô-khốp- Văn 12 Có thể khẳng định rằng: hiếm có kì thi nào không có gian lận, không có sai trái. Những chuyện quay cóp, nhòm bài, trao đổi bài là chuyện thường thấy mà bất kì “sĩ tử” nào cũng biết. Những hành động như thế dễ dàng tháy từ những bài kiểm tra mười lăm phút cho đến cả thi đại học. Nhưng, đó là chuyện nhỏ, “con tép” trong những trò sai trái mà thôi. Báo chí, dư luận gần đây không ít lần xôn xao về những vụ thi hộ, thi thuê bao cả đường dây, rồi những vụ móc nối làm lộ đề thi, “đút” chỗ nọ, “lót” chỗ kia.. Những vụ làm ăn như thế có giá trị cả vài triệu, thậm chí vài chục, vài trăm triệu.
Học trò là thế nhưng không chỉ có học trò mới liên quan đến gian lận. Những bài kiểm tra, những kì thi, cả thi tốt nghiệp, nhà trường, thầy cô không phải không biết những chuyện gian lận, những thái độ sai trái mười mươi của học trò. Nhưng họ vẫn bỏ qua hay làm ngơ! Những kì thi tốt nghiệp luôn tấp nập với mỗi ngôi trường, các thầy cô giáo chỉ bảo học trò làm thế nọ, làm thế kia cốt để “qua”. Thậm chí có trường đã dành cả chiếc máy phô-tô để sao bài giải sẵn, “ném” vào cho thí sinh. Còn phụ huynh, họ cũng chẳng “kém cạnh”. Họ chạy ngược, chạy xuôi đút lót chỗ nọ chỗ kia mong cho con em mình thi đỗ. Và tất cả những cái đó đã tạo ra những ki thi “phao” thả trắng trường thi, những vụ gian lận xôn xao dư luận.
Tại sao vậy? Tại sao cứ có thi là có gian lận, có sai trái? Vì một lẽ rất tự nhiên: ai cũng thích thành đạt, ai cũng thích danh tiếng (Rõ ràng điều này liên quan mật thiết đến căn bệnh thành tích của xã hội). Học sinh ai cũng muốn được khen thưởng “Con ngoan trò giỏi”, sau mỗi lần thi đỗ là một chân trời mới, một tương lai tươi sáng sẽ mở ra trước mắt. Nhưng đâu phải ai cũng chăm chỉ học hành, chưa kể có người lại vô cùng lười nhác. Vậy là khát vọng được điểm cao đã làm mờ tối những tâm hồn học trò vốn rất đỗi vô tư, trong sáng. Phụ huynh lại có niềm tự hào, sung sướng riêng khi có thể cất cao giọng: “Con tôi đỗ trường nọ, đồ trường kia, điểm thế nọ, điểm thế kia”. Điều đó trở thành áp lực đối với con cái, tiếp tay gián tiếp cho gian lận. Chưa yên tâm, các bậc phụ huynh còn thể hiện sự tận tâm với công việc học tập của con cái hơn băng cách “đi thầy”, “chạy điểm”,… Điều đó vô tình tạo thành những cuộc chạy đua gay cấn trước mỗi kì thi của con cái họ. Với nhiều nhà trường, tình hình cũng tương tự như vậy. Gian lận đi từ những chỉ tiêu, kế hoạch những mục đích giáo dục đề ra hàng năm, hàng quý, hàng tháng,… Song thay vì chuyên tâm vực dậy phong trào học tập của nhà trường, họ “cấy điểm”, “làm điểm” thậm chí tiếp tay cho những sai trái, gian lận của học sinh.Xem thêm: Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Thành công sau mỗi kì thi, đặc biệt là những kì thi quan trọng: thi tốt nghiệp, thi đại học,… có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó mở ra một trang mới tươi đẹp hơn cho mỗi người. Vinh quang ấy đáng ra phải được đền bù bởi những cố gắng, chăm chỉ học hành nhưng thật tiếc thay, chỉ cần một ít tài liệu, một số tiền bỏ ra cộng với một chút mánh lới là bằng thậm chí hơn cả những người chăm chỉ, nghiêm túc học hành? Vậy là không ít “sĩ tử” không chịu được cám dỗ, sẵn sàng đi vào con đường sai trái. Còn với nhà trường, hậu quả của lối “học giả” khiến những học trò hổng kiến thức và hơn ai hết, những thầy cô biết số học trò này mà “đem chuông đi đấm xứ người” thì chắc chắn sẽ bị “người” “đấm” lại. Nhưng như thế sẽ không đạt chỉ tiêu cấp trên giao cho, sẽ không được khen thưởng, quá tai hại! Vậy là những kinh nghiệm truyền đời được lan ra, những công cụ trợ giúp tận dụng hết mức… “Tất cả vì con em chúng ta!”.
Song, như quy luật đã được định trước, sai là phải trả giá. Những mơ ước về tương lai sung sướng, đầy đủ bằng đánh đổi gian lận sẽ biến con người ta trở nên tội lỗi, ma mãnh hơn. Những học trò lười nhác, gian lận vô tình đã đánh mất tuổi thơ trong sáng bởi đã phải quá sớm lo nghĩ làm thế nào để qua được mỗi kì thi thôi. Đồng thời, những thái độ sai trái, những hành vi tội lỗi sẽ bị pháp luật trừng trị. Đã từng có biết bao học sinh bị cấm thi, đuổi khỏi trường thi vì gian lận. Những câu chuyện đau lòng về một số sinh viên tài năng bị đuổi vì thi hộ, thi thuê. Tương lai tươi sáng chẳng thấy đâu mà chỉ thấy cuộc đời sụp đổ trước mắt, thậm chí có người còn rơi vào vòng tù tội, kiện cáo. Và những phụ huynh hám danh thì có được cái danh tiếng lẫy lừng về con người gian lận; những thầy cô hám lợi phải hối hận, bị mọi người trách móc, phạt vì những hành vi sai trái. Những thầy cô, đáng lẽ phải là tấm gương tốt cho học trò noi theo, dạy cho họ những gì tốt đẹp thì… Hơn tất cả, đó chính là nguy cơ tiềm ẩn nơi ung nhọt nằm trong cái vỏ hào nhoáng của các cấp giáo dục mà bấy lâu ta vẫn yên tâm. Trong ấy, những học sinh học mà chẳng có kiến thức (dù vẫn “giỏi” như thường) nên mới có câu chuyện “cười ra nước mắt”. Học trò lớp Bảy mà vẫn chưa biết đánh vần và những kì thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông với bảng điểm không môn Sử. Đau đớn thay, học hành mười mấy năm trời mà có em không biết ai là vị vua đầu tiên của nước ta! Những sai trái, gian lận trong thi cử chẳng qua là hệ quả tất yếu của lối học hình thức rỗng tuếch, làm hỏng đi bao con người, kẻ gian thi đỗ thì chẳng biết, kẻ biết thì trượt, chẳng ai sung sướng cả.Xem thêm: Bình luận câu tục ngữ: “Anh em kinh trước, làng nước khinh sau” Tiếc thay, đó vẫn là sự thật, suốt mấy nghìn năm. Muốn không có sai trái, không có gian lận trong thi cử thì chẳng khác nào mò trăng đáy nước vì ở đâu cũng có những kẻ lười biếng, hám danh. Nhưng không thể vì thế mà không ngăn chặn. Mới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra những biện pháp, chủ trương mới rất được mọi người đồng tình. Muốn có nền giáo dục tốt phải có thế hệ giáo viên tốt, làm gương cho học sinh noi theo; kiên quyết xử lí những hành vi gian lận; sẵn sàng cho học sinh học lại để cung cấp đầy đủ kiến thức cho học sinh… Có như vậy mới mong sẽ ít đi những hành vi sai trái. Sự thật, kì thi tốt nghiệp THPT mới đây, xấp xỉ 67% thí sinh thi đỗ. Thấp, rất thấp so với những con số 100%, 99%,… trước đây, song đó là dấu hiệu thể hiện lòng quyết tâm chống gian lận. Thấp nhưng khiến nhiều người vui mừng vì điều đó báo hiệu một sự “bắt đầu lại” có thể sẽ cho một kết quả tốt hơn!
Sai trái trong mọi việc đều bị lên án và sai trái trong thi cử lại cần đáng lên án hơn nữa. Vậy thì, nếu như giáo dục là sự nghiệp, là trách nhiệm của toàn xã hội thì công cuộc chống lại sai trái, gian lận trong thi cử cũng cần được thúc đẩy nhanh trở thành xã hội hóa. Cả xã hội chung tay, chắc chắn vấn đề sẽ nhanh chóng được giải quyết.
Vanmau.edu.vn | Hiện nay ngành giáo dục đang thực hiện cuộc vận động trung thực trong thi cử. Theo anh (chị), việc thiếu trung thực trong thi cử có tác hại ra sao_ Làm thế nào để khắc phục được thái độ đó_ | 1,990 | |
Hiện nay rất ít học sinh giỏi chọn nghề sư phạm cho tương lai của mình. Trình bày suy nghĩ của anh (chị)
Hướng dẫn
Học sinh Trung học phổ thông chuẩn bị vào đời có quyền chọn một trường đại học để thực hiện ước mơ của mình. Có người muốn trở thành bác sĩ. Có người muốn trở thành nhà ngoại giao. Có người muốn trở thành kĩ sư công nghệ thông tin… Biết bao nhiêu con đường mở ra trước mắt để đến với tương lai. Nhưng có một thực tế phổ biến suốt nhiều năm nay: học sinh có học lực khá giỏi, ở cả lĩnh vực tự nhiên và lĩnh vực xã hội, hầu như rất ít người chọn nghề sư phạm để sau này làm một giáo viên. Thực tế này đã được đề cập thường xuyên trên các diễn đàn và các phương tiện truyền thông đại chúng.
Như vậy, giáo dục nước nhà đang ở vào tình trạng đáng báo động. Một khi nhiều người giỏi xa lánh ngành sư phạm, thì tương lai không xa, sẽ thiếu hụt đội ngũ giáo viên có trình độ tay nghề cao, do đó, khó có thể phát triển nền giáo dục theo hướng tiên tiến, hiện đại. Một quy luật từ ngàn đời nay: không có thầy giỏi thì không thể có trò giỏi.
– Do đâu mà phần lớn học sinh giỏi không thích làm nghề giáo viên? Trước hết, có lẽ bởi phần lớn học sinh ngày nay bị thu hút vào những nghề nghiệp hấp dẫn về thu nhập và điều kiện làm việc. Quả thực, so với một số ngành nghề khác trong xã hội như kinh tế, công nghệ, kĩ thuật, y khoa… thì mức lương của nghề giáo viên được xem là khá thấp. Với một số ngành, người tốt nghiệp đại học có nhiều cơ hội làm việc với các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, có dịp đi tu nghiệp ở một mrớc tiên tiến nào đó, có điều kiện để thi thố tài năng, tạo ra những sản phẩm mới và được hưởng mức đãi ngộ tương xứng – đó là những điều khó có được ở giáo dục phổ thông. Bên cạnh thu nhập kinh tế, điều kiện làm việc của nhiều cơ sở kinh tế, khoa học kĩ thuật cũng hơn hẳn so với ngành giáo dục. Đối với con người thời hiện đại, vấn đề này cũng thường được cân nhắc khi lựa chọn nghề nghiệp.
– Thực trạng như đã trình bày trên đây đã khiến nhiều người có trách nhiệm phải quan tâm, lo lắng. Làm thế nào để thu hút những học sinh giỏi chọn nghề sư phạm? Làm sao để cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập nhằm khích lệ đội ngũ giáo viên để họ phát huy cao nhất khả năng của mình, nhìn vào đó, những học sinh đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời sẽ thấy nghề giáo viên thực sự có sức hấp dẫn? Đó là những câu hỏi không đơn giản. Xoay chuyển một xu thế, trào lưu của xã hội đòi hỏi phải có thời gian, có định hướng chiến lược và những chính sách lớn phù hợp. Mặt khác, học sinh cũng cần được tư vấn đầy đủ hơn về nghề nghiệp để thấy rằng, nghề giáo viên không hẳn thua kém những nghề nghiệp khác ở cơ hội phẩt triển tài năng của bản thân.
Nguồn: thêm: "Kĩ năng... nhiều”. (Theo Phrít-men, thế giới phẳng-Friedman, NXB Trẻ, 2005). Nghĩ về lời khuyên của Phrít-men về vai trò của "phương pháp học" đối với mỗi con người trong thế giới hiện đại | Hiện nay rất ít học sinh giỏi chọn nghề sư phạm cho tương lai của mình. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) | 620 | |
Hiện nay ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ,… tốt đẹp. Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó
Gợi ý
Đề bài:
Hiện nay ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trốn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.
Bài làm:
Tương thân tương ái là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ta. Những người nghèo, người già cô đơn, người bất hạnh,… luôn dành được sự quan tâm tận tình trong xã hội. Trong số đó, trẻ em là đối tượng đặc biệt đối với những tấm lòng hảo tấm, nhất là những trẻ em lang thang cơ nhỡ. Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp. Tuổi trẻ học đường chúng ta nghĩ gì trước hiện tượng ấy?
Do nhiều hoàn cảnh bất hạnh khác nhau mà có một số lượng không nhỏ trẻ em phải lang thang, rời quê lên thành phố kiếm sống. Không họ hàng thân thích, không nơi nương tựa, các em phải tự mình bươn trải để kiếm sống. Để nhận ra những cô bé, cậu bé như vậy không khó. Đó là những đứa trẻ lang thang trên đường phố với những hộp đánh giày, những rổ hàng rong, thậm chí là những bao tải rác bụi bặm, hôi hám,… Bữa ăn chẳng được đủ đầy, giác ngủ không được bình yên… Hình ảnh những trẻ em lang thang gieo vào lòng người những nỗi xót xa, những niềm lo lắng. Không được học hành, không được dạy dỗ, rồi cuộc đời các em sẽ ra sao? rồi tương lai cho tầng lớp các em sẽ như thế nào?…Xem thêm: Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Có dàn ý chi tiết) Không dừng lại ở việc tự vấn lương tâm, không dừng lại ở những thoáng xót thương, buồn bã. "Mọi đức hạnh đều thể hiện ở hành động" (Xi-xê-rông) Đã có những người thế’ hiện tình thương của mình bằng những hành động và việc làm cụ thể. Bằng chứng cho điều đó là sự xuất hiện của nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em lang thang về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp đỡ các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống, lành mạnh, tốt đẹp. về với mái ấm, các em có nơi ăn, chôn ở, được học văn hoá. Các em được sự chở che yêu thương của nhữrg tấm lòng nhân ái,… Nơi đây, những trẻ em lang thang cơ nhỡ có được chốn đi về cho những cuộc mưu sinh, kiếm sống; nhận được sự định hướng về phát triển nhân cách; tìm được điểm tựa cho tâm hồn ngây thơ, non nớt,…
Những nghĩa cử cao đạp trên mang những ý nghĩa vô cùng to lổn.
Việc giúp đỡ những trẻ em lang thang thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, khẳng định truyền thống đạo lí tương thân tương ái tốt đẹp của dân tộc đang được phát huy mạnh mẽ. Cha ông ta thường nhắc nhở nhau:
"Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy ràng khác giống nhưng chung một giàn"
Bác Hồ cũng từng căn dặn: "Trẻ em như búp trên cành", "Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội",… Và những nghĩa cử cao đẹp trên của người Việt Nam hôm nay thể hiện rằng chúng ta rất xứng đáng với cha ông ngày trước.Xem thêm: Đoạn văn nghị luận xã hội: Kỳ quan vĩ đại nhất là trái tim người mẹ Chẳng những vậy, đó còn là những việc làm mang ý nghĩa xã hội rộng lớn: góp phần ổn định an ninh xã hội, tăng chất lượng giáo dục. Ai có thể khẳng định rằng cuộc sống lang thang, khốn khó sớm phải lao vào đời bươn trải của các em không biến các em từ những cô bé, cậu bé thành những kẻ đầu đường xó chợ, trộm cắp, mại dâm, làm rối loạn an ninh xã hội? Thực tế cuộc sống đã chứng minh rằng, không được giáo dục đầy đủ, sớm phải tiếp xúc với những phương thức kiếm tiền không lành mạnh khiến trẻ em trở nên hư hỏng rất nhanh. Thậm chí, các em đó còn bị những bọn xấu lợi dụng làm việc phi pháp, làm điều ác. Bởi vậy, việc đưa các em về với những mái â’m tình thương để định hướng giáo dục là một việc làm thực sự có ý nghĩa đối với xã hội. Mặt khác, điều đó còn giúp chất lượng giáo dục của đất nước được nâng cao.
Những nghĩa cử cao đẹp của các tổ chức, gia đình, cá nhân có tấm lòng hảo tâm xứng đáng được xã hội tôn vinh và nhận được sự cảm kích của mọi người. Hình ảnh và công việc của họ xuất hiện trên báọ đài đã trở thành những tấm gương đẹp đẽ để chúng ta ngưỡng mộ và tự hào.
Để xứng đáng với truyền thống cha ông, tiếp bước những hành động giàu lòng nhân ái những người Việt trẻ hôm nay cần biết yêu thương và chia sẻ hơn nữa với số phận bất hạnh của bao bạn nhỏ, bao em thơ đang lang thang trên mọi nẻo đường thành phố. Nếu có điều kiện, chúng ta có thể thể hiện tấm lòng bằng hành động cụ thể như giúp đỡ, ủng hộ cho các quỹ từ thiện, các hoạt động từ thiện,… Đặc biệt, bản thân cũng là những việc làm thiết thực để chúng ta thể hiện tấm lòng của mình.Xem thêm: Hãy tả cảnh mùa hè và nói lên cảm tưởng khi hè đến. Giúp đỡ trẻ em không nơi nương tựa cơ nhỡ là nghĩa cử cao đẹp của những tấm lòng đầy nhân ái. Thế hệ trẻ hôm nay mỗi người cần biết trân trọng hạnh phúc đủ đầy mình đang có, học tập và rèn luyện tốt hơn để có điều kiện tốt nhất phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của tổ tiên.
Vanmau.edu.vn | Hiện nay ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, … tốt đẹp. Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó | 1,104 | |
Hiện tượng nói tục trong học sinh hiện nay
Gợi ý
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. Mở bài
– Học đường được coi là môi trường trong lành cho sự phát triển mọi mặt của học sinh.
– Tuy nhiên hiện nay môi trường đó đang bị nhiều thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội làm “ô nhiễm”.
– Một trong những thói xấu đó là hiện tượng học sinh nói tục.
2. Thăn bài
* Nói tục – một hiện tượng làm “ô nhiễm” học đường cần phải loại bỏ.
* Các biểu hiện cụ thề:
– Nói tục là dùng những lời lẽ thô tục, thiếu văn hóa.
– Những lời lẽ ấy được dùng trong mọi nơi, mọi lúc, với mọi đối tượng (học, chơi, trò chuyện với bạn bè).
* Nguyên nhân:
– Do sự thiếu ý thức, thiếu văn hóa giao tiếp.
– Một số do đua đòi, bắt chước để ra vẻ, ra oai.
– Một số bị ảnh hưởng gia đình (người lớn nói tục), và những người xung quanh.
* Hậu quả:
– Người nói tục tự biến mình thành người thô tục.
– Vi phạm nội quy nhà trường, hạnh kiểm không tốt.
– Để lại ấn tượng xấu với thầy cô, bạn bè và những người xung quanh.
– Mọi người ngại tiếp xúc.
– Làm xấu, làm mất đi vẻ đẹp và sự trong sáng vôn có của tiếng Việt.
* Biện pháp khắc phục:
– Mỗi học sinh tự nâng cao ý thức rèn luyện đạo đức trong đó có lời ăn tiếng nói.Xem thêm: Hãy kể về người thầy giáo thương binh mà cả nhà em đều yêu mến.– Thầy cô, bạn bè và những người xung quanh thường xuyên nhắc nhở.
– Kỉ luật nghiêm khắc với những bạn đã được nhắc nhở nhiều mà không tiến bộ.
3. Kết bài
– Suy nghĩ của bản thân.
– Nhắc nhở mọi người phải có ý thức bảo vệ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Vanmau.edu.vn | Hiện tượng nói tục trong học sinh hiện nay | 314 | |
Hoa sen là loài hoa được chọn làm biểu tượng cho dân tộc Việt Nam. Em hãy viết bài văn giời thiệu loài hoa này với bạn bè thế giới
Gợi ý
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Là người Việt Nam, hẳn ai cũng biết về bài ca dao trên và loài hoa quen thuộc được nói tới trong bài, một loài hoa đồng nội mộc mạc, giản dị, sống trong bùn lầy hôi tanh mà vẫn toả hương khoe sắc. Đó là hoa sen.
Nói đến hoa sen, ai cũng nhớ tới một loài hoa mộc mạc trong đầm, lá to, tròn nổi trên mặt nước. Thân và cuống của hoa đều có màu xanh. Búp sen có màu xanh lục, hình bầu dục. Khi nở, hoa sen màu hồng thắm, xen chút màu trắng. Nhị và nhuỵ sen màu vàng được gói kín bên trong toả hương thơm ngát. Đài sen nở to khi lá và nhị rụng còn trơ lại và phát triển thành bát sen.
Vào mùa hạt, chưa đi đến đầu làng, còn bước chân trên con đường cát sỏi bỏng rát, ta đã ngửi thấy hương thơm ngào ngạt của hoa sen bay trong gió quyện trong mùi lúa nếp thơm nồng như giục giã bước chân ai nhanh về quê mẹ. Những ngày rằm, mồng một hàng tháng, mùa hè sen được bán đắt hàng nhất trong các hàng hoa vì ai cũng hiểu sen tượng trưng cho tấm lòng thơm thảo, bình dị, mộc mạc của con cháu kính dâng lên tổ tiên, ông bà. Hương trầm quện trong hương sen gợi nhớ về cõi linh thiêng, đẹp nhất. Cuối hạ những bông sen tàn trơ lại bát sen xanh to bằng bát cơm với những hạt sen già mẩy căng tròn. Mỗi bộ phận của sen đều có những công dụng hữu ích giúp cho con người. Hoa sen rất thơm dùng để ướp trà. Nếu bạn là người thích uống trà thì bạn không thể bỏ qua món chè sen (chè được ướp hương sen bằng cách cho chè vào hoa sen và buộc lại để qua đêm, hay cho nhị sen pha lẫn với chè). Nó vừa thơm vừa đậm đà uống xong rất sảng khoái. Chè tâm sen (phần phôi xanh trong hạt sen) còn có tác dụng chữa bệnh mất ngủ rất tốt.Xem thêm: Thuyết minh về một thể loại văn học hoặc văn bản
Hạt sen có thể ăn lúc non vừa ngọt vừa thơm, là món quà vã của trẻ con thôn quê. Hạt sen già được các bà mẹ khéo tay nội trợ chế biến thành những món đặc sản nổi tiếng: chè sen (nấu nhừ hạt sen rồi thả vào nồi bột sắn trong suốt) ăn vừa mát vừa bổ. Món mọc trong cỗ bàn chính là cách ninh nhừ hạt sen trong nồi xương lợn, thả những viên mọc nấm hương vào lẫn tạo nên hương vị béo thơm thật hấp dẫn. Trước đây món này chỉ dành cho vua chúa, quý tộc… mới được dùng.
Nếu bạn đi qua cánh đồng chỉ ngửi thấy mùi thơm của hoa sen thì với tôi hương thơm ấy lại gợi về những kỷ niệm bên gia đình bè bạn với hương vị của cốm làng Vòng dẻo thơm bọc trong những lá sen to mát dịu. Những ngày hè nóng bức lá sen đội đầu thay thế cho những chiếc nón, mũ quả là tuyệt diệu. Bọn trẻ chăn trâu coi đây là thú vui nhất khi đua nhau ngụp lặn dưới đầm để mò ngó sen (phần thân và củ sen nằm sâu dưới bùn nước).
Có thể nói hoa sen từ lâu đã gắn với văn hoá tinh thần của người Việt. Hoa sen được ví đẹp như những người thiếu nữ Việt Nam, tượng trưng cho sự thanh cao giàu sức sống, biểu tượng của vẻ đẹp chân thực, giản dị, mộc mạc:Xem thêm: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim LânGần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Hình tượng đó đã đi vào ca dao thơ ca, lấy sen làm vẻ đẹp để tôn vinh so sánh với Bác Hồ.
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Sen còn là hoạ tiết chính trong các đồ vật trang trí trong các công trình văn hoá cổ, trong các bức tranh dân gian, các đồ vật trang nghiêm ở thủ đô Hà Nội. Chùa Một Cột nằm giữa hồ sen đã minh chứng cho sự quan trọng của hoa sen với đời sống của dân tộc ta. Và đặc hiệt có cuộc thi đã lấy giải mang tên biểu tượng Bông sen vàng.
Có thể nói hoa sen là loài hoa đẹp, có nhiều lợi ích gắn bó với dân tộc Việt Nam từ bao đời nay. Vì vậy cứ nghĩ đến làng quê Việt Nam chúng ta lại nhớ đến hình ảnh bông sen nổi lên trên mặt nước, toả mùi hương thơm ngát… Một loài hoa đẹp, cao quý của đất nước Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Hoa sen là loài hoa được chọn làm biểu tượng cho dân tộc Việt Nam. Em hãy viết bài văn giời thiệu loài hoa này với bạn bè thế giới | 863 | |
Hoàn cảnh ra đời Bình ngô đại cáo và giá trị của tác phẩm
Gợi ý
Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) là bản cáo tuyên bố cho toàn dân biết cuộc kháng ehiến chống giặc Minh đã thắng lợi rực rỡ, đất nước chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn xây dựng hoà bình. Cho đến tận bây giờ và chắc chắn mãi mãi về sau này, bài cáo vẫn chứa đựng những giá trị lớn lao.
Khi triều đại nhà Trần sụp đổ, đất nước rơi vào tay giặc Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra chống lại quân xâm lược nhưng đều chung kết cục thất bại. Lá cờ tụ nghĩa của Lê Lợi được phất lên ở Lam Sơn đã qui tụ về đó nhiều anh hùng, hào kiệt. Trong số đó có Nguyễn Trãi. Sau thời gian cầm cự xây dựng lực lượng (1418 – 1423), từ năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn chuyển sang thời kì phản công. Cuối năm 1947, sau khi tiêu diệt và làm tan rã mười lăm vạn viện binh của giặc, quân ta đại thắng. Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rút quân về nước. Nước ta hoàn toàn thoát khỏi ách xâm lãng của giặc Minh. Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, đặt tên hiệu là Thuận Thiên, cử Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo. Bài cáo ra đời trong lúc toàn quân, toàn dân ta vui mừng chào đón chiến thắng sau mười năm chiến đấu gian khổ, anh dũng. Với tinh thần nhân nghĩa cao cả và bằng tài năng kiệt xuất, vốn sống phong phú, Nguyễn Trãi đã viết nên áng “thiên cổ hùng văn” này.Xem thêm: Phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (từ khi Mị bị bắt làm con dầu gạt nợ đến khi cùng A Phủ trốn chạy khỏi Hồng Ngài)
Về phương diện nội dung, Bỉnh Ngô đại cáo có ý nghĩa trọng đại của một bản tuyên ngôn độc lập được cộng bố vào tháng Chạp, năm Đinh Mùi (đầu năm 1948). Bài cáo mang ý nghĩa trọng đại của quô’c gia, được công bố rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô, tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến chống xâm lược trong đó lên án tội ác của quân Minh, kể lại quá trình kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh nhưng thắng lợi vẻ vang, ngợi ca lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và tài trí thao lược của quân và dân ta.
Về phương diện nghệ thuật, đây là một văn bản chính luận tài tình. Với cảm hứng trữ tình sâu sắc, Bình Ngô đại cáo tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đây là một trong những văn bản thuộc thể cáo xuất sắc của văn học Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Hoàn cảnh ra đời Bình ngô đại cáo và giá trị của tác phẩm | 490 | |
Hoàn cảnh ra đời, nội dung và nghệ thuật chính của bài thơ Tây tiến
Hướng dẫn
Hoàn cảnh ra đời
+ “Tây tiến” lên tên một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, hoạt động chủ yếu ở vùng núi Tây bắc sang Thượng Lào, nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào và tiêu hao lực lượng của Pháp. Đội quân Tây tiến phần đông là học sinh, sinh viên, tri thức yêu nước còn rất trẻ.
+ Bài thơ được Quang Dũng viết rất nhanh trong nỗi nhớ dâng trào về Tây tiến nên lúc đầu bài thơ có nhan đề Nhớ Tây tiến. Bài thơ được toàn quan nhiệt liệt hoan nghênh và truyền miệng rộng rã
+ Bài thơ là nỗi nhớ Tây tiến của Quang Dũng, Quang Dũng nhớ về đơn vị bộ đội đóng sát biên giới Việt Lào và những ngày đấu tranh thiếu thốn, vất vả, hiểm nguy.
Nội dung chính:
+ Bài thơ bao trùm một nỗi nhớ, tác giả nhớ về hình ảnh đoàn quân năm ấy, nhớ những chặng đường họ đã đi qua, nhớ những đèo dốc hiểm nguy và cái chết luôn rình rập. Quang Dũng nhớ về hoàn cảnh thiếu thốn của người lình từ thiếu ăn, thiếu thuốc và chịu những cơn sốt rét rừng hành hạ.
+ Bài thơ không che đậy mà nói sự thật về cái bi của cuộc chiến tranh, nói về cái chết trên đường của những chiến sĩ, về những di chứng của sốt rét rừng…nhưng tất cả là bi tráng, bi hùng chứ không bi thương, bi lụy. Những người chiến sĩ Tây tiến tuổi đời còn quá trẻ, hơn hết họ lại là những tri thức sống quen với sự hào hoa của thành đô, vậy mà họ bỏ lại sau lưng cuộc sống bình yên để dấn thân vào cuộc chiến bảo vệ quê hương. Họ đối diện với khó khăn và cái chết một cách bình thản, nhẹ nhàng bằng ý thức trách nhiệm của một công dân yêu nước.Xem thêm: Tình thương là hạnh phúc con người
+ Tây tiến còn chứa đựng những kỉ niệm nên thơ của những người lính về những đêm hội, về những bữa cơm giữa rừng.
Nghệ thuật:
+ Quang Dũng sử dụng bút pháp lãng mạn nhưng pha lẫn là hình ảnh hiện thực tạo nên giọng điệu bài thơ vừa bi tráng lại vừa lãng mạn.
+ Từ ngữ được chọn lựa điêu luyện nhưng vẫn khá tự nhiên, có tính hình tượng cao. | Hoàn cảnh ra đời, nội dung và nghệ thuật chính của bài thơ Tây tiến | 427 | |
Hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phũ rồi cùng A Phủ lao chạy trong bóng đêm trốn khỏi Hồng Ngài
Hướng dẫn
Sau khi cắt dây cỏi trói cho A Phủ, Mị đứng lặng trong bóng tối.
Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, MỊ nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:
– A Phủ cho tôi đi.
A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:
– Ởđây thì chết mất.
(Tô Hoài, Vợ chồng A Phủ)
Hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phũ rồi cùng A Phủ lao chạy trong bóng đêm trốn khỏi Hồng Ngài là hành động bộc phát, bất ngờ hay là hành động mang tính tấtyếu thể hiện bản chất con người Mị? Anh (chị) hãy lí giải vấn đề trên theo quan điểm của mình.
Trả lời
– Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài hấp dẫn người đọc không chỉ ở hiện thực cuộc sống con người miền núi Tây Bắc được tái hiện với những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, những phong tục tập quán lạ lùng, mà còn ở sự bất ngờ của số phận nhân vật. Người đọc khó lường trước những bước ngoặt trên đường đời các nhân vật chính. Không ai ngờ, Mị – một người con gái trẻ trung, xinh đẹp, tài hoa, giàu nghị lực sống lại trở thành một người buồn bã, không còn biết nói cười vì bị dìm xuống đáy sâu của cuộc sống khổ đau. Rồi lại cũng không ngờ, chính con người nô lệ ấy đã cắt dây giải thoát một người đàn ông bị trói đứng vào cột, để rồi cùng anh ta chạy trốn khỏi nơi bị đoạ đày.
– Hành động cắt dây giải thoát A Phủ của Mị là một hành động lạ lùng, bởi trước đó, Mị đã rơi vào một tình trạng gần như hoàn toàn vô cảm. Những công việc nặng nhọc triền miên cả ngày lẫn đêm, những hành động vũ phu tàn bạo của chồng, sự đối xử bất nhân của nhà thống lí đã khiến MỊ không còn ý thức về mình. Có những đêm giá lạnh, Mị dậy ngồi hơ lửa, A Sử đi chơi về trông thấy, ngứa chân đạp ngã bên bếp, đêm sau Mị vẫn dậy nhóm bếp hơ lửa như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Mị hành động như một kiểu phản xạ có điều kiện của loài vật. Mấy ngày đêm chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, bị bỏ đói khát ngoài trời giá rét, Mị vẫn không hề động lòng. Thậm chí, nếu A Phủ chết đứng, Mị cũng không thương cảm. Dường như nỗi đau khổ đã làm trái tim Mị trở nên chai lì.
Xem thêm: Bàn luận về vai trò của số 0 và số 1– Nhưng khi nhìn thấy giọt nước mắt chảy dài trên gò má xạm đen dưới ánh lửa bập bùng của A Phủ, Mị đã động lòng thương. Mị đã biết nghĩ đến sự bất công nếu A Phủ phải chết. Tính đến sự nguy hiểm nếu cắt dây cho A Phủ trốn thoát, Mị không sự hãi. Thế nhưng, khi dây trói đứt, A Phủ vùng chạy, chỉ còn một mình, nỗi sợ hãi lập tức ập đến. Bản năng sống còn rất mạnh cho Mị hiểu rằng, cái cọc không kia chính là sự hiện hình của cái chết. Câu nói: “A Phủ, cho tôi đi […] Ở đây thì chết mất” cho thấy Mị vẫn luôn luôn hướng về sự sống. Mị và A Phủ đã chạy băng rừng hàng tháng trời để thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra, thoát khỏi Hồng Ngài – nơi đối với họ thực sự là địa ngục trần gian.
– Việc Mị cắt dây trói giải thoát cho A Phủ rồi cùng A Phủ bỏ trốn khỏi Hồng Ngài thoạt nhìn có vẻ bất ngờ, lạ lùng, nhưng xét kĩ, đó là hành động tất yếu, phản ánh bản chất của một người luôn tiềm tàng sức sống, luôn phản kháng quyết liệt. Những ngày sống với cha, khi thống lí muốn đưa Mị về làm dâu trừ nợ, Mị đã chối từ dứt khoát. Cô thà hằng năm phải cuốc nương ngô trả nợ còn hơn bị bán cho nhà giàu. Bị A Sử lợi dụng tục cướp vợ lừa bắt, Mị đã dám tìm đến cái chết để tự giải thoát. Ngay cả trong một đêm xuân, khi tâm hồn rạo rực trở lại, nếu có nắm lá ngón, Mị sẽ ăn cho chết đi, không buồn nhớ đến nữa. với Mị, sống mà bị đoạ đày đau khổ, thà chết còn hơn. Những cái chết thoáng qua đầu óc Mị trong những cảnh ngộ cụ thể không làm mất đi bản năng hướng về sự sống của cô. Cho nên, trong đêm tình mùa xuân, khi trai gái cất tiếng sáo hẹn hò, khi nhớ lại những câu hát tình tứ ngày nào, khi hơi rượi đã làm chếnh choáng, Mị muốn trở lại với thời trẻ trung sôi nổi để được sống với những gì mình khao khát. Chuỗi sự kiện đời Mị mà Tô Hoài miêu tả trong phần đầu Vợ chồng A Phủ đã giúp người đọc hình dung rõ nét bản chất của một con người. Nó cắt nghĩa vì sao giữa lúc tưởng đã đối mặt với cái chết, MỊ đã trỗi dậy khát vọng sống mãnh liệt, vùng lên, băng vượt qua tất cả để tìm đến cuộc sống tự do.
Nguồn: thêm: Phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12 | Hành động Mị cắt dây cởi trói cho A Phũ rồi cùng A Phủ lao chạy trong bóng đêm trốn khỏi Hồng Ngài | 961 | |
Hãy bàn luận về câu nói: Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi (Ngạn ngữ Trung Quốc)
Gợi ý
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Đề mở. Đã có biết bao câu nói bàn về sự học, nhưng đây là một câu nói vừa có hình ảnh dễ cảm nhận, lại có chiều sâu: cả về ý nghĩa, cả về triết lí. Bằng những suy nghĩ và trải nghiệm của mình xung quanh việc học (của bản thân và bạn bè), hãy bàn luận về câu ngạn ngữ trên ở khía cạnh mà mình tâm đắc nhất. Nói về việc học nhưng củng là nói về việc đời: thử suy ngẫm thêm về ý nghĩa triết lí của nó. Có thể sử dụng những thao tác lập luận nào dể bàn luận về câu nói này: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận,… Bài viết cần hướng tới những lí giải xác dáng và những bài học thiết thực của việc học hiện nay một cách thuyết phục.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Đã bao giờ bạn nhìn một con thuyền bơi ngược nước trên sông? Người lái phải gò mình sải cánh bơi mạnh mái chèo thì con thuyền mới tiến lên được. Nếu dừng tay chèo thì con thuyền không đứng lại mà lùi theo dòng nước chảy mạnh. Sự học cũng như vậy, có khác gì việc bơi thuyền ngược nước: không tiến sẽ phải lùi.
Có người nghĩ rằng việc học là dễ dàng và đơn giản. Cứ cắp sách đến trường, nghe thầy giảng, thu nhận kiến thức và đọc thêm trong sách vở là hoàn tất việc học. Có người lại kì công mời thầy giỏi đến tận nhà dạy riêng cho con mình, tưởng như thê’ con sẽ giỏi, sẽ thành tài. Nghĩ như vậy là chưa hiểu hết bản chất của việc học. Học cũng gian khổ như bơi thuyền ngược nước. Con thuyền phải đối mặt với dòng nước chảy ngược lại, liệu có dễ dàng đủ sức mạnh để vượt qua thử thách ấy không? Và quan trọng nhất là có đủ kiên trì để chiến thắng nó không? Bởi dòng nước thì lúc nào cũng chảy, còn con thuyền chỉ cần lơ là một chút (ngừng tay chèo) là có thể không tiến lên được mà ngược lại phải lùi lại ngay theo sức nước chảy. Việc học cũng gian nan và đầy thử thách như thế. Không tiến sẽ phải lùi. Đó chính là bản chất và quy luật của việc học đôi với tất cả mọi người, không trừ riêng ai. Xem thêm: Những điều thấm thía nhất qua việc tìm hiểu cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu Học là một hoạt động khám phá và sáng tạo của con người, bao gồm hai khâu chủ yếu: khám phá, tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức của nhân loại thành tri thức của mình {thu nhận kiến thức) rồi vận dụng kiến thức đó vào cuộc sống để biến thành kiến thức mới (vận dụng và sáng tạo kiến thức mới). Hiểu như vậy thì việc học không đơn giản chút nào, trái lại rất khó khăn và gian khổ. Nguyễn Cư Trinh từng nói: "Có một chữ mà nghĩ ba năm chưa xong, giảng ngàn năm chưa hết". Còn Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác thì tâm niệm: "Xem một câu, phải suy ra trăm câu; thấy một việc đời, phải ngẫm ra trăm việc. Có thế học mới hay". Ớ phương Tây, nhờ khổ luyện học vẽ trứng gà mấy chục ngày liền theo cách dạy của thầy
Vê-rô-ki-ô mà về sau Lê-ô-na đơ Van-xi đã trở thành danh họa nổi tiếng thời Phục hưng. Không khổ luyện, không kiên trì, không quyết tâm thì làm sao thu nhận được kiến thức và rèn luyện được kĩ năng, nói chi đến việc sáng tạo, phát minh – cái đích cao nhất mà việc học phải vươn tới? Đó chính là lúc người học "ngừng tay chèo" và "con thuyền học tập" sẽ lùi lại theo dòng nước chảy. Dòng nước chảy chỉ là quy luật khách quan, ở đây yếu tố chủ quan của người học mới là điều quyết định. Chẳng thế mà, ngày xưa, Cao Bá Quát đã buộc búi tóc lên xà nhà để học, Châu Trí đã quét lá đa đốt lửa lên mà học,… Và ngày nay, hẳn không thiếu những con người tật nguyền đã vượt qua dòng nước chảy để đưa "con thuyền học tập" tiến lên đến bờ bến vinh quang, đạt tới đỉnh cao của tri thức và sáng tạo, như Nguyễn Ngọc Kí bị liệt cả hai tay, phải tập viết bằng chân mà vẫn tốt nghiệp đại học; các vận động viên khuyết tật điều khiển xe lăn bằng tay mà đạt huy chương vàng,… Xem thêm: Về một khổ thơ mà anh (chị) cho là hay nhất trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Bản chất của việc học là gian khổ nhưng cũng là sáng tạo để chiếm lĩnh thành trì tri thức của nhân loại. Còn thực chất của việc học là sự vươn lên để chiến thắng bản thân mình như người chèo thuyền ngược nước chiến thắng dòng sông. Không chiến thắng được bản thân thì không thể học thành tài được. Cho nên phẩm chất quan trọng trước tiên của việc học là phải kiên trì và quyết tâm, không bao giờ thối chí nản lòng. Nhưng kiên trì phải đi đôi với say mê và sáng tạo thì mới làm cho việc học hưng phân, thích thú và đạt kết quả tốt. Việc học là suốt đời, không ngừng, không nghỉ, giông như người đi đến "chân trời kiến thức", đến được chân trời này thì lại mở ra chân trời khác, cứ thế mà đi tới. "Hiểu biết là ngọn nguồn chảy mãi, cơn khát không hút cạn được nó và nó cũng không bao giờ giải xong cơn khát". (F. Ruc-ke). Tấm gương say mê học tập của các nhà khoa học trên thế giới như Các Mác, Ảng-ghen, Anh-xtanh, Niu-tơn, Ma-ri Quy-ri,… cho ta thấy chính sức mạnh của "cơn khát kiến thức" đã tạo nên những thiên tài của nhân loại, và ở đây, ngọn lửa của niềm say mê, sáng tạo đã tôi luyện thêm lòng kiên trì và quyết tâm của họ trên con đường khám phá, chiếm lĩnh và phát minh kiến thức mới cho loài người. Bản chất của việc học và bí quyết thành công của việc học cũng là như vậy.Xem thêm: Anh (chị) hãy trình bày những hiểu biết của mình về tác gia Nguyễn Đình Chiểu Dĩ nhiên trong việc học còn có phương pháp học tập sao cho tốt, cho có hiệu quả, tức là phải biết cách chèo thuyền để vượt lên được dòng nước ngược. Nhưng quan trọng nhất là có can đảm chèo thuyền hay không và có kiên trì quyết tâm chèo con – thuyền – học – tập ấy trong suốt cuộc đời mình để đến được bến bờ vinh quang không? Bởi trong thực tế, biết bao người đã buông tay chèo giừa dòng để mặc cho con thuyền lùi lại. Và ngay cả học sinh sinh viên – mà nhiệm vụ trung tâm là học tập – vẫn còn không ít người như thế. Thật đáng buồn thay! Học mà còn như vậy thì vào đời sẽ thế nào đây? Ý nghĩa triết lí sâu xa của câu ngạn ngữ chắc không chỉ dừng lại ở việc học tập của con người.
Vanmau.edu.vn | Hãy bàn luận về câu nói_ Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi (Ngạn ngữ Trung Quốc) | 1,277 | |
Hãy bàn luận ý kiến sau đây: “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo”
Gợi ý
Ca dao có câu:
“Cơm cha áo mẹ, chữ thầy Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao ”.
Câu ca dao nhắc nhở mỗi chúng ta phải ghi nhớ tình sâu nghĩa nặng đối với mẹ cha, đối với thầy giáo – những người đã sinh thành, nuôi dưỡng và dạy bảo chúng ta nên người, trở thành người có ích cho xã hội. Có thể nói, đây là câu ca dao đẹp nhất, hay nhất nói về đạo lí làm người.
Trong bài này, chúng ta chỉ bàn về tình cảm của người học trò đối với thầy, cô giáo: “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo ".
Học trò phải biết trọng thầy, kính yêu thầy.
Con đường tuổi thơ là con đường đi học. Trường học là cánh cửa đón tuổi thơ chuẩn bị bước vào đời. Thầy, cô giáo sẽ thay mặt các vị phụ huynh, các gia đình và xã hội để dạy dỗ mọi thanh, thiếu nhi lớn khôn, trưởng thành theo thời gian.
Trong xã hội phong kiến, các thư sinh phải “thập niên dăng hoả”, được các thầy đồ giáo huấn cho chữ nghĩa, kinh sách thánh hiền. Không có các thầy đồ thì không thể có các ông Tú, ông Cử, ông Nghè – tầng lớp sĩ phu ngày xưa. Ông thầy là một trong ba giềng mối của xã hội, được quy định rõ trong "tam cương " Quân-Sư-Phụ. Xem thêm: Thành ngữ có câu: “Không thể bẻ đũa cả nắm”. Anh (chị) có suy nghĩ gì? Bàn luận về tình đoàn kết trong xã hội Ngày nay, đất nước đổi mới và phát triển. Giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu. Giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học và trung học, giáo dục đại học và cao đẳng được mở rộng và hiện đại. Trường học mở rộng cửa đón thế hệ trẻ bước vàọ con đường học vấn, con đường tươi sáng tương lai. Sứ mệnh của thầy, cô giáo thật nặng nề, vẻ vang: dạy chữ, dạy toán, dạy ngữ văn, dạy khoa học, dạy luân lí đạo đức, dạy ngoại ngữ,… cho thế hệ trẻ, đưa con, em vào các trường đại học, đào tạo thành người lao động mới, nhà khoa học mới, tiếp nối cha, ông, gánh vác sự nghiệp xây dựng nước nhà ngày càng giàu đẹp.
Công lao "trồng người’’ của các thầy, cô giáo thật vô cùng to lớn. Nhờ thầy, cô giáo dạy dỗ mà tuổi trẻ trưởng thành. Cho nên học trò phái trọng thầy, kính yêu thầy. Nghĩa là phải lễ phép, biết vâng lời, chăm chỉ siêng năng học hành, làm theo lời thầy dạy bảo. Người gieo trồng chỉ mong cây ra hoa kết trái. Học trò ngày một giỏi giang thì thầy, cô giáo mới hạnh phúc, tự hào. Biết trọng thầy, kính yêu thầy là đạo lí làm người của học trò xưa nay.
Học trò phải biết ơn thầy, cô giáo đã dạy dỗ mình. Đó là tình nghĩa thầy – trò. Ông bà, cha mẹ luôn luôn nhắc nhở con cháu: "Không thày đố mày làm nên ", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây ", "Uống nước nhớ nguồn ”. Xem thêm: “Cuộc đời mất đi tình bạn, thế giới mất đi mặt trời” (Cicero)Nhờ công ơn dạy dỗ của thầy mà trò nên người. Có không ít người, khi đã trở nên tài giỏi, có địa vị cao sang vẫn không bao giờ quên người thầy từng dạy dỗ mình thời trai trẻ. Sử sách đã ghi lại nhiều câu chuyện cảm động về nghĩa thầy – trò. A-lếch-xan-đơ Đại đế (Hi Lạp) cách chúng ta gần 2500 năm, trên con đường trường chinh xa xôi vạn dặm vẫn gửi về biếu A-rít-xtốt, người thầy kính mến, nhà bác học vĩ đại một con thú lạ, một mẩu thảo mộc để thầy nghiên cứu. Các-nô là Tổng thống Pháp, lúc về thăm quê đã ghé vào trường cũ để thăm người thầy giáo già, và nói: "Thưa thầy, con là Các-nô… ". Lê Hiến Tống là thế tử của Lê Thánh Tông, thuở nhỏ là học trò của Tiến sĩ Nguyễn Bảo. Lê Hiến Tông lên làm vua đã về tận làng Phương Lai, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình để thăm thầy và mừng thọ thầy. Còn có biết bao câu chuyện cảm động khác.
Hiện nay ở nước ta, ngày 20 tháng 11 hàng năm là ngày Nhà giáo Việt Nam được tổ chức rộng khắp và vô cùng long trọng. Truyền thống "Tôn sư trọng đạo" và tình cảm "Uống nước nhớ nguồn " thấm sâu vào lòng dân tộc. Báo chí đã nêu lên bao câu chuyện cảm động về nghĩa thầy – trò.
Trên đường đi tới ngày mai tươi đẹp, mỗi chúng ta ngày một trưởng thành, tài năng ngày một nở rộ. Những hoa thơm trái ngọt, những thành quả lao động sáng tạo do trí tuệ và công sức mình làm nên, mỗi chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn to lớn của mẹ cha, của thầy cô giáo đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo chúng ta. Trọng thầy, kính yêu thầy, biết ơn thầy là bài học làm người để mỗi chúng ta khắc cốt ghi tâm.Xem thêm: Bàn về việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan của đất nướcVanmau.edu.vn | Hãy bàn luận ý kiến sau đây_ “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo” | 917 | |
Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết sau. Chia chiếc bánh của mình cho ai?… Một câu chuyện lạ thường…
Gợi ý
Đề bài:
Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết sau.
Chia chiếc bánh của mình cho ai?
Nếu coi thời gian một ngày của bạn là chiếc bánh tròn trịa, bạn sẽ chia chiếc bánh cho bố mẹ, cho công việc, cho gia đỉnh bao nhiêu và dành cho mình bao nhiêu phần?
Trong khi không ít các bạn trẻ hiện nay đang lãng phí chiếc bánh của mình vào những trò chơi vô bổ thì chàng “thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 2007" Nguyễn Hữu Ân lại dành hết chiếc bánh thài gian của mình cho những người bệnh ung thứ giai đoạn cuối.
Một câu chuyện lạ thường…
Bài làm:
“Nếu coi thời gian một ngày của bạn là chiếc bánh tròn trịa, bạn sẽ chia chiếc bánh cho bố mẹ, cho công việc, cho gia đình bao nhiêu và dành cho mình bao nhiêu phần?”
Đó là phần mở đầu của một bài viết gây nhiều suy nghĩ cho những bạn trẻ: “Chia chiếc bánh cho ai?”. Nếu là bạn, bạn sẽ trả lời câu hỏi của bài viết như thế nào?’ Dù câu trả lời của bạn là gì đi chăng nữa, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên về phần tiếp theo của bài viết:
“Trong khi không ít các bạn trẻ hiện nay đang lãng phi cliiếc bánh của mình vào những trò chơi vô bổ thi chàng “thanh niên trè tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 2007” Nguyễn Hữu Ân lại dành hết chiếc bánh thời gian của mình cho những người bệnh ung thư giai đoạn cuối.Một câu chuyện lạ thường.”..
Thế hệ trẻ chúng ta nghĩ gì về việc “chia bánh” của chàng trai trẻ Nguyễn Hữu Ân và của chính mình?Xem thêm: Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Nêu nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật này của nhà văn Thời gian là một chiếc bánh ngọt lành, chia nó cho ai, cho việc gì có thể giúp người khác đánh giá về thái độ, tình cảm của người chia bánh đổì với những con người và công việc ấy. Nhưng xét về giá trị, thời gian hơn cả một chiếc bánh rất nhiều bởi thời gian là một trong những điều quý giá nhất của con người: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”. Như vậy là, dành thời gian phần lổn cho ai, việc gì ta dường như đã gửi trọn cuộc đời mình cho người ấy, việc ấy.
Bạn sẽ trao thời gian của cuộc đời mình cho ai? Phần lớn chúng ta nằm trong số những người mà bài viết trên đã dự kiến. Thời gian được chúng ta chia cho người thân, bạn bè, cho chính mình và công việc kiếm sông của mình: đó là một lẽ rất thường của cuộc sống.
Nhưng điều cuộc sống tôn vinh là việc làm những người đã vượt qua được sự “rất thường” của cuộc đời để làm những việc phi thường như chàng trai trẻ Nguyễn Hữu Ân. Được tôn vinh là “Thanh niên trẻ tiêu biểu Thành phố Hồ Chí Minh 200T’, Nguyễn Hữu Ân thực sự xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội.
“Dành hết chiếc bánh thời gian của mình cho những người bệnh ung thư giai đoạn cuối”, bằng việc làm ấy Nguyễn Hữu Ân đã thể hiện sự vị tha của một tấm lòng cao thượng. Trên thực tế, những người bị ung thư giai đoạn cuối phần lớn không còn cơ may sống sót, tử thần dường như đang dang sẵn cánh tay mang họ về với tổ tiên. Cũng vì vậy, tinh thần và thể xác những người bệnh ấy hết sức nặng nề, đau đớn. Ngay cả những người lạc quan nhất cũng mong tìm đến sự ra đi nhanh chóng để thoát khỏi những cơn đau quằn quại. Có những người sẽ nghĩ, dành thời gian cho những người như vậy là vô ích và phí thời gian bởi sự quan tâm khi ấy của chúng ta dù to lớn đến đâu cũng không thể chiến thắng được số phận. Nhưng đến với những người bệnh bất hạnh ấy, Nguyễn Hữu Ân đã nghĩ khác để làm khác. Anh sẻ chia với họ những nỗi suy sụp về tinh thần và những cơn đớn đau về thể xác. Vậy thì, với những người bệnh ấy, chính trong khoảnh khắc tưởng như tâ’t thảy mọi người đều nhìn họ với cái nhìn bất lực, thương hại và vô vọng thì vẫn còn chút yêu thương như là níu kéo sự sống của một con người dành cho họ. Ánh mắt, bàn tay, sự quan tâm chia sẻ của Nguyễn Hữu Ân giúp những giây phút đớn đau của họ được vợi đi phần nào… Như vậy, “chiếc bánh” mà anh đã cho đi đâu phải là vô ích?Xem thêm: Trình bày hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo Cùng với hành động của Nguyễn Hữu Ân, hàng vạn hành động cho đi “chiếc bánh” thời gian của mình để sẻ chia vất vả, khó khăn, thậm chí là nỗi đau với những người đồng bào của biết bao thanh niên Việt Nam hiện nay là biểu hiện sinh động của lối sống vị tha, vì cộng đồng đầy cao thượng. Hiến dâng thời gian, sức lực, tuổi trẻ, giọt máu,… tham gia vào những hoạt động tình nguyện là biết sẻ chia những chiếc bánh quý giá nhất đời mình cho xã hội.
Biết chiêm ngưỡng những con người giàu đức hi sinh nhưng ta cũng biết nghiêm khắc phủ nhận lối sống của một bộ phận không nhỏ thanh niên hiện nay sống thiếu lí tưởng và mục đích. Họ nướng chiếc bánh của mình trong những thú vui tầm thường, lối sống ích kỉ… những trò giải trí vô bổ, những cuộc chơi tác táng, những cuộc tình nhạt nhẽo, những việc làm không lành mạnh,… Thời gian cứ trôi đi, tuổi trẻ cứ mất dần họ đã đổi những điều quý giá nhất đời mình để lấy những thứ tật bệnh, những sự suy đồi về nhân phẩm và lương tâm.
Nhà thơ Tố Hữu từng triết lí: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình’?”. Và thực tê cuộc sống đã chứng minh: ta cho yêu thương thì sẽ nhận được những thương yêu. Nguyễn Hữu Ân là một hình ảnh, một bài học nhắc nhở chúng ta trong mỗi quyết định “chia bánh” của mình.Xem thêm: Bạn Thanh Sơn kể về gia đìnhVanmau.edu.vn | Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết sau. Chia chiếc bánh của mình cho ai_ … Một câu chuyện lạ thường… | 1,156 | |
Hãy bình luận câu tục ngữ sau: “Đất tốt trồng cây rườm rà, Những người thanh lịch nói ra dịu dàng”. “Đất xấu trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu”
Gợi ý
Sống đẹp là mục tiêu phấn đấu của mỗi chúng ta. Nghệ thuật ứng xử, giao tiếp là một trong những biểu hiện của nếp sống đẹp. Tục ngữ là kho tàng quý báu của nhân dân, cho ta nhiều kinh nghiêm, nhiều bài học về ứng xử, giao tiếp, nhất là về mặt lời ăn tiếng nói. Mỗi điều khen, chê mà tục ngữ nêu ra thật vô cùng chí lí. Để giáo dục cách ăn nói cho mọi người, ông cha ta đã đúc kết thành tục ngữ:
"Đất tốt trồng cây rườm rà,
Những người thanh lịch nói ra dịu dàng".
Và còn có câu:
"Đất xấu trồng cây khẳng khiu,
Những người thô tục nói điều phàm phu".
Hai câu tục ngữ trên đều nêu lên một nhận xét rất sâu sắc về cách ăn nói của hai loại người trong xã hội: Người thanh lịch và người thô tục.
Câu thứ nhất: Đất có tốt tươi, màu mỡ thì mới có thể trồng được "cây rưòm rà", cành lá sum suê, tươi tốt. Trong xã hội cũng vậy, chỉ có những người thanh lịch, văn minh, có văn hóa, có nhân cách mới biết ăn nói "dịu dàng", êm ái, nhẹ nhàng, dễ nghe.
Câu thứ hai: Đất xấu, cằn cỗi, chỉ có thể mọc lên "cây khẳng khiu" lá cành xơ xác. Người cũng thế, kẻ thô tục, vô học, kém đạo đức luôn luôn nói ra những "điều phàm phu", thô lỗ, xằng bậy, tục tằn. Xem thêm: Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn tả cảnh cho chữ trong ngục (Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân). Tại sao tác giả gọi đây là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có" Hai câu tục ngữ trên, bằng cách so sánh cụ thể, lấy đất và cây trồng để so sánh với hai loại người có hai cách ăn nói, hai lối sống đối lập, từ đó nêu lên nhận xét, biểu thị
thái độ khen, chê, đưa ra một lời khuyên về cách ăn nói sao cho văn minh, lịch sự, không được thô lỗ, tục tằn, biết nói lời hay, ý đẹp trong giao tiếp, ứng xử.
Hai câu tục ngữ trên hoàn toàn đúng.
Trong xã hội, kẻ thô tục tất nói điều phàm phu, thô lỗ. Kẻ thô tục vì đdạo đức kém, thiếu nhân cách, không được giáo dục, lại vô học nên nói năng bừa bãi, thiếu suy nghĩ. Họ bị mọi người coi khinh. Đáng buồn thay, kẻ thô tục ăn nói thồ lỗ lại không hề biết tự xấu hổ.
Trái lại, người thanh lịch là người có nhân cách, có đạo đức, có văn hóa, biết kính trên nhường dưới, ăn nói có suy nghĩ chín chắn. Họ hiểu rõ mục đích mình nói và làm. Họ biết học tập lời ăn tiếng nói của nhân dân để diễn đạt tư tưởng tình cảm một cách sâu sác, ý nhị. Nói với ai, nói điều gì, nói như thế nào, là ba câu tự hỏi mình trước lúc nói.
Ngôn ngữ là tài sản quý báu lâu đời của nhân dân. Ngôn ngữ phát triển theo hướng đi lên của lịch sử. Nó là công cụ giao tiếp, diễn đạt tư tưởng, biểu lộ tình cảm giữa con người với con người. Nhờ học tập và tự rèn luyện, chúng ta mới có ngôn ngữ phong phú. uyển chuyển. Người ăn nói tục tằn, thô lỗ là vì vô học và vô đạo đức. Qua lời ăn tiếng nói, ta dễ dàng đánh giá được nhân cách của người nói. Xem thêm: Từ bài thơ về chim non tập bay của Apollinaire, là một người trẻ tuổi, anh (chị) có suy nghĩ gì? Tóm lại, hai câu tục ngữ trên cho ta bài học quý báu về ứng xử, giao tiếp. Nói năng cần phải nhẹ nhàng, khiêm tốn, lịch sự; phải biết xấu hổ về cách ăn nói thô lỗ, tục tằn.
Ngôn ngữ, cách ăn nói còn phản ánh tâm hồn, trình độ người tham gia giao tiếp. Quan hệ xã hội có thân, sơ, khinh, trọng, trên, dưới. Giao tiếp, ứng xử, nói năng phải dựa trên mối quan hệ và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể ấy.
Ông bà ta rất coi trọng việc dạy dỗ con cháu cách ăn nói. Tục ngữ, lời ca được các cụ thường xuyên nhắc đến làm bài học đạo lí thấm thìa:
"Học ăn, học nói, học gói, học mở".
"Gọi dạ bảo vâng".
"Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".
"Người khôn đón trước rào sau,
Để cho người dại biết đâu mồ dò".
Muốn nói lời hay ý đẹp thì trước hết phải tu dưỡng đạo đức, biết "Tiên học lễ, hậu học văn”, khiêm tốn học hỏi cách ăn nói của mọi người. Đọc sách, học tập thơ văn, kết hợp lời ăn tiếng nói của nhân dân để trau dồi ngôn ngữ. Thi hào dân tộc Nguyễn Du, tác giả "Truyện Kiều" từng tâm sự: "Nghe khúc hát thôn quê học được lời nói trong nghề trồng dâu gai".
Xã hội đang đổi mới. Văn hóa, kinh tế, khoa học nước nhà phát triển mạnh mẽ. ở bất cứ cương vị nào, đứa con trong gia đình, người học sinh dưới mái trường, người công dân ngoài xà hội, đều phải có ý thức học tập giao tiếp, thể hiện một nhân cách văn hóa mang bản sắc dân tộc. Xem thêm: Miêu tả ngày đầu tiên đi học Ăn nói "dịu dùng" không có nghĩa là "hoa hòe hoa sói" vô lối, ăn nói bợ đỡ, xu nịnh, tự làm giảm nhân cách mình trong giao tiếp. Chúng ta phê phán cách ăn nói thô tục, xu nịnh; luôn luôn đề cao thái độ chân thật, trung thực, tự tin trong ứng xử.
Đạo đức là cái gốc của con người. Ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói, cách ứng xử được nhân dân ta coi trọng nhằm giáo dục đạo đức, nhân cách. Hai câu tục ngữ trên cho chúng ta bài học sâu sắc trong giao tiếp. Sự khôn ngoan, lịch thiệp được thể hiện rất rõ qua cứ chỉ và lời ăn tiếng nói của mỗi người. Giáo dục ngôn ngữ chính là giáo dục đức hạnh, hướng về văn minh, tiến bộ để sống đẹp, lịch sự hơn. Thanh thiếu nhi chúng ta, thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, bước sang thế kỉ XXI, cần học thêm ngoại ngữ, nhưng không được coi nhẹ cách nói, cách viết của dân tộc đdể giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Con người Việt Nam thanh lịch phải là con người giỏi tiếng Việt và rất yêu tiếng Việt.
Vanmau.edu.vn | Hãy bình luận câu tục ngữ sau_ “Đất tốt trồng cây rườm rà, Những người thanh lịch nói ra dịu dàng”. “Đất xấu trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu” | 1,159 | |
Hãy bình luận lời dạy sau đây của Bác Hồ: “Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc khó. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là điều trái nhỏ”
Gợi ý
Bác Hồ – vị cha già của dân tộc luôn dành cho thiếu niên, nhi đồng tình yêu thương bao la. Và bên cạnh tình yêu ấy, Bác còn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục các cháu. Người đã từng dạy thanh thiếu niên: “Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc khó. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là điều trái nhỏ”.
Bác khuyên chúng ta phải suy nghĩ trước khi làm và quyết tâm hành động nếu xác định việc đó là đúng, có ích, cần thiết cho mọi người. Vậy, thế hệ trẻ hôm nay đón nhận lời dạy của Bác như thế nào và thực hiện ra sao?
Lời dạy của Bác là ánh sáng soi đường cho thế hệ thanh niên. Chúng ta là trụ cột, là mầm xanh của đất nước. Mọi hành động, việc làm của chúng ta đều phải đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Do đó, ta phải thực hiện theo lời Bác dạy. Chúng ta phải cố gắng “làm điều phải dù là việc khó”. Bởi điều phải là những điều đúng với chân lí, hợp với quy luật xã hội, với đạo lí dân tộc, có ích cho mọi người. Việc nào cũng vậy, nó luôn bắt đầu từ dễ đến khó. Chúng ta làm điều phải, từ việc nhỏ đến việc lớn đều cần cố làm cho kì được. Vì lúc đó, ta đã xác định cho mình hướng đi đúng, việc làm của ta có mục đích thì bản thân phải phấn đấu, phải quyết tâm thực hiện qua những hành động cụ thể. “Vạn sự khởi đầu nan”, bao giờ cũng vậy, khi thực hiện điều phải ta cần đấu tranh với bản thân. Nhặt của rơi trả lại người mất, giúp đỡ người gặp khó khăn,… những việc làm tưởng chừng như rất dễ nhưng lại không dễ chút nào. Điều phải làm thế ấy, cho nên ta cần phải có ý thức, quyết tâm. Thực hiện được điều phải nhỏ ta mới làm được những điều phải lớn hơn, khó khán gấp bội. Dù thế nào, chúng ta cũng cần cố gắng thực hiện điều phải, vì đó là những phẩm chất tốt đẹp, là truyền thống đạo lí của dân tộc. Nhân vật Lục Vân Tiên trong tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu đã không ngần ngại đánh bọn cướp cứu người. Rõ ràng nhân dân ta rất trọng lẽ phải. Muốn làm được điều tốt, ta phải có ý chí kiên định. Quyết tâm cao sẽ giúp ta thành công lớn trên mọi lĩnh vực công tác, học tập. Hơn thế nữa, chính qua những việc khó khăn mới thể hiện được bản lĩnh và nghị lực của bản thân. Đồng thời, việc khó là môi trường rèn luyện con người trưởng thành. Thực hiện được điều phải luôn là việc nên làm và phải làm đối với mỗi chúng ta.Xem thêm: Cảm nhận về nhân vật Chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
Nhưng trong cuộc sống không chỉ có điều phải mà còn có điều trái. Đây là những điều không phù hợp với dân tộc, có hại cho mọi người. Chúng ta làm điều trái, nghĩa là ta đã góp phần làm hại chính bản thân mình và mọi người. Vì thế, ta cần hết sức tránh điều trái dù là điều trái nhỏ. Nếu ta không tránh, không từ chốì sẽ bị cám dỗ, mua chuộc, dẫn đến những hậu quả không lường trước được. Thực hiện điều phải thì khó, nhưng làm điều trái thì rất dễ. Những việc sai trái tưởng chừng như nhỏ bé, không hại gì nhưng việc làm trái nhỏ hợp lại lâu dần thành thói quen. Vì lẽ đó, ta phải giữ ý chí kiên định, phải biết kiềm chế mình và suy nghĩ chín chắn trước khi làm. Có lẽ lúc làm việc xấu mà không biết. Bởi điều trái ấy rất nhỏ nhưng tác hại của nó lại rất lớn. Điều trái luôn mang đến tai họa, không hôm nay thì ngày mai. Chúng ta phải tránh xa điều trái.
Thế nhưng, có những người lại không thấy được điều đó. Họ có những việc làm vô ý thức, thiếu trách nhiệm. Bởi trước khi làm, họ đã không suy nghĩ chín chắn. Việc làm của họ luôn mắc phải sai trái, không ít thì nhiều. Những người ấy thật đáng trách. Vì những hành động thiếu sáng suốt của họ dần dần sẽ trở thành thói quen và dẫn họ đến con đường tội lỗi. Bên cạnh đó, ta cũng cần phê phán những người thiếu kiên quyết, không có lập trường, dễ bị người xấu lôi kéo hay bị những ham muốn vật chất cám dỗ. Họ sẽ dễ dàng bị sa ngã. Đôi khi, những người ấy cũng có những suy nghĩ tốt đẹp nhưng rồi do không có quyết tâm, dễ mềm lòng, họ đã không thể thực hiện được suy nghĩ của mình. Điều ấy thật đáng tiếc! Cho nên, ta cần giúp họ nhận ra cái sai, thấy được điều hay lẽ phải để sửa chữa, khắc phục. Xã hội ta hiện nay còn rơi rớt những hiện tượng tiêu cực. Mà điều xấu luôn là kẻ giấu mặt, hại người, làm con mọt đục phá đất nước, làm tan vỡ những cái tốt đẹp, đẩy con người vào vũng lầy đen tối. Do vậy, ta phải bài trừ những hiện tượng ấy. Trong thực tế, có những người làm điều đúng, điều tốt lại gặp phải khó khăn, nghèo khổ, còn những người làm điều sai trái, hại người lại có cuộc sông giàu sang, sung sướng. Xã hội phải thực sự đẩy lùi điều xấu xa khỏi cuộc sống con người. Muôn xã hội tốt đẹp, ta phải đồng lòng, đồng sức làm người tốt việc tốt. Bản thân mỗi người, nhất là thế hệ trẻ cần phải thực hiện tốt lời dạy của Bác. Đồng thời, ta cũng nên đón nhận những người biết ăn năn hối cải, từ bỏ việc xấu, làm điều có ích cho mọi người. Lúc đó ta cũng đã thực hiện được một điều phải, giúp cho xã hội có thêm một người tốt. Lời dạy của Bác tuy ngắn gọn nhưng có ý nghĩa thật sâu sắc.Xem thêm: Triết lí nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn“Bác Hồ là người Việt Nam đẹp nhất trong những người Việt Nam đẹp nhất”. Cuộc đời của Bác là tấm gương sáng ngời cho mỗi chúng ta noi theo. Bởi thế, lời dạy của Bác càng tác động mạnh mẽ đến thế hệ thanh thiếu niên chúng ta. Mỗi khi làm bất cứ việc gì ta sẽ luôn tâm niệm “điều phải thì làm, dù cho việc khó, điều trái thì tránh, dù là điều trái nhỏ”.
Vanmau.edu.vn | Hãy bình luận lời dạy sau đây của Bác Hồ_ “Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc khó. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là điều trái nhỏ” | 1,202 | |
Hãy bình luận ý kiến sau đây của Các Mác: “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý”
Gợi ý
Cùng với tình yêu, nhiều người trong cuộc đời còn có tình bạn, sống trong tình bạn. Đã có nhiều ý kiến, nhiều câu ca, câu thơ nói về tình bạn. Nhà triết học vĩ đại Các Mác từng nói: “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý”.
Ngọc là một loại đá – kim loại rất cứng, màu sắc óng ánh tuyệt đẹp, rất quý hiếm; quý hiếm hơn cả vàng, thường được chế tác thành đồ nữ trang, pho tượng. Ngọc có nhiều loại, đủ màu sắc như hồng ngọc, bạch ngọc, ngọc lam, ngọc phỉ thúy, bích ngọc, ngọc trai… Các vua chúa ngày xưa hay dùng ngọc để làm quốc ấn, quốc bảo – biểu tượng cho vương triều.
Tình bạn chân chính là tình bạn trong sáng, tâm đầu ý hợp, thủy chung, hết lòng yêu thương nhau, tôn quý nhau; không vụ lợi, không dung tục tầm thường.
Các Mác dùng lời nói so sánh “tình hạn chân chính là viên ngọc quý” nhằm hình tượng hóa, cụ thể hóa tình bạn chân chính là tình bạn đẹp, tình bạn quý, rất đáng trân trọng, ngợi ca.
– Tại sao “tình bạn chân chính là viên ngọc quý?”.
Bạn chân chính yêu thương nhau, quý trọng nhau như anh em ruột thịt, cùng chung chí hướng, giúp đỡ nhau học hành, làm ăn. Bạn chân chính sẽ cùng nhau chia ngọt sẽ bùi với nhau, nghèo khổ, hoạn nạn có nhau, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau vượt qua vận hạn. Bạn chân chính vào sinh ra tử có nhau, nghèo khổ, vinh hiển đều gắn bó với nhau, trọn đời sắt son chung thủy. Tình bạn tri âm, tri kỉ, tình bạn chiến đấu, tình đồng chí… là viên ngọc quý, sáng trong mãi trong cõi đời.Xem thêm: Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng. Ngồi bên hồ, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống... Em hãy đặt một nhan đề để gọi tên hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ và bày tỏ thái độ của mình Sống trong tình bạn chân chính, ai cũng tự hào cảm thây mình vô cùng hạnh phúc, “lớn lên” trong cuộc đời, tự tin trước mọi gian nan thử thách.
Bá Nha – Tử Kì, Lưu Bình – Dương Lễ, Mác – Ăng ghen… là những gương sáng tuyệt đẹp về tình bạn chân chính thủy chung.
Có những câu ca nói về niềm hạnh phúc được sống trong tình bạn chân chính, được gặp gỡ bạn hiền:
Ra đi gặp được hạn hiền,
Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời.
(Ca dao)
Cụ Tam nguyên Yên Đổ có bài thơ kiệt tác Khóc Dương Khuê nói lên một tình bạn thủy chung của hai nhà nho ngày xưa. Một tình bạn chân chính tuyệt đẹp. Lời thơ thấm đầy lệ:
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đấu thăng chẳng dám than trời.
Bác già tôi củng già rồi,
Biết thôi thôi thế thì thôi mới là (…)
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương.
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.
Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu ca ngợi tình bạn chiến đấu của hai người lính cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chông Pháp (1946 – 1954), nhiều người trong chúng ta đã được học và nhớ:
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đèm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!
Trên đời, có bạn chân chính sắt son thủy chung, lại có thứ bạn sớm nắng chiều mưa của bọn lừa thầy phản bạn. “Tin bạn mất vợ, tin bợm mất bò” là câu tục ngữ chê trách “tình bạn” của kẻ bất lượng. Có trải qua hoạn nạn, khó khăn mới đo được tình bạn; tình bạn chân chính hay cách sống của kẻ vụ lợi, cơ hội:Xem thêm: Hãy tả bố em khi đang đọc báoKhi vui thì vô tay vào,
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai!
(Ca dao)
Sống ở đời có mấy người không có bạn? Bạn thân hay bạn sơ. Có một tình bạn chân chính, bạn tri âm tri kỉ đâu phải dễ. Nguyễn Sưởng một danh sĩ đời Lê từng nói:
"Hồ hải thập niên tri kỉ thiểu”.
Nghĩ về những gương sáng về tình bạn trong cuộc đời xưa nay, gần xa nhắc lại câu nói của Các Mác về tình bạn, tuổi trẻ mỗi chúng ta đang sông trong thời hội nhập của nền kinh tế thị trường, chắc đã nhìn thấy bao kẻ ăn chơi đua đòi mà sa ngã. Câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là bài học sâu sắc mà mỗi chúng ta cần nhớ khi chọn bạn và kết bạn.
Vanmau.edu.vn | Hãy bình luận ý kiến sau đây của Các Mác_ “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý” | 815 | |
Hãy bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Dê – nông (364 – 254 trước Công nguyên): “Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn”
Gợi ý
Nói và nghe là hai hoạt động sinh lí – tâm lí của con người. Nói và nghe là sự thể hiện cách sống, cách ứng xử giao tiếp của mỗi người. Nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346-254 trước Công Nguyên) từng nhắc nhở:
"Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn ",
Tại sao trong cuộc sống hàng ngày giữa cộng đồng, chúng ta cần nghe nhiều hơn và nói ít hơn? Nói và nghe là để trao đổi và tiếp nhận thông tin, ý kiến, tư tưởng, tình cảm giữa hai đối tượng, giữa hai người với nhau.
Trong hội họp phổ biến công tác, chỉ thị, nghị quyết cử toạ chủ yếu lắng nghe, tiếp thu. Trường hợp tranh luận, trao đổi mới phát biểu ý kiến. Trong tâm sự, tâm tình nên nói nhỏ, nghe nhiều, lắng nghe. Trong lúc bàn bạc việc học hành, việc làm ăn, cũng nên biết lắng nghe, biết nói ít nghe nhiều để hướng tới chán lí lẽ phái.
Không nên nói quá to vừa nói vừa vung tay. Nên hướng về phía người đối thoại, nét mặt bình thản hoặc vui tươi, tránh cau có, khiếm nhã. Biết nói ít, nói ngắn, biết lựa lời mà nói, không cướp lời, cần ôn tồn lúc tranh luận. Ngôn từ sử dụng lúc giao tiếp phải ngắn, rõ không tục tằn thô lỗ. "Ăn nhai, nói nghĩ", "Học ăn, học nói, học gói, học mở" là những bài học quý báu. Nói ít, nói ngắn, nói giản dị, mộc mạc, không đãi bôi, không hoa hoè hoa sói. Tóm lại; nói là nghệ thuật trong giao tiếp, ứng xử. Qua lời nói, nội dung, khẩu ngữ, cử chỉ, ta biết được nhân cách văn hoá của người nói. May gì, tốt đẹp gì những kẻ ba hoa, nói dài, nói dai mà trống rỗng. Nói ít, nói chân thực, nói lịch sự là điều ta cần biết, cần nhớ. Xem thêm: Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ mà mình thích nhất trong bài thơ "Chạy giặc" của Nguyễn Đình Chiểu
Trong giao tiếp, không chỉ biết làm chủ ngôn ngữ mà còn phải biết lắng nghe: nói ít mà nghe nhiều. Nói phải lựa lời, phải suy nghĩ. Nghe phải chú ý, chủ tâm lắng nghe và suy ngẫm. Lắng nghe lúc tâm tình, tâm sự. Lắng nghe để tiếp thu, để hiểu nội dung vấn đề mà người nói đang trình bày. Lắng nghe để học hỏi: học hỏi điều khôn, điều mới lạ.
Người lịch duyệt tự đặt cho mình 6 câu hỏi trước lúc nói: nói với ai?, nói điều gì?, nói nhằm mục đích gì?, nói ở đâu?, nói lúc nào? và cách nói như thế nào? Người nghe cùng vậy, phải tự hỏi mình: Nghe ai nói?, nghe nói về điều gì, chuyện gì? nghe nhằm mục đích gì?, nghe người ta nói ở đâu?, nghe người ta nói vào lúc nào?, và nghe cách nói của người ta ra sao?
Làm gì cũng phải chủ động. Nghe người ta nói cũng phái chủ động. Chủ động về thời gian. Chủ động về tư thế, về ý thức. Lúc giao tiếp, ta phái thận trọng, tế nhị trong các trường hợp sau đây: người nói quá dài: nói toàn chuyện vu vơ, vô nghĩa; thái độ, cử chỉ người nói thô lổ, cục cằn, thậm chí có lời đe doạ, có lời mơn trớn, dụ dỗ,… Trong bất cứ trường hợp nào, người nghe đều phải chủ động, tinh tế, ý nhị, biết phân biệt đúng/ sai, phải/ trái, tốt/ xấu,… Biết lắng nghe, biết tiếp nhận, biết phả định,… nhưng phải kín đáo, thận trọng. Xem thêm: Tả con chó nhà em lớp 4 Nhân dân ta có nhiều câu tục ngữ nêu lên bài học về nói và nghe:,ãBiết thì thưa thốt/ Không biết thì dựa cột mà nghe", hoặc: "Người khôn nói ít làm nhiều/ Không như người dại lắm điều rởm tai ”.
Không chỉ biết nói ít nghe nhiều mà còn phái biết ứng xử. giao tiếp lịch sự, có văn hoá. Phải lấy tấm lòng thành thật để đối đãi với người, phải nói và nghe khôn ngoan, tế nhị. Một chữ “thực” là vàng ngọc trong giao tiếp: thực tâm, thực tình. Nói ít, nghe nhiều trên cơ sở chữ "thực " đó. Nói ít nghe nhiều là bài học làm người, lúc nào cũng mới mẻ.
Vanmau.edu.vn | Hãy bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Dê – nông (364 – 254 trước Công nguyên)_ “Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn” | 795 | |
Hãy bình luận ý kiến sau đây: “Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí”
Gợi ý
Khoa học là một lĩnh vực vô cùng kì diệu của con người từ xưa đến nay. Khoa học gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người trên những chặng đường văn minh. Đường đời vốn nhiều khó khăn, trắc trở và nguy hiểm. Con đường khoa học cũng vậy, đầy chông gai thử thách. Muốn trở thành một nhà khoa học chân chính có nhiều công trình khoa học, nhiều cống hiến thì cần phải có nhiều phẩm chất, nhiều điều kiện và một trong những phẩm chất, điều kiện ấy là tinh thần khoa học và dũng khí. Đúng như có ý kiến đã cho rằng: ‘Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí".
Người làm công tác khoa học nhân văn hay công tác khoa học tự nhiên, trước hết phải có tinh thần khoa học. Thế nào là tinh thần khoa học? Tinh thần khoa học là óc nghiên cứu, là tinh thần tìm tòi sáng tạo, phát minh. Tinh thần khoa học đề cao chân lí, coi trọng thực tiễn, đúc rút lí luận, đi từ những cái cụ thể nhất đến những vấn đề trừu tượng để tìm ra những sáng kiến, những phát minh khoa học, đem lại lợi ích cho con người, thúc đẩy tiến bộ xã hội và nền văn minh nhân loại. Tinh thần khoa học không hướng tới danh lợi tầm thường. Cán bộ khoa học chân chính đem trí tuệ, khoa học phục vụ lợi ích của dân tộc, của đất nước và nhân loại làm lí tưởng. Tất cả vì hạnh phúc con người. Tinh thần khoa học ấy là thái độ trung thực, tinh thần khiêm tốn, là sự say mê nghiên cứu, tìm tòi, phát minh. Nói rằng, nhà bác học cũng phải học là vậy.
Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí, tức là tinh thần dũng cảm. Dám nghĩ, dám làm, không đi theo con đường mòn, trái lại, dám xông vào những lĩnh vực mới mẻ đầy khó khăn thử thách, chiến thắng mọi trở lực trên con đường nghiên cứu, hướng tới những phát minh, những công trình. Không nản lòng, nản chí mà say mê bền bỉ, nhẫn nại tìm ra phương pháp đúng đắn… ấy là dũng khí, là tinh thần khoa học. Có nhiều nhà khoa học hiến dâng cả cuộc đời cho khoa học, cam chịu mọi sự thiếu thốn vật chất. Tinh thần khoa học luôn luôn gắn bó với dũng khí khoa học, hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau. Thiếu một trong hai nhân tố ấy thì sẽ không có công trình khoa học, không có phát minh, sáng kiến, không thể trở thành nhà khoa học chân chính. Xem thêm: Phân tích tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” trong đoạn trích đất nước (trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa ĐiềmMọi thành tựu khoa học đâu dễ một sớm một chiều mà gặt hái được? Nhà hàng hải vĩ đại Ma-gien-lãng (1480-1521) phải mất 3 năm kém 12 ngày, với hàng trăm sĩ quan, thủy thủ bỏ mạng trên đại dương mênh mông mới phát kiến ra con đường hàng hải vòng quanh thế giới. Nhà bác học Bru-nô (1548-1600) dũng cảm bước lên giàn hỏa thiêu của Nhà thờ trung cổ với niềm tin khoa học là trái đất và cả mặt trời đều chuyển động xung quanh trục của nó. Tên tuổi của Niu-tơn, Đác-uyn, Nô-ben, E-đi-xơn về các lĩnh học vật lí, toán học, sinh học, thuốc nổ, về điện,… là những phát minh thúc đẩy văn minh nhân loại, vì hạnh phúc của loài người. Pa-xlơ nhà bác học vĩ đại đã vượt qua mọi khó khăn để chế ra vắc-xin chữa bệnh chó dại cứu sống bao người. Năm 70 tuổi, ông nhắn gửi thanh niên gần xa những lời tâm huyết: "Các bạn trẻ, các bạn hãy sống trong sự thanh bình của các phòng thí nghiệm, các thư viện. Lúc đầu các bạn hãy tự hỏi: ‘Ta đã làm gì để trau dồi học vấn của ta?". Khi trưởng thành lên, các bạn lại hỏi: "Ta đã làm gì cho Tổ quốc ta?". Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí là vậy!
Ở nước ta hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển chưa cao. Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần nhiều tài năng trẻ, nhiều công trình khoa học để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, chiến thắng nghèo nàn lạc hậu. Cải tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long, lai tạo giống lúa mới, trồng cây rừng… là những đề tài khoa học cấp quốc gia vô cùng cấp thiết cần tinh thần khoa học và dũng khí. Trước đây, những nhà khoa học như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Lương Định Của,… đã cống hiến cả cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân. Nhân dân ta mãi mãi biết ơn và tự hào về người thầy thuốc mổ tim tài ba, về nhà nông học lai tạo được nhiều giống lúa có năng suất cao, về người kĩ sư lỗi lạc đã sáng chế ra nhiều loại vũ khí hiện đại trang bị cho quân đội ta tiêu diệt lũ giặc xâm lược. Xem thêm: Anh (chị) hãy trình bày ngắn gọn quan niệm sáng tác văn chương của Hồ Chí MinhNhân dân ta cần cù, giàu lòng yêu nước, rất hiếu học. Đó là những điều kiện thuận lợi để đất nước ta hình thành một đội ngũ cán bộ khoa học có thực tài và đồng đảo để hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước. Khó khăn lớn nhất của ta hiện nay là còn thiếu những phòng thí nghiệm hiện đại, những trang bị khoa học kĩ thuật tối tân. Các cán bộ khoa học của ta còn phải làm việc trong điều kiện khó khăn thiếu thốn. Hiện tượng chảy máu chất xám là một sự thật chưa dễ khắc phục được.
Tinh thần khoa học và dũng khí là hai nhân tố quan trọng cần phải có của một người làm công tác khoa học. Muốn xây dựng một sự nghiệp khoa học cần có trí tuệ, sự thông minh hơn người, cần có thực tài. Cán bộ khoa học hiện đại phải được đào tạo bài bản, có chiều sâu, đào tạo ở những trung tâm khoa học lớn dưới sự giảng dạy và dìu dắt của những nhà bác học, những giáo sư tầm cỡ. Khoa học kĩ thuật hiện đại phát triển với tốc độ phi thường, kì diệu. Số nhà khoa học được nhận giải thưởng Nô-ben mỗi năm một nhiều. Sáng chế phát minh của những nhà khoa học thiên tài đã thúc đẩy văn minh nhân loại về tin học, về sinh học, về công nghệ, về du hành vũ trụ,… làm thay đổi bộ mặt các quốc gia, làm cho khoảng cách mênh mông giữa các vùng địa lí, giữa các châu lục trở nên "gần gũi". Cán bộ khoa học trong thời hiện đại phải biết sử dụng thành thạo hai, ba ngoại ngữ; như vậy mới có thể nghiên cứu chuyên sâu. Nước ta hiện nay còn thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, thư viện hiện đại để các nhà khoa học trẻ có điều kiện tự học, phát triển tài năng. Hiện tượng phó tiến Sĩ"rởm", tiến sĩ "rởm", giáo sư "rởm" mà các báo chí nói đến lâu nay là một sự thật đáng buồn, cần được khắc phục. Xem thêm: “Trên đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” (Phơ-rang-cơ-lanh). Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên Tóm lại, khoa học là một lĩnh vực kì diệu của con người đưa nhân loại tiến bước trên con đường văn minh. Ánh sáng khoa học đã và đang chiếu rọi khắp mọi chân trời, mọi quốc gia. Nhờ khoa học mà con người được sống trong văn minh, hạnh phúc. Khoa học và nhà khoa học phải vì con người, hướng tới đất nước và nhân dân. Muốn làm chủ khoa học, thế hệ trẻ Việt Nam phải say mê học tập, nghiên cứu, phải có tinh thần khoa học và dũng khí. ở đời mọi việc đều khó. Con đường khoa học vô cùng rộng lớn, đầy gian nan thử thách và vô cùng vinh quang. Ý kiến "Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí" là một ý kiến sâu sắc, xác đáng đối với mỗi chúng ta trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học.
Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học. Trí tuệ, tài năng được đề cao, được coi trọng. Mỗi chúng ta phải nỗ lực học tập, tiến quân vào khoa học, phấn đấu đem trí tuệ, tài năng phục vụ Tổ quốc Việt Nam bước vào đệ nhị thiên niên kỉ Thăng Long hùng cường.
Vanmau.edu.vn | Hãy bình luận ý kiến sau đây_ “Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí” | 1,524 | |
Hãy bình luận ý thơ sau đây: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” (Trích “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu)
Gợi ý
Nguyền Đình Chiểu là nhà thơ lớn của đất nước ta, mãi mãi xứng đáng là ngôi sao sáng trên bầu trời nghệ thuật Việt Nam trong thế kỉ XIX. Ông để lại một số truyện thơ, tiêu biểu nhất là Truyện Lục Vân Tiên. Qua cuộc đời Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga, nhà thơ khẳng định và ngợi ca một lẽ sống đẹp:
“Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình ”..
Lục Vân Tiên là một anh hùng lí tưởng của nhà thơ mù yêu nước. Có biết bao tình tiết hào hùng và cảm động về trang anh hùng nghĩa hiệp này. Chiến công đánh cướp của Lục Vân Tiên mãi mãi là bài ca hùng tráng của người anh hùng trong một xã hội loạn lạc.
Sau khi giết chết Phong Lai, đánh tan lũ giặc sơn đài, trừ hậu họa cho nhân dân, giải thoát cho Kiều Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên đã thể hiện một cách ứng xử vô cùng cao thượng và hào hiệp. Người đẹp băn khoăn về chuyện "báo đức thù công ” thì Lục Vân Tiên “liền cười ”, rồi đĩnh đạc nói:
“Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hừng ”.
"Kiến ngãi bất vi” nghĩa là thấy việc nghĩa mà không làm. “Phi anh hùng ” là không phải anh hùng. Hai câu thơ nêu lên một phương châm, một lẽ sống: Thấy việc nghĩa mà không làm thì con người như thế không đáng mặt anh hùng, thậm chí đó là kẻ tầm thường. Từ phủ định để đi tới khẳng định về một lẽ sống cao đẹp của người anh hùng ngày xưa: đề cao tinh thần nghĩa hiệp, hành động hướng tới nhân nghĩa; coi việc nghĩa ở đời là trách nhiệm cao cả thiêng liêng.
Tại sao khi thấy việc nghĩa mà không làm; như thế không phải là anh hùng? Việc nghĩa ở đây là nhân nghĩa, là tình thương người, chở che bênh vực người bị áp bức, bị hại. Là tinh thần cương quyết chống lại cái ác, chống lại hung tàn bạo ngược để bảo vệ hạnh phúc, tài sản và tính mệnh của nhân dân. Đã là anh hùng thì phái xả thân vì việc nghĩa, coi việc nghĩa là lẽ sống cao đẹp của mình, sẵn sàng đem tài năng và lòng dũng cảm để làm cho việc nghĩa tỏa sáng trong lòng người. Đạo lí nhân dân đề cao và coi trọng nhân nghĩa. Bởi vậy, những kẻ thấy việc nghĩa mà không làm, dửng dưng trước nỗi đau buồn, bất hạnh của đồng loại, thì những kẻ ấy không đáng mặt anh hùng, thậm chí đó là những kẻ đạo đức giả rất tầm thường. Anh hùng phải gắn bó với nhân dân, với nỗi lo, nỗi đau, niềm vui và mơ ước của nhân dân. Anh hùng phải bảo vệ và phấn đấu cho hạnh phúc của nhân dân. Có như thế mới xứng đáng là người anh hùng chân chính. Xem thêm: Em hãy phân tích bài "Mộ” (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh Hai câu thơ: “Nhớ câu kiến ngãi bất vi / Làm người thế ấy cũng phi anh hùng" nêu lên một quan niệm về anh hùng rất đúng đắn, tích cực.
Nhân nghĩa là nội dung dạo lí nhân dân. Người có nhân có nghĩa mới được nhân dân quý mến, kính trọng. Người anh hùng sống và chiến dấu vì lợi ích của nhân dân. đem tài năng báo vệ nhân dân, đó là con người nhân nghĩa.
Bọn bất lương, lũ hung tàn bạo ngược thì bất nhân bất nghĩa. Vì nhân nghĩa mà phải chống lại bạo ngược hung tàn. Muốn chống lại cái ác cường quyền, bạo ngược đâu phải ai cũng làm được? Phải có lòng dũng cảm và quyết tâm như sắt đá. Phải có tài năng mưu trí. Dám xả thân vì việc nghĩa coi cái chết nhẹ tựa lồng hồng Làm được như thế, có phẩm chất như thế mới xứng đáng là anh hùng.
Quan niệm về anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu mang tinh thần nhân dân sâu sắc. Lục Vân Tiên xuống núi về Kinh ứng thí, giữa đường gặp cướp, chàng nói với dân chạy giặc:
“Tôi xin ra sức anh hào,
Cứu người cho khỏi lao dao buổi này"
Chàng đã “bẻ cây làm gậy ”, căm thù lên án tên tướng cướp Phong Lai:
‘Tiên rằng bớ đảng hung đồ,
Chở quen làm thói hồ đồ hại dân "
Sau đó chàng đã “tả đột hữu xông" đánh tan lũ cướp! Vân Tiên đà hành động theo đúng nghĩa là người anh hùng nghĩa hiệp.
Người anh hùng nghĩa hiệp rất coi thường danh lợi. Họ trọng nghĩa khinh tài (tiền tài). Làm việc nghĩa không mảy may vụ lợi, rất coi trọng lời thề chung thủy sắt son. ‘Tình huynh đệ tâm giao, tình sư phụ đối với họ là nghĩa nặng nghìn non. không gì có thể lay chuyển được.
Tóm lại, quan niệm anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện trong truyện Lục Vân Tiên rất cao cả rất đẹp. Vì anh hùng gắn với nhân nghĩa; nhân nghĩa gắn liền với trung, hiếu, tiết, nghĩa. Sống giữa thời loạn lạc, rối ren, một xã hội đầy rẫy những kẻ lừa thầy, phản bạn, bất nghĩa, bất nhân, mà Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao anh hùng nhân nghĩa, điều đó chứng tỏ cái “tâm" của ông rất sáng. Đúng như Bão Định Giang đã ca ngợi: “Nguyền Đinh Chiểu tuy mù lòa, nhưng tâm hồn ông vằng vặc như sao Bắc Đẩu ”. Xem thêm: Anh/chị hãy nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Câu thơ của Nguyễn Đình Chiếu bắt nguồn từ một câu nói bất hủ của người xưa: “Kiên ngãi bất vi vô dũng giả". “Dũng giả" là con người dũng cám. Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là con người dũng cảm. Người dũng cảm thì không sợ nguy nan coi thường cái chết, ra sức cứu nguy phò đời. Với thanh gươm nghĩa hiệp, họ sống và hành động theo phương châm: “Lộ kiến bất bình, bạt đao tương trợ”. Nghĩa là trên đường thấy việc nghĩa liền vung đao cứu giúp, bênh vực. Các anh hùng hảo hán ngày xưa đã thẳng tay trừng trị bọn ác bá quan lại gian tham độc ác…, họ hành động theo phương châm ấy. Nhân vật Từ Hải trong "Truyện Kiều”, một con người khao khát tự do "Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo” đã từng tuyên bố:
"Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ”.
Quan niệm về anh hùng của nhân dân ta rất sâu sắc. Chí bốn phương vẫy vùng là tầm vóc của đấng nam nhi, của trang anh hùng:
“Làm trai cho đáng nên trai,
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng ”
Quan niệm về anh hùng lại mang màu sắc thời đại. Mỗi thời đại lại có một mẫu lí tưởng về anh hùng. Trong lịch sử 4000 năm xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc ta đã có bao tấm gương anh hùng sáng chói lưu danh sử sách. Với Trần Quốc Tuấn:
… "Chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù Dù cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng". Với Nguyễn Trãi thì người anh hùng phải là người nhân nghĩa, có tài năng và dũng lược, biết yêu, ghét mạnh mẽ, rõ ràng:
"Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,
Có nhân, có trí, có anh hùng ”. Xem thêm: Phân tích đoạn trích Đất Nước (Trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Công Trứ là nhà nho văn võ toàn tài, sống trong nửa đầu thế kỉ XIX, là một con người có nhiều công danh “Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tỏng đốc Đông…” để lại nhiều bài thơ nói về "chí nam nhi”, “chí anh hùng” bằng một giọng điệu hào hùng, một chí khí hăm hở phi thường:
“Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông ”
“Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ ”.
Những quan niệm anh hùng, lí tưởng anh hùng ấy rất đẹp, mang đậm màu sắc lịch sử thời đại và có tính nhân dân sâu sắc. Tổ tiên, ông cha đã nêu cao lí tưởng anh hùng, lẫm liệt hiên ngang xả thân vì nước vì dân, hướng về nhân nghĩa. Đó là vốn quý của dân tộc rất đáng tự hào.
Trong nửa thế kỉ qua, nhân dân ta đã tiến hành hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Có biết bao anh hùng xuất hiện, đúng là “ra ngõ gập anh hùng”. Người chiến sĩ cầm súng bảo vệ tổ quốc thì “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thủ nào cũng đánh thắng!”. Ngày xưa “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, ngày nay người phụ nữ Việt Nam mang tầm vóc thời đại mới: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang ”.
Qua nhân vật Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiếu đã ca ngợi một lí tưởng anh hùng vị nghĩa cao đẹp:
“Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thể ấy cũng phi anh hùng ”
Trong tâm hồn hàng triệu người Việt Nam hơn thế kỉ qua, hình ảnh Lục Vân Tiên hiện lên với nhiều ngưỡng mộ:
“Vân Tiên đầu đội kim khôi,
Tay cầm siêu bạc, mình ngồi ngựa ô ".
Nguyễn Đình Chiểu đã suốt đời dùng thơ văn làm vũ khí báo vệ đạo đức, đạo lí, góp phần đánh giặc vì nước vì dân:
“Chơ hao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian hút chẳng tủ ".
Quan niệm anh hùng của Nguyền Đinh Chiểu đã gắn liền với đạo lí làm người, hướng về nhân dân. Đó là bài học sâu sắc nhất mà ta cảm nhận được. Trong thời đại mới “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ”,
Vanmau.edu.vn | Hãy bình luận ý thơ sau đây_ “Nhớ câu kiến ngãi bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” (Trích “Truyện Lục Vân Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu) | 1,770 | |
Hãy cho biết cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện thần thoại “Thần trụ trời”
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
Em thích nhất là truyện Thần Trụ Trời
B. THÂN BÀI:
– Tóm tắt nội dung cốt truyện.
– Phát biểu cảm nghĩ:
+ Cứ tưởng tượng ra vóc dáng của Thần là em khoái rồi.
+ Vô cùng cảm phục những đức tính tốt của Thần.
+ Truyện hay, hấp dẫn vì có những chi tiết kì lạ.
c. KẾT LUẬN:
Noi gương thần, em sẽ chăm chỉ, cần cù trong việc học.
BÀI LÀM
Em đã được học nhiều truyện thần thoại khá hay và hấp dẫn, nhưng truyện mà em thích nhất vẫn là Thần Trụ Trời.
Đọc truyện ấy em không thể không suy nghĩ và ngăn được cảm xúc.
Truyện kể rằng vào thời kì trời đất còn hỗn độn, tối tăm, có một vị thần khổng lồ. Thần đội trời lên rồi đào đất, khuân đá, xây thành cột chống trời, khi trời đất đã được phân đôi, thần liền phá tan cột đi. Xong công việc, thân bay về trời để các vị thần khác tiếp tục xây dựng thế giới.
Chao ôi! Em khoái cái thân hình khổng lồ của thần hết sức vì em thì lùn tịt, lại ốm tong teo. Em đã được nhìn thấy những người to và cao, nhưng chẳng ai như thần cả. Em cứ ước, giá mà em có thân hình, đôi tay như thần thì em sẽ là cầu thù bóng đá xuất sắc, chi bước một cái là có thể sút bóng vào khung thành của đối phương. Thú vị bịết chừng nào!Xem thêm: Câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về truyền thống đạo lí của dân tộc ta?
Chẳng những thế, em còn cảm phục thần vô cùng. Thần có biết bao đức tính tốt mà em chưa có.
Trước hết thần thương yêu mọi loài. Nếu không có tình thương thì chắc thần không nhọc công ngẩng đầu đội trời lên, rồi cần cù nhẫn nại đào đất để và đắp cột chống trời. Làm công việc ấy, thần vừa biểu lộ tình thương muôn loài, vừa biểu hiện quyết tâm, siêng năng, chăm chỉ. Khi làm xong công việc, thần không chờ muôn loài trả ơn, lẳng lặng bay về trời, để những công việc còn lại cho các vị thần khác tiếp tục xây dựng cho thế giới, cho muôn loài có cuộc sống tốt đẹp hơn. Em nghĩ trên đời chẳng có ai có những đức tính tột như thần. Em sung sướng vô cùng khi tổ tiên đã biết ơn thần mà có bài hát ca ngợi công đức của các vị thần, trong đó có Thần Trụ Trời.
Em đọc truyện ấy rất nhiều lần. Hễ nằm xuống giường là em mở sách ra đọc truyện ấy. Truyện có những chi tiết kì lạ gây sự hấp dẫn cho em "Chân dài không sao tà xiết". Ôi dài đến thế cơ à! Rồi thì thần “đội trời lên” như em trùm mền kín mít rồi đội mền lên vậy. Nhưng mền thì nhẹ, còn trời thì rộng và nặng biết chừng nào! Kì lạ và hấp dẫn hơn nữa là thần có đó rồi thì thần lại biến đi, như Phật Bà Quan Âm trong cuộn phim "Tây Du Kí" vậy!Xem thêm: "Chúng ta phải thực hiện đức tính trong sạch, chất phác, hăng hái, cần kiệm, xoá bỏ hết những vết tích nô lệ trong tư tưởng và hành động” (Hồ Chí Minh) Tóm lại, truyện Thần Trụ Trời là một thần thoại mà em thích, giúp em hiểu được quan niệm của người xưa về sự hình thành trời đất. Mấy tháng nay em lười quá nên chẳng thành công trong việc học hành, đà làm cho cha mẹ thầy cô buồn lòng. Noi gương thần, em sẽ chuyên cần, chăm chỉ hỏi. Thần thành công trong việc chống trời thì em cũng thành công trong việc học hành!
Vanmau.edu.vn | Hãy cho biết cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện thần thoại “Thần trụ trời” | 668 | |
Hãy cho biết cảm nghĩ của em về hình ảnh của chú bé giao liên tên Lượm trong bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
Bé Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu gợi cho em nhiều suy nghĩ và cảm xúc.
B. THÂN BÀI:
– Thương yêu biết chừng nào vóc dáng của người bạn ở đất Thừa Thiên.
– Nghĩ đến Lượm rồi chạnh nghĩ đến mình.
– Hình ảnh cuối cùng của Lượm làm em chảy nước mắt.
– Những suy nghĩ của em về tư thế chết của Lượm,
C. KẾT LUẬN:
– Em biết ơn nhà thơ.
– Lượm là tấm gương sáng cho tuổi nhỏ của em.
BÀI LÀM
Trong những bài thơ, bài văn trong chương trình Văn học hiện đại, em đã gặp khá nhiều nhân vật nhỏ tuổi. Cu Tí trong Ngày đầu tiên của Cu Tí, đứa con trong bài Những cánh buồm… và hình ảnh gợi cho em nhiều suy nghĩ và cảm xúc nhất về nét đẹp của tuổi thơ vẫn là bé Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu.
>
Thương yêu biết mấy vóc dáng người bạn nhỏ ở đất Thừa Thiên. Cái vóc dáng “loắt choắt” nho nhỏ, với nước da ngăm đen cứng cáp giữa cánh đồng quê hương qua bốn mùa mưa nắng, có sức lôi cuốn tình cảm của em đến gần với Lượm. Mà đúng thật! Lượm nhí nhảnh, liến thoắng đến dễ thương. Và hình như, Lượm không hề biểu hiện chút gì lo lắng, u sầu. Từ cách đi đứng, “tiếng huýt sáo” ở Lượm toát ra vẻ tươi tỉnh, ngây thơ, trong sáng. Nhưng hình ảnh mà em thích nhất ở người bạn nhỏ này là cử chỉ và cách xưng hô của Lượm với nhà thơ.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Anh em như thể tay chân…”
– Thôi chào đồng chí! Cử chỉ ấy thật là tự nhiên!
“Cháu đi xa dần” Lời thơ của Tố Hữu lại khơi dậy những cảm xúc khác ở trong em. Lượm đi đâu nhỉ? A, phải rồi, Lượm “đi liên lạc”. Công việc vất vả, hiểm nguy! Không vất vả mệt nhọc sao được khi phải băng từ cánh đồng này sang cánh đồng khác, không hiểm nguy sao được những lúc Lượm phải:
Vụt qua mặt trận
Đạn bay vèo vèo
Nghĩ về Lượm rồi chạnh nghĩ đến mình, em thấy mình chẳng bằng một góc của Lượm! Lượm thật can đảm! Một mình ở nhà trong đêm, em đã sợ tưởng đến phát khóc lên rồi. Huống hồ gì một mình giữa khoảng đồng trống, giữa làn đạn của quân Tây.
Và hình ảnh cuối cùng của Lượm làm em ứa nước mắt bùi ngùi. Sau lằn đạn của quân giặc, Lượm ngã nhào trên đồng lúa, nhưng:
Tay nắm chặt bông.
Tại sao trước khi chết, Lượm có cử chỉ ấy? Có phải Lượm tiếc nuốỉ điều gi? Đau đớn lắm phải không? Lượm nghĩ đến công việc chưa hoàn thành, nghĩ đến cha mẹ, anh chị em?
Em biết ơn nhà thơ đã ghi lại cho chúng em một hình ảnh đáng yêu, đáng kính: Một hình ảnh trở thành tấm gương sáng cho tuổi nhỏ em học tập, dù đất nước không còn chiến tranh.
Vanmau.edu.vn | Hãy cho biết cảm nghĩ của em về hình ảnh của chú bé giao liên tên Lượm trong bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu | 544 | |
Hãy cho biết cảm nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn ở chương I (Tôi sống độc lập từ bé. Một sự ngỗ nghịch đáng ân hận suốt đời) mà em đã học
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
– Tác giả Tô Hoài đã đưa đến cho chúng em một tác phẩm hấp dẫn: Dế Mèn phiêu lưu kí.
– Ở chương I của tác phẩm, gợi cho em nhiều cảm xúc và suy nghĩ.
B. THÂN BÀI:
– Tóm tắt nội dung của chương I:
Dê Mèn được mẹ cho ra ở riêng… nhờ vậy mà Dế Mèn thức tỉnh để trở thành người tốt sau này.
– Phát biểu cảm nghĩ:
+ Cảm phục Dế Mèn là chú dế thông minh, biết sống tự lập.
+ Ghét cái tính cà khịa, hung ác táo tợn của Dế Mèn.
+ Thương Dế Mèn vì chú ta biết phục thiện.
– Dế Mèn, trong chương I của truyện, đúng là mẫu người mới lớn.
C. KẾT LUẬN:
Cảm nghĩ của em khi đọc Dế Mèn phiêu lưu kí.
BÀI LÀM
Tác giả Tô Hoài đã đưa ra cho tuổi thơ một tác phẩm thật hấp dẫn. Nhân vật trung tâm của truyện là Dế Mèn. Quang cảnh diễn ra cùng với những hoạt động của Dế Mèn thật sinh động, tạo nên nhiều cảm xúc, suy nghĩ cho em ở ngay đầu cuốn truyện.
Đó là tháng ngày Dế Mèn được mẹ cho ra ở riêng. Thông minh, điều độ nên chóng lớn. Dế Mèn đã trở thành một thanh niên cường tráng, hung hăng, hống hách, nghịch ngợm, khoác lác. Dế Mèn đã chọc ghẹo chị Cốc và đổ tội cho Dế Choắt vốn là người gầy gò yếu đuôi đã tôn Dế Mèn làm anh. Chị Cốc nổi giận trừng trị Dế Choắt. Trước khi chết, Dế Choắt khuyên Dế Mèn bỏ thói hung hăng bậy bạ kẻo rước họa vào thân. Nhờ vậy mà Dế Mèn thức tỉnh để trở thành người tốt sau này. Câu chuyện làm cho em cảm phục. Dế Mèn là chú dế thông minh, biết sống tự lực. Đức tính ấy thật đáng quí. Không an phận với những gì còn chưa chắc chắn. Dế Mèn đã biết lo xa, đào hang sâu, chia làm hai ngả phòng khi gặp nguy hiểm.Xem thêm: Phân tích nghệ thuật lập luận trong văn bản “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ăng-ghen) Em cảm phục cách sống của Dế Mèn bao nhiêu thì em lại ghét chú ấy bấy nhiêu. Với những cử chỉ làm dáng, quát mắng mấy chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó và cách xưng hô với Dế Choắt cứ như là người lớn, khiến em buồn cười.
Em giận Dế Mèn lắm, vì Dế Mèn đã ức hiếp Dê Choắt. Người khỏe mạnh mà ăn hiếp kẻ yếu đuối và bệnh hoạn là kẻ hèn, càng hèn hạ hơn nữa khi người yếu biết thủ phận. Ấy thế mà Dế Mèn đã hại Dế Choắt. Vi Dế Mèn mà Dế Choắt phải chết. Dế Mèn thật đáng ghét.
Tuy nhiên. Sự phục thiện của Dế Mèn đã làm em đổi từ ghét sang thương chứ. Bằng việc chôn cất Dế Choắt, đứng lặng giờ lâu, nghĩ về bài học đường đời đầu tiên, Dế Mèn đã chứng tỏ cho em thấy chú đã biết ăn năn, hối lỗi.
Với truyện Dế Mèn phiêu lưu ký, trong chương I của truyện, nhân vật Dế Mèn là mẫu người mới lớn biểu hiện ở những lời nói, cử chỉ đáng giận, đáng thương.
Gấp lại sách, dư âm và sự hấp dẫn của truyện còn đó. Một cốt truyện hay của một tài năng viết văn. Tô Hoài đã làm cho chúng em nghĩ đúng và cảm nhận đúng về tác phẩm. Đọc hết tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký, càng về sau em càng thấy thương yêu chú dế tinh nghịch ấy.Xem thêm: Đọc truyện cười sau, từ đó phát biểu những suy nghĩ của anh (chị) về việc cho và nhận trong cuộc sống hàng ngày. Cứu người chết đuối...Vanmau.edu.vn | Hãy cho biết cảm nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn ở chương I (Tôi sống độc lập từ bé. Một sự ngỗ nghịch đáng ân hận suốt đời) mà em đã học | 677 | |
Hãy cho biết cảm nghĩ của em về những gì khiến em xúc động hơn cả trong mấy bài ca dao về thân phận người lao động nghèo khổ đã học
Gợi ý
1. Trong 8 bài ca dao đã học về thân phận người lao động nghèo khổ trong xã hội cũ, em thấy xúc động hơn với hai bài (2,7) nói về thân làm mướn, ở đợ, với các hình ảnh cuối trong bài số 4 nói về nỗi niềm không người chia sẻ và với bài số 6 bộc lộ khát vọng đổi đời của họ.
2. Con đi làm mướn kiếm lưng cơm người, chàng trai (hoặc cô gái) này chắc hẳn là nhà nghèo, nên mới phải đem thân đi làm thuê để kiếm sống. Chỉ “lưng cơm” thôi, nhưng là “cơm người”, cơm của chủ thuê. Chàng không kể rõ, nhưng em tưởng tượng ra cảnh chủ nhà ngồi trông chừng từng lượt xới, từng cái gắp. Rồi mắng chó chửi mèo, chì chiết chê bai. Nhiều khi cơm và vào miệng mà nuốt chẳng thể trôi. Đâu được như “cơm mẹ”, ăn giữa gia đình, ăn bớt một bát mẹ đã lo, có miếng nào ngon mẹ gắp cho trước. Có đi làm mướn, ăn bát cơm người nuốt cùng nỗi nhục, mới thấm thía cái giá của tình cảm mẹ cha, chỉ có bù trì săn sóc, thoải mái “vừa ngồi vừa ăn”, không phải nặng đầu vì những câu xúc phạm của bà chủ. Cũng cảnh ăn ở cay cực của kẻ làm thuê ấy, nhưng ở bài số 7, mức độ gay gắt hơn, tình trạng miêu tả cụ thể chi tiết hơn. Ăn thì hôm nào cũng chỉ “cơm thừa”, “canh cặn”. Ngủ thì “nằm sau xó lều”. Mong mỏi giải thoát “ra khỏi nhà giàu” đã thành bức xúc: anh réo thúc thời gian, nôn nóng đợi đêm chóng qua, ngày chóng hết, để xong kì hạn ỏ đợ làm thuê. Thật tội! Tục ngữ có câu “thước ngọc chẳng tày tấc bóng”, ca dao cũng nhắc Đời người được một gang tay, chứng tỏ dân gian rất quý thời giờ, tiếc từng tấc nắng qua đi. Vậy mà ở đây thời gian chỉ còn có nghĩa là những ngày, những đêm bị đối xử theo kiểu đọa đày. Cái kiếp nô lệ mòn mỏi ấy kéo dài bao nhiêu, cực nhục bấy nhiêu. Thời gian ở đây không hề cho ta hưởng niềm vui sống, mà chỉ giáng xuống tội nợ. Em hiểu vì sao trước kia người cố nông sợ tiếng gà gáy sáng đến thế (Gà kia mày gáy chiêu đăm. Cho chúa tao nằm, tao ngủ chút nao!) cũng như sau này Chí Phèo đã chửi đến cả đứa chết mẹ nào đã sinh ra hắn, để cho hắn phải kéo lê kiếp sống “rạch mặt ăn vạ ngày này qua tháng khác như vậy.Xem thêm: Nêu quan điểm của em về vấn đề: tự lực cánh sinh, cần cù lao động
Với thân phận phải trải qua bao cảnh ngộ cơ cực đắng cay đó, người lao khổ xưa chứa chất biết bao nông nỗi trong lòng. Bị cách biệt khỏi người thân thuộc, xung quanh hầu như chỉ toàn những kẻ mắng nhiếc, ốp thúc, bắt bẻ, hăm đe… biết giải vây, than thở cùng ai. Ai nghe cho con cuốc giữa trời, dù nó có bao khổ đau, giận hờn nung nấu đến có thể “kêu ra máu” đi chăng nữa? Nỗi khổ miêng ăn, chỗ ngủ không căng thẳng bằng sự cô đơn, không người chia sẻ. Chi tiết ca dao Dẫu kêu ra máu có người nào nghe này thật khổ tâm. Em được biêt ở Nhật, nơi hơn 80% dân số tự nhận mức sống là từ trung lưu trở lên và đều hài lòng với số phận mình, mà dịch vụ “Điện thoại vì cuộc sông” (nhằm giải tỏa những ẩn ức cho người bất hạnh, khỏi sa vào bi kịch cô đơn bế tắc) rất đắt hàng, có ngày chuông réo suốt 24/24 tiếng đồng hồ; thì đủ thấy nhu cầu giải tỏa những nỗi niềm ẩn ức là quan trọng đến mức nào. Vậy mà đây lại không phải người Nhật cuối thế kỉ 20 sung sướng với mức sống hàng đầu thế giới. Đây là những người lao động nghèo khổ của đất nước nông nghiệp nghèo nàn thời trung cổ. Như vậy tâm sự của họ còn bất hạnh gấp bội, nhu cầu giải tỏa của họ còn bức xúc đến đâu! Nhưng cảnh ngộ lại hết sức cô đơn: “có người nào nghe” đâu, không ai thông cảm chia sẻ cho họ cả!Xem thêm: Viết đoạn văn phân tích thành công về một nét nghệ thuật của bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, trong đó có sử dụng hai thành ngữ
Cực khổ về vật chất, căng thẳng về tinh thần như thế, nên em không ngạc nhiên thấy họ ủ ấp một khát vọng đổi đời thật táo bạo, mạnh mẽ mong cho con vua thất thế lại ra quét chùa thiết tha đón đợi sự thay bậc đổi ngôi hoàn toàn trong xã hội. Phải chăng bằng tất cả kinh nghiệm bản thân của mình cũng như của nhiều đời truyền lại, họ đã nhận ra chỉ có một cuộc nổi can qua quyết liệt như thế mới có thể thay đổi được số phận của mình. Thật bất ngờ, nhũng ngươi lao động nghèo khổ bị đày ải, áp bức bao đời ấy, tưởng đã bị mê mụ, thuần hóa mà cam đành thân phận xuống sông đội đá, lên chùa đội bia của mình. Hóa ra, tích gió thành bão, càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều. Chính những con người quét lá đa, ăn canh cặn, nằm xó lều đó đã không thể nung nấu chí vùng dậy giải tỏa nỗi niềm, đổi đời số phận!
3. Quả là ca dao chứa đựng chân lí cuộc sống, thể hiện nỗi niềm nhân dân một cách trung thực, trong sáng. Em vừa cảm động, vừa sung sướng nhận thức được từ những câu ca dao trên nhiều tâm sự sâu sắc cũng như tiềm lực vĩ đại của nhân dân ta. Tâm sự và tiềm lực ấy, em hiểu nó không chỉ phản ánh một sự thật đã qua trong lịch sử, mà còn có giá trị như những bài học bổ ích cho cuộc sống hôm nay.Xem thêm: Qua bài thơ: "Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi! Ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con". Hãy nêu cảm nhận của mình về người nông dân xưaVanmau.edu.vn | Hãy cho biết cảm nghĩ của em về những gì khiến em xúc động hơn cả trong mấy bài ca dao về thân phận người lao động nghèo khổ đã học | 1,145 | |
Đề bài: Hãy chuyển nội dung bài thơ Con cò của Chế Lan Viên thành một câu chuyện
Bé Bi mới tròn năm tháng tuổi, hồng hào bụ bẫm, xinh ơi là xinh! Cả nhà ai cũng yêu, cũng quý chú “thiên thần nhỏ”.
Bú mẹ xong, bé thiu thiu ngủ. Đôi môi hồng tươi thỉnh thoảng lại nún nún như đang bú, trông dễ thương lạ! Đợi bé ngủ say, mẹ nhẹ nhàng đặt bé vào chiếc nôi mây, bên trên có treo một chùm đồ chơi màu sắc rực rỡ. Tay mẹ khe khẽ đưa nôi và mẹ cất lên tiếng ru quen thuộc:
À… à… ơi! Con cò bay lả bay la.
Bay từ cổng phủ bay ra cánh đồng…
Con cò mà đi ăn đêm.
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao.
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong.
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con…
Lời ru êm ái cùng nhịp nôi đong đưa đều đều đưa bé vào giấc ngủ say nồng. Mẹ mải mê ngắm đứa con yêu quý mà lòng rộn lên bao cảm xúc. Mẹ thương cánh cò, cánh vạc phải lặn lội khó nhọc để kiếm miếng ăn qua ngày. Còn con, con được sống trong vòng tay bao bọc, nâng niu của mẹ. Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân. Ngủ dậy, con tươi cười như bông hoa mới nở. Con nhún nhảy đùa vui, đem hạnh phúc đến cho căn nhà nhỏ của mẹ, của cha.
Xem thêm: Nghị luận xã hội về trò chơi điện tửÀ ơi… Con ơi con ngủ cho ngoan… Con trai của mẹ cứ yên ngủ trong nôi, cho cò trắng đến làm quen. Cò đứng ở quanh nôi, rồi cò xòe đôi cánh mềm mại ấp ủ cho con. Con ngủ say thì cò cũng ngủ say, giấc ngủ tuổi thơ rập rờn cánh cò trắng trong ca dao, cổ tích. Con ơi! Nay mai khôn lớn, con theo cò đi học. Cánh trắng cò bay theo gót chân con tung tăng tới trường với thầy cô, bè bạn. Cả thế giới diệu kì sẽ dần dần mở ra trước mắt con. Rồi con sẽ thành thi sĩ, ngòi bút của con sẽ cất lên lời ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống này, trái đất này… Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ, trước hiên nhà và trong ngọn gió mát lành của thơ ca.
Con ơi, hãy nhớ lời mẹ dặn: Dù ở gần hay ở xa, dù lên rừng hay xuống biển, cò sẽ tìm con và mãi mãi yêu con. Sau này trưởng thành, dẫu con là văn nhân, thi sĩ hay một nhà bác học nổi tiếng đi nữa thì con vẫn là con của mẹ. Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
À ơi… à ơi! Tiếng ru của mẹ vẫn dịu dàng ngân lên giữa trưa hè nóng nực hay trong đêm đông lạnh giá. Con lớn lên bằng dòng sữa ngọt ngào, bằng lời ru êm ái của mẹ. Cánh cò trắng ngàn năm trong ca dao mang lời ru đến với con, nối với con bao điều ân nghĩa của đạo làm người. Con yêu của mẹ, hãy ngủ đi! Cho cánh cò cánh vạc và cả sắc trời xanh biếc đến hát quanh nôi.
Xem thêm: Bộ sách dịch Hạt giống tâm hồn do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành đang được giới trẻ đón nhận rất nồng nhiệt. Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về một trong những cuốn sách trong bộ sách dịch đó | Hãy chuyển nội dung bài thơ Con cò của Chế Lan Viên thành một câu chuyện | 605 | |
Hãy chỉ ra yếu tố thần kì trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và phân tích tác dụng của chúng
Gợi ý
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong những truyện tiêu biểu của Truyền kì mạn lục. Truyện không chỉ hấp dẫn người đọc bởi câu chuyện mà Nguyễn Dữ đã kể lại mà còn có sức hút từ chính yếu tố thần kì trong đó.
Khi định nghĩa về yếu tố thần kì hay còn gọi là lực lượng thần kì, trợ thủ thần kì trong truyện cổ tích PGS. TS Nguyễn Bích Hà cho rằng nó là kết quả của những hư cấu dưới ánh sáng của trí tưởng tượng kì ảo và bay bổng của nhân dân. Lực lượng thần kì có thể là những nhân vật thần kì. như ông Bụt, bà tiên, Thiên Lôi, Ngọc Hoàng, thần, thầy phù thuỷ, yêu tinh; có thể là các đồ vật, vật thể thần kì như gậy thần, đèn thần, áo tàng hình, thảm bay; có thể là những con vật kì ảo như rắn thần, chim phượng hoàng, mèo đi hia…
Chịu ảnh hưởng từ tư đuy thần linh siêu hình của các tác giả dân gian, của những truyện kì quái phương Bắc, Nguyễn Dữ đã đưa vào các câu chuyện của ông nhiều yếu tố hoang đường, huyền ảo. Trong Chuyện chức phán sử đền Tản Viên, trước hết, có thể kể đến sự xuất hiện của các lực lượng nhân vật thần kì như hồn ma tên tướng giặc phương Bắc, quỉ, quỉ Dạ Xoá, Thổ công, Diêm Vương, các phán quan. Tất cả các nhân vật này đều thuộc về cõi âm.
Nhân vật phản diện trong truyện là hồn ma tên tướng giặc. Lai lịch, tội trạng của hắn được nhà văn kể lại rõ ràng qua lời nhân vật Thổ công: đấy là tên tướng bại trận của Bắc triều, cái hồn bơ vơ ở Nam. quốc, tranh chiếm miếu đền của tôi, giả mạo tên họ của tôi, quen dùng chước lừa dối, thích làm trò thảm ngược, Thượng đế bị nó bưng bít, hạ dân bị nó quấy rầy, phàm những việc hưng yêu tác quái đều tự nó cả. Nhân vật này xuất hiện trong cơn mơ của Ngô Tử Văn người dám đốt trụi ngôi đền hắn đang trú ngụ. Hắn mang dáng điệu, ngoại hình đạo mạo: khôi ngô, cao lớn, đầu đội mũ trụ. Hắn tự xưng với Tử Văn là cư sĩ. Nhưng ngoại hình và lời nói đó chỉ toát lên sự giả trá, lừa lọc. Vì thực chất hắn là chỉ là kẻ cướp. Khi sống, hắn đem quân cướp nước ta và khi chết, hắn cướp nơi thờ tự của Thổ công để trú ngụ. Là hồn ma rồi nhưng tên tướng bại trận lại không cải tà qui chính để được sỉêu thoát. Cướp đền của Thổ công xong, hắn tha hồ nhũng nhiễu, làm tội làm tình nhân dân, khiến bao người điêu đứng, khổ sở. Khi bị Tử Văn dang tay trừng trị, hồn ma tướng giặc lại đến gặp Tử Văn, trơ tráo đòi chàng xây trả lại đền. Hắn doạ dẫm chàng và tìm cách khiến chàng phải chết. Cho đến khi phải đối chất với Tử Văn dưới Minh ti, hắn vẫn ngoan cố đẩy tội về phía Tử Văn, cả gan dối Diêm Vương. Không thể nói những hành động của hồn ma tướng giặc biểu trưng cho lòng ham sống, cho sức sống dai dẳng được, Tất cả những gì hắn làm chỉ thêm tô đậm sự xấu xa, đê tiện, trơ tráo trong con người hắn. Hắn sống đã không lương thiện vậy mà khi chết, hắn lại càng bạc ác hơn. Là hồn ma, điều kiện và cơ hội để hắn gây tội càng dễ dàng, thuận tiện hơn khi nào hết. Bởi không nhìn thấy nhưng ai cũng phải khiếp sợ mỗi khi hắn hiển linh nhũng nhiễu.Xem thêm: Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang đôngĐối lập hoàn toàn với hồn ma tướng giặc là Thổ công. Từ ngoại hình, cung cách bề ngoài, Thổ công đã có sự khác biệt với hồn ma đáng ghét kia: áo vải, mũ đen, dáng điệu nhàn nhã. Lai lịch của Thổ công hết sức trong sạch, thậm chí hiển hách: làm chức Ngự sử đại phu từ đời vua Lí Nam Đế, chết vì việc cần vương, giúp dân độ vật đã hơn một nghìn năm nay. về tính cách, nếu hồn mạ tướng giặc hung hăng bao nhiêu thì Thổ công lại nhún nhường bấy nhiêu. Thổ công chính là nạn nhân trực tiếp của tên tướng giặc. Ngôi đền Tử Văn đốt vốn dĩ do ông cai quản, bị hồn ma tướng giặc chiếm giữ. Bao nỗi ấm ức của Thổ công chỉ được giãi bày khi Tử Văn có hành động đốt đền trừ tà. Xuất hiện trong truyện, nhân vặt này còn có vai trò là người chỉ đường, dẫn lối cho Tử Văn hiểu rõ chân tướng sự việc. Và khi Tử Văn đã hoàn thành sứ mệnh của mình thì cũng chính Thổ công là người tiến cử Tử Văn nhận chức phán sự đền Tản Viên. Như vậy, có thể hình dung Thổ công chính là nhân vật thần kì đóng vai trò phò giúp và đền ơn cho nhân vật chính diện trong truyện.
Nhân vật thần kì thứ ba chúng ta phải nhắc tới là Diêm Vương. Diêm Vương là người đứng đầu Minh ti, trực tiếp phán xử vụ án giữa Tử Văn và hồn ma tướng giặc. Ban đầu, nhân vật xuất hiện bằng những lời quát mắng Tử Văn. Những lời quát đó cho thấy uy lực của người có chức vị tối cao. Uy lực đó đủ khiến những kẻ có tội phải rùng mình khiếp sợ. Với tư cách là “thẩm phán” phiên toà, Diêm Vương đã suy xét mọi chuyện và nghị án một cách công bằng. Lời khai của Tử Văn và hồn ma tướng giặc đều được Diêm Vương cho người đi kiểm định. Cuối cùng, kẻ mang tội ác đã bị đền tội, Tử Văn được sống lại, trở về trần gian. Vai trò của Diêm Vương trong câu chuyên được thể hiện ở việc xử án công minh, mang lại công bằng cho người chính trực. Cùng hồn ma tướng giặc và Thổ công, Diêm Vương là nhân vật góp phần đưa cốt truyện diễn biến, phát triển theo chiều hướng li kì, hấp dẫn. Hơn nữa, hình tượng nhân vật Diêm Vương còn thể hiện mơ ước về vị quan thanh liêm, công minh, chính trực trong xã hội đầy rẫy nhiễu nhương, tệ nạn đương thời.Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật tên quan phủ trọng truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn Các nhân vật quỉ, quỉ Dạ Xoa chỉ xuất hiện thoáng qua, không có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cốt truyện nhưng chính chúng lại góp phần mang đến không khí rùng rợn, kinh hãi đặc trưng của chôn âm ti, địa phủ cho cầu chuyện. Sự kì ảo nhờ đó được gia tăng.
Tử Văn không nằm trong số các nhân vật thần kì của truyện nhưng lại gắn với sự việc chết đi (hai ngày) sống lại rồi lại chết và được nhập vào cõi tiên, lãnh chức phán sự đền Tản Viên. Đó cũng là một yếu tố kì ảo của truyện. Những sự việc này được sắp đặt ở cuối như một kết thúc có hậu cho Tử Văn và câu chuyện, thể hiện triết lí ở hiền gặp lành của nhà văn.
Yếu tố kì ảo của truyện không chỉ được thể hiện ở phương diện nhân vật mà còn ở các không gian mà Nguyễn Dữ đã mang đến trong đó. Có thể thấy truyện có hai không gian kì ảo. Trước hết là không gian giấc mơ (giấc mơ của Tử Văn). Không gian này không được Nguyễn Dữ miêu tả chi tiết nhưng nó chính là không gian nối liền cõi trần và cõi âm, là nơi gặp gỡ của Tử Văn với hồn ma tướng giặc và với Thổ công. Cũng từ đây, Tử Văn tạm lìa cõi trần để bước vào cõi âm, để tham gia vào vụ kiện ở đó.Xem thêm: Bàn về đọc sách, nhất là đọc các tác phẩm văn học lớn, người xưa nói: "Tuổi trẻ... thưởng trăng trên đài". Em hãy viết đoạn văn nêu cách hiểu của bản thân về câu nói trên Không gian kì ảo thứ hai của truyện là âm ti. Âm ti được miêu tả bằng một số chi tiết khá rõ ràng: Ớ đó có một con sông lớn, trên sông bạc một cái cầu dài hơn nghìn thước, gió tanh sông xám, hơi lạnh thấu xương. Đọc đến đây, không ít người đã phải rùng mình khiếp sợ. Cảm giác về sự u ám, lạnh lẽo, rùng rợn đeo bám vào trí tưởng tượng của người đọc. Nhưng trái lại, trước không gian ấy, Tử Văn lại không hề sợ hãi. Và chính điều này đã chứng tỏ bản lĩnh cứng cỏi và sự ngay thẳng của nhân vật. Âm ti còn có ngục Cửu u. Nguyễn Dữ chỉ dẫn vào truyện không gian này mà không hề miêu tả nó bằng một chi tiết nào. Tuy nhiên, chỉ cái tên cũng đủ khiến người đọc hình dung nó sẽ là nơi đầy rẫy cực hình, đủ để trừng trị tội ác của những kẻ như tên tướng giặc họ Thôi.
Có thể thấy mỗi yếu tố kì ảc xuất hiện trong Chuyện chức phán, sự đền Tản Viên đều đảm nhận vai trò riêng nhưng rõ ràng, chúng tồn tại không tách rời nhau, thậm chí đan kết vào nhau để cùng dệt nên cho chúng ta một câu chuyện hoang đường đầy li kì hấp dẫn.
Trở lại thời đại Nguyễn Dữ, thế kỉ XVI là thế kỉ đầy những biến động lịch sử. Câu chuyện nhà văn đã kể lại cho chúng ta nghe trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên tất nhiên không thể chỉ là câu chuyện hoàn toàn bịa đặt. Đằng sau những yếu tố thần kì đó chắc chắn là những hiện thực: hiện thực về bọn tham quan vô lại, hiện thực về sự nhiễu loạn trong nhân dân, hiện thực về sự bất công và hiện thực về những con người khẳng khái, cương trực như Tử Văn. Nhưng tại sao Nguyễn Dữ phải đưa Tử Văn xuống tận Minh ti để tìm công lí, chính nghĩa. Phải chăng trên cõi trần, những vị đại quan như Diêm Vương hiếm quá? Giấc mơ về lẽ công bằng xã hội của Nguyễn Dữ đã phải viện đến yếu tố thần linh mới thực thi được. Điều đó có phản ánh hiện thực của một thời đại?
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một câu chuyện giàu ý nghĩa. Nó hấp dẫn người đọc không chỉ bởi nội dung tư tưởng mà còn bởi sự li kì được đưa đến từ các yếu tô’ kì ảo mà nhà văn đã dụng công xây dựng.
Vanmau.edu.vn | Hãy chỉ ra yếu tố thần kì trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và phân tích tác dụng của chúng | 1,900 | |
Hãy chọn và tóm tắt một văn bản sử thi, truyền thuyết hay cổ tích trong sách giáo khoa
Gợi ý
Ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ là Tấm và Cám. Mẹ Tấm mất sớm, một thời gian sau cha cũng qua đời. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám.
Cám được mẹ nuông chiều còn Tấm phải, làm tất cả mọi việc trong nhà. Một hôm, dì ghẻ đưa cho hai chị em hai chiếc giỏ và bảo đứa nào bắt được nhiều tôm tép thì mụ thưởng cho cái yếm đỏ. Tấm siêng năng, một buổi đã bắt được giỏ đầy, còn Cám lười biếng, đến chiều vẫn không có gì. Nhưng Cám lại bày trò cướp không của chị giỏ tép, mang về lĩnh thưởng của mẹ. Tấm mất giỏ tép, bưng mặt khóc. Bụt hiện lên khuyên Tấm nhìn vào giỏ xem còn gì nữa không. Tấm nhìn thấy một con cá bống, mang về thả xuống giếng nuôi theo lời Bụt dặn. Hàng ngày Tấm để dành cơm cho bống ãn. Mẹ con Cám rình thấy. Hôm sau chúng lừa Tấm đưa trâu đi chăn đồng xa, ở nhà bắt bống ăn thịt. Tấm về gọi không thấy bống đầu, chỉ thấy cục máu nổi lên mặt nừớc. Tấm oà khóc. Bụt hiện lên bảo Tấm đi tìm xương bống, chôn ở bốn chân giường. Một con gà giủp Tấm tìm xương bống. Tấm làm như lời Bụt dặn.Xem thêm: Cảm nhận 12 câu đầu đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du hay nhất ít lâu sau, vua mở hội. Ai ai cũng nô nức đi hội. Mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đi xem. Chúng đem một đấu gạo trộn với một đấu thóc, bắt Cám ở nhà nhặt hết mới được đi. Tấm được Bụt gọi bầy chim sẻ xuống nhặt giúp. Sau đó, lại theo lời Bụt, Tấm đào bốn cái lộ chôn xương bống ở bốn chân giường lên để có quần áo mới, giày mới, ngựa và bộ yên cương.
Tấm đi hội, đến chỗ lội đánh rơi một chiếc giày. Vua nhặt được, hạ lệnh ai thử vừa chiếc giày sẽ lấy làm vợ. Tấm đi chiếc giày, vừa như in. Nàng mở khăn lấy chiếc thứ hai đi vào. Tấm được rước vào cung làm hoàng hậu.
Ngày giỗ cha, Tấm về nhà. Dì ghẻ sai Tấm trèo lên cây cau, xé lấy một buồng để cúng bố, ớ dưới, mụ cầm dao chặt gốc. Tấm chết, Cám thế chị vào cung làm hoàng hậu. Tấm hoá thành vàng anh, bay vào cung vua hót mắng Cám. Mẹ con Cám bắt chim làm thịt ăn rồi vứt lông ở ngoài vườn. Lông chim vàng anh hoá thành hai cây xoan đào. Vua thấy cây đẹp, mắc võng nằm chơi hóng mát. Mẹ con Cám chặt cây xoan đào làm khung cửi. Cám ngồi vào dệt, khung cửi cất tiếng chửi rủa. Mẹ con Cám đốt khung cửi rồi đổ tro ra lề đường xa hoàng cung. Từ đông tro mọc lên một cây thị cao lớn, cành lá xum xuê. Đến mùa, cây thị mọc được một quả. Có bà lão bán hàng nước đi qua, giơ bị và lẩm bẩm: “Thị ơi thị, rụng vào bị bà, bà đem bà ngửi, chứ bà không ăn.”. Thị rụng ngay vào bị bà. Hàng ngày, bà lão đi chợ xa, từ trong quả thị chui ra một người con gái đó chính là Tấm. Tấm giúp bà dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, cơm ngon canh ngọt. Mãi sau bà lão mới phát hiện được sự tình. Bà xé vỏ thị. Từ đó Tấm ở với bà hàng nước.Xem thêm: Em hãy giải thích nội dung và ý nghĩa lời khuyên của Lênin: “Học, học nữa, học mãi” Một hôm, vua đi chơi xa hoàng cung. Đến hàng nước của bà lão, vua nhìn miếng trầu cánh phượng bà lão dâng, sực nhớ tới miếng trầù Tấm têm ngày trước, liền hỏi ai têm. Bà lão gọi Tấm ra, vua nhận ra vợ mình, truyền kiệu đón nàng về cung. Cám thấy chị trở về, lại xinh đẹp hơn ngày trước nên hỏi cách làm đẹp. Tấm mách Cám sai quân hầu đào một hố sâu, đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám ngồi xuông hố rồi sại quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Mụ dì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết.
Vanmau.edu.vn | Hãy chọn và tóm tắt một văn bản sử thi, truyền thuyết hay cổ tích trong sách giáo khoa | 752 | |
Hãy chứng minh nhận định “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo” của Vũ Ngọc Phan là đúng
Gợi ý
Tác phẩm “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Bao trùm “Tắt đèn” là một không gian chật chội, ngột ngạt bởi nỗi tủi nhục, sự ấm ức của người nông dân. Nhưng đó đây trong tác phẩm vẫn lóe lên những điểm sáng bất ngờ. Đọc đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”, nhà văn Nguyễn Tuân từng đánh giá đó là khoảnh khắc cháy sáng trong tác phẩm. Còn nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan thì nhận xét: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”.
Cái chật chội, ngột ngạt trong “Tắt đèn” bị gây nên bởi nạn sưu thuế trong xã hội Việt Nam phong kiến nửa thực dân xưa. Gia đình chị Dậu nghiêng ngả, xô dạt cũng vì cái nạn ấy. Vốn là gia đình nghèo khổ “hạng cùng đinh” trong làng, nhà chị Dậu không có tiền đóng sưu thuế cho anh Dậu. Để cứu chồng khỏi đòn roi tù ngục, chị Dậu đành cắn răng bán con bán chó. Nhưng tai họa vẫn tiếp tục ập xuống: chị Dậu còn phải đóng thuế cho người em chồng đã chết. Anh Dậu vừa về đã bị bọn lính lệ ập đến bắt đi. Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trích từ chương XVIII trong tác phẩm thuật lại cuộc giằng co giữa chị Dậu và đám cai lệ đến bắt chồng chị. Đoạn trích đã thể hiện phẩm chất cao đẹp của chị Dậu, một người phụ nữ có lòng thương chồng rất mực đồng thời có tinh thần phản kháng thế lực áp bức.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao“Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã lấy nội dung sự việc trong đoạn trích để gọi tên đoạn trích. Và khi đánh giá đó là “một đoạn tuyệt khéo”, Vũ Ngọc Phan đã đề cập đến thành công trong nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật, nghệ thuật miêu tả, ngôn ngữ tác phẩm…
Đoạn trích tuy ngắn nhưng tính cách các nhân vật hiện lên thật rõ nét, sinh động. Đặc biệt là nhân vật chị Dậu và tên cai lệ. Là một người phụ nữ nông dân, chị Dậu rất mực thương chồng. Với chồng, chị tỏ ra rất nhẹ nhàng, nấu cháo, mời chồng ăn cháo. Ngay cả với đám cai lệ và người nhà lí trưởng, lúc đầu chị cũng rất mực lễ phép: “van xin tha thiết”, xưng “cháu” gọi “ông”. Hơn cả lễ phép, đó còn là sự nhẫn nhục cam chịu đến hạ mình. Nhưng khi thái độ đó không lay chuyển được đám đầu trâu mặt ngựa, chị Dậu trở nên mạnh mẽ lạ thường. Chị “cự lại” hành động sấn đến bắt anh Dậu của tên cai lệ bằng lí lẽ: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!”. Cách xưng hô đã thể hiện vị trí ngang hàng “tôi” – “ông”. Rồi khi bị cai lệ “tát vào mặt”, chị Dậu chuyển từ đấu lí sang đấu lực “Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Cách xưng hô “bà” – “mày” đã thể hiện một vị thế khác của chị Dậu, một mối quan hệ khác giữa chị và cai lệ: “bà” – người trên, “mày” – kẻ dưới. Không dừng lại ở đó, chị còn thể hiện ở hành động quyết liệt “túm lấy cổ”, “ấn dúi ra cửa”, “túm tóc lẳng cho một cái”… Có thể nói, tính cách nhân vật chị Dậu trong đoạn trích này được khắc họa rất khéo léo, độc đáo. Vừa bộc lộ được những nét truyền thống vừa thể hiện được sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ.Xem thêm: Những suy nghĩ của anh (chị) về ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ
Bên cạnh hình ảnh chị Dậu với những đặc điểm tiêu biểu của người phụ nữ nông dân Việt Nam là nhân vật cai lệ, người nhà lí trưởng – đám đầu trâu mặt ngựa hung hăng bất nhân thú tính. Chúng là đại diện trực tiếp cho quyền lực bất nhân của “nhà nước”, của chế độ thực dân phong kiến đương thời. Hình ảnh của chúng được khắc họa bằng những hành động, lời nói bộc, lộ bản chất hung bạo, không chút tình người. Đến nhà một người ốm yếu, nghèo hèn mà chúng “sầm sập tiến vào”, “trợn ngược hai mắt”, “đùng đùng giật phắt cái thừng”, “bịch luôn vào ngực chị Dậu”… Chẳng những vậy, trước những lời “van xin tha thiết” và sự nhẫn nhục của chị Dậu, chúng chẳng chút động lòng vẫn sấn sổ đánh, bắt vợ chồng nhà chị.
Miêu tả các nhân vật và cuộc ẩu đả trong đoạn trích, Ngô Tất Tố cũng thể hiện một ngòi bút linh hoạt, sống động. Ngôn ngữ nhân vật rất độc đáo, thể hiện tính cách và những diễn biến tinh tế trong cảm xúc nhân vật. Chị Dậu ban đầu xưng “cháu” gọi “ông” với cai lệ. Khi ấy chị đang lo lắng cho sức khỏe của chồng và sợ hãi vì thái độ hung hãn của hai tên tay sai. Nhưng khi bị chúng "bịch vào ngực”, lòng căm phẫn trào lên, chị “cự lại” xưng “tôi” gọi “ông”. Và khi lòng căm phẫn dâng lên tột điểm, chị đã vùng lên xưng “bà” đầy uy quyền và gọi “mày” rất coi thường, khinh bỉ. Cuộc ẩu đả giữa chị Dậu và hai tên tay sai cũng được miêu tả rất chỉ tiết, tỉ mỉ và sinh động. Hành động của tên cai lệ được diễn tả bằng những động từ, tính từ giàu sức biểu cảm “sầm sập”, “trợn ngược”, “đùng đùng giật phắt”… Hành động vùng lên đánh lại hai tên tay sai lại càng đặc biệt. Chỉ trong một câu văn, Ngô Tất Tố dùng đến bốn động từ diễn tả sức mạnh và hành động chớp nhoáng của chị Dậu: “túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa, túm tóc lẳng cho một cái…”. Trước sức mạnh của người đàn bà lực điền, hai tên mạt hạng “chổng quèo”, “ngã nhào” ra hè.Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ Bên cạnh nghệ thuật miêu tả là ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại khá đặc sắc. Nó vừa bộc lộ sắc nét tính cách nhân vật vừa phản ánh được những diễn biến tâm lí nhân vật.
“Tức nước vỡ bờ” quả là “một đoạn tuyệt khéo”. Nhờ vậy, nhà văn đã dựng lên hình ảnh một người phụ nữ nông dân đầy sức mạnh, dám bứt phá để đòi quyền sống trong cái xã hội ngột ngạt đầy rẫy áp bức bất công. Cái khéo của Ngô Tất Tố là đã khêu một tia lửa lóe lên giữa bóng đêm phủ chụp “Tắt đèn”. Và nói như Nguyên Tuân, lúc ấy Ngô Tất Tố đã “xui người nông dân nổi loạn”.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh nhận định “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo” của Vũ Ngọc Phan là đúng | 1,244 | |
Hãy chứng minh rằng một trong những nội dung của ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương của nhân dân ta
Gợi ý
Kho tàng ca dao xưa vô cùng phong phú. Nó diễn tả muôn vàn tình cảm của nhân dân ta. Đẹp đẽ nhất là ca dao nói tới tình yêu tha thiết đối với quê hương, đất nước.
Với lời lẽ mềm mại và trong sáng, ca dao đã phác thảo hình ảnh đất nước tuyệt đẹp trước mắt mọi người. Từ Lạng Sơn hùng vĩ có núi Thành Lạng, có sông Tam Cờ, đến thủ đô Hà Nội, được ca dao nhắc tới với những "phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ" luôn khiến lòng người chẳng thể dửng dưng:
Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng
Nước sông Thương bên đục, bên trong
Núi Đức Thánh Tản thắt cổ bồng lại có thánh sinh
Ca dao còn đưa ta tới xứ Huế mộng mơ với giọng hò xa vọng:
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh
Giọng hò xa vọng thắm tình nước non
Hay:
Nhà Bè nước chảy chia hai.
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Để rồi:
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền
Những câu ca dao ấy đầy sức truyền cảm, càng làm cho ta thêm yêu đất nước Việt Nam.
Ca dao còn bồi đắp cho tuổi thơ chúng ta tình cảm gắn bó thân thiết với quê hương làng xóm. Làng ta nhỏ bé, đơn sơ mà thắm đượm tình người. Với tình yêu xóm làng tha thiết, ca dao gợi lên trước ta một làng quê ở "phong cảnh hữu tình, dân cư giang khúc như hình con long". Tuy cuộc sống phải dãi nắng dầm mưa, nhưng niềm vui vẫn tăng lên gấp bội khi đồng lúa ngày một xanh tốt. Sự cần cù lao động dường như được ca dao biến thành sự kì diệu của thiên nhiên cho đất nước. Xem thêm: Nói về Nguyễn Trãi, vua Lê Thánh Tông đã mệnh danh ông là ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo. Bằng tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi, anh (chị) hãy chứng minh nhận định trênNhờ trời hạ kế sang đông
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi
Vụ năm cho tới vụ mười
Trong làng kẻ gái người trai đua nghề
Tình cảm của người dân gắn chặt với làng quê. Công việc mệt mỏi nhưng thật vui: Ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên".
Đồng lúa quê hương tuy bình dị, nhưng lại đẹp trong con mắt của những người yêu làng quê mình. Ca dao đã vẽ nên một cánh đồng lúa xanh mướt và tình cảm cũng dạt dào.
Đứng bên ni đồng ngó bên kia đồng, mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông
Những cảnh làng quê bình dị, đơn sơ, đã gắn bó với ta bao nhiêu năm tháng chính là vì thế, dù đi xa ta vẫn luôn nhớ tới. Dù vật chất giản đơn nhưng tình cảm lại tràn đầy:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Đến cả những cô tát nước bên đường và những người phải dãi nắng dầm sương cũng không phai nhạt trong lòng chúng ta.
Những tình cảm đó đương nhiên không những được nêu rõ trong ca dao mà còn cả trong văn thơ ngày nay, nhưng trước hết là trong ca dao. Ngoài ra ca dao còn giúp ta nhớ về cội nguồn của dân tộc, qua đó càng tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của nước nhà từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Ngô Quyền và Lê Lợi. Những chiến công vẻ vang ấy ca dao đều ghi lại: Xem thêm: Hãy chứng minh rằng: Trong trích đoạn Nỗi oan hại chồng, nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻSâu nhất là sông Bạch Đằng
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra
Để có được ngày hôm nay, bao anh hùng đã ngã xuống. Các câu ca dao xưa cũng in sâu những nét đó.
Lạy trời cho cả gió lên,
Cờ vua Bình Định bay trên khung thành
Với tấm lòng quý trọng, nhân dân xưa luôn mong ước hòa bình trên đất nước. Họ mong muốn gió nổi thật to để cờ nghĩa quân của đức vua bay phần phật trên khắp mọi miền.
Đống Đa ghi để lại đây
Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc An
Chính ca dao đã giúp em thêm hiểu về cội nguồn lịch sử vẻ vang.
Ca dao xưa thực sự là một nguồn tình cảm vô cùng phong phú, nó bồi đắp cho mọi lứa tuổi đặc biệt là tuổi thơ chúng ta một tình cảm sâu sắc với quê hương đất nước và lòng tự hào về dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng một trong những nội dung của ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương của nhân dân ta | 840 | |
Hãy chứng minh rằng truyện ngắn Vi hành là một tác phẩm văn chương thật sự mà Nguyễn Ái Quốc đã viết từ những năm 20 của thế kỉ XX trên đất Pháp
Gợi ý
YÊU CẦU
HS cần làm rõ được:
– Vi hành là một tác phẩm được sáng tác vì mục đích cách mạng.
– Nhưng Vi hành củng là một tác phẩm văn chương thật sự. Ở dây, mục đích cách mạng không làm tổn hại cho giá trị văn chương. Mà ngược lại, trong trường hợp này văn chương đã vì mục đích cách mạng, vì đối tượng vận động cách mạng mà càng trở nên sắc sảo và hiện đại.
– Để làm được bài, HS cần biết phối hợp kĩ năng phân tích văn học với kĩ năng chứng minh văn học. Chứng minh, làm sáng rõ các kết luận, đó là mục đích của sự phân tích. Còn phân tích rõ các khía cạnh của tác phẩm, đó là cơ sở của sự chứng minh.
DÀN BÀI CHI TIẾT
I. Đặt vấn đề
Mọi người đều biết, trong suốt đời mình, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chưa bao giờ coi văn chương là một sự nghiệp, một phương kế để "lập thân". Nhưng mọi người cũng đều biết trong suốt những tháng năm dài của cuộc đời chiến sĩ, Người đã sáng tác văn học với một khôi lượng khá đồ sộ, và với một chất lượng nghệ thuật khá cao và Người đã trở thành một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ta trong thời hiện đại.
Vi hành, một truyện ngắn Người viết từ những năm hai mươi trên đất Pháp, là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp văn chương của Người.
II. Giải quyết vấn đề
1. "Vi hành" là tác phẩm được sáng tác vì mục đích cách mạng
a) Truyện ngắn này nằm trong cả một hệ thống những bài văn, bài báo, vở kịch mà ông Nguyễn, người thợ ảnh nghèo ở ngõ nhỏ Công-poăng hồi ấy, đã viết nên để tố cáo chân tướng của tên vua bù nhìn bán nước Khải Định – Hoàng đế nước Nam và "thượng khách" của nước Pháp ở Hội chợ Mác-xây 1922. Qua Vi hành, tác giả muốn cho công luận trong và ngoài nước Pháp thấy rõ rằng cái kẻ đang được làm rùm beng lên kia chẳng có gì khác hơn một tên hề bộ dạng lố lăng, hành vi lén lút và mờ ám, may ra thì thay thế được cho những trò giải trí đã lỗi thời với cái giá còn rẻ hơn đám vợ lẽ nàng hầu của vua Cao Miên hay tụi làm trò leo trèo nhào lộn…
b) Truyện ngắn này còn là một tiếng nói lên án chủ nghĩa thực dân, cái chế độ đã thông qua bọn tay sai làm cho những người dân thuộc địa bị suy nhược giống nòi bởi rượu cồn và thuốc phiện, đã theo dõi, rình mò, bám lấy đế giày của những người chân chính bằng một chính sách mật thám đê hèn. Xem thêm: Tả cây phượng vĩ trên sân trườngMột cách kín đáo và đau xót, tác giả còn cho thấy nỗi tủi nhục của người bản xứ. Chế độ thực dân, qua đó, hiện lên như một sự sỉ nhục đối với con người (chú ý phân tích câu cuối cùng của truyện ngắn).
c) Những điều trên được nói ra chắc không cốt để làm văn. Với Nguyễn Ái Quốc, người đã từng viết bức thư nổi tiếng gửi Hội nghị Vec-xây, đó chỉ là một phương cách khác để đạt tới mục đích chống thực dân, đánh đổ phong kiến – mục đích làm cách mạng. Nhưng ông Nguyễn cũng sớm nhận ra để tuyên truyền cho mục đích cách mạng ấy ở châu Âu, không thể không tìm đến sức mạnh của văn chương, một lối văn hợp với châu Âu hiện đại.
2. "Vi hành" là tác phẩm văn chương thật sự
a) Hứng thú nghệ thuật của thiên truyện được tạo ra đầu tiên bởi sự mới lạ tài tình trong sự sáng tạo ra tình huống. Cái tài ở đây là một nội dung mãnh liệt, lớn lao đến thế lại có thể được lồng vào trong một hư cấu nghệ thuật đơn giản đến lạ lùng. Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi trên một toa xe điện, vẻn vẹn ba nhân vật, trong đó, một người ("tôi") chỉ lẳng lặng nghe và nghĩ ngợi. Còn lại là một cặp tình nhân ríu rít quanh một câu chuyện với họ cũng chỉ là phù phiếm, bâng quơ ít ỏi vậy thôi. Thế mà càng đi sâu vào truyện, cái cách sắp đặt tưởng chừng đơn giản ấy càng lung linh nhiều ánh sáng bất ngờ.
– Làm động lực cho diễn biến của câu chuyện là những tình huống nhầm lẫn. Người hiểu tiếng Pháp thì bị lầm cho là chẳng biết gì. (Có thế thì mới có thể để một bên thỏa sức nói, và bên kia tha hồ lặng lẽ lắng nghe). Quan trọng và thú vị hơn nữa là tình huống người không phải vua lại bị nhận lầm là một đấng Hoàng thượng vi hành. Câu chuyện cứ như trong một ngày hội giả trang (cac-na-van). Thực mà hư, ảo mà như thật. Không có Khải Định thật trong tác phẩm mà Khải Định thật vẫn cứ hiện ra.
Và chính sự biến ảo ấy, tình huống giả trang ấy khiến cho câu chuyện cùng một lúc lấp lánh nhiều ý nghĩa. Nó tạo ra một cái cớ và một góc độ độc đáo cho bức biếm họa có một không hai về Khải Định. Và qua cái giọng hồn nhiên của đôi tình nhân nọ, nó cũng gợi được ra – theo một cách riêng và với một giá trị riêng – những cảm nghĩ chua chát về thân phận của người dân bảo hộ. Xem thêm: Viết bài văn kể về các hoạt động tình nghĩa đối với các gia đình thương binh liệt sĩ ở địa phương em mà em đã từng được tham gia hoặc chứng kiến– Dễ tưởng rằng sự phát triển của câu chuyện sẽ chấm dứt khi đôi trai gái xuống tàu. Vậy mà không. Điều kì lạ là ngay ở trong một tình thế tưởng chừng sẽ làm cho truyện không thể còn diễn biến, nội dung tư tưởng của truyện vẫn tiếp tục vận động, đưa lại những ngả rẽ mà người đọc không sao lường trước. "Cái bánh xe vô lượng" của nghệ thuật (được tạo ra từ sự nhầm lẫn, sự giả trang) vẫn tiếp tục quay. Từ chỗ một người dân bị nhầm lẫn với đấng Hoàng thượng, đến chỗ bây giờ thì mọi người dân An Nam trên đất Tây đều có thể bị coi là Hoàng thượng. Sự phê phán Khải Định chưa dừng lại. (Vì tình huống ấy tiếp tục cho thấy: bậc quân vương kia xem ra cũng chỉ là quân vương nhờ tấm áo manh quần, và trong chuyến Pháp du này, xem ra không có xó xỉnh nào ngài không mò tới). Nhưng một nội dung tố cáo khác đã mở ra: sự rình rập từng bước chân người dân thuộc địa; cái muôn ngàn lần cay đắng vì bị mất tự do của kiếp người vong quốc.
b) Vi hành là một truyện ngắn châm biếm. Tưởng như điều đó không có gì đặc biệt ở một nền văn học đã sinh ra Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương. Nhưng không phải thế. Cùng với Bản án chế độ thực dân Pháp và nhiều truyện, kí khác, với Vi hành, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lại cho văn học nước nhà một tiếng cười mới mẻ.
– Đây là tiếng cười không giòn giã nở ngay trên bề mặt, mà thâm trầm ở bề sâu. Một tiếng cười trí tuệ. Cái cười chỉ hiện ra chua chát, mỉa mai, như kết quả cuối cùng của một quá trình suy nghĩ để nhận-ra cái trái tự nhiên nằm trong bản thân sự vật. Sự sắc sảo của nhà văn biểu lộ ở khả năng phát hiện ra một mặt, những cái trái ngược hẳn nhau trong cùng một hiện tượng thống nhất (ông vua: danh nghĩa thì cao quí đáng trọng nhưng thực chất lại đáng khinh; chính sách bảo hộ: cái tên thì nhân nghĩa mà thực chất lại là tàn ác…) và mặt khác, những sự thống nhất trong những hiện tượng trái ngược hẳn nhau (ông vua và anh hề, nghi thức và trò chơi…). Nhưng độc đáo là ở cách thức biểu hiện. Tác giả luôn luôn chú ý đến sự đột ngột trong cách trình bày mâu thuẫn và tạo khoảng trống cho trí tuệ của người đọc tự vận động, tự liên tưởng và suy ngẫm để tìm ra ẩn ý, để giải những hàm ngôn. Đó là cái cười càng nghĩ thì càng ngấm, và càng ngấm lại càng đau. Xem thêm: Suy nghĩ của anh chị về vấn đề: Việt Nam và con đường phát triển khoa học công nghệ– Đây cũng còn là tiếng cười nhiều sắc điệu, có cả sự khinh thị kẻ thù của một người cách mạng lẫn nỗi đau của người dân mất nước, chất thâm thúy của người thông thuộc kinh sử lẫn vẻ tinh nghịch, trẻ trung của tuổi thanh niên.
c) Tác phẩm còn lôi cuốn người đọc bởi một lối dẫn chuyện độc đáo lạ thường. Không hề đơn điệu, đơn thanh, Vi hành luôn luôn là sự luân chuyển, đan xen của nhiều giọng nói, nhiều giọng kể. Cùng với sự biến đổi khôn lường của tình huống, sự biến đổi không ngừng của giọng văn đã khiến vẻ đẹp của tác phẩm luôn thay đổi mau lẹ, luôn biến hóa linh động, như trong ống kính vạn hoa. Và đó là điều rất hiếm có, trong những tác phẩm tự sự của văn học nước ta thời ấy.
d) Do đối tượng vận động cách mạng của Vi hành là dư luận Pháp, châu Âu và thế giới nên Vi hành còn sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật mà phải qua một thời gian nữa mới quen thuộc được với bạn đọc Việt Nam như dựng truyện dưới hình thức một bức thư gửi từ phương xa kiểu Thư Ba Tư hay Những bức thư viết từ cối xay gió của tôi vốn không xa lạ với công chúng Pháp; hoặc sử dụng tình huống kiểu giả trang như đã nói trên. Đó là những hình thức có thể làm giàu thêm di sản văn hóa dân tộc Việt Nam.
III. Kết thúc vấn đề
Như thế, có thể nói Vi hành là "một kết tinh nghệ thuật thuộc loại xuất sắc nhất thể hiện sự kết hợp giữa chính trị và văn chương trong sự nghiệp sáng tác của Bác Hồ".
Qua Vi hành, ta hiểu thêm mối quan hệ giữa văn chương và cách mạng, nghệ thuật và tuyên truyền. Có những lúc cách mạng buộc phải cần đến văn chương như cần đến một vũ khí phê phán có thể góp phần đắc lực cho "sự phê phán bằng vũ khí (C.Mác). Ngược lại, văn chương cũng tìm thấy ở cách mạng nguồn cảm hứng, nhiệt tình, sức thúc đẩy nó tiến mạnh hơn.
Chính mối quan hệ tương hỗ đó đã làm nên cả Nguyễn Ái Quốc – nhà cách mạng vĩ đại và cả Nguyễn Ái Quốc – nhà văn có biệt tài, một vĩ nhân đã từ mục đích làm cách mạng cho dân tộc mà trở thành nhà thơ lớn của thời đại.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng truyện ngắn Vi hành là một tác phẩm văn chương thật sự mà Nguyễn Ái Quốc đã viết từ những năm 20 của thế kỉ XX trên đất Pháp | 1,960 | |
Hãy chứng minh rằng tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng chiến lược xuyên suốt bài Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)
Gợi ý
Nhân nghĩa là một trong những truyền thống quí báu, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử văn chương của dân tộc. Và Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) là một trong những áng văn thấm đượm tinh thần này.
Tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng có ‘tính chất phổ biến được thời đại bấy giờ mặc nhiên thừa nhận. “Nhân nghĩa” là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí. Bình Ngô đại cáo áng “thiên cổ hùng văn” không chỉ là lời tuyên cáo hùng hồn về thắng lợi rực rỡ của đất nước trong cuộc chiến đấu chống quân Minh mà còn là bài ca tuyệt đẹp về lòng nhân nghĩa của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, của nhân dân, đất nước Đại Việt. Tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện ngay trong những câu văn đầu tiên:
Tửng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Câu văn như một định nghĩa giản dị, súc tích về tư tưởng nhân nghĩa. Với Lê Lợi, Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là yên dân, an dân, là thương dân, yêu dân, coi dân như con. Độì tượng mà hành động nhân nghĩa hướng tới là dân, là dân đen, con đỏ. Yên dân nên phải trừ bạo, trừ bạo để yên dân – đó là lôgic biện chứng trong tư tưởng nhân nghĩa cao cả của Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Nhân nghĩa phải gắn liền với chống xâm lược, đó chính là điểm mới mẻ, tiến bộ trong quan niệm nhân nghĩa này. Thay vì chiến đấu cho quyền lợi của dòng tộc như các đấng quân vương khác, Lê Lợi đã dửng trên lập trường của nhân dân, vì dân mà chiến đấu. Dân là xuất phát điểm, là động lực và cũng là mục đích để đội quân điếu phạt tiễu trừ bạo tàn. Chính điều đó làm nên sự sâu sắc trong tư tưởng nhân nghĩa của Lê Lợi, Nguyễn Trãi.Xem thêm: Có thể nói ở văn học trung đại không có một nhà thơ thứ hai nào thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật như Nguyễn Du, nhất là nội tâm nhân vật Thúy Kiều Trên lập trường nhân bản, bài cáo đã vạch trần tội ác tày trời của giặc:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi…
Bằng nhãn quan nhân nghĩa, Nguyễn Trãi thấu suốt mọi tội ác của quân Minh. Hiện thực về sự dã man, bạo tàn được phơi bày không che đậy. Không thâu hiểu nỗi đau đớn muôn dân phải chịu đựng, chắc chắn Nguyễn Trãi không thể viết được những câu văn đanh thép mà đau đớn như thế. Và cũng trên lập trường nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã tuyên cáo về tội ác trời biển không thể dung thứ của giặc bằng những câu vãn hình ảnh, thấm đẫm nỗi xót xa, căm phẫn:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Càng căm phẫn quân bạo tàn, ngạo ngược, đội quân điếu phạt càng ra sức chiến đấu trừng trị bọn chúng:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trong suốt cuộc chiến đâu giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, lá cờ nhân nghĩa luôn được giương cao, làm kim chỉ nam cho mọi hành động:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Đấu lại với bạo tàn lẽ tất nhiên phải dùng bạo lực. Nhưng với nghĩa quân Lam Sơn, bạo lực phải đi kèm với nhân nghĩa. Mà không chỉ là nhân nghĩa thông thường mà còn là đại nghĩa, chí nhân – nghĩa là nhân nghĩa ở mức tuyệt đỉnh. Nhân nghĩa trở thành động lực để đạo quân Lam Sơn xoay chuyển tình thế từ yếu sang mạnh, từ ít địch nhiều, và chiến thắng đến với đội quân nhân nghĩa là tất yếu. Nhân nghĩa trở thành đường lối, trở thành kế sách đánh giặc tấn công.
Tấm lòng nhân nghĩa của Lê Lợi, Nguyên Trãi, của những người đứng đầu nghĩa quân Lam Sơn khộng chỉ dành cho muôn dân nước nhà. Lòng nhân nghĩa Còn được rộng mở, biểu hiện bằng sự khoan dung đối với quân giặc. Khi quân Minh bại trận, tướng giặc như hổ đói vẫy đuôi, quân ta đã mở đường hiếu sinh tha chết cho chúng, thậm chí còn cấp cho thuyền ngựa để chúng dẫn tàn quân về nước:Xem thêm: Phân tích truyện cười Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyện cườiMã Kì, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiệc thuyền, ra đến bề mà vẫn hồn bay phách lạc;
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run
Hiếm thấy trong cuộc chiến nào đất nước bị xâm lăng lại có thái độ khoan hòa, độ lượng đến thế. Lê Lợi không cho quân truy sát kẻ thù đến cùng không chỉ bởi sự hoà hiếu thực lòng của quân giặc mà còn bởi:
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức
Xét đến cùng, mọi hành động nhân nghĩa đều xuất phát từ những suy nghĩ cho dân, vì dân, muộn giữ sức cho dân. Đấng quân vương trong triều đại phong kiến cũng chỉ nhân nghĩa đến thế là cùng.
Có thể nói tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt bài cáo, làm nên vẻ đẹp nhân văn cao cả của một tác phẩm văn chương, thể hiện tinh thần nhân đạo trong tâm tư của nhà chiến lược đại tài, của người anh hùng suốt đời vì dân, vì nước.
Bình Ngô đại cáo không chỉ là lời tuyên bố về chiến thắng của quân ta trước sự xâm lăng của quân Minh mà còn là lời đại cáo về tư tưởng nhân nghĩa của nhân dân, dân tộc Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng chiến lược xuyên suốt bài Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) | 1,071 | |
Hãy chứng minh rằng từ xưa đến nay nhân dân ta luôn sống theo đạo lý: “Ăn quả nhớ kẻ trổng cây”
Gợi ý
Là một dân tộc luôn tôn trọng đạo lý, từ xa xưa ông cha ta luôn nhắc nhở dạy bảo con cháu phải luôn sống ân nghĩa thuỷ chung cho trọn vẹn trước sau. Truyền thống đạo đức đó đã được ông cha ta thể hiện qua những câu tục ngữ giàu hình ảnh: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".
"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là gì? Là khi chúng ta. ăn những trái cây chín mọng với hương vị ngọt ngào thì phải nhớ tới công lao vun xới chăm bón của người trồng cây. Là khi ăn bát cơm thơm dẻo thì phải nhớ đến người nông dân vất vả, một nắng hai sương để làm nên hạt thóc, hạt gạo. Là khi có được cuộc sông hoà bình như ngày hôm nay thì luôn nhớ rằng bao thế hệ cha anh đi trước đã phải đổ biết bao xương máu.
Những thành quả lao động cả vật chất lẫn tinh thần mà chúng ta thừa hưởng không phải tự nhiên có được. Đó là kết quả của bao mồ hôi nước mắt thậm chí là xương máu của những lớp người đi trước đã đổ xuống để tạo nên. Chúng ta là những người đi sau, đã thừa hưởng những thành quả lớn lao của những thế hệ đi trước, chúng ta đâu có thể lãng quên, đâu có thể vô tâm không biết đến những thành quả hôm nay từ đâu mà có. Hơn thế nữa, suốt bao năm đất nước ta phải chìm trong bóng đêm nô lệ. Ông cha ta đã phái chiến đấu trường kỳ, hy sinh biết bao xương máu để giành lại độc lập như ngày hôm nay, là phải đánh đổi bằng xương máu của biết bao người. Lớp này ngã xuống lớp khác đứng lên. Ai cũng mong muốn rằng mình hy sinh cuộc sống hiện tại để dành cho con cháu mai sau một cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính vì vậy chúng ta càng không thế quên được nhữpg sự hi sinh cao cả ây.Xem thêm: Phân tích bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ
Nhưng nói như Bác Hồ: những thứ quý giá không thó cất giữ mãi trong rương hòm. Bởi vậy lòng biết ơn phải được thể hiện bằng hành động. Trong thực tế ngày nay, nhân dân ta đã thực hiện đạo lý "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" bằng những việc làm cụ thế. Nhân dân ta luôn nhớ tới ngày giỗ tổ tiên. Đó là ngày mà các thành viên trong gia đình sum họp để thắp nén nhang tưởng nhớ ông bà, cụ kị. Dân tộc ta còn có ngày 10 – 3 Âm lịch, hàng năm là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Cứ vào ngày này, người người từ khắp mọi nơi không quản đường xa cùng nhau về để dâng hương tưởng nhớ người đã có công khai sinh ra nước Việt Nam ta. Ngoài những ngày lễ tết, chúng ta còn có ngày thương binh liệt sĩ 27 – 7 để tưởng nhớ những thương binh chiến sĩ, những gia đình có công với cách mạng, những bà mẹ Việt Nam anh hùng đã hi sinh hạnh phúc, hi sinh bản thân mình đế bảo vệ Tồ quốc. Đề nhớ ơn các thầy cô giáo, những người đã cỏ công gieo trồng những mầm non cho đất nước, chúng ta có ngày 20 – 11. Ta cũng có ngày thầy thuốc Việt Nam để nhớ ơn những "lương y như từ mẫu",… Còn rất nhiềụ, rất nhiều những việc làm của nhân dân ta, đât nước ta thể hiện tấm lòng tôn kính và biết ơn đối với cho cội nguồn, đôi vỡi những ân nhân của mình mà chúng ta không thế kể hết được.Xem thêm: Giới thiệu một vài nét về nhà văn Nguyễn Tuân và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân Là người học sinh, để thể hiện truyền thông đạo lí “Ăn quả nhớ người trồng cây”, đối với cha mẹ, chúng ta cần hết lòng thượng yêu, kính trọng vì cha mẹ chính là người đã tạo ra cuộc ống cho chúng ta. Với thầy cô, chúng ta ngoan ngoãn, lễ phép, học chăm học giỏi. Nếu có điều kiện, chúng ta tham gia vào những hoạt động xã hội kỉ niệm ngày 27 tháng 7, ngày 27 tháng 2,… Đó Ịà những việc làm tuy nhỏ nhưng đầy ý nghĩa.
“Ăn quả nhớ người trồng cây”, câu tục ngữ trên đã giúp ta hiểu rõ hơn về đạo. lý làm người: sông trên đời phải nhớ đâ’n những ân nghĩa trước sau, lòng biết ơn là tình cảm cao quý, thiêng liêng rất cần có trong mỗi người. Mỗi chúng ta phải luôn trau dồi phẩm chất cao quý đó để lòng biết ơn mãi là bài học quý báu và mãi có giá trị, có tác dụng trong cuộc sống của chúng ta.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng từ xưa đến nay nhân dân ta luôn sống theo đạo lý_ “Ăn quả nhớ kẻ trổng cây” | 859 | |
Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường sống
Gợi ý
Trong những năm gần đây, các hội nghị bàn về môi trường liên tục được tổ chức ở phạm vi khu vực và toàn cầu vì nạn ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động. Bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống đã trở thành vấn đề cấp thiết, được toàn nhân loại hết sức quan tâm.
Đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu chúng ta không có ý thức bảo vệ môi trường. Đó là một điều hiển nhiên không thể phủ nhận. Hằng ngày, qua các phương tiện thông tin như báo chí, truyền hình, phát thanh… chúng ta thấy thiên tai xảy ra liên tục: bão lụt, mưa lớn, hạn hán, nắng nóng kéo dài xuất hiện trên khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mĩ… kéo theo bao thảm họa không thể lường trước được. Ngay ở nước ta, hằng năm cứ đến mùa mưa là nước lũ từ thượng nguồn cuồn cuộn, hung hãn đổ về, phá vỡ đê điều, cuốn trôi nhà cửa, mùa màng và cướp đi bao sinh mạng. Rồi núi lở, lũ bùn, lũ quét bất thần ập đến, gây ra cảnh tượng mất mát, đau thương… Tất cả những thứ đó đều là hậu quả của việc phá rừng vô tội vạ vì rừng bị phá đồng nghĩa với việc vành đai bảo vệ không còn nữa, con người sẽ phải thường xuyên đối mặt với thiên tai. Xem thêm: Viết đoạn văn so sánh đặc điểm của thể tuỳ bút với thể truyện qua Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ và Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ Do không có được nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của môi trường sống nên con người đã tự gây hại cho mình. Vì nguồn lợi trước mắt, không ít kẻ phá rừng, phá biển. Chặt cây lấy gỗ, mở mang diện tích trồng trọt, canh tác; đốt nương làm rẫy, sân bắn thú quý… những việc làm đó kéo dài trong nhiều năm sẽ làm cho diện tích rừng tự nhiên ngày càng thu hẹp lại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự cân bằng sinh thái. Những vụ phá rừng với quy mô lớn tiêu biểu như ở Tánh Linh, Bình Thuận, ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, ở Tây Nguyên… hay vụ cháy mấy ngàn hécta rừng nguyên sinh ở u Minh là những ví dụ điển hình.
Tục ngữ có câu: Tiền rừng, bạc biẻn, Rừng vàng, biển bạc… nhưng không có nghĩa rừng, biển là kho tàng vô tận. Cây chặt mãi cũng phải hết; tôm cá nào sinh sản cho kịp với kiểu đánh bắt bằng thuốc nỗ, bằng điện, bằng hóa chất của một số người tham lam, vô ý thức hiện nay? Nếu khai thác không đi đôi với gìn giữ, bảo vệ và phát triển thì hai nguồn tài nguyên lớn ấy sẽ dần dần cạn kiệt. Hai môi trường sống chính trị suy thoái thì cuộc sống con người cũng không thể tốt lành.
Nói gần hơn, cụ thể hơn là môi trường quanh ta. Hiện nay, các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… ô nhiễm đã đến mức báo động. Không khí mịt mù khói xăng, khói từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra. Các chất độc từ khói là một trong những nguyên nhân gây bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp, thần kinh… Vụ công ty Vedan xả nước thải làm chết con sông Thị Vải… và rất nhiều các vụ việc khác. Xem thêm: Có ý kiến cho rằng: Bài thơ (“Thu hứng”) tuy không miêu tả trực tiếp tình hình xã hội nhưng vần có ý nghĩa hiện thực rộng lớn. Nêu ý kiến của anh (chị) Khí thải, chất thải, nước thải không được xử lí kịp thời cũng là nguồn bùng phát và lây lan bệnh dịch. Có thể nói môi trường ô nhiễm tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ cho cuộc sống và tính mạng con người nhưng không phải ai cũng hiểu điều đó. Không ít người có thói xấu là vứt rác, đổ nước bẩn, khạc nhổ, phóng uế bừa bãi… ra nơi công cộng, làm cho cảnh quan đô thị trở nên nhếch nhác, kém văn minh. Việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân là rất quan trọng và cần thiết, phải làm thường xuyên, liên tục.
Nông thôn trước đây thường được coi là không gian trong lành, yên tĩnh nhưng hiện tại với tốc độ đô thị hóa phát triển nhanh chóng thì những tính chất ấy không còn nguyên vẹn như xưa. Sự thiếu hiểu biết về khoa học kĩ thuật của nông dân cũng gây ra nhiều tác hại như việc lạm dụng hóa chất, thuốc trừ sâu… trong trồng trọt, chăn nuôi dẫn đến ô nhiễm đất đai, ô nhiễm nguồn nước sạch, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, sức sản xuất…
Môi trường xanh, sạch, đẹp là môi trường lí tưởng cho cuộc sống con người, bởi thế mỗi cá nhân phải có ý thức bảo vệ nó. Ý thức đó không chỉ dừng lại ở lí thuyết mà phải được biến thành hành động cụ thể hằng ngày như trồng thêm một cây xanh, tiết kiệm một thùng nước sạch, thực hiện nếp sống văn minh nơi công cộng… Nhiều việc nhỏ góp lại thành việc lớn. Trong tương lai không xa, chúng ta sẽ được sống an lành, hạnh phúc trong một môi trường lí tưởng do chính chúng ta tạo dựng nên. Xem thêm: Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình của Nguyễn DuVanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường sống | 983 | |
Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ đời sống
Gợi ý
Môi trường, đó là không khí bạn hít thở, là mặt đất bạn đứng trên, là cánh rừng bát ngát xanh, là dòng nước bạn uống… Tất cả đều thật quý giá và thân thuộc biết bao. Thật là sung sướng khi đứng giữa rừng xanh trong lành, nghe bên tai âm thanh muôn điệu của chim muông. Cuộc sống ấy quá đỗi yên bình và cũng là ước mong của con người. Thế nhưng, vì cái lợi trước mắt, mà những lưỡi cưa sắc nhọn đã cứa vào thân gỗ. Triệu triệu cây gỗ đã bị hạ xuống, màu xanh dần mất, lũ lụt tràn về mạnh hơn, không khí sẽ không được điều hòa, ngày càng trở nên ngột ngạt. Cuộc sống bị đe dọa.
Bầu không gian ngột ngạt và ô nhiễm cũng đồng nghĩa với sự diệt vong của tất cả các sinh vật. Tầng ô-zôn có lỗ thủng ngày càng lớn, tia cực tím và tia tử ngoại chiếu xuống Trái Đất tạo ra bệnh tật, bão lũ. Cuộc sống lại trở nên bị đe dọa, người thân của chúng ta có thể bị cướp đi lúc nào không biết.
“Rừng vàng, biển bạc”. Mặt biển xanh vỗ về bãi cát vàng, con sóng êm đềm với con đò quê hương, dòng suối róc rách, cá bơi lội tung tăng. Thử tưởng tượng xem, nếu mặt biển bập bềnh những rác, cá, ốc, sinh vật dưới biển chết trôi, nước vẫn đục,… không còn sự trong trẻo đẹp tươi nữa. ôi! Thật kinh khủng làm sao. Biết là con người sợ hãi cái không gian đó sao rác thải vẫn cứ trút xuống sông, đồ ăn thừa vẫn đổ cả xuống nước, rồi dầu đổ ra mặt biển.Xem thêm: Bài văn bình luận về biển Đông Phá hoại môi trường cũng là phá hoại nền kinh tế trầm trọng. Đất bị khô cằn, nứt nẻ, mất chất dinh dưỡng làm cho cây cô’i trở nên khô héo, nông nghiệp sa sút. Không khí ô nhiễm, làm khí hậu theo đất ô nhiễm, rồi đây, những sinh vật trên mặt đất sẽ không còn thấy sự tươi tốt trù phú bao phủ mọi nơi.
Tất cả đều đáng sợ. Thảm cảnh đó sẽ đến với con người ta nếu thiếu đi ý thức bảo vệ môi trường. Nếu rừng đã lỡ bị hại những ai có ý thức thì đừng tiếp tục phá rừng nữa, hãy trồng thêm cây và chăm sóc rừng… Thiên nhiên ban tặng cho ta những điều kì diệu nhưng cũng có thể mang đi tất cả nếu thiên nhiên nổi giận. Đừng bao giờ để điều đó xảy ra.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ đời sống | 471 | |
Hãy chứng minh rằng: Trong trích đoạn Nỗi oan hại chồng, nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ
Gợi ý
Dòng vãn học dân gian Việt Nam giàu giá trị nhân đạo luôn quan tâm đến việc bênh vực cho quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của người phụ nữ. Để truyền đạt tư tưởng ấy, nhân dân đã xây dựng những hình tượng người phụ nữ đẹp đẽ, vẹn toàn bị áp bức chà đạp nặng nề. Nhân vật Thị Kính trong đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” (trích vở chèo “Quan Âm Thị Kính”) là một trong số đó. Nàng không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ.
Thị Kính sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo nhưng lại về làm dâu một gia đình địa chủ, nhà Thiện Sĩ. Trong đêm thanh vắng, nàng ngồi may. vá để thức cùng chồng giúp người đọc sách. Khi Thiện Sĩ ngủ quên, nàng âu yếm nhìn chồng rồi phát hiện ra cái râu mọc ngược. Hành động cầm đao cắt cái rậu ấy cho chồng hoàn toàn xuất phát từ thiện ý giúp chồng đẹp hơn. Nhưng bất hạnh cho nàng, Thiện Sĩ bất ngờ tỉnh dậy hiểu nhẳm hành động ấy rồi hô hoán cha mẹ. Sùng bà, Sùng ông coi việc làm của Thị Kính là mưu sát chồng.Xem thêm: Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa Trước tình hình ấy, Thị Kính chỉ còn biết một mực kêu oan. Nàng kêu oan đến năm lần, trong đó bốn lần đầu hướng đến mẹ chồng và chồng:
– "Mẹ ơi, oan cho con lắm mẹ ơi!",
– “Oan cho con lấm mẹ ơi!",
– “Mẹ xét tình cho con, oan con lắm mẹ ơi!,
– “Oan thiếp lắm chàng ơi!".
Nhưng cả bốn lần, lời kêu oan của Thị Kính chỉ như đổ thêm dầu vào lửa. Bởi Sùng bà trước sau là một kẻ độc ác, tàn nhẫn không chấp nhận vị trí của Thị Kính trong nhà mụ. Còn Thiện Sĩ chỉ là một kẻ ngu muội, bạc nhược, đớn hèn. Chỉ đến lần thứ năm, lời kêu oan của Thị Kính mới nhận được sự cảm thông, đó là của Mãng ông, cha nàng: "Oan cho con lắm à?" nhưng cay đắng thay: “Dù oan dù nhẫn chẳng oan. Xa xôi cha biết nỗi con nhường nào?”. Đó lại là một sự cảm thông đau khổ và bất lực. Mãng ông biết con gái bị oan nhưng chỉ là một người nông dân nghèo, không có vị thế trong xã hội, ông không thể làm gì để giúp đỡ con gái.Người phụ phụ ấy gặp phải cái án hàm oan tình ngay lí gian không sao tự minh oan chiêu tuyết được. Từ đó, nàng rơi vào bi kịch với cái án oan nghiệt: giết chồng.
Nhưng đó chưa phải bi kịch lớn nhất của người phụ nữ bất hạnh này. Xã hội phong kiến đương thời tồn tại một tư tưởng bảo thủ, lạc hậu đáng kinh sợ: phân biệt sang hèn rạch ròi; kẻ nghèo khó bị khinh miệt, coi rẻ như rơm rác; khi đã nghèo, nhân cách bị đánh đồng với tiền bạc có trong tay. Thị Kính xuất thân nghèo khó lại làm dâu nhà giàu nên nàng còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ.Xem thêm: Gợi ý làm văn giải thích và bình luận câu tục ngữ Tấc đất, tấc vàng Trong chốc lát Thiện Sĩ không hiểu được thiện ý của vợ. Và nhất là Sùng bà thì mụ cố tình không hiểu. Mụ ta áp đặt cho Thị Kính là “mặt sứa gan lim” “mày định giết con bà à?”. Rồi mụ đay nghiến, mắng nhiếc Thị Kính thậm tệ. Điều quan trọng là cách mắng chửi của Sùng bà đối với Thị Kính không phải là của một bà mẹ chồng đối với con dâu của mình mà đó là những lời lẽ của một kẻ tàn nhẫn và độc ác, hợm hĩnh, tự coi mình là tầng lớp trên, coi thường những người khác, nhất là những người lao động. Hãy nghe cách bà ta tự xưng: “giống nhà bà đây giống phượng giống công” để so sánh với cách bà ta gọi Thị Kính: “tuồng bay mèo mả gà đồng”. Rõ ràng bà ta đang “bới” ra nguồn gốc gia đình của hai bên chứ không hề quan tâm đến mối quan hệ mà cuộc hôn nhân của con bà với Thị Kính ràng buộc. Không chỉ hạ nhục Thị Kính bằng lời nói, bà ta còn hành hạ nàng bằng những hành động dã man. Bà ta dúi đầu Thị Kính xuống, bắt Thị Kính phải ngửa mặt lên. Rồi không cho nàng phân bua, thanh minh, mụ dúi tay đẩy Thị Kính ngã khuỵu xuống, nhất quyết trả Thị Kính về cho gia đình. Với người phụ nữ đi làm dâu trong xã hội xưa, bị nhà chồng trả về là một điều sỉ nhục không chỉ cho bản thân họ mà còn cho cả gia đình, nội tộc. Vậy thì khi hành động như vậy, Sùng bà còn cố ý hạ nhục cả gia đình, dòng họ của Thị Kính.Xem thêm: Giải thích câu nói cùa nhà văn M. Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới"Phản ánh bi kịch lên đến tột cùng trong số phận của nhân vật Thị Kính, tác giả dân gian đã lên án những tư tưởng phong kiến bảo thủ, thối nát cướp mất quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của người dân lao động, đặc biệt là người phụ nữ. Bên cạnh đó đoạn trích kịch cũng bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc đối với số phận những “dải lụa đào”, “những trái bần trôi”,… bơ vơ, tội nghiệp trong xã hội cũ. Đó là một đặc điểm quan trọng thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc trong văn bản
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh rằng_ Trong trích đoạn Nỗi oan hại chồng, nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu có, tàn ác khinh rẻ | 1,040 | |
Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt, có ngày nên kim
Gợi ý
Nhà thơ Hoàng Trung Thông từng viết:
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.
Vẫn những bàn tay trong câu thơ ấy, trước đó mây mươi thế kỉ cũng đã làm nên bao kì tích: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Trong con người tiềm ấn những sức mạnh phi thường của ý chí, nghị lực và lòng kiên trì. Chân lí trong câu tục ngữ xưa của dân gian đã được minh chứng qua bao tấm gương đẹp đẽ.
“Có công mài sất, có ngày nên kim”, câu tục ngữ đã gợi nên một hình ảnh thật phi thường: từ một thanh sắt lớn, thô ráp, vô dụng dần trở thành một cây kim nhỏ nhắn, tinh xảo, hữu ích; có điều đó là nhờ con người “có công mài” giũa. Qua đó, ta cảm nhận được sự dụng công làm việc của con người thật cầu kì, tỉ mỉ. Phải tâm huyết đến nhường nào, nỗ lực đến nhường nào mới tạo ra được thành quả lớn lao ấy. Mượn chuyện mài sắt nên kim, dân gian muốn khẳng định một chân lí sâu sắc trong cuộc sống: Có sự kiên trì nhẫn nại và quyết tâm lớn thì việc gì cũng làm xong cho dù việc đó rất khó khăn, tưởng như không thể hoàn thành được.Xem thêm: Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú của nhà thơ Tố Hữu hay nhất Thành ngữ có câu: “Nước chảy đá mòn”; Bác Hồ từng dạy:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên"
cũng mang ý nghĩa, tinh thần như thế. Và điều đó đã được thê hiện nhiều trong cuộc sống.
Một nhà văn phương Tây đã khẳng định thiên tài là một sự kiên nhẫn lâu dài. Quả đúng như vậy. Để trở thành một nhà văn lớn, Nguyễn Tuân đã phải rèn câu, đúc chữ cầu kì trau chuốt. Có vậy ông mới viết nên những “Cô Tô“, “Người lái đò sông Đà”,… làm say đắm lòng người. Nhà thơ lớn của nhân loại Ra-xun Gam-xa-tốp cũng từng khẳng định: nhà thơ cũng phải trằn trọc trước hàng đống “quặng ngôn từ” mới có thể gạn lọc ra cái chát vàng mười cưa ngôn ngữ…
Trong học tập, có một tấm gương rất gần gũi với chúng ta đó là anh Nguyễn Ngọc Ký. Anh bị liệt cả hai tay sau một trận ốm nặng nhưng mong ước đến trường vẫn luôn cháy bỏng trong anh. Vậy là anh tự mình cặm cụi, hì hục tập viết bằng chân. Những nét chữ đầu tiên thật khổ sở, méo mó. Anh từng bao lần quảng bút đi tức giận, tuyệt vọng nhưng rồi lại nhặt về nhẫn nại, kiên trì. Và giờ đây, anh chẳng những viết rất đẹp mà còn trở thành một nhà giáo ựu tú, được các em học sinh yêu quý, có nhiều bài báo bài văn được khen ngợi. Noi gương anh là biết bao thế hệ học sinh khuyết tật trường Nguyễn Đình Chiểu. Các bạn không được ưu ái có một cơ thể lành lặn như chúng em nhưng các bạn đã nỗ lực rất nhiều để tập nói, tập viết, tập đọc,… tập sông hòa nhập, tập làm một nghề để sống có ích cho đời. Những cố gắng ấy thật phi thường và cảm động biết bao!Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre hay nhất Bao tấm gương mẫu mực của các thế hệ cha anh, của bạn bè khiến em thấy mình thật nhỏ bé. Em còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, trước hết là lòng kiện trì nhẫn nại, không quản khó khăn vất vả để trở thành một người công dân tốt. Đó là bước đầu của nhân cách con người. Trong gia đình, em phải học tập tốt để xứng đáng với lòng tin yêu của cha mẹ. Ở trường học, em phải cố gắng tu dưỡng để xứng đáng với vai trò một chủ nhân của tương lai.
Vanmau.edu.vn | Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ_ Có công mài sắt, có ngày nên kim | 701 | |
Hãy chừng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta
Gợi ý
Trên suốt dải đất hình chữ S của Tổ quốc thân yêu, đâu đâu cũng có rừng. Những cánh rừng đại ngàn Tây Bắc, Việt Bắc, Trường Sơn, miền Đông Nam Bộ… Những khu rừng nguyên sinh Cúc Phương, Cát Tiên, Bạch Mã, cần Giờ, u Minh… là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá tồn tại tự bao đời. Tục ngữ có câu: Rừng vàng, biển bạc. Quả là rừng đã đem lại cho con người những lợi ích lớn lao. Con người không thể sống thiếu rừng, cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, rừng gắn bó thân thiết với con người: Núi giăng thành lũy thép dày, Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù (Tố Hữu). Núi rừng Việt Bắc đã trở thành thủ đô của cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp. Núi rừng Trường Sơn với đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước hào hùng và oanh liệt… Hãy thử hình dung trong những năm tháng ấy nếu không có rừng ta lấy gì để chở che. Và trong thắng lợi lẫy lừng của hai cuộc kháng chiến, rừng như một chiến sĩ trong đội quân anh dũng trên tuyến đầu. Trong cuộc sống đời thường, rừng cung cấp cho chúng ta bao tài nguyên vô giá cùng với những lợi ích to lớn không sao kể hết. Vành đai rừng phòng hộ đầu nguồn là những rào chắn hữu hiệu ngăn chặn nạn xói mòn, lở đất để bảo vệ tài sản và tính mạng của con người. Rừng là bộ máy thiên nhiên khổng lồ điều hòa khí hậu, cung cấp nguồn oxy, duy trì sự sống trên mặt đất. Rừng còn là kho tàng phong phú, đa dạng về thế giới muôn loài. Cảnh quan đẹp đẽ của rừng đem lại cho con người những phút giây thư giãn tuyệt vời sau những ngày làm việc, học tập mệt nhọc và căng thẳng, cho người ta nguồn dược liệu quý để chữa bệnh, giữ gìn sức khỏe. Rừng cho ta vô số loài thú quý hiếm như: hỗ, báo, hươu, nai… Xem thêm: Cảm nhận về vẻ đẹp ngôn từ trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc)
Rừng bị tàn phá sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Diện tích rừng của nước ta càng ngày càng bị thu hẹp một cách đáng lo ngại một phần bởi nạn "lâm tặc" phá rừng lấy gỗ quý, làm giàu bất chính, một phần bởi sự kém hiểu biết của người dân địa phương phá rừng lấy đất trồng trọt. Cung cách làm ăn thô sơ, lạc hậu như đốt nương làm rẫy, đốt ong lấy mật… chỉ sơ ý một chút là gây ra tổn hại khôn lường. Hàng ngàn hécta rừng nguyên sinh bị cháy rụi, hàng ngàn loài động vật bị tiêu diệt, sự cân bằng sinh thái bị phá vỡ… biết mấy trăm năm nữa mới khôi phục lại được những khu rừng như thế?
Cho nên bảo vệ rừng là bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống của chính con người. Mỗi chúng ta phải có ý thức tự giác trong việc giữ gìn và phát triển rừng để quê hương, đất nước mãi mãi xanh một màu xanh đầy sức sống.
Vanmau.edu.vn | Hãy chừng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta | 606 | |
Hãy dựa vào nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu để giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được lấy làm đề từ
Gợi ý
Đề bài:
Hãy dựa vào nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu để giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được lấy làm đề từ:
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu,
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.
Gợi ý làm bài
I. Giới thiệu đề
II. Giải thích sơ lược nội dung và giải thích nhan đề bài thơ
1. Tiếng hát con tàu được Chế Lan Viên viết năm 1960, trong tập Ánh sáng và phù sa, nhân sự kiện Đảng và chính phủ phát động đi xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc. Thực ra, sự kiện kinh tế – xã hội chỉ là cái cớ để nhà thơ bày tỏ niềm khát vọng trở về với cuộc sống rộng lớn của nhân dân, ngọn nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật. Hiểu điều này giúp ta hiểu được ý nghĩa nhan đề Tiếng hát con tàu và khổ thơ đề từ của tác phẩm.
2. Giải thích ý nghĩa nhan đề.
Thực ra, những năm 60 chưa có đường tàu nào, con tàu nào đi lên Tây Bắc. Hình ảnh con tàu được nói đến trong nhan đề và ở trong một số khổ thơ chỉ là con tàu trong tâm tưởng mang tính chất biểu tượng, lại đi lặp lại trong nhiều câu thơ, khổ thơ trở thành hình tượng nghệ thuật của tác phẩm:Xem thêm: Cảm nhận của em về đoạn kịch “Thề nguyền“ rút trong kịch “Rô - mê - ô và Giu - li - ét” của kịch tác giả sếch - xpia– Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?
– Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng…
– Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
– Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga
– Lấy cả những cơn mơ! Ai hảo con tàu không mộng tưởng?
Đối với nhiều người thời kỳ ấy, hình ảnh con tàu nói lên khát vọng ra đi đến với nhân dân, với những miền xa xôi để xây dựng đất nước. Đối với người nghệ sĩ, con tàu là biểu tượng cho khát vọng vượt ra khỏi cái tôi mhỏ bé, quẩn quanh để đến với nhân dân và cuộc sống mới, tìm đến nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.
Như vậy Tiếng hát con tàu là hình ảnh nhân hóa biểu tượng cho khát vọng lên đường say mê náo nức. Dùng từ tiếng hát nhà thơ đã diễn tả được niềm vui, niềm hạnh phúc của tâm hồn.
III. Bình giảng khổ thơ đề từ:
Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hóa những con tàu,
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu.
– Nếu con tàu là biểu tượng cho khát vọng ra đi, thì Tây Bắc ngoài nghĩa là một địa danh cụ thể còn là biểu tượng cho những miền xa xôi của Tổ quốc, nơi có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa nặng tình của nhân dân, nơi đã ghi khắc những kỷ niệm không quên của đời người trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa qua, cũng là nơi đang vẫy mọi người chung sức xây dựng cuộc sống mới.Xem thêm: "Kĩ năng... nhiều”. (Theo Phrít-men, thế giới phẳng-Friedman, NXB Trẻ, 2005). Nghĩ về lời khuyên của Phrít-men về vai trò của "phương pháp học" đối với mỗi con người trong thế giới hiện đạiTây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
– Với người nghệ sĩ nói chung, nhà thơ Chế Lan Viên nói riêng, Tây Bắc chính là tâm hồn, là cuộc sống khi người nghệ sĩ biết mở rộng lòng mình với cuộc sống rộng lớn. Nói cách khác, qua khổ thơ đề tư và cả bài thơ, Chế Lan Viên muốn khẳng định vai trò của cuộc sống với sáng tạo nghệ thuật. Ý tưởng này được tác giả nhắc lại nhiều lần trong bài thơ.
– Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.
– Tây Bắc ơi, người là mẹ cùa hồn thu
– Nếu bài thơ là tiếng hát lên dường thì khổ thơ đề từ là khúc dạo đầu mang tính khái quát tạo âm điệu chung cho cả bài thơ. Đó là người nghệ sĩ phải dấn thân vào cuộc đời rộng lớn mới mong tạo được sức sống cho ngòi bút.
– Từ ý nghĩa nhan đề và khổ thơ đề từ ta hiểu được những hình ảnh biểu tượng cho cuộc sống trong bài thơ.
– Sự độc đáo của khổ thơ đề từ chính là ở chỗ đã khái quát tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ trong bài Tiếng hát con tàu. Trong bài thơ, có nhiều hình tượng mang tính tượng trưng. Các hình tượng ấy hoặc sẽ được mở rộng, phát triển, hoặc sẽ làm phong phú thêm cho các hình tượng ở khổ thơ này: con tàu, tiếng hát, Tây Bắc.
Vanmau.edu.vnXem thêm: Hãy nói lời đáp của em khi gặp 6 tình huống sau | Hãy dựa vào nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu để giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được lấy làm đề từ | 890 | |
Hãy ghi lại câu chuyện: Có một đêm vắng đi trên con đường, em chợt nghe tiếng thì thầm: Bạn ơi!…của con đường
Gợi ý
… Ánh đèn dầu le lói như không chịu nổi sức nặng của màn đêm. Trên bầu trời chỉ có một vài ánh sao mập mờ sáng.
“Bạn ơi”! Từ trong khoảng trời đen tối, bỗng có tiếng thì thầm… cây cỏ im lặng, chiếc lá vàng úa cũng ngừng rơi… im lặng, chợt giật mình, thì ra tiếng con đường trò chuyện cùng tôi…
– Nãy bạn – con đường lại lên tiếng, cái giọng nói êm êm nhè nhẹ.
– Gì cơ?
– Bạn có muốn tâm sự cùng tôi không? Tôi biết ngày nào bạn cũng dạo chơi qua đây, chính vì vậy mà tôi nghĩ bạn là người am hiểu tôi nhất.
Tôi lặng im, lòng trào dâng một cảm giác xót xa tiếc nuối.
– Đường ơi! Người ta sắp phá bỏ bạn để mở một con đường mới rộng rãi hơn, đẹp đẽ hơn, cả ngôi nhà của tôi cũng bị dỡ bỏ.
– Tôi hiểu chứ, nhưng biết làm sao được, đành phải theo sắp đặt của số phận mà thôi.
Tiếng nói vang lên tắt quãng như muốn trút hơi thở dài và buồn bã. Giọng nói run run như có tiếng vỡ òa của bao giọt nước mắt.
Và rồi cả hai chúng tôi cùng im lặng.
– Vậy là sẽ mất hết phải không? Con đường lên tiếng như muốn phá tan bầu không khí nặng nề đang bao trùm.Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Nguyệt’ của Trần Nhân Tông– Ừ có lẽ vậy, bởi vì họ đang muốn mở rộng đường giao thông với biển khơi.
Tôi trả lời một cách nặng nề. Rồi nói tiếp: “Người ta đang khai thác đánh bắt cá để xuất khẩu ra nước ngoài, mở rộng kinh tế đối ngoại”.
– Vậy là để cho đất nước hả? Con đường dồn dập hỏi.
– Đúng thế đây – Tôi vẫn trả lời với vẻ không vui.
– Này bạn; như vậy là chúng ta đang đóng góp cho đất nước rồi đấy chứ. Tôi sẽ không còn nữa nhưng còn con đường mới lớn hơn, còn mọi nguời luôn nhớ đến tôi là tốt rồi. Bạn và gia đình vẫn có thể xây dựng căn nhà khác khi đất nước đang đổi mới từng bước một. Thôi đừng buồn nữa.
Những lời nói tự đáy lòng của con đường làm tôi phấn chấn lên vì biết rằng mình cùng gia đình đang đóng góp phần xây dựng đất nước.
Hai đứa tôi, tuy không nhảy múa; không ôm ấp nhau nhưng vẫn biết rằng chúng tôi là của nhau qua tâm tình trong đêm khuya… và cũng từ đấy, tôi không bao giờ quên hai tiếng thì thầm: “Bạn ơi…”!
Vanmau.edu.vn | Hãy ghi lại câu chuyện_ Có một đêm vắng đi trên con đường, em chợt nghe tiếng thì thầm_ Bạn ơi!…của con đường | 464 | |
Hãy ghi lại những cảm nghĩ chân thực của anh (chị) về những ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông
Gợi ý
Thế là tôi đã vào học ở trường Trung học phổ thông được ba tuần. Ba tuần thật đầy ấn tượng, bởi mỗi khi bước chân đến lớp, tôi lại khám phá thêm được nhiều điều bất ngờ, thú vị từ bạn bè, từ ngôi trường mới và từ cuộc sống học sinh Trung học phổ thông còn đầy mới mẻ với tôi.
Đã chín lần tôi được dự lễ khai giảng năm học mới, vậy mà trước lễ khai giảng năm nay – năm thứ mười, tôi vẫn không khỏi hồi hộp và lo lắng. Bố mẹ cũng phải ngạc nhiên về sự hồi hộp của tôi, về một đứa vốn nghịch ngợm và mạnh bạo như tôi mà cũng bồn chồn như thế. Không nôn nao sao được khi niềm mong ước và mục tiêu phấn đấu của tôi đã trở thành hiện thực. Với tôi, ngôi trường mới xa lạ đấy nhưng cũng quen thuộc như một cố nhân.
Suốt bốn năm học cấp hai, ngày nào đi học tôi cũng đi qua ngôi trường ấy. Đã nhiều lần tôi dừng lại để nhìn vào, để mong ước và để quyết tâm. Từ ngoài cổng, tôi nhận thấy sự đổi thay sắc lá của những hàng cây to thẳng tắp trong sân trường. Ngôi trường cũng duyên dáng hơn cùng với sự đổi thay của dòng sông Hưng Long quen thuộc, nơi mà tất cả lũ trẻ chúng tôi chẳng lạ lẫm gì. Đặc biệt truyền thống học tập của nhà trường là điều cuốn hút đối với chúng tôi. Tôi mơ ước, rồi kiêu hãnh, tụ hào khi được trở thành một phần thân yêu của ngôi trường ấy.Xem thêm: Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò chuyện với người lính lái xe trong tác phẩm: Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Lòng tôi vẫn hồi hộp không yên. Những môn học sẽ khó hơn, có nhiều quy định mới của nhà trường mà tôi sẽ phải nghiêm túc thực hiện. Các thầy cô thì có khi tôi đã.quen gương mặt nhưng chưa được trực tiếp học bao giờ, bởi thế mà chắc có nhiều điều lạ lắm! Và lại thêm bạn bè nữa chứ. Có một số bạn học cùng lớp 9 với tôi nhưng còn biết bao nhiêu là bạn mới. Có chơi vui như lớp cũ của mình không? Có đoàn kết và thân thiện?… Lại nữa, ai cũng bảo học Trung học phổ thông là quan trọng. Nó bước đệm để bắt đầu định hướng cho tương lai. Thế đấy, đầu óc tôi cứ hoa lên bao. nhiêu ý nghĩ. Những ý nghĩ làm tôi phấp phỏng không yên. Tôi mang theo tất cả những cảm xúc tự hào, hãnh diện, hồi hộp, băn khoăn ấy đến trường trong buổi lễ khai giảng đầu tiên.
Buổi lễ hôm ấy ngắn gọn mà sâu sắc. Tôi tỏ ra vô cùng ấn tượng với bài diễn văn của thầy Hiệu trưởng. Tôi lắng nghe và ngấm trọn những lời của thầy về trách nhiệm của mỗi học sinh khi được học tập ở một ngôi trường giàu truyền thông. Tôi xúc động và bâng khuâng man mác khi nghe một học sinh lớp mới phát biểu những cảm xúc đầu tiên.
Buổi lễ tan, chúng tôi học ngay những bài học mới. Đúng như chúng tôi cảm nhận, kiến thức mới, lạ và khá khó. Thế nhưng sự trầm lắng chỉ thấy ở lớp tôi trong buổi học đầu tiên. Những ngày sau đó, quen bạn, quen thầy, chúng tôi tự nhiên đã sôi nổi hẳn lên. Lớp học háo hức và thân thuộc chẳng khác gì khi đang học trong Ịớp chín.Xem thêm: Một lần, trả lời câu hỏi của các cô con gái: “Đức tính mà cha quý nhất là gì”. Các Mác đã trả lời bằng hai tiếng “giản dị”. Em hiểu thế nào về đức tính ấy Cuối tuần, chúng tôi bắt đầu tham gia lao động. Phải góp một cái gì đó cho ngôi trường mới, ta mới thêm quý thêm yêu. Ngày lao động tuần đầu tiên thật là thích thú. Sân trường có nhiều cây to nên có bao nhiêu lá rụng. Hôm trước trời lại mới mưa nên lá rụng càng nhiều. Lá ướp lẹp chẹp. Cả lớp mang chổi đi mà không dùng được bèn cứ thế thi nhau nhặt lá bằng tay! Có cậu con trai hí hửng mang đến tặng cô bạn gái chiếc lá vàng thật đẹp, cô bạn xúc động cảm ơn, chẳng ngờ đằng sau mặt lá có chú sâu đang ngoan ngoãn ẩn minh. Đám con gái kêu ré lên sợ hãi, còn bọn con trai hạ hả cười đắc chí, rồi lại xin lỗi, lại bắt đền bằng những chiếc kẹo thủ sẵn từ ở nhà đi! Giờ lao động vì thế mà chẳng thấy mệt nhọc, chỉ thấy vui nhộn, chỉ nghe thấy tiếng cười. Đám con trai mới lớn thích “làm anh” thiên hạ nên chỉ cần một giọng con gái thỏ thẻ “anh ơi” là cả Thế Anh, Tuấn Anh, Hải Anh, Ngọc Anh đều quay lại và xoắn xuýt. Tôi cũng hân hạnh được tặng một cái tên mới “Diệp còi”! Những trận cười giòn giã bật ra. Cả lớp vui và thân thiện, gắn bó như một gia đình nhanh không kể nổi.
Những hồi hộp, lo lắng, băn khoăn, lạ lẫm nhanh chóng bị khoả lấp đi. Không khí học tập của lớp tôi ngày càng tốt. Một cách rất tự nhiên và rất âm thầm, tôi và cậu bạn “hàng xóm” ngồi bên bắt đầu “đua sức” trong học tập. Đứa nào cũng cố gắng tìm ra lời giải nhanh nhất, làm bài tập đầy đủ và chính xác nhất để đến lớp trao đổi cho nhau và lại học thêm ở bạn một điều mới lạ.Xem thêm: Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, khi con tàu đã rời ga, Thạch Lam viết: "Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm...đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và im lặng." Phân tích đoạn văn trên, nêu chủ đề của tác phẩm và giọng văn của Thạch Lam Tuổi mười sáu chóng buồn và cũng nhanh vui. Mới học cùng nhau tôi cũng chưa thật hiểu hết về hoàn cảnh và tính cách của từng người trong lớp. Nhưng tôi tin, thời gian sẽ giúp cả lớp tôi ngày một gắn bó hơn và học tập cùng sẽ tiến bộ hơn. Những ngày đầu bỡ ngỡ bước vào Trường trung học phổ thông của tôi là như thế. Đối với tôi, nó sẽ là những ngày đáng nhớ, là những kỷ niệm ngọt ngào không thể nào quên.
Vanmau.edu.vn | Hãy ghi lại những cảm nghĩ chân thực của anh (chị) về những ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông | 1,152 | |
Hãy giúp bác tổ trưởng dân phố viết đơn đề nghị tỉa cành cây to
Gợi ý
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 6 tháng 4 năm 2009
ĐƠN ĐỀ NGHỊ
Kính gửi: Công ty Cây xanh và Môi trường đô thị.
Tên tôi là Hoàng Văn Phê
Sinh ngày 06 tháng 04 năm 1951.
Số chứng minh thư nhân dân: 141954448.
Tôi là Tổ trưởng tổ dân phố số 6, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Thay mặt bà con nhân dân trong tổ, tôi xin trình bày một việc như sau: Trước sân nhà H1, khu tập thể Đường sắt, thuộc tổ dân phố số 6, phường Khâm Thiên, quận Đống Đa hiện có hai cây bàng rất to. Nhiều cành của hai cây này sà xuống thấp, chạm vào đường dây điện hạ thế. Sắp tới là mùa mưa bão, nếu cành cây gãy, đổ sẽ gây ra tai nạn cho nhân dân. Vì vậy, chúng tôi đề nghị Công ty Cây xanh và Môi trường đô thị tỉa cành những cây nói trên để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão.
Xin trân trọng cảm ơn.
Người làm đơn
Phê
Hoàng Văn Phê
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Lập chương trình thi vẽ tranh, sáng tác thơ, truyện về an toàn giao thông | Hãy giúp bác tổ trưởng dân phố viết đơn đề nghị tỉa cành cây to | 216 | |
Hãy giúp chú hàng xóm của em viết đơn đề nghị ngăn chặn hành động đánh cá bằng chất nổ, hoặc bằng điện
Gợi ý
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hưng Yên, ngày 5 tháng 7 năm 2009
ĐƠN ĐỀ NGHỊ
Kính gửi: Công an thị xã Hứng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Tên tôi là Hoàng Văn Thắng
Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1974.
Số chứng minh thư nhân dân: 198156744.
Hiện cư trú tại số 20 phố Dương Quảng Hàm, thị xã Hưng Yên.
Tôi làm đơn này, xin trình bày một việc như sau: Buổi sáng sớm, tôi thường tập thể dục quanh hồ Bán Nguyệt. Khoảng một tuần nay, tôi thường thấy nhiều người dùng vợt điện để bắt cá trong hồ. Đây là một việc làm rất nguy hiểm đối với môi trường cũng như cuộc sống con người, khiến nhân dân trong khu vực rất bất bình. Tôi đề nghị cơ quan công an thị xã kịp thời ngăn chặn hành động xấu nói trên.
Xin trân trọng cảm ơn.
Người làm đơn
Thắng
Hoàng Văn Thắng
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả con vật nuôi mà em yêu quí lớp 5 | Hãy giúp chú hàng xóm của em viết đơn đề nghị ngăn chặn hành động đánh cá bằng chất nổ, hoặc bằng điện | 190 | |
Hãy giải thích câu tục ngữ sau và trình bày cảm nhận của em về câu tục ngữ đó: Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn
Gợi ý
Tinh thần tự chủ, thái độ tự trọng và niềm tin yêu gắn bó với cội nguồn là những yếu tố rất cần thiết cho mỗi con người trong cuộc sống. Đất nước Việt Nam suốt mấy ngàn năm lịch sử đã phải trải qua bao thăng trầm, thử thách nghiệt ngã mà vẫn tồn tại và phát triển là bởi dân ta có lòng tự hào, tự tin và tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở. ông bà ta xưa thường khuyên con cháu:
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Ý nghĩa của câu tục ngữ trên như thế nào? Chúng ta hãy cùng nhau bàn luận.
Trước đây, nền kinh tế nước ta là một nền kính tế nông nghiệp lạc hậu.
Hình ảnh nông thôn với những mái rạ nghèo, chiếc sân đất nện, mảnh vườn nhỏ và cái ao thả bèo, thả rau muống… rất quen thuộc trong đời thường cũng như trong ca dao, tục ngữ. cầu ao là nơi người nông dân rửa rau, vo gạo, tắm táp, giặt giũ… Cầu ao còn là nơi gặp gỡ, trao đổi tâm tình hàng xóm và nó đã trở thành người bạn âm thầm chứng kiến bao nỗi buồn vui của con người: Đêm qua ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ. Cái ao gắn bó với người nông dân đến thế nên nó đã trở thành một trong những biểu tượng của hình ảnh quê hương; giống như mái đình, lũy tre, con đò, cây đa, giếng nước… Xem thêm: Em hiểu ý nghĩa của tết trồng cây do Bác Hồ phát động như thế nào và phong trào đó ở khắp nơi trên đất nước ta? Ta thử hình dung người nông dân sau một ngày làm việc vất vả trên đồng 1 ruộng, được ngồi trên chiếc cầu ao nhà mình, thong thả múc từng gáo nước dội lên thân thể cho trôi đi bao giọt mồ hôi nhọc nhằn. Cái mát mẻ thấm vào da thịt khiến cho đầu óc thoải mái, thảnh thơi. Thế là sung sướng, là thích thú bởi mình được tự do, tự chủ, chẳng phải phiền lụy đến ai, giữ kẽ với ai.
Một tình huống khác: người nông dân vào tiết nông nhàn thường rời quê đi làm ăn xa. Cuộc sống tha phương ít ngọt bùi mà nhiều cay đắng nên nỗi nhớ nhà, nhớ quê càng day dứt không nguôi. Họ phải chịu đựng tất cả vì miếng cơm manh áo, vì sự mưu sinh. Lăn lóc kiếm sống nhưng lòng chỉ mong đến thời vụ để trở về quê hương, sum họp với gia đình, tiếp tục cái cảnh chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa tuy cực nhọc mà đầm ấm. Và được tắm ở cái ao nhà mình, cái ao cho dù chưa rộng, chưa trong như nhiều ao khác ta đã gặp trên đường đời nhưng nó gần gũi, thân quen, nông sâu đã tường, nên ta thỏa chí vẫy vùng mà không phải e ngại, đề phòng bất trắc.
Nghĩa hiển ngôn của câu tục ngữ: Ta về ta tắm ao ta… có thể hiểu như vậy nhưng người xưa đâu chỉ dừng ở đó. Họ muốn mượn cái hình thức đơn giản để gửi gắm tình yêu quê hương sâu nặng và một triết lí sống: tự do, tự chủ và tự tin vào chính bản thân mình. Tất cả những gì là của mình (dù còn chưa hoàn hảo) đều đáng quý, đáng trân trọng. Xem thêm: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Nhà mình dù sang, dù hèn vẫn mang đến cho mình tâm thế của người làm chủ. Tâm thế ấy tạo nên sự tự do, thoải mái tinh thần mà ở những nơi khác, nhà khác ta không sao có được. Ao ta, dù trong, dù đục vẫn hơn ao người là vậy.
Ở thời điểm xuất hiện câu tục ngữ này, ý nghĩa trên của nó là đúng, là tích cực vì tinh thần tự chủ, tự tin, tự hào là cần thiết và quan trọng đối với mỗi người, mỗi cộng đồng dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển.
Ở thời đại ngày nay, liệu câu tục ngữ trên có còn giữ nguyên giá trị?
Có người cho rằng, quan điểm ta về ta tắm ao ta… là bảo thủ, tiêu cực, là thái độ an phận và tự mãn cần phải phê phán. Nhận xét như vậy là đã bỏ qua yếu tố lịch sử, yếu tố đạo lí và có phần khắt khe.
Hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ, sự giao lưu giữa các nước, các dân tộc trên thế giới ngày càng được nâng cao, mở rộng. Để hội nhập với xu thế chung của toàn cầu, chúng ta không thể cứ khư khư giữ mãi quan điểm đóng cửa, tự mãn, tự hào về những gì mình đã có mà phải mở cửa, học hỏi cái hay, cái đẹp, cái mới, cái tiến bộ. Trên cơ sở tiếp thu những thành quả khoa học của bạn bè các nước một cách có chọn lọc, sáng tạo, phù hợp với bản thân và đất nước, chúng ta sẽ thực hiện mục đích cao cả là xây dựng một xã hội giàu mạnh và văn minh. Lúc đó, đất nước Việt Nam sẽ tự hào sánh vai với các cường quốc năm châu như ý muốn của Bác Hồ kính yêu. Xem thêm: Tình thương là hạnh phúc con người Học hỏi nước ngoài không có nghĩa là vọng ngoại, sùng ngoại để rồi đánh mất lòng tin, mất ý thức tự cường của mình. Bởi mất những yếu tố quan trọng đó, chúng ta sẽ mất tất cả. Nghĩa là chúng ta "hòa nhập nhưng không hòa tan", không sùng ngoại cũng không bài ngoại mà cần có thái độ đúng đắn.
Một chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn đổi mới hiện nay là: dân tộc và hiện đại. Giữ gìn truyền thống và bản sắc dân tộc vẫn là mục tiêu hàng đầu. Dù hiện đại đến đâu chăng nữa, ta vẫn là ta, không để bị biến thành cái bóng mờ của người khác. Thực tế ở một số nước cho thấy yếu tố dân tộc và yếu tố hiện đại vẫn có thể song song tồn tại, phát triển.
Câu tục ngữ: Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn có mặt tích cực là đã phản ánh cái tâm rất đáng quý của con người Việt Nam: yêu mến, gắn bó, tự hào về quê hương xứ sở, đề cao ý thức tự chủ. Song, trong thời đại mới, chúng ta phải biết vận dụng linh hoạt ý nghĩa của nó để tránh bảo thủ, tự mãn, hẹp hòi và nâng cao ý thức học hỏi, tiếp thu cái hay, cái mới của nhân loại để xây dựng một đất nước văn minh, tiến bộ mà vẫn mang đậm bản sắc dân tộc độc đáo. Đó là ước nguyện, là mục đích của tất cả chúng ta.
Vanmau.edu.vn | Hãy giải thích câu tục ngữ sau và trình bày cảm nhận của em về câu tục ngữ đó_ Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn | 1,249 | |
Hãy giải thích câu tục ngữ “Thì giờ là vàng hạc”
Gợi ý
Ông cha ta xưa vẫn luôn khuyên con cháu phải biết quý trọng thời gian. Thời gian đã trôi qua, không bao giờ trở lại. Thời gian cũng là mảnh đời của mỗi con người chúng ta. Vậy thời gian quan trọng và quý giá như thế nào mà ông cha ta lại nói câu tục ngữ: Thì giờ là vàng bạc. Chúng ta cùng trao đổi về vấn đề này.
Trước hết, ta phải hiểu vấn đề nêu ra trong câu tục ngữ như thế nào? Thì già là một cách nói về thời gian. Thời gian không phải là một vật cụ thể mà ta có thể trông thấy, cầm lấy được. Thời gian là một khái niệm vô hình. Vậy mà vế bên kia của câu tục ngữ, dân gian lại lấy vàng, bạc là những vật cụ thể so sánh với giá trị của thời gian. Cho nên cách so sánh này để con người thấy rõ tầm quan trọng của nó. Vàng bạc là những kim loại quý, có giá trị cao trong cuộc sống xã hội loài người. Xưa nay, người đời chẳng hay nói đắt như vàng đó sao? Vàng có giá trị nên trong cuộc sống, khi con người đã đủ ăn, đủ mặc, của cải dư thừa, người ta thường hay mua vàng để phòng lúc đau ốm, tuổi già hoặc có việc quan trọng nhà cần dùng đến. Vàng, bạc còn dùng làm đồ trang sức tô điểm vẻ đẹp cho con người. Muôn có vàng người lao động phải làm việc chăm chỉ và giỏi để dành dụm, tiết kiệm. Vàng bạc đâu có dễ dàng đến với con người. Vậy, dân gian lại dùng lối so sánh khẳng định thì giờ là vàng bạc không những để ca ngợi thời gian quý như vàng bạc, hơn thế nữa thời gian chính là vàng bạc đấy. Nếu bàn cho kĩ nữa thì thời gian quý hơn vàng bạc, vì vàng bạc có thể làm ra được (nếu hết); nhưng thời gian hôm nay đã qua, không thể làm lại thời gian hôm nay được – không bao giờ làm cho cái đã qua trở lại được.Xem thêm: Ý kiến của anh (chị) về lời khuyên: “Đừng sống theo điều ta ước muốn, hãy sống theo điều ta có thể”. (Ngạn ngữ)
Vì sao thời gian (thì giờ) lại quý giá như vậy? Thời gian được tính bằng giây, bằng phút, bằng giờ, bằng tháng, bằng năm. Đó là từ khi con người biết đo bóng nắng đoán giờ, biết tính ngày tháng theo trăng tròn, trăng khuyết… Trước khi con người biết tính thời gian, thì thời gian vẫn cứ vô tình trôi đi, chẳng bao giờ dừng lại. Thời gian gắn liền với tuổi đời và cả đời con người. Mỗi một chặng thời gian, con người sống có ích, con người sẽ tích lũy được vốn kiến thức, hiểu biết; con người sẽ đem lại cho cộng đồng của mình, cho chính mình những thành quả tốt đẹp. Tuổi học sinh, tuổi thiếu niên của chúng ta thật vô tư, nhưng đừng vô tư đến mức lãng phí, lãng quên thời gian. Bạn hãy học hết mình, và khi chơi, thư giãn bạn cũng hết mình thì hiệu quả cuộc sống của bạn sẽ ra đáp số thì giờ là vàng bạc đấy. Ví dụ: bạn định ngồi học và làm bài tập liền trong hai tiếng đồng hồ. Bạn hãy tập trung cao để học và làm bài tập đi. Sau đó bạn có thể đi dạo mười lăm phút, hoặc chơi đàn ghi ta mười lăm phút, hát vài bài ca mà bạn thích, cũng có thể xuống sân bóng một lát… xong bạn lại trở về phòng làm việc tập trung suy nghĩ. Chắc chắn như thế là không lãng phí thời gian. Có nhiều bạn chơi suốt ngày, đến giờ đi học là cầm cặp chạy. Chắc chắn bạn đó sẽ không có thì giờ vàng bạc rồi. Còn đối với các nhà khoa học, những người say mê với sự nghiệp thì họ có ăn ngủ đúng giờ như mọi người đâu. Niềm say mê và nghị lực tuyệt vời đã khiến họ không có lịch ăn, ngủ cố định. Đó là mầm mông của thiên tài. Những thiên tài thường có nghị lực đặc biệt. Thời gian đốì với họ quý giá hơn cả vàng bạc, các bạn ạ!Xem thêm: Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài Sóng Của Xuân Quỳnh Thời gian quý giá như thế, ta nên có một kế hoạch để tận dụng thời gian. Hằng ngày, nên có thời gian biểu hợp lí, để bảo đảm việc học, việc giải trí, vui chơi cho hợp với hoàn cảnh mỗi gia đình và sức khỏe của cá nhân chúng ta và còn tranh thủ giúp đỡ bô’ mẹ những việc vừa sức mình nữa chứ. Ngoài việc chơi, việc học hằng ngày, ta nên có thời gian dành cho việc đọc sách, báo, một khoảng thời gian thích đáng cho công việc mà mình yêu thích, say mê,… Tôi biết có bạn vẫn tranh thủ viết truyện, làm thơ. Tôi biết có bạn thích tập cắt may quần áo và sưu tầm thời trang. Tôi biết có bạn rất thích nghiên cứu về kinh tế, và ước mơ trở thành một nhà doanh nghiệp lớn… tất cả những điều đó nên bố trí trong thời gian còn trẻ để học và làm. Tất cả những ước mơ, những dự định đều có thể xảy ra, nếu bạn yêu quý, tận dụng và biết sắp xếp thời gian.
Quả thật thì giờ là vàng bạc, phải không các bạn? Đọc xong bài nghị luận giải thích này, dù ít hay nhiều các bạn hãy nhìn lại lịch học tập, làm việc, vui chơi của mình đi nhé! Đừng để vàng, bạc, thời gian quý giá đang ở trong tay ta, lại rơi vãi một cách phí hoài, phải không các bạn?Xem thêm: Phân tích bài Bạch Đằng giang phú (Phú sông Bạch Đằng) (Trương Hán Siêu) để chứng minh cho nhận định trong sách giáo khoa: Bạch Đằng giang phú là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt NamVanmau.edu.vn | Hãy giải thích câu tục ngữ “Thì giờ là vàng hạc” | 1,069 | |
Hãy giải thích và chứng minh câu ngạn ngữ của phương Tây: “Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi”
Gợi ý
Sống trong cảnh gia đình đầy đủ, xa hẳn mọi điều lo lắng khổ cực, chúng ta dễ khinh thường những người lao động, hàng ngày phải lam lũ với nghề nghiệp. Chúng ta lại thường sẵn có thành kiến sai lầm, phân biệt nghề cao quý với nghề ti tiện, trọng lao động trí thức, coi thường lao động chân tay. Để cảnh cáo thái độ đó, phương Tây có câu ngạn ngữ:
Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi
Vậy thế nào là nghề hèn và kẻ hèn. Trước hết, theo quan niệm thông thường, nghề hèn là những nghề lao động chân tay nặng nhọc, thu nhập không cao, nơi làm việc còn là nơi không sạch sẽ, thoáng mát, đẹp đẽ. Người ta thường xếp những nghề như: kéo xe ba gác, đạp xích lô, quét rác… là những nghề "hèn". Điều đó liệu có đúng. Còn kẻ hèn là người ra sao? Trước hết đó là từ chỉ phẩm chất con người, Những người có việc làm, ý nghĩ nhỏ nhen, ích kỉ, không nghĩ đến người khác, thậm chí làm hại người khác hoặc làm những việc xấu mà không giám nhận. Vậy thì "kẻ hèn" ấy có mặt ở đâu, từ những toà nhà sang trọng đầy đủ tiện nghi đến ngoài lề đường, từ những cơ quan công sử đến chỗ chợ búa, lao động chân tay… Xem thêm: Nghị luận xã hội về văn hóa ứng xử Có thể nấp trong một con người có vẻ ngoài lịch lãm, làm những công việc mà thiên hạ phải lác mắt trầm trồ hay là những con người có vẻ ngoài xấu xí, lao động giản đơn… Như vậy, rõ ràng "nghề hèn" và "kẻ hèn" không đồng nhất. Vậy thì tất nhiên "Không có nghề hèn, chỉ có kẻ hèn mà thôi".
Thực tế đã giúp ta nhận ra chân lí của câu ngạn ngữ đó. Để trả lời chúng ta đưa ra vài thí dụ. Đây là bác phu xe, mặt mũi đen đủi, áo quần lôi thôi, lấy chiếc xe ba gác làm kế sinh nhai. Ta liệt bác vào hạng tầm thường và nghề bác là nghề hèn kém. Còn đây là bác công nhân quét đường, mỗi đêm và sáng bác làm vệ sinh thành phố, đến cửa từng nhà, hốt để lên xe những đống rác thối tha, đầy ruồi nhặng… Có người nhìn bác bằng căp mắt khinh rẻ. Bác phu xe ấy mỗi lần gò lưng đạp xe chở khách, nhận được một món tiền nho nhỏ, mang về nuôi sống gia đình, bác đổi bát mồ hôi lấy bát cơm. Đồng tiền tuy ít ỏi nhưng bác kiếm ra trong sạch. Bác công nhân quét đường cũng vậy. Bác chịu cực khổ, ngày ngày làm bạn VỚI những đống rác bẩn thỉu tanh hôi. Thế rồi, tháng đến, bác vui mừng đưa tay đón lấy đồng tiền lương chưa nhiều, đủ sống mà không dư dật. Nghề của bác thật là lương thiện. Cả hai người – và còn biết bao nhiêu người khác nữa – đều giúp ích cho xã hội một phần không nhỏ. Người thì chuyên chở giúp ta trên quãng đường xa, dưới nắng thiêu, mưa dội. Người thì chịu dơ dáy thân mình để bảo vệ sức khoẻ cho bao người khác. Hãy thử hình dung mỗi ngày đường phố không có người quét dọn. Còn đâu những con đường rộng thênh thang, sạch mát mỗi sáng ta bước ra. Nếu một lần bạn đã đọc bài thơ "Chị lao công" của nhà thơ Tố Hữu hẳn bạn sẽ thấy rằng nghề quét rác ấy không hèn mà ngược lại, chúng ta phải nghiêng mình cám ơn những con người lao động thầm lặng ấy. Xem thêm: Giới thiệu một vài nét về Nam Cao và truyện “Chí Phèo"
Như thế thì sao có thể gọi nghề của họ là "hèn" được? Nghề của họ, tưởng là tầm thường mà thực ra có ích cũng chẳng khác gì nghề nghiệp của những người trí thức. Mà đã có ích thì là cao quý rồi.
Hơn nữa, những người ấy đều đã đặt hết cả lương tâm, trí óc, cũng như sức khoẻ của họ để làm đầy đủ bổn phận mà cuộc đời đã dành cho họ. Ngoài ra họ còn là những người biết tự trọng, biết đem sức lao động mà trả nợ áo cơm, giúp ích xã hội, để sống xứng đáng với danh nghĩa "làm người" của họ. Như thế chẳng đáng cho ta cảm phục hay sao? Có phải người ta đã nông nổi mà xét đoán nghề nghiệp của họ một cách nhầm lẫn không?
Như vậy, ta phải công nhận rằng chẳng có nghề nào là hèn cả, mà chỉ có người hèn thôi, và đó chính là kẻ bĩu môi chê lao động chân tay là nghề hèn kém. Vậy thế nào là người hèn? Đó là những người lười biếng, không nhận thức được bổn phận của họ là phải làm việc cho xã hội. Họ đã cướp công của xã hội, đã lừa cơm, cướp áo của lớp người cần lao kia. Người hèn là những hạng người thiếu lương tâm, thiếu trách nhiệm, làm việc chiếu lệ cho xong, không xứng đáng với đồng tiền mà họ nhận. Người hèn là những người làm dân thì phản nước, làm trò thì phản thầy, chơi bạn thì phản bạn, nói tóm lại những hạng lọc lừa, tham vàng bỏ ngãi, hình người lòng thú, dưới muôn hình vạn trạng, là những kẻ ăn cắp của công để ăn chơi thoả thích lãng phí tiền bạc của nhân dân. Danh từ hèn chỉ dành cho những con người ấy. Xem thêm: Giới thiệu vài nét về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư Câu ngạn ngữ Tây phương trên thật đã cho ta một bài học quý giá về nghề nghiệp. Nó khuyên ta nên tiêu diệt đầu óc hủ bại, đầy rẫy thành kiến sai lầm về nghề nghiệp. Nên nhớ rằng những nghề đi giúp ích cho xã hội đều là đáng trọng, đều là đáng quý. Vậy ta phải coi trọng sức cần lao của mọi lớp người lao động, cũng như trí thức. Đó là con đường duy nhất đưa ta đến mội xã hội bình đẳng, bác ái thực sự trong công việc kiến thiết xứ sở ngày nay.
Vanmau.edu.vn | Hãy giải thích và chứng minh câu ngạn ngữ của phương Tây_ “Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi” | 1,109 | |
Hãy giải thích và trình bày cảm nhận của em về câu ca dao sau đây: “Mỗi năm mỗi thắp đèn trời, Cầu cho cha mẹ ở đời với con”
Gợi ý
Ca dao chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong thơ ca dân tộc, và đã góp phần không ít vào kho tàng văn học phong phú của nước nhà. Nó đã, đang và sẽ là nguồn sữa ngọt không bao giờ vơi cạn. Vì sao vậy? Vì điều kiện lịch sử đặc biệt, chữ viết của chúng ta ra đời chậm, nên trong thời gian dài, ca dao trở thành thơ ca dân tộc ở buổi bình minh lịch sử. Nó không chỉ là ngọn nguồn của văn học mà còn là những con suối nhỏ len lỏi, thấm sâu vào từng khía cạnh của cuộc sống, từng tâm hồn của người dân Việt Nam. "Ca dao là tiếng tơ đàn muôn điệu”. Ta chợt bắt gặp một điệu trong muôn vần điệu thấm đượm tình nghĩa thiêng liêng:
Mỗi năm một thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Chúng ta được ngồi ở đây, được vui chơi, học hành, được hưởng những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống, là do ai? Phải chăng đó chính là công cha nghĩa mẹ dưỡng dục, sinh thành. Chúng ta nhận thức được tình mẹ ơn cha không chỉ vì chúng ta có học thức, được đến trường mà đó còn là truyền thống lâu đời của dân tộc, là nền tảng đạo lí của nhân dân. Từ xưa, những con người lao động vất vả, tầng lớp bình dân, đa số không học thức vẫn cảm nhận được tinh nghĩa sâu nặng của các bậc sinh thành. Bởi vậy, trong ca dao, về khía cạnh này, các nghệ sĩ nhân gian đã tài tình dùng ngòi bút của mình để nói lên ơn nghĩa sinh thành:
Mỗi năm mỗi thắp đèn trời
Đó là một tập tục lâu đời của nhân dân ta, nhất là đối với người dân phía Nam: ngày chín tháng giêng (âm lịch) họ đem nhang đèn ra giữa trời, khấn vái, cầu xin những gì mình muốn. Họ quan niệm rằng, ngày này chính là ngày mà cổng trời mở để thấu nghe những lời cầu xin của dân tình. Điệp từ "mỗi" như nhấn mạnh một sự lặp lại đều đặn và thường xuyên. Trong ca dao, ta thường bắt gặp các biện pháp tu từ. Câu trên có sử dụng nghệ thuật hoán dụ, nói đến việc "thắp đèn" để nêu lên công việc cúng vái tại gia của nhân dân ta. Đó không phải là mê tín dị đoan, mà là người dân muốn có người hiểu họ, để họ giãi bày tâm tư thầm kín, những mong muốn mà họ hằng ấp ủ. Và thế là "trời" xuất hiện, đau nỗi đau chung của nhân dân, hiểu những tâm tư tình cảm của họ vì trời sống trong tiềm thức của mỗi người dân, trong tấm lòng thành kính của họ. Cầu xin là một sự việc xảy ra thực trong cuộc sống trước đây và ngay cả bây giờ. Trong thời đại công nghiệp hoá, mọi người tất bật với cuộc sống, nhưng vẫn còn trong lòng họ một khoảng dành cho tâm linh. Cũng xuất phát từ hiện thực đó mà câu ca dao được sáng tác. Trong khung cảnh vắng lặng, với tâm trạng thành kính, chúng ta hãy nghe người dân còn đang cầu xin điều gì? Xem thêm: Nghị luận xã hội - Một giờ không điện - một giờ tự tâm Cầu cho cha mẹ sống đời với con
Tại sao không ước muốn giàu sang, chức tước, mà lại xin mỗi một điều để "cha mẹ sống đời với con". Lời ca dao như một lời nói thông thường, giản dị mà sâu lắng. Nhịp thơ 2121212 phù hợp với tâm trạng mong muốn chân thành của người con. Một cảm xúc bất chợt trỗi dậy trong lòng ta. Câu thơ hầu hết được gieo thanh bằng và có ba chữ được gieo thanh trắc, nhưng ấy từ ấy không tách riêng mà hoà nhập với tổng thể của câu thơ. Cũng như "cha mẹ" mãi sẽ chan hoà sống êm vui cùng con cái dưới một mái nhà. Tại sao người con lại khát khao được ở bên cha mẹ mặc dù bản thân đã lớn, có thể đủ sức để bay đi mà không cần sự chăm nom của mẹ? Chính vì công ơn của cha mẹ quá lớn lao, như "Thái sơn", như "nước trong nguồn". Tình mẹ mênh mông hơn biển, sâu hơn sông nước, biết lấy gì đo được! Chỉ cần nhắc đến tiếng "mẹ" thân thương thôi, mỗi chúng ta như hiện ra hình ảnh người mẹ chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau sinh con ra, chăm cho con từng miếng cơm, manh áo, giọt sữa để nuôi con lớn, thấm sâu vào từng tế bào cơ thể con. Từ khi biết nói, trên môi con đã vang tiếng mẹ, tiếng mẹ ầu ơ hát ru. Con mở mắt chào đời, tự thuở nào mẹ đã là ca dao, à ơi theo tiếng võng sớm, theo tiếng nồi khuya cho con tròn giấc. Con lớn lên một chút, mẹ đồng nghĩa với cổ tích, hoá thân vào một ông bụt, bà tiên sao cho giấc mơ của con vành vạnh theo những điều hay lẽ phải ở đời, theo thời gian, con lớn dần lên nhưng đối với mẹ, lúc nào con cũng là đứa trẻ luôn cần được che chở bảo ban. Con lớn lên cho bóng hình mẹ nhỏ lại, nhấp nhô cùng ngọn sóng, khúc khuỷu theo núi cao, chạy dài ra biển lớn, những nẻo lo toan hằn lên vầng trán mẹ cho gương mặt con rạng rỡ với đời. Còn cha suốt ngày vật lộn với cuộc sống để cho con có được tấm áo, được đến trường, không thua thiệt với bạn bè. Thấy món ngon, cha cũng không dám ăn, để dành cho con. Cha không có điều kiện cống hiến sự hiểu biết của mình cho đời thì nay con là người mà cha mẹ đặt trọn niềm tin để thực hiện ước mơ của cha. Bàn tay cha đặt lên vai con như truyền cho con thêm nghị lực, sức mạnh để vượt qua những khó khăn của cuộc sống. Ánh mắt đầy tin tưởng của cha như tiếp cho con sức sống để đi đến tương lai. Bấy nhiêu thôi cũng cho chúng ta thấy được công lao trời biển của cha mẹ. Và có lẽ sẽ không còn gì ngạc nhiên khi người con trong câu ca dao đã cầu xin điều đó. Cảm ơn tác giả dân gian đã cho những người con thấy được ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, dù hai câu ca dao không hề đề cập đến công ơn của cha mẹ. Dẫu biết rằng có hi sinh, phụng dưỡng cha mẹ suốt đời cũng không sánh bằng những gì cha mẹ đã dành cho chúng ta. Xem thêm: Về vẻ đẹp của khổ thơ đầu tiên trong bài “Vội vàng” của Xuân Diệu: “Tôi muốn tắt nắng đi... Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa" Âm vang câu ca dao vọng mãi trong lòng ta một tình cảm thân thương. Câu ca dao được sáng tác bằng thể thơ lục bát quen thuộc càng gần gũi với ta hơn và đi vào lòng ta bằng một thứ tình cảm chân thật, không giả tạo. Câu ca dao sẽ mãi sống với trái tim bằng một sức sống mãnh liệt.
Tình mẹ ơn cha là một trong những đề tài ca dao hay nhất của văn học dân gian. Trong xã hội hiện nay, có những người đã quên đi đạo lí làm người, họ chính là những con người tồi tệ, không đáng là con dân đất Việt vốn giàu nghĩa nặng tình. Mỗi người cần luôn nhắc nhở truyền thống "một lòng thờ mẹ kính cha" của dân tộc ta, và không chỉ "mỗi năm mỗi thắp đèn trời mà hằng ngày thắp lòng mình cho sáng lên nghĩa tình, công ơn các bậc sinh thành.
Vanmau.edu.vn | Hãy giải thích và trình bày cảm nhận của em về câu ca dao sau đây_ “Mỗi năm mỗi thắp đèn trời, Cầu cho cha mẹ ở đời với con” | 1,390 | |
Hãy giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ: Thất bại là mẹ thành công
Gợi ý
Ngạn ngữ phương Tây có câu: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” hàm ý rằng chỉ có sự chăm chỉ, lòng kiên trì mới giúp con người vươn tới thành công. Tục ngữ Việt Nam cũng có câu nhắc đến nguồn gốc của thành công nhưng thấm thìa và sâu sắc hơn: “Thất bại là mẹ thành công”.
Thành công là gì? Đó là mục tiêu chúng ta đạt được mà trước đo ta đã đặt ra trong cuộc sống của mình. Bạn mong muốn năm nay bạn sẽ đạt danh hiệu học. sinh giỏi, cuối năm bạn đã đạt được điều đó. Vậy là bạn thành công rồi đấy! Ngược lại, thất bại là khi ta không đạt được mục đích đã đề ra.
Thành công và thất bại, chúng đôi lập nhau sâu sắc, tưởng chừng giữa chúng không có mối liên hệ nào. Nhưng kinh nghiệm của dân gian ta đã chỉ ra rằng: Thất bại là mẹ thành công. Nghĩa là giữa hai yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết; nói theo cách khác: thất bại là nhân tố tạo ra thành công.
Thật vậy! Trong thực tế, để có được thành công, ai cũng từng trải qua thất bại, không ai giành được những thành công lớn ngay từ đầu. Để có được điểm mười tuyệt đối, chắc hẳn bạn đã làm sai dạng bài đó một vài lần. Trước khi cho ra đời những con tiện đẹp mắt, người thợ tiện cũng đã nhiều lần bị trầy xước ở tay và tạo ra những con tiện méo mó, sai kích thước. Những bậc vĩ nhân cũng vậy. A Nô-ben từng làm nổ phòng thí nghiệm vài lần trước khi chế tạo ra được loại thuốc nổ hoàn hảo của mình. Lu-i Patx-tơ cũng đã vài lần thất bại trước khi tìm ra loại vắc-xin phòng bệnh dại. Hay như A Anh-xtanh, bộ óc vĩ đại nhất thế kỉ XX, thuở nhỏ ông lại bị coi là chậm phát triển do thành tích học tập quá… “bê bết”!,… Nhưng với tất cả mọi người, dù là người thường hay những bậc vĩ nhân, điều quan trọng là sau những thất bại, chúng ta nhìn thẳng vào đó đế tìm nguyên nhân và rút ra những bài học quý giá. Những kinh nghiệm ấy vô cùng quý báu, nó là tri thức cho những lần thực hành sau giúp ta thực hành thành công.Xem thêm: Để nhắc nhở con cháu về lòng kiên trì, cha ông ta thường nói: "Có công mài sắt có ngày nên kim". Em hãy làm sáng tỏ lời dạy trên
Không chỉ vậy, thất bại còn là động lực để chúng ta tiếp tục tìm tòi, học hỏi. Những người thực sự khao khát học. hỏi, khám phá thế giới thường có lòng tự trọng rất cao. Trong số họ, ít ai dễ dàng chịu đầu hàng. Thất bại khiến niềm kiêu hãnh và lòng tự trọng của họ bị tổn thương. Chính điều đó thúc đấy họ tìm tòi, học hỏi và làm việc nhiều hơn nữa để thực hiện bằng được công việc của mình. Bà Tống Khánh Linh khi sang Mĩ du học, trong kì thi vấn đáp đầu tiên bà bị những người bạn ngoại quôe mỉa mai: “Trung Quốc là một bãi rác, một bãi rác lớn”. Kì thi đó bà thất bại. Nhưng Tống Khánh Linh đã nỗ lực học tập không ngừng và ở kì thi sau bà thi đỗ với số điếm rất cao. Tương tự như vậy, trong thực tế, có những học sinh học kém vì lòng tự trọng, quyết không thua kém bạn bè đã cần cù học hỏi và trở thành học sinh học giỏi, vượt xa nhiều hạn cùng lớp.
Con đường học tập là con đường nhiều chông gai vất vả, rất khó tránh khỏi những thất bại: không giải được bài toán, không viết được bài văn, không được điểm cao trong bài kiểm tra, không đạt danh hiệu học sinh giỏi,… Nhưng khi đã thấu hiểu tư tưởng câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công” chúng em sẽ nỗ lực để vượt qua những thát bại tạm thời để nỗ lực hơn vì những thành công lớn phía trước.Xem thêm: Soạn bài Tấm lòng người thầy thuốcVanmau.edu.vn | Hãy giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ_ Thất bại là mẹ thành công | 745 | |
Hãy giới thiệu một trò chơi ở quê em
Gợi ý
Ở quê em, các bạn nhỏ, đặc biệt là các bạn gái rất thích chơi đánh chuyền. Đây là một trò chơi rất đơn giản. Chỉ cần hai đến ba người, một bó que nhỏ, thường là 10 chiếc, và một quả nặng như quả bưởi con hoặc quả cà, quả chanh là có thể bắt đầu cuộc chơi. Người chơi cầm quả nặng trên tay phải tung lên cao và nhặt từng que trước khi túm lấy quả nặng đang lơ lửng trên không trung. Người chơi cứ lặp lại nhự vậy cho đến khi làm rớt quả nặng xuống đất. Khi đó, người chơi một mất lượt và phải nhường quyền chơi tiếp cho người thứ hai. Chơi chuyền có mười bàn. Bàn một lấy một que trong một lần tung, bàn hai lấy hai que… và bàn mười chỉ có một lần tung và lấy luôn mười que một lúc. Khi người chơi đã vượt qua bàn mười thì sẽ đến bàn chuyền. Chuyền phải sử dụng hai tay, chuyền một vòng, hai vòng, ba vòng… Thường là phải chuyền đủ mười vòng. Trong khi tung và chuyền, các bạn thường hát những câu thơ nghe rất hay: Một mốt, một hai, con trai, con hến… Đôi tôi, đôi chị… ; hay đầu quạ, quá giang, sang sông, trồng cây, ăn quả, nhả hột… Ai chơi liên tục từ bàn một đến hết bàn chuyền là người thắng cuộc trong ván đó. Và được quyền tiếp tục ván sau cho đến khi mất lượt, phải nhường quyền chơi cho người tiếp theo. Người chiến thắng trong toàn cuộc chơi là người thắng nhiều ván nhất.Xem thêm: Nghị luận xã hội về sự thành côngVanmau.edu.vn | Hãy giới thiệu một trò chơi ở quê em | 296 | |
Hãy giới thiệu một vài nét về nhà văn Et-môn-đô Đơ A-mi-xi
Hướng dẫn
Năm 1866, chưa đầy 20 tuổi, Đơ A-mi-xi đã là sĩ quan quân đội chiến đấu cho nền độc lập, thống nhất của đất nước. Hai năm sau chiến tranh kết thúc, ông rời quân ngũ đi du lịch tới nhiều nước như Hà Lan, Tây Ban Nha, Ma-rốc, Pháp, v.v…
Năm 1891 Đơ A-mi-xi gia nhập đảng Xã hội Ý chiến đấu cho công bằng xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân lao động.
Cuộc đời hoạt động xã hội và con đường văn chương đối với Đơ A-mi-xi chỉ là một. Độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tình thương và hạnh phúc của con người là lí tưởng và cảm hứng văn chương của ông, kết tinh thành một chủ nghĩa nhân văn lấp lánh.
Đơ A-mi-xi để lại một sự nghiệp văn chương rất đáng tự hào, trên nhiều thể
loại.
– Về truyện có: “Cuộc đời của các chiến binh”(1868), “Những tấm lòng cao cả”(1886), “Trên đại dương”(1889), “Cuốn truyện của một người thầy”(1890), v.v…
– vềdu kí có: “Tây Ban Nha” (1873), “Hà Lan” (1874), “Ma Rốc” (1875), “Côn-ktan-ti-nô-pô-li” (1881), v.v…
– Phê bình văn học: “Chân dung văn hào” (1881).
– Luận văn chính trị – xã hội: “vấn đề xã hội”, “Nội chiến”.
Tên tuổi của Đơ A-mi-xi trở thành bất tử qua tác phẩm “Những tấm lòng cao cả”. Hơn một thế kỉ qua, trẻ em trên hành tinh đều được đọc và học “Những tấm lòng cao cả” của ông.
Nguồn: thêm: Qua những tác phẩm đã học và đọc thêm, hãy phát biểu cảm nghĩ của em về người phụ nữ trong thơ trung đại | Hãy giới thiệu một vài nét về nhà văn Et-môn-đô Đơ A-mi-xi | 279 | |
Hãy hoá thân vào những que diêm để kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen (hoặc diễn biến sự việc tương tự nhưng có kết thúc khác)
Gợi ý
Trời đã tối, cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Giây phút đón giao thừa sắp đến. Vậy mà chúng tôi vẫn cùng cô bé tội nghiệp rong ruổi qua từng con phố. Chúng tôi tự nhủ hãy nằm yên, nằm yên và cầu nguyện để tất cả chúng mình sẽ đi về nhà ai đấy. Chỉ có vậy và chỉ có vậy thôi, cô chủ mới được về nhà để đón tết trong ấm cúng.
Nhưng oái oăm thay, đêm ba mươi, ai còn đi mua diêm làm chi nữa. Giờ này mọi người đều đã yên ổn cả rồi. Họ đang ngồi bên lò sưởi và chờ đến giờ dùng tiệc. Chúng tôi biết vậy và cả cô chủ nhỏ tội nghiệp của chúng tôi cũng thế. Nhưng cô vẫn cứ đi, lang thang trong rét mướt và hy vọng. Niềm hy vọng ấy trong cái đêm nay thật quá nhỏ nhòi. Vậy mà nó chỉ chực chờ để tan biến mất.
Trời đã về khuya. Chúng tôi cảm thấy đôi bàn tay của cô chủ đang cứng lại. Cô dừng lại và ngẫm nghĩ về một điều gì đó. Bỗng đột nhiên, cô rút một trong số chúng tôi ra và quẹt sáng. Anh bạn của chúng tôi bén lửa rất nhanh loáng qua rồi biến đi trên nền than hồng rực. Chúng tôi không biết cô bé nghĩ gì nhưng ánh mắt cô bé rất vui và hình như miệng cô còn ánh lên cả một nụ cười thì phải.Xem thêm: Hãy giới thiệu nội dung và trình bày cảm nhận của em về lời dạy của Bác Hồ dành cho thiếu nhi Việt Nam: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không... chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" Cô bé duỗi chân ra nhưng đờ đẫn nhìn que diêm vụt tắt. Cô lại bần thần và suy nghĩ hồi lâu. Chắc cô bé đang lo không bán được diêm, về nhà sẽ bị cha chửi mắng.
Thế rồi, mạnh mẽ hơn, cô lại quẹt lửa anh bạn thứ hai. Lửa lại cháy và sáng rực. Anh mắt cô bé lại vui lên. Khuôn mặt đỏ hồng rạng rỡ. Nhưng không đầy một phút sau, anh bạn tôi vụt tắt. Trước mặt cô bé chỉ còn là những bức tường lạnh lẽo, dày đặc, tối tăm. Phố xá vẫn vắng teo và lạnh buốt. Tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến nơi hò hẹn.
Cô chủ không còn nghĩ về cha. Cô không còn sợ. Cô quẹt thêm một qụe diêm nữa. Lần này cảm giác như anh bạn của chúng tôi bốc cháy lâu hơn. Niềm vui cũng dừng lại trên khuôn mặt của cô chủ tôi lâu hơn đôi chút. Không biết lúc này cô bé đang nghĩ đến cái gì, đến cây thông Nô-en hay đến người bà yêu quý.
Cô bé lại quẹt thêm một que diêm nữa. Một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Cô bé cười và reo lên hạnh phúc:
– Bà ơi! Cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây thông Nô-en ban nãy. Nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi đây. Trước khi bà về với Thượng đế, bà cháu ta đã từng sung sướng biết nhường nào. Dạo ấy bà từng dặn cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà. Bà ơi! Cháu van bà, bà xin với Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc người không từ chơi đâu.Xem thêm: Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về những bài ca dao ân tình, nghĩa tình mà em đã học Anh bạn thứ tư của chúng tôi vụt tắt. Thế là cái ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt cô chủ nhỏ cũng biến mất luôn. Nhưng cô bắt đầu lôi ra tất cả chúng tôi và quẹt sáng. Dường như cô chủ của chúng tôi đang muốn níu kéo một điều gì. Chúng tôi nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Và chúng tôi nhận ra trên khuôn mặt kia đang nở ra một nụ cười mãn nguyện. Một xó tường bỗng vụt sáng lên nhưng cũng chỉ một phút sau nó lại trở về với cái tối tăm lạnh lẽo. Chúng tôi đã thắp lên những tia sáng cuối cùng còn cô chủ của chúng tôi thì bỗng nhiên gục xuống. Có lẽ cô mệt quá. Cô đã không ăn và không nghỉ suốt những ngày qua nên chắc bây giờ đang đói lả. Chúng tôi thương cô chủ quá và cầu mong sao cho đêm giao thừa qua thật nhanh.
Sáng ngày mùng một, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng và chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Chúng tôi – những que diêm còn sót lại trong túi của cô chủ đêm qua bỗng nghe thấy tiếng gọi của một người phụ nữ:
– Cháu bé ơi! Cháu bé ơi! Cháu là con cái nhà ai mà ra nông nỗi thế này.
Người đi đường cũng bắt đầu xúm lại. Họ tò mò đoán và ngắm nghía cô gái có đôi má hồng và đôi môi đang cười mỉm nằm giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết hẳn. Người đàn bà khi nãy rẽ đám đông ra để chen vào. Tay bà mang theo một cốc sữa đang còn nóng và một chiếc áo lông cừu đang còn mới. Uống một cách khó khăn vài ngụm sữa, cô chủ đã mơ màng tỉnh lại. Mấy người đàn ông giúp người phụ nữ đưa cô chủ về một ngôi nhà nhỏ rồi họ tản mác đi chơi. Bây giờ cô chủ đã tỉnh hẳn và đang ngồi bên lò sưởi.Xem thêm: Trước cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước ta– Cháu cảm ơn bà! Cô chủ nói.
Người phụ nữ nhanh nhảu đáp:
– Không có gì đâu cháu ạ! Nhìn cháu ta đã đoán ra tất cả mọi việc rồi. Ta cũng buồn như cháu. Trước đây ta cũng có một cô cháu gái nhưng Thượng đế chí nhân đã rước nó đi. Giờ ta gặp cháu đâu phải chăng là Thượng đế thương ta mà gửi cháu đến bên ta. Nhà ta nhỏ nhưng ta rất rộng lòng thương. Nếu muốn, cháu có thể ở đây với ta làm bạn.
Cô bé không đáp lời người phụ nữ. Mắt cô bé rưng rưng nhìn những bông tuyết đang rơi trắng xóa ngoài khung cửa. Nhưng rồi bỗng nhiên cô quay lại, sà vào vòng tay âu yếm của người thiếu phụ và nức nở: Bà ơi! Bà ơi! Bà thương cháu mà trở về với cháu thật hay sao!
Vanmau.edu.vn | Hãy hoá thân vào những que diêm để kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen (hoặc diễn biến sự việc tương tự nhưng có kết thúc khác) | 1,203 | |
Hãy kể diễn cảm truyện Con Rồng Cháu Tiên bằng lời văn của em và nêu một vài cảm nghĩ của em về câu chuyện đó.
Hướng dẫn
Lạc Long Quân, là con trai của thần Long Nữ sống ở biển Đông. Ông là người có sức khỏe lạ thường và có nhiều phép thuật, Ông là người có đức độ, thần thường lên cạn để giúp dân diệt trừ yêu quái như Hồ Tinh, Mộc Tinh, Ngư Tinh… Thần còn dạy cách trồng trọt để xây dựng cuộc sống. Nhờ có thần mà con người có cuộc sống an bình.
Cũng thời điểm ây có một nàng Tiên nữ tên là Âu Cơ, con của vị Thần Nông cai quản mặt đất cũng xuất hiện. Nàng là người xinh đẹp, tài sắc vẹn toàn. Rồi một ngày Âu Cơ và Lạc Long Quân đã tình cờ gặp nhau. Với tình yêu mãnh liệt của tuổi trẻ, bất chấp những khác biệt của hoàn cảnh, họ đem lòng yêu mến rồi kết duyên. Hai người đã nhanh chóng nên vợ thành chống và cùng nhau sinh sống ở cung điện Long Trang.
Rồi niềm vui cũng nhanh chóng đến với hai người, Âu Cơ đã mang thai. Đến kì sinh nở, một điều kì lạ đã xảy ra, nàng sinh ra một cái bọc có trăm trứng. Rồi một điều còn lạ hơn nữa, từ trăm trứng trong bọc ấy nở thành trăm người con xinh đẹp và khỏe mạnh, chẳng cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi. Mọi người rất đỗi vui mừng. Cung điện Long Trang thật yên bình, vui vẻ. Gia đình họ rất hạnh phúc, ấm êm.Xem thêm: Hãy kể lại truyện cổ tích "Sọ Dừa" theo một kết thúc mới bởi sự tưởng tượng của em
Đang sống yên ổn một thời gian, Lạc Long Quân thấy nhớ quê nhà, nhớ mẹ già. Lúc nào cũng mong muốn được trở lại Thủy cung. Thần tạm biệt gia đình trở về với biển, về thăm mẹ và trị yêu quái chốn thủy cung. Âu Cơ sống trong sự chờ đợi, vò võ nuôi con suốt mấy năm liền.
Thời gian thấm thoát trôi nhanh, các con đã lớn nhưng nỗi nhớ chồng vẫn vò võ không nguôi, nàng ra biển gọi chồng. Nghe tiếng gọi của vợ, Lạc Long Quân lên cạn và cho gọi các con lại phân giải rằng:
– Ta và mẹ các con người nòi Rồng, kẻ dòng Tiên, phong tục tập quán khác nhau, môi trường sống khác nhau nên không ăn ở với nhau ở một nơi lâu dài được. Giờ ta đưa năm mươi con xuống biển, các con còn lại sẽ theo mẹ lên non, chia nhau cai quản các phương. Tuy xa nhau nhưng vẫn thắm tình, đượm nghĩa. Khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau.
Âu Cơ đã hiểu được sự tình, nên cũng đành chấp nhận cảnh chia ly.Các con của họ tuy không muốn vậy nhưng hiểu được hoàn cảnh, họ cũng vâng lời. Cả gia đình bịn rịn chia tay nhau, kẻ theo cha xuống biển, người theo mẹ lên non trong tâm trạng bùi ngùi xúc động.
Một thời gian không lâu sau đó, người con trưởng theo nàng Âu Cơ đã xây dựng đất nước đứng lên làm vua, và đặt tên nước là Văn Lang đóng đô ở đất Phong Châu. Đất nước rất hung mạnh, nhân dân no đủ. Triều đình của vị vua đầu tiên đã có tướng văn, tướng võ.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc Sự tích bánh trưng bánh dày
Ngay từ thời đó, luật nhà vua đã có quy định, khi vua cha chết thì ngôi được truyền cho con trai trưởng. Kể từ thời điểm đó, con cháu của nàng Âu Cơ đã truyền 18 đời. Các đời vua ấy lấy hiệu là Hùng Vương.
Câu truyện trên đã nhắc nhở chúng là về nguồn gốc của mình. Mỗi người dân Việt Nam đều có chung là mẹ Âu Cơ và cha là Lạc Long Quân, vì vậy chúng ta phải biết yêu thương đù bọc lẫn nhau. Đã là anh em con cháu Rồng Tiên chúng ta phải biết đoàn kết để tạo nên sức mạnh chống lại kẻ thù, chúng ta phải đùm bọc chia sẻ với những người gặp khó khăn hoạn nạn, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Câu truyện không chỉ có ý nghĩa giải thích nguồn gốc của người dân Việt Nam, mà còn là lời nhắc nhở đối với mỗi người dân về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ đất nước của mình, chúng ta phải thực hiện bổn phận của những người con với cha mẹ, của anh em đối với nhau, vì tất cả chúng ta cùng có một cha mẹ.
Nguồn: | Hãy kể diễn cảm truyện Con Rồng Cháu Tiên bằng lời văn của em và nêu một vài cảm nghĩ của em về câu chuyện đó. | 807 | |
Hãy kể diễn cảm truyện Cây Bút Thần bằng lời kể của em và nêu cảm nhận về câu chuyện đó.
Hướng dẫn
Ông cha ta đã để lại cho con cháu một kho tàng văn học vô cùng quý giá. Trong mỗi câu chuyện là lời răn dạy, lời nhắc nhở con cháu sống đúng với lẽ sống ở đời. Một trong những câu chuyện để lại cho em nhiều suy nghĩ nhất đó là câu chuyện Cây bút thần.
Ngày xưa có một em bé mồ côi cha mẹ tên là Mã Lương. Hàng ngày em phải chặt củi, cắt cỏ, kiếm ăn qua ngày. Mã Lương thích học vẽ từ nhỏ nhưng không có tiền mua bút. Thế những em không nản lòng học vẽ, hằng ngày em chăm chỉ luyện tập. Khi kiếm củi trên núi, em lấy que củi vẽ xuống đất hình những con chim bay trên đỉnh đầu. Lúc cắt cỏ ven sông, em nhúng tay xuống nước vẽ tôm cá trên tảng đá. Khi về nhà, em vẽ các đồ đạc trong nhà lên tường, bốn bức tường dày đặc hình vẽ.
Năm tháng trôi qua, dù khổ cực thiếu thốn nhưng Mã Lương không ngừng học vẽ, không bỏ phí một ngày nào. Em vẽ chim, vẽ cá giống như thật. Nhìn tranh vẽ người ta tưởng như sắp được nghe chim hót, được trông thấy cá bơi lội. Thế nhưng em vẫn chưa có bút để vẽ. Bút của em vẫn là những cành cây, que củi hoặc giọt nước mà thôi. Em khao khát có được một cây bút.
Tối hôm đó, khi đang chìm trong giấc ngủ, em thấy mình gặp ông tiên, ông tiên nhoẻn miệng cười rồi nói:
– Đây là cây bút thần, nó sẽ giúp con nhiều.
Mã Lương nhìn cây bút bằng vàng sáng nhấp nhánh, em mừng quá reo lên:
– Cây bút đẹp quá! Cháu cảm ơn ông! Cháu cảm ơn ông!…
Em nói chưa dứt lời thì cụ già đã biến mất. Mã Lương giật mình tỉnh dậy thì cây bút trong giấc mơ đã nằm trong tay em. Mã Lương ngạc nhiên nhưng sung sướng vô cùng. Mã Lương lấy bút ra vẽ một con chim. Chim tung cánh bay lên bầu trời
hót véo von. Em vẽ tiếp một con cá, cá lại vẫy đuôi trườn xuống nước, lững lờ bơi lượn. Mã Lương vô cùng thích thú. Từ hôm đó, Mã Lương dùng bút thần để vẽ đồ dùng cho tất cả người nghèo trong làng. Nhà nào không có cày, em vẽ cho cày. Nhà nào không có cuốc, em vẽ cho cuốc. Nhà nào không có đèn, em vẽ cho đèn… Việc đó ai cũng biết. Rồi câu chuyện này lọt tới tai một tên địa chủ trong làng. Hắn sai đầy tớ bắt Mã Lương về nhà và bắt vẽ theo ý thích của hắn. Biết được bụng dạ tham lam của tên địa chủ và của bọn nhà giàu, nên Mã Lương không vẽ bất cứ một thứ gì, mặc cho chúng hết lời dụ dỗ, dọa nạt. Tên địa chủ tức giận vì tình tính khẳng khái của Mã Lương, hắn nhốt em vào chuồng ngựa, không cho em ăn uống. Hắn nghĩ mặc cho đói rét, thế nào Mã Lương cũng chết. Ba hôm sau, tên địa chủ đến chuồng ngựa xem Mã Lương như thế nào, có chịu nổi đói rét giữa mùa tuyết phủ hay không. Bỗng nhiên, hắn thấy những tia sáng hồng lọt qua khe cửa, một mùi thơm ngào ngạt bốc ra; rồi thấy Mã Lương ngồi bên một lò lửa rực hồng đang ăn bánh nướng. Lòng tham của hắn lại dâng lên. Hắn sai bọn đầy tớ đến giết Mã Lương, cướp lấy cây bút thần quí báu ấy.
Bọn đầy tớ xông vào chuồng ngựa, nhưng Mã Lương không còn ở đấy nữa. Em vượt qua tường bằng một chiếc thang vẽ. Chiếc thang vẽ đã biến thành chiếc thang thật cho Mã Lương vượt tường. Chiếc thang hãy còn đó. Tên địa chủ hung ác liền leo lên thang nhưng chưa trèo qua ba bậc thì đã ngã lộn xuống đất.
Mã Lương thoát khỏi nhà địa chủ, em vẽ con ngựa rồi cưỡi ngựa phi nhanh. Tên địa chủ vẫn không từ giã lòng tham, hắn cưỡi trên lưng một con tuấn mã tay vung dao sáng quắc, dẫn bọn đầy tớ hùng hổ đuổi theo Mã Lương.
Xem thêm: Kề về một người tốt, việc tốt mà em biết
Khi bọn chúng đến gần, Mã Lương lấy bút thần ra vẽ chiếc cung và mũi tên. Em giương cung bắn vào tên địa chủ. Hắn ngã nhào xuống đất. Thế là Mã Lương thoát nạn. Em phi ngựa đi suốt mấy ngày liền. Sau cùng dừng chân ở một thị trấn nhỏ. Không có việc làm, Mã Lương đành vẽ tranh đem bán để sinh sống. Sợ bị lộ nên em vẽ các bức tranh đều dở dang; lúc chim thiếu mỏ, lúc chim thiếu một chân. Một hôm, Mã Lương vẽ con cò trắng không có mắt. Vì sơ ý, một giọt mực trên bút rơi xuống tranh và đúng chỗ mắt cò. Thế là chú cò trắng ấy xòe cánh bay nhởn nhơ. Chuyện này làm chấn động cả thị trấn, rồi đến tận tai nhà vua. Vua sai triều thần đón em về kinh đô. Mã Lương từ chối, nhưng bọn họ dụ dỗ, dọa nạt để bắt em về hoàng cung.
Mã Lương biết được sự tàn ác của vua đối với dân lành nên em rất căm ghét vua, không muốn vẽ những gì vua muốn. Vua sai em vẽ con rồng, em vẽ thành con cóc ghẻ. Vua bắt vẽ con phượng em vẽ con gà trụi lông. Hai con vật xấu xí đó nhảy nhót lung tung trong cung đình, mang những thứ bẩn thỉu đến bên cạnh nhà vua. Vua tức giận, cho quân lính cướp cây bút thần của Mã Lương, giam em vào ngục.
Lấy được bút thần nhưng vua chả vẽ được gì. Vẽ núi vàng thì không phải núi vàng hiện ra mà chỉ là những tảng đá lớn lăn xuống suýt đè vua gãy chân.
Nhưng vua nọ đâu chịu bỏ lòng tham. Hắn vẽ thỏi vàng nhưng thỏi vàng không hiện ra mà lại là một con mãng xà dài, há hốc miệng, bổ lại phía hắn. May có triều thần xô tới, nếu không, vua đã nộp mình cho mãng xà.
Biết không có Mã Lương thì bút thần không hiệu nghiệm, vua bèn cho thả Mã Lương ra, dùng vàng bạc dỗ dành và hứa gả công chúa cho.
Mã Lương vờ đồng ý. Vua mừng thầm, liền trả lại bút thần cho em.
Vua bảo Mã Lương vẽ biển. Thế là hai nét bút đưa đi, biển mênh mông, xanh biếc hiện ra. Biển sáng trong như mặt gương dưới ánh mặt trời.
Vua ngắm biển rồi nói:
– Biển này sao không có cá nhỉ?
Mã Lương chấm vài chấm thì cá hiện ra, đủ màu sắc, lượn lững lờ dưới biển trong và xanh thẳm không cùng. Đàn cá tung tăng ra khơi xa. Vua lại
ra lệnh:
– Vẽ ngay cho ta một chiếc thuyền! Ta muốn ra khơi xem cá. Mã Lương vẽ ngay một chiếc thuyền buồm lớn. Vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa và các quan đại thần kéo nhau xuống thuyền. Mã Lương đưa vài nét bút, gió thổi nhè nhẹ trên mặt biển, sóng vẫn êm ả vỗ bờ, thuyền từ từ ra khơi. Thấy thuyền đi chậm, vua sốt ruột kêu to:
– Cho gió to lên thêm một tí! Cho gió to thêm một tí. Mã Lương đưa mạnh nét bút, sóng biển nổi lên, biển đục ngầu giận dữ muốn nhấn chìm thuyền vua, nhấn chìm một triều đại hung ác. Vua cuống cuồng kêu lên:
– Đừng vẽ gió nữa! Đừng vẽ gió thổi nữa:
Mã Lương không hề đếm xỉa, cây bút của em cứ tiếp tục vẽ những đường cong lớn. Biển động dữ dội, sóng biển cuồn cuộn xô vào thuyền. Vua ướt hết quần áo, gào to:
– Đừng vẽ nữa! Nghe không?
Mã Lương vờ như không nghe, cứ tiếp tục vẽ. Mưa to, gió lớn kéo đến, trời tối mù mịt, sóng biển vẫn ầm ầm. Chiếc thuyền ngả nghiêng rồi bị chôn vùi trong sóng dữ.
Tên vua độc ác đã chết, câu chuyện về Mã Lương và cây bút thần lan khắp đất nước. Mã Lương đi đây đó để giúp đỡ dân nghèo, sống với những người bạn ruộng đồng, đem hết thời giờ và sức lực của mình để phục vụ những người nghèo khổ.
Câu chuyện đã cho thấy con người Mã Lương thật đáng khâm phục. Chàng đã dũng cảm chống lại cái ác, đấu tranh lấy lại công bằng cho xã hội. Mã Lương đã trở thành hình mẫu lí tường để con người ta hướng tới, một con người có tâm hồn trong sáng, điều này thể hiện tinh thân nhân đạo, triết lí sống sau sắc của con người.
Nguồn: thêm: Đêm nay bác không ngủ ngữ văn 6 | Hãy kể diễn cảm truyện Cây Bút Thần bằng lời kể của em và nêu cảm nhận về câu chuyện đó. | 1,531 | |
Hãy kể lai một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem.
BÀI LÀM 1
(Buổi biểu diễn xiếc ảo thuật)
Chủ nhật vừa qua em được đi xem xiếc ảo thuật cùng với mẹ ở Nhà hát Lớn thành phố.
Sân khấu rực rỡ đèn màu. Dưới hàng ghế khán giả, người xem đông nghịt. Đến giờ biểu diễn, hai cánh màn nhung từ từ được kéo ra. Nhiều tiết mục lần lượt được trình diễn như phóng lao, thổi phi tiêu, xiếc thú, phun lửa nhưng ấn tượng nhất là màn ảo thuật “Người trong hộp”. Ảo thuật gia nhốt người phụ diễn ở trong hộp, khoá lại, sau đó gõ đũa lên thành hộp và mở hộp ra: người phụ diễn đã biến mất. Trong khi đó, ở hộp thứ hai, đột nhiên, người phụ diễn mở hộp đứng lên chào khán giả. Xung quanh hai hộp đều trông khiến em thắc mắc không biết người phụ diễn làm thế nào để di chuyển sang hộp thứ hai. Em chưa kịp hỏi bố thì sân khấu đã đổi đèn màu và đến màn biểu diễn của những chú chó tinh khôn biết làm tính. Khán giả trầm trồ khen ngợi những chú cẩu sủa từng tiếng một trước bảng số người biểu diễn đưa ra. Buổi biểu diễn càng lúc càng thú vị với màn đua xe đạp của khỉ, vẹt biết nói tiếng người… Buổi biểu diễn kết thúc bằng màn đu dây rất nghệ thuật của hai diễn viên xiếc. Khán giả vỗ tay nhiệt liệt và ra về trong bầu không khí thoải mái, vui vẻ.
Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Người gác rừng tí hon
Em rất thích được xem biểu diễn xiếc ảo thuật. Em rất cảm ơn bố mẹ đã đưa em đi xem để em hiểu biết thêm về sân khấu ảo thuật.
BÀI LÀM 2
(Buổi biểu diễn ca nhạc nhẹ)
Tối qua, cả nhà em đi xem buổi biểu diễn ca nhạc nhẹ của Đoàn ca nhạc Trung ương.
Buổi trình diễn ca nhạc nhẹ diễn ra tại Nhà hát Lớn. Mở đầu là vũ khúc Thiên Nha, do nghệ sĩ nhân dân Lê Vân trình diễn. Tiếp nối chương trình, những giọng ca mượt mà, lão luyện của các nghệ sĩ Trung Đức, Mĩ Linh… đem đến cho khán giả những phút thư thái dịu ngọt và đầy rung cảm. Hoạt cảnh “Chúng tôi là Giải phóng quân” đưa khán giả đến chiến trường miền Nam ác liệt khi xưa. Từng giai điệu nhạc hùng hồn, trữ tình đem đến cho khán giả phút giây rung động, giàu chất anh hùng cách mạng. Tiếp theo, màn độc tấu ghi-ta ấn tượng làm em rất thích. Buổi biểu diễn chấm dứt bằng hợp ca của cả ban nhạc. Khán giả vỗ tay nhiệt liệt hoan hô.
Ca nhạc là loại hình nghệ thuật được hầu hết quần chúng nhân dân yêu thích. Em rất yêu ca nhạc. Được xem biểu diễn ca nhạc, tâm hồn em thật sự thoải mái, vui thích.
Nguồn: | Hãy kể lai một buổi biểu diễn nghệ thuật mà em được xem. | 505 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.