text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” Bài làm Từ ngày xa xưa tới hôm nay lễ nghĩa chính là điều mà ông cha ta muốn khuyên nhủ con cháu, phải không ngừng rèn luyện để biết cách sống đúng chuẩn mực. Ba mẹ vẫn khuyên chúng ta rằng trước khi học kiến thức, học những kinh nghiệm thì cần phải học làm người rèn luyện đạo đức. “Tiên học lễ, hậu học văn” là câu tục ngữ nằm trong kho tàng ca dao tục ngữ của dân tộc ta. Câu tục ngữ này gồm hai vế tồn tại song song độc lập với nhau, nhưng bổ trợ ý nghĩa cho nhau Tiên học lễ là gì? Tiên là trước hết học lễ nghĩa đạo đức làm người, thể hiện sự quan trọng của việc biết lễ phép, sống đúng đạo đức biết đối nhân xử thế với những người xung quanh là vô cùng quan trọng. Trong phần này cha ông ta muốn nhắc nhở con cháu mình muốn làm người tài giỏi thì trước tiên hãy học làm người tử tế, biết sống hiếu thuận, yêu kinh người bề trên, người có ơn nghĩa với mình. Hậu học văn là gì? Hậu chính là sau, thể hiện vị trí thứ hai của việc học văn hóa, học kiến thức so với việc học lễ nghĩa đạo đức là không quan trọng bằng. Con người sống trong xã hội muốn được người khác kính nể, tôn trọng thì cần phải có đạo đức, biết sống theo lễ giáo gia phong.Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo trong bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (Mao Ốc vị thu phong sở phá ca) của Đỗ Phủ Sau đó mới là học văn hóa, học những điều kiến thức, mang lại lợi ích về kinh tế, thành công trong công việc cho con người. Câu tục ngữ trên có ý nghĩa vô cùng to lớn, quan trọng với mỗi con người chúng ta. Bởi nếu một người có kiến thức vô cùng uyên bác, được đất nước trọng dụng những sáng tạo cống hiến của mình Những người đó lại không biết cách đối nhân xử thế sao cho đúng giá trị đạo đức, không coi trọng những người lớn tuổi, những người sinh thành dưỡng dục ra mình thì những kiến thức tài giỏi mà anh ta học được cũng không có ý nghĩa gì hết. Một người có nhân cách tốt, thì mới là người được người ta kính trọng, yêu mến. Một con người dù tài giỏi nhưng không có đạo đức, không có nhân phẩm tốt thì dù có tài tới mấy cũng bị xã hội tẩy chay, bởi thói vô đạo đức của mình không được ai chấp nhận trong cộng đồng. Đạo đức, lễ nghĩa chính là nền tảng làm nên sự lành mạnh của xã hội. Những con người có phẩm chất đạo đức tốt sẽ được xã hội yêu mến, tạo cơ hội phát triển. Mỗi con người khi sống trong xã hội cần phải tự rèn luyện giá trị đạo đức lễ nghĩa của mình cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức, đức xã hội chấp nhậnXem thêm: Cảm nhận về sự gặp gỡ của hai tâm hồn, nhà quân sự qua bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi và Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn” muốn khuyên con người ta hãy học cách làm người sống có đạo đức trước khi học văn hóa. Đúng như Bác Hồ từng nói “người có tài mà không có đức thì cũng là người vô dụng. Con người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Nguồn: Tài liệu văn mẫu
Giải thích câu tục ngữ “Tiên học lễ, hậu học văn”- văn lớp 7
628
Giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” Gợi ý Trọng ân nghĩa, sống thủy chung là nét đẹp truyền thống của nhân dân ta. Nét đẹp về đạo lí đó đã được bảo tồn trong suốt trong chiều dài lịch sử của dân tộc. Nhân dân thường nhắc nhở nhau: uống nước nhớ nguồn. Câu tục ngữ này nêu lên một bài học về tình nghĩa thủy chung, lòng biết ơn đối với cội nguồn. Một đặc điểm của tục ngữ là thường đưa ra những cách ứng xử, những kinh nghiệm sống bằng những hình ảnh cụ thể, gần gũi với cuộc sống của con người. Câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn gợi lên mối quan hệ giữa nước và nguồn, hay đúng hơn là việc uống nước và cái nguồn đã phát sinh ra dòng nước. Uống nước là sinh hoạt thường xuyên của con người, nhưng mỗi khi ta uống những giọt nước đã mấy ai nghĩ đến nguồn đã tạo ra dòng nước mát hằng ngày để nuôi sống chúng ta? Trong ý nghĩa đó, uống nước còn là sự thừa hưởng những thành quả về vật chất và tinh thần của những người đi trước để lại. Câu tục ngữ lưu ý mọi người cần có một thái độ sống thủy chung, biết ơn và trân trọng những người đã có công lao tạo dựng nên hạnh phúc ngày hôm nay. Câu tục ngữ là một lời khuyên răn nhưng lại được diễn đạt bằng hình ảnh ẩn dụ có sức thuyết phục và gây ấn tượng sâu sắc. Cái hay của cấu tục ngữ tập trung ở từ nguồn. Nguồn vừa mang ý nghĩa thực chỉ nguồn nước vừa có ý nghĩa tượng trưng chỉ cội nguồn nơi xuất phát. Nhớ nguồn trở thành đạo lí của con người trong mối quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Xem thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: Anh em nào phải người xa/ Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân/ Yêu nhau như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần Trong gia đình, đạo lí làm con là phải nhớ ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ. Công ơn của cha mẹ với con cái là trời biển, là nguồn nước vô tận: Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Bài học Uống nước nhớ nguồn hoặc ăn quả nhớ kẻ trồng cây lại càng trở nên cần thiết khi ta đặt nó trong mối quan hệ với quá trình phát triển của đất nước, của xã hội. Cuộc sống thanh bình, hạnh phúc ta có hôm nay không phải một sớm một chiều mà là kết quả của một quá trình lao động và đấu tranh của các thế hệ cha anh đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, xương máu. Hạt gạo đã có vị mặn của những giọt mồ hôi đắng cay muôn phần của người nông dân trên đồng ruộng năm nắng mười mưa, phơi lưng cho trời, bán mặt cho đất. Để có cuộc sống hòa bình, hạnh phúc cho mỗi chúng ta, thế hệ đi trước đã phải đổi bằng máu. Vì thế hôm nay hái những quả ngọt của cuộc sống tràn đầy hạnh phúc, đạo lí làm người nhắc nhở chúng ta không được quên công lao của quá khứ: uống nước nhớ nguồn. Tuy nhiên trong xã hội cũng không ít kẻ vong ơn, bội nghĩa, chỉ biết hạnh phúc cá nhân ích kỉ, quay lưng với quá khứ, quên cả cội nguồn. Cách sống đó đã đi ngược lại truyền thống đạo lí của dân tộc ta. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu Nhưng con người Việt Nam ta vẫn thủy chung son sắt, trọng ân nghĩa. Ngày nay xã hội ta phát triển với nhịp độ mau lẹ làm nảy sinh nhiều mối quan hệ mới, cách sống cách suy nghĩ của con người cũng có những thay đổi nhưng bản sắc của dân tộc, truyền thống đạo lí của con người Việt Nam vẫn không phai nhạt. Cảm động biết mấy về những việc làm thể hiện đạo lí uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây của nhân dân ta đối với quá khứ, với những người đã hi sinh, có công lao đối với đất nước. Những ngôi nhà tình nghĩa, những chiếc áo lụa tặng bà, phong trào đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng các bà mẹ anh hùng tuy chỉ đền đáp một phần rất bé nhỏ trước những hi sinh mất mát to lớn. Hơn nữa để thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, những người hôm nay phải có trách nhiệm giữ gìn, phát huy những thành quả của ông cha để lại. Tổ tiên đã để lại cho cháu con một gia tài vô giá, một giang sơn gấm vóc, một lịch sử oai hùng, nhiệm vụ của chúng ta là không ngừng phát huy bản sắc dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh. Uống nước nhớ nguồn là một lời răn, một đạo lí, con người Việt Nam ta lớn lên, trưởng thành từ một truyền thống đạo lí cao cả. Ngày nay đất nước ta không ngừng phát triển, những nét đẹp trong truyền thống của dân tộc càng được trân trọng và phát huy. uống nước nhớ nguồn mãi mãi vẫn là lời nhắc nhở khuyên răn đối với mỗi người để sống đẹp hơn cho mối quan hệ gia đình và trong cộng đồng xã hội. Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Lời yêu thương gửi bố của conVanmau.edu.vn
Giải thích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”
963
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Từ xưa đến nay, ông cha vẫn thường căn dặn chúng ta sống phải biết ơn, tôn trọng những người đã tạo ra thành quả cho ta hưởng. Điều đó thể hiện rõ trong câu tục ngữ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Câu tục ngữ như một lời khuyên đối với chúng ta. Xét về nghĩa đen, “quả” là cái thơm ngon nhất của cây, kết tinh sự tinh khiết qua thời gian. Vì vậy khi ăn một trái quả thơm ngon thì ta phải nhớ tới những người đã trồng ra cây đó. Nhưng ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ lại muốn khuyên chúng ta khi được hưởng một thành quả nào đó thì phải nhớ ơn những người đã tạo ra thành quả ấy. “Ăn quả” là hình ảnh nói về những người hưởng thành quả, còn “trồng cây” là hình ảnh nói về những người làm ra thành quả cho người hưởng thụ. Vậy vì sao “ăn quả” phải nhớ “kẻ trồng cây”? Vì tất cả những thành quả mà chúng ta đang hưởng thụ không phải tự nhiên mà có được. Những thành quả đó là mồ hôi, nước mắt, công sức, trí tuệ và cả xương máu của biết bao lớp người tạo nên để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho chúng ta. Đã bao giờ ta tự hỏi: Tại sao ta lại có mặt trên đời này? Đó là công ơn của cha mẹ. Cha mẹ luôn ở bên cạnh ta ngay cả những lúc ta buồn vui, san sẻ, nuôi dưỡng những ước mơ của chúng ta. Còn thầy cô giáo là những người cha, người mẹ thứ hai luôn gần gũi chỉ bảo, mở ra cho chúng ta những kho tàng kiến thức của nhân loại, để rồi chắp cánh ước mơ cho chúng ta. Bên cạnh đó, công ơn của các chú bộ đội, các cô thanh niên xung phong cũng rất to lớn. Không có họ, làm sao chúng ta được hưởng sự bình yên, hạnh phúc như ngày hôm nay, được cắp sách tới trường vui đùa với bạn bè. Rồi những người công nhân, kĩ sư, bác sĩ không tiếc mồ hôi, công sức, trí tuệ lao động của mình. Họ đều là những người dám hi sinh cuộc đời mình để cống hiến cho đất nước. Chúng ta phải nhớ ơn họ, vì đây là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay: “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ, người có tông”. Hiểu vấn đề trên ta phải hành động như thế nào? Hằng năm, nhà nước ta vẫn luôn nhớ đến công ơn của những người đã tạo ra thành quả cho chúng ta được hưởng thụ, điều đó rất hợp với tình người. đối với cha mẹ, cũng có những người con hết lòng thương yêu, kính trọng cha mẹ vì họ hiểu cha mẹ chính là người tạo ra cuộc sống cho họ ngày hôm nay. Thật đúng với lời khuyên của câu tục ngữ. Chúng ta, mỗi người ai cũng cần phải có ý thức bảo vệ và phát huy đạo lí đó. Thực hiện tốt bổn phận làm con trong gia đình, bổn phận người học trò trong nhà trường, biết ơn những thế hẹ đi trước là những điều chúng ta phải ghi nhớ. Câu tục ngữ đã để lại một bài học thật quý giá. Chúng ta những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường cần chăm chỉ học tập để giữ gìn những thành quả mà ông cha đã tạo dựng và luôn nhăc nhở nhau sống theo đạo lí tốt đẹp mà câu tục ngữ đã dạy. Nguồn Edufly Xem thêm: Đặc sắc phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện như thế nào qua tùy bút Người lái đò Sông Đà
Giải thích câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
651
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Bài làm Bể học là vô cùng mênh mông, rộng lớn. Con người chúng ta không thể nào hiểu hết được, có những thứ chưa biết, để biết được chúng ta cần phải đi ra ngoài tìm hiểu, học hỏi những kinh nghiệm để giúp cho mình trưởng thành hơn, hoàn thiện khả năng của bản thân để trở thành người có ích Chính vì vậy người xưa có câu “đi một ngày đàng học một sàng khôn” ý muốn khuyên nhủ con người hãy đi ra khỏi nhà, mở rộng kiến thức, thoát khỏi sự bao bọc của người thân để trở nên cứng cáp rắn rỏi hơn Câu tục ngữ này đã có trong kho tàng ca dao, tục ngữ dân gian của nước ta từ rất lâu. Nó chính là những kinh nghiệm mà cha ông ta đã đúc kết được và muốn truyền lại cho con cháu mình mai sau. Nó muốn nhắc nhở con người ta muốn trưởng thành, vươn xa thì cần phải biết thoát ra khỏi ” lũy tre làng” tìm tới những nơi văn minh tiên tiến để học những cái hay cái đẹp của họ về áp dụng cho quê hương, đất nước mình có như vậy mới là tài giỏi trưởng thành một cách có ích. Đi một ngày đàng là gì? nghĩa của nó là ám chỉ việc chúng ta đi một ngày trên đường đời, sẽ “học một sàng khôn” thể hiện kiến thức tích lũy được là vô cùng nhiều. Bởi trong quá trình đi đường chúng ta gặp nhiều tình huống xảy ra, có nguy hiểm, bất ngờ, từ đó chúng ta tích lũy được kinh nghiệm sống cho mình.Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim” Mở rộng vấn đề sâu xa hơn thì câu tục ngữ này muốn khuyên răn con người hãy đi ra ngoài, thoát khỏi ngôi nhà ấm cúng, bình yên được người thân bên cạnh giúp đỡ để ra khỏi nhà.Thế giới bên ngoài luôn chứa đựng nhiều rủi ro, bất chắc nhưng cũng sẽ giúp cho mỗi chúng ta trưởng thành hơn sau những bất chắc đó. Có nhiều người cho rằng câu nói này thật lạc hậu bởi giờ là thời đại công nghệ thông tin ngồi ở nhà cũng có thể kết nối với cả thế giới cần gì phải ra khỏi nhà cho vất vả. Nhưng các bạn không hiểu rằng chính việc ra khỏi nhà sẽ đưa tới cho các bạn cái nhìn khách quan nhất về cuộc sống mênh mông rộng lớn này. Khi ra khỏi nhà bạn có thể gặp rất nhiều khó khăn, những tình huống bất ngờ xảy ra. Trong những tình huống đó việc bạn cư xử như thế nào, đối phó với tình huống bất ngờ như thế nào sẽ giúp bạn có thêm kinh nghiệm sống quý báu để thành công. Xã hội ngày càng phát triển, kiến thức con người luôn là hữu hạn nên việc mở rộng kiến thức, mở mang đầu óc luôn là điều vô cùng quan trọng. Vì vậy, các bạn đừng ngần ngại khi bước ra ngoài cuộc sống, hãy khoác ba lô lên và đi tìm tương lai cho chính mình.Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Thăng Long thành hoài cổ’ Xã hội đang ngày càng phát triển, nhu cầu cần những người hiểu biết ngày càng nhiều. Bởi vậy hãy trải nghiệm bằng những chuyến đi, bằng việc học tập người khác. Nguồn: Tài liệu văn mẫu
Giải thích câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”- văn lớp 7
598
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ "Đói cho sạch, rách cho thơm" Câu tục ngữ có hai vế, đối rất chỉnh. tác giả dân gian đã mượn những thứ gần gũi, thiết thực với đời thường để biểu lộ những tư tưởng, quan điểm của những người dân lao động. Câu tục ngữ này mượn hình ảnh “đói” và “rét” để nói lên hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn của cuộc sống bấy giờ. “Sạch” và “thơm” là cách sống trung thực, không tham lam, biết giữ gìn phẩm chất trong sạch, không sa vào tội lỗi. Hai chữ “cho” có nghĩa là giữ lấy. Hai động từ đó là hai động từ quan trọng nhất trong bài, thể hiện hành động, thói quen, những biểu lộ của người dân lao động. Phải biết giữ gìn phẩm giá, nhân cách đó chính là bài học của câu tục ngữ trên. Đó cũng chính là quan điểm sống của người dân lao động hoàn toàn trái nghịch với cách sống của giai cấp thống trị. Thời phong kiến xưa, xã hội đầy rẫy những bất công, rối ren, giai cấp thống trị nghiệt ngã, bóc lột nhân dân ta dưới nhiều hình thức, coi thường, khinh rẻ những người dân lao động. Theo bản năng của con người, “con giun xéo lắm cũng quằn”, đến mức đường cùng thì tự nhiên phải biết chống lại bằng bất cứ hành động nào, có mấy ai nghĩ đến việc giữ gìn phẩm chất, thanh danh. Ấy vậy mà những người dân lao động, đối với họ điều đó là quan trọng nhất, là mục tiêu để hướng tới, là động lực thúc đẩy để sống. Dù có bần cùng, đói khổ đến đâu thì ý chí kiên cường của họ vẫn luôn chiến thắng, niềm tin của họ vẫn không bao giờ tàn lui. Từ xa xưa, nước ta vốn dĩ là một nước gắn liền với đồng ruộng, nhân dân ta lam lũ cùng nắng mưa, giai cấp thống thị vẫn vắt kiệt sức của họ bởi những sưu thuế nặng nề, chính sách áp bức đến tận xương tuỷ. Trong hoàn cảnh như vậy, con người mà không có lập trường thì rất dễ bị nhơ bẩn về đạo đức. Những người dân lao động chỉ biết dựa vào nhau, thốt nên lời những kinh nghiệm của cuộc sống để khuyên nhủ nhau sống sao cho khỏi hổ thẹn với trời đất, sao cho khỏi cắn rứt lương tâm, danh dự, ám ảnh bới những tội lỗi xấu xa mà mình đã gây ra. Nói kết lại, đối với người lao động thời xưa, vật chất không có gì, họ chỉ biết sống dựa vào ý chí, niềm tin, sự nỗ lực, phấn đấu. Nhờ vào những yếu tố đó mà họ đã vượt lên được số phận, biết sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, không một sự bóc lột nào có thể tước đi được tinh thần, lý trí của họ. Điều đó đã được đúc kết qua quá trình lao động sản xuất, cô đọng được qua từng suy nghĩ của mỗi con người. Quan niệm sống ấy thật cao đẹp, nó không chỉ là kinh nghiệm mà nó còn là lời dạy dỗ, khuyên răn, chỉ bảo, áp dụng cho tất cả mọi người. Nguồn Edufly Xem thêm: Tả cảnh con sông quê em
Giải thích câu tục ngữ “Đói cho sạch, rách cho thơm”
562
Giải thích câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Gợi ý Trong lịch sử, trong đời sống hàng ngày, không hiếm những kẻ trơ tráo vô ơn mà nhân dân ta thường lên án. Nhằm giúp nhau củng cố một thái độ có tính chất đạo lí truyền thống của dân tộc, nhân dân ta thường nhắc đến một câu tục ngữ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nên hiểu như thế nào cho đúng? Câu tục ngữ bắt đầu từ một hình ảnh cụ thể, một sự việc dễ thấy. Ngày hôm nay, ta hái một quả cây chín mọng, ngon lành trên một cành cây tươi tốt, biết chăng mười năm trước, ba mươi thậm chí năm mươi năm trước, có một người trồng cây. Người ấy, có thể trồng cây mà rồi không được hái quả, trồng cây một cách vô tư cho người đến sau mình, cũng không đòi hỏi người đời sau phải biết đến công mình. Nhưng người ăn quả hôm nay phải nhớ đến người trồng cây ngày xưa ấy. Đó là đạo lí ở đời. Nhưng câu tục ngữ không chỉ nói một việc cụ thể ấy. Ý nghĩa của nó còn rộng lớn hơn thế rất nhiều. Ẩn ý cũng sâu xa vô cùng. Quả ở đây là thành quả, là kết quả, là tất cả những gì ta được hưởng hôm nay. Câu tục ngữ là lời khuyên ta phải có lòng nhớ ơn đối với tất cả những người đã tạo nên những thành quả ấy cho ta. Ta lớn như ngày hôm nay ư? Phải nhớ ơn cha mẹ sinh thành nuôi nấng, dạy dỗ, rồi cơm cha, áo mẹ, công thầy và còn bao nhiêu người nữa, trực tiếp hay gián tiếp, góp phần giúp ta nên người. Ta có được đất nước để sống, để tự hào hôm nay ư? Phải nhớ công ơn những người đã xây dựng, bảo vệ và mở mang đất nước, từ các bậc tổ tiên thời Hồng Lạc xa xưa đến hàng triệu hàng triệu liệt sĩ đã hi sinh trong suốt mấy ngàn năm qua. Trong từng giờ, từng ngày ta sống, có lúc nào mà ta không ăn quả của người khác? Bát cơm bưng trên tay, đó là thành quả của người trồng lúa một nắng hai sương. Tấm áo mặc trên người, đó là quả của người nuôi tằm, người trồng bông, người dệt vải. Khi ốm đau, viên thuốc chữa bệnh là quả của người tìm ra thuốc, người sản xuất ra viên thuốc. Một cuốn sách, một bài học ở lớp là thành quả của người phát minh ra chữ, người phát minh khoa học, người nghĩ ra nghề làm giấy, nghề in sách, người viết sách, người thợ In. Ánh sáng ngọn đèn điện buổi tối trước bàn học, đó là quả của những Ampe, Pharaday, Edixơn và bao nhiêu người có tên tuổi hay không để lại tên tuổi. Kể sao cho hết. Tóm lại mỗi một thành tựu mà ta được hưởng, từ vật chất đến tinh thần, trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật ta đều chịu ơn người khác. Lòng biết ơn về những thành tựu ấy là một tình cảm cần thiết. Xem thêm: Kể lại chuyện Cây Khế bằng lời người em Vì sao vậy? Vì ai cũng biết trên đời không có một thành quả nào tự nhiên mà có. Mỗi một sự việc đạt được là kết quả của bao công lao khó nhọc, nước mắt, mồ hôi có khi phải suốt cả một đời người. Đừng quên rằng trên mỗi tấc đất ta đi đều thấm đượm máu và mồ hôi của tổ tiên ta. Đừng quên rằng Patxto phải mấy chục năm khó nhọc thí nghiệm và thất bại, để cuối cùng phát hiện ra vi trùng, mở đường cứu sống nhân loại khỏi bao bệnh tật hiểm nghèo. Một bóng mát nơi công viên là kết quả của bao ngày chăm sóc, tưới nước, tỉa cành, vun gốc, bắt sâu. Thái độ biết ơn người đi trước chính là thái độ đúng đắn của người biết quý trọng lao động, hiểu rõ giá trị lao động. Lòng biết ơn cũng là đạo lí của loài người, đạo lí dân tộc, là thái độ thủy chung đối với người đi trước. Ngày xưa ở nước ta, nhân dân ta coi trọng việc thờ cúng ông bà là để tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên. Hàng năm ngày 10 tháng 3 âm lịch được lấy làm ngày quốc lễ để ghi nhớ các vua Hùng đã có công dựng nước. Mỗi làng lại thờ vị Thành Hoàng đã có công khai khẩn lập nên làng. Những người thợ thủ công thờ ông tổ của nghề mình vì người đó đã có công truyền nghề lưu lại cho muôn đời con cháu. Nhân dân ta đã lập đền thờ những người có công giúp nước, cứu dân như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Quang Trung đó là một truyền thống rất tốt đẹp. Xem thêm: Nét đặc sắc nghệ thuật trong “Người trong bao” của A.P.Sê-khốp Nhưng nhớ kẻ trồng cây không chỉ là nhớ. Cũng như mọi tình cảm, lòng biết ơn đòi hỏi sự biểu lộ cụ thể, hành động cụ thể. Nhớ ơn người dựng nước, mỗi người không những phải ra công bảo vệ đất nước của người xưa, mà phải tiếp tục sự nghiệp của người xưa, ra sức làm cho đất nước được ngày càng phồn vinh, nhân dân ngày càng hạnh phúc. Ăn quả của người trước phải trồng cây cho đời sau, đó chính là việc làm có ý nghĩa nhất đề tỏ lòng biết ơn. Nhớ ơn những người đã có công đối với nền văn minh của đất nước, của nhân loại là phải tiếp tục góp phần làm cho nền văn minh ấy phát triển, góp phần làm cho con người sống mỗi ngày một thêm ấm no, hạnh phúc, thân ái, bình đẳng. Trong những nghĩa vụ ở đời, ta phải coi thái độ biết ơn là một nghĩa vụ thiêng liêng. Sự vô ơn không chỉ là một thái độ vô đạo đức mà còn là một thái độ sẽ dẫn đến những hành động nguy hại cho xã hội, làm suy đồi đạo đức. Bồi dưỡng lòng biết ơn ngay từ trên ghế nhà trường, ơn cha mẹ, ơn thầy cô trở thành một điều rất cần thiết đối với mỗi học sinh. Vanmau.edu.vn
Giải thích câu tục ngữ_ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
1,097
Giải thích câu tục ngữ: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” Gợi ý “Tốt danh hơn lành áo” – câu tục ngữ đã nêu lên một quan niệm sống đẹp của người xưa: Luôn đặt danh dự lên trên, không vì miếng cơm manh áo mà hủy hoại thanh danh của mình. Bởi làm điều xấu thì tiếng xấu sẽ để đời, không gì có thể gột rửa được. Một lần nữa, để khẳng định điều ấy, tục ngữ lại có câu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Lời dạy ấy nhắc nhở ta bài học đạo lí ở đời. Câu tục ngữ phản ánh lại chuyện thường xảy ra trong cuộc sống: con hùm khi chết đi, tuy xương thịt rã rời nhưng vẫn để lại bộ da quý giá. Con người cũng vậy, dù đã chết đi tiếng tăm vẫn còn mãi về sau. Qua hình ảnh ngẫu nhiên, thường tình trong cuộc sống, câu tục ngữ muôn nhắn nhủ một bài học: Phải sống đẹp sao cho khi đã mất, tiếng thơm vẫn còn mãi về sau, đừng làm điều sai quấy, trái đạo lí để khi không còn trên thế gian tiếng xấu vẫn không phai mờ. Thật vậy, từ ngàn xưa đến nay, trong cuộc đời, vạn vật đều có sinh có tử, không ai bất tử bao giờ. Lúc còn sống chúng ta có người giàu, kẻ nghèo, người giỏi, kẻ dở, người hơn, kẻ thua kém. Thế nhưng, khi chết đi thì ai cũng chỉ là cái xác không hồn, không còn gì về vật chất, có chăng là giá trị tinh thần, tiếng tăm của bản thân. Nếu chúng ta sống đẹp thì tiếng thơm lưu mãi ngàn năm, sống không đẹp thì suốt đời tiếng xấu vẫn lưu truyền:Xem thêm: Bình luận câu tục ngữ ”Một điều nhịn là chín điều lành”Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ Những tấm gương oanh liệt xưa kia, dẫu trải qua bao năm tháng tiếng tăm vẫn không mất. Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung…, những vị anh hùng dân tộc đã để lại những tiếng tốt cho muôn đời sau. Nhắc đến những con người ấy ai mà không cảm thấy tự hào. Ngược lại khi nghe nhắc đến Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, Nguyễn Anh “rước voi giày mả tổ” thì ai cũng cảm thấy xấu hổ. Ông cha ta lại có kẻ xấu xa như thế! Mặc dù thân xác họ đã vùi vào cát bụi nhưng ngàn đời tiếng xấu vẫn lưu danh, chịu sự phê phán của con cháu đời sau. Mặt tốt và mặt xấu, luôn tồn tại trong cuộc sống. Câu tục ngữ là chiếc phao giúp ta phát huy mặt tốt, khắc phục mặt xấu để xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Nhất là trong xã hội hiện nay – thời mở cửa. Vật chất xa hoa phù phiếm rất dễ khiến con người sa ngã. Nếu chúng ta không ý thức được danh dự, phẩm chất là quý nhất thì ta dễ dàng bị cái xấu lôi cuốn trở thành kẻ đánh mất lương tri và để lại tiếng xấu muôn đời. Hiểu được điều ấy, ngay từ nhỏ ta phải xây dựng cho mình một lối sống đẹp, sống tốt để lớn lên hình thành được nhân cách đáng quý, trở thành người hữu ích cho xã hội. Có như thế chúng ta mới không hổ thẹn với con cháu mai sau.Xem thêm: Nghị luận văn học - Âm nhạc và cuộc sống Câu tục ngữ mãi mãi là kim chỉ nam giúp ta rèn luyện đạo đức, phẩm chất của mình. Ta luôn tâm niệm rằng nếu không được là “đóa hoa sen thơm ngát giữa đầm” thì cũng đừng nên “con sâu làm rầu nồi canh” để hại người, hại đời mà lưu lại tiếng xấu xa. Nếu như ai cũng nghĩ là cố gắng thực hiện tốt điều ấy thì cuộc sống trong xã hội này sẽ ngày một tốt đẹp biết bao! Vanmau.edu.vn
Giải thích câu tục ngữ_ “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”
689
Đề bài: Giải thích câu tục ngữ" Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người" Đời sống ngày một nâng cao, yêu cầu về học thức của mỗi con người ngày càng cần thiết. Phương tiên để học hữu hiệu, đạt kết quả tốt nhất đó chính là sách. Sách đối với trí tuệ con người là quan trọng. Nó tu dưỡng nhân cách, ý thức của mỗi chúng ta. Chính vì vậy mới có câu rằng: Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Sách không chỉ là vật dụng mà nó còn chứa đựng những tư tưởng nhân văn, ý nghĩa sâu sa khiến người ta phải ngẫm nghĩ. Không chỉ vậy sách còn là món ăn tinh thần trong cuộc sống, tô điểm chút thi vị cho đời thường. Thế giới trong sách không đơn thuần khi ta mới nhìn qua mà đọc từng câu từng từ, xem từng hình ảnh mới cảm nhận được nét tinh hoa, sự giàu đẹp của nó. Đồng thời nó cũng là chiếc chìa khoá trước hết là mở ra cánh cổng tri thức và sau đó là mở ra cánh cổng của thành công, thăng hoa. Có thể nói tuy chỉ là một vật dụng nhỏ bé do con người tạo ra, về giá trị vật chất có thể không có mấy nhưng về giá trị tinh thần thì rất lớn. Sách là một kho tàng về tri thức. Trải qua hàng trăm năm con người đã biết ghi chép lại những hình ảnh, sự việc, vấn đề để tích luỹ, ghi nhớ và dạy dỗ con người. Nó thể hiện những sự kiện lịch sử quan trọng, những vùng miền đất mới, những công trình kiến trúc khoa học, văn hoá nghệ thuật, hay những phát minh khoa học, những công thức toán học. Đã từ lâu sách đã đi vào cuộc sống của mỗi con người, khuyên răn, chỉ bảo con người thêm hiểu biết và như người ban thân song hành. Khi chưa biết, sách là người thầy của chúng ta, khi căng thẳng, sách là nguồn đông viên an ủi giúp ta tiến bước. Khi buồn bã, giận hờn thì sách là liều thuốc xoa dịu vết thương. Sách gợi lại cho chúng ta những kỉ niệm đáng nhớ, liên tưởng cho chúng ta về một thế giới tưởng chừng vô hình trừu tượng mà lại hiển hiển trong cuộc sống. Sách còn là nguồn thông tin, trao đổi kiến thức, giao lưu giữa hàng nghìn vùng miền xa lạ, kho tàng kiến thức cho nhân loại. Có thể chứng minh rằng ý nghĩa to lớn của sách dành cho chúng ta là rất lớn. Nó tái hiện lại trạng thái, sự sống, hoạt động của con người. Nó chỉ ra một tương lai mới, hay quay về quá khứ để lấy lại những kinh nghiệm. Những trang sách thuần tuý ấy đã đi vào trong cả nền giáo dục mỗi con người. Sách không chỉ là hành trang của con người trong trường học, mà còn là hành trang của con người trong đời thường, cuộc sống, xã hội. Sách mở rộng tầm nhìn cho chúng ta về cuộc đời, chỉ bảo, thâm nhập vào tâm hồn của cuộc sống. Thế giới có sách vở là thế giới giàu tri thức, nhiều công nghệ. Thế giới không có sách là thế giới nghèo nàn lạc hậu. Những cuốn sách đã dạy chúng ta biết bao điều kì diệu trong cuộc sống, tu dưỡng đạo đức cho ta ngày một văn minh. Xem thêm: Hạnh phúc nằm trong bản lĩnh sốngTất cả những điều trên đều chứng tỏ một chân lí rằng: Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ loài người. ấy vậy mà một số hành vi lại xâm phạm đến ý nghĩa cao đẹp của sách. Những cuốn sách không phù hợp tính nhân văn vẫn được bày bán công khai. Những nội dung ngang trái khiến người đọc phải bất mãn vẫn được tung ra thị trường. Thử hỏi xem phẩm chất cao quý của sách đã bị xoá mờ đi bởi những bàn tay vô trách nhiệm, những ý nghĩ xấu xa kia. Việc đọc sách để mở mang tầm hiểu biết nhưng việc chọn sách lại là nền tảng cho muc đích ấy. Một cuốn sách hay sẽ đem lại cho con người một tư tưởng, một định hướng có lợi nhất định. Những một cuốn sách xấu lại mang lại cho con người tư tưởng lệch lạc, thiếu chín chắn dẫn đến những hậu quả khó lường. Do đó chúng ta cũng thấy được cái tốt từ sách để học tập. Nhắc đến sách là nhắc tới một thế giới sáng trong, một thế giới mang tinh nhân văn, hiện thực. Vì vậy ta phải nhận ra được rằng: đọc sách không chỉ là tu dưỡng kiến thức mà còn là mở ra một con đường, một lối mở dẫn đến thành đạt. Một trong những thiệt thòi lớn nhất của con người là không đọc sách vì đó như một thế giới thông tin thu nhỏ dễ hiểu, dễ cảm nhận. Ngay cả những vị danh nhân thành tài, những nhà bác học uyên bác không thể phủ nhận được giá trị của sách. Tri thức của con người càng được tu dưỡng bao nhiêu thì con người lại càng cảm nhận được vai trò của sách, hiêu thêm được tác dụng mà sách đem lại. Có thể nói sách chính là phương tiện để chúng ta học tập, là nguồn động lực để chúng ta vươn xa. Vì vậy chúng ta trước hết phải hiểu được vai trò, giá trị của nó, biết chọn lựa, sau đó là hãy biết sử dụng nó đúng mục đích để sách luôn luôn mang một vị trí quan trọng trong đời sống mỗi con người hay nói rõ hơn là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ loại người. Nguồn Edufly Xem thêm: Suy nghĩ về hai chữ “nhẫn nhịn”, “nhẫn nhục”
Giải thích câu tục ngữ” Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”
1,013
Đề bài: Giải thích câu "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" Trong cuộc sống, chúng ta thường dùng lời nói để trao đổi thông tin, để diễn đạt ý tưởng hoặc để bày tỏ, biểu lộ tâm tư tình cảm của mình… nói chung, nhờ lời nói mà con người có thể hiểu nhau và dễ đến gần nhau hơn. Nói thì dễ nhưng nói như thế nào để không mất lòng người nghe, nói như thế nào để “lọt” đến xương, nói làm sao để “mật ngọt chết ruồi” thì không dễ chút nào, nhất là những lúc ta đang “nổi khùng” thì ta càng dễ nói tầm bậy. Vì thế cha ông ta có khuyên: “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”, vì lời nói bay đi thì không thể lấy lại được, nên ta hãy cẩn thận trước khi nói. Tâm lý chung của con người là thích nghe ngọt. Những lời nói tốt đẹp không làm chúng ta tốn kém tiền bạc hay hao tổn sức lực, nhưng nó đem lại nhiều ích lợi và làm cho người nghe được an ủi, khích lệ và làm cho tình thân giữa ta với người khác được thêm thắm thiết đậm đà. Dĩ nhiên, chúng ta không nên vì “lựa lời” mà nói với nhau những lời giả dối. Trái lại, chúng ta cần nói thật với nhau bằng tấm lòng yêu thương. đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín; nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông. Lưỡi đóng một vai trò quan trọng như vậy, song cái lưỡi cộng với lời nói lại chính là nguyên cớ làm cho chúng ta dễ vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm ở bất kỳ đâu, trong bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai. Tục ngữ cũng đã có câu: “không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi”. Hay: “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Một lời nói thiếu suy nghĩ được sánh ví như đổ thêm dầu vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu huỷ hết tình ruột thịt cũng như tình nghĩa anh em. Hơn nữa, trong cộng đoàn tu trì gồm những con người từ “khắp tứ phương thiên hạ”, mỗi người mỗi tính nết, mỗi người một kiểu sống khác nhau, nên không thể tránh được hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền… nhiều khi chính chúng ta lại là những người gây ra những đau khổ, buồn phiền cho người khác chỉ bằng những lời nói thiếu cân nhắc trước sau. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Tràng giang” của Huy CậnCụ thể ngay trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi có thể vô tình thôi, chúng ta chọc ghẹo anh chị em mình bằng những lời nói nghe hơi… “rát tai”, nghe mà “đau nhói cả tim”. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn nói cho sướng cái miệng của mình, nhưng lại không để ý đến nỗi đau của người anh chị em mình khi phải nghe những lời chọc ghẹo đó. Do vậy, trong cộng đoàn tiếng cười là cần thiết, nó đem lại niềm vui cho cộng đoàn là điều cần làm và nên làm. Nhưng chúng ta cũng cần phải ý tứ hơn nữa trong những lời chọc vui để những lời chọc vui đó không những đem lại niềm vui cho mình mà còn làm cho người bị chọc cũng được vui cười thoải mái. Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn của chúng ta. được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ, một phần lớn là do cái lưỡi và lời nói của chúng ta. Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mỗi người, như một câu danh ngôn đã dạy: “lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang”. Bởi đó, ta cần phải biết đắn đo cân nhắc trong cách ăn nói của mình để tránh đi những hiểu lầm, đau khổ cho người khác. Phải sử dụng lời nói như một phương tiện, giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau hơn “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” là vậy. ý thức được tầm quan trọng của ngôn từ, chúng ta hãy chú ý những ngôn từ chúng ta dùng trong ngày. Phải có trách nhiệm khi sử dụng ngôn từ, bởi vì qua những lời chúng ta nói, chúng ta có thể đem lại niềm vui phục sinh nhưng cũng có thể đem lại đau khổ thập giá cho những anh em trong cộng đoàn và chúng ta cũng nên lắp đặt một… “cái thắng” vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “stop” lại đúng nơi và đúng lúc. để kết thúc, xin mượn câu nói của cha ông ta nói về ngôn từ: Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói. Hoặc lựa lời mà nói khó thay! Tiếng chì, tiếng bấc thường hay “chàng ràng” khi ai mở miệng nói ngang thì ta chắc chẳng ngại “phang”…. “mỹ từ” một tia lửa nhỏ sơ sơ khu rừng lớn mấy mặc dù, cháy tiêu giữa ngàn thế sự đảo điên có ai áp dụng lời khuyên bao giờ lời nói không mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau! Nguồn Edufly Xem thêm: So sánh tính cách và số phận Mị và A Phủ trong tác phẩm vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Giải thích câu “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
978
Đề bài: Giải thích câu "Người ta là hoa của đất" “Giá trị của con người”- Khái niệm đó đã được người xưa hiểu từ rất lâu đời. Những nhà trí thức thời xưa thì đã có óc nhận xét, phân tích sâu sắc và thể hiện dưới những lời ca, truyền từ đời này sang đời khác. Trong kho tàng văn học Việt Nam, để thể hiện giá trị của con người thì có vô số tục ngữ, ca dao. Nhưng có một câu tục ngữ thể hiện điều đó lại mang một hình thức ẩn dụ, rất sâu sắc khiến người đọc phải tò mò mà ngẫm nghĩ, nhẹ nhàng mà thấm thía các ý sâu xa. Đó chính là câu tục ngữ “Người ta là hoa đất”. Câu tục ngữ có 5 chữ nhưng mang nhiều điều hàm ẩn, hình ảnh hoa là một thứ đẹp đẽ, thuần tuý, là kết tinh tạo hoá ban tặng mang một hương thơm nồng nàn, một vẻ đẹp kiều diễm. Vậy thì hoa đất là gì? Hoa đất chính là mạch sống của đất trời, cũng có thể nói hoa đất chính là con người. Tại sao vậy? Con người là một sinh vật hoàn hảo của vũ trụ. Con người có hình thể, bản năng và trí tuệ – đó chính là thứ vũ khí mạnh nhất. Trí tuệ đã đem lại cho con người sự tìm tòi khám phá, những kiến thức khoa học tạo nên những bước ngoặt thành đạt thật đáng khâm phục. Con người có thể xây nên những toà tháp có giá trị cả về kinh tế lẫn lịch sử, những máy móc hiện đại để phục vụ con người. Những nền văn minh từ cổ đại tới hiện đại đều do một tay con người tạo ra. Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu hay nhấtTrong quá trình đấu tranh thiên nhiên, bạt núi, ngăn sông, khai khẩn đất hoang, con người đã tin ở trí thông minh và sức lực của mình, con người đã đứng lên xây dựng một xã hội, một tinh cầu văn minh. Câu tục ngữ trên đã khẳng định điều đó. Dường như mọi tinh hoa, vẻ đẹp đều hội tụ vào con người. Và nó còn đẹp trong lòng yêu thương của mỗi cá nhân. Sự gắn bó đi kèm với ý chí chính là thứ để con người trường tồn cùng thời gian. Con người không chỉ là tâm điểm của trái đất mà còn là tâm điểm của vũ trụ, Từ xa xưa, con người đã biết dựa vào nhau để sống, đã biết trao đổi của cải vật chất. Trải theo cùng năm tháng, thời gian thì những bông hoa đất đó đã tạo nên được những thành tựu như ngày nay. Tất cả những điều đó đều thể hiện con người là ngọn đèn bất diệt. Không đâu xa lạ, ngay trên đất Việt Nam này, nhân dân ta đã phấn đấu xây dựng đất nước mình suốt từ Bắc chí Nam. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã làm cho đất nước càng tươi đẹp. Nhân dân ta có mối tình cao cả, đoàn kết anh em từ miền ngược tới miền xuôi. Các Vua Hùng có công dựng nước, nhân dân mọi thời có công giữ nước. Những vị danh nhân, những nhà thành đạt toả sáng trên đường đời. Những điều đó phần nào đã làm sáng tỏ được câu tục ngữ trên. Thời xưa ông cha ta có những lối suy nghĩ và câu từ giản dị nhưng nó chứa đựng biết bao nhiêu điều mà khiến chúng ta ngày nay thấm thía, cảm nhận mãi mà vẫn chưa thể lĩnh hội hết được. Câu tục ngữ trên là một điển hình rõ nét. Có thể nói câu tục ngữ này mang nhiều ý tứ sâu xa nhưng đúc kết lại bài học của nó là sự trân trọng về giá trị con người. Đó không chỉ là một lời ca ngợi mà còn là một sự khẳng định, một luận điểm đúng đắn sôi nổi thu hút nhiều suy nghĩ của những người xung quanh. Nguồn Edufly Xem thêm: Hãy tường thuật lại một sự việc đã gây cho em những cảm xúc khó quên
Giải thích câu “Người ta là hoa của đất”
721
Giải thích một số câu tục ngữ nói về cần kiệm Hướng dẫn A. GHI NHỚ 1. Về siêng năng, cần cù: , – Tay làm, hàm nhai, tay quai, miệng trễ. – Hay lam hay làm, đầu quang mặt sạch, Ăn quen làm biếng, đầu rếch mặt dơ. – Giều đâu những kẻ ngủ trưa, Sang đâu những ke’ say sưa tối ngày. – Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. 2. Về tiết kiệm: – Làm khi lành, để dành khi đau. – Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện. – Được mùa chớ phụ ngô khoai, Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng. – Khi có thì chẳng ăn de, Đến khi ăn hết thì dè chẳng ra. B. GỢI Ý LÀM BÀI: …Trong dàn gian đã từ lâu đời, nhiều câu tục ngữ ngắn gọn hoặc có đối, có vần vè, hoặc bằng thơ lục bát nói về cần, kiệm, đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của nhân dân ta. Những câu tục ngữ ấy đã trở thành lời khuyên giản dị, dễ hiểu mà rất thấm thía. 1.Câu tục ngữ: ‘Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ’ đưa ra hình ảnh đối chọi để làm nổi ý: có làm thì mới có ăn. Chữ dùng ở đây rất hóm hỉnh. Vế thứ nhất nói lên một sự thật ở đời. Có ‘tay làm’, chăm chỉ lao động, làm ra tiền của, thóc gạo… thì ‘hàm nhai’, mới có ăn, mới có tiêu dùng. Vế thứ hai khuyên đừng nên lười biếng, nếu lười biếng ‘tay quai’, nghĩa là hai tay buông xuôi, không làm, không động đậy thì nhịn ăn, ‘miệng trễ’, chẳng có thức ăn gì bỏ vào miệng. Bài học ve làm ăn, về lao động và hưởng thụ được dân gian nói đến một cách giản dị, cụ thể, có tác dụng giáo dục sâu sắc. Tay và hàm là hai hình ảnh hoán dụ, song hành, hô ứng. Tay đặt trước hàm để nêu bật mối quan hệ: lao động và ấm no, lười biếng và nghèo đói. Lao động là ấm no, hạnh phúc, một ý tưởng vĩ đại được thê hiện ngắn gọn trong một câu tục ngữ chỉ có 8 chữ. 2.Câu tục ngữ thứ hai vừa khen người siêng năng ‘hay lam hay làm’, vừa chê cười kẻ lười biếng mà lại ‘ăn quen’, ăn nhiều, thích ăn ngon. Hai hình ảnh tương phản: ‘đầu quang mặt sạch’ với ‘đầu rếch mặt dơ’. Nghĩa đen là đầu tóc, mặt mũi sáng sủa, sạch sẽ, ưa nhìn của người siêng năng lao động. Kẻ lười biếng thường ăn ở bẩn thỉu, dáng điệu ốm yếu. Bài học về cần cù lao động được đúc rút qua cuộc đời về hai loại người ta dễ nhìn thấy ngoài xã hội: ‘Hay lam hay làm, đầu quang mặt sạch, Án quen làm biếng, đầu rếch mặt đô'’ Vế 2 của câu tục ngữ còn có hàm nghĩa: Kẻ đã ‘làm biếng’ mà lại ‘ăn quen’, thích xài sang nên trộm cắp, làm bậy bị đồng loại chê cười, khinh bỉ, có thể bị tù tội. ‘Đầu rếch mặt dơ’ỉầ thế! 3. Có lúc dân gian sử dụng hình ảnh rất đích đáng để nêu lên bài học giáo dục sâu sắc. Đày là hai loại người, tuy không nhiều nhưng thời nào cũng có: ‘ Giầu đâu những kẻ ngủ trưa, Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày’ ‘Ngủ trưa’là ngủ từ tối đến trưa, ngủ nhiều, làm ít. Nhà nông phải ‘hai sương một nắng’ mới có bát ăn bát để. Trái lại sống lười nhác, ‘ngủ trưa’ quanh năm thì làm sao có thể trở nên giàu có được! ‘Những kẻ ngủ trưa’ là kẻ lười nhác. ‘Những kẻ say sưa tối ngày’ là những kẻ rượu chè, thuốc phiện chơi bời (cả cờ bạc nữa) lu bù từ sáng đến tối, quanh năm quanh tháng, chẳng thiết gì làm ăn. ‘Kẻ say sưa’ là kẻ nghiện ngập, tài sản, cơ nghiệp tiêu tán dần, chẳng mấy lúc mà nghèo khổ. ‘Kẻ say sưa tối ngày’ không phải là kẻ lịch sự, sang trọng mà là kẻ bê tha, bệ rạc bị thiên hạ coi thường về cả nhân cách và lối sống. Cách nói cảm thán, nhẹ mà sâu: ‘Giàu đâu… sang đâu…’, nghĩa là sự giàu sang đời nào đến với những kẻ lười biếng, nghiện ngập. Chữ ‘đâu’ nhấn lại hai lần để khẳng định và biểu cảm một sự vô vọng đang trở thành trò cười cho thiên hạ! 4. Câu tục ngữ: ‘Một nghề cho chín còn hơn chín nghề’ là cách nói so sánh, là sự đánh giá trong việc làm ăn, trong nghiệp vụ chuyên môn, kĩ thuật. ‘Một nghề Xem thêm: Cùng kết thúc bằng cụm từ "ta với ta" nhưng ý nghĩa của cụm từ đó trong hai bài thơ Qua Đèo Ngang của bà huyện Thanh Quan và Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến khác hẳn nhau. Em hãy chứng minh điều đócho chín’thì ‘chín’ nghĩa là thành thạo, giỏi giang, chu đáo; vế này nêu lên lời khuyên làm nghề gì phải thành thạo nghề ấy, có bàn tay vàng. Người có tay nghề bậc cao, lành nghề thì mới lao động, làm việc có năng suất cao, hiệu quả tốt đẹp, được xã hội trọng dụng. Trái lại, biết nhiều nghề, nhưng nghề nào cũng dở dang, vụng về, kém cỏi thì làm việc gì cũng chẳng đâu vào đâu, cuộc sống sẽ khó khăn, chảng ai hỏi đến. Câu tục ngữ khuyên người đời phải đi sâu vào chuyên môn kĩ thuật, đạt đến mức kĩ xảo, làm cái gì tốt cái ấy. Trong nền sản xuất thủ công trước đây, câu tục ngữ ‘Một nghề cho chín còn hơn chín nghề’ là một lời khuyên chí lí. Trong xã hội ngày nay, nền kinh tế tri thức, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước thì câu tục ngữ ấy càng đúng. Phải học văn hóa cho giỏi, chọn nghề và học nghề, đi sâu vào kĩ thuật là con đường sáng của tuổi trẻ ngày nay. 5. Bốn câu tục ngữ sau đều nên lên bài học vẻ tiết kiệm, biết lo xa phòng xa, chi tiêu đúng mực. Cuộc sống thường có những sự cố bất ngờ xảy ra, nên phải lo đề phòng. Hôm nay ta còn khỏe mạnh (lành) có thể ngày mai bị ốm đau bệnh tật, gặp hoạn nạn, nên phải có ý thức: ‘Làm khi lành để dành khi đau’. ‘Dành’ là dành dụm tiết kiệm. Không thể sống theo kiểu ‘Bóc ngắn, cắn dài’, ‘làm một ăn hai’ để đến khi ốm đau, thất cơ lỡ vận thì sẽ vô cùng khó khăn. Người ‘buôn tàu bán bè’ là loại người giàu có, kinh doanh lớn. Thế nhưng, dân gian lại so sánh: ‘Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện’. Không nên 204 hoang phí, mà phải biết ăn tiêu dè sẻn, tiết kiệm, đó là bài học rất hay. ‘Ăn dè’ là ăn tiêu, chi tiêu có kế hoạch, có chừng mực, không hoang phí. Câu tục ngữ nêu lên mối quan hệ giữa làm và ăn, giữa làm và tiêu dùng; lúc nào cũng phải biết tiết kiệm. Dân gian có lúc đúc rút kinh nghiệm bằng thơ lục bát, dùng ngôn từ hóm hỉnh để khuyên răn mọi người. Khoai, ngô không giá trị bằng lúa gạo, nhưng rất quan trọng, để ăn độn, nhất là trong kì giáp hạt, tháng ba ngày tám. Dù có được mùa cũng không nên ‘phụ’ ngô khoai, coi thường, rẻ rúng ngô khoai: ‘Được mùa chớ phụ ngô khoai, Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng’ ‘Khi thất bát’là khi mất mùa, nhà nông thu hoạch kém. ‘Lấy ai bạn cùng’ nghĩa là lấy gì để san sẻ, để chia ngọt sẻ bùi cùng mình qua cơn đói kém, thiếu thốn. Câu tục ngữ với cách nói nhẹ nhàng mà thấm thía về một lời khuyên nhà nông, cũng như mọi người phải biết quý trọng ngô khoai, không được coi thường hoặc hoang phí ngô khoai, lương thực. Câu tục ngữ: ‘Khi có thì chẳng ăn de,. Đến khi ăn hết thì dè chẳng ra’ ‘Ăn de’là ăn tiêu dè sẻn đúng mức, ăn tiêu tiết kiệm; ‘dè’ là dành dụm, để dành. Cũng là cách nói dân dã khuyên bảo ăn tiêu dè sẻn, biết phòng xa. Trước đây, nông nghiệp nước ta chỉ có hai mùa: vụ chiêm và vụ mùa. Kĩ thuật canh tác lạc hậu, sâu bệnh bão lụt, nắng hạn nên hay mất mùa. Tháng ba ngày tám, kì giáp hạt, người nông dân thường gặp đói kém. Tiết kiệm lương thực là bài học xương máu của nhà nông, của mọi người, mọi nhà. Các câu tục ngữ trên đây đều có cách nói tương phản, đối chọi nên dễ nghe, dễ nhớ, dễ làm theo. ‘Khi lành’ với ‘khi đau’, ‘được mùa’ với ‘khi thất bát’, ‘khi có’ với ‘khi ăn hết’, cách nói đối chọi giản dị mà thấm thía biết bao! Ngày nay nông nghiệp nước ta phát triển mạnh, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, nhưng những ý tưởng của dân gian như ‘chớ phụ ngô khoai’, biết ‘ăn de’, có ý thức ‘Làm khi lành để dành khi đau’ vẫn là những bài học sâu sắc, thiết thực với mỗi người chúng ta. Cần kiệm là đức tính tốt đẹp của nhân dân ta. Cần kiệm để làm giàu, để xây dựng cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc. Cần kiệm để làm cho dân giàu, nước mạnh. Những câu tục ngữ nói về cần kiệm phản ánh trí tuệ dân gian, nếp sống nếp nghĩ chất phác, thiết thực của người bình dân xưa. Những câu tục ngữ ấy vẫn còn là bài học làm người cho mỗi người trong xã hội. Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu hay nhất
Giải thích một số câu tục ngữ nói về cần kiệm
1,661
Giải thích một số câu tục ngữ nói về việc học Hướng dẫn A. Ghi nhớ: – Ăn vóc, học hay. – Có học mới hay, có cày mới biết. – Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học. – Không cày không có thóc, không học không biết chữ. – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. – Học ăn, học nói, học gói, học mở. – Không thầy đố mày làm nên. – Học thầy không tày học bạn. – v.v… B. Gợi ý cảm hiểu và làm bài: Nhân dân ta giàu tình nhân ái, cần cù sáng tạo trong lao động, đặc biệt rất hiếu học. Để giáo dục con cháu trong gia đình phát huy tinh thần hiếu học, biết chăm chỉ học hành, ông bà cha mẹ thường lấy tục ngữ làm bài học sâu sắc, thấm thía. Phương pháp học tập rất phong phú, đa dạng, mục đích học tập vừa thiết thực vừa sâu xa, nên tục ngữ nói về việc học cũng nhiều vẻ. Mỗi câu tục ngữ nói về việc học là một bài học bổ ích đối với mọi người, nhất là tuổi thơ thời cắp sách. Những câu tục ngữ thường ngắn gọn, kết cấu chặt chẽ, hoặc có vần, hoặc có đối, cách so sánh cụ thể, cách liên tưởng hợp lí và thấm thía, nên rất dễ nhớ, dễ thuộc. 1. Câu tục ngữ: ‘Ăn vóc II học hay’ chỉ có bốn chữ, chia thành hai vế đối nhau; chữ ‘vốc’ vần với chữ ‘học’. ‘Vóc’ nghĩa là sức vóc, tầm vóc. Người cao lớn, nở nang, là người có tầm vóc. Người khỏe mạnh, cường tráng là người có sức vóc. ‘Hay’ nghĩa là hiểu biết; biết đọc, biết viết, biết điều hay lẽ phải, có văn hóa, có kĩ thuật, biết ngoại ngữ. Câu tục ngữ thật giản dị, dễ hiểu: có ăn mới khỏe, mới lớn, mới có sức vóc mà lao động, mà làm ăn; có học mới hiểu biết, mới nên người. Không ăn, không có mà ăn thì chết đói, cũng như không học thì dốt nát, ngu đần, chỉ làm đầy tớ cho thiên hạ. 2. Câu tục ngữ thứ hai có tám chữ chia thành hai vế đối nhau, chữ ‘hay’ vần với chữ ‘cày’: ‘Có học mới hay,có cày mới biết’.Vế 1 nói về học chữ, học văn hóa; vế 2 nói về học trong lao động, học cày, học làm ruộng. Nghề nông là nghề chính rất lâu đời của nhân dân ta. Câu tục ngữ này còn nêu nên bài học: học đi đôi với hành, học văn hóa kết hợp với học trong lao động sản xuất. 3. Câu tục ngữ: ‘Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học’. Cần nên nhớ, trong tiếng Việt có các từ ngữ hay đi liền nhau như: học tập, học hành, học hỏi, ăn học, v.v… Học là học bài, học trong sách, học thuộc lòng, học ở trường, học ở nhà, học trong cuộc sống. Hỏi là đặt những câu, nêu lên những vấn đề chưa hiểu, còn thắc mắc để cho người khác trả lời, giảng giải giúp ta sáng tỏ, hiểu biết. Có lúc ta tự hỏi mình, tự mình suy nghĩ và giải đáp. Học mà biết hỏi thì mới hiểu sâu, hiểu rộng. Có biết hỏi thì mới thật sự biết học. Vế 1 ‘muốn giỏi phải học’ nhấn mạnh kết quả học tập. Chữ ‘giỏi’ ở đây có nghĩa là giỏi giang, tài giỏi, có kiến thức sâu rộng, có tay nghề, có kỹ thuật cao. Trong thời đại mới, thời đại cửa tin học, của ' công nghê phát triển, câu tục ngữ ‘Muốn biết phải hỏi, muôn giỏi phải học’ càng nhiều ý nghĩa và thiết thực. Chữ ‘phải’ điệp lại 2 lần để nhấn mạnh nhiệm vụ, nghĩa vụ của việc học rất quan trọng. 4. Câu thứ tư, nhân dân ta dùng cách nói phủ định để khẳng định một bài học, một chân lí vừa giản dị vừa rõ ràng về làm ăn và học hành: ‘Không cày không có thóc, không học không biết chữ’. Muốn no ấm thì phải cần cù lao động (cày); lười biếng sẽ đói khổ (không có thóc), cũng như không được học, không chịu học thì sẽ ngu si dốt nát (không biết chữ). Mà dốt nát thì sẽ nghèo khổ, không có chỗ đứng trong xã hội văn minh. Xem thêm: Kể về một người bạn mà em mới quen5. Câu tục ngữ: ‘Đi một ngày đàng, học một sàng khôn’ là cách nói ước lệ và cụ thể của dân gian. ‘Đàng’ là đường; ‘đàng’ bắt vần với ‘sàng’ cho dễ nhớ. ‘Đi một ngày đàng’ nghĩa là đi đây đi đó, thấy được nhiều cảnh, nhiều người, gặp được, quan sát được bao điểu hay điều dở trong cuộc sống: ‘Đi một ngày đàng’ìầ cách nói ước lệ về sự thâm nhập cuộc sống, học trong thực tế xã hội. Có nhà thơ đã viết: ‘Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng’ Thóc phải xay, giã rồi phải giần, sàng mới có hạt gạo. Cối xay, cối giã gạo, cái giần, sàng là những dụng cụ ở nhà quê. ‘Học một sàng khôn’ là cách nói thậm xưng, cụ thể học được nhiều điều hay, điều tốt đẹp trong cuộc sống. Câu tục ngữ khuyên mọi người, ngoài việc học trong sách, học ở trường, còn phải biết học trong thực tế ngoài xã hội. Dân gian còn có câu tục ngữ nhắn nhủ,.khích lệ: ‘Đi cho biết đó biết đây, . Ớ nhà với mẹ biết ngày nào khôn!’ 6. Phải biết sống có ý tứ. Phải sống khôn ngoan. Phải biết ứng xử một cách văn minh, lịch sự, sống có nhân cách văn hóa. Muốn thế thì phải ‘học’: ‘Học ăn, học nói, học gói, học mở’. Có nhiều điều phải ‘học’, nhưng điều trước hết là học cách ăn nói trong giao tiếp, ứng xử, phải biết ‘liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau’. ‘Học ăn, học nói, học gói, học mở’để tránh thô lỗ, tục tằn trong ứng xử. Vì thế mới có câu ví, câu ca: ‘Đất tốt trồng cây rườm rà. Những người thanh lịch nói ra dịu dàng. Đất xấu trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu’ Chúng ta, cả người lớn và trẻ em phải ‘học ăn, học nói, học gói, học mở’ để nói lời hay ý đẹp, để giữ gìn và phát triển sự trong sáng và giàu có của tiếng Việt. 7.Các câu tục ngữ trên đều nói rõ: học để làm gì? học cái gì? học như thế nào? Hai câu tục ngữ sau đây nói rõ là học ai? Đó là học thầy và học bạn: – ‘Không thầy đô' mày làm nên’ – ‘Học thầy không tày học bạn’ Nhờ học thầy, thầy giỏi thì trò mới làm nên, mới thành đạt, mới trở thành người công dân tốt, người lao động tốt, nhà khoa học, nhà quản lí tài ba. Hình ảnh ông thầy sống mãi trong tâm hồn tuổi trẻ của mọi thời đại, mọi chế độ xã hội. Càng học lên cao thì vai trò ông thầy càng quan trọng. Biết ‘học thầy’ lại còn cần biết ‘học bạn’. ‘Học bạn’ là một cách học thiết thực làm cho ta tiến mau, có ỷ thức vươn lên trong học hành. Biết ‘học thầy’ và biết ‘học bạn’ thì chóng giỏi. ‘Không tày’ nghĩa ‘không bằng’. Câu tục ngữ: ‘Học thầy không tày học bạn’ chỉ là một cách nói, cách so sánh để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ‘học bạn’. Chứ thật ra, việc ‘học bạn’ không thể thay thế việc ‘học thầy’. Bởi lẽ, chỉ có thầy giỏi, nhà giáo dục giỏi mới có thể dạy dỗ, đào tào được học sinh giỏi. Biển học rộng bao la, ta càng thấy vai trò to lớn của người thầy trong nền giáo dục. Các thầy đồ ngày xưa dạy các nho sinh: ‘Bất học diện tường’ (không học như úp mặt vào tường), hoặc: ‘Nhân bất học bất tri lí, Ẩu bất học lão hà vi?’ nghĩa là: Kẻ vô học thì chẳng biết nghĩa lí; trẻ không học thì về già làm được gì? Lại có câu cách ngôn: ‘Sự học là cái chìa khóa mở mọi kho báu trên đời’. Có nhà triết học vĩ đại nhắc nhở: ‘Học, học nữa, học mãi’. Thiên niên kỉ mới đã bắt đầu. Việt Nam đang trên đà phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ học tập vô cùng quan trọng đối với mọi công dân, nhất là thế hệ trẻ Việt Nam. Vì thế, nhắc lại, ôn lại một số câu tục ngữ nói về việc học, ta càng thêm thấm thía và thú vị. Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy
Giải thích một số câu tục ngữ nói về việc học
1,478
Giải thích ngắn gọn 8 câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất Hướng dẫn 1. Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối. 2. Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa. 3. Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ. 4. Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt. 5. Tấc đất, tấc vàng. 6. Nhất canh tri, nhị canh viên, tam canh điền. 7. Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. 8. Nhất thì, nhì thục. …Trong cuộc sống lâu dài qua hàng ngàn năn lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, nhân dân ta đã đúc rút được bao kinh nghiệm quý báu, chắt lọc qua hàng ngàn, hàng vạn câu tục ngữ ngắn gọn, cô đúc có vế đối, có vần vè, lưu truyền trong dân gian. Kho tàng tục ngữ Việt Nam thật phong phú và vô cùng quý báu. Trong đó, những câu tục ngữ về thiên nhiên lao động sản xuất đúc kết bao kinh nghiệm có nhiều giá trị thực tiễn. 1. Trước đây, nhân dân ta chưa có những dụng cụ, máy móc khoa học để đo thời gian, nhưng chỉ bằng kinh nghiệm, bằng trực giác và vốn sống, họ đã có những nhận xét rất đúng đắn về độ dài ngày và đêm mùa hè, mùa đông: ‘Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối’ Câu tục ngữ vừa có vần lưng (năm với nằm, mười với cười, vần với nhau), vừa có đối (đêm và ngày, tháng năm và tháng mười, nằm và cười, sáng và tối, đối nhau). Cách nói hồn nhiên, hóm hỉnh: lấy giấc ngủ: ‘chưa nằm đã sáng’ để đo chiều dài đêm tháng năm, chỉ ra đêm mùa hè là ngắn, rất ngắn; lấy tiếng cười để đo chiều dài ngày tháng mười, ngày mùa đông là ngắn, rất ngắn, chưa chiều đã tối. Suy luận ra, câu tục ngữ chỉ rõ: ngày mùa hè dài, đêm mùa đông rất dài. Do ánh sáng mùa hè, do mây mù mùa đông, và do kinh nghiệm cuộc sống, mà nhân dân ta nêu lên nhận xét rất đúng đắn: đêm mùa hè ngắn, ngày mùa đông ngắn. Nắm được độ dài thời gian theo đêm và ngày, theo mùa để chủ động bố trí công việc làm ăn và nghỉ ngơi là rất cần thiết. Đây là một câu tục ngữ đặc sắc. 2. Có thi sĩ đã viết: ‘Nắng mưa là bệnh của trời…’, thì tục ngữ cũng có câu nói về hiện tượng mưa nắng: ‘Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa’. Câu tục ngữ có 2 vế, mỗi vế gồm 4 chữ đối nhau: chữ nắng vần với chữ vắng. Một cách nói vần vè dễ nhớ. ‘Mau’ có nghĩa là nhiều, dày; ‘mau sao’ là nhiều sao, dày sao và sao xuất hiện sớm, mọc sớm. vê mùa hè, trời vừa chập tối, nhiều sao sáng xuất hiện trên bầu trời xanh qua đó nhân dân ta biết ngày mai và những ngày sắp tới trời nắng, rất đẹp trời, để chủ động sắp xếp công việc làm ăn, cày bừa cấy hái,… ‘vắng’ là thưa sao, ít sao trên bầu trời. Đó là một hiện tượng cho biết trời sắp mưa. Biết trước trời mưa, nắng thì mọi công việc làm ăn, nhất là nghề nông mới chủ động tích cực, mới tránh được rủi ro thiệt hại. Câu tục ngữ ‘Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa’ là một kinh nghiệm hay về dự báo thời tiết mùa hè. Mùa đông thì trái lại: ‘Nhiều sao thì mưa, thưa sao thì nắng’. Câu tục ngữ ‘Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa’ có nhiều người còn nói: – ‘Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa’. – ‘Dày sao trời nắng, vắng sao trời mưa’. 3. Nhà nông, dân chài lưới, dân đi rừng ở ta chỉ có nhìn mây, nhìn ráng, nhìn mống cụt, cầu vồng mà đoán được gió bão, lũ lụt,… Câu tục ngữ: ‘Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ’ là một kinh nghiệm quý báu về dự báo thời tiết. Ráng là gì? Cuốn ‘Từ điển Tiếng Việt’ do Văn Tân chủ biên đã giải nghĩa như sau: ‘Ráng là đám mây màu sắc hồng, hoặc vàng… do ánh mặt trời buổi sáng sớm hoặc buổi chiều tà chiếu vào’. Ráng mỡ gà là ráng vàng tươi óng ánh. Có ráng mỡ gà xuất hiện ở trên bầu trời, nhân dân ta biết trời sắp nổi gió to, sắp bão, cần phải chuẩn bị giữ gìn, chằng buộc, chống đỡ, nhất là nhà gianh vách đất. Còn có những câu tục ngữ khác cũng nói về ráng: – ‘Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa’. – ‘Ráng vàng thì gió, ráng mỡ chó thì mưa’. 4. Các biến đổi bất thường về cây cỏ, sâu bọ, chim chóc, loài vật… là những hiện tượng, qua đó nhân dân lao động đã đúc rút được nhiều câu tục ngữ có giá trị thực tiễn to lớn. Dự báo thời tiết của dân gian rất phong phú: – ‘Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa’. – Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa’. – ‘Gió bắc hiu hiu, sếu kêu trời rét’. Xem thêm: Nguyễn Tuân và sự hung bạo của thác dữ sông Đà– ‘Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão’. – ‘Êch kêu uôm uôm, ao chuôm đẩy nước" – vân vân. Ở miền Bắc nước ta, vào tháng bảy, tháng tám hàng năm thường có nhiều mưa, mưa rất to, mưa tầm tã, mưa nhiều ngày, gây ra bão, lũ lụt. Chỉ nhìn đàn kiến bò, 10 lượt kéo đi hàng đàn, nhân dân ta biết: sắp có mưa to, lũ lụt lớn sắp xảy ra: ‘Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lũ lụt’. Hoặc: – ‘Kiến cánh vỡ tổ bay ra, bão táp mưa sa gần tới’. – ‘Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to’ Bốn câu tục ngữ tiếp theo (5, 6, 7, 8) nêu lên những nhận xét, những kinh nghiệm hay, sâu sắc, xác đáng về đất đai, về ngành nghề, về trồng trọt và kỹ thuật làm ruộng của bà con nông dân: – Tấc đất, tấc vàng. . – Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền. – Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. – Nhất thì, nhì thục. 5. Câu tục ngữ: ‘Tấc đất, tấc vàng’ chỉ có bôn chữ rất ngắn gọn, chia thành hai vế đối nhau nêu lên nhân xét: đất là vàng, đất quý như vàng, đất quý hơn vàng. Đất để trồng lúa, ngô, khoai, đậu, vừng, cây ăn trái, rau và các loại hoà,… Đất để làm nhà, để xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa… Đất là nguồn lợi, nguồn sống của nhân dân. Câu tục ngữ vừa nêu lên giá trị của đất, vừa khuyên mọi người phải có ý thức bảo vệ, giữ gìn đất đai, ra sức chăm bón ruộng vườn ngày thêm màu mỡ. Còn có câu ca dao tương tự: ‘Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu!’ 6. Nhà nông quê ta có nhiều kinh nghiệm quý báu phát triển các ngành nghề: làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi, thả cá, xây dựng các làng nghề thủ công… làm cho kinh tế nông thôn ngày càng mở mang, giàu có. Câu tục ngữ ‘Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền’ thể hiện trí tuệ và kinh nghiệm hay trong làm ăn của nông dân nước ta. Trì là ao; canh trì nghĩa là đào ao thả cá… Viên là vườn; canh viên nghĩa là làm vườn, trồng cây ăn trái… Điền là ruộng; canh điển là làm ruộng, trồng lúa, hoa màu… ‘Nhất canh trì’:nuôi cá, nuôi tôm… thu lợi lớn, chóng làm giàu nhất. Vì thế mới có câu: ‘Một ao cá một rá bạc’. ‘Nhị canh viên’:làm vườn, trồng cây ăn quả, trồng rau, trồng hoa cũng là một nghề làm giàu, được xếp vào thứ hai, sau nghề nuôi trồng thủy sản. Nghề làm ruộng là nghề căn bản, lâu đời, được xếp vào thứ ba. Ngày nay, nền kinh tế thị trường và khoa học kĩ thuật chân nuôi, trồng trọt ở nước ta phát triển, thúc đẩy và mở mang kinh tế trang trại ở khắp mọi miền quê. Hàng triệu nóng dân thi đua làm giàu. Các nghề nuôi trồng thủy sản, làm vườn, làm ruộng, với kĩ thuật về giống, cây, con tiến bộ vượt bậc, đã xuất hiện nhiều triệu phú ở nông thôn. Qua đó, ta càng thấy câu tục ngữ: ‘Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền’ nêu lên một bài học hay và sâu sắc. 7. Câu tục ngữ ‘Nhất nước, nhì phản, tam cần, tứ giống’ đã tổng kết và khẳng định bôn bài học lớn, kinh nghiệm hay về làm ruộng cho năng suất cao. Phải đủ nước; phải bón phân; phải cần cù cày bừa, bắt sâu, làm cỏ, vun xới,…; phải chọn được giống tốt. Cuộc cách mạng xanh ở một số nước châu Á như An Độ, Nhật Bản, Trung Quốc,… và ở nước ta cho thấy kĩ thuật về giống là hàng đầu, được coi tm-'g nhất, ưu tiên nhất. Giống lúa mới, sức đề kháng cao chống sâu bệnh, cho năng suất cao được các nhà khoa học và nôngdân quan tâm đặc biệt. Nước ta có nền nông nghiệp phát triển, là nước xuất khẩu gạo lớn, qua đó, ta càng thấy giá trị và ý nghĩa đặc sắc ở câu tục ngữ này. Còn có những câu tục ngữ: – ‘Phân tro không bằng no nước’. – ‘Không nước không phân chuyên cần vô ích’ – ‘Ruộng không phân như thân không của’. 8. ‘Nhất thì, nhì thục’là câu tục ngữ nêu lên kinh nghiệm về kĩ thuật trồng trọt, làm lúa nước. Thứ nhất là phải coi trọng thời vụ: ‘nhất thì’ (kịp thời vụ, đúng thời vụ). Trái thời vụ, thời tiết là thất bát. mất án. Thứ nhì là phải cày sâu cuốc bẫm, vun xới, chăm bón, làm cỏ, không để ruộng đất hoang hóa, bạc màu; làm cho đất đai ngày một thêm màu mỡ: ‘nhì thục’. Yếu tố thời gian, mùa vụ, yếu tố sức lao động cần cù của con người là hai yếu tố tạo nên mùa màng tốt tươi, năng suất cao, bội thu. Nguồn: thêm: Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương.
Giải thích ngắn gọn 8 câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất
1,756
Giải thích ngắn gọn chín câu tục ngữ sau về con người và xã hội Hướng dẫn 1. Một mặt người bằng mười mặt của. 2. Cái răng cái tóc là góc con người. 3. Đói cho sạch, rách cho thơm. 4. Học ăn, học nói, học gói, học mở. 5. Không thầy đố mày làm nên. 6. Học thầy không tày học bạn. 7. Thương người như thể thương thân. 8. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. 9. Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. … vẻ đẹp của con người, hoặc nêu lên bài học giữ gìn phẩm giá, nhân cách, hoặc chỉ ra Jfinh nghiệm học hành. Thương người, lòng biết ơn, tình đoàn kết là ba bài học lớn về sống đẹp, về làm người – con người chân chính được dân gian nói lên một cách sâu sắc, đậm đà. 1. Câu ‘Một mặt người bằng mười mặt của’ có cách nói cụ thể, hay. Chữ ‘mặt’ dùng rất độc đáo; ‘mặt người’ chỉ tình người, giá trị con người; ‘mặt của’ chỉ tiền của, vàng bạc… Lấy ‘một mặt người’ so sánh với ‘mười mặt của’, nhân dân ta chỉ rõ: tiền của, vàng bạc… đã quý, nhưng cái đáng quý hơn là tình người, là giá trị con người. Con người là quý nhất: ‘Người ta là hoa đất’, ‘Người sống đống vàng’. 2. ‘Cái răng cái tóc là góc con người’nêu lên hai nét đẹp cùa con người. ‘Góc con người’ là cái sắc sảo, duyên dáng, mặn mà, tươi đẹp của con người, nhất là con gái con trai. Ngày xưa, răng đen hạt na, tóc đen bóng, dày là đẹp. Ngày nay, răng đều, trắng bóng thì mới xinh. Nhất là thiếu nữ. Để tóc dài, cắt tóc ngắn, uốn tóc… đều phải theo nước da và khuôn mặt, dáng vẻ mỗi người. Câu tục ngữ không những chỉ nêu lên nét đẹp con người mà còn nhắc nhở chúng ta biết giữ gìn chăm sóc cái răng cái tóc của mình. Có hàm răng đẹp, mái tóc đẹp là ‘của Trời cho’. 3. Nhan sắc đã quý. Nhưng quý hơn là phẩm giá, nhân cách. Trong cuộc sống, ta phải ý thức được: ‘Đói cho sạch, rách cho thơm’ Đói và rách là hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn, đói cơm rách áo. Sạch và thơm là cách sống không tham lam, lèm nhèm, biết giữ gìn phẩm giá, biết bảo vệ nhân cách. Hai chữ ‘cho’ rất hay, có nghĩa là ‘giữ lấy’, ‘bảo vệ lấy’. Không vì nghèo đói mà sa ngã. Phải biết giữ gìn phẩm giá nhân sách đó là kinh nghiệm sống, là bài học làm người mà câu tục ngữ đã nêu lên. Một số quan chức tham nhũng, họ chẳng đói, chẳng rách nhưng họ chẳng sạch chẳng thơm một tí gì, vì tâm hồn đã sa đọa cùng cực! Những kẻ vô liêm sỉ, đạo đức giả ấy bị nhân dân khinh bỉ. 4. Câu ‘Học ăn, học nói, học gói, học mở’ nêu lên bài học giao tiếp ứng xử. Phải sống lịch sự, văn minh. Phải cẩn trọng, khôn khéo, tế nhị trong lời ăn tiếng nói, trong mọi cử chỉ. Không được thô lỗ, cục cằn. Bài học làm người, con người văn hóa, sống đẹp được đúc kết trong bốn chữ ‘học’ của câu tục ngữ này. Đúng là tục ngữ dạy ta biết sống tốt hơn, đẹp hơn. Xem thêm: Lập dàn bài và phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương5. Nói về sự học, cách học, tục ngữ có câu: ‘Không thầy đố mày làm nên’ và ‘Học thầy không tày học bạn’ ‘Mày’là mọi người, là chúng ta. Dùng chữ ‘mày’ không phải khinh thường mà chỉ để liền vần với chữ ‘thầy’ cho dễ nhớ. Thầy là người dạy ta về văn hóa, khoa học, nghề nghiệp… ‘Làm nên’ nghĩa là trở nên giỏi giang, có ích cho gia đình và xã hội. Học chữ, học nghề phải có thầy. Ta còn phải học trong thực tế, trên trường đời. Ta sẽ gặp nhiều người thầy dạy ta đủ điều khôn, điều hay, lẽ phải. Câu tục ngữ nhắc ta phải biết tìm thầy mà học, phải kính trọng biết ơn thầy. Có thế mới ‘làm nên’… Lại có câu nói về học bạn: ‘Học thầy không tày học bạn’ ‘Không tày’nghĩa là không bằng. Bạn cùng trang lứa tuổi, ta dễ học được điều hay, điều tốt của bạn. Nói ‘học thầy không tày học bạn’ chỉ là một cách nói để chỉ rõ việc học bạn là quan trọng. Chứ thật ra vai trò, vị trí, tác dụng của người thầy là vô cùng to lớn, quyết định. Có biết ‘tẩm sư học đạo’ mới thành tài. Hai câu tục ngữ không hề đối lập nhau mà chỉ nhắc chúng ta phải biết học thầy, đồng thời khiêm tốn học hỏi bạn bè. 7. Câu tục ngữ ‘Thương người như thể thương thân’ dùng cách nói so sánh cụ thể. ‘Thương người’ là thương yêu đồng loại. ‘Thương thân’ là thương chính mình. Có lọng nhân ái bao la mới biết ‘thương người như thể thương thân’. Đồng cảm, thương xót những con người bất hạnh, đau khổ. An ủi động viên, nhường cơm sẻ áo cho những kẻ ốm đau, đói rét, hoạn nạn. Đó là những biểu hiện về lòng thương người. Câu tục ngữ dạy ta bài học nhân ái cao cả. 8. ‘Ăn quả nhớ kẻ trồng cây’là một câu tục ngữ hay nêu lên bài học về lòng biết ơn. ‘Ăn quả’ là được hưởng thụ chất dẻo thơm, vị ngọt do người trồng cây vất vả làm ra. ‘Nhớ’ là biểu thị lòng biết ơn. ‘Nhớ kẻ trồng cây’ là nhớ ơn nhàn dân lao động. ‘Quả’ còn có nghĩa bóng như công ơn cha mẹ, ơn thầy, ơn Bác, ơn* Đảng, ơn các anh hùng liệt sĩ, ơn nhân dân vĩ đại. Lòng biết ơn là bài học làm người. Không thể vong ân bội nghĩa. Xấu xa là kẻ ăn cháo đái bát, vô đạo. ‘Uống nước nhớ nguồn’ cũng là câu tục ngữ hay dạy ta bài học về lòng biết ơn, sống tình nghĩa thủy chung. 9. Câu tục ngữ sau đây được thể hiện bằng thơ lục bát: ‘Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao’ ‘Một cây’, ‘ba cây’, ‘non’, ‘hòn núi cao’là những ẩn dụ nói về con người và cuộc sống. ‘Chụm lại’ có nghĩa liên hợp, liên kết, gắn bó với nhau. ‘Một cây’ là số ít, đơn lẻ, thì không thể làm nên non, nên núi được. ‘Ba cây’ là số nhiều, số đông, lại được ‘chụm lại’ vì thế mới thành núi cao. Cách nói thậm xưng qua hình ảnh hòn núi cao đã nêu lên bài học đoàn kết, thấy được đoàn kết là sức mạnh to lớn, vô địch. Đó là bài học dựng nước và giữ nước sâu sắc nhất của nhân dân ta trong trường kì lịch sử. Nguồn: thêm: Những suy nghĩ về tài nguyên nước hiện nay
Giải thích ngắn gọn chín câu tục ngữ sau về con người và xã hội
1,183
Giải thích ngắn gọn một sô câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất Hướng dẫn 1. Nước ta là một nước nông nghiệp. Dân ta có nghề trồng lúa nước lâu đời. Nền văn minh sông Hồng toả sáng trên bốn nghìn năm lịch sử chính là nền văn minh trồng lúa nước, trồng ngũ cốc. Màu xanh và hương thơm ngọt ngào của lúa, ngô, khoai… của hoa trái bốn mùa đã làm đẹp tâm hồn Việt Nam, trí tuệ Việt Nam. Nghề nông ở nước ta trải qua nắng lắm mưa nhiều, hạn hán lũ lụt. Nhân dân ta có nhiều câu tục ngữ nói về nông lịch, về kinh nghiệm thời tiết. Mùa đông, ngày ngắn đêm dài; mùa hè ngày lại dài đêm ngắn. Nhân dân đã đúc kết qua một so sánh hóm hình: ‘Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối’ Lấy giấc ngủ để đo cái ngắn đêm mùa hè, lấy cái cười để chỉ ra cái ngắn của ngày mùa đông, đó là cách nói cụ thể nêu lên một kinh nghiệm cụ thể để biết sử dụng thời gian, lo ăn, lo làm, lo nghỉ ngơi hợp lí. Chưa có máy móc khoa học để tính gió, đo mây,… nhân dân ta, bằng trực giác và kinh nghiệm để dự báo thời tiết, chủ động trong cày cấy gieo trồng, lên rừng hoặc ra sông, ra biển. Dự báo thời tiết để phòng chống thiên tai, để hạn chế thiệt hại cho mùa màng cây trồng, cho vật nuôi và cho con người. Có bao câu tục ngữ nói về thời tiết; kinh nghiệm quý báu ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị: – ‘Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy, Cơn đằng tây vừa cày vừa ăn’ – ‘Ráng mỡ gà có nhà thì giữ’ – ‘Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa’ Nhìn mây, nhìn ráng, nhìn trăng… mà dự báo thời tiết về mưa, bão, hạn hán. Kinh nghiệm ấy rất quý vì có cơ sở khoa học đã được chứng minh qua hàng nghìn” năm trong lao động sản xuất, trong cuộc sống. Ngày xưa, một năm nhân dân ta chỉ làm hai vụ lúa: vụ chiêm và vụ mùa (vụ mười). Tháng ba nắng hạn, ruộng đồng khô cạn, khi lúa đang trổ đòng đòng. Mưa tháng ba đối với nhà nông là ‘cơn mưa vàng’ làm cho lúa tốt bời bời, bội thu. Trái lại, trong tháng tư, lúa sắp chín, khoai đỗ sắp thu hoạch, nếu mưa nhiều sẽ gây nhiều thiệt hại lớn cho nhà nông: ‘Mưa tháng ba, hoa đất, Mưa tháng tư, hư đất’ Cuối tháng hai, những cơn mưa rào đầu hè sắp đến. Mưa tăng nguồn nước cho ruộng đồng, đem chất đạm tự nhiên cho lúa. Những tiếng sấm báo cơn mưa cuối xuân đầu hè làm cho nhà nông sung sướng, cây lúa phấn khởi ‘phất cờ’ vươn lên tươi tốt: ‘Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên!’ Mưa thuận gió hòa, chân cứng đá mềm là mong ước của người dân cày Việt Nam từ bao đời nay. Xem thêm: Hãy viết một đoạn văn ngắn về tình cảm quê hương2. Lại có những câu tục ngữ nói về trồng trọt và chăn nuôi. Muốn khoai nhiều củ, tăng năng suất thì phải luân canh, trồng trên ‘đất lạ’. Mạ có tốt thì lúa mới nhiều bông chắc hạt, do đó phải chuyên canh, mà phải gieo trên ‘đất quen’: ‘Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen’ Lúa có được chăm bón mới tươi tốt. Áo quần bằng lụa làm cho người ta thêm sang, thêm đẹp. Cách so sánh của ông bà nông dân có vẻ ‘thô’ mà cụ thể, hóm hỉnh khi nói về kinh nghiêm canh tác: ‘Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân’. Dân gian có thành ngữ: ‘Cuốc bẫm, cày sâu’. Có cày sâu mới có lúa tốt. Lấy chuyện ‘ăn’ để nói về chuyện ‘cày’ cũng là cách khẳng định một kinh nghiệm, một bài học về sản xuất: ‘Ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa’. Nông lịch dân gian là sự đúc kết qua thời tiết và khí hậu. Nước ta ở vùng nhiệt đới nên ai ai cũng phải nhớ: ‘Tháng hai trồng cà, tháng ba trồng đổ’. Gieo trồng trái vụ thì sẽ hỏng ăn. Cũng là chăn nuôi, nhưng nuôi lợn thì nhàn, tựa như ‘ăn cơm nằm’. Còn nuôi tằm, nhất là lúc tằm ăn rỗi, phải chầu chực suốt đêm ngày, đúng là ‘ăn cơm đứng’. Có trồng dâu nuôi tằm dệt tơ lụa mới thấm thía kinh " nghiệm: ‘Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng’ 3. Ngoài ra dân gian còn có nhiều câu tục ngữ nói về tư liệu sản xuất của nhà nông. Muốn phát triển nông nghiệp phải coi trọng chăn nuôi gia súc, gia cầm. Phải nuôi trâu bò để làm sức kéo. Con trâu là cánh tay phải, là người bạn chí thiết của nhà nông, là tài sản vô giá. Nhân dân chỉ rõ: ‘Con trâu là đầu cơ nghiệp’. Muốn làm giàu phải có ‘Ruộng sâu, trâu nái’. Ruộng sâu là ruộng màu mỡ, thuận nguồn nước. Trâu nái là trâu cái, béo tốt, đẻ mắn con. Cùng với con trâu, nhà nông gắn cả cuộc đời mình vào ruộng đất. Ruộng đất thấm bao mồ hôi công sức. Đất để trồng trọt đem lại hoa lợi và sự no ấm. Đất quý như vàng: ‘Tâ'c đất, tấc vàng’ Chỉ có bốn chữ mà nêu lên một bài học vô giá muôn đời. Kẻ nào phí phạm, phá hoại, lạm dụng, lãng phí ruộng đất là một tội ác lớn. Nước ta mỗi năm xuất khẩu gạo đứng thứ nhì trên thế giới. Qua đó, ta mới thấy ý nghĩa to lớn câu tục ngữ ‘tấc đất, tấc vàng’. Ngày nay, khoa học kĩ thuật có nhiều thành tựu vĩ đại. Nền nông nghiệp nước ta phát triển theo đà công nghiệp hóa, hiện đại hoà. Tuỳ vậy, đọc lại một số câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất, ta học tập được bao kinh nghiệm quý báu, bao bài học bổ ích. Trí tuệ nhân dân được đúc kết bằng máu, mồ hôi, bằng tâm hồn thanh lọc qua hàng ngàn năm, đến ngày nay vẫn tỏa sáng. Nguồn: thêm: Bình luận ý thơ sau đây: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông"... (Đi thi tự vịnh Nguyễn Công Trứ)
Giải thích ngắn gọn một sô câu tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất
1,087
Giải thích ngắn gọn một số câu tục ngữ về thời tiết Hướng dẫn Chính nghề nông, nghề đi rừng, nghề đi biển đánh cá, bằng kinh nghiệm sống từ nhiều thế hệ mà trong dân gian đã đúc rút được nhiều câu tục ngữ về thời tiết cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. 1. Mưa nắng là chuyện của trời, là hiện tượng thiên nhiên. Lên rừng, xuống biển, cày cấy, gặt hái,… phải chủ động, phải dự đoán, dự báo được thời tiết. ‘Nhiều sao thì nắng, vắng sao thì mưa’.Chỉ có tám chữ, với cách nói vần vè mà nêu lên một kinh nghiệm quý báu. về mùa hè, nhìn lôn bầu trời đêm, thấy sao chi chít lấp lánh sáng. Trời có trong, đêm có thanh mới có hiện tượng ‘nhiều sao’, ta có thể biết ngày mai, ngày kia sẽ nắng. Nếu trái lại, không có sao, ‘vắng sao’, chỉ lưa thưa sao thì có thể ngày mai, ngày kia sẽ mưa. Đó là kinh nghiệm nhìn sao mùa hè mà đoán mưa, nắng. Còn về mùa đông, thì trái lại, ngược lại: ‘Nhiều sao thì mưa, thưa sao thì nắng’. Mây, ráng, cày cỏ, chim muông, con người… đều có mối ‘liên hệ’ tự nhiên với hiện tượng mưa nắng: ‘Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa’ ‘Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa’ ‘Mùa hè đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa’ 2. Có lúc nhân dân ta lại nhìn chim để dự đoán thời tiết. Câu tục ngữ: ‘Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa’.Chim thì bay, cá thì nhảy. Cũng có lúc chim tắm, quạ tắm, sáo tắm. Chim xòe cánh ra, chúc đầu xuống nước, cánh vỗ làm nước bắn tung tóe lên, lấy mỏ rỉa lông, rỉa cánh. ‘Ráo’ nghĩa là khô ráo, nắng ráo. Hễ nhìn thấy quạ tắm thì biết là trời còn nắng dài ngày; và nhìn thấy sáo tắm biết được trời sắp mưa. Đó là kinh nghiệm của bà con ở vùng trung du và đồng bằng. 3. Ở miền Duyên hải, ngư dân lại có nhiều kinh nghiệm khác về thời tiết. Ra khơi đánh cá cần có biển lặng, sóng êm, may mắn gặp luồng cá. Chuẩn bị thuyền lưới, thức ăn nước uống đi khơi đi lộng, ngư dân phải quan sát mây gió, sắc trời. Câu tục ngữ: ‘Thâm đông, hồng tây, dựng may, Ai ơi đợi đến ba ngày hãy đi’ là một kinh nghiệm quý báu của bà con đánh cá. Nhìn về phía đông, thấy mây, thấy sắc trời đen lại, thâm đi; nhìn về phía tây có ráng đỏ, sắc trời hồng lên, đồng thời gió may thoảng lên, nổi lên, dựng lên là trời sắp có bão, không thể ra khơi được. Phải ‘đợi đến ba ngày’ rồi mới được ra khơi, mới ‘hãy đi’. Có thế mới an toàn. 4. Con chuồn chuồn là ‘cái máy’ dự báo thời tiết linh nghiệm. Tháng 7 ở miền Bắc nước ta mưa bão, lũ lụt nhiều. Nhìn thấy chuồn chuồn bay cao hay thấp, bay ít hay nhiều đều có thể cảm nhận được thời tiết. Những ngày tháng bảy âm lịch, gió heo may nổi lên, chuồn chuồn động tổ bay ra nhiều, bay rối rít loạn xạ cả lên, vậy là dự báo trời sắp có bão. Con chuồn chuồn bé nhỏ là bạn thân thiết của nhà nông. Chuồn chuồn mách bảo để lo việc đồng áng: Xem thêm: Kể về một người bạn mới quen ‘Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm’ hoặc: ‘Chuồn chuồn bay thấp mưa ngập bờ ao, Chuồn chuồn bay cao mưa rào lại tạnh’ 5. Giông tố là hiện tượng đáng sợ của thiên tai. Phải dự đoán để đề phòng chủ động, tích cực, hạn chế thiệt hại về người và của cải. Mùa hè thường có giông tố nổi lên bất chợt. Khi chân trời bỗng đùn lên những cuộn mây, núi mây đen ngòm, có khi che kín cả một góc trời, đó là điềm trời báo sắp có giông. Giông có thể đến nhanh cũng có thể đến từ từ. Nếu mây đen kéo lên ở phía đông (thường thường là vùng biển) thì cơn giông kéo đến rất nhanh. Trước hiện tượng ấy, người ta phải khẩn trương coi chừng ‘vừa trông vừa chạy’. Nhưng nếu có mây ở phía nam thì thời tiết không có gì đột biến. Mây tụ rồi mây tan. Nếu có mưa thì mưa sẽ đến từ từ, không thể có giông tố xảy ra. Ai cũng có thể ‘vừa làm vừa chơi’, có thể yên tâm, không phải lo sợ, vội vàng: ‘Cơn dằng đông, vừa trông vừa chạy, Cơn đằng nam, vừa làm vừa ăn’" 6. Cầu vồng, mống cụt xuất hiện là một dự báo thời tiết đáng sợ. Nhân dân đã đúc kết thành kinh nghiệm quý báu lâu đời để phòng tránh, để lo liệu làm ăn: – ‘Mông cao gió táp, mống áp mưa rào’, – ‘Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa’, – ‘Mống bên đông, vồng bên tây, Chẳng mưa dây thì bão giật’ 7. Lại có nhiều câu tục ngữ nói về hiện tượng trời rét. Cuối thu, gió bấc thổi về, đưa khí lạnh tràn tới. Trên bầu trời, từng đàn sếu bay đi về phương nam. Sếu đổi mùa, tránh rét. Nghe sếu kêu giữa đêm khuya, cùng với gió bấc thổi nhẹ ‘hiu hiu’ là dự báo trời rét. Nhưng vào cuối tháng ba, ‘tháng ba bà già chết rét’, hễ thấy hoa gạo rụng, người ta biết khí trời ấm dần, sắp có nắng mới. Hoá gạo nở vào tháng giêng, rụng vào cuối tháng ba. Hoá gạo là cái ‘nhiệt kê’ tinh nhạy vẻ thời tiết. Đây là hai câu tục ngữ có giá trị dự báo rét đến và trời ấm: – ‘Gió bấc hiu hiu, sếu kêu trời rét’, – ‘Bao giờ cho đến tháng ba, Hoa gạo rụng xuống, bà già cất chăn’. Kho tàng tục ngữ rất phong phú, trong đó có hàng trăm câu nói về thời tiết. Đó là những kinh nghiệm dân gian lâu đời. Những câu tục ngữ ấy thường chính xác, phản ánh trí tuệ dân gian, chứng tỏ nhân dân có tài quan sát thiên nhiên. Từ cuộc sống lao động, từ những hiện tượng trong vũ trụ, từ cây cỏ hoa lá, chim muông, côn trùng, nhân dân ta đã phát hiện ra, đúc rút lại thành những kinh nghiệm quý báu để phục vụ lợi ích của con người. Ngày nay, kfyoa học phát triển. Việc dự báo thời tiết có nhiều máy móc hiện đại, tinh vi. Tuy vậy, những câu tục ngữ về thời tiết vẫn có ích và thiết thực đối với mọi người. Nguồn: thêm: Phân tích đoạn trích Nỗi thương mình của Nguyễn Du
Giải thích ngắn gọn một số câu tục ngữ về thời tiết
1,136
Giải thích và bình luận câu tục ngữ hay về lời hứa Hướng dẫn I. ĐẶT VẤN ĐỂ: Ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói biểu hiên nhân cách, cá tính của mỗi người. Nhân dân ta rất coi trọng cách ăn nói trong giao tiếp. Khuyên răn người đời cần có trách nhiệm trước lời nói của mình, ca dao có câu: ‘Nói lời phải giữ lấy lời, Đừng như con bướm đậu rồi lại bay’ II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ 1. Giải thích nghĩa đen, tìm nghĩa bóng, rút ra ý nghĩa: ‘Nói lời phải giữ lấy lời’:không được thay đổi, không được lật lọng, trước nói thế nào thì sau phải làm đúng như thế, luôn luôn lấy chữ tín làm đầu, biết coi trọng và đề cao chữ tín. ‘Đừng như con bướm đậu rồi lại bay’là một hình ảnh diễn tả bướm đi tìm hoà, hút nhụy hoà, bay và đậu từ bông hoa này qua bông hoa khác. ‘Đừng’ nghĩa là chớ, không nên làm như thế. Mượn hình ảnh bướm tìm hoà, nhân dân ta phê phán một thái độ tuỳ tiện, vô trách nhiệm trước lời nói của mình. Tóm lại, câu ca dao nêu lên một lời khuyên nhằm nhắc nhở mọi người ăn nói phải chín chắn, phải có ý thức, có trách nhiệm trước lời nói của mình, phải biết lấy chữ tín làm đầu, không được hứa suông hứa liều; phải làm đúng, thực hiện đúng điều đã nói và đã hứa. 2. Bình: Tại sao ‘Nói lời phải giữ lấy lời?’. Vì sao ‘Đừng như con bướm đậu rồi lại bay?’. Lời nói, ngôn ngữ phản ánh sự hiểu biết, trình độ học vấn, đạo đức tư cách của mỗi người. Người thật thà, có lòng tự trọng và biết tôn trọng người thì ăn nói chân thật, không dám dối trá nửa lời. Nói sao làm vậy, nghĩ như thế nào thì nói như thế ấy, đó là con người có đạo đức, có tư cách. Hứa với ai điều gì, việc gì thì phải giữ đúng. Như thế mới tốt. Trái lại, nói một đàng, làm một nẻo, nói mà không làm, hứa mà không thực hiện đúng lời hứa, đó là kẻ vô đạo đức, bất tín bất nghĩa. Kẻ bất tín, nói lời lại nuốt lấy lời, sớm muộn cũng lộ chân tướng xấu xa, bị mọi người xa lánh và khinh bỉ. Xem thêm: Phân tích giá trị hiện thực của bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí… e. Chủ thể trữ tình trong bài thơ Đọc Tiểu Thanh kíTrong mối quan hệ cộng đồng, niềm tin là một trong những cái quý báu nhất. Tinh cha con mẹ con, tình anh em, bằng hữu, tình vợ chồng, tình đồng đội… niềm tin là ngọn lửa thiêng liêng soi sáng tâm hồn. Còn niềm tin là còn tình người, còn hạnh phúc. Khi đã mất niềm tin là mất tất cả, con người sẽ nghi ngờ lẫn nhau. Mối quan hệ ‘người với người là bạn’ bị tan vỡ. Bởi vậy, ‘Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay’ là bài học dạy ta cách làm người, cách sống chân thật, coi trọng tín nghĩa. 3. Luận Phải học tập, học văn hóa, khoa học kĩ thuật, học cách làm ăn, học điều khôn lẽ phải ‘học ăn, học nói, học gói, học mở’. Học nói lời hay ý đẹp, nhưng cốt lõi của sự học hành làm người là tu dưỡng đạo đức để biết sống chân thật, thực thà. Tục ngữ có câu: ‘Thật thà là cha mách qué’. Niềm tin cho ta tình thương yêu, sức mạnh đoàn kết. Câu nói: ‘Một điều không tin thì vạn sự cũng chẳng tin’ là một điều răn, nhắc nhở chúng ta ‘nói lời phải giữ lấy lời…’. Hứa mà không thực hiện là đáng chê trách. Dối trá, lừa bịp, lật lọng… là biểu hiện về sự sa đọa tâm hồn, đạo lí, dẫn đến những việc làm bất lương, tội ác. Biết giữ lời hứa là một nguyên tắc trong ứng xử, giao tiếp. Cha mẹ, con cái trong gia đình ngoài tình thương còn cần có niềm tin để phát huy gia phong. Bằng hữu lấy niềm tin để thắt chặt dây thân ái. Thầy mến trò, trò kính thầy trên niềm tin để dạy tốt học tốt. Trong cuộc sống, lời nói có lúc được thể hiện qua các văn bản giao kèo, hợp đồng… do đó, ai cũng phải biết làm đúng, thực hiện đúng. Tính pháp lí gắn liền với tính đạo đức là như vậy. Câu ca dao này vốn là lời cô gái nói với chàng trai đến tỏ tình, cầu hôn, vừa nhắc khẽ, vừa răn đe: trong tình yêu phải biết trọng lời hứa, giữ trọn danh dự, thủy chung sắt son, không được bạc tình bạc nghĩa ‘đừng xanh như lá bạc như vôi’ (Hồ Xuân Hương), ‘Đừng như con bướm đậu rồi lại bay’. III. KẾT THÚC VẤN ĐỂ Thủ tín là một đức tính. Có nhân cách trọng danh dự mới biết trọng lời hứa. Vì thế chúng ta càng cảm nhận sâu sắc lời khuyên ‘Nói lời phải giữ lấy lời…’. Tuổi trẻ phải biết sống chân thực. Không được hứa liều, bừa bãi, phải xuất phát từ khả năng thực hiện để đưa ra lời hứa. Đã hứa thì phải làm đúng. Câu ca dao đã giáo dục em bài học biết trọng danh dự trong lời hứa. Nguồn: thêm: Cao Chu Thần từng có câu thơ để đời: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa. Có người cho rằng vẻ đẹp của câu thơ cũng chính là vẻ đẹp của Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Ý kiến của anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích để làm sáng tỏ
Giải thích và bình luận câu tục ngữ hay về lời hứa
973
Giải thích và bình luận câu tục ngữ ‘Uống nước nhớ nguồn” Hướng dẫn A. YÊU CẦU: – Kiểu bài bình luận một câu tục ngữ. – Vấn đề phải bình luận: hưởng thụ và biết ơn. B. GỢI Ý LÀM BÀI: …Câu tục ngữ ‘uống nước nhớ nguồn’có hình tượng đẹp, hàm chứa một tư tưởng, tình cảm đẹp, một lối ứng xử đẹp. 1. Chỉ có 4 chữ ngắn gọn mà ý nghĩa sâu xa. ‘uống nước’là điều kiện, ‘nhớ nguồn’là hệ quả. Nguồnlà nơi phát nguyên những nguồn nước. Nước đầu nguồn thì trong mát ngọt lành. Nguồn nước có bao giờ vơi cạn? Nhờ nguồn mà sông suối, ao hồ, biển cả có nước quanh năn, sự sống được nở hoa kết trái. Uống nước là được hưởng thụ; nhờ có nguồn mà ta được uống nước. Chữ nhớtrong câu tục ngữ thể hiện tấm lòng nhớ ơn, biết ơn. Câu ‘Uống nước nhớ nguồn’nêu lên mối quan hệ lịch sử, xã hội, đó là hưởng thụvà nghĩa vụ.Câu tục ngữ nhắc nhở mỗi chúng ta bài học đạo đức: Phải nhớ ơn, biết ơn những người đã đem lại ấm no, hạnh phúc và yên vui cho mình. 2. Câu tục ngữ đã nói lên mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa ‘bốn nghìn lớp người’trong xã hội ta. Nó nêu lên một quan niệm nhân sinh đầy tình người, đúc kết một nét đẹp về đạo lí, nhắc nhở mỗi người sống có tình có nghĩa, trọn vẹn thủy chung. Lòng nhớ ơn, biết ơn là một tình cảm rất đẹp. Câu tục ngữ giáo dục chúng ta lòng biết ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Nó nhắc nhở chúng ta biết ơn nhân dân vĩ đại đã đem mồ hôi xương máu xây dựng và bảo vệ đất nước. Bát cơm ta ăn, mái nhà ta ở, trang sách, ngọn đèn, ngôi trường soi sáng tâm hồn ta… đã thấm sâu công ơn hàng triệu người dân cày, người thợ, thầy giáo, cô giáo… Lá quốc kì đỏ thắm, đất nước độc lập thanh bình… là do máu xương của biết bao anh hùng liệt sĩ. Xem thêm: Trình bày quan điểm của anh (chị) về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai: chọn nghề phù hợp với năng lực thực tế của mình; chọn nghề đang được ưa chuộng trong đời sống hay nhất quyết theo đuổi nghề mà mình vẫn thiết tha yêu thích?Giang sơn gấm vóc hôm nay là do ‘nguồn thiêng ông cha’,như một nhà thơ đã ca ngợi: ‘Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ TỔ…’ (‘Đất nước’ -Nguyễn Khoa Điềm) Lòng biết ơn không chỉ được khắc sâu trong tâm hồn mà còn phải được thể hiện bàng hành động cụ thể. Con cháu hiền thảovới ông bà cha mẹ. Tục cúng lễ giỗ tết với nén hương thơm tỏa khói trên bàn thờ gia tiên. Con cái chăm học chăm làm, sống tốt đẹp làm vẻ vang cho dòng họ, biết săn sóc ông bà cha mẹ khi già yếu. Ngày 27-7 và ngôi nhà tình nghĩa là sự thể hiện lòng biết ơn của toàn dân đối với thương binh liệt sĩ. Học sinh biết tôn sư trọng đạo… Đó là hành động biết ‘Uống nước nhớ nguồn’. 3. Kẻ vong ân bội nghĩa, con bất hiếu, trò vô đạo, loại người ‘ăn cháo đá bát’ đều bị cộng đồng cười chê, khinh bỉ, xa lánh. Để giáo dục lòng biếtơn, nhân dân ta đã sáng tạo nên những câu tục ngữ, bài ca dao đậm đà, ý đẹp lời hay từng thấm sâu vào máu thịt và hồn người: – ‘Ăn quả nhớ kẻ trồng cây’. – ‘Ai ơi bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?’. – ‘Con người có tổ có tông, Như cây có cội, như sông có nguồn’ Ở đời, người nhân hậu làm ơn không bao giờ nghĩ tới chuyện trả ơn. Họ coi việc cứu giúp mọi người là nghĩa vụ của lương tâm. Lòng biết ơn luôn luôn nhắc nhở chúng ta vừa nhớ tới cội nguồn, nhớ tới thế hệ đi trước, đổng thời phải nghĩ tới những lớp người mai sau. Biết nhớ nguồn còn phải biết khơi nguồn là vậy. Câu tục ngữ ‘uống nước nhớ nguồn’là bài học lớn dạy ta biết làm người. Nó gợi nhớ trong lòng ta món nợ đời sâu nặng: ‘Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy, Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao’. Nguồn: thêm: Hãy cho biết cảm nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn ở chương I (Tôi sống độc lập từ bé. Một sự ngỗ nghịch đáng ân hận suốt đời) mà em đã học
Giải thích và bình luận câu tục ngữ ‘Uống nước nhớ nguồn”
799
Giải thích và bình luận câu tục ngữ: Đói cho sạch, rách cho thơm. Hướng dẫn Tục ngữ chứa đựng biết bao kinh nghiệm về ứng xử, về đạo lí làm người. Có nhiều câu tục ngữ trở thành phương châm sống, giáo dục nhân cách cho chúng ta. Câu tục ngữ: “Đói cho sạch, rách cho thơm ” trở thành bài học luân lí, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Câu tục ngữ có hai vế đối xứng, đồng nhất về nội dung, cùng bổ sung ý nghĩa cho nhau. Đối nghĩa là nghèo đói, thiếu thốn về mặt vật chất, cơm áo bạc tiền. Cho nghĩa là vẫn phải giữ cho được. Sạch nghĩa là trong sạch, không lèm nhèm tắt mắt, tham lam. Vế thứ nhất: “Đói cho sạch ” nêu lên bài học đạo đức: sống trong sạch trong cảnh nghèo đói. Vế thứ hai: “Rách cho thơm ”.Rách cũng có nghĩa tương tự như đói: thiếu thốn, nghèo khổ, thiếu ăn thiếu mặc. Cho thơm: cho trong sáng tâm hồn, cho tốt đẹp về lương tâm danh dự, được mọi người nể trọng. Tóm lại, câu tục ngữ “Đói cho sạch, rách cho thơm ” nêu lên bài học luân lí đừng vì nghèo đói, thiếu thốn mà làm điều xấu, tội lỗi; trong bất cứ hoàn cảnh thiếu thốn nào cũng biết sống trong sạch, giữ trọn phẩm cách và danh dự tốt đẹp của mình. Trong đời, ai mà chả thích giàu sang, phú quý? Địa vị cao sang, tiền bạc nhiều… ai mà chả ham muốn? Nhưng cổ nhân có nhắc: "Phú quýbất năng dâm,bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất ”, nghĩa là giàu sang không mua chuộc được, nghèo khổ không đổi dời, vũ lực không thể khuất phục. Đó là nhân cách vĩ đại của kẻ sĩ chân chính. Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông nghè tháng tám của Tam Nguyên Yên ĐỗTrên đường đời, ai mà chẳng có lúc gặp hoạn nạn khó khăn, thất cơ lỡ vận. Mất mùa, ốm đau, tai họa… là những thử thách khó lường. Khi đứng trước những gấp khúc cuộc đời, dân gian có lời khuyên chí lí: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.Nghèo đói mà sống trong sạch, khó khăn thiếu thốn mà giữ được phẩm cách, danh dự, đó là điều không đơn giản, không phải ai cũng làm được. Qua câu tục ngữ này,nhân dân ta nhắc nhở mọi người hãy ra sức tu dưỡng đạo đức, giữ vững phẩm cách trong sạch, dũng cảm vượt qua mọi cám dỗ vật chất, giữ vững danh dự và lương tâm. Các tệ nạn xã hội như ăn cắp, ăn trộm, lừa đảo, giết người cướp của đều do lòng tham vô độ mà ra. Thậm chí các tệ nạn tham nhũng của những quan chức biến chất đều do lòng tham, thích xa hoa hưởng lạc mà trở thành quốc nạn. Thói thường, nói dễ làm khó. Biết tu dưỡng đạo đức, giữ cho tâm hồn trong sáng, lương tâm trong sạch, danh dự trọn vẹn… là việc phải phấn đấu suốt đời. Có biết lao động cần cù, sống giản dị, tiết kiệm thì mới có thể biến câu tục ngữ “Đói cho sạch, rách cho thơm” thành hiện thực. Diệt lòng tham, sống trong sạch là điều mà tổ tiên ông cha vẫn nhắc nhở con cháu: “Của phi nghĩa có giàu đâu, Ởcho ngay thật, giàu sau mới bền ” Hiện tượng quay cóp, gian lận trong học hành thi cử, phải chăng vì ai đó chưa hiểu hết ý nghĩa câu tục ngữ: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.Câu tục ngữ ấy đã trở thành bài học luân lí, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nguồn: thêm: Dựa vào suy ngẫm của nhà văn Nguyễn Tuân về kết thúc truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hãy tưởng tượng và viết tiếp truyện Tắt đèn
Giải thích và bình luận câu tục ngữ_ Đói cho sạch, rách cho thơm.
653
Giải thích và bình luận câu tục ngữ: ‘Có làm thì mới có ăn…’. Hướng dẫn ‘Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ dem phần đến cho’ 1. Câu tục ngữ diễn đạt dưới hình thức thơ lục bát. Câu lục mộc mạc, giản dị như một lời ăn tiếng nói hàng ngày của bà con lao động về một sự thật hiển nhiên ở đời: ‘Cố làm thì mới có ăn’.Dân gian đã sử dụng cách nói điều kiện – hệ quả để chỉ ra một chân lí. ‘Cố làm’là điểu kiện; ‘có ăn’là hệ quả. Thật là dễ hiểu, vì có làm thì mới có ăn; muốn có ăn thì phải làm, phải lao động. Hai tiếng ‘không dưng’trong câu bát nghĩa là không bỗng chốc, không tự nhiên, tự dưng mà có. Chữ ‘phần’là miếng ăn, là của cải vật chất. ‘Có con mà gả chồng gần – Nửa đêm đốt đuốc đem phẩn biếu cha’(ca dao). Nghĩa câu bát bổ sungcho nghĩa câu lục, dân gian đã nhắc khẽ người đời nên biết, nên nhớ là không tự dưng, không bỗng chốc vô cớ mà thiên hạ đem miếng ăn, đem của cải vật chất đến cho không mình. Tóm lại, câu tục ngữ đã chỉ rõ: muốn sống, muốn tồn tại, muốn ấm no thì phải lao động; không thể sống ỷ lại thiên hạ. 2. Câu tục ngữ đã khẳng định giá trị to lớn của lao động, ca ngợi sức lao động và con người lao động. Lao động trước hết để nuôi sống bản thân mình, nuôi sống gia đình mình. Lao động còn để phục vụ đất nước và nhân dân trên vị thế công dân. Có làm có lao động mới sản xuất ra mọi của cải vật chất và sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần để làm cho đất nước ngày thêm giàu đẹp. Lao động là nguồn sống, nguồn ấm no hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Qua câu tục ngữ, nhân dân ta đã phê phán những kẻ lười biếng, ăn bám, chỉ biết ‘ăn dày làm mỏng’ỷ lại ‘há miệng chờ sung’. ‘Có làm thì mới có ăn’siêng năng, chịu khó lao động thì ấm no, có bát ăn bát để. Lười biếng thì đói rét, khổ cực, chẳng ai cho, chẳng ai thương! Muốn ấm no hạnh phúc và được mọi người tôn trọng thì phải lao động, cần cù, chịu khó. Đã từ bao đời nay, ngườinông dân Việt Nam đem mồ hôi và công sức bám lấy ruộng đồng, nương rẫy, cuốc bẫm cày sâu, một nắng hai sương, cày cấy quanh năm mới làm ra được hạt gạo để nuôi sống mình, nuôi sống gia đình mình. Nhờ thế mới có lương thực nuôi bộ đội đánh giặc, mới có nhiều gạo để xuất khẩu. Khái niệm làm và ăn rất rộng lớn. Người thợ xây nhà, làm cầu đường, trường học, bệnh viện, dệt vải, làm ra mọi vật dụng cho quốc kế, dân sinh. Thầy thuốc chữa bệnh, săn sóc sức khỏe nhân dân. Giáo viên dạy học, đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động có văn hóa, có kĩ thuật cho đất nước. Lao động chân tay và lao động trí óc đều vẻ vang. Tất cả đều là nguồn nhân lực để nuôi sống xã hội, để xây dựng đất nước ngày một thêm văn minh, giàu đẹp. ‘Có làm thì mới có ăn’,từ chân lí ấy ta mới cảm nhận được, lao động là cái đáng quý nhất, người lao động là người đáng kính nhất trong xã hội. Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả dòng sông vào mùa nước lũ3. Câu tục ngữ trên chỉ rõ lao động là thước đo giá trị phẩm giá của mỗi người, mỗi thành viên trong gia đình, mỗi công dân trong xã hội. Cần cù siêng năng, kiên nhẫn, chịu khó, dũng cảm, sáng tạo, v.v… là những đức tính tốt đẹp được hình thành phát triển trong lao động, làm nên nhân cách công dân. Và cũng vì thế mà các thói xấu, tệ nạn như lười biếng, ỷ lại, ngại khó ngại khổ, tham lam, thích ăn ngon, mặc dẹp, xài sang mà chây lười, bóc lột, tham nhũng, xa hoà, lãng phí, v.v… đều bị cộng đồng chê cười, khinh bỉ, lên án. Dân gian nói thật hay về chuyện làm và ăn ở đời. Những câu tục ngữ ấy đã trở thành bài học luân lí thấm thía: – ‘Hay ăn thì lăn vào bếp’. – ‘Khen nết hay làm, ai khen nết hay ăn’. – ‘Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ’. – ‘Có khó mới có miếng ăn, Không dưng ai dễ mang phần đến cho’ 4. Câu tục ngữ ‘Có làm thì mới có ăn…’nêu lên một nguyên tắc, một quan niệm đúng đắn, công bằng, về làm và ăn, về cống hiến và hưởng thụ: có làm thì có hưởng, làm tốt hưởng nhiều, làm ít, làm dở thì hưởng ít, không làm không hưởng. Trong xã hội cũ, nhân dân lao động đầu tắt mặt tối quanh năm mà vẫn đói rét, trái lại, tầng lớp trên không làm mà lại sống trong nhung lụa. Đó là nghịch lí, bất công: ‘Thằng còng làm cho thằng ngay ăn’, ‘Kẻ ăn không hết người tần không ra. Lao động thủ công, lao động cơ bắp thật đáng quý. Một giọt mồ hôi, một hạt cơm vàng. Nhưng lao động kĩ thuật, lao động sáng tạo, tài kinh doanh quản lí mới là phẩm chất cần có, nên có đối với mọi người sống trong nền kinh tế – xã hội tri thức. Nếu làm mà không tiết kiệm, sống xa hoa lãng phí, cần mà không kiệm, thì có thể nói là chưa hiểu đầy đủ câu tục ngữ ‘Có làm thì mới có ăn…’.Qua câu tục ngữ trên, nhân dân ta đã đề cao lao động, nêu lên bài học giáo dục tinh thần lao động, nhắc nhở mọi người yêu lao động, biết sống bằng lao động. Bước vào đời, ai cũng phải sống bằng lao động, phải biết làm giàu một cách chính đáng bằng vốn liếng của mình, bằng chất xám và tài năng của mình. Cuộc đời đâu chỉ vì ăn mà làm, mà lao động? Còn nhiều ý nghĩa cao quý hơn. Vì sự ấm no hạnh phúc của 208 cộng đồng, vì sự phú cường của đất nước mà người người lao động, nhà nhà lao động. Làm để ăn để sống; làm còn để hiến dâng và phục vụ. Ông cha ta còn nhắc nhở: ‘Miệng ăn núi lở’,vì thế cần kiệm phải là quốc sách. Học đi đôi với hành, học tập khoa học, kĩ thuật,… phải là niềm say mê của thanh thiếu nhi. Để có miếng ăn mà phải lấy cái xe bò làm công cụ, phải làm kiểu con trâu đi trước, người cày theo sau thì buồn lắm! Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giúp chúng ta hiếu sâu hơn hai chữ làm và ăn trong câu tục ngữ ‘Có làm thì mới có ăn…’này. Vì thế, học giỏi, lao động giỏi, được sống trong khoa học và giàu có là chí hướng, là ước vọng của mỗi chúng ta. Nguồn: thêm: Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ
Giải thích và bình luận câu tục ngữ_ ‘Có làm thì mới có ăn…’.
1,228
Giải thích và bình luận càu tục ngữ: ‘Thương người như thể thương thân” Hướng dẫn … ‘Thương người như thể thương thân’ Nhân dân ta đã tạo nên một so sánh cụ thể, giản dị mà thấm thía biết bao! Trong đó, có gì quý hơn, thân thiết hơn ‘thân’ mình? Chữ ‘thân’ trong câu tục ngữ là chỉ số phận cuộc đời mình, niềm vui nỗi buồn, những ước mơ về hạnh phúc của mình. Những con người xa lạ, những kẻ bất hạnh trong cõi đời chẳng có mối quan hệ gì với ta, thế mà ta đã thương, đã quý mến, đồng cảm họ một cách vô cùng sâu sắc với tất cả tình người. Sự ‘thương’ người ấy ‘như thể thương thân’ ta vậy 1 Không vu lơi! Không ban ơn! Tất cả chỉ vì tình thương người, tình yêu thương đồngloại. Đường đời nhiều chông gai hiểm trở. Xã hội biến động không ngừng. Cũng có thuở thái bình thịnh trị. Vì thương người ta vui với niềm vui của mọi người, mọi nhà. Cũng có thời kì loạn lạc, mất mùa, dịch bệnh, giặc giã tung hoành khắp nơi. Người người đau khổ vật lộn trong thiên tai, địch họa, trong máu và nước mắt. Trong hoàn cảnh ấy, thương thân mình đã khó, thế mà ta còn biết ‘thương người’ quý mến, trân trọng những kẻ bất hạnh gần xa. Tình cảm ấy thật đáng quý vô ngần. Tình thương người gắn liền với đức hi sinh là thế! Tinh thương người của nhân dân ta mênh mông và bao la, với những biểu hiện vô cùng phong phú. Đồng cảm, thương xót cho cảnh ngộ đau khổ của đồng loại. Đau nỗi đau, lo nỗi lo của đồng loại. Đó là ‘thương người như thể thương thản’. Bênh vực, chở che, sàn sóc cứu giúp vật chất, san sẻ tình thương cho những con người hoạn nạn, cho những con người ‘nhỏ bé’ đang sống ‘dưới đáy’ xã hội. Đó cũng là ‘thương người như thể thương thân’. ‘Lá lành đùm lá rách’', ‘Một miếng khi đói bằng một gói khi no’; ‘Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ’; ‘Máu chảy ruột mềm’, v.v… Đó là những biểu hiện, những hành động cao quý ‘thương người như thể thương thân’. ‘Hũ gạo cứu đói’năm Ất Dậu 1945, phong trào rộng lớn của toàn dân giúp đỡ đồng bào bị bão lụt, giúp nạn nhân chiến tranh, giúp học sinh nghèo,… trong những năm gần đây đã nói lên sức mạnh của tình nhân ái, đạo lí tốt đẹp ‘thương người như thể thương thân’ của dàn tộc ta. ‘Thương người…’không chỉ đồng cảm san sẻ, cứu giúp, mà còn phải biết trân trọng những phẩm giá tốt đẹp của đồng loại, thấu hiểu và nâng niu những ước mơ, nguyện vọng về dân chủ tự do, về ấm no, hạnh phúc của nhân dân, nhất là của những con người lầm than, đói khổ. Xem thêm: Giản dị trong đời sống, trong tác phong, trong quan hệ với mọi người, Hồ Chủ tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết vì muốn cho quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được. Em hãy tìm một ví dụ để chứng minh cho sự giản dị trong thơ văn của‘Thương người như thể thương thân’chính là lòng ‘chí nhăn’ đã làm nên sức mạnh Việt Nam như Nguyễn Trãi đã nói: ‘Lấy chí nhân để thay cường bạo’ (‘Bình Ngô đại cáo’). Tinh cảm cao quý ấy đã làm cho lòng người trong sáng hơn, nhàn hậu hơn. Biết lấy tình người trong ứng xử là đạo lí cao quý. Nhờ thế mà bóng tối bị xua tan. Cái ác bị đẩy lùi. Tinh người và tình đời tỏa sáng. Xã hội ngày một văn minh hơn, tốt đẹp hơn. Bọn bất lương, lũ ‘chuột lớn bất nhân’ (thơ ‘Ghét chuột’ của Nguyễn Bỉnh Khiêm) thì làm sao chúng nó hiểu được câu tục ngữ: ‘Thương người như thể thương thân’. Những kẻ giàu nứt đố đổ vách, xài bằng ngoại tệ,… nhưng chẳng bao giờ dám bỏ ra một xu để giúp người cơ nhỡ, bố thí cho kẻ hành khất ngược xuôi thì câu tục ngữ ‘Thương người…’ ấy rất xa lạ với họ! Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Khổng,… đều có nói đến lòng nhân ái. Từ giáo lí ấy mà chúng ta càng thèm tự hào về đạo lí ‘Thương người như thể thương thân’ của nhân dân ta. Cộng đồng người Việt, ‘bốn nghìn lớp người’ đã lấy tình thương để xây dựng và phát triển nghĩa đồng bào, tình dân tộc. Chẳng thế mà nó đã trở thành điệu ru, cau hát dân gian, thấm sâu vào hồn người như hương lúa đồng quê bao đời nay: – ‘Thấy người hoạn nạn thì thương, Thấy người đói rét ta nhường áo cơm’. – ‘Nhiễu điều phụ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng’ Sống không có tình thương sẽ bị khô héo lương tri, cằn cỗi tâm hồn. Bởi vậy, có người đã nói: ‘Biết san se’ là hạnh phúc; được san se' cũng là hạnh phúc’. Có khỉ tình thương đã gắn liền với tình cảm cách mạng và kháng chiến: ‘Thương nhau chia củ sắn lủi, Rát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng’ (‘Việt Bắc’ – Tố Hữu) Xưa nay, ai cũng muốn được sống trong tình thương. Câu tục ngữ: ‘Thương người như thể thương thân’ là bài học luân lí vô giá đối với mọi người. Nó thanh lọc hồn người và hướng thiện. Thế kỉ 21 là thế kỉ của tri thức. Và còn phải là thế kỉ của tình thương. Tinh thương là cái gốc của đạo lí làm người, là vẻ đẹp nhân văn của nền văn hóa dân tộc. Một xã hội văn minh phải là xã hội của tình thương. Tinh thương mãi mãi là bài ca cuộc đời, bài ca của yên vui hạnh phúc. Phong trào ‘xóa đói giâm nghèo’, ‘góp tiền vào quỹ ủng hộ người nghèo’ hiện nay chính là bài ca ‘Thương người như thể thương thân’ của đất nước và con người Việt Nam chúng ta. Nguồn: thêm: Phân tích những phẩm chất tốt đẹp của con người Tây nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong truyện ngắn "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành
Giải thích và bình luận câu tục ngữ_ ‘Thương người như thể thương thân”
1,065
Giải thích và bình luận câu tục ngữ: ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’ Hướng dẫn Tục ngữ đã dạy khôn dạy tốt cho ta bao điều. Có biết bao câu tục ngữ hóm hỉnh, sâu sắc đã trở thành hành trang của mỗi chúng ta, trong đó có câu: ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’* 1. Câu tục ngữ chỉ có tám chữ, chia làm hai vế 4 // 4 đối nhau. Chữ ‘trước’ bắt vần với chữ ‘nước’. Câu tục ngữ ngắn gọn, vần vè, đối xứng nên rất dễ nhớ, dễ thuộc. Về nghĩa đen, nghĩa cụ thể, câu tục ngữ nêu lên hai cách sống rất ‘khôn khéo’*của một số người nào đó trong xã hội. ‘Ăn cỗ đi trước’ là để được ăn nóng, ăn tươi, ăn ngon. Kẻ coi miếng ăn là to, là trên hết mới ‘ăn cổ đi trước’. Trong mâm cỗ xưa nay đều có định lượng khẩu phần nên ăn cỗ, dù có đi trước hay đi sau cũng chỉ có thế thôi. Dân gian muốn chỉ rõ kẻ đi trước lúc ăn cỗ phần lớn là kẻ hám ăn, thèm ăn, tham ăn. Người lịch thiệp không ứng xử như thế. Vế thứ hai nói về chuyện ‘lội nước’ của những ai đó thực chất là chuyện đi đường: ‘lội nước đi sau’. Qua sông qua suối, băng thác vượt ghềnh, mưa to lũ lớn, đường sá ngập nước, ào ào cuốn trôi… ‘Đi trước’ rất nguy hiểm, có thể sa chân vào hố sâu, giẫm đạp phải gai góc, có thể bị ngã què, bị nước cuốn đi. Vì thế kẻ ‘khôn ngoan’ ranh ma mới hành xử theo cách riêng của mình: ‘lội nước đi sau’, để được an toàn. Bốn chữ ‘đi trước’ và ‘đi sau’ tưởng là đối lập, nhưng thật ra nhất quán cả trong suy nghĩ, trong hành động, trong ứng xử của một số người nào đó trong xã hội. Họ biết tìm cái lợi riêng cho bản thân mình trong: ‘ăn’ (ăn cỗ), trong hưởng thụ. Và họ lại còn biết giành lấy phần hơn, phần an toàn cho cuộc đời mình trong mọi việc làm (lội nước). Câu tục ngữ ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’ đã phản ánh lối sống, cách hành xử vị kỉ, vụ lợi của một số người hèn kém trong.xã hội xưa nay. 2. ‘Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau’là cách sống khôn vặt, tinh quái của phường giá áo túi cơm, là tâm lí của tiểu nông, của người sản xuất nhỏ trong xã hội cũ. Những con người ấy, sống ích kỉ, vị kỉ tham lam, ranh ma, chỉ cố sao thu vén cho riêng mình, cho gia đình mình một số lợi lộc nhất định, càng nhiều càng thích, mà không hề bị thiệt thòi dù chỉ ‘chút mảy may lông’! Họ quan niệm một góc chiếu ngồi trên, giữa chốn đình trung là vẻ vang. Họ sống theo triết lí ‘Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp’. Cái đầu gà, cái thủ lợn, cái mâm cỗ ngồi trên giữa họ, ngoài làng được những kẻ ấy lấy làm hãnh diện về sự cao sang, đắc chí rung đùi vuốt râu cười trước bàn dân thiên hạ! ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’tuy khôn vặt, ích kỉ nhưng không phải là ích kỉ hại nhân. Họ đáng bị đồng loại coi thường, chê cười nhưng chưa đến nỗi bị xã hội khinh bỉ ghê tởm như đối với những kẻ đạo đức giả ‘miệng nam mô bụng một bồ dao găm’, thủ đoạn nham hiểm, chà đạp hãm hại đồng loại đê giành quyền lực, để vinh thân phì gia. Xem thêm: Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian3. Xã hội loài người là cuộc đấu tranh sinh tồn theo xu thế đi lên không ngừng của lịch sử, từ man dã đến văn minh. Trong sản xuất và chiến đấu, thời nào và ở đâu cũng có những người tiên phong, dám xả thân vì hạnh phúc của nhân dân, vì độc lập tự do của đất nước. Họ dũng cảm chống thiên tai bão tố, lũ lụt để cứu tài sản, tính mạng của nhân dân. Khoa học là con đường đầy gai góc, gian nan. Nhiều nhà khoa học đã nêu cao tấm gương sáng chói. Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý nơi Paris hoa lệ, theo Hồ Chủ tịch về nước, chế tạo vũ khí cho bộ đội đánh giặc. Giáo sư y khoa Đặng Văn Ngữ đã lặn lội khắp các chiến trường, núi rừng, lấy thân mình cho muỗi đốt, để nghiên cứu và chế tạo thành công vắc-xin chống bệnh sốt rét, phụcvụ chiến đấu. Các vị ấy đã ứng xử một cách cao cả, được nhân dân và quân đội suy tôn là anh hùng. Họ đâu có bao giờ nghĩ tới chuyện ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’. Những kẻ nhân cách tầm thường, sống nhỏ nhen ti tiện mới hành xử theo lối ‘ăn cổ đi trước, lội nước đi sau’. Họ biết đâu, chỉ vì cái lợi vật chất nhỏ bé, cách sống đun đẩy, ngại khó ngại khổ… mà đã tự hủy hoại nhân cách mình, tâm hồn minh, bị người đời chê cười, coi thường. Thời chống Mĩ cứu nước, các phong trào ‘ba đảm đang’ của phụ nữ, ‘ba sẵn sàng’ của thanh niên đã lôi cuốn hàng chục triệu tuổi trẻ Việt Nam, quyết không lùi bước trước mọi hi sinh gian khổ, quyết tâm ‘xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước’, đã lập nên bao chiến tích thần kì. Nếu ai cũng ứng xử theo lối ích kỉ tấm thường như ‘ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’ thì không thể nào có thành quả độc lập, thống nhất và hòa bình như ngày nay. Xét cho cùng, câu tục ngữ ‘Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau’ nhằm nêu lên mật trái của vấn đề ăn và làm, sống và hành động, cái thấp hèn về nhân cách, để châm biếm và phê phán. Qua đó, nhân dân ta đề cao những đức tính như cao thượng, tích cực, gương mẫu, tiên phong, sẵn sàng dám xả thân vì những lí tưởng cao cả, để phục vụ đất nước và dân tộc. Xã hội nào, thời đại nào cũng có những kẻ sống tầm thường như ‘Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau’, hoặc ‘Ăn thì ăn những miếng ngon – Làm thì chọn việc cỏn con mà làm’. Đó chỉ là phân số nhỏ bé trong cuộc đời rộng lớn của nhân dân. Câu tục ngữ trên là bài học phản diện về đạo đức cho mỗi chúng ta. Nó nhắc nhở mọi người không nên, không thể sống một cách thấp hèn, khôn vặt, ranh ma trước đồng loại. Nó giáo dục chúng ta biết ăn và hành động một cách có văn hóa, có dạo đức. Trong xã hội mới, ‘công bằng, dân chủ, văn minh’ không có chỗ đứng cho những kẻ ích kỉ, vị kỉ như ‘Ăn cỗ ải trước, lội nước đi sau’. Xã hội mới, thời đại văn minh trí tuệ, vị thế của những tài năng sống vì một lí tưởng đẹp mới được tôn vinh. Và có thể nói, đoạn thơ sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn bài học làm người qua câu tục ngữ trên: ‘Nếu là con chim, chiếc lá, Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không có trả, Sông là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?’ Nguồn: thêm: Chứng minh chân lí trong những lời Bác Hồ dạy thanh niên:"Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên"
Giải thích và bình luận câu tục ngữ_ ‘Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau’
1,316
Giải thích và chứng minh câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công” Gợi ý Tôi không nhớ câu thơ, lời hát do ai viết. Song, đúng là một triết lí tuyệt vời bởi nó đúng với chúng ta những điều đã, đang và sẽ xảy ra trong cuộc sống. Đời người là vô cùng rộng lớn và không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Kể cả những người thành đạt nhất cũng không tránh khỏi đôi lần thất bại. Có những thất bại đắng cay. Song, chính sự thất bại đã làm con người trưởng thành, giàu kinh nghiệm lên và vững vàng đi tới chiến thắng. Chính vì thế mà ông cha ta đã đúc kết thành câu tục ngữ để khuyên dạy cháu, con: "Thất bại là mẹ thành công". Trước hết, ta hiểu câu tục ngữ như thế nào? Câu tục ngữ có sáu tiếng nhưng trong đó có hai từ trái ngược nhau: "thất bại" và "thành công". Đồng thời, chỉ trong có bốn từ đó thôi, mà dân gian kết hợp vừa so sánh để khẳng định qua từ "là", lại vừa kết hợp nghệ thuật ẩn dụ: coi thất bại là người mẹ (của "thành công"). Khi nói đến "mẹ" ai chẳng nghĩ đến sự dạy bảo chí tình, chí nghĩa; ai chẳng biết mẹ mong mỏi điều tốt cho các con, mẹ mong cho các con thành đạt. Vậy cớ gì vô lí khi "thất bại" của mỗi người chúng ta lại được ví như mẹ ta. Vì thất bại giúp ta nhìn ra sai sót, nhìn ra chỗ yếu của mình để bổ sung cho hoàn thiện, để thêm cho sức mạnh. Thất bại nhiều lần, ta sẽ rút kinh nghiệm được nhiều lần để đi đến chiến thắng. Thất bại lớn hay nhỏ, ít hay nhiều, nếu ta không nản lòng ngã chí, tất sẽ thành công. Trong cuộc sống con người ta không phải lúc nào cũng đẹp, cái gì cũng thành công. Song, điều quan trọng là phải có nghị lực nhìn vào cái thất bại ấy, mà rút kinh nghiệm, mà học hỏi, bổ sung cho hoàn thiện vốn hiểu biết của mình thì chắc chắn thành công sẽ đến. Xem thêm: Cảm nhận về bài tùy bút ‘Sài Gòn tôi yêu’ của Minh Hương Ta hiểu như thế vì cái lí, cái tình đều đúng. Ta hiểu như thế còn bởi tấm gương của các bậc tiền bối chính là kim chỉ nam cho ta theo. Ngày xưa, dân gian ta ca ngợi mãi con người "có công mài sắt, có ngày nên kim" như ông Đoàn Tử Quang – một con người có nghị lực phi thường. Sau nhiều lần đi thi không đỗ, ông vẫn tu dưỡng dùi mài kinh sử đèn sách, tiếp tục đi thi nhiều lần và đến năm 81 tuổi, ông đã đỗ Trạng nguyên. Thật là một tấm gương sáng để khẳng định giá trị câu tục ngữ "Thất bại là mẹ thành công" Ta cũng không thể quên ông trạng "Văn hay chữ tốt" Cao Bá Quát đã từng "thất bại" khi viết dùm bà lão hàng xóm lá đơn kêu oan. Lá đơn ấy của Cao Bá Quát lời lẽ thì hay còn chữ xấu quá quan không đọc nổi. Bà cụ đã chẳng kêu được oan mà còn bị đuổi ra khỏi công đường. Từ "thất bại" ấy ông đã nhận ra rằng văn có hay mấy mà chữ xấu thì cũng chả ích gì. Không chỉ rèn rũa văn chương ông còn miệt mài luyện chữ và trở thành nổi danh khắp nước làng "văn hay chữ tốt". Đó chẳng phải "Thất bại là mẹ thành công" sao? Ngày nay, cũng rất nhiều anh, chị học lớp 12 rất giỏi, song đi thi đại học không phải đỗ ngay. Có thể năm sau, năm sau nữa mới đỗ. Nhưng các anh, các chị cũng luôn luôn rèn luyện với tinh thần "Thất bại là mẹ thành công" để quyết chí học hành. Xem thêm: Chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Lại nói: chuyện xa hơn, trên thế giới, tấm gương của các thiên tài như, ông Ể-đi-xơn – nhà vật lí nổi tiếng thế giới – đã thất bại 1000 lần trong thí nghiệm, mới tìm ra được chất dùng làm dây tóc bóng đèn đấy. Nếu không có 1000 lần cố gắng của ông, thì không biết nhân loại bao giờ mới có dây tóc bóng đèn để phục vụ con người? Bao nhiêu lần thất bại để đổi lấy một thành công, nhưng là một thành công tuyệt vời – một thành công sinh ra từ một nghìn người mẹ thất bại. Thật đáng khâm phục! Khi nhắc đến hoạt hình, một món "khoái khẩu" của lứa tuổi chúng ta không ai không biết đến Oăn Đi-xnây với những bộ phim và nhân vật hoạt hình nỗi tiếng thế giới, làm bao thế hệ trẻ thơ phải say mê. Vậy mà trước khi sáng tạo nên Đi-xnây-len ông đã từng bị sa thải khỏi tòa báo vì thiếu ý tưởng và nếm mùi phá sản không ít lần. Những thất bại ấy của Oăn Đi-xnây là "mẹ" để sản sinh ra những đứa con "thành công". Rồi nhà bác học Lu-i Pa-xtơ, nhà văn Lép Tôn- xtôi, ông chủ hẵng xe hơi danh tiếng Hen-ri Pho… đều đã từng gặp thất bại, không chỉ một lần. Vậy nhưng sau những thất bại ấy họ đã đứng lên. Bà mẹ thất bại đã nâng đỡ để một ngày vòng nguyệt quế vinh quang đến với họ. Xem thêm: Viết về người lao động trí óc Thật giản dị, các bạn ạ! Trong lớp các bạn có những học sinh học kém: có thể đã vài ba lần bị điểm yếu khi trả bài kiểm tra. Hãy nhắc bạn ấy rút kinh nghiệm ngay từ những người mẹ thất bại ấy. Thể nào bạn ấy sẽ học giỏi lên đấy! "Chúng con cảm ơn các thầy cô giáo đã giúp chúng con đạt thành công từ những thất bại ban đầu, để ngày hôm nay, chúng con yêu Văn đến thế…". Hãy xem lại việc học của mình nhé và đừng nản lòng. Hãy xem kĩ lại "công trình học tập thất bại" để rút ra kinh nghiệm đi đến thành công. Đừng bao giờ nghĩ rằng: "Mãi mãi mình là người học kém, mãi mãi mình là người thất bại!". Hãy vững vàng bạn nhé vì bên ta, câu tục ngữ của cha ông ta luôn nhắc nhở, động viên ta: "Thất bại là mẹ thành công" đó, hỡi các bạn! Vanmau.edu.vn
Giải thích và chứng minh câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công”
1,118
Đề bài: Bạn em băn khoăn vì sao đã có câu tục ngữ: Không thầy đố mày làm nên, mà lại còn có câu: Học thầy không tày học bạn? Em hãy giải thích để giúp bạn em hiểu rõ ý nghĩa và mối quan hệ giữa hai câu tục ngữ trên. Từ xưa, nhân dân ta đã coi trọng vị trí của người thầy trong xã hội. Có biết bao câu ca dao, tục ngữ thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư; Muốn sang thì bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy… Trong nhà trường, người thầy giữ vai trò rất quan trọng. Vì thế dân gian đã khẳng định: Không thầy đố mày làm nên. Nhưng bên cạnh đó lại có quan điểm cho rằng: Học thầy không tày học bạn. Như vậy, hai câu trên có mâu thuẫn với nhau hay không? Chúng ta cùng bàn luận để có cách nhìn nhận đúng đắn về ý nghĩa của hai câu tục ngữ này. Nếu mới đọc qua, chắc chắn có người cho rằng hai câu tục ngữ trên chứa đựng hai quan điểm trái ngược nhau. Câu thứ nhất: Không thầy đố mày làm nên đề cao đến mức tuyệt đối vai trò của người thầy đối với học sinh. Trong khi đó câu thứ hai: Học thầy không tày học bạn lại đề cao vai trò của bạn bè. Vậy nên hiểu nội dung hai câu tục ngữ này thế nào cho đúng? Trong nhà trường, vai trò của người thầy vô cùng quan trọng. Thầy dạy cho trò những kiến thức cần thiết thông qua bài giảng trên lớp. Thầy là người dẫn đường chỉ lối, mở rộng, nâng cao tri thức cho học sinh. Đồng thời với việc dạy chữ là dạy nghĩa. Người thầy dạy bảo những điều hay lẽ phải, quan tâm giáo dục đạo đức cho học sinh, giúp các em sống theo đạo lí làm người. Đối với việc trưởng thành và tạo dựng sự nghiệp của học sinh, công lao của người thầy quả là không nhỏ. Nhưng không phải người thầy thay thế được tất cả. Thầy hết lòng giảng dạy, trò phải hết sức nỗ lực trong học tập thì mới mong đạt được kết quả khả quan. Như vậy, những cố gắng của học sinh cũng góp phần đáng kể. Nếu phủ nhận mặt này, ý nghĩa của câu tục ngữ trên sẽ thiên lệch. Xem thêm: Suy nghĩ gì về quan niệm “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” Vai trò người thầy quan trọng như vậy mà lại có ý kiến cho rằng: Học thầy không tày học bạn (không tày có nghĩa là không bằng), liệu có rơi vào sự đánh giá thiên lệch khác chăng? Thực ra, ý của người xưa là muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng của bạn bè đối với sự hiểu biết và tiến bộ của mỗi người. Nghệ thuật dân gian trong câu tục ngữ này là dùng cách nói quá để khẳng định điều muốn nói. Kiến thức thầy giảng trên lớp, có gì chưa hiểu, đem hỏi lại bạn bè. Lúc bạn tận tình hướng dẫn cho mình thì bạn cũng đã đồng vai trò người thầy, dù chỉ trong chốc lát. Thực tế cho thấy bạn bè tốt hỗ trợ nhau rất nhiều trong học tập, làm việc và xây dựng sự nghiệp của mỗi người. Bạn bè cùng trang lứa có sự thông cảm, gần gũi nên việc tiếp thu cũng dễ dàng hơn. Vậy nên hiểu quan niệm học thầy, học bạn như thế nào? Mỗi học sinh phải chăm chỉ học tập, cố gắng tiếp thu những kiến thức do thầy truyền đạt, kết hợp với óc suy nghĩ, sáng tạo của bản thân để không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết. Luôn ghi nhớ truyền thống Tôn sư trọng đạo của dân tộc. Kính trọng thầy thực sự thì mới có tâm thế trong sáng, nghiêm túc đón nhận lời thầy dạy bảo. Chưa hiểu hoặc hiểu chưa kĩ điều gì, ta mạnh dạn hỏi bạn bè, tránh thái độ tự ti, giấu dốt, bởi đó là điều hoàn toàn bất lợi cho việc học hành. Học thầy, học bạn không chỉ về kiến thức mà còn học cả tác phong, đạo đức để trở thành con người toàn diện, hữu ích cho xã hội. Hai câu tục ngữ trên bổ sung ý nghĩa cho nhau để phản ánh quan niệm của người xưa về việc học. Cách học tốt nhất ngày nay là học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học ở thực tế đời sống hằng ngày. Muốn nên người, chúng ta phải có thái độ tôn kính thầy cô, quý mến, tôn trọng bạn bè và khiêm tốn học tập. Con đường đến với tri thức là con đường gập ghềnh, gian nan. Trên con đường ấy, thầy và bạn vừa là người chỉ lối, vừa là người đồng hành quan trọng biết bao đối với mỗi chúng ta. Xem thêm: Báo cáo phương pháp học tốt môn Ngữ Văn
Giải thích và so sánh hai câu tục ngữ “Không thày đố mày làm nên” và “Học thày không tày học bạn”
863
Đề bài: Giải thích ý nghĩa bài ca dao "Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" Chúng ta ai cũng có cha có mẹ. Cha mẹ đã sinh ra ta, chăm sóc dạy bảo ta. Vì thế, công ơn cha mẹ dành cho ta rất lớn. Chúng ta phải biết ơn, đền đáp công lao đó. Điều đó đã được ông cha ta nhắn nhủ qua bài ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.!” Bài ca dao đã đi sâu vào lòng người bởi những hình ảnh so sánh rất độc đáo: “Công cha với núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ với nước trong nguồn”. “Núi Thái Sơn”là ngọn núi cao, đồ sộ vững chãi nhất ở Trung Quốc. “Nước trong nguồn” là dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhhất, dạt dào mãi chẳng bao giờ cạn. Từ hiện tượng cụ thể ấy, tác giả dân gian đã ca ngợi công lao của cha mẹ. Tình cha mạnh mẽ, vững chắc, tình mẹ thật ngọt ngào vô tận và trong sáng. Ân nghĩa đó to lớn, sâu nặng biết bao. Chính vì vậy mà chỉ có những hiện tượng to lớn bất diệt của thiên nhiên kì vĩ mới có thể so sánh bằng. Xuất phát từ công lao đó, ông cha ta khuyên mỗi chúng ta phải làm tròn chữ hiếu để bù đắp lại công ơn trời biển của cha mẹ. Xem thêm: Nhà văn Nguyễn Bá Học có nói: "Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Em hiểu câu nói đó như thế nào? Hãy giải thích và chứng minhTại sao lại nói công cha và nghĩa mẹ là vô cùng to lớn, bao la, vĩ đại, không có gì so sánh được? Bởi vì cha mẹ là người đã sinh ra ta, không có cha mẹ thì không có bản thân mỗi con người. Cha mẹ lại là người nuôi dưỡng ta từ khi ta mới chào đời cho đến khi ta trưởng thành mà không quản ngại khó khăn vất vả. Cha mẹ còn dạy dỗ ta nên người, dạy cho ta biết cách cư xử sao cho lịch sự, dạy cho ta đạo lí làm người, dạy cho ta cách làm lụng, cách tự chăm sóc cho bản thân, dọn dẹp nhà của cho sạch sẽ…Cha mẹ là chỗ dựa vững chắc nhất, tin cậy nhất, luôn dang tay mở rộng tình thương đối với các con. Cha mẹ cùng bên nhau sống trọn đời vì con, tạo lập niềm tin tưởng và nền móng vững chắc cho con vào ngưỡng cửa của cuộc đời. Vậy chúng ta phải làm gì để đền đáp công ơn của cha mẹ? Để đền đáp công ơn của cha mẹ, đạo làm con chúng ta phải biết ơn, phải lễ phép với cha mẹ. Phải luôn ngoan ngoãn và nghe lời cha mẹ, làm theo những điều cha mẹ dạy. Ta phải kính trọng hiếu thảo với cha mẹ; luôn cố gắng học tập thật giỏi để vui lòng cha mẹ. Có như vậy mới là “đạo con”. Bài ca dao đã răn dạy chúng ta một bài học bổ ích. Chúng ta cần phải biết làm gì để luôn nhớ tơi và trân trọng công lao to lớn của cha mẹ. Đọc lại bài ca dao,chúng ta càng thấm thía đạo lí làm người. Nguồn Edufly Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Bóng dừa
Giải thích ý nghĩa bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
604
Giải thích ý nghĩa của nhan đề bài thơ và khổ thơ đề từ trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Gợi ý Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam hiện đạỉ. Với tập "Điêu tàn", Chế Lan Viên đã xuất hiện giữa làng thơ như một "niềm kinh dị" (Hoài Thanh) Bấy giờ, Chế Lan Viên đang chìm trong nỗi cô đơn, đau khổ, ông chỉ muốn lảng tránh cuộc đời: Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa Để nơi đó tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo. Người ta thấy Chế Lan Viên chìm đắm trong mối suy tư siêu hình về cuộc đời. Sau cách mạng, hồn thơ Chế Lan Viên đã thay dổi. Ông đã tìm cho mình một niềm vui mới, một lẽ sống mới, một niềm hạnh phúc mới là từ bỏ nỗi cô đơn để hoà nhập với cuộc đời. Ông gọi quá trình từ bỏ ấy là một cuộc hành trình "từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui", hay mượn cách nói của một nhà thơ Pháp, ông gợi đó là "Từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả" "Tiếng hát con tàu" là tiếng hát của một tâm hồn trên hành trình ấy. Tác giả viết về quá trình đi đến với Tây Bắc, đến với nhân dân như là đến với cội nguồn của cuộc sống, cội nguồn của thơ ca. Chỉ đến với Tây Bắc, đến với nhân dân thì một con người mới tìm thấy ý nghĩa chân chính của cuộc sống, một thi sĩ mới tìm thấy nguồn cảm hứng đích thực của mình, bởi vì khi ấy hanh phúc của cá nhân là hoà nhập vào cuộc đời Cho đền hôm nay. chúng ta vẫn chưa có đường tàu lên Tây Bắc. Ấy thế mà Chế Lan Viên lại đặt tên cho bài thơ này là "Tiếng hát con tàu" và vẽ ra hình ảnh "con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?" Điều này có vẻ như điều phi thưc tế. Tuy nhiên, đó lại là một sáng tạo nghệ thuật của Chê Lan Viên bởi vì nhà thơ đã viết theo lối tượng trưng hoá. Tuy nhiên, mọi sáng tạo nghệ thuật không phải là hoàn toàn bất chấp thực tế. Lúc bấy giờ, chúng ta đang bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, xây dưng cuộc sông mới Trên khắp đất nước đang dấy lên những phong trào rầm rộ, những đoàn người, nhất là lớp trẻ đang hãng hái hành quân lên những miền xa xôi dể xây dựng kinh tế mới, xây dựng cuộc sống mới cho đất nước. Do vậy, nó đã làm bừng lên một không khí náo nức trên khắp mọi miền của đất nước. Chính điều này đã khiến cho Chế Lan Viên tìm đến hinh tượng một đoàn tàu hăm hở, khẩn trương để diễn tà cuộc hành trình. Xem thêm: Về câu ca dao: Uớc gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. Trong tâm tưởng của Chế Lan Viên củng đang diễn ra một cuộc đấu tranh Nhà thơ đang phải đấu tranh với chính mình để tìm kiếm một lẽ sống mới. Đó là sự từ bỏ những tư tưởng hẹp hòi, từ bỏ cái thế giới nhỏ hẹp của riêng mình để đến với những tư tưởng lớn. Nó thực sự là một hành trình trong tư tưởng, một cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy tin tưởng. Có lẽ vì thế mà Chế Lan Viên đã tỉm đến hình ảnh "Tiếng hát con tàu” để thể hiện cuộc hành trình tư tưởng của mình Cũng có thể thấy thêm một lý do nữa là các văn nghệ sĩ của chúng ta cũng đang tạm xa cuộc sống ở thủ đô đông vui để lên với những miền xa xôi của Tổ quốc mà thâm nhập thực tế, tìm hiểu cuộc sống. Tức là họ tìm về với nhân dân. Với những lý do ấy, Chế Lan Viên đã sáng tạo ra hình ảnh con tàu vừa thực vừa hư ảo để làm thành hình tượmg trung tâm của bài thơ này. " Tiếng hát con tàu" đã giúp cho Chế Lan Viên bày tỏ được lòng yêu nước nhiệt thành, lòng yêu cuộc sống đang rộng mở. Người ta thấy ở nó toàn bộ tinh thần trách nhiệm của một con người đối với nhân dân, Tổ quốc và một trách nhiệm của một thi sĩ với thơ ca. Nếu không dùng hình tượng ấy thì bài thơ chưa chắc đă có nhiều thành công như nó đã đạt được.Xem thêm: Viết đoạn văn tả bố đang làm máy tính Trong các tác phẩm ta thường hay gặp những lời đề từ có khi nó là một câu châm ngôn, có khi là một câu thơ, hay đơn giản chỉ là một câu văn nhưng có ý tường sâu sác. Có thể là của chính tác giả, có thể là của người khác nhưng nó được xem như là tiền đề. nó gợi hứng, gợi ý, gợi từ cho người viết nên cái tác phẩm ấy. Cũng có những lời đề từ không gắn bó trực tiếp với nội dung tác phẩm mà chi như một thứ trang sức. Nhưng có trường hợp lời đề từ có nghĩa như một chiếc chìa khoá giúp người đọc mở được tác phẩm. Trường hợp lời đề từ bài thơ "Tiếng hát con tàu" của Chế Lan Viên là như thế. Dường như Chế Lan Viên muốn giải thích sơ bộ ý nghĩa của các hình tượng được xây dựng trong bài thơ. Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu? Khổ thơ này, được viết theo lối lý giải định nghĩa. Một sự lý giải nghiêng về triết lý, biện chứng. Do đó, nó mang đậm chất trí tuệ. Chúng ta đọc lên thấy có một giọng hùng biện, trong đó Chế Lan Viên lý giải về ý nghĩa của hình tượng Tây Bắc và mối liên hệ giữa Tây Bắc với nhà thơ và Tổ quốc. Chừng như sợ rằng người đọc chỉ hiểu chữ Tây Bắc theo nghĩa hẹp, do đó, tác giả thuyết minh cho rõ những ý nghĩa mà mình muồn gắn cho Tây Bắc.Xem thêm: Nghị luận về ý kiến Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lai được: thời gian, lời nói và cơ hội- Văn 12 Tây Bắc vừa có nghĩa là Tây Bắc – miền đất cực Tây của Tổ quốc. Nhưng Tây Bắc không chỉ có nghĩa ấy: Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc? Mà Tây Bắc còn có nghĩa là những miền xa xôi của Tổ quốc, Tây Bắc còn là hiện thân của Tổ Quốc. Một thi sĩ đến với Tây Bắc cũng có nghĩa là đến với những miền xa xôi, cũng có nghĩa là đến với nhân dân và Tổ quốc. Ba ý nghĩa ấy dù sao chỉ mới nói đến một đối tượng trong quan hệ hướng ngoại. Chỗ độc đáo trong quan niệm của Chế Lan Viên còn ở chỗ ông thấy Tây Bắc là ở chính trong mình. Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu. Sở dĩ Tây Bắc là một hình tượng đa nghĩa như thế là bởi vì nhà thơ đã dùng biện pháp tượng trưng: biến một vùng đất cụ thể hạn hẹp thành một hình tượng có ý nghía khái quát, mang tính biểu tượng, bởi vì nhà thơ đã tìm thấy mối liên hệ giữa mình và cuộc sống. Mình là một con tàu đang hăm hở đến với cuộc đời, còn cuộc đời đang bừng lên một sức sống mới, đang mở lòng chào đón sự trở về của mình, nghĩa là cái tôi và cái ta đã hòa hợp với nhau, thì Tây Bắc không chi bó hep trong một địa danh, và lại Tây Bắc đâu phải là nơi sẽ đến mà là nơi trở về. Trở về với cuộc sống, với nhân dân như "nai về suối cũ", trở về với những kỷ niệm trong 9 năm kháng chiến, (có nghĩa là trở về với chính lòng mình) Tóm lại, đến với Tây Bắc là đến với tất cả. Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tồ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu? Vanmau.edu.vn
Giải thích ý nghĩa của nhan đề bài thơ và khổ thơ đề từ trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
1,448
Giải thích ý nghĩa nhan đề bài thơ và khổ thơ đề từ trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” (Chế lan Viên) Gợi ý Viết về nhân dân, viết về cuộc đời rộng lớn, đó là sứ mệnh thiêng liêng của nền văn học Việt Nam. Sứ mệnh ấy đã trở thành niềm khát vọng, niềm hạnh phúc đối với các nhà thơ lãng mạn – những người đã từng chìm sâu trong cái “tôi” nhỏ bé bế tắc. Để diễn tả niềm khát vọng và hạnh phúc ấy, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên bài thơ đặc sắc và độc đáo “Tiếng hát con tàu” – một bài thơ tiêụ biểu của tập “Ánh sáng và phù sa” viết năm 1960. Tây Bắc là chiến trường từng diễn ra những trận đánh quyết liệt giữa ta và Pháp, nổi tiếng nhất là trạn “Điện Biên lừng lẫy địa cầu”. Như Tố Hữu đã từng viết “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Hoà bình lập lại vào những năm 1959 – 1960, chúng ta có phong trào vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở Tây Bắc, làm giàu cho Tổ quốc. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã có mặt trên chuyên đi này và đã cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật phản ảnh cuộc sống tươi xanh ấy. Là nhà thơ Huy Cận với “Cô gái Hưng Yên đi mở mang Tây Bắc”, là Nguyễn Khải với “Mùa lạc”, Là Nguyễn Tuân với “Sông đà”, hay như “Lên miền Tây” của nhà thơ Bùi Minh Quốc: “Xe chạy nghiêng nghiêng trào dốc núi Lên miền Tây vời vợi nghìn trùng Ôi miền Tây dưới xuôi sao nghe nói ngại ngùng Mà lúc ra đi lửa lòng vẫn cháy Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy Dẫu xa xôi biết mấy cũng lên đường Sống ở Thủ dô mà dạ dể mười phương Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn” Trước Cách mạng, Chế Lan Viên đã từng đắm chìm trong cái “tôi”cô đơn bé nhỏ, bế tắc. Ông từng muôn xin “một vì sao trơ trọi cuối trời xa, để trên đó ngày đêm ta lẩn tránh”. Thế nhưng, khi gặp “ánh sáng của tư tưởng”, “phù sa của cuộc đời” ông đã cảm thấy như mình được cứu thoát, tâm hồn thơ Chế Lan Viên như “từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, tâm hồn thơ ấy đã luôn trăn trở, phấn đấu để hoà cái “tôi” nhỏ bé vào cái “ta” rộng lớn, muôn hướng cả tâm hồn mình về với nghệ thuật chân chính. Giờ phút ấy đối với Chế Lan Viên như một sự giác ngộ chân lý, giác ngộ một lẽ sống lớn. Hiện thực đã khởi nguồn cho cảm hứng vút bay, hồn thơ cùa nhà thơ đã trở thành con tàu tâm tưởng tràn đầy khát vọng, đang háo hức lên đường và muốn mở hết tốc lực trong hành trình đến với nhân dân, đến với đâ’t nước. Nhan đề “Tiếng hát con tàu” như một hình ảnh tư tưởng chủ đạo, tuy bài thơ được viết khi Chế Lan Viên đang nằm trên giường bệnh và đây chỉ là một chuyến đi trong tâm tưởng nhưng hình ảnh con tàu ấy đã trở thành biểu tượng cho khát vọng lên đường, đi xa, trở về với cuộc sông rộng lớn của đất nước và nhân dân, trờ về với những kỷ niệm đẹp đẽ, thắm thiết, trở về với ngọn nguồn của thơ ca chân chínhXem thêm: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu” Với Chế Lan Viên, Tây Bắc không chỉ là Tây Bắc mà còn là Tổ quốc bao la, là cuộc sống rộng lớn của nhân dân trên mọi miền đất nước đang vẫy gọi. Ngay từ những câu thơ đề từ, Chế Lan Viên đã tạo nên ý nghĩa và cảm hứng chủ đạo cho toàn bài thơ. Câu thơ mở đầu của khổ thơ đề từ súc tích nhưng cũng đã khẳng định được tư tưởng chính của tác giả khi viết bài thơ này. Không chỉ riêng Tây Bắc mà bất kỳ một vùng đất nào của Tổ quốc, nơi đã đế’ lại rât nhiều kỷ niệm, nhiều tình nghĩa yêu thương trong kháng chiến chông Pháp, nơi có cuộc sống cần lao của nhân dân, nơi đang mong đợi những cánh tay và tấm lòng đến để khai phá, xây dựng đều có một sức hấp dẫn và lôi cuốn với tất cả các nhà thơ. Tố Hữu ngày ấy cũng đã từng viết: “Đi ta đi, khai phá rừng hoang Hỏi núi non cao đâu sắt đâu vàng Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy Hồng Quảng, Lào Cai, Thái Nguyên, Việt Trì Tên đất nước reo vui bao tiếng gọi" Người nghệ sỹ một khi đã cảm nhận được tình yêu và trách nhiệm cúa mình là phải đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, kiến thiết Tổ quốc bằng những sang tác nghệ thuật miêu tá chân thật và hung hồn cuộc sống mới, con người mới, thì lúc đó, tâm hồn nhà thơ đã hoá những con tàu náo nức trong hành trình về Tây Bắc, về với đất nước, với cuộc sống xây dựng cần lao và anh dũng của nhân dân. Cuộc sống cần lao ấy là ngọn nguồn của thơ ca, hiện thực đời sống là cảm hứng vô tận cho sang tác, là đối tượng, chất liệu, từ đó làm nên những tác phẩm hay và ý nghĩa.Xem thêm: Viết bài giới thiệu về Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc Khi tiếng hát con tàu tâm tưởng của nhà thơ hoà nhập vổi tiếng hát rộn rằng, không khí xây dựng của Tổ quốc thì cũng chính là lúc người nghệ sỹ soi vào tâm hồn mình mà thấy cả đất nước, cẳ cuộc đời rộng lớn. “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”, cái “tôi” nhỏ bé đã hoà vào cái “ta” rộng lớn, thế giới cá nhân đã được gắn kết bởi thế giới cộng đồng. Nếu như trước Cách mạng, Chế Lan Viên chi soi mình nên không thấy bóng hình của Tổ quốc thì ở bài thơ này, ông đã viết “Chắng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”.Tâm hồn thơ Chế Lan Viên như thoát khỏi căn phòng bé nhỏ, “lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông”. Không phải ngẫu nhiên mà các bài thơ thường hay có câu thơ hay khổ thơ đề từ, những câu “đề từ” ấy thường có một ý nghĩa đặc biệt đối với các tác phẩm văn học. Nó nêu rõ ý đồ nghệ thuật và khơi nguồn cảm hứng sang tạo cho tác giả. Không phái ngẫu nhiên mà “Tràng giang” của Huy Cận lại được đề từ băng câu thơ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” để viết một bài thơ mang đậm cảm xúc không gian, vũ trụ, đất nước, cũng như vậy, “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên không phải bỗng dưng có khổ thơ đề từ hay như thế, khổ thơ ấy bao hàm cả cảm xúc, cả nỗi nhớ, cả tình yêu và lòng khát khao muốn cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước, là sự thống nhất và hoà hợp giữa cái “toi” và cái “ta”, “tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”.Xem thêm: Bình luận ý kiến sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Bải thơ “Tiếng hát con tàu” nằm trong truyền thống ca ngợi quê hương, đất nước. Sâu sắc ân tình và có nhiều những hình ảnh sang tạo mới lạ. “Tiếng hát con tàu” là một bài thơ hay, rất tiêu biểu cho hồn thơ Chế Lan wiên trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vanmau.edu.vn
Giải thích ý nghĩa nhan đề bài thơ và khổ thơ đề từ trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” (Chế lan Viên)
1,362
Giải thích ý nghĩa đoạn thơ trong bài Tiếng ru Gợi ý Tố Hữu là một nhà thơ lớn trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ ống toả sáng đến mọi tâm hồn vì dạt dào lòng nhân ái, vì chan chứa tình yêu thương giữa con người với con người mà tiêu biểu là bài Tiếng ru: Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời Con người muốn sống con ơi Phải yêu đồng chí yêu người anh em… Chúng ta nên hiểu đoạn thơ trên như thế nào? Các loài sinh vật muốn tồn tại và phát triển phải gắn bó với môi trường mình sống. Cũng như: Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời Mỗi mùa hoa nở rộ, chắc hẳn các bạn đều thấy loài ong bay lượn khắp nơi bởi lẽ hoa chính là nguồn sống của ong. Con ong làm mật để sống. Còn gì thích thú hơn khi ngắm nhìn đàn cá tung tăng bơi lội, thân hình lấp lánh dưới làn nước trong veo. Bầu trời xanh mênh mông và không khí thoáng đãng là môi trường sống của chim. Thật thanh bình khi trên nền trời chấp chới những đàn chim đang sải cánh và mỗi buổi hoàng hôn, ánh nắng hắt lên viền quanh cánh chim chiều thật rực rỡ. Cánh chim chắc phải yêu biết mấy bầu trời tự do, yêu biết mấy nơi sống của nó. Phải chăng vì vậy mà đã có một lần, Tố Hữu khóc thương con chim bị chết trong lồng vì bị mất tự do. Xem thêm: Miêu tả con vật ta yêu và thế giới loài vật quanh ta - Cảm nghĩ về con chó Rõ ràng hai câu thơ mở đầu đã nêu lên mối quan hệ tự nhiên giữa sinh vật và môi trường sống. Các loài vật tách rời khỏi môi trường sống thì sẽ chết, đó là quy luật tất yếu của tự nhiên. Đúng vậy, con cá không thể sống trên cạn, con ong không thể sống thiếu hoa, con chim không thể cất cánh trong lồng chật hẹp. Chỉ qua hai câu thơ, Tố Hữu đã để lại trong chúng ta nhiều suy nghĩ về tình cảm yêu thương, gắn bó với môi trường sống của mỗi loài. Nếu hai câu đầu nói về quy luật của tự nhiên, hai câu thơ sau nhà thơ khéo léo chuyển sang nói về cuộc sống con người: Con người muốn sống con ơi Phải yêu đồng chí yêu người anh em Bằng lời thơ ngọt ngào, tình cảm, tác giả đã khẳng định rằng con người không thể sống cô độc mà phải có tình yêu thương, yêu thương đồng chí và anh em của mình. Vậy trước hết, chúng ta phải hiểu đúng đắn thế nào là tình đồng chí, tình anh em. Nói đến tình đồng chí là nói đến tình cảm của những người bạn bè, những người cùng chí hướng và lí tưởng với mình. Tình đồng chí thể hiện mối quan hệ xã hội gắn bó mà chúng ta cảm thấy vừa thiêng liêng, vừa gần gũi. Nói đến đồng chí là nói đến những người luôn giúp đỡ nhau, yêu thương che chở cho nhau như những người ruột thịt. Cũng như thế, nói đến tình anh em, nhân dân ta ngày xưa đã có câu: Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương Anh em như thể chân tay Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần Tình cảm ấy từ xưa đã sâu nặng đối với mỗi người chúng ta. Đó chính là tình cảm anh em ruột thịt trong gia đình, tình cảm anh em trong họ hàng, làng xóm. Tại sao con người muốn sống thì "phải yêu đồng chí, yêu người anh em"? Câu hỏi ấy được trả lời qua nhiều thế hệ từ xưa đến nay. Tình đồng chí, tình anh em rất cần thiết đối với con người như con ong cần hoa, con cá cần nước, con chim cần bầu trời, chúng ta phải hiểu con người muốn sống thì phải yêu đồng chí, yêu người anh em. Thật bất hạnh khi con người không có tình yêu thương. Chính tình yêu thương đã quyết định sự tồn tại của con người. Dường như tình cảm ấy đã thấm sâu trong máu thịt của mỗi người. Con người không có tình yêu thương sẽ cô độc biết bao, lẻ loi biết bao. Người đó sẽ phải một mình chống lại tất cả khó khăn rồi cuối cùng sẽ gục ngã vì không có tình yêu thương hay nói đúng hơn là không được yêu thương. Như những năm đất nước ta còn bị chiến tranh, các chiến sĩ cách mạng sống cô đơn trong tù. Họ đã phải thốt lên: "Cô đơn thay là cảnh thân tù”, nhưng khi nghĩ đến đồng bào, đồng chí anh em, đến Tổ quốc thì dường như họ được tiếp thêm sức mạnh, giúp họ đứng vững trước khó khăn. Xem thêm: Hãy trình bày quan niệm của anh (chị) về hạnh phúc và cách có được hạnh phúc. Quả thật, tình yêu thương đã khiến con người đẹp hơn, vĩ đại và đáng kính trọng hơn. Rõ ràng để có được cuộc sống cao đẹp ấy, chúng ta phải biết yêu thương nhau, đùm bọc, che chở nhau, đoàn kết với nhau. Hãy giữ lấy tình cảm yêu thương giữa con người với con người bởi lẽ đó là nguồn gốc của mọi hạnh phúc cũng như con ong cần hoa, con cá cần nước, con chim cần bầu trời. Bản thân mỗi chúng ta cũng được hưởng tình yêu của người thân trong gia đình, của thầy cô, bè bạn. Đáp lại, chúng ta phải giúp đỡ, chan hoà với bạn, yêu kính bố mẹ, thầy cô và những người thân. Mỗi chúng ta hãy giữ gìn và trân trọng những tình cảm trong sáng ấy để tâm hồn mãi vui tươi. Bốn câu thơ mở đầu của bài Tiếng ru của Tố Hữu đã nêu lên một vấn đề xã hội rất lớn, đó là tình yêu thương của con người VỚI con người, có lòng yêu thương con người sẽ tồn tại và hạnh phúc. Có gì đẹp trên đời hơn thế Người với người sống để yêu nhau (Tố Hữu) Tố Hữu đã gửi gắm vào những vần thơ lời ca ngợi, lời khuyên nhủ mọi người hãy sống để yêu thương bởi tình yêu thương là cốt lõi của mọi tình cảm cao đẹp khác, bởi tình yêu thương làm cho con người sống ngày càng có ý nghĩa hơn. Bài thơ đúng là Tiếng ru của mẹ và mãi mãi lắng đọng trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Vanmau.edu.vn
Giải thích ý nghĩa đoạn thơ trong bài Tiếng ru
1,144
Giới thiêu sơ về bài thơ Qua Đèo Ngang Hướng dẫn Tác giả: Họ tên nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan là Nguyễn Thị Hình. Quê nữ sĩ ở làng Nghi Tàm, nơi trồng dâu dệt lụa nổi tiếng đất Kinh kì Thăng Long. Xuất thân trong một gia đình quyền quý; bà nổi tiếng là một người phụ nữ đoan trang quý phái, hay chữ, giỏi thơ quốc âm, rất khéo léo về nữ công gia chánh. Chồng bà là Lưu Nghi làm tri huyện tại huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình nên được người đời ái mộ gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà từng giữ chức nữ quan Cung trung giáo tập tại kinh đô Phú Xuân của triều Nguyễn. Trong cuốn ‘Văn đàn bảo giám’tuyển tập thơ do Trần Trung Viên sưu tập, Tản Đà viết lời giới thiệu xuất bản hơn 70 năm về trước có 6 bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan: ‘Qua Đèo Ngang’, ‘Chiều hôm nhớ nhà’, ‘Thăng Long thành hoài cổ’, ‘Chùa Trấn Bắc’, ‘Chơi đài khán xuân Trấn Võ’, ‘Tức cảnh chiều thu’. Thơ Bà Huyện Thanh Quan hay nói đến hoàng hôn đượm nỗi buồn li hương hoài cổ, ngôn ngữ trang trọng, trang nhã, nhạc điệu trầm bổng du dương; nghệ thuật tả cảnh ngụ tình rất tinh tế, điêu luyện. Hoàn cảnh ra đời: Giữa thế kỉ 19, Bà Huyện Thanh Quan đã đi vào Phú Xuân làm nữ quan Cung trung giáo tập của triều Nguyễn. Bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ đã được nữ sĩ viết khi trên đường thiên lí vào kinh, lúc lần đầu đi qua Đèo Ngang. Hai chữ ‘bước tới’ trong câu phá đề cho ta cảm nhận ấy. Thể thơ: Bài ‘Qua Đèo Ngang’ là bài thơ Nôm viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật; luật trác, vần bằng.Có năm vần thơ: ‘tà – hoa – nhà – gia – ta’. Nguồn: thêm: Thuyết minh về một thể loại văn học (Phú)
Giới thiêu sơ về bài thơ Qua Đèo Ngang
324
Giới thiệu bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu Gợi ý Phú sông Bạch Đằng là một bài phú nổi tiếng, là tác phẩm tiêu biểu cho thể phú của văn học Việt Nam. Tác giả của bài phú là Trương Hán Siêu. Chưa rõ năm sinh của ông nhưng theo sử liệu cho biết thì ông sống vào khoảng đầu thế kỉ XIII – thế kỉ XIV, mất năm 1354, tự là Thăng Phủ, quê ở thôn Phúc Am, xã Ninh Thành, nay thuộc thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”. Là người tài đức vẹn toàn nên khi qua đời, ông được thờ ở Văn Miếu. Tác phẩm của Trương Hán Siêu có: Bạch Đằng giang phú, Dục Thuý sơn Linh Tế tháp kí (Bài kí ở tháp Linh Tế trên núi Dục Thuý), Khai Nghiêm tự bi kí (Bài kí trên bia chùa Khai Nghiêm) và Cúc hoa bách vịnh… Thơ văn Trương Hán Siêu thể hiện tình cảm yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm đối với xã tắc của một người đề cao Nho học. Phú sông Bạch Đằng là loại phú cổ thể: mượn hình thức đối đáp “chủ – khách” để thể hiện nội dung, vận văn và tản văn xen nhau, kết thúc bằng một bài thơ. Loại phú cổ thể (có trước đời Đường) được làm theo lối văn biền ngẫi: hoặc lối văn xuôi có vần, khác với phú Đường luật (có từ đời Đường) có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ. Phú sông Bạch Đằng là bài phú thể hiện niềm hoài niệm về chiến công của các anh hùng dân tộc, nêu cao vai trò của yếu tố con người với tinh thần ngoan cường, bất khuất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận chủ đề: Biết và hiểu là cần để làm theo, đi theo, nhưng phải biết tưởng tượng mới sáng tạo được cái mới Tác phẩm có lẽ đã được Trương Hán Siêu sáng tác vào đời Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, khi nhà Trần suy thoái, có nguy cơ sụp đổ. Khi có dịp du ngoạn trên sông Bạch Đằng, một nhánh sông Kinh Thầy đổ ra biển nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng, nơi lưu dấu chiến tích lịch sử Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán và nhà Trần tiêu diệt quân Nguyên Mông, ông đã cảm khái mà làm thành bài phú này. Bài phú này có có kết cấu ba phần theo như lối kết cấu thường thấy ở thể phú: Phần mở đầu giới thiệu nhân vật, nêu lí do sáng tác (từ đầu cho đến dấu vết luống còn lưu). Phần nội dung tập trung vào nội dung đối đáp của nhân vật “khách” và các bô lão hai bên bờ sông (từ Bên sông các bô lão… cho đến Nhớ người xa chừ lệ chan). Phần kết thúc là lời từ biệt của của nhân vật “khách” bao gồm phần còn lại. Về nghệ thuật, bài phú có cách miêư tả khái quát, ước lệ kết hợp với tả thực trong đoạn mở đầu. Đó là việc nhắc đến các địa danh cổ như Nguyên Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt, đầm Vân Mộng… hay cách nói ước lệ như sóng kình, muôn dặm, đuôi trĩ, ba thu… Đan xen với đó là những cảnh thực hai bên bờ sông: cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng, bờ lau san sát, bến lách đìu hiu… Xem thêm: Kể tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm Thủ pháp liệt kê trùng điệp cũng được sử dụng hiệu quả trong suốt bài phú. Miêu tả không gian rộng lớn, thời gian liên hoàn, tác giả viết: giương buồm giơng gió…, lướt bể chơi trăng…, sớm gõ thuyền…, chiều lần thăm…. Viết như vậy nhằm làm nổi bật những kì tích của cha ông, gián tiếp bày tỏ lòng tự hào: Đây là chiền địa buổi Trùng hưng nhị thánh bắt ô Mã – Cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao, Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước đối… Các hình ảnh trong bài phú đốì nhau diễn tả không khí bừng bừng chiến trận (Thuyền bè muôn đội tinh kì phấp phới – Hùng hổ sáu quận, giáo gươm sáng chói), hay để miêu tả thế giằng co quyết liệt (Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ – Bầu trời đất chừ sắp dổi.) Tác giả đã lựa chọn hình ảnh, điển tích diễn tả nổi bật sự thất bại của quân giặc, khẳng định một cách trang trọng tài trí của vua tôi nhà Trần. Ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh đó trong những câu như: Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi, Hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã – Trận nào bằng trận Dụy Thuỷ: như quốc sĩ họ Hàn.. Trong đoạn một và đoạn hai, tác giả cũng đã phối vần rất khéo léo để tạo nên âm hưởng mênh mang diễn tả vẻ đẹp của Cồn sông và sự phóng khoáng trong thú tiêu dao của người khách.Xem thêm: Dàn ý cho bài viết: Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” ka-ra-ô-kê và internet trong giới trẻ hiện nay Hai nhân vật chính của bài phú cũng là biểu tượng của những tình cảm yêu mến, tự hào về dòng sông, về kì tích của cha ông thuở trước. Nhân vật “khách” chính là cái tôi của tác giả. Sông Bạch Đằng và những hoài niệm về chiến công trên dòng sông này đều xuất phát từ sự quan sát của nhân vật này. Qua sự quan sát ấy, nhân vật khách hiện lên với vẻ đẹp phóng khoáng, mạnh mẽ của bậc tráng sĩ: …chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều – Mà tráng sĩ bốn phương vẫn còn tha thiêt. “Khách” ấy cũng là người thích ngao du, thăm thú và tìm hiểu lịch sử dân tộc: Học Tử Trường chừ thú tiêu dao. Nhân vật “bô lão” lại là hình ảnh của tập thể, xuất hiện trong hình thức đối đáp ở đoạn hai như sự hô "ứng, qua đó tái hiện lại kì tích xa, bộc lộ niềm ngưỡng vọng, tự hào hùng tráng. Trong đoạn cuối bài, trong lời thơ, ‘‘“bô lão” và “khách” như hiện thân hô ứng của xưa – nay ca lên niềm tự hào về non sông hùng vĩ, bình luận về chiến thắng sông Bạch Đằng bằng khúc anh hùng ca về tinh thần ngoan cường, bất khuất của con người: Sông Đằng một dải dài ghê Sóng Hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông Những người bất nghĩa tiêu vong Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh. Phú sông Bạch Đằng là một áng văn yêu nước, là một tác phẩm có giá trị lớn về cả nội dung và nghệ thuật trong nền văn học nước nhà. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu
1,191
Giới thiệu bài thơ: Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm Gợi ý Hoàng Cầm là một thi sĩ đa tài: làm thơ, viết kịch, diễn kịch, ông thân sinh ra nhà thơ là một nhà nho nghèo đã từng thi trường Nam Định vài ba khoa nhưng không đậu nên phải đi dạy chữ Nho, bốc thuốc ở các nơi trong tỉnh Bắc Ninh. Mẹ Hoàng Cầm vốn là một cô gái xinh đẹp có tài hát dân ca Quan Họ, quê làng Bửu Xim, huyện Tiên Du, Hoàng Cầm đã từng giới thiệu: Tôi người làng Quan Họ Quê mẹ bên này sông Cách quê cha một dòng Nước trắng Bên kia sông Đuống ra đời vào tháng 4/1948 và được đăng lần đầu tiên trên báo "Cứu quốc". Sông Đuống còn gọi là sông Thiên Đức chia tỉnh Bắc Ninh ra làm 2 phần, Nam (hữu ngạn), Bắc (tả ngạn). Quê hương của Hoàng Cầm ở bên này hữu ngạn sông Đuống. Khi giặc Pháp chiếm đóng vùng đất này thì Hoàng Cầm đang công tác văn nghệ ở Việt Bắc. Hay tin giặc tàn phá quê hương mình, ông xúc động viết một mạch từ 12 giờ đêm đến gần sáng bài thơ nói trên với tâm trạng "niềm căm giận và thương cảm sâu sắc" như chính nhà thơ đã có lần tâm sự: Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Tường thuật một buổi lao động công ích của lớp em tại trường
Giới thiệu bài thơ_ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
245
Giới thiệu bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương Gợi ý Tựa “Trích diễm thi tập” là một bài tựa nổi tiếng của Hoàng Đức Lương. Ồng là người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, sau chuyển đến ở làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội. ông đỗ tiến sĩ năm năm 1478 và để lại một số tác phẩm có giá trị như: Trích diễm thi tập, đề tựa năm 1479, thơ chữ Hán ngày nay còn lại 25 bài chép trong Trích diễm thi tập, sau này được Lê Quý Đôn đưa vào Toàn Việt thi lục. Trong công việc biên soạn cũng như sáng tác, Trần Đức Lương bộc lộ một quan niệm thẩm mĩ tiến bộ. Đó là sự chú ý đến tính thẩm mĩ của văn chương. Tấm lòng yêu nước của ông được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm, ý thức trân trọng, giữ gìn di sản văn hoá dân tộc. Tựa là bài văn đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lí, hội hoạ, âm nhạc… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung, quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy. Bài tựa có thể do tác giả tự viết hoặc do một ai đó thích thú tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường có phần lạc khoản, ghi rõ họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng, địa điểm làm bài tựa. Bài tựa cũng thể hiện những quan điểm mang tính thời đại và của chủ quan người viết. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường được kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi mang sắc thái trữ tình. Bài. Tựa “Trích diễm thi tập” này nằm trong Trích diễm thi tập (1497), một tập thơ gồm sáu quyển do Hoàng Đức Lương sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến thời Tiền Lê.Xem thêm: Em hãy viết thư cho một người bạn để miêu tả phong cảnh quê hương em Bài tựa được chia làm hai phần. Phần thứ nhất, tác giả nêu lên lí do làm sách Trích diễm thi tập. Phần hai là quá trình hoàn thành tác phẩm. Ngoài ra còn phải kể đến phần Lạc khoản ở cuối bài tựa. Về nghệ thuật của bài tựa, đáng lưu ý Ịà sự mạch lạc hiếm có trong lập luận. Mạch lập luận rất sáng rõ, đi theo trình tự: Những lí do khiến thơ vãn không lưu truyền được, ý thức gìn giữ, tinh thần trân trọng di sản văn hoá dân tộc, công việc biên soạn sách. Những phân tích và trình bày lí lẽ được kết hợp với yếu tố biểu cảih làm tăng thêm sức thuyết phục cho những điều tác giả muốn diễn đạt. Bày tỏ thái độ đốì với thực trạng thất truyền của thơ văn, sách vở, ông thể hiện lòng tha thiết đối với vẻ đẹp của thơ văn; đặt ra những câu hỏi đầy day dứt, thể hiện sự xót xa trước thực trạng thơ văn không được lưu truyền và với những mặt trái của đời sống xã hội. Đoạn trích đồng thời thể hiện trực tiếp tinh thần tự trọng, ý thức dân tộc và niềm đau xót của cá nhân người viết. Những câu văn như Than ôi! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản, mà phải tỉm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường. Như thế chả đáng thương xót lắm sao? khiến lòng người cũng rưng rưng đồng cảm.Xem thêm: Phân tích, so sánh lời ca của “khách” kết thúc bài Phú sông Bạch Đằng với bài thơ Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang) của Nguyễn sưởng (bản dịch): "Mồ thù như núi, cỏ cây tươi...Nửa do sông núi, nửa do người." Về nội dung, tác giả bày tỏ quan điểm về những lí do khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời, chia sẻ những suy nghĩ thôi thúc mình biên soạn Trích diễm thi tập và quá trình biên soạn tác phẩm. Theo tác giả, có lí do khách quan và lí do chủ quan khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời. Thứ nhất, chỉ thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca. Thứ hai, người có học thì ít quan tâm đến thơ ca. Thứ ba, ngựời quan tâm đến thơ ca thì năng lực kém, không đủ kiên trì. Thứ tư, chính sách phát hành của nhà nước còn nhiều hạn chế. Ngoài ra thơ văn không lưu truyền được ở đời còn vì những lí do khách quan. Lí do này được tác giả phân tích trong đoạn từ Vì bốn lí do kể trên…” đến “… mà không rách nát tan tanh, cụ thể là: Thời gian làm hư nát sách vở, binh lửa chiến tranh tiêu huỷ. Xuất phát từ những bức xúc trong tình hình biên soạn sách về thơ ca Việt Nam ở thời của tác giả (các lí do khiến thơ văn không được lưu truyền) và suy nghĩ về trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hiến dân tộc đã khiến Hoàng Đức Lương chắp bút viết bài tựa. Quá trình biên soạn Trích diễm thi tập rất công phu. Đầu tiên phải sưu tầm, biên soạn sách thơ văn một công việc có nhiều khó khăn. Tiếp đến là thu lượm, chọn lấy những bài tiêu biểu, phân loại. Cuốì cùng là biên soạn thành sáu quyển, ở cuối mỗi quyển có tác phẩm do chính tác giả viết.Xem thêm: Tả loại quả em thích Tựa “Trích diễm thi tập” là một bài tựa – một tác phẩm văn học quý thể hiện một tấm lòng, một niềm tâm huyết lớn lao đối với nền văn học, văn hoá dân tộc. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương
997
Giới thiệu bài văn bia Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung Gợi ý Đất nước ta từ ngàn đời nay vốn là mảnh đất văn hiến. Từ quan đên dân, ai ai cũng trọng chữ nghĩa, học vấn. Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày nay còn lưu lại những bài văn bia nổi tiếng thể hiện ý chí học tập của kẻ sĩ, vai trò của người hiền tài đối với một quốc gia. Bài văn bia Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thần Nhân Trung là một bài vãn bia tiêu biểu cho ý nghĩa ấy. Thân Nhân Trung sinh năm 1418, mất năm 1499, tên chữ là Hậu Phủ, người Yên Ninh, Yên Dũng, nay thuộc tỉnh Bắc Giang, đỗ tiến sĩ năm 1469. Thân Nhân Trung từng là Tao đàn Phó Nguyên suý trong Hội Tao Đàn do Lê Thánh Tông sáng lập. Ngoài bài văn bia này ông còn sáng tác thơ. Bài trích Hiền tài là nguyên khí của quốc gia này nằm trong tác phẩm có tên là Bài kí đề danh tiên sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba, một trong 82 bài văn bia ở Văn Miếu, Hà Nội. Văn bia là loại văn khắc trên mặt đá nhằm ghi chép những sự việc trọng đại, hoặc tên tuổi, cuộc đời của những người có công đức lớn để lưu truyền cho đời sau. Bia có ba loại chính: bia ghi cồng đức, bia ghi việc xây dựng các công trình kiên trúc và bia lăng mộ. Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba thuộc loại văn bia đề danh, ghi công đức. Bia ghi công đức thường có phần tựa nêu lên lí do, quá trình làm bia; có phần ghi ngày tháng, họ tên người làm bia (viết bằng văn xuôi) và phần minh (viết bằng văn vần). Dần dần, phần tựa hoặc kí trở thành nội dung quan trọng nhất, thể hiện tư tưởng, quan điểm của người dựng bia. Bài văn bia này giữ vai trò như một lời tựa chung cho cả 82 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu.Xem thêm: Vẻ đẹp trong bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão Việc dựng bia “đề danh tiến sĩ” ở Văn Miếu nhằm những mục đích vô cùng tốt đẹp: Để lưu danh hiền tài muôn đời, thể hiện sự coi trọng, đề caọ hiền tài của “thánh minh”; để kẻ sĩ trông vào những gương hiền tài được lưu danh mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Việc lưu danh bia đá không những để nêu gương mà còn để nhắc nhở và kêu gọi kẻ sĩ tự rèn đức luyện tài, công hiến cho đất nước. Việc lập bia lưu danh tiến sĩ là việc làm hết sức có ý nghĩa: kẻ ác lấy đó mà răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Bài văn bia này được Tiến sĩ Thân Nhân Trung viết năm 1484, thời Hồng Đức. Trước phần trích có một đoạn dài kể việc từ khi Lê Thái Tổ dựng nước (1428 – 1484), tuy các vua Lê thuở ấy đều chú ý bồi dưỡng hiền tài nhưng chưa có điều kiện dựng bia tiến sĩ. Sau phần trích là danh sách 33 vị đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất. Đoạn trích được chia làm hai phần. Phần một từ Tôi đầu nông cạn… cho đến …làm đến mức cao nhất. Phần này nêu lên giá trị của hiền tài đối với đất nước. Phần hai bao gồm phần còn lại nhằm nêu ý,nghĩa của việc dựng bia, khắc tên người hiền tài.Xem thêm: Giải thích câu ca dao: “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” Kết cấu đoạn trích có một số điểm đáng lưu ý. Mà đầu đoạn văn tác giả khẳng định vị trí “nguyên khí” của người hiền tài đối với quốc gia và kết thúc cũng khẳng định vai trò “củng cố mệnh mạch cho nhà nước”. Đây là lối kết cấu đồng tâm, nhằm nhấn mạnh vai trò của người hiền tài đốì với quốc gia và khẳng định mục đích của việc dựng bia đề danh Khẳng định Hiền tài là ngụyèn khí của quốc gia, tác giả đã phân tích vaí trò của người hiền tài đối với vận mệnh của đất nước, đồng thời cũng chỉ rõ mục đích tốt đẹp của việc đề danh tiến sĩ. Tác giả nói đến hiền tài là để chỉ những người có tài cao, học rộng vă có đạo đức. Hiền tài là nguyên khí, nghĩa là khẳng định những người có tài cao, học rộng và có đạo đức chính là khí chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội. Mối quan hệ giữa hiền tài đối với vận mệnh đất nước là vô cùng mật thiết. Người hiền tài có vại trò quyết định đến sự thịnh – suy của một đất nước, hiền tài dồi dào thì đất nước hưng thịnh, hiền tài cạn kiệt thì đất nước suy yếu. Như vậy, muốn cho nguyên khí thịnh, đất nước phát triển thì không thể không chăm chút, bồi dưỡng nhân tài.Xem thêm: Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương. Nghệ thuật diễn đạt mà tác giả sử dụng đã làm nổi bật vai trò, mối quan hệ mật thiết của người hiền tài đốì với quốc gia. Chẳng hạn phép lập luận đối lập:… nguyên khí thịnh thỉ thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Hay phép liệt kê, trùng điệp đốì lập cũng được dùng một cách hiệu quả: kẻ ác lấy đó mà răn, người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước. Bài văn bia Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung chứa đựng nhiều tư tưởng tiến bộ có tác dụng khuyến khích cho giáo dục phát triển. Với ý nghĩa ấy, vượt ra khỏi khuôn khổ một bài vãn bia thông thường, bài kí đã trở thành một tác phẩm văn học có giá trị lâu bền. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu bài văn bia Hiền tài là nguyên khí của quốc gia của Thân Nhân Trung
1,107
Giới thiệu Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Gợi ý Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong những câu chuyện đặc sắc của Nguyễn Dữ, được trích ra từ tập truyện nổi tiếng mang tên Truyền kì mạn lục. Cũng giống như rất nhiều các câu chuyện khác trong Truyền kì mạn lục, đây là câu chuyện Nguyễn Dữ đã dựa vào những tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ… tái tạo lại thành một thiên truyện mới. Truyện được viết bằng tản văn, cuối truyện là lời bình của tác giả về thiện truyện cũng giống như lời răn dạy để lại cho hậu thế. Nội dung chính của câu chuyện như sau: Ở huyện Yên Dũng đất Lạng Giang có một người tự Ngô Tử Văn, tên Soạn, tính tình thẳng thắn, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được.. Trong làng có một ngôi đền trước kia rất linh thiêng nhưng từ khi có viên Bách Hộ, bộ tướng của Mộc Thạch, quân Ngô sang cướp nước ta bị chết trận gần đền biến thành yêu quái thì, đều trở thành nơi trú ngụ của hắn. Tử Văn giận lắm nên một hôm tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đôt đền. Hành động ấy làm ai nấy kinh hãi. Đốt đền xong chàng trở về nhà thì thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run rồi nổi lên cơn sốt nóng, sốt rét. Trong khi sốt chàng thấy một người quần áo rất giống người phương Bắc, tự xưng là cư sĩ đến doạ nạt đòi trả lại đền. Nhưng Tử Văn vẫn cứ ngất ngưởng tự nhiên không hề sợ hãi. Đến chiều tối lại gặp một ông già áo vải mũ đen, phong độ nhàn nhã tự xưng là Thổ Công trước kia của ngôi đền đến kể sự tình. Thì ra, kẻ kia chính là linh hồn tên tướng bại trận còn bơ vơ ở Nam quốc, tranh chiêm miếu đền, tác oai, tác quái. Người ấy đến báo trước cho Tử Văn mưu kế của tên yêu quái và chỉ cho chàng con đường định liệu. Đến đêm, bệnh tình Tử Văn càng nặng thêm, rồi thấy có hai con quỉ sứ đến bắt đi rất gấp. vốn là một người gan dạ, chuộng điều nghĩa khí lại đoán trước sự tình nên Tử Văn không hề sợ hãi mà kêu to lên rằng: “Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội gì xin bảo cho, không nên bắt chết một cách oan uổng”. Diêm Vương nghe thấy mà đưa vào trong diện xét hỏi. Tử Văn bèn tâu trình đầu đuôi câu chuyện như lời thổ công, lời nói rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào khiến cho Diêm Vương phải sinh nghi. Đến khi Tử Văn đề nghị Diêm Vương sai đem tư giấy đến đền Tản Viên đê tra rõ sự tình thì hồn ma của tên giặc phương Bắc mới sợ hãi mà cúi đầu nhận tội. Sự thật ở đền Tản Viên được Diêm Vương chứng thực, kẻ kia bị sai bỏ vào giam trong ngục Cửu u. Tử Văn trở về nhà mới biết té ra mình đã chết hai ngày, nhân đem những việc đã qua kể lại cho người trong làng, ai cũng kinh hãi, đón một bà đồng về phụ bóng nói y như lời Tử Văn mới dám tin là thật. Một tháng sau, Thổ công đến báo cho Tử Văn việc chàng được Đức Thánh Tản cho nhận chức phán sự trên núi Tản Viên. Chàng vui vẻ nhận lời rồi không bệnh mà mất. Người quen cũ sau đã có lần gặp lại chàng đi mây cưỡi mây gió đi làm công việc. Con cháu Tử Văn sau này được dân gian truyền gọi là con cháu nhà “quan phán sự”.Xem thêm: Bình luận về ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai - giếng nước trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy Thông qua hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn, truyện đề cao tinh thần khảng khái, cương trực, dám đâu tranh chống lại cái xấu, cái ác trừ hại cho dân. Đồng thời, truyện cũng thể hiện niềm tin vào công lí và chính nghỉa nhát định sẽ chiến thắng gian tà. Cũng giống như rất nhiều những tác phẩm khác nữa trong Truyền kì mạn lục, truyện đã vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích bọn tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục. Câu chuyện phản ánh hiện thực thối nát trong xã hội một cách có ý thức, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn. Hồn ma của viên Bách Hộ thì tác oai, tác quái nhân dân, trong khi đó, những đền miếu gần quanh, vì tham của đút nên cũng đều bênh vực cho hắn cả. Xã hội ở cõi âm nhưng cũng chính là sự phản ánh cho thực tại chế độ phong kiến mục ruỗng và thôi nát thời bấy giờ. Truyện có giá trị hiện thưc vì nó phơi bày được những tệ lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá của con người, tỏ niềm cảm thông với nỗi khổ cũng như những ước mơ, khát vọng của con người. Về mặt nghệ thuật, tác phẩm của Nguyễn Dữ cũng đạt được những thành công nhất định. So với các tác phẩm truyền kì trước đó và cùng thời, Truyền kì mạn lục nói chung và Chuyện chức phán sự đền Tản Viên nói riêng có nhiều thành tựu, đặc biệt là về nghệ thuật dựng chuyện và xây dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện kí lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vàọ nội tâm nhân vật. Tác phẩm thường kết hợp tài tình và nhuần nhuyễn những phương thức tự sự, trữ tình và ca kịch, giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật nghệ thuật, giữa văn xuôi, biền ngẫu và thơ ca. Truyện có nghệ thuật kê chuyện lôi cuốn, nhân vật được xây dựng sắc nét, tình tiết và diễn hiến truyện phức tạp, giàu kịch tính, lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hoà và sinh động. Tất cả làm nên giá trị sâu sắc và để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.Xem thêm: Phân tích nhân vật Uy-lít-xơ trong trích đoạn: Uy-lít-xơ đấu trí, đấu lực với Pô-li-phemChuyện chức phán sự đền Tản Viên đã góp phần làm nên một Truyền kì mạn lục là mẫu mực của thể truyền kì, là thiên cổ tuỳ bút, áng văn hay của bậc đại gia, tiêu biểu cho những thành tựu của loại hình văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng sáng tác dân gian của dân tộc. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
1,198
Giới thiệu cuộc thổỉ cơm thi ở hội Hành Thiện, Nam Định Gợi ý Cuộc thi nấu cơm tại hội Hành Thiện, Nam Định mỗi năm tổ chức một lần. Đây là cuộc thi nấu cơm dành riêng cho nam giới. Mỗi nhóm hai người, xếp thành hàng ngang. Một người buộc cành tre dẻo, dai vào lưng, ngọn tre cao hơn hẳn đầu. Trên ngọn tre treo sẵn một niêu cơm. Người kia có nhiệm vụ đun nấu. Khi có hiệu lệnh, người nấu phải nhanh chóng dùng hai thanh nứa già tạo ra lửa rồi châm vào bó đuốc hơ dưới đáy niêu. Cả hai người phải vừa nấu vừa bước quanh sân đình. Hết tuần hương, ai có niêu cơm chín đều, dẻo ngon thì thắng cuộc. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Viết một bức thư ngắn (khoảng 10 dòng) cho một người thân nói về ước mơ của em (ước mơ làm cảnh sát hình sự)
Giới thiệu cuộc thổỉ cơm thi ở hội Hành Thiện, Nam Định
154
Giới thiệu hội thổi cơm thi làng Phù Đổng Gợi ý Trong các lễ hội truyền thống còn lại cho đến ngày nay thì hội thổi cơm thi ở thôn Lương Quy, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh có thể coi là độc đáo và hấp dẫn nhất. Cuộc thi được trịnh trọng tổ chức tại sân đình với 4 giáp đấu chia theo: Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi giáp cử năm chàng trai khoẻ mạnh, mặc áo the đen, đội khăn nhiễu, thắt lưng bằng đai xanh, ba cô gái mặc áo mớ ba, quần lĩnh, yếm đào, lưng thắt khăn điều. Khi có trống hiệu lệnh lần một, các chàng trai, cô gái ra mắt dân làng. Trống hiệu lần hai cờ phất lên, các chàng trai chia ba đạo quân như ngày xưa đánh giặc Ân. Trống lần ba, cuộc thi mới chính thức bắt đầu. Các thiếu nữ trổ tài têm trầu cánh phượng còn các chàng trai thể hiện kĩ thuật nấu bếp: gánh nước, nổi lửa nhanh, giã gạo, vo gạo… Khi nồi cơm được đưa lên bếp thì nó được kẹp chặt bằng những thanh tre già. Trong tiếng trống rộn ràng, tiếng cổ vũ của người xem, từng giáp một vừa đi vừa thổi cơm vòng quanh sân đình, người cầm bó đuốc, người cầm nồi cơm, người canh chừng cơm sôi, cứ như thế cho đến khi hết thời gian và phần đóm quy định. Sau đó, họ dùng khăn ướt nắm cơm thành từng nắm. Cơm của đội nào chín đều, thơm dẻo và các công đoạn thực hiện tốt sẽ được chấm giải nhất và được nhận phần thưởng của làng.Xem thêm: Hãy cho biết cảm nghĩ của em về những gì khiến em xúc động hơn cả trong mấy bài ca dao về thân phận người lao động nghèo khổ đã họcVanmau.edu.vn
Giới thiệu hội thổi cơm thi làng Phù Đổng
312
1. Giới thiệu khái quát thể thơ Đường luật trong văn học Việt Nam… Đọc Tỏ lòng, anh (chị) rút ra được bài học gì Gợi ý Đề bài: 1. Giới thiệu khái quát thể thơ Đường luật trong văn học Việt Nam. 2. Hãy cho biết con người của thời đại, dân tộc được khắc họa trong bài thơ Tỏ lòng với những vẻ đẹp nào. Hãy phân tích. 3. Nhận xét sự sáng tạo về nghệ thuật của tác giả Phạm Ngũ Lão trong bài thơ Tỏ lòng. 4. Phân tích vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trữ tình được khắc họa trong bài thơ Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) và Nỗi lòng (Đặng Dung). 5. Đọc Tỏ lòng, anh (chị) rút ra được bài học gì? Hướng dẫn: 1. Bài giới thiệu thể thơ Đường luật cần cung cap các thông tin về thể loại đầy đủ, chính xác, giúp người đọc có hiểu biết cơ bản về thể loại này. Thơ Đường luật có ba dạng chính: thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ tuyệt cú (mỗi bài bốn câu) và thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật). Trong đó, thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ) được coi là dạng cơ bản, vì từ đó có thể suy ra tất cả các dạng khác của thơ Đường luật. Cấu tạo của thơ thất ngôn bát cú như sau: – về bố cục, bài thất ngôn bát cú gồm bôn phần: đề, thực, luận, kết. Trong đề, câu thứ nhất là phá đề, câu thứ hai là thừa đề. Phá đề mở ý của bài thơ, thừa đề tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài. Thực gồm câu thứ ba và thứ tư, còn gọi là thích thực hay cập trạng, giải thích rõ ý của đề bài. Luật gồm câu thứ năm và thứ sáu, phát triển rộng ý của đề bài. Kết gồm hai câu cuối, kết thúc ý toàn bài. – Về cách đối: Đối ở phần thực và phần luận. – Về cách gieo vần: thơ Đường luật chỉ gieo một vần và chỉ gieo vần bằng (vần nằm ở các câu 1, 2, 4, 6, 8). Riêng chữ cuối ở câu thứ nhất, đặc biệt là ở câu ngũ ngôn, có thể gieo vần hoặc không…Xem thêm: Bàn về Tiền Ngô Vương(Theo Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tái bản lần thứ ba, năm 2000, tr.265) 2. Hình tượng người tráng sĩ được khắc họa trong Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) là hình ảnh cụ thể của con người thời Trần, tiêu biểu cho khí phách, tinh thần dân tộc. Hình tượng đó được khắc họa với những vẻ đẹp: – Tư thế “hoành sóc” – cầm ngang ngọn giáo, hiên ngang, vững chãi, kiêu hùng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ non sông, đất nước. Nên không gian “giang sơn”, thời gian “kháp kỉ thu” làm cho hình tượng người tráng sĩ mang tầm vóc lớn lao, kì vĩ. – Khí thế của “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” là khí thế vang dội đến tận trời, “át sao Ngưu”. Đó là khí thế của đoàn chiến binh anh hùng ra trận. Việc miêu tả khí thế của đoàn quân làm cho lời thơ có âm vang hào hùng của thời đại ba lần chiến thắng giặc Mông – Nguyên xâm lược. – Ý chí theo đuổi sự nghiệp chưa thành “Nam nhi vị liễu công danh trái – Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”. “Công danh” được coi là chí hướng lập thân, lập nghiệp, là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai, là nghĩa vụ với đời, với dân, với nước mà các trang nam nhi phải thực hiện. Quan niệm về công danh ấy có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng hi sinh, chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao – sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Chưa lập được công danh, người trai thời Trần Phạm Ngũ Lão mang nỗi hổ thẹn chưa có được trí tuệ uyên thâm và tài mưu lược như Gia Cát – Khổng Minh thời Tam quốc. Đó là nỗi thẹn của người “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” (Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc) – nỗi thẹn của một nhân cách lớn.Xem thêm: Phân tích hinh ảnh Đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu 3. Nhận xét về sự sáng tạo nghệ thuật của bài thơ Tỏ lòng: – Sáng tạo trong việc xây dựng, khắc họa hình tượng nghệ thuật: + Hình tượng người tráng sĩ được khắc họa trong không gian rộng lớn, thời gian lịch sử, hình ảnh thơ hoành tráng, thích hợp với việc tái hiện khí thế hào hùng của thời đại và tầm vóc, chí hướng của người anh hùng. + Hình tượng người tráng sĩ được khắc họa trong hình ảnh đoàn quân thời Trần. Thời đại và con người có quan hệ mật thiết, thời đại làm cho mỗi người lớn lên, mỗi người lại góp phần tạo nên hào khí thời đại – hào khí Đông A. – Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, có sự dồn nén cao độ về cảm xúc. 4. Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung là những bậc anh hùng của dân tộc. Trong lĩnh vực thơ ca, họ để lại những tác phẩm văn học còn mãi với thời gian. Hình tượng nhân vật trữ tình trong các tác phẩm Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) và Nỗi lòng (Đặng Dung) cho chúng ta hiểu và thêm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc. – Dễ dàng nhận thấy rằng hình tượng nhân vật trữ tình trong Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) và Nỗi lòng (Đặng Dung) là những bậc anh hùng. Có thể coi đó là những bức chân dung của Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung về phương diện tinh thần. Chí khí, tình cảm lớn của những vị tướng từng lập nên những chiến công hiển hách trong cuộc đời đã làm nên giọng điệu hào hùng, cảm khái trong những bài thơ này. Tuy nhiên, sự độc đáo của mỗi hình tượng đã làm nên sức hấp dẫn cho những tác phẩm này. – Hình tượng nhân vật trữ tình trong Tỏ lòng là người tráng sĩ thời Trần. Mọi yếu tố đều góp phần khắc họa hình ảnh con người với những biểu hiện của ý chí, kể cả những chi tiết miêu tả tư thế, vóc dáng “Hoành sóc giang san”. Nền cảnh mang tính chất thời đại được khắc họa thấp thoáng hình ảnh đoàn “tam quân” đầy khí thế. Tính chất tượng trưng, ước lệ của thơ cổ được sử dụng nhằm phản ánh hiện thực thời đại với những câu chuyện về đoàn quân ra trận thích vào cánh tay mình hai chữ “Sát Thát”, về Trần Quôc Toản tuổi niên thiếu mà chí lớn hơn người… Trên nền cảnh đó, xuất hiện hình ảnh cận cảnh một người tráng sĩ nung nấu trong lòng chí làm trai, trăn trở vì chưa làm nên nghiệp lớn theo gương Vũ hầu. Hai hình ảnh – một viễn cảnh – “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”, một cận cảnh – người tráng sĩ, nhưng lại nâng đỡ cho nhau: thời đại làm cho mỗi người lớn lên, lại góp phần tạo nên hào khí thời đại – hào khí Đông A.Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về tính độc lập, tự chủ trong học tập– Hình tượng nhân vật trong Nỗi lòng của Đặng Dung là hình tượng của cảm xúc. Đặng Dung đã đem nỗi lòng của mình mà tạo nên hình tượng người anh hùng. Mối liên hệ giữa con người ngoài đời và con người trong thơ – hình tượng nhân vật trữ tình, đã được Lí Tử Tấn nhận xét là “phi hào kiệt chí sĩ bất năng” (Không phải là kẻ hào kiệt, người có chí khí thì không làm nổi). Trong đó, không gian, thời gian dài dặc, vô tận, con người với hoài bão “xoay trục đất lại”, “kéo tuột sông Ngân xuống” rửa vũ khí, mài gươm dưới ánh trăng để trả nợ nước tạo nên tầm vóc của hình tượng mang tính chất sử thi. Tuy nhiên, cái bí của hình tượng người anh hùng trong Nỗi lòng của Đặng Dung chính là điểm khác biệt với hình tượng người anh hùng trong Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão. Nghệ thuật đối góp phần thể hiện nỗi buồn lớn và suy nghĩ mang tính chất triết lí sâu sắc từ những trải nghiệm cuộc đời của người anh hùng không gặp thời. 5. Tỏ lòng thể hiện lí tưởng cao cả của vị danh tướng Phạm Ngũ Lão đồng thời khắc ghi dấu ấn đáng tự hào về một thời oanh liệt, hào hùng của lịch sử dân tộc. Ý nghĩa của văn bản được rút ra như một bài học đôì với HS. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu khái quát thể thơ Đường luật trong văn học Việt Nam… Đọc Tỏ lòng, anh (chị) rút ra được bài học gì
1,530
Giới thiệu khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Tình cành lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm) Gợi ý Chinh phụ ngâm nguyên văn chữ Hán, do Đặng Trần Côn viết, Đoàn Thị Điểm biên dịch là một trong những sáng tác tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVIII. Có thể nói, mọi giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện thơ đều được thâu tóm trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Đoạn trích gồm hai mươi bốn câu tập trung thế hiện nỗi khổ đau của người chinh phụ sống trong cảnh xa cách người chinh phu. Nỗi khổ đau xuất phát từ tâm trạng cô đơn và niềm mong muốn tha thiết được sống trong tình yêu lứa đôi nhưng người chồng cứ xa vắng biền biệt. Sự cô đơn, buồn khổ của người chinh phụ được tác giả diễn tả bằng rất nhiều cung bậc cảm xúc. Có khi là nỗi buồn sầu trong cô độc, một mình giữa cuộc đời: – Đèn có biết dường bằng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. Buồn rầu chẳng nói nên lời… – Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa Có khi là sự chán chường, là sự miên man, mơ màng, không tập trung đến độ soi gương mà nước mắt chảy khiến cho hình trong gương bị nhoè mờ: Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Có khi là mối dự cảm về điều không may mắn của tình cảm vợ chồng:Xem thêm: Hãy tóm tắt vở chèo Kim NhanSắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng Tất cả mọi cung bậc buồn khổ ấy được lí giải từ là tâm trạng thao thiết nhớ nhung, muốn được sống trong tình yêu đôi lứa trọn vẹn: Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời. Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong… Bi kịch mà người chinh phụ phải chịu đựng có thể lí giải từ cuộc chiến trành phi nghĩa mà chinh phụ đang xông pha. Cảm thông, chia sẻ với nỗi cô đơn, buồn khổ của con người, đoạn trích không chỉ biểu hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc của người viết mà còn thể hiện thái độ chông chiến tranh phi nghĩa một cách khách quan. Đó chính là giá trị nội dung toát lên từ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Tất nhiên, nội dung đó không tự nó cất lên tiếng nói mà được thực hiện bằng những biện pháp nghệ thuật cụ thể. Giá trị nghệ thuật của đoạn trích chủ yếu được kết đọng trong các thủ pháp nghệ thuật tả nội tâm. Nhờ đó, cái vô hình (nội tâm con người) được hiển hiện, hữu hình thành bức tranh sinh động. Có lúc nội tâm nhân vật được diễn tả qua dáng mặt buồn dầu, không nói nên lời (ngoại hình). Người chinh phụ soi gương nhìn khuôn mặt mình mà đẫm lệ. Có lúc nội tâm được tả qua hành động lặp đi lặp lại:Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về hình ảnh ngọc trai - giếng nước trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng ThủyDạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Người chinh phụ rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại trong hiên vắng như để chờ đợi một tin tốt lành báo người chồng sắp trở về mà không nhận được một tin tức nào. Cách tả này cho thấy sự tù túng, bế tắc của người chinh phụ. Nội tâm của nhân vật còn được diễn tả qua ngoại cảnh. Đọc đoạn trích, có thể thấy người chinh phụ chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác. Ngọn đèn khiến cho không gian mênh mông và sự cô đơn của con người gia tăng thêm. Thêm vào đó, tiếng gà gáy được miêu tả làm tăng thêm ấn tượng vắng vẻ, tịch mịch. Và cuối cùng, bóng cây hoè trong đêm gợi cảm giác hoang vắng, cô đơn đáng sợ: Hoa đèn kia với bóng người khá thương. Gà eo óc gáy sương năm trống, Hoè phất phơ ru bóng bốn bền: Để diễn tả nội tâm người chinh phụ, tác giả còn tả các hành động diễn ra trong phòng. Chinh phụ gượng đốt hương để tìm sự thanh thản, song tâm hồn lại mê man. Nàng gượng soi gương để trang điểm song nhìn thấy gương mặt mình thì lại ứa nước mắt. Nàng đem đàn cầm ra gảy thì lại sợ dây đàn chùng hay đứt, báo điềm gở trong tình vợ chồng:Xem thêm: Cảm nhận về câu ca dao: Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.Sắt cầm gượng gẩy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng. Việc đặt nhân vật trữ tình vào không gian có tầm vóc vũ trụ cũng là một cách thể hiện hội tâm nhân vật một cách đắc dụng. Các hình ảnh núi non, trờị đất gợi sự xa xôi cùng với cảm giác lạnh lẽo toát ra từ các hình ảnh sương gió, mưa, tiếng côn trùng đều góp phần thể hiện nỗi cô đơn, buồn nhớ. Tất cả các thủ pháp nghệ thuật đó cùng tập trung diễn tả thành công nội tâm của nhân vật. Thể thơ song thất lục bát rất phù hợp để đáp ứng yêu cầu diễn tả nội tâm đó. Có thể thấy giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích cũng chính là giá trị nội dung, nghệ thuật của Chinh phụ ngâm. Nói cách khác, Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là kết tinh nội dung và nghệ thuật của toàn tác phẩm. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Tình cành lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm)
1,005
Giới thiệu khái quát về tác giả Hê-ming-uê và tác phẩm ông già và biển cả Gợi ý Ơ-nix Hê-ming-uê (1899 – 1961) là nhà văn Mĩ đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung. Người thanh niên ấy bước vào đời với nghề viết báo và làm phóng viên mặt trận cho tới kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II. Tác phẩm chính: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), chuông nguyện hồn ai (1940), Trong thời đại chúng ta (1925),… Ông già và biển cả (1952) ra mắt bạn đọc trước khi Hê-ming-uê được nhận Giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1954, là một kết tinh tiêu biểu của những nét mới mẻ trong lối kể chuyên của Hê-ming-uê. Truyện kể lại ba ngày hai đêm ra khơi đánh cá của ông lão Xan-ti-a-gô. Trong khung cảnh mênh mông trời biển, chỉ có một mình ông lão, khi chuyện trò với mây nước, chim cá, khi đuổi theo con cá lớn, khi đương đầu với đàn cá mập đang xông vào xâu xé con cá kiếm của lão, để rốt cục, kéo vào bờ một con cá chỉ còn trơ xương… Thời gian, nhân vật dường như được thu hẹp đến mực cực hạn, nhưng câu chuyện cực kì đơn giản ấy lại gợi mở nhiều tầng ý nghĩa cho người đọc: một cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời, hành trình nhọc nhằn và dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình, thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi ước mơ sáng tạo, rồi trình bày nó trước mắt người đời, mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên,… Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang DũngBởi vậy, đúng như hình ảnh về tác phẩm nghệ thuật mà Hê-ming-uê đã từng so sánh và phấn đấu để sáng tạo, tác phẩm này giống như một tảng băng trôi. Ông già và biển cả xuất hiện trên phần nổi của ngôn từ không nhiều, lối viết giản dị song phần chìm của nó rất lớn, bởi đã gợi lên nhiều tầng ý nghĩa mà người đọc sẽ rút ra được tùy theo thể nghiệm và cảm hứng trước hình tượng đó là biểu hiện của nguyên lí sáng tác do nhà văn đề ra: tác phẩm nghệ thuật như một tảng băng trôi. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu khái quát về tác giả Hê-ming-uê và tác phẩm ông già và biển cả
443
Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài và tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” Gợi ý Tô Hoài sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nhưng sinh ra ở quê ngoại – làng Nghĩa Đô, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông trong một gia đình thợ thủ công. Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều nghề để kiếm sông, như: dạy trẻ, bán hàng, làm kế toán hiệu buôn,… và nhiều khi còn thất nghiệp. Tô Hoài bước vào con đường văn học bằng một số bài thơ có tính chất lãng mạn và một cuốn truyện vừa, viết theo dạng võ hiệp, nhưng rồi ông nhanh chóng chuyển sang văn xuôi hiện thực và được chú ý ngay từ những sáng tác đầu tay, trong đó có truyện đồng thoại Dế Mèn phiêu lưu kí. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông làm báo và hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ ở Việt Bắc. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có gần 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kì, tiểu thuyết, kí, hồi kí, tự truyện, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Năm 1996, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính: Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện đồng thoại, 1941), ổ chuột (tập truyện, 1942), Nhà nghèo (tập truyện, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Cát bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (hồi kí – tự truyện, 1999), và gần đây nhất là tiểu thuyết Ba người khác, xuất bản năm 2006.Xem thêm: Tả một cô hoặc chú cán bộ y tế đang chăm sóc người bệnh Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập Truyện Tây Bắc được tặng giải Nhất – Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955, sau hơn nửa thế kỉ, đến nay vẫn giữ gần như nguyên vẹn giá trị và.sức thu hút đốì với nhiều thế hệ người đọc. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu khái quát về tác giả Tô Hoài và tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
363
Giới thiệu khái quát đoạn trích Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm) Gợi ý Trường ca Mặt đường khát vọng được nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1874. Trong thời kì miền Nam bị tạm chiếm, đế quốc và tay sai ra sức xuyên tạc về cộng sản, về cách mạng, hòng lôi kéo, mua chuộc thanh niên vào chốn ăn chơi mà quên đi trách nhiệm đối với dân tộc. Bản trường ca ra đời trong hoàn cảnh ấy đã đánh thức tinh thần trách nhiệm và giúp thế hệ trẻ miền Nam ý thức rõ hơn vai trò và trách nhiệm của họ đối với đất nước. Đoạn trích Đất Nước thuộc chương V của bản trường ca. Đoạn trích chia thành hai phần: – Phần 1: tác giả đưa ra định nghĩa đất nước. Đất nước được cảm nhận từ các phương diện văn hoá lịch sử nên đất nước được hiện ra vừa thiêng liêng, sâu sắc lớn lao, vừa gần gũi thân thiết với mỗi người. – Phần 2: tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Tư tưởng ấy đã quy tụ mọi cách nhìn nhận và đưa đến những phát hiện sâu và mới về đất nước. Đất nước là linh hồn, là kết tụ trí tuệ, tinh thần, phẩm cách, công sức và truyền thống của cả dân tộc. Đoạn trích đã thể hiện khá rõ những đặc điểm cơ bản trong phong cách nghệ thuật thơ Nguyền Khoa Điềm: chất trí tuệ hoà quyện trong chất suy tư sâu lắng.Xem thêm: Phân tích giá trị độc đáo của tình huống truyện mà Kim Lân đã tạo dựng được trong tác phẩm Vợ nhặtVanmau.edu.vn
Giới thiệu khái quát đoạn trích Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)
294
Giới thiệu lễ hội cầu trâu ở Hương Nha, Phú Thọ Gợi ý Hàng năm, vào ngày mồng hai tháng Giêng âm lịch, dân làng Hương Nha, huyện Tam Nông thường tổ chức lễ cầu trâu để tưởng nhớ việc bà Xuân Nương khao tướng sĩ khi thắng trận trở về. Từ 20 tháng Chạp, dân làng đã họp bàn để chọn mua trâu. Trâu phải là trâu đực béo khỏe. Người được nhận nuôi trâu gọi là "chứa lềnh", nhất thiết phải ăn chay từ khi rước trâu về. Lán của trâu phải làm bằng các vật liệu mới, mỗi buổi chiều, "chứa lềnh" phải đem trâu ra bến tắm, sau đó tắm cho mình. Đến 7 giờ tối ngày 2 tháng Giêng, nhà "chứa lềnh" phải làm một cỗ gà và một cỗ chay gồm: củ mài, mía ngọt, chè lam, chè kho, hoa quả và một hũ rượu mộng. Tối đến, dân làng đến nhà "chứa lềnh" rước trâu ra đền Hạ (còn gọi là Miếu Ông) nơi thờ thập bộ thần quan là những tướng sĩ khi nghe tin bà mất đã nhảy xuống hồ trầm mình để chứng tỏ lòng trung nghĩa. Trước khi làm lễ cầu trâu, người ta đốt bên cạnh cột buộc trâu hai bó đuốc bằng nứa khô. Sau đó, nhà sát trói trâu vào cọc bằng dây tre, rồi làm lễ mật khẩn xin âm dương. Khi trâu ngã gục và chết, người dân đem lột da, chôn 4 cọc rồi căng da trâu làm "nồi da nấu thịt", tái hiện cảnh mổ trâu khao quân của nữ tướng Xuân Nương khi xưa. Người ta còn cắt 12 miếng thịt ngon ở bắp làm 12 quả đài xinh để tế thần. Sáng mồng 3 âm lịch, người dân tổ chức lễ "chạy chài". Lễ gồm có thịt và lòng trâu đặt trên mâm tre. Sau đó nhà sát đội ra bến Giếnh, trên đường về người dân thi nhau tranh cướp lễ vật. Tương truyền, ai cướp được lễ vật thì năm đó làm ăn phát đạt, con cháu thuận hòa, gặp nhiều may mắn. Xem thêm: Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của tác gia Xuân DiệuVanmau.edu.vn
Giới thiệu lễ hội cầu trâu ở Hương Nha, Phú Thọ
371
Giới thiệu lễ hội nấu cơm thi ở làng Từ Trọng, Hoằng Hoá Gợi ý Khác với nhiều địa phương khác, cuộc thi nấu cơm ở làng Từ Trọng, Hoằng Hoá, Thanh Hoá được tổ chức trên sông nuớc. Người dự thi ngồi trên chiếc thúng tại một đầm hoặc sông rộng, lộng gió. Mỗi người một thúng với đầy đủ các vật dụng thôi nấu như kiềng, rơm ẩm, bã mía tươi… Khi hiệu lệnh được phát ra, các thí sinh nhanh chóng đưa thúng ra giữa đầm hay sông và bắt đầu nấu cơm trong điều kiện hết sức khó khăn: thúng chòng chành, gió lồng lộng… Kết thúc cuộc thi, ai có nồi cơm dẻo, ngon thì thắng cuộc. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Em rất vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên mới. Em hãy viết thư cho bạn kể về niềm vui đó
Giới thiệu lễ hội nấu cơm thi ở làng Từ Trọng, Hoằng Hoá
145
Giới thiệu lễ hội vật truyền thống làng Sình Xưa, làng Lại Ân nay, thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế Gợi ý Lễ hội vật truyền thống ở làng Lại Ân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế diễn ra vào ngày mùng 10 tháng Giêng hàng năm. Là vùng đất có tinh thần thượng võ, người dân nơi đây đã chọn lọc các miếng võ độc đáo tinh hoa của các phái võ để kết tinh lại thành phái vật của riêng mình. Khác với các sới vật Hà Tây, Nam Định, sới vật Làng Sình được tạo dựng như một võ đài, từ xa người xem cũng nhìn thấy rất rõ. Một trận vật thường diễn ra ba keo. Ai thắng hai keo là người chiến thắng cuối cùng. Luật thắng thua của mỗi keo rất đơn giản. Cứ “lấm lưng, trắng bụng" là thua. Ngoài ra, trước khi bắt đầu cuộc thi vật, người dân trong làng thường có lệ thả đèn cầu được làm bằng giấy gió và đốt bằng mỡ lợn để cầu may mắn. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về nhân vật ông lái đò trong tùy bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân)
Giới thiệu lễ hội vật truyền thống làng Sình Xưa, làng Lại Ân nay, thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế
206
Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em Gợi ý "Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời, càng toả mát hương hoa thơm Thủ đô…". Nhắc đến Hà Nội là nhắc đến hình ảnh Hồ Gươm trong xanh và bóng Tháp Rùa nghiêng nghiêng soi dáng. Hồ Gươm cùng quần thể kiến trúc của nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng về Hà Nội – trái tim hồng của cả nước. Hồ Gươm đã tồn tại từ trước nay rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ. Vào thế kỷ XV, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Sự kiện ấy gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng của vị vua khai triều nhà Hậu Lê – người anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc Minh (1417-1427), Lê Lợi. Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, có người dân mò được một lưỡi gươm, sau đó chính ông nhặt được một cái chuôi ở trong rừng. Khi lưỡi gắn vào chuôi gươm thì thân gươm ánh lên hai chữ "Thuận Thiên" – "Thuận theo ý trời". Gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền trên hồ Lục Thuỷ, bỗng một con rùa xuất hiện. Rùa vươn đầu cất tiếng nói: "Xin bệ hạ hãy hoàn lại gươm cho Long Quân". Lê Thái Tổ hiểu ra sự việc bèn rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ, và từ đó hồ Lục Thuỷ có tên gọi mới là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) hay hồ Gươm. Chính truyền thuyết đặc sắc này đã khẳng định tấm lòng yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh của người dân Thăng Long – Hà Nội nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Câu chuyện này đã được nhấn mạnh trong ngày lễ Hà Nội đón nhận danh hiệu "Thành phô Vì hoà bình".Xem thêm: Top 10 website những bài văn mẫu hay lớp 6 mới nhất Sau đó, cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hồ Thuỷ Quân. Hồ Hoàn Kiếm là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Đó là những hàng liễu rủ thướt tha, những nhành lộc vừng nghiêng nghiêng đổ hoa soi bóng dưới lòng hồ. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn có "Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn"… Hình ảnh hồ Gươm lung linh giống như một tấm gương xinh đẹp giữa lòng thành phố đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội. Người dân Hà Nội sống ở khu vực quanh hồ có thói quen ra đây tập thế dục vào sáng sớm, đặc biệt là vào mùa hè. Họ gọi các khu phố nằm quanh hồ là Bờ Hồ. Không phải là hồ nước lớn nhất trong Thủ đô, song với nguồn gốc đặc biệt, hồ Hoàn Kiếm từ đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp. Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết:Xem thêm: Phân tích hình tượng mảnh trăng trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh ChâuHà Nội có Hồ Gươm Nước xanh như pha mực Bên hồ ngọn Tháp Bút Viết thơ lên trời cao Và như thế, Hồ Gươm sẽ mãi sống trong tiềm thức mỗi người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung như một biểu tượng thiêng liêng về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em
771
Giới thiệu một di tích lịch sử văn hoá của thủ đô Hà Nội Gợi ý Thủ đô Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử. Trong đó Văn Miếu Quốc Tử Giám là một trong những di tích tiêu biểu, ghi nhận những thành tựu văn hoá của Đại Việt đã ngót nghìn năm của Thăng Long cố đô. Văn Miếu được xây dựng tháng 10 năm 1070 để làm nơi thờ các thánh hiền đạo Nho như: Khổng Tử, Mạnh Tử… những vị danh nho đáng kính được người đời vị nể tôn sùng. Sáu năm sau, năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây dựng liền kề sau Văn Miếu. Ban đầu nơi đây dùng cho các hoàng tử đến học, sau mở rộng thu nhận thêm các học trò giỏi trong toàn quốc. Đứng từ đường Quan Thánh bạn sẽ nhìn thấy Văn Miếu cổ xưa với lớp tường bao quanh bằng gạch, cổng chính được xây dựng theo điện hoàng môn với dòng chữ nho được khắc tạc đã phai màu theo thời gian: Văn Miếu Môn. Hai bên cổng là đôi rồng đá mang phong cách thời Lê sơ. Từ phố xá tấp nập ồn ào, bước vào phía trong cổng Văn Miếu bạn sẽ cảm nhận được một không gian thoáng mát yên lành như bước vào cõi phật cõi tiên. Một khoảng sân rộng với nhiều tượng đá tạc chân dung các mãnh tướng sư tử, hổ… như gợi lại không khí linh thiêng oai hùng của lịch sử ngàn năm xưa bên những gốc si xanh già cổ thọ mấy trăm tuổi. Lối đi giữa dẫn đến cổng Đại Trung Môn, mở đầu cho khu thứ hai, hai bên còn có hai cổng nhỏ. Bạn đến đây muốn thắp nén nhang lạy tạ các thánh thần cầu ban phước lành trí tuệ anh minh thì hãy dừng chân tại Đại Trung Môn bên bát hương lớn đặt giữa cửa vào.Xem thêm: Thuyết minh về một loài hoa mà em yêu thích Tiếp sau Đại Trung Môn là Khuê Văn Các được xây dựng từ năm 1805, có kiến trúc đẹp, mang nhiều ý nghĩa và đã được chọn là biểu tượng chính thức cho thủ đô Hà Nội. Khu thứ ba là Khuê Văn Các tới Đại Thành Môn có tường bao quanh. Hai bên hồ là hai khu vườn bia, nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ, những trạng nguyên khoa bảng ngày xưa. Hiện trong Văn Miếu còn lại 82 tấm bia tiến sĩ của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Đây là những di vật quý nhất của Văn Miếu. Bước qua cửa Đại Thành là tới khu thứ tư. Ở đây có sân rộng, hai bên là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, vốn dựng làm nơi thờ các danh nho. Cuối sân là nhà Đại Bái và Hậu Cung, kiến trúc đẹp và hoành tráng. Tại đây còn một số hiện vật quý: bên trái có chuông đúc năm 1786, bên phải có một tấm khánh đá, trên mặt khắc bài văn nói về công dụng của các loại nhạc khí này. Sau khu Đại Bái là trường Quốc Tử Giám đời Lê, một loại trường Đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn rời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đồn Khải Thánh thờ song thân Khổng Tử, nhưng đền này đã bị hư hỏng trong chiến tranh. Nhà Thái Học đã được xây dựng lại vào dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội.Xem thêm: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh Người Việt Nam và du khách nước ngoài nhớ về Hà Nội tìm về Văn Miếu như tìm về chốn văn hiến ngàn năm của nước Việt. Chính vì vậy từ rất lâu Văn Miếu trở thành điểm du lịch phổ biến đối với dù khách trong và ngoài nước. Văn Miếu mang một nét đẹp văn hoá trong lịch sử của dân tộc ta, mang ý nghĩa biểu trưng cho tiến trình văn hoá của Việt Nam, là một bằng chứng về sự đóng góp của Việt Nam vào nền văn minh Nho giáo của khu vực và nền văn hoá mang ý nghĩa nhân văn toàn thế giới. Mỗi năm vào dịp đầu năm học những "trạng nguyên" thời nay được tụ hội về đây dâng nén hương thơm tưởng nhớ và biết ơn tới các danh Nho xưa, đồng thời như một sự báo công cùng ý nguyện kế tục phát huy truyền thống văn hiến của dân tộc. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một di tích lịch sử văn hoá của thủ đô Hà Nội
765
Giới thiệu một loài hoa (như hoa đào, hoa mai,…) hoặc một loài cây (như cây chuối, cây na,…) Gợi ý Cứ vào dịp Tết Nguyên Đán, nhà nhà lại nô nức chuẩn bị bao thức vật thơm ngon, đẹp đẽ cho dịp Tết trọng đại trong năm này. Và giữa bao nhiêu bánh trái, đồ đạc,… mới mẻ, sặc sỡ, một cành đào tươi tắn rực rỡ vẫn được chờ đợi, ngóng trông nhất. Hoa đào là loài hoa đặc trưng cho cái Tết và mùa xuân miền Bắc Việt Nam. Hoa đào được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc: Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Nội,… Nhưng đẹp nhất, được yêu thích nhất vẫn là hoa đào Nhật Tân, Hà Nội. Gọi là hoa đào Nhật Tân vì giống hoa ấy được trồng ở làng Nhật Tân – một vùng đất ven sông Hồng của Hà Nội. Hoa đào cũng có nhiều loại: đào bích, đào phai, đào bạch,.. Trong đó, đào bích phổ biến hơn cả. Đó là loại đào mau cánh, cánh màu đỏ thắm. Đào phai thì nhạt hơn, sắc đã ngả sang hồng. Riêng đào bạch thì đúng như tên gọi, cánh hoa có màu trắng; đây là loại hoa đào rất hiếm và khó trồng. Hoa đào ưa đất phù sa ven sông và thích hợp với khí hậu ấm áp của mùa xuân. Đó là lí do để cứ mỗi khi Tết đến, xuân về hoa đào lại tưng bừng khoe sắc. Không chỉ vậy, hoa còn rất kén chọn cách chăm sóc, tưới bón. Tưới nước cho hoa đào phải tưới bằng nước sạch, nếu sử dụng nước bẩn bị ô nhiễm, đào nở hoa không đều và không đẹp. Hơn nữa, muốn hoa nở đúng dịp Tết phải biết cách tuốt lá đào vào dịp cuối năm.Xem thêm: Em có nhận xét gì về giọng điệu của bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh Tuỳ theo tuổi đời, chủng loại và cách chăm bón của người trồng đào mà một cây đào có thể rất nhỏ hoặc rất rất lớn. Loại nhỏ nhẩt có thể cao vài chục xen-ti-mét, loại lớn nhất có thể cao đến vài mét. Đào là giống cây rễ cọc nên có một thân chính lớn và rất nhiều cành nhỏ vươn ra từ đây. Thân và cành đào được bao bọc bởi một lớp vỏ màu nâu xám. Từ hàng chục cành nhỏ lại nhú ra các lá đào xánh non và dưới mỗi lá là một nụ đào nhỏ xíu có một lớp lông phấn trắng phủ ngoài. Đến đúng dịp, từ mỗi nụ nhỏ xinh xắn, một bông hoa đào đỏ thắm ngơ ngác xoè cánh nhìn cuộc sống. Hoa đào có năm cánh thắm, ở giữa là nhị hoa màu vàng tươi trông rất bắt mắt; cả cánh hoa và nhị hoa lại được nâng đỡ bởi sắc xanh non của đài hoa nên một bông hoa đào là một hình ảnh hài hoà về màu sắc. Hoa đào chỉ nở một lần trong năm vào dịp đầu xuân, chính đặc điểm này cùng với màu đỏ thắm của cánh hoa được con người trân trọng. Bởi màu đỏ là màu của điềm lành, của sự may mắn. Và hoa đào nở vào dịp đầu xuân giống như lời chúc cát tường, thịnh vượng cho mọi gia đình. Cùng với màu sắc của hoa, hình dáng cây hoa cũng là một đặc điểm quan trọng. Thông thường, các cành đào vươn lên khiến cây giống như một chùm đèn lồng xoay ngược hay một li rượu vang lớn. Nhưng người trồng đào hoàn toàn có thể tạo "thế" cho cây bằng cách uốn, tỉa thân, cành. Thân chính của cây được tạo dáng sao cho uốn lượn theo hướng vươn lên giống hình ảnh con rồng bay lên trời xanh. Hoặc có thể được uốn tỉa theo hình các con vật rất phong phú đa dạng. Muốn cây đào có được vẻ xù xì, cổ kính mà không bị cồng kềnh, cao to, người trồng đào thường chọn những cây già rồi cắt gần sát gốc để từ cái gốc cổ thụ ấy lại vươn ra những thân đào khác… Thế mới biết, nghề trồng đào – chơi đào cũng lắm công phu.Xem thêm: Thuyết minh về nón lá Việt Nam Vào ngày Tết, cây đào được đặt ở vị trí trung tâm trong phòng khách, kiêu hãnh khoe cái vẻ tươi tắn rực rỡ của mình. Nhiều gia đình còn treo lên cành cây những phong bao lì xì, những vật trang trí vô cùng bắt mắt. Mỗi lần gió xuân đi qua, những vật nhỏ xinh ấy lại quay tròn ríu rít vỗ tay mừng hoa đào đã nở. Cây hoa đào với những đặc điểm đáng quý của mình đã được con người Việt Nam trân trọng và nâng niu như thế. Và mỗi dịp Tết đến xuân về, lòng người lại háo hức với niềm vui được chờ đón hoa đào nở, được chờ đón một năm mới an lành, hạnh phúc. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một loài hoa (như hoa đào, hoa mai,…) hoặc một loài cây (như cây chuối, cây na,…)
851
Giới thiệu một loại hình âm nhạc dân tộc mà anh (chị) yêu thích (Ca trù) Gợi ý Xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI, ca trù là một trong những loại hình ầm nhạc truyền thống của Việt Nam. Trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể tồn tại được, nhưng với những đặc trưng về loại hình nghệ thuật độc đáo, sự phối hợp tuyệt vời giữa ca từ và giọng hát hoà cùng các nhạc khí: phách, đàn đáy, trống chầu… cho tới ngày nay, ca trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà rộng ra toàn thế giới. Đấy là môn nghệ thuật dân gian đang được Việt Nam đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Tuỳ từng địa phương, từng thời điểm mà hát ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hay hát nhà tơ… Sự tồn tại của ca trù luôn gắn liền với các đào nương và được quyết định bởi các đào nương. Bởi không ai khác, các đào nương chính là người lưu truyền và thể hiện những cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của ca trù, giúp ca trù tồn tại cho đến ngày nay. “Không có đào nương bất thành ca trù, khi nói đến ca trù không thể không nói tới đào nương”. Tiêu chuẩn của một đào nương không chỉ là giọng hát, năng khiếu âm nhạc (thẩm âm, gõ phách) mà còn là tri thức âm nhạc và văn thơ, lòng đam mê và sự kiên trì. Tổ chức của ca trù rất chặt chẽ thành, thường gọi là phường hoặc giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản. Tổ chức ca trù có nhiều quy định: quy định về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, quy định về việc chọn đào nương đi hát thi (ngoài tài năng và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt). Các cuộc Hát thi và phát giải được tổ chức rành rẽ, các lễ hội được cử hành rất nghiêm chỉnh.Xem thêm: Top 10 website văn mẫu lớn nhất Việt Nam Ca trù lúc khởi thủy cũng như trong một thời gian khá dài là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, bao gồm nhạc, thơ, múa và trò diễn. Chính vì vậy nét độc đáo của ca trù chính là sự phối hợp đa dạng, tinh vi, nhuần chuyễn giữa thơ cạ, nhạc và cả vũ đạo. Ca trù cũng là một loại nhạc thính phòng như ca Huế miền Trung, ca Tài tử miền Nam. Nhưng nếu ca Huế miền Trung, ca Tài tử miền Nam bài ca có những nét nhạc cố định, nếu đặt lời mới cũng phải tuân theo nét nhạc đó thì ca trù giai điệu không cố định mà tùy theo thanh giọng của lời thơ, vì vậy mà trong các bài Gửi thư, Hát ru, Bắc phản, Mưỡu… có những giai điệu khác nhau, cùng một thể hát nói nhưng có rất nhiều bài. Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong ca trù. Một nét đặc biệt nữa của ca trù là thanh nhạc và khí nhạc đi song song với nhau và mỗi loại đều có nét đặc thù về thanh nhạc, ngoài hát tuồng có những kỹ thuật phong phú và độc đáo còn các bộ môn ca nhạc cổ truyền khác đều không có kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, tinh vi như ca trù. Thể hiện rõ nhất là khi đào nương cất tiếng hát, kỹ thuặt hát rất điêu luyện, không cần há to miệng, không đẩy mạnh hơi từ buồng phổi mà ém hơi trong cổ, ậm ự mà lời ca vẫn rõ ràng, tròn vành rỗ chữ. Hát trong cửa đình không cần ngân nga. Hát chơi có cách đổ hột, đổ con kiến làm cho tiếng hát thêm duyên, có khi như tiếng nức nở, thở than quyện vào lòng người. Khí nhạc trong ca trù rất đặc biệt, gồm: cỗ phách, đàn đáy, và trống chầu, cỗ phách chỉ là một thanh tre hay một mảnh gỗ gọi là bàn phách và hai chiếc dùi gỗ là phách cái và phách con. Gõ hai đùi vào cỗ phách tạo nên tiếng trầm tiếng bổng, tiếng mạnh, tiếng nhẹ, tiếng thấp, tiếng cao, tiếng trong, tiếng đục, tiếng dương, tiếng âm…Người biểu diễn cũng hết sức nhịp nhàng, tay cầm phách cái, phách con, tay đưa lên cao, tay đưa xuống thấp uyển chuyển như múa.Xem thêm: Phân tích bài Thơ Duyên của Xuân Diệu Ca trù không thể thiếu đàn đáy và trống chầu. Đó là cây đàn có thùng đàn hình chữ nhật hay hình thang, mặt đàn bằng cây ngô đồng, có mặt mà không có đáy, cầri rất dài, gắn 10 hay 11 phím bằng tre rất cao, phím đầu ở ngay giữa bề dài của dây đàn. Đàn mắc 3 dây tơ, có cách nhấn khác thường, tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia, lúc chân phương khi dìu dặt, dễ đi vào lòng người. Trống chầu trong ca trù cũng khác với trống chầu trong Tuồng, Hát bội…cả ở kích thước lẫn cách đánh. Kích thước và hình thức của trống chầu rất gần với trống đế của chèo nhưng cách đánh và chức năng hoàn toàn khác. Dùi trống không gọi là “dùi” mà gọi là “roi chầu”. Roi chầu bằng gỗ, dài hơn dùi trống khách. Người gõ trống chầu được gọi là quan viên, phải là người sành về ca trù phải là người am hiểu thấu đáo âm luật ca trù mới có thể cầm roi được. Người đánh trống ít nhất phải biết 5 phép trống dục, 6 phép trống chầu và nhiều cách biến hóa khác nữa. Khi đã cùng hòa trong một canh hát thì tiếng trống sẽ trở thành nhạc cụ thứ ba sau phách và đàn nhằm tôn vinh tiếng hát với lời thơ. Tất cả trở thành một bản hòa tấu vô cùng phong phú của nhiều âm sắc, nhiều tính năng và luôn có sự thay đổi, biến hóa không ngừng.Xem thêm: Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Nghệ nhân nổi tiếng Quách Thị Hồ đã tham gia vào việc thực hiện đĩa hát Ca trù và Quan họ do Unesco phát hành. Đĩa hát này đã được Unesco gởi tặng rộng rãi tới nhiều trường Đại học và Nhà Vãn hoá của các nước trên thế giới. Năm 1985, Ca trù là 1 trong 9 tiết mục được tuyển lựa vào Diễn đàn âm nhạc châu á do Unesco tổ chức tại Bình Nhưỡng, Triều Tiên. Ngoài ra, ca trù còn được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu, nghiên cứu. Ca trù của Việt Nam được đánh giá là một loại hình nghệ thuật đạt đến sự quyến rũ, thanh tao và độc đáo. Những đặc trưng riêng biệt của nó đã tạo nên sự độc nhất vô nhị không có ở bất kỳ loại hình nghệ thuật nào. Ca trù rất xứng đáng được Unesco công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại trong tương lai. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một loại hình âm nhạc dân tộc mà anh (chị) yêu thích (Ca trù)
1,233
Giới thiệu một nét đẹp văn hoá của quê hương em Gợi ý Là một vùng đất trẻ, Cà Mau quê em mới chỉ được khai phá từ những thập niên cuối thế kỷ XVIII. Miền đất này được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho những điều kiện mà nhiều nợi khác không có được: ba mặt tiếp giáp biển (tổng cộng là 250km) và một hệ thống sông rạch chằng chịt (chiều dài tổng cộng hơn 7000km). Chợ nổi Cà Mau chính là sự giao hoà của con người và thiên nhiên ở miền sông nước hữu tình này. Chợ nổi nằm trên sông Gành Hào (thuộc trung tâm thành phố Cà Mau), cách cầu Gành Hào khoảng hơn 200km, thuộc địa bàn phường 8. Ngày trước, chợ ở giữa ngã ba Chùa Bà, cách đó khoảng hơn chục cây số. Xưa kia, đây là nơi tụ tập kiếm sống của người tứ xứ và bán nhiều loại hàng hoá khác nhau. Bây giờ, chợ chỉ còn bán các sản vật của miệt vườn. Ngay mờ sáng, từ hàng trăm ngàn con sông rạch khác, các ghe xuồng từ các vùng quê của các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn… đem hàng về chợ nổi trên sông Gành Hào này. Trong làn sương mù lãng đãng trên sông nước, những chiếc ghe to, ghe nhỏ chở nặng hàng đậu sát vào nhau trên mặt nước dập dềnh, chuẩn bị cho một ngày mới. Chợ nổi Cà Mau hội tụ rất nhiều loại trái cây và sản vật miệt vườn như: đu đủ, xoài, ổi, chôm chôm, khóm thơm (dứa), dừa nước, dưa gang, khế, bí bầu, cà chua, khoai tây… Trong nắng gió phương Nam, chợ bừng lên hương sắc của những miệt vườn ở đâu đó bên sông Tiền, sông Hậu, sông Trẹm,… Đôi khi còn có những ghe bán chiếu rong – những ghe chiếu đã trở thành cảm hứng để soạn giả Viễn Châu thuở nào viết nên bài ca vọng cổ "Tình anh bán chiếu" nổi tiếng đến hôm nay.Xem thêm: Thuyết minh về một nhà văn địa phương Chợ trên sông nên khách mua hàng cũng phải đi xuồng hoặc đò. Khách đi chợ chỉ cần ngồi trên con đò lướt nhẹ quạ những ghe hàng, nhìn những thứ được treo lúc lắc trên các nhánh cây dựng trên ghe (gọi là cây "bẹo") là sẽ biết ghe đó bán hàng gì. Đó là những lời chào mời lặng lẽ nhưng thật hấp dẫn. Nếu bạn ghé vào, sẽ được người bán hàng hiếu khách mời nếm thử một thứ trái cây với phong cách bình dị, chân thành và phóng khoáng thật dễ thương của con người đất Mũi. Chợ nổi Cà Mau nhóm họp trên sông suốt từ khoảng 3-4 giờ sáng đến chiều tối. Ở đây, người ta cũng buôn bán theo phường, hội giống như các chợ khác trên bờ. Những chiếc ghe chở khẳm hàng đi tới và những chiếc ghe mua hàng rong nhẹ nhàng rời chợ, cứ thay nhau lui tới trong tiếng máy nổ âm vang trên mặt sông. Xen kẽ trong đó là những ghe hàng rong phục vụ nhu cầu của người trong chợ. Cũng giống như những chủ ghe hàng ngồi hút thuốc lá lặng lẽ đợi khách, các ghe hàng rong cũng không thấy cất lời rao, chỉ lặng lẽ len lách trong chợ với những khách hàng quen thuộc. Du khách có thể ghé qua chợ nổi trên sông Gành Hào vào buổi chiều tối, khi chợ nổi đã lắng lại trong một sự im lặng lãng mạn cùng với gió và sóng nước. Những chiếc ghe trở thành những căn nhà nổi bồng bềnh vương vấn khói cơm chiều. Mấy đứa trẻ ngồi vắt vẻo câu cá trên sông; ánh mắt nhìn xa xăm của người thiếu nữ đang chăm sóc mấy chậu đất trồng hoa và rau trên mui ghe; tiếng đàn ghi ta phím lõm trầm buồn loang trên mặt sông trong khúc "Nam ai" hay "Dạ cổ hoài lang" buồn mênh mông; một giọng ai đó cảm khái cất lên câu vọng cổ… Đó là khi chợ nổi trở về với những nỗi niềm của cuộc sống lênh đênh sông nước, vọng nhớ về một dải đất liền ở đâu đó trong tiềm thức. Để rồi, từ 3 giờ sáng hôm sau, cả một khúc sông Gành Hào lài bừng tỉnh với những ghe hàng đầy ắp những trái cây và rau quả, bắt đầu một ngày mới, nhộn nhịp và lãng mạn. Nếu có dịp, xin ai đó đừng bỏ lỡ một lần đến với chợ nổi trên sông Gành Hào. Nắng, gió sông nước và sự bình dị, chân thành của con người, sản vật nơi đây chắc chắn sẽ để lại những dấu ấn thật sâu đậm cho khách phương xa. Xem thêm: Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam CaoVanmau.edu.vn
Giới thiệu một nét đẹp văn hoá của quê hương em
829
Giới thiệu một thức quà bánh Việt Nam Gợi ý Vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch, khi mưa xuân giăng một màn bụi mỏng trắng mờ che phủ xóm làng, tiết trời đã ấm áp là lúc lá khúc bắt đầu lên mơn mởn các bãi đất ven đê dọc các triền sông. Chẳng ai trồng rau khúc. Nó tự nhiên âm thầm mọc lên, như có phần bẽn lẽn vì sự giản dị của mình, lặng lẽ mang đến cho con người những ngọn lá xanh mướt, mang vị thơm, vị bùi rất đặc biệt trong một thứ quà quê được gọi tên bằng chính loại lá độc đáo làm ra nó: bánh khúc. Chẳng biết bánh khúc có từ bao giờ, ai là người đầu tiên làm được món bánh này nhưng bánh khúc đã quen thuộc từ lâu với rất nhiều người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ nông thôn đến thành thị. Làm bánh khúc không khó, nhưng đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ và cả kinh nghiệm người xưa truyền dạy. Nguyên liệu chủ đạo làm nên hương vị độc đáo của món bánh này là lá khúc. Lá khúc hái từ buổi sớm, chọn những lá đang độ tươi non mơn mởn hái đem về giã cho nhuyễn rồi trộn với bột gạo làm vỏ bánh. Nhân bánh được làm từ đậu xanh đồ chín tới giã thật mịn, viên lại nhỏ bằng quả trứng gà ri cùng với thịt ba chỉ thái hạt lựu, rắc thêm chút hạt tiêu cho dậy mùi. Dàn mỏng lớp vỏ thật khéo bao kín nhân bánh, xếp từng lượt bánh vào nồi hấp như đồ xôi, mỗi lớp bánh lại rắc một lượt gạo nếp ngon đã ngâm kỹ làm áo. Từ lúc nước sôi đến lúc bánh chín chừng tàn một que hương.Xem thêm: Viết đoạn văn ngắn giải thích tại sao ngày khai trường để vào lớp Một là ngày có dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm hồn của mỗi con người Bánh khúc là một thứ quà, trong những thứ quà bánh. Nó cũng có thể giúp người ta đỡ đói lòng khi nhớ bữa vì thành phần dinh dưỡng khá cao. Thưởng thức bánh khúc khi còn nóng mới thấy hết được hương vị của bánh khúc, một thứ hương vị tổng hợp, kết hợp nhiều mùi vị tự nhiên của ruộng đồng một cách khéo léo tài tình gói gọn trong tấm bánh bé nhỏ, không cần tới sự trợ giúp của các loại hoá chất hay bất cứ thứ công nghệ thực phẩm nào. Bánh khúc là một món quà quê nhưng được người thành thị ưa thích. Người ta thích bánh khúc chính bởi cái tính "lành" của nó. Món bánh cổ truyền này vẫn sông trong xã hội hiện đại bên cạnh những loại bánh khúc được đóng gói trên dây chuyền cong nghiệp. Người ta có thể thưởng thức bánh khúc bất cứ khi nào thích nhưng bánh khúc thường được rao bán cùng với vài loại quà bánh khác vào buổi tối. Những tiếng rao "Ai khúc đê…" mang món quà quê bình dị này tới tận nơi, len lỏi tới từng ngõ phố nhỏ. Chẳng biết khi nâng chiếc bánh khúc nóng hổi, bốc khói nghi ngút, thơm mùi gạo nếp, mùi lá khúc, quyện lẫn vị bùi, vị béo của thịt và đỗ có ai biết đến ngọn lá giản dị kia, và những người đang một nắng hai sương làm bánh khúc.Xem thêm: Phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết)Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một thức quà bánh Việt Nam
607
Giới thiệu một thức quà của người Việt Gợi ý Đã là người Hà Nội không ai là không từng thưởng thức món xôi một lần, phải nói rằng, xôi Hà Nội có một phong vị riêng mà không trùng với bất cứ xôi ở nơi nào khác. Buổi sáng sớm, tiết trời còn mát mẻ, sau một giấc ngủ êm đềm, con người tĩnh tại thoải mái, bạn có bào giờ nghĩ rằng thưởng thức một bát xôi vào buổi sáng là cách thư giãn tốt nhất không? Người Hà Nội thì hay có thói quen như thế, giản dị, mộc mạc và thanh bình biết bao nhiêu. Mỗi loại xôi có một hương vị khác nhau và được ăn kèm với các loại thức ăn khác nhau. Chẳng hạn như xôi trắng ăn kèm với ruốc, thịt kho tàu, giò chả, lạp xường vừa thơm vừa mềm. Xôi gấc có vị ngọt được ăn kèm với chả mỡ. Xôi lạc, xôi đỗ xanh ăn kèm với vừng và ruốc. Còn xôi xéo chắc chắn phải có thêm đậu xanh xắt lát mỏng và trên bát có hành phi thơm vàng ngậy… Thật ra, việc nấu xôi cũng chẳng mấy khó khăn và bất kể ai cũng nấu được. Chẳng hạn như muốn nấu xôi đậu xanh, chỉ cần chọn loại gạo nếp hoa vàng, ngâm gạo, đậu xanh từ tối hôm trước, để qua đêm cho mềm. Sau đó, vo gạo, đãi đậu thật kỹ rồi trộn đều. Cho thêm một chút muối, xóc lẫn vào gạo, đậu rồi đổ vào chõ đồ cho đến khi hạt gạo dẻo trong và hạt đậu nở bung là được. Đối với xôi lạc, cách nấu có hơi khác. Người nấu phải luộc chín nhân lạc trước cho mềm, sau đó bóc vỏ lạc rồi trộn với gạo nếp, pha thêm muối rồi đổ vào chõ đồ… Riêng xôi gấc, thay vì cho muối người nấu cần cho thêm đường. Trong các loại xôi, xôi xéo được coi là loại khó nấu nhất. Sau khi xôi chín, người nấu phải xới xôi cho tơi, để nguội rồi trộn với đậu xanh nấu chín. Đến lúc ăn xôi phải xắt mỏng nắm đậu xanh đã được đồ chín, thêm chút mỡ nước, hành phi vàng thơm phủ lên trên. Khi đó, bát xôi xéo sẽ có được vị ngọt của gạo nếp, vị bùi của đậu xanh, vị béo của mỡ nước và vị thơm của hành phi, ăn ngon tuyệt.Xem thêm: Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố HữuVanmau.edu.vn
Giới thiệu một thức quà của người Việt
432
Giới thiệu một tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn 9 Gợi ý Trong chương trình Ngữ văn 9, em đã được đọc rất nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong quân đội. Và em đã thực sự ấn tượng bởi tác phẩm Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Nguyền Quang Sáng là một nhà văn chiến sĩ. Ông sinh năm 1932 ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động tại chiến trường Nam Bộ. Trong đợt tập kết ra bắc năm 1954, ông bắt đầu viết văn. Nguyễn Quang Sáng viết nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim nhưng tác phẩm nào cũng gây ấn tượng cho người đọc và mang đậm màu sắc cuộc sống của con người Nam Bộ trong chiến tranh. Sau kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục tham gia chống đế quốc Mĩ và sáng tác văn học. Năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ, vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ gay go, ông đã cho ra đời truyện ngắn Chiếc lược ngà. Tác phẩm tố cáo tội ác chiến tranh đã làm cha – con, vợ – chồng phải xa nhau đế rồi khi trở về đứa con không nhận cha, đến khi nhận ra thì cũng là lúc chia tay. vẫn thể loại quen thuộc, thể loại truyện ngắn ít nhãn vật, ít tình huống, thời gian, không gian cũng chỉ diễn ra nhất định theo từng hoàn cảnh đã làm nôi lên tình cha con thiêng liêng cao đẹp. Có thể nói, câu chuyện mà Chiếc lược ngà đề cập đến đã gây cho người đọc nhiều cảm xúc với nội dung nhẹ nhàng mà thấm đẫm chất nhân văn. Đó là câu chuyện của ông Ba – một trong những cán bộ được cô giao liên trẻ dẫn đường. Tuyến đường mà cô dẫn là tuyến đường đầy nguy hiểm, cạm bẫy bởi bọn giặc thường lùng quét rất gắt gao. Õng Ba có hành lí – và tư trang giản dị, đó là tài liệu và chiêc lược ngà – kỉ vật người bạn nhờ đem về cho cô con gái. Thấy chiếc lược ông lại nghĩ về câu chuyện xưa. Người bạn cùa ông là ông Sáu, trong một đợt được về thăm nhà sau 8 năm xa cách rất thương con mà đứa bé.lại không nhận ra cha. Đứa bé đó là Thu – một cô bé bướng binh, ương ngạnh, đầy cá tính nhưng cũng rất ngây thơ. Nó không nhận ra cha, lạnh lùng với anh Sáu. Mời vào ăn cơm nó nói trống không, muốn nhờ chắt nước cơm nó cũng nói trống. Thế rồi khi nó biết lỗi lầm của mình, biết tội ác của lũ giặc gây ra vết thẹo cho ba và nhận ra ba thì cùng là lúc ánh Sáu phải ra đi. Bé Thu đã biểu hiện tình cảm quá mãnh liệt. Nó không cho ba đi, ghì chặt lấy Ba và cất tiếng gọi ba như xé lòng, xé ruột mọi người. Đem theo nỗi nhớ con, anh Sáu dồn công làm bằng được chiếc lược ngà tặng con. Nhưng chuyện không may đã xảy ra, khi chưa kịp trao cho con, anh đã hy sinh và trước khi nhắm mắt, anh gửi bạn đem cho con. Và cuối cùng, điều bát ngờ là cô giao liên nhanh nhẹn ấy chính là bé Thu đã lớn. Chiểc lược ngà đã diễn tá một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, của cha con ông Sáu. Qua đó ngợi ca, khẳng định tình cảm cha con thiêng liêng như một gỉá trị nhân văn sâu sắc. Nguyễn Quang Sáng đã thực sự khéo léo khi xây dựng một cốt chuyện chặt chẽ và bất ngờ. Ông cũng rất khéo khi lựa chọn ngôi kể, người kế – người đã chứng kiến mọi chuyện tạo tính sinh động cao. Và không thể thiếu chiếc lược ngà, kỷ vật thiêng liêng nối kết các nhân vật trong tác phẩm và biếu hiện tình cảm của cha với con. Nguyễn Quang Sáng cũng thành công khi đã tạo ra các tình huống bất ngờ, hợp lí, và xây dựng nhân vật đặc sắc, tinh tế từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về mặt mỗi nhân vật, thấy rõ hơn và cảm thông hơn tình cha con cao quí, không bao giờ phai. Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng la một tác phẩm văn học đặc sắc, nó để lại cho ta nhiều suy nghĩ, trăn trở đó là suy nghĩ về tình cha con gắn bó, thiêng liêng. Dù bát cứ hoàn cảnh khó khăn nào, tình cảm ấy vẫn giúp con người ta đứng vững.Xem thêm: Sự biến đổi của đất trời sang thu (bài thơ Sang thu - Hữu Thỉnh) được tác giả cảm nhận bắt đầu từ đâu và gợi tả qua những hình ảnh, hiện tượng gì? Tâm trạng của nhà thơ được bộc lộ như thế nàoVanmau.edu.vn
Giới thiệu một tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn 9
865
Giới thiệu một vài nét khái quát về tác phẩm (thơ) và phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu Gợi ý Tố Hữu là bút danh; họ tên là Nguyền Kim Thành. Ông sình năm 1920 tại Thừa Thiên – Huế, và mất năm 2002. Về sự nghiệp chính trị, Tố Hữu là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, về thị ca, ông là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Hơn nửa thế kỉ làm thơ, Tố Hữu hiên để lại nhiều tập thơ. Mỗi tập thơ đánh dấu một chặng đường lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong thế kỉ XX. – Từ ấy (1937-1946) – Việt Bắc (1946-1954) – Gió lộng (1955-1961) – Ra trận (1962-1971) – Máu và Hoa ( 1972-1977) – Một tiếng đờn (1979-1992) Tố Hữu làm thơ là để phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng và kháng chiến. Phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu có thể khái quát trong 4 điểm sau đây: 1. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị. Cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là những lời tâm huyết say mê vể một lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của đất nưóc và dân tộc trong cách mạng và kháng chiến. "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lí chói qua tim” (Từ ấy) "Chưa bao giờ đẹp thế, sắc trời xanh Và sắc đỏ của lá cờ ra trận".Xem thêm: Vai trò của Internet trong cuộc sống hôm nay (Tuổi 25) "Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời Nay mới được ôm Người trọn vẹn Người ơi (Vui thế, hôm nay…) 2. Thơ Tố Hữu in đậm khuynh hướng sử thi. Có thể nói đó là những bài ca chiến đấu, những khúc ca thắng trận vang dội âm điệu anh hùng ca: "Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực Trên đất nước, như huân chương trên ngực Dộc tộc ta, dân tộc anh hùng!” (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên) "Ôi, buổi trưa nay, tuyệt đẹp nắng đẹp Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta Chúng con đến, xanh ngời ánh thép Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa” (Toàn thắng vể ta) 3. Giọng điệu tâm tình dịu ngọt là nét đặc đậm đà trong thơ Tố Hữu. Tình quê, tình non nước, tình yêu Đảng, yêu Bác, tình mẹ con, tình đồng chí, đồng bào… là dư vị thiết tha, nồng ấm dào dạt trong thơ ông. "Hương Giang ơi, dòng sông êm Qua tim ta, vẫn ngày đêm tự tình” (Bài ca quê hương) "Ôì Bấc Hồ ơi, những xế chiều Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu (Bác ơi!) 4. Nghệ thuật thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc. Tố Hữu sử dụng nhiều thể thơ, nhưng đặc sắc nhất, thành công nhất là thể thơ lục bát. Ngôn ngữ thơ thanh thoát, giàu vần điệu nhạc điệu như ca dao, dân ca, như Truyện Kiều nên rất dễ ngâm, dễ thuộc.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ “Trao duyên” để làm rõ nỗi đoạn trường về tình duyên lỡ bỏ"Mình về mình có nhớ ta, Mười làm năm ấy thiết tha mặn nồng”… (Việt Bắc) "Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du, Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…” (Kính gửi cụ Nguyễn Du) Nếu thơ ca là những dòng sông thì thơ Tố Hữu là một dòng sông trong xanh mà ta thương mến. Dòng sông ấy đang hợp lưu trong lòng ta. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một vài nét khái quát về tác phẩm (thơ) và phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu
550
Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi Hướng dẫn Năm 1400, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ), cùng cha làm quan dưới triều Hồ Quý Li. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị giặc bắt giải sang Tàu, Nguyễn Trãi bị giặc giam lỏng 10 năm trời ở thành Đông Quan (Thăng Long). Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở núi rừng Lam Sơn. Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân, dâng ‘Bình Ngô sách’ lên Bình Định Vương Lê Lợi. Ông trở thành cánh tay phải đắc lực của người anh hùng Lam Sơn. Nguyễn Trãi đã thay lời Lê Lợi viết thư cho bọn tướng tá giặc Minh, thực hiện chiến lược ‘tâm công’ đánh vào lòng giặc thu được nhiều chiến công hiển hách. Ông là người ‘viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời’. Nước nhà được độc lập sau 10 năm kháng chiến, năm 1428, thay lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết ‘Bình Ngô đại cáo’ tuyên bố công cuộc ‘Bình Ngô phục quốc’ của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, nước Đại Việt bước sang một kỉ nguyên mới: độc lập, thái bình bền vững. Ông được phong tước Quan phục hầu, làm Chánh chủ khảo khoa thi Tiến sĩ đầu tiên của triều Lê. Ông hăm hở đem tài kinh bang tế thế mong giúp vua xây dựng đất nước cường thịnh. Cuộc sống của ông thanh bạch liêm khiết, tính ông cương trực nên ông bị bọn quyền thần ghét. Nguyễn Trãi đã lui về Côn Sơn ở ẩn. Xem thêm: Phân tích bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QuỳnhNăm 1442 vụ án Lệ Chi Viên xẩy ra, Nguyễn Trãi bị vu oan, bị tru di tam tộc. Mãi 22 năm sau, năn 1464 vua Lê Thánh Tông mới viết chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi và khẳng định: ‘ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo’ (ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê) 2.Nguyễn Trãi sáng tác nhiều, nhưng sau vụ án Lệ Chi Viên thơ văn của ông bị thiêu hủy, bị thất tán nhiều. Hiện nay chỉ còn lại: – Quân trung từ mệnh tập:69 bài. – Bình Ngô đại cáo. – Lam Sơn thực lục. – Bia Vĩnh Lãng. – Dư địa chí. – Chí Linh phú. – ức Trai thi tập:105 bài. – Quốc âm thi tập:254 bài. – v.v… Tóm lại, Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc, văn võ toàn tài. Sự nghiệp và thơ văn của Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước tự hào dân tộc. Nguồn:
Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi
425
Giới thiệu một vài nét về Nam Cao và truyện “Chí Phèo” Gợi ý Nam Cao (1915 – 1951) là bút danh của Trần Hữu Tri. Quê ở Đại Hoàng, Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Trước 1945, dạy học, viết văn, 1943 gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc rồi tham gia cướp chính quyền ở địa phương (8-1945). Năm 1946 làm phóng viên mặt trận miền Nam Trung Bộ. Sau đó lên Việt Bắc làm công tác Văn nghệ, 1951 hi sinh tại vùng địch hậu thuộc tỉnh Ninh Bình, Liên khu III. Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng. Tác phẩm gồm có trên 60 truyện ngắn và một tiểu thuyết "Sông Mòn". "Chí Phèo", "Lão Hạc"; "Mua nhà", "Đời thừa"… là những truyện ngắn đặc sắc của Nam Cao. Sau Cách mạng, Nam Cao viết chưa được nhiều vì ông hi sinh quá sớm: truyện ngắn "Đôi mắt", "Nhật kí ở rừng", "Chuyện Biên giới",… Nam Cao có tài kể chuyện, ngôn ngữ uyển chuyển, gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng. Giỏi phân tích tâm lí nhân vật. Nhiều tác phẩm thơ văn của ông thấm đượm ý vị triết lí trữ tình. Đề tài nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản được Nam Cao viết rất hay và cảm động. Xuất xứ, chủ đề – Lúc đầu, Nam Cao đặt tên truyện là Cái lò gạch cũ. Nhà xuất bản Đời mới năm 1941, đổi thành Đôi lứa.xứng đôi. Năm 1946 trong tập Luống cày do Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản, tác giả đối tên truyện thành Chí Phèo. Xem thêm: Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ “Tây Tiến" là bút pháp hiện thực hay lãng mạn? Phân tích, so sánh với bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để làm sáng rõ biện pháp đó Truyện Chí Phèo nói lên số phận bi thảm của người nông dân nghèo, lương thiện bị xã hội thực dân phong kiến xô đẩy vào con đường lưu manh, tội lỗi không cố lối thoát. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một vài nét về Nam Cao và truyện “Chí Phèo”
344
Giới thiệu một vài nét về nhà văn Nguyễn Tuân và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân Gợi ý Nguyễn Tuân là cây bút tiêu biểu nhất của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nguyễn Tuân "là một cái định nghĩa về người nghệ sĩ” như có người đã nói thế. Vẻ đẹp văn chương, dấu ấn về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện trên những kiệt tác văn chương như "Vang bóng một thời” (1940), “Sông Đà” (1960), “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi" (1972), “Tờ hoa” (1966), v.v… Về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân, sách Văn 12 có viết: "Nguyễn Tuân có phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc. Phong cách ấy, trước hết có thể thâu tóm trong mấy chữ phóng túng, tài hoa và uyên bác”. Cái nhìn của Nguyễn Tuân mang tính phát hiện độc đáo đối với thế giới khách quan, tìm thấy cái đẹp trong cuộc sống, cái đẹp tài hoa, phi thường, cái đẹp ở phương tiện văn hoá, mĩ thuật. Cách uống trà, thưởng lan, cách thả thơ của người xưa (“Vang bóng một thời”),con sông Đà và người lái đò "tay lái ra hoa” (Sông Đà), cái độn tóc chị Hoài "đổ tung xuống như một trận mưa rào đen nhánh” (“Tóc chị Hoài”), v.v… đã được ông nói đến một cách tài hoa, hấp dẫn. Người ta hay nói "chủ nghĩa xê dịch" của Nguyễn Tuân. Thật ra đó là cách sống sáng tạo của riêng ông mà ông gọi là đi và viết, để “thay đổi thực đơn cho giác quan”. Quá khứ, hiện tại và tương lai, không gian và thời gian đã liên kết thành tuyến, thành mảng trên trang văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp thẩm mĩ, đem đến nhiều liên tưởng, ấn lượng kì thú cho người đọc. Những tính cách phi thường (Huấn Cao, Người đò Sông đà), những tình cảm, cảm giác mãnh liệt của những phong cách tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao, rừng thiêng, ghềnh thác dừ dội (cảnh mặt trời mọc ở ngoài đảo Cô Tô, đính núi Phan-xi-păng với hoa đỗ quyên năm sắc rực rỡ, với cây trúc như cái phất trần, là con sông tuyến Hiền Lương, là con Sông Đà “tuôn dài tuôn dài như áng tóc trữ tình…", là tiếng thác rống lên như tiếng rống của một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn trong rừng cháy, v.v…).Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh ngữ văn 12 Văn Nguyên Tuân rất uyên bác, độc đáo. Các kiến thức về văn hoá, địa lí, lịch sử, phong tục, những miền quê, những vùng đất… được ông kể rất đậm đà, duyên dáng. Ông là bậc thầy về ngôn ngữ văn chương: giàu có, sáng tạo. Nói đến phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân là nói đến tuỳ bút, những trang văn xuôi đầy chất thơ của một tâm hồn nghệ sĩ, của một cây bút tài hoa uyên bác, phóng túng, độc đáo hiếm có. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu một vài nét về nhà văn Nguyễn Tuân và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
509
Giới thiệu một vài nét về Thạch Lam Hướng dẫn …Thạch Lam bắt đầu viết văn từ năm 1936, sớm nổi tiếng trên văn đàn. Ông là thành viên của Tự lực văn đoàn,một tổ chức văn học lớn trước năm 1945. Thạch Lam thành công ở thể truyện ngắn, có tài miêu tả những tâm trạng, lời văn gợi cảm giàu chất thơ-. Tác phẩm của ông gồm có ba tập truyện ngắn: Gió đầu mùa(1937), Nắng trong vườn(1938), Sợi tóc(1942), cuốn tiểu thuyết Ngày mới(1939), tập kí Hà Nội 36 phố phường(1943), một số truyện viết cho thiếu nhi, và cuốn tiểu luận Theo dòng(1941). Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài ‘Thay lời bạt’ cuốn ‘Tuyển tập Thạch Lam’ đã viết: ‘Trong văn học Việt Nam trước Cách mạng 45, Thạch Lam là một trong số những nhà văn được nhiều cảm tình của người đọc. Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc. Dưới cái hình thức không những thoát ra cái khuôn sáo cũ của cách hành văn đương thời mà lại có rất nhiều đức tính sáng tạo ấy, văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và từng trải sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nỏ lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trân trọng trước sự sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học. Mặc dù in ra ít, sách Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn súc tích, rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn xuôi chân chính. (…) Bằng sáng tác văn học, Thạch Lam đã làm cho tiếng nói Việt Nam gọn ghẽ đi, co duỗi thêm,, mềm mại ra, và tươi đậm hơn. Thạch Lam có dem sinh sắc vào tiếng ta’… Nguồn: thêm: Viết một đoạn văn (từ 5 đến 7 câu) về chủ đề gia đình, trong đó có sử dụng ít nhất 4 từ Hán Việt (gạch chân 4 từ Hán Việt đó)
Giới thiệu một vài nét về Thạch Lam
409
Giới thiệu một vài nét về tác giả, dịch giả, chủ đề bài thơ Hoàng Hạc lâu Hướng dẫn A. Tác giả và dịch giả 1.Thôi Hiệu (704 – 752), đỗ tiến sĩ, nổi tiếng tài hoa, để lại khoảng 40 bài thơ, hay nhất là những bài thơ vịnh cảnh. “HoàngHạc lâu ” là bài thơ kiệt tác của Thôi Hiệu. Tương truyền, thi tiên Lý Bạch đến vãn cảnh Hoàng Hạc lâu, thấy thơ Thôi Hiệu đề lên vách, ông tấm tắc khen và viết: "Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đác, Thôi Hiệu dề thi tụi thượng đầu” (Trước mắt có cảnh đẹp nhưngnói không được, Vì đã có thơ của Thôi Hiệu để ở trên đần) 2. Tản Đà (1889 – 1939) là nhà thơ nổi tiếng nhất những năm hai mươi của thế kỉ hai mươi, với vốn Hán học uyên thâm, với hồn thơ lãng mạn bay bổng, về phương diện dịch thơ Đường, ông vẫn là cây bút vô địch. Những bài thơ Đường do Tản Đà dịch đều đăng tải trên tạp chí Ngày nay và Tiểu thuyết thứ bảy. Tất cả có 84 bài, phần lớn dịch thành thơ lục bát 70/84 bài. Ông đã dịch: 38 bài của Bạch Cư Dị, 14 bài của Lý Bạch, 4 bài của Đỗ Phủ, 28 bài của các nhà thơ khác. Bài “Hoàng Hạclầu ” của Thôi Hiệu qua bản dịch thơ lục bát của Tản Đà là bản dịch thơ hay nhất, thể hiện đẹp nhất cái hồn Đường, điệu Đường kì diệu. B. Chủ đề Bài thơ nói lên cảm xúc của thi nhân khi ngấm nhìn lẩu Hoàng Hạc mà bâng khuâng về huyền thoại, mà man mác buồn nhớ quê hương. Nguồn: thêm: Tôi tên là Oanh Liệt.... Dựa theo những lời tâm sự trên, Anh (Chị) hãy viết bài văn theo ngôi thứ nhất, kể về số phận và nỗi niềm của của chú gà chọi bị bỏ rơi. (Yêu cầu viết phần mở bài)
Giới thiệu một vài nét về tác giả, dịch giả, chủ đề bài thơ Hoàng Hạc lâu
326
Giới thiệu một vài nét về Vũ Trọng Phụng và chương “Hạnh phúc của một tang gia” Gợi ý 1. Tác giả Vũ Trọng Phụng (1912-1939) quê ở Hưng Yèn. ông sống và viết văn tại Hà Nội. Sở trường về phóng sự, được các báo chí thời bấy giờ gọi là "Ông vua phóng sự đất Bắc". Tác phẩm: Phóng sự: "Cạm bẫy người" (1933); "Kỹ nghệ lấy Tây" (1934), "Cơm thầy cơm cô" (1936); "Lục xì" (1937), "Một huyện ăn Tết(1938), V. V.. 6. Truyện ngắn: khoảng năm mười truyện ngắn. 7. Tiểu thuyết: "Giồng tố" (1936); "Số đỏ" (1936) "Vỡ đê’ (1936); "Làm dĩ’ (1936); "Trúng số độc đắc" (1938); "Quý phái" (1938); v.v… 8. Kịch: "Không một tiếng vang" (1931) Vũ Trọng Phụng có tài châm biếm đả kích cái xã hội thực dân phong kiến tư sản hết sức bất công, tàn bạo, thối nát… Ông đã sáng tạo ra những nhân vật điển hình bất hủ như Xuân Tóc Đỏ để chế giễu cái xã hội mà ông gọi là "khốn nạn”, "chó đẻ". 2. Xuất xứ "Hạnh phúc của một tang gia ”, trích toàn bộ Chương XV tiểu thuyết "Số đỏ", một kiệt tác của Vũ Trọng Phụng, xuất bản năm 1936. Tóm tắt chương “Hạnh phúc của một tang gia" Sau ba ngày ngắc ngoái, cụ cố tổ hơn 80 tuổi chết thật. Cụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, ông phán mọc sừng, cậu tú Tân, cô Tuyết… cả bọn con cháu đều vô cùng sung sướng. Người chết được quan trên khám qua loa đã khâm liệm, gần một ngày rồi mà chưa phát phục. Sau khi cụ bà đi thu xếp việc cưới chạy tang cho Tuyết không đi đến đâu, Văn Minh hứa sẽ tìm cách cho Tuyết lấy chồng một cách danh giá, thì cụ cố Hồng mới chịu cho phát phục. Bầy con cháu tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn. thuê xe đám ma. Xem thêm: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và chứng tỏ tính độc đáo, sáng tạo của Nam Cao trong đoạn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo: "Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng cứ rượu xong là hắn chửi... Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết..." Bây giờ sáng hôm sau thì cất đám. Có hai tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê giữ trật tự. Tuyết mặc bộ đỏ ngây thơ đi mời trầu. Đám ma tổ chức theo cả lối ta, lối Tàu. lối Tây. Có kiệu bất công, có lợn quay đi lọng, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa ma. Có lốc bốc xoảng, bu dích và nhiều vòng hoa. Khi đám ma đi được bốn phố, khi vợ chổng Tyết, bà Phó Đoan và mấy người nữa đang lào xào phê bình thái độ của Xuân thì bỗng có sáu chiếc xe, trên xe có Xuân Tóc Đỏ và có sư chùa Bà Banh xuất hiện, xe nào cũng che hai lọng. Hai vòng hoa đồ sộ, một của báo Gõ Mõ, một của Xuân len vào hàng đầu. Cậu tú Tân vội bấm máy. Cụ bà chạy lên, vô cùng sung sướng vì ông đốc tờ Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế, và đám ma như thế đã là danh giá nhất tất cả. Bọn quan khách, nhưng nam thanh nữ tú thì cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau… Lúc hạ huyệt, cậu tú Tân bắt bẻ từng người một để chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng khóc to “Hứt!Hứt!Hứt“, rồi bí mật dúi vào tay Xuân Tóc Đỏ cái tờ giấy bạc 5 đồng gấp tư… Xuân Tóc Đỏ nắm tay lại cho mọi người khỏi nom thấy chuyện ấy.Xem thêm: Nhà nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai có viết: "Điều quan trọng ... những tác phẩm vĩ đại" (Quá trình bồi dưỡng nghề viết văn của tôi, in trong Công việc viết văn. Trường viết văn Nguyễn Du, xuất bản 1965, trang 81). Bình luận ý kiến trênVanmau.edu.vn
Giới thiệu một vài nét về Vũ Trọng Phụng và chương “Hạnh phúc của một tang gia”
686
Giới thiệu một vài nét về Đỗ Phủ, xuất xứ, bố cục, chủ đề bài thơ Thu hứng của Hướng dẫn Thu hứng Đỗ Phủ (712-770) Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm. Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. Cảm xúc mùa thu Lác đác rừng phong hụt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa. Lưngtrời sóngrợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa di xa. Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Lạnh lùnggiục kẻ tay đao thước, Thành Bạch, chày vang hóng ác tà. Nguyễn Công Trứ dịch Bài làm Tác giả và “Thu hứng”: 1. Giáo sư Phan Ngọc đã viết một công trình trên nghìn trang sách với nhan đề “ĐỗPhủ – nhà thơ dân đen”.Đỗ Phủ (712 – 770) là nhà thơ hiện thực lớn nhất đời Đường được ngợi ca là "Thi Thánh ” để lại khoảng 1.400 bài thơ mang phong cách nghệ thuật độc đáo. Thi hào dân tộc Nguyễn Du rất ngưỡng mộ Đỗ Phủ: “Thiên cổ văn chương, thiên cổ sư, Bình sinh hội phục vị thường li” (Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương) Câu thơ trên nghĩa là: Văn chương lưu truyền muôn đời, là bậc thầy muôn đời. Bình sinh ta khâm phục, chưa từng xa rời ông. Qua đó, ta thấy, Đô Phủ vô cùng vĩ đại. 2. Thơ Đường cũng như thơ Đỗ Phủ nói về đề tài mùa thu vừa nhiều vừa hay. Bài thơ “Thu hứng” này nằm trong chùm thơ 8 bài. Bản dịch của Nguyễn Công Trứ đã được lưu truyền gần hai thế kỉ nay, được xem như là một bản dịch xuất sắc. 3. Bốcục bài thơ: – 4 câu đầu: Cảnh thu – 4 câu sau: Tình thu (nỗi lòng nhà thơ) 4. Chủ đề: Nỗi lòng của thi nhân – kẻ tha hương trước cảnh sắc trời thu. Nguồn: thêm: Phân tích truyện Tam đại con gà.
Giới thiệu một vài nét về Đỗ Phủ, xuất xứ, bố cục, chủ đề bài thơ Thu hứng của
337
Giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu Gợi ý Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Cha Tố Hữu là một nhà nho nghèo, mẹ cũng là con một nhà nho. Cả hai người đã truyền cho con tình yêu tha thiết với văn học dân gian. Cuộc đời Tố Hữu là cuộc đời của một chiến sĩ cộng sản gương mẫu. Năm 12 tuổi, Tố Hữu mồ cối mẹ, một năm sau lại xa gia đình vào học Trường Quốc học Huế. Bước vào tuổi thanh niên, Tố Hữu tham gia phong trào đấu tranh cách mạng, trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đống Dương. Từ cuối tháng 4 – 1939 đến đầu năm 1942, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam trong nhiều nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên. Tháng 3 – 1942, Tố Hữu vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), tìm ra Thanh Hoá, bắt liên lạc với tổ chức cách mạng, tiếp tục hoạt động. Trong Cách mạng tháng Tám (1945), Tố Hữu là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu cống tác ở Thanh Hoá rồi lên Việt Bắc đặc trách về văn hoá văn nghệ ở cơ quan Trung ương Đảng. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ và cho đến năm 1986, ống liên tục giữ những cương vị trọng yếu trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.Xem thêm: Trình bày ngắn gọn những hiểu biết về hoàn cảnh ra đời và tác giả, dịch giả của Chinh phụ ngâm… 3. Trình bày đặc điểm nghệ thuật của văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam. Các chặng đường thơ Tố Hữu luốn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi. sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc Đó cũng là những chặng đường vận động trong quan điểm tư tưởng và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ. Nếu Từ ấy (1937 – 1946) là chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu, đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng thì Việt Bắc (1946 – 1954) là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến. Họ là những người lao động rất bình thường và cũng rất anh hùng. Bước vào giai đoạn cách mạng, Gió lộng (1955 – 1961) dạt dào bao nguồn cảm hứng lớn lao. Nhà thơ hướng về quá khứ để thấm thìa những nỗi đau khổ của cha ống, cống lao của những thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng. Hai tập thơ Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977) âm vang khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và niềm vui toàn thắng. Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999) là hai tập thơ đánh dấu bước chuyển biến mới. trong thơ Tố Hữu. ớ đó, nhà thơ đã tìm đến những chiêm nghiệm mang tính chất phổ quát về cuộc đời và con người.Xem thêm: Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tôi yêu em” - Pus-kin Suốt bảy tập thơ, Tố Hữu đã thể hiện một phong cách nghệ thuật của riêng mình. Nét nổi bật trong nội dung thơ Tố Hữu là tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc. Hồn thơ Tố Hữu luốn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc. Thơ Tố Hữu cũng mang đậm tính sử thi như nhiều sáng tác văn học cùng thời. Nhà thơ luôn coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước là đốỉ tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân. Và tất cả luốn được thể hiện bằng chất giọng mang tính chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành. Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà. Tố Hữu đặc biệt thành cống khi sử dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc (thể lục bát, thể thất ngốn), về ngốn ngữ, Tố Hữu thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc, phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu
856
Giới thiệu sơ lược về Lỗ Tấn và truyện ngắn Thuốc Gợi ý Lỗ Tấn (1881 – 1936), tên thật là Chu Thụ Nhân, là nhà văn cách mạng nổi tiếng của Trung Quốc, ông là một nhà văn mà ngay từ những ngày đầu chọn nghề đã nghĩ đến trách nhiệm của người cầm bút. Đầu tiên ông học hàng hải, làm mỏ rồi chuyển sang học thuốc. Khi đang học nghề Y tại Nhật, một lần xem phim, ông thấy những người Trung Quốc khoẻ mạnh hăm hở đi xem người Nhật chém một người Trung Quốc làm gián điệp cho quân Nga. Ông bỗng giật mình và nhận ra rằng: chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân. Ông chuyển sang làm văn từ đó. Truyện ngắn Thuốc ra đời năm 1919, đây là thời kì đen tối của lịch sử Trung Quốc. Nhân dân an phận chịu nhục, cách mạng Tân Hợi tiến hành không đến nơi đến chốn, nhân dân vẫn u mê tăm tối, không hiểu gì về cách mạng, vẫn cho rằng làm cách mạng là làm giặc. Cả Trung Quốc lúc ấy là một con bệnh và cần một phương thuốc khẩn cấp và hiệu nghiệm. Lỗ Tấn viết Thuốc để chỉ ra căn bệnh đó của nhân dân và hướng tới một hy vọng, một phương thuốc hiệu nghiệm. Nhan đề Thuốc bao hàm những ý nghĩa đó. Truyện thể hiện hai vấn đề nổi bật. Thứ nhất, câu chuyện tìm thuốc của vợ chồng lão Hoa và cuộc bàn luận về Hạ Du tại quán trà của lão Hoa con đường mòn ngăn cách hai khu mộ, hạ du bị chú ruột mang ra nộp cho giặc để lĩnh tiền thưởng… là những chi tiết, những cảnh thể hiện rất rõ căn bệnh của nhân dân Trung Quốc lúc đó: căn bệnh u mê tăm tối, lấy máu của đồng loại, của người cách mạng để chữa bệnh, không ai hiểu gì về cách mạng. Và chỉ ra rằng cách mạng Trung Quốc còn xa rời quần chúng. Thứ hai, người chiến sĩ cách mạng Hạ Du, vòng hoa trên mộ, không gian và thời gian câu chuyên (ba buổi sớm vào mùa thu và mùa xuân), sự cảm thông của hai người mẹ… thể hiện niềm tin và hy vọng vào cách mạng của tác giả. Câu hỏi của người mẹ Thế này là thế nào? không chỉ là trăn trở của tác giả mà còn là điều mà tác giả muốn mọi người cùng suy ngẫm.Xem thêm: Ở nông thôn có một thú vui rất được ưa thích, đó là ra đồng bắt dế để về đá chơi. Em hãy kể lại chuyện bắt dế của em với các bạn emVanmau.edu.vn
Giới thiệu sơ lược về Lỗ Tấn và truyện ngắn Thuốc
466
Giới thiệu sơ lược về M. Sô – lô – khốp và đoạn trích Số phận con người Gợi ý M. Sô-lô-khốp (1905 – 1984) là nhà văn vô sản Nga; tiểu thuyết nổi tiếng: Sông Đông êm đềm. Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở trấn Viroxenxkaia, một địa phương ở vùng thảo nguyên sông Đông, thuộc tỉnh Rôxtôp của Liên Xô. Nhà văn được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1939) và được giải thưởng Nôben về văn học (1965). Từng tham gia cách mạng, từng khoác áo lính với tư cách là một phóng viên, nhà văn có nhiều tác phẩm phản ánh chân thực cuộc sống và chiến đấu của nhân dân và những người lính Hồng quân. Truyện ngắn Số phận con người (1956) là một trong những thành tựu xuất sắc của Sô-lô-khốp nhưng năm sau chiến tranh. Qua cuộc đời và số phận của hai nhân vật thuộc hai thế hệ trong và sau chiến tranh, Xô-cô-lốp và Va-ni-a, nhà văn đã viết lên bản cáo trạng lên án chiến tranh, đồng thời ca ngợi những con người chân chính. Số phận bi kịch của Xô-cô-lốp là kết quả của cuộc chiến tranh do bọn phát xít gây ra, cả Xô-cô-lốp và Va-ni-a sống sót sau cuộc chiến với một nỗi đau thương không thể nào giảm nhẹ. Xô-cô-lốp mất vợ con, Va-ni-a mất cha mẹ. Hai số phận cô đơn cùng lang thang kiếm sống và họ đã nương tựa vào nhau. Qua cuộc gặp gỡ này, nhà văn đã thể hiện thái độ tố cáo chiến tranh (chiến tranh đã huỷ hoại con người, Xô-cô-lốp trở về với nỗi mất mát lớn, anh rệu rã và đau khổ tưởng chừng không thể chịu đựng nổi, lang thang để tồn tại nhưng anh vẫn là con người chân chính) đồng thời thể hiện sự đồng cảm, tình yêu thương và lòng nhân hậu. Xem thêm: Bình luận về chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Qua tác phẩm, tác giả cũng thể hiện tấn bi kịch của con người, nạn nhân của chiến tranh, đồng thời ngợi ca nhân cách và sự kiên trung của tính cách Nga Vanmau.edu.vn
Giới thiệu sơ lược về M. Sô – lô – khốp và đoạn trích Số phận con người
375
Giới thiệu trò chơi Rồng rắn lên mây Gợi ý Ở quê tôi, tụi trẻ con rất thích tụ tập chơi trò Rồng rắn lên mây. Đây là một trò chơi đơn giản, không cần dụng cụ cầu kì, phức tạp. Càng đông người chơi càng vui. Thường là 9 người. Trong số những người chơi, một người sẽ đứng ra làm thầy thuốc, những người còn lại xếp hàng một, người sau nắm áo người trước. Sau đó, tất cả bắt đầu lượn đi lượn lại như con rắn, vừa đi vừa hát: “Rồng rắn lên mây, có cây xúc xắc, hỏi thăm thầy thuốc, có nhà hay không?”. Lúc này, người đóng vai thầy thuốc trả lời: “Thầy thuồc đi…. (chơi, vắng,…)”. Đoàn người tiếp tục hỏi đến khi thầy thuốc trả lời có. Khi đó, giữa hai bên diễn ra cuộc thoại: “Rồng rắn đi đâu?”. Người đứng đầu rồng trả lời: “Mua thuốc cho con”, “Con lên mấy? – Con lên một. Con lên mấy? – Con lên hai… Con lên mấy – Con lên bảy. Cọp nhảy vô chuồng. Thuồng luồng đứt đuôi. Dứt lời, thầy thuốc chạy nhanh đi bắt người chơi đứng cuối cùng. Người đứng đầu rồng phải tìm mọi cách ngăn cản. Nếu người cuối cùng bị bắt hoặc trong lúc chạy, đuôi bị đứt thì đều bị tính là thua cuộc. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Kể lại câu chuyện Nỗi dằn vặt của Anđrâyca bằng lời của bà mẹ
Giới thiệu trò chơi Rồng rắn lên mây
244
Giới thiệu trò chơi ú tim (trốn tìm) Gợi ý Ú tim hay còn gọi là trốn tìm là một trò chơi dân gian quen thuộc của trẻ em Việt Nam. Đây là một trò dễ chơi, cách chơi không cầu kì, số người chơi cũng không bị quy định hay ràng buộc cụ thể, chỉ cần hai ba người cũng có thể chơi được. Người bị chọn phải đi tìm thường là người thua trong trò chơi oẳn tù tì. Người đó phải đứng úp mặt vào tường, nhắm mắt, miệng đọc to: năm, mười, mười lăm, hai mươi….một trăm. Trong lúc đó, những người khác nhanh chóng chạy đi tìm chỗ nấp thật kín. Ai chưa xong mặc kệ. Khi người nhắm mắt đã đọc xong thì mở mắt đi tìm. Nếu không tìm được người nào thì thua. Ngược lại, ai bị tìm thấy phải nhắm mắt đi tìm trong lượt chơi sau. Trò chơi cứ thế tiếp tục. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa (Có dàn ý chi tiết)
Giới thiệu trò chơi ú tim (trốn tìm)
178
Giới thiệu tác gia Nguyễn Trãi Gợi ý Nguyễn Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442, tên tự là Ức Trai, sống ở thời kì lịch sử sôi động của dân tộc, từ cuối đời Trần, trải qua đời Hồ và tới đầu đời Lê. Cha ông là Nguyễn Ứng Long, hiệu là Nguyễn Phi Khanh, quê gốc ở xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây cũ. Nguyễn Ứng Long nổi tiếng hay chữ, học giỏi, được Trần Nguyên Đán gả con cho. Năm 1374, Nguyễn Ứng Long đậu bảng nhãn nhưng không được ra làm quan, về quê dạy học. Năm 1385, ông ngoại Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán về trú ẩn ở Côn Sơn, đem theo cả Nguyễn Trãi, bởi vậy, tuổi nhỏ cuộc đời Nguyễn Trãi gắn với Côn Sơn. Năm 1390, ông ngoại Trần Nguyên Đán mất, Nguyễn Trãi về sống với cha. 1400, Hồ Quý Li cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, mở khoa thi, Nguyễn Trãi đậu Thái học sinh. 1401, Nguyễn Ứng Long đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh, cả hai cha con đều được mời ra làm quan. Năm 1407, giặc Minh xâm lược, cha con Hồ Quý Li bị bắt, Nguyễn Phi Khanh cũng bị bắt. Nguyễn Trãi định đi theo cha để tỏ lòng trung nước, hiếu phụ nhưng Nguyễn Phi Khanh khuyên con trở về tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Trên đường về, Nguyễn Trãi bị giặc Minh bắt, giam lỏng ở thành Đông Quan, bị mua chuộc ra làm quan cho giặc, nhưng ông không nghe. Năm 1417, Nguyễn Trãi trốn khỏi Đông Quan, tìm đường giúp Lê Lợi, dâng Bình ngô sách cho Lê Lợi. Trong quá trình kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi trở thành người trù hoạch quân mưu cho Lê Lợi, thay mặt Lê Lợi giao dịch, trở thành vị quân sư xuất sắc. Năm 1427, cuộc chiến đấu chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi viết “Bình ngô đại cáo”. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Trãi giữ trọng trách quan trọng của đất nước. Những năm sau đó, ông giúp Lê Lợi trị vì đất nước. Nãm 1429, Nguyễn Trãi viết chiếu cầu hiền tài. Năm 1430, viết chiếu chống quan đại thần tham lam, lười biếng. Sau đó, triều đình bắt đầu phân chia bè phái, dèm pha, nghi kị lẫn nhau, đặc biệt là một số công thần đã bị hãm hại. Nguyễn Trãi bất đắc chí, lui về ở ẩn ở Côn Sơn, nhưng tấm lòng vẫn canh cánh việc nước. Năm 1440, vua Lê Thái Tông thấu hiểu tài đức của Nguyễn Trãi, mời ông ra là quan. Lúc này, tuy tuổi đã già nhưng Nguyễn Trãi vẫn nguyện cống hiến hết sức lực của mình. Năm 1442, Nguyễn Trãi về kinh đô làm chủ khảo kì thi hội. Người vợ thiếp của ông là Nguyễn Thị Lộ được làm quan Lễ nghi nữ học sĩ, trông coi việc dạy bảo, học hành của các cung nữ. Cũng trong năm đó, Lê Thái Tông đi Đông Triều, ghé thăm Côn Sơn của Nguyễn Trãi. Khi trở về vua chết đột ngột ở vườn vải (Lệ Chi viên). Sau đó triều đình khép ông vào tội mưu sát vua, bị tru di tam tộc.Xem thêm: Nêu những nét chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cuộc đời Nguyễn Trãi gắn liền với những biến động của lịch sử dân tộc. Ông là bậc đại anh hùng dân tộc, là nhân vật toàn tài số một của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến. Nguyễn Trãi vừa là nhà chính trị, quân sự, vừa là nhà ngoại giao, vừa là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc. Cuộc đời ông chịu nhiều oan khiên thảm khốc nhưng vẫn hết lòng vì dân tộc, vì con người. Năm 1962, nước ta đã tổ chức 520 năm ngày mất của Nguyễn Trãi. Năm 1980, Việt Nam cùng hiệp hội UNESCO kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông. Nguyễn Trãi là người Việt Nam đầu tiên được ghi vào danh sách những danh nhân thế giới. Nguyễn Trãi để lại một sự nghiệp văn học với khối lượng đồ sộ, phong phú. Ông là người viết nhiều nhất trong các tác giả văn học cổ, ở nhiều thể loại khác nhau, cả chữ Hán và chữ Nôm. Bộ phận văn chương chữ Hán của ông chủ yếu là văn chính luận, được in trong Quân trung từ mệnh tập, bao gồm trên dưới 70 bài, chủ yếu là thư gửi tướng tá nhà Minh. Bộ Lam Sơn thực lục là tập kí sự lịch sử ghi lại toàn bộ cuộc kháng chiến chống Minh, nổi tiêng nhất là Bình Ngô đại cáo. Bộ Dư địa chí bao gồm những vấn đề địa lí, lịch sử, dân tộc học, có giá trị rất lớn. Ức Trai thi tập bao gồm hơn 100 bài thơ chữ Hán đặc sắc, phong phú. Bộ phận văn chương chữ Nôm nổi tiếng nhất là Quốc âm thi tập gồm khoảng 254 bài thơ viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra, sáng tác của Nguyễn Trãi cũng bị mất một số trong vụ án Lệ Chi viên. Năm 1467, Lê Thánh Tông mới hạ chỉ tập hợp, sưu tầm thơ Nguyễn Trãi sau khi đã rửa oan cho ông.Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông đồ Tiếng thơ Nguyễn Trãi thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân sâu nặng. Chủ nghĩa yêu nước trong thơ ông không trừu tượng mà gắn chặt với nhiệm vụ lịch sử cụ thể. Yêu nước là nhân nghĩa, là căm thù giặc, là chiến đấu không khoan nhượng, là ý thức tự lực, tự cường, là khát vọng hòa bình sâu thẳm. Chủ nghĩa yêu nước tiếp thu tinh thần hào khí Đông A, phát triển rực rỡ ở tính chiến đấu mạnh mỡ. Chủ nghĩa yêu nước thơ văn Nguyễn Trãi có nội dung phong phú, trở thành tập đại thành của truyền thống yêu nước trong lịch sử và trong văn học, tạo ngọn cớ rực rỡ cho thơ văn yêu nước thế kỉ XV. Thơ ông còn là tiếng nói bi phẫn, đau đời, thể hiện khát vọng tự do tự tại và bộc lộ tình yêu thiên nhiên, con người nồng nàn, tha thiết. “Có người nói thơ của Nguyễn Trãi buồn vì cảnh đời của Nguyễn Trãi buồn. Thơ Nguyễn Trãi có bài buồn, có câu buồn vì lẽ gì chúng ta đều biết nhưng cả tập thơ của ông là thơ của một người yêu đời, yêu người. Tâm hồn của Nguyễn Trãi sống một nhịp với non sông, đất nước tươi vui” (Phạm Văn Đồng). Nguyễn Trãi cho đến tận bây giờ và mãi mãi về sau vẫn luôn xứng đáng là bậc đại thi hào của dân tộc. Không phải ngẫu nhiên ông được Lê Thánh Tông viết “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”. Sự vĩ đại của Nguyễn Trãi không chỉ ở tài năng mà còn ở tâm hồn, tấm lòng. Đó là hình ảnh của bậc đại anh hùng với “tâm hồn lộng gió thời đại, hình ảnh con người đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam” (Phạm Văn Đồng).Xem thêm: Em hiểu ý nghĩa của tết trồng cây do Bác Hồ phát động như thế nào và phong trào đó ở khắp nơi trên đất nước ta?Vanmau.edu.vn
Giới thiệu tác gia Nguyễn Trãi
1,276
Giới thiệu tác giả, xuất xứ, chủ đề và bố cục bài hát nói Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Hướng dẫn 1. Tác giả Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) hiệu là Hi Văn, quê ở Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; học giỏi, giàu chí khí, tài hoa, đỗ thủ khoa; văn võ toàn tài, nhiều thăng trầm trên đường công danh hoạn lộ; giàu lòng yêu nước thương dân; lấn biển khai hoang, di dân lập ra 2 huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Năm 80 tuổi, ông vẫn xin vua cầm quân ra trận đánh Pháp (1858). Thơ văn để lại: Trên 50 bài thơ, trên 60 bài hát nói và một bài phú nôm nổi tiếng "Hàn nho phong vị phú ", một số câu đối Nôm rất thâm thuý. Đi thi tự vịnh, Nợ tang bồng, Nợ công danh, Chí nam nhi, Trên vì nước dưới vì nhà, Bài ca ngất ngưởng… là những bài thơ rất nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ. 2. Xuất xứ, chủ đề – "Bài ca ngất ngưởng" viết sau năm 1858 – là năm Nguyễn Công Trứvềtrí sĩ ở Hà Tĩnh quênhà. – Như một lời tự thuật cuộc đời, qua đó Nguyễn Công Trứ tự hào về tài năng và công danh, bày tỏ một quan niệm sống tài tử, phóng khoáng… ngoài vòng kiềm tỏa. 3. Bốcục bài hát nói – Khổ đầu (4 câu): Có tài danh nên ngất ngướng. – Khổ giữa (4 câu tiếp): Có danh vọng, về trí sĩ càng ngất ngưởng. – Hai khổ dôi (8 câu tiếp): Một cuộc sống tài tử, phóng túng ngất ngưởng. – Khổ xếp (3 câu cuối): Một danh thần nên ngất ngưởng. Nguồn: thêm: Viết đoạn văn bình luận về đóng góp to lớn của các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam
Giới thiệu tác giả, xuất xứ, chủ đề và bố cục bài hát nói Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
298
Giới thiệu tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Gợi ý Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là đại thi hào dân tộc, người anh hùng cứu quốc thuở "Bình Ngô", danh nhân văn hoá Đại Việt nói riêng và thế giới nói chung. Thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, sâu sắc, là biểu tượng cao quý của nền vãn hiến Việt Nam. Điều đó được thể hiện trong tập thơ “Quốc âm thi tập”. Sau cái chết của Nguyễn Trãi, bè lũ gian thần trong triều Lê tiến hành tru di họ tộc nhà Nguyễn Trãi. Thơ văn Nguyễn Trãi cũng bị huỷ, không ai dám tàng trữ. Đời Lê Thánh Tông mới có lệnh cho sưu tầm. Nhưng phải đến năm 1868, nhà nghiên cứu Dương Bá Cung mới sưu tầm và lưu giữ thành công. Những tác phẩm của Nguyễn Trãi được truyền lại đến ngày nay là thành quả của lần tìm kiếm này. “Quốc âm thi tập” cũng nằm trong số đó. “Quốc âm thi tập” là tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi, cũng là tập thơ Nôm cổ nhất, phong phú nhất của Việt Nam còn lại đến nay. Tập thơ gồm 254 bài chia thành 4 mục: Vô đề (ngôn chí, mạn thuật, trần tình, thuật hứng, tự thuật…); Thì lệnh môn; Hoa mộc môn; cầm thú môn. Phần lớn các bài thơ trong "Quốc âm thi tập" không có nhan đề. Đa phần là thơ tâm sự, tỏ chí hướng, rất khó để biêt thời gian sáng tác của từng tác phẩm.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn ghi ta trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo Nội dung của tập thơ hướng đến việc ca tụng thú thanh nhàn, tự hào mình đã “đổi công danh lấy một cần câu”… và cũng để lộ nỗi đau không che giấu là không có cơ hội giúp nước, không gặp người cùng mình thực hiện chí lớn. Ngoài ra, có một sô’ bài làm để tự ràn mình, khuyên bảo con cháu trong nhà giữ vững đạo đức, nhân phẩm, theo đúng lời dạy của thánh hiền (Bảo kính cảnh giới). Cũng là một khía cạnh của thơ tâm sự, thơ về thiên nhiên là một mảng nội dung lớn trong “Quốc âm thi tập”. Thơ thiên nhiên của Nguyên Trãi hợp với thú an nhàn, làm dịu bớt nỗi đau, trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Thể thơ trong “Quốc âm thi tập” rất đặc biệt. Có bài thất ngôn bát cú, có bài thất ngôn tứ tuyệt; nhiều bài giữa những câu 7 tiếng, xen 1 – 2 câu 6 tiếng. Đó là thể thơ riêng của thế kỉ XV. Nguyễn Trãi dùng nhiều ca dao, tục ngữ, nhiều từ cổ, và có ý thức dùng từ thuần Việt thay từ Hán Việt. Đặc điểm nổi bật nhất và cũng là thành công lớn nhất về nghệ thuật của tập thơ là đã sử dụng thành công ngôn ngữ tiếng Việt, chữ Nôm. Từ ngữ trong Quốc âm thi tập được tiếp thu từ những thành tựu vãn Nôm đời Trần, cải biên từ ngữ liệu Trung Quốc, song chủ yếu là chuốt lọc và phát triển từ tiếng nói của nhân dân. Trong tập thơ này, từ thuần Việt chiếm ưu thế hơn so với từ Hán – Việt, từ đơn âm được dùng với số lượt cao, sử dụng hư từ với tỉ lệ cao… Với lượng từ phong phú, có giá trị nghệ thuật, tác giả Quốc âm thi tập không chỉ thành công trong việc diễn tả những trạng huống tình cảm của bản thân mà còn góp phần thúc đẩy ngôn ngữ văn học viết bằng tiếng Việt phát triển. Không chỉ vậy, sáng tác thơ Nôm, Nguyễn Trãi dựa vào thể thơ Đường luật song ông chủ trương 285 phát huy cao độ những yếu tố dân tộc về mặt hình thức như cách gieo vần theo gốc dân gian; lối ngắt nhịp câu thơ khiến nhịp ở cuối câu là nhịp chẵn; đưa câu lục vào trong thơ, dùng xen với câu thất ngôn làm cho bài thơ giàu có về tiết điệu. Đó là điều ít gặp trong thơ Đường luật. Có thể xem đây là biểu hiện nỗ lực của Nguyễn Trãi trong hành trình đi tìm một lối thơ dân tộc.Xem thêm: Khi bàn về chủ đề “Quan niệm về hạnh phúc của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay” có ý kiến cho rằng: “Muốn có hạnh phúc thì phải kiếm được nhiều tiền, vì có tiền là có tất cả”. Anh (chị) có ý kiến gì về quan niệm trên Với những giá trị to lớn về nội dung và nghệ thuật, “Quốc âm thi tập” là tập thơ tiêu biểu trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn Trãi. Và từ "Quốc âm thi tập", Nguyễn Trãi đã tự khẳng định mình, như học giả_Lê Trí Viễn từng nhận xét: "Nguyễn Trãi là bông hoa đầu mùa tuyệt đẹp của thơ nôm Việt Nam”. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
854
Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 11 vừa qua với một đoàn khách đến thăm Gợi ý Kính thưa các thầy giáo, cô giáo! Kính thưa các cô, các bác trong đoàn đại biểu! Thưa các bạn học sinh lớp 3A thân mến! Em xin được thay mặt tổ 2 giới thiệu về một số hoạt động của tổ em trong tháng qua, tháng 11 năm 2009. Em xin tự giới thiệu, em là Nguyễn Hà Linh, tổ trưởng. Tổ em có tất cả 11 bạn (1 bạn mới chuyển từ tổ 3 sang). Hầu hết các bạn trong tổ đều hăng hái hoạt động, tham gia đầy đủ, nhiệt tình mọi phong trào thi đua giành nhiều bông hoa điểm 10 để chào mừng ngày Hiến chương các nhà giáo Việt Nam. Kết quả cụ thể của tổ em như sau: – Về học tập: + Ưu điểm: 8 bạn đạt bông hoa điểm 10, hầu hết các bạn thực hiện tốt nội quy của trường lớp. + Nhược điểm: Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng còn một số tồn tại như: 2 bạn đi học muộn hôm trời mưa to, 1 bạn chưa học bài cũ ở nhà. – Về lao động: Hoàn thành kế hoạch do lớp phân công là tưới cây quanh sân trường. – Về các hoạt động khác: có tham dự để cổ vũ cho cuộc thi kéo co của các anh chị khối 4, 5. Tham gia tiết mục hát tập thể nhưng chưa đạt được giải thưởng.Xem thêm: Bạn Mùi Thu Thủy kể lại buổi đầu tiên đi họcEm đã trình bày xong một số những hoạt động của tổ em trong tháng vừa qua. Chúng em xin hứa sẽ tiếp tục phấn đấu hơn nữa để đạt được kết quả tốt hơn trong thời gian tới. Thay mặt nhóm và lớp, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các cô, các bác trong đoàn đại biểu đã đến thăm và động viên, lớp chúng em. Xin kính chúc các thầy cô giáo và các cô, các bác cùng toàn thể các bạn mạnh, khỏe, hạnh phúc. Hẹn gặp lại! Vanmau.edu.vn
Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 11 vừa qua với một đoàn khách đến thăm
357
Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 3 vừa qua với một đoàn khách đến thăm Gợi ý Kính thưa các thầy giáo, cô giáo! Kính thưa các cô, các bác trong đoàn đại biểu! Thưa toàn thể các bạn học sinh thân mến! Lời đầu tiên cho em được gửi tới các thầy cô giáo, các cô, các bác, cùng toàn thể các bạn lời chúc sức khoẻ và hạnh phúc. Em xin phép được thay mặt tổ 1 giới thiệu về các hoạt động của tổ em trong tháng qua. Em xin tự giới thiệu, em là Nguyễn Trịnh Hà Trang, tổ trưởng. Tổ em gồm 12 bạn, được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm gồm 4 thành viên. Nhóm 1 do bạn Nguyễn Tuấn Thành là nhóm trưởng. Nhóm 2 do bạn Nguyễn Xuân Nhi làm nhóm trưởng. Nhóm 3 do bạn Nguyễn Hoàng Giang làm nhóm trưởng. Trong tháng 3 vừa qua cả ba nhóm chúng em đã rất tích cực tham gia các hoạt động để chào mừng ngày thành lập Đoàn. Thành tích cụ thể như sau: – Về bọc tập: Cả tổ không có học sinh vi phạm các nội quy như không đi học muộn, không bỏ giờ, trôn tiết, không học bài. – Về lao động: Dưới sự phân công của Liên đội nhà trường, của lớp, tổ em đã tham gia một buổi lao động vệ sinh hè phố. Tổ còn tình nguyện tham gia cuộc phát động “Hãy bảo vệ môi trường”.Xem thêm: Hãy viết bài văn miêu tả cây Phượng vĩ vào một ngày hè– Về văn thể mỹ: Tham gia đầy đủ buổi mít tinh kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26.3 Trên đây là kết quả rèn luyện của tổ em. Tổ em rất vui vì được các thầy cô cùng các cô bác đến thăm lớp, thăm tổ. Em xin thay mặt các bạn trong tổ, thay mặt lớp chân thành cảm ơn sự quan tâm của các thầy cô và toàn thể các cô, các bác. Một lần nữa em xin chúc các thầy cô và các cô, các bác cùng toàn thể các bạn mạnh khỏe. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu và kể về hoạt động của tổ em trong tháng 3 vừa qua với một đoàn khách đến thăm
356
Giới thiệu vài nét về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư Hướng dẫn Năm 1285, Thoát Hoan mang 50 vạn quân sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất mạnh; kinh thành Thăng Long thất thủ. Vị Tiết chế thống lĩnh đã tổ chức một cuộc rút lui chiến lược tài tình, để bảo toàn binh lực, chờ thời cơ phản công. Xuân – hè năm Ất Dậu, quân ta phản công như vũ bão. Trận Hàm Tử quan do tướng Trần Nhật Duật chỉ huy, quân ta thắng lớn, tướng Mông cổ là Toa Đô bị chém cụt đầu. Đầu tháng 6, tại Chương Dương độ, Trần Quang Khải đại thắng. Hàng vạn giặc bị tiêu diệt, bị bắt sống. Quân ta thu được nhiều chiến thuyền, vũ khí, lương thảo của giặc Mông cổ. Thừa thắng, quân ta tiến lên giải phóng thành Thăng Long, rồi quét sạch quân giặc ra khỏi bờ cõi. Trần Quang Khải cùng đoàn quàn thắng trận rước xa giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long. Trong hoàn cảnh lịch sử hào hùng ấy, Thượng tướng Trần Quang Khải đã viết bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật; luật trắc, vần bằng, có hai vần: ‘quan – san’-, hai câu 1, 2 đối nhau: ‘Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thừ giang san’ Đây là bản dịch thơ của học giả Trần Trọng Kim: ‘Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu’ Chủ đề: Bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’thể hiện lòng tự hào về niềm vui thắng trận, đồng thời nói lên nghĩa vụ công dân hãy đem tài trí xây dựng đất nước thái bình bền vững muôn đời. Nguồn: thêm: Em hãy phân tích vẻ đẹp ngôn từ trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc)
Giới thiệu vài nét về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư
331
Giới thiệu vài nét về Nguyễn Tuân và truyện “Chữ người tử từ” Gợi ý – Tác giả Nguyễn Tuân (1910 – 1987) người Hà Nội. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: tài hoa, tài tử, uyên bác, độc đáo. Tác phẩm của Nguyễn Tuân là những tờ hoa, trang văn đích thực thể hiện tấm lòng gắn bó thiết tha với những giá trị văn hoá cổ truyền, với nếp sống thanh cao, đầy nghệ thuật của ông cha,… Nguyễn Tuân sở trường vẽ tuỳ bút. Tác phẩm tiêu biểu: "Vang bóng một thời" (1940), "Sông Đà" (1960), "Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi" (1972),v.v… – Xuất xứ "Vang bóng một thời" có 12 truyện, xuất bản năm 1940. "Chữ người tử tù" rút trong "Vang bóng một thời". – Chủ đề Tác giả ngợi ca Huấn Cao – một nhà nho chân chính – giàu khí phách chọc trời quấy nước, có tài viết chữ, qua đó khẳng định một quan niệm sống: phải biết yêu quý cái đẹp, đồng thời phải biết coi trọng thiên lương Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết)
Giới thiệu vài nét về Nguyễn Tuân và truyện “Chữ người tử từ”
187
Giới thiệu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân (khoảng 30 dòng) Gợi ý Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân thường viết về ba đề tài: “Chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp "Vang bóng một thời" và đời sống trụy lạc. Dù viết về đề tài nào thì ở nơi mạch ngầm của các trang sách, vẫn là lòng yêu nước thiết tha, tinh thần dân tộc sâu sắc. Ở Nguyễn Tuân lòng yêu nước có màu sắc riêng gắn với những giá trị văn hoá, nghệ thuật nghìn năm của dân tộc. Ông là nhà văn rất mực tài hoa, suốt đời đi tìm cái đẹp và thể hiện cái đẹp của thiên nhiên đất nước, của văn chương nghệ thuật, của văn hoá phong tục và của tâm hổn Việt Nam. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc đã khiến Nguyễn Tuân nhiệt liệt chào đón cách mạng, hăng hái tham gia cách mạng và kháng chiến, dùng ngòi bút ngợi ca đất nước, nhân dân và đánh giặc. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân quan niệm cái đẹp chỉ có trong quá khứ "Vang bóng một thời". Nó chỉ còn vương sót lại ở những con người kiệt xuất và hiếm hoi như ông Huấn Cao trong "Chữ người tứ tù" (Vang bóng một thời), và Nguyễn Tuân đem đối lập nó với hiện tại và tương lai Sau Cách mạng, ông nhận ra cái đẹp trong quá khứ và hiện tại hoà hợp với nhau và có ở cá nhân dân đại chúng, ở người công nhân cầu đường, ở ông lái đò sông Dà (Ngưni lái đò Sông Đà), ở anh lính cao xạ hay ở cô dân quân tròn trận đia pháo (hà Nội ta đánh Mỹ giỏi), V.V… Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của bản "Tuyên ngôn độc lập" (Hồ Chí Minh) Nguyễn Tuân là nhà văn có một phong cách nghê thuật hết sức độc đáo. Ông tiếp cận thiên nhiên và con người chủ yếu ở phương diện văn hoá nghệ thuật, phương diện tài hoa nghệ sĩ. Ong đặc biệt sở trường về thể văn tuỳ bút mà ông gọi là "Chơi lối độc tấu". Nguyên Tuân cũng được coi là bậc thầy của ngôn ngữ văn học. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân (khoảng 30 dòng)
399
Giới thiệu về bia Vĩnh Lăng Gợi ý Bia Vĩnh Lăng dựng năm. 1443 trên đỉnh đồi ở phía đông Tây Hồ, tây nam điện Lam Kinh. Khoảng cách giữa lăng và nhà bia chừng 300 m. Mặt bia nhìn về hướng nam. Bia làm bằng đá nguyên khối cao 2,79 m; rộng l,94 m; dày 0,27 m, đặt trên lưng một con rùa đá đài 3,46 m; rộng l,94 m và cao 0,90 m (kế cả đế). Ngày trước có nhà bia nhưng đã bị cháy còn trơ lại các chân cột bằng đá. Nhà bia hiện tại mới được dựng lại năm 1961, nền hình vuông, mỗi cạnh 8,8 m, bôn mái cong, lợp ngói mũi hài, đỡ bằng 16 cột, mỗi góc có 4 cột theo kiểu kiến trúc thời Lê. Trán bia trang trí hình vuông, trong là hình tròn tượng trưng cho trời và đất. Giữa hình vuông và hình tròn là hình mây cách điệu tinh tế. Chính giữa khắc một đầu rồng nhìn thẳng, thân uôn lượn uyên chuyến quanh mặt trời, biểu trưng là thiên tử (con trời) được sinh ra do trời và đât. Hai bên riềm bia, mỗi bên có 9 hình nửa lá đề, trong mỗi lá đề là rồng uốn lượn, đầu vươn lên trên nối tiếp nhau, phần còn lại chạm hình hoa cúc dây rất tinh xáo. Văn bia ngắn gọn, cô đọng, mô thuật toàn bộ gia tộc, thân thể, sự nghiệp, công lao của vua Lê Thái Tổ và ca ngợi lòng khoan dung độ lượng đối với kẻ thù. Văn bia do danh nhân văn hoá, anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi soạn.Xem thêm: Sống như thế nào trong thế kỉ XXI? (đề mở)Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về bia Vĩnh Lăng
286
Giới thiệu về ca dao Việt Nam Gợi ý Ca dao (còn gọi là phong dao) được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặe không có khúc điệu; trong trường hợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca. Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, từ ca dao đã dần dần chuyển nghĩa. Hiện hay, từ ca dao thường được dùng để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đa hơi). Với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống. Về nội dung, có thể dễ nhận thấy ca dao Viật Nam là thơ trữ tình – trò chuyện diễn tả tình cảm, tâm trạng của một số kiểu nhân vật trữ tình: người mẹ, người vợ, người con… trong quan hệ gia đình; chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu lứa đôi; người phụ nữ, người dân thường… trong quan hệ xã hội. Nó không mang dấu ấn tác giả như thơ trữ tình (của văn học viết) mà thể hiện tình cảm, tâm trạng của các kiểu nhân vật trữ tình và có cách thể hiện tình cảm, thế giới nội tâm mang tính chung, phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương… của các kiểu nhân vật này. Tuy nhiên, dù mang tính chất chung nhưng ìnỗi bài ca dao lại có nét riêng độc đáo, sáng tạo, thể hiện được sự phong phú, da dạng của sắc thái tình cảm. Xem thêm: Một lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại Về nghệ thuật, nét đặc sắc nổi bật nằm ở thể thơ. Hơn 90% các bài ca dao đã sưu tầm được đều sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Ngoài ra, ca dao còn có các dạng hình thức khác như thơ song thất lục bát (câu thơ bảy tiếng kết hợp với câu thơ sáu – tám tiếng), vãn bốn (câu thơ bốn tiếng), vãn năm (câu thơ năm tiếng). Ca dao rất giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ và biểu tượng mang tính truyền thống như hạt mưa, tấm lụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò, chiếc khàn… những hình ảnh quen thuộc, gắn với cuộc sông của người bình dân. Các hình thức lặp lại cũng là đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của ca dao: lặp kết cấu, lặp hình ảnh, lặp hình thức mở đầu hoặc lặp từ, cụm từ,… Được tổ chức dưới hình thức thơ ca nhưng ngôn ngữ của ca dao vẫn rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm chất địa phương và dân tộc. Ca dao có một vai trò thẩm mĩ rất cao trong đời sống người Việt Nam. Mỗi người, bất kể giàu nghèo, sang hèn., đều có thể lấy ca dao là tiếng nói tâm tư, tình cảm của mình, có thể soi lòng mình trong ca dao. Cho nên, ca dao còn được coi là “thơ của vạn nhà”, là gương soi của tâm hồn và đời sống dân tộc; nơi lưu giữ vẻ đẹp tâm hồn dân tộc, nguồn mạch vô tận cho thơ ca..Xem thêm: Ông cha ta thường nói: “Có học phải có hạnh”. Em hiểu ý kiến gì về lời dạy trênVanmau.edu.vn
Giới thiệu về ca dao Việt Nam
617
Đề bài: Em hãy giới thiệu về chiếc bánh trưng ngày tết ở Việt Nam. Tết Nguyên Đán ở Việt Nam là cái Tết cổ truyền đã có tự ngàn xưa với: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Trên bàn thờ ngày Tết của mỗi nhà, nhất thiết phải có bánh chưng. Giai thoại kể rằng hoàng tử Lang Liêu con vua Hùng đã được thẩn linh mách bảo, dùng lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn… làm ra thứ bánh này để cúng Trời Đất, Tiên Vương và dâng lên vua cha. Nhờ đó mà chàng được vua cha truyền lại cho ngôi báu. Cũng từ đấy, bánh chưng được dùng để cúng vào dịp Tết. Tục lệ tốt đẹp ấy còn tồn tại cho tới ngày nay. Nhìn chiếc bánh chưng, ta thấy mộc mạc, giản dị vô cùng, nhưng để làm ra nó lại tốn không ít công phu. Cứ đến hàm bảy, hăm tám Tết là các bà phải lo đi chợ mua lá dong cùng với mấy bó lạt giang. Lá dong phải to bản, lành lặn. Tốt nhất là lá dong bánh tẻ, không già, không non thì gói bánh mới đẹp. Lạt giang chẻ sẵn, mỏng và mềm, màu vàng ngà, rất ăn ý với lá dong xanh. Gạo nếp cái hoa vàng vừa dẻo vừa thơm được ngâm từ đêm trước, đem xả rồi xóc cho ráo nước. Đậu xanh đãi sạch vỏ. Thịt lợn xắt miếng to cỡ nửa bàn tay ướp muối, tiêu, hành chó thấm. Lá dong đã được cắt cuống, rửa sạch, lau khô… Tất cả bày sẵn ra chiếc nong, chờ người gói. Xem thêm: Phân tích truyện ngắn Tôi đi học của Thanh TịnhCái cắnh gói bánh chưng ngày Tết mới vui vẻ và đầm ấm làm sao! Cả nhà quây quần quanh bà. Bà trải lá ra mâm, đong một bát gạo đổ vào, dàn đều rồi đổ nửa bát đỗ, xếp hai miếng thịt, lại thêm nửa bát đỗ, một bát gạo nữa. Tay bà khéo léo đãi gạo che kín đỗ và thịt rồi nhẹ nhàng bẻ bốn góc lá cho vuông vức, sau đó xiết chặt từng chiếc lạt. Chẳng mấy chốc, chiếc bánh chưng đã được gói xong. Suốt một buổi sáng cặm cụi, bận rộn, bà đã gói hết thúng gạo. Bố tôi buộc hai cái thành một cặp rồi xếp vào chiếc nồi thật lớn, chuyên dùng để luộc bánh. Đám trẻ chúng tôi được bà gói cho mỗi đứa một chiếc bánh chưng be bé. Chùm bánh ấy để ở trên cùng và sẽ vớt ra trước nhất. Phía góc sân, bốp lửa đã cháy đều. Năm nào, ông tôi hoặc bố tôi cũng giữ nhiệm vụ canh lửa, canh nước cho nồi bánh chưng. Những gộc tre, gộc củi khô tích trữ quanh năm giờ được đem ra đun. Ngọn lửa nhảy nhót réo ù ù, tàn than tí tách bắn ra xung quanh những chấm đỏ rực trông thật vui mắt. ông tôi bảo phải đun cho lửa cháy thật đều thì bánh mới rền, không bị hấy. Anh em tôi xúm xít bên ông, vừa hơ tay cho khỏi cóng, vừa nghe ông kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Đến những đoạn thú vị, ông cười khà khà, rung cả chòm râu bạc. Khoảng tám giờ tối thì bố tôi dỡ bánh, xếp rải ra trên chiếc chõng tre ngoài hiên. Hơi nóng từ bánh bốc lên nghi ngút, toả ra một mùi thơm ngậy, nồng nàn. Bố tôi đã chuẩn bị hai tấm ván gỗ và chiếc cối đá để nén bánh. Khó có thể tả nổi niềm sung sướng, hân hoan của lũ trẻ chúng tôi khi được nếm chiếc bánh chưng nhỏ xỉnh, nóng hổi. Nếp dẻo, đỗ bùi, thịt béo… ngon quá là ngon! Tưởng chừng như chẳng có thứ bánh nào ngon hơn thế! Chiều ba mươi Tết, trên bàn thờ đèn nến sáng trưng, hương trầm nghi ngút, những cặp bánh chưng xanh được trân trọng bày bêh cạnh đĩa ngũ quả, hộp trà, hộp mứt, chai rượu… và mâm cỗ tất niên để cúng trời đất, tổ tiên, đón các cụ về ăn Tết cùng con cháu. Nỗi xúc động rưng rưng trong lòng mỗi người. Không khí thiêng liêng của ngày Tết thực sự bắt đầu. Xem thêm: Điều quan trọng làm nên thành công của đoạn trích Trong lòng mẹ (Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng) là giọng văn giàu chất trữ tình. Em có đồng ý như vậy không? Viết đoạn văn nêu những ý kiến của em
Giới thiệu về chiếc bánh trưng ngày tết
774
Giới thiệu về chợ nổi miền Tây Nam Bộ Gợi ý Gọi là chợ nổi vì chợ họp ở trên sông. Giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm chiếc ghe, xuồng của người quanh vùng về đây tụ tập mua bán. Chợ họp suốt cả ngày, nhưng nhộn nhịp nhất là vào buổi sáng. Thuyền, ghe tấp nập đi lại, luồn lách trên mặt nước. Tiếng chào mời mua bán, tiếng cười nói gọi nhau, tiêng ồn ã của động cơ… làm vang động cả một vùng, quang cảnh nhộn nhịp và sôi động. Trên thuyền chất đầy hàng hoá, nhiều nhất vẫn là trái cây, mùa nào thức nấy: chôm chôm, xoài, cam, quýt, bưởi, măng cụt, sầu riêng…, sản vật của vùng sông nước kênh rạch như cá, rùa, rắn, cua, tôm, chim đồng, bông súng, rau tươi… Chủ nhân của ghe, thuyền treo lủng lẳng một vài thứ trái cây, hàng hoá hay một bảng hiệu quảng cáo trên chiếc sào nơi thuyền của mình, cái cao cái thấp, cái thẳng cái nghiêng trông thật lạ mắt. Các loại dịch vụ ăn uống, hớt tóc, may vá… cũng diễn ra ngay trên ghe, xuồng, rất tiện dụng và dường như thỏa mãn mọi nhu cầu mua sắm sinh hoạt đời thường của người dân vùng này. Các chợ nổi lớn của miền Tây như Phụng Hiệp, Phong Điền, Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang)… Phần lớn nông sản hàng hoá ở đây được bán sỉ cho những thương nhân rồi từ đó được chuyển tới các nhà máy chế biến thực phẩm, hoa trái hay chở ra tận Hà Nội và các địa phương miền Bắc. Chợ nổi là nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của người dân vùng châu thổ sông Cửu Long.Xem thêm: Tả một đêm trăng đẹp lớp 5Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về chợ nổi miền Tây Nam Bộ
306
Giới thiệu về chợ quê Gợi ý Ở nông thôn Việt Nam, thường mỗi xã hoặc một vài làng liền kề nhau có một cái chợ. Chợ là nơi trao đổi hàng hoá của cư dân địa phương. Chợ đặt ở làng nào, xã nào thường lấy tên của làng, xã ấy mà gọi. Nói nôm na đó là lọại chợ quê. Quang cảnh chợ quê rất đơn gian, vài cái lều lợp gianh, lợp lá trên mấy cái cọc tre nhỏ, đơn giản. Có khi không có lều quán mà chỉ là một bãi đất trống. Người bán bày sản phẩm thành hàng, thành dãy hai bên Ịốì đi. Chủng loại hàng hoá, đa phần là những sản vật địa phương do vậy mà thay đối theo mùa, vụ. Chợ quê cũng có sự "phân cấp" một cách tự nhiên thành chợ làng, chợ xã, chợ huyện, chợ tỉnh… Người ta gọi chợ theo cấp hành chính và quy mô chợ cũng từ đó mà to dần lên. Ngày nay chỉ còn dấu vết chợ quê ớ lảng, ở xã, còn chợ huyện, chợ tỉnh hầu như đã biến thành những trung tâm buôn bán lớn trong vùng. Do nhu cầu trao đổi, mua bán nên ngày nào cũng họp chợ. Vì vậy mà mất đi phiên chợ truyền thống ngày trước. Chợ quê lại có hai loại, chợ phiên và chợ hôm. Chợ phiên họp vào những ngày theo một chu kỳ nhất định. Khi nói chợ họp ngày ba và ngày tám, có nghĩa là phiên chợ họp vào những ngày mồng ba, mồng tám, mười ba, mười tám, hai ba, hai tám hàng tháng (theo âm lịch). Gần đây nhiều chợ chọn ngày chủ nhật làm phiên họp chính. Phiên chợ chính bao giờ cũng đông người hơn phiên chợ xép (chợ họp không đúng phiên). Ngoài những sản phẩm địa phương, ở chợ phiên mặt hàng đa dạng hơn bởi sự góp mặt của các hàng công nghiệp đắt tiền.Xem thêm: Top 10 website học văn lớn nhất trên mạng InternetChợ hôm thì ngày nào cũng họp. Người mua người bán chỉ thưa thớt, trao đồi những hàng thiết yếu hàng ngày, hàng tươi sống như rau, hoa quả, dầu, muối, tôm cá, trứng… Chợ thường họp vào buổi sáng sớm hay chiều. Nếu chợ họp vào buổi chiều người ta hay gọi là chợ chiều. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về chợ quê
397
Giới thiệu về cuộc thi diều sáo ở lễ hội đền Hùng, thôn Cổ Tích, Lâm Thao, Phú Thọ Gợi ý Hàng năm, cứ vào dịp lễ hội đền Hùng diễn ra tại thôn Cổ Tích, Lâm Thao, Phú Thọ lại diễn ra cuộc thi diều sáo. Cuộc thi này diễn ra trong một ngày nhưng trước đó, người tham gia dự thi phải mất rất nhiều ngày để chuẩn bị những con diều thật lớn, thật đẹp và có thể phát ra những tiếng sáo hay nhất. Khung diều làm bằng cật tre, thân diều làm bằng giấy hoặc vải. Diều thả bằng dây thép nhỏ. Sáo diều có ba loại chính phân chia theo tiếng kêu. Tiếng vang như tiếng cồng thu quân gọi là sáo cồng. Tiếng kêu như lời than vãn gọi là sáo đấu. Còn tiếng kêu the thé như tiếng còi là sáo còi. Đã là cuộc thi diều sáo nên ban giám khảo đánh giá rất cao tiếng sáo do con diều phát ra. Tuy nhiên, trước đó cũng phải xem diều lên có bổng, dây diều có căng hay không, lúc bay trên không diều có lắc lư lảo đảo hay không. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Em đã có dịp xem vô tuyến, phim ảnh báo chí, sách vở về hình ảnh một lực sĩ đang cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấy
Giới thiệu về cuộc thi diều sáo ở lễ hội đền Hùng, thôn Cổ Tích, Lâm Thao, Phú Thọ
227
Giới thiệu về cuộc đời của nhân vật Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Hồ Xuân Hương là con gái của một ông đồ nho xứ Nghệ. Bà sinh ra và lớn lên ở đất Kinh kì Thăng Long (chưa rõ năm sinh và năm mất) vào khoảng cuối thế ki 18 đến nửa đầu thế kí 19. Là người cùng thời với thi hào Nguyễn Du, bà từng giao thiệp, hoạ thơ với một sô' tao nhân mặc khách thời bấy giờ. Cuộc đời bà trải qua nhiều bất hạnh về mặt tình duyên: làm vợ lẽ ông phủ Vĩnh Tường, làm vợ lẽ Tổng Cóc: ‘Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi! Cái nợ ba sinh đã trả rồi…’ (‘Khóc ông phủ Vĩnh Tường’) ‘Hỡi chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi…’ (‘Khóc Tổng Cóc’) Tài thơ của Hồ Xuân Hương rất độc đáo, đặc sắc. Tác phẩm của nữ sĩ gồm có khoảng 50 bài thơ Nôm thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú Đường luật, tập thơ chữ Hán ‘Lưu Hương kí’. Hồ Xuân Hương đã chế giễu, phê phán lễ giáo phong kiến, đả kích những thói hư tật xấu, đạo đức giả của tầng lớp thống trị, bọn thầy chùa phá giới, v.v… Bà lên tiếng đề cao hoặc bênh vực người phụ nữ… Nội dung thơ Hố Xuân Hương giàu giá trị nhân bản. Đề tài thơ Hồ Xuân Hương rất bình dị: quả mít, con ốc nhồi, bánh trôi, cái quạt, đánh đu, tát nước, v.v… Thơ của bà đa nghĩa, hóm hỉnh, sắc sảo. Có bài trào phúng sâu cay. Có bài trữ tình như kết đọng nhiều tiếng thở dài ngao ngán. Hồ Xuân Hương đã có nhiều đóng góp trong việc Việt hóa thơ Đường luật. Nữ sĩ là ‘Bà chúa thơ Nôm’trên thi đàn dân tộc. Nguồn: thêm: Giải thích câu tục ngữ Học, Học Nữa, Học Mãi
Giới thiệu về cuộc đời của nhân vật Hồ Xuân Hương
313
Giới thiệu về di tích lịch sử của địa phương Gợi ý Di tích Lam Kinh thuộc huyện Thọ Xuân, cách thành phô Thanh Hoá khoảng 50 km về phía tây bắc, năm 1962 được Bộ Văn hoá xếp hạng. Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ỏ Đông Kinh (Thăng Long), ông đã cho xây dựng ở quê hương đất tố Lam Sơn một thành lớn thứ hai, thường được gọi là thành Lam Kinh, còn có tên khác là Tây Kinli. Phía bắc thành Lam Kinh dựa vào núi Dầu (Du Sơn), phía nam nhìn ra sông Chu, qua sông khoảng 900m là núi Chúa (Chủ Sơn) làm tiền án, bên phải là núi Hướng và núi Hàm Rồng chắn phía tây. Các công trình trong điện xây dựng theo trục nam – bắc, trên khu đồi gò có hình chữ "vương”. Thành có chiều dài 341m, ngang 254m. Mặt thành phía bắc xây hình cánh cung, tường dày hơn 1 m. Mặt trước thành khoảng 100m còn dấu vết của cổng vảo và móng tường kéo đến sát bờ sông Ngọc, móng tường dày l,8 m. Qua tường khoáng 10 m là con sông đào có tên là Sông Ngọc rộng khoảng 20 m. Bắc qua sông là cây câu cong Tiên Loan, trên cầu có lầu (thượng gia hạ kiều), qua cầu khoảng 50m thì đến một giếng cố hình chữ nhật. Tiếp theo là một sân rộng dẫn đến Ngọ Môn. Giữa sân hai bên Ịối vào là hai con vật bằng đá tựa hai con nghê, đứng trên bệ hình chữ nhật, trên thân trang trí khá cầu kỳ, đầu vươn về phía trước trong tư thế canh phòng.Xem thêm: Trong đoạn thơ trên, sự thật là Bác Hồ đã ra đi nhưng vì sao nhà thơ vẫn dùng từ thăm và cụm từ giấc ngủ bình yên? Hãy viết đoạn văn nêu ý kiến của em Tuy di vật còn lại không nhiều nhưng chúng ta vẫn có thê nhận ra đây là một công trình rất lớn của vua Lê Lợi. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về di tích lịch sử của địa phương
348
Giới thiệu về loài cây gắn bó với tuổi học trò của em Gợi ý Đối với tuổi học trò, cây phượng và cây bàng là hai loại cây đẹp nhất và có nhiều kỷ niệm nhất. Nhưng ở đây, em chỉ xin nói đến một loài cây mà gắn bó với em trong suốt quãng đời học sinh, đó là cây phượng. Cây phượng quả là một loài cây biết tạo cho thế hệ học sinh như chúng em những cảm xúc, niềm say mê trong học tập. Nhìn thấy chúng, em cảm thấy như cuộc đời tươi đẹp hơn vì quãng đời học sinh còn dài, bao nhiêu tình cảm như được cây phượng chia sẻ, cảm thông và mách bảo rằng hãy cô gắng tiến bước không được lùi bước trước khó khăn thử thách. Mỗi ngày đến trường em đều nhìn thấy cây phượng khoe những cành lá rung rinh như chào em. Những cây phượng cao hơn nóc nhà nhưng cành lá không được sum suê như cây bàng, không che rợp được cả một quãng đường. Thân cây xù xì, chỉ cần một vòng tay là ôm đủ. Những chiếc rễ lớn nổi gồ trên mặt đất làm nứt nẻ cả nền xi măng quanh gôc. Mỗi sớm mai tiếng chim hót líu lo trong tán lá xanh nghe thật vui tai. Khi nghe được tiếng chim hót này, một ngày mới đã bắt đầu cuộc sông nhộn nhịp và sôi động. Lá phượng là một loại lá kép, gồm nhiều lá nhỏ, mỏng, màu xanh sẫm không giông như lá cây bàng to có thế che đầu lúc mưa lúc nắng, lá mọc song song hai bên cuống, trông xa như đuôi con chim phượng. Ngày còn bé, bọn trẻ con trong xóm tuốt hết lá đi rồi buộc túm cuống lại với nhau thành một cây vợt bắt bướm, rất thú vị.Xem thêm: Phân tích giá trị biểu cảm của những câu thơ sau: "Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi... Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng." (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm) Xuân qua, hè tới, cây phượng bắt đầu trổ bông: Hoa phượng nở thành chùm lớn, có năm cánh (bốn cánh màu đỏ tươi và một cánh màu đỏ lốm đốm trắng). Nhuỵ hoa phượng thường được làm đế’ chơi chọi gà, là một túi phấn hình bầu dục, dài và cong. Khi tiếng ve kêu ra rả cũng là báo hiệu mùa hè đến, mùa thi sắp đến và cũng là mùa của sự chia tay. Và đây cũng là lúc hoa phượng nở nhiều nhất. Cả một màu đỏ nồng nàn như lửa bao phủ khắp ngọn cây, làm rực sáng cả một khoảng trời bừng bừng sức sóng, cây phượng già như được trẻ lại. Hết mùa hè, hoa phượng tàn dần, cánh phượng rơi lả tả bay theo chiều gió. Lúc này, quả phượng non, có màu xanh, mỏng, dài khẽ đung đưa trên cành. Cây phượng trở lại với vẻ đẹp mộc mạc, thân quen của nó. Nhắc đến phượng thì không thể không nhắc đến những kỷ niệm của tuổi học trò "nhất quỷ, nhì ma" này. Lúc ra chơi, mọi người thường ngồi xuống ngắm cành hoa lá, dựa vào thân cây nho nhỏ và xù xì; cũng có thế ngồi học bài, đọc sách. Lúc đó cảm tưởng mọi việc trở nên yên tĩnh, cuộc sông không còn sự ồn ào náo nhiệt. Vì cây phượng đẹp như vậy, đáng yêu như vậy nên mọi người thường dành cho cây phượng những tình cảm tốt đẹp nhất và đặt cho nó một tên gọi thân thương: hoa học trò. Sau này khi lớn lên, tuổi học sinh đã qua nhưng mỗi khi nhìn thấy cây phượng chắc chắn những kỷ niệm sẽ hiện lên, trào dâng trong lòng như chính thời điểm đó.Xem thêm: Cây chuối trong đời sống người Việt NamVanmau.edu.vn
Giới thiệu về loài cây gắn bó với tuổi học trò của em
662
Giới thiệu về loài hoa của làng quê Việt Nam Gợi ý Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bài ca dao về hoa sen gợi biết bao niềm yêu mến và tự hào về loài hoa hương đồng gió nội. Nhắc đến hoa sen là nhắc đến một loài hoa đẹp đẽ, thánh thiện, hoàn toàn thoát tục; một loài hoa trở thành biểu tượng cho tâm hồn và nhân phẩm Việt Nam. Hoa sen là một trong những loài hoa truyền thông lâu đời nhất ở phương Đông. Đây là loài thực vật sống dưới nước có nguồn gốc Á châu và chiếm giữ một vị trí cổ xưa trong tất cả nền văn hóa, đặc biệt là của Phật giáo. Ta biết rằng nhắc đến Phật giáo là nhắc đến hình ảnh Phật ngồi trên đài sen thơm ngát. Phật giáo đã có hơn hai nghìn năm trăm năm, vậy ắt hẳn tuổi của loài sen còn nhiều hơn thế. Một bông hoa sen ngắm lần lượt từ ngoài vào trong ta sẽ thấy "bông trắng, nhị vàng". Cánh hoa sen rất giống với hình trái tim, đáy tim hướng lên trên. Một bông sen có nhiều lớp cánh xếp lớp vào nhau; đến khi nở cũng ngần ấy cánh hoa xoè ra khoe sắc. Cánh hoa sen có thể có màu hồng hoặc trắng. Bên trong cánh sen là nhị sen màu vàng tươi rất nổi bật. Khi sen đã già, nhị đã tàn cỏ thể thấy rõ bát sen với những hạt sen lớn bằng đầu ngón tay. Toàn bộ bông sen được đỡ bằng một cuống hoa dài và đưa sen mọc khỏi trên mặt nước. Thân sen được cấu tạo rất đặc biệt. Bẻ đôi thân sen sẽ thấy hai nửa thân còn được nối với nhau bằng những sợi tơ dài. Chính đặc điểm đó của sen đã gợi hứng để đại thi hào Nguyễn Du viết nên câu thơ tuyệt bút: "Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng". Bởi vậy, sen còn là biểu tượng của lòng thuỷ chung son sắt. Lá sen có hình tròn, rất rộng và có màu xanh. Mặt lá có một lớp nhung trắng, khi ánh nắng chiếu vào, lớp nhung trắng ấy óng ánh li ti mơ ảo rất đẹp. Hoa sen, lá sen, thân sen được nuôi sống bởi củ sen nằm sâu dưới lòng bùn. Hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đến mặt trời mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn. Thật đúng như lời ca dao: "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".Xem thêm: Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em Trong bức tranh làng quê Việt Nam, sẽ thật thiếu sót nếu thiếu đi hình ảnh đầm sen bát ngát, mênh mông. Có điều ấy bởi từ Bắc vào Nam, sen có mặt khắp mọi nơi, gắn bó rất mật thiết với đời sống con người Việt Nam như cây tre, cây đa… vậy. Mùa hạ đến giữa cái nóng như thiêu như đốt, đi làm đồng hay đang trên đường đi xa, người ta chỉ ao ước đến gần một đầm sen. Hương sen thơm ngát, mát lành thoảng qua làm dịu đi cái nóng nực, oi nồng. Thêm nữa, nhìn hình ảnh đầm sen rờn sóng, lá sen lấp loáng, hoa sen lung linh, chỉ vậy thôi đã như cảnh tiên khiến người ta quên cả mệt mỏi. Vài cậu bé con tinh nghịch ngắt chiếc lá sen che lên đầu làm nón, ngất ngưởng ngồi lên lưng trâu đi về đường làng, hình ảnh ấy cũng thật nên thơ nên hoạ. Không chỉ vậy, nhắc đến hoa sen còn là nhắc đến một loài hoa quý. Ở Việt Nam, sen được xếp vào bộ tứ quý bốn mùa: lan, sen, cúc, mai và xếp vào hàng “tứ quân tử” cùng tùng, trúc, cúc. Hoa sen được dùng để làm đẹp cho những ngôi nhà đơn sơ, giản dị của người nông dân Việt Nam đồng thời làm sang cho những khu vườn kim chi ngọc diệp. Bên cạnh đó, sen còn là một món ăn rất ngon và bổ. Củ và ngó sen sau khi rửa sạch liền trở thành món ăn mát lành, một món đặc sản chốn đồng quê. Hạt sen cũng được dùng làm món ăn, vị thuốc công hiệu. Đặc biệt, nhị sen còn được dùng để ướp trà tạo nên thức trà sen nức tiếng. Sáng sớm, khi trời còn tinh sương, người ướp trà phải chèo thuyền ra hồ thả từng lá trà vào giữa bông sen rồi buộc nhẹ bông sen lại để chè được ngấm cái hương vị thơm lành của sen. Cầu kì hơn, có người còn đi thâu từng hạt sương đọng trên cánh hoa sen, lá sen để làm nước hãm trà… Vậy mới biết, sen được con người yêu thích đến nhường nào!Xem thêm: Viết đoạn văn tả trái dâu tây Khi mùa hạ qua đi, sen dần tàn lụi. Sen chỉ thích hợp với môi trường có khí hậu ấm nóng bởi vậy khi thu đến đông về, sen tạm thu mình xuống lớp bùn lạnh để chờ xuân sang vươn chồi non biếc và mùa hè đến thì xoè hoa, khoe lá. Nếu ở miền Bắc, hoa sen chỉ nở vào mùa hè, thì ở hầu khắp miền Nam quanh năm đâu đâu cũng thấy sen khoe sắc thắm. Làng quê nơi Bác sinh ra cũng có tên là Làng Sen, và có lẽ hoa sen đẹp nhất khi được ví với hình tượng Bác Hồ, người cha già dân tộc, vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta: Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ Không chỉ có những giá trị thực dụng, sen còn thể hiện những ý nghĩa sâu sắc giàu tính triết lí. Sen sống trong bùn nhưng vẫn vươn lên trên lầy, toả hương thơm ngát. Sen có một sức sống mạnh mẽ đến kỳ lạ và tự tính của sen là tinh khiết, thanh thoát. Nó tượng trưng cho bản tính thân thiện, phong thái tao nhã, tinh thần “vươn dậy” trong mọi nghịch cảnh của con người Việt Nam. Đặc biệt trong tư tưởng Phật giáo, hoa sen được tôn quý và chiếm vị trí rất quan trọng bởi tôn giáo này quan niệm rằng bản thân bông sen đã thể hiện tinh thần “cư trần bất nhiễm trần” – ý nghĩa ấy biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết, và thánh thiện,… Trong Phật giáo, phật tổ Thích Ca được sinh ra từ đóa sen vàng. Trong các công trình kiến trúc Phật giáo ở Việt Nam, sen luôn trở thành hình tượng nghệ thuật. Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu lấy cảm hứng từ hoa sen là chùa Một Cột. Theo truyền thuyết, ngôi chùa này được hình thành từ một giấc mộng đài sen của một vị vua triều Lí. Chùa có hình dáng hoa sen, mọc lên từ hồ nước, chỉ với “một cột” như một cọng sen. Tại đất nước Ai Cập, bông sen cũng được tôn thờ vì sự thanh khiết và thánh thiện. Đây là loài hoa duy nhất nở được trên dòng sông Nin huyền thoại bởi dòng chảy ở đây rất mạnh, các loài hoa khác đều bị vùi đập bởi sóng nước nhưng riêng hoa sen thì khác, hoa sen có thể đâm chồi, nảy lộc và đem lại vẻ đẹp không gì sánh bằng cho con sông giàu màu sắc thần bí này.Xem thêm: Em có cảm nghĩ gì về hai nhân vật: Ông lão đánh cá và mụ vợ ông ta trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng” của Puskin (Văn 7, tập I) Hãng hàng không quốc gia của Việt Nam, Vietnam-airline, đã chọn hình ảnh bông sen sáu cánh làm biểu tượng của mình sau bao thời gian chắt lọc, suy nghĩ. Đó cũng là biểu tượng mà người Việt Nam muốn cho bạn bè quốc tế trên khắp năm châu được biết đến. Đóa sen hồng giờ đã được nâng lên không trung, bay đến với khắp mọi nơi trên thế giới, mang niềm vui đoàn tụ, hạnh phúc, hòa bình và đã giúp khoảng cách giữa người và người, giữa các cộng đồng trên thế giới được xích lại gần nhau. Trong mắt của bạn bè thế giới, hình ảnh của bông sen sẽ in đậm và đọng lại trong tư tưởng của mọi người về một đất nước anh hùng, bất khuất dù phải trải qua bao cuộc bể dâu, bao trận chiến tang thương, khốc liệt nhưng giờ đây vẫn vững bước đi lên hội nhập với thế giới. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về loài hoa của làng quê Việt Nam
1,493
Giới thiệu về Lăng Lê Thái Tổ (Vĩnh Lăng) Gợi ý Năm Thuận Thiên thứ 6 (Quý Sửu – 1443) tháng 8 nhuận, ngày 22, Lê Thái Tổ mất, cùng năm ấy, ngày 23 tháng 10 táng ở Vĩnh Lăng. Lam Sơn Lăng được xây dựng trên vạt đất bằng phẳng ở phía nam chân núi Dầu, phía bắc điện Lam Kinh 50 m, nằm trên trục bắc – nam giữa núi Dầu và núi Chúa, tạo thành thế "hậu chẩm bắc sơn, tiền án nam sơn". Bên trái lăng có núi Ngũ Lâm và núi Hổ, bên phải có núi Hướng và núi Hàm Rồng tạo thành hai tay ngai với thế "long chầu hổ phục". Phía trước lăng khoảng 1000 m là sông Chu uốn cong, ôm lạy mặt tiền, dòng chảy tư phải sang trái tạo thành thế "tụ thủy". ‘Bố cục và phong cách xây dựng ở Vĩnh Lăng đơn gián nhưng tôn nghiêm, tự nlìiên mà trang nhã. Ban đầu mộ đắp bằng đất hình khối vuông, xung quanh xây chèn bằng gạch, lâu ngày bị sạt lở, nay được xây lại bằng đá, mỗi cạnh 4,4 m; cao 1 m. Trước lăng có hai hàng tượng người và tượng các con vật bằng đá. Đứng đầu hai hàng tượng, ỏ vị trí gần lăng là hai pho tượng quan văn và quan võ. Kích thước của tượng nhỏ, phong cách dân gian. Kế tiếp là tượng bốn cặp con vật đối nhau theo thứ tự hai sư tử cách điệu như hai con lợn rừng, hai ngựa (không có yên), hai tê giác (không có bành) và hai con hố ngồi hiền từ. Trước lăng là hương án bằng đá đặt bát hương và lễ vật. Giữa hai hàng tượng chầu là một lối đi rộng hơn hai mươi mét gọi là thần đạo. Lăng Lê Thái Tổ là một di tích quý trong khu di tích Lam KinhXem thêm: Phân tích hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về Lăng Lê Thái Tổ (Vĩnh Lăng)
338
Giới thiệu về lễ hội bơi thuyền ở làng Văn Trưng, Vĩnh Phúc Gợi ý Năm nào cũng vậy, làng Văn Trưng chúng tôi lại tổ chức hội bơi thuyền trên đầm Dưng trước cửa đình làng. Các thuyền dự thi không lớn, chỉ dài chừng 5-6 thước, vừa đủ cho 6 tay đua. Để công bằng, các thuyền đua được ban tổ chức tuyển chọn và xếp sẵn thành một hàng dài trước mé đình. Mỗi thuyền được đánh một số. Đội nào bốc trúng số nào thì dùng thuyền số ấy để đua. Hội vui nhất là thời điểm thuyền chuẩn bị xuất phát. Các tay đua đóng những chiếc khố mang màu riêng của đội mình nhanh chóng bước xuống thuyền, xếp hàng chờ lệnh. Khi hồi trống ngũ liên vừa nổi lên, những chiếc thuyền chen nhau lao vun vút trên mặt đầm trong tiếng reo hò cổ vũ của dân chúng. Theo nhịp tay chèo của các tuyển thủ, những chiếc thuyền lao phăng phăng làm bụi nước tung trắng mờ cả mặt đầm. Trên thuyền, những đầu người nhô lên, cúi xuống theo nhịp tay chèo đều đặn khiến con thuyền trông như những con rết đang di chuyển, tiến thật nhanh tới đích là chiếc cọc tre cắm giữa đồng, nhổ lấy cọc tre đem về lĩnh thưởng. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Hình ảnh người bà và kí ức tuổi thơ của nhân vật trữ tình trong bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy
Giới thiệu về lễ hội bơi thuyền ở làng Văn Trưng, Vĩnh Phúc
246
Giới thiệu về lễ hội chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Hà Tây nay thuộc Hà Nội Gợi ý Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Ngày mồng sáu tháng Giêng là ngày khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng Giêng đến 18 tháng Hai âm lịch. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn. Lễ hội chùa Hương trong phần lễ thực hiện rất đơn giản, ở trong chùa có lễ dâng hương hoa, đồ ăn chay, lễ chạy đàn. Thỉnh thoảng có tụng kinh, niệm Phật. Hương khói trong chùa lúc nào cũng nghi ngút. Phần hội gồm lễ rước thần ra đình, lễ rước tế và lễ rước văn, hội đua thuyền. Hàng năm, lễ hội chùa Hương thu hút được rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan và lễ chùa. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Viết thư cho chú ở nước ngoài kể về tình hình gia đình
Giới thiệu về lễ hội chùa Hương, xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Hà Tây nay thuộc Hà Nội
196
Giới thiệu về lễ hội mà em thích Gợi ý Quê em ở vùng gần Chùa Keo, Thái Bình. Hàng năm, cứ vào trung tuần tháng 9 âm lịch làng lại mở hội rất to. Hội có rất nhiều nghi thức rước lễ và nhiều trò chơi rất thú vị. Trong đó có lễ Bơi cạn Chầu Thánh năm nào cũng thu hút được nhiều người đến cổ vũ. Hội bơi cạn bao giờ cũng chia làm hai đội. Mỗi đội gồm 12 người, đầu đội mã võ, mình trần, đóng khố đứng thành hai hàng trước nhang thờ tựa như hai bên mạn thuyền. Khi có hiệu lệnh bắt đầu bơi, tất cả những người tham gia dùng tay bơi thay cho bánh lái. Tay trái ngửa, tay phải úp, trông giống hệt như đang nắm mái chèo thật. Hội càng vui và náo nhiệt hơn khi cùng với nhịp bơi của các đội là tiếng mõ, tiếng chiêng, là tiếng hò vang dội cùng tiếng cổ vũ của những người đến xem. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”? “Ngông” trong văn chương thường bộc lộ như thế nào? Chứng minh qua cái “ngông” của nhà thơ Tản Đà
Giới thiệu về lễ hội mà em thích
200
Giới thiệu về lễ hội Thánh Gióng Gợi ý Hằng năm, cứ đến ngày 9 tháng Tư âm lịch (ngày Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân), người dân khắp nơi lại nô nức đổ về làng Phù Đổng để dự lễ hội Thánh Gióng. Đây được coi là một trong những lễ hội lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Lễ hội được cử hành trên một diện tích rộng lớn dài gần 3 km từ đền Thượng, qua đền Mẫu rồi kết thúc ở chùa Kiến Sơ. Hội kéo dài 6 ngày (từ 6/4 đến 12/4), trong đó ngày 9 tháng 4 là hội chính với nghi lễ rước kiệu võng từ đền Mẫu lên đền thượng và tổ chức hội trận. Những ngày đầu làng Gióng tổ chức lễ rước cờ tới đền Mẫu, rước cơm chay lên đền Thượng. Từ ngày 10 đến 12 làng làm lễ duyệt quân tạ ơn Thánh Gióng, rửa khí giới và báo tin thắng trận với trời đất và lễ khao quân. Ngoài làng Phù Đổng còn có rất nhiều nơi khác cũng tổ chức hội Gióng nhưng không đâu lễ hội được tổ chức quy mô và hoành tráng như nơi đây. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Do một lỗi lầm em bị phạt buộc phải biến thành con chuột trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày em đã gặp những điều thú vị và rắc rối gì.Vì sao em mong chóng hết hạn để trở lại làm người
Giới thiệu về lễ hội Thánh Gióng
244
Giới thiệu về lễ hội Đả ngư (đánh cá) – Hà Tây Gợi ý Lễ hội Đả ngư (đánh cá) là lễ hội truyền thống của vùng nước non núi Tản, Hà Tây và thường được tổ chức vào ngày 15/9 hàng năm. Lễ hội bắt nguồn từ truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích. Mục đích của lễ hội là dựng lại tích Thánh Tản kéo vó, khuyến ngư và giữ gìn môi trường sinh thái trên sông Tích. Hội Đả ngư được tổ chức trên sông Tích, với sự tham gia của 50 tráng đinh. Mỗi người mang theo một chiếc giỏ, một chiếc dập sào và một chiếc vợt. Sau khi kết thúc phần lẹ do một vị trưởng lão thực hiện sẽ đến phần úp, cá của các tráng đinh. Khi nào các tráng đinh bắt được đủ 99 con cá thì vị trưởng lão sẽ đem dâng lên điện thờ ở ngay bờ sông trong điệu múa mừng công của thanh niên nam nữ. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Viết đoạn văn tả chú chó con
Giới thiệu về lễ hội Đả ngư (đánh cá) – Hà Tây
178
Giới thiệu về lễ hội ở quê em Gợi ý Quê em ở vùng Hoa Lư, Ninh Bình. Hàng năm, nhân dịp lễ hội vua Đinh Tiên Hoàng, làng em tổ chức một hội thi thơ cho tất cả những ai yêu văn học trong và ngoài làng. Đề thi thường do ban tổ chức lựa chon kĩ càng. Đó là những tay văn học nổi tiếng trong vùng. Ngày xưa, thường những vị Tuần phủ, Chủ tỉnh làm chủ tịch hội đồng chấm thơ. Những ai làm được bài thơ hay, có ý nghĩa theo đúng chủ đề thì sẽ được giải. Phần thưởng tuy chỉ là mấy vuông nhiễu điều, gói chè, mươi quả cau nhưng ai cũng cảm thấy vinh dự và hãnh diện. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người dò sông Đà. Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh để làm sáng tỏ điều này
Giới thiệu về lễ hội ở quê em
168
Đề bài: Giới thiệu về món ăn dân tộc Phở Hà Nội. Trong hàng trăm món ăn quen thuộc của Hà Nội, có lẽ phở được nhiều người ưa thích nhất. Từ phố lớn đến ngõ nhỏ, đâu đâu cũng có quán phở. Ở các quán nổi tiếng khách khá đông, đủ mọi lứa tuổi. Nhiều lúc hết chỗ, chủ quán phải kê thêm bàn ra tận vỉa hè. Quán chẳng sang trọng gì nhưng khách không nề hà điều đó, miễn là được ăn bát phở ngon. Cách bài trí trong quán đơn giản mà hợp lí. Trên quầy, bó hành hương xanh mướt treo cạnh mấy chùm ớt đỏ tươi. Những tảng thịt bò chín đủ loại xếp liền nhau. Nào nạm, nào gầu, nào vè, nào gân… Người thái thịt thái nhanh thoăn thoắt rồi bốc vào chiếc khay nhôm lớn, mỗi thứ để riêng một chỗ cho tiện lấy. Giữa khay là chiếc đĩa thủy tinh to đựng đẩy tú hụ thịt bò tươi thái mỏng. Bánh phở tráng bằng gạo tẻ, xắt thành sợi nhỏ và dài để trong chiếc vỉ buồm, ngay tầm tay với. Sát tường, nồi nước dùng sôi lăn tăn, lớp váng mỡ vàng óng ánh, toả mùi thơm ngào ngạt, hấp dẫn vô cùng! Để nấu được một nồi nước dùng ngon, công phu lắm! Người ta phải ninh xương bò thật kĩ từ đêm hôm trước, bỏ thêm hoa hồi, gừng nướng cho thơm, nếu có sá sùng khô bỏ vào thì nước dùng càng ngọt hơn (mỗi quán phở có một bí quyết riêng). Xem thêm: Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ (Có dàn ý chi tiết)Khách muốn ăn gì, tùy ý. Tiếng gọi, tiếng giục giã, tiếng sai bảo… ồn ào nhưng vẫn rõ ràng: “Cho bát tái đi ông chủ!”. “Nạm gầu, nước trong nhé!”. “Sao lâu thế?”. “Có ngay! Có ngay!”. Chủ quán miệng nói, tay làm, không lúc nào ngơi. Bánh phở nhúng qua nước sôi, xóc cho ráo rồi đổ vào bát, xếp thịt lên trên, chan nước dùng rồi rắc hành hoa, rau mùi thái nhỏ. Nhìn bát phở vừa làm xong thật thích mắt! Bánh trắng, thịt bò nâu, váng mỡ vàng, hành xanh, ớt đỏ, hạt tiêu đen… đủ màu, cùng toả mùi thơm ngào ngạt. Nào, chúng ta bắt đầu thưởng thức! Trước hết, xin bạn hãy lấy thìa múc một tí nước dùng nếm thử. Nóng bỏng lưỡi, trong, ngọt đậm đà và thơm nức mũi, thế là “đạt yêu cầu” đấy! Rồi cứ thong thả vừa ăn vừa ngẫm nghĩ để tận hưởng hương vị thơm ngon, bổ dưỡng của phở. Đúng là ăn đến, đâu, ấm bụng đến đấy, mồ hôi toát ra, tâm trí lâng lâng, khoan khoái vô cùng! Chúng ta phải cảm ơn người đã nghĩ ra, chế biến ra món ăn đặc biệt ấy! Còn gì thú bằng vào một sáng mùa thu, tiết trời lành lạnh, xao xác heo may, ta được cùng bạn bè hoặc người thân ghé vào một quán phở quen, ăn bát phở thơm ngon, nóng hổi ngay bên cạnh lò than hồng ấm sực, vừa ăn vừa trông ra Hồ Gươm mờ mờ sương khói. Xem thêm: Hãy miêu tả hình ảnh mẹ hoặc cha khi em làm được một việc tốt
Giới thiệu về món phở Hà Nội
553
Đề bài: Giới thiệu về món ăn bún riêu cua – một món ăn dân dã của người Việt Nam. Bún riêu cua là một trong hàng trăm món ăn dân dã được người Việt Nam từ nông thôn đến thành thị ưa chuộng bởi nó vừa hội tụ đủ ba yếu tố: ngon – bổ – rẻ, vừa có hương vị đậm đà và hình thức vô cùng hấp dẫn. Nguyên liệu chính của món riêu cua là cua đồng. Để chuẩn bị một bữa bún riêu cua cho 5 người ăn, cần 1 kg cua đồng tươi sống, chọn cua cái thịt chắc và ngọt hơn cua đực. Cua mua về đổ vào thùng ngâm nước rồi xóc cho hết bùn. Xé cua ra, bỏ mai, yếm và nắp miệng. Rửa nhiều lần cho sạch, để thật ráo nước rồi mới cho vào cối giã nhuyễn. Lấy khoảng hai lít nước, cho vào chỗ cua vừa giã nhuyễn, dùng tay bóp cho thịt cua rã ra hết, vớt bỏ bã, gạn lấy nước đổ vào nồi. Nêm một chút mắm muối, dùng đũa khuấy đều theo vòng tròn, sau đó để lắng chừng năm, mười phút mới bắc lên bếp, đun nhỏ lửa. Gạch cua khêu từ mai cua để trong chén nhỏ, rửa sạch rồi cho vào một thìa nước mắm ngon. Bắc chảo lên bếp, chảo nóng cho mỡ nước vào, đợi mỡ nóng già bỏ hành khô phi cho vàng rồi đổ dầu hạt điều và gạch cua vào quấy nhẹ, tạo thành một chất sền sệt màu vàng đỏ, óng ánh và thơm phức, múc ra bát để riêng. Đổ cà chua xắt dọc vào chảo vừa chưng màu, xào cho mềm. Xem thêm: Ngày nay, rất nhiều bạn trẻ thích sống "sành điệu". Em hiểu thế nào là "sành điệu"? "Sành điệu" có phải là hư hỏng? Hãy viết bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ của bản thânCác gia vị dùng để nấu riêu cua là cà chua chín, quả dọc tươi hoặc me xanh, me chín, quả tai chua… Nếu dùng quả dọc thì phải nướng cháy sém cho ra hết nhựa, ngâm vào nước lạnh để bóc vỏ và đợi khi nồi canh bắt đầu sôi, thịt cua đóng thành tảng mới bỏ quả dọc vào. Khi trái dọc chín thì vớt ra, dầm nát phần cùi, bỏ hột rồi trút cả dọc và cà chua vào nồi canh cua đang sôi lăn tăn. Đợi khi thịt cua đã đóng thành từng mảng thì lấy thìa múc gạch, rưới nhẹ lên trên và rắc hành hoa thái nhỏ. Có thể nêm chút bột ngọt cho nước canh thêm ngon. Như thế là chúng ta đã nấu xong nồi riêu cua. Nhưng thế nào là nổi riêu cua đạt tiêu chuẩn chất lượng? Trước hết, thịt cua phải kết thành mảng trên mặt nổi chứ không rời rã. Sau đó là nước canh phải trong, có vị chua chua ngọt ngọt đậm đà tự nhiên và hương vị thì thơm phưng phức, chỉ thoáng ngửi đã thấy thèm. Những thứ ăn kèm với riêu cua là bún tươi, nước mắm hoặc mắm tôm, chanh, ớt. Rau sống gồm rau muống chẻ, hoa chuối hoặc nõn cây chuối non thái mỏng, rau diếp thái chỉ, tía tô, kinh giới và rau húng. Cho bún vào bát to, múc thịt cua để lên trên, rắc hành hoa thái nhỏ rồi chan cho ngập nước. Tất cả đã đẩy đủ, sẵn sàng. Nào, xin mời các bạn thưởng thức! Bún riêu cua ăn nóng mới ngon và người ăn càng đông càng vui, vị ngon của bát bún riêu cũng tăng lên gấp bội. Dường như tất cả hương vị mộc mạc mà đằm thắm, ngọt ngào của đồng ruộng quê hương đang thấm vào lòng, vào dạ. Cũng như các món ăn dân dã khác, món bún riêu cua không chỉ là một sản phẩm vật chất đầy sáng tạo của những người mẹ, người chị Việt Nam đảm đang, khéo léo mà nó còn là niềm vui tinh thần gắn kết những mối dây tình cảm ruột thịt của gia đình cùng tình nghĩa xóm giềng và quê hương thân thiết, không thể nhạt phai. Xem thêm: Giới thiệu về ngôi nhà thân yêu của em
Giới thiệu về món ăn bún riêu cua
715
Giới thiệu về món ăn dân tộc Gợi ý Trong những ngày xuân đến rộn ràng, lòng người náo nức mừng dịp Tết Nguyên Đán, chúng ta lại nghĩ đến những món ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Và bánh chưng là một món ăn không thể thiếu trong số đó. Bánh chưng từ lâu đã là một loại bánh truyền thống của dân tộc Việt nhằm thể hiện lòng biết ơn của con cháu đối với cha ông và đất trời xứ sở. Tương truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, sau khi đánh đẹp xong giặc Ân, nhà vua có ý định truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu xuân, vua Hùng họp các hoàng tử lại và yêu cầu các hoàng tử đem dâng lên vua cha thứ mà họ cho là quí nhất để cúng lên bàn thờ tổ tiên nhân ngày đầu xuân. Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hi vọng mình được vua cha truyền ngôi. Trong khi đó, người con trai thứ mười tám của Hùng Vương là Lang Liêu có tính tình hiền hậu, sống gần gũi với người nông dân lao động nghèo khổ nên ông lo lắng không có gì quí giá để dâng lên vua cha. Một hôm, Lang Liêu nằm mộng thấy có vị thần đến chỉ bảo cho cách làm một loại bánh từ lúa gạo và những thức có sẵn gần gũi với đời sống hàng ngày. Tỉnh dậy, ông vô cùng mừng rỡ làm theo cách chỉ dạy của thần. Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ, đủ cả sơn hào hải vị, nem công chả phượng. Hoàng tử Lang Liêu thì chỉ có hai loại bánh được làm theo lời mộng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ bèn hỏi, thì được Lang Liêu đem chuyện thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của bánh. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn đặt tên cho bánh là bánh chưng và bánh dày rồi truyền ngôi vua lại cho Lang Liêu.Xem thêm: Cho câu chủ đề: Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Dựa vào văn bản Nước Đại Việt ta, em hãy viết đoạn văn tổng phân hợp để chứng minh ý kiến trên Cách thức làm bánh rất đơn giản. Cũng theo truyền thuyết kể lại thì cách làm bánh ngày nay không khác so với lời báo mộng của thần cho Lang Liêu cũng như cách làm bánh của vị lang nặng tình với nhân dân là mấy. Nguyên liệu làm bánh bao gồm gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, lá dong. Những nguyên liệu ấy vừa dễ kiếm lại vừa giàu ý nghĩa: vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Gạo nếp thường dùng là gạo thu hoạch vụ mùa. Gạo vụ này có hạt to, tròn, đều và thơm dẻo hơn các vụ khác, cầu kì hơn còn có gia đình phải chọn bằng được nếp cái hoa vàng hay nếp nương. Đỗ xanh thường được lựa chọn công phu. Sau thu hoạch đỗ cần phơi nắng đều thật khô, sàng sẩy hết rác, bụi, hạt lép, phân loại hạt rồi đóng vào hũ, lọ bằng sành là tốt nhất. Thịt lợn nên chọn lợn ỉn được nuôi hoàn toàn bằng phương pháp thủ công (nuôi chuồng hoặc nuôi thả, thức ăn bằng cám rau tự nhiên không dùng thuốc tăng trọng hoặc thức ăn gia súc). Khi chọn thịt thì lấy thịt ba chỉ (ba dọi) vừa có mỡ vừa có nạc khiến nhân bánh có vị béo đậm đà, không khô bã. Ngoài ra còn cần các gia vị như hạt tiêu, hành củ dùng để ướp thịt làm nhân; muối dùng để trộn vào gạo, đỗ xanh và ướp thịt. Đặc biệt thịt ướp không nên dùng nước mắm vì bánh sẽ chóng bị ôi, thiu. Lá để gói bánh thường là lá cây dong tươi. Lá dong chọn lá dong rừng bánh tẻ, to bản, đều nhau, không bị rách, mấu xanh mướt. Tuy nhiên, tùy theo địa phương, dân tộc, điều kiện và hoàn cảnh, lá gói bánh có thể là lá chít hoặc vừa là lá dong vừa là lá chít. Lạt buộc bánh chưng thường dùng lạt giang được làm từ ống cây giang. Lạt có thể được ngâm nước muối hay hấp cho mềm trước khi gói.Xem thêm: Trong đoạn kết của truyện ngắn Bến quê, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với vẻ rất khác thường: Anh... đó. Viết đoạn văn ngắn (8 - 10 câu) nêu ý nghĩa hành động trên của nhân vật này Trước khi làm bánh cần có sự chuẩn bị sơ chế nguyên liệu kĩ lưỡng. Lá dong phải rửa từng lá thật sạch hai mặt và lau thật khổ. Tiếp đó dùng dao bài cắt lột bỏ bớt cuống dọc sống lưng lá để lá bớt cứng. Gạo nếp nhặt loại bỏ hết những hạt gạo khác lẫn vào, vo sạch, ngâm gạo ngập trong nước cùng 0,3% muối trong thời gian khoảng 12-14 giờ tùy loại gạo và tùy thời tiết, sau đó vớt ra để ráo. Có thể xóc với muối sau khi ngâm gạo thay vì ngâm nước muối. Đỗ xanh làm dập vỡ thành các mảnh nhỏ, ngâm nước ấm 40° trong 2 giờ cho mềm và nở, đãi bỏ hết vỏ, vớt ra để ráo. Thịt lợn đem rửa để ráo, cắt thịt thành từng miếng cỡ từ 2.5 cm đến 3 cm sau đó ướp với hành tím xắt mỏng, muối tiêu hoặc bột ngọt để khoảng hai giờ cho thịt ngấm. Khi làm bánh, trước hết phải xếp lạt giang một cách hợp lí rồi trải lá dong, lá chít trước. Sau đó mới trải một lớp gạo rồi đến một lớp đỗ, đặt thịt vào giữa làm nhân rồi lại trải tiếp một lớp đỗ, một lớp gạo. Sau khi quấn lá chặt lại thì dùng lạt giang buộc chắc chắn. Theo quan niệm phổ biến hiện nay, cùng với bánh giầy, bánh chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa: bánh chưng màu xanh lá cây, hình vuông tượng trưng cho Đất, bánh dầy tượng trưng cho trời. Tuy nhiên, theo một số học giả nổi tiếng, bánh chưng nguyên thủy có hình tròn và dài, giống như bánh tét, đồng thời bánh chưng và bánh giầy tượng trưng cho dương vật và âm hộ trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam. Bánh tét, thay thế vị trí của bánh chưng vào các dịp Tết trong cộng đồng người Việt ở miền nam Việt Nam, cũng theo những học giả trên là dạng nguyên thủy của bánh chưng.Xem thêm: Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu Bánh thường được làm vào các dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc Việt, cũng như ngày giổ tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 Âm lịch. Thiếu bánh chưng, bánh dầy ắt không thành cái Tết hoàn chỉnh: "Thịt mỡ bánh chưng xanh, dưa hành câu đối đỏ". Hơn thế, gói và nấu bánh chưng, ngồi canh nồi bánh chưng trên bếp lửa đã trở thành một tập quán, văn hóa sống trong các gia đình người Việt mỗi dịp tết đến xuân về. Là loại bánh có lịch sử lâu đời nhất trong ẩm thực truyền thống Việt Nam còn được sử sách nhắc lại bánh chưng có vị trí đặc biệt trong tâm thức của cộng đồng người Việt. Sự ra đời và tục lệ làm bánh chưng ngày Tết, ngày giỗ Tổ muốn nhắc nhở con cháu về truyền thống của dân tộc đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn hoá lúa nước. Theo thời gian, nền văn minh công nghiệp đang dần được hình thành song ý nghĩa và vai trò của bánh chưng thì vẫn còn nguyên vẹn. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về món ăn dân tộc
1,386
Giới thiệu về một danh lam thắng cảnh của đất nước quê hương Gợi ý Nếu người Pháp tự hào về một đất nước có dòng sông Sein xanh biếc lững lờ trôi, nếu người Trung Hoa mến yêu xứ sở có dãy Vạn Lý Trường Thành đồ sộ, có đỉnh Tân Cương cao vời vợi, có sông Trường Giang, Hoàng Hà cuồn cuộn sóng dâng… thì tôi cũng gắn bó trái tim mình với một mảnh đất đẹp núi, đẹp sông, đẹp lòng người nhân hậu. Việt Nam quê tôi đó, đất nước được tạo hóa tạo nên biết bao cảnh đẹp và bàn tay con người xây đắp nên những di tích lịch sử sau bao cuộc chiến oai hùng, về với Thuận Thành, Bắc Ninh, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một di tích, một thắng cảnh nổi tiếng – đó là chùa Dâu. Để rồi nhớ, để rồi thương. Là người con Kinh Bắc, không ai là không biết tới gốc gác của chùa Dâu. Chùa Dâu, tên tự là Diên ứng Tự thuộc xã Tranh Khương. Khởi đầu chỉ là một cái am nhỏ, sau xây dựng thành chùa với tên gọi cổ Châu Tự (Viên Ngọc Quý). Chùa Dâu ra đời bắt nguồn từ việc truyền bá đao của người nước ngoài. Khoảng những năm đầu Công nguyên, một số nhà sư Ân Độ như Mâu Bát, Khâu Đà La, Khang Tăng Hội, Chi Cương Nương… đã đến Luy Lâu tu hành rồi truyền bá đạo Phật. Từ đó chùa Dâu trở thành trung tâm Phật giáo của cả nước, đào tạo năm trăm vị tăng ni, dịch được mười lăm bộ kinh Phật.Xem thêm: Những nét chính về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu Chùa có hàng trăm gian, có tháp Hòa Phong chín tầng, có cầu chín nhịp qua sông Dâu dẫn vào chùa. Tháp Hòa Phong được xây bằng gạch nung, chân tháp hình vuông. Do thời gian, tháp, bị đổ chỉ còn lại bạ tầng. Ớ tầng hai của tháp có khắc bia đá với dòng chữ: "Hòa Phong tháp, năm Đinh Tị, tiền Lê Vịnh Hựu – 1737". Cảnh bao quanh chùa là sóng nước, rừng cây nhưng khi vào trong chùa những hình ảnh đó như bị lấn át đi bởi một thứ còn kỳ diệu và thiêng liêng hơn cả, đó là pho tượng Phật. Những pho tượng cổ đã được tạc nên từ những đôi bàn tay khéo léo, chân thành. Dáng điệu, cử chỉ và nhất là những nét mặt hiền từ đã làm cho không khí trong chùa càng trở nên ấm áp. Đôi mắt của Phật là cửa sổ tâm hồn nhìn về những đứa con đất Việt chất phác, hiền hậu đang ngày đêm cầu sự an lành. Bên cạnh đó còn những pho tượng Tứ Pháp, hai pho tượng Kim Đồng Ngọc Nữ được tạc rất tinh xảo, thể hiện được vẻ đẹp duyên dáng của những cô gái nơi thôn dã vào phục vụ chốn chùa chiền. Những pho tượng tiêu biểu cho nghệ thuật tạc tượng bằng gỗ từ những năm đầu Công nguyên. Ngoài ra ta còn thây sự đan xen tín ngưỡng Phật giáo Ân Độ trong tín ngưỡng Việt Nam như thờ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp…Xem thêm: Trong bài Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có viết: "Một bài thơ... đọc... ". Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên. Từ đó hãy trình bày cảm nhận về một bài thơ mà em yêu thích. Người ta đến chùa Dâu không chỉ để cầu nguyện mà họ còn muốn được vui chơi trong ngày hội. Lễ hội chùa Dâu được tổ chức nào ngày 8 – 4 âm lịch hàng năm. Cứ đến ngày này, mọi người ở trăm ngả đua nhau về trảy hội. Biết bao nhiêu trò vui giúp người ta quên được nỗi phiền não hàng ngày. Có tục cướp nước tắm Phật, một nghi lễ được rất nhiều người quan tâm. Khi đến giờ lành, đoàn lễ hành hương một đoạn đường khá dài để ra tới bến nước. Vị chủ trì chọn một vùng nước trong rồi múc vào bình. Nước này sẽ đem vể và dùng để tắm cho phật, làm sạch những bụi bẩn trần gian. Không những thế, mọi người còn tổ chức rước Tứ Pháp của mười hai làng. Không khí thật nhộn nhịp, đông vui. Chùa Dâu không chỉ đơn thuần là một di tích, cảnh quan mà còn là nơi linh thiêng, nơi tôn thờ những vị mà trong tư tưởng của người Việt Nam họ luôn che chở và phù hộ, đem tới điều bình an cho chúng ta. Ngôi chùa làm ta thấy yêu hơn những con người tài ba đã cất công dựng lên một công trình vân hóa đồ sộ mang đậm nét nghệ thuật tinh tế. Chùa Dâu đã góp phần tô điểm nền văn hóa dân tộc, làip cho nó thêm phong phú và đa dạng hơn. Chúng ta thấy tự hào khi được sinh ra trên mảnh đất có bao di tích lịch sử hào hùng. Ngôi chùa đã là nguồn cảm hứng, giúp cho ta thấy chứa chan tình cảm trong tình yêu quê hương đất nước, yêu xóm làng thân thuộc. Chúng ta cùng nhau gắng sức giữ gìn để hình ảnh ngôi chùa còn tồn tại mãi với thời gian.Xem thêm: Soạn bài: Cảnh khuya và Rằm tháng giêng.Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về một danh lam thắng cảnh của đất nước quê hương
912
Giới thiệu về một dòng sông Việt Nam Gợi ý Dài hơn 980 km bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình và đổ ra sông Hồng, đến sông Đà, du khách sẽ đến với các công trình thế kỷ, khám phá thời kỳ tiền sử của con người qua các di chỉ khảo cổ, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Từ ngàn xưa, sông Đà là con đường huyết mạch cho việc giao lưu văn hoá, buôn bán của người dân các đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc nói chung với miền xuôi. Từ Ta Bơ (chợ Bờ – Hoà Bình) đến Bến Vạn, Tạ Khoa, Tạ Bú, Tạ Hè (Sơn La) đến Mường Lay (Điện Biên) là các bến đậu của các đoàn thuyền buôn từ kinh thành Thăng Long lên xứ Ta Lếnh (vùng Tây Bắc ngày nay) vào khoảng thế kỷ XII – XVI. Ngày nay, sông Đà được biết đến với tiềm năng lớn về thuỷ điện, trên sông đã có nhà máy thuỷ điện Hoà Bình (cung cấp điện năng lớn nhất nước ta hiện nay) và trong tương lai gần trên sông Đà có nhà máy thuỷ điện mới – thuỷ điện Sơn La lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Đến với sông Đà du khách sẽ đến với các công trình thế kỷ, khám phá thời kỳ tiền sử của con người qua các di chỉ khảo cổ, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ: rừng xanh, núi cao, sông rộng, thác, ghềnh; khám phá những nét văn hoá đậm đà bản sắc các dân tộc: Thái, Mường, Tày, Mông, Dao… Ngược dòng sông Đà, theo con đường của các đoàn thuyền buôn xưa: từ chợ Bờ (Hoà Bình) – bến Vạn Yên – bến Tà Hộc – bến Tạ Bú (Sơn La) – điểm khởi công công trình thuỷ điện Sơn La. Từ chợ Bờ đến Tạ Bú là vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình, nơi đây có nhiều hang động đẹp có giá trị khảo cổ học: rìu đá, tước đá, hòn kê, hòn mài được phát hiện tại hang Tẳng, bản Bông Lau, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên; phát hiện trong một số hang tại xã Suối Bàng, huyện Mộc Châu với những cỗ quan tài bằng gỗ, hình thuyền. Theo đánh giá của các nhà khảo cổ học thì những ngôi mộ táng này có niên đại trên dưới 200 năm. Tại khu vực này không chỉ có dấu tích của thời kỳ đồ đá mà còn có các hiện vật thời kỳ kim khí: rìu đồng, trống đồng Heger.Xem thêm: Phân tích diễn biến tâm lý chị Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ Ngược Tạ Bú khoảng 3 km, du khách sẽ đến Pá Vinh (huyện Mường La). Đây là nơi xây dựng đập thuỷ điện Sơn La để tận mắt chứng kiến sức vóc và trí lực to lớn của con người: xẻ núi, đắp đập, ngăn sông, chinh phục dòng nước lớn. Đây sẽ là công trình thuỷ điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á, góp phần điều khiển nguồn nước cho đồng bằng Bắc Bộ, phát triển kinh tế xã hội cho vùng Tây Bắc và đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Tiếp tục ngược dòng sông Đà du khách sẽ đến với Mường Lay, đến với Điện Biên Phủ đánh dấu một mốc son chói lọi bằng vàng của lịch sử, với nhiều lễ hội độc đáo, các hoạt động văn hoá đặc sắc… Dọc bờ sông Đà, du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu, khám phá đời sống văn hoá của các dân tộc: Thái, Mường, Khơ Mú, Xinh Mun, Dao… Đặc biệt du khách dễ dàng bắt gặp những phiên chợ nổi trên sông. Chợ được hình thành bởi nhiều chiếc thuyền hàng ghép lại, địa điểm họp chợ nổi có thể thay đổi từ bến Khủa lên Vạn Yên đến Mường Sại, Tạ Khoa, Song Pe, Chim Vàn, Đá Đỏ, Pắc Ngà, Tà Hộc. Người dân đến chợ bằng nhiều phương tiện: ngựa thồ, xe máy và những thuyền chất đầy hàng hoá, nông sản, thổ cẩm, đồ đan lát… để trao đổi buôn bán với những người miền xuôi. Vào những phiên chợ, các chàng trai, cô gái các dân tộc vùng Tây Bắc trong những trang phục truyền thống đẹp nhất, nườm nượp, trên bến, dưới thuyền, họ đến đây không chỉ mua bán mà còn muốn tìm cho mình một người bạn đời lý tưởng.Xem thêm: Vẻ đẹp lãng mạn và tính chất bi tráng của hình tượng người lính Tây tiến Nếu líu lại qua đêm ở các bản làng dưới mái nhà sàn ấm cúng, du khách sẽ được sống trong những giờ phút đáng nhớ, cùng thưởng thức những đặc sản của núi rừng, ngây ngất trong men say rượu cần, hoà chung điệu xoè và nghe người già kể những huyền thoại, truyền thuyết về sông Đà. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về một dòng sông Việt Nam
845
Giới thiệu về một hải đảo của đất nước Gợi ý Phú Quốc là huyện đảo ngoài khơi lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang. Thị trấn Dương Đông – thủ phủ huyện đảo cách thị xã Rạch Giá 120km và cách Hà Tiên 45km. Đảo chính Phú Quốc rộng 578m2, dài 51km và hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau tạo thành một quần thể đảo xanh tươi, thơ mộng ngay giữa đại dương. Eo biển xanh Phú Quốc được ví như vịnh Hawai trữ tình nổi tiếng của Mỹ với những bờ biển đẹp vào bậc nhất Việt Nam. Bãi Trường nằm phía tây đảo kéo dài từ Dương Đông tới An Thới khoảng 20km là bãi tắm sầm uất và là bãi biển duy nhất ở Việt Nam nơi bạn có thể ngắm mặt trời lặn xuống biển. Những bãi tắm khác ở Phú Quốc như bãi Kem, bãi Đầm, bãi Cửu cần, bãi Đại, bãi Sao… nước trong vắt, cát trắng mịn như kem, cũng đầy hấp dẫn, có thể mang lại cho du khách những giây phút vui đùa, thư giãn thoả mái nhất giữa cảnh đẹp hoang sơ, khí hậu trong lành, sự bình yên hiếm có. Phú Quốc nổi tiếng với đặc sản nước mắm, có vị ngon thơm đặc biệt, chế biến từ cá cơm, có độ đạm cao, khác hẳn với nước mắm những vùng biển khác. Mỗi năm, hàng trăm cơ sở sản xuất nước mắm của Phú Quốc cho ra thị trường 8 triệu lít nước mắm với sự hỗ trợ của 2.200 tàu đánh cá, sản lượng đánh bắt trung bình 40.000 tấn/năm. Nghề làm mắm ở Phú Quốc có lịch sử phát triển trên 200 năm, người dân ở đây tuân thủ nghiêm ngặt các phương pháp thủ công truyền thống để đảm bảo chất lượng, vệ sinh của đặc sản địa phương mình. Cá cơm còn tươi nguyên được ướp muối (muối vùng Bà Rịa – Vũng Tàu hoặc Cà Ná – Phan Thiết) ngay trên thuyền. Nước mắm được lên men trong thùng gỗ, từ 12 đến 15 tháng. Mắm Phú Quốc khi đó có màu cánh gián, nhẹ mùi, không tanh, không gắt, có vị ngọt đặc biệt. Vì thế mắm Phú Quốc không chỉ được ưa chuộng ở thị trường trong nước mà đã chinh phục cả những người nội trợ ở Pháp, Bỉ, Mỹ, Thái Lan…Xem thêm: Hình ảnh Bác Hồ qua những bài thơ em đã học và đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS Người ta ví, Phú Quốc như một cô gái trẻ, căng đầy sức sống, có vẻ đẹp bí ẩn, càng khám phá càng thấy lý thú, hấp dẫn của những vạt rừng nguyên sinh, lại vừa có vẻ đẹp quyến rũ, nồng nàn của đại dương hoang sơ. Cánh rừng nguyên sinh của Phú Quốc nằm ở trung tâm hòn đảo, rộng tới 37.000 ha, là nơi sinh sống của nhiều loài gỗ, chim muông quý. Tuyến du lịch đang được ưa chuộng nhất trên đảo là Dương Đông – Hàm Ninh. Con đường chính của tuyến du lịch này được làm từ thời Pháp, uốn lượn quanh những ngọn đồi bạt gió. Du khách sẽ được thăm chùa Sư Môn, lội suối Tranh, thăm làng chài cổ Hàm Ninh, leo núi hoặc đến cơ sở nuôi cấy ngọc trai ở Nam đảo. Tuyến du lịch Đông Phương – An Thới cũng rất hấp dẫn khi dẫn tới một quần đảo gồm 15 hòn lớn nhỏ, nằm rải rác ở phía Nam, dài khoảng 40km. Quần đảo An Thới là một địa điểm lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Các thắng cảnh: Dương Đông – Dinh Cậu, bãi Bàn, bãi Kem, lăng Ông Hải, nhà tù Phú Quốc, cảng An Thới đều là những điểm tham quan đầy ấn tượng. Hoặc bạn sẽ đi câu mực thẻ đêm, câu cá rồi nướng ngay trên biển hay tham gia tour lặn biển, thăm vương quốc san hô hùng vĩ, nhiều màu sắc lung linh nhưng thật tinh khôi trong lòng đại dương Phú Quốc. Câu lạc bộ bơi lặn của công ty du lịch Sài Gòn – Phú Quốc sẽ giúp bạn khám phá thế giới ngầm của hòn đảo đáng yêu này. Bạn sẵn sàng chưa?Xem thêm: Phân tích truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” của nhà văn Sơn NamVanmau.edu.vn
Giới thiệu về một hải đảo của đất nước
753
Giới thiệu về một loài cây quen thuộc của quê em Gợi ý Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca (Tố Hữu) Quê tôi, vùng quê trung du Bắc Bộ có "rừng cọ đồi chè" nhưng với tôi hình ảnh về quê hương và loài cây gắn bó quen thuộc nhất vẫn là cây na. Không rậm rạp xanh tốt như cây roi, không tạo thế, đua chen và khoe dáng như lá cọ, na cứng cáp, khẳng khiu đứng riêng rẽ một mình trong khu vườn đồi trọc. Mỗi năm khi bà già mùa đông mang cái lạnh về, na trút lá khẳng khiu gầy guộc nhưng kiên cường chịu rét giơ những cành những nhánh khô mà chống chọi với những trận gió bấc, mưa phùn, để rồi khi sơn ca báo hiệu xuân về cùng những đợt mưa xuân xôn xao phơi phới thì từ trong những cành khẳng khiu kia, na ươm trồi nảy lộc với những búp lá non xanh đẹp lạ kì. Lá na không to, hình bầu dục, mỗi nhánh nhiều lá giống kiểu xếp của lá phượng, lá me nhưng thưa hơn và thoáng hơn, to hơn, là loài cây ăn quả nên thân na phát triển không to. Trồng được 2 năm là na đã cho quả. Quả na xanh tròn khía theo múi giống hình mắt. Kinh nghiêm của bà về na chín đã được nhà thơ Trần Đăng Khoa đưa vào thơ thật ngộ nghĩnh:Xem thêm: Kể lại một việc làm khiến em cảm thấy ân hận"Tiếng gà Giục quả na Mở mắt Tròn xoe…" Na mở mắt, nghĩa là những múi na (mắt na) căng phồng hết cỡ mang màu vàng hồng báo hiệu quả sắp chín. Có thể để na chín cây hoặc ngắt xuống độ một ngày sau na chín là ăn được. Bà tôi bảo: "Na sống ở khắp các tỉnh trong cả nước, nhưng ngon và bổ thì chỉ có na ở quê mình vì chất đất ở đây thích hợp nhất cho loại cây này". Quả đúng vậy na chín, vỏ mỏng, bóc trên tay đã thơm phức mùi hương, quyến rũ lạ thường. Vị ngọt sắc của na như nhắc người ta nhớ đến tháng ngày cây cần mẫn chắt chiu nhựa đất trên dải đất sỏi khô cằn. Hoa na giống hoa lan nhưng dầy cánh và mùi hăng hắc. Hoa không nhiều nhưng có hoa là đậu quả. Mỗi cây trung bình hàng năm cho khoảng vài chục cân. Đến vụ, cả đồi na, bà thu hoạch được gần tấn, cũng được 6-7 triệu đồng. Cứ như thế, mùa tiếp mùa, năm tiếp năm, na trở thành loại quả xuất khẩu và món ăn tráng miệng thường nhật cung cấp vitamin rất tốt. Mỗi cây na như nhắn nhủ với mọi người về sức sống bền bỉ và một cuộc đời cần mẫn chắt chiu như chính người trồng na vậy. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về một loài cây quen thuộc của quê em
500
Giới thiệu về một lễ hội đặc sắc của quê hương (Hội Gióng) Gợi ý Những lễ hội tưng bừng náo nhiệt là một phần không thể thiếu trong đới sống tinh thần của người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam tổ chức lễ hội để tỏ lòng biết ơn đối với những đấng siêu nhiên như thần thánh hoặc những vị anh hùng dân tộc. Lễ hội Gióng cũng là một lễ hội mang ý nghĩa thiêng liêng như vậy để kỷ niệm đức Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương. Xưa kia, hội Gióng được tổ chức tại làng Phù Đổng, tỉnh Bắc Ninh. Ngày nay hội Gióng được tổ chức tại nhiều địa phương nhưng Hội Gióng Phù Đổng (Gia Lâm – Hà Nội) có quy mô và tổ chức công phu nhất. Đây là ngày lễ hội lịch sử truyền thống, được tổ chức hàng năm vào ngày 9 tháng tư Âm lịch (kéo dài từ 6 đến 12 tháng 4) gồm các nghi lễ như rước nước từ giếng trước đền Mẫu (6 tháng 4), rước cờ từ đền Mẫu đến đền Thượng (7 tháng 4), nhất là cuộc diễn trận Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân (9 tháng 4) rất vui vẻ nhộn nhịp, thu hút đông đảo dân chúng các làng tổng đến tham dự về hội Gióng, ca dao có câu: “Mồng bảy hội Khám, Mồng tám hội Dâu Mồng chín đâu đâu Thì về hội Gióng.” Tại làng Phù Đổng có hai đền thờ: Đền Thượng xây rất đồ sộ, kiến trúc theo lôi cổ, thờ Phù Đổng Thiên Vương, và đền Hạ nhỏ hơn, thờ đức Thánh Mẫu là thân sinh ra Thiên Vương. Ngôi đền Thượng còn gọi là đền Đổng Xung Thiên Thần Vương, xây từ đời Hùng Vương, được vua Lê Thái Tổ phong là Xung thiên thần Vương. Xem thêm: Trong bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu có đoạn: Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân... Đành như thân gái sóng xao Tiền Đường! Hãy phân tích đoạn thơ, làm rõ sự thương cảm của nhà thơ cách mạng với số phận, cảnh ngộ của Thúy Kiều và đại thi hào Nguyễn Du Ngày diễn trận là điểm nóng của Hội Gióng. Các thanh thiếu niên từ 12 đến 26 tuổi được cử làm ông Hiệu như Hiệu Cờ, Hiệu Chiêng, Hiệu Trống và Hiệu Trung Quân tượng trưng cho các Tướng của Phù Đổng Thiên Vương, được che lọng và phải chay tịnh trong thời gian hành lễ 160 người dân đinh tuổi 18 đến 36 được chọn làm quân lính, họp thành 10 cơ, mỗi cơ có 1 cơ trưởng và 15 cơ binh. Cơ binh đóng khố đen, ở trần hoặc mang khăn choàng chéo từ vai trái xuống bên phải, và đeo túi mầu đen bên trái. Mỗi người lính còn cầm một chiếc quạt và đội mũ tế mầu đen. Cơ trưởng đi thêm đôi giầy và mặc áo thụng xanh. Vì quân tướng nước Văn Lang là các trai tráng hùng mạnh, nên tướng giặc phải tượng trưng bằng các cô gái bé nhỏ yếu đuối! 28 cô gái tuổi từ 10 đến 13 đóng vai tường giặc Ân. Hội Gióng trải qua 3 ngày chính: Ngày mồng 8 tháng 4, các cô gái đóng vai tướng giặc, trong đó có hai người luân phiên đóng vai tướng chỉ huy. Tất cả các cô gái đều được đeo nữ trang, trang điểm phấn son và ngồi kiệu hoa, có lọng che thật đẹp. Ngày mồng 9 là cuộc diễn trận chính thức: Trước hết là lễ tế cờ tại đền. Sau tiếng nổi hiệu báo động có giặc, các ông Hiệu và quân lính tề tựu tại đền hô to: “Tuân lệnh”, rồi lấy binh khí ra khỏi giá và đợi lệnh ở sân đinh. Ban múa Lào múa và hát khúc quân ca (bài hát truyền từ đời Lý) trước khi tiến quân. Mặt trận dặn ra, tượng trưng bằng 3 chiếc chiếu. Ớ giữa mỗi chiếu (tượng trưng cánh đồng), úp 1 cái bát trên 1 tờ giấy (tượng trưng đồi núi và mây trời). Cuộc giao phong với quân giặc cũng được tượng trưng bằng cuộc múa cờ “Ba ván ngược” trên 3 chiếc chiếu lần đầu khi ông Hiệu cờ lấy chân khều cái bát và tờ giấy (tượng trưng quân vượt qua mây núi) rồi múa cờ từ phải sang trái. Sau đó có tiệc lớn khao quân. Tiếp theo là múa cờ “Ba ván thuận” từ trái sang phải khi quân giặc trở lại. Cuốì cùng, quân ta toàn thắng, quân giặc thua. Các tướng giặc đều quỳ xuống xin hàng. Hai tướng giặc chỉ huy bị lột mũ áo tượng trưng cho sự hành quyết. Các tướng giặc khác được khoan hồng. Trong khi phất cờ giao phong, các túi nhỏ đựng trầm và bươm bướm được tung ra và dân chúng cướp lấy đem về lấy phước. Dân làng cũng cướp các mảnh chiếu bị xé nát sau mỗi trận giao phong để lấy hên.Xem thêm: Kể lại câu chuyện về đôi bạn giúp nhau vượt khó, học giỏi để lại cho anh (chị) nhiều ấn tượng sâu sắc Ngày mồng 10 duyệt binh thắng trận, có mổ bò, lợn khao quần. Các tướng giặc được khoan hồng mang lễ tới triều kiến Thiên vương cũng được thết tiệc. Thế là “Thiên Hạ Thái Bình.” Cờ trắng đầu hàng của giặc được cắm khắp đầu đường, đồng thời các trò vui chơi được tổ chức ngày đêm không dứt. Bởi vậy, ca dao còn có câu: “Mồng chín tháng tư, Không đi Hội Gióng cũng hư một đời.” Hội Gióng là một lễ hội đặc sắc của người dân Việt Nam. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về một lễ hội đặc sắc của quê hương (Hội Gióng)
958
Giới thiệu về một món ăn dân gian Gợi ý Vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch, khi mưa xuân giăng một màn bụi mỏng trắng mờ che phủ xóm làng, tiết trời đã ấm áp là lúc lá khúc bắt đầu lên mơn mởn các bãi đất ven đê dọc các triền sông. Chẳng ai trồng rau khúc. Nó tự nhiên âm thầm mọc lên, như có phần bẽn lẽn vì sự giản dị của mình, lặng lẽ mang đến cho con người những ngọn lá xanh mướt, mang vị thơm, vị bùi rất đặc biệt trong một thứ quà quê được gọi tên bằng chính loại lá độc đáo làm ra nó: bánh khúc. Chẳng biết bánh khúc có từ bao giờ, ai là người đầu tiên làm được món bánh này nhưng bánh khúc đã quen thuộc từ lâu với rất nhiều người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ nông thôn đến thành thị. Làm bánh khúc không khó, nhưng đòi hỏi sự cần cù, tỉ mỉ và cả kinh nghiệm người xưa truyền dạy. Nguyên liệu chủ đạo làm nên hương vị độc đáo của món bánh này là lá khúc. Lá khúc hái từ buổi sớm, chọn những lá đang độ tươi non mơn mởn hái đem về giã cho nhuyễn rồi trộn với bột gạo làm vỏ bánh. Nhân bánh được làm từ đậu xanh đồ chín tới giã thật mịn, viên lại nhỏ bằng quả trứng gà ri cùng với thịt ba chỉ thái hạt lựu, rắc thêm chút hạt tiêu cho dậy mùi. Dàn mỏng lớp vỏ thật khéo bao kín nhân bánh, xếp từng lượt bánh vào nồi hấp như đồ xôi, mỗi lớp bánh lại rắc một lượt gạo nếp ngon đã ngâm kỹ làm áo. Từ lúc nước sôi đến lúc bánh chín chừng tàn một que hương.Xem thêm: Lấy chủ đề: Tự học mang lại nhiều ích lợi to lớn. Em hãy viết một số đoạn văn bày tỏ những suy nghĩ của mình về vấn đề này Bánh khúc là một thứ quà, trong những thứ quà bánh. Nó cũng có thể giúp người ta đỡ đói lòng khi nhớ bữa vì thành phần dinh dưỡng khá cao. Thưởng thức bánh khúc khi còn nóng mới thấy hết được hương vị của bánh khúc, một thứ hương vị tổng hợp, kết hợp nhiều mùi vị tự nhiên của ruộng đồng một cách khéo léo tài tình gói gọn trong tấm bánh bé nhỏ, không cần tới sự trợ giúp của các loại hoá chất hay bất cứ thứ công nghệ thực phẩm nào. Bánh khúc là một món quà quê nhưng được người thành thị ưa thích. Người ta thích bánh khúc chính bởi cái tính "lành" của nó. Món bánh cổ truyền này vẫn sống trong xã hội hiện đại bên cạnh những loại bánh khúc được đóng gói trên dây chuyền công nghiệp. Người ta có thể thưởng thức bánh khúc bất cứ khi nào thích nhưng bánh khúc thường được rao bán cùng với vài loại quà bánh khác vào buổi tối. Những tiếng rao "Ai khúc đê…" mang món quà quê bình dị này tới tận nơi len lỏi tới từng ngõ phố nhỏ. Chẳng biết khi nâng chiếc bánh khúc nóng hổi, bốc khói nghi ngút, thơm mùi gạo nếp, mùi lá khúc, quyện lẫn vị bùi, vị béo của thịt và đỗ có ai biết đến ngọn lá giản dị kia, và những người đang một nắng hai sương làm bánh khúc..Xem thêm: Tả lại một cảnh lễ hội mà em đã được tham dựVanmau.edu.vn
Giới thiệu về một món ăn dân gian
600
Giới thiệu về một món ăn tiêu biểu của quê hương em Gợi ý Nam Bộ có nhiều món ăn độc đáo, nhưng phổ biến vẫn là món bún. Bún được chế biến nhiều món ăn đa dạng về hình thức, phong phú về chất lượng như: bún thịt xào, bún nem bì, bún cà ri, bún riêu cua, bún nước lèo, bún mắm… được mọi người ưa thích, từ giới bình dân cho đến kẻ giàu sang phú quý, nhưng hấp dẫn chắc vẫn là món bún mắm. Ở Trà Ôn, người bán bún mắm không nhiều như ở miệt Trà Vinh, Sóc Trăng, bù lại có tiếng là ngon. Ngon từ sợi bún nhỏ nhắn, tròn trịa, dài mềm mại đến nước lèo, chất mắm. Cách nấu bún mắm ở đây được thêm thắt đôi chút cho hợp khẩu vị của người ăn. Từ đó bún mắm tự dưng được mọi người xem như món ăn "đặc trưng" nơi đây và cả đồng bằng Tây Nam Bộ. Nước lèo theo cách gọi chung được nấu chuyên nghiệp cho là đúng "gu" là không xài bột ngọt và đường, chỉ cốt lấy chất ngọt từ con cá lóc, xương heo cùng chất "tinh tuý" ở loại mắm sặc đồng, miệt Cà Mau, thường gọi là "mắm trở" có mùi nặng đặc biệt. Mắm nấu sôi cho cá rã ra, lọc mắm qua rây lấy nước, bỏ xương. Cá lóc làm sạch cắt thành khúc, cùng xương heo thả trong nước lèo. Cá chín vớt ra, xắt thành từng miếng nhỏ dài lối ngón táy. Còn đầu cá no tròn, đùm ruột gan mỡ béo ngậy được xếp chồng lên trong đĩa bàn lớn, chưng cho "bắt mắt". Cặp trứng cá vàng ruộm bỏ trở lại nồi, dùng "dá" khoả đều cho trửng nổi lên trên mặt, cùng sả bãm nhuyễn, nấm rơm búp, tép mỡ óng ánh lềnh bềnh càng tăng thêm chất lượng nồi nước lèo.Xem thêm: Thuyết minh về một món ăn truyền thống của địa phương Khi ăn nồi nước lèo sôi ngùn ngụt được chan vào tô bún cho ngập nước, dùng "dá" chặn bún lại cho nước đổ trở lại nồi, đó là cách làm cho cọng bún mềm và nóng. Sau đó xếp từng miếng cá, lát thịt ba dọi, vài con tép bạc bên trên, kèm theo rau thơm, giá sống, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, nước mắm ớt nguyên chất, nếu thích vắt thêm tí chanh. Công đoạn cuối cùng là chan nước lèo lại lần thứ hai. Tô bún mắm đã đầy đủ sẵn sàng mời khách. Cũng chưa hết, khách yêu cầu thêm cục xương heo hay cái đầu cá, đùm ruột béo ngậy, người bán cũng không từ chối, chỉ cần tính thêm tiền. Vanmau.edu.vn
Giới thiệu về một món ăn tiêu biểu của quê hương em
463