text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Hình tượng người bà trong bài thơ “Đò Lèn” Gợi ý Tuổi thơ của ai chẳng có những kí ức về người bà của mình. Khó có thể quên những đêm trời lạnh được bà ôm trong lòng và nghe những câu chuyện cổ tích bà kế. Chính vì vậy, viết về người bà, chính là một mảng để tài thu hút khá nhiều cây bút. Tiêu biểu là Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt, và “Đò lèn” của Nguyễn Duy. Bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy được viết nãm 1983, trong một dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với những hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu. Trong dòng hồi ức xưa hình ảnh người bà trong kí ức của tác giả đã hiện lên thật đặc biệt. Nguyễn Duy sống với bà ngoại từ nhỏ cho nên bà ngoại là hình ảnh rất đỗi gần gũi và quen thuộc đô’i với nhà thơ. Trước hết, hình tượng người bà hiện lên với sự vất vẳ, lam lũ: “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”. Trước khi nhận ra sự cơ cực, vất vả để lo toan cho cuộc sống của người bà, tác giả đã tái hiện lại tuổi thơ của mình: “Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bỉnh Lăm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền sòng” Tác giả đã nhìn lại chính minh một cách chân thực, đó là sự vô tư, ham chơi và đôi khi còn có cả những trò nghịch dại. Và khi tác giả nhận ra “Tôi đâu biết, bà tôi cơ cực thế”. Câu thơ như sự giật mình của tác giả về sự vất vả của bà. Từ “thập thững” đã nói lên tất cả. Nếu trong bài thơ Bên kia sông Đuông, nhà thơ Hoàng Cầm viết:Xem thêm: Từ hiểu biết của mình về người mẹ Việt Nam và các thông tin trên, anh (chị) hãy viết bài văn với tiêu đề: Tượng đài về lòng yêu nước và đức hi sinh. “Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong Bước cao thấp bên bờ tre hun hút” “Bước cao thấp” mới chỉ gợi lên liên tưởng đến hình ảnh con đường không bằng phẳngnhưng khi Nguyễn Du viết “Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn” Thì bạn đọc không chỉ thấy hiện ra một con đường gồ ghề, một đêm đông buốt giá mà từ “thập thững” còn đem lại cảm giác gánh hàng đang nặng trĩu trên vai người bà. Chính những vất vả ấy đã khiến tác giả không chỉ thương bà mà tác giả còn thấy bà có những vẻ đẹp của tiên, phật, thánh, thần “Tôi trong suốt đời giữa hai bờ hư – thực giữa bà tôi và tiên, phật, thánh, thần” Không những thế, hình tượng người bà trong bài thơ còn có tinh thần lạc quan, vượt lên mọi khó khăn mà cuộc chiến tranh đem lại. “Bọn Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn" Vậy là, chỗ che mưa, che nắng, sớm tôi đi về đã bị bom Mĩ đánh bay mất nhưng không vì thế mà bà đầu hàng trước khó khăn trái lại bà vẫn vượt lên hoàn cảnh để lao động. Có thể thấy tình thương của bà dành cho tác giả luôn thầm lặng, bà luôn mong mỏi những điều tốt đẹp nhất đến với người cháu của mình:Xem thêm: Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam“Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” Khép lại bài thơ là một nỗi buồn của tác giả khi bà đã không còn, người cháu giờ đây đã lớn trở về thăm bà thì “ bà chỉ còn là một nấm cỏ”. Bài thơ Đò Lèn không chỉ đơn thuần là đòng hoài niệm về tuổi thơ xừa mà bài thơ còn là lòng cảm ơn của người cháu đối với bà Vanmau.edu.vn
Hình tượng người bà trong bài thơ “Đò Lèn”
728
Đề bài: Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Hướng dẫn Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc thể hiện tư tưởng yêu nước thương dân của Nguyễn Đình Chiểu. Bẳng những lời lẽ hết sức sâu sắc, nhà thơ đã xây dựng nên một tượng đài nghệ thuật bất hủ về người anh hùng nghĩa sĩ nông dân trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm ấy vốn là những người dân ấp dân lân, quanh năm cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó nên họ biết thân phận nhỏ bé, hèn mọn của mình trong xã hội. Nhưng khi đất nước cần họ đã tự nguyện cầm súng đánh giặc. Đất nước lầm thân, tang tóc, bọn triều đình và quan lại làm ngơ. Người nông dân chất phát ấy đã không thể thơ ở trước nhưng đau thương mất mát của nhân dân. Trước khi ra nhập quân sĩ, dù biết trước có thể họ sẽ hi sinh nhưng không hề nao núng, sẵn sàng hi sinh cho dân tộc, cho quê hương. Người nông dân từ mái tranh nghèo đã giám xông thẳng ra chiến trường mà không hề được luyện tập mảy may. Vũ khí mà họ chiến đấu là những vật dụng vơ vội ở xó bếp, góc vườn mà đem đối chọi với vũ khí hiện đại của quân thù. Điều đáng khâm phục và tự hào nằm ở tình thần chiến đấu của họ. Xem thêm: Em hiểu như thế nào về cốt và cách của thơ mà Viên Mai nói đến? Giữa cốt và cách, cái nào là yếu tố quyết định? Nêu ví dụ để chứng minh. Nơi chiến trường ác liệt, người nghĩa sĩ nông dân hiện lên thật đẹp. Họ đã chiến đấu thật anh dũng, chiến đấu bằng lòng yêu nước của họ. Lưỡi dao phay, ngọn tầm vông của họ đâm ngang, chém ngược, tung hoành, hiên ngang nơi trận địa, khiến quân giặc hồn kinh phách lạc. Tiếng thét căm thù vang trời của họ át cả tiếng tàu thiếc tàu đồng súng nổ. Sức mạnh diệu kì của lòng yêu nước đã biến những vũ khí thô sơ thành sắc bén và lợi hại không ngờ. Rơm con cúi, lưỡi dao phay cũng đốt xong nhà dạy đạo, cũng chém rớt đầu quan hai giặc. Sở hữu vũ khí hiện đại nhưng trước khí thế dũng mãnh nghĩa sĩ, quân giặc hung dữ với súng lớn, tàu thiếc tàu đồng phải hoảng sợ, kinh hoàng và trở nên nhỏ bé đến thảm hại. Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng lên hình tượng người nghĩa sĩ nông dân sừng sững nổi bật trên nền trời đầy khói lửa của chiến trường, họ đã hi sinh nhưng mãi mãi như một tượng đài sừng sững trong lòng người dân Việt Nguyễn Đình Chiểu quả thật đã viết nên tác phẩm có một không hai trong nền văn học của nước nhà. Bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc được nhiều người đánh giá như một tấm bia, một cái mốc, một tượng đài vinh quang về người nông dân Nam Bộ yêu nước, muôn thuở sáng ngời. Nguồn: thêm: Nghị luận xã hội - Nghĩ vể nhân cách, phẩm giá
Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.
554
Đề bài: Phân tích hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II và Thương vợ “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi ném thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi” Đã từ lâu, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa đã xuất hiện nhiều qua những câu ca dao với những vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Nhưng ở họ đều có chung đức tính truyền thống đẹp đẽ mà dân tộc Việt Nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn năm lao động và đấu tranh. Hình ảnh đó cũng được thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ Tự Tình II cua Hồ Xuân Hương Và Thương Vợ của Trần Tễ Xương. Hình ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài thơ đó là hình tương người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong cuộc sống. Đó là hình ảnh bà Tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm việc vất vả suốt cả năm, không kể mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm. Thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cà trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương con tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” đưa từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm tăng thêm nỗi vất vả, gian truân của bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu sắc, thấm thía hơn: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Câu thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó còn là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và người phụ nữ Việt Nam xưa phải chịu đựng, trải qua. Còn với bài thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non.” Mở đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: Trống canh dồn. Nhưng dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trở nên vô cùng vắng lặng. Cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. Nửa đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người phụ nữ tĩnh dậy vào đúng thời khắc thiêng liêng ấy, hay vì cả đêm người phụ nữ đã không ngủ được vì thiếu vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? Tiếng trống canh âm vang từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi đến một điều đáng sợ đôí với một người đàn bà vẫn còn thân đơn gối chiếc: đó là tuổi già. Tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. Tiếng trống dồn dập cứ xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ không tài nào dứt được. Dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tự hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại hay phải chăng đó là tiếng trống cất lên từ tiếng lòng thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà: “Trơ cái hồng nhan với nước non” Khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày một trơ ra với đời. “Hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức tự hào, coi trọng, nâng niu. Nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “Hồng nhan” để làm gì khi nữa đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “Hồng nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chính bản thân mình, đáng thương cho những người phụ nữ đương thời bị đè nén, áp bức với những thủ tục phong kiến đến mức xơ xác, héo mòn cả một phận hồng nhan. Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm. “Chén rượi hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” Hai câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm tác giả. Một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. Câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. Khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai để có thể chia sẽ nỗi niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, một mình. Nhưng liệu chén rươu có thể làm quen đi bảo nỗi cô đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương uống rượu mà như uống đi bao giọt sầu mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm nuốt vào cổ họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình Xuân Hương được thể hiện chứa đựng bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn.Trăng vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi vọng. Nhưng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa tròn”- một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc đời còn dang dở, éo le với những trắc trở trong tình duyên. Hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. Và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. Trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chuă được trọn vẹn. Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm tư đang hiện hữu trong bà. Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn TuânNhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào, thì người phụ nữ Việt Nam xưa vẫn là những con người có những phẩm chất đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu thương, lòng nhân hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Câu thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh năm chẳng nề hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. Năm con với một chồng là sáu người. Một phải gánh sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. Nhưng nuôi đủ vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. Vậy mới thật là đảm, nặng đến thế mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. Câu thơ thể hiện sự vất vả, gian lao đức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà Tú nói riêng và của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Còn với Tự Tình II, dù đớn đau đến mức nào thì trong sâu thẳm trái tim bà, dù yếu ớt đến đâu cũng loé lên ánh lửa khát khao, hi vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình: “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.” Một hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh, không chịu khuất phục điều gì của chính tác giả vậy. Ở đây, Hồ Xuân Hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những phản ứng tích cực, bà không buông xuôi, đầu hàng mà luôn cố gắng tìm cách thay đổi vận mệnh, cho dù những cố gắng đó mới chỉ dừng lại trong suy nghĩ. Hai câu thơ tưởng như chỉ miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chính những đặc điểm cuả cảnh vật đó đã được dùng để bộc lộ tâm trạng của con người. Hàng loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên đầu câu. Những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. Nó phải mọc xiên, mà là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải “đâm toạc chân mây”. Biện pháp nghệ thuật đảo ngữ trong hai câu dã làm nổi bật sự phẫn uất của thân phận đất đá, cỏ cây mà cũng là sự phẫn uất của tâm trạng. Chỉ những cảnh vật bình thường không có gì đặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cách nhìn đấy bất mãn, ấm ức của tác giả, chúng trở nên vô cùng sống động. Cự động, nổi loạn, phá phách, muốn đập tan những gì gò bó đẻ dược tự do vùng vẫy giữa đất trời, thiên nhiên hoà hợp với con người, đặc điểm thiên nhiên cũng chính là nỗi niềm nhân vật. Và ta cũng thấy được tâm trạng của Hồ Xuân Hương phẫn uất trước những tục lệ phong kiến, cũng như những số phận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết hạnh phúc của bà; những uất hận ấy bị đè nén, gò ép trong lòng bà đến mức không chịu nổi chỉ chực vỡ oà ra, bà khao khát muốn đập tung tất cả, muốn đập đổ mọi thứ, muốn tự do biết nhường nào. Nhưng dù sao, bà cũng chỉ là một người phụ nữ phong kiến, một thân phận nữ nhi cô độc, dù phá phách, dù nổi loạn đến đâu thì cũng chỉ trong giới hạn ngôn từ. Bà không thể làm gì hơn được nữa………….. Mặc dù vậy, ta phải công nhận đay là một cách suy nghĩ vô cùng mới mẻ, một tư tưởng đi trứoc thời đại, một tính cách hoàn toàn khác biệt so với người phụ nữ lúc bấy giờ. Đó là một bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con” Ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân Hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le, bạc bẽo. Xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. Từ xuân mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với con người tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai ý nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. Sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: Mảnh tình-san sẻ-tí con con. Mảnh tình đã bé lại còn san sẻ ra thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng xót xa, tội nghiệp. Câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được chia năm xẻ bảy, nhận dược duy nhất một mảnh tí con con. Hạnh phúc của bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng cay. Cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của tác giả. Hồ Xuân Hương ngang tàng, thách thức đầy nổi loạn trên là thế, nhưng cuối cùng tất cả vẫn chỉ chìm vào vô vọng trong sự bất lực tột cùng và chán chường, mệt mỏi. Những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô ích, bởi phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà thôi. Có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc cho tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng………… “Giọt nước mắt em……….âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi………..trong tim em ôm trọn một nỗi sàu bơ vơ…………….đành khóc vậy thôi…………… Liệu Hồ Xuân Hương có thể vượt qua tất cả để trở lại là một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó vẫn là câu hỏi còn dở dang của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như mảnh gương vỡ……… Câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi kịch của Hồ Xuân Hương và cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ. Đó là những hiện thân cho những khổ đau của con người trong xã hội xưa, đồng thời là kết tinh của những đức tính tốt đẹp của ngưòi phụ nữ Việt Nam qua hàng thế kỉ. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau đớn, tủi cực dưới chế độ phong kiến nhưng ở họ toát lên sự đấu tranh mạnh mẽ, vượt lên số phận để làn tốt bổn phận của một người phụ nữ trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh phúc mà mình hằng khao khát. Nguồn Edufly Xem thêm: Văn nghị luận: Sống đơn giản chính là hạnh phúc
Hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II và Thương vợ
2,682
Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu) Gợi ý Nhằm khơi dậy lòng yêu nước, kêu gọi đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc, trong các sáng tác thơ ca của mình Phan Bội Châu thường xây dựng những nhân vật trữ tình đầy băn khoăn trăn trở vì trách nhiệm vì khát vọng làm người ở đời. Trong bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”, hình tượng nhân vật trữ tình hiện lên thật đẹp đẽ, hùng vĩ gắn với lý tưởng tự khẳng định mình và lòng yêu nước thiết tha: “Làm trai phải lạ trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai Non sông đã chết sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu học cũng hoài Muốn vượt bể Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. Bài thơ nguyên văn làm bằng chữ Hán có tên “Xuất dương lưu biệt”. Như ta đã biết, sau khi vận động thành dập hội Duy Tân (1905) Phan Bội Châu tranh thủ viện trợ nước ngoài đào tạo cốt cán cho phong trào yêu nước. Bài thơ được làm trong buổi chia với các đồng chí của mình trước khi tác giả lên đường. Trên đây là bản dịch thơ của Tôn Quang Phiệt. Nhân vật trữ tình trong bài thơ có một khát vọng lớn lao: “Làm trai phải lạ trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời”. Ý thức cá nhân của con người ấy thể hiện rất rõ. “Làm trai” tức là ý thức về trách nhiệm của thân phận “Chí nam nhi nam bắc đông tây”. “Làm trai phải lạ trên đời!”. “Phải lạ” là sao? “Phải lạ” là phải có điều gì khác hẳn, vượt lên hẳn mọi thứ tầm thường trên đời. Nói như Nguyễn Công Trứ thì đó là “Phải có danh, gì với núi sông”. Phan Bội Châu đã ghi dấu ấn với sống với núi bằng khát vọng xoay trời chuyển đất: “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Không để đất trời tự vần xoay, phải chế ngự sự biến đổi ấy bằng những hành động, việc làm xứng đáng với thân nam nhi.Xem thêm: Văn nghị luận: Bàn về hai chữ “Vinh - nhục” Khẳng định chí làm trai, tiến thêm một bước là khẳng định một cái “Tôi” kỳ vĩ: “Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai”. Lời nóị hùng khí ấy chỉ có thể thót lên từ một bậc anh hùng. Trong khoảng trăm năm của cuộc đời cần có ta gánh vác. Câu thơ khẳng định vai trò cá nhân đối với vận mệnh đất nước và cũng là thể hiện một cái “tôi” đầy trách nhiệm sẵn sàng gánh vác kế trăm năm nghiệp vuơng trên của cơ đồ xã tắc. Trong thời cuộc rối ren đầu thế kỷ XX, khi bao kẻ chỉ chăm chăm “nằm co” cho khuôn vừa thời thế, sự vùng vẫy của cái tôi kia thật đáng trân trọng. Tin ở bản thân cái “tôi”, nhân vật trữ tình còn tin ở tương lai “sau này muôn thuở há không, ai”. Sau này nghìn năm lại không có ai lưu danh muôn thuở vì dân vì nước hay sao? Câu thơ có dáng dấp một câu hỏi nhưng cũng là một cảu khẳng định ắt sau này có người làm nên nghiệp lớn, lưu danh muôn thuở cứu dân cứu nước. Đó không là ta thì sẽ là một người hậu thế. Lời thơ bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai, đó giống như sự trao gửi lịch sử vào tay hậu thế. Bàn về chí làm trai, bàn về cái “tôi” ở đời, nhà thơ đặt nhân vật trữ tình hoàn cảnh cụ thể của đất nước:Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây"“Non sông đã chết sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”. Luận về lẽ sống chết ở đời để khẳng định, đề cao tư tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình. “Non sông đã chết sống thêm nhục”. Nếu như chí làm trai gắn số phận kẻ làm trai với trách nhiệm xoay trời chuyển đất thì nước nhà có sa cơ “đã chết” cái nhục thuộc về sự sống kẻ làm trai. Nhận trách nhiệm chung về mình, đó là biểu hiện cao độ của lòng tự trọng con người, ở đây lòng tự trọng được thể hiện ở nỗi đau mất nước, nỗi nhục quốc thể. Đặc biệt, tư tưởng nhân vật trữ tình đôĩ với nghiệp bút nghiên là một tư – tưởng vô cùng mới mẻ “Hiền thánh học cũng hoài”. Tư tưởng ấy khẳng định: đạo Nho, chữ Nho, quan điểm nhà Nho (hiền thánh) đã không còn hợp thời hợp thế. Chúng không còn tác dụng thúc đẩy sự phát triển của dân tộc. Vậy, trong thời đại mới cần xếp bút nghiên nắm lấy vũ khí mà tranh đấu cho lòng tự tôn dân tộc, lòng tự trọng cá nhân. Tư tưởng ấy hết sức mới mẻ, táo bạo thoát ra khỏi lề lối sáo mòn gò ép của tư tưởng Nho gia thúc giục con người lên đường tranh đâu. Vậy lên đường tranh đấu bằng cách nào? “Muổn vượt biển Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. Hình tượng nhân vật trữ tình không còn hiện lên trong khuôn khổ những tư tưởng ý chí mà vụt hóa thành con người của hành động. Câu thơ khắc họa một cuộc tiễn đưa hào hùng của lịch sử. Hình ảnh tư thế người ra đi vô cùng lớn lao kỳ vĩ “vượt bể Đồng theo cánh gió” để “Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. Phải là “bể Đông” “cánh gió” mới xứng đáng với sự kỳ vĩ của ước mơ người anh ’hùng. “Muôn trùng sóng bạc” của quê hương tiễn đưa người anh hùng ra đi vì chí lớn. Bài thơ khép lại nhưng mở ra hy vọng cho tương lai đất nước dựa vào cuộc ra đi hào hùng của bậc anh hùng hào kiệt.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thảnh Gióng Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ hiện lên ở nhiều phương diện: tư tưởng khát vọng, hành động. Qua đó bộc lộ những qụan điểm mới mẻ, tiến bộ về nhân sinh quan. Bài thơ kết thúc ở hình ảnh người ra đi đẹp hào hùng gieo vào lòng người những đợi chờ hy vọng. Hóa thân vào nhân vật trữ tình của bài thơ, Phan Bội Châu thể hiện khát vọng ý chí cá nhân làm nên nhiều biến động đổi thay trong lịch sử. ở nhà thơ, thơ là người và người cũng như thơ. Nhắc đến thơ để ta thêm muôn phần ngưỡng mộ con người, nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu. Vanmau.edu.vn
Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)
1,155
Hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Gợi ý Sóng là biểu hiện trạng thái của trái tim đang yêu. Nếu như ở những khổ thơ đầu, khát vọng tình yêu được biểu hiện thông qua sự mở rộng chiều kích không gian (sông – bể) thì ở những khổ thơ sau, tình yêu được biểu hiện bằng sự mở rộng chiều kích thời gian có xu hướng khẳng định (ngày xưa, ngày sau vẫn thế). Hành trình của sóng từ sông ra biển cũng giống như hành trình của trái tim tự bứt khỏi sự bình lặng của những qui ước thường ngày để hướng đến cuộc đời rộng lớn mà ở đó, mỗi cá nhân đều đứng trước nhiều chiều thổn thức: Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên? Hướng về người yêu và hướng về chính mình, đối diện sóng cũng là đối diện những thử thách cuộc đời. Hàng loạt câu hỏi không lời đáp, nhưng lại là cái đích trong khát vọng của chủ thể trữ tình: Khi nào ta yêu nhau Khi nào ấy là bao giờ? Câu hỏi cũng chính là lời hứa hẹn, niềm mong khát vậy thôi! Mối quan hệ bắc cầu và nhân quả (sóng – gió) cũng như tình yêu là những điều chẳng dễ gì cắt nghĩa được ngọn ngành, chỉ biết rằng: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Hình tượng sóng được chuyển hoá từ đối tượng nhận thức sang phương tiện mở rộng chiều kích của khát vọng tình yêu. Dưới lòng sâu hay trên mặt nước, lúc âm thầm kín đáo, lúc hối hả trào dâng, sóng và nỗi nhớ song hành và trở thành niềm thao thức. Sóng không chỉ là tượng hình cho khát vọng tình yêu mà sóng còn là ẩn dụ của nỗi nhớ khắc khoải trong tình yêu. Nỗi nhớ ấy có thể được xuất phát bất cứ nơi nào, nhưng chỉ duy nhất hướng về một đích, cũng như một nét phẩm chất của tình yêu: là xu hướng khẳng định tính vĩnh hằng duy nhất của nó. Sóng vừa như đối tượng khách quan, lại vừa như sự phân thân mãnh liệt của chủ thể trữ tình. Chính vì thế, hình tượng sóng được xem như hình tượng sóng đôi với hình tượng em trong quan hệ đối sánh. Mức độ của nhớ giữa sóng và em được phân biệt rất rõ: không ngủ được và trong mơ còn thức là khác nhau về chất. Sóng của thiên nhiên nhớ bờ nhớ bến cứ vỗ khôn nguôi, nên còn có thể xem như sóng thức{* còn nỗi nhớ của chủ thể trữ tình là tiếng gọi từ tiềm thức, thường trực đấy mà sao quá xa xôi. Hành tung của sóng vì thế được xem như những cách thức, phương tiện nhận thúc về tình yêu của chủ thể trữ tình trước ranh giới giữa hữu hạn với vô biên, giữa hiện thực và ảo giác. Xem thêm: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật xử thế và đối đãi với sự vật” (Lâm Ngữ Đường). Em hãy giải thích và chứng minh nhận xét trên Sóng và em trong bài thơ của Xuân Quỳnh được thể hiện qua nhiều mối tương quan thẩm mĩ: Quan hệ giữa toàn thể và bộ phận {sông – bể). Quan hệ giữa các chiều kích (chiều kích không gian: xuôi – ngược, chiều kích thời gian: ngày – đếm, chiều kích mức độ: lòng sâu – mặt nước). Nhưng sóng và em chỉ là một, trong sự quấn quýt hòa tan và khao khát vô bờ. Sóng đối sánh với khát khao tình yêu và hạnh phúc của chủ thể trữ tình. Đó cũng là nội dung triết lí trong hai khổ thơ cuối của bài thơ: triết lí nhân sinh, khát vọng yêu và sống của thi sĩ Xuân Quỳnh. Tình yêu không chỉ là khái niệm, nó còn là một trạng thái cảm xúc đặc biệt của con người, mà biểu hiện của nó là muôn hình muôn vẻ. Thi sĩ Xuân Diệu viết: Yêu là chết ở trong lòng một ít Cứ cho sự chết đó là một ít, nhưng một ít là bao nhiêu, và chết được biểu hiện như thế nào – điều ấy thiết tưởng chỉ người đang yêu mới biết. Nhưng cũng không hẳn thế, bởi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Cái quê hương ấy tồn tại và biểu hiện trong sự đồng hoá, tan chảy tuyệt đối của tình yêu, khiến cho mọi nhận thức về cuộc sống (của những người đang yêu) đều ở trong một sinh quyển diệu huyền và thánh thiện, giao hoà và gắn kết sâu xa. Có lẽ sóng trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh cũng trong qui luật ấy. Xem thêm: Một nhà văn có nói: Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Em hãy giải thích nội dung câu nói đó Sáng tác văn học thường gắn liền với nhu cầu lựa chọn phạm vi đề tài và chất liệu thể hiện. Trong bài thơ, Xuân Quỳnh đã sử dụng sóng như một biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Sóng vừa là biên độ trào dâng của cảm xúc, sóng không dừng lại dù đã gặp bến bờ, sóng vừa là ẩn dụ niềm khao khát mãnh liệt phía những chân trời mới lạ của tình yêu… Chất liệu sóng vừa gợi hình vừa gợi cảm. Có lẽ vì thế, với tượng hình của sóng, Xuân Quỳnh đã đem đến cho người đọc một nhận thức riêng về tình yêu và hạnh phúc, như là một khát vọng sống tột cùng và da diết khôn nguôi. Vanmau.edu.vn
Hình tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
992
Hình tượng đất nước đau thương mà anh dũng trong bài thơ “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi) Gợi ý Trong các thi phẩm của thi ca hiện đại Việt Nam, đề tài quê hương đất nước chiếm một số lượng khá lớn. “Đất nước” là một sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Đình Thi trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Bài thơ mang cảm hứng nhẹ nhàng nhưng đã sáng tạo được một hình tuợng đất nước đau thương mà anh dũng. Nhà thơ Chính Hữu đã có viết: “Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”. (Ngày về) Có thể nhận thấy rằng, sự nhạy cảm, tinh tế của một nhà thơ đâ khiến cho Nguyễn Đình Thi và nhà thơ Chính Hữu cảm nhận được tâm trạng của những chàng trai Hà Thành năm xưa khi phải rời thành phố thân yêu ra đi, dứt khoát nhưng cũng đầy lưu luyến. Và cũng chính từ tư thế và dáng vẻ đó ẩn đằng sau là một đất nước khố đau, gian nan, vất vả, nhọc nhằn. Chỉ bằng vài nét phác thảo, trong hoài niệm của nhà thơ, mùa thu Hà Nội vổi những cảnh vật thiên nhiên và con người.hiện ra thật cụ thể và sinh động. “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” Bốn câu thơ viết về mùa thu Hà Nội trong niềm hoài niệm của nhà thơ là những cãu thơ hay nhất, đẹp nhất về đất nước. Nhưng từ bốn câu thơ đẹp nhất ấy, Nguyễn Đình Thi đã khéo léo khắc họa lên một hình tượng đất nước trong đau thương, căm hờn.Xem thêm: Viết một bài văn về cuộc sống tương lai của hai bố con bằng giọng kể của nhân vật Xô-cô-lốp Nguyễn Đình Thi đã viết thật xúc động, đầy ấn tượng về hình ảnh đất nước bị giặc giày xéo trong chiến tranh: “Ôi những cánh dồng quê chảy máu Dây thép gai. đâm nát trời chiều” Đây là những câu thơ rất giàu giá trị tạo.hình, gây được ấn tượng đặc sắc bằng những hình ảnh đập mạnh vào giác quan người đọc. Những hình ảnh này được xây dựng bằng thủ pháp ngược sáng của điện ảnh và nhiếp ảnh, làm nổi bật những tương phản gay gắt: trong ánh chiều tà, những hàng dây thép gai của giặc tua tủa như đâm nát cả bầu trời, bóng chiều hắt xuống làm cho cánh đồng vùng vành đai trắng đỏ rực lên như đang chảy mấu. Đối lập với những hình ảnh thanh bình ở đầu bài thơ, hình ảnh “những cánh đồng quê chảy máu – dây thép gai đâm nát trời chiều” tượng trưng cho niềm đau thương, uất hận của đất nước trong chiến tranh. Trên cái nền cứa cảnh đất nước đau thương, Nguyễn Đình Thi đã làm nổi bật lên tâm trạng của người chiến sĩ: “Những đêm dái hành quán nung nấu Bồng bồn chồn nhớ mắt người yêu” Chiến tranh là nguyên nhân gây ra tất cả, những mất mát về vật chất và tinh thần. Nhà thơ đã cám nhận sâu sắc những rung động tinh tế trong tâm hồn người ra trận. Chữ “dài” đi với chữ “nung nấu” cùng với chữ “bồn chồn” đã diễn tá rất đạt mối qụan hệ giqa tình cảm thường trực và đột xuất, thế’ hiện thật thỏa đáng và sâu sắc sự hài hòa giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước.Xem thêm: Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Ơ - nít Hê - minh - uê. Kể tên hai tác phẩm tiêu biểu của ông Bằng sự trải nghiệm của mình, Nguyễn Đình Thi đã đi đến những khát quát cao độ của những gian khổ, những mất mát hi sinh tô lớn của đâ’t nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: “Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh” Và những đau thương ấy còn được thê hiện qua tội ác của giặc. Những tội ác mà “trời không dung, đất không tha”. “Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta" Thế nhưng vượt qua đau thương, gian khổ, hi sinh, đất nước chúng ta vụt chói lòa trong chiến thắng của cuộc chiến tranh yêu nước và vì thế lòng tự hào, niềm tin về tương lai của đất nước ở bài thơ càng bừng sáng. Bài thơ khép lại bằng hình ánh khái quát, tượng trưng cho đất nước từ máu lửa của chiến tranh, từ trong đau thương căm phần đứng dậy hào hùng: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rủ bùn đứng dậy sáng lòa” Với bốn dòng thơ duy nhất trong bài thơ tác giả sử dụng thế thơ sáu chữ, cách ngắt nhịp dồn dập, đều đặn tạo nên một âm hưởng hùng tráng. Nhà thơ đã tạo nên bức tượng đài của đất nước sừng sững hiện lên chói ngờ trên cái nền máu, lửa, bùn lầy, trong một không gian dồn dập âm vang tiếng súng nổ rung trời. Bằng hàng loạt những từ ngữ “nung nấu, bồn chồn, rung trời, người lên như nước vỡ bờ, rũ bùn, đứng dậy, sáng lòa” đã tạo nên một luồng sinh khí rùng rùng chuyển động trong chiều sâu của thi từ, mỗi lúc một thêm mãnh liệt, cuồn cuộn, sôi trào. Đó là sức mạnh quật khởi, cái hào khí ngút trời của đất nước.Xem thêm: Soạn bài: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh.“Đất nước” là bài thơ hay nhất của đời thơ Nguyễn Đình Thi. Bài thơ này cũng rất tiêu biểu cho cái nhìn nghệ thuật của ông về đâ’t nước, ông là nhà thơ của đất nước đau thương, đất nước soi bóng vào tâm hồn ông, chỉ bộc lộ rõ nhất vẻ đẹp trong khổ đau, trong gian nan, vất vả, nhọc nhằn. Vanmau.edu.vn
Hình tượng đất nước đau thương mà anh dũng trong bài thơ “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi)
1,043
Hình tượng “sóng” trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh là lời giải bày rất chân thực về khát vọng tình yêu của tác giả. Hãy phân tích và chứng minh vấn đề trên Gợi ý Xuân Quỳnh (1942-1988) là nhà thơ nữ giàu bản sắc trong nền thi ca Việt Nam hiện đại. Chị nổi tiếng với những bài thơ tình: “Hoa cúc xanh”, “Sóng”, “Thuyền và biển", "Nói cùng anh", "Mùa hoa doi", v.v… … “Tình anh đối với em là xứ sở Là bóng rợp trên con đường nắng lửa Trái cây thơm trên miền đất khô cằn Đó tinh yêu, em muốn nói cùng anh Nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng Lòng tốt để duy trì sự sống Cho con người thực sự Người hơn". (Nói cùng anh) Với Xuân Quỳnh thì tình yêu là "nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng”, làm nảy nở bao đức tính tốt, làm cho con người "thực sự Người hơn”. Thơ tình của Xuân Quỳnh lúc nào cũng đằm thắm, nồng nàn, ngọt ngào, mê say. “Sóng” bài thơ tình đặc sắc, thể hiện khát vọng tỉnh yêu đắm say của người con gái trong tình đầu. Bài thơ được viết bằng thể thơ ngũ ngôn trường thiên, hình tượng "sóng" là ấn dụ về "em", về người con gái đang mang trong trái tim mình một tình yêu đẹp. Trạng thái của sóng trên biển, lúc thì "dữ dội", lúc thì "dịu êm” có lúc lại "ồn ào”, có khi rất “lặng lẽ”. Và đó cũng là trạng huống tâm tình của lứa đôi trong tình yêu: "Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ”. Hành trình của sóng từ sông ra biển cũng là khát vọng của "em” muốn vươn tới mọi chân trời mơ ước thương yêu. Sóng trường tồn với đại dương mênh mông cũng như tình yêu là chuyện muôn đời của gái, trai, của lứa đôi xưa nay. Bời lẽ "Làm sao sống được mà không yêu – Không nhớ không thương một kẻ nào” (Xuân Diệu), nên tình yêu đã trở thành khát vọng của tuổi trẻ. Lời giãi bày về tình yêu của người thiếu nữ rất chân thực và nồng nàn: "Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bểXem thêm: Phân tích bài thơ Bài Ca Ngất Ngưởng của Nguyễn Công Trứ Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bổi hồi trong ngực trẻ” Con sóng tình yêu có vồ triền miên, vỗ xôn xao trong lòng "Những cô gái da mịn màng như lụa – Những chàng trai đang độ tuổi hai mươi (Hoa cúc vàng) thì mới xúc động "bồi hồi" như vậy. Có yêu đời thiết tha, có yêu cuộc sống một cách nồng hậu, "Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần" (Xuân Diệu) thì mới tìm thấy vị ngọt của tình yêu, khi tình yêu trở thành khát vọng. Nhìn trùng dương sóng bể, người thiếu nữ bâng khuâng nghĩ về mối tình đầu, nghĩ về duyên số, "em nghĩ về anh, em", và tự hỏi: “Từ nơi nào sóng lên”. Cái huyền diệu của vũ trụ, của sóng đại dương cũng như cái huyền diệu của tình yêu thật vô cùng. Thiếu nữ hỏi sóng hay tự hỏi mình, một câu hối tràn ngập tình thương yêu: "Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau” Tinh yêu là sự sống muôn đời nơi "vườn trần” nhưng “Làm sao cắt được tình yêu" (Xuân Diệu). Câu thơ "Khi nào ta yêu nhau” diễn tả đúng nỗi niềm những lứa đôi đã chớm vị ngọt của tình yêu nồng nàn, say đắm. Cái giây phút “thắm lại” của lứa đôi trong mối tình đẩu, tuy không xác định được, nhưng không bao giờ có thể quên. Thi sĩ Thế Lữ, 70 năm về trước gọi đó là "cái thuở ban đầu lưu luyến” vô cùng đắm đuối và thiêng liêng: "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy Nghìn năm chưa dễ đã ai quên?" Sóng được nhân hóa, "sóng nhớ bờ", sóng "ngày đêm không ngủ được", dù ở "dưới lòng sâu", hay "ở trên mặt nước". Sóng ru, sóng reo, sóng hát ca, sóng vỗ đêm ngày trên đại dương mênh mông. Cũng như bến đợi thuyền, thuyền nhớ bến, "thôn Đoài thì nhớ thôn Đông"…người con gái lúc nào cũng bồi hồi thương nhớ: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” Đây là hai câu thơ rất hay nói lên một tình yêu nồng nàn, say đắm. Thiếu nữ đã giãi bày rất chân thực về khát vọng tình yêu của mình. Em nhớ anh triền miên, bổi hổi bồi hồi suốt ngày đêm "cà trong mơ" và cả trong lúc "còn thức”. Một chữ “nhớ” tràn ngập tình yêu thương.Xem thêm: Giải thích bình luận câu nói của Nam Cao trong Đời thừa “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay…” Thủy chung là một trong những phẩm chất cao đẹp của tình yêu lứa đôi. Tình yêu cho lứa đôi sức mạnh để vượt qua mọi thử thách "tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua", chiến thắng mọi cách trở về không gian và thời gian. Phương Bắc và phương Nam, dẫu xuôi và ngược… nhưng tình em vẫn thiết tha mặn nồng: "Dẫu xuôi về phương bắc Dầu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh – một phương” Cấu trúc đoạn thơ: "dẫu… cũng…", chữ “dẫu…” được điệp lại hai lần cho ý thơ được nhấn mạnh, đó là lòng son sắt thủy chung. Các vị ngữ: “cũng nghĩ”, "hướng về" liên kết với số từ "một" (một phương) là sự khẳng định một lời thể đinh ninh, như thi sĩ Tản Đà đã nói trong "Thề non nước": "Dù cho sông cạn đá mòn Còn non còn nước hãy còn thề xưa” Tình yêu đẹp đem đến cho "em" một niềm tin mãnh liệt. Sóng nhất định tới bờ dù trùng dương có "muôn vời cách trở". Sóng đã nói hộ lòng về niềm tin, con thuyên tình nhất định sẽ cập bến bờ hạnh phúc: "Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Xuân Quỳnh trong đời thường tuy đã uống bao vị ngọt tình yêu, nhưng chị cũng đã từng nếm ít nhiều cay đắng trong tình ái. Có điều, mỗi lần đối diện với những thử thách, chị vẫn hổn hậu dào dạt niềm tin về hạnh phúc mà tình yêu nhất định sẽ đem đến. Đây là một khổ thơ giàu ý vị và sáng ngời niềm tin: "Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa". "Tuy… vẫn…", "dẫu… vẫn", cấu trúc ấy làm cho ý thơ được khẳng định, niềm tin được khẳng định. "Năm tháng" và "mây" là hai hình ảnh ẩn dụ vể niềm tin trong tình yêu. Năm tháng sẽ đi qua cuộc đời dài, mây sẽ vượt biển rộng để bay về xa. Có thời gian nào, không gian nào mà con thuyền tình không vượt qua để vươn tới hạnh phúc?Xem thêm: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng Lor-ca trong bài thơ Đản ghi-ta của Lor-ca. Khổ cuối là lời ước nguyện của em, của người thiếu nữ trong mối tình đầu. Em muốn được "tan ra", muốn được hóa thân thành "Trăm sóng song nhỏ – Giữa biển lớn tình yêu – Để ngàn năm còn vỗ". Tình yêu không làm cho em bé nhỏ và ích kỉ. Em mơ ước về một tình yêu đẹp, bền vững trong hạnh phúc, được yêu và được sống “giữa biển lớn tình yêu” đến ngàn năm "còn vỗ"…Ước nguyện ấy mang tính nhân văn cao đẹp. “Sóng” cũng như nhiều bài thơ tình khác của Xuân Quỳnh phản chiếu một tâm hồn trung hậu, rất yêu đời, sống hết mình với tình yêu, coi tình yêu và hạnh phúc là khát vọng. Lấy hình tượng "sóng", Xuân Quỳnh đã giãi bày rất chân thực về khát vọng tình yêu của người con gái: đinh ninh lời thề, thương nhớ bồi hồi, thủy chung sắt đá, tin tưởng về hạnh phúc tình yêu trọn vẹn vững bền. Bài thơ cho thấy cái mới và tính sáng tạo trong thơ tình của Xuân Quỳnh. Người con gái giãi bày về tình yêu chứ không phải người con gái “được yêu” như trong ca dao, trong nhiều bài thơ tình khác. Cũng là “sóng” ẩn dụ, nhưng trong bài thơ tình "Biển" của thi sĩ Xuân Diệu "sóng" lại là hình ảnh người con trai đa tình: "Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi Đã hôn rồi hôn mãi Hôn mãi đến muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt…” Qua đó, ta thấy rõ cá tính sáng tạo trong thơ tình của Xuân Quỳnh. Hình tượng sóng, nhịp điệu sóng, và tiếng xôn xao "bồi hồi trong ngực trẻ” vể khát vọng tinh yêu trong bài thơ tình này đã từng ru biết bao chàng trai cô gái thời áo trắng trong những giấc mộng đẹp! Vanmau.edu.vn
Hình tượng “sóng” trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh là lời giải bày rất chân thực về khát vọng tình yêu của tác giả. Hãy phân tích và chứng minh vấn đề trên
1,527
Hình ảnh Bác Hồ hiện lên qua bài thơ Ngắm trăng (Hồ Chí Minh) Gợi ý Tháng 8-1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhưng khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phượng ở đây bắt giữ, giải đi khắp gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đoạ hơn một năm trời. Thời gian này, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ thể hiện một tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng kiên cường và nghệ thuật thi ca đặc sắc. Bài thơ Ngắm trăng được trích trong tập Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thử lương tiểu nại nhược hà? Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia” Bài thơ được dịch là “Ngắm trăng”; “Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Trong các các câu thơ dịch, câu thứ hai trong nguyên tác có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”. Câu thơ dịch dịch thành: Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã làm mất đi cái xốn xang, bối rối của nhân vật trữ tình (cũng là mất đi sự lãng mạn và nhạy cảm trước thiên nhiên trong tâm hồn của Bác). Hai câu thơ cuối (bản dịch) cũng kém phần đăng đối hơn so với phiên âm. Hơn nữa từ nhòm và ngắm trong câu cuối là hai từ đồng nghĩa, khiến cho lời dịch không bảo đảm được sự cô đúc của ý tứ và thể thơ.Xem thêm: Phân tích bài thơ Lượm của Tố Hữu. Thường người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Thế nhưng ở đây, Hồ Chí Minh lại ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: ở trong tù. Khi Bác nói “Trong tù không rượu cũng không hoa” thì không có nghĩa là Bác đang than thở cũng không phải đó là một lời phê phán. Chỉ có thể nghĩ rằng, trước đêm trăng tuyệt đẹp ấy, Bác mong được thưởng trăng một cách trọn vẹn (và đúng là thật tiếc nếu không có rượu, có hoa). Chính việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh ngục tù đày đã cho thấy, người tù không hề vướng bận gì về vật chất và những gian nan mà mình đang phải chịu. Người tù vẫn ung dung tự tại, vẫn thả hồn mình cùng với thiên nhiên. Hai câu cuối của bài thơ chữ Hán đối nhau rất chỉnh: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Các từ chỉ người (nhân, thi gia) và các từ chỉ trăng (nguyệt) đặt ở hai đầu, ở giữa là cửa nhà tù (song). Thế nhưng, giữa người và trăng vẫn tìm được sự giao hoà với nhau. Cấu trúc đối này đã làm nổi bật tình cảm mãnh liệt giữa người và trăng, nổi bật sự gắn bó thân thiết của một mối quan hệ từ lâu đã trở thành tri kỉ (Bác với trăng). Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện lên trong bài thơ nổi bật ở khía cạnh người chiến sĩ không chút bận tâm về gông cùm, đói rét,…Trước khó khăn, Bác vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Bài thơ còn thể hiện nổi bật tâm hồn nghệ sĩ của Bác Hồ, một tâm hồn luôn rộng mở với thiên nhiên.Xem thêm: Cảm nhận nội dung và nghệ thuật truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Cuộc ngắm trăng trong bài Vọng nguyệt có hoàn cảnh không giống như các cuộc ngắm trăng khác: bài thơ được Bác làm khi phải chịu cảnh tù đày. Và có thể nói, mỗi bài thơ Bác viết về trăng lại có những nét riêng: trăng đầy sức sống, đầy sức xuân trong Rằm tháng giêng (Nguyền tiêu); trăng thi vị và tri kỉ trong Báo tiệp (Tin thắng trận),..Nói chung, ở tất cả những bài này, Bác đều đã cho người đọc thấy vẻ đẹp của một tâm hồn thi sĩ, luôn mở rộng lòng để giao hoà cùng với thiên nhiên. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh Bác Hồ hiện lên qua bài thơ Ngắm trăng (Hồ Chí Minh)
744
Hình ảnh Bác Hồ qua những bài thơ em đã học và đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS Gợi ý Thế giới có hơn 6 tỉ người nhưng danh nhân văn hoá là con số đếm được trên đầu ngón tay. Và trong số đó lại càng hiếm hơn những người là danh nhân văn hoá kiệt xuất. Nước Việt Nam của chúng ta tự hào vì đã có một con người như thế. Người là Chủ tịch Hồ Chí Minh, là Bác Hồ giản dị muôn vàn kính yêu của mỗi chúng ta. Tháp Mười đẹp nhất bông sen Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ Bác đã từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng của thơ và nhạc. Hình ảnh Bác, vị lãnh tụ kính yêu từ cuộc đời thật bước vào tác phẩm nghệ thuật đẹp đẽ lạ kì: vừa giản dị, gần gũi vừa vĩ đại thiêng liêng. Hình ảnh Bác là bất tử, là bài ca không bao giờ tắt trong dòng văn học Việt Nam. Hình ảnh Bác thể hiện ý chí đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc. Thơ ca Việt Nam theo chân Người trong cuộc ra đi tìm đường cứu nước rồi đến khi Người trở về Tổ quốc thân yêu. Ít có nhà thơ nào lại viết được hay như Chế Lan Viên. Cảm xúc về cuộc hành trình của vị lãnh tụ được nhà thơ diễn tả thật xúc động: Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi. (Người đi tìm hình của nước) Người cất bước ra đi mà lòng nặng trĩu nỗi buồn chia xa đối với quê hương xứ sở, một cuộc hành trình thầm lặng của một con người mà đầy ý nghĩa lớn lao với lịch sử của một dân tộc. Cái tôi vĩ đại ở Bác đã hoà vào cái "ta" chung của dân tộc, đối lập với những "cái tôi" bé nhỏ tầm thường: Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp Giấc mơ con đè nát cuộc đời con. Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn. Và sau những tháng năm cay đắng, khổ tận đã đến ngày cam lai, Người đã tìm ra con đường, tìm ra chân lý sống còn cho cả dân tộc.Xem thêm: Hãy kể về việc làm mà nhờ đó, mình đem lại niềm vui cho người khácLuận cương đến. Và Người đã khóc Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-nin Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách Tưởng bên ngoài đất nước mong tin Trong niềm xúc động nghẹn ngào vì đã tìm ra ánh sáng của con đường cách mạng mà Người đã cố kiếm tìm, Bác đã reo lên với nhiều cảm xúc vui mừng khôn xiết. Từ lời kể chân thành giản dị của Người, Chế Lan Viên đã viết lên nhiều vần thơ như tạc vào lịch sử một sự kiện vô cùng trọng đại: Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc "Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!" Hình ảnh Đảng lồng trong hình của nước Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười. Còn niềm sung sướng nào hơn niềm sung sướng này? Còn sự xúc động nào ngọt ngào hơn với Bác như lúc này? Người đã phát hiện ra chỉ có con đường cách mạng vô sản mà luận cương của Lê-nin đã chỉ ra mới đem lại hạnh phúc ấm no cho dân tộc. Vậy là dân tộc Việt Nam đã có ánh sáng thái dương đem áng sáng lí tưởng cách mạng soi rọi cho triệu triệu người, là biểu hiện của nỗi khát khao độc lập vô bờ của nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Cảm xúc của Bác lắng đọng trong từng câu chữ của Chế Lan Viên và hình ảnh Bác trong "Người đi tìm hình của nước" thật vĩ đại, là ước vọng của tự do, độc lập của các dân tộc khắp năm châu. Không chỉ thế, hình ảnh Bác với tình thương bao la của mình là đề tài chủ yếu của thơ ca Việt Nam. Với toàn thể nhân dân, tình thương của Bác thể hiện thật sâu sắc. Minh Huệ đã phản ánh điều này trong bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ" rất chân thực. "Rồi Bác đi dém chăn Từng người từng người một Sợ cháu mình giật thột Bác nhón chân nhẹ nhàng." Đó là sự chăm sóc ân cần với những người chiến sĩ. Còn đây là tình cảm của Người đối với đoàn dân công vất vả, thiếu thốn, chịu đựng gian khổ khó khăn vì cuộc kháng chiến dân tộc: Xem thêm: Từ trích đoạn Nước Đại Việt ta (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) em có suy nghĩ gì về lòng yêu nướcBác thương đoàn dân công Đêm nay ngủ ngoài rừng Rải lá cây làm chiếu Manh áo phủ làm chăn Trời thì mưa lâm thâm Làm sao cho khỏi ướt Càng thương càng nóng ruột Mong trời sáng mau mau. (Đêm nay Bác không ngủ) Tình thương của Bác thể hiện ở nhiều cung bậc khi là sự "nóng ruột" bồn chồn không ngủ được vì lo cho bộ đội, dân công, khi lại thao thức năm canh vì lo vận mệnh đất nước. Đặc biệt tình cảm Bác dành cho đồng bào Miền Nam thật sâu nặng nghĩa tình. Tố Hữu cho ta cảm nhận được điều đó trong bài "Bác ơi": Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha. Quả là những tình cảm gắn bó máu thịt thiết tha. Tiếc thay đến ngày nước nhà thống nhất thì Bác đã không còn. Người ra đi vĩnh viễn nhưng vẫn để lại muôn vàn tình thương. Tình thương ấy rõ nét nhất với thiếu niên nhi đồng. Bác thương một cháu bé trong nhà lao Tân Dương của Tưởng Giới Thạch mới nửa tuổi đã phải đến ở chốn tù lao với mẹ vì cha cháu trốn lính: Oa…! Oa…! Oa…! Cha trốn không đi lính nước nhà Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi Phải theo mẹ đến ở nhà pha. (Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh) Nhà thơ Tố Hữu trong "Theo chân Bác" đã nói được niềm sâu thẳm trong, tâm hồn Bác nỗi lòng hướng đến trẻ thơ, đến các cháu thiếu niên nhi đồng: Ô! vẫn còn đây của các em Chồng thư mới mở, Bác đang xem Chắc Người thương lắm lòng con trẻ Nên để bâng khuâng gió động rèm. Tình thương luôn là vô hình nhưng lại hữu hình trong tình thương của Người với dân tộc. Một tình thương bao la rộng lớn mà ta cảm thấy và muôn triệu lớp lớp người Việt Nam đều cảm thấy ấm lòng khi nghĩ về vị cha già dân tộc Hồ Chí Minh. Không những thế ta còn cảm nhận qua các bài thơ về Bác nhiều phong cách Hồ Chí Minh rất gần gũi, đặc biệt. Người là con người giản dị thanh đạm.Xem thêm: Kể về những giây phút đầu tiên khi em gặp lại anh trai sau một thời gian xa cáchMong manh áo vải hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. Cuộc đời của vị Chủ tịch nước mà thanh đạm vô cùng. Nhà gác đơn sơ một góc vườn Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn Giường mây chiếu cói đơn chăn gối Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn. Ở Bác ta luôn thấy phong cách của một con người bình thường mà vĩ đại, một con người hiểu biết uyên thâm nhưng rất gần gũi, bình dị. Thêm nữa ta thấy ở Người một bản lĩnh phi thường, một phẩm chất cao quí có sự hoà hợp giữa chất thép và tình. Dẫu hoàn cảnh tù đầy nhưng Người luôn kiên cường bất khuất, giữa chốn địa đầy đau khổ nhưng vẫn yêu thiên nhiên. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Ôi! Thật là sang cuộc đời cách mạng, thơ ca Việt Nam đồng tình với Người, đồng tình với tư tưởng và lòng yêu nước cao cả. Hình ảnh Bác với phong thái của mình sẽ mãi là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc mà Viễn Phương đã viết lên bản tình ca về Bác thật sâu sắc, cảm động. "Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bẩy mươi chín mùa xuân. (Viếng lăng Bác) Người đã ra đi nhưng thơ ca Việt Nam, đất nước và con người Việt Nam còn nhắc mãi tên Người: "Hồ Chí Minh tên Người là cả một niềm thơ". Quả như vậy, hình ảnh Bác Hồ là hình của nước là muôn thế hệ sau vẫn ngợi ca tự hào, vẫn mãi là nguồn cảm hứng không nguôi cho mảnh đất văn nuôi dưỡng tâm hồn. Đố ai đếm được lá rừng Đố ai đếm được mấy tầng trời cao Đố ai đếm được vì sao Đố ai đếm được công lao Bác Hồ Bác Hồ là vị cha chung Là sao Bắc Đẩu, là vầng Thái Dương. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh Bác Hồ qua những bài thơ em đã học và đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS
1,499
Hình ảnh con cá kiếm được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Ông già và biển cả của O – nít Hê – minh – uê Gợi ý Ơ-nít Hê-minh-uê là nhà văn Mĩ đã để lại dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây, người đã đóng góp một phần quan trọng vào việc đổi mới lối viết truyện và tiểu thuyết. Dù viết về đề tài nào, Hê-minh-uê cũng kiên trì quan niệm nghệ thuật: Viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người. Ông già biển cả (1952) là tác phẩm kết tinh tiêu biểu những nét mới mẻ trong lối viết truyện của Hê-minh-uê. Con cá kiếm trong tác phẩm được nhà văn tập trung miêu tả như một nhân vật đặc biệt bởi những nét rất khác thường, Ở đầu đoạn trích, con cá chưa xuất hiện ngay mà chỉ tạo ấn tượng bằng bằng những vòng tròn rất lớn. Nó gợi cảm nhận về đường lượn của con cá, tạo nên sự ám ảnh về một hình tượng cụ thể mặc dù nó chưa xuất hiện – ông lão chưa thể nhìn thấy con cá mà chỉ đoán biết nó qua vòng lượn. Sự lặp lại của những vòng lượn của con cá kiếm gợi lên hình ảnh một ngư phủ lành nghề kiên cường: chỉ bằng con mắt từng trải và cảm giác đau đớn nơi bàn tay, ông đã ước lượng được khoảng cách ngày càng gần của con cá. Vì vậy, mặc dù chưa nhìn thấy con cá nhưng ông cũng đoán biết được đối thủ của mình. Hơn nữa, những vòng lượn cũng vẽ lên những cố gắng cuối cùng nhưng hết sức mãnh liệt của con cá, cố gắng thoát khỏi sự níu kéo bủa vây của người ngư phủ: nó cũng dũng cảm kiên cường không kém gì đối thủ của mình.Xem thêm: Phân tích hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết) Nhà văn có dụng ý để ông lão và độc giả cảm nhận về con cá qua ấn tượng và cảm giác về những vòng lượn ấy. Điều này làm cho mỗi người có hình dung khác nhau về nó. Phải đến khi cái bóng của nó xuất hiện thì Xan-ti-a-gô, một người lâu năm trong nghề câu cá cũng không khỏi kinh ngạc: một cái bóng đen vượt dài qua dưới thuyền, đến mức lão không thể tin nổi độ dài của nó. Con cá kiếm rất lớn và rất đẹp: cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thảm cùng thân hình đồ sộ và những sóc tía trên mình, những cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng. Ngoại hình đó toát lên sức mạnh ghê gớm và sự oai phong, đĩnh đạc. Không những con cá rất lớn và đẹp mà nó còn đầy sức mạnh. Những vòng bơi của con cá kiếm khiến ông lão hoa mắt, chóng mặt và choáng váng,… Ông lão cảm nhận được cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây do con cá gây ra. Lão không tin ở mắt mình vì con cá quá lớn, phải hơn nửa tấn và người đọc thì trầm trồ vì sức mạnh ghê gớm, sự oai phong đĩnh đạc, nét kì vĩ và cả sự duyên dáng này. Hình ảnh con cá kiếm đã bị mắc câu được miêu tả với những vòng lượn được nhắc lại, gợi lên đặc điểm về cuộc đấu giữa ông lão và con cá kiếm. Đó là cuộc đấu kéo dài suốt hành trình chiếm được con cá, buộc con cá vào mạn thuyền và đưa con cá trở về. Con cá kiếm khổng lồ to khoẻ (đến hơn nửa tấn) cùng con người luôn luôn ở trong tư thế vờn miếng nhau, một bên để thoát thân, một bên để chiếm giữ, chinh phục. Cả hai lúc đầu dồi dào sức lực, sau đó rệu rã, mệt mỏi dần nhưng vẫn cố gắng hết sức phô diễn sự kiêu dũng của mình, không hề chịu lùi bước, ngã gục trước đối thủ.Xem thêm: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết) Hê-minh-uê tập trung tô đậm những chi tiết về sự khôn ngoan của nó. Nó không hề cắn câu ngay mà còn thử lượn vòng. Ngay cả khi ăn mồi rồi, nó cùng không dễ dàng chấp nhận và phản ứng dữ dội: nó bơi đi, nhào người qua lại như đoán được việc ông lão chuẩn bị phóng lao để tiêu diệt nó. Cái chết của con cá kiếm cũng rất khác thường. Nó dường như không chấp nhận cái chết mà phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Đó là dáng vẻ của sức mạnh và sự kiêu hùng. Khi sức cùng lực kiệt nhưng con cá vẫn có phong thái hiên ngang và đầy uy dũng. Sự kiêu hùng đó chứng tỏ một tình cảm trân trọng đặc biệt của nhà văn và góp phần nâng cao tầm vóc của ông lão đánh cá Xan-ti-a-gô. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh con cá kiếm được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Ông già và biển cả của O – nít Hê – minh – uê
889
Hình ảnh con sông Đà qua sự cảm nhận của Nguyễn Tuân trong đoạn trích tác phẩm Người lái đò Sông Đà. Hướng dẫn 1. Mở bài – Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và tuỳ bút Người lái đò Sông Đà. – Nêu vấn đề: trong đoạn trích tác phẩm Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đã làm sống dậy vẻ đẹp của sông Đà bằng một phong cách văn chương độc đáo. 2. Thân bài Hình ảnh con sông Đà được thể hiện qua hai khía cạnh: – Hình ảnh con sông Đà "hung bạo": HS cần phân tích được các chi tiết Nguyễn Tuân miêu tả về thác, đá, vách thành, ghềnh, gió, sóng, những cái hút nước,… trên sông Đà. Nhà văn đã sử dụng những ấn tượng thị giác, xúc giác, thính giác, kết hợp với những tri thức ở nhiều ngành khác nhau và những liên tưởng, so sánh mới mẻ, độc đáo,… để cho ta thấy cái dữ dội, hiểm trở và sức mạnh ghê gớm của dòng sông, đồng thời gợi lên hình ảnh một thiên nhiên kì vĩ, hoang sơ. – Hình ảnh con sông Đà "trữ tình": + Đẹp nhất là khi tác giả so sánh "Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình…". Lúc này con sông thoắt biến thành người con gái với vẻ đẹp gợi cảm, duyên dáng, đầy sức sống. Nguyễn Tuân còn dõi theo sông Đà qua dòng chảy thời gian. Nhà văn nhận ra sắc nước của dòng sông thay đổi theo mùa: mùa xuân dòng sông xanh màu ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mật một người bầm đi vì rượu bữa. Dường như nhà văn không phải đang miêu tả một dòng sông mà miêu tả diện mạo một con người trong sự biến thiên của cuộc đời. Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong chương "Đất Nước" (trích trường ca "Mặt đường khát vọng") của Nguyễn Khoa Điềm: "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu (...) Những cuộc đời đã hóa núi sông ta "+ Vẻ trữ tình của sông Đà hiện lên đậm nét nhất khi nhà văn miêu tả một quãng sông "lặng tờ". Câu văn của Nguyễn Tuân lúc này trở nên êm ái, có những câu toàn thanh bằng khiến ta như lạc vào một giấc mơ êm đềm. Con sông Đà là thực mà như là hư ảo, như là tiên cảnh. Những bãi ngô, những đám cỏ gianh ướt đẫm sương đêm, những chú hươu thơ ngộ,… tạo nên một bức tranh lãng mạn, "hoang dại". + Trong cảm nhận của Nguyễn Tuân, sông Đà không chỉ chảy qua thời gian, không gian. Nó còn chảy qua những áng thơ của Nguyễn Quang Bích, Tản Đà,… Thêm nữa, tác giả còn sử dụng lối so sánh rất đặc biệt khiến cho con sông như vừa gần vừa xa, vừa thựcvừa hư ảo: "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niểm cổ tích tuổi xưa…". 3. Kết bài Khẳng định "cái tôi" độc đáo của Nguyễn Tuân khi miêu tả hình ảnh sông Đà: Nguyễn Tuân thích thú bao nhiêu trước vẻ dữ dội của sông Đà thì cũng say đắm bấy nhiêu trước vẻ trữ tình của nó. Tả sự hung bạo, Nguyễn Tuân đưa ta đến với những khúc tráng ca; tả vẻ trữ tình, ông lại mang đến cho ta những trang văn như những vần thơ trữ tình. Những trang văn như thế đã khơi dậy ở người đọc tình yêu quê hương đất nước mình. Nguồn: thêm: Phát biểu suy nghĩ của mình về câu nói Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Hình ảnh con sông Đà qua sự cảm nhận của Nguyễn Tuân trong đoạn trích tác phẩm Người lái đò Sông Đà.
639
Hình ảnh người bà và kí ức tuổi thơ của nhân vật trữ tình trong bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy Hướng dẫn 1. Mở bài – Giới thiệu về Nguyễn Duy và bài thơ Đò Lèn. – Nêu vấn đề: Bài thơ được cấu tứ theo mạch hồi tưởng, những mẩu kí ức lần lượt hiện lên làm sống dậy một quãng đời tuổi thơ của Nguyễn Duy, trong đó sâu đậm nhất là hình ảnh người bà. 2. Thân bài – Kí ức tuổi thơ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo nên sự sống động, chân thực cho hình ảnh và cảm xúc của bài thơ. + Kí ức tuổi thơ gắn với khung cảnh, không khí "quê ngoại" (đền, chùa, con sông, những cánh đồng, những năm tháng yên bình, lam lũ, những ngày chiến tranh,…), với những kỉ niêm (câu cá, bắt chim, hái quả, đi chợ, đi hội,…), với hình ảnh người bà (đi chợ, lẽ chùa, xúc tép mò cua, bán trứng,…). + Kí ức tuổi thơ gắn với những cảm giác, ấn tượng, suy nghĩ ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên của tuổi nhỏ. – Sức ám ảnh và cuốn hút của hình ảnh người bà là một điểm đặc sắc khiến bài thơ có sức tác động mạnh mẽ, sâu xa đối với tâm hồn người đọc. + Hình ảnh người bà gắn với thế giới bình yên cổ tích, với không gian làng quê, với những hành vi hiếu động của tuổi thơ, những kỉ niệm xa xôi của một thời. Xem thêm: Giữa bạt ngàn đá xám trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), những mầm ngô xanh vẫn vươn lên trên từng hốc đá…+ Nhưng in đậm hơn trong tâm trí người cháu là hình ảnh người bà đơn độc và mạnh mẽ trong cuộc sống lam lũ, bần hàn (năm đói), trong những bất hạnh, tai ương hay thách thức tồn vong của làng quê, gia đình, bà và cháu (bom Mĩ giội). Ở đây, hình ảnh người bà cũng ám ảnh, cuốn hút như hình ảnh người mẹ trong Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa… + Sức ám ảnh, cuốn hút của hình tượng người bà trong Đò Lèn, như vậy, chủ yếu được gợi lên từ hình ảnh một người bà rất gần, rất thực trong một thế giới pha trộn giữa cái hoang tưởng ngọt ngào với cái thực tế trần trụi, nhuốm vị chua chát. Cái nhìn của nhà thơ là cái nhìn tỉnh táo của một người từng trải, trưởng thành – cái nhìn tìm kiếm cái đẹp, cái thiêng trong sự giải thiêng. – Cái hay của bài thơ là ở ấn tượng và suy nghĩ của nhânvật trữ tình (ấn tượng: chân đất đi đêm, màu huệ trắng, trầm thơm, bóng cô đồng lảo đảo, bước chân bà thập thững những đêm hàn, củ dong riềng luộc sượng…; những ý nghĩ trong suốt giữa hai bờ hư – thực về người bà và tiên, Phật, thánh thần và sự vỡ lẽ về những sự thực trần trụi của đời sống,…). Thơ Nguyễn Duy hướng tới cái đẹp của đời sống giản dị quanh ta, phát hiện trong thế giới quen thuộc ấy sự láng kết của những giá trị vĩnh hằng. Những xúc cảmchân thành, những suy tư sâu sắc được diễn tả bằng một hình thức thơ vừa giàu tính cách dân gian vừa phảng phất phơng vị thơ cổ điển phương Đông. 3. Kết bài Nêu cảm xúc, ấn tượng của cá nhân về vẻ đẹp của bài thơ. Nguồn: thêm: Qua những bài thơ đã học và đọc thêm, anh (chị) hãy phân tích những biểu hiện của cảm hứng yêu nước của nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945
Hình ảnh người bà và kí ức tuổi thơ của nhân vật trữ tình trong bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy
625
Hình ảnh người dân làng chài qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh Gợi ý Hình ảnh nổi bật trong bài thơ của Tế Hanh là hình ảnh làng chài với những sinh hoạt vô cùng thân thuộc, những người dân chài mạnh khoẻ, cường tráng và đương nhiên không thể thiếu hình ảnh những người dân chài bơi thuyền ra khơi và cảnh đón thuyền cá về bến – những hoạt động vốn được coi là biểu tượng của làng chài. Đoàn thuyền ra khơi trong một ngày thật đẹp: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng. Thời tiết đẹp không chỉ thiết thực với người dân chài (thời tiết có đẹp thì mới ra khơi được) mà còn làm nổi loạt vẻ đẹp của làng chài trong tình yêu và nỗi nhớ của nhà thơ. Sức lực tràn trề của những người trai làng như truyền vào con thuyền, tạo nên khung cảnh ấn tượng, rất mạnh mẽ và hoành tráng: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Những con thuyền rẽ sóng băng băng và lời thơ cũng theo đó mà bay bổng trong không gian vô cùng rộng rãi, khoáng đạt. Mọi hình ảnh đều được nâng lên đến mức biểu tượng. Chiếc thuyền thì "hăng như con tấu mã", một từ "phăng" thật mạnh mẽ, dứt khoát đã đưa con thuyền "mạnh mẽ vượt trường giang". Sau cảnh "khắp dân làng tấp nập đón ghe về" (gợi tả không khí sinh hoạt vô cùng thân thuộc của làng chài), những câu thơ đột ngột chùng xuống:Xem thêm: Giả sử anh (chị) tham gia cuộc thảo luận về một cuốn sách được giới trẻ quan tâm, yêu thích và đã phát biểu một cách tự do những ý kiến của riêng mình. Hãy ghi lại lời phát biểu của anh (chị) có những ưu điểm, hạn chế gìDân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm; Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Từ tả thực, những câu thơ lại dần nghiêng về sắc thái biểu tượng lắng sâu. Điều đó góp phần tạo cho bài thơ một cấu trúc hài hoà, cân đối. Bên trên là cảnh rẽ sóng vượt trùng dương thì đến đây là cảnh nghỉ ngơi. Cái tĩnh đi liền ngay sau cái động nhưng không tách biệt hoàn toàn. Có một sợi dây liên kết, một sự gắn bó rất mật thiết phía sau hình ảnh "làn da ngăm rám nắng" và "thân hình nồng thở vị xa xăm” của những người trai làng chài, bên cạnh đó còn phải kể đến chi tiết rất gợi cảm: chiếc thuyền đã trở về nghỉ ngơi trên bến nhưng vẫn "nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ". Từ "chất muối" cho đến hơi thở "vị xa xăm" đều gợi đến biển cả, đến những chuyển động vượt qua muôn ngàn sóng gió. Đó chính là khát vọng chinh phục đại dương rất mãnh liệt, đã ngấm sâu trong huyết quản của những người dân làng chài, được lưư truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ai sinh ra ở vùng duyên hải hẳn chẳng lạ gì những cánh buồm. Thế nhưng những câu thơ của Tế Hanh vẫn có một cái gì đó là lạ và cuốn hút:Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình LiênCánh buồm giương tơ như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Cánh buồm vô tri đã được người thi sĩ thổi vào một tâm hồn. Đó chính là cái hồn thiêng liềng (trong tâm khảm nhà thơ) của ngôi làng ấy. Nhà thơ đã lấy cái đặc trưng nhất (những cánh buồm) để mà gợi ra bao ước mơ khao khát về một cuốc sống no ấm, đủ đầy. Câu thơ sau thấm chí còn “có hồn” hơn. Thuyền không phải tự ra khơi mà đang “rướn” mình ra biển cả. Hình ảnh thơ đẹp và thi vị biết bao. Hai câu thơ dưới đây lại mang một hương vị khác – hương vị nồng mặn của biển khơi: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Hai câu thơ là một bức tranh vẽ phác về hình ảnh dân chài. Đó là những con người dường như đựợc sinh ra từ biển. Cuộc sống biển khơi dãi dầu mưa nắng làm cho làn da “ngăm rám” lại, trong cả “hơi thở” của thân hình cũng là hương vị xa xăm của biển. Hai câu thơ không phải chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà nó là sự cảm nhận bằng cả một tâm hồn sâu sắc với quê hương. Trên đây là những hình ảnh sâu đậm, rõ nét nhất được tái hiện từ kí ức. Đến bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã giãi bày trực tiếp tình cảm của mình với quê hương:Xem thêm: Giới thiệu tác gia Nguyễn TrãiNay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ. Trong nỗi nhớ lại thấp thoáng màu nước xanh, cát bạc, cánh buồm… và hẳn không thể thiếu con thuyền "rẽ sóng chạy ra khơi". Có thể thấy những hình ảnh ấy cứ trở đi trở lại, day dứt mãi trong tâm trí nhà thơ để rồi cuối cùng lại làm bật lên cảm xúc: Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Câu thơ được viết thật giản dị nhưng cũng thật gợi cảm, đủ nôn nao lòng người. Bởi nó có sức nặng ngay từ nỗi nhớ da diết và chân thành của tác giả đối với quê hương. Nét đắc sắc, nghệ thuật nổi bật nhất của bài thơ này là sự sáng tạo các hình ảnh thơ. Bài thơ cho thấy một sự quan sát tinh tế, một sự cảm nhận và miêu tả sắc sảo. Hình ảnh thơ phong phú, vừa chân thực lại vừa bay bổng và lãng mạn khiến cho cả bài thơ rất có hồn và tràn đầy thi vị. Bài thơ sử dụng kết hợp phương thức miêu tả và biểu cảm. Nhưng yếu tố miêu tả chủ yếu nhằm phục vụ cho biểu cảm, trữ tình. Nhờ sự kết hợp này mà hình ảnh thơ vừa lột tả được chân thực, tinh tế cảnh vật và con người của cuộc sống miền biển vừa thể hiện sâu sắc những rung động của tâm hồn nhà thơ. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh người dân làng chài qua bài thơ Quê hương của Tế Hanh
1,085
Đề bài: Phân tích hình ảnh người lính trong hai tác phẩm Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống. Và có lẽ vì thế nên mỗi bài thơ đều mang đến sự đồng điệu giữa cảm xúc của người đọc, người nghe và tâm hồn thi sĩ của tác giả. Đặc biệt, những bài thơ gắn liền với hình ảnh người lính trong hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ lại càng khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân tộc hơn. Tuy nhiên, hình ảnh người lính mỗi thời kì lại có những nét tương đồng và khác biệt, nên những bài thơ trong mỗi thời kì cũng khắc hoạ hình ảnh hai người lính khác nhau, mà tiêu biểu là bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “bài thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. Sự khác biệt đầu tiên của họ là hoàn cảnh chiến đấu và xuất thân. Những vần thơ của bài “Đồng chí” được Chính Hữu dùng ngòi bút của mình viết nên vào tháng 5.1948. Đây là những năm tháng đầu tiên giặc Pháp quay trở lại xâm lược nước ta sau cách mạng tháng 8, nên cuộc sống vô cùng khó khăn vất vả, nhất là đối với hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề ở chiến khu. Hiểu được nỗi đau của dân tộc, những người nông dân nghèo ở mọi nẻo đường đất nước đã bỏ lại sau lưng ruộng đồng, “bến nước gốc đa” để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.” Khác với Chính Hữu, Phạm Tiến Duật – một nhà thơ trẻ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước cho ra đời “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vào tháng 5.1969. Thời gian này là cột mốc đánh dấu cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang trong thời khốc liệt nhất. Anh giải phóng quân bước vào chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ ra đi khi vai còn vươn cánh phượng hồng, lòng còn phơi phới tuổi thanh xuân. Những anh hùng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy chẳng màng đến tương lai đang rộng mở đón chào, đôi chân họ bị níu chặt nơi mặt trận vì hai từ “yêu nước”. Và vì hoàn cảnh, xuất thân khác nhau nên dẫn đến lí tưởng chiến đấu và ý thức giác ngộ cũng không tránh khỏi khác nhau. Trong bài “đồng chí", nhận thức về chiến tranh của người lính còn đơn giản, chưa sâu sắc. Họ chỉ biết chiến đấu để thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, giành lại tự do, giành lại quyền làm người mà thôi. Trong tim họ, tình đồng chí đồng đội là món quà thiêng liêng, quý giá nhất mà họ nhận được trong suốt quãng thời gian dài cầm súng. “Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí!” Còn trong thời chống Mĩ, khái niệm về tinh thần yêu nước, thống nhất nước nhà đã khắc sâu vào tâm trí mỗi con người nơi chiến khu. Họ hiểu được điều ấy là vì giai đoạn này, khi miền Bắc đã đi vào công cuộc xây dựng CNXH thì miền Nam lại tiếp tục chịu đựng khó khăn bởi sự xâm lược của đế quốc Mĩ. Và “thống nhất” trở thành mục tiêu quan trọng hàng đầu của dân tộc ta. Trong trái tim chảy dòng máu đỏ của người Việt Nam, những người lính Trường Sơn mang trong mình tinh thần lạc quan, ý chí quyết thắng giải phóng miền Nam cùng tình đồng chí đã hình thành từ thời kháng chiến chống Pháp. “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của đoạn kết trong Chuyện chức phán sử đền Tản Viên (từ vương nghĩ Tử Văn đến nhà quan Phán sử) và lời bình cuối truyện (Từ Than ôi!... đến hết)Chỉ cần trong xe có một trái tim.” Thật thiếu sót nếu như so sánh hai bài thơ mà không nói về vẻ đẹp của chúng. “Đồng chí” là hiện thân của vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí được thể hiện thật tự nhiên hoà huyện trong tinh thần yêu nước mãnh liệt và chia sẻ giữa những người bạn với nhau. Còn “bài thơ về tiểu đội xe không kính” là sự khắc hoạ nổi bật của nét trẻ trung, tinh thần lạc quan, dũng cảm với tinh thần yêu thần yêu nước rừng rực cháy trong tim. Khát vọng và niềm tin của họ được gửi vào những chiếc xe không kính, thứ đưa họ vượt dãy Trường Sơn thẳng tiến vì miền Nam yêu dấu. Thế nhưng, những người lính ấy, dù trong thời kì nào thì cũng có những nỗi nhớ không nguôi về quê nhà. Sống giữa chiến trường với tình đồng chí thiêng liêng, lòng những người nông dân bỗng quặng thắt mỗi khi hình ảnh mẹ già, vợ dại, con thơ hiện về. họ cảm thấy thật xót xa khi nghĩ đến ruộng đồng bỏ không cỏ dại, gian nhà trống vắng lại càng cô đơn. “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày, Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay, Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.” Người lính chống Mĩ lại khác, nỗi nhớ của họ là sự vấn vươn nơi mái trường, là sự nuốc tiếc những trang vở còn tinh tươm. Họ buồn vì phải khép lại ước mơ rực rỡ trên hành trình đi đến tương lai. Nhưng họ hiểu rằng trách nhiệm với quê hương vẫn còn đó, nên họ quyết tâm chiến đấu hết mình. Họ biến con đường ra trận thành ngôi nhà chung gắn kết những trái tim vì tinh thần chống giặc ngoại xâm làm một. “Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trời, Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.” Bàn về nghệ thuật của hai bài thơ, ta không khó để thấy rằng chúng có nét khác biệt tương đối rõ ràng. Chính Hữu dùng bút pháp lãng mạn, xây dựng trong thơ của mình biểu tượng nên thơ của tình đồng chí: “đầu súng trăng treo”. Cảm hứng dâng trào lên rồi lại lắng đọng trong tâm hồn, hoá thành hình ảnh của chiến đấu và hoà bình, mang đến cho đời một bài thơ đầy chất trữ tình nhưng cũng không kém phần hấp dẫn. Ngược lại, Phạm Tiến Duật xây dựng hình ảnh người lính bằng những gì có thực trong cuộc sống chiến đấu gần gũi nhất: “xe không kính”. Hình ảnh thơ này thật sự quá độc đáo, khiến người đọc nhiều lần ngỡ ngàng vì sự phá cách và nét đơn giản nhưng cũng ngập tràn chất thơ của “bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Nhưng dù khác nhau từ hoàn cảnh, xuất thân cho đến lí tưởng chiến đấu, họ vẫn cùng chung một mục tiêu duy nhất: chiến đấu vì hoà bình, độc lập, tự do của tổ quốc. Họ lấy quyết tâm làm nền tảng, tinh thần làm cơ sở để vững bước đến tương lai được dựng nên bởi tình đồng chí. Dù biết rằng trong cuộc chiến một sống một còn ấy, đã có không ít những người phải hi sinh, nhưng đó lại là động lực lớn hơn chắp cánh cho ước mơ của những người chiến sĩ bay xa, bay cao. Hình tượng người lính ở hai thời kì đều chất chứa những phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ mà chúng ta cần phải trân trọng và yêu quý. Nói tóm lại, người lính mãi mãi là biểu tượng tươi đẹp và sinh động nhất của chiến tranh, dù là thời kì chống Pháp hay chống Mĩ. Họ hiện lên quá đỗi gần gũi và thân thương, với nghĩa tình đồng đội ấm áp đã, đang và sẽ mãi mãi ấp ủ trong trái tim. Họ là những cây xương rồng rắn rỏi, cố gắng vươn lên giữa xa mạc mênh mông khô cằn. Họ là ngọn đèn thắp sáng con đường của quê hương chúng ta, đưa đất nước đi đến hoà bình và phát triển như ngày hôm nay. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Hình ảnh người lính trong hai tác phẩm Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính
1,417
Đề bài: Hình ảnh người mẹ trong bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác vào ngày 25 tháng 3 năm 1971, là một trong số những bài thơ hay của ông. Nổi bật trong bài là hình ảnh người mẹ Tà Ôi như là biểu tượng về người mẹ Việt Nam anh hùng. Đó là một con người rất mực thương con nhưng cũng vô cùng yêu nước. Dường như đứa con yêu quí và đất nước thân thương nuôi con nên người và đánh giặc giải phóng quê hương là những gì trọng đại nhất cao quí nhất của người mẹ này trong những năm đất nước phải gồng mình chống đế quốc Mĩ xâm lược. Bài thơ đồng thời là lời hát ru. Tác giả ru em Cu Tai ngủ ngoan (đồng thời miêu tả hình ảnh người mẹ). Người mẹ trong bài ru em ngủ ngoan nhưng đó là lời ru thầm, lời ru trong tim (Lưng đưa nôi và tim hát thành lời). Lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ nối tiếp nhau, đan cài, hoà quyện vào nhau làm nên những khúc hát ru vừa đằm thắm, dịu dàng, vừa trầm tư, sâu lắng. Vì kết cấu bài thơ như những khúc hát ru nên bài thơ cứ trở đi trở lại một số khúc giống nhau như những nét nhạc chủ đạo trong một bài hát. Bài thơ có ba khúc ru. Mỗi khúc hát ru là một đoạn thơ. Ở đoạn thơ thứ nhất, người mẹ ru con khi địu con trên lưng và giã gạo nuôi bộ đội. Giấc ngủ của em nghiêng nghiêng theo nhịp chày, thấm mồ hôi lao động vất cả của mẹ. Người mẹ Tà Ôi thương con nhất mực không lúc nào chịu rời con đã lấy lưng làm nôi và đôi vai gầy làm gối cho con. Và lời ru con của mẹ cất lên bên cối gạo giữa sàn nhà cũng chính là lời tâm sự, lời tự nhủ, lời mẹ thầm nói với chính mình. Lòng yêu con của mẹ gắn liền với tình thương yêu bộ đội: “Mẹ thương A Kay, mẹ thương bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau con lớn vung chày lún sân…” Ước mơ của người mẹ nối liền với giấc mơ của con và cùng hội tụ lại trong tình thương yêu sâu sắc những anh bộ đội. Trong đoạn thơ thứ hai, bà mẹ Tà Ôi địu con đi tỉa bắp trên núi Ka Lưi. Tình thương yêu và niềm hi vọng vô bờ của người mẹ đối với đứa con được thể hiện bằng lời và những hình ảnh độc đáo: “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.” Trong câu thơ trên hình ảnh mặt trời là một hình ảnh thực. Mặt trời đem lại ánh sáng, sự sống cho cây cỏ, làm cho cây cỏ thêm tươi tốt, như cây ngô bắp to, hạt mẩy. Hình ảnh mặt trời ở câu thơ sau là ẩn dụ. Tác giả so sánh ngầm Cu Tai là mặt trời của mẹ. Coi con như mặt trời thì quả là lòng mẹ yêu quí con vô hạn, mong đợi ở con rất nhiều. Đó là ánh sáng, là nguồn sống, là niềm vui, là niềm hạnh phúc, là tất cả tương lai của mẹ. Hai câu thơ, hai hình ảnh tôn nhau lên, đối ý với nhau, đã làm nổi bật tình thương yêu sâu sắc và niềm hi vọng lớn lao của người mẹ đối với đứa con. Lời ru của người mẹ Tà Ôi ngân nga trong trái tim mẹ khi mẹ địu con đi tỉa bắp vẫn hướng về đứa con thơ yêu quí của mình. Lòng thương yêu con của mẹ trong hoàn cảnh này gắn liền với tình thương yêu dân làng – những người dân lao động nghèo đói: Xem thêm: Nghị luận xã hội về an toàn giao thông“Mẹ thương A Kay, Mẹ thương làng đói Con mơ cho mẹ hạy bắp lên đều Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi”. Trong đoạn thơ thứ ba, người mẹ địu con trong tư thế đang “chuyển lán”, “đạp rừng”. Bà mẹ băng rừng, địu con trên lưng đưa con đi “để giành trận cuối”. Lòng yêu con của mẹ đến đây gắn liền với lòng yêu nước: “Mẹ thương A Kay mẹ thương đất nước”. Người mẹ gửi gắm vào giấc mơ của con niềm khao khát được gặp Bác Hồ và mong đất nước được độc lập tự do: “Con mơ cho mẹ được gặp Bác Hồ Mai sau con lớn thành người tự do”. Tiếng hát ru con của người mẹ Tà Ôi không phải được cất lên bên cánh võng hay trên giường ấm nệm êm trong phòng ngủ. Tiếng hát ru ấy ngân lên trong trái tim của mẹ khi mẹ địu con giã gạo, tỉa bắp trên núi, khi mẹ “chuyển lán”, “đạp rừng” hoặc trên đường ra chiến trường để giành trận cuối. Như vậy, bà mẹ Tà Ôi là một người mẹ lao động, trực tiếp sản xuất, phục vụ cho chiến đấu của toàn dân tộc. Tình thương con, thương bộ đội, thương dân làng, thương đất nước hoà quyện vào nhau trong tấm lòng của một người mẹ miền núi yêu nước trong những năm tháng chống Mĩ khó khăn, gian khổ. Theo lời ru (và cũng là tình yêu thương của mẹ), theo bước chân của người mẹ Tà Ôi, không gian cũng được mở rộng dần: từ sân (khi mẹ giã gạo) đến ngọn núi Ka Lưi (khi mẹ đi tỉa bắp) rồi đến những rừng những suối khi mẹ chuyển lán đạp rừng. Và ước mơ, khát vọng của người mẹ gửi gắm qua lời hát ru tha thiết, nặng tình nặng nghĩa ấy cũng mỗi lúc một lớn dần: “Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần” đến “Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều”… Từ mong muốn “Mai sau con lớn vung chày lún sân” đến “Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi” cuối cùng cũng bùng lên thành một khát vọng cháy bỏng “Mai sau con lớn làm người tự do”. Tinh thần, không khí sục sôi của đất nước trong những năm tháng đánh Mĩ đã đi vào lời hát ru của những bà mẹ. Cuộc chiến tranh nhân dân khiến cả đến những bà mẹ miền núi có con nhỏ vào cuộc chiến đấu hi sinh, gian khổ. Biết bao em bé đã “lớn trên lưng mẹ” đi “đến chiến trường” và trong số họ không ít những người đã thành những anh hùng dũng sĩ. Qua những khúc hát ru với những điệp khúc đã trở đi trở lại nhưng vẫn có sự biến hoá phát triển, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện thật sinh động, ám ảnh đầy sức mạnh nghệ thuật khát vọng mãnh liệt độc lập tự do của toàn dân tộc. Nguồn Edufly Xem thêm: Qua những tác phẩm đã học và đọc thêm, hãy phát biểu cảm nghĩ của em về người phụ nữ trong thơ trung đại
Hình ảnh người mẹ trong bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
1,209
Hình ảnh người nông dân qua Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Hướng dẫn Hỏi trang dẹp loạn rày đàu vắng, Nỡ dê’ dàn đen mắc nạn này? Mấy năm sau, nhà thơ viết bài Văn tế nghĩasĩCần Giuộc – bài văn tế đặc sắc nhất trong lịch sửvăn học dân tộc. Bài văn tế đã thể hiện tấm lòng trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đối với những nghĩa sĩ anh hùng của nhân dân ta trong buổi đầu chống Pháp xâm lược. Lần đầu tiên trong lịch sửvăn học dân tộc xuất hiện một tượng đài nghệ thuật về người nông dân yêu nước chống giặc ngoại xàm. Tượng đài nghệ thuật đó đã được nhà thơ dựng lên trong bài văn tế hết sức bi tráng và hào hùng. Mở đầu bài văn tế là một khung cảnh chiến tranh rợn ngợp tiếng súng giặc. Súng giặc đất rền: lòng dân trời tỏ. Âm vang vang rền của tiếng súng báo liệu sụ khốc hệt, hiểm nguy, tang tóc của cuộc chiến. Vận mệnh của dân tộc đứng trước hoàn cảnh khó khăn và bế tắc. Có những lúc Tổ quốc làm nạn như vậy ta mới thấy lòng dân trời tỏ, lòng dân toả sáng. Không ai khác trong thế đất nước có chiến tranh người bị chịu đau khổ nhất chính là nhân dân. Họcất tiếng khóc than trời đầy ai oán và xót thương. Câu văn mở ra ý thức sâu sắc của người dân trước hoàn cảnh chiến tranh. Đất nước rơi vào chiến tranh thì chuyện cày cuốc vỡ ruộng với họ đều trớ nén vỏ nghĩa, việc cần thiết và liệu ích nhất là đứng lên bảo vệ dân tộc, bảo vệ tổ quốc. Người dân Cần Giuộc đã nhận ra vai trò của họ trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, báo vệ độc lập tự do của đất nước. Oanh hệt nhưng cuộc khới nghĩa của nông dân Cấn Giuộc đã thít bại và hai mươi mốt nghĩa quân đã hy sinh anh dũng. Đứng trước vong linh của những nghĩa sĩ nông dân, Nguyễn Đình Chiểu hồi tưởng lại cuộc đời đẹp đẽ và cao cả của họ. Một thời họ “Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”, “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chí biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”. Lúc nào, họ cũng lặng thầm trong công việc cày cuốc với vai trò người nông dân. Họ như bị thu mình giữa không gian của ruộng vườn bờ bãi thật là nhỏ bé, tội nghiệp, đáng thương. Những con người chất phác, hiển lành, cần cù và chịu khó làm ăn ấy dường như chí quen quanh quẩn trong xóm làng, làm bạn với con trâu, chính vì vậy mọi công việc chiến đấu, chiên địa đều trở nên xa lạ với họ. Họ đâu có quen dùng voi, súng, mác, cờ… quanh năm chân lấm tay bùn với nghề nông, “chưa hề ngó tới” việc binh và vũ khí đánh giặc. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cay, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mát chưa từng ngó. Câu văn viết theo cấu trúc biền ngẫu hình thức sóng đòi tạo ra tiết tấu nhịp nhàng đều đặn của câu thử: một vế là phủ định, một vế là khắng định, khẳng định công việc cuối cùng, bừa cày quen thuộc, phủ định công việc tập súng, mác, cờ chưa từng thấy, chưa từng làm. Những câu văn nhà thơ viết lên quả rất thành thật và tự nhiên. Việc binh xa lạ với họ là vậy, thế nhưng khi đất nước và quê hương bị giặc Pháp xâm lược, những “dân ấp, dân lân"ấy đã anh dũng đứng lèn, “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Đánh giặc để cứu nước cứu nhà, để bảo vệ “bát cơm manh áo ở đời” là cái nghĩa lớn mà người nghĩa sĩ Cần Giuộc “mến” và đeo đuổi. Điểm tựa cho mọi hành động chiến đấu chiến thắng của người nghĩa sĩ – nông dân chính là lòng căm thù giặc. Chính lòng căm thù giặc một phần đã đốt chấy khát vọng chiến đấu bừng sáng ý chí quyết tâm “xả thân cứu nước của họ”. Xem thêm: Phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy Lòng căm thù của người nghĩa sĩCần Giuộc biểu hiện một cách trực tiếp qua lời văn giản dị mà chắc nịch: Bữa thấy bồng bong che trăng lốp, muốn tới ủn gan; ngày xem ống khói chấy đen sì, muốn ra cán cổ. Họ biếu hiện lòng căm thù giặc rất triệt đế và hết sức mạnh mẽ. Đối với giặc Pháp và lũ; tay sai bán nước, họ chỉcó một thái độ “ăn gan” và “cắn cổ”, chí có một chí hướng “phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”. Nỗi lòng của họ biểu hiện bộc trực, ngay thẳng, những gì đi ngược lại quyền lợi của họ, phá hoại cuộc sống bình yên của họ đều khiến họcăm ghét tức giận. Xông pha vào cuộc chiến đấu bảo vệ dân tộc, họ hoàn toàn tự nguyện, tự giác và sẵn sàng chấp nhận gian khổ, chấp nhận hy sinh nên họ liên ngang khẳng khái đối với với mọi hiểm nguy. Phẩm chất anh hùng của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc ánh lên thật sáng ngời. Nhưng người nghĩa sĩ Cấn Giuộc vói tinh thần chiến đấu, quyết chiến thắng: “Mưòi tám ban võ nghệ… chi nài sắm dao tu, nón gõ”. Dẫu vũ khí chiến đấu còn rất thô sơ là vạy nhưng tinh thần chiến đâu thì rất mạnh mẽ quyết hệt. Ruột gan họ lúc nào cũng nuôi ý chí chiến đấu, xả thán vì nước. Quân trang chỉ là “hoà mai đánh bằng rơm con cúi”, là một “lưỡi dao phay” vậy mà khiến cho kẻ thù kinh hồn bạt vía bời tinh thần chiên đấu cùa nghĩa quân. Họ không chi lập chiến công “đốt xong nhà dạy đạo kia” và "chém rớt đầu quan hai nọ” mà còn “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”. Hành động của họ rất anh dũng nhưng có phán hơi liều lĩnh bộc phát. Với một giọng văn hùng tráng, phép dổi tài tình, các dộng từmạnh được chọn lọc và đặt đúng chỗ, tác giá đã tò đậm thêm tinh thần chiên đấu quả cam vô song của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Nguyễn Đình Chiêu viết vế họ bằng tất cả những tình cảm đẹp nhất: ngợi ca, khám phá, tự hào. Qua trang thơ cua mình, ông đã dựng được một bức tượng đài người nghĩa sĩ – nông dân xa thân cứu nước. Mỗi một lời văn là một lòi hùng tráng mang theo cái hào hùng sỏi sục, mang theo niềm quyết tám chiến đấu mạnh mẽ. Ta phai công nhận một diều: trước Nguyễn Đình Chiểu chưacó một nhà văn nào viết về người nông dán đánh giặc hay và sáu sắc nhu thế. Kết thúc,cuộc chiến dấu đã thất bại nhung danh tiếng người nghĩa sĩ thì còn vang vọng đến muôn đời. Họ đãsống và chết thật vẻ vang. Tám gương chiến dâu và hy sinh cứa họ là "tấm lòng son gửi lại bóng trâng rám” đời đời bất diệt, sáng rực mãi. trường tổn cùng sông núi. Rất đáng tư hào “Ôi! Một tràn khói tan; nghìn năm tiết rỡ”. Bài học lớn. nhất của người nghĩa sĩ dê lại cho đất nước và nhân dán là bài học vé sống và chết. Sống liên ngang, chết bất khuất. Tâm thếấy đã tô đậm chất bi tráng cho “tượng đài nghệ thuật” vé người nghĩa sĩ – nông dân đánh giặc.Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: "Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" Sóng chình giục… trá thù kia. Dám xả thân vì nghĩa, "cày hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm” các chiến sĩ nghĩa quân Văn tể nghĩa sĩcần Giuộc là niềm tự hào và biết ơn sáu sắc của nhàn dân ta. Văn tế nghĩa sĩcần Giuộc xứng đáng là bài văn tế hay nhất trong lịch sửvăn học dân tộc, đưa Nguyễn Đình Chiêu lèn vị trí bậc thầy của những người viết văn tế xưa nay. Bài văn tế đã dựng lên một bức tượng dài người nghĩa sĩ – nông dân vô cùng oai hùng và dũng mãnh. Tuy rằng họ dã ra di mãi mãi nhưng tinh thần chiến đấu quyết chiến quyết thắng của họ là khúc ca hào hùng và bi tránh suốt muôn dời. Nguồn:
Hình ảnh người nông dân qua Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
1,468
Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm của nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào? Hướng dẫn a) Hình ảnh con người cụ thể đại diện cho nhân dân Tây Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ: + Người anh du kích + Thằng em liên lạc + Người “me” với hình ảnh “lửa hồng soi tóc bạc”. Đây là những hình ảnh khái quát, tượng trưng cho con người Tây Bắc trong kháng chiến, tuy nhiên đã được tác giả thể hiện bằng những con người, những câu chuyện cụ thể rất sinh động. b) Tình cảm sâu nặng và lòng biết ơn của nhà thơ đối với nhân dân được thể hiện qua những câu chuyện, những kỉ niệm cụ thể, sâu sắc: – Người anh du kích trước đêm tấn công đồn địch còn để lại chiếc áo nâu cho nhân vật trữ tình. – Thằng em liên lạc (cách gọi thân mật): “Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư! – Người “mế” lừa hồng soi tóc bạc”, “năm con đau” (tức “hồi con ốm”)mế thức một mùa dài”, khiến cho “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. – Cách xưng hô trong đoạn thơ thể hiện tình cảm rất thân thiết, sự gắn bó sâu nặng giữa nhân vật trữ tình với nhân dân Tây Bắc: đó là lời tâm tình trực tiếp giữa “hai mẹ con”, giữa nhân vật trữ tình với một người “mế” tưởng tượng. Nguồn: Xem thêm: Viết thư thăm một người hàng xóm cũ mà em quý mến
Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm của nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào_
250
Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào trong bài thơ Tiếng hát con tàu? Hướng dẫn a) Hình ảnh con người cụ thể đại diện cho nhân dân Tây Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ: + Người anh du kích + Thằng em liên lạc + Người “mế” với hình ảnh “ lửa hồng soi tóc bạc”. Đây là những hình ảnh khái quát, tượng trưng cho con người Tây Bắc trong kháng chiến, tuy nhiên đã được tác giả thể hiện bằng những con người, những câu chuyện cụ thể rất sinh động. b) Tình cảm sâu nặng và lòng biết ơn của nhà thơ đối với nhân dân được thể hiện qua những câu chuyện, những kỉ niệm cụ thể, sâu sắc: – Người anh du kích trước đêm tấn công đồn địch còn để lại chiếc áo nâu cho nhân vật trữ tình. – Thằng em liên lạc (cách gọi thân mật): “Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư! – Người “mế” lửa hồng soi tóc bạc”, “năm con đau” (Tức “hồi con ốm”) mẹ thức một mùa dài”, khiến cho “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. – Cách xưng hô trong đoạn thơ thể hiện tình cảm rất thân thiết, sự gắn bó sâu nặng giữa nhân vật trữ tình với nhân dân Tây Bắc: đó là lời tâm tình trực tiếp giữa “hai mẹ con”, giữa nhân vật trữ tình với một người ‘mế” tưởng tượng. Nguồn: thêm: Phân tích nhân vật cụ Mết trong “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12
Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào trong bài thơ Tiếng hát con tàu_
262
Hình ảnh Thánh Gióng trong truyện “Thánh Gióng” để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho mỗi người Việt Nam. Em hãy phát hiểu cảm nghĩ của mình về người anh hùng ấy Gợi ý YÊU CẦU 1. Kiểu bài phát biểu cảm nghĩ. 2. Đây là loại bài phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật anh hùng trong truyền thuyết lịch sử. Đối với nhân vật Thánh Gióng, khi trình bày cảm nghĩ, người viết phải chú ý thuật lại một số nét quan trọng của cuộc đời nhân vật. – Sự thụ thai đặc biệt. – Gióng không biết nói cười, không biết đi. – Câu nói đầu tiên xin đi đánh giặc. – Gióng ăn khỏe, lớn nhanh nhờ gạo dân làng đóng góp. – Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ. – Gióng đánh giặc chết như rạ, gẫy roi sắt thì nhổ tre làm vũ khí… – Đánh giặc xong Thánh Gióng bay về trời. 3. Khi thuật lại những nét trên, có thể lồng cảm xúc, suy nghĩ đánh giá của mình. Cần chú ý đến ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh Thánh Gióng, tượng trưng cho lòng yêu nước, sự quật khởi, sự anh dũng của dân tộc Việt Nam. BÀI LÀM Thánh Gióng là người anh hùng đánh giặc cứu nước. Nhắc đến Thánh Gióng ai cũng nghĩ ngay đến một nhân vật đầy dũng cảm, sức khỏe phi thường và đặc biệt là lòng yêu nước thiết tha, không hề vụ lợi. Thánh Gióng là cả một huyền thoại oai hùng trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Tuy em đọc truyện Thánh Gióng đã lâu, nhưng hình ảnh Thánh Gióng vẫn đọng lại trong em những ấn tượng sâu sắc.Xem thêm: Giải thích câu "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" Sự ra đời của Thánh Gióng cho ta một cảm giác kì lạ, hoang đường. Bà mẹ dẫm vào vết chân mà mang thai. Sau mười hai tháng mới sinh ra Thánh Gióng. Chú bé tuy khôi ngô nhưng không biết nói, cũng chẳng biết cười, không biết đi, đặt đâu nằm đây. Lúc này người đọc chưa có cảm xúc gì về Thánh Gióng. Thử hỏi một cậu bé không biết đi lại không biết nói thì làm được gì? Thế rồi Tổ quốc lâm nguy, giặc ngoại xâm tràn đến. Mọi người lo lắng. Chính đứa bé không biết nói cười ấy lại nói một câu xin đi đánh giặc. Tiếng nói đầu tiên của Thánh Gióng là tiếng nói của lòng yêu nước. Đó là một chuyện kì lạ. Kì lạ hơn nữa là từ đó, Thánh Gióng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không đủ. Dân làng gom góp gạo thóc nuôi Thánh Gióng. Điều đó cho ta thấy ai cũng mong góp sức, góp công chống giặc. Chưa hết ngạc nhiền vì sự lớn nhanh, ăn khỏe của cậu bé, em lại ngạc nhiên và vui mừng khi chú bé vươn vai biến thành tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Thánh Gióng mặc giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa sắt phun lửa thật thần kì. Thánh Gióng oai hùng cầm roi sắt quật giặc, ngựa hí vang trời, giặc chết như ngả rạ. Nhưng bỗng roi sắt bị gẫy. Tình huống thật bất ngờ, khó xử. Một lần nữa em lại khâm phục, ngạc nhiên trước sự mưu trí, dũng cảm của Thánh Gióng: nhổ tre để quật vào lũ giặc. Với một sức khỏe phi thường, ý chí sắt đá, Thánh Gióng đã đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi nước ta.Xem thêm: Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy Đoạn cuối, em càng khâm phục Thánh Gióng hơn khi Thánh Gióng cười ngựa bay về trời, không màng danh lợi, mặc dù lập công lớn như vậy có thể được thưởng rất hậu. Tuy đã gấp sách lại nhưng hình ảnh Thánh Gióng vẫn in đậm trong tâin trí em. Thánh Gióng đã, đang và mãi mãi là một tấm gương sáng, một biểu tượng về tinh thần dũng cảm và tấm lòng yêu nước thiết tha. Thánh Gióng là tượng trung cho sức mạnh quật khởi của dân tộc ta. Em tin tưởng rằng đất nước ta sẽ phát triển, sẽ lớn nhanh với sức vươn lên của thần Phù Đổng Thiên Vương. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh Thánh Gióng trong truyện “Thánh Gióng” để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho mỗi người Việt Nam. Em hãy phát hiểu cảm nghĩ của mình về người anh hùng ấy
724
Hình ảnh và thân phận người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương Gợi ý Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là một hiện tượng hết sức độc đáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn học dân gian, từ đề tài, cảm hứng, đến ngôn ngữ, hình tượng. Nổi bật trong thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói thông cảm đối với người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ. Đào Thái Tôn trong “Hồ Xuân Hương – từ cội nguồn vào thế tục” đã nhận định về: “Thơ Hồ Xuân Hương không bao giờ tĩnh lặng, bằng phẳng, đăng đối, mà ngược lại chúng luôn sống động, gai góc, gồ ghề, xa lạ với chừng mực hài hòa của phong khí văn chương thời đại”. Người ta gọi Hồ Xuân Hương nhà thơ của phụ nữ, là người viết về phụ nữ rất sâu sắc. Trong thơ bà, người ta thấy hiện lên hai hình ảnh của người phụ nữ: khổ đau và bản lĩnh. Tất cả đều bắt nguồn từ việc bà ý thức được về vẻ đẹp của giới mình nhưng cũng ý thức được về hoàn cảnh xã hội mà những người phụ nữ như bà đang phải sống. Người phụ nữ đẹp cả về hình dáng lẫn tâm hồn nên họ xứng đáng được ngợi ca nhưng cũng vì vẻ đẹp ấy, họ phải gánh chịu biết bao bất công trong một xã hội thực dân phong kiến trọng nam khinh nữ thối nát. Hồ Xuân Hương, bằng bản lĩnh mình, đã lên tiếng nói về lòng mình mà cũng là nói hộ cho nỗi lòng của biết bao người phụ nữ ấy trong xã hội phong kiến. Đọc thơ bà, người ta bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ bản lĩnh, gai góc, dám lên tiếng khẳng định vẻ đẹp và tài năng của mình, vượt lên trên những định kiến và sự hạn chế của xã hội phong kiến; một người phụ nữ dám ném thẳng vào xã hội, vào mặt những kẻ đàn ông nhưng không đáng mặt trượng phu những tràng cười mỉa mai, khinh bỉ, hạ chúng xuống hàng của những kẻ tầm thường, không hơn, không kém; người dám lên tiếng không những bảo vệ mình mà còn là bảo vệ giới mình, bảo vệ thân phận những người phụ nữ; một người phụ nữ với những phút giây “tự tình” đầy xúc cảm chân thành… Xuân Diệu coi Hồ Xuân Hương là nhà thơ của “hai lần độc đáo” bởi trong thời đại bấy giờ, bà không chỉ là một trong số rất ít những nhà thơ nữ mà còn là một nhà thơ nữ viết về phụ nữ một cách đầy bản lĩnh. Trước hết, thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói khẳng định vẻ đẹp, tài năng và bản lĩnh cá nhân. Khẳng định vẻ đẹp của họ, Hồ Xuân Hương không chỉ nhấn mạnh vẻ đẹp hình thức mà còn là sự hài hòa giữa vẻ đẹp về hình thức và vẻ đẹp tâm hồn. Đó là vẻ đẹp trắng trong, tinh khiết: “Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa như in tờ giấy trắng Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh”. Vẻ đẹp trong trắng, hồn nhiên ấy như được chạm khắc vào thời gian một cách vĩnh cửu. Không chỉ vậy, đó còn là vẻ đẹp khác lạ: lạ lùng, thanh tân, có đường nét, hình khối, “một vẻ đẹp đầy sức sống, một vẻ đẹp đang lên men” (Nguyễn Đức Bính): “Lược trúc biếng cài trên mái tóc Yếm đào trễ xuống dưới nương long Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm Một lạch đào nguyên suối chửa thông”. Vẻ đẹp phồn thực nhưng lại hết sức hồn nhiên, trong sáng nên có sức mê hoặc lòng người, vẻ đẹp ấy không phải người phụ nữ nào trong xã hội đó cũng dám lên tiếng khẳng định. Không chỉ khẳng định vẻ đẹp về hình thức, Hồ Xuân Hương còn rất chú trọng đến vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ:Xem thêm: Bài tuỳ bút Người lái đò Sông Đà khắc họa hình ảnh người lái đò. Anh/chị hãy làm sáng tỏ điều đó.“Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Miêu tả về chiếc bánh trôi và các công đoạn làm bánh, Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại liên tưởng đến hình ảnh của người phụ nữ để từ đó khẳng định vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu của họ. Bài thơ ẩn chứa những ngậm ngùi về thân phận nhưng vượt lên trên tất cả vẫn là lời khẳng định phẩm giá đầy kiêu hãnh: dù số phận có lênh đênh vất vả nhưng tấm lòng trinh bạch, son sắt thì vẫn không bao giờ thay đổi. Một điểm thú vị nữa có thể coi là một hiện tượng chỉ có ở Hồ Xuân Hương đó là bà ca ngợi người phụ nữ ở những vẻ đẹp phồn thực nhất, không ngần ngại khi nhắc đến cả những điều trần tục. Người phụ nữ đẹp bởi tất cả những gì vốn thuộc về họ. Họ có vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết, và căng tràn nhựa sống. Đó là cái đẹp được nhà nghiên cứu gọi là cái đẹp trần thế luôn cựa quậy, khiến cho… đứng ngồi không yên biết bao bậc tu mi nam tử. Nhưng nói về vẻ đẹp của người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương từng ấy thôi chưa đủ. Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương không chỉ đẹp, đó còn là những người phụ nữ thông minh, tài năng, sắc sảo, nhanh nhẹn và đầy bản lĩnh. Người phụ nữ của bà dám “ghé mắt trông ngang” để mà mỉa mai về “sự anh hùng”: “Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo Kìa đền Thái thú đứng cheo leo Ví đây đổi phận làm trai dược Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”. Đền chùa là nơi thuộc về tâm linh, thường được kính trọng, thế nhưng với ngôi đền thờ tên tướng giặc sầm Nghi Đống, Hồ Xuân Hương lại bộc lộ một thái độ khinh bỉ, thiếu trân trọng đến ngang ngược. Bà chỉ “ghé mắt”, chỉ “trông ngang” bởi thấy cái “sự anh hùng” của sầm Nghi Đông chỉ tầm thường một cách đáng thương. Thi sĩ nói tất cả những điều đó với sự tự tin vào khả năng của bản thân, một sự bản lĩnh cũng là một kì tích mà thậm chí đến cả đấng nam nhi không phải ai cũng có thể làm được. Chân dung người phụ nữ bản lĩnh, cá tính, thông minh dường như không lúc nào mờ nhạt. Thế nên mới có một Hồ Xuân Hương xưng “chị” mà lớn tiếng “Mắng lũ học trò dốt” tưởng rằng có học nhưng cũng chỉ là những kẻ tầm thường, đáng bị đưa ra để cười cợt. Và một Hồ Xuân Hương, mời trầu người ta nhưng cũng theo một cách riêng đầy bản lĩnh: “Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Mời trầu, mời duyên, một lời mời rất dân dã nhưng người mời không lúc nào đánh mất đi sự chủ động của mình. Đem miếng trầu ra mời có sự tha thiết nhưng lại không tha thiết một chút nào. Người phụ nữ ở đây mời trầu những lòng vẫn đầy nghi ngờ. Mời nhưng vẫn giữ cho mình một tư thế chủ động tuyệt đối, bởi tâm chân tình của người mời là có thực, chỉ sợ rằng tình người đen bạc lại phụ mất tấm chân tình đó mà thôi. Đó là cách mời rất Xuân Hương nhưng cũng là cách mời khiến cho người đời phải trăn trở, nghĩ suy.Xem thêm: Phân tích đoạn cuối bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu: "Ta muốn ôm, Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu; Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều... - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" Khẳng định vẻ đẹp, tài năng và bản lĩnh của mình, Hồ Xuân Hương cũng lên tiếng ngợi ca, khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội đó. Tuy vẫn có một chút buồn tủi song trên hết vẫn là sự thông minh, tự tin, bản lĩnh hiếm có và một nét riêng không thể trộn lẫn trong cá tính Hồ Xuân Hương. Người phụ nữ của Hồ Xuân Hương mang vẻ đẹp cả về hình thể và tâm hồn, lẽ ra, họ phải nhận được hạnh phúc xứng đáng. Vậy mà “Hồng nhan bạc phận”, trong xã hội đó, họ lại luôn phải chịu những điều bất hạnh. Đồng cảm với họ, thơ Hồ Xuân Hương còn là tiếng nói cảm thương chân thành. Hồ Xuân Hương không quan tâm đến những người phụ nữa gặp may mắn trên đường đời, cũng không quan tâm đến những người phụ nữ nơi lầu son gác tía – đề tài quen thuộc trong thơ văn trung đại mà chỉ quan tâm đến những người phụ nữ lao động bình thường chịu nhiều thua thiệt trong cuộc đời. Thơ bà thể hiện sự cảm thương sâu sắc, thương cho người và cũng là thương cho mình. Thơ bà có hẳn hai mảng về nỗi bất hạnh của người phụ nữ, trong tình yêu và trong cuộc sống gia đình. Bản thân Hồ Xuân Hương cũng là một người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh về tình duyên: hai lần làm lẽ và cả hai lần tình duyên đều không trọn vẹn. Hơn ai hết, bà thấm thía cảnh duyên phận hẩm hiu, nỗi cô đơn và bất hạnh của những người bị ông tơ bà nguyệt trêu đùa. Hồ Xuân Hương đã “tự tình”, “tự thán” để nói lên tình cảnh và tâm trạng của mình, cũng là nói thay cho bao người phụ nữ khác. “Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”. Thân phận người phụ nữ cũng lênh đênh, lận đận như chiếc thuyền giữa dòng, mãi mà chưa thể tìm được chốn neo đậu bình yên. Nỗi ngao ngán vì tình duyên muộn mằn khiến cho người phụ nữ dường như chán nản: “Ấy ai thăm ván cam lòng vậy/ Ngán nỗi ôm đàn những bấp bênh”. Vậy nhưng thời gian vẫn trôi đi không trở lại, để cho họ ở đó, giữa đêm khuy thanh vắng để đối diện với tình cảnh buồn thảm và éo le của mình: “Canh khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non (…) Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con” “Mảnh tình san sẻ tí con con” đó là một mảnh tình không trọn vẹn. Đã chỉ là “mảnh tình thôi” lại còn bị san sẻ đến “con con”. Có một cái gì đó chua chát, ngán ngẩm, bẽ bàng, cô độc đến đáng thương, đến tội nghiệp. Có lúc, nó được đẩy lên thành nỗi oán hận, không thể nào giải tỏa hết được, giận bởi đời, giận bởi số kiếp mình hẩm hiu, giận vì “duyên để mõm mòm”. Ngay cả khi với bản lĩnh của mình, Hồ Xuân Hương vẫn nói lên lời thách thức cuộc đời: “Thân này đâu đã chịu già tom” nhưng sâu xa, người ta vẫn cảm nhận được tình cảnh đáng thương và những nỗi niềm thầm kín sâu sắc của một người phụ nữ tình duyên bất hạnh. Tiếng nói cá nhân nhưng lại có ý nghĩa đại diện sâu sắc cho số phận của biết bao người phụ nữ trong xã hội thời bà, những người ý thức được về mình nhưng lại không được làm chủ cuộc đời và số phận của chính mình.Xem thêm: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và chứng tỏ tính độc đáo, sáng tạo của Nam Cao trong đoạn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo: "Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng cứ rượu xong là hắn chửi... Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết..." Không chỉ vậy, Hồ Xuân Hương còn lên tiếng tố cáo, bênh vực người con gái vì “cả nể” mà phải mang trong mình “khối tình con”, nhận biết bao điều tiếng. “Cả nể cho nên hóa dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng?” Người con gái biết mình có lỗi nhưng không cho đó là cái tội, mà chỉ vì sự cả nể. Nàng nghĩ đến cái nghĩa trăm năm để đầy bao dung, oán giận nhưng vẫn sẵn sàng tha thứ và đầy hi sinh, kiên cường trước búa rìu dư luận. Trong một xã hội mà những người phụ nữ như nàng bị khinh rẻ, bà lại lớn tiếng khẳng định: “Không có nhưng mà có mới ngoan”. Không phải ca ngợi, không phải đồng tình, mà đó chỉ là sự cảm thông, che chở. Hồ Xuân Hương đã rất thấu tình đạt lí khi bao bọc cho người con gái lỗi lầm kia. Không chỉ chú ý đến những bất hạnh của người phụ nữ trong tình yêu, nữ thi sĩ họ Hồ còn chú ý đến những bất hạnh của người phụ nữ trong cuộc sống vợ chồng mà chỉ yếu là ở cảnh làm lẽ, nói chung cho người phụ nữ và mang cả dấu ấn cuộc đời của Hồ Xuân Hương: “Kể đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa chăng hay chớ Một tháng đôi lần có cũng không Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng Cầm bằng làm mướn, mướn không công Thân này ví biết dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy không”. Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại khi nói đến những chuyện tế nhị trong hạnh phúc vợ chồng. Bi kịch của người phụ nữ được bà chú ý ở đây là danh phận là vợ nhưng thân phận lại như con ở – một thứ con ở không công, vậy mà cũng chỉ biết oán thoán, chịu đựng. Đau đớn hơn nữa còn là sự thiếu thốn tình cảm vợ chồng, là cảm giác cô đơn lạnh lẽo ngay giữa chính căn nhà mà mình đang ở. Hồ Xuân Hương đã từng làm lẽ hai lần. Nỗi bất hạnh của cảnh “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” không phải là hiếm trong xã hội phong kiến mà chắc hẳn bà đã là người ít nhiều trải nghiệm. Hồ Xuân Hương là kiểu người không chịu cúi đầu mà khóc, không chỉ với bản thân mình mà với người khác nữa. Bà đứng trước đau khổ người khác, không phải để góp thêm nước mắt mà để vỗ về, dìu họ ra khỏi đau thương. “Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đầy sáng tạo. Các nghệ sĩ tài năng vừa tuân thủ thi pháp thời đại mình vừa vi phạm các quy tắc ấy và sáng tạo phong cách của riêng mình. Hồ Xuân Hương sáng tạo một phong cách thơ Đường mới, một thế giới đời thắm tươi, một thiên nhiên tràn đầy sức sống, một triết lý tự nhiên của cuộc đời trần thế, của trực giác, cảm giác, bản năng, của say mê,…” (Đỗ Đức Hiểu). Viết về hình ảnh và thân phận của người phụ nữ một cách sâu sắc và đầy bản lĩnh, Hồ Xuân Hương không chỉ nói về thân phận của mình mà còn là tiếng nói cảm thông với số phận bất hạnh của những người phụ nữ ý thức được vẻ đẹp hình thể và tâm hồn mình nhưng phải chịu đựng biết bao bất công trong xã hội. Tiếng nói ấy sẽ còn tìm được sự đồng cảm và đón nhận của những người phụ nữ nói riêng và con người nói chung trong mọi thời đại. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh và thân phận người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương
2,700
Hình ảnh ông lão trong cuộc chiến đấu với con cá kiếm được Hê – minh – uê miêu tả như thế nào trong đoạn trích Ông già và biển cả (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục 2008) Gợi ý Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất nước Mĩ thế kỉ XX. Ông là một trong những người khai sinh lối viết kiệm lời, kiệm cảm xúc,… Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu Ba, Hê-minh-uê cho ra đời tác phẩm Ông già và biển cả. Bối cảnh của tác phẩm là ngôi làng yên ả bên làng La-ha-ba-na. Trước khi in thành sách, truyện đã được đăng trên tạp chí Đời sống. Đoạn trích nằm ở gần cuối truyện, thuật lại việc ông lão Xan-ti-a-gô rượt đuổi và khuất phục được con cá kiếm. Hình ảnh con cá kiếm đã bị mắc câu được miêu tả với những vòng lượn được nhắc lại, gợi lên đặc điểm về cuộc đấu giữa ông lão và con cá kiếm. Đó là cuộc đấu kéo dài suốt hành trình chiếm được con cá, buộc con cá vào mạn thuyền và đưa con cá trở về. Con cá kiếm khổng lồ to khoẻ (đến hơn nửa tấn) cùng con người luôn luôn ở trong tư thế vờn miếng nhau, một bên để thoát thân, một bên để chiếm giữ, chinh phục. Cả hai lúc đầu dồi dào sức lực, sau đó rệu rã, mệt mỏi dần nhưng vẫn cố gắng hết sức phô diễn sự kiêu dũng của mình, không hề chịu lùi bước, ngã gục trước đối thủ.Xem thêm: Bình giảng những câu thơ sau trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Súng nổ rung trời giận dữ. Người lên như nước vờ bờ. Nước Việt Nam từ máu lửa. Rũ bùn đứng dậy sáng lòa Ông lão khi chưa nhìn thấy con cá đã có cảm nhận về sự to lớn đồ sộ của nó qua cảm giác, xúc giác, qua toàn bộ cơ thể mình khi kéo dây, giữ cho con cá lượn vòng quanh thuyền, cố giữ khoảng cách dây câu sao cho đừng quá căng hoặc đừng quá chùng. Cuộc chiến của Xan-ti-a-gô với con cá kiếm vô cùng gay cấn. Đầu tiên, lão thu dây để điều khiển con cá quay vòng và cầu con cá đừng nhảy bởi sợ mất nó. Lão phân tích tình hình: mình phải giữ cho nó đừng đau quá, lão nghĩ. Nỗi đau của ta thì không thành vấn đề. Ta có thể chế ngự. Nhưng nỗi đau của con cá thì có thể khiến nó cuồng lên. Đồng thời, lão đi chuyển được con cá và động viên bản thân mình: Kéo đi, tay ơi, lão thầm giục. Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Cuối cùng lão tập trung hết sức lực và phóng lao giết chết con cá: Dồn hết mọi đau đớn và những gì còn lại của sức lực và lòng kiêu hãnh đã rời bỏ lão từ lâu, lão mang ra đương đầu với cơn hấp hối của con cá. Sau lúc bị mũi lao của ông lão đâm trúng tim, khi ấy con cá, mang cái chết trong mình, sực tỉnh, phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực của nó.Xem thêm: Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố hay Trong cuộc chiến đấu để chiếm được con cá, ông lão đã cố gắng hết cả về sức lực, trí tuệ của mình để khiến con cá khổng lồ có thể ngoan ngoãn theo sự điều khiển của lão. Ông có ý chí và niềm tin: hãy giữ đầu óc tỉnh táo và biết cách chịu đựng như một con người. Nghĩa là, dùng đầu óc để suy xét, đưa ra giải pháp hành động và phải biết chịu đựng, nhẫn nại để giành chiến thắng. Hơn nữa, qua đây, tác giả đã ngợi ca con người, tin tưởng vào con người, khẳng định trí tuệ và khả năng chịu đựng là hai nhân tố phân biệt con người với bất cứ sinh vật nào khác. Con cá kiếm kiêu hùng và nhanh đến bất ngờ, dường như không chấp nhận cái chết, phóng vút lên, phô hết tầm vóc khổng lồ và sức mạnh nhưng cuối cùng ông lão đã kéo được con cá vào sát mạn thuyền khi nó đã thấm mệt và đâm lao trúng tim nó. Cá kiếm là đối thủ ngang sức ngang tài với ông lão. Ngay đến khi sức kiệt con cá vẫn thể hiện phong cách cao thượng, uy dũng. Điều này cho thấy tác giả dành nhiều tình cảm trân trọng con cá kiếm. Sự kiêu hùng đó càng góp phần nâng cao hơn tầm vóc của ông lão. Cuộc chiến đấu giữa người và cá được miêu tả như một cuộc đấu giữa hai đối thủ ngang tài, ngang sức. Người đi săn bắt cá lớn ngoài đại dương đã đương đầu, vật lộn với con cá săn được trong một thời gian dài. Cuộc đấu này gợi lên những liên tưởng sâu sắc, thú vị: đó là hành trình nhọc nhằn của người đàn ông hay cuộc khám phá, chinh phục những thế lực dũng mãnh của tự nhiên; hay là sự khám phá, chinh phục những đỉnh cao của chính khả năng của con người tiềm tàng trong bản thân con người hoặc là khát vọng hiện thực những hoài bão, ước mơ đời người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp, sáng tạo cái đẹp,…Xem thêm: Viết đoạn văn tả chị bán hàng bách hoá Từ bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu giữa con người và con cá khổng lồ trên đại dương mênh mông với những nét trần trụi, rộng hơn của hình tượng: con cá kiếm không chỉ là con mồi, ông lão không chỉ là ngư phủ, đoạn văn không chỉ miêu tả một cuộc rượt đuổi, vẻ đẹp kiêu hùng của con cá khi chưa bị chiếm lĩnh là biểu tượng cho ước mơ, cho lí tưởng mà mỗi con người theo đuổi. Hình ảnh ông lão đánh cá trở nên cao cả, đẹp đẽ khi cuộc chiến đang trở nên không cân sức, con cá ở tầm cao khiến ông lão phải huy động mọi ý chí, nghị lực, mưu trí và lòng dũng cảm. Sự dũng cảm của ông lão về đối thủ không nhuốm màu hằn thù mà là sự cảm kích, ngưỡng mộ, đôi khi pha chút tiếc nuối, ân hận vì hành động của mình. Vanmau.edu.vn
Hình ảnh ông lão trong cuộc chiến đấu với con cá kiếm được Hê – minh – uê miêu tả như thế nào trong đoạn trích Ông già và biển cả (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục 2008)
1,112
Hình ảnh “chú tôi” và “cậu cai” trong ca dao châm biếm Hướng dẫn 'Chú tôi”là một người đàn ông rất đặc biệt. Bốn chữ 'hay” giới thiệu cái nết 'chú tôi” là say sưa rượu chè. 'Hay tửu hay tăm” là nghiện rượu thích uống rượu ngon. 'Hay nước chè đặc” 'là nghiện chè, nghiện trà ngon. Người nồng dân vốn cần cù 'hai sương một nắng”, chân lấm tay bùn quanh năm, nhưng chú cái cò lại 'hay nằm ngủ trưa”, nghĩa là rất lười biếng: 'Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa” Những điều 'ước” của chú cái cò cũng rất lạ, ta ít thấy trong tâm lí, trong suy nghĩ của người nông dân xưa nay. 'Ước những ngày mưa” để khỏi phải ra đồng làm lụng. 'Ước những đêm thừa trống canh” để ngủ được đẫy giấc. Điều 'ước” của 'chú tôi” vừa kì quặc, vừa phi lí. Đêm chỉ có năm canh, làm sao có thể 'đêm thừa trống canh”. Chỉ thích ăn no ngủ kĩ mà lại rất lười biếng không muốn động chân mó tay vào bất cứ công việc gì, nên mới 'ước” như vậy: 'Ngày thì ước những ngày mưa, Đêm thì ước những đêm thừa trống canh” Giọng bài ca nhẹ nhàng mà bỡn cợt. Chú cái cò là hình ảnh người nông dân nghiện rượu chè, thích ăn no ngủ kĩ mà lại rất lười biếng. Đó là đối tượng châm biếm của dân gian được thể hiện một cách hóm hỉnh qua bài ca dao này. Xem thêm: Em hãy viết thư thuật lại một kỷ niệm vui cho bạn Có bài ca dao là bức chân dung biếm họa về 'cậu cai”. Không phải là ông cai, mà là 'cậu cai” vì vị chức sắc này còn rất trẻ, hay là cách nói ngọt mơn trớn để châm biếm? 'Nón dấu lông gà”là sắc phục tượng trưng cho uy quyền. 'Ngón tay đeo nhẫn” là biểu hiện cho sự sang trọng. Nhẫn vàng mười hay vàng MĨ-KÍ (vàng giả)? Chí bằng hai chi tiết về ngoại hình, về sắc phục, trang phục, nhà thơ dân gian đã 'điểm nhãn” về sự oai vệ và sang trọng của tên cai lệ nơi cửa quan ngày trước. Không phải là khen, là trầm trồ. Đã 'cậu cai” rồi lại nói tiếp 'gọi là cậu cai”, ngữ điệu, giọng điệu trở nên mơn trớn, châm biếm, giễu cợt: 'Cậu cai nón dấu lông gà, Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai” Vị thế của cậu, thân phận của cậu chí là tôi tớ của quan, hầu hạ vợ con con quan phụ mẫu. Ăn chực nằm chờ mãi mới được quan sai phái. Chữ 'ba năm” trong câu ca 'Ba năm dược một chuyến sai” là cách nói thậm xưng. Bề ngoài cậu cai có vẻ oai vệ, sang trọng, mỗi lần được quan sai phái đi ra ngoài cũng có áo quần Xênh xang, cỏ vẻ ta đây, nhưng thực chất là chi 'đi mượn”, 'đi thuê”. Câu cuối bài ca là một tiếng cười bật lên, con người thật của cậu cai đã bị lột trần, bị hạ bệ: 'Ba năm được một chuyến sai, Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê”. Nguồn: thêm: Tuần 15: Chính tả Buôn Chư Lênh đón cô giáo
Hình ảnh “chú tôi” và “cậu cai” trong ca dao châm biếm
548
Hóa thân thành con gà chọi để kể về cuộc đời mình Hướng dẫn Cuộc đời ai mà không có lúc thăng, lúc trầm, lúc đớn đau lúc hạnh phúc. Riêng tôi, cái thời oanh liệt, hãnh diện đã qua và chắc chẳng bao giờ quay lại. Mỗi lần nhắc lại chuyện xưa là tôi lại thấy mình nông nổi rồi lại thương cho số kiếp lênh đênh hiện tại. Tôi định sẽ chôn vùi kí ức ấy mãi mãi nhưng hôm nay tôi sẽ kể lại để các bạn có thêm một bài học về cuộc sống. Tôi sinh ra giữa lúc cả làng đang kháo nhau tìm gà chọi giỏi để mua. Mẹ tôi là một bà mái mơ lông vàng có đốm hoa trên đuôi và cánh, cha tôi là dòng dõi gà chọi nức tiếng trong vùng. Tôi sinh ra mang trên mình bộ lông màu vàng rực của mẹ và đôi chân trắng cứng cáp của cha. Tôi lớn lên nhờ những con giun, con dế sau hè vì nhà chủ tôi rất nghèo cũng chẳng cần đến dáng vẻ oai vệ của tôi. Nhiều lần soi mình trước dòng nước, tôi phải trầm trồ tự khen bản thân sao đẹp thế. Đôi màu đỏ chót lủng lẳng như ngọn cờ chiến thắng. Cái cánh to vỗ phành phạch khiến cho lũ gà chíp hôi hoảng sợ. Mỗi khi cất tiếng gáy là cả xóm gà đều ngưỡng mộ giọng thánh thót của tôi. Tôi lấy điều đó làm hãnh diện rồi đi nghênh ngang khắp nơi. Lần đó, có một cậu thanh niên đến nhà chủ tôi hỏi mua gà. Chủ tôi dắt cậu thanh niên ra sau vườn. Vừa nhìn thấy tôi cậu ấy đã reo lên “a, con gà chiến đây rồi!”. Thế là cậu ấy chẳng tiếc tiền mua tôi cho bằng được. Tôi được về nhà mới, một ngôi nhà rộng lớn, tôi chẳng quan tâm vì tôi có bao giờ đi hết khu vườn phía sau. Cậu chủ mới của tôi rất hào phóng, cậu mua cho tôi nhiều thức ăn ngon, tôi chẳng còn cực khổ bới giun nữa. Cậu bế tôi khoe khắp xóm và đấu trận đầu tiên của tôi khi vào nghề. Trong trận đấu ấy, đối thủ của tôi là một con gà mập mạp, có đôi chân to tướng và cái cổ thật cao. Cái dáng vẻ hung hăng của nó khiến tôi bực tức và quyết chí đánh gục nó. Vào trận, nó bắt đà thật xa và vươn một cú mạnh vào bụng tôi. Nhanh như cắt, tôi né sang một bên khiến hắn mất đà chúi đầu phía trước. Mặt hắn đỏ au, hắn ra chiêu độc, tôi đoán trúng và phản công. Hắn bị tôi đá ngay cạnh mạng sườn một cú thật đau. Tôi liên tiếp tung đòn khiến hắn bật ngã phía sau. Tiếng vỗ tay vang lên, cậu chủ tôi reo hò chiến thắng, tôi lấy làm hãnh diện cất tiếng gáy ò ó. Những ngày sau đó, tôi sống trong vinh quang khi liên tục thắng những trận lớn trong làng và ra cả làng bên cạnh. Nghe đến danh của tôi, ai ai cũng đều ngưỡng mộ. Cái thời oanh liệt của tôi bắt đầu nhanh chóng rồi cũng kết thúc chóng vánh. Giữa lúc thanh thiếu niên làng chúng tôi đang say sưa với những trò chơi truyền thống thì ở đầu làng, nhà ông tư Phú mới sắm sửa về cả chục chiếc máy vi tính. Tôi nghe bác chó Mực kể lại, bác chó mực vốn ở cho nhà của ông Phú cả chục năm rồi. Bác Mực nói với chúng tôi rằng cái máy vi tính ấy rất thần kì, chỉ cần gõ vào vài cái là cả thế giới hiện lên. Những cô cậu xóm tôi chẳng đứa nào thèm chơi banh đũa hay ô ăn quan nữa, chúng xúm lại để chơi game, xem phim, nghe nhạc…Cậu chủ tôi cũng thế, cậu chẳng còn ngó ngàng gì đến tôi. Số phận tôi hẩm hiu từ đấy. Có hôm nhìn thấy cậu chủ về đến nhà, tôi chạy ra cục tác ra bộ muốn được bế đi khắp xóm. Cậu chủ chẳng thương tiếc dùng chân đá tôi sang một bên rồi lớn tiếng “Mày cút khỏi mắt tao, hôm nay tao thua game đang buồn đây này”. Tôi lủi thủi ra vườn và than thở với lũ gà hàng xóm. Chúng cũng có hơn gì tôi đâu, chúng tôi rủ nhau bỏ trốn sang làng khác, biết đâu ở đấy người ta trọng dụng chúng tôi, chúng tôi sẽ được sống những ngày sung sướng. Nói là làm, đêm hôm ấy, tôi, gà Ô nhà cậu Toàn, gà Điều nhà bác Quý bỏ trốn. Chúng tôi đi mãi, đi mãi cũng đến làng bên. Thế nhưng lũ chó làng ấy chẳng dung chứa chúng tôi. Chúng hùa nhau cắn đuổi tôi. Tôi chạy thụt mạng mới thoát được móng vuốt của chúng. Khi hoàn hồn, tôi biết mình bị lạc ở một khu rừng hoang vắng, chỉ có tiếng chim rừng và bọn côn trùng kêu tỉ tê. Hai đứa bạn cùng trốn với tôi đã biến đâu mất. Tôi bơ vơ sống từng ngày, sáng đi tìm mồi cho qua bữa, tối về ngủ trong cái hốc cây to. Cũng may là tôi quen được mấy thím gà rừng để buôn chuyện đỡ buồn, nếu không chắc tôi chết già trong rừng này mất.Xem thêm: Về sự hóa thân của nhân vật Mị Châu trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy Cuộc đời tôi nhiều thăng trầm là thế. Giờ tôi cũng chẳng dám mơ đến việc trở lại thời huy hoàng ngày trước, tôi sợ lắm rồi sự phụ bạc của con người. Giá mà có kiếp sau được làm con người, tôi sẽ sống bằng chính sức lực của mình chứ không đợi chờ một ai nâng mình lên nữa.
Hóa thân thành con gà chọi để kể về cuộc đời mình
1,005
Hóa thân vào thanh gươm thần của Đức Long Quân, em hãy kể lại truyện “Sự tích Hồ Gươm” Gợi ý DÀN BÀI Mở bài: + Thanh gươm thần của Đức Long Quân tự giới thiệu. + Giới thiệu chuyện về Lê Lợi và Hồ Gươm. Thân bài: + Kể về tình hình nước ta khi bị giặc Minh giày xéo và cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi. + Chuyện Đức Long Quân và việc ngài phái gươm thần đi giúp nghĩa quân. + Chuyện lưỡi gươm thần hiện mình ba lần trong lưới của Lê Thận và chàng đã nhận được gươm. + Chuyện vỏ gươm hiện mình trong rừng và Lê Lợi nhận được. + (Gươm thần) bộc bạch về ý nghĩa của việc tự chia làm hai phần, hiện lên ở hai nơi. + Chuyện lưỡi gươm và vỏ gươm gặp nhau ở nhà Lê Thận. + Chuyện gươm thần giúp Lê Lợi và nghĩa quân đánh đuổi giặc Minh xâm lược. + Đất nước sạch bóng quân thù, gươm thần được vua yêu quý, trân trọng, luôn mang bên mình. + Chuyện vua đi dạo trên hồ Lục Thủy, Rùa Vàng nổi lên xin lại gươm thần; gươm thần cảm nhận được "thần khí" từ Rùa Vàng nên khi tay vua vừa rời khỏi gươm, gươm thần đã bay về phía Rùa Vàng, cả hai lặn xuống và trở về Thủy cung. Kết bài: + Gươm thần được Đức Long Quân khen ngợi. + Bày tỏ mong ước được sống trong hòa bình. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Top 10 website những bài văn mẫu hay lớp 10 mới nhất
Hóa thân vào thanh gươm thần của Đức Long Quân, em hãy kể lại truyện “Sự tích Hồ Gươm”
252
Hăy chứng minh rằng một trong những truyền thống, đạo lí đẹp của dán tộc Việt Nam là “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” Gợi ý Sống theo tư tưởng đạo lí tốt đẹp là một phần bản sắc của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể tự hào rằng, dân tộc Việt Nam có rất nhiều truyền thống đạo lí đẹp: yêu nước, thương nòi, giàu lòng nhân ái, lòng tự trọng, đoàn kết… Một trong số đó là nhớ ơn, biết ơn người có công, người đã khuất. Điều này được nhắc tới rất nhiều qua tục ngữ, ca dao. Tiêu biểu trong số đó là: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây và uống nước nhớ nguồn. Hai câu tục ngữ trên nhắc nhở chúng ta phải trân trọng, biết ơn những người đi trước đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương để đem lại thành quả tốt đẹp mà chúng ta đang được hưởng thụ hôm nay. Lòng biết ơn là biểu hiện của truyền thống coi trọng nghĩa nhân. Lòng biết ơn được nhắc tới trong mọi hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Nâng bát cơm trên tay, người ta khuyên nhau đừng quên sự vất vả, lam,lũ của người nông dân: Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần, uống ngụm nước mát lành giữa trưa hè oi bức, lại nhắc nhau phải nhớ nguồn. Nâng niu một trái chín mọng vừa hái trên cành, chớ quên công lao của kẻ trồng cây. Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’Tại sao lòng biết ơn lại được nhân dân ta trân trọng đặt lên hàng đầu như vậy? Bởi vì đó chính là tình cảm thiêng liêng của con người, là cơ sở của mọi hành động tốt đẹp ở đời. ông bà xưa nay đã dạy: ơn ai một chút chẳng quên… và lòng biết ơn phải được thể hiện qua lời nói, hành động, sự việc cụ thể hằng ngày. Trong mỗi gia đình, dù giàu hay nghèo khó đều có bàn thờ gia tiên. Dẫu chỉ nén nhang, chén nước nhưng con cháu gửi gắm vào đó tấm lòng thành kính tưởng nhớ tới công đức của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Có một mối quan hệ vô hình nhưng vô cùng khăng khít giữa các thế hệ với nhau. Người đã khuất dường như luôn có mặt bên cạnh người đang sống, tiếp thêm sức mạnh, nâng đỡ con cháu mình trên hành trình dài rộng của cuộc đời. Những người đang sống bày tỏ lòng biết ơn tiền nhân bằng cách gìn giữ, phát huy truyền thống để làm vẻ vang cho gia đình, dòng họ. Trải qua hơn bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải đương đầu với những kẻ thù xâm lược hung hãn, tàn bạo như Hán, Tống, Minh, Thanh rồi thực dân Pháp, phát xít Nhật và cuối cùng là đế quốc Mĩ. Bao nhiêu người đã ra đi không trở về, xương máu đã đổ xuống để bảo vệ chủ quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc. Trên khắp đất nước, đâu đâu cũng có những đền miếu, chùa chiền và đài tưởng niệm để ghi nhớ công ơn của những anh hùng liệt sĩ đã cống hiến và hi sinh cho Tổ quốc. Đền thờ các vua Hùng trên đất tổ Phong Châu, đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Tây, đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình, đền thờ các vị vua đời Trần có công ba lần đánh tan quân Nguyên Mông ở Nam Định, Quảng Ninh, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, đền Bến Dược ở Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nghĩa trang Trường Sơn ở Quảng Bình… và hàng ngàn nghĩa trang liệt sĩ quanh năm được nhân dân ta chăm sóc khói nhang với tấm lòng biết ơn vô hạn. Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về lời dạy của Bác Hồ đối với thanh niên: Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên. Một biểu hiện thiết thực nữa của lòng biết ơn là chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công với cách mạng. Biết bao bà mẹ Việt Nam anh hùng được cả nước tôn vinh, được các cơ quan, đoàn thể, trường học nhận phụng dưỡng để các mẹ yên hưởng tuổi già. Phong trào đền ơn đáp nghĩa nhân rộng khắp nơi. Những ngôi nhà tình nghĩa mọc lên từ miền xuôi cho đến miền ngược. Những đội quân tình nguyện ngày đêm miệt mài đi tìm hài cốt đồng đội ở các chiến trường xưa nơi rừng sâu núi thẳm để quy tập về nghĩa trang liệt sĩ hoặc đưa các anh về với mảnh đất quê hương… Đó là biểu hiện sinh động của đạo lí uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây của nhân dân ta. Ngoài ra, còn nhiều hình thức khác như bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng, nhà truyền thống… luôn nhắc nhở mọi người phải sống sao cho xứng đáng với truyền thống bất khuất, hào hùng của dân tộc; nhắc nhở các thế hệ sau không phải chỉ biết hưởng thụ mà còn phải có nhiệm vụ giữ gìn vun đắp và phát triển các thành quả lao động, chiến đấu cho các thế hệ trước tạo dựng nên. Có thể khẳng định rằng lòng biết ơn là nền tảng của đạo lí, là thước đo phẩm chất, đạo đức của mỗi con người. Nhận thức được điều đó, chúng ta sẽ sống tốt hơn, có ích hơn cho gia đình và xã hội. Tuy vậy, lòng biết ơn không phải tự nhiên mà có bởi nó là kết quả của cả một quá trình rèn luyện, tu dưỡng lâu dài, có khi suốt cả cuộc đời và ngay từ bây giờ, chúng ta, bằng những việc làm vừa sức, hãy thể hiện nét đẹp vốn có của con người việt Nam: uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về KinhVanmau.edu.vn
Hăy chứng minh rằng một trong những truyền thống, đạo lí đẹp của dán tộc Việt Nam là “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”
1,067
Hướng dẫn làm thể loại văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em Hướng dẫn 1. Ngữ liệu cần chú ý khi sử dụng trong văn biểu cảm về mẹ a. Từ ngữ: Dưới đây là một số từ ngữ có thể sử dụng trong bài viết của đề. -Yêu quý, yêu thương, kính trọng; – Cuộc sống lam lũ, vất vả, khó nhọc, “Một nắng hai sương”. – Âm thầm, chịu đựng, bền bỉ, dẻo dai, hi sinh thầm lặng,… – Kính yêu, tự hào, biết ơn,… b. Hình ảnh: – Hình dáng, mái tóc, khuôn mặt, đôi tay, nụ cười, giọng nói,… – Hình ảnh mẹ lo lắng, chăm sóc khi con bị ôm. – Niềm hạnh phúc của mẹ khi con trưởng thành. – Mẹ luôn lo lắng, vun đắp cho cả gia đình. c. Nhân vật: – Người kể xưng “tôi”. – Người mẹ. – Người bố. 2. Gợi ý cách lập dàn ý bài văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em 2.1. Gợi ý cách làm bài văn – Đây là dạng đề văn biểu cảm có kết hợp các yếu tố miêu tả, tự sự nên trong quá trình làm bài, ngoài việc chú ý các nội dung chính của câu chuyện, người viết cần chú ý sử dụng đan xen các yếu tố liên tưởng, tưởng tượng, suy ngẫm một cách hợp lí nhằm tạo dược sự hấp dẫn, sinh động cho bài văn của mình. Với nội dung của bài viết cần xác định rõ bố cục, sắp xếp ý hợp lí. 2.2. Hướng dẫn lập dàn ý bài văn * Mở bài: Giới thiệu về người mẹ kính yêu và tình cảm của em đối với mẹ. * Thân bài: Những tình cảm và kỉ niệm về người mẹ kính yêu. – Hình ảnh người mẹ kính yêu: hình dáng, mái tóc, nụ cười, ánh mắt… với những lo lắng, lam lũ, nhọc nhằn trong cuộc sống của mẹ. – Tình cảm của mẹ: sinh thành, yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ, sự lo lắng khi con bị bệnh,… – Niềm vui, niềm hạnh phúc của mẹ khi các con trưởng thành. – Sự vun vén khéo léo, chăm sóc cho gia dinh khi bố đi làm xa. – Tình cảm của con: yêu thương, kính trọng, hứa hẹn,… (Chú ý dưa các yếu tố tự sự, miêu tả đan xen để khơi gợi cảm xúc hợp lí) * Kết bài: Tình cảm của em dành cho mẹ như thế nào? – Mẹ mãi là chỗ dựa vững chắc của con. – Dẫu con có trưởng thành, đi xa, nhưng con không bao giờ quên tình yêu thương, sự chăm sóc tận tình của mẹ và con vẫn luôn nhớ về mẹ. 3. Mẫu bài văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em BÀI VĂN 1 Ai cũng có một người mẹ để được yêu thương và để ta yêu thương. Trong cuộc đời bạn hay tôi, có mẹ, được mẹ yêu và yêu mẹ là niềm hạnh phúc vô bờ. Bởi thế mỗi khi nhắc đến mẹ, nhớ về mẹ, kể về mẹ là lòng tôi tràn ngập cảm giác bâng khuâng. Mẹ tôi không đẹp xét về ngoại hình. Mẹ tôi cũng không phải là người học rộng, tài cao. Xét tận cùng những thứ ấy ở mẹ tôi đều ồ mức bình thường, nghĩa là mẹ tôi có thể lẫn vào vô số những người phụ nữ mà ta bắt gặp hằng ngày trong cuộc sống. Nhưng với tôi, mẹ vẫn đẹp, vẫn “trên mức bình thường” bởi trái tim và tình yêu mẹ giành cho tôi là bất tận. Đến tận bây giờ sau 13 năm được làm con của mẹ tôi vẫn thấy đó là điều may mắn, hạnh phúc lớn nhất mà cuộc đời tặng cho tôi. Ký ức về những ngày bé tẻo teo tôi không lưu giữ được gì, nhưng cứ nhìn cái cách mẹ chăm bẫm em Tít tôi lại tưởng tượng về những ngày bé tẹo ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn hỏi mẹ: “Ngày xưa mẹ cũng bế con thế này à, ngày xưa mẹ cũng ru con thế à? Ngày xưa mẹ cũng… và lần nào cũng nhận được câu trả lời “Hơn em Tít nhiều vì lúc ấy mẹ mới chỉ có mình con thôi”. Tôi nghe không biết bao nhiêu lần câu trả lời của mẹ và cũng không bao giờ chán câu trả lời ấy. Tôi sung sướng vì dược mẹ yêu và cũng yêu mẹ nhất trên đời. Lớn lên một chút, kí ức đã cho tôi lưu giữ kỉ niệm. Nhớ nhất là buổi đầu tiên đến trường mầm non. Vốn là một con bé còi cọc ốm yếu nên 5 tuổi tôi mới bắt đầu làm quen với lớp mẫu giáo, sáng mai ấy, mẹ đưa tôi đến trường, nắm tay tôi vào lớp. Nhìn thấy cô giáo, thấy các bạn đều lạ tôi quay lại, ôm chầm lấy mẹ khóc nhè vì sợ. An ủi, dỗ dành, động viên, cuối cùng mẹ cũng giúp tôi làm quen với cô và các bạn, tự tin đến trường, không còn khóc nhè mỗi buổi sáng. Rồi tháng năm trôi, tôi lớn lên, từ cô bé lớp Một hay làm mất bút chì, tôi lên lớp Sáu tôi vào học trường chuyên. Trường học xa nhà, tôi không thể tự đi học. Mẹ lại thêm một nỗi vất vả đưa đón tôi mỗi ngày. Thấy mẹ tất bật, có lúc tôi đã đòi mẹ chuyển về trường nhà. Nhưng hơn hết, mẹ giúp tôi hiểu nỗi vất vả của mẹ sẽ chẳng là gì để con mình được học hành đến nơi đến chốn. Cảm giác nghẹn ngào, tồi lại thấy mình thật may mắn khi được làm con của mẹ. Vậy mà có lúc tôi vẫn lười học, ham chơi, không nhường nhịn em. Tôi không hiểu hết nỗi lòng mẹ, tôi làm mẹ buồn. Xem thêm: Cảm nhận của em về vấn đề kỷ luật trong học đườngMẹ yêu thương tôi hết mực nhưng cũng là người nghiêm khắc trong việc dạy dỗ con cái. Lúc nhỏ, mẹ rèn giũa từ lời ăn, tiếng nói, câu chào, từng việc nhỏ nhặt như bỏ cái muỗng vào bát canh ra sao, đi dép không được kéo lê trong nhà thế nào. Rồi mẹ dạy tôi đi chợ, nấu cơm… Bây giờ mỗi khi đến môn công nghệ, học nấu ăn là tôi có dịp để trổ tài với các bạn trong lớp và thường được cô giáo cho điểm mười. Lúc ấy tôi lại thầm nhủ: “cồng của mẹ đấy”. Cả những việc lớn hơn trong cuộc sống như phải biết tự lập, tự trọng, không ỷ lại,… Mồi ngày qua di, tôi càng thấu hiểu lòng mẹ. Để chị em tôi khoẻ mạnh, hạnh phúc, lớn khôn mẹ phải đổi những đêm trắng. Bước chân nhẹ nhàng và bàn tay mát dịu mỗi khi chị em tôi bị sốt. Tôi đã bất chợt thức giấc và biết mẹ ngồi cả đêm khi em Tí sốt. Mẹ không dám ghé lưng nằm vì sợ mệt quá thiếp đi lỡ em sốt cao, Chợt hiểu một con bé bé nhỏ hay ốm yếu là tôi đã lấy đi của mẹ bao nhiêu đêm không ngon giấc. Mẹ cho tôi thật nhiều. Bây giờ thì tôi đã hiểu. Nhưng tôi chưa báo đáp gì cho mẹ. Kể cả lời yêu thương tôi cũng chưa biết bày tỏ mỗi ngày. Nhưng hơn hết tôi hiểu rằng mình may mắn, hạnh phúc. Tôi chỉ biết thầm hứa – lời hứa của một đứa con chưa lớn nhưng không còn bé dại là phải học thật chăm để mẹ vui lòng và ước mẹ mãi mãi bên tôi. ***** BÀI VĂN 2 “Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi. Và mẹ em chỉ có một trên đời…”. Những câu hát vừa quen thuộc, vừa thân thương đã đi sâu vào tâm hồn con từ những ngày còn thơ dại. Đối với con, mẹ là chỗ dựa vững chắc để con thắp sáng niềm tin vào cuộc đời, vào một tương lai tốt đẹp. Chính mẹ đã giúp con vượt qua khó khăn trong cuộc sống, đã đưa con vững bước đi lên. Thật sự, mẹ luôn à trong trái tim con. Có thể mẹ không xinh đẹp và tài giỏi như những người phụ nữ khác nhưng trong lòng con, mẹ là người phụ nữ tuyệt vời nhất, là người mẹ đảm đang nhất. Mẹ sớm tối làm việc để kiếm tiền nuôi con. Con đã quen với dáng người cao cao, gầy gầy của mẹ. Mẹ bị bệnh á sừng. Mỗi lần thời tiết hanh khô là những vết nứt trên tay lại toác ra, rớm máu. Con không đếm được đã bao lần mẹ bôi thuốc, nhưng chẳng lành. Tại mẹ làm việc vất vả. Đôi tay ấy ngày ngày giặt giũ, cơm nước cho ba bố con con. Cũng chính nó làm lụng, may vá để kiếm tiền nuôi con ăn học. Đôi bàn tay còn vỗ về con, tết tóc cho con, dắt con đi trên con đường rộng lớn. Những vết toác trên tay mẹ như nhưng dấu vết của nhiều cơ cực mà mẹ đã trải qua. Con biết trong cuộc đời mẹ đã từng có những khổ đau, mất mát rất lớn (bà ngoại mất từ khi mẹ lên chín), nhưng con chưa bao giờ thấy mẹ than vãn cả. Mẹ luôn nở nụ cười hiền hậu, luôn ở bên con lúc con vui nhất, luôn vỗ về nhưng lúc con cảm thấy tuyệt vọng. Mẹ luồn dặn dò con đủ mọi thứ. Mẹ rất quan tâm đến con và chưa lần nào rời mắt khỏi con cả. Nhưng dâu phải lúc nào con cũng nghe lời mẹ, điều đó đã làm cho mẹ phiền lòng… Hôm nay trời bỗng nổi mưa rất to. Lòng con lại xôn xao nhớ về kỉ niệm của năm năm trước. Mẹ ơi, mẹ có nhớ không? Chuyện ấy xảy ra khi con mới lên tám tuổi. Sáng hôm đó, trời nổi cơn giông vào lúc con đi học. Đã gần đến giờ vào lớp mà mưa vẫn chưa ngớt, mẹ lo lắng nhìn con. Mẹ khoác áo mưa cho con, rồi dặn đi dặn lại không được hấp tấp vội vàng. Con nhanh chóng vâng dạ qua loa cho xong chuyện, Cái bóng bé nhỏ của con vội mất hút trong con phố ngập tràn nước mưa. Mưa vẫn cứ lì lợm rơi. Từng giọt từng giọt lộp độp xuống đất rồi vỡ tan ra. Bong bóng đầy đường. Con đường con đi học lầy lội làm sao. Và thời gian chẳng chờ ai cả, con ngước nhìn đồng hồ và hốt hoảng. Còn năm phút nữa là vào học. Con chạy vội trên con đường khá trơn và bị ngã, Con thấy đau nhói, ở chỗ khuỷu tay sưng to như quả trứng vịt. Cả người bê bết bùn đất. Thế nhưng mưa vẫn cứ rơi, mọi người vẫn đi lại bình thường mà không đoái hoài đến con, cho dù con cảm thấy mình đau ê ẩm. Cố gượng dậy và đi về nhà, con chỉ sợ mẹ sẽ mắng. Nhưng mẹ không mắng con. Mẹ lo cuống cả lên, đưa con đến bệnh viện. Và con phải bó bột vì gãy tay. Ngày tháo bột, bác sĩ bảo có thể con sẽ bị liệt cả cánh tay. Nước mắt mẹ giàn giụa. Mẹ khóc suốt đêm đó. Ngày hôm sau, con thấy mắt mẹ trũng xuống. Làm mọi thứ mẹ đều không tập trung. Không khí trong gia đình ảm đạm đến đáng sợ. Nhưng mấy hôm sau, con không thấy mẹ như vậy nữa. Mẹ chạy đôn đáo khắp nơi tìm thầy thuốc. Lúc thì mẹ dẫn con đến các ông thầy lang, lúc thì mẹ đưa con lên những phòng khám đông ních người. Và chưa dừng lại ở dó, mẹ kiên trì bắt con nâng nước, gập duỗi tay. Hằng đêm, ước khi đi ngủ, mẹ lại xoa nắn tay con hàng giờ. Tháng ngằy trôi qua, một năm sau, tay con dần hồi phục. Thật như một phép màu. Con cứ nghĩ sẽ chẳng còn hi vọng, nhưng tình yêu của mẹ đã làm được điều đó. Phải chăng Thượng Đế đã rủ lòng thương, ban cho con một ngọn nến trong tối tăm, mù mịt, cho con một nguồn ánh sáng hi vọng tuyệt vời. Đó là mẹ. Và con hiểu, con không được mắc thêm lỗi lầm nào nữa… Bỗng đồng hồ điểm tám tiếng và mưa đã bắt đầu ngớt. Trời hửng nắng. Mấy giò phong lan trước cửa đung đưa. Tâm hồn con trở về thực tại. Một bàn tay vuốt nhẹ lên mái đầu con. Đó là bàn tay của mẹ. Quay đầu lại, con đã thấy dáng mẹ thân thương đứng bên bàn học. Con bỗng nhận ra tóc mẹ có thêm sợi bạc. Thời gian trôi nhanh quá. Con không còn là một con bé ương bướng và nghịch ngợm, chỉ thích cãi lời mẹ nữa. Con đã khôn lớn. Giờ đây con phải cố gắng học thật giỏi, luôn chăm chỉ việc nhà để cho mẹ – người luôn sống mãi trong lòng con – bớt khổ, để tay mẹ bớt đau, để mẹ nở nụ cười hanh phúc như chùm lan đang ngào ngạt toả hương trước hiên nhà. ***** Nguồn: thêm: Quan niệm về tình bạn qua bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn làm thể loại văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em
2,230
Đề bài: Hướng dẫn phân tích tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải Hướng dẫn Yêu cầu về kỹ năng, phương pháp – Học sinh cần nắm vững phương pháp, kỹ năng phân tích tác phẩm trữ tình. – Bài viết có bố cục cân đối, hợp lý. Diễn đạt trôi chảy, có hình ảnh, bộc lộ cảm xúc… Biết sử dụng hiệu quả các thao tác bình, so sánh đối chiếu trong quá trình phân tích. – Phải có phần phát biểu cảm nghĩ: Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về một lối sống đẹp, sống có ích? Tuy nhiên thí sinh có hai cách giải quyết: Các em có thể lồng suy nghĩ của mình khi phân tích ý thơ: Mùa xuân và tâm niệm của nhà thơ; hay các em có thể chuyển thành một phần riêng sau khi đã phân tích toàn bộ bài thơ. * Yêu cầu về nội dung: Nội dung chính: Bài thơ được viết tháng 11.1980, khoảng 1 tháng sau thì nhà thơ qua đời. Bài thơ là khúc ca xuân, là tấm lòng tha thiết, gắn bó của Thanh Hải đối với đất nước, cách mạng. Các em có thể dựa vào 3 ý sau để phân tích: 1/ Mùa xuân của thiên nhiên, đất trời: – Miêu tả theo lối phác hoạ nhưng nhà thơ vẽ ra được cả không gian gợi cảm vô cùng, màu sắc tươi thắm, âm thanh vang vọng rộn ràng, tươi vui. – Cảm xúc say sưa ngây ngất của nhà thơ được diễn tả đa dạng và tập trung nhiều ở chi tiết tạo hình “Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng” Xem thêm: Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy có một khổ thơ như sau: "Trăng... mình." Phút thoáng giật mình của tác giả có phải cũng là phút thoáng giật mình của người đọc? Viết đoạn văn phân tích khổ thơ để làm rõ ý kiến của em2/ Mùa xuân của đất nước và cách mạng: Từ mùa xuân của thiên nhiên chuyển sang cảm nhận về mùa xuân đất nước, cách mạng với hình ảnh “lộc non” gắn liền với hình ảnh người chiến sĩ và người nông dân đều trào dâng sức sống mãnh liệt, tự tin với tương lai xán lạn rộng mở (Đất nước như vì sao…) 3/ Tâm niệm của nhà thơ: – Nhà thơ khéo chọn vẻ đẹp của thiên nhiên để thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, ước nguyện nung nấu của chính mình. Đấy cũng là những hình ảnh đơn sơ, nhỏ bé (con chim hót, một nhành hoa, nốt trầm…) nhưng giàu sức gợi, thể hiện vẻ đẹp cao quý của tâm hồn, lối sống của con người cách mạng. Và nghệ thuật điệp ngữ, sự chuyển đổi đại từ “tôi” sang “ta” cũng góp phần làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa bài thơ. -“Mùa xuân nho nhỏ” là một ý thơ hay, vừa thể hiện sự khiêm tốn đồng thời cũng là ý nguyện được sống có ích được cống hiến một phần công sức nhiệt huyết của mình trong việc làm nên mùa xuân rộng lớn của đất nước xã hội. – Đoạn kết bài thơ nghe nhẹ nhàng lan tỏa mà sâu lắng bởi làn điệu dân ca xứ Huế, tỏ rõ niềm tin yêu lạc quan của Thanh Hải – người con xứ Huế. 4. Phát biểu nhận thức, suy nghĩ của bản thân: * Gợi ý: – Lối sống đẹp là biết phục vụ, cống hiến, hy sinh vì người khác, vì đồng bào, vì quê hương đất nước thân yêu. – Sống có mục đích, ước mơ, lý tưởng cao đẹp. – Luôn trau dồi tri thức, rèn luyện nhân cách, đạo đức để trở thành công dân tốt, có ích cho quê hương đất nước. – Tuổi trẻ cần tránh xa những tệ nạn xã hội, đến với những hoạt động vui chơi lành mạnh, bổ ích… Nguồn Edufly Xem thêm: Em có cho rằng: Phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết? Hãy viết bài văn nêu ý kiến của em về vấn đề này
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
691
Hướng dẫn soạn bài văn bản Hướng dẫn 1. Tìm hiểu đặc điểm của văn bản qua đoạn văn: Giữa cơ thể và môi trường có ảnh hưởng qua lại với nhau. Môi trường có ảnh hưởng đến mọi đặc tính của cơ thể. Chỉ cần so sánh những lá mọc trong các môi trường khác nhau là thấy rõ điều đó. Để thực hiện những nhiệm vụ thứ yếu hoặc do ảnh hưởng của môi trường, lá mọc trong không khí có thể biến thành tua cuốn như ở cây đậu Hà Lan, hay tua móc có gai bám vào trụ leo như ở cây mây. Ở những miền khô ráo, lá có thể biến thành gai giảm bớt sự thoát hơi nước như ở cây xương rồng hay dày lên và chứa nhiều nước như ở cây lá bỏng. a) Có thể coi đoạn văn như­ một văn bản nhỏ bởi: – Đoạn văn trên có một chủ đề thống nhất với ý khái quát là: giữa cơ thể và môi trư­ờng có ảnh hư­ởng qua lại với nhau. – Các câu tiếp theo của đoạn văn là các câu khai triển ý của chủ đề. Các câu này đ­ã ra những dẫn chứng cụ thể về quan hệ của lá cây với môi trư­ờng trong việc duy trì sức sống của cây. b) Dựa vào nội dung ở dưới chúng ta có thể đặt tiêu đề cho văn bản là: Cơ thể và môi trư­ờng hoặc Sự ảnh hư­ởng của môi trư­ờng đến cơ thể sống,…Xem thêm: Em hãy phát biểu về nhân vật Bốp và Entơni ở đoạn trích “Cứu bạn” trong tác phẩm “Hãy để ngày ấy lụi tàn” của Giêrơn Gođơn (Văn 6, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996) 2. Xác định những nội dung của một đơn xin phép nghỉ học: Đơn xin phép nghỉ học chính là làm một văn bản. Văn bản này gồm đầy đủ các nội dung sau: – Trước hết là đối tượng hướng đến của người viết đơn. Đơn thư­ờng gửi cho giáo viên chủ nhiệm lớp (hoặc có thể cho Ban Giám hiệu nhà trư­ờng nếu thời gian nghỉ học quá dài). Ngư­ời viết đơn thư­ờng là học sinh hoặc sinh viên. – Mục đích của việc viết đơn là: báo cáo việc nghỉ học và xin phép đư­ợc nghỉ học. – Nội dung cơ bản của đơn th­ường có: + Tên họ của ngư­ời viết đơn. + Nêu lí do nghỉ học. + Thời gian xin nghỉ học (bao lâu?) + Lời hứa thực hiện đầy đủ các công việc học tập trong thời gian nghỉ học. – Kết cấu của đơn (xem mẫu sau): (1) Quốc hiệu (2) Ngày, tháng, năm viết đơn (3) Tên đơn (4) Họ tên, địa chỉ ngư­ời nhận. (5) Họ tên, địa chỉ lớp của người viết đơn. (6) Nội dung đơn (lí do nghỉ học, thời gian xin nghỉ, lời hứa) (7) Kí và ghi rõ họ tên Viết một lá đơn: CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Ngày 16 tháng 01 năm 2015 ĐƠN XIN NGHỈ HỌC Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 10 A1, Trường THPT Dương Xá Tên em là: Nguyễn Quang Vinh, học sinh lớp 10 A1.Xem thêm: Kể về một thầy giáo mà em quý mến Em xin trình bày với cô một việc như sau: Hôm nay, thứ 2 ngày 16 tháng 01 năm 2015, em bị cảm không thể đi học được. Em làm đơn này kính xin cô cho em nghỉ buổi học hôm nay. Em xin hứa sẽ thực hiện việc chép bài và học bài nghiêm túc và đầy đủ. Học sinh Nguyễn Quang Vinh 3. Sắp xếp các câu thành văn bản Tháng 10 năm 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời Chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Phần đầu bài thơ tái hiện một giai đoạn gian khổ, vẻ vang của Cách mạng và Kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người. Phần sau nói lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hoà bình tươi sáng của đất nước và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn của Bác Hồ, của Đảng đối với dân tộc. “Việt Bắc” là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Có thể đặt cho văn bản trên tiêu đề là: Hoàn cảnh ra đời bài thơ "Việt Bắc", hoặc Giới thiệu bài thơ "Việt Bắc". 4. Viết tiếp câu để hoàn tạo thành văn bảnXem thêm: Kể lại một việc tốt mà em (hoặc bạn) đã làm. Môi trường sống của con người đang bị hủy hoại do chính những hành động vô ý thức của con người. Hàng năm có hàng triệu tấn rác thải không phân hủy bị vứt bừa bãi khắp nơi làm tắc cống rãnh và giết chết các loài sinh vật. Những cánh rừng ở đầu nguồn cũng dần vắng bóng khiến cho nạn lũ lụt, lở đất ngày càng hoành hành dữ dội hơn. Ở trên cao, bầu không khí của chúng ta cũng chịu chung số phận. Khí thải từ các nhà máy, các khu công nghiệp xả ra quá mức làm cho tấm lá chắn bảo vệ trái đất của chúng ta (tầng ôzôn) cũng đứng trư­ớc nguy cơ không còn giá trị. – Có thể đặt tên cho văn bản là: Chúng ta đang hủy hoại cuộc sống của chính mình. 5. Với những kiến thức về văn bản, tự kiểm tra lại bài làm văn số 1 của mình. Chú ý xem lại bài làm văn số 1 về các phư­ơng diện: chữ viết, từ ngữ, câu, kết cấu đoạn, bài, các ý,… Sau đó sửa chữa những sai sót (nếu có). Nguồn:
Hướng dẫn soạn bài văn bản
984
Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp”… Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó (Yêu cầu viết một bài văn) Gợi ý Đề bài: Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp” do Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát động, chi đoàn lớp 10A1 tổ chức hội thảo với chủ đề: Hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp. Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó (Yêu cầu viết một bài văn) Bài làm: Con người bao giờ cũng sống trong một môi trường nhất định. Môi trường ấy ban đầu có thể tốt, nhưng do không biết bảo vệ nên trở thành xấu. Ngược lại, có khi môi trường xấu, nhưng biết cách cải tạo, bồi đắp, gìữ gìn lại trở nên tốt. Vai trò của con người trong việc bảo vệ môi trường để sống là rất quan trọng. Chính vì thế, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã đề ra phong trào Hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp. Vì sao phải xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp? Môi trường là nơi con người sống, làm việc, hoạt động được tạo nên bằng hai yếu tố: thiên nhiên và con người. Thiên nhiên gồm bầu trời, không khí, rừng núi, sông biển, thảo nguyên, cánh đồng và nhất là cây xanh. Thiên nhiên đó nhờ con người mà tốt hơn lên hoặc xấu đi. Vì vậy, phải xây dựng một môi trường lí tưởng để sống. Môi trường ấy gồm ba chữ: xanh, sạch, đẹp. Một môi trường lí tưởng trước hết phải là một môi trường xanh. Đây là chiếc nôi xanh của cây cối xung quanh ta, được ví như “lá phổi của hành tinh”, như “cái máy điều hòa khí hậu vĩ đại” của chúng ta. Cây xanh làm cho khí hậu điều hòa mát mẻ, lọc khí độc trong không khí, hấp thụ thán khí và cung cấp dưỡng khí, cản bụi đường, làm hàng rào cách li tiếng động, tạo ra cho con người một môi trường sống thoải mái, dễ chịu, hợp vệ sinh.Xem thêm: “Cuộc đời mất đi tình bạn, thế giới mất đi mặt trời” (Cicero) Môi trường xanh ấy đồng thời phải là môi trường sạch và đẹp. Sạch ở đây là hợp vệ sinh, không có rác rưởi, vật ô uế như xác chết động vật, đặc biệt là các chất phế thải công nghiệp như nước thải và khí thải gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sông của con người. Còn đẹp vốn là một nhu cầu trong cuộc sống mà ai cũng có. Một môi trường đẹp sẽ tác động mạnh đến tâm lí con người khiến họ yêu đời, ham sông hơn và nhất là thích thú, gắn bó với môi trường đẹp ấy. Chính vì môi trường đẹp mà con người sống tốt hơn. Ba yếu tố xanh, sạch, đẹp liên quan gắn bó với nhau để tạo ra một môi trường sống lí tưởng. Nếu có cây cối xanh xung quanh mà không khí và nguồn nước vẫn bị ô nhiễm thi “cái nôi xanh” ấy cũng chẳng có giá trị gì. Ngược lại, có những nơi rất sạch và đẹp nhưng lại thiếu màu xanh của cây côì thì cái “sạch” và “đẹp” ấy cũng khó lòng làm cho cuộc sống tốt hơn. Cho nên xây dựng một môi trường sông tốt đẹp là phải có đủ ba yếu tố xanh, sạch, đẹp. Môi trường ấy không chỉ đảm bảo sức khỏe mà còn làm cho con người thoải mái để sông tốt hơn và làm việc có hiệu quả cao hơn. Đối chiếu với ba yêu cầu xanh, sạch, đẹp trên đây, nhìn lại thực tiễn của trường hiện nay, chúng ta thấy gì? Do hoàn cảnh khách quan, chúng ta chỉ mới thực hiện được hai yêu cầu sạch, đẹp, còn yêu cầu xanh mới đạt được bước đầu. Những đợt tổng vệ sinh hằng tuần với khẩu hiệu “không vứt rác trên sân trường”, “không vẽ bậy trên tường”,… đã làm cho trường sạch sẽ, tinh tươm như khoác lên mình một tấm áo mới. Những lôĩ đi rải sỏi, xếp gạch nghiêng hai bên như trong công viên, những vườn hoa, những luông hoa khoe màu rực rỡ và hai hồ sen nhỏ tỏa hương thơm ngát đã tạo nên vẻ đẹp thanh tú đáng yêu cho trường. Nhưng còn màu xanh, cái màu xanh mát mắt mát lòng của quê hương Việt Nam thì vẫn chưa in bóng trên khu trường bởi trường mới được xây dựng từ hai năm nay trên một vùng đất trông cạnh làng. Nhà trường đã phát động mỗi lớp trồng 20 cây xanh xung quanh trường và trên sân trường, đến nay cây đã cao bằng đầu người. 30 lớp của ba khối 10, 11, 12, nếu cây sống cả thì đã có 600 cây. Và chỉ dăm năm sau, trường sẽ có một “vành đai xanh” bao quanh và thế hệ đàn em chúng ta sẽ được học tập vui chơi trong “chiếc nôi xanh” như một cái máy điều hòa khí hậu của thiên nhiên mà chính chúng ta đã gieo trồng, chăm sóc từ ngày bước vào ngôi trường này.Xem thêm: Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có rất nhiều bài ca dao mở đầu bằng: "Thân em như... " Anh (chị) hãy cho biết tác dụng của cách mở đầu ấy Trên cơ sở những kết quả bước đầu đã đạt được, chúng ta sẽ tiếp tục những việc làm đó một cách bền bỉ, thường xuyên với một tinh thần trách nhiệm cao hơn, nhất là với một ý thức rõ ràng Hãy vì môi trường xanh, sạch, đẹp để làm cho ngôi trường thân yêu mãi mãi rợp bóng cây xanh và tỏa hương thơm ngát từ những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Vanmau.edu.vn
Hưởng ứng đợt thi đua “Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp”… Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó (Yêu cầu viết một bài văn)
993
Hạnh phúc là đấu tranh (C.Mác) Gợi ý Hạnh phúc, một cảm nhận sâu lắng nhất của cả trái tim và lý trí. Rất bình yên bởi nó giản dị chân thành, rất vĩ đại bởi chính bản thân giá trị của Hạnh phúc. Bạn đã từng làm bài văn giải thích câu nói: Hạnh phúc là đấu tranh? Tôi đã tôn rất nhiều suy nghĩ khi đó mà bài văn cũng chẳng được điểm cao. Đến khi trải nghiệm cuộc đời, tôi mới thấm thía: Hạnh phúc là đấu tranh. Mà đấu tranh để chiến thắng được chính bản thân mình là cuộc đấu tranh khó khăn nhất để giành được hạnh phúc trọn vẹn. Trong cuộc sống, ai cũng đã từng nói mình được hạnh phúc. Có người bảo hạnh phúc là khi ta có được những gì mình ao ước, những gì mình mong muốn và những gì mình thích. Nhưng cũng có những người nói hạnh phúc là khi ta đau khổ chờ đợi một điều gì, chờ đợi điều gì là hạnh phúc, điều gì mang đến cho ta hạnh phúc. Nhưng có người lại nói: Hạnh phúc là khi ta có một việc gì đó để làm, có một người để yêu, có một điều gì đó để hi vọng, một điều gì đó để ước mơ… Nhưng đâu ai hiểu Hạnh phúc là đấu tranh như c. Mác đã từng nói với con gái. Vậy Hạnh phúc là gì? Câu hỏi này quả thật khó trả lời. Mới đầu nghe thì thật đơn giản nhưng khi ta trả lời thì nó lại quá mông lung và thật khó định hình, bởi lẽ hạnh phúc với mỗi người là khác nhau và ít ai có thể định nghĩa chính xác được hạnh phúc. Từ điển định nghĩa: Hạnh phúc có nghĩa là sự sung sướng đẩy đủ. Đối với nhiều người, hạnh phúc là thứ gì cao xa khó đạt tới. Không chỉ những người bị khiếm khuyết một phương diện nào đó trong cuộc sống nên cảm thấy mình bất hạnh, ngay cả nhiều người có cuộc sống tương đối vẹn toàn: nhà cao cửa rộng, tiền bạc dư dả… cũng không thấy hạnh phúc vì họ còn mong có thêm và thêm nữa. Ngược lại có nhiều người hạnh phúc đốì với họ rất đơn sơ. Với nhiều người lắm lúc hạnh phúc lớn lao như vừa đạt được một điều gì đó rất lớn trong cuộc sống nhưng có lúc hạnh phúc rất đỗi bình dị… như một tách trà ấm giữa đêm đông giá lạnh hay một bàn tay nhẹ lau khô những giọt nước mắt đang ngấn dài trên má. Hạnh phúc là vậy, đến bất ngờ và ra đi cũng thật nhanh chóng khiến cho người ta luôn có cảm giác hụt hẫng để rồi cái phút giây hạnh phúc ngắn ngủi đó trở thành một kỉ niệm thật khó quên… Có những khi hạnh phúc đến bất chợt, không biết trước mà khi ta kịp nhận ra thì ta đã là “người hạnh phúc" rồi.Xem thêm: Phân tích hai phần đầu bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn TrãiHạnh phúc mang đến cho người có nó cái cảm giác lâng lâng khó tả, nghẹn ngào không thốt nổi lên lời, không một ngôn từ hay bút mực nào có thể tả được, nó để lại trong lòng "chủ nhân" một ấn tượng khó phai. Nó có thể xoa dịu cả những nỗi đau tột cùng nhất nhưng thường chỉ mang tính ngắn ngủi không gian và thời gian. Nhưng có khi hạnh phúc lại là được tìm tòi, và cố gắng để có được nó. Riêng với tôi, hạnh phúc là khi bé được mẹ cho quà, khi lớn lên được cắp sách tới trường và được dạo bước trên con phố nhỏ ngắm nhìn từng hạt mưa rơi để rồi chờ đợi một điều gì mong manh, sâu thẳm; là khi ta đi xa, ta nhận được thư từ bè bạn và người thân; là khi ta cô đơn ta chẳng riêng lẻ một mình; là khi ta có niềm tin vươn tới những ước mơ, những gì mình đặt ra, những hoài bão của tuổi trẻ. Hạnh phúc thật mong manh nhưng cũng là vô tận. Bạn đã bao giờ nhìn thấy hình ảnh những cụ già trong viện dưỡng lão? Họ hạnh phúc biết bao khi có người đến trò chuyện cùng mình. Là những em nhỏ, ánh mắt ngời lên vì hạnh phúc khi nhận được quà bánh. Với mỗi người nghèo, hạnh phúc của họ là có đủ tiền để chi trả cho ngày hôm nay và không phải lo nghĩ ngày mai sẽ ra sao. Hay hạnh phúc là những người thân xa nhau giờ được gặp lại như chương trình Như chưa hề có cuộc chia ly đã từng đưa. Qua chương trình ấy ta cảm nhận được niềm hạnh phúc, nỗi vui mừng và cả những giọt nước mắt xúc động đến nghẹn ngào của họ. Hạnh phúc đôi khi thật đơn giản, là những gì ta đã nắm giữ trong tay, những gì ta đã mong muốn và có được. Hạnh phúc là thế, còn Đấu tranh là gì? Tại sao ta lại phải đấu tranh cho hạnh phúc? Theo từ điển, Đấu tranh là sự chống lại để bảo vệ hoặc giành lấy thứ mà mình mong muốn.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài ca dao: Thuyền ơi có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền Vậy tại sao ta phải đấu tranh cho hạnh phúc? Ta phải đấu tranh cho hạnh phúc vì sao ư? Bởi từ khi sinh ra, con người đã bị sắp sẵn vào những hoàn cảnh khác nhau mà mình không hề mong muốn. Có người thì giàu, có người nghèo, có người thì ốm đau, có người mạnh khoẻ… Tất cả dường như là sự an bài của thượng đế, dù muôn dù không ta vẫn phải chịu mặc dù ta có ước mơ, hoài bão. Tuy nhiên, con người là người chứ không phải cỏ cây hay vật vô tri vô giác để rồi chịu khuât phục sự an bài đó. Chính vì vậy con người dám dấn thân đấu tranh để mong muôn đạt tới ước mơ của mình là con người hạnh phúc. Chúng ta đã không phải là thực vật, chúng ta đã không cúi đầu chấp nhận hoàn cảnh, chúng ta đã dám đấu tranh cải tạo cái hoàn cảnh éo le của mình, chúng ta mong muôn vươn lên, mong muốn sống tốt. Trong mỗi chúng ta đều có một người anh hùng đấu tranh, có điều chúng ta có chịu lắng nghe, có dám hành động theo người anh hùng đó không mà thôi! Khi ta nghe theo người anh hùng ấy mà dám vươn tới cái mong muốn, cái hoài bão của mình để rồi đạt được hạnh phúc ấy, khi đó thì người này quả là hạnh phúc. Có người bảo, đấu tranh mà không thành công, thất bại còn đắng cay hơn không đấu tranh, nên cúi đầu sống âm thầm, bản thân an lành là quan trọng, nhà của mình an lành là quan trọng, của cải của mình an lành là quan trọng… Có câu nói Hãy sợ những kể dửng dưng lãnh đạm, họ không giết anh, không phản anh nhưng chính là nhờ sự im lặng đồng tình của họ mà trên Trái Đất này mới còn chuyện giết người và phản bội. Nếu như ngày xưa đất nước chúng ta không vùng lên đấu tranh giành lại hoà bình để mọi người được sống trong hạnh phúc thì sao giờ đây chúng ta lại có cuộc sống tốt như thế này? Nếu những người lính không đấu tranh vì hạnh phúc của gia đình mình, đất nước ta giờ phút này liệu có yên bình hay không? Hạnh phúc là đấu tranh và nó cũng mang lại một hạnh phúc trọn vẹn, nhưng nếu bạn cứ gắn hạnh phúc của bạn với đấu tranh, hoặc nghĩ chỉ có đấu tranh mới mang lại hạnh phúc cho bạn thì sẽ mệt mỏi đấy. Bởi nếu nghĩ vậy, bỗng dưng bạn tự mang cho mình một gánh nặng. Mình nghĩ bạn có thể nhìn vào một khía cạnh nhỏ hơn, những gì xung quanh bạn, nơi bạn có thể tìm ra những hạnh phúc dù rất nhỏ nhưng thật đáng nhớ và ý nghĩa, những điều đó không cần phải đấu tranh, hoặc chứa cần phải đấu tranh, chỉ là liệu bạn có hài lòng với nó không mà thôi. Chúng ta có thể nhận cái hạnh phúc nhỏ để dần hướng tới cái hạnh phúc lớn hơn. Đừng mải đấu tranh tìm kiếm một hạnh phúc lớn mà lại bỏ qua những hạnh phúc rất nhỏ bên cạnh.Xem thêm: Học như bơi thuyền ngược nước, Không tiến sẽ phải lùi. Anh (chị) nghĩ gì về câu này Hãy hạnh phúc ngay bây giờ! Chúng ta luôn tự thuyết phục mình rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn sau khi: kết hôn, có con, có công việc ổn định và có một ngôi nhà mới. Sau đó, chúng ta lại thất vọng khi những đứa con chậm lớn còn mình thì không đạt được những điều từng mong muốn. Sự thật thì: thời gian tốt nhất để tận hưởng hạnh phúc chính là hiện tại chứ không phải tương lai! Bởi nếu không phải hiện tại thì khi nào?… Cuộc sống của bạn luôn luôn đầy ắp những thách thức. Bạn phải thừa nhận điều này và từ đó chuẩn bị cho mình một cuộc sống hạnh phúc. Hãy đánh giá cao mỗi khoảnh khắc bạn có và đánh giá cao hớn nữa bởi vì bạn chia sẻ nó với một số người đặc biệt đủ đặc biệt để bạn dành thời gian với họ… Và nhớ rằng thời gian không chờ ai! Vì thế mà hãy dừng việc chờ đợi …cho đến khi bạn có một ngôi nhà …cho đến khi bạn có một chiếc xe hay một công việc mới …cho đến khi bạn quay lại trường học …cho đến khi bạn… giảm đi vài cân …cho đến khi bạn hoàn thành chương trình học ở trường …cho đến khi bạn kết hôn …cho đến khi bạn ly hôn …cho đến khi bạn có con …cho đến khi những đứa con của bạn rời khỏi gia đình …cho đến khi bạn nghỉ hưu …cho đến mùa hè …rồi lại mùa thu …mùa đông …mùa xuân …và cho đến khi bạn không còn gì nữa! Không có thời gian nào tốt hơn bây giờ để hạnh phúc. Hãy tin rằng bạn hạnh phúc vào ngay ngày hôm nay! Hãy nhìn vào mặt tốt của thế giới qua những đôi mắt và nụ cười. Vanmau.edu.vn
Hạnh phúc là đấu tranh (C.Mác)
1,799
Đề bài: Nghị luận câu Hạnh phúc nằm trong bản lĩnh sống Con người khác con vật ở chỗ nó dự phần quyết định vào việc tạo dựng nên nhân cách của nó.Chính vì vậy,một nhà triết học có nói:"Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì mà nó có.Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả.Nó phải làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy và nó phải tự làm bằng chính tự do của nó.Tôi chỉ có thể trở thành kẻ do chính tôi làm ra"… Câu nói trên chẳng những nêu bật sự khác nhau giữa con người à con vật mà còn nhấn mạnh tới vai trò con người trong việc hình thành nhân cách của mình. Thật vậy, mỗi con vật khi sinh ra đều đã là tất cả nhửng gì mà nó có.Điều đó có nghĩa lâ con vật được sinh ra như thế nào thì nó sẽ lớn lên như thế ấy.Một con chó sói được sinh ra thì sẽ trở thành con chó sói, một con chim sẽ thành chim. Dĩ nhiên phải có thời gian để con chó sói trưởng thành, tự kiếm ăn và tự vệ,để con chim được lớn,mở mắt biết bay đi kiếm mồi.Nhưng qua thời gian đó,con sói và con chim trưởng thành vẫn chỉ là con vật được quy định trong bộ gen của no.Con vật được sinh ra trong trạng thái đã tự đấy đủ. Con người thì khác hẳn, khi sinh ra tự nó không đầy đủ, không là gì cả. Một em bé sơ sinh đang oa oa chào đời,tự em không thể sống được nếu thiếu sự chăm sóc,bú mớm đùm bọc cùa người mẹ.Em sẽ không trở thành người được nếu không biết nói,biết đọc,biết viết,biết giao tiếp với cộng đồng. Em sẽ không có chỗ đứng trong xã hội nếu em không có một nghề nghiệp nào đó.Rồi em có thể có được mộ nghề nào không,em trở thanh người tốt hay xấu,chưa ai có thể quả quyết được.vậy là con người,do khi lọt lòng tự nó không đầy đủ,cho nên mỗi người sinh ra đều mang theo một nhiệm vụ, hãy trỡ thành một con người! Ai chịu trách nhiệm làm cho một con người trở thành CON NGƯỜI? Xã hội hay cá nhân? Tại sao nhà triết học nói con người làm như thế nào thì nó sẽ trở thành như thế ấy, như vậy có coi nhẹ điều kiện xã hội hay không? Có quá coi trọng vai trò chủ thể cá nhân hay không? Xét về điều kiện, thì gia đình và xã hội là điều kiện để con người trở thành con người.Cha mẹ cho bú mớm, nuôi nấng,dạy dỗ. Xã hội cung cấp trường học.sách vở,kiến thức,ngành nhề.các điều kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng. thử tưởng tượng một con người sinh ra trong một gia đình nghèo túng, ăn không đủ no lại phải làm việc để sống thì sẽ như thế nào? Lại tưởng tượng một người sinh ra trong một gia đình giàu có, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt và học tập thì thế nào? Nếu một con người ở nơi hẻo lánh,xa trung tâm văn hoá,thiếu trường sở,ít giao lưu thì thế nào? Một người khác ở thàh phố lớn,nhiều trường tốt,có nhiều thầy giỏi thì sẽ ra sao? Xem thêm: Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của Tố HữuRõ ràng điều kiện tốt là rất thuận lợi và điều kiện xấu là hết sức khó khăn.nhưng điều kiện không thể quyết định tât cả.nhiều người xuất thân gnehò hèn lại có ý chí vươn lên.Ở đây,hoạt động tích cực,chủ động sáng tạo của môi người vẫn là yếu tố quyết định sử dụng điều kiện như thế nào.khi nói tôi sáng tạo ra tối, tôi tự làm ra chính tôi, không có nghĩa là tôi muốn trở thành cái gì cũng được. Một người mà không có giọng hát trời phú thì không thể trở thành danh ca; một người không có thể chất tốt không thể trở thành vận động viên triển vọng…Nhưng khi đã có một số đã có một số điều kiện nào đó thì việc phát huy điều kiện tốt, khắc phục điều kiện xấu phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của cá nhân có điều kiện ấy. Con người làm như thế nào thì nó sẽ được trở thành như thế ấy. Đúng như vậy,con người được tự do lựa chọn để tự thực hiện mình theo một lý tưởng nhất định. Nhà sư Tuệ Tĩnh đi tu, nhưng ông tự học để trở thành một nhà thuốc vĩ đại của dân tộc. Ông Tư Mã Thiên đời Hán bị nhục hình, nhưng ông chu du khắp nước,thu thập tài liệu để hoàn thành bộ Sử kí nổi tiếng…Lỗ Tấn đã tốt nghiệp trường khai mỏ, nhưng niềm băn khoăn cho số phận dân tộc dẫn ông đến nghề văn. Pasteur thi đỗ trường sư phạm, nhưng niềm say mê hoá học làm ông dồ sức vào môn khoa học này và cuối cùng và cuối cùng trở thành nhà bác học về vi trùng và phòng dịch vĩ đại. Ngay trước cái chết, con người vẫn có cơ hội để khẳng định mình. Câu nói của Trần Bình Trọng “ Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn Vương đất Bắc” đã khích lệ bao nhiêu thế hệ người Việt Nam yêu nước. Anh Nguyễn Ngọc Kí liệt cả hai tay vẫn học viết bằng chân… Lịch sử cũng cho thấy có nhiều gương lầm lạc, tuy có những điều kiện tốt đẹp nhưng con người đã tự làm hỏng đời mình. Rõ ràng dù điều kiện hoàn cảnh có vai trò quyết định như thế nào con người vẫn chịu trách nhiệm trước nhân cách của mình. Hiểu được điều này mỗi người cần thấy hết trách nhiệm của mình trước cuộc đời mình trong từng hành động lớn nhỏ. Trước mỗi con người, con người mở ra muôn ngã, con người có thể chọn một nghề phù hợp với khả năng sở trường của mình. Nhưng khà năng sở trường của con người chỉ có thể thực sự phát huy khi nó gắn liền với mục đích cao đẹp; phục vụ con người,phục vụ xã hội và nhân loại. Không phải ai cũng hiểu được trách nhiệm của mình đối với cuộc đời cùa mình. Gặp khó khăn trắc trở người ta thường than thở, viện ra nào hoàn cảnh nào số phận rồi buông xuôi gặp sao hay vậy. Nhưng tư tưởng đúng đắn thì cho thấy ngoài hoàn cảnh, yếu tố quyết định số phận mỗi người là chính người đó. Nguồn Edufly Xem thêm: Suy nghĩ gì về quan niệm “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”
Hạnh phúc nằm trong bản lĩnh sống
1,155
Hạnh phúc và tiền bạc Gợi ý Là học sinh, sinh viên, thế hệ trẻ chúng ta cần làm gì để làm chủ được tiền tài và hạnh phúc? Trong cuộc sống, con người luôn đặt ra rất nhiều mục tiêu phấn đấu. về cơ bản, giá trị luôn khiến con người theo đuổi nhiều nhất là tiền tài và hạnh phúc. Phải nhận diện về chúng như thế nào cho hợp lí, đó cũng là một điều đáng để chúng ta bàn luận. Về bản chất, tiền tài và hạnh phúc là hai phạm trù được quy chiếu bởi những hệ giá trị khác nhau. Tiền tài là cách gọi chung cho của cải và danh lợi. Nó thuộc giá trị vật chất, là những thứ có thể cân đo, đong đếm, có thể ước lượng, định vị. Hạnh phúc là thứ vô hình, không thể cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan thông thường. Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc viên mãn nhất, đẹp đẽ nhất, tuyệt vời nhất mà con người cảm thấy ở những hoàn’cảnh nhất định. Nói một cách hình ảnh và tương đối trừu tượng thì tiền tài gắn với cái cá nhân nhiều hơn trong khi hạnh phúc hướng tới phạm vi lớn hơn (gia đình). Mỗi thời đại xã hội có quan niệm riêng về tiền tài và hạnh phúc. Xã hội phong kiến rất mực coi trọng tiền tài, danh vọng ở đấng nam nhi. Hạnh phúc là khi trang nam tử công thành danh toại, có ngày vinh quy bái tổ; làm rạng danh họ hàng. Xã hội tư bản coi trọng yếu tố tiền hơn, tài chỉ là phương tiện để giai cấp tư sạn đi đến mục đích íỉền. Vậy nên hạnh phúc được đo bằng những giá trị vật chất… Ớ thời đại hiện đại, khi con người không ngừng hướng tới cuộc sống tốt đẹp toàn diện, tiền tài và hạnh phúc là hai mục tiêu lớn nhất, quan trọng nhất, chúng không tách biệt nhau mà cùng hỗ trợ nhau tồn tại và phát triển. Con người sống hạnh phúc phải là con người khẳng định được vị thế của mình trong xã hội, đảm bảo cho mình được cuộc sống sung túc và ngược lại, những giá trị vật chất là phương tiện hỗ trợ đắc. dụng để con người duy trì hạnh phúc của mình.Xem thêm: Qua những lời thơ Thuật hoài (tỏ lòng), anh (chị) thấy hình ảnh trưng nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì với thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai Vậy tiền tài và hạnh phúc có quan hệ với nhau như thế nào? Đâu là nhân tố quyết định, đâu là nhân tố quan trọng? Làm gì để cân bằng, hài hoà giữa chúng? Trả lời những câu hỏi này, mỗi người sẽ tự đưa ra cho mình một ý kiến riêng. Dưới đây, chúng tôi cũng chỉ trình bày những suy nghĩ mang tính chất cá nhân. Ớ chiều tác động thứ nhất, tiền tài là một trong những điều kiện xây dựng, duy trì hạnh phúc. Điều này có cơ sở từ triết học duy vật biện chứng. Theo Mac- Lênin, “vật chất quyết định ý thức”. Theo đó, không có của cải, không có chỗ đứng trong xã hội, rất khó có được hạnh phúc trọn vẹn. Một gia đình túng đói, quanh năm thiếu ãn, con cái thất học không phải là một gia đình hạnh phúc. Những câu chuyện của Nam Cao là những bức tranh chân thực nhất về cuộc sống nghèo khổ của người dân lao động Việt Nam trước Cách mạng. Ngay cả gia đình thầy giáo Thứ, thầy giáo San (.Sống mòn), cả gia đình bé Hồng (Bài học quét nhà)- những gia đình có người trí thức làm chủ cũng không có được hạnh phúc trọn vẹn. Nguyên do nằm ở sự thiếu thốn về vật chất (tiền). Nhưng chúng ta lí giải thế nào khi vẫn có những gia đình hạnh phúc dù nghèo đói, cơ cực? Điển hình trong văn chương là gia đình chị Dậu (Tắt đèn- Ngô Tết Tố). Còn trong đời sống thực, chắc chắn, bên cạnh chúng ta có không ít những gia đình như thế. Thực tế mà nói, mỗi người có thấy mình hạnh phúc hay không là do quan niệm. Có người con hiếu thảo thấy mình hạnh phúc nhất là khi đêm về không còn tiếng mẹ ho (“Hạnh phúc là đêm về không có tiếng mẹ ho"). Có người cho hạnh phúc nhất là khi được thây các con mình ăn no (nhân vật người đàn bà miền biển trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu). Trong khó khăn, gian khổ, khi con người vẫn tìm thấy chất thơ ở đời thì dù vất vả, cơ cực đến đâu, họ vẫn thấy hạnh phúc.Xem thêm: Anh (chị) có cảm nhận gì về linh hồn sông nước quê hương trong bài Tràng giang của nhà thơ Huy Cận Lại có trường hợp khi tiền tài viên mãn cũng là lúc hạnh phúc “đội nón” ra đi. Điều này dễ xảy ra ở những người quá ham mê công danh, có quá nhiều tham vọng trong cuộc sống. Trong thâm tâm, chắc hẳn họ luôn nghĩ rằng, họ đã mang về bao nhiêu tiền bạc, danh tiếng. Họ lấy chúng thay cho những cử chỉ săn sóc ân cần với người thân của mình. Kết quả là những cụ già không thể sống được với các con trên thành phố, dù điều kiện sống của chúng gấp bội lần ở quê. Kết quả là những đứa con bê trề học hành, sinh ra nghiện ngập, đua đòi theo bạn bè xấu, những người vợ phải tìm đến một bến nương tựa tinh thần khác vì có người cha, người chồng của mình quá vô tâm. Hạnh phúc sẽ không tròn đầy như lẽ ra nó đáng được thế. Tuy nhiên, xét đến cùng có tiền tải, cơ hội hạnh phúc đến với mọi người sẽ rộng mở hơn. Có tiền tài, hạnh phúc sẽ đầy đặn, tròn trịa hơn. Ớ chiều tác động ngược lại, chúng ta sẽ thấy hạnh phúc là yếu tố kích thích để con người nhanh chóng đạt được tiền tài. Gia đình hạnh phúc là nền tảng vững chắc để mỗi thành viên yên tâm phấn đấu trong lĩnh vực sự nghiệp của mình. Đằng sau thành công của mỗi con người, thường là sự hậu thuẫn của một gia đình yên ấm. Người cha mẫu mực và người mẹ hết lòng yêu thương con là điểm tựa vững chắc để hồn thơ Tố Hữu chắp cánh bay vào cuộc đời rộng lớn: “Rồi bỗng hôm nào tôi thấy tôi.”.. Không ngẫu nhiên khi hàng năm trên thế giới vẫn chọn ra những cặp vợ chồng hạnh phúc nhất. Nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, cựu tổng thống Mĩ Bill Clinton và phu nhân Hillary Clioton cách đây vài năm liên tục được bầu chọn là cặp vợ chồng hạnh phúc thứ ba. Và phải chăng, hạnh phúc gia đình chính là bệ đỡ vững chãi nhất cho những thành công trên chính trường của hai nhân vật nổi tiếng này?Xem thêm: Thơ Xuân Quỳnh in đậm vẻ đẹp nữ tính, là tiếng nói của một tâm hồn giàu trắc ẩn, hồn hậu, chân thực và luôn luôn da diết trong khát vọng về một hạnh phúc đời thường Cũng không ít trường hợp con người có hạnh phúc nhưng không có tiền tài. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những con người ít có tham vọng, ưa an phận. Họ tìm hạnh phúc trong những điều nhỏ nhặt xung quanh. Họ coi tiền tài là thứ phù phiếm. Họ xa lánh danh vọng, rời xa những bon chen trong cuộc sống dù có thể thực lực của họ rất đáng trọng. Tiêu biểu cho tuýp người này là những nhà ẩn dật, những người sống lánh mình. Những người này thường có tâm hồn thanh tao. Hạnh phúc với họ là có khi là thú điền viên, có khi là lúc được khề khà “chén rượu, cuộc cà”. Vậy giữa íiển tài và hạnh phúc, đâu mới là hạt nhân của cuộc sống? Tôi cho rằng tiền tài là thứ quan trọng để chúng ta đi tới mục đích tối thượng của mỗi con người – đó là hạnh phúc. Hạnh phúc mới là điều quyết định ý nghĩa cuộc sống. Nhưng làm thế nào để luôn giữ được sự cân bằng hài hoà giữa tiền tài và hạnh phúc? Làm được điều đó, mỗi người nên tự đặt ra những mục tiêu nhất định trong sự nghiệp, nỗ lực hấn đấu để đạt được mục tiêu đó. Mặt khác, hãy cố gắng tìm cho mình những điểm tựa về tinh thần, càng nhiều càng tốt. Cuối cùng, dù kết quả có thế nào, chúng ta vẫn vui vé chấp nhận và nhanh chóng trở về với những hạnh phúc mình đang có. Thời đại nào, tiền tài và hạnh phúc cũng là vấn đề nóng hổi. Có khi chúng mâu thuẫn với nhau và điều đó có thể dẫn tới bi kịch như tấm gương Nguyễn Trãi. Nhưng cũng có khi chúng hài hoà, cân bằng nhau. Thế hệ trẻ Việt Nam ưa phiêu lưu và chiếm lĩnh cần tạo lập cho mình một bản lĩnh vững vàng để có thể tiến xa, làm chủ tiền tài, hạnh phúc. Vanmau.edu.vn
Hạnh phúc và tiền bạc
1,602
Hảy tả con vẹt mà em được biết Bài làm Vẹt là loài vật rất dễ thương và có khả năng bắt chước tiếng người rất giỏi, để tả loài vật này một cách đơn giản và dễ dàng nhất, các em có thể tham khảo bài viết văn mẫu tả con vẹt dưới đây…. Con vẹt nhiều màu sắc Nhân dịp sinh nhật lần thứ 10 của em, bố tặng em một chú vẹt rất xinh với bộ cánh xanh mượt mà, óng ả. Em thích lắm, lúc nào cũng quấn quýt bên chú, nhìn ngắm mãi không thôi. Chú vẹt của em thuộc giống “Vẹt cầu vồng”. Nó có cái đầu nhỏ nhắn, bộ lông rực rỡ như cầu vồng. Đôi mắt của chú to, đen láy, tròn như hạt nhãn, bao quanh mắt là một vòng tròn nhỏ màu trắng nhìn như cặp kính cận. Chú có cái mỏ cong, khoằm, màu đỏ đất hướng về trước nhìn rất lạ, khác hẳn với mỏ của những loài chim khác. Chú vẹt em nuôi rất nghịch ngợm, không bao giờ chịu ngồi yên lặng một chỗ. Suốt ngày chú ta đi đi lại lại trong chuồng, không thì lại nhảy lên nhảy xuống không yên. Cái đầu lúc nghiêng sang trái, lúc nghiêng sang phải hóng chuyện. Mỗi khi nhìn thấy người, nó lại đập đôi cánh dài của mình như biểu lộ sự vui mừng. Xem thêm: Con trai có phải cũng dễ yếu mềm
Hảy tả con vẹt mà em được biết
242
Hịch là gì? Viết đoạn văn nêu đặc điểm của thể hịch trong đó có sử dụng một câu phủ định Gợi ý Hịch là một thể văn thư cổ mà các tướng lĩnh, vua chúa hoặc người thủ lĩnh một tổ chức, một phong trào dùng để kêu gọi cổ vũ mọi người hăng hái chiến đấu tiêu diệt kẻ thù. Như vây, hịch không phải là thể văn được sử dụng thông dụng trong thời bình như chiếu, phú, tấu, sở… về hình thức, hịch thường được viết theo lối văn tứ lục, cũng có khi viết bằng văn xuôi hay thơ lục bát. Một bài hịch thường được cấu trúc theo ba phần chính: Phần đầu nêu lên một nguyên lí đạo đức hay chính trị làm cơ sở tư tưởng, lí luận; phần giữa nêu thực trạng đáng chú ý (thường là kể tội kẻ thù); phần cuối nêu giải pháp và lời kêu gọi chiến đấu. Vanmau.edu.vn
Hịch là gì_ Viết đoạn văn nêu đặc điểm của thể hịch trong đó có sử dụng một câu phủ định
159
Học như bơi thuyền ngược nước, Không tiến sẽ phải lùi. Anh (chị) nghĩ gì về câu này Gợi ý Đã bao giờ bạn nhìn một con thuyền bơi ngược nước trên sông? Người lái phải gò mình sải cánh bơi mạnh mái chèo thì con thuyền mới tiến lên được. Nếu dừng tay chèo thì con thuyền không đứng lại mà lùi theo dòng nước chảy mạnh. Sự học cũng như vậy, có khác gì việc bơi thuyền ngược nước, không tiến sẽ phải lùi. Có người nghĩ rằng việc học là dễ dàng và đơn giản. Cứ cắp sách đến trường, nghe thầy giảng, thu nhận kiến thức và đọc thêm trong sách vở là hoàn tất việc học. Có người lại kì công mời thầy giỏi đến tận nhà dạy riêng cho con mình, tưởng như thế con sẽ giỏi, sẽ thành tài. Nghĩ như vậy là chưa hiểu hết bản chất của việc học. Học cũng gian khổ như bơi thuyền ngược nước. Con thuyền phải đối mặt với dòng nước chảy ngược lại, liệu có dễ dàng đủ sức mạnh để vượt qua thử thách ấy không? Và quan trọng nhất là có đủ kiên trì để chiến thắng nó không? Bởi dòng nước thì lúc nào cũng chảy, còn con thuyền chỉ cần lơ là một chút (ngừng tay chèo) là có thể không tiến lên được mà ngược lại phải lùi lại ngay theo sức nước chảy. Việc học cũng gian nan và đầy thử thách như thế. Không tiến sẽ phải lùi. Đó chính là bản chất và quy luật của việc học đối với tất cả mọi người, không trừ riêng ai.Xem thêm: Nghị luận văn học - Âm nhạc và cuộc sống Học là một hoạt động khám phá và sáng tạo của con người, bao gồm hai khâu chủ yếu: Khám phá, tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức của nhân loại thành tri thức của mình (thu nhận kiến thức) rồi vận dụng kiến thức đó vào cuộc sông để biến thành kiến thức mới (vận dụng và sáng tạo kiến thức mới). Hiểu như vậy thì việc học không đơn giản chút nào, trái lại rất khó khăn và gian khổ. Nguyễn Cư Trinh từng nói: “Có một chữ mà nghĩ ba năm chưa xong, giảng ngàn năm chưa hết”. Còn Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thì tâm niệm: “Xem một câu, phải suy ra trăm câu; thấy một việc đời, phải ngẫm ra trăm việc. Có thế học mới hay”. Ớ phương Tây, nhờ khổ luyện học vẽ trứng gà mấy chục ngày liền theo cách dạy của thầy Vê-rô-ki-ô mà về sau Lê-ô-na dơ Van-xi đã trở thành danh họa nổi tiếng thời Phục Hưng. Không khổ luyện, không kiên trì, không quyết tâm thì làm sao thu nhận được kiến thức và rèn luyện được kĩ năng, nói chi đến việc sáng tạo, phát minh – cái đích cao nhất mà việc học phải vươn tới? Đó chính là lúc người học “ngừng tay chèo” và “con thuyền học tập” sẽ lùi lại theo dòng nước chảy. Dòng nước chảy chỉ là quy luật khách quan, ở đây yếu tô’ chủ quan của người học mới là điều quyết định. Chẳng thế mà, ngày xưa, Cao Bá Quát đã buộc búi tóc lên xà nhà để học, Châu Trí đã quét lá đa đốt lửa lên mà học… Và ngày nay, hẳn không thiếu những con người tật nguyền đã vượt qua dòng nước chảy để đưa “con thuyền học tập” tiến lên đến bờ bến vinh quang, đạt tới đỉnh cao của tri thức và sáng tạo, như Nguyễn Ngọc Kí bị liệt cả hai tay, phải tập viết bằng chân mà vẫn tốt nghiệp đại học; các vận động viên khuyết tật điều khiển xe lăn bằng tay mà đạt huy chương vàng…Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật tên quan phủ trọng truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn Bản chất của việc học là gian khổ nhưng cũng là sáng tạo để chiếm lĩnh thành trì tri thức của nhân loại. Còn thực chất của việc học là sự vươn lên để chiến thắng bản thân mình như người chèo thuyền ngược nước chiến thắng dòng sông. Không chiến thắng được bản thân thì không thể học thành tài được. Cho nên phẩm chất quan trọng trước tiên của việc học là phải kiên trì và quyết tâm, không bao giờ thối chí nản lòng. Nhưng kiên trì phải đi đôi với say mê và sáng tạo thì mới làm cho việc học hưng phấn, thích thú và đạt kết quả tốt. Việc học là suốt đời, không ngừng, không nghỉ, giông như người đi đến “chân trời kiến thức”, đến được chân trời này thì lại mở ra chân trời khác, cứ thế mà đi tới. “Hiểu biết là ngọn nguồn chảy mãi, cơn khát không hút cạn được nó và nó cũng không bao giờ giải xong cơn khát” (F. Ruc-ke). Tấm gương say mê học tập của các nhà khoa học trên thế giới như Các Mác, Ăng-ghen, Anh-xtanh, Niu-tơn, Ma-ri Quy-ri… cho ta thấy chính sức mạnh của “cơn khát kiến thức” đã tạo nên những thiên tài của nhân loại, và ở đây, ngọn lửa của niềm say mê, sáng tạo đã tôi luyện thêm lòng kiên trì và quyết tâm của họ trên con đường khám phá, chiếm lĩnh và phát minh kiến thức mới cho loài người. Bản chất của việc học và bí quyết thành công của việc học cũng là như vậy.Xem thêm: Phân tích bài ca dao Làng ta phong cảnh hữu tình Dĩ nhiên trong việc học còn có phương pháp học tập sao cho tốt, cho có hiệu quả, tức là phải biết cách chèo thuyền để vượt lên được dòng nước ngược. Nhưng quan trọng nhất là có can đảm chèo thuyền hay không và có kiên trì quyết tâm chèo con – thuyền – học – tập ấy trong suốt cuộc đời mình để đến được bến bờ vinh quang không? Bởi trong thực tế, biết bao người đã buông tay chèo giữa dòng để mặc cho con thuyền lùi lại. Và ngay cả học sinh sinh viên — mà nhiệm vụ trung tâm là học tập – vẫn còn không ít người như thế. Thật đáng buồn thay! Học như vậy thì khi bước chân vào cánh cửa cuộc đời sẽ thế nào đây? Ý nghĩa triết lí sâu xa của câu ngạn ngữ chắc không chỉ dừng lại ở việc học tập của con người! Vanmau.edu.vn
Học như bơi thuyền ngược nước, Không tiến sẽ phải lùi. Anh (chị) nghĩ gì về câu này
1,112
Học tập là công việc vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với người học sinh. Em có suy nghĩ gì về công việc này của học sinh thời nay? Gợi ý Công việc học tập đang từng ngày được xã hội hoá, nhà nhà học tập, người người học tập. Nhưng đến với công việc này, mỗi người có một cách thức học tập, một mục đích học tập khác nhau. Vậy cần nhìn nhận vấn đề học tập ngày nay như thế nào? Học tập là một quá trình dài, là một cách để con người tiếp cận tri thức, nâng cao trình độ, mở mang trí óc để khám phá những điều hay lẽ phải. Học là việc cần thiết suốt đời bởi tri thức nhân loại là một kho tàng vô cùng phong phú, nó như biển cả mênh mông mà sự hiểu biêt của con người lại có hạn. Đâu phải chỉ cần thời gian mà con người có thể hiểu biết được mọi điều trong cuộc sống. Con người ta khi sinh ra, chưa có hiểu biết về cuộc sống, chưa biết làm gì cả, vì vậy phải học từ việc nhỏ nhất, đơn giản nhất trở đi. Lớn lên đến trường phải học đọc, học viết, học những kiến thức tự nhiên và xã hội để trang bị cho mình những trí thức cần thiết trong cuộc sống nhằm giúp mình sau này có thể làm việc tốt bởi trẻ mà không học thì sẽ rất khó để chúng ta có thể vào đời một cách vững vàng. Khi trưởng thành lại cần phải học. Những kiến thức ta được học trong trường không chỉ là nền tảng cơ bản trong cuộc sống, khi bắt tay vào công việc thường nảy sinh ra nhiều vấn đề. Để giải quyết được ta phải tự học, tự nâng cao kiến thức. Hiện nay trình độ khoa học kỹ thuật, văn hoá tri thức ngày càng phát triển, càng có nhu cầu đòi hỏi cao đối với con người. Nếu chúng ta ngừng học tập thì sẽ bị lạc hậu, tụt lùi, không đảm đương được các công việc được giao, không hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Không ngừng học tập thì mới trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội. Ngày nay, mỗi con người đều có cách học riêng của mình. Nhiều bạn rất chăm chỉ, cần cù và giành được những thành công lớn. Đã có biết bao những bạn học sinh đạt thành tích cao trong học tập. Họ luôn lấy gương các vị danh nhân, các bậc cha anh đi trước để noi gương theo. Như Lênin với câu nói "Học, học nữa, học mãi" hay nhà bác học Đácuyn lừng danh cũng nói rằng: "Bác học không có nghĩa là ngừng học". Học tập là một yếu tố quan trọng, không những giúp cho chính bản thân mỗi học sinh chúng ta có một tương lai tốt đẹp mà còn giúp cho đất nước ngày một giàu mạnh. Có câu danh ngôn: Đường đời là một chiếc thang không có nấc chót và việc học là một quyển sách không có trang cuối cùng". Vì thế học sẽ không bao giờ là đủ và học tập là một việc vô cùng cần thiết đối với cuộc sống ngày càng phát triển như hiện nay.Xem thêm: Nhất nghệ tĩnh, nhất thân vinh Ai ơi phải quý nghề mình mới nên Tuy nhiên vẫn có không ít những bạn học sinh mải chơi quên học, hoặc nếu có cũng chỉ là học vẹt, học đối phó. Đó quả thực là những hành động hết sức sai lầm. Các bạn hãy đến với những em nhỏ lang thang, hãy nhìn những khuôn mặt nhỏ bé, những đôi mắt thơ ngây luôn ao ước được một lần cắp sách tới trường như bao bạn nhỏ khác. Lúc đó các bạn sẽ nghĩ sao? Chúng ta được may mắn hơn các bạn bé nhỏ ấy, chúng ta dược cha mẹ yêu thương, được thầy cô tận tình dạy dỗ, vậy mà chúng ta lại không học, lại coi thường việc học. Như vậy chẳng phải thật đáng trách sao? Lúc ấu thơ, ngoài bản năng tự nhiên là khóc và ăn thì mọi thao tác còn lại đều phải trải qua một quá trình học tập. Những người cha, người mẹ là những người thầy đầu tiên của trẻ, dạy cho trẻ biết lẫy, biết bò. Vậy đấy, ngay từ khi còn nhỏ, khi chưa phải đến trường thì bất kỳ một đứa trẻ nào cũng phải học, phải trải qua một sự khổ công. Để rồi đến khi lớn lên, cắp sách tới trường, thầy cô dạy ta biết đọc biết viết, học những thao tác ngồi, cầm bút viết. Lớn hơn nữa, thầy cô lại dạy cho ta kiến thức theo từng cấp học phù hợp với khả năng nhận thức, để sau này có thể vận dụng vào cuộc sống, công việc. Tất cả những điều đó đều giúp chúng ta trở thành những con ngoan trò giỏi. Học là để trưởng thành, để hoà nhập với cuộc sống văn minh, có khả năng thích ứng với những tiến bộ khoa học.Xem thêm: Bạn Nguyễn Diệu Anh gủi điện báo tin cho gia đình Quả thật, tương lai là ở trong tay chúng ta, nó sáng sủa hay mờ mịt là phụ thuộc vào sự nỗ lực học tập của mỗi con người. Vì thế chúng ta đừng để phí hoài những gì đã học được ở ghế nhà trường, bởi "một bước lỡ, nghìn thu ân bận". Nêu mải chơi chúng ta sẽ làm lỡ mất một chuyến tàu đi đến tương lai. Chuyến tàu đó không hề đi đến một cái đích nào nhất định. Chuyên tàu đó rất đặc biệt bởi người lái tàu là chúng ta và hành khách cũng chính là chúng ta. Nó được chèo lái bởi chính đôi bàn tay của chúng ta. Kiến thức trong trường ta học là nền tảng cơ bản để ta làm việc. Nhưng nhiều khi chính những kiến thức ấy cũng không đáp ứng đủ được những yêu cầu của sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Nếu không tiếp tục học chúng ta sẽ không có đủ khả năng để đảm đường công việc. Việc học tập không phân biệt tuổi tác, trình độ, địa vị hay hoàn cảnh xã hội mà tuỳ theo ham muốn hiểu biết của mỗi con người. Khi còn nhỏ đang ở lứa tuổi cắp sách đến trường, thầy cô dạy cho ta rất nhiều kiến thức về tự nhiên, xã hội… vì vậy mà chúng ta phải không ngừng nâng cao hiểu biết, trau đồi tri thức, tận dụng mọi cơ hội để học tập. Và đến tuổi trưởng thành chuẩn bị bước chân vào đời, để tự lập bằng vốn kiến thức của mình được trang bị trong nhà trường, chúng ta vẫn phải tìm tòi nghiên cứu không ngừng trong công việc, sách báo… để nâng cao tay nghề, trình độ. Thông thường một người trong nhà trường học giỏi thì ra trường cũng sẽ làm việc tốt, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Vì vậy, chúng ta phải học ở mọi lúc mọi nơi, học ở những người đi trước mình, lớn tuổi hơn mình, những đồng nghiệp xung quanh mình để làm sao lấp đầy những khoảng trống mà mình thiếu sót trong quá trình học tập và làm việc… Mỗi học sinh chúng ta cần phải nhận rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, trong thời kỳ đang sống nhờ vào gia đình và xã hội. Nhưng học bằng cách nào để đạt kết quả tốt. Phương pháp học tập có rất nhiều ta có thể học qua sách vở. Ở trường, ta được sự dạy dỗ của thầy cô và bạn bè nhưng cũng cần đọc thêm báo chí, để có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về xã hội ngày nay. Mỗi lúc vấp ngã ta đều phải tự biết rút cho mình những kinh nghiệm vì đó là những kiến thức thực tế quý báu, trang bị cho ta hành trang vào đời. Ở các thành phố hiện đại, việc học của học sinh, sinh viên được chăm lo đầy đủ nhưng ở các vùng quê nghèo thì việc học chưa được chú trọng. Người dân chưa nắm rõ được ý nghĩa lớn lao khi cho con em mình đến trường. Rất nhiều em học sinh phải bỏ dở việc học hành để sống cuộc sống "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" như cha ông họ. Thật là đáng tiếc thay khi có những học sinh được sự quan tâm của gia đình, xã hội được lo lắng đầy đủ vật chất lại không biết quý trọng. Đây là hiện tượng khá phổ biến của các học sinh "lười học”. Đó không phải là những tấm gương "sáng". Chúng ta hãy học tập theo các thế hệ cha ông như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn… những Lê Bá Khánh Trình, Tôn Thất Tùng, Đặng Thái Sơn… để trở thành con người có ích.Xem thêm: Trong bài thơ "Cảm xúc”, Xuân Diệu viết: "Là ... mến". Còn trong “Là thi sĩ”, Sóng Hồng viết: "Là... công lí”. Hãy bình luận về hai đoạn thơ trên và nêu suy nghĩ của anh (chị) về thơ ca trong cuộc sống hiện nay Ngày nay đất nước đã phát triển, việc học đã được chú trọng, tuy nhiên, việc học của học sinh vẫn còn nhiều hiện tượng gây bức xúc. Không chỉ có chuyện học lực kém của nhiều học sinh, mà còn nhiều vấn đề nữa rất đáng phải xem xét lại. Đó là tình trạng cận thị ở học đường. Do học quá nhiều, lại thêm chơi các trò chơi điện tử nên số lượng cận thị tăng lên rất nhanh. Một số học sinh có ý thức học tập rất kém, thường xuyên trốn tiết để đi chơi. Lười biếng và ham quậy phá, sẽ rất khó để họ trở thành những người có ích cho xã hội sau này. Đây là những "con sâu làm rầu nồi canh" cần được chỉnh đốn cách thức và mục đích học tập. Việc học của học sinh thời nay là vô cùng cần thiết. Với xu thế hội nhập, học sinh ngày càng phải trau dồi vốn kiến thức hiểu biết của mình. Hành trang để vào đời chính là những kiến thức mà chúng ta tích luỹ được từ thuở ấu thơ, nó sẽ là vô giá nếu chúng ta tranh thủ học nhưng cũng sẽ là vô nghĩa nếu chúng ta mải chơi, lười học. Vanmau.edu.vn
Học tập là công việc vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với người học sinh. Em có suy nghĩ gì về công việc này của học sinh thời nay_
1,811
Học vấn không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc Hướng dẫn L. Pa-xtơ cho rằng: "Học vấn không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc". Quan niệm của anh (chị) về vấn đề này như thế nào? Câu nói nêu hai ý, hai luận điểm đối nhau, trong đó vế thứ nhất là cái nền để nêu bật vế thứ hai. Tham khảo một số gợi ý sau: – "Học vấn" là những hiểu biết, tri thức nhờ học tập mà có. Người có học vấn là người có trình độ chuyên môn, có hiểu biết sâu sắc về một hay nhiều lĩnh vực. – "Học vấn không có quê hương": Những tri thức về cuộc sống không thuộc về riêng một cá nhân hay quốc gia nào. Nó là sản phẩm của quá trình khám phá và nhận thức về thế giới tự nhiên và con người của cả nhân loại. Thế hệ sau sẽ kế thừa, phát triển, bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khám phá bởi thế hệ trước. Dân tộc này sẽ học tập và phát triển những tìm tòi, phát hiện của dân tộc kia… Nhất là trong thời đại toàn cầu hoá như hiện nay, mỗi tri thức mới ra đời đều nhanh chóng trở thành tài sản chung của cả nhân loại. Vì vậy, chúng ta không chỉ nâng cao trình độ hiểu biết của mình bằng cách học hỏi từ những người thầy, người bạn cùng dân tộc mà còn có thể học hỏi từ những người ở các vùng miền khác nhau trên thế giới. Mở rộng không gian học tập sẽ giúp chúng ta mở mang tầm nhìn và nâng cao được trình độ học vấn của mình. – "Người có học vấn phải có Tổ quốc": Tổ quốc – đất nước được bao đời trước xây dựng và để lại, là quê hương, xứ sở của mỗi người. Bất kì ai cũng có một Tổ quốc, một quê hương. Người có học vấn, có hiểu biết càng phải biết yêu Tổ quốc và quê hương của mình. "Người có học vấn phải có Tổ quốc" nghĩa là người có trình độ, có hiểu biết phải biết sử dụng vốn hiểu biết của mình để làm một công việc cụ thể, từ đó cống hiến, dựng xây đất nước của mình. Tuy nhiên, không nên cho rằng mỗi người đều phải làm việc ở trons nước mình, đóng góp trực tiếp cho đất nước của mình mới là "có Tổ quốc". Dù ở đâu và làm gì, mỗi người nên hướng về Tổ quốc và làm rạng danh Tổ quốc mình. – Luận điểm của L. Pa-xtơ có ý nghĩa: khuyên mỗi người nên nâng cao trình độ học vấn của mình bằng việc học từ nhiều người, nhiều nơi song phải biết cống hiến cho quê hương, đất nước mình. Đó là biểu hiện của lòng yêu nước. – Bài học rút ra cho bản thân từ ý kiến trên: phải ham học hỏi để nâng cao trình độ, phải mở rộng tầm nhìn của mình, nhất là trong thời đại toàn cầu hoá; phải cống hiến và đóng góp sức mình cho việc dựng xây đất nước, trong đó, việc mỗi người trở thành một công dân có ích sẽ làm cho đất nước phát triển hơn… Bài tham khảo “Quê hương là gì hả mẹ; Mà cô giáo dạy phải yêu". Trong “Bài học đầu cho con”, nhà thơ Đỗ Trung Quân đã hình tượng hoá quê hương – Tổ quốc qua lời cô giáo dạy học trò bằng những điều giản dị: là chùm khế ngọt; là cầu tre nhỏ; là hương cau rụng trắng ngoài thềm,… để rồi kết lại cũng bằng điều giản dị: Quê hương nếu ai không nhớ; Sẽ không lớn nổi thành người. Thi phẩm ấy được Giáp Văn Thạch phổ nhạc và cũng đặt tựa đề giản dị mà thiêng liêng vô cùng bằng hai tiếng: “Quê hương”. Thơ và nhạc đã dìu nhau cất cánh và đọng vào tâm khảm của từng trái tim con người Việt Nam từ khi nó ra đời cho đến tận hôm nay và chắc chắn nó trường tồn cùng năm tháng. Đó cũng chính là điều mà nhà bác học L. Pasteur nói: “Học vẩn không có quê hương, nhưng người học phải có Tổ quốc”. Học vấn không có quê hương, có nghĩa là không có biên giới, không giới hạn đối tượng. Kiến thức nhân loại lan toả đến những ai có khát vọng học tập, có khát vọng truyền bá để những diều tốt đẹp đến với mọi người. Trong lịch sử nhân loại, có biết bao luồng tri thức được truyền đi mà đầu tiên phảỉ kể đến là những học thuyết thời cổ đại của Phật học, của Thiên Chúa giáo, của Nho học, Đạo học (Lão – Trang),… đế ngày nay trở thành di sản chung của nhân loại. Xem thêm: Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Đói. Nó vừa cay đắng, vừa đớn đau, đồng thời một mặt nào đó nó lại loé lên những tia sáng về đạo đức, danh dựBên cạnh những tri thức thuộc loại bồi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, ta đã từng chứng kiến những thời kì lan toả của tri thức khoa học thực nghiệm như: hoá học, vật lí, sinh học,…; trừu tượng như toán học,… Khát vọng chiếm lĩnh tri thức làm giàu có cho tâm hồn, trí tuệ mình và dân tộc, Tổ quốc mình đã mở ra những phong trào du học diễn ra khắp thế giới từ xưa đến nay: Trần Huyền Trang thời Đường đã vâng lệnh triều đình sang Ấn Độ (Tây Trúc) thỉnh kinh, nhằm giáo hoá dân tộc Trung Hoa noi theo gương sáng từ bi của Phật; Phong trào Đông Du của Việt Nam từng diễn ra ở cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX do chí sĩ Phan Bội Châu đề xướng với mục đích khai hoá dân tộc khỏi sự nghèo nàn, lạc hậu và thoát khỏi bóng đêm của chủ nghĩa thực dân Pháp bao trùm xã hội Việt Nam ngày ấy. Thời đại Hồ Chi Minh đã chứng kiến những nhân tài kiệt xuất sau khi trang bị kiến thức vững vàng, đã từ bỏ vinh hoa phú quý ở hải ngoại, sẵn sàng về phục vụ quê hương – Tổ quốc trong công cuộc cùng với Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc. Đó là những nhân cách cao đẹp; những kiến thức khoa học thuộc hàng ưu tú nhất một thời như: Trần Đại Nghĩa, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch; Nguyễn Văn Thủ, Kha Vạn Cân,… Ngày nay, có biết bao thanh niên du học và trở về phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá đất nước. Qua những sự kiện trên đã chứng minh hùng hồn cho một phần câu nói của L.Pasteur: Học vấn không có quê hương. Tuy học vấn không có quê hương; nhưng “người học phải có Tổ quốc”. Tổ quốc là danh từ trừu tượng nhằm muốn nói đến nơi minh sinh ra, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi cha mẹ, ông bà, Tổ tiên ta sống từ đời này qua đời khác. Người có học không có nghĩa là giới hạn ở những người được đến trường, mà theo cách hiểu rộng “Con đi trường học, mẹ đi trường đời” trong câu hát đâu gian. Tóm lại, đó là những người có kiến thức, có ý thức tôi luyện bản thân và hướng về quê hương – Tổ quốc – dân tộc. Những hình ảnh về Tổ quốc rất giản dị mà thiêng liêng đến lạ: đó có khi là một dòng sông xanh biếc “Nước gương trong soi bóng những hàng tre” mà khi đi xa Tế Hanh đã nhớ đến quặn lòng; là cầu tre nhỏ, là hương cau rụng trắng ngoài thềm trong tâm cảm của Đỗ Trung Quân; là con đường đưa anh đến trường; là núi Bút, non Nghiên gợi đến tinh thần hiếu học của cậu trò trong ý thơ của Nguyên Khoa Điềm; là cánh đồng quê và trời chiều trong tâm tưởng yêu thương muôn đời của mỗi con người Việt Nam,… Như vậy, Tổ quốc là nơi ta gởi những yêu thương nhung nhớ khi ta đi xa; khi nơi ấy tươi sáng, người người ấm no làm ta vui sướng; nơi ấy tiêu điều xơ xác làm ta nhói lòng. Nguyền Đình Thi nhói lòng, thốt lên đau đớn khi hình ảnh quê hương bị tàn phá: “Ôi những cánh đồng quê chảy máu; Dây thép gai đâm nát trời chiều”. Hoàng Cầm nức nở, cụ thể hoá nỗi đau quê hương tiêu điều ấy bằng hình ảnh: “Nghe xót xa như rụng bàn tay”. Và cao hơn nữa “Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ". Khi dân tộc li tán, đau thương, Trưng nữ vương gác nỗi đau riêng làm cho “Ai Bắc quân thù kinh vó ngựa; Giáp vàng khăn trở, lạnh đầu voi” (khăn trở: khăn tang). Nguyễn Trãi gạt nước từ biệt cha chốn quan san về dâng “Bình Ngô sách” và mười năm ròng rã bên Lê Lợi “nằm gai nếm mật” nuôi chí đánh đuổi giặc Minh; Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo đứng trước vận nước ngả nghiêng, đã dẹp bỏ sự tị hiềm của gia đình cùng đứng bên nhau đánh đuổi giặc Nguyên. Trần Bình Trọng với câu nói đanh thép “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc, Nguyễn Đình Chiểu đã đùng ngòi bút kiên định của mình “chở đạo – đâm gian”; Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và biết bao sĩ phu, chí sĩ, chiến sĩ đã dùng sở học của mình suốt đời vì sự hưng thịnh của đất nước và dân tộc. Chứng kiến dân tộc chìm trong bể máu của chủ nghĩa thực dân; chứng kiến cảnh “nhà tù nhiều hơn trường học” trên đất nước mình, người con xứ nghệ Nguyễn Sinh Cung cũng chính là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh đã hi sinh cả tuổi thanh xuân của đời mình quyết ra đi tìm kè sách giải phóng dân tộc là một minh chứng tuyệt vời bậc nhất của Việt Nam về tinh thần “người học cần có Tổ quốc”. Sở học, tư tưởng và tấm lòng, nhàn cách Hồ Chí Minh mãi mãi là điểm son tươi sáng trong lịch sử dân tộc Việt Nam về tình yêu dân tộc và Tổ quốc. Ngày nay, sống trong một thời đại hoà bình và tận hưởng những vinh quang của tri thức nhân loại thời mở cửa, thời của toàn cầu hoá, thời của sự toà sáng về công nghệ thông tin,… mỗi chúng ta có rất nhiều điều kiện học tập, trau dồi tri thức. Khi vững vàng về tri thức, người ta dễ phân biệt được đúng sai và chắc chắn mồi chúng ta đều hiệu giá trị thiêng liêng của Tổ quốc và niềm tự hào dân tộc. Lần giở những trang sử xưa, ta càng thêm tự hào tổ tiên ta nâng niu trân trọng quê hương đất nước như thế nào cũng là cách giúp ta tự nhắc nhở mình sống và làm việc vì quê hương, đất nước. Và không ai có thể phủ nhận “Trong anh và em hôm nay; Đều có một phần Đất Nước* như cách nói của Nguyễn Khoa Điềm. Nguồn: thêm: Bạn Hồng Giang kể về gia đình
Học vấn không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc
1,956
Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Hướng dẫn Anh (chị) hãy viết một bài văn (khoảng 600 từ) phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học đểtự khẳng định mình. – Học hành là công việc gắn với con người từ bao đời nay. Có thể nói, không một bước phát triển nào của văn minh nhân loại mà không gắn với việc học. Tuy nhiên, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của việc học tập ở mỗi thời đại, mỗi xã hội cũng có những chỗ khác nhau. Ngày nay, với xu thế toàn cầu hoá, quan điểm về việc học tập của con người trên thế giới càng gần gũi nhau hơn. Đó là lí do để Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc UNESCO đề xướng mục đích học tập cho công dân của mọi quốc gia trên thế giới: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình. Quan điểm rõ ràng, hiện đại như vậy về việc học tập là điều rất đáng để mọi người, nhất là những người ở tuổi cắp sách đến trường, phải nghiêm túc suy nghĩ. – Học tập trước hết là để thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người. Thế giới tự nhiên, xã hội xung quanh ta, kể cả chính bản thân con người ta đều ẩn chứa nhiều điều bí ẩn. Biết bao câu hỏi đặt ra mà ta đâu dễ gì tìm thấy ngay câu trả lời. Tại sao trái đất quay quanh mặt trời? Tại sao bốn mùa trong năm thời tiết khác nhau? Tại sao con người ta trưởng thành theo thòi gian và có những thay đổi về tâm sinh lí? Ấy là chưa nói đến vô số những kiến thức phức tạp, khó hiểu ở mọi ngành khoa học nhiều khi rất xa lạ với trình độ của số đông. Thế nhưng, vấn đề dù khó khăn, bí ẩn đến đâu cũng có thể tìm thấy chìa khoá để giải mã. Chiếc chìa khoá vạn năng đó không có gì khác hơn ngoài hai chữ "học tập". Chính nhờ học tập mà loài người đã chiếm lĩnh được kho tri thức khổng lồ như hiện nay. Chính nhờ việc học mà khoa học đã có những bước tiến thần kì. – Những bộ óc siêu việt của nhân loại ở các lĩnh vực khác nhau đều đã từng đổ không biết bao nhiêu công sức cho công việc học tập để chiếm lĩnh những đỉnh cao tri thức khoa hợp. Những Niu-tơn, Anh-xtanh, Đác-uyn… đều thế. Người ta kể lại tấm gương học để biết của văn hào Mác-xim Go-rơ-ki: từ nhỏ đã phải từ giã mái trường để kiếm sống, nhưng bằng con đường tự học, ông có vốn hiểu biết không thua kém gì những nhà văn có học thức hàng đầu ở châu Âu cùng thời. Ở nước ta, những nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng thực sự là những người mẫu mực trong quá trình tự vươn lên học tập để hiểu biết. – Học để biết, đó là chân lí không thể tranh cãi. Người xưa có câu: "Nhân bất học, bất tri lí" (Người không học, không biết gì). Khi người ta nói ai đó là "vô học" cũng đồng nghĩa với việc đánh giá người đó là dốt nát, ngu muội. Học tập là con đường duy nhất để khai mở trí tuệ, tích luỹ tri thức, nâng cao hiểu biết về mọi mặt. Không có phép lạ nào có thể thay thế cho hoạt động này nếu con người muốn thoát khỏi tình trạng kém hiểu biết của mình. – Học để biết dĩ nhiên là quan trọng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, thì tri thức cũng chỉ là một mớ lí thuyết suông, vô ích. Cuộc sống tiến lên không ngừng là nhờ ở hành động của con người. Áp dụng tri thức vào mọi công việc, đó mới là con đường đúng đắn, vừa phát huy sự hữu ích của hiểu biết, vừa làm cho sự hiểu biết không ngừng được nhân lên. Tiếng Việt có từ "học hành", tưởng đơn giản, nhưng ngẫm kĩ, khá sâu sắc. Nó cho thấy, cha ông chúng ta chưa bao giờ coi nhẹ việc áp dụng những điều hiểu biết vào công việc thực tế. Học mà không hành thì chỉ là mọt sách, vô vị. Hành mà không học thì làm việc khó đạt hiệu quả. Cả hai mặt có quan hệ hữu cơ, hỗ trợ cho nhau. Nhiều nhà tư tưởng lớn cũng có quan điểm tương tự. Khổng Tử cho rằng: học mà lại được thực hành những điều đã học, không có niềm vui nào hơn thế (“Học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ”). Nguyễn Trãi cũng từng chiêm nghiệm: “Nên thợ nên thầy vì có học”. Xem thêm: Viết một bài văn kêu gọi con người: “Hãy giật đổ thành lũy của sự im lặng trước HIV/ AIDS"– Học để làm là một quan điểm đã được khẳng định. Trước hết nó đề cao mục đích của "học" đối với "làm", sau đó, nó cho thấy sự tác động của "làm" trở lại đối với việc "học". Khi nhận thức được rằng: học không phải để tích chứa tri thức, khoe mẽ hiểu biết, mà để áp dụng vào cuộc sống, giải quyết những công việc cụ thể với hiệu quả cao nhất, thì sự học đã có một phương hướng đúng đắn, một mục đích thiết thực. Ta biết rằng, biển kiến thức thì mênh mông, quỹ thời gian và khả năng của con người lại có hạn. Vì vậy, việc học tập của mỗi người phải có lựa chọn, định hướng cụ thể. Học cái gì, cần trang bị những tri thức nào phù hợp với năng lực, hữu dụng trong thực tế, đó là những câu hỏi mà mỗi cá nhân phải tự trả lời. – Trong thực tế, có vô số người đã thực sự vận dụng phương châm học để làm. Hồ Chí Minh là một con người như thế. Những ngày hoạt động ở nước ngoài, Bác đã dành nhiều công sức cho việc học ngoại ngữ. Bác đã đọc thông viết thạo một số tiếng châu Âu. Tại sao Hồ Chí Minh lại đề cao việc học đến thế? Câu trả lời hết sức rõ ràng: Bác học tiếng nước ngoài để viết báo, viết văn, vạch mặt bản chất của chủ nghĩa thực dân trước thế giới, phơi bày tình trạng tồi tệ ở các nước thuộc địa (trong đó có các nước Đông Dương) mà thực dân Pháp gây nên. Hiệu quả việc học để làm của Bác là rất hiển nhiên. Thực tế của khoa học chứng minh rằng, phát minh của con người, dù ở bất cứ lĩnh vực nào, đều là kết quả của việc áp dụng tri thức vào thực tiễn, nghĩa là phương châm học để làm đã được vận dụng triệt để. Ngày nay, khi cuộc sống có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt, biết bao yêu cầu đang được đặt ra ngày càng cao đối với khoa học, thì vấn đề "học để làm" mà UNESCO nêu lên càng có ý nghĩa thiết thực. – Con người không thể sống đơn độc mà luôn luôn tồn tại trong quan hệ với cộng đồng, với xã hội. Một triết gia phương Tây đã nói rất đúng: "Điểm giống nhau nhất giữa mọi người trên thế gian này là không ai giống ai cả". Mỗi con người là một cá thể, có hoàn cảnh, có trình độ văn hoá, có tính cách, sở thích riêng. Cho nên, chung sống với nhau trong một cộng đồng, điều cần thiết nhất là thông cảm lẫn nhau. Không thể lấy sở thích của mình áp đặt cho người khác. Muốn cảm thông, chia sẻ phải có sự hiểu biết. Ở đây, những tri thức về tâm lí con người, tri thức về xã hội nhân văn là hết sức quan trọng. Nhiều khi, do thiếu hụt những tri thức ấy, dễ nảy sinh những xích mích, những mâu thuẫn không đáng có trong các mối quan hệ. – Thời đại ngày nay, viễn cảnh con người một quốc gia trở thành công dân toàn cầu đã dần dần là một thực tế. Trái đất trở thành "thế giới phẳng". Tuy nhiên, có một thực tế khác cũng cần phải quan tâm: con người ở các quốc gia sẽ có những khác biệt nhau về tôn giáo, phong tục, văn hoá. Vì vậy, muốn có sự hợp tác hiệu quả, rất cần sự hiểu biết để tôn trọng lẫn nhau. Một nhà đầu tư người Mĩ muốn làm ăn ở Việt Nam không thể không tìm hiểu đặc điểm tâm lí, tính cách, văn hoá của người Việt. Một thanh niên Việt muốn thích nghi với môi trường làm việc ở một công ti nước ngoài, nhất thiết phải nắm vững những nguyên tắc làm việc và có những hiểu biết nhất định về đối tác. Như vậy, học để chung sống đã là điều kiện tồn tại tất yếu của con người trong cuộc sống hiện đại. – Không phải ngẫu nhiên mà trong thông điệp này, UNESCO đặt yêu cầu học để tự khẳng định mình ở vị trí cuối cùng. Khi chúng ta thực thi được các phương châm học để biết, học để làm, học để chung sống, cũng có nghĩa là chúng ta đã thực sự tự khẳng định được mình. Khẳng định mình là ý thức được khả năng của bản thân, vị thế của cá nhân mình trong các mối quan hệ. Khẳng định mình không phải là đặt mình cao hơn người khác, không phải vuốt ve lòng tự mãn, mà là củng cố sự tự tin để đáp ứng những đòi hỏi của thực tế, những yêu cầu ngày càng cao của công việc. Trong việc tự khẳng định mình, không có gì thuyết phục hơn là tính hiệu quả. Không cần nói nhiều về bản thân, chỉ bằng hiệu quả cụ thể, chúng ta sẽ chứng tỏ cho mọi người thấy mình là ai. Khẳng định mình theo cách ấy, không có con đường nào khác hơn là học tập và vận dụng tốt nhất những tri thức đã học vào giải quyết những vấn đề đặt ra trong phạm vi công việc mà mình đảm trách. – Quan điểm về học tập mà UNESCO nêu lên thật dễ hiểu, gần gũi. Nó thiết thực không chỉ cho các nhà lãnh đạo hoạch định nền giáo dục của quốc gia mình, mà còn cho bản thân mỗi người đi học. Tuy nhiên, để biến những phương châm ấy thành hành động cụ thể, thì rất cần nỗ lực không ngừng của cá nhân. Đối với học sinh chúng ta, việc khắc ghi và thực hiện những phương châm ấy là điều kiện cần thiết để chúng ta vững bước trên con đường đến với tương lai. Nguồn: Bộ Giáo Dục & Đào Tạo Xem thêm: Phân tích cuộc gặp gỡ giữa chị Hoài với cụ Bằng và những người em chồng trong chiều ba mươi Tết
Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.
1,914
Hồ Chủ tịch có dạy: “Học với hành phải đi đôi. Học không hành thi vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Em hiểu lời dạy trên như thế nào? Gợi ý Đã qua rồi cái thời học từ chương, sáo mòn cũ kĩ. Cái lối học mà nhà thơ Cao Bá Quát đã từng phê phán: Không đi khắp bốn phương trời, Vùi đầu ăn sách uổng đời làm trai. Nhận thức được sai lầm của cha ông ta thời trước đã làm cản trở bước tiến hóa của xã hội, Hồ Chủ tịch khi nói về công tác huấn luyện và học tập vào tháng 5 năm 1950 có dạy: "Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy". Lời dạy trên có ý nghĩa quan trọng đối với việc học của chúng ta ngày nay. Học là tiếp thu kiến thức đã được tích lũy trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tiếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước. Học nói chung là sự trau dồi kiến thức, mở mang trí tuệ. Hành nghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời sống. Học với hành phải đi đôi có nghĩa là học và hành không thể tách rời nhau mà phải gắn với nhau làm một. Đó là hai công việc của một quá trình thống nhất. Hiểu được mối quan hệ đó là do bản thân Bác đã rút được kinh nghiệm trong việc học tập và vận dụng lí luận cách mạng. Xem thêm: Hãy miêu tả và nêu cảm xúc về một loài hoa mà em yêu thích nhất Trải qua thực tế học tập, ta thấy rõ hành chính là mục đích mà còn là phương pháp học tập. Một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu kiến thức mà ta không vận dụng vào thực tiễn, thì học chẳng để làm gì cả. Thật là vô ích vì phí đi biết bao công lao, tiền bạc và thì giờ đầu tư vào việc học. Học mà không hành được có thể do một trong hai nguyên nhân sau: hoặc là học không thấu đáo nên không hành được, hoặc là thiếu môi trường hoạt động. Trong cuộc sống, không phải là không có những người lúc đi học không chuyên chú, nên, lúc ra đời không làm gì được, bị mọi người khinh chê. Ngược lại, nếu hành mà không có lí luận chỉ đạo, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được đúc kết dẫn dắt, thì việc ứng dụng vào thực tiễn thường khó tránh khỏi mò mẫm, lúng túng hoặc gặp khó khăn, trở ngại, thậm chí có khi sai lầm nữa. Việc "hành" như thế rõ ràng là "không trôi chảy". Thực tế đã không ít trường hợp vô tình trở thành người phá hoại chỉ vì người đó hành mà không học. Như thế đủ để ta thấy được tầm quan trọng của việc học. Nhưng học cái gì và học như thế nào? Không riêng gì người học sinh ngày ngày cắp sách đến trường mới là học. Một đứa trẻ mới sinh ra cũng phải học, học nhận thức các sự vật xung quanh nó. Sau khi rời khỏi ghế nhà trường, bước vào xã hội, người đó vẫn phải tiếp tục học trong thực tế, học hỏi kinh nghiệm của người đi trước. Bởi thế, nói như lãnh tụ Lê nin: "Học, học nữa, học mãi!" là như vậy. Xem thêm: Trong thư gửi học sinh toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên đán (năm 1946), Bác Hồ viết: “Một năm... xã hội”. Em hiểu và suy nghĩ gì về tuổi trẻ Việt Nam, tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh và tuổi trẻ của mình Đối với học sinh, học nghĩa là tạo thêm những kiến thức mới ở nhà trường, do các thầy cô dạy dỗ. Học sinh đến lớp, nghe thầy cô giảng dạy rồi cố gắng hiểu, nhớ, như thế gọi là học. Cái học đó muốn tiến bộ cần có sự ham thích và chuyên cần. Có ham thích hiểu biết những gì xảy ra trong quá khứ, học lịch sử mới thấy thú vị và dễ ghi nhớ. Có ham thích hiểu biết các định luật chi phối vạn vật, học vật lí mới thấy dễ dàng. Học, lại phải chuyên cần, chăm chỉ thì kiến thức mới đầy đủ, hệ thống, dễ nhớ. Như vậy không có nghĩa là đến lớp ngồi chờ hết giờ đi về, hay tùy thích hôm đi hôm nghỉ. Học theo lối đó không thể gọi là học vì chẳng tiếp thu được điều gì. Ngược lại, những người dù không đi học, nhưng chịu khó tìm tòi, đọc sách, cố gắng ghi nhớ, biết học hỏi ở bậc đàn anh mà biết thêm nhiều điều mới lạ, có thể cho là người đó đang học. Cũng có người cho rằng, học cốt thi cho đỗ, khi thi đỗ xong, vất đi tất cả sách vở là tự lấy làm mãn nguyện lắm rồi. Họ quên rằng, nhiều điều ta học được ở nhà trường chỉ là những kiến thức lí luận căn bản, cần thiết cho sự trau dồi trí tuệ khi bước vào đời sau này. Phạm vi của sự học là vô hạn. Một người trí thức chân chính luôn luôn tự thấy mình kém cỏi, dốt nát và muốn học thêm mãi. Hơn nữa khoa học ngày càng tiến bộ thì cái học không bao giờ dừng lại mãi một chỗ. Những điều học hỏi hôm qua, cần phải bổ sung cho hợp với hôm nay. Cái học cần phải đi sát với tiến bộ chung của nhân loại mới có ích và mới đúng với ý nghĩa của học hành.Xem thêm: Hóa thân thành con gà chọi để kể về cuộc đời mình Thực tế ngày nay, học đi đôi với hành đã trở thành nguyên lí, phương châm giáo dục; đồng thời là phương pháp học tập của chúng ta. Thấm nhuần lời dạy của Bác, em càng quyết tâm thực hiện phương pháp học phải hành để có đủ trình độ nhận thức kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh. Vanmau.edu.vn
Hồ Chủ tịch có dạy_ “Học với hành phải đi đôi. Học không hành thi vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Em hiểu lời dạy trên như thế nào_
1,071
Khan hiếm nước ngọt và những nguy cơ tiềm ẩn Gợi ý Nước là nguồn tài nguyên có ý nghĩa sống còn đối với mỗi sinh vật, nhưng nguồn tài nguyên này lại có hạn. Hơn 80% trong số toàn bộ các bệnh tật của con người trên thế giới bắt nguồn từ việc không được tiếp cận với nguồn nước sạch, do sử dụng nước bẩn. Trên thế giới có hơn hai trăm thủy vực và là tài nguyên chung của từ hai quốc gia trở lên, và tình trạng khan hiếm nước sẽ tạo tiềm năng về các tranh chấp nguy hiểm. Hầu hết các nguồn nước trên Trái Đất đều không thể dùng trực tiếp được: 97% là nước biển, 2% nằm kẹt trong cát núi, sông băng. Chúng ta chỉ sử dụng thường xuyên 1% còn lại, nhưng một tỷ lệ không nhỏ trong số này lại nằm sâu trong lòng đất, khó khai thác. Trước đây, chúng ta phải đau đầu với các vấn đề an ninh và kinh tế. Gần hơn một chút nữa là nỗi lo về sự cạn kiệt các nguồn năng lượng (than đá, dầu mỏ…). Giờ đây các cuộc khủng hoảng sinh thái đã trở thành nguy cơ trước mắt mà nước ngọt – nguồn tài nguyên không thể tái tạo bị đe dọa đầu tiên ít ai biết rằng chín trong số mười bốn nước ở khu vực Trung Đông đã phải đốì mặt với các điều kiện khan hiếm nước do trên lãnh thổ của mình không có mưa. Những quốc gia này đã trở thành khu vực khan hiếm nước ngọt nhất thế giới. Ở Trung Đông, nước ở các dòng sông (hầu hết đều chảy qua một vài nước) là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột vũ trang trong nhiều thập kỷ qua. Liên Hợp Quốc vừa công bố báo cáo mang tên Tương lai 2008, dự báo về những thách thức với loài người trong tương lai. Ngoài giá lương thực và năng lượng tăng cao, tình trạng khan hiếm nước ngọt sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất với nhân loại trong tương lai.Xem thêm: Phân tích truyện cười Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyện cười Một số vùng như các sa mạc ở châu Phi, Trung Đông, Ai Cập… cũng thiếu nước trầm trọng, thậm chí đã diễn ra các cuộc xung đột về nước. Một nửa diện tích đất canh tác của Ai Cập có nguy cơ bị chua mặn vì thiếu nước do mực nước của sông Nin – "thần nước" của nền văn minh Ai Cập cổ đại – hiện đã tụt xuống 90cm so với trước đây. Tại châu Âu cũng có tới hai mươi triệu người dân không được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh an toàn vì tình trạng thiếu nước. Hiện nay, Đức là quốc gia có giá nước sinh hoạt đắt nhất thê giới, cao gấp bốn lần so với giá nước sinh hoạt tại Mỹ. Nguyên nhân dẫn đến nguy cơ khan hiếm nước ngọt trên thế giới là rất nhiều, trong đó có tình trạng bất bình đẳng về sử dụng nước. Hiện nay, một người sinh sông ở Bắc Mỹ bình quân sử dụng bốn trăm lít nước mỗi ngày, một người ở châu Âu cũng dùng đến hai trăm lít/ngày, trong khi người dân tại các nước nghèo sử dụng bình quân khoảng mười lít mỗi ngày. Ngoài ra, các yếu tố như tăng trưởng kinh tế và dân số nhanh, tốc độ đô thị hóa quá chóng mặt, nhu cầu nước dùng cho nồng nghiệp tăng cao, ô nhiễm môi trường, thất thoát và lãng phí nước… cũng sẽ khiến Trái Đất cạn kiệt nguồn nước. Theo dự báo của các nhà khoa học, đến năm 2025 sẽ có khoảng ba mươi tư quốc gia có lượng nước ngọt dự trữ tụt xuống dưới mức 1.000m3/người/ năm. Trong khi đó, nhu cầu dùng nước của thế giới lại tăng mỗi năm khoảng 2% đến 3%, và cứ sau hai mươi mốt năm lại tăng gấp đôi. Do nhu cầu tăng do sự phân bố không đồng đều nguồn nước mưa, nước mặt, nước ngầm, hiện tượng thiếu nước sinh hoạt và các bức xúc trong nhu cầu về nước sẽ dẫn đến nhiều căng thẳng chính trị, thậm chí sẽ diễn ra ỏ cấp khu vực. Vì những lẽ như trên UNEP muốn thông điệp Nước – Hai tỉ người đang khát phải được từng người một trên thế giới biết đến. Biết để có ý thức trong việc sử dụng, để có ý thức trong việc bảo vệ nguồn, ngăn chặn các tác nhân làm xấu nguồn nước.Xem thêm: Phân tích câu Vì chưng hay ghét cũng là hay thương. Bạn hiểu ý thơ trên như thế nào? Khan hiếm nước ngọt không chỉ là vấn đề riêng của một quốc gia cụ thể mà là vấn đề chung của toàn thế giới. Sự khan hiếm nước ngọt bên cạnh việc ảnh hưởng đến cuộc sống xã hội, còn gây ảnh hưởng đến cạc ngành kinh tế. Đốì với sản xuất nông nghiệp, khoảng 70% nước trên toàn cầu được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Ớ một số nước đang phát triển, nơi số dân đang tăng nhanh nhất tiêu thụ cho nông nghiệp lên tới 90%. Nạn hạn hán ở Australia đã làm giá gạo trên thị trường thế giới tăng trong năm 2008. Các công ty sản xuất các sản phẩm cần khối lượng nước lớn, như thịt và nhiên liệu sinh học, phải đương đầu với hạn hán. California là bang đứng đầu tất cả các bang ở Mỹ về sản lượng nông nghiệp, chiếm 13% toàn bộ sản phẩm nông nghiệp của Mỹ. Năm nay là năm thứ ba liên tiếp bang này phải chịu hạn hán. Thiệt hại về kinh tế lên đến ba tỷ USD và mất 95.000 việc làm trong nông nghiệp. Đối với sản xuất đồ uống, các hãng đồ uống Coca – Cola và PepsiCo đã không được cấp giấy phép hoạt đông tại Kerala, Ân Độ, do sự phản đối việc mở những nhà máy mới tại đây vì khan hiếm nước. Nhiều công ty sản xuất nước uông đóng chai cũng bị phản đối ở những nơi khán hiếm nước. Đối với công nghệ cao, hơn một nửa nhắ máy sản xuất chất bán dẫn lớn nhất trên thế giới là ở châu Á – Thái Bình Dương nơi nguy cơ khan hiếm nước là nghiêm trọng. Các chip silicon cần một khối lượng lớn nước để chế tạo và các nhà máy này đang phải cạnh tranh nước với người dân địa phương. với sản xuất điện, nạn hạn hán có thể làm giảm sản xuất điện từ thủy điện và nguồn điện giảm do khí thải hiệu ứng nhà kính.Xem thêm: “Trí tuệ con người trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bão táp" (W.Gơt). Anh chị suy nghĩ gì về ý kiến trên? Và tất nhiên, Việt Nam không nằm ngoài vòng xoáy của sự khan hiếm nước. Khắp tất cả các tỉnh, thành phố đều gặp phải sự khan hiếm nước ngọt này. Đặc biệt là các tỉnh thành ở khu vực miền Nam và Nam Trung Bộ. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, xảy ra tình trạng thừa nước mặn, thiếu nước ngọt. Hàng nghìn ha lúa đồng xuân giảm năng suất vì hạn hán và nước mặn xâm thực, người dân sống ở vùng này không có nước để sinh hoạt. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều khu dân cư thiếu nước ngọt trong sinh • hoạt, có nơi đến tận ba tháng, không có nước ngọt để dùng phải sử dụng giếng khoan nhưng vẫn chưa khắc phục được tình trạng này. Sự khan hiếm nước ngọt giờ đây đã thật sự trở thành một vấn đề cấp bách toàn cầu. Nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế, đời sống xã hội và sự phát triển của mỗi quốc gia. Vào ngày 5 – 6 hàng năm, hàng trăm quốc gia trên thế giới lại tổ chức kỷ niệm Ngày Môi trường Thế giới. Ngày Môi trường Thế giới lã một trong những sự kiện mà thông qua các chủ đề cụ thể, cơ quan bảo vệ môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) muốn nâng cao nhận thức của nhân loại về “Môi trường của Trái Đất”, khuyến khích các nhà lãnh đạo, các cơ quan quản lý tăng cường quan tâm và có những hành động thiết thực trong bảo vệ môi trường. Với chủ đề Nước – Hai tỉ người đang khát (Water – Two billion people are dying for it), năm nay UNEP đang khẩn thiết kêu gọi mỗi người trong chúng ta chung sức giữ gìn nguồn sống quý giá của hành tinh chúng ta. Đó là Nước. Giữ gìn nguồn nước chính là giữ gìn cuộc sống của chính mình. Vanmau.edu.vn
Khan hiếm nước ngọt và những nguy cơ tiềm ẩn
1,521
Khi bàn về phương pháp học tập, trau dồi văn hóa, có người cho rằng: “Văn hóa, đó là cái còn lại khi người ta đã quên hết tất cả”. Em hãy nêu những ý kiến của mình về câu nói trên Gợi ý 1. Mở bài Đây là ý kiến của Edouard, một cố Nghị trưởng Pháp, mà câu nói đầy đủ là: “Văn hóa, đó là cái còn lại khi người ta đã quên hết cả, đó là cái vẫn thiếu khi người ta đã học đủ cả” (La culture, c’est qui reste quand con a tuot oublie, c’est ce qui manque quand on a toun appris). Thoạt nghe, câu nói có vẻ nghịch lí: văn hóa là cái còn lại, là cái vẫn thiếu, không tùy thuộc những gì nhớ được, những gì học được. Tại sao vậy? Ta hãy giải thích vấn đề trên. 2. Thân bài a) Trau đổi văn hóa và quan niệm đúng đắn về cách học 1. Văn là vẻ đẹp, hóa là biến đổi (cho tổt hơn). Văn hóa là tất cả những thành tựu về vật chất và tinh thần của con người từ thời công xã nguyên thủy cho đến thời đại ngày nay (đặc biệt là những thành tựu về tư tưởng văn học, nghệ thuật, khoa học). Văn hóa vừa mang tính cộng đồng dân tộc, nhân loại, vừa bao hàm ý nghĩa đối với cá nhân. Ớ mỗi con người, đó là sự tiếp thu, rèn luyện và phát triển tri thức, đạo đức. Muốn thế, con người phải học tập. Nói con người có văn hóa là con người có tri thức và nhân cách.Xem thêm: Anh chị có suy nghĩ gì về câu nói của J. z. Borysenko: Điều quan trọng không phải là chúng ta có chết hay không mà là chúng ta sẽ sống như thế nào? Tiếng Pháp gọi văn hóa là “culture”, có cùng nghĩa với sự trồng trọt; người có văn hóa được chăm lo trí tuệ để cống hiến cho đời, như cây trồng được vun xới sẽ ra hoa, kết quả. 2. Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên tất cả. – Văn hóa có mục đích đào tạo con người theo mẫu mực tốt đẹp. Ta không chỉ tiếp thu những điều đã học, mà phải chủ động suy nghĩ, tích cực vận động, biến nó thành tri thức của mình. “Những con ong hút nhụy hoa để tạo thành mật, mật đó được gọi là mật ong” nói lên ý nghĩa đó – Cho nên ta có thể quên những điều đã học, nhưng vẫn còn lại trong trí óc một cách nhận thức, một phương pháp suy luận để vận dụng vào cuộc sống, phát triển và sáng tạo. Chẳng hạn, ta có thể quên mọi bài toán, công thức, định lí đã học, nhưng toán học vẫn giúp ta phân tích, suy luận giải quyết những vấn đề của cuộc sống. – Có thể hiểu câu nói như sau: Sự trau dồi văn hóa, việc học chân chính không tùy thuộc cái người ta “có” mà thuộc cái người ta “thành”. “Có” ta sẽ quên, nhưng “thành” sẽ còn mãi trong ta. b. Phê phán quan niệm sai lệch về cách học 1. Văn hóa không phải là những kiến thức tích lũy trong trí nhớ con người. Sự trau dồi văn hóa – sự học – không có nghĩa cố nhồi nhét cho thật nhiều kiến thức, rồi lặp lại như con vẹt. Không phải cứ có trí nhớ giỏi, có kí ức mạnh là thành đạt.Xem thêm: Cây lau chứng kiến việc nàng Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn. Viết văn bản kể lại câu chuyện đó theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba (mở rộng truyện Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ)2. Cách học đó thật phủ phù phiếm, đôi khi có thể làm cho con người trở nên lệch lạc, kiêu ngạo. Tưởng nhớ nhiều là hơn người, buộc người khác kính phục mình: thật ra mớ ngôn ngữ thuộc lòng, thái độ hợm mình đó chỉ làm cho người khác khó chịu, xem thường. – Chỉ nhớ điều đã học, lặp lại kiến thức đã học sẽ làm cho mình dần dần trở nên nô lệ sách, vở, trở thành mọt sách, không còn khả năng độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Câu nói “quá tin vào sách, chẳng thà không có sách” của người xưa đã cảnh giác ta điều đó. 3. Tuy nhiên, ý kiến phê phán cách học nhồi nhét, lệch lạc trên hoàn toàn không phủ nhận cái học sách vở. Cái học từ sách vở xưa nay vẫn là một cách học hữu hiệu để trau dồi văn hóa, phát triển nhân cách và tài năng, miễn là theo phương pháp chủ động, tích cực như đã trình bày. 3. Kết luận – Tóm tắt: câu nói trên bác bỏ quan niệm trau dồi văn hóa một cách thụ động, nhồi nhét và khẳng định quan niệm chủ động học tập, rèn luyện văn hóa. – Mở rộng: việc học trong nhà trường phổ thông hiện nay vẫn nhiều lí thuyết, ít thực hành, nặng thuyết giảng, nhẹ vận dụng. Cho nên, ta cần học tập, rèn luyện tri thức một cách chủ động, tích cực hơn.Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Vanmau.edu.vn
Khi bàn về phương pháp học tập, trau dồi văn hóa, có người cho rằng_ “Văn hóa, đó là cái còn lại khi người ta đã quên hết tất cả”. Em hãy nêu những ý kiến của mình về câu nói trên
903
Khi bắt đầu công việc và khi gần đến mục đích là những lúc có nhiều nguy cơ thất bại nhất Gợi ý Có một câu chuyện kể rằng: Một người đàn ông nổi tiếng về tài trèo cây hướng dẫn cho chàng trai trẻ trèo lên một cây cao. Ông yêu cầu chàng trai trèo lên chặt ngọn cây này. Trong suốt thời gian đó, khi chàng trai đang ở trong tình huống cực kỳ nguy hiểm, ông vẫn giữ im lặng không nói một lời nào. Chỉ đến khi chàng trai xuống được một nửa, ông mới nói lín: “Cẩn thận! Hãy coi chừng!”. Quá đỗi ngạc nhiên, tôi hỏi ông: ông nói vậy để làm gì? Ở độ cao này an toàn hơn nhiều khi nãy chứ?”. “Đó mới là vấn đề”, ông nói, "Khi cậu ta trèo lên đến độ cao nguy hiểm như lúc nãy và có thể ngã bất cứ lúc nào, thì cậu ta khắc biết cách để cẩn thận nên tôi không cần phải nhắc nhở. Nhưng sai lầm thường đến vào lúc người ta không thể ngờ đến… Bạn nghĩ như thế nào về câu chuyện này? Nó rất phù hợp để minh chứng cho một ý kiến cho rằng: khi bắt đầu công việc và khi gần đến mục đích là những lúc có nhiều nguy cơ thất bại nhất. Tại sao lại như vậy? Dân gian ta vẫn thường hay nói: “Vạn sự khỏi đầu nan” – mọi sự khi bắt đầu bao giờ cũng rất khó khăn. Khởi đầu, đó là khi người ta phải đối mặt với rất nhiều thứ: sự lúng túng do chưa quen người, chưa quen việc, chưa tìm ra được hướng đi phù hợp để giải quyết vấn đề… chính vì những điều đó mà họ luôn phải đối mặt với suy nghĩ: khó khăn như vậy liệu mình có làm được hay không? Mình sẽ thất bại mất thôi… Những suy nghĩ tiêu cực ngay từ thời điểm mới bắt tay vào công việc chính là nguy cơ đẩy bạn đến thất bại. Hơn thế nữa, những khó khăn thất bại gặp phải trong giai đoạn này cũng dễ khiến người ta nản lòng mà không còn đám tiếp tục theo đuổi ước mơ, nghĩa là đang có nhiều nguy cơ thất bại nhất. Người ta đâu biết rằng nếu như vượt qua được khó khăn ban đầu đó, có thể mọi thứ sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn. Và thậm chí, chính những khó khăn ấy lại là cơ hội cho con người rèn luyện mình, thể hiện cá tính và phát hiện sức mạnh tiềm ẩn của bản thân. Thời điểm khi công việc gần đến mục đích cũng là thời điểm con người đối mặt với nhiều nguy cơ thất bại nhất. Cũng giống như lời giải thích của ông thầy trong câu chuyện đã được nhắc đến ở trên: “Khi cậu ta trèo lên đến độ cao nguy hiểm như lúc nãy và có thể ngã bất cứ lúc nào, thì cậu ta khắc biết cách để cẩn thận nên tôi không cần phải nhắc nhở. Nhưng sai lầm thường đến vào lúc người ta không thể ngờ đến..”.. Thời điểm lúc công việc chuẩn bị hoàn thành, mục đích chuẩn bị đạt được cũng là lúc người ta dễ chủ quan, không cẩn thận, không duy trì được những nề nếp góp phần làm nên chiến thắng mà mình đã duy trì trước đó mà dễ vấp phải những sai lầm không đáng có, vấp phải thất bại. Trong suốt quá trình thực hiện, người ta luôn biết rằng mình sẽ phải cố gắng thật nhiều để hoàn thành công việc, cũng như lúc đã trèo cây đến độ cao nguy hiểm người ta sẽ hết sức cố gắng vậy. Còn khi công việc đã hoàn thành, đôi khi mải mê với viễn cảnh của thành công trước mắt, với ý nghĩ ở thời điểm này thì mình không thể thất bại được nữa mà cuối cùng, thất bại đáng tiếc lại xảy ra. Lúc gần đến với vinh quang cũng là lúc con người ta có nguy cơ thất bại nhiều nhất là như vậy.Xem thêm: Nghị luận xã hội về khiêm tốn và giản dị Có thể nói ý kiến là sự chiêm nghiệm từ thực tế một cách chân thực. Nó phản ánh một tâm lý, thói quen thường gặp ở con người. Đứng trước khó khăn, nếu như không quyết tâm thực hiện, nếu như không hướng tới những điều tốt đẹp, họ sẽ dễ bị rơi vào trạng thái chán nản, từ chán nản mà buông xuôi công việc. Đó cũng là tâm lý chủ quan, nóng vội mong muốn nhanh đi đến đích. Cả hai tâm lý này đều là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ thất bại rất cao. Người ta sẽ khó có cơ hội đến với thắng lợi cuối cùng ngay từ giai đoạn đầu tiên cũng như ở trong những phút giây tưởng như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Vậy, để thay đổi điều này chúng ta phải làm gì? Tất nhiên, cần bắt đầu từ chính nơi ta phạm sai lầm. Hãy thay đổi mọi thứ, hãy đưa mình đến chiến thắng bằng cách vượt qua những trở lực ngăn cản bạn đến với nó. Mỗi người hãy rèn luyện cho mình thói quen suy xét mọi việc thật kỹ. Xác định được rằng, khó khăn là điều không thể tránh khỏi đặc biệt là trong thời điểm khởi đầu, khi mọi thứ còn đang rất mới mẻ và chưa có được những hướng đi rõ ràng. Rèn luyện cho mình thói quen vững vàng đối diện với khó khăn, không nản chí, nhụt chí là điều đầu tiên quan trong để bạn có cơ hội thực hiện những bước đi tiếp theo, hướng tới thắng lợi. Bên cạnh đó, cũng cần xác định được nguy cơ thất bại có thể đến rất nhiều khi chuẩn bị kết thúc công việc, lúc mà tưởng như không còn có gì phải lo lắng, cần phải luôn thận trọng trong mọi hành động, không chủ quan trước ánh hào quang của chiến thắng phía cuối con đường mà quên mất rằng mình phải bước tiếp một chặng đường nữa mới có thể đến được với nó và ai có thể dám chắc rằng, trên chặng đường cuối cùng đó không có một rào cản nào đó xuất hiện, quật ngã bạn, nếu như bạn không luôn sẵn sàng đối phó với nó. Và tất nhiên, một điều cũng quan trọng và cần thiết không kém là việc cần phải cố gắng quyết tâm rất nhiều trong quá trình thực hiện. Khởi đầu tốt đẹp, khi bạn đã vượt qua khó khăn để bước tiếp, nhưng nếu như không cố gắng vượt qua những khó khăn tiếp theo thì mọi cố gắng ban đầu cũng trở nên vô nghĩa. Cố gắng mọi lúc, mọi nơi để có thể thực hiện mọi thứ một cách tốt nhất có thể và bỏ qua những sai lầm không đáng có, thành công sẽ đến với bạn.Xem thêm: Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi ban? Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp? Lấy ví dụ thực tế để chứng minh Người ta thường nói: thất bại thường đến từ những điều mà chúng ta không ngờ tới. Bởi vậy, hãy sáng suốt trong mọi hoàn cảnh để biết rằng mình đang ở đâu và mình phải làm điều gì có ích cho bản thân, cho những điều mình đang theo đuổi, bạn sẽ đến đích. Vanmau.edu.vn
Khi bắt đầu công việc và khi gần đến mục đích là những lúc có nhiều nguy cơ thất bại nhất
1,283
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi…… Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. Hướng dẫn 1. Mở bài Đất nước là nguồn cảm húng chủ đạo trong sáng tác văn học, đặc biệt là trong thơ ca hiện đại. Một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời kì chống Mĩ là Nguyễn Khoa Điềm. Ông đã thể hiện những cảm nhận và suy nghĩ của mình về đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng. Hai mươi chín dòng thơ đâu có thể xem như một số định nghĩa về đất nước qua những hình tượng cụ thể, sinh động, gợi cảm, với giọng thơ sôi nôi, thiết tha (ghi lại đoạn thơ đề bài). 2. Thân bài Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ muôn màu muôn vẻ, sinh động lạ thường, lắng đọng trong tâm tưởng qua những liên tưởng kì thú. Ý nghĩa về đất nước được nhà thơ diễn đạt qua chiều dài của thời gian – đất nước đã có từ lâu đời – và qua chiều rộng của không gian – đất nước là cội nguồn của dân tộc. a) Đất nước đã có từ lâu đời: a1. Không định nghĩa bằng những dữ liệu, những khái niệm trừu tượng, nhưng nhà thơ đã giúp ta cảm nhận ý nghĩa đất nước bằng những điều thật cụ thể, thân thuộc, bình dị. Đất Nước đã có từ ngày đó… qua Sự tích trầu cau, qua truyền thuyết Thánh Gióng: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cải "ngày xửa ngày xưa…" mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc. Sự tích trầu cau biểu hiện tình nghĩa vợ chồng gắn bó thủy chung. Truyện Thánh Gióng thể hiện tinh thần bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta từ thời dựng nước. Qua lời kể của người mẹ thân yêu, tuổi thơ ta thấm nhuần những tình cảm đầu đời về đất nước thân yêu. a2. Đất nước còn hình thành những mĩ tục thuần phong. Hình ảnh: Tóc mẹ thì bới sau đầu, Gợi lại cội nguồn dân tộc, là một trong những nét đặc thù của văn hoá Việt Nam không bao giờ bị ngoại lai, dù phải trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc. Đất nước cũng hình thành từ lối sống giàu tình nặng nghĩa: Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn, gợi nhớ từ câu ca dao: Tay nâng đĩa muối chấm gừng Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau. a3. Theo tiến trình phát triển, dân tộc ta tiến lên nền văn minh nông nghiệp, từ việc xây dựng mái nhà che mưa trú nắng: Xem thêm: Các Mác nói: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trênCái kèo, cái cột thành tên đến cuộc sống lao động nông nghiệp vất vả để lo cái ăn: Hạt gạo phải một nang hai sương, xay, giã, giần, sàng, Đất Nước có từ ngày đó… a4. ý thơ chợt quay về hiện thực đời thường thật cụ thể, gần gũi, gắn bó với mồi người chúng ta: Đất là nơi anh đến trường, Nước là nơi em tắm, Đó cũng là nơi khắc ghi những kỉ niệm riêng tư thơ mộng tuyệt vời: Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm a5. Đất nước còn là giang sơn yêu quýqua làn điệu dân ca trữ tình: Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc" Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi" b) Đất nước là cội nguồn của dân tộc: b1. Cùng với thời gian đàng đẵng, hình ảnh đất nước còn trải rộng trong không gian mênh mông, nơi phát sinh và phát triển của cộng đồng dân Việt từ thuở sơ khai qua truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên: Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Đất là noi Chim về… Nước là nơi Rồng ở của giống dòng Lạc Việt. b2. Cho nên đất nước luôn tiềm tàng mối quan hệ máu thịt giữa các thế hệ quá khứ, hiện tại và tưong lai. Những ai đã khuất Những ai bây giờ Và con cháu mai sau. Tất cả đều ý thức sâu sắc về nguồn gốc tổ tiên, không bao giờ được quên cội nguồn dân tộc: Hàng năm ăn đâu làm đâu, Cũng biết củi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. để đoàn kết thành một khối, cùng vun đắp và phát triển cho Đất Nước vẹn tròn, to lớn. 3. Kết bài – Nguyễn Khoa Điềm đã nêu những định nghĩa đa dạng, phong phú về đất nước, từ chiều sâu của văn hoá dân tộc, xuyên suốt chiều dài của thời gian lịch sử đến chiều rộng của không gian đất nước. – Nhà thơ cũng vận dụng rộng rãi các chất liệu văn hoá dân gian, từ ca dao, dân ca đến các truyền thuyết lịch sử, từ phong tục, tập quán đến sinh hoạt, lao động của dân tộc ta qua những hình ảnh, ngôn ngữ nghệ thuật đậm đà tính dân tộc và giàu trí tuệ. Nguồn: thêm: Phân tích hình tượng con sông Đà trong Người lái đò sông Đà (Có dàn ý chi tiết)
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi…… Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
884
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn! Anh (chị) hãy trình bày những suy nghĩ về tình cảm của mỗi con người đối với quê hương, xứ sở. Hướng dẫn Trọng tâm cần bàn luận là tình yêu thương của con người với quê hương, xứ sở; với những miền đất từng gắn bó… Trước khi bàn luận, cần phân tích ngắn gọn và khái quát nội dung câu thơ của Chế Lan Viên: – Nhà thơ đã khám phá một quy luật muôn đời của trái tim con người: khi ta mới đặt chân đến một nơi nào đó, mọi thứ còn xa lạ nên "chỉ là nơi đất ở". Nhưng khi ta từ biệt nơi ấy ra đi, đất đã lưu giữ một phẩn đời với bao nhiêu kỉ niệm và ân tình nên đã "hoá tâm hồn". – Sự chuyển hoá kì diệu ấy là "bằng chứng" cho sức mạnh của tình đời, tình người: Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương… Trong quá trình bàn luận, cần đưa ra những dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu để minh hoạ và tăng sức thuyết phục cho hộ thống luận điểm. Nguồn: Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật Lão Hạc và ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn! Anh (chị) hãy trình bày những suy nghĩ về tình cảm của mỗi con người đối với quê hương, xứ sở.
214
Khi theo dõi bầu trời, chớ để mất hút mặt đất. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên Hướng dẫn – Giải thích ý kiến: + Câu nói trên sử dụng một hình ảnh ẩn dụ: bầu trời ở trên cao, rất xa so với chúng ta, trong khi đó mặt đất ở gần, dưới chân chúng ta, ta đứng trên mặt đất. Có thể hiểu bầu trời là những điều cao xa, những ước mơ, những điều lí tưởng mà ta hướng tới; trong khi đó mặt đất là những gì thiết thực, gần gũi, cụ thể, những điều bình thường nhưng thiếu nó ta sẽ không thể đứng vững. + Nội dung của ý kiến: câu nói trên khuyên chúng ta hãy đừng vì chỉ đuổi theo những điều ở trên cao, những lí tưởng cao xa mà quên mất những điều thiết thực, gần gũi, cụ thể, những điều bình thường trong cuộc sống. – Bàn luận về ý kiến: + Cuộc sống của con người sẽ rất cần những điều cao xa, những lí tưởng, những hi vọng, những điều mà ta mơ ước, hướng tới. Đó là động lực để ta phấn đấu, vươn lên, để ta hoàn thiện mình. Một con người cần có một hình mẫu lí tưởng để học tập; một ước mơ để hướng tới, để phấn đấu, một mục tiêu sống. Tất cả những điều đó đều có thể ở xa ta, ở trong tương lai, còn chưa xảy ra, giống như bầu trời trên đầu, luôn nhìn thấy nhưng không thể chạm đền. + Bên cạnh những điều cao xa đó, chúng ta còn sống vì những điều rất đỗi bình thường: những nhu cầu bình thường, những niềm vui giản dị, những con người quanh ta, gần gũi với ta. Không có những điều giản dị đó, ta không thể sống được như một người bình thường. + Hướng đến những điều cao xa là cần thiết nhưng nếu chỉ hướng đến những điều cao xa mà quên mất những điều bình thường, ta sẽ không thể sống chính cuộc sống hằng ngày, cuộc sống mà ta đang sống, như một con người bình thường. – Bài học nhận thức và hành động: cần phải biết sống một cách cân bằng, vẫn phải có những ước mơ, những mục tiêu, những điều mà ta hướng tói nhưng cũng không được quên những điều bình thường mà nhờ đó, ta có thể sống như một con người, hạnh phúc trong hiện tại. Nguồn: thêm: Phân tích hình ảnh người đàn bà làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”- Văn 12
Khi theo dõi bầu trời, chớ để mất hút mặt đất. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên
435
Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hồn. Hướng dẫn 1. Mở bài – Nhân loại như một con người sống mãi và càng ngày càng mở rộng tri thức, nhất là tri thức khoa học, đời sống. Khoa học đã giúp cho loài người đạt đến trình độ văn minh như ngày nay. Đó là điều khẳng định. – Nhưng ngay từ thế kỉ XVI, một nhà văn, nhà tư tưởng nhân văn chủ nghĩa đã lên tiếng cảnh giác: “ Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hôn” (Rabelais) – Ta hãy bình luận câu nói trên. 2. Thân bài a) Giải thích – Khoa học ở thế kỉ XVI có nghĩa là tri thức thuộc mọi lãnh vực, nhất là trong lãnh vực văn chương, triết học. Người học nhiều, biết rộng mà không có lương tâm hướng dẫn tư tưởng, hành động sẽ sa dần đến chỗ băng hoại tâm hồn. – Khoa học (thực nghiệm) ngày nay là môn học có hệ thống nhằm khám phá ra những định luật, giải thích các hiện tượng, sự vật, là cơ sở của những sáng chế kĩ thuật. – Đạo đức là nền gốc của khoa học vì đạo đức hưởng những phát minh khoa học vào mục đích tốt đẹp, phục vụ đời sống con người. Nếu không có ý thức đạo đức soi rọi, khoa học sẽ trở thành phương tiện thoả mãn những tham vọng ích kỉ, đen tối của một số người và cuối cùng có thể đẩy nhân loại đến chỗ tàn rụi, diệt vong. b) Bình – Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, giả trị câu nói của Rabelais được khẳng định – Những kẻ có học thức mà thiếu ý thức đạo đức trưởng thành trở nên kiêu căng ích kỉ, tham lam, hành động sai lệch, đưa đến sự sa đoạ về tinh thần. Họ có thể sử dụng học thức của mình để thoả mãn những dục vọng thấp hèn (Trần ích Tắc trong vương tộc nhà Trần, học cao hiểu rộng, nhưng phản bội lại đất nước, phản lại dòng họ chỉ vì tham lam ngôi vị An Nam quốc vương mà giặc hứa sẽ ban cho). – Nếu hiểu theo nghĩa thứ hai, câu nói càng có giá trị. Xem thêm: Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng vế đất nước của nhà thơKhoa học kĩ thuật ngày càng tiến bộ, sẽ dần dần giải phóng sức lao động cho con người. Nhưng một số chủ nhân của các tư bản lợi dụng kĩ thuật, cơ khí để bóc lột sức lao động của công nhân một cách tinh vi. Trong một số nhà máy, thợ thuyền biến thành một loại máy móc khô cằn trong dây truyền sản xuất. Ngồi giữa máy móc, lúc nào cũng tính toán lợi nhuận, con người ngày càng trở nên ích kỉ, thậm chí khô cạn lòng nhân ái vốn là một nhân tố chủ yếu của đạo đức con người. Từ giữa thế kỉ XX, những phát minh về nguyên tử, hạt nhân, thayvì nâng cao đời sống vật chất cho loài người, lại dẫn đến việc chế tạo những loại vũ khí giết người hàng loạt. Thật đúng như lời cảnh cáo của Rabelais: “Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hồn c) Luận – Nhân loại cũng đã nhận rõ những hiểm hoạ của khoa học không có lương tâm. Cho nên, trước tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, nhất là việc ứng dụng khoa học vào lĩnh vực chiến tranh, các nhà tư tưởng, những đoàn thể yêu chuộng hoà bình, những tổ chức quốc tế đấu tranh bảo vệ con người trên hành tinh của chúng ta đã kêu gọi lương tâm con người, nhất là các trung tâm quyền lực hãy cố gắng ngăn chặn sự phát triển khoa học theo hướng xấu Gandhi – nhà tư tưởng lớn – đã từng kêu gọi nhân loại hãy đấu tranh vì hoà bình của chính loài người. – Con người đang dần dần chinh phục thiên nhiên. Ngày nay, những phi thuyền không gian đổ bộ lên mặt trăng, sao hoả và những hành tinh khác để tìm cách làm chủ vũ trụ, toàn là nhờ ở khoa học. Nhưng điều quan trọng nhất là con người phải luôn luôn soi sáng tâm hồn mình, đừng sử dụng khoa học như một công cụ giúp nhân loại thoát khỏi nạn nghèo đói, bệnh tật, chiến tranh. Khoa học có lương tâm được phát triển không ngừng sẽ giúp con người đạt tới một cuộc sống tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần. 3. Kết bài – Lịch sử phát triển của loài người ghi nhận sự tiến bộ không ngừng của tri thức con người, nhất là sự tiến bộ vượt bực của khoa học từ mấy thế kỉ nay. Nhưng trong lãnh vực đạo đức, con người dường như giẫm chân một chồ, tiến về trí mà không tiến về tâm. – Cần khắc phục sự mất quân bình này để khoa học luôn luôn là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển nền văn minh vật chất lẫn tinh thần của nhân loại. Nguồn: thêm: Kể về chị họ em
Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự tàn rụi của tâm hồn.
889
Khuynh hướng sử thi trong truyện ngắn Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành). Hướng dẫn a) Khuynh hướng sử thi được thể hiện qua đề tài, cốt truyện, lối trần thuật, ngôn từ, hình ảnh – Đề tài, nội dung cốt truyện phản ánh cuộc đấu tranh giành tự do của người dân Xô Man nói riêng và đồng bào Tây Nguyên nói chung trong những năm tháng chống Mĩ ác liệt. – Lối trần thuật mang đậm chất "sử thi Tây Nguyên": câu chuyện của một đời người được kể trong một đêm, bằng lời kể của già làng bên bếp lửa nhà ưng, trong không khí trang trọng, thiêng liêng… Lời kể được khởi đầu bằng lời nhắn nhủ tha thiết, hộ trọng của vị già làng: "Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi, thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe…". – Ngôn từ, hình ảnh toát lên chất thơ hùng tráng, âm hưởng trang trọng của sử thi. b) Khuynh hướng sử thi được thể hiện qua hình tượng thiên nhiên – Hình tượng cây xà nu không chỉ chiếm giữ những vị trí "then chốt" của truyện ngắn này (nhan đề, mở đầu và kết thúc) mà còn trở đi trở lại, song hành với hình tượng con người. – Hình tượng cây xà nu mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng: + Phản chiếu những đau thương, mất mát mà người dân Tây Nguyên phải gánh chịu trong chiến tranh khốc liệt. Xem thêm: Phân tích tâm trạng cô đơn và nỗi đau khổ của chinh phụ trong đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)+ Thể hiện tinh thần bất khuất, khát vọng tự do và sức sống mãnh liệt của thiên nhiên, con người Tây Nguyên. c) Khuynh hướng sử thi được thể hiện qua hình tượng con người – Hình tượng các thế hệ dân làng Xô Man: Dẫu phải trải qua nhiều gian khổ, hi sinh (nhiều người già và thanh niên bị giặc bắt giữ, hành hạ; bà Nhan, anh Xút bị sát hại,…) nhưng các thế hệ dân làng Xô Man luôn tiếp nối nhau trên con đường chiến đấu: cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, bé Heng,… – Hình tượng Tnú – người con ưu tú nhất của làng Xô Man: + Phải gánh chịu nhiều đau thương, mất mát: bản thân bị tù đày, vợ con bị sát hại, hai bàn tay anh cũng bị đốt cháy, mỗi "ngón tay còn hai đốt", "không mọc ra được nữa". + Vẫn bất khuất, kiên cường: cùng cụ Mết lãnh đạo dân làng cầm vũ khí đánh giặc; lên đường cầm súng chiến đấu và chiến thắng kẻ thù,… d) Truyện ngắn Rừng xà nu được mệnh danh là "thiên sử thi Tây Nguyên thời chống Mĩ". Khuynh hướng sử thi thê hiện trong các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Bằng tình cảm gắn bó sâu nặng với miền đất Tây Nguyên và với ngòi bút tràn đầy cảm hứng lãng mạn, Nguyễn Trung Thành đã góp phần làm nên sự phong phú cho khuynh hướng sử thi trong văn học Việt Nam giai đoạn này. Nguồn: thêm: Tả lại quang cảnh trường em vào một buổi sáng đẹp trời ở thời điểm trước buổi học
Khuynh hướng sử thi trong truyện ngắn Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành).
561
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn thể hiện qua Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành Gợi ý “Rừng xà nu” là một truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Trung Thành và của văn học thời chống Mĩ. Trong tác phẩm, với hình tượng cây xà nu, Nguyễn Trung Thành đã làm nổi rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, một đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975. Khuynh hướng này đã chi phối sự sáng tạo nghệ thuật của các nhà văn trong giai đoạn văn học này. Đọc “Rừng xà nu” những nhân vật như cụ Mết, Tnú, Dít, Mai… tạo nên ấn tượng sâu sắc nơi độc giả. Nổi bật hình ảnh cây. xà nu được lặp đi lặp lại gần hai mươi lần một hình tượng đặc sắc bao trùm tọàn bộ thiên truyện ngắn này. Hình tượng ấy đã tạo nên vẻ đẹp hùng tráng, chất sử thi và lãng mạn cho câu chuyện về làng Xô-man bất khuất, kiên cường. Qua tác phẩm, cây xà nu, rừng xà nu đã được Nguyễn Trung Thành miêu tả thật cụ thể, thật chi tiết với ngôn ngữ giàu chất thơ, bằng những “lời văn có cánh” trong một cảm xúc thật say mê và mãnh liệt. Cây xà nu trong truyện xuất hiện rất nhiều lần và đường như rất quen thuộc với con người nơi núi rừng Tây Nguyên, nó tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những buồn vui của người dân nơi đây trong cuộc chiến đâu chống Mĩ thật anh dũng của họ. Tác phẩm “Rừng xà nu” là một bản anh hùng ca về cuộc đời anh dũng, đau thương, bất khuất của Tnú cũng như của tất cả dân làng Xô-man. Câu chuyện ấy được kể trên nền tảng chính của hình tượng cây xà nu — một hình tượng hàm chứa rất nhiều ý nghĩa tượng trưng và khái quát. Những cây xà nu, rừng xà nu như những con người, những tâm hồn sống, vừa là nhân chứng, vừa tham gia bản anh hùng ca, cũng vừa chịu đựng mọi vất vả, đau thương dưới tầm đạn kẻ thù. Nhưng bất chấp tất cả, rừng xà nu vẫn tràn đầy sức sống, vẫn vươn mình lên cường tráng vượt lên mọi thương đau. Cây xà nu là một hình ảnh mang tính chất tượng trưng cho khát vọng tự do, khát vọng giải phóng, cho phẩm chất anh hùng và sức sống tiềm tàng mãnh liệt của dân làng Xô-man. Mở đầu câu chuyện là hình ảnh “cả rừng xà nu hàng vạn cây” và kết thúc vẫn là “những rừng xà nu nốì tiếp chạy đến chân trời”. Hình ảnh ấy như một nét nhạc trầm hùng, một bản đàn dạo, là cái “phông” cho cả một câu chuyện khiến thiên truyện càng mang đậm tính sử thi và lãng mạn hơn. Rừng cây xà nu được xem như là biểu tượng cho con người Xô-man. Với hình ảnh nhân hóa, Nguyễn Trung Thành đã miêu tả cây xà nu như những con người, chúng cũng có “vết thương”, biết “ham ánh sáng” và “ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”. Cây xà nu còn là một hình ảnh so sánh với con người “ngực căng bằng cây xà nu”. Rừng xà nu năm tháng đứng dưới tầm đại bác kẻ thù chịu đựng biết bao tàn phá, cũng như những đau thương mà dân làng phải gánh chịu trước ách kìm kẹp của giặc. “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương”. “Cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình nhựa ứa ra, tràn trề”., rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn”. Hình ảnh đó gợi lên lòng căm thù và kết tụ một ý chí phản kháng.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh Nhưng hơn hết vẫn là sức sống mãnh liệt đầy sức trẻ của rừng xà nu bạt ngàn. “Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, “có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắc như những mũi lê” “nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh sáng”. Thế mới biết sức trẻ của cây xà nu mãnh liệt đến dường nào! Sức trẻ ấy còn mang tính tượng trưng cho thế hệ trẻ của làng Xô-man. Đó là những Mai, Dít, Tnú, Heng, những con người luôn gắn bó với cách mạng, bất khuất từ tuổi thơ, lớn lên trong lửa đạn, trưởng thành trong đau thương và sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì tự do của dân tộc. Bên cạnh đó, sức sống bất khuất kiên cường của cây xà nu còn được tạo bởi hàng vạn cây ở những đồi xà nu nói tiếp nhau tới chân trời ở tấm ngực lớn của rừng ưỡn ra che chở cho làng. Đó là những cây xà nu thật vững chắc, xanh tốt đã vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum suê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng chúng vượt lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã”, một cây ngã xuống tức thì bốn năm cây con lại mọc lên cứ thế trở thành cả một rừng cây xà nu nối tiếp đến chân trời. Những cây xà nu, rừng xà nu ấy là hình ảnh của dân làng Xô-man kiên cường chống giặc, bất chấp mọi hi sinh, một lòng đi theo Đảng, đi theo kháng chiến hết thế hệ này đến thế hệ khác. Đó là những cụ Mết, anh Xút, Tnú, Mai, Dít, anh Brơi… mà tiêu biểu là hình ảnh cụ Mết. Nhà văn đã ví cụ “như một cây xà nu lớn”. Hơn ai hết, cụ là người hiểu rất rõ sự gắn bó của cây xà nu và mảnh đất đang sống, hiểu được sức mạnh tiềm tàng bất khuất của rừng xà nu cũng như của dân làng Xô-man. Chính cụ Mết đã nói với Tnú “không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta”, “cây mẹ chết cây con lại mọc lên”. Cây xà nu còn là người chứng kiến sự giác ngộ, sự hi sinh thầm lặng, lòng đũng cảm và ý chí quật khởi của dân làng Xô-man. “Đứng trên đồi cây xà nu gần con nước lớn, cả vùng Xô-mạn ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng”. Ánh lửa xà nu soi sáng lời căn dặn của anh Quyết: “Người còn sống phải chuẩn bị dao, mác, vụ, rựa, tên, ná… Sẽ có ngày dùng tới”. Lửa xà nu thử thách ý chí cũng như lòng can đảm của Tnú: “Không có gì đượm bằng nhựa cây xà nu. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc… máu anh mặn chát ở đầu lưỡi…” Thoạt đầu là “hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn”, bàn tay chú bé Tnú dắt cô bé Mai lên rẫy trồng tỉa, xách xà lét giấu vài lon gạo đi nuôi cán bộ Quyết trốn ở rừng; bàn tay cầm viên phấn bằng đá trắng, lấy từ núi Ngọc Linh về, viết lên bảng đen đan bằng nứa hun khói xà nu, để học chữ y dài, chữ 0 thêm móc thành a; bàn tay cầm đá đập vào đầu vì học dốt; bàn tay mang công văn đi làm liên lạc; hai bàn tay mà Mai đã cầm lấy, ở gốc cây to đầu rừng lách, khi Tnú thoát ngục Kon Tum, bàn tay duyên nợ Mai vừa cầm vừa “ứa nước mắt khóc, không phải vì như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu”.Xem thêm: Nhân dân ta thường khuyên nhau: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng". Hãy giải thích và trình bày cảm nghĩ về câu ca dao trên Bàn tay nguyên vẹn đó không còn. Cụ Mết có bàn tay nặng trịch nắm chặt như kìm sắt, hỏi: “Mười ngón tay mày vẫn cụt thế à? Không mọc ra được nữa à!… Ư!.”… Câu hỏi đó rất đột ngột, như người sực tỉnh, chợt nhớ đến một điều hệ trọng. Ông cụ hỏi và tự trả lời. Sự thật đau đớn không tin là thật, cụ ngạc nhiên sao ngón tay lại cụt, cụt rồi sao không mọc lại? Một tiếng “ừ” cam chịu và đe doạ. Cụ giận dữ nói tiếp: “…Được! Ngón tay còn một hai đốt cũng bắn súng được. Mày có đi qua chỗ Rừng xà nu gần con nước lớn không? Nó vẫn sống đây”. Đúng thế, con người, thiên nhiên, đất nước vẫn sống, vượt lên mọi đoạ đày, chém giết. Cây xà nu ở Xô Man mọc thành rừng “ươn tấm ngực lớn che chở cho làng”. Nhựa nó “thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt”, nó “sinh sôi nảy nở khoẻ… một cây mới ngã gục, đã có ‘bốn năm cây mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời” như thế hệ trẻ Dít, Heng nốì tiếp Tnú, Mai, lớp người này đã từng thay thế Quyết. Xà nu đôt lên làm ngọn lửa thổi cơm, xông khói sưởi âm, lem luốc cả lũ trẻ không áo mặc, làm đuốc soi cho Dít giã gạo, cháy giần giật trong gió, trong mưa soi đường cho cụ Mết dẫn dân làng vào rừng lấy giáo mác, vụ rựa giấu kỹ đem ra nổi dậy. Cây mọc bên con nước lớn, bên con suối nhỏ, cây ham ánh nắng còn Tnú ham tự do, đi đâu cũng nhớ trở về làng. Đạn đại bác rót thành lệ mồi ngày, sát thương hàng vạn cây. Cây bị chặt đứt ngang thân, đổ xuống ào ào, chết lập tức tại trận, giữa tuổi xanh cây. Như Mai chết đang sinh nở. Cây bị thương ứa nhựa tràn trề như máu xối. Máu đổ bao giờ cũng gây một cảm giác thiêng liêng, máu chả là sự sống đang bị rời đi từng giọt từng giây, là giao điểm tiếp cận cái hư vô vĩnh cửu. Nhựa xà nu “bầm đen lại và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn”, cục máu không tan như một di hận đòi trả thù. Nhưng có thân cây, có bàn tay vượt qua thử thách, lành lại vêt thương, lên da non, cường tráng như cũ. Bàn tay Tnú là bàn tay tín nghĩa, không biết bội phản. Cũng là một bàn tay chỉ đường. “Lưng Tnú ngang dọc những vết dao chém – Cộng sản đâu, chỉ ra! Tnú nói nhỏ: – Cởi trói đã, tay mới chỉ được. Chúng nói cởi trói tay, Tnú để bàn tay ấy lên bụng mình: – ở đây này!”. Lại thêm những nhát dao băm lên lưng Tnú, máu ứa đông lại, tím thâm như nhựa xà nu. Chất nhựa, chất dầu xà nu xưa nay vẫn giúp ích cho dân làng. Con người trồng cây, cây phục vụ cuộc đời. Lẽ tự nhiên thuận trời thuận đất là như vậy. Nhưng có sự can thiệp của lực lượng phản động, quy luật bị đảo ngược. Thằng Dục tẩm dầu xà nu vào giẻ rồi quấn lên mười đầu ngón tay Tnú, mười điểm chót vót, bén nhậy nhất của hệ thần kinh. Dầu xà nù bắt lửa rất nhanh. Nó châm đốt dần từng ngón tay Tnú, như muôn thong thả nhấm nháp cái thích thú đao phủ đó. “Mười ngón tay đã thành mười ngón đuôc”. Dầu xà nu rất thơm nay khét lẹt mùi thịt cháy. Thằng Dục không phải là người Mỹ, dầu xà nu không phái là xăng dầu nhập cáng, kẻ thù thâm hiểm hằng giấu bàn tay diệt chủng, dùng người của chúng ta giết chúng ta.Xem thêm: Phân tích những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975. Lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú. Nhưng mười ngọn đuốc thịt da đó đã kịp làm nổi châm ngọn lửa nối dậy. Sau tiếng thét của Tnú, dân làng bột phát giết sạch mười tên giặc… Rồi vết thương lành lại. Mỗi ngón tay cụt một đốt. Còn lại hai đôt vần có thể cầm giáo, bắn súng. Như cây xà nu bị mảnh đạn ứa nhựa tím bầm còn vương cánh đứng đó. Bàn tay không như cũ, nhận thức không thể như cũ. Tnú đã trà giá đắt nhưng có một kinh nghiệm lớn: “Chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục”. Và tình cảnh anh cũng đứng ngang tầm kinh nghiệm đó. Căm thù trong anh cháy giần giật như nhựa xà nụ bén nhạy. Có súng, anh không bắn. Có dao, anh không đàm. Những thằng Dục mờ mắt trắng dã nhìn tang chứng tội ác hiển hiện của chúng, ‘nhìn bàn tay quá báo, bàn tay cụt mười ngón đang xoè ra bóp cổ chúng, không ngờ sự trừng phạt lại đến nhanh chóng và ghê gớm như vậy. Giọng điệu sử thi của “Rừng xà nu” bắt đầu từ câu chuyện kể của cụ Mết dưới ánh lửa xà nu, một câu chuyện, phảng phất phong vị anh hùng ca. Và cây xà nu không chỉ gắn với quá khứ, hiện tại anh hùng mà còn gắn bó với mọi sinh hoạt, phong tục và đời sống vãn hóa của người Xô-man, của các dân tộc Tây Nguyên. Đến cuối truyện, hình ảnh cánh rừng xà nu lại trở về, “những rừng xà nu nối tiếp chạy đến tận chân trời” với “vô số những cây con đang mọc lên” bất chấp đêm qua đạn đại bác lại bắn. Ta đường như nghe thấy âm thanh của sự sống mới, một sức sống vô hạn và không gì có thể tẳn phá nổi của một dân tộc thương đau, là chiến thắng của tuổi trẻ, lời hứa hẹn của tương lai. Ta nghĩ đến Dít – một Mai khác không chi biết yêu thương mà còn biết chiến đấu bảo vệ những’gì thân yêu, Ta nghĩ đến bé Heng, rất có thể sẽ còn đi xa hơn Tnú…Cứ thế, câu chuyện nói rất nhiều đến súng, đạo, chết chóc đã khép lại trong một điệp khúc dịu dàng, ngọt nhẹ. Đó dường như là cảm xúc sử thi hoành tráng. Hoàng tráng trong hình ảnh, với vóc dáng vạm vỡ, cao cả của núi rừng Tày Nguyên, hoành tráng trong âm hưởng, với lời văn đầy âm điệu, khi vang động khi thiết tha, trang nghiêm. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được Nguyễn Trung Thành thể hiện một cách xuất sắc qua hình tượng cây xà nu, đó thật sự là một sáng tạo nghệ thuật đáng kể của nhà văn. ông đã lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới những lớp ý nghĩa rất khác nhau qua cách viết vừa gợi vừa tả. Qua hình tượng này người đọc không chỉ thấy rõ sức sống kiên cường, mãnh liệt của dân làng Xô-man,của con người Tây Nguyên nói riêng mà còn là của dân tộc Việt Nam nói chung trong những tháng năm chống Mĩ. Vanmau.edu.vn
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn thể hiện qua Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành
2,619
Khái niệm về chất thép trong thơ Hồ Chí Minh Hướng dẫn Chất thép là một hình ảnh ẩn dụ khi nói đến thơ văn Hồ Chí Minh. Chất thép trong thơ được Người dùng để chỉ tính chiến đấu của người chiến sĩ, chỉ tinh thần kiên cường, bất khuất, gan dạ, chỉ tình cảm kiên trung của các chiến sĩ. Những người có tinh thần thép luôn kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, luôn dũng cảm chiến đấu tới cùng và kiên định với lí tưởng cách mạng. Không chỉ thế, người chiến sĩ có tinh thần thép luôn hướng đến tương lai, sống lạc quan, tự chủ. Thơ văn có chất thép phải đề cập đến tính chiến đấu, cách mạng và hình tượng người chiến sĩ “Nay ở trong thơ nên có thép/nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Giọng điệu thơ phải mang khí thế hừng hực của chiến trường bom đạn và dũng khí tiến công của người chiến sĩ. Thơ cách mạng phải mang tính chiến đấu, cổ vũ, động viên, khích lệ, tán thưởng. Tinh thần thơ là tinh thần của thời đại được kế thừa truyền thống chống giặt ngoại xâm của ông cha. Mở bài: +Ngắm trăng là một tác phẩm hay trong Nhật kí trong tù, bài thơ là kết tinh của chất thép và cảm xúc trữ tình, giữa cổ điển và hiện đại. + Trong hoàn cảnh bị tù đày, người tù vẫn ung dung ngắm trăng và làm thơ. Bài thơ ngắm trăng cho thấy rõ tinh thần thép của người tù trong mọi hoàn cảnh vẫn hướng đến ánh sáng của tự do.Xem thêm: Lập dàn ý nghị luận về đức tính trung thực Thân bài: + Câu thơ đầu “trong tù không rượu cũng không hoa” tả thực về cuộc sống hiện tại của người tù, cảnh tù ngục thiếu thốn hiện ra, trong tù cơm không đủ no áo không đủ ấm lấy đấu ra rượu với hoa. + Câu thơ tiếp theo “cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”, đọc câu thơ đầu tiên chúng ta liên tưởng đến thú vui thưởng nguyệt của người xưa “trăng, hoa, tửu” nhưng thực tại người tù chỉ có mỗi ánh trăng bên ngoài khung sắt. Ánh trăng đẹp của thiên nhiên có đủ sức mạnh làm người tù quên đi thực tại tù đày mà chiêm ngưỡng, say đắm không? Theo bản dịch thơ “đối thử lương tiêu nại nhược hà” chúng ta thấy rõ tâm trạng bối rối của Bác trước cảnh đẹp đêm trăng. Trong cảnh tù đày gian khổ và thiếu thốn, điều đặc biệt là mất đi sự tự do mà Bác vẫn làm một cuộc vượt ngục tinh thần để đến với ánh trăng của thiên nhiên, tâm hồn Bác phải thật sự khát tự do, mạnh mẽ và lạc quan mới có thể làm được điều đó. + “ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Hai câu thơ này Bác đã tự tách mình ra khỏi vai trò của người tù đang hướng ra ánh trăng để tạo thành một bức tranh đẹp của cuộc đối thoại người và trăng, giữa tâm hồn thi sĩ và một niềm cảm xúc thơ, giữa người bị tù đày và tự do.Xem thêm: Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, có thể nói cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc nhiều khi đã lấn át cả thái độ thiên vị với triều Lê... Phân tích hồi thứ mười bốn của tác phẩm này để chứng minh nhận xét trên Chúng ta không còn thấy hình ảnh người tù trong câu thơ cuối mà thay vào đó là hình ảnh rất đẹp của một thi nhân. Ánh trăng cũng không chỉ là ánh trăng bình thường soi rọi khắp mặt đất mà ánh trăng trở nên có linh hồn, là người bạn tri kỉ của nhà thơ, tìm đến với nhà thơ. Giữa trăng và người có một sự giao hòa rất nhẹ nhàng nhưng lại thắm thiết như quen biết từ lâu. Dù không nói lời nào nhưng hơn ai hết họ hiểu nhau. Hình ảnh thơ rất lãng mãn, tươi đẹp khiến cho chúng ta không nghĩ đến người thơ đang chịu cảnh tù đày. Kết bài: Trong bài thơ chúng ta chỉ thấy những từ ngữ hết sức bình dị, lãng mạn chứ không lên gân hay đanh thép. Vậy mà người đọc lại âm thầm nhận ra ý chí mạnh mẽ trong con người Bác. Dù trong mọi hoàn cảnh Bác vẫn ung dung làm thơ, lạc quan ngắm trăng. Không có bất cứ nhà lao nào giam được tinh thần của Bác, một tinh thần sắt đá luôn hướng về tự do, dân tộc.
Khái niệm về chất thép trong thơ Hồ Chí Minh
795
Khái quát những cảm nhận của anh (chị) về bức tranh mùa thu trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến Gợi ý Bài thơ là một bức tranh thu với những nét rất đặc trưng cho mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ. Bức tranh phong cảnh được vẽ thật khéo, với nhiều chi tiết và đường nét rất hội họa: ao thu với làn nước trong, sóng gợn nhẹ, bầu trời cao xanh lồng lộng, không gian yên tĩnh, vắng vẻ. Không gian bức tranh được khuôn gọn trong một chiếc ao. Những chiếc ao nhỏ bé đan cài trong những con ngõ quanh co vắng vẻ là một hình ảnh rất quen thuộc và đặc trưng của không gian làng quê Bắc bộ. Chủ thể trữ tình – người phác hoạ bức tranh đang ngồi trên chiếc thuyền câu để thả câu câu cá. Bốn câu thơ đầu tả cảnh, một bức tranh phong cảnh rất đẹp với một không gian trong trẻo, xinh xắn và tĩnh lặng. Cái gì cũng nhỏ bé, thanh sơ gợi một không gian thật yên bình nhưng cô đơn, vắng lặng. Đó là bức tranh đẹp với màu sắc hài hoà, đường nét cân đối. Cảnh nền là một màu xanh mát của mặt ao với một chút sóng gợn lăn tăn. Điểm xuyết trên mặt ao là chiếc thuyền câu mỏng mảnh, với hình ảnh một người ngồi câu trong tư thế đầy suy tư “tựa gối ôm cần”. Cao hơn chút nữa so với mặt ao, nổi bật trên nền xanh dịu của nước ao thu ấy là một chiếc lá vàng chao nghiêng. Đó là phía dưới, còn cao hơn chút nữa là bầu trời cao lồng lộng với sắc xanh ngắt.Xem thêm: Thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận Không gian rộng, sâu đối lập với mặt ao hẹp, gợn sóng nhẹ và hiu hắt gió, lại cộng thêm với “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” tạo cho không gian một cảm giác hiu quạnh. Cảnh làng quê trong trẻo trong ánh mắt của thi nhân nhưng phảng phất nỗi buồn. Cảnh tĩnh và vắng, bởi đó là cảnh được nhìn qua tâm trạng của một thi nhân đang mang nặng trong lòng nỗi trăn trở nhân tình thế thái. Để vẽ bức tranh thu xinh xắn ấy, nhà thơ đã sử dụng rất thành công các từ láy: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng và các từ gợi tả, giàu chất hội họa: hơi gợn tí, khẽ đưa vèo, xanh ngắt, vắng teo… Những từ ngữ này đã lột tả được cái thần thái của cảnh vật làng quê. Vanmau.edu.vn
Khái quát những cảm nhận của anh (chị) về bức tranh mùa thu trong bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến
445
Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX Hướng dẫn 1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa Văn học Việt Nam trong thời kì 1945 đến hết thế kỉ XX phát triển trong điều kiện lịch sử có nhiều biến động. – Giai đoạn 1945 – 1975 diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. – Giai đoạn 1975 đến hết thế kỉ XX, đất nước bước vào thời kì hoà bình, ổn định và hướng tới sự đổi mới toàn diện, sâu sắc: quan niệm văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam có những thay đổi (coi văn học không chỉ là công cụ chính trị mà còn là nhu cầu văn hoá – thẩm mĩ thiết yếu của con người). Trong giai đoạn này, nhất là từ thập kỉ 90, Việt Nam có sự tiếp xúc rộng rãi hơn với văn hoá – văn học thế giới theo con đường hội nhập kinh tế – văn hoá. 2. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam 1945 – 1975 a) Văn học phục hưng cách mạng, cổ vũ chiến đấu, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. b) Hướng về đại chúng và đậm đà bản sắc dân tộc. c) Chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 3. Những thành tựu cơ bản của văn học Việt Nam 1945 – 1975 a) Thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử: góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. b) Tiếp nối và phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc. Đó là: – Nối tiếp truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. – Nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng. – Tiếp nối và phát huy đến một trình độ mới truyền thống nhân đạo của nhân dân ta. Xem thêm: Phân tích và nêu cảm nhận về phác thảo chân dung Đô-xtôi-ép-ki của nhà văn Áo Xvai-gơ– Phát triển với nhiều thể loại phong phú, bên cạnh thơ (thểloại truyền thống) còn có truyện ngắn, tiểu thuvết, kịch, bút kí, nghị luận… 4. Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau 1975 – Vận động theo xu hướng dân chủ hoá. – Phát triển trên nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân bản và sự ý thức sâu sắc ý thức cá nhân. – Phát triển phong phú, đa dạng, phức tạp về khuynh hướng, thể loại… hướng tới tính hiện dại. 5. Những nét đổi mới chủ yếu của văn học Việt Nam từ sau 1975 Nói chung văn học Việt Nam từ sau 1975 có sự đổi mới ý thức nghệ thuật của giới cầm bút, xa dần với khuynh hướng chính trị hoá trong nghệ thuật. Đổi mới trên tất cả các thể loại: a) Về văn xuôi + Có sự đổi mới trong quan niệm và cách tiếp cận hiện thực. + Đổi mới về nghệ thuật trần thuật. + Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người dẫn đến sự biến đổi về hệ thống thể loại. + Đổi mới về ngôn ngữ. + Đổi mới trong cấu trúc các thể loại văn xuôi. b) Về thơ + Tính chất phi sử thi hoá, hướng vào đời sống thế sự và cá nhân đã làm xuất hiện nhiều dạng thức mới của cái tôi trữ tình. + Muốn vượt qua khỏi truyền thống “duy cảm” của thơ phương Đông, phát triển theo hai xu hướng: đưa thơ về gần với văn xuôi, với triết học hoặc đưa thơ sang địa hạt của tâm linh, vô thức. + Về hình thức, thơ phát triển theo hướng tự do hoá. Nguồn: thêm: Kể về con gà mái
Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
636
Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX Hướng dẫn 1. Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế cuối thế kỉ XIX có mấy bộ phận, là những bộ phận nào? Chọn ý đúng? A. Có 3 bộ phận: văn học dân gian, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm. B. Một bộ phận: văn học chữ Hán. C. Hai bộ phận: văn học dân gian, văn học chữ Hán. D. Hai bộ phận: văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm. 2. Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ X đến cuối thếkỉ XIX có thể chia làm mấy giai đoạn, đó là những giai đoạn nào? Chọn đáp án nào? A. Hai giai đoạn: – Giai đoạn từ thế kỉX đến hết thế kỉ XVII. – Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX. B. Ba giai đoạn: – Giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉXVII. – Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉXIX. – Giai đoạn từ giữa thế kỉ XIX đến hết thế kỉ XIX. 3. Nội dung lớn của văn học Việt Nam từ thếkỉ X đến hết thế kỉ XIX gồm có những nội dung nào? Chọn ý đúng? A. Nội dung cảm hứng yêu nước. B. Nội dung cảm hứng nhân đạo. C. Nội dung cảm hứng thế sự. D. Gồm tất cả 3 nội dung cảm hứng A, B, C. 4. Trong các tác phẩm sau, tác phẩm nào không thể hiện cảm hứng yêu nước? Xem thêm: Thuyết minh về Giỗ tổ Hùng Vương- ngày quốc lễ, một nét sinh hoạt văn hoá tâm linh của người Việt.A. “Quốc tộ ” của Đỗ Pháp Thuận. B. “Nam quốc sơn hà ” của Lí Thường Kiệt. C. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. D. “Bình Ngô đại cáo ” của Nguyễn Trãi. E. “Truyền kì mạn lục ” của Nguyễn Dữ. 5. Trong những tác phẩm sau đây, tác phẩm nào không mang cảm hứng nhân đạo? Chọn đáp án đúng? A. “Thuật hoài ” của Phạm Ngũ Lão. B. “Chinh phụ ngâm ” của Đặng Trần Côn (Đoàn Thị Điểm dịch) C. “Truyện Kiều " của Nguyễn Du. D. “Chuyện người con gái Nam Xương ” của Nguyễn Dữ. 6. Nguyễn Trãi để lại hai tập thơ: “ức Trai thi tập” và “Quốc âm thi tập”. Em hãy cho biết tập thơ nào viết bằng chữ Nôm? Chọn ý đúng? A. Quốc âm thi tập. B. ức Trai thi tập. 7. Cho biết trong hai tập thơ, một viết bằng chữ Hán, một viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tập thơ nào viết bằng chữ Hán? Chọn ý đúng? A. Bạch Vân quốc ngữ thi tập. B. Bạch Vân am thi tập. 8. Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang nội dung cảm hứng nào? Chọn đáp án đúng? A. Cảm hứng yêu nước. B. Cảm hứng nhân đạo. C. Cảm hứng thế sự. Nguồn:
Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XIX
468
Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Hướng dẫn I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX nổi lên hai dòng văn học chính là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Hai bộ phận này không đối lập nhau mà bổ sung hoàn thiện lẫn nhau qua quá trình phát triển để hướng tới nền văn học hiện đại. 2. Trong giai đoạn này văn học Việt Nam đư­ợc chia thành bốn giai đoạn lớn theo sự phát triển về tư­ duy nghệ thuật, về nội dung, thể loại và ngôn ngữ văn học: – Các giai đoạn văn học từ thế kỉ X – thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV – hết thế kỉ XVII, văn học giai đoạn này chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng: văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Nội dung của văn học giai đoạn này xuất phát từ lòng yêu nước của các tác giả. Thể loại văn học chủ yếu tiếp thu từ Trung Quốc (từ thế kỉ XV mới có những sáng tác bằng chữ Nôm tiêu biểu và có giá trị). – Hai giai đoạn sau, từ thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX và giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX. Các tác phẩm trong giai đoạn này đã có sự phát triển rõ rệt, t­ư duy nghệ thuật đã có sự phân biệt văn với sử, triết. Nội dung văn học đã phần nào thể hiện hiện thực cuộc sống. Các tác phẩm đã có sự thể hiện về cảm hứng nhân đạo, nhân văn. Thành tựu mà giai đoạn văn học này mang lại là rất lớn cho nền văn học nước nhà về sau.Xem thêm: Hạnh phúc là đấu tranh (C.Mác) 3. Các tác phẩm trong giai đoạn văn học này là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự. 4. Nghệ thuật được sử dụng trong văn học này đã thể hiện rõ tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học. II. PHÂN TÍCH NỘI DUNG 1. Những điểm chung và những điểm khác nhau của hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm: Điểm chung:  Cả hai nền văn học đều phát triển trên cơ sở văn tự của ngư­ời Hán.  Tuy hai dòng văn học khác nhau, nhưng chúng đều tích cực phản ánh những vấn đề trong đời sống xã hội, tâm t­ư, tình cảm của con ng­ười thời trung đại.  Đều có những tác phẩm xuất sắc đóng góp vào thành tựu văn học nước nhà. Điểm khác:  Dòng văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn văn học chữ Hán.  Thành tựu của văn học Nôm chủ yếu là thơ, văn học chữ Hán có thành tựu ở cả mảng thơ và văn xuôi. 2. Một số tác phẩm văn học đã học trong ch­ương trình THCS thể hiện nổi bật nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX: – Nội dung cảm hứng yêu n­ước: Sông núi nư­ớc Nam, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Thuật hoài,… – Nội dung nhân đạo: Chuyện ngư­ời con gái Nam Xư­ơng, Truyện Kiều, Bánh trôi nư­ớc,… – Nội dung thế sự: Câu chuyện trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tùy bút), Lục Vân Tiên,… 3. Về nghệ thuật, văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài. Các tác phẩm văn học trong giai đoạn này đã thể hiện cái chí khí, cái đạo lí trong phép ứng xử hàng ngày của con ng­ười. Dựa trên những thành tựu đó, văn học hiện đại có điều kiện đi sâu hơn vào đời sống riêng t­ư, vào thế giới nội tâm của con người. Đó chính là sự khác biệt lớn giữ văn học trung đại và hiện đại.Xem thêm: Cảm nhận hình ảnh Thuý Kiều qua đoạn Trao duyên (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) Nguồn:
Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX
719
Khái vọng vĩnh cửu hóa tình yêu được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Sóng”? Anh (chị) hãy phân tích cảm nghĩ của Xuân Quỳnh về tình yêu trước thời gian Gợi ý Tình yêu là một hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn, không thể giải thích bằng lí lẽ thông thường. Xuân Diệu – “ông hoàng” viết về thơ tình, am hiểu rất sâu sắc về tình yêu đã viết “Yêu là chết trong lòng một ít”. Ngược lại, Xuân Quỳnh lại khẳng định: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập khí cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” Phải chăng, đó chính là khát vọng vĩnh cửu hóa tính yêu của Xuân Quỳnh về tình yêu trước thời gian. Đến với bài thơ Sóng của nữ thi sĩ này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều đó. Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường. Thơ chị là tiếng lòng của một tâm hồn luôn luôn khao khát tình yêu, gắn bó hết mình với cuộc sông hàng ngày, trân trọng, nâng niu và chăm chút cho hạnh phúc bình dị của đời thường. Có lẽ vì vậy, mở đầu bài thơ Sóng là một trái tim đang cồn cào, khát khao tình yêu: “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể” Sóng là một hình ảnh ẩn dụ rất sáng tạo. Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để thể hiện tình yêu vĩnh cửu của mình vì sóng có bao giờ biến mất đâu? Chính vì vậy, trong quan niệm của Xuân Quỳnh tình yêu là khát vọng muôn đời của tuổi trẻ, của nhân loại. Cũng như sóng, tình yêu cũng sẽ mãi mãi trường tồn, vĩnh hẩng với thời gian.Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về việc lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên hiện nay“Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ” Nói đến tình yêu, không thể không nói đến nỗi nhớ. Và đốì với nữ thi sĩ Xuân Quỳnh cũng vậy. Nỗi nhớ của một trái tim đang yêu được diễn tả thật mãnh liệt. Một nỗi nhớ thường trực, cả khi ngu, bao trùm lên cả không gian và thời gian. Một nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn, dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hạn. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhó bờ Ngày đềm không ngủ được” Tuy vẫn là hình tượng song hành của sóng và em, bổ sung cho nhau, bồi đắp cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc hơn, ám ảnh hơn tình yêu và nỗi nhớ cùng với lòng thủy chung vô hạn đang rạo rực yêu thương. Và rồi nỗi nhớ được diễn tả qua hình tượng con sóng nhớ bờ “ngày đêm không ngủ được” vẫn chưa đủ, chưa thỏa: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” Nỗi nhớ không chỉ bao trùm không gian và thời gian, không chi tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi vào trong tiềm thức, xâm nhập vào cả trong giấc mơ. Như vậy có thể thấy tình yêu của nữ thi sĩ vừa thiết tha, vừa mãnh liệt, vừa trong sáng, giản dị, thủy chung. Đối với tình yêu, khó khăn thì có muôn vàn cách biểu hiện và thời gian là môt ngăn trở rất khắc nghiệt, nhưng không hề khiến tác giả phải lo âu, ngược lại, chỉ làm Xuân Quỳnh thêm tin tưởng vào tình yêu của mình:Xem thêm: Có phải: Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu tình thương“Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa” Nữ thi sĩ vẫn luôn tin vào cái đích cuối cùng của tình yêu, chị luôn có niềm tin vào tương lai, tình yêu đó nhất định sẽ “tới bờ”, “dù muôn vàn cách trở”. Có thể thấy, bài thơ “Sóng” là một cuộc hành trình đi tìm tình yêu đã sóng với tình yêu. Đó chính là một tình yêu duy nhất trường tồn vĩnh cửu. “Sóng” là một bài thơ tình tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thớ Xuân Quỳnh. Đó là một tình yêu mãnh liệt, sôi nổi, hồn nhiên, trong sáng và cũng rất ý nhị sâu xa, tuyệt đối dâng hiến trọn vẹn đến quên mình. “Vì tình yêu muôn thuở – Có bao giờ đứng yên?”. Vanmau.edu.vn
Khái vọng vĩnh cửu hóa tình yêu được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Sóng”_ Anh (chị) hãy phân tích cảm nghĩ của Xuân Quỳnh về tình yêu trước thời gian
772
Khám phá về ‘sóng’ và ’em’ trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Hướng dẫn Chẳng hạn ở khổ thơ đầu: – Hai câu đầu nêu những biểu hiện thường thấy của những con "sóng" ngoài biển khơi: lúc biển động do phong ba, sóng dữ dội, ồn ào; khi trời yên biển lặng, sóng dịu êm, lặng lẽ. Cũng như "sóng", "em" – một tâm hồn đang khát khao yêu đương – cũng có nhữna trạng thái tâm lí hết sức phức tạp: lúc giận dữ, hờn ghen; khi dịu hiền, sâu lắng. – Hai câu cuối: "sóng" hiện lên thật mạnh mẽ trong hành động vượt thoát khỏi thế giới chật hẹp và thiếu sự đồng cảm (sông) để tìm ra biển rộng bao la, tìm đến với môi trường đích thực của nó (bê). "Em" cũng như "sóng", luôn hướng tới cái lớn lao, cao cả và sẵn sàng vượt qua tất cả những rào cản để tìm đến những tâm hồn đồng điệu, để vươn tới một tình yêu đích thực, vững bền. HS cần chỉ ra được đặc điểm, vẻ đẹp của "sóng" và "em" ở mỗi khổ thơ; sau đó khái quát về hai hình tượng này và nêu ấn tượng sâu sắc nhất của mình về tác phẩm. Nguồn: Xem thêm: Căn cứ vào hoàn cảnh chính trị của đất nước ta khi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập, anh (chị) hãy phán đoán về mục đích viết, đối tượng viết của bản tuyên ngôn?
Khám phá về ‘sóng’ và ’em’ trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
247
Không chỉ mang nặng một nỗi niềm, bài thơ “Bánh trôi nước” còn lắng đọng một cái nhìn Xuân Hương về “phận đàn bà” của thời xưa cũ. Em nghĩ gì về cái nhìn ấy Gợi ý Theo nhiều giai thoại vẩn học, Hồ Xuân Hương là người phụ nữ sắc nước hương trời và tài năng tốt bực nhưng sớm có một cuộc đời đa phần, chìm nổi. Có phải vì thế mà thơ bà nặng một nỗi niềm về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ? Không chỉ vậy, qua bài thơ “Bánh trôi nước”, nữ sĩ còn thể hiện một cái nhìn lắng đọng rất Xuân Hương về “phận đàn bà” trong xã hội đương thời. Viết về thân phận người đàn bà trong xã hội cũ, Hồ Xuân Hương thường chọn lối ẩn dụ mượn những sự vật như con ốc, cái quạt, quả mít, bức tranh,… đế gửi gắm quan niệm, cái nhìn của bạn thân mình. Đó là những vật hết sức tầm thường bé mọn, ít gặp trong thơ ca trung đại (đề tài của thơ ca bác học thường là những vật thanh cao như tùng, cúc, trúc, mai,…). Chọn đề tài ấy, Xuân Hương muốn thể hiện cái nhìn của bản thân về thân phận người phụ nữ: nó bé nhỏ, hèn mọn đến tội nghiệp. Bài thơ “Bánh trôi nước” cũng mượn một sự vật nhỏ nhoi như vậy để làm hiện thân cho người phụ nữ: viên bánh trôi. “Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Dẫu khiêm nhường đến mức “hạ mình” như vậy, song Xuân Hương vẫn không phủ nhận vẻ đẹp thanh khiết của người phụ nữ. Họ là những viên bánh trôi nhưng đó là những viên bánh “vừa trắng lại vừa tròn”. “Trắng” và “tròn” thể hiện vẻ đẹp xinh xắn, đáng yêu của viên bánh trôi nhưng cũng là nét phúc hậu, vẻ đẹp đẽ bên ngoài của người phụ nữ. Từ “lại” đã góp phần nhấn mạnh những đặc điểm quý báu đó.Xem thêm: Nét đặc sắc của sử thi Đẻ đất đẻ nước Là thân phận viên bánh trôi, nó phải chấp nhận số phận chìm nổi lênh đênh: “Bảy nổi ba chìm vời nước non Rắn nát mặc dầu tay kể nặn”. Hai câu thơ mang những nét tả thực: viên bánh trôi khi mới thả vào nồi thì chìm nhưng đến khi chín lại nổi. Như vậy, viên bánh bị xô đẩy liên hồi, không được an bình, yên ổn. Chẳng những vậy, hình dáng viên bánh “rắn nát” (rắn hay nát) đều phụ thuộc vào người khác “tay kẻ nặn”, số phận, cuộc đời viên bánh trôi nhưng cũng là số phận, cuộc đời người phụ nữ. Họ phải “bảy nổi ba chìm chín lênh đênh” với cuộc đời, với công cuộc mưu sinh tìm kế sinh nhai: chợ búa, lợn gà, chồng con, cơm nước… Ta đã từng gặp trong ca dao những hình ảnh tội nghiệp như thế: “Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”. “Cái cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”… Ông tú Trần Tế Xương trong bài “Thương vợ” cũng ngậm ngùi: “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Những công việc của họ tuy chẳng phải đội trời đạp đất, kinh bang tế thế nhưng đều là những công lao không thể thiếu trong cuộc đời. Không có họ, sự sống không thể tồn tại. Và bởi vậy, công lao của người phụ nữ đứng sánh tầm non nước. Trong câu thơ của Xuân Hương có thoáng tự hào: “Bảy nồi ba chìm với nước non”. Nghĩa là vất vả, long đong với những công việc to tát, lớn lao. Không chỉ vậy, người phụ nữ trong xã hội còn mang một nỗi khổ sâu sắc, thấm thìa khác: họ không có quyền tự chủ số phận của mình trong cuộc đời. Vòng đời của họ luẩn quẩn với những ràng buộc phụ thuộc vào cuộc đời người khác: ở nhà phải nghe cha, lấy chồng phải nghe chồng, chồng chết theo con; ngay chuyện nhân duyên cũng là “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đầy ấm ức. Bởi thế mới có câu: “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”, cuộc sống của người phụ nữ ra sao, sướng khổ thế nào điều đó tùy thuộc vào cha, vào chồng, vào con…Xem thêm: Miêu tả chân dung một người thân Tuy cuộc sống không được như ý muốn song điều đáng quý nhất ở người phụ nữ, ngoài những nét đẹp phúc hậu, hiền hòa còn là đức tính thủy chung, kiên trinh son sắt. Nếu như viên bánh trôi dẫu rắn nát thế nào cũng giữ được viên đường hồng đỏ. trong lòng thì người phụ nữ dẫu sướng khô đến đâu cũng giữ trọn tấm lòng sẵt son với cuộc đời: “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. “Tấm lòng son” ấy là sự tận tụy với chồng, sự tảo tần với con, là lòng hiếu thảo với cha mẹ đôi bên nội ngoại… Từ “mà” tạo ra sự tương phản giữa cuộc đời truân chuyên, gian khó với phẩm hạnh ngời sáng của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa. “Bánh trôi nước” kết lại bằng nỗi niềm đầy ưu tư trước cuộc đời: phải làm sao để vượt qua những cơ cực đời thường mà giữ trọn tấm lòng nhân nghĩa, mặn mà với tình đời, tình người. Nhưng trên hết, bài thơ lắng đọng cái nhìn chua xót của Xuân Hương về “phận đàn bà” trong xã hội cũ. Nó vốn sinh ra đã mong manh, bé nhỏ lại bị cuộc đời vùi giập, trêu ngươi. Cái nhìn ấy có nguồn góc trực tiếp từ nỗi, cay đắng mà chính cuộc đời bà phải gánh chịu. Là người phụ nữ tài tử cũng nhiều mà đa đoan cũng lắm, bà từng bị phụ mối tình đầu say đắm rồi trải quạ hai lần làm lẽ phải nhường chăn sẻ gối với người mà rot cuộc đời vẫn phiêu dạt lênh đênh. Đã nhiều lần bà thốt lên đau xót: “Chém cha cái kiếp chồng chung Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”. Đã đến nước “chồng chung” thì dẫu là thiên kim tiểu thư hay phường đầu đường cuối chợ cũng phải chịu một cảnh ngậm ngùi, xa xót như nhau mà thôi. Nhưng tựu chung lại, cái nhìn về “phận đàn bà” trong bài thơ không phải hoàn toàn mang màu sắc cá nhân vị kỉ, nó có nguồn gốc sâu xa từ vị trí xã hội hèn mọn của người phụ nữ trong xã hội cũ. Người phụ nữ bị phân biệt đối xử, bị coi thường đến tột bậc: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô“. Bởi thế, họ không có quyền hành trong gia đình, trong xã hội; những công việc gia đình thường bị cho là vụn vặt, tầm thường nhưng, thực chất rất quan trọng, thiết yếu một tay người phụ nữ phải cáng đáng, gánh vác.Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của Kim Lân Nhìn về người phụ nữ, bài thơ của Hồ Xuân Hương có nét bi quan bởi bi kịch của người phụ nữ trong xã hội, thời đại ấy chưa thể giải quyết được. Phải đến hôm nay, khi xã hội tiến lên những bước dài trên con đường phát triển, người phụ nữ dần được khẳng định quyền bình đẳng thì hình ảnh của họ trong thơ ca mới có được những sinh khí mới. Điều đó thể hiện rất rõ trong thơ Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị Mĩ Dạ,… Ta hãy nghe lời tự sự của Xuân Quỳnh: “Anh thân yêu, người vĩ đại của em Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối Mộỉ chút mặn giữa đại dương vời vợi, Lời rong rêu chưa ai biết bao giờ Em chỉ là ngọn cỏ dưới chân qua Là hạt bụi vô tình trên áo Nhưng nếu sáng nay em chẳng đong được gạo Chắc chắn buổi chiều anh không có cơm ăn”. Đoạn thơ như một lời tuyên ngôn khẳng định vai trò của nữ giới trong gia đình và xã hội. Bài thơ “Bánh trôi nước” đã khép lại nhưng lại mở ra một cái nhìn mới mẻ, đầy đủ và toàn diện hơn về thơ và đời “Bà Chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương. Vanmau.edu.vn
Không chỉ mang nặng một nỗi niềm, bài thơ “Bánh trôi nước” còn lắng đọng một cái nhìn Xuân Hương về “phận đàn bà” của thời xưa cũ. Em nghĩ gì về cái nhìn ấy
1,437
Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ, đắng cay. Hãy viết đoạn văn bình luận theo chủ đề trên Gợi ý Trong cuộc sống, mỗi người có những ước mơ, khao khát của riêng mình. Một trong số đó là hi vọng thành công, vinh quang. Để có được ánh hào quang của thành công, con người phải biết bỏ ra sức lực, thời gian để đánh đổi: Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ, đắng cay. Gian khổ và đắng cay bởi mỗi công việc đều có cái khó khăn riêng. Nếu không khó khăn thì chẳng phải tất cả mọi người đều thành công sao? Đam mê một việc gì tức là phải chiến thắng mọi cám dỗ để dành công sức, thời gian, tiền bạc dành cho công việc ấy. Mặt khác, để có được thành công ai ai cũng từng phải trải qua thất bại. Gian khổ, cay đắng là ở chỗ phải vượt qua khó khăn của công việc, chiến thắng mọi cám dỗ cản đường và biết đứng dậy sau những thất bại để tiếp tục bước đi. Nhắc đến thành công, vinh quang và gian khổ, cay đắng ta nhớ tới những vị trạng nguyên nổi tiếng trong lịch sử nước nhà. Có người nhà nghèo không có ánh sáng để học phải lấy lá đa đốt lửa, lại có vị không có cơm ăn phải mượn nồi láng giềng để vét cháy ăn đỡ đói… Hay như Mạc Đĩnh Chi, ông đã đạt giải nguyên nhưng vì dáng hình xấu xí mà nhà vua ra ý khinh khi. ông đã khẳng khái viết bài phú Hoa sen trong giếng ngọc để tỏ chí mình. Ngày nay, về đêm, nơi nơi sáng rực ánh đèn điện, nhưng ít ai nghĩ đến nhà bác học Ê-đi-sơn – cha đẻ của những bóng đèn điện đầu tiên. Để mang đến cho nhân loại thứ ánh sáng diệu kì ấy ông đã từng bị hỏng, bị vỡ hàng trăm chiếc bóng đèn. Nếu Ê-đi-sơn nản chí liệu giờ đây ông có đi vào lịch sử nhân loại với niềm biết ơn vô bờ của loài người? Ớ nước ta, trong thời đại ngày nay cũng xuất hiện rất nhiều những con người biết vượt qua gian khổ và đắng cay để vững vàng đi đến vinh quang. Đó là những người học sinh nghèo vượt khó học giỏi, những người nông dân chân lấm tay bùn sáng tạo khoa học,… Còn nhớ, buổi chung kết cuộc thi Đường lên đỉnh Ôlimpia cách đây vài năm đã vinh danh một người bạn của gia đình nghèo. Bạn đã vượt khó để học tốt và vượt khó để ôm trọn vòng nguyệt quế trong tay… Còn biết bao, biết bao những tấm gương khác nữa. Chặng đường nào rảo bước trên hoa hồng, bàn chân không thấm đau vì những mũi gai, con đường dẫn đến thành công có nhiều gian nan, vất vả, nhưng quan trọng là mỗi chúng ta luôn biết vươn lên và hướng tới lí tưởng của mình.Xem thêm: Giải nghĩa câu nói của Tuân tử: “Băng ở nước ra mà lạnh hơn nước, màu xanh ở chàm ra mà thẫm hơn chàm”Vanmau.edu.vn
Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ, đắng cay. Hãy viết đoạn văn bình luận theo chủ đề trên
545
Không phải tất cả những người cười với ta đều là bạn, cũng không phải tất cả những người làm ta bực mình đều là kẻ thù của ta Hướng dẫn Tham khảo một số ý sau: – Giải thích hai vế của câu ngạn ngữ trên. Cụ thể là: "Không phải tất cả những người cười với ta đều là bạn", vì bên cạnh cái cười thể hiện sự tán thưởng, đồng tình, cảm thông, tin yêu… của những người có thiện chí còn có những cái cười thể hiện sự mỉa mai, bên trong chứa đựng sự nham hiểm… Vì vậy, cần thận trọng và cảnh giác trước những cái cười ấy. "Không phải tất cả những người làm ta bực mình đều là kẻ thù của ta" bởi vì thông thường khi có ai đó làm hại mình (tranh giành quyền lợi, nói xấu, hãm hại…), ta sẽ bực mình, tức giận; nhưng đôi khi sự bực mình lại xuất hiện khi ta nghe những lời "chê", những "sự thật" nào đó về ta mà với bản tính sĩ diện ta không dễ dàng vui lòng trước những lời nói ấy. – Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng có lẽ cũng vì vậy. Nếu người chê ta và nói ra những sự thật cho ta biết hoàn toàn không có ý hãm hại ta mà chỉ để giúp ta nhận thức đúng vềchính mình thì đó không phải là kẻ thù mà chính là người bạn thực sự của ta. Do đó, phân biệt được những biểu hiện bên ngoài và bản chất bên trong của những hành động của người khác để phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là kẻ thù. – Câu ngạn ngữ đặt ra vấn đề: cần có sự đánh giá đúng về mối quan hệ giữa cử chỉ, hành động và động cơ, mục đích bên trong của một ai đó đối với mình. Để tránh hiểu nhầm và đánh giá sai người khác, mỗi người chúng ta phải sống tốt, chân thành và có thiện chí với nhau. – Nêu những ví dụ minh hoạ và đánh giá câu ngạn ngữ, từ đó rút ra bài học cho bản thân. Nguồn: thêm: Nếu em là Minh Long, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào?
Không phải tất cả những người cười với ta đều là bạn, cũng không phải tất cả những người làm ta bực mình đều là kẻ thù của ta
390
Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn Hướng dẫn 1. Mở bài – Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm. – Giới thiệu đoạn trích: chính là lời phát biểu cho một quan niệm sống của nhà văn thể hiện qua những lời nói của hồn Trương Ba với tiên cờ Đế Thích. 2. Thân bài a) Quan niệm sống của nhân vật hồn Trương Ba – Thể hiện khát vọng của hồn Trương Ba trong ước nguyện được giải thoát, muốn chính minh cho dù khổ đau và mất mát. + Trương Ba kiên quyết từ chối, không chấp nhận cảnh phải sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo”, ông muốn được là mình một cách trọn vẹn. + Trương Ba tiếp tục từ chối để Đế Thích sửa sai bằng cách cho hồn mình nhập vào xác cu Tị, không chấp nhận cách sống giả tạo, sống còn “khố hơn là cái chết”, + Câu nói thể hiện ý nghĩa triết lí trong cuộc sống của con người, con người không thể chấp nhận cách sổng tạm bợ, bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được b) Con người là một thể thống nhất, không thể có một hồn thanh cao trong một thân xác phàm tục, tội lỗi. – Sống thực cho ra một con người quả không dễ dàng, đơn giản. – Khi sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, khi không được là mình thì cuộc sống ấy thật vô nghĩa. Tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình, đấy là nguy cơ đẩy con người đến chồ bị tha hoá do danh và lợi. c) Hồn Trương Ba đã nhận ra bi kịch của cuộc đời mình khi sống gửi, sống nhờ trong thân xác phàm tục của anh hàng thịt. Nhận ra bi kịch đó, chứng tỏ hồn Trương Ba không thể nào chấp nhận được sự thoả hiệp giữa hai cuộc sống này. Đồng thời, chứng tỏ bản lĩnh của nhân vật khi chấp nhận cái chết thực sự còn hơn là sống trong sự giày vò của lương tâm và sự ghẻ lạnh của người thân vì sự tha hoá của chính mình. 3. Kết bài – Khẳng định điều này Lưu Quang Vũ đã thể hiện được cái nhìn khá sâu sắc trong đời sống tâm hồn của con người trước hiện tượng người ta sống vội, sống gấp, sống mà không có phong cách, sống mà quên mất cả bản thân mình. – Đó cũng là giá trị nhân văn của vở kịch. Những ràng buộc mang tính tương khắc giữa thể xác và tâm hồn: Linh hồn nhân hậu phải sống nhờ, sống tạm một cách trái tự nhiên trong một thân xác phàm tục, thô lô. Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác để bảo vệ những phẩm chất cao qúy. Nguồn: thêm: Tiếng khóc và nỗi đau của Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên.
Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn
499
Khổng Tử bàn về Tu thân, Lập ngôn Gợi ý Khổng Tử (551 – 479 trước công nguyên) là một học giả, một triết gia vĩ đại cả thế giới phải ngưỡng mộ. Ông cũng là một người nổi tiếng về Hối nhân bất quyện (Dạy người không biết mệt). Xin được ít phút lạm bàn đôi điều mà Khổng Tử vẫn canh cánh suốt đời để dạy người và dạy mình – chữ Tu thân – Lập ngôn. Đối với Khổng Tử, khái niệm Tu thân thật là sâu rộng. Từ việc gột rửa giữ gìn thân mình đúng với đạo Trung dung (Không thiên lệch, không suy đổi, yên trị được công việc, từ chối ham muốn) đến việc học hành, hiếu nghĩa, những việc nhỏ nhặt hàng ngày, thậm chí Tu thân ngay trong ý nghĩ của mình. Ông cho rằng: "Từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc. Vì gốc đã loạn, thân không thể đứng được. Chỗ đáng đầy đặn mà xử bạc bẽo, chỗ đáng xử bạc bẽo mà đầy đặn là gốc của loạn ". Đối với bản thân, "Phải biết giữ trai giới, chay tịnh, ăn mặc phải chỉnh tề. Những điều trái với Lễ chẳng thể động lòng. Biết loại bỏ điều gièm pha. Xa lánh nữ sắc. Coi của cải là hèn mọn. Coi đức hạnh là cao quý". Đối với người làm việc công: Ông đề cao chữ tín và chữ hiếu để tu thân: "Đối với người hành đạo, lời nói phải đi đôi với việc làm, việc làm phải đi đôi với lời nói, ở địa vị trên chẳng đè nén dưới, dưới chẳng vin dựa trên, giữ thân ngay thẳng, chẳng phiên luỵ, thù oán ". Xem thêm: Ý nghĩa hình ảnh chuyến tàu đêm qua truyện ngắn Hai đứa trẻ Khổng Tử mở rộng chữ Tu thân: "Ham học thì gần với trí, ra sức làm việc thiện thì gần với nhân, biết hổ thẹn thì gần với dũng. Có được ba điều ấy ắt biết làm gì để tu thân vậy". Người xưa đề ra chín phép tắc để coi sóc việc thiên hạ: Tu thân, Tôn hiền, Thương người, Kính trọng đại thần, Xét công lao bề tôi. Coi dân như người nhà, Chiêu mộ các nhà công nghệ, Trọng đãi người xa tới, Bao bọc các nước chư hầu… Thì Tu thân phải đặt lên hàng đầu vì "Tu thân thì đạo được thành lập ". Với quan niệm "Tu thân vi lập" (Tu thân thì đứng được), ông đã khái quát tầm quan trọng của việc Tu thân đối với mỗi người: ‘Từ đời xưa, người nào muốn làm sáng đức sáng của mình trong thiên hạ thì trước hết phải tề gia, muốn tề gia trước hết phải dừng ở chỗ chí thiện. Chí thiện thì lòng mới yên ổn. Lòng có yên ổn thì sau mới suy nghĩ để làm việc cho đạt mục tiêu ". Đối với Khổng Tử, Tu thân và Lập ngôn là hai khái niệm song song vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của nhau – mà trước hết là phải học. Mồ côi cha từ lúc ba tuổi, nhưng có chí lớn; đến năm mười lăm tuổi, Khổng Tử đã nổi tiếng về tài cao học rộng. Ông từ chối giàu sang, quyền quý để đi chu du khắp thiên hạ, học trong đời và học trong sách để phụng sự cho việc lập ngôn, ông nói: “Lập nghiệp đã khó, lập ngôn khó thay! ". Ngày nay, chúng ta gọi những nhà văn, nhà thơ, nhà báo… cũng là một trong những kẻ sĩ lập ngôn. Tư tưởng tu thân để lập ngôn của Khổng Tử là bén rễ từ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Tích cực nhập thế bền bỉ truy cầu, thanh thản mà trung dung. Với ông, "Người mà bất nhân thì văn chẳng để làm gì!". Ông còn nhấn mạnh,,ãDù có đạt thành quả gì, kẻ sĩ không có đức hạnh cũng chỉ là tiểu nhân ". ông nhấn mạnh với người lập ngôn "Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân ". (Cái mà mình không muốn thì đừng làm cho người ta). Theo ông, làm một kẻ lập ngôn thì phải học để gánh nặng đường xa. Với ông, tắTam nhân đồng hành tất hữu ngã sư" (Ba người đi kia, ắt có một người làm thầy ta). Ông cho rằng: "Thích trí tuệ mà ít học thì hay du đãng, thích dũng khí mà ít học thì ngông cuồng, vọng động". Ông tránh xa việc ‘Văn thắng chất và chất thắng văn". Đồng thời "Người trí giá thì không thể bị mê hoặc, Không vì mấy đấu gao mà viết cho kẻ bất nhân ". Người lập ngôn "Bần hàn mà vui với đạo, ăn không cầu no, ở không cầu yên, cẩn trọng ở lời nói, giữ được đạo của mình, biết phán tỉnh ". Ông quan niệm "Việc có thể nói mà không nói là người bất dũng, việc không nên nói mà nói thì nhân không đúng chỗ". Muốn lập ngôn phải nhớ: "Ác ngôn xuất khẩu, túc vô vong tẩu " (Lời nói ác ra miệng thì chân không kịp chạy). Xem thêm: Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh“Một lời có thể hung bang trị quốc được vậy", quả thật Lập ngôn khó thay! Vanmau.edu.vn
Khổng Tử bàn về Tu thân, Lập ngôn
910
Kinh nghiệm ôn học và ôn thi Đại Học môn Văn Hướng dẫn Học sinh cần dựa vào sách giáo khoa để nắm chắc được những vấn đề liên quan đến tác giả và tác phẩm để có kiến thức chính xác nhất. Khi làm bài phải nắm được nội dung và ý nghĩa của tác phẩm. Nên vẽ sơ đồ Xương cá để học môn văn. Mỗi bài, học sinh chỉ cần nhớ năm chữ và trong khoảng 10 phút có thể nhớ hết toàn bộ kiến thức môn Văn. Không nên căng thẳng quá và đặc biệt là không nên tin vào những tin đồn trên internet về đề thi, tránh học tủ, đoán mò, phải tập trung tinh thần để có cảm hứng viết bài. Ngoài ra, không nên loại trừ đề thi trong ba năm gần đây, không nghiêng hẳn về một thể loại văn xuôi hoặc thơ mà phải ôn tập cả hai. Khi cầm đề thi, TS phải chú ý yêu cầu phân tích của đề về tác phẩm, tránh viết lan man. Nhiều TS học rất nhiều, ôm đồm kiến thức mà không biết ứng dụng nó vào trường hợp thực tế, dẫn đến tình trạng làm bài dư thừa, dài dòng. Nhiều trường hợp TS biến bài phân tích một đoạn trích, một khía cạnh của tác phẩm thành bài phân tích cả tác phẩm. Những trường hợp "phăng" ý không có cơ sở và chép nguyên si bài giảng của thầy cô trong lớp về các tác phẩm thường bị dưới điểm trung bình vì không bám sát đề.Xem thêm: Phân tích Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh Cấu trúc đề thi thường có ba câu bao gồm: phần lý thuyết và phần tự luận. Câu lý thuyết mang tính kiểm tra kiến thức, thường chiếm 2 điểm. Hai câu còn lại kiểm tra sự cảm thụ tác phẩm, cách lập luận và kỹ năng làm bài của TS. Yêu cầu chung với câu lý thuyết là trả lời đúng yêu cầu của đề thi, ngắn gọn, rõ ràng và đủ ý. Với những câu tự luận, TS nên trình bày đúng bố cục mở bài, thân bài, kết bài. Phần thân bài nên chú ý lập luận chặt chẽ, rõ ràng, nên viết ra giấy nháp dàn ý đề cương phần thân bài, chia các ý lớn theo trình tự lập luận. Về cách trình bày, nên chú ý những lỗi chính tả (dấu hỏi, dấu ngã, các âm cuối), lỗi viết hoa… Chẳng hạn cách viết bài thơ Thu Điếu, Tràng Giang là sai, mà phải là Thu điếu, Tràng giang. Một điều không kém phần quan trọng mà nhiều TS thường bị mất điểm là không biết cách đưa dẫn chứng vào bài làm. Dẫn chứng đưa vào bài phải chính xác (dẫn chứng đúng yêu cầu của luận điểm cần chứng minh, phân tích), gọn (làm nổi bật luận điểm vấn đề cần phân tích) và phải tiêu biểu. Đối với văn xuôi, TS có thể dẫn chứng nguyên văn hoặc tóm lược dẫn chứng, nhưng không được kể chuyện. Tốt nhất là xen kẽ tóm lược dẫn chứng với những lời bình luận, phân tích.Xem thêm: Phân tích truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu Những điều quan trọng khi làm một bài thi môn văn: – Khi trích dẫn trong quá trình làm bài, không được “sáng tạo” – Khi viết bài nên trình bày sạch sẽ, dễ nhìn – Tránh phân tích lạc đề Cần có sự sáng tạo trong quá trình làm bài.Sự sáng tạo trong các bài làm văn luôn được thầy cô đánh giá và cho điểm cao. Sáng tạo là phát hiện sâu hơn, mới hơn, soi sáng thêm chủ đề của tác phẩm. Nhưng những phát hiện ấy phải có cơ sở, lập luận chặt chẽ chứ không phải là tùy tiện phát biểu những cảm xúc của mình. Để có bài viết hay trong môn văn các bạn nên chọn thầy học, chọn sách đọc. Tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm trước khi đi thi. Không học tủ, nhưng cần có trọng tâm. Khám phá tác phẩm trong các mối liên hệ, các mối liên hệ bên ngoài, các mối liên hệ bên trong, ôn tập theo vấn đề và nhóm tác phẩm. Nguồn:
Kinh nghiệm ôn học và ôn thi Đại Học môn Văn
717
Kề về một người tốt, việc tốt mà em biết Hướng dẫn Làng Vôi quê em mấy vụ được mùa liên tiếp, cảnh xóm thôn ngày một thêm đổi mới khang trang. Đường, trường, trạm được xây dựng. Nhiều nhà ngói mọc lên. Nhiều gia đình có của ăn của để. Thói đời phú quý sinh lễ nghĩa. Các đám cưới, giỗ chạp được tổ chức ăn uống lu bù. Quán bia, quán cà phê,… là nơi tụ tập cùa một số thanh niên, học sinh ăn chơi, đua đòi. Thầy Tùng hiệu trưởng đã mấy lần nhắc nhở. Hiện tượng học sinh bỏ học, tối tối không chịu học bài, tụ tập chơi điện tử gây nên cảnh ồn ào, ầm ĩ. Các vị phụ huynh học sinh phàn nàn,lo lắng. Trongcác cuộc họp xóm, vấn đề này được đem ra bàn bạc, thảo luận. Bác Xuân, sĩ quan về hưu, hội trưởng Hội khuyển học, tối nào cũng đi đến các quán điện tử, cà-phê nhắc nhở các cháu học sinh vềnhà học bài. Nhiều vị cha mẹ học sinh đã cấm con em mình chơi bời,tụ tập. Các quán điện tử, quán cà phê không còn đông khách như trước nữa. Các chủ quán tức tối ra mặt. Họ đặt vè nói xấu bác Xuân, gắn cho bác là kẻ “ăn cơm nhà, thổi tù và hàng tổng”.Bác vẫn thầm lặng và bền bỉ vận động, thuyết phục. Nhờ có bác Xuân mà việc học tập của các học sinh quê em đã đi vào ổn định. Số học sinh thi Đại học,Cao đẳng, thi lên lớp 10 năm nào cũng dẫn đầu toàn xã. Xóm Vôi trở thành đơn vị dẫn đầu nếp sống văn minh, được nhận cờ thi đua toàn xã. Tối nào cũng vậy, bác Xuân lại đánh ba hồi kẻng dài, báo cho các gia đình biết “giờ văn hoá”đã bắt đầu. Nghe tiếng kẻng, mẹ em lại nhắc: “Lý ơi, ngồi vào bàn học bài đi con!”. Nguồn: Những Bài Văn HayXem thêm: Em hãy kể về tình cảm của mẹ em đối với em
Kề về một người tốt, việc tốt mà em biết
349
Đề bài: Kể buổi tập thể dục giờ ra chơi Vào mỗi buổi ra chơi,cô giáo thường cho chúng em tập thể dục giữa giờ để rèn luyện thân thể. Khi tiếng trống trường báo hiệu giờ ra chơi,chúng em đều ùa ra sân,xếp hàng ngay ngắn.Cô giáo cho chúng em tập những động tác: hít thở đều, nhảy lên,xoay gối, xoay cổ …Em là lớp trưởng,nên em luôn cố gắng tập thật tốt để làm gương cho các bạn.Ở động tác tay,em tập đều theo tiếng còi của cô hòa với nhịp thở của mình. Bài tập càng ngày càng khó,nhưng lại làm cho chúng em thêm khỏe mạnh. Sau khi tập thể dục,cô còn cho chúng em chơi những trò chơi rất vui.Chúng em ai cũng đổ mồ hôi khắp người,nhưng gương mặt bạn nào cũng cũng vui cười vì vừa được học được chơi Em rất yêu thích những buổi tập thể dục giữa giờ. Vì sau giờ học tập căng thẳng,chúng em được thư giản bằng những động tác nhẹ,vui khỏe và an toàn nữa. Nguồn Edufly Xem thêm: Viết một bức thư ngắn gửi cho mẹ đi công tác xa
Kể buổi tập thể dục giờ ra chơi
190
Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (cảm động, hoặc buồn cười,…) mà em gặp ở trường Gợi ý DÀN Ý Mở bài: + Hoàn cảnh kể câu chuyện cho bố mẹ nghe: sau bữa cơm, mọi người ngồi trò chuyện… + Giới thiệu chung về câu chuyện mình kể: là loại chuyện gì? (cảm động hay buồn cười). Thân bài: + Thời gian, địa điểm xảy ra câu chuyện em đang kể: bao giờ, ở đâu? + Nhân vật trong câu chuyện ấy gồm những ai? Em có tham gia vào câu chuyện ấy không? + Diễn biến của câu chuyện ấy như thế nào? Chuyện có gì làm em cảm động hay buồn cười? + Kết thúc của câu chuyện ấy như thế nào? Em có suy nghĩ hay rút ra được bài học gì từ câu chuyện ấy không? + Thái độ, cảm xúc của cha mẹ em khi được nghe em kể câu chuyện đó là gì? (xúc động hay buồn cười theo không? Có khuyên nhủ gì em không?…). Kết bài: + Không khí gia đình em khi em kể chuyện. + Cảm xúc, suy nghĩ của bản thân. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ nhất
Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (cảm động, hoặc buồn cười,…) mà em gặp ở trường
194
Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (hoặc cảm động, hoặc buồn cười,…) mà em gặp ở trường Gợi ý Sau những ngày nghỉ hè xa cách, chúng con rất háo hức với buổi gặp mặt lớp đầu năm học chuẩn bị cho buổi khai giảng. Vừa đến trường, chúng con đã vội vàng đi tìm nhau để kể cho nhau nghe về kì nghỉ hè của mình và còn để nói chuyện vì nhớ nhau quá! Chính vì quá say mê “buôn” chuyện như thế mà chúng con đã gây ra một chuyên rất buồn cười trong trường: nhận nhầm lớp học. Đúng tám giờ, Ban Giám hiệu nhà trường triệu tập cán bộ lớp các lớp để họp mặt và phổ biến một số thông báo đầu năm như phòng học của các lớp, lịch tập diễu hành, lịch khai giảng,… Khi nghe tiếng loa gọi của thầy hiệu trưởng, con cùng hai bạn lớp phó tiếc rẻ cuộc chuyện trong lớp, cứ chùng chình mãi rồi mới đi. Vừa đi chúng con vừa tranh thủ nói chuyện tiếp. Khi vào phòng họp, ba đứa chọn bàn cuối phòng rồi thì thầm kể chuyện và khúc khích cười với nhau. Cuộc họp tan, thầy hiệu trưởng cất tiếng hỏi lớn: “Các em đã nắm rõ nhừng thông tin trên chưa?”. Ba đứa con giật mình, đáp “Có!” rất to hòa cùng tiếng trả lời của các bạn lớp khác. Khi chúng con về đến hàng của lớp dưới sân trường thì cũng là lúc thầy tổng phụ trách nhắc nhở các cán bộ lớp đưa lớp về phòng học như Ban Giám hiệu đã phổ biến. Ba đứa chúng con ngớ ra hỏi nhau: Phòng học lớp mình ở đâu?! Từng lớp, từng lớp một đi về phía phòng học của lớp mình rất nhanh. Ba đứa con lo lắng nhìn nhau. Chẳng đứa nào dám đi hỏi lại vì sợ bị mắng. Phía dưới hàng đã có tiếng giục của các bạn: “Về lớp nhanh lên không nắng lớp trưởng ơi!”. May sao, ngay lúc ấy, bạn Bình lớp phó gọi riêng hai đứa con ra thì thầm: Chúng con sẽ chờ một lát, quan sát các lớp về phòng học,, phòng nào trống thì đó sẽ là phòng của lớp! Ba đứa khấp khởi mừng chia nhau “theo dõi” các phòng học. Cuối cùng thấy dư ra hai phòng: một phòng nằm sát phòng thí nghiệm tầng hai, một phòng nằm ngay tầng’một. Chúng con hội ý rất nhanh: phòng tầng hai có lẽ dùng để các thầy cô trao đổi sau khi làm thí nghiệm hoặc cho các lớp học lí thuyết trước khi thực hành. Vậy là chúng con đưa lớp về phòng học ở tầng một.Xem thêm: Hai anh em chim sẻ sắp bay được. Một hôm, chim mẹ mang về một hạt thóc cho hai anh em. Chim anh nói với chim em: “Hạt thóc cứng quá!” Hãy kể tiếp câu chuyện trên Cả – lớp đang lao xao ổn định chỗ ngồi thì bất ngờ thầy hiệu phó bước vào. Thầy nghiêm khắc nhìn cả lớp khiến chúng con thoáng giật mình. – Thầy không nghĩ là năm nay, số học sinh lưư ban của trường lại,nhiều như vậy! Trời ơi! Chuyện gì thế này? Thầy là thầy hiệu phó phụ trách kỉ luật mới chuyển công tác về trường con. Có lẽ có nhầm lẫn gì đó ở đây. Con chưa kịp giơ tay hỏi thầy đã nhắc nhở: – Em áo xanh ngồi trật tự! Các em vô kỉ luật như vậy, bị lưu ban là điều thật dễ hiểu. Ngay lúc ấy, bóng cô giáo chủ nhiệm lớp con thoáng ngoài cửa sổ. Thầy hiệu phó bước ra ngoài. Lớp con; người thì ngơ ngác, người thì phá lên cười “Chắc thầy mới nên nhầm nhọt ấy mà!”. Nhiều người còn khúc khích “cá cược” xem thầy sẽ xử lí chuyện này thế nào để tránh bị “mắc cỡ”! Lát sau, thầy hiệu phó bước vào. Ánh mắt thầy nhìn lớp đã dịu đi nhưng giọng nói vẫn còn rất nghiêm: Thầy rất tiếc đã trách lầm các em. Các em phần lớn đều là những học sinh ngoan, không phải là học sinh lưu ban như thầy lầm tưởng. Lớp con ồ lên cười. – Nhưng! Cả lớp lại nín thinh nghe thầy nói: Đây là phòng dành cho Ban Giám hiệu trao đổi với học sinh lưu ban của trường về tình hình của em ấy trong năm học tới. Vào nãm học, đây sẽ là phòng tiếp phụ huynh học sinh! Cán bộ lớp đâu?Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’Ba đứa chúng con mặt tái mét nhìn nhau run run đứng dậy. Con lấy hết can đảm: – Thưa thầy, chúng em xin lỗi thầy ạ. Chúng em đưa lớp về nhầm phòng. Chúng em xin rút kinh nghiệm lần sau ạ… Có lẽ lúc ấy nhìn điệu bộ ba đửa chúng con đáng thương quà nên thầy phải hạ giọng để chúng con đỡ lo lắng: – Nhầm lẫn là chuyện bình thường các em ạ. Nhưng lần sau các em phải chú ý hơn kẻo lớp toàn học sinh khá giỏi lại bị mắng là lưu ban, là vô kỉ luật thì oan lắm! Chúng con gượng cười,- cái cười méo xệch, vì vừa buồn cười lại vừa xâu hổ, lo lắng. Cả lớp lí nhí chào thầy rồi lục tục đi lên tầng hai. Thì ra khi nãy, cô chủ nhiệm lên lớp không thấy chúng con đâu liền hỏi các thầy cô khác thì được chỉ xuống phòng “học sinh lưu ban”. Nghe vậy, cô vội đi xuống ngay, e rằng giữa một thầy hiệu phó nghiêm khắc, thẳng thắn với một lớp học sinh hiếu động, nông nổi lại bị “đặt tiếng oan” sẽ “xảy ra chuyện”! Các bạn lớp khác nhìn qua cửa sổ chỉ trỏ lớp con rồi cười một cách… khó hiểu. Buổi gặp mặt đầu năm kết thúc. Cậu chuyện lan nhanh đi đến nỗi lúc tan trường, ai nhìn thấy ba đứa con cũng đùa: – Tớ nghe nói lãnh đạo lớp ấy đang đưa cả lớp tiến lên lữu ban hết à!Xem thêm: Hãy so sánh cách ví tiếng suối của Nguyễn Trãi trong văn bản “Côn Sơn ca” (câu thơ “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”) và của Hồ Chí Minh trong câu thơ: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya)Con cũng cười đáp lại nhưng trong lòng thì xâu hổ vô cùng. Chỉ vì ham nói chuyện riêng mà con đã làm lỡ chuyện của cả lớp lại còn khiến lớp bị trêu cười. Từ nay, con càng phải cố gắng là một lớp trưởng mẫu mực, một học sinh gương mẫu.để những thành tích của lớp và của con khiến mọingười quên đỉ câu chuyện hôm nay… Vanmau.edu.vn
Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (hoặc cảm động, hoặc buồn cười, …) mà em gặp ở trường
1,152
Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (hoặc cảm động, hoặc buồn cười,…) mà em đã gặp ở trường. Hướng dẫn BÀI THAM KHẢO Thằng con tôi mười một tuổi. Qua mùa thi chuyển cấp, nhân một buổi chiều đi chơi mát… đang hỏi nó về chuyện thi cử, nó chợt hỏi lại: – Ba! có bao giờ ba thấy một bài luận văn nào không điểm không? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ không phải con nghe kể đâu. Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp: Còn thua ba nữa đó, ba ít nhất cũng được nửa điểm. Còn thằng bạn con, con sốkhông bự như quả trứng. Sốlà cách đây vài năm, có một nhà xuất bản gửi đến các nhà văn, nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi còn nhớ đại ý, nhà văn, nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, sau đó in thành sách Nhà văn học văn. Tôi kể, hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Văn Tố(1948 — 1950) tôi là một học sinh trung bình, và môn Văn không đến nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20). Đó là kỉ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn Văn. Tôi hỏi con: – Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm? – Luận văn cô giáo cho “Trò hãy tả một buổi làm việc ban đêm của bố”. – Con được mấy điểm? – Con được sáu điểm. – Con tả ba như thế nào? – Thì ba làm việc làm sao con tả vậy. – Mấy đứa khác, bạn của con? Thằng con tôi chợt nhớ, nó liền liến thoắng: A! Có một thằng, ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng được sáu điểm đó ba. – Đêm ba nó làm gì? Xem thêm: Kể lại một bữa cơm thân mật trong gia đình nhân dịp đón người thân đến thăm– Nó nói đêm ba nó thường đi nhậu. – Nó tả ba nó đi nhậu à? – Dạ, không phải: Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì nó tảba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa? – Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào? – Nó không tả không viết gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô. – Sao vậy? Hôm trả bài cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô hét “ Sao trò không làm bài?”. Nó cúi đầu làm thinh. Cô lại hét to hơn: “Hả?”, nó cũng làm thinh. Tụi con ngồi dưới, đứa nào cũng run. – Nó là học trò loại “cá biệt” à? – Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba. – Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào? – Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: “Sao trò không làm bài?” Tới lúc đó nó mới nói: “Thưa cô, con khôngcó ba”. Nghe nói, hai con mắt cô mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba! Tôi bỗng nhập vai vào cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước đứa học trò không có ba. Sau đó cô và cả lớp mới biết được, em mồ côi cha khi vừa mới lọt lòng mẹ. Ba em hi sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi con… Có người bảo em: “Sao mày không tả ba của đứa khác”, em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má. Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi — người viết văn, là một bài học, bài học trung thực, sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt. Giữa những dòng bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trung thực trên bàn viết. Nguồn: thêm: Điền các nội dung vào chỗ trống để xin cấp thẻ đọc sách
Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (hoặc cảm động, hoặc buồn cười,…) mà em đã gặp ở trường.
708
Kể chuyện 10 năm sau về thăm lại mái trường mà hiện nay em đang học Hướng dẫn Đầu năm học mới, tôi nằm mơ. Mơ được trở về thăm trường cũ. Bạn Vĩnh báo tin cho chúng tôi là mới nhận được thư của thầy Linh. Thầy cho biết Ngày Nhà Giáo Việt Nam sắp tới. trường THCS Lương Thế Vinh tổ chức lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Hoàng, Vĩnh, Thái và tôi là bạn học cũ, học trò “cưng” của thầy Linh. Thế là đã mười năm trôi qua,mười năm xa trường. Thế hệ chúng tôi, những học sinh lớp 6C của thầy Linh dạy Toán và làm chủ nhiệm thuở ấy, nay đã ngoài 20 tuổi, đang học Đại học ở Hà Nội. Sáng hôm ấy, chúng tôi hẹn gặp nhau ở cầu Tào, cùng đi xe máy về dự hội trường. Học sinh đủ mọi lứa tuổi đến hơn ba ngàn người đứng chật cả sân trường. Trường THCS Lương Thế Vinh là trường tiên tiên cấp tỉnh. Trường vẫn toạ lạc trên địa điểm cũ, cạnh ngôi đình làng Canh, nhưng đã hoàn toàn đổi mới. Bốn dãy nhà hai tầng làm phòng học của bốn khối lớp. Thư viện, văn phòng, nhà hiệu bộ, hội trường, phòng thí nghiệm và phòng chức năng, tất cả đều to đẹp, khang trang. Các phòng học cũ nay chẳng còn nữa. Chúng tôi kéo nhau đi thăm các dãy nhà mới, thăm phòng truyền thống. Có biết bao nhiêu là cờ thi đua, bằng khen, ảnh lưu niệm của thầy trò các lớp. Bức ảnh thầy Linh chụp với 42 học sinh lớp 6C thuở ấy nay đã lên màu thời gian. Nhìn lại gương mặt, ánh mắt, nụ cười hồn nhiên của mình, của các bạn. tôi vô cùng xúc động. Hồng lớp trưởng, Quang và Hợi lớp phó đều đứng cạnh tôi. Xem thêm: Kể lại những việc em đã làm trong ngày chủ nhật vừa quaThầy giáo cũ được gặp lại chỉ còn bốn, năm người. Cô Liên dạy Văn,cô Ngọc dạytiếng Anh, thầy Hợp dạy sử, thầy Linh dạy toán. Thầy cô nào cũng đã ngoài năm mươi. Cô Liên mái tóc đã điểm bạc. Trong lớp cho biết chỉ hai năm nữa là thầy về hưu. Bao kỉ niệm đẹp một thời thơ bé đã sống dậy làm tôi vô cùng bồi hồi. Chúng tôi tặng mỗi thầy, cô một tặng phẩm nhỏ, cùng chụp ảnh lưu niệm. Thầy, cô nào cũng hỏi han về việc học hành, hỏi thăm gia đình mỗi đứa chúng tôi. Cô Liên vừa cười vừa nói: “Các em học giỏi thế mà chẳng vào ngành Sư phạm cả…” Cả sân trường là một rừng cờ, một rừng hoa, một rừng người. Có hơn một nghìn học sinh của bốn khối lớp 6, 7, 8, 9 mặc đồng phục, xinh đẹp như những tiên nga, tiên đồng. Các thầy, cô giáo phần đông đều rất trẻ, đều tốt nghiệp Đại học Sư phạm. Nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay giữa sân trường, tôi nhớ lại lần đầu được vinh dự kéo cờ trong lễ khai giảng. Đi vòng quanh gốc bàng, gốc phượng, tôi xúc động như gặp lại người thân thương. Hoàng và Thái nhắc lại kỉniệm trèo bàng, bắt ve bị thầy Linh phạt. Trường tôi 15 năm liền luôn luôn dẫn đầu các trường THCS trong toàn tỉnh. Thi học sinh giỏi, năm nào trường tôi cũng giành được giải cao. Mười năm trước, tôi đã được dự thi học sinh giỏi Toán toàn huyện, toàn tỉnh. Nay về dự hội trường, gặp lại thầy Linh, tôi càng thấy tự hào. Tôi nhớ ơn thầy nhiều lắm. Thành tích học tập và sự trưởng thành của tôi, của các bạn tôi,một phần lớn do công giảng dạy và rèn luyện của thầy. Mãi đến gần cuối buổi lễ, chúng tôi mới gặp được thầyHảo thương binh. Thầy vui tính, học sinhnào cũng nhận được sự yêu thương, nồng hậu và chăm sóc tận tình của thầy. Ra về, tôi càng nhớ trường, nhớ các thầy cô, nhớ các bạn. Mười năm là một quãng đời đẹp. Tuổi trẻ chúng tôi lớn lên tronghọc hành và mơ ước. Thành tích của trường dày lên, đẹp lên theo năm tháng. TrườngTIICS Lương Thế Vinh là cái nôi hạnh phúc của tôi, của các bạn tôi một thời thơ bé. Ôi, giấc mơ của mười năm sau. Mà sao tôi thấy tươi roi rói cả tâm hồn… Nguồn: Những Bài Văn HayXem thêm: Em có nguyện vọng gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hãy viết đơn gửi ban Chấp hành đoàn trường
Kể chuyện 10 năm sau về thăm lại mái trường mà hiện nay em đang học
783
Đề bài: Trong giấc mơ, em được bà tiên cho ba điều ước và thực hiện cả ba điều ước. Hãy kể lại câu chuyện ấy theo trình tự thời gian. Tuần vừa rồi, em được rất nhiều điểm tốt. Vì vậy, trong ngày hôm qua em được bố mẹ cho đi chơi công viên. Buổi đi chơi đó rất vui nên em luôn nhớ. Đến tối, sau khi học xong bai em bắt đầu đi ngủ. khi ngủ em có được một giấc mơ rất đẹp. Trong giấc mơ, em thấy có một bà tiên hiện lên. bà có mái tóc như cước, bà nở nụ cười đôn hậu với em và nói: – Cháu là một cô bé ngoan. Bà sẽ tặng cho cháu ba điều ước, cháu hãy ước đi. Em mừng quá, em cảm ơn bà và nói: – Thưa bà, điều ước thứ nhất cháu xin ước hai chị em cháu học thật giỏi. Điều ước thứ hai: cháu xin ước lơn lên cháu sẽ trở thành một nhà ngoại giao giỏi. Điều thứ ba: cháu xin ước trên giới con người sẽ không có bệnh tật. Rồi em nghe có tiếng nói:”Phương Anh ơi”. Đó là tiếng bố em gọi em dậy đi học. Em rất vui vì có được một giấc mơ đẹp. EM mong những điều ước đó sẽ thành hiện thực trong tương lai. Xem thêm: Phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm hay nhất
Kể chuyện bà tiên cho ba điều ước trong giấc mơ
240
Kể chuyện Chiếc đồng hồ Hướng dẫn “Năm 1954, các cán bộ đang dự hội nghị tổng kết ở Bắc Giang thì có lệnh Trung ương rút bớt một số người đi học lớp tiếp quản Thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán sôi nối. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Giữa lúc đó, Bác Hồ đến thăm hội nghị. Các đại biểu ra đón Bác. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu… Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi: -Các cô chú có trông thấy cái gì đây không? Mọi người đồng thanh: -Cái đồng hồ ạ. -Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì? -Có những con số ạ. -Cái kim ngắn, kim dài để làm gì? -Để chỉ giờ, chỉ phút ạ. -Cái máy bên trong dùng để làm gì? -Để điều khiến cái kim chạy ạ. Bác mím cười, hỏi tiếp: -Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng? Mọi người còn đang suy nghĩ thì Bác lại hỏi: -Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không? -Thưa không được ạ. Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên cao và kết luận: -Các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các cô chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ, cứ tranh nhau chỗ đứng như thê thì có còn là cái đồng hồ được không? Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đà khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những thắc mắc riêng tư. (Theo sách BÁC HỒ KÍNH YÊU) Xem thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Kể chuyện Chiếc đồng hồ
426
Kể chuyện Cuộc chạy đua trong rừng Hướng dẫn Trong bốn năm học vừa qua, em đã được học nhiều truyện hay và có ý nghĩa. Nhưng em ấn tượng hơn cả là truyện “Cuộc chạy đua trong rừng”. Em xin kể lại câu chuyện đó. Tại buổi hội họp hàng năm, muông thú trong rừng tranh luận rất gay gắt về việc con vật nào chạy nhanh nhất. Cuối cùng, để chấm dứt cuộc tranh luận, các con vật đều nhất trí mở một hội thi chạy để chọn ra một con vật chạy nhanh nhất. Sau buổi họp, các con vật đều rất hứng khởi. Con vật nào tham gia vào cuộc thi này đều chuẩn bị rất kĩ lưỡng bởi đến chị Rùa và cô Ốc Sên cũng tham dự cơ mà. Gia đình nhà bác Ngựa cũng đang bàn nhau xem có nên tham gia vào cuộc thi hay không. Nhà chỉ có ba người, hai bác Ngựa thì đã già, chân yếu lắm rồi, có thì cũng không thể chiến thắng được. Chỉ còn mỗi Ngựa Con. Nhưng bố mẹ ngựa con cho rằng Ngựa Con chưa có kinh nghiệm gì cả. Nghe bố mẹ bàn bạc, Ngựa Con hào hứng nói: -Bố mẹ ơi! Con sẽ tham gia hội thi ngày mai. Bố mẹ yên tâm, con sẽ chứng minh cho muông thú trong rừng biết rằng: “Chạy nhanh như ngựa là như thế nào?”. Bố mẹ Ngựa Con đồng ý để Ngựa Con tham gia vì nghĩ rằng đây cũng là một cơ hội giúp Ngựa Con trưởng thành hơn. Ngựa Con thích lẳm. Chú tin chắc rằng mình sè chiến thắng. Chú sửa soạn không biết chán. Ra dòng suối trong veo gần nhà, chú soi bóng mình xuống nước và hài lòng khi nhìn thấy hình ảnh cùa mình – một chú ngựa xinh xắn với bộ lông màu nâu, mượt mà tuyệt đẹp, cái bờm dài được chải chuốt trông ra dáng một nhà vô địch… Thấy Ngựa Con chỉ mải mê với hình dáng bên ngoài cùa mình, Ngựa cha lo lắng: -Con trai à, con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng. Nó cần thiết cho cuộc đua hơn là bộ đồ đẹp đấy con ạ! Nghe cha nói vậy, Ngựa Con mắt vẫn không thể rời bóng mình nước, ngúng nguẩy đáp: -Cha yên tâm. Móng của con chắc chắn lắm. Con nhất định sẽ chiến thắng mà. Cuộc thi đã đến. Từ sáng sớm, bãi cỏ xanh rộng đã dông nghịt các con vật đến dự thi. Rất nhiều con vật khác đứng vòng trong vòng ngoài cổ vũ. Bác Sư Tử già được bầu làm trọng tài của cuộc thi đang ngồi chễm chệ trên hòn đá to giữa bãi cỏ, trông rất oai vệ. Đằng kia, chị em nhà Hươu đang sốt ruột gặm lá. Thỏ Trắng, Thỏ Xám được bài học từ lần chạy thi với Rùa nên lần này thận trọng ngắm nghía kỹ các đối thủ. Bác Quạ già thì bay đi bay lại nhắc giữ trật tự. Còn chú Ngựa Con thì ung dung đi về phía vạch xuất phát. Xem thêm: Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy) “Chuẩn bị!… Bắt đầu!” Khi tiếng hô của Sư Tử vang lên, các vận động viên rần rần chuyển động. Hết vòng thứ nhất, Ngựa Con dẫn đầu bằng những bước sải dài khoẻ khoắn. Đến vòng thứ hai, đang chạy hết tốc độ thì Ngựa Con thấy vướng vướng ở chân. Chú giật mình thảng thốt và đau đớn nhận ra rằng một cái móng của mình đã bị lung lay mất rồi, sau đó thì cái móng ấy rơi hẳn ra. Gai nhọn đâm vào chân làm Ngựa Con đau điếng. Chú chạy tập tễnh, tụt lại dần về phía sau và cuối cùng thì dừng hẳn lại. Đứng nhìn đám bạn lướt qua mặt, Ngựa Con đỏ hoe mắt. Chú thấy ân hận vì đã không nghe theo lời cha dặn. Sau cuộc thi, mặc dù không chiến thắng nhưng Ngựa Con đã rút ra được bài học quý giá: “Đừng bao giờ chủ quan, cho dù đó là việc nhỏ nhất”. Xuân Hà Linh – Hà Tây Nhận xét của giáo viên: * Những ưu điểm cần học tập Đọc câu chuyện “Cuộc chạy đua trong rừng” qua lời kể của Linh, ta mới thấy thế giới động vật sống động làm sao. Bài văn kể chuyện của Linh có kết cấu 3 phần rõ ràng, các tình tiết lần lượt diễn ra một cách hợp lý, đúng với cốt truyện. Nhân vật chính trong câu chuyện là chú Ngựa Con. Chú Ngựa Con trong cuộc đua để chọn con vật chạy nhanh nhất này cũng có điểm giống như chú Thỏ trong câu chuyện quen thuộc “Rùa và Thỏ” – đó là quá tự tin, chủ quan, không lường trước được sự việc. Nhưng nếu chú Thỏ thất bại do mãi chơi, khinh thường ý chí quyết thắng cùa Rùa, thì chú Ngựa Con lại thất bại do chỉ lo chải chuốt, tô điểm cho vẻ ngoài của mình, không nghe lời khuyên của bố. Cách kể chuyện của Linh hấp dẫn, chân thật, ngôn ngữ giản dị, trong sáng. Câu chuyện sở dĩ cụ thể và sinh dộng cũng là bởi bạn đã biết tưởng tượng thêm một số chi tiết để dẫn dắt nhịp nhàng câu chuyện. Ví dụ: Cuộc tranh luận gay gắt của muông thú trong rừng; sự hứng khởi và sự chuẩn bị của các con vật trước cuộc đua… đặc biệt các chi tiết: hai con vật được coi là chạy chậm nhất “Rùa và Óc Sên” cũng tham gia cuộc dua; rồi “Bác Sư Từ già được bầu làm trọng tài của cuộc thi đang ngồi chễm chệ trên hòn đá to giữa bãi cỏ, trông rất oai vệ”, “Thỏ Trắng, Thỏ Xám được bài học từ lần chạy thi với rùa nên lần này thận trọng ngắm nghía kỹ các đối thủ”… mang tới sự thú vị cho người đọc. Có được những thành công trên là bởi Linh đã biết lựa chọn một câu chuyện hay, có ý nghĩa sâu sắc trong những truyện dã được học để kể. Bài học cùa Ngựa Con trong cuộc thi cũng là bài học quý giá cho các học sinh: “Đừng bao giờ chủ quan cho dù đó là việc nhỏ nhất”. Bài luyện tập 1.Những chi tiết nào trong câu chuyện cho thấy Ngựa Con rất chủ quan, tự tin bản thân mình? 2.Ý nghĩa của câu chuyện là gì? 3.Viết phần kết bài nói lên cảm nghĩ của em về câu chuyện? Kể lại câu chuyện bằng lời của Ngựa Con. Tham khảo thêm những bài kể khác tại đây: Xem thêm: Hãy ghi lại những cảm nghĩ chân thực của anh (chị) về những ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông
Kể chuyện Cuộc chạy đua trong rừng
1,156
Kể chuyện Cóc kiện trời ngữ văn 6 Hướng dẫn Ngày xửa ngày xưa, có một năm trời làm nắng hạn kéo dài, sông suối ao hồ cạn kiệt, ruộng đồng nứt ne, cây cối vàng héo, người và muôn vật khát khô. Cóc quyết lên Thiên đình kiện trời. Được tin Cáo, Gấu, Ong, Cua và Hổ xin được cùng đi. Lên đến sân rồng Thượng đế, Cóc bài binh bố trận: Cóc và Gấu nấp sau cái trống. Cua vào phục trong chum nước. Ong phục kích sau cánh cửa. Con Hổ thì ém mình sau bình phong. Cóc dặn chư tướng phải sẵn sàng tuân lệnh. Sau đó, Cóc nhảy lên ngồi chễm chệ trên mặt trống, cầm dùi, thẳng tay nện ba hồi trống dài. Thiên đình náo động cả lên. Nghe thị thần cấp báo về chuyện gây rối của con Cóc xa lạ, Trời hạ lệnh cho Gà xông ra mổ con Cóc láo xược. Tức thì Cóc nhảy lên vồ lấy Gà xé xác; Trời giận lắm sai Chó ra cắn cổ Cóc, nhưng chưa tới nơi đã bị Cóc ra mật hiệu cho Gấu; Gấu đã quật Chó chết tươi. Ngọc Hoàngquyết không dung tha bọn loạn thần. Thiên Lôi vác lưỡi tầm sét, đằng đàng sát khí xuất kích. Thiên Lôi chưa kịp bổlưỡi tầm sét xuống đầu Gấu thì bỗng bị Ong bay ra đốt cho tối tăm mặt mũi. Viên tướng của Trời la hét om sòm, cuống quýt nhảy vào chum nước. Không ngờ hắn bị Cua với nhữngchiếc càng cứng như thép kẹp vào chỗ hiểm, phải rống lên. Thiên Lôi bạt vía kinh hồn vừa nhảy ra khỏi chum nước toan chạy trốn thì đã bị Hổ bất thần nhảy tới, vồ lấy, xé xác. Xem thêm: Phân tích nét hung bạo và vẻ đẹp trữ tình của hình tượng sông Đà (Tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân) Sân rồng trở thành bãi chiến trường rùng rợn. Trời nóng thế, bèn sai thị thần ra mời Cóc vào triều kiến. Cóc tấu: – Muôn tâu Ngọc Hoàng! Trần gian nắnghạn đã lâu ngày. Muôn loài vô cùng đau khổ. Cúi xin Ngọc Hoàng làm mưa ngay cho đểcứu chúng sinh. Trời sợ trần gian nổi loạn, bèn dịu giọng: Thôi, cậu hãy trở về hạ giới. Ta sẽ cho mưa xuống ngay! Cóc đứng dậy bái tạ, Ngọc Hoàng còn ân cần dặn thêm: – Lần sau hạ giới Cần mưa, cậu chỉ nghiến răng báo hiệu cho ta, khắc ta sẽ biết. Cậu chẳng phải vất vả lên đây làm gì! Cóc và bệ hạ về tới trần gian thì mưa đã trút xuống ngập cả ruộng đồng. Muôn loài hồi sinh. Từ đó, mỗi lần Cóc nghiến răng là Trời lại đổ mưa. Và cũng từ đó, dân gian lưu truyền câu ca: "Con Cóc là cậu Ông Trời, Hễ ai đánh Cóc thì Trời đánh cho". Nguồn: Những bài văn hay
Kể chuyện Cóc kiện trời ngữ văn 6
485
Đề bài: Kể chuyện lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo Trời đã thủng buổi, mặt trời chói chang len qua những bóng lá rọi xuống khung cửa nan nhà. Tôi đang lụi cụi nấu ăn dưới bếp, than khói lửa hồng bốc lên dưới cái nắng ban trưa thật khiến người ta dễ bực mình. Ông nhà đang ngồi đọc mấy quyển văn của trò ông ấy, rồi cứ luôn tay phe phẩy cái quạt mo. Cơm nước đã xong đấy, toan dọn mâm lên ăn, thì bỗng nhiên, lão Hạc bước từ cửa vào. Lão hạc là hàng xóm của nhà tôi, nhà lão nghèo lắm, vợ mất, con trai vì không lấy được vợ nên bỏ đi làm ăn, để mình thân già lão ở nhà. Lão với ông nhà tôi thân nhau lắm, tuy tuổi tác chênh lệch, nhưng hai người cứ trò chuyện thì lại rôm rả, như hai người bạn tri kỉ với nhau vậy. Lão Hạc cứ chệnh choạng, mặt cúi gắm xuống, lưỡng lự trước cửa một lúc rồi bước vào nhà. Ông nhà tôi kêu lên: Cụ đến chơi ạ” Lão Hạc không đáp lại. Lão đi từ từ, chậm rãi vào gian chính. Bực mình thật, đúng lúc người ta ăn cơm thì lại mò đến- Tôi tự nhủ một cách trách móc lão Hạc. Lạ thật! Lão ngồi phịch xuống tấm phản, không nói không rằng, cứ cúi gằm cái mặt xuống. Chồng tôi cũng thấy lạ lắm, nhưng cũng giữ phép lịch sự, rót chén nước chè mời lão. Lão Hạc đưa hai bàn tay run run đỡ lấy chén trà chồng tôi đưa, đưa lên môi nhấp nhẹ rồi lại đặt xuống. Đến giờ lão vẫn chưa mở lời. Rồi cái vẻ yên lặng ấy cứ diễn ra một lúc, chồng tôi nhìn lão một cách kì lạ, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Cuối cùng thì, có lẽ là lão đã sẵn sàng để nói chuyện- lão ngẩng khuôn mặt lão lên, khuôn mặt nhăn nheo, rám nắng, dưới khóe mắt vẫn thâm quầng- và mở chuyện: – Cậu Vàng đi đời rồi ông giáo ạ! – Cụ bán nó rồi?- chồng tôi đáp một cách ngạc nhiên – Bán rồi! Họ vừa bắt nó xong. Lão kể với giọng khàn khàn, khiến tôi nghe chữ được chữ không. Lão mỉm cười. Nhưng lão cười lạ lắm, miệng lão cười nhưng mà môi cứ giật giật, cả người lão run lên. Lão cười mà như mếu vậy. Có lẽ tâm trạng lão không vui như lão cố tỏ ra cho chồng tôi thấy- và chồng tôi cũng nhận ra điều đó. Ông hỏi: – Thế nó cho bắt à! Xem thêm: Lời kể của cuốn vở đang ẩn mình chờ chếtVẻ mặt lão thoáng thay đổi, mắt lão nhắm nghiền lại, khuôn miệng cười lúc nãy đã biến mất. Rồi từ hai khóe mắt chảy ra giọt nước mắt, nó chảy dài trên khuôn mặt xương xương của lão. Những nếp nhăn trên khuôn mặt lão co lại, lão khóc mỗi lúc một nhiều, hàng nước mắt cứ tuôn mãi. Tôi ngạc nhiên, từ xưa đến nay lão có bao giờ thế đâu. Mà lão Hạc đã già, có lẽ lên chức ông chức cụ rồi, vậy mà lão lại hu hu khóc chẳng khác gì một đứa con nít. Mặt ông nhà tôi cũng biến dạng theo. Lão Hạc kể lại chuyện bán chó mà tiếng khóc cứ ngân dài theo từng lời nói, trông đến là tội nghiệp. – Khốn nạn… Ông giáo ơi! – Lão òa lên- Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm, nó ăn ngon lành, bởi vì tôi cho nó toàn món ngon, bữa cuối cùng của nó mà. Thế rồi, lúc nó đang hoan hỉ, thì bỗng thằng Mục với thằng Xiên nấp ngay sau nó nhảy ra, tóm gọn nó. Cu cậu trông béo tốt thế mà lại nhát, thế nên chẳng bao lâu nó đã bị trói gọn cả bốn cẳng lại rồi. Bấy giờ cu cậu mới biết cu cậu chết. Mà cái giống nó khôn lắm! Nó nhìn tôi in như nó trách tôi. Nhìn ánh mắt nó, chắc nó đang thầm bảo rằng: “ A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão thế mà lão lại đối xử với tôi như thế à? Tôi già từng này tuổi đầu rồi mà lại phải lừa một con chó ông giáo ạ. Nói đến đây, lão Hạc tự đấm thùm thụp vào ngực mình, bởi vì có lẽ lão sẽ không bao giờ có thể tự tha thứ cho mình được. Lão cứ rên rỉ, trách móc mình mãi, kèm theo là những cái cào xé, lão đang dằn vặt nỗi lòng của mình, đến nỗi mà chồng tôi phải ngăn lão lại thì lão mới dừng. Ông an ủi lão Hạc – Thôi cụ ạ! Nó không hiểu gì đâu! Mà chó nào nuôi mà chẳng để giết thịt! Ta bán nó đi chính là hóa kiếp cho nó đấy. Nghe xong câu này của chồng tôi, lão Hạc ngẩng mặt lên trời, lão vẫn khóc, nhưng lão vừa khóc vừa cười, giọng cười chua chát và cay đắng. Lão nhắm nghiền mắt lại cố ngăn cho dòng nước mắt không tuôn nữa, rồi bảo rằng lão mong là con chó sẽ thành kiếp người, như lão chẳng hạn. Tôi để ý thấy chồng tôi cũng đau buồn theo lão, nước mắt đã rơi, nhưng ông không muốn lão Hạc càng thêm buồn nên cố nẹn lại, và nghiến răng để không òa khóc theo lão. Ông nắm lấy đôi vai gầy gọc của lão Hạc an ủi lão. Cái cảnh tượng thật não nề Nguồn Edufly Xem thêm: Nếu là người được chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại câu chuyện đó như thế nào?
Kể chuyện lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo
1,001
Kể chuyện lớp 5 Người đi săn và con Nai Hướng dẫn Đề bài: Dựa theo tranh và lời chú thích đã cho ở dưới mỗi bức tranh, em hãy kể lại từng đoạn truyện “Người đi săn và con nai”. Hướng dẫn 1-Bức tranh 1: Người đi săn chuẩn bị mọi dụng cụ cần thiết cho chuyến đi săn nai khi mùa trám chín đến. 2-Bức tranh 2: Gặp con suối, suối khuyên người đi săn đừng bắn nai. 3-Bức tranh 3: Cây trám giận dữ trước ý định của người đi săn muôn bắn con nai. 4-Bức tranh 4: Thẫn thờ trước vẻ đẹp của con nai, người đi săn đã hạ súng xuống. *Đoạn 1: “Mùa trám chín, nai sẽ về nhiều, chuẩn bị đi săn thôi”. Nghĩ vậy, người thợ săn vội vàng chuẩn bị súng kíp, đạn dược xếp vào túi vải và đeo cái đèn ló lên đường vào rừng. Khi đi qua một con suối, suối hỏi: -Đi đâu mà tối thế, hở anh bạn? -Đi săn con nai – Người thợ săn trả lời. -Đừng bắn nai. Nai hay đến đâv soi gương lắm, ông bạn ạ. Người thợ săn không nói gì lầm lũi bước đi. Đến gốc cây trám, anh ta ngồi nghỉ, hạ chiếc đèn ló xuống. Cây trám hỏi: -Anh đến đây chơi với tôi à? -Tôi đợi nai về cho nó một phát. -Sao anh ác thế? -Thịt nai ngon lắm. -Vậy thì anh hãy cút đi. Người đi săn như không hề nghĩ đến những lời trám nói, lẳng lặng ngồi chờ. *Đoạn 2: Thế rồi trên lưng đồi, bóng một con nai xuất hiện. Ánh đèn ló trên trán người đi săn bỗng sáng rực lên. Hai con mắt nai đỏ như hổ phách bối rối trong làn sáng đèn. Con nai ngây ra, đẹp quá đến nỗi người đi săn quên mất thịt nai ngon, quên đưa súng lên, cứ ngắm hoài vẻ đẹp ngơ ngác của con nai. Rồi anh ta chợt nhớ lời suối, trám nói: muông thú và cây cỏ trong rừng đều là bạn ta, sao ta lại thèm ăn thịt bạn. *Đoạn 3: Con nai vẫn lặng yên, trắng muôt trong luồng ánh sáng. Vẻ đẹp của nó đã làm cho người thợ săn cảm mến, xúc động. Anh đèn ló lệch xuống, mất bóng con nai. Người đi săn luông cuông điều chỉnh lại luồng sáng nhưng con nai đã biến mất. *Đoạn 4: Người đi săn bàng hoàng, ngơ ngẩn bước xuống đồi. Vầng trăng nhìn anh mỉm cười: – Ngủ ngon được đấy! Chúc ngủ ngon! Người thợ săn trở về nhà, cất khẩu súng, bao đạn và chiếc đèn ló vào chỗ cũ. Đêm ấy, trong giấc ngủ êm đềm, anh mơ thấy con nai. Và chưa bao giờ anh thấy nó đẹp và đáng yêu như thế. Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Những người bạn tốt
Kể chuyện lớp 5 Người đi săn và con Nai
465
Kể chuyện Lớp trưởng lớp tôi Hướng dẫn Vân được bầu làm lớp trưởng. Cuối giờ học, con trai chúng tôi kéo nhau ra một góc, bình luận sôi nổi. Lâm “voi" nói to lên: – Lớp trướng gì mà vừa gầy vừa thấp bé, chả có dáng tí nào… Quốc “lém” lên tiếng: -Lớp trưởng phái mồm mép, nhanh nhau. Cái Vân cạy răng chắng nói nửa lời, có mà chỉ huy người… câm. Riêng tôi, tôi quan niệm lớp trưởng phải học giỏi. Vân chỉ được cái chăm chỉ, chứ học chả hơn tôi. Giờ Địa hôm qua, cô giáo trả bài kiếm tra. Cái Vân được điểm mười, bài cua tôi chỉ được năm, lí do là khi điền bản đồ, tôi đã “sơ tán” Hà Tây, Hoà Bình lên tận biên giới phía Bắc. Vân làm lớp trưởng hôm trước thì hôm sau đã có nhiều chuyện đáng nhớ. Trống xếp hàng được một lúc, Quốc mới hớt hải từ đâu chạy đến, miệng lắp bắp: -Chết… chết tớ rồi. Hôm nay đến phiên trực nhật, tớ, tớ lại ngủ quên. Cả bọn hoảng quá. Lớp tôi vừa đăng kí thi đua. Nhưng vào lớp, chúng tôi rất ngạc nhiên: lớp sạch như lau, bàn ghế ngay ngắn, bảng đen rành rành một dòng chữ con gái tròn trặn, nắn nót: “Thứ ba, 27 tháng 8 năm…” Nét chữ của Vân! Lâm trố mắt nhìn, còn Quốc và tôi thì thở phào… Buổi chiều, chúng tôi đi lao động. Nắng như thiêu. Đứa nào đứa nấy mồ hôi đẫm lưng, cổ khát khô. Bỗng Lâm kêu toáng lên: -Kem! Kem! Các cậu ơi! Bọn con trai chúng tôi ùa tới, vây quanh phích kem. Vân mồ hôi nhẻ nhại, đang nhanh nhẹn chia kem cho mọi người. Quốc vừa ăn vừa tấm tắc: -Lớp trương “tâm lí” quá! À, bạn lấy phích kem ở đâu ra thế? -Bà hàng kem cho mượn cả phích đây. Còn tiền là của chi đội làm lao động hè… Bây giờ, có ai hỏi về lớp trưởng lớp tôi, tôi sẽ tự hào nói: “Vân không chỉ học chăm mà còn học rất giỏi.” Hỏi Lâm, chắc nó sẽ oang oang: “Vân là con gái, nhỏ người thật nhưng xốc vác lắm đấy”. Và chẳng phải hỏi, Quốc cũng sẽ khoe ngay: “Vân củ mỉ cù mì mà giỏi đáo để, bọn con trai chúng tớ ai cùng phải nể phục.” (Theo LƯƠNG TỐ NGA) Xem thêm: Tuần 11: Chính tả Luật bảo vệ môi trường
Kể chuyện Lớp trưởng lớp tôi
404
Kể chuyện Người học trò và con hổ ngữ văn 6 Hướng dẫn Ngày xưa, có một người học trò hiền lành vào rừng hái lá thuốc. Một hôm, anh vừa đến khu rừng nọ, bỗng nhìn thấy một con hổ bị sập bẫy, đang quằn quại. Chợt nhìn thấy người, Hổ cất tiếng năn nỉ: – Cậu ơi! Cậu rủ lòng thương, cậu ra tay cứu tôi. Anh học trò ngạc nhiên lắm, nghĩ bụng: "Sao hổ biết nói tiếng người?". Anh còn phân vân thì lại nghe Hổ ân cần, tha thiết: – Cậu cứu tôi, tôi không bao giờ quên công ơn trời bể của cậu. Rừng lắm thú dữ. Tôi là chúa sơn lâm, tôi sẽ bảo vệ cậu, quyết không cho bất cứ kẻ nào động tới chân lông cậu. Tôi xin hứa… tôi xin thề!… Người học trò hỏi lại: – Nhưng nếu được tháo bẫy, Hổ vồ ta thì sao! Hổ lại thiết tha thề thốt. Nước mắt chảy ra ròng ròng. Người học trò cảm động, kéo cần bẫy lên. Hổ nhanh nhẹn chui ra ngay. Nó uốn lưng, cặp mắt sáng quắc, gầm lên một tiếng rung chuyển suối rừng. Giật mình, người học trò khẽ phàn nàn: – Chao ôi! Ngươi hét to quá làm ta inh tai nhức óc. Hổ trở mặt, vặc lại: – Chỉ gầm thôi à? Tao còn muốn ăn thịt mày đây! Người học trò tái mặt. Nhưng anh vẫn lên tiếng trách móc: – Nhà ngươi vừa giao ước và thề thốt với ta sao lại nuốt lời? Hổ gầm lên. Cặp mắt như hai cục than hồng: – Tao còn đói đây! Mấy ngày rồi, tao chẳng có miếng nào bỏ vào bụng. Tao không còn sức để về hang. Thôi, mày phải nạp mạng! Mãnh Hổ gầm lên, xốc tới. Bất ngờ Thần Núi hiện ra. Râu tóc bạc phơ. Tay cầm cành lá phe phẩy. Thần nạt lớn: Xem thêm: Em có suy nghĩ về việc chọn người nối ngôi của Vua Hùng (truyền thuyết bánh Chưng, bánh Giầy) – Hai đứa chúng mày làm gì mà cãi nhau ồn ào ở đây! Ai phải ai trái hãy nói ngay cho ta rõ, ta sẽ phán xét! Người học trò kể lại đầu đuôi câu chuyện đã xãy ra. Nhưng con Hổ cũng chỉ vào cái bẫy mà cãi lại: – Làm gì có chuyện đó. Tôi đang nằm ngủ ngon lành trong bẫy thì hắn ở đâu đến quấy nhiễu tôi,muốn hãm hại tôi. Tôi phải ăn thịt nó để trá thù, để cho bõ tức! Thần Núi nghiêm giọng phán bảo: – Đúng! Ngươi có quyền trả thù kẻ đã xâm phạm tới nơi ăn chốn ở của mình. Nhưng ta không tin rằng nhà ngươi đã trú ngụ nơi chật hẹp ấy! Cả hai hãy trở về nguyên vị trí cũ ta xem! Hổ tin mình thắng thế, hí hửng chui vào bẫy. Thần Núi vội hạ cần bẫy xuống và mắng Hổ: – Đồ khốn kiếp! Mày là kẻ bội ước,bội nghĩa. Được người ta cứu giúp mà mày lại lấy oán trả ân à? Giờ thì mày đừng có mong ai cứu nữa. Quay sang phía anh học trò, Thần nhẹ nhàng khuyên bảo: – Anh là người giàu đức nhân hậu. Nhưng không nên, không được đem lòng nhân hậu trao cho những kẻ độc ác trongcõi đời! Phải nhớ lấy… * Gợi ý cảm nhận: Cũng như con người, có kẻ lành người dữ, có kẻ xấu người tốt; thế giới hổ háo cũng vậy. Các em đãhọc bài "Con hổ có nghĩa"; các em đọc tiếp truyện "Người học trò và con Hổ" này. Đây là một truyện ngụ ngôn rất lí thú. Người học tròthì hiền lành nhân hậu. Con Hổ là hình ảnh những kẻ độc ác, bất nhân, bất nghĩa, lòng dạ phản trắc rất ghê tởm. Thần Núi tượng trưng cho thần công lí. Vậy, bài học luân lí của truyện ngụ ngôn "Người học trò và conHổ" là gì? Nguồn: Những bài văn hayXem thêm: Suy nghĩ về câu nói “Nghệ thuật sống là phải thay đổi để thích nghi với môi trường”- Văn 12
Kể chuyện Người học trò và con hổ ngữ văn 6
677
Kể chuyện Người đi săn và con Nai Hướng dẫn Từ chập tối, người đi săn đã lôi cái súng kíp trên gác bếp xuống, xếp đạn vào chiếc túi vải chàm, rồi đeo cái đèn ló trước trán, vào rừng. Mùa trám chín, chắc nai về nhiều rồi, đi săn thôi! Người đi săn bước đến con suối. Suôi róc rách hỏi: -Đi đâu tối thế? -Đi săn con nai. Suôi bảo: -Con nai hay đến soi gương xuống mặt suối. Đừng bắn con nai! Người đi săn lùi lũi bước đi. Tới gốc cây trám, anh ngồi xuống, hạ chiếc đèn ló. Cây trám hỏi: -Đến chơi với tôi à? -Không phải. -Thế đi đâu? Ở đây vắng quá! Chẳng có ai đến chơi. Đến mùa quả mới được nhìn thấy con nai về. sắp đến lúc nai về đấy! -Tớ chỉ đợi lúc ấy. Cho nó một phát! -Sao? -Cái đèn ló này… để rọi cho nai chói mắt, không biết đường chạy, cái súng này… để bắn. -Ác thế! -Thịt nai ngon lắm. Cây trám rưng rưng: -Thế thì cút đi! Người đi săn không để ý đến những tiếng rì rào tức tưởi trên cây trám. Anh đợi. Thế rồi, trên lưng đồi sẫm đen dưới ánh trăng, bóng con nai hiện rõ dần. Ánh đèn ló trên trán người đi săn vụt rực lên. Hai con mắt nai đỏ như hổ phách bối rối trong làn sáng đèn. Con nai ngây ra đẹp quá. Người đi săn quên mất thịt nai ngon. Người đi săn quên hai tay đã giơ súng. Người đi săn lại nhớ ra lời suôi, lời đồi, lời cây: Muông thú và cây cỏ trong rừng là bạn ta, sao ta lại thèm ăn thịt bạn! Con nai lặng yên, trắng muốt trong ánh sáng. Người đi săn mải ngắm con nai, mồ hôi đầm trên trán. Cái dây da tụt xucmg, ánh đèn ló lệch vào bóng tối, mất bóng con nai. Con nai chạy biến. Người đi săn luông cuống giơ tay đẩy chiếc dây da lên. Nhưng trong làn sáng đèn không thấy con nai đâu. Người đi săn ngơ ngẩn xuống đồi. Vầng trăng đã nhìn thấy tất cả, mỉm cười: -Ngủ ngon được đấy! Chúc ngủ ngon! Lát sau, người đi săn đã ngồi trước bếp lửa. Khẩu súng, bao đạn lại treo lên hốc cột gác bếp. Đêm ấy, trong giấc ngủ dìu dịu, anh chiêm bao thấy con nai. Chưa bao giờ anh thấy một con nai đáng yêu đến thế! Theo TÔ HOÀI Xem thêm: Viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả hình dáng (hoặc hoạt động) của một con vật mà em yêu thích
Kể chuyện Người đi săn và con Nai
424
Kể chuyện Vì muôn dân Hướng dẫn Năm 1235, khi Trần Quôc Tuấn mới 5, 6 tuổi, cha ông là Trần Liễu có chuyện tị hiềm với vua Trần Thái Tông. Năm 1251, Trần Liễu lâm bệnh nặng, trước khi mất có trăng trối dặn Trần Quôc Tuấn phải vì cha mà giành lại ngôi vua. Biết cha không quên hận cũ, thương cha, Quốc Tuân đành gật đầu đế cha yên lòng, nhưng ông không cho đó là điều phải và luôn tìm cách hoà giải mối hiềm khích trong gia tộc. Cuối năm 1284, nhà Nguyên lại kéo hàng chục vạn quân sang xâm chiếm nước ta. Thế giặc mạnh như chẻ tre. Vua Trần Nhân Tông (cháu Trần Thái Tông) cho mời Hưng Đạo về kinh. Vừa từ Vạn Kiếp về tới Thăng Long, đậu thuyền ở bến Đông, ông sai mời Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải (con vua Trần Thái Tông) đến cùng bàn kế đánh giặc. Biết Quang Khải ngại tắm, ông sai nấu sẩn nước thơm và xin được tắm giùm. Ông tự tay cởi áo cho Quang Khải, dội nước thơm cho Quang Khải và thân mật đùa: -Hôm nay, thật may mắn, tôi được tắm hầu Thái sư. Quang Khải cũng kìm nổi xúc động, đùa lại: -Tôi mới thật có may mắn vì được Quốc công Tiết chế tắm cho. Trước tấm lòng chân tình của cả hai người, mối hiềm khích giữa hai bên được cởi bỏ. Hôm sau, hai người vào cung. Vua đà chờ sẵn để bàn việc nước. Nhà vua băn khoăn: Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư) -Lần trước, giặc Nguyên đã bị ta đánh bại. Nhưng lần này chúng đông và mạnh hơn trước bội phần. Các khanh xem có kế gì để giừ yên xà tắc? Hưng Đạo trình bày kĩ mọi việc, từ trân giừ biên thuỳ, cắt cứ các tướng…, đoạn ông nhấn mạnh: -Nên triệu gấp bô lão cả nước về kinh dế cùng luận bàn. Có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh trcăm họ! Anh em hoà thuận, trên dưới một lòng thì giặc kia dẫu mạnh mấy cũng phải tan! Vua y lời. Một sáng đầu xuân năm 1285, bô lão từ mọi miền đất nước tụ hội về diện Diên Hồng. Vua quan nhà Trần tề tựu dông đú. Vua ướm hỏi: -Nhà Nguyên sai sứ giả mang thư sang, xin mượn đường đế đánh Chăm-pa. Ý các khanh thế nào? Hưng Đạo tâu: -Cho giặc mượn đường là mất nước! Cả điện đồng thanh: -Không cho giặc mượn đường! Vua hỏi tiếp: -Ta nên hoà hay nên đánh? Điện Diên Hồng như rung lên bởi những tiếng hô của muôn người: -Nên đánh! -Sát Thát! Nhờ trên dưới đồng lòng, vua tôi hoà thuận… quân dân ta đã đánh tan giặc Nguyên, giữ vững độc lập dân tộc.
Kể chuyện Vì muôn dân
468
Kể chuyện về một anh hùng dân tộc mà em đã được nghe được đọc Hướng dẫn Và em đã biết đến những nhân vật lẫy lừng trong lịch sử đó nhờ những trang sử mà người xưa ghi lại. Trong đó, câu chuyện mà em yêu thích và nhớ nhất chính là truyện về người anh hùng Thánh Gióng, Câu chuyện ấy như sau: Ngày xưa vào thời vua Hùng vương, ở làng Gióng có một bà mẹ tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có nổi một mụn con. Một hôm, bà ra đồng và nhìn thấy một dấu chân rất to đạp nát cả vài luống cà. Bà sửng sốt và đưa chân mình vào ướm thử. về nhà, bà đã mang thai, chín tháng mười ngày, bà sinh được một cậu con trai bụ bẫm, đặt tên là Gióng. Nhưng kì lạ thay, Gióng lên ba tuổi mà vẫn không biết đi, không biết nói, chỉ đặt đâu nằm đấy trơ trơ. Thủa ấy, giặc Ân từ phương Bắc tràn sang xâm lấn bờ cõi nước ta. Chúng đi đến đâu là cướp bóc, giết hại dân ta đến đó. Nhà vua sai sứ thân đi khắp nơi, cầu người hiền tài đứng ra cứu nước. Một hôm sứ thần đi đến ngôi làng của Gióng, nghe tiếng loa rao, cậu bé bỗng nhiên biết nói. Cậu nhờ mẹ gọi sứ giả vào rồi bảo: "ông hãy về tâu với nhà vua đúc cho ta một con ngựa sắt, một áo giáp sắt, một chiếc nón sắt. Ta sẽ đánh tan lủ giặc". Xem thêm: Tả ông em đang chăm sóc cây Ai nghe thấy cậu nói cũng đều rất ngạc nhiên, sứ thần tức tốc chạy về tâu với nhà vua. Nhà vua nghe tin vậy thì mừng rỡ, sai người đi làm những món đồ mà Gióng yêu cầu ngay. Kể từ khi gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng chẵng no, quần áo vừa may xong đã chật, Mẹ cậu không đủ thóc gạo, cả làng phải góp lương thực để nuôi cậu. Khi nhà vua cho mang các thứ tới, Gióng vươn vai vụt trở thành một tráng sĩ dũng mãnh. Tráng sĩ mặc áo giáp sắt, đội nón sắt, càm roi sắt, cưỡi lên lưng ngựa sắt. Ngựa sắt hí vang, phun lửa, lao ra trận. Tráng sĩ dùng roi sắt quất túi bụi vào kẻ thù. Roi sắt gãy, tráng sĩ nhổ từng bụi tre bên đuờng đánh tiếp. Giặc chết như ngã rạ. Dẹp xong giặc cướp nước, Gióng cởi áo giáp sắt, nón sắt, bỏ lại duới chân núi, quay lại nhìn quê hương một lần cuối rồi cuỡi ngựa từ từ bay lên trời. Nhân dân trong vùng ghi nhớ công ơn to lớn của Gióng, lập đền thờ và suy tôn là Thánh Gióng. Truyền thuyết Thánh Gióng xuất hiện từ thời Hùng VUdng dựng nuớc và đuợc nhân dân ta lUu truyền từ đời này sang đời khác cho hậu thế. Đó là câu chuyện về tinh thân chống giặc ngoại xâm kiên cuờng, bốt khuất của dân tộc ta. Câu chuyện đã mang lại cho em niềm tự hào sâu sác vì đuợc là nguời dân của nuớc Việt Nam. Em tự nhủ minh sẽ phải học tập thật giỏi để xây dụng đốt nuớc giàu mạnh, xứng đáng với công an của ông cha muôn đời. Nguồn: thêm: Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Có dàn ý chi tiết)
Kể chuyện về một anh hùng dân tộc mà em đã được nghe được đọc
586
Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ nhất Gợi ý “Chẳng phải liu điu cũng giống nhà…” Nhắc đến bài thơ “Rắn đầu biếng học” chắc hẳn ai cũng nhớ ngay đến Lê Quý Đôn – nhà bác học tài danh nổi tiếng thông minh, lém lỉnh từ nhỏ. Không chỉ vậy, Lê Quý Đôn còn có trí nhớ rất phi thường. Thuở hàn vi, có lần Lê Quý Đôn không mang đủ tiền trả cho nhà hàng mà ông ăn nghỉ trên đường đi. Ông phải ghi vào sổ nợ của người ta. Nhân vì tò mò, Lê Quý Đôn liếc qua họ tên và những khoản nợ của những khách ăn chịu chưa trả tiền. Ít lâu sau, có việc đi qua đường ấy, Lê Quý Đôn ghé lại nhà hàng cũ để nghỉ chân và trả tiền thì thấy quán hàng cũ đã cháy trụi. Bấy giờ chủ quán đang ngồi trong túp lều mới dựng tạm bên cạnh, trông thấy Lê Quý Đôn liền mếu máo nói: “Cậu ơi! Nhà cửa cháy sạch rồi. Cả quyển sổ nợ cậu xem mấy hôm trước cũng không còn nữa, bây giờ tôi biết căn cứ vào đâu mà đòi nợ?”. Lê Quý Đôn mỉm cười bảo chụ quán lấy giấy bút ra. Trước đôi mắt kinh ngạc của vị chủ quán, ông ghi lại đầy đủ, không sót một ai, tên họ của những người ăn chịu cùng các khoản tiền nợ. Nhờ thế, chủ quán cứ theo danh sách mà thu đủ số tiền nợ.Xem thêm: Văn biểu cảm - Cảm nghĩ về một cuộc chia tay Không lâu sau đó, Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn. Ông cùng một số tân khoa khác được một người tên là Lê Hữu Kiều mời về chơi nhà mình. Đầu làng có một cái cầu đá đẹp nổi tiếng, cạnh cầu có tấm bia khắc bài thơ thất ngôn bát cú. Đi qua cầu, ai cũng có ý đi chầm chậm để kịp nhìn bài thơ trên bia đá. Chủ nhà thấy vậy chỉ tủm tỉm cười. Đến khi vào nhà, trong bữa tiệc vui vẻ, Lê Hữu Kiều nói về chiếc cầu đá và hỏi các chàng tân khoa xem có ai nhớ được bài thơ trên tấm bia không. Cũng có vài người nhớ được nhưng cũng chỉ nhớ lõm bõm được một hai câu đầu và câu kết. Riêng chàng bảng nhãn Lê Quý Đôn thì đọc lại đầy đủ cả bài thơ không sót một chứ nào. Cả bàn tiệc từ chủ đến khách ai cũng phải thán phục cái trí nhớ hết sức kì diệu của Lê Quý Đôn. Sau đó, vị chủ nhà hóm hỉnh đã quyết định gả con gái cho chàng bảng nhãn họ Lê. Bấy giờ mọi người mới vỡ lẽ, thì ra đây không phải là trò đánh đố chữ thông thường, mà chính là một cách thử tài để kén rể của ông. Có lần được hỏi về trí nhớ siêu phàm của mình, Lê Quý Đôn đã mang ra rất nhiều những chiếc túi mà ông gọi là “túi gấm”. Trong túi gấm chứa những tờ giấy ông ghi chép về mọi điều xung quanh. Mỗi túi là một vấn đề, một đối tượng… Trong quá trình sàng lọc thông tin để ghi chép lại, ông đã nhớ được mọi điều. Khi quên hay cần đến thông tin chính xác, ông lại giở túi gấm ra. Việc ghi chép, phân loại túi gấm đã giúp Lê Quý Đôn rèn luyện cách ghi nhớ rất nhanh sự việc.Xem thêm: Nêu cảm nghĩa của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh Như thế, trí nhớ kì diệu của Lê Quý Đôn không phải tự nhiên mà có. Phần lớn là nhờ ông thường xuyên trau dồi rèn luyện. Vậy mới biết, thiên tài đến chín mươi chín phần trăm là do khổ công mà thành.
Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ nhất
657
Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ Gợi ý "Chẳng phải liu điu cũng giống nhà…" Nhắc đến bài thơ "Rắn đầu biếng học" chắc hẳn ai cũng nhớ ngay đến Lê Quý Đôn – nhà bác học tài danh nổi tiếng thông minh, lém lỉnh từ nhỏ. Không chỉ vậy, Lê Quý Đôn còn có trí nhớ rất phi thường. Thuở hàn vi, có lần Lê Quý Đôn không mang đủ tiền trả cho nhà hàng mà ông ăn nghỉ trên đường đi. ông phải ghi vào sổ nợ của người ta. Nhân vì tò mò, Lê Quý Đôn liếc qua họ tên và những khoản nợ của những khách ăn chịu chưa trả tiền. Ít lâu sau, có việc đi qua đường ấy, Lê Quý Đôn ghé lại nhà hàng cũ để nghỉ chân và trả tiền thì thấy quán hàng cũ đã cháy trụi. Bấy giờ chủ quán đang ngồi trong túp lều mới dựng tạm bên cạnh, trông thấy Lê Quý Đôn liền mếu máo nói: "Cậu ơi! Nhà cửa cháy sạch rồi. Cả quyển sổ nợ cậu xem mấy hôm trước cũng không còn nữa, bây giờ tôi biết căn cứ vào đâu mà đòi nợ?". Lê Quý Đôn mỉm cười bảo chủ quán lấy giấy bút ra. Trước đôi mắt kinh ngạc của vị chủ quán, ông ghi lại đầy đủ, không sót một ai, tên họ của những người ăn chịu cùng các khoản tiền nợ. Nhờ thế, chủ quán cứ theo danh sách mà thu đủ số tiền nợ.Xem thêm: Hãy viết bài văn miêu tả cây Phượng vĩ vào một ngày hè Không lâu sau đó, Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn. Ông cùng một số tân khoa khác được một người tên là Lê Hữu Kiều mời về chơi nhà mình. Đầu làng có một cái cầu đá đẹp nổi tiếng, cạnh cầu có tấm bia khắc bài thơ thất ngôn bát cú. Đi qua cầu, ai cũng có ý đi chầm chậm để kịp nhìn bài thơ trên bia đá. Chủ nhà thấy vậy chỉ tủm tỉm cười. Đến khi vào nhà, trong bữa tiệc vui vẻ, Lê Hữu Kiều nói về chiếc cầu đá và hỏi các chàng tân khoa xem có ai nhớ được bài thơ trên tấm bia không. Cũng có vài người nhớ được nhưng cũng chỉ nhớ lõm bõm được một hai câu đầu và câu kết. Riêng chàng bảng nhãn Lê Quý Đôn thì đọc lại đầy đủ cả bài thơ không sót một chữ nào. Cả bàn tiệc từ chủ đến khách ai cũng phải thán phục cái trí nhớ hết sức kì diệu của Lê Quý Đôn. Sau đó, vị chủ nhà hóm hỉnh đã quyết định gả con gái cho chàng bảng nhãn họ Lê. Bấy giờ mọi người mới vỡ lẽ, thì ra đây không phải là trò đánh đố chữ thông thường, mà chính là một cách thử tài để kén rể của ông. Có lần được hỏi về trí nhớ siêu phàm của mình, Lê Quý Đôn đã mang ra rất nhiều những chiếc túi mà ông gọi là "túi gấm". Trong túi gấm chứa những tờ giấy ông ghi chép về mọi điều xung quanh. Mỗi túi là một vấn đề, một đối tượng… Trong quá trình sàng lọc thông tin để ghi chép lại, ông đã nhớ được mọi điều. Khi quên hay cần đến thông tin chính xác, ông lại giở túi gấm ra. Việc ghi chép, phân loại túi gấm đã giúp Lê Quý Đôn rèn luyện cách ghi nhớ rất nhanh sự việc.Xem thêm: Em hãy tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ của em với một nhân vật trong truyền thuyết đã làm nên một phong tục cổ truyền ngày tết Như thế, trí nhớ kì diệu của Lê Quý Đôn không phải tự nhiên mà có. Phần lớn là nhờ ông thường xuyên trau dồi rèn luyện. Vậy mới biết, thiên tài đến chín mươi chín phần trăm là do khổ công mà thành.
Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ
670
Kể chuyện về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác Hướng dẫn Chưa bao giờ em đi xa như lần ấy. Đó là chuyến tham quan du lịch tại thành phố Đà Lạt do cơ quan bố tố chức vào dịp hè năm ngoái. Em và bé Mi được bố mẹ cho đi theo. Một chuyến du lịch lí thú mà chẳng bao giờ em quên được. Thành phố Đà Lạt – đẹp không các bạn!!! Nhìn phía trước, con đường nhựa tí tẹo vắt lên, lượn xuống trông như một đường chì ngoằn ngoèo kẻ trên tấm bản đồ. Bây giờ, em mới thực sự hiểu được khái niệm “đồi núi” mà trước đây trong giờ từ ngữ cô đã giải thích: Rừng cây bạt ngàn ngút cả tầm mắt. Trên các ngọn núi cao, những dải mây trắng vắt ngang như một tấm lụa trắng, nổi bật trên màu xanh thẳm của lá rừng. Xe đã đến địa phận của thành phố. Điểm tham quan đầu tiên mà bác tài đỗ xe lại nằm ngay trên con đường đi vào thành phố: Thác Pren. Ôi! Thác Pren đây rồi! Đẹp quá! Giống hệt như trong tivi mà em đả từng được thấy trong chương trình Dự báo thời tiết. Nước từ trên cao đố xuống hồ thành một đường cầu vồng trắng xóa. Hơi nước bốc lên lành lạnh như tiết trời có gió mùa đông bắc. Bé Mi ngắm mãi dòng thác không chán. Bố dản cả ba mẹ con bước đi lên một chiếc cầu nổi dạo một vòng quanh hồ. Khi đi qua chỗ thác đổ, Mi sợ quá, níu lấy tay bô không muốn bước tiếp. Bố bảo: “Con đừng sợ, thác nó đổ vượt qua đầu mình, con cứ tự nhiên mà đi!” Đến chỗ tránh nắng, bô gọi thợ chụp hình, bấm cho mỗi chị em hai kiểu, cả nhà một kiểu Lúc này, các cô chú trong đoàn ai cũng chụp một số kiểu làm kĩ niệm. Sau đó, đoàn rời thác Pren lên xe vào thành phố. Đến nhà nghĩ Công đoàn đúng mười một giờ trưa. Cả đoàn xuống xe tạm nghĩ ở hành lang chờ bác trương đoàn liên hệ phòng nghỉ. Xem thêm: Hãy tả bà nội (bà ngoại) của em Như kế hoạch đã định, chiều hôm ấy, xe đưa đoàn đến tham quan Thung Lũng Tình Yêu. Đứng trên đồi cao nhìn xuống thung lũng, em có cảm giác như mình đã bắt gặp cảnh này đâu đó trong một truyện cổ xa xưa của nước mình. Chẳng khác gì một “bồng lai tiên cảnh”. Một tiếng đồng hồ sau, xe lại đưa đoàn đến với Đồi Thông Hai Mộ, Hồ Than Thở trữ tình, ở đó có Đồi Ái Ân và xung quanh là một rừng thông bạt ngàn suốt đêm ngày vi vu cùng gió núi sương ngàn. Cảnh thơ mộng đến thế mà sao có cái tên âu sầu, buồn bã như vậy. Đứng trên Đồi Ái Ân ai cũng muốn ghi lại nơi đây một kĩ niệm đẹp, nên các thợ chụp hình liên tục bấm máy. Em và bé Mi cũng được bố mẹ cho chụp hai pô. Bé nói: “Hình em sẽ đẹp hơn hình chị đấy! Nghe chú thợ chụp hình nói: Cười lên! Tươi lên nào!. “Em cười tươi lắm đó!”. Nó nhí nhảnh như một con chim, lại đòi cưỡi ngựa đi dạo nữa. Ngồi trên mình ngựa bé xinh như một con búp bê. Qua ngày thứ hai, xe lại đưa đoàn đến với Đồi Cù, với thác Cam Li, nhà Toàn quyền, dinh thự Bảo Đại… Mỗi nơi đều có một vẻ đẹp riêng, một sự mới lạ, hấp dẫn khách tham quan du lịch. Tạm biệt thành phố Đà Lạt trong một cảm giác lâng lâng, một trạng thái luyến tiếc.. Ôi, một chuyến tham quan du lịch đầy hấp dẫn và thú vị! Rồi đây, em sẽ có bao nhiêu là chuyện đế kế cho các bạn trong lớp cùng nghe về cảnh vật, con người… của xứ Cao nguyên đẹp và thơ mộng này. Xem thêm: Em hãy tả quả bưởi mà em từng trông thấy hay nhất
Kể chuyện về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác
704
Kể chuyện về một người bạn tốt Gợi ý Tôi và Vân chơi với nhau từ năm lớp ba. Đến tận bây giờ nó vẫn là đứa bạn thân thiết nhất và hiểu tôi hơn bất kì ai. Vân là một đứa cao, to lớn hơn tôi rất nhiều. Mạnh mẽ, vui vẻ và sôi động chính là những từ thích hợp nhất để nói về Vân. Trong khi tôi – đứa bạn của nó – lại thì hoàn toàn ngược lại: bé nhỏ, nhút nhát và hơi tự ti. Với tính cách đó nên khi chuyển vào lớp Vân, ban đầu tôi không có bạn. Tôi chỉ lặng lẽ thu mình trong không gian riêng, không trò chuyện, hay nói đúng hơn là không dám bắt chuyện với ai. Chính chiếc bút chì màu Vân cho tôi trong giờ mĩ thuật đã bắt đầu tình bạn của hai đứa. Nhớ lúc đó tôi đang loay hoay không biết làm thế nào để hoàn thiện hình vẽ ông mặt trời trong khi cây bút chì màu đỏ của tôi không cánh mà bay thì một cánh tay đưa ra, trên đó là thứ tôi cần. Bạn có dùng không? Ưu tiên bạn mới tô trước. Dúi bút vào tay tôi, Vân cười hì hì rồi quay lên. Tôi bất ngờ và cảm động. Không hiểu sao lúc đó, trong trí óc ngây thơ của tôi, Vân như thể là một cô tiên vừa ban cho tôi một phép màu. Từ đó, tình bạn giữa hai đứa bắt đầu.Xem thêm: Con ngưởi sống không thể thiếu bạnTrong lớp hai đứa lúc nào cũng như hình với bóng, đi đâu cũng có nhau. Chúng tôi đến trường cùng nhau, ngồi gần bàn nhau, cùng học bài và cùng nhau vui chơi. Những lúc tôi bị bắt nạt, Vân luôn là “bảo kê” số một của tôi. Âu yếm và hài hước, Vân gọi tôi là Ngố còn tôi gọi nó là Voi con. Chơi với nhau lâu nên Vân hiểu tôi lắm. Những lúc tôi buồn nó thường đến bên tôi ngồi lặng lẽ, không nói gì. Bởi nó biết những lúc thế này tôi chỉ muốn một không gian yên tĩnh, tôi sợ cảm giác bị thương hại. Bên ngoài trông Vân có vẻ là một đứa nóng tính như Trương Phi nhưng thực ra nó cũng rất tình cảm. Nó thường viết thư trò chuyện, an ủi động viên tôi. Nó như một người chị lớn, luôn muốn dang rộng cánh tay che chở cho đứa em gái bé nhỏ của mình vậy. Khi chúng tôi chia tay để sang trường THPT khác nhau, dù rất ghét ngồi tỉ mẩn làm những đồ trang trí thế mà vì tôi, nó chịu ngồi cả tuần trong nhà, quyết gấp bằng được nghìn con hạc tặng tôi. Hôm nó mang đến, mặt tươi như hoa, tay đưa tôi một hộp thuỷ tinh rất to, bên trong là bao nhiêu chú hạc xinh xắn đủ các màu lại còn khuyến mại thêm đôi dây buộc tóc hình xúc xắc rất đáng yêu nữa chứ. Sung sướng và cảm động đến phát khóc, tôi ôm chặt nó, không nói lên lời…Xem thêm: Em hãy viết thư cho bạn và miêu tả nơi em ở vào một ngày mùa thuBây giờ tuy mỗi đứa một trường, gặp nhau không được nhiều như trước nên chúng tôi hay nói chuyện với nhau qua điện thoại. Nhờ ảnh hưởng từ nó mà giờ đây tôi mạnh mẽ hơn rất nhiều, không còn nhút nhát như trước, thậm chí còn rất sôi nổi và hoạt bát. Tôi phải thầm cảm ơn Vân – người bạn yêu quý – đã đánh văng cái tính nhút nhát kinh niên của tôi, giúp tôi hoàn thiện mình hơn. Đối với tôi, Voi con luôn là người bạn mà tôi yêu quý nhất. Không bao giờ tôi muốn đánh mất người bạn này. "Đôi dây buộc tóc Bé bé, xinh xinh Bốn hạt xúc xắc Lung linh, lung linh …….. Khi nào nhớ đến tớ Hay những lúc cậu buồn Tung xúc xắc này lên Chúc cậu nhiều may mắn!" Vanmau.edu.vn
Kể chuyện về một người bạn tốt
683
Kể chuyện về một người thân mà em yêu quý nhất. Hướng dẫn Trong cuộc sống, có rất nhiều người đáng để ta trân trọng, quý mến. Nhưng người mà tôi yêu quý, kính trọng hơn cả vẫn là mẹ – người đã cho tôi dòng sữa ngọt lành ngay từ khi tôi cất tiếng khóc chào đời. Mẹ tôi là giáo viên, năm nay đã ngoài ba mươi tuổi. Mái tóc mẹ óng mượt xõa xuống ngang lưng. Khuôn mặt mẹ hình trái xoan cùng với đôi mắt long lanh mà người ta thường gọi là mắt phượng. Đôi mắt ấy biết cười nói, biết vỗ về, an ủi, biết xoa dịu nỗi đau của người khác. Mẹ thường đến lớp với bộ quần áo giản dị nhưng trông vẫn rất duyên dáng. Một lần, tôi bị ốm, mẹ phải thức trắng đêm để chăm tôi. Lúc nào tỉnh dậy, tôi cũng đều thấy mẹ đang ở bên, nhẹ nhàng và âu yếm. Mấy ngày tôi bị ốm, mẹ nghỉ làm để ở nhà chăm sóc tôi. Vì thức mấy đêm liền nên mẹ gầy hẳn đi, đôi mắt thâm quầng và trũng xuống. Một đêm no, khi đang ngủ, tôi giật mình tỉnh giấc thì thấy mẹ đang may áo cho tôi. Tôi xúc động nghẹn ngào và thấy yêu mẹ vô cùng! Lúc ấy, cái chăn tuột khỏi người tôi, mẹ vộ đắp lại vì sợ tôi bị lạnh. Có mẹ bên cạnh, tôi thấy thật yên tâm và ngủ một giấc ngon lành cho tới sáng. Sáng hôm sau, tôi mặc áo chiếc áo mới mà mẹ may cho như được khoác trên mình bao tình thương của mẹ. Tôi tự nhủ phải học tập thật tốt để đền đáp công ơn của mẹ. Mẹ đã dành trọn cả cuộc đời cho tôi, chăm sóc tôi từng li từng tí. Công lao của cha mẹ thật to lớn biết nhường nào. Tôi chợt nhớ đến câu ca dao xưa: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Nguồn: thêm: Viết đoạn văn tả về người anh trai thân yêu của em
Kể chuyện về một người thân mà em yêu quý nhất.
363
Kể chuyện Ông Nguyễn Khoa Đăng Hướng dẫn Nguyễn Khoa Đăng là một vị quan án có tài xét xử, được dân mến phục. Một lần, có anh hàng dầu gánh hàng ra chợ bán. Lợi dụng lúc anh bận đong dầu, có kẻ thò tay vào bị lấy trộm tiền. Khi biết bị mất tiền, anh hàng dầu nhớ hồi nãy có một người mù quanh quấn bên gánh hàng, đuổi mấy cũng không đi. Anh đoán hắn là kẻ cắp, bèn gửi gánh hàng cho người quen rồi đi tìm người mù. Người này ra sức chối, nói rằng mình mù biết tiền để đâu mà lấy. Hai bên xô xát, lính bắt họ giải lên quan án Nguyễn Khoa Đăng. Thấy người mù khăng khăng chối không ăn cắp tiền, quan hỏi: – Anh có mang tiền theo không? Người mù đáp: -Có, nhưng đấy là tiền của tôi. -Cứ đưa đây. Của ai rồi sẽ rõ. Khi người mù móc tiền ra, quan sai người múc một chậu nước, bỏ sôố tiền vào chậu. Một lát thấy trên mặt nước có váng dầu nổi lên. Người mù hết đường chôi cãi, đành nhận tội. Vụ án tương đã xong, không ngờ quan lại phán: -Tên ăn cắp này là kẻ giả mù vì nếu mù thật thì làm sao hắn biết người bán dầu để tiền ở đâu mà lấy. Ổng sai lính nọc tên mù ra đánh, kì đến khi hắn mở mắt mới thôi. Lúc đầu, người mù còn chôi, chỉ sau 3 roi hắn đành mở cả hai mắt. Trong thời kì ông Nguyễn Khoa Đăng làm quan án, ở Quảng Trị có truông nhà Hồ là nơi bọn gian phi dùng làm sào huyệt đón đường cướp của. Để bắt bọn cướp, quan sai chê một loại hòm gỗ kín có lỗ thông hơi, vừa một người ngồi, có khóa bên trong để người ở trong có thế mơ tung ra dễ dàng. Ông kén một số võ sĩ, đem theo vũ khí, ngồi vào hòm. Rồi sai quân sĩ ăn mặc như dân thường, khiêng những hòm ây qua truông, ra vẻ như khiêng những hòm của cải nặng. Lại cho người đánh tiếng có một vị quan to ở ngoài Bắc sắp sửa về quê sẽ đi qua truông cùng những hòm của cải quý. Bọn cướp đánh hơi, nghĩ đây là cơ hội làm ăn hiếm có, rình lúc đoàn người đi qua cửa truông thì cướp, rồi hí hửng khiêng những hòm nặng ấy về tận sào huyệt. Về đến nơi, vừa đặt hòm xuống thì những cái hòm bật mở toang, các võ sĩ ngồi trong tay lăm lăm vũ khí bất ngờ xông ra đánh giết bọn cướp. Đang lúc hoảng hốt chưa kịp đối phó thì phục binh của triều đình từ ngoài ùn ùn kéo vào đông như kiến cỏ, bọn cướp đành chắp tay xin tha mạng. Bọn cướp ấy, Nguyễn Khoa Đăng đưa đi khai khẩn đất hoang ở biên giới, lập thành những đồn điền rộng lớn. Sau đó, ông cho đưa dân đến lập làng xóm ở dọc hai bên truông khiến một vùng núi rừng xưa vắng vẻ trở thành nhừng xóm làng dân cư đông đúc, bình yên. Xem thêm: Tả cô giáo (hoặc thầy giáo) đã từng dạy em và để lại cho em nhiều tình cảm tốt đẹp
Kể chuyện Ông Nguyễn Khoa Đăng
555
Kể câu chuyện thể hiện tinh thần nghị lực Gợi ý Người chiến sĩ giàu nghị lực Trong trận chiến đấu giải phóng Sài Gòn cuối tháng 4 năm 1975, Lê Duy Ứng bị thương nặng. Anh đã quệt máu chảy từ đôi mắt bị thương vẽ một bức chân dung Bác Hồ. Tác phẩm của người thương binh hỏng mắt đã gây xúc động cho đồng bào cả nước. Từ đó đến nay, họa sĩ Lê Duy Ứng đã có hơn 30 triển lãm tranh, tượng; đoạt 5 giải thưởng mĩ thuật quốc gia và quốc tế. Nhiều tác phẩm của anh được đặt trân trọng trong các bảo tàng lớn của đất nước. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Tả ao rau muống sau cơn mưa
Kể câu chuyện thể hiện tinh thần nghị lực
120
Kể câu chuyện về tinh thần đoàn kết Gợi ý Từ xưa đến nay, ông cha ta đã nghĩ ra rất nhiều câu chuyện về tình đoàn kết để răn dạy con cháu. Câu chuyện “Bó đũa” là một trong những truyện như vậy. Sau đây, em xin kể lại câu chuyện. Ngày xưa, ở một làng nọ có một người nhà rất giàu. Ông ta sinh được những năm người con. Vì quá giàu có nên những người con của ông ta có một đời sống sung sướng thừa thãi về vật chất. Nhưng chuyện đời thường vốn vô cùng. Có một thì đòi hai, có voi thì đòi tiên. Sung sướng quá nên các con ông sinh ra tham lam; ích kỉ, tranh giành lẫn nhau. Đến khi khôn lớn, cả năm người con vì nhờ tiền của cha mẹ nên đều trở nên giàu có. Tuy mỗi người một cơ ngơi, nhưng vẫn giữ thói ganh ghét, tị nạnh, cãi cọ nhau về những của cải mà họ có. Nhìn cảnh các con không hòa thuận, người cha buồn lắm. Ông cố gắng khuyên bảo nhưng dù ông có cố gắng thế nào, các con ông cũng không bỏ được lòng đố kị đã ăn sâu vào máu thịt. Ông rất đau lòng nên ngã bệnh. Sau một thời gian ốm liệt giường, ông biết rằng mình không còn sống được bao lâu nữa. Ông cho gọi các con đến bên giường và bảo gia nhân đem đến cho ông hai bó đũa. Các con ông còn đang nhìn nhau ngơ ngác không hiểu người cha có ý định gì thì ông lấy một bó đũa, đưa cho mỗi người một chiếc và bảo:Xem thêm: Viết thư kể về ước mơ của em– Các con mỗi đứa lần lượt bẻ chiếc đũa này cho cha. Ông vừa dứt lời, trọng chớp mắt, năm người con bẻ năm chiếc đũa thật dễ dàng. Nhìn những chiếc đũa gãy đôi, ông im lặng và các con ông cũng yên lặng đợi chờ. Một lát sau, ông đưa nguyên bó đũa cho người con cả và dịu dàng nói: – Các con đã rất dễ dàng thành công trong việc bẻ một chiếc đũa. Bây giờ, các con lại thay phiên nhau bẻ nguyên cả bó đũa này cho cha xem. Người con trưởng cầm bó đũa ra sức bẻ. Anh vận dụng sức mạnh đến nỗi mặt mũi đỏ gay nhưng không thể nào làm cho bó đũa gẫy được. Chờ đến lúc anh chịu thua, người cha bảo người con thứ hai tiếp tục. Cũng như người con lớn, người con thứ hai không bẻ được và chịu thua, ông kiên nhẫn chờ đến khi người con thứ năm bỏ cuộc mới ôn tồn nói: – Đó, các con xem, thế nào là sức mạnh của sự đoàn kết. Nếu các con cứ tiếp tục tị nạnh nhau, chia rẽ nhau thì các con cũng lẻ loi, yếu đuối không khác gì một chiếc đũa và các con sẽ bị kẻ thù bẻ gãy dễ dàng. Nhưng nếu các con biết thương yêu đoàn kết lại với nhau như bó đũa thì không một sức mạnh nào bẻ gãy được các con.Xem thêm: Viết đoạn văn tả con cáo Năm người con ông hiểu ý cha và bài học ông vừa dạy. Cảm động và hối hận vì ăn ở với nhau không phải rồi còn làm cha buồn, các con ông ôm lấy ông vừa khóc, vừa hứa là từ nay về sau sẽ bỏ thói ích kỷ để yêu thương đoàn kết với nhau. Sau đó, người cha mất đi. Năm người con vâng lời cha dạy. Họ rất đoàn kết và thương mến lẫn nhau. Đời sống gia đình họ rất hoà thuận và không một ai có thể cạnh tranh được với sự giàu mạnh trong việc làm ăn buôn bán của gia đình họ. Câu chuyện tôi kể đến đây là hết. Vanmau.edu.vn
Kể câu chuyện về tinh thần đoàn kết
659
Đề bài: Em hãy viết bài văn kể câu truyện có nội dung có công mài sắt có ngày nên kim. Câu truyện cổ tích Việt Nam “có công mài sắt có ngày nên kim” là một câu truyện hay và có ý nghĩa nói về sự kiên trì, cố gắng, nhẫn nại để đạt được thành quả như mình mong muốn. Câu tục ngữ “có công mài sắt có ngày nên kim” cũng là một câu tục ngữ hay và có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống. Câu truyện kể về một cậu bé ham chơi, không chịu khó học hành. Một hôm cậu bé chán học, lẻn đi chơi. Bỗng nhiên cậu gặp một bà lão đang cắm cúi mài một thanh sắt bên một tảng đá lớn. Cậu bé tò mò đến gần và hỏi thì được bà trả lời là mài thanh sắt để làm kim khâu. Ban đầu khi nghe câu trả lời của bà lão cậu cho đó là truyện không thể, nhưng rồi khi nghe bà nói một cách tin tưởng: Mãi mãi cũng phải được, kẻ có công mài sắt thì có ngày nên kim thì cậu bé đã hiểu ra nhiều điều và từ đó chuyên tâm vào học hành sau này cậu trở thành một người tài. Câu truyện tuy đơn giản nhưng có ý nghĩa rất lớn và sâu sắc. Truyện đề cao tinh thần kiên trì nhẫn nại. Đồng thời cũng nêu lên một bài học vô cùng quý giá những ai có sự cần cù nhẫn nại làm việc thì sẽ đạt được thành quả như mình mong muốn.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của đoạn kết trong Chuyện chức phán sử đền Tản Viên (từ vương nghĩ Tử Văn đến nhà quan Phán sử) và lời bình cuối truyện (Từ Than ôi!... đến hết) Em sẽ kể cho cô và các bạn một tấm gương sáng về sự kiên trì, vượt qua khó khăn. Đó là tấm gương của anh Nguyễn Ngọc Ký, anh bị liệt cả hai tay nhưng điều đó không có nghĩa là anh chấp nhận đầu hàng số phận. Anh vẫn thích đi học nhưng vì tay bị liệt nên điều này rất khó khăn, thế rồi anh tập viết bằng chân. Điều này tưởng như không tưởng nhưng lại trở thành hiện thực với anh. Những ngày đầu tập viết bằng chân của anh vô cùng khó khăn, những nét chữ nó không theo ý muốn của anh cứ nguệch ngoạc không thành chữ. Nhưng rồi với sự kiên trì chịu khó của mình, ngày nào anh cũng luyện tập, tập viết mọi lúc mọi nơi anh đã thành công. Mặc dù viết bằng chân nhưng chữ của anh rất đẹp, thậm chí còn đẹp hơn nhiều chữ của những bạn viết bằng tay. Năm học nào anh cũng đạt thành tích cao trong học tập, các bạn bè trong lớp trước đây từ thái độ xem thường, miệt thị anh bao nhiêu thì giờ đây lại khâm phục anh bấy nhiêu. Để rồi sau này anh trở thành một thầy giáo giỏi tâm huyết với sự nghiệp trồng người của mình. Câu truyện “có công mài sắt có ngày nên kim” là một câu truyện có ý nghĩa và có giá trị nhân văn cao cả khuyên răn con người ta phải rèn luyện tính kiên trì, nội dung của câu truyện xứng đáng là một bài học quý báu để mọi người học tập.Xem thêm: Soạn bài Em bé thông minh
Kể câu truyện có nội dung có công mài sắt có ngày nên kim
587
Kể lai một việc tốt mà em (hoặc bạn) đã làm Gợi ý Bây giờ tôi và Thu đã là những học sinh giỏi toàn diện, là những đội viên gương mẫu của trường, đặc biệt chúng tôi luôn là những chủ công xuất sắc trong những cuộc thi học sinh giỏi của huyện và tỉnh. Thời gian trôi qua nhanh thật! Nghĩ lại, tôi mới thấy tình bạn thật là kỳ diệu. Trong lớp 6B hồi ấy, tôi được bạn bè khẳng định là một thằng thông minh nhưng lì lợm. Tôi và Thu không ghét nhau nhưng những lời gán ghép trêu chọc của bạn bè khiến chúng tôi chẳng bao giờ nói chuyện. Ở trong lớp, ngoài Hưng thì Thu là đứa học ngang ngửa với tôi. Tất cả sẽ chẳng có gì thay đổi nếu như không có một ngày. Hôm ấy, giữa buổi học thằng Hưng ốm xin phép cô về trước. Nó nhờ tôi mang chiếc cặp về sau. Buổi học tan, trời bỗng dưng đổ mưa tầm tã. Tôi nán lại chút ít hỏi cô về một bài toán khó. Hỏi xong, bước ra khỏi lớp tôi chỉ thấy lác đác còn một vài bạn ở sân trường. Mưa vẫn như trút nước làm những lá bằng lăng ướt sũng, trĩu xuống quệt ngang đầu. Tôi mặc áo mưa cẩn thận, che kín hai chiếc cặp rồi vội vã bước đến nhà xe. Nhưng lạ thật! Tôỉ chưa phải là người về cuối cùng trong lớp. Vẫn còn một chiếc xe của ai đó. Hình như nó giống xe của Thu. Nhìn quanh, tôi thấy Thu vẫn đứng ngay ở hành lang trước cửa lớp, chỗ tôi vừa đi qua nhưng không để ý. Tôi đoán Thu không có áo mưa.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu ý kiến của em về việc sử dụng lãng phí nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày, trong đó có sử dung câu cầu khiến Kệ! Mình cứ về không mai lại nghe tụi nó ca "bài ca bất tử" tôi nghĩ. Và tôi quyết định phóng xe. Nhưng vừa ra tới cổng, tôi nhớ ra mình còn dư một chiếc áo mưa trong cặp của Hưng. Giả như không có mình về cũng chẳng sao, nhưng,… Tôi quyết định quay lại: – Áo mưa này Thu, cậu về đi không tối. Hôm đó, đi đến giữa đường, tôi gặp bố Thu đi đón bạn. Bố Thu đã mời tôi về nhà và cảm ơn tôi. Sáng hôm sau, không hiểu sao bọn lớp tôi lại biết và đúng như tôi dự đoán, bọn nó lại ca những bài ca cũ. Nhưng khác hẳn với mọi hôm, hôm nay, Thu bước đến bàn tôi nói: – Cảm ơn cậu, từ nay bọn mình sẽ là bạn của nhau nhé! Từ đó, thỉnh thoảng tôi và Thu lại trao đổi với nhau về những bài toán hay bài văn khó. Lũ bạn thấy tụi tôi chơi thân, cũng không còn trêu chọc nữa. Thế là tôi và Thu trở thành bạn tốt. Năm vừa qua, tôi và Thu rất mừng khỉ được huyện chọn đi thi học sinh giỏi tỉnh và cả hai đều đạt đoạt giải. Lên lớp 8, chúng tôi hứa với cô giáo cũ sẽ lại cùng giúp nhau để học tập tốt hơn. Thế đấy các bạn ạ! Từ một việc làm rất nhỏ thôi, tôi đã có được một tình bạn lớn.Xem thêm: Có người nói, cảm hứng chủ đạo của bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về Tây TiếnVanmau.edu.vn
Kể lai một việc tốt mà em (hoặc bạn) đã làm
590
Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con Hướng dẫn I. ĐỀ LUYỆN TẬP Đề 1. Kể lại truyện “Mẹ hiền dạy con”. Đề 2. Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con. Đề3. Cảm nghĩ của em về bà mẹ Mạnh Tử trong truyện "Mẹ hiền dạy con". II. BÀI VĂN TỰ LUẬN Đề 2. Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con. Có nhà hiền triết ngày xưa đã nói: "Mỗi người mẹ là mội người thầy đần tiên của con thơ". Trong truyện "Mẹ hiền dạy con", ta cảm thấy Mạnh mẫu đúng là người thầy đầu tiên của Mạnh Tử. Chuyện kể lại 5 việc làm vô cùng tốt đẹp của bà mẹ vĩ đại này. Một là, nhà ở gần nghĩa địa. Suốt ngày con thơ chỉ bắt chước đào, chôn, lăn, khóc. Mạnh mẫu tự nghĩ: "Chỗ này không phải chỗ con ta ở được”, bèn vội vàng dời nhà đến gần chợ. Hai là, đến ở gần chợ, bà chỉ thấy đứa con trai nhỏ của mình suốt ngày bắt chước nô nghịch cách buôn bán điên đảo. Bà nghĩ: "Chỗ này con ta ở cũng chẳng được". Ba là, Mạnh mẫu quyết định dời nhà đến gần trường học. Bà sung sướng, thấy đứa con thơ bắt chước trẻ nhỏ cắp sách vở, học tập lễ phép… Bà vui lòng nghĩ: "Chỗ này là chỗ con ta ở được đây". Ba lần dời nhà là ba sự việc cho thấy Mạnh mẫu là người mẹ hiền đã coi trọng chọn môi trường giáo dục và định chí hướng tương lai cho con thơ của mình. Xem thêm: Kể chuyện 10 năm sau về thăm lại mái trường mà hiện nay em đang họcSự việc thứ tư là người mẹ lấy lời nói của mình, hành dộng của mình làm gương mẫu giáo dục đức tính trung thực cho con trai. Muốn dạy con thật thà thì mẹ không nói dối con. Khi con hỏi: “Người ta giết lợn làm gì thế?”; bà lỡ miệng nói đùa: “Để cho con ăn đấy”. Sau Mạnh mẫu đã di mua thịt cho con ăn thật để chứng tỏ mẹ không nói dối con. Sự việc thứ năm là một việc làm nghiêm khắc của Mạnh mẫu. Bà đã giận dữ cắt đứt tấm vải đang dệt dở dang khi thấy con trai đi học bỏ trốn về nhà. Mẹ đã dạy con tinh thần, thái độ học tập nghiêm túc. Mạnh Từ sau này đã trở thành một con người vĩ đại. Chính Mạnh mẫu đã dạy bảo, rèn luyện, đã góp phần to lớn hình thành và phát triển nhân cách Mạnh Tử, sớm trở thành một bậc đại hiền của Trung Quốc. Công ơn của Mạnh mẫu vô cùng to lớn, cỏi của con. Tấmvải đang dệt mà bị cắt đứt, xem như bị hỏng. Không la mắng! Không roi vọt! Bà chỉ nói với con: "Con đang đi học mà bỏ học, thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi vậy". Một lời dạy con rất nghiêm, rất sâu sắc. Mạnh mẫu đã dạy con tính nghiêm túc, tính chăm chỉ trong học tập. Nhờ công giáo dục quý báu của mẹ hiền mà từ đó về sau, Mạnh Tử học tập rất chuyên cần, chẳng bao lâu trở thành một bậc đại hiền, được người đời ngưỡng mộ. "Mẹ hiền dạy con"là một truyện lí thú. Một cách viết ngắn, lớp lang mạch lạc, giản dị mà sâu sắc. Ba lần chuyển chỗ ở, một lần hối hận vì "nói đùa" với con, một lần cắt đứt tấm vải đang dệt… để dạy con ý thức học tập. Mạnh mẫu rất yêu con, lại có phương pháp dạy con, quan tâm giáo dục đạo đức và chí hướng học hành cho con. Mạnh mẫu là một bà mẹ hiền vĩ đại. Mạnh Tử là một nhà hiền triết vĩ đại. Có người mẹ vĩ đại mới có người con vĩ đại. Đọc truyện "Mẹ hiền dạy con", càng kính trọng Mạnh mẫu bao nhiêu thì chúng ta càng yêu quý mẹ cha mình bấy nhiêu! Nguồn: thêm: Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao
Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con
725
Đề bài: Hãy tưởng tượng mình gặp gỡ và trò chuyện với người lính lái xe trong bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.Viết bài văn kể lại cuộc gặp gỡ đó Nhân dịp nhà trường tổ chức sang nghĩa trang liệt sĩ thắp hương lúc đó tôi đã gặp một người sĩ quan đang đứng thắp hương cho người đồng đội đã hi sinh vì tổ quốc. Tôi và người sĩ quan này trò chuyện rất vui và thật tình cờ tôi biết được người sĩ quan này chính là anh lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Người sĩ quan kể với tôi rằng cuộc kháng chiến của dân tộc ta vô cùng ác liệt, trên những con đường huyết mạch nối giữa miền Bắc-Nam là nơi ác liệt nhất.Bom đạn của giặc Mĩ ngày đêm dội xuống những chặn đường này nhằm cắt đứt sự tiếp viện giữa miền Bắc-Nam. Trong những ngày đó anh chính là người lính lái xe làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực,thực phẩm, vũ khí… Trên con đường Trường Sơn này. Bom đạn của kẻ thù đã làm cho những chiếc xe của các anh không còn kính nữa nghe anh kể, tôi mới hiểu rõ hơn về sự gian khổ mà người lính đã phải chịu đựng ngày đêm. Nhưng không phải vì điều đó mà họ lùi bước họ vẫn ung dung lái những chiếc xe không kính đó băng băng đi tới trên những chặn đường. Họ nhìn thấy đất, thấy trời thấy cả ánh sao đêm, cả những cánh chim sa họ nhìn thẳng về phía trước, nơi đó là những tương lai của đất nước được giải phóng, nhân dân được hạnh phúc, ấm no, tự do. Anh lái xe kể với tôi rằng xe không có kính cũng thật bất tiện nhưng họ vẫn chịu đựng lái xe ngày đêm, những hạt mưa sa, hạt bụi bay vào làm cho những mái tóc đen xanh trở thành trắng xóa như người già,họ cũng chưa cần rửa nhìn nhau cất tiếng cười ha ha. Ôi! sao tiếng cười của họ nhẹ nhõm làm sao. Xem thêm: Dưới đây... một khổ thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận: "Chỉ... hương". Em hãy viết tiếp khoảng 8 đến 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn theo phép lập luận diễn dịch, trong đó có một câu ghép và một câu có thành phần tình tháiGian khổ ác liệt bom đạn của kẻ thù đâu đâu cũng có cũng không làm cho họ rờn lòng. Những chiếc xe không kính lại tiếp tục băng băng trên những tuyến đường ra trận, gặp mưa thì phải ướt áo thôi. Mưa cứ tuôn cứ xối nhưng họ vẫn chưa cần thay áo và cố gắng lái thêm vài trăm cây số nữa, vượt qua những chặn đường bom đạn, ác liệt, bảo đảm cho an toàn những chuyến hàng rồi họ nghĩ mưa sẽ ngừng, gió sẽ lùa rồi áo sẽ mau khô thôi. Khi đọc Bài thơ về tiểu đội xe không kính tôi nghĩ rằng những khó khăn gian khổ ác liệt đó chỉ có trong các nhân vật truyện cổ tích, bài thơ vượt qua được nhưng đó là những suy nghĩ sai lầm của tôi bởi được gặp, được trò chuyện với những người lái xe năm xưa tôi mới hiểu rõ hơn về họ.Họ vẫn vui tươi tinh nghịch,những tiếng bom đạn ngày đêm vẫn luân nổ bên tai, phá huỷ con đường cái chết luân rình rập bên họ nhưng họ vẫn lạc quan, yêu đời. Anh lái xe kể với tôi nghe những con đường vận chuyển, họ còn được gặp những đồng đội của mình,có cả những người lính đã hi sinh… Những phút giây gặp lại hiến hoi đó cái bắt tay qua cửa kính đã vỡ đã làm cho tình cảm của họ trở lên thấm thía hơn rồi những bữa cơm trên bến Hoàng Cầm với những cái bát, đôi đũa dùng chung quây quần bên nhau như một đại gia đình của những người lính lái xe Trường Sơn. Rồi những phút giây nghỉ ngơi trên những chiếc võng đu đưa. Anh sĩ quan còn nói cho tôi biết chiếc xe không những không có kính mà xe còn không có đèn, không có mui xe thùng xe có xước những thiếu thốn này không ngăn cản được họ những chiếc xe băng băng đi về phía trước vì miền Nam ruột thịt họ đầy dũng cảm, lạc quan nhưng họ vẫn sống và chiến đấu vì tổ quốc vì nhân dân. Những chuyến hàng của họ đã góp phàn tạo nên chiến thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng miền nam đất nước thống nhất. Tôi và anh lái xe chia tay nhau sau cuộc gặp gỡ đó và nói chuyện rất vui.tôi khâm phục những người lính lái xe bởi tình yêu nước, ý chí kiên cường của họ, chúng ta luân ghi nhớ công lao to lớn của họ, chúng ta càn phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Nguồn Edufly Xem thêm: Trong bài Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có viết: "Một... đọc...". Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên? Từ đó hãy trình bày cảm nhận về một bài thơ theo em là hay trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9, phần Văn học Việt Nam
Kể lại buổi gặp gỡ người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính
919
Kể lại buổi học đáng nhớ của em Hướng dẫn Chắc hẳn ai cũng có những buổi học vui nhọn với thầy cô và bạn bè. Đó cũng là quãng thời gian đáng nhớ nhất của một thời cắp sách tới trường. Riêng tôi, tôi nhớ nhất giờ dạy Văn của cô Hằng – cô giáo chủ nhiệm của tôi. Hôm đó là một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo. Vừa hết giờ truy bài, cô Hằng bước vào lớp trong bộ đồng phục của nhà trường. Cô mặc một bộ vest tím trong rất lích sử và trang nhã. Lúc nào cũng vậy, trong mắt tôi, cô Hằng luôn thật xinh đẹp trong bộ quần áo ấy. Hôm nay, chẳng hiểu sao, lớp tôi tự dưng im phăng phắc. Mọi ngày, mỗi khi cô nước vào lớp lại có tiếng nói, cười của bọn con gái hay tiếng lộc cộc nghịch ngợm của cánh con trai. Nhưng sao hôm nay lớp im lặp kì lạ. Tôi thấy dường như mất đi cái gì đó vui nhộn, sôi động của toàn thể “thần dân” 6E chúng tôi. Nhận ra điều đó, cô Hằng liềm ngâm ngay một bài thơ trước lớp. Cả lớp tôi hưởng ứng nhiệt liệt. Cô từ từ ngâm thơ cho chúng tôi nghe: Sáng mùa đông lạnh lẽo Cô giáo đứng bên ngoài Không còn nghe tiếng nói Như mọi khi nữa rồi. Rồi cô dừng lại, lấy một hơi và tiếp tục: Cô bước chân vào lớp Chỉ nghe tiếng cầm cập Tiếng nói, tiếng cười đâu? Chạy đi chơi cả rồi. Cả lớp tôi cười phá lên. Không khí lớp sôi nổi trở lại. Cô bắt đầu tiết học bằng kiểm tra bài cũ. Thấy các bạn đạt nhiều điểm 9, 10, cô rất vui. Cô cười thật tươi nhìn chúng tôi. Nụ cười rạng ngời tỏa sáng gương mặt cô. Hôm nay, lớp tôi học truyền thuyết Thánh Gióng. Cô hương dẫn chúng tôi đọc bài. Cô đọc trước một lượt cho chúng tôi nghe. Chao ôi, giọng đọc của cô mới truyền cảm làm sao. Tôi nghe mà cảm tưởng như mình được sống lại cái khoảnh khắc Gióng anh dũng một mình chiến đấu với giặc. Cô chuyển sang phần tiếp theo – tìm hiểu bài. Cô lần lượt hỏi những câu hỏi trong sách giáo khoa. Câu hỏi nào khó, cô gợi ý cho chúng tôi trả lời. Rồi bỗng nhiên, cô gọi Cường – thường được chúng tôi gọi là “bé” Cường vì thân hình nhỏ bé. Cô dịu dàng hỏi Cường: Xem thêm: Viết đoạn văn nêu ý nghĩa của hình tượng Thánh Gióng trong truyền thuyết cùng tên của người Việt Nam đồng thời cho biết sự thật lịch sử được phản ánh trong tác phẩm là gì?– Em hãy cho cô biết, em có nhận xét gì về chi tết Giống vươn vai biến thành tráng sĩ mình cao hơn trượng? Cường hồn nhiên trả lời: – Dạ, em thưa cô, em thấy Thánh Gióng là một người có ý thức cứu nước ạ. Đặc biệt là ở chỗ, sau khi ăn xong, vươn vai Gióng bỗng biến thành tráng sĩ là ý nói Gióng phải là tráng sĩ mới tiêu diệt được kẻ thù. Và còn một ý nữa là … là … Thấy Cường ngập ngừng, cô hỏi: – Là gì? Em cứ nói tiếp đi! – Thưa cô, em còn muốn được to lớn như Gióng để ra tay bảo vệ các bạn nữ khi bị bắt nạt ạ! Cả lớp tôi cười phá lên. Thì ra bé Cường nhà mình cũng ga lăng đấy chứ nhỉ. Tôi cười đau cả bụng. Còn Cường thì đỏ mặt, không biết nói gì, im lặng ngồi xuống chỗ. Cô lại nhẹ nhàng hỏi tiếp: – Vậy các em cho cô hỏi, chi tiết Giosng đánh giặc xong, rồi cùng ngựa bay về trời có ý nghĩa như thế nào? Cô nhìn quanh lớp và gọi Nguyên – một học sinh nổi tiếng quậy bậc nhất lớp tôi. Tôi chắc mẩm anh chàng này chết đến nơi rồi, vì anh ta còn đang mải gấp giấy trêu mấy đứa con gái thì bị cô gọi lên trả lời. Nguyên lúng túng đứng lên, gãi đầu gãi tai, trả lời: – Thưa cô, chi tiết Gióng cùng ngựa bay về trời nói lên là Gióng chưa chăm lo phụng dưỡng cha mẹ nên đã bị Trời gọi về trách phạt ạ! Nghe xong, cả lớp tôi lại phá lên cười. Vậy là hôm nay cả lớp đã được hai trận cười từ hai cậu học sinh trong lớp. Nhìn đồng hồ, chỉ còn năm phút nữa là hết giờ, cô liền nhận xét buổi học của chúng tôi ngày hôm nay: – Hôm nay đầu giờ lớp ta còn hơi im ắng. Tuy nhiên, lớp đã rất sôi nổi ở gần cuối giờ. Cô đề nghi lớp thưởng một tràng pháo tay thật to. Cả lớp vỗ tay rào rào. Tiếng trống lại vang lên. Mấy đứa bạn lớp tôi vẫn còn nuối tiếc vì chưa được phát biểu. Sao giờ học trôi qua nhanh quá, như thể mới có 15 phút thôi. Đó là một buổi học rất thú vị. Chúng tôi thật là may mắn khi có một cô giáo như cô Hằng. Tôi sẽ nhớ mãi những giờ học của cô. Đây là những hành trang quý giá sẽ theo tôi đi suốt cuộc đời. Nguồn: thêm: Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc
Kể lại buổi học đáng nhớ của em
900
Kể lại buổi sinh hoạt của lớp em Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG A. MỞ BÀI Chủ đề của buổi sinh hoạt: "Học tập gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi". B. THÂN BÀI – Cô giáo giới thiệu về cuộc đời cao đẹp của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. – Một người bạn của anh Trỗi đã kể cho chúng em nghe một số mẩu chuyện về cuộc đời của anh Trỗi. – Một số người đứng lên phát biểu.- Một số bạn tự nhận khuyết điểm của mình. – Các bạn khác đề ra quyết tâm học tập trong thời gian tới. – Buổi lễ kết thúc băng bài hát về anh Trỗi của bạn Hoài Thu. C. KẾT BÀI Mọi người đều công nhận là buổi sinh hoạt thật bổ ích. BÀI LÀM Sáng chủ nhật vừa qua lớp 6A chúng em tổ chức buổi sinh hoạt ngoài trời về "Học tập gương anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi". Toàn thể lớp em có 42 học sinh. Chúng em xếp ghế thành hình chữ U. Cô giáo chủ nhiệm làm chủ tọa. Cô giáo nói ngắn gọn về cuộc đời cao đẹp của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi và giới thiệu một diễn giả trẻ. Với giọng nói trầm ấm, một người bạn của anh Trỗi đã kể cho chúng em nghe về cuộc đời của liệt sĩ anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Những ngày thơ ấu, anh Trỗi sinh sống trong cảnh cơ cực. Tuy cuộc sống khó khăn, nhưng anh hết lòng yêu thương bà con lao động lối xóm, bạn bè. Khi đã xây dựng gia đình với chị Quyên, anh đã hết lòng chăm sóc chị. Đến đoạn kể về cảnh anh ra pháp trường, giữa "lũ viết thuê và lũ giết thuê" thì cả lớp em bồi hồi xúc động, vừa yêu thương vừa cảm phục dũng khí của anh. Anh đã giật mảnh băng đen bịt mắt, nhìn thẳng vào kẻ thù, hô vang: "Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!". Cả lớp em đều tự dưng đứng bật dậy. Hình ảnh anh hiện lên thật đẹp.Xem thêm: Em hãy đóng vai Cô út kể lại chuyện Sọ Dừa Có mấy bạn đứng lên phát biểu, là từ lâu đã đọc trên sách, báo viết về anh Trỗi, nhưng nay mới được người thân của anh kể cho nghe về cuộc đời anh. Nhiều bạn tự nhận khuyết điểm với cô giáo là lâu nay thiếu ý chí, nghị lực nên học kém. Nhiều bạn đề ra quyết tâm trong thời gian tới. Khoảng mười giờ thì cô giáo tổng kết. Bạn Hoài Thu hát bài hát về anh Trỗi. Buổi sinh hoạt kết thúc trong tiếng hát vang: "Tiến lên đoàn viên" của cả lớp. Các bạn đều công nhận buổi sinh hoạt là thật bổ ích. Vanmau.edu.vn
Kể lại buổi sinh hoạt của lớp em
469
Kể lại buổi đầu tiên em đi học Phần viết: Viết những điều em vừa kể thành một đoạn văn ngắn Nội dung cụ thể. Phần kể: Trình bày một cách thứ tự theo diễn biến của sự việc: trước, trong và khi đến trường. Trước khi đi: Em chuẩn bị như thể nào (dậy sớm làm vệ sinh cá nhân, ăn sáng, chuẩn bị quần áo, sách vở cặp sách dày dép) Trong lúc đi: Xuất phát vào lúc mấy giờ (buổi sáng hay buổi chiều)? Thời tiết lúc đó ra sao? Bố mẹ hay anh chị đưa em đi? Đi bộ hay bằng phương tiện gì? Khi đến trường: Cảm giác của em ra sao (bơ ngỡ, lo lắng. sợ sệt hoặc vui mừng phấn khởi háo hức hoặc xen lẫn những trạng thái tình cảm mừng, lo lẫn lộn…)? Bài làm Đã hơn hai năm rồi mà hình ảnh của buổi đi học đầu tiên không phai mờ trong kí ức của em. Sáng đó, em dậy sớm lắm. Sau khi tập thể dục và vệ sinh cá nhân xong, em liền vội và ngồi vào bàn ăn sáng. Bố mẹ và chị đều khen em nhanh nhẹn, hoạt bát hơn mọi lần. Dường như em cũng cảm thấy như thế. Trong em, một cảm giác bồn chồn, vui vui xen lẫn sự lo lắng, sợ hãi. Lần đầu tiên mặc bộ đồng phục, em cảm thấy minh lớn hẳn lên. Đúng 6 giờ 30 phút, bố đưa em đến trường. Cổng Trường Tiểu học Đinh Bộ Lĩnh mở rộng. Những lá cờ đủ màu sắp thành một hàng từ cổng trường nối dài theo đường Lí Thường Kiệt tung bay trước gió, hân hoan chào đón ngày tựu trường. Bố dẫn em đi dọc hành lang tầng trệt, rồi dừng lại trước cửa phòng lớp 1. Cô giáo từ trong lớp bước ra mĩm cười chào hai bố con em. Sau lời chào hỏi, bố nói lời gửi gắm em cho cô giáo rỗi cúi xuống vỗ về em: “Con ở lại với cô giáo và các bạn. Bố đến cơ quan đây. Tan trường bố hoặc mẹ sẽ đến rước con”. Em níu lấy áo bố như không muốn rời: “Trưa, bố đón con sớm nghe bố”. Và tự nhiên những giọt nước mắt ứa ra, lăn dài trên má. Một cảm giác buồn vui lẫn lộn dâng lên trong lòng em. Buổi học đầu tiên của em như vậy đó. Xem thêm: Lập chương trình triển lãm về chủ đề Bảo vệ môi trường
Kể lại buổi đầu tiên em đi học.
422
Kể lại bằng lời văn của mình nội dung đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều Gợi ý Xưa, có một người thiếu nữ nối tiếng khắp kinh thành bởi nhan sắc không ai sánh bằng và tài năng toàn vẹn của cầm, kỳ, thi, họa. Đó chính là Thúy Kiều. Nàng là con của một gia đình trung lưu lương thiện cùng hai em là Thúy Vãn và Vương Quan. Nhưng trớ trêu thay, gia đình nàng bị mắc oan, cha nàng là Vương ông bị bắt. Giữa hoàn cảnh éo le đó, nàng đã chọn chữ hiếu đế trọn đạo làm con. Kiều đã quyết định bán mình chuộc cha, mà kế mua nàng chính là Mã Giám Sinh – một tên buôn người có tiếng. Mụ mối mà Kiều nhờ đã hoàn thành giao ước, mụ đã dẫn Mã Giám Sinh đến mua Kiều. Màn chào hỏi, vẩn danh diễn ra thật chóng vánh: – Mã Giám Sinh – Hắn xưng tên. – Huyện Lâm Thanh – Hắn trả lời như vậy khi được hỏi đến quê quán. Nhìn đến vế bề ngoài cũng đủ thấy hắn là một kẻ giả dối, xấu xa. Đã khoảng bốn mươi mà trông hắn vẫn ăn diện, ra vẻ trai lơ, không có gì là đĩnh đạc, đường hoàng. Người hầu kẻ hạ của hắn thì nhiều, ra vào không ngớt. Ngay hắn thôi cũng thể hiện sự vô học qua lời ăn, tiếng nói cộc lốc, giả dối. Hắn đến gia đình Kiều như thế đến nhà hắn vậy. Không thèm chào hỏi, mời mọc, hắn ngồi ngay ở ghế trên – chiếc ghế chỉ dành cho người chú của gia đình. Trong khi kẻ ỷ thế đồng tiền còn đang ra vẻ quan lớn thì mụ mối đã nôn nóng giục Kiều ra mắt. Bề ngoài có vẻ như Mã Giám Sinh đến hói vợ, nhưng thực chất đó lại là một cuộc mua bán người. Kiều rõ điều đó hơn ai hết nên nàng sao có thể vui được. Gia đình gặp họa, mỗi người mỗi ngả, thân nàng thì phải bán mình chuộc cha. Nàng nhớ biết bao những ngày gia đình sum họp, những khoảnh khắc bên người đã cùng hẹn ước trăm năm. Nhưng những ngày đó đã qua rồi. Giờ đây, nàng bước ra gặp Mã Giám Sinh mà trong lòng cảm thấy sợ hãi, rụt rè. Kiều buồn nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp vốn có. Nàng mảnh dẻ, yếu ớt như cây mai, cây trúc trước cơn gió lớn, khác gì cậy liễu trước ngọn sóng to. Phần Kiều là vậy, còn về phần Mã Giám Sinh thì khác, vốn là kẻ buôn người nên hắn ngắm nhìn, đàn đo về Kiều như lật qua lật lại mớ rau xem kỹ đê mua. Hồi lâu sau, hắn mới thứ tài Kiều. Hắn bắt Kiều phái chơi đàn nguyệt, làm thơ trên quạt cho hắn nghe. Hắn xem Kiều tâu lên bản nhạc buồn ai oán cùng bài thơ than phận trách trời, thật đáng thương. Nhưng Mã Giám Sinh không thèm để ý đến điều đó, hắn nhận thấy Kiều là một món hàng hiếm có, chắc chắn sẽ đem lại nhiều món hời nên chẳng ngại gì mà đồng ý mua ngay. Bằng giọng điệu cua kẻ buôn người chuyên nghiệp, hắn hỏi giá:Xem thêm: Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm– Xưa nay mua ngọc đến Lam Kiều, nay đây cũng vậy. Thật là một người sắc khó ai sánh bằng, tài hiếm ai bì kịp. Vậy sính nghi là bao? Mụ mối thấy vậy khấp khởi mừng thầm, phen này sẽ được đổi đời, giàu to. Mụ ra giá ngay: – Thúy Kiều vốn là quốc sắc thiên hương, chẳng may gặp gia biến, được để ý tới nên cũng không dám giấu, đáng giá nghìn vàng không hơn không kém. Quá đúng là một cái giá cao, Mã Giám Sinh chưa vội trá giá ngay. Hắn và mụ mối kẻ bớt một, kẻ thêm hai, cò kè một hồi lâu mới được cái giá ngoài bốn trăm, tức là chưa được một nửa giá đầu. Thế mới tường tận đây là hai kẻ chỉ biết đến đồng tiền. Thật xót xa thay cho thân Kiều tội nghiệp. Vậy là từ đây, Kiều bước vào một cuộc đời sóng gió, ba chìm bảy nổi, lưu lạc khắp bốn phương. Vanmau.edu.vn
Kể lại bằng lời văn của mình nội dung đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
743
Kể lại chuyện Ba lưỡi rìu bằng lời của chàng trai nghèo Gợi ý Tên tôi là Khang, vốn làm nghề tiều phu. Bố mẹ mất sớm, tôi sống thui thủi một mình trong một căn lều dựng tạm nơi bìa rừng. Cuộc sống của tôi cứ êm đềm trôi qua cho đến một ngày tôi gặp một sự lạ kì. Hôm ấy, cũng như mọi khi, tôi vác rìu vào rừng đốn củi. Không hiểu tay chân vụng về thế nào, tôi làm rơi rìu xuống con sông gần đó. Nước sâu, sông rộng, khó lòng lấy lại được rìu. Mà đó lại là kế sinh nhai duy nhất. Tôi buồn lắm! Ngày mai, ngày kia,… và những ngày sau nữa tôi lấy gì mà kiếm củi nuôi thân đây? Càng nghĩ nước mắt tôi càng tuôn nhiều, chảy dài trên khuôn mặt đen xạm của tôi. Đúng lúc đó, một cụ già râu tóc bạc phơ xuất hiện trước mặt tôi. Trông cụ thật hiền lành và phúc hậu với vầng trán cao, khuôn mặt hồng hào, ôn tồn cụ hỏi: – Có chuyện gì mà con khóc thảm thiết vậy? Tôi bèn thật thà kể đầu đuôi mọi chuyện cho ông lão nghe. Nghe xong, ông lão cười và hứa sẽ tìm lại chiếc rìu cho tôi. Tôi vui lắm! Nói rồi, ông lão lặn ngay xuống sông. Chỉ một lát sau ông đã ngoi lên, trên tay cầm một lưỡi rìu bằng vàng sáng lấp lánh. Ông giơ rìu lên hỏi tôi:Xem thêm: Nghị luận xã hội - Tiền tài và hạnh phúc – Đây có phải rìu của cháu không? Dù chiếc rìu đó rất đẹp và có giá trị nhưng không phải của mình thì không nên lấy. Tôi vội trả lời: – Không! Đó không phải cây rìu của cháu đâu ông ạ! Nghe tôi nói xong, ông cụ lại lặn xuống sông một lần nữa. Lần này, khi ngoi lên ông cụ cầm trên tay một lưỡi rìu bằng bạc trông rất thích mắt. Cụ vẫn hỏi như cũ: – Đây có phải rìu của cháu không? Tôi không ngần ngại mà từ chối ngay: – Thưa ông, cái này cũng không phải rìu của cháu. Không nản lòng, ông cụ lại tiếp tục lặn xuống sông lần nữa. Một lát sau, ông ngoi lên khỏi mặt nước với chiếc rìu bằng sắt hết sức bình thường, cán rìu nhìn còn hơi cũ. Nhưng đó chính là chiếc rìu của tôi. Sung sướng tôi reo to: – Đây mới chính là lưỡi rìu của cháu ông ạ! Nghe vậy, ông lão đưa lại rìu cho tôi và nói: cháu quả là một chàng trai thật thà, nghèo nhưng không tham lam. Cháu xứng đáng được thưởng. Ta tặng cho cháu cả ba lưỡi rìu này? Nói xong, ông lão vụt biến mất. Tôi biết mình gặp tiên nên chắp tay cảm tạ rồi về nhà. Nhờ ba chiếc rìu đó; tôi có cuộc sống âm no và hạnh phúc trọn đời. Vanmau.edu.vn
Kể lại chuyện Ba lưỡi rìu bằng lời của chàng trai nghèo
493
Kể lại chuyện Búp Bê của ai bằng lời của Búp Bê Gợi ý Tôi là Búp bê nhỏ. Hiện, giờ tôi đang sống rất hạnh phúc bên cô chủ mới Ngọc Lan của mình. Để có được hạnh phúc này, tôi đã phải trải qua một đoạn đường khá trắc trở. Trước đây, tôi sống ở khu phố bên kia với cô chủ tên là Minh Ánh. Lúc mới mua tôi từ cửa hàng đồ chơi về, cô yêu chiều tôi hết mức. Cô mua cho tôi váy áo mới, thắt nơ, buộc tóc cho tôi hàng ngày. Cô đi đâu cô cũng cho tôi theo. Cuộc sống của tôi tưởng như trên thiên đường. Thế nhưng ngay sau đó, tôi rơi xuống vực thẳm của sự bất hạnh. Tôi bị cô chủ bỏ quên trên nóc tủ cùng rất nhiều đồ chơi cũ khác. Cô chủ đã có một anh chàng gấu bông mới. Tôi lại càng tủi thân hơn khi bộ cánh xinh đẹp của tôi trước đây cũng không còn nữa, cô chủ đã bỏ quên ở đâu trong lúc lôi ra nghịch mất rồi. Cô cũng chẳng buồn mua cho tôi bộ khác. Cô đã quên hẳn tôi. Tôi rất buồn nhưng vẫn nuôi hi vọng một ngày cô chủ lại nhớ đến tôi. Nhưng tôi chờ mãi, chờ mãi… Cuối cùng, vào một ngày đông giá rét, không chịu nổi cách đối xử tệ bạc của cô chủ, tôi quyết tâm bỏ đi. Hì hục mãi tôi mới bò xuống khỏi tủ, chui qua cửa sổ ra ngoài. Ra được khỏi nhà, tôi sung sướng chạy một mạch ra phố. Rồi trời càng lúc càng lạnh và tối. Không biết đi đâu, tôi tìm đến một gốc cây ven đường, nằm vùi trong đống lá khô ngủ.Xem thêm: Tả cây hoa sữaSáng hôm sau, khi ánh mặt trời chiếu qua lớp lá cây cũng là lúc tôi bừng tỉnh. Đang hì hụi vươn ra khỏi lớp lá thì tôi bắt gặp ánh mắt sáng trong trẻo của một cô bé mà bấy giờ chính là cô chủ Ngọc Lan của tôi. Thấy tôi tội nghiệp, cô Lan mang tôi về nhà tắm rửa sạch sẽ. Cô còn chu đáo may tặng tôi một chiếc váy rất xinh xắn và đáng yêu. Cô còn làm cho tôi một chiếc giường nhỏ nhắn ngay cạnh giường cô để chị em lúc nào cũng có nhau. Từ đó đến nay, tôi sống rất hạnh phúc. Lúc nào tôi cũng thầm cảm ơn cô Ngọc Lan – cô chủ đáng yêu, vị ân nhân của tôi. Vanmau.edu.vn
Kể lại chuyện Búp Bê của ai bằng lời của Búp Bê
433
Kể lại chuyện Cây bút thần theo lời kể của em Gợi ý Ngày xưa có một em bé rất thông minh tên em là Mã Lương. Cha mẹ em mất sớm. Em thích học vẽ từ nhỏ nhưng không có tiền để mua bút. Hàng ngày em tập vẽ bằng cách đi kiếm củi, em lấy que vạch xuống đất vẽ những con chim bay trên trời. Lúc cắt cỏ, em nhúng tay xuống nước vẽ con cá con tôm. Khi về nhà, em vẽ mọi đồ đạc lên tường. Mã Lương học vẽ rất say mê và em tiến bộ rất mau. Em vẽ cái gì cũng giống như thật nhưng chỉ khổ nỗi là không có bút. Một hôm, nằm mơ em thấy có một ông già râu tóc bạc phơ hiện ra đưa cho em một chiếc bút và nói: – Đây là bút thần, nó sẽ giúp con nhiều. Mã Lương vui sướng reo lên. – Cây bút đẹp quá! Cháu cảm ơn ông, cảm ơn ông! Mã Lương chưa kịp nói hết lời ông già đã biến mất. Khi tỉnh dậy, em thì thấy mình đang cầm cây bút thần đó và rất lấy làm lạ. Mã Lương cầm cây bút vẽ cơn chim, chim tung cánh bay, vẽ con cá, cá trườn xuống nước. Mã Lương rất thích, rồi em cầm cây bút này đi vẽ cho những người nghèo khó trong làng, nhà nào thiếu cái gì Mã Lương vẽ cho cái đấy.Xem thêm: Em hãy viết thư cho bạn để kể lại một kỷ niệm vuiChuyện đến tai tên địa chủ. Hắn liền sai người đến bắt Mã Lương về nhà vẽ theo ý hắn. Mã Lương tính tình khảng khái nên không vẽ bất cứ cái gì mà tên nhà giàu độc ác yêu cầu. Hắn tức giận nhốt em vào trong chuồng ngựa. Vài hôm sau, hắn cứ tưởng là Mã Lirơng chết vì đói và lạnh. Lúc nhìn thì thấy Mã Lương đang ăn bánh và ngồi cạnh lò sưởi, hắn tức quá, bắt bọn đầy tớ đến giết Mã Lương để lấy cây bút thần. Mười tên đầy tớ xông vào chuồng ngựa thì Mã Lương đã vượt qua tường bằng chiếc thang mà em vẽ. Thoát khỏi nhà tên địa chủ, Mã Lương vẽ một con ngựa và nhảy lên mình ngựa phóng đi. Chẳng bao lâu có tiếng ồn ào ở sau lưng, Mã Lương biết là bọn chúng tới gần, em giương cung bắn vào tên địa chủ và cưỡi ngựa phi thẳng. Sau mấy ngày đêm em dừng lại bên thị trấn nhỏ. Hàng ngày em vẽ tranh để đem bán kiếm sống qua ngày nhưng đều cố tình vẽ dở dang. Một hôm khi vẽ một con chim không có mắt, em vô tình đánh rơi giọt mực, mực rơi đúng vào chỗ mắt chim, con chim tung cánh bay. Việc đó làm chấn động đến cả thị trấn, rồi đến tai vua, vua bắt Mã Lương vào cung để vẽ. Mã Lương biết vua là kẻ tham lam nên em không vẽ, vua bảo em vẽ con rồng thì em vẽ con cóc ghẻ, vua bảo em vẽ con phượng thì em vẽ con gà trụi lông, nhà vua tức tối nhốt Mã Lương vào ngục và cướp cây bút thần. Nhà vua vẽ núi vàng song khi xem lại thì không phải là quả núi vàng mà là những tảng đá lớn. Rồi lão lại vẽ tiếp những thỏi vàng. Một viên chưa đủ, hắn còn muốn vẽ một thỏi vàng dài thật là dài, lúc nhìn lại thì không phải là thỏi vàng mà là một con mãng xà đang bò lại phía hắn. May có người đến cứu, nếu không thì nó đã cắn chết nhà vua.Xem thêm: Kể lại một lần đi tham quan cùng các bạn trong lớp Biết nếu không có Mã Lương thì sẽ không làm gì được, vua đành thả Mã Lương ra và hứa sẽ gả công chúa cho. Mã Lương giả vờ đồng ý. Vua trả bút thần cho em vào bảo em vẽ biển, biển mênh mông không có sóng. Nhà vua ngắm nhìn rồi bảo: – Sao biển này không có cá? Mã Lương chấm vài chấm, biển hiện lên đầy cá khin vua rất thích. Vua bảo Mã Lương vẽ một con thuyền để đi dạo. Có thuyền rồi, vua và các quần thần cùng hoàng hậu, công chúa, thái tử lên thuyền ra khơi. Thuyền đi quá chậm. Vua đứng trên mũi thuyền kêu lớn: "Cho gió to lên, cho gió to lên!". Mã Lương tô thêm vài nét bút đậm. Sóng biển nổi lên. Mã Lương lai tô thêm vài nét sóng nữa, sóng biển nổi lên cuồn cuộn. Biển dộng. Vua cuống quýt kêu lên: – Đừng cho gió thổi nữa. Đừng cho gió thổi nữa! Mã Lương không hề đếm xỉa đến những lời nói đó mà cứ thế vẽ những đường sóng lớn. Sóng biển xô vào bờ hết đợt này đến đợt khác. Vua bị ướt hết quần áo một tay ôm lấy cột buồm một tay ra hiệu gào to: "Mã Lương không vẽ nữa". Mã Lương vờ như không nghe thấy, cứ liếp tục vẽ. Gió bão càng to rồi vùi chôn cả thuyền vua vào lớp sóng dữ. Sau khi vua chết, câu chuyện Mã Lương được truyền khắp nước. Không ai biết là Mã Lương đi đâu. Người ta đồn rằng chàng về nơi thôn dã sống yên bình bên những người nông dân lương thiện.Xem thêm: Tả cây xương rồngVanmau.edu.vn
Kể lại chuyện Cây bút thần theo lời kể của em
924
Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của chim Phượng Hoàng Hướng dẫn Vào một ngày nắng đẹp, tôi cùng đứa con ngao du trên bầu trời. Bay một lúc lâu, chúng tôi hạ cánh xuống khu vườn nhỏ nghỉ ngơi. Chợt con tôi hỏi: “Cha ơi! Cha đã đi rất nhiều nơi, có chuyện gì mà cha nhớ nhất?”. Nghe con hỏi, tôi liền nhớ lại chuyện “Cây khế” rồi kể cho con nghe: “Hồi đó, cha còn rất trẻ. Với đôi mắt xanh biếc, chiếc mỏ đỏ chót và bộ lông đẹp, nhiều màu sắc cùng thân hình cường tráng, cha bay đi khắp nơi ngắm thế gian. Một hôm, cha đậu xuống cây khế trồng trên một mảnh vườn nhỏ bên cạnh ngôi nhà rách nát. Nhìn những trái khế chín mọng, ngon lành, lúc dầu cha định ăn một quả thôi nhưng càng ăn càng thấy ngon. Cha ăn cho dến khi chỉ còn vài quả trên cây, bỗng có tiếng người nói: “Chim ơi! Nhà ta chỉ có cây khế này thôi,chim ăn hết thì vợ chồng ta lấy gì mà sống?” Lúc này, cha mới để ý thấy một chàng thanh niên gầy gò, xanh xao, mặc bộ quần áo rách rưới đang đứng dưới gốc cây khế. Thấy anh ta có vẻ nghèo khổ, nhất là khi nhìn căn nhà tồi tàn cùa vợ chồng anh ta thì cha thấy ái ngại quá. Thương họ, cha liền nói: “Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”, rồi cha bay đi. Sáng hôm sau, cha đến đón anh ta theo lời hẹn. Trên đường, cha và anh ta nói chuyện rất vui vẻ. Cha dược biết, trước đây gia đình anh ta rất giàu có. Nhưng khi cha mẹ mất đi, vợ chồng người anh đã chiếm hết gia tài, nhà cửa, ruộng vườn, chỉ để cho vợ chồng anh ta một căn nhà rách nát, một mảnh vườn nhỏ, trên mảnh vườn cằn cỗi đó chỉ có một cây khế. Hai vợ chồng anh ta phải làm lụng vất vả, cày thuê cuốc mướn để kiếm sống. Vui chuyện, cuối cùng đã đến hòn đảo có một cái hang chứa đầy vàng. Cha hạ cánh xuống hòn đảo để anh ta vào hang lấy vàng. Cha thấy anh ta chỉ lấy vàng vào cái túi ba gang mà anh ta mang theo. Đưa anh ta về tới nhà, cha thầm nghĩ: “Người thanh niên này cũng hiền lành, thật thà”. Năm sau, đến mùa khế chín, cha lại đến ăn khế. Có một người chạy ra, nhưng không phải là anh thanh niên lần trước mà là một người đàn ông mập mạp, hồng hào, chẳng có vẻ gì là thiếu ăn, thiếu mặc cả. Nghe hắn than thở cha cung nói: “Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Sáng hôm sau, cha đưa hắn đi, nhưng hắn mang tận cái túi chừng mười hai gang. Đến hòn đào, nhìn thấy cái hang chứa vàng đó, hắn ta hí hửng chạy vào lấy vàng. Đợi mãi vẫn chưa thấy hắn ra, nhìn biển thấy sắp có bão, cha vào hang giục hắn về nhưng hắn vẫn mê mải lấy vàng không chịu ra. Mãi lâu sau, hắn mới ì ạch kéo cái túi vàng nặng trịch ra, xung quanh người hắn cũng buộc toàn vàng, thế mà ra đến cửa hang rồi, hẳn ta vẫn còn cảm thấy tiếc rẻ. Hẳn chậm chạp bước lên lưng cha, vàng nhiều, nặng quá, cha phải cố hết sức mới bay được. Đi đến giữa biển, dôi cánh cùa cha mỏi râ rời tường như không cắt lên được nữa, chợt giông tố nổi lên, sấm sét ầm ầm. Cha cố gắng bay, cha bảo hắn vứt bớt vàng đi nhưng hắn không chịu. Gió mạnh quá, người cha nghiêng ngả, chao đảo làm hăn rơi tõm xuống biển cùng với túi vàng cùa hắn. Thật đáng đời kè tham lam! Xem thêm: Phân tích và làm sáng tỏ ý nghĩa của câu nói: "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học) Con thấy đấy! Người em “ở hiền thì gặp lành”, còn người anh tham lam thì đã phải trả giá. Con hãy nhớ lấy bài học từ câu chuyện này nhé! Hoàng Xuân Hai – Hải Dương Nhận xét của giáo viên: 1.Những ưu điểm cần học tập “Cây khế” là một câu chuyện cổ tích quen thuộc với chúng ta. Nhưng câu chuyện “Cây khế” mà Xuân Hải kể vẫn làm cho người đọc rất thú vị theo dõi từ đầu đến cuối diễn biến của câu chuyện. Vì sao vậy? Chính là bởi Hải đã “nhập vai” Chim thần để kể lại một cách rất hấp dẫn câu chuyện này. Thêm nữa Hải lại còn tưởng tượng ra chi tiết: Chim thần kể câu chuyện “Cây khế” cho con trai cùa mình nghe. Vẫn là cốt truyện “Cây khế”, nhưng qua lời kể của Chim thần, vị trí của các tình tiết trong cốt truyện có sự thay đổi. Ví dụ: Đoạn mở đầu câu chuyện (đoạn nói về hoàn cành gia đình của người anh và người em) được kể lại qua cuộc nói chuyện giữa Chim thần và người em. Bên cạnh dó, trong câu chuyện bạn kể kết hợp với tả khá tốt ngoại hình cùa các nhân vật: Chim thân ("đôi mắt xanh biếc, chiếc mỏ đỏ chót và bộ lông đẹp, nhiều màu sắc cùng với một thân hình cường tráng”), người em (“gầy gò, xanh xao, mặc bộ quần áo rách rưới”), người anh (“mập mạp, hồng hào, chăng có vẻ gì là thiếu ăn, thiếu mặc”). Việc tả ngoại hình cùa người anh và người em góp phần bộc lộ hoàn cảnh sống của mỗi người. Phần kết bài được viết theo lối mở rộng cũng góp phần nói lên ý nghĩa cùa câu chuyện. 2.Những hạn chế cần rút kinh nghiệm Hài kể còn thiếu một số chi tiết khá quan trọng trong truyện cho nên một số câu văn chưa có sự liên kết chặt chẽ về ý với nhau. Ví dụ các câu: “Năm sau, đến mùa khế chín, cha lại đến ăn khế. Có một người chạy ra, nhưng không phải là anh thanh niên lần trước mà là một người đàn ông mập mạp, hồng hào, chẳng cỏ vẻ gì là thiếu ăn, thiếu mặc cả. Nghe hắn than thở cha cũng nói: “Ăn một quà, trà một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Bạn nên dưa thêm chi tiết giải thích lý do vì sao người anh lại có cây khế (vì cây khế vốn là của người em), cuộc sống của người em sau khi được chim thần giúp đỡ như thế nào?… Bài luyện tập: 1.Em hãy viết bổ sung giúp bạn 4-5 câu văn giải thích lý do vì sao người anh lại có cây khế, cuộc sống của người em thay đổi như thế nào sau khi được Chim thần giúp đỡ?2.Em hãy kể lại câu chuyện “Cây khế” theo lời của người anh hoặc lời của người em. Xem thêm: Viết đoạn văn tả buổi sáng trong vườn cây
Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của chim Phượng Hoàng
1,217
Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của người anh Gợi ý Cây khế chính là nguyên nhân giúp cho vợ chồng chú em tôi trở nên giàu có. Và nó cũng là nguyên nhân khiến cho vợ chồng tôi lao đao… Tôi là anh cả trong gia đình có hai anh em. Bố mẹ mất sớm chẳng để lại được gì nhưng nhờ chăm lo làm lụng nên hai anh em cũng đủ ăn. Rồi hai anh em cùng lấy vợ. Nhưng cũng từ đó tình cảm giữa hai chúng tôi không còn mặn mà như xưa nữa. Hai vợ chồng tôi tính đến chuyện ở riêng cho hai vợ chồng em. Tôi lấy hết tài sản và chia cho em trai căn nhà tranh lụp xụp trước nhà có một cây khế. Tuy vậy, hai vợ chồng cậu em không phàn nàn một lời, vẫn chịu khó làm ăn, Cho đến một hôm nghe người ta nói chuyện hiện nay vợ chồng em đã rất giàu có thì tôi lấy làm tò mò liền sang gặp gỡ hỏi thăm. Em vốn là người thật thà nên kể lại ngọn ngành cho tôi nghe…. Sau khi được tôi chia cho cây khế, em chịu khó làm ăn chăm chỉ. Ngày ngày chăm sóc cây khế thật tốt. Đến khi cây ra hoa kết trái và thu hoạch, em mang ra chợ bán. Cây khế của em lúc nào cũng tốt, sai trĩu quả. Bỗng một hôm, có con chim lạ bay đến ăn khế của em. Nó ăn rất nhiều khế trên cây, ăn những quả thơm ngon nhất, cứ như thế suốt gần tháng trời. Em tôi hỏi thì được chim trả lời “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”. Em băn khoăn nhưng vẫn may một cái túi đúng ba gang. Sáng hôm sau, như đã hẹn, chim bay đến đưa em đi lấy vàng. Đặt chân lên đảo, có biết bao thứ đá quý, bạc vàng. Nhưng em chỉ lấy một ít vàng và kim cương rồi ra về. Từ đấy, em trở nên giàu có trong vùng.Xem thêm: Viết đoạn văn tả cây gạo Biết rõ câu chuyện, tôi bàn mưu cùng vợ, gạ đổi hết tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Mong muốn của vợ chồng tôi được vợ chồng em ưng thuận. Thế là từ đó, tôi chỉ có một việc là trông mong chim lạ bay đến ăn khế. Lâu dần, con chim cũng xuất hiện. Không thể kiên nhẫn đợi lâu hơn nữa, khi chim thần vừa ăn được vài quả tôi đã chạy ra hỏi như những gì em tôi đã nói. Và tôi cũng được chim lạ trả lời y hệt cậu em. Chỉ chờ có thế, vợ chồng tôi hí hửng, vội vàng may túi. Nhưng không phải túi ba gang như cậu em ngốc nghếch, tôi may hẳn một túi mười hai gang. Sáng hôm sau, chim thần cũng bay đến đưa tôi đến đảo vàng. Vừa đặt chân lên đảo tôi đã hoa mắt trước bao nhiêu vàng và đá quý. Càng vào sâu bên trong, tôi càng choáng ngợp. Quên hết mọi mệt nhọc, tôi ra sức nhét thật nhiều vàng vào cái túi mười hai gang đã chuẩn bị. Dường như thấy vẫn chưa đủ, tôi còn cố nhét thêm vào ống tay áo và ống quần, rồi buộc chặt lại. Ì ạch mãi tôi mới lết ra được cửa hang. Tuy mệt một chút nhưng niềm vui lấy được nhiều vàng giúp cho tôi nhiều sức lực. Chim thần đợi tôi lâu quá nên thúc giục ra về. Phải tìm cách mới buộc được hết số vàng đó lên mình chim. Nằm trên lưng chim, tôi vui mừng, tưởng tượng về cuộc sống giàu sang sắp tới của mình. Đang mơ màng sung sướng, bỗng một cơn gió thổi mạnh. Thì ra chim thần đã bay tới biển. Trời tự nhiên xám xịt, những con sóng biển nhảy chồm lên cao như muốn nuốt chửng tôi và chim thần. Vì bay ngược gió nên chim thần có vẻ rất mệt mỏi. Những túi vàng trên lưng càng làm cho nó thêm nặng nề. Mấy lần chim khuyên bỏ bớt vàng đi nhưng tôi không chịu. Thế là một cơn gió thổi mạnh khiến cánh chim chao đảo, nghiêng mình và trong chớp mắt tôi thấy mình bỗng rơi tự do. Tôi choáng ngợp, trước mặt biến rộng lớn, dữ dội đang đợi mình dưới kia….Xem thêm: Em hãy viết một bức thư ngắn khoảng 5-10 dòng kể về ước mơ trở thành kiến trúc sư, xây những toà nhà thật đẹp cho quê hương đất nướcCó lẽ không thấy tôi trở về, vợ tôi sẽ khóc hết nước mắt. Còn em tôi sẽ không biết rằng, tôi đã tự đào hố chôn mình… Thật đáng tiếc cho những kẻ có lòng tham. Vanmau.edu.vn
Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của người anh
826
Kể lại chuyện Cây Khế bằng lời người em Gợi ý Tôi là người em trong câu chuyên Cây khế. Trước đây, cuộc sống của tôi rất nghèo khó chứ không được sung túc như bây giờ. Tất cả sự thay đổi này là một kì duyên. Gia đình tôi có hai anh em. Cha mẹ mất sớm, anh trai lại không thương yêu lo lắng cho tôi bởi lòng tham đã làm anh mờ mắt. Anh tự ý chia gia tài mà cha mẹ để lại cho chúng tôi. Nhà cửa, ruộng vườn có bao nhiêu anh chiếm hết làm của mình. Anh chỉ để lại cho tôi một mảnh vườn nhỏ ở cuối làng và một cây khế ngọt trong vườn. Vì có được ruộng vườn nhiều nên gia đình anh sống sung túc lắm. Nhưng anh chẳng hề để ý gì đến đứa em nghèo khó như tôi. Tôi rất buồn vì chuyện này. Nhưng lại nghĩ, anh hưởng hạnh phúc cũng như mình hưởng vậy nên an phận sống vất vả nơi căn lều nhỏ dựng trong vườn. Để nuôi sống bản thân và gia đình, hàng ngày tôi vào rừng kiếm củi, hoặc cày thuê cuốc mướn và cũng không quên chăm sóc cây khế, mong nó ra nhiều quả bán lấy chút tiền sinh nhai. Không phụ lòng tôi chăm sóc và ngóng trông. Cây khế đậu rất nhiều quả ngọt. Nhưng khổ nỗi, thỉnh thoảng hay có một con chim lạ đến vườn tôi ăn khế. Con chim đó rất to. Nó khoác lên mình một bộ lông vàng óng ánh. Trông rất đẹp. Tôi không nỡ xua đuổi hay làm hại chim mà chỉ lên tiếng than cảnh túng thiếu, van xin chim đừng phá cây. Kì lạ thay, con chim đáp lại tôi bằng tiếng người:Xem thêm: Tả đàn gà con đang kiếm mồi– Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng. Thấy chuyện kì lạ nên tôi thử làm theo lời chim thần. Tôi tìm kiếm các mảnh vải vụn trong nhà, may được một chiếc túi ba gang. Y hẹn, chim bay đến đưa tôi đi. Chim đưa tôi bay qua biển Đông, đến một hòn núi dựng sừng sững giữa biển. Trên đó có vô số vàng bạc, sáng lấp lánh như màu lông của chim vậy. Tuy thấy nhiều vàng, nhưng lại nghĩ làm người chớ nên tham lam. Tôi chỉ lấy đúng vừa chiếc túi ba gang rồi lên lưng chim thần bay về nhà. Tư sau ngày đó, cuộc sống của tôi khấm khá hơn rất nhiều. Anh trai tôi thấy sự lạ kì, bèn tìm đến hỏi han. Tôi nghĩ dù anh có làm gì cũng vẫn là anh của mình nên thật thà kể hết mọi chuyện. Nghe xong, anh tôi nằng nặc đòi đổi hết gia tài của anh lấy mảnh vườn và cây khế của tôi. Thấy anh cương quyết nên tôi đồng ý. Từ khi có cây khế, anh tôi chỉ mong chờ ngày chim lạ đến ăn quả để có cơ hội đòi được bạc vàng. Rồi ngày đó cũng đến. Chim thần vừa đậu xuống thân cây, vợ chồng anh đã la lên ầm ĩ. Chim thần vẫn như lệ cũ dặn anh may túi ba gang để đi lấy vàng. Anh tôi chỉ chờ có thế. Anh liền lén may một chiếc túi sáu gang. Đến núi vàng, anh tôi tham lam nhét vàng đầy cái túi to tướng và còn cố nhét thêm vào người. Cô gắng lắm chim thần mới cất cánh nổi. Nhưng do quá nặng đến giữa biển Đông, chim thần kêu anh bỏ bớt vàng đi nhưng anh không chịu. Đuối sức, chim thần liền hất anh tôi xuống biển. Thật đau xót. Anh tôi vì quá tham lam nên giờ phải vong mạng. Mỗi lần nghĩ đến chuyện này tôi đều cảm thấy rất buồn. Tất cả chỉ tại sự tham lam.Xem thêm: Phân tích bài thơ Muốn Làm Thằng Cuội của Tản ĐàVanmau.edu.vn
Kể lại chuyện Cây Khế bằng lời người em
675