text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Những bài văn tả đồ vật lớp 5 hay nhất
Hướng dẫn
Tả quyển sách Tiếng Việt 5, tập hai của em
Bên ngoài là một hình chữ nhật nhưng ở trong chứa đựng những kho tàng kiến thức vô cùng quý giá, các bạn có biết đó là vật gì không? Đó chính là ngôi nhà kiến thức của tôi đấy. Ngôi nhà kiến thức này được mang tên “Tiếng Việt 5, tập hai”.
Ngôi nhà kiến thức này khá đẹp và xinh xắn. Xung quanh ngôi nhà được bao bọc bởi một bức tường rắn chắc. Trên bức tường đó là hình ảnh đồng ruộng, núi non, biển cả và đặc biệt là hình ảnh các bạn học sinh của các vùng miền đang ngồi nói chuyện một cách vui vẻ. Hình như các bạn đang trao đổi để cùng nhau khám phá vẻ đẹp của quê hương đất nước. Trên cùng của bức tường có in hàng chữ ghi nơi có những người “kĩ sư” đã xây dựng nên ngôi nhà kiến thức này: “Bộ Giáo dục và Đào tạo”. Tiếp đó, một hàng chữ xanh dương và là tên của ngôi nhà: "Tiếng Việt 5 ”, riêng số 5 được mặc chiếc áo đỏ hồng nổi bật hẳn lên. Phía dưới bức tường là dòng chữ trắng ghi địa chỉ sản xuất ngôi nhà này và nhiều ngôi nhà khác nữa: “Nhà xuất bản Giáo dục”. Phía sau ngôi nhà có một bức tường khác trắng tinh, bên dưới có đánh mã số, chính là địa chỉ của ngôi nhà đấy, các bạn ạ! Để ngôi nhà được sạch sẽ và lúc nào cũng như mới, tôi đã mặc cho nó một chiếc áo bằng ni lông trong suốt.
Khi mở cánh cửa ngôi nhà, bạn sẽ thật ngạc nhiên vì có mùi hương nhè nhẹ bay ra. Chao ôi! Những tờ giấy trắng tinh, những dòng chữ duyên dáng, những hình ảnh sống động, đã điểm tô cho ngôi nhà một vẻ đẹp có sức quyến rũ đến lạ thường. Ngôi nhà được thiết kế theo từng chủ điểm. Mỗi chủ điểm được học trong ba tuần. Trong mỗi tuần, các phân môn của môn Tiếng Việt được sắp xếp theo một thứ tự nhất định. Tập đọc giúp tôi biết đọc đúng, đọc hay, đọc hiểu. Chính tả giúp tôi viết đúng và đẹp văn bản. Nhờ có luyện từ và câu mà tôi biết thêm nhiều từ ngữ, biết cách dùng từ và viết câu dúng ngữ pháp. Tập làm văn luyện cho tôi cách nói hay, viết hay. Kể chuyện thì kích thích lòng ham đọc sách của tôi. Ngôi nhà đã đi cùng tôi suốt học kì hai của năm học cuối cấp này, giúp tôi mở mang kho tàng kiến thức.
Ngôi nhà đã trở thành người bạn thân thiết cùa tôi tự bao giờ, tôi cũng không biết nữa. Tôi quý nó, tôi yêu nó cũng như tôi luôn trân trọng những kiến thức nó đã mang đến cho tôi. Ngôi nhà này sẽ mãi là bạn của tôi cho dù năm học kết thúc.
Nguyễn Xuân Phương – Hải Dương
Nhận xét của giáo viên:
1.Những ưu điểm cần học tập
Bài có bố cục ba phần rõ ràng. Trong đó, phần mở bài viết theo cách gián tiếp, Phương dẫn dắt để giới thiệu về quyển sách khá hay. Phần thân bài, bạn tả theo trình tự hợp lí, tả từ ngoài vào trong. Phần kết bài bày tỏ được tình cảm yêu quý và trân trọng cuốn sách.
Bạn đã tự tạo ra một phong cách riêng, khó lẫn với những bài văn khác bởi cách mà bạn triệt để sử dụng trong bài: nhân hoá cuốn sách "Tiếng Việt 5, tập hai”, cụ thể cả cuốn sách được gọi là “ngôi nhà kiến thức”, bìa sách là “hức tường”, động tác mở sách là “mở cánh cửa ngôi nhà”, lớp ni lông bọc sách là “chiếc áo ”… Câu chuyển đoạn ở phần thân bài hợp lý: ”Khi mở cảnh cửa ngôi nhà, bạn sẽ thật ngạc nhiên vì có một mùi hương nhè nhẹ hay ra ”.
Diễn đạt lưu loát, hấp dẫn, truyền cảm, nội dung miêu tả phong phú. Bìa cuốn sách được bạn miêu tà sinh động và cụ thể đến từng chi tiết. Ngoài ra, bạn ca ngợi khá khéo léo một số điểm mạnh của sách: chất liệu (giấy trắng tinh, thơm), kênh hình đẹp, cách xây dựng nội dung “theo từng chủ điểm ”, đặc biệt là ý nghĩa thiết thực của các bài học trong môn tiếng Việt đối với bạn.
2.Những hạn chế cần rút kinh nghiệm
-Bạn còn mắc lỗi dùng từ, đặt câu.
-Cách gọi cuốn sách Tiếng Việt 5 là "ngôi nhà kiến thức” là cách gọi sử dụng biện pháp nhân hoá, khá hay và đặc biệt, đó là cách gọi rất riêng của bạn. Vì thế trong toàn bộ bài văn, bạn nên đưa cụm từ này vào trong dấu ngoặc kép.
-Phần miêu tả bên trong cuốn sách hơi sơ sài.
Bài luyện tập:
1. Chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu văn sau và chữa lại cho hợp lý.
a)Xung quanh ngôi nhà được hao bọc hởi một bức tường rắn chắc.
b) Tôi quý nó, tôi yêu nó cũng như tôi luôn trân trọng những kiến thức nó đã mang đến cho tôi.
2.Bổ sung ý vào câu văn sau cho đầy đủ và chặt chẽ hơn.
Chao ôi! Những tờ giấy trắng tinh, những dòng chữ duyên dáng, những hình ảnh song động,… đã điểm tô cho ngôi nhà một vẻ đẹp cỏ sức quyến rũ đến lạ thường.
3.Bổ sung thêm ý để các câu sau liên kết chặt chẽ với nhau hơn:
“ Trong mỗi tuần, các phân môn của môn Tiếng Việt được sắp xếp theo một thứ tự nhất định. Tập đọc rèn cho tôi biết đọc đúng, đọc hay, đọc hiểu ”.
4.Viết đoạn mở bài hoặc đoạn kết bài cho bài văn trên theo cách của em.
Tham khảo thêm những bài văn tả sách tiếng Việt lớp 5 tập hai tại đây:
Tả cái đồng hồ báo thức
Bài làm
Xem thêm: Hãy kể lại giấc mơ của một bông hoa
Reng… reng… reng…! Một âm thanh vang lên và kéo dài vào đúng sáu giờ sáng để đánh thức tôi dậy đi học. Các bạn có biết đó là âm thanh từ đâu không? Đó chính là từ chiếc đồng hồ có nhãn hiệu “BaBy ” mà ba đã tặng cho tôi đấy.
Chiếc đồng hồ của tôi đẹp lắm. Chú ta luôn diện bộ quần áo màu vàng, bóng loáng làm bằng nhựa cứng, trông rất oách. Chú chỉ to bằng hộp phấn màu mà thôi. Quanh vòng đồng hồ, các em số từ một đến mười hai được xếp thành một vòng tròn xoay. Trong mặt đồng hồ luôn có sự ganh đua giữa ba anh em. Kim giờ là anh cả, đã béo múp thế kia lại không chịu giảm cân, chạy chậm rề rề. Kim phút cao hơn và chạy nhanh hơn anh kim giờ một chút. Nhưng luôn đạt giải quán quân trong cuộc thi chạy ấy chính là kim giây, cũng có thể coi cậu là em út trong nhà. Cậu bé kim giây cao lêu nghêu khá tinh nghịch. Cũng có lẽ vì nghịch quá nên cậu ta gầy giơ xương. Cậu ta luôn mặc bộ quần áo màu đỏ chót, nổi bật hơn hẳn bộ quần áo màu đen cùa anh chị mình. Chỉ cần thế cũng biết ba anh em nhà kim có nhiều điểm khác hẳn nhau, phải không các bạn? Nhưng ba anh em nhà họ lúc nào cùng thương yêu nhau lắm dấy.
Đằng sau đồng hồ còn có nút hẹn giờ và nút vặn giờ. Các bạn có biết nguồn năng lượng dồi dào đã giúp đồng hồ miệt mài làm việc là ai không? Đó là pin đấy! Tuy cậu ta nhỏ bé nhưng lại người bạn giúp đồng hồ chạy đúng thời gian.
Vào các dịp cuối tuần, tôi thường dọn dẹp căn phòng của mình và không bao giờ quên lau chùi cho đồng hồ. Chính vì vậy, đồng hồ lúc nào cũng sạch sẽ. Cứ cuối tháng thì bạn Pin vì say sưa công việc của mình nên sức cũng yếu dần, tôi phải thay cậu bạn khác vào để giúp cho bạn đồng hồ biết thời gian.
Tuy đồng hồ kém tôi năm tuổi, nhưng tôi luôn coi đồng hồ như người bạn cùng trang lứa. Tôi sẽ cố gắng là bạn của đồng hồ trong suốt những năm tháng học trò.
Trịnh Duy Hoàng – Thanh Hoá
Nhận xét của giáo viên:
1.Những ưu điểm cần học tập
Giới thiệu chiếc đồng hồ báo thức bằng âm thanh đặc trưng của nó – đây là cách mở bài rất ấn tượng mà bạn đã mang tới cho người đọc. Bạn lựa chọn một số chi tiết tiêu biểu về hình dáng bên ngoài của chiếc đồng hồ để miêu tả như: màu sắc, chất liệu, kích thước. Ba chiếc kim: kim giờ, kim phút, kim giây được bạn miêu tả khá kỹ lưỡng bằng các câu văn ngắn gọn nhưng không kém phần sống động, cộng với cách diễn đạt có phần hóm hỉnh, bạn đã tạo cho người đọc cảm giác bất ngờ, thú vị.
Ngoài ra, bạn còn thể hiện được tình cảm của mình với chiếc đồng hồ thông qua việc bạn chăm sóc cẩn thận chiếc đồng hồ của mình.
2.Những hạn chế cần rút kinh nghiệm
-Phần thân bài cùa bạn còn thiếu ý (chi tiết về chiếc kim báo thức chưa được miêu tả).
-Phần kết bài hơi khô khan, gượng ép.
Bài luyện tập
1.Phần thân bài của bạn còn thiếu một chi tiết quan trọng, đó là chi tiết nào? Em hãy viết bổ sung giúp bạn.
2.Viết lại đoạn kết bài cho hợp lý và hay hơn.
3.Viết bài văn miêu tả chiếc đồng hồ báo thức của em.
Tham khảo thêm bài văn tả cái đồng hồ báo thức tại đây:
Tả một đồ vật trong nhà mà em yêu thích
Trong họ hàng nhà chổi thì cô bé Chổi Rơm vào loại xinh xắn nhất, Cô có chiếc váy vàng óng, không ai đẹp bằng, áo của cô cũng bằng rơm thóc nếp vàng tươi, được tết săn lại, cuốn từng vòng quanh người, trông cứ như là áo len vậy.
Tuy bé nhưng Chổi Rơm rất được việc. Ngày hai lần, chị Thuỳ Linh mang chổi ra quét nhà. Chi quét nhà thôi, còn sân, vườn đã có chổi khác cứng hơn.
Chị rất quý Chổi Rơm. Chị đã nhờ bà đóng cho chiếc đinh sau cánh cửa. Mỗi lần quét nhà xong, chị treo Chổi Rơm lên đấy vừa đỡ ẩm chổi, lại gọn nhà. Thế là sau những lần lao động mệt nhọc, Chổi Rơm được nằm yên ngủ một giấc ngon lành.
Theo Vũ Huy Thông
Lời bình:
Tác giả nhân hoá cây Chổi Rơm – một đồ vật bình thường, giản dị trở thành một cô gái xinh đẹp, chăm làm. Vẻ đẹp cuả cô Chổi Rơm là ở màu sắc nổi bật, không ai đẹp bằng với “chiếc váy vàng óng”, là ở chiếc áo len đặc biệt được tết bằng "rơm thóc nếp vàng tươi” – kết quả của một vụ mùa bội thu.
Những dòng văn dù ngắn ngũi nhưng được viết bằng ngôn ngữ miêu tả đặc sắc, cô đọng, súc tích bởi hàm chứa trong đó là tình cảm cùa tác giả đối với đồ vật nhỏ bé này. Tình cảm đó trước hết thể hiện ở lời khen ngợi công khai, trực tiếp vẻ duyên dáng, dễ coi cùa cô bé Chổi Rơm: “vào loại xinh xắn nhất”, đến vẻ ưa nhìn trong trang phục nhã nhặn, lịch sự của cô: “chiếc váy vàng óng và lời tán dương cái áo của Chổi Rơm: “trông cứ như là áo len vậy”. Bên cạnh đó, cái nết hay làm cũng được tác giả ca ngợi hết lời – cái nết “rất được việc”.
Thái độ tình cảm cùa tác giả còn được thể hiện ở lời văn như lời trò chuyện giữa những người thân: “chỉ quét nhà thôi, còn sân, vườn đã có chổi khác cứng hơn”. Và trên hết, đó là tình cảm quý mến, trân trọng của người sử dụng cây Chổi Rơm, cây chổi được nâng niu treo trên “chiếc đinh sau cánh cửa cho đỡ ám khói” để sau khi làm việc “Chổi Rơm được nằm yên ngủ một giấc ngon lành ”. Đây chính là cái tình của người với vật.
Bài luyện tập:
1.Phân đoạn bài văn trên và nêu nội dung chính của mỗi đoạn? Những câu nằm ở đầu mỗi đoạn văn có vai trò gì trong mỗi đoạn và trong cả bài?
2.Viết một đoạn văn tả hình dáng một đồ vật trong nhà mà em yêu thích.
Xem thêm: Kể lại một kỉ niệm giữa em với bạn thân | Những bài văn tả đồ vật lớp 5 hay nhất | 2,162 | |
Những con người thông thái thực sự cũng tựa như những bông lúa: khi còn lép, chúng vươn cao đầu lên đẩy kiêu ngạo; nhưng khi hạt đã đầy và chắc, chúng bắt đầu khiêm nhường cúi đầu xuống
Hướng dẫn
Tham khảo cách triển khai ý như sau:
– Giải thích:
+ "Khi còn lép": khi còn trẻ, còn ít kinh nghiệm thì "vươn cao đầu lên đầy kiêu ngạo", ở lứa tuổi này, con người thường tự tin, nhiệt tình và quyết tâm; nhưng điểm yếu của họ thường là sự nông nổi, bồng bột, thiếu chín chắn.
+ "Khi hạt đã đầy và chắc": khi đã chín chắn, trưởng thành thì "bắt đầu khiêm nhường cúi đầu xuống". Đây là thời điểm con người có thể đạt đến độ chín chắn về mọi phương diện, khả năng, đặc biệt là nhận thức và đánh giá, giúp họ có thể đánh giá chính xác về người khác và bản thân mình. Họ sẽ "khiêm nhường cúi đầu xuống" vì thấy những gì mình biết chỉ rất hữu hạn.
Như vậy, theo câu danh ngôn, những người hiểu biết là những người theo thời gian, cùng với việc mở rộng hiểu biết, sẽ trưởng thành hơn, từ đó có ý thức sâu sắc hơn về bản thân mình, biết mình, biết người và có những nhận định chính xác hơn về mình và người khác.
– Bàn luận, đánh giá:
+ Con người càng lớn lên, càng có nhiều kinh nghiệm sống thì càng hiểu người và hiểu mình hơn. Đó cũng là biểu hiện của sự trưởng thành, của sự "thông thái" ở mỗi người.
+ Có niềm tin và tự tin là cần thiết nhưng tự tin thái quá sẽ thành tự cao, tự đại, kiêu căng, hợm hĩnh, nhất là khi còn trẻ tuổi.
+ Hiểu mình, hiểu người sẽ giúp ta có cách ứng xử đúng đắn, không bị rơi vào những tình thế khó xử hoặc làm trò cười cho người khác khi không biết mình là ai. Đúng như Tuân/Tử từng nói: "Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng".
+ Tuy nhiên, biết mình, biết người là để cố gắng phấn đấu vươn lên chứ không phải là để thoái chí, rút lui, buông xuôi, cam phận; khiêm tốn chứ không nên mặc cảm, tự ti.
Nguồn: thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong chương "Đất Nước" (trích trường ca "Mặt đường khát vọng") của Nguyễn Khoa Điềm: "Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu (...) Những cuộc đời đã hóa núi sông ta " | Những con người thông thái thực sự cũng tựa như những bông lúa_ khi còn lép, chúng vươn cao đầu lên đẩy kiêu ngạo_ nhưng khi hạt đã đầy và chắc, chúng bắt đầu khiêm nhường cúi đầu xuống | 428 | |
Những cảm nghĩ của anh (chị) về gương mặt người anh hùng thời kì đổi mới qua đoạn văn sau đây: “Nổi bật… ông sẵn sàng.”…
Gợi ý
Đề bài:
Những cảm nghĩ của anh (chị) về gương mặt người anh hùng thời kì đổi mới qua đoạn văn sau đây:
“Nổi bật trong những gương mặt của chương trình "Vinh quang Việt Nam’’ là chín người trong gia đình ông Nguyễn Phước Bửu Thanh đã hơn 130 lần tự nguyện hiến 32.000 CC máu để cứu sống hàng trăm người. Hiện nay, gia đình ông đã trở thành “ngân hàng máu sống” của Bệnh viện Trung ương Huế. cả nhà ông có cả ba nhóm máu A, B, O, khi có ai cần tiếp máu chỉ cần gọi điệu là gia đình ông sẵn sàng."…
(Theo
Bài làm:
Đất nước Việt Nam đi qua biết bao đau thương, mất mát, biết bao nhiêu người đã đánh đổi sự sống, tuổi thanh xuân của mình để giành lấy độc lập cho dân tộc. Họ là những người anh hùng. Ngày nay, đất nước đã hoà bình, thế nhưng vẫn còn nhiều lắm những người anh hùng trong thời kì đổi mới. Họ xuất sắc ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thế nhưng đều có công sức to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thời xa xưa, người anh hùng có thể là người "Ra đường thấy nỗi bất bình mà tha" hay trong thời kỳ chiến tranh, kháng chiến chông quân xâm lược, anh hùng là những người "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" thì trong thời đại ngày nay, người anh hùng là những người sẵn sàng tay không lao lên đuổi theo tên cướp có vũ khí, là người sẵn sàng đứng lên tố cáo những biểu hiện sai trái của lãnh đạo, là ngưới sẵn sàng chia sẻ cho những người nghèo khổ hơn mình miếng cơm, manh áo…Những hành động của họ dù nhỏ hay lớn đều là vì cộng đồng, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn. Quan niệm về người anh hùng xưa và nay có thể khác nhau thế nhưng dù ỡ bất kì thời đại nào, người anh hùng cũng luôn sống mãi trong lòng những người yêu thương họ.
"Vinh quang Việt Nam" là một chương trình được tổ chức hàng năm nhằm tôn vinh các tập thể, cá nhân anh hùng, những gương điển hình tiên tiến, những nhân tố mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua 5 năm, "Vinh quang Việt Nam" đã trở thành một thương hiệu, một niềm tự hào của người Việt Nam nói chung, góp phần tạo nên không khí phấn khởi, niềm lạc quan tin tưởng vào vận hội phát triển mới của đất nước. Việt Nam có nhiều lắm những anh hùng trong thời kì đổi mới. Võ Văn Kiệt – một trong những lãnh đạo hàng đầu đi tiên phong trên con đường đổi mới đất nước đã từng quan niệm "Đổi mới không phải là xóa bỏ hoăn toàn cái cũ hay từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà là nhận thức lại một cách đúng đắn hơn về một chủ nghĩa xã hội nhân bản, hoàn thiện, với lý tưởng phục vụ con người, vì con người”. “Vinh quang Việt Nam" lần thứ 10 đã cho ta thấy rõ được chân dung của những người anh hùng thời kì đổi mới – họ có những nỗi vất vả, khó khăn thế nhưng sự dũng cảm, quyết tâm vươn lên trong cuộc sống, đóng góp cho bản thân và cộng đồng thì thật đáng khâm phục.Xem thêm: Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng. Đó là chị Mai Hiền, vợ liệt sĩ anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Hữu Tuyên đã vượt qua đau thương, mất mát, chăm sóc gia đình và hai con nhỏ. Các em đều ngoan ngoãn, học giỏi, còn chị là giáo viên dạy giỏi nhiều năm liền.
Đó là Trịnh Công Thanh, hiệp sĩ công nghệ thông tin, giám đốc công ty Trách nhiệm hữu hạn Rồng Việt, người đã chiến thắng bệnh tật; mang lại việc làm cho nhiều người có hoàn cảnh khó khăn.
Đó là em Ngô Văn Thơm học sinh trường THPT Cửa Tùng, Vĩnh Linh, Quảng Trị đã dũng cảm nhảy xuống sống từ độ cao 30m để cứu người. Và đó là gia đình bác Nguyễn Phước Bửu Thanh – gia đình đã hơn 130 lần tự nguyện hiến 32000 cc máu cứu sống hàng trăm người. Hiện nay, gia đình ông đã trở thành "ngân hàng máu sống" của bệnh viện Trung ương Huế.
Gia đình bác Nguyễn Phước Bửu Thanh nằm trong xóm lao động, nghèo, khuất sau khu phố Trần Hưng Đạo – thành phố Huế. Không gian chật chột của gia đình với 20 người cùng chung sống, ông Nguyễn Phước Bửu Thanh có lần đã từng phân bua với báo chí "Ngó đông đúc rứa chứ vui lắm. Từ trên xuống dưới sống với nhau rất hoà thuận, mấy chục năm nay chưa có một tiếng to". "Ngân hàng máu sống" là tên của một dự án đã được Ban chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện tỉnh Thừa thiên Huế thành lập, hiện nay đã có hơn 400 người. Thế nhưng với gia đình bác Nguyễn Phước Bửu Thanh, tuy không có ai vận động nhưng từ lâu đã là một ngân hàng máu sống của bệnh viện bởi "bất kì ở mô, khi mô, có ai cần tiếp máu, chỉ cần đến số nhà 141 Trần Huy Liệu hoặc gọi theo số điện thoại 522380 là gia đình tôi sẵn sàng đáp ứng". Đã từng một lần bị bệnh, đã từng được tiếp nhận máu của một người bạn thân trong lúc nguy kịch nhất, bác Thanh hiểu được sự cần thiết của một "ngân hàng máu sống" với tính mạng của một con người, chính vì thế, sau khi hồi phục lại sức khoẻ được chừng một năm, bác Thanh quyết định vận động cả gia đình mình làm từ thiện, đi hiến máu cứu người. Những giọt máu ân tình trong lúc nguy kịch nhất, trong lúc số phận con người đang ở giữa ranh giới của sự sống và cấi chết đáng quí biết chừng nào.Xem thêm: Phân tích tình cảm và tâm trạng của tác giả thể hiện qua bài Bên kia sông Đuống
Con gái của bác Nguyễn Phước Bữu Thanh – Thanh Tâm – người con gái Huế nhỏ nhăn, dịu dàng cũng đã từng 43 lần hiến máu nhân đạo, cứu được tính mạng của nhiều người. Chị Thanh Tâm xuất hiện trong chương trình "Người đương thời" đã từng tâm sự "Gia dinh tôi theo đạo Phật, cứu một người bàng xây mười ngôi nhà. Tôi và mọi người trong nhà luôn tâm niệm rằng mình không có nhiều tiền bạc, chỉ có tấm lòng. Chúng tôi luôn sẵn sàng hiến những giọt máu của mình vì sự sống của người bệnh”. Cuộc sống gia đình chị còn nhiều khó khăn lắm, thế nhưng tình yêu thương con người, tấm lòng nhân đạo thì luôn luôn có thừa, họ không ngần ngại hiến đi những giọt máu của mình để cứu người bất cứ lúc nào, ở đâu. Họ cho mà không cần được đền đáp, chỉ mong những giọt máu của mình sẽ đến được với những người cần nó. Chính vì thế, một trong những gương mặt anh hùng của thời kì đổi mới là những người tự nguyện cho nhiều máu, nhiều lần để cứu sống nhiều người gặp nạn và bị bệnh.
Sau mười năm phát động phong trào hiến máu tình nguyện, từ con số không của năm 1993 – 1994 đến nay cả nước đã có 250000 người, 3.500 nhà lãnh đạo cộng đồng và nhiều đơn vị, tập thể đóng góp tích cực cho phong tràó. Năm 2007 số máu thu được là 457.734 đơn vị, tỉ lệ người hiến máu tự nguyện đạt trên 65%. Điều bất ngờ là hầu hết những người hiến máu tự nguyện đều là sinh viên, người lao động nghèo, người ở nông thôn, miền núi… Họ sẵn sàng hiấn đi những giọt máu của mình để cứu người bất cứ lúc nào. "Giọt máu mạng người" – niềm vui nhỏ thổi bùng hi vọng lớn.
Bên cạnh tấm gương người anh hùng thời đổi mới Nguyễn Phước Bửu Thanh và gia đình của bác, còn có rất nhiều những cá nhân, tập thể khác tham gia hiến máu nhân đạo. Họ cũng là những người anh hùng – âm thầm, lặng lẽ.
Đó là anh Hoàng Văn Quân – sinh viên năm thứ 3 Học viện báo chí tuyên truyền năm nay 22 tuổi nhưng đã có 22 lần hiến máu nhân đạo. Nốì tiếp những nghĩa cử cao đẹp của gia đình bác Bửu Thanh, anh Quân là chị Nguyễn Thị Thành Nhàn ở TPHCM đã 51 lần hiến máu, anh Trần Chí Trung ở Đà Nẵng 22 lần.
Ngoài những cá nhân, còn có các tổ chức được thành lập để hiến máu trong tình huông khẩn cấp như ngân hàng máu sống của bệnh viện cần Thơ. Số thành viên tham gia ngân hàng này tính đến nay đã được khoảng 600 người mà phần lớn là sinh viên. Họ đã trở thành người hùng của "ngân hàng máu sống" luôn kề vai sát cánh, cùng chia sẻ sự sống với cộng đồng. Trái tim nhỏ thắp lên hi vọng lớn, "ngân hàng máu sống" thành lập đã được một năm – một năm mong muốn chia sẻ những giọt máu hồng giúp người bệnh vượt qua cơn hiểm nghèo. Chị Nguyễn Thị Hồng Loan không giấu khỏi xúc động nói "mỗi thành viên tham dự đều tự nguyện kí tên vào một trái tim nhỏ, tượng trưng cho những giọt máu hồng để kết thành một trái tim lớn tượng trưng cho cộng đồng, như nhắc nhở tửng thành viên ngoài việc gắn kết với nhau cần phải sống có trách nhiệm với xã hội".
Tất cả, đã phác lên một bức tranh rất sinh động về những con rigười ở những địa vị khác nhau nhưng ngày đềm có biết bao nhiêu đóng góp và nghĩa cử cao đẹp cho đời. Đôi khi, không có sự khác biệt nào giữa những người anh hùng với chúng ta. Họ dù ở bất kỳ một cương vị nào, ở lĩnh vực nào thì những suy nghĩ, ý thức công dân của họ và một cái tâm trong sáng với nghị lực phi thường đã làm nên những điều diệu kỳ khiến chúng ta phải ngưỡng mộ và noi gương.Xem thêm: Viết một bài văn bản nghị luận trình bày ý kiến, quan điểm của anh (chị) về nét đặc sắc mà anh (chị) đã phát hiện từ một bài thơ (một thiên truyện, một kịch bản văn học) Song đáng buồn thay, khi bên cạnh những người anh hùng vẫn ngày đêm cố gắng đóng góp công sức của mình cho đất nước thì vẫn có một bộ phận không nhỏ những người dân vô cảm và thờ ơ với sự sống của người khác, với những người xung quanh. Cuộc sống ngày càng phát triển, con người ta càng có xu hựớng vun vến cho bản thân, gia đình nhiều hơn là quan tâm đến những người xung quanh, đến xã hội, vì thế đôi khi ta đã đánh mất đi tình thương – phẩm chất quý giá nhất của mỗi con người.
Cuộc đời cần lắm những trái tim biết yêu thương, những vòng tay nhân ái biết dang rộng để đón nhận những mảnh đời bất hạnh, những trái tim biết đập thổn thức trước cái đắng cay của cuộc đời. Những người anh hùng trong thời đổi mới, họ có trái tim ấm áp, có lòng nhân ái, yêu thương con người và tinh thần tràn đây nhiệt huyết. Cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng họ biết vượt lên trên hoàn cảnh để góp phần trong công cuộc xây dựng Tổ quốc. Những người anh hùng, những gương điển hình tiên tiến, họ có thể đang bước những bước đi bình dị của những người bình thường, họ gần gũi chúng ta, ở bên chúng ta. Họ chính là niềm tự hào của đất nước trong thời kì đổi mới, hội nhập.
Vanmau.edu.vn | Những cảm nghĩ của anh (chị) về gương mặt người anh hùng thời kì đổi mới qua đoạn văn sau đây_ “Nổi bật… ông sẵn sàng.”… | 2,093 | |
Những cảm nhận của em về bài “Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng” của Nguyễn Đăng Mạnh
Gợi ý
Ngay sau khi tác giả "Những ngày thơ ấu", “Bỉ vỏ”… qua đời, Nguyễn Đăng Mạnh đã viết bài "Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng” đăng trên báo Nhân dân số 10189, ra ngày 16-5-1982.
Có người cho rằng bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh là một điếu văn thương tiếc một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam vừa quá cố.
Tác giả không nói về tiểu sử mà chỉ nói về văn chương, con người và vị trí của Nguyên Hồng trong lịch sử văn học dân tộc.
Phần đầu, Nguyễn Đăng Mạnh nói về giá trị hiện thực và tinh thần nhân đạo trong tác phẩm Nguyên Hồng. Lời đánh giá vừa sâu sắc vừa chí tình: "Văn Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chứ đầu chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng. Một nhà văn bám riết lấy cuộc đời, quấn quýt lấy con người”. Cái tâm của Nguyên Hồng rất nồng hậu, ông luôn luôn đặt cái “tâm” nóng hổi của mình trên trang sách. Tác giả nhắc lại cái chết đau đớn của người đàn bà nông dân theo đạo Thiên Chúa được nói đến trong truyện ngắn Linh hồn, tác phẩm đầu tay của Nguyên Hồng đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy năm 1936 để chi rõ: Nguyên Hồng bước vào nghề văn là “để nói lên nỗi khổ đau oan ức không cùng của dân nghèo thấp cổ bé họng trong xã hội cũ, đặc biệt là người phụ nữ lao động”. Từ Bỉ vỏ đến Những ngày thơ ấu, từ Quán Nải đến của Cửa biển…, hình ảnh người đàn bà oan khổ, đau khổ theo đuổi, ám ảnh ngòi bút của ông.
Chủ nghĩa nhân đạo thấm đẫm trên trang văn Nguyên Hồng là “chủ nghĩa nhân đạo thống thiết", có lẽ vì thế mà ông "cứ đổ dồn dập lên đầu nhân vật của mình đủ thứ tai hoa trên đời". Là nhà văn cùng khổ, ông đã dành tất cả tình yêu thương, niềm tin mãnh liệt đối với "thiện căn" bền vừng của nhân dân lao động. Nguyên Đăng Mạnh đã thấu hiểu Nguyên Hồng, đã dành cho nhà văn Ngõ Cấm ngày xưa và những đứa con tinh thần của "cậu giáo "những lời tốt đẹp nhất: “từ vực thẳm tối tăm ngày trước, từ đống bùn rác ngập ngụa trong xã hội cũ, những Tám Bính, những mẹ La của tiểu thuyết Nguyên Hồng vẫn giữ chắc bản chất hổn hậu, trong sáng của mình mà vươn lên, như những mầm cây căng nhựa, xuyên thủng lớp lớp bùn đất dày đặc để nhô lên đón lấy ánh sáng mặt trời".Xem thêm: Kể về em gái họ của em Thật thú vị khi ta được nghe tác giả so sánh giữa Go-rơ-ki với Nguyên Hồng. Hai nhà văn của hai dân tộc Nga, Việt tuy "khác nhau về tầm cỡ” nhưng có những nét tương đồng. Cả hai "từng lăn lộn" với những con người "dưới đáy” xã hội cũ, cùng viết với một trái tim tha thiết yêu tin con người, cùng sớm giác ngộ lí tưởng cộng sản chủ nghĩa. Cả hai đều viết đủ thể loại, viết rất hay, rất cảm động về tầng lớp lưu manh, xây dựng hình tượng bà mẹ rất đẹp. Họ đều có tài viết về đám phu phen thợ thuyền… Đặc biệt "họ đều thuộc số những nhà văn dẫn đầu trong việc ca ngợi lao động, phát hiện ở lao dộng một đối tượng thẩm mỹ thật sự”. Phải có “con mắt tinh đời", và phải có một tấm lòng "tri âm",tác giả mới viết và so sánh tinh tế như vậy.
Văn Nguyên Hồng dào dạt chất lãng mạn, "đầy cảm xúc, đầy chất thơ”.. Không phải là chất thơ từ mây, gió, trăng, hoa, mà là chất thơ được “chế tạo”, được “luyện bằng than bụi nhà máy, những bến tàu, bằng sỏi đá những đồi khô cỏ cháy, hoà với chất mồ hôi mặn chát và nóng bóng của những người lao động".
Con người Nguyên Hồng, nhà văn Nguyên Hồng là “một tấm gương rất đẹp về sự gắn bó chặt chẽ giữa nghệ thuật và lao động", “sinh ra từ môi trường lao động, tự rèn đúc thành chất người lao động, vì nhân dân lao động mà cặm cụi viết không nhừng, không nghỉ, cho đến hơi thở cuối cùng". Lời bình luận vừa sâu sắc vừa chí tình. Xem thêm: Phân tích bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu và nói lên cảm nghĩ của em Nguyễn Đăng Mạnh nhắc lại lời khen của Nguyễn Tuân về cái tài tả nắng của Nguyên Hồng, rồi ông chấm phá: "một thứ nắng vùng cửa biển có sức sống, có linh hồn,… như reo lên, hát lên hoà với nhịp sống tưng bừng, náo nhiệt của thành phố Hải Phòng rực rỡ màu phượng vĩ”. Tâm hồn của Nguyên Hồng “đấy ánh sáng, đầy ánh nắng"; “mọi cảnh vật ông miêu tả đều tươi tốt, nở nang, màu mỡ, tràn đầy sức sống"… Tác giả nhắc lại khoảnh khắc “hơi thở tàn” của ông già nghèo khổ nơi nhà thương làm phúc, rồi trích câu văn của Nguyên Hồng: "Ánh nắng lại đón chào ông. Ánh nắng vàng ngời như lửa đốt của sáng mùa hè lúc đó gió còn mát dịu, thổi chờn vờn những lá cây, lá cỏ lấp lánh sương”. Đủng là thứ “ánh nắng có sức xua tan cả âm khí, tử khí trên những xác chết". Thứ ánh nắng ấy đã tạo nên chủ nghĩa lạc quan trong văn nghiệp Nguyên Hồng.
Nguyễn Đăng Mạnh đã chỉ ra những nguyên nhân và nguồn gốc sâu xa tạo nên một chủ nghĩa lạc quan vững khoẻ của Nguyên Hồng: "Đó là lí tưởng cách mạng mà nhà văn đã tiếp thu được ngay từ thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương…Đó là bản tính yêu đời, yêu sống của nhân dân lao động đã thấm vào máu thịt, tâm hồn ông. Đó là sức mạnh tinh thần của một con người bao giờ cũng sống hết mình vì cuộc sống, với mọi người, mọi việc xung quanh".
Phần tiếp theo, Nguyên Đăng Mạnh đánh giá sự nghiệp văn chương của Nguyên Hồng. Nguyên Hồng đã sống 64 năm trên cõi đời (1918-1982) đã có 46 năm bền bỉ liên tục sáng tác (1936-1982), cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng “chưa hề có dấu hiệu gì vơi cạn; tập hai tiểu thuyết lịch sử "Núi rừng Yên Thế” còn chưa “ráo mực". Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng đi ẩu- Văn 12 Nguyên Hồng "không có những kiệt tác hoàn chỉnh nhưng có những trang viết gọi là kiệt tác". Tác giả nhắc đến cảnh mẹ La vượt ngục, cảnh Huệ Chi bước dần tới cái chết với những kỉ niệm đầy chất thơ của tình mẫu tử, tình quê hương…; nhắc đến những quỷ sứ như Tây Cậu, Nguyễn Kim Tú để khẳng định: “Nguyên Hồng thường tạo nên sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thiên đường và địa ngục".
Xuân Diệu đã có lần nói, Nguyên Hồng có năng khiếu của một nhà văn lớn. Nguyễn Đăng Mạnh ca ngợi: "Đối với lịch sử văn học nước ta năm mươi năm qua. Nguyên Hồng có một vị trí chắc chắn lắm, bền vững lắm”. Quá trình sáng tác của Nguyên Hồng "không có lúc nào xuống tay hẳn”.
Phần cuối bài văn, tác giả nói về chuyện Nguyên Hồng “rất dễ xúc động, rất dễ khóc". Nhiều nhà văn đã nói về chuyện này. Hai câu hỏi thật sự gợi cho người đọc bao suy nghĩ và cảm xúc:
“Nguyên Hồng đã sống hơn sáu mươi năm, đã viết hơn bốn mươi năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt cho đời và cho nghệ thuật?. Bây giờ nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy, liệu có bao giờ khô cạn được không?”
Ở nước ta, đã có nhiều người viết chân dung văn học. Nhưng phần lớn những bài viết đó đều nhạt và mờ, thậm chí có bài rất vô duyên. Bài “Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng" của Nguyễn Đăng Mạnh là một áng văn mang vẻ đẹp hoàn hảo. Sự đánh giá, bình luận sắc sảo, chí lí, chí tình. Một cách viết đằm thắm, chặt chẽ. Ngôn từ trang trọng. Trang trải trên trang văn là cả một tấm lòng “thương tiếc" mà tác giả đã gửi gắm ở đầu nhan đề. Nén tâm hương Nguyễn Đăng Mạnh thắp lên chắc sẽ làm cho hương hồn Nguyên Hồng rơi lệ!
Vanmau.edu.vn | Những cảm nhận của em về bài “Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng” của Nguyễn Đăng Mạnh | 1,478 | |
Những giá trị nhân bản cao đẹp của Bài ca chàng Đăm Săn
Hướng dẫn
Thời gian của anh hùng ca là "quá khứ tuyệt đối” (Goethe). Một quá khứ tách biệt với thời gian hiện tại (của người kể và người nghe anh hùng ca). Một quá khứ dường như bất cập đối với họ thuộc một bình diện khác với bình diện cuộc sống hiện tại của họ. Thời gian trong "Bài ca chàng Đăm Săn ” mang tính chu trình khép kín. Bài ca mở đầu bằng hai chị em Hơ Nhị, Hơ Bhị đi hỏi và cưới Đăm Săn và kết thúc cũng bằng việc hai chị em đi hỏi và cưới cháu Đăm Săn (cũng chính là Đăm Săn đầu thai làm con trai của chị mình). Bố cục này đồng thời khẳng định tính chất vĩnh cửucủa tập tục “nối dây”. Tuy nhiên, đây là sự vĩnh cửu “hạn chế”.
Nhân vật trung tâm của anh hùng ca bao giờ cũng là một con người "hoàn tất ” (với ý nghĩa, ở các mặt đều có phẩm giá cao nhất, tuyệt đối) và "toàn vẹn ”, với ý nghĩa như đã được nhà bác học Liên Xô Bakhtin nêu lên “giữa bản chất thật của nó và sự hiểu hiện bên ngoài của nó không có mảy may sự khác hiệt”, “quan điểm của nó về bản thân nó trùng hợp hoàn toàn với quan điểm của những người khác vềnó ”…
Đăm Săn là một nhân vật anh hùng ca, là con người của sự hoàn thiện, hoàn mĩ. Phẩm giá đó thể hiện ở tất cả các mặt – sức mạnh cũng như tài năng, đạo đức cũng như ngoại hình – đều tương xứng với địa vị hiếm quý của một tù trưởng giàu mạnh.
Đăm Săn có sức mạnh phi thường. Đăm Săn tài giỏi trong hoạt động “anh hùng quân sự” (đánh thắng Mtao Crứ, Mtao Mxây, những tù trưởng gian hùng), cũng như trong hoạt động “anh hùng văn hóa” (dạy cho dân làng làm rẫy đốn cây…), ngay trong trò chơi, Đăm Săn cũng xuất sắc hơn người (trò đẩy nhau trên thanh gỗ ở chương hai). Đăm Săn lại đẹp – từ trang phục đến dáng điệu, từ thân hình đến tướng mạo – ngoại hình của Đăm Săn là hiện thân của sự hoàn mĩ.
Lòng dũng cảm – phẩm chất đạo đức cốt yếu nhất của người anh hùng trong anh hùng ca – ở Đăm Săn có tính chất tuyệt đối. “Đăm Săn hùng cường ngay từ trong lòngmẹ” (tr.65). Và trong suốt cuộc đời của nhân vật, phẩm chất hùng dũng bộc lộ trong mọi tình thế: dẫu là lùng bắt voi dữ (ch.2) hay đốn chặt cây thần (ch.5), dẫu là giao tranh với kẻ địch gian hùng hay sấn sổ tấn công Trời. Và đến tình tiết cuối cùng – chuyến đi bắt Nữ thần Mặt Tròi – phẩm chất này bộc lộ mạnh mẽ và sáng ngời hơn bao giờ hết. Trong những tình tiết trước, Đăm Săn lao vào hành động không có ý thức về sự hiểm nghèo của tình thế. Lần này Đam Pắc Quâyđã chí tình can ngăn Đăm Săn: bao chông bẫy hùm beo trên đường đicái chết là cầm chắc… bao tù trưởng khoẻ mạnh và cương quyết đã chết chỗ ấy… Nhưng Đăm Săn vẫn quyết tâm "đi tới nơi mình muốn”.Đến lúc bị Nữ thần Mặt Trời từ chối, Đăm Săn lên ngựa và trở về làng cũ, bất chấp sự ngăn giữ của Nữ thần: “Tôi khôngcần chết hay sống. Tôi muốn đi ngay” (tr.82). Sau đó chúng ta biết cái chết của người anh hùng. Lòng dũng cảm của Đăm Săn là một phẩm chất tuyệt đối.
“Giữa bản chất thật” của Đăm Săn “là sự biểu hiện bên ngoài của nó không cố mảy may sự khác biệt”. Đây là bằng chứng của đức tính ngay thẳng mà sự biểu hiện trong hành vị nhân vật càng phổ biến thì tính cách anh hùng ca của nó càng hồn nhiên, trong sáng. Đăm Săn ngay thẳng trong mọi tình huống, ngay cả khi người đọc hiện đại không khỏi ngạc nhiên – lẽ ra nên che đậy ý nghĩ thật của mình (chẳng hạn khi từ biệt Hơ Nhị) để đi bắt Nữ thần Mặt Trời. Đăm Săn ngay thẳng trong mọi quan hệ với nhưng con người trần thế cũng như đối với thần linh. Mặc dầu không có những phép thần thông và năng lực mầu nhiệm, bằng sự ngay thẳng của mình, Đăm Săn – về mặt nhân cách – sánh ngang với Trời và Nữ thần Mặt Trời. Ngay đối với kẻ thù Đăm Săn không muốn dùng thủ đoạn tầm thường: “tao không thèm đấu mày trước lúc mày xuống” (xem trang 46,60).
Mtao Mxây – địch thủ của Đăm Săn – cũng là tù trưởng giàu mạnh, võ thuật không kém phần cao cường, tướng mạo không kém phần oai hùng (lông chân dày…, lông mày sắc…, con mắt sáng ngời). Nhưng nhân cách của y thấp hẳn so với người anh hùng của bài ca. Đăm Săn công khai đi bắt Nữ thần Mặt Trời, còn Mtao Mxây phải dùng mẹo lừa (giả vờ bỏ quên gươm) để bắt cô Hơ Nhị. Trong toàn bộ hành vi của Đăm Săn không hề có dụng ý gian xảo lừa lọc.
“Quan điểm ” của Đăm Săn “về bản thân nó trùnghợp hoàn toàn với quan điểm của những người khác về nó”. Đăm Săn hoàn toàn có ý thức về những phẩm giá chân chính và uy tín rộng lớn của mình.
“Khắp nơi, từ người Ê-đê vùng sông lớn, đến người Mơ-nông vùng hạ lưu, từ tây sang đông, kẻ nào cả gan dám nói Đăm Săn này không phải là một tù trưởng đầu mang khăn kép vai mangtúi da? ”(tr.78). Và khắp nơi mãi tận cùng xa xôi “giữa đông và tây”, ai ai cũng biết và nhìn nhận danh tiếng của Đăm Săn. “Và người ta bàn tán không cùng, bàn rằng Đăm Săn quả thật là một tù trưởng oanh liệt, dũng cảm hùng cường… ” (tr.65). "… Đến thần linh cũng đều biết tiếng Đăm Săn. Núi rừng cũng đều biết tiếng… ” (tr.52). Phù hợp với kết cấu hình tượng nhân vật anh hùng ca, tiếng tăm của Đăm Săn là một bộ phận cốt yếu của hình tượng nhân vật. Trong “Bài ca” sự thống nhất giữa người anh hùng và cộng đồng – một nét không thể thiếu được ở nhân vật anh hùng ca – chẳng những được biểu hiện qua sự miêu tả những hành động và chiến công tập thể (dẫu là đi đánh giặc hay là đi làm rẫy, Đăm Săn hô hào là mọi người hưởng ứng, đốn cây Thần, Đăm Săn cùng làm với tôi tớ, cùng “uống rượu ăn thịt” với họ…) mà còn được khẳng định một cách tuyệt đối ở dư luận quần chúng: mọi người đều một lòng và hết lời ca ngợi Đăm Săn.
Trong tác phẩm, mô tip tiếng chiêng cứ lắp đi lắp lại, xuyên suốt bài ca. Điều này không chỉ phản ánh một đặc điểm sinh hoạt dân tộc. Nó còn có một chức năng nghệ thuật độc đáo. Tiếng tăm của người anh hùng vang lừng khắp nơi cùng với tiếng chiêng “…Đánh những chiêng kêu vang khắp xứ! Đánh cho tiếng chiêng vượt qua mái nhà lên tận trời!… cho tất cả chỉ còn lắng nghe tiếng chiêng cuả Hơ Nhị vàĐăm Săn Cùng với tiếng chiêng, thanh thế và danh tiếng của Đăm Săn vang dội núi sông, tràn ngập đất trời, hình tượng của người anh hùng rộng lớn đến khôn cùng.
Xem thêm: Nói về quê hương em, một thành phố lớn sầm uấtĐăm Săn còn là một nhân cách toàn vẹn vì cương vị tù trưởng, ở đó không chỉ là “vai trò xã hội ”, chưa tách ra thành “con người bên ngòai ” mà hoạt động tù trưởng của nó phát huy toàn bộ nhân cách của nó. Ngay trong việc đi bắt Nữ thần Mặt trời – trong tiềm thức là sự thực hiện ước mơ, ''người đẹp ” của người đàn ông – Đăm Săn cũng hành động với danh nghĩa tù trưởng, Đăm Săn không chỉ nhân danh tù trưởng để trị vì, để ra lệnh và sai bảo, Đâm Săn cùng đốn cây làm rẫy với dân làng, tự tay mình sửa chòi, làm nhà cửa… Đăm Săn không phải là dân làng, Đăm Săn không phải là người thủ lĩnh chỉ biết hô hào. Giáp công kẻ thù, khi các tù trưởng khác chùn bước, Đăm Săn là người xông lên trước tiên phá rào.
Bố cục và kết thúc tác phẩm khẳng định cảm hứng phục tùng và phù hợp với tập tục "nối dây”. Nhưng xét sự vận động của toàn bộ nội dung "Bài ca” thì trong tác phẩm còn có một cảm hứng khác quan trọng hơn: cảm hứng “hoạt động có tính tự do”.
Những nhân vật đại diện cho loại cảm hứng thứ nhất là Trời và Hơ Nhị (có thể bỏ qua nhân vật Bhị thực ra chỉ là cái bóng của chị). Trời là người phù trợ tập tục “nối dây”. Bốn lần trời xuất hiện trong tác phẩm đều có liên quan đến sự thi hành tập tục (mách cho Hơ Nhị trực tiếp đến nhà Đăm Săn đi hỏi, ép Đăm Săn nghiêm chỉnh phục tùng tập tục, cứu nguy cho Đăm Săn, người chồng “nối dây” của Hơ Nhị, cứu sống cho Hơ Nhị, người vợ của Đăm Săn theo tập tục), thì cả hai lần đều hăm hở nhân danh tập tục đi hỏi chồng. Đặc biệt sự cam kết “nối dây” được Hơ Nhị chọn một người khác, ngoài người phải lấy mình theo tập tục (trong khi ấy Đăm Săn một mực không chịu theo tập tục vì so sánh, thấy người yêu của mình đẹp hơn Hơ Nhị). Hình tượng của hai nhân vật hiện thân cho cảm hứng phục tùng và phù trợ tập tục đã được miêu tả như thế nào? Trời xuất hiện trong tác phẩm không có bóng dáng, hình hài rõ rệt, với ba chi tiết sơ sài (chống gậy hèo, cầm ống điếu…), lời nói nghèo nàn. Trong khi ấy Nữ thần Mặt Trời, một nhân vật thần linh khác, lại được miêu tả huy hoàng, lộng lẫy, cử chi và lời nói hết mực cao sang. Nữ thần Mặt Trời xuất hiện và hình ảnh của Trời hoàn toàn bị lu mờ. Hơ Nhị trước sau cũng là vợ của Đăm Săn, do đó, không thể không có nhan sắc tương xứng. Tuy nhiên Hơ Nhị không phải là người đẹp nhất (và trong anh hùng ca như chúng ta biết, chỉ những phẩm giá tuyệt đối mới có ý nghĩa hệ trọng). Ngoài ra hình tượng của Hơ Nhị có những vệt hoen ố. Trên đường đi hỏi chồng, Hơ Nhị lăng nhăng với gã bán chiêng. Hơ Nhị còn bị dân làng Đăm Săn chế nhạo, chê cười, “như một con tồi tàn ”! Hai chi tiết này đã hạ thấp hẳn nhân vật Hơ Nhị, mặc dù nhan sắc của Hơ Nhị được tô vẽ một cách "hợp chuẩn”.Tóm lại, hình tượng của hai nhân vật Trời – Hơ Nhị chẳng tương xứng với chức năng “hệ- trọng” của họ là bảo vệ tập tục cổ truyền thiêng liêng. Trong tác phẩm, nhân vật Đăm Săn cũng vẫn phải tuân theo tập tục “nối dây”. Nhưng cảm hứng sôi liệt của nhân vật này chính lại là ở tinh thần chống đối tập tục, Đăm Săn phục tùng tập tục là do "sự can thiệp” của Trời. Còn phần phản kháng của Đăm Săn lại bắt nguồn từ một tình cảm hết sức thực tại và “trần gian”: Hơbia, người yêu của Đăm Săn trẻ hơn và đẹp hơn Hơ Nhị nhiều.
Trong bài ca, Đăm Săn là sự hiện thân của cảm hứng “hoạt động có tính tự do” (với tên gọi ước lệ này, chúng tôi muốn nói đến loại hoạt động chủ động, ởngoài sự chi phối của tập tạc và những quyền uy siêu hình khác, nảy sinh từ ý muốn thực tại của con người từ nhu cầu thực hiện và phát triển nhân cách một cách hợp luật). Chính cảm hứng hoạt động này bộc lộ ở Đăm Săn một nhân cách toàn vẹn và hết sức phong phú: Đăm Săn vừa là "anh hùng quân sự” vừa là “anh hùng văn hoá", là một người tình thắm thiết và một người chồng tình nghĩa, là một tù trưởng giỏi giang, đồng thời, là một người lao động cần mẫn, một người chỉ huy có uy tín và một chiến sĩ gan dạ… Cũng chính cảm hứng hoạt động này bộc lộ ở Đăm Săn những phẩm chất làm người cao quýnhất: khí phách anh hùng, ý thức nghĩa vụ, tinh thần cộng đồng, lòng dũng cảm, tính ngay thẳng… Các giá trị nhân đạo cơ bản của “Bài ca ” đều bắt nguồn từ cảm hứng này: Trong tác phẩm, tập tục "nối dây" không chỉ là luật tối cao được Trời phù trợ, nó còn là một áp lực mù quáng đè nến cá tính con người. Đối lập với sức mạnh mù quáng này là sức bật của cá tính tự do tạo nên những chiến công và hành trang hiển hách, trong tác phẩm được miêu tả thành những cảnh hào hùng, sôi động khí thế chiến đấu; giao tranh với kẻ thù, chặt đốn “cây Thần ”, tấn công Trời, giáp mặt Nữ thần Mặt trời… Sức bật của cá tính tự do được kết tinh ở ý chí nhất quán và mãnh liệt của Đăm Săn: “Tôi sẽ đi tới nơi tôi muốn”.Câu nói này vang lên như một niềm tự hào của con người, như một lời thách thức với thần quyền, với “những kẻ thù bốn chân và hai chân” với tất cả những gì gâytrở ngại cho con người trên đường tự giải phóng. Không thểhiểu câu nói như lời tuyên ngôn của ý chí riêng của nhân vật. Cái “tôi” của Đăm Săn đồng nhất với cái “ta” của cộng đồng thị tộc. Chính đây là ngọn nguồn của sức mạnh phi thường và tài năng lỗi lạc, của nhân cách phong phú và khí phách anh hùng, của lòng nhân ái và ý chí kiên cường của Đăm Săn – người anh hùng cổ đại của dân tộc Eđê.
Về mặt nội dung tư tưởng, "Bài ca chàng Đăm Săn ” cũng có những nét loại hình chung với anh hùng ca Việt mà hai chủ đề nổi bật như đã được nhà nghiên cứu văn học dân gian Cao Huy Đỉnh xác định là: "Chinh phục thiên nhiên để khai sáng văn hoá và chiến đấu chốngngoại xâm, để bảo vệ bộ tộc và địa vực cư trú
Phải chăng tư tưởng về sức bật của cá tính tự do chọi lại áp lực, mù quáng của tập tục là nét độc đáo quý giá của các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời cũng là những giá trị tinh thần không thể thiếu được trong nhân cách con người mới Việt Nam. Văn hoá nhân bản các dân tộc chịu ảnh hưởng văn minh Hi-La không thể thiếu được I-li-át, Ô-đi-xê, văn hoá nhân bản Việt Nam không thể thiếu được "Bài ca chàng Đăm Săn”
Nguồn: thêm: Nhà thơ Xuân Diệu viết: "Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam". Hãy làm sáng tỏ nhận định trên bằng việc phân tích ba bài thơ thu của ông | Những giá trị nhân bản cao đẹp của Bài ca chàng Đăm Săn | 2,660 | |
Những hiểu biết của em về tục ngữ Việt Nam
Hướng dẫn
1. Những câu tục ngữ sau đây, câu nào không có vần hoặc không có vế đối?
A. Nói ngọt lọt đến xương.
B. Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe,
C. Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
D. Chớp đông nhay nháy, gà gáythì mưa.
E.Tốt gỗhơn tốt nước sơn.
2. Những câu tục ngữ, bài ca dao nào sau đây không diễn đạt bằng thơ lục bát?
A. Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn.
B. Bắc Cạn có suối đãi vàng,
Có hồ Ba Bể, có nàngáo xanh.
C. Cầu này cầu ái cầu ân,
Một trăm cô gái rửa chân cầu này.
D. Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm.
E. Ra đi vừa gặp bạn hiền,
Cũng bằng ăn quả đào tiên trên dời.
3. Hãy sắp xếp lại thành 2 nhóm: tục ngữ về lao động sản xuất, tục ngữ về đạo đức và kinh nghiệm sống theo bảng dưới đây:
1. Ăn vóc học hay.
2. Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng.
3. Có chí thì nên.
4. Khoai ưa ruộng lạ, mạ ưa ruộng quen.
5. Chị ngã em nâng.
6. Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.
7. Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
8. Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau.
9. Học ăn, học nói, học gói, học mở.
10. Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ.
Tục ngữ
Câu
Về lao động sản xuất
Về đạo đức, kinh nghiệm sống
Nguồn: thêm: Cảm nghĩ về người thân yêu nhất của anh chị! | Những hiểu biết của em về tục ngữ Việt Nam | 256 | |
Những hiểu biết cuả em về tục ngữ
Hướng dẫn
1. Hãy điền vào chỗ trống những từ ngữ hoặc khái niệm đúng và thích hợp:
a. Những bài hát dân gian phần lớn bằng thơ lục bát phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động, thể hiện ước mơ, tâm tư, tình cảm của họ thì gọi là…
b. Những câu nói ngắn gọn lưu truyền trong dân gian, thường có vần, có đối nhằm đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cúa nhân dân về tự nhiên, xã hội và con người thì gọi là…
2. Bằng trí nhớ hãy chép lại đúng, đẹp bốn bài ca dao mà em thuộc nói về tình cảm gia đình, công việc nhà nông, tình yêu đôi lứa, châm biếm.
a. Bài ca dao về tình cảm gia đình:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòngthờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
b. Một bài ca dao nói về công việc nhà nông:
Lao xao gà gáy rạngngày,
Vai vác cái cày, tay dắt con trâu.
Bước chân xuống cánh đồngsâu,
Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày.
Ai ơi, bưng bát cơm đầy,
Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?
c. Một bài ca dao về tình yêu đôi lứa:
Trên trời có dám mây xanh,
Ởgiữa mây trắng, xung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Thời anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc, rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Có rửa thì rửa chân tay,
Đừngrửa lôngmày chết cá ao anh!
d. Một bài ca dao châm biếm:
Lỗ mũi mười tám cánh lông,
Chồng yêu chồngbảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu chồngbảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo vềnhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùngrơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
Nguồn: thêm: Hãy kể lại một câu chuyện đã đọc (hay đã nghe) có nội dung liên quan đến việc bảo vệ môi trường | Những hiểu biết của em về tục ngữ | 331 | |
Những khám phá riêng của mỗi bài thơ về đất nước quê hương
Hướng dẫn
Những khám phá riêng về quê hương đất nước:
1. Khám phá của Nguyễn Đình Thi
a) Hình ảnh đất nước qua mùa thu của đất nước hai thời điểm lịch sử khác nhau:
– Mùa thu xưa: đẹp, buồn
– Mùa thu nay: đẹp, vui
b) Đất ước hào hùng trong chiến đấu:
– Truyền thống bất khuất của ông cha
– Căm thù giặc, chiến đấu dũng cảm
c) Đất nước vinh quang trong chiến thắng
– Cảm xúc thăng hoa trong lí trí
– Hình ảnh thơ chắt lọc từ cuộc sống chiến đấu
2. Khám phá của Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Khoa Điềm tự hào, ngợi ca đất nước và đau thương, bất khuất, anh hùng trong chiến thắng chống Pháp.
– Đất nước bắt đầu từ những gì gần gũi nhất, thân thiết nhất và bình dị nhất trong đời sống vật chất và trong đời sống tâm linh của con người.
– Đất nước được cảm nhận từ phương diện địa lí, lịch sử thời gian và không gian
– Đất nước là nơi thống nhất các yếu tố lịch sử, văn hoá, phong tục.
– Từ sự cảm nhận dẫn đến một thái độ đầy trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Một sự cảm nhận riêng mang tầm thời đại: tư tưởng đất nước của nhân dân
Nguyễn Khoa Điềm thức tỉnh tuổi trẻ và mỗi người nhận biết về cội rễ và nguồn mạch chính của Đất nước, Khám phá truyền thống Đất nước của nhân dận.
– Cảm xúc lắng sâu trong nhận thức và trách nhiệm
– Hình ảnh thơ được khơi nguồn trong ca dao thần thoại.
3. Kết luận
– Nguyễn Khoa Điềm khai thác hình tượng đất nước từ góc nhìn văn hoá dân tộc. Nguyễn Đình Thi lại triển khai góc nhìn từ những năm tháng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
– Mục đích của Nguyễn Khoa Điềm là để khẳng định tư tưởng: đất nước là của nhân dân. Nguyễn Đình Thi tập trung bút lực để khẳng định tinh thần chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc.
Nguồn: thêm: Hãy kể lại một kỉ niệm đáng nhớ của em với người thân. | Những khám phá riêng của mỗi bài thơ về đất nước quê hương | 364 | |
Những ngày đầu xuân quê em tổ chức phong trào trồng cây nhớ ơn Bác Hồ. Em hãy tả lại buổi trồng cây ấy.
Hướng dẫn
Phong trào trồng cây đầu năm nhớ ơn Bác Hồ của làng đã được thực hiện từ nhiều năm nay. Hàng năm cứ một độ tết đến xuân về, vào mồng năm tết, làng em lại tổ chức trông cây. Năm nay cũng vậy, từ mờ sáng không khí náo nhiệt đã bao trùm khắp cả làng.
Trời se lạnh, mặt đất còn phủ hơi sương, cây cỏ hoa lá còn chưa thức dậy, tiếng trống, tiếng loa, tiếng gọi nhau í ới vang dậy cả xóm làng. Mọi vật bừng tỉnh. Từ các xóm ấp, mọi người, mọi phương tiện như xe đẩy, xe thồ, chở cuốc xẻng, cây xanh lục đục ra đình làng tập trung.
Ở đây, những băng cờ, khẩu hiệu đã được căng ra. Thanh thiếu niên trong xã đã tập hợp theo hàng ngũ chỉnh tề. Chủ tịch Ủy ban cùng đại diện Mặt trận Tổ quốc xã đã phát biểu nêu rõ ý nghĩa của tết trồng cây. Đây là việc làm thể hiện lòng biết ơn Bác Hồ, là nhiệm vụ cấp bách của mỗi người dân hiện nay trồng cây xanh, bảo vệ môi trường. Từ thành phố, đến nông thôn, ai cũng hiểu ý nghĩa và nhiệm vụ ấy. Phải làm cho quê hương mình giữ mãi một màu xanh.
Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng em tỏa đi những khu vực được giao. Hoài Anh nhanh nhảu, nhiệt tình và gương mẫu ra tay trước. Bạn cuốc liền một mạch để tạo hình cho hố cây thứ nhất. Thế là, cứ như vậy, cả lớp chia nhau cuốc đủ mười hố trồng cây.Xem thêm: Mình đã trở nên quen thuộc với nơi này rồi ư?
Vừa cuốc đất, các bạn còn vui vẻ trêu nhau. Có bạn còn hào hứng đọc bài ca vỡ đất. Đến lượt các bạn nữ nhanh tay tra phân bón lót cho cây.
Như đã qui định sẵn các khu vực trồng cây, từng lớp thanh niên, thiếu niên dưới sự hướng dẫn của ban chỉ đạo thôn đem những cây giống đến vị trí của mình để bắt đầu công việc. Mọi người ai cũng khẩn trương, không khí thật náo nhiệt. Ở đình thì trồng thêm một cây bàng. Dọc hai bên đường thì trồng xen những cây phi lao. Trong trường học lại trồng thêm những cây phượng vĩ. Đến nghĩa trang xã thì trồng hai hàng dương từ cổng đi vào.
Xung quanh tượng đài liệt sĩ, các bạn gái có nhiệm vụ trồng hoa. Những giống cây to nhỏ khác nhau, lần lượt được các anh trồng xong. Có anh quần vận đến đầu gối, có anh quần cộc, lưng trần, bất kể nặng nhọc bứng những gốc cây đã mục thay vào đó là một cây con xanh mơn mởn. Các cô, các chị ra bến gánh nước tưới vào hàng cây mới trồng. Ai cũng chăm chút, nâng niu từng cây một. Mỗi cây sau khi trồng lại được che chắn cẩn thận, để tránh nặng. Con đường đất đầy bụi, hai bên đường cỏ mọc chằng chịt giờ đây đã khác hẳn. Cỏ dại đã biến mất, mặt đường như rộng thêm ra. Cứ khoảng hai mét lại có một cây phi lao được trồng. Từ sân đình, đến Ủy ban xã, khuôn viên của trường nơi nào cũng sạch cỏ, cây xanh đã mọc lên. Những cây non yếu ớt phải che chắn kia chẳng bao lâu nữa sẽ bén rễ, đâm chồi, dần dần sẽ cao lớn thành những cây to.Xem thêm: Hãy kể lại một lần em làm việc tốt
Mới đó mà một năm đã đi qua, hàng cây mà làng em trồng đã tốt và xanh mướt. Thời gian trôi qua, hàng cây của làng đã trở thành một kỷ niệm không phai với mỗi người dân quê em. Bây giờ em đã hiểu rõ hơn lời dạy của Bác ngày xưa có ý nghĩa biết nhường nào.
Nguồn: | Những ngày đầu xuân quê em tổ chức phong trào trồng cây nhớ ơn Bác Hồ. Em hãy tả lại buổi trồng cây ấy. | 684 | |
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Hướng dẫn
1. Mở bài
– Giới thiệu về Nguyễn Khoa Điềm và đoạn trích Đất Nước (trường ca Mặt đường khái vọng).
– Nêu vấn đề: Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được thể hiện rõ nét và sâu sắc trong phần thứ hai của đoạn trích Đất Nước.
2. Thân bài
– Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong phần sau của đoạn trích Đất Nước đã được thể hiện một cách khá tập trung, sâu sắc qua hệ thống "lập luận" bằng kết cấu, hệ thống hình ảnh, suy tưởng của tác giả cũng như giọng điệu thơ.
+ Về nội dung cảm hứng: Có thể thấy rõ tác giả có ý thức xây dựng một hệ thống lập luận nhằm chứng minh cho tư tưởng Đất Nước của Nhân dân. Chẳng hạn: Hãy nhìn vào thiên nhiên sông núi để thấy đất nước do nhân dân hoá thân mà thành (Những người vợ nhớ chổng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu – Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái – Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại – Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương – Những con rồng nằm im góp dòhg sông xanh thẳm – Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên – Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh – Những người dân nào đã góp tên ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm – Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi – Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha – Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy – Những cuộc đời đã hoá núi sông ta…), nhìn vào lịch sử để thấy đất nước do nhân dân (cá'c anh hùng hữu danh và vô danh) bao đời nay gây dựng nên (Em ơi em -Hãy nhìn rất xa – Vào bốn nghìn năm Đất Nước…)', nhìn vào văn hoá (vật chất và tinh thần) để thấy đất nước do nhân dân sáng tạo, hun đúc nên (Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng – Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi – Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói -Họ gánh theo tên xã, tên là nọ trong mỗi chuyến di dân – Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái – Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm – Có nội thù thì vùng lên đánh bại -ĐểĐất Nước này là Đất Nước Nhân dân -Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại – Dạy anh biết "yêu em từ thuở trong nôi" – Biết quýcông cầm vàng những ngày lặn lội – Biết trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu).
Xem thêm: Suy nghĩ về hiện tượng “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”- Văn 12+ Về chất liệu nghệ thuật: Có thể thấy tác giả rất có ý thức và cũng rất khéo léo trong việc khai thác vốn văn hoá nghệ thuật của nhân dân: tục ngữ, ca dao, truyện cổ, tập quán dân gian, lời ăn tiếng nói của nhân dân,…
– Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong phần sau của đoạn trích Đất Nước là một phát hiện đồng thời là một đóng góp có giá trị của Nguyễn Khoa Điềm cả vềquan niệm và cách thể hiện. Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân là một nhận thức đã thấm sâu, chi phối mạnh mẽ mọi khía cạnh và làm nên một nét đặc trưng của cảm hứng về đất nước trong văn học Việt Nam hiện đại.
3. Kết bài
Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn trích.
Nguồn: | Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu | 663 | |
Những nét chính của trích đoạn Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)
Gợi ý
Người lái đò Sông Đà là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tuỳ bút của Nguyễn Tuân. Tác phẩm được viết tại Điện Biên từ tháng 10 – 1958 và hoàn thành tại Hà Nội vào tháng 4 – 1960. Tác phẩm được ra đời trong một bối cảnh lịch sử xã hội khá đặc biệt. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5 – 1954, Đảng ta tổ chức cuộc vận động văn nghệ sĩ đi thực tế, sống và lao động cùng nhân dân để tìm nguồn cảm hứng, để viết về nhưng vấn đề đang nóng hổi của cuộc sống. Nguyễn Tuân cùng đoàn văn nghệ sĩ đã đến Tây Bắc trong không khí ấy. vẫn tiếp tục tiếp cận đối tượng từ phương diện văn hóa thẩm mĩ, nhà văn đã phát hiện và ngợi ca chất vàng mười của tâm hồn. Người lái đò Sông Đà ca ngợi vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên Tây Bắc và tôn vinh vẻ đẹp của con người trong lao động. Tác phẩm thể hiện một tư tưởng nhân văn: mỗi người lao động chân chính đều là nghệ sĩ trong công việc của mình.
Tác phẩm thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Đó là hình tượng người lái đò (ngoại hình và công việc): vẻ đẹp của con người trong lao động. Công việc lái đò tưởng chừng là một công việc rất bình thường nhưng với người lái đò trên sông Đà thì công việc đó là một nghệ thuật – nghệ thuật vượt thác, nó đòi hỏi ở con người lòng dũng cảm, sức mạnh và sự tào hoa (cuộc thuỷ chiến, nghệ thuật vượt thác, cuộc sống lúc thảnh thơi…). Đó là vẻ đẹp của thiên nhiên qua hình tượng sông Đà: sông Đà vừa mang vẻ đẹp trữ tình vừa vô cùng dữ dội, vừa đáng yêu vừa đáng sợ, vừa là cố nhân, vừa là kẻ thù hung bạo của con người Tây Bắc,…Xem thêm: Cảm nhận về mùa hè cuối cùng của tuổi áo trắng- Văn 12 Nghệ thuật trần thuật: giọng văn trần thuật có sự đan xen, kết hợp hài hoà giữa tự sự và trữ tình, giữa hiện thực và lãng mạn. Lối trần thuật sắc sảo, khả năng quan sát tỉ mỉ đã tạo nên nét độc đáo cho tác phẩm. Đặc biệt, trong đoạn trích, nhân vật tôi – giữ vãi trò người trần thuật dẫn dắt mạch trần thuật một cách tài tình.
Vanmau.edu.vn | Những nét chính của trích đoạn Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) | 437 | |
Những nét chính về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
Hướng dẫn
1. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của người chiến sĩ cách mạng khi mặt trời chân lý chói qua tim
Rất chính xác khi khẳng định Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng Việt Nam. Đề tài thơ Tố Hữu lấy cảm hứng từ những vấn đề chính trị của dân tộc, hoạt động cách mạng và tình cảm của tác giả gắn bó, thủy chung với cách mạng, nhân dân và với đất nước. Những con người, tậm sự, tư tưởng, tình cảm trong thơ ông đều được khám phá thông qua mối quan hệ mật thiệt với cuộc cách mạng của nhân dân, gắn với lí tưởng của Đảng, ân tình của nhân dân với cách mạng.
2. Thơ Tố Hữu đậm chất sử thi
– Từ lúc giác ngộ lí tưởng cách mạng, cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu bắt gặp lí tưởng lớn của Đảng, Tố Hữu trở thành một chiến sĩ cách mạng và lấy thơ làm vũ khí để tham gia của đấu tranh. Khi hòa vào với tầng lớp lao động trong xã hội, cái tôi chiến sĩ dần trở thành cái tôi công dân và cáng về sau cái tôi càng ra biển lớn hòa vào cái tôi nhân dân dân tộc.
– Trong mọi thời kì và hầu hết các bài thơ của ông, nhân vật trữ tình luôn xuất hiện với một hình tượng đẹp, kì vĩ và có tầm vóc lớn lao. Họ đại diện cho những con người thời đại mới, anh dũng, kiên trinh vì dân tộc và son sắt với cuộc cách mạng nhân dân. Không hiếm để bắt gặp trong thơ Tố Hữu hình tượng những người anh hùng như Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lí…Xem thêm: Sử thi Đăm Săn là bài ca về khát vọng sông, về người anh hùng và phụ nữ của dân tộc Ê-đê.– Trong thơ Tố Hữu có nhắc đến cá nhân nhưng cá nhân ấy là đại diện cho một cộng đồng hoặc hòa mình vào cộng đồng, hòa mình vào dân tộc. Cảm hứng thơ ông cũng không bắt nguồn từ cảm hứng thế sự, đời tư của bất cứ một cá nhân nào, cảm hứng thơ Tố Hữu là cảm hứng lớn lao của dân tộc, lịch sử gắn liền với vận mệnh của đất nước và sư mệnh của nhân dân.
3. Giọng điệu thơ Tố Hữu
Giọng điệu thơ Tố Hữu gắn liền với thể thơ lục bát truyền thống mang hơi hướng ca dao. Đó là giọng điệu tâm tình, lời động viê, cổ vũ, trò chuyện: Anh vệ quốc quân ơi!, Bạn đời ơi!, Xuân ơi xuân!…
4. Nghệ thuật thơ Tố Hữu
Thơ Tố Hữu gắn bó với thể thơ lục bát truyền thống, ông là một trong những nhà thơ thành công nhất sử dụng thơ lục bát. Tuy nhiên vần thơ của ông nhiều biến hóa, linh hoạt phù hợp để diễn đạt mọi cảm xúc.
Vận dụng ngôn ngữ và lời nói của nhân dân nhưng lại chứa đựng tinh thần thời đại.
Việc sử dụng từ láy, phối âm, nhịp điệu, vần điệu tạo nên tính nhạc trong thơ Tố Hữu, chứa đựng nhiều cảm xúc chân thành, tha thiết của tác giả. | Những nét chính về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu | 561 | |
Những năm gần đây, số lượng các bạn trẻ Việt Nam đi du học nước ngoài gia tăng một cách đáng kể. Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này.
Hướng dẫn
Trọng tâm cần bàn luận là quan niệm, thái độ đúng đắn đối với vấn đề du học của thanh niên hiện nay. Có thể tham khảo gợi ý sau:
– Giới thiệu chung về hiện tượng gia tăng số lượng HS Việt Nam đi du học nước ngoài trong những năm gần đây. Đây cũng là một hiện tượng cần được nhìn nhận, đánh giá một cách đúng đắn và toàn diện.
– Khái quát tình hình và quan niệm chung của xã hội về vấn để du học:
+ Trong những năm gần đây, số lượng HS Việt Nam đi du học nước ngoài tăng nhanh ởtất cả các bậc – từ trung học đến cao đẳng, đại học, sau đại học và với nhiều hình thức phong phú (hoặc tự túc, hoặc bằng học bổng của nhà nước, của các trường…).
+ Nhìn chung, dư luận xã hội Việt Nam đề cao chuyện du học, coi đó là cơ hội tốt cho các bạn trẻ.
– Bàn luận, mở rộng vấn đề:
+ Sự gia tăng số lượng du học sinh trước hết là một "tín hiệu" đáng mừng cho tương lai của đất nước. Vì du học mang lại cơ hội cho các bạn trẻ tiếp xúc với những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; các bạn có điều kiện giao lưu và học hỏi bạn bè quốc tế. Rất nhiều du học sinh đã đạt được thành tích cao trong các trườngtrung học, đại học nước ngoài, làm rạng danh cho đất nước. Nhiều du học sinh Việt Nam sau khi học xong đã trở về góp phần xây dựng, phát triển đất nước. Họ là nguồn nhân lực vô cùng quý giá cho xã hội… Vì vậy, nếu có điều kiện, các bạn trẻ rất nên lựa chọn hướng đi này.
Xem thêm: “Cuộc đời mất đi tình bạn, thế giới mất đi mặt trời” (Cicero)+ Nhưng du học không phải là con đường bằng phẳng mà ai đặt chân lên đó cũng đều tới đích. Trên thực tế, không ít bạn trẻ chưa được chuẩn bị tốt đã vội vã "lên đường", khiến bản thân phải gánh những áp lực quá lớn. Cũng có nhiều bạn chỉ dựa vào tiềm lực kinh tế, hoặc coi chuyện du học như một kì nghỉ dài để tự do "hưởng thụ cuộc sống"… Rốt cuộc, bản thân họ và gia đình có thể phải nhận những hậu quả đáng tiếc…
+ Sự gia tăng số lượng du học sinh, nhìn từ một góc độ khác, cũng có thể là một hiện tượng đánglo ngại cho nền giáo dục và kình tế Việt Nam. Nó có thể làm tăng tình trạng "chảy máu chất xám" và làm giảm thu nhập chung của xã hội. Vì sao nhiều bậc phụ huynh sẵn sàng "đầu tư" một số kinh phí lớn để cho con du học? Vì sao nhiều bạn trẻ sẵn sàng chấp nhận vất vả hơn, gian khó hơn khi quyết định học tập trong môi trường quốc tế?
+ Chúng ta cần phải làm gì để cân bằng vấn đề này và biến nó thành điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của xã hội?
– Bản thân anh (chị) có ý định du học không? Vì sao? Theo anh (chị), cách nhìn nhận đúng đắn và toàn diện đối với vấn đề du học là gì?
– Từ hiện tượng trên, có thể rút ra những kết luận gì? (Du học nước ngoài vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thử thách lớn. Mỗi bạn trẻ cần xuất phát từ điều kiện cụ thể của bản thân và cần xác định cho mình mục đích đúng đắn để lựa chọn.)
Nguồn: thêm: Chất thơ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài). | Những năm gần đây, số lượng các bạn trẻ Việt Nam đi du học nước ngoài gia tăng một cách đáng kể. Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này. | 661 | |
Những suy nghĩ của anh (chị) khi đứng trước nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.
Hướng dẫn
Trọng tâm cần bàn luận là lòng biết ơn với những thế hệ đã hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc và ý thức trách nhiệm của bản thân với nhân dân, đất nước. Có thể tham khảo dàn ý sau:
– Bày tỏ lòng biết ơn với các anh hùng liệt sĩ:
+ Đất nước Việt Nam đã trải qua hai cuộc chiến tranh giữ nước trường kì, gian khổ, khốc liệt… Có biết bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống, hi sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc…
+ Các anh là những chiến sĩ đã hi sinh cả tuổi xuân vì sự nghiệp vĩ đại giành độc lập và thống nhất đất nước: "Máu đào của các chiến sĩ Trường Sơn nhuộm thắm màu cờ Tổ quốc".
+ Sự hi sinh của các anh là vô cùng cao cả và các anh sống mãi cùng hồn thiêng sông núi. Nhưng sự hi sinh nào cũng để lại nỗi đau, niềm thương tiếc, nhất là với những liệt sĩ vô danh "không một tấm hình, không một dòng địa chỉ". Trước những hàng bia không tên, chúng ta ai cũng cảm thấy bùi ngùi, xót xa. Những người con từ nhiều miền quê của biết bao bà mẹ đã nằm lại trên mảnh đất này.
+ Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nơi các anh yên nghỉ, nơi các anh về cùng đất mẹ. Nghĩa trang Trường Sơn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần, ý chí đấu tranh của con người Việt Nam…
Xem thêm: Nghị luận xã hội về tác dụng của việc đọc sách– Nêu hiện thực đất nước hôm nay:
Nhữngngười lính như các anh đã ngã xuống để đất nước Việt Nam "rũ bùn đứng dậy sáng loà" độc lập, thống nhất và phát triển. Nền kinh tế ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ: khắp nơi mọc lên các khu công nghiệp, trường học, bệnh viện… Đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện. Vãn hoá, giáo dục được coi trọng, phát triển… Như vậy, sự hi sinh của thế hệ cha anh đã không uổng phí…
– Lời hứa và hành động:
+ Khẳng định lòng biết ơn sâu sắc với sự hi sinh của các anh hùng liệt sĩ. Đứng trước nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mỗi người chúng ta càng thấm thìa hơn bao giờ hết công lao íủa các thế hệ cha anh và giá trị của nền độc lập, tự do mà họ đã giành lại, gìn giữ cho dân tộc, đất nước.
+ Hướng về cội nguồn, nhớ về Trường Sơn để noi gương những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, cống hiến cho đất nước; thể hiện lòng biết ơn bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" đã và đang được các tầng lớp nhân dân nhiệt tình ủng hộ, đặc biệt là lớp thanh niên.
+ Lời hứa thiêng liêng trước hương hồn các liệt sĩ TrườngSơn: quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách của cuộc sống hôm nay, hoàn thành bổn phận thiêng liêng của mỗi con người với nhân dân, đất nước, đặc biệt là khi Tổ quốc lâm nguy: "Phải biết sắn bó và san sẻ – Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở – Làm nên Đất Nước muôn đời" (Nguyễn Khoa Điềm).
Nguồn: thêm: Nhân vật và chi tiết nghệ thuật gây ấn tượng sâu sắc nhất trong truyện ngắn Hai đứa trẻ? | Những suy nghĩ của anh (chị) khi đứng trước nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. | 608 | |
Những suy nghĩ của anh (chị) về ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ
Gợi ý
Một buổi sáng thức dậy, ta nghĩ về giấc mơ đêm qua đẹp quá, hồn nhiên quá. Thế là ngày hôm đó ta vui tươi làm việc mà không hề thấy mệt. Cuộc sống cho dù vất vả, bận rộn đi chăng nữa ta vẫn thầm mơ ước rằng mọi việc sẽ tốt đẹp hơn, mình sẽ cố gắng để có thể làm được những điều lớn lao hơn. Và cứ như vậy, cuộc sống sẽ luôn là những chuỗi ngày cố gắng không biết mệt mỏi, sẽ thú vị thêm và không còn tẻ nhạt nữa.
Trong cuộc sống ai mà không có ước mơ, dù chỉ là những ước mơ đơn giản. Ước mơ là những điều tốt đẹp mà chúng ta mong muốn đạt được. Đứa trẻ ước mơ rằng sau này mình sẽ trở thành một phi công, một bác sỹ, một nhà giáo…, ước mơ có được bộ quần áo đẹp, có được thứ đồ chơi mà chúng yêu thích. Khi trưởng thành, người ta lại ước mơ thành đạt trong công việc, thành đạt trong cuộc sống. Có người ước mơ có một mái ấm gia đình hạnh phúc, có người ước mơ về sự giàu sang, có người lại ước mơ nổi tiếng… Đó là cái đích cho con người cố gắng, phấn đấu để ngày càng hoàn thiện bản thân mình hơn. Hoài bão là những giấc mơ lớn, là những cái đích lớn lao mà con người luôn khát khao vươn tới. Cùng với ước mơ, chúng chính là những động lực để cho con người học tập, làm việc và phấn đấu. Nếu không có ước mơ hoài bão, cuộc sống sẽ thật đơn điệu, buồn chán, và không bao giờ phát triển theo hướng đi lên được.Xem thêm: Cảm nhận của em về những bài ca dao có cách mở đầu bằng cụm từ “Thân em...” Thân em như hạt mưa sa... Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân Những ước mơ và hoài bão luôn mang màu sắc tươi sáng. Ước mơ về những điều tốt đẹp cho bản thân thì hẳn sẽ góp phần đắc lực cho xã hội, cho cộng đồng và xa hơn nữa là cho nhân loại. Con người, suốt cả cuộc đời mình luôn ước mơ và hướng tới những ước mơ hoài bão để phấn đấu nhưng có lẽ giai đoạn mà con người ta nhiều ước mơ và hoài bão nhất là giai đoạn tuổi trẻ. Tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất của ước mơ. Là tuổi khi ta đang căng tràn nhựa sống, căng tràn sức sống và cảm giác về sức sống để nuôi dưỡng, phấn đấu và tin tưởng rằng mình có thể làm nên tất cả. Là tuổi có tất cả những điều kiện để những người trẻ tuổi trở nên có nhiều ước mơ, nhiều khát vọng để rồi đầy hồ hởi dấn thân trên con đường sự nghiệp của cả đời người. Vậy, chúng ta phải làm gì để cho những giấc mơ ấy không chỉ là giấc mơ?
Trong một cuộc điều tra, trong số các bạn trẻ, khi được hỏi về ước mơ của giới trẻ, có 2% khẳng định: vẫn có những bạn trẻ Việt Nam không ấp ủ cho mình một ước mơ. 98% còn lại khẳng định mỗi người Việt trẻ đều luôn mang trong mình những ước mơ và hoài bão. Giải thích cho suy nghĩ của mình, họ trả lời rằng: những người không có ước mơ là “những người quá sung sướng hạnh phúc, họ sở hữu những thứ người khác chỉ có được trong mơ nên không còn gì để mơ ước nữa”. Đó cũng có thể là “những người quá tẻ nhạt, họ sống vật vờ qua ngày, không quan tâm đến quá khứ cũng chẳng hướng tới tương lai”. Những người trong số 98% tuy khẳng định nhưng cũng nhấn mạnh: tuy rằng ai cũng có ước mơ nhưng không phải ai cũng dũng cảm kiên trì theo đuổi ước mơ của mình. Có những người trong đầu chỉ luôn quanh quẩn với ý nghĩ: “Không, mình không làm được, có cố gắng mấy cũng vô ích thôi” Và rồi, họ buông xuôi để cho hoài bão của mình trôi dần theo dòng chảy thời gian. Năm tháng trôi đi, tất cả những gì có chỉ là những ước mơ đẹp không bao giờ trở thành hiện thực. Đó vừa là thực trạng và cũng vừa là một phần trong những hạn chế mà giới trẻ hiện nay đang gặp phải mà có hướng khắc phục. Nếu như chỉ biết dừng lại ở việc bằng lòng với những gì mình có sẽ không bao giờ có động lực tiến lên. Nhưng có ước mơ, hoài bão thôi chưa đủ. Vấn đề là ở tính hiện thực, tính khả thi của những ước mơ đó. Ước mơ và hoài bão cần bắt đầu từ những khả năng có thực. Mỗi người đều có quyền mơ ước, nhưng cũng không bao giờ nên vì thế mà mơ ước viển vông, mơ ước những điều không có thực, không bao giờ thành hiện thực. Làm như thế là chúng ta đang phí phạm thời gian, công sức và phí phạm những ước mơ của chính mình.Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Mọi ước mơ đều rất đẹp nhưng không phải ai cũng có thể biến những ước mơ của mình thành hiện thực. Nó đòi hỏi một sự cố gắng, nỗ lực lớn của bản thân mỗi người. Đó cũng chính là những điều mà Phó thủ tướng Vũ Khoan đã từng nói: “Lớp trẻ luôn có ước mơ tốt đẹp, hoài bão lớn lao và xả thân vì Tổ Quốc. Nhưng để thắp lên hoài bão ấy thì phải có những gì cho ngọn đuốc ấy? Đó là thanh niên phải có sự tự tin, ý chí, có lòng tự ái để không chấp nhận nghèo nàn, lạc hậu; phải có quyết tâm nắm bắt tinh hoa của nhân loại áp đụng sáng tạo vào sự phát triển đất nước, dũng cảm đấu tranh với những sai trái, những điều chưa tốt đẹp trong tổ chức, đơn vị và chính bản thân mình, dám đi đến nơi khó khăn khi Tổ Quốc đang cần..”.. Hãy ước mơ vì ước mơ sẽ chỉ đường cho ta về đích. Cho dù trên đường đi có thể vấp ngã nhưng chính ước mơ sẽ nâng chúng ta đứng dậy đi tiếp.
Nếu bạn đang có một ước mơ, hãy nâng niu và nuôi dưỡng nó để nó có thể thành sự thật. Cuộc sống không bao giờ hết những điều kỳ diệu, nó chỉ chờ bạn biết ước mơ để biến thành sự thật mà thôi.
Vanmau.edu.vn | Những suy nghĩ của anh (chị) về ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ | 1,158 | |
Những suy nghĩ về tài nguyên nước hiện nay
Gợi ý
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống. Nguồn tài nguyên thiên nhiên này rất quan trọng đốì với sự tồn vong của sự sống trên Trái đất. Tuy nhiên, nước ta đang phải đốì mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên này.
Ba phần tư diện tích trên Trái Đất là các đại dương, biển, hồ, sông ngòi. Nước có rất nhiều vai trò trong cuộc sống. Vai trò của nước vô cùng quan trọng đối với thiên nhiên. Nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, bảo đảm cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định. Nước hòa tan chất màu có trong đất. Rễ cây thấm hút nước chuyển hóa lên lá, quang hợp ánh sáng, tạo chất dinh dưỡng nuôi cây phát triển. Nước nổi liền cây với đất và khí quyển, góp phần tích cực trong việc bảo đảm mối liên hệ khăng khít sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường. Với một số loài cây, nước là môi trường sống của chúng. Vì vậy, nếu không có nước, cây sẽ chết và có ảnh hưởng không nhỏ đối với môi trường. Trái Đất sẽ thiếu oxi cho sự sống và có thể trở thành hành tinh chết. Các cơn mưa cung cấp cho cây cối lượng nước cần thiết để cây phát triển. Những loài động vật sống trên cạn và dưới nước cũng rất cần nước, đặc biệt là những loài động vật sống dưới nước. Nếu thiếu nước, động vật sẽ chết. Do đó, sự phong phú của hệ sinh thái sẽ bị giảm sút. Nếu không có nước, đất đai sẽ cằn cỗi, cuộc sống của con người bị đe dọa. Nước quan trọng đối với chúng ta như không khí vậy. Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ thể nam trưởng thành, 50% cơ thể nữ trưởng thành. Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng. Các quá trình tiêu hóa, hấp thụ thức ăn,… đều cần có nước. Nước duy trì sự sống trong cơ thể ta. Hai phần ba lượng nước trong cơ thể con người là thành phần cơ bản của 50 ngàn triệu tế bào sống. Chính vì vậy, cung cấp đầy đủ nước cho cơ thể là nhu cầu cần thiết bậc nhất của con người. Chúng ta có thể nhịn đói cả tháng nhưng không thể nhịn khát quá năm ngày. Ngoài ra, nước biển còn cung cấp muối cho con người. Trong sản xuất nông nghiệp, nước đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định đến năng suất cây trồng và vật nuôi. Nước giúp cho cây trồng xanh tốt, đem lại vụ mùa bội thu, mọi người có đầy đủ lương thực, thực phẩm. Đặc biệt đối với các quôc gia nghèo, nơi sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thì nước càng có ý nghĩa sống còn. Trong sản xuất công nghiệp, nước cũng đóng vai trò quan trọng. Nước dùng để tẩy rửa nguyên vật liệu, nước tham gia các quá trình trao đổi nhiệt, tham gia các phản ứng chế tạo vật chất mới,…Xem thêm: Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì sự tàn phá đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái... Từ đó, họ có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ rừngTrong giao thông đường thủy, sống và biển giúp con người đi lại thuận tiện hơn. Đặc biệt, khi giao thông đường thủy kết hợp với công nghiệp, mọi người có thể dễ dàng vận chuyển và buôn bán hàng hóa, góp phần phát triển giao thông và kinh tế. Trong xây dựng, nước cần thiết cho thủy điện. Các nhà máy thủy điện từ đó tạo ra dòng diện phục vụ cho nhân dân. Nước còn được xem là nguồn khoáng sản và năng lượng to lớn của nhân loại. Đây là một tiềm năng cần được con người khai thác và sử dụng hợp lí. Có thể nói, thiên nhiên và con người tạo thành một vòng tuần hoàn của tự nhiên. Nếu một thành phần trong vòng tuần hoàn đó mất đi thì các thành phần khác cũng không thể tồn tại. Qua đổ, ta cũng thấy được nước quan trọng đôì với Trái Đất như thế nào.
Tuy vậy, tình trạng sử dụng nước hiện nay đang trở thành mối lo của toàn cầu. Sự biến đổi khí hậu đã làm nước trở thành một thứ xa xỉ. Nước đang bị sử dụng lãng phí và không hợp lí. Các đô thị thường được ưu tiên sử dụng nước sạch. Và đáng buồn hơn, nước sạch còn được dùng để tưới vườn và sân golf. Trong khi đó, nông dân phải gieo trồng trên các vùng đất khô cằn hoặc trả tiền để mua từng xô nước. Rất nhiều sản phẩm đang khiến lượng nước sạch tiêu hao mau chóng. Cụ thể, 1,5 tấn nước được dùng để sản xuất một máy tính, 6 tân nước được dùng để làm ra một cái quần bò, 60 lít nước để sản xuất lkg cà chua. Lượng nước sạch được dùng trên thế giới hằng năm tương đương với 10 con sống Nin. Trong khi ở nhiều nơi, nước bị sử dụng một cách lãng phí thì trên thế giới, tình trạng thiếu nước trầm trọng đang diễn ra ngày càng nhiều. Khoảng 700 triệu người tại 40 quốc gia đang chịu ảnh hưởng do thiếu hụt nguồn nước. Khoảng một tỉ người không có nước ngọt. Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, hằng năm có hơn 1,6 triệu người trên thế giới tử vong do không được tiếp cận và sử dụng nguồn nước sạch, 90% trong số đó là trẻ em dưới 5 tuổi và ở các quốc gia đang phát triển. Tại châu Á và châu Phi, 141 triệu dân cư ở các thành phố lớn không được bảo đảm về nước ngọt và nước sạch. Tại các nước đang phát triển như Braxin và An Độ, 820 triệu người sống tại các khu nhà ổ chuột đang thiếu nước sạch. WHO cảnh báo đến năm 2025, số người không có nước sạch sinh hoạt sẽ tăng gấp 3 so với mức khoảng 1 tỉ người hiện nay. Tình trạng thiếu hụt nước sạch, những căn bệnh liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm sẽ càng thêm trầm trọng. Cùng với việc thiếu nước, hiện nay, ô nhiễm nguồn nước cũng là một vấn đề đáng lo ngại. Các nguồn nước bị ô nhiễm bao gồm: nước biển, nước sông hồ, nước ngầm. Khi nước bị ô nhiễm, trong thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Ở đại dương, nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước là do sự cố tràn dầu. Váng dầu ở các vùng ven biển tạo nên “thủy triều đen”.Xem thêm: Em hãy viết bài văn để thuyết phục các bạn chăm học hơnÔ nhiễm nước còn có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp chưa xử lí được thải ra các con sông, các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ, nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu đô thị, khu dân cư ven sống. Các chất độc hại đó đã làm nhiễm bẩn nước sông, hồ và nước ngầm trên đất liền. Sau đó, chúng lại bị đưa ra biển là nguyên nhân dẫn đêh hiện tượng “thủy triều đỏ”, làm chết ngạt các sinh vật sống trong nước. Các hiện tượng thủy triều đỏ, thủy triều đen,… gây những hậu quả nghiêm trọng cho toàn Trái Đất. Vì vậy, cung cấp nước sạch đang trở thành một nhiệm vụ khó khăn trên toàn thế giới.
Vậy, chúng ta phải làm gì để bảo vệ nguồn tài nguyên nước của chúng ta? Trước hết, mỗi chúng ta cần có ý thức tự giác tiết kiệm nước hằng ngày. Tùy theo mục đích sử dụng mà chúng ta có thể dùng nước sạch, nước giếng, nước mưa, nước sống, nước tái sử dụng. Sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt vệ sinh cá nhân, sản xuất thực phẩm, các ngành sản xuất cần nước tinh sạch, ta sử dụng nước sạch từ công ty cấp nước, nước giếng hoặc nước sống đã qua hệ thống xử lí đạt tiêu chuẩn cho phép. Sử dụng để tưới cây, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh chuồng trại, ta có thể sử dụng nước giếng, nước sống rạch hoặc nước thải đã được xử lí. Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, ta nên nuôi trong chuồng trại có hệ thống xử lí chất thải, không chăn thả rong để dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và môi trường. Chúng ta cũng cần tự giác không vứt rác xuống sống, hồ, bảo vệ nguồn nước. Để kêu gọi mọi người tham gia tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước, thế giới đã chọn ngày 22-3 là ngày Nước thế giới.Xem thêm: Giải thích và bình luận câu tục ngữ: Đói cho sạch, rách cho thơm. Nước là một yếu tố sinh thái, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường. Nước là nguồn tài nguyên quan trọng có khả năng tái tạo vô cùng quý giá. Mỗi con người chúng ta cần có những thái độ tích cực đối với nước. Bởi vì, nguồn nước quyết định ít nhiều đến sự phát triển của mỗi quổc gia, mỗi dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Những suy nghĩ về tài nguyên nước hiện nay | 1,670 | |
Những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ải Quốc trong truyện “Vi hành”
Gợi ý
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là nhà văn đa phong cách: làm thơ bằng chữ Hán, viết truyện kí bằng tiếng Pháp, văn chính luận, thơ trữ tình… vừa cổ điển, vừa hiện đại, ở lĩnh vực nào cũng có thành tựu xuất sắc.
Trong những tác phẩm viết bằng chữ Pháp, truyện ngắn "Vi hành" là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ái Quốc trong những năm hai mươi của thế kỉ XX. khi Người sống và hoạt động cách mạng tại thủ đô Pa-ri nước Pháp.
Năm 1922, tên vua bù nhìn Khải Định được quan thầy đưa sang "mẫu quốc" dự cuộc đấu xảo ở Mác-xây, để lừa bịp dư luận Pháp và thuộc địa về chính sách "khai hóa" của bọn thực dân ở Đông Dương. Cụ Phan Châu Trinh đã viết "Thư thất điều", Nguyễn Ái Quốc viết vở kịch "Con rồng tre" và truyện ngắn "Vi hành" nhằm kết tội và vạch trần chân tướng của tên vua bù nhìn có nhiều hành vi ám muội, vô cùng xấu xa, làm nhục quốc thể.
Cái độc đáo của truyện, trước hết được thể hiện ngay ở cách đặt tên truyện với hàm nghĩa giễu cợt, châm biếm nhẹ nhàng mà sâu cay. "Vi hành" là cách gọi những cuộc đi kín đáo của các bậc vua chúa ngày xưa. Họ cải trang làm thường dân, đi sâu vào thôn cùng ngõ vắng, xóm chợ nhà quê, để được tận mắt nhìn thấy, tai nghe cuộc sống nhân dân, tìm hiểu nhân tình, để từ đó có chính sách cai trị đúng đắn hơn, ích quốc lợi dân hơn, nhằm thu phục nhân tâm. Các bậc minh quân thánh đế mới vi hành. Nhưng ở đây, tác giả đã lồng cho "Vi hành" một ý nghĩa hoàn toàn ngược lại. Kẻ đang vi hành trên thủ đô Pa-ri không phải là một bậc minh quân mà chỉ là một tên tay sai của ngoại bang. Hành động của hắn là lén lút, bất chính, cốt là để thỏa mãn những lạc thú cá nhân mà thôi!
Những sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong "Vi hành" rất độc đáo. Câu chuyện được kể dưới hình thức một bức thư của tác giả gửi cho cô em họ. Thực ra đây là một truyện hư cấu một trăm phần trăm. Cái tài của tác giả là "bịa" mà như thật, tạo nên sức mạnh nghệ thuật vô cùng lớn lao, đầy sức thuyết phục! Toàn bộ câu chuyện là một chuỗi những sự lầm lẫn đến tức cười ngày càng tăng. Đôi nam nữ thanh niên Pháp gặp một người da vàng cùng đi trên tàu điện ngầm cứ ngỡ đó là ông vua An Nam chẳng biết một tiếng Tây "bẻ đôi" nào, nên vừa bô bô bàn tán, vừa ngấu nghiến nhìn "với cập mắt ma mãnh, tò mò.,.". Dân chúng Pháp lầm tường những người "mũi tẹt, da vàng, mắt xếch" đang sinh sống trên đất Pháp là vua xứ An Nam, thi nhau nhòm ngó, chỉ trỏ thốt lên bằng những thứ tiếng: "hắn đấy!" hay "xem hắn kìa!". Và đến ngay chính quyền Pháp cùng lẫn lộn, không phân biệt được đâu là Khải Định, đâu là những nhà cách mạng Việt Nam đang bị theo dõi, từ lầm tưởng mà chúng đối xử như với vua An Nam! ‘Tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành hoàng đế ở Pháp". Vì thế, có lúc tác giả đi dâu một bước đều được Chính phủ "phái tùy tùng đi hộ giá", "bám lấy đế giày" và dính chặt "như hình với bóng".Xem thêm: Nếu cuộc sống loài người thiếu sách (đề mở) Sự thật thì chẳng đời nào có chuyện nhầm lẫn như vậy! Tác giả đã khéo "bịa" ra các tình huống như thật để giễu cợt và châm biếm! Nguyên nhân dẫn đến những nhầm lẫn "tai hại" trên là do các cuộc "vi hành" đầy ám muội của Khải Định! Qua cuộc đàm tiếu của đôi trai gái Pháp nọ, độc giả có thể hình dung ra ông vua xứ An Nam với những nét lố bịch đến tức cười! Đấng kim thượng sao chẳng có "long nhan", "ngọc thẻ", trái lại, mặt mũi thì ngây ngô, điệu bộ thì lúng túng, quần áo thì lố lăng, trông chẳng khác nào một thằng "ngợm": "có cái chụp đèn chụp lên cái đầu vấn khan, các ngón tay thì đeo đầy những nhẫn". Với cái mặt "búng như vỏ chanh" nhưng "hắn đeo lên người đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm" làm cho thiên hạ phải "bật cười" Thái độ của dân chúng Pháp là khinh bỉ, coi thường hắn. Sự xuất hiện của Khải Định trên đất Pháp chẳng khác nào một thằng hề mạt hạng. "Một anh vua đen" thật đúng lúc, khi mà "cái kho giải trí của chúng ta sắp cạn ráo như B.Đ.D vậy". Trong lúc đi xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên còn mất đến nghìn rưỡi phờ răng, nhưng "hôm nay thì chúng mình có mất tí tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh".Xem thêm: “Hiền... thấp” (Thân Nhân Trung). Từ ý kiến trên, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về việc rèn luyện tài đức và trách nhiệm với quốc gia của mỗi con người. (Yêu cầu viết một bài văn)
Để cho tác phẩm đạt được hiệu quả châm biếm cao nhất, Nguyễn Ái Quốc đã xen kẽ các đoạn đối thoại của đôi nam nữ Pháp nọ với những đoạn kể chuyện cho cô em họ nghe. Ngòi bút của tác giả đã "tung hoành" từ chuyện vua Thuấn nước Tàu đến vua Pi-e nước Nga đi vi hành, kẻ thì cải trang thành dân cày, người thì đi làm thợ,… tạo nên những nét vẽ tương phản đế vạch trần bộ mặt đê tiện của tên bù nhìn xứ An Nam.
Nhân vật cô em họ cũng là sản phẩm của hư cấu nghệ thuật, là phương tiện để Nguyễn Ái Quốc trực tiếp bày tỏ những suy nghĩ, thái độ của mình. Với một cách nói lấp lửng, bán tín, bán nghi: ‘Tôi không được rõ…", "Phải chăng ngài…", "Hay là…", giọng văn châm biếm càng trở nên sâu cay. Phải chăng Khái Định vi hành là ngài "muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là A-lêch-.xăng đệ nhất, có được sung sướng, có được uống nhiều rượu vù được hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam, dưới quyền ngự trị của ngài hay không?". Hay là Khải Định vi hành vì "chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời các cậu công tử bé!". Cảnh ăn chơi xa xỉ, lối sống sa đọa, hành vi mờ ám của Khải Định trên đất Pháp đã bị tác giả châm biếm sâu cay! Lối viết ấy, mang tính chất "tiểu phẩm", rất hiểm, một mũi tên bắn ra trúng một lần hai đích. Nghệ thuật châm biếm vừa độc đáo, vừa sâu sắc. Ai đã từng đọc "Bản án chế độ thực dân Pháp" của Nguyễn Ái Quốc mới thấy rõ giọng văn hóm hỉnh trong "Vi hành".Xem thêm: Nghị luận xã hội về sự ích kỷ Sáng tạo độc đáo trong truyện ngắn này còn thể hiện ở cách dẫn chuvện vừa "là lạ", vừa dí dỏm. Không đầy ba trang sách mà tác giả nói được bao điều cần nói. Có cả bức chân dung biếm họa tên vua bù nhìn. Có cả hành tung mờ ám của hắn. Có hình ảnh bọn quan thầy và công chúng Pháp. Lúc nói gần, lúc nói xa xôi bóng gió, lấp lửng…, chơi chơi thế mà sâu cay. Văn viết ngắn gọn hàm chứa nhiều ý nghĩa. Phần cuối, tác giả nói mình đi đâu một nửa bước cũng bị bọn mật thám "bám lấy đế giày", nhưng đã khéo léo, mỉm cười viết: ”… cứ mỗi lần tôi ra khói cửa, thật tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế”. Chất hài hước của truyện vừa mang tính sôi nổi phương Tây, vừa mang tính thâm trầm, sâu sác của phương Đông. Vẻ đẹp của hai nền văn hóa Đông – Tây được kết tinh và thể hiện một cách vô cùng độc đáo trong truyện ngắn "Vi hành". Chỉ tiếc rằng, trong chúng ta còn ít người biết tiếng Pháp để đọc trực tiếp nguyên tác, vì thế mặt cảm thụ văn chương bị hạn chế rất nhiều.
Truyện ngắn “Vi hành" là một minh chứng hùng hồn cho tính chiến đấu sắc bén
của ngòi bút nghệ thuật đầy sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Truyện được viết nhằm mục đích chính trị rõ ràng nhưng vẫn là tác phẩm văn chương đích thực! Truyện ngắn "Vi hành" tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Bác Hồ: giản dị, hàm súc. Trong cuốn "Hoàng Lê nhất thống chí" khi nói về tên việt gian Lê Chiêu Thông, tác giả viết: "Nước Nam ta từ khi có đế vương, chưa có ông vua nào hèn hạ như thế!". Đọc "Vi hành" của Nguyễn Ái Quốc, ta cũng nghĩ về Khải Định như vậy. Cho hay sức mạnh của văn chương nghệ thuật là vô cùng to lớn và sâu sác.
Vanmau.edu.vn | Những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ải Quốc trong truyện “Vi hành” | 1,608 | |
Những thành công nghệ thuật nổi bật của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình.
Hướng dẫn
Tham khảo gợi ý sau:
– Nghệ thuật kể chuyện: Câu chuyện về các thế hệ của một gia đình cách mạng "Lớp cha trước, lớp con sau – Đã thành đồng chí, chung câu quân hành" (Tố Hữu) có những tình tiết cảm động nhưng không dễ kể vì rất dễ gây cảm giác trùng lặp, đơn điệu, nặng nề. Tuy nhiên, Nguyễn Thi đã chọn được một cách kể sinh động, linh hoạt, tạo ra chiều sâu của hiện thực và sức cuốn hút cho tác phẩm. Câu chuyện được kể từ điểm nhìn của nhân vật, qua dòng hồi tưởng của Việt – một đứa con trong gia đình cách mạng.
+ Từ điểm nhìn và dòng hồi tưởng ấy, toàn bộ những sự kiện liên quan đến các thế hệ trong gia đình được tái hiện với giọng điệu chân thực, cảm động. Từ những chi tiết của đời sống thường nhật cho đến những sự kiện trọng đại của gia đình đều được kể lại với những ấn tượng đậm nét, sâu láng. Đó là niềm vui hồn nhiên, thơ trẻ đậm chất Nam Bộ trong lời kể về kỉ niệm của hai chị em Chiến, Việt và chú Năm: "Cứ trời vừa dứt hột, Việt đã cởi trần ra, hai chị em hai cái đèn soi, lóp ngóp đi. Cười từ lúc đi cho tới lúc về. Khi đổ ếch vào thùng, chú Năm thế nào cũng sang, chú kiếm ít con trọng trọng vềnhậu, đôi khi còn phải đứng ra phân xử vì chị Chiến và Việt ai cũng giành phần nhiều là của mình". Đó là những chuyện tưởng như chẳng có chuyện gì để kể nhưng lại là kí ức sâu đậm về tuổi thơ, về tình gia đình, tình quê hương trong thế giới tâm hồn người lính trẻ giữa ranh giới của sự sốngvà cái chết nơi chiến trường. Chính trong những thời khắc nằm trên bãi chiến trường, có lúc mê man ngất đi vì vết thương rồi lại choàng tỉnh để cố tìm về với đồng đội, dòng kí ức của Việt về gia đình sống dậy vừa sâu đậm, gần gũi vừa chập chờn, xa xôi. Những điều tưởng như nhỏ nhặt nhất cũng trở nên rõ nét, bừng sáng. Những nỗi đau tột cùng, những biến cố khủng khiếp đối với gia đình được lồng vào trong lời kể của người mẹ quả cảm, hiện lại trongtâm trí Việt vừa nhức nhối vừa tràn đầy niềm cảm phục, kiêu hãnh: "Việt nhớ hoài câu chuyện má hay kể: "Tao dạn là nhờ ba mầy. Ba mầy bị Tây nóchặt đầu, tao cứ đi theo cái thằng nó xách đầu mà đòi […] Mầy với con Chiến thì chạy theo sau chị Hai mầy mà la: "Trả đầu ba! Trả đầu ba!" […] Phải hồi đó tao không níu lại thì nó đã bắn mầy rồi. Đầu ba ở dưới đất không lượm, cứ nhè cái thằng vừa liệng đầu mà đá". Chiểu hôm đó, vể tới nhà, má mới khóc. Thím Năm vừa khóc vừa kể thôi là kể. Má chỉ nằm khóc chớ không kể gì hết. Bao nhiêu năm sau đó cũng vậy, lúc nào nói lại chuyện trên má cũng không khóc. Mà lúc nào khóc thì má không nói gì hết".
+ Cách kể chuyện từ điểm nhìn, giọng điệu và dòng hồi ức của nhân vật như vậy phá vỡ sự đơn điệu của thời gian tuyến tính, tạo điểm nhấn và khắc hoạ rõ diễn biến tâm lí tinh tế của nhân vật.
Xem thêm: Bạn Thanh Sơn kể về gia đình– Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: Cách vận dụng các yếu tố ngôn từ đặc trưng của Nam Bộ cũng khiến lời kể, giọng kể trong tác phẩm trở nên sinh động, biểu cảm và có chiều sâu tâm lí:
+ Tác giả đã tạo nên sự tương tác, hô ứng giữa lời nhân vật và lời kể, vì thế lời trần thuật không chỉ mang tính khách quan mà mang đậm tính cách vừa chất phác, chân thực vừa quyết liệt, mạnh mẽ của con người Nam Bộ.
+ Những đoạn đối thoại trong tác phẩm cũng góp phần khắc hoạ đậm nét tính cách nhân vật và tạo điểm nhấn cho mạch truyện. Những sự kiện được kể lại qua đối thoại thường hàm chứa nhữngý nghĩa sâu sắc. Đó là đoạn đối thoại giữa Việt và Chiến trước khi đi bộ đội, lời kể của người mẹ vềcái chết của người cha,…
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Các nhân vật của gia đình cách mạng hiện lên với những phẩm chất tương đồng: gan góc, quả cảm, trung thực, hồn hậu. Đồng thời, mỗi con người lại đượckhắc hoạ với những chi tiết, những nét cá tính riêng, không thể trộn lẫn, không dễ quên:
+ Chú Năm: hồn nhiên, mộc mạc, phóne khoáng, tươi vui, giàu tình cảm. Tiếng hò và cách hò của chú Năm làm cho người đọc có cảm nhận đầy đủ hơn về tâm hồn của người Nam Bộ.
+ Người mẹ của Việt và Chiến: quyết liệt, cứng cỏi, tràn đầy tình yêu thương, vì tình yêu thương ấy mà sẵn sàng đương đầu với tất cả những điều đáng sợ nhất. Hình ảnh người mẹ chịu đựng nỗi đau khủng khiếp (chứng kiến cảnh tượng kẻ thù bêu đầu chồng mình) mà không khóc, chỉ khóc khi một mình đối diện với mình, không khóc khi kể lại cho các con nghe bi kịch đau thương của gia đình,… đã để lại ấn tượng không thể quên trong tâm trí người đọc.
+ Chiến: vừa có nét giống mẹ (can đảm, kiên quyết) vừa có cái hồn nhiên, bỡ ngỡ của cô gái mới lớn, trẻ trung, tươi vui. Bom đạn, chiến tranh, những nỗi đau và mất mát cũng không làm mất đi chất tươi tắn, thơ trẻ ấy. Chất gan góc hoà cùng nét hồn nhiên, đáng yêu: "ngồi lì một góc ván, lông mày cau lại, chéo khăn hờ ngang miệng đánh vần hoài","đọc tiếng đặng tiếng mất, chữ mẹ đẻ chữ con, từ trưa tới xế rồi từ xế tới chiều, bỏ ăn, quên cả trời chạng vạng".
+ Việt: vừa gan góc, quả cảm vừa hồn nhiên, trẻ trung. Việt rất hồn nhiên, trẻ trung, giàu tình cảm nhưng luôn cố tìm cách che giấu những tình cảm của mình vì xấu hổ, vì sợ bị xem là uỷ mị, sướt mướt. Giữa bom đạn, giữa ranh giới của sự sống và cái chết đầy khốc liệt, hiểm nguy, Việt vẫn sống với kí ức về tình gia đình, quê hương, kỉ niệm thời thơ ấu,…
– Đánh giá ý nghĩa của những thành công về mặt nghệ thuật trong tác phẩm: Sự phối hợp các thủ pháp nghệ thuật đã giúp tác giả tái hiện sinh động lịch sử bi thương mà hào hùng của một gia đình cách mạng. Nó phản ánh lịch sử của dân tộc, của vùng đất Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến.
Nguồn: thêm: Nghị luận câu nói Ai không có một tình bạn chân chính thì không xứng đáng được sống | Những thành công nghệ thuật nổi bật của Nguyễn Thi trong Những đứa con trong gia đình. | 1,223 | |
Những thói xấu ban đầu chỉ là người khách qua đường; sau đó thành người bạn ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính
Hướng dẫn
Trọng tâm vấn đề cần bàn luận là hậu quả khôn lường khi con người dễ dãi chấp nhận "chung sống" với những thói xấu của bản thân. Có thể tham khảo dàn ý sau:
– Nêu khái quát vấn đề: Trên hành trình sống, để tự hoàn thiện mình, con người không chỉcần rèn luyện, bồi đắp những đức tính tốt đẹp mà còn phải biết đấu tranh với những thói quen xấu của bản thân.
– Giải thích ngắn gọn nội dung câu nói:
+ Những thói xấu là điều dễ mắc phải trong cuộc sống của con người. Có thể đó là những thói quen xấu như luộm thuộm, cẩu thả…; cũng có thể đó là những tật xấu như nóng nảy, cáu gắt, ích kỉ, nói dối,…
+ Nếu con người dễ dàng bỏ qua những thói xấu của bản thân, chúng sẽ dần chi phối và biến con người thành "nạn nhân".
– Bàn luận, mở rộng vấn đề:
+ Lúc đầu, những thói xấu chỉ là "khách qua đường" gặp gỡ thoáng qua, tình cờ, có vẻ không ảnh hưởng gì đến cuộc sống của con người. Vì thế, con người thường không để ývà dễ dàng bỏ qua chúng.
+ Sau đó, chúng có thể trở thành "bạn ở chung phòng" gần gũi hằng ngày, vừa "thân thiết" vừa có sự ràng buộc. Những thói xấu đã thành thói quen không đễ từ bỏ.
+ Cuối cùng, những thói xấu có thể trở thành "ông chủ nhà khó tính" có quyền lực "sai khiến", chế ngự, biến con người thành "nạn nhân" của chính mình.
+ Trong quá trình bàn luận, nên đưa ra một số dẫn chứng cụ thể để tăng sức thuyết phục cho các luận điểm.
– Liên hệ bản thân:
+ Nêu và phân tích tác hại của một vài thói xấu từng khiến bản thân mình phải chịu phiền hà, lãng phí thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, xấu hổ; thậm chí dẫn đến những hậu quả nặng nề.
+ Từ đó, rút ra bài học nhận thức và hành động: Nên có cách nhìn nhận và ứng xử như thế nào khi đối diện với những thói xấu của chính mình?
+ Mỗi con người cần tỉnh táo, trung thực và nghiêm khắc khi nhìn nhận những thói hư tật xấu của bản thân; phải biết tự giáo dục để hoàn thiện chính mình.
Nguồn: thêm: Kể một câu chuyện em đã được nghe hoặc chứng kiến về lòng dũng cảm | Những thói xấu ban đầu chỉ là người khách qua đường_ sau đó thành người bạn ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính | 441 | |
Những điều thấm thía nhất qua việc tìm hiểu cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu
Gợi ý
Nhận xét về cuộc đời và thơ vãn Nguyễn Đình Chiểu, thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Trên trời có vì sao có ánh sáng khác thường… con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì mới thấy càng sáng” (Nguyễn Đình Chiểu – Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc). Càng biết nhiều về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của ông chúng ta càng thấy thấm thía hơn “cái ánh sáng khác thường” từ ngôi sao đó.
Bài học mà chúng ta thấm thìa nhất về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu chính là tấm gương đạo đức, nghị lực, là thái độ suốt đời gắn bó và chiến đâu không ngơi nghỉ cho lẽ phải, cho sự công bằng của nhân dân.
Thông thường, một người sống, chiến đấu hết mình cho chân lí, công bằng và quyền lợi chính đáng của nhân dân đã là rất đáng quý, đáng trân trọng, đáng tôn vinh. Nhưng với Đồ Chiểu, một con người mù loà mà vẫn giữ trọn đạo lí đó thì càng đáng được quý hơn nữa. Trước tấm gương sáng ngời ấy không ai không khỏi cảm thấy xúc động, ngưỡng mộ và kính phục.
Trước khi giặc Pháp nhảy vào xầm lược nước ta ông đã dương cao ngòi bút “đâm mấy thằng gian”. Lúc giặc Pháp sang xâm lược ông không đánh được giặc bằng gươm thì ông dùng ngòi bút đấu tranh, dùng mưu trí để đánh giặc giúp nước. Giặc chiếm hết Nam Bộ, ông không hề nao núng mà vẫn nêu cao tinh thần chiến đấu. Giặc Pháp tìm mọi cách mua chuộc ông nhưng đều vấp phải sự từ chối đến mức quyết liệt. Ghét giặc Pháp ông khinh bỏ cả lối sống Tây phương. Ông không dùng xà phòng mà dùng quả bồ hòn để giặt giũ… Phải đặt trong hoàn cảnh đâ’t nước khó khăn chúng ta mới nhận ra hết tâ’m lòng son sắt, kiên trung của Đồ Chiểu.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng hay nhất
Không chỉ sống cho lí tưởng nhân nghĩa, cuộc đời ông còn là “sự thống nhất cao độ, tuyệt đẹp giữa lí tưởng sống trong cuộc đời thực và trong thơ văn”. Đối với ông văn với người là một. Văn thế nào thì người thế ấy. Trước khi giặc Pháp sang xâm lược văn chương ông ca ngợi những con người vì nghĩa quên thân, thuỷ chung, trong sáng, luôn đứng về phía lẽ phải, về sự công bằng như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga… đồng thời phê phán gay gắt những kẻ hám danh hám lợi, bất nhân bạt nghĩa như Trịnh Kâm, Bùi Kiểm… Khi giặc pháp đặt gót giày lên đất nước ta, ông ca ngợi những con người sẵn sàng xả thân vì non sông đất nước, thương xót cho những đau thương mất mát của họ:
“Làm người trung nghĩa đáng bia son,
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn.
Cơm áo đền bồi ơn đất nước.
Râu mày giữ vẹn phận tôi con
Tinh thần hai chữ phao sương tuyết
Khí phách ngàn thu rỡ núi non.
Ngẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,
Lòng đây tưởng đó mất như còn”.
(Điếu Phan Tòng)
Một mặt ngợi ca người giúp nước mặt khác ông lên tiếng đả kích sâu cay lũ “Quăng vùa hương, xô bàn độc”, “phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của, quay treo”…
Sống trong vòng vây của gỉặc, trước bao nhiêu dụ dỗ của kẻ thù, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nêu cao tinh thần trung nghĩa. Ngòi bút của ông vẫn sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, tinh thần hết lòng vì dân.Xem thêm: Nghị luận xã hội về chất độc màu da cam“Làm trai trong cõi thế gian
Phù đời giúp nước phơi gan anh hào”
Cuộc đời Đồ Chiểu là cuộc đời đấu tranh không ngừng cho lí tưởng nhân nghĩa. Vượt lên tất cả đau thương, bệnh tật, Nguyễn Đình Chiểu vẫn một lòng tôn thờ chính nghĩa chống lại các thế lực bạo tàn, giúp dân, giúp nước. Ông là tấm gương, là vì sao sáng trên bầu trời Nam cho con cháu muôn đời noi theo.
Vanmau.edu.vn | Những điều thấm thía nhất qua việc tìm hiểu cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu | 723 | |
Những điểm giống và khác nhau giữa Tương tư của Nguyễn Bính và Tương tư chiều của Xuân Diệu
Hướng dẫn
1. Mở bài
– Giới thiệu một vài nét về phong cách nổi bật của hai nhà thơ Nguyễn Bính và Xuân Diệu, khẳng định họ rất khác nhau nhưng đều là các nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới.
– Điều đó có thể thấy rõ qua việc phân tích hai đoạn thơ cùng viết về một đề tài quen thuộc: tương tư.
2. Thân bài
– Điểm giống nhau giữa hai đoạn thơ:
+ Cùng viết về một đề tài rất thơ mới: tương tư – một trạng thái tình cảm thường xuất hiện khi người ta đang yêu.
+ Nội dung cảm xúc: thể hiện nỗi nhớ da diết, mãnh liệt của chủ thể trữ tình – những chàng trai đa tình, sống hết mình cho tình yêu.
– Sự khác nhau:
+ Về nội dung: Cùng thé hiện nỗi nhớ da diết trong tình yêu nhưng nỗi nhớ trong đoạn thơ của Nguyễn Bính mang nặng nỗi niềm trăn trở, băn khoăn. Tình cảm được thể hiện một cách tế nhị, kín đáo, chủ yếu là tỏ tình, ướm hỏi với bao khát khao, mong ước. Đây là nỗi tương tư một phía, vào thời điểm mới bắt đầu của một tình yêu mang đậm màu sắc dân gian.
Trạng thái tương tư được thể hiện trong đoạn thơ của Xuân Diệu sôi nổi, mãnh liệt, dâng trào. Tác giả công khai thể hiện nỗi nhớ cháy bỏng, da diết và khát khao được gần gũi, sẻ chia với người mình yêu. Đây là trạng thái tương tư của một tình yêu rất "hiện đại".
+ Về hình thức: cần làm nổi bật cách thể hiện rất khác nhau của hai nhà thơ khi bộc lộ trạng thái tương tư. Có thể so sánh trên nhiều bình diện hình thức: thể thơ, thi liệu, nhịp điệu, từ ngữ, hình ảnh, tu từ,… Chẳng hạn, về nhịp điệu thơ, có thểnhận ra những câu thơ của Nguyễn Bính nhẹ nhàng, sâu lắng, da diết một nỗi nhớ dường như đang cố nén lại trong lòng; còn những câu thơ của Xuân Diệu lại gấp gáp, dồn dập như muốn phơi bày tất cả nỗi lòng mình một cách cuồng nhiệt nhất.
HS cần chú ý chỉ ra sự phù hợp của hình thức đối với việc biểu đạt nội dung vừa nêu ở trên. Tránh việc chỉ nêu ra những hình thức thể hiện khác nhau nhưng không thấy vai trò và tác dụng của chúng.
3. Kết bài
– Đánh giá, bình luận: Nguyễn Bính và Xuân Diệu là những nhà thơ lớn và qua hai đoạn thơ, có thể thấy rất rõ dấu ấn phong cách của mỗi người.
– Nêu bài học cho sáng tạo nghệ thuật: Có được một giọng điệu riêng, một phong cách độc đáo là hết sức khó khãn và không phải nhà thơ nào cũng làm được, nhưng đó là yêu cầu của sáng tạo nghệ thuật và xét ở khía cạnh này, Xuân Diệu và Nguyễn Bính đã rất thành công.
Nguồn: thêm: Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà – Văn lớp 12 | Những điểm giống và khác nhau giữa Tương tư của Nguyễn Bính và Tương tư chiều của Xuân Diệu | 537 | |
Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo
Gợi ý
Trưởng thành từ những năm tháng chống Mĩ cứu nước, Thanh Thảo là một trong những cây bút có nhiều đóng góp quan trọng và đặc sắc cho thơ ca hiện đại Việt Nam. Ông luôn được coi là một trong số không nhiều cây bút luôn nỗ lực cách tân thơ Việt với nhiều khám phá, thể hiện mới lạ trên phương diện nghệ thuật. Đàn ghi ta của Lor-ca là một trong những sáng tác gây được nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc bồi những sáng tạo nghệ thuật độc đáo.
Nét đặc sắc đầu tiên trong cách viết của Thanh Thảo ở bài thơ này là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố ngôn từ, âm nhạc. Hoạ và nhạc vốn dĩ là những yếu tính của thơ. Thế nên mới nói “thi trung hữu hoạ”, “thi trung hữu nhạc”. Là cây bút ham cách tân, Thanh Thảo “cũng đã tạt sang âm nhạc vay mượn không ít vốn liếng đem về đầu tư cho thơ mình” (Chu Văn Sơn), ở các trường ca Những người đi tới biển, Những nghĩa sĩ cần Giuộc, Bùng nổ của mùa xuân, Đêm trên cát cấu trúc của những bản giao hưởng, xô nát đã được nhà thơ vay mượn và thể hiện khá nhuần nhuyễn. Vởi những bài thơ ngắn như Đàn ghi ta của Lor~ca, Thanh Thảo lại tổ chức văn bản theo thể thức của ‘ một bài hát. Hình tượng thơ và nét nhạc luôn sóng đôi để bay lên, câ’t lên. Và để tiếng nói của thơ mình thêm phong phú, Thanh Thảo còn mò phỏng những âm thanh từa tựa các nốt đàn ghita, mô phỏng cả lối diễn tấ’u vẫn thường đệm cho người hát khi diễn nữa:Xem thêm: Phân tích những đặc sắc nghệ thuật của thiên truyện anh hùng của Nguyễn Minh Châu: "Mảnh trăng cuối rừng"“những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li – la li – la lỉ – la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn”
Giai điệu lời thơ nghe như tiếng ghi ta lãng tử, hào hoa. Âm thanh li—la li-la cất. lên gợi tiếng đàn ngân nga, ngân nga không dứt.
Vẻ đẹp của bài thơ không chỉ nằm ở sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố thơ và nhạc trong cấu tứ mà còn ở những hình ảnh có sức gợi mở đa dạng, phong phú. Đàn ghi ta của Lor-ca là bài thơ nhuốm màu sắc tượng trưng, siêu thực. Thực không dề hiểu trước hàng loạt các hình ảnh như: “tiếng đàn bọt nước”, “vầng trăng chếnh choáng”, “tiếng ghi ta nâu”, “tiếng ghi ta lá xanh”, “tiếng ghi ta tròn bọt hước”, “tiêng ghi ta ròng ròng”, “ giọt nước mắt vầng trăng”… Để “phá khoá” được sự súc tích trong những hình ảnh đó, chúng ta phải luôn ý thức rằng bài thơ là sự tích hợp những cảm xúc, sự thấu hiểu, đồng cảm, kính yêu của Thanh Thảo về cuộc đời người nghệ sĩ nổi tiếng Tây Ban Nha. Những hình ảnh trên còn được đan dệt bằng sự am hiểu thấu đáo lịch sử, truyền thống văn hoá của miền đất đã sinh ra Lor-ca. “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt” là hình ảnh hàm chứa trong đó một nét sinh hoạt văn hoá (đấu bò tót) xen lẫn với một thời kì lịch sử đen tối của đất nước. Nó gợi nên khung cảnh chính trị, nghệ thuật Tây Ban Nha đương thời một nền chính trị độc tài, một nền nghệ thuật già nua. Lor-ca với tấm “áo choàng đỏ gắt” như một võ sĩ trên chiến trường vớỉ lời tuyên chiến, lời thách đấu mạnh mẽ. Hình ảnh “vầng trăng chếnh choáng – trên yên ngựa mỏi mòn”biểu trưng cho hành trình đơn độc của Lorca trên con đường của mình. Một hình ảnh cũng hết sức đặc sắc cùa bài thơ chính là hình ảnh hoa “li-la”. “Li-la” không chỉ gợi tiếng đàn mà nó còn là một loài hoa có màu tím ngát rất được người phương Tây ưa chuộng hoa tử đinh hương. Những tràng hoa như bật tím liên tiếp theo chuỗi âm thanh “li-la li—la” như để viếng hương hồn Lor-ca hay chúng là muôn ngàn đoá hoa của sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của thi sĩ? Tất cá những hình ảnh đâ’y đã góp phần xây dựng nên bứcXem thêm: Nêu tóm tắt tình huống “nhặt” vợ trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân, từ đó nhận xét về thái độ của nhà văn đối với con người và thực trạng xã hội đương thời được bộc lộ qua tình huống truyện độc đáo này
Tượng đài về Lor-ca – nhân vật trữ tình của bài thơ.
Hình ảnh và nhạc điệu của bài thơ được nhà thơ hiện đại thể hiện bằng hệ thống ngôn từ mới mẻ, hiện đại. Bài thơ như giai điệu một bản nhạc, có phần nhạc đệm của đàn ghi ta. Chuỗi âm “li-la li-la” luyến láy sau hai câu thơ đầu gợi liên tưởng đến tiếng vang của chùm hợp âm sau tấu khúc mở đầu. Kết thúc bài thơ, Thanh Thảo tiếp tục để chuỗi âm đó cất lên như thể nó là chùm hợp âm vĩ thanh của bản hoà tấu. Nét đặc sắc trong ngôn ngữ thơ còn được biểu hiện ở những từ ngữ miêu tả âm thanh theo lối tượng trưng, liên tục chuyển đổi cảm giác ở đoạn thơ diễn tả nỗi đau thương trước sự thật phũ phàng:
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy
Tiếng đàn ghi ta với những biến tấu khác nhau không phải về âm thanh mà về màu sắc, hình dáng đã thể hiện chân thực nỗi lòng Lor-ca lúc ấy: “Tiếng ghi ta nâu” trầm tĩnh nghĩ suy, “tiếng ghi ta xanh” thiết tha hi vọng, “tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” bàng hoàng, tức tưởi, “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy” đau đớn, nghẹn ngào..
Ngôn ngữ thơ không chỉ giàu nhạc tính, giàu hình ảnh mà còn gắn với cảm xúc, suy tưởng (“áo choàng đỏ gắt”, “áo choàng bê bết đỏ”, “chiếc ghi ta màu bạc”). Cũng có khi hệ thống ngôn ngữ biến hoá với những biện pháp tu từ so sánh (“chàng đi như người mộng du”, “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”), nhân hoá (“vầng trăng chếnh choáng”), ngoa dụ (“không ai chôn cất tiếng đàn”) ẩn dụ (“đường chỉ tay đã đứt – dòng sông rộng vô cùng”)…Để cảm nhận cho tường tận vẻ đẹp nghệ thuật của bài thơ, chúng ta không thể bỏ qua những sáng tạo độc đáo, những cách tân mới mẻ như thế trong lối viết của Thanh Thảo.Xem thêm: Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được xuát bản năm 1985, thể hiện nỗi đau xót sâu sắc trước cái chết bi thảm của Ph.G.Lor-ca – nhà thơ thiên tài Tây Ban Nha. Sự ngưỡng mộ người nghệ sĩ đại diện cho tinh thần tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật.của thế kỉ XX là nguyên nhân cốt lõi làm nên những đặc sắc nghệ thuật của thi phẩm này
Vanmau.edu.vn | Những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo | 1,272 | |
Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
Hướng dẫn
Cho đoạn văn:
Sáng hôm sau, nghe chị Chiến nói, chú Năm cứ ngồi y trên ván nhìn hai cháu thiệt lâu. Một lát, chú nói:
Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bây kì đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước. – Chú cười, đưa mấy ngón tay cứng còng chùi mắt. – Đây rồi tao giao cuốn sổ gia đình cho chị em bay. Gọi là giao vậy chớ đưa cho bây rồi bây lội đùng đùng qua sông là hư hết. Gọi vậy chớ tao vẫn giữ, tao sẽ ghi cho hai đứa bây từng ngày.
1. Đoạn văn trên trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai? Bối cảnh ra đời của tác phẩm đó? Đoạn văn thuộc loại văn bản gì?
2. Trong đoạn văn có lời của những nhân vật nào? Tác giả đã sử dụng một số từ ngữ địa phương, đó là những từ ngữ nào, thuộc địa phương nào trên đất nước ta? Hãy nêu tác dụng của việc sử dụng các từ ngữ địa phương đó.
3. Chi tiết cuốn sổ gia đình được nói đến trong đoạn văn có ý nghĩa gì?
Trả lời
1. Đoạn văn trên trích từ tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Tác phẩm này được nhà văn sáng tác năm 1967, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. Đây là một truyện ngắn, cho nên, văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
2. – Đoạn văn có lời của nhân vật kể chuyện vô nhân xưng và lời của nhân vật chú Năm.
– Trong đoạn văn trên, có một số từ ngữ địa phương như: thiệt, đặng, con nít, bây, chớ, lội đùng đùng. Đây là những từ ngữ địa phương của vùng Nam Bộ.
– Những từ ngữ địa phương trên đây không chỉ góp phần cá biệt hoá lời nhân vật mà còn giúp người đọc biết được nhân vật chú Năm là con người của vùng đất nào trên đất nước ta.
3. Đoạn văn có nhắc đến chi tiết cuốn sổ gia đình. Đó là một cuốn sổ nhỏ, chú Năm dùng để ghi từ việc thỏn mỏn đến chuyện trọng đại của gia đình. Chiến công đầu đời của chị em Chiến – Việt (tham gia đánh chìm tàu chiến giặc trên sông Định Thuỷ) cũng đã được chú Năm ghi vào cuốn sổ này. Như vậy, cuốn số là biểu tượng của truyền thống gia đình – một gia đình giàu tinh thần cách mạng, từng chịu nhiều mất mát đau thương nhưng cũng vô cùng oanh liệt.
Nguồn: thêm: Bàn về một kĩ năng sống -văn 12 | Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi | 469 | |
Nitsơ, một triết gia nổi tiếng phương Tây cho rằng: “Phải biết… mẽ”. Nhà văn Nam Cao lại cho rằng: “Kẻ mạnh… trên đôi vai mình”. Anh (chị) suy nghĩ gì về hai ý kiến trên
Gợi ý
Đề bài:
Nitsơ, một triết gia nổi tiếng phương Tây cho rằng: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”. Nhà văn Nam Cao lại cho rằng: “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình”. Anh (chị) suy nghĩ gì về hai ý kiến trên
HƯỚNG DẪN
1. Giảỉ thích ý nghĩa câu nói
– Ý kiến của Nitsơ có giọng điệu mang đậm màu sắc của chủ nghĩa phát xít. Câu nói đề cao lốì sống vì mục đích bất chấp tất cả để thực hiện hoài bão, ước mơ của mình.
– Ý kiến của Nam Cao đặt tình thương, trách nhiệm của con người lên trên tất cả. Đó là tiêu chuẩn trên hết xác định tư cách con người.
2. Suy nghĩ của bản thân
– Ý kiến của Nitsơ có sức hấp dẫn đốì với những kẻ đang khao khát sống cho mạnh mẽ, khẳng định cá nhân mình, cần xác định rõ ác là tàn nhẫn với đốì tượng nào, không thể bất chấp tất cả để đạt được mục đích. Vì nếu không khéo chúng ta sẽ thành những con quái vật, những kẻ tham lam, ích kỉ.Xem thêm: Nghị luận xã hội về văn hóa ứng xử – Văn lớp 12– Ý kiến của Nam Cao thể hiện sự nhân đạo. Đó là quan điểm sống đúng đắn, phù hợp với truyền thống đạo lí của dân tộc. Lối sống ấy sẽ làm cho mốì quan hệ giữa người và người tốt đẹp hơn.
– Trong cuộc sống hiện đại, với yêu cầu toàn cầu hóa, khả năng hợp tác là thước đo quan trọng để đánh giá sự thành công và nhân cách của con người. Điều đó khiến chúng ta nhận thây câu nói của Nam Cao có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống.
3. Phương hướng phấn đấu của bản thân
– Lứa tuổi học sinh.
– Trong cuộc sống sau này.
Vanmau.edu.vn | Nitsơ, một triết gia nổi tiếng phương Tây cho rằng_ “Phải biết… mẽ”. Nhà văn Nam Cao lại cho rằng_ “Kẻ mạnh… trên đôi vai mình”. Anh (chị) suy nghĩ gì về hai ý kiến trên | 374 | |
Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ nào (Tiếng hát con tàu)?
Hướng dẫn
Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ nào (Tiếng hát con tàu)? Phân tích nét đặc sắc nghệ thuật của khổ thơ đó.
Gợi ý:
– Khổ thơ thể hiện niềm vui, hạnh phúc lớn lao khi (nhân vật trữ tình) gặplại nhân dân:
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngùng bỗng gặp cánh tay đưa
– Đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ chính là chùm so sánh, liên tưởng hết sức phong phú, độc đáo của tác giả.
Hãy tìm những câu thơ (Tiếng háí con tàu) thể hiện rõ nhất những chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên.
Gợi ý:
Những câu thơ thể hiện rõ nhất chất suy tưởng và triết lí của thơ Chế Lan Viên:
– Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn.
– Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta.
– Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.
Nguồn:
Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm | Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ nào (Tiếng hát con tàu)_ | 232 | |
Niềm tự hào về tiếng Việt – thứ tiếng mẹ đẻ ta yêu qua bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt (Tác giả Đặng Thai Mai)
Gợi ý
Tôi nhớ hồi mới học lớp 5 thầy giáo bảo tôi: Tiếng Việt ta giàu và đẹp lắm, nên phải biết yêu quý trân trọng và giữ gìn nó (sở dĩ thầy nhắc khéo tôi là vì lúc ấy, tôi mới học lỏm được của anh trai mình, mấy từ tiếng Pháp, lại học lỏm của chị con nhà bác hàng xóm mới đi Nga về mấy từ tiếng Nga. Thế là trong bài tập làm văn, tôi chêm vào đó cả tiếng Pháp lẫn tiếng Nga). Lúc bấy giờ, tôi thầm nghĩ Thầy có muốn viết như mình cũng chả được, vì thầy có biết ngoại ngữ đâu. Mà tiếng Việt có gì là ghê gớm lắm chứ! Nhưng rồi học lên lớp 6, lớp 7, tôi được tiếp xúc với bao áng thơ văn trữ tình đằm thắm, tôi mới thấy thấm thía cấu nói đó của thầy tôi. Nghĩ lại những ý nghĩ ngây thơ và ngu ngốc hồi trước, tôi lại càng giận mình.
Tiếng Việt ta giàu đẹp như thế nào là vấn đề đã được không ít các nhà nghiên cứu quan tâm. cố thủ tướng Phạm Văn Đồng có bài viết Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, nhà phê bình Đặng Thai Mai có Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc…
Các nhà văn, nhà thơ không cần bàn luận gì, họ chỉ lặng lẽ mài giũa cho tiếng Việt ngày càng "trong" và "sáng" hơn, ngày càng "giàu" và "đẹp" hơn. Xem thêm: Hãy chứng minh rằng một trong những nội dung của ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương của nhân dân ta Quả thực, tiếng Việt ta rất giàu và đẹp.
Tiếng Việt như là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, hình tượng. Với một hệ thống các từ láy, từ ghép, từ tượng hình, tượng thanh, tiếng Việt có khả năng gợi ra những hình ảnh rất rõ nét trong trí óc của người nghe.
Chắc chúng ta ai chẳng nhớ hai câu thơ với cách dùng từ gợi hình ảnh, trạng thái đầy ấn tượng của nữ sĩ Thanh Quan:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhờ những từ láy lom khom, lác đác mà sức biểu hiện của câu thơ đã tăng gấp bội. Cảnh hoang vu, quạnh vắng của Đèo Ngang trong buổi chiều tà càng thêm hiu hắt, ảm đạm. Một điều lí thú hơn là ngay cả những từ đơn âm của tiếng Việt cũng có giá trị gợi hình. Chẳng hạn như:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
(Hồ Xuân Hương)
Và đây nữa, hình ảnh con hổ uy nghi, dũng mãnh, đẹp một vẻ đẹp hùng tráng:
Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai cỏ sắc
Trong đêm tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
(Thế Lữ)
Cùng với khả năng tạo hình, tiếng Việt còn là thứ tiếng giàu âm thanh, nhạc điệu. Với một hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú, thêm vào đó là hệ thống các thanh điệu với những âm độ, âm vực, tiếng Việt có khả năng tạo ra nhiều giai điệu khác nhau: lúc du dương trầm bổng, lúc réo rắt, có lúc lại sâu lắng, thiết tha… Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông nghè tháng tám của Tam Nguyên Yên Đỗ Ta hãy nghe những giai điệu êm đềm, đằm thắm của câu ca dao:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
Hãy cảm nhận âm điệu của những dấu huyền ngọt ngào (Xuân Diệu) trong câu thơ Chinh phụ ngâm:
Ngồi đầu cầu nước trong như lọc
Đường bên cầu cỏ mọc còn non
Và những giai điệu vừa sôi nổi rạo rực, vừa thiết tha đằm thắm, du dương của câu thơ Tố Hữu:
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca.
Chỉ riêng với hai khả năng: tạo hình và tạo nhạc, tiếng Việt đã đủ xứng đáng là một thứ ngôn ngữ vừa giàu vừa đẹp. Tuy nhiên, sự giàu và đẹp của tiếng Việt không chỉ dừng lại ở đó. Một đặc điểm không thể bỏ qua của tiếng Việt là sắc thái gợi cảm, sắc thái biểu hiện cảm xúc. Nó có khả năng diễn tả tinh tế những trạng thái khác nhau trong đời sống nội tâm phong phú của tâm hồn Việt.
Chỉ lấy ví dụ riêng về mặt diễn tả tâm trạng nhớ nhung của con người cũng đủ làm ta ngạc nhiên.
Một trạng thái nhớ nhung bâng khuâng:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
(Trần Tuấn Khải) Xem thêm: Vẻ đẹp của bài ca dao Khăn thương nhớ ai Một trạng thái nhớ nhung cồn cào, da diết:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống rơm
(Ca dao)
Một nỗi sầu mênh mang, sâu thẳm:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trài ngàn núi xanh.
(Chinh phụ ngâm)
Vốn từ của tiếng Việt cũng rất phong phú và độc đáo. Chỉ xét riêng vốn từ ngữ xưng hô cũng đã đủ làm nên sự đặc sắc đó. Trong từ ngữ xưng hô của tiếng Việt, ngoài những đại từ nhân xưng được ghi lại trong từ điển, người việt ta còn dùng các danh từ chỉ quan hệ họ hàng làm từ xưng hô, khiến cho cách nói năng hàm chứa nhiều sắc thái tình cảm hơn.
Ngay cách dùng từ ngữ xưng hô cũng rất đặc biệt. Đã có ai lại thêm ta, rồi lại mình. Những từ này có khi là chủ thể phát ngôn, có khi là đối thể tiếp nhận, có khi lại bao hàm cả hai.
Chỉ riêng từ mình trong hai ví dụ sau đâ thấy bao điều lí thú:
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
(Tố Hữu)
Mình nói với ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình lấm đất cùng tro
Ta đi gánh nước rửa cho con mình
(Ca dao)
Càng tìm hiểu kĩ hơn về tiếng Việt, ta càng ngỡ ngàng trước sự giàu đẹp của nó. Và càng thêm yêu tiếng Việt hơn.
Vanmau.edu.vn | Niềm tự hào về tiếng Việt – thứ tiếng mẹ đẻ ta yêu qua bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt (Tác giả Đặng Thai Mai) | 1,128 | |
Niềm tự hào về truyền thống của dân tộc và tư tưởng nhân văn của Trương Hán Siêu thể hiện trong Phú sông Bạch Đằng
Gợi ý
Trường Hán Siêu vốn là một nhân vật lịch sử khá nổi tiếng của triều đại nhà Trần.Tuy nhiên, chúng ta vẫn biết đến ông nhiều hơn với tư cách là một nhà văn. Mặc dù sáng tác còn lại không nhiều nhưng với văn bản Phú sông Bạch Đằng, Trương Hán Siêu cũng đã để lại trong người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Trước khi là một đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam, Phú sông Bạch Đằng là một dòng hoài niệm về quá khứ thể hiện đậm nét niềm tự hào về truyền thông của dân tộc và tư tưởng nhân vấn của Trương Hán Siêu.
Tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn là hai truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam. Văn thơ thời đại Lí – Trần có rất nhiều các sáng tác thể hiện sâu sắc hai truyền thống này: Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải)… Đến Trương Hán Siêu, một lần nữa, niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn lại được thể hiện đậm nét.
Bài phú mở đầu bằng hình ảnh của vui thú tiêu dao của nhân vật khách. Qua lời thuật kể, người đọc có thể thấy rằng khách đã rong ruổi rết nhiều nơi:
Sớm gõ thuyền chừ Nguyền, Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,
Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết.
Và điểm khách đang dừng chân là sông Bạch Đằng. Đi nhiều, biết nhiều nhưng không ngờ nơi đây lại khiến nguồn thi hứng của khách dạt dào đến thế (Nhân vật khách là sự phân thân của chính tác giả). Phải chăng đây là nơi cảnh đẹp:
Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu.
Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu
Hay còn bởi đây là nơi ghi dấu những chiến tích của quân đội ta năm xưa. Với Trương Hán Siêu, tự hào dân tộc là tự hào về truyền thống yêu nước và tự hào về truyền thống đạo lí nhân nghĩa. Phân thân thành nhân vật khách và các bô lão, tác giả đã để dòng hoài niệm về cuộc chiến đấu vẻ vang của dân tộc đang dâng trào cất thành những lời ngợi ca chiến công trên sông Bạch Đằng:Xem thêm: Về tác phẩm Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xôn xao).– Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.
Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Háh trên sông Bạch Đằng. Và tròn ba trăm năm mươi năm sau (năm 1288), cũng trên dòng sông đó, Trùng Hưng nhị thánh bắt Sống tướng giặc ô Mã Nhi. Sở dĩ các bô lão nhắc tới chiến thắng thời Trần trước là bởi sự kiện này mới diễn ra, gần gũi với họ. Chính chiến thắng này đã gợi nhớ lại chiến thắng khi xưa. Nhắc lại những chiến công oai hùng đó, trong lòng các bô lão và nhân vật khách chắc chắn đang dấy lên niềm tự hào khôn xiết. Bằng hai câu văn dài, mỗi câu mười hai âm tiết, tác giả đã tạo được không khí trang nghiêm, đĩnh đạc, làm nền cho việc hồi tưởng lại chiến trận (giữa quân đội nhà Trần và quân Nguyên – Mông) ở phần tiếp:
Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,
Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói.
Cách ngắt nhịp nhanh, lối đối ngẫu chặt chẽ và một loạt hình ảnh hùng dũng trong hai câu văn tái hiện sinh động không khí trận mạc quyết liệt trên sông. Các nhân vật như đang sống trong cuộc giao tranh ác liệt. Họ nhìn nhận rất chính xác về lực lượng giữa ta và địch chứ hoàn toàn không quá đề cao hay hạ thấp bên nào. Quân địch rất hùng mạnh và lại gian xảo (Tất Liệt thế cường – Lưu Cung chước dối), còn quân ta chiến đấu vì chính nghĩa nên cũng thuận với lẽ trời (Trời cũng chiều người), lại có người tổ chức lãnh đạo kiệt xuất với đường lối chiến thuật, chiến lược đúng đắn (Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an). Chính cái nhìn công bằng của khách và các bô lão về lực lượng ta – địch đã góp phần thể hiện sâu sắc hơn niềm tự hào trong họ. Chiến thắng đội quân kiêu ngạo đã từng tung vó ngựa thôn tính nhiều quốc giạ từ Á sang Âu, quân đội ta quả đã thực thi một việc phi thường. Niềm tự hào ấy hẳn lớn lao vô cùng nên các bô lão và khách đã phải cất lời đối sánh:Xem thêm: Bài ca dao “Khăn thương nhớ ai…” có nét gì độc đáo khi diễn tả nỗi nhớ nhung? b. Phân tích cái hay của bài ca dao số 5
Khác nào như khi xưa:
Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.
Điển tích, điển cố tự ngàn xưa được nhắc lại trong nỗi niềm hoài vọng của các nhân vật. So sánh trận chiến của quân đội ta với trận chiến nổi tiếng thời Tam Quốc khi xưa, chắc chắn trong lòng khách và các bô lão đang dấy lên một cách mãnh liệt lồng tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc.
Khách và các bô lão không chỉ tự hào về các chiến công mà còn tự hào về đức lớn lao của nhân tài, của vua Trần và cũng là đức lớn của dân tộc:
Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Công đức lớn lao của các bậc đế vương nhà Trần đã mang lại chiến thắng vẻ vang cho dân tộc. Khách và các bô lão đã ghi nhận công lao đó bằng sự tôn kính và mến phục vô tận. Chỉ cần đọc câu văn dịch trên đây thôi, chúng ta cũng đủ cảm nhận được điều đó.
Không chỉ thể hiện niềm tự hào về truyền thống dân tộc, Phú sông Bạch Đằng còn chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc. Nhân nghĩa, yêu thương con người là truyền thống đạo đức quí báu của dân tộc Việt Nam. Trong sáng tác của Trương Hán Siêu, truyền thống đó trước hết được thể hiện ở nỗi niềm cảm khái của tác giả khi đứng trước không gian gợi lên những mất mát hi sinh trong các cuộc chiến và nỗi niềm tiếc nuối, xót thương cho bao anh hùng đã khuất:Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận theo chủ đề: "Mọi người lao động trong xã hội hiện đại đều phải có trình độ văn hoá tương ứng với kĩ thuật công nghệ hiện đại"– Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu.
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
Đến bên sông chủ hổ mặt,
Nhớ người xưa chừ lệ chan.
Sau này, Nguyễn Trãi khi thăm Bạch Đằng cũng có nỗi buồn tương tự:
Dòng trôi tìm. bóng dạ bâng khuâng
Tuy nhiên, chiều sâu của tư tưởng nhân văn trong Phú sông Bạch Đằng nằm ở sự khẳng định, đề cao con người, đạo lí chính nghĩa, qua nỗi niềm cảm khái trước cảnh sông Bạch Đằng trong hiện tại. Trời cho ta thế hiểm, nhưng điều quyết định là ta có nhân tài giữ cuộc điện an:
Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.
Thông qua lời văn, Trương Hán Siêu muốn khẳng định vai trò, vị trí của con người, gợi lại hình ảnh Trần Hưng Đạo với câu nói đã lưu danh sử sách: “Kim niên, tặc nhàn” (Năm nay, giặc đến dễ đánh). Theo binh pháp cổ, muốn thắng trong chiến trận, cần ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Bài phú có nói đến ba yếu tố: thiên thời (trời củng chiều lòng người), địa lợi (đất hiểm), nhân hoà (nhân tài). Tuy nhiên, thắng giặc không cốt ở đất hiểm mà chủ yếu là ở đức lớn, ở sức mạnh của con người:
Giặc tan muôn thủo thăng bình.
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.
Khẳng định sức mạnh, vị trí của con người đó là cảm hứng mang giá trị nhân văn và có tầm triết lí sâu sắc.
Như vậy, với niềm tự hào về truyền thống dân tộc và tư tưởng nhân văn sâu sắc, Phú sông Bạch Đằng đã trở thành áng văn bất hủ về một thời đại anh hùng của dân tộc Việt Nam – thời đại Đông A.
Vanmau.edu.vn | Niềm tự hào về truyền thống của dân tộc và tư tưởng nhân văn của Trương Hán Siêu thể hiện trong Phú sông Bạch Đằng | 1,492 | |
Niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương đất nước qua lời hát đối thiết tha trong bài ca dao: Ở đâu năm cửa nàng ơi
Gợi ý
Một đất nước mà đi bất cứ đâu ta cũng gặp núi cao biển rộng, sông dài, ruộng đồng thẳng cánh cò bay rồi những địa danh và phong cảnh kì thú thì thử hỏi sao ta không yêu, không tự hào, không tha thiết nhớ. Tất cả tình cảm, cảm xúc đó được thể hiện rất ngọt ngào qua bài ca dao – qua lời hát đối của đôi trai gái say cảnh, say người:
Ở đâu năm cửa nàng ơi…
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục, bên trong?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh
Ở đâu mà lại có thành tiên xây?”
Chàng hỏi, nàng thưa, nội dung đối đáp là những tên đất, tên sông, danh lam thắng cảnh… mang đặc điểm riêng biệt, cụ thể nhưng đều giống nhau ở một điểm: tất cả đều nổi tiếng, đều khiến lòng người ghi nhớ, tự hào. Hài hoà ăn ý, tất cả cứ lung linh hiện về trong câu hỏi, lời trao, trong câu hát, trong lòng người. Theo lời hát của đôi trai gái, chúng ta được đi từ Năm cửa ô của Hà Nội xưa, qua sông Lục Đầu nơi gặp gỡ của sáu con sông đẹp của đất Bắc là sông Thương, sông cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Môn, sông Thái Bình rồi dừng chân ngắm sông Thương "nước chảy đôi dòng, bên đục bên trong" mà vẩn vơ nghĩ về lòng người. Chưa dừng ở đó, lời hát dẫn ta về Tản Viên nơi chàng Sơn Tinh xưa hoá phép cho núi thắt cổ bồng để ngăn dòng nước lũ của Thuỷ Tỉnh. Lòng ta chợt bâng khuâng nhớ về câu chuyện tình của hai chàng trai cùng đem lòng yêu Mị Nương tha thiết và ước vọng ngàn đời của người dân đất Việt chinh phục thiên nhiên qua hình tượng Sơn Tinh. Ngược dòng thời gian, theo câu hát ta lại cùng về với lễ hội Đền Sòng, nơi thờ Liễu Hạnh công chúa ở xứ Thanh, một trong bốn vị thần bất tử của người Việt, yêu mến bà dân ta đã tôn bà là Thánh mẫu Liễu Hạnh. Lễ hội Đền Sòng, còn gọi là Sòng Sơn được tổ chức vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 Âm lịch hàng năm với câu ca truyền tụng "Nhất vui lễ hội phủ Giày, vui là vui vậy chẳng tày Sòng Sơn". Khi đọc đến đây, hẳn ta sẽ muốn được tận tay mình, thắp một nén nhang thơm trên bàn thờ Thánh Mẫu tỏ chút lòng tri ân với cô công chúa nhà trời nhưng nặng lòng với chốn trần gian. Lời hát của chàng trai, cô gái còn dẫn ta về Lạng Sơn trương truyền có thành tiên xây. Mỗi vùng một nét, một vẻ riêng hợp thành bức tranh non nước – đẹp, thơ mộng, giàu truyền thống văn hoá và ý nghĩa nhân văn. Xem thêm: Bình luận câu cổ ngữ: “Ngọc vô cùng qúy giá, nhưng ngọc tâm hồn còn qúy giá hơn nhiều"
Không chỉ cho ta thêm những hiểu biết về vẻ đẹp của đất nước thân yêu, lời hát của đôi trai gái còn giúp ta cảm nhận thêm một nét sinh hoạt văn hoá rất Việt Nam – hát đối – một hình thức ca hát dân gian mà ta có thể bắt gặp ở rất nhiều vùng miền trên dải đất hình chữ s thân yêu từ hội hát Xoan Phú Thọ, quan họ Bắc Ninh, hát phường vải Nghệ Tĩnh, hát ví ghẹo, giao duyên ở miền Trung, những câu hò, câu cải lương Nam Bộ… Phải chăng đó cũng là một nét đẹp mà cha ông ta, bằng tâm hồn nhạy cảm, bằng niềm tin yêu cuộc sống đã sản sinh ra và gìn giữ ngàn đời để truyền lại cho cháu con. Một điều nữa, ẩn đằng sau những câu hát đối rất nhịp nhàng kia là niềm tự hào và tình yêu vô bờ với quê hương, đất nước mình. Nhẹ nhàng mà giản dị, chàng trai và cô gái đã truyền cho ta niềm tự hào, khát khao khám phá và tình yêu không giới hạn đó trong lòng họ.
Bài ca có thể còn kéo dài với nhiều lời hỏi đáp bởi trên đất nước thân yêu, đi tới đâu ta cũng bắt gặp những vùng đất, những câu chuyện đẹp như cổ tích đó. Và cũng bởi, theo suốt chiều dài lịch sử, con người Việt Nam thời đại nào cũng tha thiết yêu quê hương, đất nước mình. Xem thêm: Em hãy phân tích nhân vật Phan Bội Châu trong truyện "Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu" của Nguyễn Ái QuốcVanmau.edu.vn | Niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương đất nước qua lời hát đối thiết tha trong bài ca dao_ Ở đâu năm cửa nàng ơi | 829 | |
Niềm vui và nỗi khổ của việc học môn Ngữ văn
Gợi ý
Ngữ văn là một trong những môn không thể vắng mặt trong danh mục các môn học của chương trình giáo dục ở Việt Nam nói riêng và các nước trên toàn thế giới. Nói đến môn học này, không ít người tỏ ra thích thú, trân trọng, có những người dam mê thực sự bộ môn này nhưng cũng không ít người tỏ rõ thái độ thờ ơ, thậm chí khó chịu. Thay vì vội vàng trách cứ những phản ứng tiêu cực đó, chúng ta nên xuất phát từ vị trí của người học để cảm nhận niềm vui và nỗi khổ của việc học môn Ngữ vãn hiện nay.
Thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, Ngữ văn cung cấp cho người học những kiến thức về văn bản văn học, tiếng Việt và cách thức sáng tạo một văn bản mới. Học Ngữ văn, người học không chỉ cần khả năng tư duy như các môn học khác mà phải có tâm hồn để cảm thụ, lĩnh hội những cái hay, cái đẹp mà môn học này mang đến.
Là môn học quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn luồn chiếm số lượng tiết học khá cao so với nhiều môn khác. Muốn học tốt và dạy tốt nó, người học và người dạy sẽ phải đầu tư lượng thời gian không nhỏ. Điều đó phần nào cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của môn học này. Học Ngữ văn, người học không chỉ được tiếp nhận lượng tri thức khoa học về đời sống được mang đến như các môn học khác mà còn được tiếp nhận thứ khoa học của lòng người, khoa học nhân học. Người học không chỉ được biết phải sử dụng tiếng Việt như thế nào cho đúng, phân biệt các từ loại, loại từ ra sao, làm thế nào để sáng tạo được một văn bản nghị luận mà còn được chứng kiến, thâu hiểu sự thật về lòng người qua những sáng tác văn học mang đậm tính nhân văn… Nói chung, có rất nhiều điều thú vị ở môn học này, nhưng thực tố cho thấy không ít học sinh học Ngữ văn rất vất vả, “khổ sở”. Vậy đâu là niềm vui, đâu là nỗi khổ của người học Ngữ văn hiện nay?
Những cảm xúc vui buồn, đau khổ không khi nào tự nhiên hình thành trong tâm hồn mỗi con người. Ta thường vui khi gặp những điều tốt đẹp, may mắn, hợp với suy nghĩ, hoàn cảnh của mình. Nỗi buồn hay được dấy lên từ những bất trắc, gian khó mà chúng ta phải đốì diện. Ngữ văn chắc chắn sẽ mang đến cho mỗi người học nhiều điều bổ ích nhưng có lẽ nó cũng có chút ít những hạn chế cản trở niềm yêu thích, dam mê, ở đối tượng này.
Có thể xuất phát từ đặc trưng, chức năng của loại hình nghệ thuật văn học để lí giải niềm vui, sự hứng thú của người học Ngữ văn. Có người nói, đại ý: Ngồi trong xó mà lịch lãm, biết hết những chuyện thuở xưa, biết hết mọi chuyện trong thiên hạ, hiểu được những điều sâu kín trong tâm hồn con người, đó là nhờ đọc, học những trang văn, trang thơ. Chức năng đầu tiên mà chúng ta vẫn hay nhắc tới khi nói về văn học là chức năng nhận thức. Trong môn học Ngữ văn, các nhà biên soạn sách giáo khoa đã tuyển chọn rất nhiều văn bản văn học để người dạy và người học tiến hành đọc – hiểu trên lớp. Những văn bản đó cung cấp cho người học nhiều tri thức trong cuộc sống. Đọc trích đoạn Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, đọc trang viết của Thạch Lam về thứ corn làng Vòng hay đọc đoạn trích Nghệ thuật băm thịt gà của Ngô Tất Tố (trích trong phóng sự Việc làng), lẽ nào chúng ta không thích thú trước những điều mà các nhà văn mang đến? Ta sẽ ngạc nhiên, nể phục vô cùng trước “nghệ thuật chia cỗ” của thằng Mới – “nghệ sĩ” tài ba: Hắn có thể chia một mâm xôi và một con gà không quá lớn thành hai mươi xuất. Đọc đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, chúng ta có thể hình dung rõ nét về bộ mặt thối nát của xã hội thượng lưu Việt Nam dưới chế độ thực dàn nửa phong kiến. Gia đình cụ cố Hồng – một gia đình trí thức luôn hô hào văn minh, tiến bộ cũng là một gia đình đại bất hiếu, vô nhân tính. Hành trình đưa đám cụ cô’ tổ cũng chính là “hành trình di tới mộ” (Vũ Dương Quỹ) của đám người rởm hợm, háo danh, lô’ lăng này. Hay đọc những trang viết tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân, chúng ta sẽ biết mỗi con ong phải bay bao nhiêu chuyến mới chưng cất được giọt mật ngọt, sẽ tường tận sống Đà còn có những tên nào khác, dài bao nhiêu cây số, chảy qua những đâu, có lịch sử như thế nào, hùng vĩ và hiền hoà ra sao…Học Ngữ văn người học còn được luyện tập kĩ sáng tạo các văn bản nhật dụng (như đơn xin nghỉ học, báo cáo tổng kết công tác Đoàn, Đội…), kĩ năng viết một bài văn nghị luận xã hội hay nghị luận văn học, kĩ năng sử dụng từ ngữ, ngữ pháp chính xác… Các tri thức đó, rất thiết thực với cuộc sống của mỗi người. Ứng dụng được chúng vào thực tiễn, chúng ta sẽ tự tin hơn trong hoạt động giao tiếp với mọi người xung quanh.Xem thêm: Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam Văn học không chỉ giúp người học nhận thức về cuộc sống mà nó còn giúp đạo đức con người trở nên hoàn thiện hơn. Có một câu chuyện được lưu truyền rằng: Trên một chuyên tàu, tên trộm đã đánh cắp hành lí của một hành khách. Trong túi hành lí đó, có một cuốn sách văn học. Điều kì diệu là sau khi đọc xong cuốn sách đó, tên trộm đã quyết định “giải nghệ”. Câu chuyện nhấn, mạnh sức cảm hoá của văn học đô’i với con người. Học Ngữ văn, người học được lĩnh hội những bài học về đạo đức cực kì quí giá. Đây chính là nền tảng để mỗi người hình thành, phát triển nhân cách của mình. Trước bi kịch của Thuý Kiều, không ai có thể lãnh đạm, không mảy may xúc động, xót thương cho người con gái hồng nhan mà bạc mệnh. Đọc những trang truyện Hai đứa trẻ, Chí Phèo, người học được các tác giả truyền thêm lòng thương cảm đối với những kiếp người tàn trong xã hội nước ta những năm tiền khởi nghĩa. Chúng ta được tiếp nhận bài học về sức sống tiềm tàng, về tình yêu cuộc sống của con người được Tô Hoài gửi gắm qua hình tượng nhân vật Mị trong thiên truyện Vợ chồng A Phủ. Và với Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, người học được giáo dục về lòng tự trọng, về phong thái sống đĩnh đạc, lịch duyệt của con người hiện đại… Đó chẳng phải là niềm vui khi học Ngữ văn sao?Xem thêm: Phân tích truyện ngắn “Thuốc" của văn hào Lỗ Tấn và nói lên những suy nghĩ của em
Văn học là một loại hình nghệ thuật thuộc thượng tầng kiên trúc. Đặc trưng của văn học là giá trị thẩm mĩ. Chức năng chính yếu của văn học là chức năng thẩm mĩ. Văn học luôn mang đến người đọc những sáng tạo nghệ thuật đích thực. Người sáng tác là nghệ sĩ và sáng tác của họ luôn phải hàm chứa tính nghệ thuật. Học Ngữ văn, học sinh sẽ được tiếp cận với thế giới nghệ thuật của người sáng tác. Phong cách nghệ thuật của các nhà văn sẽ luôn là thứ hâ’p dẫn người học say mê khám phá. Với Nguyễn Tuân, người học luôn bị cuốn theo thế giới nhân vật “đặc tuyển” của ông. Chúng ta say mê với một Huấn Cao “khinh bạc đến điều” nhưng lại rất mực tài hoa khi “dậm tô các con chữ” trên “phiến lụa óng” và luôn giữ “thiên lương” trong sáng (Chữ người tử tù); say mê với người nghệ sĩ có tài vượt thác leo ghềnh (Người lái đò sống Đà)… Học Nguyễn Trãi, chúng ta luôn thấy thú vị trước những phá cách độc đáo của nhà thơ trong việc lựa chọn đề tài, trong cách sáng tạo những câu lục ở một số bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú như: “Bui có một lòng trung lẫn hiếu – Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen” (Thuật hứng số 24), hay “Dê có Ngu cầm đàn một tiếng – Dân giàu đủ khắp đòi phương" (Bảo kính cảnh giới)… Được thưởng thức cái đẹp, đó chẳng phải là niềm vui của người học Ngữ văn sao?
Nãy giờ ta chủ yếu khẳng định niềm vui của người học xuất phát từ hoạt động đọc – hiểu văn bẳn. Lẽ nào các hoạt động làm văn, học tiếng Việt không mang lại cho người học sự thích thú? Nhà thơ Lưu Quang Vũ đã viết bài thơ Tiêng Việt với tình cảm yêu quí chân thành:
“Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh”
Trước tất cả những gì môn học mang đến, người học chắc chấn sẽ tìm được sự hứng thú, say mê trong các giờ học của mình. Nhưng bên cạnh niềm vui, người học cũng có những nỗi khổ riêng, cần thấy niềm khổ của con người chỉ xuất hiện khi có sự mâu thuẫn giữa những ước mơ, khát vọng của họ và thực tế mà họ phải trải qua. Nói như vậy để khi bàn về nỗi khổ của việc học Ngữ văn chúng ta không nhầm lẫn với những vấn đề, hiện tượng đáng buồn đang nổi cộm trong hoạt động học Ngữ văn hiện nay.Xem thêm: Vẻ đẹp của đoạn thơ trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Theo tôi, Ngữ vãn là môn học không hề dễ học. Nó không đưa ra các công thức, định đề, định lí cụ thể, không có khuôn mẫu nhất định cho việc thực hiện các bài tập… như các môn học thuộc chuyên ngành khoa học tự nhiên. Muốn học tốt Ngữ văn, người học không chỉ cần tư duy rõ ràng, mạch lạc, sáng tạo, chủ động mà nhất thiết phải có tâm hồn, phải am hiểu cuộc sống. Không rung cảm, xúc động, chúng ta không thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của mỗi văn bản văn học; không nhạy cảm trước cuộc sống, chúng ta không thể lí giải được những gì các nhà văn, nhà thơ viết và cũng không thể tạo lập được các Bài làm văn có sức thuyết phục. Làm sao người học thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà văn Nam Cao nếu không cảm nhận được sự thâu hiểu, xót thương nhà văn gửi gắm trong mỗi chi tiết, mỗi sự kiện… trong “Chí Phèo”? Muốn nghị luận về hiện tượng ô nhiễm môi trường hiện nay, chúng ta phải có những hiểu biết cơ bản về thực trạng này, ở xung quanh ta và ở những nơi khác, phạm vi khác… Như vậy, người học phải sát sao với những vấn đề thuộc về chính cuộc sống con người chứ không phải những điều viển vông, xa lạ nào khác. Nỗi khổ này có thể được cải thiện nếu người học biết đào sâu những suy nghĩ, cảm xúc trong lòng mình. Đọc nhiều, học nhiều hơn, sống chân thành trong cuộc sống là cách tốt nhất để bồi đắp tâm hồn của mỗi chúng ta.
Con người ai cũng có tâm hồn nhưng không phải tâm hồn ai cũng đủ nhạy cảm để học tốt Ngữ văn. Nỗi khổ trong việc học môn này nằm ở chính điều đó.
Nói như vậy không có nghĩa ai có tâm hồn, ai nhanh nhạy trước việc nấm bắt tri thức Ngữ văn thì không có nỗi khổ. Người học hiểu sâu quá các bài học nhân sinh, hiểu nỗi lòng các nhà văn nhà thơ gửi gắm trong các văn bản văn học, hay khi bàn luận về các vấn đề, hiện tượng trong đời sống hiện nay sẽ rất đau lòng trước thực trạng suy thoái về nhân cách, đạo đức con người. Văn học hướng con người đến Chân, Thiện, Mĩ nhưng không phải vì thế mà né tránh những tồn tại trong cuộc sống. Cái “tâm” của người tâm huyết với môn học sẽ không được thanh nhàn như khi học các môn khác. Nỗi khổ này không hoàn toàn gây hại, tuy nhiên, chúng cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với nhân sinh quan, thế giới quan của con người. Người học tự xác định cho mình những phương thức cụ thể để cân bằng giữa việc học và thực tế cuộc sống.
Nói chung, môn học nào cũng mang đến người học niềm vui, nỗi khổ. Niềm vui, nỗi khổ của việc học Ngữ vãn chủ yếu xuất phát từ đặc trưng bản chất nhân văn của món học. Chúng khẳng định sức hấp dẫn của môn học và cho thấy Ngữ văn là môn học không thế’ không được dạy – học trong nhà trường.
Vanmau.edu.vn | Niềm vui và nỗi khổ của việc học môn Ngữ văn | 2,323 | |
Nét dẹp chuyển thu trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Gợi ý
Khoảnh khắc giao mùa giữa “Nàng Hạ” và “Nàng Thu” có lẽ là khoảnh khắc lạ lùng, xốn xang nhất của tự nhiên. Và bởi thế, nó gieo vào lòng người những xôn xao rung động khiến ta cũng như giao hoà, đồng điệu. Những nét đẹp tinh tế, êm ái ấy thơ ca nào mà cưỡng lại được! Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử,… từng có bao áng thơ rung rinh về thời khắc đặc biệt ấy. Và Hữu Thỉnh cũng nhè nhẹ góp “một chút này” cho thi đề giao mùa: bài thơ “Sang thu”.
Nét đẹp chuyển thu của bài thơ là vẻ đẹp tinh tế, dịu dàng. Mở đầu bài thơ là sự chuyển động rất tinh vi của sự sống khi hạ dần qua và thu đang đến. Không như những nhà thơ khác cảm nhận màu thu qua sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồng hay qua tiếng lá khô xào xạc:
“Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi… vàng rơi… Thu mênh mông”
(Bích Khê)
“Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”
(Lưu Trọng Lư),…
Cũng không day dứt, run rẩy như những câu thơ Xuân Diệu:
“Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”,…
Hữu Thỉnh đón nhận mùa thu từ những dấu hiệu đời thường, gần gũi: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se
Giữa những âm thanh, màu sắc và hương vị đặc trưng của mùa thu đang lan toả, chỉ có "hương ổi" làm nhà thơ bất chợt xao lòng. Đó là thứ hương vị thật dễ dàng để nhận ra ở chốn làng quê thôn dã. Nhưng có phải bởi quen thuộc quá nên đôi khi ta lãng đãng bỏ quên? Để đến khi nhận ra hết thảy chúng ta đều không khỏi bất ngờ: “Bỗng nhận ra hương ổi”. "Hương ổi" không chỉ lan toả mà còn vận động rất mạnh trong không gian: “phả vào trong gió se” như muốn quyện vào để giao hòa với gió. Có lẽ đó là sức sống dạt dào mà Hạ muốn tặng cho Thu chăng? Cơn gió se cũng là hình ảnh rất giản dị, quen thuộc. Đó là chút gió heo may se se lành lạnh mỗi độ đầu thu râ’t đặc trưng của miền Bắc Việt Nam. Trước Cách mạng, Xuân Diệu từng bị ám ảnh khôn nguôi bởi những làn gió ấy:Xem thêm: Cảm nghĩ của em về tình bạn thời học sinh“Đã nghe rét mướt luồn trong gió”
“Những luồng run rẩy rung rinh lá”,…
Có điều đó có lẽ bởi nhà thơ của những cảm xúc cảm giác đang độ tuổi thanh xuân rạo rực đang khao khát uống trọn những rung động thiên nhiên. Hữu Thỉnh thì khác, không chỉ bởi đây là khoảng khắc đầu thu dìu dịu mà còn bởi tuổi tác đã vững vàng, ông có đủ cái “tĩnh” để lặng lẽ quan sát những chuyến động của tự nhiên. Và như thế, “Sang thu” sẽ còn mang vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm mà điềm đạm, sâu sắc.
Màn sương thu hình như cũng muôn tận hưởng trọn vẹn hương thơm ngọt ngào và cái lạnh tinh vi đó mà "chùng chình" chưa muốn tan đi.
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Không gian có sự hoà hợp giữa hương ổi dịu dàng, gió thu nhẹ nhẹ và sương thu mơ màng tạo nên một ấn tượng đặc biệt mà ta khó lòng quên được. "Chùng chình" là sự cố ý muốn làm chậm lại, rung rinh, lay động (sự rung rinh lay động của làn sương hay là sự rung động trong tâm hồn nhà thơ Hữu Thỉnh?). Vạn vật trong thời khắc chuyến mùa vì thế càng trở nên duyên dáng, nhịp nhàng. Cảm quan tinh tế của nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng, rất duyên đó đê rồi xao xuyến: "Hình như thu đã về". Lời reo vui cũng thì thầm nhỏ nhẹ, bâng khuâng vang lên trong lòng Hữu Thỉnh như bước đi của mùa thu.
Sau giây phút ngỡ ngàng và khe khẽ mừng vui, tác giả lấy lại được cái điềm đạm vốn có để tiếp tục ngắm nhìn thiên nhiên đất trời:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bất đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu".
“Thu đã về” để sông không phải lo cuồn cuộn cuốn đi con lũ mùa hạ mà “được lúc” nghi ngơi “dềnh dàng”. Nhưng đàn chim cũng vì thế mà “bắt đầu” lo cho cái rét đang đến gần mà “vội vã” bay đi. Hai câu thơ đối nhau rất nhịp nhàng cân đôi đồng thời dựng lên hai hình ảnh đối lập nhau: Sông dưới mặt đất, chim ở trên trời; sông “dềnh dàng” chậm rãi, chim “vội vã” lo lắng,… Hai hình ảnh xinh xắn đó được đặt cạnh nhau để khái quát không gian mặt đất và bầu trời. Đọc đến đây, ta nhớ đến hai câu thơ của Huy Cận củng có sức bao quát như thế:Xem thêm: Nếu bạn là người phụ nữ bị bạo hành như trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.“Lớp lớp mảy cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.”
Nhưng hai câu thơ của nhà thơ “Tràng giang” gợi nồi rợn ngợp, bơ vơ thoáng chút thảng thốt, hãi hùng: mây liên tiếp nở bung ra “đùn núi bạc” như muốn phủ lấp tất thảy, cánh chim cô đơn mỏng manh như đang sa xuống mặt đất cùng ráng chiều. Còn ở đây, trong câu thơ Hữu Thình, mặt đất êm đềm như dòng sông đang lắng mình suy tư; bầu trời cùng như nhỏ lại, ấm áp hơn theo nhịp vận động “vội vàng” của cánh chim chăm chỉ. Huống chi, trên nền trời ấy còn có hình ảnh một “đám mây mùa hạ / vắt nửa mình sang thu" diệu kì như chiếc cầu vồng rực rỡ sắc màu. Hình ảnh ây khiến lòng ta rung động, không phải là "lớp lớp mây cao đùn núi bạc" hay "mây biếc về đâu bay gâp gấp" mà lại là "đám mây mùa hạ, vắt nửa mình sang thu". Có thể là một đám, hai đám hay nhiều hơn nữa nhưng có lẽ trong Sang thu mây không thể nào "lớp lớp mây cao" được. Vì mùa thu mới bắt đầu chưa thế nhuốm đượm lên "lớp lớp" sự vật được. Hình ảnh đám mây là một phát hiện râ’t mới lạ và độc đáo của Hữu -Thỉnh. Bức tranh chuyến mùa vì thế càng trở nên sinh động, giàu sắc gợi cảm.
Không chỉ cảnh vật mà cả những dấu hiệu của thiên nhiên thời tiết cũng đang ngả dần sang mùa thu dịu mát:Xem thêm: Nghị luận về ý kiến Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lai được: thời gian, lời nói và cơ hội- Văn 12Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần trong mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Nắng, mưa, sấm đã là của cuổì mùa nắng lửa. Ánh nắng chói chang ngày nào nay đã "vơi dần trong mưa" trở nên mát mẻ, dễ chịu hơn nhiều. Hai câu thơ cuối cùng gợi cho ta nhiều suy nghĩ, liên tưởng thú vị.
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy nghĩ chiêm nghiệm về đời người. Nhìn cảnh vật biến chuyến khi thu mới bắt đầu, Hữu Thỉnh nghĩ đến cuộc đời khi đã "đứng tuổi". Phải chăng mùa thu của đời người là sự khép lại những tháng ngày sôi nối với những bất thường của tuổi trẻ và mở ra một mùa mới, một không gian mới, yên tĩnh, trầm lắng hơn. Hai hình ảnh "sâm" và "hàng cây đứng tuổi" vừa có ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho thấy một Hữu Thỉnh rất đỗi tinh tế, nhạy bén trong cảm nhận và liên tưởng. Thu không đánh thức ta bằng những âm thanh vang động, màu sắc lộng lẫy, hương vị ngạt ngào mà gieo vào lòng ta những thoáng xao động, mơ màng, gợi trong ta những suy nghĩ sâu xa về cuộc sông. Có lẽ vì thế mà thơ thu, trong đó có Sang thu của Hữu Thỉnh rất giàu ý nghĩa.
Thời khắc “Sang thu” trong bài thơ của Hữu Thỉnh mang một vẻ đẹp tinh tế, trong sáng và dịu nhẹ. Đó là mùa thu của những rung động hồn nhiên, giản dị trong tâm hồn một người thơ đã “đứng tuổi”. Và cũng bởi vậy, bài thơ không chỉ đẹp bởi những hình ảnh thơ xinh xắn, đáng yêu mà còn bởi một tâm hồn nhạy cảm, giàu chất suy tư và rất đỗi nhân hậu với cuộc đời.
Vanmau.edu.vn | Nét dẹp chuyển thu trong bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh | 1,503 | |
Nét mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều). Ý nghĩa của hình tượng nhân vật này
Gợi ý
Người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật miêu tả. Qua đoạn trích Chí khí anh hùng trích từ Truyện Kiều, có thể nhận thấy nhiều nét mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng như ý nghĩa của hình tượng nhân vật này.
Chí khí anh hùng là đoạn do Nguyễn Du sáng tạo ra trong văn bản Truyện Kiều, không có trong Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân). Trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Từ Hải được tả rất trần trụi, có nét tướng cướp, lại từng thi hỏng, đi buôn… Những chi tiết này đều được Nguyễn Du lược bỏ, thay vào đó, nhà thơ xây dựng một hình tượng anh hùng tuyệt đẹp.
Người anh hùng là nhân vật lí tưởng truyền thống của văn học trung đại. Nhưng đó không phải là hình tượng thường xuyên xuất hiện trong các sáng tác của Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chỉ xây dựng duy nhất một hình tượng anh hùng, đó là Từ Hải. Từ Hải là nhân vật yêu thích của Nguyễn Du. Nguyễn Du xây dựng hình tượng người anh hùng theo quan niệm của mình và bằng quan niệm của mình. Từ Hải là sự hợp nhất của hai hình tượng: hình tượng có tính ước lệ và hình tượng con người vũ trụ. Đó là nét mới mẻ trong cách xây dựng hình tượng người anh hùng của Nguyễn Du so với các nghệ sĩ trước đó.Xem thêm: Cảm nhận của em về nhân vật Tấm trong Tấm Cám Trước Nguyễn Du, văn học Lí Trần đã xây dựng khá nhiều hình tượng người anh hùng. Đó lầ những ai? Là hai vị Thánh quân trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu, là nhân vật trữ tình trong Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải, là hình tượng nhân vật trữ tình trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão… Thời Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cũng đã xây dựng hình tượng người anh hùng Lê Lợi. Hầu hết các hình tượng anh hùng này đều có sự đán xen giữa hình tượng chân thực và hình tượng con người vũ trụ. Họ hiện lên vừa có nét chân thực:
Đoạt sóc Chương Dương độ Cầm hồ Hàm Tủ quan (Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù) vừa có nét phi thường:
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
(Múa giáo non sông trải mấy thâu).
Xây dựng hình tượng nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng, Nguyễn Du kết hợp miêu tả vừa ước lệ, vừa tạo ấn tượng về tầm vóc vũ trụ. Hai phương diện ước lệ và cảm hứng vũ trụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau:
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.
Lòng bốn phương là khái niệm có nội hàm diễn tả con người vũ trụ. Bốn phương ở đây chỉ nam, bắc, đông, tây, có nghĩa là thiên hạ, thế giới. Nhưng theo Kinh Lễ, xưa sinh con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng, bắn tên ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghiệp lớn. Như vậy, lòng bốn phương không chỉ có nội hàm diễn tả con người vũ trụ mà còn là hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho chí nguyện lạp công danh, sự nghiệp. Các hình tượng trông vời trời bể mênh mang, bốn bể, chim bằng, gió mây cũng tương tự như vậy. Chúng vừa là ước lệ, lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc vũ trụ của Từ Hải. Sự đan kết hai nội hàm ý nghĩa trước- hết khắc hoạ hình tượng nhân vật lớn lao, kì vĩ, phi thường. Chính sự kết hợp đó khiến hình tượng người anh hùng trong sáng tác của Nguyễn Du trở thành lí tưởng. Và vì lí tưởng nên không thể sử dụng bút pháp tả thực để miêu tả được. Cũng vì lí tưởng nên hình tượng nhân vật người anh hùng Tả Hải mãi mãi chỉ là mơ ước của nhà thơ. Nguyễn Du mơ ước có được một người anh hùng như thế, để thực thi khát vọng công lí cho những thân phận bất hạnh như Thúy Kiều.Xem thêm: Bàn về một kĩ năng sống Nét mới mẻ thứ hai trong each xây dựng hình tượng người anh hùng Từ Hải trong Chí khí anh hùng là nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ nhân vật. Nguyễn Du để hai nhân vật đối thoại với nhau và người mở lời là Thuý Kiều:
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”
Mặc dù rất yêu và trân trọng nàng nhưng Từ Hải đã đáp lại bằng những lời lẽ dứt khoát mà hợp tình hợp lí:
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?…
Từ Hải không quyến luyến, bịn rịn tình yêu mà quên lí tưởng cao cả. Trong lời nói của Từ, hình ảnh mười vạn tinh binh và bóng cờ, tiếng chiêng gợi nên ‘khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng xưa. Chàng còn khẳng định quyết tâm và sự tất yếu thành công qua cách ước lượng thời gian:
Chầy chăng là một năm sau vội gì!
Nguyễn Du không cần miêu tả dài dòng, chỉ bằng mấy câu nói, nhân vật của ông đã hiện lên trọn vẹn với khí phách anh hùng.
Đọc Chí khí anh hùng, có thể thấy khi miêu tả những suy nghĩ, hành động của nhân vật, tác giả luôn lựa chọn những động từ gợi tả sự nhanh gọn, dứt khoát, kiên quyết: thoắt, thẳng rong, dứt áo ra đi. Những từ ngữ này đã góp phần khắc hoạ tính cách anh hùng của nhân vật Từ Hải.Xem thêm: Bình luận tư tưởng hàm chứa trong câu nói của Gớt: “Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu" Như vậy, có thể thấy, trong Chí khí anh hùng, khi xây dựng nhân vật người anh hùng của mình, Nguyễn Du đã có nhiều sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật miêu tả. Nhờ đó, hình tượng nhân vật Từ Hải đã đi vào lòng mỗi người đọc với những ấn tượng đặc biệt, không thể lẫn với các hình tượng người anh hùng khác. Chính lòng yêu mến và tài năng nghệ thuật đã giúp Nguyễn Du có được thành công lớn khi xây dựng hình tượng nhân vật Từ Hải trong đoạn trích này.
Vanmau.edu.vn | Nét mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Từ Hải trong Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều). Ý nghĩa của hình tượng nhân vật này | 1,156 | |
Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ nhân xưng “mình” – “ta”
Gợi ý
Tố Hữu là ngọn cờ đầu của thơ ca Cách mạng. Tính chất cách mạng ấy thể hiện ở chỗ các sự kiện lớn của cách mạng đều được Tố Hữu phản ánh kịp thời. Việt Bắc là bài thơ đánh dấu sự kết thúc kháng chiến, chính phủ rời Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Bài thơ như một tổng kết nhỏ, nhìn lại toàn bộ những ngày tháng gian nan kháng chiến hào hùng. Trong bài thơ, ta có thể thấy Tố Hữu đã sử dụng rất thành công đại từ nhân xưng “mình” với “ta”.
Mình và ta là cách xưng hô thân mật của người Việt được sử dụng khá uyển chuyển trong đời sống:
“Mình với ta tuy hai mà một
Ta với mình tuy một mà hai”.
Hay
“Mình nhớ ta như cà nhớ muối
Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng”.
Vận dụng cách xưng hô thân thiết của dân gian, nhà thơ Tố Hữu đã tạo ra hai nhân vật trữ tình người đi kẻ ở với cách gọi "mình – ta", tạo ra một cuộc đốì đáp đầy tình cảm, lưu luyến, bịn rịn "Mình về mình có nhớ ta? ", "Ta về mình có nhớ ta". Hai nhân vật trữ tình hoán đổi cho nhau cách xưng hô, "ta" là người ở lại, "ta” cũng là người ra đi. "Mình" là người ra đi, cũng chính là người ở lại. Chính vì thế, mà mình với ta như hình với bóng, như bóng với hình. Hơn nữa, mình không chỉ là người đi, hoặc người ở. " Mình” ở đây bao gồm cả hai:Xem thêm: Viết đoạn văn (8 - 10 câu) nêu lên tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người trong đó có sử dụng hai câu ghép"Mình đi mình lại nhớ mình"
Nhân vật "ta" cũng vậy:
"Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây
Đất trời ta cả chiến khu một lòng"
Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi được Tố Hữu tái hiện thật cảm động. Chính điều đó đã khẳng định tình cảm đắm thắm sắt son của nhân dân Việt Bắc đối với Cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ, đồng thời cũng thể hiện tình cảm của cán bộ kháng chiến với con người Việt Bắc.
Tóm lại "mình – ta" là cách xưng hô đã được Tố Hữu sử dụng linh hoạt tạo nên sự gắn bó rất thú vị giữa người ở, người đi tạo ra sự bâng khuâng, bịn rịn, tưởng như không thể tách rời giữa Việt Bắc và những người đã gắn bó với quê hương Cách mạng thủ đô gió ngàn.
Vanmau.edu.vn | Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ nhân xưng “mình” – “ta” | 456 | |
Nét đặc sắc của bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ thứ nhất và hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?
Hướng dẫn
a) Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội là biểu tượng cho những chặng đường hành quân gian khổ.
– Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội, hoang sơ của miền Tây: những địa danh xa lạ mà gần gũi nơi những người lính Tây Tiến đã đi qua (Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu) với các sự vật tiêu biểu của miền Tây: mây, mưa, thác, cọp… con đường gập ghềnh, hiểm trở, cuộc hành quân gian khổ và khắc nghiệt của những người lính Tây Tiến.
– Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây được mở ra trên chặng đường hành quân của những người lính Tây Tiến, cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày… liên tục xuất hiện trong bài thơ. Đặc biệt những hình ảnh cùng nhịp điệu, thanh điệu trong những cầu thơ sau:
Dốc lên khúc khuỷu dọc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
– Vẻ hoang sơ, dữ dội, ác liệt của Tây Tiến càng thể hiện rõ nét hơn bằng những thủ pháp nhân hoá, cường điệu: súng ngửi trời… và:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người…
Với bức tranh thiên nhiên ấy, càng làm nổi bật hơn vẻ đẹp kiêu hùng, vượt lên trên tất cả mọi gian khó, mọi mất mát đau thương của những người lính trong đoàn quân Tây Tiến.
b) Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trên nền cảnh thiên nhiên ấy càng trở nên hào hùng:
– Có cái tinh nghịch, dí dỏm của các chàng trai Hà Nội – Đó là sự chiến thắng thiên nhiên khi các anh đã “chạm” đến trời, đã lên đến đỉnh cao nhất của chiến trường miền Tây để đánh giặc
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
– Có cái gan góc, kiên dũng của những người lính trên nền dữ dội và bí ẩn của thiên nhiên:
Chiều chiều oai lình thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
– Ngay đến cái chết, sự ra đi của các anh thanh thản, đẹp tuyệt vời
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
– Có sự hài hợp đáng yêu trong tình quân dân kháng chiến
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi:
Nguồn: thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Ta về, mình có nhớ ta, Ta về, ta nhớ những hoa cùng người… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung | Nét đặc sắc của bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ thứ nhất và hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên trong đoạn thơ như thế nào_ | 450 | |
Nét đặc sắc của sử thi Đẻ đất đẻ nước
Hướng dẫn
Thể loại sử thi đã tồn tại ở các văn học Thái, Ê đê, Bahnar… thì dĩ nhiên nó cũng tồn tại trong văn học Việt – Mường. "Đẻ đất đẻ nước " có đủ bốn yếu tố bắt buộc của một sử thi:
– Thứ nhất, đó là một tác phẩm tự sự. Nó kể lại sự ra đời của trời, đất, nước, ường, dân tộc Mường.
– Thứ hai, đó là một tác phẩm mang tính lịch sử bởi vì đây là một thí nghiệm giảithích bằng lịch sử không những sự hình thành của tộc người Mường, mà cả những thành tựu của văn hoá: làm nhà, kiếm lửa, trồng lúa, sự phân chia trong nội bộ tộc người Mường, quá trình lao động sản xuất.
– Thứ ba, đó là một tác phẩm mang tính nhân văn sâu đậm, bởi vì nó phổ biến khắp mọi nơi người Mường sinh sống. Nó trở thành một yếu tố thân thiết của đời sống, đến mức độ nó trở thành những khúc hát đưa linh hồn người Mường trở về với cội nguồn, với tổ tiên.
– Thứ tư, đó là một tác phẩm kì vĩ, vì từ đầu đến cuối nó nói lên mối quan hệ qua lại giữa thế giới trần gian với thế giới thần linh.
Tuỳ theo cách quan niệm mối liên hệ giữa con người với thần linh, người ta chia ra hai loại sử thi, là loại sử thi dân gian và loại sử thi bác học. Sự phân biệt này rất quan trọng đểđánh giá cho đúng ý nghĩa lịch sử của “Đẻ đất đẻ nước”.
"Đẻđất đẻ nước ” thuộc loại sử thi dân gian điển hình của Đông Nam Á. Nói như vậy, có nghĩa là, dù cho đời sau có thêm bớt, sửa đổi gì, thì những sửa đổi, thêm bớt ấy chỉ có thể đụng chạm đến câu, đến chữ, chứ không đụng chạm đến tinh thần của câu chuyện. Nói khác đi, đây là tác phẩm hình thành vào giai đoạn liên minh bộ lạc chưa chuyển sang nhà nước trung ương tập quyền. Bởi vì khi đã chuyển sang nhà nước trung ương tập quyền, thì các thần linh đã được tổ chức lại thành một hệ thống tôn giáo. Vào lúc đó, mối quan hệ ngây thơ giữa thần với người đã mất. Nhà thơ sẽ dùng thế giới thần linh để tô điểm cho việc làm của người trần. Khi cái lòng tin ngây thơ vào thế giới thần linh đã mất, và nó mất khi nhà nước trung ương tập quyển thành lập, thì không ai có thể sáng tác sử thi dân gian được. Người ta chỉ có thể sáng tác được sử thi bác học (épopée savante) như Virgilius đã sáng tác Ênêít.
Nếu trong văn học bằng tiếng Việt từ thế kỉ X không có sử thi thì không có gì lạ. Văn học Việt bắt đầu với sự ra đời nhà nước trung ương tập quyền. Và nếu thế thì hiện tượng không có sử thi dân gian ở Việt Nam từ thế kỉ thứ X là một hiện tượng phổ biến.
Trở lại tính chất dân gian của sử thi "Đẻ đất đẻ nước”, ta thấy người Việt – Mường hình dung thần linh rất mộc mạc. Thần đều là những người lao động, sản xuất. Tà Cắm Cọt (nghĩa đen là “ông già làm việc chăm chỉ”, vị thần lửa làm ra lửa bằng cách chẻ nứa già làm bùi nhùi rồi lấy dây kéo ống nứa để tia lửa bốc ra cháy vào bùi nhùi; Nàng Tiên Tiên Mái Lua (Tiên là “dâng” – Tiếng Tày, tiên là "lễ vật ” – tiếng Khơ-me, mái là "thích ”) trao cho nàng Dặt Cái Dành các giống lúa để xuống trần mà trồng. Tóm lại, các thần cũng sống vất vả như người trần tự làm lấy mà ăn, chứ không phải sống nhờ vật cúng tế hay chỉ biết vui chơi. Các con quái vật cũng thế. Con Moong Lồ sinh ra từ máu của Thằng Tăm, con Tạch (tạch tiếng Tàylà quái). Điều hết sức tiêu biểu là ởđây không có phép thuật. Con vật này muốn biến thành con vật khác thì trước đó nó phải chết đi. Khi sử thi không chứa đựng yếu tố pháp thuật thì giữa thần linh với người, quyền lực không khác gì nhau.
Qua "Đẻ đất đẻ nước”, các huyền thoại của Việt Nam làm thành một hệ thống nguy nga, đồng thời lại rất mộc mạc, chưa bị cái nhìn từ chương đời sau làm cho thành hoa mĩ, nhưng cũng vì thế mà xa thực tế. Nếu ta đã chấp nhận một nguồn gốc chung giữa người Việt với người Mường thì ta cũng phải chấp nhận cái hệ luận: những truyền thuyết của người Mường về nguồn gốc của mình là gần cách nhìn cổ xưa hơn các truyền thuyết mà sử sách ta để lại.
Câu chuyện mẹ tiên là như sau: Hai nàng tiên chơi lạc đường, gặp hai chàng Cun Bướm Vàng và Cun Bướm Bạc, con của Mụ Dạ Dần, trò chuyện với nhau quá lâu nên khi trở về trời, thì cửa trời đã đóng. Hai nàng tiên lại xuống trần lấy hai chàng và sinh con. Câu chuyện chẳng khác gì chuyện gặp nhau của trai gái Mường trong thực tế. Huyền thoại trứng nở ra người, trong đó có người Lào, người Kinh, người Mường, mấy anh em Dịt Dàng, Tà Cái, Cun Cần… Cách nhìn như vậy là rất gần với quan niệm vật tổ Ông thần Kim Quy ở đây là con rùa vàng, con vật đã bày cho Lang Cun Cần cách làm nhà và làm cho nhà lang Cún Cần giàu có. Chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh ở đây biểu hiện thành chuyện Toóng In nhờ bọn cá ngao, rồng rắn lên đánh Cun Khương nhưng bị Cun Khương tiêu diệt. Ta có thể đưa ra nhiều so sánh khác, nhưng làm thế sẽ vượt ra ngoài phạm vi một bài giới thiệu.
Xem thêm: Giới thiệu bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán SiêuCách trình bày về tổ chức xã hội ở đây cũng rõ ràng mang tính chất Đông Nam Á. Ta không thấy có một triều đình nào cả với ông vua trên cao, rồi lạc hầu, lạc tướng, giống như một triều đình quân chủ tập trung. Người cầm đầu dân chúng là một ông Lang do Mường nước mời ra. Cuộc sống của ông Lang không có gì là xa hoa. Ông ta cũng phải nuôi gà, nuôi lọn để thết khách, phải lo chuyện làm ăn, đồng thời phải lo trừ những tai họa cho dân như thú dữ, quỷ dữ. Giữa ông Lang với dân, sự ngăn cách không to lớn lắm. Khi có tiệc rượu mừng thì cả mường vào ăn. Đời sống của nhân dân không có gì là no đủ, họ phải đi đào củ mài, họ bị Lang sai đi làm việc này việc khác rất vất vả. "Đẻ đất đẻ nước ” không thi vị hoá cuộc sống, mà kể lại nó khá giản dị, chân thật. Đây là cuộc sống còn mang tính chất bộ lạc.
Một sử thi phải tập trung chung quanh một nhân vật thì cách tự sự mới khỏi mang tính chất tản mạn và trở thành một tác phẩm thống nhất. Nhân vật trung tâm của "Đẻ đất đẻ nước ” là Lang Cun Cần. Điều kì lạ là ông ta ra đời cùng với con người đầu tiên và sống mãi cho đến cuối truyện, chiếm ba phần tư tác phẩm, như vậy là phải sống ít nhất vài vạn năm. Lang Cun Cần gồm chữ “lang” là người cầm đầu, “cun”là gốc ở tiếng Việt phía Nam Dương Tử, nghĩa là cai quản, Cần là gốc Thái nghĩa là người. Đó là hình ảnh tượng trưng cho kẻ cai quản mọi người. Nhưng ông Lang Cun Cần này cũng không có gì tiêu biểu cho đạo đức. Ông lấy em gái mình, bất chấp mọi cản trở, rồi sau bỏ em gái vào rừng sâu, khi sinh con đều trở thành ma quái; ông lừa cho Tặm Tạch uống say nhằm biết bí mật cây chu có bông thau quả thiếc để được giàu có. Ông muốn cướp vợ người ta… Nhưng đồng thời ông cũng lo lắng đến dân chúng: ông nhờ Rùa vàng biết được cách làm nhà, sai người đi học được cách làm ra lửa, kiếm được giống lúa,… Có thể xem ông ta là một anh hùng văn hoá. Nhưng từ đầu đến cuối, ông ta không mang một đặc điểm nào có tính chất phi thường, về hình dáng, sức lực cũng như về các kì công, ông không có gì khác mọi người. Ông chỉ là người biết sai bảo, biết quan tâm tới lợi ích của dân.Trường ca nào cũng không tránh khỏi chuyện tranh giành phụ nữ. Nhưng ở đây, tuy chuyện Lang Cun Cần lấy vợ chiếm tới hai chương, nhưng vẫn không phải là tranh giành, mà là hỏi vợ tử tế theo thủ tục cưới xin. Điều đặc biệt đáng chú ý là không có chiến tranh xâm lược, trong cả toàn bộ bản trường ca dài hàng vạn câu, không nhắc một chữ tới Trung Quốc. Cuộc sống là cuộc sống bình thường trong lao động, tìm cách khắc phục những khó khăn thiếu thốn về vật chất để có được sự yên lành. Cũng có xung đột, tranh giành, giết chóc. Nhưng nguyên nhân là do việc Lang Cun Cần chia đất cho các con. Cuộc tranh giành gia tài dẫn tới chiến tranh trong nội bộ bộ lạc. Cun Khương, con của Lang Cun Cần mà ông ngoại ở trên Trời bị em mình là Toóng In vu cáo là làm giặc để cướp đất của anh ta. Cun Khương phải chạy trốn lên nhờ ông ngoại làm ra lụt lội bắt các em phải giết Toóng In. Những chuyện tranh giành đất đai là hết sức bình thường ở trong truyền thuyết phương Đông. Chiến tranh, yếu tố quan trọng bậc nhất trong các trường ca ở đây giữ một vai trò hết sức thứ yếu. Nội dung của trường ca này là lịch sử người Mường sống trong lao động xây dựng, chống lại thiên nhiên, tìm mọi cách làm cho cuộc sống được yên lành.
Tóm lại, “Đẻđất đẻ nước ” với một nội dung không thể to lớn hơn được là nguồn gốc và sự phát triển của đất nước và dân tộc, đã biểu hiện đúng thực chất của một nền văn học. Đó là nền văn học Việt Nam, trong đó hạnh phúc là ở dưới đất này, trong cuộc sống lao động, có vợ con, có làng bản, không cần đến sự can thiệp của thế giới bên kia. Ởđây, cũng như trong truyền thống sau này, không có cái đà phiêu diêu của trí tưởng tượng, nhưng có cái chất đậm đà chân thực của sự sống, của lao động và tình hữu ái của anh em làng xóm. Cun Khương, con Cun Cần, người nối dõi cha mình, là nhân vật thứ hai. Ông ta trở thành vua và mường nước lo xống áo cho ông ta, rước ông ta về đồng chì tam quan kẻ chợ. Tác phẩm vĩ đại này đã bắt đầu từ chỗ phải bắt đầu. Đó là nguồn gốc của trời đất và muôn vật. Nó đã kết thúc ở đỉnh điểm: Đó là lúc chia tách giữa người Mường, người Kinh với sự chuyển dời của kinh đô. Khó lòng có một tác phẩm thứ hai có một nội dung to lớn hơn, trọn vẹn hơn. Xét về mặt này không có một tác phẩm thứ hai nào trong văn học Việt Nam sánh ngang với nó về quy mô cũng như về ý nghĩa lịch sử.
Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du hay nhất | Nét đặc sắc của sử thi Đẻ đất đẻ nước | 2,037 | |
Nét đặc sắc nghệ thuật trong “Người trong bao” của A.P.Sê-khốp
Gợi ý
Là một trong những đại biểu lớn cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực Nga, Sê- khốp bước vào lịch sử văn học Nga như một nhà cách tân thiên tài trong lĩnh vực truyện ngắn và kịch nói. Tác phẩm của Sê-khốp đã nghiêm khắc lên án chế độ xã hội bất công, thói cường bạo và cuộc sống ăn hội của những tầng lớp cường quyền nước Nga đương thời đồng thời phê phán sự bất lực của giới trí thức và sự sa đọa về tinh thần của một bộ phận trong số họ. Sê-khốp đồng cảm sâu sắc, trân trọng đối với những người dân nghèo, người nông dân Nga, yêu thắm thiết và tin tưởng vào tương lai của nhân dân Nga, đất nước Nga. “Người trong bao” là một trong ba chuyện ngắn (Khóm phúc bồn tử, Một chuyện tình yêu, Người trong bao) chung chủ đề phê phán lối sống tầm thường, dung tục tiểu tư sản, lối sống của một kiểu người, một bộ phận trí thức Nga những năm cuối thế kỉ XIX. Tác phẩm để lại ấn tượng cho người đọc bởi những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng biểu tượng và nhân vật điển hình với nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn.
Những kiểu người kì quái, lạ lùng thường xuất hiện trong xã hội suy tàn. Họ không chỉ gây tò mò mà còn làm vẩn đục bầu không khí trong cuộc sống, đem lại tai họa cho những người xung quanh. Bê-li-cốp là một quái thai như thế của xã hội. Với lối sống thu mình vào trong vỏ ốc cực kì quái đản, một giáo viên binh thường như Bê-li-cốp đã trở thành nỗi ám ảnh cho mọi người trong xã hội lúc đó. Thông qua tài năng nghệ thuật của mình, Sê-khốp đã biến một anh chàng giáo viên dạy tiếng Hi Lạp cổ trở thành một hình tượng điển hình cho bộ phận không nhỏ người Nga lúc bấy giờ. Hình tượng Bê-li-cốp hiện lên thật độc đáo, kì dị và khác thường. Hắn kì dị cả về cách ăn mặc trong tính cách. Cách ăn mặc của hắn thật quái dị: “Hắn ta nổi tiếng về một điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào những khi đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông”. Tất cả đều màu đen và đều nằm trong bao, cho vào bao. “ô hắn cũng để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta dường như cũng ở trong baọ vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên…” Sẽ không ai có thể không lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy cái hình hài đó của hắn. Sự kì dị trong cách ản mặc đồng thời cũng nói lên sự kì cục lập dị trong tính cách và thể hiện một nhân cách hèn nhát và bé mọn. Lúc nào hắn cũng có một khát khao mãnh liệt là thu mình vào trong một cái vỏ, tạo cho mình “một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bến ngoài”. Tính cách kì quái đó của Bê-li-côp được tác giả đẩy lên cao hơn nữa với khá nhiều dẫn chứng sinh động trong cuộc sống hàng ngày, “ở nhà hắn cũng sống thế thôi: cũng vẫn mặc áo khoác ngoài, đội mũ, đóng cửa, cài then, có đủ sự ngăn cấm và hạn chế, lúc nào cũng sợ nhỡ có chuyện gì xảy ra. Buồng ngủ của Bê- li-cốp chật như cái hộp. Khi nằm ngủ, hắn kéo chăn trùm đầu kín mít..”.. Ngay cả trong mối quan hệ với đồng nghiệp hắn cũng giữ nguyên thói quen hết sức kì cục của mình. Những tiếng thở dài và thói quen sống khác người của hắn tác động đến những người xung quanh. Con người là tổng hoà các mối quan hệ. Nhưng hắn lại đang cố gắng tìm mọi cách để dí trái lại các qui luật tất yếu ấy. Hắn không muốn quan hệ với bất cứ ai. Hắn chỉ muốn giấu mọi thứ vào trong bao. Từ lối sống cho đến suy nghĩ hắn đều muôn giấu ở trong bao. Y không có ý kiến riêng về bất kỳ một vấn đề nào. Nói điều gì cũng viện vào các chỉ thị, thông tư, sợ bị vi phạm vào những chỉ thị, thông tư ấy một cách hết sức máy móc và giáo điều. “Bê-li-cốp sợ hãi”: sợ nói to, sợ chửi tục, sợ làm quen, đọc báo, giúp đỡ người nghèo, dạy chữ… Câu nói cửa miệng của Bê-li-cốp là: “Nhỡ có chuyện gì xảy ra…”. Cái sự “nhỡ có chuyên gì” ấy góp phần khắc họa tính cách hèn nhát của hắn, nó chi phối đến cả cuộc đời hắn, khiến cho hắn lúc nào cũng sống trong cảm giác sợ hãi.Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
Bê-li-cốp chưa có một phút giây nào dám sống cho chính mình cả. Hắn tìm kiếm sự an toàn cả về thể xác lẫn tâm hồn trong một cái bao lớn để nó có thể trở thành lớp vỏ ngăn, bảo vệ bao bọc cho hắn khỏi những tác động của cuộc sống bên ngoài. Bê-li-cốp trở thành một điển hình cho lối sống trong bao của một bộ phận không nhỏ trí thức Nga trong thời kì đó. Hắn làm ta nhớ đến hàng loạt các nhân vật tương tự như anh đầy (Anh béo và anh gầy), anh viên chức (Cái chết của một viên chức), ông Lí Sự (Ớ nơi đày ải. Tất cả họ đều là những con người nhỏ bé, hèn nhát đến tội nghiệp. Họ nhỏ bé từ lốì sống, cách cư xử và đến ngay cả những ước mơ, một hình thức khác của lối sống trong bao đáng bị phê phán. Trong kiểu các “nhân vật trong bao” đó, Bê-li-cốp có thể coi là một nhân vật điển hình tiêu biểu nhất. “Tính chất trong bao” của hắn được cao độ hóa đến mức nó toát lên từ tất cả những gì thuộc về con người hắn: hình dáng, cách phục sức, cách cư xử, suy nghĩ, nhân cách… Những biểu hiện đó chỉ có trong Bê-li-cốp, là riêng của Bê-li- cốp nhưng nó lại có sức khái quát lớn cho một lối sống trong bao của tất cả những thân phận “con người nhỏ bé thời bấy giờ”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh Cùng với việc xây dựng hình tượng nhân vật điển hình, Sê-khôp còn rất tài tình trong việc xây dựng biểu tượng. Đọc tác phẩm cái ám ảnh người đọc, bên cạnh hình tượng Bê-li-cốp còn là hình ảnh “chiếc bao” luôn song hành cùng với hắn, một hình ảnh sáng tạo độc đáo có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Chiếc bao là vật dùng để bao gói, đựng đồ vật, hàng hóa. Nó được Sê-khôp dùng để ám chỉ cho tính cách và lối sống của Bê-li-cốp. Chiếc bao còn là một hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng cho kiểu người trong bao, lối sống trong bao, một kiểu người, một lối sống không chỉ đã và đang tồn tại ồ nước Nga nửa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Hình ảnh mang tính biểu tượng và có ý nghĩa phổ quát sâu rộng. Nó không chỉ gợi nên thực trạng xã hội Nga tại thời điểm đó, trói buộc, tù túng, vây hãm cuộc sống con người trong một “cái bao” khổng lồ mà còn ám chỉ cho lối sống phẳng lặng, nhạt nhẽo, vô nghĩa lí của một bộ phận không nhỏ: “Quanh quẩn mãi cũng vài ba dáng điệu/ Tới hay lui cũng bằng ấy dáng hình”.
Không chỉ đặc sắc ở nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, Sê-khốp còn khiến cho người đọc bị hấp dẫn bởi nghệ thuật kể chuyện đầy ấn tượng. Tác phẩm lựa chọn nhân vật trong truyện đồng thời là người kể chuyện (Bu-rơ-kin) ở ngôi thứ nhất (xưng tôi). Rồi chính tác giả, vẫn giữ ngôi thứ ba, kể lại câu chuyện của Bu-rơ-kin. Cách kề chuyện này vừa đảm bảo tính khách quan vừa thể hiện được tính chủ quan, gây được cảm giác gần gũi, chân thực. Tác giả chỉ là người nghe và kể lại câu chuyên. Ông không bình luận mà nhường quyền bình luận cho những người trong cuộc nhưng qua đó người ta vẫn hiểu được thái độ và quan niệm của ông gửi gắm trong đó. Câu chuyện có cấu trúc truyện Ịồng trong truyện: truyện kể của tác giả về hai người đi săn về muộn; truyện kể của Bu-rơ-kin về Bê-li-cổp. Người đọc bị cuốn hút và bất ngờ từ hết câu chuyện này sang câu chuyện khác và cuốì cùng bị thu hút hoàn toàn trong câu chuyện kể về Bê-li-cỗp. Giọng kể mỉa mai, châm biếm mà trầm tĩnh, chậm buồn, bề ngoài có vẻ khách quan, bình thản nhưng giấu bên trong sự bức xúc, trăn trở mạnh mẽ sâu sắc. Người ta cười sảng khoái trước sự kệch cỡm của Bê-li-côp nhưng sau đó lại giật mình thấm thìa cho sự xuống cấp của nhân cách, lối sống con người. Tác phẩm cũng xây dựng nhiều sự đối lập: đốì lập giữa các kiểu người, tính cách, lối sống (Bê-li-cốp – Chị em nhà Va- ren-ca; Bê-li-cốp với những người xung quanh hắn, nơi hắrí làm việc). Đối lập đến mức không thể dung hòa mà chỉ có thể giải quyết theo hai hướng khác nhau: hoặc là đồng hóa theo (như những người xung quanh Bê-li-cốp đã vô hình chung bị nhiễm tính cách của hắn) hoặc phải loại trừ nhau (Hai chị em Va-ren-ca cuối cùng chuyển đi nơi khác bở sự xuất hiện của hai chị cô, hai con người sống hồn nhiên vui vẻ với đúng con người mình, không thể làm thay đổi cái lối sống, không khí sống u ám, buồn tẻ, tù túng đã trở thành quen thuộc nơi ấy. Từ hình tượng nhân vật điển hình và hình ảnh biểu tượng cùng với nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, tác phẩm lên án, phê phán mạnh mẽ kiểu người trong bao, lối sống trong bao và tác hại của nó đôi với hiện tại và tương lai của nước Nga và bức thiết cảnh báo và kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cuộc sống, cách sống, không thể sống tầm thường và hèn nhát, ích kỉ, vô vị và hủ lậu mãi như thế. Lời kêu gọi ấy cũng giống như những gì ta đã từng được nghe ở Xuân Diệu:Xem thêm: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người trong bài thơ “Chiều tối” (mộ) của Hồ Chí Minh“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
Nét đặc sắc trong nghệ thuật của “Người trong bao” đã không những giúp cho việc khắc họa hình tượng nhân vật trỗ nên sâu sắc và hiệu quả hơn mà còn chứng minh cho cái tài, cái tâm của Sê-khốp. Với tác phẩm tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật và phong cách sáng tác này, Sê-khốp xứng đáng là “con chim linh điểu trên đại ngàn và thảo nguyên Nga”…
Vanmau.edu.vn | Nét đặc sắc nghệ thuật trong “Người trong bao” của A.P.Sê-khốp | 1,981 | |
Nét đẹp của bức tranh kinh thành xưa qua bài ca dao: Gió đưa cành trúc la đà
Gợi ý
Ca dao, dân ca phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người xưa. Trong đó đề tài miêu tả cảnh đẹp đất nước chiếm một mảng khá lớn. Mỗi bài ca dao nói về cảnh đẹp là một bức tranh phong cảnh tuyệt vời, ẩn chứa lòng tự hào, tình cảm gắn bó thiết tha, sâu nặng với quê hương, xứ sở. Bài ca dao nói về cảnh đẹp Hồ Tây ở thủ đô Hà Nội đã được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và trở thành lời ru quen thuộc của các bà mẹ:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xuơng
Mịt mùng khói toả ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.
Hồ Tây xưa có tên là hồ Lãng Bạc (tức cái bến có sóng lớn), hay còn gọi là Dâm Đàm (hồ sương mù) vì thường vào lúc sáng sớm hoặc chiều tối, sương phủ dày trên mặt nước. Vì ở vị trí phía Tây nên sau này nó được đổi tên thành Hồ Tây. Xung quanh là những địa danh nổi tiếng của đất Thăng Long: chùa Trấn Vũ, huyện lị Thọ Xương, làng Yên Thái (vùng Bưởi) chuyên làm nghề giấy (vỏ cây đó được ngâm mềm, giã nhuyễn rồi cán mỏng thành giấy), phường Nghi Tàm, quê hương của Bà Huyện Thanh Quan, nữ thi sĩ nổi tiếng của đất nước ta. Xem thêm: Cả lớp đều khâm phục tinh thần giúp đỡ các gia đình thương bỉnh, liệt sĩ của bạn H. Bạn ấy xứng dáng là Cháu ngoan Bác Hồ. Lớp trưởng thay mặt lớp viết đơn xin Ban Giám hiệu nhà trường biểu dương, khen thưởng bạn H Bức tranh về Hồ Tây là bức tranh toàn cảnh mang ý nghĩa bao quát. Đây là cảnh hồ vào buổi sáng tinh mơ thanh bình, yên ả.
Mở đầu bài ca dao là nét chấm phá đơn sơ: Gió đưa cành trúc la đà. Làn gió sớm mai thổi nhẹ làm đung đưa cành trúc trĩu nặng sương đêm, tạo nên cái dáng mềm mại rất nên thơ. Đường nét của bức tranh duy nhất chỉ có một nét thanh mảnh của cành trúc la đà trên cái nền mờ ảo của bầu trời, của mặt hồ buổi sớm mai. Hình ảnh ấy tiêu biểu cho bao làng quê Việt Nam. Trong bài Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến cũng có câu: cần trúc lơ phơ.
ở cấu tiếp theo không có hình ảnh mà chỉ có các âm thanh nối tiếp nhau: Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Tiếng chuồng chùa ngân nga, tiếng gà gáy rộn rã báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Đêm chuyển dần về sáng. Xa xa, vọng tiếng chuông chùa làm cho cảnh trở nên huyền ảo, cổ kính, trang nghiêm. Tiếng gà gáy gợi lên cuộc sống đời thường nơi thốn dã, gần gũi, đầm ấm. Âm thanh của cõi đạo, cõi đời hoà quyện với nhau, nhẹ nhàng lan toả trong không gian mênh mông, càng làm tăng vẻ thanh khiết, tĩnh lặng của một vùng đất nước.
Những ai đã đến Hồ Tây vào buổi sáng, khi màn sương dày đặc bao phủ mặt hồ thì mới thấy được cái hay, cái đẹp của câu: Mịt mờ khói tỏa ngàn sương và mới thực sự sống trong tâm trạng lâng lâng thoát tục trước vẻ đẹp hư hư thực thực của hồ. Xem thêm: Bình luận về tinh thần dũng cảm Nếu ba câu thơ trên mới thấp thoáng hơi hướng của cuộc sống, thì ở câu thứ tư, hình ảnh cuộc sống lao động đã hiện ra khá rõ nét qua nhịp chày giã đó dồn dập của làng dân Yên Thái. Nhịp chày cũng là nhịp điệu hối hả của cuộc sống cần cù.
Ba âm thanh: tiếng chuông chùa, tiếng gà báo sáng, tiếng chày hoà quyện với nhau, gợi cảm giác về một khung cảnh thanh bình, êm ả, lắng sâu vào hồn người. Hình ảnh mặt gương Tây Hồ làm bừng sáng cả bài ca dao, bừng sáng cả lòng người đang say mê thưởng thức vẻ đẹp của hồ. Dưới nắng sớm, sương tan, mặt trời lên toả ánh sáng xuống mặt nước, Hồ Tây trở thành một tấm gương soi khổng lồ, vô cùng đẹp đẽ.
Vẻn vẹn chỉ bốn câu thơ lục bát mà cảnh đẹp Hồ Tây đã được ngòi bút tài hoa vẽ thành bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. Ẩn chứa sau từng câu, từng chữ là lòng tự hào, yêu mến và gắn bó sâu nặng với quê hương của người dân Thăng Long ngàn năm văn vật.
Trên khắp đất nước việt Nam, ở đâu cũng có những cảnh đẹp làm xao xuyến lòng người. Xứ Lạng với: Đồng Đăng có phố Kì Lừa, Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh. Hà Nội với ba sáu phố phường, Với Hồ Tây, Hồ Gươm, gò Đống Đa, chùa Một Cột. Xem thêm: Nghị luận xã hội về tự tin và mất tự tin- Văn 12 Miền Trung với Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ. Xứ Huế với vẻ đẹp uy nghiêm, trầm tư của cung điện, đền đài, lăng tẩm, của sông Hương với núi Ngự Bình. Những đêm trăng sáng, tiếng hò ngân dài trên sông nước Hương Giang: Đò từ Đông Ba đò qua đập đá, Đò về Vĩ Dạ thẳng ngã ba Sình, Lờ đờ bóng ngả trăng chênh, Tiếng hò xa vọng nặng tình nước non.
Người dân Nam Bộ tự hào với mảnh đất trù phú, màu mỡ, bốn mùa hoa thơm trái ngọt, lúa chín vàng đồng: cần Thơ gạo trắng nước trong. Ai đi đến đó chẳng mong ngày về…
Tất cả những câu ca ấy dù mộc mạc hồn nhiên hay trau chuốt, trữ tình đều nói lên cảnh đẹp thơ mộng của đất nước và thể hiện tình yêu quê hương đậm đà, sâu nặng của nhân dân ta. Giống như bao bài ca dao nói về vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc, bài ca dao Cảnh đẹp Tây Hồ sẽ sống mãi trong đời sống tinh thần của nhiều thế hệ.
Vanmau.edu.vn | Nét đẹp của bức tranh kinh thành xưa qua bài ca dao_ Gió đưa cành trúc la đà | 1,060 | |
Nét độc đáo trong bài thơ “Hầu Trời”
Gợi ý
Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu (1889 – 1939) người làng Khê Thượng, xã Sơn Đà (Ba Vì, Hà Tây) được coi là nhà thơ, nhà văn, nhà báo tiêu biểu trên văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ XX. Điệu hồn mới mẻ, cái Tôi lãng mạn bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái trong thơ vãn ông đã chinh phục thế hệ độc giả mới đầu thế kĩ XX. Tản Đà có lối đi riêng, vừa tìm về với ngọn nguồn thơ ca dân gian và dân tộc, vừa có những sáng tác độc đáo tài hoa. Bài thơ “Hầu trời” in trong tập “Còn chơi” xuất bản lần đầu năm 1921. Nét độc đáo của bài thơ là sự tự biểu hiện một cách mạnh dạn của Tản Đà cái Tôi cá nhân, một cái tôi ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khát khao được khẳng định mình giữa cuộc đời.
Hoài Thanh và Hoài Chân trong bài “Cung chiêu anh hồn Tản Đà” đã viết những lời trân trọng: "… Đôi bài thơ của tiên sinh ra đời từ hơn 20 năm trước, đã có một giọng phóng túng riêng. Tiên sinh đã dạo những bản đàn mỏ đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa”. Tản Đà được coi là gạch nối của hai thế hệ bởi trong thơ ông, người ta đã nhận ra những dấu hiệu cách tân, sáng tạo vượt ra ngoài khuôn sáo cũ:
“Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh,
Một phút trần ai
Ước cũ duyên thừa có thế thôi
Đá mòn rêu nhạt
Nước chảy hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi”.
Và đặc biệt là sự xuất hiện và khẳng định một cách mãnh liệt cái Tôi cá nhân ngang tàng, ngạo nghễ khác biệt với cái Tôi phi ngã thời trung đại. Là một nhà nho tài tử, Tản Đà coi trọng tài tình, dám sống theo bản ngã theo cái tôi của mình, có cá tính khác người. Tản Đà tự nhận mình là “ngồng” và ông sống theo cái chữ ngông đó. Ngông khi nói về bản thân mình, khẳng định tài năng của mình:
“Sông Đà, núi Tản đúc nên ai
Trần thế xưa nay được mấy người?”
Ngông với khát khao bồi lại tấm địa đồ rách, với ý tưởng không giống ai:Xem thêm: Báo cáo phương pháp học tốt môn Ngữ Văn“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi”.
Ngông ngay cả với những thất bại của chính bản thân mình:
“Vùng đắt Sơn Tây này một ông,
Tuổi chưa bao nhiêu văn rất hùng,
Sông Đà núi Tản ai hun đúc,
Bút thánh câu thần sớm vãi vung…
Bởi ông hay quá ông không đỗ,
Không đỗ ông căng tốt bộ ngông!”
Cái Tôi cá nhân đã tạo cho Tản Đà một “giọng điệu phóng túng riêng” khiến cho người ta có thể dễ đàng nhận diện. Đó cũng chính là những gì ta gặp trong “Hầu trời”. Cái Tôi cho ta thấy bản lĩnh của một người dám sông là chính mình và tự tin với những gì mình có.
Ngay từ tựa đề bài thơ đã mang lại cho người đọc sự độc đáo, mới lạ. Đối tượng được Tản Đà hướng đến ở đây là trời chứ không phải bất cứ thứ gì khác. Trời là sản phẩm của trí tưởng. Đó là vị đại diện cho sức mạnh siêu nhiên tối cao nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Vậy mà Tản Đà lại đưa ra ý tưởng mình được Trời gọi lên để hầu trời, để đọc thơ mình cho trời nghe. Thật là một ý tưởng ngông chỉ có thể có ở Tản Đà mà thôi. Với tài hư câu nghệ thuật độc đáo và có duyên, Tản Đà dựng lên câu chuyện kể về một giấc mơ, mơ thì tất nhiên là không có thực nhưng nói câu chuyện mơ mà lại tự nhiên như một câu chuyện thực vậy. Theo như lời ông kể thì việc lên hầu trời có nguyên nhân:
“Trời nghe hạ giới ai ngâm nga
Tiếng ngâm vang cả sông Ngận Hà
Làm Trời mất ngủ
Trời đương mắng
Có hay lên đọc trời nghe qua”.
Những tiếng thơ của Tản Đà có sức mạnh đến mức có thể bay lên tận trời, làm trời phải để tâm mà mời lên trên thiên đình để đọc thơ cho Trời và các chư tiên nghe. Đã có ai được hưởng niềm vinh hạnh ấy như Tản Đà? Và buổi đọc thơ diễn ra thật suôn sẻ cho “diễn giả”. Thi sĩ rất cáo hứng và có phần tự đắc: “Đương cơn đắc ý đọc đã thích”; thậm chí còn không ngần ngại mà tự nhận: “Văn dài hơi tốt ran cung mây”, “Văn đã giàu thay lại lắm lôi”. Một cách cụ thể và có phần khoe khoang, thi sĩ đã minh chứng cho nhà trời bằng hàng loạt “Những áng văn con in cả rồi” của mình, từ Khối tình, Khôi tình con; Thần tiên, Giác mộng; Đài gương, Lên sáu… Ông đưa ra những minh chứng có thật để chứng minh một cách đầy thuyết phục cho nhà trời. Những bài thơ ấy hay đến mức khiến cho “Trời nghe, trời cũng lấy làm hay” không những thế còn khen rất nhiệt thành: “văn thật tuyệt”, “chắc có ít”, “đẹp như sao băng”… Các chư tiên nghe thơ thì rất xúc động, tán thưởng và hâm mộ: “Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi”; “Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày”; “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng”; “Đọc xong mỗi bài đều vỗ tay”. Như vậy là tài năng cửa thơ ca của Tản Đà không phải là nhà văn tự nâng lên cho mình mà ông đã để cho những người nhà trời tự thẩm định và khẳng định. Tác giả chỉ kể vậy, để cho những lời nhận xét đánh giá được đưa ra từ những nhân vật nhà trời của ông nhưng qua đó ta cũng nhận thức được nhiều điều: Tản Đà rất ý thức về tài năng thơ của mình và cũng là người táo bạo, dám đường hoàng bộc lộ cái tôi, một cái tôi rất cá thể chỉ có ở riêng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Không chỉ dừng lại ở đó, Tản Đà còn có một ý định táo bạo, xưa nay chưa từng có:Xem thêm: Vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường).“Văn đã giàu thay lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười
Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
“Anh gánh lên đây bán chợ Trời”.
Từ “gánh” ở đây chỉ có tác dụng nhấn mạnh sự hấp dẫn của thơ văn Tản Đà ở chợ Trời, hấp dẫn đến mức phải gánh, tức là mang lên với số lượng rất nhiều, thì mới đủ cho các chư tiên trên trời. Đem văn mình ra bán trên chợ Trời đã là ngông lắm rồi đằng này lại còn dám lớn tiếng khẳng định nó sẽ là một thứ hàng bán chạy đặt trong hoàn cảnh “Văn chương hạ giới rẻ như bèo” thì bản lĩnh của Tản Đà thật khác thường, đáng nể. Đó chính là nét bản ngã, là tính cách, là nét độc đáo trong tâm hồn lãng mạn của nhà thơ.
Không ngần ngại, trong khi lớn tiếng khẳng định tài năng của mình trước cuộc đời, Tản Đà cũng lên tiếng tố cáo, phê phán thứ xã hội dở Tây dở Ta khiến cho nhiều giá trị trong cuộc sống bị đảo lộn thời ông đang sống. Tản Đà coi mình là một “trích tiên” – một ông tiên bị đày xuống hạ giới vì “Trời định sai con một việc này/ Là việc thiên lương của nhân loại/ Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Người trích tiên ấy tự nhận mình bị đày xuống hạ giới vì tội ngông nhưng lại tự mình khẳng định: cái ngông đó chẳng qua là vì nó đối lập lại với cả xã hội bất công; vì ông đang phải đi làm cái công việc là tìm lại thiên lương vốn đang bị mai một của con người (Hai chữ ’’thiên lương” thằng Hiếu nhớ/ Dám xin không phụ trời trông mong). Một điều đáng buồn là xã hội đó chỉ chú ý chạy theo đồng tiền còn tri thức và văn hóa bị coi nhẹ. Ấy thế nên tác giả mới ngao ngán trước cảnh “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Không tìm được người tri kỉ nơi trần thế, ông phải mang văn lên tận trời. Cũng may, ở đó ông tìm được tri âm.Xem thêm: Bức tranh thiên nhiên trong hai bài thơ: “Giải đi sớm” và “Chiều tối” của Hồ Chi Minh“Ngông” vốn là một sản phẩm của xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến Á Đông, “cái xã hội bị Khổng giáo úp chụp lên cái vung, om cho ngạt thở” (Xuân Diệu). Những người có cá tính độc đáo, khác người trong xã hội lễ nghi chặt chẽ thường được coi là ngông. Trong văn chương, ngông thường biểu hiện thái độ của người nghệ sĩ tài hoa, có côt cách, có tâm hồn, không muốn chấp nhận sự bằng phẳng, đơn điệu, nên thường phá cách, tự đề cao, tự phóng đại cá tính của mình. Vào đầu những năm 20, khi thơ phú nhà nhơ đã tàn cuộc mà thơ mới vẫn chưa ra đời, Tản Đà là nhà thơ đầu tiên trong ván học Việt Nam đã dám khẳng định bản ngã đó: “Chủ nghĩa Ịãng mạn, với cá thể, đã bật nứt ra trong văn học Việt Nam trong đầu những năm đầu thế kỉ XX bằng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu” (Xuân Diệu).
Bằng thể thơ thất ngôn bát cú trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hĩnh Tản Đà đã mạnh dạn tự biểu hiện cái Tôi cá nhân, một cái tôi ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời. Trong hoàn cảnh xã hội và văn học thời bấy giờ, với bản lĩnh của mình, ông xứng đáng được coi là gạch nối của hai thế hệ, của hai thời đại…
Vanmau.edu.vn | Nét độc đáo trong bài thơ “Hầu Trời” | 1,793 | |
Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua “Nghệ thuật băm thịt gà” (Trích Việc làng)
Gợi ý
Là một trong những cây bút hiện thực phê phán có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, người ta biết đến Ngô Tất Tố không chỉ ở những tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết viết về người nông dân và cuộc sống nông thôn mà còn cả ở mảng phóng sự ghi chép lại một cách chân thực và đậm chất văn học hiện thực đời sống của xã hội Việt Nam phong kiến thời bấy giờ. Trong số đó, có thể kể đến phóng sự ”Việc làng” mà ’’Nghệ thuật băm thịt gà” là một tác phẩm tiêu biểu.
Theo các nhà nghiên cứu, phóng sự là một thể tài ký, nguyên thuộc thể báo chí, sau đó được các nhà văn sử dụng như một thể loại văn học. Đặc trưng của phóng sự là sự kết hợp đậm nét giữa tính phát hiện và tính tự sự, tính xác thực và tính định hướng, tính thời sự nóng hổi của đề tài và tính sinh động của bút pháp người kể chuyện. Để viết phóng sự thành công, người viết phải bám sát vào cuộc sống phát hiện ra những sự việc, những vấn đề gay cấn có tính thời sự, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, lật đi, lật lại vân đề khiến cho nó trở nên thuyết phục đối với độc giả. Nếu phóng sự chỉ là một dạng báo chí thuần túy, tuổi thọ của nó thường không cao. Những thiên phóng sự lớn vượt qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian thường là những tác phẩm có sự kết hợp hài hòa với chất văn học, Người đọc không chỉ thấy ở đó các sự kiện như được sao chép một cách khô cứng mang tính thông tin là chính mà còn bắt gặp ở đó đậm tính nghệ thuật và sắc thái trữ tình. Nói đến nghệ thuật viết phóng sự của một tác giả nào đó cũng chính là việc chúng ta đề cập đến những đặc trưng này của phóng sự thể hiện trong tác phẩm của tác giả đó cũng như nét riêng của họ trong việc thể hiện những đặc điểm ấy.
So với thế giới, chủ yếu là Âu Mỹ, phóng sự ở Việt Nam ra đời muộn. Phải đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX phóng sự mới xuất hiện mà người mở đầu là Tam Lang với phóng sự ’Tôi kéo xe”. Trong suốt khoảng thời gian từ đó đến năm 1945, Ngô Tất Tố là một trong số ít những người viết thành công nhất về mảng phóng sự. Tác phẩm của ông, tuy chưa đa chiều, phong phú và nhiều góc độ như cây bút phóng sự xuất sắc Vũ Trọng Phụng những cũng mang đậm dấu ấn của nghệ thuật viết phóng sự hiện đại, loại hình ngày càng có vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại. Nằm trong ”Việc làng”, ’’Nghệ thuật băm thịt gà” là một bài phóng sự ghi lại chân thực nạn ”xôi thịt” ở nông thôn, phơi bày những hủ tục phong kiến bắt rễ vào đời sống đã trỏ nên đáng cười và đáng buồn như thế nào trong xã hội nông thôn trước đây, thể hiện trong buổi thực hiện lệ làng ’’chứa hàng xóm” ở nhà Vân Lăng và nghệ thuật chia cỗ của anh mõ làng tên Mới. Bằng ngòi bút phát hiện và miêu tả tỉ mỉ của mình, Ngô Tất Tố đã tái hiện lại tất cả những gì diễn ra như một thước phim quay cận cảnh, sinh động. Buổi ”chứa hàng xóm” hôm ấy được ghi lại theo đúng trình tự thời gian và không gian. Việc chuẩn bị được bắt đầu từ lúc nửa đêm cho đến sáng sớm thì đã đâu vào đấy. Thành phần tham dự được tường thuật bao quát gồm đông đủ cả già trẻ, lớn bé, từ các cụ tai to mặt lớn trong làng đến những thằng ”tí nhau”, mà lại ”toàn là đàn ông cả”. Mới chỉ giới thiệu đến đó thôi nhưng ngòi bút của Ngô Tất Tố đã phản ánh được hiện thực về một xã hội chỉ tìm mọi cách để chia chác, bóc lột con người, một xã hội ” trọng nam khinh nữ” mà người phụ nữ không hề được coi trọng. Nhưng sự kiện được tác giả tập trung nhiều bút lực để miêu tả hơn cả vẫn là ’’nghệ thuật băm thịt gà” của anh mõ và ông ghi chép lại tất cả một cách tường tận. ’’Một người vừa lù lù bưng mâm xôi gà lên thềm và đặt vào chiếc phản giữa. Rồi một người khác để luôn lên đó hai chai rượu lớn. Con gà cũng không nhỏ lắm, ước chừng một người ăn cố mói hết. cỗ xôi vừa kín-cái lòng mâm đồng, nó phải độ bốn đấu gạo!”. Tác giả đã đưa ra những số liệu xác thực về mâm cỗ: gà nhỏ, xổi ít để đối lập với những yêu cầu về việc là suất cỗ và thành quả của anh mõ sau đó. Điều thú vị là tác giả đang miêu tả tất cả những điều đó với một sự tò mò cao độ. Bản thân ông cũng không hề biết và không hề tưởng tượng được làm thế nào để một con gà và cỗ xôi nhỏ chừng ấy có thể chia thành hai mươi ba cỗ với cả thảy là tám mươi ba suất. Và dõi theo cặp mắt của tác giả, người đọc cũng tò mò muốn biết diễn biến. Một sự việc bình thường bỗng trở thành tình huống tạo sự thắc mắc và chờ đợi. Lời Vấn phóng sự đan xen tả và kể, với những mảng đối thoại ngắn phù hợp với thể loại tiểu thuyết nhưng lại có giá trị truyền tải thông tin lớn đã dựng lên sống động không khí chuẩn bị cho đám “chứa hàng xóm’ với những sắc thái riêng biệt của nếp sinh hoạt làng quê.Xem thêm: Cho câu chủ đề: “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp - phân tích - tổng hợp
Một trong những đặc trưng của nghệ thuật viết phóng sự là việc bám sát vào đời sống, lật đi lật lại vấn đề để nó trở nên thuyết phục đối với người đọc. Ngô Tất Tố đã rất thành công ở điểm này khi ông miệu tả tỉ mỉ và chi tiết cách làm cỗ – nghệ thuật băm thịt gà của anh mõ. Cũng giống như trước đó, công việc lại tiếp tục được miêu tả cụ thể ở nhiều công đoạn: bưng bát đĩa, đổi thớt, mài dao, bày đĩa la liệt, chia xôi, thái lòng, chặt sỏ, chặt phao câu. Thủ pháp tâm lí và cách miêu tả cận cảnh, miêu tả một cách tỉ mỉ khiến cho người đọc như bị cuốn vào cảnh chia cỗ, phải chăm chú dõi theo từng hành động, từng lần đưa dao lên xuống của anh mõ. Cảnh pha sỏ và phao câu được miêu tả chậm với những động tác thành thục, và ngay sau đó là tiết tấu nhanh đều đặn và cũng hết sức thành thục khi băm mình gà ra làm 92 mảnh, được cảm nhận cả bằng thị giác, thính giác kết hợp với miêu tả, bình, ngôn ngữ tạo hình, tạo nhạc mang lại cho người đọc cảm giác chân thực như đang được tận mắt chứng kiến. Quả thực, nếu xét ở góc độ nghệ thuật hay nói như Ngô Tất Tố, xem việc băm thịt gà là một nghệ thuật thì người băm thịt gà đúng là một nghệ sĩ. Coi như vậy bởi cả làng, ngoài anh mâ có cái “nghề gia truyền” đó ra có thề băm (chứ không phải là chặt) con gà một cách thành thạo: “Một tay giữ thỏi thịt gà, một tay cầm con dao phay, hắn băm lia lịa như không chú ý gì hết. Nhưng mà hình như tay hắn đã có cỡ sẵn, cho nên con dao của hán giơ lên, không nhát nào cao, không nhát nào thấp. Mười nhát như một, có khí chỉ lên khỏi mặt thớt độ khoảng một gang, và cách cái ngón tay hắn độ vài ba phân. Tiếng dao công cốc đụng vào mặt thớt, nhịp nhàng như tiếng mõ của phường chèo, không lúc nào mau, cũng không có lúc nào thưa. Mỗi tiếng cốc là một miếng thịt gà băng ra”, và những miếng thịt gà lại có thể đều nhau và đẹp đến được như v#y. “ Miếng nào cũng như miếng ấy, đứt suốt từ xương đến da, không còn dính nhau mảy may. Trông những miếng thịt gà của hắn bốc ra góc mâm, mới đẹp làm sao! Không giập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi, có thể bay được mười thước”. Cái độc đáo của phóng sự được thể hiện rất nhiều trong đoạn miêu tả đó, nó chứng tỏ cho ngòi bút miêu tả khách quan của Ngô Tất Tố, điều kiện quan trọng và cần thiết của thể loại phóng sự. Để người đọc có những phút giây say mê, thoải mái bay bổng bên bàn tay kheo léo của anh mõ nhưng vẫh không lúc nào lãng quên ý nghĩa phê phán những tệ nạn, hủ tục của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ, đó chính là tài năng nghệ thuật của Ngô Tất Tố.Xem thêm: Thành công của Xuân Diệu trong việc sử dụng hình ảnh và nhịp điệu ở các bài thơ Vội vàng, Đây mùa thu tới, Thơ duyên – Như đã nói ở trên, một phóng sự lớn vượt qua sự sàng lọc của thời gian thường là tác phẩm mà chất phóng sự hài hòa với văn học. Phóng sự của Vũ Trọng Phụng cuốn hút bởi ông viết về các vấn đề quốc nạn dưới hình thức của những câu chuyện kể, ghi chép lại được, có nhân vật, cuộc đời, số phận cụ thể và ngôn ngữ phóng sự đậm chất văn học. Nghệ thuật phãng sự trong “Nghệ thuật băm thịt gà” của Ngô Tất Tố cũng vậy. Phóng sự của ông không hiếm những đoạn miêu tả đậm chất nghệ thuật. Đó là cảnh “Ngoài sân trời tối như mực và mưa sùi sụt, nước mưa rả rích giội xuống đầu thềm, như thêm vẻ chứa chan cho mối tình cửu biệt.” trong cái đêm chuẩn bị diễn ra buổi “chứa hàng xóm’ của nhà Vân Lăng; đặc biệt là đoạn miêu tả cảnh anh Mới pha thịt như một người nghệ sĩ thực sự… Kết hợp với những chi tiết mang đậm tính hiện thưc, chúng làm cho ngòi bút phóng sự trở nên sinh động và đầy tính hấp dẫn. Nghệ thuật đó khiến cho bài phóng sự không trở thành một bài miêu tả, liệt kê thông thường mà trở thành một tác phẩm phóng sự – nghệ thuật đầy hấp dẫn.
Từ một mảng đề tài về “Nghệ thuật băm thịt gà”nằm trong chùm phóng sự “Việc làng”, Ngô Tất Tố đã không ngần ngại phơi bày hiện thực nhức nhôi của xã hội phong kiến Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, một xã hội còn chứa đựng đầy những bất công, hủ tục lạc hậu, những nạn xôi thịt làm hạ thấp nhân cách và đạo đức con người khiến họ trở nên tầm thường và thật đáng phê phán. Phóng sự được viết lên bằng tài năng nghệ thuật trong việc miêu tả, bình giá, đưa ra ý kiến mang tính khách quan khiến cho nó vượt lên những phóng sự đơn thuần, thông thường khác, có ý nghĩa và giá trị lớn trong nền báo chí cũng như văn học Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và sẽ là cả tương lai nữa.Xem thêm: Phân tích hình ảnh sĩ tử và quan trường qua hai câu thơ: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa". (Trần Tế Xương, Vịnh khoa thi Hương)Vanmau.edu.vn | Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua “Nghệ thuật băm thịt gà” (Trích Việc làng) | 2,107 | |
Nêu cảm nghĩ của anh (chị) về bài thơ cảnh ngày hè của tác gia Nguyễn Trãi
Gợi ý
Nhắc đến Nguyễn Trãi, người ta nhớ ngay đến hình ảnh của một nhà quân sự, chính trị tài ba, người viết nên Bình Ngô đại cáo như một lời tuyên ngôn độc lập hào sảng khai sinh ra đất nước, một vị lãnh đạo có tấm lòng yêu nước thương dân cao cả. Nhưng bên cạnh con người chính trị ấy vẫn tồn tại một Nguyễn Trãi Hoàng các thanh phong ngọc thự tiên (Gió thanh hây hẩy gác vàng, người như một ông tiên ở trong nhà ngọc). Và chính nó đã góp phần hoàn thiện hình ảnh Nguyễn Trãi được Lê Thánh Tông mệnh danh ức Trai tâm thượng quang khuê tảo. Đọc Cảnh ngày hè, thưởng lãm bức tranh thiên nhiên sông động ta càng thêm thấm thía nỗi lòng của người Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái, nhàn cư mà chẳng nhàn tâm:
Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ, cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi Cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Thi nhân xưa vẫn đến với thiên nhiên bằng bút pháp vịnh, còn ở đây Nguyễn Trãi lại thiên về tả, lại là tả một cách hết sức sinh động. Hiện lên trước mắt người đọc bức tranh cảnh ngày hề tràn đầy sức sống. Bức tranh ấy lại được phát hiện trong một tâm thế khá đặc biệt:
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Đó là cái cảnh hưởng nhàn bất đắc đĩ. Nhịp thơ ngắt thật lạ lùng như kéo dài cảm giác của một ngày rỗi rãi. Rỗi rãi nên đi hóng mát chứ việc ấy cũng không đem lại cho nhà thơ cảm giác thư thái và nhàn tảng thực sự. Thế nên ngày mới là ngày trường, ngày dài, vô vị và chán chường. Thế nhưng tất cả những tâm tư dồn nén ấy khi bắt gặp cảnh thiên nhiên như đang “cựa quậy” sổng động đã phải nhường chỗ cho cảm xúc vui thích, say mê. Tính sinh động của thiên nhiên được thể hiện trong từng đường nét, màu sắc và âm thanh sự sống. Màu lục của lá hoè làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu; ánh mặt trời buổi chiều lại như dát vàng lên những tán hoè xanh. Ba câu thơ tiếp theo mang đậm đặc trưng của không gian mùa hè:Xem thêm: Cảm nhận đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)Hoè lục đàn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Bức tranh không chỉ có sắc mà còn có hương. Nguyễn Trãi nói rằng đã tiễn mùi hương nhưng thực ra ông đã khiến cho hương sen ấy còn bay phảng phất mãi trong không gian cùng khí trời mùa hè rực rỡ. Không giống như bức tranh mùa hè có phần thô tháp của các tác giả thời Hồng Đức Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi / Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè, bức tranh ngày hè của Nguyễn Trãi vẫn dân dã, đầy sức sống nhưng lại mang đến cho người ta cảm giác dễ chịu. Có lẽ bởi cái “bừng bừng sự sống” đang trỗi dậy trong lòng người ngắm cảnh và, cũng bởi hương sen dịu ngọt vẫn còn phảng, phất đâu đây trong làn gió mùa hè. Thiên nhiên chứa chan bao cảm xúc, lúc dịu nhẹ lan toả, lúc phun trào để rồi cuối cùng đọng lại trong cảm giác man mác tiếc nhớ làn hương thanh thoát của sen hồng cuối hè. Cảnh vật được miêu tả vào cuối ngày (lầu tịch dương – lúc mặt trời sắp lặn) nhưng sự sống thì không dừng lại. Có một cái gì thôi thúc tự bên trong, đang ứa căng, đang tràn đầy, không kìm lại được, phải đùn đùn tán rợp giương, phải phun thức đỏ… Sức sống căng tràn và tất cả đều đang trong trạng thái vận động, “cựa quậy” không ngừng nghỉ. Bức tranh ấy làm ta nhớ đến hình ảnh Ngoài tường lửa lựu lập loè đâm bông của Nguyễn Du. Chỉ có điều nếu như từ íập loè của Nguyễn Du thiên về tả hình sắc thì với từ phun, Nguyễn Trãi lại thiên về tả sức sống, mặc dù xét về mức độ tinh tế trong cái nhìn cảnh vật, không thể nào có sự so sánh kém, hơn.
Qua bức tranh thiên nhiên sinh động và đầy sức sống, chúng ta cảm nhận được sự giao cảm mạnh mẽ nhưng tinh tế của nhà thơ đối với cảnh vật. Thi nhân đã đón nhận thiên nhiên với rất nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác và cả một “linh giác” nhạy bén để có được những liên tưởng hết sức độc đáo. Tác giả đã biết hoà phối màu sắc, âm thanh và đường nét theo qui luật của hội hoạ, của âm nhạc khiến cho bức tranh thiên nhiên vừa có hình, vừa có hồn vừa gợi tả lại vừa sâu lắng. Đối với một người mà Túi thơ chứa hết mọi giang san như Nguyễn Trãi, thì hồn thơ đã đồng cảm với thiên nhiên mạnh mẽ và tinh tế đến như vậy đó. Bởi thế nên không có gì là đáng ngạc nhiên khi Xuân Diệu đã nhận xét rằng: Trong thơ Việt Nam, chưa có một nhà thơ nào yêu mến thắm thiết thiên nhiên và có những vần thơ đẹp đẽ, tinh vi, sâu sắc về thiên nhiên cho bằng Nguyễn Trãi (…). Hồn thơ của Nguyễn Trãi với thiên nhiên là một hiện tượng đặc biệt.
Nếu như trong một bài thơ khác, cũng viết về ngày hè, Nguyễn Trãi dựng nên bức tranh thiên nhiên và con người thơ mộng, đầy xúc cảm:Xem thêm: Tôi tên là Oanh Liệt... mới. Dựa theo những lời tâm sự trên, anh (chị) hãy viết một truyện ngắn theo ngôi kể thử nhất kể về số phận và nỗi niềm của một con gà chọi bị bỏ rơi Vì ai cho đỗ quyền kêu
Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu
thì ở đây, mùa hè lại là một bức tranh thiên nhiên tràn trề nhựa sống đồng điệu, hoà phôi với bức tranh sự sống con người cũng không kém phần sinh động:
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng đỏi cầm ve lầu tịch dương.
Từ lao xao có tác dụng gợi âm thanh từ xa vọng lại, không nghe rõ nhưng vẫn đủ để lại dư âm. Đó là âm thanh cuộc sống thường nhật của một làng chài. Tiếng ve kêu tuy inh ỏi như thêm thôi thúc những sắc màu còn lại của mùa hè tiếp tục căng tràn và bung nở. Bức tranh đang là những gam màu tươi sáng đến đây bỗng nhiên bắt gặp một nốt trầm. Hình ảnh lầu tịch dương xưa nay vẫn thường gợi cho người ta cảm giác buồn. Cảnh vật thoáng buồn hay đó chính là một nốt trầm trong tâm trạng của người vốn sẵn trong mình tấm lòng ưu dân ái quốc? Và bởi thế nên tiếng cầm ve có dắng dỏi đến mấy thì đến đây câu thơ cũng dường như là sự “dọn chỗ” cho một suy nghĩ nào đó rất “tâm trạng” chuẩn bị xuất hiện.
Và quả đúng như vậy, đang mạch cảm xúc về thiên nhiên và cuộc sống, câu thơ quay trở lại với bức tranh tâm trạng của chính nhà thơ:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Ngu cầm là đàn gẩy khúc Nam phong thời vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn, hai triều đại lí tưởng của Trung Quốc có xã hội thanh bính, cuộc sống nhân dân hạnh phúc. Thật hiếm hoi và có phần đặc biệt khi ta gặp trong thơ ức Trai một hoàn cảnh: Rồi hóng mát thuở ngày trường thế mà cuối cùng, một ngày tưởng chừng thư thái ấy cũng không trọn vẹn. Nhằn thân mà chẳng nhàn tâm, say sưa với cảnh đẹp nhưng cuối cùng Nguyễn Trãi vẫn trở về với tâm sự không bao giờ thôi trăn trở của chính mình. Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của ông tha thiết với dân, với nước. Dân đã được ấm no hạnh phúc, ông mong mình có cây đàn thời Ngu Thuấn để gây lên khúc ca thái bình thịnh trị, để Dân giàu đủ khắp đòi phương. Đó không chỉ là niềm vui trong hiện tại mà còn là khát khao cho muôn đời sau. Câu kết của bài thơ là một câu sáu chữ ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài. Ta nhận ra rằng, điểm kết tụ của hồn thơ ức Trai không phải ở thiên nhiên tạo vật mà chính là ở con người, ở nhân dân. Đó mãi là thứ kết tinh cho vẻ đẹp của một con người tâm thượng quang khuê tảo của dân tộc.Xem thêm: Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhấtCảnh ngày hè mang đến cho chúng ta bức tranh thiên nhiên, cuộc sống sinh động, tràn trề sức sống. Nó khiến cho chúng ta thêm hiểu và yêu quý một tâm hồn, một nhân cách lớn – Nguyễn Trãi. Phải là người tinh tế nhạy cảm, có tình yêu thiên nhiên và con người sâu sắc, phải là người có tấm lòng yêu nước mênh mông và tinh thần trách nhiệm cao cả, phải là một tài năng vĩ đại, Nguyễn Trãi mới có thể mang lại cho chúng ta những vần thơ của cảm xúc, những vần thơ của tâm hồn có sức hấp dẫn và tồn tại mãi cùng thời gian như vậy.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ của anh (chị) về bài thơ cảnh ngày hè của tác gia Nguyễn Trãi | 1,671 | |
Nêu cảm nghĩ của em về bài: “Cha tôi” trích trong tác phẩm “Đặng Dịch Trai ngôn hành lục” của Đặng Huy Trứ
Gợi ý
Dịch Trai là tên hiệu của Đặng Văn Trọng, thân phụ của Đặng Huy Trứ. ‘‘Đặng Dịch Trai ngôn hành lục" nghĩa là ghi chép lại những lời nói và việc làm của Đặng Dịch Trai. Có thể xem đây là những trang hồi ký, bút ký rất cảm động của Đặng Huy Trứ.
Bài "Cha tôi" rút trong tác phẩm chữ Hán "Đặng Dịch Trai ngôn hành lục" của Đặng Huy Trứ (1825 – 1874). Qua hình ảnh người cha, tác giả nói lên những suy ngẫm về họa, phúc ở đời, nhất là trong chuyện học hành, thi cử.
Có hai sự kiện chính được ghi lại. Sự kiện thứ nhất, năm 1843, Đặng Huy Trứ mới 18 tuổi, hai cha con cùng đi thi Hương. Người cha hỏng, người con đỗ Cử nhân. Người cha khóc. Sự kiện thứ hai, năm 1848, Đặng Huy Trứ thi Hội đỗ tiến sĩ, được xếp thứ bảy. Nhưng vào thi Đinh vì phạm huý, ông bị tước mất cả tiến sĩ và cử nhân. Đúng hôm đó (ngày 26 tháng 4) ông bác làm quan ngự y qua đời. Cha của Đặng Huy Trứ chỉ buồn về việc tang, còn chuyện con trai bị truất cả bằng Tiến sĩ và Cử nhân thì ông coi như không có chuyện gì đáng kể.
1. Cha khóc không phải vì bản thân mình hỏng thi mà chính vì con thi đỗ. Năm ấy, Đặng Huy Trứ mới 18 tuổi, lần đầu đi thi đã đỗ cử nhân. Khi nghe loa gọi, và khi con trai bái lĩnh mũ áo trở ra thì người cha "dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo".
Mọi người lấy làm lạ hỏi: "Con đỗ cao là việc đáng mừng, sao cụ lại khóc như gặp việc chẳng lành vậy?".
Cụ bộc bạch ước mơ của người cha. Cho con đi thi lần đầu là chỉ muốn cho con quen với tiếng trống trường thi; may mà đỗ tú tài thì ở nhà dạy trẻ cũng đủ miếng Xem thêm: Viết bài văn nghị luận về vấn đề: “Lời ăn tiếng nói của một học sinh văn minh, thanh lịch" cơm manh áo, để khỏi phải đi phu phen, binh dịch, đâu dám có tham vọng được dự yến vua ban. Ước mơ ấy thật là khiêm nhường, bình dị.
Cụ nhắc lại câu nói của cổ nhân: "Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh giã’ để nói lên nỗi lo của mình. Cụ nhắc lại bài học đường đời mà lo. Con còn nhỏ tuổi, mới một lần đi thi lại đỗ cử nhân. Đó là phúc, nhưng biết đâu trong cái phúc ấy lại chứa cái mầm họa. Vì cụ sợ con trai mình "kiêu căng, tự mãnt ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung, phúc đâu chẳng thấy, họa dã sẵn chờ. Cụ lo vì "thuyền nhỏ sao kham nổi trọng tải lớn" lo con trai mình "không báo đáp được nghĩa nặng ơn dày…" Phải từng trải việc đời, từng trải việc người mới có nỗi lo ấy. Bài học về bệnh tự kiêu, tự phụ, tự mãn của những thiếu niên sớm đỗ đạt, có ít nhiều danh vọng, được cụ nêu lên thật vô cùng sâu sắc, thấm thìa.
2. Năm năm sau, vua Thiệu Trị mở ân khoa – khoa thi Hội mùa xuân Đinh Mùi (1847), cậu cử Đặng Huy Trứ, mới 23 tuổi lại vác lều chõng ứng thí. Mặc dầu đề thi rất khó, nhiều thí sinh bị hổỏng. Riêng Đặng Huy Trứ làm đủ được các đề thi kình nghĩa và "được bảy phân", tuy bài văn đối sách thì làm "không sát đề lắm", nhưng vẫn được xếp thứ bảy.
Khi tin vui thi Hội báo về, người cha lại rớt nước mắt. Phải chăng vì linh tính mà cụ nói: "Bậc đỗ đại khoa ắt phải là người phúc phận lớn. Con tôi đức độ ra sao mà được như vậy, chỉ làm cho tôi lo lắng".
Quả nhiên, vào thi Đình, Đặng Huy Trứ vì không phân biệt được từ đồng âm nên đã dùng hai chữ "phong đô" và bốn chữ "nha miêu chi hại" nên "liền bị truất Tiến sĩ và cách cả bằng cử nhân khoa trước". Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mỵ Châu trong truyền thuyết “Mỵ Châu Trọng Thủy” mà em được học
Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí! Con trai bị đánh hỏng trong kì thi Đình. Người anh trai làm quan ngự y qua đời. Cả nhà ai cũng buồn, nhưng thân phụ Đặng Huy Trứ coi "như không có chuyện gì đáng kể, chỉ thở dài…". Điều đó cho thấy, cụ đã tiên cảm tiên liệu mọi sự việc có thể xảy ra, dự đoán, phòng xa mọi chuyện không hay, không tốt lành có thể sẽ gặp phải. Vì thế, khi con trai bị truất tiến sĩ, người cha mới tự chủ và bình tĩnh "coi như không có chuyện gì đáng kể’, Ở đời những người biết phòng xa mới có thái độ trầm tĩnh đó, tinh thần tự chủ đó. Phúc, họa, may, rủi là chuyện thường xuyên xảy ra đối với mọi người. Chuyện "Thất mã Tái Ông" cũng như thái độ trầm tình của cụ thân sinh Đặng Huy Trứ là bài học sâu sắc về cách sống.
Người cha thở dài vì thương người anh trai qua đời: anh trai "ra đi là ra đi mãi mãi",… Người cha đã dành cho người con vừa "bị truất tiến sĩ’ những lời dạy bảo sâu sắc:
"… Khi người ta đầy đủ lắm thì trời gạt bớt đi cho bằng. Gia đình ta cực thịnh mãn rồi, việc Trứ gặp phải như vậy là phúc cho nhà ta mà cũng là cái may lớn cho bản thân Trứ. Song, sau cơn sấm sét, mưa móc lại có thể tưới nhuần. Trứ nếu cố gắng chịu khó học vẫn còn nhiều hi vọng". Người cha an ủi và động viên con trai về việc bị tước cả khoa danh là "để rèn luyện cho con nên người. Con không được vì thế mà thoái chí".
Người cha nhắc đến ông Phạm Văn Huy ở Thôn Lộc, ông Mai Anh Tuấn ở Thanh Hóa trước đây cũng đã từng bị cách cử nhân, nhưng về sau, một người đỗ hoàng giáp, một người đỗ thám hoa đế khích lệ người con. Bài học về sự tu dưỡng phấn đấu, nâng cao ý chí, nghị lực sau mỗi lần thất bại, có ý thức sửa chữa sai lầm mà vươn lên đã được người cha nhắc nhở người con thật vô cùng thấm thía:Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu trong bài thơ “Từ ấy” của nhà thơ “Tố Hữu”. Từ đó, em rút ra cho mình bài học cần thiết trong cuộc sống"Buổi sáng mất, buổi chiều lại thu về, hẳn là sau khi bị cách, các ông ấy đã nỗ lực tu tỉnh, cho nên đã sảy chân ngã mà lại đứng lên được. Tài học, phẩm hạnh của con còn kém các ông ấy muôn lần. Người ta ai chẳng có lúc mắc sai lầm, quý là ở chỗ biết sửa chữa".
"Cha tôi" là một bài kí hàm chứa tính triết lí và giáo huấn đặc sắc. Phải biết lo xa phòng xa. Không được kiêu căng, tự phụ, tự mãn. Phải biết nỗ lực phấn đấu vươn lên không ngừng. Phải dũng cảm đứng thẳng dậy sau mỗi lần vấp ngã… Phải biết thất bại là mẹ thành công; thua keo này bày keo khác, v.v… Đó là nội dung lời cha dạy con; là bài học làm người lúc nào cũng mới mẻ.
Cuộc đời của Đặng Huy Trứ là một tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Mùa xuân năm Đinh Mùi, thi Hội và thi Đình, ông bị truất tiến sĩ và cách cả bằng cử nhân, nhưng chỉ mấy tháng sau vào mùa thu năm ấy ông lại hăm hở vác lều chõng đi thi Hương đua tài với thiên hạ. Đúng là "Trời sinh, trời chẳng phụ nào – Phong vân gặp hội anh hào ra tay" (Ca dao), Đặng Huy Trứ đỗ giải nguyên. Gần ba mươi năm làm quan, dù ở cương vị nào, lĩnh vực nào ông đều để lại nhiều dấu ấn và thành tích tốt đẹp về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao,… về văn học, văn hóa, tác phẩm của ông viết ra "chồng cao hơn đầu người", trong đó có đến 1252 bài thơ chữ Hán.
Đọc bài "Cha tôi", ta càng thấy cuộc đời của Tiên sinh thật gần gũi với mỗi chúng ta trên con đường học tập và tu dưỡng.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ của em về bài_ “Cha tôi” trích trong tác phẩm “Đặng Dịch Trai ngôn hành lục” của Đặng Huy Trứ | 1,484 | |
Nêu cảm nghĩ của em về bức tranh cảnh vật thiên nhiên Hà Nội.
Bài làm
Nhà em có rất nhiều bức tranh về cảnh vật thiên nhiên. Nhưng bức tranh về hồ Hoàn Kiếm ở thủ đô Hà Nội vẫn là bức tranh mà em thích nhất, ngắm mãi mà không hề thấy chán. Giữa hồ là tháp Rùa cổ kính soi bóng trên mặt hồ trong xanh. Trên cao là những đám mây trắng bồng bềnh trôi giữa bầu trời cao vời vợi. Nhìn xa hơn, tòa nhà Bưu điện thành phố đồ sộ và lộng lẫy được trang trí cờ hoa rực rỡ. Và kia nữa là cầu Thê Húc màu son, uốn cong như một nét hoa văn, tượng trưng cho bàn tay của một nàng tiên nữ hiếu khách, vẫy chào chúng em đến viếng đền Ngọc Sơn cổ kính. Mái đến ngàn năm tuổi nép mình dưới gốc da cổ thụ cành lá xum xê. Nhìn bức tranh hồ Gươm, em tưởng tượng đến sự tích về cái hồ này, mà mới đây không lâu, bố đã kể cho em nghe: “Ngày xưa ngày xưa ấy, có một con rùa lớn ngoi lên mặt nước, đòi vua Lê Lợi trả kiếm cho Long Vương” để rồi hồ mang tên “Hoàn Kiếm” từ đấy cho đến bây giờ. Và có lẽ cái tên ấy, sự tích ấy sẽ truyền lại muôn đời cho các thế hệ mai sau. Ước gì một ngày nào đó, em được đứng trên Bờ Hổ mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của một di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng của thủ đô. Xem thêm: Về một câu chuyện trong cuộc sống để lại trong anh (chị) nhiều suy nghĩ. | Nêu cảm nghĩ của em về bức tranh cảnh vật thiên nhiên Hà Nội | 290 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về cây chuối nhà em
Bài làm
Nơi em sinh ra là một vùng quê nhỏ ở ngoại thành Hà Nội. Đó là một vùng chuyên trồng những cây trái ăn quả như: bưởi diễn, đu đủ và đặc biệt là chuối. Nhà em cũng có một vườn chuối rất rộng và chăm sóc chúng chính là công việc chính của gia đình em.
Những nông sản được quê em trồng thì thường được thị trường ở nội thành rất ưa thích. Chính vì có thị trường lớn tiêu thụ được nên việc trồng cây ăn quả đem lại thu nhập khá cho gia đình. Nhà em thì không trồng nhiều loại cây khác nhau mà chỉ chú trọng canh tác chuối kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Giống chuối rất dễ trồng và dễ chăm sóc. Đặc biệt là đây là một giống cây trồng thích hợp với khí hậu của nước ta. Những cây chuối được trồng bằng củ chuối hoặc những cây chuối non được mọc từ những bụi chuối lớn. Cây chuối là một giống thân mềm nên thân của nó chỉ là các lớp mềm, dễ dàng chặt, thái. Chính vì thế mà nó còn được nhà em cũng như nhiều hộ gia đình khác tận dụng để làm thức ăn cho gia cầm. Những cây chuối non thì thân còn nhỏ như bắp tay cổ chân và nó còn được dùng làm thứ rau sống tươi mát để ăn trong những ngày hè bằng cách thái mỏng phần thân cây non. Càng lớn thì thân cây càng to, thân cây tròn và khi trưởng thành thì nó có thể to bằng chiếc cột nhà và cao hơn đầu người.Xem thêm: Cảm nghĩ về tác phẩm Chiếu dời đô
Cảm nghĩ của em về cây chuối
Lá của cây chuối rất đặc biệt. Trông nó to như cái cánh cửa vậy. Lá chuối của cây non thì nom bằng nửa cánh cửa sổ và dài. Khi lớn thì nó to và cứng cáp hơn. Lá chuối có phần gân ở giữa lớn chia đôi chiếc lá thành hai nửa. Khi lá già thì bắt đầu sậm màu hơn chuyển sang màu vàng và rồi khô héo. Lá chuối có rất nhiều công dụng. Những gia đình chuyên làm bánh trong xóm em thường lấy lá để gói bánh, gói giò lụa, giò tai. Kể cả lá chuối khô cũng được dùng để gói bánh gai. Một loại bánh được ưa chuộng vào mỗi dịp Tết.
Chuối khi ra hoa, hoa chuối chính là chiếc gió chuối. Nó có màu đỏ và bên trong có nhiều lớp, mỗi lớp lại có những quả chuối non nhỏ xíu. Mỗi cây chuối chỉ có một buồng chuối, mỗi buồng chuối có khoảng bảy đến mười nải chuối. Khi chuối còn nhỏ có màu xanh non và càng lớn thì kích thước càng to, có hình cong cong. Khi chín thì có màu vàng. Trong những dịp lễ, Tết hay cúng giỗ thì chuối là một thứ quả không thể thiếu trên bàn thờ. Chuối còn là một thứ quả được nhiều người ưa thích, chứa nhiều vitamin và tốt cho sức khỏe. Chính vì thế nên chuối ở quê em rất nhiều nhưng tiêu thụ vẫn rất tốt và đem lại nguồn thu nhập cao cho gia đình.Xem thêm: Cảm nghĩ về thầy cô hay nhất
Đối với riêng em, chuối không chỉ là một loại cây quen thuộc mà còn là loại cây gắn với biết bao kỷ niệm. Ngoài những ngày đi học thì những buổi chiều em lại cùng bố mẹ đi ra vườn chuối để làm cỏ, chăm bón và thu hoạch chuối cũng như cắt lá chuối. Đó là những buổi chiều rất vui vẻ và thú vị. Có những lúc chuối chín nhiều em còn đem cắt lát và mang đi phơi nắng để làm chuối khô. Chuối được phơi ăn rất ngọt và còn có thể dùng để làm một trong những vị của món chè thập cẩm thơm ngon mà nhiều người ưa thích vào ngày hè.
Cây chuối là loại cây mà em yêu thích nhất. Tất cả những công đoạn những món ăn thức uống được làm từ chuối hoặc nguyên liệu xuất phát từ cây chuối thì em đều tìm tòi và nghiên cứu.
Loan Trương | Nêu cảm nghĩ của em về cây chuối nhà em | 729 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về cây dừa mà đã từng trông thấy
Bài làm
Quê ngoại em là một vùng sông nước ở miền Trung. Nơi có những con kênh nhỏ chằng chịt, hai bên bờ là những dãy dừa cao mang đặc trưng của một vùng quê.
Đối với em thì cây dừa là một trong những loài cây mà em ấn tượng nhất. Thân cây dừa to, càng về gốc thì thân cây lại càng phình to ra. Thân dừa xù xì chứ không nhẵn nhụi và có gốc dừa to mà một người không thể ôm xuể. Thân dừa khá tròn và cao vút lên cao. Phần gốc dừa to một đoạn là những chiếc rễ nổi lên và mọc ở bên trên mặt đất. Có giống dừa thân thon, gọn và phần gốc không quá cách biệt so với phần ngọn. Có cây dừa mọc thẳng nhưng cũng có những cây mọc nghiêng nghiêng giống như bị gió lùa vậy. Nhất là giống dừa tại quê ngoại nhà em. Từng cây dừa ở hai bên kênh đều có xu hướng nghiêng về phía lòng kênh.
Dừa không đặc biệt ở thân mà đến cành lá của nó cũng có sự khác biệt. Phải lên đến phần ngọn trên cao thì mới mọc ra cành lá. Từng tàu lá dừa nom giống chiếc lược khổng lồ vậy. Lá dừa dài và nhỏ. Ở giữa chính là gân lá và gân của nó thì khá là to, dài bằng chiều dài của chiếc lá. Bà ngoại em thường sai cậu em chặt những tàu lá dừa khô rụng xuống để bà tước lấy gân lá để làm thành những chiếc chổ xể. Những chiếc chổi được làm từ gân lá dừa vừa mềm mại ở phần ngọn lại vừng cứng, chắc ở phần bên trên và cán. Những chiếc chổi ấy đều rất bền và dùng để quét sân thì còn sạch hơn chổi xể bằng tre rất nhiều.Xem thêm: Em hãy chứng minh rằng: “Sai lầm cũng có hai mặt. Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem đến bài học cho đời” (“Không sợ sai lầm” - theo Hồng Diễm). Em có suy nghĩ gì về điều đó
Văn biểu cảm về cây dừa
Khi dừa đến mùa đơm hoa kết trái em thích nhất đó là hương hoa dừa dịu nhẹ, thoang thoảng trong không khí khiến người ta cảm thấy dễ chịu. Hoa dừa mọc thành từng chùm lớn và từ đó kết thành những trái dừa. Trái dừa không mọc riêng rẽ từ quả một mà mọc thành từng chùm. Những quả dừa khi còn non trông nhỏ nhắn, nhưng càng lâu thì càng lớn. Vỏ dừa dày và có nhiều xơ, bổ lớp xơ đó ra là lớp vỏ cứng. Phía trong là lớp cùi dừa màu trắng bao bọc phần nước ngọt thanh mát.
Mỗi lần có dịp về quê vào ngày hè thì thức uống em thích nhất đó chính là uống nước dừa. Những quả dừa vỏ xanh và nom to giống chiếc mũ bảo hiểm vậy. Dừa vỏ còn xanh và được người ta chặt từng chùm để xuống các ghe, thuyên đem đi bán. Có khi có những thương lái về tận nơi để mua và người dân không phải tự hái dừa. Nước dừa không chỉ là thức uống thơm ngon, được nhiều người ưa thích mà nó còn có nhiều công dụng khác. Nước dừa còn dùng để nấu ăn khiến cho những món ăn trở nên thơm ngon, mát lành. Phần cùi dừa trắng tinh có thể ăn trực tiếp hoặc đem kho thịt thì rất tuyệt. Ngoài ra cùi dừa người ta còn làm thành những lát mỏng rồi đem sấy khô tạo thành món dừa khô mà thường được ăn kèm với các món chè vào mùa hè.Xem thêm: Dựa vào văn bản "Sài Gòn tôi yêu", hãy nêu cảm nghĩ về một mảnh đất mà em yêu quý
Đối với em những hàng dừa chan chứa rất nhiều kỷ niệm về tuổi thơ về một vùng quê yên bình. Mỗi khi về quê ngoại em rất thích cảm giác được chơi đùa dưới những hàng dừa chạy dài. Biết bao trò chơi, bao câu chuyện thú vị được những đám bạn dưới quê kể cho em nghe. Những buổi trưa ngồi ở hàng dừa để câu cá dưới kênh. Đó chính là một thú vui mà em rất ưa thích. Cây dừa cho bóng mát và mọi người dân nơi đây đều thích để nghỉ ngơi sau ngày làm việc cực nhọc, để tổ chức những hoạt động ăn uống vui chơi. Dừa còn là loại cây đem lại nguồn thu nhập cho các hộ gia đình nơi đây.
Cây dừa không chỉ là loại cây đặc biệt mà đó là cây gắn liền với tuổi thơ với quê hương. Em rất yêu thích những hàng dừa xanh ấy và mỗi năm đều mong ngóng kỳ nghỉ hè để trở lại quê ngoại.
Loan Trương | Nêu cảm nghĩ của em về cây dừa mà đã từng trông thấy | 839 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về cây phượng mà em biết
Bài làm
Có rất nhiều loài cây gắn liền với lứa tuổi học trò nhưng trong đó cây phượng là loài cây được yêu thích nhất. Đối với em cây phượng không chỉ là người bạn thuở tới trường mà còn là bạn thời thơ ấu của em.
Ngay trước hiên nhà em có một cây phượng già. Bố em nói nó được ông nội em trồng từ khi bố em mới sinh ra. Đã mấy chục năm trôi qua và cây phượng vẫn đứng sừng sững nơi đó. Phượng chứng kiến quá trình lớn lên của em, từ khi em còn trong nôi, đến khi biết lẫy, biết bò và cho tới tận ngày hôm nay. Nhớ những trưa hè nóng nực thì hiên nhà nơi cây phượng tỏa bóng mát là nơi nghỉ trưa, hóng mát lý tưởng. Mỗi khi đến mùa hoa phượng nở em rất thích ngồi bên cửa sổ ngắm hoa. Những chùm hoa phượng nở đỏ rực cả một vùng, khiến cho căn nhà nhỏ trở nên nổi bật nhất xóm. Đám trẻ con trong xóm rất thích chơi đùa dưới gốc phượng nhà em. Những trò chơi dân gian như bắn bi, ô ăn quan, nhảy giây… Cây phượng già che bóng mát, giống như một người cha đang che trở cho những đứa con. Giống như khi còn bé, nằm ở chiếc chõng bên hiên được nghe bà kể chuyện cổ tích khiến cả lũ ai nấy đều chăm chú nghe. Rồi lớn hơn khi chuẩn bị tới trường, ngày đầu tới lớp ấy, ngay trước cổng trường đón chào em chính là cây phượng. Đầu thu, cây phượng nay đã xanh lá là chỉ còn lác đác một vài bông hoa phượng nở muộn. Chính điều ấy khiến em cảm thấy trường học mới nhưng thân quen đến lạ. Trong sân trường cũng có rất nhiều cây phượng bên cạnh những cây khác như bằng, xà cừ… Tất cả tạo nên một khuôn viên trường xanh sạch đẹp. Trong đó thì nổi bật nhất chính là những cây phượng.Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Ngữ văn lớp 7
Văn biểu cảm về cây phượng
Phượng không chỉ đẹp vào mùa hè mà mỗi mùa đều mang những vẻ đẹp riêng. Mùa xuân, trong cái tiết trời se se lạnh, những cơn mưa phùn bay bay trong gió những hạt mưa li ti và đậu trên những cành lộc non, những chiếc lá phượng nhỏ nhắn. Khi ấy nhìn cây phượng mang nét đẹp mơ màng, thơ mộng. Phượng rực rỡ nhất vào những ngày hè, những chùm hoa phượng nở khoe sắc thắm, khiến cho bao lứa học trò yêu thích không thôi. Mùa phượng nở nghĩa là sắp kết thúc một năm học, ai nấy đều nhanh chóng chuẩn bị kiến thức để bước vào kỳ thi cuối năm. Phượng chứng kiến biết bao cuộc chia tay đầy xúc động. Những nhóm học sinh cuối cấp cùng nhau kí tên, viết lưu bút dưới gốc phượng để lưu giữ kỷ niệm. Những trang lưu bút không thể thiếu những cánh hoa phượng khô, được xếp thành hình bông hoa, con bướm rất đẹp. Trong cuốn tập của em hầu như cuốn nào cũng có hoa, lá phượng ép khô, nó giống như một sở thích riêng biệt thường được em thực hiện. Ngoài hoa phượng thì em còn đặc biệt chú ý đến quả phượng. Hoa sau khi thụ phấn và khoe sắc đủ thì sẽ đến thời kỳ rụng. Từng cánh hoa rụng lả tả rơi đầy mặt đất. Ta thấy được sắc đỏ không chỉ nhuộm trên không mà còn cả dưới mặt đất. Từ những chiếc cánh hoa rơi rụng để lộ ra những quả phượng nhỏ li ti, quả phượng trông giống như quả me khổng lồ vậy.Xem thêm: Dân gian ta có câu: "Một điều nhịn, chín điều lành"? Hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ gì về vấn đề này
Mặc dù mới bước chân vào trường cấp hai được hơn một năm nhưng đối với em thì cây phượng là một người bạn quan trọng. Nó khiến em cảm thấy ngôi trường trở nên gần gũi. Phượng giống như một chiếc đồng hồ đặc biệt báo hiệu thời gian các mùa trong năm. Cứ mỗi giờ ra chơi thì em lại chạy ngay ra chỗ gốc cây phượng để chơi đùa. Dưới gốc cây là nơi vui chơi và học tập lý tưởng đối với nhiều cô cậu học trò. Mỗi sáng sớm tới trường ngồi ôn bài dưới gốc phượng, rồi giờ truy bài ngoài trời.
Cây phượng, một người bạn ấu thơ, thân thiết với em. Dù sau này có học xong, không còn lứa tuổi học trò nữa nhưng em vẫn sẽ nhớ mãi, vẫn sẽ dành tình cảm cho những cây phượng vĩ.
Loan Trương | Nêu cảm nghĩ của em về cây phượng mà em biết | 826 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về mái trường mà em đang học
Bài làm
Ngôi trường mà em đang học chính là ngôi trường cấp hai nằm trên một thị trấn nhỏ của nông trường Mộc Châu. Mặc dù mới chỉ gắn bó với mái trường này được hơn một năm nhưng em đã có biết bao những kỷ niệm.
Mái trường cấp hai nằm cạnh một quả đồi nhỏ, ngôi trường khá rộng với khuôn viên trường và các dãy phòng học khang trang. Đây là một ngôi trường mới được xây dựng lại khi em vừa mới bước vào cấp hai. Trong trường không có nhiều cây cổ thụ nhưng lại có những cây phượng khá cao lớn. Ngôi trường được sơn màu vàng nằm núp dưới những hàng phượng. Ngoài phượng thì còn có những bồn hoa, những hàng rào bằng cây được cắt tỉa vuông vắn và với các hình thù nom rất đẹp. Em vẫn thích nhất đó chính là những cây phượng. Vào mỗi mùa hè cả ngôi trường như được chìm trong một biển lửa màu đỏ. Phượng rực rỡ, phượng như ngọn lửa nuốt chửng lấy sắc vàng của ngôi trường. Xung quanh ngôi trường là những đồi chè xanh mướt, trải dài nên sắc đỏ càng thêm nổi bật.
Em còn nhớ ấn tượng đầu tiên của em về ngôi trường này đó chính là ngày tập trung của năm học lớp 6. Khi đó mới chớm sang thu, phượng vốn nên rụng hết từ sớm nhưng vẫn còn khá nhiều cành hoa nở muộn. Chính vì thế nên trên vòm cây xanh có tô điểm thêm những sắc đỏ. Tuy ít nhưng vẫn đủ nổi bật và tạo nên nét riêng khác biệt với những màu xanh lá cây của cây cối, của những luống chè xung quanh. Những cây phượng giống như những người bạn lớn đầu tiên đồng hành cùng trong suốt thời gian qua. Ngồi học dưới gốc phượng, cùng bạn bè chơi đùa, hóng mát đó chính là việc vui thích của em.Xem thêm: Bài văn kêu gọi ủng hộ người đồng tính
Biểu cảm về mái trường
Mái trường em đang học có rất nhiều những thầy cô luôn tận tâm, tận tình dạy dỗ chúng em. Không chỉ những tri thức của nhân loại mà còn cả cách làm người, cách đối nhân xử thế. Mỗi một thầy cô với bộ môn khác nhau lại có những nét riêng biệt. Em thích giờ thể dục vì có cô giáo vui tính vì khi đó em được hoạt động dưới sân trường, được thay đổi không khí học tập khiến cho giờ học giảm bớt căng thẳng. Những lúc giải lao còn được cùng bạn bè tụm năm, tụm ba để nói đủ những thứ chuyện trên trời dưới đất, cùng nhau cười nói vui vẻ.
Ở trường, trong tất cả những thầy cô đã và đang dạy em thì em yêu quý nhất chính là cô giáo chủ nhiệm của em. Một người luôn dành hết tâm huyết của mình cho các học trò. Cô là cô giáo dạy môn mỹ thuật nên cô vẽ rất đẹp và cô là người rất yêu thiên nhiên, yêu cỏ cây. Rất nhiều giờ chúng em được vẽ ngoài trời. Có khi là vẽ sân trường với nắng nhẹ, vẽ những đồi chè trải dài như lan tới tận sân trường. Chính vì tình yêu cỏ cây đó nên những bồn hoa, cây cảnh mà lớp em được nhà trường giao cho chăm sóc thì đều được cô hướng dẫn cho chúng em chăm sóc, cắt tỉa và chăm bón rất tươi tốt. Nhìn thành quả là những bông hoa nở khoe sắc thắm, những cành lá tốt tươi. Cũng nhờ những buổi ngoại khóa như vậy khiến em thêm yêu thiên nhiên, yêu thêm mái trường này.Xem thêm: Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất
Mái trường nơi còn có những người bạn đồng hành cùng em trong những năm tháng của tuổi học trò. Có những người bạn cũ đã quen từ những năm học trước nhưng cũng có những người bạn mới mà ban đầu còn xa lạ, bỡ ngỡ nhưng chẳng mấy chốc đã trở nên thân quen. Cùng nhau học tập cùng nhau vui chơi với biết bao niềm vui cũng như nỗi buồn. Ấy vậy mà chẳng mấy chốc một năm học đã trôi qua và không sao đếm xuể. Chính những điều ấy đã tạo nên một thời học trò mà sau này khi mỗi người lớn lên sẽ nhớ mãi.
Mái trường của em vừa thân thương lại vừa quen thuộc. Em sẽ còn gắn bó với ngôi trường trong những năm học tiếp theo của cấp hai và sẽ trân trọng khoảng thời gian này để học tập để rèn luyện và trải nghiệm những năm tháng học trò .
Loan Trương | Nêu cảm nghĩ của em về mái trường mà em đang học | 820 | |
Nêu cảm nghĩ của em về một người thân yêu
Gợi ý
Suốt cuộc đời mình tôi sẽ gặp gỡ, làm quen với biết bao người. Và cũng sẽ có biết bao người tôi trân trọng, yêu quý. Nhưng có một điều không thể nào khác được: chẳng có ai thay thế được người mẹ yêu quý của tôi. Với tồi mẹ là người sinh thành, nuôi nấng, chở che… mẹ là niềm vui, niềm hạnh phúc và lẽ sống của đời tôi.
Mẹ tôi đã gần Bốn mươi tuổi. Mẹ có dáng vẻ cao gầy và mảnh dẻ. Làn da mẹ nâu màu rám nắng. Mái tóc rất dài nhưng luôn được mẹ búi gọn sau gáy. Nhưng ở mẹ, tôi yêu nhất là đôi mắt. Đôi mắt mẹ sâu và lắng đọng biết bao tình cảm yêu thương. Bố tôi thường nói rằng đó chính là quà tặng quí giá mà cuộc sông đã ban cho Bố con tôi. Tôi không biết Bố tôi cảm nhận thế nào về đôi mắt của mẹ nhưng với tôi, khi nhìn vào đôi mắt ấy tôi luôn hiểu mẹ yêu tôi biết nhường nào. Lúc tôi buồn, con tôi – đôi mắt mẹ trũng sâu hằn lên những nỗi lo lắng, suy tư. Ngày tôi vui, đôi mắt mẹ lại ánh lên những tia sáng hy vọng. Cũng có khi tôi mắc lỗi, đôi mắt mẹ tôi chẳng dám nhìn vào nhưng cũng hiểu nó u sầu và thất vọng đến nhường nào. Đôi mắt là cánh cửa tâm hồn mà mẹ luôn dang rộng để đón tôi bước vào.Xem thêm: Nghị luận xã hội về sống có trách nhiệm
Nhưng tôi yêu mẹ không chỉ vì ánh mắt của Người mà còn bởi những điều tốt đẹp nhất mẹ đã mang đến cho gia đình. Bố kể ràng mẹ rất thích công việc của mình ở công ti – đó là một công việc liên quan đến lĩnh vực ngoại giao – nhưng sau khi sinh tôi, để chăm sóc cho hai anh em tôi và thu xếp công việc gia đình tốt nhất, mẹ đã quyết định nghỉ việc ở công ti. Mẹ hy sinh tất cả chỉ để cho gia đình mình có những phút giây vui vẻ. Mẹ dạy anh em tôi học bài trên lớp, cách nói năng, cư xử với mọi người. Những anh bạn của anh tôi hầu hết đều khá vụng về, lóng ngóng và lại hay nóng nảy nữa. Nhưng anh tôi không rõ mẹ rèn thế nào mà anh biết nấu ăn rất ngon, biết tự giặt đồ cho mình, biết giúp đỡ các bạn gái cùng lớp (nên anh được các chị quý lắm, tôi cũng được quý theo – các chị ấy hay gửi kẹo cho tôi lắm!). Đến lượt tôi, mẹ nói rằng tôi là con gái càng cần cẩn thận, khéo léo hơn nữa. Mẹ thường cho tôi đi chợ cùng, dạy tôi cách chọn rau quả, thịt cá. Lúc nấu ăn mẹ cũng để tôi phụ cùng, vừa nấu mẹ vừa giảng giải hướng dẫn tôi chuyện bếp núc. Đặc biệt là chuyện học hành của anh em tôi không hiểu sao mẹ cũng hướng dẫn tất cả các môn được. Tôi đem thắc mắc ấy hỏi bố, Bố cười bảo: “Mẹ ngày xưa là học sinh xuầt sắc đấy!”. Cứ thế, bao lo toan, vất vả mẹ đã âm thầm thu xếp vẹn tròn. Mẹ đã cho tôi bao bài học quý giá trên đời.Xem thêm: Em hãy phát biểu về nhân vật Bốp và Entơni ở đoạn trích “Cứu bạn” trong tác phẩm “Hãy để ngày ấy lụi tàn” của Giêrơn Gođơn (Văn 6, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996) ‘Với tôi, mẹ là người mẹ, người phụ nữ hoàn mĩ nhất thế gian. Và như một nhà thợ nào đó đã từng viết:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt cuộc đời lòng mẹ vẫn theo con…”
thì cuộc đời này tôi sẽ vững bước đi vì có mẹ luôn luôn theo suốt.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ của em về một người thân yêu | 676 | |
Nêu cảm nghĩ của em về một sự việc đã gặp trong cuộc sống
Gợi ý
“Ai bánh bò, bánh tiêu đây!…”
Tiếng rao lanh lảnh vang lên giữa lúc trời đã khuya lắm, tôi đã làm xong nhiều bài tập và sắp chui vào chăn cuộn tròn người ngủ. Giọng trẻ con còn trong khiến tôi tò mò hé cánh cửa sổ nhìn xuống đường. Một cái dáng bé xíu, gầy gò; áo quần tạm bợ với một cái khăn như kiểu khăn của các cụ già choàng lên vai, chân đi dép nhựa hở ra đôi tất cũ; trên đầu đội mâm bánh vẫn còn lùm lùm. Bước chầm chậm, đi được vài bước em lại cất tiếng rao…
Tự nhiên sống mũi tôi cay cay. Em nhỏ đó còn kém tôi ba bốn tuổi. Sao em phải một mình lặn lội, bươn chải với cuộc sống sớm thế? Sao giờ này mà chưa ngủ như những em nhỏ khác? Hoặc chuẩn bị bài vở sáng mai đến trường? Em có lạnh không? Đường về nhà em có còn xa không? Và bao giờ, bao giờ em mới bán hết mâm bánh? Những câu hỏi cứ nối nhau hiện ra, thỉnh thoảng lại cuộn lên khiến giấc ngủ tôi không yên ổn.
Từ đêm nghe thấy tiếng rao và trông thấy em bé bán bánh ấy, tôi sống trầm hơn. Đôi lúc, tôi thấy dằn vặt vì mình đang sống quá sung sướng. Trong khi nhiều người bạn, nhiều em nhỏ phải bươn chải, phải vật lộn để có cái ăn, cái mặc qua ngày thì tôi chỉ việc sẵn ăn ngon, sẵn mặc đẹp. Và trong khi các bạn ấy khao khát được đến lớp, đến trường thì tôi lại thấy việc làm bài tập quá vất vả, khó khăn… Tôi chưa kiên trì, chưa chịu khó trong công việc hàng ngày, ở nhà và ở lớp để xứng đáng với cuộc sống đầy đủ mà mình đang có. Đã vậy, nhiều lúc tôi còn phí phạm trong tiêu pha, ăn uống…Xem thêm: Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Chú trọng nền giáo dục thực tiễn trích trong Tế cấp bát điều của Nguyễn Trường Tộ Em nhỏ bán bánh và tiếng rao khắc khoải trong đêm khuya đã giúp tôi nhìn lại mình nghiêm khắc hơn, sống sao cho tốt hơn, có điều kiện là giúp đỡ bạn nghèo và làm từ thiện.
Mong sao một ngày không xa đất nước chúng ta không còn những em nhỏ phải vất vả như thế.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ của em về một sự việc đã gặp trong cuộc sống | 423 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về nụ cười của mẹ
Bài làm
Mỗi người lại có những quan niệm riêng về cái đẹp. Theo quan niệm của em thì đẹp nhất chính là khi mỗi người nở nụ cười tươi tắn, hạnh phúc. Đối với em đó chính là nụ cười của mẹ.
Mỗi khi gặp chuyện phiền muộn nhưng nhớ đến nụ cười của mẹ khiến em cảm thấy có động lực hơn để cố gắng, cảm thấy trên cuộc đời này còn rất nhiều điều để làm, để cố gắng chứ không phải lúc để chán chường để u buồn hay than thở.
Mẹ của em không phải xinh đẹp bởi là một người hằng ngày tất bận công việc nặng nhọc, bởi làn da vốn xạm đen vì nắng gió. Nhưng dù cho công việc mệt nhọc đến đâu, vất vả đến mấy thì mỗi khi em đi học về mẹ đều chào đón em bằng nụ cười tươi tắn nhất có thể. Em còn nhớ nụ cười của mẹ mà em ấn tượng nhất đó chính là ngày đầu tiên em đi mẫu giáo năm em năm tuổi. Khi ấy là lần đầu tiên rời xa mẹ lâu đến vậy, nhìn ngôi trường, nhìn cô nhìn các bạn xung quanh lạ lẫm biết bao khiến em như muốn chạy về nhà ngay lập tức. Nhưng mẹ đã dịu dàng, dỗ dành an ủi em, và dành cho e nụ cười động viên để cho em có thể vững tin đối mặt với thử thách làm quen với môi trường mới. Khi ấy khiến em quên đi sợ sệt ban đầu và theo cô giáo vào lớp học. Khi tan học, được mẹ tới đón, thấy mẹ cười tươi, dang rộng vòng tay đón em khiến em cảm thấy tự hào hơn vì bản thân mình đã làm được điều mẹ mong muốn và tự hứa sẽ cố gắng hơn để có thể khiến mẹ vui vẻ, khiến mẹ luôn giữ được nụ cười trên môi.Xem thêm: Tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Biểu cảm về nụ cười của mẹ
Rồi khi em lớn hơn, mỗi khi đạt được điểm cao, được thành tích tốt thì điều đầu tiên em làm đó chính là về khoe mẹ. Bởi vì em mong muốn mẹ có thể vui vẻ sau những vất vả, cực nhọc của công việc. Có đôi khi bắt gặp mẹ buồn bã em cảm thấy mình càng phải cố gắng hơn nữa để mẹ có được niềm vui. Bởi có lần em mắc lỗi khiến mẹ buồn, ngay đêm đó em cảm thấy rất hối hận và tự trách bản thân. Tuy nhiên em không đủ dũng cảm để xin lỗi mẹ ngay lúc ấy. Cho tới tận hôm sau khi thấy mẹ sau một đêm mất ngủ đã khiến em không thể kìm lòng mà chạy tới ôm chầm lấy mẹ, xin mẹ tha thứ. Bắt gặp nụ cười yếu ớt của mẹ và mẹ đã không mắng em mà còn khen ngợi em vì em biết lỗi và nhận lỗi khiến em càng thêm hổ thẹn. Cũng từ đó em tự hứa với lòng mình là sẽ không bao giờ để mẹ buồn vì lỗi lầm của em nữa, cũng không bao giờ nói dối mẹ nữa.
Dù vẫn còn nhỏ nhưng em hiểu được rằng mẹ không chỉ lo lắng kiếm tiền, bận rộn công việc mà còn nhiều thứ chuyện phải lo khác nữa. Có những khi mẹ thấy mệt mỏi hay những lúc trái gió trở trời thì mẹ luôn cố gắng che giấu những nỗi buồn phiền, những mệt mỏi để cho con khỏi lo lắng. Những lúc thấy mẹ dù bệnh nhưng vẫn cố cười tươi khi thấy con khiến con cảm thấy rất xúc động và cảm thấy thương mẹ rất nhiều. Chính vì vậy con luôn cố gắng học tập không chỉ những kiến thức trên lớp mà học làm những công việc nhà để có thể đỡ đần mẹ. Nhớ ngày bé, ngày đầu tiên con loay hoay cầm chiếc chổi để quét nhà khiến mẹ phì cười vì dáng vẻ ngộ nghĩnh của con cho đến khi con cầm vững chiếc chổi và quét đúng cách thì mẹ đã cười và xoa đầu khen ngợi con. Cho đến nay mặc dù mới chỉ có thể làm giúp mẹ những việc vặt nhưng thấy được mẹ có thêm thời gian nghỉ ngơi khi ở nhà khiến em cảm thấy rất vui.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mỵ Châu trong truyền thuyết “Mỵ Châu Trọng Thủy” mà em được học
Càng lớn hơn thì càng có nhiều việc phải quan tâm, suy nghĩ. Cũng nhiều khi em cảm thấy chán nản nhưng mẹ luôn dõi theo và cổ vũ cho em vượt qua. Em cảm thấy rất hạnh phúc vì có mẹ ở bên. Mong rằng mẹ mãi vui vẻ, hạnh phúc. Với con mẹ mãi là ngọn hải đăng soi sáng cuộc đời con.
Loan Trương | Nêu cảm nghĩ của em về nụ cười của mẹ hay nhất | 843 | |
Nêu cảm nghĩ của em về thầy (cô) giáo đã dạy em
Gợi ý
Năm tháng rồi cũng qua đi, chỉ có thời gian là thước đo chính xác nhất tình cảm của con người. Bây giờ tuy tôi đã học cấp hai rồi nhưng vẫn nhớ về kỷ niệm đẹp của cô giáo Lan dành cho tôi.
Cô có dáng người thon thả, mái tóc đen dài mượt mà mà bất cứ ai dù mới gặp hay đã quen thân đều trầm trồ khen đẹp. Mỗi khi đến lớp cô mặc chiếc áo bà ba trắng trông rất đẹp và đáng yêu. Ngày đó, khi lần đầu vào lớp một tôi hoảng sợ không chịu vào bởi vì tôi nghĩ rằng: Cô giáo phải là một người dễ sợ lắm, với cái thước trong tay sẽ đánh vào bất cứ đứa nào nghịch ngợm làm trái ý cô. Nhưng không, thời gian dần dà đã làm tan biến mọi ý nghĩ vớ vẩn của tôi. Cô có gương mặt trái xoan, hai má bầu bầu lúc nào cũng hồng lên như được thoa phấn. Đôi mắt xanh thăm thẳm, mãi đến sau này tôi mới biết đó là đôi mắt phượng bởi nó trong và sáng quá. Mỗi lần có ai không thuộc bài hay mắc một lỗi lầm gì đấy, chỉ cần nhìn vào ánh mắt của cô là chúng tôi không thể dối lòng mình được. Nghe cô giảng bài thì càng thích thú hơn. Sức hấp dẫn của bài giảng không chỉ ở độ chính xác kiến thức mà còn ở chất giọng trong trẻo mượt mà của cô.Xem thêm: Cảm nghĩ về bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”
Cô rất tận tụy, hết lòng vì học sinh thân yêu của mình. Cô chưa hề tỏ ra cáu gắt hay giận dỗi trước bất kỳ ai trong chúng tôi ngay cả khi chúng tòi không thuộc bài. Trong tâm hồn cô là một khoảng trời chan chứa yêu thương của người mẹ hiền yêu quý.
Tuy không còn học cô nữa nhưng tôi luôn tôn trọng và biết ơn cô. Tôi hứa sẽ học tập tốt để khỏi phụ lòng thương yêu, chăm sóc của cô đối với tôi.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ của em về thầy (cô) giáo đã dạy em | 371 | |
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về tình bạn trong cuộc sống
Bài làm
Cuộc đời mỗi người sẽ trở nên thú vị, vui tươi hơn nếu chúng ta có những người bạn. Đối với thì tình bạn rất thiêng liêng và đáng trân trọng.
Ai cũng có những người bạn, có người là bạn chơi cùng thuở nào, bạn cùng lớp, cùng trường, cùng làm việc… Dù chi tình bạn hình thành từ cơ sở nào thì nó cũng đều đáng quý. Những người bạn của ta sẽ cùng ta chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn. Khi làm bất cứ một việc gì đó nếu như có bạn cùng đồng hành ta sẽ có động lực, cảm thấy công việc trở nên dễ dàng hơn, thú vị hơn.
Có nhiều người luôn tự hỏi: "Thế nào là tình bạn đẹp? ". Thế rồi mỗi người lại có những quan niệm khác nhau về tình bạn đẹp. Đối với em tình bạn đẹp là tình bạn xuất phát từ sự chân thành, không vụ lợi. Trở thành bạn của nhau có thể vì phù hợp, đồng quan điểm, cùng chung sở thích, lý tưởng nhưng quan trọng đó là sự thật tâm và không có mục đích xấu khác. Tình bạn đẹp là đồng cảm, sẻ chia với nhau và biết giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn. Có những khi ta bế tắc, cảm thấy buồn chán nhưng chỉ cần nhận được lời động viên an ủi đã khiến ta cảm thấy cuộc sống này ý nghĩa hơn rất nhiều và có thêm động lực để cố gắng, vượt qua. Bạn là người luôn kề vai sát cánh dù khi ta vấp ngã. Tuy nhiên, ngày nay nhiều người nhầm lẫn giữa bạn với bè. Có người nói "tôi có rất nhiều bạn" nhưng thử hỏi trong cái nhiều đó có mấy ai là người bạn thực sự. Hay họ chỉ đến bên ta khi họ cần còn khi ta cần họ, khi ta gặp khó khăn thì họ ngoảnh mặt làm ngơ. Có nhiều người họ chơi với nhau chỉ vì để cho vui, để thỏa mãn nhu cầu của riêng họ chứ không suy nghĩ đến cảm nhận của đối phương.Xem thêm: Phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc- Văn 12
Biểu cảm về tình bạn
Đối với riêng em, một người không có nhiều bạn nhưng em rất trân trọng những người bạn mà em đang có. Họ là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của em. Nhờ có họ mà em thấy cuộc sống này thật tươi đẹp, chất chứa nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều điều kỳ diệu mà ta có thể cùng với những người bạn để khám phá. Những giờ học căng thẳng sẽ trở nên thú vị nếu ta có những người bạn đồng hành. Sự khắc nghiệt của thời tiết và bệnh lười cũng sẽ bị xem nhẹ, không cản được bước chân tới trường bởi có bạn đồng hành thì mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Những giờ ra chơi với biết bao trò chơi thú vị, biết bao câu chuyện trên giời dưới đất. Tất cả đều khiến em cảm thấy tình bạn thật ý nghĩa. Rồi mỗi khi em buồn thì các bạn em luôn an ủi rồi bày trò khiến em cười. Rồi khi một bạn nào đó trong nhóm ốm không đi học được thì chúng em sau giờ học lại cùng nhau tới thăm, cùng nhau chăm sóc, kể những câu chuyện thú vị trên lớp, giảng bài cho bạn. Từ những việc nhỏ nhặt đó khiến em và mọi người cảm thấy bản thân mình trưởng thành lên rất nhiều.
Cũng từ quan niệm của bản thân về tình bạn đẹp nên khi kết bạn với một ai đó em đều đối xử rất chân thành và quý mến họ. Bạn bè là phải bao dung nhau, nhưng không có nghĩa là phải bao dung tất cả mọi thứ mà còn cần phải biết phân biệt tốt xấu để có thể giúp đỡ nhau, góp ý để cùng tiến bộ. Việc quan tâm, chia sẻ được đặt lên hàng đầu chính vì thế em luôn tự rèn cho mình cách lắng nghe, cách quan tâm với người khác. Xem thêm: Tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua
Tình bạn là thiêng liêng, cao quý. Mỗi chúng ta hãy tìm kiếm cho riêng mình những tình bạn chân thật nhất. Hãy làm cho tuổi trẻ của mình thật sôi động với những người bạn tốt, hãy trân trọng những người bạn ấy để sau này ta không phải nuối tiếc.
Loan Trương | Nêu cảm nghĩ của em về tình bạn trong cuộc sống | 787 | |
Đề bài: Em hãy nêu cảm nghĩ của mình về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh
Bài làm
Bài thơ “Cảnh khuya” được tác giả Hồ Chí Minh viết năm 1947, sau khi nước ta thắng lớn tại Việt Bắc. Một số địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc như Sông Lô, Đoan Hùng bởi những chiến công hiển hách của mình trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thoát khỏi ách nô lệ. Bài thơ thể hiện tấm lòng yêu nước vô cùng mãnh liệt, sâu sắc của tác giả.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”Trong đêm tối tĩnh mịch, yên lắng tới nao lòng tiếng suối chảy róc rách nghe thật gần, thật rõ, giống như tiếng hát của một cô thiếu nữ vừa trong veo, vừa lảnh lót. Tác giả nhìn qua ô cửa sổ cảm thấy ánh trăng đêm nay thật sáng trong soi tỏ mặt người. Hình ảnh trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa, thể hiện thuật miêu tả vô cùng độc đáo của tác giả Hồ Chí Minh.
Trong đêm khuya tĩnh mịch đó hình ảnh đêm trăng với tiếng suối, bóng đêm, hoa cỏ hiện lên rõ nét như được vẽ lên trên vải lụa. Một khung cảnh nên thơ, trữ tình tạo nỗi buồn bâng khuâng cho tác giả. Trước một cảnh đẹp tuyệt trần như vậy những chủ tịch Hồ Chí Minh lại cảm thấy trong lòng mình khó ngủ, trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành do trong lòng người vẫn nặng mang một nỗi buồn sâu sắc. Đó chính là nỗi buồn lo lắng cho vận mệnh nước nhà.Xem thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: "Ngó lên nuộc lạt mái nhà/ Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu"
Đất nước ta vẫn còn trong bóng tối, vẫn còn trong đêm dài nô lệ, chưa thoát khỏi ách đô hộ thống trị của thực dân Pháp. Người dân của ta đang trong cảnh lầm than, khốn khổ. Nạn đói bủa vây những người dân vô tội, nạn đói năm 1945 đã cướp đi tính mạng của 2 triệu người dân trên đất nước ta, khiến cho một vị lãnh tụ như chủ tịch Hồ Chí Minh không khỏi cảm thấy xót xa, đau đớn thắt lòng. Người làm sao mà ngủ ngon giấc, khi trong lòng mình mang nặng nỗi ưu tư, phiền muộn như vậy.
Đây không phải lần đầu tiên người so sánh tiếng suối với một tiếng hát hay tiếng đàn. Trước đó trong bài “Côn Sơn Ức Trai” tác giả đã có sự cảm nhận rất tinh tế về tiếng suối như sau:
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”
Tiếng suối nghệ thật bình yên thơ mộng tựa như những cung đàn đang dạo những nốt trầm bổng làm say đắm lòng người. Trong những năm đầu thế kỷ XX tác giả Nguyễn Khuyến cũng từng miêu tả tiếng suối như thế này:
“Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo…”
Trong mỗi câu thơ, thể hiện một khung cảnh, âm thanh, điệu nhạc khác nhau thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận cũng như trong quan sát của từng tác giả. Tuy nhiên, tựu chung lại thì các tác giả dù là Hồ Chí Minh hay Nguyễn Khuyến đều cảm thấy tiếng suối, tiếng nước chảy róc rách là một âm thanh nghe vô cùng đắm say, gợi lên nhiều xúc cảm cho con người.
Xem thêm: Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác Hồ muốn khuyên dạy chúng ta điều gì qua hai dòng thơ ấy? Vì sao công việc trồng cây trong mùa xuân của đất trời lại có thể góp phần làm nên mùa xuân cho đất nước?
Và dù trong hoàn cảnh nào thì tác giả Hồ Chí Minh vẫn luôn nặng lòng vì đất nước, trong lòng người luôn trăn trở một nỗi niềm khôn nguôi đó chính là vận mệnh của dân tộc, của nước nhà.
Trong bài thơ “Không ngủ được” Bác đã viết như sau:
“Một canh, hai canh, lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”
Đây không phải lần đầu tiên người mất ngủ vì non sông, vì đất nước có lẽ đêm nay cũng như hàng ngàn đêm khác Bác Hồ của chúng ta đều khó ngủ khi suy nghĩ tới đại cục, tới những số phận người dân Việt Nam. Mặc dù người đang được nhìn thấy một khung cảnh vô cùng thơ mộng, giống như chốn thần tiên ở nhân gian với ánh trăng thanh, sáng vằng vặc, tiếng suối trong veo như tiếng hát của một cô thôn nữ, hình ảnh cỏ cây hoa lá vô cùng nên thơ tưởng chốn bồng lai tiên cảnh. Nhưng dù được sống trong khung cảnh hữu tình tới như vậy thì Bác Hồ của chúng ta vẫn không cảm thấy tâm hồn mình thảnh thơi, để nhìn ngắm cảnh vật, hoặc ngủ một giấc say nồng. Trong hoàn cảnh nên thơ gợi tình như vậy Bác Hồ của chúng ta vẫn cảm thấy nặng lòng, muộn phiền chất chứa.
Điều này thể hiện tình yêu mãnh liệt người dành cho quê hương, cho dân tộc. Một tấm lòng nhân văn thương nước thương dân vô bờ bến. Người xứng đáng là chủ tịch kính yêu, lãnh đạo toàn dân ta, xứng đáng là người cha già của toàn dân tộc Việt Nam.Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Cảm nghĩ về bà
Hình ảnh ngôi sao vàng năm cánh thể hiện giấc mơ tự do, khát vọng độc lập mãnh liệt của người. Nó là một giấc mơ đẹp, giấc mơ của sự chính nghĩa nhất định sẽ thành công.
Bài thơ “Cảnh khuya” là bài thơ hay, thể hiện cảnh đẹp của núi rừng Việt Bắc. Đồng thời cũng thể hiện tấm lòng yêu nước, lo lắng cho quê hương, dân tộc của người. Dù trong hoàn cảnh nào người vẫn luôn lo lắng, thao thức mất ngủ vì vận mệnh nước nhà. Đó chính là nghệ thuật là nét đẹp riêng của bài thơ.
Qua bài thơ ta càng thêm kính yêu trân trọng tấm lòng yêu nước thương dân của chủ tịch Hồ Chí Minh “người không con mà có triệu con”.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Nêu cảm nghĩ của mình về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh- văn lớp 7 | 1,102 | |
Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất của anh (chị) khi đọc Lão Hạc
Gợi ý
Chúng ta đã từng học qua những truyện ngắn rihư Lão Hạc, Tắt đèn và chắc không mấy ai trong số chúng ta lại không trầm trồ thán phục tài năng nghệ thuật của Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Với riêng tôi, dù đã đọc đi đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao rất nhiều lầ£ nhưng dường như lần nào tôi cũng lại tìm thấy thêm được một vài điều lý thú. Nó cuốn hút tôi, lay động tôi, khi thì gợi trong tôi sự căm thù, khi lại gọi về chan chứa những yêu thương.
Lão Hạc là sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Nó là tình yêu thương, là sự ngợi ca, trần trọng người lao động của Nam Cao. Giông như Ngô Tất Tố cùng nhiều nhà văn thời đó, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh người nông dân Việt Nam trước Cách mạng với những phẩm chất đáng quý, đáng yêu: chăm chỉ, cần cù, giàu tình yêu thương và giàu đức hy sinh.
Trước Cách mạng, Nam Cao say sưa khám phá cuộc sống và tính cách của nông dân. Trong các tác phẩm của ông, môi trường và hoàn cảnh sống của nhân vật chính thường gắn liền với cái nghèo, cái đói, với miếng ăn và với các định kiến xã hội đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ vào cách nhìn của con người ở nông thôn.Xem thêm: Thuyết minh về một tác giả văn học Lão Hạc cũng vậy, suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão thương con vô bờ bến. Thương khi con không lấy được vợ vì nhà ta nghèo quá, thương con phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi để ôm mộng làm giàu giữa chốn hang hùm miệng sói. Và đọc truyện ta còn thấy lão đau khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng, kỷ vật duy nhất của đứa con trai. Không bán, lão biết lấy gì nuôi nó sống. Cuộc sống ngày thêm một khó khăn. Rồi cuối cùng, đến cái thân lão, lão cũng không giữ được. Lão ăn củ chuối, ăn sung luộc. Nhưng lão nghĩ, lão “không nên” sống nữa. Sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình. Vậy là, thật đớn đau thay! Lão Hạc đã phải tự “sắp xếp” cái chết cho mình. Cuộc sống của nông dân; ta trước Cách mạng ngột ngạt đến không thở được. Nhìn cái hiện thực ấy, ta đau đớn, xót xa. Ta cũng căm ghét vô cùng bọn địa chủ, bọn thực dân gian ác.
Lão Hạc chết. Cái chết của lão Hạc sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nông dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, chết mà không muốn làm luỵ phiền hàng xóm. Cái chết của lão Hạc thay cho lời tố cáo cái xã hội phi nhân đạo – một thứ sản phẩm hỗn tạp của phong kiến, thực dân.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ Hai Bà Trưng trích Đại Nam quốc sử diễn ca Đọc Lão Hạc ta thấy đâu phải chỉ mình lão khổ. Đó là những Binh Tư, một kẻ do cái nghèo mà bị tha hoá thành một tên trộm cắp. Đó là ông giáo, một người trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng không thoát ra khỏi áp lực của cảnh vợ con rách áo, đói cợm. Cái nghèo khiến ông giáo đã phải rứt ruột bán đi từng cuốn sách vô giá của mình. Nhưng cái thứ ấy bán đi thì được mấy bữa cơm? Vậy ra ở trong truyện tất cả đã đều là lão Hạc. Lão Hạc phải oằn mình mà chết trước thử hỏi những người kia có thể cầm cự được bao lâu?
Ở Lão Hạc, ta có thấy niềm tin và sự lạc quan của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của con người. Thế nhưng điều quan trọng hơn mà nhà văn muốn nhắn gửi đó là một lời tố cáo. Nó cất lên như là một tiếng kêu để cứu lấy con người. Từ chiều sâu của nội dung tư tưởng, tác phẩm nói lên tính cấp bách và yêu cầu khẩn thiết phải thay đổi toàn bộ môi trường sống để cứu lấy những giá trị chân chính và tốt đẹp của con người.
Lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Nó cũng dạy ta, cuộc sống là một cuộc đấu tranh không phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách.Xem thêm: Phân tích bài ca dao “Làm trai cho đáng nên trai. Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào”Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất của anh (chị) khi đọc Lão Hạc | 853 | |
Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện mà anh (chị) đến nay vẫn không thể nào quên
Gợi ý
Cà phê đi vào cuộc sống của chúng ta thật nhẹ nhàng và lãng mạn. Bên ly cafe có những người tìm thấy hạnh phúc, cũng có những người có thể trút được những nỗi niềm mà không thể chia sẻ cùng ai. Bạn đã từng nghe nói cà phê ngọt, cà phê đắng, nhưng đã có từng nghe câu chuyện Cà phê muối chưa? Cà phê đối với một số người không chỉ là thức uống mà còn là bạn, là tri kỷ. Còn bạn, cafe với bạn là gì?
Cà phê muối là câu chuyên tôi đã từng đọc được ở đâu đó từ rất lâu rồi, nhưng không thể nào quên. Không thể quên bởi lần đầu tiên nghe thấy một loại cà phê đặc biệt đến thế, không thể quên bởi tình tiết câu chuyện liên quãn đến vị cà phê này lại quả thật quá đỗi ngọt ngào chứ không hề mặn chát.
Câu chuyện kể về một chàng trai, anh gặp nàng trong một bữa tiệc. Nàng vô cùng xinh xắn và dễ thương… Biết bao chàng trai theo đuổi nàng trong khi anh chỉ là một gã bình thường chẳng ai thèm để ý. Cuối bữa tiệc, lấy hết can đảm, anh mời nàng đi uống cafe. Hết sức ngạc nhiên, nhưng vì phép lịch sự nàng cũng nhận lời.
Họ ngồi im lặng trong một quán cafe. Anh quá run nên không nói được câu nào. Cô gái bắt đầu cảm thấy thật buồn tẻ và muốn đi về… Chàng trai thì cứ loay hoay mãi với cốc cafe, cầm lên lại đặt xuống… Đúng lúc cô gái định đứng lên và xin phép ra về thì bất chợt chàng trai gọi người phục vụ: "Làm ơn cho tôi ít muối vào tách cafe". Gần như tất cả những người trong quán nước đều quay lại nhìn anh… Cô gái cũng vô cùng ngạc nhiên. Nàng hỏi anh tại sao lại có sở thích ki lạ thế. Anh lúng túng một lát rồi nói: "Ngày trước nhà tôi gần biển. Tôi rất thích nô đùa với sóng biển, thích cái vị mặn và đắng của nước biển. Vâng, mặn và đắng – giống như cafe cho thêm muối vậy… Mỗi khi uống cafe muối như thế này, tôi lại nhớ quê hương và cha mẹ mình da diết…". Cô gái nhìn anh thông cảm và dường như nàng rất xúc động trước tình cảm chân, thành của anh. Nàng thầm nghĩ một người yêụ quê hương và cha mẹ mình như thế hẳn phải là người tốt và chắc chắn sau này sẽ là một người chồng, người cha tốt… Câu chuyện cởi mở hơn khi nàng cũng kể về tuổi thơ, về cha mẹ và gia đình mình…Xem thêm: Phân tích truyện Tam đại con gà. Khi chia tay ra về, cả hai cùng cảm thấy thật dễ chịu và vui vẻ. Và qua những cuộc hẹn hò về sau, càng ngày cô gái càng nhận ra chàng trai có thật nhiều tính tốt. Anh rất chân thành, kiên nhẫn và luôn thông cảm với những khó khăn của cô. Và… như bao câu chuyện kết thúc có hậu khác, hai người lấy nhau. Họ đã sống rất hạnh phúc trong suốt cuộc đời. Sáng nào trước khi anh đi làm, nàng cũng pha cho anh một tách cafe muối…
Nhưng khác những câu chuyện cổ tích, câu chuyện này không dừng ở đó. Nhiều năm sau, đôi vợ chồng già đi, và người chồng là người ra đi trước… Sau khi anh chết, người vớ tìm thấy một lá thư anh để lại. Trong thư viết: "Gửi người con gái mà anh yêu thương nhất! Có một điều mà anh đã không đủ can đảm nội với em. Anh đã lừa dối em, một lần duy nhất trong cuộc đời… Thực sự là ngày đầu tiên mình gặp nhau, được nói chuyện với em là niềm sung sướng đối với anh. Anh đã rất run khi ngồi đối diện em… Lúc đó anh định gọi đường cho tách cafe
Nhưng anh nói nhầm thành muối. Nhìn đôi mắt em lúc đó, anh biết mình không thể rút lại lời vừa nói nên anh đã bịa ra câu chuyện về biển và cafe muối. Anh không hề thích và chưa bao giờ uống cafe muối trước đó! Rất nhiều lần anh muốn nói thật với em nhưng anh sợ… Anh đã tự hứa với mình đó là lần đầu và cũng là lần cuối anh nói dôi em. Nếu được làm lại từ đầu, anh vẫn sẽ làm như vậy… để được có em và để được uống tách cafe muối em pha hàng ngày suốt cuộc đời anh… Anh yêu em!".Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của đoạn kết trong Chuyện chức phán sử đền Tản Viên (từ vương nghĩ Tử Văn đến nhà quan Phán sử) và lời bình cuối truyện (Từ Than ôi!... đến hết) Mắt người vợ nhòa đi khi đọc đến những dòng cuối lá thư. Bà gấp bức thư lại và chầm chậm đứng lên, đi pha cho mình một tách cafe muối… Nếu bây giờ có ai hỏi bà cafe muối có vị như thế nào, bà sẽ nói cho họ biết: Nó rất ngọt!!!
Tôi thích cái cách lúng túng của người chồng khi gọi muôi thay cho đường, cách người đàn ông ấy “nói dốì” chỉ vì người vợ thân yêu. Ông biết rằng người vợ của mình yêu cái điểm đặc biệt ấy của ông thể hiện qua mỗi tách cà phê muối mỗi sáng.
Có lẽ chỉ có tình yêu mổi có thể làm nên những điều kì diệu, câu chuyện Cà phê muối là dư vị ngọt ngào của một tách cà phê mặn vị muối. Bởi tình yêu, sự dũng cảm của người chồng, cà phê muối đã trở nên thật sự ngọt ngào đối với người vợ. Sức mạnh của tình yêu đôi khi làm được nhiều điều hơn chúng ta tưởng.
Thảng hoặc, tôi vẫn tự tìm cho mình một quán cà phê yên tĩnh, tự mình thưởng thức một ly cà phê rồi nghe lòng mình lắng lại. Giữa những bện bề của cuộc sống, một phút lặng để suy nghĩ và nhìn nhận quả thật quý giá.
Đôi khi, có lẽ nên tự dành cho mình những khoảng lặng, những bình yên, đôi khi hãy sống chậm một chút so với cái guồng quay gấp gáp của cuộc sống… Hãy thưởng thức cà phê – nhẹ nhàng và lãng mạn. Nhất định, một lần nào đó, tôi sẽ thử một tách cà phê muối, để cảm nhận dư vị ngọt ngào len lỏi sâu tận bên trong vị mặn của muối. Chắc chắn…Xem thêm: Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về ý kiến sau: “Một trong những tổn thất không có gì bù đắp được là tổn thất về thời gian”Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện mà anh (chị) đến nay vẫn không thể nào quên | 1,180 | |
Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
Gợi ý
Chúng ta đã từng học qua những truyện như Lão Hạc, Tắt đèn và chắc không mấy ai trong số chúng ta lại không trầm trồ thán phục tài năng nghệ thuật của Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Với riêng tôi, dù đã đọc đi đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao rất nhiều lần nhưng dường như lần nào tôi cũng lại tìm thấy thêm được một vài điều lý thú. Nó cuốn hút tôi, lay động tôi, khi thì gợi trong tôi sự căm thù, khi lại gọi về chan chứa những yêu thương.
Lão Hạc là sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Nó là tình yêu thương, là sự ngợi ca, trân trọng người lao động của Nam Cao. Giống như Ngô Tất Tố cùng nhiều nhà văn thời đó, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh người nông dân Việt Nam trước cách mạng với những phẩm chất đáng quý, đáng yêu: chăm chỉ, cần cù, giàu tình yêu thương và giàu đức hy sinh.
Trước cách mạng, Nam Cao say sưa khám phá cuộc sống và tính cách của nông dân. Trong các tác phẩm của ông, môi trường và hoàn cảnh sống của nhân vật chính thường gắn liền với cái nghèo, cái đói, với miếng ăn và với các định kiến xã hội đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ vào cách nhìn của con người ở nông thôn.Xem thêm: Kể về lão Hạc, Binh Tư cho rằng lão "cũng ra phết chứ chẳng vừa đâu". Viết đoạn văn nêu ngắn gọn ý kiến của em về chủ đề này Lão Hạc cũng vậy, suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão thương con vô bờ bến: thương khi con không lấy được vợ vì nhà ta nghèo quá, thương con phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi để ôm mộng làm giàu giữa chốn hang hùm miệng sói. Và đọc truyện ta còn thấy lão đau khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng, kỷ vật duy nhất của đứa con trai. Không bán, lão biết lấy gì nuôi nó sống? Cuộc sống ngày thêm một khó khăn. Rồi cuối cùng, đến cái thân lão, lão cũng không giữ được. Lão ăn củ chuối, ăn sung luộc. Nhưng lão nghĩ, lão “không nên” sống nữa. Sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình. Vậy là, thật đớn đau thay! Lão Hạc đã phải tự “sắp xếp” cái chết cho mình. Cuộc sống của nông dân ta trước cách mạng ngột ngạt đến không thở được. Nhìn cái hiện thực ấy, ta đau đớn, xót xa. Ta cũng căm ghét vô cùng bọn địa chủ, bọn thực dân gian ác.
Lão Hạc chết. Cái chết của Lão Hạc sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nông dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, chết mà không muốn làm luỵ phiền hàng xóm. Cái chết của Lão Hạc thay cho lời tố cáo cái xã hội phi nhân đạo – một thứ sản phẩm hỗn tạp của phong kiến, thực dân.Xem thêm: Người ta nói: từ một hạt cát có thể kể thành truyện. Em hãy thử kể một câu chuyện như thế Đọc Lão Hạc ta thấy đâu phải chỉ mình lão khổ. Những hạng người như Binh Tư, một kẻ do cái nghèo mà bị tha hoá thành một tên trộm cắp. Đó là ông giáo, một người trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng không thoát ra khỏi áp lực của cảnh vợ con rách áo, đói cơm. Cái nghèo khiến ông giáo đã phải rứt ruột bán đi từng cuốn sách vô giá của mình. Nhưng cái thứ ấy bán đi thì được mấy bữa cơm? Vậy ra ở trong truyện tất cả đã đều là Lão Hạc. Lão Hạc phải oằn mình mà chết trước thử hỏi những người kia có thể cầm cự được bao lâu?
Ở tác phẩm Lão Hạc, ta có thấy niềm tin và sự lạc quan của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của con người. Thế nhưng điều quan trọng hơn mà nhà văn muốn nhắn gửi đó là một lời tố cáo. Nó cất lên như là một tiếng kêu để cứu lấy con người. Từ chiều sâu của nội dung tư tưởng, tác phẩm nói lên tính cấp bách và yêu cầu khẩn thiết phải thay đổi toàn bộ môi trường sống để cứu lấy những giá trị chân chính và tốt đẹp của con người.
Lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Nó cũng dạy ta, cuộc sống là một cuộc đấu tranh không phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách.Xem thêm: Phân tích để làm nổi bật cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang DũngVanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao | 884 | |
Nêu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ Nôm nổi tiếng với cá tính thơ độc đáo và mới mẻ. Những sáng tác của bà luôn đề cập đến nỗi bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ với một số tác phẩm tiêu biểu của như “Quả mít”, “Cái quạt”, “Con ốc nhồi”… và đặc biệt không thể không kể đến bài thơ “Bánh trôi nước” – một tác phẩm hay và ý nghĩa, không chỉ phản ánh thân phận đau đớn của người phụ nữ mà còn ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất đáng quý họ.
“Bánh trôi nước” là một món bánh dân dã của người Việt Nam với hình dáng tròn trịa như mặt trăng đêm rằm, có vị dẻo của bột gạo nếp, vị thơm của gừng, vị ngọt bùi của đậu xay nhuyễn. Bánh trôi nước được người xưa xem là biểu tượng của sự tinh khiết, là một món ăn không thể thiếu để dâng lên trời phật, tổ tiên trong những ngày rằm âm lịch. Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh này để nói lên thân phận của người con gái thông qua cách nói dân gian:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.”
“Thân em” chính là mô-típ của những bài ca dao than thân. Ngay bản thân từ “thân em” đã gợi lên sự xót xa của người phụ nữ vì bị xã hội coi khinh, ruồng bỏ:Xem thêm: Tả ngôi trường THCS nơi em đang theo học
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
Và Hồ Xuân Hương cũng thế, cũng ví người con gái với những nét đẹp từ cuộc sống. Nhưng cách ví von của bà thật độc đáo. Bà ví người phụ nữ tựa chiếc bánh trôi, “vừa trắng lại vừa tròn”, vừa đẹp đẽ, trắng trong vừa vẹn trò, đầy đặn. Thế nhưng chính chiếc bánh trôi ấy cũng phải chịu sự hắt hiu, lặn hụp, không làm chủ được cuộc đời của mình:
“Bảy nổi ba chìm với nước non”
Cái “nổi” – “chìm” ấy đã gợi cho thấy thấy sự truân chuyên của người phụ nữ bị lễ giáo phong kiến tước đoạt quyền tự chủ, tự do, bị coi kinh, ruồng bỏ, sống bấp bênh phụ thuộc vào người khác. Quan niệm của nho giáo dường như đã ăn sâu vào tâm thức con người Việt Nam: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nghĩa là khi ở nhà phải thực hiện theo sự chỉ bảo của cha, lúc lấy chồng phải theo ý chồng định đoạt, chồng qua đời, người phụ nữ lại tiếp tục lệ thuộc vào con. Chẳng có một hướng đi nào cho họ, cũng chẳng có cách giải thoát nào ngoài sự trong chờ vào số phận đẩy đưa. Nói chính xác hơn, số phận họ bị đặt vào tay kẻ khác, bị định đoạt bởi niềm vui và nỗi buồn của người khác:Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về những điều Thượng Đế sẽ hỏi và không hỏi ở trên. Theo anh (chị), Thượng Đế có thể hỏi những điều gì nữa?
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.”
Từ “mặc dầu” chính là một cách nói khác thay cho sự bất lực, buông xuôi, không kháng cự. Thế nhưng dù bất lực, dù buông xuôi, dù phó thác vận mệnh vào những trang nam tử, người phụ nữ trong xã hội phong kiến vẫn giữ gìn phẩm giá của mình:
“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
“Tấm lòng son” chính là màu nâu sẫm của đường thẻ làm nhưng bánh trôi. Đó cũng là hình ảnh ẩn ý để nói về phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, là lời khẳng định vẻ đẹp trong tâm hồn luôn kiên định trước những vùi dập của cuộc đời. Cách nói khiêm nhường nhưng cứng rắn, gửi gắm sự xót xa, tự thán nhưng cũng là lời thách thức xã hội trong nam khinh nữ đầy rẫy những bất công.
Bằng thể thơ tứ tuyệt với bốn câu thơ ngắn gọn nhưng nữ sĩ Xuân Hương đã gửi gắm vào đó biết bao tình cảm cao đẹp, quan điểm tiến bộ và cái nhìn nhân văn vào bức chân dung có sắc và có hồn của người phụ nữ. Chính điều đó đã mang “Bánh trôi nước” đến gần với người đọc, mang Hồ Xuân Hương lên vị trí đỉnh cao của tác giả thơ Nôm trung đại và ngự trị trong lòng độc giả yêu thơ. | Nêu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương | 774 | |
Nêu cảm nghĩ về các nhân vật: người đàn bà vùng biển, lão đàn ông độc ác, chị em thằng Phác, người nghệ sĩ nhiếp ảnh
Hướng dẫn
Phát hiện thứ hai của người nghệ sĩ nhiếp ảnh mang đầy nghịch lí. Anh đã chứng kiến và có thái độ như thế nào trước những gì diễn ra ở gia đình thuyền chài (Chiếc thuyền ngoài xa)?
Gợiý:
– Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu, một lão đàn ôngthô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách để giải toả những uất ức, khổ đau… Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
– Chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ một cách vô lí và thô bạo, Phùng đã “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu… vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy ào tới”. Hành động đó nói lên nhiều điều.
Câu chuyện của người đàn hà ở tòa án huyện (Chiếc thuyền ngoài xa) nói lên điều gì?
Gợi ý:
– Câu chuyện của người đàn bà ở toà án huyện là câu chuyện về sự thật cuộc đời, nó giúp những người như Phùng, như Đẩu hiểu rõ nguyên do của những điều tưởng như vô lí. Nhìn bề ngoài, đó là người đàn bà quá nhẫn nhục, cam chịu, bị đánh đập… mà vẫn quyết gắn bó với lão chồng vũ phu. Nhưng tất cả đều xuất phát từ tình thương vô bờ đối với những đứa con. Trong đau khổtriền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi…
– Qua câu chuyện của người đàn bà làng chài, tác giả giúp người đọc hiểu rõ: không thể dễ dãi, đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng của đời sống.
Nêu cảm nghĩ về các nhân vật: người đàn bà vùng biển, lão đàn ôngđộc ác, chị em thằng Phác, người nghệ sĩ nhiếp ảnh (Chiếc thuyền ngoài xa).
Gợi ý:
– về người đàn bà vùng biển: tác giả gọi một các phiếm định “người đàn bà”, điều tác giả gây ấn tượng chính là số phận của chị. Ngoại 40, thô kệch, mặt rỗ, xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”; người đàn bà gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, nhiều cay đắng. Bà thầm lặng chịu mọi đau đớn khi bị chồng đánh không kêu lên một tiếng, không chống trả, không trốn chạy “tình thương con cũng như nỗi đau, sự thâm trầm trong cái việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng để lộ ra bên ngoài”… Một sự cam chịu đáng chia sẻ, cảm thông.
– về người đàn ông độc ác: cuộc sống đói nghèo, lam lũ đã biến “anh con trai” cục tính nhưng hiền lành xưa kia thành một người chồng vũ phu. Lão đàn ông “mái tóc tổ quạ”, “chân chữ bát”, “hai con mắt đầy vẻ độc dụ vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình”.
– Chị em thằng Phác: bị đẩy vào tình thế khó xử khi ở trong hoàn cảnh ấy. Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà cam đảm, đã phải vật lộn để tước con dao trên tay thằng em trai, ngăn em việc trái luân thường đạo lí. Cô bé là điểm tựa vững chắc của người mẹ đáng thương, cô đã hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến toàn án huyện. Thằng Phác thương mẹ theo kiểu một cậu bé con còn nhỏ, theo cách một đứa con trai vùng biển. Nó “lặng lẽ đưa mấy ngọn tay khẽ sờ trên khuônmặt người mẹ, như muốn lấy đi những giọt nước mắt chứa đầy trongnhữngnốt rỗ chằng chịt”; “nó tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Hình ảnh thằng Phác khiến người đọc cảm động bời tình thương mẹ dạt dào.
Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về lời của một bài hát: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay.– Nghệ sĩ nhiếp ảnh: vốn là người lính thường vào sinh ra tử. Phùng căm ghét mọi sự áp bức, bất công, sẵn sàng làm tất cả vì điều kiện, lẽ công bằng. Anh xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi của thuyền và biển lúc bình minh. Một người nhạy cảm như anh tránh sao khỏi nỗi tức giận khi phát hiện ra sự bạo hành của cái xấu, cái ác ngay sau cảnh đẹp huyền ảo trên biển. Hơn bao giờ hết. Phùng hiểu rõ: trước khi một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãylàm một người biết yêu ghét, vui buồn trước mọi lẽ đời thường tình, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người.
Cách xây dựng cốt truyện của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa có gì độc đáo?
Gợi ý:
– Cách xây dựng cốt truyện độc đáo:
Trong tác phẩm, đó là sự kiện Phùng chứng kiến lão đàn ông dánh vợ một cách tàn bạo. Trước đó, anh nhìn đời bằng con mắt của người nghệ sĩ rung động, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo – thơ mộng của thuyền và biển. Trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn, Phùng phát hiện ra hiện thực nghiệt ngã của đôi vợ chồng bước ra từ con thuyề “thơ mộng”.
– Tình huống đó được lặp lại lần nữa: bên cạnh người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng “đòn chồng”, Phùng còn được chứng kiến phản ứng của chị em thằng Phác trước sự hung bạo của cha đối với mẹ. Từ đó, trong người nghệ sĩ đã có sự thay đổi cách nhìn đời. Anh thấy rõ những ngang trái trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm tính cách người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu thêm người đồng đội (Đẩu) và hiểu thêm chính mình.
– Ý nghĩa: Nguyễn Minh Châu đã xây đựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống.
Ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa cố gì đáng chú ý?
Gợi ý:
– Ngôn ngữ người kể chuyện: thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hoá thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục.
– Ngôn ngữ nhân vật: phù họp với đặc điểm tính cách của từng người.
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được gửi gắm qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?
Gợi ý:
Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được gửi gắm qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa rất phong phú và sâu sắc:
– Cuộc sống có những nghịch lí mà con người buộc phải chấp nhận, “sống chung” với nó.
– Muốn con người thoát ra khỏi cảnh đau khổ, tối tăm, man rợ cần có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp nhưng xa rời thực tiễn.
– Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa giống như một gợi ý về khoảng cách, về cự li nhìn ngắm đời sống mà người nghệ sĩ cần coi trọng. Khi quan sát từ “ngoài xa” người nghệ sĩ không thể thấy hết những mảng tối, những góc khuất. Chủ nghĩa nhân đạo trong nghệ thuật không thể xa lạ vói số phận cụ thế của con người. Nghệ thuật mà không vì cuộc sống con người thì nghệthuật không có ích gì. Người nghệ sĩ khi thực sự sống cuộc sống, thực sự hiểu con người thì mới có những sáng tạo nghệ thuật có giá trị đích thực góp phần cải tạo cuộc sống.
Nguồn: thêm: Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong bài kí Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân | Nêu cảm nghĩ về các nhân vật_ người đàn bà vùng biển, lão đàn ông độc ác, chị em thằng Phác, người nghệ sĩ nhiếp ảnh | 1,463 | |
Nêu cảm nghĩa của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Không chỉ là rnột nhà lãnh đạo tài ba, Bác Hồ còn là một nhà thơ có tấm lòng rộng mở với thiên nhiên. Như bao thi nhân khác, Bác rất yêu trãng và có những bài thơ tuyệt bút về trăng, trong đó có bài thơ “Rằm tháng Giêng”. Bài thơ chẳng những truyền vào tâm hồn người đọc một tấm lòng yêu thiên nhiên vô bờ mà còn gợi niềm cảm phục, trân trọng tấm lòng hết mình vì dân vì nước của Bác Hồ.
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.
Bài thơ ra đời năm 1947 được viết bằng chữ Hán có tên là “Nguyên Tiêu”, trên đây là bản dịch của nhà thơ Xuân Thủy.
. Không gian được miêu tả trong bài Rằm tháng Giêng là một không gian rộng lớn của trời mây sông nước: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi”. Hai từ “lồng lộng” được đảo lên trước để nhận mạnh cái rộng lớn, trong lành của ánh sáng đêm rằm. Bầu trời, mặt nước, dòng sông như nối liền, trải rộng bởi sắc xuân bát ngát. Câu thơ thứ hai trong nguyên văn chữ Hán Bác viết: “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên -. Câu thơ khá đặc biệt trong cách tả: cảnh được tả từ gần đến xa, từ thấp lên cao cùng với sự lặp lại tới ba lần chữ xuân khiến cho câu thơ thất ngôn như tràn ngập ánh xuân tươi, sắc xuân, khí xuân như đượm lên cảnh vật.Xem thêm: Tìm cái mới trong truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp trong việc miêu tả cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô.
Câu thơ thứ ba vô tình nói đến hoàn cảnh ngắm trăng và vị trí ngắm trăng của Bác: “Giữa dòng bàn bạc việc quân”. Vậy ra, Bác đang chơi vơi giữa dòng sông để bàn việc quân cơ mật. Nhắc đến đây, ta lại trào lên niềm cảm phục về tấm lòng luôn đau đáu vì dân vì nước của Bác. Chẳng những thế, câu thơ còn gợi những ngạc nhiên về tấm lòng của Bác dành cho thiên nhiên: tại sao vào giờ khắc bận rộn bộn bề việc nước như thế, Bác vẫn dành thời gian cho thiên nhiên cảnh vật?
Câu thơ cuối bài lại gợi thêm một hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng về đêm trăng: “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Con thuyền cách mạng đã trở thành con thuyền chở trăng, con thuyền chở ánh sáng. Và như thế cũng có nghĩa con thuyền ấy đang đi về miền sáng, miền của thành công. Câu thơ thể hiện một cảm quan cách mạng tươi sáng và lạc quan vô cùng.
Câu thơ thứ tư cũng gợi nhớ đến câu thơ: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế. Câu cuối của bài Nguyên tiêu và câu thơ này của Trương Kế đều nói về lúc đêm khuya (dạ bán) và đều nói về hình ảnh con thuyền trên sông nước. Tuy vậy, điểm khác là ở chỗ, một bên “người khách” đến thãm tác giả là tiếng chuông chùa (Hàn Sơn), còn bên kia “người khách” ấy chính là trăng xuân chứa chan bát ngát, đượm tình.Xem thêm: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Dựa vào những tác phẩm đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh ý kiến trên của Hoài Thanh“Rằm tháng Giêng” được Bác viết trong những nãm đầu kháng Pháp vô cùng khó khăn gian khổ. Thế nhưng, ở trong thơ, ta vẫn gặpá một chủ thể trữ tình rất yêu thiên nhiên, vẫn ung dung làm việc, vẫn chan hoà cùng ánh trăng thơ mộng của núi rừng. Người lo lắng cho đất nước nhưng trong tâm hồn, Bác vẫn dành cho thiên nhiên những- niềm ưu ái, không vì việc quân bận rộn mà Người đành hờ hững, từ chối vẻ đẹp thiên nhiên. Điều này nói lên phẩm chất lạc quan và phong thái ung dung của Bác.
Khép lại trang thơ “Rằm tháng Giêng”, một lần nữa ta thêm bội phần xúc động và cảm phục về tâm hồn vĩ đại Hồ Chí Minh.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nghĩa của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh | 759 | |
Nêu cảm nhận của anh (chị) về bốn câu thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)
Gợi ý
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Thuyền ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.
Có một người thơ bất hạnh mà hồn thơ vì những mặc cảm của cô đơn của bệnh tật luôn chỉ dám đứng từ phía xa để ngắm nhìn và ước mơ về cuộc sống và sự sống của con người. Người thơ ấy luôn khát khao có được tình yêu và được phơi trải tình yêu của mình với mọi người nên đã nắm bắt lấy mọi cơ hội để có thể nói lên tình yêu cuộc sống ấy. Người thơ ây là Hàn Mạc Tử. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ ấy. Chỉ cần một tâ’m bưu thiếp của người mà trước kia ông đã từng có tình cảm, gửi vào trong trại phong Tuy Hoà thôi cũng đủ để cho nhà thơ tuôn trào cảm xúc:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Thuyền ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền"
Khổ thơ là bức tranh thôn Vĩ hiện ra trong hoài niệm của nhà thơ. Câu thơ mở đầu bằng một câu hỏi tu từ, hỏi nhưng không nhằm mục đích tìm ra câu trả lời. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” – Đó là câu hỏi, là lời mời, lời trách yêu nhẹ nhàng của cô gái thôn Vĩ hay là câu nhà thơ tự trách, tự hỏi mình, một ước mơ thầm kín, xa xôi của người đi xa mong được trở về thôn Vĩ? Thực ra dù là ai hỏi đi nữa thì đó cũng chỉ là một cái cớ, một cái cớ mà Hàn Mạc Tử đưa ra để đưa đẩy cho nỗi nhớ của chính mình. Có lẽ là nhà thơ đang tự hỏi mình: Thôn Vĩ đẹp, thôn Vĩ luôn thường trực trong nỗi nhớ của ta vậy mà sao ta vẫn còn chưa về thăm? “Về chơi” chứ không phải “về thăm”, bởi “thăm” có gì đó nghe xã giao, trong khi đó từ “chơi” mang lại cho người ta cảm giác thân mật, tự nhiên và chân tình hơn. Nó gợi lên trong lòng nhà thơ bao kỉ niệm sâu sắc, bao hình ảnh đẹp đẽ, đáng yêu. Và thế là bắt đầu một cuộc du hành trong tư tưởng. Thôn Vĩ dần hiện lên trong từng đường nét, và màu sắc cụ thể:Xem thêm: Cảm nhận của em sau khi đọc bài phóng sự "Nghệ thuật băm thịt gà" trích trong "Việc làng" của Ngô Tất Tố“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Tất cả là của quá khứ hay là của hiện tại trong tưởng tượng của nhà thơ? Cũng không biết nữa! Chỉ biết rằng tình yêu thương thiên nhiên và con người thôn Vĩ đã khiến cho nó hiện lên thật đẹp. Hàn Mạc Tử không tả mà chỉ gợi những gì có ấn tượng mạnh mẽ còn lưu giữ lại trong tâm hồn mình, trong tâm trí của một người ở nơi xa. “Nắng hàng cau” là thứ ánh nắng mai tinh khiết, là thứ ánh nắng đầu tiên trong ngày, khi những hàng cau thẳng tắp vươn lên trên đón lấy ánh nắng tinh khôi của một ngày mới. Đây là một quan sát tinh tế: cái đẹp của thôn Vĩ không phải chỉ do nắng hay do hàng cau mà là do sự hài hoà của ánh nắng rực rỡ trên ngọn cau xanh tươi, về thôn Vĩ để nhìn thây đầu tiên là ánh nắng mới ở hàng cau, trong trẻo, làm bừng sáng cả một vùng không gian hồi t- ưởng. vẫn là cái nhìn mê mải, nhưng câu thơ tiếp theo nghe như một lời reo thích thú. Từ “quá” là một từ chỉ mức độ nhưng cũng là một.từ mang nghĩa tình thái. Là “mướt quá” chứ không phải một từ chỉ trạrig thái màu sắc nào khác. Từ “mướt” không chỉ gợi lên cái tươi tốt của vườn cây mà còn đặc tả sự tươi tốt ấy lên đỉnh điểm, tươi tốt đến mức tạo nên cả độ bóng. Nhìn vào vườn cây xanh mướt mắt ấy ai mà không cảm thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, thư thái hơn? Câu thơ ẩn chứa sau đó lời ngợi ca say sưa. Phải là một người có tình yêu thiên nhiên, với cuộc sống, có ân tình thật sâu sắc, đậm đà với thôn Vĩ mới lưu giữ được trong tâm trí hình ảnh sống động và đẹp đẽ như thế.Xem thêm: Giới thiệu một vài nét về Vũ Trọng Phụng và chương “Hạnh phúc của một tang gia" Thiên nhiên thôn Vĩ đã đẹp mà khi hình ảnh còn người xuất hiện lại càng khiến cho nó đẹp và sinh động hơn. vẫn là một người không xác định nhưng không phải là cái không xác định mang tính phiếm chỉ ở “vườn ai”, đến đây con người xuất hiện trong môt hình ảnh cụ thể hơn: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mặt chữ điền là khuôn mặt của ai? Điều đó không quan trọng. Quan trọng là ở chỗ đó là một khuôn mặt đẹp, khuôn mặt của người ngay thẳng, cương trực, phúc hậu theo quan niệm xưa và là gương mặt thuộc về thôn Vĩ, nơi tác giả đang gửi găm biết bao tình cảm nhớ thương, ở đây, cái tinh tế của Hàn Mạc Tử là đã dùng “lá trúc che ngang” để làm nổi bật lên hình ảnh khuôn mặt chữ điền. Thần thái câu thơ đến đây được gợi ra rõ hơn: cảnh vật xinh xắn, người phúc hậu, thiên nhiên và con người hoà với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo.
Có thể nói, đây là khổ thơ mang màu sắc tươi sáng nhát trọng bài thơ bồi thôn Vĩ đẹp, và những kí ức gợi nhớ của tác giả về nó cũng vậy. Tuy câu thơ đầu như một câu dãn nhập ngậm ngùi, tiếc nuối nhưng nhanh chóng bị chìm đi khi tâm hồn nhà thơ bị cuốn vào cảnh sắc. Nỗi buồn thơ chỉ thực sự đậm đặc khi sau đó dòng suy tưởng càng miên man thì nỗi buồn và cô đơn của một người đã từng yêu đơn phương, một người mang mặc cảm bệnh tật, một người khát khao sự sống, khát khao mối giao cảm với những người xung quanh, vẫn thiết tha yêu đời, yêu thiên nhiên mà không được càng trở nên sâu sắc. Khổ thơ cũng như toàn bài thơ giúp cho ta hiểu, đồng cảm với nỗi niềm của ông mà thêm thương, thêm yêu, thêm tự hào về một tài năng, một tâm hồn, một số phận.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ: "Ta về mình có nhớ ta... Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung" trong bài Việt Bắc của Tố HữuVanmau.edu.vn | Nêu cảm nhận của anh (chị) về bốn câu thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử) | 1,202 | |
Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. ( “Câu cá mùa thu” – Nguyễn Khuyến)
Gợi ý
Mùa thu xưa nay vẫn luôn là mùa khơi gợi cho lòng người nhiều cảm xúc nhất. Nguyễn Khuyến có hẳn một chùm các bài thơ nói về mùa thu, mỗi bài mang một màu sắc, một góc nhìn riêng nhưng đều góp phần làm nên bức tranh mùa thu ở làng quê Việt Nam thật ấn tượng. “Câu cá mùa thu” là tên của một bài trong số đó. Giữa không gian ao thu, từ một chiếc thuyền câu “bé tẻo teo”, cái nhìn của nhà thơ bao quát ra xung quanh:
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Một bức tranh thu cổ điển về thi liệu và thi đề. Đó là vẻ đẹp của “thu thuỷ”, “thu thiên” trong cái “cộng trường thiên nhất sắc” thường gặp trong ý thơ của người xưa. Bức tranh cảnh vật hiện lên sống động, hài hoà. Trên chiếc thuyền con nhìn ra, làn nước ao thu lạnh lẽo, trong veo đến hết độ sắc trong của nước, sóng biếc chỉ hơi khẽ gợn và lá vàng trước gió cũng cũng “khẽ đưa vèo”, nhẹ nhàng chuyển động. Câu thơ rất động nhưng là cái động nhẹ nhàng đến mức tinh vi. Lấy động tả tĩnh. Bút pháp quen thuộc trong thơ văn trung đại ở đây đã được sử dụng một cách đắc địa. Cái động làm phong phú đường nét và màu sắc của cảnh thu. Hơn thế nữa, nó khiến cho cái tĩnh lặng của không gian càng trở nên tĩnh lặng hơn. Chiếc thuyền đang ở trên mặt ao nhưng dường như tất cả những tác động mà nó gây ra cũng chỉ khiến cho làn ao hơi gợn sóng. Người ngồi trên thuyền phải trầm ngâm, yên lặng đến mức nào! Và cũng phải tĩnh lặng đến mức tuyệt đối thì mới nhận ra được chiếc lá thu “khẽ đưa vèo” trong không gian. Không chỉ là gợi hình ảnh mà dường như còn nghe thấy được tiếng lá rơi và những động thái chuyển động tinh vi của nó. Ấn tượng về bức tranh thu thanh vắng, quạnh hiu được tô đậm. Dường như chỉ có mỗi thi nhân trong vai trò ông già câu cá đối diện trước thiên nhiên thu nhỏ để lắng vào cõi suy tư. Tất cả đều hài hoà, hoà phối với nhau làm nên đường nét của mùa thu. Và sự hoà phối đã đạt đến mức tinh vi cao độ khi “Cái thú vị của bài thơ là ở điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi” (Xuân Diệu). Nguyễn Khuyến đã dùng chiếc lá vàng để làm điểm nhấn cho bức tranh thu, gợi cho người ta một ân tượng vừa bất ngờ lại vừa thích thú. “Diệp lạc tri thu”, chỉ một chiếc lá vàng thôi cũng đủ để gợi ra hồn thu vĩnh cửu. Cái “đưa vèo” trong câu thơ gợi ta nhớ đến một câu thơ của Tản Đà khi ông cảm nhận sự đổi thay của thời thế: “Vèo trông lá rụng ngoài sân”. Phải chăng, đó cũng là cái “vèo” bay của lá của hai người nhưng cùng một tâm trạng?Xem thêm: Hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II và Thương vợ
Cái tài của Nguyễn Khuyến là đọc cả bài thơ cũng như hai câu thơ, người ta vẫn cảm nhận được sự chuyển động của cảnh vật, nhưng tất cả những chuyển động ấy lại làm nên bức tranh thu tĩnh lặng tuyệt đối. Tĩnh lặng mà không chết lặng. Chỉ tĩnh lặng bởi mùa thu quá thanh khiết, nhẹ nhàng, còn người thơ thì lại quá trầm ngâm, tự lự. “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Bức tranh cảnh thu đã hé mở cho ta về tình thu của người trong cảnh. Cái tĩnh lặng của bài thơ hay cũng chính là cái tĩnh lặng của một người trong lòng đang nặng trĩu suy tư. Là một nhà thơ có khí tiết trong sạch, giữa thời đại “Vua chèo còn chẳng ăn ai/ Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề” ông chọn con đường cáo quan về quê mà đã có lúc tự trào:
“Cờ đang dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”.
Thái độ bất hợp tác “ra về” để giữ trọn thanh danh khí tiết trong thời kì trắng đen lẫn lộn là dứt khoát nhưng vẫn không thể tránh khỏi những lúc:
“Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ dăm ba chén đã say nhè”.
Và có lẽ nên mùa thu của ông dù đẹp đến mấy thì cũng vẫn thấm đẫm buồn. Cảnh vật buồn mà lòng người thì lại càng buồn hơn. Mùa thu ở đây đã cho ta biết thêm về một tâm hồn thiết tha với thiên nhiên đất nước.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh con đường mòn phân chia ranh Giới hai bên nghĩa địa trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Mùa thu, có lẽ nếu như trước đó đã có, và sau này vẫn sẽ có rất nhiều những bài thơ viết về nó nhưng người ta sẽ không thể nào quên được bức tranh “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến khi mà:
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ_ “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. ( “Câu cá mùa thu” – Nguyễn Khuyến) | 956 | |
Nêu cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa,… Câu hát căng buồm cùng gió khơi.” (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận)
Gợi ý
Đề bài:
Nêu cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa,
Sóng đã cài then đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
(Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận)
Bài làm:
Có một không gian tưởng như thật buồn lắng mà thực chất lại tươi đẹp hoành tráng, tràn đầy sự sống. Đó là không gian biển đêm trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận. Có bao nhà thơ viết về biển nhưng có lẽ chưa ai có bức tranh biển đẹp như trong bài thơ. Ớ đó ta bắt gặp không gian trong lòng biển luôn biến ảo sinh động, tràn đầy màu sắc, âm thanh cùng với nhịp lao động khẩn trương, tấp nập. Làm nên được bức tranh này không thể không kể đến vai trò đắc lực của các biện pháp tu từ mà đoạn thơ sau đây có thể coi là một ví dụ tiêu biểu:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa,
Sóng đã cài then, đêm sập của.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh so sánh đầy ấn tượng: Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Không gian của một ngày đang khép lại đửợc mở ra mênh mông nhờ sắc đỏ rực rỡ của ánh mặt trời vào buổi hoàng hôn. Đó là cái rực sáng huy hoàng trước khi chuyển giao sang một thời điểm khác. Mặt trời như một khôi lửa khổng lồ đang lặn, dần xuống, kéo theo đằng sau nó là màn đêm. Vũ trụ là ngôi nhà lớn mà sóng và đêm được nhân hoá trở thành một sinh thể có hồn trong hành động cài then, sập của. Đêm đã buông xuống rồi! Cả vũ trụ đang bước vào trạng thái nghỉ ngơi. Hòn lửa không tắt mà chỉ tạm giấu mình trong lòng biển để ngày hôm sau lại toả ánh hào quang rực rỡ. Hình ảnh so sánh và nhân hoá độc đáo khiến cho thiên nhiên vũ trụ hiện lên vừa đẹp hùng vĩ lại vừa gần gũi, thân thuộc và sinh động. Ánh sáng cuối cùng của một ngày sau giờ phút huy hoàng không còn nữa. Sóng cài then và đêm sập của thì cũng là lúc bóng đêm sập xuống. Và biển lại bước vào một cuộc sống mới: cuộc sống lao động của con người:Xem thêm: Nụ cười hài hước trong bài ca dao: Chàng dẫn thế em lấy làm sang… Để cho con lợn, con gà nó ăn
Đọàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Khi vị chủ nhân thứ nhất của biển chìm vào giấc ngủ say thì vị chủ nhân thứ hai của nó lại mở cửa biển đêm để bước ra, tất bật, hứng khởi, cuốn biển vào trong guồng máy lao động sôi nổi và vui vẻ. Sự sống của thiên nhiên tưởng như tạm ngừng nghỉ giờ đây lại được tiếp tục trong nhịp sống của con người, là chứng nhân cho công việc lao động ấy. Đó là nhịp sông lao động bình thường, đã trở thành quen thuộc của người dân chài, bởi vậy nó cũng trở thành nhịp sống về đêm của biển. Con người cùng biển bước vào một buổi làm việc thật hăng say. Tiếng hát tập thể hoà với tiếng sóng, thổi căng cánh buồm phăng phăng rẽ sóng. Câu hát thể hiện niềm lạc quan, niềm tin của người lao động. Nó được cường điệu hoá như có sức mạnh có thể thổi căng cánh buồm hay chính sức mạnh của tinh thần của con người thể hiện trong lời hát đã làm cho chiếc thuyền kia vượt sóng biển nhanh hơn. Có lẽ là cả hai bởi như hoà theo gió biển, những chiếc thuyền đánh cá vẫn lao đi, mạnh mẽ và cường tráng. Nhịp sông lao động ngay từ đầu đã thật khẩn trương sôi nổi, báo trước những thành quả bội thu.
Đọc khổ thơ có thể thấy sự kết hợp giữa iihững hình ảnh liên tưởng táo bạo, nhịp điệu thơ linh hoạt, gấp gáp với biện pháp so sánh, nhân hoá sinh động, đặc sắc, cho khúc ca ra khơi của người dân chài vẫn mãi vang lên, hào hùng. Đoàn thuyền ra khơi khi vũ trụ cài then, sập cửa để trở về trong một vũ trụ mới, đầy ắp cá tôm. Trong không gian mới mẻ, huy hoàng, mặt trời như mang cánh thời gian bay đi. Đoàn thuyền chạy đua cùng mặi trời, vũ trụ đang chuyển động trong sức người và tạo hoá. Tình yêu đối với cuộc sôhg mới của nhân dân đã giúp cho Huy Cận khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ còn đậm nét mãi với thời gian…Xem thêm: Phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người dò sông Đà. Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh để làm sáng tỏ điều nàyVanmau.edu.vn | Nêu cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau_ “Mặt trời xuống biển như hòn lửa, … Câu hát căng buồm cùng gió khơi.” (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận) | 886 | |
Nêu cảm nhận của em về hình tượng Lor-ca trong bài thơ “Tiếng đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo
Gợi ý
Lor-ca là nhà thơ lỗi lạc, là chiến sĩ tiên phong chống phát xít của Tây Ban Nha trong thế kỉ XX. Ngày 19-8-1936, ông đã bị bọn phát xít Phrăng-cô sát hại dã man.
Thanh Thảo đã nhắc lại câu thơ của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn" vừa làm đề từ cho bài thơ, vừa như nguyện cầu cho linh hồn Lor-ca, nhà nghệ sĩ tài ba đời đời bất tử.
Lor-ca đã nhiều năm ngồi vắt vẻo trên yên ngựa, mặc áo choàng đỏ như các lực sĩ đấu bò tót, khoác chiếc đàn ghi ta sau lưng đi rong ruổi ngược xuôi khắp đất nước Tây Ban Nha để sưu tầm dân ca, để học tập những điệu hát đồng quê dân dã. Tiếng đàn của chàng nghệ sĩ cứ tan ra như bọt nước. Các hình ảnh "áo choàng đỏ gắt", “vầng trăng chếnh choáng","yên ngựa mỏi mòn" và các từ láy lang thang, đơn độc, chếnh choáng, mỏi mòn phối âm với tiếng đàn "li-la li-la li-la" như tan ra trong không trung, đã gợi lên bao liên tưởng về nhà thơ thiên tài, về nhạc sĩ Lor-ca xa xôi, thuở ấy:
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mònXem thêm: Anh (chị) có suy nghĩ gì về hình tượng dòng sông trong tập trường ca Mặt đường khát vọng? Khổ thơ thứ hai, thứ ba tái hiện lại giây phút "kinh hoàng” khi Lor-ca người chiến sĩ đấu tranh cho tự do đã bị bọn phát xít Phrăng-cô dẫn ra pháp trường sát hại. Chàng nghệ sĩ "đi như người mộng du" giữa bầy ác quỷ, tiếng hát nghêu ngao và tiếng đàn của chàng "bỗng kinh hoàng”, "đứt ngang dây”, chỉ còn lại, chỉ nhìn thấy “áo choàng bê bết đỏ".
Lor-ca đã ngă xuống trước làn đạn của bè lũ phát xít dã man, đã để lại một “bầu trời" thương nhớ mênh mông cho “cô gái ấy", cho người yêu (nàng An-na Ma-ri-a)! "Tiếng ghi ta nâu ", "tiếng ghi ta lá xanh" là biểu tượng cho một tâm hồn nghệ sĩ mang một tình yêu tha thiết và yêu đời, gắn bó với quê hương, với nhân dân. Sau loạt đạn của quân thù, một tài năng đã bị huỷ diệt; tiếng đàn bị "vỡ tan” như bọt nước, bị “đứt ngang dây”, với bao máu đỏ chảy "ròng ròng”. Thanh Thảo qua các ẩn dụ, so sánh, tượng trưng và điệp ngữ đã tạo nên những vần thơ giàu hình ảnh và biểu cảm, bộc lộ nỗi thương tiếc Lor-ca, một thiên tài bị cái ác sát hại. Điệp ngữ "tiếng ghi ta" bốn lần vang lên như tiếng nói, tiếng nấc nghẹn ngào:
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan Xem thêm: Tình huống truyện đặc sắc của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân). tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy
Phần cuối bài thơ (13 câu), Thanh Thảo dùng lối nói phủ định để khẳng định một chân lí, để ca ngợi sự bất tử của người nghệ sĩ. Không ai có thể chôn cất được tiếng đàn? Sắc đẹp của giai nhân, tài năng nghệ sĩ có thế lực nào có thể "chôn cất" được? Có gì nhiều bằng cỏ? Có gì xanh bằng cỏ? Có gì sống mãnh liệt bằng cỏ trên mặt đất bao la? Và vầng trăng thì vĩnh hằng cùng vũ trụ mênh mông. Lor-ca cũng vậy. Cuộc đời chỉ có 38 mùa xuân nhưng tài năng và tinh thần của nhà thơ, nhà nghệ sĩ mãi mãi bất diệt như tiếng đàn ghi ta, như cỏ xanh trên thảo nguyên, như vầng trăng trên bầu trời lấp lánh soi đáy giếng. Thơ Thanh Thảo tuy hạn chế về vần điệu, nhưng anh đã tạo nên được một số hình ảnh, một số đường nét đầy ấn tượng để khẳng định Lor-ca "thác là thể phách, còn là tinh anh":
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
Tài sắc của nàng Kiều còn mãi trong tâm hồn những chàng Kim trong cõi đời. Tiếng đàn, tiếng hát "thậm hay" của anh Trương Chi vẫn còn thổn thức tâm hồn thiếu nữ gần xa. Tiếng đàn diệu huyền của cô Cầm mà thi hào Nguyên Du đã nhắc tới trong bài thơ chữ Hán "Long Thành cầm giả ca" vẫn còn vang vọng khắp 36 phố phường Hà Nội hôm nay và ngày mai! Hình như Thanh Thảo đã "nghĩ tới” những tài năng và thân phận đầy bi kịch ấy khi viết những dòng thơ trên đây?Xem thêm: Em đã được học rất nhiều thầy cô giáo và có những kỉ niệm sâu sắc, em hãy kể lại một trong những kỉ niệm đó Khi số phận đã hết, "đường chỉ tay đã đứt”, Lor-ca bước sang thế giới bên kia, đã "bơi sang ngang" dòng sông với chiếc ghi ta “màu bạc”. Chàng nghệ sĩ đã bỏ lại đời, "ném lại" tình yêu và số phận mình vào "xoáy nước" cuộc đời đầy máu và nước mắt để ra đi. Và âm thanh "li-la li-la li-la" diệu huyền của tiếng đàn ghi ta cứ vang vọng mãi, cứ "ròng ròng – máu chảy" mãi, để lại bao đau đớn tiếc thương trong lòng người.
Lor-ca như một lực sĩ đấu bò tót. Lor-ca áo choàng bê bết máu đỏ trên pháp trường. Lor-ca đã đi vào cõi bất tử và để lại tiếng đàn ghi ta. Đó là cấu tứ của bài thơ, cũng là hình tượng Lor-ca qua bài thơ của Thanh Thảo mà chúng ta cảm nhận được.
Bài thơ "Đàn ghi ta của Lor-ca" là tiếng khóc thương, là tình đồng điệu liên tài của một nhà thơ xứ Quảng miền Trung Việt Nam gửi tới hương hồn nhà thơ xứ sở Grê-na-đa bên trời Âu. Có những câu thơ của Thanh Thảo cất lên như tiếng khóc “ròng ròng máu chảy”…
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nhận của em về hình tượng Lor-ca trong bài thơ “Tiếng đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo | 1,055 | |
Nêu cảm nhận của em về hình ảnh hàng tre trong khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
Gợi ý
Con ờ miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Đến với lăng Bác trong buổi sớm mai, vẻ đẹp đầu tiên nhà thơ nhận ra là hình ảnh "hàng tre bát ngát", hình ảnh tượng trưng cho ý chí và sức mạnh quật cường của dân tộc. Niềm xúc động đã cất lên thành lời:
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
"Hàng tre" quanh lăng Bác phải chăng là biểu tượng của cây cỏ mang màu sắc quê hương về đây hội tụ. Tre là một loài cây luôn vươn cao, đứng thẳng, hiên ngang trong "bão táp mưa sa". Vì thế tre mang nhiều đặc điểm giống như đức tính của người Việt Nam ta: cần cù, chịu khó, hiên ngang, luôn hướng về cội nguồn. Hàng tre lăng Bác tượng trưng cho thế đứng vững vàng của toàn dân tộc. Giọng thơ bồi hồi tha thiết mà rạo rực, tự hào, kiêu hãnh.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Từ trích đoạn Nước Đại Việt ta (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) em có suy nghĩ gì về lòng yêu nước | Nêu cảm nhận của em về hình ảnh hàng tre trong khổ thơ đầu bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương | 211 | |
Nêu cảm nhận của em về đoạn 2 trong bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh
Hướng dẫn
Bài thơ có ba phần: đoạn 1 (7 câu): tiếng gà trưa bên xóm nhỏ làm xúc động người lính trên đường hành quân xa; đoạn 2 (26 câu): tiếng gà trưa gọi về tuổi thơ; đoạn 3 (sáu câu): tiếng gà trưa gợi lên bao niềm vui hạnh phúc và sức mạnh chiến đấu.
Đoạn 2 của bài thơ đã để lại trong lòng em bao ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc. Đó là hình ảnh người bà và những đàn gà của bà nuôi và chăm chút quanh năm. Ba âm thanh ‘tiếng gà trưa’ được nhắc đi nhắc lại ba lần, mỗi lần mở ra một cung bậc mới của cảm xúc. Người lính trẻ bồi hồi nhớ lại những ngày êm đềm thơ bé.
Nhớ đàn gà đông đúc, đẹp mã của bà nuôi. Tưởng như cháu đang đứng nép bên bà ngắm đàn gà, vừa giơ bàn tay nhỏ bé, vừa chỉ vừa đếm ‘này con gà… này con gà…’. Cháu quên sao được những quả trứng hồng trong ổ rơm:
‘Tiếng gà trưa 0 rơm hồng những trứng Này con gà mái mơ,
Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng’
Em cảm thấy như được ngắm bức tranh gà làng Hồ mà em mua ngày nào. Xuân Quỳnh có tài sử dụng màu sắc lúc tả đàn gà: màu ‘hồng’ của ổ trứng, ‘hoa đốm trắng’ của con gà mái mơ, ‘long ống như màu nắng’ của con gà mái vàng. Bức tranh gà như đang cựa quậy.
Cháu quên sao được tiếng mắng của bà vì tội ‘nhìn gà đẻ’
‘Tiếng gà trưa Có tiếng bà vẩn mắng Gà đẻ mà mày nhìn Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng’
Xem thêm: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Dựa vào những tác phẩm đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh ý kiến trên của Hoài ThanhCháu nhớ mãi hình ảnh bà ‘chắt chiu’ từng quả trứng ‘cho con gà mái ấp’. Bà nhẹ nhàng cẩn trọng và nâng niu ‘tay bà khum soi trứng’. Bà đôn hậu, thương con thương cháu. Nhà nghèo, bà càng tần tảo sớm khuya. Vì hạnh phúc của con cháu mà bà lo lắng trông mong đến mất ăn mất ngủ:
‘Cứ hàng năm hàng năm Khi gió mùa đông bắc Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối Đè cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới…’
Nhà nghèo,… nhờ công sức chăm chút đàn gà, chắt chiu từng quả trứng hồng, mà bà có tiền bán gà, bà mua cho cháu bộ quần áo mới, để cháu mặc đi đến trường, để cháu mặc đi chơi tết:
‘Ôi cái quần chéo go Ông rộng dài quết đất Cái áo cánh chúc bâu Đi qua nghe sột soạt’
Tình thương của bà dồn cho cháu, đem đến bao niềm vui hạnh phúc tuổi thơ. Cháu có bao giờ quên được công ơn và tình thương bao la của người bà đôn hậu.
Hình bóng người bà trong phần hai bài thơ tượng trưng cho tình hậu phương vô cùng thiết tha sâu nặng. Tiếng gà trưa đã gợi nhớ gợi thương. Nhớ về tuổi thơ, người lính trẻ cảm thấy mình được tiếp thêm niềm tin và sức mạnh khi đang trên đường hành quân ra trận.
Nét đặc sắc của thơ Xuân Quỳnh là sáng tạo nên những chi tiết cụ thể đời thường tuy bình dị mà có sức gợi thấm thía, những ‘hạnh phúc đơn sơ ước mơ nhỏ
nhoi’ấy rất dung dị hồn nhiên, làm ta nhớ mãi, trở thành hành trang của mỗi người.
Tiếng gà trưa là tình thương của bà, là tình hậu phương mà người lính trẻ mang ra trận thời đánh Mĩ. Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã toàn thắng, nhưng ‘Tiếng gà trưa’ trong thơ Xuân Quỳnh vần còn vọng mãi trong tâm hồn tuổi thơ chúng em.
Nguồn: thêm: Phân tích Hình tượng người lính Tây Tiến của Quang Dũng | Nêu cảm nhận của em về đoạn 2 trong bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh | 704 | |
Nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối… Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”. (Nhớ rừng – Thế Lữ)
Gợi ý
Trong những năm tháng rực rỡ nhất của phong trào Thơ mới, Thế Lữ hiện lên như một vì sao mai sáng lòa, lấp lánh. Còn lại với thời gian hôm nay, Thế Lữ gắn bó với bạn đọc bởi bài thơ nổi tiếng nhất của ông: bài thơ Nhớ rừng. Bài thơ ấy dưới tiêu đề của nó, tác giả đã đề một dòng chữ nhỏ: “Lời con hổ trong vương bách thú”. Xuyên suốt tác phẩm, người đọc hiểu rằng bài thơ là những tâm sự đầy uất hận của con hổ trước cảnh đời hiện tại bức bách, tù túng; nó mơ về những ngày xưa tung hoành, lẫm liệt. Bài thơ đã kín đáo bộc lộ tấm lòng yêu nước của người dân ta thuở đó. Nhưng không dừng lại ở đó, thành công của bài thơ còn nằm ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt mĩ – cảnh rừng sơn lâm trong hồi ức đau thương của con hổ “nhớ rừng”. Tiêu biểu phải kể đến bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau:
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.
(Nhớ rừng – Thế Lữ)Xem thêm: Kể lại một giấc mơ trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày Đoạn thơ nằm trong chuỗi hồi ức về những ngày tháng lẫm liệt chốn rừng xanh uy nghi của con hổ. Giữa cảnh núi rừng dữ dội, lộng lẫy nó là vị chúa tể độc tôn. Đoạn thơ dựng lên bốn cảnh rừng tuyệt mĩ: cảnh đêm trăng, cảnh mưa rừng, cảnh bình minh và cảnh hoàng hôn. Mỗi cảnh được thể hiện bằng hai câu thơ, câu thứ nhất tả cảnh rừng, câu thứ hai miêu tả hình ảnh con hổ trên nền thiên nhiên kì vĩ ấy.
“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”.
“Đêm vàng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ đêm trăng sáng mọi vật như được nhuộm vàng, ánh trăng như vàng tan chảy trong không gian. Trong đêm trăng, đứng bên bờ suối càng khiến ta cảm nhận hết được sắc màu rực rỡ của thiên nhiên. Mặt nước trong trẻo đón nhận trọn vẹn sắc vàng của trăng càng trở nên lóng lánh kì lạ. Đứng trước khung cảnh ấy, con hổ “say mồi” không chỉ bởi bữa ăn no nê mà còn bởi "uống ánh trăng tan". Đó là một hình ảnh lãng mạn, nó tưởng như mình được chiếm lĩnh trọn vẹn cái đẹp của vũ trụ.
Nếu như hình ảnh đêm trăng thanh bình bao nhiêu thì cảnh mưa rừng dữ dội bấy nhiêu:
“Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”
Cơn mưa ngàn dữ dội, mịt mờ làm rung chuyển núi rừng, làm kinh hoàng những con thú hèn yếu. Nhưng với hổ thì khác, nó không những không sợ hãi trước uy lực của trời đất mà còn coi đó là một thú vui: “Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới”. Cái im lặng say mê trong từ “lặng ngắm” của hổ chứa đựng những sức mạnh chế ngự của một bản lĩnh vững vàng. Nó đang lấy cái tĩnh của một vị chúa tể để chế ngự cái dữ dội của rừng già đại ngàn. Hình ảnh của hổ hiện lên thật phị thường, dũng mãnh.Xem thêm: Bài dự thi cuộc thi viết về những kỷ niệm sâu sắc về thầy cô và mái trường mến yêuCâu thơ vừa căng lên đã nhanh chóng tan ra trong tiếng reo ca của cảnh bình minh:
“Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”.
Sau ngày mưa bầu trời bình minh tươi sáng hơn. Con hổ càng khẳng định được vị trí của mình. Ban đêm thì nó thức cùng vũ trụ. Ngày mưa nó “lặng ngắm” giang san. Lúc vạn vật thức dậy thì nó say sưa trong giấc ngủ. Hình ảnh của chúa sơn lâm tự do tự tại muốn gì được nấy, hổ có thể chi phối, chế ngự kẻ khác chứ không ai có thể chế ngự được mình.
Dữ dội nhất, say mê nhất là cảnh rừng thời khắc hoàng hôn:
“Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”.
Bức tranh rừng rực rỡ trong gam màu đỏ, đó là màu của máu, màu của ánh sáng mặt trời. Khi chiều tà, ánh mặt trời chuyển sang màu đỏ rực, đó cũng là lúc mặt trời lặn xuống. Nhưng trong con mắt của hổ, thứ ánh sáng bỏng rẫy kia là máu của mặt trời và mặt trời thì đang lịm dần trong cái chết dữ dội. Hổ đang giành lấy quyền lực từ tay vũ trụ để ngự trị.
Đoạn, thơ là bộ tranh từ bình đẹp lộng lẫy. Bốn cảnh thiên nhiên, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ tráng lệ với hình ảnh con hổ uy nghi. Nhưng đau xót thay, đây chỉ là cảnh trong dĩ vãng huy hoàng, chỉ hiện ra trong nỗi nhớ. Trước mỗi cảnh thơ đều xuất hiện cụm từ “nào đâu”, “đâu những”, chúng thể hiện niềm nuối tiếc khôn nguôi, nỗi xót xa đau đớn trong lòng hổ. Giấc mơ huy hoàng khép lại trong tiếng than: "Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu".Xem thêm: Tả cây sấuVanmau.edu.vn | Nêu cảm nhận của em về đoạn thơ sau_ “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối… Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”. (Nhớ rừng – Thế Lữ) | 974 | |
Nêu cảm nhận khi đọc đoạn trích truyện “Ông già và biển cả” của nhà văn Hê-minh-uê
Gợi ý
Hê-minh-uê (1899-1961) là nhà văn Mỹ, được giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1954. Vốn là phóng viên từng tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, Hê-minh-uê để lại dấu ấn sâu sắc trên mảng đề tài: những cuộc săn bắt thú, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai, ông già và biển cả, … là những tác phẩm của Hê-minh-uê được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
“Ông già và biển cả" là một truyện vừa, kể lại chuyên ông chài Xan-chi-a-gô trong một chuyến ra khơi may mắn đã đánh bắt được một con cá kiếm khổng lồ. Khi giong thuyền đưa cá về bến thì bị đàn cá mập đuổi theo; lão đã dùng mái chèo, dùng chày chống trả dữ dội. Thuyền cập bến, lão thiếp đi trong căn lều nhỏ. Du khách xúm quanh con thuyền ngắm nhìn con cá kiếm chi còn lại bộ xương với cái đuôi tuyệt đẹp.
Đoạn trích có hai cảnh: 1, Cảnh con cá kiếm mắc câu vùng quẫy cố thoát trước khi bị phóng lao chết; 2, Cảnh lão chài giong thuyền đưa cá về bến.
1. Bước sang ngày thứ ba, khi mặt trời đang mọc thì con cá kiếm mắc câu đang lượn vòng vùng vẫy. Trước cái chết, con cá lượn vòng, làm căng sợi dây câu; con cá "quay tròn" tạo nên những "vòng tròn rất lớn”. Xan-chi-a-gô phải “dùng cả hai tay, lắc người, dốc hết lực của cả cơ thể, của chân trụ ra mà kéo". Có lúc lão “phải dốc sức ra mà níu", quyết "khuất phục" con mồi. Hai giờ sau, khi con cá “chậm rãi lượn vòng", các vòng tròn lượn cứa nó "đã hẹp hơn nhiều” con cá đang ngoi dần lên trong lúc bơi, thì lão chài "mồ hôi ướt đẫm… mệt thấu xương". Mọi cái giá của lao động đối với người câu cá trên biển cả, lúc này, lão chài mới thật thấm thía: hoa mắt, mồ hôi xát muối vào mắt và trán, chóng mặt, choáng váng… “khiến lão sợ". Lão muốn đọc một trăm lần kinh lậy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ để cầu mong “Chúa giúp…chịu đựng".Xem thêm: Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ: "Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. ( "Câu cá mùa thu" - Nguyễn Khuyến) Khi con cá "quật đột ngột" làm cho sợi dây nẩy mạnh, hình như nó đau quá "cuồng lên", lão chài bèn vốc ít nước biển vỗ lên đầu mình, rồi tì gối vào mũi thuyền, quàng sợi dây len lưng, lão tự nhủ mình "đứng dậy chiến đấu”.
Biển dậy sóng, gió mậu dịch nổi lên. Con cá lượn vòng, lúc ở mũi thuyền, lúc ở đuôi thuyền, mãi đến vòng thứ ba, lần đầu tiên lão nhìn thấy con cá. Thoạt tiên thấy "một cái bóng đen” lão thắc mắc hỏi: "Nỏ không thể lớn như thế được”. Nhưng khi con cá trồi lên, lão ngạc nhiên thấy: "Cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng lên trên mặt đại dương xanh thẳm". Khi nó lặn xuống còn mấp mé mặt nước, ông chài chăm chú nhìn "thân hình đồ sộ và những sọc màu tía trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xoè rộng”.
Cuộc đấu giữa người và cá cứ diễn ra giằng co mãi. Cá mỗi lúc một đuối sức dần, nhưng vẫn cố vùng vẫy. Lão chài "toát mổ hôi” tự động viên mình: "Hãy bình tĩnh vàgiữ sức, lão già ạ”. Nhìn thấy lưng con cá đã nhô lên, nhìn thấy cái đuôi đồ sộ cử động, con cá "khẽ nghiêng mình ", lão vừa ra sức kéo con cá vào gần thuyền vừa nói: “Ta đã di chuyển được nó… Ta đã di chuyển được nó rồi”. Một mình giữa biển cả mênh mông, như muốn xua đi nỗi cô đơn, lão "tám sự" với tay, với chân, với đầu của mình: “Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lầnn này ta sẽ lật được nó”.
Con cá kiếm không chí là "đối tượng" săn bắt, không chỉ là giằng co, mà còn là "bạn", là "người anh em" đối với lão chài. Trước lúc phóng lao, khi miệng “khô khốc”, mệt nhoài, khi đã "đuối sức”, lão nói với con cá kiếm bằng tất cả tâm tình: “Mày đang giết tao, cá à… Tao chưa bao giờ bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”…Xem thêm: Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: Đau đớn thay phận đàn bà. Nhận xét đó có còn đúng với người phụ nữ trong cuộc sống hôm nay? Cái gì đến thì nhất định sẽ đến. Con cá kiếm mỗi giờ một đuối sức dần. Lúc thì nó "rướn thẳng mình ”, lúc thì nó "chầm chậm bơi xa” cái đuôi đồ sộ “lắc lư trong không trung", lức thì nó "bơi nghiêng”, mõm gần chạm tới mạn thuyền trong “cơn hấp hối”. Lão chài buông sợi dây xuống, giẫm chân giữ, nhấc cao ngọn lao, vận hết sức bình sinh phóng lao xuống sườn con cá, ngay sau cái ngực đồ sộ của nó. Con cá kiếm bị trúng lao “rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm cả ông lão và con thuyền”. Đôi tay lão chài “xây xát”;còn con cá “nằm ngửa phơi bụng ánh bạc của nó lên trời”. Biển đổi màu“bởi máu đỏ loang từ tim cá”, làn máu đen sẫm loang ra trong làn nước biếc sâu hơn ngàn thước, tựa đám mây. Trên mặt biển, “con cá trắng bạc và thẳng dơ và bồng bềnh theo sóng”.
Thành quả lao động đã nắm trong tay, trận đấu đã kết thúc, khi mặt trời đã xế trưa. Khát, đói và mệt rã rời. Lao chài phải lấy dây và thòng lọng buộc cá vào cái mấu đằng mũi thuyên, chuẩn bị dựng cột, giong thuyền trở về. Lão say sưa ngắm con cá kiếm: “Da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tím nhạt… còn mắt nó dửng dung như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như một vị Thánh trong đám rước”.
2. Giờ đây, lão chài cảm thấy “khoẻ hơn”, đầu óc “tỉnh táo”. Lão nhìn con cá hơn nửa tấn, nhẩm số tiền bán cá sẽ thu được với giá ba mươi cend một pound. Lão vui sướng tự hào nghĩ “Di Maggio vĩ đại sẽ về ta hôm nay”. Còn có niềm vui sướng, hạnh phúc nào to lớn hơn niềm vui sướng hạnh phúc của lão chài khi chuẩn bị giong thuyền đưa cá về bến? Đó là cái giá và ý nghĩa của lao động.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh Bữa cơm trưa của lão chài giữa biển khơi tuy đơn sơ mà ngon lành. Toàn đồ tươi sống của hương vị biển. Lão chài bắt vội được hơn mười con tôm nhỏ, lão “rứt đầu rồi nhai gọn cá vỏ lần đuôi”. Uống vài ngụm nước còn lại trong chai, lão cảm thấy thật dễ chịu. Lão nghĩ đến chuyện lấy nước mặn chữa lành đôi tay chảy máu. Nhìn đám mây tích và dải mây tơ, lao giong thuyên êm xuôi về bến trong làn gió nhẹ.
Nghệ thuật miêu tả và tự sự của Hê-minh-uê còn ít nhiều làm chúng ta “bỡ ngỡ” nhất là sự đan cài lời độc thoại, độc thoại nội tâm với lời kể. Qua đoạn trích, hình ảnh lão chài và con cá kiếm khổng lổ đã để lại cho ta nhiều ấn tượng sâu sắc. Lao động thật sự là bài ca của lòng kiên nhẫn và tinh thần dũng cảm. Lao động đem đến cho con người bao niềm vui giữa thiên nhiên và biển cả bao la. Chính cái giá của lao động mới làm cho chúng ta thấy rõ hơn ý nghĩa về hạnh phúc mà do bàn tay sáng tạo và lòng dũng cảm đem lại.
Các nhà lí luận thường nói đến “tảng băng trôi” ý nghĩa hàm ẩn trong tác phẩm của Hê-minh-uê. “Ông già và biển cả” đem đến vinh dự giải thưởng Pu-lit-ze (1953) cho tác giả, nó là một ẩn dụ ca ngợi ý chí, tính kiên nhẫn, sức mạnh và lòng dũng cảm của con người trong lao động và khám phá thiên nhiên. Nó đã khơi dậy trong lòng mỗi chúng ta bao ý nghĩ tốt đẹp về con người và lao động, về con người và thiên nhiên.
Vanmau.edu.vn | Nêu cảm nhận khi đọc đoạn trích truyện “Ông già và biển cả” của nhà văn Hê-minh-uê | 1,527 | |
Đề bài: Nêu cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng
Bài làm
Kim Lân là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp với tác phẩm nổi bật nhất chính là truyện ngắn Làng. Nhân vật chính của truyện chính là nhân vật ông Hai, một lão nông dân hiền làng, chất phác, yêu làng, yêu nước.
Nhân vật ông Hai cũng giống như hàng triệu người nông dân khác. Đồng thời đây là một nhân vật để lại trong lòng độc giả những ấn tượng sâu sắc. Ông Hai là một người chăm chỉ “Ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân, ngơi tay”. Ông làm rất nhiều việc, từ đi cày, đi cuốc, đan rổ.. ông đều làm rất khéo, rất giỏi. Đặc biệt ông là một người sống qua hai chế độ. Trước khi đến với cách mạng ông vốn mù chữ nhưng sau đó ông được học ở lớp “Bình dân học vụ” và biết đánh vần.
Ông là người gắn bó với với làng quê và tư hào về làng chợ Dầu. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả rất hay về tình yêu làng của ông. Ông tự hào vì về cái sinh phần tổng đốc, đi đâu cũng khoe, gặp ai ông cũng khoe. Thậm chí khi đi tản cư thì cái nết khoe làng của ông cũng không thay đổi. Từ ngày cách mạng thành công, ông Hai vẫn yêu làng nhưng ông không khen về cái sinh phần như trước kia nữa. Cái sinh phần mà khiến ông mang thương tật khi bị bắt làm phu xây trong cái lăng ấy. Bây giờ sau khi được giác ngộ ông mới cảm thấy đáng lẽ mình không nên khoe, không nên “hả hê cả lòng” để rồi bây giờ cảm thấy đó là nỗi đau, nỗi nhục. Nhà văn Kim Lân đã viết với giọng văn châm biếm nhẹ nhàng nhưng để lại giấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc.Xem thêm: Phân tích giá trị biểu cảm của những câu thơ sau: "Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi... Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng." (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm)
Nêu cảm nhận về nhân vật ông Hai
Chúng ta có thể thấy được trong con người của ông Hai đã có sự thay đổi về nhận thức. Từ yêu làng bằng việc khoe cái sinh phần thì giờ ông lại thù nó. Ông yêu cái làng Dầu và hăng hái tham gia vào kháng chiến. Quyết tâm kháng chiến và ông luôn tin tưởng về sự lãnh đạo sáng suốt của Bác Hồ. Khi vợ con của ông đi tản cư thì ông vẫn quyết ở lại cùng mọi người “đào đường, đắp ụ”. Cho đến khi hoàn cảnh thúc ép, cực chẳng đã nên ông mới phải theo vợ con đi tản cư.
Nếu như trước kia ông nói nhiều, hăng hái và hòa đồng với mọi người thì từ ngày đến nơi ở mới tính nết của ông cũng thay đổi. Ông Hai trở nên lầm lì, thậm chí là cáu gắt với vợ con. Có lẽ do những chất chứa về quá khứ và hiện tại khiến ông có nhiều tâm sự và cũng trở nên nóng nảy hơn. Ông cảm thấy vô cùng đau khổ: “Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa chứ! Ông giết hết, ông thì giết hết”. Nhưng vì hiểu rõ tính nết ông vốn cũng chỉ là một người nông dân hiền lành, chất phác nhưng lại có tình yêu làng, yêu nước mãnh liệt nên ta phần nào cảm thông cho sự u uất của ông.
Thế rồi trong lúc ông đang hồ hởi với những chiến tích của cuộc kháng chiến thì hay tin dữ. Đó chính là tin cả làng Dầu “Việt gian theo Tây…”. Lúc này Kim Lân đã thực sự thành công khi miêu tả tâm lý của nhân vật với nỗi giằng xé, nội tâm day dứt của ông. “Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được, một lúc lâu mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi”. Thế mới có thể thấy niềm tin yêu làng của ông sâu sắc đến nhường nào. Sau khi nghe tin dữ ấy, ông tủi nhục cúi gằm mặt mà đi. Khi trở về thì nằm vật ra giường, nước mắt cứ trào ra. Ấy rồi sự tủi nhục phát ra thành tiếng chửi thề một cách chua chát. Thậm chí ông còn nghĩ ra những tình huống xấu mà ông sắp phải chịu đựng, ông sợ mụ chủ nhà, rồi ông nghĩ quẩn. Nhưng rồi ông lại rất kiên quyết: “làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Qua những diễn biến tâm lý của nhân vật cho ta thấy được rằng ông Hai yêu làng sâu sắc nhưng ông đặt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đặc biệt là đoạn đối thoại giữa ông với đứa con nhỏ:Xem thêm: Kể lại câu chuyện Những ngôi sao xa xôi cúa Lê Minh Khuê
– “À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?”
– “ Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!”
Càng yêu làng bao nhiêu thì cái tin làng Việt gian theo Tây càng khiến ông đau đớn bấy nhiêu. Cũng chính vì lẽ đó mà khi tin dữ ấy được cải chính thì người sung sướng nhất cũng là ông Hai. Ông lại trở về với hình ảnh ông Hai ngày xưa, tươi vui, rạng rỡ và “khoe” về làng của mình.
Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã đưa người đọc tới nhiều cung bậc cảm xúc. Qua đó ta thấy được một tình yêu làng, yêu nước giản dị mà chân thành, tha thiết.
Loan Trương | Nêu cảm nhận về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng hay nhất | 996 | |
Đề bài: Viết cảm xúc của em khi em phải ra trường
Cuối cùng thì giây phút đó cũng tới, em không hiểu cảm giác của em lúc này như thế nào vừa vui vừa buồn, vừa xúc động vừa nghẹn ngào. Mới ngày nào còn chập chững bước vào trường, chưa quen nổi một ai mà giờ đã phải xa bạn, xa lớp, xa mái trường thân yêu này.
Mới ngày nào còn chập chững bước vào trường, còn núp sau bóng mẹ, nhìn mọi thứ xung quanh đều lạ lẫm, mình lúc đó cảm thấy vô cùng sợ hãi, giống như cả thế giới quay lưng lại với mình, không người thân, không bạn bè thân thuộc mà toàn thầy cô giáo mới, bạn mới, môi trường mới. mình nghĩ lúc đó liệu có thể thích nghi được hay không? Lúc đó trong đầu mình rất nhiều câu hỏi: tại sao mình lại ở đây? Mình ở đây để làm gì?…nó cứ quẩn quanh trong đầu của mình.
Thế mà đùng một cái, 5 năm đã trôi qua, hôm nay thầy cô còn tổ chức buổi lễ chia tay học sinh tốt nghiệp cấp 1 và chuẩn bị vào cấp 2. Xa mãi trường này, nơi ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm, những tháng ngày non dại, tuổi thơ của mình tất cả đều ở chốn này, thế mà giờ phải cách xa, thật sự mình vẫn chưa thực sự chấp nhận được sự thật này.
Những năm tháng trên ghế nhà trường thật sự trôi qua thật là nhanh, bao mơ ước, bao hoài vọng mộng mơ bỗng chốc biến thành niềm tin, niềm hy vọng về một ngày mai tươi đẹp, liệu rằng bạn mới của mình như thế nào.Xem thêm: Hạnh phúc và tiền bạc
Đấy à cảm xúc thật sự của mình, liệu rằng mai xa nhau có còn nhớ nhau nữa không? Bạn thân hỡi, mái trường thân yêu ơi, xa chúng tôi rồi bạn lại chào đón những thành viên mới đầy sự đam mê, khám phá và tìm tòi. Còn cảm xúc của bạn như thế nào có giống mình hay không? | Nêu cảm xúc của em khi em phải ra trường | 356 | |
Nêu hoàn cảnh ra đời của tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Phòng Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế và Mặt trận Việt Minh (Viện bảo tàng cách mạng Việt Nam) có một quyển sổ màu xanh đã bạc màu. Trang đầu cuốn sổ ghi bốn chữ “Ngục trung nhật kí” bằng tiếng Hán kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai cánh tay nắm chặt bị xích. Phần ruột sách gồm 47 trang ghi 133 bài thơ, một bài đề từ. Ngoài một bài viết sau khi Ngươi đã ra tù, phần còn lại của cuốn sách đều được viết trong tù và bằng chữ Hán. Đây chính là tập thơ Người làm trong khoảng từ 29-8-1942 đến 10-9-1943).
Sau 30 năm cách xa Tổ Quốc, ngày 8-2-1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Người tham gia hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng 5 nãm 1941 để chuẩn bị cho Cao trào đuổi Nhật, đánh Pháp, giành độc lập. 13-8-1942, Người lấy tên mới là Hồ Chí Minh và lên đường sảng Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh (tức Việt Minh do Người thành lập ở Pác Pó, 1941) và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới cho cách mạng nước ta:Xem thêm: Hình ảnh thiên nhiên trong các bài thơ Tràng Giang (Huy Cận), Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử). Phân tích những nét chung của thiên nhiên trong ba bài thơ và chỉ ra đặc điểm riêng của thiên nhiên trong từng bài thơ
“Nhân danh đại hiểu dân Việt Nam
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm”
Sau nửa tháng đi bộ, ngày 29-8, vừa tới Túc Vinh, một thị trấn thuộc huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây thì Người bị bọn Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giữ. Chúng giam cầm và đày đoạ người dã man trong 13 tháng, giải qua gần 30 nhà giam của 13 huyện.
Trần Dân Tiên đã kể về những ngày bị giam cầm của Bác: “Tay bị tróc cổ mang xiềng xích, có sáu người lính mang súng giải đi. Cụ hồ đi mãi đi mãi nhưng vẫn không biết là đi đến đâu… Mỗi buổi sáng khi gà gáy đầu làng người ta lại giải cụ Hồ đi. Mỗi buổi chiều khi chim về tổ người ta lại dừng lại ở một địa phương nào đó, giam cụ vào xà lim, trên một đống gio bẩn, không cởi trói cho cụ ngủ. Đau khổ như vậy, nhưng cụ vẫn vui vẻ. Cụ sung sướng được thấy phong cảnh thay đổi. Thỉnh thoảng cụ Hồ làm thơ..”. 10-9-1943, chính quyền Tưởng Giới Thạch buộc phải trả tự do cho Bác. Kết thúc 13 tháng bị giam cầm của Người.
Vanmau.edu.vn | Nêu hoàn cảnh ra đời của tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh | 497 | |
Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt Bắc. Phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích.
Hướng dẫn
a) Hoàn cảnh sáng tác
Cuối năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi. Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội sau 9 năm kháng chiến gian khổ, trường kì. Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để ghi lại tình cảm và mối quan hệ gắn bó khăng khít, nghĩa tình sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc với cán bộ và chiến sĩ cách mạng.
b) Sắc thái tâm trạng của bài thơ
Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn, bịn rịn lưu luyến của nhân vật trữ tình trong cuộc chia tay.
Hai nhân vật trữ tình là: người ra đi (đại diện cho nhũng người kháng chiến) và người ở lại (đại diện cho những người dân Việt Bắc).
c) Lối đối đáp
Hai nhân vật đều xưng – gọi là mình và ta
– Người ở lại gợi nhắc những kỉ niệm gắn bó suốt 15 năm.
– Người ra đi cũng cùng tâm trạng ấy.
– Đoạn thơ đã gợi tả một quá khứ đầy ắp kỉ niệm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nhớ thương tuôn chảy.
Nguồn:
Xem thêm: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục | Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt Bắc. Phân tích sắc thái tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích. | 233 | |
Nêu lên một số cảm nhận của em về thơ khi đọc “Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi
Gợi ý
Tiểu luận "Mấy ý nghĩ về thơ" của Nguyễn Đình Thi viết vào ngày 12-9-1949. Đây là một số ý kiến mà tác giả đã nêu lên trong cuộc tranh luận về thơ tại chiến khu Việt Bắc trong thời kháng chiến chống Pháp.
Người đọc hôm nay có thể có những cảm nhận không giống nhau về những ý nghĩ về thơ của tác giả tập thơ "Người chiến sĩ”.
1. Phần đầu bài tiểu luận, Nguyễn Đình Thi đã nhắc lại một số định nghĩa vể thơ, một số quan niệm về thơ từng được lưu truyền như: thơ là những lời đẹp, thơ là ở những đề tài đẹp, thơ in sâu vào trí nhớ, đầu mối của thơ là ở bên trong tâm hồn con người,v.v
Tác giả vừa nhắc lại định nghĩa về thơ vừa tranh biện. Nhắc lại câu thơ Nguyễn Du tả Tú Bà, thơ Hồ Xuân Hương "nôm na…" để trên cơ sở đó, tác giả bác bỏ ý kiến cho rằng “thơ là những lời đẹp".
Cho rằng thơ là ở những đề tài đẹp, Nguyễn Đình Thi đưa ra bài thơ của Bô-đơ-le nhà thơ Pháp tả cái xác chó chết đầy giòi bọ, nêu lên cái ba lô, cái khẩu súng, bóng dây thép gai hung ác của đồn giặc trong thơ kháng chiến để phản bác lại.
Bảo rằng thơ "in sâu vào trí nhớ", tác giả nêu câu hỏi tại sao, những công thức toán học không phải là thơ mà ta lại rất nhớ.
2. Phần tiếp theo, Nguyễn Đình Thi đưa ra một vài ý nghĩ về thơ: làm thơ để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường; làm thơ là đang sống khi tâm hồn đang rung động. Bài thơ làm sống ngay lên một tình cảm, một nỗi niềm trong lòng người đọc; bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc. Thơ là tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuôc sống. Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, nhưng tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự, v.v…Xem thêm: Phân tích bài Sang Thu của Hữu Thỉnh Chung quy lại: thơ là tiếng nói của tâm hồn, là tư tưởng, tình cảm của con người. Tác giả nói hơi dài và văn hoa về những điều trên đây. Có lúc người đọc cảm thấy lối diễn đạt hơi cầu kì rắc rối. Trong bài tựa Cùng bạn đọc (tác phẩm Thơ Sóng Hồng), Sóng Hồng viết một cách giản dị mà sâu sắc về bản chất của thơ, mà trong chúng ta nhiều người đã được đọc. Mọi chân lí đều giản dị. Cần phải nói một cách giản dị mới dễ đi vào lòng người.
3. Sau đó, tác giả nói về một số đặc trưng của thơ: hình ảnh trong thơ, câu chữ trong thơ, nhạc của thơ, đường đi của thơ, tính hàm súc của thơ.
– Hình ảnh thơ không phải là hình ảnh cầu kì, trái lại, phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy (tia lửa sự sống trong tâm hồn) rồi "kết nên một bó sáng, nó là hình ảnh thơ". “Thơ là tư tưởng, tình tự quấn quýt với hình ảnh như hồn với xác để tạo ra cái biết toàn thể, biết rằng tất cả tâm hồn, không phải chỉ biết bằng ý niệm, bằng ý thức".
– "Thực trong thơ là tìm được những hình ảnh sống, những hình ảnh có sức lôi cuốn và thuyết phục người đọc"; khi "mỗi giọt nắng, mỗi chiếc lá vào trong lòng, để rồi động sâu đến tư tưởng và tình cám. Trong việc làm thơ bấy giờ, hình ảnh tự nhiên hiện lên trước nhất". "Những hình ảnh còn tươi nguyên nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng". "Hình ảnh nhà thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ”.
– Chữ và tiếng trong thơ phải hình tượng, hàm súc, biểu cảm và đa nghĩa. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về khổ thơ: "Dữ dội và dịu êm... Sóng tìm ra tận bể" trong Sóng của Xuân Quỳnh
– Nói về tính hình tượng, hàm súc, biểu cảm, đa nghĩa của ngôn ngữ thơ, tác giả viết: "Chữ vả tiếng trong thơ, phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm”. Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài các nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của thơ là ở sức gợi ấy.
– Thi tại ngôn ngoại, thơ đa nghĩa và hàm súc là vẻ đẹp của thơ: Nguyễn Đình Thi đã dùng hình ảnh ngọn nến để nói lên đặc trưng ấy của thơ. "Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp lên nhau thành một vùng sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả xung quanh những ngọn nến. Ỷ thơ không những trong những chữ, nó vây bọc xung quanh”.
– Thơ mang tính biểu cảm, nên "đường đi của thơ là con đường đưa thẳng vào tình cảm, không quanh co, qua những chặng, những trung gian, những cột cây số”.
– Ngôn ngữ thơ hàm súc, "thơ là tổng hợp,kết tinh"; thơ “luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích".
4. Thơ tự do và thơ không vần
Nguyễn Đình Thi cho biết những luật lệ của thơ, từ âm điệu, đến vần, đều là những vũ khí rất mạnh trong tay người làm thơ. Nếu thiếu vũ khí ấy “trận đánh gay go thêm nhiều, nhưng người làm thơ vẫn có thể thắng".(Phải là thiên tài mới có thể thắng!). Tác giả cho rằng: "không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần hay thơ không vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ". Phải để cho nhà thơ “tìm tòi, thử thách", "một thời đại mới của nghệ thuật thường bao giờ cũng tạo ra một hình thức thơ mới".Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Rừng Vàng Biển Bạc Bên cạnh những ý tưởng đúng đắn về chất lượng thơ, sự đổi mới thơ, ta còn băn khoăn về điều tác giả nói như đinh đóng cột: "Không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không có vần". Đọc thơ Việt hiện nay, ta càng thấy ý kiến ấy không thuyết phục.
– Thơ phải sáng lạo nhưng không thể buông thả, bừa bãi. Những bài thơ tục tĩu hoặc nói lăng nhăng tầm phào mà ta thường thấy trên báo chí hiện nay đã làm cho “thơ phản thơ”, làm cho độc giả quay lưng lại với thơ! Hành trình của thơ Việt còn cần rất nhiều những nhà thơ tài năng, lỗi lạc.
Nguyễn Đình Thi đã sáng tạo ca khúc, viết kịch, viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết, viết lí luận, phê bình và làm thơ. Thơ là thành tựu xuất sắc của ông.
Bài "Mấy ý nghĩ về thơ" ra đời cách chúng ta đã 60 năm. Người đọc hôm nay dễ dàng nhận thấy những điều mà tác giả bàn về thơ không mới. Tác giả đã có một cách viết tài hoa, cảm xúc dào dạt. Cầu kì và lan man, sa đà là phần hạn chế, nhất là khi tác giả nói về bản chất của thơ, ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ, tính biểu cảm, tính hàm súc, đa nghĩa của thơ. Một số so sánh của tác giả nêu lên có lúc làm cho lí lẽ thêm rối.
Thơ Việt từ năm 1945 đến nay đã có nhiều thành tựu và đang trên đà đổi mới. Lí luận về thơ cũng không dừng lại cái hôm qua đã có, đã bàn luận. Khiếu thẩm mỹ của độc giả ngày nay không còn đơn giản nữa; các nhà làm thơ, các nhà lí luận phê bình thơ cần biết rõ sự thực ấy. "Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi như một tiếng nói tâm tình, chúng ta đón đọc với tình cảm trân trọng.
Vanmau.edu.vn | Nêu lên một số cảm nhận của em về thơ khi đọc “Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi | 1,431 | |
Nêu một số nét tiêu biểu của thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài thơ Tự Tình và Cảnh Chiều Hôm
Hướng dẫn
a) Nội dung: hai bài thơ cùng viết về nỗi buồn, nhưng là hai nỗi buồn khác nhau. Nỗi buồn của Hồ Xuân Hương là nỗi buồn duyên phận lỡ làng, thấm đượm nỗi đau đớn, tái tê, bẽ bàng, chán ngán, ê chề,… Còn nỗi buồn của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi buồn hoài cổ của kẻ xa quê, một nỗi buồn man mác, da diết và thấm thìa.
b) Để làm nổi bật nỗi buồn ấy, mỗi nhà thơ có một cách thể hiện rất riêng, độc đáo. Phân tích cách thể hiện của hai bài thơ qua một số phương diện như:
– Thời gian nghệ thuật khác nhau: một bên là buổi chiều, một bên là đêm khuya.
– Cảnh vật hiện lên dưới con mắt của mỗi nhà thơ khác nhau:
+ Một bên êm đềm, tĩnh lặng, đượm buồn với cảnh ông già đánh cá bình thản gác mái chèo xuôi dòng về bến xa; cảnh trẻ chăn trâu gõ sừng, theo trâu về xóm vắng; cảnh ngàn mai gió cuốn, cánh chim trời mệt mỏi; bước chân vội vàng của người lữ thứ;… làm nổi bật tâm trạng buồn bã, u uẩn của người xa quê.
+ Với Hồ Xuân Hương thì thiên nhiên, cảnh vật đều sống động, sắc nhọn, mạnh mẽ, thể hiện rất rõ tâm trạng buồn chán, muốn "nổi loạn" (trăng khuyết không tròn, rêu muốn "xiên ngang", đá muốn "đâm toạc").
Xem thêm: Các Mác nói: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên– Tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình: Bà Huyện Thanh Quan thấm thìa nỗi buồn xa cách, không ai chia sẻ (Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ — Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn). Hồ Xuân Hương chán ngán tình cảnh duyên phận dang dở, lỡ làng, "ngán" vì xuân của đất trời sẽcòn trở lại, còn tuổi xuân của mình thì một đi không trở lại. "Hồng nhan" vốn là biểu tượng đẹp (người đẹp) trong mắt Xuân Hương thành rẻ rúng, bẽ bàng ("cái hồng nhan" "trơ" ra giữa thiên hạ, nước non); không những thế, chỉ có một "mảnh tình" (đã bé) lại bị chia sẻ thành ra quá ít ỏi, nhỏ nhoi ("tí con con").
– Đặc điểm hình thức: Tuy cùng là thể thơ Nôm Đường luật nhưng hai bài thơ cũng có nhiều điểm rất khác nhau, nhất là việc sử dụng ngôn từ. Việc sử dụng nhiều từ Hán Việt kết hợp với các hình ảnh ước lệ, tượng trưng, các biện pháp tu từ,… khiến bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan rất trang nhã, đài các, phù hợp với tâm trạng buồn bã, hoài cổ, nhớ tiếc. Ngược lại, bài thơ của Hồ Xuân Hương rất ít từ Hán Việt, cách sử dụng từ ngữ, xây dựng hình ảnh, cách ngắt nhịp đều rất khác với Bà Huyện Thanh Quan; dường như nhà thơ muốn chống lại khuôn mẫu của thơ ca trung đại, thể hiện phong cách thơ mạnh mẽ, đầy cá tính.
Trên đây chỉ là một vài gợi ý khái quát, chưa phải là toàn bộ dàn bài chi tiết. HS cần tập trung vào một vài nét nổi bật của phong cách thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, tránh chỉ nêu và nhận xét chung chung.
Nguồn: thêm: Phân tích nét đặc sẳc của ngôn từ nghệ thuật thể hiện trong bài thơ Đàn ghi-ta của Lor-ca của nhà thơ Thanh Thảo. | Nêu một số nét tiêu biểu của thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài thơ Tự Tình và Cảnh Chiều Hôm | 619 | |
Nêu ngắn gọn mâu thuẫn cơ bản trong vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ. Cho biết tính chất tiến bộ của nội dung tư tưởng trong tác phẩm
Gợi ý
Nội dung cơ bản của vở kịch “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ là cuộc đấu tranh âm thầm nhưng dai dẳng và không kém phần gay gắt giữa cái mới (những tư tưởng tiến bộ, cách mạng) và cái cũ, vốn chủ yếu dựa vào những quy chế, quy định lỗi thời, bảo thủ nhưng khá kiên cố, Trong đoạn trích này, tư tưởng tiến bộ do Giám đốc Hoàng Việt đề xướng chưa trớ thành hiện thực nhưng với cơ sở thực tế, hệ thông lí luận chặt chẽ, lại được sự đồng tình, ủng hộ cúa quần chúng nhân dân, có thế thấy rằng những tư tưởng ấy chắc chắn sẽ trở thành hiện thực, mang lại đời sông tốt đẹp hơn cho công nhân, đưa nhà máy phát triển theo một chiều hướng mới.
Mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Tôi và chúng ta trong đoạn trích chính là mâu thuẫn giữa những suy nghĩ, cách làm ăn mới mẻ với những cơ chế, cách làm ăn đã quá cũ kỹ, lỗi thời. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng và rất phổ biến bởi nó xảy ra mọi nơi, mọi lúc. Không thay đổi cơ chế quản lý, không kích thích được người lao động nhiệt tình tham gia vào công việc và đóng góp công sức vào sự nghiệp chung, mọi khẩu hiệu kêu gọi cũng sẽ trỏ nên trống rỗng.Xem thêm: Phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau: "Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng - Rướn thân trắng bao la thâu góp gió" (Quê hương - Tế Hanh)
Việc miêu tả cuộc đấu tranh với tương quan lực lượng như vậy cho thấy khả năng phản ánh đúng đắn quy luật phát triển xã hội của tác giả. Khi cái mới còn chưa chứng tỏ được ưu thế và sức mạnh của mình, nó rất dễ bị cô lập. Cản trở sự vận động của cái mới là những tư tưởng cũ kĩ, bảo thủ, lạc hậu. Những con người tiêu biếu cho nếp nghĩ cũ đó một phần xuất phát từ những tư tưởng tư lợi nhưng điều chủ yếu, họ là những con người mang những nếp nghĩ quá lỗi thời, đã trở nên khô cứng. Họ sợ mọi sự đổi thay, không hẳn vì ngại cái mới làm giảm đi những quyền lợi vật chất mà họ đã quen được hưởng mà còn vì tư tưởng quen dựa dẫm, không dám chịu trách nhiệm trước bất cứ việc gì. Giống như người đã quen đi trên con đường nhỏ, nay sợ hãi khi bước ra đường lớn, họ đã vổ tình hay cô ý trở thành vật cản cùa xã hội.
Vanmau.edu.vn | Nêu ngắn gọn mâu thuẫn cơ bản trong vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ. Cho biết tính chất tiến bộ của nội dung tư tưởng trong tác phẩm | 497 | |
Nêu ngắn gọn những hiểu biết về tác giả Cung oán ngâm… người cung nữ
Gợi ý
Đề bài:
1. Nêu ngắn gọn những hiểu biết về tác giả Cung oán ngâm.
2. Tâm trạng người cung nữ trong đoạn trích chưa phải là toàn bộ hiện thực được phản ánh. Hãy cho biết tác giả miêu tả tâm trạng của người cung nữ nhằm mục đích nào khác?
3. Phân tích để thấy được nỗi niềm bi phẫn của người cung nữ trong đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ.
HƯỚNG DẪN
1. Nguyễn Gia Thiều xuất thân trong gia đình đại quý tộc, cha là Nguyễn Gia Cư, mẹ là công chúa Quỳnh Liên, con gái chúa Trịnh Cương. Nguyễn Gia Thiều thông minh, học rộng, từ nhỏ đã được nuôi dưỡng trong phủ chúa, am tường nhiều lĩnh vực nghệ thuật, kiến trúc, được chúa Trịnh trọng dụng. Ông tận mắt chứng kiến cảnh ăn chơi sa đọa của tầng lớp giai cấp mình, thấy được sự rung chuyển của những rường cột phong kiến ngay trong chôn cung thất. Đó là cội nguồn của những trang thơ đầy lo lắng trước sự sụp đỗ của triều đình Lê – Trịnh. Ông xót xa cho thân phận của những người cung nữ mà Cung oán ngâm là một tác phẩm tiêu biểu. Coi trọng nghệ thuật, Nguyễn Gia Thiều là một cây bút dụng công hiếm thấy với việc lựa chọn từ ngữ cao sang, gợi cảm, sử dụng nghệ thuật đối điêu luyện…Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về tình mẹ con2. Hình tượng người cung nữ được khắc họa trực tiếp trong đoạn trích. Đó là một phần của hiện thực.
Giữa thênh thang phòng đãi nguyệt, gác thừa lương, phòng tiêu… – chôn lầu son gác tía mà “âm thầm chiếc bóng”, qua ngày sáu khắc, đêm năm canh mà “một minh đứng tủi ngồi sầu”, giữa những gương loan, dải đồng, gối, chăn chờ đợi vô vọng,… Những điều đó đã miêu tả tâm trạng bẽ bàng của người cung nữ. Khát vọng hạnh phúc được thể hiện trong một cảnh ngộ đặc biệt: phút giây hạnh phúc với người cung nữ mãi đã là quá khứ xa xôi.
Ngay trong chốn lầu son gác tía vẫn có người bất hạnh. Bởi vì người cung nữ chỉ là nạn nhân của một chế độ, lí giải căn nguyên đó là phần quan trọng trong việc phản ánh hiện thực.
3. Phân tích để thấy được nỗi niềm bi phẫn của người cung nữ trong đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ.
– Để diễn tả tâm trạng của người cung nữ, tác giả đã tái hiện lại hiện thực về:
+ Cuộc sống xa hoa của vua chúa bằng những chi tiết miêu tả cung quế với lầu đãi nguyệt, gác thừa lương, phòng tiêu, gương loan, cửa châu, rèm ngà… – cuộc sống dư thừa về vật chất.
+ Thân phận bẽ bàng của người cung nữ được thể hiện qua các chi tiết miêu tả không gian vắng lặng, thời gian với những dấu tích của sự vật còn lại qua như “Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ — Dấu dương xa đám cỏ quanh co”, qua lời than của người cung nữ “Khoảnh làm chi bấy chúa xuân – Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi”..Xem thêm: Giới thiệu một vài nét về cuộc đời, sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi– Đốì tượng miêu tả của Nguyễn Gia Thiều trong đoạn trích là nỗi lòng của người cung nữ bị thất sủng nhìn tuổi xuân của mình qua đi, hạnh phúc chỉ còn là vô vọng ở nhiều mức độ:
+ Là lời than vãn ủ ê, nặng nề: “Lạnh lùng thay giấc cô miên – Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u”.
+ Là nỗi oán thán: “Giết nhau chẳng cái lưu cầu – Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!”.
+ Có cả ý định quyết liệt thoát khỏi thân phận bị giam hãm “Đang tay muốn dứt tơ hồng – Bực mình muôn đạp tiêu phòng mà ra!”.
Ớ mức độ cao nhất, nỗi buồn chuyển thành ý muôn hành động, thể hiện phần con người với khát vọng sống mạnh mẽ.
Vanmau.edu.vn | Nêu ngắn gọn những hiểu biết về tác giả Cung oán ngâm… người cung nữ | 708 | |
Nêu ngắn gọn quá hình sáng tác và các đề tài chính của nhà văn Nguyễn Tuân
Gợi ý
Nguyễn Tuân là một trong những tác gia nổi tiếng của văn học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp sáng tác văn chương đồ sộ của ông được thể hiện đậm nét qua quá trình sáng tác và các đề tài chính.
Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công từ những trang viết đầu tiên. Ông đã thử bút qua rất nhiêu thể loại (thơ, bút kí, truyện ngắn trào phúng). Mãi đến đầu năm 1938, nhà văn mới nhận ra sở trường của mình và ghi những dấu ấn riêng trên văn đàn dân tộc.
Trước Cách mạng tháng Tấm, tác phẩm của Nguyễn Tuân chủ yếu xoay quanh ba đề tài chính: “chủ nghĩa xê dịch”, vẻ đẹp “vang bóng một thời” và đời sông truy lạc.
Với đề tài thứ nhất, chù trương cúa Nguyễn là thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát li mọi trách nhiệm với gia đình, xã hội. Lí thuyết này thể hiện tâm trạng bất mãn, bất lực trước thời cuộc, đồng thời cũng bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị đất nước.
Không tin tưởng vào hiện tại và tương lai, Nguyễn tìm về những thú thả thơ, đánh thơ, trồng hoa thuỷ tiên… – những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hường lạc lành mạnh và tao nhã… Tất cả được thể hiện qua những con người thuộc lớp nhà nho tài hoa bất đắc chí không chịu hoà hợp với xã hội thực dân.Xem thêm: Phân tích giá trị thẩm mĩ của đoạn thơ sau: "Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn" (“Đò Lèn" - Nguyễn Duy) Với đề tài truy lạc, Nguyễn Tuân xây dựng một hình tượng nhân vật tôi hoang mang, bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, rượu và thuốc phiện.
Những tác phẩm tiêu biểu xoay quanh các đề tài này, có thế’ kế’ đến: Một chuyến di (1938), Vang bóng một thời (1939), Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941)…
Lòng yêu nước và những bất mãn với xã hội thực dân đã đưa Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ngòi bút Nguyền Tuân theo sát từng cuộc chiến đấu của dân tộc, từng nhiệm vụ chính trị của đất nước. Tất nhiên, cá tính và phong cách của nhà văn vẫn luôn được phát huy. Những trang viết sắc sảo, đầy nghệ thuật chủ yếu ngợi ca quê hương đất nước, ngợi ca nhân dân.
Hình tượng chính trong sáng tác Nguyễn Tuân sau 1945 là nhân dân lao động và những người chiến sĩ. Họ luôn là những tài hoa, nghệ sĩ trong công tác của mình. Họ hiện lèn với tư thế đẹp đẽ, sang trọng của những con người sinh ra trên đất nước nghìn năm văn hiến.
Những tác phẩm chính của giai đoạn này là tập bút kí Sông Đà (1960) cùng một số tập kí chống Mỹ (1965 — 1975).
Quá trình sáng tác trên cho thấy hành trình lao động nghệ thuật công phu và đầy cá tính của Nguyễn Tuân. Những đề tài được biểu hiện qua các sáng tác đã mang đến cho Nguyễn cơ hội thể hiện một phong cách không giống ai, độc đáo đến mức ngông nhưng vẫn có sức hâ’p dẫn lạ kì với bạn đọc nhiều thế hệ.Xem thêm: Phân tích Hình tượng người lính Tây Tiến của Quang DũngVanmau.edu.vn | Nêu ngắn gọn quá hình sáng tác và các đề tài chính của nhà văn Nguyễn Tuân | 626 | |
Nêu những nét chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Gợi ý
Dàn ý chi tiết
Mở bài:
– Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ là một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn.
– Bác Hồ đã sáng tác nhiều áng văn thơ rất nổi tiếng thể hiện tài năng của một nghệ sĩ bậc thầy. Những sáng tác của Bác bao gồm rất nhiều thể loại.
Thân bài:
– Trước hết là văn chính luận. Đó là những tác phẩm được viết ra chủ yếu nhằm mục đích đấu tranh chính trị, nhằm tấn công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng cụ thể qua từng chặng đường lịch sử.
+ Những năm 20 của thế kỷ XX, các bài văn chính luận viết bằng tiếng Pháp in trên những tờ báo "Người cùng khổ", "Nhân đạo", "Đời sống thợ thuyền" đã có tác động mạnh mẽ và gây ảnh hưởng lớn lao đến công chúng Pháp và nhân dân các nước thuộc địa. Nội dung chủ yếu (của) những tác phẩm chính luận của Bác giai đoạn này là lên án chế độ thực dân Pháp và chính sách tàn bạo của chính phủ Pháp đối với các nước thuộc địa; kêu gọi và thức tỉnh những người nô lệ bị áp bức và liên hợp lại, trong một mặt trận đấu tranh chung (cách mạng).
+ Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như: Bản án chế độ thực dân Pháp là tác phẩm tiêu biểu đã kết tinh được tinh thần trên và trở thành một trong những tác phẩm lớn nhất của Bác. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn lao không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà cả nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình và công lý. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) và Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước (1966) là những áng văn chính luận hào hùng, tha thiết, làm rung động hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu nước. Những tác phẩm ấy nói lên các vấn đề thời sự cấp bách của dân tộc, thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông đất nước trong những giờ phút thử thách ác liệt, thúc gọi bổn phận trách nhiệm, nghĩa vụ đối với mỗi người dân Việt Nam trước vận mệnh đất nước. Trước lúc đi xa, Người còn để lại bản Di chúc thiêng liêng không chỉ chứa chan tình cảm của Bác đối với dân tộc đặc biệt là nhân dân miền Nam còn đang phải sống dưới ách kìm kẹp của quan thầy Mỹ – nguỵ mà bản Di chúc của Bác còn chứa đựng hàm súc đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam.Xem thêm: Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất– Về mảng truyện và ký.
+ Tập Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc được viết trong khoảng từ năm 1922 đến năm 1925. Đây là tập truyện và ký rất đặc sắc được viết với bút pháp đầy sáng tạo, giàu chất trí tuệ và rất hiện đại. Truyện của Người cô đọng, hàm súc, cốt truyện biến hoá linh hoạt, kết cấu độc đáo. Mỗi truyện đều có một tư tưởng riêng hấp dẫn, ý tưởng thâm thúy, kín đáo, hình tượng mới mẻ, giàu sức thuyết phục, giàu ý nghĩa thẩm mỹ. Những tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, Pari, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói, Những trò lố hay là Va ren và Phan Bội Cháu, Con Rùa,…
+ Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Người viết truyện ngắn "Giấc ngủ 10 năm", rất giàu tính chất lãng mạn, lạc quan cách mạng. Ngoài truyện ngắn, Người còn có nhiều tác phẩm ký được sáng tác với bút danh khác nhau như Nhật ký chìm tàu, Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch.
– Về thơ ca: Bác Hồ đã sáng tác được nhiều tập thơ, bài thơ rất nổi tiếng và thơ ca đã trở thành lĩnh vực nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của Người. Với trên dưới 250 bài thơ có giá trị được tuyển chọn và in trong các tập Nhật ký trong tù (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (36 bài), Bác Hồ đã có những đóng góp rất quan trọng cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại.Xem thêm: Nhận xét của anh (chị) về nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi+ Nhật ký trong tù là tập thơ tiêu biểu nhất trong sự nghiệp thơ ca của Bác. Đó là bức chân dung tinh thần tự họa của một chiến sĩ cộng sản vĩ đại giữa chốn lao tù khắc nghiệt. Nhật ký trong tù còn là tác phẩm có giá trị nghệ thuật đặc sắc, độc đáo. Nhiều tứ thơ được thể hiện rất sáng tạo, nhiều hình ảnh gợi cảm, thể thơ tứ tuyệt được sử dụng thành thạo, tạo nên vẻ đẹp vừa hàm súc vừa linh hoạt tài hoa, vừa cổ điển vừa hiện đại rất hấp dẫn.
+ Ngoài tập thơ Nhật ký trong tù, Bác Hồ còn có nhiều bài thơ được viết với bút pháp giản dị như ca dao, hò vè nhằm để tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách, vận động nhân dân hăng hái tham gia cách mạng như Bài ca du kích, Ca sợi chỉ, Con cáo và tổ ong, Bài ca thợ thuyền, Bài ca dân cày, Bài ca phụ nữ, Bài ca thiếu niên…. Đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Bác Hồ cũng đã viết những bài thơ tức cảnh, trữ tình thể hiện tình cảm thiết tha, gắn bó với thiên nhiên, đất nước, nỗi niềm lo âu cho vận mệnh của non sông và niềm lạc quan chiến thắng (Pắc Bó hùng vĩ, Tức cảnh Pắc Bó, Cảnh khuya, Báo tiệp, Nguyên tiêu, Đi thuyền trên sông Đáy, Không đề…). Thơ của Bác thời kỳ này đã kết hợp được chất trữ tình cách mạng đằm thắm và cảm hứng anh hùng ca của thời đại.Xem thêm: Vẻ đẹp của bộ tranh tứ bình trong đoạn thơ sau bài "Việt Bắc" của Tố Hữu: "Ta về mình có nhớ ta,(...) Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Văn chương của Bác có phong cách đa dạng mà thống nhất, kết hợp sâu sắc mà nhuần nhị mối quan hệ giữa chính trị và văn chương, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại.
+ Về truyện ký, ngòi bút của Bác rất chủ động và sáng tạo, khi thì bằng lối kể chân thực, tạo không khí gần gũi, có khi lại là giọng châm biếm sắc sảo, thâm thúy và tinh tế. Chất trí tuệ và tính hiện đại là những nét đặc sắc trong truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc.
+ Về văn chính luận, qua những bài viết của mình, Bác Hồ đã bộc lộ lối tư duy sắc sảo, giàu tri thức ỵăn hoá, gắn lý luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biểu hiện.
+ Thơ ca của Bác có phong cách đa dạng: nhiều bài cổ thi hàm súc, thâm thúy, đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật. Còn những bài thơ hiện đại được Người vận dụng qua nhiều thể loại phục vụ có hiệu quả cho nhiệm vụ cách mạng.
Kết luận:
Thơ văn của Bác là tiếng nói tâm hồn của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.
Lược qua về di sản văn chương quý giá đó, để các thế hệ hôm nay và mai sau có thể tìm thấy những bài học và giá trị tinh thần cao quý mà có trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn một kho tàng văn chương quý giá đó.
Vanmau.edu.vn | Nêu những nét chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh | 1,368 | |
Nêu những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hoá có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975.
Hướng dẫn
a) Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại đã mở ra một kỉ nguyên mới trên đất nước ta, khai sinh ra một nền văn học mới. Từ đây, nền văn học phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và quan niệm.
b) Đất nước trải qua nhiều sự kiện lớn:
– Công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
– Hai cuộc chiến tranh yêu nước vĩ dại
+ Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954)
+ Kháng chiến chống đế quốc Mĩ(1954 – 1975)
Tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật. Đem đến cho văn nghệ sĩ chất liệu sống phong phú và cảm hứng nồng nàn để sáng tạo tác phẩm.
c) Hình thành kiểu nhà văn mới: nhà văn – chiến sĩ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Chính Hữu, Quang Dũng, Giang Nam, Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Chu Lai, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu…
d) Hình thành những tư tưởng, tình cảm rất riêng: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí đồng đội, tình cảm Nam – Bắc, tình cảm tiền tuyến với hậu phương, tình yêu nam nữ hoà quyện, tha thiết, thiêng liêng…
Nguồn: thêm: Kể về anh ruột em | Nêu những nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hoá có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975. | 292 | |
Nêu những suy nghĩ của em về vấn đề tự học
Gợi ý
Trong học tập, mỗi người đều có một cách học riêng, phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Thế nhưng, cách học hiệu quả nhât là tự học. Chỉ có tự học mới giúp chúng ta dễ dàng tiếp thu và hiếu sâu sắc kiến thức một cách chủ động và dễ dàng nhất
Như ta đã biết, học là quá trình thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại. Thế nhưng, ngoài ý nghĩa đó, tự học còn là sự chủ động suy nghĩ, tự khám phá, nghiên cứu các kiến thức đế hiểu rõ bản chất của vấn đề. Kiến thức không của riêng ai nhưng muốn biến thành kiến thức của riêng mình phải đào sâu suy nghĩ. Nếu như suy nghĩ hời hợt thì sẽ không hiểu rõ, không nắm chắc bản chất của vấn đề, sau một thời gian sẽ quên mất. Chính vì vậy, khi học phải cố gắng tìm hiếu cốt lõi của kiến thức. Chính quá trình tìm tòi, khám phá vấn đề đến tận gốc rễ đó sẽ giúp cho kiến thức thu nhận được in sâu trong trí nhớ. Có rất nhiều cách tự học nhưng bất cứ các cách tự học nào thì cũng bao gồm các khâu tìm tòi kiến thức, suy nghĩ, đồng thời phải biết áp dụng kiến thức đó vào thực tế. Có thể tự học qua sách, báo, qua nghe giảng, qua các bài tập, qua học thuộc lòng, quạ thực tế… Sách báo chiếm một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống và trong học tập. Học qua sách báo có nghĩa là thu thập, tìm hiểu, nghiên cứu các kiến thức mà sách báo mang lại cho ta. Tự học còn thế hiện qua cách nghe giảng bài. Nghe giảng không đơn thuần chỉ là nghe giảng rồi chép vào vở rồi bỏ đấy mà khi nghe giảng còn phải hiểu và nắm vững vấn đề.Xem thêm: Viết một bài văn nghị luận bày tỏ ý kiến về một vấn đề đang đặt ra trong đời sống văn hóa - tinh thần của con ngườiCó thế tự đặt ra các câu hỏi khi nghe giảng như: Bài giảng đề cập đến vấn đề gì? Vấn đề đó đã triển khai như thế nào? Cốt lõi của vấn đề là gì?… Có thể nói, tự học qua nghe giảng là cách học phổ biến nhất. Khi nghe giảng, ta có thể nhanh chóng thu nhận được lượng kiến thức khá lớn trong một khoảng thời gian không nhiều. Đó cũng là hạn chế của việc tự học và nghe giảng bởi với lượng kiến thức lớn trong khoảng thời gian hạn chế, người học có thể không có thời gian đào sâu suy nghĩ, tìm tòi, do đó không hiểu hết hay không nắm chắc vấn đề.
Một cách tự học nữa cũng hiệu quả không kém đó là học qua các bài tập. Việc làm bài tập giúp ta củng cố các kiến thức đã học, nắm bắt được bản chất của vấn đề. Hơn thế, tự học qua các bài tập còn giúp ta sáng tạo hơn trong cách giải bài tập sao cho ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu. Chính vì vậy, có rất nhiều dạng bài khác nhau để giúp học sinh nắm vững và sáng tạo các kiến thức đã học được. Một cách học nữa cũng rất hiệu quả là học qua cách học thuộc lòng. Cách học này không phải là học vẹt, khi học phải hiếu rõ minh đang học cái gì? Nội dung của nó ra làm sao?… Chỉ có học thuộc mới giúp ta nhớ lâu hơn, không bị quên. Nhưng học thuộc lòng cũng phải có phương pháp học làm sao cho dễ nhớ, gạch ra các ý quan trọng mà học chứ không cần phải học thuộc từng dấu chấm, dấu phẩy. Vì thế, học thuộc lòng cũng là một cách tự học cho kết quả cao. Nhưng cho dù học bằng phương pháp nào, qua sách, báo hay bài tập thì cũng phải biết áp dụng vào thực tế, vào cuộc sống. Điều này giúp chúng ta không bị xa rời thực tế, biết áp dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày, vào sản xuất nông, công nghiệp hoặc một ngành nghề nào đó. Khi áp dụng vào thực tế, các kiến thức sẽ được sử dụng triệt để, sâu sắc nhất đồng thời cũng là cách tự học hiệu quả nhất bởi nó giúp chúng ta không chỉ nắm vững các kiến thức đã được cung câp mà còn khám phá ra nhiều vấn đề mới nảy sinh, cần phải giải quyết bằng các thao tác tổng hợp: tra cứu sách vở, học hỏi những người có kinh nghiệm, bàn luận với bạn bè…Xem thêm: Xã em và Công ty Thiên Nông thống nhất đặt đại lí tiêu thụ sản phẩm phân bón, thuốc trừ sâu Vì vậy, tự học là một cách học rất quan trọng, nếu bản thân mỗi người không tự tạo cho mình được một thói quen tự học thì sẽ bị lệ thuộc vào những điều mà thầy cô đã dạy cho mình và quan trọng hơn là sẽ không nắm vững được bài. Tự học sẽ giúp chúng ta có tính chủ động học tập, là con đường dẫn tới sáng tạo, khơi nguồn lòng dam mê, tìm tòi những điều mới lạ.
Chính vì thế, tự học là khâu quan trọng nhất trong việc học – tìm hiểu kiến thức. Với mỗi người, bất kể cách học gì thì cũng phải tự học. Chỉ có tự học mới giúp ta hiểu rõ được kiến thức, hiểu được các sự vật, sự việc xảy ra trong cuộc sống và hướng tới một tương lai tươi sáng.
Vanmau.edu.vn | Nêu những suy nghĩ của em về vấn đề tự học | 996 | |
Nêu những sự việc tạo thành cốt truyện Những hạt thóc giống
Gợi ý
– Sự việc 1: Một ông vua cao tuổi muốn tìm người nối ngôi.
– Sự việc 2: Nhà vua phát thóc giống cho mọi người về trồng và đưa ra giao hẹn.
– Sự việc 3: Chú bé mồ côi Chôm chăm sóc tận tình nhưng hạt thóc không nảy mầm.
– Sự việc 4: Đến vụ thu hoạch, mọi người ai cũng có thóc đem đến nộp vua, riêng Chôm không có nên quỳ xuống tạ tội với vua.
– Sự việc 5: Vua khen ngợi đức tính trung thực của Chôm và giải thích cho mọi người việc mình đã bí mật luộc thóc giống.
– Sự việc 6: Chôm được nhà vua truyền ngôi báu.
Vanmau.edu.vn | Nêu những sự việc tạo thành cốt truyện Những hạt thóc giống | 126 | |
Đề bài Em hãy nêu quan điểm của em về trang phục áo dài và đồng phục của học sinh
Tuổi học trò là lứa tuổi đẹp nhất, nó còn được gắn với tên thời mực tím hay thời áo trắng. Áo trắng là những nét đẹp tinh khôi, trẻ trung của học sinh, bên cạnh những vấn đề về đồng phục áo dài hay đồng phục học sinh như là một trong những vấn đề được nhắc đến nhiều. Và ta như hấy được xung quanh vấn đề nữ sinh đi học nên mặc áo dài truyền thống hay là việc cho hộc sinh mặc những trang phục đồng phục hiện đại, có rất nhiều ý kiến khác nhau và cho đến nay thì vẫn chưa hết tranh cãi.
Có thể thấy được những việc quy định nữ sinh mặc áo dài hay đồng phục đều có sự xuất phát từ mục đích tạo ra sự thống nhất và dường như ta đã thấy được những vẻ đẹp hài hòa trong môi trường văn hóa, giáo dục. Trước tiên, thì tất cả chúng ta bàn về chiếc áo dài. Áo dài được coi là quốc phục của dân tộc ta, áo dài đồng thời cũng chính là nét văn hóa truyền thống độc đáo của dân tộc Việt Nam. Và một chiếc áo dài mang đậm bản sắc dân tộc dường như nó cũng đã gắn liền với đời sống của người Việt Nam suốt mấy trăm năm qua cho đến tận bây giờ. Và giờ đây dường như cũng đã được bạn bè năm châu công nhận và đó chính là một trong những trang phục dân tộc đẹp nhất thế giới mang được vẻ trẻ trung vừa kín đáo vừa gợi cảm mà không phải một bộ quốc phục nào cũng có cho mình được. Như hiện nay, do con người đã có những điều kiện kinh tế khá đầy đủ nên chiếc áo dài xuất hiện không chỉ ở lễ hội, tiệc tùng… mà ta như thấy được còn ở công sở và trong trường học. Các cô giáo mà mặc áo dài lên lớp vừa tha thướt, dịu dàng, vừa mô phạm biết bao nhiêu. Có lẽ rằng chính các nữ nhân viên văn phòng, siêu thị, ngân hàng… mặc áo dài vừa kín đáo vừa thanh lịch.Xem thêm: Chứng minh rằng trong thời đại hiện nay, con người đang đứng trước một thảm họa lớn - đó là tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nặng nề
Hình ảnh những chiếc áo dài truyền thống đem lại cho nữ sinh những vẻ đẹp giản dị và duyên đáng, và đó chính là bởi cái sắc trắng tinh khôi của chiếc áo dài nữ sinh tượng trưng cho tâm hồn trong trắng, và thật là thanh khiết chưa vướng bận những toan tính đời thường. Khi mà được mặc chiếc áo dài, ta như thấy được các bạn nữ sinh có cảm giác mình đã trở thành thiếu nữ đẹp dịu dàng nên sẽ tự biết kiềm chế những lời nói, hành động nông nổi, và ngay cả nhưng bồng bột của tuổi trẻ để phù hợp với lối sống khuôn khổ, nền nếp trong nhà trường.
Và những chiếc áo dài màu trắng cũng xóa đi sự khác biệt trong cách ăn mặc. Điều đó dường như cũng đã đóng góp phần hạn chế những tiêu cực có thể xảy ra trong môi trường giáo dục. Và nó lại được đề cao nhiều hơn. Và xét về ý nghĩa giới tính, chiếc áo dài như một người bạn thân, âm thầm nhắc nhở nữ sinh những điều cần thiết trong cuộc sống hằng ngày, và cho dù là ở nhà, ở trường hay ra ngoài xã hội. Có thể thấy được dường như các bạn nữ sinh không thể có những biểu hiện “phi nữ tính” khi đang mặc áo dài, và ta ví dụ như đùa cợt rượt đuổi nhau trên sân trường hoặc đá cầu, đánh đấm như con trai. Thậm chí ngay cả đến những chuyện “cười to nói lớn” cũng không hợp với chiếc áo dài vốn mềm mại, dễ thương vậyXem thêm: Nêu quan điểm của em về trách nhiệm với bản thân và tính vị kỉ của con người
Và ta có thể thấy những nữ sinh mặc áo dài sẽ thể hiện được vẻ đẹp kín đáo, uyển chuyển của người phụ nữ và nét dịu dàng, thanh lịch mà nó như đã vốn có trong tâm hồn các cô gái Á Đông. Cả những phẩm chất thùy mị, nhẹ nhàng được tà áo dài tôn vinh thêm một bậc.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy đó là áo dài cũng bộc lộ một số nhược điểm như người mặc sẽ bị gò bó, như thật vướng víu trong khi đi lại và lúc nào cũng phải giữ gìn ý tứ nên cũng đã có nhứng ảnh hưởng đến việc thể hiện sự hồn nhiên của tuổi trẻ. Mặc áo dài thì các hoạt động chạy nhảy, vui chơi, đùa nghịch ngoài giờ học hoặc trong giờ tập thể dục thể thao thì nó như đều không thích hợp với chiếc áo dài.
Nếu nói về đồng phục hiện đại có nhiều ưu điểm vượt trội so với áo dài. Nó thể hiện được những sự khỏe khoắn đồng thời tiện lợi cho việc vui chơi của các bạn. Một chiếc áo sơ mi trắng với quần Âu sẫm màu mang được sự hiện đạ và trẻ trung chi các bạn. Tuy nhiên, ta có thể thấy hạn chế ở đây chính là đồng phục học sinh hiện đại phải đảm bảo tính thẩm mĩ, nó phải phù hợp với lứa tuổi,…
Tóm lại thì cho dù là áo dài hay đồng phục đều có mặt ưu việt và có chỗ hạn chế của nó. Và có thể nói trong thời đại công nghiệp và hội nhập như ngày nay thì nhà trường cũng nên tham khảo và cũng nên chọn đồng phục hiện đại. Chỉ nên quy định mặc áo dài đối với nữ sinh bậc Trung học phổ thông. Và căn cứ và cũng tùy theo hoạt động học tập, những nếp sống sinh hoạt mà quy định nữ sinh mặc đồng phục hoặc quần áo bình thường. Và có thể nói chính điều này còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, và cũng đồng thời lại phụ thuộc vào điểu kiện kinh tế, xã hội của trường.Xem thêm: Nghị luận xã hội về bản lĩnh
Nguồn: Văn mẫu hay | Nêu quan điểm của em về trang phục áo dài và đồng phục của học sinh- Văn 12 | 1,098 | |
Nêu quan điểm của em về trách nhiệm với bản thân và tính vị kỉ của con người
Chúng ta thật dễ dàng có thể nhận thấy ý kiến trên đề cập đến lối sống ích kỉ. Và cũng với người có lối sống ích kỉ thì những chuẩn mực đạo đức xã hội (tinh thần hi sinh, lòng nhân ái…) và đó cũng chỉ là những giá trị xa lạ hoặc không có ý nghĩa gì bởi mối quan tâm duy nhất của họ trong cuộc sống chỉ làm sao để bản thân mình có lợi ích mà thôi. Thực chất, thì dường như những câu nói nhằm nêu lên những tác hại của lối sống ích kỉ và cảnh báo về một hiện tượng đời sống xã hội hiện nay đó chính là thói ích kỉ đang trở thành lối sống của khá nhiều người trong xã hội.
Ích kỉ đợc hiểu là chỉ biết vì lợi ích của riêng mình. Dường như có thể nói những người sống ích kỉ luôn nghĩ về bản thân, và dường như nếu lấy lợi ích cá nhân làm thước đo mọi giá trị, bất chấp quyền lợi của người khác. Đặc biệt thì trong tập thể một lớp học hay một số tổ chức luôn luôn tồn tại những cá nhân gây hại như vậy. Và chẳng may chính chúng ta đã vô tình để thói ích kỉ trở thành lối sống của con người thì sẽ dẫn đến sự tha hóa về nhân cách. Khi lối sống ích kỉ trở nên phổ biến trong đời sống thì những giá trị đạo đức truyền thống bỗng sẽ trở nên xa lạ, lạc lõng. Và nếu như dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc vốn có truyền thống “Thương người như thể thương thân”, hay còn là “Lá lành đùm lá rách” và nếu như không chú trọng gìn giữ mà lại để cho lối sống ích kỉ lấn át thì ta có thể làm cho phẩm chất tốt đẹp của dân tộc sẽ biến mất, cái ác sẽ từ từ thống lĩnh tâm hồn con người.Xem thêm: Ôn tập giữa kì 1 lớp 5 tiết 1
Dường như con người mà lại có lối sống ích kỉ thường xem nhẹ trách nhiệm của mình đối với xã hội, thờ ơ trước niềm vui của những người xung quanh. Hơn nữa đồng thời, họ cũng không coi trọng tinh thần hi sinh vì cộng đồng, tình thương yêu đồng loại, sự sẻ chia của người khác. Ta có thể thấy những người này có thể cảm thấy những Hiệp sĩ đường phố hay những người làm từ thiện Quán cơm 2000, hay là những cốc trà đá miễn phí, và cả bánh mì miễn phí là những kẻ dở hơi, rỗi việc, “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Dường như đối với họ quan trọng nhất là bản thân vẫn còn sung sướng, họ đã lại sống theo kiểu “sống chết mặc bay” nên họ hoàn toàn xa lạ với “trách nhiệm xã hội” hay “tình yêu thương đồng loại”.
Tác hại dẫn đến chính là thế nhưng đáng buồn thay lối sống ích kỉ này lại đang tồn tại trong một bộ phận của đời sống xã hội và dường như điều đó đôi khi được che đậy bằng nhiều hình thức bóng bẩy, giả tạo. Và nhất là khi con người không dám đấu tranh với nó nghĩa thì lúc này có nghĩ là đang dung túng, tạo môi trường và điêu kiện cho lối sống đó lên ngôi. Cũng chính bởi một lẽ đơn giản, lối sống ích kỉ có thể đem lại nhiều lợi ích vật chất, và dường như đã làm giảm nhẹ trách nhiệm với cộng đồng nên nhiều người đã im lặng để đồng lõa với nó. Và bản thân họ có thể nói “Tôi ích kỉ nhưng tôi có làm hại ai đâu”. Thoạt nghe thì có vẻ có lí nhưng sống trong cộng đồng mà không vì ai cả thì đó chính là vô trách nhiệm, gián tiếp gây hại cho lợi ích của người khác.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về số phận người nông dân trong xã hội phong kiến được thể hiện qua những bài ca dao mà em đã được học và đọc thêm
Mặc dù là học sinh, thì chúng ta cũng cần mạnh mẽ lên án và đấu tranh chống lại lối sống ích kỉ. Và chẳng hạn nếu như mà bạn không im lặng trước bạn chỉ biết giữ khư khư tài liệu học tập bổ ích cho riêng mình mà không biết chia sẻ cho người khác hoặc rút vào vỏ ốc cá nhân sống như “người trong bao”. Có lẽ chúng ta phải biết sống vị tha, có tinh thần trách nhiệm, cộng với sự kết hợp hài hòa giữa quyền lợi cá nhân và lợi ích cộng đồng thì mới là một con người có nhân cách đạo đức.
Dường như những kiến trên đã chỉ ra những tác hại to lớn của lối sống ích kỉ cũng như gióng lên hồi chuông cảnh báo và cũng đồng thời cảnh tỉnh một bộ phận không nhỏ trong xã hội ta đang có lối sống sai lầm như thế. Cũng từ chính những việc nhận thức sâu sắc tác hại của lối sống ích kỉ. Dường như ở mỗi người cần tu dưỡng bản thân và quan tâm giúp đỡ người khác để có thể xây dựng một cộng đồng xã hội tương thân tương ái tốt đẹo như truyền thống bao đời của dân tộc Việt Nam.
Nguồn: Văn mẫu hay | Nêu quan điểm của em về trách nhiệm với bản thân và tính vị kỉ của con người | 948 | |
Nêu quan điểm của em về vấn đề: tự lực cánh sinh, cần cù lao động
Gợi ý
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)
Hẳn chúng ta rất nhiều người thuộc hai câu thơ trên. Bản thân tôi, mỗi khi đọc hai câu thơ trên tôi lại có những suy nghĩ về vấn đề tự lực cánh sinh, cần cù lao động.
Quả thực là, sẽ không thể có một thành quả lao động nào vững bền nếu không tự mình cần cù lao động, tự tạo lập bằng chính sức lao động của mình. Và với sự cần cù lao động chắc chắn chúng ta sẽ thu được nhiều thành quả vĩ đại.
Ngày bé, đọc truyện Mai An Tiêm, tôi rất vui khi tưởng tượng ra Mai An Tiêm vững vàng trên cánh đồng dưa hấu bạt ngàn với câu nói “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”. Sự nghiệp gây dựng từ bàn tay lao động đã trở thành hình tượng sống cao đẹp của người lao động Việt Nam tự tin, cần cù vượt khó, thông minh và dũng cảm kiên cường.
Không thể có thành quả nào vững bền nếu không tạo lập bằng chính sức mình, bằng công lao của chính bản thân phải đổ mồ hôi, phải vượt gian khó mà có. Muốn sung sướng thì phải tự lực cánh sinh, cần cù lao động.
Tự lực cánh sinh có nghĩa là biết tự chủ lao động bằng trí tuệ và bàn tay để tạo lập đời sống và phát triển. Không phải với chính bàn tay và ý chí vượt khó, An Tiêm đã tạo dựng cuộc sống ngoài đảo hoang hay sao? Tự lực cánh sinh là ý chí tiềm tàng trong huyết quản, trở thành niềm tự hào của người nông dân “bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu” ở cuộc đời lam lũ “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”.Xem thêm: Bài học mà anh (chị) rút ra được từ Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy Tinh thần tự lực, tự chủ và cần cù lao động đã được khẳng định hùng hồn hơn cả trong những năm cả nước chống đế quốc Mĩ. Kẻ thù không tưởng tượng được rằng với những tấn bom rải xuống hằng ngày, với sự phong tỏa kinh tế, với chất độc hóa học cùng hàng triệu quân chư hầu mà một dân tộc trên một đất nước nhỏ bé, nghèo nàn vẫn vững vàng để đôi phó và chiến thắng.
Nhặt chút phân rơi, dọn từng ngọn lá (…)
(…) Ta nâng niu gom góp dựng ca đồ!
Trong những năm chiến tranh, anh em bầu bạn năm châu đã nhiệt tình giúp đỡ ta trên tinh thần quốc tế vô sản với lương tâm của thời đại. Nhưng thực tế sức mạnh để chiến thắng là lòng yêu nước và sự tự lực của nhân dân ta, điều ấy vô cùng vĩ đại.
Cho nên, ngày nay sự hợp tác quốc tế với nhân dân ta trong xây dựng đất nước vẫn là cần thiết, nhưng nếu ta không tự lực cánh sinh – bằng sự cần cù lao động và ý chí tự chủ vượt khó – thì không thể thay đổi đất nước!
Đất nước ta còn nghèo, lực lượng lao động tuy đông đảo nhưng chúng ta còn lạc hậu về cơ sở vật chất. Lao động trong hoàn cảnh hiện nay chắc chắn là phải biết dựa trên tinh thần làm chủ, tiết kiệm, đoàn kết và sáng tạo. Việc học tập không ngừng dể tiếp thu khoa học kĩ thuật tiên tiến rất cần thiết. Tinh thần cần cù lao động, lao động “vì mọi người” và xây dựng một lực lượng người lao động có trình độ khoa học kĩ thuật là then chốt của sức bật trong lao động.Xem thêm: Bài văn bình luận về biển ĐôngCó làm thì mới có ăn
Không dưng ai dễ đem phần đến cho.
Thời kì đầu đổi mới, sáng tạo trong lao động xây dựng đất nước đang còn nghèo, chắc chắn còn không ít kẻ tạo cơ hội sống phè phỡn trên sự lao khổ của nhân dân, dựa vào những khe hở của chính sách Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng tư. Chúng ta sẽ dần dần làm trong sạch xã hội để người lao động nói chung được hưởng sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ lao động. Cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Lao động “là vẻ vang, cần thiết cho bản thân, cho dân, cho nước. Lao động là nghĩa vụ”.
Thế hệ trẻ chúng ta hiểu sâu sắc nhiệm vụ học tập và lao động để làm cho dân giàu, nước mạnh. Và chắc chắn tinh thần tự lực và sự cần cù lao động của nhân dân ta từ xưa càng được nâng cao trong cuộc sống, trên bước đường cải tạo đất nước của chúng ta hôm nay. Muốn tự lực cánh sinh, cần cù lao động, trước hết phải đoàn kết để cùng lao động, chia sẻ sự công hiến và giữ được đạo đức cách mạng.
Vanmau.edu.vn | Nêu quan điểm của em về vấn đề_ tự lực cánh sinh, cần cù lao động | 869 | |
Nêu quá trình phát triển và thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ 1975 đến cuối thế kỷ XX.
Hướng dẫn
– Từ năm 1975 đến năm 1985 là chặng đường chuyển tiếp, trăn trở, tìm kiếm con đường đổi mới. Từ năm 1986 trở đi là chặng đường văn học có nhiều đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và khá toàn diện. Biểu hiện:
+ Đề tài văn học chuyển sang hướng nội: Bộc lộ tiếng lòng và những trắc ấn.
+ Nở rộ trường ca với mục đích tổng kết, khái quát về chiến tranh.
+ Chất nhân bản, nhân văn được đề cao hơn, đi sâu vào những nỗi đau và bất hạnh của từng thân phận con người sau chiến tranh.
– Các tác giả tiêu biểu cho đổi mới: Thanh Thảo, Hữu Thính, Nguyễn Đức Mậu, Trầu Mạnh Hảo, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Minh.
+ Một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu viết theo tinh thần đổi mới:
Đất trắng (Tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Oánh), Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Đứng trước biển, Cù lao chàm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Cha và con, Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Bến không chồng (Dương Hướng), Nổi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Cát bụi chân ai (Hồi kí của Tô Hoài), Ai đã đặt tên cho dòng sông (Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Nguồn: thêm: Qua những lời thơ Thuật hoài (tỏ lòng), anh (chị) thấy hình ảnh trưng nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì với thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai | Nêu quá trình phát triển và thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ 1975 đến cuối thế kỷ XX. | 299 | |
Nêu suy nghĩ của anh (chị) về việc sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay.
Hướng dẫn
– Về hiện tượng sử dụng mạng xã hội:
+ Mạng xã hội là một công cụ mới xuất hiện trong khoảng 10 năm nay. Đây là những trang web tồn tại trên internet. Khi ta đăng kí là thành viên của các trang web này, ta sẽ có khu vực riêng mà ở đó, ta có thể đăng các suy nghĩ, ảnh, các đoạn video hoặc các đoạn ghi âm ngắn. Thông qua trang web này, ta có thể kết nối với những người khác cùng là thành viên của trang web. Mạng xã hội là một cách để con người tự giới thiệu mình và chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc… với những người khác.
+ Hiện nay việc sử dụng mạng xã hội đã trở nên rất phổ biến, nhất là với thanh niên, thậm chí, nhiều người đã nói đến việc “nghiện” mạng xã hội nghĩa là lạm dụng quá mức việc sử dụng mạng xã hội.
– Nguyên nhân của việc mạng xã hội được sử dụng phổ biến:
+ Sự tiện lợi, hấp dẫn, hiện đại của mạng xã hội.
+ Đáp ứng nhu cầu giao tiếp, tự thể hiện mình của con người hiện đại.
+ Sự phát triển của internet cùng các thiết bị như: điện thoại di động, máy tính bảng, máy tính cá nhân…
– Lợi ích và những mặt trái của mạng xã hội:
Xem thêm: Những năm gần đây, số lượng các bạn trẻ Việt Nam đi du học nước ngoài gia tăng một cách đáng kể. Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này.+ Mạng xã hội có nhiều lợi ích. Nó giúp con người kết nối, chia sẻ, nó là một hình thức phổ biến, lan truyền thông tin, giúp con người thu thập thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện.
+ Tuy vậy, việc sử dụng mạng xã hội cũng có nhiều mặt trái: thông tin xấu lan truyền, sử dụng mạng xã hội vào các mục đích xấu (công kích cá nhân, tổ chức các hoạt động trái pháp luật như mại dâm, phá hoại chế độ…); làm con người lệ thuộc vào “thế giới ảo” mà quên đi thế giới thực.
– Cần phải có giải pháp để việc sử dụng mạng xã hội của thanh niên trở nên lành mạnh:
+ Có các biện pháp quản lí mạng xã hội để ngăn chặn thông tin xấu, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trên mạng xã hội.
+ Tăng cường giáo dục cho thanh niên về việc sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh. Tổ chức cho thanh niên những sinh hoạt văn hoá, thể thao, xã hội lành mạnh để tránh lạm dụng mạng xã hội.
+ Mỗi cá nhân phải có sự tự ý thức để không bị lệ thuộc vào thế giới ảo, để biết chọn lọc thông tin trên mạng xã hội, không bị lôi cuốn vào các luồng thông tin xấu.
– Liên hệ bản thân để tự kiểm điểm xem việc sử dụng mạng xã hội của mình đã đúng mức hay chưa và có được cách thức sử dụng hợp lí mạng xã hội.
Nguồn: thêm: Để đưa nước ta..., đậm đà bản sắc dân tộc. Anh (chị) hiểu vấn đề này như thế nào? Mỗi thanh niên, học sinh ngày nay phải làm những gì để thực hiện những chủ trương nói trên của Đảng và Nhà nước | Nêu suy nghĩ của anh (chị) về việc sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay. | 581 | |
Nêu suy nghĩ của em về chú ếch trong truyện ngụ ngônẾch ngồi đáy giếng. Từ câu chuyện này em rút ra bài học gì
Gợi ý
Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng mang đến cho người đọc nhiều suy nghĩ về nhân vật ếch và giúp ta có được những bài học bổ ích.
Chú ếch trong câu chuyện nghĩ bầu trời chỉ bé như một cái vung vì nó sống ở đáy giếng đã lâu ngày, xưa nay chưa từng ra khỏi miệng giếng. Các con vật sống cùng với ếch dưới đáy giếng như nhái, cua, ốc đều bé nhỏ. Nó chỉ cần cất tiếng kêu ộp ộp cũng đủ làm cho chúng hoảng sợ. Vì chưa từng gặp kẻ nào mạnh hơn mình nên ếch mới nghĩ nó là một vị chúa tể. Đó là một suy nghĩ sai lầm, song điều này rất dễ hiểu: ếch đã bao giờ bước ra khỏi cái miệng giếng đó đâu, nên nó không biết thế giới ngoài kia còn bao điều to lớn là phải!
Nhưng không chỉ thiếu hiểu biết, chủ quan và kiêu ngạo, ếch còn là một kẻ không thức thời. Lần đầu tiên rời khỏi cái giếng nhà mình, đáng ra nó phải khiêm nhường học hỏi về thế giới mới. Nhưng không. Nó nghĩ cái nơi mới mẻ này cũng như cái giếng cạn của nó, vậy nên đi lại nghênh ngang kêu Ồm ộp, nhãng nháo nhìn trời và không thèm để ý gì đến xung quanh. Việc ếch bị trâu đi qua giẫm bẹp cũng là điều dễ hiểu. Đó là hậu quả tất yếu của thói chủ quan, kiêu ngạo như khi còn ở trong đáy giếng. Giá ếch chịu khó để ý xung quanh thì đã không xảy ra tai hoạ. Nhưng tiếc thay, nó đã không biết thân biết phận như vậy thì nếu không bị trâu giẫm, nó cũng sẽ gặp phải một tai hoạ khác.Xem thêm: Em hãy kể về một người ông bà kính yêu của em.
Câu chuyện về chú ếch ngốc nghếch đã mang lại cho người đọc nhiều bài học có ích trong cuộc sống. Một môi trường nhỏ bé, hạn hẹp, không có sự giao lưu sẽ làm hạn chế tầm hiểu biết về thế giới xung quanh. Khi sống lâu trong một môi trường khép kín, sự hiểu biết của người ta sẽ trở nên nông cạn, hạn hẹp, từ đó dễ nảy sinh tâm lí chủ quan, kiêu ngạo. Bởi vậy, chúng ta phải biết mở rộng các mối quan hệ bạn bè, thầy cô; biết "đi một ngày đàng"để’ "học một sàng khôn". Bên cạnh đó, sự kiêu ngạo, chủ quan rất dễ khiến cho ta phải trả giá đắt, có khi mất mạng như chú ếch kia. Vì vậy, dù sống ở trong môi trường nào cũng không nên bó hẹp suy nghĩ, phải chú ý học hỏi để mở rộng tầm hiểu biết.
Và khi thay đổi môi trường sống hoặc lĩnh vực nghề nghiệp quen thuộc phải thận trọng, khiêm tốn tìm hiểu để thích nghi; tránh chủ quan, kiêu ngạo, suy nghĩ nông cạn, hạn hẹp.
Vanmau.edu.vn | Nêu suy nghĩ của em về chú ếch trong truyện ngụ ngônẾch ngồi đáy giếng. Từ câu chuyện này em rút ra bài học gì | 527 | |
Đề bài: Nêu suy nghĩ của em về chức năng giáo dục của tác phẩm văn học.
Văn học nghệ thuật luôn luôn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống con người, va nó đượ cbiết đến chính là phương tiện độc đáo, hấp dẫn để con người hiểu biết, khám phá và sáng tạo thực tại xã hội. Văn học được xem là tấm gương phản chiếu đời sống. Và đồng thời qua tấm gương sinh động này, con người hiểu biết sâu hơn về hiện thực. Nhưng văn học không đơn thuần chĩ là hình thức phản ánh. Phản ánh chưa phải là mục đích cuối cùng của văn học và ngoài phản ánh còn cho ta chức năng giáo dục cải tạo cuộc sống.
Có thẻ nói văn học đến với con người bằng con đường tình cảm, cảm xúc. Nó dường như cũng đã mang lại cho con người những rung cảm sâu xa trước vẻ đẹp của quê hương, đất nước. Và đứng trước trạng thái muôn màu của cuộc sống chung quanh và nhất là trước chiều sâu của thế giới tâm hồn. Văn học dường như cũng đã giúp con người đối chiếu, liên tưởng, và thêm những sự nghiền ngẫm về cuộc đời và về chính bản thân mình. Khi hiểu được thì để từ đó có nhận thức đúng đắn về cuộc sống, về chân lí, giúp cho con người ta như đã biết yêu ghét minh bạch và luôn luôn khát khao hướng thiện. Đó dường như cũng chính là chức năng giáo dục của văn học.Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”
Văn học chân chính được xem là có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người. Nó cũng như đã góp phần lớn vào việc hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn. Văn học như lại còn phản ánh cuộc sống là bản chất, là chức năng quan trọng của văn học. Văn học giúp ta nhận biết về thiên nhiên, hay đồng thời cũng chính là về đời sống xã hội xung quanh nhưng cao hơn thế, nó dường như cũng đã giúp chúng ta nhận thức về con người trong mối quan hệ tổng hòa với cuộc sống.
Từ ngàn xưa cho đến nay ta đã biết đến văn học dân gian đã làm tốt chức năng này. Và vẫn còn đó những thiên thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn,…Ta cũng như đã thấy được tất cả đều nhằm phản ánh đời sống con người dưới những màu sắc, góc độ khác nhau. Nhưng, dường như để bao trùm lên hết thảy vẫn là khao khát hiểu biết và chinh phục, nó đồng thời cũng chính là mục đích vươn tới Chân, Thiện, Mĩ của con người.
Và có thể thấy được một nhà văn xưa đã nói rằng “Văn học giúp người ta làm lành, lánh dữ” và cũng chính bởi thế nên nó có sức tác động mạnh mẽ tới đời sống tình cảm của con người, và dường như nó cũng đã giúp chúng ta nhận thức được tốt, xấu, phải, trái đúng sai và từ đó có cách sống đúng đắn, phù hợp với đạo lí.Xem thêm: Tình cảm nhân đạo biểu hiện trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh
Và có thể nói khi mà chúng ta đọc những tác phẩm chân chính, người đọc trước tiên sẽ nhận thức và cũng như đã phải xác định được hướng đi đúng đắn cho mình. Văn học định hướng cho cá nhân đồng thời cũng như đã trang bị cho cá nhân những điều kiện cần thiết để tiến tới việc hoàn thiện nhân cách. Ta có thể thấy được chính một chữ hiếu của Thúy Kiều, đó như cũng đã chỉ ra một khí phách hiên ngang của Từ Hải, một nhân cách cao đẹp của Huấn Cao… đều có dường như cũng đã có những tác động sâu xa đến trái tim người đọc và lưu lại ở đó những bài học đạo lí muôn đời. Đồng thời thì những hình tượng đẹp trong văn thơ truyền cho người đọc một tình yêu mãnh liệt đối với Cái Đẹp và cả những cái cao cả của cuộc sống, đồng thời cũng chỉ ra đâu là cái xấu đâu là cái ác cần phải xóa bỏ để con người và cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn.
Như vậy, có thể thấy những chức năng giáo dục là chức năng quan trọng hàng đầu của văn chương. Nó dường như cũng đã kết hợp chặt chẽ với các chức năng khác để thể hiện mục đích tốt đẹp mà tác giả cũng như đã gửi gắm như đã đặt ra trong tác phẩm; góp phần hướng con người tới những chuẩn mực của cuộc sống. Đó còn chính là giá trị vĩnh hằng của Chân-Thiện-Mĩ.Xem thêm: Kể về một bà mẹ Việt Nam anh hùng mà em biết
Nguồn: Văn mẫu hay | Nêu suy nghĩ của em về chức năng giáo dục của tác phẩm văn học- Văn 12 | 841 | |
Nêu suy nghĩ của em về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng
Gợi ý
Nhà văn Pháp Đ.Đi-đơ-rô từng quan niệm: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được gì vĩ đại nếu như mục đích bình thường.” Đây là một quan niệm đúng đắn và rất phù hợp với thế hệ trẻ Việt Nam. Là thanh niên, phải có lí tưởng sống cao đẹp.
Lí tưởng của người thanh niên trong những thế hệ cách mạng đã qua là sống chiến đấu để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên thực sự đã trở thành mũi nhọn xung kích – lực lượng tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc. Hạnh phúc cao đẹp nhất là được sống chiến đấu và hi sinh cho cách mạng. Chính vì sống có mục đích, mục đích cao đẹp vì sự nghiệp chung cho nên nhiều thế hệ Việt Nam dù “bình thường” nhưng rất “vĩ đại”. Chúng ta đã từng gặp họ trong các tác phẩm văn học. Đó là anh thanh niên một mình lặng lẽ làm việc và công hiến cho đất nước trên đỉnh núi Yên Sơn – Sa Pa. Đó là các chàng trai nông dân dám từ bỏ hạnh phúc riêng để cầm súng bảo vệ Tổ quốc trong bài Đồng chí. Đó là những người lính lái xe ra trận vẫn lạc quan, ung dung “buồng lái ta ngồi” dù xe không có kính.Xem thêm: Trở thành nhà thám hiểm là mơ ước lâu nay của em. Hãy viết một bức thư ngắn gửi bạn thân của em và kể về ước mơ đó Tại sao sống cần mục đích và mục đích phải cao đẹp? Bởi vì con người luôn muôn sống hạnh phúc, và hạnh phúc là cả cuộc đời. Có những hạnh phúc bình thường như ăn ngon, mặc đẹp, vợ hiền, con ngoan, bạn tốt… và hạnh phúc có thể đến từ gia đình, tiền bạc, bạn bè, cha mẹ, người yêu. Mục đích của đời người chỉ có nhường ấy cũng từng đã khiến ta phải cố gắng, mưu cầu mà có được! Nhưng có mục đích rất tầm thường của kẻ mong muốn có nhiều tiền, có sự giàu sang để trấn áp, để khinh rẻ kẻ khác, dùng đồng tiền để khuynh đảo người xung quanh. Mục đích sống như vậy dễ dàng đưa bạn đến gần với tội ác, với cái xấu. Muốn sống đẹp phải có mục đích sống cao đẹp. Kẻ có mục đích cao đẹp thường có hạnh phúc khi hi sinh cho người khác, hạnh phúc bởi được công hiến cho cuộc đời chung. Điều vĩ đại mà Einsten, Edicon, Pasteur, Marx, Lênin, Hồ Chí Minh hay Nguyễn Trãi, Nguyễn Du., làm được cho hậu thế chắc chắn đã được nuôi dưỡng trong tâm huyết họ mục đích thật cao cả cho muôn người!
Mục đích là lẽ sống của cuộc đời. Mục đích phải cao đẹp thì tâm hồn mới thanh cao và hành động phi thường! Mục đích cao cả, cao đẹp của người là điều kiện để sống và sống xứng đáng. Chúng ta có quyền phê phán trên cơ sở đó, đốì với những mưu cầu đời sống tầm thường: sống chỉ muốn được hưởng thụ vật chất, sống ích kỉ chỉ lo cho mình và không quan tâm đến hạnh phúc của kẻ khác.Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Chuyện một khu vườn nhỏ Thường thì mục đích – lẽ sống cuộc đời – hình thành rõ ở tuổi thanh niên. Tố Hữu nói: Thanh niên phải biết ước mơ và hành động! Từ đó, ta biết ngợi ca mục đích sống cao cả của thanh niên như Paven Coocsaghin “Tôi muôn công hiến cho cách mạng đến tế bào sống cuối của đời mình”; như Lí Tự Trọng nói “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không có con đường nào khác!” hay anh Trỗi phát biểu “lí tưởng sống của đời tôi là hạnh phúc của đồng bào tôi. Còn thằng giặc Mĩ thì không ai có hạnh phúc nổi cả…”; hay như lời tâm nguyện của nhà thơ Thanh Hải:
“…Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca M
ột nốt trầm xao xuyến…”
(Thanh Hải)
Chính vì thế đã là thanh niên là phải biết tìm và tìm được mục đích sống cao đẹp cho cuộc đời mình. Tương lai của tuổi trẻ hôm nay – những người chủ nhân tương lai đất nước sắp tới – tùy thuộc vào sự khẳng định, vào mục đích của cuộc đời tuổi trẻ Việt Nam. Đất nước còn nghèo, dân tộc còn lạc hậu, nếu tha thiết với cuộc đời chung thì ắt hẳn mỗi chúng ta phải biết sống học tâp, lao động và chiến đấu quên mình. Lời nói của Đ.Đi-đơ-rô như nhắc nhở mỗi người biết chọn lẽ sống cao đẹp. Mỗi con người hôm nay dù ở vai trò xã hội nào, cũng sẽ hiểu sâu xa đất nước và dân tộc làm gì ta phải làm gì!Xem thêm: Phân tích truyện Tấm Cám.Cảm ơn những tâm gương sống cao đẹp của từng vĩ nhân kim cổ – những tấm gương đẹp về mục đích sống cho chúng em noi theo. Là chủ nhân của đất nước ngày mai, thế hệ trẻ chúng em quyết tâm hướng cuộc đời vào xây dựng nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, bằng hành động công hiến chân thành của mình
Vanmau.edu.vn | Nêu suy nghĩ của em về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng | 935 | |
Nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu thương
Gợi ý
Kết thúc truyện Những người khốn khổ, trước khi qua đời, Huy-gô đã gửi gắm triết lý tình thương của mình trong câu dặn dò của Giăng-van-giăng: Trên đời này chỉ có một thứ tồn tại thôi, đó là tình yêu thương. Tình yêu thương có ý nghĩa thật lớn lao trong cuộc sống con người.
Tình yêu thương là một phẩm chất thẩm mĩ, thuộc về cái đẹp, là những tình cảm tốt đẹp con người dành cho nhau. Đây là khái niệm mang tính trừu tượng nhưng lại được biểu hiện ở điều cụ thể, nhiều khi là rất giản dị. Tình cảm ấy dù có được biểu hiện như thế nào cũng phải là những tình cảm chân thành, trong sáng, xuất phát từ trái tim, không tính toán, vụ lợi. Chúng ta biết rằng, tình yêu thương là một nhu cầu tình cảm không thể thiếu của mỗi người. Con người không thể sống đặt ngoài các mối quan hệ từ đó tất yếu nảy sinh nhu cầu về tình cảm, dù là theo chiều hướng nào. Trong những tình cảm ấy, tình yêu thương là một thứ tình cảm tích cực có tác động lớn lao đến đời sống của con người không chỉ về mặt tinh thần. Tình yêu thương giúp vực con người dậy khi họ vấp phải những khó khăn, gian khổ, khi họ gục ngã. Tình yêu thương giúp con người có thêm ý chí, sức mạnh để vượt qua khó khăn. Một bàn tay đưa ra chọ người đang chới với có thể cứu rỗi được một linh hồn, được một cuộc đời. Một nụ cười, một cử chỉ âu yếm cũng đủ cho ta có thêm động lực để sống và sống tốt hơn. Một hành động cảm thông có thể khiến cho con người gần nhau hơn… Yêu thương và sẻ chia tiếp thêm cho con người sức mạnh để sống thêm có ý nghĩa. Không chỉ như vậy, tình yêu thương giúp định hướng cho con người để họ có đời sông tinh thần lành mạnh. Một người được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình, bạn bè thường có sự phát triển nhân cách hoàn thiện. Ngược lại, người sống trong cảnh thiếu thôn tình yêu thương nhất là những tình yêu thương chân thành sẽ là những người phải chịu những khuyết tật về mặt tinh thần. Cuộc sống không có tình yêu thương sẽ mang rất nhiều những gam màu xám xịt, và tâm hồn con người sẽ luôn già cỗi.Xem thêm: Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của Phan Bội Châu hay nhất Yêu thương và được yêu thương sẽ luôn và cần là ước mơ chính đáng, là quyền lợi của mọi người. Hãy đế cho thế giới này được toả sáng bằng tình yêu thương ấy và ngày càng trở nên đẹp hơn.
Vanmau.edu.vn | Nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu thương | 498 | |
Nêu suy nghĩ của em về: Khiêm tôn, thật thà, dũng cảm
Hướng dẫn
Có biết bao đức tính phải học tập, rèn luyện? Không thể lơi là tự rèn luyện ba đức tính sau đây: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
Vậy thế nào là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm? Tại sao, mỗi chúng ta phải học tập, rèn luyện, tu dưỡng các đức tính khiêm tốn, thật thà, dũng cảm?
1. Khiêm tốn là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng tự phụ. Khiêm tốn để học tập cái hay, cái tốt đẹp của mỗi người. Khiêm tốn vì luôn luôn cảm thấy bản thân mình chưa hoàn thiện, chưa tài giỏi, cần phải học tập mọi người để vươn lên. “Kẻ sĩ phải hiếu học và khiêm tốn” (Lê Quý Đôn). Khiêm tốn trong lời ăn, tiếng nói, trong sinh hoạt, nếp sống, trong cách cư xử hằng ngày. Có khiêm tốn mới được mọi người quý trọng. Nếu kiêu ngạo, khoe khoang là tự sát, bị mọi người xa lánh, coi khinh. Dù tài giỏi đến đâu cũng không nên kiêu căng mà phải khiêm tốn, bởi lẽ kiến thức của mỗi người chỉ là một giọt nước trên biển cả mênh mông, cổ nhân từng nhắc nhở: “Chớ khoe điều hay, chớ khoe công trạng”, bởi lẽ khoe là hay sẽ mất hay, khoe là tài, là giỏi sẽ mất giỏi. Vì thế, thời cắp sách, thời tuổi trẻ, chúng ta phải khiêm tốn học tập để sớm trở thành học sinh giỏi, sinh viên xuất sắc. Bước vào đời, ai cũng nên, cũng cần khiêm tốn để sống đẹp, sống có văn hóa. “Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng” là thiếu khiêm tốn, là kiêu căng, kiêu ngạo! “Khiêm tổn là cơ bân của mọi điều thiện. Kiêu ngạo là dứng đầu mọi điều ác” – chúng ta cần nhớ để làm người!
2. Thật thà là đức tính mà ai cũng cần phải tu dưỡng. Thật thà như không khí, nước, ánh sáng cho mỗi chúng ta. Sống đàng hoàng, không tham lam của người khác, không giả dối, không giả tạo là thật thà. Trái với thật thà là tham lam, gian tham, gian manh. Nhân dân ta thường nói: ‘Thật như đếm”, “Thật thà là cha mách qué”, “Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”, v.v…
'lam hồn có trong sáng mới sống thật thà. Người sống thật thà không bao giờ bịa chuvện nói xấu ai, không lừa dối ai để kiếm lợi. Học sinh nào quay cóp trong thi cử là lừa thầy dối bạn. Buôn bán dùng hàng giả để lừa bịp người tiêu dùng, để có “nhất bản vạn lãi” là đồ gian manh, bịp bợm. Bọn cán bộ biến chất hoặc chạy chức, chạy án, hoặc đục khoét của công để làm giàu là bọn gian manh, lưu manh rất đê tiện bỉ ổi, bị pháp luật trừng trị, bị nhân dân phỉ nhổ. Chúng ta phải trau dồi tính thật thà, sống trung thực để làm người có văn hóa, có đạo đức tốt. Ông bà cha mẹ, thầy cô giáo cần sống thật thà để nêu gương sáng cho con cháu, cho học sinh noi theo. Nhiều em bé, nhiều học sinh bắt được của rơi đã trả lại cho người mất của, được báo chí nêu gương, ngợi ca. Đó là hình ảnh người tốt, việc tốt, để lại tiếng thơm cho gia đình và nhà trường.
Xem thêm: Em hãy tường thuật lại một sự việc để lại trong em kỷ niệm khó quên trong năm học vừa qua3. Đức tính thứ ba mà ta bàn tới là dũng cảm. Dũng câm là phẩm chất của ý chí. Dũng cảm là gan góc, gan dạ, có dũng khí dám đương đầu với khó khăn nguy hiểm để làm nên những việc nên làm! Lòng dũng cảm, tinh thần dũng cảm có nhiều biểu hiện. Chân thành nhận khuyết điểm, sai lầm, nghiêm túc nhận kỉ luật là dũng cảm. Dám nhìn thẳng vào sự thật đê’ tìm mọi cách sửa chữa,… là dũng cảm. Không né tránh, không lùi bước, dám cả gan đương đầu với mọi thách thức khó khăn, nguy hiểm là dũng cảm. Dám đương đầu với mọi kẻ tử thù, xông pha giữa rừng tên mũi giáo, giữa mưa bom bão đạn với tinh thần quyết chiến quyết thắng là dũng cảm, là quả cảm. Người dũng cảm không sợ khó, sợ khổ, sợ hi sinh, sẩn sàng xả thân vì đại nghĩa để cứu dân, cứu nước.
Có nhiều bài thơ, bài văn, câu thơ, câu văn thật hay, thật đẹp nói về tinh thần dũng cảm của quân và dân ta trong khói lửa chiến tranh chống quân xâm lược mà nhiều người vẫn truyền tụng.
“…Dầu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta vẫn vui lòng”.
(Hịch tướng sĩ- Trần Quốc Tuấn)
“Đem đợi nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay…”
(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
“…56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng, chí không mòn
Những dồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai Ào ào vũ bão…”
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật hom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng!…"
(Bài thơ về tiểu đội xe không kinh – Phạm Tiến Duật)
v.v…
Qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần dũng cảm đã gắn kết với lòng yêu nước của nhân dân ta tạo nên sức mạnh Việt Nam, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam để chiến thắng thù trong giặc ngoài, xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam,
Tóm lại, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là ba phẩm chất tốt đẹp chung đúc nên vẻ đẹp tâm hổn, vẻ đẹp chí khí của dân tộc ta trong trường kì lịch sử.
Tuổi trẻ Việt Nam nguyện học tập, tu dưỡng và rèn luyện các phẩm chất ấy để sớm trở thành con người mới, kế thừa và phát triển truyền thống cao quý của ông cha, tổ tiên, nguyện đem trí tuệ, đạo đức và tài năng xây dựng đất nước ta ngày một thêm hùng mạnh và giàu đẹp.
Nguồn: thêm: Nỗi nhớ quê hương da diết qua bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch | Nêu suy nghĩ của em về_ Khiêm tôn, thật thà, dũng cảm | 1,118 | |
Nêu suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
Gợi ý
Trong mỗi chúng ta có lẽ "tình mẫu tử" vẫn là thứ tình cảm đẹp đẽ và thiêng liêng nhất. Bởi hình ảnh người mẹ đã in sâu trong tâm trí mỗi đứa con. Ta bắt gặp tình cảm thiêng liêng ấy trong đoạn trích Trong lòng mẹ của nhà văn Nguyên Hồng. Đọc đoạn trích người đọc không khỏi xúc động trước tình yêu thương của chú bé Hồng dành cho người mẹ đáng thương của mình. Hồng đã trải qua những thử thách không kém phần đau đớn để giữ trọn vẹn tình cảm yêu thương mẹ trong sự khinh bỉ, xoi mói độc địa của những người họ hàng giàu có. Cuối cùng, bao tháng ngày chờ mong, khát khao cũng được đền đáp, Hồng đã ở "trong lòng mẹ".
Chú bé Hồng – nhân vật chính của truyện lớn lên trong một gia đình sa sút. Người cha sống u uất, trầm lặng, rồi chết trong nghèo túng, nghiện ngập. Người mẹ có trái tim khao khát yêu đương đành chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không có hạnh phúc. Sau khi chồng chết, người phụ nữ đáng thương ấy vì quá cùng quẫn phải bỏ con đi tha hương cầu thực và bị người đời gán cho cái tội "chưa đoạn tang chồng mà đã chửa đẻ với người khác". Hồng phải sống cuộc sống mồ côi cha, thiếu vắng tình thương của người mẹ, sống nhờ người họ hàng giàu có nhưng cay nghiệt. Hồng chịu cảnh cô đơn, bị hắt hủi.Xem thêm: Kể lại Truyện An Dương vương và Mị Châu - Trọng Thuỷ, tưởng tượng một đoạn kết khác với tác giả dân gian Trái lại với thái độ căm thù và trách móc, Hồng thương mẹ và nhớ mẹ vô cùng. Em nuốt những giọt nước mắt đau đớn vào lòng khi luôn phải nghe những lời mỉa mai, bêu riếu xấu xa về mẹ của bà cô độc địa.
Đoạn trò truyện của Hồng với bà cô là một màn đối thoại đầy kịch tính đẩy tâm trạng em đến những diễn biến phức tạp, căng thẳng đến cao độ.
– Hồng, mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ mày không?
Câu hỏi đầy ác ý ấy xoáy sâu vào tâm can của Hồng. Hồng hình dung vẻ mặt rầu rầu và sự hiền lành của mẹ, lại nghĩ tới những đêm thiếu thốn tình mẹ khiến Hồng phải khóc thầm thì Hồng muốn trả lời cô là: "có". Nhưng cậu bé đã nhận ra ý nghĩ cay độc qua cách cười "rất kịch" của cô, cô chỉ cố ý gieo rắc vào đầu óc Hồng những mối hoài nghi về mẹ cậu.
Hồng đã cúi mặt không đáp, sau đó Hồng nở nụ cười thật chua xót.
Hồng hiểu mẹ, hiểu được vì hoàn cảnh mà mẹ Hồng phải ra đi. Em đã khóc vì thương mẹ bị lăng nhục, bị đối xử bất công. Em khóc vì thân trẻ yếu đuối, cô đơn không sao bênh vực được mẹ. Càng thương mẹ, em càng căm ghét những hủ tục phong kiến vô lí, tàn nhẫn đã đầy đoạ, trói buộc mẹ em: "Giá như những cổ tục đã đầy đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi".Xem thêm: Thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận Chính tình thương mẹ đã khiến cho Hồng nhận ra đâu là lẽ phải, đâu là những con người, những tập tục đáng phê phán.
Tình thương ấy còn được biểu hiện rất sinh động, rất cụ thể trong lần gặp mẹ.
Thoáng thấy bóng mặt người trên xe rất giống mẹ, Hồng liền chạy, đuổi theo bối rối gọi: "Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ… ơi!".
Những tiếng gọi ấy bật ra từ lòng khát khao được gặp mẹ của chú bé bấy lâu nay bị dồn nén. Sự thổn thức của trái tim thơ trẻ bật thành tiếng gọi. Khi đuổi theo được chiếc xe đó, Hồng được lòng bàn tay dịu hiền của người mẹ xoa lên đầu. Hồng oà khóc. Trong tiếng khóc ấy có cả niềm hạnh phúc được gặp mẹ, cả nỗi tủi thân bởi lâu quá không được gặp mẹ, bởi bao niềm cay đắng bị lăng nhục tàn nhẫn cùng những uất ức dồn nén được giải toả.
Mải mê ngắm nhìn và suy nghĩ về mẹ, mải mê say sưa tận hưởng những cảm giác êm dịu khi được ngồi trong lòng mẹ để bàn tay người mẹ vuốt ve.
Trong giây phút này, Hồng như sống trong "tình mẫu tử" hạnh phúc ấy. Hạnh phúc trong lòng mẹ không chỉ là hạnh phúc, là niềm khao khát của riêng Hồng mà là khao khát, là mong muốn của bất kỳ đứa trẻ nào.
Từ lúc lên xe đến khi về nhà, Hồng không còn nhớ gì nữa. Cả những lời mẹ hỏi, cả những câu trả lời của cậu và những câu nói của người cô bị chìm ngay đi – Hồng không nghĩ đến nó nữa…Xem thêm: Tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua Sự xúc động của bé Hồng khi gặp mẹ càng chứng tỏ tình thương mẹ của Hồng là sâu đậm, là nồng thắm, là nguyên vẹn. Bất chấp tất cả sự ngăn cách của rào cản lễ giáo phong kiến hà khắc đối với người phụ nữ nói chung và đối với mẹ Hồng nói riêng.
Tình mẫu tử trong đoạn trích thật đẹp đẽ, thiêng liêng, xúc động. Nguyên Hồng đã mở ra trước mắt chúng ta một thế giới tâm hồn phong phú. Thế giới ấy luôn làm chúng ta ngạc nhiên vì ánh sáng nhân đạo lấp lánh của tình người.
Trong lòng mẹ chính là lời khẳng định chân thành đầy cảm động về sự bất diệt của tình mẫu tử!
Vanmau.edu.vn | Nêu suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng | 1,018 | |
Đề bài: Nêu tóm tắt quan điểm sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Chứng minh sự thể hiện quan điểm ấy qua các sáng tác của người.
Bài làm
Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới, là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.Sinh thời người đã để lại một kho tàng văn chương vô cùng quý giá. Hồ Chí Minh xem văn chương như một nhiệm vụ cách mạng, nhưng cũng sáng tác văn chương để giãi bày tình cảm của Người trước con người, cảnh vật hữu tình nên thơ.
Trước khi đặt bút, Bác thường đặt ra những câu hỏi: Viết để làm gì? Viết cho ai? Viết như thế nào? Mỗi bài viết của Bác đều nhằm phục vụ một mục đích cụ thể,văn phong của Bác như một lưỡi dao sắc nhọn chống lại kẻ thù. Trong suốt thời gian hoạt động cách mạng người đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều đối tượng nên sự nghiệp văn học của người rất đa dạng từ thể loại chính luận đến thơ, văn xuôi. Các tác phẩm nổi bật của người như: Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, lời kêu gọi toàn cuốc khác chiến. Bằng lời văn sắc bén, chặt chẽ, ngôn từ linh hoạt người đã truyền tải đến người đọc tinh thần kiên định, chắc chắn đầy chất “Thép” của người. Ngoài ra, trong các tác phẩm văn học của người còn phải kể đến thể loại thơ, nổi bật nhất là tập thơ:Nhật kí trong tù đc viết năm 1943. Nhật ký trong tù không chỉ ghi lại những cảnh sinh hoạt trong tù, mà còn có ý nghĩa tố cáo chế độ nhà tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ, khó khăn bác phải gánh trên vai trách nhiệm lớn lao và nặng nề nhưng không vì thế mà Người bỏ qua việc sáng tác, Người viết: Nay ở trong thơ luôn có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong Với những lời khẳng định chắc nịch, đanh thép, thơ của người đã mang đến nguồn cảm hứng mới, tinh thần tự hào tự tôn, quyết tâm đánh giặc để giải phóng đất nước.
Xem thêm: Phân tích màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (đoạn trích được học) để làm rõ triết lí nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm
Các tác phẩm văn học của Hồ Chí Minh như một sợi chỉ đỏ dẫn đường đưa cách mạnh Việt Nam đến thắng lợi vẻ vang. Qua đó càng minh chứng cho thấy phong cách sáng tác văn chương đầy chất thép nhưng cũng không kém phần trữ tình, đầy xúc cảm của Nguời. Ví không có cảnh đông tàn Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân Nghĩ mình trong bước gian truân Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
Nguồn: Văn mẫu hay | Nêu tóm tắt quan điểm sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh. Chứng minh sự thể hiện quan điểm ấy qua các sáng tác của người. -văn 12 | 513 | |
Nêu và phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân.
Hướng dẫn
– Giá trị hiện thực:
+ Giá trị hiện thực là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm văn học được tạo nên nhờ vào khả năng phản ánh, khái quát hiện thực cuộc sống của nhà văn. Để khám phá giá trị hiện thực của tác phẩm, người ta thường đặt ra và trả lời các câu hỏi: Truyện miêu tả mảng đời sống nào? Truyện cho ta biết được điều gì về bản chất xã hội, về cuộc sống của con người trong xã hội ấy?…
+ Đọc truyện ngắn Vợ nhặt, ta bắt gặp rất nhiều chi tiết trực tiếp nói về nạn đói năm 1945 – nạn đói đã cướp đi của nước ta một phần mười dân số. Bàn tay của thần chết lúc này vươn toả đi khắp nơi, luồn sâu vào mọi ngõ ngách, đánh gục vô số sinh mệnh sau khi đã xua đuổi họ dạt đi tứ phía: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường". Nhà văn không chỉ tả “màu” của nạn đói mà còn đưa ra những chi tiết thể hiện sự nhận biết về nó bằng khứu giác: “Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. “Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”. Còn đây là ghi nhận của thính giác về một thứ âm thanh kinh rợn đặc trưng của chết chóc: “Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Bằng các chi tiết rất điển hình như trên, tác giả đã giúp ta có được một cảm nhận rất cụ thể bằng tất cả giác quan của mình về cái đại hoạ mà bọn thực dân, phát xít gây nên cho người dân Việt Nam.
Người chết đã đi tới chỗ tột cùng bi thảm của số phận mình. Còn người sống thì sao? Hình như họ cũng đang đứng bên bờ vực của cái chết. Trước đây lũ trẻ xóm ngụ cư cứ đợi Tràng về mỗi chiều là bám lấy anh “reo cười váng lên”. Bây giờ thì chúng không buồn ra đón Tràng nữa mà “ngồi ủ rũ dưới những xó đường”. Chẳng qua chúng đói quá không còn hơi sức mà đùa nghịch nửa đó thôi. Trẻ con đã thế thì hiển nhiên vẻ mặt của người lớn là “hốc hác u tối”, âu lo. Một sự im lặng nặng nề bao trùm lên cuộc sống của xóm ngụ cư. Đi kèm với sự nín lặng là những tiếng thở dài. Thì các nhân vật còn biết làm gì hơn trước “tao đoạn", trước “giời đất này” nữa! Đúng là một thời buổi khốn cùng đã tước đi của con người niềm hi vọng sống, đã biến con người thành một thứ cỏ rác vô giá trị, thành “của nợ đời”. Cứ xem tình cảnh của người “vợ nhặt” thì sẽ rõ. Gập Tràng, chị như người chết đuối vớ được cọc, cứ bám theo anh không còn kể gì ý thức về tự trọng. Xét theo góc độ đang đề cập, đây là một chi tiết hiện thực đến tàn nhẫn. Cũng cay đắng chẳng kém là chi tiết kể về bữa liên hoan mừng dâu mới ở cuối truyện. Dù lúc đó “khối nhà còn chả có cám mà ăn” nhưng nồi cháo cám thì vẫn cứ là nồi cháo cám – đó đâu phải là thức ăn của con người!
Nhưng theo đúng một quy luật ở đời, “cùng” thì tất “biến”. Hiện thực những năm trước Cách mạng tháng Tám không phải chỉ có một màu xám xịt mà còn có những nét sáng tươi. Do viết Vợ nhặt sau Cách mạng, Kim Lân đã có thể nói tới những biến đổi cách mạng trong đời sống xã hội do Đảng Cộng sản đưa lại. Chi tiết về lá cờ đỏ sao vàng dù chỉ xuất hiện thoáng qua ở cuối tác phẩm cũng có tác dụng đưa đến cho người đọc một ấn tượng hoàn chỉnh hơn về bộ mặt xã hội Việt Nam đêm trước cuộc Tổng khởi nghĩa năm 1945.
– Giá trị nhân đạo:
+ Giá trị nhân đạo là một trong những giá trị cơ bản của tác phẩm văn học chân chính, được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng hướng tới những điều tốt đẹp.
Xem thêm: Kể lại câu chuyện Một nhà thơ chân chính+ Đọc Vợ nhặt ta luôn cảm nhận được nhịp đập thổn thức của trái tim nhà văn đằng sau các sự kiện đã trình bày. Dưới ngòi bút của Kim Lân, chỉ một “con đường khảng khiu luồn qua cái xóm chợ” cũng hiện lên với dáng vẻ thân thuộc. Khi tả người, đặc biệt là đám trẻ con, nhà văn càng tỏ rõ thái độ trìu mến và thương cảm. Còn ở đoạn văn nói về tâm trạng của bà con xóm chợ khi thấy bóng một người đàn bà lẽo đẽo theo sau Tràng, ta đọc thấy biết bao cảm xúc bồi hồi. Phải thương, phải hiểu những người dân nghèo lắm mới có thể viết được những dòng nhân hậu và ấm áp dường ấy.
+ Điều cơ bản quyết định giá trị nhân đạo của truyện Vợ nhặt liên quan tới cách nhà văn miêu tả các số phận cụ thể. Đó là Tràng, người “vợ nhặt” và bà cụ Tứ.
. Với Tràng, Kim Lân không muốn biến anh ta thành nhân vật biếm hoạ. Giống như Nam Cao ngày trước, bằng đôi mắt tình thương, ông nhận thấy ở Tràng có một cái gì đó thật đáng trọng. Tràng cũng biết thương người đói khát, chấp nhận để người ta đi theo mình một cách liều lĩnh, biết mơ ước hạnh phúc dù hoàn cảnh hết sức bi đát, nhận thức chín chắn hơn về cuộc sống khi đã có vợ… Tràng là nhân vật có thể đem tới cho độc giả niềm tin về khát vọng sống bền bỉ của con người.
. Với người “vợ nhặt”, ban đầu, Kim Lân đã miêu tả những nét tưởng rất xấu xa, và cứ ngỡ nhà văn đang chế giễu những nét "ngợm” ở con người. Nhưng thực ra, ông hiểu sâu sắc rằng, chính cái đói do bọn thực dân, phát xít gây ra đã đẩy con người tới cảnh phải đánh rơi nhân phẩm. Ông rất tinh tế và nhân hậu khi miêu tả những thay đổi của người “vợ nhặt” kể từ khi cất bước theo Tràng cũng như biểu hiện của chị khi đã về nhà chồng. Qua nhân vật này, Kim Lân đáng được xem là một nhà nhân đạo chủ nghĩa luôn tin vào phẩm chất tốt đẹp và bản năng sống mạnh mẽ của con người.
Ở nhân vật bà cụ Tứ, tư tưởng nhân đạo của ngòi bút Kim Lân lại được biểu hiện ở một khía cạnh mới. Qua nhân vật này, ông muốn biểu dương những vẻ đẹp điển hình của một người mẹ Việt Nam: nhân hậu, yêu thương, lo toan, cả nghĩ. Trước sự kiện Tràng “nhặt” vợ về, trong bà dấy lên một niềm thương xót: thương xót cho số kiếp đứa con trai thua thiệt, thương xót cho người đàn bà vi cùng đường mà trở thành con dâu của mình. Bà còn cảm thấy day dứt vì không làm tròn bổn phận người mẹ. Thái độ của bà đối với con dâu có biết bao sự gượng nhẹ, thân tình, biểu thị niềm cảm thông vô hạn của người trải đời và hiểu người. Có lẽ nhờ thái độ đó mà niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của vợ chồng Tràng càng có thêm dư vị, dù giữa lúc bóng đen của cái đói, của sự chết chóc đang bủa vây quanh họ. Rõ ràng, hoàn cảnh bi đát không thể huỷ diệt được tình người mà chỉ càng làm sáng lên vẻ đẹp của nó.
Do thấm nhuần tư tưởng nhân đạo cách mạng, Kim Lân đã rất chú trọng miêu tả niềm tin của các nhân vật về một tương lai tươi sáng. Thật tự nhiên khi ta thấy bà cụ Tứ bàn định với các con về những chuyện sắp tới, nào chuyện kiếm nứa đan phên để ngăn buồng, nào chuyện mua đôi gà để chúng sinh sôi nảy nở… Quả không có gì có thể ngăn trở được con người vun đắp cho tổ ấm của mình. Đối diện với cái chết, sự sống vẫn kiên trì vươn lên và khẳng định sức mạnh của nó. Cuộc đổi đời tuy còn chưa tới, nhưng tín hiệu của nó thì đã xuất hiện với hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng. Truyện tuy kết thúc ở sự nghĩ ngợi bần thần của Tràng, nhưng độc giả thì tin rằng, những điều
Tràng mơ ước hôm nay, một mai sẽ trở thành hiện thực. Như những tác phẩm thấm nhuần tinh thần nhân đạo khác, truyện Vợ nhặt đã thật sự đem tới cho người đọc niềm lạc quan về cuộc sống.
– Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ nhặt gắn bó chặt chẽ với nhau. Càng hiện thực bao nhiêu thì lòng nhân đạo lại càng được thể hiện cụ thể bấy nhiêu, và ngược lại, càng nhân đạo bao nhiêu thì cái nhìn về hiện thực càng trở nên tỉnh táo và sắc sảo bấy nhiêu.
Nguồn: thêm: Phân tích truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc- Văn 12 | Nêu và phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân. | 1,700 | |
Nêu vắn tắt hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử trọng đại của bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2 – 9 – 1945
Gợi ý
Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 19-8-1945, Hà Nội giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào.
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta và mở ra một kỉ nguyên mới cho đất nước: kỉ nguyên của Độc lập, Tự do và Chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục.
Tuyên ngôn Độc lập được công bố trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: nhân dân ta vừa tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, lập nên một nước Việt Nam mới, nhưng bọn đế quốc, thực dân lại đang âm mưu chuẩn bị chiếm lại nước ta. Chúng nấp sau quân Đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chính Pháp. Thực dân Pháp lại trắng trợn tuyên bố: Đông Dương là đất "bảo hộ" của người Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải thuộc quyền của người Pháp. Trong bối cảnh đó, Tuyên ngôn Độc lập không phải chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào mà còn để nói với thế giới, đặc biệt là với bọn đế quốc, thực dân nhằm bác bỏ dứt khoát những luận điệu đó. Xem thêm: Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nối tiếp – nâng cao của lịch sử dân tộc trong thời đại mới: không chỉ giải quyết được yêu cầu Độc lập cho dân tộc như hai bản Tuyên ngôn Độc lập thời kì phong kiến (Thơ thần ở thế kỉ XI và Bình Ngô đại cảo ở thế kỉ XV) mà còn giải quyết thêm một yêu cầu nữa hết sức quan trọng là Dân chủ cho nhân dân. Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 đã khẳng định một sự thật lịch sử chưa từng có của Cách mạng Việt Nam: "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa". Như vậy, cũng có nghĩa là cùng với chữ Độc lập, Tuyên ngôn đã có thêm chữ Tự do. Đó là tư tưởng lớn, chân lí của thời đại mà sau này Bác đã đúc kết trong câu nói nổi tiếng: "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do".
Tuyên ngôn Độc lập phản ánh khát vọng, sức mạnh và ý chí quyết tâm giành và giữ vững độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Nó là áng thiên cổ hùng văn của thời đại mới.
Vanmau.edu.vn | Nêu vắn tắt hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa lịch sử trọng đại của bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2 – 9 – 1945 | 650 | |
Nêu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nam Cao. Kể tên những tác phẩm được xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn trước, và sau Cách mạng tháng Tám (ghi rõ năm xuất bản)
Gợi ý
DÀN BÀI CHI TIẾT
– Nam Cao (1917 – 1951) – tên thật là Trần Hữu Tri – là nhà văn có vị trí hàng đầu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. Là một trong những đại diện xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước 1945, Nam Cao cũng là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới sau Cách mạng.
– Sáng tác trước Cách mạng của Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính: người trí thức nghèo và người nông dân nghèo.
+ Ở đề tài trí thức tiểu tư sản nghèo, đáng chú ý nhất là các truyện ngắn: Những truyện không muốn viết, Trăng sáng, Đời thừa, Cười, Nước mắt, Mua nhà… và tiểu thuyết Sống mòn. Trong khi miêu tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, bế tắc của những nhà văn nghèo, những ông "giáo khổ trường tư", học sinh thất nghiệp… Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của họ, những con người có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn sông có hoài bão, phát triển nhân cách nhưng cứ bị gánh nặng cơm áo hàng ngày làm cho "chết mòn" về tâm hồn. Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
+ Trong đề tài nông dân, đáng chú ý nhất là các truyện: Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu văn, Một bữa no, Lão Hạc, Một đám cưới, Dì Hảo, Nửa đèm… ở một số truyện viết về người nông dân lưu manh hóa, nhà vãn kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả nhân tính của những con người vôn có bản tính lương thiện đó.
– Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến. Truyện ngắn Đôi mắt (1948), Nhật kí ở rừng (1948) và tập kí sự Chuyện biên giới (1950) của ông thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của nền văn học mới sau Cách mạng còn rất non trẻ khi đó.
– Những tác phẩm được xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao.
+ Trăng sáng (1943), Đời thừa (1943)
+ Đôi mắt (1948).
– Là cây bút có cái gốc nhân đạo rất sâu và một tài năng độc đáo bậc thầy, Nam Cao xứng đáng được coi là một nhà văn lớn. Chí Phèo và nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết của ông thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của văn xuôi Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Nêu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nam Cao. Kể tên những tác phẩm được xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn trước, và sau Cách mạng tháng Tám (ghi rõ năm xuất bản) | 480 | |
Nêu xuất xứ, chủ đề, thể thơ bài ‘Côn Sơn ca’của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Xuất xứ:
Nhiều bài thơ trong ‘ức Trai thi tập’, ‘Quốc âm thi tập’, Nguyễn Trãi đều nói đến Côn Sơn ‘quê cũ’ của mình. Đọc bài thơ, ta biết ông viết ‘Côn Sơn ca’ sau khi đã thoát vòng danh lợi, về ở ẩn tại suối rừng Côn Sơn. ‘Côn Sơn ca’ nằm trong phần cuối tập thơ chữ Hán ‘ức Trai thi tập’.
Chu đề:
‘Côn Sơn ca’là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp có suối, đá, trúc, thông để nhà thơ di dưỡng tinh thần, đồng thời nói lên những suy nghĩ về danh lợi, về hiền ngu, về nhục vinh trong cuộc đời, qua đó đề cao triết lí thanh nhàn trong sạch. Có
thể nói ‘Côn Sơn ca’là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lí về cuộc đời.
Thể thơ:
‘Cồn Sơn ca’gồm có 30 câu thơ chữ Hán, trong đó thơ 4 chữ có bốn câu; thơ 5 chữ có tám câu; thơ 7 chữ có 14 câu; thơ 8 chữ có ba câu; thơ 10 chữ có một câu.
Bản dịch thơ chỉ có 26 câu thơ lục bát.
Đoạn thơ trích trong’Ngữ Văn 7’ có 12 càu thơ chữ Hán, dịch thành tám câu thơ lục bát.
Chữ Hán: ‘ngô’ nghĩa là ‘ta’. Phần đầu có 4 chữ ‘ngô’.
– ‘Ngô dĩ vi cầm huyền’
(Ta lấy làm đàn cầm)
– ‘Ngô dĩ vi đạm tịch’
(Ta lấy làm chiếu thảm)
– ‘Ngô ư thị hồ yến tức kì trung’
(Ta tha hồngơi nghỉở trong)
– ‘Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kì trắc’
(Ta tha hồ ngâm nga bên gốc)
Lúc cảm thụ, bải thơ các em nên chú ý đến chữ ‘ta’ – nhân vật trữ tình đó.
Phân tích 12 câu đầu bài ‘Côn Sơn ca’ của Nguyễn Trãi.
Phiên âm.
Côn Sơn ca
Nguyễn Trãi
Côn Sơn hữu tuyền,
Kì thanh lãnh lãnh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
Vạn lí thúy đồng đồng,
Ngô ư thị hồ yển, tức kì trung. Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thi hồ ngâm tiếu kì trắc. (…)
Dịch nghĩa.
Bài ca Côn Sơn
Côn Sơn có suối,
Tiếng nước chảy róc rách,
Ta cho là đàn cẩm.
Côn Sơn có đá,
Mưa rửa rêu phô biếc,
Ta cho là đệm chiếu.
Trong núi có thông,.
Muôn dặm chiếc lọng xanh rủ bóng, Ta tha hồ nghỉ ngơi ở trong đố. Trong rừng có trúc,
Nghìn mẫu vẻ xanh mát rượi,
Ta tha hồ ngâm nga ỏ bên cạnh.
(…)
Dịch thơ.
Bài ca Côn Sơn
Nguyễn Trãi
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong rừng thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
(…)
(‘Thơ văn chữ Hán Nguyễn Trãi- NXB Văn Hóa, 1962)
Gợi ý phân tích
Bài thơ ‘Côn Sơn ca’ rút trong tập thơ chữ Hán ‘ức Trai thi tập’. Nguyễn Trãi viết bài thơ này trong những năm cuối đời, khi đã về Côn Sơn ở ẩn:
‘Sào, Do bằng có tái sinh,
Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn’
‘Côn Sơn ca’viết theo thể điệu ‘ca khúc’ cổ điển, gồm có 36 câu thơ chữ Hán, câu ngắn nhất bôn chữ, câu dài nhất mười chữ, phần lớn là câu ngũ ngôn, thất ngôn. Dịch giả đã chuyển điệu, chuyển thể thành 26 câu thơ lục bát; một bản dịch thơ khá hay về ‘Bài ca Côn Sơn’.
Đoạn thơ sau đây là phần đầu 12 câu trong ‘Côn Sơn ca’ được dịch thành tám câu thơ lục bát nói về vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên Côn Sơn và thề hiện niềm yêu thích, say mê của ức Trai được giao hòa giao cảm với suối, đá và thông, trúc:
‘Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’
Xem thêm: Phân tích màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (đoạn trích được học) để làm rõ triết lí nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắmCôn Sơn là dãy núi ở xã Chi Ngại, thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Tướng công Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, đã nhiều năm ở ẩn tại động Thanh Hư trong dãy núi Côn Sơn. Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi đã nhiều năm sống với mẹ và ông ngoại tại đây. Vì thế, nhà thơ coi Côn Sơn là ‘quê cũ’ với bao tình mến thương:
‘Quê cũ nhà ta thiếu của nào,
Rau trong nội. cá trong ao.
' (…) Cảnh thanh dường ấy về chăng nghỉ,
Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?’
(‘Mạn thuật’ -13)
‘Côn Sơn ca’ là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thê sự, triết lí về cuộc đời, về nhân sinh.
Đoạn thơ cấu trúc tứ bình, thể hiện vẻ đẹp hài hòa của thiên nhiên: suối, đá, tùng, trúc. Cứ ba câu thơ nồi lên một cảnh đẹp Côn Sơn. Cảnh thư nhất là suối. Tiếng nước chảy cứ róc rách mà nhà thơ thích thú ‘cho là đàn cầm’. Nhạc của suối để mua vui những tháng ngày ở ẩn. Ân dụ ‘đàn cầm’ biểu lộ niềm vui giao cảm với suối, coi suối là mảnh tâm hồn của ‘ta’:
‘Côn Sơn hữu tuyền,
Kì thanh linh linh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền’
(Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai)
Cảnh đẹp thứ hai là đá. Đá được mưa xối làm cho phẳng lì, rêu phô màu xanh biếc, ‘ta cho là đệm chiếu’. Đá đã trở thành một phần cuộc đời ức Trai, để làm chiếu thảm, nghỉ ngơi ngồi ngắm cảnh suối rừng. Các từ ngữ ‘Côn Sơn có’, ‘ta cho là…’ được điệp lại hai lần, làm cho nhạc điệu bài ca trở nên du dương trầm bổng, biểu lộ niềm vui thú, say mê. Ân dụ ‘đệm chiếu’ (đạm tịch) thế hiện một tâm thế nhàn:
‘Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô hích,
Ngô dĩ vi đạm tịch’
(Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm’
Cảnh đẹp thứ ba là thông. Đã bao đời nay, thông Côn Sơn đã đi vào lịch sử và hồn người. Thông bát ngát như ‘muôn chiếc lọng xanh rủ hóng’, là nơi ‘la tha hồ nghỉ ngơi…’. Bóng thông, màu xanh của thông như chở che. Nhà thơ ngắm thông, đốn với thông với bao niềm vui thỏa thích, tin cậy:
‘Nham trung hữu tùng,
Vạn lí thúy đồng đồng,
Ngô ư thị hồ yểm tức kì trung’
(Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi hóng mát ta lên ta nằm)
An dụ ‘muôn dặm chiếc lọng xanh rủ hóng’ là một hình tượng mĩ lệ gợi cảm. Thông tượng trưng cho đấng trượng phu coi thường sương tuyết đã trở thành tri kỉ của nhà thơ.,,
Cảnh đẹp thứ tư là trúc. Trúc Côn Sơn điệp trùng nghìn mẫu, xanh một màu xanh mát rượi. Dưới gốc trúc, bóng trúc, ‘ta tha hồ ngâm nga’. Màu xanh của trúc đã tỏa mát tâm hồn ức Trai. Trúc quân tử đã trở thành bạn tri âm, san sẻ, cảm thông niềm vui nỗi buồn của ‘ta’ trong những tháng ngày về Côn Sơn ở ẩn:
‘Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kì trắc’
(Trong rừng có hóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn’
Nếu phần sau bài ca mang tính triết lí biểu lộ một nhân cáchcao khiết của kẻ sĩ, thì phần đầu lại dào dạt chất trữ tình. Suối, đá, thông, trúc là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân giao hòa giao cảm, để ‘ta cho là đàn cầm’, để ‘ta cho là đệm chiếu’, để ‘ta tha hồ nghỉ ngơi’ trong rừng thông, để’ta tha hổ ngâm nga’ giữa nghìn mẫu trúc. Các ẩn dụ tạo nên những hình tượng mĩ lệ: suối là đàn cầm, đá là đệm chiếu, thông là những chiếc lọng xanh rủ bóng, trúc là nghìn mẫu vẻ xanh mát rượi. Hình tượng thơ là âm thanh của khúc nhạc rừng, là màu xanh bất tận của núi rừng, của thiên nhiên, của sự sống; tất cả đã gắn liền với cảm giác, với tâm hồn ức Trai bằng bao liên tưởng thiết tha đằm thắm. Một cách viết trùng điệp tài hoà. Chữ ‘ta’ xuất hiện bôn lần, kết hợp với các điệp ngũ: ‘Côn Sơn có…’, ‘trong núi có…’, ‘trong rừng có…’, ‘ta cho là…’, ‘ta tha hồ…’ đã tạo nên âm điệu, nhạc điệu trầm bổng, du dương, thiết tha của ‘Bải ca Côn Sơn".
‘Ta’ là chủ thể trữ tình của bài ca, chính là ức Trai tiên sinh. "Thiên nhiên là ta, ta cũng là thiên nhiên; suối, đá, thông, trúc của Côn Sơn với Nguyễn Trãi chỉ •là một. Chữ ‘ta’ trong thơ Nguyễn Trãi rất hồn nhiên, dung dị và biểu cảm:
‘Ầu lộ cùng ta dường có ý,
Đến đâu thì thấy nó đi theo’
(‘Tự thán’-31)
‘Rùa nằm hạc lẩn vui bè ban,
Ú ấp cùng ta làm cái con’
(‘Ngôn chí – 20)
(Âu lộ: âu là chim biển, lộ là con cò; Cái con là mẹ con)
Nhạc của ‘Bài ca Côn Sơn’ là nhạc của tâm hồn, một tâm hồn thanh cao và trong sạch. Có thể nói ‘Côn Sơn ca’ là bài ca của sự sống; sự sông được ướp hương sắc của suối rừng đất nước quê hương.
Nguồn: thêm: Người ta có thể rút ra nhiều bài học khác nhau từ một câu chuyện ngụ ngôn. Hãy làm sáng tỏ điều đó qua một truyện ngụ ngôn mà anh (chị) đã được học | Nêu xuất xứ, chủ đề, thể thơ bài ‘Côn Sơn ca’của Nguyễn Trãi | 1,627 | |
Nêu xuất xứ, thể thơ và chủ đề bài thơ Nam quốc sơn hà
Hướng dẫn
Trong lúc cuộc giao tranh đang diễn ra dữ dội và ác liệt, giữa đêm khuya từ đền Trương Hống Trương Hát có tiếng thơ văng vẳng cất lên:
‘Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lổ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư’
Bài thơ vốn không có nhan đề; vẫn được gọi là bài thơ ‘Thần’. Nhan đê ‘Nam quốc sơn hà’ là do các nhà văn học, sử học sau này đặt ra. Tương truyền bài thơ này do Lí Thường Kiệt viết ra, để khích lệ và động viên ba quân, tướng sĩ quyết chiến quyết thắng quân xâm lược.
‘Nam quốc sơn hà’được viết bằng chữ Hán, theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, luật trắc (chữ thứ 2 là quốc -> trắc), có ba vần bằng: ‘cư – thư – hư’.
Cụ Lè Thước và cụ Nam Trân đã dịch thành thơ thất ngôn tứ tuyệt, luật bằng (Núi sông -> sông là bằng), vần trắc: ở – sở – vỡ. Núi sông cũng có nghĩa như sông núi. Nếu viết thành: ‘Sông núi nước Nam vua Nam ở’ như sách Ngữ Văn 7 cửa NXB Giáo dục là sai luật thơ. Đây là bản dịch thơ của hai cụ:
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xử sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất định phải tan vỡ’
(Theo ‘Thơ văn Lý – Trần’, tập I)
Chủ đề:
Bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ tự hào khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Đại Việt, căm thù lên án giặc Tống xâm lược, và chỉ rõ quân giặc sẽ thất bại thảm hại.
‘Nam quốc sơn hà’mang ý nghĩa lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước ta.
Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến | Nêu xuất xứ, thể thơ và chủ đề bài thơ Nam quốc sơn hà | 327 | |
Nêu ý kiến của em về vẻ đẹp của bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen
Gợi ý
Ca dao là tiếng nói tình cảm thể hiện đời sống tinh thần phong phú của nhân dân lao động. Đó là tấm lòng đối với người thân, với quê hương đất nước. Trong số những bài ca dao được sáng tác bởi nhân dân và được lưu truyền bởi nhân dân có không ít những kiệt tác. Bài ca dao sau là một trong số đó, không chỉ lấp lánh vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn ánh lên vẻ đẹp trong tâm hồn con người:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Bài ca dao mở ra hình ảnh một đầm sen bát ngát. Đã là đầm sen thì hẳn hoa sen là thứ đẹp đẽ nhất:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen"
Câu ca dao có dáng dấp của một câu hỏi "gì đẹp bằng sen" nhưng thực chất đó là một lời khẳng định: Trong đầm không có gì đẹp bằng sen, sen là đẹp nhất. Cách sử dụng câu hỏi tu từ như vậy bộc lộ niềm kiêu hãnh, tự hào về vẻ đẹp hiếm có của hoa sen.
Vậy sen đẹp như thế nào?
"Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh"
Những bộ phận, chi tiết của sen được ngắm nghía, nhận xét khá khắt khe từ "lá", "bông" đến "nhị". Màu sắc của chúng rất sắc nét, rõ ràng "Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng". Màu xanh, màu trắng, màu vàng. Câu ca dao hoàn toàn tả thực đồng thời làm nỗi bật những sắc màu tự nhiên, hài hoà của sen. Từ "lại" nhấn mạnh đến sự phong phú, hài hoà rất tự nhiên, giản dị và cũng rất đẹp đẽ ấy. Câu ca dao tiếp hoàn toàn không có ý mới, chỉ là nhắc lại ý trên có đảo trật tự các cụm từ: "Nhị vàng, bông trắng, lá xanh". Vừa trên, bông hoa được ngắm nhìn từ ngoài vào trong, đến đây lại được ngắm từ trong ra ngoài. Sự xem xét ấy kĩ lưỡng, tỉ mỉ lắm, các vế câu đối nhau rất nhịp nhàng, được tách riêng ra bởi dấu phẩy (,); tưởng như người ngắm lật từng phần của sen mà chiêm ngưỡng vậy. Đến lần thứ hai này, sắc màu của sen không hề thay đổi, vẫn là những sắc màu rất giản dị và tự nhiên như thế. Hai câu ca dao lặp lại ý khiến người đọc tò mò về chủ định của tác giả. Và câu cuối cùng đã tháo gỡ những thắc mắc ấy:Xem thêm: Phân tích văn bản Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải
"Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
Ý thơ mới tuyệt vời làm sao! Từ những sắc màu tươi tắn, thanh khiết của sen, tác giả dân gian liên tưởng đến sự trong sạch đến kì diệu của loài hoa này: gần chốn đầm lầy bùn đọng hôi tanh nhưng không hề bị cái ô uế làm cho phai hương nhạt sắc. Thì ra, việc người thưởng hoa ngắm nghía, xem xét bông hoa kĩ lưỡng đến nhường kia là để chắc chắn về cái chất của nó. Khi sự xác minh đã hoàn tất, hoa sen đã vượt qua sự kiểm định khắt khe nhất và được vinh danh trong câu ca dao khép lại của bài: "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Nhưng bài ca dao không dừng lại ở việc ngợi ca loài hoa thân quen của chốn hương đồng gió nội. Ẩn sau đó là những tầng nghĩa sâu xa. Bùn trong đầm hôi tanh là có thực. Nhưng vẻ đẹp thuần khiết của hoa sen cũng là thực. Và trong cái nắng oi bức của trưa hè, mùi thơm ngát hương của sen còn khiến ta quên đi mùi bùn kia nữa. Khi đó, sự thanh cao đã lấn át, đã chiến thắng cái thấp hèn, nhỏ mọn. Không chỉ vậy, hoa sen còn là loài hoa rất gần gũi, thân thiết với đời sống lao động và sinh hoạt của người nông dân Việt Nam. Bởi vậy, ngợi ca hoa sen còn là thầm kiêu hãnh tự hào về vẻ đẹp tiềm ẩn của bản thân mình. Hoa sen đã trở thành hình ảnh ẩn dụ cho cả một giai cấp, cả một dân tộc. Con người Việt Nam dẫu nghèo đói, bần hàn, dẫu bị áp bức bóc lột rồi bị đẩy đến đáy cùng xã hội nhưng vẫn giữ được những bản chất tốt đẹp lương thiện. Nhắc đến đây, ta chợt nhớ đến những chị Dậu, lão Hạc… trong các thiên truyện đầu thế kỉ XX.Xem thêm: Nói và làm trong cuộc sống"Trong đầm gì đẹp bằng sen" là một bài ca dao hay và đẹp không chỉ ở hình ảnh thơ mà còn ở những lớp nghĩa sâu sắc, giàu tính nhân văn. Bài ca dao đã khép lại nhưng dư âm về một loài hoa diệu kì vẫn còn đó chính bởi vẻ đẹp giản dị, trong sáng và thanh cao của mình, hoa sen đã được chọn làm biểu tượng cho tâm hồn, tính cách người Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Nêu ý kiến của em về vẻ đẹp của bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen | 892 | |
Đề bài: Nêu ý kiến về câu tục ngữ “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”
Bài làm
Ca dao, tục ngữ nằm trong kho tàng dân gian Việt Nam. Nó đúc kết những kinh nghiệm thực tế của xã hội của cuộc sống lao động sản xuất. Thể hiện những hình ảnh gần gũi, giản dị của người nông dân thời xưa
“Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”
Câu thơ này nhằm nhắn nhủ con cháu hãy trân trọng những thứ mình có không nên mượn của người khác, dù cái ta mượn có thể tốt hơn nhưng cũng chỉ là thứ mượn mà thôi.
Ao ta? thể hiện sự sở hữu của mình, chủ quyền của mình. “Trong và đục” thể hiện sự xấu tốt của vật mình sở hữu.
Trong cuộc sống thực tế cái gì của mình mình sử dụng vẫn tốt hơn là của đi mượn. Vì đi mượn thì cũng tới lúc chúng ta phải trả lại cho người ta mà thôi.
Bên cạnh đó, nếu mở rộng vấn đề thì nó còn thể hiện sự tin tưởng về hàng hóa tiêu dùng nội địa, nhằm ám chỉ cái gì của mình làm ra cũng tốt hơn, những sản phẩm bên ngoài. Chính vì vậy, nhà nước ta khuyến cáo rằng “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”
Câu nói này có cái đúng nhưng cũng có mặt còn thiếu sót hạn chế, vì hiện nay khi xã hội mở cửa nhiều mặt hàng ngoại nhập vô cùng tốt về chất lượng, giá cả hợp lý khiến người dân cảm thấy ưng ý, mẫu mã lại phong phú. Trong khi đó, hàng nội địa mẫu mã ít, mà giá cả lại cao vì toàn là hàng xuất khẩu.Xem thêm: Nghị luận xã hội về danh và thực
Nếu cứ khư khư giữ thói bảo thủ lạc hậu “Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” thì hơi có phần cực đoan. Vì vậy, trong xã hội hiện đại chúng ta nên sử dụng câu tục ngữ này trong trường hợp cụ thể không phải trường hợp nào cũng đúng.
Có nhiều phương thức sản xuất trong nước đã trở nên cũ kỹ cần phải nhập những kỹ thuật mới, tối tân của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm và phương thức sản xuất mới phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, không nên khư khư giữ tư tưởng lạc hậu cũ.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Nêu ý kiến về câu tục ngữ “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”- văn lớp 7 | 418 | |
Nói lên cảm nghĩ về bài thơ Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận.
Hướng dẫn
Năm 980, Lê Đại Hành được tướng sĩ và triều đình tôn lên làm vua, mở đầu triều đại nhà Tiền Lê. Năm 981, Lê Đại Hành đại phá giặc Tống xâm lược, năm sau đánh dẹp Chiêm Thành, mở ra một thời kì mới: thái bình cho đất nước.
Bài thơ “Quốc tộ ” có lẽ được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử như thế. Đỗ Pháp Thuận không chỉ nói về vận nước mà còn nhắc khẽ nhà vua phải làm gì, làm như thếnào để mở ra cảnh thái bình, thịnh trị cho đất nước.
Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ nhẹ nhàng, thâm trầm:
''Quốc tộ như đằng lạc,
Nam Thiên lí thái bình.
Vô vi nơi điện các,
Xứ xứ tức đao binh”
Câu thơ đầu là một so sánh: “Quốc tộ như đằng lạc”. Vận nước như dây leo quấn quýt gợi tả sự vững bền của một đất nước; trăm họ muôn dân một lòng hướng về nhà vua. Vận nước có lúc suy vong, có lúc hưng thịnh. So sánh vận nước như mây quấn, như dây leo, một lời nói cụ thể ngợi ca đất nước bền vững.
Câu thơ nói rõ vận nước bền vững như thế nào? Đó là cảnh tượng “Nam Thiên lí thái bình”, đất nước Nam được thái bình. Giặc ngoại xâm đã bị đánh tan, giậc dã trong nước đã bị đánh dẹp, khắp mọi nơi của trời Nam được yên vui thái bình.
“Vận nước như mây quấn,
Trời Nam mở thái bình”
Câu thơ thứ hai chữ Hán cất lên, vang lên như một lời ca: “Nam Thiên lí thái bình Nam Thiên được nói tới chính là “Nam quốc sơn hà ” của nhân dân ta. Vần thơ như nén chặt lại, cảm xúc như lắng xuống sâu sắc, thâm trầm.
Xem thêm: Kể về một lần em mắc lỗi khiến mẹ buồn và nêu những suy nghĩ của em về điều đóHai câu 3, 4 kết cấu theo quan hệ điều kiện – kết quả. Nơi điện các phải vô vi là điều kiện. Khắp mọi nơi tắt hết đao binh là kết quả:
“Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh
(Vô vi trên điện gác,
Chốn chốn tắt đao binh).
“Vô vi’’ nghĩa đen là không làm gì cả. Ởnơi cung điện, nhà vua nhẹ sưu thuế, giảm bớt việc binh dịch, quan tâm đến sản xuất, mở mang việc học hành, đem lại no ấm yên vui cho trăm họ… thì đó là "vô vi”. Trái lại, nơi cung điện vua chúa sống xa xỉ, hoang dâm vô độ… thì không phải là “vô vi”.Bậc thánh đế, minh quân trị nước mới biết “vô vi ”. Có vô vi nơi điện gác thì khắp chốn cùng quê, nơi thôn cùng ngõ vắng mới không còn tiếng sầu muộn oán hờn, không còn cảnh loạn lạc nữa, việc binh đao được chấm dứt.
Có thể nói hai câu cuối bài thơ là kế dựng nước mà Đỗ Pháp Thuận tâu lên vua Lê Đại Hành. Lời thơ thể hiện ước vọng, nguyện vọng sâu xa của nhân dân ta thời bấy giờ: muốn đất nước thịnh trị, nhân dân được sống yên vui, thái bình.
Bài thơ thể hiện một cái tầm cao về chính trị trong sách lược dựng nước, biểu lộ một tấm lòng yêu nước, thương dân, một niềm khao khát hoà bình, một niềm tin về vận nước vững bền, thịnh vượng.
Hơn một nghìn năm trôi qua, bài thơ “Quốc tộ” của Đỗ Pháp Thuận vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa. Vận nước thời Tiền Lê là thái bình, là tắt đao binh. Vận nước ngày nay là đổi mới, dân giàu nước mạnh, hiện đại hoá, công nghiệp hóa đất nước.
Nguồn: thêm: Nghị luận xã hội về Bệnh vô cảm trong xã hội hiện nay | Nói lên cảm nghĩ về bài thơ Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận. | 660 | |
Nói lời đáp của em trong 3 trường hợp sau
Gợi ý
Đề 1: Nói lời đáp của em trong trường hợp: Em quên chiếc áo mưa trong lớp, quay lại trường để lấy. Bác bảo vệ sắp đi nghỉ, thấy em xin vào, bác mở cửa nói: "Cháu vào đi!"
Bài làm
– Cháu cảm ơn bác. Cháu vào một tý rồi sẽ ra ngay.
– Cháu cảm ơn bác. Cháu làm phiền bác quá.
– Cháu xin lỗi đã làm bác phải mất công quá.
Đề 2: Nói lời đáp của em trong trường hợp: Em mời cô y tá ở gần nhà tới tiêm thuốc cho mẹ. Cô y tá nhận lời: "Cô sẽ sang ngay".
Bài làm
– Cháu cảm ơn cô. Cháu xin phép về trước ạ.
– Ôi! Cháu cảm ơn cô rất nhiều.
– Cháu cảm ơn cô. Cô ơi, cháu về trước, cô sang sau nhé.
Đề 3: Nói lời đáp của em trong trường hợp: Em mời bạn đến chơi nhà. Bạn nhận lời: “Ừ, đợi tớ xin phép mẹ đã".
Bài làm
– Ừ, cậu vào xin phép mẹ đi. Tớ đợi.
– Đúng đấy! Có cần tớ cùng vào xin phép mẹ cậu không?
– Cậu nói đúng đấy. Hay để tớ cùng vào xin phép mẹ cậu nhé!
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Cảm nghĩ về tình bạn hay nhất | Nói lời đáp của em trong 3 trường hợp sau | 212 | |
Nói lời đáp của em trong những trường hợp sau
Gợi ý
Đề 1: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau:
– Mẹ ơi, đày có phải là con hươu sao không ạ?
– Phải đấy, con ạ!
Bài làm
– Ôi, nó xinh quá. Con thích lắm mẹ ạ!
– Ôi, thích thế. Nhìn nó dễ thương hơn trên ti vi nhiều mẹ nhỉ?
Đề 2: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau:
– Con báo có trèo cây được không ạ?
– Được chứ! Nó trèo giỏi lắm.
Bài làm
– Thế cơ ạ? Thế nó còn giỏi hơn cả chúa sơn lâm đấy mẹ nhỉ?
– Ôi, nó giỏi quá mẹ nhỉ?
Đề 3: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau:
– Thưa bác, bạn Lan có nhà không ạ?
– Có. Lan đang học bài ở trên gác.
Bài làm
– Dạ thế ạ. Bác cho phép cháu lên gặp bạn ấy một chút ạ.
– May quá. Xin phép bác cho cháu gặp bạn ấy được không ạ.
Đề 4: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau:
– Cô làm ơn chỉ giúp cháu nhà bác Hạnh ở đâu ạ?
– Rất tiếc, cô không biết, vì cô không phải là người ở đây.
Bài làm
– Không sao đâu ạ. Để cháu hỏi người khác vậy.
– Ôi, thế ạ? Cháu xin lỗi. Cháu chào cô ạ.
Đề 5: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau:Xem thêm: Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành– Bố ơi, bố có mua được sách cho con không ạ?
– Bố chưa mua được đâu.
Bài làm
– Dạ, không sao đâu ạ. Khi nào tiện, bố mua cho con nhé.
– Dạ, thế ạ. Bô không phải vội đâu. Con cũng chưa cần ngay mà.
Đề 6: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau:
– Mẹ có đỡ mệt không a?
– Mẹ chưa đỡ mấy.
Bài làm
– Mẹ đừng lo nhé. Mẹ cứ nằm nghỉ chắc ngày mai sẽ đỡ thôi.
– Thế mẹ cứ nghỉ ngơi cho chóng khỏi. Mọi việc đã có con và bố làm rồi.
Đề 7: Nói lời đáp trong các đoạn đối thoại sau:
– Hương cho tớ mượn cái tẩy nhé?
– Ừ.
Bài làm
– Cảm ơn bạn.
– Cảm ơn bạn nhiều, dùng xong tớ trả bạn ngay.
Đề 8: Nói lời đáp trong các đoạn đối thoại sau:
– Em cho anh chạy thử cái tàu thủy của em nhé?
– Vâng.
Bài làm
– Ôi, thích quá. Cảm ơn em.
– Cảm ơn em. Em ngoan lắm.
– Em ngoan lắm! Khi nào mẹ về anh sẽ khoe với mẹ.
Vanmau.edu.vn | Nói lời đáp của em trong những trường hợp sau | 419 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.