text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Nói những điều em biết về bức tranh vẽ cảnh làng quê Bắc Bộ
Gợi ý
Làng quê Bắc Bộ bao giờ cũng hiện lên đầy đủ và quen thuộc với luỹ tre xanh, với cây đa, bến nước, con đò…. Bức tranh thêu của gia đình em cũng vậy. Tuy chỉ phác hoạ một góc của làng quê Bắc Bộ nhưng dường như đã thâu tóm được cả phần hồn. Một nếp nhà ngói đỏ đơn sơ ẩn mình dưới bóng tre xanh tươi mát. Có chú trâu ngủ trưa, nằm mơ màng trông đến ngộ. Con đường làng khoác tâm áo màu nâu quanh co rẽ về các xóm. Bên cạnh, dòng sông nhỏ nước chảy hiền hoà. Màu xanh của nước, màu xanh củà tre, màu xanh của bầu trời… Tất cả hoà quyện tạo nên không gian xanh trong lành, mát mẻ. Chỉ nhìn bức tranh thôi em đã mong ước có thế được sông ở nơi thanh bình như thế.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Hãy tìm đọc trọn vẹn “Rôbinxơn Cruxô” và cho biết cảm nghĩ của em về nhân vật trong cuốn truyện | Nói những điều em biết về bức tranh vẽ cảnh làng quê Bắc Bộ | 184 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ Bác Hồ bên ao cá của Người
Gợi ý
Buổi triển lãm tranh nghệ thuật của các hoạ sĩ nhí vừa kết thúc. Gây ấn tượng sâu sắc nhất đổì với em là bức tranh vẽ Bác Hồ và ao cá của Người. Ngắm nhìn bức tranh em thày lòng mình xao xuyến bồi hồi. Em bỗng nhớ tới hình ảnh của Bác trong những vần thơ cô giáo giảng trên lớp. Bộ quần áo nâu, đôi dép cao su, bước chân thong thả trên lối mòn quen thuộc. Bác đến bên ao cá của mình. Có những chú cá vàng táo tợn mừng quýnh nhảy vọt lên khỏi mặt nước như để đón chào Bác. Có những chủ thì như có vẻ thẹn thùng chỉ khẽ quẫy mình rồi nhẹ nhàng bơi lượn dưới mặt nước. Những chú cá vàng lần lượt “chạy” lại, đến bên Bác, rồi lại lần lượt uô’n mình lượn ra xa để nhường chỗ cho những chú cá khác, trông giống như một màn chào hỏi. Khi Bác thả thức ăn xuống, các chú lại lao tới, những chiếc mồm nhỏ xinh xinh tớp lấy mồi, trông rất duyên dáng nhịp nhàng. Đàn cá trong tranh, đang bơi lội giống như một dàn nhạc có được một nhạc trưởng tài hoa. Bức tranh thật sinh động và hấp dẫn.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một cô giáo cũ của em | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ Bác Hồ bên ao cá của Người | 244 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ cảnh ruộng đồng
Gợi ý
Nhìn vào bức tranh em như nhìn thấy chính làng quê của mình. Cuộc sống lao động của gia đình em như hiện ra trước mắt em. Một cánh đồng lúa bạt ngàn trải rộng trông như một tấm thảm vàng óng đượm mùi thơm của mùi lúa chín. Cảnh lao động ngày mùa thật tấp nập, đông vui. Phía trên bức ảnh là màu hồng của phương đông đang báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Phía dưới bức tranh là đoàn người đàng kéo nhau háo hức ra đồng để thu hoạch lúa. Đằng sau họ, những chú trâu đồng đang đủng đỉnh bước từng bước đi thong thả. Mấy chú cún con nhũng nhoẵng chạy theo đằng sau, ngoe ngoảy chiếc đuôi ngắn cũn của mình như đang chúc mừng thành quả lao động của những người nông dân
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một nghệ sĩ hài mà em yêu thích | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ cảnh ruộng đồng | 168 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh về vịnh Hạ Long
Gợi ý
Vịnh Hạ Long là một di sản thiên nhiên thế giới. Thật tuyệt vời nếu ai đã từng một lần đến với vịnh Hạ Long. Chỉ nhìn bức tranh thôi mà lòng em thấy dâng trào cảm xúc, thèm được đến với Hạ Long, con Rồng của đất Việt. Một khung cảnh đất trời bao la, xanh mát một màu hiện ra trước mắt em. Những hòn đảo lớn nhỏ lớp lớp ẩn hiện trong sự huyền ảo của nước trời. Thiên nhiên ấy thật quyến rũ lòng người.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một tiết mục biểu diễn xiếc chó | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh về vịnh Hạ Long | 114 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức ảnh chụp cảnh bình minh
Gợi ý
Nhà em có treo một bức ảnh chụp cảnh mặt trời đang mọc ở phương đông. Toàn bức ảnh là một màu hồng rực rỡ. Mặt trời thì tròn xoe giống như chiếc đĩa mẹ vẫn đựng thức ăn, đang nhô lên báo hiệu một ngày mới sắp bắt đầu. Mỗi khi nhìn vào ảnh em cảm thấy rất ấm áp. Bởi mặt trời chính là nơi ươm mầm của sự sống. Em rất thích ngắm nhìn bức ảnh đó.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết về tác phẩm Nhật ký trong tù, sách giáo khoa Văn 12 khẳng định: "Có thể xem Nhật ký trong tù... Chủ tịch Hồ Chí Minh". Anh (chị) hãy trình bày cảm nhận của mình về bức chân dung "con người tinh thần” của Bác qua tập thơ tù. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức ảnh chụp cảnh bình minh | 146 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh tứ quý
Gợi ý
Đó là bức tranh tứ quý của nhà ông em. Bức tranh vẽ cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với những đặc trưng riêng của từng mùa. Đại diện cho bốn mùa là bốn loài cây khác nhau: tùng, cúc, trúc, mai. Bốn loài cây ấy tiêu biểu cho những vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết, sang trọng và duyên dáng của con người, vẻ đẹp ấy làm nên nét đẹp truyền thống vĩnh viễn không bao giờ mất đi trong tâm hồn mỗi người Việt Nam.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả bữa tiệc sinh nhật mà em chứng kiến | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh tứ quý | 110 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh vẽ cảnh sông nuớc
Gợi ý
Bức ảnh chụp chiều trên sông thật lãng mạn. Cả một bầu trời bao la đượm một màu hồng của buổi hoàng hôn êm đềm. Mặt sông vẫn còn lóng, lánh từng đợt sóng nhỏ. Hàng cây bên sông đứng nghiêng mình soi bóng như những cô gái đang soi mình trước gương. Xa xa là hàng liễu rủ, buông thõng mình xuống mặt sông. Những cành liễu mềm mại như mái tóc trữ tình của người thiếu nữ đang làm duyên, làm dáng. Đâu đó, cánh chim lẻ loi đang tìm về tồ ấm in bóng trên nền trời xanh yên bình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thánh Gióng trong truyện dân gian cùng tên | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh vẽ cảnh sông nuớc | 133 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh ảnh về Huế
Gợi ý
Vừa ở thành phố Huế về hôm qua. Bố tặng em một tập ảnh Huế thật đẹp. Đẹp nhất là bức tranh chụp sông Hương và cầu Tràng Tiền vào đêm. Chiếc cầu cong cong uốn mình theo chiều rộng của sông Hương thơ mộng, với những ánh đèn điện nhấp nháy trên cầu. Soi mình xuống dòng sông là cả một bầu trời đêm, với những đám mây đang lững lờ trôi. Những ngọn đèn hoa đăng được bàn tay khéo léo của các cô gái Huế làm, đang được thả mình trôi trên sông. Âm vang đâu đó là những làn điệu, những câu hò Huế vang vọng như nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn. Ngắm nhìn bức ảnh, em như đắm mình trong những nét đẹp truyền thống của đất Huế thương yêu.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả bức tranh vẽ Vịnh Hạ Long | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh ảnh về Huế | 159 | |
Nói những điều em biết về một bạn hàng xóm của em
Gợi ý
Tên của bạn ấy là Phạm Thu Hằng nhưng ở nhà mọi người gọi bạn là cái Nhím. Bạn ấy thích học toán, thích chơi đồ hàng và luôn muốn được bố mẹ cho về thăm quê. Quê bạn ở Thái Nguyên còn hiện nay gia đình bạn ấy sống tại số nhà 22 phố Dương Quảng Hàm, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên ngay bên cạnh nhà em.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Người nào không biết ngày mai mình sẽ làm gì, thì người đó là kẻ khốn khổ | Nói những điều em biết về một bạn hàng xóm của em | 100 | |
Nói những điều em biết về một bạn lớp em
Gợi ý
Bạn ấy là Hoàng Hải Vân. Bạn ấy học lớp 2A, Trường Tiểu học Tây Đằng, Ba Vì, Hà Nội. Vân thích đi chăn trâu và thả diều cùng anh trai. Trong các môn học, bạn ấy thích nhất môn hát nhạc.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Em là lớp trưởng của tập thể lớp 7A, sắp tới lớp em tổ chức đi tham quan học tập tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Em hãy viết giấy đề nghị Ban Giám hiệu nhà trường cấp giấy giới thiệu cho tập thể lớp | Nói những điều em biết về một bạn lớp em | 100 | |
Nói những điều em biết về ngôi trường của em
Gợi ý
Trường em là Trường Tiểu học Nghĩa Tân. Trường em có nhiều thầy cô giáo, nhiều lớp học, nhiều bạn. Ở trường em còn có các anh chị lớp 3, lớp 4, lớp 5 và cả các em lớp 1 mới vào trường nữa. Trường em nằm trên một con phố nhỏ.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Cách làm bài văn phân tích tác phẩm thơ trữ tình | Nói những điều em biết về ngôi trường của em | 74 | |
Nói những điều em biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (TNTPHCM)
Gợi ý
Đội TNTPHCM là một tổ chức rộng lớn tập hợp trẻ em thuộc cả độ tuổi nhi đồng (từ 5 đên 9 tuổi) sirih hoạt trong các Sao nhi đồng và độ tuổi thiếu niên (từ 9 đến 14 tuổi) sinh hoạt trong các Chi đội TNTP.
– Đội được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1941, tại rừng Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Tên gọi đầu tiên của Đội là Đội Nhi đồng cứu quốc.
– Những đội viên đầu tiên của Đội – gồm năm người; đều là người dân tộc ít người sống ở tỉnh Cao Bằng. Đội trưởng là Nông Văn Dền (bí danh là Kim Đồng). Bốn đội viên là: Nông Văn Thàn (bí danh là Cao Sơn), Lí Văn Tịnh (bí danh là Thanh Minh), Lí Thị Mì (bí danh là Thủy Tiên) và Lí Thị Xậu (bí danh là Thanh Thủy).
– Đội Nhi đồng Cứu quốc đã qua ba lần đổi tên. Mỗi lần đổi tên đều gắn với tình hình và nhiệm vụ của Cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử:
– Ngày 15/5/1951 được đổi tên là Đội Thiếu nhi Tháng Tám.
– Tháng 2/1956 được đổi tên là Đội Thiếu niên Tiền phong.
– Ngày 31/1/1970 được đổi tên là Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
– Bài hát chính của Đội là bài Đội ca do nhạc sĩ Phong Nhã sáng tác. Đội đã có các phong trào lớn là:Xem thêm: Em hãy viết một bức thư cho bạn ở tỉnh khác để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt– Công tác Trần Quốc Toản, được phát động năm 1947
– Phong trào Kế hoạch nhỏ được phát động năm 1930.
– Phong trào Thiếu nhi làm nghìn việc tốt được phát động năm 1981.
Vanmau.edu.vn | Nói những điều em biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (TNTPHCM) | 310 | |
Nói và làm trong cuộc sống
Gợi ý
“Nói đi đôi với làm” là một đòi hỏi mang tính chất xã hội, không phải chỉ riêng xã hội bây giờ mà xưa đã thế và sau này vẫn thế. Bởi “mười lần nói không bằng một lần làm”, “nói hay không bằng cày giỏi”, “nói và làm” từ xưa vốn luôn gắn liền với chữ tín “một lần bát tín, vạn lần bất tin”… Thế nhưng tại sao trong cuộc sống “nói và làm” thường ít khi đi đôi với nhau? Phải chăng bởi vì nói dễ hơn làm, vì “lời nói gió bay”, vì “nói trước quên sau”. Lão Tử đã từng dậy “Lời nói có thể tin được thì nghe không hay, lời nói nghe hay thì không thể tin được”.
Một lời nói, dù là trẻ con, người lởn đều có thể nói ra, nói thì dễ nhưng để nói mà làm được lại là một điều cực khó. Bởi vậy chớ nên nói bừa, nói ẩu, nói cho xong chuyện, trừ khi bạn là người không có lòng tự trộng. "Làm khó", vì làm phải tốn sức, tốn công, thậm chí phải "quên mình", phải "hi sinh",… Tốn sức, tốn công thì nhiều người có thể làm được. Nhưng "hi sinh, quên mình" mới là thử thách khó vượt qua! Mà ở đời, những việc quan trọng nhất, lại thường đòi hỏi người thực hiện phải… hi sinh, phải quên mình! Dám hi sinh thì việc khó trở thành dễ. Đó là chân lý vậy!
“Nói đi đôi với làm” vừa là đạo lý vừa là yêu cầu của thực tiễn cuộc sống. Trong xã hội chúng ta, nhiều bậc làm cha làm mẹ là những người biết điều hay lẽ phải mà dạy con không được chủ yếu là chỉ nói mà khồng làm, không hành động gương mẫu trước con cái. Do đó lời nói không có sức cảm hóa và thuyết phục. Một người mẹ luôn dạy con rằng, con phải vứt rác vào thùng rác để bảo vệ môi trường thế nhưng lại tiện tay để ngay hộp sữa xuống lề đường sau khi con uống xong, điều đó thật sự không hề có sự thuyết phục trong mắt con trẻ. Suy rộng ra hơn, ở trong cuộc sống, nếu chỉ biết nói, mà chẳng bao giờ thực hiện thì sẽ không chiếm được lòng tin, lòng cảm phục của mọi người. Một người lãnh đạo chỉ “nói giỏi” mà không “làm giỏi” sẽ không lấy được lòng tin của dân. Bởi “nói thì dễ nhưng làm thì khó”, “làm” mới là thước đo chuẩn mực nhất để đánh giá thực chất giá trị con người. Xã hội muôn tiến lên cũng phải do hành động, trực giác của con người.Xem thêm: Tóm tắt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân Sách cổ Trung Quốc có ghi lại mẩu chuyện lý thú về án Anh, vị Tể tướng nhỏ thó mà lừng danh nước Tề. Có người hỏi án Anh:
– Bao năm làm Tể tướng, với tiên sinh điều gì khó nhất?
– Làm được điều mình nói, án Anh trả lời ngay tức khắc.
Đó là câu chuyên từ mấy ngàn nắm trước. Còn bây giờ là chuyện cuối thế kỷ XX.Giữa năm 1985, khi Mikhain Goocbatrọp, Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, mới phát động chiến dịch cải tổ và tăng tốc được ít lâu, ông có làm cuộc vi hành đến Leningrat. Để tạo hình ảnh một nhà lãnh đạo trẻ năng động, gần gũi dân chúng (tương phản với dáng vẻ nặng nề, ốm yếu, già nua của ông Brêgiơnhép trước đó không lâu), ông Goocbachop đi bộ ra quảng trường Cung điện Mùa đông để trò chuyện với nhân dân. Bắt tay một người đàn ông trung niên Nga, rắn rỏi, vạm vỡ, nhà lãnh đạo Liên Xô ân cần hỏi:
– Đồng chí làm nghề gì?
– Thưa đồng chí, tôi là thợ tiện nhà máy đóng tàu.
– Đồng chí muốn chúc điều gì cho tôi và Trung ương?
– Tôi chúc đồng chí và Trung ương làm được điều mình nói! Người thợ tiện nọ trả lời ngay tức khắc… (Cũng phải nói thêm, lúc này, sau ít tháng xuất hiện ở cương vị cao nhất đất nước, người dân Liên Xô đã thấy ông Goocbachop bắt đầu bộc lộ hứng thú ưa đăng đàn diễn thuyết).
Hai câu chuyện cách nhau hàng ngàn năm xảy ra với hai người địa thế xã hội hoàn toàn khác nhau – vị Tể tướng lừng danh và người thợ tiện vô danh. Ấy vậy mà câu trả lời lại hoàn toàn giống nhau. Điều đó cho ta thấy được rằng: sống trên đời này để lời nói đi đôi với việc làm vô cùng khó khăn.
Chúng ta đang sống trong thời đại CNTT, thời đại mà phương tiện truyền thông có mặt mọi lúc, mọi nơi, bất cứ lúc nào ta cũng có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng. Những hình ảnh, lời nói luôn luôn hiện hữu dù đôi khi ta không hề muốn, những sự thật, việc thật cũng không bao giờ ra khỏi tầm mắt của con người. Và thế là, dù muôn hay không muốn, chúng ta vẫn thấy được sự khác nhau rõ ràng và khác biệt về nói và làm trong cuộc sống.Xem thêm: Kể về một người tốt mà em biết Đi ra đường phố, thấy cảnh ôtô, xe máy, xe lam, xe đạp, xích lô, xe thồ… ngược xuôi, lạng lách, rẽ ngang rẽ trái không theo một luật lệ nào, rồi thì chợ cóc, chợ xanh, chợ hoa dưới lòng đường, hàng hoá bày ra choán hết vỉa hè…, chúng ta hoang mang tự hỏi: Liệu những quy định về trật tự an toàn giao thông đâu hết cả? Mật độ dầy đặc của cảnh sát giao thông cũng không làm giảm bớt bao nhiêu những ách tắc. Rồi cái nạn đua xe của mấy cô mấy cậu rửng mỡ, con nhà giàu, con ông cháu cha gây nhức nhôi bao năm, sau rất nhiều lời hứa hẹn “kiên quyết chấm dứt" vẫn diễn ra như trêu ngươi; các thứ thư tay, điện thoại riêng “đề nghị chiếu cố, nương nhẹ" vẫn tồn tại sau mỗi lần công an bắt giữa người, xe…
“Chính quyền của ta là của dân, do dân, vì dân" — câu nói đẹp làm nức lòng người mau chóng bị sao nhãng khi người dân đến cửa quan gặp phải những bộ mặt lạnh tanh, những câu trả lời nhát gừng và những kiểu đùn đẩy hồ sơ hết phòng này sang phòng kia, những kiểu hẹn lần hẹn lữa không có hồi kết thúc như thử thách lòng kiên nhẫn của người dân. Kết quả là đơn thư khiếu nại chất thành đông, năm này qua năm khác.
Hay như ở vạn đề y tế “Lương y như từ mẫụ", câu khẩu hiệu gặp ở mọi bệnh viện, trên thực tế liệu đã làm yên lòng bệnh nhân chưa? Chắc chắn là chưa. Thế nên hầu hết người bệnh khi chẳng may phải lên bầàn mổ hay gặp bệnh hiểm nghèo, đều phải cố lần những đồng tiền còm cõi cuối cùng, kín đáo bỏ vào phong bì, rồi tìm kiếm cơ hội tiếp cận vị “lương y như từ mẫu" kia để mà nài nỉ, khẩn khoản họ nhận cho “tấm lòng thành” với mặc cảm của người có lỗi. vẫn còn nhiều lắm những ca phẫu thuật nhầm, chuẩn đoán sai gây ảnh hưởng đến cả tính mạng của bệnh nhân.Xem thêm: Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà Đáng nói hơn cả, có lẽ là vấn đề giáo dục. Đó là “Cải cách giáo dục”, “Nâng cao chất lượng dạy và học", “Giáo dục là quốc sách”,… những lời lẽ được lặp lại ngày này qua ngày khác, nhưng những phiền muộn do giáo dục mang lại cũng không giảm. Nào là “quá tải” phải “giảm tải”, “học thêm dạy thêm”, nào là sách giáo khoa viết sai in sai, đề thi ra nhầm lẫn, lộ đề trước khi thi, nào là “các lò luyện thi” thương mại hoá một cách lộ liễu đến trơ tráo” Giảm tải chương trình học cho học sinh” nhưng xét cho cùng có khi còn nặng hơn chương trình cũ gấp nhiều lần.
Như Herbert Spencer đã từng nói “Mục đích cao cả nhất của giáo dục không phải là lời nói mà là hành dộng”. Người nước ngoài luôn thắc mắc rằng “Tại sao người Việt Nam nói thì giỏi nhưng làm thì lại rất kém?” Đó phải chăng là do phương pháp học tập của người Việt Nam từ xưa đến nay. Học sinh Việt Nam ở các kì thi quốc tế luôn làm rất tốt các bài thi lí thuyết nhưng lại rất kém ở phần thi thực hành. Một học sinh có thể đọc vanh vách tất cả các hiện tượng hóa học nhưng không thể tiến hành một thí nghiệm cho dù là đơn giản nhất. Thậm chí là tại các trường học vẫn luôn tồn tại những kì thi Tin học bằng lý thuyết trên giấy kiểu như “Em hãy trình bày cách tính ở Excel”. Vậy là cho dù đã học đến rất nhiều, thế nhưng khi bắt tay vào thực tế, tất cả vẫn chỉ là con số 0 khi thực tế lại “Sao không giống với những gì mình đã học?”. Giáo dục Việt Nam có lẽ chỉ thiên về việc truyền đạt kiến thức lí thuyết, sách vở mà quêiì đi cách thức thực hiện cũng giống như việc có thể nói vanh vách nhưng không thể tiến hành thực hiện.
“Nói và làm” giờ đây đã sắp trở thành một căn bệnh nan y của người Việt Nam, đã dần ngấm sâu vào máu, chính vì thế chúng ta phải cùng nhau đi tìm những phương thuo’c hữu hiệu hơn để trị tận gốc căn bệnh đó. Có điều chắc chắn là không thể dùng lời nói, lời hô hào suông mà chữa khỏi được.
Vanmau.edu.vn | Nói và làm trong cuộc sống | 1,705 | |
Nói về cảnh sầm uất ở Thành phố Hồ Chí Minh
Gợi ý
Hè vừa rồi. em có dịp được vào Thành phố Hồ chí Minh thăm ông bà. Thành phố mang tên Bác thật đẹp và sầm uất. Thành phố có những toà nhà cao tầng hiện đại bên cạnh những toà nhà truyền thống. Đường phô thật rộng khoác tấm áo màu ghi xám. Trên đường, xe cộ đi lại nườm nượp. Nhịp sống nơi đây dường như lúc nào cũng hối hả. Mọi người đi làm từ sớm, tối muộn mới trở về nhà. Có lẽ sầm uất hơn cả là khu Chợ Lớn. Từ sáng tới tôi diễn ra bao hoạt động, bao du khách ghé thăm. Ban đêm, khi lên đèn thành phô rực rỡ như bức
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Vẻ đẹp của người lao động qua hai tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa và Đoàn thuyền đánh cá | Nói về cảnh sầm uất ở Thành phố Hồ Chí Minh | 150 | |
Nói về cảnh đẹp của Hà Nội
Gợi ý
Hà Nội thanh lịch và duyên dáng như một người thiếu nữ tuổi mới lớn. Hà Nội có rất nhiều cảnh đẹp nhưng trong đó Hồ Gươm là điểm hấp dẫn nhất. Hồ khá rộng vớí dũng nước trong xanh, soi bóng những rặng cây điệu đà. Những cơn gió thổi làm mặt hồ lay động như thảm lụa nhung mềm mại, uốn sóng. Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc… là những điểm sáng như viên ngọc của Hồ Gươm. Ban đêm, Hồ Gươm lung linh, huyền ảo với ánh đèn rực rỡ nhiều sắc màu. Chị Hằng trên cao, dội ánh sáng xuống như xua đi bóng tối khiến nõ được khoác một chiếc áo bạc. ‘Cảnh thơ mộng là thế và người đi bên hồ cũng thật hạnh phúc. Từng gia đình đi dạo bên nhau ấm áp yêu thương…. Hồ Gươm đẹp như trong truyện cổ tích vậy, một câu chuyện cổ tích trong thời hiện đại.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết đoạn văn tả chị gái đang rửa bát | Nói về cảnh đẹp của Hà Nội | 177 | |
Nói về cảnh đẹp trong những tranh ảnh về phố cổ Hội An
Gợi ý
Không quá trang nghiêm như cô đô Huế, không quá sầm uất như Chợ Lớn, phố cổ Hội An cổ kính mang vẻ đẹp thuần khiết, lãng mạn…. chùa Cầu nơi đây mang vẻ đẹp biểu tượng cho Hội An. Chùa có mái che, vắt cong qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu. Chùa và cầu đều là gỗ sơn son chạm trô rất công phu, mặt cầu quay về phía dòng sông. Đây có thể coi là công trình kiến trúc độc đáo nhất của phô cổ Hội An. Khi lên hình nom nó cũng vô cùng kiêu hãnh và bí ẩn… Có những câu thơ như này về chùa cầu:
Ai đi phố Hội chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh | Nói về cảnh đẹp trong những tranh ảnh về phố cổ Hội An | 172 | |
Nói về làng quê em vào ngày mùa
Gợi ý
Quê hương em biết bao tươi đẹp, cánh đồng xanh, lúa chín vàng ươm. Ngày mùa vụ tới, bức tranh quê em thật rộn ràng, náo nhiệt. Tiếng cười nói vang rộn cả cánh đồng. Người đi lại đông vui nhộn nhịp. Từng xe thóc chín rực vàng ươm lần lượt được chở về nhà. Khắp nơi, từ ngoài đường đến sân nhà, trần nhà…, đâu đâu cũng thấy phơi thóc, phơi rơm. Mùi rơm rạ tươi, mùi lúa chín ngan ngát làm cho con người vất vả nhưng thấy rất vui trong mùa thu hoạch.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết một bức thư ngắn cho một bạn người Nhật Bản để làm quen và bày tỏ tình thân ái | Nói về làng quê em vào ngày mùa | 125 | |
Nói về Nguyễn Trãi có ý kiến cho rằng Ở ông ta bắt gặp một nhà chiên sĩ và thi sĩ. Hãy trình bày ý kiến của em về nhận định trên.
Hướng dẫn
Nguyễn Trãi cách chúng ta nhiều thế kỉ nhưng những gì ông để lại thì có ý nghĩa thật lớn lao, nhiều người khâm phục ông ở tài năng quân sự, có người khâm phục ông là con người có tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước thiết tha. Có ý kiến cho rằng: Ở ông ta bắt gặp một nhà chiến sĩ và thi sĩ. Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Trãi là minh chứng cho nhận định đó.
Khi làm quan Nguyễn Trãi luôn một lòng hướng về dân về nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và đấu tranh chống lại bọn tham quan, nhịnh thần. Trong sáng tác, ông luôn thể hiện lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, luôn canh cánh nỗi lo phò dân giúp nước. Vì thế mà cuộc đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, ông luôn mang đem tài sức ra giúp dân, giúp nước. Từ lúc bôn ba tìm đường cứu nước đến khi về ở ẩn ở Côn Sơn, lúc nào Nguyễn Trãi cũng nghĩ đến dân, làm cho dân được ấm no hạnh phúc dù biết rằng:
"Nhân sinh thức tự đa ưu họa"
Vì yêu dân yêu nước nên khi vua Lê Thái Tông mời ra giúp nước lần thứ hai, ông vẫn nhận lời dù tuổi cao sức yếu như cây tùng đến cuối đời vẫn đem các vị thuốc quý để cứu dân, cứu đời:
"Hổ phách, phục linh nhìn mới biết
Dành còn để trợ dân này"
(Tùng)
Những ánh văn thơ khi Nguyễn Trãi thể hiện đủ sức đánh tan mười vạn quân. Trong chiến tranh, ông dùng ngòi bút ấy dụ hàng Phương Chính (thư dụ Phương Chính) khiến giặc phải rút quân về nước mà ta không phải tốn một mũi tên. Đó là tài năng phi thường của Nguyễn Trãi, tài năng đó không chỉ giúp vua trị vì đất nước, giúp dân không phải chịu cảnh nước mất nhà tan.
Khi đến thời bình, ông dùng ngòi bút ấy để khuyên vua nên chăm lo đến đời sống nhân dân khiến nơi thôn cùng xóm vắng không một tiếng kêu hờn giận oán sầu, dạy thái tử trong những việc kính trời chăm dân không dám khinh suất chỗ nào (răn bảo thái tử). Đó là thời kỳ nhân dân được sống êm ấm, no đủ, xã tắc được vững bền, là thời kỳ huy hoàng của dân tộc. Cũng chính ngòi bút ấy đã cảnh cáo bọn tham tàn sâu dân mọt nước:Xem thêm: Bình luận câu cách ngôn “Thất bại là mẹ thành công"
"Chớ cậy sang mà ép về
Lời chẳng phải vưỡn không nghe
Làm người mà cậy khi quyền thế
Có thuở bàn cờ tốt đuổi xe."
Ông đã dùng lời văn của mình cảnh cáo bọn chúng đừng ỷ quyền thế mà ức hiếp nhân dân, ông chỉ ra cho chúng là có ngày nhân dân, những con tốt trong bàn cờ, sẽ đứng lên trị tội chúng, những con xe đang nghênh ngang tự đắc, ngang ngược hành hạ nhân dân, bách tính.
Có thể nói Nguyễn Trãi rất lỗi lạc trong lĩnh vực quân sự, chính trị và là một thi sĩ xuất sắc là cây đại thụ tạo bóng mát che rợp thi đàng thế kỉ XV như lời của người đời sau nhận xét về ông. Tâm hồn ông luôn chan hòa mở cửa đón thiên nhiên, hòa nhập với đất trời. Với ông, thiên nhiên chính là người bạn tốt thân thiết. Từ cảnh bến đò xuân bến vắng, thiếu bóng người đến cảnh chợ cá làng chài rộn rịp, tất cả đều được đưa vào thơ thật sinh động và tràn ngập sức sống.
"Độ đầu xuân thảo lục như yên
Xuân vũ thiên tai thủy phách thiên
Dã kính hoang lương hành khách thiểu
Cô châu trấn nhật gác sa miên"
(Trại đầu xuân độ)
Dịch thơ:
"Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi"
(Bến đò xuân đầu trại)
Đứng trước cảnh thiên nhiên đẹp, tâm hồn thi sĩ lại xao động. Cảnh thiên nhiên với một thảm cỏ xanh mướt, một làn mưa rắc nhẹ xuống bến đò, hợp cùng những con sông khiến người ta có cảm giác nước vỗ trời, một con đường không bóng người qua lại, vắng đến mức quạnh quẽ, một con đò tưởng chừng bình thản nằm gối bãi nhưng thực ra đang mơ đến một ngày được lướt sóng ra khơi. Tất cả là một bức tranh thủy mặc đã được Nguyễn Trãi vẽ lên không phải bằng cọ, bằng màu mà cảnh cứ hiển hiện ra trước mắt người ta.Xem thêm: Cây lau chứng kiến việc nàng Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn. Viết văn bản kể lại câu chuyện đó theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba (mở rộng truyện Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ)
Với những sinh hoạt dân dã đời thường cũng được đưa vào thơ Nguyễn Trãi với tất cả nét chân thực vốn có của nó:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"
(Cảnh tình mùa hè)
Với Nguyễn Trãi những âm thanh bình thường trong sinh hoạt làng quê Việt Nam đã trở thành âm điệu rộn ràng của cuộc sống trù phú khiến người đọc tưởng chừng đang nghe và say cùng cảnh, cùng người. Là một quan đại thần, một tướng lĩnh tài ba nhưng ta vẫn thấy trong Nguyễn Trãi nét ý nhị và không kém phần hóm hỉnh của một nhà thơ:
"Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu gượng mở xem"
(Cây chuối)
Bài thơ với những tứ thơ thật mặn mà và ý nhị, mang cảm hứng lãng mạng của thi ca. Một bức thư tình – nõn chuối cuộn kín lại, trông thật hấp dẫn mà chẳng ai dám mở xem. Chỉ có gió tinh nghịch len lén gượng mở ra xem, chỉ gượng mà thôi. Ở đây, gió đã được nhà thơ thổi vào nét tinh nghịch của một tâm hồn trẻ trung đến kinh ngạc. Ta lại bắt gặp một nét mới trong tâm hồn người chiến sĩ và thi sĩ: phóng khoáng và tươi trẻ đến lạ kì. L.Tônxtôi đã từng nói: Người ta nghiêng mình trước tài năng nhưng phải cúi đầu trước lòng nhân ái. Ở Nguyễn Trãi hội tụ cả hai yếu tố khiến người ta vừa phải cúi đầu vừa phải nghiêng mình. Chính tư tưởng nhân nghĩa luôn có trong Nguyễn Trãi đã giúp ông trở thành nhà chiến sĩ và thi sĩ tài hoa, lỗi lạc. Phương châm của ông là: nhân nghĩa duy trì quốc thái an (nhân nghĩa duy trì thế nước yên). Dù bất cứ lúc nào, ở đâu ông cũng luôn tâm niệm là phải lấy dân làm gốc, ông đánh giặc trừ tham tàn là vì dân: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo (Bình Ngô đại cáo). Ông không phải là kẻ hiếu chiến mà luôn đặt nhân nghĩa lên đầu.Xem thêm: Viết bài giới thiệu về Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc
"Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức"
(Bình Ngô đại cáo)
Ông ra làm quan với mục đích là lo cho dân có cuộc sống ấm êm như thời vua Nghiêu, vua Thuấn:
"Đọc sách thời thông đòi nghĩa sách
Chăn dân mạ nỡ mất lòng dân
Dân Nghiên Thuấn, vua Nghiêu Thuấn
Dường ấy ta đã phỉ sở nguyền"
Yêu quê hương, yêu cảnh dân dã nên ngay cả trong những bài thơ tả cảnh của ông ta vẫn thấy bóng dáng cảnh sống bình dị ở thôn quê, cảnh sinh hoạt của nhân dân, cuộc sống ấm êm được ông ca ngợi. Trải qua mười năm sống trong dân, mười năm chiến dấu nhờ sức dân, Nguyễn Trãi đã trở thành người cha hết lòng vì những đứa con đỏ dân đen. Nguyễn Trãi là một thi sĩ tài hoa, một chiến sĩ lỗi lạc, luôn đặt tư tưởng nhân nghĩa lên đầu. Ông thực xứng đáng với lời ca ngợi của Lê Thánh Tông:
"Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo"
(Ức Trai lòng dạ sáng sao khuê)
Người chiến sĩ là người chiến đấu bảo vệ cuộc sống anh lành của nhân dân. Thi sĩ là người làm thơ về cuộc sống, về cảnh vật quê hương đất nước. Trong con người Nguyễn Trãi, nhà chiến sĩ và Ức Trai luôn tồn tại song song bên nhau.
Có thể thấy Nguyễn Trãi có một tấm lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến. Khi giúp vua cai trị đất nước ông luôn đưa ra những lời khuyên, lời góp ý để vua có những chính sách tốt nhất cho dân. Trong thơ văn ông luôn ca ngợi con người, thiên nhiên, dựa vào thơ văn mà bày tỏ tâm trạng của mình với dân với nước. Vì vậy người ta nói Nguyễn Trãi vừa là chiến sĩ vừa là thi sĩ thật không sai.
Nguồn: | Nói về Nguyễn Trãi có ý kiến cho rằng Ở ông ta bắt gặp một nhà chiên sĩ và thi sĩ. Hãy trình bày ý kiến của em về nhận định trên. | 1,558 | |
Nói về Nguyễn Trãi, vua Lê Thánh Tông đã mệnh danh ông là ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo. Bằng tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi, anh (chị) hãy chứng minh nhận định trên
Gợi ý
Trước nay, có rất nhiều nhận định về tài năng và nhân cách Nguyễn Trãi – vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Song, có lẽ lời ngợi ca cửa vua Lê Thánh Tông là xác đáng hơn cả:
Ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo
(Lòng ức Trai toả rạng văn chương)
Nguyễn Trãi sinh ra trong một thời đại nhiều biến động. Triều Trần suy vi, cha con Hồ Quý Ly nỗ lực phục hưng đất nước nhưng không được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng. Trong khi đó, giặc Minh lại mang quần cướp nước ta. Không chịu khuất phục quân xâm lược, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Từ Đông Quan, Nguyễn Trãi tìm vào Lam Sơn phò tá Lê Lợi. Cuộc khởi nghĩa toàn thắng, Nguyễn Trãi hăm hở tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhưng những mâu thuẫn nội bộ triều đình phong kiến đã dẫn đến việc sát hại các công thần, bản thân Nguyễn Trãi bị nghi oan, bị bắt giam. Sau ông được tha về nhưng không còn được tin dùng như trước nữa. Ông đành lui về ở ẩn tại Côn Sơn. Năm 1440, ông lại được Lê Thái Tông mời ra giúp việc nước. Năm 1442, oan án Lệ Chi Viên bỗng đổ ập xuống gia đình, dòng họ ông. Và phải hai mươi hải năm sau, Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi. Cuộc đời và những cống hiến của Nguyễn Trãi đã minh chứng cho lời nhận định của Lê Thánh Tông. Nhưng nếu chỉ đọc những sáng tác văn chương, cảm nhận tài năng, nhân cách của Nguyễn Trãi thôi chúng ta cũng đủ hình dung rõ nét về tấm lòng trong sáng tựa sao Khuê của ông.
Nói ức Trai tâm. thượng quang khuê tảo có nghĩa là tâm hồn, nhân cách, tài năng con người ông toả sáng trong mỗi con chữ, in dấu đậm nét trong các sáng tác văn học. Ớ Nguyễn Trãi, tài năng và nhân cách luôn đi liền với nhau để cùng làm nên những sáng tác vãn học xuất sắc. Thơ văn Nguyễn Trãi trước hết là tư tưởng nhân nghĩa mang nội dung yêu nước, thương dân. Vượt lên khỏi tư tưởng trung hiếu hẹp hòi, Nguyễn Trãi đặt lòng yêu nước, thương dân lên đầu tiên:Xem thêm: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Có dàn ý chi tiết)Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Yêu nước gắn với thương dân, việc nhân nghĩa nhằm làm cho dân được sống yên ổn – đó chính là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt cuộc đời ông. Thời binh đao loạn lạc, nỗi đau đầu tiên của Nguyễn Trãi là nỗi đau khi chứng kiến cảnh dân ta bị tàn sát dã man:
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Cảnh tượng đau xót khôn cùng ấy đã trở thành động lực khiến ngòi bút người nghệ sĩ trở thành thứ vũ khí có sức mạnh hơn mười vạn quân chĩa thẳng vào quân giặc hung ác. Quân trung từ mệnh tập với chiến lược “công tâm” đã khiến quân giặc phải nể sợ mà qui hàng.
Yêu dân, thương dân như con nên chính Nguyễn Trãi là người hiểu dân hơn bất cứ ai. Ông nhìn thấy sức mạnh của dân:
Có lật thuyền mới biết sức dân như nước
Và ông cảm phấn khởi khôn cùng trước sự đoàn kết của nhân dân:
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới.
Đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân được trở lại cuộc sống yên bình, những tưởng Nguyễn Trãi sẽ thanh thản, không còn phải lo nghĩ gì cho dân, cho nước, Nhưng tấm lòng nặng nghĩa, nặng tình với dân với nước ấy có lúc nào nguôi nghỉ? Giữa cảnh thanh bình, ông lại mong ước có một chế độ sáng suốt để muôn dân trăm họ được sống hạnh phúc:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ, khắp đòi phương.
Để rồi cũng chính con người ấy không biết đã bao đêm thao thức vì dân, vì nước:Xem thêm: Tưởng tượng 20 năm sau về thăm lại trường cũ.Bui có một lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.
Vẻ đẹp trong nhân cách sáng ngời của Nguyễn Trãi không chỉ được thể hiện ở lòng yêu nước mà còn ở lòng yêu thiên nhiên tha thiết. Thơ Nguyễn Trãi đầy tràn đầy tình yêu thiên nhiên. Với ông, thiên nhiên là họ hàng, bầu bạn:
Núi láng giềng, chim bầu bạn,
Mây khách khứa, nguyệt anh tam
Ông yêu quí và nâng niu cảnh vật:
Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá,
Rừng tiếc chim về ngại phát cây.
Và đặc biệt, với thiên nhiên, Nguyễn Trãi luôn có một sự đồng cảm sâu sắc:
Vỉ ai cho cái đỗ quyên kêu,
Cho ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu.
Lại có hoè hoa chen bóng lục,
Thức xuân một điểm não lòng nhau.
Chan hoà với thiên nhiên là vậy nhưng Nguyễn Trãi hiếm có những phút giây thanh thản trong lòng. Cuộc đời nhiều thăng trầm, nghi hoặc khiến lúc nào ông cũng phải trăn trở, ngẫm nghĩ:
Phượng những tiếc cao diều hãy liệng,
Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi.
Thực chất đó là những trải nghiệm đau đớn trong cuộc đời Nguyễn Trãi. Tất nhiên, viết những dòng thơ như thế, chắc chắn ông không khỏi ngậm ngùi. Nhưng đọc chúng, người ta có thể hình dung rõ nét sự thanh sạch, trong sáng trong tâm hồn con người đã hết lòng vì dân vì nước.
Ngợi ca ức Trai tâm thượng quang khuê tảo, ắt hẳn Lê Thánh Tông còn muốn để cao tài năng của thi nhân Nguyễn Trãi.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Trãi là một tác gia văn học xuất sắc. Ông sáng tác trên nhiều thể loại văn học và ở thể loại nào, cũng có những kiệt tác. Về chữ Hán, Nguyễn Trãi có Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Úc Trai thi tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục, Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng, Văn loại. Quân trung từ mệnh tập là áng tập văn chính luận phản ánh đầy đủ chiến lược “công tâm” của nghĩa quân Lam Sơn. Bình Ngô đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng, đanh thép, được mệnh danh là áng “thiên cổ hùng văn”. Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi là một thế giới thẩm mĩ phong phú vừa trữ tình, vừa trí tuệ, vừa hào hùng, vừa lãng mạn. Trong đó nổi bật là những bài Cửa biển Bạch Đằng, Đóng cửa biển, Mộng trong núi… Sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Trãi có Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ viết theo thể Đường luật hoặc Đường luật xen lục ngôn. Những bài thơ này giàu trí tuệ, sâu sắc, thẫm đẫm trải nghiệm về cuộc đời, được viết bằng thứ ngôn ngữ tinh luyện, trong sáng, đăng đôi một cách cổ điển:Xem thêm: Phân tích nhân vật người lái đò trong Người đò sông Đà của Nguyễn Tuân. So sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù) dể thấy chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của ông trước và sau Cách mạng tháng TámThạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tin mùi hương…
Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã trở thành người đầu tiên đưa tục ngữ vào thơ ca. Ông cũng là người đầu tiên đưa các hình ảnh thân thuộc như cây chuối, lảnh mùng tơi, bè rau muống… vào thơ bên cạnh những hình ảnh ước lệ trong văn thơ cổ như tùng, cúc, trúc, mai…
Khó có thể hình dung một con người luôn bận rộn với công việc triều chính lại có tnể sáng tác nhiều và có nhiều sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật viết đến như thế. Tất cả những gì Nguyễn Trãi đã thể hiện trong văn chương và bằng văn chương đã minh chứng một cách xác đáng cho tấm lòng, tâm hồn Nguyễn Trãi; ớ con người toàn tài hiếm có này, tài năng và nhân cách đã hoà làm một để toả rạng trong mỗi con chữ, lời thơ.
Qua lời nhận xét ngợi khen, có thể cảm nhận lòng yêu mến, tôn trọng mà Trần Thánh Tông đã dành cho Nguyễn Trãi. Cho đến tận bây giờ và chắc chắn, đến mãi mãi sau này, Nguyễn Trãi và những sáng tác của ông sẽ còn vượt qua sự kiểm duyệt khắc nghiệt của thời gian, để luôn toả rạng trên bầu trời văn chương nghệ thuật.
Vanmau.edu.vn | Nói về Nguyễn Trãi, vua Lê Thánh Tông đã mệnh danh ông là ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo. Bằng tài năng và nhân cách của Nguyễn Trãi, anh (chị) hãy chứng minh nhận định trên | 1,511 | |
Nói về người lao động trí óc (giáo viên)
Gợi ý
Em rất thần tượng cô giáo của em. Cô không chỉ xinh đẹp mà còn giảng bài rất hay. Cô không cao lắm nhưng dáng người dong dỏng với làn da trắng hồng hào. Mái tóc của cô thật đáng mơ ước. Mái tóc dài đến ngang lưng thôi nhưng mềm mại và mượt mà. Cô giáo tuy còn trẻ nhưng rất chững chạc khi đứng trên lớp. Những bài giảng của cô thật lôi cuốn, hấp dẫn còn bởi giọng nói đầm ấm, truyền cảm, Cô giảng bài say sưa, thỉnh thoảng có giọt mồ hôi cô cũng không đế ý. Có lúc cô cười đê lộ chiếc răng khểnh thật duyên. Càng nhìn cô em càng muốn sau này mình cũng là một cô giáo như thế, vừa dịu dàng vừa ấm áp.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ. Đoạn thơ 9 câu dưới đây trích trong phần đầu chương "Đất Nước" thuộc trường ca "Mặt đường khát vọng" (1971) của Nguyễn Khoa Điềm: "Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi... Đất Nước có từ ngày đó” | Nói về người lao động trí óc (giáo viên) | 189 | |
Nói về người lao động trí óc (nhà văn)
Gợi ý
Bác em là một nhà văn. Từ khuôn mặt đến ánh mắt của bác đều toát lên vẻ thâm trầm, suy tư. Mái tóc của bác tuy đã điểm bạc nhưng chưa lúc nào tình yêu với nghề bị suy giảm. Bác rất tâm huyết với nghề, dành cho nghề sự chăm chút kĩ lưỡng. Có một lần em sang nhà chơi, thấy bác đang viết văn. Bác viết say sưa đến nỗi em đứng ngay cạnh bác cũng không biết. Trời nóng bức làm mồ hôi thấm ướt áo, bác cũng không để ý. Dường như tìm được một ý hay bác đập nhẹ bàn một cái, đầu gật gù vẻ đắc chí. Trông bác vui mừng như cậu bé được – nhận quà vậy. Viết xong một bài bao giờ bác cũng kiểm tra thật cẩn thận. Có khi em được bác cho đọc. Lúc đó em thây tự hào lắm.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một ngày hội mà em biết | Nói về người lao động trí óc (nhà văn) | 171 | |
Nói về nơi em ở, một khu chung cư trong thành phố
Gợi ý
Gia đình em mới chuyển đến khu chung cư – Mỹ Đình II của thành phố Hà Nội. Nhà em ở tầng 5. Cạnh nhà em cũng có hai gia đình khác cũng mới vừa chuyển đến.
Là khu chung cư mới nên mọi thứ nơi đây vẫn còn rất mới mẻ và đẹp đẽ. Dưới sân được quy hoạch rất gọn gàng và đầy đủ mọi thứ. Có cả sân chơi thể thao cho mọi người, có cả chỗ chơi dành cho trẻ con, nào là đu quay, nào là nhà phao, nhà bóng, thú nhún…"
Mọi người ở khu phần đông là mới chuyển từ nơi khác đến, nhưng tất cả đều như đã quen nhau từ lâu. Em thấy rất vui khi được ở nơi đây.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả quang cảnh tưng bừng nơi em ở vào một ngày đầu xuân mới | Nói về nơi em ở, một khu chung cư trong thành phố | 158 | |
Nói về nơi em ở, một khu phố
Gợi ý
Nơi em ở sao lúc nào cũng ồn ào đến vậy. Nào là tiếng còi xe máy, nào là tiếng còi ô tô, nào là tiếng rao bán báo, tiếng rao bánh mì… Hết tiếng rao này lại nốì tiếp tiếng rao khác. Một ngày chủ nhật nghỉ học ở nhà mà sao em cảm thấy ngột ngạt đến vậy. Ước gì nơi em ở là một nơi thật yên lành, và bớt sự ồn ã thì tốt biết mấy.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tả lại con đường đến trường của em | Nói về nơi em ở, một khu phố | 97 | |
Nói về nơi em ở, một khu tập thể
Gợi ý
Nơi em ở là khu tập thể gia đình giáo viên. Bố mẹ em đều là giáo viên cả, nên được nhà trường phân cho một ngôi nhà cấp 4 cùng với một sô’ gia đình khác. Ớ khu tập thể rất vui. Mọi người sống rất hoà thuận và quý mến nhau. Hễ ai đi đâu chơi là đều có quà chia đều cho mọi người trong dãy nhà. Có việc gì là mọi người đều xúm lại giúp đỡ nhau ngay. Vui nhất là buổi tối, mọi nhà thường tụ tập lại và kể cho nhau nghe những câu chuyện cười, cười đến chảy cả nước mắt. Khu nhà em ở lúc nào cũng có tiếng cười vui
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết một bức thư ngắn cho bạn em kể về một nhân vật hoạt hình mà em yêu thích | Nói về nơi em ở, một khu tập thể | 149 | |
Nói về nơi em ở, một khu đô thị lớn
Gợi ý
Gia đình em mới chuyển đến khu đô thị được mấy tháng. Em thật sự rất thích khu đô thị này vì không chỉ hiện đại mà còn rất văn minh, thoáng đãng. Ở đây là nơi “cư ngụ” của hầu hết các toà nhà cao tầng. Những ngôi nhà nhìn sang trọng và sạch sẽ. Xung quanh là những khu vườn nhỏ với nhiều cây xanh làm cho không khí thêm trong lành. Chiều về, có rất nhiều trẻ con và người cao tuổi dạo mát trong những khu vườn ấy. Con đường màu ghi xám phẳng lì đầy vẻ kiêu hãnh, chạy uốn cong mềm mại. Mọỉ người đều rất thân thiện. Càng sống ở đây em càng thấy yêu hơn và muốn gắn bó mãi mãi.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Học vấn không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc | Nói về nơi em ở, một khu đô thị lớn | 155 | |
Nói về nơi em ở, một làng quê
Gợi ý
Nơi em ở đến nay đã có nhiều đổi mới. Từ những con đường đất đỏ, nay đã thành đường nhựa. Từ những ngôi nhà tranh, vách đất, nay đã thành những ngôi nhà cao tầng… Nhưng những gì là truyền thống thì vẫn không bị mất đi mà sẽ trường tồn mãi mãi với thời gian, lịch sử. Mái đình, giếng nước, gốc đa chính là nơi trưởng thành của biết bao thế hệ người dân nơi đây. Em rất tự hào vì người làng em vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống văn hoá của mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể lại câu chuyện Giấu cày và trả lời câu hỏi: a. Khi được gọi về ăn cơm, bác nông dân nói thế nào? b. Vì sao bác bị vợ trách? c. Khi thấy mất cày, bác làm gì | Nói về nơi em ở, một làng quê | 147 | |
Nói về nơi em ở, một vùng quê nghèo
Gợi ý
Nơi em ở là một vùng quê nghèo xơ xác. ở đó mọi người làm lụng rất vất vả mà vẫn không đủ ăn. Thế mà vẫn có những gia đình có con đỗ đại học và thậm chí có người được đi du học. Rất nhiều người ngạc nhiên vì điều đó, họ cho đấy là một phép màu do bà tiên nào đó ban tặng cho vùng quê nghèo nàn này
Nơi em ở còn có cánh đồng xanh mát, mênh mông trải rộng. Buổi chiều từng đàn trâu nối đuôi nhau lững thững trở về, con nào con nấy bụng tròn căng đủng đỉnh đi trên đường. Khung cảnh ấy thật đáng yêu, tất cả như một tấm thảm làng quê được bàn tay khéo léo của bác thợ nào dệt nên vậy.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Gia đình em và cửa hàng vật liệu xây dựng làm hợp đồng thống nhất với nhau về mua bán. Em hãy giúp bố mẹ làm bản hợp đồng đó | Nói về nơi em ở, một vùng quê nghèo | 175 | |
Nói về nơi em ở, một vùng đồi
Gợi ý
Nơi em ở nằm trên một quả đồi cao. ở nơi đó có thể nhìn ra xung quanh tới hàng km. Trong vườn nhà em là đủ thứ cây ăn quả, mùa nào thức ấy. Phía cuối vườn là một chiếc ao nhô xinh xinh, bố em vẫn thả cá. Hôm nào có khách là em lại được ra ao nhà câu cá. Không khí ở đó rất mat mẻ và trong lành. Ngôi nhà nhỏ nhưng thật ấm cúng bởi tình cảm gia đình đầm ấm. Em rất yêu ngôi nhà của em. Nó cũng rất thơ mộng đúng không ạ?
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể về một người lao công | Nói về nơi em ở, một vùng đồi | 117 | |
Nói về quê hương em, một bản làng miền núi
Gợi ý
Nếu ai đã đến với quê em, một bản làng miền núi thì hẳn không bao giờ quên vẻ đẹp bình dị của nó. Quê em có những ngôi nhà sàn nhỏ nhắn nằm dưới những bóng cây. Các ngôi nhà gần nhau như anh em quây quần. Xa xa, con suối ngày đêm chảy róc rách tựa gảy đàn. Xung quanh là những quả đồi xanh mướt với từng vạt nương rẫy tốt tươi. Đẹp nhất là khi chiều về, từng chùm nắng nhạt nhảy nhót trên nương, chảy dài như dát vàng lấp lánh. Lúc đó, mọi nguời đi làm về nói cười vui vẻ. Mấy đứa trẻ chạy sau lưng mẹ, cái bóng lũn cũn thật đáng yêu.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Qua nhân vật này, em có suy nghĩ gì về thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước | Nói về quê hương em, một bản làng miền núi | 174 | |
Nói về quê hương em, một làng nghề thủ công
Gợi ý
Quê em là một ngôi làng nhỏ, được bao bọc bởi những cánh đồng bát ngát. Quê em không có núi, không có sông và cũng chẳng có hồ. Làng em có cái tên rất trìu mến “Hiển Lễ”. Mọi người trong làng ai cũng tự hào bởi làng em là một làng văn hóa cấp tỉnh với nghề gốm truyền thống. Không có tệ nạn xã hội, cuộc sống của dân làng rất ổn định và lành mạnh. Trong làng còn có ngôi chùa. được công nhận di tích lịch sử, có cây đa trăm năm vẫn vững vàng, hiên ngang che chắn bảo vệ cho nhân dân. Với em, đó là một ngôi làng thật tuyệt, nó luôn gắn liền với nhũng câu hát làm say đắm lòng người:
Hỡi cô mặc áo nhung xanh
Có về Hiển Lễ quê anh thì về
Quê anh có gốc cây đề
Có ao thả cá, có nghề nặn chum.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Kể lại một trận thi đấu cầu lông | Nói về quê hương em, một làng nghề thủ công | 174 | |
Nói về quê hương em, một làng quê vùng trung du
Gợi ý
Quê hương em là một ngôi làng nhỏ, nằm uốn mình bên chân núi thằn lằn. Cuộc sống nơi đây diễn ra rất êm đềm. Con người nơi đây cũng rất bình dị, dường như không có sự bon chen của cuộc sống. Họ sống rất trọng tình nghĩa và tôn trọng lẫn nhau.
Khung cảnh quê em thật đẹp. Phía sau lưng làng là dãy núi thằn lằn hay chính là dãy núi với thế Rồng nằm. Dãy núi như một bức trường thành vững chắc, đã che chở cho cuộc sống của con người nơi đây. Dãy núi lại giống như tấm lưng trần của người cha vĩ đại đang che chở cho các con của mình trong cuộc sống. Mỗi khi được về quê chơi là chúng em lại rủ nhau trèo lên dãy núi đó đê chơi. Được trèo lên dãy núi mà như được ngồi trên lưng của bố mỗi khi bố cõng đi chơi vậy.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Miêu tả loài hoa em yêu - Cảm nhận về hoa đào | Nói về quê hương em, một làng quê vùng trung du | 184 | |
Nói về quê hương em, một nơi thành thị
Gợi ý
Nhà em ở Bắc Cạn nhưng Hà Nội là quê hương em – một nơi đô thành tâp nập đông vui, trái tim của cả nước. Mỗi khi được về quê chơi em cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới mới mẻ, lạc lõng giữa bao người. Nào là tiếng còi xe bíp bíp inh ỏi từ sáng tinh mơ cho đêm đêm vẫn không dứt, nào là đèn điện nhấp nháy sáng trưng hoa cả mắt, nào là những ngôi nhà cao tầng cao ơi là cao, em ngửa cổ lên nhìn mãi không chán, nào là siêu thị, công viên… Ôi! Biết bao là thứ mà em không thế kể hết. Chỉ biết rằng nơi đó là một thế giới khác hoàn toàn so với nơi ở của em hiện tại.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết thư cho bố em | Nói về quê hương em, một nơi thành thị | 151 | |
Nói về quê hương em, một thành phố lớn sầm uất
Gợi ý
Em sinh ra và lớn lên trong một thành phố sầm uất và náo nhiệt. Nơi đây có rất nhiều những ngôi nhà cao tầng nhìn như người khổng lồ vươn vai chạm tay đến trời xanh. Thành phố có những con đường với những hàng cây xanh làm mát. Hàng ngày, trên từng con phố, người và xe đi lại tấp nập. Tiếng còi xe inh ỏi như hoà điệu với nhịp sông hối hả nơi đây. Thành phố lung linh huyền ảo nhất là về đêm với những chùm đền sáng rực rỡ, tiếng chuông kêu leng keng, tiếng còi tàu hú…. Đi dạo cùng gia đình bên bờ hồ thật hạnh phúc biết bao….
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Thay mặt tập thể lớp viết thư (điện) gửi tới bạn cũ nhân dịp bạn đoạt Huy chương Vàng môn Nhảy cao trong Hội khoẻ Phù Đổng | Nói về quê hương em, một thành phố lớn sầm uất | 156 | |
Nói về quê hương em, một vùng nông thôn
Gợi ý
Quê hương em có những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Có những bãi dâu xanh và truyền thống trồng dâu nuôi tằm ngàn đời nay. Nằm vắt qua cánh đồng và bãi dâu là con sông quê hương. Con sông Hồng với bao phù sa bồi đắp cho dân làng. Vào mùa nước lên, chúng em thường rủ nhau ra sông bắt cá rất vui và thú vị. Chiều chiều, từng đàn trâu đủng đỉnh nối đuôi nhau trở về, những cậu trâu con tinh nghịch chạy nhảy trên ruộng đồng, thỉnh thoảng lại rúc rúc vào bú tí mẹ trông thật đáng yêu. Cuộc sống của quê em thật thanh bình, yên ấm.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết một bức thư ngắn cho bạn kể những điều em biết về thành thị | Nói về quê hương em, một vùng nông thôn | 141 | |
Nói về quê ngoại của em
Gợi ý
Quê ngoại trong tâm trí em là một vùng quê thanh bình và đẹp đẽ. Đó là một làng nhỏ nằm ven sông nước chảy hiền hoà. Con sống với bao mùa nước lên nước rút. Làng có những con đường nhỏ chạy quanh co như những dải lụa xám ôm lấy xóm làng. Từng nếp nhà đơn sơ, những vườn cây ngọt mát… sao mà thân thương đến thế. Có những buổi trưa hè, mấy chú trâu dưới gốc tre nằm lim dim đôi mắt. Giữa làng có cái hồ rất rộng, hoa sen, hoa súng đua nhau khoe sắc. Xa xa, cánh đồng làng trĩu hạt mênh mông như lòng mẹ. Nhìn những cánh cò sải rộng cánh bay thấy như bao ước mơ của con người nơi đây cũng vụt lên cao…
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Em hãy kể lại một lần được đi tham quan một danh lam, thắng cảnh hoặc di tích lịch sử mà em hằng mong ước từ lâu | Nói về quê ngoại của em | 169 | |
Nói về tinh thần vượt khó, tục ngữ khuyên chúng ta rằng: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Em hiểu câu nói trên như thế nào
Gợi ý
Trong cuộc sống, một trong những bí quyết giúp chúng ta thành công là vượt khó. Trên đường đời chúng ta đâu chỉ có hoa thơm cỏ lạ, mà trước mắt là bao chông gai. Để đạt được thành công của mình đòi hỏi con người ta phải có nghị lực để vượt qua khó khăn thử thách. Vì vậy, câu tục ngữ là lời khuyên, là bài học đắt giá cho mỗi chúng ta:
Lửa thử vàng, gian nan thử sức
Thật vậy, ông cha ta đưa ra hình ảnh hết sức gần gũi quen thuộc. Muốn xem tuổi vàng thì phải thử vàng bằng lửa, ngọn lửa càng cao độ chừng nào thì tuổi vàng càng rõ chừng ấy. Vàng được lửa đốt thì mới định được giá trị của nó. Con người cũng vậy, trước khó khăn mới biết được sức mình, nguy hiểm mà vẫn tiến lên không lùi bước mới có nghị lực.
Cuộc sống không phải là thảm đỏ, hoa thơm nhờ có ý chí bản thân sẽ vượt qua tất cả. Trước gian lao thử thách con người phải có nghị lực và tài năng. Tài năng chính là biết được sức mình và biết được phải đi bằng con đường nào, lựa chọn giải pháp nào để hoàn thành công việc. Trước bài toán khó nếu ta ỷ lại hoặc trông cậy vào người khác thì sẽ chẳng bao giờ tìm được cách giải. Hơn thế ý chí sẽ bị nhụt đi, lòng kiên trì bị thui chột. Hầu như trong cuộc sống nhân dân ta đứng trước bao khó khăn thử thách chông lại thiên tai định họa. Trước khó khăn thử thách như vậy, bằng ý chí nghị lực của mình, mọi người cùng đoàn kết thương yêu chung sức chung lòng chinh phục thiên nhiên. Bằng lòng dũng cảm, không ngại khó khăn, thậm chí đau thương chết chóc, dân tộc ta đánh đuổi được giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, xây dựng nước Việt Nam ngày một giàu đẹp.Xem thêm: Văn tự sự
Bác Hồ – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam ta là tấm gương sáng ngời về tinh thần vượt khó, nghị lực phi thường và lòng dũng cảm vô song:
Không có việc gi khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên
Câu tục ngữ là chân lí sống, để chúng ta mỗi người phải rèn luyện năng lực, tài năng của mình. Những khó khăn trong cuộc sống nhiều vô kể nhưng ta, sẽ đạt được thành công mỗi khi chúng ta có lòng dũng cảm vượt khó. Đã có không ít những kẻ thất bại trong công danh và sự nghiệp chỉ vì nản chí, nản lòng. Đó chính là khó ở lòng người, đứng trước chông gai thường hay run sợ.
Đã có biết bao người suốt ngày giam mình trong phòng thí nghiệm để tìm ra những ứng dụng phục vụ cuộc sống, bao con người vượt lên bệnh tật để sống một cuộc sống có ích cho xã hội. Đó chính là nhờ ý chí nhờ nghị lực để đạt tới thành công trong cuộc sống.
Tóm lại câu tục ngữ là lời khuyên sâu sắc giúp con người vượt trở ngại để đạt tới đích. Trong xã hội hiện nay, thế hệ trẻ chúng ta hãy bằng chính bản lĩnh, sức lực và tài năng của mình vượt lên làm chủ cuộc đời, đạt đến những đỉnh cao trong công danh và sự nghiệp.Xem thêm: Giải thích vì sao Nguyễn Khải lại gọi bà Hiền là hạt bụi vàng trong tác phẩm Một người Hà NộiVanmau.edu.vn | Nói về tinh thần vượt khó, tục ngữ khuyên chúng ta rằng_ “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Em hiểu câu nói trên như thế nào | 635 | |
Đề bài: Anh hãy viết một bài văn ngắn nói về vai trò của sách đối với thanh niên ngày nay
Xã hội ngày nay đã phát triển và thay đổi rất nhiều,dấu vết thời xưa cũng đã dần phai nhoà.Vậy tại sao chúng ta có thể biết được xã hội,con người cuộc sống ngày xưa như thế nào.Để biết được tất cả những điều đó chúng ta phải cần đến sách Vậy sách có vai trò gì với nhân loại.
Sách đã đi vào cuộc sống của chúng ta từ rất lâu rồi.Nó đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi người.Đọc sách giúp ta tích luỹ được nhiều kinh nghiệm,mở mang kiến thức và đặc biệt đọc sách giúp ta cảm thấy thoải mái,yêu đời hơn.Giống như Môngtexkiơ đã nói:“thích đọc sách tức là biết đánh đổi những giờ phút buồn tẻ không thể tránh được trong cuộc đời lấy những giờ phút kì thú”.Đọc sách còn có thể làm thay đổi cả một con người,một cuộc đời.Nói tóm lại đọc sách có rất nhiều lợi ích.
Đọc sách để thành công như Chủ tịch Mao Trạch Đông, như Thủ tướng Chu Ân Lai. Đọc sách để trở thành những nhà lãnh đạo như cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan hay thống đốc bang giàu có hàng đầu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – California như Arnold Schwazenegger. Mỗi lần tìm hiểu về những người thành đạt, sự liên quan giữa sự thành đạt và sách, chúng ta lại càng hiểu thêm mối quan hệ này, càng hiểu thêm giá trị của sách
Xem thêm: Phân tích tâm trạng và ý nghĩ của người mẹ trong “Cổng trường mở ra” của Lý LanTuy nhiên,để đạt được hiệu quả tốt,cần phải có những quyển sách hay,phù hợp với lứa tuổi, và việc cần chú trọng nhiều nhất đó chính là cách đọc sách.Đọc sách phải nghiên cứu,suy ngẫm tìm tòi,chắt lọc những điều hay để áp dụng vào cuộc sống chứ không phải đọc để lấy thành tích.Đọc sách nhiều mà không hiểu chỉ làm cho chúng ta cảm thấy thêm mệt mỏi,chứ không giúp chúng ta mở mang thêm kiến thức.Vì vậy cầm trong tay một quyển sách hay chưa phải là tốt,mà tất cả phụ thuộc vào việc chúng ta có biết đọc quyển sách đó hay không.
Hiện nay sách tràn ngập khắp mọi nơi.Nhưng để tìm được một quyển sách hay,phù hợp với hoàn cảnh lứa tuổi thì không phải là dễ.Nếu muốn tìm được một quyển sách vừa ý chúng ta phải mất hàng giờ ở nhà sách để tìm kiếm.Công việc này mất rất nhiều thời gian và hầu như chẳng mấy lần mang lại được hiệu quả.Vì vậy “Khi gặp được một quyển sách hay,nên mau liền dù đọc được hay không đọc được,vì sớm muộn gì cũng cần tới nó”đó là câu nói quen thuộc của Churchill Sir Winston.
Sách mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích,nó còn được coi là kho tàng cất giữ di sản tinh thần nhân loại.Biết đọc sách tức là chúng ta đã thoát khỏi sự chán ghét của cuộc sống,và hướng tới một tương lai tươi sáng,tốt đẹp hơn.Sách sẽ trở thành một người bạn của tất cả những ai trân trọng nó.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường THPT hay nhất | Nói về vai trò của sách đối với thanh niên ngày nay | 563 | |
Nói về xóm làng quê nội của em
Gợi ý
Quê nội em ở vùng nông thôn. Nơi đây khác hẳn với thành phố. Nó rất yên tĩnh, không khí rất trong lành và đặc biệt là không có tiếng ồn ào, tiếng còi xe máy, ô tô. Nếu em được chọn giữa thành phố và nông thôn, không phải phân vân, em sẽ chọn nông thôn. Sau kì thi học kì II đầy căng thẳng, nơi đây lại là nơi nghỉ hè thư giãn lí tưởng nhất. Ở đây có những bụi tre xanh tốt mà mỗi khi chiều về, những cơn gió lùa qua các khóm tre tạo nên âm thanh thánh thót như tiếng chuông gió, hoà cùng tiếng ve tạo thành một bản nhạc du dương. Những trưa hè nóng nực mà được ngồi dưới bụi tre làng hóng mát thì còn gì tuyệt vời hơn.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Viết một đoạn văn 3-4 câu nói về mùa hè ở nông thôn | Nói về xóm làng quê nội của em | 162 | |
Năm 2014, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) khởi xướng chương trình vận động sống tử tế – một chương trình đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của cộng đồng.
Hướng dẫn
– Đời sống xã hội vốn phức tạp mà ở đó, cái đẹp và cái xấu, cái thiện và cái ác luôn đan xen, đấu tranh với nhau. Nếu xét toàn cục, có thể thấy xu thế thắng bao giờ cũng thuộc về phía cái đẹp, cái thiện. Chính điều này thúc đẩy xã hội phát triển để ánh sáng văn minh toả chiếu mọi nơi. Muốn cho cái đẹp, cái thiện thắng thế, từng con người trong xã hội phải có những hành động cụ thể để làm lan toả những điều tốt lành, sống tử tế – chương trình vận động của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) – chính là một trong nhũng hành động cụ thể mà chúng ta muốn thấy, muốn có đó.
– Chúng ta đang chứng kiến sự suy thoái của nhiều giá trị đạo đức, do một loạt nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá phức tạp đưa đến. Không ít khẩu hiệu to tát giờ đây đã bị thờ ơ, khó có khả năng vực dậy “dân khí” hay nền “luân lí xã hội” (chữ của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh). Phải chăng, đây là lúc chúng ta nên điều chỉnh các chương trình vận động, làm sao để chúng đánh thức lưong tâm của mỗi con người, khơi dậy những “mầm thiện” còn tồn tại rụt rè hay bị che phủ, khuất lấp đâu đó. Rất có thể, Sống tử tế là một chương trình hành động sát hợp với thực tiễn, có thể thu hút được mọi người cùng tham gia, không cần nhiều lắm những phân tích lí luận cao siêu. Chẳng phải hai chữ “tử tế” rất đỗi bình dị luôn xuất hiện hằng ngày trên cửa miệng của chúng ta hay sao?
– Thế nào là sống tử tế. Chắc chắn có nhiều lời giải đáp khác nhau về vấn đề này và tất cả chúng đều có cơ sở riêng không dễ bác bỏ. Ở đây, cần chấp nhận những giải thích khác nhau, và đó cũng chính là một biểu hiện cụ thể của cái gọi là sự tử tế. Tuy vậy, chúng ta cũng nên trở lại với cách lí giải nôm na về mấy chữ này: sống tử tế là sống tốt với xung quanh, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ mọi người, không chỉ biết đến cá nhân mình. Sống tử tế thể hiện qua những việc tử tế, không loại trừ việc tưởng như nhỏ nhặt nhất. “Tích tiểu thành đại”, những việc tử tế nhỏ góp lại thành việc tử tế lớn, làm phục hồi các giá trị đạo đức chân chính, hướng tới xây dựng một cộng đồng xã hội tốt đẹp.
Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc... Sông Mà gầm lên khúc độc hành". (Quang Dũng - Tây Tiến)– Ai cũng có thể có cơ hội làm được những việc tử tế nếu thường xuyên nghĩ đến nó, đến môi trường sống chung của chúng ta. Từng người, tại địa bàn sống cụ thể và ở từng tư cách, cương vị, lĩnh vực hoạt động cụ thể, sẽ có những việc làm tử tế không giống nhau. Việc tử tế đem lại niềm vui cho những người sống quanh mình và cũng đem lại niềm vui cho chính mình nữa. Đừng nghĩ rằng việc tử tế chỉ có ích với cộng đồng. Thực ra, nó cũng có ích đối với mỗi cá nhân người làm việc tử tế, thể hiện quá trình tu dưỡng, tự hoàn thiện nhân cách không ngừng của họ. Nếu tất cả mọi người đều biết làm việc tử tế và sống tử tế thì xã hội trở nên lành mạnh biết bao. Làm lan toả lối sống tử tế là con đường dẫn ta tới một xã hội văn minh, biết đề cao sự bình đẳng và biết tôn trọng các giá trị nhân văn, nhân bản.
– Trong chiến lược xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái, Sống tử tế không thể là cuộc vận động duy nhất. Dù vậy, ta không thể không chú ý đến tính đại chúng và ý nghĩa khởi đầu của nó. Không phải ngẫu nhiên phong trào Sống tử tế được hưởng ứng rộng rãi. Chuyên mục Việc tử tế của chương trình Chuyển động 24h trên kênh VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam hiện đang hằng ngày giới thiệu, tôn vinh, quảng bá rất nhiều việc tử tế của mọi tầng lớp nhân dân. Có thể xem đó cũng là một việc làm tử tế của một cơ quan truyền thông lớn của nhà nước.
– Trong một môi trường sống đầy rẫy những việc không tử tế thì câu chuyện thực hành sự tử tế không phải không gặp những thách thức. Tuy nhiên, tất cả đều có thể được vượt qua nếu ta còn biết nghĩ đến mọi người. Tất cả chúng ta, không ít thì nhiều, đều từng được hưởng sự tử tế hay ân huệ của cuộc đời. Lẽ nào ý thức về sự đáp đền không mảy may xuất hiện trong ta?
Nguồn: thêm: Phân tích triết lý sống trong Hồn Trương Ba da hàng thịt | Năm 2014, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) khởi xướng chương trình vận động sống tử tế – một chương trình đang nhận được sự hưởng ứng tích cực của cộng đồng. | 929 | |
Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Dựa vào văn bản Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Gợi ý
Trong lịch sử văn học dân tộc, áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai. Đó là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Chỉ qua đoạn trích “Nước Đại Việt ta” (Sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 2) ta đã thấy rõ điều đó.
“Bình Ngô đại cáo” ra đời sau khi Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh tan bè lũ xâm lược nhà Minh. Bài cáo ra đời bố cáo với toàn thiên hạ chiến thắng của dân tộc, khẳng định nền độc lâp tự chủ của nước nhà đồng thời cảnh tỉnh ý thức của binh lính nhà Minh về cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược nước ta.
Văn bản Nước Đại Việt ta là phần mở đầu của bài cáo. Tuy ngắn gọn nhưng đoạn trích nêu lên những tiền đề cơ bản, làm nổi bật những quan điểm tích cực, có ý nghĩa then chốt đối với nội dung của toàn bài. Những tiền đề đó là chân lí về nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt.
Văn bản được mở đầu bằng những lời văn đầy nhân nghĩa:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là làm cho dân được hưởng thái bình, hạnh phúc. Mà muốn yên dân thì trước hết phải diệt trừ bọn tàn bạo. Người dân mà tác giả nói đến ở đây là những người dân Đại Việt đang phải chịu bao đau khổ dưới ách thống trị của giặc Minh. Như vậy khái niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với lòng yêu nước, gắn liền với quốc gia, dân tộc. Những kẻ bạo ngược mà tác giả nói đến ở đây không phải ai khác, đó chính là bọn giặc Minh nói riêng và bè lũ xâm lược nói chung.Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn nêu ngắn gọn những nét chính trong tiểu sử của Nguyễn Trãi Đoạn trích được nối tiếp bằng những dòng văn đầy tự hào:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cỡi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời xây nên độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố như: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này, tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc.
Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Quả đúng như vậy! Người anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nước Việt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc – Nam khác biệt. Ta có nền độc lập vững vàng được xây bằng những trang sử vẻ vang. Hùng cứ cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên ở phương Bắc là các triều Triệu, Đỉnh, Lý, Trần ở phương Nam. Hơn thế nữa, bao đời nay:Xem thêm: Phân tích hình tượng người ở ẩn trong bài thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc – bài thơ “Sông núi nước Nam” – thì ở tác phẩm này của Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài Sông núi nước Nam được xác định ở hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài Nước Đại Việt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.
Trong phần văn bản “Nước Đại Việt ta”, tác giả sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt ta. Các từ như: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác,… Bên cạnh đó, biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận (tác giả đặt nước ta ngang hàng với Trung Hoa về nhiều phương diện như: trình độ chính trị, văn hoá,… Đặc biệt, những câu văn biền ngẫu chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật và chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.Xem thêm: Suy tưởng về cái đẹp là nét nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Tuân. Qua tác phẩm “Chữ người tử tù” anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ về ý kiến trên Với tư cách là phần văn bản mở đầu áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, văn bản “nước Đại Việt ta” đã khẳng định lí tưởng yêu nước, thương dân của những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Hơn thế, đoạn trích còn khẳng định vị thế dân tộc trên nhiều phương diện, từ đó thể hiện lòng tự hào dân tộc vô bờ của tác giả.
Vanmau.edu.vn | Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Dựa vào văn bản Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi hãy làm sáng tỏ nhận định trên | 1,076 | |
Nếu anh (chị) không trúng tuyển vào trường đại học
Hướng dẫn
Trọng tâm của bài luận là những quan niệm, suy nghĩ của bản thân về vấn đề trúng tuyển, không trúng tuyển đại học hiện nay. Có thểtham khảo gợi ý sau:
– Giới thiệu sơ lược quan niệm chung của xã hội Việt Nam đối với việc trúng tuyển đại học hiện nay. Trong những người tham dự kì thi tuyển sinh đại học, có một bộ phận không nhỏ sẽ không trúng tuyển và rất có thể anh (chị) là một trong những HS đó…
– Phân tích các quan niệm xã hội về vấn đề đỗ trượt đại học:
+ Các bậc phụ huynh và đông đảo HS đều đặc biệt coi trọng kết quả của kì thi này, coi đó là cánh cửa mở ra tương lai tốt đẹp nhất cho mỗi con người.
+ Những HS trượt trong kì thi đại học thường bị coi là thất bại; gia đình và bản thân họ thường buồn phiền; thậm chí có người chán nản, tuyệt vọng.
– Bàn luận, mở rộng vấn đề:
+ Coi trọng việc học đại học là một quan niệm tích cực. Quan niệm chung này bắt nguồn từ truyền thống coi trọng tri thức, vì thực tế những thanh niên tốt nghiệp đại học có nhiều cơ hội tìm việc làm và tạo lập sự nghiệp. Mặt khác, cách tuyển dụng nhân lực ở nước ta còn nặng về bằng cấp.
Xem thêm: Từ chuyện gia đình trong các tác phẩm Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), bàn về vai trò của gia đình trong đời sống con người+ Tuy nhiên, quan niệm đó có nhiều bất cập. Trên thực tế, không phải ai trúng tuyển đại học cũng đều trưởng thành về nhân cách và thành đạt về sự nghiệp. Đã có không ít sinh viên ra trường khó tìm được việc làm, có cả những sinh viên rơi vào các tệ nạn xã hội… Ngược lại, nhiều bạn trẻ không có cơ hội vào đại học đã thành công bằng con đường học nghề, làm nghề… Trên thế giới có không ít tấm gương thành đạt bằng con đường tự học trên trường đời, mở cho mình một lối đi riêng…
– Liên hệ bản thân: Nếu bản thân không trúng tuyển vào trường đại học, anh (chị) dự kiến sẽ làm gì troug tương lai? Ôn luyện để tham dự kì thi năm tới hay lựa chọn một con đường khác phù hợp với điều kiện và sở trường của mình?
+ Đỗ đại học là một kết quả đáng tự hào, khích lệ nhưng không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công. Nếu trượt đại học, mỗi bạn trẻ đều có thể tự tìm cho mình một hướng đi riêng để trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội.
Nguồn: | Nếu anh (chị) không trúng tuyển vào trường đại học | 487 | |
Nếu anh không cháy lên, nếu tôi không cháy lên, nếu chúng ta không cháy lên, thì làm sao bóng tối có thể thành ánh sáng
Hướng dẫn
Tham khảo một số ý cụ thể sau:
– Mượn cách nói hình ảnh và sử dụng câu hỏi tu từ, nhà thơ Na-dim Hít-mét đưa ra một hiện tượng, đồng thời là một lời thôi thúc, cảnh tỉnh, giục giã, rằng ngay trong bóng tối, ánh sáng có thể bừng lên, và bừng lên từ sự toả sáng của mỗi người.
– Mỗi người cần làm gì để có thể cháy lên? Mỗi người có một cách để tự cháy sáng, bằng trí tuệ, bằng tâm hồn, bằng những việc làm cụ thể, nhưng điều quan trọng là tất cả những ngọn lửa từ mỗi cá nhân phải kết nối và được nhân lên, điền đó cần đến sự đồng điệu, sự sẻ chia trong cuộc sống.
– Lịch sử đã chứng minh rằng bóng tối có thể bừng lên thành ánh sáng nhờ những ngọn lửa cháy sáng của mỗi cá nhân (lấy dẫn chứng cụ thể).
– Câu nói là bài học tư tưởng cho mỗi người: trong những hoàn cảnh tăm tối của cuộc sống cần biết tự tìm cho mình sức mạnh để cháy sáng lên, để mỗi người là mộtĐan-kô, lấy trái tim mình làm nguồn sáng dẫn đường cho những người khác đi qua con đường tăm tối.
– Liên hệ cá nhân để nêu bài học nhận thức và hành động.
Nguồn: thêm: Em hãy tả về gia đình thân yêu của em | Nếu anh không cháy lên, nếu tôi không cháy lên, nếu chúng ta không cháy lên, thì làm sao bóng tối có thể thành ánh sáng | 261 | |
Nếu bạn là người phụ nữ bị bạo hành như trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Hướng dẫn
Câu hỏi mang tính giả định, yêu cầu người viết đặt mình vào hoàn cảnh của người phụ nữ trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa để phát biểu những suy nghĩ về hướng hành động, cách giải quyết vấn đề của mình. Như thế, thực chất đây là đề mở. HS hoàn toàncó thể trình bày ý kiến của riêng mình, cách giải quyết cũng có thể khác… miễn là thuyết phục được người đọc. Khi làm bài cần sự kết hợp kiến thức văn học và kiến thức xã hội. Có thể tham khảo gợi ý sau:
– Nếu bạn là người phụ nữ hàng chài:
+ Bạn sẽ nghĩ gì?
+ Bạn sẽ làm gì/ hành động như thế nào?
– Có nên hoàn toàn ủng hộ, ngợi ca suy nghĩ và sự lựa chọn của người đàn bà hàng chài: hi sinh hết cuộc sống của bản thân mình, chấp nhận chung sống với gã chồng vũ phu trong cảnh "ba ngày một trận nhẹ, nãm ngày một trận nặng" để có người cùng nuôi đàn con, để cho "các con tôi chúng nó được ăn no"? Những đứa con của chị, đặc biệt là thằng bé Phác, có hạnh phúc, có trướng thành nhờ sự hi sinh ấy của người mẹ – khi hằng ngày phải chứng kiến nỗi đau đớn, tủi nhục của mẹ và sự tàn nhẫn, hung bạo của cha?
– Cần phải làm gì để có thể bảo vệ những đứa con mà không phải hi sinh quyền sống của người mẹ?
Nguồn: thêm: Phân tích vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng | Nếu bạn là người phụ nữ bị bạo hành như trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. | 295 | |
Nếu cuộc sống loài người thiếu sách (đề mở)
Gợi ý
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Luận đề nêu lên một giả định: cuộc sống loài người thiếu sách. Từ giả định đó, người viết tiến hành bàn luận về vai trò và tác dụng của sách đối với cuộc sống của con người. Đề bài đặt ra một vấn đề rất rộng dể người viết có thể tự do bàn luận về khía cạnh nào mà mình tâm đắc nhất, bằng những lập luận phù hợp với nội dung trình bày. Sau đây là một hướng triển khai bài làm:
1. Thử tưởng tượng nếu cuộc sống loài người thiếu sách thì sẽ thế nào?
– Thông tin kiến thức?
– Truyền bá kinh nghiệm?
– Giao lưu tình cảm?
– Vui chơi giải trí?
– Tăng cường chất lượng cuộc sống? v.v…
– Thiếu sách, con người có thể sống được không?
2. Từ cuộc sống thiếu sách đó làm điểm tựa, làm nền để bàn luận về vai trò và tác dụng của sách trong cuộc sống của con người ngày nay – đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và toàn thế giới (về các phương diện, hoặc chỉ đi sâu vào một vài phương diện nào đó mà mình cảm thấy cần thiết và tâm đắc nhất).
Anh (chị) hoàn toàn có thể triển khai bài làm theo một hướng khác theo suy nghĩ riêng của mình.
GIỚI THIỆU BÀI VĂN THAM KHẢO
Dưới đây giới thiệu một số đoạn văn tham khảo về vấn đề này nhằm tạo ra một cái nền kiến thức và một số cách lập luận; trên cơ sở đó, anh (chị) tự tìm ra ý tưởng và cách lập luận riêng của mình – miễn sao vẫn bàn luận đúng vào luận đề của đề bài. Ngoài ra còn có một số câu danh ngôn về sách của các nhà văn, nhà văn hóa trong nước và trên thế giới để anh (chị) tham khảo, sử dụng trong bài làm. Xem thêm: Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính 1. ÍCH LỢl CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển cho tâm hồn, trí tuệ, không gì thay thế được việc đọc sách.
Cuốn sách tốt là người bạn giúp ta học tập, rèn luyện hằng ngày.
Sách mở mang trí tuệ, hiểu biết cho ta, dẫn dắt ta vào những chỗ sâu sắc, bí ẩn của thế giới xung quanh, từ sông ngòi, rừng núi cho tới vũ trụ bao la. Sách đưa ta vào những thế giới cực lớn, như thiên hà, hoặc cực nhỏ, như thế giới của các hạt vật chất.
Sách đưa ta vượt qua thời gian, tìm về với những biến cố lịch sử xa xưa hoặc chắp cánh cho ta tưởng tượng tới ngày mai, hoặc hiểu sâu hơn hiện tại.
Sách văn học đưa ta vào thế giới của những tảm hồn người đủ các thời đại để ta thông cảm với những cuộc đời, chia sẻ nhừng niềm vui, nỗi đau dân tộc và nhân loại.
Sách đem lại cho con người những phút giây thư giãn trong cuộc đời bận rộn, bươn chải. Sách cho ta hưởng vẻ đẹp và thú chơi ngôn từ, giúp ta biết nghĩ những ý hay, dùng những lời đẹp, mở rộng con đường giao tiếp với mọi người xung quanh.
Sách là báu vật không thể thiếu đối với mỗi người. Phải biết chọn sách mà đọc và trân trọng, nâng niu những cuốn sách quý
2. PHẢI BIẾT CÁCH ĐỌC SÁCHXem thêm: Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ của Tô HoàiMuôn học giỏi thì trước hết phải đọc sách. Không phải một cuốn sách mà rất nhiều cuốn. Nhưng sách rất nhiều không đọc xuể thì làm thế nào. Tất nhiên không thể bạ gì đọc nấy vì không cần thiết và có hại. Phải biết chọn sách mà đọc. Tuy nhiên, những sách được chọn vẫn nhiều, nhiều bạn nhìn nhừng chồng sách dày mà lòng thêm e ngại.
Nhà bác học Trung Quốc – Hoa La Canh có một câu nói nổi tiếng: "Biết đọc sách thì sách sẽ mỏng". Câu đó nghĩa là thế nào? Mỗi cuốn sách tốt đều chứa đựng rất nhiều tri thức lớn nhỏ. Nhưng dù phong phú, phức tạp như thế nào thì mỗi cuốn sách chỉ chứa đựng một số điều cơ bản nhất. Cái cơ bản và cái tinh túy bao giờ cũng cô đọng, súc tích, do đó đọc sách mà biết nắm lấy cái tinh túy, thì sách dày sẽ biến thành mỏng là như vậy.
Đọc thế nào thì nắm bắt được cái tinh túy? Trước hết hãy đọc – hiểu cuốn sách từng dòng, từng trang, từng mục, từng chương, rèn luyện kĩ năng đọc chuẩn xác. Những chỗ khó đều được tra cứu, tìm hiểu. Tìm hiểu cách đặt vấn đề, cách phát biểu ý, nắm bắt mạch suy nghĩ, các bằng chứng và kết luận. Từ đó một mục có thể tóm tắt thành vài dòng, có thể trích lấy trong sách những câu văn tiêu biểu. Cuốn sách sau khi đọc xong có thể tóm lược vào một vài trang giấy, như thế không phải "sách dày biến thành mỏng" là gì?
Người ta ví người đọc sách như con ong đi hút nhụy. Con ong chỉ hút những nhụy hoa mà nó cần để làm mật. Bay lượn giữa rừng hoa, qua mồi bông hoa, con ong chỉ hút lấy phấn hoa đem về tổ, ủ thành mật ủgọt. Người đọc sách cũng vậy, lọc lấy tinh túy từ những trang sách, ủ thành trí tuệ của mình, rồi công hiến cho đồng loại. Nhưng chỉ những ai biết đọc sách mới làm được việc đó. Xem thêm: Phân tích tác phẩm Đời thừa của Nam CaoDANH NGÔN VỀ SÁCH VÀ ĐỌC SÁCH
1. Không có sách không có tri thức, không có tri thức không có chủ nghĩa cộng sản. (V. I. LÊ-nin)
2. Sách là ngọn đèn bất diệt của sự thông thải tích lũy lại. (Cur-tix)
3. Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng Chẳng bằng kinh sử một vài pho. (Lê Quý Đôn)
4. Những cuốn sách là những chiếc thuyền buồm của tư duy hành trình trên sóng nước thời gian, vận chuyển vô cùng thận trọng thứ hàng hóa quý giá của chúng ta từ thế hệ này sang thế hệ khác. (M. Go-rơ-ki)
5. Hãy yẽu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống. (M. Go-rơ-ki)
6. Đọc sách là cách học tốt nhất, theo dõi những tư tưởng vĩ đại của vĩ nhân là cách học thú vị nhất. (A. Pu-skin)
7. Đọc cuốn sách hay củng như được trò chuyện với người bạn thông minh. (L Tôn-xtôi)
8. Không có quyển sách nào hay đối với người dốt, không có tác phẩm nào dở đối với người thông minh. (Đ. Đi-đơ-rô)
9. Người nào chỉ dọc dôi chút cũng dã có trình độ cao hơn nhiều so với người không đọc gì cả. (V. Bi-ê-lin-xki)
10. Đọc sách mà không suy nghĩ khác nào ăn mà không tiêu. (E. Bur-ke)
Vanmau.edu.vn | Nếu cuộc sống loài người thiếu sách (đề mở) | 1,197 | |
Nếu có hai cái bánh mì, tôi sẽ bán một cái để mua hoa hồng, cả tâm hồn cũng cần phải được ăn uống
Hướng dẫn
Người Nga có câu nói: "Nếu có hai cái bánh mì, tôi sẽ bán một cái để mua hoa hồng, cả tâm hồn cũng cần phải được ăn uống''. Anh (chị) nghĩ như thế nào về câu nói này?
Tham khảo dàn ý sau:
Mở bài: Dẫn câu nói của người Nga và khẳng định cuộc sống của con người chỉ có ý nghĩa khi có sự cân bằng, hài hoà giữa nhu cầu về giá trị vật chất lẫn tinh thần.
Thân bài:
– Giải thích:
+ "Bánh mì": là biểu tượng cho những giá trị vật chất thiết yếu trong cuộc sống của mỗi con người như: cái ăn, nơi ở, cái mặc, những tiện nghi phục vụ nhu cầu của đời sống…
+ "Hoa hồng'': là biểu tượng cho những giá trị, nhu cầu tinh thần của con người trong cuộc sống.
—» Ý cả câu: Cuộc sống của con người cần có sự cân bằng, hài hoà giữa những nhu cầu vật chất và tinh thần.
Nhưng câu nói trên cần được hiểu một cách linh hoạt bởi "nếu có hai cái"… mới quyết định "sẽ bán một cái…" – nghĩa là nhu cầu vật chất là nhu cầu trước tiên, quan trọng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà nhu cầu tinh thần cũng nên được chú ý song hành với nhu cầu vật chất.
– Phân tích, bàn luận:
+ Cần phải nuôi dưỡng tâm hồn vì:
Tâm hồn (hay tinh thần) là một phần quan trọng khiến con người được là người với nghĩa đầy đủ nhất (chứ không phải là con vật, cũng không phải là một cỗ máy).
Xem thêm: Phân tích nhân vật vợ Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim LânNuôi dưỡng tâm hồn để con người được sống theo nghĩa đầy đủ nhất của cuộc sống (hướng thụ vật chất phải song hành hưởng thụ tinh thần).
Nếu không nuôi dưỡng tâm hồn, chỉ quan tâm đến đời sống vật chất và những ham muốn tiền tài, địa vị thì tâm hồn con người sẽ trở nên nghèo nàn, cằn cỗi, con người sẽ dễ rơi vào lối sống ích kỉ, vô cảm, thậm chí bất hạnh, đau khổ.
+ Đểcó đời sống tâm hồn phong phú thì con người phải có đời sống vật chất tương đối đầy đủ. Con người không thể có đời sống tâm hồn phong phú, giàu có nếu đời sống vật chất quá chật vật, nghèo nàn. Ngoài ra, con người cần có ý thức nâng cao giá trị đời sống tinh thần của mình.
– Liên hệ thực tế và rút ra bài học:
+ Cần nhận thức đầy đủ về hai nhu cầu làm nên cuộc sống của mỗi người.
+ Phê phán một số biểu hiện của một bộ phận nhỏ trong xã hội hiện nay có cái nhìn thực dụng khi đánh giá con người, hoặc quá đề cao vật chất mà hạ thấp đời sống tinh thần, đổ "tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống" (Noóc-ma Ku-sin) hoặc quá đề cao đời sống tinh thần, lấy cớ tâm hồn là cao quý, đời sống tinh thần mới đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáne đến đời sống vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn (thực chất, đây là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, không tưởng).
+ Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, không ngừng bồi đắp, nuôi dưỡng, thế giới tâm hồn của mình, nhất là trong cuộc sốnghiện nay.
+ Lao động hết mình để thoả mãn đầy đủ nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân và gia đình.
Kết luận: Khẳng định lại vấn đề; nêu cảm nghĩ/lời nhắn gửi của bản thân.
Nguồn: thêm: Lòng nhân hậu của nhân vật An - đrây Xô - cô - lốp được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Số phận con người của Sô - lô - khốp | Nếu có hai cái bánh mì, tôi sẽ bán một cái để mua hoa hồng, cả tâm hồn cũng cần phải được ăn uống | 672 | |
Nếu em là Huyền Thương, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào?
Gợi ý
Huyền Thương là tên của tôi. Tôi sống ở thành phố Hải Phòng. Tôi đang học tại lớp 2 A, Trường Tiểu học Lê Văn Tám. Tôi thích vẽ tranh và mơ ước của tôi là trở thành một họa sĩ nối tiếng.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Văn biểu cảm - Cảm nghĩ về người thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, bạn, thầy, cô giáo, ...) | Nếu em là Huyền Thương, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào_ | 81 | |
Nếu em là Mai Loan, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào?
Gợi ý
Tôi tên là Mai Loan nhưng các bạn thường gọi tôi là Loan “Mít” vì tôi tròn như hạt mít. Tôi đang học lớp 2E, Trường Tiểu học Kim Đồng. Tôi rất yêu môn toán và có thể tính nhẩm rất nhanh. Mơ ước của tôi là trở thành một cô giáo dạy Toán như mẹ của mình.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Nghị luận xã hội về cách sống | Nếu em là Mai Loan, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào_ | 83 | |
Nếu em là Minh Long, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào?
Gợi ý
Tôi tên là Lê Minh Long. Năm nay tôi bảy tuổi. Tôi sống ở thị trấn Vương, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Tôi rất thích võ thuật và mới theo học một khóa giu-đô. Tôi mơ ước trở thành một vận động viên giỏi.
Vanmau.edu.vn | Nếu em là Minh Long, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào_ | 62 | |
Nếu hành vi chấp hành luật giao thông là một nét đẹp văn hóa, thì văn hóa giao thông cần phải được xây dựng và bồi đắp ra sao
Gợi ý
Trong đề án “Tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông đến năm 2010” được Chính phủ phê duyệt, đã xác định mục tiêu “Xây dựng các quy tắc đi lại văn minh và đưa các tiêu chí về an toàn giao thông vào tiêu chuẩn gia đình văn hóa”. Hà Nội và một số địa phương đã bắt đầu đề cập việc xây dựng văn hóa giao thông như một giải pháp vừa cấp thiết, vừa có ý nghĩa cơ bản, bảo đảm sự bền vững đối với lĩnh vực trật tự an toàn giao thông. Song nội dung văn hóa giao thông có phạm vi rất rộng, vấn đề đặt ra là nên bắt đầu từ những tiêu chí cụ thể nào?
Ai cũng biết, ít có lĩnh vực nào mà sự tiếp xúc giữa con người với nhau lại diễn ra trong dạng động, trên quy mô lớn, phạm vi rộng và liên tục như hoạt động giao thông. Đã có rất nhiều quy định bắt buộc hoặc chỉ dẫn người tham gia giao thông về hành vi, thái độ ứng xử bảo đảm an toàn giao thông và trật tự xã hội.
Trong đó, nhiều tiêu chí văn hóa giao thông đã được “luật hóa” thông qua các quy định bằng văn bản, hệ thống biển báo và tín hiệu giao thông. Điều đó có nghĩa là, ý thức tự giác chấp hành đúng các quy tắc giao thông đã cơ bản thể hiện văn hóa trong giao thông…Xem thêm: Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam
Tuy nhiên, các quy tắc không thể bao quát hết những vấn đề cuộc sống đang đặt ra, Hơn nữa, trong từng giai đoạn, cần nhấn mạnh một số tiêu chí phù hợp bối cảnh thực tiễn.
Theo chúng tôi, trước mắt về “xây”, nên tập trung vào các nội dung: nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, người lái ôtô, trước hết là đội ngũ lái xe khác; định hình thói quen ngồi lên môtô, xe máy là đội mũ bảo hiểm; tự kiềm chế không sử dụng rượu bia khi điều khiển phương tiện…
Về “chống”, trước hết cần chống hành vi đối phó. Bởi vì, hành vi “đối phó” (chỉ cho xe chạy đúng tốc độ khi biết có cảnh sát giao thông ở phía trước, đút tiền cho người thi hành công vụ để tranh bị phạt, ngồi trên mô tô, xe máy buổi tối không đội mũ bảo hiểm hoặc chỉ đội mũ bảo hiểm khi đến gần chổt kiểm tra…) rất dễ “lây lan”, làm giảm hiệu lực của một số quy định đúng và gây ảnh hưởng không tốt đối với những người tham gia giao thông khác.
Khắc phục hành vi “đối phó” cũng rất có ý nghĩa đốì với việc xây dựng môi trường giao thông văn hóa, trong dó có nội dung “người vi phạm tự mình biết hổ thẹn và bị người chung quanh phê phán” dù chỉ bằng ánh mắt hoặc cái lắc đầu bày tỏ thái độ không đồng tình…Xem thêm: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngụcVanmau.edu.vn | Nếu hành vi chấp hành luật giao thông là một nét đẹp văn hóa, thì văn hóa giao thông cần phải được xây dựng và bồi đắp ra sao | 559 | |
Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường.
Hướng dẫn
Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến của Đi-đơ-rô: "Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường".
Tham khảo một số ý triển khai sau:
– Giải thích:
+ Ý kiến của Đi-đơ-rô bàn về việc phải xác định mục đích và mục đích chính đáng, cao đẹp trước khi bắt tay vào làm bất kì một việc gì. Mục đích là cái mà con người muốn đạt tới hay phải làm được khi tiến hành một công việc nào đó. Nếu làm việc không có mục đích, việc sẽ không thành hoặc không mang lại kết quả như ý muốn. Nếu làm việc vì mục đích tầm thường, việc làm đó sẽ không mang lại nhiều lợi ích, giá trị hoặc kết quả của công việc sẽ không được mọi người biết đến và đánh giá cao. Với những việc làm và mục đích tầm thường, anh sẽ trở thành một kẻ vô danh, vô nghĩa, thậm chí bị coi thường.
– Bàn luận, đánh giá:
+ Ý kiến của Đi-đơ-rô khuyên mọi người làm việc phải có mục đích, kế hoạch rõ ràng; đồng thời mục đích đó phải chính đáng, cao đẹp. Điều đó hoàn toàn đúng đắn.
+ Nhưng, đặt ra mục đích chính đáng, cao đẹp không khó, vấn đề là ở chỗ anh sẽ thực hiện và đạt tới mục đích đó như thế nào, nhất là khi mục đích đó quá lớn, vượt quá khả năng của bản thân anh. Thực tế đã chỉ ra rằng: phải có hiểu biết về công việc mình làm, có năng lực, trình độ, kĩ năng, kĩ xảo để thực hiện công việc đó thì anh mới đạt được mục đích mà mình đặt ra. Đồng thời, mục đích đó phải vừa sức; nếu làm việc quá sức hoặc tham lam, anh sẽ gặp phải những thất bại cay đắng.
Song, không nên làm những việc quá quen thuộc, không nên dễ dãi, thoả hiệp hay bằng lòng với bản thân qua những gì đã làm được mà phải biết vươn lên, đương đầu với những thử thách để khẳng định và hoàn thiện bản thân.
– Liên hệ thực tiễn: Rút ra bài học cho bản thân, lấy ví dụ minh hoạ.
Nguồn: thêm: Bình giảng đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: Mình về mình có nhớ ta… Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa. | Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả. Anh cũng không làm được cái gì vĩ đại nếu mục đích tầm thường. | 439 | |
Nếu là người được chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại câu chuyện đó như thế nào?
Gợi ý
Năm nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi, nhưng mỗi lần nghe đứa cháu nội hỏi về chuyện xưa khi mình còn nhỏ được chứng kiến ngày giặc Pháp đô hộ và câu chuyện Lão Hạc trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 cháu học là có thật không, thì lòng tôi lại trào lên bao cảm xúc với kỷ niệm về người hàng xóm già. Đó chính là nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn của Nam Cao. Ký ức sâu đậm về lần ông lão kể chuyện bán chó cho thầy Thứ của tôi cứ hiện lên mồn một.
Ngày ấy tôi mới lên mười, xã hội hỗn loạn, nay thấy đánh nhau chỗ này, mai thấy Tây đi càn chỗ kia. Thầy giáo Thứ đang dậy chúng tôi lớp đệ nhị ở trường làng bên, phải cho đám trò nghỉ. Tôi không biết vì sao, chỉ thấy người ta láo pháo đồn rằng thầy tôi ghét Tây, ngán cảnh chúng dòm ngó trường lớp nên cho chúng tôi nghỉ.
Ngày ngày thầy vẫn sang nhà lão Hạc trò chuyện với ông cụ. Tôi ở gần hay sang qua lại cùng thầy lúc giúp lão dọn nhà, lúc đùa nghịch với con chó Vàng. Không ngờ những chuyện thật về lão Hạc lại được thầy giáo tôi viết thành câu chuyện cảm động đến thế. Cái cảnh lão Hạc kể với thầy tôi về chuyện bán chó là lúc tôi chứng kiến tất cả.
Chả là hôm ấy, tôi đang giúp thầy nhặt đống khoai và lân la hỏi thầy về mấy chữ Hán khó hiểu. Thầy đang giảng cho tôi thì thấy lão Hạc tiến vào. Cái dáng điệu gầy gò của lão, hôm nay trông buồn thảm quá. Vừa nhìn thấy thầy Thứ, lão đã báo ngay:Xem thêm: Hãy tóm tắt văn bản trích Tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố) trong khoảng 5 câu đến 7 câu, trong đó có sử dụng ít nhất một câu ghép– Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
– Cụ bán rồi?
– Bán rồi! Họ vừa bắt xong.
Lão Hạc cố làm ra vẻ vui vẻ nhưng tôi thấy lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước. Thầy tôi chắc cũng ái ngại cho lão nên chỉ ôm đôi bờ vai lão vỗ nhẹ như đồng cảm. Tôi thấy đôi mắt của thầy Thứ cũng như muốn khóc. Thầy hỏi lão Hạc:
– Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những nếp nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…
– Khốn nạn… ông giáo ơi!… Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy, hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục và thằng Xiên, hai thằng chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bây giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!… Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ nằm im như trách tôi, nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo rằng "A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão đối xử với tôi như thế này à?". Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen
Thầy Thứ lại an ủi lão:
– Cụ cứ tưởng thế chứ nó chẳng hiểu gì đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt! Ta giết nó chính là ta hoá kiếp cho nó đấy. Hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác.
Lão Hạc chua chát bảo:
– Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra nó sung sướng hơn một chút… Kiếp người như tôi chẳng hạn!…
Câu nói của lão làm tôi bùi ngùi, thầy Thứ hạ giọng:
– Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?
– Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?
Lão cười và ho sòng sọc. Thầy tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:
– Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc, ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… thế là sung sướng.
– Vâng! Ông lão dậy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.
Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại, thấy vậy tôi tê tái đứng lên:
– Thầy để con đi luộc khoai thầy nhé.Xem thêm: Thuyết minh về một căn bệnh gây nguy hại đến tính mạng con người – Ừ, luộc giúp thầy, nhặt những củ to ấy, để thầy pha nước mời ông xơi – thầy tôi nhắc nhở.
– Nói đùa thế chứ ông giáo cho để khi khác… Lão Hạc ngần ngại.
– Việc gì còn phải chờ khi khác… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại, cụ cứ ngồi xuống đây.
Tôi đi luộc khoai. Thầy Thứ và lão Hạc ngồi nói chuyện lâu lắm, thầy tôi là người nhiều chữ nghĩa, hiểu biết và thương người nên có chuyên gì lão Hạc cũng tâm sự và sẻ chia.
Vừa luộc khoai, tôi vừa nghĩ về lão Hạc nhiều lắm. Tôi thương lão, con người già cả cô đơn nhưng ai cũng quý lão bởi lão sống lương thiện và nhân hậu. Tôi biết lão quý con Vàng của mình lắm vì nó là kỷ vật của anh con trai lão để lại mà. Tôi hiểu vì bần cùng lão mới làm như vậy.
Đã 60 năm, đất nước đổi thay chế độ, lão Hạc không còn, cuộc sống của người nông dân ngày nay đã khác. Nhưng hình ảnh lão Hạc đau đớn vì bán con chó cứ ám ảnh tôi mãi. Đó là kỷ niệm một thời khổ đau của đất nước mà người nông dân phải chịu nhiều cơ cực nhất. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó tôi hiểu hơn về họ, về tình yêu thương chia sẻ của người thầy giáo tôi với những con người khốn khổ, về nhân cách và vẻ đẹp của người nông dân.
Vanmau.edu.vn | Nếu là người được chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại câu chuyện đó như thế nào_ | 1,170 | |
Nếu là ông lão đánh cá trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thê’ nào?
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
Tự giới thiệu nhân vật ở ngôi thứ nhất – ngôi "tôi". Nói rõ vài nét vẻ quê hương, gia cảnh như trong truyện kể.
B. THÂN BÀI
Kể lại câu chuyện đánh cá của ông lão ở ngôi thứ nhất, giữ đúng cốt truyện và tình tiết, xen kẽ miêu tả và phát biểu suy nghĩ một cách hợp lí.
C. KẾT BÀI
Rút ra bài học, viết tiếp ngắn gọn diễn biến sau khi truyện kể đã kết thúc.
Nếu là ông lão đảnh cả trong truyện "Ông lão đánh cá và con cá vàng", em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thế nào?
BÀI LÀM
Vợ chồng tôi sinh sống ngay trên bờ biển. Suốt ngày tôi đi đánh cá còn bà lão ở nhà kéo sợi. Cuộc sống của chúng tôi tuy nghèo nhưng hạnh phúc. Tôi chẳng ước ao gì hơn khi gần cuối đời được sống thanh thản. Song sự đời đâu chiều theo ý muốn của con người dù con người đã cam chịu. Có một chuyện xảy ra khiến cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi.
Hôm đó tôi ra biển đánh cá, vợ tôi ở nhà kéo sợi như thường lệ. Tôi thả lưới lần đầu tiên chỉ thấy rong biển, lần thứ hai trong lưới chỉ có một con cá vàng. Tôi định bắt con cá thì… lạ chưa, cá cất tiếng kêu vang:Xem thêm: Đóng vai chú bọ hung kể lại chuyện Thạch Sanh – Ông lão ơi! Ông sinh phúc thả tôi xuống biển, tôi sẽ đền ơn ông, ông muốn gì cũng được!
Tôi rất ngạc nhiên, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay tôi chưa bao giờ thấy một con cá nào biết nói như vậy, song tôi vẫn thả nó xuống sông và nói:
– Trời phù hộ cho ngươi, ngươi trở về biển khơi mà vùng vẫy. Ta không đòi gì cả, ta cũng chẳng cần gì!
Về nhà tôi đem chuyện đó kể cho vợ tôi nghe, không ngờ bà lão mắng:
– Đồ ngốc, sao không bắt con cá vàng đền cái gì? Đòi một cái máng cho lợn ăn không được à? Cái máng nhà ta gần vỡ rồi!
Tôi nghĩ cũng phải, liền đi ra biển, biển gợn sóng êm ả. Tôi cất tiếng gọi, cá vàng bơi lên hỏi:
– Ông lão ơi, ông cần gì thế?
Tôi chào và nói:
– Vợ tôi muốn một cái máng mới, cái máng nhà tôi đã sứt mẻ cả rồi. Cá trả lời: "Ông lão cứ về đi, đừng băn khoăn gì cả. Tôi sẽ giúp ông, ông sẽ có một cái máng mới".
Tôi về đến nhà, vợ tôi đã có cái máng mới thật, nhưng vừa trông thấy mặt tôi mụ đã quát to:
Đồ ngu, đòi một cái máng thật à? Một cái máng thì thấm vào đâu, đi tìm con cá đòi một cái nhà.
Thế rồi mụ càu nhàu, té tát mãi, không chịu được tôi đành đi ra biển. Biển xanh đã nổi sóng. Tôi cất tiếng gọi cá, cá bơi lên hỏi:Xem thêm: Viết đoạn văn chỉ ra những nét riêng về nghệ thuật miêu tả trong hai văn bản Sông nước Cà Mau và Vượt Thác – Ông lão ơi! Ông cần gì thế? Tôi cúi đầu và nói:
– Cá ơi, giúp tôi với! Mụ vợ mắng tôi nhiều hơn, chẳng để tôi yên chút nào. Mụ đòi một tòa nhà đẹp. Cá vàng đáp ngay:
– Ông lão đừng bàn khoăn quá! Cứ về đi! ông sẽ có một cái nhà to và đẹp.
Trở về nhà, tôi đã thấy mụ vợ ngồi chễm chệ trong căn nhà mới như lời hứa của cá vàng.
Nhưng cũng ngay lập tức, mụ nổi giận lôi đình bắt tôi quay trở lại đòi cho mụ được làm nhất phẩm phu nhân.
"Mụ thì làm sao có thể thành nhất phẩm phu nhân được kia chứ" Tôi thầm nghĩ. Nhưng vốn đã quen chịu đựng, tôi vẫn đi ra biển. Không ngờ theo yêu cầu của tôi, cá vàng đã làm cho mụ được như ý.
Khổ nỗi tôi bị đuổi ra khỏi tòa dinh thự trở thành người quét chuồng ngựa cho vợ từ ngày mụ chán làm nhất phẩm phu nhân mà đòi tôi xin cá bằng được cho mụ làm Nừ hoàng.
Được ít tuần làm Nữ hoàng thấy chán, mụ lại gọi tôi đến và bảo:
– Mày đi tìm con cá vàng và bảo nó là tao không muốn làm Nữ hoàng nữa, tao muôn làm Long Vương ngự trên biển, để bắt con cá vàng hầu hạ theo ý muốn của tao!
Lúc này tôi đã ở vào thế không dám trái ý. Tôi đành lủi thủi đi ra bờ biển. Một cơn giông tố kinh khủng kéo đến, mặt biển nổi sóng ầm ầm. Tôi run run gọi con cá vàng. Con cá bơi lên hỏi:Xem thêm: Kể lại một sự việc dã gây cho em một cảm xúc khó quên – Ông lão có việc gì thế? Ông lão cần gì?
Tôi cúi đầu chào con cá và nói:
– Cá ơi giúp tôi với! Thương tôi với. Tôi sống làm sao được với mụ vợ quái ác này! Bây giờ mụ ấy không muốn là Nữ hoàng nữa, mụ ấy muốn làm Long Vương để bắt cá vàng phải hầu hạ làm theo ý muốn của mụ.
Vừa nghe nói cá vàng lặng lẽ lặn mất tăm. Tôi chờ mãi vẫn chẳng thấy cá vàng trở lại. Đợi mãi, đợi mãi, tôi đành phải quay về trong lòng vồ cùng lo lắng khi nghĩ đến sự giận dữ còn đáng sợ hơn bão biển của vợ.
Nhưng lạ chưa, về đến nơi, tất cả lâu đài nguy nga tôi đã cầu đều biến mất. Trước mắt tôi là túp lều tranh nát khi xưa và mụ vợ đang ngồi quay sợi bên cái máng lợn ăn sứt mẻ.
Tội chợt bừng tỉnh. Chỉ tại mụ vợ tham lam vô độ còn tôi thì từ ông chồng nhu nhược thành kẻ nô lệ mới nên cơ sự này.
Nhìn thấy tôi, mụ vợ tôi chẳng nói gì, cứ cúi đầu kéo sợi. Tôi cầu trời cho mụ trở lại hiền lành như cũ, để tôi trở lại làm chồng và vợ chồng tôi lại được sống thanh thản như xưa.
Vanmau.edu.vn | Nếu là ông lão đánh cá trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thê’ nào_ | 1,079 | |
Nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 là “nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn” Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về nhận định trên
Gợi ý
Nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 là nền văn học hình thành và phát triển gắn với thời kì hào hùng bậc nhất trong lịch sử dân tộc: cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam trước những kẻ thù nguy hiểm nhất của thời đại – thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Lịch sử đã ghi những trang vẻ vang cho truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn nền độc lập tự do của Tổ quốc. Cả dân tộc cùng hoà chung vào một bản đồng ca, say đắm lòng người. Trong thời kì này, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã chi phối lên toàn bộ đời sống văn học, tạo nên những tác phẩm còn lại mãi với thời gian.
Cuộc chiến tranh kéo dài cùng với hàng loạt những sự kiện (Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc cách mạng dân chủ ở nông thôn, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chiến thắng mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước…) đã tác động và ghi dấu ấn đậm nét trong vãn học. Phù hợp với những đòi hỏi của thời đại, nền văn học nổi bật lên với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
“Khuynh hướng” là cộng đồng các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sư thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mĩ – tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật. “Khuynh hướng sử thi” là một khuynh hướng sáng tác văn học nhăm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân, có ý nghĩa trọng đại đối với toàn dân tộc. Đó có thể là các vấn đề về độc lập dân tộc, tự dò của con người, những tình cảm mang tính cộng đồng như tình yêu nước, tình đoàn kết, thương yêu đồng bào… Khuynh hướng sử thi cũng thường thể hiện trong những nhân vật mang tầm vóc thời đại, có khả năng đại diện cho tinh thần và sức mạnh của thời đại trong một thời kì nhất định.
“Cảm hứng” là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm, gắn liền với một tư tưởng nhất định, một sự đánh giá nhất định gây tác động đến xúc cảm của người tiếp nhận. “Cảm hứng lãng mạn” thể hiện những ước mơ, những khát vọng đẹp của con người và mong muốn thực hiện được chúng giông như những gì mình mơ ước. Nó tôn thờ cái đẹp, lí tưởng hoá cái đẹp và bao trùm lên tất cả bằng cảm hứng ngợi ca. Cũng chính vì những đặc trưng đó mà người ta chia cảm hứng lãng mạn theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Lãng mạn tiêu cực là những cảm xúc hoặc bi luỵ hoặc xa rời thực tế, trôn tránh vào những miền ảo mộng không có thực, vào quá khứ… có khả năng ru ngủ con người. Đốì lập với nó là cái lãng mạn tích cực, tức lãng mạn nhưng vẫn bắt nguồn từ thực tế, gắn với thực tế, hướng con người tới những tình cảm tốt đẹp, biết ước mơ, khát vọng và phấn đấu vì những ước mơ khát vọng ấy. Và tất nhiên, cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng là một trong những cảm hứng sáng tác tích cực như thế.
Nói nền văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn tất nhiên là hoàn toàn có cơ sở. Khởi nghĩa thành công, đất nước ta bước vào một giai đoạn mới: bảo vệ thành quả cách mạng hướng tới thông nhất hoàn toàn nước nhà. Hoàn cảnh chiến tranh ác liệt đặt cả dân tộc vào chung một nhiệm vụ, một mục đích, một lí tưởng, chung một khuôn mặt. Vì vậy, mọi vấn đề để nói tới, để viết đều hướng về toàn dân. Đối với con người thời kì này, không có chỗ cho những tình cảm cá nhân, riêng tư. Cái tôi được hoà vào cái ta chung của dân tộc như một triết lí sống:Xem thêm: Phân tích nhân vật Uy-lít-xơ trong trích đoạn: Uy-lít-xơ đấu trí, đấu lực với Pô-li-phem“Ổi Tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vạ như chồng
Ổi Tổ quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông”
Trong vai trò người “thư kí trung thành của thời đại”, văn học đặt người nghệ sĩ vào vị thế của một người “mặc đồng phục” để “hát bài đồng ca” của cả dân tộc. Nhà văn, nhà thơ không chỉ là chỉ là nghệ sĩ mà còn là chiến sĩ, thâm nhập vào thực tế cuộc sống để phản ánh nó một cách đầy đủ và chân thực nhất. “Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ.
Nhà thơ nghĩ theo những điều Đảng nghĩ
Nhà thơ bay theo những điều dân tộc đang bay”
Không chỉ có vậy, do yêu cầu cuộc kháng chiến cũng như thực tế đầy đau thương mất mát, đòi hỏi văn học phải hướng tới ước mơ, tới những khát vọng cao đẹp là điểm tựa cho con người tiếp tục sống và chiến đấu. Lãng mạn nhưng vẫn không xa rời thực tế mà từ thực tại để hướng tới tương lai. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn bắt đầu từ đó. Hai đặc điểm này thể hiện trong văn học học sau năm 1945 ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng có thể tập trung lại ở một số nét tiêu biểu về nội dung và hình thức nghệ thuật.
Điều đầu tiên phải nói đến trong khuynh hướng sử thi là ở chỗ văn học Việt Nam giai đoạn này đề cập đến những vấn đề lịch sử trọng đại của dân tộc, mang ý nghĩa toàn dân, những vấn đề của cả cộng đồng, dân tộc. Xuất hiện rất nhiều tác phẩm viết về đề tài chiến tranh với đau thương, mất mát, gian khổ và thắng lợi cao cả. Đó là cuộc đấu tranh của người dân Tây Nguyên, của dân làng Xô Man nhưng cũng chính là cuộc đấu tranh của toàn dân tộc (Rừng xà nu – Nguyễn Thành Trung). Lịch sử của họ là lịch sử của một thời cùng nhau xây dựng làng bản, lịch sử của một thời “đất nước đứng lên”. Là cuộc đấu tranh của người dân Nam Bộ, của mảnh đất Tam Ngãi trong “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi, giẳi phóng nó khỏi bàn tay thống trị của bọn địa chủ, phong kiến, khỏi tiếng bom đạn và tiếng máy bay địch ngày đêm gào rú. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, văn học còn thể hiện bước chuyển mình vĩ đại của toàn dân tộc, những cuộc vận động tham gia xây dựng vùng kinh tế mới làm giàu cho đất nước như câu chuyện ở mảnh đất Điện Biên trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải hay “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:
“Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bấc chứ còn đâu Văn học thường xuyên đề cập đến những tình cảm lổn mang tính chất truyền thống, nổi bật”.
Khuynh hướng sử thi cũng được thể hiện ở những đặc điểm như lòng yêu nước, tình cảm nhân đạo và nhân văn. Chiến tranh đặt con người giữa ranh giới cả sự sống và cái chết nhưng con người vẫn sẵn sàng chiến đấu dù có phải hi sinh tất cả. “Rừng xà nu” là câu chuyện của Tnú, của cả dân làng Xô Man trong đó nổi bật lên là lòng yêu nước. Từ cụ Mết, Tnú, Mai đến Dít, Heng là sự tiếp nối của truyền thông yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết, bay còn sống, phải nói lại cho con cháu”. Là chị út Tịch với quyết tâm đánh giặc lúc nào cũng rừng rực cháy. Câu nói “còn cái lai quần cũng đánh” của chị sẽ mãi như một minh chứng hùng hồn cho chị cũng như những con người miền Nam yêu nước kiên cường. “Mảnh trăng cuối rừng” lại là một câu chuyện tình lãng mạn. Con người yêu và gặp nhau trong chiến tranh đã hài hoà tình yêu của mình vào tình cảm lớn của toàn dân tộc, khiến cho nó trở nên có sức sống mãng kiệt, vượt qua mọi thử thách của thời gian, của bom đạn chiến tranh ác liệt.
Không chỉ có thế, trong các tác phẩm thời kì này người ta còn bắt gặp niềm tự hào của tác giả về phẩm chất và sức mạnh của con người Việt Nam. “Rừng xà nu” là sự lắng nghe và ghi lại nhịp sống hào hùng của người dân Tây Nguyên; khám phá và chiêm nghiệm vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất anh hùng trong những con người mộc mạc mà cao cả. Xây đựng tác phẩm Nguyễn Trung Thành không chỉ ngợi ca tự hào về một cá nhân cụ thể và còn là sức mạnh của cả một tập thể anh hùng. Đó cũng là niềm tự hào về một đất nước tươi đẹp, trong đau thương nhưng vẫn vượt lên tất cả, chói loà chiến thắng:Xem thêm: Phân tích nhân vật Chiến trong Những đứa con trong gia đình (Có dàn ý chi tiết)“Nước Việt Nam từ trong máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà”.
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Cảm hứng sử thi được thể hiện trong hình tượng nhân vật trung tâm là những người anh hùng hoặc những người mang phẩm chất anh hùng, sống với lí tưởng và mục đích cao đẹp, thể hiện sức mạnh và mục đích cộng đồng. Chị út Tịch là một người lao động bình thường nhưng lại có những ý nghĩ và hành động phi thường. Chị trở thành điển hình tập trung cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc. Cái nhìn có phần sử thi thể hiện ngay ở biệt danh “bà Hồng”, “ông Cống” – những vị thần có sức mạnh trân áp ma quái – của vợ chồng chị đến những hành động anh hùng: tay không nhưng vẫn lấy được đồn giặc, có thai nhưng vẫn “vác bụng” đi đánh giặc và đánh thắng như thường. Phẩm chất anh hùng của nhân vật này không chỉ thể hiện cụ thể ở hành động mà còn trong cả suy nghĩ và lời nói. Chị đã hùng hồn tuyên bố: “Còn cái lai quần cũng đánh”, bảo thẳng với chồng nếu theo giặc là bỏ… Tình cảm cá nhân được hoà vào chung với tình cảm đất một cách hoàn toàn tự nhiên và tự nguyện. Hiện lên trong văn học còn là những tập thể anh hùng nhiều thế hệ đang ngày đêm chiến đấu, bám đất bám làng để giữ từng tấc đất, ngôi nhà: “Lớp cha trước, lớp con sau. Đã thành đồng chí chung câu quân hành”. “Rừng xà nu” là câu chuyện về một tập thể anh hùng nhiều thế hệ mang vẻ đẹp tâm hồn của người dân Tây Nguyên nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Ta bắt gặp hình tượng cụ Mết như là cội nguồn dân tộc, là Tây Nguyên thời đất nước đứng lên còn trường tồn đến tận hôm nay, ông như lịch sử bao trùm nhưng không che lấp đi sự nối tiếp mãnh liệt và ngày càng mãnh liệt hơn; là hiện thân cho nét đẹp truyền thống, nét đẹp ngàn xưa của dân làng, cho sức sống, sức mạnh của dân tộc Tây Nguyên. Dòng máu anh hùng ấy tiếp tục chảy trong Tnú, trong Mai và những cô bé Dít, cậu bé Heng sau này. Tnú đã vượt qua cuộc đời đầy bi kịch đau thương của bản thân đẻ sống và chiến đấu cho đất nước. Anh hiện lên mang vẻ đẹp của một người chiến thắng số phận, của một vị anh hùng. Phẩm chất anh hùng được bộc lộ ngay từ tấm bé được rèn luyện trong chiến đấu xứng đáng kế tục truyền thống của dân tộc mình. Cũng là những phẩm chất ấy nhưng khi ở trong tâm hồn của những cô gái trẻ có tâm hồn lãng mạn trên cao điểm thì lại thật đặc biệt, ở đó vừa có sự tinh tế, giàu tình cảm của người con gái lại vừa là những phẩm chất cách mạng đáng được ngợi ca là tinh thần trách nhiệm, lòng quả cảm không sợ hi sinh và một quyết tâm công hiến sắt đá. Hình tượng nhân vật anh hùng tập trung thể hiện khuynh hướng sử thi cũng là những gì ta tìm thấy trong “dòng sống truyền thống” của gia đình chị em Chiến, Việt (Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi). Tất cả những hình tượng nhân vật trung tâm đều gặp nhau ở một điểm là tinh thần quả cảm, kiên định, lòng yêu thương đồng loại. Họ đã biết biến đau thương thành hành động, vượt lên nỗi đau cá nhân để chiến đâu vì nỗi đau của đồng loại. Phẩm chất anh hùng trở thành giọt máu hồng chảy suốt trong tim mỗi người con Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xây dựng con người trong mối quan hệ hài hoà riêng – chung người nghệ sĩ đã đi đến một chân lí: Chính những người Việt Nam như thế đã làm nên đất nước.Xem thêm: Nêu suy nghĩ của em về chức năng giáo dục của tác phẩm văn học- Văn 12 Điều đáng nói ở đây là trong hầu hết các sáng tác, các tác giả đều xây dựng hình tượng thiên nhiên cũng mang vẻ đẹp như một sự hô ứng cho hình tượng con người mang tính sử thi. Những cây xà nu hiên ngang chống chọi lại bom đạn ác liệt, sừng sững như một lời thách thức hay chính là hình ảnh của người dân Xô Man, của cụ Mết và Tnú…? Núi rừng Trường Sơn trong chiến tranh làm tôn thêm vẻ đẹp lãng mạn của nhân vật trữ tình Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu) cũng như thiên nhiên khấc nghiệt bị tàn phá bởi chiến tranh trên cao điểm làm nổi bật lên sức mạnh quật cường của con người. Một điểm chung thường thấy đó là những bức tranh thiên nhiên rộng, hùng vĩ, hoặc vô cùng khắc nghiệt. Chúng mang tính biểu tượng hoặc có vai trò đắc lực trong việc thể hiện phẩm chất cao đẹp cũng như tâm hồn gan góc, anh dũng của con người.
Khuynh hướng sử thi lại đi cùng với cảm hứng lãng mạn trong văn học sau năm 1945 như một tất yếu. Thực ra, ngay trong việc phi thường hoá con người, việc xây dựng hình tượng nhân vật mang phẩm chất anh hùng kiệt xuất đã là một biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn. Chỉ có điều chúng luôn luôn được bất nguồn từ cơ sở thực tại vững chắc nên không hề viển vông xa rời. Bắt nguồn từ hiện tại để "hướng tới tương lai. Xây dựng những ước mơ khát vọng đẹp để có thêm niềm tin vào cuộc sống, vượt qua thử thách, hi sinh. Điều này hoàn toàn mang ý nghĩa thực tế đẹp đẽ và lớn lao. Người ta bắt gặp giữa bom đạn ác liệt bức tranh thơ mộng của rừng núi Trường Sơn, nơi cô gái mang tên vầng trăng – Nguyệt – và mốì tình lãng mạn của cô hiện lên đẹp như cổ tích. Bắt gặp hình ảnh những người lính Tây Tiến trong gian khổ vẫn đầy hào hoa, lãng mạn:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Có thể nói, chính sự hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã góp phần xây dựng nên những hình ảnh đẹp và vĩ đại về đất nước, con người. Nhờ có sự kết hợp đó và có lẽ chỉ có nó mới giúp phản ánh một cách trung thực nhất một thời kì lịch sử đau thương nhưng cũng đầy vẻ vang của dân tộc, làm nên những hình tượng đẹp về đất nước và con người trường tồn mãi cùng thời gian và lịch sử dân tộc.
Để thể hiện khuynh hướng và cảm hứng này, văn học đã sử dụng hình thuật đặc biệt. Trước hết, chất sử thi được thể hiện trong giọng điệu ngợi ca hào sảng mà trang trọng; lây chất thơ để nói về một hiện tại đầy đau thương; màu sắc phóng đại khoa trương được sự nâng cánh của cảm hứng lãng mạn tạo nên những hình ảnh đẹp, phóng khoáng và đầy gợi cảm. Không chỉ có thế, nhờ cảm hứng lãng mạn, văn học lấy ước mơ để miêu tả những điều không như mơ ước, dùng con mắt tương lai để nhìn hiện tại nên giọng vãn không chỉ đầy tự tin mà còn chứa đựng niềm tự hào và ngợi ca say đấm.
Mỗi thời kì văn học lại gắn với một giai đoạn lịch sử cụ thể và phản ánh chân thực về giai đoạn ấy. Lịch sử Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, khi mà “cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai” hiện lên trong khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn không chỉ có giá trị như một lời ngợi ca đất nước và nhân dân anh hùng, kiên cường trong gian khó mà còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học chung của dân tộc, mang lại cho nó giá trị vĩnh hằng.
Vanmau.edu.vn | Nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 là “nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn” Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về nhận định trên | 3,066 | |
Đề bài: Nghị luận Nỗ lực học là trách nhiệm của thanh niên
Lênin từng có câu: “Học, học nữa, học mãi”. Câu nói trên đã khẳng định tầm quan trọng thiết yếu của việc học. Và để việc học của chúng ta đạt được kết quả tốt đẹp thì mỗi cá nhân cần xác định rõ mục đích học tập cho bản thân. Vì lẽ đó mà UNESCO đã đề xướng:“Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khằng định mình”. Vậy chúng ta hãy cùng làm rõ vấn đề trên.
“Học” là sự tiếp thu kiến thức ở nhiều lĩnh vực không chỉ từ nhà trường mà còn từ cuộc sống. Ông bà ta khi xưa thường khuyên con cháu: “ Không biết thì hỏi, muốn giỏi phải học”. Thật vậy, để mở mang sự hiểu biết cũng như tích luỹ tri thức quý giá thì con người ta luôn phải trải qua quá trình học tập không ngừng nghỉ. Bạn có thể biết được những điều hay, mới lạ, bổ ích bằng cách tìm tòi học hỏi qua sách vở, qua thầy cô,bạn bè cũng như từ thực tế cuộc sống. Chỉ cần luôn cố gắng và có tinh thần ham học hỏi, chắc chắn ta sẽ giải đáp được những điều ta muốn biết và hơn nữa là hiểu thêm về những điều ta chưa biết. Nhờ vậy mà bản thân luôn bắt kịp với thời đại, với sự phát triển vượt bậc của xã hội. Bên cạnh việc học để tiếp thu kiến thức, chúng ta còn cần xác định cho mình một mục đích học tập quan trọng khác nữa, đó là “học để làm”.Ta có thể hiểu “học để làm” ở đây là vận dụng những kiến thức mình đã học vào cuộc sống. Hay nói rõ hơn là học cho tương lai, học để mai sau có thể kiếm được công việc, nghề nghiệp ổn định nhờ đó nuôi sống bản thân và cống hiến sức lực, trí tuệ cho đất nước… Vậy còn “học để chung sống” là như thế nào? Hẳn ai cũng biết,cuộc sống quanh ta vốn muôn màu muôn vẻ, đa dạng và vô cùng phức tạp với nhiều mối quan hệ. Việc “học” trong trường hợp này được hiểu là học cách đối nhân xử thế, học những điều hay lẽ phải cũng như cách sống đẹp. Quan hệ giữa người với người đi đến tốt đẹp, hoà hảo hay mâu thuẫn, xung đột đều là do chúng ta quyết định. Nếu biết cư xử phải lẽ với nhau, biết nghĩ cho nhau, cho tập thể thì hẳn mỗi người đểu cảm nhận được niềm hạnh phúc khi cho đi và nhận lại.
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Sơn trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa của Thạch LamMặt khác, “học để chung sống” còn là học tập và tuân theo những chuẩn mực về đạo đức, pháp luật để trở thành một cong dân gương mẫu, góp phần xây dựng bộ mặt văn minh, tích cực cho đất nước. Cuối cùng là “học để tự khẳng định mình”. Ai mà không muốn được mọi người kính nể, ai mà không muốn đạt được địa vị cao cũng như gặt hái được thành công trong cuộc sống. Thế nhưng không phải muốn là có thể có được mà ta phải trải qua sự rèn luyện, học tập chăm chỉ. Vì lẽ đó mà mỗi chúng ta phải luôn nổ lực tìm tòi kiến thức, cố gắng học thật giỏi để chứng minh được mình là người hữu ích và khẳng định tài băng của chính bản thân. Có thể nói, bốn yếu tố trênđóng vai trò hết sực quan trọng cho sự học. “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” là yêu cầu tiếp thu kiến thức rồi vận dụng nó vào thực hành, vào hành động trong cuộc sống từ đó hoàn thiện nhân cách và khẳng định chính bản thân.
Là học sinh, việc đầu tiên chúng ta cần làm là phải ra sức học tập văn hoá để ứng dụng kiến thức đã học vào thức tế. Nhưng học giỏi vẫn chưa đủ mà ta còn phải rèn luyện nhân cách, đạo đức. Có những người rất giỏi giang, thành đạt nhưng chỉ biết có bản thân mình mà không nghĩ đến tập thể, không bao giờ biết giúp đỡ cộng đồng, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn mình. Như vậy là họ đã bỏ qua việc học để chung sống với xã hội. Cũng có những bạn chẳng xác định được mình học để làm gì. Các bạn ấy chỉ học qua loa, đối phó sao cho đủ điểm, học chỉ vì nghĩ ba mẹ ép buộc mà không hiểu rằng việc học có ý nghĩa rất quan trọng cho tương lai của mình. Bởi lẽ đó, mỗi học sinh hãy luôn có ý thức học tập và có trách nhiệm với chính bản thân cũng như gia đình và xã hội. Tóm lại, việc học là rất quan trọng không chỉ với mỗi cá nhân mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội. Do đó, mỗi chúng ta, nhất là thế hệ thanh niên thế kỉ XXI hãy xác định cho mình mục đích học tập và phấn đấu nổ lực hết mình để mai này trở thành công dân có ích, góp phần xây dựng đất nước thêm giàu mạnh.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nghị luận xã hội về mái ấm gia đình | Nỗ lực học là trách nhiệm của thanh niên | 941 | |
Nỗi nhớ của người xa quê qua bài ca dao: Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Gợi ý
Đa cảm và giàu tình cảm, con người việt Nam yêu thương hết thảy những người, những vật của quê hương mình. Và khi đi xa, tình yêu ấy biến thành nỗi nhớ. Lúc da diết, khắc khoải. Lúc đau đáu thiết tha. Lúc giản dị chân chất. Dù ở cung bậc nào cũng gây xúc động sâu sắc trong lòng người đọc. Bài ca dao sau cũng đem đến cho ta niềm xúc động ấy:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nuớc bên đường hôm nao
Về bài ca dao này, có người cho rằng nó là lời tỏ tình với cô thôn nữ của chàng trai làng sắp đi xa. Cách hiểu thứ hai: Chàng trai đã đi xa lâu ngày, anh nhớ quê, nhớ người con gái làng quê mà anh từng thầm yêu trộm nhớ. Quê nhà và cô gái đã trở thành kỉ niệm sâu sắc, kết đọng thành nỗi nhớ không thề nào quên.
Hai câu đầu nói lên nỗi nhớ quê:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Anh đi trong văn cảnh, nghĩa là đã đi xa, đã lâu ngày. Anh đi làm thợ, đi lính thú, đi tha hương cầu thực… Nay ở nơi đất khách quê người, năm tháng đã trôi qua, anh mới có nỗi nhớ ấy: nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Ba chữ nhớ diễn tả nỗi nhớ triền miên, day dứt, khôn nguôi. Nhớ quê nhà là nhớ ông bà, mẹ cha, anh chị em; là nhớ mái rạ, hàng cau, mảnh vườn, chiếc áo, luỹ tre; là nhớ đồng lúa xanh, cánh cò trắng, con diều biếc… nhớ bạn bè tuổi thơ. Bốn tiếng anh nhớ quê nhà thật hàm súc, gợi lên bao nỗi nhớ đầy vơi. Đúng là khi ta đi đất đã hoá tâm hồn (Chế Lan Viên). Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả một vườn cây ăn trái
Câu thứ hai nói lên hai nỗi nhớ rất cụ thể. Anh đi xa, anh nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Đó là hương vị đậm đà của quê nhà thân yêu. Quê nghèo, chỉ có món ăn bình dị ấy. Anh mộc mạc, chất phác, anh rất yêu quê nhà, anh nhớ hương vị của canh rau muống, nhớ quả cà dầm tương. Đâu cứ phải cảnh giàu sang phú quý, có cơm gà cá gỡ… mới nhớ? Anh nhớ cái bình dị của quê hương, một bát canh, một quả cà… với tất cả tâm hồn. Anh thuần hậu, chất phác và đáng yêu. Vả lại, bát canh rau muống, quả cà dầm tương là hương vị của cây nhà lá vườn, trong đó còn có tình thương của người mẹ hiền tần tảo sớm khuya. Sau này, nhiều nhà thơ đã có những vần thơ đẹp viết về quê hương như Hương nhãn, Hương cốm mới, Canh cá tràu, Canh mồng tơi… Hương quê, tình quê sâu đậm biết nhường nào:
Canh cá tràu mẹ thường hay nấu khế
Khế trong vườn, thêm một tí rau thơm
Ừ, thế đó mà một đời xa cách mẹ
Ba mươi năm trở lại nhà, nước mắt xuống mâm cơm.
(Canh cá tràu – Chế Lan Viên)
Hai câu 3, 4 nỗi nhớ của anh đã hướng sang một đối tượng mới. Từ nhớ cảnh, nhớ quê, nhớ hương vị quê nhà, anh nhớ đến người:
Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Xem thêm: Nhà văn lớn người Pháp, Mác-xen Pruts cho rằng: “Đối... biết đến”. Vận dụng phong cách nghệ thuật của một tác giả để phân tích và chứng minh ý kiến trên Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Nhớ ai rồi lại nhớ ai dào dạt trào dâng trong lòng. Ai là đại từ nhân xưng phiếm chỉ. Nỗi nhớ ấy hướng về những người thân thương ở quê nhà dãi nắng dầm sương, chân lấm tay bùn vất vả. Nhớ ai ở đây còn có thể nhớ cả những người không quen biết như nhà thơ Tế Hanh đã thổ lộ trong bài Nhớ con sông quê hương.
Điệp ngữ nhớ ai diễn tả nỗi nhớ nhiều man mác, bâng khuâng. Nỗi nhớ mà anh hướng tới cuối cùng là nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Ai trong câu thơ này là cô thôn nữ hay lam hay làm duyên dáng mà anh đã thầm yêu trộm nhớ. Hôm nao là hôm nào, là đêm trăng. Cảnh lao động của em mà anh nhớ là tát nước. Nơi tát nước cũng là nơi hò hẹn, đó là bên đàng. Có thể có một kỉ niệm mà nghìn năm chưa dễ mấy ai quên. Kĩ niệm ấy đã hơn một lần được nói đến:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Bốn câu lục bát có âm điệu nhẹ nhàng, diễn tả một tình cảm đẹp: tình thương nhớ quê nhà. Giọng thơ cũng thật bồi hồi, bâng khuâng. Điệp từ nhớ và điệp ngữ nhớ ai chính là thủ pháp tạo nên giọng thơ ấy. Cái hay, cái đậm đà của bài ca dao là nhớ quê hương, nhớ cô thôn nữ từng hẹn ước đã làm cho nỗi nhớ quê nhà thêm thiết tha, sâu nặng… Xem thêm: Qua văn bản "Một thứ quà của lúa non: cốm" của Thạch Lam, em hãy phát biểu cảm nghĩ về cây lúa Việt NamVanmau.edu.vn | Nỗi nhớ của người xa quê qua bài ca dao_ Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao | 953 | |
Nỗi nhớ quê hương da diết qua bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch
Gợi ý
Quê hương – hai tiếng gọi thân thương trìu mến mà mỗi ai đi xa đều đau đáu trong lòng. Quê hương trong mỗi người đã trở thành máu, thành thơ, thành một phần của tâm hồn. Đối với Lý Bạch – thi nhân suốt một đời xa quê thì tình yêu quê hương lại càng dâng trào mãnh liệt qua bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh:
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương.
Mở đầu bài thơ là một thế giới ảo diệu tràn ngập ánh trăng.
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương (Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đắt phủ sương)
Trăng không chỉ giới hạn ở nơi đầu giường, mà ánh trăng bao trùm cả không gian toả khắp căn phòng nơi tác giả nghỉ trọ. Trăng như dòng suối chảy miên man khắp đêm sâu. Cảnh vật như say dưới trăng, giữa khoảnh khắc đêm sâu như vậy, ánh trăng là chủ thể trong cuộc sống tĩnh lặng. Hơi thở của tạo vật đất trời cũng nhè nhẹ sợ làm vỡ tan cái êm dịu của đêm trăng.
Với Lý Bạch – một hiệp khách thì ánh trăng sáng trong quán trọ không phải là chuyện lạ. Nhưng với thi nhân thì ánh trăng đêm nay rất khác lạ. Ánh trăng len lỏi vào tận đầu giường nơi tác giả nằm. Ánh trăng không phải là vô tri vô giác, nó như biết được nơi người hiệp khách dừng chân. Trăng chủ động tìm đến trò chuyện, tâm sự cùng tác giả. Trong khoảnh khắc đêm thâu tĩnh lặng, ánh trăng trong sáng và tinh khiết được tác giả chào đón nồng hậu. Trăng sáng quá, đẹp quá khiến tác giả: Xem thêm: Giới thiệu vài nét về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư Nghi thị địa thượng sương
Ánh trăng rọi ngỡ là sương mặt đất, chỉ một hình ảnh thôi mà gợi tả một thế giới cảm xúc. Đây là một hiện tượng rất bình thường, nhưng với tác giả thì hiện tượng này tạo cảm hứng mãnh liệt. Sức liên tưởng kì lạ làm hình tượng thơ sống dậy. Trăng hay là sương bao phủ mặt đất? Trăng là thực mà lại không thực? Bằng chất lãng mạn, thi nhân đã nâng ánh trăng lên đến mức diệu kì. Vầng trăng trở nên như cõi thiên thai. Sương khói của ánh trăng làm cho câu thơ ngập trong không khí mơ màng, hư hư thực thực. Cả trăng và thi nhân đã giao hoà, giao cảm quyện làm một. Phải thật tĩnh lặng mới nghe được tiếng trò chuyện thầm thì của trăng và thi nhân. Một sự quan hệ qua lại như đền đáp ân huệ mà thiên nhiên ban tặng cho thi nhân cũng như lòng ngưỡng mộ của thi nhân với trăng. Rất tự nhiên, nhẹ nhàng thi nhân hướng về nàng tiên trong đêm sâu.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
(Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương)
Tư thế nhìn trăng là một tư thế rất tự nhiên của thi nhân, trong giây phút ấy tác giả gửi trọn hồn mình cho trăng phút chốc tâm tư bỗng trĩu nặng rồi dồn nén vội quên đi cả vũ trụ đất trời đang mời gọi. Đê đầu nhớ về quê cũ yêu thương. Đêm nay trăng sáng nơi quê người, trong quán trọ trên bước đường lữ thứ, tâm hồn nhà thơ sao không khoắc khoải bồn chồn. Ánh trăng đêm nay hay chính ánh trăng ngày nào trên núi Nga Mi hiện về. Bỗng chốc lòng tác giả nặng xuống với: quá khứ, hiện tại, tương lai đang trỗi dậy trong lòng. Phải chăng con người ấy đang muốn phủ nhận thực tại trở về quá khứ. Tình ở đây là tấm lòng thương nhớ quê hương, với Lý Bạch tấm lòng da diết khôn nguôi. Hơn nữa trong không gian vắng lặng ấy làm cho tác giả càng buồn hơn, nỗi nhớ sâu hơn, mãnh liệt hơn. Quê hương, nơi ông sinh ra và một thời gắn bó với nó, nhớ những kỉ niệm chăn trâu thổi sáo, những đêm hè gọi bạn ngắm trăng thâu. Tất cả giờ chỉ còn trong kí ức. Xem thêm: Kể lại một kỷ niệm mà em nhớ mãi trong quãng đời học trò đã qua Quê hương là những gì thiêng liêng nhất, không chỉ Lý Bạch đêm nay nhìn trăng nhớ quê cũ. Ai ai cũng vậy, trong hoàn cảnh ấy quá khứ sao lại chẳng dội về. Có chăng trong những phút nao lòng ấy nhà thơ muốn thốt lên nỗi lòng kẻ xa quê bao năm chưa trở lại. Dẫu sao tình cảm của tác giả với quê hương cũng không bao giờ phai nhạt. Hạ Tri Chương cũng từng thốt lên tâm sự khi hồi hương.
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao
Cái hồn quê, hương quê không thay đổi trong Hạ Tri Chương. Cũng như Lý Bạch quê hương đã trở thành máu, thành hồn.
Lý Bạch đã viết bài thơ bằng tình cảm chân thực, tình yêu cố hương được thể sống động trong ông. Ta bồi hồi trước chất lãng mạn của bài thơ, ta trân trọng nâng niu những tình cảm từ đáy lòng của nhà thơ. Điều này đã giúp ta hiểu, cảm được cái hay cái đẹp của nghệ thuật đích thực. Ai xa quê mà chẳng có tình cảm giống như ông. Tĩnh dạ tứ xứng đáng là một bản tình ca tâm hồn, là khúc nhạc chan chứa tình yêu quê hương của "thi tiên Lý Bạch".
Vanmau.edu.vn | Nỗi nhớ quê hương da diết qua bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch | 974 | |
Nỗi nhớ quê nhà cùa người con gái lấy chồng xa
Gợi ý
Gia đình là chiếc nôi đằm thắm ngọt ngào nuôi dưỡng chúng ta khôn lớn. Ông bà, cha mẹ, anh em sống quây quần bên nhau trong tình yêu thương vô bờ bến. Tình cảm ấy được hun đúc và truyền lại cho nhau từ đời này sang đời khác qua những câu ca dao đằm thắm ngọt ngào. Công cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương anh chị em, tình yêu nam nữ, vợ chồng… sống với ta như những kỉ niệm đẹp không bao giờ quên. Một ví dụ về tình yêu thương, nỗi nhớ của người con gái với mẹ già làm ta cảm động.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Ca dao cổ truyền có nhiều câu mở đầu bằng hai tiếng chiều chiều: Chiều chiều xách giỏ hái rau, Chiều chiều ra đứng bờ sông… Chiều chiều là giai điệu nhè nhẹ, buồn thương. Điệu tâm hồn biểu hiện trong câu ca dao vô cùng đặc sắc, nó quyện vào tâm hồn người đọc, người nghe.
Câu thơ thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính không gian (ngõ sau, quê mẹ). Buổi chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống, ngày sắp tàn vũ trụ sắp đi vào cõi hư vô. Đây là những khoảng thời gian gợi nhớ, gợi sầu cho những kẻ tha hương. Nguyễn Du đã từng nhắc đến trong Truyện Kiều. Sông xa vò võ phương trời – Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng hay Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà (Huy Cận). Trong bài ca dao trên cũng nói đến buổi chiều. Thời gian cứ lặp đi lặp lại ngõ sau chứ không phải là ngõ trước? Ngõ sau mới trông ra cánh đồng hắt hiu vắng vẻ, phải là chiều chiều khi cơm nước xong xuôi thì mới quạnh hiu. Sự lặp đi lặp lại âm thanh ấy cũng chính là sự lặp lại một hành động (ra đứng ngõ sau trông về quê mẹ) của một tâm trạng. Nghĩ về quê hương là nghĩ về mẹ, bóng hình mẹ đã tạc vào hình bóng quê hương. Nhân vật trữ tình trong câu ca dao không được giới thiệu chi tiết cụ thể. Nhưng ta vẫn thấy hiện lên hình ảnh cô gái xa quê, nhớ quê, nhớ gia đinh… (đi lấy chồng xa?). Chắc là nhớ lắm, nhớ quá nên cứ chiều chiều và chiều nào cũng vậy, cô ra ngõ sau ngậm ngùi ngóng về quê mẹ. Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Mai An Tiêm trong truyện cổ tích “Quả dưa hấu” Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Càng trông về quê mẹ càng lẻ loi, cô đơn nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết không nguôi:
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Quê mẹ sau luỹ tre xanh. Nơi cô gái sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của gia đình, làng xóm. Biết bao kỉ niệm buồn vui cùng gia đình bè bạn. Nơi mà chiều chiều chăn trâu cắt cỏ, có dòng sông nhỏ uốn quanh, có cánh đồng cò bay thẳng cánh, có bà con chất phác hiền lành lam lũ sớm hôm. Nơi ấy mẹ cha tần tảo sớm khuya nuôi con khôn lớn. Nếu như theo phong tục xưa Gái thập tam nam thập lục thì cô gái đi lấy chồng từ thuở mười ba. Mười ba năm ấy sống bên mẹ hiền cô vẫn chỉ là đứa con bé bỏng được yêu chiều trong vòng tay của mẹ. Vậy mà giờ nơi quê người đất khách lòng cô lại chẳng xót xa, thương nhớ. Giờ này sau luỹ tre xanh mẹ già với mái tóc bạc phơ tựa cửa ngóng đứa con xa. Sao mẹ ơi mẹ chẳng: Có con thì gả chồng gần – Có bát canh cần nó cũng đem cho. Vậy là chỉ đến khi không được sống trong sự nuông chiều của cha và sự săn sóc yêu thương của mẹ, khi hạnh phúc trìu mến ấy mất rồi người con mới thấm thìa hết sự ngọt ngào khi bên mẹ. Xem thêm: Em hãy kể lại một câu chuyện đời thường xảy ra trong một gia đình mà em có ấn tượng sâu sắc nhất Ca dao nói ít mà gợi nhiều. Chỉ hai từ quê mẹ mà gợi ra cho người đọc một trường liên tưởng vô cùng lớn. Người con xa quê trông về quê mẹ mà lòng day dứt khôn nguôi. Bốn tiếng ruột đau chín chiều diễn tả nỗi nhớ da diết đó. Tục ngữ, thành ngữ có chín nhớ mười thương thì ca dao có ruột đau chín chiều buổi chiều nào cũng nhớ về quê mẹ, trông hướng nào cũng thấy tê tái, xót xa. Càng nhớ, người con lại càng thương, nỗi buồn cứ như vậy tăng lên gấp bội. Dường như nỗi nhớ ấy, sự cô đơn ấy không có giới hạn, có lẽ trong những lúc như vậy đứa con xa mơ ước nhiều lắm. Ước gì giờ đây đang nằm trong vòng tay âu yếm của mẹ, để tận hưởng cái giây phút mơn man khắp da thịt trong đôi bàn tay dịu hiền, muốn ngồi bên mẹ để trò chuyện, tâm sự để đếm từng sợi tóc pha sương theo tháng ngày. Bỗng xa xa, khoan nhặt tiếng chim kêu chiều:
Vẳng nghe chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau
Bài ca dao là tình cảm mẹ con, tình cảm quê hương và gia đình sâu sắc trong tâm hồn mỗi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn sâu nặng của người con gái xa quê đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình sâu lắng, lời thơ êm ái nhẹ nhàng gợi lên trong lòng người đọc bao liên tưỏng về tình cảm mẹ con, gia đình, những kỉ niệm yêu dấu tuổi thơ. Làm sao chúng ta có thể quên được bài ca dao trữ tình đằm thắm như vậy. Xem thêm: Niềm tự hào về tiếng Việt - thứ tiếng mẹ đẻ ta yêu qua bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt (Tác giả Đặng Thai Mai)Vanmau.edu.vn | Nỗi nhớ quê nhà cùa người con gái lấy chồng xa | 1,053 | |
Nỗi niềm của những con người bị áp bức qua bài ca dao: “Nước non lận đận một mình. Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy. Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”
Gợi ý
Đêm dài nô lệ của dân tộc đã qua. Những kiếp người cơ hàn, những cảnh đời bi kịch khốn cùng vì cướp bóc, áp bức dưới chế độ phong kiến cũng không còn. Nhưng vẫn còn đó, những câu ca dao, bài ca dao phản ánh hiện thực đau lòng của một thời. Ai oán và bi thương, lòng ta không khỏi rưng rưng khi đọc những lời than vãn cho mình, cho người, cho số phận của đồng loại cùng chung chịu kiếp con cò – qua rất nhiều bài ca dao. Một trong số đó là bài ca dao than thân chan chứa đau đớn, xót xa:
Nước non lận đận một mình
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?
Bài ca dao là tiếng than thân tràn lệ. Thân cò và cò con trong bài ca dao này là ẩn dụ nói về người phụ nữ nông dân và con cái của họ. Hai thế hệ, hai kiếp người đau khổ. Người đàn bà nhà quê sống lẻ loi một mình quanh năm côi cút làm ăn toan lo nghèo khó, vất vả giữa cuộc đời. Suốt ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà vẫn cơm không đủ ăn áo không đủ mặc. Xem thêm: Chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ngày làm chẳng đủ ăn thi phải kiếm ăn cả đêm. Thật vất vả khổ cực bao nhiêu, đời sống của họ là những khó khăn triền miên.
Con cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về
Tần tảo sớm hôm nuôi gia đình con cái nhưng ông trời có lẽ không công bằng, bởi nếu công bằng thì trước những lời ai oán đó ông trời sao không xúc động?
Lên thác xuống ghềnh – chỉ sự vất vả gian nan trong cuộc đời, lận đận một mình. Không phải là ngày một, ngày hai mà là bấy nay; kiếp người đằng đẵng bao năm giữa chốn nước non mênh mông này.
Nước non lận đận một mình
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay
Trong khung cảnh nước non mênh mông bao la ấy, cái cò chỉ có một mình. Cảnh đời nghèo khổ về vật chất và tinh thần khiến cho họ chỉ biết kêu, kêu mà chẳng biết kêu ai. Nghèo vẫn hoàn nghèo, họ cố tìm cách thay đổi cảnh ngộ mà không sao thoát khỏi:
Cây khô xuống nước cũng khô
Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo
Cái vòng luẩn quẩn, bế tắc ấy người nông dân muốn vượt ra ngoài nhưng không thể thoát được. Do vậy mà lời ai oán của thân cò – người mẹ đau khổ cất lên như thấm đẫm nước mắt. Xem thêm: Viết một đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) nêu cảm nhận của em về con người Đỗ Phủ qua ước muốn vĩ đại của ông được thể hiện qua bài thơ: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” (Mao Ốc vị thu phong sở phá ca) Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con
Cảnh đời ngang trái, loạn lạc bể đầy, ao cạn. Ai làm là lời ám chỉ, tố cáo bọn thống trị gây ra bao cảnh ngang trái làm cho gầy cò con. Đời mẹ đã gian nan lận đận, đời con càng đói rét đau thương. LỜI thơ như tiếng nấc, như lời nguyền đay nghiến lên án bọn thống trị tham quan. Thân phận họ nhỏ bé như con tằm, con kiến. Mà con tằm, con kiến thì:
Con kiến mà leo cành đa
Leo phải cành cụt leo ra leo vào..
Cuộc đời là cái vòng luẩn quẩn, họ hoàn toàn không làm chủ được bản thân, cuộc đời. Ai làm cho họ khổ, thật bỉ đát họ chỉ biết than thân trách phận kêu trời. Niềm cay đắng, bị áp bức bót lột biết bao giờ cho hết nỗi oan khiên. Đời cái cò gian lao điêu đứng lao đao. Trong họ niềm khao khát cháy bỏng được sống hạnh phúc được thoát khỏi nghèo nàn cho chính họ và kiếp sau của họ. Bài ca dao chứa chan tình nhân đạo và giá trị tố cáo phản kháng sâu sắc. Đây cũng chính tiếng nói tập thể của những người dân lao động trong xã hội áp bức bất công. Đọc bài ca dao chúng ta càng đồng cảm hơn với những con người khốn khổ một thời trong xã hội ấy. Xem thêm: "Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra" (“Cổng trường mở ra”, Lí Lan). Em có suy nghĩ gì khi đọc câu văn trênVanmau.edu.vn | Nỗi niềm của những con người bị áp bức qua bài ca dao_ “Nước non lận đận một mình. Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy. Cho ao kia cạn, cho gầy cò con_” | 860 | |
Nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác Hồ qua đời thể hiện như thế nào trong bốn khổ thơ đầu của bài thơ Bác ơi?
Hướng dẫn
a) Nỗi đau lớn của đất nước, vũ trụ, cỏ cây và con người:
“Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa ”
b) Nỗi đau được thể hiện qua cảnh vật quen thuộc:
– Lối ngõ và trong nhà “ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa”,.“Lôi sỏi”, “thang gác”, “chuông nhỏ”, “Phòng lạnh rèm buông, tắt ánh đèn…”
– Ngoài vườn: trái bưởi, hoa nhài, mặt hồ…
c) Nỗi đau lớn được thể hiện qua tiếng khóc trực tiếp của tác giả: những câu hỏi tu từ, câu cảm thán liên tiếp dùng để khóc thương, bày tỏ niềm thương xót của nhà thơ, cũng là nỗi đau của triệu người…
Nguồn:
Xem thêm: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong truyện Vợ chồng A Phủ | Nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác Hồ qua đời thể hiện như thế nào trong bốn khổ thơ đầu của bài thơ Bác ơi_ | 151 | |
Nỗi ưu tư về một chữ “nhàn”- Đọc bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hướng dẫn
Nhan đề của bài thơ là do người đời sau đặt. Phần lớn những bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập vốn không có tên, có thể gọi chúng là những bài vô đề – vô đề theo kiểu riêng mà ta thường thấy trong các tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, không hoàn toàn giống với vô đề trong thơ cổ Trung Hoa. Vì sao lại vô dề? ít nhất có một lí do là rất khó đặt nhan đề cho chúng, do nội dung các bài tập trong tập thơ khá giống nhau với nhiều môtip được lặp đi lặp lại. Quả có một mô hình cấu trúc ổn định xuyên suốt các bài của BạchVân quốc ngữ thi tập, khiến ta khó bề cường điệu tính độc đáo, đơn nhất của kiểu tổ chức nghệ thuật ở một đơn vị bài cụ thể, như bài Nhàn được nói ở đây. Nếu bài thơ này được gọi là Nhàn thì nhiều bài thơ khác có lẽ sẽ phải được gọi là Nhàn II, Nhàn III, Nhàn IV,… Dù sao, đây cũng là một đặc điểm đáng lưuý của thơ Trạng Trình. Nó hé lộ cho ta biết tâm thế làm thơ của tác giả cũng như sự ưu tiên hàng đầu cho mục tiêu giáo huấn và triết lí ở thơ ông.
Chủ đề bài thơ, đồng thời một chủ đề lớn của Bạch Vân quốc ngữ thi tập, là đề cao triết lí nhàn dật – một triết lí nhân sinh mà ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của nó phải được thẩm định, xét đoán tùy vào tư cách, nhân cách của người nêu lên nó cùng hoàn cảnh sống cụ thể mà người đó bị hay được đặt vào. Có thể nói ngay, với trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm, sự đề cao triết lí nhàn dật chủ yếu có ý nghĩa tích cực. Nhà thơ sống trong một thời kì mà chế độ phong kiến dã trở nên mục rỗng, vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, chiến tranh giữa các tập đoàn thống trị xảy ra liên miên, dân tình lầm than, đói khổ cùng cực. Ông rất muốn ra giúp đời nhưngkhông đủ điều kiện thi thố tài năng. Vốn là con người nhập thế, dưới triều nhà Mạc từng dâng sớ xin chém mười tám tên lộng thần, vậy mà phải chọn lối sống ẩn dật ở quê nhà, ông tự thấy đó là điều bất đắc dĩ. Nhưng do có uy vọng lớn, ông được tất cả các tập đoàn thống trị như Mạc, Trịnh, Nguyễn kính nể. Dẫu sao, tình thế cùa ông cũng không phải là quá bi đát, ý thức được điều đó và biết vận dụng lợi thế có được, ông đã dùng thơ để nêu đạo lí làm người, hi vọng có thể giúp người đời, trước hết là những kẻ cai trị, biết điều chỉnh hành động của mình cho hợp với đạo trung dung, biết dừng ở giữa (không phải ngẫu nhiên mà khi cáo quan về quê, ông lập quán Trung Tân – Trung Tân là bến giữa), không bị cuốn theo vòng lợi danh ô trọc để khỏi làm khổ dân và làm suy vi vận nước. Nhưng ông sáng tác thơ không chỉ để răn đời mà còn để răn mình, hay nói đúng hơn là trước hết để răn mình. Những bài ca ngợi thú nhàn của ông, do vậy, không hẳn được ra đời từ sự thích thú với cảnh nhàn mà trước hết từ tâm nguyện muốn giữ được tâm hồn cao khiết trong cảnh đục lầm, giữ được thái độ tự chủ giữa thời điên đảo, giữ được sự an nhiên giữa muốn đòi hỏi vật dục của một kiếp nhân sinh… Khi những bài thơ ấy đã có tác dụng di dưỡng tinh thần cho tác giả của nó thì hiển nhiên nó cũng có tác dụng giáo dục chung đối với mọi người. Hóa ra thơ nói nhàn mà lòng vẫn đượm nét buồn và vẫn canh cánh một nỗ ưu tư. Điều này phải qua đọc cả tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập ta mới thấy rõ.
Nhấn mạnh tính giáo huấn, tính triết lí nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không có nghĩa là phủ nhận chất thơ của nó.Đối với người đọc, chất thơ là cái đầu tiên mà họ đòi hỏi phải có ở tác phẩm. Thì đây, chất thơ vẫn hiện diện với một số nét đặc thù trên nền tảng cơ bản là cảm xúc cá nhân, là sự trầm từ về các vấn đề của tồn tại. Chính chất thơ đó đã làm cho nội dung giáo huấn đã mang tính chất khô cứng và dễ lột tả. Nó cũng góp phần cải biến mối quan hệ giữa tác giả và độc giả, làm giảm bớt tính truyền dạy – tiếp thu mà gia tăng tính chia sẻ – đồng cảm. Trong trường hợp tác giả làm thơ bằng chữ Nôm, việc cải biến mối quan hệ nói trên càng có điều kiện thuận lợi để thực hiện. Một lối nói giản dị, dung nạp nhiều khẩu ngữ chắc chắn sẽ đưa lại những hiệu quả thẩm mĩ tích cực.
Bài thơ Nhàn ta đang nói đã được mở đầu bằng một giọng hồn nhiên rất gây ấn tượng:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta có cảm tưởng như thấy trước mắt hình ảnh nhà thơ đang chuẩn bị mai, cuốc, cần câu đi ra đồng. Kiểu ngắt nhịp 2/2/3 cùng việc lặp liên tiếp số đếm một ở câu thứ nhất gây ấn tượng rất rõ về một tâm trạng rộn ràng, vui sướng cùng với sự bận rộn và nghênh ngô rất đỗi "trẻ thơ” – cái trẻ thơ của người đạt đạo. Quả thật nhà thơ vui sướng vì được làm cái mình thích, vì thấy cái thích của mình có một giá trị hiển nhiên mà để đánh giá được nó, người ta không thể vận dụng những tiêu chí phàm tục của thiênhạ. Từ một được nhân ba lần như muốn dừng lên một cõi tồn tại riêng đầy sinh thú, thật đáng sống, khiến một khi đã hòa mình vào đó là nhà thơ dám chấp tất cả, dầu ai vui thú nào (nghĩa là mặc cho mình đời có những lựa chọn khác mà theo họ, lựa chọn đó mới đích đáng!). Tính chất của lối sống mà chính cõi tồntại này đòi hỏi (bao trùm lên các hành động một mai, một cuốc, một cần câu) đã được thâu tóm trong từ thơ thẩn với chút thoáng "khiêu khích" và hàm ý tự tôn – tự tôn theo một cách riêng gắn liền với việc cố ý hay giả vờ đánh giá thấpmình (trong cảm nhận của nhiều người bình thường, rất có thể thơ thẩn đồng nghĩa với bông lông, vô tích sự hoặc xa lìa thực tế).
Đến liên thơ thứ hai, ý tự tôn được thể hiện rõ hơn thông qua sự đối lập giữa ta và người trên vấn đề xác định đích nhắm tới của cuộc đời:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Ta hiển nhiên là nhân vật trữ tình – nhà thơ. Còn người là ai? Chắc không phải tất cả thiên hạ còn lại, mà chỉ là những kẻ tất bật đâm bổ vào chốn lao xao, tìm ý nghĩa cuộc đời ở vùng lợi danh nhốn nháo. Cùng với sự đối lập ta – người là sự đối lập dại – khôn, ta dại mà người khôn. Bề ngoài, vấn đề dại khôn có vẻ đã được nhìn nhận thuận theo cách nhìn nhận sự việc của người đời, nhưng thực chất nó đã được soi chiếu từ một góc độ mới. Nói cách khác, nhà thơ đã mượn các từdại, khôn có sẵn rồi thay đổi nội hàm của chúng, mục đích là để khơi dậy sự đối thoại hay ý thức phản tỉnh ở người đọc. Ai được nghe đến các câu thơ này đều cú thể thấy các tiêu chí đánh giá quen thuộc của mình bị đảo lộn. "Chứng kiến" cung cách ứng xử của nhà thơ, người ta hẳn phải nhận ra rằng có nhiều điều cần được suy nghĩ lại. Tại sao sau khi đã thấy rõ cái dại của bản thân, nhà thơ vẫn cứ khăng khăng giữ lại cái dại ấy và "nhường" hẳn cái khôn cho thiên hạ? Ý thức của nhà thơ, tưởng có thể diễn dịch ra là: ừ, nếu cho việc tìm nơi vắng vẻ là dại thì ta xin cứ dại, ta không thể nào hòa được vào chốn lao xao, nơi con người có khả năng bị nhiễm bẩn, không còn giữ được sự trong sạch và tự chủ…
Xem thêm: Thuyết minh yêu cầu đọc - hiểu văn bản văn học
Đối lập với cụm từ chốn lao xao được hiểu theo nghĩa như trên, cụm từ nơi vắng vẻ cũng mang một nghĩa khác với nghĩa thông thường. Nơi vắng vẻ là môi trường sống thuần khiết, ở đó con người không chỉ được nhàn nhã mà quan trọng hơn là được sống vứi mình, có điều kiện để tu tâm dưỡng tính, để tìm được sự hòa hợp với tự nhiên, tìm tới cái tự nhiên. Nơi vắng vẻ không nhất thiết phải là một vùng trời đất có sẵn do thiên nhiên tạo ra. Nhiều khi, nó là một không gian ước lệ do tự ta xác định cho mình, bằng thái độ của mình. Ai cũng có thể sống nhàn, tìm được thú nhàn. Nhàn hoàn toàn không phải là một xa xỉ phẩm chỉ dành cho những kẻ có điều kiện tìm đến non xanh nước biếc. Ngay giữa cuộc đời phồn tạp, cái nhàn vẫn có thể đến cùng người thực sự muốn nhàn và biết cách sống nhàn. Hóa ra, đối tượng có thể tiếp nhận bài học rút ra từ bài thơ là rất rộng rãi!.
Nhìn chung, việc sử dụng các từ dại, khôn chính là một chiêu thức "ngược đời" mà Nguyễn Bỉnh Khiêm dựa vào đó để đề xuất bằng giá trị riêng đầy thách thức với bảng giá trị thông thường của những kẻ không ý thức được cái hay, cái "khôn" của cuộc sống tự do, tự tại. Trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập, rất nhiều lần nhà thơ bàn về chuyện khôn, dại ở đời, và thường là bằng giọng khuyên răn, không bóng gió.
Tranh khôn, ắt có bê lo lắng
Chịu dại, làm chi nỗi thớt thăng.
Hay:
Khôn mà hiểm độc là khôn dại,
Dại vốn hiền lành ấy dại khôn.
Đối chiếu các câu thơ trên với hai câu đang được phân tích, ta dễ nhận ra ý vị riêng của lối diễn đạt lấp lửng: Nào! Những ai đọc tôi, xin hãy tự ngẫm, tự rút ra bài học về chuyện dại, khôn. Còn tôi, tôi sống như thế đấy…
Trong liên thơ thứ ba, cái thú vị của nơi vắng vẻ mà nhà thơ tìm đến được miêu tả rõ.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, được nhắc tới trong hai câu thơ gợi lên ý niệm về thời gian. Đúng là đã động đến chữ nhàn thì phải nói chuyện sử dụng thời gian. Ngoài việc nói tới tâm thế sống và không gian sống (mà bốn câu thơ đầu đã phần nào thể hiện). Kẻ nhàn dật đã làm những gì trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đó? Phải chăng tất cả chỉ có ăn và tắm? Dĩ nhiên là không phải, chẳng qua, đó chỉ là những ví dụ điển hình. Nhưng việc nhấn mạnh chúng cho thấy nhà thơ hạnh phúc biết bao khi được sống với con người tự nhiên của mình và có điều kiện thể hiện nó (ăn và rắm chẳng phải là những nhu cầu tự nhiên bậc nhất của con người?). Khi sống hài hòa cùng nhịp điệu của vũ trụ, của thiên nhiên bốn mùa, tự khắc người ta cảm thấy tự do thoải mái. Tưởng như mọi nhu cầu đều được đáp ứng dễ dàng. Mùa nào thức ấy, thức ăn sẵn có quanh ta, thanh đạm nhưng không phải là không khoái khẩu. Tất nhiên, đã muốn nhàn thì hẳn phải chịu nghèo, bởi đây là cái nhàn thanh cao, không phải cái nhàn tục của hạng người phú quý biếng nhác sống trên đống của họ được do giành giật và tước đoạt từ tay thiên hạ. Rõ là nói chuyện nghèo của cuộc sống tự cấp tự túc mà các câu thơ không gây ấn tượng buồn bực về sự nghèo đói. Chúng đã viết ra nhẹ tênh, như chính bản thân cái nhẹ tênh của một cuộc sống không cần phải gắng gượng.
Nhưng, nghĩ lại mà xem, mọi lựa chọn đều có nguyên cớ của nó. Việc tìm đến cuộc sống nhàn dật rõ ràng có liên quan tới những trải nghiệm đắng cay về thế sự. Do đời ô trọc, ta phải tìm cách lánh xa nó, tìm cách tự xác lập cho mình một vùng không gian riêng (như trên đã nói). Nhưng điều quan trọng nữa là ta có thể vượt ra khỏi sự truy đổi vềnỗi đắng cay, sự khống chế của niềm bất mãn (vốn rất chính đáng) về xã hội, về thói đời, khi đã tìm được cho mình "con đường đúng" hay không? Nếu không thể, nhàn chỉ còn là câu chuyện nói suông. Trên thực tế, cái nhàn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm có được và miêu tả trong bài thơ không mang tính trọn vẹn. Liên hệ với các chi tiết trong tiểu sử nhà thơ và hoàn cảnh lịch sử – xã hội Việt Nam thế kỉ XVI, ta thấy vấn đề không phải khó giải thích. Có vẻ nhàn hẳn là khác với thực sự nhàn. Nếu tâm nhàn, nhà thơ chắc phải chọn một kiểu kết khác cho bài thơ, không việc gì phải "bận bịu" với chuyện pliú quý tựa chiêm bao nữa (việc quan tâm nhắc tới điều này, dù trên tinh thần khẳng định hay phủ định, làmột dấu hiệu chứng tỏ vấn đề vẫn còn ám ảnh nhà thơ hoặc vẫn còn gây ưu tư không dứt cho một người phải đảm nhiệm cái vai "ông thầy của thiên hạ"!).
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
Liên thơ có sử dụng điển Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hòe, mơ thấy mình bay đến Đại Hòe An quốc, được quốc vương đất ấy cho làm quận thú Nam Kha, tỉnh dậy thấy mình nằm trơ khấc dưới cành hòe phía nam, bên cạnh tổ kiến chỉ có một con kiến chúa. Cái điển ấy gợi những ý nghĩa bi quan về cuộc đời – cuộc đời chẳng khác gì một giấc mộng! Tuy nhiên, vì bài thơ hướng tới việc khẳng định triết lí nhàn dật nên điển xưa đã được dùng rất kín, khiến người đọc ngày nay không cần xem chú giải cũng lĩnh hội được ý thơ. Bởi vậy, tình điệu bi quan tuy rằng có những đã bị mờ đi ít nhiều, dành chỗ cho giọng giễu cợt sự phú quý mong manh mà bao người thèm ước. Từ liên thơ này, độc giả có thể tự suy đoán ra cái giá phải trả cho một hành trình nhận thức nhắm tới việc quán thông mọi lẽ tồn tại. Cũng từ đây, ta hình dung ra hình ảnh một ông già thư thái ngồi nhấp chén rượu dưới bóng cây râm mát, ngửa mặt nhìn những đám phù vân trôi nổi, gối đầu vào gốc cây ngủ một giấc thanh thản, an lành. Mượn cách nói của Thánh Thán, ta có thể bình rằng: Được làm như thế, được sống như thế, chẳng cũng khoái ư!
Có nhiều cách triết lí về chữ nhàn. Cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số đó. Bài thơ Nhàn đã được viết ra với nỗi lòng nhiều trăn trở, với cái tâm chưa thực sự nhàn. Nghịch lí thay, với toàn bộ đặc điểm đó, nó lại có tác dụng lớn trong việc hướng người ta tới miền thanh tĩnh của tâm hồn, cũng có nghĩa là bồi đắp thêm cho con người ý thức tu thân!.
Nguồn: thêm: Quan niệm của bạn về lối sống giản dị của một con người | Nỗi ưu tư về một chữ “nhàn”- Đọc bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. | 2,814 | |
Nội dung và nghệ thuật truyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
1. Đặc điểm về nội dung
Với truyền thuyết này, kết cấu cốt truyện được xây dựng thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhân dân khá rõ. Nội dung của tác phẩm được phân thành hai phần, có thể tồn tại độc lập nhưng vẫn nằm trong chỉnh thể. Ta sẽ phân tích hình tượng các nhân vật trong sự phát triển của kết cấu cốt truyện để tìm hiểu chủ đề. Kết cấu hai phần của truyền thuyết thể hiện rõ nét chủ đề tư tưởng mà nhân dân muốn trao gửi cho thế hệ sau. Phần thứ nhất là bài học dựng nước và chiến thắng của An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc. Phần thứ hai là bài học rút ra từ việc mất nước, do lỗi lầm của cha con An Dương Vương. Đó là sự thật lịch sử nhưng cũng là dụng ý nghệ thuật được tác giả dân gian khắc họa.
a) Phần 1: Bài học dựng nước và chiến thắng của An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc.
Theo chúng tôi, cuộc tranh chấp Hùng – Thục thực ra là một tất yếu lịch sử phù hợp với thời đại sử thi. Đó là thời kì liên minh bộ tộc để mở rộng địa bàn, lãnh thổ. Bộ tộc nào mạnh, bộ tộc ấy sẽ chiến thắng. Người anh hùng nào tài giỏi, đủ sức mạnh chiến thắng, người anh hùng ấy được tôn vinh. An Dương Vương đã có công sáp nhập nhà nước Văn Lang với nhà nước Âu Việt để trở thành quốc gia Âu Lạc lớn mạnh, văn minh hơn. Là một thủ lĩnh bộ tộc vùng cao, An Dương Vương đã có cái nhìn chiến lược, tài quân sự khi quyết định dời kinh đô từ vùng núi Phong Châu của vua Hùng về định đô ở đồng bằng ven biển sông Hồng thuộc cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội (rất gần với cô’ đô Thăng Long của các vua nhà Lí hơn một ngàn năm sau, nghĩa là rất gần với trung tâm Thủ đô Hà Nội bây giờ). Chi tiết An Dương Vương xây thành Ốc (Loa Thành) mãi không xong, sau phải “lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần”, được sứ Thanh Giang (Rùa Vàng) giúp cho kế sách diệt trừ yêu quái để xây thành, cho vuốt làm nỏ thần… là những chi tiết đậm yếu tố hư cấu, tưởng tượng. Có thành cao (Thành rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ố’c, cho nên gọi là Loa Thành), vũ khí linh diệu (nỏ thần bắn một phát chết hàng vạn tên giặc), nên khi Triệu Đà kéo quân sang xâm lược nước ta, chúng đã thua lớn, không dám đối chiến, bèn xin hòa. Yếu tố thần thoại đan xen với yếu tô’ lịch sử khiến cho câu chuyện thêm lung linh, kì ảo, tăng tính khái quát, ý nghĩa biểu trưng của các chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm. Chi tiết chiến thắng yêu quái thể hiện những khó khăn và quyết tâm của cha ông ta trong buổi đầu dựng nước. Chi tiết vuốt của thần Kim Quy là sự lí tưởng hóa, khái quát hóa kĩ thuật chê’ tác đồ đồng, mũi tên đồng của cha ông ta thời
Âu Lạc mà tiêu biểu là tài năng của tướng quân Cao Lỗ – người sau này được nhân dân một số địa phương thờ phụng. Khoa học khảo cổ với các công trình khai quật lòng đất Loa Thành vào thập kỉ 60, 70 của thế kỉ XX đã tìm được rất nhiều mũi tên đồng, những công cụ bằng đồng… đã chứng minh sự gắn kết giữa huyền thoại và lịch sử. (Người Hi Lạp cũng đã khai quật và tìm được dấu tích thành Tơ-roa chìm khuất trong lòng đất nhờ những chỉ dẫn trong sử thi huyền thoại I-li-át, ô-đi-xê). Hình tượng nỏ thần nằm trong môtíp vũ khí thần kì không thể thiếu trong các truyền thuyết và cổ tích về người anh hùng chông ngoại xâm: roi sắt, ngựa sắt của người anh hùng Thánh Gióng, vuốt rùa của Triệu Quang Phục, gươm thần của Lê Lợi, thanh gươm ông Tú trong truyền thuyết Tây Nguyên… Nguyên nhân tạo nên chiến thắng là do An Dương Vương có ý chí quyết tâm, có tinh thần bền bỉ trong sự nghiệp dựng nước, được tổ tiên, trời đất phù trợ, nhân dân giúp sức, biết sử dụng tài năng của các tướng giỏi như Cao Lỗ… Có được các yếu tố thiên thời – địa lợi – nhân hòa ấy, người cầm quân giành chiến thắng là tất yếu.Xem thêm: Đóng vai người hàng xóm của anh chàng Lợn cưới áo mới để kể lại câu chuyện thú vị này. Em rút ra được bài học gì cho bản thânb) Phần 2: Bài học rút ra từ việc mất nước, do lỗi lầm của cha con An Dương Vương.
Nội dung của phần này tập trung phản ánh và khắc họa sâu sắc nguyên nhân thất bại của cha con An Dương Vương. Có thành cao, hào sâu, vũ khí thần kì nhưng yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định. Do chủ quan, khinh địch, An Dương Vương đã cho Triệu Đà cầu hòa rồi “vô tình gả con gái là Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy”. Ý vào vũ khí nên khi quân Triệu Đà đã kéo sát đến chân thành, An Dương Vương vẫn ngồi ung dung chơi cờ, cười mà nói rằng “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Loa Thành thất thủ, Vua chỉ còn biết đặt người con gái yêu quý nhất của mình lên ngựa chạy trốn về phương Nam.
– An Dương Vương là nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, là người có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước nhưng cũng mắc sai lầm nghiêm trọng, lịch sử không thể tha thứ. Đất nước Âu Lạc rơi vào thảm kịch ngàn năm Bắc thuộc cũng từ lỗi lầm đau xót đó của cha con An Dương Vương. An Dương Vương đã phải chịu thất bại, nỗi đớn đau vô cùng to lớn: là một nhà vua có công dựng nước mà tự mình làm mất nước, là một người cha rất mực yêu con mà phải tự tay chém đầu con gái yêu quý nhất của minh. Hành động chém đầu con gái của An Dương Vương vừa thể hiện bi kịch của An Dương Vương vừa là cách khắc họa thêm tính cách của nhà vua. Khi tỉnh ngộ, nhận rõ lỗi lầm, An Dương Vương đã kiên quyết đặt lợi ích quốc gia lên trên tình nhà.
Nhân dân rất công bằng khi thể hiện thái độ về luận công và tội của nhà vua. Khi kết thúc truyền thuyết, dân gian không để An Dương Vương tự tử ở biển Đông khi cùng đường như lịch sử ghi lại mà để thần Kim Quy hiện lên trao sừng tê bảy tấc cho An Dương Vương rẽ nước đi xuống biển Đông, hòa thành khí thiêng, bất tử cùng sông núi (theo quan niệm dân gian, người anh hùng có công với đất nước không bao giờ chết). Ta lại gặp ở đây môtíp hóa thân kì ảo rất quen thuộc trong các truyền thuyết về người anh hùng dân tộc. Nếu như hình tượng Thánh Gióng bay lên trời có âm hưởng hào hùng, kì vĩ thì hình tượng An Dương Vương được Rùa Vàng rẽ nước dẫn đi xuôhg biển có âm hưởng bi tráng hơn. An Dương Vương được thờ ở nhiều nơi trên đất nước ta, đền thờ lớn nhất ở cổ Loa (Hà Nội).
– Nhân vật Mị Châu chỉ xuất hiện ở phần sau của câu chuyện, là nguyên nhân trực tiếp gây nên họa mất nước. Có nhiều ý kiến đánh giá về nhân vật Mị Châu, người lên án, kẻ bênh vực, song cần phải bám vào chi tiết nghệ thuật để hiểu thái độ của nhân dân. Nếu quan điểm đạo đức phong kiến đánh giá người phụ nữ thso tiêu chí “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) thì Mị Châu nặng phần đáng thương mà nhẹ phần tội lỗi. Nàng là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy chồng, lấy chồng thì một lòng tin yêu chồng. Sao có thể trách nàng mất cảnh giác với cả chồng mình được? Nhân dân đã đánh giá về hành động của nàng như thế nào? Nhân dân đứng trên quan điểm nào để xem xét? Mị Châu tin yêu chồng nhưng nàng đã vi phạm nguyên tắc “bí mật quốc gia” của một người dân đôi với đất nước, đặt tình riêng lên trên việc nước dẫu chỉ vì nhẹ dạ, vô tình cho Trọng Thủy “xem trộm nỏ thần”. Nếu sự mất cảnh giác của vua cha là nguyên nhân gián tiếp thì sự nhẹ dạ, ngây thơ của Mị Châu là nguyên nhân trực tiếp gây nên họa mất nước. Nàng tin yêu chồng bằng tình yêu mù quáng. Nhân dân đã sáng tạo nên hình ảnh áo lông ngỗng là chi tiết nghệ thuật tài tình để thể hiện sáng rõ sự mù quáng đáng trách của Mị Châu. Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần, trước khi về nước đã hỏi MỊ Châu: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Mị Châu đáp: “Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngã ba đường để làm dấu”. Trọng Thủy vừa về nước, chiến tranh hai nước xảy ra, thế mà Mị Châu nhẹ dạ, mù quáng, không suy xét sự tình, vẫn ngồi trên lưng ngựa sau vua cha rắc lông ngỗng cho quân Triệu Đà lần theo dấu vết. Phải chăng áo lông ngỗng càng lúc càng đẩy cha con nàng đến con đường cùng không lối thoát? Nhân dân đã thể hiện quan niệm của mình rất rõ ràng khi để cho Rùa Vàng (đại diện cho công lí nhân dân) kết tội Mị Châu thật đanh thép, không khoan nhượng: “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó!”.Xem thêm: Bạn Dương Ngọc Anh bị thủy đậu, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
Cần chú ý, nhân dân gọi Mị Châu là giặc. Nhân dân không đánh giá nàng theo quan điểm đạo đức phong kiến thông thường mà đứng trên quan điểm quốc gia, dân tộc để kết tội nàng. Nàng phạm phải lỗi lầm không thể tha thứ của một người dân đối với đất nước. Nhân dân đã để cho Mị Châu phải chết dưới lưỡi gươm nghiêm khắc của vua cha. Song thái độ, cách đánh giá của nhân dân vừa thấu lí vừa đạt tình. Có tội thì phải đền tội nhưng oan tình cần được hóa giải. Hãy nghe lời khấn của Mị Châu trước khi bị chém đầu. Theo Đỗ Bình Trị, “Nếu cho rằng Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là câu chuyện tình yêu chung thủy, đẹp đẽ thì đó là lời nhục mạ vong linh nàng Mị Châu tội nghiệp, vì nếu thế nàng sẽ là kẻ si tình, mù quáng cho đến tận lúc chết”. Nhưng nàng chỉ vô tình mà mắc tội. Khi nghe lời phán quyết của thần Kim Quy, biết mình bị lừa dốì, nàng không một chút nào nhớ đến Trọng Thủy, không một lời nào xin tha tội chết mà chỉ còn duy nhất ước nguyện được minh oan cho lỗi lầm không thể tha thứ của mình: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dôl thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Lưỡi gươm oan nghiệt của vua cha vung lên, máu người con gái “chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu”. Lời khấn của nàng công chúa vừa đáng giận vừa đáng thương được ứng nghiệm, oan tình được hóa giải nhờ trí tưởng tượng và thái độ nghiêm khắc mà nhân hậu của nhân dân.
Một số bản kể trong dân gian còn có chi tiết, sau khi chết, máu Mị Châu chảy xuống biển, trai sò ăn phải hóa thành ngọc, xác của nàng kết thành hòn đá hình người con gái không đầu trôi theo dòng sông về vùng đất cổ Loa thì dừng lại. Nhân dân trong vùng biết là đá thiêng, rước về lập am Mị Châu. Ngày nay nếu có dịp về thăm hoặc dự lễ hội cố’ Loa (Đông Anh, Hà Nội), ta có thể vào thắp hương ở am Mị Châu, gần đền thờ An Dương Vương. Trong ngôi đền nhỏ, nghi ngút khói hương, pho tượng nàng công chúa không đầu, mặc áo hoàng bào, đeo nhiều châu ngọc là lời nhắc nhở vô cùng thấm thìa và sâu sắc cho bao thế hệ về bài học lịch sử mất nước đau xót và nỗi oan tình quá đỗi đau thương của công chúa Mị Châu. Hóa đá vì oan khuất, vì tuyệt vọng cũng là môtíp nghệ thuật quen thuộc trong truyện kể dân gian. Trong truyền thuyết Trầu cau, Lang — nhân vật người em bị người anh ngờ oan — buồn bã ra bờ sông ngồi khóc, kiệt sức mà hóa đá; nàng Vọng Phu ôm con chờ chồng, hóa đá trong nỗi đau đớn tuyệt vọng khôn cùng. Những hình tượng nghệ thuật tuyệt vời đó là những lời nhắn gửi vô cùng sâu sắc, lòng nhân hậu bao dung của nhân dân có sức trường tồn vẫn lung linh tỏa sáng.Xem thêm: Phân tích câu ca dao "Thân em như con hạc đầu đình, Muốn bay không cất nổi mình mà bay" Bài học giữ nước và câu chuyện tình bi thảm này là nguồn cảm hứng không vơi cạn cho các tác giả đời sau:
— Một đôi kẻ Việt, người Tần
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng,
Lông ngỗng thiếp đưa đường.
Thể nguyền phu phụ
Tình nhi nữ, việc quân vương.
(Tản Đà)
— Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu.
(Tố Hữu)
– Nhân vật Trọng Thủy: Việc đánh giá nhân vật này có phần thông nhất hơn. Trọng Thủy là kẻ thực hiện âm mưu đen tối của vua cha là thôn tính quốc gia Âu Lạc. Trọng Thủy hiển nhiên được coi là tên gián điệp không hơn không kém. Song, không thể nói rằng Trọng Thủy không phải là nhân vật chứa đựng mâu thuẫn. Khi đạt được ý nguyện của vua cha, thôn tính được đất nước Âu Lạc, lần theo dâu lông ngỗng tìm thấy xác Mị Châu, Trọng Thủy đem xác vợ về chôn cất, “thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng thấy bóng dáng Mị Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết”. Chính cái chết đã làm sáng lên chút nhân tính còn lại trong con người Trọng Thủy. Cái chết của Trọng Thủy, Mị Châu là lời tô’ cáo âm mưu và thực tê’ chiến tranh xâm lược, phản ánh mối quan hệ giữa nước và nhà, sô’ phận quốc gia và hạnh phúc cá nhân. Có dị bản ở vùng cổ Loa kể rằng, khi Triệu Đà thắng lợi mở tiệc khao quân, thuyền của Trọng Thủy đang dạo chơi trên hồ thì oan hồn Mị Châu hiện lên túm cổ dìm chết Trọng Thủy. Chúng ta thấy đây là bản kể không có tính hệ thống nếu đặt trong tương quan với hình tượng nghệ thuật của tác phẩm. Nếu oan hồn Mị Châu dìm chết Trọng Thủy thì làm sao có thể còn tồn tại hình tượng ngọc trai – giếng nước sâu sắc và giàu ý nghĩa như vậy. “Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông, lấy nước giếng này mà rửa thì thấy trong sáng thêm”. Hình tượng này đã hóa giải nỗi oan của Mị Châu và cả nỗi giày vò, ân hận của Trọng Thủy. Bài học cảnh giác cao độ và sự cảm thông sâu sắc với những nỗi oan tình. Tìm hiểu truyền thuyết rõ ràng phải kết hợp cả việc khai thác hình tượng nghệ thuật, các môtíp nghệ thuật theo hướng thi pháp học, đồng thời phải chú ý đến phương pháp nghiên cứu liên ngành.
Nhân dân đã nghiêm khắc biết bao và cũng nhân hậu biết bao khi xử lí số phận ba nhân vật trung tâm của tác phẩm qua hình tượng nghệ thuật độc đáo và có sức lay động lòng người.
2. Đặc điểm nghệ thuật
Nghệ thuật xây dựng nhân vật vừa gắn với “cái lõi sự thật lịch sử” vừa lung linh yếu tố hoang đường, kì ảo, tạo nên “chất thơ và mộng” tràn đầy trong tác phẩm. Các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ và hành động được chọn lọc để khắc sâu hình tượng nhân vật: An Dương Vương tài giỏi nhưng mất cảnh giác, giặc đến vẫn điềm nhiên đánh cờ, rút kiếm chém con gái, lời của thần Kim Quy; Mị Châu ngồi trên lưng ngựa rắc lông ngỗng, lời khấn nguyền của nàng trước khi chết…
Những hư cấu nghệ thuật (Rùa Vàng, Mị Châu và chi tiết nhà vua tự tay chém đầu con gái) được sáng tạo là để nhân dân gửi gắm lòng kính trọng đô’i với thái độ dũng cảm của vị anh hùng, sự phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu là lời giải thích lí do mất nước và nỗi đau mất nước.
Kết cấu vừa theo công thức chung vừa có nét riêng độc đáo, khắc họa hai phần chính của cốt truyện thể hiện chủ đề tư tưởng một cách nhất quán, đó là nguyên nhân tạo nên chiến thắng và thất bại đau xót của cha con An Dương Vương. Các tình tiết chặt chẽ, hấp dẫn, hình tượng ngọc trai – giếng nước có xu hướng cổ tích hóa và có ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Nội dung và nghệ thuật truyện Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy | 3,121 | |
Nụ cười hài hước trong bài ca dao: Chàng dẫn thế em lấy làm sang… Để cho con lợn, con gà nó ăn
Hướng dẫn
Chàng dẫn thế, em lấy làm sang,
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà,
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:
Củ to thì để mời làng
Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.
Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi!
Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;
Bao nhiêu củ rim, củ hà,
Để cho con lợn, con gà nó ăn…
Ta đang chứng kiến một cuộc đối đáp hết sức thú vị giữa những kì phùng địch thủ. Chả có ai nhận lầm về nhau trong cuộc chơi này. Có gái – người đưa ra vế đáp-không đặt mục tiêu "phản pháo" chàng trai như trong trường hợp của mộ sốbài ca dao khác vốn chứa đựng ý châm chọc và khích bác. Cô đã chấp nhận lời nói khoác của chàng trai như một phần tất yếu của cuộc chơi, để rồi tiếp tục thúc đẩy tinh thần hài hước của nó phát triển trong lời đáp lại. Đừng tưởng qua hai dòng đầu của vế đáp, cô gái chỉ hiện lên như một con người dịu dàng, đúng mực và khiêm nhường. Những phẩm chất đó có thể vốn có ở cô, nhưng trong tình huống này, nó đang bị lấn át bởi một phẩm chất khác tạm gọi là "bản lĩnh". Biết chàng nói khoác mà vẫn trả lời bằng giọng nhẹ như không – đó chẳng phải là bằng chứng cho thấy cô cũng là kẻ rất biết đùa hay sao? Nhưng cái đùa của cô mang một vẻ tinh tế rất riêng và cũng rất phụ nữ. Điều quan trọng khác là cô thấy mình không thể làm tổn thương chàng trai về chuyện chàng nghèo. Chàng trai đã đùa cho vui, nhưng như trên đã nói, đùa có thể còn là một cách đậy kín nỗi buồn thân phận. Cô gái hiểu điều đó cho nên khi buông lời đùa lại, cô vẫn khéo léo gài vào một niềm cảm thông nếu được nói thẳng ra bằng giọng nghiêm trang, thật thà vẫn có thể gây nên chút tự ái ở chàng trai, và hơn nữa, nó sẽ phá hỏng quy ước của cuộc chơi. Cô gái lại cũng ý thức được điều này nên đã khỏa lấp ý tính của mình bằng cách nêu một sự kiện phi lí: "Người ta thách lợn, thách gà – Nhà em thách cưới một nhà khoai lang". Một tương quan so sánh quá chênh lệch có thể khiến người nghe phì cười! Một củ khoai lang hay cả một nhà khoai lang thì cũng thế. Nói ra cho nhiều nhưng giá trị của vật phẩm không vì thế mà được nhìn nhận khác đi. Theo nhận thức bình thường, khoai lang dù là một trong những loại lương thực chính của người bình dân, nhưng với tư cách là đồ thách cưới, nó quá tầm thường, bé mọn. Tiếng cười đã nổ ran ran chung quanh làm tăng ý vị của cuộc đối đáp. Chàng trai có thể cũng cười, nhưng trong lòng, chàng hẳn phải xúc động. Chàng đã nhận ra sự cảm thông từ phía cô gái. Tuy thế, sự giao cảm vẫn là chuyện riêng, kín đáo của hai người, còn trước mắt thiên hạ, họ vẫn cứ phải đẩy tiếng cười đi đến tận cùng lô-gích của nó. Toàn bộ sự phân loại (khoai lang) và dự tính (mời những ai, mời gì) của cô gái đã chứng minh "nội dung" thách cưới chỉ cần tới khoai lang không phải là chuyện "hoang đường" như ai đó có thể nghĩ. Với khoai lang, người ta vẫn chu tất được với mọi đối tượng, từ làng xóm đến họ hàng, từ người lớn đến trẻ nhỏ, từ con người nói chung đến những giống gia súc, gia cầm quen thuộc. Nguời ta thường bảo nói láo có sách là như thế. Cô gái cũng như chàng trai, quả là thuộc lòng thứ sách dạy nghề này.
Nếu chú ý hơn một chút, ta sẽ còn nhận ra một điều hơi lạ: lời đáp của cô gái dài hơn lời "đối" của chàng trai và ở nữa sau lời cô nói, ý đùa cợt đã nhạt đi đến mức nó gần như thành lời giãi bày tâm tình rất mực trung hậu. Thì ra thế, sau những sự bông đùa, khoác lác cho vui, cái còn đọng lại là tình người. Rõ ràng, toàn bộ bài ca dao là tiếng nói hài hước của những con người lạc quan, yêu đời, sống giàu tình nghĩa
Nguồn: thêm: Phân tích hình tượng nhân vật ông lái đò trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân | Nụ cười hài hước trong bài ca dao_ Chàng dẫn thế em lấy làm sang… Để cho con lợn, con gà nó ăn | 806 | |
Nụ cười hài hước trong bài ca dao: Cưới nàng anh toan dẫn voi… Dẫn con chuột béo mời dân, mời làng.
Hướng dẫn
Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.
Dẫn trâu, sợ họ máu hàn
Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.
Đây là vế đối, lời của chàng trai! Trong đời sống, người ta vốn không ưa loại người "Mười voi không được bát nước xáo", nghĩa là loại người khoác lác, huênh hoang, nói nhiều, hứa nhiều nhưng chẳng làm được cái gì cho ai khác. Vế đối của bài ca dao này bề ngoài có vẻ đang cho ta tiếp cận một con người, một chàng trai thuộc loại đó. Thực ra thì không phải vậy. Chàng trai quả có nói khoác, nhưng anh ta tự biết mình đang nói khoác và cũng chẳng che giấu người nghe sự nói khoác ấy. Nói khoác cho vui – bất cứ ai muốn nghe chàng nói đều phải hiểu quy ước ấy để khỏi có đánh giá lầm lẫn về một con người.
Trong hệ thống những thủ tục cưới xin ngày trước, thách cưới thường đặt ra cho người con trai đi hỏi vợ một vấn nạn. Nhà nghèo mà phía gia đình cô gái đòi hỏi đồ dẫn cưới quá cao thì chàng trai chỉ còn cách chào thua. Hoặc giả, anh cũng muốn chuẩn bị lễ vật thật hậu hĩnh cho xứng với nàng, và đặc biệt là để thể hiện tấm thịnh tình của anh, nhưng tình trạng "kiết xác" khiến anh bị bó tay. Rất có thể chàng trai trong bài ca daonày gặp phải một tình huống dở khóc dở cười như vậy. Thôi thì đành mượn tiếng cười bông lơn để che giấu "nỗi đau" vậy. (Hoàn toàn có thể giả định một hoàn cảnh diễn xướng khác: tất cả chỉ là chuyện dựng lên để gây cười – một tiếng cười vô tư, nhẹ nhõm trong giao tiếp hằng ngày của các chàng trai, cô gái).
Xem thêm: Nét độc đáo trong bài thơ “Hầu Trời”Cái hay của vế đối trong bài ca dao dĩ nhiên gắn liền với thủ pháp cường điệu, phóng đại. Nhưng để cảm nhận cho thấu đáo điều này, ta không thể không chú ý tới trình tự xuất hiện từ to đến nhỏ của những đồ dẫn cưới mà chàng trai từng dự tính đưa tới nhà nàng. To hay nhỏ không thuần túy thuộc phạm trù khối lượng mà chủ yếu thuộc phạm trù sang, quý, có giá trị. Chàng trai quả là suy tính rất ráo riết. Hết phương án này đến phương án khác được đưa ra nhưng khổ thay cuối cùng đềukhông thực hiện được. Ta không thể trách chàng về sự thiếu hiểu biết và thái độ quan tàm chu đáo. Chàng không chỉ biết lo cho xong việc mình mà còn biết lo cho người khác, đặc biệt là lo cho họ nhà gái nữa (sợ họ máu hàn không ăn được thịt trâu, sợ họ nhà nàng co gân khi dùng thịt bò). Thì ra vấn đề chỉ là lí do khách quan chứ không phải vì lí do bó buộc về "kinh tế”. Chàng đã từng dự tính đem voi làm đồ dẫn cưới cơ mà! Quả là một dự tính "hoành tráng" – "hoành tráng" tới mức huyễn hoặc. Đáng tiếc là nó đổ vỡ bởi chàng chợt nhớ ra voi chính là hàng quốc cấm. Biết làm sao bây giờ? Một sáng kiến mới nảy ra. Voi, trâu, bò tuy khác nhau nhưng đều có chung một đặc điểm là thú bốn chân. Hóa ra đồ dẫn cưới phải cần tới thú bốn chân chứ gì? Việc này có thể giải quyết được! Thế là chàng trai đi tới quyết định (quyết định chứ không phải nêu dự tính nữa): "Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng". Thế là xong nhé, chuột ở đây cũng là chuột béo chứ chả phải đùa. Ai dám bảo đồ dẫn cưới này không xứng đáng với nàng, với họ nhà nàng?.
Đến với vế đối của bài ca dao, ta được thưởng thức tài nói khoác đã đạt tới mức "thượng thừa" của chàng trai. Nói khoác nhưng rất có bài bản. Mọi tình tiết đưa ra đều hợp lí để thuyết phục mọi người tin rằng cái quyết định cuối cùng là… đại hợp lí. Dĩ nhiên, muốn bắc được chiếc cầu từ voi, trâu, bò (những thứ đồ sính lễ "đáng kể") tới chuột (đồ sính lễ đáng gọi là bôi bác, không thể chấp nhận), chàng trai đã phải sử dụng đến một xảo thuật hay một phép ngụy biện tài tình: thì chúng giống nhau cả, chỉ là loài thú bốn chân chứ có khác gì đâu. Trong khi người nghe lời chàng trai đã trôi tới điểm kết thúc. Chàng trai đã nói xong và đã "kích hoạt" được trung khu thần kinh gây cười ở mọi người!
Riêng đối với chàng trai, tiếng cười mà anh đưa tới cho chúng ta rất có thể trước đó đã giúp chính anh quên đi phần nào mặc cảm nghèo hèn để tiếp tục sống, tiếp tục mơ mộng và… nói khoác.
Nguồn: thêm: Giới thiệu một loài hoa (như hoa đào, hoa mai,...) hoặc một loài cây (như cây chuối, cây na,...) | Nụ cười hài hước trong bài ca dao_ Cưới nàng anh toan dẫn voi… Dẫn con chuột béo mời dân, mời làng. | 910 | |
Nụ cười hài hước trong một số bài ca dao
Hướng dẫn
Làm trai cho đáng sức trai,
Khom lưng chống gối, gánhhai hạt vừng.
Bài ca dao chế giễu những đấng nam nhi kém cỏi, sức vóc yếu ớt, không thể làm chỗ dựa và trụ cột cho ai được. Dòng thơ đầu tiên xét riêng ra không có yếu tố gây cười. Nó chứa đựng một đòi hỏi nghiêm túc đối với kẻ làm trai, giống như câu mở đầu của một số bài ca dao khác không hề có giọng bỡn cợt, như "Làm trai cho đáng nên trai – Xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên" hoặc "Làm trai cho đáng nên trai – Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng". Nhưng cái hay trong cách mở đầu bài ca dao này lại ở chỗ đó. Nó đánh lạc hướng người nghe và do đó giúp tác giả dân gian giấu được ngòi nổ gây cười cho đến phút chót, khi nó tạo ra một tâm lí chờ đợi những sự dẫn giải trang trọng. Thử giả định dòng thơ có hình thức "Làm trai chẳng đáng sức trai" thì hai từ chẳng đáng sẽ hoàn toàn làm lộ ý tác giả, khiến sau cùng, nếu bài ca dao có làm bật lên được tiếng cười thì tiếng cười đó chắc cũng không giòn giã lắm.
Vế đầu của dòng thơ thứ hai vẫn mang tính chất của dòng thứ nhất. Chưa ai cười được với chừng ấy dữ kiện đã có. Từ sức trai cho đến khom lưng chống gối, ta mới chỉ thấy xuất hiện một lô-gích bình thường. Nó vẫn cứ còn đánh lừa người tiếp nhận, vẫn cứ gợi lên tâm lí chờ đợi một sự kiện xứng đáng, khi thấy người đàn ông đang triển gân để chuẩn bị chứng tỏ sức mạnh của mình. Muốn kiểm chứng điều này, ta chỉ cần thay cụm từ hạt vừng bằng cụm từ quả đồi là sẽ rõ. Lúc đó, ta sẽ chỉ có một bài ca dao hoàn toàn "nghiêm nghị".
Với bài ca dao này, tiếng cười chỉ thực sự nổ ra khi xuất hiện cụm từ hạt vừng. Chao ôi! tưởng sẽ thấy gì, hóa ra là thấy một kẻ nam nhi "dởm", đến việc gánh hai hạt vừng mà cũng phải cố, như thể đang làm một việc trọng đại và quá sức. Càng bị nén chặt, tiếng cười càng bật ra sảng khoái. Đến lúc này, ta mới nhận thấy hết thủ pháp "giấu bài" tuyệt diệu của tác giả dân gian. Chắc người sáng tác hoàn toàn ý thức được vấn đề: tiếng nổ chỉ bất ngờ khi trước đó năng lượng được nén chặt, thật chặt.
Rõ ràng, trước khi hình ảnh gánh hai hạt vừng được trưng ra, sức mạnh gây cười của tất cả các yếu tố ngôn ngữ khác chỉ tồn tại ở khả năng tiềm ẩn!
Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo
Xem thêm: Tuổi trẻ với tình yêu. (Yêu cầu viết bài văn)Nhân vật trữ tình của bài ca dao là một người phụ nữ, một người vợ. Chị đang than thở với ta về cái vô tích sự của đức ông chồng. Để làm rõ cái vô tích sự đó, không có gì hay hơn việc dùng phép so sánh – đối lập. Chồng người thì thế ấy, chồng em thì thế này… Ta không thể không bật cười trước cử chỉ vô nghĩa lí củaanh chồng ngồi bếp sờ đuôi con mèo. Một chi tiết thật đắt, đã thực sự tóm bắt được thần thái của đối tượng. Bằng cách đọc liên văn bản, ta còn cảm nhận được từ bài ca dao một cảm giác ngao ngán lớn hơn, khi người phụ nữ nhìn thấy chồng mình chẳng khác gì con mèo – con vật mà trong một bài ca dao khác từng được miêu tả: "Con mèo nằm bếp co ro — ít ăn, ít ngủ, ít lo, ít làm"… Rõ ràng, tiếng cười trong bài ca dao là một tiếng cười phê phán. Hẳn nhiều đức ông chồng phải giật mình khi nghe đến bài ca dao này.
Lổ mũi mười tám gánh lông
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho.
Đêm nằm thì ngáy o o…
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu!
Nếu chỉ giữ lại những dòng lục trong bài ca dao và tước bỏ đi toàn bộ các dòng bát, ta sẽ có bức chân dung khá hoàn chỉnh về một phụ nữ vô duyên, vô tâm, vô lo và nói chung là nhếch nhác. Loại phụ nữ đó, loại người vợ đó quả khó mê, nếu không muốn nói là không thể chấp nhận được. Để nhấn mạnh thêm thái độ dị ứng của mình và để chân dung đối tượng, mang đúng tính chất biếm họa, tác giả dân gian đã dùng thủ pháp phóng đại ở dòng lục thứ nhất và dòng lục thứ bảy. Tiếng nói phê bình dù muốn hay không cũng cứ hiện diện trong bài ca dao.
Tuy nhiên, đó chỉ là giả định. Bài ca dao là một cấu trúc hoàn chỉnh. Bên cạnh các dòng lục có chức năng miêu tả chân dung của người vợ thì còn có cấc dòng bát thể hiện những phản ứng độ lượng khác thường, rất khác thường của đức ông chồng. Ông ta hình như không biết giận vợ. Bất cứ nết xấu nào của phu nhân cũng được nhìn nhận theo chiều hướng tích cực. Phải chăng toàn bộ phản ứng của ông ta đang làm sáng tỏ một quy luật tâm lí: yêu nên tốt, đã yêu thì xấu cũng hóa ra đẹp và thậm chí khái niệm xấu trở nên xa lạ? Rất có thể bài ca dao cũng đã chứa đựng nội dung này.
Nhưng hình như ta vẫn chưa nhìn nhận bài ca dao thực sự như một chỉnh thể. Phải thấy rằng trong bài có sự đan xen của khá nhiều thái độ đánh giá và do vậy, các thái độ đó tương tác với nhau, chế ước lẫn nhau để bài ca dao không phát triển theo chiều hướng quá nghiêm trang – nghiêm trang một cách không thật cần thiết. Cũng bởi vậy, ấn tượng mà bài ca dao trước hết có thể đưa đến cho người đọc là một ấn tượng khôi hài.Trước khi phải nghĩ ngợi sâu xa, ta đã được sống trong không khí của một tiếng cười sảng khoái, bật ra do tác động của lối nói ngoa ngôn và của những chi tiết phi lí vốn miêu tả những phản ứng không thể xảy ra trong cuộc sống bình thường.
Nguồn: thêm: Suy nghĩ về vai trò của người mẹ trong gia đình | Nụ cười hài hước trong một số bài ca dao | 1,158 | |
Phan Từ “Lưu biệt khi xuất dương” của Bội Châu, anh (chị) rút ra được những bài học gì về lí tưởng, khát vọng sống của bản thân
Gợi ý
“Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai?
Non song đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Muốn vượt bể đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”.
Ấy là những lời Phan Bội Châu đã “Lưu biệt trước khi xuất dương” để từ giã bạn bè, đồng chí khi sang Nhật Bản tìm đường cứu nước. Lời lưu biệt ấy không chỉ làm cho chúng ta hiểu hơn quan niệm về chí nam nhi của thời trung đại mà còn mang lại cho chúng ta rất nhiều bài học về khát vọng và lý tưởng sống của bản thân trong thời đại hiện nay.
Bài thơ thể hiện tư duy mới mẻ, khát vọng của người chí sĩ cách mạng trong buổi ra tìm đường cứu nước. “Lưu biệt khi xuất dương” khẳng định chí làm trai và quyết tâm xuất dương, làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân. Đó là sự quyết tâm cao độ và những ý tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình buổi đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Hai câu đầu nói đến chí làm trai nói chung. Hai câu thơ khẳng định một lẽ sống đẹp. “Phải lạ” nghĩa là phải biết sống cho phi thường, hiển hách, phải dám mưu đồ những việc lớn, xoay chuyển càn khôn, chứ không sống tẻ nhạt, buông xuôi theo số phận, để cho con tạo xoay vần. Với Phan Bội Châu, đó là sự kế tiếp khát vọng sống đầy nhiệt huyết của nhân vật trữ tình trong “Chơi xuân” của Nguyễn Công Trứ:
“Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc tây đông
Cho phỉ chí vẫy vùng trong bốn bể
Làm trai, đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế”.
Nhưng dường như nó có phần táo bạo và quyết liệt hơn. Con người dám đối diện với càn khôn để tự khảng định mình, vượt qua cái “mộng công danh” thường gắn liền với hai chữ hiếu, trung để vươn tới những lí tưởng nhân quần, xã hội rộng lớn và cao cả hơn. Khát khao có thể thay đổi sự “tự chuyển dời” của trời đấy, lý tưởng sống tiến bộ đã tạo cho con người một tư thế mới, khỏe khoắn, ngang tàng, ngạo nghễ, thách thức và có thể làm nên tất cả.Xem thêm: Phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Và trong thời đại của Phan Bội Châu, lý tưởng đó được thể hiện cụ thể như thế nào? Không chỉ đối lại với càn khôn, người nam nhi còn tiếp tục khẳng định mình cùng với thời gian. Người nam nhi được đặt trong sự vô cùng của thời gian, trong sự vô tận của không gian nhưng không hề vô nghĩa. Chí làm trai đã gắn với ý thức về cái tôi, nhưng là một cái tôi công dân đầy trách nhiệm trước cuộc đời. Đi từ khẳng định dứt khoát đến giọng nghi vấn, nhưng cũng để nhằm khẳng định một cách quyết liệt hơn một khát vọng sống hiển hách, phát huy hết tài năng và chí khí, cống hiến cho đời. Ý chí, khát vọng đó tiếp tục nâng người chiến sĩ cách mạng lên một tầm cao mới, càng làm tăng đến vô cùng sức mạnh của khát vọng và niềm tin. Chí làm trai lại được gắn với thực tế của nước nhà:
“Non song đã chết, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”
Lẽ nhục – vinh được gắn với sự tồn vong của đất nước. Không chỉ như vậy, một người từng gắn bó với cửa Khổng sân Trình lại có dám lên tiếng đối mặt với cả nền học vấn cũ để nhận thức một chân lý: sách vở thánh hiền chẳng giúp được gì trong buổi nước mất nhà tan. Tất cả xuất phát từ lòng yêu nước, từ một khát khao cháy bỏng muốn tìm ra được một con đường đúng đắn để đưa nước nhà ra khỏi cảnh khổ đau. Bài thơ kết lại trong tư thế và khát vọng lên đường của nhân vật trữ tình. Câu thơ xuất hiện những hình ảnh hết sức lớn lao: bể Đông, cánh gió, muốn trùng sóng bạc. Tất cả như đều hòa nhập vào con người trong tư thế bay lên thật lãng mạn và hào hùng, con người đuổi theo ngọn gió đài trên đại dương bao la cùng muốn ngàn sóng bạc bay lên. Bức tranh hoành tráng mà hài hòa, ở đó, con người là trung tâm, chắp cánh khát vọng hùng vĩ, vút bay cao cùng ngọn gió, ngọn sóng, lồng lộng giừa biển trời mênh mông, vút bay tới chân trời mơ ước. Hình ảnh sử thi thắp sáng niềm tin, hi vọng cho thời đại mới, thế kỉ mới.Xem thêm: Trình bày những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của tác gia Xuân Diệu
Như vậy, với Phan Bội Châu, “làm trang nam nhi không phải bằng mọi cách để lưu danh sử sách, khẳng định cá nhân mà cá nhân ấy phải làm nên sự nghiệp phi thường, ấy là việc kinh bang tế thế, cứu dân cứu nước. Khát vọng sống cao cả của Phan Bội Châu giúp ta hiểu thêm cốt cách vĩ đại của con người kiệt xuất này” (Chu Văn Sơn). Viết dưới ảnh hưởng của quan niệm về chí nam nhi vốn đã phổ biến trong thời trung đại nhưng vượt lên trên tất cả, cái người ta cảm nhận được trên hết vẫn là lý tưởng và khát vọng chân thành từ một tấm lòng yêu nước, một trái tim đầy nhiệt huyết và khát khao cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Người ta nhận ra rằng: đó mới là cái thôi thúc Phan Bội Châu làm bài thơ lưu biệt, mới là nguyên nhân khiến cho ông vượt muôn trùng sóng bể. Nếu như đó chỉ vì chịu ảnh hưởng của quan niệm nam nhi, sự ra đi ấy tuy vẫn đáng trân trọng nhưng cũng sẽ giảm đi giá trị rất nhiều. Phan Bội Châu ra đi bởi sự thôi thúc của chí nam nhi, và cao hơn nữa là sự thôi thúc của lý tưởng và khát vọng sống thật đẹp của bản thân: khát vọng sống cống hiến cho đất nước. Và khi đó, hình ảnh Phan Bội Châu, tâm thế của người ra đi càng trở nên hùng tráng, lãng mạn, đẹp hơn bao giờ hết.
Hình ảnh người ra đi với “Muôn trùng song bạc tiễn ra khơi” mang theo bao lý tưởng, khát vọng sống và công hiến cao đẹp khiến cho chúng ta, những người trẻ tuổi hôm nay phải suy nghĩ về chính mình. Lý tưởng và khát vọng chính là những động lực cho con người sống một cách có ý nghĩa hơn, sống để có ích cho đời, sống để cống hiến cho xã hội. Một người có lý tưởng và khát vọng sống cao đẹp không chỉ mang lại cho mình một vị thế đáng được trân trọng mà còn là một người sống có ích, sống có nghĩa trong xã hội. Nếu như trước kia, lý tưởng và khát vọng sống cao đẹp giúp cho Phan Bội Châu ra đi, quyết tâm tìm ra con đường cứu nước thì ngày nay, lý tưởng đó cũng là điều rất cần thiết đối với mỗi con người đặc biệt là những người trẻ tuổi. Có lí tưởng và khát vọng, con người sẽ có thể sống một cách có ý nghĩa, biết đặt ra những mục tiêu, và thực hiện những mục tiêu đó. Khát vọng, lý tưởng nâng con người tìm đến với nhưng đỉnh cao mới, những hạnh phúc mới, tìm đến ý nghĩa đích thực của cuộc sống, vượt qua những nhàm chán, vô vị đôi khi con người hiện đại vẫn đang phải đối mặt. Trong xã hội hiên đại, lý tưởng và khát vọng càng là một điều cần thiết đối với bản thân mỗi con người. Cuộc sống hiện đại, con người phải đối mặt với biết bao vấn đề. Đó không chỉ là những thách thức, đòi hỏi của cuộc sống mới yêu cầu con người phải phấn đấu không ngừng. Đó còn là những thử thách, những trở ngại, những khó khăn mà họ gặp trong cuộc sống. Khi ấy, nếu như không có một ý chí vững vàng, lý tưởng sống đúng đắn, con người sẽ rất dễ đị chệch con đường dẫn tới chân lý và lẽ phải, dẫn tới thành công. Lý tưởng và khát vọng sống đúng đắn cũng sẽ trở thành đôi cánh nâng con người vượt ra khỏi cuộc sống tầm thường, vô nghĩa lý để sống một cách có ý nghĩa hơn. Điều này càng quan trọng và có ý nghĩa đối với những người trẻ tuổi, những người đang mới bắt đầu bước vào cuộc sống, đang cần phải cống hiến, cần phải khẳng định mình và ý nghĩa sự sống của bản thân mình với cuộc đời. Lý tưởng và khát vọng của Phan Bội Châu, khiến cho người ta phải suy nghĩ về ý nghĩa của nó đến tận ngày hôm nay.Xem thêm: Tự ti và tự phụ là hai thái độ trái ngược nhau nhưng đều ánh hưởng không tốt đến kết quả học tập và công tác. Em hãy phân tích hai căn bệnh trên Lý tưởng sống và khát vọng ra đi của Phan Bội Châu khiến cho người ta phải trân trọng, cảm phục. Hơn thế nữa, nó còn là một tấm gương, là bài học dành cho thế hệ sau, để chúng ta sống có lý tưởng, khát vọng, sống có ý nghĩa hớn.
Vanmau.edu.vn | Phan Từ “Lưu biệt khi xuất dương” của Bội Châu, anh (chị) rút ra được những bài học gì về lí tưởng, khát vọng sống của bản thân | 1,714 | |
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh rất độc đáo, phong phú và đa dạng về ngôn ngữ, về giọng văn, về thể loại, về sắc thái biểu cảm. Một cây bút uyên bác, tài hoa sử dụng tiếng Pháp, chữ Hán và tiếng Việt để sáng tác thơ ca, truyện kí, văn chính luận; ở phương diên nào, thể loại nào, Người cũng thu được những thành tựu đặc sắc. Một lối viết ngắn gọn, đầy ấn tượng: Người hay dùng thơ tứ tuyệt; Tuyên ngôn độc lập chỉ có khoảng 1000 chữ, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chỉ có 196 chữ,…
Lối kể chuyện ở truyện kí rất biến hóa; biến hóa về tình tiết, sự việc, biến hóa về giọng văn dí dỏm, hài hước, vừa thâm trầm, vừa sâu cay. Cái cử chỉ khinh bỉ của Phan Bội Châu đối với Va-ren, lối vi hành của vua bù nhìn Khải Định mãi mãi là “bia miệng”ở đời!
Thơ ca để tuyên truyền, vận động cách mạng được Người viết bằng thơ năm chữ, thơ lục bát rất bình dị, dễ hiểu, đi sâu vào lòng người. Có khi Bác dùng hình thức diễn ca lịch sử, lại có lúc Bác dùng hình thức ngụ ngôn, ẩn dụ để khêu gợỉ đồng bào đoàn kết, vùng lên đánh Pháp, đuổi Nhật (Ca sợi chỉ, Hòn đá to, Con cáo và tổ ong, Nhóm lửa, Trẻ chăn trâu, Chơi trăng…).
Lửa cách mạng sáng choang bờ cõi
Chiếu lên cờ độc lập, tự do Xem thêm: Phân tích để làm nổi bật cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Nhóm lửa
(Ngày 1 tháng 8 năm 1942)
Có lúc, Người dùng hình thức chơi chữ để châm biếm, khinh bỉ. Pê-tanh là thống chế, là tổng thống Pháp đã quỵ gối đầu hàng phát xít Đức một cách nhục nhã:
Bán nước lại còn khoe cứu nước
Ô danh mà muốn được thơm danh
Già mà như chú, già thêm dại
Tiếng xấu muôn đời nhuốc sử xanh.
Tặng thống chế Pê-tanh
(Ngày 11 tháng 7 năm 1942)
Người gọi toàn quyền Đờ-cu là “chú”,một kẻ hèn hạ chỉ biết “đội khu”, bê đít phát xít Nhật:
Đối dân Việt Nam thì lên mặt
Gặp bọn Phù Tang chí đội khu,
(…) Cũng như thống chế Pê-tanh vậy
Chú cứ cu cù được mãi ru!
Tặng toàn quyền Đờ-cu
(Ngày 11 tháng 8 năm 1942)
Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp trữ tình, hàm súc, cổ điển. Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông… đều là tâm hồn của Bác, lúc thì san sẻ nỗi đau buồn với nhà thơ đang bị cùm trói trong ngục tối; lúc thì đang đồng hành, đang tâm tình với người chiến sĩ trên dặm đường khói lửa trường chinh. Thiên nhiên trở thành tri âm, tri kỉ của Bác. Người tả ít mà gợi nhiều. Ngoại cảnh và hồn người đồng điệu, nhiều thơ mộng thanh cao:
Hoa hương thấu nhập lung muôn lí
Hướng tai lung nhân tố bất bình.
Vãn cảnh (Cảnh chiều hôm)
(Hương hoa bay thấu vào trong ngục,
Kể với tù nhân nỗi bất bình)
– Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chính thị Liên khu báo tiệp thì.Xem thêm: Nêu cảm nhận của anh (chị) về bốn câu thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử) Báo tiệp (Tin thắng trận)
Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu,
Ấy tin thắng trận Liên khu báo về.
Văn chính luận của Hồ Chí Minh thể hiện một phong cách da dạng, đặc sắc, độc đáo. Những số liệu, những nhân chứng được nói tới trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” là sự thật lịch sử mà kẻ thù của dân tộc ta không thể nào chối cãi! “Tuyên ngôn độc lập”,“Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Không có gì quý hơn độc lập do”,… là những bài hịch, bài cáo trong thời đại Hồ Chí Minh; những văn kiện lịch sử trọng đại ấy đã thể hiện khát vọng độc lập, tự do và khí phách anh hùng của đất nước và con người Việt Nam. Giọng văn đanh thép, mạnh mẽ, hùng hồn vang lên như tiếng gọi tha thiết của non sông:
“Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
(Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946).
Sự độc đáo trong phong cách nghệ thuật chính luận của Hồ Chí Minh là sự đan xen vào văn bản những vần thơ, tạo nên chất trữ tình đằm thắm, thiết tha, có sức lôi cuốnXem thêm: Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng.
Thư Trung thu gửi các cháu nhi đồng
(Ngày 13 tháng 9 năm 1951)
Nay tuy châu chấu đấu voi,
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra.
Báo cáo chính trị
(tại Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng Lao động Việt Nam – ngày 11/2/1951)
Việt – Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
(Tình hữu nghị Việt – Lào)
Tóm lại, văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần, văn hóa vô cùng to lớn mà Người đã để lại cho đất nước ta, nhân dân ta.
Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam tỏa sáng lấp lánh trong thơ văn Hồ Chí Minh, mãi mãi là bài học xây dựng đất nước, bài học chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đối với mọi thế hệ con người Việt Nam trên hành trình vẻ vang đi tới tương lai.
Văn chương Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy cao độ mọi tinh hoa của nền văn hiến Đại Việt, đã kết hợp một cách tinh tế, hài hòa, sâu sắc mối quan hệ gỉữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa chính trị và văn học, giữa truyền thống và hiện đại.
“Hãy hát lên bài ca về Người”
Thơ văn Hồ Chí Minh là hành trang, là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam, của tuổi trẻ Việt Nam, hôm nay và ngày mai.
Vanmau.edu.vn | Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh | 1,081 | |
Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà. Hãy phân tích và chứng minh.
Gợi ý
Dàn ý đại cương
Bước 1: Tìm hiểu đề trên câu chữ của văn bản.
– Nhận dạng đề: Đề phân tích một hình tượng của tác phẩm và là đề chìm (vì ngoài cụm từ "hình tượng con sông Đà", đề bài không hề nói thêm những ý cụ thể nào về hình tượng con sông ấy (điều này người làm bài phải suy nghĩ để tự tìm ra các ý). Nhưng đây lại không phải là đề phân tích một hình tượng đơn thuần mà phân tích hình tượng gắn với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân, để chứng minh cho phong cách đó.
– Xác định yêu cầu của bài làm: Đề có hai cụm từ cần lưu ý: "phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân" và "hình tượng con sông Đà". Đó là hai ý của bài làm và hai ý này có mối quan hệ với nhau, nhưng là dạng đề phân tích hình tượng của tác phẩm nên ý "hình tượng con sông Đà" phải là ý trọng tâm, là yêu cầu chủ yếu của bài làm. Có thể xác định yêu cầu của bài làm như sau:
Phân tích hình tượng con sông Đà để chứng minh cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
Bước 2: Định hướng giải đề bài.
Với yêu cầu trên, bài làm có thể theo hướng sau: nêu đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân làm tiền đề để soi sáng cho việc phân tích hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút, và qua việc phân tích hình tượng ấy, phong cách nghệ thuật của nhà văn sẽ được sáng tỏ.Xem thêm: Tìm hiều tác phẩm Hai đứa trẻ Bước 3: Định ra dàn ý thích hợp (phần thân bài).
Như vậy dàn ý của đề bài này sẽ gồm 2 ý: phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và hình tượng con sông Đà – ý 1 là ý phụ, ý 2 là ý chính. Thứ tự sắp xếp: ý phụ để trước làm tiền đề chuẩn bị cho ý chính, ý chính để sau tiếp nôi ý phụ để giải quyết yêu cầu chủ yếu của bài làm. Ta có dàn ý đại cương (phần thân bài):
a. Đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
b. Hình tượng con sông Đà in đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Đây là đề chìm nên các ý nhỏ trong hai ý lớn trên đây người làm bài phải huy động kiến thức sẵn có của mình, suy nghĩ để tìm ra (điều này liên quan đến mục 1 đã nói: phải nắm chắc kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa để làm bài). Đối với đề bài này, nếu học sinh nắm được các đặc điểm của phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân thì sẽ tạo điều kiện để tìm ra nhừng vẻ đẹp riêng của hình tượng con sông Đà vôn được nhà văn nhìn nhận và miêu tả theo phong cách ấy. Từ đó mà chi tiết hóa hai ý lớn trên thành một dàn ý đầy đủ hơn:
I. Đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân (nêu và phân tích vắn tắt những đặc điểm chủ yếu có liên quan đến hình tượng con sông Đà).
a. Một cây bút tài hoa và uyên bác: thiên nhiên hay con người đều được chú ý khám phá ở phương diện văn hóa, mĩ thuật của nó. Tính tư liệu phong phú, đầy giá trị thông tin về địa lí, lịch sử, văn hóa, phong tục…Xem thêm: Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết)
b. Một ngòi bút có thiên hướng thể hiện những cảm giác mãnh liệt, gây những ấn tượng đậm nét, hoặc đẹp tuyệt vời hoặc thật dữ dội…
c. Một con mắt nhìn sự vật ở chiều lịch sử, gắn quá khứ, hiện tại với tương lai.
d. Một giọng điệu tùy bút vừa nghiêm túc vừa phóng túng với ngôn ngữ giàu có, giá trị tạo hình cao.
II. Hình tượng con sông Đà in đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Con sông Đà, dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, không còn là con sông của thiên nhiên – địa lí, mà được miêu tả như một sinh vật có tính cách vừa hung bạo vừa trữ tình:
* Con sông hung bạo (đoạn người lái đò vượt thác)
– Con sông được miêu tả như một con quái vật điên cuồng, hung dữ đang nhe nanh, múa vuốt hòng bóp chết và nuốt chửng con thuyền và người lái đò:
+ Thác nước gầm réo vang trời thanh la não bạt: khi thì "rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng…", lúc lại "hồng hộc tế mạnh trên sông đá", có khi "đội cả thuyền lên" và "mặt sông rung rít lên như tuyếc-bin thủy điện nơi đáy hầm đập"…
+ Thạch trận giăng trên sông thành 3 vòng vây như thiên la địa võng đòi "ăn chết cái thuyền", đá "nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền" hoặc "xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử"…
– Tác giả đã thể hiện những cảm giác mãnh liệt, gây những ấn tượng thật dữ dội khi miêu tả con sông Đà và trận thủy chiến trên cái thạch trận có một không hai ấy với người lái đò: "nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra…", sóng thác "bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò, hột sinh dục vụt muôn thọt lên cổ" và "mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuông mà châm lửa vào đầu sóng"…Xem thêm: Soạn bài Phong cảnh đền Hùnga. Con sông trữ tình (đoạn tiếp theo)
– Dưới con mắt nhìn nghệ sĩ của Nguyễn Tuân, con sông Đà hiện ra thật đẹp và trữ tình:
+ Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai…
+ Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ…
+ Con sông Đà gợi cảm như một cố nhân…
– Tâm hồn nghệ sĩ ấy lại đưa con sông về với thời gian xa xưa, với không gian tĩnh lặng để nó càng thêm thơ mộng trữ tình: "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa"…
– Sông Đà còn gắn với thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh, với câu thơ của Lý Bạch và Tản Đà… gợi bao hoài niệm và thương nhớ bâng khuâng.
b. Tóm lại, hình tượng con sông Đà đã in đậm nhiều nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà nổi bật nhất là ở chỗ nhìn thiên nhiên ở phương diện vân hóa, thẩm mĩ, và ở chỗ nhà văn dễ có cảm hứng trước những hiện tượng gây cảm giác mạnh, hoặc dữ dội hoặc đẹp tuyệt vời, khiến cho con sông Đà trở thành một con sông vừa hung bạo vừa trữ tình.
Vanmau.edu.vn | Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà. Hãy phân tích và chứng minh. | 1,227 | |
Phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người dò sông Đà. Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh để làm sáng tỏ điều này
Gợi ý
A. DÀN BÀI
1. Mở bài
Hình tượng con sông Đà trong Người lái đò sông Đà là một trong những hình tượng thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
2. Thân bài
* Trải suốt từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm là hình ảnh dòng sông Đà được chụp lại ở nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau. Qua việc tìm hiểu dòng sông, người đọc được hiểu khá đầy đủ phong cách hay cái nhìn cuộc sống của nhà vàn. Ở đó bạn đọc đã thấy một con người ưa độc đáo trong sự tài hoa – uyên bác; một cá tính mạnh mẽ luôn sẵn tìm những gì dữ dội, mãnh liệt; một thầy phù thủy ngôn từ, hình ảnh…
* Nguyễn Tuân là người không bao giờ chấp nhận sự hời hợt bằng phẳng, không thích những khuôn sáo, gò bó, sự lặp lại đến nhàm chán. Ông luôn tìm đến sự độc đáo, mới lạ, không bao giờ đi lại những lối mòn xưa cũ.
* Mỗi trang viết của Nguyễn Tuân ngồn ngộn kiến thức thể hiện một sự hiểu biết tường tận từng chi tiết được nói tới trong văn mình. Dòng sông Đà có thể được tái hiện rất trữ tình, thơ mộng nhưng cũng có lúc hiện lên chính xác trong từng con số. Nguyễn Tuân thoắt trở thành nhà địa lí. Cũng có khi nhà văn trở thành một nhà điện ảnh, một người chuyên nghiên cứu lịch sử, một nhà chính trị, hội họa, điêu khắc, nghệ thuật, thể thao… Nhờ những hiểu biết này, sông Đà đã đã hiện lên rất sinh động, cụ thể, thật dữ dội, cứng cỏi, bay bổng… Nguyễn Tuân đã vươn tới văn chương chuẩn mực: trữ tình, sâu lắng mà chính xác, khoa học….
3. Kết bài
Tài năng và tình yêu của Nguyễn Tuân đã tạo nên dòng sông Đà như một sinh thể tài hoa – nghệ sĩ tiềm ẩn. Đó cũng chính là phong cách Nguyễn Tuân.
B. BÀI LÀM
Khát khao công hiến cho nghệ thuật, khát khao đi tìm cách thể hiện những cảm giác mạnh mẽ, dữ dội cộng với chất nghệ sĩ ưa phóng túng, tự do đã thúc đẩy Nguyễn Tuân đến với sông Đà, và bằng “nghệ thuật bậc thầy của ngôn từ”, ông đã sáng tạo nên hình tượng con sông Đà – một kiệt tác của nghệ thuật văn xuôi. Văn học Việt Nam có thêm hình tuợng một dòng sông, người yêu văn chương có thêm một tác phẩm để mà yêu dấu, trân trọng. Có lẽ hình tượng con sông Đà trong Người lái đò sông Đà là một trong những hình tượng thể hiện rõ nét trong các nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
Tiếp xúc với văn chương của Nguyễn Tuân ta bắt gặp ẩn chứa trong những trang văn là “cảm xúc mạnh, là hơi thở nồng” (Nguyễn Đăng Mạnh) của cái tôi trữ tình nghệ sĩ mang khát vọng cuồng nhiệt, muốn biến những trang văn thành những trang hoa lộng lẫy, yêu kiều, vừa mê hoặc, vừa thách đố người đọc.
Sinh thời, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với ý tưởng nghệ thuật của M.Gorki: “Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật”. Ông đã từng say sưa với nhân vật của Đốt “lúc nào cũng như là có một cơn sốt rung cả cuộc sống bên trong lên”. Ông cũng đã có lúc tri kỉ với Nguyên Hồng người “cười hô hố tung tóe cả chén rượu” (Con người Nguyên Hồng). Một người như ông, không có cái khuôn khổ vô hình nào câu thúc nỗi khát vọng thiên lương, khát vọng dùng văn chương để thưởng ngoạn thì con sông Đà ghê gớm kia – “Chúng thủy giai Đông tẩu / Đà giang độc Bắc lưu (mỗi dòng sông đều chảy về Đông, chỉ có một sông Đà theo hướng Bắc) – không thể “không xứng” với cá tính nghệ thuật của Nguyễn Tuân.Xem thêm: Viết thư gửi cho ông bà ở quê hỏi thăm sức khỏe Trải suốt từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm là hình ảnh dòng sông Đà được chụp lại ở nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau. Qua việc tìm hiểu dòng sông, người đọc được hiểu về một con người, một nghệ sĩ “suốt đời đi tìm cái thật và cái đẹp” – nhà văn Nguyễn Tuân, bởi vì hình tượng con sông vĩ đại của vùng đất Tây Bắc xa xôi là sự thể hiện khá đầy đủ phong cách hay cái nhìn cuộc sống của nhà văn. Ở đó, bạn đọc đã thấy một con người ưa độc đáo trong sự tài hoa – uyên bác: một cá tính mạnh mẽ luôn săn tìm những gì dữ dội, mãnh liệt; một thầy phù thủy ngôn từ, hình ảnh..
Nhắc đến Nguyễn Tuân, người đọc thường nghĩ tới một nhà văn xông xáo, luôn tìm tòi trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ những điều bất ngờ mãnh liệt. Ông đi nhiều nơi để “tìm thực phẩm cho tâm hồn thay thực đơn cho các giác quan” tìm “cái say của rượu tối tân hôn”. Con người ấy không bao giờ chấp nhận sự hời hợt bằng phẳng, không thích những khuôn sáo gò bó, sự lặp lại đến nhàm chán. Chính vì thế mà trong văn chương, Nguyễn Tuân luôn tìm đến sự độc đáo, mới lạ, không bao giờ đi lại những lối mòn xưa cũ. Đó có lẽ cũng là lí do vì sao ngay từ khi cầm bút, ông đã tạo cho mình một phong cách đặc sắc. Trước Cách mạng, ông khôi phục bức tranh truyền thống, làm nó sống dậy tươi mới, một phần cũng vì ông không cho mình là con người của thời đại – “cái thời đại cơ khí khiến người ta cơ khí hóa luôn cả tâm hồn”. Sau Cách mạng, ông tìm đến dòng sông Đà một phần cũng vì đó là dòng sông duy nhất của Việt Nam chảy về hướng Bắc; vì ở đó là sự kết hợp hài hòa của sự mãnh liệt dữ dội và sự thơ mộng, mơ màng. Trong văn học Việt Nam, đã có biết bao con sông trở thành nguồn cảm hứng thi ca bất tận nhưng có lẽ chưa có một dòng sông nào như trong trang viết của Nguyễn Tuân: sống động như cuộn trào lên sau mỗi chữ mỗi từ. Cùng tái hiện dòng sông nhưng dòng sông trong văn chương cổ dữ dội ở thế tĩnh, còn dòng sông trong văn Nguyễn Tuân phập phồng hơi thở của một sức sống mãnh liệt.
Chính quan niệm văn chương độc đáo của tác giả đã truyền cho dòng sông hơi thở ấy. Nhà văn đã có một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa. Nhân vật trong tác phẩm của ông luôn được soi chiếu ở phương diện văn hóa, mĩ thuật cùa nó. Dòng sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân bên cạnh vẻ dử dội, hung bạo như “kẻ thù số một” của con người, cũng có lúc hiện lên rất bay bổng, mơ màng, có nét trữ tình của một con người nồng nàn xúc cảm. Nếu ai đó hỏi tôi về đoạn văn tâm đắc tôi sẽ trả lời ngay rằng, đó là đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của dòng sông hiền hòa, “con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình… cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Đoạn văn như một khúc nhạc nhẹ nhàng, êm ái, lại như một bức tranh thủy mặc mang đến cho tâm hồn người đọc những rung động tinh vi, nhừng xúc cảm nhẹ nhàng. Băng tất cả tài năng và tâm huyết của minh, dòng sông dữ dội đã mờ phai, chỉ còn lại hình ảnh của dòng nước nhẹ nhàng, cũng có những rung động yêu thương “dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc”. Dù được tái hiện dưới góc độ thiên nhiên nhưng Nguyễn Tuân đã thổi vào dòng sông Đà những cảm xúc tinh tế của một con người nghệ sĩ tài hoa. Nó cũng biết “dịu dàng”, cũng yêu thương, duyên dáng, hồn nhiên, lặng lẽ…Xem thêm: Hình ảnh con cá kiếm được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Ông già và biển cả của O - nít Hê - minh - uê Nguyễn Tuân không chỉ nhìn dòng sông ấy như một con người mà còn hơn thế, một con người có tâm hồn nghệ sĩ. Chính vì vậy, Nguyễn Tuân mới coi dòng sông Đà như một “cố nhân” (nó đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân). Trong nhiều tác phẩm, nhà văn họ Nguyễn đã thể hiện tình yêu với những con người tài hoa, những thiên nhiên mĩ lệ. Tùy bút Người lái đò sông Đà là một tác phẩm như thể là sự kết hợp của tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên tập trung trong hình ảnh dòng sông Đà. Từ xưa đến nay đã có ai có một tình cảm sâu sắc và thiết tha như Nguyền Tuân, đã có ai có niềm vui “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, như nối lại chiêm bao đứt quãng” khi trông thấy dòng sông. Đó chính là vì Nguyễn Tuân đã nhìn dòng sông như một con người và hơn thế, một con người tài hoa, một cố nhân lâu ngày gặp lại.
Tình yêu cuộc sống, lòng ham hiểu biết về con sông, cây cầu của non sông đất nước, cũng như ý thích đi lại hoạt động… đã tạo cho mỗi trang viết của Nguyễn Tuân ngồn ngộn kiến thức. Dòng sông Đà có thể được tái hiện rất trữ tình, thơ mộng nhưng cũng có lúc hiện lên chính xác trong từng con số. Nguyễn Tuân thoắt trở thành nhà địa lí khi đưa ta về với thượng nguồn sông Đà ở Cảnh Đông tỉnh Vân Nam sau đó chan hòa vào sông Hồng chảy trên đất Việt, khi kể ra rất chính xác về “những cái thác, những ga nước trên sông Đà từ Vạn Yên về xuôi”. Cũng có khi nhà văn trở thành một nhà điện ảnh, với những ngôn ngữ của nghệ thuật thứ bảy, “những thước phim màu cũng xoay tít cái máy lia ngược contre – plongée lên cái mặt giếng mà thành giếng…”. Quả thật, khi miêu tả dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã đứng trong vai trò của nhiều nhà khoa học, một người chuyên nghiên cứu lịch sử, biết dòng sông dưới thời Pháp thuộc có một “cái tên Tây lếu láo”, một nhà chính trị khi biết “châu Quỳnh Nhai được giải phóng trước tiên ở Tây Bắc trở thành “cơ sở bàn đạp ở Tây Bắc” xuyên vào lòng địch… Không chỉ thế, Nguyễn Tuân còn huy động những hiểu biết về những môn nghệ thuật gần gũi với văn chương như hội họa (“con sông Đà tuôn dài…”), điêu khắc (“có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”…). Ở những lĩnh vực rất xa văn chương, Nguyễn Tuân cũng rất hiểu biết và sử dụng rất linh hoạt, qua đó tái hiện sông Đà ở nhiều góc độ khác nhau. Nguyễn Tuân đã sử dụng cả kiến thức võ thuật đế dựng bày một thạch trận dòng sông; kiến thức thể thao khi miêu tả cuộc chiến đấu “các luồng sống ở chặng ba này ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác”… Nhờ những hiểu biết này, sông Đà đã hiện lên thật sinh động, cụ thể, thật dữ dội cứng cỏi của võ thuật, thật bay bổng của hội họa, văn chương…Xem thêm: Phân tích ba bài thơ thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) của Nguyễn Khuyến Nguyễn Tuân đã vươn tới văn chương chuẩn mực: trữ tình, sâu lắng mà chính xác, khoa học…
Tài năng và tình yêu của Nguyễn Tuân đã tạo nên dòng sông Đà như một sinh thể tài hoa – nghệ sĩ tiềm ẩn. Đó cũng chính là phong cách Nguyễn Tuân – người được mệnh danh: “một định nghĩa về người nghệ sĩ” (Nguyễn Minh Châu).
Với lòng yêu say tiếng mẹ đẻ, sự hiểu biết sâu sắc về sự biến đổi lung linh của từ ngữ, Nguyễn Tuân đả trở thành thầy phù thủy ngôn từ với hàng trăm phép biến hóa mà mỗi phép biến hóa có công dụng lạ lùng mặc dù trong cuộc đời, nhà văn chỉ thừa nhận ông là “người viết văn bằng tiếng Việt” chứ không phải “nhà văn” hay bất cứ một danh hiệu cao quý nào khắc.
Trong tùy bút Người lái đò sông Đà ta còn gặp rất nhiều phép so sánh, liên tưởng thú vị và bất ngờ. Để diễn tả cảm giác lạnh lẽo khi ngồi trong khoang đò qua một quãng sông, Nguyễn Tuân đã “cảm thấy mình như đứng ở hè một ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trện cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện”. Phép so sánh “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” tập trung thể hiện lòng trân trọng một giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện lòng yêu say thiên nhiên tươi đẹp, đồng thời thể hiện một cách cảm nhận cuộc sống tươi sáng trong ngần như pha lê của người chiến sĩ văn hóa.
Hình tượng dòng sông Đà được tái hiện trong trang văn bằng tất cả tài năng và tâm huyết của nhà văn. Dòng sông Đà vĩ đại cuồn cuộn, dữ dội mà hiền hòa êm dịu sau trang văn; hung bạo mãnh liệt mà chất chứa nhớ thương. Phải chăng đó cũng là một phần con người – phong cách Nguyễn Tuân; con người ngang tàng đấy, mạnh mẽ đấy mà cũng nồng nàn tình cảm với đất nước, con người quê hương. Con sông Đà được nhìn nhận như “một cố nhân lâu ngày gặp lại” duyên dáng, thướt tha, hồn nhiên được nhà văn hiểu rất sâu sắc và chính xác, được tái hiện đầy đủ lung linh trong câu chữ thần kì. Qua hình tượng con sông, một Nguyễn Tuân đã được khẳng định chắc chắn trong lịch sử văn học như một phong cách độc đáo của một tâm hồn tài hoa, uyên bác mãnh liệt mà ngập tràn yêu thương. Văn chương bao giờ cũng là con người tác giả, thể hiện cái nhìn tác giả trong từng chi tiết, hình ảnh. Nhiều yếu tố tập hợp lại cho người đọc làm quen với một con người nhà văn hoàn thiện.
Người đọc mãi nhớ về một dòng sông Đà trong văn học Việt Nam, dòng sông hung bạo và trữ tình, cũng như mãi kính yêu một vì sao sáng của bầu trời văn học – nhà văn – người nghệ sĩ Nguyễn Tuân.
Vanmau.edu.vn | Phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người dò sông Đà. Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh để làm sáng tỏ điều này | 2,581 | |
Đề bài: Phong cách nghệ thuật của Thạch Lam qua truyện ngắn Hai đứa trẻ
Thạch Lam là một trong những nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, tác phẩm của ông mang một phong cách đặc biệt thể hiện tài năng, sở trường sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Truyện ngắn Thạch Lam không hấp dẫn bạn đọc bằng những chi tiết xung đột gay cấn, mà gây xúc động độc giả bằng lối kể chuyện tâm tình, tâm sự về những cảnh đời, cảnh sống tối tăm, tù túng, tội nghiệp. Đây cũng chính là nét nổi trội trong phong cách Thạch Lam, và tác phẩm Hai đứa trẻ là một truyện tiêu biểu cho nét phong cách này.
Bức tranh phố huyện được miêu tả theo trình tự thời gian (khi chiều xuống, lúc đêm về, lúc đêm khuya có chuyến tàu chạy qua phố huyện). Điều đó thể hiện sâu sắc cái không khí, nhịp điệu, biến thái của thiên nhiên ngoại cảnh trong sự hòa hợp với tâm trạng, cảm xúc sâu kín trong thế giới nội tâm nhân vật qua từng thời khắc khác nhau.
Cảnh phố huyện lúc chiều xuống.
Cảnh phố huyện được gợi lên từ những âm thanh, hình ảnh.
Tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve trong cửa hàng của chị em Liên…
Cảnh phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn, các nhà đã lên đèn, chợ đã tan mọi người về hết chỉ còn mấy đứa trẻ nhặt rác…
Liên là một cô gái có đời sống tâm hồn phong phú, nhạy bén với cuộc sống xung quanh, giàu tình thương, có những phát hiện tinh tế về cuộc sống con người nơi phố huyện.
Phân tích: Bức tranh phố huyện có sự trộn lẫn giữa hai loại chi tiết, hình ảnh: Hình ảnh êm đềm, thi vị và hình ảnh gợi cái nghèo khó, lam lũ… Tất cả tác động thật thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của hai đứa trẻ.
Cảnh phố huyện lúc chiều muộn thật êm ả nhưng cũng thấm đượm một nỗi buồn man mác như chính nỗi buồn trong tâm hồn Liên. Liên ngồi yên lặng, đôi mắt ngập đầy bóng tối, lòng buồn man mác, mơ hồ khó hiểu trước giờ khắc của ngày tàn. Cảnh chiều quê đã thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị.
Cảnh có sự hòa trộn bởi hai chi tiết gợi sự thi vị và lam lũ:
Sự thi vị: Tiếng trống thu không, phương tây đỏ rực như lửa cháy, mùi vị quen thuộc của đất đai…
Sự lam lũ: Tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi, phiên chợ vãn, những đứa trẻ nhặt rác…
Nhận xét: Nhà văn thật tinh tế trong miêu tả ngoại vật (cảnh ngày tàn) bằng những câu văn với giọng điệu nhẹ nhàng, trầm lắng, chứa đầy chất thơ, bộc lộ tâm trạng “buồn man mác” của nhân vật. Cảnh sắc và nỗi buồn trong tâm hồn trộn lẫn, nhuốm vào nhau, hô ứng hòa hợp, nhịp nhàng.
Cảnh phố huyện được miêu tả bằng sự hòa trộn giữa hai yếu tố: Ánh sáng và bóng tối. Từ những khe cửa của một vài cửa hàng, những ngôi sao lấp lánh lẫn với những vệt sáng của đom đóm, ngọn đèn hạt đỗ của chị Tý, ánh lửa hắt hiu từ gánh phở bác Siêu, ngọn đèn vặn nhỏ trong cửa hàng của Liên…
Đường phố và các ngõ con chứa đầy bóng tối, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng…
Tâm trạng Liên tràn ngập nỗi buồn khắc khoải, niềm mong ước (mơ hồ) một cái gì tốt đẹp, tươi sáng hơn cuộc sống nghèo khổ thường ngày.
Xem thêm: Giới thiệu vài nét về Nguyễn Tuân và truyện “Chữ người tử từ"Ánh sáng và bóng tối hòa trộn vào nhau, nhưng bóng tối bao bọc, trùm phủ ánh sáng; ánh sáng lẻ loi, yếu ớt, chỉ là những “khe sáng”, “chấm sáng”, “vệt sáng”, “hột sáng” mà bóng tối thì mênh mông, dày đặc, như con quái vật khổng lồ đang vây diết, phủ trùm lên tất cả không gian phố huyện. Điều này gợi nỗi buồn đầy cảm thương, một sự tự ý thức (dù mơ hồ) về những kiếp người sống chìm khuất, khổ cực, tù túng nơi phố huyện.
Giọng điệu đoạn văn: Giọng văn nhẹ nhàng mang đầy chất thơ, câu văn như kéo dài ra, kết nối những mạch cảm xúc đang dâng lên trong tâm hồn nhân vật trước cảnh màn đêm dày đặc dần dần bao bọc phố huyện. Ví dụ: “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…”, “Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng xẫm đen hơn nữa…”.
Chị em Liên chờ đợi chuyến tàu đêm là để thỏa mãn mong mỏi được ngắm đoàn tàu. Vì đoàn tàu đem theo “thế giới khác đi qua” tưng bừng hơn, sang trọng hơn, nhiều ánh sáng hơn của một Hà Nội xa xăm trong ký ức tuổi thơ (nơi đó có tuổi thơ chị em Liên sống những ngày hạnh phúc), một Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo.
Liên thấy buồn thấm thía và sâu xa về cuộc sống quẩn quanh, không thể thay đổi và mọi cái tươi sáng tốt đẹp chỉ là kỳ vọng, mơ hồ, xa xôi. Liên “thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”- Chi tiết mang lại cảm giác buồn thương, tội nghiệp cho những cuộc đời nhạt nhòe, vô nghĩa.
Ở đây có sự đối lập giữa hình ảnh đoàn tàu đi qua phố huyện: “Sáng rực, vui vẻ và huyên náo”, gợi lại đầy ắp những kỷ niệm về Hà Nội, về những ngày sống hạnh phúc nhưng lại chỉ thoáng qua trong chốc lát rồi lại trả cuộc sống phố huyện về trạng thái mênh mang, yên lặng và đầy bóng tối. Như vậy, đoàn tàu chẳng những làm vơi đi cuộc sống tù túng, buồn tẻ nơi đây, mà trái lại càng làm cho phố huyện vắng lặng, tiêu điều, nỗi buồn càng thấm thía hơn trong tâm hồn ngây thơ của hai đứa trẻ.
Như vậy, bức tranh phố huyện tác động sâu sắc tới đời sống tâm hồn con người nơi đây. Tương ứng với mỗi cảnh là một sắc thái cảm xúc của nhân vật Liên.
Thạch Lam thể hiện tài năng trong việc quan sát, miêu tả tỉ mỉ, tinh tế những biến thái trong tâm hồn, tâm trạng nhân vật. Cách xây dựng thế giới hình tượng độc đáo, cảnh sắc xung quanh hô ứng cho việc bộc lộ đời sống bên trong nhân vật. Đời sống nội tâm nhân vật thay đổi nhịp nhàng qua từng thời khắc.
Giá trị tư tưởng nhân đạo:
Bàn luận về giá trị tư tưởng nhân đạo của truyện, chú ý: Khi miêu tả đời sống nội tâm nhân vật cùng ngoại cảnh, Thạch Lam muốn nhấn sâu, tô đậm bức tranh phố huyện nghèo nàn, tù túng và niềm khao khát một cuộc sống tươi sáng. Chi tiết đợi chuyến tàu đêm của chị em Liên mang thông điệp tư tưởng nhân đạo của nhà văn: Hãy cứu lấy tâm hồn, cuộc sống trẻ thơ, để các em thực sự được sống trong tình thương yêu, hạnh phúc.
– Qua bức tranh phố huyện và tâm trạng của “hai đứa trẻ”, thể hiện tấm lòng thương cảm sâu sắc của tác giả đối với những kiếp sống tối tăm, mòn mỏi trong xã hội cũ, đồng thời mơ ước một cuộc sống tươi sáng hơn cho những con người nhỏ bé.
Truyện khẳng định một phong cách dộc đáo của Thạch Lam.
Truyện thể hiện một lối kết cấu độc đáo, truyện không có chuyện, không có mâu thuẫn, xung đột, chỉ là những chi tiết, hình ảnh khơi gợi cảm giác, suy tư trăn trở về những kiếp người sống tàn tạ, lay lắt nơi ga xép, phố huyện nghèo nàn.
Truyện đi sâu vào miêu tả tâm lý, tâm trạng nhân vật với những biểu hiện cảm xúc vi tế, mơ hồ mà có sức lay động tâm hồn sâu sắc.
Giọng điệu trữ tình, nhẹ nhàng, câu văn mang đậm chất thơ, diễn tả được nhiều sắc thái tâm trạng nhân vật.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Văn hào M.Go - rơ - ki viết: "Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới". Hãy bình luận ý kiến trên | Phong cách nghệ thuật của Thạch Lam qua truyện ngắn Hai đứa trẻ | 1,466 | |
Đề bài: Phân tích phong cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn công Trứ
Bài ca ngất ngưởng” được Nguyễn Công Trứ sáng tác sau 1848 là năm ông cáo quan về hưu. Bài thơ có giá trị tổng kết cuộc đời của Nguyễn Công Trứ, cả trí tuệ, tài năng, cả cốt cách, cá tính và triết lí. Khúc ca trác tuyệt viết bằng thể Hát nói này là tài hoa và khí phách của “Ông Hi Văn”.
“Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên.
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng.
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người tái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng.
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú.
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
Khác với những bài hát nói khác, Nguyễn Công Trứ không mở đầu bằng hai câu chữ Hán mà bằng một câu Hán: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” và một câu Việt: “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ chữ Hán có nghĩa là trong vũ trụ này không có việc gì là không phải phận sự của ta. Đây là quan niệm thiêng liêng của nhà Nho mà Nguyễn Công Trứ đã nhận thức sâu sắc và hạnh động nhất quán từ trẻ cho đến già. Vì nhiễm quan điểm chính thống đó mà “Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Câu thơ hay tuyệt! Nội lực phải dữ dội lắm mới có cái điệu tự hào như vậy. Tưởng chừng như Nguyễn Công Trứ cười một “ông Hi Văn” nào đó, không ngờ “ông Hi Văn” chính lại là Nguyễn Công Trứ! Con người suốt đời say mê công danh nhưng lại coi cái vòng công danh ấy là một cái “lồng”. Tại sao lại có thái độ khinh bạc ấy? Cũng dễ hiểu, Nguyễn Công Trứ là người có tài đã đem hết tài năng, trí tuệ giúp đời, cứu nước, cứu dân. Nhưng xã hội phong kiến mà ông cúc cung tận tụy lại quá bé nhỏ, thảm hại, ông Hi Văn luôn luôn cảm thấy bị ràng buộc, mất tự do, khác chi một con chim trong lồng!
Thành ra những hành động chọc trời khuấy nước, tài thao lược của vị đại tướng để trả “nợ tang bồng” cũng chẳng qua là hành vi bay nhảy của con chim trong lồng.
“Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.
Kể như thế cũng đã oanh liệt! Văn võ song toàn ở đỉnh cao. Ấy là tác giả chưa kể đến những công trạng khác mà ông đã sáng tạo và đóng góp cho dân cho nước. Nhưng như thế thì Nguyễn Công Trứ có gì khác với giới quan trường vào luồn ra cúi bấy giờ? Đây, “ông Hi Văn” đây rồi!
“Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”
“Ngất ngưởng” ngay trong những hoạt động chính thống! “Ngất ngưởng” ngay trên đỉnh cao danh vọng! Thật là hiếm thấy. Đấy không phải là bộ dạng, hành vi bên ngoài mà ngất ngưởng đã trở thành bản chất của Nguyễn Công Trứ. Là thái độ sống, cũng là cốt cách, là cá tính của “ông Hi Văn”. Làm quan cho một triều đại suy tàn của chế độ pk, giữa đám quan lại, mua bán tước, bên cạnh những “tiến sĩ giấy” oái oăm thay lại cùng trong một “lồng”, nên Nguyễn Công Trứ “ngất ngưởng” cao ngạo là phải. Xét về mặt nhân cách thì thái độ “ngất ngưởng” là “công trạng” lớn nhất của Nguyễn Công Trứ. Thái độ “ngất ngưởng” xuyên suốt của cuộc đời. Nguyễn Công Trứ, nhưng xét đến cùng thì “ngất ngưởng” giữa triều, “ngất ngưởng” trên đỉnh cao danh vọng là thái độ đáng kính nhất của “ông Hi Văn”.
Ngông đã trở thành cốt tủy của Nguyễn Công Trứ. Trong tiểu triều “ngất ngưởng”, cáo quan về “ngất ngưởng”:
“Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng…”
Năm cởi áo mũ, cáo quan về hưu, không thèm cưỡi ngựa mà cưỡi bò vàng có đeo lục lạc, “ông Hi Văn” thật là “ngất ngưởng”. Chưa hết, ông còn cột mo cau sau đuôi bò, nói với thiên hạ là để che miệng thế gian. Rồi bỗng xuất hiện dãy núi quen thuộc của quê nhà: “Kìa núi nọ phau phau mây trắng”. Núi Đại Nại trên quê hương của thi nhân đẹp một cách hư ảo.
Xem thêm: Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân QuỳnhNgười anh hùng chọc trời khuấy nước nay trở về lân la nơi cõi Phật. “Tay kiếm cung” ấy chỉ có làm đổ đình đổ chùa chứ sao “mà nên dạng từ bi”!
“Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì”
Vào chùa mà dắt theo cả ả đào thì chỉ có Nguyễn Công Trứ, hay nói đúng hơn chỉ có Nguyễn Công Trứ là thành thật. Sự thành thật đã làm cho câu thơ trở nên xôn xao, có lẽ còn ở tài hoa nữa. Từ “đủng đỉnh” hay quá, đây là nhịp đi của các nàng ả đào vào chùa, cái nhịp “đủng đỉnh” của tiếng chuông mõ tịch diệt, chứ không phải là nhịp “tùng”, “cắc” dưới “xóm”. Nhưng không phải “đủng đỉnh” chốc lát trước sân chùa mà ả đào thành ni cô. Thì cũng như Nguyễn Công Trứ vào cửa từ bi mà đâu có diệt được lòng ham muốn.
“Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”
Trong một xã hội mà cá nhân bị thủ tiêu, cá tính bị vo tròn, Nguyễn Công Trứ lại lồ lộ ra một cá nhân, hồn nhiên một cá tính. Với tinh thần nhân văn “ngất ngưởng”, nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã đi trước thời đại hàng thế kỉ!
Theo dõi bài ca từ đầu, ta thấy đã diễn ra ba giai điệu “ngất ngưởng”. “Gồm thao lược đã nên ngất ngưởng” là “ông Hi Văn” “ngất ngưởng” ở trong “lồng”. Đây là giai điệu kỳ tuyệt, thể hiện khí phách của Nguyễn Công Trứ. Nói một cách khác đây là chiến thắng oanh liệt của sự tự diệt (khi lên đỉnh cao danh vọng người ta không còn là mình nữa). “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” là giai điệu Nguyễn Công Trứ cáo quan về hưu “ngất ngưởng”. “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” là giai điệu tự hào của Nguyễn Công Trứ muốn “ngất ngưởng” thoát tục.
Và đây là giai điệu cuối có giá trị tổng kết cuộc đời của một nhà nho trung nghĩa mà không đánh mất mình:
“Được mất dương dương người tái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng.
Không Phật, không tiên, không vướng tục
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú.
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
Đối với Nguyễn Công Trứ, “được mất dương dương người tái thượng”. Tác giả dùng điển tích “Tái ông thất mã”. Được chưa chắc là may, mất chưa hẳn là rùi. Trong cuộc sống bon chen đó, “được mất” một chút là người ta có thể làm thịt nhau, mà Nguyễn Công Trứ lại có thái độ bất biến trước sự được mất thì phải nói “ông Hi Văn” có bản lĩnh cao cường. Lại còn “khen chê” nữa, “khen chê phơi phới ngọn đông phong”. Khen thì vui “phơi phới” đã đành, chứ sao chê mà cũng “phơi phới ngọn đông phong” nghĩa là cũng vui như ngọn gió xuân? Là vì cái gọi là chuẩn mực chính thống không trùng khít với chuẩn mực của nhà thơ. Thì mới oai phong đại tướng “Nguyễn Công Trứ đó đã bị cách tuột xuống làm lính thú, có hề chi, vẫn “phơi phới ngọn đông phong”. Có thể mất chức đại tướng nhưng miễn còn Nguyễn Công Trứ! Những âm thanh này mới làm bận lòng con người yêu đời, ham sống đó:
“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng.
Không Phật, không tiên, không vướng tục”
Các giác quan của nhà thơ mở về phía cuộc sống tự do, về phía cái đẹp, về phía hưởng lạc. Thơ, rượu, ca trù, hát ả đào mới là đam mê của Nguyễn Công Trứ. Câu thơ nhịp 2/2 réo rắt thật hay (khi ca/ khi tửu/ khi cắc/ khi tùng) làm sôi động cả khúc ca. Tác giả cũng không quên đánh giá lại công trạng của “ông Hi Văn” với triều đại mà ông phụng sự:
“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”
Nguyễn Công Trứ tự liệt vào hàng danh tướng, công thần đời Hán, đời Tống của Trung Quốc như Trái (Trái Tuân), Nhạc (Nhạc Phi), Hàn (Hàn Kì), Phú (Phú Bật). Ông tự hào như vậy là chính đáng, vì lý tưởng anh hùng của ông cũng không ngoài lí tưởng trung quân ái quốc của đạo Nho và ông đã sống thủy chung trọn đạo vua tôi.
Kể ra tìm một bậc danh sĩ văn võ song toàn như Nguyễn Công Trứ trong thời đại nào cũng hiếm, nhưng không phải là không có. Chứ còn “ông ngất ngưởng” thì tìm đâu ra?
“Trong triều ai ngất ngưởng như ông?”
Đây cũng là giai điệu cuối cùng của “Bài ca ngất ngưởng”. Tác giả đã chọn giai điệu “ngất ngưởng” đích đáng để kết thúc bài ca. “Ngất ngưởng” ngay trong triều, “ngất ngưởng” trên đỉnh núi cao danh vọng, đó là nhân cách, là khí phách của Nguyễn Công Trứ.
Nếu được chọn một tác phẩm tiêu biểu cho toàn bộ trước tác của Nguyễn Công Trứ thì đó là “Bài ca ngất ngưởng”. Con người, tài năng, khí phách, tinh hoa của Nguyễn Công Trứ thể hiện sinh động trong tác phẩm trác tuyệt này. Thể hát nói đã thành thơ, thơ hay, vừa triết lí, vừa trữ tình, vừa trào lộng. Có một Nguyễn Công Trứ ngoài “lồng” cười một “ông Hi Văn” trong “lồng”, có một Nguyễn Công Trứ ngoại đạo cười một “ông Hi Văn” trong chung. Bốn giai điệu “ngất ngưởng” đã ghi lại cả cuộc đời hoạt động phong phú của một danh sĩ tài tình, trung nghĩa mà không đánh mất mình. Trong một xã hội mà cá nhân không được coi trọng, cá tính bị thủ tiêu thì thái độ “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ chẳng những là khí phách của ông mà còn là một giá trị nhân văn vượt thời đại.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh thành tích” - một “căn bệnh” gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay | Phong cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn công Trứ | 1,907 | |
Phong cách văn xuôi của Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng rất khác nhau, nhưng họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa
Hướng dẫn
Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng là hai nhà văn cùng một giai đoạn văn học. Vấn đề trọng tâm của câu hỏi là: Thông qua hai văn bản cụ thể, thấy được sự khác nhau trong phong cách thể hiện của mỗi nhà văn, đồng thời phải chứng minh họ đều là nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo. Cần lưu ý rằng câu nhận xét được trích dẫn là kiểu mệnh đề chính phụ nên luận điểm chính thuộc về vế sau của câu trích: họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Như thế, nội dung phần thân bài phải có hai luận điểm lớn: qua hai tác phẩm thấy phong cách văn xuôi của Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng rất khác nhau (luận điểm phụ) ; cũng qua hai tác phẩm cho thấy họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa (luận điểm chính).
Về cấu trúc ý, bài viết có thể nêu và xây dựng theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên hệ thống ý cần hợp lí và thể hiện được lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục cao.
Sau đây là một cách triển khai ý để HS tham khảo:
1. Mở bài
Có thể giới thiệu khái quát về phong cách nổi bật của Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng và nêu nhận xét: Họ rất khác nhau nhưng đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa. Điều đó có thể thấy rõ qua việc phân tích truyện Hai đứa trẻ và đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.
2. Thân bài
Cần nêu được hai luận điểm sau:
a) Những nét khác biệt trong phong cách hai nhà văn
Phân tích sự khác biệt qua hai tác phẩm từ các tiêu chí sau:
Tiêu chí
Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng)
Thể loại
– Truyện ngắn trữ tình
– Cần phân tích, chỉ ra sự phù hợp giữa thể loại với nội dung cảm hứng của tác phẩm
– Tiểu thuyết trào phúng
– Cần phân tích, chỉ ra sự phù hợp giữa thể loại với nội dung cảm hứng của tác phẩm
Đề tài, nội dung và đối tượng miêu tả
Cuộc sống ảm đạm, vô nghĩa của người dân phố huyện nghèo
Cuộc sống và thói đạo đức giả của tầng lớp tư sản thành thị
Cảm hứng, giọng điệu
Thương cảm, sâu lắng
Châm biếm, đả kích
Bút pháp
– Khắc hoạ nội tâm, suy nghĩ của nhân vật
– Các thủ pháp lãng mạn: tương phản, miêu tả nội tâm
– Ngôn ngữ giàu chất thơ…
– Khắc hoạ ngoại hình, ngôn ngữ, hành động của nhân vật
– Các thủ pháp châm biếm: phóng đại, biếm hoạ
– Ngôn ngữ giễu nhại, châm biếm…
b) Họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa
– HS trình bày cách hiểu củả mình về chủ nghĩa nhân đạo:
+ Chủ nghĩa nhân đạo là gì?
+ Thế nào là một nhà văn nhân đạo chủ nghĩa?
+ Chủ nghĩa nhân đạo được thể hiện trong tác phẩm văn học trên những bình diện nào?
– Phân tích và chứng minh Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng đểu là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa: HS căn cứ vào các đặc điểm và sự thể hiện của chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm văn học nêu ở phần trên, từ đó phân tích hai văn bản để chỉ ra hai tác phẩm đều hàm chứa các đặc điểm của chủ nghĩa nhân đạo trong vãn học.
3. Kết bài
– Qua hai tác phẩm Hai đứa trẻ và Hạnh phúc của một tang gia có thể thấy rất rõ dấu ấn phong cách riêng cũng như những điểm chung của hai nhà văn Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng.
– Bài học cho sáng tạo nghệ thuật: Có được một giọng điệu riêng, một phong cách độc đáo là rất khó nhưng đó là điều kiện và yêu cầu của sáng tạo nghệ thuật. Muốn có được giọng điệu và phong cách riêng cần có cách cảm và đặc biệt là cách thể hiện riêng đặc sắc. Tuy nhiên, cái gốc của nhà văn vẫn là tấm lòng bởi "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" (Nguyễn Du). Vì thế, trên hết và trước hết, nhà văn phải viết vì cuộc đời, vì con người, phải là nhà văn-nhân đạo chủ nghĩa, cho dù cách viết có khác nhau.
Nguồn:
Xem thêm: Phân tích hình tượng Cây xà nu trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành- Văn 12 | Phong cách văn xuôi của Thạch Lam và Vũ Trọng Phụng rất khác nhau, nhưng họ đều là những nhà văn nhân đạo chủ nghĩa | 772 | |
Phong tục lễ cưới hỏi Việt Nam
Hướng dẫn
Theo phong tục cổ xưa, lễ cưới hỏi của người Việt thường trải qua 6 lễ: Lễ vấn danh, lễ nạp cát, lễ nạp tệ, lễ thỉnh kỳ, lễ thân nghinh. Ngày nay do sự phát triển của xã hội, người Việt đã không giữ nhiều loại lễ trong lễ cưới hỏi nữa, ngày nay chỉ còn một số loại lễ như sau
Lễ dạm ngõ
Khi nhà gái đã đồng ý, nhà trai đem lễ sang. Đồ lễ bắt buộc phải có là trầu, cau, rượu, chè.
Lễ ăn hỏi
Lễ này chứng tỏ cô gái đã có nơi có chốn. Sau ngày lễ ăn hỏi, phải có báo hỉ, chia trầu. Nhà gái trích trong lễ vật nhà trai đưa đến một lá trầu, một quả cau, một gói trà nhỏ, một cái bánh cốm, hoặc vài hạt mứt. Tất cả gói thành hộp hay phong bao giấy hồng, mang đến cho các gia đình họ hàng, bạn hữu của nhà gái. Nhà trai cũng báo hỉ, nhưng không phải có lễ vật này mà chỉ cần thiếp báo hỉ. Cũng trong lễ ăn hỏi, hai họ định luôn ngày cưới.
Lễ cưới
Lễ nạp tài: Là ngày nhà trai đem sính lễ sang nhà gái. Đồ sính lễ gồm trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho cô dâu. Ý nghĩa của lễ này là nhà trai góp với nhà gái chi phí cỗ bàn, cho nhà gái và cô dâu biết mọi thứ đã chuẩn bị sẵn.Xem thêm: Bàn về vai trò, tác dụng của thơ ca đối với cuộc sống con người
Lễ xin dâu: Trước giờ đón dâu nhà trai cử người đem trầu, rượu đến xin dâu, báo đoàn đón dâu sẽ đến.
Tục chăng dây: Nhà gái bố trí vài em nhỏ bụ bẫm, xinh xắn, mặc áo đỏ chăng dây trước của nhà gái. Khi nhà trai đến, một trong các em nhỏ chạy về báo cho nhà gái biết. Nhà trai chuẩn bị một ít kẹo để phân phát cho lũ trẻ chăng dây này, khi đã nhận được kẹo bọn chúng sẽ rút dây để đoàn nhà trai đi vào nhà gái.
Lễ rước dâu: Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành một đoàn, có cụ già cầm hương đi trước, cùng với người mang lễ vật. Nhà gái cho mời cụ già thắp hương vái trước bàn thờ rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào. Cô dâu cùng với chú rể lạy trước bàn thờ, trình với tổ tiên. Sau đó hai người cùng bưng trầu ra mời họ hàng. Bố mẹ cô dâu tặng quà cho con gái mình. Có gia đình cũng lúc này bày cỗ bàn cho cả họ nhà gái chung vui. Khách nhà trai cũng được mời vào cỗ. Sau đó là cả đoàn rời nhà gái, để đưa dâu về nhà chồng. Họ nhà gái chọn sẵn người đi theo cô gái, gọi là các cô phù dâu.
Rước dâu vào nhà: Đoàn đưa dâu về đến ngõ. Lúc này, bà mẹ chồng cầm bình vôi, tránh mặt đi một lúc, để cô dâu bước vào nhà. Hiện tượng này được giải thích theo nhiều cách. Thường người ta cho rằng việc làm này có ý nghĩa khắc phục những chuyện cay nghiệt giữa mẹ chồng và nàng dâu sau này.Xem thêm: Tả lại ngôi nhà thân yêu của em
Lễ tơ hồng: Khi hai họ ra về, một số người trừ người thân tín ở lại chứng kiến cô dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng. Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau là do ông Tơ bà Nguyệt trên trời xe duyên cho. Cúng tơ hồng là để tạ ơn hai ông bà này.
Trải giường chiếu: bà mẹ chồng, hoặc một bà cao tuổi khác, đông con nhiều cháu, phúc hậu, hiền từ, cô dâu chú rể vào phòng tân hôn, bà sẽ trải sẽ trải đôi chiếu lên giường ngay ngắn, xếp gối màn cẩn thận…
Lễ hợp cẩn: đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai. Trước giường có bàn bày trầu rượu và một đĩa bánh phu thê. Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống.
Tiệc cưới: dù đám cưới to hay nhỏ, cũng phải có tiệc cưới. Người ta đến ăn, ngồi cùng bàn ăn là những người không quen biết, ăn sao cho đúng giờ. Tiệc cưới có thể tổ chức nhà gái (trước hôm cưới) và nhà trai (trong ngày cưới); nhưng cũng có thể hai nhà tổ chức chung thành một tiệc.
Lễ cheo: Lễ cheo có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Lễ cheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc kinh phí đem đến cho làng hay cho xóm có con gái đi lấy chồng. Lễ cưới là để họ hàng công nhận, lễ cheo là để xóm làng tiếp thu thêm thành viên mới, tế bào mới của làng.Xem thêm: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Lễ lại mặt: (còn gọi là nhị hỉ hoặc tứ hỉ), sau lễ cưới (2 hoặc 4 ngày), hai vợ chồng trẻ sẽ trở về nhà cha mẹ vợ mang theo lễ vật để tạ gia tiên. Lễ vật cũng có trầu, xôi, lợn.
Nguồn: | Phong tục lễ cưới hỏi Việt Nam | 915 | |
Phác họa hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt Bắc
Gợi ý
“Thơ Tố Hữu là thơ của một chiến sĩ cách mạng, thơ của một nhà Cách mạng làm thơ” (Xuân Diệu). Thơ ông tiếp nối truyền thống thơ ca Cách mạng đầu thế kỷ và phát triển lên thành dòng thơ trữ tình chính trị của thời đại mới. Bài thơ “Việt Bắc” là một trong những bài thơ tiêu biểu của văn học Cách mạng thời kỳ bấy giờ. Bài thơ đã trở thành một cái mốc quan trọng phản ánh được chân thực tư tưởng, tình cảm của nhân dân, có lẽ vì thế mà nó đã thật sự là một trong những bài thơ hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu cũng như nền thơ hiện đại của văn học Việt Nam.
Tháng 10-1954, Tố Hữu hoàn thành bài thơ Việt Bắc, một tác phẩm gồm 150 câu viết theo thể lục bát, phát triển một cách độc đáo và sáng tạo thể thơ truyền thống của dân tộc, làm cho bài thơ đậm đà tính chất dân gian và cổ điển, đồng thời cũng rất mới mẻ trong tư tưởng và chất liệu hiện thực, trong hình ảnh, giọng thơ, nhịp điệu và ngôn ngữ.
Bài thơ “Việt Bắc” quả là ra đời rất đúng lúc. Sau chín năm kháng chiến, hoà bình được lập lại trên miền Bắc, nửa đất nước đã được tự do, cách mạng chuyển sang một giai đoạn khác, căn cứ kháng chiến được chuyển dịch từ miền núi về đồng bằng, miền xuôi, Trung ương và Chính phủ từ chiến khu Việt Bắc trở về thú đô. Bài thơ không những là nỗi nhớ, tình cảm của nhà thơ đối với quê hương cách mạng và người dân nơi đây mà còn là ân tình đối với kháng chiến, là niềm vui hân hoan với chiến thắng hiện tại và hi vọng vững chắc về tương lai tươi sáng.Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành Việt Bắc thấm đẫm tình cảm, đầy tình thương yêu, quí trọng, biết ơn và lạc quan của tác giả. “Việt Bắc” ngọt ngào, đằm thăm, là một bài ca tâm tình, rất tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Tố Hữu. ông đã từng tâm sự rằng ông “phải lòng” với đất nước và nhân dân mình, đã nói về đất nước và nhân dân thì cũng như nói với người đàn bà mình yêu. Và từ đó, tình yêu đã biến thành ý nghĩa và “Việt Bắc” ra đời như tiếng hát ân tình chung của những người kháng chiến, của cả dân tộc VN hào hùng trong một thời điểm rất đáng ghi nhớ.
Vanmau.edu.vn | Phác họa hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt Bắc | 471 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc Sự tích bánh trưng bánh dày.
Trên thế giới, mỗi dân tộc đón Tết cổ truyền theo một phong tục khác nhau. Ở nước ta, từ ngàn xưa đã có tục cúng Tết bằng bánh chưng, bánh giầy. Truyện sự tích bánh chưng, bánh giầy vừa giải thích nguồn gốc của hai loại bánh này vừa phản ánh thành tựu của nền văn minh nông nghiệp buổi đầu dựng nước với thái độ đề, cao lao động, đề cao nghề nông và thể hiện sự tôn kính trời, đất, tổ tiên của nhân dân ta. Truyện còn là bài học quý về cách lựa chọn và sử dụng người có tài, có đức để trị vì đất nước.
Bối cảnh của truyện là đời Hùng Vương thứ sáu. Khi đã về già, nhà vua muốn truyền ngôi nhưng vì có tới hai mươi người con trai nên băn khoăn không biết chọn ai cho xứng đáng. Lúc ấy, giặc ngoài đã dẹp yên, nhưng giặc trong vẫn còn phải đề phòng. Nhà vua muốn đưa đất nước đến giai đoạn thịnh vượng, ông biết rằng dân ấm no thì ngai vàng mới vững. Hiềm một nỗi, nhà vua tuổi cao sức yếu, lực bất tòng tâm.
Một hôm, ông gọi các con lại và nói: Tổ tiên ta từ khi dựng nước đã truyền được sáu đời. Giặc Ân nhiều lần xâm chiếm bờ cõi, nhờ phúc ấm Tiên Vương, ta đều đánh đuổi được, thiên hạ hưởng thái bình. Nhưng ta già rồi, không sống mãi ở đời, người nối ngôi ta phải nối chí ta, không nhất thiết là con trưởng. Năm nay, nhân lễ Tiên vương, ai làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiên Vương chứng giám.
Các Lang (con trai vua Hùng thời ấy gọi là Lang), ai cũng muốn ngôi báu về mình nhưng họ không thể hiểu nổi ý tứ sâu xa của vua cha. Họ chi nghĩ đơn giản là cứ chuẩn bị mâm cao, cỗ đầy, lễ vật ngon lạ… là đủ, cho nên vội sai người đi tìm của quý khắp trên rừng, dưới biển.
Riêng Lang Liêu – con trai thứ mười tám của vua Hùng đã được một vị Thần giúp đỡ, bởi vì chàng vốn chịu thiệt thòi so với các anh, không được hưởng giàu sang phú quý. Từ nhỏ, chàng đã phải chăm lo công việc đồng áng, trồng lúa, trông khoai. Lang Liêu tuy thân là con vua nhưng phận thì lại giống người nông dân lao động. Chàng buồn vì trong nhà chỉ có khoai và lúa. Nhưng khoai lúa tầm thường quá. Chàng tủi thân nghĩ thầm như vậy.
Theo quan niệm của tổ tiên chúng cha ta ngày xưa thì Thần, Phật, Tiên Bụt thường hay giúp đỡ người hiền lành, nghèo khó. Lang Liêu không có quyền thế, của cải gì, lại chẳng có kẻ ăn người ở để sai khiến đi tìm của ngon vật lạ. Chàng chi có tấm lòng yêu kính vua và đôi tay làm lụng chuyên cần. Chàng đã được Thần Phật giúp đỡ.
Lang Liêu được Thần báo mộng, dạy rằng hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương, bởi trong trời đất không có gì quý bằng hạt gạo. Hạt gạo nuôi sống con người, Hạt gạo quý giá như vậy và nó lại dễ kiếm bởi nó được làm ra do chính bàn tay lao động của con người.
Lang Liêu hiểu và làm theo ý Thần. Lời khuyên của Thần thật sáng suốt, chân tình. Càng nghĩ Lang Liêu càng thấy đúng. Suy nghĩ của Thần chính là suy nghĩ, tâm tư, ước vọng của nhân dân. Thần đây chính là hiện thân của nhân dân. Ai có thể trân trọng coi hạt gạo là hạt ngọc của tròi đất và cũng là kết quả mồ hôi, công sức của con người như nhân dân?, Nhân dân rất quý trọng cái nuôi sống mình, cái mình làm ra được. Phải là những người một nắng hai sương làm ra hạt gạo nuôi đời mới có suy nghĩ sâu sắc và đáng quý như vậy. Lang Liêu dâng lên vua cha phẩm vật quý nhất trong trời đất, lại do chính tay mình làm ra thì quả thật chàng là người con hiếu thảo.
Được thần linh mách bảo, kết hợp với tấm lòng thành, óc sáng tạo và đôi tay khéo léo, Lang Liêu đã dùng thử gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, cùng với đậu xanh, thịt lợn, gói bằng lá dong, buộc bằng lạt giang thành một thứ bánh hình vuông rồi đem nấu chín.
Xem thêm: Nghị luận xã hội - Gian lận trong học tập hiện nayVậy là chàng không phải mất công tìm kiếm đâu xa. Gạo, đậu do chàng trồng, lợn chàng nuôi, lá dong mọc sẵn trong vườn, ngoài bãi. Ngần ấy thứ kết hợp với nhau thành thứ bánh đặc biệt xưa nay chưa từng có. Và cũng gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn rồi nặn thành thứ bánh hình tròn. Đó là bánh giầy.
Thật thú vị là cảnh thi cỗ trong ngày cúng Tiên Vương. Các con trai của vua Hùng mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng (cách gọi các sản vật quý hiếm) tới, chẳng thiếu thứ gì. Thế nhưng vua cha chỉ xem qua một lượt rồi dừng lại trước mâm cỗ của Lang Liêu. Điều gì đã cuốn hút nhà vua quan tâm tới hai thứ bánh ấy? Có lẽ trước tiên là hình dáng vuông vức của bánh chưng và hình dáng tròn trịa của bánh giày cùng vẻ đẹp mộc mạc, ưa nhìn của chúng. Bánh chưng xanh, bánh giầy trắng muốt, mịn màng. Hùng Vương rất vừa ý, bèn gọi Lang Liêu lên hỏi. Chàng thật tình đem chuyện giấc mộng gặp Thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời Đất và Tiên Vương.
Vì sao hai thứ bánh của Lang Liêu lại được Hùng Vương lựa chọn và chàng được nối ngôi vua?
Bởi vì hai thứ bánh đó thể hiện thái độ quý trọng nghề nông, quý trọng hạt gạo do chính con người làm ra.
Hùng Vương chắc đã cảm nhận được tính chất thiêng liêng trong câu chuyện Thần báo mộng kia. Lời Thần dạy quả không sai: Trong trời đất, hạt gạo là quý nhất. Hạt gạo nuôi sống con người, dân có ấm no thì ngai vàng mới vững. Lang Liêu biết quý lao động, quý thành quả làm ra từ mồ hôi nước mắt của mình.
Sau khi thưởng thức hai thứ bánh của Lang Liêu, nhà vua và quần thần ai cũng tấm tắc khen ngon. Lời giải thích của nhà vua về hai thứ bánh này thật có lí có tình: Bánh hình tròn là tượng Trời, ta đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông là tượng Đất, các thứ thịt mờ, đậu xanh, lá dong là tượng cầm thú, cây cỏ muôn loài, ta đặt tên là bánh chưng. Lá bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau…
Hai thứ bánh này chứng tỏ được tài đức của người có thể nối chí nhà vua. Đem cái quý nhất trong trời đất, lại do tay mình làm ra dâng lên vua cha để tiến cúng Trời Đất cùng các bậc Tiên Vương thì Lang Liêu quả là người con tài năng, thông minh, hiếu thảo. Vua Hùng phán rằng: Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp với ý ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, xin Tiên Vương chứng giám.
Lang Liêu là người tốt, có đủ tài trí để chăm lo cho muôn dân và nối chí vua cha. Trao ngôi báu cho Lang Liêu là thuận ý trời, hợp ý Hùng Vương.
Sự tích bảnh chưng, bánh giầy đã đi vào phong tục ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc Việt. Nhân dân ta đã xây dựng nên phong tục từ những cái bình thường giản dị nhưng rất giàu ý nghĩa. Chiều 30, tiếng chày giã bánh giầy vang khắp xóm thôn. Đầm ấm biết bao là cảnh cả nhà náo nức vây quanh ngọn lửa hồng nấu bánh chưng xanh. Trên bàn thờ tổ tiên phải bày vài cặp bánh chưng và mâm bánh giầy thì mới là Tết.
Sự tích bánh chưng, bánh giầy nằm trong mảng cổ tích giải thích nguồn gốc sự vật xuất hiện sau thời kì vua Hùng dựng nước. Sự tích trầu cau giải thích tục ăn trầu. Sự tích dưa hấu giải thích nguồn gốc dưa hấu… Đằng sau cách giải thích thú vị về nguồn gốc bánh chưng bánh giầy là hiện thực cuộc sống của tổ tiên dân tộc Việt! một dân tộc có nền văn minh lúa nước lâu đời. Thuở ấy, dân ta đã có kĩ thuật trồng trọt, chăn nuôi, chế biến các món ăn đặc biệt vừa ngon lành, vừa giàu ý nghĩa.
Truyện còn là bài học sâu sắc về cách lựa chọn người có đức có tài để trị vì đất nước, chăm sóc muôn dân. Vì thế, tuy ra đời cách đây đã hàng ngàn năm mà cho đến nay, truyện vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa của nó.
Xem thêm: Hãy kể lại một kỷ niệm đẹp về quê hương | Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc Sự tích bánh trưng bánh dày | 1,577 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện cổ tích Em bé thông minh.
Hướng dẫn
Nhận được tầm quan trọng của trí tuệ, nhân dân ta đã sáng tạo ra những nhân vật trong truyện cổ tích với trí thông minh phi thường. Truyện Em bé thông minh đề cao trí khôn dân gian, từ đó tạo ra tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên nhưng không kém phần thâm thúy.
Trong truyện em bé đã thể hiện sự thông minh của mình qua 4 lần thử thách. Đúng đến lúc khó khăn, cả triều đình đang đau đầu suy nghĩ cách giải quyết thì chính em bé là người giải cứu cho cả một quốc gia. Trí tuệ của cậu bé thật phi thường, khiến người người phải ngưỡng mộ.
Lần đầu, em trả lời câu hỏi éo le của viên quan: Trâu cày một ngày được mấy đường?Lần thứ hai, em hóa giải cái lệch ngược đời của vua về chuyện ban cho dân làng ba con trâu đực, bắt nuôi sao cho chúng đẻ thành chín con trong một năm…Lần thứ ba, em vượt qua thử thách cực kì khó khăn: từ thị một con chim sẻ, phải nấu thành ba mâm cỗ theo yêu cầu của nhà vua.Lần thứ tư là làm được công việc oái ăm mà sứ thần nước ngoài thách đố: xâu một sởi chỉ mảnh qua đường ruột của một chiếc vỏ ốc vặn.
Khi đó đất nước đang thái bình, vua là người biết trọng dụng người tài, vì vậy nhà vua đã lệnh cho viên quan đi khắp các vùng miền để tìm nhân tài. Viên quan ấy đã đi rất nhiều nơi mà vẫn chưa tìm thấy ai như ý. Một hôm, viên quan đi qua làng nọ, thấy hai cho con chú bé đang làm ruộng. Cha đánh trâu cày, con đập đất, những công việc quen thuộc hằng ngày của nhà nông. Khi viên quan cất giọng hách dịch hỏi: – Này, lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường? Thì người cha bất ngờ và hốt hoảng nên cứ đứng ngẩn người ra chưa biết trả lời thế nào. Đứa con trai mới chừng bảy tám tuổi đã nhanh miệng vặn lại quan rằng: – Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời đúng ngựa của ông đi một ngày được mấy bước, tôi sẽ cho ông biết trâu của tôi cày một ngày được mấy đường.
Trong lần đầu tiên này, sự nhanh trí của chú bé thể hiện ở chỗ đã đánh đố lại viên quan. Chú bé biết lợi dụng chính cái lắt léo trong câu hỏi để đẩy ông ta vào thế bí. Chú đã xoay chuyển được tình thế, giành phần thắng về mình. Có ai để ý đếm bước chân ngựa trên đường? Vậy thì có ai đếm được trâu cày trong một ngày bao giờ? Mục đích của viên quan là nêu câu hỏi cắc cớ để dồn kẻ bị hỏi vào thế lúng túng, thì chú bé đã hỏi lại viên quan với ngụ ý: Nếu ông không trả lời được của tôi thì cha tôi không việc gì phải trả lời ông cả. Trái độ mạnh bạo, tự tin cùng câu hỏi thông minh của chú bé khiến viên quan nọ giật mình, há hốc mồm sửng sốt và nghĩ rằng có lẽ chú bé chính là nhân tài mà nhà vua đang cần tìm. Ông ta vội vã trở về triều, trong bụng mừng thầm.Xem thêm: Trong các tác phẩm văn học dân gian đã học, em thích nhất nhân vật nào? Hãy phát hiểu cảm nghĩ về nhân vật đó
Nghe viên quan tâu lại đầu đuôi câu chuyện về chú bé, nhà vua mừng rỡ nhưng muốn thử lại cho chắc chắn: Vua sai ban cho làng (của chú bé) ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau phải đem nộp đủ, nếu không thì cả làng phải tội.
Nhận được lộc vua ban nhưng dân làng ai cũng lo lắng, sợ hãi. Cả làng họp bàn liên tục mà không tìm ra cách giải quyết. Giải quyết sao được bởi xưa nay trâu đực có đẻ con bao giờ? Nhưng dẫu phi lí đến đâu chăng nữa thì đó cũng là lệnh vua. Không thực hiện đúng lệnh là mắc tội khi quân, ắt cả làng phải chịu tội chết. Đoạn kể về thái độ của dân làng khi nhận được lệnh vua thật cụ thể, sinh động, làm nổi bật không khí lo sợ kinh hoàng. Từ trên xuống dưới, mọi người đều tin là một tai họa.
Chuyện đến tai chú bé, chú bé thản nhiên bảo cha: ' Chả mấy khi được lộc vua ban, cha cứ thưa với làng giết thịt hai con trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một con trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho cha con ta trẩy kinh lo liệu việc đó.”Thấy con nói thế, người cha sợ hãi khuyên can, chú bé vẫn khăng khăng quả quyết: "Cha cứ mặc con lo liệu, thế nào cũng xong xuôi mọi việc".
Nghĩ sao làm vậy, chú cùng cha lên kinh đô, tìm cách đến tận trước ngai vàng và ra mắt vua với điệu bộ, lời lẽ cố tình gây chú ý đối với mọi người: lẻn vào sân rồng, khóc um lên. Thấy chuyện lạ, vua sai lính điệu vào, phán hỏi: – Thằng bé kia, mày có việc gì? Sao lại đến đây mà khóc?. Chú bé chỉ chờ có thế để thực hiện mưu kế của mình: – Tâu đức vua! Mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.
Lời nói ngộ nghĩnh của bé chú khiến nhà vua và quần thần đều bật cười về sự vô lí của nó. Vua phán: – Cha mày là giống đực, làm sao mà đẻ được!. Vậy là chú bé đã lừa nhà vua vào tròng một cách nhẹ nhàng, cậu bé vui mừng nói với nhà vua – Thế sao làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp đức vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được ạ!.Xem thêm: Em đã gặp một ông tiên trong truyện cổ tích. Hãy miêu tả lại hình dáng của ông theo trí tưởng tượng và từ đó cho cảm nghĩ của bản thân
Thật là mưu trí hơn người, chú bé đã tương kế tựu kế, dùng thuật gậy ông lại đập lưng ông để giành phần chủ động về mình, mạnh dạn lấy cái phi lí trong lời lẽ của mình để buộc đức vua phải tự công nhận sự phi lí trong lệnh của đức vua. Trí thông minh nhanh nhạy, tài ứng đối trôi chảy, lí lẽ sắc sảo của chú bé làm cho đức vua và triều thần đều chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc.
Câu chuyện càng trở nên hấp dẫn khi chú bé lần lượt vượt qua hết thử thách này đến thử thách khác. Tuy đã tận mắt chứng kiến khả năng ứng xử thông minh của chú nhưng đức vua vẫn muốn thử một lần nữa. Đức vua sai sứ giả mang tới cho chú bé một con chim sẻ và truyền lệnh chú bé phải làm thịt chim, dọn thành ba mâm cỗ. Không chút bối rối, chú bé bảo cha lấy cho mình một cây kim may rồi đưa cho sứ giả và bảo: – ông cầm lấy cái này về tâu với đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim. Phản ứng của chú bé thật nhanh nhạy và cách xử trí cũng thật là đáng phục. Chú bé đã đẩy trả thế bí cho đối phương bằng cách đánh đố lại với ngầm ý: Nếu nhà vua rèn được cây kim này thành con dao thì tôi cũng sẽ làm được ba mâm cỗ từ thịt con chim sẻ. Tất nhiên, yêu cầu của chú đối với vua là không thể thực hiện được, do vậy sẽ không có chuyện ngược lại. Trí thông minh của chú bé thật tuyệt vời!
Để câu chuyện tăng tính hiện thực và mức độ thuyết phục, người xưa đã đưa vào chi tiết: Hồi đó có một nước láng giềng lăm le muốn xâm chiếm bờ cõi nước ta. Để dò xem bên này có nhân tài hay không, họ sai sứ đưa sang một cái vỏ ốc vặn rất dài, rỗng hai đầu, đố làm sao xâu một sợi chỉ mảnh xuyên qua đường ruột ốc. Kiểu thử tài này thường thấy trong truyện kể dân gian về các nhân vật thông minh, tài giỏi như Trạng Quỳnh, Mạc Đĩnh Chi, Trạng Hiền…
Sự thách đố oái ăm ấy làm cho các vị đại thần vò đầu suy nghĩ mà không sao tìm ra cách. Nhà vua đành phải nhờ đến trí thông minh của chú bé. Nghe qua, chẳng cần suy nghĩ lâu la gì, chú bé liền hát: – Tang tình tang! Tính tình tang. Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng. Bên thời lấy giấy mà bưng. Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang. Tang tình tang… Câu hát hồn nhiên, nhí nhảnh nhưng lại chứa đựng một giải pháp cực kì sáng suốt, tuy đơn giản, dễ dàng như một trò chơi con trẻ. Dân gian chẳng có câu: Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ đó sao? Kiến ngửi thấy mùi mỡ ắt tìm mọi cách lần sang bằng được, do vậy sợi chỉ sẽ được kéo sang theo. Đơn giản thế mà đức vua và các nhà thông thái không sao nghĩ ra. Giải pháp đó chính là trí tuệ, là kinh nghiệm của dân gian được đúc kết từ cuộc sống.
Xem thêm: Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam (Có dàn ý chi tiết)
Trí thông minh của chú bé càng ngày càng được bộc lộ ở mức độ cao hơn. Ban đầu, chú bé làm cho viên quan đi tìm người tài phải ngạc nhiên. Sau đó đến đức vua và quần thần trong triều đình. Cuối cùng, sứ thần ngoại bang cũng phải thán phục trước trí tuệ của nhân tài nước Nam. Tài trí thông minh tuyệt vời của chú bé thật xứng đáng với chức Trạng nguyên nhà vua ban tặng, xứng đáng với dinh thự nguy nga bên cạnh cung vua. Chú bé trở thành người được nhà vua tin dùng trong quá trình trị vì đất nước.
Truyện đề cao trí thông minh của người lao động. Trí thông minh của chú bé không thể hiện qua chữ nghĩa, văn chương, thi cử mà là qua thực tế cuộc sống hằng ngày. Cuộc đấu trí của chú bé xoay quanh những chuyện bình thường như đường cày, bước chân ngựa, con trâu, con chim sẻ, con ốc, con kiến vàng. Chú bé tiêu biểu cho trí tuệ dân gian được đúc kết từ đời sống và luôn được vận dụng trong thực tế.Truyện còn mang ý nghĩa hài hước thâm thúy. Cách giải các câu đố của chú bé đều thông minh, hóm hỉnh, tạo ra những tình huống bất ngờ thú vị, đem lại tiếng cười vui vẻ.Trong truyện, từ dân làng cho đến các ông trạng, các nhà thông thái và vua quan đều thua tài em bé. Nhân vật em bé thông minh khiến cho mọi người yêu thích bởi tính chất hồn nhiên, ngây thơ mà sắc sảo tuyệt vời.
Qua câu chuyện này, ông cha ta muốn nhắn nhủ đến con cháu về tầm quan trọng của trí tuệ con người. Những người có trí tuê sẽ được xã hội công nhận và được đền đáp xứng đáng, vì vậy chúng ta cần rèn luyện và tu dưỡng đạo đức tốt để trở thành ngườ có ích cho xã hội và được xã hội vinh danh.
Nguồn: | Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện cổ tích Em bé thông minh. | 2,058 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sọ dừa.
Hướng dẫn
Sau khi học xong truyện Sọ Dừa, các nhân vật trong truyện đã để lại cho em nhiều ấn tượng khó quên. Truyện Sọ Dừa với những tình tiết hấp dẫn luôn cuốn hút sự tò mò của trẻ thơ. Em đã được nghe kể nhiều lần qua lời kể của bà của mẹ, nhưng khi được học em vẫn thấy thích thú.
Nhân vật Sọ Dừa, xuất hiện trước mắt người đọc thật khác thường. Một bà mẹ đang khao khát có một đứa con, khi ra đồng bà thấy khát nước, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đựng đầy nước mưa, bà bưng lên uống. Về nhà ít hôm bà biết mình đã thụ thai, đến kì sinh nở bà cũng háo hức như bao bà mẹ khác, nhưng kì lạ thay bà đã sinh ra một đứa bé không chân, không tay tròn như một sọ dừa cứ lăn lông lốc trong nhà, chẳng làm được việc gì. Điều này khiến cho bà mẹ Sọ Dừa than phiền bởi hoàn cảnh éo le của gia đình bà. Sự ra đời của Sọ Dừa cũng chẳng khác nào sự ra đời lạ kì của Thánh Gióng hay Thạch Sanh bên gốc cây đa. Chỉ có điều, sự ra đời của Sọ Dừa lại có gì li kì hơn, khủng khiếp hơn. Chính điều này tạo ra sự bất ngờ cho chính chúng ta về chàng Sọ Dừa đáng yêu trong truyện. Tưởng rằng cục thịt đỏ hòn cứ lăn lông lốc kia "vô tích sư" nhưng lại "không vô tích sự" một chút nào, ngược lại Sọ Dừa lại rất tài giỏi và thông minh. Sự tài giỏi và thông minh đó cho thấy chàng trai đó không phải là một người bình thường.
Với hình thù kì dị, Sọ Dừa đã không hề thấy mặc cảm về bản thân của mình, chàng vẫn vô tư hồn nhiên, vẫn muốn làm việc để giúp mẹ. Khởi đầu trong công việc giúp mẹ chăn bò thuê. Cậu không có chân có tay nhưng lại chăn bò rất giỏi, con nào con nấy bụng no căng, lại chăn bò một cách ung dung thanh thản: ngồi trên võng thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Cô Út là người đã không quản khó khăn hàng ngày mang cơm cho Sọ Dừa. Vốn là người thông minh chàng sớm nhận ra được tấm lòng của người con gái đó, chàng đã nhất quyết đòi mẹ đi hỏi cô Út về làm vợ. Phú Ông đồng ý gả con gái nhưng đòi sính lễ rất cao và khó khăn để kiếm được có. Sọ Dừa vẫn đáp ứng đủ những tham lam của lão Phú Ông Và thế là lễ cưới được tổ chức linh đình trước sự ngạc nhiên của mọi người. Lễ tân hôn được tổ chức chu đáo cùng với sự "biến hình" thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú. Một thời gian không lâu, Sọ Dừa học giỏi thi đỗ trạng nguyên và được vua cử đi sứ. Đến đây tài năng của Sọ Dừa càng được bộc lộ tuyệt vời, đó là sự dự đoán chính xác tình hình để đảm bảo an toàn cho vợ khi đưa cho cô út một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà. Cuối cùng là việc giấu vợ trong buồng giữa việc đoàn viên để trừng trị hai người chị ác độc, đã nói lên sự thông minh và cách cư xử không khéo của quan trạng. Như vậy, tác giả dân gian đã tạo nên sự "đối lập", trái ngược đến mức cực đoan giữa hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật Sọ Dừa. Bề ngoài Sọ Dừa xấu xí, dị dạng, kì quái, vô dụng… còn bên trong lại là tài năng, phẩm chất tuyệt vời của một nhân cách cao cả, chân chính. Sự biến đổi kì diệu từ một cậu bé có bề ngoài dị dạng, thân phận thấp kém, trở thành chàng trai tuấn tú, thông minh, đỗ đạt chính là sự thống nhất về lí tưởng giữa hình thù bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật.Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh
Các nhân vật trong truyện không hề nhận thấy phẩm chất cao đẹp bên trong con người của chàng, chỉ có Cô út hiền lành, hay thương người, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế, chỉ có cô mới coi Sọ Dừa như một con người. Có thể nói, nhân dân đã mượn hình ảnh cô Út để thay mình nhìn thấy bản chất bên trong của Sọ Dừa, nhân dân ta đã gửi gắm vào Sọ Dừa bao mơ ước, khát vọng. Sọ Dừa từ thân phận thấp hèn, từ một con người dị hình, xấu xí đã trở thành đẹp đẽ, thông minh, tài giỏi và xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Đồng thời khơi dậy trong chúng ta niềm tin. Niềm tin ấy đã trở thành đạo lý mà nhân dân ta vẫn dạy: người tài giỏi, đức độ phải được hưởng hạnh phúc hay rộng hơn "ở hiền gặp lành", còn những kẻ độc ác, gian tham sẽ bị trừng trị.
Qua hình ảnh các nhân vật trong truyện, ông cha ta muốn nhắc nhở con cháu về giá trị đích thực, vẻ đẹp bên trong của con người. Muốn đánh giá đúng bản chất con người đừng nên chỉ quan sát bề ngoài. Đây chính là giá trị nhân dân, truyền thống dân tộc tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Hơn thế nữa, truyện còn đề cao lòng nhân ái đối với người bất hạnh. Lòng nhân ái đem lại hạnh phúc cho cả Sọ Dừa và cô út.Xem thêm: Bài văn miêu tả chiếc áo dài Việt Nam
Có thể thấy Truyện Sọ Dừa mang đậm giá trị nhân đạo và nhân văn cao cả. Thực tế cho thấy rằng trong cuộc đời cũng như trong truyện cổ tích, hạnh phúc của những con người chân chính luôn bị kẻ độc ác đe dọa, tìm cách cướp đoạt. Nhân dân ta đã ý thức rõ điều này nên đã để cho nhân vật cảnh giác, đấu tranh bảo vệ hạnh phúc của mình. Sọ Dừa đưa cho vợ những vật dụng khi chia tay cũng vì thế. Truyện đã đề cập đến một loại người đau khổ nhất, một số phận thấp hèn nhất. Đau khổ thấp hèn đến nỗi từ vẻ bên ngoài đã không ra con người. Thế nhưng ban đầu cái vỏ xấu xí làm cho thân phận nhân vật thấp kém bao nhiêu thì về sau tài năng phẩm chất và sự biến hóa lại làm cho nhân vật trở nên khác thường, đẹp đẽ bấy nhiêu. Đó là quan niệm dân chủ, thái độ trân trọng, khẳng định của nhân dân đối với những con người bị coi là "hèn kém" trong xã hội giai cấp. Đó cũng chính là ước mơ của nhân dân về sự đổi đời.
Cái kết có hậu của Sọ Dừa cùng những tinh tiết li kì hấp dẫn đã làm truyện Sọ Dừa sống mãi trong lòng bạn đọc. Câu chuyện như một lời khuyên về thái độ đối xử với những người có thân phận thấp kém, chịu những bất hạnh trong cuộc đời. Chúng ta không thể nhìn vẻ bề ngoài mà coi thường người khác. Câu truyện như một tiếng chuông kêu gọi sự công bằng bình đẳng trong xã hội.Xem thêm: Hãy tả lại hình ảnh một cụ già đang ngồi câu cá bên hồ
Nguồn: | Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sọ dừa. | 1,291 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến
Gợi ý
Trong kho tàng Văn học Việt Nam, có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài tình bạn làm xúc động lòng người. Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một trong sô" những tác phẩm như vậy. Đọc bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được một tình bạn chân thành, sâu sắc mà còn thấy hiện lên một Nguyễn Khuyên hóm hỉnh, lạc quan.
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta”.
Bài thơ lập ý bằng cách dựng lên tình huống không có gì để tiếp bạn, nhưng vẫn thể hiện được tình bạn đậm đà thắm thiết.
Câu thơ đầu tiên gợi ra một hoàn cảnh rất đáng vui mừng: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà. Nguyễn Khuyến đã lui về quy ẩn, trong cái thời đại nhiễu nhương “Còn tiền còn bạc còn đệ tử / Hết cơm hết rượu hết ông tôi” thì việc có một người bạn quý đã lâu ngày “đã ấy lâu nay” đến nhà chơi thì thật đáng quý xiết bao. Và trong hoàn cảnh ấy, đáng ra, Nguyễn Khuyến phải tiếp đãi bạn thật chu đáo và thịnh soạn.Xem thêm: Phân tích bài thơ Nói Với Con của Y Phương hay nhất Nhưng oái oăm thay, trong sáu câu kế tiếp, nhà thơ lại vẽ ra một hoàn cảnh rất đặc biệt để tạo ra sự đùa vui: Có sẵn mọi thứ nhưng hoá ra lại không có thứ gì. Vật chất đều đầy đủ cả nhưng lại cứ giảm đi, đến chỗ không còn một chút gì hết: chợ thì có đấy nhưng người sai vặt thì không có, gà vịt cũng nhiều nhưng hiềm nỗi vườn rộng rào thưa không bắt được, rau dưa đủ quả nhưng tiếc nó chưa đến mùa!…
“Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả, khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà mới nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”.
Nguyễn Khuyến đã viết về gia cảnh khó khăn của mình với một giọng thơ đùa vui, hóm hỉnh. Người đọc vừa mỉm cười lại vừa băn khoăn, thương cảm: Khi lui về quy ẩn, Tam Nguyên Yên Đổ thực sống kham khổ như vậy sao? Và cái “bí” của nhà chủ lên đến đỉnh điểm khi “miếng trầu là đầu câu chuyện” lúc tiếp khách cũng không có nổi: “Đầu trò tiếp khách trầu không có”. Không, như vậy thì sự thực nhà thơ sống trong những năm tháng quy ẩn không đến độ khó khăn, bức bách như thế. Có lẽ đây chỉ là những cái đùa vui, cái cớ để nói đến một điều gì bất ngờ khác. Bao nhiêu vật chất không có, ngay cả đến vật chất tối thiểu cũng không vì vậy tiếp bạn chỉ còn có mỗi cái tình. Tạo ra tình huống như vậy, vừa đùa vui, vùa nói lên sự mong ước tiếp đãi chu đáo cả vật chất lẫn tinh thần, lại vừa nhấn mạnh được cái tình. Chỉ một sự chân tình có thể đủ bù đắp những thiếu hụt vật chất:Xem thêm: Cô tô ngữ văn 6“Bác đến chơi đây, ta với ta!”
Câu thứ cuối cùng và cụm từ “ta với ta” nhấn mạnh tình cảm tri âm không cần phải vật chất đầy đủ mà chỉ cần cấì tình chân thực thôi. Những người tri âm, tri kỉ có khi chỉ cần gặp nhau ngâm mấy câu thơ, đàn vài bản nhạc là đã đủ vui rồị. Tình cảm không cứ nhát thiết phải có đầy đủ vật chất mới vui là như vậy.
Trong bài thơ “Qua Đèo Ngang”, Bà Huyện Thanh Quan cũng nhắc đến một cụm từ “ta với ta” nhưng “ta với ta” của bà là chỉ một mình tác giả với mảnh tình riêng đầy cô đơn, trống vắng. Trong bài thơ của Nguyễn Khuyến thì ngược lại, thi nhân đùng cụm từ này để chỉ bản thân và người bạn tri âm, tri kỉ. Cái “ta với ta” của Nguyễn Khuyến ấm áp và vui vầy biết bao.
Qua cách ứng xử của nhà. thơ, có thể nhận thấy, với bạn, Nguyễn Khuyến rất quan tâm đến bạn, muôn tiếp bạn thật là chu đáo. Đồng thời, chúng ta cũng thấy, trong tình bạn, Nguyễn Khuyên rất coi trọng cái tình, coi trọng sự cung kính trong tình bạn.
Ngôn ngữ được sử dụng trong bài thơ Bạn đến chơi nhà mang tính chất dân dã đời thường, với hầu hết là các từ thuần Việt. Cái độc đáo nhất của bài thơ là tạo nên nghịch cảnh có rất nhiều mà lại chẳng có gì nhưng thực ra là có tất cả!Xem thêm: Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến gieo vào lòng người đọc một thoáng mỉm cười trước sự đùa vui hóm hĩnh của thi nhân. Nhưng lắng đọng lại sau cùng là niềm xúc động vô bờ về một tình bạn chân thành, sâu sắc vượt lên cả những vật chất và những cung cách ứng xử thông thường.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến | 912 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây bàng
Bài làm
Trên sân trường không thể thiếu được đó chính là những cây bàng, những hàng phượng. Không giống với mọi người khi ấn tượng về sắc đỏ của phượng vĩ thì em lại yêu thích những tán bàng rộng lớn, sự chuyển màu kỳ diệu của cây bàng các mùa trong năm.
Ngôi trường em đang học có rất nhiều cây bàng. Bàng không chỉ được trồng ở sân trường mà còn ở phía trước cổng trường, vòng quanh sân vận động. Những cây bàng với thân cây khẳng khiu, lớp vỏ sần sùi, xám xịt. Những tán lá bàng xòe rộng tỏa tròn xung quanh. Chiếc lá bàng không nhỏ li ti như lá phượng cũng không thon dài như lá tre mà nó hơi dài và hình bầu dục nom giống chiếc quạt mo. Điều thú vị nhất mà em thường để ý quan sát đó chính là sự chuyển màu của lá bàng.
Mùa xuân, cây bàng đâm chồi nảy lộc. Những chiếc lá bàng non mơn mởn với màu xanh nõn chuối. Nom những chiếc lá phượng nom mỏng manh, dễ dàng lay động trong những cơn gió nhẹ. Khi những chiếc lá mọc ra càng lâu thì càng trở nên cứng cáp hơn. Vào hạ những chiếc lá bàng xanh sẫm hơn, những chùm hoa bàng li ti với hương thơm thoang thoảng nay đã kết trái và càng ngày càng phát triển. Có những chiếc lá bàng đã bắt đầu chuyển sang màu khác. Cuối hạ có những cây lá chuyển sang màu vàng, có cây lại chuyển đỏ sẫm. Trên những chiếc lá già ấy có những chấm màu sậm li ti như đôi má cô gái có những vết tàn nhang. Trông cây bàng với những màu sắc hết sức đặc biệt và sặc sỡ của lá bàng khiến cho nó chẳng thể lẫn lộn với những loại cây khác.Xem thêm: Phân tích tình yêu thiên nhiên trong bài thơ Cảnh Khuya và Rằm Tháng Giêng
Biểu cảm về cây bàng
Lũ trẻ chúng em thích nhất đó chính là lúc ăn trái bàng chín và đập hột bàng lấy nhân để ăn. Những trưa hè nóng nực cả lũ lại ngồi dưới gốc bàng hì hụi đập hột bàng. Rồi lá bàng chính là chiếc quạt mát khi chúng em nghỉ giải lao trong giờ thể dục, hay những giờ ra chơi. Càng về cuối thu, lá bàng càng vàng và rụng nhiều. Đến đông cây bàng chỉ còn trơ trọi cành khẳng khiu nom giống như là đã chết vậy. Nhưng thực chất sức sống của nó vẫn đang chảy ngầm một cách mạnh mẽ. Những chồi non núp dưới lớp vỏ giống như đang yên giấc chỉ đợi mưa xuân tới tưới tắm, nắng xuân sưởi ấm là bừng tỉnh, đâm chồi nảy lộc. Những nét khẳng khiu của cây bàng trơ trọi không lá mang vẻ đẹp rất riêng.
Cây bàng còn gắn với tuổi thơ em đó chính là khi em chăn trâu cắt cỏ phụ giúp gia đình. Nhà em vốn là một gia đình không lấy gì làm khá giả và sống ở một vùng quê yên bình tại ngoại thành. Nhà em có nuôi một cặp bò mẹ con nên nhưng buổi chiều được nghỉ học thì em đều đi chăn bò. Đám trẻ con mục đồng tụi em thích nhất là thả bò ngoài bãi để cho nó có thể ăn tự do mà không cần trông. Nhất là những ngày hè khi lúa ngoài đồng đã được thu hoạch hết. Ở bờ mương xây ngoài đồng xa có hàng xà cừ và hàng bàng chạy dài nối vào những lò gạch. Đó là nơi nghỉ mát lý tưởng không chỉ riêng những người làm lò gạch mà cả lũ mục đồng. Mùa bàng chín, cả hội ngồi hì hục đập quả bàng để lấy nhân, lúc trời nóng thì hái lá bàng để quạt mát, để che đầu. Tại đó cũng là nơi chơi nhiều trò chơi thú vị. Rồi hàng cây ấy còn là nơi nghỉ mát lý tưởng của những cô, bác nông dân khi đi làm đồng áng. Có thể thấy được tầm quan trọng và sự gắn bó của không chỉ riêng cây bàng mà còn các loại cây cho bóng mát khác đối với những người dân quê em.Xem thêm: Từ một số bài ca dao than thân đã học hoặc đã đọc, hãy phát biểu cảm nghĩ của anh (chị) về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. (Yêu cầu lập dàn bài)
Cây bàng đối với em chính là một người bạn, một người gắn bó với tuổi thơ của em, gắn với lứa tuổi học trò. Em cảm thấy cây bàng giống như một nhân chứng, chứng kiến sự phát triển, trưởng thành của em.
Loan Trương | Phát biểu cảm nghĩ của em về cây bàng hay nhất | 819 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây phượng
Bài làm
Đối với bao lứa học trò thì cây phượng luôn là loài cây đặc biệt và quen thuộc. Phượng có mặt ở nhiều nơi nhất là ở sân trường, ở hai bên đường tới trường, ở những bài thơ những trang giấy.
Đối với em phượng giống như một người bạn gắn bó với em trong suốt những năm tháng học trò. Phượng không chỉ đẹp khi mang sắc đỏ thắm cả một vùng trời mà nó đẹp ngay cả khi những chiếc lá non phất phơ trong gió hay đẹp trong từng khoảnh khắc, từng thời điểm khác nhau.
Mùa xuân, mùa đầu tiên và cũng là mùa đẹp nhất trong năm. Thời điểm này phượng cũng không chịu kém cạnh, khi mà trăm hoa đua nở thì phượng cũng bắt đầu nhú những cành lá xanh non mơn mởn. Giữa nắng xuân ấm áp thì màu xanh trở nên nổi bật, tươi tắn. Hay cả những lúc mưa xuân, từng giọt mưa nhỏ li ti đậu trên lá cũng khiến cho bao lớp học trò mơ màng. Em rất thích ngắm cây phượng trong tiết trời mưa phùn của đất Bắc, nó khiến em như cảm nhận rõ hơn về mùa xuân đang diễn ra. Chẳng mấy chốc trên những cành phượng đã bắt đầu có những chùm nụ non, chỉ đợi nắng hè tới là khoe sắc. Đến cuối xuân những nụ hoa đầu tiên bắt đầu hé nở báo hiệu mùa hè sắp tới.Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: "Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
Biểu cảm về cây phượng
Mùa hè gắn liền với mùa thi và cũng báo hiệu một năm học sắp hết. Những cô cậu học trò bắt đầu vội vàng ôn tập cho mùa thi. Trên tầng không hoa phượng nở ngày càng nhiều, sắc ngày càng đỏ. Phượng nở đỏ cả một góc sân trường. Trong những giờ ra chơi dưới gốc phượng không bao giờ vắng những cô cậu học trò. Có những bạn thì ngồi ôn bài, có người thì cùng vui chơi, đùa nghịch với nhau. Nhưng em chú ý nhất chính là những anh chị lớp chín. Họ đang cùng nhau nhặt những cánh hoa phượng để ép vào những trang sách, trang lưu bút. Bởi năm cuối cấp, hè đến ngoài những kì thi quan trọng thì còn là mùa của chia ly. Cây phượng đã chứng kiến biết bao cuộc chia tay, giống như một người bạn lớn luôn dang rộng cánh tay chào đón, ôm ấp, vỗ về.
Thời học sinh cắp sách đến trường ai chẳng từng nhặt những bông hoa phượng, bẻ những chùm hoa phượng ven đường. Những chiếc xe đạp nổi bật với những tà áo trắng, những chùm hoa phượng đỏ rực rỡ. Em rất thích khi nhìn thấy những chị học cấp ba với những chiếc áo dài trắng tinh khôi đạp xe dưới con đường mà hai bên là hàng phượng vĩ đỏ thắm. Chính cảnh tượng đẹp đẽ ấy khiến em có thêm động lực cố gắng để có thể tiếp tục cắp sách tới trường, để thi đậu vào trường cấp ba ở quê em. Đó là một ngôi trường có nhiều cây phượng và con đường đến trường là hai hàng phượng đã có mặt ở đó từ lâu nay.Xem thêm: Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý, có khi được trưng bày trong tủ kính, ... Em hãy chứng minh rằng trong... yêu nước rất sâu sắc. Theo em, ngày nay chúng ta cần làm gì để “làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày”
Mặc dù chưa phải cuối cấp nhưng đối với em thì mỗi khi được nghỉ hè giống như đang có cuộc chia tay với cây phượng. Chỗ em ngồi là ở tầng hai, ngay bên cửa sổ là cây phượng già nên nhiều khi đưa ánh mắt ra ngoài cửa sổ lại nhìn thấy phượng ở bên đồng hành cùng em trong giờ học. Có những tiết học căng thẳng thì khung cửa sổ với những tán phượng mang lại cho em cảm giác thư giãn, giảm bớt căng thẳng. Phượng của tiết trời thu cũng rất đẹp. Mùa thu, mùa khai trường, sau mấy tháng hè ròng rã nay đã được cắp sách tới trường, được gặp lại bạn bè, thầy cô và gặp người bạn bên khung cửa sổ. Những chiếc lá xanh nay đã ngả vàng, một sắc vàng đặc trưng của tiết trời thu. Những cơn gió thu nhẹ thôi nhưng cũng khiến cho những chiếc lá phượng rụng rơi đầy trên đất.
Cây phượng giống như một người bạn lớn tuổi chứng kiến những bước trưởng thành của em, chứng kiến biết bao kỷ niệm tuổi học trò của em. Đối với em thì cây phượng là loài cây em yêu mến và dành nhiều tình cảm nhất trong số các loài cây.
Loan Trương | Phát biểu cảm nghĩ của em về cây phượng hay nhất | 859 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre
Bài làm
Cây tre là một loại cây quen thuộc với người dân Việt Nam. Tre gắn liền với cuộc sống sinh hoạt, lao động và cả cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc.
Sinh ra và lớn lên tại một vùng quê thanh bình. Những lũy tre xanh, cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay là những hình ảnh quá đỗi quen thuộc và thân thương. Lũy tre bao bọc xóm làng, là nơi diễn ra rất nhiều hoạt động và tre có mặt ở nhiều mặt trong đời sống người dân quê em.
Những lũy tre với những cây tre cao vút. Thân tre xanh óng mượt được chia thành từng khúc một. Lá tre thành từng chùm và mang màu xanh không quá đậm và càng lên ngọn thì màu xanh ấy càng nhạt dần. Tron lũy tre không chỉ có một lứa tre mà nhiều lứa đan xen nhau. Có những cây cao vút, có những cây mới cao tầm hơn nửa cây cao nhất, nhưng cũng có cây mới chỉ ngang người. Ở dưới thấp còn nhiều cây tre non nay mới chỉ là búp măng non dài mấy chục phân. Có người nói tre không có hoa nhưng thực ra tre có hoa và ít người để ý hoặc không có dịp trông thấy. Cây tre đứng thẳng cả đời cuối cùng cũng có dịp tươi đẹp nhất đó là trổ ra những chùm hoa vàng li ti. Sau khi hoa tàn cũng là lúc mà cây tre giống như con người bước vào tuổi già, hết một đời người. Tre gắn với đời sống sinh hoạt của dân làng. Từ những đôi đũa trong mâm cơm hằng ngày, những chiếc rổ rá đan bằng nan tre. Rồi đến những cái cuốc, cái cày của người nông dân. Tre dẻo dai làm nên những chiếc vó kéo cá, những chiếc cần câu, những chiếc lờ bẫy cá.Xem thêm: Tình yêu quê hương đất nước là một đề tài sâu rộng trong mọi nền văn học Đông Tây kim cổ. Tại sao vậy. Em hãy viết một đoạn văn nói lên vai trò quan trọng của quê hương đối với mỗi con người
Biểu cảm về cây tre
Tre đến bên mọi người cả giấc nghỉ ngơi đó là những chiếc giường, chõng làm bằng tre, những chiếc quạt nan. Không chỉ có vậy, Tre còn gắn liền với những lúc vui chơi giải trí của mọi người. Trẻ con có trò chơi chuyền với que bằng tre. Những trưa hè, dưới lũy tre xanh là những đứa trẻ đang chơi đùa. Có khi là những chú trâu bò nằm nghỉ mát, cũng có những lũy tre là nơi tụ họp nói chuyện nghỉ mát của những bác nông dân. Những buổi liên hoan văn nghệ ở quê em không thể thiếu được bài múa, nhảy sạp và nó được làm bằng những thân tre thẳng thướm. Rồi những trò chơi ngày hội như đu quay, đánh đu, cầu khỉ… Có lẽ chính vì thế mà dù cho ngày nay khi đất nước ngày càng phát triển, hiện đại hơn và vai trò của cây tre trong đời sống cũng như trong lao động thì được nhiều thứ khác thay thế nhưng đối với người dân quê em thì tre vẫn là một người bạn, một người thân thiết giống như một thành viên trong gia đình.
Tre biểu tượng cho người dân Việt Nam, mang những phẩm chất cao đẹp, kiên cường, thủy chung, ngay thẳng. Tre góp mặt trong những cuộc đấu tranh, những cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc. Tre giữ làng giữ nước, tre trở thành vũ khí chống lại kẻ thù. Những lũy tre dày kiên cường chống lại mưa bom bão đạn, chống lại sự bắn phá của quân thù. Đối với dân tộc Việt Nam thì tre chính là hiện thân của sự kiên cường, bất khuất, không chịu khuất phục. Chính vì thế tre đã trở thành nguồn cảm hứng lớn trong văn chương. Ta đã từng bắt gặp hình ảnh cây tre trong lời thơ:Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Trương Sinh trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ
"Tre xanh xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh"
Hơn ai hết, tre giống như một người bạn từ thuở ấu thơ của em. Tre có trong lời ru của bà, của mẹ. Bóng tre là nơi mà em thường chơi đùa, nghỉ mát những trưa hè. Trong cơn gió mùa hạ, tiếng xào xạc từ những tán lá, tiếng thân tre va vào nhau kẽo kẹt nom bình yên tới lạ. Rồi những buổi chiều chạy trên sườn đê với một bên là lũy tre trải dài, cùng lũ bạn mục đồng thả diều khiến em cảm thấy những ngày hè thật vui vẻ, ý nghĩa.
Cây tre mãi mãi là người bạn của nhà nông, của người dân Việt Nam và đối với riêng em. Dù cho sau này lớn lên hay đi xa thì em vẫn nhớ mãi về quê hương về lũy tre làng về cánh đồng thân quen.
Loan Trương | Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre hay nhất | 877 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về hai nhân vật Thành và Thủy trong truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của nhà văn Tạ Duy Anh
Gợi ý
DÀN Ý
Mở bài:
+ Giới thiệu về hoàn cảnh tiếp xúc với văn bản “ Cuộc chia tay của những con búp bê” của Tạ Duy Anh: đọc và nghe giảng trên lớp.
+ Cảm xúc chung của em về hai nhân vật Thành và Thuỷ trong truyện: cảm động, thương xót…
Thân bài:
+ Tóm tắt ngắn gọn tác phẩm.
+ Cảm nghĩ của em về nhân vật Thành:
Là người anh trai rất thương yêu em gái: đón em sau giờ tan học, giúp em học bài, nhường hết đồ chơi cho em không lấy thứ nào…
Là một người biết nghĩ, sống nội tâm sâu sắc: đêm không ngủ được khóc “ướt đầm cả gối và hai cánh tay áo”, sáng đã dậy sớm, kinh ngạc, khi thấy mọi thứ vẫn bình thường trong khi tâm hồn mình đang nổi dông bão…
Thấy buồn sâu thẳm, thất vọng, bơ vơ khi phải xa em.
+ Cảm nghĩ về nhân vật Thuỷ:
Là một đứa trẻ ngoan, khéo tay: mang kim chỉ ra tận sân vận động khâu áo cho anh.
Chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh: phải theo mẹ về quê ngoại, không được đi học, phải đi bán hàng phụ mẹ → thương cảm, xót xa…
Là đứa trẻ giàu lòng nhân hậu, sống vị tha: không muốn chia rẽ hai con búp bê nhưng lại sợ không ai canh giấc ngủ cho anh nên đã để lại con Em Nhỏ bên cạnh con Vệ Sĩ, thà mình chịu chia lìa chứ không để búp bê phải chia tay, thà mình chịu thiệt thòi để anh luôn có người gác cho ngủ đêm đêm → xúc động và cảm phục.
Xem thêm: Hãy tưởng tượng em được gặp người chiến sĩ lái xe trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của tác giả Phạm Tiến Duật, kể lại cuộc gặp gỡ đó+ Cảm nghĩ về tình cảm của hai anh em và cuộc chia tay giữa chúng:
Đó là một tình anh em cao đẹp, trong sáng, đáng được trân trọng và ngợi ca.
Cuộc chia tay giữa chúng không nên có, là cuộc chia tay vô lí, đáng lên án… → làm người đọc xúc động nghẹn ngào, đau dớn, xót thương…
Kết bài:
+ Khái quát lại tình cảm của em khi học xong truyện.
+ Suy nghĩ về mái ấm gia đình, về quyền trẻ em..
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về hai nhân vật Thành và Thủy trong truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của nhà văn Tạ Duy Anh | 419 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về mùa xuân
Bài làm
Mùa xuân là mùa tươi đẹp nhất trong năm. Là mùa mà em luôn mong ngóng, chờ đón và mùa mà em yêu thích nhất.
Đối với em thì dường như thiên nhiên, cảnh vật hay con người đều đẹp nhất đó là khi vào xuân. Trong khi mùa đông thì cả cảnh và người đều đang chìm trong một không khí u ám trong thời tiết lạnh lẽo. Cây cối lá đã rụng từ cuối thu nay trở nên trơ chọi. Bầu trời cũng xám xịt chứ không trong xanh. Vốn tưởng rằng sự vật không sức sống thế mà khi những tia nắng xuân chớm đậu trên cành đã khiến cho mầm sống vốn đang im lìm nay trỗi dậy một cách mạnh mẽ.
Những chiếc chồi non đang được khoác chiếc áo xám xịt nay được trút bỏ nảy lên chồi xanh non mơn mởn khoe sắc dưới ánh nắng xuân dịu dàng. Cảnh vật, cả đất trời miền Bắc như thay áo mới. Chẳng mấy mà màu xanh đã bao trùm rồi những nụ hoa cũng bắt đầu hé mở đón xuân. Nhắc đến xuân không thể thiếu hoa đào ở miền Bắc, sắc vàng của hoa mai ở miền Nam. Mùa xuân còn được gọi là mùa mà trăm hoa khoe sắc thắm. Mỗi loài hoa mang những dáng vẻ riêng. Mùa xuân đào mai khoe sắp thắm đón chào năm mới. Đó là thời điểm mà những người con đi xa mong chờ để trở về sum họp với gia đình. Mỗi khi tết đến xuân về em thích nhất đó chính là đi thăm những vườn đào, những vườn quất. Nhất là ở ven sông quê em có những khu đất chuyên trồng đào và cứ đến dịp cận tết thì những người trồng đào lại đánh và đem vào thành phố để bán. Cái cảm giác ngắm hoa đào ở chợ hoa hay ở một vài cây khác hoàn toàn với ngắm cả khu vườn đào hay phải nói rằng như một rừng đào. Cả vùng đất rộng lớn toàn những cây đào đa dạng về kiểu dáng vì được cắt tỉa, uốn khéo léo. Cũng có rất nhiều người ghé thăm nơi đây, thậm chí còn có những người mặc những chiếc áo dài để chụp ảnh, lưu giữ lại những khoảnh khắc đẹp.Xem thêm: Hãy phát hiểu cảm nghĩ về nhân vật mà em thích nhất trong các tác phẩm văn học dân gian đã học
Biểu cảm về mùa xuân
Tiết trời thu không lạnh như mùa đông cũng không nóng nực như ngày hè. Xuân với cái gió se se lạnh, với những cơn mưa phùn bay bay, với ngày nắng xuân tươi tắn, có nắng mà chẳng hề chói chang. Mùa xuân là mùa của lễ hội, chỉ sau ngày Tết có biết bao lễ hội diễn ra ở nhiều nơi trên Tổ quốc. Đó là một nét đẹp văn hóa của dân tộc ta. Em rất thích tham gia lễ hội, nhất là lễ hội ở nơi em sinh sống.
Có người thích nắng xuân ấm áp, người lại thích mùa xuân vì thời tiết dễ chịu, vì tiết trời mưa phùn giăng mắc khắp mọi nơi. Có năm vào dịp tết em được về quê ngoại ăn Tết. Đó là một thị trấn nhỏ ở Tây Bắc và con đường lên đó khá ngoằn nghèo và lên dốc xuống đèo. Nếu đi vào sáng sớm thì sương mù kín trời và khó có thể thấy được đường. Thậm chí càng lên cao, càng thấy sương mù dày đặc. Thế rồi khi ánh nắng xuân lên và khi ở trên núi cao nhìn xuống thung lung bên dưới em vẫn thấy những đám mây mù khi thì trắng khi thì xám như làn khói đang bao trùm cảnh vật. Khác với không khí Tết, không khí mùa xuân ở dưới xuôi, ở quê ngoại em thì mùa xuân thật tươi đẹp không chỉ ở cái lạnh, thời tiết mà là ở cảnh vật thiên nhiên và những con người dân tộc miền núi chất phác. Đó là miền quê mà ta bắt gặp rất nhiều những cây đào rừng to lớn, những cánh đào phải đẹp dịu dàng như cô sơn nữ mười tám đôi mươi. Những thửa ruộng bậc thang đang được người nông dân cày bừa, làm đất để ra Tết có thể xuống đồng cấy lúa. Ta quen thấy thửa ruộng bậc thang lúa xanh, lúa chín và nay thấy được cảnh ruộng trắng xóa vì nước gây ấn tượng riêng cho người xem. Rồi chợ Tết nơi đây cũng không đa dạng, sầm uất như dưới xuôi nhưng họ có những sản vật rất đặc sắc mang dấu ấn của các dân tộc nơi đây… Chính nhờ vậy mà em đã học hỏi được rất nhiều về những nét đẹp văn hóa của dân tộc và khiến em càng yêu thêm mùa xuân.Xem thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Mùa xuân quả thật là một mùa tươi đẹp, mùa được mong chờ nhất trong năm. Một mùa mang nhiều ý nghĩa mà trước hết đó chính là tuổi trẻ và là sự sum họp của gia đình, kết thúc năm cũ và đón chào một năm mới.
Loan Trương | Phát biểu cảm nghĩ của em về mùa xuân hay nhất | 915 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về một nhân vật trong truyện dân gian mà em cho là hay
Gợi ý
Truyện Tấm Cám giúp ta thấy được sự dịu hiền, thật thà, đức tính cần cù, chịu khó cùa cô Tấm. Nàng luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người và được mọi người yêu mến. Chính những đức tính đáng quí đó đã làm em khâm phục nàng.
Tấm là một người thật thà nên bị Cám lừa và lấy hết cá trong giỏ. Thật là đáng thương cho nàng, vì quá hiền lành nên không dám nói lên những oan ức từ trước đến giờ, chỉ đành câm lặng.
Mẹ con Cám lúc nào cũng muốn Tấm làm việc quần quật suốt ngày, không cho nghỉ ngơi. Họ luôn luôn tìm cách để cho Tấm phải buồn khổ. Những việc làm của mẹ con Cám gây ra cho Tấm vô cùng độc ác. Và thật đáng thương cho số phận của con người hiền lành như Tấm. Nhưng em nghĩ sẽ có một ngày nào đó nàng được hạnh phúc và không bao giờ gặp khó khăn trở ngại nữa.
Mẹ con Cám đã nhẫn tâm giết bống của Tấm và không cho Tấm đi dự hội. Tấm ngậm đắng ngồi khóc bên cửa sổ. Tấm như chú chim bị nhốt trong lồng, muốn bay vào tự đo nhưng những thanh tre độc ác kia đã ngăn chim lại. Thế là ông Bụt hiện lên như một vị cứu tinh, giúp Tấm vượt qua trở ngại, ở hiền gặp lành. Và Tấm nghiễm nhiên bước lên ngôi hoàng hậu qua việc đánh rơi chiếc giày. Tuy vậy, mẹ con Cám vẫn không ngừng thủ đoạn đen tối. Một lần nữa, mẹ con Cám giết Tấm, cho Cám thế ngôi hoàng hậu. Thật đáng ghét mẹ con Cám. Em cầu mong cho mẹ con Cám chết mau để Tấm được hưởng cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng qua nhiều lần thay lốt mà Tấm vẫn bị mẹ con Cám hại. Cuối cùng, tính thẳng thắn và kiên quyết giúp nàng có nhiều nghị lực giết mẹ con Cám và nàng cùng với nhà vua sống yên vui hạnh phúc bên nhau.Xem thêm: Sống chậm, suy nghĩ khác và yêu thương nhiều hơn Câu chuyện kết thúc: Người ngay thẳng được sống hạnh phúc; ke độc ác bị trừng trị đích đáng. Ở đây, em đã học được nhiều bài học qui giá. Em hứa sẽ học theo những điều hay ở truyện cổ tích để thành người tốt.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về một nhân vật trong truyện dân gian mà em cho là hay | 425 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về người cha
Bài làm
Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa?
Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này. Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ.
Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình. Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngã bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường sốc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát. Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-48 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường.Xem thêm: Mượn lời đồ vật hay con vật gần gũi với em để kể chuyện tình cảm giữa em và đồ vật, con vật đóTôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không? Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn với bố đừng đi làm nữa, tôi có thể nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm.
Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài.Xem thêm: Soạn bài Nối những mùa hoaTrong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi phục bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng…
Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo.
Và tôi khâm phục không chỉ bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố.
Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi. Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên cho uống nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào?
Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật. Tuy nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp nữa.
Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn. Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại.Xem thêm: Thành ngữ có câu: “Không thể bẻ đũa cả nắm”. Anh (chị) có suy nghĩ gì? Bàn luận về tình đoàn kết trong xã hộiGiờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa. Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã rọi đường cho con đi.
Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh hồn của mình. | Phát biểu cảm nghĩ của em về người cha | 1,462 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật An Dương Vương trong câu chuyện cùng tên
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
(Cảm nghĩ chung)
Mỗi lần đọc truyện An Dương Vương em lại nhớ về Vua nước Âu Lạc thuở xưa.
B. THÂN BÀI:
(Phát biểu cảm nghĩ)
1. An Dương Vương tài giỏi. Có cả giang sơn và có cả nỏ thần nhưng thiếu mưu trí, và rất chủ quan trước âm mưu của kẻ thù.
2. Cậy mình, chủ quan, tự mãn là nguyên nhân thất bại.
3. Phê phán chi tiết An Dương Vương không để ý đến việc cầu thân của Triệu Đà và sai lầm nhất là cho Trọng Thủy ở rể.
4. Không hiểu cả con mình là Mỵ Châu. Chỉ có khi rùa vàng nói cho thì An Dương Vương mới thức tỉnh thì đã muộn.
5. Đánh giá: An Dương Vương phải trả giá đắt cho những sai lầm của mình.
C. KẾT LUẬN:
+ Hình ảnh An Dương Vương cứ rưng rưng trước mắt.
+ Nó nhắc nhở một bài học giữ nước.
BÀI LÀM
Cứ mỗi lần đọc truyện An Dương Vương, lòng tôi lại bồi hồi nghĩ về Vua nước Âu Lạc.
An Dương Vương một con người tài giỏi, ông có vũ khí thần kì, có thành lũy vững vàng, có cả cơ đồ trong tay thế nhưng ông lại thiếu mưu cơ sáng suốt. Ông rất chủ quan mà mất cảnh giác với kẻ thù. Thất bại của An Dương Vương không phải chờ khi giặc đến sát chân thành mới bộc lộ, ngay từ khi Trọng Thủy vào thành. Sau khi nhờ vào nỏ thần mà đánh thắng quân Triệu Đà, An Dương Vương đã sinh ra tự mãn. Cậy vào sức nỏ thần, mà An Dương Vương không phòng bị ngay trước những âm mưu rất thâm độc của kẻ thù.Xem thêm: Viết đơn xin vào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Triệu Đà sai Trọng Thủy sang cầu thân với mục đích ăn cắp chiếc nỏ thần thế mà ông không hề nhận ra. Ông quên rằng kẻ thù nhiều mưu mô và mối thù của sự thất bại vừa qua đã ngấm vào trong thớ thịt mạch máu của chúng. Việc kết tình hòa hiếu với giặc một cách vô nguyên tắc, việc gả con gái cho con trai kẻ thù và cho nó ở rể trong Loa Thành là một sai lầm hết sức nghiêm trọng của An Dương Vương.
An Dương Vương là người yêu con hết mực thế nhưng ông không hiểu hết tính cách của Mỵ Châu. Lời cảnh cáo của thần Kim Quí "Giặc ở sau lưng nhà vua…" làm vua tỉnh ngộ, thế nhưng khi hiểu ra thì đã muộn màng.
Một con người như thế, một sự nghiệp như thế, một cơ đồ như vậy mà chỉ trong phút chốc tất cả tiêu tan. An Dương Vương đã phải trả một giá rất đắt cho những sai lầm của mình.
Gấp sách lại hình ảnh An Dương Vương cứ rưng rưng trước mắt tôi.
Nó như một lời nhắc nhở rằng ai muốn bảo vệ giang sơn đất nước, có tài trong quá khứ chưa đủ, mà cần phải có mưu cơ và đường lối sáng suốt cho tương lai thì mới thành công, thì mới tránh được những đau đớn xót xa của cảnh nước mất nhà tan.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật An Dương Vương trong câu chuyện cùng tên | 557 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Gióng, trong truyện “Thánh Gióng”
Gợi ý
DÀI BÀI
A. MỞ ĐỀ:
Địa vị truyện Thánh Gióng trong kho tàng truyện cố dân gian.
B. THÂN BÀI:
– Thánh Gióng là hình ảnh tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
– Thánh Gióng là người anh hùng được nhân dân nuôi lớn.
– Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc.
– Thánh Gióng là hình ảnh tiêu biểu của thiếu nhi Việt Nam anh hùng.
C. KẾT LUẬN:
Hình ảnh Thánh Gióng bay lên trời sống mãi trong lòng thế hệ trẻ.
BÀI LÀM
Trong những truyện dân gian đã học ở lớp sáu, truyện Thánh Gióng đã để lại trong em một ấn tượng thật đẹp.
Em thường tự hỏi: Vì sao trên trang lịch sử đầu tiên chống giặc xâm lược của nước nhà, hình ảnh người anh hùng cứu nước lại là một thiếu niên? Phải chăng đó cũng là hình ảnh dân tộc Việt Nam trong những thời kì còn trứng nước, bé bỏng, yếu đuối, trước một kẻ thù tàn bạo và hung hàng, đã phải nhanh chóng lớn mạnh, trở thành khổng lồ cho được, khi giặc đã đến Châu Sơn, thế nước rất nguy, nhân dân đang bị giết hại, máu dân lành đang chảy thành sông? Phải lớn nhanh khỏe nhanh, rời bỏ chiếc nôi tre của mẹ hiền mà đứng dậy! Lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam là như thế. Từ những cuộc khởi nghĩa giành được nước sau nghìn năm Bắc thuộc, từ trận đại thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, cuộc phản công toàn thắng quân Minh để giành độc lập, cuộc hàng quân thần tốc đại phá quân Thanh, đến chiến thắng Điện Biên Phú lừng lầy địa cầu, chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh 1975, dân tộc Việt Nam đều đã trờ thành khổng lồ như thế đó.Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ: ‘Một cây làm chẳng nên non…’
Nhưng để trở thành người khổng lồ, thành chàng dũng sĩ mình cao hơn trượng, cậu bé làng Gióng phải nhờ cơm gạo của dân làng mà lớn lên. Làm sao chàng dũng sĩ có thể quên được: Sinh ra mình là cha mẹ, nhưng nuôi lớn mình là nhân dân. Nhân dân đã bớt ăn để nuôi chàng trai lớn khỏe lên mà đánh giặc. Bao nhiêu khát vọng và mong ước được gửi vào trong từng bát gạo, bát cơm! Người anh hùng ơi, hãy vì dân mà giết hết bọn bạo tàn, để cho người nông dân được an tâm cày cấy, cho cô gái ngồi dệt vải dưới mái tranh, cho người mẹ cất tiếng hát bên nôi… Làm sao có được người anh hùng, nếu không có nhân dân yêu nước.
Không có nhân dân thì anh hùng dẫu tài giỏi đến đâu cũng không làm gì được; không có nhân dàn, lấy đâu ra roi sắt cho chàng dũng sĩ quật tan quân giặc? Lấy đâu ra ngựa sắt để cứ mỗi bước đi lại phun ra ngọn lửa căm thù của nhân dân thiêu cháy giặc?
Thật là hả hê, thú vị trước hình ảnh chàng Gióng nhổ bụi tre bên đường quất túi bụi vào quân giặc sau khi ngọn roi sắt thần kì bị gãy. Sao chàng không chờ để đúc lại roi sắt? Phải chăng chàng đã hiểu ra rằng: Với mọi người anh hùng vì dân đánh giặc thì mọi thứ, khi cần, đều trở thành vũ khí lợi hại. Hóa ra, từ thủa xa xưa, cây tre Việt Nam đã cùng nhân dân ta đánh giặc. Đọc truyện Thánh Gióng, em nghĩ đến cây gậy tầm vông của cha anh ngày đánh Pháp, cây chông tre, cái hầm chông nhọn hoắt căm thù của chị du kích ngày đánh Mĩ.Xem thêm: Phân tích giá trị biểu cảm của những câu thơ sau: "Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi... Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng." (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm) Em không biêt ở đâu trên thế giới này có câu chuyện về người anh hùng ba tuổi như cậu bé làng Gióng hay không? Chàng Gióng là hình ảnh của dân tộc Việt Nam, nhưng trước hết là hình ảnh của thiếu nhi Việt Nam, những thế hệ thiếu nhi anh hùng đã liên tục cùng cha anh mình đánh giặc. Chàng Gióng đã mở đường cho những Trần Quốc Toàn, Kim Đồng, Lê Văn Tám, Đoàn Văn Luyện… và hàng triệu tâm hồn "Tuổi nhỏ chí cao" khác nữa.
Hồn nhiên bước vào chiến đấu, cũng hồn nhiên và vô tư, chàng Gióng cưỡi ngựa bay lên trời khi quân giặc đã bị dẹp tan. Hình ảnh ấy đẹp biết bao! Hình ảnh ấy mãi mãi sống trong tâm tưởng của em, cũng như sẽ mãi mãi sống trong niềm ngưỡng mộ của bao thế hệ tuổi trẻ Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Gióng, trong truyện “Thánh Gióng” | 824 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Mai An Tiêm trong truyện cổ tích “Quả dưa hấu”
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
(Phát biểu cảm nghĩ chung)
+ Nhân vật em thích nhất trong truyện cổ Quả dưa hấu là Mai An Tiêm.
+ Phẩm chất của An Tiêm đã dẫn tới sự đi đày.
B. THÂN BÀI:
(Phát biểu cảm nghĩ)
1. Cảm phục câu nói khẳng khái.
2. Cảm phục về ý chí tự lập, cải tạo hoàn cảnh của An Tiêm.
– Từ hai bàn tay trắng, giữa đảo hoang nhưng không thất vọng mà tạo ra miếng ăn, tạo ra sự sống.
– Đáng giá:
Nếu không có ý chí không thể tồn tại trong hoàn cảnh đó.
3. Đức tính nhẫn nại và trí thông minh
– Dùng dưa hấu để liên lạc về đất liền.
– Đã được vua cha đón về và xứng đáng hưởng hạnh phúc.
– Đánh giá:
Em như chia sẻ niềm vui với gia đình An Tiêm và càng khâm phục An Tiêm hơn.
An Tiêm đã chứng minh mình không là kẻ ăn bám và không là kẻ xu nịnh.
C. KẾT LUẬN:
+ Cần phấn đấu rèn luyện để có những đức tính như An Tiêm.
+ An Tiêm là tấm gương làm người, cho các bạn học sinh chúng ta.
BÀI LÀM
Có lẽ nhân vật mà em thích nhất trong truyện Quả dưa hấu là An Tiêm. Dù chàng được hưởng bổng lộc của vua ban nhưng An Tiêm vẫn không lấy làm sung sướng mà trái lại nghĩ rằng “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”. Cũng chính câu nói đó mà An Tiêm phải bị lưu đày.Xem thêm: Em hãy giải thích tại sao Phan Bội Châu được Nguyễn Ái Quốc gọi là “vị thiên sứ” (trong văn bản “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” - Nguyễn Ái Quốc)
Đức tính của An Tiêm là thế đấy, chàng muốn tự lập, tự hai bàn tay của mình làm ra miếng ăn, manh áo chứ không muốn sống dựa vào người khác. Vì thế mà An Tiêm phải bị đày ra đảo. Không một tất sắt trong tay mà An Tiêm đã tạo cho mình một vườn rau nhỏ, rồi sau đó trồng được một cây có quả ăn rất ngon. Đó là quả “Dưa hấu”. Quả thật nếu ai không có ý chí phấn đấu cao thì không thể nào vượt qua những khó khăn trở ngại quá lớn như An Tiêm. Đức tính này của An Tiêm thật sự đã làm em khâm phục, quí trọng.
Khi trồng được dưa hấu, An Tiêm đã nhẫn nại khắc tên mình vào quả dưa để gởi vào đất liền. Sự nhẫn nại này của An Tiêm đã có kết quả. Đó là sự đón rước của nhà vua đưa vợ chồng An Tiêm trở vào đất liền, hưởng cuộc sống như xưa để bù lại những khổ cực oan trái mà An Tiêm phải gách chịu bởi sự hiểu lầm của nhà vua.
Đọc đến đoạn An Tiêm được trở về đất liền em cảm thấy như mình cùng chia sẻ hạnh phúc với ông. An Tiêm thực sự xứng đáng được hưởng một cuộc sống sung sướng đầy đủ. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn nhưng An Tiêm vẫn không chùn bước, mạnh dạn khắc phục những khó khăn để tạo cho mình một cuộc sống đỡ vất vả hơn. Mặt khác em cũng khâm phục An Tiêm ở lòng tự trọng của chàng. Bởi vì An Tiêm không muôn mọi người nghĩ rằng mình là kẻ vô tích sự nên cố gắng dùng sức lực với bàn tay trắng của mình để chứng minh cho mọi người biết mình không là kẻ ăn bám theo người khác, không là kẻ xu nịnh để hưởng lộc.Xem thêm: Giải thích câu nói của Lê-nin "Học, học nữa, học mãi" Qua nhân vật An Tiêm em thấy mình cần phải phấn đấu hơn nữa, học tập những đức tính đáng quí của ông để trở thành người có ích cho xã hội. An Tiêm thực sự là tấm gương của thế hệ trẻ ngày nay về đức tính tự trọng, can đảm, kiên nhẫn, không khuất phục khó khăn, gian khổ…
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Mai An Tiêm trong truyện cổ tích “Quả dưa hấu” | 702 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về thầy cô
Bài làm
Thầy cô giáo là những người dạy dỗ cho em những điều hay, lẽ phải, dạy em những tri thức bao la của nhân loại.
Đối với em, mỗi một lớp mà em đã học, mỗi thầy cô đã dạy em đều mang lại cho em những dấu ấn không thể nào quên được. Thầy cô không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà đối với biết bao thế hệ học trò thì thầy cô giống như người cha, người mẹ thứ hai. Thầy cô là người nâng đỡ, giúp chúng em có thể chuẩn bị tốt hành trang để bước vào đời.
Trong những thầy cô đã dạy em thì em ấn tượng nhất đó chính là cô giáo chủ nhiệm của em những năm em học cấp một. Nhớ ngày đầu tiên đi học với biết bao bỡ ngỡ đan xen với sự tò mò, háo hức về ngôi trường mới, thầy cô mới và bạn bè mới. Đó cũng là lần thứ hai em gặp cô. Được biết cô tên là Miện và cho đến khi hết ngày khai giảng em mới biết được nhà của cô rất gần nhà em. Lần đầu trông thấy cô đó là ngày tập trung, từ xa nhìn thấy dáng người cao và thân hình nom hơi giống con trai kết hợp với khuôn mặt nghiêm nghị khiến em cảm thấy cô rất nghiêm khắc. Ấy thế mà khi cô cười đón chào và dỗ mấy bạn nhút nhát em thấy nụ cười của cô giống như ánh nắng ngày xuân, tỏa sáng mà ấm áp. Cũng từ giây phút đó em cảm thấy cô rất thân thiện, gần gũi.Xem thêm: Cảm nghĩ về tình bạn hay nhất
Biểu cảm về thầy cô
Vốn em là học sinh có xu hướng hướng nội, nhút nhát và tiếp thu kiến thức cũng chậm hơn các bạn khác. Chính vì thế mà em luôn được cô quan tâm, giúp đỡ. Một kỉ niệm mà em không bao giờ quên đó chính là ngày còn bé hay đến bây giờ em luôn thuận tay trái và đến khi học viết chữ em cũng viết tay trái. Khi đó cô đã dành rất nhiều thời gian để rèn viết chữ bằng tay phải cho em. Những giờ ra chơi, những ngày cô và em cùng ở lại để luyện chữ. Đó là lúc em cảm thấy tuy hơi mệt nhưng lại rất vui và thấy mình cần cố gắng để không phụ lòng của cô giáo. Rồi có những khi bố mẹ bận việc không tới đón được thì cô giáo đã đưa em về. Rồi mỗi giờ dạy của cô đều khiến cho chúng em cảm thấy hứng thú với bài giảng. Các bạn trong lớp ai cũng đều yêu quý, kính trọng cô và mong muốn cô luôn mạnh khỏe, có thể dạy dỗ chúng em cho tới hết những năm cấp một.
Nhớ có lần em bị ngã gãy chân phải ở nhà hai tuần. Vốn dĩ em đã tiếp thu chậm hơn các bạn khác nên việc nghỉ học vì lý do bắt buộc như vậy khiến em càng thêm lo lắng rằng sẽ không theo kịp các bạn. Thế mà ngay sau khi em ở viện bó bột về thì cô giáo cùng một vài bạn khác đã tới thăm em. Chính cô vào mỗi chiều đã tới nhà để giảng bài cho em bất kể trời mưa nắng. Nhờ vậy mà em không bị tụt lùi so với lớp. Cũng nhờ khoảng thời gian đó mà em thấy được một nét khác có ở cô đó là cô không những không nghiêm khắc như em nghĩ mà những lúc giảng bài vì có mình em nên đôi khi nhàm chán và cô đã kể cho em nghe những câu chuyện rất thú vị, những việc diễn ra trên lớp. Từng câu chuyện đều được cô khéo léo mang theo những bài học cuộc sống rất bổ ích.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ Chàng thì đi cõi xa mưa gió… ai sầu hơn ai
Cho tới bây giờ khi em đã bước ra khỏi trường cấp một và không còn được học cô nữa. Tuy nhiên mỗi dịp lễ tết chúng em lại cùng nhau tới thăm những thầy cô giáo cũ. Đó là dịp mà chúng có thể ôn lại những kỉ niệm ngày trước. Đối với em hay nhiều bạn khác thì đó là những kỉ niệm đẹp mà chúng em không bao giờ quên được.
Loan Trương | Phát biểu cảm nghĩ của em về thầy cô hay nhất | 765 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện ngụ ngôn Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.
Từ thuở xa xưa, tổ tiên chúng ta đã nhận thức rất đúng về vai trò của đoàn kết và mối quan hệ chặt chẽ giữa cá nhân với cộng đồng. Nhận thức đó đã được đúc kết thành bài học bổ ích gửi gắm trong tục ngữ, ca dao và truyện cổ dân gian. Một trong những truyện mang ý nghĩa giáo dục thấm thìa, sâu sắc dưới một hình thức ngụ ngôn dí dỏm, thú vị là truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.
Truyện kể về hành động dại dột của Chân, Tay, Tai, Mắt vì suy bì, ganh tị với Miệng mà bảo nhau đồng loạt không làm việc, để cho lão Miệng tự kiếm lấy miếng ăn. Hành động nông nổi thiếu suy nghĩ ấy khiến cho cả bọn mệt mỏi, rã rời. Hiểu ra sai lầm, tất cả kéo nhau đến giảng hoà với lão Miệng. Rồi ai làm việc nấy, mọi người lại sống hoà thuận như xưa.
Trong truyện ngụ ngôn này, nhân vật là những bộ phận của cơ thể con người đã được nhân hoá.
Thông qua truyện, người xưa muốn khẳng định: Trong xã hội, trong một tập thể, tất cả mọi người đều có liên quan chặt chẽ với nhau. Không ai có thể tách rời khỏi cộng đồng và chỉ có đoàn kết, gắn bó, nương tựa lẫn nhau mới có thể tạo ra sức mạnh. Nếu chia rẽ sẽ dẫn tới suy thoái, diệt vong. Do đó mọi người phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau.
Kết cấu truyện ngắn gọn. bố cục rõ ràng và có đầy đủ nhân vật, tình tiết, mâu thuẫn như một màn kịch nhỏ và hoàn cảnh nảy sinh mâu thuẫn chính là cuộc trao đổi giữa Chân, Tay, Tai, Mắt về sự cống hiến và hưởng thụ.
Truyện kể rằng: Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng từ xưa vẫn sống với nhau rất thân thiết. Bỗng một hôm, cô Mắt cho rằng lão Miệng quanh năm không phải làm việc mà lại được hưởng tất cả những miếng ngon miếng lành ; còn mọi người suốt ngày quần quật mà chẳng được gì. Ý kiến của cô Mắt nêu ra nhanh chóng được cậu Chân, cậu Tay và bác Tai ủng hộ. Cả bọn hăm hở đến gặp lão Miệng để nói thẳng với lão rằng: … Từ nay chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Lâu nay, chúng tôi đã cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi. Câu nói ấy chứa đựng sự bất bình mà mọi người cố chịu đựng bấy lâu. Chẳng thèm nghe lão Miệng phân trần phải trái. Bác Tai, cô Mái, cậu Chân, cậu Tay đều lắc đầu mà rằng: Không, không phải bàn bạc gì nữa, từ nay trở đi, ông phải lo lấy mà sống. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ không làm gì cả. Xưa nay, chúng tôi có biết cái gì ngọt bùi ngon lành mà làm cho cực!
Nếu mới nghe qua thì lí sự của chúng có vẻ đúng, bởi thực tế là Mắt nhìn, Tai nghe, Tay làm, Chân đi… để kiếm sống, chứ còn Miệng thi chỉ có ăn uống, hưởng thụ, nào có phải vất vả, mệt nhọc gì đâu? Kẻ làm nhiều mà không được hưởng thụ gì, còn kẻ không làm lại được hưởng tất. Chúng bất bình, giận dữ, tẩy chay lão Miệng để cho lão biết thân. Chúng không hiểu rằng việc nhai nuốt của lảo Miệng cũng là làm. việc, biến thức ăn thành chất bổ dưỡng nuôi cơ thể, trong đó có Chân, Tay, Tai, Mắt… Người có khỏe thì Mắt mới tinh, Tai mới thính, Chân, Tay mới nhanh nhẹn được. Trong cơ thể con người, mỗi bộ phận có một chức náng riêng nhưng tất cả phối hợp chặt chẽ với nhau để duy trì sự sống. Nếu một bộ phận suy yếu hoặc ngừng hoạt động, con người sẽ bị bệnh hoặc có thể chết.
Xem thêm: Hãy tưởng tượng cuộc đọ sức của Sơn Tinh, Thủy Tinh trong điều kiện ngày nay với máy xúc, máy ủi, xi măng cốt thép, máy bay trực thăng…Suy nghĩ nông nổi của Chân, Tay, Tai, Mắt đã phải trả giá. Chúng bảo nhau đồng loạt nghỉ việc. Một ngày, hai ngày rồi ba ngày, cả bọn thấy mệt mỏi, rả rời. Cậu Chân, cậu Tay không còn muốn cất mình lên để chạy nhảy vui đùa như trước nữa. Cô Mắt thì ngày cũng như đêm, lúc nào cũng lờ đờ, hai mi nặng trĩu như buồn ngủ mà ngủ không được. Bác Tai trước kia hay đi nghe hò nghe hát, nghe tiếng gì cũng rõ, nay bỗng thấy lúc nào cũng ù ù như xay lúa ở trong, cả bọn lừ đừ, mệt mỏi như thế cho đến ngày thứ bảy thì không thể chịu được nữa, đành họp nhau lại để bàn…
May mắn là trong bọn họ, bác Tai đã hiểu ra nguyên nhân của tình cảnh đáng sợ ấy nên giải thích cho cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay: Chúng ta lầm rồi các cháu ạ. Chúng ta nếu không làm cho lão Miệng có cái ăn thì chúng ta sẽ bị tê liệt cả. Lão Miệng không đi làm, nhưng lão có công việc là nhai. Như vậy cũng là làm việc chứ không phải là ăn không ngồi rồi. Trước kia sống với nhau thân thiết như thế, nay tự dưng chúng ta gây nên chuyện. Lão Miệng có ăn thì chúng ta mới khoẻ khoắn được. Chúng ta nên đến nói lại với lão, các cháu có đi không?
Trước lời nói có tình có lí của bác Tai, cả bọn đã nghe ra và cố gượng dậy đi theo bác Tai đến nhà lão Miệng. Suốt bảy ngày không có cái ăn, lão Miệng cũng rơi vào cảnh sống dở chết dở: nhợt nhạt cả hai môi, hai hàm thì khô như rang, khônq buồn nhếch mép.
Tất cả mọi người vội vàng ai vào việc nấy: Bác Tai, cô Mắt vực lão Miệng dậy. Còn cậu Chân, cậu Tay thì đi tìm thức ăn cho lão Miệng ăn. Lão Miệng ăn xong, dần dần tỉnh lại. Và như có phép lạ, lập tức bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay tự nhiên thấy đỡ mệt nhọc, rồi thấy trong mình khoan khoái như trước. Từ một sự hiểu lầm dẫn đến hành động không đúng, nay hiểu ra, may mà còn cứu kịp.
Kết thúc câu chuyện là cảnh: lão Miệng, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay lại thân mật, hòa thuận, mỗi người một việc, không ai tị ai cả.
Như vậy rõ ràng là Chân, Tay, Tai, Mắt và Miệng có liên quan mật thiết với nhau. Mỗi bộ phận tuy có chức năng riêng nhưng có cùng một nhiệm vụ chung là duy trì và phát triển sự sống của cơ thể. Không thể nói bộ phận nào quan trọng hơn cả. Sự khiếm khuyết bất cứ bộ phận nào cũng gây ảnh hưởng xấu đến toàn bộ hoạt động của con người.
Tử quan hệ không thể tách rời giữa các nhân vật, truyện ngụ ngôn này đã Khéo léo đặt ra bài học cho con người. Trong cuộc sống, một cá nhân không thể tồn tại nếu tách khỏi cộng đồng. Mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng là hết sức quan trọng. Truyện tuy ngắn gọn nhưng là lời khuyên khéo léo và thiết thực: Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người. Bởi vì suy nghĩ, hành động, cách ứng xử của cá nhân không chỉ tác động đến bản thân mà còn ảnh hưởng chung đến cả cộng đổng, tập thể.
Điều thú vị là qua truyện ngụ ngôn này, ông cha ta đã khẳng định: Trong xã hội, mỗi người có một năng lực, một trình độ khác nhau, do đó sự phân công công việc và cách thức đóng góp cũng khác nhau. Không nên suy bì, tị nạnh một cách nông nổi, thiếu suy nghĩ dẫn đến hậu quả xấu, ảnh hưởng đến lợi ích chung. Bên cạnh việc đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau, mỗi thành viên phải tự giác làm việc theo sự phân công của xã hội. Khi làm việc phải cống hiến hết sức mình cho cả cộng đồng. Có như vậy xã hội mới ngày càng tốt đẹp hơn.
Xem thêm: Kể lại một câu chuyện mà em đã làm bố mẹ phiền lòng | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng | 1,463 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Con Rồng, Cháu Tiên
Trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam, em rất thích truyện Con Rồng, cháu Tiên. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên hay Sự tích trăm trứng, Lạc Long Quân và Âu Cơ… vốn là một thần thoại có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo như các nhân vật thần linh có nhiều phép lạ và hình tượng cái bọc trăm trứng… đã biến nó thành một truyền thuyết hay và đẹp vào bậc nhất, nhằm giải thích và suy tôn nguồn gốc giống nòi cao quý của dân tộc Việt.
Lạc Long Quân và Âu Cơ là sản phẩm của trí tưởng tượng hồn nhiên, phong phú của người xưa. Hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ được dệt nên từ những chi tiết lạ thường.
Lạc Long Quân là con trai của thần Long Nữ ở Đông Hải (biển Đông); còn Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, sống ở vùng núi cao phương Bắc. Mỗi thần có một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp của Lạc Long Quân được nhấn mạnh là vẻ đẹp của tài năng. Thân có thân hình Rồng, sống được cả dưới nước lẫn trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ, trấn áp được lũ yêu quái (Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh) làm hại dân lành. Thần lại có lòng thương người, thường dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở.
Âu Cơ là Tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần. Nàng thích đi đây đi đó. Nghe nói vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn tìm đến thăm và tình cờ gặp Lạc Long Quân ở đó.
Câu chuyện hấp dẫn người nghe bởi những chi tiết ngẫu nhiên lạ lùng: Rồng ở dưới nước gặp Tiên trên non cao rồi yêu nhau, kết duyên thành vợ chồng. Đây là biểu tượng của sự kết hợp giữa hai thành phần chính trong cộng đồng mới hình thành của dân tộc Việt.
Đời Hùng vương, cư dân Văn Lang chủ yếu là người Lạc Việt và Âu Việt. Họ thường xuyên quan hệ với nhau về kinh tế, văn hóa. Cuộc hôn nhân thần thoại giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ phản ánh mối quan hệ và sự thống nhất giữa cư dân của hai bộ tộc này.
Xem thêm: Em thích nhân vật nào nhất trong truyền thuyết "Sơn Tinh, Thủy Tinh"? Hãy thử coi mình là nhân vật ấy và kể lại câu chuyện nói trên.Truyện Con Rồng, cháu Tiên phản ánh sự hình thành của đất nước Lạc Việt trong buổi bình minh của lịch sử qua các chi tiết: Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đật tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ… Khi cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.
Đây là thời kì mở đầu kỉ nguyên độc lập của người Việt, hay còn gọi là thời kì Hùng Vương dựng nước.
Nội dung truyện nhằm giải thích nguồn gốc dân tộc Việt là con Rồng, cháu Tiên. Tổ tiên ta là hai vị thần khỏe mạnh, tài năng, xinh đẹp, đức độ. Cuộc hôn nhân giữa Long Quân – Âu Cơ như một mối lương duyên tiền định và kết quả thật tạ thường! Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở thành một trăm ngươi con hồng hào, đẹp đẽ… Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. Dấu ấn thần tiên được khắc sâu trong cuộc sinh nở này.
Hình ảnh cái bọc một trăm trứng mang ý nghĩa tượng trưng rất thiêng liêng. Nó khẳng định rằng tất cả các dân tộc sống trên đất Việt đều chung một mẹ sinh ra, do đó mối quan hệ giữa các dân tộc là mối quan hệ anh em thân thiết. Hai tiếng đồng bào (cùng một bọc) đã gợi lên đầy đủ và cảm động nghĩa tình keo sơn, máu thịt ấy.
Sự tích Lạc Long Quân chia tay với Âu Cơ, đem theo năm mươi con xuống biển, còn năm mươi người con theo mẹ lên núi, ngoài lí do kẻ ở trên cạn, người ở dưới nước, tính tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn, ở cùng nhau một nơi lâu dài còn nhằm giải thích sự phân bố vùng định cư của các dân tộc trên đất Lạc Việt. Ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta đã tiến hành những cuộc sắp đặt giang sơn. Địa bàn đất nước rộng, các dân tộc đã biết phân chia nhau cai quản, Kẻ ở chốn núi rừng, kẻ đồng bằng, người biển cả… lập nghiệp khắp nơi, khắp chốn. Khi có việc quan trọng, lớn lao, họ lại tìm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau.
Điều đó thể hiện truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc ta.
Con Rồng, cháu Tiên là một truyền thuyết đặc sắc trong kho tàng truyện cổ dân gian. Nó thể hiện lòng tự hào, tự tôn về nguồn gốc cao quý của dân tộc ta, đồng thời khẳng định và ca ngợi mối quan hệ gắn bó thân thiết cùng truyền thống đoàn kết tốt đẹp có từ lâu đời của các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam. Mỗi người chúng ta dù sinh sống ở bất cứ nơi đâu cũng luôn nhớ tới cội nguồn và tự hào là dòng giống Tiên Rồng, là con cháu của các vua Hùng.
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Con Rồng, Cháu Tiên | 981 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện cười Lợn cưới áo mới.
Lợn cưới, áo mới là một trong những truyện cười đặc sắc của kho tàng truyện cười dân gian Việt Nam. Truyện chế giễu những người có tính hay khoe của. Tính xấu ấy biến người khoe của thành trò cười cho thiên hạ.
Truyện ngắn gọn như một màn hài kịch nhỏ, kể lại cuộc tranh tài thú vị, bất ngờ giữa hai anh có tính hay khoe, mà của đem khoe chẳng đáng là bao. Một anh khoe con lợn cưới bị sổng chuồng và một anh khoe chiếc áo mới may.
Anh đi tìm lợn khoe của trong một hoàn cảnh thật đặc biệt. Đó là lúc nhà anh ta có việc lớn (đám cưới), lợn để làm cỗ cưới lại bị sổng mất, nghĩa là trong lúc việc nhà đang bận bịu và bối rối, một tình huống tưởng như người trong cuộc không còn tâm trí nào để khoe khoang.
Khi đi tìm lợn, lẽ ra anh ta chỉ cần hỏi: Bác có thấy con lợn của tôi chạy qua đây không? Hoặc nói rõ con lợn ấy là lợn gì, to hay nhỏ, trắng hay đen, thi anh ta lại hỏi: Bác có thấy con lợn CƯỚI của tôi chạy qua đây không? Câu hỏi thừa từ cưới, vì từ cưới không phải là từ thích hợp để chỉ đặc điểm của con lợn bị sổng và cũng không phải là thông tin cần thiết đối với người được hỏi. Người được hỏi không cần biết con lợn ấy được dùng vào việc gì (đám cưới hay đám tang). Thế nhưng nó lại rất quan trọng đối với anh đi tìm lợn vì nó là cái cớ để anh ta khoe con lợn của mình. Thành ra câu hỏi của anh ta vừa có mục đích tìm lợn, vừa có mục đích khoe của, nhưng để khoe của là chính.
Anh có áo mới cũng thích khoe đến mức may được cái áo, không đợi ngày lễ, ngày Tết hay đi chơi mới mặc mà đem ra mặc ngay. Tính thích khoe của đã biến anh ta thành trẻ con. (Già được bát canh, trẻ được manh ảo mới). Nhưng trẻ con thích khoe áo mới thì đó là lẽ thường tình bởi chúng ngây thơ, trong sáng; còn nhân vật trong truyện cười này mặc áo mới với mục đích là để khoe của.
Xem thêm: Hãy kể lại một lễ hội dân gian mà em biết hoặc được tham dựCách khoe của anh ta cũng thật buồn cười: đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen. Vì nôn nóng khoe áo mới mà anh ta đã đứng mãi từ sáng tới chiều, kiên nhẫn đợi để khoe bằng được. Đợi mãi chẳng thấy ai hỏi đến, anh ta tức lắm. Đang lúc cụt hứng vì không có ai để mà khoe áo mới thì anh chàng mất lợn chạy tới hỏi thăm. Mừng như bắt được vàng, anh có áo mới vội giơ ngay vạt áo ra để khoe và trả lời rằng: Từ lúc tôi mặc CÁI ÁO MỚI này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả. Đúng ra, anh ta chỉ cần đáp là có nhìn thấy hay không nhìn thấy, nhưng anh ta lại cố tình khoe áo mới cả bằng điệu bộ lẫn lời nói. Đấy là những yếu tố thừa nhưng lại là nội dung, mục đích thông báo chính của anh ta.
Tính khoe của của nhân vật được đẩy tới tột đỉnh bằng nghệ thuật cường điệu, bởi trên đời này không có ai lại khoe của một cách vô duyên và trơ trẽn như anh lợn cưới và anh áo mới.
Đọc truyện chúng ta bật cười vì nhiều lẽ:
Trước hết là về hành động, lời nói của nhân vật. Của chẳng đáng là bao, chỉ là chiếc áo, con lợn mà vẫn thích khoe. (Đây cũng chính là đặc điểm của loại người này). Sau đó là lời khoe và cách khoe đều quá đáng và phi lí.
Tác giả dân gian đã tạo ra cuộc ganh đua gay cấn trong việc khoe của giữa hai nhân vật. Người đi tìm tợn sống mà cứ nhấn mạnh là lợn cưới. Kẻ trả lời là không thấy lợn thì lại cố đưa thêm cái áo mới của mình vào. Cái trái tự nhiên, không hợp với lẽ thường xuất hiện khiến cho tiếng cười chế giễu vang lên.
Anh áo mới đứng hóng ở cửa, kiên nhẫn đợi suốt từ sáng đến chiều mà vẫn chưa khoe được áo. Đang tức tối thì lại bị anh lợn cưới khoe của trước. Anh áo mới đã không bỏ lỡ cơ hội cả ngày chỉ có một lần để khoe áo mới trước mặt anh lợn cưới. Kết thúc bất ngờ của truyện tạo cảm giác rất hấp dẫn và thú vị cho người đọc.
Tính khoe của là thói thích tỏ ra, trưng ra cho mọi người biết là mình giàu có. Đây là thói xấu thường thấy ở những người mới giàu (giàu xổi), thích học đòi. Nó biểu hiện qua cách ăn mặc, nói năng, giao tiếp, cách trang sức và xây cất, bài trí nhà cửa lố lăng, kệch cỡm.
Tính khoe của là thói xấu của con người nói chung nhưng ở truyện này nó lại mang một sắc thái khá đặc biệt. Nhân vật trong truyện không phải là khoe tài, khoe lộc, khoe trí tuệ, học vấn, công lao đóng góp hay địa vị trong xã hội mà là khoe những thứ tầm thường, nhỏ nhặt, chẳng đáng đem khoe.
Khi khoe của đã trở thành một thói quen, một nhu cầu cần thiết đến mức không khoe không chịu được thì nó sẽ là thói xấu và thói xấu ấy làm cho những người xung quanh khó chịu. Câu chuyện dí dỏm Lợn cưới, áo mói là một bài học bổ ích cho tất cả chúng ta.
Xem thêm: Trong vai Sứ giả hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện cười Lợn cưới áo mới | 1,027 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Mẹ hiền dạy con.
Truyện Mẹ hiền dạy con trích từ sách Liệt nữ truyện của Trung Hoa, nội dung kể về cách dạy con rất nghiêm khắc và tình thương con đặc biệt của bà mẹ Mạnh Tử. Bà đã cố tạo cho con một môi trường sống tốt đẹp và dạy con vừa có đạo đức, vừa có ý chí học hành, phấn đấu.
Cốt truyện gồm năm sự việc diễn ra từ thuở Mạnh Tử còn nhỏ:
Sự việc 1: Nhà ở gần nghĩa địa, thấy con bắt chước người ta đào, chôn, lăn, khóc. Bà nghĩ: Chỗ này không phải chỗ con ta ở được nên dọn nhà ra gần chợ.
Sự việc 2: Nhà ở gần chợ, thấy con bắt chước học theo thói bán buôn điên đảo, bà mẹ nghĩ: Chỗ này cũng không phải là chỗ con ta ở được nên dọn nha đến cạnh trường học.
Sự việc 3: Nhà ở gần trường học, thấy con bắt chước lễ phép, chăm chỉ học hành, bà mẹ vui lòng nói: Chỗ này là chỗ con ta ở được lâu dài.
Sự việc 4: Thấy nhà hàng xóm giết lợn, con hỏi mẹ: Người ta giết lợn làm gì thế? Mẹ nói đùa: Để cho con ăn đấy. Biết mình lỡ lời, bà đi chợ mua thịt lợn về cho con ăn.
Sự việc 5: Con đang đi học bỏ về nhà chơi, mẹ cầm dao cắt đứt tám vải đang dệt để ngầm ví với việc con đang đi học mà bỏ học. Sau khi nghe mẹ khuyên, con học tập rất chuyên cần.
Năm sự việc trộn thể hiện ba ý như sau:
Môi trường sống ảnh hưởng, rất lớn đến việc hình thành tính cách con người.
Đề cao chữ tín trong cuộc sống.
Tác dụng của hành động và lời nói của người lớn đối với con trẻ.
Vấn đề mà bà mẹ thầy Mạnh Tử quan tâm trước hết trong việc dạy con là môi trường sống. Bà cho rằng phải tạo cho con một môi trường sống tốt đẹp thì đứa trẻ mới cỏ thể tiếp thu những mặt tích cực, những yếu tố lành mạnh để phát triển nhân cách và trưởng thành. Trẻ em rất hay bắt chước. Nếu ở môi trường sống không tốt thì sẽ bị ảnh hưởng bởi những điều không tốt. Như khi nhà ở gần nghĩa địa thì Mạnh Tử đã bắt chước người ta đào, chôn, lăn khóc. Đến lúc dọn nhà ra gần chợ thì lại bắt chước theo thói bán buôn điên đảo. Chỉ khi dọn nhà đến cạnh trường học thì bà mẹ mới yên tâm: Chỗ này mới là chỗ con ta ở được lâu dài. Mạnh Tử đã bắt chước theo thái độ lễ phép và chăm chỉ học hành của học trò. Đúng là Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng như nhân dân ta thường nói.
Xem thêm: Kể về người bạn mới quenỞ sự việc thứ tư, khi biết mình lỡ lời nói đùa, bà mẹ đã kịp thời chữa lại ngay. Không phải bà đính chính lại câu nói đùa mà bà đi chợ mua thịt lợn về cho ăn thật. Bà muốn chứng tỏ câu nói của bà là đúng. Bà phải giữ chữ tín trước con vì bà nghĩ rằng con ta thơ ấu, tri thức mới mở mang mà ta nói dối nó, thì chẳng hóa ra ta dạy nó nói dối hay sao? Mà nếu để trẻ em học nói dối từ nhỏ thì sẽ hết sức nguy hiểm. Cách dạy của bà mẹ thật khéo léo và tế nhị, giữ cho tâm hồn con trỏ trong sáng, hồn nhiên. Hơn thế, bà dạy cần phải biết quý trọng chữ tín vì nếu mất chữ tín thì không ai còn tin mình cả, do đó sẽ không thể làm tốt mọi việc.
Bên cạnh cách dạy con khéo léo, bà mẹ còn có thái độ rất kiên quyết. Phải nói rằng thái độ này của bà đã gây ấn tượng mạnh và cố tác dụng tích cực đối với con. Hành động, lời nói của bà mẹ xuất phát từ tình thương, muốn con nên người. Sự nghiêm khắc của bố mẹ có tác dụng rất lớn trong việc hướng con trai mình vào việc học tập chuyên cần để về sau trở nên bậc đại hiền.
Câu kết của truyện: Thế chẳng là nhờ có cái công giáo dục quý báu của bà mẹ hay sao? vừa là lời kể, vừa là lời bình của tác giả. Mạnh Tử trở thành người tài giỏi trước hết là nhờ công lao giáo dục và tình thương yêu của bà mẹ. Hành động cắt đứt tấm vải đang dệt và lời nói nghiêm khắc của bà mẹ đã để lại ấn tượng sâu sắc, thành bài học nhớ đời cho Mạnh Tử. Thắm thía lời dạy, từ hôm đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần.
Truyện ngắn gọn nhưng đúc kết được nhiều bài học bổ ích và thiết thực về phương pháp giáo dục con cái. Mẹ thương con chưa đủ mà còn phải biết dạy con nên người. Bà mẹ thầy Mạnh Tử là tấm gương sáng về tình thương và cách dạy con cho các bậc cha mẹ noi theo.
Dạy con trước hết phải chọn mối trường sống tốt cho con.
Dạy con trước hốt phải dạy dạo đức làm người.
Dạy đạo đức chưa đủ, còn phải dạy con lòng say mê học tập và ý chí phấn đấu trong cuộc sống.
Đối với con, không nên nuông chiều mà phải nghiêm khắc. Thái độ nghiêm khắc phải xuất phát từ tình yêu thương chân thành. Và mong muốn thiết tha con mình trở thành người có tài có đức.
Truyện Mẹ hiền dạy con tuy đơn giản nhưng lại gây xúc động sâu sắc bởi ý nghĩa to lớn của nó. Ý nghĩa ấy vượt ra ngoài phạm vi dạy con trong gia đình và mở rộng thành vấn đề giáo dục trẻ em trong toàn xã hội. Cách dạy con đúng đắn của bà mẹ thầy Mạnh Tử đã đem lại kết quả tốt đẹp. Sau này, Mạnh Tử đã trở thành một bậc đại hiền nổi tiếng trong thiên hạ.
Xem thêm: Nhân dịp cùng bố mẹ đi thăm quan (hoặc du lịch), em đã được làm quen với một người bạn mới. Dù cuộc gặp gỡ thật ngắn ngủi nhưng tình bạn ấy vẫn là một kỷ niệm khó phai | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Mẹ hiền dạy con | 1,099 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi.
Thầy bói xem voi là một truyện ngụ ngôn có nội dung giáo dục rất thâm thúy ẩn chứa dưới hình thức nghệ thuật hài hước thú vị.
Truyện ngụ ngôn là truyện không chỉ có nghĩa đen mả còn hàm chứa nghĩa bóng. Nghĩa bóng là ý nghĩa sâu kín gửi gắm trong truyện, thường là những bài học nhân sinh bổ ích cho con người trong cuộc sống.
Thầy bói xem voi kể về cuộc xem voi của năm thầy bói mù và nhận xét. Của từng người về con voi. Sự khác biệt trong nhận thức về hình dáng con voi giữa các thầy bói dẫn đến cuộc tranh luận bất phân thắng bại, thậm chí dẫn tới ẩu đả.
Từ việc chế giễu cách xem voi và nhận xét về voi rất phiến diện của năm ông thầy bói mù, người xưa khuyên chúng ta rằng khi tìm hiểu, xem xét, đánh giá các sự vật, sự việc, hiện tượng xung quanh thì phải thận trọng, kĩ càng và toàn diện để tránh những đánh giá lệch lạc, sai lầm.
Truyện ngắn gọn nhưng rất hấp dẫn bởi hàng loạt các yếu tố đặc biệt của nó: tinh huống đặc biệt, nhân vật đặc biệt, sự vật đặc biệt và cách cảm nhận sự vật của mỗi người lại càng đặc biệt. Có thể coi truyện ngụ ngôn này là một vở hài kịch nhỏ có đủ hoàn cảnh, nhân vật và mâu thuẫn kịch.
Mở đầu là cảnh năm thầy bói mù nhân buổi ế khách bèn túm tụm lại ngồi chuyện gẫu với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn là chưa biết hình thù con voi ra sao. Tình cờ đúng íúc ấy, các thầy nghe người ta nói có voi đi qua, bèn chung nhau tiền biếu quản tượng, xin cho voi dừng lại để xem. Vì mù nên năm thầy rù no chung một cách xem voi là sờ bằng tay và mỗi thầy chỉ sờ được vào một bộ phận của con voi mà thôi.
Phần mở đầu ngắn gọn nhưng chứa đựng đầy đủ những thông tin cần thiết để thu hút và dẫn dắt người đọc. Nếu coi truyện là một màn kịch thì ở đoạn này, mâu thuẫn kịch đã bắt đầu hình thành và phát triển.
Cách xem voi của năm thầy là dùng tay để sờ. Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thi sờ chân, thầy thì sờ đuôi.
Thầy nào sờ được bộ phận nào thì nhận xét về hình thù “con voi” như thế. Thầy sờ vào vòi cho rằng voi sun sun như con đỉa. Thầy sờ vào ngà bảo voi chẩn chẫn như cái đòn càn. Thầy sờ vào tai khăng khăng voi bè bè như cái quạt thóc. Thầy sờ vào chân voi thì cãi: Nó sừng sững như cái cột đình. Bốn nhận định của bốn thầy khác xa nhau nên thầy này phủ nhận ý kiến của thầy kia, Thầy thứ năm sờ vào cái đuôi thì phủ nhận tất cả bốn thầy trước: – Các thầy nói không đúng cả. Chính nó tun tủn như cái chổi sể cùn.
Xem thêm: Tưởng tượng em bị biến thành con vật xấu xíDựa trên thực tế mà mình “xem” được, mỗi thầy đều đưa ra nhận xét về hình thu con voi bằng hình thức ví von, so sánh. Điều đó làm cho truyện thêm sinh động và có tác dụng tô đậm sai lầm trong cách xem voi và lời “phán” về voi của các thầy.
Mầu thuẫn càng lúc càng tăng, không ai chịu ai vì người nào cũng cho rằng mình đúng. Tục ngữ có câu: Trăm nghe không bằng một thấy, Trăm thấy không bằng một sờ. Ở đây, các thầy đã sờ tận tay, thử hỏi còn sai vào đâu được? Do vậy, việc thầy nào cũng khẳng định rằng mình đúng là có cơ sở. Thầy nào cũng đúng nhưng khổ nỗi chỉ đúng với một bộ phận của con voi chứ không đúng với toàn bộ con voi.
Người xưa thật hóm hỉnh khi để các thầy bói mù xem một con vật khổng lồ là con voi. Các bộ phận của nó ở cách xa nhau (vòi, ngà, tai, chân, đuôi) mà các thầy đều bị mù, Không thể đi lại dễ dàng. Mỗi thầy lại chỉ sờ được có một thứ nên mới dẫn đến chuyện đấu khẩu bất phân thắng bại.
Mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khi thầy nào cũng khăng khăng bảo vệ ý kiến của mình. Cãi nhau mãi không xong tất dẫn đến cuộc ẩu đả quyết liệt, bởi vì cả nám thầy không ai chịu ại. Như vậy là cãi nhau không đi đến đâu, mà đánh nhau càng không thể dẫn đến chân lí khách quan. Cái sai nọ tất yếu dẫn đến cái sai kia. Người đọc tưởng tượng ra cảnh năm thầy bói mù gân cổ cãi nhau rồi quờ quạng đánh nhau mà cười ra nước mắt.
Biện pháp phóng đại được sử dụng triệt để trong truyện để tô đậm cái sai về nhận thức của các thầy bói xem voi.
Năm thầy bói đều sờ vào voi thật và mỗi thầy đều tả đúng một bộ phận của voi, nhưng không ai nhận xét đúng về cả con voi. Sai lầm của họ là mỗi người chỉ sờ được vào một bộ phận của con voi mà đã nhất quyết cho rằng đó là con voi. Điều đáng buồn cười là các thầy đều sai nhưng ai cũng nhận mình là đúng. Thực ra họ đều sai lầm trầm trọng bởi vì đã lấy nhận xét chủ quan về một chi tiết của sự vật để khẳng định, đánh giá toàn thể sự vật và phủ nhận ý kiến của người khác.. Cả năm thầy đều chung một cách xem voi phiến diện, dùng bộ phận để khái quát toàn thể. Truyện không nhằm chế giễu cái “mù” về thể chất (đây chỉ là chi tiết cần có của tinh huống truyện), mà muốn nói đến cái “mù” về nhận thức và phương pháp nhận thức của các thầy bói. Cao hơn thế, truyện có ý giễu cợt những người làm nghề xem bói (Thầy bói nói càn). Tiếng cười trong truyện nhẹ nhàng nhưng cũng rất thâm thúy.
Truyện là màn hài kịch ngắn nhưng chứa đựng một bài học bổ ích. Người xưa muốn thông qua truyện để nhắc nhở mọi người khi giao tiếp, vấn đề nào tìm hiểu chưa thấu đáo thi không nên thể hiện quan điểm của mình vì không thể nào có được một nhận xét đúng đắn về thực tế xung quanh (hiện tượng, sự việc, sự vật, con người) nếu chưa tìm hiểu đầy đủ, kĩ càng. Muốn kết luận đúng về sự vật thì phải xem xét nó một cách toàn diện. Những hiểu biết hời hợt, nông cạn, những suy đoán mò mẫm thiếu thực tế… chỉ dẫn đến nhận thức lệch lạc, sai lầm mà thôi.
Qua truyện, người xưa còn ngầm phê phán những kẻ thiếu hiểu biết nhưng lại hay tỏ ra thông thái. Ý nghĩa này được gói gọn trong câu thành ngữ: Thầy bói xem voi.
Xem thêm: Tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật trong truyền thuyết mà em đã học | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi | 1,251 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em về truyện ngụ ngôn Treo biển.
Người Việt Nam chúng ta rất thích Cười, dù trong bất kì tình huống, hoàn cảnh nào. Vì vậy, tiếng cười dân gian rất phong phú, có đủ cung bậc khác nhau. Có tiếng cười hóm hỉnh, hài hước để giải trí sau những giờ lao động mệt nhọc; có tiếng cười trào lộng, châm biếm để phê phán những thói hư tật xấu hay đả kích kẻ thù.
Treo biển là truyện ngụ ngôn chứa đựng ý nghĩa thâm thuý dưới hình thức tiếng cười vui vẻ, nhẹ nhàng. Nội dung kể về một ông chủ cửa hàng bán cá treo tấm biển: Ở đây có bán cá tươi. Nội dung tấm biển được một số người qua đường góp ý theo cách “nghĩ gì nói nấy”, ông chủ nghe theo, cứ bỏ dần từng chữ và cuối cùng cất luôn cái biển.
Đọc truyện, người ta thấy buồn cười vì trên đời này không có ai góp ý kiểu như vậy và cũng chẳng có ai lại dễ dàng nghe theo những lời góp ý vớ vẩn như thế. Điều thú vị là truyện lấy cái không thể xảy ra để nói đến những cái hiện tượng có thực trong cuộc sống hằng ngày. Mượn chuyện ông chủ cửa hàng bán cá nghe ai góp ý cũng làm theo, truyện ngụ ý phê phán những người thiếu chủ kiến trong cuộc sống.
Tuy ngắn gọn nhưng truyện vẫn có đầy đủ cốt truyện và nhân vật. Ngôn ngữ kể giản dị, mộc mạc nhưng hài hước, gây cười. Truyện bắt đầu từ tấm biển đề: Ở ĐÂY CÓ BÁN CÁ TƯƠI.
Nội dung tấm biển thông báo bốn ý: Ở ĐÂY chỉ rõ địa chỉ bán hàng. CÓ BÁN thông báo chức năng hoạt động của cửa hàng (bán chứ không phải là mua cá). CÁ thông báo loại mặt hàng mà cửa hàng bán ra (cá chứ khỏng phải tôm, cua…). TƯƠI thông báo chất lượng của cá.
Bốn yếu tố ấy là cần thiết cho nội dung của một tấm biển quảng cáo bằng ngôn ngữ.
Thông thường, một cửa hàng muốn bán thứ gì đều phải quảng cáo để giới thiệu hàng của mình với mọi người. Xét về mục đích thì nội dung của tấm biển trên là đầy đủ và hợp lí. Sẽ không có chuyện gì xảy ra nếu không có những lời góp ý vu vơ của một số người.
Có bốn người góp ý về tấm biển. Mỗi người bảo ống chủ bỏ bớt một yếu tố trong dòng chữ đề trên biển.
Người đầu tiên bảo:
– Nhà này xưa nay quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ phải đề biển là cá TƯƠI?
Sự đối lập giữa tươi và ươn đã đánh vào lòng tự ái của ông chủ nên ông ta vội xóa bỏ chữ TƯƠI đi. Tấm biển còn dòng chữ: Ở ĐÂY CÓ BÁN CÁ.
Người thứ hai nhìn tấm biển, cười bảo:
Xem thêm: Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng)– Người ta chẳng nhẽ ra hàng hoa mua cá hay sao mà phải đề là Ở ĐÂY?
Nghe thế, ông chủ vội xóa hai chữ ấy đi. Dòng chữ còn lại là CÓ BÁN CÁ.
Vài hôm sau, người khách khác đến mua cá, cũng cười bảo:
– Ỏ đây chẳng bán cá thì bày cá ra khoe hay sao mà phải đề là CÓ BÁN?
Ngẫm cũng cỏ lí, ồng chủ xóa liền hai chữ CÓ BÁN. Rốt cuộc, tấm biển còn mỗi chữ CÁ. Chẳng cứ ông chủ cửa hàng mà đến chính người đọc, người nghe cũng tưởng rằng đến đây thì chẳng còn gì để góp ý nữa. Nhưng người thứ tư lại bảo:
– Chưa đi đến đầu phố đã ngửi thấy mùi tanh, đến gần nhà thấy đầy những cá, ai chẳng biết là bán cá, còn đề biển làm gì nữa?
Vậy thì tấm biển treo lên là thừa, là vô ích, chủ nhà bèn cất luôn cái biển.
Thoạt nghe, ta tưởng ý kiến của từng người đều có lí nhưng nghĩ kĩ thi hóa ra không phải. Bởi vì người góp ý không hiểu được chức năng, ý nghĩa của yếu tố mà họ cho là thừa và mối quan hệ giữa nó với những yếu tố khác. Mỗi người đều lấy sự hiện diện của khách ở cửa hàng và sự trực tiếp được nhìn, ngửi, xem xét mặt hàng thay cho thông báo gián tiếp là chức năng, đặc điểm của ngôn ngữ. Vì vậy, họ chỉ quan tâm đến một hoặc hai từ mà họ cho là quan trọng mà không thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của các thành phần khác trong câu.
Đọc truyện này, ta thấy cứ mỗi lần có người góp ý là ông chủ cửa hàng không cần suy nghĩ vội làm theo ngay. Ta cười vì thái độ tiếp thu thụ động, không suy xét cẩn thận của ông ta. Ta cười vì ông ta không hiểu mục đích treo biển để làm gì và những điều viết trên biển có ý nghĩa gì.
Kết thúc truyện cũng là lúc tiếng cười vang lên bởi vì ý kiến của từng người mới nghe qua tưởng là có lí nhưng làm theo thì kết quả cuối cùng lại thành phi lí. Ta bật cười vì trên đời này có lẽ không có ông chủ nào lại nghe góp ý theo kiểu “đẽo cày giữa đường” như thế.
Treo biển là một truyện hài hước tạo nên tiếng cười vui vẻ, phê phán nhẹ nhàng những người thiếu chủ kiến trong suy nghĩ và trong hành động.
Từ truyện này, ta có thể rút ra bài học: Trong cuộc sống, chúng ta nên lắng nghe lời góp ý của mọi người nhưng không nên vội vàng làm theo khi chưa suy xét kĩ. Làm bất cứ việc gì ta cũng phải đặt ra mục đích, có chủ kiến và biết tiếp thu một cách chọn lọc và sáng tạo ý kiến của người khác để vận dụng thiết thực vào hoàn cảnh của mình. Trước khi làm việc gì cũng nên đặt ra câu hỏi: Mình làm việc ấy để làm gì? Làm như thế nào?
Qua truyện này, chúng ta cũng có thể rút ra bài học về cách dùng từ. Từ dùng phải có nghĩa, có chứa thông tin cần thiết, không dùng từ thừa và thiếu. Từ được sử dụng phải ngắn gọn, rõ rặng, chính xác, đem lại hiệu quả cao nhất trong giao tiếp.
Xem thêm: Tả lại buổi biểu diễn của một ca sĩ mà em yêu thích. | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện ngụ ngôn Treo biển | 1,122 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng.
Truyện Ếch ngồi đáy giếng là ngụ ngôn mượn chuyện loài vật để bóng gió, kín đáo nói về chuyện con người.
Từ câu chuyện kể về cách nhìn nhận, đánh giá thế giới bên ngoài chỉ qua cái miệng giếng nhỏ hẹp của chú ếch, truyện ngầm phê phán những kẻ hiểu biết hạn hẹp mà lại hay huênh hoang, khoác lác. Đồng thòi khuyên nhủ mọi người phải cố gắng mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết của mình, không nên chủ quan, kiêu ngạo.
Tuy ngắn nhưng bố cục của truyện cũng chia thành hai phần rõ rệt. Phần đầu kể về hoàn cảnh sống và trình độ hiểu biết ít ỏi của con ếch. Phẩn hai kể về hậu quả tai hại của thái độ chủ quan kiêu ngạo. Từ đó rút ra bài học cho mọi người.
Nội dung truyện có thể tóm tắt như sau: Vì sống lâu trong một cái giếng nhỏ hẹp nên ếch cứ tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng cái vung, còn nó thì oai như một vị chúa tể. Một năm nọ, trời mưa to, nước giếng tràn bờ, đưa ếch ra ngoài. Quen thói cũ, nó nhâng nháo đưa mắt nhìn lên bầu trời, chẳng thèm để ý gì đến xung quanh nên đã bị một con trâu đi qua giẫm bẹp.
Tác giả dân gian đã khéo léo tưởng tượng ra bối cảnh của truyện và tâm lí nhân vật. Tại sao con ếch lại có những suy nghĩ thiển cận như vậy?
Bởi ếch sống dưới đáy một cái giếng nhỏ nên từ dưới giếng nhìn lên, nó thây bầu trời bé xíu như cái vung nồi. Ngày nào cũng thấy như vậy nên nó khẳng định bầu trời chỉ to bằng ngần ấy mà thôi.
Dưới giếng lâu nay cũng chỉ có một vài loài vật nhỏ bé tầm thường như nhái, cua, ốc… Mỗi khi ếch cất tiếng kêu Ồm ộp vang đông, các loài vật kia đều hoảng sợ.
Xem thêm: Tả cảnh giao thừa ở bên Hồ GươmChi tiết này vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có ý nghĩa tượng trưng. Giếng nhỏ lại sâu, khi có tiếng động thi âm vang rất lớn. Giống như ở nông thôn xưa, hễ nhà ai có việc gi thì cả xóm, cả làng đều biết. Làng lại xa vua, xa quan nên bọn cường hào ác bá tha hổ tác oai tác quái, nhũng nhiễu dân lành.
Trong thế giới quá nhỏ bé ấy, ếch tự cho mình là chúa tể nên chẳng coi ai ra gì. Chưa bao giờ nò được biết thêm về một môi trường khác, một thế giới khác, cho nền tầm nhìn của nó rất hạn hẹp, trình độ hiểu biết ít ỏi, thấp kém. Thế nhưng ếch lại chủ quan, kiêu ngạo, tự cho là mình tài giỏi hơn tất cả. Điều đó đã thành thói quen, thành tật xấu của nó.
Một tình huống bất ngờ xảy ra làm đảo lộn tất cả.
Sau một cơn mưa lớn, nước giếng đầy tràn, đẩy ếch ra ngoài. Hoàn cảnh sống của ếch đã đột ngột thay đổi, từ một phạm vi rất hẹp là đáy giếng tới một phạm vi rất rộng là không gian mênh mông. Lúc đầu, ếch cứ tưởng mặt đất cũng giống như đáy giếng kia, bầu trời trên đầu nó lúc này cũng chỉ là bầu trời mà nó đã quen nhìn qua miệng giếng bấy lâu nay và nó vẫn là chúa tể.
Nhưng mặt đất thì mênh mông mà bầu trài thì bát ngát.
Muốn tồn tại, ếch phải thay đổi cách nhìn, cách sống. Nhưng quen thói cũ, ếch nghênh ngang đi lại khắp nơi và cất tiếng kêu Ồm ộp.
Cơn mưa lớn chỉ làm thay đổi hoàn cảnh sống chứ không phải là nguyên nhân dẫn đến cái chết của ếch mà nguyên nhân chính là thói kiêu ngạo, chủ quan của nó.
Thông qua truyện, người xưa khuyên chúng ta dù sống trong hoàn cảnh nào thì vẫn phải cố gắng học tập để mở rộng tầm nhìn và tầm hiểu biết. Chúng ta không chỉ học tập ở nhà trường, mà còn phải học nhiều điều trong cuộc sống. Bên cạnh trường học còn có trường đời. Trường đời là biển cả bao la về tri thức và kinh nghiệm. Chúng ta phải biết khắc phục những hạn chế của mình và không ngừng học hỏi để có được trình độ học vấn cao và tầm nhìn xa rộng; không nên chủ quan, kiêu ngạo vì chủ quan! kiêu ngạo dễ dẫn đến thất bại trong sự nghiệp và trong cuộc đời. Chúng ta nên suy ngẫm kĩ về những bài học mà truyện đặt ra, chớ nên tự biến minh thành Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung.
Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng nghiện game online | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng | 831 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sọ Dừa. Bài văn của một bạn học sinh lớp 6 tại Bắc Giang.
Sọ Dừa là truyện cổ về người mang lốt vật, được truyền tụng lâu đời trong dân gian. Truyện thể hiện ước mơ đổi đời, mong muốn những điều tốt đẹp, hạnh phúc sẽ đến với người hiền lành, lương thiện và khát vọng công lí của người xưa. Truyện còn đặt ra bài học về cách đánh giá con người: Đừng nhìn hình thức bên ngoài mà vội nhận xét bản chất bên trong. Bài học ấy được gửi gắm qua hình ảnh chàng Sọ Dừa dị dạng mà tài đức vẹn toàn.
Sự ra đời của Sọ Dừa có nhiều nét khác thường. Bà mẹ đi rừng khát nước, uống nước trong một cái sọ dừa rồi có thai sinh ra đứa con chỉ có cái đầu tròn lông lốc, thân mình, chân tay chẳng có. Bà mẹ chỉ vì thương con nên giữ lại nuôi và đặt tên là Sọ Dừa.
Các tinh tiết li kì về sự ra đời và hình dạng khác thường của Sọ Dừa thể hiện sự quan tâm của nhân dân đến một loại người đau khổ nhất, số phận thấp hèn nhất trong xã hội. Đau khổ, thấp hèn từ dáng vẻ bề ngoài, lại bị coi là “vô tích sự”. Hình ảnh cái đầu tròn lông lốc gợi sự thương cảm sâu xa của mọi người đối với nhân vật này.
Tưởng chừng Sọ Dừa là kẻ vô tích sự, nào ngờ chàng lại làm việc giỏi. Chàng thưa với mẹ hãy xin phú ông cho chàng chăn đàn bò đông đúc của ông ta. Thật khó mà tin rằng chàng làm được công việc vất vả ấy. Thế mà chi sau một thời gian, bò con nào con nấy bụng no căng, béo mượt khiến phú ông rất hài lòng.
Chăn bò cực nhọc vô cùng nhưng Sọ Dừa đã biết tạo cho mình một niềm vui… Những lúc đàn bò mải mê gặm cỏ, Sọ Dừa trút bỏ lốt quái dị, biến thành một chàng trai tuấn tú, đu đưa trên chiếc võng đào mắc giữa hai thân cây, ung dung thổi sáo. Thật là thong dong, thư thái. Lao động nặng nhọc đã trở thành niềm vui nhẹ nhàng. Sọ Dừa không những lao động giỏi mà còn tài hoa biết mấy!
Bất ngờ và kì lạ hơn cả là Sọ Dừa nhờ mẹ đi hỏi con gái phú ông về làm vợ. Nghèo hèn, dị dạng, lại làm đầy tớ cho nhà người ta, thế mà chàng lại dám làm điều thiên hạ cho là đũa mốc mà chòi mâm son. Bà mạ ngạc nhiên, thậm chí sợ hãi nhưng rồi cũng phải chiều con. Phú ông bật cười mai mỉa và thách cưới một cách nghiệt ngã, tưởng chừng giàu có cỡ nào cũng không lo nổi. Hắn định bụng trừng trị mẹ con gã đầy tớ kia một cách đích đáng. Vậy mà chỉ hôm sau, Sọ Dừa có đủ sính lễ theo yêu cầu của phú ông: mười mâm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm, một chĩnh vàng cốm. Sọ Dừa không phải là người phàm trần, chàng đã hóa phép ra tất cả.
Những đòi hỏi về sính lễ của phú ông có ý nghĩa như là một thử thách ban đầu mà Sọ Dừa phải vượt qua. Phú ông hoa mắt vì tham, nhưng rõ ràng vẫn ngần ngại, đo đó mới có chi tiết: Lão lúng túng nói với bà cụ: – Để ta hỏi con gái ta, xem có đứa nào ưng lấy thằng Sọ Dừa không đã.
Điều lão không ngờ đã xảy ra là trong khi hai cô chị bĩu môi chê bai, thi cô út đồng ý lấy Sọ Dừa. Thế là phú ông đành phải nhận lễ và gả cô út cho Sọ Dừa.
Khác với hai cô chị, cô út nhận biết được thực chất vẻ đẹp bên trong của Sọ Dừa nên đã thuận lòng lấy chàng. Trong truyện này, bên cạnh nhân vật chính là Sọ Dừa, cô Út cũng là nhân vật đáng chú ý.
Xem thêm: Em hãy tả lại phiên chợ quê hương emHai cô chị vốn tính ác nghiệt, đỏng đảnh nên thường hắt hủi Sọ Dừa. Cái định kiến sâu sắc về sự thấp kém, về sự dị hình và vô dụng đã khiến hai cô chị không thể nhìn thấy được bản chất tốt đẹp của Sọ Dừa.
Cô Út hiền lành, tính hay thương người. Ngay cả khi chưa biết gì về những điều kì lạ của Sọ Dừa, cô vẫn đối xử với Sọ Dừa rất tử tế. Phép lạ của Sọ Dừa có được là nhờ sự kết hợp của hai yếu tố: thứ nhất là dưới bề ngoài xấu xí, thực chất Sọ Dừa là chàng trai khôi ngô, tài giỏi và thứ hai là lòng thương người của cô Út.
Chính lòng thương người ấy giúp cô có dịp thấy được bên trong cái hình hài sọ dừa lăn lóc là một chàng trai khôi ngô, tài giỏi. Cô út trỏ thành bà Trạng là phần thưởng xứng đáng mà truyện cổ thường dành cho những người nhân hậu.
Như vậy, ở truyện này, giá trị,cao quý của con người không chi thể hiện ở nhân vật Sọ Dừa mà còn thể hiện ở nhân vật cô út. Nhờ cô út, giá trị của Sọ Dừa mới có thể bộc lộ và phát triển.
Cưới được con gái út phú ông, Sọ Dừa đã xóa được cái hố sâu ngăn cách giữa giàu và nghèo, giữa tầng lớp trên và tầng lớp dưới trong hôn nhân thời phong kiến. Bằng tài năng, đạo đức của mình, chàng buộc phú ông phải chịu thua. Đến lúc này, chẳng cần phải tiếp tục giấu mình trong cái lốt xấu xí nữa, Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai khôi ngô, đẹp đẽ và càng tỏ ra có tài, có đức. Chàng học giỏi, thông minh khác thường và thi đỗ Trạng nguyên rồi được nhà vua cử đi sứ ở nước ngoài. Chàng đã đạt tới tột đỉnh danh vọng cao sang. Sọ Dừa đã đem đến cho người đọc những bất ngờ hết sức thú vị.
Nhưng hạnh phúc của chàng bị đe doạ bởi lòng đố kị và sự ghen ghét của những kẻ lòng dạ xấu xa. Hai cô chị vốn khinh rẻ Sọ Dừa, nay thấy chàng thành đạt lại rắp tâm hãm hại em gái để được làm vợ quan trạng. Mưu mồ của chúng thật hiểm độc nhưng nhờ trí tuệ sáng suốt, Sọ Dừa đã dự đoán và lo xa được tất cả. Trước khi lên đường, chàng chuẩn bị chu đáo cho vợ: con dao, hai quả trứng, hòn đá lửa… để phòng thân.
Quả nhiên, khi nàng út bị hãm hại, các thứ đó đều có ích cho nàng. Dao đâm chết cá kình, đá đánh ra lửa nướng cá làm thức ăn. Đặc biệt là hai quả trứng nở ra hai con gà sớm hôm bầu bạn với nàng và tiếng gáy của chú gà trống đã báo cho quan trạng biết mà ghé vào đảo hoang cứu vợ.
Không chi có tài và trí, Sọ Dừa còn là người nhân đức và độ lượng. Trở về quê hương, chàng mở tiệc mừng sum họp. Mặc dù biết rõ lòng dạ độc ác của hai người chị nhưng chàng không một lời trách cử, chi lặng lẽ đưa vợ ra chào. Hai người chị xấu hổ, nhục nhã, âm thầm trốn đi. Vậy là quan trạng Sọ Dừa có đủ cả tài, đức, trí. Chàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc.
Người xưa đã thành công khi miêu tả hình dạng bên ngoài và phẩm chất bên trong của nhân vật Sọ Dừa có sự đối lập đến mức kỳ lạ. Dưới cái lốt kì quái, Sọ Dừa có đủ vẻ đẹp cả về hình dáng lẫn tài năng, phẩm chất tuyệt vời. Sự đối lập ấy khẳng định cái đáng quý là phẩm chất bên trong và đề cao giá trị của con người chân chính.
Trong xã hội phong kiến trọng người giàu sang, khinh kẻ nghèo hèn, người lao động khó lòng vượt qua số phận tăm tối của mình. Cho nên sự biến đổi kì diệu của Sọ Dừa chính là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú, thể hiện sức sống và tinh thần lạc quan mãnh liệt của nhân dân lao động. Còn sống là còn hi vọng, còn mơ ước, còn tin tưởng vào chiến thắng tất yếu của lòng tốt và sự công bằng trước sự độc ác, bất công của cuộc đời.
Xem thêm: Phân tích tâm trạng của người anh trong truyện Bức tranh của em gái tôi | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Sọ Dừa | 1,493 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Thạch Sanh.
Hướng dẫn
Truyện Thạch Sanh thể hiện cho vẻ đẹp của trí tuệ, tài năng và tâm hồn của con người Việt Nam. Qua câu chuyện, cha ông muốn nhắc lại một chân lí đúng đắn rằng, cái thiện bao giờ cũng chiến thắng cái ác, người tốt bao giờ cũng đánh bại kẻ xấu.
Thạch Sanh là truyện kể về người dũng sĩ thật thà mộc mạc, có sức mạnh phi thường có thể chém chằn tinh, diệt đại bàng, cứu người bị hại. Ngoài sức mạnh phi thường ấy, tiếng đàn của chàng có thể vạch mặt kẻ vong ơn bội nghĩa và làm nhụt khí quân xâm lược.
Thông qua các nhân vật trong truyện câu truyện thể hiện ước mơ, niềm tin về đạo đức, công lí xã hội và lí tưởng nhân nghĩa, yêu hòa bình của nhân dân ta. Trong truyện có nhiều chi tiết độc đáo và giàu ý nghĩa (như sự ra đời kì lạ của Thạch Sanh, cung tên vàng, cây đàn thần, niêu cơm thần…). Có thể nói, trong những nhân vật chính diện mà truyện cổ tích Việt Nam đã xây dựng nên thì Thạch Sanh là nhân vật đẹp nhất và tiêu biểu nhất.
Nhân dân đã tưởng tưởng ra cái nguồn gốc xuất thân của chàng Thạch Sach thật kì lạ. Xét về nguồn gốc thì Thạch Sanh không phải người thường. Theo truyện kể thì vợ chồng nhà họ Thạch (ở Cao Bằng), tuổi đã già mà chưa có con. Thấy họ tốt bụng, Ngọc Hoàng sai thái tử xuống trần gian đầu thai làm con. Bà mẹ mang thai nhiều năm mới sinh ra Thạch Sanh. Lớn lên, chàng lại được các vị thần dạy cho đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông. Như vậy Thạch Sanh là "người trời".Xem thêm: Viết đoạn văn phân tích mối quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
Những chi tiết về sự ra đời và lớn lên khác thường của Thạch Sanh có ý nghĩa tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ cho nhân vật lí tưởng làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện. Nhân dân quan niệm rằng, nhân vật ra đời và lớn lên kì lạ như vậy tất sẽ có khả năng, phẩm chất phi thường và sẽ lập được nhiều chiến công lừng lẫy.
Thạch Sanh là người trời nhưng khi làm con trong gia đình nông dân chàng đã thành người cõi trần, có cha mẹ, họ tên, quê quán, nghề nghiệp, cụ thể, rõ rãng. Cuộc đời và số phận Thạch Sanh rất gần gũi với nhân dân.
Thạch Sanh mồ côi cha từ khi còn ở trong bụng mẹ, rồi vừa mới lớn mất luôn cả mẹ. Chàng sống một thân một mình từ bé. Đó là đặc tính phổ biến của các nhân vật chính diện trong truyện cổ tích thần kì. Ngoài đặc điểm ấy, nhân vật Thạch Sanh còn có tính chất của nhân vật thần thoại và nhân vật anh hùng trong truyền thuyết.
Thạch Sanh sống trong túp lều cũ ở dưới gốc đa. Cả gia tài chỉ có một lưỡi rìu mà cha để lại. Thân cô, thế cô, chàng phải chịu bao khó khăn thử thách của cuộc đời. Chàng kết thân với Lí Thông và coi mẹ con Lí Thông như gia đình của mình. Thế nhưng chàng bị mẹ con Lí Thông lừa đi canh miếu thờ để thế mạng. Bằng tài năng của mình, Thạch Sanh đã diệt được chằn tinh.
Sau đó là câu chuyện công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh đã xuống hang tiêu diệt đại bàng, cứu được công chúa. Chàng bị Lí Thông cố tình hãm hại, lấp mất cửa hang. Trong khi tìm lối thoát, chàng lại cứu được con vua Thủy Tề và được tặng cây đàn thần. Trở về gốc đa, bị hồn của chằn tinh và đại bàng báo thù, bọn chúng bị Thạch Sanh hạ ngục. Nỗi oan của chàng được giải. Mẹ con Lí Thông độc ác bị trừng trị, biến thành bọ hung. Thạch Sanh được kết hôn với công chúa. Hoàng tử mười tám nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn nay lấy làm tức giận, họp nhau kéo quân sang đánh. Thạch Sanh lấy đàn thần ra gảy, quân sĩ mười tám nước rút lui. Thạch Sanh và công chúa từ đó sống hạnh phúc bên nhau.Xem thêm: Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, có tầm vóc tư tưởng cao đẹp và là một áng văn chính luận mẫu mực.
Những khó khăn, trắc trở với chàng Thạch Sanh cứ tăng dần, thử thách sau bao giờ cũng gay go hơn thử thách trước. Thạch Sanh đã vượt qua tất cả bằng tài năng, phẩm chất và sự giúp đỡ của các phương tiện thần kì. Điều đó thể hiện một lời khẳng định rằng, cái ác dù có mưu mô xảo quyệt đến đâu cũng không thể thắng được cái thiện cái đúng đắn.
Thạch Sanh được xây dựng lên là một chàng trai tuy nghèo nhưng có đủ ba điều quý giá ban đầu: sức khỏe, nghị lực và tài năng; có công cụ và mảnh đất quê hương để từ đó làm nên tất cả.Ở nhân vật Thạch Sanh, yếu tố bình thường gắn liền với yếu tố phi thường, sức người kết hợp với sức thần một cách chặt chẽ, hài hòa.Những lần bị Lí Thông và yêu quái hãm hại, Thạch Sanh không được Tiên, Bụt hiện lên giúp đỡ nhưng chàng lại có trong tay những phương tiện kì diệu cung vàng, đàn thần. Điều này thể hiện ý tưởng sâu xa của nhân dân, tài năng của chàng là tài năng của con người kết hợp với sức mạnh của thần thánh.
Tiếng đàn thần vô cùng kì diệu đã giải oan cho Thạch Sanh, vạch tội Lí Thông, làm cho công chúa hết câm, khiến cho đội quân xâm lược của mười tám nước phải mềm lòng nhụt chí, buông giáo xin hàng. Đó là tiếng nói nhân nghĩa và công lí, đại diện cho cái thiện, cho tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân.Xem thêm: Anh (chị) suy nghĩ gì về việc “chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”?
Với cây đàn thần trong tay, Thạch Sanh được miêu tả như một nghệ sĩ tài hoa, một anh hùng trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác để bảo vệ cuộc sống yên vui cho mọi người.
Giặc chấp nhận lui binh, được Thạch Sanh dọn một bữa cơm thết đãi. Niêu cơm thần kì của Thạch Sanh cứ vơi lại đầy, làm cho quân sĩ mười tám nước lúc đầu coi thường và chế giễu, sau đó phải ngạc nhiên khâm phục. Niêu cơm thần kì ấy tượng trưng cho sức mạnh tiềm tàng và tấm lòng nhân đạo cao cả, rộng lớn của nhân dân ta.
Cái kết có hậu của câu chuyện đã đáp lại cái ao ước đổi đời cho những con người nghèo khổ nhưng có tấm lòng lương thiện của nhân dân ta. Đó là thành quả đáng được hưởng sau những khó khăn thử thách mà con người đã trải qua. Câu chuyện một lần nữa khẳng định triết lí sống ngàn đời của cha ông ta, cái thiện luôn thắng cái ác, ở hiền gặp lành.
Nguồn: | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Thạch Sanh. | 1,256 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng.
Trong xã hội có rất nhiều nghề và làm nghề nào cũng phải có đạo đức. Đặc biệt có hai nghề bắt buộc phải đặt đạo đức lên hàng đầu là dạy học và làm thuốc. Truyện Thầy thuốc giỏi cổi nhất ở tấm lòng của Hồ Nguyên Trưng (con trai trưởng của vua Hồ Quý Ly), viết vào khoảng nửa dẩu thế ki XV trên dất Trung Quốc kể về một bậc lương y tinh thông nghề nghiệp và giàu lòng nhân đạo.
Truyện ca ngợi phẩm chất, cao quý của Thái y lệnh Phạm Bân: hết lòng vì dân nghèo, quên mình để cứu người, bất chấp quyền uy vua chúa cũng như sự nguy hiểm đến tính mạng bản thân.
Truyện gồm ba đoạn có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc bộc lộ chủ đề của truyện. Đoạn đầu giới thiệu tên tuổi, chức vị, công đức của Phạm Bân. Đoạn giữa kể về một tình huống gay cấn có tính chất thử thách, qua đó y đức của ông được bộc lộ rõ nhất. Đoạn cuối nhấn mạnh y đức sáng ngời của bậc lương y đã truyền cho con cháu, giúp con cháu giữ vững nghiệp nhà, tiếp tục cứu đời.
Công đức của lương y Phạm Bân rất lớn, không phải thầy thuốc nào cũng làm được như ông. Ông đã dốc toàn tâm, toàn ý, toàn lực để cứu người mà không nề hà, không tính toán thiệt hơn.
Phạm Bân đã đem hết tiền của trong nhà ra mua thuốc tốt, tích trữ thóc gạo để vừa nuôi ăn vừa chữa bệnh cho người nghèo khổ. Dẫu bệnh nặng đến đâu chăng nữa ống cũng không né tránh. Lương y làm nhà cho họ ở, chu cấp cơm cháo đầy đủ và chữa bệnh không lấy tiền, ông đã cứu sống hơn ngàn người trong những năm đói kém, dịch bệnh.
Nhưng điều làm ta cảm phục nhất là việc ông đã quyết tâm cứu sống người đàn bà nghèo trước rồi sau đó mới chữa bệnh cho quý nhân trong cung vua, dù đã có lệnh của vua.
Thái độ tức giận cùng với lời nói có ý đe dọa của quan Trung sứ: – Phận làm tôi, sao được như vậy? Ông định cứu tính mạng người ta mà không cứu tính mạng mình chăng? Đã đẩy lương y Phạm Bân vào một tinh huống éo le khó xử.
Xem thêm: Soạn bài Hoạt động tập thểĐây là một thử thách gay go buộc ông phải có sự lựa chọn đúng đắn giữa việc cứu người dân thường sắp chết với việc thực hiện phận sự của một kẻ bề tôi.
Thái độ dứt khoát và cương quyết của ông chứng tỏ uy quyền vua chúa không thắng nổi y đức của một bậc lương y chân chính, ông không sợ mắc tội “phạm thượng", không sợ nguy hiểm đến tính mạng mà chỉ nghĩ đến trách nhiệm của người thầy thuốc, ông đã vượt qua thử thách một cách nhẹ nhàng.
Phạm Bân không chỉ có trái tim nhân hậu và bản lĩnh cứng cỏi mà còn tỏ ra rất thông minh trong ứng xử. Câu nói: Nếu người kia không được cứu, sẽ chết trong khoảnh khắc, chẳng biết trồng vào đâu. Tính mệnh của tiểu thần còn trông cậy vào chúa thượng, may ra thoát đã nhấn mạnh đến trách nhiệm nặng nề của người thầy thuốc, khơi dậy tình thương và lòng bao dung của nhà vua và tỏ rõ lòng thành của một bề tôi. Nếu như nhà vua là người có lương tâm, chắc chắn sẽ cảm động và không trị tội ông.
Quả thật, lúc đầu nhà vua tức giận, nhưng sau khi nghe Thái y lệnh trình bày thì không những hết giận mà còn ban khen. Điều dó chứng tỏ Trần Anh Vương cũng là một ông vua sáng suốt và nhân đức.
Phạm Bân lấy tấm lòng chân thành của mình để tấu trình điều hơn lẽ thiệt, từ đó thuyết phục được nhà vua. Đây là thắng lợi vẻ vang của y đức, của bản lĩnh, trí tuệ và lòng nhân ái.
Kết thúc truyện, tác giả kể về con cháu cửa Thái y lệnh và sự ngợi khen của người đời đối với gia đình ông. Sự nghiệp của lương y Phạm Bân và con cháu ông đã chứng minh cho quan niệm Ở hiền gặp lành?. Tên tuổi của ông cón lưu truyền mãi trong dân gian.
Truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng mang tính chất giáo huấn khá rõ. Cách viết gần với cách viết kí, viết sử, nghĩa là thiên về ghi chép chuyện người thật việc thật mà không cần thêm thắt. Truyện có bố cục chặt chẽ, hợp lí và cách dẫn dắt gây hứng thú cho người đọc. Tác giả đi chọn lọc và nhấn mạnh vào một tình huống gay cấn (đó là chỉ tiết có thật) để qua đó tính cách nhân vật chính được bộc lộ rõ ràng, gây ấn tượng khó quên. Trong khi thể hiện tính cách nhân vật, tác giả còn tạo ra những lời đối thoại sắc sảo, chứa dựng ý tứ sâu xa. Do đó, truyện vừa có giá trị nội dung lớn, vừa có già tri nghệ thuật cao.
Xem thêm: Đọc truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” của Puskin và kể lại theo ngôi thứ nhất lời của ông lão đánh cá | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng | 939 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước qua hai tác phẩm “Sài Gòn tôi yêu” (Minh Hương) và “Mùa xuân của tôi” (Vũ Bằng)
Gợi ý
Nhà phê bình Hoài Thanh từng viết: “Văn chương… luyện những tình cảm ta sẵn có”. Một trong những thứ tình cảm mà văn chương đã tôi luyện cho con ngựời đó là tình yêu quê hương đất nước. Qua hai văn bản "Sài Gòn của tôi" và "Mùa xuân của tôi" tác giả Minh Hương và Vũ Bằng chẳng những đã thê hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết mà.còn “luyện” sâu cho độc giả tình cảm thiêng liêng, quý báu đó.
"Sài Gòn tôi yêu" là mối tình dai dẳng bền chặt đối với Sài Gòn, là tình yêu và niềm tự hào của tác giả Minh Hương. Cảnh sắc thiên nhiên, khí hậu và thời tiết, cư dân ở đây được tác giả cảm nhận rất sâu sắc. Ngay từ đầu bài văn, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp đặc trưng của Sài Gòn qua cách đối chiếu, so sánh và ẩn dụ khéo léo. Đối chiếu ba trăm năm tuổi của Sài Gòn với bôn ngàn năm lịch sử của đất nước, nhà văn đã khẳng định "Cái đô thị này còn xuân chán". Và hình ảnh so sánh độc đáo "Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà", hình ảnh ẩn dụ: Cái đô thị ngọc ngà này…". Thành phố Sài Gòn quả thực rất tươi trẻ, đang độ xuân xanh, khỏe khoắn vươn cao tràn trề sức sống nhưng lại theo gọn trong hình hài của ngọc ngà, quý hiếm. Bên cạnh đó còn có những cụm từ "còn", "cứ", "đương"… biểu hiện rõ sự trỗi dậy sức xuân, tràn đầy hứa hẹn, tình cảm mến yêu với mảnh đất này. Sự phát hiện và tình cảm của tác giả phong phú, tinh tế và nồng nàn hơn bởi tình cảm đang trỗi dậy, không nén nối cảm xúc của mình. Đó là tình yêu chân thành mãnh liệt, đắm say, cuồng nhiệt đôi với thành phố Sài Gòn. Đặc biệt, tác giả đã khéo léo trong việc sử dụng biện pháp so sánh, phép liệt kê và đại từ "yêu" được nhắc lại tới sáu lần kết hợp với nhịp văn nhanh gấp. "Tôi yêu Sài Gòn da diết như người đàn ông ôm ấp mốì tình đầu chứa nhiều ngang trái". Thành phô’ Sài Gòn như một người bạn tình, một người bạn tri âm tri kỉ. Qua sự cảm nhận về khí hậu của Sài Gòn, tác giả như một lần nữa muốn nhấn mạnh tình cảm đó. Không yêu, không đắm say thì sẽ không phát hiện ra những gì riêng biệt nhất của Sài Gòn. Nào là yêu "nắng sớm, yêu những buổi chiều lộng gió. Nào là đang ui ui bỗng trong vắt như thủy tinh. Sự thay đối đột ngột, bất ngờ của thời tiết kỳ diệu làm sao! Trong thời tiết ấy, nhịp điệu cuộc sống của thành phố lúc thì náo động, dập dìu xe cộ lúc thì "đêm khuya thưa thớt tiếng ồn hay" cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương. Tất cả các biện pháp nghệ thuật trên đều nhấn mạnh tình cảm của tác giả và thể hiện sự phong phú nhiều vẻ của thiên nhiên, khí hậu Sài Gòn.Xem thêm: Em hãy viết bài văn ngắn tóm tắt giá trị hiện thực và nhân đạo của đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” (trích vở chèo “Quan Âm Thị Kính”) Không chỉ yêu thiên nhiên, khí hậu nơi đây mà đó còn là sự cảm nhận về phong cách người Sài Gòn. Đó là: tự nhiên, chân thành, bộc trực, dễ cỏi mở, mạnh bạo mà vẫn ý nhị. Bằng sự hiểu biết lâu bền của mình về con người Sài Gòn suốt năm mươi năm được gần gũi họ. Những nét tính cách ấy được thế hiện qua đời sống hàng ngày và hoàn cảnh thử thách của lịch sử: bất khuất, dũng cảm, kiên cường… tạo nên phong cách riêng của người Sài Gòn. Dù trong mỗi câu văn không nhắc đến từ "yêu" nào nhưng đã bộc lộ biết bao tình cảm mến yêu, tình nghĩa đối với mảnh đất thân yêu máu thịt này. Bằng giọng văn nhẹ nhàng, sự cảm nhận độc đáo và tinh tế của tác giả thành phố Sài Gòn hiện lên thật năng động, trẻ trung và xiết bao yêu thương! Qua sự gắn bó lâu bền, am hiểu tường tận về thành phô của mình tác giả đã gửi gắm biết bao nhiêu tình cảm với mảnh đất quê hương nhưng tình cảm nồi bật nhất trong từng đoạn văn, câu văn là tình yêu quê hương đất nước. Có lẽ rằng, xuất phát từ tình cảm chân thành này mà tác giả mới viết nên văn bản độc đáo "Sài gòn tôi yêu".
Không bao quát mọi mặt đời sống xã hội và thiên nhiên nơi mảnh đất mình yêu quý như tác giả Minh Hương, trong đoạn trích "Mùa xuân của tôi", nhà văn Vũ Bằng tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc qua nỗi nhớ thương da diết của người con xa quê.Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bể… Tác giả đưa người đọc ngược về quá khứ, trở lại với những tháng năm sông ở Hà Nội của mình đế hưởng thụ tất cả sức sống tràn trề của mùa xuân; đế lớn lên, trẻ lại cùng mùa xuân xứ sở. "Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của – Hà Nội". Nhà văn Vũ Bằng đã nhớ về quê hương bằng cầu văn ngân nga, như những tiếng reo vui như thế. Mùa xuân cúa riêng tôi — mùa xuân của Bắc Bộ, mùa xuân của Hà Nội là mùa xuân gần hơn nữa; riêng tư hơn nữa bởi mùa xuân đó chính là mùa xuân của quê hương mà tác giả ngày đêm đau đáu hướng về. Bằng phép điệp từ "mùa xuân" được nhắc đi nhắc lại bốn lần trong một câu văn như khơi nguồn cho mạch cảm xúc dâng trào, nối liền hiện tại với quá khứ, đưa tác giả từ miền Nam xa xôi trở về sông trong lòng của mùa xuân Hà Nội quê hương yêu dấu. Nhớ về mùa xuân của Hà Nội, nhớ về mùa xuân của quê mình, tác giả sứ dụng liên tiếp các điệp từ làm nổi bật cái đặc trưng của mùa xuân Thủ đô yêu dấu. Đó là tiết trời “gió lành lạnh”, “mưa riêu riêu”, tiếng trống của đêm hội chèo vang lên trong đêm xanh, những câu hát tỏ tình ngọt ngào của đôi trai gái yêu nhau vọng lại,… Nhiều sự vật như từ mùa đông còn vương lại nhưng lại có cái ấm áp, nồng nàn của khí xuân. Tất cả reo vui rằng mùa xuân quê hương đã về, không khí êm đềm trong trẻo mơn man đã tràn ngập bao trùm lên mọi cảnh vật.
Mùa xuân đã khơi dậy ở con người ta sức sống tiềm tàng và làm cho nó trở nên mạnh mẽ. Đó là sự biểu hiện của sức sống: Không uống rượu rồi cũng phải phát say, nhựa sống như trong người căng lên như lộc của loài nai như lộc của mầm non tuôn trào. sức sống kỳ diệu của mùa xuân – một mùa xuân thần thánh tiềm chứa sức mạnh thiêng liêng, huyền bí. Tất cả như đang hồi sinh, khơi dậy khát vộng cao đẹp nhất của con người đó là khát khao sông và yêu thương. Mùa xuân cùng với ngày tết cũng là dịp sum họp của gia đình, nó thôi thúc trong lòng người tình cảm gia đình gắn bó, hướng về cội nguồn. Với những giọng điệu thiết tha và dòng chảy cảm xúc tuôn trào mạnh mẽ, tác giả đã giúp ta cảm nhận được những điều kỳ diệu của mùa xuân đem đến: nó tiếp thêm cho ta tình yêu quê hương, khơi dậy trong ta những giá trị tinh thần cao quý. Một mùa xuân đẹp quá, vui quá, một mùa xuân ngọt lành trong trẻo và đáng yêu làm sao. Trên mảnh đất hôm nay, người chiến sĩ phải rời xa quê hương, sinh sống trên đất khách quê người thì tình yêu quê hương, nỗi nhớ da diết quê hương sẽ không phai mờ trong anh.Xem thêm: Nghị luận xã hội về văn hóa cảm ơn Hai nhà văn phải thân thiết, gắn bó với mảnh đất quê hương đến nhường nào thì mới viết nên những áng văn đặc sắc đến thế. Hai văn bản gợi lên trong ta biết bao cảm xúc nhưng, tình yêu quê hương đất nước của tác giả được thế hiện sâu lắng và đậm nét qua sự cảm nhận về thành phố Sài Gòn và mùa xuân Hà Nội. Hai bài tùy bút đã giúp người đọc tận hưởng được những tình cảm nồng nàn, đằm thắm và tình yêu bền chặt, thủy chung với mùa xuân quê hương và thành phố yêu dấu. Đó là tình yêu mến, tự hào về quê hượng, là sự ngưỡng mộ, đắm say mùa xuân Hà Nội. Cùng là tình yêu thương quê hương nhưng sự biểu hiện lại có những nét riêng đặc biệt không thế trộn lẫn.
Tình yêu quê hương đất nước là tiếng nói chung mà hai văn bản muôn gứi gắm đến chúng ta và để nhắc nhở chúng ta rằng:
“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”.
(Đỗ Trung Quân)
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước qua hai tác phẩm “Sài Gòn tôi yêu” (Minh Hương) và “Mùa xuân của tôi” (Vũ Bằng) | 1,664 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo.
Đeo nhạc cho mèo là một truyện ngụ ngôn hài hước, thú vị, chứa đựng ý nghĩa xã hội sâu sắc. Truyện kể về cuộc họp mặt của làng chuột để bàn cách chống mèo. Chuột cống có sáng kiến đeo nhạc cho mèo để mèo đi đến đâu, chuột sẽ biết trước mà tránh. Cả họ nhà chuột đồng tình với sáng kiến đó nhưng không ai dám đi đeo nhạc vào cổ mèo. Cuối cùng, chuột vẫn cứ bị mèo ăn thịt và mãi mãi khiếp sợ mèo.
Thông qua truyện, người xưa muốn phản ánh đôi nét hiện thực của cuộc sống đương thời dưới xã hội phong kiến trì trệ và đầy mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với giai cấp bị trị. Đồng thời đặt ra bài học thiết thực về mối quan hệ giữa lí thuyết với thực hành; giữa nói và làm trong mọi công việc lớn nhỏ của cuộc sống hằng ngày. Nếu lí thuyết không thể biến thành hiện thực thì đó chỉ là thứ lí thuyết suông, làm tốn thời gian tranh cãi, bàn bạc một cách vô ích.
Truyện bắt đầu bằng nỗi sợ hãi truyền kiếp của loài chuột đối với loài mèo; Tự bao giờ đến giờ, mèo cứ xơi chuột luôn mãi, nên chuột mới đẻ ra là đã sợ mèo rồi. Họ nhà chuột căm giận mèo lắm. Một hôm, mới hội cả nhau lại làm một làng chuột để chống lại mèo. Lí do họp làng thật chính đáng: vừa bàn cách chống tổn thất, vừa để con cháu chuột mãi mãi về sau không sợ mèo; cả xã hội loài chuột có mặt đông đủ trong cuộc họp lạ lùng này: … nào anh Chù, mùi hôi đến nỗi thành câu ca, nào chú Nhắt,… nào ông Cống, rung rinh béo tốt, quan trường lại chấm cho ở trên ông Đồ… Bút pháp dân gian miêu tả khéo léo, tài tình đã làm nổi bật hình dáng, tính nết của từng loài chuột và nghệ thuật nhân hoá đặc trưng của ngụ ngôn đã tạo nên bức tranh sinh động về xã hội loài chuột, phảng phất hình bóng xã hội loài người.
Chuột Cống (loại chuột lớn nhất), tự cho mình là thông minh hơn cả đã đưa ra sáng kiến đeo nhạc cho mèo: Cái giống quái kia sở dĩ nó chụp được anh em mình chỉ vì trời phú cho nó cái tài rình mò và khéo bắt lén mà thôi. Bây giờ, bà con ta nên mua một cái nhạc buộc vào cổ nó, để khi nào nó đến, nghe tiếng nhạc, ta biết đường chạy trước, thì nó còn làm gì nổi ta nữa.
Chuột Cống nêu nguyên nhân vì sao mèo hại được chuột, rồi đưa ra cách giải quyết thật nhẹ nhàng và khẳng định chắc chắn là mèo không còn làm gì nổi loài chuột nữa. Lời lẽ của chuột cống mới nghe qua thấy đúng. Mèo thường rình chuột rất kín đáo và vổ chuột bất ngờ nên chuột không sao tránh kịp. Bây giờ đeo nhạc (lục lạc) vào cổ mèo thì mèo đi đến đâu, tiếng nhạc sẽ vang lên, báo cho chuột biết trước mà trốn. Ý kiến của chuột Cống hay tới mức xua tan được nỗi sợ hãi bấy lâu và khơi dậy niềm hi vọng thoát khỏi nanh vuốt của mèo, khiến cả làng chuột nghe nói, dầu mõm, quật đuôi, đều lấy làm phục cái câu chỉ ụ của ông Cống và đồng thanh ưng thuận.
Vậy là sáng kiến của chuột cống đã được tán đồng. Bước một (lí thuyết) đã xong, cái lục lạc cũng đã kiếm được rồi, hội đồng chuột lại họp để bàn bạc cử người đi đeo nhạc vào cổ mèo (bước hai – thực hành).
Hãy xem không khí vui mừng, náo nhiệt của làng chuột: … con nào con nấy lao xao hớn hở, bảo nhau đã sắp tới ngày thoát được cái ách ông Miu ranh mãnh rồi.
Nực cười thay, lúc hội đồng hỏi ai dám đem nhạc đeo vào cổ mèo, tức là thực hiện cái sáng kiến tuyệt vời ấy thì cả hội đồng im phăng phắc, không một cái tai nào nhích, một cái răng nào nhe cả. Trái ngược với lúc nghe chuột cống nói, làng chuột con nào con nấy dẩu mõm, quật đuôi, lao xao, hớn hở. Những chi tiết đối lập này có ý nghĩa mỉa mai, châm biếm sâu sắc. Không ai dám nhận công việc vô cùng nguy hiểm đến tính mạng ấy nên làng chuột đành cử ông Cống phải đi, vì chính ông cống đã xướng lên cái thuyết đeo nhạc vậy. Mọi người cho rằng chuột Cống nói được ắt phải làm được.
Xem thêm: Nêu suy nghĩ của em về chú ếch trong truyện ngụ ngônẾch ngồi đáy giếng. Từ câu chuyện này em rút ra bài học gìĐây là điều bất ngờ với chuột cống vì nó cho rằng mình chỉ là người đưa ra cách chống mèo thôi, còn thực hiện ắt phải là kẻ khác. Cho nên nghe vậy, Cống ta trong lòng tuy nao (lo sợ), mà ngoài mặt làm ra bộ bệ vệ kẻ cả, nói ràng: Tôi đây, chẳng gì nhờ tổ ấm cũng được vào bậc ông Cống, ông Nghè, ăn trên ngồi trước trong làng, có đâu làng lại cắt tôi đi làm cái việc tầm thường ấy được! Trong làng ta nào có thiếu chi người! Tôi xin cử anh Nhắt, anh ấy nhanh nhảu chắc làm được việc.
Chuột Cống tinh ranh vịn ngay vào chức vị của mình (kẻ trên), nêu ra sự bất xứng giữa chức vị ấy với cái việc tầm thường (đeo nhạc vào cổ mèo) và vội vàng đùn đẩy phần nguy hiểm sang cho kẻ khác (đề cử chuột Nhắt). Đáng cười ở chỗ lúc nêu ra sáng kiến đeo nhạc cho mèo, chuột cống cho đây là đại sự (việc lớn), đến lúc bị làng cắt phải làm, chuột cống lại từ chối khéo với lí do đó là việc tầm thường, không xứng với địa vị, chức tước, tài năng của mình.
Chuột Nhắt vốn láu cá. Nó chẳng dại gì nhận phần nguy hiểm nên cãi lí rằng: – Làng cắt tôi đi, tôi cũng xin vâng, không dám chối từ. Nhưng tôi, dù bé vậy, mà cũng còn ở chiếu trên, chưa đến nỗi nào. ông Cống không đi, phải; tôi đây không đi, cũng phải. Để xin cắt anh Chù, anh ấy tuy chậm, nhưng chắc chắn, làng không lo hỏng việc. Chuột Nhắt khôn ở chỗ lấy ngay cái lí do của chuột Cống làm lí do của mình (xét địa vị trong làng chuột), khẳng định mình không phải làm vì còn ở chiếu trên, tức là chưa phải hạng cùng đinh. Đồng thời Nhắt nhanh nhảu tiến cử ngay chuột Chù là kẻ bị khinh rẻ nhất trong làng chuột.
Chuột Chù thấp cổ bé miệng, không biết cãi sao đành chấp nhận nhưng cũng không khỏi lo lắng: – Tôi là đầy tớ làng, làng sai tôi đi là phải lắm. Nhưng tôi chỉ sợ, nếu tôi đến gần mèo mà mèo thịt tôi thì rồi lấy ai thay tôi mà buộc nhạc được nữa. Câu nói thật thà của Chù đã được chuột cống chớp nhanh chẳng kém gì mèo vồ chuột: – Mèo nó có vờn là vờn chúng tao, vờn cái anh Nhắt kia, chớ chú mày hôi hám như thế, thì nó bắt mà thèm vào. Thôi cứ nhận đi ngay đi, không được nói lôi thôi gì nữa. (Quả thật mèo không ăn thịt chuột Chù). Thế là chuột Chù đành phải vác nhạc đi tìm mèo. Chuyện làng chuột mà y như chuyện hội đổng làng xã ngày xưa. Cuối cùng, kẻ có địa vị thấp kém nhất thường phải làm những công việc vất vả và nguy hiểm nhất.
Cảnh chuột Chù vác nhạc đi tìm mèo để đeo vào cổ nó (thực hành cái sáng kiến được cho là chí lí của chuột Cống) được miêu tả thật sinh động và hài hước: Khôn chưa trông thấy mèo, mới nghe thấy tiếng, Chù đã sợ run cả mình, không dám tiến. Tuy không bị mèo vồ nhưng khi thấy mèo nhe nanh giương vuốt là Chù vội cắm đầu, vác cái thân ì ạch chạy khốn chạy khổ về báo cho làng hay. Thái độ của làng chuột cũng thảm hại chẳng kém, mới nghe Chù báo đã hoảng sợ, bỏ chạy tán loạn, chẳng ai hỏi đến cái nhạc, nó bon đi đâu và bon tự bao giờ không biết. Thành ra từ đó, chuột vốn sợ mèo, vẫn hoàn sợ mèo mãi.
Sáng kiến của hội đồng chuột đưa ra thật hay, thật hấp dẫn nhưng bất ngờ và đáng buồn cười là từ kẻ hiến kế cho đến kẻ bị bắt đi đeo nhạc, từ hạng có địa vị cao đến hạng cùng đinh, không một ai đủ can đảm để thực hiện diệu kế ấy. Kẻ bị bắt buộc phải làm thi ươn hèn, dốt nát, làm sao cố thể cáng đáng được công việc lớn lao! Rốt cuộc, chuột vẫn sợ mèo.
Đeo nhạc cho mèo là một truyện ngụ ngôn đặc sắc, có ý nghĩa thâm Thúy. Trí tưởng tượng phong phú của dân gian đã xây dựng nên hình ảnh sinh động về xã hội loài chuột nhưng mang đậm nét của xã hội loài người với những hạng người có cá tính khác nhau. Cái hội đồng chuột trong truyện đâu có khác với cái hội đồng làng xã trong chế độ phong kiến xưa kia, quanh năm bận rộn họp hành, bàn cãi toàn chuyện tưởng như đại sự nhưng cuối cùng thì chẳng làm được việc chi có ích, chỉ tốn phí thời gian, tiền của mà thôi.
Truyện còn ngầm phê phán cách suy nghĩ viển vông và đưa ra bài học thiết thực đối với mỗi người: Trước khi làm gì, ta nên suy xét, cân nhắc cho thật kĩ khả năng thực hiện vấn đề đó, kẻo uổng công vô ích. Truyện còn phê phán những kẻ tham sống sợ chết, chỉ biết nói mà không dám làm. những lúc gặp khó khăn nguy hiểm thi vội vàng trút hết trách nhiệm cho người khác.
Xem thêm: Kể lại một kỉ niệm mà em nhớ mãi trong quãng đời học trò đã qua | Phát biểu cảm nghĩ của về truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo | 1,782 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.