text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Phát biểu cảm nghĩ khi đọc “Tiếng chổi tre” của nhà thơ Tố Hữu
Gợi ý
Bài thơ Tiếng chổi tre của nhà thơ Tố Hữu in trong tập Gió lộng, gồm những bài thơ sáng tác từ năm 1945 – 1961, thời kì nhân dân miền Bắc đang phấn đấu xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Bài thơ thể hiện rõ thái độ trân trọng và ca ngợi người lao động, dù là người lao động hết sức bình thường. Đây là một bài đạo đức sâu sắc cho tất cả mọi người, nhát là ở lứa tuổi học sinh đang cắp sách đến trường.
Nhân vật trong bài thơ là người nữ công nhân quét rác. Chị giữ gìn đường phố sạch đẹp một cách âm thầm trong đêm tối không mấy ai biết đến, nhưng chị đã góp phần làm đẹp thành phố, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới.
Cuộc sống vất vả ấy được nhà thơ miêu tả qua tiếng chối tre quét rác trong những đem hè oi bức hay đêm đông giá rét, lúc mọi người đang ngủ sau một ngày học tập, lao động mệt nhọc. Mỗi người công nhân phụ trách một đoạn đường, họ lầm lũi làm việc. Nỗi cực khổ như tăng thêm trong hoàn cảnh ấy:
Những đêm hè
Khi ve ve đã ngủ
Tôi lắng nghe
Trên đường Trần Phú
Tiếng chổi tre
Xao xác hàng tre
Tiếng chổi tre
Đêm hè quét rác
Trong đêm khuya tĩnh mịch, nổi lên tiếng chổi soàn soạt trên mặt đường nhựa. Tiếng chổi như một âm thanh đều không dứt, tạo thành âm điệu chung cho cả bài thơ. Nó đặc tả sự vất vả, khó nhọc, kéo dài, không ngừng, không nghỉ:Xem thêm: Em hãy đọc phần văn bản sau: "Những ngón chân... thành bệnh”. Dựa vào phần văn bản trên đây, em hãy viết bài văn nêu cảm nghĩ của em về đôi bàn tay, ... của một người mà em yêu quý (cha, mẹ hoặc ông, bà, thấy, cô giáo, ...)Những đêm động
Khi cơn giông vừa tắt
Tôi đứng trông
Trên đường lặng ngắt
Chị lao công
Như sắt, như đồng
Chị lao công
Đêm đông
Quét rác.
Ở khổ thơ thứ nhất, mới nổi lên tiếng chổi tre xào xạc. Đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh chị công nhân quét rác được tác giả miêu tả với tình cảm thật trân trọng. Cái rét buốt của đêm đông, không gian vắng vẻ càng làm tôn vẻ đẹp của chị. Nhà thơ so sánh chị như bức tượng đồng thể hiện nét khỏe khoắn, đáng yêu của người phụ nữ lao động. Tấm lòng nhân ái của tác giả ẩn chứa sau từng câu, từng chữ.
Phố xá được dọn dẹp sạch sẽ từ ban đêm. Sáng hôm sau những gánh hoa từ các làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp theo đường Trần Phú, Điện Biên Phủ xuôi về các chợ trong thành phố. Hoa hồng, hoa cúc ngát hương, thược dược, cam chướng rực rỡ… Gách hoa đi đến đâu, con đường như nở rộ đến đó:
Sáng mai ra
Gách hàng hoa
Xuống chợ
Hoa Ngọc Hà
Trên đường rực rỡ
Hương bay xa
Thơm ngát
Đường ta…
Những con đường sạch sẽ không một chút rác rưởi vây bẩn màu hoa, không chút hôi hám làm vẩn đục hương hoa tinh khiết. Cuộc đời đẹp biết bao nhiêu! Có ai biết, ai nhớ tới công lao của những nữ công nhân quét rác?
Nhà thơ nhắc nhở hoa:Xem thêm: Kể lại kỷ niệm quê hương và nêu cảm nghĩ của emNhớ nghe hoa
Người quét rác
Đêm qua
Nhắc nhở các em nhỏ:
Nhớ nghe em
Tiếng chổi tre
Chị quét
Những đêm hè
Đêm đông
Gió rét…
Hãy luôn luôn nhớ để biết ơn, để kính trọng người lao động, từ đó có ý thức giữ gìn thành quả lao động, góp phần làm đẹp quê hương:
Giữ sạch lề,
Đẹp lối
Em nghe!
Lời nhắn nhủ chân tình ấy đã gây xúc động thật sự trong mỗi chúng ta.
Ý nghĩa bài thơ không chỉ dừng lại ở chỗ khuyên nhủ các em nhỏ hãy giữ gìn vệ sinh nơi đường phố mà sâu xa hơn, nó lại một bài học đạo lí: Hãy yêu thương, trân trọng và biết ơn người lao động. Nếu làm được như vậy, chúng ta đã góp phần xây dựng và bảo vệ nếp sống văn hóa, văn minh – nếp sống đạo đức truyền thống dân tộc. Và điều ấy thực sự cần thiết cho mỗi con người.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ khi đọc “Tiếng chổi tre” của nhà thơ Tố Hữu | 730 | |
Phát biểu cảm nghĩ trước một sự việc em gặp trong cuộc sống
Gợi ý
Cuộc sống quanh ta không yên ả như ta vẫn nghĩ. Hãy một ngày sống chậm lại để nhìn mọi điều quanh mình, ta sẽ thấy có nhiều điều cần phải suy nghĩ.
Một ngày cuối năm, màn đêm bắt đầu buông xuống thành phố. Tôi quấn thêm một chiếc chăn ủ bằng bông vào đứa em gái vừa tròn 14 tháng tuổi: bây giờ ba sẽ đưa tôi và em từ nhà ngoại trở về nhà. Đến ngã tư, xe chúng tôi phải dừng lại vì đèn đỏ. Trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi đó, tôi chợt nhận ra chút ngọ nguậy cử động quen thuộc: hai chiếc chân nhỏ xíu khẽ huơ huơ như đạp vào vô định – đứa em nhỏ của tôi vẫn thường làm thế mỗi khi được thay bỉm. Nhưng bây giờ, đó là hành động của một đứa bé đang nằm co ro dưới chốt đèn. Đứa bé nhỏ hơn cả em tôi, không một mảnh vải che thân. Em chơi vơi một mình giữa những dòng xe xuôi ngược, mặc cho sương gió, bụi đường và biết đâu cả lũ muỗi đói vây quanh. Ánh đèn ô tô chói sang, người qua đường có thể thấy được những chiếc xương sườn hằn lên cái thân gầy gò đen đủi. Ai đặt vào tay em một cái bình sữa cáu bẩn và một cái nón kế bên để mong nhận được đồng tiền bố thí.Xem thêm: Nhiều ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh. Anh (chị) có đồng ý như vậy không? Hãy nêu ý kiến của mình, phân tích để làm sáng tỏ
Niềm vui năm mới của tôi chợt tắt lịm. Lòng tôi dấy lên một sự phẫn nộ. Ai đã tạo ra thảm cảnh này? Để có được những đồng tiền bố thí, họ đã không ngần ngại “tra tấn” đứa bé. Em có tội gì mà phải chịu cảnh đau khổ này? Một con chó hoang cũng còn có bộ lông để che ấm giữa đêm lạnh. Còn em, giọt máu của ai đó mà bị đọa đày chơ vơ giữa chợ đời? Với đôi mắt nhắm nghiền và làn da tím tái, em nằm giữa phố phường đông vui, nhộn nhịp, ấm áp và xôn xao chờ Tết đến. Tôi tin rằng không phải không có ai có thể nâng em dậy và đưa em về, cho em một mái ấm… mà là có người đã nhẫn tâm không cho em được sống một cuộc sống bình thường. Đã có người động lòng thương, nhanh tay rút tiền thả vào chiếc nón. Rồi số tiền ấy sẽ được một người nào đó đến thu gom. Và để rồi ngày mai em nhỏ lại bị lột trần truồng ném ra giữa trời đất, dưới cái nắng chói chang, giữa những ngọn gió lạnh của trời đêm…
Những giọt nước mắt thương xót em rơi dài trên má. Cuộc sống còn bao nhiêu cảnh đau xót như thế này? Đạo đức không làm lòng người lay chuyển nhưng luật pháp có khiến người ta hay đổi hành vi? Chỉ mong những cảnh ngộ như thế này sẽ không còn xảy ra trong tương lai và những kẻ gây ra tội ác sớm được phát hiện và đưa ra xử lý.Xem thêm: Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ hay nhấtVanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ trước một sự việc em gặp trong cuộc sống | 581 | |
Phát biểu cảm nghĩ về anh Khoai trong “Cây tre trăm đốt”
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
– Cây tre trăm đốt kết thúc bằng cảnh tượng thất bại của tên trưởng giả.
– Anh Khoai xứng đáng được hưởng thắng lợi.
B. THÂN BÀI:
– Anh Khoai cần cù lao động, đã làm giàu cho tên trưởng giả.
– Anh Khoai là người hiền lành ngay thật.
– Sự giúp đỡ của Bụt.
– Kết cục, anh Khoai lấy được nàng út.
C. KẾT LUẬN:
Anh Khoai là hình ảnh tiêu biểu của một tầng lớp nông dân Việt Nam với đầy đủ đức tính tốt.
BÀI LÀM
Cây tre trăm đốt là câu chuyện dân gian quen thuộc đối với chúng em. Thật không thể nín được cười khi hình dung ra cảnh tượng: cây tre dài ngoằng một trăm đốt, một dãy người từ lão trưởng giả độc ác đến tên cai tổng tham lam với thằng con trai của hắn dính chặt vào đó, cuống quỵt giẫy giụa, kêu khóc om sòm. Tiếp theo đó là cả một ngôi làng người mặc áo rộng, mặt tái xanh, tóc gáy dựng đứng, chắp tay vái lạy anh Khoai, xin anh tha thứ.
Anh Khoai đã giành được thắng lợi, anh rất xứng đáng với thắng lợi đó.
Cũng như bao nhân vật nghèo trong truyện cổ mà em đã được đọc, anh Khoai là một chàng trai rất nghèo, lại mồ côi từ bé, phải đi ở và làm thuê cho một gia đình phú ông để nuôi thân. Anh đã làm việc rất siêng năng và đem lại không biết bao nhiêu chum khoai bồ thóc cho gia đình lão chủ. Nhưng hắn ta thấy anh thật thà, nên tìm cách quịt công anh, làm việc cực khố cả mấy năm mà không được một xu tiền công. Hắn còn độc ác tìm cách lừa gạt để xóa công anh bàng cách hứa gả cô út cho anh. Nhưng anh Khoai vốn là người thật thà, tin lời lão chủ. Mặc dù sức lao động từ trước xứng đáng được trả một món tiền lớn, vậy mà anh cũng bỏ qua để tiếp tục nai lưng làm cật lực, vì với anh, cô út là phần thưởng vô giá, anh có thể đánh đổi bằng sức lực của mình. Thật đáng thương cho anh Khoai! Em không hiếu sao lại có thể tin vào lời hứa vớ vẩn như vậy được của lão nhà giàu đã một lần lường gạt anh. Rồi đùng một cái lão nhận lời gả cô út cho một tên nhà giàu khác và hòng che mắt được chàng rể “hờ”, hắn bảo anh vào rừng chặt Cây tre trăm đốt về vót đũa cho đám cưới sắp tới của anh và cô út! Anh Khoai của chúng ta lại tin lời ngay, hăm hở vác dao vào rừng không chút đắn đó. Anh vui mừng nên không để ý đến sự vô lí cua lão chủ. Tâm hồn anh chân thật, dễ tin người đến thế, anh không ngờ được sự đen trắng của bọn nhà giàu tham lam, âu cũng là bản chất của anh cũng như cùa những người dân chân lấm tay bùn. Tại sao anh không được hướng thành quá lao động của mình? Tại sao lẽ công bằng không đến với người lao động nghèo khổ? Phái có một xã hội thực hiện được lẽ phải ấy chứ.Xem thêm: Trong tục ngữ ca dao, tinh thần đoàn kết thương yêu nhau là một nội dung đặc sắc. Nhiều câu ca dao vào loại hay nhất trong kho tàng tục ngữ ca dao của nhân dân ta mang nội dung này. Hãy giải thích và chứng minh nhận xét đó
Trong niềm mơ ước cùa anh, Bụt đã hiện ra. Có phép lạ cùa Bụt, anh cũng quyết tâm nói. Bây giờ, không còn anh Khoai trước đây nữa. Bây giờ là anh Khoai, vì bị lừa gạt đã trở liên sáng suốt. Anh biết đối với lũ người như tên trướng giả, không thể van xin đòi thực hiện công lí. Anh gánh lên vai một trăm đốt tre mà thấy nhẹ tênh.
Chẳng cần nói một lờị, anh thực hiện sức mạnh của mình và anh trở nên thông minh hơn. Anh tiếp tục đọc “khắc nhập, khắc nhập” cho đến khi ba tên địch của anh bị trừng phạt.
Nhưng anh Khoai hoàn toàn ngay thẳng và công bằng. Có sức mạnh, anh không thèm làm điều quá đáng. Anh chỉ đòi lại cái thuộc về anh: cô Út. Anh chỉ cần sự công bằng: tên phú ông phải thực hiện lời hứa.
Anh Khoai là hình ảnh cùa một người nông dân Việt Nam với đầy đủ đức tính tốt. Anh đã để lại một bài học đích đáng cho tên nhà giàu tham lam ấy.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về anh Khoai trong “Cây tre trăm đốt” | 807 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà”
Bài làm
Ca dao tục ngữ nằm trong kho tàng dân gian nước ta. Nó phản ánh ước mơ, những nỗi niềm sâu xa, những tâm tư tình cảm của những người nông dân thời xưa. Ca dao, tục ngữ thường được viết theo thể thơ lục bát vô cùng dễ đọc, dễ nhớ và dễ thuộc, nên được người dân nước ta yêu thích vô cùng.
Bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà” là một bài ca dao ít ỏi mà có tên tác giả sáng tác đó chính là Á Nam Trần Tuấn Khải. Bài thơ này được ông sáng tác đầu thế kỷ XX đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc của người dân lúc đó, và nó vẫn được yêu thích cho tới mãi bây giờ
Cả bài thơ chỉ có vẻn vẹn bốn câu thơ. Nội dung chủ yếu thể hiện sự tương tư nhớ thương của người con trai đối với người con gái mình yêu thương, đối với quê hương thân yêu, khi phải xa quê hương của mình.
Người con trai khi đi xa quê, mới thấy nhớ tới món ăn truyền thống, tuy không phải sơn hà hải vị, chỉ là những món ăn nghèo nàn nhưng chứa chan tình cảm của những người thân thương nơi quê nhà. Người con trai cảm thấy nhớ người phụ nữ của đời mình, với hình ảnh quen thuộc, gần gũi là hình ảnh người phụ của mình phải chịu nữ dầm sương dãi nắng.Xem thêm: Nghị luận giải thích câu tục ngữ Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Anh đi anh nhà quê nhà,
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Hình ảnh món canh rau muống, nấu chua ăn với những quả cà pháo chấm với tương bần do chính tay người mẹ người vợ nấu. Nó chính là những món ăn gắn bó, truyền thống chỉ có ở những con người Việt Nam. Món ăn cổ truyền này chính là một phần linh hồn của dân tộc ta.
Người con trai khi sống cảnh xa quê, xa nhà, khi hoàng hôn buông xuống nhìn thấy những ánh đèn sáng lên bên những gia đình mà người thân sum vầy bên nhau. Trong lòng người con trai chợt nhói lên nỗi nhớ tới gia đình mình, với những bữa cơm giản dị, đầm ấm chứa chan tình cảm yêu thương. Tuy nghèo về vật chất nhưng giàu có tâm hồn.
Trong hai câu thơ tiếp theo người con trai thể hiện nỗi nhớ nhung của mình với người con gái mình thương yêu:
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
Trong hai câu thơ này ta thấy hình ảnh người con gái hiện lên tần tảo, khuya sớm vất vả, một nắng hai sương. Thể hiện cho hình ảnh của người con gái cần cù chăm chỉ lao động. Thể hiện cho vẻ đẹp tâm hồn cao quý.
Người phụ nữ đó đẹp trong sự lam lũ của mình. Người phụ nữ chịu khó thương chồng thương con, mà không kể nhọc nhằn mưa nắng, ngày đêm chăm chỉ làm việc, tạo ra thật nhiều của cải vật chất để người đàn ông của gia đình, người chồng yên tâm lên đường đi xa học hành, làm ăn.Xem thêm: Biểu cảm cảm xúc vườn nhà em lớp 7
Hình ảnh người phụ nữ trở nên đẹp hơn bao giờ hết, bởi người phụ nữ đẹp nhất là khi họ hy sinh vì người khác. Người phụ đẹp bởi trong tim người đàn ông luôn chứa hình bóng họ với những yêu thương, trân trọng. Người đàn ông luôn cảm thấy biết ơn sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ của mình.
Hình ảnh người con gái tát nước bên đường là hình ảnh vô cùng quen thuộc của những cô gái Bắc Bộ, khi mùa vụ tới. Hình ảnh này gợi lên trong lòng người nghe, người đọc nhiều cảm xúc thân thương, gần gũi, yêu mến hơn những hy sinh vất vả của những người mẹ, người chị đã phải trải qua.
Bài ca dao để lại những ấn tượng vô cùng sâu sắc khiến người đọc thấm thía, về những tình cảm gắn bó, với gia đình yêu thương. Nó thể hiện nỗi nhớ nhung của người đi xa dành cho những người ở lại quê nhà.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà” | 751 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài ca dao:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Ca dao tục ngữ là bức tranh sinh động phản ánh đời sống nhiều mặt của ông cha ta thuở trước. Có lẽ không ai sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này lại không biết đến bài ca dao thấm đượm ân tình qua lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Bài ca dao vẻn vẹn chỉ có bốn câu nhưng đã miêu tả sinh động nỗi cực nhọc, vất vả của người nông dân quanh năm một nắng hai sương làm ra hạt gạo nuôi đời. Đồng thời nó cũng là lời khuyên nhủ chân tình về lòng biết ơn, thái độ trân trọng người lao động. Theo em, đây chính là biểu hiện đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta.
Mở đầu bài ca dao, nỗi vất vả của người nông dân như hiện lên rõ ràng trước mắt ta:
Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Trong những công việc của nhà nông thì cày ruộng là công việc nặng nhọc nhất. Sáng tinh mơ, người nông dân đã vác cày, giong trâu ra đồng. Cái cảnh con trâu đi trước, cái cày đi sau quá quen thuộc ở nông thôn. Người nông dân cặm cụi cày từng luống đất. Mồ hôi thấm ướt lưng áo bạc màu. Lúc thời vụ gấp gáp, họ phải cày quên trưa, quên tối để kịp làm đất gieo mạ, cấy lúa. Người xưa khéo chọn thời điểm tiêu biểu: Cày đồng đang buổi ban trưa, giúp người đọc hình dung ra một cách cụ thể và rõ ràng về nỗi vất vả của người nông dân. Nhưng chỉ có thế thì chưa đủ. Phải cụ thể hóa nó ra bằng hình ảnh so sánh: Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Câu ca dao trên gợi nhớ đến câu: Bát mồ hôi đổi lấy bát cơm. Trong không gian tĩnh lặng của buổi trưa hè êm ả, dường như ta nghe rõ tiếng từng giọt mồ hôi rơi thánh thót. Muôn ngàn giọt đổ xuống như mưa ruộng cày. Đây là cách nói cường điệu nhưng ẩn chứa đằng sau mỗi câu, mỗi chữ là nỗi xót xa, thương cảm vô cùng sâu sắc của những người cùng cảnh ngộ.
Xem thêm: Nghị luận xã hội về mục đích học tậpNỗi vất vả được nhấn mạnh và tô đậm. Trước mắt chúng va là người nông dân đang gò lưng, ấn sâu lưỡi cày vào đất. Trước mặt, con trâu lầm lùi bước. Cả người lẫn trâu đều ướt đẫm mồ hôi dưới ánh nắng trưa hè gay gắt. Câu ca dao tả ít mà gợi nhiều đến thế!
Câu thứ ba, thứ tư là lời nhắc nhở chân thành:
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Tại sao lại nhắc nhở đúng vào lúc bưng bát cơm đầy. Đây là chủ ý của người xưa, bởi lúc bưng chén cơm thơm dẻo, mấy ai nghĩ đến nỗi cực nhọc của người làm ra nó? Vì vậy nhắc nhở vào lúc này là nên, là đúng. Có được bát cơm đầy phải đổi bằng bao bát mồ hôi, có khi cả nước mắt. Nào chống hạn, chống úng, nào tai trời ách đất… Từ lúc cày đồng đến lúc gánh lúa về sân, biết bao lo âu, cực khổ. Tất cả những cái đó dồn vào trong một câu với hai vế đối rất chỉnh: Dẻo thơm một hạt / đắng cay muôn phần. Một lần nữa, nỗi vất vả của người nông dân được nhắc lại và khắc sâu trong tâm khảm mọi người.
Hai câu ca dao trên còn là lời khuyên nhủ: đã là người thì phải sống sao cho thủy chung, ân nghĩa. Phải biết cảm thông, chia sẻ và trân trọng, biết ơn người lao động. Bưng bát cơm đầy mà không nhớ người làm ra nó là vong ơn, bội nghĩa. Những kẻ vô ơn như thế thật đáng chê trách và lên án.
Bài ca dao Cày đồng đang buổi ban trưa nằm trong chủ đề Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Người xưa mượn những chuyện cụ thể, gần gũi để nói đến những chuyện lớn lao: thái độ của người hưởng thụ đối với người làm ra thành quả như thế nào cho đúng? Trân trọng và biết ơn sâu sắc người làm ra của cải tinh thần và vật chất cho xã hội, biết bảo vệ và phát huy thành quả đó là thái độ đúng đắn nhất. Em cho rằng, dù ở trong bất cứ xã hội nào, hoàn cảnh nào thì lòng biết ơn cũng là biểu hiện của đạo đức, là cội nguồn của mọi điều tốt đẹp. Bài ca dao trên tuy ra đời đã lâu nhưng ý nghĩa giáo dục của nó luôn luôn mới mẻ và sâu sắc.
Xem thêm: Cảm nghĩ về mái trường thân yêu hay nhất | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” | 881 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khỏi tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Trong ca dao – dân ca, đề tài về cảnh đẹp đất nước chiếm một mảng khá lớn. Mỗi bài là một bức tranh phong cảnh tuyệt vời, ẩn chứa lòng tự hào, tình cảm gắn bó thiết tha, sâu nặng với quê hương, xứ sở. Bài ca dao nói về cảnh đẹp Hồ Tây ở thủ đô Hà Nội được lưu truyền rộng rãi và đã trở thành lời ru quen thuộc:
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Hồ Tây xưa kia có tên là hồ Lãng Bạc (tức cái bến có sóng lớn), hay còn gọi là Dâm Đàm (hồ sương mù) vì thường vào lúc sáng sớm và chiều tối, sương phủ dày trên mặt nước. Vì ở vị trí phía tây kinh thành nên sau này nó được gọi là Hồ Tây. Xung quanh hồ là những địa danh nổi tiếng của đất Thăng Long như chùa Trấn Vũ, huyện lị Thọ Xương, làng Yên Thái (vùng Bưởi) chuyên nghề làm giấy (vỏ cây dó được ngâm mềm, giã nhuyễn rọi cán mỏng thành giấy), phường Nghi Tàm, quê hương của Bà Huyện Thanh Quan, thi sĩ nổi tiếng của nước ta.
Mở đầu là nét chấm phá đơn sơ nhưng sinh động: Gió đưa cành trúc la đà. Làn gió nhẹ sớm mai làm đung đưa cành trúc trĩu nặng sương đêm, tạo nên cái dáng mềm mại, nên thơ. Bức tranh duy nhất chỉ có nét thanh mảnh của cành trúc la đà trên cái nền mông lung mờ ảo của bầu trời và mặt hồ.
Trong câu tiếp theo, các âm thanh hòa quyện vào nhau: Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Tiếng chuông ngân nga, tiếng gà gáy rộn rã báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Tiếng chuông chùa vang vọng giữa thinh không gợi cảm giác bình yên. Tiếng gà gáy gợi lên cuộc sống quen thuộc nơi thôn dã. Âm thanh của cõi đạo, cõi đời… làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng của đất trời lúc đêm tàn, ngày rạng.
Xem thêm: Chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng taNhững ai đã đến Hồ Tây khi màn sương dày đặc còn bao phủ mặt hồ thì mới thấy được cái hay, cái đẹp của câu: Mịt mù khói toả ngàn sương và mới thực sự sống trong tâm trạng lâng lâng thoát tục trước vẻ đẹp thần tiên ấy.
Nếu ở ba câu thơ trên mới thấp thoáng hơi hướng cuộc sống thì đến câu thứ tư, hình ảnh cuộc sống lao động đã hiện ra khá rõ nét qua nhịp chày giã dó dồn dập của dân làng Yên Thái. Nhịp chày cũng là nhịp điệu hối hả của cuộc sống cần lao.
Hình ảnh mặt gương Tây Hồ làm bừng sáng cả bài ca dao. Mặt trời lên xua tan sương mù, tỏa ánh nắng xuống mặt nước, Hồ Tây trở thành một mặt gương khổng lồ sáng long lanh, vô cùng đẹp đẽ!
Như vậy là chỉ vẻn vẹn trong bốn câu thơ lục bát mà cảnh đẹp Hồ Tây đã được ngòi bút tài hoa của người xưa vẽ thành bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ. Ẩn chứa sau từng câu, từng chữ là lòng tự hào, yêu mến tha thiết với quê hương của người dân đất Thăng Long ngàn năm văn vật.
Trên khắp đất nước Việt Nam ta, ở đâu cũng có những cảnh đẹp làm xao xuyến hồn người. Xứ Lạng với Đồng Đăng có phô Kì Lừa, Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh. Hà Nội với ba sáu phô phường, Hồ Tây, Hồ Gươm, gò Đống Đa, chùa Một Cột.. Miền Trung với Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Xứ Huế với vẻ đẹp uy nghiêm, trầm mặc của cung điện, đền đài, lăng tẩm, của sông Hương với núi Ngự Bình. Những đêm trăng sáng, tiếng hò ngân dài trên sông nước Hương Giang: Đò từ Đông Ba đò qua đập đá, Đò về Vĩ Dạ thẳng ngã ba sần, Lờ đờ bóng ngả trăng chênh, Tiếng hò xa vọng nặng tình nước non. Người dân Nam Bộ tự hào với mảnh đất trù phú, mỡ màu bôn mùa hoa thơm trái ngọt, lúa chín vàng đồng: Cần Thơ gạo trắng nước trong, Ai đi đến đó chẳng mong ngày về..
Tất cả những câu ca ấy dù mộc mạc hồn nhiên hay trau chuốt, trữ tình đều nói lên cảnh đẹp gấm hoa của non sông đất nước và thể hiện tình yêu quê hương đậm đà, sâu nặng của nhân dân ta. Giống như bao bài ca dao khác, bài Cảnh đẹp Hồ Tây sẽ sống mãi trong đời sống tinh thần của nhiều thế hệ.
Xem thêm: Soạn bài Con người quý nhất | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Chấn Vũ canh gà Thọ Xương” | 856 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông trấn Vũ canh gà Thọ Xương”
Bài làm
Ca dao tục ngữ nằm trong kho tàng dân gian Việt Nam. Nó phản ánh tâm tư tình cảm của người nông dân lao động. Những câu ca dao thường gắn liền với những nỗi nhớ, tình cảm lứa đôi, những nỗi niềm của người nông dân trong lao động sản xuất, trong tình cảm gia đình, anh em cha mẹ.
“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
Hồ Tây là một danh lam thuộc thành phố Hà Nội ngày nay. Nó gắn liền với nhiều bài thơ như trong bài “Độc Tiểu Thanh ký” của nhà thơ Nguyễn Du, tác giả có viết “Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang”
Hình ảnh Hồ Tây không còn lạ lẫm nhiều với những người Việt Nam. Nó là chiếc hồ nằm giữa trung tâm Hà Nội xung quanh có một số chùa khá nổi tiếng như chùa Trấn Quốc, đền Quán Thánh, ở xung quanh Hồ Tây còn có những hồ nhỏ như Trúc Bạch, nổi tiếng có nhiều quán ăn ngon.
Hình ảnh Hồ Tây với làn khói tỏa sương mù giăng lối khiến cho khung cảnh thiên nhiên trở nên mềm mại, trữ tình hơn bao giờ hết. Hình ảnh cành trúc la đà, làm cho câu ca dao có thêm nhiều chất nhạc, trữ tình sâu lắng.Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan
Trong câu ca dao đầu tiên hình ảnh cành trúc la đà chính là hình ảnh động, là điểm nhấn của toàn bộ câu thơ. Cành trúc mỏng manh yểu điệu thục nữ gợi lên vẻ đoan trang mềm mỏng như hình ảnh của một cô gái thiếu nữ thục hiền e ấp bên khung cửa sổ, nhìn qua mặt hồ có làn khói sương tỏa mong manh, khiến cho con người bâng khuâng xao xuyến.
Trong bài ca dao này tác giả xưa đã vô cùng tinh tế, khôn khéo khi sử dụng nghệ thuật biện pháp ẩn dụ, để khắc họa lên một Hồ Tây cảnh sắc tuyệt trần. Trong không gian yên tĩnh mênh mông, không gian bao la ngút ngàn tầm mắt. Hình ảnh Hồ Tây như một chiếc gương soi phẳng lặng khổng lồ, phản chiếu những nét văn hóa lâu đời của con người, của lịch sử dân tộc.
Nó đã tái hiện lại những tinh hoa văn hóa của dân tộc mình qua chiếc gương của mình. Những âm thanh của con người của lịch sử, tiếng chuông trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Báo hiệu trời gần sáng, tiếng của hoạt động của con người rộn rã như đánh thức không gian bao la, bình yên đang chìm trong giấc ngủ say. Tiếng gà gáy là hình ảnh vô cùng quen thuộc của những miền quê yên bình.
Trong cảnh sắc bình yên, hiền hòa đó những âm thanh của con người, của động vật vang lên chính là âm thanh chân thật của cuộc sống gợi lên trong lòng người lữ khách trữ tình những ấn tượng khó phai, về về đẹp cũng như không gian thiên nhiên nơi đây.Xem thêm: Giải thích và chứng minh câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công”
Nhịp chày Yên Thái, là nhịp hoạt động của con người tiếng giã gạo, làm bánh tiếng của nhịp sinh hoạt đều đặn thường ngày vang lên khiến cho, bối cảnh thiên nhiên sôi động, rộn rã hơn bao giờ.
Bài ca dao sử dụng những ngôn ngữ mộc mạc giản dị, chân thật khiến cho bài ca dao trở nên gần gũi bình dị đi sâu vào lòng người. Tác giả xưa đã vô cùng tinh tế khi vẽ lên bức tranh thiên nhiên và con người hòa quyện vào nhau hài hòa cân đối, như nhịp thở của cuộc đời.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông trấn Vũ canh gà Thọ Xương”- văn lớp 7 | 674 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao:
Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chăn cứng đá mềm,
Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng.
Trong ca dao – dân ca, bên cạnh những bài phản ánh đời sông tinh thần phong phú còn có những bài trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ của người nông dân trước công việc quen thuộc hằng ngày. Bài ca dao sau đây là một ví dụ tiêu biểu:
Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng.
Nghĩ sao nói vậy, giản dị, mộc mạc, tự nhiên nhưng chính những cái đó lại tạo nên sự rung động sâu sắc trong lòng người đọc. Nỗi băn khoăn lo lắng trong công việc của người nông dân quá lớn, như đúc lại thành khối nặng nề đè lên đôi vai gầy của họ, khiến chúng ta không khỏi xót xa, thương cảm.
Nội dung bài ca dao thật đơn giản: người phụ nữ nông dân đi cấy lúa, chân ngập dưới bùn sâu mà lòng ngổn ngang trăm môi lo toan và thầm mong mưa thuận gió hòa để có được một mùa lúa tốt.
Tục ngữ có câu: Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn. Kể từ khi cắm cây mạ xuống ruộng cho đến khi gánh lúa về nhà, người nông dân phải làm bao công việc vất vả, cực nhọc; phải tính toán, trăn trở mọi bề. Nhiều khi lúa chín vàng đồng, chỉ một trận lũ lụt tràn qua là tay trắng lại hoàn tay trắng.
Trong nghề nông, thường thì công việc cày bừa nặng nhọc dành cho đàn ông, còn việc nhổ mạ, cấy hái dành cho phụ nữ. Cho nên căn cứ vào giọng điệu, ta có thể đoán rằng nhân vật trữ tình đang bày tỏ nỗi niềm trong bài ca dao trên là một phụ nữ hay lam hay làm và rất có ý thức về công việc của mình. Trước hết là sự phân biệt rõ ràng giữa việc đi cấy của mình với những người thợ cấy khác:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Đi cấy lấy công tức là đi cấy thuê. Cấy ít tiền ít, cấy nhiều tiền nhiều. Xong việc là phủi tay, chẳng ràng buộc trách nhiệm gì với chủ ruộng. Có vất vả cũng chỉ là vất vả tấm thân: Bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, Đổi bát mồ hôi lấy bát cơm… (Tục ngữ).
Còn mình thì đi cấy trên ruộng nhà. Đó là cơ sở để phân biệt giữa người làm thuê với người làm chủ. Vì thế mà sự trông mong, lo lắng nhiều bề cũng xuất phát từ đây. Tôi khác với người ta ở cách tính toán trăn trở, năm liệu bảy lo về công việc với một ý thức trách nhiệm cao và một vốn hiểu biết khá phong phú, toàn diện.
Xem thêm: Hãy chứng minh rằng từ xưa đến nay nhân dân ta luôn sống theo đạo lý: "Ăn quả nhớ kẻ trổng cây"Hai từ trông và bề ở câu thứ 2 thật hàm súc, đa nghĩa và được sử dụng rất chính xác. Từ trông vừa có nghĩa là quan sát, nhìn ngó, nhận xét, phân tích, vừa có nghĩa là lo lắng, mong đợi, hi vọng. Từ bề cũng vậy, vừa chỉ cái hữu hình tồn tại trong không gian (trời, đất, mây), vừa chỉ cái vô hình như nỗi mong đợi, ao ước hoặc chiêm nghiệm bằng tâm tưởng (nỗi lo thiên tai, niềm vui được mùa)…
Có lẽ không có bài ca dao nào mà từ trông được lặp lại nhiều lần và độc đáo như ở bài này. Toàn bài chỉ có 6 câu mà từ trồng được dùng đến 9 lần, mỗi lần một nghĩa khác nhau.
Ở câu thứ hai: Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề, nghĩa của từ trông gắn liền với nghĩa của từ nhiều bề, gợi lên hình ảnh một phụ nữ nông dân có tầm suy nghĩ, nhìn nhận công việc rất thấu đáo. Hình ảnh ấy sẽ được tiếp tục khắc họa rõ nét ở những câu sau. Đặc biệt là hai câu giữa bài với 7 từ trông gắn liền với 7 đối tượng cụ thể khác nhau (trời, đất, mây, mưa, gió, ngày, đêm) trong bối cảnh rộng lớn của không gian và thời gian:
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Các từ trông trên đây đều có thể hiểu theo hai hoặc ba lớp nghĩa và mỗi từ mang một sắc thái biểu cảm khác nhau.
Nếu như ở câu: Trông trời, trông đất, trông mây, từ trông có nghĩa là quan sát và theo dõi liên tục sự thay đổi của thời tiết với thái độ băn khoăn, lo lắng, thì ở câu: Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đềm, từ trông lại có nghĩa là cầu mong. Mong sao mưa thuận gió hòa cho cây lúa tốt tươi, để người vơi bớt nỗi nhọc nhằn và chứa chan hi vọng. Đến hai câu cuối bài thì từ trông rõ ràng mang ý nghĩa là niềm hi vọng, là ước mong tha thiết:
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng.
Chân cứng đá mềm là thành ngữ chỉ sức mạnh và ý chí của con người, nhất là những người phải xông pha những công việc gian nan vất vả, thậm chí hiểm nguy. Trông cho chân cứng đá mềm nghĩa,là mong sao cho bản thân có đủ sức khỏe và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có được niềm vui, niềm tin trong cuộc sống.
Trời êm, biển lặng cũng là thành ngữ biểu hiện sự thuận hòa của thiên nhiên (thời tiết, khí hậu); cao hơn nữa là sự yên bình trong cuộc sống (xã hội trật tự, an ninh, không có chiến tranh, trộm cướp)…
Càng hiểu rõ nội dung ý nghĩa của từ trông trong bài ca dao này, ta càng đồng cảm với nỗi lo toan vất vả của người nông dân. Từ đó, càng thêm thương thêm quý những giọt mồ hôi ngày ngày họ đổ xuống đồng để làm ra hạt lúa nuôi đời: Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Trong những bài ca dao trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ của người nông dân trước công việc, khó tìm thấy bài nào vừa giản dị, tự nhiên, vừa hàm sục ý nghĩa như bài này.
Xem thêm: Nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng qua đoạn Hạnh phúc của một tang gia (trích “Số đỏ") | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề” | 1,161 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh
Bài làm
Trăng là một nguồn cảm hứng bất tận của nhiều thi sĩ từ thời xa xưa. Là một người yêu thiên nhiên tha thiết, trăng đương nhiên không thể vắng bóng trong thơ của Hồ Chí Minh. Và “Rằm tháng giêng” chính là một bài thơ rất hay của Bác về đề tài này.
Hai câu thơ đầu vẽ nên cảnh tuyệt đẹp của đêm nguyên tiêu:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”
Vầng trăng mùa xuân vừa tròn đúng độ, soi sáng, lan tỏa khắp không gian. Bầu trời cao rộng, trong lành và thoáng đãng. Đất trời quê hương bao la, hòa quyện vào hơi thở mãnh liệt của mùa xuận. Bầu trời và vầng trăng dường như không có giới hạn, cứ kéo dài vô tận mãi. Dòng sông mùa xuân, màu nước mùa xuân nối liền với bầu trời xuân:
“Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”
Cảnh được tả từ gần đến xa, từ thấp lên cao. Ba từ “xuân” nối tiếp nhau vang lên trong một câu thơ có âm điệu bay bổng, gợi một cảm giác trong trẻo, thanh khiết và yên bình biết bao. Câu thơ cú mở ra như đến vô cùng, sông xuân-nước xuân-trời xuân làm nên một khí xuân lồng lộng, bát ngát. Tất cả cảnh vật như thấm đượm sắc xuân, khí xuân.
Câu thơ thứ ba nói đến hoàn cảnh và vị trí ngắm trăng của Bác Hồ:Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
“Giữa dòng bàn bạc việc quân”
Trên con thuyền đang lặng lẽ trôi trên mặt nước, Bác Hồ cùng những người chiến sĩ đang bàn việc cơ mật. Đến đây, ta lại thêm cảm phục tấm lòng luôn đau đáu vì nước vì dân của Người. Giữa bộn bề việc nước, Bác vẫn dành cho thiên nhiên cảnh vật sự ưu ái. Điều đó thể hiện tư thế ung dung tự tại, lạc quan của Bác Hồ.
Câu thơ cuối bài là một hình ảnh tuyệt đẹp về trăng:
“Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”
Nếu như người xưa bồi hồi với tiếng chuông ngân nửa đêm thì Bác Hồ lại ngây ngất với hình ảnh “trăng ngân đầy thuyền”. Hình ảnh con thuyền cách mạng đã trở thành con thuyền chở trăng, vầng trăng tròn vành vạnh, vầng trăng của sự viên mãn, vầng trăng của thành công và thắng lợi. Hình ảnh thơ tươi sáng chứa đựng cái nhìn đầy lạc quan của Bác Hồ về sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Hình ảnh này cũng mở ra một cánh của kì diệu để khám phá tâm hồn của Hồ Chí Minh: nơi sau thẳm mịt mù khói sóng lại là nơi bàn việc nước, việc quân, vậy mà Người vẫn say đắm trong ánh trăng tròn vành vạnh. Cảnh vật vừa thực vừa ảo. Qua đây ta cũng thấy được vẻ đẹp con người Hồ Chí Minh, vừa có cốt cách thi sĩ vừa mang phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ.Xem thêm: Cao Chu Thần từng có câu thơ để đời: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa. Có người cho rằng vẻ đẹp của câu thơ cũng chính là vẻ đẹp của Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Ý kiến của anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích để làm sáng tỏ
Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, đất nước và tinh thần lạc quan, niềm tin vào thắng lợi của con đường cách mạng của người chiến sĩ, thi sĩ Hồ Chí Minh. Ở Người, chất nghệ sĩ và chất chiến sĩ luôn hài hòa làm một, tạo nên vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh. | Phát biểu cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh | 655 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương
Bài làm
Tùy bút “Sài Gòn tôi yêu” là một bài tùy bút hay thể hiện cái nhìn sâu sắc của tác giả Minh Hương với thành phố phát triển bậc nhất Việt Nam. Sài Gòn tôi yêu là những cảm nhận tinh tế của nhà văn với con người và mảnh đất mà tác giả gắn bó suốt mấy chục năm sinh sống.
Bài tùy bút mở đầu vô cùng ấn tượng về thành phố Sài Gòn. Hình ảnh một Sài Gòn trẻ trung cứ trẻ hoài như một cây tơ đang độ thay da đổi thịt, nõn nà như thiếu nữ đang xuân
Điều này thể hiện sự độc đáo thể hiện sự tinh tế trong cách nhìn cách quan sát của tác giả Minh Hương. Từ sự quan sát tinh tế tác giả đột ngột chuyển hướng bài viết qua cảm xúc của mình dành cho Sài Gòn.
Tôi yêu Sài Gòn…điệp từ này được tác giả Minh Hương lặp đi lặp lại nhiều lần như khẳng định tình cảm yêu thương mà tác giả dành cho Sài Gòn là vô bờ bến không gì có thể sánh được.
Yêu nắng sớm, ngọt ngào, yêu gió lộng nhớ thương, yêu thời tiết trở trời âm u buồn bã, yêu những đêm hoang vắng tĩnh mịch thưa thớt tiếng ồn ào… Tình yêu mà tác giả dành cho Sài Gòn không gì có thể sánh được.Xem thêm: Cảm nghĩ về tình bạn hay nhất
Tình yêu tinh tế của tác giả đã miêu tả, đã vẽ lên một Sài Gòn vô cùng tươi đẹp và nhiều cung bậc cảm xúc. Lúc thì tươi trẻ nhưng cô gái tuổi xuân thì, khi thì già nua âm u buồn chán nhưng một cụ lão gần đất xa trời. Có lúc thì tinh nghịch như một cậu bé.
Tác giả yêu Sài Gòn yêu luôn những con người sống ở đây, những nét đẹp toát ra từ vẻ đẹp tâm hồn của những con người hiền hậu, những nét đặc trưng của người Sài Gòn thân thiện dễ mến.
Họ có cách nói tự nhiên, hiền lành dễ thương dễ mến, không làm khách, không hoa văn như lối nói khách sáo thường thấy ở những người Hà Nội thanh lịch, ngại bộc lộ cảm xúc thật. Người Sài Gòn không như vậy, họ thường sống ngay thẳng nghĩ gì nói đó.
Bài tùy bút “Sài Gòn tôi yêu” là một bài tùy bút vô cùng hay và độc đáo thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả. Đồng thời nó cũng thể hiện tình cảm sâu sắc mà tác giả dành cho Sài Gòn một mảnh đất gắn liền với nhiều chiến tích trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương- văn lớp 7 | 478 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn nêu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Nhà thơ Xuân Diệu rất mê Hồ Xuân Hương. Ông đã dành nhiều thời gian để thưởng thức, nghiên cứu thơ Xuân Hương và rất tâm đắc với cái biệt danh mà ông đặt cho nhà thơ này: Bà chúa thơ Nôm.
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nổi tiếng của nước ta vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cùng thời với đại thi hào Nguyễn Du. Chế độ phong kiến ở giai đoạn suy tàn đã bộc lộ mặt trái đầy xấu xa, tiêu cực. Là người giàu tâm huyết với con người và cuộc đời, Hồ Xuân Hương đã gửi gắm vào thơ những điều suy tư trăn trở trước hiện thực phức tạp của xã hội, trước số phận bất hạnh của con người, nhất là phụ nữ. Bài thơ Bánh trôi nước phản ánh thân phận đau khổ, phụ thuộc của người phụ nữ và ngợi ca phẩm chất cao quý của họ.
Bánh trôi là thứ bánh quen thuộc, dân dã của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Gạo nếp xay thành bột nhuyễn, lọc cho mịn, để thật ráo rồi bẻ thành từng miếng nhỏ, nặn cho tròn, nhân làm bằng đường thẻ có màu nâu đỏ. Cho bánh vào nồi nước sôi, luộc chín, vớt ra nhúng sơ vào nước lạnh rồi xếp vào đĩa. Lúc nguội, bánh ăn dẻo và thơm ngọt. Người xưa cho rằng đây là thứ bánh tinh khiết, có thể dùng để cúng. (Mùng 3 tháng 3 Âm lịch có tục cúng trời đất, tổ tiên bằng bánh trôi, bánh chay và hoa quả).
Bài thơ Bánh trôi nước thuộc loại thơ vịnh vật (giống như Quả mít, Cái quạt, Con ốc nhồi…) Hồ Xuân Hương chịu ảnh hưởng sâu sắc của cách diễn đạt trong thơ ca dân gian:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Xem thêm: Phân tích nhân vật Ra-ma đoạn trích Ra-ma buộc tội (trích sử thi Ra-ma-ya-na của Ấn Độ).Chiếc bánh trôi vừa trắng, vừa tròn, thật đẹp đẽ, đáng yêu nhưng đằng sau những chi tiết rất thực ấy lại là điều Hồ Xuân Hương muôn nói người phụ nữ và thân phận họ. Xưa nay, phụ nữ được gọi là phái đẹp, là tinh hoa của tạo hóa. Bởi vậy, nhìn chiếc bánh trôi nước xinh xắn, ta dễ liên tưởng đến vẻ đẹp trong trắng của người con gái đang xuân.
Cũng giống như chiếc bánh trôi bao lần chìm nổi, người phụ nữ xưa phải chịu số phận bảy nổi ba chìm trong xã hội trọng nam khinh nữ đầy bất công. Lễ giáo phong kiến đã tước đoạt quyền tự do, buộc họ phải sống lệ thuộc vào người khác. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Đã vậy, những thế lực đen tối luôn đẩy họ vào nghịch cảnh đau thương. Người phụ nữ trong thơ Xuân Hương cũng cùng chịu chung số phận với người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh củng là lời chung!
Không được làm chủ số phận của mình, người phụ nữ nào có khác chi chiếc bánh trôi ngon hay dở là do tay kẻ làm ra nó: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.
Nhưng điều đáng nói lại là chuyện khác, chuyện tấm lòng son. Nhân bánh trôi làm bằng đường thẻ màu nâu sẫm. Khi bánh chín lớp vỏ bằng bột nếp có màu trắng trong, nhìn thấy rõ màu của nhân. Ví nhân bánh như tấm lòng son thì cái ẩn ý mà tác giả muôn gửi gắm đã bộc lộ ra. Hồ Xuân Hương muốn khẳng định rằng dù có bị chà đạp, vùi dập, dù cuộc đời có ba chìm bảy nổi đến đâu chăng nữa thì người phụ nữ vẫn giữ nguyên vẹn phẩm giá cao quý của mình. Cách nói khiêm nhường mà chứa đựng một ý chí kiên định biết chừng nào. Đồng thời nó như một lời thách thức ngấm ngầm mà quyết liệt với cả xã hội phong kiến bạo tàn:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bài thơ tứ tuyệt chỉ có 4 câu, 28 chữ mà hàm chứa bao ý nghĩa. Nữ sĩ Xuân Hương với cái nhìn nhân văn, với quan điểm tiến bộ và thái độ dũng cảm hiếm có đã phác họa thành công chân dung đẹp đẽ về người phụ nữ Việt Nam. Tư tưởng tiến bộ của Xuân Hương đã được thể hiện qua nghệ thuật thơ sắc sảo, điêu luyện. Điều đó khiến thơ của bà sống mãi trong lòng người đọc.
Xem thêm: Em hãy đọc phần văn bản sau: "Những ngón chân... thành bệnh”. Dựa vào phần văn bản trên đây, em hãy viết bài văn nêu cảm nghĩ của em về đôi bàn tay, ... của một người mà em yêu quý (cha, mẹ hoặc ông, bà, thấy, cô giáo, ...) | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương | 854 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
Trăng là chủ đề sáng tác, là cảm hứng của các thi nhân và Bác Hồ không chỉ là chiến sĩ mà còn là một nhà thơ lớn có tình yêu thiên nhiên với tâm hồn nhạy cảm. Trong những năm đầu ở chiến khu Việt Bắc, trong một đêm trăng đẹp, Bác đã sáng tác ra bài thơ Cảnh khuya để lại trong em nhiều cảm xúc
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
Bài thơ “Cảnh khuya” thể hiện tình yêu thiên nhiên song hành cũng là tình yêu nước sâu đậm của Bác trong một đêm trăng ở núi rừng Việt Bắc
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”
Khi mọi người đã chìm sâu vào giấc ngủ, một màn đêm thanh tĩnh buông xuống khắp khu rừng, nó làm cho tiếng suối dủ ở rất xa vẫn theo gió mang tiếng ca êm đềm, trong vắt của mình cho những người yêu vẻ đẹp sáng ngời của đêm trăng cùng thưởng thức. Tiếng suối và ánh trăng, chao ôi hai thứ ấy hòa quyện thì thật là tuyệt vời! Nó khiến cho người đang tham gia chính sự như Bác đã có một cảm nhận tinh tế về tiếng ca này. Tiếng suối dịu êm khoan nhặt như một khúc hát trữ tình sâu lắng. Bác đã khéo léo dùng nghệ thuật lấy động tả một khung cánh yên tĩnh có thể nghe rõ âm vang từ xa vọng lại. Và Người đã so sánh tiếng suối với tiếng hát để nhấn mạnh nét gợi tả mang sức sống và hơi ấm của con người. Sự ví von trên đã làm cho em nhớ lại câu thơ trong tác phẩm “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi từng viết
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.”
Mỗi vần thơ, mỗi khung cảnh, âm thanh đều là tiếng suối nhưng được cảm nhận khác nhau ở nhiều khía cạnh. Song tất cả vẫn là một tình yêu thiên nhiên. Câu thơ đã cho ta thấy rằng: dù là một vĩ lãnh tụ cách mạng nhưng Bác vẫn mang tâm hồn tràn đầy tình cảm lãng mạn, đẹp đẽ. Cám ơn Bác, ngòi bút tài hoa và tâm hồn yêu thiên nhiên say đắm của Người đã giúp em cảm nhận sự ngọt ngào, du dương của âm thanh suối chảy
“Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”
Ánh sáng dịu dàng, thanh khiết từ ánh trăng len lõi chiếu vào lá và hoa tạo nên vẻ đẹp lấp lánh. Hoa lá nghiêng bong trên mặt đất tạo nên những bức tranh lấp loá, lúc ẩn lúc hiện. Hoa lá cỏ cây và ánh trăng lồng quyện vào nhau, trăng đan vào cậy cổ thụ, trăng tràn vào hoa. Đó như một bức tranh tuyệt vời của đất nước. Bác đã làm mọi sự vật sống động qua nghệ thuật nhân hóa “lồng” để miêu tả đan xen cay lá và ánh trăng. Bác quả là một người đa cảm và có tâm hồn vô cùng phong phú! Trăng trở nên thú vị và lãng mạn trong cảnh khuya sáng ngời, lung linh, huyền ảo. Đọc thơ mà em cứ hình dung cảnh thơ như đang hiện lên mờ ảo trước mắt. Khung cảnh thật thơ mộng kết hợp với nhạc tạo nên một bức tranh đầy sinh động. Vì vẻ đẹp bất tận của mình, trăng là người bạn của các nhà thơ, ta khó có thể hững hờ với vẻ đẹp của trăng
Xem thêm: Qua văn bản "Một thứ quà của lúa non: cốm" của Thạch Lam, em hãy phát biểu cảm nghĩ về cây lúa Việt Nam“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ”
Đọc đến đây ai cũng nghĩ Bác vẫn còn thức vì trăng, vì sự cuốn hút của thiên nhiên nhưng người không chỉ xúc động trước vẻ đẹp của đất trời mà còn vì
“Chưa ngủ vì nỗi lo nước nhà”
Nước nhà đang bị giặc xâm lăng, giày xéo, bao người còn sống trong cơ cực, lầm than. Và để nhấn mạnh nỗi lo của mình, Bác đã điệp vòng “chưa ngủ” như láy lại tâm tư của Bác, một người luôn nặng lòng với quê hương. Hai câu thơ cuối giúp ta thấy rõ hơn con người của Bác. Một con người yêu thiên nhiên tha thiết nhưng cũng chính vì yêu thiên nhiên mà luôn lo cho sự nghiệp của đất nước.Đây chính là nỗi lòng, là tâm tình của vị lãnh tụ. Đồng thời ta cũng đã thấy Bác Hồ của chúng ta dẫu bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để chiêm nghưỡng thiên nhiên, có lẽ thiên nhiên chính là người bạn giúp Bác khuây khoả, bớt đi sự vất vả mà Bác phải chăng chở suy tư. Từ đây, ta nhận thấy Bác là một người luôn biết hài hoà giữa công việc với tình yêu thiên nhiên và càng yêu thiên nhiên thì trách nhiệm đối với công việc càng cao bởi ta có thể nhận thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng đó là một nõi khao khát về một đất nước thanh bình, để ngày ngày con người được sống tự do, hạnh phúc.
Dường như trong Bác luôn xoáy sâu câu hỏi: Biết đến bao giờ đất nước mới đc tự do để con người thoả sức ngắm trăng? Đọc đến đây ta càng hiểu rõ hơn con người của Bác đó là một người luôn canh cánh trong lòng nỗi lo vì dân vì nước, vì đất nước Bác có thể hi sinh tất cả. Hình ảnh của Bác làm em dâng trào cảm xúc mến yêu, kính trọng Bác. Và ta đã luôn tự hỏi rằng: Có bao giờ Người được thảnh thơi để tận hưởng niềm vui của riêng mình? Bác thật vĩ đại trong tâm hồn em và của cả dân tộc Việt Nam. Qua bài thơ, ta cảm nhận được lòng yêu quê hương trong Bác thật sâu đậm, lớn lao và đã bắt gặp một tâm hồn thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản. Tác phẩm là một bức tranh đẹp về quê hương, về con người và sự sự hài hòa giữa cảnh và tình.
Bài thơ đã khép lại trong niềm xúc động dạt dào. Bác đã để lại cho đời những vần thơ hay đầy ý nghĩa, những vần thơ đó đã khơi dậy trong em tình yêu thiên nhiên và niềm kính yêu vô hạn vị Cha già của dân tộc. Qua bài thơ này ta càng hiểu rằng trong hoàn cảnh nào, Bác vẩn giữ được thái độ bình tĩnh chủ động như vậy, mặc dù ẩn trong phong thái ung dung tự tại ấy là nỗi lo cho nước, nỗi thương dân. Trong cuộc đời 79 năm, Bác Hồ có biết bao đêm không ngủ vì nhiều lẽ nhưng điều khiến chúng ta cảm phục vô hạn đó là ý thức, trách nhiệm của Bác trước vận mệnh nước nhà. Ý thức ấy ở Bác không chút nào xao lãng.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Thân phận người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương qua bài Bánh trôi nước | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya | 1,237 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang
Hướng dẫn
Việt Nam có rất nhiều con đèo nổi tiếng như Đèo Hài Vân, Đèo Cả, Đèo Phương Hoàng… nhưng nổi bật nhất vẫn là Đèo Ngang vì nó được đi vào thơ ca, được các thế hệ nhắc đến nhờ bài thơ “Qua Đèo Ngang”, một trong sáu bài thơ Đường luật còn lưu lại cho đến ngày nay của nữ thi sĩ tài danh Nguyễn Thị Hĩnh, còn được người đời biết đến qua tên gọi Bà Huyện Thanh Quan. Với những vần thơ trữ tình, in sâu vào lòng người đọc, người nghe nỗi xúc dộng lẫn thán phục, bài thơ đã miêu tả cảnh vật con đèo cũng như tâm trạng của mình khi đi từ Thăng Long vào kinh đô Huế nhậm chức. Những vần thơ ấy dược lưu truyền lại như sau:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bèn sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dùng chân đúng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta ”
Cảnh tượng Đèo Ngang hiện lên qua thời gian và không gian trong hai câu “Đề” như sau:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa ”
Nhà thơ dừng chân tại Đèo Ngang vào lúc xế tà. Việc sử dụng hình ảnh bóng chiều vào câu thơ có tác dụng giúp người đọc, người nghe cảm thấy bồi hồi xao xuyến vì đây là lúc mặt trời khuất núi, vương lại những tia nắng vàng rượm rồi tắt hẳn. Buổi xế tà là quãng thời gian các nhà văn, nhà thơ thường dùng để diễn tả nỗi buồn, nỗi trống vắng như nhà thơ Nguyễn Du đã viết: “Buồn trông cửa bể chiều hôm.” Hoặc Trần Nhân Tông đã ghi lại trong bài Thiên Trường vãn vọng: “Bóng chiều man mác có dường không.” Việc sử dụng buổi chiều đã phản ánh được tâm sự chất chứa trong lòng tác giả về một nỗi buồn hữu hữu vô vô. Nỗi buồn càng tăng lên khi cảnh vật ở đây có đá, lá hoa chen chúc nhau mọc lên tạo thành một cảnh tượng hoang dã, không có bàn tay chăm sóc của con người. Hình ảnh này cũng đã in sâu vào tâm trí em cảm xúc yêu thương quê hương và từ đó thấu hiểu hơn nỗi nhớ nhà thiết tha của tác giả khi phải rời quên đến một nơi xa lạ.
Trong bóng chiều, cảnh vật tại con đèo dần dần mở ra:
“Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.”
Xem thêm: Hãy giải thích và chứng minh câu ngạn ngữ của phương Tây: "Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi"Dưới ngòi bút của nhà thơ, cảnh vật con đèo hiện lên thật cụ thể, sinh động! Cụ thể ở chi tiết vài chú tiều phu lom khom đốn củi dưới núi, còn bên kia sông lác đác, thưa thớt một vài căn nhà đơn sơ. Bà Huyện Thanh Quan đã thành công trong việc sử dụng biện pháp đảo ngữ. Từ “lom khon” được dưa lên trước nhằm diễn tả cảnh Đèo Ngang tuy có sự sống của con người nhưng người thì lại vừa không thấy mặt vừa không gặp được để trò chuyện. Còn nhà dân thì ở bên kia sông, đồng thời lại thưa thớt vài căn nên có cũng như không. Chính điều này càng làm tăng thêm nỗi buồn cho nhà thơ.
Tâm sự của tác giả càng lúc càng rõ nét qua hai câu “luận”:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”
Bức tranh phong cảnh ở Đèo Ngang chẳng những có màu sắc của cảnh vật mà còn trở nên da diết với âm thanh của các loài chim như con chim quốc, con chim da đa… Tiếng chim quốc như nhắc nhở mọi người về điển tích vua Thục Đế hoá thành con chim quốc để luôn nhớ đến nỗi đau mất nước của mình. Em thật khâm phục nghệ thuật đối ý, đối lời trong hai câu thơ này vì khi ghép lại với nhau, người dọc nhận ra ngay dược tâm sự của nhà thơ “Nhớ thương nước nhà, quốc gia quốc gia”.
Tâm trạng của tác giả khi dừng chân tại Đèo Ngang dược đúc kết trong hai câu thơ cuối:
“Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.”
Đứng trước cảnh trời cao vời vợi, núi non trùng điệp, sông nước mênh mông, bất cứ ai cũng cảm thấy nhỏ bé, mong manh… Nhà thơ như thu mình lại, chôn giấu sự trống vắng trong tận cõi lòng. “Ta với ta” thể hiện rõ cảm xúc khắc khoải của nhà thơ: tuy một mà hai, tuy mắt ngắm nhìn cảnh thiên nhiên ở con dèo nhưng lòng lại nặng trĩu nhớ về quê nhà không biết bao giờ trở lại. Tâm trạng u buồn này khác hẳn với niềm vui của nhà thơ Nguyễn Khuyên khi sử dụng cụm từ “Ta với ta” trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” vì tuy hai người nhưng cùng một tấm lòng, một tình bạn chân thật. Câu kết của bài thơ như một sợi dây liền mạch, nối xuyên suốt cả bài thơ tạo cho người đọc một cảm xúc day dứt, khó quên.
Bài thơ Qua Đèo Ngang đã thành công khi chuyển tải được tâm sự u buồn của Bà Huyện Thanh Quan, đồng thời lồng ghép vào đó là cảnh tượng thiên nhiên rất thực, rất sinh động của một con đèo nổi tiếng trong thơ ca và trong lịch sử nước ta. Bài thơ không chỉ thành công về mặt ý nghĩa mà còn rất chỉnh chu trong việc dùng từ, tạo câu thật đặc sắc gây thích thú cho người đọc, người nghe.
Càng thấm thìa những vần thơ mang nặng tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan, em càng cảm mến tấm lòng nhớ nước thương nhà của bà hơn. Từ đó em thấy mình phải học giỏi môn Văn để có thể để lại cho đời những vần thơ tuyệt diệu như nữ văn sĩ tài danh.
Các em có thể xem thêm bài: Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang và cách lập dàn ý chi tiết bài thơ.
Nguồn: thêm: Nêu suy nghĩ của em về vấn đề thanh niên phải sống có lí tưởng | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang | 1,097 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng lớp 7
Hướng dẫn
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta, đồng thời là một nhà thơ xuất sắc của nền văn học cách mạng. Bác đã sáng tác bài thơ “Rằm tháng giêng” ở Việt Bắc, trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ chống thực dân Pháp.
Bằng ngòi bút trữ tình chứa chan tình cảm, nhà thơ đã gây xúc động cho người đọc, người nghe bằng những câu thơ miêu tả cảnh đẹp đêm trăng, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên gắn liền với lòng yêu nước sâu nặng một cách sinh động như sau:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân,
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.”
Bức tranh thiên nhiên thơ mộng trong bài thơ được bắt đầu bằng hình ảnh:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân, ”
Câu thơ như gợi cho em lòng yêu thích cảnh đẹp thiên nhiên ở Việt Bắc: khung cảnh bầu trời cao rộng, trong trẻo, nổi bật trên bầu trời ấy là vầng trăng tròn đầy, toả sáng xuống khắp trời đất trong đêm rằm tháng giêng. Từ “xuân” được lặp đi lặp lại đã nhấn mạnh sự diễn tả vẻ đẹp và sức sống mùa xuân đang tràn ngập cả đất trời vào một đêm trăng. Hình ảnh này gợi cho em nhớ tới câu thơ tương tự của Bác khi vẽ cảnh đẹp này: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.”
Những dòng thơ tiếp theo toát lên sự suy tư, trầm lắng:
Xem thêm: Giải thích và bình luận câu tục ngữ: ‘Có làm thì mới có ăn…’.“Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.”
Đọc đến đây, lòng em bỗng dâng lên niềm cảm phục, kính yêu đối với Bác. Mặc dù phải ngày đêm lo nghĩ việc nước, nhiều đêm không ngủ, nhưng không phải vì thế mà tâm hồn Người quên rung cảm trước vẻ đẹp của một đêm trăng rừng, một tiếng suôi trong chảy nghe như “tiếng hát xa”, hay cảnh trời nước bao la dưới ánh trăng rằm tháng giêng. Câu thơ thể hiện sự bình tĩnh, chủ động, lạc quan ở vị lãnh tụ. Phong thái ấy toát ra từ những rung cảm tinh tế và dồi dào trước thiên nhiên, đất nước.
Phong thái ung dung, lạc quan còn thể hiện ở hình ảnh con thuyền của vị lãnh tụ và các đồng chí sau lúc bàn bạc việc quân trở về, lướt đi phơi phới, chở đầy ánh trăng giữa không gian của cảnh trời nước bao la dường như cũng ngập tràn ánh trăng. Phong thái ấy được toát ra từ giọng thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại, khoẻ khoắn, trẻ trung.
Đọc xong bài thơ với niềm cảm xúc dạt dào, em rất khâm phục lãnh tụ Hồ chí Minh vì qua bài “Rằm tháng giêng”, nhà thơ đã để lại cho đời những câu thơ tuy đơn sơ, giản dị nhưng giàu tình ý, giàu tính nghệ thuật độc đáo của thơ hiện đại nhưng rất đậm màu sắc cổ điển. Em càng khâm phục hơn nữa khi nhà thơ đã làm rung động người đọc, người nghe về hình ảnh của Bác, một nhà thơ có tâm hồn nghệ sĩ hoà hợp thống nhất với cốt cách của người chiến sĩ, vị lãnh tụ.
Học tập phong cách sáng tác tài tình của Bác Hồ, chúng em càng phải cố gắng nhiều hơn nữa để mong sao có thể để lại cho đời sau những câu thơ, câu văn làm đẹp cuộc đời, làm đẹp lòng người.
Nguồn: thêm: Bàn về học vấn với con người và cuộc sống, ngạn ngữ Hi Lạp có câu: "Học vấn là những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào". Em hãy giải thích và trình bày cảm nhận của mình về ý kiến trên | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng lớp 7 | 676 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng.
Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077.
Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương.
Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.
Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột.
Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam):
Sông núi Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chìa xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây!
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được.
Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận.
Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt. Đó không phải là lời nói suông. Chiến dịch tấn công ào ạt của quân ta vào căn cứ của quân cướp nước mấy tháng trước đó là một bằng chứng hùng hồn. Do đó, chân lí nói trên càng có cơ sở thực tế vững chắc.
Ngày ấy, triều đình nhà Tống lấy cớ ta dám quấy nhiễu vùng biên ải nên phải dấy binh hỏi tội. Đầu năm 1076, quân ta đã tiêu diệt các căn cứ lương thảo, vũ khí, quân đội… chuẩn bị cho cuộc xâm lược của chúng ngay bên đất chúng. Cho nên chủ tướng họ Lí nhắc lại chân lí này để quân dân nước Nam đang chiến đấu nắm chắc thêm lưỡi gươm giết giặc, mặt khác để vạch trần bộ mặt phi nghĩa của quân thù và đánh mạnh vào tinh thần chúng.
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi.
Người xưa quan niệm rằng các vùng đất đai dưới mặt đất ứng với các vùng sao trên trời. Nước nào có vua nước đó. Điều đó là do trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu thơ nhuốm màu sắc thần linh khiến cho chân lí nêu ở câu trên càng tăng thêm giá trị.
Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng.
Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập.
Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời.
Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta.
Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Kết quả sẽ ra sao? Đó là chúng mày không chỉ thua, mà thua to và thất bại thảm hại. Mười vạn quân giặc do hai tướng giỏi chỉ huy, quân ta dâu phải dễ đánh bại nhưng, vì hành động của chúng phi nghĩa nên tất yếu chúng sẽ bại vong. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút.
Câu thơ nguyên văn bằng chữ Hán: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư có nghĩa là: Rồi xem, chúng bay sẽ tự chuốc lấy phần thất bại thảm hại. Thất bại ghê gớm của giặc là điều không thể tránh khỏi bởi chúng là kẻ dám xâm phạm tới điều thiêng liêng nhất của đạo trời và lòng người.
Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc.
Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời.
Tính chất chân lí của bài thơ có giá trị vĩnh hằng bởi nó khẳng định chủ quyền độc lập của nước Nam là bất khả xâm phạm. Tác dụng to lớn, mạnh mẽ của bài thơ không chỉ bó hẹp trong hoàn cảnh lúc bấy giờ mà còn kéo dài vô tận. Hơn mười một thế kỉ, quân xâm lược phương Bắc cố tình thôn tính nước ta nhưng dân tộc ta đã đồng lòng đứng lên chiến đấu đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi để bảo vệ chủ quyền ấy.
Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách đanh thép chân lí độc lập tự do, đồng thời lên án tính chất phi nghĩa của hành động xâm lược cùng sự bại vong tất yếu của kẻ dám ngang ngược xâm phạm chân lí đó.
Việc khẳng định lại chủ quyền độc lập của dân tộc ta để đánh tan ý chí xâm lược của bọn cướp nước trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc chiến đấu ác liệt là hết sức cần thiết. Vì lẽ đó mà từ trước tới nay, có nhiều ý kiến cho rằng Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập thành văn thứ nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt | 1,825 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt
Hướng dẫn
Nếu nhắc đến trận đánh oai hùng trên sông Như Nguyệt (sông Cầu ở Bắc Ninh) thì ai cũng nhớ đến vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt. Nhắc đến ông thì không ai có thể không nhắc đến chiến công hiển hách của ông năm 1077 thắng quân Tống. Trận đánh đã đưa ông vào sử sách lưu truyền ngàn đời với bài thơ tuyệt tác làm nức lòng người đọc, người nghe, đó là bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên định đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đã truyền tải tấm lòng của tác giả một cách chân thật nhất:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.”
Dịch thơ:
“Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.”
Đêm thiêng liêng trên dòng sông Như Nguyệt chợt vang lên lời thơ Thần làm cho tinh thần ba quân, tướng sĩ hứng khởi vì tự hào là con Rồng cháu Tiên, luôn có Thần giúp đỡ. Trong khi đó lời truyền cũng làm cho bọn giặc kinh sợ vỡ mật, mất hết tinh thần chiến đấu. Ớ trong bài thơ này có một điều đặc biệt là trong bản phiên âm từ tiếng Hán, Lý Thường Kiệt đã dùng chữ “dế” để chỉ vua nước ta, coi vua Nam ngang hàng với vua phương Bắc. Đây là sự tự tôn dân tộc mạnh mẽ, mãnh liệt: khẳng định nước Nam là của vua Nam. Thời xưa, với quan niệm phong kiến quân chủ, nước là của vua nên trung thành với vua là trung thành với đất nước “Trung quân, ái quốc”. Ví như mười tám dời vua Hùng thay nhau dựng nước và giữ nước bình yên cho bờ cõi. Thời kì đó đã xuất hiện Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân. Rồi đến Thục Phán đánh đuổi giặc Tần xưng An Dương Vương. Đến ngườị phụ nữ chân yếu tay mềm cũng vùng lên đánh giặc như Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân Hán hay Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân đánh phá quân Ngô. Rồi từ đó nước nam ta dần dần khởi sắc với các đời vua uy nghiêm, lẫm liệt: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), Lý Nam Đế (Lý Bí), Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng), họ Khúc, triều Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê,… Luôn sát cánh bên các vị vua còn có các danh tướng lẫy lừng như Lý thường Kiệt,… Nhờ có những vị vua anh minh, những vị tướng tài ba đã dẫn dắt đất nước được thái bình thịnh trị. Để từ đó nổi lên những chiến công vang dội đem lại nền độc lập cho đất nước.
“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam củng khác.”
Lời tuyên bố của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng cùng quan điểm non nước Việt Nam ta đã được hoạch định từ ngàn xưa giống như câu thơ “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, qua bao nhiêu thử thách đã hình thành một Việt Nam gấm hoa, thấm đậrn tình đoàn kết dân tộc.
Càng ý thức chủ quyền đất nước, càng yêu nước nồng nàn bao nhiêu, nhân dân ta càng căm thù giặc bấy nhiêu. Điều này được thể hiện rõ nét qua hai câu thơ cuối như sau:
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư.”
Dịch thơ:
“Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.”
Kết cục cho bi kịch của việc cướp nước là bọn xâm lược sẽ bị trả đòn trên sông Như Nguyệt. Tiếng ngâm thơ vang vọng hai bên bờ sông áp đảo tinh thần ngạo mạn của bọn xâm lăng. Đồng thời giúp quân ta tăng thêm ngọn lửa hận thù sôi sục lũ giặc Tống cướp nước, tăng thêm quyết tâm vùng lên giành lại non sông, dánh cho lũ giặc tan tành từ đó giữ vững độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước. Với những khổ đau mà giặc phương Bắc gây ra thì một trận đánh hào hùng sẽ mau chóng lấy lại niềm hứng khởi cho toàn dân cùng cất tiếng hoà chung ca khúc khải hoàn, chiến thắng.
Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đã giúp chúng ta ghi nhớ lịch sử hào hùng của dân tộc, để ta tự hào về cội nguồn của mình, luôn nhớ chủ quyền đất nước là của chúng ta, những người con mang nòi giống “con Rồng cháu Tiên”, trong người chảy dòng máu “Lạc Hồng”. Bài thơ cũng bồi dưỡng tinh thần quyết tâm chống giặc, bảo vệ đất nước, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, yêu đất nước cho người đọc, người nghe.
Đề cập đến tuyên ngôn độc lập của nước ta thì bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản đầu tiên cùng với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản thứ hai và tiếp đến là “Bản tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Tất cả đã làm cho nhân dân ta vỡ oà niềm hân hoan, hạnh phúc vì mở ra một trang sử mới. Đây là trang sử của sức mạnh niềm tin vào lẽ phải, chính nghĩa, sức mạnh của tình đoàn kết dân tộc thể hiện qua quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, giữ vững chủ quyền đất nước trước các âm mưu xâm lược của bọn cướp nước.
Xem thêm: Hãy bình luận ý thơ sau đây: "Nhớ câu kiến ngãi bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng" (Trích “Truyện Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu)BÀI LÀM 2
Mở bài – Đặt vấn đề: Đất nước Việt là sản phẩm của ‘ Con rồng, Cháu tiên’ ; là sự khai sinh của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tiếng nói của những người con, người cháu của đất nước đó được vang ca mấy nghìn năm. Họ đã sống, đã lao động để bảo vệ cái nôi nơi họ sinh ra
– Nhưng rồì bọn quân xâm lược phong kiến phương bắc với tư tưởng bá quyền nước lớn hiển nhiên qua xâm lăng muốn biến dân tộc ta thành dân nô lệ của chúng. Và rồi chúng ta không khoan nhường một giây phút nào nữa, lên tiếng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đất nước! Và bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên ra đời:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng bay nhất định phải tan vỡ.
Thân bài – Triển khai: Bài thơ là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy.( được thể hiện rõ qua 2 câu thơ đầu )
+ Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là chân lí độc lập bất hủ!
“nam quốc sơn hà nam đế cư”
+ Ý thức tự tôn dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ qua hai từ Nam quốc và Nam đế đầy ẩn ý. Nước nam là của vua và dân nam, không một ai có thể chối cãi nó được ví như hình ảnh mẹ sinh ra con thì con chính là con của mẹ, không thể là con của một ai khác và không ai có quyền cướp con khỏi bàn tay mẹ.
+ Hiểu và nhận thức được chủ quyền trị vì của dân tộc đất nước của những người dân nước Việt. Thái độ ấy là tư thế của một dân tộc dám kiêu hãnh đứng thẳng làm người, giơ một quả đấm thép giáng thẳng vào bộ mặt kiêu căng ngạo mạn của bọn phong kiến Trung Quốc coi nước khác chỉ là chư hầu của chúng, coi dân tộc khác chỉ là nô lệ của chúng
+Lãnh thổ ấy được minh chứng là của con dân việt không chỉ qua việc họ đã xây dựng nên đất nước ấy mà còn có tiền đề đó là “sách trời” đã chia nó từ bấy lâu nay
– Khẳng định ý chí bảo vệ tổ quốc của quân và dân ta (2 câu tiếp)
+ Ý chí đó được làm rõ qua câu hỏi tu từ “- cớ sao lũ giặc qua xâm phạm”. Đó là một biểu hiện giận dỗi đầy phẫn uất của tác giả, đó cũng là thái độ của con dân việt với lũ cướp nước
+Tinh thần bảo vệ tổ quốc được nuôi dưỡng từ sâu trong trái tim của mỗi một người con dân việt khi ý thức rõ lũ phong kiến ngạo mạn, cướp đi cuộc sống bình dị của một đất nước yêu tự do, yêu hòa bình ấy
+ Câu thơ còn thể hiện thái độ không khoan nhượng, không nhún nhường trước những hành động bạo tàn đó, thể hiện được chí khí, bạo tàn của một người dân yêu nước
+Lý Thường Kiệt còn lên tiếng cảnh báo trước những hành vi vô phép tắc của tụi xâm lăng “chúng bây sẽ bị đánh cho tơi bời” sẽ là một kết cục ê chề, thê thảm của chúng.
+ Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt
– Khẳng định tinh thần yêu nước:
+ Chiến thắng với quân địch là minh chứng cho một sự thật rõ ràng là quân và dân ta có tấm lòng hướng về tổ quốc, đặt vị trí quốc gia lên hàng đầu
+ Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước.
+ Đó là tinh thần đoàn kết dân tộc để trừng trị bọn tội đồ cướp nước, bán nước
Kết bài – Đánh giá:Tóm lại, bài thơ ‘Nam Quốc sơn hà’ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước đại việt:
+ Nói về ranh giới chủ quyền quốc gia với những lời lẽ xác đáng, khoa học
+ Được mọi con dân việt nam lưu truyền trong xã hội, trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác
+ Giá trị bài thơ gắn với thiên thời- địa lợi- nhân hòa phù hợp với lịch sử nước ta lúc bấy giờ
– Bài thơ là khúc anh hùng ca của dân tộc, là tiếng nói đầy quyền uy đối với kẻ thù xâm lược
– Bài thơ xứng đáng là áng thơ văn bất hủ
Nguồn: thêm: Kể lại câu chuyện nàng Tiên Ốc bằng lời bà cụ | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt | 1,857 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch
Hướng dẫn
Hương Lô là một đỉnh núi ở tây bắc núi Lư, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đỉnh núi cao, khói mây bao phủ, xa nhìn như một lư hương khổng lồ, nên đặt là Hương Lô. Ngắm nhìn thác núi Lư đổ nước trắng xoá từ núi xuống, xúc cảm trước cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, Lý Bạch đã sáng tác bài Vọng Lư Sơn bộc bố (Xa ngắm thác núi Lư). Bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn chỉ có 28 chữ nhưng đã dựng lên trước mắt người dọc một bức tranh toàn cảnh về núi Lư và thác núi Lư. Bức tranh được tô vẽ rộng lớn, với những màu sắc và đường nét rõ ràng, cụ thể vừa ở độ xa vừa ở thế gần, vừa ở chiều cao vừa ở độ thấp.
“Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên.
Phi lưu trúc há tam thiên xích,
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu tliièn.”
Dịch thơ:
“Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
Xa trông dòng thác trước sông này.
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây”.
Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Lý Bạch là khung cảnh và thế đứng uy nghi của núi Lư. Không tả núi Lư cao mà người đọc thấy được bề thế, độ cao của núi. Vách núi rộng lớn như bức tường đá khổng lồ dựng đứng trước mặt. Ánh nắng mặt trời ban ngày phản chiếu (nhật chiếu) đỉnh núi, vách núi Lư (Hương Lô). Đá núi nhiều màu bắt nhiệt nhanh và giảm nhiệt chậm. Khi ánh nắng niặt trời có nhiệt độ cao toả xuống núi tự nhiên thiêu đốt dá núi, làm cho đá nóng rực và bốc ra những làn khói màu tía (sinh tử yên). Các miêu tả của tác giả độc đáo, vượt qua cách miêu tả thiên nhiên núi non thông thường là tả đỉnh núi cao có mây trăng bao phủ. ơ đây, Lý Bạch chỉ tập trung miêu tả những chi tiết nổi bật, gây ấn tượng nhất cho người đọc. Ngay tữ câu đầu, nhà thơ thể hiện được hình dung, tưởng tượng phong phú của mình. Nhìn mặt trời phản chiếu vào núi và từ núi bốc ra những đám khói màu hồng nhạt, giống như một lò hương nghi ngút khói. Màu sắc mà nhà thơ tả ở dây vừa rõ ràng vừa kì lạ. Hình ảnh mặt trời, ngọn núi, màu khói tía được xêp đặt bằng những từ'ngữ giản đơn, dễ hiểu và tự nhiên, thể hiện con mắt nhìn và óc quàn sát thiên nhiên tinh tế, sắc sảo của Lý Bạch.
“Xa trông dòng thác trước sông này.
Nươc bay thắng xuống ba nghìn thước,”
Không dừng lại ở khung cảnh núi non, tiến thêm một bước, nhà thơ tả cảnh thác nước và dòng sông. Nếu như câu thơ trên là tả “sơn” thì câu thơ tiếp theo, ông tả “thủy”. Trong câu thơ thứ nhất, Lý Bạch không nói rõ vị trí đứng của mình ở đâu khi tả hình thể núi Lư thì ở câu thơ thứ hai, tác giả đã đứng từ xa (dao khan) để tả cảnh hùng vĩ, mạnh mẽ và đầy uy lực của thác nước chảy từ núi Lư. Thác nước trắng xoá, chảy thẳng từ đỉnh núi cao xuống như treo trước dòng sông (quải tiền xuyên). Nước thác từ độ núi cao ba nghìn thước (tam thiên xích) chảy mạnh, đổ nước ào ào như bay thẳng từ đỉnh núi xuống (phi lưu trực há). Chỉ một câu thơ bảy chữ, nhà thơ đã diễn tả sự quy mô, khổng lồ và tốc độ đổ nước ghê gớm của thác núi Lư.
Xem thêm: Về một phương diện nghệ thuật mà anh (chị) cho là đặc sắc trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên“Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.”
Thác nước núi Lư trắng xoá, lấp lánh, Lý Bạch ngỡ ngàng tưởng tượng như dải Ngân Hà với hàng triệu vì sao lấp lánh, kéo dài, rực sáng trên bầu trời cao. Vì thác nước núi Lư chảy từ độ cao ngang lưng trời tuôn nước xuống nên nhà thơ liên tưởng, so sánh với một dòng sông lớn, như dải Ngân Hà trên bầu trời cao. Cách so sánh vừa độc đáo vừa hợp lí làm cho người đọc rất đỗi bất ngờ, thú vị. Chi tiết “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” tức là tuột khỏi bầu trời, từ bỏ bầu trời để rơi xuống mặt đất. Trần gian mà Lý Bạch miêu tả là một chi tiết vừa hư vừa thực, đầy sáng tạo, phù hợp với bút pháp lãng mạn của tác giả.
Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của bài thơ là tác giả sử dụng ngôn ngữ tinh luyện, chính xác và giàu hình ảnh. Trong mỗi câu thơ, Lý Bạch dùng một “thi nhãn”.(mắt thơ) để miêu tả. “Thi nhãn” ở đây là những dộng từ: “sinh” (phát ra- câu 1), “quải” (treo – câu 2). Hai động từ “phi lưu” (bay, chảy) diễn tả tốc độ mạnh mẽ, ghê gớm của dòng thác. Hai tính từ nối tiếp (thẳng xuống) gọn, dứt khoát, miêu tả tư thế thiên nhiên của thác núi Lưu. Nếu sự bất ngờ, đột biến của từ ngữ được thể hiện ở ba câu thơ trên thì đến câu thơ cuối, động từ “lạc” (rơi tuột) được tác giả tài tình, khéo léo, làm bật nổi nội dung của toàn bộ bài thơ. Thác núi Lư từ trạng thái “treo” (quải), “bay chảy” (phi lưu) và cuối cùng Lý Bạch có cảm giác nó như một dải Ngân Hà từ bầu trời “rơi tuột” (trực há) xuống trần gian. Hình ảnh thác nước núi Lư như “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” làm người đọc liên tưởng đến hình ảnh “sông Hoàng chảy vỡ núi Côn Lôn” (Công vô độ hải), “sông Hoàng sợi tơ từ trời xuống” (Tây nhạc vân đài ca tống dan khâu) và “sông Hoàng từ trên trời rơi xuống” (Bài tặng Bùi thập Tứ).
Bức tranh thiên nhiên vẽ thác núi Lư Được Lý Bạch miêu tả đầy đủ, vừa khéo, vừa tình. Tả thác nước mà có núi sông, ánh nắng mặt trời, dải ngân hà, trời cao, mây trắng,… Bài thơ không có từ ngữ nào nói đến con người, nhưng người đọc lại hình dung ra dược con người, một con người nhỏ bé bị bao trùm, bị thu hút trước cảnh thiên nhiên rộng lớn. Hình bóng con người đứng từ xa ngắm nhìn thác núi Lư, bị ngỡ ngàng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bị bất ngờ trước sức mạnh tự nhiên của thác núi Lư chính là Lý Bạch. Một con người lãng mạn, với tâm hồn phóng khoáng mới có được bút pháp miêu tả tưởng tượng, phong phú khác thường như thế. Dưới ngòi bút tài tình của nhà thơ, con người dù có lớn lao, khả năng to lớn đến đâu cũng cảm thấy nhỏ bé, thấp kém trước thiên nhiên rộng lớn, uy nghi.
“Vọng Lư Sơn bộc bố” là bài thơ miêu tả cảnh tượng hoành tráng của thiên nhiên. Dưới ngòi bút của nhà thơ, hình ảnh thác nước núi Lư trở nên sống động, mãnh liệt và dữ dội. Bài thơ không có câu chữ nào diễn tả tình cảm yêu thương, say đắm của Lý Bạch trước cảnh đẹp thiên nhiên, nhưng qua bút pháp miêu tả, qua hình tượng thơ ca đầy gợi cảm, sáng tạo, người đọc thấy được tình cảm bao la, cảm xục sâu lắng của tác giả.
Nguồn: thêm: Cảm nghĩ về thầy cô giáo của em lớp 7 hay nhất | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch | 1,316 | |
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao: "Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần"
Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng nhất trong đời sống con người. Vì thế trong kho tàng văn học dân gian đã có biết bao tiếng hát, lời ru, câu chuyện… khuyên nhủ mọi người hãy xây dựng tình cảm gia đình đầm ấm, thuận hòa. Một trong những lời khuyên được lưu truyền rộng rãi là:
Anh em như thể tay chân,
Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần.
Câu ca dao đã dùng hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi để lời khuyên dễ đi vào lòng người. Ai chẳng biết tay, chân là những bộ phận trên cùng một cơ thể con người. Tuy mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ khăng khít, bổ sung, hỗ trợ cha nhau. Anh em trong gia đình cũng vậy. Tuy mỗi người là một cá nhân riêng biệt nhưng đều cùng cha mẹ sinh ra, cùng chơi, cùng học, cùng lớn lên dưới một mái nhà. Vì thế, quan hệ anh em là quan hệ gắn bó máu thịt với nhau.
Vậy anh em phải cư xử với nhau thế nào cho đúng? Người xưa khuyên nhủ: Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Anh em ruột thịt phải thương yêu, giúp đỡ nhau trên mỗi bước đường đời.
Rách, lành là hình ảnh tượng trưng cho hai hoàn cảnh sống khác nhau. Rách là cảnh sống khó khăn, khổ sở; còn lành là cảnh sống thuận lợi, sung túc. Hợp nghĩa lại, rách lành chỉ chung mọi cảnh ấm no hay nghèo đói. Khi đói khi no, lúc đủ lúc thiếu, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì anh em ruột thịt cũng phải thương yêu, hỗ trợ lẫn nhau, không so đo tính toán thiệt hơn. Hoàn cảnh sống có thể thay đổi nhưng tình nghĩa anh em lúc nào cũng phải thắm thiết, bền chặt. Nếu như tình cảm anh em là thứ tình cảm tự nhiên thì sự đùm bọc lẫn nhau cũng là việc làm tự nhiên, tất yếu.
Đùm bọc có nghĩa lằ giúp đỡ, che chở, chia sẻ cho nhau mọi nỗi buồn vui, mọi điều sướng khổ với tất cả tình cảm thương mến chân thành. Câu ca dao đưa ra một cách cư xử hợp tình hợp lí trong quan hệ anh em. Đây cũng là một chuẩn mực đạo đức để đánh giá phẩm chất con người.
Đùm bọc, đỡ đần còn là trách nhiệm mỗi người anh, người em trong gia đình. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về tình anh em thắm thiết qua Sự tích trầu cau. Hai anh em sinh đôi họ Cao mồ côi cha mẹ, dắt nhau đên học ở nhà thầy đồ họ Lưu. Thấy họ nhường nhau bát cháo duy nhất, cô con gái thầy đồ cảm động và tình nguyện làm vợ người anh. Thế rồi chỉ vì một sự hiểu lầm mà người em xấu hổ phải ra đi Người anh ân hận bỏ nhà đi tìm em… Tình anh em sâu nặng đã khiến trời đất cảm động, biến anh thành cây cau, em thành hòn đá, mãi mãi bên nhau trong tục ăn trầu của người Việt. Bên cạnh việc ca ngợi tình anh em thắm thiết trong truyện Trầu cau, nhân dân ta cũng lên án người anh tham lam độc ác trong truyện Cây khế và dành cho hắn kết cục bi thảm là phải bỏ xác dưới đáy biển sâu.
Bài học đạo đức từ câu ca dao trên thật sâu xa, thấm thía. Ngày nay, bài học đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa giáo dục vì trong cuộc sống vẫn còn những cảnh tượng ngang trái, đau lòng, đi ngược lại đạo lí làm người.
Xem thêm: Học tập là công việc vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với người học sinh. Em có suy nghĩ gì về công việc này của học sinh thời nay? | Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Anh em như thể tay chân…” | 685 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau,Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”
Bài làm
Gia đình là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người, là chiếc nôi đầu tiên khi một đứa trẻ chào đời, hình thành nhân cách cho con người. Một gia đình luôn sum vầy hạnh phúc, cha mẹ luôn sống đúng chuẩn mực xã hội, đạo đức sẽ hình thành cho đứa trẻ những nhân cách tốt.
Chính vì vậy, khi người con gái tới tuổi phải đi lấy chồng, được gả về một nơi xa xôi khiến cho người con gái nhớ quê nhà, ngày đêm trông ngóng về quê hương, với nỗi nhớ khôn nguôi về gia đình, về những người thân yêu của mình
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.
Hai câu ca dao thể hiện sự đau xót, nỗi niềm của cô gái khi nhìn về quê hương của mình. Nhìn về nơi có gia đình thân thương với những tình cảm thân thương, sự gắn bó vô cùng thiêng liêng, sâu sắc.
Điệp từ “chiều chiều” được lặp đi lặp lại, thể hiện một việc vô cùng quen thuộc, như một thói quen, thường trực nỗi nhớ nhung trong lòng người con gái xa quê, làm cho người đọc cảm thấy nhớ nhung ngậm ngùi cho thân phận của người con xa quê.
Chiều tà là cảnh hoàng hôn, buông xuống bóng tối bao phủ khiến cho người nỗi buồn trong lòng người càng dâng lên da diết, khiến cho con người càng cảm thấy thê lương, tâm trạng nhớ nhà, nhớ người thân càng trở nên quay quắt, da diết vô cùng.Xem thêm: Phân tích nhân vật người lái đò trong Người đò sông Đà của Nguyễn Tuân. So sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù) dể thấy chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của ông trước và sau Cách mạng tháng Tám
“Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Hình ảnh trông về quê mẹ, trong không gian bao la, trước cảnh chiều tà buồn vương khiến cho con người càng trở nên bé nhỏ trước cảnh bao la, của hoàng hôn bao la. Sợi giây thương nhớ, gợi sầu khiến cho con người càng trở nên bé nhỏ.
Quê mẹ là nơi cô gái sinh ra lớn lên với những kỷ niệm ngọt ngào bên người thân. Biết bao kỷ niệm vui buồn sớm tối. Những kỷ niệm gia đình quây quần bên nhau, khiến cô gái vô cùng buồn phiền, nhớ nhung
Bài ca dao thể hiện tình cảm ruột thịt giữa con cái và cha mẹ là tình cảm thiêng liêng sâu sắc không gì có thể sánh được, người con gái khi lớn lên phải gả tới nơi xa xôi nhớ nhung thương nhớ mẹ cha ở quê nhà.
Giọng tâm tình đầy thương nhớ, lời thơ vô cùng dịu dàng sâu lắng khiến người đọc cảm thông với những tình cảm của người con gái xa nhà. Nỗi nhớ da diết chất chứa trong lòng người con gái khiến người con gái ruột đau như cắt.
Tình cảm tha thiết nỗi nhớ quê hương là tình cảm mà bất cứ người con nào xa quê thường có. Nó thể hiện tình cảm thiêng liêng gia đình ruột thịt gắn bó với nhau không gì chia lìa được.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau,Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều!- văn lớp 7 | 578 | |
Phát biểu cảm nghĩ về hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh, trong truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh”
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
Hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.
B. THÂN BÀI:
– Vua Hùng Vương thứ 18 kén chồng cho con gái.
– Lí do xảy ra trận chiến quyết liệt giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.
+ Thủy Tinh tài giỏi nhưng lại thiếu đức.
+ Ngược lại, Sơn Tinh hội tụ đầy đủ nhân cách một con người. Trí tuệ, đi đôi với tài đức.
– Sơn Tinh là hình ảnh của nhân dân chống lũ lụt.
– Thủy Tinh tượng trưng cho những tai họa khủng khiếp.
– Suy diễn: Bằng trí tuệ và sức mạnh, con người đã khác phục thiên tai, chế ngự được những cơn thịnh nộ của thiên nhiên.
C. KẾT LUẬN:
Suy nghĩ và ước mong của em.
BÀI LÀM
Sơn Tinh, Thủy Tinh là hai vị thần đại diện cho qui luật phát triển thiên nhiên và trí tuệ của con người. Em đã được ngoại kể cho nghe nhiều lần. Càng thấm thía và để lại ấn tượng sâu sắc trong em hơn khi em đã được tham dự buổi trình chiếu bộ phim Sơn Thần, Thủy Quái.
Đó là câu chuyện về vua Hùng Vương thứ mười tám muốn kén chồng cho con gái tên là Mị Nương xinh đẹp. Nhưng có đến hai chàng trai tài giỏi cùng đến cầu hôn. Nhà vua không biết chọn ai nên đã nêu điều kiện: Người nào đem lễ vật đến trước sẽ được cưới công chúa làm vợ… Sơn Tinh đến trước cùng lễ vật đầy đủ nên được rước Mị Nương về núi Tản Viên. Thủy Tinh đến sau nổi giận đùng đùng đuổi theo Sơn Tinh đề giành lại công chúa.Xem thêm: Bài văn sáng tạo đạt điểm tuyệt đối của nữ sinh lớp 11 Trận chiến diễn ra quyết liệt, nhưng vì tài trí kém, nên Thủy Tinh đành bại trận.
Câu chuyên mang những tình tiết thật hấp dẫn, li kì, lôi cuốn người xem theo dõi một cách say mê, hứng thú.
Theo em, Sơn Tinh là người thực lòng yêu Mị Nương nên mang hết tâm trí, tài nghệ của mình quyết tâm cưới Mị Nương. Chỉ có con người mang trong tim đầy tình yêu thương mới có một sức mạnh, một trí tuệ hơn người. Ở đây, em thật khâm phục Sơn Tinh, một chàng trai tài giỏi và chứa chan trong lòng một tình yêu nồng cháy, mãnh hệt với nàng công chúa của vua Hùng.
Cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, cũng không kém phần hứng thụ. Đó là cuộc tranh tài cao thấp để giành Mị Nương. Vì đến sau, không cưới được Mị Nương, Thủy Tinh đã gây ra bao tội lỗi. Thần hô mưa, gọi gió, dâng nước sông cuồn cuộn đánh Sơn Tinh, tạo giông bão rung chuyển trời đất. Phong Châu lềnh dềnh trên một biển nước. Thế nhưng Sơn Tinh với những phép thuật và trí tuệ của mình đã khắc phục được cơn giận của Thủy Tinh bằng cách nâng núi cao dần.
Em rất cảm phục hai chàng trai vì cả hai đều có bản lĩnh trong chiến đấu. Nhưng tính cách họ rất ngược nhau. Vì một chuyện riêng tư mà Thủy Tinh đã gây bao tai họa cho người khác. Thủy Tinh quả là ích kỷ, độc ác và xấu xa. Với tư cách xấu xa như thế, Thủy Tinh không thể xứng đôi với Mị Nương, một nàng công chúa hiền dịu. Còn Sơn Tinh lại không hề nao núng trước tai họa ghê gớm do Thủy Tinh gây ra. Chàng biết lựa sức mình chiến đấu với Thủy Tinh. Phải chăng qua Sơn Tinh, và Thủy Tinh người xưa muốn nói rằng: Trong mọi việc, con người cần thận trọng và tỉnh táo.Xem thêm: Chuyện tối thứ bảy ở nhà em Trong tư tưởng của ông cha ta xưa kia. Sơn Tinh là hình ảnh của nhân dân chống lũ lụt, bảo vệ sự sống con người. Thủy Tinh thì tượng trưng cho những tai hoá khủng khiếp mà con người phải chống đỡ. Nhân dân ta luôn ao ước thoát khỏi sự đe dọa của thiên nhiên. Và cũng chính họ đã khôi phục thiên nhiên trong trí tưởng tượng. Ngày nay, những phong ba bão tố không còn hung hăng không còn ghê gớm đối với con người nữa. Nhân dân ta đã biết ngăn đê, đã biết đắp đập chống chọi với lũ lụt. Hăng năm, Thủy Tinh vẫn tạo ra giông bão đánh Sơn Tinh, mong cướp lại Mị Nương. Nhưng cuối cùng Thủy Tinh vẫn là người thua cuộc. Nhân dân ta đồng lòng, đã chung sức ngăn chặn dòng nước ghê gớm trong mùa lũ. Chính bằng trí tuệ và sức mạnh, con người đã khắc phục thiên tai, đã chế ngự được cơn thịnh nộ của thiên nhiên, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc, đem lại một nhịp sống êm ả, bình yên.
Em mong ước được một lần, dù chỉ một lần duy nhất, đặt chân đến Sơn Tây để nhìn, để ngắm, để chiêm ngưỡng núi non Tản Viên. Nơi ấy, ngày xưa là bãi chiến trường dữ dội của hai vị thần. Và cũng nơi ấy, giờ đây đang là một khu hồ rộng lớn chứa những khối nước khổng lồ để làm chạy máy phát điện. Và một nhà máy thủy điện Hòa Bình – nhà máy lớn nhất nước ta – đang ngày đêm dựa vào Thủy Tinh bắt những dòng nước hung dữ để sản sinh ra nhiều điện năng cho đất nước.Xem thêm: Bức tranh mùa thu và tâm trạng của Đỗ Phủ trong Thu hứngVanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh, trong truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” | 971 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về mẹ của em
Bài làm
Mẹ là người mà em yêu quý nhất trên đời. Đối với em, mẹ không chỉ là một tấm gương sáng cho em học tập mà còn giống như một người tri kỷ luôn ở bên em mỗi khi em vui buồn.
Mẹ em năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi nhưng ai cũng nói nom mẹ em già trước tuổi. Có lẽ do công việc đồng áng vất vả và lúc nào mẹ cũng lo lắng cho các con nên trên gương mặt nhỏ nhắn đã sớm xuất hiện nhiều vết nhăn. Công việc vất vả và thường xuyên dầm mưa dãi nắng nên nước da của mẹ cũng ngăm đen rám nắng chứ không được trắng trẻo như những người làm việc nhàn hạ. Tuy nhiên đối với em mẹ là người phụ nữ đẹp, đẹp ở nụ cười tỏa nắng mỗi khi mẹ vui, đẹp ở tâm hồn bởi ngoài anh em và những người trong gia đình thì mẹ đối xử rất tốt với mọi người xung quanh. Chính vì thế mẹ em được hàng xóm láng giềng quý mến.
Hơn hết đối với em thì mẹ rất quan tâm, chăm sóc. Tất cả những ký ức tươi đẹp của em từ nhỏ đến nay thì hầu hết đều gắn với hình bóng của mẹ. Mẹ là người nâng đỡ những bước chân đầu đời của con, là người dạy cho con những điều hay lẽ phải. Mỗi khi con mắc lỗi thì mẹ không dùng đòn roi mà điều đầu tiên mẹ làm đó chính là khiến cho con nhận ra lỗi lầm của mình. Và khắc sâu vào tâm trí con khiến con rút ra được bài học và không bao giờ mắc lại lỗi đó nữa. Những nét chữ đầu tiên không phải do cô giáo dạy con mà chính là mẹ hằng đêm bắt tay con để con nắn nót từng nét chữ.Xem thêm: Giải thích câu "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"
Biểu cảm về mẹ
Đối với con mẹ giống như một vị đầu bếp thiên tài. Mẹ của em nấu ăn ngon cực kỳ và trong mỗi bữa ăn luôn có sự tỉ mỉ lựa chọn sao cho thích hợp với các thành viên trong gia đình và luôn luôn có món em thích. Mỗi món ăn lại chan chứa tình cảm, sự thương yêu của mẹ dành cho con và mọi người. Mặc dù công việc bận rộn nhưng cuối tuần mẹ luôn làm những bữa ăn gia đình với nhiều món ăn và khi đó cả nhà em cùng với ông bà nội lại có buổi sum họp rất vui vẻ. Mẹ của em rất được lòng ông bà nội và không hề có chuyện mâu thuẫn hay xung đột giữa "mẹ chồng nàng dâu". Đối với cả hai bên nội ngoại mẹ đều quan tâm như nhau. Cuối tuần mẹ thường cho chúng em lên nhà nội và làm cơm trên đó vì nhà nội cách nhà em không xa. Rồi khi ông bà bị ốm thì mẹ em luôn dành nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc. Thấy mẹ vất vả nhưng vì em còn nhỏ nên cũng không giúp được gì nhiều. Ngoài thời gian học thì ở nhà em phụ mẹ nấu cơm, quét nhà. Em thích nhất đó chính là khi cùng mẹ chăm sóc vườn rau vào mỗi chiều. Vườn rau nhà em với bàn tay chăm sóc của mẹ khiến nó luôn tươi tốt và dù diện tích không lớn nhưng lúc nào nhà em cũng có rau sạch để ăn.Xem thêm: Thầy, cô giáo chủ nhiệm cần biết những công việc tập thể lớp đã làm để giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Em hãy viết văn bản gửi lên thầy cô để thầy cô được biết những việc làm trên
Trong cuộc sống ai cũng có lần vấp ngã, cuộc đời không phải lúc nào cũng vui vẻ mà cũng chất chứa rất nhiều nỗi buồn. Mỗi khi em buồn thì mẹ luôn ở bên động viên em và làm cho em vui. Trong vòng tay của mẹ em cảm thấy thế giới thật bình yên và quên đi hết mọi muộn phiền. Mỗi khi em vui hay làm được một việc gì đó thì người đầu tiên mà em chia sẻ chính là mẹ.
Người ta nói tình mẫu tử là thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý và em thấy rằng nó hoàn toàn đúng đắn và là lời nhận xét sâu sắc. Em luôn tự nhủ bản thân sẽ học tập, rèn luyện thật tốt để mẹ không phiền lòng và mẹ sẽ tự hào vì em.
Loan Trương | Phát biểu cảm nghĩ về mẹ của em hay nhất | 806 | |
Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật trong tác phẩm văn học em đã học hoặc đọc thêm
Gợi ý
Ở nước ta, ai cũng biết rất nhiều những anh hùng đã hi sinh để bảo vệ và giành lại độc lập cho đất nước. Nhưng trong số các anh hùng đó, người mà em và bao các bạn thiếu nhi như em rất thán phục và cần noi gương chính là nhân vật Lượm trong văn bản Lượm của nhà thơ Tố Hữu.
Lượm là một cậu bé thanh mảnh, nhỏ nhắn. Cậu có đôi chân thật nhanh nhẹn. Đặc biệt, Lượm luôn đội chiếc mũ ca lô trên đầu, lệch về một phía trông thật ngộ nghĩnh và đáng yêu. Chú liên lạc này luôn đeo một cái xắc xinh xinh trên vai trông rất ra dáng “cán bộ”. Đó cũng là một cậu bé rất yêu đời. Miệng cậu luôn huýt sáo như những con chim chích đang hót vang lưng trời. Tuy công việc của người chiến sĩ nhỏ rất nguy hiểm nhưng cậu rất yêu thích công việc mà mình đã lựa chọn. Lượm rất lạc quan trong khi làm nhiệm vụ. Cậu nhảy nhót trên đường, vừa đi, vừa nhảy, cười tít cả hai mắt. Ngày qua ngày, Lượm như một con chim đang hướng tới mặt trời rực rỡ.
Lượm không nề nguy hiểm. Cậu đã vượt qua bom đạn để đưa những bức thư khẩn cực kỳ quan trọng cho các đơn vị khác. Cho đến một ngày, Lượm đi liên lạc trên một con đường làng quê vắng vẻ. Những bông lúa chín vàng đã làm Lượm ngây ngất trong mùi thơm ngọt ngào. Cái mũ ca lô của chú bé nhấp nhô trên đồng. Lượm bị phát hiện, thế là những tiếng súng vang lên. Đạn bay vun vút như đan chéo vào nhau đuổi thẹo chú bé. Lượm chạy như bay nhưng vẫn không tránh được những viên đạn của địch. Chú bé ngã xuống, tay vẫn nắm chặt bông lúa thơm ngát.Xem thêm: Cảm nghĩ về nẻo đường tuổi thơ qua ca dao Cái chết của chú bé anh hùng làm tim người đọc nhói đau. Chú bé đã thanh thản ra đi giữa hương thơm của lúa. Quê hương mở rộng vòng tay đón chú vào lòng. Lượm ơi, còn không? Câu hỏi xoáy vào lòng người đọc. Chú bé ngã xuống nhưng vẫn còn mãi với quê hương và sống mãi trong lòng bạn đọc với tất cả lòng yêu thương và kính trọng.
Lượm thật xứng đáng là một tấm gương sáng cho các thế hệ thiếu niên nhi đồng trong hiện tại và trong tương lai noi theo.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật trong tác phẩm văn học em đã học hoặc đọc thêm | 450 | |
Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật văn học mà em yêu thích
Gợi ý
DÀN BÀI ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
– Giới thiệu khái quát về nhân vật mà mình chọn.
– Nêu một cách ngắn gọn tình cảm của bản thân đối với nhân vật.
B. THÂN BÀI:
– Triển khai sự hiểu biết của em về nhân vật.
– Trình bày lí do để em thích về nhân vật đó.
– Biết diễn tả tình cảm của bản thân đối với nhân vật.
C. KẾT LUẬN:
– Khái quát những đặc điểm của nhân vật.
– Trở lại việc bày tỏ tình cảm của em đối với nhân vật – chốt lại và gợi mở, cảm xúc xôn xao…
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Một số bạn học sinh lớp 12 hiện nay cho rằng: “Chỉ có vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai”. Anh (chị) hãy cho biết ý kiến về vấn đề đó | Phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật văn học mà em yêu thích | 147 | |
Phát biểu cảm nghĩ về ngày khai trường đầu tiên
Gợi ý
“Tuổi thơ như áng mây, rồi sẽ mãi bay về cuối trời…”, dẫu xa rồi những kỉ niệm tuổi thơ nhưng trong kí ức mỗi người, những gì đã qua lại là những gì đẹp đẽ nhất. Trong góc trời vô cùng tươi đẹp ấy của tôi luôn có một vị trí trang trọng nhất dành cho ngày đầu tiên tôi đến lớp.
Ngày khai trường đầu tiên trong kí ức thơ bé của tôi hiện lên thật rõ ràng như vừa mới hôm qua. Làm sao có thể quên được sự kiện trọng đại và những giây phút thiêng liêng đó được!
Buổi sáng hôm ấy, tôi được ngồi trên chiếc xe máy của bố để đến trường. Bầu trời đẹp và trong xanh, những làn gió đùa nghịch trong hương vị mát lành của mùa thu. Chẳng mấy chốc, cổng trường đã hiện ra, to, rộng và sừng sững ngay trước đôi mắt đầy ngạc nhiên và tò mò của tôi. Ngoài cổng trường, tôi thấy có khá nhiều những người bạn nhỏ trạc tuổi tôi, họ ngập ngừng không dám bước tiếp: đó cũng là những học sinh lớp 1. Có lẽ các bạn ấy cũng có cảm xúc giông như tôi lúc này: sợ hãi, rụt rè mà bỡ ngỡ; một cảm giác lạ lẫm ngơ ngác khi đứng trước cánh cổng trường, cổng trường mở rộng dang hai cánh tay lực lưỡng, hướng về chúng tôi gọi chào. Sự thân thiện ấy như muốn xua tan đi những nỗi lo âu của những đứa trẻ lần đầu tiên đến lởp. Tôi lưỡng lự, tạm biệt bố rồi nhanh chân xếp hàng đi diễu hành với các bạn.Xem thêm: Thuyết minh về con trâu
Những nỗi lo âu, sợ hãi như biến mất vào giây phút tôi cùng các bạn lớp một diễu hành. Thay vào đó là một niềm hân hoan tột độ. Chúng tôi đi trong tiếng vỗ tay hoan hô và những cái vẫy chào thân ái của các anh chị lớp trên, của các thầy cô. Có lẽ đó là giờ phút đẹp đẽ và đáng nhớ nhất của tôi, giờ phút mà tôi được công nhận là học sinh lớp một. Thầy hiệu trưởng cầm dùi trống đánh ba tiếng thật to, thật cao vang xa mãi lên trời mây. Đồng loạt hàng chùm bóng bay bay lên trong muôn vàn ánh mắt dõi theo của hàng trăm học sinh chúng tôi. Tôi cứ ngắm mãi, ngắm mãi, tưởng chừng như nếu chùm bóng bay không bay được nữa chỉ dừng ở lưng chừng trời thì có lẽ tôi đứng cả buổi mà nhìn mất! Tôi đã nghĩ rằng những chùm bóng bay kia cũng như những ước mơ của chúng tôi rồi sẽ bay cao, bay xa…
Buổi khai giảng kết thúc, chúng tôi xếp hàng vào lớp. Lớp chúng tôi rộng rãi, ngăn nắp lắm, nổi bật giữa những bàn ghế, tranh ảnh là chiếc bảng đen to và đẹp. Cô giáo chúng tôi hiền dịu bước vào lớp, nhẹ nhàng hỏi chuyện những học sinh ngồi đầu bàn. Tôi run rẩy khi đôi tay mềm mại của cô khẽ chạm lên bờ vai tôi ân cần hỏi han. Khoảnh khắc xúc động ấy là kỉ niệm tôi nhớ mãi không quên. Tôi cũng phát hiện ra rằng các bạn trong lớp mới cũng nghịch ngợm, đáng yêu và dễ gần như đám bạn hàng xóm của tôi vậy. Tôi và cô bạn cùng bàn ban đầu còn nhoẻn miệng cười gượng chào nhau. Nhưng chỉ một lát sau là ào ào kể cho nhau nghe về những trò chơi ở nhà chúng tôi hay chơi. Tôi nhìn sang xung quanh: cả lớp tôi cũng đang bắt đầu “kết bạn” với nhau một cách ầm ĩ như vậy!Xem thêm: Phân tích bài ca dao “Bao giờ cho đến tháng ba, ếch cắn cố rắn tha ra ngoài đồng…” Tôi không thể nào quên những cảm xúc kì lạ ngày khai trường đầu tiên của mình. Trước mắt tôi sẽ còn biết bao ngày khai trường nữa nhưng tôi hiểu rằng những băn khoăn, hồi hộp, thích thú của ngày khai trường đầu tiên không bao giờ lặp lại. Tôi lưu giữ những cảm xúc rưng rưng ấy như gìn giữ những gì quý bẩu nhất của đời mình.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về ngày khai trường đầu tiên | 735 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về nhà thơ Nguyễn Du
Giống tất cả mọi người dân Việt Nam, tôi yêu tiếng nói của dân tộc mình, thứ nói lên bổng xuống trầm đầy cảm xúc. Vì thế tôi yêu những câu lục bất uyển chuyển và đằm thắm chứa chan tình cảm. Vì lẽ đó, cũng chẳng có gì là lạ, là đặc biệt khi tôi yêu văn học nước mình, và tôi say mê Truyện Kiều của Nguyễ Du. Tôi say mê Kiều bởi ở Kiều tôi thấy Nguyễn Du, một Nguyễn Du của tài và tình, một nguyễn Du có tình yêu tha thiết với dân tộc và tấm lòng nhân hậu đầy cảm thông đối với nhữung kiếp người bất hạnh. Mà bất hạnh nhất trong xã hội xưa là người phụ nữ – những con người hồng nhan bạc phận.
Tôi muốn nói về sự kính trọng của tôi đối với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Cả dân tộc ta đã kính trọng ông nhưng tôi vẫn muốn thể hiện những tình cảm của mình đối với người thi nhân đa tài mà đa đoan ấy.
Điều đầu tiên khiến tôi yêu quý và kính trọng Nguyễn Du chính là tình cảm của ông dành cho con người. Ông là con người có tấm lòng nhân hậu. Có lẽ, đây chính là yếu tố quan trong để ông có được những tác phẩm văn học chứa đựng những giá trị nhân đạo sâu sắc. Người thi nhân đa đoan, viên quan đại thần dòng dõi của triều Lê ấy không biết đã bao lần "Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa". Chính ông đã tự nhận ra rằng, người thi nhân bất hạnh bởi thi nhân luôn là người tự vận nỗi đau, nỗi bất hạnh của người khác vào mình (Phong vận kì oan ngã tự cư). Lòng nhân hậu khiến ông luôn rất nhạy cảm với nỗi đau khổ của người khác, vì thế những thi phẩm của ông luôn đầm đìa nước mắt: nước mắt của nàng Kiều, nước mắt của người ca nữ đất Long Thành và của nàng Tiểu Thanh. Họ đều là những con người tài hoa, tài sắc song toàn mà mệnh bạc. Nhà thơ đồng cảm và đau nỗi đau của những người ấy không đơn giản chỉ là sự cảm thông của con người đối với con người. Nỗi đau của Nguyễn Du còn là sự nuối tiếc, xót xa trước sự ra đi của những tài năng. "Cái tốt đẹp thì khó bền", "hoa thường hay héo cỏ thường tươi", đó là quy luật của cuộc đời. Sự vô tình của con người trước nỗi đau, trước giá trị của cái đẹp cũng là lẽ thường. Biết vậy Nguyễn Du vẫn luôn trăn trở day dứt:
Xem thêm: Thuyết minh về cái quạtBất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
"Tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha" (Tố Hữu) chính là điều khiến ông luôn được người đời trân trọng.
Điều thứ hai khiến tôi say mê Nguyễn Du chính là bởi tài năng. Nguyễn Du yêu Tiếng Việt nên ông đã sử dụng thành công và làm Tiếng Việt phong phú thêm bao nhiêu. Bao nhiêu năm nay chúng ta đọc và say mê Truyện Kiều một phần bởi cái giọng điệu lục bát dễ đọc, dễ thuộc, dễ nghe. Nguyễn Du đã gửi gắm ở Truyện Kiều một tình yêu lớn đối với tiếng nói và thể thơ dân tộc. Ông dùng những từ ngữ, những cách diễn đạt gần gũi với tiếng nói của nhân dân. Dân dã mà vẫn thật hay, vẫn uyên bác và giàu chất nghệ thuật. Ví như những bức tranh bốn mùa của ông:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Tiếng Việt đẹp hơn, giàu âm thanh, hình ảnh và sắc điệu hơn bởi khả năng sáng tạo của ông. Truyện Kiều đã đưa thể hiện một cách phong phú nhất khả năng biểu hiện của Tiếng Việt và khả năng biểu cảm của thể thơ lục bát.
Có biết bao nhiêu lí do để ta trân trọng đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, và lí do lớn nhất, chính đáng nhất chính là nhân cách cao đẹp của ông, kết quả của sự kết hợp hài hoà giữa tài và tình Nguyễn Du.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Biểu cảm về loài hoa em yêu lớp 7 hay nhất | Phát biểu cảm nghĩ về nhà thơ Nguyễn Du | 748 | |
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích mà em đã đọc ở tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
(Nêu cảm nghĩ chung)
+ Nhớ về một sự kiện có liên quan đến con dế: Hôm qua đi học về, giẫm chết con dế.
+ Sự kiện đó gợi suy nghĩ đến nhân vật Dế Mèn.
B. THÂN BÀI:
1. Khi chưa đọc tác phẩm, cứ nghĩ rằng dế là dùng để đá nhau.
Khi học rồi thì thấy Dế Mèn có những tính cách đáng quí như người.
2. Dế sống độc lập ngay từ nhỏ: Đó là điều tốt nhưng rất dễ dẫn đến tính kiêu ngạo vì thiếu người quan tâm dạy bảo và do đó trở nên ngang ngạnh phá phách.
Thói xấu đó đáng chê trách. Qua đây, ta cũng rút ra bài học là đang nhỏ tuổi thì phải học đức tính khiêm tốn, biết nghe lời người khác, không được kiêu căng tự phụ.
3. Dế Mèn đã gây nên cái chết của Dế Choắt. Sự nghịch ngợm hỗn hào của nó phải trả giá rất đắt. Đó là một mạng sống của một người bạn rất ốm yếu, hiền lành và đáng thương. Dế Mèn ăn năn thì sự đã rồi. Nhưng ăn năn còn hơn là cứ giữ mãi tính hư thói xấu ngày nào.
+ Đây là bài học thấm thía cho Dế Mèn cũng là cho chúng em phải suy nghĩ trước những việc làm của mình. Cuộc sống bắt chúng ta phải chịu trách nhiệm trước những hành động sai trái của mình bằng những hậu quả không lường.Xem thêm: Phân tích truyện ngắn ‘Gió lạnh đầu mùa’ của Thạch LamC. KẾT LUẬN:
Rút ra kinh nghiệm cho em: phải thương yêu nhau, hòa nhã với bạn bè.
BÀI LÀM
Hôm qua trên đường đi học về, qua bãi cỏ đầu làng, em đạp phải một cậu dế làm cậu ta tắt thở. Hình ảnh con dế nằm phơi bụng lên cỏ làm em thương lắm! Và bất ngờ nó gợi cho em nhớ lại một chàng Dế Mèn trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký mà em đã từng thương, từng yêu mến.
Trước đây em cứ nghĩ rằng Dế là con vật thích đánh đá, không có gì đáng quí cả. Nhưng khi học tác phẩm Dế Mèn pliiêu lưu ký em thấy Dế Mèn có tính cách cao quí như một con người. Có phải chăng Tô Hoài đã mượn hình ảnh Dế Mèn để nói đến chúng ta. Nói đến lứa tuổi bắt đầu biết suy nghĩ. Ngay từ nhỏ, Dế đã sống độc lập một mình, dần dần lớn lên vằ bắt đầu có tính kiêu ngạo. Vì không được ai dạy bảo nên càng lớn, Dế Mèn càng tự hào về mình, phá phách ngang ngạnh không ai chịu nổi. Cái thói xấu này của Dế Mèn đáng chê trách lắm. Nó giống như một số người trong cuộc sống: kiêu căng, tự phụ. Khi Dế Mèn trưởng thành mà hư hỏng. Nó chọc phá người khác, bắt nạt kẻ thất thế. Cái chết thương tâm của Dế Choắt do một lần đùa nghịch của Dế Mèn đã thức tỉnh hắn ta một lần sống dậy. Lúc này, Mèn không còn đáng chê trách nữa mà là kẻ đáng thương. Còn gì cao quí bằng khi biết lỗi thì hối hận và suy nghĩ. Mèn khóc thật nhiều bên mộ Dế Choắt, đứng suy ngẫm về bài học đường đời đầu tiên. Bây giờ Mèn thật sự sống cho mình. “Một lần ngã thì một lần trót dại”. Chúng ta có thể cảm thông cho Dế Mèn, qua đó, em cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm. Sống phải thương yêu, hòa nhã với bạn bè.Xem thêm: Em giải thích nội dung lời khuyên của Lê-nin: Học! Học nữa! Học mãi!Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích mà em đã đọc ở tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài | 650 | |
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mai An Tiêm trong tác phẩm “Sự tích dưa hấu”
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ ĐỀ:
– Lí do Mai An Tiêm bị đày ra đảo hoang.
– Suy nghĩ và cách sống của An Tiêm.
B. THÂN BÀI:
– Mai An Tiêm bắt đầu một cuộc sống với hai bàn tay trắng.
– Bằng ý chí và nghị lực, hai vợ chồng An Tiêm dần dần ổn định cuộc sống.
– Sự xuất hiện của hạt giống quí và suy nghĩ của An Tiêm về nó.
– Với mồ hôi, nước mắt và những hi vọng của gia đình Mai An tiêm đặt vào giống dưa quí, nó đã không phụ lòng người chăm sóc.
– Kết quả cuối cùng An Tiêm đã đạt được, cũng như câu nói của chàng: “Do hai bàn tay mình làm ra”.
C. KẾT LUẬN:
Mai An Tiêm là một hình ảnh đẹp trong văn học dân gian.
BÀI LÀM
Mai An Tiêm là con nuôi của vua Hùng Vương thứ mười bảy. Chỉ vì một câu nói thẳng thắn của chàng lọt tới tai nhà vua mà cả gia đình chàng bị đày ra đảo hoang. Sống sao đây với những ngày trên đảo hoang xa lạ? Nhưng không hề gì – An Tiệm tự nhủ – Ta còn bàn tay, còn khối óc, ta sẽ sống được.
Thế là gia đình An Tiêm bắt đầu cuộc sống mới trên đảo hoang với một chiếc nồi con, một thanh gươm cùn và thức ăn dùng cho vài ngày. An Tiêm bắt đầu công việc đầu tiên, đó là cắp gươm đi thăm dò đảo. Hòn đảo thật hoang vu chỉ có ít cây cỏ lơ thơ và mấy loài chim biển. Màn đêm buông xuống, An Tiêm dắt vợ con vào hốc đá nghỉ tạm. Cuộc sống của bốn người vô cùng lao đao, vất vả. Tuy vậy An Tiêm vẫn không nản lòng mà phân công các việc cho gia đình: nàng Ba mò con ngao, cái hến. An Tiêm trồng rau dại và săn bắn… An Tiêm thật là một con người đẹp. Đẹp về nhân cách lẫn tâm hồn. Theo em thì gian lao thử sức, người có lòng tin còn dời nổi cả núi, tát biển Đông cũng cạn. Và cứ thế, cuộc sống của gia đình An Tiêm ngày càng ổn định.Xem thêm: Kể một câu chuyện về tinh thần vượt khó, vươn lên học giỏi
“Quác! Quác!” Đó là tiếng kêu của con chim biển. Phải chăng tiếng kêu ấy chẳng những giúp An Tiêm tìm ra giống dưa quý mà còn giúp cho gia đình chàng có một cuộc sống khá hơn. Chim bay đi bỏ lại một miếng mồi đo đỏ. An Tiêm cầm lên, miệng lẩm nhẩm bảo rằng: “Chim ăn được có lẽ người cũng ăn được”. Nói rồi, An Tiêm đưa lên miệng ăn thử. Ăn xong, chàng thấy người khỏe khoắn, mát ruột lại đỡ đói, nên chàng đem hạt giống về giao trồng, bao nhiêu mồ hôi, nước mất, ngay cả tấm lòng thành và niềm hi vọng của gia đình An Tiêm đều đặt hết vào giống dưa quí. Nàng Ba giúp chàng chăm sóc giống dưa ấy. Với người thường, giống dưa lại chẳng lạ gì cả, nhưng đối với gia đình An Tiêm thì nó bỗng lớn lao lạ thường. Nó không phụ lòng người chăm sóc. Giống dưa bò lan khắp mặt đất, kết hoa, tạo quả, quả to dần, vỏ mỏng dần đi.
Với lòng tin và hy vọng vào giống dưa, An Tiêm đã thàng công. An Tiêm trên đất liền tự tin và lạc quan như thế nào thì An Tiêm trên đảo hoang cũng tự tin, lạc quan như thế. Cứ mỗi lần An Tiêm trẩy dưa là chàng lại chọn những quả ngon nhất mà thả xuống biển cho trôi vào đất liền. Phải chăng tại chàng muốn nối nhịp cầu giữa đảo hoang và đất liền? Đó là phép tiên phù hộ cho gia đình An Tiêm? Không đâu, đó chính là sự thật, thực tế. Cuộc sống của gia đình An Tiêm đã ổn định. Chiếc hốc đá biến thành căn nhà lá xinh xinh. Những thành quả đó là do An Tiêm trồng. Vua ngẫm nghĩ, thấy mình sai, bèn cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. Chàng đã tự cứu mình và cứu gia đình.Xem thêm: Dựa vào văn bản “Ý nghĩa văn chương” của Hoài Thanh, hãy viết một đoạn văn nêu lên tác dụng của văn chương đối với đời sống con người, trong đó có sử dụng phép liệt kê tăng tiến (gạch chân dưới những từ ngữ liệt kê ấy) An Tiêm quả là một con người có lòng tin, có tinh thần tự lực cách sinh. Chàng đã gieo vào tâm trí em hình ảnh một con người có phẩm chất và nhân cách cao đẹp. Gian lao không sợ, thử thách không sờn, chàng là hình ảnh văn hóa dân gian tuyệt đẹp…!
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mai An Tiêm trong tác phẩm “Sự tích dưa hấu” | 836 | |
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mỵ Châu trong truyền thuyết “Mỵ Châu Trọng Thủy” mà em được học
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
(Cảm nghĩ chung)
+ Trích những câu thơ đánh giá về nhân vật Mỵ Châu
+ Nghĩ đến nhân vật đó.
B. THÂN BÀI:
(Phát biểu cảm nghĩ)
1. Mỵ Châu trong trắng, ngây thơ, dịu dàng.
+ Đánh giá:
– Nàng quá ngây thơ nên không nhận ra tên gián điệp đội lốt chồng mình.
– Nếu nàng tỉnh táo hơn thì nàng nhận thức ra việc cầu hôn của Trọng Thủy có ý đồ.
2. Hành động lấy nỏ trao cho Trọng Thủy.
+ Tạo dịp tốt cho y thực hiện ý đồ. Tiếp tay cho giặc.
+ Đánh giá:
– Mỵ Châu đã coi việc nước dưới tình nhà.
– Cũng không nên trách nàng nhiều, nàng là phận gái.
3. Trọng Thủy về nước
+ Câu nói của Trọng Thủy phơi bày ý đồ nhưng Mỵ Châu vẫn mù quáng với tình yêu.
+ Mỵ Châu ngây thơ nói về chiếc áo lông ngỗng.
4. Triệu Đà xâm lược. Mỵ Châu vẫn chưa tỉnh ngộ – thật là đáng trách nàng.
C. KẾT LUẬN:
Đánh giá Mỵ Châu.
+ Nàng có đáng kết án hoàn toàn không?
+ Thái độ của nhân dân trân trọng tình yêu của nàng. Cho nàng thành ngọc trai trong sáng.
BÀI LÀM
Tôi nhớ ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
(Tố Hữu)Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Những con sếu bằng giấy Cứ mỗi lần nhắc truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy tôi lại bồi hồi nhớ đến nàng công chúa nước Âu Lạc.
Mỵ Châu, một cô gáí dịu dàng ngây thơ và trong trắng. Nàng ngây thơ đến độ Trọng Thủy chồng của nàng – tên gián điệp của giặc – ngày ngày sống bên nàng mà nàng không hề nhận biết. Nếu như Mỵ Châu tỉnh táo hơn, có lẽ nàng đã nhận ra rằng, đằng sau chữ cầu thân, cái điều băn khoăn tha thiết thực hiện của Trọng Thủy là gì rồi? Cũng vì ngây thơ, nàng không chút ngần ngại lấy nỏ thần trao cho Trọng Thủy, tạo dịp tốt cho y thực hiện mục đích nội gián. Tại sao nàng không hiểu rằng đây là một vật báu thiêng liêng có quan hệ đến sự sống còn của đất nước, có quan hệ đến vận mệnh của nàng, và của cha nàng và của bao nhiêu người khác nước Âu Lạc? Chẳng lẽ đối với Mỵ Châu, việc nước không lớn bằng tình nhà? Nhưng dẫu sao ta cũng không thể trách Mỵ Châu, một nàng công chúa thì làm sao ngờ được phò mã của triều đình lại là kẻ thù?
Khi thực hiện xong mưu gian, Trọng Thủy về nước chỉ cần tinh ý một chút thôi, Mỵ Châu cũng sẽ thấy ngay điều gì qua lời từ biệt của Trọng Thủy: “Nếu chẳng may giặc giã”… Tại sao lại giặc giã? Điều này có liên quan gì đến việc trở về của Trọng Thủy? Thế nhưng Mỵ Châu lại ngây thơ quá, nàng hoàn toàn không nhận ra điều đó. Trong nhận thức đơn giản của Mỵ Châu, chồng nàng về nước là để thăm cha. Nàng còn hứa hẹn ngày gặp mặt… cho đến khi cái điều tất nhiên phải đến: Triệu Đà đem quân sang xâm lược nước Âu Lạc. Nỏ thần hết thiêng, và An Dương Vương chỉ còn lối thoát duy nhất: rời thành. Lúc đất nước đã tơi bời trong khói lửa mà Mỵ Châu vẫn chưa tỉnh ngộ. Trước sau nàng chỉ nghĩ đến Trọng Thủy và hạnh phúc của nàng, vết lông ngỗng dẫn đường là một bằng chứng cho lời kết tội của thần Kim Qui: “Giặc ở sau lưng nhà vua ấy!” Mỵ Châu có xứng đáng với lời kết tội ấy không?Xem thêm: Mùa hè đến với rực rỡ hoa phượng, râm ran tiếng ve. Em hãy tả lại cảnh này và nói lên cảm tưởng của mình khi hè đến
Đành rằng nàng có tội, tội với cha, với đất nước, nhưng nàng hoàn toàn ngay thật. Hành động của nàng là phản quốc nhưng tâm hồn nàng lại sáng trong. Hình ảnh viên ngọc châu lấp lách ở cuối truyện phải chăng chính là lòng yêu thương của nhân dân phần nào nghĩ đến tâm hồn và nỗi oan ngang trái của Mỵ Châu.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mỵ Châu trong truyền thuyết “Mỵ Châu Trọng Thủy” mà em được học | 741 | |
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Sơn trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam
Gợi ý
Tôi thường bị ám ảnh bởi hình ảnh của những ngọn núi đồ sộ, khổng lồ sau vài thế kỉ bỗng chốc trở thành những mỏm đồi thấp chẳng khác miền trung du thậm chí là đồng bằng: chúng đã bị mưa gió, bão lũ,… mài mòn theo thời gian. Và tôi nghĩ đến một điều gì lớn lao, thời gian không làm chúng tan biến mà ngược lại, theo năm tháng, chúng được nhân lên gấp bội sức mạnh. Những tấm lòng nhân ái như tấm lòng bé Sơn trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam là một điều như thế trong vũ trụ này.
Ai đã qua những năm tháng ấu thơ, đều biết đến sự hồn nhiên con trẻ, có khi buồn cười nhưng rất đáng yêu. Tôi thấy lại ở Sơn những giây phút đùa nghịch, hay khoe, hay giận… của chính mình ngày nào. Tôi muốn sống ngược thời gian, mới chỉ cách đây có mấy năm thôi, nhưng tôi không ngờ là mình đã quên đi nhanh đến thế!
Vì thế tôi yêu Sơn. Em đã sống dậy trong tôi cảm tưởng trong sáng về thuở còn hồn nhiên vô tư ấy. Nghe trong hồn những reo vui theo khúc nhạc lòng của cậu bé hãnh diện khoe áo với bạn bè!
Nhưng nếu chỉ có vậy thôi thì tôi đã quên Sơn nhanh lắm. Giống như khi tôi đã quên đi những năm tháng ấu thơ của mình. Tôi còn nghe thấy ở Sơn những nhịp đập con tim đầy xúc cảm rất đáng trân trọng. Chúng làm lòng tôi trở nên sâu lắng vì bắt gặp ở em bao nét đẹp của tình người.Xem thêm: Trong một bức thư gửi các cháu thiếu niên nhi đồng. Bác Hồ viết: "Ai yêu các nhi đồng Bằng Bác Hồ Chí Minh".Dựa vào những hiểu biết của mình về cuộc đời Bác và thơ văn của Người, em hãy làm sáng tỏ ý thơ trên
Chúng ta từng lạnh lùng ngó lơ những bàn tay chìa ra tấm vé số hay những tờ báo mới nguyên để chào mời. Còn Sơn? Em đã nhận thấy cảnh khổ của Hiên. Và dù rất thích chiếc áo mới – em vừa hãnh diện khoe nó với bạn bè. Dù biết có thể bị mẹ trách phạt – chẳng có người mẹ nào không phiền lòng khi con cái tự ý đem cho người khác vật gì – nhất là trong tình cảnh cuộc sống càng ngày càng khó khăn. Nhưng bỏ qua tất cả những điều đó, Sơn đã sẵn lòng tặng Hiên chiếc áo, giúp đỡ chia sẻ với bạn, không hề toan tính. Có phải chỉ vì biết nghe trái tim mách bảo, mà Sơn đã không dửng dưng trước những mảnh đời cơ cực? Hành động của Sơn là hành vi nhân ái hoàn toàn tự nguyện, không chờ bé Hiên nhờ vả, không đợi mọi người xung quanh động viên – điều này đâu dễ có ở mỗi con người?
Có thể nói, không phải tiền tài hay quyền lực, mà chính lòng yêu thương nhau mới giúp con người có được những hành động cao cả. Một chú bé như Sơn đáng quý hơn hẳn nhiều người lớn mà lãnh đạm phủi tay trước đồng loại bần cùng.
Hạnh phúc không chỉ có từ sự thụ hưởng vật chất. Hạnh phúc thường ngày, trong tầm tay mỗi người, nhiều khi chỉ là chút “vui vui” trong lòng như Sơn đã cảm nhận được, lúc trao cho cô bạn nhỏ nhà nghèo chiếc áo bông. Gió ơi, sao lạnh vậy? Nhưng Sơn ơi, có phải chính tấm lòng nhân hậu của em đã ấp ủ cả không gian đang bị cơn gió lạnh đầu mùa làm cho tê tái? Hẳn là Hiên ấm lắm, ấm cả ngoài lẫn trong lòng! Giá như bao trẻ em trên thế giới này đều là Sơn?… Tôi lại thấy lòng day dứt quá! Sơn ơi, em đã khiến tôi phải tự nhìn lại mình. Liệu mình có thể sống nhân ái được như Sơn không, biết quan tâm đến những con người bất hạnh dưới đáy xã hội như thế? Em đúng là đứa bé, nhưng lại có một thái độ sống không bé nhỏ chút nào.Xem thêm: Với đề bài: Nhân dân ta có câu tục ngữ: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Hãy viết thêm những cách kết bài khác Tội nhớ lại mình đã có lần cười thích thú khi thấy một em nhỏ bán báo bị xua đuổi vì ghé nhìn vào lớp mình đang học. Tôi xấu hổ khi thấy mình đã quá ích kỉ, nhỏ nhen và hẹp hòi như vậy. Nhân vật Sơn trong Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam đã mang đến cho tôi một bài học lớn, một bài học ấm áp về tình người.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Sơn trong truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam | 835 | |
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thánh Gióng trong truyện dân gian cùng tên
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
(Cảm nghĩ chung)
+ Trong một đêm trăng bà kể rất nhiều truyện cổ tích.
+ Ấn tượng mà em thích là truyện "Thánh Gióng"
B. THÂN BÀI:
+ Đưa ra chi tiết cậu bé lên ba chẳng nói chẳng cười nhưng tiếng nói đầu tiên là mời sứ giả vào đề nghị có vũ khí giết giặc.
+ Cảm nghĩ: Thấy được chú bé lớn lên kỳ lạ, em có cảm giác thật và em tin vào điều đó bởi vì lòng yêu nước của người Việt Nam ai cũng có.
+ Chi tiết Thánh Gióng lớn lên nhờ ăn mặc của nhân dân. Giết giặc bằng những vũ khí nhân dân làm.
+ Cảm nghĩ: Thánh Gióng là anh hùng của nhân dân. Nhờ nhân dân và vì nhân dân mà trở nên anh hùng,
C. KẾT LUẬN:
+ Nhớ đến những anh hùng đã ngã xuống vì đất nước.
+ Tự hào truyền thống đánh giặc của cha ông.
+ Nguyện học tập để cống hiến như Gióng.
BÀI LÀM
Đêm trăng rồi bà kể cho em nghe thật nhiều truyện cổ, nào là Tấm Cám, Cóc kiện trời, nào là Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng. Nhưng trong những truyện ấy, em thích nhất truyện "Thánh Gióng" – chuyện cậu bé làng Phù Đổng nhổ tre đánh giặc cứu quê hương.
Gióng là một cậu bé rất khác thường, lên ba tuổi mà không biết nói, biết cười, đến khi nghe đất nước có giặc ngoại xâm thì bỗng nhiên nói được, lớn nhanh như thổi rồi xông pha đánh giặc cứu nước. Hình ảnh Thánh Gióng có phải chăng là hình ảnh đất nước Việt Nam buổi ban đầu còn non trẻ vụt trưởng thành kiên cường đánh đuổi giặc ngoại xâm, gìn giữ giang san đẹp giàu mà cha ông đã dày công vun đắp? Nghe chuyện mà em cứ nghĩ đến hình ảnh Gióng bé bỏng ngày nào vụt trở thành oai nghi lẫm liệt trước mắt. Gióng là một nhân vật thần kỳ (bà kể như vậy) nhưng em vẫn thấy có nét gì rất thật. Sự thật là có một người giàu tinh thần yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hi sinh bản thân minh để cứu dân, cứu nước. Chính trong truyền thuyết Việt Nam có Thánh Gióng nên trong trang lịch sử oanh liệt Việt Nam mới có những anh hùng kiên cường đánh đuổi ngoại xâm vì độc lập quê hương, chủ quyền của dân tộc.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình (bài II) Thánh Gióng là một vị thần, song không thể lớn lên, trở thành khổng lồ nếu không nhờ cơm gạo của nhân dân. Nếu không có dân làm sao Gióng có roi sắt lẫy lừng giết giặc? Nếu không có dân làm sao có ngựa sắt phun, lửa thiêu chết quân thù? Hình ảnh Thánh Gióng nhổ tre giết giặc đã làm bật lên tinh thần yêu nước của nhân dân ta: chỉ cần một bụi tre cũng trở thành vũ khí, tiêu diệt quân cướp nước. Thánh Gióng đã thật sự trở thành vị anh hùng của dân tộc, chiến đấu vì chính nghĩa, vì độc lập hạnh phúc của nhân dân.
Nghe truyện Thánh Gióng, em nhớ đến những người anh hùng đã hi sinh vì giang san gấm vóc. Để có được ngày hôm nay đã có biết bao xương máu ông cha ta đổ xuống để giữ cho những cánh cò bay lả buổi hoàng hôn, những rặng dừa xanh nghiêng mình soi bóng, để chúng em được hằng ngày cắp sách đến trường… Nghe bà kể chuyện Thánh Gióng, em càng tự hào bởi truyền thống đánh giặc của dân tộc Việt Nam. Khi có quân thù thì nhân dân ta luôn sẵn sàng chiến đấu, kể cả những đứa trẻ cũng mài sắc lòng căm thù tham gia giết giặc. Bà em bảo: "Thánh Gióng đã có công gìn giữ quê hương thì cháu phải chịu khó học tập để kiến thiết xứ sở, làm giàu đẹp cái di sản quý báu mà cha ông đã để lại”.Xem thêm: Có ý kiến cho rằng “có 3 điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”. Hãy bình luận ý kiến đóVanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thánh Gióng trong truyện dân gian cùng tên | 737 | |
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thảnh Gióng
Gợi ý
Thánh Gióng là một truyền thuyết vào loại hay nhất về truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam. Truyện cho thấy yêu nước là tình cảm nảy nở rất sớm trong lòng nhân dân. Dân ta yêu nước nên ai cũng có trách nhiệm đánh giặc giữ nước. Thánh Gióng tiêu biểu cho tổ tiên ta trong sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ Tố quốc. Hình ảnh cậu bé làng Gióng đã đế lại những ấn tượng thật đẹp đẽ.
Gióng là một nhân vật kì lạ. Bà mẹ Gióng có thai Gióng không như bao bà mẹ khác. Một lần đi rừng kiếm củi, thấy vết chân khổng lồ in trên mặt đất, bà ướm thử chân mình vào đó rồi có thai. Đây là cách dân gian tưởng tượng ra để nhân vật của mình mang những nét phi thường.
Đáng kỳ lạ bởi Gióng đã lên ba tuổi mà chẳng biết nói, biết cười và cũng không đi được bước nào, đặt đâu nằm đây. Điều ấy khiến bà mẹ buồn lòng nhưng không vì vậy mà tình thương con giảm bớt. Bà vẫn ân cần chăm sóc đứa con trai khác thường mà không hề phàn nàn, kêu ca một tiếng.
Gióng không phải là đứa trẻ yếu đuối tật nguyền. Cậu bé không nói là để bắt đầu nói thì nói điều quan trọng, nói lời yêu nước, cứu nước. Lời nói ấy không phải là lời nói bình thường. Còn nằm ngửa trên chõng tre mà Gióng đã đòi nhà vua cấp cho ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt để đánh tan quân giặc. Ba tuổi. Gióng chưa biết đi để đến lúc cần sẽ nhảy lên mình ngựa, phi thẳng ra chiến trường giết giặc.Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Lời Nói Gói Vàng Sau khi gặp sứ giả, cậu bé Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa may xong đã chật. Một bữa Gióng ăn hết bảy nong cơm, ba nong cà, uống một hơi nước cạn đà khúc sông. Đấy là cách nói của dân gian để tô đậm chất phi thường cho nhân vật mà mình yêu mến. Mẹ Gióng nuôi Gióng không nổi, cả làng góp gạo nuôi cậu bé với kì vọng cậu sẽ trở thành người anh hùng cứu nước. Dường như việc cứu nước vô cùng cáp bách đã thúc đẩy Gióng vụt lớn lên nhanh. Hình tượng cậu bé làng Gióng tiêu biểu cho sức mạnh toàn dân trong cuộc chiến tranh giữ nước.
Khi sứ giả đem ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt và nón sắt tới, Gióng vùng dậy, vươn một cái, bỗng trở thành một tráng sĩ oai phong lẫm liệt. Gióng nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun ra lửa, phi thẳng vào đội hình quân giặc. Ngọn roi của Gióng đã quật giặc chết như rạ. Roi gãy, Gióng đã nhổ tre bên đường thay roi đánh tiếp. Gióng đánh giặc không chỉ bằng vũ khí mà bằng cả cây cỏ thân yêu chốn quê nhà.
Giặc tan, Gióng phi ngựa sát đến chân núi Sóc, trút bỏ áo giáp sắt roi vái chào quê hương, sau đó cà người lẫn ngựa từ từ bay lên trời, biến mất. Gióng không trở về quê cho mẹ già, cho bà con làng xóm mừng, không về triều đình đề được vua ban thưởng bạc vàng, gấm vóc, chức tước cao sang. Gióng biến mất vào cõi hư không. Gióng sinh ra im lặng. Nay nước cứu xong, Gióng trở về chỗ lặng im. Gióng không màng công danh, phú quí. Anh hùng như thế mới thật là anh hùng! Yêu nước như vậy mới thật là yêu nước! Gióng kết tinh truyền thống đạo đức cao cả của dân tộc Việt.Xem thêm: Nêu xuất xứ, thể thơ và chủ đề bài thơ Nam quốc sơn hà Nhà vua phong cho Gióng chức Phù Đổng Thiên Vương, ý nói Gióng là người Trời. Còn nhân dân yêu mến và kính phục tôn Gióng làm Thánh Gióng. Hình ảnh Gióng bay lên trời thật đẹp đẽ và mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc.
Theo em, Thánh Gióng không phải là một nhân vật có thật. Đó là hình ảnh nhân dân ta dựng lên bằng trí tưởng tượng, tiêu biểu cho truyền thống giữ nước kiên cường của dân tộc. Thánh Gióng là sức mạnh chiến đấu của toàn dân.
Truyền thuyết Thánh Gióng cho đến nay vẫn còn ý nghĩa mới mẻ và hấp dẫn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Trong hoàn cảnh đổi mới hiện nay, cả dân tộc Việt Nam đang vươn vai để trở thành Thánh Gióng của thời đại, xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thảnh Gióng | 802 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài
Bài làm
Trong xã hội hiện nay, nhiều trẻ em đang bị bạo hành, không có một mái ấm gia đình đúng nghĩa. Không được đảm bảo quyền lợi của mình.
Chính vì vậy, tác phẩm ” Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài là một câu chuyện vô cùng cảm động, là tiếng chuông cảnh tỉnh người lớn, khi đối xử với trẻ nhỏ
Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật Thành và Thủy hai em rất yêu thương và che chở cho nhau từ khi còn thơ bé. Họ có nhiều kỷ niệm chung gắn bó với nhau hồi lớp năm khi áo Thành bị rách Thủy đã đem kim chỉ ra sân khâu vá cho Thành. Một biểu hiện giản dị, những thể hiện tình cảm gắn bó của hai anh em.
Đi học đi chơi hai anh em cũng đều có nhau. Nhưng rồi sóng gió gia đình xảy ra, bố mẹ ly hôn, hai em mỗi người một nơi. Sự đau khổ hằn lên khuôn mặt của hai đứa trẻ vô tội. Thủy thì chỉ biết khóc nức nở, trong khi đó anh trai Thanh thì cắn chặt môi để tiếng khóc nén lại trong lòng không bật lên thành tiếng. Những giọt nước mắt khi cha mẹ chia lìa đôi ngả, anh em ly tán, tan nát
Tác giả đã dùng những lời lẽ chân thành của mình để miêu tả cuộc chia ly ấy, khiến cho người đọc không khỏi nghẹn ngào, xúc động vì những tình cảm chân thành, mộc mạc mà trẻ thơ dành cho nhau.Xem thêm: Phân tích màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (đoạn trích được học) để làm rõ triết lí nhân sinh mà tác giả muốn gửi gắm
Khi bố mẹ chia tay nhau, mọi thứ trong gia đình cũng đều chia đôi. Đến cả những món đồ chơi của hai anh em cũng được mẹ bảo chia đôi, khiến cho hai anh em vô cùng buồn khổ. Thành muốn “nhường” lại hai con búp bê Vệ sĩ và Em nhỏ cho cô em gái của mình là Thủy. Nhưng Thủy lại sợ anh chia đôi hai con búp bên nên vội nói ” Sao anh ác thế? Anh định chia rẽ chúng sao?”,
Nhưng rồi cô bé lại sợ không có vệ sĩ thì không có người canh gác cho anh ngủ. Điều này thể hiện tình cảm của Thủy dành cho anh trai mình vô cùng sâu sắc, một cô em gái nhỏ giàu tình cảm luôn lo lắng cho những người thân yêu của mình.
Nghĩ thế nên Thủy quyết định để lại hết hai con búp bê lại cho Thành anh trai của mình. Hai con búp bê mãi mãi sẽ không phải rời xa nhau như Thủy và Thành. Hành động này của cô bé khiến người đọc vô cùng cảm động, cảm thấy em dường như lớn hơn tuổi thực của mình biết suy nghĩ vô cùng sâu sắc, thấu tình đạt lý, biết hy sinh chịu thiệt thòi cho người mình yêu thương.
Cuộc chia tay của Thủy với mái trường, thầy cô, bạn bè thân thiết, cũng khiến cho người đọc không ngăn được dòng lệ của mình, khi cô bé nói “Mẹ em sẽ sắm cho em một thúng hoa quả để ra chợ ngồi bán”. Câu nói của Thủy khiến cô giáo bàng hoàng, mặt tái đi vì đau đớn. Một cô bé đang tuổi ăn tuổi chơi nhưng từ nay không được tới trường, đánh mất tuổi thơ vui vẻ để bước vào cuộc sống, mưu sinh vất vảXem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ sáu bài của Đỗ Phủ
Tác giả Khánh Hòa với những câu văn đầy nhân văn, giàu cảm xúc của mình đã khiến người đọc cảm nhận được sự mất mát quá lớn của những đứa trẻ khi gia đình tan vỡ, khiến các em phải trưởng thành sớm, và đánh mất đi tuổi thơ vui vẻ, thơ ngây hồn nhiên của mình.
Qua tác phẩm của mình tác giả muốn gửi gắm tới những người lớn hãy biết sống tích cực hơn đừng để trẻ con phải gánh chịu những hậu quả do gia đình ly tán. Bởi trong bất kỳ cuộc chia ly nào thì trẻ nhỏ luôn là người gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài- văn lớp 7 | 765 | |
Đề bài: Hãy phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sơn tinh Thủy Tinh. Từ đó, em có suy nghĩ gì về chủ trương xây dựng củng cố đê điều, nghiêm cấm nạn phá rừng của nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Trong những truyện thần thoại đã đọc, em rất thích truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bởi sự cuốn hút, hấp dẫn lạ thường của nó. Truyện mượn thần thánh để giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ và gửi gắm vào đó ước mơ chiến thắng thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống của người xưa, đồng thời suy tôn, ca ngợi công lao đựng nước của các vua Hùng.
Cách đây mấy ngàn năm, khi tổ tiên người Việt từ vùng rừng núi chuyển xuống sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ thì năm nào cũng gặp phải một trong những thiên tai đáng sợ là nạn lụt. Nạn lụt do nước lũ từ các con sông, chủ yếu là sông Hồng, sông Đà gây ra. Để bảo vệ thành quả lao động của mình, nhân dân ta đã dũng cảm, mưu trí, bền bỉ tìm cách chống lụt. Việc đắp đê ngăn nước chính là biểu hiện của tinh thần đó.
Từ chuyện chống lũ lụt để bảo vệ mùa màng và đời sống, người xưa đã tưởng tượng thành một câu chuyện với nhiều tình tiết li kì: Hai vị thần cùng muốn cưới một công chúa xinh đẹp làm vợ; rồi người được vợ, kẻ không được vợ, dẫn đến cuộc giao tranh dữ dội. Cuối cùng, bên thắng, bên thua. Kẻ thua cuộc ôm lòng thù hận khôn nguôi, hằng năm vẫn gây sự đánh trả.
Thực tế là hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ, cứ đến mùa mưa bão là nước dâng to, nhưng chưa bao giờ làm ngập nổi núi đồi. Cuối mùa lũ, nước rút đi, sông suối trở lại hiền hòa. Người xưa cho rằng đó là Thần Nước đánh nhau Với Thần Núi để giành lại Mị Nương… Quả là trí tưởng tượng của họ vô cùng phong phú và bay bổng.
Truyện có hai nhân vật: Sơn Tinh – chúa tể của vùng non cao và Thủy Tinh – chúa tể của vùng nước thẳm. Cả hai đều có tài năng phi thường. Sơn Tinh vẫy tay vá phía đông, phía đông nổi lên cồn bải, vẫy tay về phía tây, phía tây lập tức hiện ra những dãy núi đồi. Thủy Tinh gọi gió, gió tới; hô mưa, mưa về. Cả hai vị thần đều tài giỏi. Điều ấy khiến nhà vua băn khoăn không biết chọn ai, đành ra điều kiện: Ngày mai, nếu ai mang lễ vật đến sớm thì được cưới Mị Nương.
Ngay trong chuyện thách cưới, có lẽ ý nhà vua đã nghiêng về phía Sơn Tinh. Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Rồi trăm ván cơm nếp, trăm nệp bánh chưng… Tất cả đều là sản vật của đồng ruộng, núi rừng. Vì vậy, kẻ thắng cuộc tất nhiên phải là Sơn Tinh. Sơn Tinh mang lễ vật đến trước, cưới được Mị Nương và đưa nàng về núi Tản Viên. Sơn Tinh thật xứng đôi với nàng công chúa xinh đẹp.
Không cưới được Mị Nương, Thủy Tinh đùng đùng nổi giận. Chàng phô bày hết sức mạnh tàn bạo của mình trong cuộc giao tranh với Sơn Tinh. Gió bão rung chuyển cả đất trời. Mưa làm nước sông hồ dâng lên cuồn cuộn, ngập tràn đồng ruộng, mùa màng, cuốn phăng cây cối, nhà cửa, súc vật. Nước dâng lên sườn đồi, sườn núi làm tróc cây, lở đá… Thủy Tinh muốn nhấn chìm đỉnh núi để tiêu diệt Sơn Tinh, cướp lại Mị Nương.
Nhưng Sơn Tinh cũng trổ hết tài bốc đồi, dời núi, dựng thành ngăn nước. Nước dâng cạo bao nhiêu, núi đồi cao lên bấy nhiêu. Suốt mấy tháng trời, cuộc tấn công của Thủy Tinh thật là dữ dội: giông bão, sấm chớp, mưa như trút nước, đồng ruộng hóa thành sông, sông thành biển cả. Ấy vậy nhưng Sơn Tinh không hề nao núng, vẫn bình tĩnh, sáng suốt chống trả một cách quyết liệt và thắng lợi. Cuối cùng kiệt sức, Thủy Tỉnh phải rút lui.
Xem thêm: Viết thư gửi cho ông bà ở quê hỏi thăm sức khỏeCả hai vị thần đều có tài cao, phép lạ. Nhưng Thủy tinh dù phép thuật cao cường vẫn phải khuất phục trước Sơn Tinh dũng mãnh và mưu trí. Những chi tiết nghệ thuật kì ảo, hoang đường về Sơn Tinh, Thủy Tinh và khí thế hào hùng của cuộc giao tranh giữa hai vị thần thể hiện trí tưởng tượng phong phú của người xưa.
Cuộc giao tranh không chỉ xảy ra một lần mà nhiều lần, năm nào cũng vậy. Nhưng kết cục thì không thay đổi: thần Núi chiến thắng thần Nước. Mị Nương vẫn sống hạnh phúc bên Sơn Tinh trên đỉnh Tản Viên cao vời vợi. Thủy Tinh không sao giành lại được nàng.
Sơn Tinh, Thủy Tinh là những nhân vật hoàn toàn tưởng tượng nhưng lại có ý nghĩa rất thực vì đã khái quát được hiện tượng lũ lụt, đổng thời phản ánh những kì công trong sự nghiệp dựng nước của nhân dân ta dưới triều đại các vua Hùng.
Tất cả những chi tiết kì ảo trên đều nhằm để giải thích hiẹn tượng lũ lụt và việc chống lũ lụt hằng năm của nhân dân ta ở đồng bằng Bắc Bộ. Có một chi tiết quan trọng là Sơn Tinh dựng thành ngăn nước. Đó là công việc đắp thành bằng đất của con người – khởi đầu cho những con đê lớn sau này chạy suốt hai bờ những con sông lớn để ngăn lũ. Người xưa để cho Sơn Tinh thắng Thủy Tinh là gửi gắm vào đó ước mơ có được sức mạnh thần kì để chế ngự được nạn lũ lụt – một tai họa lớn của con người.
Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh có giá trị nội dung và nghệ thuật rất đặc sắc.
Thủy Tinh là hiện tượng mưa gió, bão lụt ghê gớm hằng năm đã được hình tượng hóa thành kẻ thù hung dữ, truyền kiếp của Sơn Tinh.
Sơn Tinh là hiện thân của người dân Việt cổ cần cù đắp đê phòng chống lũ lụt, là ước mớ chiến thắng thiên tai của người xưa. Tầm vóc vũ trụ, tài năng và khí phách của Sơn Tinh là biểu tượng sinh động cho chiến công của người Việt cổ trong cuộc đấu tranh chống bão lụt ở vùng lưu vực sông Đà và sông Hồng. Đây cũng là kì tích dựng nước của thời đại các vua Hùng và kì tích ấy cho đến nay vẫn được tiếp tục phát huy mạnh mẽ.
Ước mơ xưa giờ đây, đã thành hiện thực. Những công trình Thủy lợi lớn như hệ thống đê điều, mương máng, những hồ nước, đập nước điều hòa dòng chảy của sông Đà, sông Hồng đã thực sự chế ngự được sức tàn phá ghê gớm của nước lũ. Hạt lúa, củ khoai do bà con nông dân đổ mồ hôi làm ra đã được bảo vệ. Ngày nay, con cháu của Sơn Tinh đã và đang thực hiện ước mơ của tổ tiên ngày trước.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nạn phá rừng, cháy rừng diễn ra rất nghiêm trọng trên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới sinh thái, môi trường của đất nước ta. Hiện tượng thiên tai lũ lụt xảy ra gây hậu quả rất nghiêm trọng, phần lớn nguyên nhân là do cháy rừng, phá rừng.
Mất rừng, Sơn Tinh sẽ mất hết sức lực và phép lạ, làm sao chống chọi được với Thủy Tinh?!
Nhà nước ta hiện nay đang có chủ trương vận động nhân dân tích cực xây dựng, củng cố đê điều; nghiêm cấm nạn phá rừng, đi đôi với việc trồng thêm hàng triệu héc-ta rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc. Đây là chủ trương đúng đắn và hợp lí, được mọi người đồng tình.
Chẳng lẽ Sơn Tinh lại thua Thủy Tinh? Chuyện xảy ra từ ngàn xưa nhưng vẫn là bài học thiết thực trong cuộc sống hôm nay, cháu con cần ghi nhớ.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du hay nhất | Phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh | 1,420 | |
Đề bài: Hồ gươm là trái tim của thủ đô Hà Nội mà chắc hẳn ai cũng đã từng nghe về sự tích về nó. Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sự tích Hồ Gươm.
Ai đã một lần đặt chân đến Hà Nội đều không thể không đến thăm Hồ Gươm. Hồ Gươm như một lẵng hoa xinh đẹp nằm giữa lòng thành phố. Sự tích cái tên Hồ Gươm hay còn gọi là hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với gần ngàn năm lịch sử của đất Thăng Long.
Sự tích Hồ Gươm là một thiên truyện vô cùng đẹp đẽ trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam. Trong việc được gươm và trả gươm của Lê Lợi, yếu tố hiện thực và kì ảo hòa quyện với nhau tạo nên sức hấp dẫn kì lạ. Bằng những hình tượng cực kì đẹp đẽ như Rùa Vàng, gươm thần, truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và chiến thắng vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống giặc Minh xâm lược. Truyện cũng nhằm giải thích nguồn gốc tên gọi của hồ và ca ngợi truyền thống đánh giặc giữ nước oai hùng, bất khuất của dân tộc ta.
Bố cục của truyện gồm hai phần: Long Quân cho nghĩa quân mượn gươm thần đánh giặc và sau khi đất nước sạch bóng quân thù, Long Vương đòi lại gươm.
Bối cảnh của truyện là thế kỉ XV, giặc Minh sang xâm chiếm nước ta. Chúng coi dân ta như cỏ rác và làm nhiều điều bạo ngược khiến thiên hạ căm giận đến tận xương tủy. Tội ác của chúng quả là trời không dung, đất không tha.
Bấy giờ, ở vùng Lam Sơn tỉnh Thanh Hóa, nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa nhưng vì thế lực còn non yếu nên thua trận liên tiếp. Thấy vậy, Long Quân quyết định cho họ mượn thanh gươm thần để giết giặc. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã được tổ tiên, thần linh giúp đỡ và nhân dân nhiệt tình hưởng ứng.
Lê Lợi và Lê Thận nhận được gươm thần không phải từ một thế giới xa lạ nào mà ở ngay chính trên quê hương họ. Lê Thận đi kéo lưới ở bến sông, ba lần kéo lên đều chi được một thanh sắt. Lần thứ ba, ông nhìn kĩ thì là một lưỡi gươm. Con số 3 theo quan niệm dân gian tượng trưng cho số nhiều, có ý nghĩa khẳng định và ý nghĩa tạo tình huống, tăng sức hấp dẫn cho truyện. Lê Thận đem lưỡi gươm ấy về cất ở xó nhà rồi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và sau này trở thành người tâm phúc của Lê Lợi. Nhân một hôm đến nhà Lê Thận, chủ tướng Lê Lợi nhìn thấy lười gươm rực lên hai chữ Thuận Thiên (thuận theo ý trời) bèn cầm lên xem nhưng chưa biết đó là gươm thần.
Một lần bị giặc truy đuổi, Lê Lợi cùng một số tướng sĩ phải chạy vào rừng. Bất ngờ, ông nhìn thấy trên ngọn cây có ánh sáng khác lạ. Ông trèo lên xem thử, nhận ra đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi gỡ lấy chuôi gươm mang về. Đem lưỡi gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm bắt được trên rừng thì vừa như in.
Không phải tình cờ người xưa để cho Lê Thận bắt được lưỡi gươm từ dưới đáy sông và Lê Lợi bắt được chuôi gươm từ trong rừng thẳm. Hai chi tiết đó có dụng ý nhấn mạnh gươm thiêng là do linh khí của sông núi hun đúc mà thành. Lưỡi gươm dưới nước tượng trưng cho hình ảnh miền xuôi, chuôi gươm trên rừng tượng trưng cho hình ảnh miền núi. Hai hình ảnh ấy kết hợp lại, ý nói ở khắp nơi trên đất Việt, các dân tộc đều có khả năng đánh giặc, cứu nước. Từ đồng bằng sông nước tới vùng núi non hiểm trở, mọi người đều một lòng yêu nước và sẵn sàng đứng lên cứu nước, giết giặc ngoại xâm.
Tuy lưỡi gươm ở nơi này, chuôi gươm ở nơi khác nhưng khi đem lắp vào nhau thì vừa như in. Điều đó thể hiện nghĩa quân trên dưới một lòng và các dân tộc đồng tâm nhất trí cao độ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm.
Gươm thiêng phải được trao vào tay người hiền tài, có lòng yêu nước nhiệt thành, có ý chí cứu nước. Cho nên mới có chi tiết thú vị: ba lần Thận kéo lưới lên đều chi được một thanh sắt (lưỡi gươm); trong đám người chạy giặc vào rừng sâu, chỉ một mình Lê Lợi nhìn thấy ánh sáng lạ phát ra từ ngọn cây cao, nơi có treo chuôi gươm báu. Và một hôm, khi chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Ánh sáng của thanh gươm và hai chữ Thuận Thiên khắc trên gươm như một lời khuyến khích, động viên của thần linh, của tổ tiên đối với Lê Lợi. Thuận Thiên là hợp ý trời. Hãy hành động cứu nước vì hành động đó hợp với lẽ trời. Mà đã hợp lẽ trời thì tất yếu sẽ hợp với lòng người và tin chắc sẽ thành công.
Xem thêm: Kể lại một buổi lao động công ích của lớp em tại trườngĐằng sau hình ảnh có vẻ hoang đường ấy chính là ý chí của muôn dân. Ý dân là ý trời. Trời trao mệnh lớn cho Lê Lợi cũng có nghĩa là nhân dân tin tưởng, trao ngọn cờ khởi nghĩa vào tay người anh hùng áo vải đất Lam Sơn. Gươm chọn người và người đã nhận thanh gươm, tức là nhận trách nhiệm trước đất nước, dân tộc. Lời nói của Lê Thận khi dâng gươm báu cho Lê Lợi đã phản ánh rất rỗ điều đó. Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để bảo đền tổ quốc.
Như vậy là gươm báu đã trao đúng vào tay người hiền tài, cho nên đã phát huy hết sức mạnh lợi hại của nó. Từ khi có gươm thiêng, nhuệ khi của nghĩa quân Lam Sơn ngày một tăng, đánh đâu thắng đấy, bao phen làm cho quân giặc bạt vía kinh hồn. Sức mạnh đoàn kết của con người kết hợp với sức mạnh của vũ khí thần kì đã làm nên chiến thắng vẻ vang.
Chuyện Long Quân cho mượn gươm được tác giả dân gian miêu tả rất khéo. Nếu để Lê Lợi trực tiếp nhận chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc thì sẽ không thể hiện được tính chất toàn dân, trên dưới một lòng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến Thanh gươm Lê Lợi nhận được là thanh gươm thống nhất, hội tụ tư tưởng, tình cảm, sức mạnh của toàn dân trên mọi miền đất nước.
Lúc ở nhà Lê Thận, lưỡi gươm tỏa sáng trong gốc nhà tối giống như cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đã được nhen nhóm từ trong nhân dân. Ánh sáng thanh gươm thúc giục mọi người lên đường. Ánh sáng phát ra lấp lánh từ gươm thiêng phải chăng là ánh sáng của chính nghĩa, của khát vọng tự do, độc lập muôn đời.
Thanh gươm tỏa sáng có sức tập hợp mọi người. Gươm thần tung hoành ngang dọc, mở đường cho nghĩa quân đánh tràn ra mãi cho đến lúc không còn bóng dáng một tên giặc Minh nào trên đất nước ta.
Đánh tan quân xâm lược, non sông trở lại thanh bình. Lê Lợi lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long. Một ngày nọ, vua Lê cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp này, Long Quân sai Rùa Vàng đòi lại gươm thần và Lê Lợi hiểu ý thần linh, đã trao gươm cho Rùa Vàng. Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần để đánh giặc, nay đất nước đã yên bình thì đồi gươm lại.
Rùa Vàng há miệng đón lấy gươm thần và lặn xuống nước. Gươm và Rùa đã chìm đáy nước, người ta vẩn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Đấy là ánh sáng của hào quang chiến thắng vẻ vang, ánh sáng của quyết tâm giết giặc bảo vệ tổ quốc. Những hình ảnh thần kì trên đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bao người. Chi tiết này có ý nghĩa lớn lao: Khi vận nước ngàn cân treo sợi tóc, thần linh, tổ tiên trao gươm báu cho con cháu giữ gìn giang sơn, bờ cõi. Nay đất nước độc lập, bắt đầu giai đoạn xây dựng trong hòa bình thì gươm báu – hùng khí của tổ tiên lại trở về cõi thiêng liêng.
Hình ảnh Lê Lợi trả gươm đã nói lên khát vọng hòa bình của dân tộc ta. Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình, không thích chiến tranh nhưng kẻ nào xâm phạm đến chủ quyền độc lập, tự do của đất nước này đều sẽ được một bài học nhớ đời. Việc cho mượn gươm và đòi lại gươm của Long Quân như một lời răn dạy chí tình của ông cha ta đối với vị vua mới Lê Lợi: trừng trị kẻ thù thì phải dùng bạo lực, còn cai trị nhân dân thì nên dùng ân đức.
Lê Lợi nhận gươm trên đất Thanh Hóa nhưng lại trả gươm tại hồ Tả Vọng ở Thăng Long, Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết này bị giới hạn bởi vì lúc này, Lê Lợi đã là vua và kinh thành Thăng Long là thủ đô, tượng trưng cho cả nước. Việc trả gươm diễn ra ở đây mới thể hiện hốt được tư tưởng yêu hòa bình và tỉnh thần cảnh giác của toàn dân tộc.
Sau việc Lê Lợi trả gươm cho Long Quân, hồ Tả Vọng được đổi tên là Hồ Gươm (hay hồ Hoàn Kiếm). Tên hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) có ý nghĩa là gươm thần vẫn còn đó và nhắc nhở tinh thần cảnh giác đối với mọi người, răn đe những kẻ có tham vọng dòm ngó đất nước ta. Tên hồ đánh dấu và khẳng định chiến thắng hoàn toàn của khởi nghĩa Lam Sơn đối với giặc Minh, phản ánh tư tưởng yêu hòa bình đã thành truyền thống của dân tộc ta.
Cái tên Hồ Gươm gắn liền với huyền thoại lịch sử ấy sẽ mãi mãi tồn tại với thời gian, với sự ngưỡng mộ của bao thế hệ Việt Nam yêu hước.
Xem thêm: Hãy miêu tả quang cảnh tưng bừng nơi em ở vào một ngày đầu xuân mới | Phát biểu cảm nghĩ về truyện sự tích Hồ Gươm | 1,878 | |
Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) khi đọc đoạn văn miêu tả thác nước và “thạch trận” mà ông lái đò sông Đà phải vượt qua trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân
Gợi ý
Sinh thời, Nguyễn Tuân rất ham mê “xê dịch” bởi theo ông, “xê dịch” đã giúp ông thay đổi thực đơn cho giác quan. Vì vậy, những gì gắn với sông, nước, thuyền, bè hoặc đường xá, cầu công thường có cảm hứng mãnh liệt đối với ông. Nét tài hoa của Nguyễn Tuân là ở chỗ ông coi nghệ thuật đặc biệt có cảm hứng trước những gì thật dữ dội, phi thường, hoặc thật thơ mộng, tình tứ. Và có lẽ vì thế, đoạn văn miêu tả thác nước, “thạch trận” mà ông lái đò phải vượt qua trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Tuân như một bằng chứng thuyết phục về phong cách độc đáo của nhà văn tài hoa này.
Không phải ngẫu nhiên khi miêu tả về “Người lái đò sông Đà” – ông lái đò Lai Châu – Nguyễn Tuân lại tập trung miêu tả một số chi tiết ngoại hình: “Tay ông lêu nghêu như cái xào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại kẹp lấy một cái cuồng lái tưởng tượng. Giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong đợi một cái bến xa nào đó trong sương mù”. Cái nghề nghiệp trên sông nước cũng đã tạo nên ỗ ông đặc điểm rất riêng từ dáng vẻ đến cái giọng “ăn sóng nói gió” mạnh mẽ, dữ dội, át cả tiếng thác nước sông Đà cùng với “cài đầu quắc thước ấy đặt trên một thân hình cao, to và gọn quánh như chất sừng chất mun”, vẻ đẹp của người lao động được tôi luyện, thử thách có thể chiến thắng được thiên nhiên hung bạo là một chi tiết tưởng như rất tự nhiên nhưng thực ra nó thể hiện sự quan sát tinh tế như những lời ngợi ca bất tuyệt dành cho ông đò: “Ngực, vú, bả vai người lái đò chống xào vượt thác hay bầm lên một khoanh củ nâu… Cái đồng tiền tụ máu cũng là hình ảnh quý giá củ một thứ huân chương lao động siêu hạng.tặng cho người lái đò”.
Chở đò là một nghệ thuật cao cường đòi hỏi sự thông minh, khôn khéo và trí dũng, tài ba. ở đây, ông đò hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Tuân là một nghệ sỹ trong nghệ thuật leo ghềnh, vượt thác, với “tay lái ra hoa”. Để làm nổi bật tài nghệ ấy ở ông đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác: ông đò là người cầm lái chỉ huy sầu bơi chèo để chiến thắng được thác nước và đá ngầm mà sông Đà bày thạch trận trên sông như một trận đò bát quái giăng ra hết lớp này đến lớp khác. Ông đò đã bình tĩnh, thông minh, khôn khéo, cái bản lĩnh của một viên chiến tướng bởi chỉ cần một phút mất bình tĩnh, lóa mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của cả nhà đò. Tài nghệ của ông được bộc lộ trong cuộc vượt thác phá ba trùng vi thạch trận mà với vóon hiểu biết phong phú, vốn từ ngữ chính xác, sắc sảo về quân sự và võ thuật, Nguyễn Tuân đã thể hiện một cuộc quyết đấu thật sinh động.Xem thêm: Nếu anh không cháy lên, nếu tôi không cháy lên, nếu chúng ta không cháy lên, thì làm sao bóng tối có thể thành ánh sángỞ vi thạch trận thứ nhất, sông Đà mở ra cửa trận, có bốn cửa tử và một cửa sinh nằm “lập lờ phía tả ngạn”. Sóng nước có cái hung hăng của kẻ bắt đầu xung trận: “sóng nước như thể quân liều mạng… mà đá trái, mà thúc gốì vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên”. Thậm chí nó còn nham hiểm, thủ đoạn “đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất hòng tiêu diệt đối phương ngay tại trận”. Nhưng ông đò cố nén vết thương, mặt “méo bệch đi”. Chỉ cần một từ ghép “méo bệch” mà Nguyễn Tuân đã thể hiện được hai tâm trạng của ông đò. Đó là nỗi đau đớn ghê gớm làm biến dạng khuôn mặt người méo xệch và sóng nước đang tung thẳng vào người làm nhợt nhạt cả sắc mặt người khiến khuôn mặt trầng bệch ra. Dầu như thế, ông đò vẫn tỉnh táo chỉ huy “sáu bơi chèo” để phá tan cái trùng vi thạch trận thứ nhất.
Ớ trùng vi thạch trận thứ hai, sông Đà vởi bản chất ngoan cố và xảo quyệt đã đổi luôn chiến thuật. Nó “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào và cửa sinh bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn… Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Cái “hồng hộc” của kẻ say máu đang quyết đấu một phen nhưng nó lại gặp phải một đối thủ không vừa. ông đò với bản lĩnh của con người không chịu khuất phục, cùa một vị tướng quyết đấu đến cùng đã “cưỡi lên thác sông Đà… nắm chặt lấy được cái bờm sóng… đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Trước sức chiến đấu dũng mãnh, phi thường của ông đò thì “cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”. Hình tượng tấng đá lớn, rêu phủ xanh dưới ngòi bút Nguyền Tuân lại trở thành một sinh thể có hồn với vẻ mặt xanh lì – mặt cắt không còn hột máu – với nỗi sợ hãi khủng khiếp vì không ngờ gặp phải đốì thú đáng ghờm như thế. Và trùng vi thạch trận thứ hai đã được ông đò phá xong.
Ở trùng vi thạch trận thứ ba, hình ảnh của một con thú giãy chết lại được thể hiện khi con sông Đà: bên phải, bên trái đều là luồng chết còn luồng sông lại ở ngay chính giữa để quyết tiêu diệt đốì phương. Thác nước ầm ầm, hơi nước mù mịt nhưng ông đò vẫn nhận ra được chiến thuật của sông Đà, ông đổi ngay cách đánh, cứ phóng thuyền “vút, vút…” như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước… thế là hết thác.Xem thêm: Tóm tắt truyện ngắn Bến quê Không biết đốn bao giờ tôi mới thôi ngạc nhiên và thích thú trước hình ảnh không hiểu làm sao mà Nguyễn Tuân có thể nghĩ ra về sự “tiu ngỉu cái mặt xanh lè thất vọng” của thằng đá tướng khi bị cái thuyền đánh trúng cửa sinh, đề sấn lên, chặt đôi sóng ra để mở đường tiến qua ải nước. Nhưng để lại dấu â’n rõ nét hơn cả trong tôi lại là những câu văn về dòng sông khi vừa hết thác: “vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Nhà văn đã mượn cho kí ức con người vẻ đẹp thênh thang của bờ cát bên sông. Và những người lái thuyền trong đêm ấy đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và chỉ toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh… Nhà văn làm cho ta thấy họ còn lớn hơn bậc nữa vì họ hồn nhiên quên đi cái lớn của mình. Hay nói đúng hơn họ không hề cho là lớn lao, cái mà chúng ta thây rõ ràng rằng vĩ đại.
Quả là đúng nếu cho rằng thiên nhiên chính là kẻ tôn vinh số một giá trị của con người. Thật thế, người lái đò sông Đà kia sẽ là ai nếu con thuyền của ông không phải vật lộn với “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông Đà”? Có thể người ấy sẽ mang một vẻ đẹp nào đó của một loại ông ngư, ông chài, ông lái… nhưng sẽ không thể trở thành đối tượng của một khúc hùng ca. Trái lại, chính cái hùng vĩ của sóng, của thác nước sông Đà sẽ đưa con người dám đương đầu và chiến thắng thần đá, thần sông lên hàng oai linh tối thượng.
Người xưa vẫn coi “cưỡi cơn gió mạnh, đạp đầu sóng dữ” là biểu trưng cho một lí tưởng anh hùng. Ông lái đò, dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân cũng chính là con người cưỡi gió, đạp sóng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhà vãn đã dụng công diễn tả cuộc chiến giữa ông lái đò với dòng sông theo hướng: thoạt đầu tưởng như hai bên rất không cân sức. Nào là quanh con người đơn độc, “mặt nước hò la’vang dậy…, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”. Nào là “sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền”, để đội thuyền lên, để lật ngửa mình thuyền giữa vang trời thác réo. Các luồng sóng thì thi nhau “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm” vào chỗ dễ tổn thương nhất của con người… Sẽ tôn khá giấy mực nếu muôn kể hết ra đây tất cả cái khôi lượng hùng hậu các từ ngữ mà Nguyễn Tuân đã chở về từ bên nhà võ mà hào phóng vóc tung ra trên các trang văn. Vậy mà đốì địch lại, ông đò có những gì? Một chiếc thuyền mỏng manh, trên đó, con người thật nhỏ bé biết bao giữa luồng thác đang giận dữ, hai tay ghì níu lấy mái chèo, đôi chân kẹp chặt vào cuống lái, mặt “méo bệch” hẳn đi do “cố nén vết thương”. Thế nhưng, ba lớp trùng vi thạch trận đầy cửa tử đã không ăn chết được một con thuyền đơn độc hết chỗ lùi. Các dũng tướng phá trận ngày xưa, nếu vào đúng cửa sinh và đánh thô’c ra đúng cửa sinh là đối phương tan tành thế trận, ông đò của Nguyền Tuân cũng thế. Nhà văn như muốn, qua trường hợp ông đò, cùng chúng ta nghiền ngẫm điều triết lí: giữa cái thế giới cúa độc dữ và nham hiểm, cái thế giới đấy sức mạnh man dại và lập lờ cạm bẫy, con người vẫn đủ khả năng -tìm thấy luồng sinh. Người lái đò của Nguyễn Tuân không có phép màu để so sánh với sức lực của Thủy Tinh nhưng ông “đã năm chắc binh pháp của thần sông thần đá”. Và cái kinh nghiệm đò giang sông nước, lên thác xuống ghềnh đã khiến ông đò dù trong tay chỉ có cây chèo vẫn có thế phá thành, vượt ải như một chiến tướng bách thắng trong sự nghiệp đấu tranh chông lại thiên nhiên khắc nghiệt.Xem thêm: Bạn Anh Thư kể về gia đình Một cảm hứng hào hùng đã khiến ngòi bút Nguyễn Tuân miêu tả cuộc vượt thác sông Đà vẫn diễn ra thường nhật thành một trận đánh biến ảo, hấp dẫn, một khúc hát ca ngợi chiến công của một bậc anh hùng, có quá lớn, có đáng ngạc nhiên chăng, nhất là ờ một nhà văn vốn có tiếng là kiêu bạc? Là một nhà văn vốn cầu kì, tỉ mi, tường tận trong quan sát và miêu tả sự vật hiện tượng, con người vậy mà ở đâý Nguyễn Tuân chắng có một dòng nào nói về tên tuổi, gia cảnh của ông đò. Thủ pháp vô danh hóa đã giúp nhà văn khẳng định: ở một đất nước lắm sông nhiều suối, lắm thác nhiều ghềnh thì những người lái đò tài hoa, nghệ sĩ như ông đò trên sông Đà là phô biến, ỏng ca ngợi lao động, ca ngợi con người theo cách riêng của mình làm cho hai tiếng “Con Người” vang lên kiêu hãnh biết bao!
Với “Người lái đò sóng Đà”, Nguyễn Tuân không chỉ thể hiện tài hoa ở thể loại tùy bút mà còn thể hiện nét mới trong phong cách nghệ thuật của ông: nhân vật tài hoa, nghệ sĩ không phải là những con người hiếm hoi, cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời mà đó chính là nhân dân vô danh. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ có ở nơi chiến trường mà có ở ngay trong những người dân bình thường hằng ngày phái vật lộn với thiên nhiên hung dữ đế’ mưu sinh. Chính họ đã viết nên thiên anh hùng ca cúa cuộc sống.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu suy nghĩ của anh (chị) khi đọc đoạn văn miêu tả thác nước và “thạch trận” mà ông lái đò sông Đà phải vượt qua trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân | 2,153 | |
Phát biểu suy nghĩ của em về niềm vui, nổi buồn tuổi thơ hoặc tình cảm với một món đồ chơi
Hướng dẫn
Bây giờ, trời đang xuân, tôi khép lại những trang sácíi văn đã để lại trong lòng nhiều suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc. Trong đó tôi thích nhất những trang viết bài “Cổng trường mở ra” của Lý Lan gợi nhớ niềm vui của những ngày đầu tiên đi học, và bài “Cuộc chia tay của những con búp bê” cũng đong lai nỗi buồn thời thơ ấu.
Ngày xưa, tôi cũng như mọi người khác, cũng có một ngày đầu tiên đi học. Và những kỉ niệm của ngày ấy vẫn luôn theo tôi cho đến tận bây giờ. Lần đầu đọc bài “Cổng trường mở ra”, bao nhiêu kỉ niệm trong lòng bỗng sống dậy. Nhớ quá! Hồi tôi vào lớp một, tôi cũng đi trên “con đường làng dài và hẹp”… một mình bước đến trường, không ai dắt tay cả, khác hẳn với đám bạn bè bên cạnh, đơn giản vì ba mẹ tôi không ở đây, không thể đưa tôi đến trường được, dơn giản vậy thôi… Ây thế mà lại gây cho tôi một nỗi buồn tủi thân khi nhìn thấy những đứa trẻ khác được mẹ âu yếm dắt tay đến trường, còn tôi chỉ một mình lủi thủi đơn độc, bị nhấn chìm trong đại dương hạnh phúc của người khác. Tuy nhiên, đọc bài văn của Lí Lan, tôi bỗng hiểu thêm ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Người lớn đưa trẻ con đến trường, đường phố dược dọn sạch sẽ và trang trí tươi vui vì ai cũng biết rằng sai lầm trong giáo dục sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ mai sau, và sai lầm một li có thể đưa thế hệ ấy đi chệch cả hàng dặm sau này.
Xem thêm: Phân tích Nội dung và nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái QuốcKhép lại những kỉ niệm của ngày đầu tiên đi học, mở ra những cảm xúc mới về trang sách viết bài “Cuộc chia tay của những con búp bê”. Thật tội nghiệp cho tuổi thơ của hai anh em rất thương nhau mà phải chia lìa vì cha mẹ li dị. Người mẹ đã bắt hai anh em phải chia đồ chơi trước lúc chia tay. Nhưng không gì có thể chia cắt được tình cảm trong sáng, hồn nhiên, vô tư của trẻ thơ vì cuối cùng con búp bê Em Nhỏ và con Vệ Sĩ cũng đứng bên cạnh nhau. Tuy nhiên cuộc chia tay đau đớn và đầy cảm động của hai em bé trong truyện khiến người đọc thấm thìa rằng “Tổ ấm gia đình là vô cùng quan trọng và quí giá. Mọi người hãy cố gắng trân trọng và giữ gìn. Không nên vì bất cứ lý do gì mà làm tổn hại đến tình cảm thiêng liêng ấy.”
Nói đến những con búp bê*, tôi lại nhớ đến những dồ chơi thuở nhỏ. Có em bé nào mà lại không ham thích đồ chơi. Con trai thì thích những hòn bi, trái banh,… còn con gái thì thích những con búp bê xinh đẹp,… Đến Tết Trung thu thì những đèn lồng hình con bướm, con rồng,.. lung linh, nhảy múa theo những bước chân trẻ em. Mong rằng xã hội sẽ quan tâm đến thiếu nhi nhiều hơn bằng những đồ chơi mang tính giáo dục chứ không phải là những đồ chơi súng đạn, dao kiếm, làm cho trẻ em nhiễm tính hung bạo, tàn ác.
Ai mà chẳng có những ngày thơ ấu nhỉ! Những ngày ấy, dù hạnh phúc, dù đau khổ, dù dắng cay nhưng đó cũng chính là những kỉ niệm không bao giờ quên được. Sau này nhìn lại, nhớ lại sẽ cảm thấy “sao ngày ấy hồn nhiên quá”, hồn nhiên ở cái tuổi chưa hiểu đời và đó cũng là những niềm vui nho nhỏ an ủi ta trong cuộc sống hiện giờ. Có những dòng thơ, dòng văn đọc lên cảm thấy đáng yêu làm sao, cũng vui vui, cũng thích thú. Nhưng cũng có những trang viết nhoè nét mực vì những dòng nước mắt. Tuy nhiên tất cả đều mong muốn cho tuổi thơ vơi đi nỗi buồn mà đong dầy niềm vui, niềm hạnh phúc.
Nguồn: thêm: Viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về bài ca dao sau: Anh em nào phải người xa/ Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân/ Yêu nhau như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần | Phát biểu suy nghĩ của em về niềm vui, nổi buồn tuổi thơ hoặc tình cảm với một món đồ chơi | 787 | |
Đề bài: Phát biểu suy nghĩ của em về rừng
Bài làm
Cuối năm lớp 6 gia đình em chuyển nhà từ Đà Lạt ra Hà Nội sinh sống. Thời gian trôi đi thật nhanh mới hôm nào mà đã được hơn một năm rồi. Em phải rời xa quê hương Đà Lạt thân thương của mình, nơi gắn bó bao kỷ niệm của tuổi ấu thơ. Nơi có những hàng thông reo vi vu, che chở bao bọc cho em những buổi chiều đi học về. Em nhớ rừng thông biết bao nhiêu.
Sống tại thủ đô nơi sầm uất, đông người với những tòa nhà cao hút tầm mắt nhưng tâm hồn em luôn cảm thấy nhớ thương Đà Lạt, luôn muốn được một lần về với những đồi thông xanh bao la ngút ngàn.
Rừng thông quê em mọc ngút tầm mắt, đi đâu người ta cũng nhìn thấy những đồi thông xanh uốn lượn, nhấp nhô tạo thành những hình vòng cung thoai thoải, đẹp say đắm lòng người.
Chẳng thế mà Đà Lạt quê em được mệnh danh là thành phố đồi thông hay thành phố ngàn hoa.
Ở Đà Lạt không chỉ có thông mà còn rất nhiều loại hoa, đủ màu sắc thi nhau khoe mình trong nắng sớm. Những bông rung rinh đưa mình theo từng ngọn gió vi vu, tạo nên một thảm hoa rực rỡ sắc màu.
Trong rừng thông hoa nở còn có những chú chim thi nhau khoe giọng hót líu lo, chúng đang ca những bài ca mừng xuân phơi phới. Những con chim non vui vẻ gọi bầy.Xem thêm: Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong truyện Những đứa con trong gia đình
Trong rừng thông những ánh nắng “bẽn lẽn” xuyên mình qua khe lá rồi những ánh sáng lung linh của mình xuống đất phơi khô những tầng lá mục lâu ngày. Những làn hơi nước bốc lên cao tạo thành những làn sương mờ mong manh, che mặt người mờ ảo khi hư khi thực. Tựa như hơi thở của những cánh rừng.
Hồi còn sống ở Đà Lạt cha em thường đi rừng để tìm kiếm những loại lan quý, hay những loại cây thảo mộc về làm thuốc. Cha kể trong chiến tranh chống Mỹ nhiều người đã vượt rừng Trường Sơn để đi cứu nước.
Rừng là nơi che nắng, che mưa, là nơi ngăn bước quân thù. Nhiều cánh rừng Trường Sơn của chúng ta bị giặc rải bom ác liệt, các chiến sĩ của chúng ta nhiều người đã hy sinh để bảo vệ được mảnh đất quê hương.
Em nhớ hồi còn nhỏ có là theo ba vào rừng kiếm thuốc.Em nhìn thấy rất nhiều động vật quý hiếm như những chú sóc nâu, thỏ trắng, hay những con nai vàng ngơ ngác. Tất cả bọn chúng thật đáng yêu thoáng ẩn thoáng hiện khi thấy con người xuất hiện chúng đều chạy đi vào nơi trú ẩn. Rừng chính là nhà là tổ ấm của những động vật quý hiếm đáng yêu này.
Rừng thông của Đà Lạt là những kỷ niệm gắn bó với tuổi thơ của em. Nó trở thành người bạn thân thiết đã cùng em chia sẻ nhiều buồn vui, giờ xa quê hương nhưng trong lòng em vẫn luôn muốn quay trở lại nơi đây dù chỉ một lần.Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một nước phải thương nhau cùng
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Phát biểu suy nghĩ của em về rừng -văn lớp 7 | 582 | |
Phát biểu suy nghĩ của mình về câu nói Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông
Hướng dẫn
– Mỗi đời người là một cuộc hành trình không ngưng nghỉ. Cuộc hành trình ấy không phải bao giờ cũng thuận buồm xuôi gió, mà nhiều khi phải đối mặt với không ít
trở ngại, thách thức. Thách thức ấy đến từ đâu? Làm sao vượt qua được chúng để cập bến thành công? Câu nói nổi tiếng của Nguyễn Bá Học – một nhà giáo, nhà văn của những thập niên đầu thế kỉ XX – sẽ giúp ta tìm câu trả lời: "Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông".
– Là một nhà văn, Nguyễn Bá Học đã chọn lối nói hình ảnh để diễn đạt quan điểm của mình. Hình ảnh "đường đi" mà ông dùng trong câu nói chắc chắn không phải là con đường với nghĩa là nơi con người đi lại bằng các phương tiện giao thông. Ở đây, tác giả muốn nói đến đường đời. Trong văn học cũng như trong ngôn ngữ đời sống, hai chữ "đường đời" không hề xa lạ. Người ta vẫn thường dùng hình ảnh "con đường" để chỉ sự vận hành của cuộc sống xã hội cũng như cuộc hành trình của một đời người.
– "Ngăn sông cách núi" là những khó khăn do bên ngoài đưa đến, như ta thường nói là khó khăn khách quan, ngoài ý muốn của con người. Khi đã dùng hình ảnh đường đi, thì "ngăn sông cách núi" là cách nói rất phù hợp. Sông núi do trời đất dựng nên đã vô tình cản trở bước chân con người trong những chuyến đi. "Lòng người ngại núi e sông" phải hiểu là những trở ngại trong chính bản thân người đi đường, nói cách khác, đó là những khó khăn chủ quan. Với cách diễn đạt như vậy, Nguyễn Bá Học muốn nói rằng: trên đường đời, chướng ngại đáng sợ nhất không phải là những khó khăn bên ngoài, do khách quan đưa đến, mà là khó khăn bên trong, do lòng người dựng lên.
– Khi phát biểu quan điểm của mình, Nguyễn Bá Học hoàn toàn ý thức được rằng "ngăn sông cách núi" là điều có thật, không thể phủ nhận. Trên mỗi bước đường đời, luôn tiềm ẩn những hiểm hoạ, thách thức. Nhiều lúc, những khó khăn đến từ mọi nẻo, bất ngờ, không lường trước được. Tuy nhiên, vấn đề mà ông muốn đề cập ở đây là thái độ, tinh thần của con người khi đối mặt với khó khăn. "Lửa thử vàng, gian nan thử sức", cha ông ta đã đúc kết như thế. Trên đường đi, cũng núi ấy, sông ấy, có người hăng hái băng vượt, có người nản chí, thoái lui. Một khi con người thiếu nghị lực, không có chí tiến thủ thì chướng ngại dẫu nhỏ cũng thành lớn, họ dễ quay gót đầu hàng. Ngược lại, với người giàu ý chí, đầy quyết tâm thì trở ngại dẫu lớn cũng thành nhỏ, có thể vượt qua.
– Cũng cần thấy rằng: khi nhấn mạnh tinh thần, khả năng vượt khó, Nguyễn Bá Học không cổ động cho thái độ duy ý chí. Câu nói của nhà văn gọi cho ta suy nghĩ: biết được những thách thức, khó khăn trên đường đời là hết sức cần thiết. Phải luôn tỉnh táo để nhận ra những cản trở đến từ khách quan, từ đó tìm cách giải quyết. Thực tế, không ít người thất bại cay đắng vì đã không tính hết những trở lực đối với công việc của mình. Song mặt khác, không vì thấy khó khăn mà trở nên bối rối, e ngại. Không dám đối đầu vượt qua thách thức là biểu hiện của tinh thần bạc nhược, của tâm lí thất bại chủ nghĩa. Nó sẽ triệt tiêu lòng hăng hái, lửa nhiệt tình, chí tiến thủ và nhất là làm mất đi sự năng động, sáng tạo.
Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về chất thơ trong truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam– Chủ ý của Nguyễn Bá Học ở câu nói này là kích thích tinh thần vượt khó của mọi người, nhất là lứa tuổi thanh niên. Nhưng câu nói không sa vào triết lí, rao giảng khô khan, mà như được đúc kết từ những tấm gương thành công nhờ vượt khó. Quả thật, từ xưa đến nay, từ đông sang tây, có biết bao nhiêu con người với nghị lực phi thường đã vượt lên hoàn cảnh và họ đã được đền bù xứng đáng bằng vị ngọt của thành công. Ta không thể quên thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký vốn là người bại liệt hai tay, nhưng bằng sự tập rèn không mệt mỏi, đôi chân đã làm được mọi việc, không khác gì đôi bàn tay của người khéo léo. Ở vào hoàn cảnh như Nguyễn Ngọc Ký, người ta nghĩ rằng để sống được đã là khó, mấy ai dám mơ tới một vị trí, một sự nghiệp mà con người tàn tật ấy đã đạt được bằng sự kiên trì vượt khó kì diệu của mình.
– Nhìn những thành quả di truyền học hiện nay, xin đừng quên vị tu sĩ Men-đen đã phải trả giá bằng bao nhiêu lần thí nghiệm thất bại. Nếu vị thầy tu này nản chí, không biết những thành quả của ngành sinh học kia bao giờ mới được tìm ra. Lịch sử khoa học còn ghi lại rõ ràng tấm gương những nhà toán học dám lao vào giải những bài toán khiến nhân loại bao đời bó tay. Khó khăn mà họ đối mặt đúng là chất chồng như núi, vì có những điều tưởng nằm ngoài khả năng trí tuệ con người. Nhưng, bằng sự kiên trì, chịu khói bằng nghị lực vô biên, họ đã chứng minh rằng không có gì ngăn, nổi con người trên con đường khám phá, sáng tạo. Những chân trời khoa học được mở ra bởi bộ óc vĩ đại của những con người không bao giờ "ngại núi e sông". Chính nhà khoa học ấy hiểu hơn ai hết rằng: trong mỗi thành công, tài năng chỉ chiếm 10%, còn 90% là mồ hôi, nước mắt. Những giọt mồ hôi âm thầm đổ trên từng trang sách, trong phòng thí nghiệm và những thành quả mà các nhà khoa học gặt hái được là bằng chứng hùng hồn chứng minh: mọi thành công trên đường đời đều được quyết định bởi một phần quan trọng: tinh thần, ý chí, nghị lực của con người.
– Câu nói của nhà văn Nguyễn Bá Học được cất lên cách đây đã gần một thế kỉ. Cuộc sống đã có bao đổi thay, nhưng ý nghĩa thiết thực của câu nói này thì vẫn không hề phai nhạt. Trong một bức thư gửi cho thanh niên, Bác Hồ cũng dạy: Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chí ắt làm nên.
Lời dạy của Hồ Chủ tịch cũng chính là thông điệp mà Nguyễn Bá Học gửi đến cho các thế hệ.
Hằng ngày, ta phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn đến từ mọi phía. Và ngay trong lòng ta cũng không phải đã không từng dựng lên những trở ngại đối với chính bản thân mình. Những lúc ấy, lời nhắc nhở của Nguyễn Bá Học sẽ như tiếp thêm nghị lực cho ta để ta vững bước trên con đường mà mình đã chọn.
Nguồn: thêm: Bình luận về chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng | Phát biểu suy nghĩ của mình về câu nói Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông | 1,311 | |
Phát biểu ý kiến của em về Đôn-ki-hô-tê
Gợi ý
Nhân vật Đôn-ki-hô-tê trong tác phẩm của nhà văn Xec-van-tec gây nhiều ấn tượng và lí thú cho em. Một con người đáng thương nhưng cũng rất đáng chê, với những hành động nực cười của mình.
Bởi vì ham đọc những truyện kiếm hiệp mà Kihada, một nhà quý tộc bình thường, đã bán hết cả ruộng vườn, tài sản mình có thể mua truyện; nhưng tệ hơn nữa là chàng nghĩ tất cả những điều trong truyện của mình đều có thật, và nghĩ rằng "Đôn-ki-hô-tê, nhà quí tộc tài ba ở Man-tra", biến con ngựa gầy còm cùa mình thành con tuấn mã và bỏ biết bao thời gian để chuẩn bị cho chuyến chu du.
Đi với chàng còn có giám mã Xan-trô Pan-xa, một người thực tế. Em thật buồn cười trước cuộc đánh nhau của chàng với cối xay gió. Chàng đã tưởng tượng cối xay gió là một tên khổng lồ gian ác. Kết quả ra sao chắc các bạn đã rõ rồi. Đôn-ki-hô-tê chịu một thất bại ê chề đau khổ. Thế còn chưa đủ, chàng đã gặp hai thầy tu và một đoàn ngựa đưa phu nhân đi thăm chồng. Vậy mà chàng lại nghĩ hai tên quỷ dữ ấy bắt cóc một nàng công chúa. Và cuộc đánh nhau xậy ra, nhưng thật may mắn phần rủi ro không đến với chàng và chàng đã thắng.
Với những hành động điên rồ đó, không phải chàng là người đáng ghét, vì mục đích của chàng là cứu người yếu, diệt gian tà. Chàng đánh nhau đều có mục đích cứu người, nhưng không biết rằng hành động của mình đều sai cả. Để giữ mình đúng là nhà quí tộc, chàng đã nhịn ăn, rồi không kêu đau khi bị thương. Như vậy chàng cũng là một người đáng thương. Nhưng em chợt nghĩ ra rằng bất cứ người nào dù có mục đích tốt đẹp chăng nữa, nhưng với đầu óc điên rồ cùng chẳng làm nên được việc gì.Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả một loài hoa em yêu thích Nhân vật Đôn-ki-hô-tê có những điều đáng trách, nhưng cũng có nhiều chỗ đáng yêu. Gạt bỏ những tưởng tượng vớ vẩn của chàng, em nghĩ rằng Đôn-ki- hô-tê đáng cho chúng ta kính trọng, yêu mến. Chả thế mà qua mấy trăm năm rồi, Đôn-ki-hô-tê vẫn sống với bao thế hệ người đọc ở khắp nơi trên thế gian đó sao?
Vanmau.edu.vn | Phát biểu ý kiến của em về Đôn-ki-hô-tê | 420 | |
Phát biểu ý kiến về Đôn-ki-hô-tê
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
(Phát biểu cảm nghĩ chung)
+ Buổi sinh hoạt câu lạc bộ văn học có hai nhóm trái ngược nhau đánh giá về chàng kỵ sĩ Đôn-ki-hô-tê.
+ Đối với em thì Đôn-ki-hô-tê: vừa gàn dở vừa mê muội nhưng cũng đáng yêu.
B. THÂN BÀI:
(Phát biểu cảm xúc và suy nghĩ)
1. Đặc điểm nổi bật là Đôn-ki-hô-tê mê đọc sách kiếm hiệp.
+ Đánh giá – Đọc sách tốt, nhưng say sưa quá là có hại.
– Tai hại hơn là muốn biến thành hiệp sĩ.
– Mất trí khôn từ những trang sách vô bổ.
2. + Đánh nhau với cối xay gió. Ngỡ chúng là phù thủy.
+ Mê muội như vậy thật đáng chê.
3. + Đôn-ki-hô-tê chiến đấu có mục đích – bênh kẻ hèn yếu.
– Không ngại khó khăn – xả thân cứu người.
– Căm thù bọn súc sinh, "lũ" phù thủy…
+ Đánh giá: Suy nghĩ của chàng rất cao cả, có bản lĩnh, chỉ có điều đáng tiêc là nó ảo tưởng và không thực tế.
C. KẾT LUẬN
(Khẳng định lại cảm nghĩ)
+ Đôn-ki-hô-tê có điều đáng trách lẫn điều đáng khen.
+ Chúng ta hãy học tập nhiều điều tốt ở nhân vật này.
+ Nhân vật Đôn-ki-hô-tê rất đặc biệt gây nên ấn tượng lâu bền cho người đọc.
BÀI LÀM
Cuộc tranh luận kéo dài đã khá lâu mà vẫn chưa ngã ngũ. Ai cũng hăng hái phát biểu ý kiến của mình về Đôn-ki-hô-tê qua hai chương đã học. Các bạn tự phân thành hai nhóm ý kiến đối lập nhau: một nhóm bênh vực còn nhóm kia lại chê trách "chàng hiệp sĩ". Em lắng nghe ý kiến các bạn và cảm thấy thật thú vị. Đối với em Đôn-ki-hô-tê tuy mê muội, gàn dở nhung vẫn đáng yêu.Xem thêm: Người ta từng đặt cho Nguyễn Tuân danh hiệu người suốt đời đi tìm cái đẹp
Đặc điểm nổi bật ở Đôn-ki-hô-tê mà người đọc nào cũng nhận ra là sự say mê đọc sách của chàng mà chỉ toàn là truyện kiếm hiệp. Để có sách đọc, chàng không ngần ngại bán cả phần ruộng đất đang cày để mua sách. Đôn-ki-hô-tê đọc đến nỗi quên đi săn và công việc nhà, đọc từ "tối đến sáng, rồi lại từ sáng đến tối", đến nỗi đầu óc teo mất đi cả trí khôn. Ham đọc sách là một đức tính tốt nhưng quá say mê như Đôn-ki-hô-tê thì thật là tai hại. Chính vì vậy trong đầu chàng lúc nào cũng có hình bóng của những chàng hiệp sĩ, những trận chiến đấu hiển hách. Thế rồi tai hại hơn, chàng nảy ra ý nghĩ vô cùng kỳ quái là trở thành hiệp sĩ. Việc chàng bỏ cả tuần lễ để làm cái mũ, mất tám ngày để đặt tên cho mình chứng tỏ sự mê muội kì lạ của chàng vào tiểu thuyết. Chàng hoàn toàn mất cả trí khôn, trở thành con người lúc nào cũng sống trong mộng mị từ những trang sách vô bổ kia. Nhìn mấy cái cối xay gió, chàng lại nghĩ là bọn khổng lồ, liều chết xông vào chiến đấu. Trông mấy vị thầy tu, Đôn-ki-hô-tê cứ ngỡ là phù thủy, ra tay nghĩa hiệp để cứu nàng "công chúa". Chàng mê sách đến nỗi những vật bình thường nhất xung quanh mình cũng không nhận ra. Thái độ như thế rõ ràng thật đáng chê.Xem thêm: Phân tích bài ca dao “Công cha như núi ngất trời”
Thế nhưng, Đôn-ki-hô-tê chiến đấu chỉ vì mục đích "bênh vực kẻ hèn yếu, đạp bằng mọi gian khổ, nguy hiểm để tiếng thơm lưu truyền mãi mãi". Chàng rất yêu thương những kẻ gặp nạn, gặp nguy hiểm, liều xả thân mình để cứu họ. Cùng như bao hiệp sĩ khác. Chàng căm thù "lũ súc sinh, bọn phù thủy độc ác", và thẳng tay trừng trị, chàng làm tất cả để vừa lòng "người yêu", rạng rỡ tên mình và tên tố quốc. Suy nghĩ của chàng rất cao cả. Đề chứng tỏ mình là hiệp sĩ, chàng cắn răng chịu đau không một lời rên rỉ; chàng không thèm ăn sáng vì "các hiệp sĩ chỉ nghĩ đến người yêu cũng đã no rồi". Tất cả những việc trên chứng tỏ một bản lãnh cao độ ở con người chàng, nếu không có cái ảo tưởng, cái vô ích trong tiểu thuyết thì những đức tính đó sẽ đáng quý, thiết thực biết chừng nào.
Nói tóm lại, ở Đôn-ki-hô-tê có cả điều đáng trách lẫn đáng khen. Nếu ta bỏ đi cái đáng trách thì chàng là một tấm gương cho chúng ta học tập. Trong chàng có hai nửa người đối lập góp phần tạo nên một Đôn-ki-hô-tê đặc biệt sống mãi trong lòng người với bao ấn tượng và tình cảm khó quên.
Vanmau.edu.vn | Phát biểu ý kiến về Đôn-ki-hô-tê | 812 | |
Phân loại rác trước khi đem đi là một việc làm tốt. Hãy kể lại việc làm đó
Bài làm
Túi nilông là một “nhân tố" quan trọng tạo nên sự ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày mẹ đi chợ là mỗi ngày mẹ mang về nhà không biết bao nhiêu loại túi: túi to, túi nhỏ, túi trăng, túi xanh, túi vàng tủi hồng… đựng biết bao nhiêu là đồ. Công việc tiếp theo của em là cất đồ và nhặt những chiếc túi nilông rồi cuộn chúng lại với nhau thành một túi riêng chờ các cô lao công đến hốt rác thì đem ra để vào thùng. | Phân loại rác trước khi đem đi là một việc làm tốt. Hãy kể lại việc làm đó | 108 | |
Phân loại rác trước khi đổ là một việc làm tốt. Hãy kể lại việc làm đó
Gợi ý
Túi nilông là một “nhân tố” quan trọng tạo nên sự ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày mẹ đi chợ là mỗi ngày mẹ mang về nhà không biết bao nhiêu loại túi: túi to, túi nhỏ, túi trắng, túi xanh, túi vàng, túi họng… đựng biết bao nhiêu là đồ. Công việc tiếp theo của em là cất đồ và nhặt những chiếc túi nilông cuộn chúng lại với nhau thành một túi riêng, chờ các cô lao công đên hót rác thì đem ra đổ vào thùng.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bạn Minh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học | Phân loại rác trước khi đổ là một việc làm tốt. Hãy kể lại việc làm đó | 117 | |
Phân lích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Gợi ý
Thiên nhiên muôn đời này vẫn là người bạn thiết thân của các văn sĩ nói chung và những nhà văn Việt Nam nói riêng. Bới vậy, hình ảnh thiên nhiên của non sông đát nước đi vào những trang văn của các tác giả văn học thật đáng yêu đáng mến biết nhường nào. Những dòng sông Việt Nam trong văn học cũng được nhìn nhận dưới vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình quyến rũ đến kì lạ. Chỉ qua hai tuỳ bút Người lúi đò sông Dà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phú Ngọc Tường) ta đã cảm nhận được điều đó.
Diễn đạt vé đẹp trự tình của sông Đà, Nguyễn Tuân đã dùng những trang văn đậm chất thơ, lắng sâu xúc cảm trữ tình. Con sông Đà “tuôn dài tuôn dài như áng tóc trữ tình…” câu văn dài chất chứa niềm yêu say mê của tác giả với sông Đà. Biện pháp so sánh không chỉ gợi chiều dài của dòng sông mà còn cảm nhận về dáng hình, dòng cháy của nó. Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận. Sông Đà hung dữ đã được thay bằng hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như mái tóc của người thiếu nữ. Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khả năng tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua trí tướng tượng sinh động của nhà vãn. Sông Đà là linh hồn Tây Bắc, nước mây, đất trời như nô’i liền một dải “đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc… cuồn cuộn mù khói núi Mèo đô’t nương xuân” Cảnh vật thơ mộng và huyền ảo. Câu văn xuôi vừa giàu chất tạo hình vừa thấm đượm chất thơ. Nguyễn Tuân nhìn sông Đà ỏ nhiều góc độ, soi chiếu nó ở nhiều phương diện, để rồi ở phương diện nào cũng tìm ra những nét đẹp của nó, khi thì nhìn say sưa, khi lại xuyên qua cảnh vật, khi lại bay tạt ngang sông Đà, khi nhìn từ trên xuống, khi nhìn từ dưới lên,… Sông Đà được cảm nhận như một sinh thể sống có linh hồn. sắc nước sông Đà có khi là màu xanh trong suốt, rực sáng đến diễm lệ, có khi là sắc đỏ đậm đặc đến bầm tím. Những hình ảnh ấy tác động mạnh mẽ vào giác quan của người đọc, tạo những trường liên tưởng mà khi tiếp nhận, người đọc luôn có cảm giác bất ngờ, lí thú.
Sông Đà được nhìn như một cố nhân, thể hiện mối tri âm, tri kỉ của tác giả với con sông. Đã là cố nhân thì gần thương, xa nhớ, bởi vậy, những câu chữ của Nguyễn Tuân tràn đầy âu yếm, nâng niu, trân trọng. Mỗi dòng, mỗi chữ đều quyện chặt tình yêu với con sông, thể hiện sinh động qua biện pháp nhân hóa. Những cậu văn lúc này giống như những câu thơ tuyệt bút của đời Đường khi xưa, lắng sâu trong màu sắc CỔ điển. Sông Đà là một cố nhân nhưng gặp lại sông Đà, lúc nào thi nhân cũng cảm thấy ngỡ ngàng, vẻ đẹp sông Đà luôn đem đến cho người ta sự say mê, ngỡ ngàng, cuốn hút. Mỗi lần gặp lại, niềm say mê lại càng lớn hơn. Dường như có một sự liên hệ nào đó giữa không gian đầy sức sống của mảnh đất Dương Châu trong câu thơ của Lí Bạch với không gian rực rỡ của sông Đà. Từ ánh sáng của dòng sông mà bắt thành ánh nắng tháng ba Đường thi thì quả là tài hoa. Tình tri kỉ của người xưa như truyền những xúc cảm “đằm đằm, đầm ấm” cho Nguyễn Tuân gặp lại sông Đà.
Bờ sông Đà được miêu tả bằng những câu văn đậm xúc cảm hoài niệm: “hoang dại… cổ tích tuổi xưa”. Sông Đà đẹp vẻ đẹp cổ kính, gần gũi, thân thiết. Cái hoang dại của dòng sông được so sánh với nét hoang sơ của bờ tiền sử, cái trẻ trung của của dòng sông được so sánh với nỗi niềm hồn nhiên của cổ tích. Nguyễn Tuân rất có tài khi sử dụng biện pháp so sánh. Lần so sánh nào cũng khiến người ta ngỡ ngàng, thán phục, say mê. Câu văn đưa người đọc trở về với một thời quá vãng xa xưa, sông Đà được khoắc lên tấm áo lung linh, huyền ảo, gợi nên một nét đẹp yên bình, thơ mộng, gần gũi và thân thiết.Xem thêm: Tìm gia sư Văn lớp 12 tại Hà Nội Sông Đà giống như một phần lịch sử dân tộc, là hồn thiêng của đất nước mang theo khát vọng ngàn đời của con người. Không phải đến Nguyễn Tuân mới phát hiện ra vẻ đẹp sông Đà mà nét đẹp của dòng sông ngàn đời vẫn thế. Những câu văn giúp người đọc cảm nhận dòng chảy của thời gian lịch sử. Dòng sông từ quá khứ đến hiện tại, trôi chảy đến tương lai. Dòng chảy của sông Đà là dòng chảy của lịch sử, đất nước. Những câu văn đậm chất thơ, chứa chan xúc cảm trữ tình. Phải chăng chát thơ ay chính là chất thơ “hoài cựu” (Nguyễn Đăng Mạnh) dưới nét bút tài hoa của người nghệ sĩ. Những câu văn đăm chìm trong quá khứ rồi lại ngỡ ngàng, giật mình khi quay trở lại hiện tại. Âm thanh của tiếng còi xúp lê chính là tín hiệu của cuộc sông mới, thể hiện những nét đẹp hiện đại. Giữa bức tranh đầy chất thơ của đôi bờ sông Đà, giữa dòng chảy êm đềm của thời xưa cũ, không gian tĩnh lặng khôn cùng, nhà văn thèm nghe thấy một tiếng còi sương. Đó không chỉ là một âm thanh đơn thuần mà còn là âm thanh của nỗi niềm, ước mơ, khát vọng trong nhà văn. Khát vọng của về hình ảnh một ngày mai tươi sáng của vùng đất Tây Bắc đã được thắp lên trong một âm điệu lạc quan, yêu đời. Ngòi bút của Nguyễn Tuân không chỉ làm người ta kinh ngạc bởi sự dữ dội của dòng sông mà còn làm người ta yêu thích bởi chất trữ tình của dòng sông ấy.
Bằng trí tưởng tượng phong phú, bằng biện pháp so sánh, ẩn dụ đầy tài hoa, ngôn ngữ điêu luyện, cách diễn đạt độc đáo, những câu vãn giàu nhạc điệu, bút phập hiện thực kết hợp với lãng mạn, trữ tình tạo vẻ đẹp rực rỡ, cuốn hút của sông Đà. ở đó tưởng chừng bao nhiêu vốn sống, bao nhiêu kho kiến thức về văn học, lịch sử, địa lí, quân sự, thể thao,… cùng tình yêu say mê đã giúp Nguyễn Tuân viết về một đòng sông Đà thật sự ấn tượng và đẹp đẽ.
Cũng giống mạch văn mà Nguyễn Tuân đã viết về sông Đà, miêu tả con sông dọc theo dòng chảy của nó, nhưng với cá tính dịu dàng của người con xứ Huế, cách viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng Hương Giang lại gợi cho người đọc một cảm giác khác, cảm giác của một cái gì đó dịu nhẹ cứ len lỏi miên man rồi từ từ thấm vào hồn người, làm trỗi dậy một cách trầm tĩnh cái tình yêu mê man, say đắm đôi với dòng sông mang nét đẹp văn hoá xứ sở. Sông Hương – con sông đã đi vào thi ca với vẻ quyến rũ lạ kỳ:
"Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ"
Dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường sông Hương đã trở thành một con người, một người con gái đẹp có tâm hồn, có cá tính, dịu dàng một vẻ sang trọng, đằm thăm một vẻ đẹp đầy văn hoá.
Dưới con mất của người nghệ sĩ, dòng chảy của Hương Giang được miêu tả thật hâ’p dẫn với nhiều cách so sánh, những từ ngữ được sử dụng rất đắc địa, giàu hình ảnh, màu sắc và hình khôi tạo nên một dòng Hương Giang thật đẹp, thật nên thơ và như một con người đầy xúc cảm chứa chan tình yêu với cố đô Huế giàu truyền thống văn hoá.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống: Bên kia sông Đuống... Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ
Giữa núi rừng hùng vĩ của rừng Trường Sơn, sông Hương đã là bản trường ca của rừng già… và cũng có lúc trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng, vẻ đẹp của sông Hương nơi đại ngàn thật gần với vẻ dữ dằn mà cũng thật dịu dàng một cách hoang dại của sông Đà dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân "sông Đà hung bạo và trữ tình,., sông Đà tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình mà đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuồn mù khói núi Mèo đốt nương xuân (Nguyễn Tuân — Người lái đò sông Đà). Cái dữ dội của sông Hương nơi đại ngàn đã được tác giả chọn lựa một hình ảnh so sánh thật sống động, gợi cảm và đầy màu sắc văn hoá" sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng". Dưới lăng kính của người nghệ sĩ, sông Hương đã trở thành một con người, một người con gái có đầy đủ tâm hồn, tính cách, lòng yêu thương rừng già" đã chế ngự bản năng của người con gái để “sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa cùa một vùng văn hoá xứ sở". Có thể thấy ngay ở trang đầu tiên dành cho sông Hương, tác giả đã sáng tạo một loạt hình ảnh độc đáo để gợi tả vẻ đẹp mang màu sác văn hoá của dòng sông. Từ đó tạo cảm giác sông Hương khi vào lòng thành phố đã thay đổi mình, kiềm chế mình để phù hợp với vẻ mộng mơ, thâm trầm và cổ kính của cố đô. Sông Hương như người con gái đẹp ngủ mơ màng được đánh thức để hoà mình cùng Huế, nó duyên dáng uốn mình và bước di chậm chạp, thật quí phái uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm.có ý thức,… Bước chuẩn bị để dòng sông đi vào lòng thành phô’ đã được tác giả miêu tả rất kỹ càng với một cảm xúc ở độ cao trào, một loạt hình ảnh so sánh được sử dụng để khắc hoạ vẻ đẹp của dòng sông một cách hoàn mĩ. Đến chân đồi Thiên Mụ thì Hương Giang cùng tiếng chuông chùa cùng với sự thâm trầm uy nghiêm của những lãng tẩm của vua chúa Nguyễn đã tạo cho sông Hương một vẻ đẹp văn hoá đặc biệt mà bất kể một dòng sông nào của Việt Nam đều không có được, vẻ đẹp ấy được tác giả chọri tả bằng một câu văn dài như ngân lên trong hồn người đọc, tạo một dư âm, một ấn tượng, không thể phai mờ trong tâm trí người đọc. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương như triết lý, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga từ bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà.
Nếu như Nguyễn Tuân đã tạo cho sông Đà vẻ trữ tình và hung dữ để nhằm mục đích tôn vinh con người trong lao động, Hoàng cầm tạo cho thi ca một dáng “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì" của dòng sông Đuống để tạo nên hình ảnh quê hương yêu dấu trong những ngày đau thương thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại tạo cho thi ca một dòng sông văn hoá. vẻ đẹp của Hương Giang được tạo nên bởi truyền thông, bản sắc văn hoá của xứ Huế, với vùng ngoại ô Kim Long hay những khu nhà vườn Vĩ Dạ xanh mướt một màu thiên nhiên tràn đầy sức sông, những khu vườn thơ mộng ẩn chứa trong lòng nó những con người phúc hậu, những nếp sống cổ xưa với những nét sinh hoạt tinh tế đầy vãn hoá. Và cái điệu chảy lững lờ như lưu luyến vấn vương của dòng Hương Giang đã tạo nên một môi trường tuyệt vời cho những đêm ca Huế, những đêm hội hoa đăng, những thú vui đô’ thơ, thả thơ trên những con thuyền giữa dòng sông. Mặt nước yên tĩnh như không trôi đã nâng niu góp phần gìn giữ những sinh hoạt văn hoấ cổ truyền của Huế, tạo vẻ đẹp riêng thu hút và quyến rũ khách thập phương. Điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế ấy thật hợp cảnh hợp tình với những ngôi chùa cổ, những lăng tẩm uy nghi của chôn kinh thành xưa.Xem thêm: Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói của nhà văn Pháp Mi-sen Ê-ken đơ Mông-te-nhơ (1533 - 1592): “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa" Sông Hương có vẻ đẹp riêng, đó là vẻ đẹp đặc trưng nên thơ và trữ tình của Huế bởi nó mang trong mình cả một nền văn hóa của quê hương xứ sở. Những nét văn hoá đặc sắc nhất của Huế, theo tác giả, đều được sinh ra và tồn tại cùng vẻ mặt nước lặng lờ của dòng sông, đó là những đêm hội hoa đăng, những làn điệu ca Huế ngọt ngào, những khu vườn cây trái xanh tươi, những lăng tẩm uy nghiêm.Vì thế mà sông Hương trở thành “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”, điệu nhạc dìu dặt, đằm thắm của ca Huế chỉ có thể cảm nhận được trong cái không gian tĩnh lặng của mặt nước sông Hương về đêm. Cả câu Kiều hay nhất của Nguyễn Du khi miêu tả tiếng đàn của nàng Kiều cũng được sinh ra từ những ngày “Nguyễn Du lênh đênh trên quãng sông này với một phiến trăng sầu”. Như vậy sông Hương đã mang trong mình chất nhạc. Theo cảm nhận của tác giả sông Hương không chỉ mang trong mình vẻ đẹp văn hoá mà nó còn là môi trường sản sinh ra Truyện Kiều – niềm tự hào của văn học dân tộc “tôi đã cảm nhận ra cái âm hưởng sâu thẳm của Huế trên mỗi trang truyện Kiều, thiên nhiên của mảnh đất kinh xưa đã để lại một cái bóng mông lung nhưng rất dễ nhận ra trong thơ Nguyễn Du”. Sông Hương trong cảm hứng của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp thơ mộng của một vùng văn hoá truyền thống, không chỉ dịu dàng một vẻ sơn thuỷ hữu tình mà còn là một dòng sông anh hùng như bao dòng sông khác của quê hương Việt Nam, sông mang trong mình bao điều bí ẩn của lịch sử. Nếu những trang miêu tả dòng chảy của dòng sông là những trang trữ tình nhất thì những trang nói về lịch sử là những trang đáng tự hào nhất. Dòng sông “tươi trẻ và quyến rũ”, lung linh sắc màu trong những ngày thanh bình lại trở thành người anh hùng sát /ánh cùng dân tộc đánh giặc
Việt Nam là đất nước có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mỗi người Việt Nam đều được sinh ra và lớn lên bên một dòng sông như lời bài hát: “Trong ta, ai cũng có một dòng sông” hay lời thơ của một nhà thơ trẻ:
“Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng
Tất cả trả lời bên một dòng sông
“Quê hương Việt Nam mườn mượt những cánh đồng
Mỗi con người gắn bó một dòng sông”
Dù là một con ngòi, một con kênh nhỏ vô danh hay là dòng sông Hồng ngầu đỏ phù sa, dòng sông Lô gắn bó với những chiến công lịch sử của dân tộc đều đã là nguồn cảm hứng và ít nhất một lần đi vào tác phẩm thi ca của dân tộc. Và con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, dòng sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có được vinh dự mang trong mình vẻ đẹp thơ mộng trữ tình tiêu biểu cho những dòng sông Việt Nam trong văn học.
Qua hai thiên tuỳ bút, vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam hiện lên vừa chân thực vừa mơ màng chẳng những thể hiện tài năng của các tác giả mà còn khẳng định tình yêu thiết tha, sâu nặng của những nhà văn Việt Nam đối với non sông đất nước.
Vanmau.edu.vn | Phân lích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông_ (Hoàng Phủ Ngọc Tường) | 2,957 | |
Phân tich vẻ đẹp của trăng trong 2 bài thơ Nguyên Tiêu và Cảnh Khuya
Hướng dẫn
‘Cảnh khuya’và ‘Nguyên tiêu’ là hai bài thơ kiệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Cả hai bài đều viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, nhưng ngôn từ khác nhau. ‘Cảnh khuya’ viết bằng tiếng Việt; ‘Nguyên tiêu’ viết bằng chữ Hán.
Không gian nghệ thuật của hai bài thơ là thiên nhiên núi rừng Việt Bắc, nhưng thời điểm sáng tác, thời gian nghệ thuật lại khác nhau. ‘Cảnh khuya’ viết vào mùa thu 1947, khi giặc Pháp đang tấn công lên Việt Bắc. Còn ‘Nguyên tiêu’ được viết vào đầu xuân 1948, khi chiến dịch Việt Bắc đã chiến thắng vang dội.
Cả hai bài đều nói đến trăng; cảnh trăng trong mỗi bài thơ lại có những nét đẹp riêng, sắc thái biểu cảm riêng.
Cảnh trăng trong bài ‘Cảnh khuya’ là cảnh trăng thu. Có suối chảy rì rầm trong rừng khuya từ xa vọng đến nghe rất ‘trong’, ‘như tiếng hát xa’ êm đềm, ngọt ngào. Trăng sáng lung linh. Ánh trâng ‘lồng’ vào cổ thụ và hoa ngàn. Cảnh trăng thơ mộng, huyền diệu mang vẻ đẹp cổ điển, rất hữu tình thi vị:
‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa’
Trăng đã làm đẹp thêm cảnh sắc núi rừng chiến khu, đem đến bao xúc động, khiến nhà thơ khẽ thốt lên trong lòng: ‘Cảnh khuya như vẽ…’.
Xem thêm: Dàn ý bài thơ Phong Kiều dạ bạcCảnh trăng trong bài ‘Nguyên tiêu’ là cảnh trăng xuân, trăng trong đêm rằm tháng giêng, trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Vũ Bằng trong ‘Thương nhớ mười hai’ đã nói về trăng tháng giêng ở miền Bắc: ‘Trời sáng lung linh như ngọc’, ‘cái trăng tháng giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ ‘, ‘ánh trăng ấy không
vàng mà trắng như sữa, trong như nước ôn tuyền’.
Trăng trong bài thơ của Bác làm cho sông xuân, nước xuân, trời xuân trở nên bát ngát bao la, vừa đẹp vừa dạt dào sức sống. Ba chữ ‘xuân’ trong câu thơ thứ 2 làm cho cảnh trăng đất nước trở nên tráng lệ, tinh khôi:
‘Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên’.
Câu thơ thứ 4, vầng trăng rằm tháng giêng lại được nói đến. Con thuyền của lãnh tụ để ‘bàn bạc việc quân’ giữa nơi khói sóng đã trở thành con thuyền của thi nhân lúc trở về bến lúc nửa đêm. Con thuyền đã chở đầy ánh trăng:
‘Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền’
Trăng trong hai bài thơ của Bác là trăng sáng, trăng tròn. Cảnh trăng nào cũng hữu tình thơ mộng. Tuy có sắc thái biểu cảm khác nhau, nhưng tất cả đều nói lên tình yêu trăng, tình yêu thiên nhiên chan hòa với tình yêu quê hương đất nước. Cảnh trăng là một nét đẹp trong hồn thơ Hồ Chí minh: ung dung, lạc quan, yêu đời.
Nguồn: thêm: Tìm gia sư Văn lớp 12 tại Hà Nội | Phân tich vẻ đẹp của trăng trong 2 bài thơ Nguyên Tiêu và Cảnh Khuya | 513 | |
Đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều có nội dung nói về cuộc trao duyên giữa hai chị em Thúy Kiều. Kiều đã phải bán mình chuộc cha nên trước lúc đi xa đã cầu xin Thúy Vân chấp nhận mối duyên thừa thay Kiều chăm sóc cho Kim Trọng.
12 câu đầu trong đoạn trích trao duyên thể hiện rõ tâm trạng của Kiều. Để giúp các em hiểu thêm về nội dung đoạn trích, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên và làm bài văn mẫu.
I. Lập dàn ý phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều.
– Giới thiệu về đoạn trích Trao duyên.
– Nêu nội dung của 12 câu đầu.
2. Thân bài phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên
a. Hai câu đầu: Lời khẩn cầu của Kiều
– Ngôn ngữ vừa nhờ vả, vừa nài nỉ, vừa là sự ép buộc (cậy, chịu, có).
– Hành động: trang nghiêm, trịnh trọng, hạ mình (lạy, thưa).
=> Ngôn ngữ và hành động thể hiện nội dung vô cùng hệ trọng, không theo lẽ thường tình. Thể hiện sự hiểu biết của Kiều khi đặt em mình vào tình huống éo le.
b. 10 câu tiếp: Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân
– Nhắc lại mối tình đẹp để gợi tình cảm.
– Kiều giãi bày tình thế của mình để cho em được hiểu.
– Đặt em vào một tình thế chắp mối tơ thừa.
– Đối với Kiều việc Thúy Vân chấp nhận giống như một sự ban ơn.
=> Lời cầu xin đầy lí lẽ và giàu sức thuyết phục khiến cho Vân không thể chối từ.
3. Kết luận
– Nêu cảm nhận của em về nội dung và giá trị của đoạn thơ.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu được gửi gắm qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa?
>> Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên
Nhà thơ Nguyễn Du có tên chữ là Tố Như. Ông sinh ra ở một miền quê hiếu học Hà Tĩnh trong một gia đình phong kiến quý tộc nhưng cuộc đời ông lại phải trải qua khá nhiều biến động. Ông chứng kiến nhiều mảnh đời bất công trong xã hội nên dễ dàng đồng cảm với những phận đời bất hạnh. Sự đồng cảm ấy đi cả vào trong thơ ca của Nguyễn Du, nổi bật nhất là Truyện Kiều. Tài sắc vẹn toàn nhưng Kiều lại phải chịu quá nhiều bất hạnh. Nỗi bất hạnh đầu tiên ập đến trong cuộc đời của Kiều đó là phải bán mình chuộc cha, phải từ bỏ mối lương duyên chỉ vừa mới chớm nở cùng Kim Trọng. Đoạn trích Trao duyên mà cụ thể là 12 câu đầu trong đoạn trích đã thể hiện rõ nét tâm trạng của Kiều lúc này.
Hai câu thơ đầu tiên tái hiện lại khung cảnh của cuộc trao duyên. Chỉ với hai câu thơ nhưng cũng đủ để người đọc thấy được tình thế khó xử của cả hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều. Một đằng Thúy Kiều đau đớn vì phải trao lại mối duyên tình cho em, một đằng Thúy Vân dù tác giả không miêu tả tâm trạng của nàng lúc đó nhưng người đọc hiểu được khi bị rơi vào hoàn cảnh như vậy thì quả thật rất rối bời. Thúy Kiều đã mở lời như thế này:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên
Thông qua ngôn ngữ mà Thúy Kiều sử dụng thì rõ ràng nàng đang muốn cậy nhờ em mình một việc gì đó rất hệ trọng. Đường đường là một người chị vậy mà lại phải lạy với thưa em của mình. Đây là điều không bình thường. Chính thái độ khẩn thiết và kính cẩn này của Kiều đã đẩy Vân vào một tình huống éo le đầy bất ngờ và khó lòng có thể trái ý chị của mình. 10 câu thơ tiếp theo, Thúy Kiều đã dùng những lời lẽ như rút ra từ trong gan ruột để van xin Thúy Vân đồng ý:Xem thêm: Bàn về Tiền Ngô Vương
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Đối với Thúy Kiều, mối tình với Kim Trọng là mối tơ duyên nhưng Kiều và Trọng giờ đã đứt gánh tương tư mất rồi. Nàng phải bán mình chuộc cha nên không thể nào đi tiếp đoạn đường cùng với Kim Trọng được nữa. Nay muốn em nối tiếp duyên lành, thay mình giữ trọn lời thề ước với Kim Trọng nhưng Kiều hiểu rằng đối với Thúy Vân đó chỉ là mối tơ thừa mà thôi. Để giúp cho Thúy Vân hiểu rõ hơn về tình cảnh của mình lúc này Kiều đã giãi bày:
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Lúc thề non hẹn biển, cả Kim Trọng và Thúy Kiều đều mong ước tới một tương lai hạnh phúc nhưng có ai ngờ đâu sóng gió lại ập đến quá nhanh như vậy. Kiều phải đứng giữa một bên là tình một bên là hiếu và với trách nhiệm của mình Kiều đã chọn làm tròn bổn phận của một người con. Điều này khiến Kiều cảm thấy vô cùng đau đơn nhưng chữ hiếu nàng vẫn phải làm tròn. Còn chữ duyên, nàng đành cậy nhờ nơi em gái, chỉ mong em xót tình máu mủ mà chấp nhận mối duyên này:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ, thay lời nước non
Thúy Kiều hiểu hơn ai hết tuổi xuân của Thúy Vân còn đang ở phía trước, cơ hội để Vân có được hạnh phúc trọn vẹn của riêng mình là còn lớn. Nhưng xót tình máu mủ, Kiều mong Vân thay mình giữ trọn lời thề ước cùng Kim Trọng. Đối với Thúy Kiều, việc Thúy Vân chấp nhận mối duyên này là điều mà Kiều cảm thấy vô cùng hạnh phúc và nó giống như một sự ban ơn. Dù có chết đi thì Kiều vẫn có thể mỉm cười nơi chín suối:Xem thêm: Trả lời câu hỏi: “Tôi là ai?”
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Những lời lẽ của Kiều quá chặt chẽ khiến cho Thúy Vân không thể nào chối từ. Một người chị mà dù có phải chết cũng vui với lời chấp thuận của em thì người em nào có dám không nghe theo. Những câu thơ như thốt ra từ gan ruột của Thúy Kiều khiến người đọc cảm nhận tình yêu sâu sắc mà nàng dành cho Kim Trọng. Qua đây, ta cũng càng yêu mến Kiều hơn bởi vì nàng đã chấp nhận hy sinh và đánh đổi hạnh phúc cá nhân vì gia đình. Đó là một sự hy sinh lớn lao.
Trao duyên chỉ là bước mở đầu cho chuỗi ngày đau khổ sau này của Kiều. 12 câu đầu của đoạn trích đã thể hiện được tâm trạng đau đớn của Kiều và cũng cho thấy được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du.
Trên đây là phần lập dàn ý phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên và bài văn mẫu do Kho tàng văn mẫu biên soạn. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp ích cho các em trong việc học tập và làm bài văn phân tích.
Thu Thủy | Phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều (Có dàn ý chi tiết) | 1,327 | |
Phân tích 13 câu đầu trong bài Vội vàng của Xuân Diệu
Hướng dẫn
Xuân Diệu được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới. Những sáng tác của ông đem đến cho người đọc một sự yêu đời, niềm vui về cuộc sống và một niềm khao khát cuộc sống đến mãnh liệt. Vội vàng là một trong những tác phẩ thê hiện tư tưởng đáng quý đó của tác giả, trong đó 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc.
Với niềm yêu cuộc sống đến trào dâng, nhà thơ đã có cảm xúc vội vàng trước cuộc sống ngắn ngủi. Khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ mà phần lớn là những câu thơ tám chữ. Thể loại thơ tám chữ gợi cho ta nghĩ đến cách nói vốn có của ca trù và cách sử dụng của Xuân Diệu cùng thể hiện một nét mới của thơ mới. Còn cách đặt những câu thơ ngắn trong trường hợp này làm nên giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy cảm xúc. Mặt khác, Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên những câu lẻ hai chữ “ tôi muốn ”, và chủ đề trữ tình lập tức xuất hiện. Nhà thơ thể hiện cái tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, nơi rất ít dám thể hiện cái Tôi. Cách nhà thơ công nhiên khiêu khích thẩm mĩ thơ của thời đại trước, chính là để thể hiện cái tôi trong một khao khát lớn lao, cái tôi muốn đoạt quyền tạo hoá để làm những việc mà chỉ tạo hoá mới làm được như “ tắt nắng đi “ và “buộc gió lại “. Nhưng trong cách diễn đạt của nhà thơ thì “tắt nắng” và “buộc gió” không phải là ý muốn cuối cùng, vì những câu chẵn của khổ thơ đều bắt đầu bằng một chữ “cho”.
Cho màu đừng nhạt mất,
……
Cho hương đừng bay đi.
Vì yêu cuộc sống, trong ánh mắt của tác giả luôn thấy cái đẹp của cuộc sống nên nhà thơ muốn líu giữ tất cả cho riêng mình. Những câu thơ gợi cảm giác lo âu rằng cái đẹp sẽ giảm hương sắc đi, màu nắng sẽ bớt rực rỡ nếu nắng cứ toả, và làn hương kia sẽ bớt nồng nàn nếu gió cứ bay. Nhưng mong muốn càng trở nên thiết tha hơn khi nhà thơ dùng đến hai lần chữ “đừng” – chứa đựng một nguyện vọng thiết tha. Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật.Xem thêm: Kể về một lần trót xem nhật ký của bạn
Tiếc nuối cuộc sống nên phải sống vội, sống gấp, tư tưởng ấy của nhà thơ còn thể hiện cả trong nhịp của câu thơ, thể hiện ở chỗ câu thơ đang năm chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ. Một sự chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân tuyệt diệu. Trong bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây” rải ra khắp các dòng thơ, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi hình dung về một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, xuân sắc, xuân tình mà còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu. Vì vậy, không có một loài vật nào khác ngoài “ong bướm, yến anh”, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ,và “bướm lả ong lơi “ gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại cùng với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đó là cách để Xuân Diệu biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống. “ Hoa “ nở trên nền “ xanh rì “ của đồng nội bao la, “lá ” của “ cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phơ phất ” ở sau. Và như thế, cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng, trong xúc cảm của một niềm vui trần thế. Giá trị nhân văn của những câu thơ và cả bài thơ chính là ở đó.
Nếu như bốn câu thơ trên có vẻ như đã cân xứng, hoàn chỉnh rồi, thì câu thơ thứ chín xuất hiện bằng ba chữ “ và này đây ”, như thể một người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn dừng lại, trong cảm xúc đầy tiếc nuối muốn giăng bày cho hết niềm vui được sống. Nhưng đây không còn là những hình sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm “ mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm vui, thời gian – những vật thể không hữu hình. Đó cũng là cách để nhà thơ bộc lộ quan điểm thẩm mĩ mới mẻ và thú vị. Thiên nhiên đã thôi không còn là chuẩn mực của vẻ đẹp trong quan niệm của Xuân Diệu. Vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Ánh sáng đẹp vì gợi ra liên tưởng về “hàng mi” của một đôi mắt đẹp. Niềm vui đẹp vì gợi ra liên tưởng về một vị thần, đại diện cho con người. Và xúc cảm thẩm mĩ được nâng lên trong câu thơ về tháng giêng, gợi nên vẻ đẹp của sự táo bạo, cuồng nhiệt, làm người đọc thơ phải sửng sốt.Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam 10 - 8 hằng năm
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Trong con mắt của kẻ si tình, mùa xuân hiện ra thật đẹp, thật gợi cảm. Vì thế, mùa xuân như sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, làm nên một khía cạnh khác nữa của tinh thần nhân văn của bài thơ. Ở đó, cái quí giá, đẹp đẽ nhất của con người lại là chính con người. Vì vậy, con người là thực thể cao nhất, chứ không phải là thiên nhiên, là tôn giáo hay một chuẩn mực đạo đức nào. Con người trong câu thơ này đã được tôn lên làm chuẩn mực thẩm mĩ, làm cho người đọc ngạc nhiên, sửng sốt. Tác giả đưa ra ý niệm về một tháng trẻ trung nhất của một mùa trẻ trung nhất trong năm: “ tháng giêng “. Nhưng sự bất ngờ lại đến từ chữ thứ ba – “ngon”, điều mà ít ai có thể ngờ. Và càng không ai có thể nghĩ rằng tác giả lại so sánh với “cặp môi gần”. Nhưng có được sự so sánh ấy thì thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.
Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình yêu. Và hẳn phải có một tình yêu thật nồng nàn với cuộc đời thì tác giả mới tạo ra được một hình ảnh lạ kì đến thế.Xem thêm: Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang xuân
“Tôi sung sướng”
Những tiếng tất yếu được thốt lên sau tất cả những gì viết ở trên. Nhưng sau ba chữ ấy lại là một dấu chấm ở giữa câu, khiến cho niềm sung sướng ấy như bị ngắt lại, chặn lại giữa chừng để trở thành một niềm vui dở dang, không trọn vẹn. Bởi sau dấu chấm là một chữ “ nhưng “ dự báo một cảm xúc hoàn toàn mới lạ. Cái ám ảnh của sự vội vàng xuất hiện ở nửa sau. Nhà thơ dường như không thể tận hưởng hết được mùa xuân vì cái cảm giác hoài xuân ngay khi mùa xuân chưa hết. Và cảm xúc của nhà thơ đã đi sang một phía ngược lại, xuất hiện một phản đề:
Nhưng vội vàng một nửa.
Ai đã được nghe hai câu đầu của sự phản đề cũng đều có ấn tượng sâu sắc.
Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
Sự mới mẻ, táo bạo, sự phát hiện lớn nhất của hai câu thơ lại được nằm ở hai chữ tưởng như rất bình thường “ nghĩa là “, khiến cho câu thơ mang dáng dấp của một đẳng thức nghệ thuật. Tác giả đã mạnh bạo đặt một dấu bằng ở hai vế tưởng như trái ngược nhau:“đang tới” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Cách nói đầy ấn tượng như thế làm nên sự trôi mau vô cùng của thời gian. Điều ấy càng có ý nghĩa với một người mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba:
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Nhà thơ đã tái hiện lại khung cảnh hết sức lãng mạn, một thiên đường dưới mặt đất. Trong con mắt của nhà thơ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng cuộc sống thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng hết niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống. Đó là tư tưởng lạc quan yêu đời mà tác giả đã tạo ra cho thế hệ trẻ, họ cần phải sống cho đúng, không để phí hoài tuổi trẻ một cách vô ích.
Nguồn: | Phân tích 13 câu đầu trong bài Vội vàng của Xuân Diệu | 1,737 | |
Phân tích 8 câu thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Để phân tích bài thơ Tự tình, các em cần phân tích theo thứ tự của các cặp câu: đề, thuật, luận, kết và dựa trên những điểm nhãn (từ ngữ chính truyền tải nội dung câu thơ hoặc bài thơ).
a. Hai câu đề
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn” câu thơ hiện lên bối cảnh không gian và thời gian
+ “Đêm khuya” khoảng thời gian tĩnh mịch nhất trong ngày, với người phụ nữ có chồng, lẽ ra đang say giấc nồng bên chồng con nhưng nhân vật trữ tình lại đối diện với chính mình. Đêm khuya cũng là thời gian làm người ta hồi tưởng lại quá khứ, suy nghĩ về tương lai và chợt nhận ra mình ở chính hiện tại.
+ “văng vẳng”, đây là âm thanh của trống canh dồn gõ nhịp thời gian, nó như khơi gợi, thôi thúc từng bước đi của thời gian thật vội vã, thật nhanh chóng, tuổi xuân cũng theo đó mà trôi qua, tình yêu hạnh phúc của người con gái cũng qua đi. Tiếng trống canh văng vẳng càng làm cho tâm trạng người phụ nữ cô đơn thêm rối bời.
Câu thơ “trơ cái hồng nhan với nước non” khắc sâu nỗi cô đơn, bẽ bàng, tủi hổ của người phụ nữ cho duyên số của mình.
+ Từ trơ được đảo lên đầu câu để nhấn mạnh sự cô đơn, trơ trọi theo đó là sự tủi hổ, bẽ bàng. “cái” là chỉ từ đi kèm với những vật dụng như cái ghế, cái bàn…ở đây nó lại đi kèm với từ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ “hồng nhan” điều đó cho thấy thân phận người phụ nữ đáng được trân trọng lại bị rẻ rúng, mỉa mai. Câu thơ không nhắc đến hai chữ “ bạc phận” nhưng ta vẫn thấm nỗi bạc phận của kiếp hồng nhan.Xem thêm: Phân tích câu Vì chưng hay ghét cũng là hay thương. Bạn hiểu ý thơ trên như thế nào?
+ nhịp thơ đáng chứ ý: 1/3/3/ trơ/cái hồng nhan/với nước non như một tiếng nấc vừa uất nghẹn vừa chì chiết. Tác giả tự mạt sát cái thân phận của mình.
+ Không giống với người phụ nữ chỉ biết than thân trách phận, HXH cho thấy được sự mạnh mẽ và bản lĩnh ở ngay từ “trơ”, ngoài thể hiện sự trơ trọi, cô đơn, “trơ” còn là lời thách thức của tác giả với cuộc đời, với tạo hóa.
b. Hai câu thực
“chén rượu hương đưa say lại tỉnh” câu thơ gợi lên hình ảnh người phụ nữ lẻ loi trong đêm khuya, chỉ có chén rượu là tri kỉ.
+ khi đối diện với nỗi đau, nhất là sự cô đơn, con người thường mượn rượu để giải sầu, nhưng rượu càng cay thì sầu càng sầu. Người phụ nữ muốn mình say để quên những phiền muộn dù chỉ trong giây phút, nhưng càng uống càng tỉnh, rượu không đưa người lên cung mây mà làm người thêm bẽ bàng cho hiện thực.
+ “say lại tỉnh” là cái vòng luẩn quẩn của tạo hóa, tình duyên của nữ sĩ cũng trở thành trò đùa, đắng cay, chua chát.
“vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” câu thơ tả cảnh nhưng gợi tình vì chính cảnh và tình là một. Câu thơ chứa đựng nghịch lý “vầng trăng bóng xế” trăng đã già nhưng “khuyết chưa tròn” trăng già lẽ đương nhiên đã qua thời kì viên mãn nhưng ở đây vầng trăng lại chưa một lần tròn đầy. Tuổi thanh xuân của nhà thơ cũng thế, tuổi xuân cứ qua đi mà nhân duyên còn chưa trọn vẹn.
Lời thơ là nỗi ê chế, chán chường trong sâu thẳm tâm hồn nữ sĩ.
Xem thêm: Trong văn bản "Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000", vấn đề bao bì ni lông đã được tác giả trình bày như thế nào?
c. Hai câu luận
“xiên ngang mặt đất rêu từng đám/đâm toạc chân mây đá mấy hòn” thiên nhiên trong hai câu luận mang tính cách mạnh mẽ của con người, đó là niềm phẫn uất muốn bức phá, muốn đạp đổ để được tự do.
+ “xiên ngang mặt đất”, “đam toạc chân mây” là hành động mạnh mẽ của những sinh vật tưởng chừng thấp bé, im lặng, cam chịu như rêu và đá.
+ Hai động từ “xiên, đâm” được đảo lên đầu để khẳng định thái độ phẫn uất không chấp nhận cam chịu của những thân phận thấp bé mà người phụ nữ chính là đối tượng được nói đến.
+ Không dừng lại ở sự phẫn uất, hai câu thơ còn là thái độ phản kháng của một tân hồn đầy sức sống mãnh liệt nhưng luôn chịu đựng sự bất công của cuộc đời.
d. Hai câu kết
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ mảnh tình san sẻ tí con con” thể hiện sự chán chường khi một lần nữa trở lại cùng nghịch cảnh.
+ “Ngán” tậm trạng chán chường đến tột độ, ngán ngẩm cho cuộc đời bất công và tạo hóa trớ trêu buộc má hồng vào vòng luẩn quẩn của hôn nhân.
+ “xuân” mang hai ý nghĩa, thứ nhất chỉ mùa xuân của trời đất, thứ hai chỉ tuổi trẻ, tuổi thanh xuân của người phụ nữ. Mùa xuân đất trời đi rồi lại đến, tan rồi lại hiệp nhưng mùa xuân của con người qua đi bao giờ trở lại “còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”. Chính vì thế thi sĩ đau lại càng đau, tiếc lại càng tiếc. Hai từ “lại” trong câu thơ cũng mang hai nghĩa khác nhau. Lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, lại thứ hai là sự trở lại. Sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân.Xem thêm: Phân tích bài ca dao Khăn thuơng nhớ ai
Mảnh tình – san sẻ – tí – con con: dùng biện pháp tăng tiến, mảnh tình vốn đã chẳng nhiều lại còn đi san sẻ để lại ít ỏi “tí” cuối cùng chỉ được “con con”, thật sự đáng thương tội nghiệp.
Câu thơ nói riêng và bài thơ nói chung là tiếng lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tuổi xuân thì ngắn ngủi nhưng họ phải phó mặt cho tạo hóa xoay vần, chẳng được hạnh phúc trọn vẹn dù “cố đấm ăn xôi”. | Phân tích 8 câu thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương | 1,081 | |
Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc
Hướng dẫn
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Geneve được ký kết, tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc, khắc họa lại cuộc chia tay lịch sử với những tình cảm thủy chung son sắt. Tình cảm ấy được thể hiện qua những câu thơ sau:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiếu bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Đoạn thơ tràn đầy một nỗi nhớ tưởng như không thể kìm nén được, cứ trào ra theo ngòi bút và tuôn chảy thành những dòng thơ. Có đến bốn chữ “nhớ” trong một đoạn thơ tám câu chắc hẳn nỗi nhớ ấy phải thật da diết và sâu nặng. Đây là nỗi nhớ quê hương cách mạng của người đã từng gắn bó sâu sắc với vùng đất thiêng đầy kỷ niệm ấy, là nỗi nhớ của nghĩa tình, của ân tình thủy chung.
Khúc hát dạo đầu đã nhắc đến nỗi nhớ của đạo lí Việt Nam, cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ, người ở lại hỏi người ra đi cũng chỉ một nỗi nhớ và người ra đi trả lời bằng chính nỗi nhớ ấy của mình. Tố Hữu đã diễn tả nỗi nhớ quê hương cách mạng bằng tiếng nói ngọt ngào, tha thiết của khúc hát đối đáp giao duyên nam nữ trong dân ca. Khúc hát ấy thấm nhuần đạo lí ân tình thủy chung:Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Tiên học lễ, hậu học văn
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”.
Nghe như ca dao, lại phảng phất âm hưởng thơ Kiều, hai câu đầu gợi ta nhớ đến một câu thơ trong Truyện Kiều:
“Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”
Việt Bắc đã hỏi người cán bộ về xuôi có còn nhớ mình không? Có còn nhớ những tình cảm thiết tha, mặn nồng trong suốt khoảng thời gian mười lăm năm gắn bó. Nhìn cây còn có nhớ núi, nhìn sông còn có nhớ đến nguồn? Bốn câu thơ nhưng thực chất là hai câu hỏi tu từ. Lời của người ở nhưng thực chất là lời nói của người đi để nói lên đạo lí Việt Nam truyền thống vốn là bản chất tốt đẹp của dân tộc ta. Không chỉ nói lên mà chính là nhắc nhở mọi người, nhắc nhở chính mình bởi vì cái đạo lí ấy thiêng liêng lắm, quý giá lắm, phải giữ gìn và phát huy.
Sâu nặng biết bao trong “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, ân tình biết bao khi “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Bốn câu thơ mà có đến bốn chữ “mình”, bốn chữ “nhớ” hòa quyện quấn quýt cùng chữ “ta”, khiến cái đạo lí ân tình Việt Nam đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ Việt Bắc, trở thành chủ đề lớn của tác phẩm.Xem thêm: Câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về truyền thống đạo lí của dân tộc ta?
Sau khúc hát mở đầu là cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi nhớ của người ra đi và cả người ở lại:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Có âm thanh da diết và màu sắc đậm đà thủy chung, có bước chân bồn chồn và những cái nắm tay đầy lưu luyến. Mỗi bước chân của người đi mang theo nỗi niềm luyến lưu cho người ở lại. “Tiếng ai” không phải là câu hỏi, cũng chẳng phải là đại từ phiếm chỉ mà đó chính là cách nói thể hiện nỗi niềm “bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”. “Bâng khuâng” vì “đi không nỡ”, nhưng “bồn chồn” vì ở cũng chẳng đành bởi lẽ Việt Bắc đã trở thành ký ức, thành tình yêu, thành tâm hồn:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
Từ láy bâng khuâng, bồn chồn được Tố Hữu sử dụng rất tinh tế ở câu thơ này. Nó thể hiện được nỗi niềm, được tâm trạng và cả những chuyển động trong cảm xúc, để rồi hình ảnh tiếp theo xuất hiện là chiếc áo chàm qua thủ pháp hoán dụ gợi tả con người Việt Bắc:
“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Màu áo chàm là một hình ảnh đầy ý nghĩa, đó là màu áo của Việt Bắc đậm đà, son sắt như chính lòng chủy chung của con người nơi đây. Màu áo ấy nhắc nhở người ra đi nhiều ký ức khó phai nhòa.Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Bờ rào thuốc
Câu thơ “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” mang một giá trị biểu cảm rất lớn. “Cầm tay nhau” nhưng chẳng “biết nói gì” vì có quá nhiều nỗi niềm cần bày tỏ, vì trong lòng họ tràn ngập nỗi nhớ thương nên không biết nói điều gì trước, điều gì sau, điều gì nên giãi bày, điều gì nên giấu kín trong tim. Cho nên chẳng “biết nói gì” chính là nói lên rất nhiều tấm lòng thương nhớ. Câu thơ ngắt nhịp 3/3/2 như sự ngập ngừng lưu luyến, làm ta liên tưởng đến buổi tiễn đưa của người chinh phu và chinh phụ trong Chinh phụ ngâm:
“Bước đi một bước, giây giây lại dừng”.
Trong màn đối đáp giao duyên của cuộc chia tay lịch sử ấy, Tổ Hữu đã để cho người ở lại lên tiếng trước. Điều này không chỉ hợp lý, tế nhị mà còn cần thiết cho sự phát triển mạch thơ trong cả bài thơ.
Bằng việc sử dụng đại từ “mình – ta” cùng thể thơ lục bát, Tố Hữu đã tái hiện cuộc chia tay lịch sử của Việt Bắc và người chiến sĩ cách mạng với biết bao ân tình, chung thủy. Con người dễ cộng khổ nhưng khó đồng cam, Việt Bắc ra đời chính là lời nhắc nhở tình nghĩa gắn bó cùng đạo lý tri ân muôn đời của dân tộc. | Phân tích 8 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc | 1,116 | |
Đề bài: Phân tích ba bài thơ thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) của Nguyễn Khuyến
Mùa thu ở đất Bắc là khoảng thời gian kết thúc cái oai nồng của mùa hạ, chưa kèm theo mưa dầm gió bấc của mùa đông
Mùa thu đẹp vì có những đêm trăng vằng vặc, những ngày xanh thắm tuyệt vời.
Đối với các nhà thơ cận đại, kể cả các nhà Thơ Mới nữa thì mùa thu là mùa của cảm xúc, của thương nhớ. Trong làng thơ Việt Nam sau Nguyễn Khuyến, Tương Phố, Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu… đều có những bài thơ thu nổi tiếng. Tuy vậy, giữa Tam nguyên Yên Đổ và các nhà thơ mới đang có một khoảng cách. Thơ thu của Nguyễn Khuyến là thơ của làng cảnh Việt Nam đậm đà chân thực dù tác giả có gửi gắm vào trong thơ ít nhiều tâm sự. Thơ thu của các nhà Thơ Mới từ Giọt lệ thu (Tương Phố), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư) đến Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) chỉ mượn cảnh thu, sắc thu, màu thu, âm thanh mùa thu để gửi gắm tâm trạng đượm buồn hay lưu luyến bâng khuâng trước đất trời đã chuyển sang thu.
Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến là hiện tượng độc đáo và là cống hiến xuất sắc của nhà thơ.
Cả ba bài đều viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mỗi bài là một phác thảo với nét bút của nền hội họa phương Đông, không rườm rà loè loẹt mà cũng không gò bó khuôn sáo. Nhà thơ – họa sĩ họ Nguyễn đã đưa chúng ta về một vùng chân quê quanh năm ngập nước của đất Hà Nam đầu thế kỷ này vào độ sang thu.
Thu vịnh phác họa khái quát những đặc điểm nổi bật về mùa thu.
Thu điếu dừng lại ở một không gian và thời gian cụ thể: trên một ao thu, vào một chiều thu, một ông già trên chiếc thuyền câu thả mồi đợi cá.
Thu ẩm quan sát cảnh thu trong nhiều thời điểm khác nhau để thâu tóm những nét nên thơ nhất.
Cảnh thu trong Thu vịnh đã được nhà thơ phác họa như thế nào?
Phần lớn dung lượng bài thơ (6/8 câu) là thơ tả cảnh. Biên độ không gian và thời gian không hạn chế: một buổi sáng, một cảnh chiều, một đêm trăng đượm màu thu. Ta vẫn bắt gặp trời (c1-2), nước (c3), trăng (c4), hoa (c5) có điểm xuyết âm thanh vọng lại từ không trung cao vút nhưng điệu thơ, hồn thơ thì đã vượt khỏi khuôn sáo kiểu tứ thời, tứ thú, tứ quý… của nét bút thơ và họa cổ điển.
Nét thu quán xuyến tất cả là bầu trời không ủ dột, quẩn quanh, tù túng mà cao vời vợi, cao ngất mấy tầng, cao hút tầm mắt… và thăm thảm màu xanh huyền diệu. Giữa thu bao la ấy, một khóm tre xa xa từ thôn vắng lả ngọn theo làn gió thu nhẹ nhàng uyển chuyển càng tô thêm sắc thu: Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu như làm sống động bầu trời vốn tĩnh lặng.
Đối chiếu với trời thu là sông thu vào sáng tinh mơ, lúc màn đêm đã vén hay vào buổi chiều tà, lúc bóng ô vừa ngậm non đoài, thời điểm "long lanh đáy nước in trời"; nước biếc dội lên màu xanh thơ mộng tạo nên ảo ảnh màn khói mênh mông mà các nhà thơ cổ điểm thường gọi là "yên ba giang thượng" (khói sóng trên sông). Trời thu và nước thu. Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc (trời nước một màu) là như vậy.
Sau thu thiên, thu thuỷ là thu nguyệt. Trăng thu sáng dịu trong trẻo tuyệt trần. Xưa nay trăng vốn là bạn của thi nhân. Trăng là kẻ đồng hành chè tiên, nước ghín, nguyệt đeo về (Nguyễn Trãi); Một trăng, một bóng một người hoá ba (Nguyễn Huy Tự). Trăng là người chứng giám: Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song (Nguyễn Du). Có khi trăng là kẻ thóc mách Gương Nga chênh chếch dòm song (Nguyễn Du). Nguyễn Khuyến không cài song để đón trăng và ngắm trăng chẳng biết trăng ở đây có đòi thơ Tam nguyên Yên Đổ như nó đã lọt qua cửa sổ đòi thơ Hồ Chí Minh: "Trăng vào cửa sổ đòi thơ" – Nhật kí trong tù. Hẳn là chỉ có trăng thu mới thâm quen với con người đến thế!
Bây giờ đến hoa thu. "Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái", ý nhà thơ muốn nói: Mấy chùm hoa trước giậu đã nở từ năm ngoái nay lại đã trổ bông chăng? Và hoa thu chỉ là hoa cúc, một trong bốn loài hoa quý (lan, sen, cúc, mai) chọn mùa thu để trổ hoa.
Điểm xuyết cảnh thu là tiếng ngỗng trời từ từng trên không xa tít vọng lại. Âm thanh không líu lo nhưng con chim oanh học nói trong tiết xuân sang (Truyện Kiều) mà chỉ thoáng qua như nâng thêm tầm cao rộng rộng của không giang hẳn là đàn ngỗng bay nhanh về phương nam để tránh rét, tường bắt gặp trong kì thu muộn.
"Nhân hứng" mà tác giả đã vẽ xong bức tranh thu. Say theo cảnh trí thơ mộng nhưng rồi chợt tỉnh. Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào – ông Đào Bành Trạch treo ấn từ quan từ hồi còn trẻ, trở về vui với cỏ hoa và non xanh nước biếc. Nguyễn Khuyến cũng đã vứt miếng đỉnh chung về ở ẩn tại quê nhà. Có lẽ danh nho Nguyễn Khuyến "thẹn với ông Đào" bởi ông từ cho là mình từ quan hơi muộn?
Với Thu vịnh, chúng ta cảm thu bằng "nhân hứng" chung mà nhà thơ để lại; với Thu điếu chúng ta có một thú vui nhỏ mà cũng rất hấp dẫn.
Xem thêm: Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân DiệuNơi quê hương nhà thơ trước đây lắm ao, lắm vũng. Có lẽ không riêng gì Nguyễn Khuyến mà dân quê cả vùng nhất là các ông già, lúc rảnh rỗi thường lên thuyền nan ngồi thả mồi đợi cá, coi đó là một thú tiêu khiển chăng? Đối với cụ Tam nguyên mùa thu câu cá quả là một lạc thú.
Ông đẩy thuyền xa bờ để được đắm mình trong thiên nhiên bao la trời nước một màu. Chỉ có câu kết nói đến chuyện thả câu, bài thơ chủ yếu ghi nhận những quan sát và cảm nhận của nhà thơ và cảnh vật đang diễn ra quanh mình. Ở đây mọi chi tiết đều được chắt lọc sao cho mỗi cảnh sắc chỉ cần điểm một nét, cộng hưởng thành màu sắc thu đích thực và độc đáo. Ông kết hợp tuyệt diệu hình ảnh và từ ngữ. Cả bức tranh có vẻ tĩnh lặng nhưng từng chi tiết thì động và gợi cảm.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo: nước tinh kết và lạnh gây cảm giác khẽ rùng mình. Thuyền câu vốn đã nhỏ bé khi nhập vào không gian bao la càng trở nên bé xíu "bé tẻo teo". Ngư ông dường như cảm thấy mình quá bé trước tạo hoá!
Thuyền vừa xa bờ, cận cảnh dẫn đến một cảm giác thu mới: Phẳng lặng trong xanh vốn là đặc tính của mặt nước ao thu, hồ thu. Chỉ thế mà sau này Tản Đà viết: Trời xanh xanh, nước xanh xanh, khói lam xây thành: Màu biếc xao động khi gió thu khẽ khàng lướt qua. "Hơi gợn tí" nhưng cũng đủ mạnh để đưa chiếc lá già của cây cao gần bờ lìa cành "đưa vèo" xoay xoay giữa không gian theo chiều gió… Gió thu là như vậy.
Bình giảng hai câu 3-4, Xuân Diệu đã viết: "Thật tài tình! Nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, dễ tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: "tí". Tác giả Đây mùa thu tới quả thật đã phát hiện đầy đủ tài nghệ của Nguyễn Khuyến.
Chắc là sau khi đã buông câu, nhà thơ mới có dịp ngẩng đầu nhìn trời và làng mạc vây quanh. Trời thăm thẳm một màu xanh, vài đám mây bạc lững lờ trôi như tôn thêm độ cao xa của không giang (Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt). Đường đi lối lại trong thôn viễn rặng trúc uống lượn vòng vèo không ồn ào náo nhiệt như những ngày mùa mà êm đềm u tịch. Nhà thơ "tựa gối ôm cần" chìm đắm vào cảnh vật tựa sống trong mơ…
Câu kết thức Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Tiếng động của cá đớp mồi đã trả nhà thơ về cõi thực. Nguyễn Khuyến là ông ngư trên chiếc thuyền nan mỏng mảnh.
Với Thu ẩm, nhà thơ Hà Nam đưa chúng ta về nhiều thời điểm khác nhau để cảm nhận vẻ đẹp mùa thu.
Mở đầu bài thơ, tác giả nói về một ngôi nhà xuềnh xoàng ở tận sâu trong làng Và (Vị Hạ) nơi cụ Thượng quan hưu trí thường độc ẩm để tìm cách lãng quên thế sự; bởi vì người xưa đã nói: "Chỉ có rượu mới phá được thành sầu".
Từ "năm gian nhà cỏ" này ông nhập vào cảnh thu và quan sát những nét thu khi về chiều, vào đêm tối hay buổi trăng thu viên mãn. Thu ẩm thường diễn ra trong ngôi nhà này vào những thời điểm kể trên. Không có bóng dáng buổi mai hồng hay chính ngọ trong thơ thu. Phải chăng những thời điểm đó không hợp với tạng của nhà thơ? Hai buổi đêm và một buổi chiều lần lượt xuất hiện trong Thu ẩm.
Một đêm không trăng dày đặc bóng tối trùm lấp đường ngõ, "lập loè" ánh sáng đom đóm vây bủa đường thôn (Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè). Một đêm khác trăng soi vằng vặc "bóng trăng vàng từ mặt nước ao loé ra, bốn chữ 1 gợi chất vàng [đang dàn trải] ba dấu sắc khứ thanh gợi ánh bắn đi từ loa gợi [vòng tròn lan toả]" (Xuân Diệu). Nguyễn Khuyến dùng thần bút để cực tả đêm thu.
Một buổi chiều nhẹ thênh từ "nhà cỏ" hay từ bếp nhà ai toả ra làn khói lam chiều? Một nét thân thương và trìu mến biết bao! Và một buổi chiều khác không còn "tầng mây lơ lửng", chỉ có da trời ửng màu biếc bao la vô hạn. Nét phác họa đặc thù này vốn là sở trường của Nguyễn Khuyến.
Phần kết, tác giả đã gửi gắm ít nhiều tâm sự: "Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe… Độ năm ba chén đã say nhè". Đâu phải vô cớ mà mắt lão Nguyễn "đỏ hoe". Cũng không phải vô cớ mà lão uống ít say nhiều (say không tự chủ được sinh lè nhè). Ông uống rượu để tiêu sầu nhưng sầu đâu có dứt!
Trong bộ ba thơ thu tuy tác giả không trực tiếp nói đến nhưng vẫn không sao che giấu nổi: Tâm sự nước non đầy vơi dường như chi phối cả cuộc đời và cảm hứng thơ văn của tác giả. Quý thay Nguyễn Khuyến!
Ba bài thơ thu là những viên ngọc quý trong vườn thơ Việt Nam. Nó đậm đà màu sắc quê hương đất nước. Hình tượng và ngôn ngữ thơ đạt đến đỉnh cao của sự giản dụ mà đầy chất thơ. Từ nét bút tạo hình đến các thủ pháp nghệ thuật khác như sử dụng từ ngữ trau chuột, chính xác, đối ngẫu rất chỉnh, gieo vần phong phú độc đáo (kể cả tử vận). kết hợp nhạc điệu và âm thanh tinh tế… cả ba bài đều viết theo thể thơ Đường hoàn chỉnh nhưng người đọc không có cảm giấc đó là thể thơ ngoại lai. Nối gót nữ sĩ Hồ Xuân Hương và các nhà thơ Nôm lớp trước, Nguyễn Khuyến đã góp phần Việt hoá đến kì tài thể thơ nhập ngoại này.
Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm xứng đáng được trao giải nhất trong toàn bộ thơ về làng cảnh Việt Nam.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Văn hào M.Go - rơ - ki viết: "Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới". Hãy bình luận ý kiến trên | Phân tích ba bài thơ thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) của Nguyễn Khuyến | 2,086 | |
Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người qua nhân vật Chí Phèo
Gợi ý
Khi Chí Phèo "ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi lũ khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cày ở một nước thuộc địa, bị cào xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị vần còn được là con người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ’ (Giáo sư Nguyễn Đãng Mạnh). Trong muôn vàn nỗi khốn khổ tủi nhục mà Chí đã nếm trải, không thể không chú ý đến cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của y. Đó cũng là chủ đề xuyên suốt tạo nên giá trị nhân dạo, giá trị hiện thực của tác phẩm "Chí Phèo".
"Bi kịch là tình cảnh éo le đầy đau thương, bế tắc chưa có lối thoát mà con người phải chịu đựng". Hiểu theo ý nghĩa ấy, số phận Chí Phèo là một chuỗi dài bi kịch mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn hơn bi kịch trước. Nhiều người khẳng định, Chí xuất hiện sau tiếng chửi, điều ấy đúng! Nhưng có lẽ chưa đủ; Nam Cao thường giới thiệu với người đọc ở giai đoạn quan trọng nhất của số phận nhân vật.
Đọc những dòng đầu tiên của tác phẩm, độc giả thấy xuất hiện một nhân vật chưa nêu tên. dường như chỉ có một hành động, một cuộc độc thoại. Nhờ biện pháp nghệ thuật tăng cấp, như những câu văn ngắn, nhịp văn gấp, tưởng chừng như các câu văn bị xé rách, bị cắt vụn mà người đọc có các cảm giác được chứng kiến tận mắt sự quần quại của Chí trong cơn đau bị cự tuyệt quyền làm người. Chí chửi trời (đấng tối cao của muôn loài). Chí chửi làng "cái cộng đồng gần gũi, thiêng liêng của con người"… Nhưng không ai lên tiếng cả. Người ta không lên tiếng vì người ta không công nhận Chí là người. Cả làng Vũ Đại không ai hiểu Chí; giá có một người để chửi nhau, có lẽ Chí còn đỡ khổ. Bời vì người ta sống – dù là để chửi nhau cũng không thể chửi một mình. Chí chỉ còn biết chửi người đẻ ra y. Chửi người đẻ ra mình thì cùng là chửi chính bản thân. Tiếng chửi của Chí thể hiện sự vật vã, dẫu là vô ý thức, để tìm ra căn nguyên của đau khổ. Nhưng khốn khổ thay, Chí càng chửi càng bế tắc. Giá như ngày ấy ở làng Vũ Đại có một người lên tiếng, cũng như sau đó, Thị Nở "không chỉ biết cho mà còn biết giữ… Giá như… giá như… chỉ cần một lần giá như xảy ra, chỉ cần một trong hàng nghìn người làng Vũ Đại coi Chí là người thì tấn bi kịch của đời Chí sẽ có cơ hội không xảy ra. Nhưng chuyện gì đã xảy ra thì nó đã xảy ra… Nam Cao ngược dòng thời gian trở lại với quá khứ để dẫn dắt người đọc, giúp họ thấu hiểu quá trình bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí, đồng thời, ông cũng chỉ rõ căn nguyên dẫn Chí đến tình trạng ấy.Xem thêm: Suy nghĩ về một nhân vật hoặc một chi tiết mà anh (chị) cho là có ý nghĩa sâu sắc nhất trong truyện ngắn "Đời thừa" của Nam Cao Chí là một "đứa con hoang", "một anh đi thả ống lươn (…) một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và mang cho một người đàn bà goá bụa". Các từ "một" tồn tại trong một câu văn dài, dường như đã báo trước cuộc đời cô độc triền miên của Chí. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, Chí đã bị người mẹ, người đời cự tuyệt quyền làm người. Chí trử thành kẻ không cha, không mẹ; cũng may cho đời Chí, có lẽ vì lớn lên cùng với những người lao động, Chí trở thành anh canh điền khoẻ mạnh, biết tự trọng, "biết không thích những cái gì mà người ta khỉnh". Anh khao khát "có một gia đinh nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải". Nhưng đời đã không dành cho Chí cái mà anh có thế với trong tầm tay.
Một cơn ghen vu vơ của cụ Bá đã đẩy Chí vào tù. Các thế lực phong kiến cấu kết với nhà tù thực dân tước bỏ quyền tự do của Chí gần bảy – tám năm. Đây là lần thứ hai Chí bị cự tuyệt quyền làm người. Nhà tù đã biến Chí thành con người khác. "Hắn vé lần này trông khác hẳn". Quyền làm người của Chí bị cự tuyệt bởi nhà tù đã cướp di của y một phần nhân hình, ở tù ra trông hắn như một thằng "sắng đá" (lính tẩy), đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đen lại rất "cơng cơng". "Hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng, cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ trông gớm chết". Đó là hình hài của kẻ côn đồ, hung hãn chỉ biết gây gổ, đâm chém, về làng hôm trước, hôm sau, Chí đã điên cuồng lao vào trả thù Bá Kiến bằng cách ăn vạ, chửi đổng. Nếu như trả thù là cái quyền của người có thù (Oán thì trả oán, ân thì trả ân) thì Bá Kiến đã khéo léo tước luôn quyển ấy của Chí. Không trả thù được, Chí lại từng bước trở thành tay sai cho kẻ thù, trở thành công cụ mù quáng của Bá Kiến. Hắn chỉ còn biết rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với cụ Bá. Từ đó, hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, "Hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện". Cứ như thế đời hắn trượt dài. Nhìn vào mặt hắn người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Đời hắn đã xem như đời bỏ đi, nhân hình bị huỷ hoại, nhân tính bị xói mòn. Cá làng Vũ Đại đều tránh mặt, mỗi lần hắn qua. Ngay bản thân thân hắn cũng đã quên sự có mặt của hắn ở trên đời. Có thể nói, trước khi gặp Thị Nở, Chí đã bị cự tuyệt quyền làm người đến cao độ. Nhưng có lẽ hắn không nhận ra điều ấy hoặc nhận ra một cách vô thức, không tìm thấy lối thoát, Chí đành phải dấn thân vào cuộc đời say rượu, chửi đổng, ăn vạ, đâm thuê chém mướn.Xem thêm: Phân tích những cách xử lí nghệ thuật của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật người đàn bà vô danh trong truyện ngắn Vợ nhặt
Người ta sẽ đỡ khổ, nếu không biết mình sống trong cái khổ. Người ta sẽ đỡ đau đớn khi bị tước quyền làm người mà không hề hay biết. Trước khi gặp Thị Nở, Chí Phèo chưa nhận thức được tấn bi kịch của đời mình. Chí đâu có biết chính xã hội thực dân phong kiến chẳng những đã sinh ra Chí mà còn nuôi dưỡng tính côn đồ hung hãn của Chí bằng cách tước đoạt dần quyền làm người của y. Đúng lúc Chí dấn thân đến chỗ tột cùng của sự tha hóa, đúng lúc người ta tưởng Chí sẽ triền miên trong cuộc đời một con quỷ dữ thì Nam Cao đã phát hiện trong chiều sâu tâm linh của nhân vật một đốm lửa nhỏ nhoi bừng sáng. Chí ao ước trở lại làm người lương thiện. Vai trò, vị trí của Thị Nở trong tác phẩm là rất quan trọng. Con người "dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn", lại là nguồn sáng duy nhất còn lại ở làng Vũ Đại có thể chiếu sáng cõi đời tăm tối của Chí. Cơ thể đàn bà của Thị không khơi gợi bản năng thú vật ở y. Tình thương của Thị đã gợi dậy cái tính người mà lâu nay Chí đã đánh mất. Sau cuộc tình ngắn ngủi với Thị Nở, Chí nghe được âm thanh của cuộc sống mà lâu nay hắn không để ý. Sau bao nhiêu năm, bây giờ hắn mới nghe thấy tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh ấy gợi nhớ trong Chí những ước mơ rất người đã có từ thuở xa xưa. Lần đầu tiên Chí cảm thấy buồn, rồi hắn "sợ tuổi già, đói rét. ốm đau và cô độc – cô dộc còn sợ hơn đói rét và ốm đau". Bát cháo hành của Thị Nở đã đánh thức trong Chí những tình cảm lành mạnh. Ăn cháo mà hắn thấy mắt ươn ướt. Chí cần một sự thương yêu – dù là tình yêu của kẻ dở hơi, của một người con gái quá lứa lỡ thì, có dòng giống ma hủi, cũng dủ làm sống lại bản tính người đã chết. Sức cảm hóa của tình thương vô biên. Nam Cao đã thực sự hóa thân vào nhân vật để cảm thông, để chia xẻ những giây phút hạnh phúc rất người của Chí. Thế là sau hơn bốn mươi năm bị cự tuyệt quyền làm người, Chí Phèo đã tự tìm cho mình con đường trở lại làm người. Chí đã tạo ra chiếc cầu nối để làm hòa với thế giới người. Chiếc cầu ấy chính là Thị Nở. Thị có thể sống chung với hắn thì làng Vũ Đại cũng có thể chấp nhận hắn. Nhưng bi kịch và đau đớn thay cho Chí, Thị Nở không thê gắn bó với Chí. Vì theo bà cô Thị, "đàn ông đà chết hết cả rồi hay sao mà lại phải lấy một thằng không cha, không mẹ chỉ biết rạch mặt ăn vạ".Xem thêm: Viết văn bản tường trình về một vụ lộn xộn mới xảy ra trong lớp Thế là một chút hạnh phúc nhỏ nhoi Chí đã có ở trong tay một lẩn nữa lại bị xã hội kia cướp đoạt. Thị Nở là chiếc cầu vồng sau cơn mưa. Chí đau đớn nghĩ ra rằng chẳng có chiếc cầu nào đưa Chí trớ về với cuộc sống con người, xã hội đã cự tuyệt đến cao độ quyền được sống, được làm người của Chí. Không ai cho Chí làm người lương thiện kể cả khi Chí đòi làm người lương thiện. Chí không thể xoá được những vết sẹo đã vạch lên trên mặt mình. Chí đau xót cảm thấy: "Không được nữa rồi chỉ còn cách này". Chí chỉ còn một cách là tìm đến cái chết. Chí đã nói câu cuối cùng với Bá Kiến và cũng là tự nói với bản thân mình. Hành động giết Bá Kiến và tự sát của Chí cho người đọc thấy cuối cùng Chí cũng trả được mối thù. Nhưng cái giá phái trả của Chí là quá đắt. Cái chết của Chí là lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội vô nhân, là lời kêu cứu khẩn thiết về quyền con người. Chí chết, mồm ngáp ngáp trong vũng máu, nhưng Chí không "tuyệt tự". Sức sống, sức mờ và giá trị điển hình của nhân vật này là vô biên. Chí không chí tiêu biểu cho nổi khổ của người nông dân thời kì nước ta còn sống trong vòng nồ lệ, mà còn thể hiện cho niềm khao khát được làm người, được sống trong lương thiện.
Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí do nhiều căn nguyên. Có căn nguyên từ xã hội, cũng có căn nguyên từ bản thân Chí. Khi quyền con người bị xúc phạm thì bi kịch của đời những Chí Phèo trong cuộc đời còn được nhắc đến như một nỗi đau của toàn nhân loại
Vanmau.edu.vn | Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người qua nhân vật Chí Phèo | 2,116 | |
Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba
Hướng dẫn
Dựa trên những cảm nhân, hiểu biết về đoạntrích vở kich Hồn Trương Ba, da hàng thịt, HS có thểgiải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra theo nhiều cách khác nhau. Sau đây là gợi ý cho phần thân bài của bài viết:
– Giải thích câu nói của chị con dâu: nói về sự đổi thay, tha hoá của Hồn Trương Ba khi ở trong thân xác hàng thịt. Đó chính là bi kịch của nhân vật.
– Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba:
+ Hồn Trương Ba tự ý thức được sự tha hoá của mình (qua cuộc đối thoại với Xác Hàng Thịt).
+ Hồn Trương Ba đau khổ, tuyệt vọng khi bị người thân xa lánh, trách móc (trong cuộc đối thoại với những người thân).
+ Hồn Trương Ba nhận thấy cái giá phải trả là quá đắt nếu sống cuộc sống không phải của mình (trong cuộc đối thoại với Đế Thích).
– Nhận xét về ý nghĩa câu nói của chị con dâu:
+ Những nỗi niềm hoặc buồn bã, đau khổ hoặc thương xót, bất lực hoặc căm ghét, chối bỏ,… của người thân, nhất là lời nói của chị con dâu, đã khẳng định sự tha hoá đáng buồn, đáng thương và cũng đáng sợ, đáng ghét của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ vào thân xác hàng thịt; đồng thời làm đậm thêm nỗi đau khổ, tuyệt vọng của một con người ý thức sâu sắc về bi kịch đárih mất mình. Những yếu tố này góp phần đẩy mâu thuẫn kịch lên đến cao trào.
+ Qua câu nói của chị con dâu, nhà văn thể hiện tư tưởng phê phán đối với những người chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến mức trở nên phàm phu, thô thiển; những người lấy cớ tâm hồn là cao quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà không chăm lo thích đáng đến đời sống vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn (thực chất, đây là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, không tưởng); tình trạng con người phải sống giả (từ thiên đình cho đến mặt đất), không dám và cũng không được là chính bản thân mình… Đó là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hoá.
Nguồn: thêm: “Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được. Con tim giàu lên nhờ cái nó cho đi” (Vích-to Huy-gô) | Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba | 429 | |
Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao
Gợi ý
Trong các nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam những năm trước Cách mạng tháng Tám có lẽ hiếm có một người nào lại có thể miêu tả về đời sống của tầng lớp mình sâu sắc và tài năng như Nam Cao. Không chỉ khắc họa những nỗi khổ về vật chất của họ Nam Cao còn mổ xẻ ở họ những bi kịch của một lớp người muốn bay lên nhưng lại bị gánh nặng áo cơm “ghì sát đất”. Hộ trong “Đời thừa” cũng là một trong số những nhân vật bi kịch ấy.
Con người Nam Cao nhìn bề ngoài có vẻ lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm lại rất phong phú, luôn sục sôi, có khi căng thẳng. Người trí thực “trung thực vô ngần” (Tô Hoài) ấy luôn nghiêm khắc đấu tranh với chính mình để thoát khỏi lối sống tầm thường, nhỏ nhen, ích kỉ, khát khao vươn tới “tâm hồn trong sạch và ước mơ, tới cảnh sống, tới những con người thật đẹp” (trích trong Nhật kí ở rừng). Nam Cao viết nhiều về người nông dân và trí thức. Trong hình tượng người trí thức, người ta có thể nhận thấy chính một Nam Cao cũng đang vật lộn với gánh nặng cơm áo, đang trăn trở, thấm thìa những bi kịch của chính mình.
Hộ là một nhà văn nghèo không gặp thời. Bi kịch đầu tiên mà anh mắc phải, cũng giống như phần lớn người dân thời kì bấy giờ là bi kịch của đói nghèo. Là một tri thức, nhưng cuộc sống của anh cũng không hơn những người nông dân xung quanh mình là mấy: vẫn cảnh chạy ăn từng đồng, vợ con nheo nhóc, ốm yếu. Cái nghèo không cho người ta cuộc sống yên ổn. Và còn nữa, cái nghèo khiến cho người ta không thể có thời gian và tâm trí mà sáng tạo nghệ thuật. Mà đối với một người nghệ sĩ chân chính, còn đau khổ nào hơn khi không thể có thời gian dành cho niềm dam mê và sự sống thứ hai ấy của chính mình. “Cơm áo không đùa với khách thơ”. Cuộc sống qụẩn quanh, mòn mỏi đã không chỉ đè nặng lên con người họ mà còn bóp méo con người họ, nhiều khi tạo ra tư thế thảm hại đến tội nghiệp: so đo không thể đứng thẳng lên được (Quên điều độ).
Bi kịch về vật chất đã là đau khổ nhưng những bi kịch tinh thần còn đau đớn hơn. Đó là bi kịch vỡ mộng. Như những Điền, những Thứ, những San, những “hắn”, những “tôi”, Hộ đã từng là nhân vật có máu mặt ở quê ít gì cũng là người trí thức hiểu biết được người ta trọng vọng. Hộ ấp ủ trong mình những ước mơ, hoài bão, dự định lớn lao. Hộ say mê nghệ thuật, anh đã từng sẵn sàng đánh đổi cả đời mình cho nghề văn. Và chính những say mê nghệ thuật ấy đã chắp cánh cho ước mơ và hoài bão không giới hạn. “Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn mỗi ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhặn xét và suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa”. Thậm chí, đã có lúc hắn từng mơ về một tác phẩm đạt giải Nô-ben, được cả thế giới biết đến. Những hoài bão, dự định lớn lao luôn gắn với tư tưởng tiến bộ. Một tác phẩm thực sự đối với Hộ “phải vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khỏi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”… nhưng đáng tiếc, cuộc sống không cho phép họ thực hiện những dự định và ước vọng lớn lao ây. Khi vướng vào cuộc sống, vào những cái vật chất mà Hộ coi là tẹp nhẹp, là tủn mủn, tất cả mọi ước mơ đều vỡ tan như bong bóng xà phòng. Hộ khát khao sáng tác những tác phẩm thực sự nhưng lại vẫn phải làm ra “Toàn những cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rết thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá dề dãi”, những bài báo để “người ta đọc rồi quên ngay sau khi đọc. Rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn kí tên mình, hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng, vò nát sách mà mắng mình là thằng khốn nạn”. Mộng văn chương đã không thành mà ngay cả những quan niệm nghệ thuật mà mình tôn thờ cũng đã dần dần bị phá vỡ. Hộ tiếp tục rơi vào bi kịch của người muốn sống có ý nghĩa bằng sự công hiến của mình mà không được. Hắn thấy mình như một kẻ vô ích, một “người thừa”. Hộ đã luôn quan niệm rằng: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đã cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gi chưa có”. Nhưng “Có gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được gì cả, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt”. Khát khao công hiến va thay đổi cuộc sống theo một chiều hướng tốt đẹp hơn, khát khao làm nên giá trị đích thực của văn chương nghệ thuật nhưng Hộ đã không vượt qua được những rào cản xung quanh mình, không thể vươn tới những cái mình mơ ước mà còn đẩy nó theo chiều hướng ngược lại. Càng bi kịch hơn khi anh lại là người có tài năng và ý thức được cái tài của mình. Bi kịch được ý thức sâu sắc nhưng lại không thể tìm ra lói thoát, nó gặm nhấm, cẩn xé Hộ, làm cho anh đau đớn, mệt mỏi đến cùng kiệt.Xem thêm: Anh (chị) có ấn tượng gì về hình tượng ông Huấn Cao trong tác phẩm "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân
Hộ đã không thể tự giải thoát cho bi kịch nghề nghiệp, trong vai trò một nhà văn. Và rồi, cũng chính anh lại rơi vào một bi kịch khác còn đau đớn, ám ảnh hơn rất nhiều. Là bi kịch sống cuộc sống của một người bình thường, làm một người cha, một người chồng tốt cũng không được. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khi bàn đến những bi kịch của Hộ đã đặc biệt nhân mạnh ý này. Theo ông, nỗi đau đớn nhất của người tri thức tư sản là khi họ vi phạm vào lẽ sống tình thương của chính mình. Vỡ mộng văn chương, đó chỉ là bi kịch trong nghề nghiệp. Thất vọng vì lẽ sống của chính mình, về lôi sống cần có ở một con người, đó là bi kịch của cả một nhân cách. Hộ đã từng cúi xuống nỗi đau khổ của Từ và đưa bàn tay ra cứu vớt nàng, giữa lúc nàng đang đau thương vô bờ bến. Việc làm ấy đã từng khiến Hộ cảm thấy sung sướng, cái sung sướng của người vừa làm một việc nghĩa và nhận được sự tôn thờ, của người đã thực hiện được triết lí sống tình thương mà mình đề ra. Nhưng rồi, đã có lúc hắn lại mơ tưởng về cuộc sống của mình lủc chưa có Từ, chưa phải nuôi cái gia đình nheo nhóc. Cuộc sống ấy mới tươi sáng biết bao. Cũng giông như mơ tưởng của Điền khi ngắm vầng trăng sáng, ai dám chắc rằng, lúc đó, Hộ đã không có chút gì đó hối hận vì hành động nghĩa hiệp trước đó của mình? Người trí thức vì những gánh nặng áo cơm đã dần bước vào bi kịch của sự tha hoá về nhân phẩm. Thất vọng trong nghề nghiệp, túng quẫn trong cơm áo, Hộ đã từng làm cho mình biết ác. “Hộ diên người lên vì phải xoay tiền. Hắn còn điên người lên vì con khóc, mà không lúc nào được yên tĩnh cho hắn viết hay đọc sách. Hắn thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gắt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với vợ, với bất kì ai, vói chính mình”. Triết lí tình thương: “Kẻ mạnh không phải là kẻ dẫm lên vai người khác dể thoả mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ nâng đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình” đã bị vi phạm. Không phải Hộ không yêu và thương Từ. Họ đã có những phút giây hạnh phúc. Ấy là khi Hộ gặp được một đoạn văn hay, mỉm cười san sẻ với vợ. Hắn đọc lại đoạn văn, giảng giải cho Từ hiểu. Còn Từ thì ngồi đó, mỉm cười nhìn chồng, chẳng hiểu được bao nhiêu nhưng “cũng tin lời hắn lắm”. Là khi hắn chuẩn bị đi xuống phố để lĩnh nhuận bút của toà báo. “Hắn cố ý chạm khẽ môi mình vào má Tù’ một cái. Từ vờ rũ mấy cái bụi ở tay áo hắn. Vợ chồng nhìn nhau âu yếm. Hắn vuốt má Từ một cái rồi ra đi”. Tình yêu thương đã khiến cho hắn nhận ra vẻ tái xanh trên khuôn mặt, trên đôi môi nhợt nhạt, ở cái cẳng tay lủng củng những xương, những đường gân xanh bóng, mỏng manh, yếu đuối, cần được che chở. Hắn đã đổ ra “hàng suối nước mắt” vì hối hận. Vì thương xót mà tự nhận mình là một thằng “khốn nạn”. Tình yêu thương bị gánh nặng vật chất làm cho lu mờ. Hộ luôn ý thức được mình phải làm gì nhưng lại lưôn không thể làm được. Tính bi kịch vì thế mà càng trở nên sâu sắc. Hộ trong tác phẩm vọng lên một lời kêu cứu khẩn thiết về nhân phẩm của người tri thức dưới gáng nặng vật chát. Người trí thức bị thực tế quăng quật làm biến dạng cả về thể xác và tâm hồn. Họ bị từ chòi trong cuộc sống bình thường để rơi vào những kiếp “sống mòn”, “đời thừa” đang rỉ ra, đang mốc lên. Bi kịch ấy cũng đau đớn và sâu sắc không kém gì bi kịch của người nông dân như Chí Phèo, như Lão Hạc.Xem thêm: Phân tích nhân vật vợ Tràng trong truyện Vợ nhặt của Kim Lân Đọc “Đời thừa”, người ta mãi ám ảnh bởi những bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ. Nam Cao đã tỏ ra rất tài tình khi để cho nhân vật luôn bị giằng xé giữa – ước mơ và trách nhiệm, giữa ý thức, khát vọng và thực tế. Mâu thuẫn trong tâm hồn nhân vật càng trở nên gay gắt thì bi kịch càng trở nên sâu sắc và nỗi đau càng được tô đậm. Cái tài và cái tâm của Nam Cao là ở chỗ đó.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao | 1,969 | |
Phân tích bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản trong tác phẩm Đòi thừa của Nam Cao
Hướng dẫn
Ông vừa là một nhà văn hiện thực nghiêm ngặt lại vừa là một nhà nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc. Ông thường viết về hai chủ đề chính: về những người nông dân lam lũ, nghèo khổ và bi kịch về những người trí thức tiểu tư sản, trong đó, tác phẩm Đời thừalà một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nam Cao về đề tài này. Người trí thức Hộ, một nhân vật của Đời thừaluôn bị rơi vào bi kịch tinh thần. Một nhà văn có rất nhiều những hoài bão, những lý tưởng cao đẹp, một nhà Văn chân chính luôn sống bằng tinh thần yêu thương, bị tha hoá nhân cách khi phải đối diện với cuộc sống tù túng, bế tắc về vật chất. Nhân vật Hộ là một nhân vật điển hình của những người trí thức lúc đó.
Khi khám phá bi kịch tinh thần đó của họ, Nam Cao luôn khẳng định quá trình vươn lên hướng thiện của chính họ. Đồng thời Nam Cao qua đó đã lên án gay gắt xã hội thực dân phong kiến đã làm cho không chỉ những người nông dân mà còn cả một tầng lớp trí thức phải rơi vào bế tắc. Nhân vật nhà văn Hộ rơi vào bi kịch của một nhà văn, mà sâu sắc hơn nữa đó là bi kịch về chính con người của Hộ. Ngòi bút phân tích tâm lý của Nam Cao rất tinh tế, điêu luyện và sắc sảo khi phảnảnh tận cùng những dằn vặt trong tâm hồn Hộ.
Trong tác phẩm, nhân vật Hộ luôn khắc khoải, thất vọng trước hết bi kịch này đến
bi kịch khác. Nhưng có lẽ bi kịch tinh thân đầu tiên của Hộ là bi kịch về văn chương. Với nhà văn Hộ, anh luôn mang trong đầu những hoài bão lớn, anh luôn khinh thường những tủn mủn vật chất. Đối với anh nghệ thuật luôn là tất cả, nó không Chỉ là niềm say mê của anh mà còn là cả lý tưởng. Hộ là một nhà văn chân chính, là một người có tài, có hoài bão, là một nhà văn mà đáng để người ta tôn trọng và nâng niu. Hộ là một người rất “mê văn”. Hộ yêu văn đến nỗi có thể nói về văn chương bằng tất cả lòng nhiệt thành của mình, hơn nữa Hộ không chỉ là một người mê văn đến kỳ lạ mà còn là người rất có ý thức trách nhiệm về nghềvăn của mình. Hộ đã từng nói tuyên ngôn về nghệ thuật của mình: “Văn chương phải là một cái gì đó lớn lao, nó phải vừa đau đớn, vừa phấn khởi. Nó phải ca tụng sự công bình. Nó làm người gần người hơn” hay sựcẩu thả khi viết văn đó chính là kẻ đê tiện. Như vậy Hộ là một nhà văn rất có ý thức trách nhiệm, đã tựđưara yêu cẩu cho mình khi viết vãn, Hộ xứng đáng là một nhà văn cao cá không chỉ bởi cái tài, sự thận trọng của Hộ mà còn bởi lương tâm của mình. Như vậy ở nhân vật Hộ đã hội đủ tất cả những phẩm chất cao đẹp nhất của một nhà văn: có tài,có lý tưởng vươn tới và có lương tri.
Một nhà văn đẩy những hoài bão cao cả. Hộ luôn muốn viết lên những tác phẩm mà có thể giúp cho thế giới trở lên tốt đẹp hơn, thậm chí Hộ còn muốn “có một tác phẩm đạt giải Nobel”. Mặc dù những ước vọng đó thật khó thành hiện thực song ta cũng có thế nhận thấy một khát khao rất đẹp của Hộ để cho thế giới đẹp lên. Nhưng những hoài bão ấy khi phải đối mặt với cuộc sống tù túng, vật chất nghèo khổ như bị sụp đố như bị tan vỡ. Khi Hộ phải tìm đủ mọi cách để giúp cho cuộc sống gia đình được nâng cao thì Hộ đã luôn phải viết những tác phẩm mà “khi người ta đọc song sẽ chẳng để lại một ấn tượng gì” đểcó chút tiền nhuận bút nhỏ nhoi, để mọi người có thểsống qua ngày, để tồn tại. Thử nghĩ xem một người giàu mơ ước, lý tưởng như Hộ mà lại phái viết những tác phẩm như kia thì sẽ thấy dằn vặt mình, luôn cảm thấy vô cùng giằng xé, thấy lương tâm mình bịcắn dứt, Hộ luôn tự ý thức rằng: như vậy là trái lương tám song lại không biết phải làm thế nào. Chính vậy mà Hộ rơi vào bi kịch. Hộ cho rằng “cẩu thả” là “đê tiện”, là “bất lương” song những người mà có thể ý thức được ràng mình bất lương thì người đó sẽ không phải là bất lương, đê tiện.
Bi kịch nhà văn của Hộcó giá trị tố cáo gay gắt xã hội đương thời. Một xã hội ngột ngạt, tàn ác đã bóp nghẹt mọi khát vọng sống của con người. ở xã hội đó, con người đó, con người không những không thể thực hiện được những ý tưởng của mình mà còn làm cho con người không còn khát vọng sống nữa, họsống chỉ như là một sựtồn tại không hoài bão, không lý tưởng mà sống một cách vô nghĩa. Là xã hội mà không những không hướng cho con người phải sống tốt hơn lên mà còn buộc họ phải làm trái lương tâm mình.
Xem thêm: Bài văn kêu gọi ủng hộ người đồng tính
Song có lẽso với bi kịch nhà văn thì bi kịch con người đối với Hộ luôn dằn vặt giằng xékhi viết văn, Hộ thấy bế tắc túng quẫn. Song Hộcó một gia đình, một tổấm hạnh phúc là nơi để Hộ tìm đến, tìm sựsẻ chia, là nơi mà Hộcần phải bao bọc, yêu thương lấy vợ và con. Nhưng cuối cùng chính Hộ lại là người chà đạp lên gia đình mình. Khi đó Hộ rơi vào bi kịch, bi kịch lớn nhất khi nhận ra mình đã tha hoá và mình
đang chà đạp lên chính lẽsống tình thương của mình.
Nhân vật Hộ không chỉ là một người có lý tưởng, hoài bão mà Hộ còn là một con người chân chính, một người có gốc rễ là tình yêu thương. Với Hộ, Hộ luôn lấy tình yêu thương để làm lẽsống cho mình và để làm thước đo khi cư xử với mọi người. Hộ đã từng nói: “Kẻ mạnh là kẻ phải biết giúp đỡ người khác trên chính đôi vai của mình”. Hộcó một tư chất tốt đẹp của một con người chân chính. Hơn nữa, chính Hộ là người đã đưa bàn tay ra để cứu vớt lấy Từ trong lúc khó khăn nhất. Chính Hộ đã nhận nuôi mẹ già con dại cho Từ. Thật khó có được một người nào tốt bụng như Hộ đến như vậy, đặc biệt là trong lúc xã hội khó khăn đương thời. Đối với Từ, Hộ chính là một ân nhàn. Còn đối vớiHộ. Từ là người vợ liền luôn giúp đỡ, an ủi sẻ chia cùng Hộ. Song giữa họ đó không chỉ là một tình cảm nghĩa vụ mà đó còn là một tình yêu thương thắm thiết, đó còn là một gia đình hạnh phúc mà Hộ chính là trụ cột, chính là mái nhà để che chở, để yêu thương, Hộ rất yêu gia đình đó của mình.
Nhưng khi đối diện với cuộc sống “cơm áo ghì sát đất”, thì Hộ đã chà đạp lên gia đình mình. Hộ trở lên tàn nhẫn ích kỷ và nhận ra rằng: “phải biết ác, phải biết tàn nhẫn để mà sống cho mạnh mẽ”. Hộ đánh đuổi vợ con lúc say rượu. Hộ chà đạp vợ con và khi tỉnh dậy thì Hộ thấy hối hận, dằn vặt vì những hành động của mình đã chà đạp lèn lẽsống tình thương của mình. Khi đó Hộ lại rơi vào bi kịch, một bi kịch xót xa, nghiệt ngã. Hộ nói với Từ: “Ngày mai… chỉ ngày mai thôi! Mình biết không? Tôi sẽ đuổi tất cả mấy mẹ con mình ra khỏi cái nhà này”. Những lời lẽ hết sức cay đắng, đay nghiến, dường như không thể là của Hộ. Hộ đã trở thành một người khác. Hộ đã bị tha hoá về nhân cách. Xã hội tàn ác kia đã khiến cho người ta bị tha hoá. Từ những người lương thiện trở thành bất lương. Song bi kịch được đẩy lên cao nhất là khi Hộ muốn nâng cao giá trịcuộc sống của mình thì cứ phải sống trong nghèo túng, bế tắc, muốn có những tác phẩm hay thì cứ phải viết những bài “cẩu thả”, muốn yêu thương gia đình thì lại chà đạp lên chính vợ con. Một sự khắc khoải, một cuộc sống thừa, sống mòn mỏi trong nghèo đói, bế tắc, đường như mọi cánh cửa với Hộ đã đóng sập.
Bi kịch của Hộ còn là sự quẩn quanh của vòng luẩn quẩn tỉnh, say, say rồi tỉnh. Hộ muốn say để quên đi nỗi đau hiện tại nhưng khi tỉnh thì nỗi đau càng sáu sắc. Vòng tính say ấy càng lặp lại nhiều lần thì nỗi đau càng xót xa và nghiệt ngã hơn để cuối cùng Hộ đã lắc đầu nói: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng đút rồi”. Một sự bẽ bàng, tê tái, một bi kịch xót xa “còn gì chán hơn khi chính mình lại chán mình”.
Kết thúc tác phẩm là hình ảnh dòng nước mắt của Hộ, đó là dòng nước mắt biểu hiện cao độsự hối hận của mình, biểu hiện sự muốn tìm sự chia sẻ, và cao hơn là thể hiện khát khao hướng thiện của con người. Hộ mặc dù rơi vào tâm trạng bi kịch tinh thần, bi kịch nhà văn phải làm trái với lương tâm của mình, bi kịch của chính con người nhà văn, lấy tình thương làm lẽsống nhung cuối cùng lại chà đạp lên chính lẽsống đó của mình. Tuy nhiên Hộ vân luôn khát vọng những cuộc sống tốt đẹp hơn.
Trong Đời thừa,Nam Cao đã khẳng định được tinh thần của chủ nghĩa nhân văn cao cả. Bên cạnh việc phản ánh tấn bi kịch của người trí thức tiểu tư sản, ngòi bút văn chương của Nam Cao còn có khả năng nâng đỡ tâm hồn con người. Qua tác phẩm, ta
nhận ra được giá trị to lớn của tình yêu thương, nó chính là gốc rễ của mọi giá trịcuộc sống, nó cứu vớt con người và nâng đỡ tâm hồn họ. Chừng nào con người còn sống trong đau khổ, nhận ra được sự đau khổ của mình và muốn khao khát vươn lên một cuộc sống tốt đẹp thì chừng ấy câu chuyện trong Đời thừacòn có ý nghĩa.
Nguồn: thêm: Nghị luận xã hội Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương | Phân tích bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản trong tác phẩm Đòi thừa của Nam Cao | 1,884 | |
Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa; qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của nhà văn lớn Nam Cao
Gợi ý
YÊU CẦU
– Yêu cầu của đề không phải là phân tích tác phẩm cũng không phải là phân tích nhân vật mà chỉ là phân tích một khía cạnh của nhân vật: bi kịch tinh thần. Tuy nhiên, để làm được việc ấy phải nắm được tác phẩm, trong trường hợp này, phải nắm toàn bộ tư tưởng, hành động, tính cách của nhân vật.
– Không chỉ phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ mà quan trọng hơn, qua đó thấy được tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của nhà văn lớn Nam Cao.
BÀI LÀM
Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, người đọc gặp bi kịch của kiếp "tài hoa bạc mệnh", ở Chí Phèo của Nam Cao, là bi kịch của những khát khao lương thiện và cũng với Nam Cao ta gặp ở Đời thừa, tấn bi kịch tinh thần của người trí thức. Đời thừa bộc lộ rõ nét "tư tưởng nhân đạo mới mẻ độc đáo của nhà văn lớn Nam Cao".
Bi kịch tinh thần của Hộ trong Đời thừa là bi kịch của một nhà văn – một trí thức giừa "cơn dâu bể" của cuộc đời, giữa một xã hội "chó đểu" (Vũ Trọng Phụng) – Nhà văn ấy giữ được phẩm giá của mình, ý thức được "thiên chức" cao cả của mình, vậy mà đành bó tay bất lực.
Có thể nói, bi kịch đầu tiên trong tấn bi kịch tinh thần của cuộc đời Hộ là bi kịch về những giấc mộng văn chương. Hộ đã đặt văn chương lên trên hết, văn chương dường như là khát vọng lớn nhất của anh. Anh muôn trở thành nhà văn chân chính – nhà văn biết "mở hồn đón lấy những vang vọng của đời". Anh mơ ước đến một ngày anh sẽ viết được một tác phẩm lớn chung cho cả loài người. Nó đề cập đến những vấn đề bức xúc của cả xã hội, của cả nhân loại. Nó nói được những cái "lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng. Nó làm cho người gần người hơn". Và nhất định anh sẽ giật giải Nôben! Đó là cuốn tiểu thuyết vĩ đại trong đời viết văn của anh. Nó sẽ làm rạng danh cho anh, cho nền văn học nước nhà. Đó quả là một ước mơ chính đáng! Không phải người nghệ sĩ nào cũng khao khát như vậy khi bước vào con đường văn chương đầy khổ ải. Nhà văn phải biết xây ước mơ đẹp, và khát vọng của Hộ là khát vọng mạnh mõ nhất và đẹp nhất. Hộ xác định đúng con đường cho mình – xác định đúng tư tưởng cho mình.
Anh không sa vào những mơ mộng về nghệ thuật – nghệ thuật là "ánh trăng xanh huyền ảo" (như Điền trong Trăng sáng). Anh thấy ánh trăng của nghệ thuật biết "làm đẹp cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa". Quan điểm của anh đúng đắn lắm! Tư tưởng của anh tiến bộ lắm! Thế nhưng, trong sáng tác của mình anh đã viết những gì? Anh đã cho ra đời những sáng tác như thế nào? Anh không hướng nghệ thuật vào "thứ văn chương của bọn nhàn rỗi", nhưng anh đã viết những gì từ khi anh bắt tay vào sáng tác? Chao ôi! Thực tế có phải bao giờ cũng chiều theo khát vọng và đẹp như khát vọng đâu! Anh đã viết những bài mà thậm chí khi đọc thấy tên của mình dưới bài viết, anh phải "đỏ mặt" xấu hổ. Anh giận dữ với chính anh. Anh khinh ghét những tác phẩm chỉ biết "gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông bằng một thứ văn quá ư bằng phẳng dễ dãi" của chính mình. Dường như anh hoảng hốt, anh ngạc nhiên trước những bài viết của mình mới ra đời. Anh dằn vặt ghê gớm. Anh muốn nhưng có phải bao giờ ý muốn cũng thành hiện thực đâu! Và đó chính là cái bi kịch của anh – bi kịch của một đời viết văn – bi kịch của người hiểu mình biết mình phải làm gì và đành lựa bút theo những điều chẳng hề muốn. Tôi như cảm thấy cái đau đớn khủng khiếp tự chôn sâu thẳm của tâm hồn anh. Một cái gì đó bỗng chốc đổ sụp trong anh. Đấy chính là sự sụp đổ của một khát vọng đẹp và chân chính. Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ “Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Anh phải viết ẩu như thế, bôi bác như thế chính là vì những ràng buộc của "áo cơm". Chao ôi! Giá như anh cứ được bay nhảy với những giấc mơ ấy!
Nhưng "cơm áo không đùa với khách thơ" (Xuân Diệu). Anh còn vợ và một đàn con nhỏ. Kiếp người với bao toan tính bộn bề níu kéo anh, không cho anh bay lên cùng giấc mộng của đời trai trẻ. Chính những nỗi lo về tiền bạc đã buộc anh phải viết những bài trái với lương tâm và trách nhiệm. Trong đầu anh luôn quay cuồng với những tính toán về giá cả sinh hoạt, về bữa ăn hàng ngày… thì đâu còn chỗ cho văn chương nữa. Anh phải viết thật nhanh, thật nhiều để người vợ, đàn con và chính anh khỏi chết đói. Giá như anh cứ dứt bỏ cái mộng văn chương thì chắc đời anh chẳng khốn đốn đến thế! Nhưng anh cần nghĩ tới tác phẩm của anh – cái tác phẩm cho toàn nhân loại nên anh lại càng đau đớn! Nước mắt anh không chảy nhưng đớn đau thì chồng chất tập trung hơn. Chao ôi! "Đau đớn thay cho nhừng kiếp sống muôn cất cánh bay cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất" (Sống mòn). Đó chính là bi kịch của cuộc đời viết văn của anh – bi kịch của những giấc mộng văn chương chính là ở chỗ đó! Và tưởng như giấc mộng văn chương ấy chính là điều day dứt trong anh mãi không thôi.
Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết những dòng đầy cảm xúc như thế! Dường như những day dứt trong cuộc đời ông – cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã nhập vào những suy tư của Hộ, đã nhập vào tấn bi kịch tinh thần của Hộ. Có người nói, Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì trước cách mạng. Tôi không hoàn toàn nghĩ thế. Nam Cao đã có thể bị cơm áo ghì chặt nhưng Nam Cao hơn hẳn Hộ; ông đã biết vượt lên trên những lo toan ấy để biến giấc mơ thành hiện thực. Ông đã viết những lời văn hay nhất, đẹp nhất về cuộc đời, về những kiếp lầm than và chắc chắn Nam Cao không phải đỏ mặt khi thấy tên mình sau những tác phẩm như Chí Phèo, Đời thừa… Bởi chính đó là nơi giấc mơ văn chương nảy nở. Có thể tự tin mà nói rằng với Đời thừa, Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những dòng bi kịch về Hộ. Kinh nghiệm và vôn sống đã cho ông viết những điều có sức rung động, lay chuyển lòng người đến thế! Đó chính là nhờ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn Nam Cao. Nhân đạo của sự ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ, nhân đạo ở sự cảm thông sâu sắc với người trí thức… Và có được những dòng như thế cũng là nhờ cái nhân đạo "mới mẻ" độc đáo của Nam Cao. Qua bi kịch tinh thần đầu tiên này của Hộ, Nam Cao đã bộc lộ được sự cảm thông, trân trọng bao kiếp người lao khổ trong cuộc đời này. Và phải chăng tư tưởng ấy đã kế thừa được của cha ông lòng nhân đạo truyền thông. Nhà văn không "phản ánh để phản ánh" mà sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ chính là một trái tim nhiệt thành, sôi nổi – một trái tim của tình nghĩa.
Bi kịch đầu tiên của cuộc đời nhà văn Hộ và đó cũng là nguyên nhân cho bi kịch thứ hai – bi kịch của một con người. Giấc mộng văn chương sụp đổ qua những bài viết ẩu. Thế nhưng Hộ vẫn còn một chút an ủi. Đó chính là cuộc sống, sự tồn tại của vợ con anh. Anh chưa thực hiện được khát vọng của mình, anh chưa viết được cuốn tiểu thuyết của đời anh, nhưng anh nuôi đủ vợ con. Anh đã kéo dài được sự tồn tại của gia đình mình. Và đó có thể coi là việc làm hữu ích. Đó là cái an ủi cho cái "đời thừa" của một nhà văn. Thế cũng đáng an ủi lắm chứ! Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài: Đây mùa thu tớì của Xuân Diệu Vì anh là người đặt "tình thương" lên hàng đầu, lẽ sống của anh là tình thương. Tình thương là trên hết. Chính trong lời khẳng định về tác phẩm trong tương lai của mình, anh đã nói: Tác phẩm có giá trị là tác phẩm "ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng". Trong văn chương, anh muôn ca ngợi tình thương và trong cuộc đời thực, tình thương là tất cả. Chính vì lẽ sống tình thương của mình, anh đã đón Từ, giúp Từ thoát khỏi những tủi nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha. Những giọt nước mắt của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiến anh xúc động. Họ muốn khóc cho đen khi "bao xương thịt cứ tan ra thành nước mắt" nhưng gặp anh, tình thương của anh đã tỏa rạng đến họ, giúp họ thoát khỏi những đớn đau. Một người dám bỏ cái đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi nấng vợ con chẳng là người düng cảm lắm sao! Chính tình thương – lẽ sống tình thương đã khiến anh làm việc ấy. Anh cao đẹp quá! Đời anh không phải là "đời thừa" với gia đình nho nhỏ của anh. Anh đau khổ vì tên anh cứ "lu mờ dần sau những tên khác mới xuất hiện rực rỡ", nhưng với Từ và đàn con – anh là biểu tượng sáng chói của tình thương. Tình thương ấy là rất đáng trân trọng. Trong một xã hội rác rưởi "chó đểu" như thế, hành động của anh chẳng là một hành động tốt đẹp hiếm hoi hay sao? Thế nhưng, anh cũng chẳng giừ được trọn vẹn cái lẽ sống cao quý ấy của mình nữa. Quả là một sai lầm khi anh kết luận: nguyên nhân trực tiếp cho sự sụp đổ của giấc mộng văn chương chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia. Anh cạn nghĩ quá! Đó không phải hoàn toàn là lỗi của vợ con anh. That vọng trong vãn chương, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến anh tìm niềm vui trong men rượu. Anh muốn quên, quên đi tất cả.
Anh không say trong men tình ái, trong khúc nhạc đong đưa… mà say khủng khiếp trong men rượu. Chính anh cũng không hiểu tại sao anh về được đến nhà. Anh chỉ biết anh đã tỉnh dậy trên giường nhà mình khi tay chân rã rời. Men rượu "chết tiệt" ấy chính là cái trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất hiện. Rượu đã khiến anh trở thành kẻ vô học, rượu đánh đồng những người xấu, người tốt, kẻ giàu, người nghèo trong những cơn say. Khi say, ai cũng như ai hết! Men rượu không giúp anh có được cái tình của Chí Phèo giúp hắn hướng về cái "thiên lương". Men rượu đã khiến anh trở thành một kẻ tiểu nhân vô học. Anh đã vi phạm lẽ sống tình thương của mình. Anh đã đánh vợ con anh như một kẻ vũ phu. Vâng, chính lúc đó, anh là kẻ vũ phu. Anh đã đánh đập vợ, người vợ hiền lành tận tụy của mình không biết bao nhiêu lần nữa mà kể. Anh đã chỉ mặt Từ mà quát mắng:
– "Cả con mẹ mày nữa cũng đáng vật chết".
Anh đã làm tất cả, tất cầ trong say. Sao mà tai hại quá! Anh đã vi phạm lẽ sống của mình, vi phạm cái tốt đẹp – cái phần "người" vô cùng cao đẹp trong tâm hồn anh. Đời anh coi như bỏ đi trong văn chương tưởng còn được an ủi bởi anh đã giữ được trọn lẽ sống tình thương của mình. Ai ngờ, cuộc sống vẫn không cho phép anh thực hiện được điều đó.Xem thêm: Bức thư của thủ lĩnh da đỏ ngữ văn 6 Thế mà nay, chính cái lẽ sống ấy anh cũng chà đạp nốt. Anh – cuộc đời anh đã biến thành "đời thừa". Bi kịch đầu tiên là bi kịch của những giấc mộng văn chương nên cái "thừa" còn không quá nhiều đau đớn như bi kịch này, bi kịch mà kết cục là cái "thừa" ấy của anh đã được thể hiện đầy đủ. Anh đã động đến phần cao quý nhất. Đó là bi kịch tinh thần của một con người mà đau đớn hơn, đó lại là của con người ý thức được phẩm giá nhân cách của mình nhiều nhất! Ớ bi kịch trước, cái mặc cảm tội lỗi trong anh rất lớn vì anh là một nhà văn. Nếu Chí Phèo chỉ gieo rắc tội lỗi của hắn cho dân làng Vũ Đại, anh giáo Thứ chỉ truyền thụ sự chán nản lên đầu học sinh thì anh – anh gieo những "tình cảm rất nhẹ, rất nông” những tình cảm quá ư tầm thường ấy vào bao nhiêu độc giả. Sự nhiễm hại ấy lớn hơn. Dù thế bi kịch thứ hai này – bi kịch của một con người mặc cảm tội lỗi còn lớn hơn nhiều. Với tư cách một nhà văn anh đã gây ảnh hưởng đến người đọc từ nhừng bài văn viết lấy lợi nhuận. Với tư cách một con người, anh đã gây ra nhừng điều ghê gớm hơn. Xã hội này đã quá nhiều, quá thừa những cái xấu. Anh cố giữ tốt đẹp trong mình thế mà anh cũng phá hỏng nốt. Mặc cảm này quá lớn và không hề có gì để an ủi được. Lẽ sống tình thương là cái được anh đề cao nhất mà anh còn vi phạm thì chẳng còn gì nừa cả. Bi kịch này của anh, lớn hơn gấp bội bi kịch kia bởi lè sống tình thương, chỗ dựa của bao giá trị bao phẩm giá khác đã sụp đổ. Bi kịch này khủng khiếp và hoàn toàn không có lối thoát và dường như nó bao trùm thành bi kịch của cả đời anh – một "đời thừa". Anh đổ lỗi tất cả cho gia đình, nhưng tất cả là tại anh. Tuy vậy cũng cần nói thêm rằng, bi kịch ấy có nguyên nhân sâu xa chính từ xã hội vô nhân đạo đương thời. Chính xã hội ấy đã đẩy anh phải lo "cơm áo gạo tiền". Nỗi lo sinh kế đã khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương. Và chính những thất vọng ấy đã khiến anh chà đạp lên lẽ sống tình thương của mình. Nguyên nhân ấy, có lẽ khi đó anh không hiểu được – nguyên nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến – nguyên nhân mà ngày ấy, người ta đã nhận ra. Anh chưa tìm được lối thoát cho sự bế tắc. Đó là cái bế tắc của thời đại mà anh sống.
Nhưng đó phải chăng là nét hạn chế trong tư tưởng nhân đạo của Nam Cao? Ông đã biết đề cao những thất vọng đẹp của người trí thức, đã biết thông cảm với những nồi khổ của họ nhưng chưa đề ra được lối thoát cho họ. Nhưng những "tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo" ấy đã là đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Độc đáo, mới mẻ chính là ở lòng thương người – tình người nồng đượm bao la đằng sau lối viết văn tưởng như dửng dưng lănh đạm.
Ngày nay cuộc đời đã được đổi thay. Lớp văn sĩ đã thoát khỏi dù là một phần những nỗi lo "cơm áo", không còn những bi kịch tinh thần đau khổ như Hộ. Nhà văn ngày nay được ưu đãi hơn. Nhưng ta không thể quên thời kì mà người trí thức văn nghệ sĩ mang những bi kịch tinh thần.
Tư tưởng nhân đạo mới mẻ độc đáo của Nam Cao đã khiến cho nhân vật dù qua bao thăng trầm vẫn đứng vững với tư cách một con người chân chính.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa_ qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của nhà văn lớn Nam Cao | 2,937 | |
Đề bài: Phân tích bi kịch trong Hồn Trương Ba da Hàng thịt của Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ là người có tài về nhiều mặt như: viết văn, làm thơ, vẽ tranh…nhưng ông được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học Việt nam. Những vở kịch của ông đã làm xôn xao dư luận và được đón nhận nồng nhiệt của khán giả. Phần lớn các vở kịch của ông đều được các đoàn nghệ thuật dàn dựng, trong đó vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt là đặc sắc nhất. Lưu Quang Vũ đã có rất nhiều sáng tạo. Ông đã đổ rượu mới vào bình cũ để kể lại chuyện hài xưa như một bi kịch triết lí thời nay. Qua vở kịch Lưu Quang Vũ đã gửi gắm rất nhiều suy nghĩ và qua niệm sống của mình đến với khán giả.
Nhan đề truyện thể hiện một quan niệm: Giữa hồn và xác phải có một sự tương hợp hài hòa, thế nhưng ở đây có sự khập khiễng không thể hòa hợp. Đặc biệt là hồn của một người thanh cao, trong sáng, trung thực lại ngụ trong xác của một kẻ tầm thường, phàm tục, đầy bản năng, thô lỗ. Bi kịch này sinh từ đó. Như vậy tên gọi của vở kịch đã thâu tóm được những mâu thuẫn xung đột bên trong của một con người. Điều nảy sinh là linh hồn là hồn trong sạch đang dần dần bị tha hóa. Từ chỗ thanh cao đến chỗ có những ham muốn tầm thường. Nhan đề đã thâu tóm những mâu thuẫn xác định ngay trong một con người. Đây là mâu thuẫn nội tại.
Bi kịch của Trương Ba: ông đã chết vô cớ vì sự thiếu trách nhiệm của tiên thánh. Tiên thánh sửa sai thì lại càng tệ hại hơn. Bi kịch xảy ra từ khi Trương Ba được sống lại. Như vậy vấn đề không chỉ được sống mà còn là phải sống như thế nào. Sống trong cái xác của anh hàng thịt, Trương Ba thấy mình bị tha hóa: hồn trong sạch ngay thẳng đang bị cái thể xác thô lỗ, ranh mãnh, ve vãn, chế nhạo, cám dỗ. Có lúc hồn phải thỏa hiệp với những đòi hỏi bản năng của xác. Bây giờ không còn thích đánh cờ – một thú vui trí tuệ, thanh cao. Những nước cờ không còn phóng khoáng mà tủn mủn vô hồn. Không còn là người có bàn tay khéo léo nữa mà là một kẻ vụng về. Bên trong một đường, bên ngoài một nẻo. Ý thức được điều đó nên hồn càng thêm đau khổ. Đây là sự đau khổ vì không làm chủ được bản thân. Đây cũng là nỗi đau khổ của con người khi phải sống trong hoàn cảnh không phù hợp với mong ước của mình, phông phải là chính mình.
Bi kịch của Trương Ba không chỉ là bi kịch của cá nhân mà còn là bi kịch gia đình. Quay lại với thể xác, hồn Trương Ba phải đối diện với một xung đột khác đó là bi kịch không được thừa nhận. Người vợ hiền thục rất đau khổ, tìm cách tránh mặt và định bỏ đi. Con trai thì hư hỏng, cháu nội thì tỏ thái độ thù ghét và đuổi ông đi. Đứa con dâu là người cảm thông với ông nhất, tiếc nuối một người cha chồng trước kia thì lại vướng mắc với một loại câu hỏi rất khó lí giải: “…làm sao giữ được thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia? Làm thế nào, thầy ơi?”.Trương Ba đã rơi vào cái khổ của việc không được chia sẻ và thấu hiểu. Cháu nội thù ghét không nhận và đuổi ông đi, dù ông có thanh minh. Ông đã gây ra những xáo trộn, bất an trong gia đình, gia đình lại khổ lây vì sự nhũng nhiễu của lí tưởng.
Như vậy, Trương Ba đã rơi vào tình thế cô đơn ngay tại nhà mình. Trương Ba ý thức nỗi khổ này của vợ con lớn hơn cả nỗi khổ khi chôn ông xuống đất. Ông đã tự ý thức được tất cả và cảm thấy mình có lỗi với gia đình. Điều đó cho ta thấy Trương Ba là một con người rất vị tha.
Bi kịch của Trương Ba là ở chỗ mình không phải là mình. Khổ vì bị sự trói buộc có tính định mệnh của phần xác đối với phần hồn. Đây là nỗi đau khổ tột cùng của Trương Ba. Để thể hiện điều này, Lưu Quang Vũ đã tạo ra một cuộc đấu trí đầy trí tuệ giữa linh hồn và thể xác. Tiếng nói của xác là tiếng nói của bản năng. Tiếng nói của Trương Ba là tiếng nói của con người thanh cao, trong sạch, tự ý thức. Đó là cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai mặt tồn tại của con người, thể hiện khát vọng hướng thiện và tầm quan trọng cảu việc tự ý thức về bản thân và vượt lên chính mình.
Xem thêm: Cảm nhận của em về bài ca dao: Rủ nhau lên núi đốt than. Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành. Củi than nhem nhuốc với tình. Ghi lời vàng đá xin mình chớ quênAnh hàng thịt cũng không kém phần khôn ngoan, lí lẽ cũng có phần đúng đắn: “Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác của họ nỗi khổ sở nhếch nhác…”. Vì thế mâu thuẫn cũng khó có thể giải quyết nhanh chóng. Qua lí lẽ của anh hàng thịt tác giả cũng muốn nói lên một điều: Con người phải có khát vọng sống thanh cao nhưng cũng không thể tách hồn khỏi vật chất đời thường, cũng như những nhu cầu chính đáng rất con người. Mặt khác tác giả cũng muốn nói lên những người vượt lên hoàn cảnh đã gặp không ít trở lực có lúc làm cho họ nản lòng. Điều đó thể hiện qua những câu thoại có vẻ đuối lí của Trương Ba. Rồi hồn Trương Ba phải thỏa hiệp và nhập vào xác anh hàng thịt, đuối lí bởi những lí lẽ vừa khó chịu vừa chứa đựng một phần chân lí. Màn đối thoại vừa có tính chất hài kịch lại vừa có tính bi kịch. Màn đối thoại vừa toát lên giọng điệu nghiêm trang lại vừa có ý mỉa mai hài hước. Đó là một sự kết hợp giữa hài kịch và bi kịch của người nghệ sĩ tài ba. Bi kịch này có sự mâu thuẫn giữa khát vọng và khả năng.
Hồn Trương Ba ý thức được nghịch cảnh mình nên đau đớn day dứt cùng với sự tác động từ bên ngoài: lí trưởng, gia đình nên Trương Ba phải gặp Đế Thích để giải quyết vấn đề này. Màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích cũng rắt đặc sắc. Ngôn ngữ của Đế Thích là ngôn ngữ dụ dỗ thuyết phục: lí lẽ không ngoan có vẻ có lí, nâng cao giá trị của Trương Ba, bôi bác sự giả dối có trên thiên đình. Tiên thánh cũng không được sống theo những gì mình nghĩ ở bên trong, đến Ngọc Hoàng cũng phải ép mình cho xứng danh Ngọc Hoàng. Trên trời, dưới đất người ta đều thế cả. Đế Thích sửa sai lại càng thêm sai. Trương Ba đã bác bỏ một cách cương quyết: “Thần có thể chấp nhận một cuộc sống như thế chứ con người thì không” và khăng khăng đòi chết, không chịu nhập vào cái xác của ai nữa. Bi kịch của ông bắt đầu từ khi ông được sống lại trong cái xác anh hàng thịt. Như vậy, là con người ai cũng muốn là chính mình mà không muốn sống tạm bợ, chắp vá. Trương Ba đã ý thức được vấn đề là sống như thế nào chứ không phải chỉ được sống là đủ. Trương Ba đã dũng cảm chấp nhận cái chết để bảo vệ chân lí, bảo vệ nhân cách, bảo vệ các giá trị nhân sinh và dù có chết cũng là cái chết bất tử. Dù là nghịch lí nhưng đó là con đường phục hưng những giá trị nhân văn. Đó là cuộc thắng lợi của cuộc tranh chấp muôn thuở giữa cái thánh thiện và cái phàm tục. Trương Ba đã chiến thắng được mình và còn chủ động phê phán khuyên bảo Đế Thích. Đó là chuyện phi thường, một ông tiên phải đuối lí trước con người. Cuối cùng phải thốt lên một câu như vỡ lẽ ra một điều mới: “con người dưới hạ giới các ông thật là kì lạ”. Hóa ra các lực lượng siêu nhiên, thần thánh tuy có thể quyết định được việc sống chết của con người nhưng không thể can thiệp vào sự tự do của con người. Lưu Quang Vũ đã thể hiện niềm tin sâu sắc vào con người vào khả năng vươn lên mọi thực tế nghiệt ngã. Thật xúc động khi hồn Trương Ba xuất hiện giữa màu xanh lá với lời nói thiệt thiết tha. Cái chết của Trương Ba là cái chết bất tử, tâm hồn của ông vẫn sống mãi giữa màu xanh cây vườn. Bi kịch của Trương Ba là một bi kịch lạc quan.
Qua bi kịch của Trương Ba nhà văn Lưu Quang Vũ muốn gửi đến người đọc những thông điệp: Con người cần phải sống hài hòa giữa hai mặt vật chất và tinh thần. Không nên kì thị những đòi hỏi vật chất của con người, cần tôn trọng quyền tự do cá nhân, giúp mỗi người phải được là mình, sống đúng với chính mình. Và phải sửa chữa những sai lầm để xây dựng một tương lai tốt đẹp.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh (Có dàn ý chi tiết) | Phân tích bi kịch trong Hồn Trương Ba da Hàng thịt của Lưu Quang Vũ | 1,716 | |
Phân tích bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu.
Hướng dẫn
Phần kết bài thơ "Dục Thúy Sơn ”, Nguyễn Trãi viết:
“Nhớ xưa TrươngThiếu Bảo,
Bia khắc dấu rêu hoen ”
Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần truy phong là Thiếu Bảo. Ông còn để lại 4 bài thơ và 3 bài văn: ''Dục Thúy Sơn khắc thạch”, "Lính Tế tháp kí”, “Khai Nghiêm tự bi", “Bạch Đằng giang phú”… Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng “Bạch Đằng giang phú ” của Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú ” vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắngtá – Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301 – 1354.
“Bạch Đằng giang phú ” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Bài cảm nhận về "Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.
Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phủ cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thủy. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chẽ, có những kiểu câu được quy phạm rõ ràng. "Bạch Đằng giang phú ” của Trương Hán Siêu viết theo lối phú cổ thể, có vần nhưng vẫn sử dụng phép đối rất sáng tạo:
“Tiếng thơm đến mãi,
Bia miệng khôngmòn
Đến chơi sông chừ ủ mặt
Nhớ người xưa chừ lệ chan ”
Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng sông lịch sử đã gắn liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của "Bạch Đằnggiang phú ”
1. “Giương buồm giong gió chơi vơi ”
“Khách có kẻ” trong ''Bạch Đằnggiang phú ” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật "khách ” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú”(bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (? – 1346) cũng có nhân vật “khách"'…. "Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hụ nắng nồng. Ao trongngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách ” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấm lòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.
Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách ” là một tao nhân với bầu rượu túi thơ “chơi vơi" theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngoạn thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”…
Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:
“Nơi có người đi
Đâu mà chẳng biết”
Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “gươngbuồm… lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “khách ” đã “chứa vài trăm trong dạ ”, đã thăm thú nhiều lần, đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết ” với bốn phương trời. Một lối nói khoa trương và ẩn dụ tạo nên câu văn đẹp thể hiện một tâm hồn đẹp:
“Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,
Mà tráng chí bốn phươngvẫn còn tha thiết”
Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn ” làm trọng, gián tiếp phủ định danh lợi tầm thường.
2. “Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”
Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trường” đi về phía Đông Bắc “buông chèo”'cho thoả chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: "Muốn học cáivăn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ "Sửkí" bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi:
"Qua của Đại Than, ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng, bổng bềnh mái chèo ”…
"Bát ngát sóngkình muôn dặm ”
Bạch Đằng giang, con sông oai hùng của Tổ quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn nhấp nhô sóng biếc. Cuối thu (ba thu) nước trời một màu xanh bao la: "Bát ngát sóng kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu – Nước trời: một sắc – Phong cảnh ba thu”. Câu văn tả thực, mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “Đằng Vương các” “Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc". (Sông thu cùng với trời xa một màu). Tả con sóng Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288 – 1356) viết: “Thuồng luồngnuốt thuỷ triều, cuộn làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bống mặt buổi chiều đỏ ôi – Lẩm tưởng rằng máu người chết vẫn chưa khô" (Bạch Đằng giang – Dịch nghĩa). Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:
“Bờ lau san sút
Bến lách đìu hiu
Sôngchìm giáo gãy
Gò đầy xươngkhô”
Bờ lau, bên lách gợi tả không khí hoang vu, hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỉ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chợt kình hăm non lởm chởm-Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” (“Cửa biển Bạch Đằng'').
Trương Hán Siêu miêu tả dòng sông Bạch Đằng bằng những đường nét, màu sắc gợi cảm. Những ẩn dụ và liên tưởng nói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông Bạch Đằng (1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:
“ Buồn vì cảnh thảm
Đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu ”
Xem thêm: Hình ảnh người lính trong hai tác phẩm Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kínhMột tâm trạng: “buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “đứng lặng giờ lâu ” của “khách ” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với các anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông và sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn
3. “Mà nhục quân thù khôngrửa nổi”
Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự; ngôn ngữ sống động biến hóa hẳn lên. Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dạt dào như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên:
“Đây là chiến địa buổi Trùng Hưngnhị thánh bắt Ô Mã,
Cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao”
Sau và trước, gần và xa, ta và giặc, người chiến thắng và kẻ thảm bại được đặt trong thế tương phản đối lập đã khắc sâu và tô đậm mồ chôn lũ xâm lược phương Bắc:
Năm 938, Ngô Quyền dùng kì mưu đại phá quân Nam Hán:
“Bạch Đằng một trận giao phong,
Hoằng Thao lạc vía, Kiều công nộp đầu”.
Năm 1288, Trần Quốc Tuấn mở một trận quyết chiến – chiến lược bắt sống Ô Mã Nhi và tiêu diệt hàng vạn quân xâm lược Mông – Nguyên:
"Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bay trắngđất, máu màng đỏ sông”.
("Đại Nam quốc sử diễn ca")
Trở lại bài phú: "Đương khi ấy… " đó là ngày 9 tháng 4 năm 1288, trận thuỷ chiến đã diễn ra ác liệt trên sông Bạch Đằng. Dòng sông nổi sóng với “muôn đội thuyền bè". Cảnh tượng chiến trường vô cùng tráng liệt: “Tinh kì phấp phới – Tì hổ ba quân – Giáo gươm sángchói”.Các dũng sĩ nhà Trần với quyết tâm "Sát Thát”, với dũng khí mạnh như hổ báo xung trận. Chiến sự dữ dội ác liệt, giằng co: “Trận đánh thư hùng chửa phản – Chiến luỹ Bắc Nam chống đối”. Khói lửa mù trời. Tiếng gươm giáo, tiếng quân reo, tiếng sóng vỗ. Ngựa hí, voi gầm. Thuyền giặc bị đốt cháy, bị va vào cọc gỗ bịt sắt nhọn vỡ tan tành. Máu giặc nhuộm đỏ dòng sông. Trận đánh kinh thiên động địa được tái hiện bằng những nét vẽ, những chi tiết phóng bút, khoa trương rất thần tình. Âm thanh và màu sắc, trực cảm và tưởng tượng được tác giả phối hợp vận dụng, góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi:
“Ánh nhật nguyện chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sáp đổi
“Đại Việt sử kí" ghi rõ. Các tướng như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều bị bắt sống, hàng vạn giặc bị tiêu diệt. Quân ta thu hơn 400 chiến thuyền. Giặc đã lần lượt nếm mùi thất bại, nhục nhã. Dòng sông Bạch Đằng như một chứng nhân lịch sử:
“Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”
Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng của tổ tiên mang tầm vóc và quy mô hoành tráng, kì vĩ. Cũng như trận Xích Bích, trận Hợp Phì "quân Tào Tháo tan tác tro bay”… “quân Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi”, trận Bạch Đằng giang đã đập tan âm mưu bành trướng xâm lược của Lưu Cung, của Tất Liệt: "Trời cũng chiều người
– Hungđồ hết lối”.Hung đồ là một cách nói kinh bỉ đối với lũ giặc phương Bắc.
4. “Đất hiểm và nhân tài”
Nhà thơ từ miêu tả, tự sự đến suy ngẫm về vinh, nhục, về thắng, bại trong lịch sử. Tổ quốc mãi mãi vững bền và nhờ có hai nhân tố quan trọng: đất hiểm vànhân tài. Tính tư tưởng của áng văn này rất sâu sắc. Tác giả đã nêu lên bài học lịch sử vô giá:
“Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an”
Bạch Đằng, Chi Lăng… là đất hiểm trở. Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung… là nhân tài. "Cuộc điện an ” là sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, hoà bình, yên vui cho đất nước.
Bằng lối so sánh, Trương Hán Siêu nhắc lại vai trò to lớn của Lã Vọng, Hàn Tín bên TrungQuốc đã để lại võ công lừng lẫy một thời, qua đó tác giả tự hào ngợi ca Hưng Đạo Vương, người anh hùng vĩ đại thuở “bình Nguyên ” oanh liệt:
“Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn”
“Thếgiặc nhàn" là thế giặc dễ đánh thắng. Quả đúng như vậy, lần thứ 3 giặc Nguyên-Mông sang xâm lược nước ta đã bị đại bại. Con người anh hùng “coi thế giặc nhàn ”, tên tuổi sống mãi với Bạch Đằng giang, với đất nước Đại Việt: "Tiếng thơm dồn mãi-Bia mệng khôn mòn”
Đoạn văn miêu tả dòng sông, đoạn kể lại trận thuỷ chiến là đặc sắc nhất. Màu sắc tráng lệ. Hình ảnh kì vĩ. Phép đối được vận dụng rất tài tình để biểu lộ niềm tự hào dân tộc và sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam. Trương Hán Siêu đã bày tỏ một quan niệm về đất hiểm và nhãn tài, về vinh và nhục, cái tiêu vong và cái vĩnh hằng… trong cuộc đời và trong lịch sử. Tư tưởng cao đẹp ấy được diễn tả một cách tráng lệ, nên thơ, tạo nên vẻ đẹp văn chương của “Bạch Đằng giangphú”.
5. “Cốt mình đức cao”.
Phần cuối bài phú là bài ca của các bô lão về dòng sông, về đất nước và con người Việt Nam. Sông Bạch Đằng hùng vĩ “một dải dài ghê ” là mồ chôn lũ xâm lăng. "Sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông". Máu giặc như mãi mãi nhuộm đỏ dòng sông. Một cách nói hào hùng. Giặc bất nghĩa nhất định bị tiêu vong. Các anh hùng để lại tiếng thơm muôn đời, lưu danh sử sách.
Nhà thơ dành cho hai vua Trần những lời đẹp đẽ nhất:
"Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh”
“Thánh quân” là Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ 2 và lần thứ 3 đánh thắng giặc Nguyên. Nhờ những nhân tài mà đất nước được "điện an nhờ những ông vua tài giỏi, sáng suốt, anh minh mà Đại Việt được “thanh bình muôn thuở”. Một lần nữa tác giả lại khẳng định bài học lịch sử giữ nước: "bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao Đức cao là lòng yêu nước thương dân, là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, là tinh thần cảnh giác trước hiểm hoạ ngoại xâm. Một nét đặc sắc trong thơ vàn đời Trần là ngoài “hào khí Đông A” còn nêu cao bài học xây dựng bảo vệ đất nước: “Thái bình nên gắng sức-Non nước ấy ngàn thu” (Trần Quang Khải). “Đức cao” là nguyên nhân thắng lợi, như Trần Quốc Tuấn đã nói: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả "ước góp sức ”-đó là nguồn sức mạnh Việt Nam.
Tóm lại, “Bạch Đằng giangphú ” là một bài ca yêu nước tự hào dân tộc. Tên tuổi Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn trường tồn với dòng sông lịch sử. Lời văn hoa lệ, tư tưởng tình cảm sâu sắc, tiến bộ. Chất trữ tình sâu lắng. Âm điệu anh hùng ca, không khí trang trọng, cổ kính. Tài hoa trong miêu tả, hùng hồn trong tự sự, u hoài trong cảm xúc, sáng suốt trong bình luận… là những thành công của Trương Hán Siêu. Đẹp vậy thay tiếng hát dòng sông:
"Sông Đằngmột dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông”.
Nguồn: thêm: Bình luận về vấn đề giữ gìn vệ sinh | Phân tích bài Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu. | 2,672 | |
Phân tích bài ca dao Anh em nào phải người xa
Hướng dẫn
“Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân”
Hai câu cuối là lời khuyên bảo anh em, chị em về cách sống, cách đối xử trong gia đình sao choleó tình nghĩa^
“Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy”
Tục ngữ có câu: “Anh em như chân với tay”. Chân với tay. là hai bộ phận gắn bó của con người. Con người hoàn chỉnh không thể thiếu tay hoặc chân. Cũng như anh em ruột thịt phải biết yêu nhau, thương nhau, gắn bó đỡ đần nhau “như thê’ tay chân”. Anh em phải sống hòa thuận, nghĩa là đoàn kết, đùm bọc, nhường nhịn nhau, anh thương em, em kính trọng anh. Anh em ruột thịt có biết “yêu nhau”, có “hòa thuận” thì cha mẹ mới “vui vầy” sống yên vui hạnh phúc. Các động từ: “yêu nhau” và “hòa thuận” nói lên cách sống, cách cư xử đầy tình nghĩa tốt đẹp của anh em, chị em trong gia đình.
Nguồn:
Xem thêm: Vẻ đẹp kì vĩ của thiên nhiên trong bài thơ Xa ngắm thác núi Lư (“Xa vọng Lư sơn bộc bố”) của Lí Bạch | Phân tích bài ca dao Anh em nào phải người xa | 208 | |
Phân tích bài ca dao Chiều chiêu ra đứng ngõ sau
Hướng dẫn
Nó gắn bó với tâm hồn nhân dân ta từ bao đời nay. Trong đó, những bài ca dao nói về tình cảm gia đình sao mà hồn hậu, thắm thiết thế. Tinh cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương anh chị em, tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng, v.v… trong nhiều câu ca dao “sống” với ta như một kỉ niệm đẹp không bao giờ quên. Bài ca dao nói về tình thương nỗi nhớ của người con gái đối với mẹ già là một ví dụ làm cho em cảm động: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”
Thơ lục bát vốn nhịp nhàng, êm đềm. Hai câu ca dao này, cũng vậy, nhịp hai cân đối hài hòa, với chín thanh bằng quá bán, với ba tiếng “chiều chiều… chiều” đứng ở đầu và cuối câu,… đã tạo nên nhạc điệu, giai điệu nhè nhẹ, buồn thương. Điệu tâm hồn của câu ca dao là vô cùng đặc sắc, nó quyện lấy tâm hồn người đọc người nghe. Sức hấp dần trước hết ở giọng điệu tâm tinh.
' 1. Câu thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính khống gian (ngõ
sau, quê mẹ). Buổi chiều tà, nhất là lúc hoàng hôn, ngày tàn, màn đêm dần buông xuống, là thời điểm gợi nhớ, gợi sầu man mác cho những người tha hương. “Song 22 sa vò võ phương trời – Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” (Truyện Kiều), “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận). Bài ca dao cũng nói vể buổi chiều, không chỉ một buổi chiểu mà là nhiều buổi chiều rồi: “Chiều chiều..”. Sự việc cứ diễn ra, cứ lặp đi lặp lại “ra đứng ngõ sau”… “Ngõ sau” là nơi vắng vẻ. Câu ca dao gợi lên một chút tâm tình cô đơn. Câu ca dao không nói ai “ra đứng ngõ sau”, ai “trông về quê mẹ…”, nhân vật trữ tình không được giới thiệu cụ thể vẻ dáng hình, diện mạo… nhưng người đọc, người nghe xưa nay tinh lắm, vẫn cảm nhận được đó là cô gái xa quê hương, xa gia đình… (đi lấy chổng xa?). Nhớ lắm, nỗi nhớ vơi đầy, nên chiều nào cũng như chiều nào, nàng một mình “ra đứng ngõ sau”, lúc hoàng hôn để nhìn về quê mẹ phía chân trời xa:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau”…
2.Càng trông về quê mẹ, người con càng thấy lẻ loi nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết khôn nguôi:
Xem thêm: Phân tích cơn gió lạnh nhưng ấm áp tình người trong truyện Gió lạnh đầu mùa“Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều”
Quê mẹ khuất sau lũy tre xanh. Có cây đa, bến nước, sân đình. Có con đò nhỏ và dòng sông xanh uốn quanh. Có cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” ngào ngạt bốn mùa hương lúa. Có bà con chất phác, hiền lành và lam lũ sớm hôm. Có ngôi nhà gianh bé nhỏ thân yêu, nơi người con gái sinh ra và lớn lèn với bao kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ, của thời con gái. “Năm gian nhà cỏ thấp le te…” (Nguyễn Khuyến). Quê mẹ là nơi anh chị em ruột thịt quây quần xung quanh mâm cơm dẻo thơm có“canh rau muống… cà dầm tương”. Quê mẹ giờ đây có người mẹ già tóc bạc phơ đang tựa cửa thương nhớ đứa con gái đi xa…
Ca dao nói ít, tả ít mà gợi nhiều bởi đó là “cây đàn muôn điệu” của dân gian. Chỉ là hai chữ “quê mẹ” thôi mà đã đem đến cho người đọc một trường liên tưởng chứa chan tình cố hương.
Người con “trông về quê mẹ”, càng trông càng nhớ day dứt, tha thiết, nhớ khôn nguôi. Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả cực hay nỗi nhớ đó. Nhà thơ dân gian không sử dụng một bổ ngữ, một trạng ngữ mà lại dùng số từ “chín chiều” để biểu lộ tâm trạng, thật là độc đáo. Tục ngữ, thành ngữ có “năm nhớ mười
thương” thì ở câu ca dao này lại có “ruột đau chín chiều”. Buổi chiểu nào cũng thấy nhớ thương, đau đớn. Đứng trông về chiều hướng nào, người con tha hương cũng buồn đau tê tái, nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người thân thương dâng lên, càng thấy cô đơn vô cùng. Và chỉ một âm thanh đồng quê cũng gợi lên bao tình thương nỗi nhớ, nhớ mẹ hiền khôn nguôi:
“Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiu ruột đau”
Tinh mẹ con, tình yêu quê hương được nói đến trong bài ca dao trên đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn mõi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn của người con gái đi xa đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình, sâu lắng dàn trải khắp vần thơ, một nỗi buồn đẹp khơi dậy trong lòng người đọc bao liên tưởng về quê hương yêu dấu, về tuổi thơ. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao trữ tình hay nhất, một đóa hoa đồng nội tươi thắm mãi với thời gian và con người quê ta.
Nguồn: thêm: Tấm lòng nhân đạo của dân gian thể hiện qua Truyện An Dương vương và Mị Châu - Trọng Thủy | Phân tích bài ca dao Chiều chiêu ra đứng ngõ sau | 923 | |
Phân tích bài ca dao cày đồng đang buổi ban trưa
Hướng dẫn
sương một nắng”,ca ngợi đức tính cần cù, kiên nhẫn của người dân cày quê ta. Hình ảnh người trai cày sao mà đáng yêu thế:
“Cày dồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôithánhthót như mưa ruộng cày.
Ai ơi, bưng bát cơm đẩy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”.
Hai cầu đầu miêu tả cảnh cày đồng. Câu ca dao gợi lên trước mắt chúng ta người nông dân đang lội bùn, tay cầm cày, theo sau con trâu, dưới ánh nắng “ban trưa” chang chang mùa hạ. Người và con trâu phải làm việc vô cùng vất vả. Mồ hôi tuôn ra như mưa. Từ tượng thanh “thánh thót” gợi tả mồ hôi rơi xuống từng giọt… từng giọt liên tiếp, gieo vào không gian âm thanh “thánh thót”. “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” là hình ảnh so sánh thậm xưng gợi tả công việc cày đồng vất vả, cực nhọc không thể nói hết. “Mưa” làm cho lúa xanh tươi, cũng như “mồ hôi” đổ xuống luống cày làm cho đất đai thêm màu mỡ. Nghệ thuật ví von “mổ hôi” với “mưa” thật là sáng tạo, làm cho người đọc, người nghe thấm thía, cảm thông với bao cực nhọc của nhà nông. Thật vậy, họ đã đổ biết bao mồ hôi, công sức vào luống cày, sá bừa, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, để làm ra bông lúa, củ khoai nuôi sống xã hội. Vần ca dao đã vẽ lên một hình ảnh tuyệt đẹp về người nông dân trên cánh đồng quê hương. Đó là những con người khỏe mạnh dẻo dai, cần mẫn và chm khó:
“Cày đồng đang buổi ban trưa,
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”
Hai tiếng cảm thán “ai ơi!” vang lên một cách tha thiết, đã tạo nên âm điệu êm ái, ngọt ngào. Nhà thơ dân gian nhắn gửi mọi người gần xa một tình cảm đẹp. Mỗi khi “bưng bát cơm đầy”, chúng ta cần ghi nhớ công ơn khó nhọc của người nông dân đã cuốc bẫm cày sâu, sản xuất lúa gạo cho nhân dân no ấm. Câu thơ sâu lắng, thấm thía:
Xem thêm: Hình ảnh Thánh Gióng trong truyện “Thánh Gióng” để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho mỗi người Việt Nam. Em hãy phát hiểu cảm nghĩ của mình về người anh hùng ấy“Ai ơi, bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”
Câu cuối bài ca dao được tạo nên bằng nghệ thuật tương phản đặc sắc. Câu 8 chia thành hai vế tiểu đối cân xứng. Tính từ “dẻo thơm” đối chọi với tính từ “đắng cay”, “một hạt” đối lập với “muôn phần”, làm nổi bật sức lao động sáng tạo của nhà nông. Câu ca dao đã nâng nhận thức và cảm xúc cho mọi người về giá trị của bông lúa, hạt gạo, bát cơm dẻo thơm mà ta được hưởng thụ hàng ngày thật là đáng quý vô ngần. Cho nên, nhân dân ta mới gọi hạt gạo là “hạt vàng”, “hạt ngọc” là thế!
Cũng như phần lớn ca dao, dân ca, bài “Cày đồng đang buổi ban trưa…” được viết bằng thê’ thơ lục bát quen thuộc. Giọng thơ nhẹ nhàng thấm thía. Ngôn từ chọn lọc tinh tế, vừa giàu sức biểu hiện vừa đậm đà sắc thái biểu cảm: thánh thót, dẻo thơm, đắng cay, bát cơm đầy,… Các biện pháp tu từ: ví von so sánh, tương phản đối lập được vận dụng sáng tạo, viết nên những vần thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu.
Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 80% dân số sống bằng nghề nông. Người nông dân Việt Nam cần cù, chất phác, hiền lành, dũng cảm và giàu lòng yêu nước. Người nông dân Việt Nam tượng trưng cho sức sống bền vững của dân
tộc qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Chính họ là những con người: “Biết
trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu”(Nguyễn Khoa Điềm).
Đức tính cần mẫn, dẻo dai của nhà nông đã làm nên những mùa vàng quê ta, đem đến sự ấm no cho xã hội. Mọi gia đình có bát cơm dẻo thơm, đất nước có nhiều lương thực xuất khẩu là nhờ vào công sức nhà nông. Yêu kính và biết ơn nhà nông, em nguyện khắc sâu vào tâm hồn lời nhắn gọi tha thiết:
“Ai ơi, bưng bát cơm đầy,
Nhớ công hôm sớm, cấy cày cho chăng!”
Nguồn: thêm: Em hãy chứng minh rằng: “Sai lầm cũng có hai mặt. Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem đến bài học cho đời” (“Không sợ sai lầm” - theo Hồng Diễm). Em có suy nghĩ gì về điều đó | Phân tích bài ca dao Cày đồng đang buổi ban trưa | 810 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn Phân tích bài ca dao Khăn thương nhớ ai.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn rơi xuống đất.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lên vai.
Khăn thương nhớ ai,
Khăn chùi nước mắt.
Đèn thương nhớ ai,
Mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai,
Mắt ngủ không yên.
Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề…
Bài thơ được viết theo thể bốn chữ và kết thúc bằng hai câu lục bát rất phù hợp với việc gửi gắm tâm tư sâu kín và những trạng thái phức tạp, tinh tế của tâm hồn. Nhân vật trữ tình trong bài ca dao là cô gái đang sống trong tâm trạng thương nhớ người yêu khôn nguôi. Những lo phiền chất chứa trong lòng cũng xuất phát từ niềm thương nhớ ấy.
Thương nhớ vốn là thứ tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài này, nó lại được diễn tả một cách cụ thể, tinh tế và gợi cảm nhờ cách nói bằng những hình ảnh tượng trưng mang tính nghệ thuật cao. Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu đã được gửi gắm vào các sự vật như cái khăn, cái đèn, đôi mắt, đặc biệt là hình ảnh cái khăn.
Xưa kia, cái khăn thường là ki vật để trao duyên, gợi nhớ đến người yêu đang xa cách:
Gửi khăn, gửi ảo, gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.
Hay
Nhớ khi khăn mở, trầu trao,
Miệng thì cười nụ biết bao nhiêu tình.
Các tác giả dân gian mượn ngoại vật là cái khăn, cái đèn đã được nhân hoá và con mắt là hoán dụ để diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình. Rõ ràng mục đích của nhà thơ bình dân là biến cái khăn, cái đèn, đôi mầt thành biểu tượng cho nỗi niềm thương nhớ của người con gái đang yêu.
Sáu câu thơ cấu trúc theo lối vắt dòng láy lại sáu lần từ Khăn ở vị trí đầu câu và láy lại ba lần câu hỏi thương nhớ ai thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ lại trào dâng. Yêu và nhớ là hai mặt của tình yêu, yêu say đắm thì nhớ thiết tha. Đó là nỗi nhớ có không gian trải ra trên nhiều chiều: Khăn rơi xuống đất, Khăn vắt lên vai, Khăn chùi nước mắt và biểu hiện trong mọi suy nghĩ, hành động, khiến cô gái bồn chồn, khắc khoải như đứng đống lửa, như ngồi đống than và rơi nước mắt.
Sáu câu thơ hỏi khăn gồm 24 chữ, thì đã có đến 16 thanh bằng mà hầu hết là thanh không, gợi nỗi thương nhớ người yêu đến cháy lòng của cô gái. Tuy vậy, cô vẫn biết kìm nén dòng cảm xúc đang dâng trào trong tâm hồn.
Xem thêm: Dựa theo lời kể của thầy (cô) và các tranh vẽ đã cho, hãy kể lại từng đoạn truyện “Cây cỏ nước Nam”Nỗi nhớ mở rộng theo không gian và trải dài theo thời gian. Nỗi nhớ được tiếp tục gửi vào ngọn đèn: Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Chừng nào ngọn lửa tình yêu vẫn cháy sáng trong trái tim người con gái thì ngọn đèn kia vẫn sáng thâu đêm. Đèn không tắt hay chính con người đang thao thức thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng? Nếu trên kia, cái khăn đã biết giãi bày, thì ở đây, ngọn đèn cũng biết thổ lộ. Nó nói với chúng ta nhiều điều không có trong lời ca…
Cuối cùng, cô gái hỏi chính đôi mất của mình. Dù kín đáo, gợi cảm bao nhiêu chăng nữa thì cái khăn và ngọn đèn cũng chỉ là những hình ảnh được mượn làm cái cớ để gửi gắm nỗi niềm tâm sự. Đến đây, dường như không kìm lòng được nữa, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình: Mất thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. Nỗi nhớ thương nặng trĩu, cho nên: Đêm nằm lưng chẳng tới giường. Cứ nhắm mắt vào, hình ảnh người thương lại hiện ra, ngủ làm sao cho được! Ở trên là đèn không tắt thì ở đây Mắt ngủ không yên. Hình tượng thơ thật hợp lí, nhất quán và tự nhiên như tình yêu và niềm thương nỗi nhớ của cô gái.
Nếu tâm trạng cô gái trong những câu thơ bốn chữ được diễn tả bằng hình thức gián tiếp thì đến hai câu lục bát cuối cùng nó đã được giãi bày trực tiếp, ở trên, nỗi nhớ còn được che giấu ít nhiều bằng những hình ảnh có tính chất tượng trưng thì đến đây trái tim đã tự thốt lên Iời.
Tâm trạng lo phiền của cô gái cũng xuất phát từ cội nguồn thương nhớ. Cô Lo vì một nỗi không yên một bề. Một nỗi, một bề mà hoá thành rất nhiểu vấn vương, thao thức. Cô gái lo cho chàng trai hay lo rằng chàng trai không yêu thương mình tha thiết như mình đã yêu thương chàng? Đây cũng là tâm trạng phổ biến của những cô gái đang yêu.
Nỗi nhớ được nói đến dồn dập trong 10 câu thơ 4 chữ, chỉ có lời hỏi mả không có lời đáp. Nhưng câu trả lời đã được giản tiếp khẳng định trong năm điệp khúc thương nhớ ai vang mãi không dứt như một niềm khắc khoải để rồi cuối cùng trào ra thành một niềm lo âu thực sự cho hạnh phúc lứa đôi:
Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề…
Tình yêu dù trong sáng, mãnh liệt, lãng mạn bay bổng tới đâu chăng nữa cũng gắn bó với đời thường mà đời thường vốn lại nhiều dâu bể. Bởi thế mà Cô gái nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận đôi lứa không yên một bề. Vì sao vậy? Phải đặt bài ca này vào cuộc sống của người phụ nữ xưa và trong hệ thống của những bài ca than thân về hôn nhân và gia đình thì ta mới thấy hết ý nghĩa của hai câu kết, hạnh phúc lứa đôi của họ thường bấp bênh vì tình yêu tha thiết nhiều khi không dẫn đến hôn nhân. Mặc dầu vậy, bài ca dao vẫn là tiếng hát của một trái tim khao khát yêu thương.. Điều đó khiến cho nỗi nhớ này không hề bi luỵ mà như một nét đẹp trong tâm hồn đáng quý của các cô gái Việt ở làng quê xưa
Xem thêm: Trình bày ý nghĩa tư tưởng của văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" của Nguyễn Khắc Viện | Phân tích bài ca dao Khăn thuơng nhớ ai | 1,130 | |
Phân tích bài ca dao Làng ta phong cảnh hữu tình
Hướng dẫn
“Làng ta phong cảnh hữu tình,
Dân cư giang khúc như hình con long.
Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi.
Vụ năm cho đến vụ mười,
Trong làng ke’ gái người trai đua nghề.
Trời ra: gắng; trời lặn: về.
Ngày ngày, tháng thúng nghiệp nghề truân chuyên…”.
Mở đầu bài ca dao, hai tiếng “làng ta” cất lên sao nghe tha thiết, bồi hồi. Phong cảnh làng ta “hữu tình”, nên thơ và đáng yêu lắm! Vì đó là nơi chôn nhau cắt rốn của ta, nơi mà tâm hồn ta gắn liền với mái nhà êm ấm của mẹ cha, được sống trong tình yêu thương của ông bà, cha mẹ, anh chị em… Làng ta có giếng nước, gốc đa, sân đình, mái trường, con đường đi học và tình bạn tuổi thơ. Niềm vui, nỗi buồn, tình thương, nỗi nhớ, cuộc sống và ước mơ… của mỗi chúng ta gắn bó với “làng ta”,… “Phong cảnh hữu tình” vì làng ta có dòng sông nước chảy êm đềm, đẹp tựa con rồng đang uốn lượn. Một hình ảnh tuyệt đẹp được sáng tạo bằng biện pháp tu từ so sánh-:
“Dân cư giang khúc như hình con long”
Có yêu quê hương tha thiết thì mới cảm nhận “làng ta” đẹp và hữu tình như thế! Lũy tre, mái rạ, vườn tược, cây trái, ruộng đồng… được dòng sông như con rồng chở che, ôm ấp. Hai câu tiếp theo nói lên ước mơ nghìn đời của người dân “làng ta”, của người nông dân Việt Nam:
“Nhờ trời hạ kể sang đông,
Làm nghề cày cấy VUn trồng tốt tươi”
Họ cầu mong mưa thuận gió hòa “chân cứng đá mềm” để “cày cấy vun trồng”, lúa khoai… “tốt tươi”, làm nên những mùa vàng bội thu, no ấm. “Nhờ trời” vói tất cả niềm tin và hi vọng. Lời cầu mong ấy cho thấy tàm hồn người dân què rất hồn hậu, chất phác. Nhiều câu ca dao có hai tiếng “nhờ trời”, bởi lẽ công việc mùa màng phụ thuộc vào thời tiết:
“Nhờ trời mưa thuận gió hòa,
Xem thêm: Viết một đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) nói về tác dụng của cốm (có thể dựa vào văn bản “Một thứ quà của lúa non: "cốm” của Thạch Lam) trong đó có sử dụng ít nhất hai cặp từ đồng nghĩa (gạch chân dưới những từ ấy)Nào cày, nào cấy trẻ già đúa nhau”…
Bốn câu cuối giới thiệu về con người và cuộc sống lao động nơi thôn dã của quê ta. Chiêm, mùa nối vụ, cày bừa cấy hái quanh năm:
“Vụ năm cho đến vụ mười,
Trong làng kẻ gái, người trai đua nghề…”
Câu thơ đăng đối, cân xứng hài hòa: Vụ năm – vụ mười, kẻ gái – người trai, trời ra – trời lặn, gắng – về. Nhịp sống lao động theo nông lịch đã đi vào nền nếp từ bao đời nay. Các động từ: “đua, gắng, về” – diễn tả những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần chịu khó, cần cù, hay lam hay làm, lạc quan… của bà con nông dân “làng ta”. Lao động là niềm vui sáng tạo của họ:
“Trời ra: gắng; trời lặn: về,
Ngày ngày, tháng tháng, nghiệp nghề truân chuyên”
“Truân chuyên”nghĩa là vất vả, khó nhọc. Chữ “ngày” và “tháng” được lặp lại hai lần “ngày ngày, tháng tháng”, đó là một lối nói của người dân quê lấy thời gian để ca ngợi đức tính bền bì dẻo dai, cần mẫn của họ. Chính người dân cày Việt Nam đã đem mồ hôi tưới xuống luống cày mới làm ra lúa gạo, những bát cơm dẻo thơm nuôi sống xã hội và làm cho làng ta ngày thêm trù phú.
“Kẻgái người trai đua nghề”,lo làm ăn vì một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Hình ảnh ấy làm ta liên tưởng đến những bức tranh sinh hoạt của đồng quê:
– “Bao giờ cho đến tháng hai,
Con gái làm cỏ, con trai be bờ…”
– “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”
Hình ảnh làng ta với con sông xanh mang vẻ đẹp bình dị đáng yêu. Con người làng ta chất phác và cần mẫn được nói đến trong bài ca dao tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao mộc mạc trong sáng nói về làng quê Việt Nam. Yêu màu xanh của bờ tre ruộng lúa, tự hào về người dân cày, ta yêu thêm đất nước và con người Việt Nam.
Nguồn: thêm: Trong đoạn kết của truyện ngắn Bến quê, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với vẻ rất khác thường: Anh... đó. Viết đoạn văn ngắn (8 - 10 câu) nêu ý nghĩa hành động trên của nhân vật này | Phân tích bài ca dao Làng ta phong cảnh hữu tình | 833 | |
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau:
Bắc thang lên tận cung mây,
Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời?
Cuội nghe thấy nói, Cuội cười:
Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.
Bài làm
Hình ảnh chú Cuội xuất hiện khá nhiều trong cổ tích, ca dao tục ngữ và trở nên quen thuộc với trẻ thơ. Mỗi năm vào dịp Tết Trung thu, ngắm vầng trăng sáng, hình ảnh chú Cuội ngồi gốc cây đa lại hiển hiện rõ ràng trong trí tưởng tượng của các bạn nhỏ. Bài ca dao dưới đây gợi mở về sự tích đầy hấp dẫn đó:
Bắc thang lên tận cung mây,
Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời?
Cuội nghe thấy nói, Cuội cười:
Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.
Từ một hiện tượng thiên nhiên có thật là các vết sẫm trên mặt trăng nhìn thấy rất rõ trong những đêm trăng sáng; với trí tưởng tượng phong phú, bay bổng, người xưa đã tưởng tượng ra hình ảnh cây đa, chú Cuội và lồng vào đó những câu chuyện thú vị có ý nghĩa giáo dục sâu xa.
Có hai truyện hoàn toàn khác nhau về nhân vật Cuội. Truyện thứ nhất là về chú Cuội chữa bệnh cứu người. Truyện thứ hai là về chú Cuội có tật xấu hay nói dối. Cuội ở truyện thứ nhất làm nghề đốn củi. Một hôm vào rừng, bất ngờ chạm trán với con hổ nhỏ, Cuội lấy búa đập chết nó. Hổ mẹ về, thấy con đã chết liền đến một gốc cây, bứt ít lá nhai nát đắp vào vết thương, hổ con sống lại. Từ chỗ nấp trên cao, Cuội nhìn thấy hết. Đợi mẹ con hổ đã đi xa, chàng bứng cả gốc cây đem về nhà trồng. Từ đó, nhờ lá thuốc thần mà Cuội cải tử hoàn sinh cho nhiều người trong vùng. Phú ông có cô con gái ngã vỡ đầu, Cuội đắp lá nhiều lần mà cô ta vẫn không sống lại. Chàng bèn nghĩ ra cách nặn một bộ óc bằng đất sét thay thế rồi đắp lá thần vào. Cô gái ấy sau thành vợ chàng.
Vợ Cuội khỏe mạnh, xinh đẹp nhưng lại có tính hay quên. Nhiều lần, Cuội đã dặn vợ là không được tưới nước bẩn cho cây nhưng rồi cô ta quên mất, lấy nước giải tưới. Cây rung chuyển dữ dội rồi bật gốc, bay lên trời. Vừa lúc Cuội đi rừng về, chàng vội vàng bám rễ cố lôi xuống nhưng cây đã kéo chàng lên tới tận cung trăng. Từ đó, những đêm trăng sáng, Cuội ngồi dưới gốc đa, đau đáu nhìn xuống trần gian, mong được trở lại.
Còn nhân vật Cuội trong truyện thứ hai là một cậu bé có tật hay nói dối. Đi chăn trâu, Cuội cùng lũ trẻ thịt trâu nướng ăn, còn cái đuôi đem cắm xuống lỗ nẻ rồi báo tin cho chú thím là trâu đã chui xuống đất. Thím tắm ngoài sông, Cuội vờ hớt hải chạy về bảo với chủ rằng thím đã chết đuối khiến chú hoảng kinh. Vì nói dối như thật nên nhiều phen Cuội làm cho xóm làng điên đảo. Thấy mọi người bực bội và tức giận nên Trời đã đày Cuội lên cung trăng, bắt ở một mình để không thể nói dối được nữa.
Ở truyện thứ nhất, chàng Cuội tốt bụng, giàu lòng thương người, phải ngồi gốc đa là vì tính hay quên của vợ. Ở truyện sau, Cuội là người xấu, phải ấp cây cả đời là vì bị trừng phạt cho chừa tật nói dối.
Bài ca dao có cấu trúc như một câu chuyện có đủ bối cảnh, sự kiện, nhân vật và đậm chất hoang đường, kì ảo. Ta hãy tưởng tượng nội dung câu chuyện như sau: Có người hiếu kì đã mất bao công phu Bắc thang lên đến cung mây, để Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời. Nghe người kia hỏi thế, Cuội bật cười, trả lời không giấu điếm: Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.
Xem thêm: Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí)Từ xưa tới nay, người đời ít nói đến cái tốt của nhân vật chú Cuội. Hầu như họ chi đàm tiếu về tật nối dối của cuội. Việc Cuội phải ấp cây cả đời trên cung trăng được giải thích là do tội nói dối không thể tha thứ ấy.
Ca dao xưa thường dùng cách nói cường điệu, phóng đại để diễn tả sự việc. Không có cái thang nào có thể bắc lên tận cung mây được. Đó chi là trí tưởng tượng của người xưa được thể hiện qua cách nói dí dỏm, hài hước mà thôi. Mục đích của việc Bắc thang lên tận cung mây là để: Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời? Hình ảnh Cuội phải ấp cây cả đời gợi sự mỉa mai, hài hước. Từ ấp cây hàm chứa thái độ giễu cợt của mọi người đối với chú Cuội. Cuội phải có tội lớn đến mức nào thì mới bị giam lỏng trên cung trăng. Trước câu hỏi có ý trêu chọc, chế giễu, Cuội không thể không thú thật:
Cuội nghe thấy nói Cuội cười:
Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.
Cái cười và lời đáp của Cuội thể hiện tính cách láu linh, tinh nghịch vốn là bản chất của nhân vật này. Lúc đầu, nghe người ta hỏi, Cuội cũng thoáng chạnh lòng, nhưng vốn dĩ thông minh nên Cuội đã lấy lại được bình tĩnh và trả lời bằng nụ cười tinh nghịch: Bởi hay nói dối phải ngồi gốc cây. Câu thơ này gồm hai vế có quan hệ nguyên nhân – kết quả, thể hiện thái độ không vòng vo, loanh quanh mà bộc trực, thẳng thắn của Cuội. Cuội nhận lỗi ngay, không thanh minh, không đổ lỗi cho ai. Cuội cũng tự nhận thấy việc phải ấp cây cả đời là sự trừng phạt đích đáng cho thói nói dối quá quắt của mình.
Nói dối như Cuội từ lâu đã là thành ngữ quen thuộc của nhân dân mỗi khi nhận xét về một người nào đó nói dối một cách trơn tru, tự nhiên như thật. Dân gian thích đùa cợt với Cuội, không ai ghét Cuội, nhưng cũng ít ai tin… Cuội. Dân gian đã rộng lòng tha thứ cho chú Cuội vì chú biết nhận khuyết điểm. Trẻ em cũng nhìn chú Cuội với con mắt đáng thương hơn là đáng trách. Hình ảnh Cuội phải ấp cây cả đời mãi mãi gây ấn tượng sâu sắc về một con người phạm nhiều khuyết điểm nhưng biết nhận lỗi một cách dũng cảm.
Nói dối là tật xấu khá phổ biến trong xã hội, tuy ở nhiều mức độ khác nhau. Nhưng Đi nói dối cha, về nhà nói dối chú thì nói dối không còn là biện pháp đối phó nhất thời nữa mà đã thành tật xấu khó sửa, thậm chí thành bản chất dối trá. Những kẻ dối trá không có lòng tự trọng, luôn dối người và dối cả mình, để mất niềm tin của mọi người.
Đối với những kẻ nót dối gây thiệt hại tới quyền lợi chính đáng của người khác thì phải có biện pháp xử lí thích đáng. Như chú Cuội đă bị Trời tách biệt khỏi trần gian, bắt ở một mình trên cung Quảng lạnh lẽo, không một bóng người để cho chú ta lừa dối. Hình phạt nặng nề như thế là đúng đắn, triệt tận gốc tật xấu của Cuội, đồng thời là bài học thiết thực nhắc nhở, cảnh tỉnh mọi người.
Nghệ thuật độc đáo của bài ca dao trên là mượn một câu chuyện hoàn toàn hoang đường để nói đến một hiện tượng hoàn toàn có thật trong cuộc sống hằng ngày. Nội dung bài ca dao là lời nhắc nhở: Nói dối là một tật xấu đáng bị chê cười, phê phán vì nó chỉ mang lại tác hại mà thôi. Giáo dục một vấn đề đạo đức quan trọng bằng hình thức hóm hỉnh, nhẹ nhàng như bài ca dao trên là tinh tế, khéo léo, thích hợp không chỉ với tuổi thơ mà cả với người lớn chúng ta.
Xem thêm: Hãy chỉ ra yếu tố thần kì trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và phân tích tác dụng của chúng | Phân tích bài ca dao sau “Bắc thang lên tận cung mây, Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời …” | 1,420 | |
Phân tích bài ca dao Tháng chạp là tháng trồng khoai
Hướng dẫn
“Tháng chạp là tháng trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba càyvỡ ruộng ra,
Tháng tư làm mạ, mưa sa đẩy đồng.
Ai ơi cũng vợ cũng chổng,
Chồng cày vợ cấy, trong lòng vui thay!
Tháng năm gặt hái đã xong,
Nhờ trời một mầu năm nong thóc đẩy.
Nám nong đầy em xay em giã,
Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo.
Sang năm lúa tốt tiền nhiều,
Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng.
Đói no có thiếp có chàng,
Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình”
Bài ca dao gồm có 14 câu viết theo thể thơ lục bát có xen vào một khổ thơ song thất lục bát. Hai lần tác giả chuyển đổi vần thơ (câu 6-7 và câu 12-13), nhưng người đọc vẫn cảm thấy giọng điệu liền mạch, tự nhiên và truyền cảm.
Hình ảnh người phụ nữ nông dân được nói đến trong bài ca dao rất dễ mến. Đó là một người vợ còn khá trẻ, rất đảm đang tháo vát, bàn tính công việc làm ăn với chồng, ước mơ được sống một cuộc đời ấm no, hạnh phúc.
Sáu câu đầu của bài ca dao liệt kê một số công việc đồng áng theo thời vụ. Từ tháng chạp năm trước đến tháng 5 năm sau, mỗi tháng là một công việc đúng mùa vụ. Ta thấy người vợ trẻ này nắm chắc nông lịch và công việc ruộng đồng, thời tiết. Chị đang bàn với chồng về việc trồng khoai, trồng đậu, trồng cà. Các chữ “tháng”, chữ “trồng” được điệp lại ba, bốn lần đã làm cho vần điệu, âm điệu của bài ca phong phú, uyển chuyển, nhịp nhàng như giọng nói dịu dàng của người phu nữ nhà quê hay lam hay làm:
“Tháng chạp là tháng trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà”
Công việc trồng trọt cứ diễn ra tuần tự theo ngày tháng. Một nếp sống dân dã cần cù. Cuối năm, đầu năm, công việc trồng hoa màu cứ nối tiếp diễn ra khắp mọi miền quê đất nước. Tháng chạp khô ráo thì trồng khoai; khoai vừa bén rễ, đón xuân về mà xanh mướt đồng làng, tốt tươi nhiều củ. Mùa xuân đã bao đời nay là mùa sản xuất, là ngày hội xuống đồng của bà con dân cày Việt Nam. Giêng hai, thời tiết ấm áp, người nông dân đã đem công sức mồ hôi gieo trồng cày cấy, đem lại màu xanh biêng biếc, ngọt ngào cho đồng quê. Chứ không phải, không thể: “Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè…”
(Ca dao)
Tiếp theo người vợ trẻ nhắc nhở, bàn bạc với chồng hai công việc quan trọng trong tháng 3, tháng 4 là cày vỡ và gieo mạ trước khi “mưa sa đầy đồng”. Cày vỡ có nơi còn gọi là cày bở để xếp ải đón nắng mới đầu hè, một kinh nghiệm sản xuất quý báu láu đời của nhà nông quê ta, để làm cho đất đai tơi xốp, màu mỡ. Gieo mạ phải đúng thời vụ, phải tránh mưa rào. Gieo mạ gặp mưa rào “mưa sa đầy đồng” xem như mất trắng. Nắm chắc thời tiết, thời vụ để sản xuất, để gieo trồng, cấy hái ' là một kinh nghiệm quý báu được nhà nông đúc kết đã bao đời nay. Người vợ trẻ này thật giỏi giang:
“Tháng ba cày vỡ ruộng ra,
Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng”
Niềm hạnh phúc gia đình là cảnh vợ chồng cùng làm ăn bên nhau “chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa” trên đổng cạn dưới đồng sâu. Đây cũng là nhịp sống lao động sản xuất tấp nập, vui vẻ, thuận hòa của xóm làng, cùa mỗi gia đình khắp chốn quê:
“Ai ai cũng vợ cũng chồng,
Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay!”
Cách dùng từ sóng đôi là một nét nghệ thuật đặc sắc thể hiện trong bài ca này. Các từ sóng đôi như: “cũng vợ cũng chồng”, “chồng cày vợ cấy” đã gợi tả một nhịp sống lao động hài hòa, quấn quýt của những cặp vợ chồng nhà quê đang sống trong niềm vui lao động, thuận hòa, hạnh phúc. Câu cảm thán với bốn tiếng “trong lòng vui thay!” cất lên diễn tả bao vui sướng dào dạt. Hai câu ca dao này nói lên được ba niềm vui bình dị của người dân cày Việt Nam: niềm vui trong lao động sản xuất, niêm vui làm ăn của vợ chồng, niềm vui của mỗi gia đình khắp làng quê. Tấm lòng của người nhà quê mới hồn hậu biết bao! Những con người chân lấm tay bùn làm ra hạt gạo dẻo thơm, củ khoai, hạt đậu ngọt bùi nuôi sống xã hội mới có niềm vui đẹp như vậy. Một văn bản khác ghi:
Xem thêm: Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em“Nhà nhà vợ vợ chồng chồng,
Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa”
Qua đó, ta dễ dàng cảm thấy sắc thái biểu cảm giữa “sá kể sớm trưa” và “trong lòng vui thay!”.
Ba tháng trông cây không bằng một ngày trông quả. Vui sướng biết bao khi đón một vụ chiêm bội thu:
“Tháng năm gặt hái đã xong,
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy”
“Nhờ trời”hay “ơn trời” là cách nghĩ, cách cảm phác thực của người nhà quê xưa nay. “ơn trời mưa nắng phải thì” mà được mùa, xóm thôn no ấm. “Nhờ trời” mưa thuận gió hòa mà đồng điền tốt tươi:
“Nhờ trời hạ kế sang đông,
Làm nghê cày cấy, vun trổng tôt tươi”
“Một mẫu năm nong thóc đầy”cũng như “Một nong tằm là năm nong kén”, là cách tính, cách nói ước lệ của bà con nông dân ngày xưa khi được mùa lúa, mùa tằm.
Khổ thơ song thất lục bát xuất hiện làm cho giọng thơ thay đổi hẳn. Giọng thơ vui, điệu thơ hối hả đã thể hiện thật hay những lo toan về cách làm ăn, những niềm vui tỏa rộng trong lòng của một người vợ đảm đang, hiền thảo rất đáng quý trọng:
“Năm nong đầy/ em xay em giã,
Trấu ủ phân / cám bã nuôi heo.
Sang năm/ lúa tốt/ tiên nhiều,
Em dem đóng thuế ỉ đóng sưu cho chồng”
Một cách làm ăn chu đáo siêng năng: “em xay em giã”. Một nếp sống căn cơ, cần kiệm: “Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo”. Niềm tự hào của người đàn bà nhà quê ngày xưa là có cuộc sống dư dật “lúa tốt tiền nhiều” để trang trải công nợ, sưu thuế cho chồng. Như thế mới mát mặt, mới hãnh diện với chị em trong làng ngoài xã.
Câu “Em đem đóng thuế, đống sưu cho chồng” là một tín hiệu cho biết bài ca dao này ra đời trên miền Bắc nước ta trước cách mạng tháng Tám. Sưu thuế dã man “món nợ nhà nước” ấy là nỗi lo đầy ám ảnh của hàng triệu người phụ nữ nhà quê (như chị Dậu) trong thời Pháp thuộc. Vì thế “lúa tốt tiền nhiều”, được mùa là ước mơ hạnh phúc bao đời của nhà nông quê ta.
Một nét đặc sắc về nghệ thuật trong khổ thơ song thất lục bát là sử dụng thành công nhiều từ ngữ sóng đôi như: “Em xay / em giã”, “lúa tốt / tiền nhiều”, “đóng thuế/ đóng sưu”. Những từ ngữ sóng đôi ấy đã làm cho bài ca dao giàu nhạc điệu, vừa làm nổi bật đức tính tháo vát, đảm đang, đôn hậu của người vợ trẻ, người đàn bà nhà quê ngày xưa.
Hai câu cuối là linh hổn, là điểm sáng của bài ca dao này:
“Đói no có thiếp có chàng,
Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình”
Ngôn từ đã cách điệu hóa, trang trọng hóa: thiếp – chàng, chung đỉnh, giàu sang. Câu ca dao đã nói lên thật ý vị ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ ngày xưa là được sống và làm ăn trong cảnh vợ chồng yên ấm thủy chung. Chung đỉnh là hai vật dụng thời cổ tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. Nhà thơ dân gian đã có một cách nói tương phản, so sánh rất hay. Tương phản về hai cuộc sống vật chất: “đói no” với “chung đỉnh giàu sang”. Tương phản về hai cảnh đời tinh thần: “Có thiếp có chàng” với “một mình” (cô đơn, lẻ loi). Một cách so sánh khẳng định “còn hơn”. Hai câu kết đã thể hiện một quan niệm về hạnh phúc gia đình mộc mạc, bình dị của nhân dân lao động xưa nay.
Ca dao dân ca là điệu tâm hồn của người dân cày Việt Nam từ bao đời nay. Bài ca dao “Tháng chạp là tháng trồng khoai” là điệu ru, tiếng hát đồng quê thể hiện ý vị đời sống lao động, đời sống tâm hồn phác thực, đôn hậu của người phụ nữ nông dân đảm đang, tháo vát, thủy chung trong tình yêu và hạnh phúc gia đình. Nó không phải là một bài ca về nông lịch.
Phép liệt kê và nghệ thuật dùng từ ngữ sóng đôi đã tạo nên vẻ đẹp riêng của bài ca dao này.
Nguồn: thêm: Giới thiệu về loài hoa của làng quê Việt Nam | Phân tích bài ca dao Tháng chạp là tháng trồng khoai | 1,576 | |
Phân tích bài ca dao thương thay thân phận con tằm
Hướng dẫn
“Con tằm”và “lũ kiến” là hai ẩn dụ nói về những thân phận “nhỏ bé” sống âm thầm dưới đáy xã hội cũ. Thật đáng “thương thay”, thương xót cho những kiếp người phải làm đầu tắt mặt tối mà chẳng được ăn, được hưởng một tí gì! Khác nào một kiếp tằm, một kiếp kiến!
“Thương thay thân phận con tằm,
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.
Thương thay lũ kiến li ti,
Kiểm ăn được mấy phải đi tìm mồi”
Kiếp tằm “phải nằm nhả tơ”,kiếp kiến “phải đì tìm mồi”,nhưng “kiếm ăn được mấy”.Điệp ngữ “kiếm ăn được mấy”cất lên hai lần đã tố cáo và phản kháng xã hội cũ bất công, kẻ thì “ngồi mát hưởng bát vàng”, “kẻ ăn không hết, người lấn không ra”.
Hạc, chim, con cuốc,là ba ẩn dụ nói về những thân phận, số phận nếm trải nhiều bi kịch cuộc đời. “Hạc” muốn tìm đến mọi chân trời, muốn “lánh đường mây” để thỏa chí tự do, phiêu bạt. “Chim” muốn bay cao, bay xa, tung hoành giữa bầu trời, nhưng chỉ “mỏi cánh” mà thôi. Đó là những cuộc đời phiêu bạt, những cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ, thật “thương thay” thật đáng thương!
“Thương thay hạc lánh đường mây,
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi”
Thân phận con cuốc càng đáng “thương thay”! Nó đã “kêu ra máu” giữa trời mà “cố người nào nghe”, nào có được cảm thông, được san sẻ. “Con cuốc” trong văn cảnh này biểu hiện cho nỗi oan trái, cho nỗi đau khổ của nhân dân lao động không được lẽ công bằng nào soi tỏ. Càng kêu máu càng chảy, càng đau khổ tuyệt vọng:
“Thương thay con cuốc giữa trời,
Dầu kêu ra máu cố người nào nghe”
Ngoài cách sử dụng điệp ngữ và ẩn dụ, những câu hát than thân này còn được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ: “kiếm ăn được mấy”, “biết ngày nào thôi”, “có người nào nghe”. Giá trị phản kháng và tố cáo càng trở nên sâu sắc, mạnh mẽ.
Nguồn: thêm: Cảm nhận về bài tùy bút ‘Mùa xuân của tôi’ của Vũ Bằng | Phân tích bài ca dao Thương thay thân phận con tằm | 375 | |
Phân tích bài ca dao Trâu ơi ta bảo trâu này
Hướng dẫn
“Trâu ơi, ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì cồn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”
Đây là lời an ủi, vỗ về của người nông dân với tất cả tấm lòng yêu thương, quý mến và biết ơn sâu sắc đối với con trâu của gia đình mình.
Mở đầu bài ca dao là tiếng gọi trâu trìu mến. Hai tiếng cảm thán “Trâu ơi” vang, lên tha thiết ngọt ngào. Mối quan hệ giữa người với trâu là “bạn bè”, bình đẳng và cảm thông. Công việc đồng áng tuy vất vả, nhưng vốn cần cù nên người nông dân không ngại những công việc chân lấm tay bùn mà còn phấn khởi làm ăn. Đã yêu lao động, yêu quý nghề nông, nên đối với công cụ sản xuất, đối với con trâu, người nông dân cũng biểu lộ tất cả sự chăm sóc, trìu mến của họ. Con trâu là cánh tay đắc lực của nhà nông, đồng cam cộng khổ với nhau, tin cậy “trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”. Nếu thay chữ “với” bằng chữ “cho” (trâu cày cho ta) thì mối quan hệ thân tình sẽ bị phá vỡ, đâu còn nữa! Trâu với người cùng chung chịu gian truân, thức khuya dậy sớm một nắng hai sương. “Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày tay dắt con trâu…”; “Trên đồng cạn dưới đồng sâu, Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Và những buổi cày đồng dưới ánh nắng chang chang mùa hạ, trâu với người “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”. “Trâu cày với ta” động viên, vỗ về, tin cậy.
Cấy cày là công việc nhà nông, là “nghiệp nông gia”. Chữ “vốn” gợi nên sự lâu đời của một nền nông nghiệp. Dân ta vốn có nghề trồng lúa nước lâu đời.
Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí MinhCon trâu đa được thuần dưỡng, trở thành vật nuôi trong gia đình, đứng đầu hàng lục súc. Con trâu là tài sản quý giá. “Con trâu là đầu cơ nghiệp”.Trâu đã giúp nhà nông cấy cày làm nên những hạt gạo trắng thơm, những mùa vàng bát ngát “ta đây trâu đấy, ai mà quản cóng”.Như một câu ca đã lưu truyền:
“Cánh đổng ta năm đôi ba vụ.
Trâu với người vất vả quanh năm”
Vất vả quanh năm như thế, nhưng người với trâu chia sẻ ngọt bùi, luôn luôn bên nhau “ta đây trâu đấy”nên chẳng bao giờ “ai mà quản công”.Người chăm sóc nuôi nấng trâu. Trâu giúp người cày bừa. Tình bạn, tình thương đã được hình thành qua mấy nghìn năm dằng dặc.
Hai càu cuối, như một lời nguyên, rất chân thành cảm động, chứa chan tình nghĩa thủy chung:
. “Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”
Ý thơ đăng đối: lúa còn thì cò còn, người được hạnh phúc, ấm no thì trâu cũng được no ấm. Người và trâu cùng trường tồn bên nhau. Cấu trúc vần thơ “Bao giờ còn… thì còn…”, ý thơ được nhấn mạnh, lời thề nguyền trở nên sắt đá. Chân lí cuộc sống và chân lí nghệ thuật hòa quyện trong một lời thề nguyền đẹp. Có tâm hồn chất phác, hồn hậu, có tinh nghĩa thủy chung mới có cách ứng xử đẹp như vậy.
Nói về bài ca dao này, nhà văn Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt hỉ am”đã viết: “Tình cảm của người nông dân Việt Nam đối với con trâu thật là thắm thiết”(…). Lòng yêu quý công cụ, yêu thương loài vật thể hiện trong một chữ “ai”bình đẳng và thõng cảm…”.
Bài ca dao chứa chan tình nghĩa. Nó phản ánh tấm lòng đôn hậu, hiền lành và chất phác của người dân cày Việt Nam. Trên đồng ruộng quê ta đã mấy ngàn năn chưa bao giờ vắng bóng con trâu. Có thể một ngày mai tươi đẹp ca hát, nền nông nghiệp Việt Nam được cơ giới hóa, nhưng con trâu vẫn có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trong tâm hồn nhân dân ta.
Nguồn: thêm: Phân tích nhân vật Quan phụ mẫu tong chuyện Sống chết mặc bay | Phân tích bài ca dao Trâu ơi ta bảo trâu này | 745 | |
Phân tích bài ca dao Trăm năm đành lỗi hẹn hò, cây đa bến cũ con đà khác đưa
Hướng dẫn
Bài ca dao đã nói lên toàn bộ một câu chuyện tình đẹp nhưng kết thúc không có hậu. Trong kho tàng văn học Việt Nam, những tác phẩm ca dao dân ca thường dễ nhớ, dễ đi vào lòng người, bởi nó gắn liền với cuộc sống chân thực của con người, nó là những tình cảm lứa đôi cao đẹp trong sáng.
Bài ca dao đã miêu tả lại khung cảnh mà nhân vật trữ tình đã từng gắn bó, đã từng thiết tha, không thể là nơi nào khác ngoài mảnh đất miền Trung với những phương ngữ rất dễ nhận biết như: từ “còn lựa” nghĩa là “còn đó” và “mô” nghĩa là “đâu”.
Bài ca dao đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng để nói lên vẻ đẹp trong câu chuyện tình của đôi trái gái, và cũng là nỗi buồn khi đôi trai gái phải xa nhau. Những loại ẩn dụ này đã trở nên quá quen thuộc trong dân ca Việt Nam khiến nó trở nên những hình ảnh ước lệ rất tượng trưng mà người đọc khi nghe nhắc tới chứng đều liên tưởng được ngay một cuộc tình giữa trai và gái. Con thuyền có nét nghĩa chỉ sự đi lại tự do và vì thế mà chủ động, thường là hình ảnh nói về chàng trai và “cây đa”, “bến nước” là những vật đứng yên, không chủ động được trong tình cảm, lại thường nói về người phụ nữ. Có lẽ do quan hệ tế nhị về giới tính và cũng do chế độ hôn nhân phong kiến đã hình thành một nếp liên tưởng tự nhiên có từ lâu đời trong văn học thế này rồi chăng?
Có rất nhiều bài ca dao nói về tình yêu, phần lớn đếu là những câu chuyện buồn, phải xa cách.Xem thêm: Phân tích tứ thơ độc đáo trong bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu
Thuyền ơi có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ, khăng khăng đợi thuyền
Cũng một ý tương tự như trên, cô gái ví mình là:
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa củng chờ
So với bài ca dao trên, những hình ảnh truyền thống vẫn không hề thay đổi, cũng “cây đa”, “bến cũ”, cũng là “con đò”… Nhưng nhân vật trữ tình thì lại khác. Không phải là cô gái mà là lời của chàng trai. Nói đúng hơn là lời của người trai. Bởi trong quá khứ, chàng đã rời xứ sở ra đi và nay trở về, mới thốt ra được những câu tuyệt diệu để ngụ tâm tình của mình:
Ngẩn ngơ trăm mối bên lòng
Chàng trai đang tâm sự với chính minh mà thôi, đang buồn đau cho mối tình của mình. Con người của hôm nay gặp lại con người của quá khứ, gặp lại những vàng son của kỉ niệm đã qua rồi là “cây đa, bến cũ, con đò”. Ba hình ảnh ấy tượng trưng, là ẩn dụ, gần như không cần bàn cãi. Nhưng liệu đó có phải là ba hình ảnh có thực, đang hiện ra trước mắt người là về bến sông chờ một chuyến dò sang để thăm lại quê nhà, thăm lại dấu tích cũ? Trăm năm đành lỗi hẹn hò.
Thực tế xã hội xưa cho thấy, việc bội thề không tính trước có thể xảy ra thường xuyên với những cặp trai gái yêu nhau lắm chứ? Những chuyến đi xa không hẹn ngày trở lại (có lẽ là vì mục đích của miếng ăn và cuộc sống giày vò) đã cắt đứt thê thẳm những cuộc tình duyên như thế. Ta đã từng nghe cái ngậm ngùi nói những lời chia tay “Anh đi anh nhớ quê nhà”, và ta cũng đã đọc được những lời thảng thốt của chàng trai khi trở về:Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng nghiện game online
Ngày đi, em chửa có chồng
Ngày về, em đã tay bỗng tay mang.
Đọc bài thơ, người đọc có thể cảm nhận thấy chàng trai của bài ca dao mà chúng ta đang đọc đã “đành” ngậm ngùi phải xa quê để lỡ cuộc trăm năm. Cuộc ra đi ấy dường như là bắt buộc, cho nên “đành” có lỗi với tình yêu, “đành” có lỗi với những cuộc hẹn hò, mà hơn một lần, cả anh cả ả đã thề thốt trăm năm! Câu ca dao mở đầu với từ “đành” nghiệt ngã đã gợi trong ta một nỗi đau xoáy sâu, một nỗi đau không cần phải bọc kín, nó trần trụi buốt nhói trong tim của chàng trai.
Trong tâm trạng cùng cực ấy, chàng trai đã tìm về kỉ niệm để khuây khoả chút lòng, cây đa ấy đã một lần che bóng mát cho đôi ta, bến cũ ấy đã lần nào em và anh khỏa chân soi bóng mình trên mặt nước. Tất cả vẫn như xưa: “Cây đa bến cũ” nhưng “Con đò khác đưa” “Con đò khác” cũng làm cho “cây đa bến cũ” trở nên khác mất rồi. Mà khác là đúng lắm. Ai dừng lại bước chân của thời gian được? Chàng trai muốn giữ nguyên tất cả kỉ niệm như chàng Kim muốn nhờ rêu phong gởi dấu hài của Kiều nhưng thực tế là đã “khác” xưa.
Những kỉ niệm bắt đầu ào về theo dòng suy tưởng của chàng trai như một nhát cắt rất nhẹ và rất sâu, chặn đứng những hồi ức về quá khứ để mở ra một sự thật. Sự thật đó cần phải được khẳng định lại:
Cây đa bến cũ còn lưa
Vâng, cây đa bến cũ – những kỉ niệm ngày xưa vẫn còn đó. Thế nhưng “con đò khác” đã thay “con đò xưa”.
Câu thơ cuối, mở vết thương quá khứ ra sâu hơn, rộng hơn:Xem thêm: Phân tích hào khí Đông A qua bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão và phân tích ý nghĩa của nỗi “thẹn” trong bài thơ
Con đò năm ngoái, năm xưa mô rồi?…
“Năm ngoái” – thời gian mới đây, khi trở về, cô gái vẫn là của chàng đấy ư? Tại sao cái “năm xưa” lại được chỉ đặt ra ở sau câu thơ, gây ra một nỗi buồn hun hút?
Bài ca dao bàng bạc một nỗi buồn hoài niệm. Chính cái phi lôgic trong việc sắp xếp thứ tự của “năm ngoái” và “năm xưa” cho phép ta nghĩ rằng: “Năm ngoái” chỉ là một giả định, một tưởng tượng chủ quan. Sự thật là “người xưa” đã có khi nào chàng đã gặp lại bao giờ?
Câu thơ cuối cùng kết thúc, nhưng dư âm của nó thì cứ âm thầm lan tỏa trong lòng ta một nỗi đau rưng lệ. Một hoài cổ nhớ thương về tình yêu đã mất. Chung quy chỉ vì mình đang phải biệt li xa quê… Lí do không cụ thể nhưng ta cũng hiểu được hoàn cảnh thật là phụ bạc mới có thể chịu lìa lứa đôi. Trong xã hội cũ, những tình yêu chân thật có bao giờ được hưởng trọn vẹn một hạnh phúc đích thực? Tinh yêu “thiêng liêng là thế nhưng không thành tình yêu” chỉ vì một yếu tố khách quan mà “Tình sâu nghĩa nặng hóa mỏng manh”. Cô gái vì chờ đợi chàng trai quá lâu mà phải lên chuyến đò khác, đành chấp nhận cái tiếng là phụ bac người yêu.
Bài ca dao có ý nghĩa thật sâu sắc, nói lên sự trớ trêu, bất hạnh của những cô gái những chàng trai bị chia lìa đôi lứa. Vì hoàn cảnh xã hội mà những cặp uyên ương phải rời xa nhau. Bài ca dao là tiếng nói là lời tâm tình của những cô gái những chàng trai yêu nhau mà không đến được với nhau, phải rời xa nhau trong nỗi nhớ nhung buồn khổ.
Nguồn: | Phân tích bài ca dao Trăm năm đành lỗi hẹn hò, cây đa bến cũ con đà khác đưa | 1,341 | |
Phân tích bài ca dao đường vô xứ Huế quanh quanh
Hướng dẫn
Bài ca dao ba câu lục bát, dừng lại ở câu lục, một hiện tượng độc đáo, ít thấy trong thơ ca dân gian:
“Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Huế thì vô…”
Có nhiều người cho rằng bài ca dao này nói về cảnh đẹp xứ Huế. Chưa đầy đủ. Không gian địa lí và không gian nghệ thuật được nói trong bài ca dao rộng lớn hơn nhiều.
Câu thứ nhất nói về “đường vô xứ Huê”, đó là con đường rất dài phải qua chí ít sáu tỉnh miền Trung (từ Bắc đi vào): Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Hai chữ “quanh quanh” gợi tả sự uốn lượn, khúc khuỷu, hiểm trở, gập ghềnh xa xôi. Ngày xưa vô Huế phải vượt qua “Hoành Sơn nhất đái” (một dải Hoành Sơn), phải vượt qua bao sông suối, núi đèo; sông Mã, sông Lam, sông La, sông Gianh, sông Thạch Hãn… đến sông Hương núi Ngự. Phải qua núi Hồng Lĩnh, đèo Ngang, lũy Thầy, truông Nhà Hồ, phá Tam Giang…
Hồng Sơn cao ngất mấy tầng,
Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu!
(Nguyễn Du)
“Yêu em anh cũng muốn vô,
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
(Ca dao)
Câu thứ hai nêu lên một ấn tượng khái quát về cảnh sắc thiên nhiên trên “đường vô xứ Huê”. “Non xanh nước biếc” vừa là thành ngữ vừa là hình ảnh rất đẹp, có màu “xanh” bất tận của non, có màu “biếc” mê hồn của nước. Đó là cảnh sông núi tráng lệ, hùng vĩ, hữu tình, nên thơ… “Non xanh nước biếc” ấy lại được so sánh “như tranh họa đồ” gợi lên trong lòng người niềm tự hào về giang sơn gấm vóc, về què hương đất nước kì thú, xinh đẹp, mến yêu.
' Câu cuối là lời chào mời chân tình, như một tiếng lòng vẫy gọi: “Ai vô xứ Huế thì vô“… Vô xứ Nghệ hay vô xứ Huế là đến với một miên quê rất đẹp, rất đáng yêu có “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Bởi thế, nhà thơ Huy Cận mới viết:
… “Ai đi vô nơi đây
Xin dừng chân xứ Nghệ
Ai đi ra nơi này
Xin chân dừng xứ Nghệ.
Nghe câu hò ví giặm Càng lắng lại càng sâu Như sông La chảy chậm Đọng bao thuở vui sầu”
(“Gởi bạn người Nghệ Tĩnh”)
Bài ca dao “Đường vô xứ Huế quanh quanh” đích thực là một viên ngọc trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam. Nó là bài ca về tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương đất nước. Hình tượng mĩ lệ, vần điệu nhạc điệu du dương. Ba chữ "vớ“ rất mộc mạc đậm đà. vần chân, vần lưng, điệp thanh phối hợp hài hòa: “quanh quanh – xanh – tranh”, “vô – dồ – vô – vô“, gợi lên sự ân cần tha thiết. “Ai” là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, nhưng người đọc, dù quê hương ở đâu vẫn cảm thấy mình đang được mời gọi.
Nguồn: thêm: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện Vợ nhặt | Phân tích bài ca dao Đường vô xứ Huế quanh quanh | 543 | |
Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng
Hướng dẫn
Ca dao dân ca Việt Nam vô cùng phong phú và sâu sốc, đằm thắm và mượt mà biết bao! Nó là tiếng hát tâm tình nơi bờ xôi ruộng mật, lưu truyền trong dângian, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta từ bao đời nay. Có những khúc hát ru chứa chan tình yêu thương, ngọt ngào, tha thiết. Có bài ca nói về đất nước quê hương, với nương dâu, ruộng lúa, với hình ảnh người dân quê hiền hậu, cần cù hay lam hay làm đáng yêu. Cánh cò “bay lả bay la”, đầm sen “lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”. Có tiếng “nghé ọ” và con trâu hiển lành gặm cỏ trên đồng xanh, có cô thôn nữ tát nước “múc ánh trăng vàng đổ đi”,… Tất cả như đem đến cho lòng người gần xa bao niềm thương nỗi nhớ…
Đọc ca dao dân ca, sao mà ta thấy thích thú lạ về câu hát nói về cánh đồng lúa quê hương và hình ảnh cô thôn nữ đứng giữa đồng quê một sớm mai hồng rạng rỡ:
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh móng bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
Thản em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”.
1. Ca dao thường được diễn đạt bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài này, nhà thơ dân gian đã sử dụng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ rất độc đáo.
Cô thôn nữ không vịnh cảnh đề thơ, mà chỉ nói lên những ý nghĩ, cảm xúc hồn nhiên, tự nhiên của lòng mình khi vác cuốc ra thăm đồng sung sướng ngắm nhìn cánh đồng thân thuộc, thẳng cánh cò bay của làng mình:
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông”.
“Ngó”gần nghĩa với nhìn, trông, ngắm… Từ “ngó” trong vàn cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn, một cách quan sát kĩ càng, một lối nói dân dã mộc mạc, bình dị mà đậm đà. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng”, dù quan sát ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng quê hương. Hai chữ “bên ni” và “bên tê” vốn là ngôn ngữ miền Trung (tiếng địa phương Nghệ Tĩnh) dùng để trỏ vị trí bên này, bên kia, được đứa vào bài ca dao gợi lên tính chất mộc mạc, chất phác của một tình quê hồn hậu. Nghệ thuật đảo từ ngữ “mênh mông bát ngát” rồi lại “bát ngát mênh mông” thể hiện một bút pháp điêu luyện trong việc miêu tả cánh đồng làng quê rộng bao la bát ngát một màu xanh, xa trông hút tầm mắt chẳng thấy đâu là bến bờ. Có yêu quê hương tha thiết, mới có cái nhìn đẹp, cách nói say mê đậm đà thế!
Hai câu đầu bài ca dao dược cấu trúc đăng đối song hành, làm hiện lên trước mắt chúng ta một cảnh đẹp: cánh đồng bao la, trù phú của quê nhà, rất thân thuộc với mỗi con người Việt Nam chúng ta như nhà thơ Hoàng Cầm đã viết:
“Xanh xanh bãi mía hờ dâu
Ngô khoai biêng biếc
(…) Quê hương ta lúa nếp thơm nồng”…
(“Bên kia sông Đuống”)
Xem thêm: Cảm nhận về một nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam - Lòng yêu nước qua bài: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Bằng tấm lòng yêu mến tự hào nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mảnh đất thương yêu thân thiết mà từ bao đời nay tổ tiên ông bà con cháu, từ thế hệ này qua thế hệ khác đã đem mồ hôi, xương máu để bồi đắp và gìn giữ, nên nhà thơ dân gian mới có thể viết được những lời ca mộc mạc mà đằm thắm nghĩa tình, làm xao xuyến lòng ta như vậy!
2. Hai câu cuối là hình ảnh cô thôn nữ ra thăm đồng. Niềm vui sướng trào dâng. Cô không ví mình với “hạt mưa sa”, với “tấm lụa đào” như có người con gái đã nói về thân phận mình. Trái lại, cô đã lấy “chẽn lúa đòng đòng” để so sánh với cuộc đời đẹp tươi, nhiều mơ ước của mình. “Chẽn lúa” còn gọi là dảnh lúa, một bộ phận của khóm lúa. Hình ảnh “chẽn lúa đòng đòng” thể hiện sự phát triển trưởng thành sinh sôi nảy nở, hứa hẹn một mùa vàng bội thu sây hạt trĩu bông. Có lúa thì con gái rồi mới có “chẽn lúa đòng đòng”. Câu ca dao “Thân em như chẽn lúa đòng đòng” gợi tả một vẻ đẹp xinh tươi duyên dáng, một sức lực căng tràn. Đây là một hình ảnh khỏe khoắn, trẻ trung và hồn nhiên yêu đời của cô thôn nữ được nói đến trong tiếng hát lời ca sau bờ dâu ruộng lúa.
Trên cái nền xanh của cánh đồng, trong hương thơm ngào ngạt của lúa đòng đòng, dưới ánh hồng bình minh rực rỡ, trong làn gió mát rượi, ta thấy hiện lên bức chân dung cô thôn nữ thật đáng yêu vô cùng:
“Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”.
“Phất phơ”nghĩa là nhẹ nhàng đung đưa, uốn lượn… Chẽn lúa đòng đòng “phất phơ” bay nhẹ trước làn gió trên đồng nội vào một buổi sớm mai hồng thơ mộng. Thiếu nữ hân hoan sung sướng thấy hồn mình phơi phới hướng về một ngày mai hạnh phúc như “chẽn lúa đòng đòng” đang “phất phơ” dưới ánh bình minh.
Tại sao nhà thơ đồng quê lại dùng hình ảnh “ngọn nắng”? Có thể dùng hình ảnh làn nắng, tia nắng thì ý câu cao dao vẫn đúng. Nhưng “ngọn nắng” hay hơn, sát nghĩa hơn. Vì đó là tia nắng, làn nắng đầu tiên của một ngày đẹp trời, ánh hồng ban mai đang tụ hội và rập rờn trên ngọn lúa xanh. Trong bài thơ “Mùa xuân chín” thi sĩ Hàn Mặc Tử viết:
“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”
Và nhà thơ Đoàn Văn Cừ trong bài “Chợ tết” cũng đã viết:
“Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nhảy hoài trong ruộng lúa”
Qua đó, ta càng thấy rõ tính chính xác, tính hình tượng, tính biểu cảm là những đặc trưng cơ bản nhất tạo nên giá trị nghệ thuật của ngôn từ thơ ca.
Bài ca dao “Đứng bên ni đồng…” là một bài ca dao trữ tình đặc sắc đã ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước qua hình ảnh cánh đồng lúa bát ngát mênh mông va vẻ đẹp duyên dáng, tươi trẻ, cần mẫn và yêu đời của nàng thiếu nữ làng quê Việt Nam.
Bài ca dao được sáng tạo nên bằng bút pháp nghệ thuật độc đáo. Cách dùng từ chính xác, gợi cảm. Biện pháp tu từ so sánh, phép song hành đối xứng, cách đảo từ ngữ và sử dụng tiếng địa phương đã làm cho ý tưởng, lời ca đậm đà, ý vị. Có thể coi nó là một “viên ngọc quý” trong kho tàng thơ ca dân gian Việt Nam.
Học bài ca dao này, ta thấy tâm hồn mình thêm gắn bó, yêu thương quê hương đất nước, biết quý trọng và biết ơn những người nông dân vất vả dãi nắng dầm mưa để làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm
Nguồn: thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh | Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng | 1,336 | |
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau:
Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng,
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quá hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười,
Con gà be rượu nuốt người lao đao.
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn cỏ lác rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi đánh diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông
Bai làm
Trong văn học dân gian có một thể loại khá đặc biệt là đồng dao. Thực ra, đồng dao cũng là ca dao nhưng thường sáng tác cho trẻ con đọc hoặc hát khi chăn trâu cắt cỏ trên cánh đồng hoặc lúc vui chơi trên bờ đê, ngõ xóm. Bản sắc đồng dao gần gũi với ngụ ngôn, có phong vị của thơ trào phúng, kết hợp với chất trữ tình ngọt ngào vốn có của ca dao, rất phù hợp với tính hồn nhiên, ham hiểu biết của trẻ thơ. Đồng dao có đề tài muôn hình muôn vẻ.
Phạm vi miêu tả của nó rất rộng: từ cây cỏ, loài vật đến sinh hoạt xã hội, các trò chơi con trẻ v.v… Nó mở ra trước mắt trẻ em cả một thế giới rộng lớn. Chủ đề đồng dao thường diễn tả tinh thần lạc quan yêu đời, đồng thời ẩn chứa triết lí về nhân sinh quan, thế giới quan của nhân dân lao động trong xã hội phong kiến ngày xưa. Bài đồng dao dưới đây là bức tranh phong phú về thế giới tự nhiên và cuộc sống của con người:
Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng,
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quá hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười,
Con gà be rượu nuốt người lao đao.
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn cỏ lác rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi đánh diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đầu bồ nông
Những hiện tượng mà bài đồng dao miêu tả toàn là ngược đời, chẳng bao giờ xảy ra trọng thực tế. Qua đó, tác giả chế giễu những hiện tượng phi lí trong xã hội, đồng thời đề cập tới sự xoay vần muôn màu muôn vẻ của thế giới tự nhiên và cuộc sống của con người.
Kết cấu của bài đồng dao này là kiểu kết cấu trùng điệp, đề cập tới rất nhiều nhân vật với nhiều sự kiện thú vị, hấp dẫn. Mở đầu lả một câu hỏi mang tính ước lệ: Bao giờ cho đến tháng ba?Đọc toàn bộ bài đồng dao, ta thấy rất nhiều hiện tượng trong bài không gắn với tháng ba. Chẳng hạn, tháng ba chưa có hồng, chưa có cào cào, v.v… Mặt khác, nếu các hiện tượng như Nắm xôi nuốt trẻ lên mười, Con gà be rượu nuốt người lao đao là có thật thì nó xảy ra quanh năm chứ chẳng cứ gì tháng ba mới có.
Những hiện tượng được miêu tả trong bài đồng dao này nếu nói xuôi thì chẳng có gì để nói. Nói ngược mới có chuyện, chuyện cuộc đời cũng như chuyện nghệ thuật. Cách nói ngược này rất phổ biến trong hò vè, ca dao, chẳng hạn nói ngược trong vè: Lên núi đặt lờ, xuống sông bổ củi; nói ngược trong ca dao ; Bao giờ chạch đẻ ngọn đa, Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình, Bao giờ rau diếp làm đình, Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta…
Trong toàn bộ mười một câu tiếp theo của bài đồng dao, các tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật nói ngược làm phương tiện nghệ thuật chủ đạo nhằm lôi cuốn sự chú ý qua người nghe và khắc sâu kiến thức muốn truyền đạt; qua đó kín đáo gửi gắm suy nghĩ và tình cảm của mình.
Tháng ba là thời gian cuối xuân, đầu hạ với những cơn mưa rào, báo hiệu sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Ở đây, tháng ba mang tính chất ước lệ, tượng trưng cho khao khát đổi thay trong cuộc sống của con người. Câu hỏi tu từ mở đẩu bài đồng dao thể hiện khao khát, mong mỏi ấy:
Bao giờ cho đến tháng ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Ếch là con vật bé nhỏ thựờng sống quẩn quanh ở góc ao, vũng nước; còn rắn là con vật có nọc độc nguy hiểm, kẻ thù xưa nay của ếch. Tháng ba đến tức là cơ hội vừa đến. Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng, thật bất ngờ và hả hê, thỏa mãn vì ếch đã trả được mổi thù truyền kiếp.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Phản Chiêu Hồn.Lợn là con vật hiền lành, chỉ sống loanh quanh trong vườn, trong chuồng, là mồi ngon của con hùm to lớn, hung dữ. Vậy mà giờ đây, hùm lại ngoan ngoãn nằm im cho lợn liếm lông. Quả là chuyện lạ, chuyện thay bậc đổi ngôi!
Tiếp theo, bài đồng dạo chuyển sang đề tài sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày:
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười,
Con gà be rượu nuốt người lao đao.
Những quả hồng xinh xắn, đỏ tươi, chín mọng thường thấy trong dịp Tết Trung thu là món quà quý giá mà con cháu trân trọng dâng lên để mừng thọ lão tám mươi. Nắm xôi là món quà thơm ngon hằng ngày rất được ưa thích của trẻ lên mười. Hình ảnh nắm xôi và trẻ lên mười thật xinh xắn, nhỏ bé, dễ thương, dễ mến!
Nhưng cuộc sống đâu chỉ có toàn chuyện vui, chuyện đáng yêu mà bên cạnh đấy còn có những chuyện đáng trách, đáng ghét nữa. Đó là hình ảnh người uống rượu đến mức say nhè mà bài đồng dao gọi là người lao đao. Hình ảnh người say ngật ngưỡng, chệnh choạng, đi không vững sau khi nhắm hết con gà, be rượu thật là đáng cười. Những lúc đó thì đúng là rượu nuốt người, chứ đâu phải người nuốt rượu nữa. Từ xưa, đồng dao đã giễu cợt, châm biếm tệ nghiện rượu, một thói xấu chỉ đem lại tác hại cho cuộc sống con người.
Ở đoạn cuối của bài đồng dao, tác giả tiếp tục dẫn dắt các em nhỏ đến với thế giới sinh động của các loài vật và cây cỏ. Nghệ thuật nói ngược làm cho việc miêu tả thêm ấn tượng và hiệu quả:
Lươn nằm cho trúm bò vào,
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô.
Lúa mạ nhảy lên ăn bò,
Cỏ năn cỏ lác rình mò bắt trâu.
Gà con đuổi đánh diều hâu,
Chim ri đuổi đánh vỡ đẩu bồ nông.
Trong cuộc sống thường ngày, mọi việc diễn ra ngược lại như vậy: trũm được dùng để bắt lươn, cá rô bắt cào cào, bò ăn lúa mạ, trâu ăn cỏ năn, cỏ lác, diều hâu bắt gà con và bồ nông đuổi đánh chim ri… Nhưng với cái nhìn hài hước, hóm hỉnh, mọi trật tự của thiên nhiên có sự đảo lộn. Các động từ đuổi bắt, nhảy lên, rình mò, đuổi đánh vỡ đầu thật sinh động, ngộ nghĩnh, có khả năng miêu tả và biểu cảm kì lạ.
Như trên đã nói, nghệ thuật miêu tả của bài đồng dao vô cùng độc đáo. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thủ pháp nội ngược, yếu tố thậm xưng, ước lệ với giọng điệu hài hước, dí dỏm. Nếu chúng ta lược bỏ giọng điệu chế giễu những hiện tượng phi lí ngược đời thì bài đồng dao là bức tranh sinh động về con người và cuộc sống, nhằm mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản về cỏ cây (quả hồng, lúa mạ, cỏ năn, cỏ lác), về loài vật (cá rô, con gà, con lươn, cào cào, chim ri, con bò, con trâu, diều hâu, con hùm, con ếch, bồ nông), về đồ vật, sự vật (nắm xôi be rượu) và về con người (lão tám mươi, trẻ lên mười, người lao đao…). Đó là những kiến thức đầu đời quý giá giúp cho trẻ em làm quen, tìm hiểu, khám phá, tiếp cận dần dần với thế giới tự nhiên phong phú và xã hội con người phức tạp. Cách nói ngược gây ấn tượng và lôi cuốn sự chú ý, tạo sức hấp dẫn, gợi trí tò mò, giúp các em dễ thuộc lòng bài đồng dao để từ đó quan tâm tìm hiểu, suy nghĩ về thế giới xung quanh.
Ngày nay ở nông thôn, mỗi khi cùng nhau vui chơi, nhảy múa, trẻ em vẫn hát đồng dao để làm cho không khí càng thêm hào hứng, sôi động. Có thể ý nghĩa sâu xa, thâm thúy của bài đồng dao này con trẻ chưa hiểu hết, nhưng lời hát, nhịp điệu và trò chơi đi kèm bài đồng dao thì các em đón nhận một cách dễ dàng. Rồi sau này lớn lên, các em sẽ suy ngẫm ra ý tứ sâu xa của bài đồng dao mà lúc còn bé các em đã từng say mê, yêu thích và càng thương yêu thêm chốn quê nghèo, nơi minh đã sinh ra và lớn lên.
Cũng như nhiều bài đồng dao khác, bài đồng dao bao giờ cho đến tháng ba… mãi mãi hấp dẫn người lớn và trẻ em. Nó gợi mở những hiểu biết, suy nghĩ về thiên nhiên, về thế giới động vật, về con người, về khao khát ước mơ công lí, ước mơ hạnh phúc. Sức sống của đồng dao có thể ví như một dòng suối trong veo, cứ róc rách tuôn chảy mà không bao giờ khô cạn.
Xem thêm: Sự phát triển các mâu thuẫn trong truyện Tấm Cám? Ý nghĩa | Phân tích bài ca dao “Bao giờ cho đến tháng ba, ếch cắn cố rắn tha ra ngoài đồng…” | 1,670 | |
Phân tích bài ca dao “Công cha như núi ngất trời”
Hướng dẫn
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”
Câu thứ nhất nói về “công cha”. Công cha đã từng được so sánh với núi Thái Sơn; ờ đây công cha lại được ví với “núi ngất trời”, núi hùng vĩ, núi cao chót vót. cao đến mấy tầng mây xanh, núi chọc trời. Câu thứ hai nói về “nghĩa me”- nghĩa mẹ bao la, mênh mông, không thể nào kể xiết. Nghĩa mẹ được so sánh với "như nước ở ngoài biển Đông”. Nghệ thuật so sánh và đối xứng đã tao nên hai hình ảnh kì vĩ, vừa cụ thể hóa, hình tượng hóa, vừa ca ngợi nghĩa me công cha với tất cả tình yêu sâu nặng. Tiêng thơ dân gian khẽ nhắc mỗi chúng ta hãy ngước lèn nhìn núi cao, trời cao, hãy nhìn xa ra ngoài biển Đông, lắng tai nghe sóng reo sóng hát, thủy triều vỗ mà suy ngẫm về công cha nghía ne thấm thía và rung dong biết bao:
“Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nướcngoài biển Đông”
Hai câu cuối, giọng thơ cất lên thiết tha ngọt ngào. Tiếng cảm thán “con ơi!” là lời nhắn nhủ ân tình về đạo làn. con phải biết “ghi lòng” tạc dạ công cha nghĩa mẹ:
“Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”
Xem thêm: Phân tích một bài thơ (thơ văn nước ngoài) đã đem đến cho em nhiều cảm xúcCâu trên là một ẩn dụ, nhắc lại, nhấn mạnh công cha nghĩa mẹ như “Núi cao biển rộng mênh mông”. Câu cuối bài ca dao, nhà thơ dân gian sử dụng cụm từ Hán Việt “cù lao chín chữ” để nói lên công ơn to lớn của cha mẹ như sinh thành nuôi dưỡng, cho bú mớm nâng niu, chăm sóc dạy bảo… con cái lớn khôn nén người, trải qua nhiều bề vất vả, khó nhọc. Có cha mẹ mới có con cái. Cha lo làm ăn, vất vả khó nhọc để nuôi con. Từ bát cơm, tấm áo đến ngọn đèn, quyển sách của con là do “công cha” và “nghĩa mẹ”. Mẹ mang nặng đẻ đau, như tục ngữ đã ghi lại: “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ”. Con thơ lớn lên bằng dòng sữa tiếng ru, tiếng hát, bằng sự vỗ về, âu yếm chở che của mẹ hiền. Mẹ theo dõi, mẹ vui sướng từng ngày, từng ngày: “Ba tháng con biết lẫy, bảy tháng con biết bò, chín tháng con lò dò biết đi”… Mẹ lo lắng, tóc mẹ bạc dần… khi con thơ ốm đau bệnh tật. Bát cháo, chén thuốc cho con chứa đựng biết bao tình thương của mẹ hiền. Và cái ngày con cắp sách đến trường vào học lớp Một, mẹ cha như trẻ lại, dào dạt sống trong niềm vui hạnh phúc và hi vọng. Đó là “cù lao chín chữ”, đó là công ơn to lớn trời bể của mẹ cha, mà con cái phải biết “ghi lòng”. Có hiếu thảo thì con cái mới biết “ghi lòng” công cha nghĩa mẹ. Hai tiếng “con ơi!” thật thấm thía, vần thơ như thấm sâu, lắng sâu vào tám hồn ta.
Cái hay của bài ca dao là cách nói so sánh cụ thể, nên thơ. Cái đẹp của bài ca dao là thể hiện sự ca ngợi, nói lên lòng biết ơn công cha nghĩa mẹ vô cùng to lớn. Ý nghĩa bài ca dao vô cùng sâu sắc; nó dạy chúng ta bài học về lòng hiếu thảo của đạo làm con.
Nguồn: thêm: Phân tích tính huống độc đáo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân | Phân tích bài ca dao “Công cha như núi ngất trời” | 643 | |
Đề bài: Phân tích bài ca dao:
Làm trai cho đảng nên trai,
Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào.
Trong xã hội phong kiến, quan niệm trọng nam khinh nữ xuất phát từ nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp. Bao nhiêu công việc nặng nhọc, khó khăn chỉ biết trông chờ vào sức vóc của người đàn ông. Mỗi khi chiến tranh xảy ra thì đương đầu với mũi tên hòn đạn cũng chính là các trang nam nhi khỏe mạnh. Vì vậy, vai trò đàn ông được xã hội đề cao và khẳng định. Trong ca dao – dân ca có rất nhiều câu ca dao thể hiện rõ điều đó, ví dụ như:
Làm trai cho đáng nên trai,
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng.
Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên.
Làm trai quyết chí tang bồng,
Sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam.
Bản thân chữ Làm trai đã bao hàm ý nghĩa khẳng định chí khí, bản lĩnh và sức mạnh của các đấng nam nhi đại trượng phu.
Bài ca dao là tiếng cười châm biếm được tạo nên bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập. Trước hết, tác giả tạo nên sự đối lập (tương phản) giữa cái cao cả: Làm trai cho đáng nên trai với cái tầm thường: Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào. Chàng trai trong câu ca dao không lo làm lụng mà chỉ trông chờ hưởng thụ.
Hình ảnh một trăm đám cỗ là con số ước lệ mang ý nghĩa khái quát. Chẳng sai là chẳng quên, chẳng bỏ sứt đám nào. Tác giả dân gian khéo léo dùng nghệ thuật phóng đại, cường điệu để tô đậm hiện tượng, châm biếm kẻ làm trai sức dài vai rộng mà chỉ “giỏi” hơn người ở cái tài đi… ăn cỗ, chỉ có mỗi một việc là chăm chú đợi đến ngày được hàng xóm láng giềng mời ăn cỗ. Thật mỉa mai, đáng cười cho đấng mày râu có tư tưởng ăn bám, hưởng thụ, không thích lao động. Anh ta không phải là loại người mà gia đình và xã hội mong muốn.
Xem thêm: Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Hạnh phúc của một tang gia | Phân tích bài ca dao “Làm trai cho đáng nên trai. Một trăm đám cỗ chẳng sai đám nào” | 377 | |
Đề bài: Viết một đoạn văn phân tích bài ca dao:
Thân em như hạt mưa rào,
Hạt rợi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.
Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
Bài làm:
Ca dao – dân ca phản ánh sinh động đời sống tình cảm phong phú của nhân dân lao động. Họ đã gửi gắm vào đó tiếng nói tâm tình chân thành tha thiết, với đủ mọi cung bậc buồn vui. Nhiều câu ca dao về hình thức và nội dung có những nét giống nhau nhưng mỗi câu lại mang một vẻ đẹp riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh và tâm trạng nhân vật khác nhau. Ví dụ một số câu mở đầu bằng cụm từ Thân em và nội dung cùng đề cập đến phẩm chất tốt đẹp, cao quý cùng số phận hẩm hiu, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa.
Hình ảnh hạt mưa sa lại gợi lên một sắc thái khác. Người phụ nữ cảm thấy thân phận mình quá nhỏ bé, gần như vô nghĩa. Có bao nhiêu hạt mưa từ trời cao rơi xuống trong một cơn mưa?! Mọi hạt mưa đều trong trẻo, mát lành như nhau nhưng chỗ rơi xuống – tức số phận của từng hạt mưa lại không giống nhau.
Sự rủi may của hoàn cảnh không thể nào đoán định trước được. Nó có thể dẫn đến những điều trái ngược hoàn toàn trong cảnh ngộ. Giữa muôn ngàn hạt mưa, một số hạt may mắn không rơi xuống giếng, không mất hút vào luống cày mà lại rơi vào vườn hoa, vào chốn lầu son gác tía đài các. Bài ca dao này quả là một bức tranh sinh động về thân phận bấp bênh của người phụ nữ xưa kia.
Nếu không may gặp phải vào hoàn cảnh trớ trêu, họ chỉ có một cách lựa chọn là cúi đầu chấp nhận. Dân gian đã ví: Thân con gái mười hai bến nước, trong nhờ, đục chịu, bởi vì người phụ nữ đã bị bao điều đè nén, ràng buộc bị tước đoạt quyền tự do, quyền làm chủ bản thân, Luật Tam tòng: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử không cho họ được sống theo ý mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Dẫu biết là vô lí, bất công cũng vẫn phải nhẫn nhục, cam chịu, chẳng biết kêu ai.
Xem thêm: Viết một bài văn với chủ đề: Hãy biết quý thời gian | Phân tích bài ca dao “Thân em như hạt mưa rào, Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa” | 426 | |
Phân tích bài ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa…
Hướng dẫn
Ca dao thường gắn liền với mọi mặt trong đời sống của con người, những từ ngữ trong ca dao rất dễ đọc, dễ nhớ, thể hiện tình cảm giữ con người với quê hương đất nước, con người với con người. Bài ca dao Trèo lên cây bưởi hái hoa là lối đối đáp của đôi trai gái về một câu chuyện tình buồn.
Bài ca dao như một buổi nói chuyện về hai nhân vật trữ tình. Dường như là hai đoạn đối thoại của người con trai và người con gái trong một câu chuyên tâm tình vậy. Điều cũng dễ hiểu, bởi trong sinh hoạt văn hóa xưa kia của nhân dân lao động, lối dối đáp để giao tiếp, để hiểu nhau, để trao đổi tình cảm với nhau là một nhu cầu, khi là luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến luôn kềm tỏa tình cảm con người. Và, một điều quan trọng nữa là do không có phương tiện bằng chữ viết, người lao động phải nhờ “nói” để chuyển tải tâm trạng của mình. Có lẽ, cái van có thể mở ra trong cái bình áp suất quá cao mà những bức bối tình cảm luôn luôn có nhu cầu vọt trào ra ngoài, là những lúc hội hè đình đám, những đêm trăng với tiếng hò qua sông nước và những khi người ta chơi xuân trong dịp thanh minh…
Có nhiều người cho rằng, bài ca dao được ra đời khi Trịnh Tráng muốn thu phục Đào Duy Từ về làm quân sư cho mình; tương truyền Đào đã làm bài thơ này để trả lời. Sau đó Tráng còn kiên trì với Đào Duy Từ một lần nữa, nhưng họ Đào viết ra Đàng Ngoài mấy câu:
Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen
(Giai thoại vãn học Việt Nam,
NXB Văn học, Hà Nội, 1990, tr.74)
Nếu giai thoại làm nên bài ca dao này à chính xác Nếu, thì cụ Từ có mượn chuyện tình yêu để nói với Đàng Ngoài, thì chúng ta cũng nên khảo sát thật kĩ phần văn bản lưu truyền của bài ca dao này. Ngoài tình yêu đích thực của một bài ca dao tình cảm được phát ngôn ở người con gái, còn có phần chàng trai? Chẳng lẽ là một sự chắp ghép hay sao? Hay đây là bức thư của Trịnh Tráng muốn “bóng gió” với Đào? Dĩ nhiên, không ai hiểu một cách ngô nghê như thế và không ai lại đi giảng bài ca dao của tình yêu này thành lối nói chữ nghĩa của các “nhà chính trị” trong quá khứ. Thế thì tại sao tôi cứ giẫm chân tại đây mà lẩn thẩn với nó? Tôi nghĩ rằng có người đã bị ảnh hưởng của giai thoại này, đặc biệt bị ảnh hưởng của hai câu:
Có lòng xin tạ ơn lòng
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen
Xét trên ý nghĩa của bài ca dao, người đọc có thể hình dung rằng, tình huống xuất hiện khi người con gái đi dự hội xuân nhưng gặp người con trai buông lời tỏ tình (thậm chí chọc ghẹo). Cô gái phản ứng và cố chứng minh rằng mình là gái đã có chồng để bảo vệ phẩm tiết của người phụ nữ Việt Nam trong truyền thống? Bài ca dao là một lời lên tiếng của đạo đức nhưng rất tế nhị, rất đoan trang và rất khôn khéo của người phụ nữ…Xem thêm: Kể lại chuyện Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thuỷ cung, Trọng Thuỷ đã tìm gặp lại Mị Châu
Tôi nghĩ rằng, cái giai thoại ở trên rất có ích nếu như chúng ta cần xác định, cần phân vùng bài ca này. Ít nhất cũng có một dấu hiệu là vào thời Đào Duy Từ ở miền Đàng Trong, bài ca dao rất phổ biến trong sinh hoạt dân gian. Vậy thì cái cây tầm xuân có phải là loại cây bông hồng có nụ và bông rất nhỏ như Từ điển tiếng Việt xác định không? (Ở một số vùng miền Trung ngoài Huế, người ta lại nói là bông hồng loại nhỏ nhưng cánh màu trắng!). Nên nhớ rằng có những địa phương ở trong Nam thì lại xác định cây tầm xuân là cây hoa mọc hoang ở trong vườn và quả có màu tím biếc. Điều này cần phải xác định thêm. Riêng tôi thì tôi vẫn cho rằng “nụ tầm xuân” này là của đất “Đàng Trong”. Do đó không cần đặt ra vấn đề tại sao cây hồng kiểng mà lại mọc dưới vườn cà và nhìn cành hồng trở nên “tím biếc”.
Mở đầu bài ca dao miêu tả về hành động kì lạ của chàng trai, hành động “trèo lên” – “bước xuống” rồi nhìn bông hồng thành “xanh biếc” chỉ là miêu tả vu vơ, để thấy được tâm trạng bối rối không có chủ định. Ca dao Việt Nam đã từng có lối nói vô lí ấy.
Có thể nói chàng trai cũng đã phải trải qua thời gian khó khăn gian khổ, xem xét kĩ lưỡng gia cảnh của cô gái. Cái “trèo lên”, “bước xuống”, cái “hái hoa”, “hái nụ” và sự vỡ lẽ: “nụ” đã “nở ra” rồi đã làm cho chàng trai thảng thốt mà nói câu thứ tư không bóng gió, không xa xôi: “Em đã có chồng anh tiếc lắm thay”. Nỗi đau trần trụi ít khi người ta dùng hoa hòe, hoa sói để che giấu được. Đọc những câu thơ trên, người đọc có thể hình dung cuộc tình này, có thể hai người đã yêu nhau, nhưng không đến được với nhau. Chàng trai vẫn chưa đi tới bước quyết định. Có lẽ chàng nói rất thật: “Tôi đã dại dột leo cao, đã đeo theo những giấc mơ xa vời và tôi đã thất bại. Hoặc giả tôi đã nhận ra đó là ảo tưởng. Tôi thấy rằng hôn nhân thực tế nhất là trở về với người lao động chân chất, mộc mạc và gần gũi. Tôi leo lên hái bông hoa bưởi (tất nhiên chưa hẳn là hoa của quý phái, của giai cấp khác), nhưng bông hoa đó đã nở. Tôi xuống để tìm hái “nụ” nhưng nụ lại nở rồi (trong tình yêu nhiều lúc lỡ một khoảnh khắc là lỡ một cuộc tình). Chàng trai đã nhận ra một sự thật đau lòng, câu nói than thở không phải là không tội nghiệp: “Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!”. Như vậy là trong lần gặp gỡ này, chàng trai đã biết hoàn cảnh của cô gái. Một lời than để đau khổ được chia đôi, chứ không phải nhằm thay đổi tình thế. Hai người đã có quan hệ với nhau như vậy thì cần gì phải vòng vo và nói vu vơ như những cặp trai gái mới đến với cuộc tình? Và do đó, không nên coi nhẹ ba câu đầu chàng trai thổ lộ, và do đó cũng đừng nghĩ rằng chàng trai “đánh hỏa mù”, để nói được cái điều khó nói sau cùng bằng cách nhìn bông hồng ra xanh biếc, tìm bông hồng dưới cây cà… Cuộc tình đau mà làm (hay nói) những điều “nực cười” ấy liệu có xúc phạm tới cô gái hay không? Và càng vô lí khi chính chàng trai ấy cũng đang mang một nỗi đau trong lòng?Xem thêm: Vẻ đẹp của người lao động qua hai tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa và Đoàn thuyền đánh cá
Khi biết được hoàn cảnh của cô gái chàng trai phải đau đớn và thất vọng tột cùng. Tất nhiên không đau đớn và tuyệt vọng như cô gái, cho nên chàng trai mới nhận được lời đáp đầy nước mắt và cảm thông của cô gái. Nếu như cho chàng trai chỉ là bông đùa mà cô gái lại chí tình, thì lại là sự xúc phạm nặng nề hơn nhân cách cô gái, nhân cách vị tha đáng quý của người phụ nữ Việt Nam.
Cô gái hiểu được nỗi đau của chàng trai, cô cũng buồn, nhưng cách thể hiện nỗi buồn của cô gái thật sâu kín, phức tạp hơn. Cũng là cách dùng ẩn dụ nhưng cô gái “chỉ cụ thể hơn” vào nỗi đau đó.
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Theo quan niệm của dân gian, trầu cau là lễ vật để đến với một hôn nhân! Trầu cau nó ràng buộc người nam và người nữ lại trong quan hệ vợ chồng nếu như đó là do tục lệ “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”. Nhưng trầu cau cũng có nghĩa là khăng khít những hạnh phúc lứa đôi khi cuộc tình đó vốn trước đã đâm chồi nẩy lộc! Dĩ nhiên trong bài ca dao này, cô gái không thỏa mãn với hạnh phúc của mình, cho nên nói tới cuộc hôn nhân ấy sao mà nó chì chiết, ghẻ lạnh quá!
Lời của cô gái có ý trách chàng trai, vì chàng đã không ngỏ lời đúng lúc, để lỡ một cuộc tình. Nhưng thái độ hơi thái quá của cô gái cho phép ta nghĩ rằng cô căm phẫn, bất bình với cái cuộc hôn nhân ngang trái đã xảy ra. Cô không nói “Tiền cheo, tiền cưới chừng chín nghìn”, mà cuộc hôn nhân ấy nó rẻ rúng làm sao: “Ba đồng!” cô không nói “một đĩa trầu cau” mà là “một mớ trầu cay”! Cái ức ối, bực bội nó nằm trong cái từ mớ và cay ấy (Hồ Xuân Hương đã từng viết: “Miếng trầu hôi”. Có lẽ cái từ hôi đó, cũng là tiếng nói căm giận với tình đời phũ phàng và thân phận bạc bẽo của mình!).
Chỉ bằng vài câu của cô gái, ta có thể cô gái cảm thấy đau đớn và phẫn uất cho số phận đen bạc của mình. Cái kỉ niệm không mấy tốt đẹp đó được gợi lại: cô giận mình, giận cho sự ngang trái của mình. Và đó có phải là lí do để cô trách hờn người yêu không? Hơi vô lí, nhưng có thể là sự thật của tâm trạng, nhưng ở câu sau, không phải chỉ là lời trách:
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Có thể nói rằng tình yêu chỉ có thể tác thành khi có cuộc hôn nhân. Tình yêu là thiêng liêng nhưng nhiều lúc nó là sợi tơ mỏng manh. Cái ranh giới giữa còn và không cũng chính là giá trị thực tế của tình yêu trong cuộc đời. Đặc biệt là trong xã hội cũ, khi chưa có hôn nhân thì còn đó nhưng mà cùng là không đó. Còn không là “những ngày em còn xuân sắc”, “còn chưa có chồng”, nó gợi lên một thực tế thực tại: “Thuở ấy, em. không bị trói buộc như bây giờ”. Câu thơ được rõ dần trước thực tế phũ phàng:Xem thêm: Cảm nghĩ của em sau khi đọc Truyện chức phán sự đền Tản Viên trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
Bây giờ em đã có chồng.
Như chìm vào lồng, như cá cắn câu
Cô gái đã nói cho chàng trai biết về cuộc sống hiện tại của mình. Qua lời cô gái chúng ta có thể hiểu chắc chắn cô gái có một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, cô đang phải chịu một thân phận bi đát. Một số phận, một hoàn cảnh được so sánh với hai số phận, hai hoàn cảnh. Ta hiểu rõ cô gái đau khổ đến mức nào. Có thể dừng lại ở đây được rồi. Chẳng nói gì thêm nữa thì chàng trai cũng đã cảm thông với cảnh “chim vào lồng, cá cắn câu” này. Vậy mà cô gái vân triển khai.làm rõ hoàn cảnh bằng cách khai thác hai hình ảnh ẩn dụ:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
Cô đau buồn, chán ngán cho cuộc sống hiện tại của mình, nhưng cô cảm thấy tuyệt vọng và bất lực của cô gái cho hoàn cảnh của mình. Nhưng thực tế tâm trạng lại là một tâm hồn muốn vươn ra, muốn được bứt ra, muốn được sống trong khát vọng hạnh phúc. “Biết đâu mà gỡ” và “biết thuở nào ra”, tức là tâm hồn của cô gái vẫn muốn được thoát ra. Trong ý thức vẫn không chấp nhận một cuộc sống vợ chồng cưỡng bức. Đặt ra trường hợp rằng, nếu chàng trai có chí hướng và đưa cô gái đi, chắc cô ta “một liều ba bảy cũng liều”, cô ta sẽ từ giã không thương tiếc cái anh chồng bất đắc dĩ đó. Khát vọng muốn thoát khỏi hoàn cảnh thực tế này, lời thanh, minh đài dòng này, còn có một ý nghĩa thứ hai là mong muốn chàng hiểu cho, đừng có hờn trách mình. Thổ lộ nỗi khổ của mình, cô gái muốn xoa nhẹ vết thương cho chang trai. Hoàn cảnh của mình đau khổ gấp nhiều lần nhưng vẫn nghĩ rằng người đau. Đó phải chăng là tấm lòng của Kiều nhi đã bán mình mà vẫn còn lạy Vân để lo duyên chàng Kim? Đó phải phải chăng là đức vị tha, một trong những đức tính tuyệt vời của người phụ nữ Việt Nam trong truyền thống.
Bài ca dao nói về một câu chuyện tình buồn, sự tiếc nuối của hai nhân vật vì không đến được với nhau. Đồng thời nói lên sự bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ, những người phụ nữ ấy không được xã hội đánh giá cao, không có quyền quyết định cho cuộc sống của mình, đến cả chuyện tình yêu cũng bị ép buộc. Những người phụ nữ đó thật bất hạnh, cần được giải thoát để có cuộc sống như mình mơ ước.
Nguồn: | Phân tích bài ca dao_ Trèo lên cây bưởi hái hoa… | 2,360 | |
Đề bài: Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
Nếu được phép hiểu con người một cách giản đơn thì nhìn vào cụ Uy Viễn tướng công ta sẽ thấy rõ hai nét: Thấm nhuần đến chân tơ kẽ tóc đạo trung hiếu Nho gia và ý thức rất rõ về tài đức của mình, cố đem hết tài đức ấy cống hiến để làm nên sự nghiệp và danh tiếng để đời. Chí hướng và nhiệt huyết ấy í tai bì kịp. Nguyễn Công Trứ – ông quan kinh bang tế thế lại có một tâm hồn nghệ sĩ, cống hiến thì hết mình nhưng việc xong, công thành, lại tự thưởng cho mình được vui chơi – vui chơi thanh nhã: Nợ tang bồng một khi đã trắng thì vỗ tay reo và thơ túi rượu bầu, hoặc hẹn với những ông cao niên tiên ẩn sĩ nào đó ở tận chốn thâm sơn cùng cốc và thả hồn theo nào địch nào đàn…
Có thể coi Bài ca ngất ngưởng là một bài tự thuật ngắn gọn có ý nghĩa tổng kết cuộc đời và tính cách của Uy Viễn ướng công Nguyễn Công Trứ. Lời lẽ gọn mà vẫn đủ. Điệu thơ gửi vào thể ca trù nhiều tự do, ít khuôn phép, là thơ mà cũng là ca, là nhạc.
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo nhất ngưởng.
Kìa núi nợ phau phau mây trắng.
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì.
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong,
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng.
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú.
Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Không rõ tựa đề bài thơ này tự cụ đặt hay người sưu tập đưa vào, nhưng tinh thần chung vẫn là kẻ nói lên sự ngất ngưởng. Không chỉ ở đầu đề mà toàn bài còn có thêm bốn chữ nữa, một sự cố ý trùng lặp thành điệp khúc, đúng vào chỗ tóm tắt và đúc kết một ý bày lên trên hay ẩn giấu ở dưới.
Phong thái ấy của Nguyễn Công Trứ vốn có từ nhỏ nhưng nó bộc phát mạnh mẽ và không giấu giếm hhất là sau thời điểm Đô môn giải tổ chi niên ( được trả ấn từ quan, vua cho về nghỉ). Bởi dù sao trong một thái độ ngất ngưởng như thế không bao giờ được phép lọt vào mắt vào tai các vua chuyên chế của triều Nguyễn. Cho nên mở bài vẫn phải phô ra cái nét thứ nhất ( như bên trên đã giải bày): Vũ trụ nội mạc phi phận sự, tác giả đặt mình ngang tầm vũ trụ nhưng rồi cũng khiêm tốn, kín mà hở nói tiếp ngay: Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng. Vào lồng là vào khuôn phép vua chúa nhưng vẫn là chật hẹp, tù túng trái với bộ đội trời đạp đất của ông.
Nhà thơ vừa mới tự đề cao vai trò của mình trong vũ trụ ở câu thứ nhất thì lập tức tự chê mình đã đem cái tài ba ấy nhốt vào lồng ở câu thứ hai nhưng dù sao vẫn nổi hẳn lên sự khoan khoái, tự hào khi nhắc tới đôi cái mốc của đời mình, dù mỗi sự kiện chỉ nhắc đến bằng vài chữ, như bất cần, không có gì quan trọng.
Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông.
….
Lúc bình Tây cờ đại tướng,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Giọng thơ kể toàn chuyện lớn lao hiển hách mà nghe như nói chơi. Đỗ Thủ khoa ( đỗ đầu cử nhân khoa thi hương), làm Tham tán quân sự…chức vị ấy nói sơ qua cũng được. Nhưng làm đến Tổng đốc Hải An ( Hải Dương và Quảng Yên), một chức quan to trong tỉnh hay lĩnh chức đại tướng bình Tây ( xứ Tây Nam nước ta) mà chỉ gọi cộc lốc khi Tổng đốc Đông và bình Tây, cờ đại tướng thì thật sự Nguyễn Công Trứ không coi những chức tước ấy đều là vẻ vang lớn nhất đối với mình. Tất cả chỉ là phận sự trong vũ trụ, đến tay mình thì làm, cái cốt yếu đã làm hết lòng hết sức. Chẳng phải cụ đã từng nói: Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục đó sao?. Cho nên, câu tổng kết: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng khẳng định, đối với công danh, dù Tổng đốc, dù đại tướng cụ coi cũng nhẹ tênh. Đó là một loại ngất ngưởng.
Xem thêm: Viết bài bình luận ngắn về tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay (không quá 400 từ)Tiếp theo là một hành ngất ngưởng hơi bất thường: người giàu sang thì cưỡi ngựa, còn cụ lại cưỡi bò và cho bò đeo đạc ngựa:
Người đời bảo cụ khác người, có kẻ cho là cụ đặt mình lên trên dư luận. Xét ra có thể còn xa hơn thế, cụ cho bò đeo nhạc ngựa cũng là một cách chơi ngông. Hơn nữa, hành động ấy xảy ran gay sau ngày cụ về nghỉ việc quan. Vừa nêu rõ năm tháng mình thôi đeo ấn vua ban, đô môn giải tổ chi niên ( giải tổ có nghĩa là cởi dây đeo ấn) thì lại cho ngay bò mình cưỡi đeo đạc ngựa để cho nó cùng ngất ngưởng như mình? Ai suy diễn ra điều này chắc không khỏi cho hành vi của cụ là xấc xược. Đó là hai thứ ngất ngưởng.
Ba là ngất ngưởng cả với Bụt:
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Cười bò lên thăm chùa ở núi Nài mây phủ trắng phau, cụ cười mình là: Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi, kỳ thực đó là cái dạng thôi. Bởi theo hầu cụ có một đoàn gót sen “ tiên nữ” đủng đỉnh một đôi dì là các cô ả đầu. Không những chẳng từ bi chút nào mà còn bất kính là đằng khác. Tuy vậy nhưng vẫn rất tự nhiên. Và cụ khiến But không những chẳng chau mày quở trách mà còn nực cười độ lượng với ông quan thượng già.
Đến chùa, cụ đâu có lễ Phật mà bày tiệc ca hát, một tiệc hát ả đào có cả đàn kịch, trống phách hẳn hoi. Nhà chùa chắc cũng vì nể uy cụ mà làm lơ. Cụ được tất cả tục lụy mà lâng lâng bay bổng trên chín tấng mây, phơi phới luồng ấm mát của gió xuân.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng.
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
Cá tính thượng thư bốc lên hết cỡ trong roi chầu tài hoa của cụ. Bấy giờ thì mọi sự đời, cái được, cái mất, miệng khen, miệng chê…tất cả đều coi như không có. Hồn cụ lâng lâng ở cõi mây trong lành, cao khiết, lời thơ vút lên hào hứng: Được mất/ dương dương người thái thượng: Khen chê/ phơi phới ngọn đông phong. Con người có bay bổng trên tầng cao, trong say sưa âm nhạc của điệu ca, tiếng trống. Khi ca/ khi tửu/ khi cắc, khi tùng. Dù cuộc vui bày trong của Phật có các cô tiên tham dự mà mình vẫn trong sạch, thanh cao. Không phật, không/ Tiên, không vướng tục:
Đây là đoạn thơ rõ nhất và cũng là đoạn hay nhất của bài thơ. Hai câu trước trải dài, thanh thoát cao siêu như tấm lòng không còn vướng chút bụi trần trong nhịp điệu thênh thang thì hai câu sau là nhịp ca, nhịp trống, nhịp phách, nhịp rượu chúc mừng, rồi dồn lên rối rít để chấm dứt ở một chữ mang thanh trắc, đục, mạnh, chấm dứt câu thơ cũng là nện mạnh xuống mặt trống để tự thưởng, tự hào, tự khằng định cái tài tình, cái khoáng đạt của tâm hồn mình.
Riêng mấy câu thơ ấy cũng đủ bộc lộ tâm tính của Uy Viễn tướng công, giúp ta hiểu được phần nào cái ngất ngưởng và Bài ca ngất ngưởng này của cụ.
Kết thúc bài thơ, Nguyễn Công Trứ cũng phải trở lại cái điệp khúc nhàm chán của đạo sơ chung với triều Nguyễn, mặc dù câu đó chĩ đặt giữa một câu tự đánh giá cao và một câu như muốn thách thức với cả triều đình:
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Nội dung ngất ngưởng bất chấp dư luận, bất cần mọi sự đã tìm được ở thể ca trù một âm hiệu hoàn toàn thích hợp, câu ngắn, câu dài tùy ý, vẫn liền từng cặp xen lẫn đều đặn bằng trắc: niêm luật tự do, đối không bắt buộc, âm điệu quyết định ở trạng thái tâm hồn nhà thơ: bi thương, hùng tráng, cười cợt…
Giọng điệu bài thơ amng nét độc đáo của tác giả: tự hào gần như tự phụ, thậm chí đến ồn ào. Hai nét lớn trong tính cách cụ không hề che giấu, công tích lớn mà kể coi như chuyện thường tình, còn thú chơi ngông thì lại đề cao tột bậc.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bàn về đức tính hoà nhã, cách sống hoà nhã | Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ | 1,656 | |
Đề bài: Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca của Cáo Bá Quát).
Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, Mãn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội). Là người nổi tiếng học giỏi, có tài văn thơ và viết chữ Hán rất đẹp nên Cao Bá Quát được người đời tôn vinh là thánh (Thần Siêu, thánh Quát). Khí phách, bản lĩnh và hoài bão lớn lao của ông vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp của chế độ phong kiến.
Cao Bá Quát sống ở giai đoạn nửa đầu thế kĩ XIX, khi nhà Nguyễn đã tiêu diệt Tây Sơn, thiết lập một chính quyền phong kiến chuyên chế hà khắc, sưu cao thuế nặng, không coi trọng tầng lớp trí thức Bắc Hà. Đây là thời kì có nhiều cuộc nổi dậy của nông dân;trong đó có cuộc khởi nghĩa ở Sơn Tây mà Cao Bá Quát đã tham gia. Thơ văn của ông thể hiện thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trước nguy cơ bị xâm lược bởi thế lực thực dân phương Tây. Có người cho rằng hình tượng nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân chính là bóng dáng của Cao Bá Quát.
Bài ca ngắn đi trên bãi cát được sáng tác sau những lần Cao Bá Quát vào kinh đô Huế thi hội. Hình ảnh những bãi cát trắng chạy dọc các tỉnh miền Trung khiến tác giả liên tưởng và hình dung ra con đường danh lợi nhọc nhằn đáng ghét mà ông buộc phải theo đuổi, cũng như sự ngột ngạt, bế tắc của xã hội đương thời. Một giả định khác là bài thơ ra đời khi Cao Bá Quát đã làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, bắt đầu cảm thấy thất vọng về lí tưởng mà mình theo đuổi bấy lâu nay và âm thầm tìm kiếm một lí tưởng khác đúng đắn hơn.
Nội dung bài thơ phản ánh tình cảnh tù túng, không lối thoát của tầng lớp trí thức trong thời kì khủng hoảng của chế độ phong kiến. Đồng thời thể hiện niềm bi phẫn trước thực trạng xã hội, thái độ khinh bi phường danh lợi và khát khao của những kẻ sĩ chân chính muốn sống một cuộc sống thực sự có ý nghĩa.
Phiên âm chữ Hán của bài thơ như sau:
Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc.
Quân bất học tiên gia mĩ thuỵ ông,
Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng!
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đố trung.
Phong tiổn tửu điếm hữu mĩ tửu,
Tĩnh giả thường thiểu tuý giả đổng.
Trường sa, trường sa nại cừ hà?
Thản lộ mang mang uý lộ đả.
Thính ngã nhất xướng cùng đổ ca,
Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp,
Nam sơn chi nam ba vạn cấp,
Quân hổ vi hồ sa thượng lập?
Dịch thơ tiếng Việt:
Bãi cát lại bãi cát dài,
Đi một bước như lùi một bước.
Mặt trời đã lặn, chưa dừng được,
Lữ khách trên đường nước mắt rơi.
Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!
Xưa nay, phường danh lợi,
Tất tả trên đường đời.
Đầu gió hơi men thơm quán rượu,
Người say vô số, tỉnh bao người?
Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!
Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,
Đường ghê sợ còn nhiểu, đâu ít?
Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng",
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng,
Phía nam núi Nam, sóng dào dạt Anh đứng làm chi trên bãi cát?
Chủ đề bài thơ được tác giả thể hiện qua ba hình ảnh: bãi cát dài, con đường đi trên bãi cát và người đi trên bãi cát.
Bài thơ vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh bãi cát dài mênh mông không có điểm dừng, gợi ra một con đường bất tận, mờ mịt: Bãi cát lại bãi cát dài; … Bãi cát dài, bãi cát dài ơi. Hình ảnh bãi cát dài có ý nghĩa nghệ thuật độc đáo vì nó mang tính sáng tạo, không vay mượn từ văn học Trung Quốc như nhiều hình tượng thơ khác mà được lấy từ hiện thực là những cồn cát trẳng hoang vu, rợn ngợp mà tác giả đã từng vượt qua nhiều lần trên con đường vào kinh ứng thí. Dải đất miền Trung, đặc biệt là hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị bề ngang rất hẹp, phía Tây là dãy Trường Sơn, phía Đông là biển. Trước mắt người đi chi thấy cát, núi và sóng biển mà thôi.
Cùng với hình ảnh bãi cát dài là hình ảnh những con đường: Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ, đường cùng. Hai câu thơ: Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng, Phía nam núi Nam, sóng dào dạt vừa là hình ảnh thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng cho đường đời đầy gian nan, thử thách.
Tác giả cảm nhận rằng con đường vượt bãi cát dài có những nét tương đồng với con đường công danh khoa cử nhọc nhằn, thất bại thì nhiều, thành công thì ít, nhưng đã lỡ bước vào nên không biết tính sao đây?
Bản thân Cao Bá Quát đã nếm trải đủ mùi cay đắng của việc thi cử. Đi thi từ năm 13 tuổi (1822), đến lần thứ tư (1831) mới đậu cử nhân, lại bị đánh tụt xuống tận chót bảng. Sau đó ông còn lận đận thêm ba lần thi Hội nữa mà vẫn không đỗ. Ngay khi bước chân lên con đường danh lợi gắn với lí tưởng của tầng lớp Nho sĩ trong xã hội phong kiến, nhà thơ đã nhận thấy sự bế tắc và mâu thuẫn không giải quyết nổi. Nên đi tiếp hay dừng lại? Dừng lại cũng không thể được. Còn đi tiếp thì không biết sẽ dẫn đến đâu?
Hình ảnh con người đì trên bãi cát dài thật nhỏ bé và vất vả;
Đi một bước như lùi một bước.
Mặt trời đã lặn, chưa dừng được,
Lữ khách trên đường nước mất rơi.
Người đi đường có nhiều loại, mỗi loại mang một tâm trạng khác nhau. Vô số kẻ say vì men thơm quán rượu thoảng từ đầu gió. Phải chăng hơi men thơm tượng trưng cho sự lôi cuốn, dẫn dụ ghê gớm của công danh?! Trước ma lực ấy, liệu mấy người còn giữ được sự tỉnh táo, sáng suốt?!
Không học được tiên ồng phép ngủ,
Trèo non, lội suối, giận khôn vơi!
Xưa nay, phường danh lợi,
Tất tả trên đường đời.
Đầu gió hơi men thơm quán rượu,
Người say vồ số, tĩnh bao người?
Câu thơ thấm đẫm cảm xúc tự oán. Nhà thơ chán nản vì nhận ra rằng mình đã tự hành hạ thân xác bằng cách theo đuổi công danh. Tại sao mình đã biết con đường công danh là gian nan, mờ mịt, là đường cùng mà vẫn phải cố từng bước, từng bước dấn thân, nhưng càng đi lại càng như thụt lùi. Theo điển tích về “phép ngủ” của tiên ông trong sách Thần tiên thập dị thì Hạ Hầu Ấn lúc leo núi hay lội nước vẫn cứ nhắm mắt ngủ say. Người bên cạnh nghe thấy tiếng ngáy mà ông vẫn bước đều không hề trượt vấp. Vì thế nên thiên hạ mới gọi ông là tiên ngủ. Cao Bá Quát ước ao có được phép ngũ như tiên ông, sống mà không nhìn thấy, nghe thấy gì hết trong cuộc đời.
Xem thêm: Kể lại nội dung câu chuyện được ghi trong một bài thơ có tính chất tự sự (như lượm hoặc đêm nay bác không ngủ) theo những ngôi kể khác nhau (ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất).Những câu thơ tiếp theo phần nào giải thích lí do vì sao người ta cứ phải trèo non, lội suối. Đó chính là do cái bả công danh cám dỗ. Những kẻ ham danh lợi xưa nay đều tất tả chạy ngược chạy xuôi, cũng giống như người đời thấy quán rượu ngon ở đâu là tranh nhau đổ xô đến, mấy ai tỉnh táo để thoát khỏi sự cám dỗ của rượu. Danh lợi cũng là một thứ rượu mê hoặc con người. Cao Bá Quát tỏ thái độ khinh rẻ phường danh lợi chi biết say sưa với bả vinh hoa phú quý và ông bắt đầu cảm thấy sẽ là vô nghĩa nếu vẫn tiếp tục đi trên con đựờng ấy. Những câu thơ chất chứa tâm trạng day dứt, băn khoăn: nên đi tiếp hay từ bỏ? Mà câu trả lời thì không dễ dàng gì. Nhà thơ nhận rõ sự vô nghĩa của con đường công danh khoa cử trong hoàn cảnh thực tại, nhưng nếu đi tiếp thì sẽ phải đi như thế nào đây?
Người đi trên bãi cát dài bỗng nhiên dừng lại. Nỗi chán ngán, tuyệt vọng choán đầy tâm hồn bởi vì: Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít? Có lẽ đã đến bước đường cùng? Nếu không đi tiếp thì đi đâu?! Tâm trạng bế tắc và tuyệt vọng bao phủ lên cả người đi, cả bãi cát dài. Bức xúc đến thế thì người đi chĩ còn cách là cất lên tiếng hát buồn thảm về con đường cùng của mình:
Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng,
Phía nam núi Nam, sóng dào dạt Anh đứng làm chi trên bãi cát?
Tâm trạng của tác giả khi đi trên bãi cát dài là nhận thức rõ con đường danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai, cần phải thoát ra khỏi bãi cát cuộc đời ấy nhưng chưa thể tìm được một con đường nào khác. Người đi trên bãi cảt dài tự thấy sự vô nghĩa trong hành động của mình và ngao ngán đến cực độ: Bãi cát dài bãi cát dài ơi. Tỉnh sao đây đường bằng mờ mịt… và tự hỏi: Anh đứng làm chi trên bãi cát đó là cái cảm giác bất lực, tuyệt vọng, đành đứng chôn chân trôn bãi cát, chịu một khối mâu thuẫn lớn đè nặng lên tâm hồn. Hình tượng người lữ hành ấy vừa cô độc, vừa cả quyết lại vừa tuyệt vọng trên con đường đi tìm chân lí gian truân, mờ mịt. Tâm trạng phức tạp của nhân vật dự báo một hành động bứt phá, một sự phản kháng âm thầm với trật tự hiện hành. Tư tưởng tiến bộ của Cao Bá Quát thể hiện ở cho ông đã nhận rõ tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử và con đường tiến thân theo lề lối cũ.
Trong bài thơ, tác giả đã đặt mình ở nhiều vị trí khác nhau để bộc lộ tâm trạng và đối thoại với chính mình. Cao Bá Quát sử dụng nhiều đại từ xưng hô khác nhau, Có khi ông dùng từ khách (khách là một danh từ đối lập với chủ), có khi lại dùng từ quân (anh, ông – đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít), có chỗ lại dùng từ ngã (tôi, ta – đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít). Tuy nhiên, tất cả đều để chi bản thần tác giả. Khi gọi là khách, nhà thơ nhìn mình như nhìn một người khác. Khi gọi là anh, nhà thơ như đối thoại với mình. Khi xưng ta, tác giả muốn trực tiếp thổ lộ tâm sự. Các cách xưng hô trên đều thể hiện thái độ trăn trở, bức xúc của nhà thơ trên con đường tạo lập công danh, sự nghiệp.
Vậy là hình tượng người đi trên bãi cát dài được tác giả thể hiện không đơn nhất mà đa chiều. Khi thì được miêu tả như một khách thể, khi lại như một người đối thoại, khi lại như một chủ thể tự thể hiện. Thậm chí có khi tác giả cho chủ thể ẩn đi. Mục đích là nhằm bày tỏ những tâm trạng, thái độ khác nhau, trước những hoàn cảnh khác nhau.
Nội dung Bài ca ngắn đi trên bãi cát phần nào lí giải nguyên nhân tại sao Cao Bá Quát đã đứng về phía nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn.
Trước hết, bài thơ cho thấy thái độ chán ghét danh lợi và nhận thức đúng đắn của tác giả về sự bế tắc của lối học hành khoa cử theo kiểu cũ. Diễn biến tâm trạng của tác giả là từ băn khoăn, phân vân đến gay gắt tự hỏi: Anh đứng làm chi trên bãi cát.
Bài thơ là tâm sự chân thành của một kẻ sĩ có tầm tư tưởng lớn, ý thức rất rõ vể sự trì trệ, bế tắc của thời đại. Đây cũng là cảm giác thất vọng của tác giả trước lí tưởng mà mình tôn thờ. Sự bế tắc, tuyệt vọng trước đường cùng đã được đẩy đến đỉnh điểm.
Cao Bá Quát đã thể hiện những mâu thuẫn sâu sắc trong tư tưởng của bản thân và của xã hội đương thời một cách nghệ thuật. Đó là mâu thuẫn giữa khát vọng sống cao đẹp với hiện thực đen tối; giữa tinh thần dám xả thân của một kẻ sĩ chân chính với thói cẩu an hưởng lạc của người đời giữa lí tưởng phò vua giúp nước của một đấng nam nhi với những khó khăn gian khổ khó vượt qua trên con đường tiến thân.
Bài ca còn thể hiện cảm xúc bi phẫn và cảm quan nhạy bén của Cao Bá Quát về một thời đại đen tối, đầy nghịch cảnh đối với những bậc trí thức tài hoa; đồng thời đánh dấu sự thức tĩnh của một số kẻ sĩ trước con đường công danh truyền thống. Phải chăng điều đó đã gợi cho chúng ta một suy nghĩ và nhận xét: xã hội phong kiến đương thời không thể dung nạp được lí tưởng của Cao Bá Quát. Con người ấy nhất định không chịu đứng chôn chân trên bãi cát mà đang nung nấu thái độ phản kháng âm thầm nhưng quyết liệt với trật tự hiện hành. Cao Bá Quát đã nhận thấy cần phải làm một việc gì đó lớn lao hơn, có ích cho đời hơn. Đó cũng là lí do đưa ông đến với cuộc khởi nghĩa của nông dân, chọn con đường phản kháng chống lại triều đình nhà Nguyễn, để rồi cuối cùng phải chịu kết thúc bi thảm.
Bài thơ đứợc viết theo thể hành, khá tự do về kết cấu, vần và nhịp điệu. Các câu thơ dài ngắn khác nhau (câu 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ), nhịp ngắt của mỗi câu thơ cũng đa dạng phù hợp với việc phản ánh tâm trạng phức tạp đầy băn khoăn, dạy dứt của người đi trên bãi cát dài (nhịp 2/3: Trường sa / phục trường sa; nhịp 3/5: Quàn bất học / tiên gia mĩ thụy ông nhip 4/3: Phong tiền tửu điếm / hữu mĩ tửu). Nhiều câu có ngữ điệu cảm thán: (Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng), ngữ điệu hỏi: (Trường sa, trường sa nại cừ hà? Quân hồ vi hồ sa thượng lập?).
Nhịp điệu của Bài ca ngắn đi trên cát là nhịp gập ghểnh, trúc trắc của những bước đi khó nhọc trên bãi cát dài, trên con đường công danh khoa cử gian nan, vất vả và đáng chán. Đặc biệt, câu thơ cuối cùng là một câu hỏi day dứt và ám ảnh. Lời ca mang âm hưởng u buồn, ngầm chứa thái độ phản kháng của tác giả đối với trật tự xã hội hiện hành và cảnh báo sự đổi thay tất yếu trong tương lai.
Xem thêm: Vé đẹp của nhân vật Tấm | Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát | 2,669 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm.
Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), hiệu là Hi Doãn, quê ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm 1775, từng làm quan dưới triều Lê – Trịnh; sau đi theo Tây Sơn và có nhiều đóng góp nên được Quang Trung trọng dụng. Nhiều văn kiện giấy tờ quan trọng của nhà Tây Sơn đều do ông biên soạn. Vâng lệnh vua Quang Trung, ông đã viết bài Chiếu cầu hiền. Đây là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên tầng lớp trí thức Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước; đồng thời phản ánh tầm nhìn xa trông rộng và tấm lòng vì dân, vì nước của Quang Trung Nguyễn Huệ.
Phần 1: Từng nghe… đến người hiền vậy: Phận sự (do Trời định) của người hiền tài là phải đem tài năng phục vụ cho vua, cho nước.
Phần 2: Trước đây… đến buổi ban đầu của trẫm hay sao? Phê phán nhẹ nhàng các cách ứng xử có phắn tiêu cực của một số sĩ phu Bắc Hà và nêu lên nhu cầu sử dụng hiền tài rất cấp thiết của triều đình Tây Sơn.
Phần 3: Chiếu này… đến đều biết. Con đường rộng mở để người hiền tài cống hiến cho đất nước.
Trước tình hình chúa Trịnh ngày càng lộng quyền lấn át vua Lê, Nguyễn Huệ đã thần tốc kéo quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” (1786); thừa thắng đánh tan hai mươi vạn giặc Thanh, dẹp yên thù trong giặc ngoài, thống nhất đất nước, lập ra triều đại Tây Sơn. Trong giới sĩ phu Bắc Hà có nhiều nhà Nho sáng suốt đã ủng hộ Tây Sơn. Tuy vậy, một số người do quan niệm đạo đức bảo thủ, không nhận thấy chính nghĩa và sứ mệnh lịch sử to lớn của phong trào Tây Sơn nên đã có thái độ bất hợp tác, thậm chí chống lại. Một nhiệm vụ chiến lược đối với vua Quang Trung là phải thuyết phục tầng lớp trí thức Bắc Hà hiểu đúng vai trò và những dự kiến xây dựng đất nước của triều đình Tây Sơn, để từ đó tự nguyện cộng tác, đem tài đức phục vụ cho triều đại mới.
Mở đầu bài Chiếu, tác giả chi ra quy luật xuất xử của các bậc hiền tài:
Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
Tác giả khẳng định, người hiền (người có đức có tài) phải phục vụ đắc lực cho nhà vua (thiên tử). Nếu không làm như vậy là trái với ý trời. Quy luật của thiên nhiên là sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần (tức sao Bắc Đẩu). Hiền tài là tinh hoa của trời đất nên lẽ đương nhiên là tài đức của họ phải được cống hiến cho dân, cho nước.
Từ khi nước ta chia thành Đàng Trong và Đàng Ngoài thì người Đàng Ngoài (Bắc) cho rằng Đàng Trong (Nam) thuộc triều đại khác. Hơn nữa, theo quan niệm chính thống của tầng lớp Nho sĩ thì chi những người xuất thân từ dòng dõi đế vương hoặc quý tộc mới xứng đáng và có khả năng làm vua. Nguyễn Huệ lại xuất thân từ tầng lớp bình dân, vì thế không ít Nho sĩ Bắc Hà không những không phục mà còn tỏ vẻ coi thường, cho rằng ông ít hiểu biết về lễ nghi cũng như chữ nghĩa thánh hiền. Nắm được tâm lí này, nên khi thể hiện tư tưởng cầu hiền của Nguyễn Huệ, Ngô Thi Nhậm đã dùng nhiều điển tích rút từ các sách kinh điển Nho gia, dùng lời dạy của Khổng Tử để đặt vấn đề và đưa ra cách ứng xử có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với trí thức Bắc Hà. Cách diễn đạt đó đã tạo ra ấn tượng sâu sắc, đánh trúng vào tâm lí của tầng lớp trí thức, cho nên có sức thuyết phục lớn, khiến họ không thể không mang tài đức ra giúp triều đình Tây Sơn.
Khi Quang Trung kéo quân ra Bắc phò Lê diệt Trịnh, tầng lớp sĩ phu Bắc Hà có nhiều phản ứng khác nhau nhưng phần lớn giống nhau ở chỗ là không nhiệt tình với triệu đại mới:
Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng. Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời.
Sau khi dẫn lời Khổng Tử và nêu lên quy luật của đất trời là những người tài đức phải giúp vua dựng nước, tác giả nói đến tình cảnh của kẻ sĩ lúc bấy giờ: mệt số người tài đức thì đi ở ẩn trong khe núi, trốn tránh việc đời, bỏ phí tài năng. Những người ra làm quan với triều Tây Sơn thì hoặc sợ hãi im lặng (kiêng dè không dám lên tiếng), hoặc làm việc cầm chừng (gõ mõ canh cửa). Một số khác ở ẩn, khác chi như người bị chết đuối trên cạn. Thậm chí một số người tự tử để giữ lòng trung với vua Lê.
Tác giả không nói thẳng mà dùng hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng lấy trong kinh điển Nho gia. Làm như vậy vừa tế nhị, vừa có tính chất phê phán nhẹ nhàng, lại tỏ ra người viết có kiến thức sâu rộng, có tài văn chương, khiến người nghe nể trọng, không những không tự ái mà còn tự cười, tự trách về thái độ ứng xử chưa thoả đáng của mình.
Sau khi chi ra mấy cách ứng xử có phần tiêu cực của một số sĩ phu Bắc Hà, vua Quang Trung bày tỏ tâm sự của mình và đặt ra những câu hỏi buộc người nghe phải suy ngẫm rồi tự trả lời:
Xem thêm: Hãy bàn luận ý kiến sau đây: “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo"Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trâm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?
Những người hiền đến lúc này mà vẫn chưa chịu hợp tác với triều đình mới thì hoặc là coi vua Quang Trung it đức, không xứng để phò tá; hoặc viện cớ tình hình xã hội đang thời đổ nát cả hai điều ấy đều không đúng với hoàn cảnh hiện tại. Vậy thì chi còn cách là phải đem tài đức ra phục vụ và phục vụ hết lòng cho triều đại mới.
Sự nghiệp đại định của đất nước đòi hỏi các bậc hiển tài phải cống hiến tài năng, nhiệt huyết. Thái độ chiêu hiền đãi sĩ của vua Quang Trung là rất chân thành. Nhà vua tỏ rõ sự khiêm tốn, thực lòng mong muốn có sự cộng tác của các bậc hiền tài để xây dựng một triều đại mới vững mạnh:
Kìa như, trời còn tăm tối, thì đấng quân tử phải trổ tài. Nay đương ở buổi đầu của nền đại định, công việc vừa mới mở ra. Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan. Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi. Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh. Nghĩ cho kĩ thì thấy rằng: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình. Suy đi tính lại trong vòm trời này, cứ cái ấp mười nhà ắt phải có người trung thành tín nghĩa. Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?
Lập luận trong đoạn văn này rất chặt chẽ, có lí có tình. Nhà vua chi rõ tính chất của thời đại và nhu cầu trước mắt của đất nước, đồng thời cũng thẳng thắn tự nhận những điều bất cập của triều đại mới do mình đứng đầu như chính sách cai trị còn nhiều thiếu sót, việc biên ải chưa yên, dân chưa hồi sức sau chiến tranh, đức hoá của vua chứa thấm nhuần,… Trong khi đó, công việc ngày càng nhiều và trách nhiệm của triều đình ngày càng nặng nề, đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các bậc hiền tài. Hình ảnh: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn và mưu lược của một người không thể dựng nghiệp trị bình là nhận xét khách quan, đúng đắn, thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc và tầm nhìn chiến lược sáng suốt của vua Quang Trung ồ thời điểm ấy.
Kết thúc đoạn văn, tác giả lại dẫn lời Khổng Tử trong sách Luận ngữ để khẳng định rằng hiện nay nhân tài không những có, mà còn có nhiều. Vậy tại sao trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao? Câu hỏi tha thiết đó buộc giới sĩ phu Bắc Hà phải suy nghĩ và thay đổi cách ứng xử.
Lời nói khiêm nhường, chân thành và lập luận có lí có tình cùng chính sách sử dụng hiền tài rộng rãi của nhà vua khiến các bậc hiền tài không thể không đem tài đức ra giúp triều đại mới:
Chiếu này ban xuống, các bậc quan viên lớn nhỏ, cùng với thứ dân trăm họ, người nào có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sớ tâu bày sự việc. Lời nói nào có thể chọn dùng được, thì cất nhắc không kể thứ bậc; chỗ nào không dùng được thì gác lại, không vì lời nói sơ suất vu khoát mà bắt tội. Còn người có nghề hay nghiệp giỏi, có thể cống hiến cho đời, thì cho phép các quan văn, quan võ được tiến cử, nhưng vẫn dẫn vào đợi ra mắt, tuỳ tài lục dụng. Hoặc người nào từ trước đến nay tài năng còn bị che kín, chưa được người đời biết đến, thì cũng cho phép dâng sớ tự tiến cử, chớ hiềm vì mưu lợi mà phải bán rao.
Đường lối cầu hiền của vua Quang Trung đúng đắn và rộng mở. Trước hết, tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ quan viên lớn nhỏ đến dân chúng trăm họ đều được phép dâng sớ bày tỏ ý kiến về việc nước, nghĩa là ai cũng có quyền tham gia đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Cách tiến cử cũng đa dạng, gồm hai cách: do các quan tiến cử hoặc bản thân dâng sớ tự tiến cử. Cuối cùng, nhà vua kêu gọi người có tài đức hãy cùng triều đình chung vai gánh vác việc nước để cùng nhau hưởng phúc lâu dài:
… Trong khoảng trời đất, hiền tài còn ẩn náu, trước đây thì nên như thế. Nay trời trong sáng, đất thanh bình, chỉnh là lúc người hiền gặp hội gió mây, những ai có tài đức hãy cùng cố gắng lên, ghi tên tại triều đình, cùng nhau cung kính, cùng nhau hưởng phúc lành tôn vinh.
Chiếu cầu hiền là một bài văn nghị luận có tính mẫu mực, thể hiện ở sự chặt chẽ và tính lôgíc của các luận điểm, ở tài thuyết phục khéo léo và thái độ khiêm tốn, chân thành của người viết. Các điển cố được sử dụng trong bài Chiếu cho thấy nhận thức tinh tế của người viết về đối tượng cần thuyết phục là tầng lớp trí thức. Người viết tỏ ra có trình độ hiểu biết sâu rộng, đủ khả năng thuyết phục một đối tượng như thế. Cách diễn đạt của bài Chiếu tạo ấn tượng tốt về vua Quang Trung – một con người văn võ kiêm toàn; đồng thời chuyển tải được nội dung một cách hàm súc, trang trọng.
Bài Chiếu cầu hiền thể hiện tầm nhìn chiến lược của vua Quang Trung trong việc nhận thức vể vai trò quan trọng của hiền tài đối với đất nước. Hiền tài là nguyên khi quốc gia. Cầu hiền gần như là một quy luật tất yếu đối với các triều đại tiến bộ khi mới ra đời. Ngô Thì Nhậm nắm vững chiến lược cầu hiền của vua Quang Trung và đã thể hiện một cách xuất sắc tư tưởng chiến lược đó qua bài Chiếu cầu hiền ngắn gọn nhưng đầy sức thuyết phục.
Xem thêm: Bác Hồ từng dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Em hãy viết đoạn văn chứng minh những thành công mà nhân dân ta có được nhờ tinh thần đoàn kết | Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm | 2,316 | |
Đề bài: Phân tích bài chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
Chuyện chức phán sự ở đền Tàn Viên là 1 trong những chuyện hay, tiêu biểu của Truyền kỳ mạn lục. Câu chuyện đã phê phán hiện thực xã hội và đề cao phẩm chất kẽ sĩ, đồng thơi phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc của tác giả, mà nhân vật chính là Ngô Tử Văn một con người tính tình khảng kháng, trung trực.
Khác với một số truyện trong đó Nguyễn Dữ trình bày lai lịch và hành trình số phận của nhân vật từ đầu đến cuối, Chuyện chúc phán sự ở đền Tản viên chỉ chọn 1 thời điểm có ý nghĩa nổi bật để bộc lộ đầy đủ tính cách nhân vật. Chuyện giống như một màn kịch ngắn, mở màn là sự xuất hiện của ngô Từ Văn với hành động châm lửa đốt đền thiêng. Hành độn đó chính là ngòi nổ cho 1 cuộc chiến đấu giữa chàng và hồn ma tên tướng giặc bại trận.
“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” viết bằng chữ Hán theo thể văn xuôi truyền kỳ. Đây là thể loại văn học phản ánh hiện thực cuộc sống qua những yếu tố kỳ ảo hoang đường. Nhân vật trong bộ truyền kỳ gồm cả người, ma quỷ, thần thánh, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể xâm nhập thế giới của nhau. Bộ truyện “Truyền kì mạn lục” được sáng tác vào khoảng thế kỉ XVI, lúc xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào suy thoái, khủng hoảng, nhân dân bất bình với tầng lớp thống trị, nhiều nho sĩ rơi vào tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc cho thời thịnh trị dưới sự cai trị của vua Lê Thánh Tông. Nguyễn Dữ sáng tác bộ truyện trong khoảng thời gian ông đã cáo quan ở ẩn vừa để phản ánh tình trạng xã hội, vừa để bộc lộ quan điểm sống và tấm lòng của ông với cuộc đời.
Nhân vật chính của tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” xuất hiện ngay từ đầu truyện bằng mấy dòng giới thiệu trực tiếp ngắn gọn về tên họ, quê quán, tính tình, phẩm chất. Ngô Tử Văn được giới thiệu là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được. Lời giới thiệu mang giọng ngợi khen, có tác dụng định hướng cho người đọc về hành động kiên quyết của nhân vật này. Minh chứng rõ ràng cho tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng. Trong khi mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần làng quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Hành động đó xuất phát từ muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, từ lòng tự tin vào chính nghĩa của Ngô Tử Văn, chứng tỏ cốt cách khảng khái của kẻ sĩ.
Xem thêm: Hãy bình luận câu tục ngữ sau: "Đất tốt trồng cây rườm rà, Những người thanh lịch nói ra dịu dàng". "Đất xấu trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu"Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn còn bộc lộ rõ qua thái độ của chàng với hồn ma tên tướng giặc. Tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược nước ta, tàn hại dân ta, khi chết rồi vẫn quen thói ỷ mạnh hiếp yếu, cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, lại còn gian trá bày trò đút lót rồi tác yêu tác quái với nhân dân trong vùng. Hắn bị Tử Văn đốt đền là đáng đời nhưng lại hiện hình, xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lới đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc. Thái độ ấy thể hiện một khí phách cứng cỏi, một niềm tin mạnh mẽ vào chính nghĩa, sự đúng đắn trong hành động của Ngô Tử Văn. Mặt khác, bản lĩnh của chàng còn thể hiện qua thái độ biết ơn lời chỉ dẫn của thổ thần nước Việt. Do Tử Văn dũng cảm, trừ hại cho dân nên thần linh mới phù trợ giúp đỡ chàng.
Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Khi đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chững không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng. Chàng đã bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến cùng. Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí. Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuấ, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân.
Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng, chống lại cái ác, Ngô Tử Văn đã nổi bật lên là người chính trực, khảng khái, dũng cảm bảo vệ công lí đến cùng, là một kẻ sĩ cứng cỏi của nước Việt. Từ đó, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác.
Truyện thông qua cuộc đấu tranh của Ngô Tử Văn còn ngầm phản ánh thế giới thực của con người với đầy rẫy sự việc xấu xa như nạn ăn của đút,tham quan dung túng che dấu cho cái ác hoành hành, công lí bị che mắt.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến | Phân tích bài Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên | 1,205 | |
Phân tích bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư.
Hướng dẫn
Về thời nhà Lí (1009 – 1225), Thăng Long trở thành kinh đô nước Đại Việt. Sau chiến thắng sông Cầu – Như Nguyệt (1076), nền độc lập của Tổ quốc ta được củng cố, ý thức dân tộc phát triển mạnh mẽ. Việc học hành được mở mang, Kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển khá phồn thịnh. Đạo Phật trở thành quốc giáo. Việc xây chùa, đúc chuông, tạc tượng, in kinh Phật diễn ra sôi nổi khắp nơi. Nhiều vị Thiền sư được triều đình trọng vọng. Họ là những con người lỗi lạc, đức trọng, tài cao, giỏi thơ văn, tên tuổi sáng ngời sử sách.
Trong số đó, Mãn Giác Thiền sư (1052 – 1096) là một vị cao tăng mang tâm hồn thi sĩ tuyệt đẹp. Bài "Có bệnh bảo mọi người" (Cáo tật thị chúng) được vị Thiền sư đọc cho các đệ tử nghe khi ông lâm bệnh trọng, trước lúc qua đời. Vốn là một bài kệ (kinh kệ) hàm chứa triết lí đạo Phật cao sâu, nhưng lại tươi mát, gợi cảm, đầy thi vị. Nguyên tác bằng chữ Hán, đây là bản dịch thơ:
“Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi.
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết;
Đêm qua, sân trước, một cành mai”
(Ngô Tất Tố dịch)
Bài kệ – thơ đã nói lên quy luật của sự sống và thiên nhiên, biểu lộ tâm thế của nhà sư trước quy luật sinh, tử ở cõi nhân gian, cái tịch diệt và cái vĩnh hằng trong vũ trụ.
“Có bệnh bảo mọi người” gồm 6 câu, cứ 2 câu kết thành một liên đăng đối, hài hoà để lại nhiều ấn tượng thú vị.
Hai câu đầu nói lên sự tuần hoàn của 4 mùa, tiêu biểu là sự chuyển vần của mùa xuân. Mỗi độ xuân về, trăm hoa nở (bách hoa khai) đua sắc khoe hương.
Hình ảnh “trăm hoa cười’’ tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ, cho vẻ đẹp của cây cổ thiên nhiên và mùa xuân. Nhựa sống mùa xuân, hương sắc mùa xuân… còn gì đẹp hơn? Và khi mùa xuân đi qua, ngày tháng sẽ trôi nhanh theo mùa hạ, chuyển sang mùa thu rồi đến mùa đông, chẳng bao lâu lại trở về mùa xuân… cỏ cây, hoa lá, tạo vật cũng biến đổi, sinh trưởng hay phai tàn theo 4 mùa, năm tháng. Khi mùa xuân trôi qua, “trăm hoa rụng” (bách hoa lạc) theo quy luật của tự nhiên. Hai câu thơ mang màu sắc triết lí, khái quát quy luật tồn tại của thiên nhiên và sự vận động của thời gian. Mùa xuân cũng như sự sống thiên nhiên chuyển biến bất tận: “xuân qua” rồi “xuân tới”, “hoa nở” rồi “hoa tàn ”… Mùa xuân là vĩnh hằng. Cỏ cây, trăm hoa cũng như vạn vật, con người đều bị chi phối theo quy luật khắc nghiệt của tự nhiên:
"'Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười”
Bước đi của mùa xuân “qua… tới”, cũng như trăm hoa “rụng… nở”, một lối nói đầy cảm xúc, làm cho câu kệ vốn khô khan đã trở thành câu thơ đẹp và hay. Qua đó, ta thấy tâm hồn vị Thiền sư quả là đẹp!
Xem thêm: “Một quyển sách tốt là một người bạn hiền”. (La Rochefoucault). Em hãy giải thích và chứng minh ý kiến trênHai câu tiếp theo, Mãn Giác nói về chuyện người, chuyện đời. Trong cõi nhân sinh, vạn vật biến diễn không ngừng, vận động theo năm tháng “Trước mắt việc đi mãi… Cũng như con người, có sinh tất có tử, lúc khoẻ mạnh ắt có lúc ốm đau, bệnh tật, có tuổi hoa niên trẻ tráng tất cái già sẽ đến. Quy luật cuộc sống là như thế, vốn thế! Vị cao tăng đang nằm trên giường bệnh, đọc bài kệ này cho các đệ tử nghe. Ông muốn nhắc nhở họ với tất cả sự thanh thản: Ông đã về già, đang “có bệnh ”, nhất định sẽ “tịch ” (chết). Đó là lẽ thường tình, có gì đáng sợ, đáng lo. Ý tưởng và triết lí của câu kệ cao siêu vô cùng. Hãy biết yêu cuộc đời với sự thanh thản – hãy làm chủ cuộc sống:
“Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi”.
Bài kệ được khép lại bằng hai câu tuyệt cú, xưa nay được truyền tụng như một vần thơ đẹp trong bài cổ thi:
“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước, một cành mai).
Hai tiếng "mạc vị ” (đừng tưởng) như một lời nhắc khẽ, thấm thìa. Câu thơ cấu trúc liên hoàn, tương phản: “hoa rụng hết ” và “một cành mai ” nở ra. Hình ảnh “nhất chi mai ” (một cành mai) là một thi liệu ta thường bắt gặp trong thơ cổ. “Đối ngạn: nhất chi mai ”, (Bên suối: một nhành mai) – Hồ Chí Minh… nhành mai tượng trưng cho vẻ đẹp tinh khiết, thanh cao, lộng lẫy của thiên nhiên và con người. Trong bài thơ này, cành mai nở hoa buổi xuân tàn là một hoán dụ nghệ thuật, nhà thơ lấy nó để nói về mình, chỉ về mình, biểu lộ một quan niệm nhân sinh của vị chân tu: vạn vật sinh ra, tồn tại rồi mất đi, có sinh, trưởng, lão, bệnh, tử… nhưng nhà tu hành chân chính, đắc đạo có thể vượt ra khỏi vòng sinh tử, ngoài quy luật tự nhiên như cành mai nở hoa buổi xuân tàn, khi trăm hoa đã rụng hết! Vậy thì ta (Thiền sư Mãn Giác) đang “có bệnh ” là chuyện thường tình, theo quy luật của tự nhiên có gì đáng băn khoăn? "Thác là thể phách, còn là tinh anh” (Truyện Kiều). Ngoài triết lí sâu xa của đạo Phật, được cụ thể hóa và hình tượng hóa qua hình ảnh “nhất chi mai ”, câu thơ còn ẩn chứa một ý nghĩa đẹp: nhà sư rất lạc quan yêu đời. Với ông, thìthiên nhiên hữu sắc hữu hương, tràn đầy sức sống, tươi mát trẻ trung, cuộc sống không ngừng vươn lên mạnh mẽ theo dòng chảy thời gian.
Bài kệ “Cáo tật thị chúng ” thể hiện một cốt cách, một quan niệm sống đẹp của vị Thiền sư đức trọng tài cao. Tư tưởng Phật giáo hoà quyện với chất thơ, tầm cao sâu triết lí đạo Phật được trang phục bằng lời thơ đẹp, giàu hình tượng và cảm xúc.
Bài kệ đã trở thành bài cổ thi, đã đi suốt hành trình một thiên niên kỉ. Đọc bài “Cáo tật thị chúng”, ta trân trọng tinh thần yêu đời, yêu sự sống của vị Thiền sư, chúng ta yêu thêm vẻ đẹp trắng muốt của cành mai nở hoa buổi xuân tàn. Dư vị của bài thơ như một lời nhắc khẽ: hãy làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời và biết làm chủ bản thân mình, để yêu đời, yêu sống, để lao động và học tập say mê.
Nguồn: thêm: Bình luận câu cổ ngữ: “Ngọc vô cùng qúy giá, nhưng ngọc tâm hồn còn qúy giá hơn nhiều" | Phân tích bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác Thiền sư. | 1,235 | |
Phân tích bài học nhân sinh được truyền tải qua tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của Ô-hen-ri
Bài làm
Đồng tiền luôn có một sức mạnh kì lạ chi phối con người, rồi từ đồng tiền mà trong xã hội xuất hiện nhiều điều tiêu cực, con người hầu như chẳng còn mấy tình thương với nhau, chạy theo đồng tiền nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu bản thân mỗi người, nhưng trong số đó vẫn còn những con người tuy nghèo khổ mà biết thương yêu nhau, dùng tình cảm để san sẻ đùm bọc lẫn nhau, từ đó mà những con người này đi vào văn học một cách tự nhiên nhất, tiêu biểu cho hình ảnh đó là tác phẩm “Chiếc là cuối cùng”, một tác phẩm đọng lại trong người nghe nhiều cảm xúc về tình người.
Qua tác phẩm ta thấy được cuộc sống nghèo khổ của hai nữ họa sĩ trẻ tuổi tại một khu nhỏ phía tây công viên Oa-Sinh-Tơn, một người họa sĩ già dành cả cuộc đời mình cho nghệ thuật nhưng chưa bao giờ thành đạt, họ sống trong một môi trường thiếu thốn nặng nề về mặt vật chất, những ngôi nhà lụp sụp chật hẹp với sự khan hiếm thức ăn là nỗi khó khăn lớn nhất với những con người nay. Nhưng nhìn về mặt tinh thần thì là một hoàn cảnh hoàn toàn trái ngược, họ yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cật lực làm việc để dành tình yêu sâu đậm cho nhau.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên ngữ văn 12
Hai nữ họa sĩ Xiu và Giôn – xi từ những vùng đất xa xôi hội tụ tại nơi đây thông qua niềm đam mê mãnh liệt với nghệ thuật, thấu hiểu và gắn kết với nhau thông qua những sở thích chung giữa hai người, đó là rau xà lách, là ống tay áo ngoài. Rồi thứ tình cảm đó được thấy rõ hơn cả khi Giôn – xi ốm nặng, cô đã không bỏ rơi bạn của mình, gồng mình lên vừa nuôi bản thân vừa chăm sóc cho người bạn của mình, động viên bạn mình trước những suy nghĩ yếu đuối của bản thân. Hai con người sống vì tình cảm chứ không phải vì thứ vật chất rẻ tiền, không lợi dụng, không toan tính, một thứ tình cảm đáng yêu hơn bất cứ thứ gì tồn tại trên đời.
Giá trị nhân sinh trong tác phẩm còn được thể hiện thông qua hình ảnh bác Bơ – men, một người nghệ sĩ đã có tuổi ở cũng với hai nữ họa sĩ trẻ, con người bác thể hiện tình thương theo cách rất khác biệt, không nhẹ nhàng chăm sóc, không ân cần trìu mến bảo ban. Khi biết tin Giôn – xi bị bệnh nặng tuyệt vọng không muốn sống nữa người họa sĩ già đã rất bực tức, bác thể hiện cảm xúc ra ngoài, la mắng giận dữ vô cùng. Nặng lời là vậy, lời lẽ nghe thật đau lòng nhưng người họa sĩ đã tìm ra liều thuốc quý hiếm lấy lại niềm tin cho Giôn – xi, đó là bức vẽ chiếc là cuối cùng, bức tranh tuyệt vời nhất trên thế giới, bức vẽ được thực hiện trong đêm tối dưới cái lạnh giá của tuyết trời, dưới ánh sáng mờ ảo của chiếc đèn trước bão. Một con người đã dành phần lớn cuộc đời mình cho nghệ thuật chưa bao giờ thành đạt, một người đang mang trong mình căn bệnh viêm phổi nặng tại sao lại có được bức vẽ tuyệt vời như vậy, đơn giản bởi vì nét bút, màu sắc xuất phát từ trái tim người bác Bơ – men, xuất phát từ tình thương giữa con người với con người. Chiếc là sẽ mãi ở đó, chẳng bao giờ rụng cả và cô gái mang tên Giôn – xi trở lại với niềm tin vào cuộc sống, còn người bác già đã trút hơi thở cuối cùng đời mình khi hoàn thành kiệt tác có một không hai. Tới nay chẳng ai có thể kìm nổi cảm xúc, người đọc có thể thấu hiểu phần nào sự yêu thương trong những con người nghệ sĩ nghèo khó.Xem thêm: Giới thiệu về món ăn dân tộc
Nhà văn đã xây dựng thành công hình ảnh nhân vật, thể hiện rõ nét những tình cảm đáng quý, tác phẩm như một lời tỏ, lời mong muốn đưa con người tới cái đẹp, tới tình người, bỏ đi cái xấu, cái hẹp hòi bên trong mỗi con người. | Phân tích bài học nhân sinh được truyền tải qua tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của Ô-hen-ri | 783 | |
Phân tích bài Mộ (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Hồ Chí Minh bị bắt ngày 19-8-1942 tại phố Túc Vinh thuộc trấn Thiên Bảo, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Sau đó, chính quyền Tưởng Giới Thạch giải Người ngược trở lại phía biên giới để giam giữ tại nhà ngục huyện Tĩnh Tây; đúng ngày quốc khánh Trung Hoa cũ (10-10), Hồ Chí Minh lại bị giải vào Thiên Bảo ngục. Trên đoạn đường trên dưới l00 km từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, Người phải đi bộ trong hai ngày. Tuy vậy, Hồ Chí Minh vẫn tức cảnh sinh tình, sáng tác ba bài thơ: Tẩu lộ (Đi đường); Mộ (Chiều tối); Dạ túc Long tuyền (Đêm ngủ ở Long Tuyền); đó là chưa kể đến bài Sơ đáo Thiên Bảo ngục (Mới đến nhà lao Thiên Bảo). Trong các bài thơ sáng tác trên chặng đường này, bài "Mộ" được xem là áng thơ tuyệt bút.
MỘ
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.
Dịch thơ:
CHIỂU TỐI
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết, lò than đã rực hồng.
Qua vài nét chấm phá, hai câu đầu của bài thơ đã đề lại một bức tiểu họa về cảnh thiên nhiên vùng sơn cước ở thời điểm "chiều tối". Những buổi chiều như vậy đâu có thiếu trong văn chương cổ kim; nhưng nếu cảnh ấy qua cái nhìn của một Lý Bạch tiêu diêu, một Khuất Nguyêu u uất chắc chắn sẽ đầy ảm đạm, thê lương. Còn ở đây, nếu không rõ xuất xứ, nhiều người sẽ lầm tưởng Mộ là bài thơ của thời Thịnh Đường. Có người nhận xét cảnh thiên nhiên chiều tối trong bài Mộ có cái gì ấm áp, thậm chí có cả niềm vui nữa ở hình ảnh "chim bay về tổ"; vì nó sẽ được nghỉ ngơi trong tổ ấm của một vòm cây nào đó. "Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ" khác với "Chim bay về tổ". Nhìn lên trời, Hồ Chí Minh nhận ra vẻ mệt mỏi, uể oải của cánh chim. Cái nhìn ấy thể hiện tình cảm nhân ái bao la của Người đối với cảnh vật. Cánh chim trong thơ Bác gợi nhớ cánh chim qua ánh mắt nàng Kiều trong thơ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du: Xem thêm: Tác dụng của nghệ thuật miêu tả tương phản trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) Chim hôm thoi thót về rừng
Cánh chim trong thơ Vương Bột, Lý Bạch, Nguyễn Du… thường bay về chốn vô tận, vô cùng, vô định, gợi cảm giác xa xăm, phiêu bạt, chia lìa. Ngược lại, cánh chim trong thơ Hồ Chí Minh là cánh chim đang tìm về với sự sống thường ngày. Nhờ vậy, mà nó có hồn và nhuộm đầy tâm trạng hơn.
Cùng với "Quyện điểu quy lâm" là "Cô vân mạn mạn". Bài thơ dịch khá uyển chuyển, nhưng đã làm mất đi vẻ lẻ loi, trôi nổi, lững lờ của đám mây. Người dịch đã bỏ sót chữ "cô" và chưa thể hiện được hết nghĩa của hai từ láy "mạn mạn". Câu thơ dịch:
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
để khiến người đọc nghĩ đến cái nhìn của một du khách. Phải chăng, vì quá tin vào bản dịch mà ai đó nói cảnh thiên nhiên trong "chiều tối" là một cảnh vui. Hình ảnh "Cánh chim mỏi về rừng tìm cây ngủ" – tìm một chỗ ngủ tạm qua đêm, và chòm mây lẻ loi, trôi lững lờ gợi một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng nhưng không ảm đạm, đượm buồn nhưng không thê lương, rộng lớn mênh mông nhưng đâu có "xanh trong thi vị"… Cảnh ấy, tương đồng với tâm trạng của người bị giải, vẻ đẹp của bài thơ là ở chỗ: Tác giả không để lộ cái mệt mỏi, cô đơn của chính mình. Với Hồ Chí Minh mọi nỗi buồn, niềm vui dường như đều gắn liền với dân tộc, nhân dân mà ít khi phụ thuộc vào cảnh ngộ riêng của Người.
Thơ tứ tuyệt thường bất ngờ ở câu chuyển, bất ngờ mà vẫn phải tự nhiên, hợp lí, liền mạch. Nổi bật lên trên không gian chiều tối, sâu lắng, tĩnh lặng là hình ảnh con người: Xem thêm: Cảm xúc của mọi người dân Việt Nam qua ba khổ thơ cuối trong bài thơ Bác ơi như thể nào? Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao tức ma hoàn, lô dĩ hồng.
"Sơn thôn thiếu nữ" dịch là "Cô em xóm núi" đứng trên bình diện nghĩa của từ thì không có gì sai. Nhưng câu thơ dịch đã không thể hiện được cái nhìn trân trọng của nhân vật trữ tình đối với con người; giọng điệu trang trọng của câu thơ nguyên tác không hiện diện trong lời thơ dịch (mà nhiều khi giọng điệu còn quan trọng hơn cả cái được miêu tả). Người phụ nữ đã nhiều lần có mặt trong thơ chữ Hán, nhưng phần lớn họ đều thuộc giới thượng lưu hoặc chí ít cũng gần gũi với giới thượng lưu. Không rõ trước Hồ Chí Minh đã có một "sơn thôn thiếu nữ" thực sự là người lao động bước vào thế giới của nàng thơ hay chưa? Chỉ biết rằng việc đặt hình ảnh "sơn thôn thiếu nữ" ở vị trí trung tâm của bức tranh phong cảnh chiều tối đã làm cho bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh về cuộc sống con người. Sự chuyển đổi ấy thể hiện một khuynh hướng vận động của hình tượng thơ và quan điểm nhân sinh của Bác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng gắn bó với cuộc sống con người nơi trần thế – đặc biệt là cuộc sống nhân dân lao động.
Về mặt nghệ thuật, ở hai câu thơ kết, người đọc thấy nhà thơ dường như không tả, ngòi bút của Người chỉ ghi nhận một cách khách quan "những điều trông thấy" trong cảnh chiều tối. Điệp ngữ liên hoàn "ma bao túc" nối liền dòng thơ thứ ba với dòng thơ kết đã góp phần diễn tả được cái vòng quay liên tục, đều đặn của động tác xay ngô. Điều đáng tiếc là bài thơ dịch đã không thể hiện được điều ấy. Để cảm thụ giá trị tuyệt diệu của câu thơ, không thể không tiếp xúc với phần phiên âm chữ Hán.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.
Vòng quay của chiếc cối chấm dứt, công việc kết thúc (bao túc ma hoàn) thì lò than cũng vừa đỏ (lô dĩ hồng), ánh lửa đỏ ấm nồng xuất hiện thật bất ngờ, tỏa sáng vào đêm tối. Tài hoa của Hồ Chí Minh là ở chỗ tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh chiều tôi mà Người không phải dùng đến một tính từ chỉ thời gian nào. Người dùng ánh lửa đỏ để thể hiện thời gian đã tối (trời có tối, lò mới rực hồng). Hơn nữa, người đọc còn cảm nhận được bước đi của thời gian từ chiều đến tối. Cô gái xay ngô từ khi trời còn ánh sáng; xay xong thì trời đã tối. Phải chăng Hồ Chí Minh đã có một phát hiện mới trong bút pháp tả thời gian. Rõ ràng, ngay cả khi tả cảnh chiều tối, thơ Hồ Chí Minh vẫn có sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng. Người đọc cảm thấy không hài lòng khi dịch giả thêm vào câu chuyển một từ "tối". Nhìn bề ngoài việc thêm vào như vậy có vẻ như vô thưởng, vô phạt; nhưng nghĩ sâu xa thì chính chữ ấy đã phá vỡ một quy luật vận động lớn trong thơ Hồ Chí Minh và không bộc lộ hết tài năng của Người. Chữ "hồng" rất xứng đáng là "ông thánh thứ hai mươi tám" của bài thơ. Trong Ngục trung nhật kí có bao nhiêu chữ "hồng" như vậy? Chữ "hồng" là nơi hội tụ, kết tinh ánh sáng của toàn bài, là hình ảnh của sự sống thường nhật và niềm vui lao động. Xem thêm: Một trong những nét phong cách nổi bật của thơ Hồ Chí Minh là "hình tượng thơ luôn luôn vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai". Hãy chứng tỏ điều đó qua hai bài thơ Chiều tối và Giải đi sớm trong Nhật kí trong tù của Bác Buổi chiều tối rực ánh hồng ở bài Mộ là buổi chiều tối không dễ gì lặp lại lần thứ hai trong thơ, ánh hồng ấy không chỉ tỏa ra từ chiếc bếp lửa bình dị của một "sơn thôn thiếu nữ mà chủ yếu được tỏa ra từ tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh. Niềm vui của chúng ta khi đọc Mộ nói riêng và thơ Bác nói chung là niềm vui của người được tiếp nhận ánh sáng lấp lánh của chất thép kì diệu thể hiện trong từng câu, từng chữ của bài thơ.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài Mộ (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh | 1,558 | |
Phân tích bài Sang Thu của Hữu Thỉnh
Hướng dẫn
Chúng ta đã được cảm nhận con người và cảnh vật vào mùa thu qua rất nhiều tác phẩm. Phải nói rằng mùa thu của chúng ta thật đẹp, thật nên thơ. Với bài Sang thu của Hữu Thỉnh, bằng cảm nhận tinh tế và những hình ảnh giàu sức biểu cảm, bài thơ đã thể hiện những biến chuyển của đất trời và tâm hồn con người từ cuối hạ sang đầu thu.
Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942 ở một làng quê tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1963, ông nhập ngũ, vào binh chủng Tăng – Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa, tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ. Bài thơ “Sang thu” được ông sáng tác năm 1977, sau khi chiến tranh đa kết thúc, thể hiện những cảm nhận tinh tế của tác giả trước mùa thu trong hòa bình. Thể thơ năm chữ đã giúp miêu tả tinh tế và sâu sắc những biến chuyển của đất trời vào buổi giao mùa từ hạ sang thu.
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”
Mùa thu đến với tác giả thật bất ngờ nhưng rất lãng mạng và thơ mộng. Cũng như nhiều nhà thơ khác, ông thể hiện tình cảm của mình với mùa thu qua những vần thơ của mình. Thơ ca tự cổ chí kim đã viết rất nhiều về những dấu hiệu ấy, từ sắc vàng hoa cúc cho tới lá khô rải thảm, ngô đồng nhất diệp lạc… Hữu Thỉnh không đi theo lối mòn ấy, mùa thu trong ông bắt đầu với “hương ổi” – mùi hương vô cùng giản dị và gần gũi của vùng nông thôn miền Bắc quê ông. Nếu như cậu bé Trần Đăng Khoa ngày nào đã nhận ra mùa thu tới chỉ bởi hình ảnh “Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau” thì bây giờ Hữu Thỉnh nhờ đến hương ổi để nhận ra điều đó. Phải là một người yêu quê hương tha thiết mới có thể viết được như thế! Từ “phả” ở đây được dùng rất chính xác, động từ ấy đã gợi lên hương ổi thơm đậm đà, hòa quyện và sánh lại trong gió. Những cơn gió se hơi khô, hơi lạnh đặc trưng của mùa thu ấy lại càng tinh lọc, cô đặc thêm mùi hương. Chúng đem hương ổi, hương thu tới từng ngõ ngách, đánh thức tâm hồn thi sĩ. Từ “se” là đang tả gió, hay là tả cái co mình hơi run của vạn vật khi gió lướt qua? Từ gió, tác giả nhận ra sương.
"Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về"
Dấu hiệu báo mùa thu đến thật quá đột ngột khiến tác giả chưa tin chắc rằng thu đã về. Từ láy “chùng chình” như vừa tả sự khoan thai, chậm rãi của màn sương, lại vừa như tả những bước chân nhẹ nhàng của nàng Thu đang rón rén bước vào không gian. Hay sự “chùng chình” ấy cũng chính là cảm giác bâng khuâng, lưu luyến ủa nhà thơ khi thu tới. Ngay cả cái ngõ mà sương đang ngập ngừng đi qua ấy cũng là một ẩn dụ rất thơ, rất tinh tế. Nó vừa là cái ngõ quê trong thực tại, lại vừa là cửa ngõ thời gian thông giữa hai mùa. Ở đó có hương trong gió, có gió trong sương, những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu đều hiện diện. Thế nhưng, dù đã cảm nhận được mùa thu qua ba giác quan khứu giác (“hương ổi”), xúc giác (“gió se”), cả thị giác (“sương chùng chình”), tác giả vẫn chưa hết sững sờ, vẫn chưa dám tin là thu đã về nên thầm hỏi lại mình trong câu thơ cuối. Sự bâng khuâng, mơ hồ ấy được lột tả qua hai chữ “hình như”, càng tạo thêm vẻ khói sương lãng đãng lúc thu sang. Bằng những cảm nhận tinh tế và sự điêu luyện trong ngôn từ, Hữu Thỉnh đã gợi lên cảm xúc lưu luyến, bâng khuâng trong lòng người khi nhận ra thu về.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của đoạn kết trong Chuyện chức phán sử đền Tản Viên (từ vương nghĩ Tử Văn đến nhà quan Phán sử) và lời bình cuối truyện (Từ Than ôi!... đến hết)
Trước sự báo hiệu nhẹ nhàng ấy của đất trời, tác giả đã hết sức ngỡ ngàng và đã xem xét vạn vật xung quanh xem có đúng là thu đã về hay không?
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã”
Mọi vật ở xung quanh nhà thơ là dấu hiệu báo thu đã về, nhưng mọi việc diễn ra quá nhanh và quá bất ngờ, nên tác giả chưa thật sự tin, vì vậy tác giả đã nhìn ra van vật xung quanh để chứng thực lại điều cảm nhận của mình. Bức tranh thu không còn chỉ gói gọn trong không gian nhỏ hẹp của “ngõ” với những nét vô hình như “hương”, “gió” mà trở nên rộng hơn, cao hơn với những thứ hữu hình, cụ thể như “sông”, “chim”, “mây”. Vế đối ở hai câu đầu rất chặt chẽ, rất thực nhưng vẫn rất đẹp, rất thơ. Dòng sông không còn chảy cuồn cuộn, dữ dội, gấp gáp như những ngày mưa lũ mùa hạ. Từ láy “dềnh dàng” đã tả được hết êm ả, lững lờ như thể sông đang lắng lại, đang trầm tư, suy ngẫm. Nhịp chảy chậm rãi, thư thả ấy kết hợp với từ “được lúc” đệm vào như gợi lên sự tranh thủ nghỉ ngơi của sông vào mùa thu. Phải chăng dòng sông ấy cũng chính là dòng sông “Dùng dằng hoa quan họ / Nở tím bên sông Thương” trong bài “Chiều sông Thương” cùng tác giả? Tương phản với sông là sự vội vã của chim. Khi khí trời chuyển lạnh cũng là lúc các loài chim chuẩn bị cho chuyến di cư về phương Nam tránh rét trong mùa đông. Chúng “vội vã” vì mùa thu tới báo hiệu một mùa đông lạnh giá cũng sắp đến gần. Và mới chỉ “bắt đầu vội vã” thôi, chứ chưa phải là đang vội vã, tức là mới chỉ là “sang thu” thôi chưa hẳn là đã thu.Xem thêm: Top 10 website những bài văn mẫu hay lớp 9 mới nhất
"Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu"
Nhìn lên bầu trời, tác giả mới phát hiện ra rằng, thì mua hạ mới bắt đầu qua đi nhường chỗ cho nàng thu duyên dáng diệu kì. Sự chuyển giao ấy thể hiện trên đám mây trên bầu trời. Đám mây ấy cũng có nét gì đó giống “Đám mây trên Việt Yên / Rủ bóng về Bố Hạ” trong “Chiều sông Thương” nhưng ở “Sang thu” vẫn đẹp hơn, thơ hơn vì nó là đám mây chuyển mùa. Bầu trời lúc ấy như một bức tranh tuyệt đẹp về màu sắc, trải từ sắc hạ sang sắc thu. Nếu như ở khổ đầu tiên, cần có một cái ngõ thực để gợi lên ngõ thời gian thông giữa hai mùa thì ở khổ thứ hai, chỉ cần một áng mây lơ lửng cũng gợi ra được ranh giới rất nhẹ giữa hai mùa. Có cảm giác như đám mây là chiếc khăn voan đang được mùa hạ trao cho mùa thu, nó vẫn là của mùa hạ đấy, nhưng đã nhuốm sắc thu rồi. Phải rất nhạy cảm và tinh tế mới thấy được, mới sáng tạo được một hình ảnh thơ đẹp như thế! Hữu Thỉnh đã tạo nên được những hình ảnh rất đẹp và giàu sức gợi cảm bằng cảm nhận tinh tế và sự sáng tạo của mình.
Mùa thu đến với tác giả qua sự bất ngờ, ngỡ ngàng và có sự xác thực lại xem có chính xác không. Và bây giờ là là sự cảm nhận riêng của tác giả:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.”
Mùa thu đến với nhà thơ thật bình tĩnh và nhẹ nhàng, không gian và vạn vật vẫn chưa chuyển hẳn sang thu nó vẫn còn vương vấn đâu đây những dấu hiệu của mùa hè. Vẫn có “nắng”, có “mưa”, có “sấm” như mùa hạ, nhưng tất cả đều đã đi vào chừng mực, ổn định, tạo cảm giác lắng đọng. Nắng tuy “vẫn còn” nhưng không còn gay gắt, oi ả và chói chang nữa mà đã dịu đi. Những cơn mưa rào xối xả cũng vơi đi, nhẹ bớt dần. Dường như khí thu khiến cho vạn vật đều muốn nghỉ ngơi. Ngay cả sấm chớp, bão dông cũng không còn đột ngột, bất chợt nữa. Nhưng Hữu Thỉnh đâu chỉ viết một bài thơ tả cảnh “sang thu” bình thường, trong đó là một điều sâu xa hơn thế. Nghệ thuật ẩn dụ trong hai câu thơ cuối đã gợi ra tính chất triết lí của bài thơ. “Sấm” không chỉ là dông bão, mà còn là những khó khăn, thách thức của cuộc đời. Còn “hàng cây đứng tuổi” kia cũng chính là sự từng trải, chín chắn của con người sau khi trải qua những giao lao ấy. Bão táp, dông tố của cuộc sống sẽ cho ta thêm kinh nghiệm, tôi luyện ý chí, giữ cho ta sự điềm tĩnh để kiên cường đối mặt với những khó khăn sắp tới. Qua đó, con người sẽ trưởng thành hơn, sâu sắc và thâm trầm hơn, vững vàng hơn trước những tác động của ngoại cảnh. Điều đó đã giải thích vì sao khi nhận thấy mùa thu, nhà thơ không reo lên “Thu đã về!” mà chỉ cảm nhận rồi mơ hồ tự hỏi “Hình như thu đã về”. “Đứng tuổi” cũng là lúc đã qua thời thanh niên sôi nổi bồng bột để chợt nhận ra rằng sao thời gian trôi qua thật nhanh, bỗng chốc mà đã nửa đời người, thấy đời mình cũng đã “sang thu”. Đó cũng là tâm trạng của tác giả – một người lính đã trải qua bao đạn bom, khói lửa chiến trường trước khi được cảm nhận mùa thu thanh bình, được chứng kiến hòa bình độc lập hôm nay. Nhìn lại quãng đời đã qua, ta vừa như muốn sống chậm lại để nghỉ ngơi, tận hưởng cuộc sống, vừa cảm thấy mình chưa làm được gì nhiều nên muốn khẩn trương, gấp gáp hơn. Như vậy sự “dềnh dàng” của sông và “vội vã” của chim trong khổ thứ hai cũng là để chỉ sự thay đổi của con người lúc thu sang nữa. Thu không chỉ tới trong thiên nhiên đất trời mà cả trong suy nghĩ, trong tâm tưởng mỗi người. Khổ thơ thứ ba đã hoàn chỉnh ý thơ của cả bài và gợi ra nhiều suy ngẫm về triết lí mà tác giả muốn gửi gắm tới độc giả.Xem thêm: Hãy ghi lại những cảm nghĩ chân thực của anh (chị) về những ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông
Hữu Thỉnh đã cho người đọc cảm nhận mùa thu trong từng hơi thở của đất trời và bộc lộ cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến khó tả của mình đến với người đọc bằng những hình ảnh rất giàu sức gợi cảm. Đọc thơ của ông, ta cũng có cảm giác thu đến từ từ thấm vào làn da thớ thịt của mình, thấy thu đẹp lạ thường, đáng yêu biết nhường nào.
Tác giả đã cho chúng ta cảm nhận về thời khắc sang thu thật đẹp, thật nên thơ. Những lời thơ của tác giả thật gợi cảm và giàu hình ảnh, cho ta cảm nhận được từng hơi thở của đất trời. Qua những vần thơ của mình, tác giả muốn gửi gắm đến thông điệp của cuộc sống, muốn nhắn nhủ đến thế hệ trẻ hãy sống hết mình với tuổi trẻ, đừng để thời gian trôi đi một cách vô ích.
Nguồn: | Phân tích bài Sang Thu của Hữu Thỉnh | 2,034 | |
Phân tích bài số phận con người của M. Sô – lô – khốp
Gợi ý
Qua hình tượng trung tâm – nhân vật An-đrây Xô-cô-lốp, truyện ngắn Số phận con người của Sô-lô-khốp đã khắc hoạ nổi bật vẻ đẹp của tính cách Nga, như lời khẳng định của nhà văn trong đoạn trữ tình ngoại đề ở cuối thiên truyện: Hai con người côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phủ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ… Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Tự nhiên tôi muốn nghĩ rằng con người Nga đó là người có ý chí kiên cường không gì bẻ gãy được, và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi đã lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường, nếu như Tổ quốc kêu gọi.
Hình ảnh những hạt cát bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bợt tới những miền xa lạ có ý nghĩa biểu trưng cho số phận của con người là nạn nhân của chiến tranh. Xô-cô-lốp bị chiến tranh phát xít cướp đi người vợ và ba đứa con, phải sống tha hương sau chiến tranh. Va-ni-a bị chiến tranh cướp đi cả bố và mẹ, trở thành trẻ mồ côi lang thang. Hai con người ấy, hai số phận bi thảm ấy gặp nhau và bù đắp cho nhau những mất mát về tình cảm với sự ấm áp của lòng vị tha mang đậm chất Nga. Câu hỏi Cái gì. đang chờ đón họ phía trước? là một câu hỏi lớn đặt ra cho hiện tại và tương lai. Số phận những con người như Xô-cô-lốp và Va-ni-a sẽ ra sao? Câu hỏi ấy chỉ có thể có được khi nhà văn nhìn thẳng vào sự thật chiến tranh, nhìn thẳng vào những đau thương, mất mát của con người trong và sau chiến tranh.Xem thêm: Nghị luận văn học - Âm nhạc và cuộc sống Có sáo rỗng không khi Sô-cô-lốp bày tỏ niềm tin tưởng, lạc quan vào sức mạnh của ý chí kiên cường như một phẩm chất tiêu biểu của con người Nga trước cuộc sống của Xô-cô- lốp và Va-ni-a? Dưới cái nhìn hiện thực của nhà văn, Xô-cô-lốp đã trải qua nhưng bất hạnh của số phận bằng một nghị lực như một bản năng sống mạnh mẽ. Và Va-ni-a là niềm an ủi, là nguồn động lực sống cho anh trong cuộc sống đời thường vốn không ít những khó khăn, nghịch lí. Hai số phận bất hạnh gặp nhau đã như một lời hứa hẹn tươi * sáng cho tương lai.
Bằng những số phận cụ thể, Sô-lô-khốp đã nói về tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tinh thần hiến dâng vì Tổ quốc mà không sa vào hô hào, hình thức.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài số phận con người của M. Sô – lô – khốp | 488 | |
Phân tích bài Thu Điếu của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Thu trong thơ Nguyễn Khuyến tiêu biểu cho mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thu trong thơ ông thật êm đềm, đơn sơ nhưng vô cùng sống động, làm say đắm lòng người. Trong chùm thơ về mùa thu của ông bài Thu điếu để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.
Mùa thu là mùa đẹp nhất trong năm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, hòa cùng vào cảnh vật con người cũng thể hiện nỗi niềm cảm xúc của mình. Đọc Thu điếuchúng ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của cảnh thu và tâm trạng của nhà thơ. Nếu như ở Thu Vịnh, cảnh thu đựơc đón nhận từ cao, xa đến gần, rồi gần đến cao, xa thì ở Thu Điếu cảnh thu được đón nhận từ gần đến cao – xa rồi từ cao xa trở lại gần. Điểm nhìn cảnh thu được nhìn từ chiếc thuyền câu đến mặt ao rồi nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi nhìn ra mặt ao. Từ khung ao hẹp tác giả miêu tả mùa thu đựơc cả không gian và thời gian cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động.
Ngay từ tiêu đề của bài, tác giả đã muốn giới thiệu đến người đọc về cảnh câu cá mùa thu, nhưng thực ra đó lại là nói chuyện mùa thu, miêu tả cảnh mùa thu của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, quê hương của tác giả Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ có ao thu, thuyền câu, có lá vàng, có tầng mây, có sóng, có cá và người câu cá. Không gian mùa thu, vắng lặng và chính sự vắng lặng này mới tả được khoảnh khắc lặng lẽ của mùa thu và tả được tâm trạng, tĩnh lặng của tác giả.
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Ngay từ câu thơ đầu tác giả đã cho người đọc hình dung một không gian thu buồn nhưng đẹp, một không gian tĩnh lặng không phải ở vùng quê nào cũng có được. Hai câu thơ này không chỉ miêu tả được cả không gian mùa thu (ao thu) mà còn miêu tả được cả thời gian của mùa thu. Mùa thu được biểu hiện ở làn nước trong veo, đã trong lại còn trong veo và thêm lạnh lẽo. Ao thu lạnh lẽo càng làm tăng thêm độ buồn của mùa thu. Đó là mùa thu của lòng của lòng người buồn, của thi nhân buồn mà thôi. Mùa thu thường là mùa của tâm trạng buồn, qua hai câu thơ này càng thấy Nguyễn Khuyến đã rất tài tình khi miêu tả khung cảnh mùa thu. Chiếc thuyền câu vốn đã bé lại càng bé tẻo teo. Hai vầng eo càng làm cho không gian càng thêm thu nhỏ lại.Xem thêm: Thuyết minh về vai trò của rừng trong cuộc sống con người
Làn nước trong veo, nhưng lại lạnh lẽo hai sự kết hợp này đã làm cho không gian ở đây có phần mông lung và như tan ra cùng sự lạnh lẽo của ao mùa thu. Mùa thu nước ao mới trong xanh như vậy làm cho không gian thêm nhỏ, chiếc thuyền đã bé lại bé thêm, như thu mình thêm nhỏ lại.
Trong không khí vắng lặng êm ả đó, mọi không gian cảnh vật như hòa vào nhau, làm mọi cảnh vật đều gợi cho ta cảm giac buồn.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Phải nói rằng, con mắt nhà thơ phải thật tinh tế mới có thể nhìn được và cảm nhận được sự chuyển động rất nhỏ của cảnh vật, sóng chỉ hơi gợi, gió ở đây rất nhẹ chỉ tạo đủ độ để sóng gợn mà thôi. Khung cảnh mùa thu đượm buồn như im lìm, lặng lẽ, chỉ có chiếc lá khẽ đưa mà thôi, không tạo ra âm thanh từ khẽ miêu tả được cả âm thanh, đó là âm thanh, đó là âm thanh, tĩnh chứ không động, tả được cái trạng thái tĩnh lặng của mùa thu. Ngày cả từ vèo cũng vậy đó không chỉ là bay qua của chiếc lá khi có làn gió mà từ vèo đó còn là thể hiện tâm trạng, thời thế của nhà thơ, một tâm sự đầy đau buồn trước tình hình của đất nước đầy đau thương.Xem thêm: Một nhà văn có nói: “Sách là người bạn tốt của con người”. Hãy giải thích nội dung của câu nói đó
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh ao thu, bằng con mắt tinh tế của mình, tác giả miêu tả rộng ra đó là cảnh trời mùa thu. Cảnh sắc trời tác giả miêu tả rộng ra đó là cảnh mặt trời mùa thu. Cảnh sắc trời mùa thu được nhìn rộng ra từ mặt ao, từ khung cảnh rộng đó tác giả nhìn xa:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Khung cảnh trời thu thật đẹp, mây lơ lửng trôi trên nền trời xanh ngắt, có điều đám mây có vẻ buồn, không muốn trôi. Ở đây từ lơ lửng đó còn là tâm trạng suy nghĩ của tác giả về một vấn đề gì đó chưa quyết định rõ ràng. Từ trời thu tác giả nhìn xuống, nhìn xa ngõ trúc. Không gian lại trở nên vắng lặng buồn thảm bên cạnh đó việc khách vắng teo lại càng làm tăng thêm không khí của mùa thu. Cái vắng lặng, không khí buồn của mùa thu không dừng lại ở không gian của cái ao mà nó còn lan tỏa khắp trời đất, mây thì lơ lửng không buồn trôi. Ngõ xóm trước kia đông đúc người qua lại là vậy mà giờ đây cũng vắng teo. Con đường cũng trở nên quanh co. Tất cả mọi vật đều vắng lặng trong khung cảnh mùa thu.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Cuối cùng thì hình ảnh người câu cá cũng xuất hiện. Thông qua vài nét miêu tả việc tựa gối câu cá, thì hình ảnh ông già ngồi câu cá mới hiện lên rõ nét. Tư thế xuất hiện của ông già câu cá cũng như cảnh vật trở nên buồn, ông không ngồi trong thế của người câu cá mà gò bó tựa gối. Ta thường biết khi câu cá con người ta cảm thấy thoải mái nhất thì ở đây ông già ngôi câu cá không được sự thoải mái, thanh thản cúi người và tựa mặt lên đầu gối như đang suy nghĩ một điều gì. Đó phải chăng cũng là tác giả đang trăn trở buồn rầu về thế sự.Xem thêm: Nhà văn Nga Lép Tôn - Xtôi từng nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Em hiểu câu nói trên của nhà văn như thế nào
Có vẻ như ông già câu cá ngồi câu cho có thú vui, chứ không thấy bóng dáng của chú cá thì ngồi câu cũng đâu được gì. Sự chờ đợi của ông già câu cá đó cũng là một sự mòn, về sự vắng lặng, trống không. Một tiếng động quậy nhẹ của con cá dưới chân bèo. Nhưng tiếng động đó cũng nhẹ, một tiếng động lẻ loi, lại càng làm tăng thêm sự vắng vẻ lặng lẽ của không gian mùa thu. Ở câu cuối sử dụng ba âm đ ( đâu, đớp, động) ta cảm giác như động mà lại không động, chỉ đủ miêu tả đủ sự quẫy đuôi nhẹ của con cá.
Có thể nói khung cảnh mùa thu trong Thu điếu thật tĩnh lặng, êm ả, nhưng buồn. Khung cảnh đó càng gợi cho người ta suy nghĩ chiêm nghiệm về cuộc sống. Một sự chuyển động đều nhẹ nhàng, rất khẽ sự im lặng này lại tạo thêm sự tĩnh lặng của cảnh. Cái tĩnh bao trùm được gợi lên từ cái động rất nhẹ. Thủ pháp lấy động tả tĩnh là thủ pháp quen thuộc của thơ cổ phương Đông.
Tác giả đã dùng thủ pháp gieo vần theo vần eo trong bài, để tạo nên sự vắng lặng im lìm trong khung cảnh mùa thu gợi lên cái gì thu hẹp lại, nhỏ lại, lắng vào hư không nó cũng góp phần làm cho không khí vắng lặng được tăng thêm.
Bằng sự cảm nhận tinh tế của tác giả về mùa thu, ta cảm nhận được ở tác giả một tâm hồn gắn bó thiết tha với thiên nhiên, một tấm lòng yêu nước thầm kín. Nhà thơ đã vẽ lên một mùa thu giản dị, thanh đạm, đơn sơ, nhưng đẹp của làng quê Việt Nam.
Nguồn: | Phân tích bài Thu Điếu của Nguyễn Khuyến | 1,492 | |
Phân tích bài thơ Buổi sớm mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên
Hướng dẫn
Xuân hiểu
Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc trí đa thiểu?
Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740)
Buổi sớm mùa xuân
Giấc xuân sáng chẳng biết,
Khắp nơi chim ríu rít;
Đêm nghe tiếng gió mưa,
Hoa vụng nhiều huy ít?
Tương Như dịch
Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) là một trong những thi sĩ nổi tiếng thời Thịnh Đường, sở trường vềthơ sơn thủy, mỗi bài thơ xinh đẹp như một bức tranh thủy mặc.
Ông là bạn tri kỉ của Lý Bạch. Người đời vẫn nhắc lại bài thơ sau đây của Lý Bạch:
Tặng Mạnh Hạo Nhiên
Mạnh phu tử, đáng yêu thay,
Phong lưu nổi tiếng đấy đây tươngtruyền.
Trẻ trungchẳng thích quý quyền,
Già nua vui chốn lâm tuyền tùng mây.
Dưới trăng là thánh khi say,
Mê hoa đâu có đoái hoài thờ vua.
Ngẩng trông chót vót núi gò,
Bấy nhiêu cũng đủ thơm tho nhẹ nhàng.
Trần Trọng Kim dịch
Bài thơ của Thi tiên Lý Bạch đã nói lên được cốt cách phong lưu ưa nhàn, tình yêu thiên nhiên của Mạnh Hạo Nhiên.
Mạnh Hạo Nhiên hiện còn để lại 271 bài thơ, trong đó có bài “Xuân hiểu” viết bằng thể ngũ ngôn tứ tuyệt:
"Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đê điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu? ”
Bài thơ ghi lại một nét xuân đẹp đáng yêu. Đó là một buổi sớm mùa xuân.
Sau một giấc xuân êm đềm, thi nhân chợt tỉnh. Không biết trời đã sáng. Nhàn nhã và vô tư. Nhà thơ lắng nghe tiếng chim hót nơi gần nơi xa. Tiếng chim chào bình minh. Tiếng chim mừng nắng hửng, ríu rít hót vang:
“Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu
Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của hai câu thơ sau: "Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. (“Lưu biệt khi xuất dương” - Phan Bội Châu)
(Giấc xuân sáng chẳng biết,
Khắp nơi chim ríu rít).
Tiếng chim hót gần xa, nhà thơ nghe được mới hay trời đã sáng tự lúc nào. Tiếng chim đã đánh thức thi nhân. Tiếng chim là tín hiệu của sáng sớm, của bình minh.Bút pháp lấy động (tiếng chim) để tả tĩnh (một buổi sáng sớm xuân êm đềm). Chữ “văn ” nghĩa là nghe – nhãn tự của vần thơ. Tiếng chim rung động một hồn thơ thanh tao nhẹ nhàng.
Hai câu cuối nhà thơ tự hỏi mình về hoa sau mưa gió đêm qua, chẳng hay có bao nhiêu hoa đã rụng. Hai câu thơ tả cảnh buổi sớm mùa xuân bằng thính giác và bằng cảm giác. Cảm xúc bâng khuâng; lời thơ đẹp, ý thơ đẹp:
"Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu
“Phong vũ" nghĩa là mưa gió; “thanh ” có nghĩa là tiếng (kêu) cũng có nghĩa là âm thanh nghe được. Có lẽ đó là tiếng gió mưa mà thi nhân nghe được lúc chợt tỉnh giấc giữa đêm khuya. Tiếng mưa đêm thường gợi buồn, nhất là đối với những li khách. Nguyễn Trãi cũng có bài thơ "Thính vũ" (nghe mưa) đọc lên nghe thật buồn:
“Vò võ trai phòngvắng
Suốt đêm nghe tiếng mưa.
Não nùng rung gối khách;
Thánh thót mấy canh dư… ”
(Đào Duy Anh dịch)
Hoa là biểu tượng cho cái đẹp của tạo vật, của thiên nhiên và con người. Mưa gió làm hoa rụng; hoa rụng ít hay nhiều? Thi nhân hỏi hoa hay tự hỏi mình? Tình thương cho cái đẹp trong cảnh gió mưa, gió mưa của đất trời, gió mưa cuộc đời, thể hiện một trái tim đa cảm của thi nhân, trước những kiếp hoa rụng, kiếp hoa tàn.
Bài thơ “Xuân hiểu ” tả cảnh buổi sớm mùa xuân, tả bằng thính giác, bằng cảm giác về tiếng chim hót, về tiếng gió mưa đêm xuân và man mác bâng khuâng về hoa rụng. Đúng là cả bài thơ 20 chữ, không một chữ nào chỉ tình cảm, thế mà bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên và cái đẹp của thi nhân. Ý tại ngôn ngoại là vậy. Sự rung động của tâm hồn trước một tiếng chim hót, tình thương nghĩ đến những bông hoa đẹp bị rụng trong gió mưa, không phải ai cũng có như Mạnh Hạo Nhiên.
“Xuân hiểu ” là một bài thơ xuân đẹp, một bài thơ kiệt tác thể hiện phong cách và bút pháp nghệ thuật “sơn thủy ” của Mạnh Hạo Nhiên.
Nguồn: Những bài văn hayXem thêm: Viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của em về lợi và hại về hiện tượng sử dụng blog trong giới trẻ hiện nay | Phân tích bài thơ Buổi sớm mùa xuân của Mạnh Hạo Nhiên | 779 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Bài Ca Ngất Ngưởng của Nguyễn Công Trứ
Bài làm
Nguyễn Công Trứ là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nửa đầu thế kỷ XIX ở nước ta. Ông là một người có tài kinh bang tế thế, văn chương lỗi lạc và có cuộc đời thăng trầm. Dù lúc ở đỉnh cao danh vọng hay lúc sóng gió, thăng trầm thì ở Nguyễn Công Trứ luôn luôn có khát vọng phi thường, hăm hở chí nam nhi trong trời đất. Bài thơ Bài Ca Ngất Ngưởng chính là bài mang phong cách rất riêng của ông.
Bài thơ không chỉ là sự cắt nghĩa, lý giải sự ngất ngưởng của mình mà còn như một lời tự thuật về chính cuộc đời của nhà thơ. Ngay câu thơ mở đầu ông đã nêu quan niệm sống của mình:
“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”
Câu thơ cho ta hiểu thêm tâm thế của một nhà nho chân chính đó là mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không phải phận sự của ta. Ông đã lĩnh hội được bổn phận của phận làm trai trong thiên hạ, xác định được vị trí của mình trong cuộc đời. Có người cho rằng đó là một điều đơn giản nhưng đâu hay rằng có người sống đến cuối đời cũng không biết mình đứng ở đâu giữa thế giới rộng lớn này, mình cần phải làm gì để chứng minh sự tồn tại của mình. Có những người sống bi quan, không có lý tưởng cho riêng mình. Ấy nhưng Nguyễn Công Trứ hoàn toàn khác ông đã nhận ra ngay từ sớm và phấn đấu theo quan niệm sống tích cực của chính bản thân. Ông luôn ý thức được vai trò của mình và không hề ngần ngại thể hiện cho người khác thấy được bản ngã của chính mình:Xem thêm: Cảm nhận nội dung và nghệ thuật truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi thủ khoa, Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”
Phân tích bài thơ Bài Ca Ngất Ngưởng
Hi Văn chính là tên mà ông tự xưng danh và nhà thơ đã tự khẳng định “tài bộ” của mình. Khi tìm hiểu về cuộc đời của ông ta mới thấy được Nguyễn Công Trứ thực sự là một người vừa có thực tài vừa có thực danh. Chuyện học hành thi cử của ông giống như một con đường thênh thang, rộng mở với việc ông đỗ thủ khao và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng. Nắm trong tay “tài bộ”, với thao lược chính vì thế ông mới có đủ tư cách “ngất ngưởng” với đời, một con người hơn đời, đứng trên cao trong thiên hạ. Chính cách ngắt nhịp kết hợp với giọng điệu hào hùng đã cho ta thấy cốt cách phi thường, chí khí mạnh mẽ của nhà thơ. Ông có thể tiếp tục ngất ngưởng với đời vì ông có những thứ mà khiến chính ông tự hào về mình:
“Lúc bình Tây, cờ đại tướng
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”
Đó chính là minh chứng chân thực cho tài năng của ông. Cũng từ đó ông mới tự tin thể hiện bản ngã của mình:
“Độc môn giải tổ chi niên
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”
Trở lại với cuộc sống đời thường thì ông vẫn hành động một cách khác đời thường như để chế giễu đời, để bộc lộ sự ngất ngưởng của mình. Từng là một vị quan với ngựa xe, lõng vọng nay lại cười bò và cho bò đeo đạc ngựa. Không chỉ người mà ngay cả bò cũng ngất ngưởng không kém chủ nhân của nó. Tiếp nối hình ảnh đó là tám câu thơ làm nổi bật lên sự ngất ngưởng của ông:Xem thêm: Tả một chị bán hàng đang làm việc ở cửa hàng bách hóa (hoặc cửa hàng hợp tác xã mua bán) lúc đông khách
“Kìa núi nọ phau phau mây trắng
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”
Nguyễn Công Trứ sống hết mình, làm việc hết mình và chơi cũng hết mình. Ông là một nhà Nho nhưng cũng từng là một vị tướng từng xông pha trận mạc ấy vậy lại có khi trở về cuộc sống bình thường “nên dạng từ bi”. Câu thơ như một lời tự trào về chính mình, ông bất chấp tất cả để giễu cợt chính bản thân mình. Một hình ảnh không gò bó với bất cứ một khuôn mẫu nào và hình ảnh “bụt cũng nực cười” giống như lời khen chê mà thiên hẹ khi nhìn về ông:
“Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong"
Khi đã thoát ra khỏi vòng danh lợi thì đối với ông việc được mất hay người đời khen chê chẳng xá vào đâu. Ông bỏ ngoài tai tất cả những gì người đời nói về ông, những lời thị phi bên ngoài mà sống một cuộc sống thảnh thơi, vui thú:
“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không Tiên, không vướng tục”
Cuối cùng là lời khẳng định của ông về chính mình, ngất ngưởng nhưng là một trung thần, là người làm trọn đạo vua tôi:
“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo xơ chung
Trong triều ai ngất ngưởng như ông”
Bài Ca Ngất Ngưởng đã cho ta thấy được khí phách và quan niệm sống lạc quan của một người “tài bộ” trong lịch sử. Bài thơ không chỉ đem lại cho chúng ta tiếng cười hài hước, dí dỏm mà còn cho thấy phong cách thơ đặc sắc, một con người ngất ngưởng, ngạo nghễ với đời.Xem thêm: Theo anh (chị), làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng sạch đẹp?
Loan Trương | Phân tích bài thơ Bài Ca Ngất Ngưởng của Nguyễn Công Trứ | 999 | |
Phân tích bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ
Hướng dẫn
Sau bao nhiêu năm vất vả, lận đận, cơm không có ăn, áo không có mặc và nhà không có ở, năm 760 (lúc này 48 tuổi), được bạn bè giúp đỡ, Đỗ Phủ dựng tạm được một mái nhà lợp bằng cỏ ở bên một bờ khe phía tây Thành Đô, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Sau thời gian chạy loạn, nay có túp lều che tạm, Đỗ Phủ và cả gia đình rất phấn khởi. Âm cúng dưới mái nhà cỏ chưa được bao lâu, thì mùa thu năm sau, qua một trận gió to, mái nhà của ông bị tốc sạch, không còn có nơi nương tựa. Xót xa trước cảnh tượng này, ông đã làm bài thơ “Mao ốc vị thu phong sở phá ca”
“Tháng tám, thu cao, gió thét già,
Cuộn mất ha lớp tranh nhà ta.
Tranh bay sang sông rải khắp bờ,
Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa,
Mảnh thấp quay lộn vào mương sa.”
Mở đầu bài thơ, Đỗ Phủ giới thiệu thời gian là vào tháng tám, đang bước vào mùa thu. Tháng tám, mùa thu, đặc điểm nổi bật nhất của thời tiết lúc này là bầu trời cao và gió thổi rất lớn. Gió thổi làm tốc hết lớp nhà cỏ của ông. Bằng biện pháp kể và tả, nhà thơ đã dựng dậy trước mắt người đọc bức tranh về nhà tốc mái rất cụ thể và sinh động. Bốn câu thơ đầu, tác giả hoàn toàn dùng bút pháp miêu tả. Chỉ thông qua từ ngữ, ông nêu bật những trận cuồng phong, cảnh nhà tốc mái, cảnh mái tranh gió cuốn bay đi khắp nơi. Cái “bay rải khắp ven sông”, “cái “mắc cành cao”, cái “giữa dòng”. Cách tả của nhà thơ rất gọn, cô đọng nhưng gây rất nhiều ấn tượng cho người đọc.
Những câu thơ tả của ông không khác gì những thước phim chân thực về gió thổi nhà tốc mái.
“Trẻ con thôn nam khinh ta già không sức,
Nỡ nhè trước mặt xô cướp giật,
Cắp tranh đi tuốt vào lũy tre
Môi khô miệng cháy gào chẳng được,
Quay về, chống gậy lòng ấm ức!”
Từ việc nhà tốc mái dẫn đến nhiều cảnh đời đau khổ, xót xa. Lợi dụng gió thổi tốc mái, trẻ con nghèo khổ, hàng xóm ngỗ ngược khi thấy Đỗ Phủ già yếu mà chạy đến cướp tranh mang về. Tác giả đành bất lực đứng nhìn lũ trẻ con cướp giật từng cọng tranh. Mặc dù ông cố sức quát tháo “khản tiếng, rát hầu” nhưng cũng không giữ lại được những cọng tranh đã mất vào tay lũ trẻ.
Trước cảnh cướp giật tranh của lũ trẻ, Đỗ Phủ chỉ biết “quay về, vịn gậy thở than hoài”, ông giận mà không ghét lũ trẻ nghèo khổ. Vì ông biết rằng, cũng vì hoàn cảnh cùng cực, túng thiếu mà chúng phải làm thế! Lòng thông cảm những con người nghèo khổ ở Đỗ Phủ được thể hiện dưới những câu thơ mủi lòng, kín dáo.
“Giây lát, gió lặng, mây tối mực,
Trời thu mịt mịt đêm đen đặc.
Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt,
Con nằm xấu nết đạp lót nát
Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu
Dày hạt mưa, mưa, mưa chẳng dứt.
Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê
Đêm dài ướt át sao cho trót?”
Chốc lát gió yên, mây đen kịt. Trời thu mờ mịt, tối sập rồi. Đó là những câu thơ tác giả tả cảnh trời sắp mưa. Ban ngày thì gió thổi tốc mái. Đêm đến thì mưa đổ nước xuống mái nhà dột. Hết cảnh khổ nhà tốc mái, gia đình ông lại chịu cảnh nhà dột suốt đêm. Cảnh rét, với cái chăn đã rách nát, cảnh nhà dột ướt không sao nhắm mắt được… Tất cả đều được nhà thơ kể bằng những câu thơ ngắn gọn, súc tích, xúc động lòng người. Nghệ thuật dựng cảnh ở đoạn thơ này thật tài tình. Đỗ Phủ vừa kể vừa tả. Tác giả khéo lựa chọn những chi tiết cụ thể và rất gợi hình: mây đen kịt, chăn vải lâu năm lạnh hơn sắt, con thơ nằm hỗn đạp rách toang đều là những chi tiết thực, gây ấn tượng cho người đọc. Cảnh đêm rét, trời mưa, nhà dột, nhà thơ ngồi suốt đêm không ngủ được với bao cơ cực, tủi nhục, ê chề, đau đớn của một thiên tài có thể là gây nhiều xúc động nhất. Ớ dây, hình ảnh của một con người suốt đời nghèo khổ và tật bệnh lại hiện lên, làm xoáy gan, chảy ruột bao nhiêu người. Giá trị của bài thơ chính là từ nỗi đau của riêng một người, nỗi bất hạnh của một gia đình, đại quần chúng nhân dân thời Đường lúc bấy giờ.
Xem thêm: Cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Bác HồVấn đề lớn nhất được đặt ra bức thiết và nhức nhối trong bài thơ này là tình trạng nghèo khổ, cơ cực đến mức tủi nhục của nhân dân, trong đó có người trí thức, người nghệ sĩ. Một con người vĩ đại như Đỗ Phủ, xuất thân từ gia đình quan lại, tôn thờ đạo Nho, làm quan suốt mấy dời, thơ phú bậc nhất thiên hạ và được hưởng đặc quyền dặc lợi của xã hội phong kiến thế mà nhà không có ở, hoặc có chăng cũng chỉ là túp lều tranh tạm bợ, chỉ cần một trận gió cũng “bốc sạch không”. Một con người được mệnh danh là “Thi thánh” để cho dời hơn 1400 bài “Thi sử” thế mà đêm mưa dột, không có chỗ nằm, không có chăn mà đắp.
“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,
Che khắp thiên hạ kể sĩ nghèo đều hân hoan,
Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn!”
Nhà ở và cớm áo là những điều mà Đỗ Phủ hằng mong ước. Sống trong những điều kiện khốn khổ không còn là con người, nhưng nhà thơ vẫn nêu cao tính người, tình người, giữ được bản chất tốt đẹp của con người. Bài thơ chẳng những mang giá trị hiện thực lớn mà còn chứa đựng giá trị nhân đạo cao cả. Đầu bài thơ, Đỗ Phủ nêu hoàn cảnh bi đát của mình do thiên nhiên và xã hội gây nên thì phần cuối bài thơ, ông có quyền đề cập đến yêu cầu và ước muốn của cá nhân. Đó chính là lô-gích của sự việc. Nhưng đằng này, nhà thơ không giải quyết như thế. Cuối bài thơ, tác giả không đề cập đến “cái tôi” cá nhân mà nói đến “cái ta” tất cả.
Từ một mái tranh nhà tốc mái, ướt dột, không đủ che thân, nhà thơ ước mơ đến “ngàn vạn ngôi nhà rộng. Ngôi nhà ấy không phải cho riêng mình Đỗ Phủ mà là để “che khắp thế gian, dân rét mừng”. Ước mơ của nhà thơ thật lớn lao, cao đẹp! Ong ước mơ cho toàn nhân loại, nhất là những người đói rét đều có nhà cao, cửa rộng để họ thoát khỏi cảnh cơ hàn. Toà nhà Đỗ Phủ mơ ước chẳng những nhiều, rộng rãi, vô số “ngàn vạn gian” mà nó phải là những ngôi nhà cao ngất, chắc chắn “vững như núi, gió mưa chẳng chuyển”. Ước mơ của ông thật là thực tế, cụ thể, nhưng cũng đầy tính chất lãng mạn của một nhà thơ.
“Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững, dựng trước mắt,
Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”
Hai câu cuối bài thơ là hai câu chân thành, xúc động phát ra từ trái tim yêu thương con người của Đỗ Phủ. Giá trị nhân đạo cao cả của tác giả cũng được thể hiện ở hai câu thơ này. Mơ ước, niềm tin và hy vọng được diễn tả bằng thơ ca: “Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt?”. Đó là lời cảm thán, tự hỏi của Đỗ Phủ. Có thể ông tự hỏi mình đồng thời tự vấn xã hội. Ông vừa tin mà vừa không tin. Nhưng dù hiện thực hay không hiện thực thì ước mơ của Đỗ Phủ vẫn là chính đáng, cao đẹp, phù hợp với ước mơ của nhân dân nghèo khổ thời nhà Đường.
Khi nhìn thấy ngôi nhà to lớn sừng sững trước mắt và dân nghèo khổ có nơi an cư thì dù cho túp lều của ông bị đổ và bản thân bị chết rét, ông vẫn cam lòng. Đây chính là một hình tượng đẹp đẽ của toàn bài. Từ bút pháp hiện thực ở phần đầu, nhà thơ chuyển sang bút pháp lãng mạn ở phần cuối. Vì vậy, bài thơ này có thể được coi là bài thơ tiêu biểu kết hợp hai phương pháp nghệ thuật phổ biến của thơ Đỗ Phủ. Lòng thương mình và thương người của Đỗ Phủ thể hiện rất rõ ở trong bài thơ này.
Ngôn ngữ bài thơ giản dị, dễ hiểu. Hình tượng thơ đẹp đẽ, gợi cảm. Hình tượng nhân vật dược tác giả miêu tả rất sinh động, gây xúc dộng người đọc. Yếu tố hiện thực và lãng mạn kết hợp rất hài hoà. “Cái Tôi” cá nhân và “cái Ta” rộng lứn được nhà thơ diễn tả khéo léo qua từng câu thơ, ý thơ. Điểm đặc sắc của bài thơ là từ nỗi khổ “gió thu tốc nhà” của mình, Đỗ Phủ đã liên tưởng đến bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình cũng có nỗi khổ đó. Bài thơ này là một ước mơ vĩ đại bắt nguồn từ thực tế của nhà thơ.
Nguồn: thêm: Hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II và Thương vợ | Phân tích bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ | 1,646 | |
Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài thơ độc đáo về nội dung. Tác giả Hồ Xuân Hương đã khéo léo mượn hình ảnh của bánh trôi để nói về thân phận nổi lênh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Nó khiến cho chúng ta hiểu hơn và thêm thương cảm cho họ.
Bài viết này sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Bánh trôi nước đồng thời gợi ý bài văn mẫu để các em có thể đọc và tham khảo để chọn lọc ra những ý hay cho bài viết của mình.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Bánh trôi nước
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Hồ Xuân Hương và bài thơ Bánh trôi nước.
– Hồ Xuân Hương là bà chúa thơ Nôm với nhiều tác phẩm độc đáo.
– Bánh trôi nước là một trong những bài thơ đặc sắc được nhiều người yêu thích.
2. Thân bài phân tích bài thơ Bánh trôi nước
a. Câu thơ thứ nhất
– Nhân hóa cái bánh
+ Dùng từ thân em để chỉ người phụ nữ một cách kín đáo.
+ Trắng và tròn thể hiện vẻ đẹp trinh trắng, duyên dáng của người thiếu nữ.
b. Câu thơ thứ hai và ba
– Hàm nghĩa về thân phận người phụ nữ trong cuộc đời:
+ Vận dụng thành ngữ một cách linh hoạt để ám chỉ thân phận nổi lênh của người phụ nữ trong xã hội cũ.
+ Hạnh phúc hay khổ đau, rắn hay nát đều phụ thuộc vào tay kẻ nặn.
+ Sự cảm thông của tác giả đối với thân phận người phụ nữ.
c. Câu cuối
Xem thêm: Nêu xuất xứ, thể thơ và chủ đề bài thơ Nam quốc sơn hà
– Hình ảnh ẩn dụ nói về sự thủy chung, son sắt của người phụ nữ.
3. Kết luận
– Khái quát nội dung bài thơ Bánh trôi nước và nêu lên cảm nghĩ của em về bài thơ này.
II. Bài làm phân tích bài thơ Bánh trôi nước
Nhà thơ Hồ Xuân Hương là một trong những tác giả nổi tiếng của văn học Việt Nam. Các sáng tác của bà vô cùng độc đáo về nội dung. Thường thì Hồ Xuân Hương mượn sự vật, hiện tượng khách quan để nói về thân phận của người phụ nữ sống trong xã hội cũ. Bài thơ Bánh trôi nước cũng là một trong những bài thơ như vậy. Nhìn vào mặt nghĩa đen nổi lên trên mặt chữ thì dường như nhà thơ đang tả những chiếc bánh trôi nước nhưng nếu chúng ta đi sâu vào tìm hiểu và phân tích từng câu từng chữ thì sẽ thấy được nhà thơ đang miêu tả thân phận người phụ nữ.
Bánh trôi là loại bánh được làm từ bột nếp, sau quá trình nhào nặn rồi đun nấu, bánh chín nổi lên trên mặt nước và có hình tròn màu trắng đẹp mắt. Bánh trôi vốn chỉ có vậy nhưng Hồ Xuân Hương đã thật khéo léo khi liên tưởng nó với hình ảnh của người phụ nữ. Nhìn vào bánh trôi, Hồ Xuân Hương đã nổi hứng thi sĩ và bà đã viết:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn.
Phân tích bài thơ Bánh trôi nước
Chỉ với hai chữ thân em thôi cũng đủ để cho người đọc thấy được hình ảnh người con gái ẩn hiện trong bài thơ này. Thân em ở đây chính là người con gái và phải chăng người con gái ấy đã hóa thân vào trong chiếc bánh trôi trắng và tròn kia. Nó là vẻ ngoài của bánh trôi nhưng đồng thời cũng là vẻ đẹp của người thiếu nữ. Đó là sắc trắng của làn da và cũng là sắc trắng của sự trinh tiết, thủy chung. Tròn là tròn trịa, thể hiện một vẻ đẹp hoàn mĩ không tì vết. Họ giống như những đóa hoa xinh tươi, lộng lẫy. Thế nhưng, vẻ đẹp ấy không đồng nhất với cuộc sống hạnh phúc. Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến không khác nào chiếc bánh trôi:Xem thêm: Ca dao dân ca là tiếng nói cảm động về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước. Em có đồng ý như vậy không? Hãy phân tích một số dẫn chứng để làm rõ
Bảy nổi ba chìm với nước non
Câu thơ này có sử dụng thành ngữ bảy nổi ba chìm ý chỉ sự trôi nổi và lênh đênh. Chiếc bánh trôi khi chín sẽ có 3 phần chìm và bảy phần nổi. Lúc này, bánh trôi cần được vớt ra và để vào trong bát nước lạnh. Nhưng Hồ Xuân Hương không chỉ đơn thuần nói về bánh trôi mà bà muốn nói đến thân phận nổi lênh của người phụ nữ. Họ là những con người có ngoại hình xinh đẹp nhưng phải chịu một cuộc sống long đong, lận đận. Không chỉ vậy, hạnh phúc của họ còn bị đặt vào trong tay của kẻ khác. Họ không có quyền tự quyết, không có quyền tự định đoạt. Cũng giống như chiếc bánh kia, rắn hay nát là phụ thuộc vào tay kẻ nặn:
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Đó là một sự may rủi của cuộc đời. Chúng ta vẫn biết xã hội cũ là một xã hội trọng nam khinh nữ, nơi mà những người đàn ông thì có tiếng nói còn người phụ nữ là những người yếu thế thấp cổ bé họng. Không chỉ không có quyền lên tiếng mà họ còn không có quyền định đoạt cuộc đời của mình. Đó mới là điều đáng nói. Cuộc sống của họ hạnh phúc hay khổ đau sẽ phụ thuộc vào người đàn ông bên cạnh. Trong ca dao, có rất nhiều câu ca cũng đã nói lên sự phụ thuộc này của người phụ nữ. Thế nhưng mặc dù không thể tự quyết, người phụ nữ vẫn sống và giữ trọn vẹn sự thủy chung, son sắt của mình:Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Mai An Tiêm trong tác phẩm “Sự tích dưa hấu”
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Đây chính là vẻ đẹp hoàn hảo của người phụ nữ. Họ không chỉ đẹp ở vẻ ngoài mà còn đẹp trong tâm hồn, trong nhân cách. Tấm lòng son ở đây đã nói lên được phẩm chất của người phụ nữ, thủy chung, chịu thương, chịu khó. Họ đã hi sinh chính mình để vun đắp cho chồng, cho con, cho gia đình được ấm êm, hạnh phúc.
Bài thơ Bánh trôi nước đã nói lên được tiếng nói của người phụ nữ thời xưa, là sự đồng cảm sâu sắc của Hồ Xuân Hương với những số phận cùng cảnh ngộ. Bánh trôi nước là một trong những bài thơ hay nhất của bà giúp người đọc hiểu thêm một phần cuộc sống của xã hội cũ.
Trên đây là phần lập dàn ý phân tích bài thơ Bánh trôi nước cùng với bài văn phân tích bài thơ Bánh trôi nước. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích được nhiều cho các em.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương (Có dàn ý chi tiết) | 1,195 | |
Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoà.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là nhà thơ Nôm kiệt xuất của dân tộc. Ong để lại nhiều bài thơ nói về tình bạn: bạn cùng quê, bạn đồng học, bạn đồng khoa…
‘Ai lên thăm hỏi bác Châu Cẩu
Lụt lội năm nay bác ỏ đâu…’
(Lụt hỏi thăm bạn)
‘Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…’
(Khóc Dương Khuê)
Châu Cầu, Dương Khuê là hai bạn đồng khoa của Nguyễn Khuyên. Bài ‘Bạn đến chơi nhà’ là một trong những bài thơ Nôm đặc sắc của ông, nói lên một tình bạn đẹp.
Câu nhập để rất tự nhiên, như một lời nói mộc mạc của nhà thơ sau bao tháng ngày mới gặp lại bạn. Lời chào vồn vã, biểu lộ niềm vui mừng khôn xiết: ‘Đã bấy lâu nay bác tới nhà’
Chữ ‘bác’ gợi lên thái độ niềm nở, thân mật và kính trọng của nhà thơ đối với bạn tri âm, một cách xưng hô thân tình. Đằng sau câu thơ – lời chào hỏi – có thể là những giọt lệ ứa ra ở khoẻ mắt đôi bạn già.
‘Đã bấy lâu nay’là bao năm tháng? Tính thời gian không được xác định cụ thể, nhưng chắc chắn là đã khá lâu, vì sức yếu tuổi già… nên xiết bao đợi chờ, mong nhớ. Bộ phận trạng ngữ chỉ thời gian được đặt lên đầu câu thơ diễn tả sự xa cách nhớ mong, làm nổi bật ý thơ: niềm xúc động và niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn. Trong bài thơ ‘Khóc Dương Khuê’, có một chi tiết giúp ta cảm nhận được một phần nào cái hay, cái tình ẩn chứa trong câu nhập đề:
‘Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần,
Cầm tay hỏi hết xa gần
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can’
Chữ ‘bác’ được nói đến trong bài thơ ‘Bạn đến chơi nhà’ là bạn chí thân, ở xa, lâu ngày mới gặp nên Nguyễn Khuyến rất mừng và cảm động.Xem thêm: Cảm nhận về bức thư của người bố gửi con trai mìnhSáu câu thơ tiếp theo toát lên một nụ cười hóm hỉnh. Một ý thơ bao trùm: Đã lâu ngày bạn mới đến chơi, biết lấy gì đãi bạn đây? Một tình thế khá éo le: ‘Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa’. Chữ ‘thời’ (thì) là một hư từ, rất ít khi xuất hiện trong thơ vì dễ rơi vào sự tầm thường nhạt nhẽo. Nhưng dưới ngòi bút của Tam Nguyên Yên Đổ, nó trở nên thanh thoát tự nhiên vô cùng, chứng tỏ ông có một bản lĩnh nghệ thuật điêu luyện.
Nguyễn Khuyến sau khi cáo quan, lui về sống bình dị ở chốn vườn Bùi quê cũ, với ‘năm gian nhà cỏ thấp te le’, với một cơ ngơi:
‘Chín sào tư thổ là nơi ở,
Một bó tàn thư ấy nghiệp nhà’
(Ngày xuân dạy các con -1)
Phần thực và luận, tính hệ thống của ngôn ngữ thơ rất chặt chẽ, nhất quán ở một cách nói, một lối biểu cảm: Có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn thân! Có ao và cá, có vườn và gà, có cà và cải, có mướp và bầu, nhưng… Bức tranh vườn Bùi thân thuộc hiện lên sống động, vui tươi. Một nếp sống thôn dã chất phác, cần cù, bình dị đáng yêu. Một cuộc đời thanh bạch, ấm áp cây đời và tình người rất đáng tự hào. Chúng ta như cảm thấy Nguyễn Khuyến đang dắt tay bạn ra thăm vườn cây ao cá, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về quê à ẩn. Phép đối hợp cách, chặt chẽ: cảnh với cảnh, thượng hạ, trắc – bằng phân minh, tạo nên một giọng thơ nhẹ nhàng, vui tươi, lời thơ cân xứng, hòa hợp như cảnh vườn tược xinh xắn, hữu tình:
‘‘Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà’
Các tính từ (sâu, cả, rộng, thưa), các trạng từ chỉ tình trạng (khôn, khó), các trạng từ chỉ sự tiếp diễn của hành động (chửa, mới, vừa, đường) hô hứng, bổ trợ cho nhau, được sử dụng thần tình, khéo léo, dung dị và tự nhiên. Những từ ngữ ấy được đặt bên cạnh những chi tiết miêu tả chấm phá đã làm hiện lên khung cảnh vườn tược, cây cối đang đơm hoa kết trái, ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, gần gũi và mến yêu:Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ "Có chí thì nên"
‘Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoà’
Dân gian có câu: ‘Khách đến chơi nhà không gà cũng vịt’. Qua các câu thơ trên, ta thấy Nguyễn Khuyến đang giãi bày với bạn: trong nhà ngoài vườn có bao nhiêu thứ, nhưng thực ra chẳng có gì để thết bạn, đãi bạn vì tất cả mọi thứ, mọi thức chưa đến lúc, đến thời’! Câu thơ thứ bảy tiếp nối và mở rộng ý thơ trên, khẳng
định luôn cái ‘không có’:
‘Đẩu trò tiếp khách trầu không có’
Phải chăng cái nghèo của cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã đến’mức ấy ư? ‘vẻ chi một mớ trầu cay’ (ca dao). Nhà thơ đã thậm xưng hóa cái nghèo, thi vị hóa cái nghèo. Một ông quan to triều Nguyễn về quê ở ẩn, với một cơ ngơi ‘chín sào tư thổ là nơi ở’ thì không thể ‘miếng trầu là đầu câu chuyện’ để tiếp bạn cũng ‘không có’. Đây là một lời thơ hóm hỉnh, pha chút tự trào vui vui, để bày tỏ một cuốc sống thanh bạch, một tâm hồn thanh cao của một nhà nho khước từ lương bổng của thực dân Pháp, lui về sống bình dị giữa xóm làng quê hương.
Câu kết là một sự ‘bùng nổ’ về ý và tình. Tiếp bạn chẳng cần có mâm cao, cỗ đầy, cao lương mĩ vị, cơm gà cá gỡ, mà chỉ có một tấm lòng, một tình bạn chân thành, thắm thiết:
‘Bác đến chơi đây, ta với ta’
Lần thứ hai, chữ ‘bác’ đã xuất hiện trong bài thơ, thể hiện một sự trìu mến, kính trọng. Bác đã không quản tuổi già sức yếu, không quản đường sá xa xôi đến thăm tôi, còn gì quý hóa bằng! Tinh bạn là trên hết. Không một thứ vật chất nào có thể thay thế được tình bạn tri âm tri kỉ. Mọi cái đều ‘không có’ nhưng lại ‘có’: tình bằng hữu thân thiết. Chữ ‘ta’ là đại từ nhân xưng, trong bài thơ này là ‘tôi’, là ‘bác’, là ‘hai chúng ta’, không có gì cách bức nữa. Cụm từ ‘ta với ta’ biểu lộ một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy và lắng đọng trong tâm hồn, tỏa rộng trong không gian và thời gian. Với cụm từ ‘ta với ta’ trong câu thơ ‘Một mảnh tình riêng ta với ta’ của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi buồn cô đơn của khách li hương khi đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc hoàng hôn, còn ở đây, trong câu thơ của Nguyễn Khuyến lại ấm áp tình đời và sâu nặng tình bạn. Qua đó, ta cảm nhận được phân nào tính cá thể hóa của ngôn ngữ và sắc điệu trữ tình tạo nên giá trị văn chương trong những bài thơ cổ.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí MinhCó đọc qua một số bài thơ của Nguyễn Khuyến viết vẻ tình bạn, ta mới thấy hết cái hay, cái ý vị của bài thơ ‘Bạn đến chơi nhà’:
‘Từ trước bàng vàng nhà sẵn có,
Chẳng qua trong bác với ngoài tôi’
(‘Gửi bác Châu cầu’)
‘Đến thăm bác, bác đang đau ốm,
Vừa thấy tôi bác nhổm dậy ngay.
Bác bệnh tật, tôi yếu gầy,
Giao du rồi biết sau này ra sao?’
(‘Gửí thăm quan Thượng thư họ Dương’)
Bài thơ ‘Bạn đến chơi nhà’ viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, niêm, bằng trắc và đối chặt chẽ, hợp cách. Ngôn ngữ thuần nôm, không có một từ Hán – Việt nào, đọc lên nghe thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên. Ta có cảm giác như Nguyền Khuyến xuất khẩu thành chương. Đặc biệt bố cục bài thơ không theo quy cách: đề, thực, luận, kết – mà lại cấu trúc theo: (1+6+1) câu đầu nói lên niềm vui khi bạn đến; 6 câu giữa hóm hỉnh, cười vui không có gì để tiếp bạn; câu cuối chỉ có tình bạn đẹp mà thôi!
Bài thơ nôm khó quên này cho thấy một hồn thơ đẹp, một tình bằng hữu thâm giao, chân tình, một tấm lòng hồn hậu, đẹp đẽ. Tình bạn của Nguyễn Khuyến trong sáng, thanh bạch, đối lập với nhân tình thế thái ‘Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử – Hết cơm hết rượu hết ông tôi’ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kịch liệt lên án. Hai nhà thơ sống cách nhau mấy trăm năm mà có chung một tâm hồn lớn: nhân hậu, thủy chung, thanh bạch. Tâm hồn đó, tấm lòng đó của tiền nhân đối với thế thái nhân tình ngày nay vẫn xứng đáng là tấm gương sáng để mọi người soi chung. Nguyễn Khuyến không những là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam mà còn là nhà thơ của tình bạn trong sáng, thủy chung và cao đẹp rất đáng yêu, đáng kính.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến | 1,638 | |
Bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt là một bài thơ giàu cảm xúc khi nói về tình cảm gia đình. Ở đây ta có thể thấy đó là tình cảm giữa bà và cháu, tình cảm của người cháu dành cho bà. Bếp lửa là hình ảnh xuyên suốt bài thơ và đó cũng là hình ảnh khiến tác giả gợi nhớ về bà của mình.
Để phân tích bài thơ Bếp lửa được hay nhất, các em cần lập dàn ý cho đề văn này. Có như vậy mới tránh được những sai sót, thiếu ý, lặp ý trong quá trình làm văn. Dưới đây là phần lập dàn ý phân tích bài thơ Bếp lửa cũng như bài mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Bếp lửa
1. Mở bài
– Giới thiệu khái quát vài nét về tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa.
– Tình cảm thiêng liêng giữa hai bà cháu.
2. Thân bài phân tích bài thơ Bếp lửa
a. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc
– Tình cảm sâu đậm của hai bà cháu gắn liền với hình ảnh bếp lửa.
– Hình ảnh bếp lửa thân thương, gần gũi.
– Tình cảm của người bà thông qua hình ảnh bếp lửa.
b. Cảm nghĩ về bà và về bếp lửa
– Nhà thơ hồi tưởng về những kỉ niệm êm đẹp bên người bà của mình:
+ Gắn bó với bà như hình với bóng trong suốt những năm tháng tuổi thơ.
+ Mùi khói bếp ám lấy người, nhem nhuốc vì than củi.
+ Đó là những năm tháng nghèo khó nhưng không thể nào quên.
– Nhà thơ hồi tưởng về những kỉ niệm khi còn sống bên bà:
+ Sự quấn quýt bên bà của nhà thơ.
+ 8 năm trời hít mùi khói bếp.
+ Bà đã hi sinh nhiều điều để dành cho cháu những gì tốt đẹp nhất.
– Cảm nghĩ của người cháu về cuộc đời của người bà
+ Cuộc đời của bà chịu nhiều khổ cực.
+ Qua đây tác giả thấy yêu bà nhiều hơn.
– Nỗi lòng nhớ thương bà của tác giả
+ Nỗi nhớ bà trào dâng mãnh liệt trong tâm hồn người cháu.
+ Mặc dù đang ở nơi xứ người nhưng cháu vẫn luôn hướng về bà.
3. Kết bài
– Tổng quan nội dung bài thơ Bếp lửa và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Bếp lửa
Đối với mỗi người chúng ta, tình cảm gia đình vẫn luôn là thứ tình cảm đáng quý và đáng trân trọng nhất. Nhưng khi đất nước có chiến tranh thì người dân vẫn chấp nhận bỏ lại gia đình để lên đường đi chiến đấu. Chính từ tình yêu gia đình đã hình thành nên tình yêu đối với Tổ quốc. Nhà thơ Bằng Việt cũng có một tuổi thơ phải sống xa bố mẹ vì bố mẹ nhưng như thế không có nghĩa là nhà thơ sống thiếu thốn tình cảm. Ngược lại, nhà thơ Bằng Việt lớn lên trong tình yêu thương và dạy bảo của người bà kính yêu. Chính vì vậy mà khi lớn lên, phải xa nhà, xa bà, có bao nhiêu nỗi nhớ, tác giả dành cả cho bà của mình để rồi bài thơ Bếp lửa đã ra đời từ nỗi nhớ ấy.Xem thêm: Cho đề bài Kể về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch). Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết đó
Bếp lửa ở đây không đơn thuần chỉ là bếp lửa, nó là cả tình yêu thương của bà ở trong đó:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp ưu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Hình ảnh một bếp lửa chỉ vừa mới xuất hiện nhưng nó đã đi kèm với các từ láy như chờn vờn, ấp iu khiến cho người đọc cảm nhận được tình cảm ấm áp và chan chứa của người cháu dành cho bà của mình. Câu thơ thứ ba một lần nữa khẳng định cho tình cảm ấy. Đó là tình thương của cháu dành cho người bà đã phải chịu nhiều vất vả, nắng mưa. Cùng với tình thương ấy, những hồi ức của tuổi thơ hiện lên trong đầu tác giả. Mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn nên cứ ngỡ như là chuyện vừa mới xảy ra ngày hôm qua vậy:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
Năm đói mòn đói mỏi ấy chính là năm 1945, nhân dân miền Bắc rơi vào nạn đói khủng khiếp. Nó cướp đi sinh mạng của không biết bao nhiêu người dân vô tội. Nhà thơ đã lớn lên trong bối cảnh đất nước như vậy thế nhưng trong kí ức nhà thơ không có hình ảnh người chết đầy đường, không bị mùi tanh thối ám ảnh. Đó là bởi vì mùi khói bếp đã át đi hết những cảnh đau thương ngoài kia. Đó là cách để người bà làm cho cuộc sống của cháu bớt đau thương hơn. Mùi khói đã hun nhèm đôi mắt của người cháu để rồi hơn mười năm sau, nghĩ lại chuyện cũ sống mũi vẫn còn cay. Có lẽ sự xúc động đã khiến cho mắt nhà thơ nhòe đi, cay xè vì những kỉ niệm đói khổ.
Phân tích bài thơ Bếp lửa
Bà đã cùng cháu đi qua những năm tháng đói khổ như vậy. Để rồi suốt những năm tháng tuổi thơ, hình ảnh người bà vẫn gắn liền bên cháu. Hai bà cháu đã cùng nhau nhóm lên không biết bao nhiêu ngọn lửa trong suốt 8 năm ròng:
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
Hình ảnh cháu cùng bà nhóm lửa thể hiện sự gắn kết giữa hai bà cháu. Không chỉ là nhóm lửa, đó còn là nhóm lên sự sống, nhóm lên tình yêu. Từ hình ảnh nhóm bếp lửa đã gợi lên trong nhà thơ những hình ảnh khác đó là tiếng chim tu hú kêu. Đối với người nông dân Việt Nam tiếng chim tu hú đã trở thành tiếng kêu quen thuộc và là sự báo hiệu cho một mùa lúa chín. Tiếng tu hú kêu vì vậy tượng trưng cho sự no đủ của người dân. Tiếng tu hú kêu như tiếng của chiếc đồng hồ báo thức nhắc nhở người bà rằng đã đến giờ kể chuyện cho cháu nghe. Trong một đoạn thơ mà tiếng tu hú kêu được lặp lại tới 3 lần khiến cho độc giả có cảm tưởng như tiếng tu hú đang từ xa vọng về. Nó khiến cho lòng người cháu ở nơi xa xứ lâng lâng. Tiếng tu hú kéo nỗi nhớ của nhà thơ về khiến cho nó dài hơn, rộng hơn.Xem thêm: Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà trong thiên tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân
Bà không chỉ kể chuyện, bà còn dạy bảo cho cháu nhiều điều, thay cha mẹ chăm lo cho cháu để cháu được nên người:
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa
Ngôi nhà nhỏ vắng người, chỉ có hai bà cháu. Bà đã thay cha mẹ, làm nhiệm vụ của cha mẹ đó là dạy cháu làm, chăm cháu học. Bà dù già yếu nhưng vẫn tận tụy hết lòng vì cháu. Chính vì vậy mà hình ảnh bếp lửa, hình ảnh người bà hiện lên càng ấm áp hơn. Hai bà cháu đã nương tựa vào nhau để sống qua những ngày tháng khó khăn như vậy. Chính từ tình cảm ấy nên khi nhà thơ đi xa, nỗi nhớ thương bà càng lớn hơn. Nhà thơ đi xa rồi, thương cho bà ở nhà không có ai chăm sóc. Câu hỏi tu từ Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà giống như một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc. Hai từ bà, cháu được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn thơ này, thể hiện sự sóng đôi, quấn quýt, gắn bó giữa bà và cháu.
Những năm tháng chiến tranh, hai bà cháu đã cùng nhau trải qua nhiều khó khăn khi mà ngôi nhà bị cháy rụi:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên
Chính từ trong khó khăn đó, nghị lực của người bà càng trở nên bền vững hơn. Những câu thơ vừa cho thấy bà là người cần cù, nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Ngôi nhà của hai bà cháu dù bị giặc đốt cho cháy rụi nhưng thương con đang công tác xa nhà, không muốn con phải lo lắng, bà đã dặn cháu không được nói gì với bố. Thậm chí bà còn dặn cháu nói với bố là ở nhà mọi chuyện được yên. Bà là đại diện cho những người phụ nữ Việt Nam giàu đức hy sinh, hết lòng vì con vì cháu.Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong lặng lẽ Sa Pa
Từ hình ảnh bếp lửa, nhà thơ đã nâng lên thành hình ảnh ngọn lửa:
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Hình ảnh ngọn lửa như bừng sáng và nó có một sức truyền cảm vô cùng mạnh mẽ. Đó là ngọn lửa của tình yêu thương, ngọn lửa của tình bà cháu,.. Chính vì vậy mà cứ nhìn thấy ngọn lửa là người cháu lại cảm thấy như nhìn thấy bà của mình. Cuối bài thơ, nhà thơ tiếp tục suy ngẫm về bà và bếp lửa:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Hình ảnh bếp lửa ấp iu, nồng đượm một lần nữa được nhắc đến ở cuối bài. Bà không chỉ là người truyền lửa, bà còn truyền cho cháu tình yêu thương từ những miếng khoai, miếng sắn, nhắc cháu nhớ về những năm tháng cơ cực, bởi đó là những năm tháng đã nuôi dưỡng tâm hồn của cháu.
Trong cả bài thơ, hình ảnh bếp lửa xuất hiện 10 lần, đó là 10 lần hình ảnh bà cũng xuất hiện. Bài thơ mang âm điệu dồn dập như sóng vỗ khiến người đọc cảm nhận được tình cảm dạt dào của bà dành cho cháu và ngược lại. Đi xa rồi, cháu vẫn nhớ về bà:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Nơi trời âu giá lạnh, hình ảnh của bà đã sưởi ấm trái tim người cháu. Mặc dù đã trưởng thành nhưng trong lòng cháu vẫn nhớ mong về nơi góc bếp với mùi khói bếp cay nồng nặc. Nhớ lời bà dặn, cháu chưa bao giờ quên đi nguồn cội của mình.
Thông qua bài thơ này, chúng ta thấy được hình ảnh bếp lửa và dáng bà đang ngồi lặng lẽ ở bên. Hình ảnh bếp lửa từ đó tượng trưng cho sự ấm áp, nghĩa tình. Qua bài thơ này, hẳn mỗi người sẽ thấy yêu hơn gia đình của chính mình.
Trên đây là phần lập dàn ý phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt. Hy vọng rằng dàn ý và bài văn mẫu trên đây đã giúp các em có thêm những ý tưởng mới mẻ bổ sung cho bài viết của các em được hay hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt (Có dàn ý chi tiết) | 2,106 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt
Bài làm
Bằng Việt là một nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Ông sáng tác hơn một trăm bài thơ và viết hơn một trăm bài dịch. Nổi bật trong sự nghiệp sáng tác chính là những bài viết về tình cảm gia đình, một trong số đó phải kể đến bài thơ Bếp Lửa.
Bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt nói về tình cảm bà cháu, được nhà thơ viết khi ông đang là một du học sinh tại Liên Xô. Bài thơ giống như sự hồi tưởng những kỉ niệm về những tháng ngày tuy đói khổ nhưng lại ấm áp, tràn đầy tình yêu thương của bà. Những kỉ niệm dường như sống lại vào một ngày đông giá rét, những tình cảm nhớ thương dường như trỗi dậy nhớ về cuộc sống khó khăn, gian khổ:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Hình ảnh đầu tiên nhà thơ không nhắc về bà luôn mà nhắc về “một bếp lửa”. Nhưng thông qua hình ảnh ấy ta cảm nhận được cảm giác ấm áp, chan hòa, dường như thấy được hình ảnh người bà thức dậy vào mỗi sớm mai để nhóm bếp. Ngọn lửa như “chờn vờn” để sưởi ấm cả căn nhà nhỏ bé vào sáng sớm mùa đông. Chính vì hình bóng của bà gắn với bếp lửa nên khi người cháu hồi tưởng về quá khứ thì hình ảnh bếp lửa như chập chờn trong tâm trí. Bếp lửa không chỉ sưởi ấm ngày đông mà còn giống như sưởi ấm trái tim cháu, để cho cháu không còn cảm thấy cô đơn, lãnh lẽo và trống vắng khi căn nhà chỉ có hai bà cháu. Bên cạnh đó người cháu còn trực tiếp bày tỏ tình cảm của mình đối với bà “cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Chính là vì biết bà nhọc nhằn, tần tảo nắng mưa, sớm tối để chăm lo cho cháu nên dù cho khi bên bà hay ngay lúc này đang ở nơi phương xa thì những tình cảm cháu dành cho bà vẫn vẹn nguyên. Từ tình cảm đó dòng hồi tưởng đó tiếp tục được gợi mở theo ánh lửa:Xem thêm: Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm kết thúc bằng bốn câu: “Người đi? ừ nhỉ... người đi thực…”."Chiếc lá bay", "hạt bụi", "hơi rượu say" trong ba câu cuối là để chỉ ai? Từ đó, anh (chị) cảm nhận được gì về tâm trạng của người ra đi trong bài thơ?
Phân tích bài thơ Bếp Lửa
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Kỉ niệm mà cháu nhớ nhất đó chính là năm lên bốn, những kỉ niệm gắn liền với mùi khói, với cái đói ở quê nghèo. Trong những năm “đói mòn đói mỏi” ấy thì mùi khói như ám ảnh cả tuổi thơ người cháu, nó như ăn sâu vào tâm trí và khiến cháu không thể nào quên được. Khi ấy bao trùm lên cảnh vật chính là không khí tang thương, chết chóc của nạn đói năm 1945, nạn đói kinh hoàng đó đã cướp đi hơn hai triệu người. Không gian không chỉ là mùi khói từ bếp lửa, mà còn là khói từ ngoài đường xá, đồng ruộng với mùi xác chết. Khói cay xè mắt cháu, ám ảnh tới mức mà đến bây giờ hay nhiều năm về sau có lẽ cũng không bao giờ có thể quên được. Giữa lúc ấy, hình ảnh người bà xuất hiện giống như ánh sáng, giống như làn gió mát, trong lành đến bên cháu:
“Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế”
Đoạn thơ gợi nhắc về kỉ niệm sáu năm người cháu sống cùng bà, mỗi ngày cùng bà nhóm lửa. Một bếp lửa thấm đượm tình thương giữa hai bà cháu. Trong tình cảm thân thương, ấm áp ấy hiện diện tiếng kêu của chim tu hú. Đây là loài chim quen thuộc thường xuất hiện vào mùa hè, tiếng chim da diết, cùng với tiếng bà kể chuyện:Xem thêm: Nghị luận xã hội Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
“Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Người cháu nhớ lại những tháng ngày được bà chăm sóc, dạy dỗ. Qua đó ta thấy được những phẩm chất cao quý của người bà. Bà mong có thể tự tay chăm sóc cho cháu để con trai bà có thể yên tâm làm việc ở chiến khu. Kể cả khi “giặc đốt làng”, khi túp lều tranh của hai bà cháu bị giặc đốt và được hàng xóm giúp đỡ dựng lại thì bà cũng không muốn cháu viết thư kể cho bố. Chính vì thế bà mới dặn cháu:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên”
Kết thúc khổ thơ nhà thơ đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành ngọn lửa bất diệt:
“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
Câu thơ mang sức truyền cảm mạnh mẽ về hình ảnh bếp lửa về tình thương của bà. Để đến bây giờ, khi nhà thơ Bằng Việt ở xa vẫn luôn hướng về bà.
Bài thơ Bếp Lửa mang đến cho người đọc nỗi niềm xúc động về tình cảm giữa hai bà cháu. Khiến cho chúng ta thêm yêu thương đối với những người thân, với quê hương nơi chúng ta đã sinh ra và lớn lên, thêm trân trọng những gì mà ta đã và đang có.Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa
Loan Trương | Phân tích bài thơ Bếp Lửa của Bằng Việt hay nhất | 1,057 | |
Chinh Phụ Ngâm là một tác phẩm bày tỏ được thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Họ phải chịu đựng cuộc đời hẩm hiu, xa chồng khi mà nước nhà có chiến tranh. Họ phải chờ đợi trong sự mòn mỏi, vô vọng. Tiếng gọi của họ hoàn toàn không có lời đáp.
Để giúp các em có thể hiểu rõ hơn về bài thơ này cũng như có thể phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm, chúng ta cùng đi lập dàn ý phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm và tham khảo bài văn mẫu dưới đây.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và bài thơ Chinh phụ ngâm.
– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.
2. Thân bài
a. Tâm trạng của người chinh phụ khi tiễn chồng ra trận
– Tâm trạng rối bời, thấp thỏm, nhiều lo lắng thể hiện thông qua hành động đi quanh quẩn, buông rèm rồi lại cuốn rèm nhiều lần.
– Lặp đi lặp lại các hành động, cử chỉ trong vô thức.
– Nỗi cô đơn của người chinh phụ.
– Nỗi buồn kéo dài triền miên khi người chồng ra trận.
– Không gian mênh mông, nỗi cô đơn càng vô bờ bến.
– Nàng như người mất hồn, không còn tâm trí, sống trong lẻ loi, cô độc.
b. Niềm thương nhớ chồng của người chinh phụ
– Một nỗi nhớ da diêt, khôn nguôi người chinh phụ gửi tới nơi chiến trường cho người chồng.
– Nỗi đau day dứt, tâm trạng xót xa, buồn tủi, cô độc.
3. Kết bài
– Khái quát nội dung đoạn trích và nêu cảm nhận của em về đoạn trích này.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm
Văn học Việt Nam viết về nhiều chủ đề khác nhau nhưng xuyên suốt vẫn là cảm hứng nhân đạo. Giai đoạn nửa cuối thế kỉ 18 – nửa đầu thế kỉ 19 với rất nhiều những biến động của lịch sử xã hội đã khiến cho đời sống của con người gặp nhiều đe dọa. Thời gian này, hình ảnh của người phụ nữ được nói đến khá nhiều. Một trong số những tác phẩm như vậy chính là Chinh phụ ngâm. Bài thơ giống như một lời than vãn đầy tủi hờn của người phụ nữ thời ấy. Cho tới nay vẫn còn nhiều tranh cãi về tác giả của bài thơ nhưng dù là của Đặng Trần Côn hay Đoàn Thị Điểm thì đây cũng là bài thơ xuất sắc. Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ mà chúng ta được học là đoạn trích thể hiện rõ nhất nội dung và cảm xúc của bài.Xem thêm: Bình luận về câu tục ngữ: “Chết trong còn hơn sống đục”
Sau buổi tiễn đưa chồng ra trận trở về, người chinh phụ đã tưởng tượng cảnh chiến trường mà xót xa, lo lắng cho chồng. Đồng thời người chinh phụ cũng ái ngại cho tình cảnh của mình. Ngay từ những câu thơ mở đầu đoạn trích thì tâm sự ấy đã được thể hiện vô cùng rõ nét:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
Hai câu thơ đã tái hiện lại hình ảnh của người chinh phụ đang phải ở nhà một mình. Người phụ nữ đi ra, đi bảo với một tâm trạng thấp thỏm, lo âu, hêt cuốn rèm lên rồi lại rủ rèm xuống. Đó là những hành động được thực hiện trong vô thức khi mà tâm trạng của con người đang rối bời, không tập trung được vào việc gì. Dường như lúc này thời gian đang trôi đi một cách nặng nề, nhàm chán trong một trạng thái tâm lý bồn chồn nhưng lại không có lấy một người để chia sẻ.
Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm
Trong nỗi niềm tâm sự của mình, người chinh phụ có nhắc đến tiếng chim thước. Trong hoàn cảnh này, tiếng chim vẫn im bặt khiến cho người chinh phụ phải trách móc. Ban đầu, người chinh phụ còn nghĩ ngọn đèn có thể lắng nghe lời tâm sự của mình nhưng rồi cuối cùng thì nàng hiểu rằng đèn có biết cũng chẳng để làm gì:Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương
Ngọn đèn đã cùng với nàng thức suốt những đêm thâu vời vợi, chứng kiến sự trằn trọc của nàng trong đêm vắng. Trong ca dao, chúng ta cũng đã từng bắt gặp ngọn đèn ấy. Ngọn đèn vô tri không thể nào an ủi được nàng. Sự lặp đi lặp lại từ chẳng là một cách để phủ định sự tồn tại của con chim thước, đồng thời cũng là cách tác giả nhấn mạnh nỗi cô đơn của người chinh phụ. Nó càng làm tăng lên sự héo úa và tàn lụi. Đèn và người chinh phụ là hai đối tượng khác biệt nhưng có sự đồng nhất. Nàng thương cho đèn cũng là thương cho chính mình. Nỗi niềm xót thương mà người chinh phụ bày tỏ giống như một bản tố cáo tội ác chiến tranh một cách đanh thép. Nỗi niềm ấy xuyên qua cả không gian và thời gian:
Gà eo óc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Nội tâm của nhân vật được ẩn phía sau những câu thơ hướng về ngoại cảnh. Âm thanh của tiếng gà eo óc chính là âm thanh của tâm trạng. Người chinh phụ ngắm nhìn bóng hòe là để đếm từng thời khắc trôi đi. Mong sao cho thời gian trôi qua thật nhanh bởi vì mỗi giờ lúc này dài như cả chục năm:
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa
Cảm nghĩ về thời gian của người chinh phụ thật đặc biệt. Bằng cách sử dụng những từ láy mang tính biểu bảo, nhà thơ đã khắc sâu thêm thời gian chờ đợi miên man của người chinh phụ. Người chinh phụ trong trạng thái cô đơn cũng đã cố gắng để thoát ra:
Hương gượng đốt hồn đà mê mái
Gương gượng soi lệ lại châu chan
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng
Thế nhưng mọi sự cố gắng của người chinh phụ đều chìm vào bi kịch. Nàng đốt hương để tìm được sự ấm áp, soi sương để tìm hình ảnh khát, gảy đàn để khuây khỏa lòng nhưng mọi thứ đều không được như ý muốn. Sau khi tiễn chồng ra trận, người chinh phụ đã thấm thía cảm giác chờ đợi, mòn mỏi, nhớ nhung và rồi bế tắc. Nhưng sau sự bế tắc ấy, tậm trạng của người chinh phụ bỗng trở nên nhẹ nhõm hơn, câu thơ đã vượt khỏi căn phòng bé nhỏ mà vươn mình ra ngoài vũ trụ bao la:Xem thêm: Anh (chị) hãy bình luận về hành động trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám
Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Đoạn thơ đã thể hiện rõ nét tấm lòng của người chinh phụ đáng giá nghìn vàng. Bên cạnh đó với việc sử dụng điệp từ gửi cho thấy nỗi khát vọng lớn lao, mạnh mẽ của người chinh phụ khi muốn được chia sẻ cùng chồng. Núi Yên Nhiên ở đây chỉ là một hình ảnh ước lệ chứ không phải là nơi mà chồng của người chinh phụ đang đánh giặc:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Đã ra nơi chiến trận thì không ai có thể hẹn trước ngày trở về. Nỗi đau của người chinh phụ là nỗi đau chung của những người phụ nữ thời ấy. Nỗi cô đơn, sầu héo va sự thất vọng kéo người chinh phụ trở về với thực tại:
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun
Tác phẩm chinh phụ ngâm không chỉ có ý nghĩa về mặt giá trị thẩm mĩ mà còn có giá trị nhân đạo sâu sắc. Bài thơ là tiếng nói tố cáo tội ác của chiến tranh phi nghĩa, đồng thời đề cao khát vọng tình yêu của con người.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm. Với phần lập dàn ý và bài văn mẫu trên đây, hy vọng các em đã có thể tự làm một bài văn phân tích của riêng mình.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Có dàn ý chi tiết) | 1,519 | |
Bài thơ Chiều tối là một trong rất nhiều sáng tác được Hồ Chí Minh viết trong thời gian đang bị giam ở nhà ngục của Trung Quốc. Trên đường chuyển lao vào một buổi chiều tối, Bác đã viết nên bài thơ này.
Để giúp các em có thêm tài liệu tham khảo, bài viết này sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đền phân tích bài thơ Chiều tối cũng như gợi ý bài văn mẫu. Nội dung do Kho tàng văn mẫu biên soạn và giữ bản quyền.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Chiều tối
1. Mở bài phân tích bài thơ Chiều tối
Giới thiệu về tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ Chiều tối. Bài thơ được rút ra từ tập thơ Nhật kí trong tù, được Bác viết khi đang trên đường di chuyển giữa hai nhà ngục. Bài thơ được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt nhưng nội dung vẫn mang đậm giá trị nghệ thuật độc đáo. Dù đang bị xiềng xích nhưng nội dung bài thơ không hề có sự than vãn, xót xa.
2. Thân bài phân tích bài thơ Chiều tối
a. Hai câu đầu
– Bức tranh yên bình của cuộc sống, có hình ảnh chim bay về tổ, hình ảnh đám mây đang trôi trên bầu trời xanh. Tất cả gợi nên sự ấm cúng, đoàn viên.
– Cảnh vật tuy đẹp nhưng vẫn mang một chút buồn. Phân tích các từ quyện, tầm, cô, mạn mạn trong nguyên tác để thấy rõ điều này.
=> Bác không hề than vãn mà vẫn khiến người đọc phải xót xa.
b. Hai câu cuối
– Hình tượng thơ có sự chuyển hướng vận động. Hình ảnh lò than rực hồng cho ta thấy trời đã bắt đầu về đêm. Câu thơ có sự xuất hiện của con người khiến cho khung cảnh trở nên đầm ấm hơn, giàu sức sống hơn.
– Người nghệ sĩ phóng tầm mắt ra xa và lên cao bắt gặp hình ảnh ánh sáng của lò than. Nó làm cho lòng người trở nên ấm áp hơn đôi chút.
3. Kết bài
Nêu tổng quan về nội dung bài thơ cũng như cảm nhận của em về bài thơ này.Xem thêm: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và chứng tỏ tính độc đáo, sáng tạo của Nam Cao trong đoạn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo: "Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng cứ rượu xong là hắn chửi... Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết..."Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Chiều tối
Trong những ngày bị giam cầm tại nhà ngục ở Quảng Tây ở Trung Quốc, Bác Hồ đã phải chịu nhiều khổ ải như bệnh tật hay như khi phải di chuyển từ nhà lao này sang nhà lao khác. Tuy nhiên, Người vẫn luôn giữ được phong thái của một vị lãnh tụ và viết nên những vần thơ đầy cảm xúc. Bài thơ Chiều tối được Bác viết trên đường di chuyển từ nhà ngục Tĩnh Tây sang nhà ngục Thiên Bảo. Trên đường đi hẳn Bác đã gặp và chứng kiến nhiều sự việc. Một phần những gì Bác trông thấy, Bác trải qua đã được ghi lại trong bài thơ Chiều tối này. Có thể thấy, hoàn cảnh ra đời bài thơ thật đặc biệt nhưng chính sự đặc biệt ấy lại làm nên nét độc đáo của bài thơ này.
Nếu chỉ nhìn vào mặt hình thức con chữ của bài thơ, chúng ta sẽ thấy như bài thơ đơn thuần là miêu tả cảnh trên đường đi vào một buổi chiều tối. Câu thơ có hình ảnh của chim, của mây, của cô gái đang lao động. Toàn bộ bài thơ, cảnh vật đều là cảnh động, có sự vận động. Chẳng hạn như chim đang bay, mây đang trôi, cô gái đang xay ngô. Đúng ra đó phải là một bức tranh tươi vui nhưng nếu phân tích bài thơ Chiều tối và mổ xẻ từng chữ trong bài chúng ta sẽ thấy rằng có những nét đượm buồn của tác giả gửi gắm thông qua những vần thơ này.
Hai câu thơ đầu đúng theo nguyên tác là:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Phân tích bài thơ Chiều tối
Câu thơ đọc lên sẽ thấy như Bác đang miêu tả khung cảnh của bầu trời. Chiều tối rồi, màn đêm đã sắp buông xuống nơi đây, con chim sau một ngày đi kiếm ăn xa nay đã mỏi cánh và đang bay về tìm nơi chốn để nghỉ ngơi. Có lẽ, nó đang quay về với cái tổ của mình nơi mà gia đình nó đang chờ. Chòm mây thì vẫn đang trôi nhẹ giữa bầu trời. Dường như có một sự thảnh thơi, ung dung khi chiều tối. Câu thơ dịch Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không sát nghĩa nhưng không hay được như nguyên tác và không thể hiện được cái cô độc của mây, cái rộng lớn của bầu trời. Hai câu thơ sử dụng nhiều động từ và tính từ gợi nên sự mỏi mệt và cô độc: quyện, tầm, cô, mạn mạn. Quyện có nghĩa là mỏi, tầm có nghĩa là tìm, câu thơ thể hiện được sự mỏi mệt của cánh chim. Ở đây, bản dịch thơ Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ khá sát với bản gốc và thể hiện được đúng ý đồ của Bác. Câu sau, chữ cô cho thấy sự cô độc. Mặc dù chữ chòm ở bản dịch thơ cũng gợi cảm giác đơn độc nhưng nó không được đắt giá như từ cô. Hai chữ mạn mạn gợi lên một bầu trời bao la, rộng lớn. Chỉ có duy nhất một chòm mây trên bầu trời quá rộng, như vậy mới thật là cô đơn làm sao. Là cảnh vật cô đơn hay Bác đang nói đến sự cô độc của chính mình? Chắc hẳn Người cũng đang rất mệt mỏi. Mệt không chỉ ở thể xác mà còn mệt ở tâm hồn. Người lo lắng vì đang bị xiềng xích, nóng ruột vì không biết bao giờ mới được thoát khỏi cảnh này để tiếp tục hành trình tìm đường cứu nước.Xem thêm: Giữa Nguyễn Khuyến và Tú xương có nỗi niềm tâm sự giống nhau nhưng giọng thơ khác nhau? Hãy làm rõ ý kiến của mìnhMỗi bước chân của người tù mang theo biết bao gánh nặng tâm tư. Thời gian vì vẫn cứ trôi qua lặng lẽ. Dù Bác không có câu nào chỉ sự chuyển dịch của thời gian nhưng thông qua hình ảnh thơ chúng ta có thể thấy rõ điều đó. Nếu như hai câu trước Bác phóng tầm mắt lên cao thì đến hai câu thơ sau Bác phóng tầm mắt ra xa. Chính bởi vậy mà Bác bắt gặp hình ảnh:
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
Hai câu thơ có sử dụng điệp từ bao túc cho thấy hạnh động lặp đi lặp lại của cô gái. Thật tiếc khi bản dịch thơ lại không giữ được nghệ thuật này. Hình ảnh cô sơn thôn xuất hiện trong thơ khiến cho bài thơ trở nên tươi vui và ấm áp hơn một chút. Cô sơn thôn đang ngồi xay ngô tối, đó cảnh tượng của sự đoàn viên, ấm áp và nó đủ. Cụm từ lô dĩ hồng cho chúng ta thấy trời đã tối hẳn, chỉ có ánh lửa từ lò than đang rực hồng. Ánh sáng ấy sưởi ấm tâm hồn của Bác, khiến cho người bớt đi phần nào cái mỏi mệt của thể xác. Thế nhưng, hình ảnh cô gái vẫn như một ước vọng của Bác về một ngày được trở về nơi chốn bình dị như thế. Hình ảnh lò than rực hồng cũng làm bừng sáng cho cả bài thơ, bừng sáng cho cả không gian u tối, hoang sơ và có phần giá lạnh nơi núi non hiểm trở.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ Hai Bà Trưng trích Đại Nam quốc sử diễn caBài thơ Chiều tối mang màu sắc cổ điển nhưng cũng có những nét hiện đại và chứa đựng cái riêng của Bác. Vẫn là lối viết ngắn gọn, thông qua tả cảnh để nói lên tâm trạng của bản thân. Bài thơ như một lời tâm sự, một nỗi ước mong của Bác muốn được thoát khỏi nơi này và trở về với quê hương.
Trên đây là phần dàn ý cho đề phân tích bài thơ Chiều tối cũng như bài mẫu phân tích bài thơ Chiều tối. Hy vọng rằng bài viết này đã mang đến cho các em thêm nhiều kiến thức bổ ích và lý thú để giúp các em học tập môn Ngữ văn được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết) | 1,538 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều Tối của Hồ Chí Minh
Bài làm
Bác Hồ là một người yêu thiên nhiên say đắm, Người sống gần gũi với thiên nhiên, viết nên những vần thơ hay chan chứa biết bao nhiêu cảnh sắc của đất trời, nơi mà Người đã từng thấy, từng đi qua. Ngay cả khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô căn cứ và trên con đường chuyển lao người cũng làm nên những bài thơ hay và đặc sắc. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Chiều Tối.
Bài thơ được Bác Hồ lấy cảm hứng viết khi Người trên đường chuyển lao từ nhà tù Tĩnh Tây đến nhà tù Thiên Bảo. Qua con mắt của một người đang bị gông cùm, tại một nơi xa với quê hương về cảnh vật vùng sơn dã đã được người khắc họa rất đẹp, rất nên thơ và cũng thấm đẫm tâm trạng của chủ thể trữ tình:
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn, lỗ dĩ hồng”
Dịch thơ:
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết, lò than đã rực hồng”
Ngay từ nhan đề bài thơ đã gợi lên cho người đọc về một khoảng thời gian cụ thể trong ngày đó chính là lúc chiều tối. Đây là một thời điểm đặc biệt trong ngày, đó là lúc mọi người đang trở về nhà nghỉ ngơi, sum họp cùng với gia đình sau một ngày làm việc vất vả, cực nhọc. Đồng thời cũng là lúc những cánh chim trở về tổ sau một ngày kiếm ăn:Xem thêm: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về những nét chính trong trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 - 1945
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
Phân tích bài thơ Chiều Tối
Một ngày dài sắp tàn, cánh chim trở về tìm trốn ngủ, nhưng con người mà ở đây chính là người tù thì vẫn tiếp tục con đường chuyển lao của mình. Con đường đầy gian truân, vất vả với trên người là những gông cùm, xiềng xích. Trời đã về chiều tối và màn đêm sắp buông xuống nhưng vẫn chưa được nghỉ ngơi. Tác giả không trực tiếp miêu tả nỗi vất vả, cực nhọc cửa mình mà sử dụng hình ảnh cánh chim mỏi. Bên cạnh đó, giữa thiên nhiên bao la, rộng lớn, nhưng tất cả ánh mắt đều dừng lại trên chòm mây đang trôi nhẹ. Một chòm mây đối lập với cả “tầng không” đã cho ta thấy được sự nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi giống với những bước chân độc hành của Người nơi đất khách quê người. Bên cạnh đó hai câu thơ đầu còn thể hiện khao khát của người tù được tự do như cánh chim kia để trở về với mái ấm quê hương, được như đám mây tự do trôi giữa trời. Hai hình ảnh thơ rất giản dị, gần gũi nhưng lại tạo nên hiệu ứng thơ mang nét cổ điển lại vừa mang tính hiện đại.
Giữa khung cảnh cô đơn, hiu quạnh ấy lại xuất hiện hình ảnh con người, tạo nên điểm nhấn cho tác phẩm:Xem thêm: Với những kiến thức đã học về Nguyễn Trãi và Nguyễn Đình Chiểu, anh (chị) cảm nhận điều gì gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này? Hãy trình bày ý kiến của mình
“Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết, lò than đã rực hồng”
Cuộc sống của con người nơi rừng núi bình yên và đẹp đẽ đến nhường nào. Trên con đường chuyển lao mệt mỏi, người tù vươn tầm nhìn ra xa và thấy được một xóm nhỏ. Tại đó hiện lên hình ảnh “sơn thôn thiếu nữ” mặc dù trời dã sắp tối nhưng vẫn miệt mài lao động khiến cho bức tranh chiều tối trở nên sinh động, vui tươi. Hình tượng thơ có sự vận động khiến cho bức tranh thu vào tầm mắt của chủ thể trữ tình trở nên ấm áp, khỏe khoắn. Ở nơi đất khách quê người nhưng lại bắt gặp hình ảnh quen thuộc của thôn xóm, của quê hương khiến người tù như trút đi sự mệt mỏi, cảm thấy có động lực hơn để kết thúc một ngày chuyển lao. Cau thơ khiến người đọc như thấy được sự nhịp nhàng của cối xay ngô, những vòng quay không chỉ mang theo âm điệu của thời gian mà còn là cả hơi thở của sự sống. Vòng quay của cối xay ngô dừng lại cũng là lúc mà trời đã tối hẳn.
Tuy nhiên bài thơ không kết thúc ở hình ảnh cô gái xay ngô mà kết thúc ở hình ảnh “lò than đã rực hồng”. Chữ “hồng” như làm bừng sáng lên cả bài thơ và trở thành hình ảnh trung tâm cho bài thơ. Nhà thơ không nhắc đến chữ tối nhưng bằng từ “hồng” ấy đã cho chúng ta cảm nhận được sự chuyển động của thời gian từ chiều tối đến tối hẳn. Ánh sáng phát ra từ lò than khiến ta cảm thấy không khí gia đình đầm ấm, cuộc sống bình dị của những người lao động trong một thôn xóm nhỏ. Ánh sáng ấy còn là niềm tin, sự lạc quan của người tù khi luôn hướng về phía trước, không trùn bước.Xem thêm: Hãy giới thiệu một vài nét về nhà văn Et-môn-đô Đơ A-mi-xi
Bài thơ Chiều Tối của Hồ Chí Minh chính là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong những sáng tác của Người. Qua bài thơ ta thấy được phong thái ung dung, tự tại của người tù, cũng qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và yêu con người của Bác.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Chiều Tối của Hồ Chí Minh hay nhất | 1,007 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh
Bị bắt tở Túc Vinh, Bác Hồ bị đưa đến nhà giam huyện Tĩnh Tây. Sau 42 ngày đêm bị hành hạ khốn khổ ở đây mà không được xét xử gì, đúng ngày “song thập” – quốc khánh nước Trung Hoa thời Quốc dân đảng – Bác bị chúng giải đi Thiên Bảo. Trong chặng đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, Bác làm 5 bài thơ, 5 lần ghi nhật kí. Qua những dòng “nhật kí” – thơ đó, có thể hình dung khá cụ thể tình cảnh của Người trong chuyến đi này. Bài thứ nhất Tầu lộ (Đi đường) cho biết đây là đường núi cheo leo vất vả, cứ đi qua hết dãy núi này lại tiếp những dãy núi khác. Vậy mà mỗi ngày Bác phải đi đến năm chục cây số “trèo núi qua truông”, “dầm mưa dãi nắng” như Trần Dân Tiên đã kể. Tối đến, dừng lại trong nhà giam xã nào đó thì cái đêm “nghỉ ngơi” sau một ngày hành trình gian khổ ấy mới hảm hại. Cái “đêm ngủ ở Long Tuyền” hai chân Bác bị cùm chéo lại còn bị rét, rệp “giáp kích” suốt đêm. Đêm đầu tiên đến Thiên Bảo cũng khổ không kém. Sau một ngày đi bộ năm mươi ba cây số “áo mũ dầm mưa rách hết giày” đến nơi nghỉ thì cái nhà lao tương đối lớn mà Bác phải đi mấy ngày trời mới tới này không có được một chỗ ngủ yên cho người tù và Người đã phải “Ngồi trên hố xí đợi ngày mai”!
Mộ (chiều tối) là bai thơ thứ ba trong chùm thơ 5 bài sáng tác trong chặng đường Bác bị giải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Khác những bài kia, Mộ không kể chi những nỗi dọc đường mà là một bài thơ tức cảnh, một bức tranh chấm phá về thiên nhiên Bác gặp trên đường đi: nhan đề bài thơ đã thuyết minh thời điểm sáng tác, cái thời điểm nhà thơ cảm nhận thế giới xung quanh, nảy ra thi hứng. Đó là lúc “chiều tối”, đã suốt ngày “tay bị trói”, “cổ đeo xích”, bị giải đi “qua núi qua truông”…mà vẫn chưa được nghỉ. Và khi nghỉ đêm thì chắc chắn cũng tay trói chân cùm trong xà lim, trên rạ bẩn với muỗi rệp…Tức là, ở thời điểm “Chiều tối” ấy, những đày đọa ban ngày cũng chưa qua và những đày đọa ban đêm sắp tới.
I. Phân tích
Bài thơ tứ tuyệt, như tên gọi, là một bức tranh vẽ cảnh chiều tối, một cảnh tối vùng núi. Bố cục bài thơ cũng là bố cục bức tranh, một bố cục có tính chất cổ điển: hai câu đầu là mấy nét chấm phá dựng nên bức phông lớn làm nền cho cảnh chiều, hai câu sau là những nét đậm nổi bật lên trên bình diện thứ nhất, là trung tâm của bức tranh.
1.Hai câu đầu
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
Cô vân mạn mạn độ thiên không.
Trong thơ, trong tranh xưa, và nói chung, trong thế giới thẩm mĩ cổ điển phương Đông, hình ảnh cánh chim bay về rừng đã ít nhiều có ý nghĩa biểu tượng, ước lệ diễn tả cảnh chiều. “Phi yến thu tâm”, “quyện điểu quy lâm”, những nhóm từ ấy thường gặp trong thơ chữ Hán. “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao), “Chim hôm thoi thóp về rừng” (Truyện Kiều), “Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan)…và bao nhiêu nữa, những câu thơ tiếng Việt xưa có cánh chim chiều. Dường như không có nét vờn vẽ mấy cánh chim xa xa, bức tranh chưa rõ là cảnh chiều. Thi sĩ Huy Cận, với cái nhìn rất thi sĩ cảm thấy bóng chiều tà như sa xuống từ cánh chim bay xa dần về phía chân trời và đã viết một câu thơ thật hay:
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.
Bài thơ của Bác Hồ mở đầu bằng cánh chim lấy từ thế giới nghệ thuật cổ điển phương Đông đó và chỉ với câu đầu, cái phong vị, cái không khí cổ thi đã khá rõ.
Câu thứ hai “Cô vân mạn mạn độ thiên không” được dịch thành thơ: “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Như vậy là bỏ đi chữ “cô” không dịch, còn hai chữ điệp âm mạn mạn thì dịch là nhẹ. Về chữ “cô”, trong tiếng Việt, từ gốc Hán này thường kết hợp với một tiếng khác thành một từ mới mà ý nghĩa “lẻ loi cô độc” có phần đậm hơn vì nó đứng trong hệ thống từ vựng Hán ngữ: cô độc, cô đơn, cô quả, cô quạnh, thân cô thế cô…Do đó, “cô vân” chỉ dịch là “chòm mây” theo chúng tôi là hợp lí. Không nên làm đậm thêm ý lẻ loi cô độc của chữ “cô” vốn không có gì đậm trong câu thơ chữ Hán của Bác. Đáng tiếc ít nhiều chăng là ở chỗ này, “cô” là chữ được sử dụng đậm đặc trong thơ Đường và mang dấu ấn thơ Đường rất rõ, bỏ đi sẽ không khỏi làm nhạt đi chút sắc màu Đường của bài thơ. Bỏ đi hai chữ láy âm “mạn mạn” cũng có cái thiệt thòi ấy. “Mạn mạn” là một trong rất ít những từ láy âm đặc biệt thường xuất hiện với mật độ cao trong thơ Đường, cũng như du du, xứ xứ, mang mang…và mỗi từ ấy có một sắc thái ý nghĩa riêng chỉ có trong thơ Đường. Cho nên, có nhà nghiên cứu bảo rằng, chúng năm trong hệ từ vựng khép kín của Đường thi (Đọc Ngục trung nhật kí – Học tập phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhữ Thành). Thỉnh thoảng ta gặp du du, mạn mạn…trong thơ chữ Hán của Bác Hồ và đó là một dấu hiệu rõ rệt của chất Đường thi trong thơ của Bác. Câu thơ dịch không thể giữ lại được những từ ngữ có giá trị đánh dấu ấy cử thơ Đường khiến cho màu sắc Đường ít nhiều giảm đi trong bản dịch, song điều đó khó tránh được trong việc dịch thơ.
Một đặc điểm quan trọng trong cấu trúc nghệ thuật thơ Đường mà nhà nghiên cứu gọi là mã nghệ thuật của nó là “quy sự vật ra thành một quan hệ xây dựng trên sự thống nhất lại bằng tư duy nhìn hiện tượng xét bên ngoài, về mặt giác quan, là mâu thuẫn” (thi (Đọc Ngục trung nhật kí – Học tập phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhữ Thành). Cho nên, thi nhân đời Đường thường lấy động tả tĩnh, lấy chậm tả nhanh, dùng điểm vễ diện, mượn sáng nói tối…Điều đó không chỉ thuộc về biện pháp thể hiện, bút pháp nghệ thuật mà còn như là thuộc về phương thức nghệ thuật, về tư duy thẩm mĩ, có cơ sở tiến triết học, lịch sử, xã hội của nó. Nói thơ Bác nhiều bài có dáng dấp thơ Đường, trước hết là ở chỗ này mà câu thơ đang nói đây là một biểu hiện rõ nhất.
Bác cảm nghe cái không gian bao la yên tĩnh của cảnh chiều muộn nơi rừng núi diễn tả cái bao la yên tĩnh đó bằng hình ảnh chòm mây mọt mình đang chầm chậm trôi lờ lững ngang qua bầu trời. Bầu trời chiều phải thoáng đãng, cao rộng, phải trong trẻo và yên tĩnh đến thế nào thì mới làm nổi bật lên hình ảnh chòm mây lẻ loi lưng trời, và mới thấy được nó đang trôi chầm chậm (mạn mạn) ngang qua (độ) bầu không mênh mông như vậy. Không gian mênh mông vô tận, thời gian như dừng lại, lắng xuống. Phải có một tâm hồn êm ả thư thái như thế nào mới có thể theo dõi một chòm mây trôi lơ lửng thong thả giữa bầu trời như vậy.
Chính những chữ “cô”, “mạn mạn” và bút pháp mượn điểm vẽ diện, lấy cái cực nhỏ diễn tả cái bao la, dùng cái di động thể hiện cái yên tĩnh làm cho câu thơ Bác trở nên rất Đường. Đường trong cấu trúc nghệ thuật, trong cả từ ngữ, chi tiết, hình tượng, âm điệu, tức là trong từng yếu tố. Do đó, chúng tôi chưa thấy có căn cứ để đồng ý với ý kiến cho rằng chỉ có “cấu trúc nghệ thuật của Bác lại rất Đường” (Nhữ Thành). Nhất là ý kiến đó không thật phù hợp với nhiều bài thơ, nhiều câu thơ của Bác, trong đó có những câu đang nói ở đây, đều đậm đặc những “yếu tố” Đường, đồng thời cũng rất tiêu biểu cho “cấu trúc thơ Đường”, mặc dì khi dịch ra câu thơ tiếng Việt chất Đường đã bị nhạt đi ít nhiều.
Hai câu đầu bài Mộ rất cổ điển, đất Đường thi. Một cảnh trời chiều thật thi vị, vừa cổ kính, vừa quen thuộc, thân thiết.Liệu tình cảm thiên nhiên, sự giao hòa với tạo vật của Bác còn cần phải chứng minh? Đó cũng là một ýếu tố tinh thần truyền thống kết tinh vững bền trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng của thời đại.
Song trong thẳm sâu tâm hồn, hồn thơ Hồ Chí Minh, đâu phải chỉ có tầm hồn nghệ sỹ cổ điển. Trong tranh xưa vẽ cảnh chiều – tranh bằng tranh và tranh bằng thơ – cánh chim thường chỉ là một nét vẽ thuần túy có ý nghĩa thẩm mĩ, một nét nên thơ, nên họa cần thiết thêm vào để gợi cảnh chiều, thế thôi. Cũng có khi nhìn kĩ, đọc kĩ, có thể thấy cái hồn, cái thần toát lên từ nhiều nét chấm phá sơ sài và gợi cảm trong bức tranh không gian rộng lớn đó: cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa…
Hoàng Trung Thông khi thưởng thức một cách tâm đắc bài thơ Chiều tối của Bác Hồ, đã liên tưởng đến một bài thơ của Liễu Tông Nguyên đời Đường mà hai câu đầu là:
Thiên sơn điểu phi tuyệt
Vạn kính nhân tông diệt
Dịch nghĩa:
Nghìn non bóng chim bay đã tắt
Muôn nẻo, dấu người mất
Bài Độc tọa Kính Đình sơn của Lí Bạch cũng có hai câu trên là:
Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
Dịch nghĩa
Bầy chim cao bay hết
Chòm mây một mình trôi
Cả hai bài thơ đều là những nét chấm phá cổ điển gợi cảnh không gian bao la, với những cánh chim cao bay. Lí Bạch confcos chòm mây trôi nhàn nhã một mình lưng trời, cũng như trong bài thơ của Bác.
Song, có phải những cánh chim trong hai bài cổ thi trên đây đều bay mãi vào chốn xa xăm, vô tận vô cùng. Đường bay của chúng là vô tận: càng bay càng mất hút trong cõi tuyệt mù của bầu trời mênh mông. Hai câu thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên đều kết thúc bằng tận hoặc tuyệt. Thi nhân xưa nhìn theo cánh chim bay mất hút và như đã cảm nghe cái mênh mang vô tận vô cùng của trởi đất “Thiên địa chi du du” (Thơ Trần Tử Ngang)…
Trở lại câu thơ Bác Hồ: “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ”. Cánh chim ở đây không chỉ là mấy nét vờn vẽ của một họa sĩ: dường như Bác không nhìn theo cánh chim bay về hướng rừng chỉ với cái nhìn thưởng thức thẩm mĩ của một người nghệ sĩ, mà nhiều hơn là với đôi mắt lưu luyến, trừu mến của một tấm lòng yêu thương, cảm thông đối với một biểu hiện của sự sống. Đây là những con chim có sự sống, có sinh hoạt nhịp nhàng hàng ngày của chúng. Chúng không “cao phi tận”, “phi tuyệt”, bay vào chốn vô cùng vô hạn để biến mất trong cõi hư không siêu hình, mà là những cánh chim “về rừng tìm chốn ngủ”, sau một ngày “lao động” chuyên cần mệt mỏi, ngủ để sáng hôm sau lại tiếp tục nhịp sống tuần tự của đời chim. Câu thơ 7 chữ mà có tới 4 động từ, trạng từ diễn tả hoạt động, trạng thái sinh hoạt của sinh mệnh chim (quyện, qui, tầm, túc). Đường bay, hoạt động bay ấy có mục tiêu cụ thể gần gũi: về rừng tìm cây để ngủ trong đêm. Câu thơ của Bác đã đưa cánh chim từ cõi hư không phảng phất ý vị siêu hình trở về với thế giới hiện thực sự sống hàng ngày, bình thường giản dị song bất diệt trên trái đất này.
Bác Hồ đã nhận xét có tính chất phê phán: “Cổ thi thiên ái nhiên tuyệt mĩ – Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp”. Song chính Bác là người có tấm lòng, có mối giao hòa đặc biệt với thiên nhiên. Dường như Bác sinh ra để làm chuyện hòa hợp với suối rừng, sống ở căn nhà sàn mây vách gió, giữa tiếng chim rừng, bông hoa núi…Có điều, lắm khi lòng yêu thiên nhiên đặc biệt đó không phải chỉ vì thiên nhiên đẹp, mà còn có gì nữa thật sâu xa. Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định kể lại:Có lần anh định bẻ một cành lá để khỏi vướng ống kính, Bác vội ngăn lại: Bác thương cành lá. Khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch có cây bụt mọc bị bệnh lá vàng đang lụi chết, Bác thương cái cây, Bác tự tìm cách chữa cho nó và cây đã xanh trở lại. Đàn cá rô trong ao vườn Bác thường ríu rít rộn ràng mỗi khi Bác ra với chúng, vì: “hàng ngày Bác vẫn gọi rô luôn”…Xuân Diệu đã nhận xét sâu sắc: “Sự yêu thương của Bác đã thành tấm lòng tạo hóa: Bác sống như trời đất của ta”.
Tình cảm thiên nhiên của Bác Hồ, trong chiều sâu chính là lòng yêu thương sự sống, cảm quan nghệ sĩ ở Bác chính là cảm quan nhân đạo. Cái đẹp là ở sự sống; phải chăng quan điểm thẩm mĩ ở Bác đã vượt xa thi nhân xưa? Người nghệ sĩ rất mực tài hoa đó trước hết là một con người. Và do đó là một nghệ sĩ lớn.
Câu thơ trong bài Mộ “Cô vân mạn mạn độ thiên không” là câu thơ Đường hơn cả trong bài thơ đậm chất Đường thi này. Nếu tách nó khỏi bài thơ, thì đúng là “đặt vào giữa tập thơ Đường, Tống cũng khó nhận ra” (Và cây đời mãi mãi xanh tươi, Quách Mạt Nhược). Nó rất gần với câu thơ Lí Bạch đã dẫn ở trên: Cô vân độc khứ nhàn. Nó làm gợi nhớ đến câu thơ trong bài Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu: “Bạch vân thiên tải không du du”. Có gì có sức gợi cảm về cái bao la, trong trẻo, cái êm ả của trời thu hơn là hình ảnh chòm mây trắng trôi nhẹ giữa tầng không? “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” – Nhà thơ Việt Nam Nguyễn Khuyến đã điểm trúng cái thần mùa thu ở câu thơ này. Ở thơ Bác, cũng chòm mây dường như muôn thuở ấy nhưng dù là “khó nhận ra”, thơ Bác nếu để lẫn trong thơ Đường thơ Tống thì cũng không thể nhận ra, ngay cả khi câu thơ của Bác bị cắt rời khỏi bài thơ, tập thơ của Người. Chòm mây trong thơ Bác vẫn có chỗ khác, không để ý thì khó thấy, mà thật ra là rất khác xa thơ xưa.
Xem thêm: Bàn về việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan của đất nướcHình tượng áng mây trắng một mình giữa bầu không khí như là một mô típ nghệ thuật quen thuộc trong thơ xưa và ít nhiều mang một ý nghĩa biểu tượng riêng. Nó gợi nên cái cô độc thanh cao, cái đạo sống phiêu du thoát tục, đã từng hấp dẫn nhiều thế hệ nhà Nho xưa. Nhữ Thành còn cho biết, mấy chữ “không du du” trong thơ Đường có một ý nghĩa triết học không giống ý nghĩa thông thường của những chữ ấy: “Không du du: muốn đời lo lửng” (Nhữ Thành). Có lẽ cũng có thể nói như vậy về những chữ “bạch vân” (mà nhà thơ đại nho đại ẩn Nguyễn Bỉnh Khiêm lấy làm bút hiệu, đạo hiệu…)
Trong câu thơ của Bác chòm mây trôi một mình giữa trời không có sắc thái ý nghĩa ấy, cái sắc thái vốn đã khá đậm trong câu thơ Lí Bạch có dáng dấp, thần thái của một tâm hồn phiêu diêu nhàn tản, đi một mình bên trên cuộc đời, “độc thiện kì thân độc kì hành đạo” cái đạo lánh đời. Câu thơ Bác có chữ “cô” mà không có chữ “độc”. Và chòm mây trong câu thơ của Người cũng không phải là ánh mây trắng ngàn năm phiêu diêu lơ lửng giữa bầu không mênh mông, nhuốm ý vị triết học siêu hình, như mang nỗi khoắc khoải mơ hồ của con người trước cõi hư không…trong câu thơ Thôi Hiệu. Không có căn cứ gì để gán cho hình tượng chòm mây trong thơ Bác một ý nghĩa tượng trưng nào đó. Đây chỉ là chòm mây quen thuộc trên bầu trời thế thôi. Nó gợi cảm rất nhiều vì cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của một chiều thu miền sơn dã.
Tác giả bài Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác (Hoàng Trung Thông) dường như muốn từ vị trí, cảnh ngộ của Bác trên đường giải đi lúc đó để lĩnh hội ý thơ của người nên cho rằng, cũng như con chim đi xa mệt mỏi tìm chỗ ở, tác giả (Bác Hồ – NKTT) cũng thế thôi, giải đi chiều đến rồi cũng mong có chốn nghỉ: vậy thì “làn mây ch mặt trời” cũng uể oải (…) cũng muốn tìm chỗ trú ở chân trời. Mộ (Chiều tối) là lúc mặt trời lặn hoặc đang lặn vậy mà sao chòm mây lẻ đang trôi lơ lửng ngang qua bầu không gian bao la kia lại che khuất mặt trời đã trụt xuống chân trời được! Hẳn không phải vậy, mặt trời đã khuất (sau rừng), song những tia nắng cuối cùng vẫn lưu luyến trên bầu không và châm mây nhuốm nắng chiều bỗng nổi rõ trên bầu trời bao la. Bức tranh chiều ấy khoáng đãng, trong trẻo, nhẹ nhõm biết bao! Sao chòm mây một mình trôi lơ lửng lưng trời kia lại “uể oải”, “vội vã”, “nặng nề”. Câu thơ dịch không thể dịch từ kí âm “mạn mạn” – diễn tả sự di động rất thong thả trên bầu trời bao la yên ả mà thêm vào chữ “nhẹ: “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Câu thơ chữ Hán không có chữ nào có ý nghĩa nhẹ nhàng mà vẫn gợi lên cảm giác nhẹ nhõm thanh thoát, nguười dịch thêm vào chữ nhẹ là để truyền cái tình thần nhẹ nhõm này, cũng được thôi! Cố gắng từ vị trí, cảnh ngộ của Bác để hiểu thơ Bác là đúng, song hiểu đúng tâm trạng của Người để từ đó hiểu ý thơ, không suy diễn chù quan thật không dễ. Thơ của Hồ Chủ Tịch thường chứng tỏ một điều là niềm vui và nỗi buồn của Người kể cả những sâu kín riêng tư lại nhiều khi không thể giải thích bằng những lí do cá nhân cụ thể. Biêt bao vần thơ trong Nhật kí trong tù cho thấy tâm hồn Bác Hồ lắm khi không hề phụ thuộc vào cảnh ngộ của riêng Người. Chính sự quên mình một cách tự nhiên khi cho nhiều khi tứ thơ thêm bừng sáng, bốc dậy cả bài thơ, thật bất ngờ; nếu đối chiếu với hoàn cảnh sáng tác cụ thể thì thấy lạ lùng dường như không hiểu nổi:
Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần
Câu thơ “như một cánh chim loáng bạc bay sáng cả trời đất” (Đọc thơ Bác, Lưu Trọng Lư) đó là từ sau cái đêm “ngủ ở Long Tuyền” bị cùm chéo chân và rệp, rét hành hạ.
Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng
Bóng tối đêm tàn quét sạch không
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ…
Cái tứ thơ rất khỏe, rất lớn, có giọng anh hùng ca, “một nguồn cảm hứng lớn khiến cảnh bình minh chung trong một ngày bỗng có cái khí thế của cảnh bình minh chung trong một thời đại” (Đọc Nhật Kí trong tù, Hoài Thanh) lại từ trên đường giải đi rất sớm, những trận gió thu lạnh lẽo tới tấp quất vào mặt…
Nếu Bác nhìn theo cánh chim về rừng, chòm mây trôi lưng trời chỉ với đôi mắt người tù mệt mỏi mong được nghỉ ngơi làm sao có được những câu thơ “Thơ bay cánh hạc ung dung” nhường ấy! Hiểu như vậy e không đúng với tâm trạng Bác Hồ, cũng là chưa tới được chất người cộng sản Hồ Chí Minh và không hợp ý hợp tình, thần thái câu thơ. Hai câu đầu bài Mộ có cái bát ngát, cái trong trẻo, cái nhẹ nhõm êm ả mà không hề gợi cảm giác hoang vắng, quạnh hiu, càng không có màu sắc hu vô siêu hình. Đằng sau những câu thơ bình dị mà cao rộng khoáng đạt ấy là tâm hồn hết sức ung dung thanh thản của nhà thơ trữ tình. Làm sao những vần thơ đó lại không khkacs gì bài thơ Giang tuyết của Liễu Tông Nguyên, một bài thơ lẻ loi quá chừng, lạnh lẽo quá chừng (Hoàng Trung Thông)!
Hai câu thơ thật đẹp, vừa giản dị vừa tinh tế, cái đẹp của sự trong sáng cổ điển. Song cái đẹp thật sự của thơ Bác lắm khi không thể tìm thấy ở câu chữ, tức là ở trong thơ, mà thường phải tìm ở ngoài thơ. Nếu không chú ý hoàn cảnh cụ thể nảy ra thi hứng, thi tứ thì những câu thơ ấy cũng như những câu thơ đẹp cổ điển khác nói cảnh trời thu, cảnh hoàng hôn mà thôi. Đây không phải là thơ của Lí Bạch, của một Thôi Hiệu hay một Nguyễn Khuyến nhàn dật buông cần câu trên mảnh ao thu, một Bà Huyện Thanh Quan “Êm ái chiều xuân tới khán đài”…mà là của một người tù đang trên đường bị giải, “Tay bị trói, cổ đeo xích”, đã suốt ngày dầm mưa dãi nắng trèo núi qua truông hàng năm chục cây số “vẫn chưa được nghỉ…, đến lúc nghỉ ngơi vẫn bị đày đọa trong nhà lao địa phương, chắc hẳn vẫn tay trói chân cùm trên sàn xà lim bẩn thỉu lạnh lẽo…”. Và đặt trong hoàn cảnh sáng tác cụ thể oái oăm như vậy, bức tranh chiều thu êm ả kia sẽ hiện ra trước người đọc một ánh sáng khác. Những câu thơ rất thơ, có cái vị cổ điển toát lên phong thái “nhẹ nhàng thanh tịch rất ung dung” kia chẳng phải là một biểu hiện của một bản lĩnh phi thường của người chiến sĩ kiên cường vĩ đại sao? Không có một nghị lực phi thường để vượt lên trên mọi dày vò thử thách, không có một tinh thần lạc quan kì diệu của con người hoàn toàn làm chủ bất kì hoàn cảnh nào dù cho khốc liệt đến mấy, để thực sự luôn luôn làm chủ bản thân, thật sự là người tự do, thì không có được những vần thơ bay bổng, trong trẻo ấm áp đến thế trong hoàn cảnh ấy. Đó chính là chất thép vĩ đại của con người cộng sản Hồ Chí Minh.
2. Hai câu sau
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng
Như một bức chấm phá cổ điển, bức tranh chiều tối của Hồ Chủ tịch có bố cục hài hòa, với những mảng xa gần, đậm nhạt rõ rệt. Nếu như hai câu đầu dựng lên tấm phông làm nền thì hai câu này làm nổi lên hình tượng trung tâm ở cận cảnh, là bình diện thứ nhất của bức tranh.
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” – Cô gái (bản dịch của Viện Văn học dịch là cô em làm cho câu thơ có giọng xa lạ với lời thơ của Bác trong nguyên tác) xóm núi xay ngô. Câu thơ thật giản dị, giản dị tới đơn sơ: 7 chữ song chỉ 4 từ, một câu trần thuật tối giản, một thông báo bình thường trong khẩu ngữ hàng ngày không miêu tả, lại dùng cả tiếng nói địa phương (bao túc: ngô, tiếng Quảng Tây). Điều mà phong cách cao quí của thơ cổ điển nói chung, thơ Đường nói riêng, rất kiêng kị.
Thơ Bác là thế! Từ dáng dấp cổ điển của Đường thi chuyển hẳn sang bút pháp hiện thực rất gần văn xuôi hiện đại. Nhà nghiên cứu kĩ, tinh sẽ chỉ ra một điều khá độc đáo là lắm khi chỉ một bài thơ bát cú, thậm chí tứ tuyệt của Bác, có tới hai hoặc ba “phong cách”, bút pháp “màu sắc thẩm mĩ”…mà biến hóa phóng túng, thoải mái, linh hoạt làm sao! Điều lạ là câu thơ có vẻ ít giọng thơ mà gần như một câu văn xuôi trần trụi ấy lại rất đẹp, lấp lánh sinh động lạ thường. Phải chăng vì hai tiếng thiếu nữ tự nó bao hàm sắc thái nghĩa tươi mát trẻ trung? Vì âm điệu nhịp nhàng của câu thơ có láy âm sang câu sau, phù hợp với việc diễn tả xay ngô nhịp nhàng uyển chuyển?
Trong một bài tứ tuyệt, câu thứ ba, có một vị trí rất đáng chú ý. Đó là câu chuyển. Trong kết cấu bài Cảnh khuya, câu đầu rất lãng mạn, rất hiện đại, lãng mạn hơn cả “thơ mới” của Thế Lữ (tiếng hát trong như nước ngọc tuyền). Câu thơ thứ hai bỗng lộng lẫy vẻ đẹp cổ kính như một tấm sơn mài (Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa). Câu 3 và câu 4 chuyển sang khẩu ngữ thân mật bình dị hàng ngày. Khai – Thừa – Chuyển – Hợp khá cố định trong thơ cổ điển, nó không liền vần với ba câu kia mà có tư thế tương đối độc lập nêu ra để làm nổi bật ý thơ. Và vì vậy hình tượng cô gái xay ngô đã hiện ra nổi bật để làm trung tâm bức tranh. Với nét vẽ đậm khỏe đó, Bác Hồ đã đặt người con gái lao động ở vị trí chủ thể của thiên nhiên tạo vật và đẩy lùi ra phía sau, nền trời với cánh chim, chòm mây…Từ bức tranh thiên nhiên trở thành bức tranh đời sống, bức tranh sinh hoạt, từ trời mây chim muông chuyển sang con người và lại là con người lao động. Đó là xu hướng vận động của cấu trúc bài thơ, là logich của hình tượng thơ, phản ánh cái logich lớn của tâm hồn nhà thơ trữ tình.
Trong những bài thơ vịnh cảnh chiều nổi tiếng xưa cũng thấp thoáng bóng người:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
…Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sùng mục tử lại cô thôn.
Song đó chỉ là những chấm phá ước lệ, những ngư tiều, canh mục được điểm xuyết trên tranh, lẫn với chim chóc, cỏ cây, hoa lá, và ngàn mai gió cuốn, dạm liễu dương sa…
Có con người mà không có sự sống, và thật ra cũng chính thiên nhiên đây thôi! Đằng sau cảnh trời chiều nhuốm màu sương, hoài cổ sầu muộn ấy là nỗi niềm cô đơn của một tấc lòng tổ quốc, của một lữ thứ tha hương…Lời thơ hay, song sao mà hoang vắng quạnh hiu.
Bài Giang tuyết của Liễu Tông Nguyên dẫn ở trên cũng có bố cục giống như bài Mộ: hai câu sau cũng là hình ảnh con người ở trung tâm bức tranh:
Cô chu suy lạp ông
Độc điếu hàn giang tuyết
Ông ngư mặc áo tơi, đội nón lá một mình ngồi câu trên chiếc thuyền lẻ loi giữa dòng sông tuyết lạnh! Hai câu thơ chỉ mười chữ mà có tới bốn chữ có nghĩa lẻ loi, lạnh lẽo (cô, độc, hàn, tuyết), kết thúc bài thơ là hàn giang tuyết, đọc xong còn để lại cai dư vị “lẻ loi lạnh lẽo quá chừng”! Bài thơ cũng có nói đến chim bay, dấu chân người, có vẽ nên cả con người, song chim thì bay hết, dấu chân người cũng mất, chỉ còn bóng ông già câu cá như một chấm đen chết giữa nền “sông tuyết lạnh”. Cái nét chấm phá lẻ loi ấy chỉ càng làm bức tranh “sông tuyết” thêm lạnh lẽo mà thôi!
Từ chú tiều lom khom lẫn với cây cỏ dưới chân đèo Ngang, một ngư ông, một mục tử đang tìm về “cô thôn”, “viễn phố” để nhòa dần trong buổi chiều tối, hoặc “ông già” lẻ loi ngồi câu trên sông tuyết, đến cô gái xóm núi xay ngô sinh động, khỏe khoắn nổi bật giữa cảnh chiều, có sự khác nhau giữa hai phạm trù thẩm mĩ, hai thế giới quan của hai thời đại.
Lê Trí Viễn có nhận xét khá tinh về bản dịch hai câu thơ cuối của bài thơ Mộ này: “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” dịch thành “Cô em xóm núi xay ngô tối”. Trong chữ Hán không có chữ “tối” ấy, chỉ có “xay ngô”. Kể ra thì bài này tả cảnh chiều tối bên một xóm núi, sau khi tả cảnh chim bay về núi ngủ, cảnh mây trôi chầm chậm trên không, quay về xóm núi cô gái nhỏ xay ngô để chuẩn bị bữa tối mà thêm chữ “tối” vào, có gì là sai? Đúng là xay ngô tối nhưng đặt chữ tối mà tự nhiên nói đến, thời gian trôi dần theo cánh chim và lần này, theo những vòng xoay của cối ngô, quay quay mãi, “ma bao túc”, lò đã rực hồng, tức trời tối, trời tối thì rực lên, nhịp câu thơ thứ tư là 4 – 3, nhịp ba ngắn, chấm dứt cho cả một sự vận động, chuyển động đúng với cái tối lúc đến nhanh, thu dần vào cuộc sống bên lò than, rồi tỏa cái ấm ra theo âm thanh nồng ấm của chữ hồng. Tất cả cái đó, chữ “tối” trong câu 3 và nhịp điệu 2 – 5 của câu 4 làm đi nhiều tấm lòng nâng niu, trìu mến, chút reo vui trước cuộc sống bình thường, nghèo khổ nhưng bình yên của người làm thơ đang bị giải đi trên đường.
Nói thêm về mấy chữ cuối câu thứ ba được lặp lại ở câu thứ tư: ma bao túc, bao túc ma…Thơ Bác, cả tiếng Việt, cả thơ chữ Hán không ít những trường hợp có láy âm. Ba âm tiết được láy trong bài Mộ vừa cho thấy sự tiết kiệm cao độ trong ngôn từ thi ca của Bác, một trong những biểu hiện có tính chất giản dị lạ lùng của thơ Người, vừa làm cho câu thơ có cái vòng quay của động tác xay ngô, cái nhịp nhàng uyển chuyển của cô gái lao động xóm núi. Và, kể cũng lạ, hai câu thơ đơn giản trần trụi kia lại như đã khắc họa nổi bật hình tượng người thiếu nữ lao động có một giá trị tạo hình, dường như có cả đường nét, hình khối, sáng tối…hẳn hoi, tất cả đều toát lên sự trẻ trung khỏe khoắn, sống động, đẹp và đáng yêu biết bao! Không phải là tưởng tượng chủ quan mà đó đúng là “một hình ảnh tuyệt đẹp về cuộc đời thiếu thốn vất vả mà vẫn ấm cúng, mà vẫn đáng quí, đáng yêu”.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu phát biểu tâm đắc về chữ hồng kết thúc bài thơ. Trong một bài Đường thi tứ tuyệt hàm súc, chữ cuối cùng này thường có một sức nặng truyền cảm đặc biệt, nó góp phần quan trọng tạo nên cái dư vị, cái âm hưởng vang ngân của bài thơ. Chữ hồng kết thức bài Mộ thật tự nhiên mà thật bất ngờ. Bếp lửa hồng lên, nghĩa là buổi chiều tàn êm ả mà thời gian tưởng như không trôi đã đến lúc kết thúc để bắt đầu vào tối đêm, song không phải đêm tối âm u mà là ngọn lừa hồng ấm áp, bừng sáng.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Dàn ý cảm nghĩ về cô giáo mà em yêu quý | Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh | 5,551 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du
Bài làm
Chí Khí Anh Hùng là một đoạn trích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đây là đoạn nói về nhân vật Từ Hải. Đây là một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước vọng về một nhân vật anh hùng mang những phẩm chất phi thường.
Truyện Kiều viết về cuộc đời của nhân vật Thúy Kiều. Sau khi nàng bị lừa bán mình vào lầu xanh chịu nhiều đau đớn, tủi nhục thì gặp được Từ Hải và được cứu ra khỏi đó. Giữa Từ Hải với Thúy Kiều tồn tại một thứ tình yêu rất đẹp nhưng tình yêu ấy lại không thể níu giữ và ngăn cản được chí hướng làm việc lớn, xây dựng cơ đồ của Từ Hải:
“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”
Từ ngày cùng trở về sống bên nhau thấm thoắt đã được nửa năm trời, cuộc sống và tình cảm vợ chồng còn đương nồng nàn nhưng lại không thể tiếp tục níu giữ được. Người trượng phu ấy đã sớm “động lòng bốn phương”. Qua đó ta thấy được ý chí lập công danh, sự nghiệp được nung nấu trong con người của Từ Hải. Hình ảnh ước lệ “trời bể mênh mang” gợi cho ta liên tưởng đến vóc dáng lớn lao, phi thường của người anh hùng, cùng với phong thái ung dung “lên đường thẳng rong”.Xem thêm: Lập dàn ý nghị luận về đức tính trung thực
Phân tích bài thơ Chí Khí Anh Hùng
Tiếp đó chính là cảnh tiễn biệt của Thúy Kiều mang theo sự khác biệt hoàn toàn với cảnh tiễn biệt với Kim Trọng hay Thúc Sinh:
“Nàng rằng: Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng quyết lòng xin đi”
Vốn phận gái theo chồng, Thúy Kiều cũng không mong muốn gì hơn và cũng không ngăn cản bước chân theo đuổi lý tưởng của chồng mà chỉ xin được đi cùng. Nàng cũng chỉ mong được thực hiện “xuất giá tòng phu” giống như bao người con gái khác không chỉ bởi nàng là vợ mà còn vì Từ Hải là ân nhân cứu mạng của nàng. Mong muốn là vậy nhưng Từ Hải nay đã quyết và đã có ý định của riêng mình:
“Từ rằng: Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình
Bao giờ mười vạn tinh binh
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia”
Trước lời xin đi cùng của Thúy Kiều thì Từ Hải đã bày tỏ lời trách móc đối với nàng. Tách nàng vốn không chỉ là người vợ mà còn là tri kỷ của mình cơ sao vẫn chưa thoát khỏi “nữ nhi thường tình”. Đồng thời còn khuyên nàng không cần phải đặt nặng việc “tòng phu” mà chỉ cần ở lại an phận thủ thường chờ tin. Đồng thời Từ Hải cũng cho Thúy Kiều một lời hứa hẹn đó là khi mà có trong tay mười vạn tinh binh thì chàng sẽ đón nàng “nghi gia”. Có thể thấy đây chính là điểm thể hiện chí khí của một người anh hùng, không chỉ cứu Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh mà còn hứa hẹn khi lập được cơ đồ, sự nghiệp thì sẽ đón nàng về dinh và cho nàng một danh phận. Mặc dù cứng rắn, mặc dù có chút trách móc nhưng Từ Hải vẫn kín đáo thể hiện sự quan tâm, lo lắng của mình:Xem thêm: Cảm nhận của em về vấn đề kỷ luật trong học đường
“Bằng ngay bốn bể không nhà
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì”
Ra đi chỉ với một người một ngựa thong dong nhưng Từ Hải rất tự tin vào khả năng của mình. Lo lắng chuyến đi này của mình phải lang thang, phiêu bạt khắp nơi bởi chính chàng cũng không biết chắc mình sẽ đi đâu nên không muốn Thúy Kiều phải cùng phiêu bạt, chịu khổ với mình. Thêm vào đó thì chằng còn tự tin, quyết tâm xây dựng cơ đồ chỉ trong vòng một năm và bày tỏ ý định này của mình với Kiều để nàng có thể yên tâm chờ đợi. Lý tưởng của người anh hùng Từ Hải rất lớn lao, cao cả và chàng sẽ không để những chuyện “nữ nhi thường tình” làm ảnh hưởng đến quyết định của mình. Chính vì thế chàng sau khi bày tỏ suy nghĩ của mình đã dứt khoát lên đường:
“Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kỳ dặm khơi”
“Dứt áo ra đi” là hành động thể hiện sự quyết đoán, không gì có thể khiến người quyết định thay đổi ý kiến hay nán lại nữa. Bên cạnh đó nhà thơ còn mượn hình ảnh “gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” để diễn tả giây phút tiễn biệt hào hùng. Có thể nói hình tượng người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du. Qua ngòi bút của ông thì Từ Hải là một con người mang tầm vóc cao lớn, vĩ đại.Xem thêm: Qua những lời thơ Thuật hoài (tỏ lòng), anh (chị) thấy hình ảnh trưng nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì với thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai
Bài thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du đã cho ta thấy một người anh hùng với lý tưởng và ước mơ công lý mạnh mẽ. Bên cạnh đó bài thơ còn là nỗi niềm, tâm tư của tác giả về khát vọng công lý trong bối cảnh xã hội cũ.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Chí Khí Anh Hùng của Nguyễn Du hay nhất | 986 | |
Đoạn trích Chị em Thúy Kiều nằm trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là một đoạn trích vô cùng đặc sắc. Đoạn trích này đã thể hiện được tài năng miêu tả bậc thầy của Nguyễn Du trong việc thể hiện được vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều.
Để giúp các em có thể phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều được tốt nhất, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích đoạn trích Chị em Thúy Kiều. Việc lập dàn ý sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong việc làm bài văn phân tích.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích Chị em Thúy Kiều.
– Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc.
– Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sắc. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều là đoạn trích giới thiệu và miêu ả về tài sắc của hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều.
2. Thân bài phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều
a. 4 câu đầu
– Giới thiệu chung về chị em Thúy Kiều.
– Chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân.
– Hai người con gái đẹp toàn vẹn.
b. 4 câu tiếp
– Vẻ đẹp của Thúy Vân.
– Vẻ đẹp khiến cho thiên nhiên phải nhường nhịn
c. 16 câu còn lại
– Tài sắc của Thúy Kiều.
– Vẻ đẹp khiến người khác phải ghen tị.
– Kiều là người con gái sắc sảo với đủ các tài lẻ mà nổi bật nhất là tài gảy đàn.
– Dự báo trước về số phận bi thương của Kiều.
3. Kết luận
– Khái quát nội dung đoạn trích và nêu cảm nhận của em về đoạn trích này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính (Có dàn ý chi tiết)
II. Lập dàn ý phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều
Nhà thơ Nguyễn Du là vị đại thi hào của dân tộc. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm lớn trong đó có tác phẩm Truyện Kiều. Truyện Kiều mặc dù lấy cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã có những sáng tạo vô cùng tuyệt vời và biến nó trở thành một tác phẩm thi ca xuất sắc của Việt Nam. Đoạn trích Chị em Thúy Kiều nằm ở phần mở đầu của Truyện Kiều. Nội dung đoạn trích này giới thiệu về hoàn cảnh, gia thế cũng như vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều.Xem thêm: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du hay nhất
Mở đầu đoạn trích, tác giả Nguyễn Du đã giới thiệu về hoàn cảnh của hai chị em Thúy Kiều. Thúy Vân và Thúy Kiều là hai người con đầu lòng của gia đình Vương Ông. Họ là những người con gái đẹp:
Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều
Có thể thấy ngay từ những câu thơ mở đầu này, Nguyễn Du đã dành nhiều tình cảm cho cả hai cô gái. Họ là những người đẹp về ngoại hình, đẹp cả cốt cách bên trong. Đó là vẻ đẹp hoàn mĩ khiến cho nhiều người ngưỡng mộ. Mặc dù cùng là hai người con gái đẹp nhưng mỗi người lại có một vẻ riêng không giống nhau. Nhà thơ Nguyễn Du cũng đã dành những vần thơ khác nhau để miêu tả hai người con gái này. Trước hết, ông miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngày nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Chỉ với 2 cặp lục bát miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân thôi nhưng cũng đủ để cho người đọc thấy cái tài trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du. Khi miêu tả Thúy Vân, Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ như trang trọng, đầy đặn, nở nang, đoan trang. Trước mắt người đọc hiện lên một Thúy Vân có vẻ đẹp trang trọng, thân mình đầy đặn, khuôn mặt bầu bĩnh. Nụ cười của nàng e lệ, đoan trang. Làn da trắng và mái tóc óng vượt như mây. Ở đây, nhà thơ đã so sánh vẻ đẹp của Thúy Vân với vẻ đẹp của thiên nhiên. Những từ ngữ như thua, nhường thể hiện sự ưu ái của thiên nhiên dành cho Thúy Vân. Thiên nhiên công nhận vẻ đẹp của nàng và chịu nhường trước vẻ đẹp ấy. Nó là dự báo cho một tương lại đầy êm đềm của Thúy Vân sau này.Xem thêm: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Có dàn ý chi tiết)
Mặc dù là em nhưng Thúy Vân lại được Nguyễn Du miêu tả trước. Điều này không có gì khó hiểu nếu như chúng ta phân tích tiếp phần sau của đoạn trích này. Ở đây, Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng biện pháp đòn bẩy, mượn vẻ đẹp của Thúy Vân để làm nổi bật lên vẻ đẹp của Thúy Kiều:
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Như vậy là Vân đẹp bao nhiêu thì Kiều lại sắc sảo, mặn mà hơn bấy nhiêu. Và nếu so với Thúy Vân thì tài sắc của Thúy Kiều có nhiều phần hơn. Tuy nhiên, sự tài sắc của Thúy Kiều vượt quá cả thiên nhiên, nó khiến cho thiên nhiên phải ghen tị với nàng và đây chính là điềm báo cho một tương lai gặp nhiều sóng gió của Kiều:
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Hai chữ ghen và hờn đủ để cho người đọc thấy được sự hờn ghen của thiên nhiên trước vẻ đẹp của Kiều. Phàm từ xưa đến nay, những người phải chịu sự ghen ghét của người đời thường hay gặp phải những điều bất hạnh bởi những người ghét họ sẽ luôn tìm cách để hãm hại họ. Nếu như thiên nhiên nhường nhịn trước vẻ đẹp của Thúy Vân thì Nguyễn Du lại để thiên nhiên hờn ghen trước vẻ đẹp của Thúy Kiều. Đây không chỉ là dự báo, nó còn thể hiện tài năng bậc thầy trong việc vận dụng từ ngữ của Nguyễn Du.Xem thêm: Soạn bài Con người quý nhất
Thúy Kiều không chỉ là một cô gái đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà còn là một người:
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Thông minh và tài năng, Thúy Kiều có đủ tài cầm, kì, thi, họa đúng mẫu người phụ nữ lý tưởng của thời xưa. Trong số những tài năng ấy, cái tài gẩy đàn của Thúy Kiều được xem là:
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.
Tài năng gẩy đàn của Thúy Kiều không ai có thể so sánh được. Nàng gảy bản nhạc do tự tay mình viết, nghe thôi cũng khiến người ta não nề. Thêm một lần nữa, Nguyễn Du lại dự báo cuộc đời đầy sóng gió của Thúy Kiều thông qua tiếng đàn.
Cuối bài, Nguyễn Du miêu tả cuộc sống của Thúy Kiều hiện tại. Đó là một cuộc sống êm đềm:
Phong lưu rất mực hồng quần
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che
Tường đông ong bướm đi về mặc ai
Đoạn trích dài 24 câu nhưng Nguyễn Du chỉ miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân trong 4 câu và cũng chỉ tả về vẻ đẹp chứ không nói gì đến tài năng của Vân. Trong khi đó, Nguyễn Du dành tới 12 câu để miêu tả về vẻ đẹp cũng như tài sắc của Kiều. Ông miêu tả một cách kĩ lưỡng và tỉ mỉ để cho người đọc hiểu được, hình dung ra hết được vẻ đẹp của người con gái này.
Đoạn trích Chị em Thúy Kiều đã lột tả được tài năng của Nguyễn Du. Đây là một đoạn trích hay và đắt giá của tác phẩm Truyện Kiều.
Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều. Đoạn trích này có rất nhiều từ ngữ đắt giá, các em hãy chú ý khai thác kĩ ngôn ngữ trong đoạn trích để có thể làm bài văn phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều được sâu nhất.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết) | 1,466 | |
Bài thơ Con cò của Chế Lan Viên là một bài thơ mang phong cách nghệ thuật rõ nét và độc đáo của tác giả. Bài thơ viết về hình ảnh con cò, một hình ảnh đã quen thuộc trong ca dao, dân ca Việt Nam. Qua đó, nhà thơ muốn nói đến tình mẹ ấm áp và bao la.
Để các em có thể làm bài văn phân tích bài thơ Con cò được tốt nhất, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Con cò đồng thời gợi ý làm văn để các em tiện tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Con cò
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Chế Lan Viên và bài thơ Con cò
– Nhà thơ Chế Lan Viên là một trong những tác giả xuất sắc của thi ca Việt Nam.
– Bài thơ Con cò được sáng tác năm 1962.
2. Thân bài phân tích bài thơ Con cò
a. Hình tượng con cò trong bài thơ
Khổ thơ thứ nhất
– Hình ảnh con cò trong thiên nhiên hiện lên trong lời ru:
+ Con cò bay lượn trên bầu trời yên ả.
+ Con cò lặn lội kiếm ăn
– Hình ảnh con cò – đứa con thơ của mẹ:
+ Con cò đến với tuổi ấu thơ của con một cách vô thức.
Khổ thơ thứ hai
– Cánh cò trở thành người bạn đồng hành cùng với con trên chặng đường đời.
b. Tấm lòng của người mẹ thể hiện qua lời ru
Khổ thơ thứ nhất
– Trong lời ru có tình thương của mẹ.
– Mẹ luôn ở bên cạnh yêu thương và che chở cho con.
Khổ thơ thứ hai
– Lời ru thấm đẫm tình thương của mẹ.
– Cánh cò trở thành ý nghĩa biểu tượng về lòng mẹ.
– Lòng mẹ luôn theo con đến suốt cuộc đời.
Khổ thơ thứ ba
– Hình ảnh con cò mang ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng của mẹ.
– Mẹ lúc nào cũng ở bên con, dù lớn con vẫn là con của mẹ.
3. Kết bài
– Khái quát lại nội dung bài thơ Con cò, ý nghĩa của bài thơ.
– Nêu cảm nhận của em về bài thơ Con cò.Xem thêm: Nghị luận xã hội về vấn đề ô nhiễm môi trường
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Con cò
Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, ông sinh ra ở Quảng Trị nhưng lớn lên ở Bình Định. Sinh thời, Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ xuất sắc và có rất nhiều đóc góp cho văn học Việt Nam thế kỉ XX. Thơ Chế Lan Viên mang một phong cách độc đáo, triết lý và trữ tình. Một trong số những bài thơ xuất sắc của Chế Lan Viên là bài thơ Con cò, nó thể hiện rõ nét nhất phong cách sáng tác của nhà thơ.
Hình ảnh con cò vốn đã quen thuộc với người dân Việt Nam thông qua các bài ca dao, dân ca. Thế nhưng trong bài thơ của mình, nhà thơ không dừng lại ở những cái có sẵn mà đã mở rộng hơn, nâng cao hơn thành biểu hiện cao quý của tình mẹ. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, số lượng tiếng trong mỗi câu lúc dài, lúc ngắn khiến cho âm điệu của bài thơ ngân nga như lời ru ngọt ngào của mẹ.
Phân tích bài thơ Con cò
Ngay từ những câu thơ mở đầu, chúng ta có thể nhận thấy hình ảnh người mẹ đang ôm ấp con trong vòng tay thương yêu của mình:
Con còn bế trên tay
Con chưa biết con cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay
Từ điệu ru quen thuộc ấy, hình ảnh của những cánh cò bay lả bay la đã đi vào trong những giấc ngủ của con, mang theo những gì yên bình nhất. Trong khi con được ấm êm trong vòng tay của mẹ thì có biết bao nhiêu cánh cò ngoài kia đang phải lặn lội kiếm ăn. Mẹ đã tỏ rõ sự xót thương cho những cánh cò lận đận trong ca dao:
Có một mình, cò phải kiếm lấy ăn
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ
Thân cò bé nhỏ phải đi kiếm ăn một mình chắc hẳn sẽ gặp không ít những khó khăn. Mẹ thương cho cánh cò nên càng thương con nhiều hơn, càng cố gắng bao bọc và che chở cho con. Những gì tốt đẹp nhất, mẹ đều dành cả cho con. Mẹ đã cùng con chơi, mẹ đã nâng giấc ngủ cho con bằng câu hát ru à ơi ngọt ngào, bằng dòng sữa mát trong của mẹ:Xem thêm: Nghị luận xã hội về tự lập
Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân
Con chưa biết con cò, con vạc
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát
Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân
Trong đoạn thơ này, nhà thơ đã sử dụng chất liệu lấy từ ca dao đó chính là con cò, con vạc, cành mềm. Nó khiến cho câu thơ trở nên gần gũi và gợi lên những hình ảnh đời thường của hai mẹ con. Qua đây, câu thơ cũng thể hiện được tình thương con lớn lao của người mẹ. Con còn nhỏ, suy nghĩ của con còn non nớt, ngây thơ và trong sáng vì thế chưa thể biết được những khó khăn, hoạn nạn trong cuộc đời. Nó cũng giống như cành mềm đã khiến cho cánh cò trong ca dao bị ngã xuống ao. Con cứ việc ngủ ngon mà chẳng cần phân vân vì những điều khó khăn ấy.
Trong lời ru của mẹ không chỉ nhằm giúp con ngủ ngon mà còn gửi gắm vào đó mong ước cho con được lớn khôn, rồi con cũng sẽ đến trường và đi học như bao đứa trẻ khác:
Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên
Con khôn lớn, con theo cò đi học
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân
Không dừng lại ở việc đi học, mẹ ước mong cho tâm hồn con được chắp cánh và vươn xa như cánh cò bay. Mẹ mong sao con lớn lên có thể trở thành một người có ích:
Lớn lên, lớn lên, lớn lên,…
Con làm gì?
Con làm thi sĩ
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn
Đó chính là mong ước của mẹ, mong ước con được nối nghiệp cha để sau này viết tiếp những câu chuyện về tình tượng cánh cò. Con sẽ làm đầy lên kho tàng văn học nước nhà, thổi những hơi thở mới mát lành vào trong những câu văn.Xem thêm: Lớp em tổ chức thảo luận với chủ đề “Nhà văn mà tôi hâm mộ”. Em hãy viết bài văn ngắn giới thiệu về nhà văn mà em yêu quý
Đến khổ thơ cuối của bài, mẹ đã hóa thân vào cánh cò để thể hiện tình yêu của mình với con. Dù cho cuộc sống sau này có đi đến đâu, con có tới nơi chân trời góc bể nào và dù phải vượt qua khó khăn, khổ ải như thế nào thì mẹ cũng sẽ tìm đến bên con, bảo vệ và che chở cho con:
Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
Cuộc đời là thế, thời gian luôn vận động không ngừng. Hôm nay con còn bé, còn ở gần bên mẹ nhưng ngày mai con sẽ lớn, sẽ vỗ cánh bay xa, bay đến chân trời mơ ước của riêng con. Nhưng đối với mẹ con lớn thế nào cũng bé bỏng trong mắt mẹ, lớn thế nào cũng vẫn là con của mẹ và cho đến hơi thở cuối cùng mẹ vẫn luôn bên con.
Cuối cùng, người mẹ đưa mắt nhìn về phía xa xăm như để kiếm tìm hình bóng của một con cò:
À ơi
Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi
Bài thơ Con cò đã thể hiện được tình yêu thương bao la của mẹ dành cho con. Đó là tình thương sâu đậm, vô bờ bến. Những người mẹ Việt Nam, người mẹ nào cũng vậy, họ yêu con mình hơn chính bản thân. Nhà thơ đã nói thay được nỗi lòng của những người mẹ. Nội dung bài thơ thật đáng quý biết bao.
Trên đây là phần lập dàn ý phân tích bài thơ Con cò và bài văn mẫu. Các em hãy đọc thật kỹ, nắm được ý chính của bài sau đó tự lập dàn ý và viết bài văn của riêng mình.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết) | 1,508 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên
Bài làm
Bài thơ Con cò của Chế Lan Viên là một trong những bài thơ xuất sắc của ông được sáng tác vào năm 1962. Bài thơ mang âm hưởng ca dao, dân ca đằm thắm, ngân nga ngọt ngào như một lời ru trong trẻo, tròn đầy những ân tình của tấm lòng người mẹ
Bài thơ mang tựa đề Con cò và có những câu thơ miêu tả sâu sắc và chân thực hình ảnh của những con cò. Nhưng thực chất hình ảnh cò là hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh biểu trưng cho người phụ nữ, đặc biệt là những người mẹ:
“Con còn bế trên tay
Con chưa biết con cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay…..
Con cò bay la
Con cò bay lả
Con cò Cổng Phủ
Con cò Đồng Đăng…
Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ
Con cò ăn đêm ….
Con cò xa tổ
Cò gặp cành mềm
Cò sợ xáo măng…”
Ngay từ những câu thơ đầu của bài thơ đã có những câu thơ nói lên thật chân thực và rõ rệt hoàn cảnh của con cò. Con cò được coi như một linh vật quan trọng không thể thiếu trong những lời hát ru của mẹ. Và những lời ru là những câu hát thiêng liêng đóng góp một phần giúp con khôn lớn thành người. Hình ảnh con cò cũng rất gần gũi với hình ảnh mẹ, bởi thân phận cò với thân phận người mẹ mang nhiều nét tương đồng. Những con cò luôn tần tảo, vất vả sớm hôm nhưng cò không hề biết than vãn, không bao giờ biết than thân. Bởi với thân cò, không phải là nghĩ cho mình, mà quan trọng hơn cả là nỗi lo lắng cho con. Nghĩ về con, lo lắng cho con nhiều hơn lo lắng cho mình, cò lúc nào cũng chỉ mang trong mình mối lo sợ những chú cò con của mình bị đói. Tấm lòng người mẹ cũng vậy, sinh con ra trên đời, người mẹ nhận ra đối với sinh linh bé nhỏ do mình tạo ra, hơn cả sự trách nhiệm mà là tình yêu thương thật sự. Có con, con chính là tất cả của mẹ, là niềm vui của mẹ, là nỗi buồn của mẹ, là những nỗi lòng của mẹ: “Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ”. Thật vậy, con có mẹ là chỗ dựa, con cần phải lo lắng điều chi? Con còn sợ điều chi? Trong tất cả mọi thứ tình cảm có trong cuộc đời mỗi người, tình mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất. Mẹ là người mang tình cảm sâu sắc và chân thật nhất với con. Người có thể hy sinh tất cả vì con, không chút toan tính, vụ lợi với con, chỉ có mẹ mới cho con cảm giác an toàn, ở bên mẹ con không bao giờ phải lo sợ những mối lo mang tên “thế giới bên ngoài” hay “xã hội ngoài kia”Xem thêm: Thuyết minh về con mèo“Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân.
Con chưa biết con cò, con vạc
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát
Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân”
Phân tích bài thơ Con cò
Bài thơ có lối sử dụng ngôn ngữ rất đặc sắc. Cùng với đó là nghệ thuật hoán dụ được vận dụng một cách sắc sảo đã đã giúp cho hình tượng tình mẫu tử càng thêm tỏa sáng. Những lời ru ngọt ngào, chứa chan tình yêu thương của mẹ. Những lời ru của mẹ mãi là những lời ca tuyệt vời nhất. Trong mỗi lời ru, mẹ phần nào đã có những nỗi niềm mong ngóng đến ngày con khôn lớn. Cánh cò, những lời ru cũng là hiện thân của mẹ, sẽ mãi theo con, chở che cho con, nâng đỡ những bước con đi. Không những sẽ cùng con khôn lớn trưởng thành, mẹ cũng sẽ cùng con chắp cánh những ước mơ:
“Lớn lên, lớn lên, lớn lên…
Con làm gì?
Con làm thi sĩ!
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn…”
Vì với mẹ, con là ý nghĩa lớn của cuộc đời mẹ, bởi vậy, con không cần phải lo lắng điều gì, dù con có khôn lớn trưởng thành, ngoài xã hội kia có bão tố phong ba thì mẹ cũng cùng con chống đỡ, mẹ bảo vệ con, che chở cho con. Tình mẫu tử của mẹ là nghĩa tình bền chặt, sắt son nhất trong cuộc đời mỗi con người:Xem thêm: Phân tích bài học nhân sinh được truyền tải qua tác phẩm Chiếc lá cuối cùng của Ô-hen-ri“Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”
Bài thơ với những câu thơ mang âm hưởng nhẹ nhàng, giản dị nhưng lại thấm thía những ý nghĩa lớn vì tình mẹ vô cùng, Tình mẹ đối với con là bao la, là son sắt vô cùng. Tình mẫu tử là thứ tình cảm thiên liêng, đáng trân quý nhất trong cuộc đời.
Minh Anh | Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên | 894 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Con Cò của nhà thơ Chế Lan Viên
Bài làm
Con cò là một hình ảnh quen thuộc trong thơ ca dân gian của dân tộc. Mỗi khi nhắc đến hình ảnh con cò người ta lại gợi nhớ về quê hương và con người Việt Nam. Bài thơ Con Cò của Chế Lan Viên cũng đem lại cho người đọc những cảm nhận quen thuộc về tuổi thơ và cánh cò như trong thơ ca dân gian mà chúng ta đã quen thuộc.
Khổ thơ đầu của bài thơ giống như một lời ca nhẹ nhàng, êm ái:
“Con còn bế trên tay
Con chưa biết con cò
Nhưng trong lời mẹ ru
Có cánh cò đang bay”
Hình ảnh ta bắt gặp ở khổ thơ đầu này chính là hình ảnh đứa con nhỏ được mẹ ru bằng lời ru về con cò. Chắc hẳn trong số chúng ta đều từng nghe những câu hát ru có cánh cò:
“Con cò bay lả bay la
Bay từ cổng phủ bay ra cánh đồng”
Hay:
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”
Lời ru của mẹ đã mang đến cho con giấc ngủ yên bình, ấm áp. Trong những lời ru ấy khiến cho con có ấn tượng sâu sắc về cánh cò, cánh cò từ lời ru vào trong giấc mộng của con rồi lại từ giấc ngủ ấy khiến con nhận biết được hiện thực khi con thức. Lời ru cho ta cảm nhận được tình thương, cảm xúc dạt dào yêu thương của mẹ. Lời mẹ ru con gắn với những lời mẹ mong muốn truyền đạt, thấm nhuần vào tâm tưởng của con. Hình ảnh con cò là hình ảnh biểu tượng cho người nông dân cần cù, lam lũ, vất vả kiếm ăn mỗi ngày. Người mẹ mong muốn con được tiếp cận với những gì thân thuộc, thân thương của quê hương trước những tri thức bao la của nhân loại mà sau này con sẽ học ở trường lớp.Xem thêm: Phân tích nghệ thuật lập luận kết hợp với biểu cảm của trong bài Tựa “Trích diễm thi tập"
“Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!
Cánh cò mềm mẹ sẵn tay nâng!
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân!
Con chưa biết con cò, con vạc
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”
Phân tích bài thơ Con Cò
Điệp ngữ “ngủ yên” kết hợp với hình ảnh con cò được nhắc đi nhắc lại trong lời ru của mẹ. Qua đó ta thấy được tình cảm thiết tha mẹ dành cho con. Người mẹ hết lòng vì con, sẵn sàng hi sinh, trở che để con có giấc ngủ yên, để con chẳng phải phân vân bất cứ một điều gì. Câu thơ khiến cho người đọc nhớ về tuổi thơ, nhớ về những tháng ngày còn vô lo, vô nghĩ, những giây phút được nằm trong vòng tay dịu êm của mẹ. Điệp khúc “ngủ yên” ấy lại tiếp tục được cất lên từ lời ru của mẹ:
“Ngủ yên, ngủ yên, ngủ yên
Cho cò trắng đến làm quen
Cò đứng ở quanh nôi
Rồi cò vào trong tổ
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi
Mai khôn lớn theo cò đi học
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân”
Mặc dù mẹ biết con còn bé bỏng, còn chưa biết con cò, con vạc nhưng mẹ vẫn muốn gửi gắm đến con những hình ảnh thân thuộc của quê hương, để cánh cò trắng đồng hành với con không chỉ trong lời ru của tuổi thơ mà cả khi con đã lớn khôn, khi con tới trường, tới lớp. Cánh cò đi từ lời ru đến hiện thực, cho con cảm nhận được cánh cò đang ở gần bên con, đang cùng con đi vào giấc ngủ. Và việc con ngủ yên có mối quan hệ mật thiết đến giấc ngủ của con cò, cò trở thành người bạn tri kỷ của con. Rồi khi con lớn lên những cánh cò vẫn tiếp tục theo gót chân con tới trường:Xem thêm: Từ bài văn Lao xao của Duy Khán, em hãy tả lại khu vườn trong một buổi sáng đẹp trời.
“Lớn lên, lớn lên, lớn lên…
Con làm gì?
Con làm thi sĩ?
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn”
Dù sau này có trưởng thành, dù con có làm bất cứ công việc gì thì mẹ vẫn mãi luôn là nguồn động lực cho con vững bước và thành công trên đường đời. Cánh cò trắng ở đây ta có thể hiểu đó chình là hình ảnh tượng trưng cho người mẹ. Khi con còn nhỏ, con nằm trong vòng tay mẹ, ngoài giấc ngủ của con là hình ảnh người mẹ vất vả kiếm sống để nuôi nấng con. Rồi sau này khi con lớn lên, khi con đã có nghề nghiệp cho riêng mình thì cánh cò trắng vẫn “bay hoài không nghỉ” bởi vì vẫn tiếp tục phải lo cho con, lo cho cuộc sống gia đình. Cánh cò ấy có thể không theo sát, hiện diện trước mắt con nhưng vẫn luôn dõi theo con. Cho đến khổ thơ thứ ba khiến cho ta thấy một thứ tình cảm giản dị mà xúc động:
“Dù được gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con
Con dù lớn, vẫn là con của mẹ
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn yêu con”
Đây chính là những tâm tình của một người mẹ đối với người con. Dù con đã trưởng thành, lớn khôn, dù vòng tay của em bây giờ không thể ôm trọn con vào lòng, dù bất cứ hoàn cảnh nào thì mẹ vẫn yêu con. Bài thơ Con Cò được mở đầu bằng lời ru và cũng được kết lại với lời ru à ơi của mẹ. Một lời ru cho ta cảm nhận sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng.Xem thêm: Anh (chị) Hãy phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh
Loan Trương | Phân tích bài thơ Con Cò của nhà thơ Chế Lan Viên | 1,015 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Con Cò
Đã là người Việt nam, ai lớn lên mà chẳng mang theo, dù ít, dù nhiều hơi ấm của những lời ru, những lời yêu thương êm đềm khi xưa mẹ hát. Đã mang trong mình dòng máu Việt, ai mà chẳng có một góc tuổi thơ trong sang, hồn nhiên, chập chờn theo đôi cánh cò trắng ở nơi sâu thẳm hoài niệm, tâm hồn. Chế Lan Viên cũng vậy, ông cũng là người Việt Nam, dòng máu chảy trong huyết quản ông cũng mang tên Lạc Hồng, có lẽ vì thế, trong thơ ông, dù là suy ngẫm, dù là triết lí, ta vẫn gặp lời ru ầu ơ của mẹ, ta vẫn thấy kỉ niệm tuổi thơ nồng cháy, ta vẫn nghe trong gió thong thả nhịp vỗ cánh cò. Và “Con cò” là bài thơ tiêu biểu cho một hồn thơ như thế, một bài thơ mà chất triết lí, suy tưởng đã hoà làm một với những lời ca đẹp đẽ nhất ca ngợi tình mẹ, ca ngợi ý nghĩa của những lời hát ru với cuộc đời mỗi con người.
Trong trang thơ, cánh cò không tự có, không tự hiện hữu bất di bất dịch như muôn vàn câu chữ của thi ca, nó phải bay ra từ một miền xa xôi lắm. Chế Lan Viên đã đánh thức cánh cò yên ngủ, gọi cò về với những lời ru ấp ủ trong tâm hồn thi nhân để rồi, qua lời ru của mẹ trên trang thơ, con cò bắt đầu đến với tuổi thơ diệu kì của đứa trẻ. Dịu dàng, ên ái, người mẹ bắt đầu thủ thỉ, tâm tình với niềm yêu thương tha thiết: “Con cò bế trên tay
Con chưa biết cánh cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay”
Rất tự nhiên, mẹ thấy con vẫn còn bé bỏng lắm, vẫn còn phải bế trên tay mẹ. Con đã biết cánh cò trắng là gì đâu, con đã biết cuộc đời xung quanh là gì đâu, con chỉ đón nhận cuộc đời một cách vô thức. Vô thhức thôi nhưng dường như đứa trẻ đã cảm nhận được cánh cò trắng đang bay đến bên mình, đã nghe thấy âm điệu ngọt ngào trong trẻo của lời ru. Em chưa hiểu tình mẹ, nhưng mơ hồ, em đã thấy bên em một sự che chở, vỗ về thiêng liêng, một tình yêu thương êm đềm, trìu mến. Và cánh cò, cánh cò bắt đầu chao lượn trong lời hát ru con:
Con cò bay la
Con cò bay lả
Con cò cổng phủ
Con cò Đồng Đăng
Thi sĩ không trích hết lời ca dao, chỉ gợi thôi mà cả một bầu không khí đã rất xa xăm bỗng trở về nguyên vẹn. Nơi thanh bình và yên ả. Nơi ấy có cánh cò, có những hình ảnh rất đẹp đã đi vào tiềm thức không biết bao thế hệ con người. Ở nơi ấy, ta vẫn nghe được tiếng cuộc đời vất vả, nhọc nhằn của người nông dân và đặc biệt là những người phụ nữ, những người chị, người mẹ Việt Nam, tiếng những đứa con yêu thương tha thiết, sẵn sang hi sinh cho con tất cả những cánh cò kia, dù sa cơ, dù chết cũng xin được “xáo nước trong” để khỏi mang tiếng xấu cho đàn con nhỏ. Dẫu rằng đó là lời hát ru, lời ca dao cách tân trong thơ hiên đại, cánh cò vẫn mang theo cả nỗi buồn, niềm vui hoà lẫn, khiến người đọc phải nghĩ, phải suy. Người mẹ ru con trong vất vả, nhọc nhằn càng gieo thêm đắng cay, cái vị đẵng cay mà Xuân Quỳnh từng không giấu nổi xúc động khi nghe câu hát ấy trong “gió Lào” và “cát trắng” miền Trung:
“Trong gió nóng những trưa hè ngột ngạt
Mẹ ru tôi hạt cát sạn hàm răng”
Lời ru của mẹ có đứa con bé bỏng, có cánh cò yếu đuối, nó không còn là lời hát ru nữa, nó là lời tâm tình của trái tim người mẹ nhân từ, bao dung. Khi thì mẹ thương con, khi thì mẹ thương cánh cò cả cuộc đời yếu đuối. Dù rằng lời ru có mang theo bao điều như thế, em bé vẫn say ngủ ngon lành. Tình mẹ hoà vào lời ru vẫn vỗ về tâm hồn non nớt, vẫn cho con niềm yêu thương và che chở tuyệt vời. Bầu không khí của hoài niệm quá khứ dần dần khép lại, đưa con người trở về với thực tại, với mẹ, với em:
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cánh cò mềm mẹ đã sẵn tay nâng
Lời mẹ trứoc kia còn trầm, buồn vang lên trong cái âm điệu dài, xa vắng vậy mà giờ đây sao trìu mến, sao tha thiết đến lạ lung, vỗ về, nâng giấc tình yêu, thi nhân bước đến khoảng trời vời vợi chân lí, nơi ấy có một sự thực mà cả đời người kiếm tìm mới chợt hiểu, nó ở bên ta, nó ở giữa cuộc đời:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con.
“Dù”, “vẫn”, sự khẳng định chắc chắn hơn bao giờ hết. Nó hiển nhiên như chính cuộc đời. Con dù lớn khôn, dù trưởng thành đến đâu, trước long mẹ bao la con vẫn luôn bé bỏng. Mặt trời con luôn sưởi ấm trái tim mẹ, còn mẹ, mẹ mãi yêu con, yêu con bằng tình yêu theo bé bước đi mãi mãi. Tình mẹ là thế, bao la, lời ru của mẹ là thế, êm đềm, tha thiết, suốt đời con được hưởng, suốt đời con tìm thấy, nhưng chắc gì con đã thấu hiểu, cả cuộc đời mẹ đã gửi vào trong đó tất cả tình cảm, tất cả sự chở che, tất cả tình yêu thương êm đềm tha thiết:
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
( Nguyễn Duy )
Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết những vần thơ như thế vì bằng trải ngiệm ông đã hiểu cái bao la bất tận của tình mẹ yêu con. Còn Chế Lan Viên, thi sĩ tìm thấy trong cánh cò yêu thương bay ra từ câu hát, một triết lí thiêng liêng đủ soi rọi mọi tâm hồn tận ngóc ngách sâu thẳm nhất. Có lẽ phút hiểu ra cái điều cả đời mình tìm kiếm, nhà thơ phải nén lại niềm xúc động đến rưng rưng trực tuôn trào ra khoé mắt để viết lên cái điều ấp ủ bấy lâu, rằng tình mẹ là vĩnh hằng, bất diệt, luôn tìm thấy bên cuộc đời chúng ta, rằng long mẹ là bao la, vô bờ bến, luôn ôm ấp tâm hồn mỗi con người. Với mẹ, con là hơi ấm nồng nàn, là sự sinh tồn, sự sống, con đem lại cho mẹ hơi sống, niềm hạnh phúc yêu thương lớn nhất cuộc đời. Ta chỉ có thể nói như vậy về cái quy luật bất biến ấy, vì tự nó đã nói lên tất cả những điều thấm thía nhất trong cuộc đời. Biểu tượng của long mẹ thì thiêng liêng, biểu tượng của cuộc đời thì ấm áp:
À ơi
Một con cò thôi
Con cò mẹ há
Còng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi
Đúng như lời nhà phê bình Phạm Thu Yến viết:
“Sau lời à ơi ban đầu, người hát quên mình đang trò chuyện với đứa con, … Người mẹ dường như đang đối thoại với chính long mình”
lời hát chỉ là lời ru qua cái “à ơi” quen thuộc, còn tất cả, chúng đã thuộc về tâm sự của cả đời người mẹ, nghĩa là thuộc về cái thế giới nội tâm trong sâu thẳm tâm hồn. Mẹ ru con từ lúc tóc còn xanh đến khi đầu bạc, nào ai đếm được nỗi buồn vui cuộc đời mẹ đã gửi vào lời hát. Cánh cò cũng thế, nó mang theo sự phát triển cuối cùng, trở thành cuộc đời, cũng buồn, cũng vui, còng nông sâu như lßng mẹ, mẹ mang cả vào giấc ngủ của con. Nó là tiếng long của một người phụ nữ mà cũng là tất cả những người phụ nữ trên dất nước Việt Nam. Nó là âm thanh của một cuộc đời khắc khổ, một kiếp sống nghèo nhưng chan chứa niềm hạnh phúc, yêu thương chân thành mộc mạc con người Việt Nam đã ôm ấp từ muôn thủa ngày xưa, sau luỹ tre làng, bên cây đa, bến nước, mái đình thân thuộc. khi con cò “vỗ cánh qua nôi’ em bé đâu có biết, cò đã chở theo cả một đời người về bên câu hát, đời người như mẹ, như chị, như cuộc đời tất cả nhũng người phụ nữ Việt Nam chỉ biết sống, sống và hi sinh hết thảy, trong lặng lẽ, âm thầm. Cuộc đời ấy, dù đắng, dù cay, dù khổ đau, dù mất mát vẫn muôn đời là vậy. son sắt, thuỷ chung, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, cho đến khi ngọn gió cuộc đời ngừng thổi vào cái kiếp người đã thuộc về yêu thương và nước mắt:
Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết thuyết minh về cây chuốiCánh của cò hai đứa đắp chung đôi
Có bao giờ cánh cò đẹp và thân thiết đến vậy không? Có bao giờ sự liên tưởng của con người lại trong và tinh kh«i đến vậy ko? để một cánh cò bay ra từ câu hát gợi lên cả niềm yêu thương và tấm lßng của con người? Cò và em bé như đôi bạn thân thiết, nghĩa là cũng trong s¸ng cũng hồn nhiên cũng chan chứa biết bao ước mơ và hi vọng như màu cánh cò trắng, thong thả nhịp bay trên bầu trời xanh thẳm tương lai. Hai người bạn hai tâm hồn non nớt, Đắp chung đôi cánh ấm áp của cò. Hình ảnh thơ có cái hiện thực của cuộc đời quanh em bé vừa có cái huyền ảo, lấp lánh của một thế giới cổ tích xa xăm, gợi lên sự gắn bó thân thiết, cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng bên nhau dù là trong giấc ngủ tuổi thơ, dù là trên con đường tương lai rộng bước. cánh cò bay ra từ câu hát ru con cũng như lời ru, cũng như tình mẹ sẽ theo con dù hết cuộc đời. Ôi, với mỗi người, đâu có niềm hạnh phúc nào bằng niềm hạnh phúc được che chở yêu thương trong tình mẹ bao la, vô bờ bến, đâu có sự chuẩn bị quý giá nào bằnh tâm hồn trong s¸ng, tinh khôi mẹ ấp ủ cho con bằng cả trái tim mình. Từ tuổi thơ, mẹ trông thấy trên bước đường con đi, những buổi cắp sách đến trường đầy niềm vui, hi vọng. Ở n¬i ấy vẫn có cánh cò tuổi thơ, vẫn có tình mẹ đi theo dìu dắt. Tình mẹ cứ theo con đi suốt năm tháng, trở thành hành trang cho đứa con bé bỏng bước vào đời. Con sẽ bước đi trong niềm tin mạnh mÏ vì:
Cánh cò trắng bay theo gót đôi chân
Cánh cò tuổi thơ sẽ chắp cánh giấc mơ đẹp đẽ, đưa em đến những phương trời xa. Như cánh cò trong thơ Trần Đăng Khoa khiêng nắng về đánh thức ngày mới:
“ Cánh cò trắng khiêng nắng qua sương…”
Cánh cò cña Chế Lan Viên biết đánh thức cả bầu trời lấp lánh hi vọng những vì sao mơ ước, cho em thơ tương lai đẹp đẽ, sáng rực lên muôn vạn sắc màu. Và trong muôn vàn sắc màu rực rỡ ấy, rất nhẹ nhàng đọng lại một thứ màu dìu dịu yêu thương, màu của tình mẫu tử, để rồi cho con. Đâu rồi cái cánh cò trắc trờ, hiểm nguy trong câu hát thủa xưa, chỉ còn cánh cò em,, ngủ ngon trong vòng tay mẹ. Em và cò hoá thân vào nhau trong vòng tay ấm áp yêu thương. Cứ như vậy, em bé ngủ yên trong tình mẹ dạt dào, trong sự che chở, chăm sóc, nâng niu ẩn chứa yêu thương vô bờ bến. Đứa bé đón nhận tình yêu, đón nhận lời ru vô thức để rồi mang hơi ấm của lời ru vô thức ấy đi theo suốt cuộc đời. Lời ru – giọt mật đầu tiên mẹ rót cho em bé trong cuộc đời nó sóng sánh tình mẹ, sóng sánh không khí của đất tròi thấm vào lời ru. Em ngủ say, ngủ say trong tình mẹ, ngủ say trong tình yêu thương của đất trời bao la ban cho những thiên thần cho những tâm hồn bé nhỏ. Và khi ấy, dù:
“ Con chưa biết con cò, con vạc
Con chưa biết những cành mền mẹ hát
Sữa mẹ nhiều con ngủ chẳng phân vân”
mẹ vẫn gọi con mẹ vẫn nhắc tên con, sự lặp lại những lời yêu thương ấy là lời nhắn nhủ, lời giãi tỏ tâm tình, tràn đầy tình yêu con. Cánh cò, cánh vạc bay, ngân xa mãi tình yêu vô tận ấy. Em bé có hiểu tình mẹ ko nhỉ? Nhưng thôi, cứ ngủ đi em ạ, vì còn gì em ả, thanh bình bằng giấc ngủ của em trong lời ru ầu ơ tha thiết.
Cánh cò đến, trong lời ru tuổi thơ, dịu dàng, êm ái là vậy mà theo ta đi mãi, đi suốt những chặng đường dài, gắn bó bền bỉ, thân thương cho con người tựa vững chắc nhất
“ Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!”
Lời ru của mẹ vỗ về cho em ngon giấc, nó ngọt lịm, thanh bình như tình mẹ bao thủa vẫn vậy, vẫn nhẹ nhàng nâng đỡ đời con. Và cánh cò, từ một miền xa xăm nào đó, lại đến cùng lời mẹ hát ru, chở theo cả niềm yêu thương ấm áp về cùng giấc ngủ trẻ thơ:
Cho cò trắng đến làm quen
Cò đứng ở quanh nôi, rồi cò vào trong tổ
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
Lý muôn đời of tình mẹ, of lời hát ru con. Chẳng cần phải rút ra một châm nghiệm to tát, chẳng cần phải trau chuốt lời văn, ý thơ đâu, nhẹ nhàng thôi, giản đơn thôi, thi sĩ làm xao xác tận sâu thẳm tâm hồn người đọc;
“ Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuỗng bể
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con”
Ta tự hỏi lòng chẳng lẽ còn thứ tình cảm tha thiết, mãnh liệt hơn thứ tình cảm kia nữa? Một tình cảm vượt lên trên tất cả khó khăn, ngăn cách, nối liền những nẻo xa xăm, một tình cảm có sức lay động, ám ảnh tâm can dù mới chỉ làn đầu nhìn thấy. ôi! Tình mẫu tử… có lẽ còn thiêng liêng hơn mọi điÒu thiêng liêng nhất. Lặp cấu trúc ngữ pháp ư? đối ư? Và còn cả điệp từ nữa? đừng hỏi vỉ sao thi sĩ lại viết như thế, vì đâu còn cách nào khác diễn tả hết sự thiêng liêng cao quý of tình mẹ, of tấm lòng ăm ắp nhân hậu đầy yêu thương trong trái tim người mẹ dành cho con. Con có thể ngủ yên, có thể vui sướng cắp sách đến trường, có thể vững bước chắc trên đường đời song gió, tất cả vì đã có tình mẹ chở che, nâng bước con đi. Dù ở đâu, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, lòng mẹ cũng như cánh cò kia, vẫn bên con, vẫn lặn lội đi tìm, lặn lội sưởi ấm trái tim con, cho con sức mạnh, cho con niềm tin vào cuộc sống. Mẹ có thể làm tất cả vì con như cánh cò kia một đời hi sinh ko mệt mỏi. Lời thơ ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng, một sự khẳng định chắc chắn: tình mẹ bền chặt sẽ theo con đi suốt cuộc đời, sẽ trở thành một phần tâm hồm ko thể thiếu, soi rọi mọi nẻo đường con sẽ bước chân qua. Tình mẹ, lònh yêu thương bao la của mẹ sẽ gửi trọn vào cuộc đời con mãi mãi, vì với mẹ đâu còn thứ gỉ thiêng liêng và gần gũi hơn con, hơn vầng mặt trời ấm ý nghĩa nhất đời mẹ, hơn lẽ sống mà vì nó mẹ có thể dâng trọn cuộc đời. Từ gấp lại trang sách, em bé sẽ theo cò bước thẳng vào cuộc đời mai sau. Kì thực em bé vẫn còn bé bỏng lắm, vẫn còn đang ngủ ngon lành trong cánh nôi tuổi thơ nhưng ước mơ of mẹ về một tương lai đẹp mai sau cứ theo tình yêu cháy lên mãi. mẹ độc thoại với chính lònh mình, tự soi long mình trong tình cảm yêu con tha thiết:
“ Lớn lên, lớn lên, lớn lên…
Con làm gì?
Con làm thi sĩ
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn…”
Chưa bao giờ ước mơ cháy bỏng, tha thiết đến như thế, mẹ ước mơ và gửi trọn ước mơ ấy vào đôi chân con mai này sẽ bước trên đường đời, sẽ vươn tới những khát khao mẹ ấp ủ bằng cả niềm tin. mẹ hỏi lòng và tự trả lời cho câu hỏi: mẹ muốn con làm thi sĩ, mang cái đẹp đến cho cuộc đời qua những vần thơ về mẹ, về con, về cuộc sống xung quanh đang từng ngày nuôi con lớn khôn. Mẹ muốn cuộc đời con mãi mãi đẹp. mãi mãi trong sáng như bài thơ đẹp đẽ nhất. Và bên con, cánh cò vẫn còn đó, vẫn bền bỉ chở ý thơ theo đôi cánh bay bổng. cò mãi mãi hồn nhiên trong sáng, mãi mãi đem theo ý thơ gắn kết cuộc đời, cò sẽ còn mãi mãi dịu nhẹ, khẽ lướt trong hơi mát câu văn tô điểm thêm giá trị tinh thần of cuộc sống, nuôi lớn những tâm hồn đẹp đẽ biết ước mơ. Cánh cò cứ lớn dần, cứ đẹp dần trong lời ru of mẹ, chở yêu thương đi khắp nẻo thế gian. Cánh cò đã đuợc hình tượng hoá thành tình mẹ, yêu thương, che chở, nuôi dưỡng tâm hồn con. Phải sống trong cái nôi yêu thương ấy, phải để lêi ru thấm vào từng hơi thở, ta mới chợt hiểu tình mẹ cao đẹp, bao la quý giá biÕt nhường nào. Mẹ ru con đó là sự yên ổn thanh bình. Từ lâu lời ru rất đỗi bình dị, từ cánh cò rất đỗi thân quen, thi sĩ đã khái quát thành triết cảm, of tình mẫu tử thiêng liêng…
Nguồn Edufly
Xem thêm: Đọc bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, ông Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt ông đồ”. Phân tích bài thơ để chứng minh ý kiến trên | Phân tích bài thơ Con Cò | 3,204 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.