text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phân tích bài thơ và nói lên cảm nghĩ của em về Báo kính cảnh giới Hướng dẫn Bảo kính cảnh giới – số 43 Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hoè lục đùn đùn tán rợp trương. Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tịn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. Dễ có ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương. ("Quốc âm thi tập") Nguyễn Trãi (1380- 1442) là đại thi hào dân tộc, người anh hùng cứu quốc thuở “bình Ngô", danh nhân văn hóa Đại Việt. Thơ chữ Hán cũng như thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, sâu sắc, biểu tượng cao quý của nền văn hiến Việt Nam. “Quốc âm thi tập ” của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ, được chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau: Ngôn chí (21 bài), Thuật hứng (25 bài), Bảo kính cảnh giới (61 bài)… Phần lớn các bài thơ trong "Quốc âm thi tập ” không có nhan đề. Đây là bài thơ 43 trong “Bảo kính cảnh giới”. Các bài thơ trong "Bảo kính cảnh giới ” hàm chứa nội dung giáo huấn trực tiếp, những bài thơ này rất đậm đà chất trữ tình, cho ta nhiều thú vị. Đề tài mùa hè, cảnh hè được nói nhiều trong thơ văn cổ dân tộc. "Quốc âm thi tập”, “Hồng Đức quốc âm thi tập”, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến… đều có một số bài thơ viết về mùa hè rất hay. Bài thơ này là một thi phẩm khá tiêu biểu cho ngôn ngữ thi ca Ức Trai, đậm đà dấu ấn thời đại, thời Lê, thế ki XV nói lên cảnh sắc mùa hè làngquê và nỗi ước mong của nhà thơ. Câu 1 (lục ngôn) nói lên một cách sống của thi nhân. Câu thơ bình dị như một lời nói vui vẻ, thoải mái, hồn nhiên: "Rồi bóng mát thuở ngày trường” Đằng sau vần thơ là hình ảnh một cụ già, tay cầm quạt giấy “Hài cỏ đẹp chân đi đủngđỉnh – Áo bô đen cật vận xềnh xoàng" đang đi dạo mát. Lúc bấy giờ, ức Trai không bị ràng buộc bởi “ángmận đào ”, vòng "danh lợi ” nữa, mà đã được vui thú nơi vườn ruộng, làm bạn với cây cỏ, hoa lá nơi quê nhà. “Ngày trường" là ngày dài. "Rồi" là tiếng cổ, nghĩa là rỗi rãi, nhàn hạ, cả trong công việc lẫn tâm hồn. Câu thơ phản ánh một nếp sống sinh hoạt nhàn nhã: trong buổi ngày rỗi rãi, lấy việc hóng mát làm niềm vui di dưỡng tinh thần. Ta có thể phán đoán úc Trai viết về bài thơ này khi ông đã lui về Côn Sơn ở ẩn. Năm câu thơ tiếp theo tả cảnh làng quê Việt Nam xa xưa. Các câu 2, 3, 4 nói về cảnh sắc, hai câu 5, 6 tả âm thanh chiều hè. Cảnh sắc hè trước hết là bóng hoè, màu hoè. Lá hoè xanh thẫm, xanh lục. Cành hoè sum sê, um tùm, lá "đùn đùn " lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn đầy sức sống: "Hoè lục đùn đùn tán rợp trương ” Tán hoè toả bóng mát, che rợp sân, ngõ, vườn nhà, “trương” lên như chiếc ô, chiếc lọng căng tròn. Mỗi từ ngữ là một nét vẽ màu sắc tạo hình, gợi tả sức sống của cảnh vật đồng quê trong những ngày hè: lục, đùn đùn, tán, rợp trương. Ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và ấn tượng. Cây hoè vốn được trồng nhiều ở làng quê; vừa làm cảnh, vừa cho bóng mát. Hoè nở hoa vào mùa hè, màu vàng, làm dược liệu, làm chè giải nhiệt. Trong văn học, cây hoè thường gắn liền với điển tích “giấc hoè” (giấc mộng đẹp), “sân hoè” (chỉ nơi cha mẹ ở). Truyện Kiều có câu: “Sân hoè đôi chút thơ ngây – Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình Trong thơ Ức Trai, Lê Thánh Tông… hình ảnh cây hoè xuất hiện nhiều lần được miêu tả bằng một thứ ngôn ngữ trau chuốt, đậm đà: “Lại có hoa hoè chen bóng lục ” ("Cảnh hè" – ức Trai) “Có thuở ngày hè trương tán lục, Đùn đùn bóng rợp cửa tam công ("Hoè" – ức Trai) "Đằng đẵng ngày chầy giương rán nắng, Đùn đùn bóngrợp phủ màn hoè ” ("Vịnh cảnh mùa hè" – "Hồng Đức quốc âm thi tập"). “Rợp rợp màn hoè bóng mới xây, Choi chói hoa vàng đưa gió Đùn đùn tán lục gươngmây’’. ("Màn hoè" – Lê Thánh Tông) Câu 3 nói về khóm thạch lựu ở hiên nhà trổ hoa rực rỡ: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”. “Thức” là tiếng cổ chỉ màu vẻ, dáng vẻ. Trong cành lá xanh biếc, những đoá hoa lựu như chiếc đèn lồng bé tí phóng ra, chiếu ra, "phun ” ra những tia lửa đỏ chói, đỏ rực. Chữ “phim ” được dùng rất hình tượng và thần tình. Lê Thánh Tông viết về hoa lựu: “Ngoài hiên lửa lựu luống thè be ” ("Mùa hè") Xem thêm: Anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh ngọc trai – giếng nước và cách đánh giá của nhân dân đối với Trọng Thuỷ? “Truyện Kiều ” cũng có câu: “Đầu tưởng lửa lựu lập loè đơm bông” – Từ hoa lựu “phun thức đỏ”, "lửa lựu luống thè be" đến hình ảnh “đầu tườnglửa lựu lập loè đơm bông ” là cả một quá trình sáng tạo ngôn ngữ thi ca của các thế hệ thi sĩ dân tộc qua 5 thế kỉ từ "Quốc âm thi tập ” đến “Truyện Kiều vẻ đẹp ngôn ngữ thi ca được trau chuốt như ngọc quý sẽ ánh lên màu sắc huyền diệu là như thế đó!. Câu 4 nói về sen: "Hồng liên trì đã rịn mùi hương". “Tin ” là hết (tiếng cổ). Sen hồng vẫn nở thắm ao làng, nhưng hương đã nhạt, đã dần phai. Sen là biểu tượng cho cảnh sắc mùa hè làng quê ta. Khi sen trong ao làng đã “tin mùi hương” tức là đã cuối hè. Nguyễn Trãi đã chọn hoè, thạch lựu, sen hồng (hồng liên) để tả và đưa vào thơ. Cảnh sắc ấy vô cùng xinh đẹp và bình dị. Nhà thơ đã gắn tâm hồn mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp. Thiên nhiên trong thơ úc Trai rất hữu tình và thân thuộc, cỏ cây gần gũi, mến yêu: “Tá lòngthanh vị núc nác, Vun đất ải lảnh mồng tơi” (Ngôn chí – số 9) “Ao cạn vớt bèo cấy muống, Đìa thanh phát cỏ ươngsen” ("Thuật hứng" – số 24) Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc làng quê. Ngoài tiếng cuốc, tiếng chim tu hú, tiếng sáo diều còn có tiếng ve, tiếng cười nói "lao xao " của đời thường: “Lao xao chợ cá làng ngư phù, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương". Sau khi tả hoè màu "lục”, lựu "phun thức đỏ”, sen hồng đã “tịn mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê. Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân dã đầy muối mặn và mồ hôi. Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp. Hoà nhịp với tiếng lao xao chợ cá là tiếng ve-vang lên rộn rã, nhịp nhàng. "Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm. "Dắngdỏi ” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang xa. Ngôi lầu buổi xế chiều trở nên náo động, rộn ràng. Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi thôn dã: “Dắng dỏi cầm ve //lầu tịch dương” Và đây, là tiếng chim cuốc, tiếng ve ngày hè nơi đồng quê được nói đến trong thơ “HộiTao Đàn ” dưới triều vua Lê Thánh Tông: “Tường nọ nhặt khoan vang tiếng cuốc, Cành kia dắng dỏi gảy cầm ve (Vịnh cảnh mùa hè). Trở về “Côn Sơn quê cũ”, Ức Trai đã từng bồi hồi “trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn ”, giờ đây ông lại thả hồn mình trong khúc ca dân dã “cầm ve ” buổi chiều tà cuối hè. Tiếng ve lúc hoàng hôn thường gợi nhiều bâng khuâng, vì ngày tàn, màn đêm đang dần dần buông xuống. Nhưng với Ức Trai, nó đã trở thành "cầm ve” nhặt khoan trầm bổng, dắng dỏi vang xa, làm cho khung cảnh làng quê một buổi chiều tà bỗng rộn lên bao niềm vui cuộc đời. Hai câu kết diễn tả ước mong nhà thơ: "Dễ có Nạn cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương’’. "Dễ có ” nghĩa là hãy để (cho ta) có; học giả Đào Duy Anh ghi chú là “Lẽ có” và giải thích “Đáng lẽ có… Ngu cầm là cây đàn thần của vua Thuấn (Nghiêu Thuấn là hai ông vua thời cổ đại Trung Quốc – triều đại lí tưởng: nhân dân được sống trong hạnh phúc, thanh bình). Câu kết, cảm xúc trữ tình được diễn tả bằng một điển tích phản ánh khát vọng cao đẹp của nhà thơ. Ức Trai chân thành bày tỏ: Hãyđể cho ta cây đàn thần của vua Thuấn, ta sẽ gảy lên khúc '‘Nam phong”, cầu mong cho mọi nhà, mọi chốn, khắp các phương trời (đòi phương) được ấm no, giàu có. Hai câu kết toát lên một tình yêu lớn. Con người Ức Trai lúc nào cũng hướng về nhân dân, mong ước cho nhân dân được ấm no và nguyện hi sinh phấn đấu cho hoà bình, hạnh phúc của dân tộc. Trong thơ Ức Trai, hai câu kết luôn luôn là sự hội tụ bừng sáng của những tư tưởng tình cảm cao cả, đẹp đẽ. Vì thế mà câu kết đã để lại trong tâm hồn người đọc những ấn tượng vô cùng mạnh mẽ: "Cảnh thanh dường ấy chẳng về nghỉ, Lẩn thẩn làm chi áng mận đào " (Mạn thuật – số 13) "Bui một tấc lòngưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”. ("Thuật hứng" – số 5) Bài thơ Nôm ra đời gần 600 năm về trước miêu tả cảnh tình mùa hè nơi đồng quê, đã đem đến cho chúng ta nhiều thú vị văn chương. Một giọng thơ thâm trầm, hồn hậu đáng yêu. Nhiều tiếng cổ, cấu trúc câu thơ thất ngôn xen lục ngôn. Phép đối ở phần thực và phần luận khá chặt chẽ về ngôn từ, thanh điệu, hình ảnh và ý tưởng. Cảnh sắc và âm thanh mùa hè quê ta xa xưa như sống dậy qua những vần thơ nhuần nhị đầy cá tính sáng tạo. Ức Trai đã gửi gắm một tình yêu thiên nhiên nồng hậu, một tấm lòng thiết tha với cuộc sống, một niềm ước mong tốt đẹp cho hạnh phúc của nhân dân. Vĩ đại thay Ức Trai. Bài học thương yêu nhân dân mà ông nói đến lúc nào cũng mới mẻ và đậm đà. Nguồn: Những bài văn hayXem thêm: Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt vừa là một áng thơ yêu nước vừa là một bài thơ đánh giặc. Em hãy chứng minh ý kiến đó
Phân tích bài thơ và nói lên cảm nghĩ của em về Bảo kính cảnh giới
1,924
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu. Bài phân tích của một học sinh lớp 8 trường Chu Văn An. Đầu thế ki XX, khi các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược ở cả ba miền lần lượt thất bại, một bầu không khí đau thương bao trùm trên đất nước ta. Trong văn chương, bên cạnh những bài ca hùng tráng đã xuất hiện những tiếng thở than bi phẫn và bất lực. Phong trào cần vương do vua Hàm Nghi khởi xướng đã bị dập tắt. Ông vua yêu nước bị chính quyền thực dân bắt đi đày trên một hòn đảo mịt mù giữa đại dương, cách biệt hẳn đất nước và dân tộc. Tuy vậy, chí báo thù phục quốc vẫn âm ỉ nung nấu trong mọi tầng lớp nhân dân. Bước sang đầu thế ki XX, luồng gió mới của tư tưởng dân chủ tư sản từ Âu châu thổi tới, từ Nhật Bản, Trung Hoa tràn sang đã thúc đẩy những người có tâm huyết với sự nghiệp cứu nước lại náo nức khởi sự một cuộc đấu tranh theo khuynh hướng mới, với mục đích vừa đánh đuổi kẻ thù xâm lược, vừa tấn công vào giai cấp phong kiến tay sai cam tâm bán nước. Chủ trương của họ là khai thông dân khí, mở mang dân trí, chấn hưng công thương nghiệp, để nước nhà phát triển toàn diện, đạt tới mức văn minh, giàu mạnh. Phương pháp thực hiện có thể khác nhau (có phái chủ trương bạo động, có phái chủ trương ôn hòa) nhưng đều nhằm mục đích cao cả là đem lại độc lập, tự do cho dân tộc. Bởi thế, các khuynh hướng không loại trừ nhau mà hợp nhất thành cao trào đấu tranh cách mạng lan rộng khắp nơi. Thực dân Pháp khủng bố dã man, phong trào tạm lắng, những người lãnh đạo phần lớn phải vào tù hoặc lưu lạc ở nước ngoài. Một số chí sĩ cách mạng nổi tiếng đầu thế ki XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… đều xuất thân là nhà Nho nhưng lại tiếp thu rất nhanh những tư tưởng tiến bộ của thời đại. Trong lao tù của bọn thực dân, họ thường làm thơ để bày tỏ chí khí. Đó là những lời gan ruột, tâm huyết của những người anh hùng cứu nước nên có sức mạnh làm rung động lòng người. Từ năm 1912, thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Khi bị bọn quân phiệt tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) bắt giam và biết chúng có ý định trao trả cho Pháp, cụ Phan Bội Châu đã nghĩ rằng mình khó có thể thoát chết. Bởi thế, đầu năm 1914, ngay từ những ngày đầu bị giam vào ngục, cụ đã viết Ngục trung thư; nhằm ghi lại những điều tâm huyết để lại cho đồng bào, đồng chí. Bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác theo lời cụ là làm để tự an ủi mình. Cụ còn kể rằng sau khi làm xong, cụ đã “ngâm nga lớn tiếng rổi cả cười vang động cả bốn vách, hầu như không biết thân mình đang bị nhốt trong ngục”. Nội dung bài thơ như sau: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Đă khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. Bài thơ mang đậm khẩu khí anh hùng này đã khắc hoạ rõ nét khí phách hiên ngang, bất khuất và hình ảnh tuyệt đẹp của người chiến sĩ cách mạng lúc sa cơ. Thể thơ thất ngôn bát cú gồm 4 phần: đề, thực, luận, kết, mỗi phần chỉ có hai câu ngắn gọn nhưng lại chứa đựng một nội dung cực kì hàm súc. Hai câu đề: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Một tù nhân mà vẫn tự khẳng định mình là bậc hào kiệt, phong lưu, điều đó thể hiện phong thái đường hoàng, tự tin, vừa ung dung, thanh thản, vừa hiên ngang bất khuất, lại vừa tài hoa tài tử. Người chiến sĩ cách mạng chẳng may rơi vào vòng tù ngục thì cứ coi như người đi đường dài chạy mỏi chân thì nghỉ một chút để lấy sức đi tiếp. Thực chất không phải như vậy. Cụ Phan kể rằng trên đường bị áp giải đến nhà lao, bọn lính đã đối xử với cụ rất tàn nhẫn: nào trói tay, nào xiềng chân. Vào ngục, cụ lại bị giam chung một chỗ với bọn tử tù. Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Đúng là như vậy! Bị giam cầm có nghĩa là bị tước đoạt tự do, bị đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần và cận kề cái chết. Ấy vậy mà người anh hùng vẫn ngẩng cao đầu và cảm thấy mình vẫn hoàn toàn tự do về mặt tinh thần. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn ấy nên khi bàn đến sự sống chết, Phan Bội Châu vẫn nói bằng giọng cười cợt như vậy. Đây là lối thơ khẩu khí khá phổ biến trong văn chương dùng để nói lên chí lớn của người xưa. Xem thêm: Một nhà văn có nói: Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Em hãy giải thích nội dung câu nói đóHai câu thực: Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Nhà thơ tóm lược về cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Mười năm lưu lạc, khi Nhật Bản, khi Trung Quốc, khi Xiêm La (Thái Lan), xa mái ấm gia đình, chịu trăm ngàn cực khổ về vật chất, cay đắng về tinh thần; thêm vào đó là sự hiểm nguy thường xuyên đe doạ vì cụ Phan là đối tượng truy nã đặc biệt của thực dân Pháp và đã bị chúng kết án tử hình vắng mặt. Phan Bội Châu nói như vậy không phải là để than thân mà chỉ nêu lên bi kịch chung của các chí sĩ yêu nước thời bấy giờ. Cuộc đời đầy sóng gió của cụ Phan gắn liền với tình cảnh nô lệ của đất nước, đồng bào. Giọng điệu trầm thống của hai câu thơ trên phần nào thể hiện được tâm trạng đau đớn, xót xa của bậc anh hùng cứu nước. Hai câu luận: Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Đúng là khẩu khí của một bậc đại trượng phu. Cho dù gặp hoàn cảnh bi đát đốn mức độ nào thì lí tưởng kinh bang tế thế, lo đời giúp dân của Phan Bội Châu vẫn không thay đổi. Trước sau cụ vẫn một lòng theo đuổi sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ra khỏi ách thống trị của giặc ngoại xâm. Lí tưởng và mục đích cao cả ấy đã giúp cụ giữ vững khí tiết cương cường, tư thế hiên ngang, bất khuất trước kẻ thù. Lối nói khoa trương này thường được dùng nhiều trong thơ ca lãng mạn, nhất là trong anh hùng ca. Nó nâng cao tầm vóc và năng lực của con người lên đến mức siêu nhiên, thần thánh. Từ thuở thanh niên, Phan Văn San (tên thật của Phan Bội Châu) đã nuôi chí lớn chờ thời cơ cứu nước: Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ, Nắm địa cầu vừa một ti con con. Đạp toang hai cánh càn khôn, Đem xuân vẽ lại cho non nước nhà… (Chơi xuân) Gần như suốt cuộc đời, cụ Phan đã chấp nhận gian khổ, hi sinh để theo đuổi và thực hiện lí tưởng thiêng liệng ấy. Hai câu kết: Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. Ý chí gang thép và niềm tin to lớn của người anh hùng quả là không gì lay chuyển nổi. Con người ấy còn sống nghĩa là còn tiếp tục chiến đấu, còn tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, vì thế mà bất chấp mọi thử thách gian nan. Từ còn lặp lại hai lần liền nhau ở giữa câu thơ vừa có tác dụng ngắt nhịp, vừa nhấn mạnh ý thơ. Hai câu kết như một tuyên ngôn dõng dạc, dứt khoát, có sức truyền cảm mạnh mẽ, lớn lao, lay động hồn người. Phan Bội Châu được nhân dân tôn vinh là một trong những nhà chí sĩ yêu nước và cách mạng nổi tiếng đầu thế ki XX. Tên tuổi và gương sáng của cụ ảnh hưởng rộng rãi tới phong trào giải phóng dân tộc không chi trong thời kì đó mà mãi mãi về sau. Người chiến sĩ cách mạng lão thành họ Phan dù trải qua bao giông bão cuộc đời vẫn giữ vững khí tiết của một bậc chính nhân quân tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. (Giàu sang không thể làm cho mê đắm, nghèo khó không thể làm cho thay lòng đổi dạ, uy vũ không thể làm cho khuất phục). Tuy xuất thân từ cửa Khổng sân Trình nhưng cụ đã vượt khỏi khuôn khổ cứng nhắc của giáo lí thánh hiền để tiếp cận tư tưởng dân chủ, dân quyền mới. Trước cảnh đồng bào đang chịu cảnh lầm than, nô lệ, cụ đau đớn, xót xa và nuôi khát vọng xoay chuyển càn khôn, đánh đuổi quân thù, đem xuân vẽ lại cho non nước nhà. Với lí tưởng cao đẹp đó, cụ lao vào cuộc đấu tranh, bất chấp mọi gian khổ, hi sinh, thậm chí đối diện với cái chết, cụ cũng không sờn lòng, nản chí. Bởi thế nên đối với cụ, dẫu có sa cơ, rơi vào vòng tù ngục thì chẳng qua cũng chi là dừng bước tạm nghi trên con đường đấu tranh lâu dài và gian khổ. Ở bài thơ này, các biện pháp nghệ thuật thường thấy trong thơ Đường như nghệ thuật đối: bốn biển – năm châu, bủa tay – mở miệng, bồ kinh tế – cuộc oản thù… được sử dụng hợp lí đã làm cho tầm vóc của nhân vật trữ tình trở nôn lớn lao, kì Vĩ, phù hợp với giọng điệu hào hùng. Cảm xúc chân thành của tác giả đã tạo nên sức sống bất diệt cho bài thơ. Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật Lão Hạc và ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc
Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu
1,791
Đề bài: Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu Bằng dòng cảm xúc mãnh liệt, bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông như một khúc tráng ca vĩ đại và hào hùng, thể hiện rõ phong thái ung dung, đuờng hoàng và khí phách kiên cường, bất khuất vượt lên cảnh tù ngục khốc liệt của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu, trong những ngày bị chính quyền quân phiệt Trung Hoa bắt giam. Nhà ngục – đó là nơi chôn vùi ý chí chiến đấu của con người, là bóng đen mờ mịt với những mưu đồ, cạm bẫy trỗi dậy, rình rập sự sống. Vậy mà đối với Phan Bội Châu, đó chỉ là nơi thử lửa, là một “nhà trọ” cho những bước chân bôn tẩu cách mạng tạm dừng. Không phải ngẫu nhiên mà đầu đề của bài thơ là Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông. Ra đời giữa chốn lao tù, nơi hiện hình của những bóng ma tội ác ghê tởm, con người dễ dàng bị nuốt chửng vào vòng quay của nó bởi sự bất lực và nỗi sợ hãi tầm thường. Bài thơ bằng chữ Hán vẫn không hề làm vơi đi tinh thần, khí khái làm người “xoay chuyển càn khôn”. Những câu thơ tuôn ra từ chính tấm lòng của nhà thơ, là lời khẳng định chắc nịch cho quan niệm người anh hùng: Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù Dẫu rằng là cảnh thân tù, “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài), lời thơ của cụ Phan Bội Châu vẫn giữ được cái điềm tĩnh, thoải mái của một con người luôn tự tin, lạc quan trước mọi hoàn cảnh, đó là tinh thần của bậc đại trượng phu với ý chí “uy vũ bất năng khuất” (uy vũ không thể khuất phục). Trong tù, con người ấy đã phải chịu mọi nỗi đau thể xác lẫn tinh thần, những đòn tra tấn dã man của kẻ thù, phải hằng ngày đối diện với khổ đau, đói rét và những tiếng rền rĩ, gào thét của biết bao thân tù hãm vang dội trong bốn bức tường khắc khổ, âm u. Vậy mà, câu thơ dường như không có một phút nào nhường chỗ cho con người yếu mềm. Tất cả đều được lấp đầy bởi bức tranh con người sừng sững đứng giữa đất trời: Ta đã bôn ba giữa năm châu bốn biển, ta vì dân vì nước mà ở tù, ta lên tiếng đòi quyền tự do, quyền làm người chính đáng cho dân tộc ta, cớ sao ta lại phải chịu nhún nhường khuất phục trước bọn phản dân, hại nước kia? Cho nên cái lồng con con ấy, nào có là gì trước tư thế hiên ngang, lẫm liệt của trang “hào kiệt”, tu mi nam tử đầu đội trời chân đạp đất và bậc “phong lưu” có cái lịch lãm, hào hoa. Câu thơ là sự đối lập hoàn toàn giữa một bên là sự lớn lao, vĩ đại của một bậc anh hùng, hào kiệt và một bên là lũ ô hợp, hèn hạ, tầm thường. Đồng thời, với khẩu khí ngang tàng, cái hất hàm cười cợt, coi thường cái chết, Phan Bội Châu đã giúp ta hình dung ra tư thế của một con người luôn chủ động, luôn làm chủ hoàn cảnh, ngẩng cao đầu ngạo nghễ với lao lung. Hai câu thực là phút ngoảnh nhìn về những biến cố cuộc đời mà người cách mạng đã trải qua: Đã khách không nhà trong bốn biển Lại người có tội giữa năm châu Trong cái khoảng trời đất bao la, khôn cùng kia, người anh hùng chẳng tìm thấy được một mái ấm, một quê hương. Bởi nhà đã tan, nước đã mất! Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của một người con yêu nước, một nhà cách mạng chưa làm được gì cho dân tộc phải tạm dừng chân ở chốn lao tù. “Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”, giờ đây, tạm nghỉ chốn này, tâm hồn của cụ vẫn đang hướng về mảnh đất tổ tiên đang bị giày xéo bởi kẻ thù thực dân. Ngẫm mà thấy đau cho một tấm lòng suốt đời vì sự nghiệp cứu nước lại kết thúc bước chân kiêu bạc tại chốn lao tù, cô độc, bởi phải mang tiếng là có “tội giữa năm châu”. Phép đối trong hai câu thực “Đã – Lại” càng khiến cho những gió cát cuộc đời người anh hùng như dồn dập như khắc nghiệt hơn. Nhưng nếu như nghĩ rằng câu thơ có một chút hơi hướng của sự bi lụy thì thật là sai lầm. Đặt nỗi đau khổ của nhà cách mạng vào không gian rộng lớn của bốn biển, năm châu, ta nhận ra tầm vóc lớn lao phi thường của người tù yêu nước Phan Bội Châu. Đã dấn thân vào hoạt động cách mạng, trong hoàn cảnh bị bủa vây truy đuổi bởi kẻ thù, nhưng Phan Bội Châu vẫn kiên định không sờn lòng nản chí. Xem thêm: Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa những vật dụng mà Mã Lương (truyện Cây bút thẩn) đã vẽ cho mọi ngườiTừ giọng điệu trầm hùng mà thống thiết, mạch cảm xúc của nhà thơ được nâng lên một tầm cao hơn không chỉ là cái tráng chí được hô to gọi lớn, không phải là một sự trấn an cho tinh thần mà là một lời nói tâm huyết với biết bao hoài bão, lý tưởng tốt đẹp: Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù Không phải hành động”giang tay” mà là cái “bủa tay ôm chặt” mạnh mẽ đã nói lên lý tưởng cao đẹp của một người anh hùng. Dầu đơn độc, cụ vẫn sống vẫn đợi chờ, lạc quan tin tưởng, vẫn ung dung ngạo nghễ trong cốt cách của một trang hào kiệt, một bậc phong lưu. Đó là vì lý tưởng cao đẹp,là sự nghiệp cứu nước, cứu dân mà suốt đời cụ luôn ấp ủ: Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” (Bài ca chúc Tết thanh niên ) Giấc mộng làm trai gắn với những hoài bão tuổi trẻ của Phan Bội Châu từ lâu đã vượt ra khỏi thứ “công danh” tầm thường bó buộc của người trai thời phong kiến. Giờ đây, tư thế của người anh hùng đã vĩ đại, lớn lao, càng trở nên mạnh mẽ, phi thường hơn nữa. Hai câu luận với lối gieo từ đối nhau, từ những hình ảnh, hành động có tính cụ thể hữu hình “bủa tay – mở miệng”, cho đến những mĩ từ vô hình vô hạn “bồ kinh tế”, “cuộc oán thù” đã khái quát phương châm cách mạng hành động dứt khoát của Phan Bội Châu. Đó là cái tráng chí của con người cách mạng dù rơi vào hoàn cảnh nguy nan vẫn không quên lý tưởng kinh bang tế thế, vẫn mở miệng cười trước những ‘cuộc oán thù”, chủ động trước bất kỳ thử thách nào. Nụ cười ấy chứa đựng niềm tin vào tiền đồ tất thắng của dân tộc, là sự khinh khi những trò hèn hạ truy bức của kẻ thù. Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu Chấn song tù giam được thể xác nhưng không giam nổi tâm hồn cụ hướng về đất nước! Bị kìm hãm, bị giam cầm nơi xứ lạ,tinh thần đấu tranh của cụ Phan Bội Châu đã truyền đạt đến cho những chí sĩ yêu nước, một niềm tin tưởng vào sự nghiệp chiến đấu vì chính nghĩa của chính mình. Dường như ở câu kết, với điệp từ “còn” dõng dạc dứt khoát trên cùng một câu thơ, người đọc đã thấy trước một tương lai tốt đẹp, một đất nuớc tự do, một cuộc sống đầy đủ an bình. Tinh thần bất khuất, không lùi bước của con người là cơ sở của niềm tin, đồng thời bao quát tư tưởng “anh hùng tạo thời thế” rất quyết liệt, không chờ “thời thế tạo anh hùng”. Dù sự nghiệp cứu nước không thành, nhưng tinh thần “sợ gì đâu” sẵn sàng thách thức với những hiểm nguy của một nhà cách mạng kiên cường, bất khuất vẫn làm ta cảm phục. Đó là lời của một con người đã đạp bằng hoàn cảnh và là sức mạnh tạo nên tư thế của bậc anh hùng “xem cái chết nhẹ tựa lông hồng”. Mãi về sau, khi trở thành “ông già bến Ngự” hoàn toàn bị kìm kẹp tù hãm, ngọn gió yêu nước từ cụ Phan vẫn còn mạnh mẽ, lay động tâm hồn biết bao thanh niên, bao con người yêu nước: Đời đã mới, người càng nên đổi mới Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn. (Bài ca chúc Tết thanh niên) Bài thơ kết thúc mà lời thơ chưa kết thúc. Người đọc vẫn còn thấy đâu đây một con người uy phong đứng giữa đất trời, ung dung ngạo nghễ mà kiên định, bất khuất. Trong giây phút tuyệt vọng nhất, người anh hùng Phan Bội Châu vẫn không mất đi cái tráng chí, tinh thần thép của một nhà chí sĩ yêu nước Việt Nam, đã trở thành tấm gương sáng nghìn đời của dân tộc. Nguồn Edufly Xem thêm: Thuyết minh về con gà
Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông
1,603
Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật là một bài thơ rất hay viết về những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Bài thơ thể hiện được những nỗi khó khăn, vất vả của người lính lái xe nhưng vẫn toát lên được tinh thần lạc quan của người lính. Để giúp các em có thể làm đề văn phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đề văn này và cung cấp thêm một bài văn mẫu cho các em tham khảo. I. Lập dàn ý phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính 1. Mở bài – Giới thiệu về nhà thơ Phạm Tiến Duật và bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính. – Nhà thơ Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu trong thời chống Mĩ. – Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một sáng tác rất hay của nhà thơ. 2. Thân bài phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính a. Hình ảnh chiếc xe không có kính – Chiếc xe được miêu tả hình dáng một cách cụ thể. – Chiếc xe đặc biệt vì không có kính, khác hẳn với những chiếc xe bình thường khác. – Nhà thơ miêu tả rõ nguyên nhân xe không có kính là vì bom giật, bom rung. – Ngôn ngữ trong thơ dí dỏm, hóm hỉnh. Hình ảnh được liệt kê một cách chân thực, độc đáo. b. Hình ảnh những chiến sĩ lái xe – Tâm trạng thư thái, ung dung của người lính ngồi sau buồng lái. – Thái độ bất chấp khó khăn, nguy hiểm, vẫn hiên ngang lái xe về phía trước. – Tình đồng chí, đồng đội của những người lính. – Ý chí quyết tâm chống giặc, giành lại hòa bình, độc lập. 3. Kết bài – Tổng quan nội dung bài thơ về tiểu đội xe không kính và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này. Bài viết liên quan >> Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (Có dàn ý chi tiết) II. Bài làm phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính Chúng ta đã được nghe nói nhiều về chiến tranh, được học những bài học lịch sử và hiểu chiến tranh tàn khốc tới mức nào. Chiến tranh cướp đi của con người mạng sống, cướp đi của con người nên hòa bình,… Mỗi nhà thơ, nhà văn thường miêu tả những góc khác nhau của chiến tranh. Có những người nhìn vào chiến tranh một cách trực diện, nói tới những đau thương mất mát thì cũng có những người nhìn vào chiến tranh bằng một cặp mắt khá lạc quan. Có thể lấy ví dụ như Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mặc dù cũng nói về sự tàn khốc của chiến tranh nhưng người đọc vẫn thấy được những nét tươi vui và hóm hình của những người chiến sĩ.Xem thêm: Nghị luận xã hội về Lý tưởng sống của thanh niên ngày nay Bài thơ về tiểu đội xe không kính viết về những anh lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Chúng ta biết rằng đây là tuyến đường gian nguy nhất, hứng chịu nhiều mưa bom đạn lạc nhất. Chính vì vậy mà những người ngày ngày hành quân trên tuyến đường ấy vô cùng vất vả. Họ ngày ngày phải đối diện với hiểm nguy, thậm chí là cái chết. Sự hiểm nguy ấy thể hiện rõ nét ngay từ những câu thơ đầu tiên: Không kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn biển Bom giật bom rung, đó là hiện thực tàn khốc của chiến tranh. Chiến tranh đã khiến cho những chiếc xe rung lên và vỡ kính. Kính vỡ là chuyện nhỏ, người ngồi phía sau tay lái mới là chuyện lớn. Kính có thể vỡ, vậy thì con người cũng có thể hy sinh bất cứ lúc nào. Nhưng không, khi miêu tả đến người phía sau buồng lái, nhà thơ Phạm Tiến Duật lại miêu tả những con người ung dung nhìn thẳng về phía biển trời. Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính Lẽ tất nhiên, chiếc xe không có kính thì dù người lính có lạc quan tới mức nào cũng khiến người lính gặp không ít khó khăn mà khó khăn đầu tiên được nhà thơ miêu tả đó chính là gió: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái Gió thì chỉ có thể cảm nhận thấy chứ không thể nào nhìn thấy. Thế nhưng ở đây, nhà thơ lại viết nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng. Nói như vậy để người đọc thấy được sự khó nhọc của người lính khi từng cơn gió theo nhau thổi vào mắt khiến cho đôi mắt nhòe đi vì đắng. Chưa kể đến những con chim bay ngoài bầu trời kia cũng có thể ùa vào bên trong buồng lái bất cứ lúc nào. Đây chính là hiện thực và nhà thơ đã tả một cách rất chân thực. Nhưng đó mới chỉ là một phần của khó khăn thôi. Những câu thơ tiếp theo lại diễn tả thêm một sự khó khăn khác nữa:Xem thêm: Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng. Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha Vốn dĩ kính xe được sinh ra là để chắn bụi, mưa, gió cho người ngồi phía trong xe nhưng ở đây xe không có kính thì người lính lại chịu cảnh bụi bay vào mặt, phủ lên tóc là điều hiển nhiên. Hình ảnh nhìn nhau mặt lấm cười ha ha cho thấy không chỉ có một chiếc xe không có kính, một người lính phải chịu gió, bụi mà là rất nhiều chiếc xe và rất nhiều người lính có cùng chung cảnh ngộ như vậy. Trước khó khăn, họ vẫn cười ha ha đầy sảng khoái, điều này tiếp tục cho thấy tinh thần lạc quan của những người chiến sĩ lái xe. Một khó khăn tiếp theo nữa mà người lính lái xe phải trải qua đó là mưa. Người ta ngồi trong ô tô thì thường không cần bận tâm gì đến chuyện mưa nắng ngoài trời vậy mà những người lính của chúng ta dù ngồi trong buồng lái vẫn phải hứng trọn những cơn mưa: Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi Như vậy là dù mưa có xối thẳng vào khiến họ ướt thế nào thì chiếc xe vẫn không dừng lại. Bởi vì lái xe là công việc của họ, đó là công việc cao cả mà dù khó khăn ra sao cũng không thể dừng bước. Mưa ướt, không thay áo. Lái thêm trăm cây số nữa thì thế nào trời cũng sẽ hết mưa. Gió lúc trước là sự khó khăn thì giờ đây lại như một người bạn giúp cho những người lính lùa khô quần áo, người ngợm và khô cả buồng lái nữa. Cứ như vậy, vượt qua bao nhiêu khó khăn và gian khổ, đoàn xe vẫn cứ bước ra từ trong bom rơi: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi Niềm vui của những người lính lái xe chính là được gặp gỡ những người đồng đội của mình. Họ đã tụ họp về một nơi và thành tiểu đội, tiểu đội xe không kính. Nghe cái tên thôi cũng đủ thấy thú vị rồi. Đôi khi trên dọc đường đi, những người lính gặp nhau và ô kính vỡ lại trở thành một ưu điểm khiến cho những người lính có cơ hội được “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.Xem thêm: Cho đề bài "Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng năm tháng Giêng". Em hãy viết đoạn văn thuật lại chiến thắng Ngọc Hồi trong bài viết trên Những lúc dừng chân nghỉ ngơi, họ cùng nhau dựng bếp, thổi cơm ăn chung đầm ấm như gia đình: Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Giữa chiến trường ác liệt, những người không quen, không biết lại trở nên thân thiết như anh em một nhà. Nó khiến cho trái tim những người lính trở nên ấm áp hơn, xóa mờ đi những gian khổ của chiến tranh và vơi đi phần nào nỗi nhớ nhà. Những chiếc xe cứ như vậy tiến về phía trước mặc khó khăn bởi vì ở trong xe có một trái tim, trái tim ấy luôn hướng về Tổ quốc: Không có kính, rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim Khổ thơ cuối cùng tố cáo tội ác của chiến tranh. Hiện thực của chiến tranh là như vậy nhưng không ngăn nổi ý chí của những người lính. Bởi vì họ biết rằng, chỉ có tiến về phía trước thì mới có được tự do và hạnh phúc. Bài thơ về tiểu đội xe không kính quả thực là một bài thơ hay. Lẽ thường, người ta thích đưa vào trong thơ văn những cái gì đẹp đẽ nhất nhưng nhà thơ Phạm Tiến Duật lại miêu tả một chiếc xe không kính, không đèn, không mui. Nếu được lựa chọn, không ai muốn ngồi trong chiếc xe ấy. Nhưng những người lính của chúng ta lại khác. Bài thơ mang đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ, lạc quan và yêu đời hơn. Trên đây là phần lập dàn ý chi tiết phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Với dàn ý và bài văn mẫu này, hy vọng các em đã có thử tự viết một bài văn phân tích của riêng mình. Thu Thủy
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Có dàn ý chi tiết)
1,785
Đề bài: Phân tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính của Phạm Tiến Duật Bài làm Viết về hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có rất nhiều bài thơ hay và đặc sắc. Một trong số đó phải kể tới Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Bài thơ gợi lên những hình ảnh chân thực về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, về những đoàn xe vận tải vận chuyển lương thực, vũ khí, thuốc men từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam. Những hình ảnh ấy được gợi lên ở ngay đầu bài thơ: “Xe không kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng” Những chiếc xe mang dáng vẻ đặc biệt đó là đều không có kính. Phạm Tiến Duật đã lý giải rất hài hước về nguyên nhân những chiếc xe đó không có kính. Nó không phải vốn có như vậy mà do sự khốc liệt của cuộc chiến, của bom đạn khiến cho những chiếc kính bị vỡ. Nhưng giữa sự khốc liệt ấy thì nhà thơ lại cho ta thấy phong thái ung dung, tự tại của những người chiến sĩ lái xe. Từ láy “ung dung” cùng với phép đảo ngữ càng làm thêm nổi bật tư thế hiên ngang của người lính. Họ nhìn thẳng trời đất, không hề e sợ. Trước mắt những người lính là trời đất bao la, rộng lớn và họ cần bước tiếp, thẳng tiến đến chiến trường miền Nam:Xem thêm: Em hãy viết một đoạn văn theo chủ đề tự chọn trong đó có sử dụng cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái” Bốn câu thơ có sự chuyển đối cảm giác rất nhẹ nhàng và tinh tế. Nhìn thấy những ngọn gió không bị chắn bởi cửa kính xe mà “xoa mắt đắng”. Cái nhìn không chỉ mang ý nghĩa nhìn thấy những cảnh vật bên ngoài nữa mà thấy hẳn “con đường chạy thẳng vào tim”. Trong lúc cam go, căng thẳng giữa mưa bom, bão đạn nhưng người lính vẫn không hề run sợ mà vẫn ung dung vừa lái vừa nhìn ngắm sao trời, cánh chim. Từng hình ảnh được nhà thơ lột tả mang theo sự hóm hỉnh, vui tươi của những người chiến sĩ lái xe. Phân tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Đoạn thơ tiếp theo Phạm Tiến Duật đã diễn tả sự khốc liệt của chiến tranh: “Không có kính ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha Không có kính ừ thì mưa ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần rửa lái trăm cây số nữa Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” Dưới ngòi bút của nhà thơ, hiện thực chiến tranh hiện lên một cách đầy hài hước, chân thực lại mang cảm giác gần gũi, dễ liên tưởng. Từ “ừ” của người lính cho ta thấy được sự thờ ơ, không vướng bận, thản nhiên chấp nhận tất cả mọi việc của họ. Tất cả những khó khăn, những khốc liệt của chiến tranh hay của thiên nhiên trên con đường họ đi thì đều không khiến họ chùn bước mà vẫn nhìn thẳng, vẫn thẳng tiến. Điệp từ “chưa cần” đã thể hiện sự hiên ngang, bất cần của họ. Trên con đường dài phía trước, mưa bom bão đạn, thiên nhiên giống như sự thử thách đối với mọi người nhưng trái lại, lại càng làm tăng thêm tình cảm đồng đội, đồng chí:Xem thêm: Phân tích tác phẩm Chử Đồng Tử “Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” Những chiếc xe không có kính, những ô kính trống không lại tiện cho những người lính vươn cánh tay ra chào những người đồng đội của mình, những cái bắt tay tuy vội vàng nhưng chứa đựng biết bao tình cảm và tăng thêm sự quyết tâm chiến đấu. Rồi khi họ dừng chân nghỉ ngơi, sinh hoạt cũng khiến cho người đọc ngày nay cảm thấy ấn tượng: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đĩa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi, trời xanh thêm” Những lúc nghỉ ngơi, những người chiến sĩ lái xe đã cùng nhau nấu những bữa cơm bằng việc dựng nên chiếc bếp Hoàng Cầm, cùng quây quần bên nhau với mâm cơm dã chiến. Ngay đến cả giấc ngủ của họ cũng tạm bợ, không phải tìm kiếm mà “dựng giữa trời”, mà ngay “đường xe chạy”. Những định nghĩa của họ về gia đình không phải chỉ là những người chung huyết thống mà còn là những người cùng chung lý tưởng, cùng chung “bát đũa”, cùng nhau vượt qua những khó khăn thử thách bằng cách thản nhiên chấp nhận: “Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim” Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật giống như một bài ca vui tươi, nhộn nhịp về hình ảnh những người lính lái xe trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Qua bài thơ ta thấy được sự hiên ngang, bất khuất và sự cá tính, hóm hỉnh của những người lính, đó chính là hình ảnh đẹp, để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả.Xem thêm: Nghị luận xã hội về đức tính chăm chỉ Loan Trương
Phân tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính của Phạm Tiến Duật(1)
986
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Hướng dẫn Bài thơ Tiểu đội xe không kính là một bài thơ mang đậm chất cách tân của thi đề và hình tượng trung tâm của bài thơ đó là chiệc xe không kính. Hình ảnh đó đã nói lên được tính ác liệt của chiến tranh, của con đường ra trận. Những hiễm nguy mà con ngui phải gánh chịu và sự dũng cảm huy sinh mà các chiến sĩ phải xả thân khi diều khiển một chiếc xe không kính như vậy. với bài thơ này, đời sống của con người được khắc họa bằng những hi tiết hết sức là éo le, cực khổ mà con người phải gánh chịu. Không những vậy mà chỉ có những con người trong chiến tranh mới thấu hiểu được cái đời sống lam lũ thế nào và nhà văn cũng không ngừng có tầm quan sát về không gian cũng như thời gian của cuộc chiến tranh xẫy ra. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,… Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội không kính” (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió – hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả “anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp” của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về “những chiếc xe không kính” thật đơn giản, tự nhiên: Không có kính không phải vì xe không có kínhXem thêm: Sức mạnh nào giúp con người bớt đi những lo âu, sợ hãi và đau khổ Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng: không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật. Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ. Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh. Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ: Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái. Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”,”con đường” đến cả “sao trời”, “cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng. Xem thêm: Cảm nhận về mùa hè cuối cùng của tà áo trắng – văn lớp 12 Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có tính cách ngang tàng: Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi. Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại “tiếng hát át tiếng bom”, họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy. Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. “Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc: Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:Xem thêm: Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương. Chỉ cần trong xe có một trái tim. Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra: xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước … Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim”. Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở “trái tim” gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta:sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi: Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo Bài thơ tái hiện hành trình gian khổ nhưng rất anh hùng của các chiến sĩ vận tải đoàn 559 trên tuyến lửa Trường Sơn những năm chống Mỹ. Kết hợp giữa hiện thực hào hùng với cảm hứng lãng mạn cách mạng, âm hưởng sử thi chặng đường 30 năm chống xâm lược của dân tộc 1945 – 1975. Nguồn:
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
1,882
Đề bài: Có người cho rằng bài thơ Vịnh khoa thi Hương là tiếng khóc, nhưng lại có người cho rằng đó là tiếng cười châm biếm sâu cay của Trần Tế Xương trước thời cuộc lúc bấy giờ. Ý kiến của anh (chị) như thế nào? Trần Tế Xương (1870 – 1907) thường được gọi là Tú Xương vì đi thi tới Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy nên chi đỗ Tú tài. Tuy nhiên, tài năng thơ ca, đặc biệt là thơ trào phúng đã tôn vinh tên tuổi của ông lên vị trí hàng đầu trong giai đoạn văn học cuối thế ki XIX, đầu thế ki XX. Vịnh khoa thi Hương là bài thơ thể hiện thái độ mỉa mai căm uất của Tú Xương đối với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường thi cử gian nan, lận đận của riêng ông. Có người cho rằng Vịnh khoa thi Hương là tiếng khóc nhưng lại có người cho đó là tiếng cười châm biếm sâu cay của Trần Tế Xương trước thời cuộc lúc bấy giờ. Tuy nhiên, cả hai nhận xét trên đều đúng. Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Long cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra. Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà. Bài thơ là bức biếm họa toàn cảnh khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) Vì tình hình chính trị bất ổn nên sĩ tử ở Hà Nội phải xuống thi chung với sĩ tử của trường thi Nam Định. Chính vì thế mà quang cảnh lộn xộn, trái hẳn với không khí trang nghiêm vốn có chốn cửa Khổng sân Trình. Cái lệ ba năm mở một khoa là quy định của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đặt ra đã từ lâu. Nhưng từ Nhà nước mở đầu bài thơ lại ám chĩ chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp lúc bấy giờ với ý châm biếm, vì triều đình nhà Nguyễn chi còn là bù nhìn mà thôi. Hai câu đề: Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Câu phá đề đơn thuần mang tính chất thông báo, nhưng đốn câu thừa đề thì ý châm biếm của tác giả đã bộc lộ qua từ lẫn. Mọi chuyện bát nháo, nực cười nơi trường thi cũng khởi nguồn từ sự chung đụng lẫn lộn này. Hai câu thực: Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm oẹ quan trường miệng thét loa. Với kết cấu đảo ngược đưa tính từ lên vị trí đầu câu, Tú xương đã đặc tả cảnh tượng đáng buồn của một trường thi ở giai đoạn chữ Hán đang bị chữ quốc ngữ đẩy lùi. Xem thêm: Phong cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn công TrứNgày xưa, sĩ tử đi thi phải mang theo lều chõng, cơm nước, tráp để đựng bút, giấy, nghiên mực… và một ống quyển để đựng quyển thi. Lọ ở đây là lọ nước uống. Mang vác lỉnh kỉnh như thế nên trông họ lôi thôi, lại chen lấn, xô đẩy nên càng giống một đám đông hỗn loạn ngoài đường ngoài chợ chứ không phải ở chốn trường thi vốn dĩ uy nghiêm. Sĩ tử thảm hại đã đành, còn quan trường cũng chẳng hơn gì. Tiếng loa gọi thí sinh lần lượt nhập trường thi lẽ ra phải rõ ràng, dõng dạc nhưng vì quá ồn ào, lộn xộn nên quan xướng danh phải cố thét lên cho thật to, riết rồi thành ậm oẹ, chẳng ra đâu vào đâu cả nên hoá buồn cười. Hai câu luận: Long cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra. Bằng bút pháp trào lộng sắc sảo, Tú Xương tiếp tục tả thực cái “chợ phiên” chữ nghĩa ấy với những chi tiết vô cùng độc đáo. Biết bao là trớ trêu, ngậm ngùi ẩn chứa trong khung cảnh ấy. Để chứng tỏ sự quan tâm của “mẫu quốc”, tên toàn quyền Pôn Đu-me (Paul Doumer) cùng vợ đã đến dự khai mạc trường thi cho thêm phần long trọng. Con mắt tinh đời và tâm trạng phẫn uất của Tú Xương đã giiúp mọi người nhận ra nỗi nhục mất nước qua hai hình ảnh tương phản trong hai câu thơ đối nhau chan chát là: Cờ của triều đình phong kiến bán nước đối với Váy của vợ tên quan thực dần cướp nước. Ngậm ngùi, cay đắng biết bao nhiêu! Dâu không có giọt nước mắt nào nhưng người đọc thấy rõ là nhà thơ đang cắn răng cố nuốt tiếng khóc vào trong, ông khóc vì quốc thể bị xúc phạm, khóc vì nỗi nhục nô lệ của giới trí thức nói riêng và cả dân tộc nói chung. Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà. Nỗi ngậm ngùi bị dồn nén cao độ đã bật thốt thành lời cảm thán làm rung động lí trí và tình cảm người trong cuộc cũng như người ngoài cuộc. Nhân tài đất Bắc là cách gọi mỉa mai của Tú xương đối với đám Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ đang chen chúc chốn trường thi nhốn nháo đúng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong đám đông ấy, hỏi có ai nghĩ tới cảnh nước nhà đáng đau, đáng hận; hay chỉ chúi mũi chúi tai tranh nhau cố kiếm miếng đinh chung mà quay lưng ngoảnh mặt làm ngơ?! Nhiều người có cùng một nhận xét là trong thơ Trần Tế xương, sự kết hợp hài hoà, chặt chẽ giữa tính hiện thực và tính trữ tình được thể hiện khá rõ. Có thể coi bài Vịnh khoa thi Hương này là một ví dụ tiêu biểu. Đằng sau tiếng cười châm biếm mang ý nghĩa xã hội sâu xa là tiếng khóc ngậm ngùi, nuối tiếc cho nền Hán học suy tàn và tất cả những gì từng được coi là tinh hoa của nó đã bị đẩy lùi trước làn sóng văn hoá phương Tây đang tràn vào nước ta theo bước chân của đạo quân viễn chinh xâm lược Pháp. Xem thêm: Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa; qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo độc đáo và mới mẻ của nhà văn lớn Nam Cao
Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Trần Tế Xương
1,082
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố của Lí Bạch Hướng dẫn I. Mở bài: – Thiên nhiên chiếm một vị trí sang trọng trong hồn thơ Lí Bạch. Với thanh kiếm hiệp sĩ và bầu rượu, túi thơ, Thi tiên đã đi tới mọi chân trời góc bể. Ở đâu có cảnh đẹp là ông tìm đến thăm thú, thưởng ngoạn và để thơ. – Núi Hương Lô, thác núi Lư ở Giang Tây, Trung Quốc là một danh lam thắng cảnh. Bài ‘Vọng Lư Sơn bộc bố’ (Xa ngắm thác núi Lư) của Lí Bạch viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng): – Có thể dẫn nguyên tác hoặc bài thơ dịch? – Bài thơ tả.cảnh thác núi Lư tráng lệ với cảm xúc mạnh mẽ, ấn tượng sâu sắc của Lí Bạch khi đứng từ xa say sưa ngắm nhìn. II. Thân bài: Cảnh đẹp thác núi Lư được tả bằng mắt và bằng tưởng tượng vì nhà thơ đứng ở một nơi rất xa ngắm thác. – Câu thứ nhất tả núi Hương Lô (núi tựa như là cái lò hương thiên tạo khổng lồ) được ánh mặt trời chiếu xuống, rọi vào, sinh ra muôn ngàn làn khói tía (tím đỏ) Vôcùng huyền ảo rực rỡ. Một nét vẽthơ mộng: ‘Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên’ (Nắng rọi Hương Lô khói tía bay) – Gâu thứ hai, tả vị trí ngắm thác, ở một nơi rất xa. Núi cao, thác cao, tưởng như thác treo trên dòng sông lơ lửng, cheo leo ở phía trước. Chữ Hán ‘quải’ nghĩa treo, một động từ tả hình dáng thác núi Lư! Bó là một thi nhãn rất hình tượng và gợi cảm: ‘Dao khan bộc bố quải tiền xuyên’ (Xa trông dòng thác trước sông này) Câu thơ dịch rơi mất chữ ‘quải’. Hai câu thơ đầu có năm chi tiết được nói đến, có núi, thác và sông, có ánh mặt trời và làn khói tía. Chữ ‘sinh’ là một vẻ động rất thần tình, gợi tả vẻ đẹp huyền diệu của núi và thác. Xem thêm: Dàn ý cảm nghĩ về cô giáo mà em yêu quý– Câu thơ thứ ba tả độ cao, chiều dài, tốc độ của dòng thác. ‘Phi lưu trực há’nghĩa là chảy như bay đổ thẳng xuống, đó là độ cao, là tốc độ mạnh ghê gớm của dòng thác. Con số ước lượng ba nghìn thước tả chiều dài: chảy bay (phi lưu), các tính từ – trạng ngữ: thẳng xuống (trực há) là những vẻ động, rất thần tình: ‘Phi lưu trực há tam thiên xích’ (Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước) – Câu thơ thứ tư là lời thốt lên vô cùng ngạc nhiên và thú vị của Thi tiên Lí Bạch: ‘Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên’ (Tưởng dài Ngân Hà tuột khỏi mây) Với trí tưởng tượng phi thường và cảm xúc lãng mạn bay bổng, Lí Bạch sử dụng thủ pháp nghệ thuật so sánh va thậm xưng để ví thác núi Lư kì vĩ, tráng lệ như dải Ngân Hà lấp lánh… triệu vì sao trên bầu trời. Dải Ngân Hà ấy đã rơi tự chín tầng mây cao xuống. Chữ ‘lạc’ nghĩa là rơi, rụng, là thi nhãn trong câu thơ tuyệt cú. III. Kết bài: – Nét đặc sắc, độc đáo của bài ‘Vọng Lư Sơn bộc bố’ là thủ pháp lấy diện để tô đậm điểm. Trên cái nền núi sông làn khói tía, Ngân Hà, chín tầng mây của bầu trời bao la, kì vĩ hiện lên thác núi Lư. Các động từ: chiếu, sinh, quải, phi lưu, lạc – là những nét vẽ đẹp rất gợi hình và gợi cảm. Hình ảnh so sánh thác núi Lư với dải Ngân Hà tuột khỏi mây là một sáng tạo kì diệu thể hiện một bút pháp nghệ thuật lãng mạn bay bổng. – ‘Vọng Lư Sơn bộc bô’thể hiện một tình yêu thiên nhiên say đắm, một sự cảm mến nồng hậu trước vẻ đẹp gấm vóc của giang sơn. Nguồn: thêm: Phân tích 8 câu thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố của Lí Bạch
679
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố hay Hướng dẫn Vọng Lư Sơn bộc bố Lí Bạch (701 – 762) Nhật chiếu Hương Lô sinh tủ yên, Dao khan bộc bốquải tiền xuyên. Phỉ lưu trực há tam thiên xích, Nghi thị Ngán Hà lạc cửu thiên. Dịch nghĩa. Mặt trời chiếu núi Hương Lô, sinh làn khói tía, Xa nhìn dòng thác treo trên dòng sông phía trước. Thác chảy như say đổ thẳng xuống ba nghìn thước, Ngỡ là sông Ngân rơi tự chín tầng mây. Dịch thơ. Xa ngắm thác núi Lư Lí Bạch (701 – 762) Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây. … đất nước, coi thường công danh, coi trọng tình bằng hữu, sống hào hiệp, nghĩa khí. Lí Bạch để lại trên một nghìn bài thơ, với phong cách lãng mạn bay bổng, tràn đầy cảm xúc và tưởng tượng, khắc họa thành công những hình tượng kì vĩ, hào hùng. Lí Bạch đi nhiều, hầu như các danh lam thắng cảnh trên đất nước Trung Hoa bao la, ông đều đặt chân tới và làm thơ. ‘Xa ngắm thác núi Lư’ là một trong những bài thơ tả cảnh tuyệt bút của ông: ‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây’ Bài thơ miêu tả cảnh thác núi Lư hùng vĩ, tráng lệ, biểu lộ một tình yêu thiên nhiên, yêu núi sông Tổ quốc. Núi Hương Lô trong dãy Lư Sơn trùng điệp ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Hương Lô nghĩa đen là lò hương; dáng núi như vậy nên mới được đặt tên là Hương Lô. Núi cao có mây khói bao phủ, xa trông như chiếc lò hương thiên tạo khổng lổ. Hương Lô càng trở nên nổi tiếng nhờ có thác đẹp, nhất là những ngày rực nắng, trời xanh trong. Hai câu đầu cho thấy Lí Bạch đứng xa ngắm thác: ‘Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này’ Xem thêm: Tả cây bút máy mà em đang dùngSau gần 13 thế kỷ, không biết Lí Bạch đến thăm thác núi Lư vào buổi sáng hay buổi chiều, chỉ biết đó là một ngày rất đẹp có ‘nắng rọi’. Lưu truyền tiếng thác ‘như sấm động, như ngàn vạn con ngựa Hí vang trời’. Ớ đây, nhà thơ không tả âm thanh của tiếng thác mà chí tả bằng mắt vì đứng rất xa ngắm thác. Nắng chiếu xuống núi, chiếu xuống thác ‘khói tía bay’ mù mịt, bao phủ một vùng bao la. ‘Khói tía’ là khói màu đỏ pha tím sẫm. Thác núi Lư phản quang ánh mặt trời, du khách đứng xa tường như nhìn thấy Hương Lô có hàng ngàn vạn mảnh trầm, có muôn triệu cây hương đốt lên ‘khói tía bay’ trông rất ngoạn mục. Hình ảnh vừa thực vừa ảo làm hiện lên vẻ đẹp kỳ lạ của thác núi Lư. Câu thơ đầy màu sắc: màu trắng của thác, màu xanh của núi, màu vàng của nắng và màu tía của sương khói. Đằng sau câu thơ, người đọc cảm thấy Thi tiên đang đứng lặng trầm ngâm và say sưa ngắm thác núi Lư. Thác núi Lư trong xa như dòng sông treo trước mặt: ‘Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tường dải Ngân Hù tuột khỏi mây’ Từ núi cao, thác đổ xuống, trút xuống, ‘nước bay thẳng xuỗng’, tạo thành dòng trắng xóa ‘ba nghìn thước’. Trước cảnh tượng hùng vĩ lạ lùng ấy, Lí Bạch thốt lên ngạc nhiên… Với cảm hứng lãng mạn, nhà thơ đã sáng tạo nên một hình ảnh ẩn dụ để so sánh thác núi Lu với ‘dải Ngân Hà tuột khỏi mây’. Một nét vẽ phóng đại thần tình ca ngợi công trình tráng lệ và kỳ vĩ của tạo hóa. Nói rằng thơ Lí Bạch tràn đầy hùng tâm và tráng chí là như vậy. Với một tình yêu thiên nhiên đến say đắm, với một trí tưởng tượng đến phi thường, Thi tiên đã để lại một bức tranh hoành tráng về thác núi Lư bằng ngôn ngữ thi ca hiếm có. Hơn một thiên niên kỉ trôi qua, đã mấy ai được đến núi Lư Sơn Trung Quốc ngắm thác trong ‘nắng rọi’? Quả vậy, thác núi Lư làm cho thơ Lí Bạch trở nên vĩnh hằng, và thơ Lí Bạch cũng góp phần làm cho cảnh thác núi Lư kì vĩ in sâu vào tâm hồn nhân loại. Bài ‘Xa ngắm thác núi Lư’ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Trí tưởng tượng hiếm có, nét vẽ thậm xưng tráng lệ, cảm hứng lãng mạn dạt dào là những yếu tô' đã làm nên cốt cách áng thơ kiệt tác này. Qua bài thơ, ta thấy rõ hồn thơ Lí Bạch: một tình yêu lớn đối với thiên nhiên và đất nước. Nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước Trung Hoá đã soi bóng vào thơ Lí Bạch, để từ đó đi sâu vào lòng người khắp mọi nơi trên hành tinh. Bài thơ ‘Xa ngắm thác núi Lư’ đã mở rộng tầm nhìn, làm phong phú hơn tâm hồn chúng ta trong cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên, nàng tâm hồn chúng ta lên một tầm cao nhân văn khi tiếp cận các danh lam thắng cảnh trong và ngoài nước. Nguồn: thêm: Chứng minh câu tục ngữ "Có chí thì nên"
Phân tích bài thơ Vọng Lư Sơn bộc bố hay
917
Phân tích bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) của Hồ Chí Minh Gợi ý Sinh thời, Bác Hồ luôn chú tâm chăm lo cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, Người không có ham muốn trở thành một nhà thơ nhưng như đã có lần Bác viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng ngồi trong ngục biết làm sao đây?” Hoàn cảnh “rỗi rãi” khiến Người đến với thơ ca như một kì duyên. Trong những năm tháng bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch, Bác đã có một bài thơ thật hay: “Vọng nguyệt”. “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thử lương tiêu nại nhược hà? Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia” Bài thơ được dịch là “Ngắm trăng”: “Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngẩm nhà thơ” Thi đề của bài thơ là “Vọng nguyệt” – “Ngắm trăng”. Người xưa ngắm trăng trên những lầu vọng nguyệt, những vườn hoa với bạn hiền, túi thơ, chén rượu… Nhưng nay, Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh thật đặc biệt: “Trong tù không rượu cũng không hoa” Câu thơ hé mở bao điều bất ngờ. Người ngắm trăng là một người tù không có tự do “trong tù”. Trong hoàn cảnh ấy, con người thường chỉ quay quắt với cái đói, cái đau và sự hận thù. Nhưng Hồ Chí Minh với tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, Người lại hướng đến ánh trăng trong sáng, dịu hiền. Chẳng những vậy, chốn ngục tù tăm tối ấy “không rượu cũng không hoa”. Từ “diệc” trong nguyên văn chữ Hán (nghĩa là “cũng”) nhấn mạnh những thiếu thốn, khó khăn trong điều kiện “ngắm trăng”của Bác.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu nhận xét về cách đặt tên chương, tên các phần trong văn bản Thuế máu (trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc) Không tự do, không rượu, không hoa nhưng “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?” – Đối diện với ánh trăng sáng ta biết làm sao đây? Nguyên văn chữ Hán là một câu hỏi đầy bối rối, đầy băn khoăn của tâm hồn thi nhân trước vẻ đẹp trong sáng, tròn đầy của ánh trăng. Không có những điều kiện vật chất tối thiểu, không có cả tự do nhưng ở Hồ Chí Minh đã có một cuộc “vượt ngục tinh thần” vô cùng độc đáo như Bảc đã từng tâm sự: “Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao” Thể xác bị giam cầm nhưng tâm hồn Bác vẫn bay bổng với thiên nhiên. Điều đó được lí giải bởi tình yêu của Bác đối với thiên nhiên và còn bởi một tinh thần “thép” không bị khuất phục bởi cái xấu, cái ác. Trăng trong sáng, lòng người cũng trong sáng nên giữa trăng và người đã có sự giao hòa tuyệt vời: “Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia” Bản dịch thơ: “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” Trong bản nguyên tác chữ Hán, nhà thơ sử dụng phép đối giữa hai câu thơ “nhân” – “nguyệt”, “hướng” – “tòng”, “song tiền” – “song khích”, “minh nguyệt” – “thi gia”. Điều đó thể hiện sự đồng điệu, giao hòa giữa người và trăng để trăng và người giống như đôi bạn tri âm tri kỉ. “Nhân” đã chẳng quản ngại cảnh lao tù mà “hướng song tiền khán minh nguyệt”. Trong tiếng Hán, “khán” có nghĩa là xem, là thưởng thức. Đáp lại tấm lòng của người tù – thi nhân, vầng trăng cũng “tòng song khích khán thi gia”. Trong tiếng Hán, “tòng” là theo; trăng theo song cửa mà vào nhà lao “khán” thi gia. Đó là một cảm nhận vô cùng độc đáo vầng trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của vũ trụ, là niềm khát vọng muôn đời của các thi nhân. Vậy mà nay, trăng len mình qua song cửa hẹp, đặt chân vào chốn lao tù ẩm ướt hôi hám để chiêm ngưỡng nhà thơ hay chính là tâm hồn nhà thơ vậy. Điều đó đã khẳng định vẻ đẹp trong con người Hồ Chí Minh.Xem thêm: Thuyết minh về một căn bệnh gây nguy hại đến tính mạng con người“Vọng nguyệt” ra đời trong những năm 1942 – 1943 khi Bác Hồ bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch. Bài thơ thể hiện phong thái ung dung, coi thường hiểm nguy gian khổ của Bác. Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Người cũng hướng đến thiên nhiên bộc lộ tấm lòng ưu ái rộng mở với thiên nhiên. Đó là một trong những biểu hiện quan trọng của tinh thần thép Hồ Chí Minh. “Vọng nguyệt” không chỉ là một bài thơ tả cảnh đơn thuần. Thi phẩm còn là một bức tranh chân dung tinh thần tự họa của Hồ Chí Minh. Và như thế, bài thơ thực sự là một thi phẩm đáng trân trọng trong kho tàng thi ca Việt Nam. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) của Hồ Chí Minh
850
Bài thơ Vội vàng là một trong những tác phẩm thơ độc đáo, đặc sắc nhất của nhà thơ Xuân Diệu. Bài thơ được rút ra từ tập Thơ Thơ (1938), là tiếng nói tâm hồn yêu đời, say mê cuộc sống của nhà thơ, là khát vọng được sống trọn vẹn với thanh xuân và tuổi trẻ. Để giúp các em có thêm tham khảo cho đề phân tích bài thơ Vội vàng, dưới đây sẽ là bài văn mẫu cùng với dàn ý chi tiết. I. Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Vội vàng 1. Mở bài – Giới thiệu sơ qua vài nét về bài thơ Vội vàng và tác giả Xuân Diệu. Bài thơ được viết trong hoàn cảnh nào? Nội dung của bài thơ nói về điều gì? Nhà thơ Xuân Diệu đã gửi gắm quan niệm sống như thế nào thông qua bài thơ này. – Dẫn dắt vào phần thân bài. 2. Thân bài a. Sự sống ban tặng cho con người – Những khát khao và ham muốn của nhân vật tôi trữ tình khi đứng trước thiên nhiên tươi đẹp. Phân tích khổ thơ đầu tiên để thấy rõ điều này. – Phân tích câu thơ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần để thấy được cách biểu đạt của Thơ Mới. Đây là câu thơ rất đẹp, gần như là đẹp nhất. Nó lấy con người làm chuẩn mực để đo thiên nhiên. Vẻ đẹp của tháng giêng được so sánh với vẻ đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. – Xuân Diệu đưa ra những ý tưởng táo bạo và đầy sự gấp gáp khi ông chạy đua cả với thời gian. Phân tích câu thơ Tôi sung sướng/Nhưng vội vàng một nửa/Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân để thấy rõ điều này. b. Thời gian đã hủy hoại sự sống – Thời gian là thứ qua đi không trở lại và nó cũng cướp đi tuổi trẻ của con người. Dẫn chứng: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn/Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. – Thời gian qua đi, thời gian con người ở gần bên nhau cũng không còn nhiều. Như vậy là thời gian đem đến sự chia lìa, ngăn cách. Dù phũ phàng nhưng đó là sự thật cuộc sống. Dẫn chứng: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi/Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt. – Thời gian qua đi, mọi thứ cũng tàn phai theo. Dẫn chứng: Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc, Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi. => Dù đang sống trong những ngày tháng rất tươi đẹp của mùa xuân nhưng nhà thơ vẫn lo lắng đến một ngày nào đó mùa xuân đi qua và khiến cho mọi thứ trở nên phai tàn. c. Hãy tận hưởng sự sống – Nhân vật tôi trữ tình đã chuyển cách xưng hô sang ta. + Cái tôi giờ đây đã trở nên chật chội và không tương ứng khi mà nhân vật trữ tính muốn đoạt lấy sự sống trong mọi chiều. + Khi cái tôi được mở rộng ra, nó trở thành cái ta đầy kiêu hãnh và đưa ra những đòi hỏi một cách dõng dạc. – Đoạn cuối bài thơ sử dụng điệp từ ta, và, cho khiến nhịp điệu cả đoạn thơ trở nên hối hả, gấp gáp. Câu thơ cuối cùng, bao nhiêu cảm xúc dồn nén như được bung ra, thể hiện sự khao khát muốn ôm trọn lấy thiên nhiên của nhà thơ.Xem thêm: Mở đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử viết: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Đây là lời của ai? Có người cho rằng câu hỏi đó đã được nhà thơ trả lời bằng 11 câu thơ tiếp theo của tác phẩm. Ý kiến anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích bài thơ để làm sá 3. Kết bài Tóm gọn lại nội dung của bài thơ một lần nữa. Thông qua việc phân tích bài thơ Vội vàng em thấy được điều gì? Nêu quan điểm và cách nhìn nhận của bản thân em về cách sống và quan niệm sống của nhà thơ. Bài viết liên quan: >> Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu >> Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu >> Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Từ ấy của Tố Hữu II. Bài làm phân tích bài thơ Vội vàng Trong số các tác giả thơ Mới mà em đã được học, được biết đến thì Xuân Diệu là nhà thơ mà em yêu mến nhất. Nhà thơ Xuân Diệu có nhiều tác phẩm rất hay và đặc sắc chẳng hạn như bài Đây mùa thu tới, Vội vàng, Yêu, Phải nói,… Mỗi bài thơ là một nét riêng nhưng nằm trong một cái chung đó là niềm khao khát được sống và được yêu. Trong số những bài thơ hay của Xuân Diệu, em lại thích nhất bài thơ Vội vàng. Dường như có bao nhiêu tài năng, Xuân Diệu dồn cả vào trong bài thơ này. Cảm xúc của bài thơ thật mãnh liệt và nó thôi thúc con người có chung một ham muốn giống như tác giả, đó là ham muốn được sống. Xuân Diệu là một nhà thơ, vậy nên không khó để lý giải vì sao ông lại có một trái tim đa cảm đến như vậy. Cũng chính vì sự đa cảm của mình mà nhà thơ cảm nhận được gần như trọn vẹn hết thảy những gì đẹp đẽ nhất ở trong cuộc sống. Và cũng chính vì cảm nhận được cái đẹp nên trong ông cũng có một nỗi lo, nỗi lo về sự chảy trôi của thời gian. Phân tích bài thơ Vội vàng Con người được sinh ra, được ban tặng cho sự sống và đó là một điều vô cùng đáng quý. Cuộc sống của con người có tình yêu, nó làm cho con người trở nên hạnh phúc. Như Xuân Diệu cũng đã từng viết ở trong một bài thơ khác của mình rằng Đố ai sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào. Từ tình yêu dành cho cuộc sống, nhà thơ mới nảy sinh ra những ham muốn mà phải nói là vô cùng táo bạo: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đứng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Không cần phải nói thì ai cũng hiểu rằng những ham muốn của nhà thơ là phi thực tế, nó cũng khó như việc hái sao trên trời. Bởi vì nắng và gió là những hiện tượng của tự nhiên và do tự nhiên chi phối, điều khiển. Nhà thơ muốn kiểm soát chúng, muốn “tắt” và muốn “buộc” đó là điều không thể. Thật ra, không phải vì nhà thơ muốn chiếm đoạt nắng hay gió cho riêng mình mà bởi vì những hiện tượng tự nhiên ấy đang làm nhạt mất màu sắc của thiên nhiên và thổi hương thơm bay đi mất. Nhà thơ vì vậy mà tiếc nuối, vì vậy mà buồn thương. Đó là một dự cảm về tương lai phôi phai, khi mà mùa xuân qua đi, mọi hương sắc đều trở nên phai nhạt.Xem thêm: Phân tích tâm trạng và tình cảm của Hoàng cầm thể hiện trong bài thơ “Bên kia sông Đuống" Sang đến khổ thơ thứ 2, bao nhiêu cái đẹp của thiên nhiên được nhà thơ phô bày ra hết trên câu chữ. Hình ảnh thơ sinh động với những đàn ong bướm bay rập rờn, nhiều màu sắc với lá và hoa của cánh đồng xanh rì và giàu âm thanh với tiếng chim yến anh. Để rồi mỗi buổi sáng thức dậy, giống như có vị thần vui gõ cửa, mang đến bao nhiêu điều tươi mới và hạnh phúc. Câu thơ hay nhất, đắt giá nhất trong khổ thơ này chính là Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Câu thơ đã thể hiện được đúng cái cách biểu đạt của thơ Mới đó là lấy con người làm điểm tựa, làm chuẩn mực để đo thiên nhiên. Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, như nụ hôn của hai người yêu nhau. Cách so sánh này quả thực quá độc đáo. Nó thôi thúc con người ta muốn yêu, muốn được yêu và muốn được tận hưởng những gì hạnh phúc nhất của tình yêu. Từ sự sung sướng ấy, nhà thơ lại bắt đầu vội vàng. Nhà thơ dường như đang chạy đua cùng với thời gian bởi vì ông cảm nhận được thời gian đang trôi đi từng ngày và từng giờ. Mỗi một giây qua đi là màu sẽ nhạt bớt và hương sẽ phai dần. Bởi thế cho nên: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân Thời gian trôi thì nhanh mà đời người thì hữu hạn. Xuân Diệu hiểu rõ điều đó và ông không thể chờ có nắng tàn rồi mới nhớ đến mùa xuân. Vậy cho nên từ lúc mùa xuân chớm tới, ông đã thấy tiếc nuối bởi mùa xuân đang qua đi. Hôm nay mùa xuân còn non đấy nhưng ngày mai mùa xuân đã già mất rồi. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tuổi trẻ cũng qua đi. Thời gian đã qua đi sẽ không bao giờ trở lại. Thời gian như là lưỡi dao hủy hoại sự sống. Trước hết, thời gian cướp đi tuổi trẻ của con người: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời Ý tứ của những câu thơ đã rất cụ thể. Mùa xuân này qua đi, một mùa xuân khác sẽ lại tới. Nhưng phải nhấn mạnh rằng đó là một mùa xuân khác chứ không phải là một mùa xuân cũ. Mùa xuân khác, nghĩa là mọi thứ cũng rất khác. Cũng giống như việc mùa xuân này chúng ta 17 tuổi nhưng mùa xuân sau chúng ta là 18 tuổi. Những mùa xuân sau nữa, tuổi cũng sẽ tăng dần lên. Đến một lúc nào đó, mùa xuân của đời người sẽ dừng lại. Nó không tồn tại được vĩnh hằng như mùa xuân của thiên nhiên. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc thời gian con người được ở bên cạnh nhau không có nhiều. Dường như sự nuối tiếc về ngày biệt ly của nhà thơ đã nhuốm cả lên khung cảnh. Mọi thứ đều như nhắc nhở về sự ngăn cách này:Xem thêm: Bài đọc tham khảo Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt… Khi thời gian của đất trời qua đi, thời gian của con người không còn nhiều thì cũng đồng nghĩa với việc mọi thứ đang tàn phai theo: Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Câu thơ Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi mang đến cho người đọc cảm giác hụt hẫng và đầy tiếc nuối. Từ bỗng mang đến cảm giác bất ngờ và hoàn toàn không có sự báo trước. Mới hôm qua chúng có thể còn rộn ràng thì giờ đây đã đứt tiếng reo mất rồi. Chính từ những sự việc như vậy, nhà thơ mới phải đưa ra một quan niệm sống đầy gấp gáp, nhà thơ thúc giục con người hãy mau lên, hãy vội lên bởi vì thời gian không còn nhiều nữa. Nếu như trong bài thơ Giục giã, Xuân Diệu viết Mau với chứ, vội vàng lên với chứ thì ở trong bài thơ Vội vàng này nhà thơ viết Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm. Hai câu thơ mang ý nghĩa tương đồng nhau. Từ đây, nhà thơ tiếp tục biểu lộ ham muốn tột bậc của bản thân mình. Thứ nhưng cái tôi lúc này đã trở nên chật hẹp và nó không còn đủ chỗ cho những ham muốn của nhà thơ nữa. Vậy nên chủ thể trữ tình đã chuyển xưng hô từ tôi sang ta. Cái ta ở đây rộng lớn hơn và đủ để cho nhà thơ có thể bộc lộ được hết những cái ham muốn của bản thân mình. Điệp từ ta muốn, và, cho đã khiến cho câu văn trở nên hối hả hơn, gấp gáp hơn. Tất cả những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời, nhà thơ muốn gom cả lại và giữ mãi không thôi. Không kìm nén cảm xúc được nữa, câu thơ cuối cùng nhà thơ bung hết cảm xúc của mình ra: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Bài thơ Vội vàng thể hiện quan niệm sống vội và sống gấp. Đó là quan niệm về việc tận hưởng cuộc sống, tận hưởng những gì đẹp đẽ của cuộc sống. Theo em, đó là một quan niệm đúng đắn và thế hệ trẻ bây giờ cần phải học theo. Con người không bao giờ có thể biết được thời gian của mình đến khi nào thì dừng lại vậy thì hà cớ gì chúng ta lại để lãng phí tuổi trẻ của mình. Đợi đến khi mùa xuân qua đi rồi, có tiếc nuối cũng không lấy lại được. Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích bài thơ Vội vàng. Với bài văn mẫu tham khảo này, hy vọng các em đã có thêm cho mình những ý tưởng để có thể làm bài một cách sâu sắc nhất. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu (có dàn ý chi tiết)
2,282
Đề bài: Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu Bài làm Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng thơ tình với nhiều bài thơ thể hiện tình cảm yêu thương mãnh liệt. Nhắc tới thơ Xuân Diệu thì không thể không nhắc tới bài thơ Vội Vàng. Bài thơ Vội Vàng với lời thơ tha thiết, mang nhịp điệu nhanh tạo nên một hình dung về sự vội vàng, gấp gáp của con người đang chìm đắm trong tình yêu. Tình cảm ấy được thể hiện ngay ở những vần thơ đầu tiên: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi” Lời thơ bộc lộ nên một cái “tôi”đầy mãnh liệt, đầy những khát khao cháy bỏng. Những khát khao của cái tôi ấy lại vô cùng đặc biệt và mang theo cả sự phi lý. Đó là muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió lại”. Như chúng ta đã biết nắng và gió là hai hiện tượng tự nhiên, ấy vậy mà tác giả lại muốn điều khiển, chế ngự nó, muốn cưỡng lại quy luật của tự nhiên. Thông qua đó ta hiểu được nhà thơ giống như một người tự do, tự tại và làm theo những gì mình muốn chứ không muốn tuân theo những vận động của tự nhiên, theo lẽ thường. Tuy nhiên cũng phải đặt ra một câu hỏi đó là tại sao tác giả lại muốn như vậy? Bởi vì thi sĩ Xuân Diệu đã có nhận thức sâu sắc về những vật tồn tại trong tự nhiên, ông hiểu được rằng màu có đẹp nhưng rồi cũng sẽ phai nhạt, hương có thơm nhưng cũng đến lúc bay hết đi. Trước cái lẽ đó nên tác giả muốn đi ngược lại với tự nhiên, muốn níu giữ lại những gì đẹp đẽ nhất. Đó chính là khát khao cháy bỏng của người thi nhân. Phân tích bài thơ Vội Vàng Từ cái khát khao ấy, mạch cảm xúc được chuyển rời sang một bức tranh tình yêu tràn đầy màu sắc và vui tươi: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa” Mỗi một câu chữ như được thổi hồn khiến chúng trở nên sinh động và hấp dẫn hơn bao giờ hết. Từng hình ảnh thiên nhiên tươi vui, đầy sắc màu được hiện lên kết hợp với điệp từ “này đây” như một cách liệt kê, kể lể, lại mang theo nhịp điệu nhanh, tươi vui. Qua đó bộc lộ niềm hân hoan, vui sướng của tác giả đang chìm đắm giữa khung cảnh thiên nhiên ấy. Trong khung cảnh đó có ong bướm, có hoa cỏ, rồi có những tiếng ca từ tự nhiên vang lên giống như một “khúc tình si” của người đã và đang được yêu. Không chỉ có cảnh, có âm thanh mà còn có ánh sáng, ánh sáng khi mà sớm mai thức giấc, khi ta mở mắt cũng chính là lúc ta thấy được. Đối với người đang yêu thì còn gì vui sướng hơn khi sớm mai thức giấc ánh nắng chan hòa, khi mà cảm nhận được niềm vui giống như một vị thần gõ cửa cho ta thức giấc, cho ta trải nghiệm một ngày mới.Xem thêm: Phân tích đoạn cuối bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu: "Ta muốn ôm, Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu; Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều... - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" Bức tranh cảnh vật đầy hứa hẹn về tương lai và hạnh phúc. Khác với những nhà thơ cùng thời khi mang “nỗi buồn thế hệ”, họ tìm những nơi tiên cảnh xa vời thực tế nhưng Xuân Diệu lại không giống vậy. Thi sĩ đã tìm được chốn thiên đường ngay tại mặt đất này. Với ông cuộc đời này đầy rẫy những điều đáng yêu, thú vị mà ta có thể kiếm tìm và tận hưởng: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Một câu thơ đầy gợi cảm. Như chúng ta đã biết mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm nhưng Xuân Diệu chỉ nhắc tới tháng giêng, một tháng mở đầu cho một năm, cho mùa xuân và cũng đồng thời là thời gian mà vạn vận tươi tốt, căng tràn sức sống. Cây cối đâm chồi nảy lộc, cỏ cây tươi tốt và con người giữa thiên nhiên ấy cũng mang dáng vẻ trẻ trung, yêu đời, mang theo một niềm yêu sống, thiết tha với đời. Thiên nhiên tươi đẹp ấy được ví với “cặp môi gần” mang một ý nghĩa đặc biệt. Trong thơ xưa thì thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp nhưng với Xuân Diệu thì con người mới là chuẩn mực của cái đẹp. Con người đang trong độ đẹp nhất, căng đầy sức sống nhất. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn tả tình, thể hiện khát vọng của tác giả, khao khao tình, yêu, khát khao hạnh phúc một cách táo bạo.Xem thêm: Từ bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu nghĩ về ‘chí làm trai’ của người xưa và của thanh niên trong thời đại ngày nay. Nhận thấy cái đẹp ở ngay trần thế đồng thời thi sĩ cũng cảm nhận được sâu sắc cái hữu hạn của mùa xuân: “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất” Những khát khao giao cảm với đời nhưng đồng thời cũng thấy được cuộc sống này tươi đẹp nhưng cũng chứa những bi kịch mà chúng ta sẽ gặp phải. Ông chứng kiến sự thay đổi, vận động của thời gian. Thời gian trong quan niệm trước kia thì thời gian là tuần hoàn, là sự lặp đi lặp lại nhưng giờ đây thời gian được quan niệm là tuyến tính, là một đi không trở lại. Nhận thức được sự ngắn ngủi của thời gian khiến thi sĩ cảm thấy hốt hoảng và cần phải vội vã, nhanh chóng tận hưởng hết những gì tươi đẹp nhất của đời người. Chính vì thế thơ của ông lúc nào cũng giục giã, cuống quýt: “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm” Sang đến khổ thơ cuối thì giọng thơ càng trở nên gấp gáp, vội vàng bởi chính Xuân Diệu đang sợ rằng thời gian trôi đi quá nhanh, ông không muốn đến khi “nắng hạ mới hoài xuân” mà muốn trân trọng ngay từ những giây phút ông nhận ra sự hữu hạn của thời gian với mỗi đời người: “Ta muốn ôm! Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thây trong một cái hôn nhiều” Chữ “ôm” được nhà thơ sử dụng như thể hiện khát khao ôm trọn cả “sự sống”, ôm đồm hết những gì xung quanh để giữ lại chúng. Cuộc sống “mơn mởn” tươi xanh, nó rất đẹp, rất tươi mới khiến cho lòng người khao khát níu giữ. Điệp từ “ta muốn ôm” đã thành công bật lên ham muốn cháy bỏng của tác giả. Đó chính là một tâm hồn thiết tha sự sống, yêu cuộc đời đến cuồng nhiệt. Và dường như thi sĩ đang hạnh phúc, đang sung sướng đến nỗi thốt lên một câu thơ đầy tính gợi cảm, biểu tượng:Xem thêm: Nghị luận xã hội về nghị lực sống của con người “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” Mùa xuân, mùa đẹp nhất, là thời điểm giống như một trái chín trải qua thời gian hình thành và phát triển đã đạt đến độ chín mọng. Nó giống như mời mọc, thôi thúc ta dẫn tới hành động “muốn cắn vào ngươi”. Qua bài thơ Vội Vàng, có thể thấy trí tượng tưởng rất táo bạo và mới mẻ của Xuân Diệu. Ông không chỉ sống hết mình với thiên nhiên, ca ngợi thiên nhiên mà còn thông qua nó để đưa ra lời khuyên, lời cảnh tỉnh cho thế hệ trẻ cần phải biết trân trọng tuổi trẻ, trân trọng khi mình còn được tồn tại trên mặt đất này và sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội, sống tận hưởng trọn vẹn những khoảnh khác tươi đẹp của cuộc sống. Bài thơ Vội Vàng của nhà thơ Xuân Diệu mang một màu sắc rất riêng với ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đây là một tác phẩm tiêu biểu của một thi sĩ luôn khát khao giao cảm với đời, một nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Loan Trương
Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu của học sinh giỏi
1,496
Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu Bài làm Nếu như trong thơ Huy Cận đầy những hình ảnh không gian thì trong thơ Xuân Diệu lại là cái vội vàng, giục giã trong nhịp điệu của thời gian, như một đại lượng lăng trụ vừa “thổi tình yêu lên phơi phới”, lại vừa “từng giọt từng giọt” làm mất đi những gì là đẹp nhất mà tạo hoá ban tặng cho con người, “hết ngày hết tháng em ơi ! – kinh hãi không gian quặn tiếng còi”. Bởi thế thời gian là nỗi ám ảnh trong thơ Xuân Diệu. Cảm thức thời gian đã làm Xuân Diệu – một ông hoàng của thơ tình, triết lí về một quan niệm sống, không phải là sống gấp mà đầy giá trị nhân văn, một “thơ tặng bạn bây giờ”, một tình mai sau, một giục giã và ở đây là “Vội vàng”. “Vội vàng” đã gắn liền với triết lý thời gian ấy. Chỉ có điều những câu thơ triết lý này lại được thể hiện bằng một tình yêu cháy bỏng với cuộc đời, bằng sự cảm nhận vô cùng tinh tế, tinh vi của Xuân Diệu. “Vội vàng” đã được mở đầu bằng những câu thơ hết sức cô đọng, hàm xúc như một tuyên ngôn cho khát vọng sống của nhà thơ: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi” Đó là điều khát khao cuồng nhiệt của hồn thơ luôn khao khát sống, sống mãnh liệt từ một tình yêu đến bồng bột đối với thiên nhiên tạo vật cũng như đối với con người. Câu thơ tưởng như hết sức mộc mạc giản dị nhưng sức lay động tâm hồn thật lớn bởi nó khơi dậy tình yêu của tuổi trẻ nói riêng và khát vọng của con người nói chung. Không chỉ điệp từ “tôi muốn” như tiếng nói của mỗi cá nhân vang lên giữa cuộc đời khi mơ ước muôn thủa của con người bật ra thành tiếng, mà còn là sự sử dụng những động từ chỉ hành động mạnh mẽ dứt khoát như “tắt, buộc”. Cái cuồng nhiệt trong tình yêu của con người là ở sự tương phản giữa hành động cụ thể lại hướng tới cái trìu tượng, đó là hành động “tắt nắng, buộc gió”. Khát vọng của con người như muốn “tắt nắng buộc gió” đâu phải bắt nguồn từ sự tham sống mà là ham sống, “ham yêu” để vĩnh viễn hoá tuổi trẻ tình yêu, để mãi mãi tận hưởng hương sắc của thiên nhiên tạo vật của cuộc đời. Và nói như Xuân Diệu là để “màu đừng nhạt mất”, “hương đừng bay đi”. Đó là màu, là hương của thế giới xung quanh mà cũng là của chính mình. Chưa ở đâu trong thơ Xuân Diệu khát vọng đối với tuổi trẻ, tình yêu lại trở thành một tuyên ngôn mãnh liệt đến thế. Con người muốn chế ngự cả thiên nhiên. Những chữ “mất đi” tuy thế vẫn gợi một sự tiếc nuối trong tâm trạng của nhà thơ, những tiếc nuối thổi bùng lên thành trạng thái cảm xúc sôi nổi bồng bột và nhiệt cuồng. “Vội vàng” đã dành một phần hết sức quan trọng, những câu thơ hết sức mới mẻ, tinh tế của Xuân Diệu để dựng lên bức tranh của một cõi vườn trần đầy sức sống của mùa xuân, một thế giới với những tiếng than thầm tiễn biệt để cắt nghĩa bằng niềm xúc động của tâm hồn Xuân Diệu. Ở một cõi vườn trần trong thơ Xuân Diệu như giục giã sự sống của muôn loài. Bằng một sự gắn bó thiết tha với cuộc sống, bằng một khát vọng được hoà nhập với đời trong những tình cảm nồng nàn, sôi nổi nhất, Xuân Diệu đã dựng lên trước mắt người đọc cả một thế giới đầy sức xuân với những giao hoà, giao cảnh, cho nên thế giới ấy tràn đầy hương sắc, tràn đầy âm thanh và ánh sáng, rạo rực những bướm ong say đắm khúc tình si của yến oanh, sự sống dâng đầy lên trong đầu cành ngọn lá. Cả một cõi vườn trần trong sức sống mãnh liệt như đang “bày” ra trước mắt người đọc bởi những chữ “của”, “này đây”, nhà thơ như chào, như mời chân thực nồng nàn và tha thiết. Trong cõi vườn trần ấy cuộc sống là “tuần tháng mật”, là mùa xuân vĩnh viễn của ong bướm, của lá non lộc biếc.Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về vị trí và ý nghĩa của văn hóa đọc trong thời đại nghe nhìn Sức sống từ hồn thơ Xuân Diệu như trào ra từ từng chữ, từng chữ. Nhà thơ đã lấy sự sống của con người, khát vọng của con người làm chuẩn mực cho sự sống của vũ trụ. Cho nên, mùa xuân là “tuần tháng mật” của ong bướm, tiếng hát của yến oanh, là một khúc tình si, ngay cả tia sáng mặt trời buổi sáng cũng trở thành hàng mi người thiếu nữ và mỗi ngày đến với sự đánh thức của thần Vui đối với cuộc sống con người. Ai cũng biết dường như chỉ đến Xuân Diệu, cái đẹp con người mới trở thành chuẩn mực của tạo hoá. Giá trị nhân văn của t/p cũng có thể ở sự đề cao vẻ đẹp ấy của con người. Xuân Diệu đã đem đến cho người đọc một cái nhìn xanh non đối với thế giới xung quanh, đem đến cho con người tình yêu, sự gắn bó đối với cuộc đời. Chính Xuân Diệu cũng từng viết: “Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn Làm dây da quấn quýt cả mình xuân Không muốn đi ở mãi mãi vườn trần Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất”. Hình ảnh một cõi vườn trần như thế chính là sự cắt nghĩa cho quan niệm sống giục giã vội vàng của thi nhân. Lẽ nào trước một cuộc sống xanh tươi mơn mởn đầy màu sắc hương thơm và ánh sáng với những khúc tình si, với “niềm vui” như thế mà con người lại có thể để cho nắng cho gió làm phai nhạt, làm bay đi tất cả sao. Con người cần phải biết tận hưởng vì đó là vẻ đẹp, là sức sống mà tạo hoá đã ban cho. Về phương diện nghệ thuật, có thể thấy Xuân Diệu không chỉ đem đến cho câu thơ của mình những so sánh độc đáo qua các hình ảnh “tuần tháng mật”, “khúc tình si”, “ánh sáng chớp hàng mi” mà còn là những cảm giác hết sức mới lạ, chưa từng thấy trong thơ, như “tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Thời gian như được vật thể hoá vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân có thể cảm nhận bằng vị giác để biết tháng giêng ngon như thế nào. Tuy nhiên, cảm xúc về thời gian đã khiến niềm vui của Xuân Diệu đâu được trọn vẹn. Cho nên, giữa niềm say mê trước một “cặp môi gần” nhà thơ bỗng giật mình thoảng thốt.: “Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa”. Nó nhắc nhở thi nhân cái “phũ phàng” của thời gian. Nhà thơ vội lên tiếng “tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Trong cái giật mình thảng thốt kia Xuân Diệu bỗng nhớ mùa xuân ngay giữa mùa xuân. Câu thơ “tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa” đã như một sự chuyển dòng đột ngột của cảm xúc. Từ niềm vui, niềm sung sướng, niềm hạnh phúc tràn trề trong tâm hồn nhà thơ bỗng trở nên suy tư khi lắng nghe nhịp bước của thời gian. Nỗi buồn chia li mỗi lúc trở nên một sâu sắc trong cõi lòng thi nhân. Cả một đoạn thơ tiếp theo, từ câu thơ “Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua” cho đến câu thơ “mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm” là đoạn thơ hay chính là nhịp điệu của thời gian. Lời thơ hay chính là tiếng thở dài của một linh hồn cô đơn trước những tiếng than thầm tiễn biệt của thiên nhiên tạo vật, của con người đang lan ra “khắp sông núi”. Những câu thơ tràn đầy xúc cảm của một tình yêu mãnh liệt bỗng trở thành những câu thơ đậm một màu sắc triết lý “xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua”, “xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”. Cái bồng bột của một tâm hồn đương thời sôi nổi, của một trái tim vừa độ vang ngân bỗng trở thành những lời lý giải như của một triết gia. Những chữ “nghĩa là” như xoáy vào suy tưởng của nhà thơ một niềm tiếc nhớ. Những cặp từ “tới – qua”, “non – già” tiếp nối nhau có tác dụng tương phản ấy đã tạo nên ấn tượng về sự chuyển biến của thiên nhiên taọ vật trên dòng thời gian. Đó là sự tương phản bật ra trên dòng thời gian. Đó là sự tương phản bật ra từ những nhận thức sâu sắc về một hiện thực không thể phủ định. Vì thế sau những thức nhận ấy là một tiếng thơ mang nặng nỗi buồn “mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”, nhà thơ không chỉ buồn, không chỉ nhớ tiếc mà còn oán trách cái nghiệt ngã của tạo hoá:Xem thêm: Văn nghị luận: Bình luận về tinh thần lạc quan “Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian” Từ oán trách đến đay nghiến cả tạo hoá lẫn cuộc đời: “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”. Những câu thơ triết luận như thế vẫn ẩn chứa trong đó biết bao cảm xúc của nhà thơ. Xuân Diệu triết lí một cách hết sức biện chứng nhưng cũng triết lý một cách hết sức tình cảm. Đằng sau triết lý về thời gian là cả một nỗi buồn muôn thủa của con người, cái buồn từ sự hữu hạn của con người trên dòng vô hạn vô thuỷ vô chung, nhà thơ đang sống vì tiếc thời gian làm cho phai tàn tất cả. Khi “cái bay không đợi cái trôi” thì “còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi” cho nên Xuân Diệu buồn, Xuân Diệu cần phải sống vội vàng và gửi đến người đọc cái thông điệp về một quan niệm sống như vậy. Từ cái nhìn đối với cuộc sống của con người, Xuân Diệu muốn chứng minh đâu chỉ có con người mới buồn trước những li biệt bởi thời gian. Xuân Diệu với những câu thơ tinh tế của mình đã làm hiện ra cả một thế giới đang ngập trong nỗi buồn chia li ấy. Người ta có thể nếm được vị chia phôi trên dòng thời gian ấy, người ta có thể lắng nghe được trước cái im lặng của thiên nhiên tạo vật, nỗi sợ hãi của muôn loài trước cảnh vật biệt li của thời gian. Cơn gió, tiếng chim hót đều như muốn ngừng lại, bặt đi khi nhận ra thời gian đang trôi. Xuân Diệu đã mô tả trạng thái ấy của thiên nhiên tạo vật và những cảm xúc mới, những lời thơ rất lạ. Trước một câu thơ có thể diễn tả những trạng thái, những cảm xúc của những giác quan khác nhau trước cùng một đối tượng. Thời gian vốn là cái vô hình mà Xuân Diệu có thể nhận biết được mùi thời gian, có thể thấy được vị chia phôi lại có thể thấy được cả nỗi đau vật chất như một vết cứa trên da thịt, trên một chữ “rớm”. Ngọn gió cũng được vật thể hoá thành cơn gió xinh. Tiếng gió được nhân hoá thành những lời tâm tình qua hai chữ “thì thào”, thậm chí cả tiếng chim hót cũng đã được tâm trạng hoá để mang nỗi niềm của con người. Đâu phải ngẫu nhiên người ta coi Xuân Diệu là “mới nhất trong những nhà thơ mới”. Xuân Diệu tạo ra cả một thế giới ngôn ngữ rất có hồn. Mỗi chữ đều như gieo vào lòng người cái hơi thở rạo rực ngay cả trong trạng thái buồn thương từ trái tim nhà thơ hay nói một cách khác mỗi chữ đều mang nhịp đập của trái tim.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay nhất Trước những nhận thức về sự li biệt của tất cả thế giới trên dòng thời gian, buồn đấy thương đấy nhưng Xuân Diệu không đầu hàng thời gian. Những câu thơ đầy giục giã đã làm cho hơi thở như bừng lên. Đã hơn một lần Xuân Diệu từng viết những chữ “mau với chứ vội vàng lên chứ” để bây giờ ở đây ta lại thấy cái giục giã ấy “mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”. Đó là sự giục giã của sự sống, của tình yêu một sự giục giã để con người có thể tận hưởng tuổi trẻ của mình. Hai đoạn thơ là thế giới tương phản lẫn nhau: một thế giới tràn đầy niềm vui niềm giao cảm của một cõi vườn trần và một thế giới đầy những chia li với những tiếng thở dài, những lời oán trách. Nhưng đó lại là chính lời cắt nghĩa lý giải về quan niệm sống của nhà thơ. “Vội vàng” của Xuân Diệu sau những câu thơ đầy màu sắc để lý giải cho quan niệm sống đầy tinh thần nhân văn của mình là những dòng thơ hết sức sôi nổi thể hiện một trạng thái cảm xúc mãnh liệt, những câu thơ đúng với XUÂN DIệU từng nói “đấy là mùa xuân của tôi mà cũng là sự sống của tôi nữa… Tôi tặng cho những người trẻ tuổi nhất là trẻ lòng”. Đó là những câu thơ thể hiện những khát vọng đến cháy bỏng của một niềm ham sống. Nếu như mở đầu bài thơ t/g khiêm tốn thể hiện cái mong muốn của mình trong một chữ “tôi” thì ở đây cái “tôi” ấy đã được khẳng định cái ta khi nhà thơ viết “ta muốn”. Hai chữ “ta muốn” như một điệp khúc vang lên mạnh mẽ cái khát vọng sống của con người. Cái khát vọng sống ấy là khát vọng tận hưởng tất cả những gì đẹp nhất thiên nhiên ban cho. Đó là “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, là đất trời rộng lớn với “mây đưa và gió lượn”, là vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật như cánh bướm, như tình yêu và cả non nước, cả cây và cỏ dại, là men say và là cả mùa xuân… Ngỡ như Xuân Diệu ham sống là để thoả mãn cái “tôi” cá nhân của mình mà thực ra là một tình yêu lớn đối với cuộc đời, với cả vũ trụ bao la cả đất trời tươi đẹp, cả non nước và ánh sáng… Sự nồng nhiệt đến vô cùng của niềm khát khao ấy lại được thể hiện bằng những từ như “chếch choáng”, “đã đầy” và đặc biệt là hệ thống động từ biểu cảm nối tiếp nhau: ôm, riết, say, thâu, hôn để rồi cuối cùng là một động từ biểu hiện niềm khát khao mãnh liệt nhất trong tận hưởng cái đẹp của cuộc đời đó là động từ “ cắn ” trong câu thơ: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” Đó là niềm khát vọng hoà hợp giao cảm đến tột cùng của Xuân Diệu đối với cuộc đời. Sử dụng động từ này ta thấy mạch cảm xúc của Xuân Diệu là nhất quán. Bởi Xuân Diệu đã từng nói với mùa xuân, nói với tháng giêng ngon như một cặp môi gần thì cái lẽ tất yếu ở đây là một cảm xúc như vậy.
Phân tích bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu(1)
2,682
Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu Bài làm “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thư rộng lớn như Thế Lữ. mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng trúng như Huy Thông, trong sáng như Nquyền Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…. và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” (Thi nhân Việt Nam). Khi đọc những câu văn này ta sẽ không hiểu tại sao Xuân Diệu lại được ưu ái như vậy. Giờ thì đã rõ! Đơn giản chỉ vì ông là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới’’. Xuân Diệu đã thể hiện đầy đủ nhất ý thức cá nhân của cái tôi mới và cũng mang đậm bản sắc riêng. Trong số những bài thơ của ông, chúng ta không thể không nhắc đến Vội Vàng. Bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi Xuân Diệu, in dấu khá đậm cho hồn thơ yêu đời, ham sống, “thiết tha, rạo rực, băn khoăn”. Và quan trọng hơn thế nữa, qua Vội vàng chúng ta nhận ra một quan niệm sống rất mới mẻ – bức thông điệp mà nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc. Vội vàng? Cái tên đã rất Xuân Diệu! Đây là một triết lí sống và cũng là tâm thế sống của nhà thơ: sống nhanh chóng, khẩn trương, mở rộng lòng mình đế ôm ghì, thâu tóm tất cả. Đã hơn một lần ta bắt gặp Xuân Diệu hối hả, cuống quýt, giục giã: Mau với chứ, vội vàng lên chứ Em, em ơi, tình non sắp già rồi! Thời gian, mùa xuân, tình yêu tuổi trẻ luôn thường trực, trở đi trở lại trong nhiều trang thơ của Xuân Diệu. Ở Vội vàng ông đã nhận ra một thiên đường ngay trên mặt đất, nhà thơ yêu cuộc sống trần thế xung quanh và tìm thấy trong cuộc sống đó biết bao điều hấp dẫn, đáng sống và biết tận hưởng những gì mà cuộc sống ban tặng. Đây là một quan niệm sống rất người, mang ý nghĩa tích cực và có giá trị nhân văn sâu sắc. Nhà thơ muốn nhắn nhủ đến người đọc hãy sống hết mình khi đang còn trẻ tuổi, đừng để thời gian trôi đi phí hoài. Hãy sống gấp gáp để tận hưởng cuộc sống tươi đẹp. Hãy luôn giữ cho mình mùa xuân tình yêu của tuổi trẻ.Xem thêm: Nói về nơi em ở, một xóm bờ sông/ bờ kênhThà một phút huy hoàng rồi vụt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm. Bức thông điệp mà Xuân Diệu gửi đến cho người đọc được triển khai qua từng phần của bài thơ, theo mạch cảm xúc trong tâm hồn thi sĩ. Ngay từ đầu chúng ta đã bắt gặp một thái độ sống rất ngông, rất lạ: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Ý tưởng tắt nắng, buộc gió quả thật táo bạo, độc đáo mà chỉ Xuân Diệu mới nghĩ ra, xuất phát từ lòng yêu cuộc sống, thèm sống. Xuân Diệu muốn tắt, buộc nắng và gió cũng là để giữ lại cái đẹp, cái tươi thắm của sự vật, của màu, của hương. Xuân Diệu muốn thời gian là tĩnh tại mặc dù ông không nhìn đời với con mắt tĩnh. Cái vô lí đó chính là sự khao khát đến vô biên và tột cùng. Nhà thơ muốn níu giữ thời gian, cuộc sống ấy cho riêng mình. Mọi chuyện đều có nguyên do của nó! Xuân Diệu thiết tha với cuộc sống như thế bởi ông đã tìm ra một thiên đường trên mặt đất. Cuộc sống đẹp nhất của cuộc sống trần thế. Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới (Thi nhân Việt Nam). Cuộc sống xung quanh ta đẹp nhất, vậy thì dại gì mà không hưởng. Nhà thơ nhìn mùa xuân với tất cả sự say mê, cuồng nhiệt vồ vập: Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây là cửa cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si. Vày đây… Này đây…Này đây… Tất cả như đang phơi bày ra trước mắt nhà thơ Bức tranh thiên nhiên đang độ viên mãn, tràn đầy, chứa chan xuân tình, vừa gần gũi thân quen lại vừa mượt mà đầy sức sống. Xuân Diệu như vồ vập. Ngấu nghiến, thâu tóm tất cả. Nhà thơ như con ong hút mật lạc vào vườn hoa đầy hương sắc. Với ông cái gì cũng hấp dẫn mới lạ. Và bằng cặp mắt xanh non của cái tôi cá nhân Xuân Diệu còn phát hiện ra thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất vẫn là vì có con người. Con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Nhà thơ lấy con người làm thước đo của cái đẹp. Cuộc sống trần thế đẹp nhất vào lúc xuân. Và con người chỉ tận hưởng được lúc đang còn trẻ. Song tuổi trẻ thì tàn phai theo thời gian, vì thế mà ông phải sống vội vàng, gấp gáp.Xem thêm: Phân tích và bình luận về vẻ đẹp tâm hồn của hai nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục trong truyện Chữ người tử tù của Nguyễn TuânTôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. Nhà thơ tận hưởng cuộc sống một cách gấp gáp, vồ vập bởi một phút giây ra đi vĩnh viễn không trở lại. Mất mát sẽ đến nếu ta không chớp thời cơ. Có lẽ thế mà Xuân Diệu không chờ mùa hạ đến mới nhớ xuân mà ôm riết mùa xuân lúc tràn đầy, tươi non. Ham sống, khát sống, Xuân Diệu càng băn khoăn hơn trước cuộc đời, thời gian. Ông đã nhận ra quy luật tuyến tính của thời gian, chống lại quy luật tuần hoàn của các cụ ngày xưa. Mỗi phút giây qua đi sẽ không bao giờ trở lại, tuổi trẻ cũng chỉ đến một lần. Nhà thơ mở lòng ra để yêu đời, yêu cuộc sống nhưng không được đời bù đắp, vì thế mà ông băn khoăn buồn chán cho thân phận của mình. Cảnh vật thiên nhiên giờ đây cũng mang đầy tâm trạng buồn bã, băn khoăn, lo sợ.. Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Cơn gió xinh thì thào trong lác biếc Phải chăng sợ đổ tàn phai sắp sửa? Nhận thức ra quy luật của thời gian, khát khao sống đến mãnh liệt. Xuân Diệu đã ôm ghì lấy cuộc sống, tận hưởng cuộc sống để không phí hoài đi thời gian, tuổi trẻ. Tình yêu cuộc sống lại bùng lên cuồng nhiệt hối hả. Ta muốm ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn biết mây đưa và gió lượn Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Hỡi xuân hồngg, ta muốn cắn vào người. Lòng yêu đời tràn lên như một cao trào tình cảm. Hình ảnh thơ tươi mới, sức sống. Và có lẽ tình yêu cuộc sống của nhà thơ tăng dần theo từng từ muốn ôm đến riết là đã ghì chặt hơn. Và đã say – sự ngây ngất đến bất tỉnh vẫn chưa thỏa lòng – còn muốn thâu nghĩa là muốn thu hết tất cả để có sự hòa nhập một. Và cuối cùng là tiếng kêu của sự cuồng nhiệt chưa bao giờ có trong thơ:Xem thêm: Thuyết minh về cây bút biHỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi. Hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ đã bộc lộ rõ lòng yêu đời cuồng nhiệt khiến nhà thơ phải hối hả, vội vàng đến với cuộc sống. Bài thơ là một quan niệm sống mới mẻ và táo bạo mà trước đó chưa từng có . Lối sống ở đây biết hưởng thụ một cách chính đáng, biết khẩn trương sống cho ra sống. Tuy nhiên ở Vội vàng, tác giả chỉ đề cập đến lối sống thiên về hưởng thụ chạy theo thời gian. Ông kêu gọi mọi người hãy biết yêu và tận hưởng những thứ cuộc sống ban tặng, hãy tranh thủ thời gian, tuổi trẻ để sống đủ đầy nhất. Ông đã quên đi nghĩa vụ kêu mọi người phải cống hiến cho cuộc đời. Và trong cuộc đời nhà ông, ông vội vàng cống hiến chứ không phải vội vàng hưởng thụ. Đọc thơ Xuân Diệu, đặc biệt là qua bài thơ Vội vàng, ta càng thêm yêu cuộc sống hôm nay và càng góp phần làm cho cuộc sống đó thêm tươi đẹp, không chỉ vì cuộc sống hôm nay đã đổi mới, đã đẹp hơn nhiều lần so với cuộc sông ngày xưa của Xuân Diệu mà chủ yếu là không còn những bi kịch để thành những băn khoăn trước cuộc đời. Bức thông điệp nhà thơ gửi đến người đọc vẫn cònnguyên giá trị, được bồi đắp thêm qua thời gian và trường tồn vĩnh cửu. Hãy sống hết mình, cống hiến tuổi trẻ cho Tổ quốc nhân dân, đừng phí hoài thời gian, hãy mở rộng lòng mình để đón nhận tất cả những vang động của cuộc đời. Đó là những gì mà Xuân Diệu còn giữ lại, nhắn gửi đến với người đọc của mình bức thông điệp xuyên qua thời gian, không gian, ngự trị muôn đời trong tâm hồn con người Việt Nam.
Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
1,624
Nội dung bài thơ Vội vàng nói về quan điểm sống của Xuân Diệu. Thi sĩ đã cảm nhận được cái đẹp của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân tuổi trẻ vì vậy mà ông muốn vội vàng để được tận hưởng hết vẻ đẹp của cuộc đời. Để giúp các em có thể hiểu rõ hơn đoạn 2 của bài thơ Vội vàng, Kho tàng văn học sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 2 và bài văn tham khảo. I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 2 1. Mở bài – Giới thiệu tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng. – Giới thiệu về đoạn 2 của bài thơ. 2. Thân bài phân tích bài thơ Vội vàng a. 7 câu đầu: bức tranh thiên nhiên mùa xuân – Mùa xuân hiện lên như một bức tranh tươi sáng, nhiều màu sắc, thanh âm. – Sự say mê thiên nhiên và khát khao được giao hòa với cuộc sống của tác giả. b. 2 câu sau: tâm trạng của nhà thơ – Sung sướng nhưng vội vàng, nhà thơ muốn tranh thủ thời gian tận hưởng cuộc sống. 3. Kết luận – Khái quát nội dung đoạn 2 và nên cảm nhận của em về đoạn thơ này. Bài viết liên quan: >> Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (Có dàn ý chi tiết) Xem thêm: Ý nghĩa hình ảnh chuyến tàu đêm qua truyện ngắn Hai đứa trẻ II. Bài làm phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 2 Nhà thơ Xuân Diệu là cái tên đã quen thuộc với con người Việt Nam thông qua các bài thơ tình nổi tiếng. Ông là người có quan điểm sống khá vội vàng bởi vì ông cảm nhận được thời gian đang trôi qua rất nhanh mà thời gian của đời người lại có có nhiều. Chính vì vậy, ông khao khát được sống và tận hưởng hết những vẻ đẹp của đất trời. Bài thơ Vội vàng là tác phẩm thể hiện rõ nhất quan điểm sống của nhà thơ. Trong đó, đoạn thơ thứ hai chỉ ra cho người đọc thấy được cái đẹp của thiên nhiên và lý giải vì sao nhà thơ lại có quản điểm sống như vậy. Những ham muốn của nhà thơ ở trong đoạn thơ đầu tiên là hoàn toàn có cở sở bởi vì khung cảnh thiên nhiên thực sự rất đẹp. Nhà thơ không để cho màu nhạt mất, không nỡ để cho hương bay đi. Miêu tả khung cảnh mùa xuân, Xuân Diệu như vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp với đủ các sắc màu rực rỡ nhất, tươi sáng nhất, hình ảnh vì thế trở nên sinh động, thậm chí còn có cả thanh âm của tiếng chim trong đó: Của ong bướm này đây tuần trăng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Phân tích bài thơ Vội vàng Đó là một bức tranh thiên nhiên vào mùa xuân mà trong đó mọi thứ đều ngọt ngào và tươi đẹp. Nó hiện lên tràn đầy sức sống, ngập tràn ánh sáng niềm vui. Đây không đơn giản là một bức tranh tĩnh mà nó là một bức tranh động. Trong bức anh ấy, âm thanh của tiếng chim đã làm cho khung cảnh trở nên thật rộn ràng. Tiếng chim như mời gọi con người, nào hãy tới đây và tận hưởng vẻ đẹp của chúng tôi. Thế gian này là của bạn, mùa xuân này là của bạn, còn gì mà chần chừ? Thiên nhiên tươi đẹp quá, nó khiến cho nhà thơ cảm thấy yêu đời hơn, yêu người hơn. Vì vậy, mỗi sáng tỉnh giấc, nhà thơ cảm tưởng như có một vị thần gõ cửa và chỉ cần mở tung cánh cửa kia ra thôi là niềm vui sẽ tới ngập tràn không gian.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương Câu thơ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần được đánh giá là câu thơ hay nhất của đoạn thơ này. Ở đây, nhà thơ đã lấy vẻ đẹp của con người làm thước đo chuẩn mực cho vẻ đẹp của thiên nhiên. Cặp môi gần gợi lên cho người đọc hình ảnh đôi lứa đang yêu nhau. Còn gì ngọt ngào hơn nụ hôn của tình yêu đôi lứa. Xuân Diệu quả không hổ danh là ông hoàng của thơ tình. Thiên nhiên và cảnh sắc qua ngòi bút của ông trở nên ngọt ngào, đằm thắm khiến ai đọc cũng dấy lên trong lòng mình nỗi niềm khao khát được hòa vào với thiên nhiên, đất trời. Sang đến hai câu thơ cuối đoạn, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng của mình. Đó là một tâm trạng vừa sung sướng nhưng cũng đầy vội vàng: Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hồi xuân Thoạt tiên có vẻ như tâm trạng của nhà thơ hơi mâu thuẫn nhưng thực chất tâm trạng ấy lại có sự thống nhất. Nhà thơ sung sướng vì đang được sống trong khung cảnh mùa xuân thơ mộng nhưng ông hiểu rằng mùa xuân ấy sẽ nhanh chóng qua đi. Chính bởi vậy nên nhà thơ mới vội vàng tận hưởng mùa xuân ngay từ khi mùa xuân mới bắt đầu chứ không chờ đến khi mùa xuân qua rồi mới thấy tiếc nuối.Xem thêm: Bàn về sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Nhìn một... trần thế nhất". Thông qua việc phân tích một số bài thơ của Xuân Diệu viết trước cách mạng, anh (chị) hãy chứng minh nhận định trên Cả đoạn thơ được viết với một nhịp thơ rất nhanh, thể hiện lối sống vội vàng, gấp gáp của tác giả. Câu thơ kéo dài và mở rộng giúp tác giả vẽ nên một bức tranh cuộc sống đầy tươi đẹp. Trên đây chúng ta đã cùng lập dàn ý phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 2. Kết hợp dàn ý và bài làm trên, hy vọng rằng các em đã có được thêm một kiến thức thú vị và bổ ích. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 2 của Xuân Diệu (Có dàn ý chi tiết)
1,096
Đề bài: Phân tích bài thơ Xuất Dương lưu biệt của Phan Bội Châu Phan Bội Châu (1867 – 1940) là cái tên đẹp một thời. Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào vận động giải phóng Tổ quốc khoảng 25 năm đầu thế kỷ XX. Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy Tân, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội…Tên tuổi Phan Bội Châu còn gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tinh thần yêu nước. Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng (Tố Hữu). Năm 1900, Phan Bội Châu đậu giải nguyên khoa thi Hương Trường Nghệ. Năm 1904, ông sáng lập ra Hội Duy Tân, một tổ chức yêu nước. Năm 1905, ông dấy lên phong trào Đông Du. Trước lúc lên đường Đông Du, qua Trung Hoa, Nhật Bản để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông đã để lại cho các đồng chí bài thơ Xuất dương lưu biệt. Có thể nói, bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ văn Phan Bội Châu. Xuất dương lưu biệt được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc tráng ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ý nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. Hai câu đề tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: Sinh nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển đi. Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên điều lạ (tử yếu hi kì). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường, không thể sống một cách thụ động để cho trời đất (càn khôn) tự chuyển dời một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế rất đẹp về chí nam nhi, tự tin ở đức độ, tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyển đất trời, như ông đã nói trong một bài thơ khác: Dang tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu ta mới cảm nhận được cái khẩu khí anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muồn làm nên điều lạ ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm như trong một vần thơ cổ: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương. (Tùy biên thi thoại – Viên Mai) (Bữa bữa những mong ghi sử sách, Lập thân xoáng nhất ấy văn chương) Đấng nam nhi muốn làm nên điều lạ ở trên đời ấy có một bầu máu nóng sôi sục: Tôi được trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt dầm đìa rỏ xuống ướt đẫm cả giấy…(Ngục trung thư) Phần thực ý thơ được mở rộng, tác giả tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy. Ngã là ta; tu hữu ngã nghĩa là phải có ta trong cuộc đời một trăm năm (bách niên trung). Câu thơ khẳng định biểu lộ niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ yêu nước trong cảnh nước mất nhà tan. Thiên tải hậu là nghìn năm sau, là lịch sử của đất nước và dân tộc há lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định. Đó là ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ý tưởng đẹp này là sự kế thừa những tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử: Xem thêm: Thời trang nói gì? (đề mở)-…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội có, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng (Trần Quốc Tuấn). – Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (Văn Thiên Tường) Lấy cái hữu hạn bách niên của một đời người đối với cái vô hạn thiên tải của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng biểu lộ quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và nguy hiểm, ông vẫn bất khuất, lạc quan: Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu! (Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông) Phần luận, tác giả nói về sự sống và cái chết, nói về đường công danh. Đây là một ý tưởng rất mới khi ta soi vào lịch sử dân tộc những năm dài đen tối dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi non sông đã chết, đã bị ngoại bang xâm chiếm, giày xéo thì thân phận dân ta chỉ là kiếp trâu ngựa, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nấu sử sôi kinh, có chúi đầu vào còn đường kinh sử cũng vô nghĩa. Sách vở của Thánh hiền liệu có ích gì trong sự nghiệp cứu nước cứu nhà: Non sông đã chết sống thêm nhục, Thánh hiền còn đâu học cũng hoài Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành. Ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phải hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong Bài ca chúc tết thanh niên viết vào dịp Tết năm 1927, cụ thiết tha kêu gọi thanh niên: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn Dụng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ… Sống như thế nào là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên điều lạ ở trên đời, mới tự khẳng định được: Trong khoảng trăm năm cần có tớ. Phần kết là sự kết tinh của một hồn thơ bay bổng đượm sắc màu lãng mạn: Nguyên trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước, kêu gọi lòng căm thù giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bài ca ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết này là một ví dụ: Trường phong – ngọn gió dài, Thiêu trùng bạch lãng – ngàn lớp sóng bạc, là hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sỹ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ: Nguyện trục (mong theo đuổi) và nhất tề phi (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là Đông hải. Nếu hai thanh trắc cuối câu 7 (Đông Hải khứ) làm cho âm điệu thắt lại, nén lại thì hai thanh bằng cuối câu 8 (nhất tề phi) lại làm cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng trầm bổng ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước cùa Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đấu và khẩu khí cùa người chiến sĩ có sự hòa hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều tiên sinh đã nói ở hai câu kết. Xuất dương lưu biệt là bai thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc hào hùng, tráng lệ nhất là ở hai câu kết. Bài thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vĩ đại Phan Bội Châu. Nguồn Edufly Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước qua hai tác phẩm "Sài Gòn tôi yêu" (Minh Hương) và "Mùa xuân của tôi" (Vũ Bằng)
Phân tích bài thơ Xuất Dương lưu biệt của Phan Bội Châu
1,503
Phân tích bài thơ Xúc cảnh (Ngóng gió đông) của Nguyễn Đình Chiểu: “Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông… Một trận mưa nhuần rửa núi sông” Gợi ý Ngay từ khi có "tiếng súng Tây" trên đất nước ta, Nguyễn Đình Chiểu đã giương cao lá cờ yêu nước chống Pháp bằng những tác phẩm thơ ca của mình. Nam Bộ dần dần nằm trong tay giặc bởi triều đình nhà Nguyễn hèn nhát. Sống trong vòng kìm kẹp của chế độ thực dân, tấm lòng nhà thơ khác khoải đau buồn nhưng vẵn ngóng trống và hy vọng vào ngày mai, vào một vận hội mới làm thay đổi sơn hà. Bài thơ Xúc cảnh là tiếng vọng cùa tấm lòng nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đối với đất nước: Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông Chúa xuân đâu hỡi có hay không? Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng. Bờ cõi nay đà chia đất khác Nắng mưa nay hả đội trời chung. Chừng nào thảnh đế ân soi thấu Một trận mưa nhuần rửa núi sông. Bài thơ làm theo thể thất ngôn bát cú, một thể thơ Đường luật quen thuộc. Đề tài là Ngóng gió đông, trông ngóng gió của mùa xuân mát lành, nhưng thực ra là kí thác tâm trạng và nỗi khát vọng của nhà thơ đối với vận hội đất nước. Sáu câu đầu (đề, thực, luận) miêu tả cảnh ngóng đợi gió đông của đất trời, cây cỏ mà thực ra là để nói lên tâm trạng khắc khoải, bộc lộ một nỗi buồn da diết về cành nước mất, nhà tan:Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: “Ta về mình có nhớ ta...Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”"Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông Chúa xuân đâu hỡi có hay không?" Hai chữ "ngùi ngùi" thế hiện rõ tâm trạng buồn bã của hoa cỏ đang ngóng đợi gió xuân. Tiếp theo sau là một câu hỏi, như một tiêng kêu đau đớn, xót xa, làm tăng thêm, tô đậm thêm tâm trạng buồn bã, ngóng đợi ở trên. Hai câu đề viết theo kiểu ẩn dụ. Nói "hoa cỏ" nhưng là để nói quê hương, đất nước, sông núi, cũng là để nói nhân dân, đất nước. Còn "chúa xuân" thì hàm nghĩa triều đình, nhà vua, cũng có thể là những trang anh hùng cứu nước. "Chúa xuân" ở đâu, có nghe không tiếng gọi của non sông, cây cỏ đang "ngùi ngùi" ngóng đợi cơn gió mùa xuân mát lành? Có một cái gì vừa thiết tha, vừa buốn bã, đớn đau "Mây giăng ài Bắc trông tin nhạn Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng" Vẫn theo cách nói ẩn dụ, những hỉnh ảnh "mây giăng ải Bắc", "Ngày xế non Nam" là để chỉ tình cảnh đất nước tiêu điều, mù mịt vì sự ngóng trông vô vọng tin tức của chúa xuân, của gió đông. Người xưa dùng chim nhạn và chim hồng để đưa tin. "Trông tin nhạn" mà chẳng thấy và "bặt tiếng hồng" cũng có nghĩa là bặt vô âm tín. Hai câu thơ (thực) thể hiện sự chán ngán, trách móc thái độ hờ hừng, vô trách nhiệm của chúa xuân:Xem thêm: Tả cảnh buổi lễ chào cờ"Bờ cõi xưa đà chia đất khác Nắng sương nay há đội trời chung" Hai câu luận đưa ta trở về với hiện thực đau đớn của đẩt nước hồi đó. Lời thơ có giọng oán trách và căm giận. "Bờ cõi xưa" vốn là giang sơn đất nước trọn vẹn của ta, sao giờ chia cho kẻ khác, chẳng lẽ có thể sống chung với quân giặc sao? "Há đội trời chung" thể hiện giọng điệu bất bình, thái độ dứt khoát, quyết liệt với kẻ thù. Hai câu kết: "Chừng nào thánh đế ăn soi thấu Một trận mưa nhuần rửa núi sông". Nếu mở đầu bài thơ tác già dùng ngôn ngữ ẩn dụ: ”chúa xuân" "gió đông" thì đến đây ông thấy cần trực tiếp gọi tên đổi tượng: đó là "Thảnh đế". Bao giờ mới xuất hiện vị vua sáng suốt, vị hoàng đế anh minh hiểu thấu dân tình, ra tay cứu dân, cứu nước, rửa nhục cho non sông này. Lời ước vọng cũng là lời kêu gọi tha thiết xuất phát từ lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Đình Chiểu – hãy "soi thấu” tình cảnh của dân, hãy hiểu thấu lòng dân khát khao mong đợi. Bài thơ kết thúc bằng một viễn cảnh thật hả lòng hả dạ. Người xưa thường nói: "ơn vua như mưa móc", ở đây tác già khao khát một trận mưa lớn tốt lành dể có thể cuốn phăng đi tất cả bọn cướp nước và mọi rác rưởi đang làm nhơ bẩn nước non này.Xem thêm: Đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết rất cao tay: vừa khéo léo, vừa kiên quyết, lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. Hãy phân tích để làm sáng tỏ điều đó Bài thơ có hai lớp nghĩa đan xen nhau, rõ ràng mà sâu kín. Bề nổi dễ thấy của bài thơ là cảnh một con người đang buồn bã, ngóng đợi "gió đông", ao ước một "trộn mưa nhuần"… Nhưng ai đọc cũng thấy, cái bề nồi ấy cứ chìm đi, để cho phần chìm lại hiện lên ngày một rõ. Đó là sự khao khát, mong đợi một ngày mai tổt lành sẽ tới. Càng nghĩ càng thấy trân trọng biết bao tấm lòng của nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Xúc cảnh (Ngóng gió đông) của Nguyễn Đình Chiểu_ “Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông… Một trận mưa nhuần rửa núi sông”
940
Bài thơ Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy có nội dung khá giản dị. Nó khiến cho người đọc phải suy ngẫm về nguồn cội. Liệu rằng chúng ta có lãng quên một điều gì đó trong cuộc sống của mình như nhà thơ Nguyễn Duy đã lãng quên ánh trăng sáng năm nào? Bài viết này sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Ánh trăng, đồng thời cung cấp bài văn mẫu cho các em có thêm một tài liệu tham khảo bổ ích. I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Ánh trăng 1. Mở bài – Giới thiệu về tác giả Nguyễn Duy và bài thơ Ánh trăng. – Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ Ánh trắng có nội dung gần gũi, giản dị nhưng chứa đựng nhiều giá trị nhân văn. 2. Thân bài phân tích bài thơ Ánh trăng Vầng trăng trong quá khứ – Kỉ niệm của nhà thơ với ánh trăng khi còn nhỏ – Kỉ niệm về trăng hồi còn chiến tranh. – Trăng như người bạn, người tri kỉ của tác giả. Vầng trăng của hiện tại – Như một người xa lạ, một người dưng qua đường. – Không quen biết, chưa gặp. – Con người đã lãng quên đi vầng trăng tình nghĩa năm nào. Cảm xúc của tác giả về trăng với con người – Thể hiện tâm trạng buồn tủi – Nỗi nhớ về ánh trăng xưa – Tình cảm thay đổi theo hoàn cảnh sống. – Những cảm nhận về một quá khứ đẹp, một kỉ niệm đẹp với ánh trăng. 3. Kết luận Nêu tổng quan lại nội dung bài thơ và nêu cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng. Bài viết liên quan >> Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết) Xem thêm: Giới thiệu sơ lược về Lỗ Tấn và truyện ngắn Thuốc >> Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải (Có dàn ý chi tiết) II. Bài văn phân tích bài thơ Ánh trăng Là một trong những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy được biết đến với nhiều bài thơ hay, nhẹ nhàng, giàu cảm xúc chẳng hạn như Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam,… Một trong những bài thờ được nhiều người chú ý đó chính là bài thơ Ánh trăng. Bài thơ đã thể hiện được sự tài hoa của ông và thể hiện rõ chất suy tư trong thơ của Nguyễn Duy. Bài thơ Ánh trăng được nhà thơ Nguyễn Duy viết năm 1978. Một lý do khiến bài thơ này được yêu thích là bởi nội dung bài thơ chứa đựng những tình cảm chân thành, mới lạ nhưng vô cùng sâu sắc. Ở hai khổ thơ đầu tiên, nhà thơ đã nhắc đến những kỉ niệm đẹp của tuổi thơ nơi quê nhà: Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ Phân tích bài thơ Ánh trăng Từ những ngày còn ấu thơ, vầng trăng đã gắn bó với tác giả. Nói đến trăng là nói đến dòng sông, đồng ruộng, biển cả. Vậy cho nên dù có đi đến nơi đâu thì vầng trăng vẫn cứ gắn bó với con người. Con người đi một bước, vầng trăng cũng đi theo một bước. Vốn dĩ ban đầu trăng là bạn, tới khi nhà thơ đi lính, tham gia vào chiến trường gian khổ và ác liệt, vầng trăng mới trở thành tri kỉ đối với nhà thơ. Lúc này đối với nhà thơ, trăng trở thành người bạn không thể thiếu. Trăng cùng với nhà thơ chia sẻ những ngọt bùi, cùng nhà thơ vượt qua những khó khăn trong cuộc đời người lính. Cũng chính vì thế mà nhà thơ hiểu vầng trăng hơn. Nhà thơ miêu tả về vẻ đẹp của ánh trăng với một cảm xúc trẻ trung, tươi mới:Xem thêm: Thay mặt tập thể lớp viết thư (điện) gửi tới bạn cũ nhân dịp bạn đoạt Huy chương Vàng môn Nhảy cao trong Hội khoẻ Phù Đổng Trần trụi với thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa Vẻ đẹp của trăng là một vẻ đẹp bình dị, chẳng cần khoác lên mình bất cứ thứ gì, trăng vẫn đẹp một cách vô tư và hồn nhiên. Cũng chính vì tượng trưng cho vẻ đẹp hồn nhiên nên trăng hòa mình vào thiên nhiên cỏ cây. Trăng đẹp như vậy, gần gũi như vậy trăng lại còn từng đồng cam cộng khổ với mình nên nhà thơ ngỡ rằng sẽ chẳng bao giờ có thể quên được vầng trăng tình nghĩa ấy. Nhưng đó là nhà thơ nghĩ vậy còn thực tế cho thấy nhà thơ đã có lúc lãng quên vầng trăng: Từ hồi về thành phố Quen ánh điện cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường Nếu như ở tuổi thơ của mình tác giả sống gần gũi với thiên nhiên, với sông, với bể, với rừng thì giờ đây môi trường sống của nhà thơ đã thay đổi rồi. Ông sống ở thành phố, nơi có những ánh đèn chiếu sáng được mọi ngõ ngách, mọi không gian. Chính vì ánh sáng của đèn điện, của cửa gương mà người ta không còn nhớ đến ánh sáng của vầng trăng nữa. Dần dần, vầng trăng tình nghĩa ngày nào bị đẩy lùi vào quên lãng. Vầng trăng tượng trưng cho kỉ niệm, cho kí ức về những năm tháng đấu tranh gian khổ, cho những người bạn của tuổi thơ, cho những người đồng đội đã từng cùng nhau vào sinh ra tử. Vậy mà giờ đây, trăng trở thành người dưng qua đường. Khi cuộc sống thay đổi, nó kéo theo sự thay đổi trong suy nghĩ của con người. Vầng trăng có lẽ sẽ cứ trôi vào trong dĩ vãng như vậy nếu như không có chuyện thành phố bị mất điện:Xem thêm: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) Phòng buyn đinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn Trong khoảnh khắc đèn điện vụt tắt ấy, ánh sáng của vầng trăng hiện lên thật bất ngờ. Dường như cùng với ánh trăng, mọi kí ức năm xưa ùa về trong lòng tác giả. Đó là sông, là bể, là rừng, là những năm tháng nghèo đói, thiếu thốn nhưng vẫn luôn đong đầy hạnh phúc. Chính vì lẽ đó đã khiến cho nhà thơ trở nên rưng rưng: Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì rưng rưng Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình Trăng vẫn như vậy, tròn trịa và vẹn nguyên. Thứ duy nhất thay đổi đó chính là lòng người. Chính vì đối diện với vầng trăng mà vầng trăng không nói gì khiến cho nhà thơ cảm thấy hổ thẹn với chính bản thân mình. Đúng là vầng trăng tình nghĩa đã quá bao dung và độ lượng. Với lối diễn đạt bình dị, bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy đã gây được nhiều xúc động đối với độc giả. Giọng thơ sâu lắng với thể thơ 5 chữ cô đọng khiến cho bài thơ chan chứa cảm xúc. Qua bài thơ này, chúng ta cũng nên nhìn lại cách sống của bản thân để sống tốt đẹp hơn. Qua bài lập dàn ý và bài văn mẫu phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy trên đây, hy vọng các em đã có thêm được một tài liệu bổ ích giúp cho việc học của các em được tốt hơn. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (Có dàn ý chi tiết)
1,282
Đề bài: Phân tích bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy Bài làm Trăng – là nguồn cảm hứng vô tận trong thi ca từ xưa đến nay. Ta từng bắt gặp ánh trăng trong Tĩnh Dạ tứ của Lý Bạch, trong Vọng Nguyệt của Hồ Chí Minh… Mỗi bài thơ đều đem đến những vẻ đẹp khác nhau của ánh trăng và gợi lên những tâm hồn chứa đựng những nỗi niềm khác nhau về nỗi nhớ quê hương, về phong thái ung dung yêu thiên nhiên tha thiết. Nhưng đến với bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy thì ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lý sâu sắc và đem đến cho chúng ta một bài học đó chính là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Nguyễn Duy từng tham gia kháng chiến, từng cầm súng để đấu tranh vì hòa bình của dân tộc. Chính vì thế nhà thơ đã có khoảng thời gian gắn bó với cuộc chiến tranh, có những kỷ niệm về quãng thời gian chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng ấy. Sau ngày đại thắng, thống nhất đất nước, nhà thơ trở lại sống ở một môi trường mới và vô tình bị cuốn theo nhịp sống tại đó mà quên lãng đi những kỷ niệm trước kia. Khi bất chợt nhận ra được nhà thơ không khỏi bàng hoàng, day dứt và ông đã viết nên bài thơ Ánh Trăng. Trong nỗi nhớ ấy nhà thơ ngược lại dòng ký ức khi còn nhỏ với biết bao kỷ niệm:Xem thêm: Nghị luận xã hội về sống có ích “Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với biển Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỷ” Phân tích bài thơ Ánh Trăng Cuộc sống khi còn thơ bé của nhà thơ rất gần gũi, chan hòa với thiên nhiên. Ngay cả khi trở thành người lính sống trong bom đạn thì với nhà thơ thì thiên nhiên vẫn giống như người bạn mà đặc biệt đó chính là ánh trăng. Trong hoàn cảnh chiến đấu thiếu thốn, khắc nghiệt ấy thì vầng trăng giống như trở thành người tri kỷ để họ có thể giãi bày tâm sự, để chia sẻ những buồn vui. Đến với những dòng thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục thể hiện sự khăng khít, gắn bó của mình với thiên nhiên: “Trần trụi với thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa” Có thể nói, thời gian nhà thơ tham gia cách mạng là lúc mà ông gắn bó nhất với thiên nhiên. Sự gần gũi ấy được tả giả miêu tả rất chân thật “trần trụi”, một cám giác về sự tiếp xúc thân mật, sự đồng cảm, giao hòa với thiên nhiên. Những kỷ niệm với thiên nhiên mà đặc biệt là vầng trăng những tưởng đã thấm vào da thịt, không thể nào quên được nhưng không phải vậy. Khi nhà thơ chuyển về thành phố, khi sống một cuộc sống mới thì sự tin tưởng về ký ức vẹn nguyên ấy không còn như xưa:Xem thêm: Giới thiệu về thể loại thơ đường “Từ ngày về thành phố Quen ánh điện cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Ngỡ người dưng qua đường” Thời gian giống như một cơn lốc vô tình cuốn bay đi rất nhiều thứ. Thành phố với đèn điện, cửa gương với những xa hoa, phù phiếm khiến con người ta như bị cuốn theo. Trong không gian sống mới ấy, nhà thơ đã vô tình lãng quên đi người bạn tri kỷ năm xưa. Thậm chí người bạn ấy vẫn hằng ngày hiện hữu, dõi theo nhưng lại như không quen biết. Nguyễn Duy đã sử dụng lối nói ví von rất ấn tượng khi nói về sự lãng quên của mình. Người bạn tri âm tri kỷ nay đã bị những phù phiếm, những ánh đèn chói lóa, những ồn ã của phố phường và nỗi lo lắng mưu sinh khiến con người ta lãng quên đi. Đó phải chăng là quy luật tất yếu của cuộc đời khi con người ta được sống đầy đủ về vật chất thì khiến họ quên đi những giá trị tinh thần từng gắn bó trải qua gian khổ, quên đi cái gọi là tình cảm của con người. Giữa thực tại đó thì nhà thơ đã để cho nhân vật trữ tình bất ngờ đối mặt với người bạn cũ: “Thình lình đèn điện tắt Phòng buyn-đinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn” Đèn điện tắt, cái xa hoa, lộng lẫy như biến mất trong chốc lát đưa con người ta trở về với cái thực tại tối tăm. Cũng lúc đó giữa cái “thình lình”, “đột ngột” đó thì người chiến sĩ năm xưa đã nhận ra người bạn tri âm, tri kỷ ngày nào. Hóa ra bấy lâu nay mình đã quên đi người bạn ấy, nhưng vầng trăng ấy vẫn mang dáng vẻ khi xưa, vẫn âm thầm chờ đợi ta và sẵn sàng đón nhận mình khi mình biết lỗi. Và người lính trong bài thơ cũng đã cảm nhận sâu sắc được điều ấy:Xem thêm: Nghị luận xã hội câu tục ngữ “Ở hiền gặp lành” “Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì dưng dưng Như là đồng là bể Như là sông là rừng” Nỗi niềm xúc động khi nhận ra người bạn tri kỷ, rồi những kỷ niệm ngày xưa ấy như lũ lượt ùa về trong tâm trí. Khiến cho người lính ấy như được trở về tuổi thơ, trở về những ngày tháng gian khổ. Chính khổ thơ cuối đã chứng minh sự thức tỉnh của nhà thơ khi đối diện với thực tại: “Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình” Bài thơ Ánh Trăng đã khiến cho người đọc dâng trào biết bao nhiêu nỗi niềm xúc động, bồi hồi. Đồng thời cũng là lời nhắc nhở đối với chúng ta đó là cần phải biết sống tình nghĩa, biết trân trọng và giữ gìn những ký ức, những giá trị tinh thần quý giá từng gắn bó với ta. Loan Trương
Phân tích bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy hay nhất
1,026
Đề bài: Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nguyễn Duy nổi tiếng với các bài thơ như: “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”,… Hiện nay, Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác, ông viết đều những bài thơ tài hoa, đậm chất suy tư. “Ánh trăng” (1978) là một trong những bài thơ của Nguyễn Duy được nhiều người ưa thích bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ, mới lạ: Hai khổ thơ đầu, tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp: “Hồi nhỏ sống với đồng. Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ”. Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả. Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng gắn bó với người. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới trở thành “tri kỉ”. Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt, sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ. Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình yêu thương quí trọng của mình với trăng: “Trần trụi với thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa”. Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp hồn nhiên nên trăng hoà vào thiên nhiên, hoà vào cây cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa”, bởi trăng từng chia ngọt, sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ. Ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa” ấy: “Từ hồi về thành phố Quen ánh điện, cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Xem thêm: Nghị luận xã hội về phương pháp tự họcNhư người dưng qua đường”. Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng bây giờ môi trường đã thay đổi. Từ hồi về thành phố đời sống cũng thay đổi theo:“quen ánh điện, cửa gương”. “Ánh điện”, “cửa gương” tượng trưng cho cuộc sống sung túc, đầy đủ sang trọng… dần dần “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị lãng quên. “Vầng trăng” ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ, đó là tình bạn, tình đồng chí được hình thành từ những tháng năm ấy. Trăng bây giờ thành “người dưng”… Con người ta thường hay đổi thay như vậy. Bởi thế đời vẫn thường nhắc nhau: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”. Ở thành phố vì quen với “ánh điện, cửa gương” quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đã không thèm để ý đến “Vầng trăng” – con người, mảnh đất từng là tri kỉ một thời. Phải đến lúc toàn thành phố mất điện: “Phòng buyn đinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn” “Vầng trăng” xuất hiện thật bất ngờ, khoảnh khắc ấy, phút giây ấy… người lính năm xưa mới bàng hoàng trước vẻ đẹp kì diệu của vầng trăng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa bỗng ùa về làm "Con người này" cứ “rưng rưng” nước mắt. “Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì rưng rưng…" "… Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình…”. Trăng vẫn thủy chung mặc cho ai thay đổi, vô tình với trăng. Trăng bao dung và độ lượng biết bao! Tấm lòng bao dung độ lượng ấy “đủ cho ta giật mình” mặc dù trăng không một lời trách cứ. Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững, phẩm chất cao quí của nhân dân, trăng tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững của tình bạn, tình đồng đội trong những tháng năm “không thể nào quên”. Tượng trưng cho "mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ. “Ánh trăng” của Nguyễn Duy đã gây được nhiều xúc động đối với độc giả bởi cách diễn đạt bình dị như lời tâm sự, lời tự thú, lời tự nhắc chân thành. Giọng thơ trầm tĩnh sâu lắng. Tứ thơ bất ngờ mới lạ,“Ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí về sự thuỷ chung khiến cho người đọc phải “giật mình” suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn. Nguồn Edufly Xem thêm: Nghị luận về sành điệu của giới trẻ hiện nay- Văn 12
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
752
Phân tích bài thơ Ông nghè tháng tám của Tam Nguyên Yên Đỗ Hướng dẫn Thơ Nguyễn Khuyến thường gợi cho người đọc thấy được sự vui tươi qua những nghệ thuật trào phúng trong từng câu chữ của ông. Bài thơ Ông nghè tháng Tám thể hiện ngòi bút tinh tế của tác giả đồng thời chất chứa tâm trạng của nhà thơ. Xưa kia mỗi khi đến dịp Tết trung thu, người ta thường làm những ông tiến sĩ bằng giấy để bán cho các ông bố bà mẹ muốn nhờ vào thứ đồ chơi ấy để dạy dỗ, vun đắp cho con cái họ ước mơ một ngày vinh quy, võng lọng về làng. Tập tục ấy đã ít nhiều gây sự chú ý tới Nguyễn Khuyến. Ngồi ngắm ông tiến sĩ giấy, Nguyễn Khuyến đã thốt lên rằng: "Cũng cờ, cũng biển, cùng cân đai". Ông buông lời nhận xét, vì chỉ: "Cũng gọi ông nghè có kém ai". Có thể lúc này Nguyễn Khuyến đang nhếch mép cười với ông tiến sĩ giấy đang nhếch mép cười, ông tiến sĩ mà con người tự tạo ra bằng giấy. Và quan trọng hơn nữa, người ta cũng gọi thứ đồ chơi ấy là "ông nghè", chỉ cần cờ, biển, cân đai là dễ dàng được gọi bằng "ông nghè". Việc ông muốn nói đến không phải là miêu tả lại thứ đồ chơi. Vấn đề ông nêu ra đã mang tính xã hội, một xã hội thối nát hiện thực lúc bấy giờ. Thì đó, thời buổi ấy có thiếu gì những chàng tiến sĩ "vinh quang bái tổ về làng", cũng cờ, biển, võng lọng, cần đai, cũng đón rước linh đình và được xưng tụng "ông nghè"!.Xem thêm: Tả lại một cảnh đẹp núi rừng quê em Nhưng gượng đã, xem nào: "Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng Nét son điểm rõ mắt văn khôi". Ông tiến sĩ giấy hiện lên cũng có cờ, biển, cân đai, những thứ làm nên "thân giáp bảng" chỉ là "mảnh giấy" tầm thường thôi. Có chăng chỉ được thêm phẩm màu lòe loẹt vào cho lộng lẫy và được "điểm" vào "mặt văn khôi" một "nét son". Ta thấy cả hai câu "thực" đều mất cân xứng. Một vế toàn thứ tầm thường đối với một vế toàn những khái niệm cao quý. Nào là "giáp bảng", nào là "văn khôi". Đến đây thì ta có thế thấy thấp thoáng ý tứ của thơ rồi. Đồ chơi đã thế thì những chàng tiến sĩ thật ra sao? Phải chăng các ông ấy cũng nhờ vào một vài mảnh giấy làm bài, vịnh thơ, làm phú mà được nên "thân giáp bảng" và chính nét son phê của các giảm khảo trường thi đã chỉ ra rõ "mặt văn khôi". Hai câu thơ tả thực. Thực ở ý đen và nghĩa bóng nữa. Nhưng than ôi! Người ra vẫn bị khiến hiểu theo một nghĩa khác – nghĩa đánh đồng giấy bìa thường với bài thi nét son của các ngài giám khảo với thứ phẩm màu rẻ tiền tô điểm thêm cho hình giấy và nhất là những ông tiến sĩ sang trọng kia với một hình nhân bằng giấy tầm thường: "Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ? Cái giá khoa danh thế mới hời!" Nguyễn Khuyến đã dùng những ngôn từ mỉa mai, châm biếm khi ông đưa ra lời nhận xét về ông tiến sĩ giấy, ông tiến sĩ vừa nhỏ bé vừa mòng manh. Các ông bố bà mẹ thật là hời, mua cả một lí tưởng cho con trẻ mà chỉ tốn ít tiền thôi. Giá ấy thật hời!Xem thêm: Qua đoạn trích từ Tam quốc diễn nghĩa, nêu nhận xét về lối kể chuyện và khắc họa tính cách nhân vật của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Từ nhẹ trong câu mang tâm ý của nhà thơ, đối với ông, ông xem nhẹ "tấm thân xiêm áo" ấy đấy. Và ở đây, tứ thơ của tác giả đã bật ram thoát khỏi hình ảnh ẩn dụ từ đầu bài. Ông biết rõ rằng tấm bằng tiến sĩ mà các ông nghè đương thời có được chẳng phải dựa vào đôi vần thơ hay hay bài phú xuất thần (các thứ sức ấy chỉ tương đương với mảnh bìa vứt đi mà thôi) mà hoàn toàn dựa trên sức mạnh của đồng tiền. Người ta mua một "cái ghế" trên cao, mua chức phận địa vị, mua "tiếng thơm", sự trọng vọng bằng bạc nén và những "nét son" đỏ chói cho "mảnh giấy" thôi mà, quá hời còn gì! "Ghế tréo, lọng xanh ngồi bản chọc. Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!" Tác giả đã mượn hình ảnh ông tiến sĩ giấy để nói về thực trạng những ông tiến sĩ thật trong xã hội lúc bấy giờ. Vịnh quy về làng, các ông nghề ngất ngưỡng trên ngựa, tiền hô hậu ủng, dân chúng để ra đón mừng. Ta bật cười khỉ tưởng tượng ra, Nguyễn Khuyến xuất hiện bên những người dân, rỉ tai họ nhắc: đừng lầm nhé, không phải "đồ thật" đâu, "đồ chơi" đấy, cười đấy rồi thấm thía đấy. Vì sao một cuộc chơi như thế, nạn nhân chính là nhân dân, là đất nước đang thời rối ren, loạn li, đồng tiền lên ngôi tha hồ thao túng. Cái thời mà:Xem thêm: Phân tích văn bản “Côn Sơn ca” (Nguyễn Trãi) "Lọng cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra". (Vịnh khoa thi Hương – Tú Xương) Những vần thơ của Nguyễn Khuyến rất nhẹ nhàng, nhưng thâm thúy và sâu sắc. Đọc thơ Tú Xương ta hả hê, bọn người ấy thì bẽ mặt, còn đọc thơ Nguyễn Khuyến ngẫm nghĩ ra đồng cảm với nỗi xót xa, ngậm ngùi của ông trước xã hội, mà bản thân ông cũng từng là một ông nghè, một anh tài thực sự, muốn đem tài năng góp mặt cho đời, xây dựng đất nước. Ông cũng là người nhìn thấy cảnh nhố nhăng, lập lờ trong chốn quan trường nỗi đau đớn tăng lên gấp bội. Thơ trào phúng của ông không gây cười, mà khiến người ta phải nghĩ, phải thấm thía cái nhục của một người mất nước, cái đau vì bản thân mình bất lực không làm gì được ông. Trước thực trạng của xã hội lúc bấy giờ, một nhân tài như Nguyễn Khuyến đã thấy chán chường thất vọng, ông đã mượn những ông nghè giả để nói về ông nghè thật lúc bấy giờ. Những con người có tài năng thật sự thì không được coi trọng, chỉ có bọn quant ham, giả tạo là giữ vị trí trong chốn quan trường. Bài thơ đã thể hiện nỗi lòng sâu kín của tác giả, đồng thời cũng thể hiện lòng yêu nước, yêu dân tộc của nhà thơ. Nguồn:
Phân tích bài thơ Ông nghè tháng tám của Tam Nguyên Yên Đỗ
1,143
Đề bài: Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên Bài làm Mỗi khi mùa xuân tới, khi tiết trời se se lạnh và những buổi trời mưa lâm thâm khiến cho mọi người tự giục giã mình nhanh chóng hoàn thành công việc cuối năm. Một năm mới sắp đến với những ngày chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán, cho những ngày tất niên sum họp. Người ta nhớ đến bánh chưng xanh, nhớ về câu đối đỏ và đồng thời bồi hồi nhớ lại cảnh trên phố đông người có rất nhiều người xếp hàng chờ và xem ông đồ viết chữ. Bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên đã cho chúng ta nhớ về một truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Hình ảnh ông đồ đã xuất hiện ở ngay trong khổ thơ đầu của bài thơ: “Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua” Việc sử dụng cấu trúc “mỗi…. lại” cho ta thấy một vòng tuần hoàn, lặp đi lặp lại, thường xuyên xảy ra. Đó là hằng năm khi Tết đến xuân về thì gắn với hình ảnh quen thuộc đó là hoa đào nở thì đó chính là hình ảnh ông đồ cặm cụi viết chữ. Ông đồ già trở thành một phần không thể thiếu trong mỗi mùa xuân, từ già ở đây chính thể hiện tuổi tác cũng như tay nghề viết chữ của ông. Hình ảnh ông đồ nhỏ nhoi ở phố đông người như hòa mình vào không khí nhộn nhịp ấy:Xem thêm: Hưởng ứng đợt thi đua Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát dộng, chi đoàn lớp 10A tổ chức hội thảo với chủ đề: Hãy vì một môi trường xanh, sạch, đẹp. Anh (chị) hãy viết bài nghị luận tham gia hội thảo đó “Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay” Những người trên phố đông chứng kiến và trầm trồ khen ngợi tài năng của ông. Sự có mặt của ông đồ trên phố đông gây sự chú ý của mọi người và giống như một dấu hiệu của mùa xuân, của ngày tết. Công việc của ông bận rộn với nhiều người thuê viết và nhà thơ Vũ Đình Liên đã gợi tả tài năng của ông đồ, về nét chữ của ông. Cách miêu tả “Như phượng múa rồng bay” cho thấy tài năng được mọi người “trầm trồ”, khen ngợi. Phân tích bài thơ Ông Đồ Đến khổ thơ thứ ba, vẫn hình ảnh về ông đồ già nhưng không còn được tung hô, được tấm tắc khen ngợi tài như trước nữa mà gợi cho người đọc một cảm giác thê lương: “Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu” Thời gian vẫn cứ tuần hoàn, xuân đến rồi xuân lại đi nhưng con người trên phố đông năm xưa nay đã đổi thay. Đó là “mỗi năm mỗi vắng”, không còn nhiều người thuê viết như xưa nữa. Có lẽ do cuộc sống mưu sinh vất vả khiến người ta trở nên vội vã, không còn chú ý đến tài nghệ của ông đồ già, không còn nhớ đến việc xin chữ nữa. Nhà thơ Vũ Đình Liên như thổi hồn vào từng trang giấy khiến cho những vật vô tri, vô giác cũng có tình cảm, cảm xúc riêng. Giấy đỏ là thứ giấy chuyên dùng đề viết thư phát và ông đồ dùng để viết chữ lên đó, vốn dĩ nó có màu đỏ nhưng trong cảnh thê lương ấy nhà thơ như cảm nhận được nét u buồn, phôi pha, úa tàn theo năm tháng. Nghiên mực là cái để mài mực tàu vốn trước kia lúc nào cũng đong đầy mực và mực được mài liên tục nay thì đọng im lìm trong nghiên, đợi ông đồ trổ tài nhưng mãi không thấy. Cảnh vật gợi cho ta cảm giác man mác buồn, thê lương ấy vậy còn con người thì sao:Xem thêm: Hãy bàn luận về câu nói: Học như bơi thuyền ngược nước. Không tiến sẽ phải lùi (Ngạn ngữ Trung Quốc) “Ông đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay” Người đọc chắc hẳn sẽ băn khoăn khi mà đang trong mùa xuân mà tác giải lại nhắc đến lá vàng rơi. Có phải chăng tác giả muốn gợi nhắc đến sự tàn lụi của một thời kỳ, của một nét đẹp văn hóa của dân tộc. Hình ảnh câu đối đỏ nay đã không còn được mọi người trân trọng như trước nữa. Đến khổ thơ cuối giống như một hình ảnh kết thúc cho một thời huy hoàng đã xa: “Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ” Cảnh còn nhưng người xưa đâu chính là những gì mà nhà thơ Vũ Đình Liên cô đọng lại trong lòng người đọc. Tác giả đã làm sống dậy một thời xa vắng, một niềm thương, luyến tiếc không nguôi. Loan Trương
Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên
867
Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên Gợi ý Trong những ngày Tết đến xuân về náo nức trên mọi nẻo đường, người yêu thơ lại khẽ lắng mình trong một nhịp thơ giản dị đầy nhân văn của nhà thơ Vũ Đình Liên: bài thơ "Ông đồ". Bài thơ ra đời khi ông đồ đã trở thành cái di tích của một thời tàn. Nho học đã bị thất sủng, người ta đua nhau chạy theo thời đại với chữ Pháp chữ Tây. Hai đoạn đầu bài thơ, tác giả giới thiệu những ngày huy hoàng của ông đồ: Bao nhiều người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay. Những lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lời khen của những người ngoài giới bút nghiên. Đi viết câu đối thuê, bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là bước thất thế của người theo nghiệp khoa bảng. Đỗ cao thành quan nghè, quan thám, đỗ thấp thì cũng ông cử, ông tú, chứ ông đồ là chưa đỗ đạt gì, công chưa thành, danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi đô hội như có lần Tản Đà đã làm. Ngày tết, mài mực bán chữ ngoài vỉa hè chắc cũng là việc bất đắc dĩ của nho gia. Chữ thì cho chứ ai lại bán. Bán chữ là cái cực của kẻ sĩ ở mọi thời. Bà con yêu quý và cũng thán phục cái thứ chữ mà bà con không biết, hay chỉ võ vẽ, nên mới khen lao đến vậy. Lời khen này không mang lại vinh quang cho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó là cái tình của người đời vào hồi vận mạt của ông. Tác giả giới thiệu: cùng với hoa đào, mỗi năm mới có một lần chứ nhiều nhặn gì đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ nghĩa thánh hiền bày trên hè phố. Đừng nghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ trên cương vị người bán, thì đây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông đồ còn sống được, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này. Nhưng cuộc đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thay đổi theo thời cuộc. Lớp người mới lớn không có liên hệ gì để mà quyến luyến cái thứ chữ tượng hình kia. Cái tài viết chân, thảo, triện, lệ của ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết đến:Xem thêm: Giới thiệu tác gia Nguyễn TrãiNhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu… Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn duyên kẻ đón người đưa, Hết duyên đi sớm về trưa một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng. Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi. Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiên thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ "đắt khách" nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa rơi trên mặt giấy, nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng đến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi. Cái lá bất động trên cái chỗ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu, khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.Xem thêm: Giới thiệu về một dòng sông Việt Nam Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu kết: Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấy ông đồ xưa. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại, lũ người hiện đại chúng ta đã nhìn thấy sự cố sức của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn lại, mới biết ông đã bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.Xem thêm: Giới thiệu về nhà văn Nguyên Hồng và văn bản Trong lòng mẹVanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
1,179
Đề bài: Phân tích bài thơ Ông đồ Trước kia trên bàn thờ tổ tiên, bên cạnh cặp bánh chưng, mâm ngũ quả là đôi câu đối tết. Chính vì vậy mà những ông đồ già trên vỉa hè phố xá rất đông khách thuê viết chữ và hình ảnh ông đồ đội khăn xếp mặc áo the đã khắc ghi sâu vào tâm trí của hàng triệu người dân Việt Nam trong đó có nhà thơ Vũ Đình Liên. Để rồi tác giả viết lên bài thơ 'ông đồ' với 1 niềm thương cảm sâu sắc cho thân phận ông đồ, cho 1 lớp người tàn tạ và sự nuối tiếc 1 truyền thống đẹp đẽ của dân tộc. Phân tích bài thơ Ông đồ Mở đầu bài thơ hình ảnh ông đồ già đã xuất hiện trong dòng suy tưởng, hoài niệm của tác giả: Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua Cấu trúc mỗi.. lại cho ta thấy ông đồ chính là 1 hình ảnh vô cùng quen thuộc với người dân Việt Nam vào mỗi dịp tết đến xuân về. Cùng với màu thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tàu và sự đông vui, náo nhiệt của ngày tết thì hình ảnh ông đồ đã trở nên không thể thiếu được trong bức tranh mùa xuân. Lời thơ từ tốn mà chứa bao yêu thương. Dẫu chỉ chiếm 1 góc nhỏ trên lề phố nhưng trong bức tranh thơ thì ông đồ lại chính là trung tâm, ông đã hòa hết mình vào cái không khí nhộn nhịp của ngày tết với những tài năng mình có: Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay Từ bao nhiêu cho người đọc thấy được ông đồ được mọi người rất yêu mến. Sự có mặt của ông đã thu hút sự chú ý của mọi người, ông chính là trung tâm của sự kính nể và ngưỡng mộ. Hạnh phúc đối với ông không chỉ là có nhiều người thuê viết mà còn được tấm tắc ngợi khen tài – Bởi ông có tài viết chữ rất đẹp. Ba phụ âm 't' cùng xuất hiện trong 1 câu như 1 tràng pháo tay giòn giã để ca ngợi cái tài năng của ông. Giữa vòng người đón đợi ấy ông hiện lên như 1 người nghệ sĩ đang say mê, sáng tạo, trổ hết tài năng tâm huyết của mình để rồi ông được người đời rất ngưỡng mộ.Với sự ngưỡng mộ đó thì Vũ Đình Liên còn thể hiện 1 lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc là chơi câu đối chữ. Nhưng liệu có bao nhiêu người thuê viết hiểu được ý nghĩ sâu xa của từng câu, từng chữ để mà chia sẻ cái niềm vui, niềm hạnh phúc với người viết ra những câu chữ ấy?. Ở khổ thơ thứ 3 vẫn nổi bật hình ảnh ông đồ với mực tàu giấy đỏ, nhưng mọi thứ đã khác xưa. Không còn đâu bao nhiêu người thuê viết- Tấm tắc ngợi khen tài mà thay vào đó là cảnh tượng vắng vẻ đến thê lương. Với cảm xúc buồn thương thấp thoáng ở 2 câu thơ trên, giờ đây cái cảm xúc đó được thể hiện trong câu hỏi đầy băn khoăn day dứt: Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Cũng là mỗi năm nhưng lại đứng sau từ nhưng- con chữ thường làm đảo lộn trật tự quen thuộc. Số người còn chút mến yêu và kính trọng chữ nho giờ cũng mỗi năm mỗi vắng, khách quen cũng tan tác mỗi người một ngả. Để rồi 1 chút hy vọng nhỏ nhoi của ông đồ là góp chút vui cùng mọi người vào mỗi dịp tết đến xuân về cũng dần tan biến và cuộc sống mưu sinh của ông đồ già cũng ngày càng khó khăn. Bằng câu hỏi tu từ hết sức độc đáo, Vũ Đình Liên đã thể hiện 1 nỗi nuối tiếc của 1 thời kì vàng son để rồi đọng lại thành nỗi sầu, nỗi tủi thấm sang cả những vật vô tri vô giác: Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu Giấy đỏ là thứ giấy dùng để ông đồ viết chữ lên, đó là 1 thứ giấy rất mỏng manh chỉ cần 1 chút ẩm ướt cũng có thể phai màu. Vậy mà' GIấy đỏ buồn không thắm'- không thắm bởi lâu nay không được dùng đến nên phôi pha úa tàn theo năm tháng. Mực cũng vậy- đó là thứ mực đen thẫm để ông đồ viết chữ, trước khi dùng thì ta phải mài mực rồi dùng bút lông họa lên những nét chữ. Nhưng nay' Mực đọng trong nghiên sầu' nghĩa là mực đã được mãi từ lâu, đã sẵn sàng cho bàn tay tài hoa của ông đồ để trổ tài nhưng đnahf đợi chờ trong vô vọng. Các từ buồn, sầu như thổi hồn vào sự vật cùng với phép nhân hóa đã khiến cho giấy đỏ, mực tàu vốn vo tri bỗng trở nên có hồn có suy nghĩ như con người. Nỗi buồn đó của ông đồ không chỉ thấm vào những đồ dùng mưu sinh hằng ngày mà cảm xúc đó của ông còn lan ra khung cảnh thiên nhiên, cảnh vật khiến không gian trở nên thật đìu hiu, xót xa: Xem thêm: Em có nhận xét gì về câu nói của Hoài Thanh khi đọc bài Nhớ rừng: Thế Lữ như một vị tướng điều khiển đội quân Việt ngữ với một mệnh lệnh không thể cưỡng lại đượcÔng đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay Tuy ông đồ già không được người đời yêu mến và kính trọng nữa nhưng ông đã kiên trì, cố gắng ngồi bên lề đường chờ mong sự cưu mang giúp đỡ của người đời. Nhưng đâu có 1 ánh mắt nào để ý đến ông bên lề phố, không một trái tim nào đồng cảm và chia sẻ với ông. Bằng biện pháp tả cảnh ngụ tình nhà thơ Vũ Đình Liên đã cho ta thấy 1 khung cảnh thiên nhiên thật xót xa, đìu hiu trước tâm trạng của ông đồ: Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay Nhưng thật băn khoăn tại sao giờ đang là mùa xuân lại có lá vàng rơi? Phải chăng hình ảnh lá vàng rơi gợi đến sự tàn phai, tàn lụi về 1 thời kỳ, 1 lớp người trong xã hội và 1 phong tục tập quán đẹp đẽ của dân tộc Việt Nam là chơi câu đối dỏ ngày tết giờ cũng trở thành quá khứ. Hình ảnh ông đồ cũng giống như hình ảnh lá vàng rơi, ông đã gắng níu kéo cuộc đời thầm lặng của mình nhưng so với thời đại mới thì ong chỉ còn là chiếc lá úa tàn đang rơi rụng. Nỗi buồn ấy âm thầm, tê tái nó đã khiến cơn mưa xuân vốn sức sống bền bỉ cũng trở nên đìu hiu xót xa Ngoài giời mưa bụi bay 'Giời' chứ không phải là 'trời'- đó phải chăng là cách nói dân gian của những người muôn năm cũ trong đó có ông đồ. Câu thơ gợi ra tâm trạng buồn thảm của ông đồ trước cơn mưa bụi nhạt nhòa. Dẫu chỉ là mưa bay, mưa bụi nhưng nó cũng đủ sức xóa sạch đi dấu vết của 1 lớp người. Tuy ông đồ đã không còn được người đời yêu mến, trong vọng nữa nhưng đối với nhà thơ thì hình ảnh ông đồ vẫn luôn khắc sâu trong trái tim: Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Mở đầu bài thơ là hình ảnh rất nhẹ và kết thúc bài thơ cũng với hình ảnh rất khẽ khàng. Năm xưa khi đào nở ta thấy ông đồ ngồi bên lề đường và hòa mình vào sự đông vui náo nhiệt của phố phường. Nhưng nay cùng thời điểm đó thì ông đã không còn nữa, hình ảnh ồng đồ cũng dần tan biến vào dòng thời gian. Tết đến xuân về, hoa đào lại nở, người người thì háo hức đi chợ sắm tết để chờ mong 1 năm đầy niềm vui và hy vọng. Tất cả đều rạo rực, tưng bừng. Cảnh còn đó nhưng người thì đâu? Giờ đây hình ảnh ông đồ chỉ còn là cái di tích tiều tụy đáng thương của 1 thời tàn, ông đã bị người đời quên lãng, bỏ rơi ngoài 1 thi sĩ Vũ Đình Liên. Dòng đời cứ trôi dần và trôi đi cả cuộc sống thanh bình đẹp đẽ, giờ chỉ còn là 1 nỗi trống trải, bâng khuâng để rồi nhà thơ cũng phải bật thành câu hỏi đầy cảm xúc: Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? Hai câu thơ cuối tác giả đã trực tiếp bộc lộ cảm xúc dâng trào, kết đọng mang chiều sâu khái quát. Từ hình ảnh ông đồ nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh những người muôn năm cũ và thi sĩ hỏi, hỏi 1 cách xót xa: hỏi trời, hỏi mây, hỏi cuộc sống, hỏi 1 thời đại, hỏi mà để cảm thông cho thân phận của ông đồ, của những người muôn năm cũ đã bị thời thế khước từ. Câu hỏi tu từ đặt ra như 1 lờ tự vấn, tiềm ẩn sự ngậm ngùi, xót thương. Và tất cả những gì của 1 thời hoàng kim giờ cũng chỉ còn 1 màu sắc nhạt phai, tê tái. Với cách sử dụng thành công biện pháp tu từ, nhà thơ Vũ Đình Liên đã tái hiện lên hình ảnh ông đồ với cái di tích tiều tụy đáng thương của 1 thời tàn khiến chúng ta lại càng cảm thương, xót xa cho số phận của ông. Chỉ với bài thơ ngũ ngôn ngắn gọn, tác giả đã làm sống dậy trong lòng người 1 niềm thương của sự luyến tiếc không nguôi. Đọc bài thơ ông đồ ta cảm nhận được ở Vũ Đình Liên- một con người có lòng thương người, lòng nhân ái, sự cảm thông sâu sắc và luôn ân nghĩa thủy chung. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật Lão Hạc và ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc
Phân tích bài thơ Ông đồ
1,747
Phân tích bài thơ Đi Đường (tẩu lộ) của Hồ Chí Minh Hướng dẫn I. “Bác Hồ đó chiếc áo nâu giản dị Màu quê hương bền bỉ đậm đà Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta…"(Tô'Hữu) Biết mỗi hành động, đọc mỗi bài thơ của Bác, chúng ta như được thêm vốn sống, tăng thêm nghị lực, lòng kiên nhẫn để vượt qua mọi thử thách gian lao và tin tưởng vững chắc vào kết quả công việc của mình. Vào mùa thu 1942, từ Pác Bó, Bác Hồ qua Trung Quốc để tìm viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, và bị chính quyền tỉnh Quảng Tây bấy giờ bắt giam. Suốt một năm sông trong ngục tù, Bác đã viết Nhật kí trong tù, 133 bài thơ được Bác viết bằng Hán văn về nhiều đề tài khác nhau với mục đích là để tự động viên mình, trong đó có bài Đi đường (Tẩu lộ). II. Bài thơ được viết bằng thể thất ngôn tứ tuyệt, nhà thơ Nam Trân dịch ra Việt ngữ bằng thể thơ lục bát. Cũng cần biết thêm là Bác thường mượn những hình ảnh dễ thấy trong cuộc sống làm đề tài để biểu đạt tư tưởng và tình cảm của mình. Ngay ở tựa bài Đi đường cũng đã chứng minh cho nhận xét ấy. Từ hình ảnh cụ thể và khái quát ấy, nhà thơ Hồ Chí Minh đã viết thành câu khai: Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan, Bản dịch của Nam Trân viết: Đi đường mới biết gian lao, Câu thơ nguyên tác có điệp ngữ “tẩu lộ” (đi đường) để nhấn mạnh, còn câu thơ tiếng Việt thì không. Thế nhưng từ “nan" (khó) trong nguyên tác được dịch bằng từ “gian lao" thì khá tuyệt bởi nó diễn đạt nỗi khó khăn, gian khổ đậm nét hơn. Từ hình ảnh cụ thể ây, người đọc hiểu rộng ra: mọi công việc, khi bắt tay vào hành động mới thấy những khó khăn đang chờ đợi. Những khó khăn ở câu khai được nhà thơ diễn đạt rõ hơn ở câu thừa. Nguyên tác viết: Trùng san chi ngoại hựu trùng san; Bản dịch viết: Núi cao rồi lại núi cao trập trùng; Nguyên tác sử dụng điệp ngữ “trùng san – nhiều lớp núi chồng lên nhau” nhấn mạnh về núi non để làm rõ nghĩa cho “tẩu lộ nan – đi đường khó” ở câu khai. Bản dịch tiếng Việt cũng sử dụng điệp ngữ “núi cao”, quan hệ từ “rồi lại”, và cả tính từ láy âm “trập trùng” để cụ thể hóa “gian lao” ở câu khai. Như thế thì câu thơ dịch khá hoàn chỉnh, kể cả chất thơ. Từ sự việc có thật là lúc ở tù nhà thơ bị giải đi từ nhà lao này sang nhà lao khác ở tỉnh Quảng Tây, một tỉnh có địa hình nhiều rừng núi nhà thơ muốn nhấn mạnh đến những khó khăn không bao giờ dứt trong đời sống của mỗi người. Đường đời bình thường đi đã mệt, đường giành lại độc lập tự do đã bị thực dân tước mất thì khó khăn và nguy hiểm khôn lường. Lịch sử Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập – tự do cho dân tộc từ thời dựng nước cho tới lúc nhà thơ bị bắt và làm bài thơ này đã chứng minh cụ thể cho sự khó khăn khôn lường ấy. Xem thêm: Với nhan đề “Hoa hậu nhặt rác và dòng nước thải từ Vê-đan” báo Tuổi trẻ Online (Thứ hai, ngày 15 tháng 9 năm 2008) có đoạn: “Ngẫu... trên biển cần Giờ”. Dòng tin trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gìBiết như thế để tự động viên mình trên đường đi. Lúc nào cũng lạc quan, lúc nào cũng cố gắng tiến bước để đạt được mục tiêu cuối cùng như hình ảnh trong hai câu chuyển và hợp trong nguyên tác: Trùng san đăng đáo cao phong hậu, Vạn lí dư đồ cô'miện gian. Và bản dịch: Núi cao lên đến tận cùng, Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Cả nguyên tác lẫn bản dịch đều dùng phép đảo ngữ để nhấn mạnh “trùng san – núi cao". Khó khăn nào cũng cố gắng vượt qua, núi cao nào cũng leo tới đỉnh rồi lại tiếp bước. Càng vượt được nhiều núi cao, trong thực tế, càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trèo đèo, lội suối, vượt qua những vực sâu… nguy hiểm. Hiểu rộng ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, kể cả việc học hành, càng vượt qua nhiều khó khăn càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong giải quyết công việc. Lúc ấy ta sẽ vững tin khi đối diện với một khó khăn mới khác trên bước đường đời. Trong cuộc đời hoạt động, Bác đã đến nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người. Mỗi nơi, mỗi người đều giúp Bác thêm kiến thức, kinh nghiệm. Khi đã vượt qua tất cả những ngọn núi thấp để đến đỉnh ngọn cao nhất: vượt qua khó khăn lớn lao nhất thì… đạt đến thành công. Hình ảnh kỳ vĩ: con người với thân hình nhỏ bé đứng trên đỉnh cao của ngọn núi vĩ đại: một bức tranh thật hào hùng; thành công ấy thật vinh quang. Vượt qua khó khăn lớn nhất sẽ thấy rõ đường đời cái gì là trắc trở, cái gì là hạnh phúc, bình yên. Muốn thế, cần phải có tâm và trí… Ngày trước, Nguyễn Bá Học cũng đã từng mượn hình ảnh đi đường để nhân mạnh vai trò nghị lực của con người rằng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông…”. Rồi cụ Phan Bội Châu cũng đã từng nhắc nhở: Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, Anh hùng hào kiệt có hơn ai. Thi nay lại có thêm Hồ Chí Minh. III. Mang nội dung giáo dục tư tưởng chính trị nhưng không khô khan bởi biết mượn hình ảnh sự việc để bộc lộ tâm tư của mình. Đúng là thơ của một danh nhân văn hóa của cả thế giới. Thế hệ của Bác, đàn em của Bấc đã học tập tinh thần ấy trong hai cuộc chiến chông thực dân và đế quốc. Còn các thế hệ sau thì nhờ học bài thơ mà họ thấy đường đời khó để bình tĩnh chuẩn bị hành trang mà vượt quạ: tri thức là phương tiện để "lên đến tận cùng”, vượt nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu… Nguồn: thêm: Thế nào là tiết kiệm? Tiết kiệm có ý nghĩa gì?
Phân tích bài thơ Đi Đường (Tẩu lộ) của Hồ Chí Minh
1,105
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay của Huy Cận, thể hiện được quan điểm sáng tác mới mẻ của nhà thơ. Nội dung bài thơ có hình ảnh lao động tươi vui của con người và đồng thời ngợi ca được vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Nam. Nhằm giúp các em có thể viết bài văn phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được tốt nhất, hôm nay Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn này cũng như cung cấp thêm 1 bài văn mẫu cho các em tham khảo. I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá 1. Mở bài – Giới thiệu về nhà thơ Huy Cận và bài thơ Đoàn thuyền đánh cá. – Đoàn thuyền đánh cá được nhà thơ Huy Cận viết vào năm 1958 tại Quảng Ninh. 2. Thân bài phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá a. Cảnh đoàn thuyền ra khơi và tâm trạng của người đi biển – Thời gian đoàn thuyền ra khơi là vào ban đêm. – Hình ảnh đoàn thuyền ra khơi gần gũi và thân thương. Mặc dù ra khơi trong đêm tối nhưng không khí vui tươi, không chút mệt mỏi. – Tinh thần lạc quan, sự háo hức và niềm hi vọng vào một ngày mai với những mẻ cá đầy. b. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển – Không gian biển cả mênh mông, hình ảnh đoàn thuyền cũng trở nên hùng vĩ. – Bước ra biển khơi đánh cá như bước vào một cuộc chiến oanh liệt. – Sự oai hùng của đoàn thuyền đánh cá giữa biển khơi. – Sự mê hay, hăng hái của ngư dân trong công việc. c. Cảnh đoàn thuyền đánh cá quay trở về – Tiếng hát tiếp tục được cất lên xóa tan đi mệt nhọc của một đêm vát vả. – Con người trở nên oai hùng trước thiên nhiên hùng vĩ. 3. Kết bài – Tổng kết lại nội dung bài thơ Đoàn thuyền đánh cá và nêu quan điểm của em về bài thơ này. Bài viết liên quan >> Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết) II. Bài làm phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá Có thể nói phong trào Thơ mới đã sản sinh ra một thế hệ vàng của thi ca Việt Nam. Ở đây hội tụ rất nhiều nhà thơ lớn có tên tuổi như Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Tản Đà,… Trong số các nhà Thơ mới thì Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu được nhiều người yêu thích. Thơ của ông có sự thay đổi theo sự vận động của thời cuộc. Sau cách mạng Tháng 8, thơ của Huy Cận chủ yếu lấy cảm hứng từ thiên nhiên đất nước và con người trong thời đại mới. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá chính là minh chứng cho giọng thơ này.Xem thêm: Viết đoạn văn tả trái dâu tây Chọn đề tài con người lao động, Huy Cận đã mang tới một cái nhìn đầy tươi vui, rạng rỡ. Không chỉ vậy, Huy Cận đã chứng minh tài năng nghệ thuật của mình bằng những hình ảnh thơ vô cùng đẹp và giàu sức gợi. Đọc bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, người đọc cảm tưởng như trước mắt mình đang là một vùng biển rộng lớn, những người lao động vùng biển đang bắt đầu đưa thuyền ra ngoài khơi xa với một tâm thế vui sướng, ung dung: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng giới khơi Mở đầu bài thơ tác giả miêu tả cảnh mặt trời lặn ở trên biển. Ai từng ngắm cảnh hoàng hôn trên biển chắc chắn không thể quên hình ảnh mặt trời đỏ rực đang dần dần khuất dưới lòng biển sâu. Lúc này mặt trời trở nên to hơn và đỏ rực hơn như một hòn lửa. Cách so sánh của nhà thơ Huy Cận thật đẹp và thật tinh tế. Ông đã biến vũ trụ bao la trở thành một ngôi nhà của con người. Vũ trụ là nhà, sóng là then cửa còn màn đêm là cánh cửa. Cánh cửa đã đóng lại, sóng cũng bớt ồn ào hơn vì đã cài then. Đêm tối bao chùm lên cảnh vật vậy mà có những con người họ không hề được nghỉ ngơi khi đêm xuống. Ngược lại, đây lại là lúc mà họ bắt đầu công việc ra khơi của mình. Như mọi ngày, đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi. Động từ lại cho thấy sự lặp đi lặp lại và giúp người đọc hiểu rằng đây là công việc quen thuộc của các ngư dân. Công việc ấy mang đến cho họ niềm vui, giúp cuộc sống của họ được tốt hơn. Chính vì vậy mới có câu thơ Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá Câu hát thể hiện được niềm vui trong lao động của những người ngư dân. Rõ ràng là làm việc vào lúc đáng lẽ cần phải được nghỉ ngơi thường khiến cho người ta cảm thấy mệt mỏi. Nhưng vì công việc này đối với họ đã quá quen thuộc và vì nó mang lại cho người dân một nguồn lợi lớn nên những câu hát vẫn tiếp tục ngân vang:Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ của đoạn thơ sau: "Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn" ("Đò Lèn” - Nguyễn Duy) Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi. Cá bạc, cá thu hiện lên trong câu hát của người ngư dân nghe thật đẹp. Nhà thơ khéo sử dụng biện pháp so sánh cá thu như đoàn thoi khiến cho câu thơ trở nên sinh động hơn. Điều này cũng cho thấy sự giàu có của tài nguyên thiên nhiên của vùng biển Quảng Ninh nước ta. Ngắm nhìn đoàn cá thu bơi dưới nước, trí tưởng tượng cùng với ngòi bút lãng mạn của nhà thơ đã vẽ nên hình ảnh đoàn thoi đưa, dệt nên những tấm vải lấp lánh sắc màu. Trong câu hát có lời mời gọi những đàn cá hãy đến dệt lưới để cho người ngư dân có được một mẻ cá đầy. Tiếp tục với sự tài hoa trong ngòi bút của mình, nhà thơ đã mang tới cho người đọc những hình ảnh vô cùng lung linh của đoàn thuyền: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Sự ví von của Huy Cận khiến người đọc cảm tưởng như đang được bước chân vào một thế giới thần tiên nào đó. Ở đây, gió chính là bánh lái, vầng trăng trở thành cánh buồm. Nhờ gió và trăng, còn thuyền có thể tiến ra ngoài khơi xa một cách nhẹ nhàng như mây bay. Nó cho người đọc thấy được rằng con người của thời đại mới đã biết làm chủ thiên nhiên, làm chủ biển khơi. Họ đi bắt cá nhưng cũng phải dò bụng biển, phải dàn đan thế trận giống như chuẩn bị bước vào một cuộc chiến thực thụ. Qua đây, hình ảnh của con người được nâng tầm khiến cho họ sánh ngang với vũ trụ bao la. Từ bao đời nay, người ngư dân đã gắn bó với biển cả. Biển đối với họ như một người thân thiết lâu ngày. Họ hiểu rõ về biển như hiểu rõ về người thân của mình vậy. Những con cá sống trong lòng đại dương cũng được họ điểm mặt, chỉ tên, nhớ đến từng chi tiết nhỏ: Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long Hình ảnh ánh trăng chiếu vào vây cá khiến những con cá trở nên lấp lánh như những ngọn đuốc dưới mặt biển khiến câu thơ trở nên đẹp hơn. Có ai nghĩ rằng trong đêm tối mịt mờ lại có thể nhìn thấy những cảnh tượng đẹp đẽ đến như vậy. Ở những câu thơ này, câu hát gọi cá vẫn tiếp tục được ngân lên. Nước vỗ vào mạn thuyền như đang hòa nhịp cùng bài hát.Xem thêm: Viết đoạn văn từ 4 đến 6 câu sử dụng phép tu từ nhân hóa Khi bóng đêm đang dần tan đi, nhịp độ công việc càng trở nên hối hả và gấp gáp hơn để làm sao cho kịp trời sáng: Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng Đây chính là phần thưởng cho những người ngư dân vì họ đã có 1 đêm đầy nỗ lực trên biển. Dáng người ngư dân nghiêng mình dồn cả sức mạnh vào đôi tay để kéo mẻ cá không khiến cho người ta cảm thấy mệt mỏi mà chỉ thấy niềm vui. Đến khổ thơ cuối cùng, nhịp điệu trở nên chậm rãi hơn, mang đến cho người đọc cảm giác vui tươi. Nó phản ánh đúng tâm trạng thoải mái, phấn khởi của người ngư dân vì đã đạt được kết quả tốt đẹp. Chính vì vậy mà khi đoàn thuyền trở về, họ lại tiếp tục hát vang: Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Hình ảnh đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời thể hiện rất rõ tính chất công việc của những người ngư dân. Bao giờ cũng vậy, họ đưa thuyền về bờ trước khi trời kịp sáng để người dân có được những mẻ cá tươi ngon nhất. Hình ảnh mặt trời lên cũng huy hoàng chẳng kém gì lúc mặt trời lặn. Nó báo hiệu một ngày mới đến và cũng dự báo cho những buổi đánh cá tốt đẹp tiếp sau. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận đã thể hiện được tinh thần lao động của con người cũng như cảnh đẹp của quê hương, đất nước. Đất nước chúng ta thật tươi đẹp, con người trong lao động cũng thật đẹp và thật đáng để tự hào. Trên đây là phần hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá và bài văn mẫu để các em tiện tham khảo. Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu bổ ích giúp các em học tập môn Văn được tốt hơn. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (Có dàn ý chi tiết)
1,838
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận Hướng dẫn Bài thơ gồm bảy khổ miêu tả nhiều cảnh của một chuyến ra khơi đánh cá của một đoàn thuyền từ lúc “mặt trời xuống biển” chiều hôm trước, đến tận lúc “mặt trời đội biển nhô màu mới” trở về. Trong đó bốn khổ thơ miêu tả cảnh đánh cá trên biển của đoàn thuyền là hay và đặc sắc hơn cả. Mở đầu đoạn thơ, ta thấy hình ảnh một đoàn thuyền đánh cá bề thế, hùng dũng đang băng băng lướt sóng: Thuyền ta lái giỏ với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Đoàn thuyền ấy có gió làm lái, có trăng làm buồn. Dường như thiên nhiên cũng hoà vào không khí lao động khẩn trương của đoàn thuyền. Đoàn thuyền ấy “lướt” mây cao với “biển bằng”, lướt một không gian bao la khoáng đạt. Thiên nhiên như mở ra, bát ngát, mênh mông, trên là trơi cao có trăng sáng tỏ, dưới là biển rộng bao la và ở giữa là đoàn thuyền đang lướt nhanh giữa khoảng không cao rộng ấy. Con thuyền như hoà nhập vào thiên nhiên, như không mất hút trong thiên nhiên. Giữa thiên nhiên bao la, con thuyền không hề bị lấn át, không hề trở nên nhỏ bé, trái lại trở thành một hình ảnh trung tâm vừa đẹp vừa khoẻ khoắn, vừa thơ. Đoàn thuyền càng đẹp, càng thơ khi gió biển thổi làm lái dẫn thuyền và trăng đậu trên cánh buồm khiến tác giả tưởng nhưtrăng làm buồm đựng gió kéo thuyền lướt sóng. Con thuyền không phải chỉ của “ta”, của con ngươi, thay thế con người chỉ huy điều khiển con thuyền. Nếu như ở đoạn đầu, thiên nhiên đã chìm vào trạng thái nghỉ ngơi “mặt trơi xuống biển”, “sóng đã cài then, đêm sập cửa”, thì ở đây con người đã đánh thức thiên nhiên, làm sống động vũ trụ, để thiên nhiên, vũ trụ cùng lao động với con người. Lòng tin yêu con người, trí tưởng tượng bay bổng đã giúp nhà thơ xây dựng được một hình ảnh thơ đẹp và nhiều ý nghĩa. Hai câu thơ tiếp đã miêu tả cụ thể những công việc của đoàn thuyền đánh cá: Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Cồng việc đầu tiên của những người đánh cá là đi tìm luồng cá trong lòng biển. Và giữa biển khơi mênh mông, khi đã tìm được luồng cá, những chiếc thuyền tỏa ra, thả lưới bủa vây. Đó là những công việc, những hoạt động bình thường của người dân chài. Nhưng qua cách miêu tả của tác giả, ta thấy những hoạt động đó giông như những hoạt động chuẩn bị cho một trận đánh. Người dân chài bước vào lao động bình thường như bước vào một trận chiến đấu với vũ khí là những tấm lưới, với sức khoẻ của cơ bắp, với trí thông minh và với tâm thế của người đã nắm chắc phần thắng. Lưới đã thả và đàn cá hiện ra. Những con cá được nhà thơ miêu tả thật đẹp: “Cá nhụ, cá chim cùng cá đé”. Cá có rất nhiều loại và ta có thể nhận thấy, đó là những loại cá rất quý. Trong tầm nhìn, từng đàn cá chen nhau đông đúc. Dưới ánh trăng, thân hình cá lấp lánh lung linh, và giữa các đàn cá đó, nổi bật lên hình ảnh: Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cúi đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long Huy Cận đã từng viết: “Cá song đuốc dẫn thơ vào”, và bây giờ ông lại viết: “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”. Câu thơ đã cho ta thấy đầy đủ sắc màu rực rỡ của cá song. Đặc biệt hình ảnh đuôi cá được miêu tả thật độc đáo: Xem thêm: Viết đoạn văn bàn luận vấn đề: Ai cũng có cuộc sống, nhưng chỉ có một số người mới có một cuộc sống đích thực Cúi đuôi em quẫy trăng vàng choé Giữa muôn ngàn cá, con nào cũng đẹp, nhưng cá song nổi bật lên không chỉ ở màu sắc rực rỡ như ngọn đuốc lung linh mà còn ở cử động mềm mại, uyển chuyển như múa. Cử động của cá làm cho trăng đẹp hơn, sáng hơn. Chính cử động ấy đã tạo nên nét thơ mộng làm tâm hồn nhà thơ rung động và bật lên tiếng “em” trìu mến. Trăng đã lên cao, cá đang vào lưới. Người đánh cá cất cao tiếng hát để gọi cá: Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Cùng với tiếng hát, ánh trăng cũng “gõ” vào mạn thuyền làm nhịp cho lời hát. Trăng trên cao rất sáng in hình xuống nước. Nước biển đẫm ánh trăng vỗ sóng như gõ nhịp vào mạn thuyền xua cá. Hình ảnh vừa thực vừa hư ảo do trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ sáng tạo nên làm cho cảnh lao động vừa đẹp, vừa nên thơ, vừa vui và mang nhiều ý nghĩa. Đắm mình trong cảnh lao động thơ mộng đó, nhà thơ nhận thây “biển như lòng mẹ”. Mẹ là người sinh ra, nuôi nâng, dạy bảo ta. Biển cũng vậy, biển cho ta cá như nguồn sữa mẹ nuôi lớn đời ta: Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào Biển được so sánh như lòng mẹ, biển luôn luôn trư đãi con người. Ta thấy ở đây toát lên lòng yêu mến, biết ơn biển cả của những người đánh cá và của cả nhà thơ. Cá đã vào lưới, trời đã chuyển dần về sáng. Mọi hoạt động càng trở nên khẩn trương gấp rút hơn: Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vảy bạc đuôi vàng loé rụng đông Lưới xếp, buồm lên đán nắng hồng… Sao mờ đi, trời sắp sáng. Mẻ lưới cuối cùng được kéo lên. Công việc không nhẹ nhàng chút nào. Người dân chài phải “xoăn tay” kéo lưới vì mẻ lưới đầy cá. Hình ảnh đàn cá trong lưới rực rỡ sắc màu tươi rói lấp lánh bình minh vừa thể hiện sự giàu đẹp của biển quê hương, vừa thể hiện hiệu quả cao của buổi lao động. Và giờ đây công việc đã kết thúc, lưới xếp vào khoang thuyền, buồm lại căng lên rực rỡ đón ánh nắng mặt trời. Thực ra bài thơ có thể kết thúc ở đây vì hình tượng thơ đã được phát triển, nâng cao trọn vẹn. Cả đoạn thơ là bức tranh sơn mài rực rỡ sắc màu, màu của trăng sao, sóng nước, màu của những con cá vảy bạc đuôi vàng, màu của những con người lao động xoăn tay kéo lưới… Đoạn thơ với bút pháp vừa tả thực vừa lãng mạn đã phối hợp hài hoà giữa cảnh thực với sức tưởng tượng bay bổng, giữa chất hiện thực và chất trữ tình, tạo nên những hình ảnh thơ lung linh kì vĩ vừa nhiều tầng bậc ý nghĩa, vừa thấm đậm tình người. Qua đó hình ảnh những người dân chài được nâng lên ngang tầm vũ trụ và công việc đánh cá trở thành công việc nên thơ. Trước Cách mạng thơ Huy Cận thường mang một nỗi buồn u uất. Nhưng từ khi trở thành nhà thơ Cách mạng, Huy Cận say sưa ca ngợi con người mới, cuộc sống mới nên thơ ông trở nên ấm áp, đằm thắm và dào dạt niềm vui. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá ra đời trong mạch cảm xúc ấy nên có thể xem đó là một “món quà đặc biệt của vùng mỏ Hồng Gai – cẩm Phả cho vào túi thơ Huy Cận” (Xuân Diệu). Nguồn: thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Tháng ba, rét nàng Bân
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận
1,339
Đề bài: Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của Huy Cận Bài làm Nhắc đến phong trào Thơ Mới thì không thể không nhắc tới nhà thơ Huy Cận. Từng bài thơ của ông mang những nét đặc sắc riêng biệt và đặc biệt ấm áp hương vị của cuộc sống. Bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá chính là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông. Bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá được sáng tác vào năm 1958 khi ông đang có một chuyến đi thực tế dài ngày tại Hòn Gai. Tại đây khi được chứng kiến cuộc sống nhộn nhịp của những người dân lao động trong thời kỳ mới đã khiến ông có nguồn cảm hứng để viết nên bài thơ này. Mở đầu bài thơ, với sự quan sát tinh tế của mình, nhà thơ đã vẽ lên trước mắt người đọc khung cảnh một buổi hồng hôn trên biển tuyệt đẹp: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi” Cảnh hoàn hôn trên biển được tác giả ví von giống với hình ảnh hòn lửa đỏ rực đang lặn dần xuống mặt nước. Kết thúc một ngày, nhà thơ còn ví biển giống như một căn phòng rộng lớn và khi màn đêm buông xuống nghĩa là “Sóng đã cài then đêm sập cửa”. Thông thường đây là khoảng thời gian kết thúc mộc ngày làm việc và mọi người trở về sum họp với nha đình, cùng nhau quây quần bên mâm cơm tối. Nhưng trái lại, đối với người ngư dân thì đây mới là lúc họ bắt tay vào công việc quen thuộc của mình đó chính là ra khơi đánh cá. Những người ngư dân trong khi ra khơi thì cất cao tiếng hát, tiếng hò vang vọng cả vùng biển. Đó là tiếng hát thể hiện niềm vui mừng, hân hoan cho công việc, của người lao động khi được tự do làm công việc của mình. Tiếng hát hòa cùng với gió biển để người ngư dân căng buồm ra khơi:Xem thêm: Nghị luận Tình thương là hạnh phúc của con người Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá “Hát rằng cá bạc biển đông lặng Cá thu biển đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!” Sự náo nức, say mê đã khiến những cực nhọc, vất vả trong công việc của họ được giảm bớt và đem lại niềm vui cho mọi người. Tiếng hát ngân vang về những loài cá của biển khơi đồng thời thể hiện khát vọng, ước nguyện cuộc đánh cá thu hoạch được nhiều. Huy Cận giống như hòa mình với những người ngư dân, nhập thân vào thiên nhiên để cảm nhận: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng” Con thuyền vốn nhỏ bé so với đại dương mênh mông. Nhưng trong con mắt của nhà thơ thì con thuyền chở những người ngư dân ấy trở nên kì vĩ, lớn lao. Nó sánh ngang với tầm của thiên nhiên, của vũ trụ. Chính vì thế nhà thơ mới sử dụng những hình ảnh “lái gió”, “buồm trăng”, “biển bằng” để miêu tả về con thuyền giống như đang bay trong không gian chứ không phải đang lướt trên mặt biển. Qua đó ta có thể tưởng tượng thấy cảnh đoàn thuyền đánh cá hào hùng, nhộn nhịp. Biết bao đời nay những người ngư dân đã rất quen thuộc với biển khơi, với cách thức giăng bẫy, đánh bắt cá cũng như những loài cá trên biển:Xem thêm: Giới thiệu về Lăng Lê Thái Tổ (Vĩnh Lăng) “Cá nhụ, cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở sao lùa nước Hạ Long” Hai câu thơ ngắn ngủi nhưng tác giả đã gợi mở và giới thiệu được bốn loài cá khác nhau. Giữa không gian rộng lớn của biển khơi và trong màn đêm đen thì những chiếc vảy của cá song lấp lánh, đuôi cá quẫy mặt biển khiến cho ánh trăng tương phản xuống mặt biển trở nên sinh động hơn. Trong khung cảnh ấy màn đêm, những ngôi sao giống như con người, giống như đang thở, những vì sao giống như đang lùa trên mặt biển chứ không phải đang nằm trên bầu trời. Khi sao dần mờ đi nghĩa là trời sắp sáng, bóng đêm cũng dần tàn và khi đó nhịp điệu công việc cũng trở nên khẩn trương hơn: “Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” Khi trời gần sáng thì những người ngư dân bắt đầu khẩn trương thu lưới đã giăng. Quá trình lao động miệt mài, hăng say đã được đáp trả bằng thành quả đó chính là “chùm cá nặng”. Dáng vóc của những người ngư dân hiện lên khi kéo lưới thật khỏe khoắn. Một khung cảnh có sự hài hòa giữa con người, thiên nhiên cùng với vẩy cá bạc khiến cho cảnh rạng đông thêm lấp lánh, rực rỡ. Cho đến khổ thơ cuối, Huy Cận đã miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá:Xem thêm: Suy nghĩ gì về quan niệm “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” “Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi” Vẫn câu hát tươi vui, khỏe khoắn của những người ngư dân. Khi ra khơi họ cất tiếng hát, khi trở về tiếng ca cũng vang lên đầy hứng khởi vì thành quả lao động. Hình ảnh “Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”. Liên tiếp xuất hiện những hình ảnh mang màu sác tươi sáng, khỏe khoắn, sống động được tác giả nhắc tới đem lại một cảnh tượng huy hoàng, đầy màu sắc. Bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá chính là một bài ca về cuộc sống lao động trong thế kỉ mới đầy hào hùng, tươi vui. Qua đó ta như thấy được tâm trạng vui vẻ, hứng khởi của tác giả khi được chứng kiến quá trình lao động và cảnh tượng thiên nhiên tươi đẹp trên biển. Loan Trương
Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của tác giả Huy Cận
1,075
Đề bài: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới.Sau cách mạng ông nhanh chóng hoà nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ đại và trường kì của dân tộc.Hoà bình lập lại,từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống đang lên. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”được sáng tác ở Hòn Gai năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày. Bài thơ thực sư là một bài ca ca ngợi cuộc sống của những con người lao động mới. Với đôi mắt quan sát sắc sảo,trí tưởng tượng phong phú,trái tim nhạy cảm và tài năng nghệ thuật điêu luyện,nhà thơ đã vẽ lên trước mắt chúng ta khung cảnh lao động hăng say trên biển.Cả bài thơ như một bức tranh sơn mài lộng lẫy những sắc màu huyền ảo,cuốn hút vô cùng: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm với gió khơi. Đoàn thyền đánh cá rời bến vào lúc hoàng hôn,mặt trời như hòn lửa đỏ rực đang lặn dần vào lòng đại dương mênh mông, màn đêm buông xuống,kết thúc một ngày.Biển kín đáo như một gian phòng lớn của thiên nhiên bởi cách nói thật riêng biệt “sóng đã cài then đêm sập cửa”.Chính vào thời điểm ấy, ngư dân bắt tay vào công việc quen thuộc của mình: Ra khơi đánh cá!Mặt biển đêm không lạnh lẽo mà ấm áp hẳn lên bởi tiếng hát âm vang, náo nức, thể hiện niềm vui to lớn của người lao động được giải phóng, tiếng hát hoà cùng gió, thổi căng buồm đưa đoàn thuyền ra khơi.Lời hát ca ngợi sự giàu có và hào phóng của biển cả cùng vẻ đẹp lung linh, diệu kì của nó trong đêm: Hát rằng cá bạc biển đông lặng Cá thu biển đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi! Sự say mê vẻ đẹp của biển đã làm giảm bớt bao nỗi nhọc nhằn vất vả trong việc đánh cá,đem lại niềm vui và sức mạnh cho ngư dân. Cảnh đánh cá trong đêm được nhà thơ miêu tả bằng cảm hứng trữ tình mãnh liệt. Tác giả như nhập thân vào thiên nhiên, công việc,và con người: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ, khổng lồ hoà nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên, vũ trụ. Con thuyền đó đang bay giữa không gian trong một đêm thuỷ tinh tuyệt đẹp.Những hình ảnh “lái gió”, “buồm trăng”, “ mây cao”, “ biển bằng ”phảng phất phong vị thơ cổ điển nhưng vẫn đậm chất hiện thực.Chuyến ra khơi đánh cá cũng giống như một trận đánh thật sự hào hùng.Cũng thăm dò,cũng dàn đan thế trận và bủa vây bằng…lưới! Đã bao đời nay,ngư dân có quan hệ chặt chẽ với biển cả.Họ thuộc biển như lòng bàn tay, bao loài cá họ thuộc tên,thuộc dáng và thuộc cả thói quen của chúng: Xem thêm: Sách Bồi dưỡng Ngữ văn 9 có viết: "Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ... cuộc đời."Hãy phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải (Ngữ văn 9, tập hai - Nhà xuất bản Giáo dục, 2008) để làm sáng tỏ nhận xét trênCá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Đêm thở sao lùa nước Hạ Long. Trên mặt biển đêm,ánh trăng lung linh dát bạc,cá quẫy đuôi sóng sánh trăng vàng,tiếng “em” bật lên tự nhiên, trìu mến.Bài ca gọi cá vẫn tiếp tục ngân vang: lúc náo nức,lúc lại thật tha thiết.Trăng thức cùng ngư dân,trăng cùng sóng dập dờn bên mạn thuyền như gõ nhịp phụ hoạ cho tiếng hát,trăng chiếu sáng cho ngư dân kéo được những mẻ cá đầy …Với ngư dân, biển cả bao la “như lòng mẹ”,bởi vậy thiên nhiên và con người thật hoà hợp,nhịp nhàng.Nhịp điệu công việc càng khẩn trương,sôi nổi khi bóng đêm dần tàn,ngày đang đến: Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Bao công lao vất vả đã được đền bù,dáng người ngư dân đang choãi chân, nghiêng người dồn tất cả sức mạnh vào đôi tay cuồn cuộn để kéo lên những mẻ lưới nặng trĩu mới đẹp làm sao!Màu sắc phong phú,lấp lánh vẩy bạc, đuôi vàng của bao loài cá càng khiến cho cảnh rạng đông thêm rực rỡ.Nhịp điệu câu thơ “lưới xếp buồm lên đón nắng hồng ”chậm rãi, gợi cảm giác thanh thản, vui tươi, phán ánh tâm trạng hài lòng của ngư dân trước những kết quả tốt đẹp của chuyến ra khơi. Khổ thơ cuối cùng miêu tả cảnh trở về của đoàn thuyền đánh cá: Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Vẫn là tiếng hát khoẻ khoắn của ngư dân dạn dày sông nước đang vươn lên làm chủ cuộc đời.Tiếng hát hoà trong gió,thổi căng buồm đưa đoàn người ra khơi đêm trước nay lại cùng đoàn thuyền đầy ắp cá hân hoan về bến. Hình ảnh “đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” rất thực mà cũng rất hào hùng.Nó phản ánh một thói quen lâu đời của ngư dân là đưa cá về bến trước khi trời sáng đồng thời cũng hàm ý nói lên khí thế đi lên mạnh mẽ của họ trong công cuộc xây dựng đất nước. Hoà cùng niềm vui to lớn của mọi người,nhà thơ chắp cánh cho trí tưởng tượng của mình bay bổng.Đoàn thuyền đi trên biển,giữa màu hồng rạng rỡ tinh khôi và ánh mặt trời phản chiếu trong muôn ngàn mắt cá khiến nhà thơ liên tưởng đến hàng ngàn những mặt trời nhỏ xíu đang toả rạng nềm vui.Đến đây bức tranh biển cả ngập tràn màu sắc tươi sáng và ăm ắp chất sống trong từng dáng hình,từng đường nét của cảnh, của người. “Đoàn thuyền đánh cá” là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng.Bài ca ấy dành cho biển hào phóng,cho những con người cần cù, gan góc đang làm giàu cho đất nước.Cảm hứng trữ tình và nghệ thuật điêu luyện được tác giả sử dụng trong bài thơ đã cuốn hút người đọc thật sự.Chúng ta cùng chia sẻ niềm vui to lớn với nhà thơ,với tất cả những người lao động mới đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu trên con đường đi tới tương lai tươi sáng. Nguồn Edufly Xem thêm: Một hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện nay đó là việc xả rác bừa bãi. Em có suy nghĩ gì trước hiện tượng này
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá
1,186
Phân tích bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca của nhà thơ Thanh Thảo Gợi ý Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946, quê ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tham gia kháng chiến chống Mĩ ở chiến trường miền Nam. Từ sau năm 1975, Thanh Thảo chuyên hoạt động văn nghệ. Những năm gần đây, ngoài sáng tác thơ, ông còn viết báo, tiểu luận, phê bình. Thanh Thảo thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mĩ có thành tựu, có tiếng nói thơ riêng được công chúng chú ý, kể cả thơ viết về chiến tranh và thời hậu chiến. Là nhà thơ có nhiều nỗ lực cách tân, Thanh Thảo muốn cuộc sống phải được cảm nhận ở chiều sâu nên luôn khước từ lối diễn đạt dễ dãi, khuôn sáo trong thơ. Đàn ghi ta của Lor-ca rút trong tập Khối vuông ru-bích (1985) rất tiêu biểu cho nỗ lực cách tân thơ Việt của Thanh Thảo, mặc dù bài thơ còn nhiều điều khó hiểu vì ít nhiều nhuộm màu sắc tượng trưng và siêu thực mà ông chịu ảnh hưởng ít nhiều ở chính nhà thơ hiện đại Gar-xi-a Lor-ca. Bài thơ được lấy cảm hứng trực tiếp từ cái chết của thi hào Lor-ca. Cái chết của ông không chỉ là sự kiện gây chấn động lớn ở Tây Ban Nha mà còn với toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau. Thanh Thảo muốn phục sinh thời khắc bi tráng đó, tỏ thái độ ngưỡng mộ, đau xót và qua đó xây dựng biểu tượng nghệ thuật Lor-ca qua một hình ảnh quen thuộc mà độc đáo: đàn ghi ta. Đàn ghi ta không chỉ là nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha mà còn được coi là biểu tượng cho nền nghệ thuật ở đất nước này (không phải ngẫu nhiên mà nó được gọi là Tây Ban cầm). Lor-ca là nhà thơ, nhạc sĩ, kịch gia nổi tiếng người Tây Ban Nha, người đã khởi xướng và thúc đẩy mạnh nhưng cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật. Bên cạnh đó, ông cũng là nghệ sĩ chơi ghi ta rất điệu nghệ. Như vậy, nhan đề Đàn ghi ta của Lor-ca đã hé mở hình tượng nghệ thuật trung tâm của bài thơ là Lor-ca; và gắn liền với hình tượng ấy là biểu tượng nghệ thuật mang tính cách tân của Lor-ca là đàn ghi ta. Ở khổ đầu, Thanh Thảo đã khắc họa hình ảnh Lor-ca, một con người tự do, một người nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật Tây Ban Nha. Hình ảnh Lor-ca được giới thiệu bằng những nét chấm phá, phần nào chịu ảnh hưởng của trường phái ấn tượng: Những tiếng đàn bọt nước Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la li-la li-la Đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn Câu thơ mở đầu đem lại nhiều cách diễn dịch vì tiếng đàn là âm thanh lại được gắn kết với những cảm nhận về thị giác (bọt nước). Có người thấy bọt nước là những gì nhỏ bé, phù du, có người lại thấy tượng trưng cho những gì giản dị, mát lành. Đó là chưa kể ý kiến cho rằng bọt nước mỏng manh, dễ bị mất đi. Chính Thanh Thảo đã nói rõ ý nghĩa câu thơ này: Ai nghĩ bọt nước sẽ biến mất không để lại dấu vết là nhầm. Bọt nước lúc tan lúc hiện nhưng tan rồi lại hiện. Như thế, ta có thể hiểu câu thơ này như muốn ngụ ý về sức mạnh tiềm ẩn trong tiếng đàn, tiếng lòng trong thi ca của Lor-ca.Tiếp đó, Lor-ca được miêu tả trên cái nền rộng lớn của văn hóa Tây Ban Nha mà biểu tượng là áo choàng đỏ. Nói đến đất nước Tây Ban Nha là người ta nghĩ ngay đến đấu trường với những đấu sĩ trong tấm áo choàng. Không khí đấu trường tạo ra những gì là dữ dội, căng thẳng, không khoan nhượng, một mất một còn. Tác giả dường như đã tạo ra sự tương phản đối lập quyết liệt giữa khát vọng tự do dân chủ với bọn độc tài phát xít Phrăng-cô; giữa những cách tân nghệ thuật và những gì là lối thể hiện khuôn sáo, lạc hậu, già nua. Trong không khí đấu trường khốc liệt, dữ dội là hình ảnh Lor-ca với cây đàn ghi ta: li-la li-la li-la. Mấy chữ li-la ấy tạo cảm nhận về nhạc tính, về nốt ngân mê đắm dưới sự trình tấu điệu nghệ của Lor-ca. Nói như Thanh Thảo thì đó là cứ vê ghi ta rất điệu nghệ. Đây còn là tên của loài hoa Tử đinh hương với sắc tím mê hoặc. Loài hoa ấy đã trở thành đối tượng thể hiện cho nhiều tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ phương Tây. Trên cái phông nền văn hóa đậm chất Tây Ban Nha ấy là hình ảnh của Lor-ca đi lang thang về miền đơn độc – với vầng trăng chếnh choáng – trên yên ngựa mỏi mòn. Trên hành trình ấy, Lor-ca là con người cô đơn,.cô độc nhưng đầy kiêu hãnh đến với cái đẹp, đến với tự do, với những cách tân nghệ thuật. Dù mải miết đi, dù yên ngựa mỏi mòn nhưng với Lor-ca thì đó lại là một cuộc tìm kiểm không ngừng nghỉ. Nhà thơ luôn bồn chồn, phấp phỏng khi phải đối diện với cuộc sống phong phú, bất tận mà vẫn chưa thể tìm ra cách thể hiện tối ưu, hoàn hảo. Trên hành trình gian nan ấy, thi sĩ luôn có sự thôi thúc mãnh liệt của men say sáng tạo, của khát vọng tự do. Tất cả như đang vẫy gọi Lor-ca đi tới.Xem thêm: Giải thích ý nghĩa của nhan đề bài thơ và khổ thơ đề từ trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Hai khổ thơ tiếp theo, tác giả đã diễn tả cảnh Lor-ca bị sát hại và nỗi xót xa về sự dang dở của khát vọng cách tân: Tây Ban Nha Hát nghêu ngao Bỗng kinh hoàng Áo choàng bê bết đỏ Lor-ca bị điệu về bãi bắn Chàng đi như người mộng du Tiếng ghi ta nâu Bầu trời cô gái ấy Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan Tiếng ghi ta ròng ròng Máu chảy Ở đây, Thanh Thảo đã có cách diễn đạt khác thường: Tây Ban Nha – hát nghêu ngao. Ta như thấy người nghẹ sĩ Lor-ca khi đã trở thành ca sĩ cho một đất nước, một dân tộc đang cất tiếng hát đòi tự do dân chủ. Nhưng ở đây, câu thơ còn mở ra liên tưởng khác, đây là người du ca với tiếng hát, tiếng ca của những sáng tạo nghệ thuật, của những gì là tự do. Như chúng ta đã biết, Lor-ca đã bị bọn phát xít giết hại và Thanh Thảo cũng đã đề cập đến sự kiện bi thảm ấy qua những tương phản đối lập để tạo một kết cục kinh hoàng – đó là tương phản giữa áo choàng đỏ gắt và giờ đây lại là áo choàng bê bết đỏ (máu đã thấm loang cả chiếc áo choàng). Hình ảnh và sắc màu gây ấn tượng thật dữ đội về tội ác của bọn phát xít khiến Lor-ca kinh hoàng, người Tây Ban Nha kinh hoàng. Tất cả ở trong trạng thái sững sờ, kinh sợ, không thể hiểu được những gì đã diễn ra. Đó là nói đến những người Tây Ban Nha, còn người nghệ sĩ mẫn cảm với cái đẹp càng kinh hoàng khi thấy những thế lực thù địch dám làm tất cả để hủy diệt cái đẹp, cái thiện: Lor-ca bị điệu về bãi bắn – chàng đi như người mộng du. Lor-ca đã đi ra pháp trường trong trạng thái mộng du. Lor-ca đang phải đối mặt với một kết cục đau thương, đẫm máu vậy mà tâm trí, tình cảm của Lor-ca như đang hướng đến những cách tân nghệ thuật, bởi khái vọng tự do dân chủ mãnh liệt như những đam mê cuộn trào và chàng chẳng còn để ý, chẳng còn biết đến những gì đang diễn ra, kể cả cái chết đang cận kề. Sáu câu thơ tiếp theo được xem là những dòng thơ đặc sắc, thể hiện những cảm nhận về tiếng đàn ghi ta của Lor-ca. Sáu câu thơ mà đã có bốn câu nói đến tiếng đàn với những cảm nhận sắc thái khác nhau – khi thì là tiếng ghi ta gắn với sắc màu, có khi lại gắn với thân phận hoặc hình khối. Mấy chữ tiếng ghi ta nâu cho phép ta nghĩ đến sắc màu của vỏ đàn ghi ta và cũng có thể liên tưởng đến sắc màu nâu của đất đai xứ sở Tây Ban Nha. Ý thơ đã được mở rộng ra trong những liên tưởng về bầu trời, mặt đất quê hương xứ sở. Với câu thơ nói về tiếng ghi ta lá xanh thì sắc lá xanh lại cho ta thấy có gì như là niềm tin yêu trong cuộc sống; lại thêm hai chữ biết mấy ở cuối thì có lẽ tác giả đã bộc lộ rõ sắc thái tình cảm của mình, đó chính là niềm tiếc thương cho vẻ đẹp đang bị hủy diệt. Ở câu thơ tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan thì dường như tác giả muốn cụ thể rõ hơn nữa hình khối của bọt nước nhằm nhấn mạnh cảm nhận về sự vỡ tan. Bọt nước đã vỡ thành nhiều mảnh, đã chẳng còn nguyên khối. Chữ tan đã cho thấy những gì là tan dần, hòa lẫn, tưởng như đã biến mất hoàn toàn. Câu thơ nói về tiếng ghi ta ròng ròng – máu chảy cho ta nghĩ đến số* phận bi kịch, đến cái chết oan khuất của Lor-ca. Nói cách khác, qua tiếng đàn ta có thể cảm nhận được định mệnh nghiệt ngã của thi hào. Đặc biệt, câu cuối của khổ thơ có thể được viết liền nhưng hai chữ máu chảy được tác giả xuống dòng để tạo thành một dòng thơ. Chính dòng thơ hai chữ này đã gây một ấn tượng mạnh mẽ về cái chết thảm khốc của Lor-ca.Xem thêm: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh. Cảm nhận của anh (chị) về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ trên Bốn dòng thơ tiếp theo, nhà thơ thể hiện niềm xót thương G.Lor-ca và nỗi xót tiếc những cách tân nghệ thuật của ông không ai tiếp tục: Không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có nhiều cách cảm và hiểu. Có thể hiểu câu thơ này với ý nghĩa không ai có thể chôn cất tiếng đàn của Lor-ca, không gì có thể vùi lấp được tiếng đàn của thi hào vì tiếng đàn là linh hồn, nỗi lòng, khát khao tự do cùng những cách tân nghệ thuật. Lor-ca có chết thì đó chỉ là cái chết về thân xác và người ta chỉ chết khi không còn sống trong lòng những người đang sống. Thế nhưng, cũng có thể hiểu là chẳng ai dám chôn cất tiếng đàn vì quá ngưỡng mộ Lor-ca mà những người thuộc thế hệ sau không đạt đến một nấc thang mới trong sự tiến bộ nghệ thuật,… Nếu gắn kết câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn với câu thơ tiếp sau ta mới thấy sự tăng tiến trong biểu hiện: tiếng đàn ấy phải được hiểu là những giá trị tinh thần chứ không phải là cây đàn vật thể. Chính vì thế mà tác giả mới có câu thơ tiếng đàn như cỏ mọc hoang – cảm nhận về âm thanh lại được so sánh với những cảm nhận về thị giác. Với tất cả những định hướng biểu hiện như thế, tiếng đàn của Lor-ca là những gì mãnh liệt, bất diệt, mạnh mẽ. Tiếng đàn ấy như cỏ hoang, tưởng tàn lụi nhưng đến mùa, đến tiết lại trồi lên, sống dậy. So sánh tiếng đàn với cỏ hoang khiến cho những gì là vô hình đã trở thành hữu hình, cụ thể, dễ cảm nhận hơn trong cảm hứng khẳng định mạnh mẽ tiếng đàn, khát vọng tự do, những mong mỏi đổi mới và cách tân nghệ thuật sẽ là vĩnh hằng, bất tử. Hai câu thơ tiếp theo đã được gợi ý thơ từ tiểu sử, từ cái chết của Lor-ca: giọt nước mắt vầng trăng – long lanh trong đáy giếng. Bọn phát xít đã ném xác của Lor-ca xuống giếng sâu nhưng Thanh Thảo đã có câu thơ rất hàm súc.. Có thể hiểu câu thơ nói đến giọt nước mắt của Lor-ca. Lor-ca chết khi tuổi đời còn quá trẻ, biết bao nhiêu dự định, khát khao mong mỏi đều lỡ dở, dang dở và đấy chính là giọt nước mắt uất hận. Nhưng cũng có thể hiểu là giọt nước mắt của những người dân Tây Ban Nha xót thương cho một tài năng bị hủy diệt, xót xa trước hình ảnh một con người tiêu biểu cho văn hóa Tây Ban Nha đã bị hủy diệt bởi bàn tay của bọn phát xít. Và ta cũng có quyền nghĩ đến đây là giọt nước mắt của nhà thơ Thanh Thảo, biểu hiện một sự đồng cảm sâu sắc với Lor-ca, với người dân Tây Ban Nha. Giọt nước mắt ấy đã gắn với vầng trăng, câu thơ cho phép ta nghĩ đến giọt nước mắt như vầng trăng hay chính là vầng trăng. Có vầng trăng hiện hình trong đáy giếng như một giọt nước mắt khổng lồ. Hiểu câu thơ này như thế ta sẽ thấy thiên nhiên như cũng hòa với nỗi đau, cùng sự tiếc hận của bao người trước cái chết oan khuất của thi hào. Tất cả vẫn còn long lanh trong đáy giếng. Chất người, vẻ đẹp con người biểu tượng cho đất nước Tây Ban Nha vẫn long lanh, lấp lánh ngời sáng khát vọng tự do dân cho dân tộc mà Lor-ca là đại diện vẫn rực rỡ ngời sáng.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Hồi hương ngẫu thư" (Hạ Trí Chương) Chín dòng thơ cuối, tác giả đã suy tư về cuộc giải thoát và cách giã từ của thi hào Gar-xi-a Lor-ca: Đường chỉ tay đã đứt dòng sông rộng vô cùng Lor-ca bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc chàng ném lá bùa cô gái Di-gan vào xoáy nước chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt li-la li-la li-la… Những câu thơ nói về đường chỉ tay và dòng sông dường như muốn nói đến định mệnh phũ phàng, phận người thì ngắn ngủi còn thế giới thì vô cùng. Trong thời khắc về cõi vĩnh hằng, không còn nữa một Lor-ca đi lang thang về miền đơn độc, cũng chẳng còn Lor-ca đi như người mộng du, lòng cháy bỏng những khát khao khi bị điệu về bãi bắn. Giờ đây, dòng sông đã trở thành ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa thực tại và siêu thoát. Trên dòng sông cuộc đời, thời gian vĩnh cửu, Lor-ca đã đi trên con thuyền huyền thoại – đó là chiếc ghi ta màu bạc. Màu bạc của đàn ghi ta hư ảo một màu huyền thoại nhưng cũng có thể thấy sắc bạc ấy như sáng lên, ánh lên long lanh, lấp lánh của khát vọng tự do, những cách tân nghệ thuật mà Lor-ca một thời theo đuổi. Chàng nghệ sĩ ấy đã bỏ lại cuộc đời, ném lại tình yêu và số phận mình vào xoáy nước của cuộc đời đầy máu và nước mắt để ra đi. Ở giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa thực tại và siêu thoát, Lor-ca đã giã từ cuộc đời. Tác giả đã thể hiện Lor-ca với hai hành động: ném lá bùa cô gái Di-gan và ném trái tim mình. Hai hành động này đã mở ra những cảm nghĩ về Lor-ca từ rất nhiều bình diện: Lor-ca đã hiện diện bằng trái tim đầy tình thương yêu nhưng mặt khác ta cũng thấy Lor¬ca không còn nuối tiếc cái lá bùa hộ mệnh, chàng đã ném nó vào xoáy nước. Hành động ấy còn mang ý nghĩa tượng trưng: Lor-ca đã biểu hiện thái độ hoàn toàn chủ động trước cái chết. Lor-ca không chỉ thắng được bọn phát xít mà còn chiến thắng cả định mệnh. Bài thơ đã kết thúc lại với câu thơ li-la li-la li-la. Câu thơ đã lặp lại những chữ li-la ở khổ thơ đầu như là sự gợi nhắc đến hương thơm của một loài hoa, đồng thời cũng cho ta nghĩ đến cú vê ghi ta rất điệu nghệ mà Lor-ca là một người trình tấu rất xuất sắc. Câu thơ đó lặp lại câu thơ ở khổ đầu còn như tạo ra một sự hô ứng: cái lặng yên mà tác giả nói đến chỉ là bất chợt còn những âm thanh vẫn ngân vang, cứ vọng mãi trong không gian, theo thời gian và trong tâm hồn người. Thanh Thảo dành nhiều bài thơ thể hiện suy ngẫm của ông về những cuộc đời và số phận ngang trái nhưng sống có nghĩa khí, nhân cách. Ông muốn phát hiện, khám phá và ca ngợi chất thật trong mỗi con người. Mỗi bài thơ của ông là một nỗ lực đổi mới và Đàn ghi ta của Lor-ca là một tác phẩm tiêu biểu. Với tấm lòng đồng điệu, đồng cảm, ngưỡng mộ và sự tiếc thương sâu sắc, Thanh Thảo đã ca ngợi, làm sống dậy hình tượng Lor-ca, một nghệ sĩ thiên tài yêu tự do, yêu Tổ quốc, đất nước Tây Ban Nha đã đi vào cõi bất tử như chính tiếng đàn ghi ta của ông. Bài thơ còn là sự kết hợp giữa thơ và nhạc cùng hệ thống thi ảnh phóng túng, ngôn ngữ mới mẻ, hiện đại, sức gợi đa chiều đã đem lại cho người đọc một thi phẩm giàu cảm quan thẩm mĩ. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca của nhà thơ Thanh Thảo
3,127
Đề bài: Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng đã tạo được giọng điệu riêng ngay từ khi trình làng thi phẩm đầu tiên "Dấu chân qua trảng cỏ" rồi đến “Những người đi tới biển”, sau đó là “Khối vuông ru-bích”. Ông luôn tìm tòi khám phá, sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do, đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ. Đàn ghita của Lorca là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy sáng tạo ấy. Thanh Thảo mở đầu bài thơ bằng chính di nguyện của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Đây là một di nguyện vừa thiêng liêng vừa cao thượng. Anh không muốn suốt đời là cái bóng ngăn cản sự phát triển của những tài năng trẻ của đất nước mình. Đây chính là cái tâm của người nghệ sĩ lớn suốt đời hi sinh cho nghệ thuật và đấu tranh chống phát xít bạo tàn. Về một ý nghĩa khác Đàn ghita đã gắn với giây phút cuối cùng của cuộc đời Lor-ca. Cái chết của người nghệ sĩ ấy và những phẩm chất tài năng của anh đã bắt gặp hồn thơ Thanh Thảo làm nên thi phẩm tuyệt bút này. Bài thơ có lối diễn đạt không viết hoa đầu dòng tạo nên một sự liền mạch như một dòng chảy của cảm xúc không có điểm dừng. Sự tài hoa của Thanh Thảo còn làm ta liên tưởng bài thơ như một bản đàn ngân vang với âm thanh “li-la” mênh mang, dìu dặt vút cao chắp cánh đưa người nghệ sĩ bay vút lên trên tất cả bạo tàn và chết chóc. Những tiếng đàn bọt nước Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt li-la, li-la, li-la đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chuếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn Những câu thơ mở đầu giàu sức gợi mang đến một trường liên tưởng về một đất nước đẹp tươi với tiếng ghi ta làm mê say lòng người, những vũ nữ Digan với làn da rám nắng và vũ khúc Flamenco cháy bỏng, những trận đấu bò rực lửa và danh dự của người kiếm sĩ và không thể thiếu những miền thảo nguyên bao la xanh bóng nắng. Giữa nắng và gió, giữa bao la thiên địa, Lorca hiện lên ngời sáng trong thơ. Sự chuyển đổi cảm giác từ thính giác sang thị giác tạo nên « tiếng đàn bọt nước » đầy biến ảo, khi tròn to, khi phập phồng thổn thức, khi vỡ ra tức tưởi như một « thiên bạc mệnh » có tính dự báo về những chông gai, trắc trở mà số phận người nghệ sỹ sẽ phải đón nhận ở phía trước. Và màu «áo choàng đỏ gắt» tiếp theo sau tiếng đàn bọt nước ấy chính là những trận đấu bò sinh tử. Nhưng đấu trường bò tót ngay trong sự chuyển gam của Thanh Thảo đã trở thành một đấu trường chính trị khổng lồ, ngột ngạt, căng thẳng, đẫm máu của Tây Ban Nha thời đó. Màu áo của kiếm sĩ « đỏ gắt » lên hay nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân chủ và kiềm hãm sự phát triển của một nền nghệ thuật đang già cỗi. Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát vọng dân chủ của nhân dân nói chung, của Lor-ca nói riêng với nền chính trị độc tài. Xét trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là cuộc xung đột giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua. Xét ở phương diện nào thì Lorca cũng là một chiến sĩ đơn độc đáng thương. Giữa lúc trận đấu đang căng thẳng thì bỗng vang lên âm thanh du dương, bổng trầm của tiếng đàn: li-la, li-la, li-la một thanh âm trong trẻo, thanh tao quyện hòa mùi hương hoa Lila dìu dịu, lan tỏa với những cánh hoa màu tím nồng nàn đầy sức sống giữa khung cảnh bạo tàn và chết chóc. Đấu trường khốc liệt nhường chỗ cho sự thăng hoa của nghệ thuật. Ai nói nghệ thuật không có sức mạnh. Không! Nghệ thuật chính là sức mạnh vô địch có thể hóa giải mọi hận thù. Và chàng nghệ sỹ của chúng ta đang thăng hoa trong bản hòa tấu Ghita đầy lãng mạn. Người đọc như đang dõi mắt theo từng bước chân lãng tử của người nghệ sỹ trên hành trình «lang thang về miền đơn độc» cùng với «vầng trăng – yên ngựa». Đây là một hệ thống thi ảnh thường bắt gặp trong thơ Lorca, chàng kị sỹ một mình trên lưng «con ngựa đen/ vầng trăng đỏ » với những bản đàn ghita phiêu bồng cùng giấc mơ tranh đấu. Trong thơ Thanh Thảo, Lorca hiện lên với dáng điệu «chuếnh choáng». Đây là một hình ảnh mang cái hồn say của người nghệ sỹ, không phải cái say tầm thường của những cốc rượu vang đỏ mà là say trong tranh đấu, say trong sáng tạo nghệ thuật. Nếu như chàng Đôn-ki-hô-tê trong trang văn của Xec-van-tec mải miết với giấc mơ hiệp sĩ thì Lorca mãi « mỏi mòn » trong hành trình chống lại tộc ác của bè lũ Phờ-răng-cô. Nhưng đáng thương thay, trong hành trình khát vọng ấy, Lorca là một nghệ sĩ cô đơn trong sáng tạo nghệ thuật và cô độc trong chiến đấu. Nhưng không vì thế « con họa mi của xứ Granada lại ngừng hót ». Chàng vẫn « Mãnh liệt như trăm ngàn sư tử/ Vững chắc như cẩm thạch » (Thơ Lorca) Càng chiến đấu, Lorca càng say mê, càng “hát nghêu ngao». Nhưng phũ phàng thay « đường chỉ tay đã đứt », định mệnh đã khiến chàng nghệ sĩ du ca của chúng ta phải dở dang hành trình khát vọng. Phát súng của bọn phát xít đã đánh hạ Lorca đáng thương. Thanh Thảo thốt lên sững sờ «bỗng kinh hoàng ». Như không tin vào mắt mình nữa. Cả dân tộc Tây Ban Nha bàng hoàng, cả thế giới nín lặng, bản giao hưởng chùng xuống rồi lại vút cao lên theo « máu anh phun như lửa đạn cầu vồng ». Thanh Thảo tạo dựng cái chết đầy bi phẫn của người anh hùng một cách tức tưởi bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập. Đối lập giữa niềm tin, tình yêu và lạc quan, khát vọng « hát nghêu ngao » với sự thật phũ phàng « áo choàng bê bết đỏ ». Đó là màu máu của Lorca làm tấm áo choàng đỏ gắt càng thêm «bê bết đỏ». Đối với Lorca, anh luôn dự cảm về cái chết nhưng anh cũng không thể ngờ rằng cái chết lại đến với mình nhanh đến thế. Anh đã từng thốt lên «Tôi không muốn nhìn thấy máu! ». Nhưng máu đã đổ. Người kiếm sĩ muốn một cái chết vinh quang giữa đấu trường cùng với đôi kiếm sắc nhưng lại bị kẻ thù hành hình một cách lén lút bất minh. Nhưng Lorca chấp nhận như người cách mạng đã chấp nhận «Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Gươm kề cổ súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa». Và vì chấp nhận, người anh hùng đã ung dung, bình thản ra giữa pháp trường «chàng đi như người mộng du». Mộng du là trạng thái của tâm hồn đã rời thể xác nhưng không có nghĩa là biến mất khỏi thể xác. Tâm hồn và tinh thần của Lorca đã gửi tất cả vào cuộc tranh đấu và vì thế bước chân mộng du đã hóa thành những bước chân anh hùng. Càng tiếc thương chàng nghệ sĩ bao nhiêu chúng ta lại càng căm phẫn tội ác bấy nhiêu. Và Lorca đã hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít. Bởi chúng chỉ có thể hủy diệt được thân xác của Lorca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh đang bung nở giữa bản hòa tấu trầm hùng mang âm hưởng của những tiếng Ghita nồng nàn vi diệu: tiếng ghi -ta nâu bầu trời cô gái ấy tiếng ghi -ta lá xanh biết mấy tiếng ghi -ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi -ta ròng ròng máu chảy Xem thêm: Phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều (Có dàn ý chi tiết)Điệp khúc dồn dập qua nhịp thơ Thanh Thảo như đã lột tả được cái bàng hoàng căm phẫn trong bản ghi ta bi tráng! Tôi gọi đây là khúc biến tấu của tiếng đàn, nó thay màu chuyển gam rất lẹ, biến ảo không ngừng và đặc biệt luôn sinh sôi nảy nở, giọt này vỡ đi, giọt kia lại trào ra không dứt. Đó chính là sức sống! Thanh Thảo sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác mang đến sự linh hoạt khi miêu tả tiếng đàn. Màu nâu xuất hiện suy tư, trầm tĩnh đến lạ thường. Đó là màu nâu của cây đàn, màu nâu của đất đai, màu nâu của làn da rám nắng trên thân hình những vũ nữ Digan bốc lửa. Trước giây phút từ li, chàng đã ngước nhìn lên bầu trời xanh tha thiết ”bầu trời cô gái ấy”. Đó là bầu trời của khát vọng, bầu trời yêu thương nơi có bóng hình nàng Maria thủy chung. Đối lập với màu nâu trầm tĩnh là màu xanh của "tiếng ghita lá xanh biết mấy”. Màu xanh là sự hóa thân của Lorca và tiếng đàn vào thiên nhiên mang sức sống cỏ cây: màu xanh của những vườn cam, màu xanh của thảo nguyên và những rặng Oliu hay hàng bạch dương nơi Lorca đang yên nghỉ. Hai tiếng biết mấy nằm ở cuối câu vừa là sự tha thiết trong tình cảm của người nghệ sĩ Thanh Thảo vừa để tôn thêm vẻ đẹp của tuổi trẻ Lorca – vẻ đẹp của người chiến sĩ suốt đời hi sinh vì lí tưởng. Tiếng đàn không chỉ mang sắc màu biến tấu mà còn mang hình khối, đường nét như hình hài của sinh mệnh. Nó cũng tức tưởi vỡ òa, cũng biết nói tiếng nói của sự căm phẫn bạo tàn. Hay nói đúng hơn đó là tiếng kêu cứu của nghệ thuật khi bị đẩy đến bờ vực của sự tuyệt diệt. tiếng ghi -ta tròn bọt nước vỡ tan tiếng ghi -ta ròng ròng máu chảy Hai tiếng vỡ tan, vừa là sự vỡ ra của bọt nước vừa là sự phập phồng thổn thức của tiếng đàn. Nó đã cất lên lời ca tranh đấu lên án bè lũ phát xít đã hủy diệt cái tài, hủy diệt cái đẹp. Và vì thế bản ghita bi tráng đẩy đến độ cao trào của sự bi phẫn, nó ròng ròng máu chảy, nó uất nghẹn, tức tưởi đến bật máu thành từng dòng đau thương trong một bản đàn giao hưởng hào sảng. Nỗi đau của tiếng đàn cũng là nỗi đau của người nghệ sĩ khi khát vọng chưa thành. Ta cũng đã từng bắt gặp nỗi đau của người nghệ sĩ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du ”Một cung gió thảm mây sầu/ Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay”. Nỗi đau của Kiều khi hầu đàn Hồ Tôn Hiến khiến cho dây đàn cũng nhỏ máu. Đó chính là sự đồng cảm giữa nghệ thuật và tâm hồn của người sinh ra nó. Thì ra nghệ thuật trong bản thể của nó cũng là một sinh mệnh. Với thủ pháp nghệ thuật so sánh và liên tưởng, Thanh Thảo đã làm sống dậy một không gian sinh tồn đầy sức sống mãnh liệt.không ai chôn cất tiếng đàntiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng Không ai chôn cất tiếng đàn hay không ai có thể chôn cất được tiếng đàn? Có lẽ nên hiểu theo cách thứ hai. Thứ nhất bởi nó là di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm của tinh thần được kết tinh từ hương sắc cuộc đời của người nghệ sĩ nhân dân. Thứ hai bởi sức sống mãnh liệt và hoang dại của nó như loài cỏ mọc hoang không gì có thể ngăn nổi chúng. Đây chính là sự bất tử, sự vĩnh hằng của nghệ thuật. Dù Lorca hi sinh nhưng sản phẩm tinh thần mà ông để lại đó chính là tâm hồn mình, nghệ thuật của mình. Những bài ca tranh đấu của Lorca vẫn đồng hành cùng thời gian và đi cùng năm tháng thăng trầm của lịch sử và nó mãi mãi được hát vang trong lòng của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Không chỉ bất tử, tiếng đàn của chàng ca sĩ hát rong còn mang vẻ đẹp của giọt nước mắt vầng trăng. Một hình ảnh mang nhiều liên tưởng gợi nhiều thi vị. Phải chăng đó chính là vẻ đẹp của nghệ thuật được kết tinh từ những giọt mồ hôi, từ máu và nước mắt của sự lao động nghệ thuật chân chính qua bao thời gian công sức đã nhào nặn thành viên ngọc lấp lánh mang hình hài của giọt nước mắt vầng trăng tinh khiết. Hay đó chính là vẻ đẹp của cuộc đời Lorca đã hóa thân thành viên ngọc quý lung linh tỏa sáng giữa đời. Bất ngờ thay, nơi đáy giếng tối tăm và lạnh lẽo, nơi mà bọn phát xít ngỡ tưởng đã vùi lấp được linh hồn và thể xác của người công dân Lorca, lại là nơi tỏa sáng tâm hồn anh. Ở khổ cuối của bài thơ, Thanh Thảo đưa người đọc vào thế giới suy tư về sự giải thoát của Lorca: đường chỉ tay đã đứt dòng sông rộng vô cùng Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghita màu bạc chàng ném lá bùa cô gái Digan vào xoáy nước chàng ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt li-la, li-la, li-la Và cuối cùng chàng nghệ sĩ của chúng ta đã dừng bước giang hồ trước dòng sông của định mệnh khi đường chỉ tay đã đứt. Sinh mệnh chấm dứt. Chàng rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian để trở về cõi vĩnh hằng. Dòng sông vô hình dung là dòng sông cuộc đời, dòng sông của số phận và cũng là đường ranh giới ngăn cách giữa sự sống và cõi chết. Trên dòng sông ấy, Lorca đang bơi sang ngang cùng di vật đàn ghita. Màu bạc của cây đàn là sự biến ảo từ màu nâu trầm tĩnh sang xanh thiết tha hi vọng và cuối cùng là màu của sự hư ảo trong cõi siêu sinh. Lorca đang bơi trên con thuyền thi ca mà cây đàn chính là con thuyền bàng bạc chở tình yêu và nỗi nhớ của chàng đang trôi dần vào bến bờ bất tử. Chàng dứt khoát rũ bỏ mọi hệ lụy trần gian ném lá bùa vào xoáy nước, ném trái tim vào cõi lặng yên. Xoáy nước là cuộc tranh đấu hay sự hiểm nguy trên dòng sông của định mệnh? Cõi lặng yên phải chăng là phút giây mà trái tim người nghệ sĩ ngừng đập? Có lẽ ta không cần phải lí giải về nó. Bởi Lorca đã về nơi an nghỉ cuối cùng. Chỉ còn vang vọng nơi đây âm vọng của tiếng đàn li-la, li-la, li-la như bản nhạc thiết tha, thấm đẫm hương thơm của loài hoa Lila đưa người nghệ sĩ – chiến sĩ về với cõi vĩnh hằng với bao niềm tiếc thương vô hạn. Tôi chợt nhớ tới bài thơ Ghi nhớ của anh: Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi cùng với cây đàn dưới lớp cát hàng bạch dương Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi giữa rặng cây cam và đám bạc hà. Khi nào tôi chết hãy vùi thây tôi, tôi xin các người đó, nơi một chiếc chong chóng gió. Có lẽ ở một nơi nào đó, chàng nghệ sĩ nhân dân đang được sống giữa những sự yên vui và đầy ánh nắng của tự do nơi đó không có bạo tàn và chết chóc. Bài thơ đã rất thành công khi tạo dựng một tượng đài Lorca bằng ngôn ngữ của thơ và âm nhạc. Với lối thơ không viết hoa đầu dòng, cảm xúc liền mạch, Thanh Thảo đã mang đến cho người đọc một mĩ cảm hiện đại giàu tính sáng tạo. Sự trộn lẫn giữa trường phái tượng trưng siêu thực và sức sáng tạo của Thanh Thảo đã cho ra đời một tuyệt bút đầy ngẫu hứng giàu chất nhạc. Trên hết là nhà thơ đã mang đến cho người đọc một tình yêu vô bờ bến đối với nhà thơ nhân dân chống phát xít bạo tàn. Bất kỳ một cuộc chiến nào cũng có người chiến thắng và kẻ bại trận nhưng những người biết hi sinh vì mọi người luôn luôn là người anh hùng với chiến thắng vĩ đại nhất. Gacxia Lorca là một người như thế. Nguồn Edufly Xem thêm: Nói những điều em biết về ngôi trường của em
Phân tích bài thơ Đàn ghita của Lorca của Thanh Thảo
2,917
Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu Hướng dẫn Xuân Diệu được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Đề tài mà Xuân Diệu hướng đến không có gì là xa lạ mới mẻ, ông cảm nhận thiên nhiên trước một nỗi niềm xôn xao bắt nguồn từ cái buồn cô đơn, từ sự khát khao giao cảm với đời chỉ thực sự xuất hiện trong ý thức cá nhân sâu sắc của các nhà thơ mới. Tác phẩm Đây mùa thu tới là một tác phẩm như vậy. Tác giả đã vẻ lên hình tượng mùa thu với dáng vẻ của một thục nữ mỹ miều tha thướt và u buồn, đẹp một vẻ dẹp lãng mạn, cao sang. Nàng thu của Xuân Diệu đang nhón gót trên đường biên của phút giao mùa, từ hạ sang thu. Tác giả đã cảm nhận không khí của mùa thu qua dáng vẻ của rặng liễu bên hồ: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Liễu đã xuất hiện nhiều trong thơ ca với những hình ảnh đẹp, thướt tha, trong Truyện Kiều: “Dưới cầu nước chảy trong veo – Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”. Liễu của Xuân Diệu gay gắt hơn: “chịu tang” – một cảm nhận bất ngờ, đẫm màu tang tóc. Song bất ngờ mà vẫn đúng. Lá liễu được so sánh thật tầng lớp, biến hóa: vừa đổ xuống song song như sóng tóc giai nhân, vừa tuôn chảy như dòng lệ ướt. Để nhấn mạnh nỗi tang tóc, Xuân Diệu còn đưa ra một loạt từ láy ầm: “đìu hiu”, “buồn buông”, khiến câu thơ càng bị ru thêm vào một âm điệu thê lương, chua xót. Một lần nữa, tác giả đã khẳng định, rặng liễu đã báo hiệu mùa thu tới Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng. Câu thơ vừa như một tiếng reo vui mừng, vừa như một tiếng thở dài, trong tiếng thở dài có tiếng reo thầm, vì mùa thu đâu chỉ mang tới cái buồn lạnh, mà còn chứa đựng cả cái xôn xao của sự sống. Đến câu cuối, mùa thu hiện hình cụ thể hơn “Với áo mơ phai dệt lá vàng”. Hình ảnh thật diễm ảo: mùa thu nhuộm vàng cả đất trời, hay đất trời dệt áo vàng khoác lên nàng thu? Nàng thu bỗng trở nên đẹp lộng lẫy, sang trọng, nhưng nếu tinh ý, ta sẽ nhận ra đó là vẻ đẹp sắp tàn, khiến tiếng reo trong câu thơ ngầm chứa sự thảng thốt lo âu. Cái đẹp xao xác buồn này sẽ định hướng cảm xúc toàn bài, cũng là một khuynh hướng thẩm mĩ quen thuộc của Thơ mới. (Lưu Trọng Lư từng viết: “Em không nghe mùa thu – Lá thu kêu xào xạc – Con nai vàng ngơ ngác – Đạp trên lá vàng khô”. Đẹp quá, mà sao câu thơ như muốn khóc).Xem thêm: Em có suy nghĩ gì về vẻ đẹp tâm hồn của một con người Tác giả đã bắt đầu chú ý hơn đến những gì gần gũi xung quanh mình, và điểm bắt đầu là vườn thu. Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh. Mùa thu xuất hiện trọn vẹn trong khu vườn mà tác giả đang là trung tâm. Tác giả đã nhận ra một mùa thu buốt lạnh đang bòn rút sự sống của cỏ cây hoa lá, tức là của tạo hóa. Ở câu 2 có một từ đắt: “rủa”, đồng nghĩa với “lấn” (Lá đỏ lấn lá xanh), nhưng, đổi sang “lấn” thì hiệu quả khác hẳn. “Lấn” gợi một hiện tượng thiên nhiên, thiên về miêu tả thực tế. “Rủa” thiên về biểu hiện nội tâm, nên mạnh hơn, nhói buốt hơn, tạo một cảm nhận bỏng rát, đau đớn trước sự tàn phá nghiệt ngã của thiên nhiên. Nguyễn Gia Thiều cũng tùng có một câu thơ dữ dội như thế: “Sương như búa bổ mòn gốc liễu” (Cung oán ngâm khúc). Trong sự trầm tư suy nghĩa về mùa thu, nhà thơ nhận thấy gió cũng như là vật hữu hình. Ngọn gió thổi ra từ cổ thi từng rất buồn: “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” (Thu vịnh – Nguyễn Khuyến), nhưng là cái buồn trong tiếng thở dài yếu ớt. Gió Xuân Diệu run lên bần bật bởi 4 phụ âm “r” (run rẩy, rung rinh) làm câu thơ buốt đến tái tê. Vũ Quần Phương quả là tinh tế khi cho răng hiệu quả câu thơ không chỉ tả gió mà còn gọi rét. Hình ảnh cành cây trong ca dao cũng rất đắm say: “Gió đưa cành trúc la đà”. Nguyễn Khuyến đã ghê, gọt nhỏ cái “cành” trong ca dao thành cái “cần” trong Thu vịnh (Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu). Xuân Diệu lại đẩy tiếp “cần” của Nguyễn Khuyến thành “nhánh” và “xương” đầy chất tạo hình, gây ấn tượng thị giác rất mạnh: chạm khắc vào trời thu hình ảnh cây cối quắt queo như dẻ xương gầy. Mùa thu héo quắt thêm trong hồn thơ Xuân Diệu.Xem thêm: Người ta thấy ở văn xuôi Nguyễn Ái Quốc "một nghệ thuật trần thuật linh hoạt độc đáo và một ngòi bút châm biếm vừa sâu sắc đầy tính chiến đấu, vừa tươi tắn, hóm hỉnh”. Hãy chứng tỏ điều đó qua truyện ngắn Vi hành Càng ngắm khung cảnh trời thu, tác giả lại càng có trạng thái u uất hơn, trùm lên cả đất trời rộng lớn. Điều độc đáo là Xuân Diệu xen kề đất và trời thành những cặp đôi song song đi suốt hai khổ thơ cuối. Bầu trời hiện lên trước mắt nhà thơ thật đẹp có trăng, mây và chấp chới cánh chim. Câu thơ tả trăng có một âm điệu rất hay: “Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ”. Câu chữ và hình ảnh ngồ ngộ, ngơ ngác thế nào. Sao lại “thỉnh thoảng”? Sao lại “tự ngẩn ngơ”? Hoài Thanh bắt rất tinh đặc điểm này của Xuân Diệu: “Ngay lời văn của Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi. Xuân Diệu viết văn tựa như trẻ con học nói hay người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người”. Đúng thế. Đọc kĩ, mới thấy câu thơ Xuân Diệu rất tinh và rất nghịch, vì nó đột ngột “bắt quả tang” một trạng thái mơ màng, ngơ ngẩn của nàng trăng. Có điều, Xuân Diệu bắt quả tang thiên nhiên hay chính cõi lòng mình? Từ cánh chim trốn rét, Xuân Diệu chợt hốt hoảng khi nhận ra điều đáng sợ đang xảy ra giữa đất trời: “Khí trời u uất hận chia li”. Nỗi đau li tán dằn xuống trong thanh trắc của chữ “hận” như tiếng nấc trước một vũ trụ dường như trống rỗng. Khung cảnh mùa thu đã làm cho con người và vạn vật đều buồn, bầu trời và mặt đất đều có chung tâm trạng buồn: Đã nghe rét mướt luồn trong gió Tác giả đã dùng từ “luồn” thật tinh diệu, gợi cho người đọc có cảm giác nhìn thấy được cái rét mướt đang hiện hữu hình. Đúng là cái rét đang tàng hình trong tiết chớm thu, mà chỉ người nghệ sĩ – vốn là nhà bác học của các giác quan mới phát hiện được. Nhưng hình ảnh con người đột ngột xuất hiện trong hai câu kết mới là cái nấc cao nhất của cảm giác thu Xuân Diệu:Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp gần gũi, giản dị em đã thường được ngắm nhìn (góc phố nơi em ở, con đường em đi học, cánh đồng quê em, ...) Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì? Nàng thu hiện lên trong bóng dáng của một nàng thiếu nữ đẹp. Tất cả cảm giác thu quy tụ vào đây. Thơ Xuân Diệu dẫu có nói trời mây non nước gì cuối cùng cũng kết lại nơi con người, nơi tuổi trẻ, nơi những thiếu nữ vừa chạm bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, vừa ngơ ngác vừa khao khát – khao khát yêu đương, khao khát giao cảm với cuộc đời rộng lớn. Hai câu thơ man mác trong trạng thái mơ hồ không xác định, rất hợp với tâm hồn bâng khuâng của lứa tuổi này; con số không xác định (ít nhiều), nỗi buồn thầm lặng không duyên cớ (buồn không nói). Bức tranh thu của Xuân Diệu là sự thám hiểm phút chuyển mình cũ mà mới mẻ của thời gian từ hè sang thu, từ nóng sang lạnh bằng những giác quan tinh tế (thị giác, xúc giác), tạo những rung động thâm mĩ. Đó là một cống hiến quý báu của thi sĩ trong việc khám phá thiên nhiên bằng nghệ thuật thơ ca. Linh hồn bức tranh là một tình thu buồn vắng cô đơn. Thứ nhất, do trạng thái riêng của mùa thu. Thu không ồn ào như hạ, tê tái như đông, tươi tắn như xuân mà êm lắng u sầu một cách mơ màng, dễ gợi hồn thơ hướng nội. Thứ hai, nỗi buồn thu gặp nỗi sầu tuổi trẻ của thời vong quốc, ngơ ngác trước ngưỡng cửa vào đời, càng khao khát nhập vào đời càng bị đẩy vào cô đơn. Cái lạnh thu là cái lạnh của linh hồn cô đơn đang “thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau” (Xuân Diệu). Giá trị nhân bản của bài thơ là ở nỗi buồn trong sáng ấy. Đây mùa thu tới gợi cho người đọc cảm nhận được mùa thu đẹp mà buồn. Bài thơ thể hiện sự mới mẻ cả nghệ thuật và nội dung, thể hiện sự cô đơn, niềm khát khao giao cảm với đời của nhà thơ. Nguồn:
Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu
1,679
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một sáng tác của nhà thơ Hàn Mạc Tử. Bài thơ như một bức tranh vừa tả cảnh, vừa tả tình vô cùng độc đáo. Tình cảm trong bài thơ chan chứa nhưng được bộc lộ khá kín đáo và nhẹ nhàng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau lập dàn ý và phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ để có thể cảm nhận được rõ nét nhất vẻ đẹp của tác phẩm cũng như tài năng sáng tác của Hàn Mạc Tử. I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ 1. Mở bài – Giới thiệu về tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ và tác giả Hàn Mạc Tử. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một bức tranh về cảnh vật ở Huế vô cùng tươi đẹp. Trong đó có hình ảnh con người xuất hiện với một tình yêu chưa được trọn vẹn. 2. Thân bài – Những cảm xúc sâu sắc trong bài thơ hòa nhập với bức tranh thiên nhiên tươi đẹp nơi thôn Vĩ. + Bức tranh thiên nhiên rộng lớn, có sự xuất hiện của con người. + Những hình ảnh tươi đẹp, nhẹ nhàng: hàng cau, vườn cúc. Không gian thiên nhiên, cảnh vật, con người hòa vào với nhau tạo nên một bức tranh nhẹ nhàng. + Nỗi buồn và cô đơn của nhà thơ khi phải rời xa những cảnh đẹp này. + Cảm xúc của nhà thơ khi trở về xứ Huế, tâm trạng nhuồm màu lên cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng mang một nét buồn thương. + Những cảm xúc của nhà thơ khi nhớ về khung cảnh cũ của thiên nhiên. + Đứng trước không gian, mọi thứ trở nên mơ ảo. + Đứng trước sự mơ ảo của không gian và thời gian, tình cảm của con người cũng trở nên mơ ảo. + Những xúc cảm đặc biệt của con người trước không gian thiên nhiên. + Những cảm xúc chân thành của tác giả. 3. Kết luận Tổng quát lại những nội dung đã phân tích, nêu bật lên nội dung trọng tâm mà bài thơ mang đến cho người đọc: không gian thiên nhiên rộng lớn, tình cảm, cảm xúc của con người. Bài viết liên quan: >> Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu (có dàn ý chi tiết) Xem thêm: Bình giảng bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu II. Bài làm phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mạc Tử từ lâu đã là cái tên quen thuộc của thi ca Việt Nam. Hàn Mạc Tử làm thơ khá nhiều và mặc dù những vần thơ của ông đượm buồn nhưng nó vẫn là những bài thơ hay và mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chính là một trong những sáng tác độc đáo của ông. Bài thơ nhẹ nhàng, tinh tế nhưng cũng có những nét khiến cho người đọc phải tò mò. Thậm chí cho tới bây giờ vẫn có rất nhiều tranh cãi về nội dung của bài thơ này. Đây thôn Vĩ Dạ được Hàn Mạc Tử sáng tác khi ông đang bệnh nặng. Cảm giác về cuộc đời ngắn ngủi, nuối tiếc vì một tình yêu không trọn vẹn, lời bài thơ như một bức thư để nhà thơ nhắn gửi tâm tình vào đó. Thế cho nên, những câu thơ mở đầu mới như một lời trách móc. Nhưng trong sự giận hờn và trách móc ấy, chúng ta thấy được một tình yêu thầm lặng: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Con gái đang yêu thường đỏng đảnh, thường hay giận hờn. Và câu trách móc này hẳn là của một cô gái đang yêu. Vì sao thôn Vĩ đẹp như vậy mà anh lại không về chơi? Hẳn là giữa hai người đã có những lời ước hẹn nào đó. Vậy nên người con gái mới chờ đợi tới ngày chàng trai quay trở về. Hoặc nếu không thì với những cảnh đẹp nơi thôn Vĩ như vậy, ít ra chàng trai cũng sẽ vì cảnh mà quay lại: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Ba câu thơ miêu tả thật xuất sắc cảnh đẹp của buổi sáng sớm nôn thôn Vĩ. Thôn quê chẳng có gì ngoài vườn cây và những hàng cao tít lên tận mây xanh. Nhưng dưới cái nắng sớm mai, chúng hiện lên long lanh như một viên ngọc quý. Nắng hàng cau, nắng mới chỉ chạm tới ngọn cau thôi, ánh sáng của nó vẫn còn khá là dịu nhẹ. Có lẽ đó là thời điểm nắng đẹp nhất trong ngày nơi thôn Vĩ. Nắng nhè nhẹ nhưng đủ để làm cho khu vườn trở nên long lanh và xanh mướt. Những giọt sương ban mai còn đọng lại trên những chiếc lá, gặp nắng sớm chúng trở nên long lanh như ngọc. Phải yêu thôn Vĩ và có cái nhìn tinh tế lắm thì Hàn Mạc Tử mới có thể viết nên được những vần thơ như vậy. Nhưng thôn Vĩ đẹp đâu chỉ bởi cảnh vật, thôn Vĩ đẹp còn bởi con người ở trong đó. Con người ở đây có khuôn mặt chữ điền. Không được miêu tả rõ nét từng chi tiết nhưng qua câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ điền, chúng ta cũng cảm nhận được rằng đây là khuôn mặt đẹp. Lông mày hình lá liễu, khuôn mặt vuông chữ điền, đó là chuẩn mực của cái đẹp khi xưa.Xem thêm: Bình giảng bài thơ “Chạy giặc" của Nguyễn Đình Chiểu. Những câu thơ đang tràn đầy sức sống và sự tươi mới thì bỗng dưng chùng hẳn xuống, lạc đi và mang một nét buồn: Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay Chúng ta vẫn biết gió thổi thì mây bay có nghĩa là gió và mây luôn quấn quýt bên nhau, chung lối với nhau. Thế nhưng trong thơ của Hàn Mạc Tự, mây và gió đang tách ra đi theo những hướng khác nhau. Gió đi lối của gió, mây đi lối của mây. Đó là một sự chia li bất thường và nó khiến cho người ta thật đau lòng. Cả khổ thơ chỉ có 4 câu, mỗi câu chỉ có 7 chữ mà câu thơ nào cũng chất chứa nỗi buồn. Câu thơ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay khiến cho người đọc cảm nhận một cái gì đó như đang vỡ tan ra. Sự vụn vỡ của thiên nhiên, sự chia cách của thiên nhiên sao mà đau lòng đến vậy. Nhưng đau lòng hơn cả là sự chia cắt của con người. Một nỗi hoài nghi được nhà thơ đưa ra, liệu rằng thuyền ai có kịp chở trăng về nơi này hay không? Câu thơ mang hình ảnh kì ảo và có chút mơ hồ. Mặc dù thuyền và trăng là hai hình ảnh vốn quen thuộc trong thơ Hàn Mạc Tử thế nhưng ở đây con thuyền không phải thuyền bình thường nữa mà nó đã là con thuyền trăng. Và vì vậy, dòng sông cũng đã trở thành dòng sông trăng. Có về kịp hay không mà về kịp để làm gì? Có lẽ chỉ có tác giả mới có thể trả lời được. Hoặc giả, nhà thơ cũng không biết, không rõ, một sự mơ hồ, một cái gì đó chất chứa trong lòng mà không thể nào diễn tả ra được.Xem thêm: Tả khu vui chơi giải trí mà em thích Sự kì ảo vẫn tiếp tục bao trùm lên khổ thơ cuối cùng: Mơ khách đường xa khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà. Người ta thường mơ thấy những điều khiến họ đã suy nghĩ quá nhiều. Phải chăng ở đây, nhà thơ đã nghĩ quá nhiều đến khách đường xa nên mới mơ tới hình ảnh khách đường xa? Ảo ảnh mộng mị, người em trong màu áo trắng vừa rõ nét, vừa mờ ảo khiến cho nhà thơ không thể nào nhìn rõ. Lại thêm sự kết hợp của sương khói lại càng khiến cho mọi thứ nhòe đi. Cảnh mờ, liệu tình người có đậm đà? Một câu hỏi tu từ vẫn còn đang bỏ ngỏ. Có lẽ, chính nhà thơ cũng đang đi tìm câu trả lời. Bài thơ miêu tả cảnh đẹp của xứ Huế nhưng lại mang đến cho người đọc cảm giác mơ hồ về sự chia ly. Nhà thơ như đang ngờ vực vào tình cảm của người con gái Huế. Bài thơ cho ta cảm nhận sâu sắc về tình cảm của nhà thơ và thương cho những đắng cay mà ông đã phải trải qua. Nét đặc sắc của bài thơ này chính là ở những câu hỏi tu từ và những hình ảnh miêu tả đặc sắc. Trên đây, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu dàn ý cũng như bài văn mẫu phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mạc Tử. Hy vọng rằng bài văn mẫu này sẽ giúp các em có thêm những gợi ý để áp dụng cho bài làm của mình. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (Có dàn ý chi tiết)
1,567
Đề bài: Phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Bài làm Nhắc đến phong trào Thơ mới thì không thể không nhắc tới nhà thơ Hàn Mặc Tử. Ông là một trong những ngôi sao sáng nhất với những bài thơ thể hiện một tâm hồn lãng mạn, dạt dào yêu thương. Bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ chính là một trong những bài thơ hay nhất của ông viết về đề tài tình yêu. Đây Thôn Vĩ Dạ được sáng tác khi Hàn Mặc Tử đang bệnh nặng. Chính vì thế mà qua bài thơ ta thấy được vẻ đượm buồn, man mác giữa khung cảnh thiên nhiên thôn Vĩ Dạ. Mở đầu bài thơ là một câu hỏi đồng thời cũng là một lời trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” Như chúng ta đã biết thì thôn Vĩ Dạ nằm ở bên bờ sông Hương. Đây chính là một địa danh quen thuộc, trở thành nguồn cảm hứng và được nhắc đến ở nhiều bài thơ ca. Khi đọc lên câu thơ đầu cho chúng ta cảm nhận thấy đây như một câu hỏi, một lời trách nhẹ nhàng nhưng cũng giống như một lời mời gọi, mời người thi sĩ trở về thăm Vĩ Dạ để thưởng thức những cảnh đẹp nơi đây. Có lẽ càng chắc chắn hơn khi mà ngay những câu tiếp theo thì nhân vật trữ tình đã giới thiệu về cảnh vật nơi đây: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Nét đặc sắc đầu tiên mà nhân vật trữ tình hay người con gái xứ Huế gợi mở đó chính là hình ảnh hàng cau. Vốn dĩ hình ảnh hàng cau là hình ảnh rất đỗi quen thuộc đối với người Việt Nam ta. Cây cau gắn với những quả cau xanh, với lá trầu trong tục cưới hỏi, trong lễ tiết tiếp đón khách của mọi người bởi “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Đến với Vĩ Dạ thì còn là hình ảnh nắng sớm bao trùm lên hàng cau như đang nhuộm màu lên cảnh vật. Trước mắt người đọc như hiện lên một hình ảnh thân thuộc về làng quê. Trong ánh nắng ban mai ấy, rời khỏi tầm nhìn trên cao với những cây cau mọc cao vút lên thì bên dưới chính là những khu vườn xanh mướt. Từ cách miêu tả của nhân vật trữ tình khi sử dụng các từ “mướt”, “như ngọc” khiến cho ta cảm nhận được một khu vườn mỡ màng, đương ở độ tươi tốt, mơn mởn. Những tán lá như được màn sương đêm gột rửa rồi được ánh nắng của sớm mai hong khô khiến nó trở nên bóng mượt tựa ngọc. Một khu vườn tràn ngập sức sống. Có thể nói chỉ với hai câu thơ tả cảnh ngắn ngủi nhưng ta đã có thể cảm nhận được sự quan sát tinh tế của Hàn Mặc Tử. Phải yêu, phải hiểu và có một tâm hồn tinh tế, trong trẻo thì thi sĩ mới có thể nhận thấy vẻ đẹp của thôn Vĩ và tái hiện lại một cách sống động, nên thơ đến vậy.Xem thêm: Bình giảng bài thơ Thương vợ của Trấn Tế Xương Phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Giữa cảnh vật tươi đẹp như vậy nhưng càng khiến vẻ đẹp ấy trở nên tươi đẹp hơn, sống động hơn khi có con người: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Trúc vừa là hình ảnh thanh mảnh nhưng lại cứng cáp biểu trưng cho người quân tử. Khuôn “mặt chữ điền” lại là khuôn mặt thể hiện sự phúc hậu của người con gái xứ Huế. Hai hình ảnh như hòa quyện vào nhau tạo nên sự hài hòa cho ý thơ, làm cho khung cảnh trở nên thi vị. Nối tiếp là khung cảnh dường như được mở rộng ra: “Gió theo lối gió mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay” Hai câu thơ mang theo nỗi buồn man mác của người thi sĩ. Khung cảnh có mây, có gió nhưng mây gió lại không chung đường mà chia đôi ngả khác nhau. Trong cái “lối gió, đường mây” đó thì “hoa bắp” có sự lay động nhẹ nhàng, “dòng nước buồn thiu”. Cảnh vật như dược nhuốm màu tâm trạng của nhân vật trữ tình, một tâm trạng buồn sầu, man mác cũng là nét đặc trưng của dòng sông Hương êm đềm mà lặng lẽ. Như chúng ta đã biết Hàn Mặc Tử là một người thi sĩ rất yêu trăng, ánh trăng xuất hiện rất nhiều lần trong thơ của ông, là người bạn, người tri kỷ của thi sĩ. Trong bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ cũng xuất hiện cảnh tượng một đêm trăng thơ mộng với hai hình ảnh quen thuộc đó chính là “thuyền trăng”, “sông trăng”. Dòng sông trong đêm trăng như được đong đầy ánh sáng và trở thành dòng sông ánh sáng, sông trăng:Xem thêm: Giới thiệu về tổ em, tổ 2 “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay” “Sông trăng” với ánh trăng là biểu tượng cho cái đẹp, cho sự thanh bình và hạnh phúc mà cả dòng sông đầy ắp ánh trang có con thuyền như đang đong đầy, đang chở theo hạnh phúc ấy. Thế nhưng, ở câu thơ tiếp theo lại giống như đang day dứt, đang phấp phỏng, lo âu rằng không biết có “kịp” về không. Gắn với cuộc đời của nhà thơ khi ông viết bài thơ này thì nhà thơ đang bệnh nặng và ông không biết rằng mình còn có thể sống được bao lâu nữa, có thể nắm được hạnh phúc ấy hay không. Thi sĩ sợ rằng mình sẽ bỏ lỡ, sẽ dang dở và không thể chờ được con thuyền hạnh phúc ấy cập bến bờ: “Mơ khách đường xa khách đường xa Áo em trắng qua nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà” Sau khi mơ đến viễn cảnh tươi đẹp thì nhà thơ như trở lại cái thực tại phũ phàng. Ông không mơ được trở về Thôn Vĩ nữa mà mơ rằng sẽ có người nhớ đến ông và thăm ông. Điệp từ “khách đường xa” như nhấn mạnh sự xa cách vô cùng, nhấn mạnh khoảng cách mà nhà thơ không sao có thể với tới được. Vậy thì vị “khách đường xa” ấy là ai? Có thể đó chính là nhà thơ, một người đang mong muốn, khao khát được trở về thôn Vĩ. Nhưng cũng có thể là người quen của ông nơi phương xa và ông khao khát họ sẽ đến thăm ông vào lúc ốm đau, bệnh tật này. Giấc mơ ban đầu như nhòa đi trong màu áo trắng của “em”, nó là hình ảnh gần gũi nhưng lại quá xa xôi đối với Hàn Mặc Tử vào lúc này. “Áo em trắng” giống như gợi về hình ảnh của những cô thiếu nữ xứ Huế với chiếc áo dài trắng tinh, với chiếc nón lá. Nhưng hình ảnh đẹp đẽ đó lại bị nhòa đi vì “sương khói” khiến cho người đọc liên tưởng đến mộng ảo. Có lẽ đó chỉ là cảnh vật mà nhà thơ tưởng tượng lên đưa chúng ta tới một cõi xa xôi nào đó. Cũng bởi vì “sương khói” khiến cho người ta có cảm giác không chân thực và phải tìm kiếm thân ảnh giữa làn sương khói ấy. Dường như niềm nhớ thương, sự vô vọng ấy khiến cho tác giả phải thốt lên rằng: “Ai biết tình ai có đậm đà”. Đại từ phiếm chỉ ai ta đã gặp nhiều lần trong bài thơ đó là “vườn ai”, “thuyền ai” nó giống như sự tự hỏi lòng mình và đang kiếm tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó.Xem thêm: Bức tranh thiên nhiên trong hai bài thơ: “Giải đi sớm” và “Chiều tối” của Hồ Chi Minh Bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ như một khúc ca đậm đà chất Huế. Nó là tiếng lòng của người thi sĩ thiết tha, yêu đời khi nhớ về thiên nhiên, cảnh vật và con người xứ Huế mộng mơ. Tác giả gửi gắm nỗi lòng và tình yêu sâu sắc thông qua ngòi bút tinh tế, gợi tả. Khi gấp lại trang thơ, những hình ảnh về miền quê tươi đẹp, về con người nơi xứ Huế vẫn như khắc sâu vào tâm trí độc giả, khiến cho ta ao ước được một lần đặt chân đến mảnh đất này. Loan Trương
Phân tích bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử hay nhất
1,456
Đề bài: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử Bài thơ về xứ Huế mộng mơ Đây thôn Vĩ Dạ đã để lại cho ta biết bao hoài niệm đẹp về phong cảnh hữu tình xứ Huế, con người Huế và đặc biệt hơn là sự lãng mạn của một đời thơ, một đời người – Hàn Mặc Tử. "Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt, Khép phòng đốt nến, nến rơi châu…" Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? "Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu – Đợi gió đông về để lả lơi…" ("Bẽn lẽn") – Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng, bến trăng… Cả một trời trăng ảo mộng, huyền diệu. Thơ Hàn Mặc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện tâm hồn "say trăng" với tình yêu tha thiết cuộc đời, vừa thực vừa mơ. Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong trào Thơ mới (1932 – 1941). Với 28 tuổi đời (1922 – 1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng trăm bài thơ và một số kịch thơ. Thơ của ông như trào ra từ máu và nước mắt, có không ít hình tượng kinh dị. Cũng chưa ai viết thơ hay về mùa xuân và thiếu nữ ("Mùa xuân chín"), về Huế đẹp và thơ ("Đây thôn Vĩ Dạ") như Hàn Mặc Tử. "Đây thôn Vĩ Dạ" rút trong tập "Thơ điên" xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời. Bài thơ nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái duyên dáng, đa tình, đáng yêu – tình yêu thơ mộng đắm say, lung linh trong ánh sáng huyền ảo. Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng khuâng, một khao khát về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Dạ. Câu đầu "dịu ngọt" như một lời chào mời, vừa mừng vui hội ngộ, vừa nhẹ nhàng trách móc người thương biết bao thương nhớ đợi chờ. Giọng thơ êm dịu, đằm thắm và tình tứ: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?". Có mấy xa xôi. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm. Bao kỉ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ: "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền?" Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp. Nhìn từ xa, say mê ngắm nhìn những ngọn cau, tàu cau ngời lên dưới màu nắng mới, "nắng mới lên" rực rỡ. Hàng cau như đón chào người thân thương sau bao ngày xa cách. Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay. Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược thôn Vĩ Dạ: "Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc". Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông "mướt quá" một màu xanh như ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, con người cần cù chăm bón mới có "màu xanh ngọc" ấy. Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về mùa xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…" ("Thơ duyên"). Hai chữ "vườn ai" đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác. Câu thứ tư tả thiếu nữ với vườn xuân: "Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Mặt trái xoan, mặt hoa da phấn mới đẹp. Mặt chữ điền, gương mặt đầy đặn, phúc hậu. "Lá trúc che ngang" là một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu. Hàn Mặc Tử hơn một lần nói về trúc và thiếu nữ. Khóm trúc như tỏa bóng xanh mát che chở cho mối tình đẹp đang nảy nở: "Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc Nghe ra ý nhị và thơ ngây". (Mùa xuân chín) Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng mới, tả vườn xuân, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ. (xanh như ngọc… mặt chữ điền). Cảnh và người nơi thôn Vĩ Dạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu. Xem thêm: Nghị luận xã hội về tình thươngVĩ Dạ – một làng quê nằm bên bờ sông Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Dạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đấy thường dìu dặt câu Nam ai, Nam bình qua tiếng đàn tranh, đàn tam thập lục huyền diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Dạ đẹp nên thơ. Hàn Mặc Tử đã dành cho Vĩ Dạ vần thơ đẹp nhất với tất cả tấm lòng tha thiết mến thương. Khổ thơ thứ hai nói về cảnh trời mây, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng, hài hòa và sống động. Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần đấy mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm trôi lờ lững, trong tâm tưởng thi nhân trở nên "buồn thiu", nhiều bâng khuâng man mác. "Hoa bắp lay" nhè nhẹ đung đưa trong gió thoảng. Nhịp điệu khoan thai, thơ mộng của miền sông Hương, núi Ngự được diễn tả rất tinh tế. Các điệp ngữ luyến láy gợi nên nhiều vương vấn mộng mơ: "Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay". Hai câu tiếp theo nhà thơ hỏi "ai" hay hỏi mình khi nhìn thấy hay nhớ tới con đò mộng nằm trên bến sông trăng. Sông Hương quê em trở thành sông trăng. Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Dạ mà sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với những con đò dưới vầng trăng. Nguyễn Công Trứ đã từng viết: "Gió trăng chứa một thuyền đầy". Hàn Mặc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một vần thơ trăng độc đáo: "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay?" Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền. Thuyền em hay "thuyền ai" vừa thân quen, vừa xa lạ. Chất thơ mộng ảo "Đây thôn Vĩ Dạ" là những thi liệu ấy. Câu thơ gợi tả một hồn thơ làm ta rung động trước vẻ đẹp hữu tình của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng, thơ mộng và thoáng buồn. Khổ thơ thứ ba nói về cô gái Huế và tâm tình thi nhân. Đương thời nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về thiếu nữ sông Hương: "Những nàng thiếu nữ sông Hương – Da thơm là phấn, má hường là son"… Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ mờ sương khói. "Sương khói" trong Đường thi thường gắn liền với tình cố hương. Ở đây sương khói làm nhòa đi, mờ đi áo trắng em, nên anh nhìn mãi không ra hình dáng em (nhân ảnh). Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa, thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, bâng khuâng. Ta đã biết Hàn Mặc Tử từng ôm ấp mối tình với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp. Phải chăng nhà thơ muốn nói về mối tình này? "Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?" "Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có", các điệp ngữ luyến láy ấy tạo nên nhạc điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang. Người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với bao mối tình tình nhưng suốt đời phải sống trong cô đơn bệnh tật. Cũng cần nói đôi lời về chữ "ai" trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ "ai" xuất hiện đều mơ hồ ám ảnh: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc?" – "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?" – "Ai biết tình ai có đậm đà?". Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng. Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi vơi trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ đi cùng sương khói? Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ… bao hình ảnh và cảm xúc đẹp hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. "Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơ tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, con thuyền ai trên sông trăng, và màu trắng của áo em như đang dẫn hồn ta đi về miền sương khói của Vĩ Dạ thôn một thời xa vắng: "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?". Nguồn Edufly Xem thêm: Tả cây bàng
Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
1,649
Phân tích bài thơ Đường đi khó của Lý Bạch. Hướng dẫn Lý Bạch (701 – 762) Cốc vàng, rượu trong, vạn một đấu, Mâm ngọc, nhắm quý, giá mười ngàn. Dừng chén, ném đũa, nuốt không được. Rút kiếm, nhìn quanh, lòng mênh mang! Muốn vượt Hoàng Hà, sông băngđóng! Toan lên Thái Hàng, núi tuyết phơi! Lúc rỗi buôngcâu hờ khe biếc Bỗngmơ thuyền lướt cạnh mặt trời! Đường đi khó!Đườngđi khó! Nay ở đâu? Đườngbao ngả! Cưỡigióphá sónghẳn có ngày, Treo thẳng buồm mây vượt biển cả! Lý Bạch (701 – 762) là một trong những nhà thơ lớn nhất đời Đường. Năm 25 tuổi, mang thanh kiếm và khí phách hiệp sĩ, ông đi chu du khắp mọi chân trời; nơi nào có thắng cảnh là ông tìm đến. Năm 742 ông mới được tiến cử vào Trường An. Vua Đường Minh Hoàng đãi ông như một vị “thanh khách ” để tô điểm cuộc sống xa hoa hưởng lạc của mình. Ba năm sau, Lý Bạch chủ động xin rời khỏi kinh đô, tiếp tục ngao du sơn thủy. Lý Bạch làm bài thơ “Đườngđi khó” (Hành lộ nan) vào năm 744 ngay sau lúc rời khỏi cung đình và trước lúc giã biệt Trường An. Chùm thơ "Hành lộ nan ” gồm có 3 bài, đây là bài thơ thứ nhất, bài có giá trị tư tưởng lành mạnh nhất, tích cực nhất. "Hành lộ nan ” vốn là tên một ca khúc xưa, thường dùng để viết về những sự trắc trở hoặc nỗi khổ li biệt trong cuộc đời. Bài thơ của Lý Bạch được viết bằng bút pháp lãng mạn, thể hiện cái hùng tâm và tráng chí của một thi nhân kiếm khách. Bài thơ viết theo thể “hành”, gồm có 12 câu, được chia làm 3 phần, mỗi phần nói lên một thứ khó khăn trên đường đời. Mỗi phần có 4 câu, cấu trúc giống nhau: 2 câu trên nói về khó khăn trắc trở trên đường đòi, hai câu dưới nói về thái độ ứng xử của kẻ sĩ. Khổ thơ đầu nói lên một cái “khó”, một thứ “khó” trên đường đời, đã mấy ai dễ vượt qua? Cảm hứng thơ khơi nguồn từ một thi liệu cổ: “Nhìn cơm không nuốt được – Rút gươmchém cột dài ngậm ngùi”. Lý Bạch đã tạo nên một vần thơ với 4 hình ảnh tượng trưng đầy ý nghĩa: "Cốc vàng, rượutrong, vạn một đấu Mâm ngọc, nhắm quý, giámười ngàn" “Cốc vàng, rượu trong, mâm mọc, nhấm quý” là những thức ăn ngon, những vật dụng quý hiếm, đắt tiền, sang trọng. Ngày xưa chí có các bậc vua chúa mới có, các đại gia mới được hướng. Trong bài thơ này, nó tượng trưng cho bả vinh hoa phú quý, cái danh lợi vật chất ở đời. Hai câu thơ song hành, thủ pháp thậm xưng cực tả cái cao sang: rượu ngon một đấu giá hàng vạn, nhắm quý giá mười ngàn. Tương phản với cái cao sang ấy là một thái độ phú định quyết liệt: “Dừngchén, ném dũa, nuốt khôngđược, Rút kiếm, nhìn quanh, lòngmênh mang" "Nuốtkhông được " biểu hiện một nỗi niềm u uất pha nhiều chua chát, cay đắng. Cái cử chỉ: “dừng chén, ném đũa", cái hành động "rút kiếm nhìn quanh…”, là thái độ phủ định quyết liệt của kẻ sĩ chân chính: “phú quýbất năngdâm”.Câu thơ cho thấy một nhân cách cao đẹp: coi thường danh lợi, xa lánh bọn quyền quý giàu sang. Không chỉ là “Lưng khôn uốn, lộc nên từ” mà còn là một tâm thế: thích sống cuộc đời tự do, phóng khoáng, với lưỡi gươm hiệp sĩ vung lên muốn đi đến mọi chân trời xa rộng. “Lòngmênh mang” của kẻ sĩ là một tâm hồn bay bổng mang chí khí hải hồ, phi thường. Năm 744, Lý Bạch từ giã lầu son gác tía, nơi cung đình mang thanh kiếm hiệp khách lên đường cho thỏa chí 4 phương nói lên nhân cách cao đẹp của ông. Sự cám dỗ vật chất, của "rượu trong, nhắm quý"… đâu phải ai cũng vượt qua được? Các động từ trong hai câu thơ thứ 3, 4 này nói lên nhân cách và sức mạnh tinh thần của Lý Bạch để vượt qua một thứ “khó”, một mê lực đường đời: “dừng chén, ném đũa, nuốt không được – Rút kiếm, nhìn quanh, lòng mênh mang”. Trong một bài thơ khác, ông cũng nói lên cái “chí" của mình, cách ứng xử của mình trước mọi cám dỗ vật chất: “Dễđâu cúi đầugãy lưng phụngquyền quý Xem thêm: Phân tích tâm trạng cô đơn và nỗi đau khổ của chinh phụ trong đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) Khiến ta chẳng được mặt mày tươi ” (Câu thơ dịch nghĩa) Bốn câu thơ tiếp theo nói lên một cái “khó" thứ hai của đường đi, đường đời. Đó là những khó khăn khách quan, những gian khổ, chồng chất to lớn: "Muốn vượt HoàngHà, sông băng đóng! Toan lên Thái Hàng, núi tuyết phơi! ” Hoàng Hà, Thái Hàng là sông rộng núi cao, những trởlực, những khó khăn đâu dễ vượt qua. Khó khăn càng nhân lên nhiều lần đáng sợ, để thử thách chí khí con người: sôngđã đóng băng, núi đã phơi đầy tuyết. "Muốn vượt”, muốn "toan lên ”, muốn băng qua đâu dễ, phải có nghị lực, có quyết tâm, có bản lĩnh phi thường. Cấu trúc 2 câu thơ song hành, hình tượng kì vĩ mang tính chất tượng trưng đặc sắc. Trước cái "khó ” này, Lý Bạch đã có một cách ứng xử tích cực: "Lúc rỗi buông câu bờ suối biếc, Bỗng mơ thuyền lướt cạnh mặt trời ” Đây là hai câu thơ đẹp và hay. Câu 7 mang màu sắc lãng mạn mà giàu chất trí tuệ, nêu lên một cách ứng xử thông minh. Có khó khăn quá lớn, trước mắt chưa khắc phục được, chưa vượt qua được thì phải kiên nhẫn, chờ thời cơ. Ý thơ mở ra một trường liên tưởng về điển tích lịch sử: những Lã Vọng, Y Doãn… xa xưa. Người thì đã 80 tuổi còn ngồi câu bên bờ sông Vị, gần 10 năm trời mới gặp được Văn Vương để đem tài năng lỗi lạc ra phò đời cứu nguy, an dân, hưng quốc, kẻ thì đợi vua Thang, đã bao đêm nằm mơ thấy mình "cưỡi thuyền đến bên thái dương”. Biết kiên nhẫn chờ thời cơ, nhưng chí không nan, ước mơ, chí hướng vẫn bền: "Bỗng mơ thuyền lướt cạnh mật trời”. Hình tượng thơ tráng lệ nói lên tâm hồn lãng mạn và khí phách hào hùng của Thi tiên Lý Bạch. Tóm lại, bốn câu thơ trong phần 2, Lý Bạch chí rõ phải sáng suốt và kiên nhẫn đón chờ thời cơ, phải giữ vững mục tiêu đi tới trên đường đời, đó là hướng “mật trời ” ở phía trước! Bốn câu thơ cuối, giọng thơ vang lên dồn dập, mạnh mẽ. Cấu trúc câu thơ biến hóa: có điệp cú, điệp khúc, có câu cảm thán, câu hỏi tu từ. Cách ngắt nhịp 3/3 trong câu thơ chữ Hán cũng như trong câu thơ dịch có tác dụng gợi tả những chặng đường khó khăn trùng điệp nối tiếp hiện ra và thể hiện quyết tâm của người đi đường đầy hùng tâm, tráng chí: "Hành lộ nan! Hành lộ nan! Đa kì lộ, kim an tại? ” Nhiều ngả đường ngược xuôi, bao ngả đường quanh co trắc trở? Dễ mất phương hướng! Dễ lạc lối! Có thể rơi vào cạm bẫy "Ma đưa lối, quỷ đưa dường”. Cái khó khăn này thật ghê gớm! Và chí có thể: "Cưỡi gió phá sónghẳn có ngày, Treo thẳng buồm mây vượt biển cả! ” Thơ giàu hình tượng. Lộ trình xa lắc, mênh mông: vượt biển cả, vượt trùng dương. Phải có sức mạnh và chí lớn phi thường: "Cưỡi gió, phá sóng”, phải có “cánh buồm mây ” mang tầm vóc vũ trụ. Có thế mới đi tới, mới bay tới mọi chân trời, mới thực hiện được lí tướng, ước mơ của mình. Ý thơ hào hùng, toát lên sức mạnh và niềm tin ngời sáng! Tóm lại, bài thơ ‘Đườngđi khổ ” của Lý Bạch có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc, độc đáo. Cảm hứng lãng mạn dào dạt. Tứ thơ đa dạng, phong phú, tầng tầng lớp lớp. Đường đời vừa dằng dặc vừa đẩy thử thách, cạm bẫy. Có khó khăn xã hội làm cho con người bị biến chất, thoái hóa. Có khó khăn thiên nhiên dễ làm cho ta nản chí, an phận thủ thường. Hình ảnh một con người giàu nhân cách, vô cùng sáng suốt, có bản lĩnh và niềm tin mãnh liệt dám đương đầu với mọi thử thách, dũng mãnh vượt qua mọi khó khăn trên đường đời để thực hiện ước mơ, lí tưởng cao đẹp của mình – là một hình ảnh tuyệt đẹp. Lý Bạch đã lựa chọn một hệ thống hình tượng kì vĩ, mang ý nghĩa tượng trưng và giọng thơ hùng mạnh để làm nổi bật chủ đề “đườngđi khó ” và nêu lên cách vượt khó. Tư tưởng bài thơ sâu sắc, tích cực. Lý Bạch đã nêu lên cho mọi người một bài học mà lúc nào ta cũng cảm thấy mới mẻ. Lộ trình của chúng ta đi tới thế kỉXXI đâu chỉ toàn hoa thơm trái ngọt mà có nhiều "băng đóng, tuyết phơi”. Vì thế, tuổi trẻ phải có sức mạnh đểvượt qua: sức mạnh của chí khí, sức mạnh của trí tuệ, sức mạnh của niềm tin giành thắng lợi! Nguồn: thêm: Suy nghĩ về hai chữ “nhẫn nhịn”, “nhẫn nhục”
Phân tích bài thơ Đường đi khó của Lý Bạch.
1,621
Phân tích bài thơ Đất nước cùa Nguyễn Đình Thi để làm nổi rõ cảm hứng riêng về đất nước của nhà thơ Gợi ý Đất nước là nguồn càm hứng của hàng loạt bài thơ đặc sắc sau Cách mạng tháng Tám: Cảnh rừng Việt Bắc, Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. Ta đi tới. Việt Bắc của Tố Hữu. Tình sông núi của Trần Mai Ninh. Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. Mặt đường khát vọng của Nguvễn Khoa Điềm. Cửu Long Giang ta cũ! cùa Nguyên Hồng. Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Chim lượn trăm vòng của Chế Lan Viên, Nhớ mưa quê hương của Ca Lê Hiến. Quê hương của Giang Nam… Riêng ở Nguyễn Đình Thi, cảm hứng về đất nước đã chi phối hầu như tất cả nhưng bài thơ, những đoạn văn sâu sắc nhất của ông… Cảm hứng này thế hiện tập trung nhất ờ bài thơ Đất nước Dất nước là chung của mọi người, nhưng đất nước trong mỗi bài thơ, bên cạnh những nét chung vẫn có những màu sắc riêng, tạo nên bởi cái tạng của mỗi cây bút và những mối quan hệ riêng của mỗi hổn thơ đối với đất nước. Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi nên lưu ý đến điều đó Đất nước và niềm vui của người làm chủ. Bài thơ có thể chia làm hai phần: phần thứ nhất có tiền thân là bài thơ sáng tác từ những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám: Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) và Đêm mít tinh (1949). ở thời điểm này, hai bài thơ thể hiện rõ tư thế và niềm vui của con người vừa giành được quyền làm chù đất nước mình. Nguyễn Đình Thi là một. thanh niên sống và hoạt động ở Hà Nội. Đất nước đối với anh, trước hết là Hà Nội. Không phải ngẫu nhiên mà nói đến đất nước, đến Hà Nội, nhà thơ lại nói đến mùa thu "Gió thổi mùa thu hương cốm mới. Tôi nhớ những ngày thu đã xa". Vì cảnh Hà Nội đẹp nhất vào mùa thu. Và mùa thu là cái mốc lịch sử thiêng liêng, đánh dấu cuộc đời của dân tộc này, của đất nước này… Tác già so sánh hai mùa thu của ngày xưa và của hôm nay để cảm thấy hết nỗi vui sướng và niềm tự hào được làm chù đất nước mình. Hà Nội trước ngày giải phóng vẫn đẹp và thơ mộng khi mùa thu tới. Nhưng là cái đẹp buồn: những phố xá vắng vẻ, xao xác tiếng lá khô chạy trên đường theo gió heo may. Lá vàng rụng đầy thềm nắng, gợi nên bao nỗi trống vắng, ngẩn ngơ cho cảnh vật và lòng người… Nhưng "mùa thu nay khác rồi". Không phải phố phường Hà Nội khác với cảnh vật nơi chiến khu. Cũng không phải núi rừng Việt Bắc có gì đổi mới. Rừng tre nọ, núi đồi kia, nghìn năm vẫn thế. Nhưng lòng người đã đổi nên cảnh vật bỗng khác xưa:Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá"Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha…" Từ cái "Tôi" với cảnh, với người, mạch thơ chuyến đột ngột sang niềm tự hào của "chúng ta" về quyền làm chủ đất nước: "Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta" Với niềm tự hào, nhà thơ say sưa nhìn ngắm, chiêm ngưỡng đất nước mình và bỗng cảm thấy "nưởc chúng ta" thật giàu đẹp, thật rộng dãi, bát ngát: "Những cánh đồng thơm mát Những ngả dường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa" Và chứa đựng trong lòng nó biết bao xương máu của tổ tiên đã đổ xuống để xây dựng và bảo vệ từng tấc đất qua hàng nghìn năm lịch sử: "Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đẩt Những buổi ngày xưa vọng nói về" Đất nước chiến đấu và chiến thắng. Đây là phần hai của bài thơ. Tác phẩm hoàn thành nãm 1955, có nghĩa là phần hai của bài thơ này phải làm trong sáu bảy năm trời (1949 – 1955). Ở phần thứ hai này, tác giả thiên về xây dựng những hình ành có tính chất biểu tượng khái quát. Tác giả muốn qua bảy khổ thơ, tóm lược cả quá trình của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện phát triển tới thắng lợi. Biểu tượng về phát động quần chúng cải cách ruộng đất:Xem thêm: Suy nghĩ về tình mẫu tử hay nhất "Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu Đã bật lên những tiếng căm hờn" Biểu tượng về công nông, chủ lực quân của kháng chiến: "Khói nhà máy cuộn trong sương sớm Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng" Thành công nhất là những biểu tượng xuất phát từ những kỷ niệm riêng của nhà thơ trong thực tế kháng chiến: "Ôi những cảnh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu" Ấy là nhưng kỷ niệm một buổi chiều hành quân ở Bắc Giang nhìn lên đồi cao, dây thép gai đồn giặc in hình lên bầu trời Và ráng chiều bâm đỏ chiếu xuống những rãnh cây, tưởng như Tổ quốc bị cào xé, máu chảy trên những cánh đồng Nhưng vượt lên mọi đau thương, niềm tin không bao giờ tắt trong tâm hồn của người chiến sĩ, bỗng hiện lên trong những đêm dài hành quân như ánh mắt của người yêu toả sáng từ những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời – đây chắc hẳn cũng là một kỷ niệm thân thiết của tác giả nên thường trở đi trở lại trong thơ ông: "… Chúng ta như hai ngôi sao Hai bầu trời lấp lánh… Nhớ em Đôi mắt hay cười” (Bài thơ viết cảnh đồn Tây) "Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánhXem thêm: Bài mẫu tham khảo cuộc thi viết thư UPU 2017 Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây" (Nhớ) "Tia lửa nơi ta bay lên cao Trong mắt người yêu thành trời sao" (Em bảo anh) Một kỷ niệm khắc, ấy là cảnh quân ta chiến thắng lớn ở Điện Biên Phủ. Có cảnh tượng vĩ đại ấy mới có được biểu tượng rất đẹp bừng sáng trong đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi: "Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùm đứng dậy sáng loa" Đất nước của Nguyễn Đinh Thi – đất nước đẹp trong đau thương, gian khổ Nếu đất nước của mỗi nhà thơ có màu sắc riêng, thì màu sắc của đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi là thế: "Anh yêu em như yêu đất nước Vất vả đau thương, tươi thắm vô ngần" (Nhớ) Ta hiểu vì sao những hình ảnh đẹp nhất, cảm động nhất trong bài thơ Đất nước lại là những hình ảnh heo hút, hoang vắng của Hà Nội còn trong tay giặc: "Sáng sớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy’ Hoặc hình ảnh bầu trời Tổ quốc bị cào xé, đâm nát bởi những dây thép gai bao quanh đồn giặc: "Dây thép gai đâm nát trời chiều…". Đấy cũng là những đoạn thơ mà ta lắng nghe, thấy có một giọng ngậm ngùi riêng rất Nguyễn Đình Thi. Đất nước là một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Đình Thi. Bài thơ là cả một quá trình sáng tác hầu như kéo suốt chiều dài của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ hết sức tiêu biểu cho Nguyễn Đình Thi – nhà thơ của cảm hứng về một đất nước hùng tráng trong khổ đau, thắm tươi trong gian nan, vất vả. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Đất nước cùa Nguyễn Đình Thi để làm nổi rõ cảm hứng riêng về đất nước của nhà thơ
1,326
Bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ hay lấy cảm hứng từ đề tài đất nước. Mặc dù đề tài này không có gì mới vẻ và cũng đã có nhiều nhà thơ viết về đất nước chẳng hạn như bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi tuy nhiên bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vẫn mang một nét riêng. Để giúp các em phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm được tốt nhất, Khoa tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý và cung cấp bài văn mẫu cho các em tiện tham khảo. I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Đất nước 1. Mở bài – Giới thiệu về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và bài thơ Đất nước. – Nguyễn Khoa Điềm thuộc các nhà thơ thế hệ chống Mỹ. – Bài thơ Đất nước trích trong trường ca Mặt đường khát vọng. 2. Thân bài phân tích bài thơ Đất nước a. Cảm nhận về đất nước – Ngôn ngữ và hình ảnh thơ bình dị, tạo sự gần gũi đối với người đọc. + Đất nước không điều gì xa lạ mà đất nước nằm ngay trong cuộc sống của chúng ta. – Đất nước được miêu tả từ các phương diện địa lý, lịch sử + Sử dụng lối viết chiết tự để khai thác sâu được khái niệm đất nước. + Sử dụng sáng tạo các yếu tố của ca dao và truyền thuyết dân gian. + Đất nước được miêu tả trải suốt chiều dài lịch sử. Đất nước được tạo nên từ sự tất cả các phương diện khác nhau của đời sống như văn hóa, truyền thống, phong tục. – Suy nghĩ, cảm xúc về đất nước: + Đất nước kết tinh và hóa thân trong cuộc sống của mỗi con người. + Lời nhắn nhủ đối với thế hệ trẻ về trách nhiệm của đất nước. b. Tư tưởng đất nước của nhân dân – Cách nhìn của tác giả về những thắng cảnh rất có chiều sâu. – Viết về lịch sử đất nước, tác giả chỉ nhắc tới những gì bình dị nhất.Xem thêm: Anh (chị) hãy tự đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn nhìn theo cánh buồm dần xa và dòng sông chảy vào cõi trời để cảm nhận tâm tình của thi nhân trong Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Chính những con người bình dị ấy đã là người làm nên đất nước. – Tư tưởng đất nước của nhân dân. 3. Kết bài – Tổng quát lại nội dung bài thơ và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này. Bài viết liên quan: >> Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) II. Bài làm phân tích bài thơ Đất nước Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ thuốc thế hệ chống Mỹ. Thơ của ông giàu chất trữ tình chính luận. Trong số các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm, Mặt đường khát vọng là trường ca được nhiều người đánh giá cao. Trong đó, đoạn trích Đất nước đã nêu bật lên được hình ảnh của đất nước, giúp người đọc hình dung ra được đất nước là như thế nào. Những câu thơ mở đầu, đất nước được cảm nhận bằng những hình ảnh vô cùng gần gũi và giản dị: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu từ miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giắc Đất nước vốn là đề tài vô cùng quen thuộc trong văn học Việt Nam. Không lạ khi trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, các nhà thơ, nhà văn lại chọn đất nước làm đề tài cho sáng tác của mình. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm mặc dù chọn một đề tài cũ nhưng cách thể hiện của ông lại rất mới. Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không phải cái gì quá lớn lao mà đó là những điều bình dị nhất chẳng hạn như lời mẹ thường hay kể, như miếng trầu bà vẫn thường ăn. Cứ như vậy, đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc. Hình ảnh đất nước trồng tre đánh giặc thể hiện con người đứng lên đấu tranh bảo vệ đất nước.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh tiếng đàn trong đoạn trích Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo Phân tích bài thơ Đất nước Để lý giải cho câu hỏi về khái niệm của đất nước, nhà thơ đã lội ngược dòng về tuổi thơ. Chính vì vậy mà nhà thơ đã đưa vào trong tác phẩm của mình những hình ảnh vô cùng gần gũi và quen thuộc với con người: Tóc mẹ thì búi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng Đất Nước có từ ngày đó Những hình ảnh thân quen ấy đã gợi lên cho người đọc thấy được cả một không gian về truyền thống văn hóa. Trong đó còn có cả hơi thở của ca dao. Hình ảnh gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau thể hiện nghĩa tình thủy chung của con người Việt Nam. Con người vẫn cứ tiếp tục lớn lên và trưởng thành trong hoàn cảnh như vậy. Đất nước đã tồn tại từ cái lúc con người cắp sách tới trường cho tới khi trưởng thành và có những rung động đầu đời. Tất cả những điều ấy đến một cách tự nhiên: Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo dùng lối chiết tự để lý giải khái niệm của đất nước một cách cụ thể hơn. Từ những cái riêng, đất nước hòa lại làm một để tạo nên cái chung. Đó chính là sự thức tỉnh của ký ức cộng đồng. Đất nước lại hiện lên với vẻ đẹp ngọt ngào như lời ca dao, thể hiện rõ nét được lòng tự hào dân tộc. Đoạn thơ tiếp theo, nhà thơ nhắc đến hình ảnh của non sông gấm vóc, về truyền thống cha Rồng mẹ Tiên, thể hiện sự biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên mình: Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào mình trong bọc trứng… Nhà thơ đã sử dụng những hình tượng thơ giàu tính thẩm mĩ để lý giải mối quan hệ giữa đất nước và nhân dân. Mối quan hệ ấy là không thể tách rời. Hòa trong mạch thơ đầy ân tình ấy, hình ảnh tượng đài đất nước hiện lên trong cả thời gian lịch sử và không gian văn hóa. Không chỉ đưa độc giả về với lịch sử mà còn dẫn độc giả tới hiện thực của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những vần thơ giống như lời nói thể hiện trách nhiệm của bản thân trước vận mệnh của đất nước:Xem thêm: Hình ảnh con sông Đà qua sự cảm nhận của Nguyễn Tuân trong đoạn trích tác phẩm Người lái đò Sông Đà. Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Trong mỗi con người đều có một phần của đất nước. Đó chính là sự thể hiện tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước. Tiếp nối ý thơ này, tác giả đã đi sâu vào mối quan hệ giữa đất nước và tâm hồn con người: Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời. Nhà thơ đã truyền tinh thần của mình sang cho thế hệ thanh niên thời bấy giờ. Đó là một lý tưởng cao đẹp. Chính sự sẵn sàng hiến dâng và hy sinh thân mình cho đất nước như vậy nên đất nước mới tồn tại muôn đời. Bài thơ Đất nước đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp của đất nước từ những điều bình dị, giản đơn như hơi thở. Đó là lý do vì sao bài thơ này sống mãi với thời gian. Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và tham khảo bài văn mẫu. Chúc các em học tốt với tài liệu này. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm (Có dàn ý chi tiết)
1,483
Đề bài: Phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm Bài làm Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có nhiều đóng góp cho nền thơ ca của dân tộc. Thơ của ông thường có sự gắn kết giữa yếu tố chính luận và trữ tình. Những sáng tác của ông thể hiện khát vọng chiến đấu và thể hiện niềm tin vào một ngày mai chiến thắng. Đoạn trích Đất Nước chính là một trong những bài thơ tiêu biểu trong sự nghiệp văn thơ của ông. Bài thơ Đất Nước được trích trong trường ca Mặt đường khát vọng. Bài thơ thể hiện quan điểm của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước, cảm nhận về đất nước qua cái nhìn trọn vẹn của nhà thơ. Trước tiên ông có cảm nhận đầu tiên về đất nước chính là qua cái nhìn theo chiều dài của lịch sử, đó là lịch sử từ quá khứ đến hiện tại mà còn hướng cả về tương lai: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” – mẹ thường hay kể Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Có thể tác giả không biết được thời điểm chính xác đất nước được hình thành từ bao giờ nhưng ông biết nó tồn tại ở đâu. Đó là ở trong những lời kể của mẹ, trong miếng trầu của bà. Tất cả đều là những hình ảnh về cuộc sống sinh hoạt hết sức gần gũi và bình dị của nhân dân chứ không của riêng gì bà và mẹ của tác giả. Bởi đó là các bà, các mẹ chung của dân tộc mình. Như chúng ta đã biết miếng trầu, hay tục ăn trầu là một nét đẹp văn hoa của dân tộc và có mặt từ rất lâu đời. Dân gian ta quan niệm “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, hay miếng trầu trong tục cưới xin…Nên ta có thể thấy được sự đúng đắn của nhà thơ khi nói rằng đất nước có trong miếng trầu của bà. Đất nước cũng giống với con người, không chỉ mãi giậm chân tại chỗ được mà cũng sẽ có sự hình thành và phát triển. Ở đây đất nước ngày càng lớn mạnh chính là nhờ công cuộc đấu tranh của dân tộc. Không chỉ vậy đất nước còn tồn tại trong nhiều hình ảnh sinh hoạt, lao động, trong những vật dụng thường ngày của nhân dân:Xem thêm: Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm của nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào? Phân tích bài thơ Đất Nước “Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất nước có từ ngày đó” Mỗi người đều có những quan niệm riêng, những định nghĩa riêng về đất nước. Đối với Nguyễn Khoa Điềm thì quan điểm về đất nước có sự thống nhất giữa thời gian lịch sử với địa lý, giữa không gian với thời gian. Thêm vào đó đất nước còn được nhìn nhận dưới góc nhìn của tuổi trẻ đó là: “Đất là nơi danh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là nơi ta hò hẹn” Hình ảnh con đường đến trường của những cô cậu học trò, rồi khi lớn hơn, đất nước chính là nơi họ hò hẹn. Tất cả gợi ra một không gian quen thuộc nhưng cũng đầy thơ mộng. Đất nước còn là không gian mênh mông của núi sông, hay của thiên nhiên nói chung. Nét đặc sắc của Nguyễn Khoa Điềm chính là đã khẳng định được nhân dân chính là người làm ra đất nước, họ không chỉ chiến đấu giữ nước mà còn sáng tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần. Không dừng lại ở đó, nhà thơ còn khẳng định đất nước là một khoảng không gian cụ thể, là nơi con người có thể sinh tồn. Đất nước được tạo nên từ thời xa xưa và còn được nhìn nhận thông qua những truyền thuyết về nguồn gốc tổ tiên: “Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” Những truyền thuyết về Âu Cơ, Lạc Long Quân về thời đại vua Hùng, về ngày giỗ tổ đã nói lên được chiều sâu và bề dày của lịch sử dân tộc. Đất nước được cảm nhận trong sự thống nhất của những truyền thống văn hóa trong một không gian văn hóa cụ thể. Qua những phân tích trên ta có thể được với cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm thì đất nước không phải cái gì quá trừu tượng, cũng không phải là cái mà ta không nắm bắt, nhìn thấy được. Đất nước hiện diện ngay trong chính cuộc sống sinh hoạt và lao động của mỗi người. Mỗi chúng ta là một phần của đất nước, chính vì thế cần phải có trách nhiệm giữ gìn, phát triển đất nước:Xem thêm: Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – văn 12 “Em ơi em đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời” Sang đến phần thứ hai của đoạn trích, suy nghĩ của hà thơ đã vươn tới một tư tưởng lớn đó chính là đất nước của nhân dân, chính nhân dân là người làm nên đất nước. Đây cũng chính là tư tưởng góp phần hoàn thiện hơn những quan niệm trong thơ ca hiện đại khi nói về đất nước. Phần này nhà thơ đã thể hiện sự hiểu biết của mình đối với những cảnh sắc thiên nhiên của đất nước, những sự tích được truyền tai nhau từ đời này qua đời khác: “Những người vợ nhớ trồng còn góp cho đất nước Những hòn núi Vọng Phu, cặp vợi chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho đất nước mình núi Bút, non Nghiên [….]” Những danh lam thắng cảnh ở khắp mọi nơi trên mọi miền Tổ quốc. Chính nhân dân đã sáng tạo ra những sự tích để đặt tên cho những ngọn núi, dòng sông. Trải qua bốn nghìn lăm lịch sử, trải qua những gì mà nhà thơ đã nhìn nhận thì tác giả đúc kết lại thành “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”. Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” đã chi phối cách nhìn của nhà thơ. Tác giả không ca ngợi những triều đại, những vị anh hùng mà sử sách lưu danh mà chỉ nói về những con người bình thường, bình dị:Xem thêm: Bàn về truyện ngắn có ý kiến cho rằng: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh”. Hãy từ một truyện ngắn mà anh (chị) thích, bày tỏ quan niệm của mình về ý kiến trên “Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước” Những người bình dị họ sống và lao động xây dựng quê hương, đất nước. Trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc có rất nhiều chiến sĩ đã ngã xuống, có những người được lưu danh, được mọi người biết đến nhưng cũng có rất nhiều sự hi sinh thầm lặng. Mạch cảm xúc dường như lắng đọng lại và được hội tụ ở hai câu thơ: “Đất nước này là đất nước nhân dân Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao, thần thoại” Không cầu kỳ, hoa mỹ, cũng chẳng dài dòng mà lại rất đản dị, bất ngờ về định nghĩa của nhà thơ về Đất nước. Hai câu thơ dường như song song với nhau để định nghĩa về đất nước. Đất nước do nhân dân sáng tạo nên. Trong kho tàng ca dao, thần loại bao hàm cả lịch sử, cả truyền thống văn hóa của dân tộc và đặc biết đó chính là đời sống tinh thần của nhân dân. Đoạn trích Đất Nước đã khiến cho chúng ta có cái nhìn mới mẻ và sâu sắc về đất nước. Qua đó càng làm khơi dậy trong chúng ta lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của chúng ta trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Loan Trương
Phân tích bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm hay nhất
1,487
Đề bài: Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Đất Nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca và nghệ thuật. Mỗi nhà thơ đều có những cảm nhận rất riêng về Đất Nước, bởi thế Đất Nước, Tổ quốc hiện lên muôn màu muôn vẻ. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường chọn điểm nhìn về Đất Nước bằng những hình ảnh kỳ vĩ, mỹ lệ hay cảm hững về lịch sử qua các triều đại thì Nguyễn Khoa Điềm lại chọn điểm nhìn gần gũi, quen thuộc bình dị để miêu tả về Đất Nước. Đến với bài thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm ta như đứng trước muôn màu văn hóa, truyền thống, phong tục tươi đẹp vô ngần. Vẻ đẹp ấy được hiện lên sâu sắc nhất qua chín câu thơ đầu. Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó… Đất nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca. Ở bài thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn điểm nhìn gần gũi để miêu tả một đất nước tự nhiên, bình dị mà không kém phần thiêng liêng, tươi đẹp. Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ đầu hiện lên muôn màu muôn vẻ, sinh động lạ thường, lắng đọng trong tâm tưởng ta qua những nét đẹp về phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống mang đậm dấu ấn con người Việt. Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Câu thơ mở đầu được viết theo thể câu khẳng định “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. Với cách vào đầu rất tự nhiên ấy, nhà thơ khẳng định: Đất Nước đã có từ rất lâu, có trước khi ta sinh ra vì thế khi ta lớn lên thì ta đã thấy Đất Nước. Bốn chữ cuối của câu thơ vang lên đầy tự hào “Đất Nước đã có rồi”. Đó là lời khẳng định chắc nịch về sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Hai câu thơ tiếp theo nhà thơ diễn tả cụ thể về sự ra đời của đất nước. Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Câu thơ thứ nhất, tác giả cho rằng Đất Nước có trong cái “ngày xửa ngày xưa”. Nghĩa là Đất Nước có từ rất lâu đời, có tự ngày xưa. Đất Nước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời rồi khi những câu truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của ta, ta lại thấy Đất Nước hiện diện trong truyện cổ. Đó là Đất Nước của một nền văn học dân gian đặc sắc với những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết. Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm bẵm cho ta cái chân thiện mĩ và lớn lên ta biết yêu đất nước con người. Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên: Tôi yêu truyện cổ nước tôi Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần (Truyện cổ nước mình) Câu thơ thứ hai, nhà thơ diễn tả Đất Nước có trong “miếng trầu bây giờ bà ăn”. Gợi nhắc phong tục ăn trầu của người Việt. Câu thơ gợi nhớ về câu truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” được xem là xưa nhất trong những câu truyện cổ. Tục ăn trầu cũng từ câu truyện này mà nên. Như vậy là thẩm thấu vào trong miếng trầu dung dị ấy là 4000 năm phong tục, 4000 năm dân ta gìn giữ phong tục ăn trầu. Miếng trầu là biểu tượng của tình yêu, vật chứng cho lứa đôi cũng là biểu tượng tâm linh của người Việt. Từ phong tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen cũng ra đời: Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng (Hoàng Cầm) Câu thơ thứ tư, nhà thơ diễn tả sự trưởng thành của Đất Nước. Đó là sự trưởng thành từ truyền thống đánh giặc giữ nước qua hình tượng Thánh Gióng và cây tre: “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Câu thơ gợi nhắc cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, chàng trai Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre làng Ngà đánh giặc, gợi lên vẻ đẹp khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiên cường, bất khuất: Ta như thuở xưa thần Phù Đổng Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt Chí căm thù ta rèn thép thành roi Lửa chiến đấu ta phun vào mặt Lũ sát nhân cướp nước hại nòi Xem thêm: Cảm nhận của em về khổ thơ sau trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải: "Ta làm con chim hót. Ta làm một nhành hoa. Ta nhập vào hoà ca. Một nốt trầm xao xuyến." (Tố Hữu) Truyền thống vẻ vang ấy đã theo suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc mãi đến hôm nay trong thời đại chống Mỹ bao tấm gương tuổi trẻ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ giống nòi. Phải chăng, đó chính là vẻ đẹp của các chị, các anh đã tạc vào lịch sử Việt Nam dáng đứng kiêu hùng bất khuất: Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi… Vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre Việt Nam. Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê. Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong tranh đấu. Tre đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc "Một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ ", bởi: "Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường". Bốn câu thơ tiếp theo nhà thơ mang đến cho người đọc vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của con người Việt: Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam. Không ai khác là những người mẹ với phong tục “búi tóc sau đầu” (tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu rất riêng). Nét đẹp ấy gơi nhớ ca dao: Tóc ngang lưng vừa chừng em bới Để chi dài cho rối lòng anh Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục gắn dòng suy tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu. Ở đó đạo lí ân nghĩa thủy chung đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc: "Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn". Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp: “Tay bưng đĩa muối chén gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình. Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời: gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn, con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng đong đầy. Có lẽ chính vì vậy mà Đất Nước còn ghi dấu ấn của cha của mẹ bằng Hòn trống mái, núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái… đi vào năm tháng. Câu thơ "Cái kèo cái cột thành tên", gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt. Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ. Đó cũng là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống. Từ đó, tục đặt tên con “cái Kèo, cái Cột” cũng ra đời. Đâu chỉ có những vẻ đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng”. Thành ngữ “Một nắng hai sương” gợi nên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta những ngày long đong, lận đận trong đời sống nông nghiệp lạc hậu. Đó là truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó. Các động từ “Xay – giã – dần – sang” là quy trình sản xuất ra hạt gạo. Để làm ra hạt gạo ta ăn hằng ngày, người nông dân phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng. Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai cấp nông dân. Bởi vậy, ăn hạt gạo dẻo thơm ta phải nhớ công ơn người đã làm ra nó: Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần. Câu thơ cuối cùng khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: “Đất Nước có từ ngày đó”. “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước. Đúng như lời Bác dặn trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca”. Dân ca, ca dao là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nước nhà. Bởi văn hóa chính là Đất Nước. Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ dung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm. Thành công của đoạn thơ trên là nhờ vào việc vận dụng khéo léo chất liệu văn hóa dân gian như phong tục ăn trầu, tục búi tóc, truyền thống đánh giặc, truyền thống nông nghiệp. Nhà thơ sáng tạo thành ngữ dân gian, ca dao tục ngữ, thành ngữ…Điệp ngữ Đất Nước được nhắc lại nhiều lần. Nhà thơ luôn viết hoa hai từ Đất Nước tạo nên sự thànhi ính, thiêng liêng… Tất cả làm nên một đoạn thơ đậm đà không gian văn hóa người Việt. Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, lời thơ nhẹ nhàng đúng giọng thủ thỉ tâm tình nhưng vẫn mang đậm hồn thơ triết lí. Đoạn thơ ta vừa phân tích ở trên là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ Đất Nước. Qua đoạn thơ, nhà thơ đã mang đến cho người đọc vẻ đẹp của một Đất Nước giàu văn hóa cổ truyền. Đất Nước của truyền thống, phong tục tươi đẹp mang đậm dấu ấn của tư tưởng Đất Nước của nhân dân. Nguồn Vanmau Xem thêm: Từ xưa đến nay, cha ông ta luôn coi văn học là một thứ vũ khí chiến đấu mạnh mẽ và sắc bén. Em hãy làm sáng tỏ quan niệm đó
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
1,955
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để làm rõ những cảm hứng của nhà thơ Gợi ý A. DÀN BÀI 1. Mở bài Đất nước là một đề tài được nhiều nhà văn, nhà thơ chú ý thể hiện. Đất nước của Nguyền Đình Thi là một bài thơ hay. Nó không thiếu tính khái quát nhưng vẫn đầy ắp ấn tượng, cảm giác về những cảm giác, những người cụ thể. Bài thơ vì thế không sa vào tự biện, mặt khác, có được không khí chân thực của đời sống đủ sức đồng hóa những ý thơ dễ dãi đôi khi được cho vào chỉ để cho “đủ”, cho “toàn diện” và “bề thế”. 2. Thân bài a. Đất nước và niềm vui làm chủ Đất nước bắt đầu bằng những câu thơ trong trẻo, đầy sức gợi: + Tôi nhớ những ngày thu đã xa + Người ra đi đầu không ngoảnh lại + Mùa thu nay khác rồi b. Một đất nước đau thương nhưng anh dũng – Đau thương: + Trong quá khứ + Trong hiện tại – Anh dũng c. Một biểu tượng về đất nước Chú ý khai thác khổ thơ cuối: Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa. 3. Kết bài Trong bài thơ này, nét mặt quê hương đã ngời lên với những vẻ đa dạng thông qua sự cảm nhận, khám phá của một tâm hồn thi sĩ rất giàu nội tâm cũng như rất giàu ý thức công dân. B. BÀI LÀM Đất nước là một đề tài được nhiều nhà văn, nhà thơ chú ý thể hiện. Tuy nhiên, đây là đề tài thuộc loại hóc búa. Nếu cảm xúc không đủ mạnh, đủ sâu và khả năng khái quát hạn chế, chắc chắn tác phẩm sẽ rơi vào công thức, sơ lược và bị lối đại ngôn chia phối. Nhưng những cá tính thơ mạnh mẽ bao giờ cũng tìm được một cách thể hiện riêng, làm cho đất nước mỗi lúc lại hiện ra với một vẻ mặt mới lấp lánh, đa dạng và hàm chứa một nội dung cụ thể lịch sử. Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ hay. Nó không thiếu tính khái quát nhưng vẫn đầy ắp ấn tượng, cảm giác về những cảm giác, những người cụ thể (đặc biệt là những cảnh, những người trong kháng chiến chống Pháp). Bài thơ vì thế không sa vào tự biện, mặt khác, có được không khí chân thực của đời sống đủ sức đồng hóa những ý thơ dễ dãi đôi khi được cho vào chỉ để cho “đủ”, cho “toàn diện” và “bề thế”. Đúng như có người nhận xét, cái từ của bài thơ không được thể hiện thật rõ. Mới đọc qua phần đầu, ta khó hình dung được dòng chảy của cảm xúc hay hình tượng then chốt của bài thơ. Phải chăng việc lắp ghép một đoạn của bài Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948) với một đoạn của bài thơ Đêm mít tinh (1949) rồi kéo dài thêm để tạo ra Đất nước. (1955) đã quy định đặc điểm riêng đó của bài thơ? Trên ý nghĩa khách quan, quá trình hình thành độc đáo của bài thơ phản ánh khá rõ một chặng đường từ nhận diện để đi đến thấu hiểu về đất nước của nhà thi sỉ. Tất cả không diễn ra một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có sự trải nghiệm, nghiền ngẫm, đòi hỏi tự nhà thơ phải vượt lên trong cuộc hòa mình vào đời sống chiến đấu của toàn dân tộc. Đối với việc bộc lộ tâm hồn của nhà thơ, cái vẻ lỏng lẻo ở kết cấu bề mặt của bài thơ lại trở nên một sáng tạo lí thú. Vì vậy, trong ý đồ sáng tạo, chưa hẳn nhà thơ đã muốn che dấu hoàn toàn những mối “hàn ghép”. Phần đầu bài thơ – phần vẫn được đánh giá là hay hơn cả – chứa đựng rất nhiều ấn tượng cụ thể về một mùa thu đất nước. Thoạt tiên, đó là một cảm giác thư thái như muốn nhẹ nhàng bay lên theo hai câu thơ có đến 12/14 âm tiết mang thanh điệu có âm cực cao: Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới. Một sự tương đồng gợi nhớ. Một liên tưởng của nét đẹp trường cửu của mùa thu xứ sở với hơi may phảng phất và hương cốm dìu dịu tỏa bay. Mùa thu nay cũng như mùa thu xưa, thiên nhiên vần đẹp đến nao lòng. Có khác chăng là lòng người và hoàn cảnh xã hội. Nỗi nhớ của tác giả đã thực sự làm một đối chiếu tự nhiên để hình ảnh của ngày qua được dịp trở về vô cùng sống động:Xem thêm: Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Còn có thể nói gì thêm về câu thơ ấy? Một tiết trời dễ khiến lòng ta xao xuyến. Một chút thoáng heo may se se khơi gợi biết mấy nỗi niềm. Thu tới – không gian chợt yên ắng để tiếng nói của nội tâm cất lời. Các dãy phố như dài thêm và đượm vẻ trầm u đặc biệt, tạo nên một bối cảnh xao xác rất thích hợp cho hình ảnh người ra đi xuất hiện. Người ra đi ở đây là ai, tác giả không nói rõ cụ thể chỉ biết răng Người ấy rời Hà Nội yên dấu với rất nhiều quyết tâm, tương tự các tráng sĩ xưa đã lên đường là đi một mạch chẳng ngoảnh đầu trở lại. Phải chăng đó cũng chính là mẫu người từng được Thâm Tâm nhắc tới “Một giã gia đình một dứng dưng?” Và chắc chắn giống nhân vật cúa Tống biệt hành, người ấy tuy bên ngoài có vẻ lạnh lùng nhưng lòng thì để lại đang trăn trở thao thức với “thềm nắng lá rơi đầy” ở phía sau lưng. Cả đoạn thơ rất giàu chất điện ảnh, trong đó câu cuối đặc tả cận cảnh để tự cảnh đó kể với người đọc bao điều. Câu thơ ngát nhịp 2/2/3 như muốn diễn tả vẻ rơi rơi ngập ngừng của lá vàng khô cùng niềm lưu luyến ủ kín trong lòng kẻ quyết chia tay Hà Nội để lên đường. Bề ngoài, họ không ubước đi một bước giây giây lại dừng”, nhưng trong thâm twm, từng chiếc lá rơi đều gieo vào lòng họ một nỗi bâng khuâng dìu dặt. Từ gần đến xa, rồi từ xa lại về gần, những câu thơ tiếp đó khơi thêm cảm xúc về mùa thu, đưa độc giả quay lại thời điểm hiện tại đế dược thanh thản trong niềm vui giao hòa giữa lòng người và cảnh vật. Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha. “Mùa thu nay khác rồi” là sự so sánh bật thành tiếng reo, một tiếng reo ghi nhận sự khác biệt giữa hai thời đại và khẳng định niềm vui mới đang tới. Câu thơ năm chữ xuất hiện đột ngột sau những câu bảy chữ có nội dung mạch lạc và âm diệu thật dứt khoát. Nó chứa đựng cả tình cảm và nhận thức, đồng thời lí giải sâu sắc vị trí đứng và tâm thế lắng nghe của nhà thơ giữa một bối cảnh thiên nhiên vô cùng khoáng đạt: “Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi”. Hai chữ “vui nghe” mà càng nhận ra bao cái khác. Cái khác ấy đến từ cách thổi của gió và cách hòa diệu của rừng tre. Nó “phấp phới” như vẫy chào, mời gọi và đầy tin tưởng, không giống như cái “xao xác” chứa niềm khắc khoải mơ hồ xưa kia. Trùm lên cả người, cả rừng tre, cả núi đồi là trời thu mới mẻ tinh khôi đang hay vừa thay áo mới. Giữa những câu sáu chữ, bảy chữ dài ngắn không đều, câu thơ năm chữ “trời thu thay áo mới” rơi xuống thật ngọt ngào, ấm áp, rồi điệu thơ chuyển ngập ngừng và xúc động khôn xiết với câu “Trong biếc nói cười thiết tha”. Trong câu thơ vừa trích có những chỗ “bất khả giải” gợi nhiều cách hiểu khác nhau. Trong niềm vui dâng đầy, mỗi chữ đều như tỏa chiếu ánh hân hoan và các thanh trắc đều dội vào lòng người một nỗi náo nức đặc biệt. Bề cao của bài thơ bỗng tách ra, vút lên trong vắt, hồn nhiên và hào hứng vô cùng: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta. Câu thơ cao giọng mà không lên gân. Hai câu điệp lại mang cung một ý mang cảm hứng khẳng định mạnh mẽ – khẳng định chủ quyền của chúng ta đối với vùng trời vùng đất ta đang chiêm ngưỡng với tầm ôm chứa rộng rãi:Xem thêm: Trình bày hiểu biết của anh (chị) về nhà thơ Hoàng cầm và bài thơ “Bên kia sông Đuống" Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa. Nhịp điệu liệt kê dồn dập của đoạn thơ tiếp tục nhấn mạnh ý thức sở hữu của cái ta cộng đồng đội với non nước mình, mặt khác, gợi cảm giác cái ta ấy đang làm việc giới thiệu vẻ đẹp của Tổ quốc với cảm xúc tự hào và sung sướng. Nếu hai thanh trắc “mát” – “ngát” kết thúc hai câu trên giống như nhấn mạnh khi giới thiệu khiến cho hình ảnh được khắc đậm trong tâm khảm người đọc, người chứng kiến, thì hai thanh trắc liền nhau (đỏ nặng) ở phần giữa câu tiếp đó lại làm cho âm điệu của đoạn thơ trầm dần xuống để trôi xa mơ màng cùng hai thanh bằng nơi hai chữ phù sa. Dồn dập reo hát rồi trầm lắng, bâng khuâng, đó là sự chuyển động theo chu kì của điệu thơ, tạo nên sự căng – chùng luân phiên rất đặc biệt và giàu tính nghệ thuật. Ở cuối đoạn thơ này, từ câu thơ ba chữ. cô đọng và trang nghiêm “Nước chúng ta”, độc giả được dẫn dắt vào mạch suy tư về truyổn thống anh hùng của đất nước: Nước chúng ta Nước của những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về. Có thể xem hai câu đầu của đoạn vừa trích là một định nghĩa – cái định nghĩa khá cơ bản thể hiện nhận thức sâu sắc của nhà thơ về đất nước: Việt Nam – Ấy là một mảnh đất bất khuất. Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh, đúng là có điều kiện nhìn rõ hơn bao giờ hết phẩm chất ấy của dân tộc minh, đất nước mình. Sau định nghĩa là chứng minh. Nhưng điểm độc đáo là nhà thơ không chứng minh bằng lí lẽ, bằng các sự kiện mà bằng một cảm nhận. Hai chữ “rì rầm” làm câu thơ trở nên giàu ấn tượng, khiến cho khái niệm “tiếng nói ông cha” vẫn thường quen nói bớt vẻ trừu tượng, mơ hồ để trở nên sống động cụ thể. Quả thật, đảy là kiểu chứng minh rất thơ và cũng rất Nguyễn Đình Thi nữa! Trước khi nói với những ai, nó đã chứng minh cho mình hiểu thêm về đất nước. Từ những mối xúc động tuy phong phú nhưng không rõ rệt ban đầu trước một sáng thu Hà Nội đến thứ tình cảm được tổ chức lại và có định hướng như vừa phân tích trên, hẳn đó là cả một chặng đường dài nhận thức. Khi đã chạm tới cốt lõi của vấn đề, ý thơ ngày càng sáng và mạch thơ ngày càng lộ rõ. Nếu đoạn thơ trước diễn tả sinh động quá trình đi từ cảm giác đến ý niệm thì đoạn thơ sau giống như sự thể nghiệm của nhận thức bằng thực tiễn. Không phải ngẫu nhiên mà từ “Ôi những cánh đồng quê”… trở đi, cách biểu đạt thơ đã đổi khác; những hình ảnh thực tế giàu biểu trưng và song hành và đôi khi hòa lẫn với nhừng khái quát luận trực tiếp. Sự phân khổ bốn câu đều đặn một mặt làm các ý thơ hơi tải ra, mặt khác lại có vẻ cần thiết cho sự dẫn giải, lập luận vốn đòi hỏi sự sáng sủa, lô-gic. Hay nhất trong phần hai của bài thơ có lẽ là khổ này: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu. Đấy là những câu thơ từng trải, kết quả của một vốn sống phong phú. Nếu chưa từng biết đến nhừng “đèm dài hành quân”, chưa từng chứng kiến những cảnh xóm làng tan hoang vì sự tàn phá của quân thù, chưa từng thấy những gai nhọn tua tủa của dây thép gai cản vương tầm mắt hằn rõ lên hoàng hôn bầm đỏ một màu máu, thì không thể viết được những câu thơ như thế. Những từ “chảy máu”, “đâm nát” đâu chỉ đơn giản là thủ pháp tạo hình, gây ấn tượng của thơ. Nó trước hết là nỗi quặn lòng, là sự đau đớn vò xé tâm can. Cũng như từ “bồn chồn” rất gợi ở câu sau đó. Nó chính là cuộc đời. Cuộc đời làm cho lòng yêu thương ta thêm lớn, thêm sâu, giúp ta bắt được mạch sống lớn của dân tộc để từ đó mọi buồn vui xúc cảm thực sự mang ý nghĩa đại diện. Nếu xem bài thơ (trong đặc điểm ghép mối đã nói trên của nó) là một sự phản ánh chân thực quá trình chuyển tiếp phong cách thơ cũng như nhận thức chính trị – xã hội của Nguyễn Đình Thi, thì khổ thơ này giống như cái bản lề giúp ta hiểu thấu các giai đoạn của quá trình. Từ đây, bắt đầu một sự hòa nhập thơ của Nguyễn Đình Thi vào cái phong cách thơ mang ý nghĩa thời đại: cảm xúc cá nhân, riêng tư (hiểu theo nghĩa hẹp). Bắt đầu mờ dần để tiếng nói công nhân sang sảng cất lời. Thời gian mở ra (từ “sáng chớm lạnh” của kỷ niệm riêng đến những năm đau thương, “ngày nắng đốt theo đêm mưa dội” của cả dân tộc), không gian mở ra (từ “thềm nắng lá rơi đầy”) Hà Nội quen thuộc đến quê hương, đất nước, “trời đất mới” không còn của riêng của một con người và lịch sử cũng mang chiều kích mới (từ lịch sử một tâm hồn đầy “nhớ”, đầy “xao xác”, thậm chí cả “vui”, cả “phấp phới” đến lịch sử một đất nước vận động từ “đau thương”, “căm hờn” đến “dứng dậy", “vỡ bờ”). Tất cả những sự “mở ra” nói trên đã làm cho các ý thơ mang tính khái quát cao hơn phù hợp với tầm vóc của đề tài và các hình ảnh mang những nét hoành tráng khác trước với những biêu hiện tình cảm vừa trầm tĩnh vừa phấn khích. Lúc này, hình ảnh người ra đi xuất hiện đầu bài thơ đã thu hút vào trong hình tượng lớn: cả dân tộc là một khối thống nhất, "trán đẫm mồ hôi và hi vọng", rắn rỏi, mạnh mẽ bước tới tương lai:Xem thêm: Phân tích đoạn trích “Sau phút chia ly” – văn lớp 7 Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh. Cái “được” nhất của mảng thơ sau này chính là hơi thơ. Tiếng nói của một cá nhân âm vang tiếng nói của một dân tộc “Đã đứng lên thành những anh hùng”; cho nên, nhiều điều to tát đã nói ra mà không gây cảm xúc khó chịu. Sự nhân danh một cái gì to lớn hơn của nhà thơ được tiếp nhận tự nhiên, bởi sự thật ông đã đồng cảm với mạch sống lớn của dân tộc qua khát vọng chân thành, muốn nắm bắt và thấu hiểu nó. Khổ cuối cùng của bài thơ là một cái “kết” xứng đáng với bản tráng ca về đất nước: Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng lòa. Sau những khổ thơ bảy chữ mang âm hưởng của một giọng kể trầm vang chứa chất từng trải với cách ngắt nhịp phổ biến 3/4 dễ tạo cảm giác bề thế, là khổ thơ sáu chữ dường như muốn cô đọng lại, nén lại mà vần muốn tỏa ra. Cảm xúc vừa muốn tiết chế vừa muốn buông thả tự nhiên theo những từ có khả năng đập mạnh vào cảm giác, gợi nghĩ đến sự chuyển rung đi lên. Đoạn thơ không chỉ có sự thuyết phục của ý tứ mà còn có sức thuyết phục của một hình ảnh thực tế được biểu trưng hóa, chưa để mất hết những dấu vết cụ thể cảm tính (“rung trời”, “người lên như nước vỡ bờ”, urũ bùn”, “đúng dậy”, “sáng lòa”). Phải nói rằng, thơ Nguyễn Đình Thi thường rất hay trong những trường hợp tương tự, khi những chi tiết đời sống đưa vào qua sự chọn lọc của một hồn thơ vừa mạnh ở cảm giác, vừa mạnh ở khả năng khái quát trí tuệ. Trong bài thơ này, nét mặt quê hương đã ngời lên với những vẻ đa dạng thông qua sự cảm nhận, khám phá của một tâm hồn thi sĩ rất giàu nội tâm cũng như rất giàu ý thức công dân. Nhưng về cơ bản, sự phát hiện của Nguyễn Đình Thi chủ yếu hướng vào truyền thống anh hùng, bất khuất của đất nước – một phẩm chất càng trải qua gian khó, qua thử thách chiến tranh nó càng rạng ngời tỏa sáng. Đây là một góc nhìn vừa của riêng nhà thơ lại vừa của lịch sử trong một thời kì nhất định. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để làm rõ những cảm hứng của nhà thơ
3,080
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng vế đất nước của nhà thơ Gợi ý A. DÀN BÀI 1. Mở bài Đất nước là bài thơ ngắn (49 dòng) nhưng lại được sáng tác trong thời gian dài (1948-1955) – Tiền thân là bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa (đăng báo Văn nghệ số 6, tháng 10 và 11/1948) và bài Đêm tinh (Văn nghệ Xuân 1949). Cả hai bài thơ đều được viết tại Việt Bắc, trong tâm trạng nhớ về Hà Nội của tác giả. – Phần đầu từ Sáng mát trong… Trong biếc nói cười thiết tha được lấy từ bài thơ thứ nhất. Kế đến nối vào đoạn cuối bài thơ thứ hai và cả ý của bài đầu cho đến: Những buổi ngày xưa vọng nói về. Đoạn từ Ôi cánh đồng quê… cho đến hết bài được Nguyễn Đình Thi viết vào năm 1955. 2. Thân bài – Cảm hứng của bài thơ: Như tựa đề, cảm hứng của bài thơ là cảm hứng về giang sơn, gấm vóc, cảm hứng về đất nước, Tổ quốc. Cảm hứng đó xuyên suốt bài thơ, là mạch ngầm kết nối từng mảng tưởng như rời rạc trong tác phẩm, tạo thành hình tượng thơ thống nhất. Do đó, khi phân tích phải luôn tập trung vào chủ đề này. – Khổ thơ đầu: Hoài niệm tươi sáng về mùa thu nay. Đây cũng là cảm hứng về một đất nước đổi mới, cảm hứng đầy chất tự hào của người làm chủ. Phát hiện mới rnẻ của Nguyễn Đình Thi ở đây là mối quan hệ về đất nước trong truyền thống – đất nước ở hiện tại. – Phần còn lại của bài thơ: Tác giả tập trung thể hiện những cảm xúc và suy ngẫm của mình về đất nước từ đau thương trong chiến tranh đã trỗi dậy mạnh mẽ, ngời sáng. 3. Kết bài Đất nước là bài thơ hay của Nguyễn Đình Thi và của nền thơ Việt Nam kháng chiến. Thành công lớn nhất của tác giả là đã thể hiện những tình cảm chân thực, xúc động của mình về đất nước. B. BÀI LÀM Xưa nay, nhiều bài thơ hay lại được nhà thơ viết rất nhanh, có vẻ như “xuất thần”, nhưng Đất nước của Nguyễn Đình Thi không như vậy. Bài thơ được thai nghén từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (năm 1948, 1949) và hoàn thành khi cuộc kháng chiến ấy đã kết thúc (năm 1955). Dĩ nhiên, đó phải là thành công của nhà thơ có tài. Nhưng diều quan trọng hơn chính là do tác phẩm ấy được hình thành từ những cảm xúc, suy nghĩ của Nguyễn Đình Thi về một chủ đề lớn: Đất nước! Mở đầu bài thơ là những cảm xúc trong một sáng mùa thu, gợi nỗi nhớ về Hà Nội: Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới. Đó cũng là ấn tượng về một mùa thu Hà Nội: không khí mát trong, gió nhẹ thổi và phảng phất mùi hương cốm mới. Câu thơ gợi tả cả không gian, màu sắc và hương vị, “đồng hiện” cả thời gian trong quá khứ và hiện tại, trộn lẫn hình ảnh trong thực tại và hình ảnh trong hoài niệm. Hương cốm là nét đặc sắc của mùa thu Hà Nội. Dường như đó là kết tinh của tất cả hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu Hà Nội. Thạch Lam từng viết về cốm, món quà đặc biệt của mùa thu Hà Nội: “Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ… là thức dâng của cánh đồng bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị mà thanh khiết của đồng quê nội cỏ” (Hà Nội băm sáu phố phường).Xem thêm: Người chê mình mà chê phải, ấy là thầy của mình; người khen mình mà khen đúng, ấy là bạn của mình. Còn người nào nịnh bợ mình ấy là kẻ thù làm hại mình đó. Sau này, hương cốm cũng đã đi vào nhạc của Trịnh Công Sơn (Nhớ mùa thu Hà Nội )cùng với cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ… làm thành nét thanh tao, gợi nhớ mùa thu Hà thành: Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng / cây bàng lá đỏ / nằm kề bên nhau/ phố xưa nhà cổ / mái ngói thâm nâu /… Hà Nội mùa thu / mùa thu Hà Nội / mùa hoa sữa về / thơm từng cơn gió / mùa cốm xanh về / thơm bàn tay nhỏ / cốm sữa vỉa hè / thơm bước chân qua… Nguyễn Đình Thi đã đưa vào thơ những gì đặc trưng nhất của mùa thu Hà Nội. Điều đó chứng tỏ nhà thơ là người gắn bó sâu nặng, thiết tha với Hà Nội. Nguyễn Đình Thi kể, hồi nhỏ đi học trung học, ông thường lên vùng Hồ Tây ngồi ngắm bầu trời và những áng mây bay. Cảm hứng về bầu trời thu, về những làn gió mát, về hương vị cốm xanh và những dòng sông, ruộng đồng ở đoạn sau của nhà thơ “cũng chính là cảm hứng về đất nước” (Nguyễn Đình Thi – Bài thơ Đất nước). Dòng thơ thứ ba: Tôi nhớ những ngày thu đã xa là một sự chuyển mạch. Thực ra, ở hai câu thơ đầu đã có hình ảnh mùa thu xưa rồi, nhưng đến đây có lẽ không kiềm được dòng hồi tưởng nên lời thơ như buột phát ra: Tôi nhớ những ngày thu đã xa. Trong bài thơ Sáng mát trong như sáng năm xưa, đây vốn là vị trí của câu thơ có hình ảnh đẹp: cỏ mòn thơm mãi dấu chân em. Câu thơ mang dáng dấp suy nghĩ và tình cảm của một trí thức Hà Nội. Thời ấy, có thể không hợp với suy nghĩ của nhiều người trong hoàn cảnh kháng chiến nên Nguyễn Đình Thi đã thay đi. Song, dù sao thì sự chuyển mạch ấy cũng hợp lí, kết nối được hình ảnh toàn bài thơ. Bốn câu thơ kế tiếp miêu tả về mùa thu Hà Nội xưa: Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Mùa thu Hà Nội hiện lên trong hoài niệm của nhà thơ thật đẹp và thơ mộng, về thời tiết, thiên nhiên, không gian (chớm lạnh, xao xác hơi may, phố dài). Đặc biệt, sự cảm nhận của tác giả thật tinh tế và tài hoa khiến cho mùa thu Hà Nội bỗng nhiên biểu hiện bằng hình khối, màu sắc, ánh sáng. Đó là thứ hình khối, ánh sáng, màu sắc của tâm trạng nên khiến lòng người càng thêm xao động. Mùa thu Hà Nội trong hoài niệm của Nguyễn Đình Thi vì thế mang vẻ đẹp của tâm trạng. Cảnh thu thường gợi lên trong lòng người những phảng phất buồn bởi sự thay đổi âm thầm, dịu ngọt, chầm chậm của hương vị, hoa lá, cỏ cây, của đất trời, ánh sáng. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là do nhà thơ nắm bắt được những phút giây kì diệu ấy của mùa thu. Ớ đất nước, Nguyễn Đình Thi không chỉ nắm bắt được thần thái của mùa thu Hà Nội, mà có lè mùa thu ấy từ lảu đã là một phần trong tâm hồn nhà thơ. Thơ xưa viết về mùa thu thường gắn với chia li, những cuộc tiễn đưa. Thơ thu của Nguyễn Đình Thi vô tình có hình ảnh ra đi ấy và vì thế khiến cảnh thu càng thêm xao xuyến:Xem thêm: Hình ảnh người bà và kí ức tuổi thơ của nhân vật trữ tình trong bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm năng lá rơi dầy. Đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về “người ra đi” trong câu thơ trên. Có người cho đó là người Hà Nội mang tâm trạng, cảnh ngộ rời bỏ thủ đô khi kháng chiến bùng nổ. Lại có ý kiến cho rằng, đó là hình ảnh người lính của Trung đoàn Thủ đô khi rút khỏi Hà Nội… Thực ra, Trung đoàn Thủ đô rời Hà Nội vào mùa xuân sau hai tháng chiến đấu (1947) và cuộc rút lui ấy diễn ra vào ban đêm, dưới gầm cầu Long Biên. Còn nếu gắn việc người Hà Nội ra đi khi kháng chiến bùng nổ càng không đúng vì toàn quốc kháng chiến diễn ra tháng 12 năm 1946. Căn cứ vào cảm xúc và hình tượng thơ có thể khẳng định việc người ra đi ấy diễn ra trước năm 1945. Người ấy có sự dứt khoát về một lựa chọn (đầu không ngoảnh lại) nhưng trong lòng hẳn nhiều vương vấn, luyến lưu nên âm điệu thơ bâng khuâng và cảnh ra đi tuy đẹp nhưng buồn và lặng lẽ. Hình ảnh ấy gần với hình ảnh người ra đi của Thâm Tâm: Đưa người, ta chỉ đưa người ấy Một giã gia đình, một dửng dưng… – Li khách! Li khách! Con dường nhỏ Chí lớn không về bàn tay không. (Tống biệt hành) Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ: Người ra đi này cùng không phải tác giả hoặc một người cụ thể – người ra đi ấy có thể là đi làm cách mạng, hoặc vì một lẽ khác, vì một bi kịch chung hoặc riêng… Dù sao đấy cũng là một người bỏ nơi ở, bỏ nơi mình đang quen sống để ra đi, người ấy có nhiều nông nổi, nhiều tâm trạng, cho nên ra đi “đầu không ngoảnh lại”, cảnh đẹp vắng vẻ, quyến luyến lặng lẽ. Người ra đi ấy có một cảnh ngộ nào đấy ta không biết rõ, nhưng đầu anh ta không ngoảnh lại, anh ta thấy cần phải đi, và những cái anh ta bỏ lại sau lưng, hình như không phải của anh ta nữa (Thư trả lời bạn đọc, ngày 4.12.1983). Dù gì đi nữa thì khổ thơ trên vẫn là những câu thơ đẹp nhất của bài thơ Đất nước. Có người nói đó là “những câu thơ thật mới mẻ về hình thức, thật mới mẻ về cảm xúc so với thời bấy giờ, và ngay cả bây giờ, nó vẫn nguyên giá trị thơ, như là những giá trị cổ điển vậy” (Tâm Hoàng). Từ hoài niệm về mùa thu Hà Nội xưa, tác giả dẫn vào cảm xúc về mùa thu đất nước, trong cảnh hiện tại ở chiến khu Việt Bắc: Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha. Bài thơ có sự chuyển đổi về âm điệu, nhịp điệu: những câu thơ ngắn với những thanh nhịp nhanh, rộn ràng; sự phối hợp âm thanh với vần trắc và thanh trắc (phấp phới, áo mới). Cảnh sắc thiên nhiên cũng có sự thay đổi. Vẫn là mùa thu với bầu trời trong xanh, nhưng tươi sáng, nhiều hoạt động linh hoạt, gió thổi, rừng tre phấp phới, trời thu thay áo mới, nói cười thiết tha. Tất cả sự thay đổi ấy hòa nhập với tâm trạng con người (đứng vui), thể hiện niềm vui hồ hởi, phấn chấn, tin tưởng, một vẻ đẹp khỏe mạnh và tươi sáng.Xem thêm: Phân tích hình tượng sóng - khát vọng tình yêu trong bài Sóng của Xuân Quỳnh Sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ thể hiện ở những nét riêng biệt của mùa thu mới: âm thanh ngân xa, vang vọng, ánh nắng như trong sáng hơn và bầu trời cũng cao rộng hơn. Từ cảm xúc về mùa thu đất nước, Nguyễn Đình Thi dẫn dắt đến sự bộc bạch tình cảm mến yêu tha thiết và tự hào: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Những từ chỉ định (đây) và điệp ngữ (của chúng ta) vang lên dõng dạc, tự hào về quyền làm chủ đất nước. Ngay cả sự liệt kê (một cách khái quát, băng những danh từ và tính từ) tiếp tục bổ sung cho niềm tự hào to lớn ấy. Đặc biệt là hình ảnh bầu trời được Nguyễn Đình Thi hết sức chú ý: Trời xanh đây là của chúng ta. Hình ảnh ấy vừa chân thực, lại vừa có ý nghĩa tượng trưng cho đất nước, cho tự do, cho những gì cao đẹp nhất của con người. Còn nhớ, trước năm 1945, Nguyễn Đình Thi từng viết: Trời xanh ơi hỡi xanh không nói Hồn ta muốn hiểu chẳng cùng cho. Khi ấy, “trời xanh” là hình ảnh đẹp, nhưng ngoài tầm với và sự hiểu biết của con người. Trên cái nền không gian rộng mở, được miêu tả từ nhiều mặt, Nguyễn Đình Thi chuyển sang chiều dài thời gian, nói lên đặc điểm, truyền thông và độ sâu lắng của đất nước và con người Việt Nam. Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất. Thực ra, quá khứ, truyền thống của dân tộc không chỉ có vậy. Nhưng có lẽ. trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến toàn dân lúc bấy giờ, Nguyễn Đình Thi tập trung nói về truyền thống bốn nghìn năm kiên cường chống giặc ngoại xâm. Câu thơ có sự khái quát rất cao, nhưng lại gợi mở về những lớp người, những thế hệ đã anh dũng hi sinh, sẵn sàng hiến dâng cho đất nước. Tất nhiên, cùng với nhiều truyền thống tốt đẹp khác, tinh thần bất khuất của dân tộc hợp thành tiếng nói bền bỉ, liên tục, tiếp sức cho hiện tại: Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về Tiếng nói ấy trở thành hồn thiêng sông núi, tiếp sức, nhắc nhở người đời sau. Nguyễn Đình Thi là nhà thơ sớm cảm nhận mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại. Sau ông, nhiều nhà thơ còn tiếp tục khai thác những khía cạnh độc đáo khác nhau về môi quan hệ ấy. Từ Huy Cận: Cha ông yêu mến thời xưa cũ Trần trụi đau thương bỗng hóa gần Những bước mất đi trong thớ gỗ Về đây, tươi vạn dặm đường xuân. (Các vị La Hán chùa Tây Phương) đến Chế Lan Viên (Người đi tìm hình của nước, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?) Lê Anh Xuân, Thu Bồn… rồi Nguyễn Khoa Điềm trong những năm tháng đánh Mĩ: Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời… (Mặt đường khát vọng) Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng vế đất nước của nhà thơ
2,509
Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh Hướng dẫn I. PHAN CHẦU TRINHtự là Tử Can, hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu là Hy Mã, người làng Tây Lộc, huyện Tuyên Phước, tỉnh Quảng Nam, sinh vào tháng tám năm Nhâm Tuất (1872). Thân phụ ông là Phan Văn Bình theo nghề võ và đã chiến đấu tích cực trong hàng ngũ cần Vương, thân mẫu là Lê Thị Chung, một người đàn bà đảm đang và có nhiều đức' hạnh. Năm 1900, ông thi đậu cử nhân, năm 1901 ông thi đậu luôn Phó bảng và năm 1902 ông được nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ tại triều đình Huế. Năm 1905, ông làm giấy từ quan rồi bắt đầu hoạt động chính trị cùng với các Ông Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can v.v… Ong bí mật sang Trung Hoa để nghiên cứu về quốc kế dân sinh và đã gặp Phan Bội Châu tại đây. Sau đó hai ông lại cùng sang Nhật. Ở đó chừng 10 tháng, Phan Châu Trinh trở về nước. Năm 1908, nhân có nhiều cuộc biểu tình chống thuế tại Trung Kì, thực dân Pháp liền buộc ông đã nhúng tay vào việc đó, bắt giam ông.cùng với Trần Quý Cáp. Sau đó chúng đày ông ra đảo Côn LÔ11. Bài thơ Đập đá ở Côn Lổnra đời trong hoàn cảnh ấy. II. Trước Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đá số các văn gia thi sĩ, mỗi khi gặp những cảnh sa cơ, lỡ vận thường có ba thái độ: Hoặc là tin vào sự biến dịch: “bĩ cực thái lai” rồi ngồi yên thúc thủ chờ thời: Hẳn bền lòng chớ chút oan vưu Thời chí hỷ ngư long biến hóa. Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả, Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chỉ, Hơn nhau cũng một chữ “Thì ”! (Cuộc phong trần,Cao Bá Quát) Để rồi cuối cùng cố quên nỗi khổ não chứa chất trong tâm hồn bằng cách “uống rượu tiêu sầu”, hoặc nữa là lẩn tránh không dám nhìn vào thực tại và cuối cùng đắm mình trong thiên nhiên hoặc trong thế giới tưởng tượng để tìm lấy ởđó một nguồn an ủi bất tận như trường hợp của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh v. v… Hoặc là giãi bày những lời thở than oán trách, châm biếm “thiên hạ tự”để cho vơi đi một chút u uất, và cuối cùng là tư tưởng nhớ nhung hoài cổ như trường hợp Trần Tế Xương, Bà Huyện Thanh Quan v. v… Đêm đêm tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. (T. T. Xương) Phan Châu Trinh thì khác hẳn. Là một nhà cách mạng lấy việc giải phóng dân tộc làm lẽ sống, nên trước những nỗi gian nan đau khổ, giữa cuộc đời tù đày cơ cực, ngày ngày phải xách búa đi đập đá – xa quê hương, xa đồng chí không một lời an ủi dịu hiền – mà ông vẫn khẳng khái, coi đó chỉ là một sự thử thách ý chí mình. Ông diễn tả lòng cương quyết phá núi: Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn… Nhưng thực ra công việc đập đá ở đây chỉ có một giá trị tượng trưng – nó tượng trưng cho những trở ngại ghê gớm trên bước đường lập chí của ông đó thôi. Bởi vậy, ông cương quyết phá núi thế nào thì đồng thời ông cũng cương quyết phá tan mọi trở ngại san bằng những chông gai cũng như thế. Ý chí quyết chiến và quyết thắng của ông đã làm cho ta chợt nhớ tới ý chí quyết chiến và quyết thắng của Nguyễn Công Trứqua những câu: Cũng có lúc mưa dồn, sóng vỗ Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong. Chí những toan xẻ núi, lấp sông, Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ. Do đó, ta có thể nói được rằng: đôi với ông, những sự đau khổ thất bại không phải là một động lực làm cùn nhụt ý chí chiến đấu, mà là hun đúc cho tinh thần chiến đấu thêm già dặn, đanh thép để thẳng tiến tới mục đích. Thực đúng với câu nói của một nhà cách mạng châu Âu trước kia: “Cái bước lùi của những chiến sĩ không phải là bước lùi đế thúc thủ mà là sửa soạn để nhảy được xa hơn”. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi đọc hai câu kết luận của ông: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan nào sá sự con con”. Xem như vậy thì ta không khỏi thây: nội dung bài thơ “đập đá”trên đây đã trưng lên giá trị lành mạnh và một hướng “đi lên” rõ rệt. Nó xứng đáng là một bài thơ cách mạng của một con người cách mạng. Bài thơ trên đây không chỉ có giá trị tiêu biểu trong phạm vi nội dung, mà còn có giá trị tiêu biểu trong phạm vi hình thức nữa. Mà thực vậy, nội dung của nó mạnh mẽ bao nhiêu thì lời văn của nó lại cũng rắn rỏi, quyết liệt bấy nhiêu. Xem thêm: Phân tích bài ca dao Trâu ơi ta bảo trâu nàyNgay trong câu phá đề và thừa đề, lối dùng chữ của tác giả đã đủ trác tuyệt rồi: “Làm trai đứng giữa đất Cồn Lôn Lừng lẫy làm cho lở núi non Mỗi chữ đặt vào đây đều bao hàm một hình ảnh sinh động và một sức sông sôi nổi. Ví dụ như tiếng “đứng”, tiếng 'Hừng lẫy” đủ gợi cho ta trông thấy hình ảnh một trang nam nhi, đầu đội trời, chân đạp đất, đứng hiên ngang trước cảnh núi non biển rộng, coi thường sóng gào, gió thét quanh mình, nhất quyết lấp sông, phá núi để đạt tới cho bằng được mục đích cao cả của mình. Tiếng “đứng” ởđây có một giá trị gợi cảm đặc biệt, đặc biệt không kém gì tiếng “đứng”của Nguyễn Công Trứ trong câu: “Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”. – Nghệ thuật dùng chữ của tác giả không những chỉ có giá trị gợi hình và gợi cảm như vừa nói trên mà còn nằm ở trong cách dùng chữ đối chọi đến “nảy lửa” trong hai câu thực và hai câu luận nữa. Mà thực thế, còn có những tiếng nào đối chát với nhau bằng những tiếng. Xách búa đối với ra tay Đánh tan đối với đập bể Năm bảy đống đối với mấy trăm tròn đôi với mưa nắng đối với chi sởn đôi với dạ sắt son III. Bài thơ ghi dấu một chặng đường hoạt động chứ chưa khép lại đường đời của con người đầy khí phách hiên ngang. Sau hai năm bị đày, Phan Chu Trinh được “ân xá Vì nhận thấy tranh đâu tại nước sẽ có rất ít kết quả, nên năm 1911, ông đã theo toàn quyền Klobukowsky sang Pháp. Đi theo ông, có người con trai duy nhất là Phan Chu Dật. Năm 1925, ông trở vế Nam Kì vào khoảng tháng 6 và có tổ chức mấy cuộc diễn thuyết quan trọng nói về Quân trị Chủ nghĩa và Dân trị Chủ Nghĩa, Đạo đức và luân lý Đông, Tây. Trong thời gian này, tuy bị đau, nhưng ông vẫn tích cực vận động và ký tên vào bản xin ân xá cho ông Phan Bội Châu. Ngày 24-12-1925, khi khi được tin ông Phan Bội Châu đã được toàn quyền Va-ren-ne ký giấy ân xá, ông định ra Huế gặp người bạn già để hàn huyên, tâm sự thì bị đau và mất ngày 24-3-1926. Toàn quốc thụ tang ông. Theo hướng dẫn đọc bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác. Với những bài thơ Đường luật học sinh có thề kẻ theo khung hình dưới để tìm hiểu nghệ thuật và nội dung trước khi phân tích. HP A Tên gọi Thơ Nghĩa thực Nghĩa suy diễn Nghệ thuật Đề Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn. Lừng lẫy làm cho lở núi non. – Chàng trai đứng giữa núi đầy đá. – Chàng trai ngạo nghễ, lẫm liệt đứng giữa bao cam go, thử thách. – Ngoa dụ được dùng ở câu 2. Thực Xách búa đánh tan năm bảy đông. Ra tay đập bể mấy trăm hòn. – Tư thế và kết quả của việc đập đá – Đã vượt qua bao nhiêu khổ cực, gian lao nhờ vào nghị lực – Phép đối và ngoa dụ Luận Tháng ngày bao quản thân sành sỏi. Mưa nắng càng bền dạ sắt son. Khổ cực không thể làm mềm lòng người có kinh nghiệm sống. Người dạn dày sương gió Với lòng trung kiên thì càng khó khăn càng vững chí. – Phép đối và từ tượng trứng, biểu hiện. Kết Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con. – Chuyện khổ cực chỉ là chuyện nhỏ đôi với người có chí lớn. – Người mu’ll cầu việc lớn thì ở tù chỉ là chuyện nhỏ. – Dùng điển tích bà Nữ Oa đội đá vá trời. dap da o con lon, soan bai dap da o con lon, phan tich bai tho dap da o con lon, cam nghi ve bai tho dap da o con lonXem thêm: Cảm nhận về kè phản bội nhục nhã Va-ren trong truyện ngắn Những trò lố hayVa-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái QuốcNguồn:
Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh
1,553
Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh Gợi ý Phan Châu Trinh là một trong những chí sĩ cách mạng nổi tiếng đầu thế kỷ XX. Bài thơ Đập đá ở Côn Lôn làm trong thời gian ông bị đày ở đảo Côn Lôn thể hiện khí phách quật cường, một bản lĩnh ngang tầm với dũng sĩ thần thoại. Nhà tù thực dân Côn Đảo là một địa ngục trần gian. Bọn thực dân dùng nơi này để đày đọa những con người yêu nước ưu tú hòng làm nhụt chí khí đấu tranh của họ. Trong đó, đập đá là một trong những công việc cực nhọc mà người đi đày phải làm. Phan Chu Trinh cũng ở trong số tù khổ sai ấy. Nhưng giữa nắng gió biển khơi khắc nghiệt, người tù Phan Chu Trinh đã dựng lên cả một tượng đài bằng thơ thể hiện một vẻ đẹp lẫm liệt, phong thái cứng cỏi ngang tàng của người anh hùng cứu nước. Bốn câu thơ đầu tác giả miêu tả cảnh tượng đập đá của người tù và cũng bằng những hình ảnh ấy mà khắc họa dáng vóc phi thường của người anh hùng đấng nam nhi: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn Câu mở đầu, tác giả phác ra bối cảnh không gian, gợi mở âm hưởng hùng tráng bằng tư thế hiên ngang, sừng sững của phận "làm trai" đầu đội trời, chân đạp đất kiêu hùng. Dân gian từng có câu: "Làm trai cho đáng nên trai". Nguyễn Công Trứ thì viết: "Chí làm trai Nam, Bắc, Tây, Đông; Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể". Phan Bội Châu cũng đề cao chí hướng làm trai: "Đã sinh làm trai thì cũng phải khác đời"… Điều đó cho thấy quan niệm về chí trai, làm trai có mạch nguồn trong quan niệm nhân sinh truyền thống. Trong câu thơ của Phan Chu Trinh quan niệm ấy được khẳng định trong một bối cảnh cụ thể: "… đứng giữa đất Côn Lôn" là "đứng giữa" biển – trời – đất, thật kiêu hãnh, đường hoàng, đúng là tư thế của người làm chủ giang sơn. Ba câu thơ tiếp theo, qua những hình ảnh chân thực diễn tả công việc nặng nhọc (khai thác đá) tác giả đã khắc họa thành những hình ảnh biểu trưng cho tầm vóc sức mạnh dời non lấp bể, kinh thiên động địa của nhân vật trữ tình. Những hành động mạnh mẽ cho phép ta hình dung ra hình ảnh người dũng sĩ với sức vóc thần kỳ đang xung trận: "xách búa", "ra tay" và "lừng lẫy" những chiến công "lở núi non", "đánh tan năm bảy đống", "đập bể mấy trăm hòn". Những từ ngữ cực tả sức mạnh dũng mãnh đã làm nổi bật hình tượng con người trong tư thế ngạo nghễ, lớn ngang tầm vũ trụ. Giữa không gian biển trời bao la sừng sững một tượng đài kết bằng những hình khối phi thường.Xem thêm: Kể về nông thôn Bốn câu cuối bộc lộ trực tiếp cảm xúc và suy nghĩ của người anh hùng: Tháng ngày bao quản thông sành sỏi, Mưa nắng càng bền dạ sắt son. Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Gian nan chỉ kể việc con con! "Thân sành sỏi", "dạ sắt son" sẽ bền bỉ trụ lại được cùng "tháng ngày", "mưa nắng". Thế đối lập ở câu 5-6 thể hiện sự kiện tâm, vững trí của nhà cách mạng dù trong bất kỳ hoàn cảnh khắc nghiệt nào. Tấm lòng thủy chung, son sắt "mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen" (Nguyễn Trãi) kia cũng là sự kế thừa truyền thống anh hùng bất khuất đã được khẳng định trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Vững vàng đến "trơ gan cùng tuế nguyệt", đến ngạo nghễ đã là đạo sống, phẩm cách của người chiến sĩ chẳng tiếc thân mình cho sự nghiệp chung. Phan Chu Trinh xuất thân nho học, ở những vần thơ này ta thấy bản lĩnh của nhà nho đã hòa thấm thuần thục với tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng. Trong bối cảnh đầy những gian nan, thử thách hồi đầu thế kỷ XX người chiến sĩ dám dấn thân vì giang sơn xã tắc cũng phải là những con người bất chấp hy sinh, nguy khó, biết quên thân mình. Có khi còn phải biết gồng mình lên, chiến thắng hoàn cảnh bằng ý chí. Cảm hứng lãng mạn hào hùng tiếp tục được đẩy lên đỉnh điểm ở hai câu thơ kết với hình ảnh thơ mang đậm chất sử thi. Hai chữ "vá trời" lấy từ tích Nữ Oa vá trời. Tầm vóc, sức mạnh ở đây đã được thi vị hóa đến mức thần kỳ, giống như bà Nữ Oa trong truyền thuyết đội đá vá trời. Hình ảnh "những kẻ vá trời" vừa thực vừa bay bổng, khoa trương. Thực ở mức liên hệ với hình ảnh những người tù lao động khổ sai đập đá, làm lở núi non đã được miêu tả ở 4 câu thơ đầu. Bay bổng, khoa trương ở lối ví với nhân vật trong thần tích. Hai câu thơ cuối này gợi tả sự đối lập giữa cái lớn lao, kỳ vĩ (vá trời) với thực tế gian nan chỉ là "việc con con". Sự đối lập ấy là kết quả của một ý chí sắt đá, niềm tin lớn vào sự nghiệp chính nghĩa, kẻ vá trời bằng sức mạnh đội đá vá trời có thể đè bẹp mọi trở ngại gian nan. Thực tế thì những khó khăn tác giả đang phải đương đầu không "con con" chút nào nhưng chỉ có bằng cách ấy, bằng ý chí quật cường tích tụ từ nguồn mạch dân tộc người chiến sĩ mới có thể tiếp tục được con đường dằng dặc chông gai trước mắt. Đó cũng là một cuộc chiến thắng chính minh.Xem thêm: Nghị luận xã hội về đức tính chăm chỉĐập đá ở Côn Lôn và Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông là hai bài thơ của hai nhà nho yêu nước tiêu biểu trong phong trào cách mạng những năm đầu thế kỷ XX. Qua đó chúng ta nhận ra cái mạch chảy dào dạt của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng trong truyền thống dân tộc Việt Nam. Rồi đây cái mạch nguồn ấy lại bừng lên thành những đợt sóng mãnh liệt và thể hiện trong văn học kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh
1,105
Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) Gợi ý HƯỚNG DẪN VỀ NỘI DUNG 1. Sự đồng cảm của Nguyễn Du trước bi kịch của Tiểu Thanh: tài sắc mà bạc mệnh. Đây là bài thơ viết về một tài nữ của Trung Hoa và bài thơ cũng nằm trong mạch cảm hứng chung của Nguyễn Du về những phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh. Thực ra vấn đề “hồng nhan bạc mệnh” không phải là vấn đề mới mẻ mà đã được nói đến từ trước (bất hạnh của người cung nữ cũng là bất hạnh của người tài sắc và Cung oán ngâm khúc đã có câu: “Oan chi những khách tiêu phòng – Mà xui phận bạc nằm trong má đào”). Nhưng dẫu sao người cung nữ cũng không phải là trường hợp phổ biến cho số phận tài sắc. Chỉ đến Nguyễn Du, văn học trung đại Việt Nam mới thực sự chú ý đến một lớp người có thân phận thấp bé trong xã hội như nàng Tiểu Thanh, Kiều, Đạm Tiên. Họ đều có tài năng và sắc đẹp, nhất là tài năng nghệ thuật, nhưng cuộc đời đều bất hạnh. 2. Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua bài thơ: thương người và tự thương; đặt vấn đề quyền sống của những người có tài năng. – Với Đọc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du vừa khóc người vừa khóc mình. Bao đời nay, lòng thương người vẫn là một biểu hiện của tấm lòng nhân đạo mênh mông, cao cả. Còn biết tự thương mình là một nét mới mang tinh thần nhân bản của thời đại cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX, thời đại con người không chỉ ý thức về nhân phẩm, về tài năng cá nhân mà còn thức tỉnh nỗi đau của chính mình. Tự thương cũng là một nét mói trong tinh thần nhân bản của Nguyễn Du vì đó chính là sự tự ý thức, là bằng nước mắt mà thâm in bản ngã của mình để chông lại sự chi phôi của quan niệm phi ngã, vô ngã.Xem thêm: Hãy bình luận lời dạy sau đây của Bác Hồ: “Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc khó. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là điều trái nhỏ” – Giá trị nhân bản đặc sắc của bài thơ là ở chỗ Nguyễn Du đã đặt vấn đề về quyền sống của những người nghệ sĩ. Ông đã thấy ý nghĩa xã hội của người nghệ sĩ, người công hiến cho cuộc đời những giá trị tinh thần tốt đẹp. Nhà ván nhà thơ không chỉ cần quan tâm, đồng cảm với ‘những nạn nhân của xã hội phong kiến theo nghĩa những người đói cơm rách áo, cần được chăm lo bảo vệ, mà còn phải biết thương yêu, trân trọng những chủ nhân của các giá trị văn hóa tinh thần. Khi những chủ nhân này là người phụ nữ thì sự đồng cảm của nhà thơ lại có ý nghĩa sâu sắc sơn. VỀ NGHỆ THUẬT Tác dụng của kết cấu thơ Đường luật trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề bài thơ: mỗi phần của bài thơ vừa có vị trí riêng vừa liên kết chặt chẽ với nhau trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề chung của toàn bài. – Hai câu đề bắt đầu bằng một sự kiện cụ thể: tác giả hình dung quang cảnh hoang phế ở Tây Hồ, nơi đã diễn ra cuộc đời đầy buồn tủi của nàng Tiểu Thanh, hình dung những mảnh giấy còn sót lại của thơ Tiểu Thanh, từ đó mà xúc cảm trỗi dậy. Đây là bài thơ được viết theo nguyên lí vật cảm thuyết của thi pháp trung đại (tình do vật, tức là ngoại cảnh khơi gợi, tình được cảnh kích phát, gợi hứng).Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Hai câu thích thực nêu những suy nghĩ, liên tưởng được khơi gợi từ cảnh và vật. Hai câu này mới chủ yếu giới hạn trong phạm vi suy nghĩ về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh – một người đẹp (son phấn) và có tài văn chương. – Hai câu luận bắt đầu khái quát, nâng vấn đề, liên hệ đến sự tương đồng giữa thân phận của bản thân tác giả với thân phận của nàng Tiểu Thanh và bình luận đây là chuyện đáng hận. – Tiếng khóc ở hai câu kết cuối bài có ý nghĩa khái quát, như lời bình của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân: “…người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thông lụy của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy”. Bài thơ đi từ trường hợp cụ thể đến tư tưởng khái quát về thân phận chung của người tài sắc. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí)
837
Bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu là một trong những bài thơ đặc sắc viết về tình cảm của những người lính. Họ vốn là những con người xa lạ nhưng yêu mến và gắn bó với nhau với một tình nghĩa keo sơn. Họ gọi nhau một tiếng gọi thân thương: Đồng chí. Để phân tích bài thơ Đồng chí được hay nhất các em cần lập dàn ý chi tiết cho đề văn này. Có như vậy thì trong quá trình làm bài sẽ không sợ bị thiếu ý, sót ý. Dưới đây là những hướng dẫn cho các em tham khảo. I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Đồng chí 1. Mở bài – Giới thiệu về nhà thơ Chính Hữu và bài thơ Đồng chí. – Nội dung bài thơ viết về tình cảm của người lính dành cho nhau, qua đây chúng ta cũng thấy được những khó khăn mà người chiến sĩ đã phải trải qua. 2. Thân bài phân tích bài thơ Đồng chí Đoạn 1: Cơ sở hình thành tình đồng chí – Sự tương đồng trong hoàn cảnh xuất thân của những người lính – Những người lính cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng, cùng sát cánh bên nhau trong tranh đấu. – Cùng nhau chia sẻ khó khăn trong cuộc sống. Đoạn 2: Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí – Sự cảm thông sâu sắc nỗi niềm của nhau. – Cùng nhau chia sẻ những gian lao và thiếu thốn. Đoạn kết: Bức tranh về tình đồng chí – Hình ảnh thơ đầu súng trăng treo lãng mạn nhưng cũng là thực tế. – Người lính, người đồng chí luôn kề vai sát cánh bên nhau làm nhiệm vụ. 3. Kết luận – Tóm tắt lại nội dung của bài và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này. Bài viết liên quan >> Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải (Có dàn ý chi tiết) >> Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh (Có dàn ý chi tiết) II. Bài làm phân tích bài thơ Đồng Chí Nhà thơ Chính Hữu vốn xuất thân là một người lính. Ông tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Năm 1948, nhà thơ sáng tác bài thơ Đồng chí khi đang cùng với đồng đội của mình tham gia chiến dịch Việt Bắc. Bài thơ đã nói lên được tình nghĩa của những người chiến sĩ. Họ là những con người đã cùng nhau vào sinh ra tử, chia sẻ với nhau những khó khăn, thiếu thốn trong cuộc sống và họ gọi nhau bằng một tiếng thân thương đồng chí.Xem thêm: Nghị luận xã hội về lòng khiêm tốn Những câu thơ mở đầu đã cho chúng ta thấy được xuất thân của những người lính. Họ tuy có hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nhưng lại tương đồng với nhau: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Phân tích bài thơ Đồng chí Nước mặn đồng chua và đất cày lên sỏi đá đều là những vùng đất không thuận lợi cho việc sản xuất. Điều đó cho thấy, cả tôi và anh đều đến từ những vùng quê nghèo khó của đất nước. Phải chăng chỉ ra hoàn cảnh xuất thân nghèo khó là để cho người đọc hiểu được lý do vì sao mà những người lính dễ dàng yêu mến nhau? Thường con người ta thương nhau nhiều hơn, đồng cảm với nhau nhiều hơn trong nghèo khó. Từ xuất thân tương đồng như vậy, tình cảm của người lính càng thêm bền chặt khi họ có cùng chung một lý tưởng, cùng chung một nhiệm vụ. Đó là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Từ những con người xa lạ, nay không hẹn mà gặp rồi lại trở nên thân thiết: Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Rõ ràng là không quen nhau mà lại cứ ngỡ như là đã thân nhau từ trước. Để rồi: Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí. Súng chính là hình tượng trưng cho sự chiến đấu của những người lính, là vật dụng quen thuộc không thể thiếu của người lính. Câu thơ tái hiện lại hình ảnh những người lính đang cầm súng kề vai, sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Những đêm mưa rừng, gió rét, họ cũng chung nhau đắp một tấm chăn, sưởi ấm nhau bằng hơi ấm của cơ thể, hơi ấm của tình người. Và cứ thế họ trở thành tri kỉ của nhau. Câu thơ cuối cùng của đoạn thơ, cảm xúc của tác giả dồn nén lại và rồi bật lên thành một tiếng gọi đồng chí. Một tiếng gọi thôi mà gợi lên biết bao nhiêu tình nghĩ. ÔI những người cùng chung chí hướng, mối nhân duyên đặc biệt đã gắn kết họ lại để cho ta có được hòa bình như hôm nay. Tiếng thơ như là cách để nhà thơ khép lại ý của đoạn thơ thứ nhất và mở ra ý của đoạn thơ thứ hai.Xem thêm: Thuyết minh về Bến Nhà Rồng. Từ cơ sở hình thành tình đồng chí, nhà thơ Chính Hữu bắt đầu đi sâu hơn vào trong việc miêu tả biểu hiện cảm động của tình đồng chí để cho người đọc hiểu rõ hơn về thứ tình cảm này. Biểu hiện của tình đồng chí trước hết là ở sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau. Ở với nhau lâu ngày, sẻ chia với nhau nhiều điều nên những người lính hiểu nhau như hiểu chính bản thân mình vậy: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày, Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Bước ra nơi chiến trường gian khổ, người lính đã phải bỏ lại sau lưng mình là quê hương, là người thân. Họ đã tạm gác lại những công việc riêng để phục vụ cho công việc chung của cả dân tộc. Đó chính là lý tưởng cao đẹp của người lính. Hơn ai hết họ hiểu được rằng nếu việc chung của dân tộc mà không thành thì họ cũng chẳng thể nào sống được để mà làm việc riêng của mình. Để được tiếp tục trở thành anh nông dân với ruộng nương, họ phải làm tốt nhiệm vụ của người lính. Họ bỏ lại gian nhà không cho gió. Họ ra đi, mang theo nỗi nhớ hình bóng quê hương ở trong tim. Và ở nơi xứ xa, những con người, cảnh vật quê hương cũng nhớ họ đến cô cùng. Không chỉ vậy, tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những sự thiếu thốn và gian lao giữa chiến trường khốc liệt: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Rét run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Cơn ớn lạnh, rét run, vừng trán ướt mồ hôi là những từ ngữ chỉ cơn sốt rét rừng. Có ai trải qua rồi mới hiểu nó khủng khiếp đến nhường nào. Nó làm cho con người ta rét run mà vẫn vã mồ hôi. Ở trong hoàn cảnh thiếu thốn của chiến trường, thuốc men không có, không ít người lính đã phải ra đi vì căn bệnh sốt rét chứ không phải vì đạn của kẻ thù. Người đọc chỉ nghe kể còn thấy thương, huống gì những người lính ngày ngày chứng kiến đồng đội mình chịu những cơn sốt rét. Tình thương của những người lính còn thể hiện rõ trong hình ảnh áo anh rách vai còn quần tôi thì có vài mảnh vá. Mặc dù ai cũng đều thiếu thốn nhưng họ sẵn sàng chia sẻ cho nhau từng tấm áo, manh quần, sẵn sàng cắt áo của mình ra để vá lành quần cho bạn. Họ thương nhau, bàn tay nắm lấy bàn tay.Xem thêm: “Hiền... thấp” (Thân Nhân Trung). Từ ý kiến trên, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về việc rèn luyện tài đức và trách nhiệm với quốc gia của mỗi con người. (Yêu cầu viết một bài văn) Đoạn cuối của bài thơ, nhà thơ Chính Hữu mang đến một hình ảnh thật đẹp: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Rừng hoang sương muối, đó cũng là hoàn cảnh trong chiến trường mà những người lính phải trải qua. Đêm đêm, họ phải cùng nhau canh gác, cùng nhau chịu cái lạnh buốt ở nơi rừng hoang sương muối. Nhưng khó khăn ấy chẳng là gì. Họ vẫn luôn đứng cạnh bên nhau để chờ giặc đới. Động từ chờ cho thấy một thái độ đầy bình thản của những người lính. Họ không lo sợ, bởi vì họ luôn có nhau. Câu thơ cuối cùng mang đến một hình ảnh thơ rất đẹp: Đầu súng trăng treo. Đó là hình ảnh người lính đang đứng gác, súng đặt bên hông và chĩa mũi súng thẳng lên bầu trời. Trăng treo trên đầu súng, trăng soi sáng cho người lính có thể chia thẳng mũi súng vào quân thù. Qua bài thơ Đồng chí, chúng ta thấy được tình cảm gắn kết của những người lính với nhau, hiểu thêm về những khó khăn, thiếu thốn của họ cả trong cuộc sống lẫn trong tranh đấu. Những kỉ niệm trong bài thơ là những kỉ niệm êm đẹp mà gần gũi. Câu thơ đọc dễ gần, dễ hiểu nên cảm xúc của tác giả gửi gắm trong bài cũng dễ dàng chạm đến lòng độc giả. Tình cảm đồng chí chắc chắn rằng sẽ còn cháy mãi. Thu Thủy
Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết)
1,646
Đề bài: Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu Bài làm Thơ ca về cuộc chiến đấu gian khổ của dân tộc ta luôn đứng một vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà. Đó cũng là chủ đề dành được nhiều sự quan tâm và hình ảnh anh vệ quốc quân, tình đồng đội, đồng chí cũng trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các nhà thơ, nhà văn. Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu chính là một trong những sáng tác hay nhất về tình đồng chí. Mở đầu bài thơ chính là lời giới thiệu về xuất thân, hoàn cảnh về tình cảm đồng đội, đồng chí: “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau” Những người chiến sĩ đến từ mọi miền trên Tổ quốc, từ miền núi đến đồng bằng, hay tới tận những vùng ven biển. Quê hương của họ còn nghèo khó bởi “nước mặn đồng chua”, bởi “đất cày lên sỏi đá”, cho thấy sự khắc nghiệt, khó khăn về điều kiện sống, điều kiện sản xuất. Tuy nghèo đói nhưng đứng trước vận mệnh đất nước lâm nguy, trước cảnh lầm than của nhân dân thì họ đều có chung quyết tâm rời xa quê hương để chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Qua đó ta có thể thấy được những người chiến sĩ tuy xuất thân từ những vùng miền khác nhau nhưng đều cùng chung lý tưởng và thế rồi “chẳng hẹn quen nhau”. Họ không quen nhau thông thường mà đó là cùng nhau kề vai sát cánh từ chiến trường đến những lúc nghỉ ngơi:Xem thêm: Phát biểu cảm nhận của em về hiệu quả nhạc tính trong những câu thơ sau: “Khách xa gặp lúc mùa xuân chín Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: - Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” (Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử) Phân tích bài thơ Đồng Chí “Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ” Tất cả những tinh cảm đó được nhà thơ Chính Hữu đúc kết lại thành hai từ “Đồng Chí!”. Câu thơ ngắn gọn nhất nhưng lại mang nhiều cảm xúc, sự suy nghĩ cho người đọc. Tác giả như khẳng định thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý của những con người từ “lạ” cho đến quen nhau ấy. Không chỉ dừng lại ở đó mà Chính Hữu còn tiếp tục khẳng định tình đồng đội, đồng chí gắn bó qua những câu thơ tiếp theo: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Để đến được chiến trường thì những người lính đã phải rời xa nơi họ sinh ra và lớn lên, họ phải bỏ lại những tháng ngày lao động, sinh hoạt đời thường. Ruộng nương thì gửi bạn, căn nhà đơn sơ không có ai sửa sang nay vẫn đứng im lìm nơi đó “mặc kệ gió lung lay”. Thế rồi khi ra đi họ nhớ về quê hương nhưng đồng thời quê hương cũng nhớ về những người con của họ từ làng ra đi vì nghĩa lớn. Giếng nước, gốc đa là những hình ảnh quen thuộc của làng quê nay được nhà thơ sử dụng phép nhân hóa khiến chúng giống như đang mang nặng nỗi nhớ thương đến những người con của quê hương nay ra đi để trở thành chiến sĩ. Nhà thơ nhắc đến những hình ảnh quen thuộc ấy còn mang ý nghĩa về động lực của người chiến sĩ để họ có thể chắc tay súng, bảo vệ xóm làng, quê hương.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết) Trong những ngày đầu kháng chiến với biết bao khó khăn gian khổ, nhưng những người chiến sĩ không hề nản bước mà mạnh mẽ đối mặt, vượt qua những gian nan ấy: “Áo anh rách vai Quần anh có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày” Những thiếu thốn về vật chất, đến manh áo cũng không còn nguyên vẹn, đôi chân hằng ngày hành quân biết bao nhiêu gian khổ nhưng họ vẫn có thể mỉm cười đối mặt. Không chỉ thiếu thốn về vật chất mà họ còn phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt, với địa hình hiểm trở nhưng dừng như tất cả chỉ làm cho tình đồng chí trở nên thắm thiết, gắn bó hơn: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” Những người lính đã động viên, đã chia sẻ với nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, của tình đồng đội. Chính điều đó giúp họ cảm thấy những thiếu thốn về vật chất chẳng đáng kể, vượt qua những cơn sốt rét rừng hoành hành, vượt qua sự khắc nghiệt của thời tiết. Giữa cảnh “rừng hoang sương muối” ấy, những người lính vẫn đang vững tay súng để phục kích, để sẵn sàng đối mặt với quân thù bất cứ lúc nào. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” khép lại bài thơ đồng thời cũng là hình ảnh vừa chân thực lại vừa lãng mạn. Giữa đêm khuya nơi cánh rừng hoang, trên bầu trời có vầng trăng tỏa sáng, ánh sáng dịu nhẹ phủ lên hình ảnh tươi đẹp dưới mặt đất đó là hình ảnh những người chiến sĩ đứng phục kích chờ giặc tới. Nhìn từ xa vầng trăng giống như đang được treo lơ lửng trên đầu ngọn súng. Ánh trăng chính là biểu tượng của hòa bình qua đó thể hiện khát vọng của nhà thơ cho đất nước sớm được hưởng thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá của tác giả Huy Cận Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu chính là một bức tranh sống động về tình đồng chí của những anh bộ đội cụ Hồ trong những buổi đầu kháng chiến. Bài thơ đã thể hiện vẻ đẹp về tinh thần, về lý tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc của những người chiến sĩ cách mạng. Đây chính là bài thơ viết về tình đồng chí hay nhất, để lại nhiều cảm xúc trong lòng độc giả. Loan Trương
Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu hay nhất
1,080
Đề bài: Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Lịch sử nước ta đã đi qua biết bao thăng trầm biến cố. Mỗi lần biến động là mỗi lần dân ta sít gần lại nhau hơn, cùng nhau vì mục đích cao cả chung. Đó là những năm tháng hào hùng, khí thế của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu tranh chống Pháp, chống Mĩ vĩ đại. Giữa những đau thương chiến đấu, cuộc chiến còn góp phần đắp xây nên mối quan hệ giữa những người lính với nhau. Cho nên không có gì khó hiểu khi vào năm 1948, tác phẩm “ Đồng Chí” của nhà thơ Chính Hữu lại tạo nên một sự bùng nổ, lan truyền rộng khắp trong giới quân đội. Bài thơ “Đồng chí” ca ngợi tình đồng đội gian khổ có nhau, vào sinh ra tử có nhau của các anh bộ đội Cụ Hồ, những người nông dân yêu nước đi bộ đội đánh giặc trong nhữg năm đầu gian khổ thời chín năm kháng chiến chống Pháp. Chính bài thơ đã khơi dậy những xúc động mãnh mẽ trong lòng nhiều thế hệ. Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Đồng chí Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sòi đá Anh với tôi vốn người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đên rét chung chăn, thành đôi tri kỷ Đồng chí! Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay! Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới Đầu súng trăng treo. Trong bài thơ “Đồng Chí”, Chính Hữu đã khắc hoạ thành công cái chất hiền lành, tình nghĩa mộc mạc mà dung dị cũng như tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng cao cả của những người lính nông dân áo vải. Từ moi miền quê trên dải đất quê hương, những con người xa lạ bỗng đứng lên theo tiếng gọi của Tổ Quốc, cùng họp lại với nhau, trở thành một con người mới: Người Lính. Họ là những người nông dân từ những vùng quê lam lũ đói nghèo, quanh năm chỉ biết đến con trâu mảnh ruộng, các anh giã từ quê hương lên đừơng chiến đấu: “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Không hẹn mà nên, các anh đã gặp nhau tại một điểm là tình yêu quê hương đất nước. Từ những người “xa lạ” rồi thành “đôi tri kỉ”, về sau thành “đồng chí”.Câu thơ biến hoá 7,8 từ rồi rút lại, nén xuống 2 từ cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại.Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì:”Anh với tôi đôi người xa lạ-Tự phương trời chẳng hen quen nhau”. Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp: “Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí!” Ngày cùng chung nhiệm vụ chiến đấu vai kề vai, súng bên súng, chia nhau gian khổ, nguy hiểm, đêm đắp chung một chiếc chăn chịu rét. Đắp chung chăn trỏ thành biểu tượng của tình thân hữu, ấm cúng ruột thịt. Những cái chung đã biến những con người xa lại thành đôi tri kỉ. Sự đồng cảnh, đồng cảm và hiểu nhau là cơ sở, là cái gốc để làm nên tình bạn, tình đồng chí. Tấm lòng của họ đối với đất nước thật càm động khi giặc đến các anh đã gửi lại người bạn thân mảnh ruộng chưa cày, mặc kệ những gian nhà bị gió cuốn lung lay để ra đi kháng chiến. Bình thường vậy thôi, nhưng nếu không có một tình yêu đất nước sâu nặng không thể có một thái độ ra đi như vậy. “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay “ Họ đứng lên chiến đấu chỉ vì một lẽ giản dị: yêu nuớc Tình yêu đất nước, ý thức dân tộc là máu thịt, là cuộc đời họ, bởi vậy, nông dân hay trí thức chỉ mới nghe tiếng đau thương của quê hương, họ sẽ bỏ lại tất cả, cả ruộng nương, xóm làng. Chỉ đến khi ở nơi kháng chiến người lính nông dân áo vải lại trở mình, lòng lại bận tâm lo lắng về mảnh ruộng chưa cày, với căn nhà bị gió lung lay. Nỗi nhớ của các anh là thế: cụ thể nhưng cảm động biết bao. Người lính luôn hiểu rằng nơi quê nhà người mẹ già, ngừơi vợ trẻ cùng đám con thơ đang trông ngóng anh trở về: “Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính.” Trong những tâm hồn ấy, hẳn sự ra đi cũng đơn giản như cuộc đời thường nhật, nhưng thực sự hành động ấy là cả một sự hy sinh cao cả. Cả cuộc đời ông cha gắn với quê hương ruộng vườn, nay lại ra đi cũng như dứt bỏ đi nửa cuộc đời mìn. Sống tình nghĩa, nhân hậu, hay lo toan cũng là phẩm chất cao đẹp của người lính nông dân. Với họ vượt qua gian khổ thiếu thốn của cuộc sống là điều giản dị bình thường, không có gì phi thừơng cả. “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!" Chính Hữu đã khắc hoạ hiện thực khó khăn mà người lính gặp phải. Đối mặt với những khó khăn đó, những người lính không hề một chút sợ hãi, những thử thách giữa nơi rừng thiêng nước độc cứ kéo đến liên miên nhưng người lính vẫn đứng vững, vẫn nở “miệng cười buốt giá”. Đó là hình của sự lạc quan, yêu cuộc sống hay cũng là sự động viên giản dị của những người lính với nhau. Những câu thơ hầu như rất giản dị nhưng lại có sức lay động sâu xa trong lòng người đọc chúng ta.Tuy nhiên từ trong sự bình thường, hình ảnh người lính của Chính Hữu vẫn ánh lên vẻ đẹp rực rỡ của lí tưởng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ Quốc, dũng cảm lạc quan trước hiểm nguy kẻ thù rình rập: “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới Đầu súng trăng treo.” Xem thêm: Thư (điện) gửi đến bạn cũ khi nghe tin địa phương bạn gặp nhiều thiệt hại trong đợt lũ vừa quaThật là bức tranh đơn sơ, thi vị về người lính trong một đêm chờ giặc tới giữa nơi rừng hoang sương muối. Những người lính kề vai, sát cánh cùng hứơng mũi súng vào kẻ thù. Trong cái vắng lặng bát ngát của rừng khuya, trăng bất ngờ xuất hiện chơi vơi lơ lửng nơi đầu súng. Những ngừơi lính nông dân giờ đây hiện ra với một tư thế khác hẳn, như những người nghệ sĩ đầy chất thơ, bình dị nhưng vẫn đẹp lạ lùng. Sẽ là một thiếu sót rất lớn khi lại đề cập quá nhiều đến hình tượng người lính mà lại không nói về tình đồng chí, tình đồng đội của người chiến sĩ trong bài thơ. Tìm hiểu nhau, những người lính hiểu ra họ có cùng chung quê hương vất vả khó nghèo, chung tình giai cấp, chung lí tưởng và mục đích chiến đấu. Chính cái chung ấy như một thứ keo sơn bền vững nối cuộc đời ngững người lính với nhau để làm nên hai tiếng “ đồng chí " xúc động và thiêng liêng. “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” Vẻ đẹp tâm hồn nơi người lính không chỉ phát ra từ những hiện thực khó khăn hiểm nguy mà còn phát ra từ vừng ánh sang lung lính, chính là tình đồng đội. Vượt rừng đâu phải chuyện dễ dàng! Những căn bệnh quái ác, những đêm tối lạnh buốt xương, những thiếu thốn vật chất của đoàn quân mới được gầy dựng vội vã. Nhưng những người lính đã cùng nhau vượt qua. Họ lo cho nhau từng cơn sốt, từng míếng áo rách, quần vá. Với họ quan tâm tới những người đồng đội giờ đây cũng như là quan tâm chăm sóc cho chính mình. Ôi ấm áp biết mấy là cái xiết tay của đồng đội lúc gian khó. Cái xiết tay truyền đi hơi ấm, sức mạnh cho ý chí con người. Và cùng nhau, giúp đỡ nhau, những người lính vượt qua với tư thế ngẩng cao đầu trước mọi thử thách, gian nan. "Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!" Cái khốn khó, gian truân hãy còn dài trên bước đừơng kháng chiến dân tộc. Nhưng dường như trước mắt những con người này, mọi thứ không còn hiểm nguy. Trong đêm trăng váng lặn, bát ngát giữa rừng hoang sương muối, những người lính vẫn kề vai, sát cánh cùng hướng mũi súng về phía kẻ thù. “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới" Sức mạnh của sự tin tưởng lẫn nhau, của sự quan tâm tới nhau giữa những người lính đã làm vững chắc thêm tình đồng đội trong họ. Bởi họ biết rằng khi cùng nhau thắp lên tình đồng chí vững bền, sức mạnh chung nhất sẽ là sức mạnh mạnh nhất. Mục đích chiến đấu vì quê hương, vì Tổ Quốc của họ sẽ càng mau chóng đạt được. Khi ý chí và mục đích hợp chung con đường, thì tình cảm giữa họ càng thắm thiết, sâu đậm. Đó là tình đồng chí giữa những người lính … Không chỉ dừng ở cung bật tình cảm giữa những người lính, bài thơ “Đồng Chí” còn mang ta đến chi tiết lãng mạn cao hơn ở cuối bài: “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới Đầu súng trăng treo.” Người lính không cô đơn lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm lòng anh. Người chiến sĩ toàn tâm toàn ý hường theo mủi sung. Chính lúc ấy, các anh bắt gặp một hiện tưỡng kì lạ. “Đầu súng trăng treo.” Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật của của Chính Hữu qua bài thơ chính là hình ảnh này. Từ tình đồng chí, trải qua những thử thách khác nhau, Chình Hữu đã tạo nên cái nhìn đầy chất thơ. Nếu hai câu thơ trên không kết hợp với hình ảnh “ đầu súng trăng treo” thì nó khó có những giá trị đặc sắc. Ngược lại, nếu không có sự nâng đỡ của của hai câu thơ đó thì hình ảnh sẽ bị coi là thi vị hoá cuộc sống chiến đấu người lính. Sự quyện nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất thơ lãng mạn, bay bổng đã làm cho “ đầu súng trăng treo" trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất thơ ca kháng chiến chống Pháp. Câu thơ chỉ vỏn vẹn bốn từ nhưng nó bao hàm cả cái tình, cái ý và đặc biệt là sự càm nhận tinh tế của Chính Hữu. Nhờ sự lien tưởng thong minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bồng bềnh, huyền bí, khó tả.Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mĩ sâu sắc với người đọc. đồng thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca. “ Đầu súng trăng treo “ được xây dựng bằng bút pháp siêu thực, đầy chất thơ. Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của “ nuớc mặn đồng chua", “ đất cày lên sỏi đá” và đặc biệt là không gian “ rừng hoang sương muối"; nó đã góp phần tô đẹp thêm hình tượng vầng trăng, cây súng. Hai hình ảnh này đối lập nhau rất rõ. Một bên là vầng trăng muôn thưở hấp dẫn và kì la, thanh bình với thi ca. Nó biểu tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hoà bình, hạnh phúc của nhân loại, đồng thời cũng là ước mơ cuộc sống tượi đẹp hoà bình hạnh phúc. Nhưng trăng ở đây lại được đặt trong mối quan hệ với súng. Một bên là súng, súng biểu tượng cho chiến tranh và cái chết nhưng súng cũng trở thành lí tưởng cao đẹp, tinh thần chếin đấu vì cuộc sống hoà bình dân tộc của ngừơi chiến sĩ. Trăng là vẻ đẹp lãng mạn, súng là hiện thực. Tuy đối lập, nhưng hai hình tượng này đã tôn thêm vẻ đep cho nhau, tạo nên vẻ đẹp hoàn mĩ nhất. Không phải ngẫu nhiên khi Chính Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ. Qua đó ông muốn khẳng định cái khát vọng về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ: để cho vầng trăng kia sang mãi, trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, mọi người phải cầm súng chiến đấu. Có thể nói, hình ảnh “ Đầu súng trăng treo" là một phát hiện thú vị, mới lạ độc đáo của Chính Hữu. Chính hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo nên hình ảnh thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn. Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình, là biểu tượng cho tình thần dũng cảm, hào hoa muôn thưở của dân tộc nói chung và ngừơi lính nói riêng. Bài thơ đã kết thúc nhưng nó sẽ còn sống mãi chừng nào con người chưa mất đi bản năng của chính mình: sự rung động. Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh hơn lịch sử. Cùng tái hiện lại một thời đau thương nhưng vĩ đại và hình tượng người chiến sĩ nhưng văn chương đã đến với người đọc theo con đường của trái tim, gây nên những xung động thẫm mĩ trong tâm hồn con người, làm thành sự xúc cảm tận đáy tâm hồn và những ấn tượng không thể nào quên. Đó là những năm đau thương chứng kiến những con người cao cả kiên cường, những người lính dũng cảm bất khuất. Họ không khô khan mà bầu nhiệt huyết nung nấu, tràn đầy lòng hy sinh, với tình đồng đội trong sáng, thân ái. Chính những điều đó làm bài thơ “Đồng Chí ” trên những trang giấy vẫn có lúc được lật lại, vẫn nhỏ từng giọt ngân vang, tưởng đến những con người thần kì mà bình dị với niềm tự hào kiêu hãnh, cho nay và mai sau mãi nhớ về. Nguồn Edufly Xem thêm: Kể lại câu chuyện Cây bút thần theo lời kể của em
Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
2,566
Đề bài: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du Bài làm Nguyễn Du là một Đại thi hào của dân tộc. Ông không chỉ được biết đến với tác phẩm nổi tiếng là Truyện Kiều mà còn nhiều bài thơ khác. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký. Bài thơ giống như một câu chuyện đời được kể bằng thơ rất cô đọng, hàm súc. Bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký được lấy cảm hứng từ câu chuyện của một cô gái sống ở thời nhà Minh. Vì hoàn cảnh nghèo khó mà nàng tiểu Thanh gả vào gia đình giàu có làm vợ lẽ. Chính bởi kiếp vợ lẽ và bị vợ cả ghen tuông nên nàng phải ở một mình, tách biệt. Trong những tháng ngày chịu đựng sự cô đơn, hiu quạnh đó thì bà đã viết rất nhiều bài thơ để bày tỏ nỗi niềm của mình. Tuy nhiên vốn xưa này “Hồng nhan thì bạc mệnh” và khi bà mất đi thì những sáng tác của bà bị vợ cả đem đi đốt và may mắn còn sót lại một phần được người xưa đặt tên là “phần dư”. Khi Nguyễn Du bắt gặp được những bài thơ ấy đã nảy sinh sự xót thương, thương cảm cho tài hoa bạc mệnh ấy và viết nên bài thơ này: "Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn” Hai câu thơ đầu gợi lên địa điểm, không gian nàng Tiểu Thanh đã từng sống. Đó là nơi Tây Hồ, từng là một nơi có cảnh đẹp non nước hữu tình nhưng nay lại hoang vắng, heo hút. Có lẽ trong con mắt của người con gái bị chôn vùi tuổi thanh xuân nơi đây, sống trong thời gian dài giữa sự cô đơn, trống vắng nên chẳng còn thấy cảnh đẹp này đẹp đẽ nữa mà lại hóa gò hoang. Nguyễn Dũ là một người có tài tả cảnh ngụ tình đặc sắc, tiểu biểu là trong tuyệt tác Truyện Kiều của ông. Tại đây, có lẽ thấu hiểu được tâm trạng của nàng Tiểu Thanh nên ông đã có sự nhìn nhận thấu đảo để qua việc tả khung cảnh mà nói lên tâm trạng của nang. Bởi lẽ xưa nay người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Trong khung cảnh ấy nhân vật trữ tình nổi lên từ hành động “thổn thức” ở bên song cửa, với những mảnh giấy tàn viết nên tâm trạng của chính mình. Trước nỗi sầu của bản thân mình, người con gái đó không biết giãi bày cùng ai và cũng chẳng có ai ở bên, có ai thấu hiểu được nên nàng đành gửi gắm bằng những dòng chữ viết vào những mảnh giấy tàn, chỉ biết một mình thổn thức. Từng nghe câu “Có chồng hờ hững cũng như không” của Trần Tế Xương nhưng giờ ta mới càng thêm thấm thía hình ảnh người con gái có chồng nhưng vẫn một mình lẻ loi.Xem thêm: Phân tích bài ca dao “Bao giờ cho đến tháng ba, ếch cắn cố rắn tha ra ngoài đồng…” Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký Nhà thơ Nguyễn Du có cảm giác rằng mảnh giấy tàn dường như vẫn còn cảm thấy phảng phất đâu đây những dư âm về cảm xúc của người đã viết ra nó, dường như linh hồn của nàng: “Son phấn có hồn chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương” Dù là phấn son hay văn chương thì đều là những vật vô chi vô giác. Ấy nhưng dưới con mắt của nhà thơ thì nó giống như có “hồn”, có “mệnh”. Mệnh của văn chương dường như được đặt trong mối mối tương quan với người nghệ sĩ, nó mang linh hồn của người nghệ sĩ. Có thể người sáng tạo ra nó đã mất đi nhưng phần hồn thì vẫn còn vương vấn nơi đây, chưa thể giải thoát. Nó giống như phản ánh một cuộc đời đầy oan khuất và bị vùi dập. Hai câu thơ đã thể hiện nỗi đồng cảm sâu sắc và sự thương xót của nhà thơ Nguyễn Du. Từ nỗi niềm thương xót ấy, ông đã thốt lên câu hỏi luôn khắc khoải: “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang” Một câu hỏi nhưng chưa thể tìm được câu trả lời. Ông tự cảm thấy cuộc đời của mình với nàng Tiểu Thanh mang nhiều nét tương đồng đó là chịu nhiều nỗi bất công. Trong Truyện Kiều ông cũng đã từng bày tỏ tư tưởng thương xót đối với thân phận những người phụ nữ trong xã hội cũ:Xem thêm: Bình giảng bài ca dao sau: Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Đến hai câu thơ kết, nhà thơ từ nỗi thương người nay hướng về mình cảm than: “Chẳng biết ba trăm năm lẽ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng” Nguyễn Du đã đồng cảm, xót thương cho thân phận nàng Tiểu Thanh dù cho nàng đã sống cách đây ba trăm năm. Cũng mang cuộc đời nghệ sĩ, không biết rằng bản thân mình khi đó có còn ai nhớ tới, ai đồng cảm, xót thương cho số phận của mình không? Lời bộc bạch chân thành khiến cho người đọc không khỏi cảm thấy xót xa, thương cảm. Bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du là mọt bài thơ hay để lại nhiều suy nghĩ trong lòng người đọc. Tác giả đã gợi nhớ về cuộc đời bất hạnh, cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ và những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời những người nghệ sĩ. Loan Trương
Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du hay nhất
974
Đề bài: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du Trong gia tài thi ca phong phú của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, bộ phận thơ chữ Hán có vai trò khá đặc biệt. Đó là những bài mà Nguyễn Du có thể trực tiếp bộc lộ những tâm tư, tình cảm; bày tỏ những day dứt trăn trở của mình. Trong bài thơ "Độc Tiểu Thanh ký" những tâm sự ấy của Nguyễn Du lại có được sự tương đồng, gần gũi với cuộc đời, số phận tài sắc mà bất hạnh của Tiểu Thanh. Bởi vậy bài thơ là sự kết hợp hài hoà giữa nỗi thương người và sự thương mình, giữa sự xót thương cho kiếp người mệnh bạc và lòng trân trọng ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó cũng là một phương diện quan trọng, sâu sắc trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du. Trong thơ văn trung đại, không phải ít hình ảnh những người phụ nữ "tài hoa bạc mệnh", là nạn nhân của cái quy luật "hồng nhan đa truân". Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều đa tài là thế: Câu cẩm tú đàn anh họ Lý Nét đan thanh bậc chị chàng Vương" và: "Cờ tiên, rượu thánh ai đang Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm nhưng rồi rốt cuộc cũng chỉ bị nhốt nơi cung cấm mà nuối tiếc quá khứ, chán nản hiện tại và lo sợ cho tương lai. Tuy nhiên, phải nói rằng chỉ đến Nguyễn Du mới xuất hiện cả một lớp người mang trọn cái số kiếp bạc mệnh ấy: Kiều, Đạm Tiên, người ca nữ đất Long Thành…. Số phận của họ nằm trong mạch cảm hứng chung của Nguyễn Du và thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la ở ông. Bởi thế dễ hiểu vì sao cuộc đời Tiểu Thanh – một người con gái xa về thời gian, cách về không gian lại nhận được sự cảm thông sâu sắc như thế từ nhà thơ. Tiểu Thanh cũng đầy đủ tài hoa, nhan sắc, nhất là tài hoa văn chương, thơ phú. Cuộc đời cuối cùng cũng vùi chôn trong nấm mồ khi đang độ xuân xanh tuổi trẻ. Phần tinh hoa để lại cho đời cũng tiêu tan chỉ vì cái lòng ghen tuông ích kỷ, tàn ác của người vợ cả. Sự biến đổi đau thương ấy của cuộc đời nàng như được hiện hữu trong cảnh vật: Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn Trong nguyên văn, Nguyễn Du dùng chữ "tận" như muốn xoá sạch mọi dấu vết của cảnh đẹp Tây Hồ, tô đậm thêm ấn tượng hoang vắng, tàn tạ của gò hoang. Sự biến đổi tang thương của cảnh gợi mối thương tâm đến người. Cảnh đẹp Tây Hồ giờ chỉ còn gò hoang cũng như tất cả những gì còn lại của Tiểu Thanh tài sắc chỉ là một mảnh giấy tàn, là phần dư cảo. Nhưng chỉ từng ấy thôi cũng đủ để nhà thơ một mình thương cảm, xót xa mà khóc cho đời hồng nhan. Tiểu Thanh trong đời thực 300 năm trước cũng như nàng Kiều, người ca nữ đất Long Thành đều phải hứng chịu: Xem thêm: Thanh niên và vấn đề lựa chọn nghề nghiệp hiện nay.Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu (Truyện Kiều) Tài sắc của những con người ấy thì được ngợi ca là những giá trị tinh thần cao đẹp nhưng bản thân họ thì lại bị đày đoạ, chà đạp. Nguyễn Du với tấm lòng nhân đạo bao la sâu sắc của mình đã thể hiện một sự đồng cảm, xót thương hết sức chân thành với số phận Tiểu Thanh. Đây là một nét mới mẻ trong Chủ nghĩa nhân đạo Nguyễn Du. Đối tượng mà Nguyễn Du thương cảm, quan tâm không chỉ là "thập loại chúng sinh" đói nghèo đau khổ. Rất nhiều tình cảm của ông hướng về những kẻ tài hoa. Chính số kiếp của Tiểu Thanh tạo nên cái mối hận ngàn năm để Nguyễn Du nhắc đến trong hai câu luận: Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang Mối hận ấy hỏi trời không thấu, hỏi đất không hay, chỉ có những kẻ cùng hội cùng thuyền là có thể cùng nhau than thở. Nguyễn Du tự nhận mình cũng mắc cái nỗi oan kỳ lạ vì nết phong nhã tài hoa. Nói cách khác sự đồng cảm lớn lao của Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh có được bởi Nguyễn Du là người đồng cảnh. Lòng thương người khởi phát từ sự thương mình nên càng chân thực và sâu sắc. Đúng như Mộng Liên Đường chủ nhân Nguyễn Đăng Tuyến từng nhận xét rằng: "Thúy Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một, người đời sau thương người đời nay, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thật là cái mối thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy". Quả thực cái sự vô tình, trớ trêu của tạo hoá với những kẻ tài năng đã trở thành mối hận của muôn đời và khắp chốn. Như vậy, tình thương của Nguyễn Du đối với Tiêủ Thanh là tình cảm của những người tuy xa cách về hoàn cảnh nhưng lại tương đồng trong cảnh ngộ. Từ nỗi thương mình mà xót xa cho người. Và từ sự thương cảm cho người lại tiếp tục gợi lên bao băn khoăn, day dứt cho kiếp mình. Bởi một lẽ, Tiểu Thanh rốt cuộc còn có được một Nguyễn Du tri âm tri kỷ rỏ lệ xót xa. ít hay nhiều linh hồn văn chương, nhan sắc, tài hoa "hữu thần" ấy còn có được sự an ủi. Nhưng còn Nguyễn Du, cũng là kẻ "tài tử đa cùng" lắm sự lận đận gian nan thì 300 năm sau biết còn ai trong thiên hạ tưởng nhớ, tiếc thương. Đó là cái tâm sự băn khoăn không thể có lời giải đáp mà chỉ nhờ qua trường hợp Tiểu Thanh, Nguyễn Du mới có cơ hội suy ngẫm và gửi gắm. Bài thơ có kết cấu đặc biệt: hai câu đầu là cảnh vật, sự kiện, còn 6 câu sau nặng một khối tình. Khối tình ấy xét riêng ra thì là sự xót xa cho số kiếp Tiểu Thanh và những băn khoăn về cuộc đời chính tác giả. Nhưng ở tầng sâu khái quát nó là nỗi niềm của cả một lớp kẻ sĩ tài hoa, tài tử mà nhân ái bao la. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài thơ Hữu Cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh ký của Nguyễn Du
1,141
Phân tích bài thơ ‘Chiều hôm nhớ nhà’ của Bà Huyện Thanh Quan Hướng dẫn Ai đã từng đọc ‘Truyện Kiều’ chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn: ‘Song sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng’. Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ ‘Chiều hôm nhớ nhà’ của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ thứ mười chín: Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái ngư ông về viễn phô', Gõ sừng mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chôn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nổi hàn ôn? Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ ‘bảng lảng’ có giá trị tạo hình đặc sắc: ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn: ‘Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn’ Hai chữ ‘bảng lảng’ là nhãn tự – như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết: ‘Trời tây bảng lảng bóng vàng’(Truyện Kiều) Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan. Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao nói hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc (tù và) cùng tiếng trống đồn ‘xa đưa vẳng’ lại. Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao (tiếng trống đồn trên chòi cao) của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tế tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm thanh (tiếng ốc, trống đồn) tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã: ‘Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn’ Phần thực và luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được lựa chọn tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, khách… thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có ‘chim bay mỏi’… Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ (người thì có: ngư ông, mục tử; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có: phong sương, mai liễu, cánh chim chiều…) nhưng với tài sáng tạo vô song: chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoà, một ngòi bút trang nhã. Vì thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc. Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố với tâm trạng của một ‘ngư ông’ – ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ ‘gác mái’ biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh lợi: Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài- văn lớp 7‘Gác mái, ngư ông về viễn phố’ Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại ‘cô thôn’. Cử chỉ ‘gõ sừng’ của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời: ‘Gõ sừng mục tử lại cô thôn’ Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã đáng yêu. Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ. vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc trong ‘gió cuốn’-, gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang ‘bước dồn’ tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh ‘chim bay mỏ.i’ và ‘khách bước dồn’ là hai nét vẽ đăng đối, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa ‘gió cuốn’ và ‘sương sa’, đang sống trong khoảnh khắc sáu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ: ‘Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu, sương sa khách bước dồn’ Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ rất thực miêu tả cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế! Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp: ‘Kẻ chốn Chương Đài II người lữ thứ’. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. ‘Chương Đài’ và ‘lữ thứ’ trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ què hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. ‘Ai’ là đại từ phiếm chỉ, nhưng ta có thể biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. ‘Hàn ôn’ là nóng lạnh; ‘nỗi hàn ôn’ là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết: ‘Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?’ ‘Chiều hôm nhớ nhà’và ‘Qua Đèo Ngang’ hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí – thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố…) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. ‘Chiều hôm nhớ nhà’ là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng… Nguồn: thêm: "Đời sống... ngày nay" (“Đức tính giản dị của Bác Hồ” - Phạm Văn Đồng). Em hãy viết đoạn văn ngắn để giải thích tại sao lối sống giản dị là lối sống văn minh đáng ca ngợi
Phân tích bài thơ ‘Chiều hôm nhớ nhà’ của Bà Huyện Thanh Quan
1,206
Phân tích bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ Hướng dẫn I. Mở bài: Cảnh khuya ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoà. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Bài thơ miêu tả cảnh khuya núi rừng một đêm trăng, nói lên những suy tư lo lắng của Bác Hồ đối với vận mệnh của dân tộc. II. Thân bài: 1.Hai câu đầu làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sơn thủy về cảnh suối rừng, trăng ngàn Việt Bắc. Nhà thơ thao thức lắng nghe tiếng suối chảy rì rầm, êm nhẹ và trong trẻo từ rừng sâu vong đến: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa’ Suối là vẻ đẹp chốn lâm tuyền, vẻ đẹp rừng già Việt Bắc. Bác lấy tiếng suối so sánh với tiếng hát, là khúc nhạc rừng ví với tiếng hát xa, êm ái ngọt ngào của con người, làm cho cảnh khuya chiến khu trở nên gần gũi, mang hơi ấm cuộc đời. Câu thơ làm ta liên tưởng đến tiếng suối trong bài ‘Côn Sơn ca* của ức Trai hơn 600 năm về trước: ‘Côn Sơn suôi chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…’ Hai hồn thơ trở nên gần gũi, thân thiết. Nguyễn Trãi đã về Côn Sơn ‘quê cũ’ để xa lánh bụi trần, danh lợi, lấy suối, đá, thông, trúc làm bầu bạn. Bác Hồ cũng đến chốn lâm tuyền Việt Bắc, xây dựng chiến khu đánh Pháp. Suối trở thành bài ca câu hát nâng*đỡ tâm hồn Bác trong những năm dài kháng chiến gian khổ. Tạ suối, ngòi bút nghệ thuật của Bác Hồ rất điêu luyện: lấy cái động (tiếng suối chảy) để miêu tả cái tĩnh (cảnh khuya) làm nổi bật sự thanh vắng, tĩnh lặng của chiến khu một đêm trăng. Càng về khuya, núi rừng như chìm trong vắng lặng mênh mông. Bác ‘chưa ngủ’ nên mới nghe rõ âm thanh rì rầm suối chảy. Câu thứ hai tả trăng ngàn: ‘Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa’ Hai vế tiểu đối gợi lên vẻ đẹp hài hòa của cảnh vật thiên nhiên. Trăng được nhân hóa, rất thơ mộng ‘lồng’ vào cổ thụ, bóng cổ thụ lại ‘lồng’ vào hoa. Cảnh thiên nhiên trở nên hữu tình, huyền ảo. Chữ ‘lồng’ được láy lại hai lần, chất thơ trữ tình mang hồn người, quyến rũ. Ánh trăng tãi khắp núi rừng, dát vàng xuống rừng cây, ‘lồng’ và trùm lên cổ thụ. Cảnh rừng có tầng cao, tầng thấp, có mảnh sáng mảnh mờ. Nét vẽ tinh tế, gam màu nhẹ và tươi mát, sự phối sắc tài tình, mĩ cảm, hấp dẫn. Câu thơ của Bác là sự kế thừa sáng tạo vần thơ cổ, ngòi bút của Bác Hồ rất sành điệu, cổ kính: ‘… Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Câu chuyện về tình yêu thươngNguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng…’ (Chinh phụ ngâm) Hai câu thơ Bác đầy âm thanh nhạc điệu, trong thơ vừa có nhạc vừa có họa, rất thi vị, gợi cảm. Bác đã dành cho thiên nhiên, cây rừng, trăng ngàn những tình cảm thiết tha, nồng hậu. 2. Hai câu thơ 3, 4 trong bài thơ tứ tuyệt được thi pháp cổ gọi là hai câu ‘chuyển’ và câu ‘hợp’. Cấu trúc bài thơ rất đặc biệt. Hai chữ ‘chưa ngủ’ nằm cuối câu ‘chuyển’ được đưa lên vị trí đầu câu ‘hợp’, cảnh được ‘khép’ lại, tình được ‘mở’ ra. Nghệ thuật liên hoàn hay gọi là ‘ô thước kiều’ (quạ bắc cầu) làm cho thơ liền mạch, ý thơ phát triển mở rộng: ‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Chưa ngủ vì thi nhân xúc động trước cảnh khuya ‘như vẽ’. Chưa ngủ thao thức, bổi hồi vì ‘lo nổi nước nhà’. Nước nhà đang bị giặc Pháp xâm lăng, con thuyền kháng chiến đang băng qua ghềnh thác thì vị ‘thuyền trưởng’ chưa thể ngủ ngon giấc được! Nguyên Trãi đã từng thao thức vì đại nghĩa: ‘Còn một tấc lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung’ (Quốc âm thi tập) Bác Hồ cũng thao thức ‘chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ Cùng mang trong tâm hồn một tình yêu lớn đối với đất nước và nhân dân, thơ của Bác chứa chan tình yêu nước ‘ôm cả non sông, mọi kiếp người’ (Tố Hữu). Trong bài ‘Đi thuyền trên sông Đáy’, Bác cũng viết: ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’ Tinh cảm đẹp đẽ ấy là điểu tâm niệm thường trực của Bác: ‘Một ngày mà Tổ quốc chưa được thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên’.Có thể nói, câu thơ ‘Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’bình dị, sáng tỏ như một chân lí, để lại ấn tượng sâu sắc vì nó ‘mênh mông bát ngát tình’. III. Kết luận: ‘Cảnh khuya’ -bài thơ tứ tuyệt tựa như một đóa hoa đậm đà hương sắc đã góp phần làm đẹp nền thơ ca kháng chiến. Câu thơ giàu hình tượng và truyền cảm. Cảnh và tình hòa hợp. Vừa cổ kính, vừa hiên đại. Tình yêu nước thiết tha, tình yêu thiên nhiên nồng hậu, lời thơ mĩ lệ, trong sáng là cốt cách, vẻ đẹp của bài thơ. Bác là nhà thơ lớn của dân tộc. Đọc thơ Bác, tình yêu của chúng ta đối với Bác gắn liền với tình yêu Tổ quốc. Nguồn: thêm: Thuyết minh về tác hại của thuốc lá
Phân tích bài thơ ‘Cảnh khuya’ của Bác Hồ
941
Phân tích bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan Hướng dẫn …Bà được vua Minh Mệnh với vào Kinh đô Phú Xuân làm nữ quan ‘Cung trung giáo tập’. Chồng là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi nữ sĩ là Bà Huyện Thanh Quan. Bà chỉ còn để lại sáu bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật: ‘Qua Đèo Ngang’, ‘Chiều hôm nhớ nhà’, ‘Thăng Long thành hoài cổ’, ‘Chùa Trấn Bắc’, ‘Chơi Đài Khán Xuân Trấn Võ’, ‘Tức cảnh chiều thu’… Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện. Trên đường vào Phú Xuân… bước tới Đèo Ngang lúc chiều tà, cảm xúc dâng trào lòng người. Bà Huyện Thanh Quan sáng tác bài ‘Qua Đèo Ngang’. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nổi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhàcủa người lữ khách – nữ sĩ. Lần đầu nữ sĩ ‘bước tới Đèo Ngang’, đứng dưới chân con deo ‘đệ nhất hùng quan’ này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng Bình, vào thời điểm ‘bóng xế tà’, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã ‘tà’, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm ‘tà’ cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoà… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ ‘chen’, vần lưng: ‘đá’ – ‘lá’, vần chân: ‘tà’ – ‘hoà’, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước: ‘Cỏ cây chen đá, lá chen hoà’ Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. cỏ cây, hoa lá phải ‘chen’ với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng. Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất thú vị: ‘Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà’ Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiều phu, nhưng chỉ có ‘tiều vài chú’. Hoạt động ‘lom khom’ vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ trong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. Chỉ mấy cái lều chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi ‘chợ mấy nhà’ để gieo vần mà thôi: ‘tà’ – ‘hoà’ – ‘nhà’. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà. Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim: chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm ‘con cuốc cuốc’ và ‘cái gia gia’tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh Đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnhtrong thi pháp cổ. Phép đối và đảo ngữ được vận dụng rất tài tình: ‘Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia’ Nghe tiếng chim rừng mà ‘nhớ nước đau lòng’, mà ‘thương nhà mỏi miệng’nỗi buồn thấm thía vào chín tầng sâu cõi lòng, tỏa rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương, sắc điệu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một phụ nữ nên nỗi ‘nhớ nước’, nhớ Kinh- kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhớ chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết! Bốn chữ ‘dừng chân đứng lại’ thể hiện một nỗi niềm xúc đọng đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: ‘Trời non nước’-, nhìn xa, nhìn gần, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại 97 ‘một mảnh tình riêng’.Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của ‘trời non nước’ tương phản với cái nhỏ bé của ‘mảnh tình riêng’ của ‘ta với ta’ đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khách khi đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trạng nhớ quê, nhớ nhà, buồn mà đẹp: ‘Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta’ Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’‘Qua Đèo Ngang’là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới thiên nhiên kì thú của Đèo Ngang như hiển hiện qua dòng thơ. Cảnh sắc hữu tình thấm một nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phép đối và đảo ngữ có giá trị thẩm mĩ trong nét vẽ tạo hình đầy khám phá. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình chan hòa với tình yêu quê hương đất nước đậm đà qua một hồn thơ trang nhã. Bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi, bài thơ Non Nước. BÀI SỐ 68 Phân tích bài thơ: ‘Qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan (bài 2). Bài thơ tả cảnh buổi chiều trên Đèo Ngang. Đèo Ngang trước con mắt lữ khách khi vừa đặt chân tới: ‘Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà’ Thiên nhiên như ùa đến trong tầm mắt tác giả. Cảnh tươi tắn, ưa nhìn, những sinh vật và đất đá nương tựa, xen lẫn nhau cũng có vẻ đông đúc: ‘Cỏ cây chen đá, lá chen hoà’ Nhưng sau sự cảm nhận đầu tiên ấy, tác giả đã có thì giờ buông tầm mắt ra xa, tìm đến thế giới con người. Lẽ ra thiên nhiên có thêm con người phải sinh động, đẹp đẽ hơn nhưng ở đây sự điểm xuyết của mắt nhìn là người hái củi thưa thớt, mấy quán chợ lơ thơ chỉ khiến cho cảnh vật thêm hiu hắt: ‘Lom khom dưới núi, tiêu vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà’ Bà Thanh Quan đã nhìn bao quát toàn cảnh, bà còn cảm nhận về Đèo Ngang qua thính giác: tiếng chim cuốc, tiếng chim đa đa vọng đến, rơi vào vắng vẻ, tĩnh mịch của buổi chiều trên Đèo. Khung cảnh thiên nhiên ấy, hoàn cảnh lữ thứ ấy khiến cho tiếng chim gợi liên tưởng đến những từ đồng âm biểu hiện những ý nghĩa, những vần để hết sức sâu sắc và lớn lao: ‘nhớ nước’ và ‘thương nhà’. ‘Thương nhà’thì đã rõ. Bà Huyện Thanh Quan có một thời được triệu vào Huế làm chức Cung trung giáo tập. Bà vốn người Nghi Tàm, Hà Nội (Bài thơ này có thể làm trong dịp vào cung đó). Một người phụ nữ phải rời nhà đi xa như thế, dù là đi làm quan, cũng ngổn ngang biết bao nỗi niềm. Cái tiếng chim đa đa tha thiết khêu gợi biết bao. Nhưng còn cái tiếng khắc khoải của những con chim cuốc? Nhiều người cho rằng đó là tâm sự ‘hoài Lê’ của tác giả. Điều đó không lấy gì làm chắc, bởi lẽ thời bà sống và làm quan, đất nước đã chuyển sang nhà Nguyễn đến thập kỉ thứ ba thứ tư rồi. Có điều, như các triều đại phong kiến khác, nhà Nguyễn bấy giờ đã bộc lộ những mặt tiêu cực, những chỗ yếu kém và cả những tội ác, là một nhà thơ nhạy cảm, Bà Huyện Thanh Quan hẳn có nhiều điều buồn phiền, bất như ý về hiện thực xã hội. Cái nỗi ‘đau lòng’ khi ‘nhớ nước’ có lẽ chính là như thế, chính là sự nghĩ về hiện tình đất nước đương thời. Và khi thiên nhiên đã đánh thức dậy trong lòng tác giả những mối suy tư lớn lao thì thiên nhiên bỗng như lùi xa, trả tác giả trở lại với chính tâm tư mình và chỉ có một mình: ‘Dừng chân đứng lại: trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta’ ‘Qua Đèo Ngang’trước tiên là bài thơ tả cảnh. Cảnh vật hiện ra phong phú dần theo bước chân người đi. Có cảnh sắc: cỏ cây, hoà, lá, đá, tiều phu bên sườn núi, chợ bên sông, nhà; có âm thanh: tiếng cuốc cuốc, gia gia khắc khoải, dồn dập. Và khi lên đến đỉnh Đèo thì nhà thơ đã nhìn được một cách tổng quát, toàn thể: ‘trời, non, nước’. Cái mênh mông vô cùng và hùng vĩ ấy của thiên nhiên đã làm nhà thơ sững lại: ‘dừng chân đứng lại’. Nhưng tả cảnh chỉ là một phần nhỏ ý nghĩa của bài thơ. Chính là bài thơ đã miêu tả rất rõ diễn biến tình cảm của tác giả khi qua con Đèo Ngang này. Từ cảm nhận ban đầu, tình cảm của tác giả sâu lắng dần; qua sự tiếp nhận của mắt, của tai, những nỗi niềm tâm sự mỗi lúc một dồn nén để rồi nó chất chứa, đọng thành một nỗi buồn, nỗi cô đơn không thể cùng ai chia sẻ. Hình ảnh một con người, lại là một người đàn bà, đứng sững giữa cảnh trời, nước, non cao, trong ánh chiều tà đơn độc biết bao! Ở đây cósự tương phản giữa không gian mênh mông hùng vĩ và con người lẻ loi đơn độc. Sự tương phản ấy đã tạc vào cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian tâm trạng cô đơn, nỗi buồn vô hạn và cả bóng hình nữ sĩ. ‘Qua Đèo Ngang’là một bài thơ hay và sẽ bất tử với thời gian. Có lẽ đến khi nào con đường Bắc Nam còn qua Đèo Ngang thì những người qua đây nhiều người còn nhớ đến nữ sĩ và như còn mường tượng ra bức tượng bà đứng cao trội lên trong bóng chiều trên đỉnh Đèo. Nguồn: thêm: Hãy trình bày những cảm nhận của mình về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong chương “Đất nước” (trích trường ca "Mặt đường khát vọng")
Phân tích bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’của Bà Huyện Thanh Quan
1,734
Phân tích bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng” của Trần Nhân Tông. Hướng dẫn Trong một số bài thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông để lại có hai bài viết về Thiên Trường, mảnh đất ‘phát nghiệp đế vương’ của nhà Trần: ‘Hạnh Thiên Trường hành cung’ và ‘Thiên Trường văn vọng’. Thiên Trường là một trong 12 lộ thời Trần, thuộc Sơn Nam; nay thuộc ngoại thành Nam Định. Thiên Trường vốn là Thái ấp của vua chúa nhà Trần, ở đây xưa kia có nhiều cung điện nguy nga tráng lệ. ‘Thiên Trường văn vọng’được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (luật trắc, vần bằng). Bài thơ gợi tả cảnh xóm thôn, đồng quê vùng Thiên Trường qua cái nhìn và cảm xúc của Trần Nhân Tông. Cảm xúc lắng đọng, cái nhìn man mác bâng khuâng ôm trùm cảnh vật: ‘Thôn hậu, thôn tiền, đạm tư yên, Bán vô, bán hữu, tịch dương biên. Mục đồng địch lí ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền’ Hơn 60 năm về trước, cụ Ngô Tất Tố đã dịch rất hay bài thơ này. 1. Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh làng quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tàn. Bốn chữ ‘thôn hậu thôn tiền’ và ‘bán vô bán hữu’ liên kết đôi, tạo nên sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh xóm thôn nối tiếp gần xa, đông đúc, trù phú. Trong bóng chiều nhạt nhòa^xóm thôn ‘trước xóm sau thôn’ phủ mờ khói nhạt, càng trở nên mơ màng, mênh mang. Khói của sương chiểu. Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà gianh sau lũy tre làng. Chỉ bằng ba nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi sĩ đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương rất yên bình, êm đềm, nên thơ. Nét vẽ thanh nhẹ. Cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện. Tưởng như thi sĩ đang thả hồn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán. So sánh ‘đạm tự yên’ (mờ nhạt như khói) là một hình tượng đầy thi vị. Cả một hồn quê man mác gợi cảm: ‘Thôn hậu thôn tiền đạm tư yên, Bánvớ, bán hữu tịch dương biên’ (Trước xóm sau thôn tựa khói lồng, Bóng chiều man mác có dường không) 2. Hai câu cuối là cảnh sắc đồng quê rất dân dã, bình dị, thân thuộc mà đáng yêu. Trên những nẻo đường quê, đàn trâu nối đuôi nhau về thôn. Có âm thanh tiếng sáo mục đồng cất lên, âm thanh réo rắt, hồn nhiên, thanh bình của làng quê ta xưa nay. Có từng đôi, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp nhau hạ xuống đồng. Nhà thơ không nói đến màu xanh và hương lúa mà người đọc vẫn cảm nhận được. Ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ đầy âm thanh và màu sắc, thanh tao và dào dạt sức Xem thêm: Tả cảnh đêm trăng mà em cho là thú vị nhấtsống. Bút pháp điểm nhãn,lấy động để tả tĩnh của tác giả được thể hiện một cách nhiều ấn tượng về bức tranh đồng quê này: ‘Mục đồng địch lí ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền’ (Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng) Tinh quê và hồn quê chan hòa, dào dạt. Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhưng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên, cảnh vật đồng quê. Điểu đó cho thấy tâm hồn thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Tính bình dị, dán dã, hồn nhiên là cốt cách, là hồn thơ của ông vua anh hùng – thi sĩ này. Cảm nhận ấy càng rõ khi ta đọc bài thơ ‘Hạnh Thiên Trường hành cung’ (Ngự chơi hành cung Thiên Trường): ‘Cảnh thanh u, vật cũng thanh u, Mười mấy châu tiên ấy một châu. Trăm tiếng đàn chim, đàn nhạc hát, Nghìn hàng đám quýt, đám quân hầu. Trăng vô sự chiếu người vô sự, Nước có thu lồng trời có thu. Vừa bốn bể trong, vừa bụi lặng, Độ xưa so với độ này thua’ (Bản dịch của ‘Hoàng Việt thi tuyển’) Cảnh buổi chiều được nói đến trong bài ‘Hạnh Thiên Trường hành cung’ là cảnh chiều thu, đó là điều ai cũng rõ. Trong bài ‘Thiên Trường văn vọng’ là cảnh chiều xuân hay chiều thu? Rất khó xác định. Ta chỉ cảm nhận được đó là một buổi chiều êm đềm,'xóm thôn phủ mờ sương khói tà dương. Không gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật đồng hiện cho ta khẳng định: Trần Nhân Tông viết ‘Thiên Trường văn vọng’ sau năm 1288, khi giặc Nguyên – Mông đã bị nhân dân ta đánh bại, nước Đại Việt thanh bình, yên vui. Bài tứ tuyệt ‘Thiên Trường văn vọng’ là một bức tranh quê đậm nhạt, mờ sáng, rất đẹp và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một tâm hồn thanh cao, yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được thể hiện bằng một số hình tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu thay, bài thơ đã vượt qua một hành trình trên bảy trăm năm, đọc lên, nó vẫn cho ta nhiều thú vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng chiều đồng quê, và còn chấp chới trong hồn ta. Thơ đích thực là thế! Nguồn: thêm: Cảm nhận của em về hai câu thơ Tức cảnh của vua Trần Nhân Tông
Phân tích bài thơ ‘Thiên Trường văn vọng” của Trần Nhân Tông.
1,006
Phân tích bài thơ ‘Tĩnh dạ tứ’ của Lí Bạch Hướng dẫn . Tĩnh dạ tứ Lí Bạch (701 – 762) Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương. Dịch nghĩa. Anh trăng sáng đầu giường, Ngỡ là sương mặt đất Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê hương. Dịch thơ. Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh . Lí Bạch (701 – 762) Đẩu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. … ‘Xa ngắm thác núi Lư’, ‘Đường đi khó’, ‘cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’là những bài thơ tuyệt tác của Lí Bạch cho thấy một hồn thơ tuyệt đẹp. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là nỗi buồn nhớ cố hương sâu lắng của Lí Bạch. Đây là bản dịch thơ: ‘Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ Cố hương’ Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn có 20 chữ nhưng đã tạo nên một bức tranh thủy mặc về cảnh mộng đêm trăng gợi lên vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân với bút pháp lãng mạn thần tình. Đêm về khuya càng trở nên thanh tĩnh. Không gian bốn bệ vắng lặng. Không một tiếng gió thổi, một tiếng côn trùng kêu. Cũng chẳng có một tiếng chuông chùa ngân buông. Nhà thơ chợt tỉnh giấc thấy mình nằm dưới trăng: ‘Đầu giường ánh trăng rọi’ Cả một không gian ngập tràn ánh trăng. Ánh sáng rọi vào đầu giường. Hình như trâng đã đánh thức thi nhân dậy. Thật cảm động, trăng đến khơi gợi một nguồn thơ và trăng là chất liệu tạo nên vần thơ dào dạt. Ánh trăng sáng quá, tải khắp không gian, bao phủ khắp mặt đất. Câu thơ thứ hai biểu hiện một trạng thái ngỡ ngàng của thi nhân vừa tỉnh giấc vừa nhìn trăng. Tràng đẹp và thơ mộng. Đêm đã sang canh, êm đềm thanh tĩnh. Chỉ có trăng và 128 nhà thơ. Thế rồi, Thi tiên Lí Bạch ‘ngẩng đầu’ ngắm trăng. Trăng với thi nhân như đôi bạn tri âm gặp nhau, nhìn nhau cảm động không nói lên lời. Cả ba câu thơ đầu đều tả ánh trăng trong đêm thanh tĩnh với tâm trạng ngỡ ngàng và bồi hồi của thi nhân. Câu 1 và 3 tả trăng bằng trực giác, câu 2 tả trâng bằng cảm giác. Một không gian nghệ thuật vừa thực vừa mộng, huyền ảo lung linh: Xem thêm: Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn.‘Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng’ Lúc bấy giờ, Lí Bạch đang sống nơi đất khách quê người. Giữa đêm khuya thanh tĩnh chỉ có trăng và thi nhân. Ba câu thơ đầu gợi tả một tâm trạng: nỗi buồn cô đơn của khách li hương. Hai câu thơ 3 và 4 được cấu trúc theo phép đối: ‘Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương’ Hai tư thế: ‘ngẩng đầu’ và ‘cúi đầu’-, hai tâm trạng: ‘nhìn’ và ‘nhớ’-, hai đối tượng làm xúc động và trĩu lòng kẻ xa quê: ‘trăng sáng’ và ‘cố hương’. Hai hình ảnh ‘trăng sáng’ và ‘cố hương’ đi sóng nhau biểu hiện một tâm hồn giàu tình yêu thiên nhiên, một tấm lòng yêu quê hương thiết tha sâu nặng. ‘Cốhương’ là quê cũ thân yêu; ‘nhớ cố hương’ là nhớ tới gia đình, nhớ tới người thân thương ruột thịt, nhớ tới thời thơ ấu với bao mộng tưởng và kỉ niệm đẹp, nhớ lại những thăng trầm một đời người… Ta từng biết, Lí Bạch quê ở Ba Thục, thuở nho thường leo len núi Nga – Mi để ngắm trăng và múa kiếm. Lớn lên, ông mang theo bầu rượu, túi thơ và thanh kiếm hiệp khách đi chu du mọi phía chân trời góc bể, chan hòa với gió trăng và tình bằng hữu… Vì thế, ánh trăng ‘đêm nay’ là ánh trăng gợi nhớ, gợi sầu, vấn vương một hoài niệm, làm sống dậy bao bâng khuâng của một hồn thơ và một tình quê man mác. ‘Ánh trăng’và ‘cố hương’ gắn bó với nhau trong mạch cảm hứng trữ tình, hòa quyện thành một liên tưởng thấm thía, cảm động, nâng cánh cho hồn thơ bay lên. Trăng lênh láng tràn ngập. Cảm xúc thơ dâng lên dào dạt. Có thể nói ‘Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh’ là một bài thơ trâng tuyệt bút. Lí Bạch rất tinh tế đã lấy ngoại cảnh ‘ánh trăng’ miền đất lạ để biểu hiện tâm tình: nổi buồn nhớ cố hương. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng hoa lệ, cảm xúc mênh mang, gợi lên bao nỗi buồn đẹp – tất cả góp phần tạo nên vẻ đẹp văn chương của bài thơ trăng này. Lí Bạch đã để lại hàng trăm bài thơ trăng. Ai đã từng trải qua nhiều năm tháng li hương, ai đã từng mang một tâm hồn yêu trăng, chắc sẽ bồi hồi xúc động khi đọc bài thơ này của Thi tiên Lí Bạch. Nguồn: thêm: Phân tích bài "Từ ấy" của nhà thơ Tố Hữu: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim, Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim..."
Phân tích bài thơ ‘Tĩnh dạ tứ’ của Lí Bạch
893
Phân tích bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Đi thuyền trên sông Đáy Hổ Chí Minh Dòng sông lặng ngắt như tờ, Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo. Bôn bề phong cảnh vắng teo, Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan. Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng. Thuyền về, trời dã rạng đông, Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi. Mùa thu năm 1949 Thế là cuộc kháng chiến chống Pháp đã được bốn năm. Mùa thu năm 1949, Bác Hồ lại làm thơ ghi lại một chuyến công tác đáng nhớ. Nhan đề bài thơ đã nói rõ: ‘Đi thuyền trên sông Đáy’. Nhìn lên bản đồ Tổ quốc, ta thấy có tên hai con sông Đáy: sông Đáy ở Hà Tây và sông Đáy ở Tuyên Quang. Sông Đáy trong bài thơ có lẽ là sông Đáy ở Tuyên Quang trên chiến khu Việt Bắc. Bài thơ gồm có tám câu thơ lục bát, vừa tả cảnh con thuyền chạy giữa một vùng sông nước trăng sao, vừa nói lên suy nghĩ khôi phục đất nước và niềm tin tưởng đẹp tươi của Bác vào một ngày mai thắng trận. Bốn câu thơ đầu tả cảnh đẹp của dòng sông Đáy, dòng sông chiến khu. Sông ‘lặng ngắt như tờ’, phong cảnh về khuya thêm ‘vắng teo’. Chỉ nghe tiếng ‘cót két’, tiếng chèo thuyền. Bút pháp nghệ thuật lấy động để tả tĩnh rất đặc sắc. Hình ảnh con thuyền, vầng trăng và ngàn sao hiện lên rất đẹp, một vẻ đẹp hữu tình thơ mộng. Con thuyền và trăng sao được nhân hóa có tâm hồn, có chuyển động. Trăng sao vằng vặc sáng. Dòng sông xanh phẳng lặng. Trăng sao chiếu xuống in bóng trên lòng sông. Phía trước, phía sau, xung quanh con thuyền đều có trăng sao. Có lúc tưởng như ‘sao đưa thuyền chạy’, có lúc lại cảm thấy ‘thuyền chờ trăng theo’. Vừa thực vừa mộng ảo. Phải có tình yêu thiên nhiên, phải có tâm hồn thi sĩ mới viết được những vần thơ đẹp như vậy: Xem thêm: Thiên nhiên là người bạn tốt của con người, hãy yêu mến và bảo vệ thiên nhiên. Em hãy chứng minh ý kiến trên‘Dòng sông lặng ngắt như tờ, Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng theo. Bốn bề phong cảnh vắng teo, Chỉ nghe cốt két tiếng chèo thuyền nan’ Đoạn thơ gợi lên không khí tĩnh mịch huyền ảo như dẫn hồn ta trôi vào thế giới cổ tích. Nhà thơ ngồi trong con thuyền lặng ngắm cảnh sông nước trăng sao mà bàn hoàn, mà xao động, mà vương vấn cả tâm hồn. Nhiệm vụ phục quốc là sự lo lắng, là nỗi bàn hoàn khôn nguôi: ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’ Bác đã vận dụng hình thức tập Kiều để diễn tả một tình cảm đẹp: lo lắng đánh giặc để cứu dân. Hai câu kết nói về cảnh rạng đông trên chiến khu: ‘Thuyền về, trời đã rạng đông, Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi’ Con thuyền và cảnh rạng đông mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Con thuyền kháng chiến vượt phong ba bão táp trở về bến trong rạng đông tráng lệ. Cảnh màu hồng đẹp tươi bao la đất trời tượng trưng cho ngày chiến thắng, đất nước bước vào một kỉ nguyên mới: độc lập, hòa bình. Hai câu kết có hình tượng đẹp, thể hiện tinh thần lạc quan của nhà thơ về một ngày mai thắng trận. Thơ là tâm hồn, tiếng lòng của thi sĩ. Bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy’ là tâm hồn, tiếng lòng của nhà thơ Hồ Chí Minh: rất lạc quan yêu đời, tin tưởng, chan hòa với thiên nhiên, nặng lòng vì Tổ quốc. Con thuyền, dòng sông và rạng đông là ba biểu tượng rất đẹp trong bài thơ của Bác. Nguồn: thêm: Hãy viết một bức thư hoặc một bài văn nghị luận kêu gọi các quốc gia có vũ khí hạt nhân cam kết không chạy đua vũ trang...
Phân tích bài thơ ‘Đi thuyền trên sông Đáy” của Hồ Chí Minh
677
Phân tích bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu và nói lên cảm nghĩ của em Gợi ý “Bác ơi!” được Tố Hữu viết vào ngày 6-9-1969, bốn ngày sau khi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc qua đời. “Bác ơi!” được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, gồm 13 khổ thơ, mỗi khổ thơ có 4 câu thơ. Bài “Bác ơi!” là tiếng khóc tiễn biệt, mang ý nghĩa như một bài điếu văn rất cảm động, vừa ca ngợi lòng yêu nước thương dân bao la của Bác Hồ, vừa biểu lộ lòng tiếc thương, ghi nhớ công ơn to lớn của lãnh tụ. 1. Mở đầu bài thơ là tiếng khóc. Bác Hồ qua đời để lại nỗi đau thương trong lòng hàng triệu đồng bào ta và bạn bè gần xa. Nỗi đau thương trùm cả cõi đời và cả vũ trụ bao la, mênh mông: Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa… Câu thơ thứ hai, chữ “tuôn” được điệp lại hai lần đã cực tả nỗi mất mát, đau thương của dân tộc thật vô hạn. Đọc hồi kí của Tố Hữu, ta biết lúc Bác Hồ mất, nhà thơ còn đi công tác xa. Nghe tin Bác mất, tác giả vội “chạy về”. Đó là một buổi chiều đau đớn, bàng hoàng. Hai chữ “ướt lạnh” diễn tả nỗi đau đớn tái tê ấy: Chiều nay con chạy về thăm Bác Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa! Bác ra đi, ngôi nhà sàn của Bác trở nên vắng lặng, hiu hắt buồn. Chuông chẳng còn reo nữa. Ánh đèn “tắt”,“rèm buông”, phòng của Bác ở và làm việc thì đã “lặng”. Sự sống như ngừng lại trong đau thương: Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn! Bác ra đi quá bất ngờ, đột ngột. Cả miền Nam, cả tiền tuyến lớn anh hùng đang trên đà chiến thắng. “Rước Bác vào thăm”… là ước mơ đẹp của đồng bào, chiến sĩ. Nhưng giờ đây còn đâu nữa khi Bác đã đi xa:Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về câu ngạn ngữ của châu Phi: ‘Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về phía sau bạn”? Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười! Ngày hội chiến thắng, ngày hội thống nhất non sông… thế là vắng bóng Bác. Bác ra đi, cỏ cây hoa lá, thiên nhiên tạo vật đều đau đớn tiếc thương. Vườn rau, gốc dừa, trái bưởi, hoa nhài, ao cá… những vật thân quen ấy của Bác được nhân hoá gợi ra bao đau đớn, cô đơn, buồn tủi, ngậm ngùi. Lấy ai để san sẻ nỗi đau buồn thương tiếc? Tố Hữu có một lối nói biểu cảm rất sâu sắc. Ông đứng lặng, tự hỏi lòng mình rồi hỏi cỏ cây hoa lá: Trái bưởi kia vàng ngọt với ai Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài Còn đâu bóng Bác đì hôm sớm Quanh mặt hồ in mây trắng bay… Bốn khổ thơ đầu, Tố Hữu đã mở ra một không gian nghệ thuật từ đất trời, cõi đời, niềm Nam,… đến vườn rau, ao cá, gốc dừa, ngôi nhà sàn,… đồng hiện một tâm trạng nghệ thuật, đó là nỗi đau đớn, tiếc thương đã và đang thấm sâu vào lòng người, lọng dân tộc. Đó là ngày Bác đi xa, ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc tang. Sự kết hợp các câu cảm thán, câu hỏi tu từ làm cho giọng thơ như tiếng nấc cất lên, nghẹn ngào, biểu cảm: Bác đã đi rồi sao, Bác ơi! .. Trái bưởi kia vàng ngọt với ai Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm… 2. Sáu khổ thơ tiếp theo trong phần hai bài thơ nói lên tình thương bao la và phẩm chất cao đẹp của Bác. Cách cấu trúc bài thơ giống như bài văn tế khi nhắc tới công đức của con người vừa qua đời. Bằng hình ảnh hoán dụ, Tố Hữu ca ngợi lòng yêu nước thương dân, tình nhân ái bao la của Hồ Chí Minh. Đây là hai câu thơ trong bốn câu thơ hay nhất trong bài thơ "Bác ơi!”:Xem thêm: Soạn bài Tình người với đất Bác ơi, tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông, mọi kiếp người. Bằng nghệ thuật liệt kê, tác giả nhắc lại tấm lòng nhân ái bao la, mênh mông, của Bác. Đó là nỗi đau và nỗi lo của Bác. Lòng Bác sâu nặng như lòng mẹ: “Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ – Cho hôm nay và cho mai sau”. Đó là lòng Bác; Bác sống, Bác yêu, Bác cho, Bác để, Bác tặng: Bác sống như trời đất của ta Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa Tự do cho mỗi đời nô lệ Sữa để em thơ, lụa tặng già. Đó là Bác nhớ, Bác nghe, Bác lắng… Đó là tình cảm của lãnh tụ dành cho chiến sĩ và đồng bào nơi Thành đồng Tổ quốc: Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác, nỗi mong Bác Bác nghe từng bước trên tiền tuyến Lắng mỗi tin mừng, tiếng sung xa. Bác đã tùng nói: "Miền Nam luôn trong tim tôi”, Thơ chúc Tết năm 1969, Bác đã viết: "Năm qua thắng lợi vẻ vang – Năm nay tiền tuyến chắc thắng to… ”, Bác là niềm vui thắng trận. Bác là chỗ dựa tinh thần để tiền tuyến xốc tới "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!", Tố Hữu vừa khóc thương Bác, vừa làm sống lại tâm hồn Bác. Điệp ngữ "vui" và các động từ: "nâng niu, quên” đã nói lên một cách sâu sắc tâm hồn Hồ Chí Minh: lạc quan yêu đời, giàu đức hi sinh. Hình ảnh so sánh đầy chất thơ: Bác vui như ánh buổi bình minh Vui mỗi mầm non, trái chín cành Vui tiếng ca chung hòa bốn biển Nâng niu tất cả, chỉ quên mình. Bác sống giản dị, thanh bạch. Chiếc va li nhỏ, vài ba bộ quần áo đơn sơ, đôi dép cao su…, "chẳng vàng son ". Nhiểu người thường nhắc đến hai câu thơ tuyệt bút sau đây để ca ngợi đức tính giản dị của Bác Hổ:Xem thêm: Vai trò của nhân vật vợ Tràng trong truyện “Vợ nhặt" của Kim Lân Mong manh áo vải, hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. Tư tưởng lớn, ý thơ đẹp và hay, nghệ thuật tưởng phản tài ba, Tố Hữu đã để lại câu thơ trong trí nhớ nhiều người. Có thể nói, đoạn thơ đã thể hiện sâu sắc cảm động tâm hồn, phong cách, đạo đức và lối sống Hồ Chí Minh. 3. Ba khố thơ trong phần cuối là tiếng khóc, là sự ghi nhớ, là lòng biết ơn, là lời ước nguyện. Thương Bác, nhớ Bác càng thấy lòng mình bơ vơ, đau đớn: "Ôi Bác ơi, những xế chiều – Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu! Bác đã đi xa, bước vào "thế giới Người Hiền”. Sự nghiệp cách mạng, đạo đức cách mạng của Bác mãi mãi là "Ánh hào quang đỏ thêm sông núi”, là tài sản tinh thần vô giá có tác dụng động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ "cùng nhau tiến lên” với niềm tin sắt đá: “Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” (Di chúc) Nhớ mãi công ơn của Bác, nhân dân ta nguyện ghi sâu trong lòng lời Bác dặn, quyết tâm vươn lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng của Bác để lại. Bài thơ khép lại bằng một hình so sánh mang hình tượng sông núi kì vĩ. Tố Hữu khóc Bác bằng một lời thề chiến đấu: Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn. Tố Hữu là nhà thơ viết vế Bác Hồ nhiều nhất, sâu sắc nhất, hay nhất. Hình ảnh Bác Hồ: “Người là Cha, là Bác, là Anh – Quả tim lớn lọc trong dòng máu nhỏ” đã in đậm trong nhiều trang thơ của Tố Hữu. “ Bác ơi!” là một trong những bài thơ hay nhất viết về Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dân tộc. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Bác ơi” của Tố Hữu và nói lên cảm nghĩ của em
1,366
Đề bài: Phân tích bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm Thật vật! Trong cuộc đời của mỗi một con người ai cũng có một quê hương. Và đối với nhà thơ Hoàng Cầm cũng vậy, mảnh đất ăn sâu vào máu thịt ông và cũng là miền đất Kinh Bắc bên kia sông Đuống. Khi Hoàng Cầm nhớ về quê hương là nhớ về những gì sâu nặng nhất, là đẹp đẽ nhất trong tâm hồn và trong đáy sâu của cảm xúc đó nhà thơ cho ra đời “Bên kia sông Đuống”. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” ra đời khi quê hương yêu thương Kinh Bắc của ông đã bị rơi vào tay giặc Pháp. Và đó chính là những nỗi đau xót khi nghe tin quê hương ngập chìm khói lửa chiến tranh nó cú như cắt cứ cứ như trĩu nặng tâm hồn ông. Và khi đứng bên này Sông Đuống đó chính là một mảnh đất tự do, hướng về quê hương bên kia Sông Đuống đó chính là một mảnh đất bị giặc chiếm đóng với bao nỗi niềm và xót xa trong tâm trạng của tác giả. Và đó cũng chính là một dòng sông mà giờ đây đôi bờ cách biệt. Ta như thấy được dòng thơ đầu tiên mở ra tác phẩm như gợi ra đó chính là một tiếng gọi cất lên từ sâu thẳm trái tim đau đớn của nhà thơ. Hơn nữa nó cũng đồng thời cũng là một lời an ủi: Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lì Nhân vật “Em” ở đây là một nhân vật phiếm chỉ được sử dụng đặc sắc. Tuy nhiên, ta cũng đã có phần chắc chắn đó là một cô gái cùng quê bên kia sông Đuống với nhà thơ. Ta cũng thật dễ bắt gặp trong thơ Hoàng Cầm ta thường gặp một nhân vật em như vậy, và đó cũng chỉ bởi đó là cái cớ để nhà thơ bộc lộ xúc cảm của mình một cách chân thành nhất. Và đó như là lời an ủi đưa em về sông Đuống nhưng nó lại thực chất chỉ diến ra trong hoài niệm của nhà thơ. Ta cũng như đã thấy được chính trong niềm hoài niệm đó, hình ảnh trung tâm là con sông quê hương trong mát kia cùng với bờ cát trắng phẳng lì cứ như là chảy từ quá khứ xa xôi về hiện tại, hiện lên trong tâm trí nhà thơ mãi không nguôi và còn đó chính là trù phú hai bên bờ những màu xanh bạt ngàn như bất tận của những bãi mía, nương dâu: Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì Ta không thể nào không ấn tượng với cái dáng nằm nghiêng nghiêng của dòng sông Đuống, đây cũng được xem là một phát hiện, một sáng tạo độc đáo của Hoàng Cầm. Và dường như chính cái cảm xúc mãnh liệt cùng trí tưởng tượng phong phú như đã cũng giúp cho nhà thơ sáng tạo ra một hình ảnh thơ độc đáo đầy ấn tượng và nó cũng như đã làm xáo trộn cả không gian và thời gian, ám ảnh hoài tâm trí người đọc.Xem thêm: Phân tích đoạn trích trong tác phẩm “Số phận con người” của A. Sô-lô-khốp- Văn 12 Khi mà đứng từ bên này, nhà thơ lại cũng như thật đau đáu hướng cặp mắt về bên kia sông Đuống. Và có lẽ đoạn thơ như đã khéo léo kết thúc bằng một hình ảnh diến tả nỗi đau “Sao xót xa như rụng bàn tay”.Tác giả Hoàng Cầm dường như cũng đã mượn nỗi đau của thể xác để diến tả, nó như là để thể hiện một cách một cách cụ thể nỗi đau về tinh thần. Và có lẽ rằng phải là người coi quê hương là máu thịt của mình thì tác giả mới có tình cảm mãnh liệt đến như vậy. Và tâm trạng của nhân vật trữ tình hay tác giả đã đạt được đến mức độ điển hình. Có lẽ rằng chính cái cảm hứng chủ đạo trong đoạn thứ nhất là nỗi đau, đó như lại còn cả sự nuối tiếc, xót xa, như lai thêm lòng căm giận trước cảnh tượng quê hương thanh bình và người dân thuận hòa vui tươi, tươi đẹp bị giặc chiếm đóng. Chính từ những cảm xúc về nỗi đau đó, ta như có thể thấy được cảnh quê hương Kinh Bắc dần dần hiện lên trong kí ức nhà thơ. Và có lẽ rằng chính vùng quê Kinh Bắc nó như cũng đã có trong hoài niệm, được gợi lên bằng chính hương lúa nếp thơm nồng, hương lúa nếp như cũng là biểu tượng của cuộc sống ấm no, và cả những bức tranh Đông Hồ nó như là biểu tượng của đời sống tinh thần lành mạnh. Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Ta dường như cũng đã thấy được chính những vẻ đẹp quê hương bừng sáng lên rồi bị ngập chìm trong khói lửa chiến tranh. Nhà thơ Hoàng Cầm như thật tinh tế khi ông đã miêu tả thật xúc động những cảnh tan tác như cả chia lìa của quê hương khi quân giặc tới qua các từ như “ngùn ngụt lửa hung tàn”, “ruộng khô”, “nhà cháy”, con người chia li”,…Và còn cả những loài vật cũng bị chia ly trong hoàn cảnh đó. Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu Ở đây, dường như là chính những cái ảo đã hòa nhập cùng cái thực. Tác giả thật tài tình khi đã mượn hình ảnh trong tranh để diễn tả cảnh tượng thật ngoài đời vậy. Và đây dường như nhà thơ đã lay động sâu xa tình cảm sâu sắc, gắn bó của những con người vốn gắn bó máu thịt với truyền thống văn hóa đẹp đẽ đã có tự hàng ngàn đời của quê hương Kinh Bắc.Xem thêm: Màu sắc Nam Bộ trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi). Không chỉ có vậy thôi đâu mà dường như chính những hình ảnh quê hương Kinh Bắc còn được gợi lên với những đền chùa cổ kính, vẫn còn đó những nét sinh hoạt xa xưa của cha ông đó là những hội hè đình đám thể hiện khát vọng một cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân. Vậy mà chính giấc mộng bình yên như đã được diễn ra mấy trăm năm ấy giờ đây tan vỡ. Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đi đâu về đâu Và ta như nhận thấy được những con người mang một phần linh hồn của quê hương xứ sở ấy ngay giờ đây cũng như đã trở nên bơ vơ, tan tác. Có thể nói cũng không còn nữa những hội hè đông vui, hay cả nhộn nhịp nữa. Xóa nhòa cái cảnh nhộn nhịp vui tươi đó mà thay vào đó chỉ còn tiếng chuông chùa văng vẳng từ thuở bình yên xa xưa vọng về dường như đã càng làm tăng thêm sự hoang vắng của quê hương như tiếng thở than nuối tiếc một thời yên ấm. Và cái vùng quê yên bình vùng quê Kinh Bắc nó như đã còn được gợi lên bằng cảnh lao động nhộn nhịp đó chính là nơi được biết đến để buôn bán đông vui, sầm uất. Người đọc như có thể thấy được trong tâm trí nhà thơ, hình ảnh những cô gái Kinh Bắc dăng tơ dệt lụa, và cả buôn bán tảo tần hiện lên với những nét xinh tươi, dịu dàng, duyên dáng và biết bao tình tứ. Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Nhưng giờ đây cảnh êm ấm thế mà dường như cũng tan tác chia lìa, không biết đi đâu, về đâu. Và có thể nói trong niềm tiếc thương không nguôi những người, và cả những cảnh vật của quê hương, tác giả Hoàng Cầm đã dành tình cảm thật sâu sắc, sâu nặng nhất cho người mẹ già và em nhỏ. Người mẹ già nua, còm cõi vốn đã vất vả trong thời bình lại càng khốn khổ hơn khi quân giặc tới. Và cả vùng Kinh Bắc vốn là đất lành giờ đây bỗng hóa thành đất dữ. Chẳng như những con người không sống được yên ổn mà dường như tất cả những cánh cò cũng táo tác, như thật hốt hoảng không chốn nương thân.Xem thêm: Khái vọng vĩnh cửu hóa tình yêu được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Sóng”? Anh (chị) hãy phân tích cảm nghĩ của Xuân Quỳnh về tình yêu trước thời gian Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Ta như thấy được chính những hình ảnh cánh cò lồng vào hình ảnh người mẹ, nhưng không phải là cánh cò trong những câu ca dao là cánh cò bay lả bay la của thời bình nữa mà thay vào đó chính là cánh cò hốt hoảng chạy trốn đạn bom, soi bóng trên lưng người mẹ run rẩy, như đã bước thấp bước cao trên đường trơn mưa lạnh. Ta như có thể thấy chính những số phận tội nghiệp của những đứa trẻ trong chiến tranh được Hoàng Cầm dường như cũng đã gợi lên trong cảnh đói khát cùng với sự đe dọa của đạn bom. Có lẽ là cả ban ngày lẫn ban đêm, và dường như là cả khi thức lẫn khi ngủ, cái chết luôn rình rập, và luôn luôn đe dọa chúng. Và cũng chính vì lòng uất hận, căm thù của nhà thơ bùng lên dữ dội. Câu thơ của tác giả Hoàng Cầm đến đây thét lên phẫn nộ: Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết ngươi hờn Có thể thấy được phần còn lại của bài thơ “Bên kia sông Đuống” dường như cũng đã diễn tả cảnh bộ đội trở về và nhân dân vùng lên như là để đấu tranh tấn công một cách chủ động vào kẻ thù. Ta như thấy được cả giọng thơ chuyển từ nhớ tiếc, xót thương sang uất hận, căm thù. Lời cảm thán, nó như chính là những niềm hoài niệm ở đầu bài thơ đã trở thành lời hứa hẹn, niềm hi vọng ở đoạn kết. Ta như thấy được đó chính là một khung cảnh mùa xuân tràn trề niềm vui và ánh sáng tươi mới như đã lại trở về với vùng quê Kinh Bắc. Và đó chính là cô gái Kinh Bắc, cô đã hiện ra với nụ cười tươi tắn giữa không khí tưng bừng của ngày hội vậy. Em đi trẩy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh Thi phẩm đặc sắc “Bên kia sông Đuống’ chính là những dòng tình cảm mãnh liệt nhất, và đó cũng chính là sự chân thành và trong sáng nhất mà Hoàng Cầm đã dành cho quê hương yêu dấu của mình. Đồng thời cũng đã thông qua đó đánh thức trong mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước. Đó dường như cũng chính là thứ tình cảm thiêng liêng cao cả và nó cũng như đã gắn bó như chính lời bài hát của nhạc sĩ Giáp Văn Thạch. Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm- Văn 12
1,968
Phân tích bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm Gợi ý Hoàng Cầm, nhà thơ của miền quê Kinh Bắc: Ông sinh năm 1922. Ông nói về quê Mẹ đất Cha: “Tôi người Quan họ Quê mẹ bên này sông Cách quê cha một dòng Nước trắng…” Dòng sông “nước trắng” ấy chính là dòng sông Đuống yêu thương. Hoàng Cầm là một trong những thi sĩ đương đại cực kì tài hoa. Tâm hồn ông đã chơi vơi với những mối tình thơ mộng như đi tìm “lá diêu bông” một chiều thu tím nào. Cuộc đời ông đã từng nếm nhiều nỗi đau. Ông khóc mình… rồi khóc con gái “mệnh yểu” “Sực nhớ cha vò võ tuyết sương Con hóa thành tia sao Thương cắt ngang đường sao băng”. (Men đá vàng) Nếu tính từ năm 1937 khi viết “Hận Nam Quan” đến năm 1995, tập thơ “Men Đá Vàng” xuất bản, Hoàng Cầm đã có ngót 60 năm làm thơ. “Bên kia sông Đống”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”, kịch thơ “Trương Chi”,… là những tiếng thơ, tiếng hát để thương, để nhớ cho đời. Hoàng Cầm viết bài thơ “Bên kia sông Đuống” vào một đem tháng 4 năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc. Xúc động trào dâng sau khi được nghe những tin tức quê nhà bị giặc chiếm đóng, tàn phá, dưới ngọn đèn dầu sở, trong tiếng vọng của tiếng súng, ông viết thâu canh, cho đến lúc gà gáy sáng thì hoàn thành bài thơ. “Bên kia sông Đuống” là một trong những bài thơ hay nhất viết về đề tài quê hương của thơ ca kháng chiến chống Pháp; thi phẩm này đã làm vẻ vang cho nhà thơ Hoàng Cầm. Tràn ngập bài thơ là cái tình quê, hồn quê dạt dào. Nỗi nhớ thương, tự hào quê Mẹ đất Cha, nỗi xót xa, cãm giận, nuối tiếc… quê hương đang bị quân thù giày xéo, là cảm xúc chủ đạo của áng thơ này. Với 134 dòng thơ sâu lắng, thiết tha, bồn chồn… hòa quyện vào nhau, bài thơ cứ ngân nga rung động hoài trong tâm trí người đọc. Hoàng Cầm đã có lần tâm sự vế “Bên kìa sông Đuống”: “Hương vị dân tộc, chất tình tứ, hư ảo của câu ca Quan họ đã thấm đẫm tronghồn tôi từ những ngày nhỏ dại”. Chính hương vị ấy, chất tình tứ, hư ảo ấy đã dệt nên sắc điệu trữ tình của bài ca quê hương này. 1. Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi mơ hồ, xa xăm vọng lên từ tâm tưởng, trong hoài niệm, nhiều bồi hồi, xao xuyến. Như an ủi, như vỗ về, như thương nhớ, tủi sầu: “Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lì” Con sông tuổi thơ “cát trắng phẳng lì” là cội nguồn của nỗi buồn, nỗi nhớ của anh và em, của ngày xưa, của năm tháng. Em là sự phân thân của nhà thơ, hay “người tình chung” từng “để thương, để nhớ, để sầu cho ai…”. Em đến để tâm tình, để thổ lộ… và hẹn em trong “ngày hội non sông”:“Em mặc yếm thắm – Em thắt lụa hồng – Em đi trẩy hội non sông – Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”. “Em” đến đúng lúc để “anh” giãi bày, để khơi gợi nguồn thơ. Đó là chất tình tứ hư ảo trong thơ Hoàng Cầm mà ta cảm nhận được. Cùng với em là hình ảnh con sông Đuống thương yêu xuất hiện. Dòng sông thơ ấu từ hoài niệm “Ngày xưa cát trắng phẳng lì” trôi theo dòng lịch sử, theo thời gian và lòng người mà hiện về trong thương nhớ, với màu sắc, với dáng hình thân thuộc: “Sông Đuống trôi đỉ Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” Hai tiếng “trôi đi…”gợi lên cái êm đềm, cái man mác “nước chảy lơ thơ…”. “Một dòng song lấp lánh” vì cát trắng, vì gương sông chở ánh hồng bình minh, chở trăng sao những đêm thu đẹp. Đó là dòng sông thơ mộng. Dáng sông Đuống trong hiện tại chẳng uốn lượn như hình con long của sông “làng ta” (ca dao) mà lại “ nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”. Một câu thơ hay để ta cảm xúc, đọc lên nhận vào hồn mình với bao nhiêu nhã thú, thi vị. Tưởng như tác giả viết bằng bút pháp siêu thực? Tưởng như câu thơ được cấu tạo nên bằng kĩ thuật điện ảnh tân kì? Đó là một sáng tạo thi ca độc đáo của thi sĩ tài hoa Hoàng Cầm. Sông Đuống là sông của tuổi thơ, sông của hoài niệm. Màu “xanh xanh” của bãi mía bờ dâu, màu “biêng biếc”của ngô khoai là màu xanh của miền thơ ấu, là hình bóng quê hương. Bức tranh quê tươi tắn, đầy sức sống… Nhớ quê hương nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đứa con li hương “đứng bên này song” nhìn về “bên kia sông Đuấng”, từ vùng tự do tả ngạn nhìn về hữu ngạn, nơi “tâm hồn ta thấm đất”, nỗi nhớ, nỗi đau không thể nào kể xiết:Xem thêm: Nghị luận xã hội về cách ứng xử văn hóa trong giao thông hiện nay- Văn 12“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay”. “Sao nhớ tiếc… sao xót xa…” vì quê hương đang chìm trong máu lửa. Nỗi nhớ, nổi đau đến cực độ, làm tê tái cả hồn người, làm “chết đi” từng phần cơ thể. Câu thơ “Sao xót xa như rụng bàn tay” đã cụ thể hoá nỗi đau đớn xót xa cả về thể xác lẫn tinh thần. Đẩu thế kỉ XX, Nguyễn Khuyến đau đớn khi “chợt nghe” tin bạn chí thân qua đời: “Làm sao bác vội về ngay – Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời”. Một đằng khóc bạn, một đằng khóc quê. Hai nhà thơ đều mượn cách nói dân gian để diễn tả một tâm trạng, một nỗi lòng tan nát. Có yêu quê hương tha thiết, gắn bó thuỷ chung với quê Mẹ đất Cha thì Hoàng Cầm mới có nỗi đau “nhớ tiết” và “xót xa như rụng bàn tay” ấy. Có thể nói, mười dòng thơ trong phần tiền tấu của khúc ca quê hương “Bên kia sông Đuống”là một cái nhìn đăm đắm “nhớ tiếc”, là nỗi đau tê tái “xót xa”, là nỗi nhớ thương khôn nguôi… của đứa con li hương. Vần thơ như những tiếng khóc thầm, rồi bật lên như một tiếng nghẹn nấc: “biêng biếc…nhớ tiếc…như rụng bàn tay”. 2. Phần thứ hai gồm có 118 dòng thơ, chia làm hai đoạn. Đoạn thứ nhất dài 69 dòng thơ nói lên nỗi đau, nỗi nhớ tiếc xót xa về quê hương tươi đẹp, yên vui trong thanh bình… bỗng bị quân thù kéo tới chiếm đóng, tàn phá. Đoạn thứ hai là 49 dòng nói về quê hương chiến đấu, xóm thôn vùng lên, khi bộ đội “bên sông trở về” Đoạn thứ nhất cấu trúc tương phản giữa xa xưa thanh bình với hiện tại tang tóc, điêu tàn. Các câu thơ “Bền kia sông Đuống”và “Ai về bên sông Đuống” nối tiếp nhau xuất hiện, diên tả hình bóng quê hương hiện lên như những đợt sóng vỗ vào lòng đứa con xa quê bao nỗi nhớ thương và căm giận. Một tình quê vơi đầy trong nỗi nhớ: “Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” "Bên kia sông Đuống" là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, một miền quê trù phú và có nền văn hóa, văn hiến ngàn năm thuộc vùng Kinh Bắc. Chỉ bằng hai nét vẽ mà nhà thơ đã gợi lên hương sắc quê nhà. Ba tiếng “quê hương ta” vang lên tự hào, lay động thiết tha. Hương lúa nếp thơm nồng của cốm mới, của cánh đồng màu xanh lúa trổ, hương xôi, hương bánh… trên mâm cỗ tết, trong ngày giỗ trên bàn thờ gia tiên. Hương lúa nếp thơm nồng đã quyện lấy tâm hồn “anh” và “em” tự thuở nào. Nhớ “quê hương ta" là nhớ mùi “thơm nồng" của lúa nếp, là nhớ tranh làng Hồ, tranh gà lợn, nhớ nét vẽ tài hoa xinh đẹp “nét tươi trong", nhớ “màu dân tộc” nhớ sắc màu rực rỡ, tươi đẹp “sáng bừng trên giấy điệp" óng ánh, mượt mà. Tình yêu quê được gửi gắm, được thể hiện qua các thanh âm (nồng, trong, bừng, điệp…) qua các tính từ phẩm chất đã làm dậy sắc hương của lúa nếp, của tranh gà lợn: thơm nồng, tươi trong, sáng bừng, điệp. Đặc biệt hai chữ “sáng bừng ”đã thể hiện cái hồn quê nồng nàn say đắm, đã làm sáng lên cả vần thơ và hoài niệm, đã thổi vào bức tranh quê cả sức sống và tình yêu mặn nồng. Cũng như dân ca Quan họ, mảng tranh dân gian Đông Hồ được tác giả nói đến với bao yêu mến, tự hào, từ đề tài đến chất liệu, từ tư tưởng đến phong cách nghệ thuật đều mang vẻ đẹp bình dị, dân dã, mến yêu “sáng bừng "màu sắc dân tộc. Nhưng giờ đây còn đâu nữa? – “Quê hương ta từ khủng khiếp – kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn".“Ngày khủng khiếp” kể từ 19-12-1946, ngày toàn quốc kháng chiến, những miền quê rộng lớn bình yên đã bị giặc Pháp biến thành đống tro tàn. “Những cánh đồng quê chảy máu",những đường làng “xương máu tơi bời”,.. cả một không gian bao la chìm trong máu lửa, chết chóc. Quân cướp nước kéo tới quê hương ta là: “Chó ngộ một đàn – Lưỡi dài lê sắc máu”. Chúng điên cuồng đốt phá, bắn giết: ruộng khô, nhà cháy, ngõ thẳm bờ hoang kiệt cùng. Sự sống bị tiêu diệt, cả một miền quê tan tác, đau thương: “Mẹ con đàn lợn âm dương, Chia lìa đôi ngả Xem thêm: Hạnh phúc nằm trong bản lĩnh sống Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu” Ước mơ ấm no, yên vui, hạnh phúc của “quê hương ta” bao đời nay bị quân xâm lược làm cho tan nát chia lìa. Từ nỗi đau vật chất đến nồi đau tinh thần là vô cùng ghê sợ! Lấy hình ảnh trong hai bức tranh làng Hồ, bức tranh lợn và bức tranh đám cưới chuột để cực tả cảnh đau thương chia lìa, tan tác trên quê hương. Nhà thơ đã lay động hồn quê, tình quê ứa máu, thấm lệ trong lòng người bấy nay. Vẻ đẹp văn hóa trong lòng người, trong nếp sống, trong cảnh vật đã bị “ngọn lửa hung tàn” huỷ diệt! Những câu thơ ngắn đan xen với những câu thơ dài đã góp phần tô đậm nỗi căm uất, nghẹn ngào chứa chất trong lòng người đang bùng lên dữ dội. Nhớ da diết bồi hồi quê hương, Hoàng Cầm lại tha thiết nhắn gọi: “Ai về bên kia sông Đuống – Cho ta gửi tấm the đen…- Gửi về may áo cho ai…" – Vẫn chỉ là phiếm chỉ: “Ai về…" “cho ai…",gợi lên một nỗi nhớ bồi hồi, mênh mông. Tình quê trong hoài niệm là “thấp thoáng mộng bình yên",là nhớ chùa xưa tháp cũ, nhớ hội hè, nhớ núi Thiên Thai, nhớ chùa Bút Tháp, nhớ huyện Lang Tài, nhớ tiếng chuông chùa sớm sớm chiều chiều ngân buông. Nhớ cuộc sống yên vui thanh bình, nhớ những địa danh, những thắng cảnh… đã in dấu đậm đà, đã gắn bó với tâm hồn đứa con li hương: “Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu”. Tiếng chuông chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Bách Môn… chỉ còn “văng vẳng“ từ “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” vọng về trong hồn người đã làm cho nỗi nhớ, nỗi đau thêm nhức nhối, gợi lên sự hoang vắng, điêu tàn của quê hương, nói lên mơ ước ngàn đời được sống ấm no, yên vui trong thanh bình. Nhớ cảnh rồi nhớ người. Nỗi nhớ tràn ngập, nhớ từng dáng hình, nhớ từng nét mặt, nhớ làn môi, nhớ mái tóc, nhớ quần nâu, nhớ cụ thể, nhớ nhiều… Chữ “những” điệp lại nhiều lần diễn tả nỗi nhớ mônh mang, xao xuyến, bồi hồi: “Những nàng môi cắn chỉ phết trầu, Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đì đâu về đâu.” “Ai về…có nhớ” – vể bên kia sông Đuống, quê hương ta, của anh và của em. Ai có nhớ, riêng ta nhớ lắm. Nhớ “từng khuôn mặt búp sen” nhớ nụ cười ấm áp, tươi vui, rạng rỡ của những cô gái xinh đẹp, tình tứ, dịu dàng. Nhớ người dăng tơ, nhớ nàng dệt sợi, nhớ người thợ nhuộm,… những con người cần mẫn, siêng nãng, khéo tay hay làm, rất đáng yêu, đáng tự hào. Cuộc sống và con người quê hương hiện hình qua nỗi nhớ lần lượt nối tiếp xuất hiện trong kí ức đầy ám ảnh, khôn khuây: “Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Chợ Hồ chợ Sủi người đua chen Bãi Trầm Chỉ người dăng tơ nghẽn lối Những nàng dệt sợi Đi bán lụa màu Những người thợ nhuộm Đồng Tỉnh, Huê Cầu Bây giờ đi đâu về đâu” Nỗi nhớ ấy vừa thực, vừa mộng ảo, gắn bó nhịp sống đời thường nhộn nhịp với cái vẻ tình tứ đáng yêu gợi ra trong lòng chúng ta một trời bâng khuâng thương nhớ: “Ai lên Đồng Tỉnh, Huê cầu – Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm- Nào đi chợ Thanh Lâm – Mua anh một áo vải thâm hạt dền”. Qua đó, ta cảm nhận hương vị dân tộc, chất tình tứ, hư ảo đã làm nên vẻ đẹp trữ tình trong thơ Hoàng Cẩm. Sau hình ảnh những cô gái xinh đẹp, tình tứ… Hoàng Cầm nói vé bà mẹ và đàn con thơ với nhiều thương nhớ, đau xót. “Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong” xuất hiện phiên chợ nghèo, khi “lũ quỷ mắt xanh" kéo đến cướp bóc: “Lác đa lác đác trước lều – Vài ba vết máu loang chiều mùa đông". Bờ tre thì “hun hút”, trời thì “ mưa lạnh”, con đường thì “trơn",… cả một không gian tăm tối, lạnh lẽo, hãi hùng… Trên trời, cánh cò xao xác “bay vùn vụt",…“về đâu.. ". Trên đường trơn, mẹ già mái tóc bạc phơ lầm lũi “bước cao thấp" với bao nỗi kinh hoàng. Hình tượng thơ đầy ám ảnh, nhức nhối đau thương: “Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt qua dòng sông Đuống về đâu Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ”Xem thêm: Phân tích nhân vật Trương Ba trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ để thấy được khát vọng bình dị mà cao đẹp của con người lao động (phần trích trong Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục - 2008) Đàn con thơ đang sống trong cảnh đói rét sợ hãi. Chỉ có bát cháo ngô cầm hơi, chỉ biết“chui gầm giường tránh đạn", đêm đêm sống trong nỗi kinh hoàng giữa tiếng súng giặc: “ú ớ cơn mê – Thon thót giật mình"…Hình ảnh bà mẹ và em thơ trong đoạn thơ này tiêu biểu cho nỗi đau thương của những bà mẹ, những em bé, những nạn nhân trong chiến tranh. Câu thơ khép lại phần hai là tiếng thét căm hờn. Hoàng Cầm diễn tả lòng căm thù giặc bằng một cách nói độc đáo, mạnh mẽ: “Đã có đất này chép tội, Chúng ta không biết nguôi hờn". Ngoài biện pháp tương phản đối lập giữa “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên" với “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp". Hoàng Cầm lặp đi lặp lại các câu thơ: “Bây giờ tan tác về đâu…Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu… Bây giờ đì đâu về đâu…" – điệp cú, điệp khúc ấy không chỉ gợi tả âm điệu xót xa và bao nỗi ngơ ngác, kinh hoàng về đau thương, tang tóc trong lửa đạn quân thù, mà còn tạo ra ám ảnh khôn nguôi về sự tiếc nuối những năm tháng thanh bình êm đẹp và thơ mộng của quê hương. Giọng thơ thay đổi ở đoạn hai 49 câu tiếp theo. Có niềm vui gặp gỡ thắm tình quân dân khi “bộ đội bên sông đã trở về". Hình ảnh bà mẹ quê hương tượng trưng cho niềm vui hồi sinh “ bừng lên" sau luỹ tre điêu tàn một thời “khủng khiếp” “Lửa đèn leo lét soi tình mẹ, Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng” Có biến động “Trại giặc bắt đầu run trong sương”. Cả một vùng quê bao la vùng lên đánh giặc, đem lại màu xanh cho ruộng đồng: “Gió đưa tiếng hát về gần, Thợ cấy đánh giặc, dân quân cày bừa” Có niềm vui “mở hội…"và niềm vui chiến thắng. Câu thơ ngắn, nhịp thơ hối hả, rộn ràng. Sông Đuống hiện ra giữa một rạng đông tuyệt đẹp: “Vì nắng sắp lên rồi Chân trời đă tỏ Sông Đuống cuồn cuộn trôi…” Đoạn hai tuy có một số câu thơ cảm động, một số hình ảnh gợi cảm, nhưng ngôn ngữ thơ đàn trải, yếu tố “kể’ lấn át yếu tố trữ tình. Bài thơ được tác giả viết vào mùa xuân 1948, phải sáu năm sau (1954), trải qua những chặng đường gian khổ, hi sinh vô cùng to lớn, mới có cảnh tượng “bao nhiêu đồn giặc tơi bời” và mới có “chim múa hoa cười” trong lòng đứa con xa quê thời khói lửa. Do đó, cảm hứng lãng mạn khi nói về quê hương chiến đấu và chiến thắng ít nhiều dê dãi, sơ lược. 3. Phần thứ ba vớỉ sáu dòng thơ nói lên niềm mơ ưóc “bao giờ về bên kia sông Đuống” trong ngày hội non sông, trong niềm vui tái hợp. Một lần nữa, hình ảnh cô gái Kinh Bắc hiện lên trong vẻ đẹp kì diệu và tình tứ: “Anh lại tìm em Em mặc yếm thắm Em thắt lụa hổng Em đi trẩy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”, Sau một chuỗi câu thơ ngắn bốn tiếng, bài thơ khép lại bằng hai câu thơ lục bát có giá trị gợi tả niềm vui ngân nga mãi trong lòng người. “Quê hương nghĩa nặng tình sâu…",có ai đó đã nói như vậy? Tinh yêu quê hương là một trong những tình cảm sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất của con người Việt Nam chúng ta. Tinh quê hương với Hoàng Cầm là nỗi nhớ và niềm tự hào; nhớ cảnh vật, nhớ con người, nhớ dòng sông Đuống “trôi đi một dòng lấp lánh”, nhớ núi Thiên Thai, nhớ chùa Bút Tháp, nhớ khuôn mặt búp sen thiếu nữ, nhớ mùa xuân tưng bừng lẽ hội, nhớ mẹ, nhớ đàn con thơ… Nhớ và tự hào về một miền quê giàu đẹp, có màu xanh lúa ngô khoai, nương dâu bãi mía, có tranh Đông Hồ “Gà lợn nét tươi trong – Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp".Tự hào về quê hương bất khuất hiên ngang. Tin tưởng về ngày hội non sông, và ngày vui tái hợp. Bài thơ còn chất chứa bao nỗi căm hờn đối với quân xâm lược. Thơ của Hoàng Cầm giàu nhạc điệu và âm điệu lôi cuốn. Có vang vọng của ca dao, dân ca. Bài thơ thấm một tình yêu và hồn quê lai láng. Con sông Đuống, cô gái “cười như mùa thu tỏa nắng”… là của riêng Hoàng Cầm. Nhưng lạ thay, kì diệu thay, người đọc gần xa trong hơn nửa thế kỉ nay đã tìm thấy một phần bóng hình quê hương mình và nỗi lòng, tình thương, nỗi nhớ của mình trong bài thơ tuyệt tác “Bên kia sông Đuống”, Thơ hay mới cho ta “Sự đồng cảm nhiệm màu ấy”. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm
3,396
Phân tích bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến Gợi ý Trong kho tàng Văn học Việt Nam, có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài tình bạn làm xúc động lòng người. Bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến là một trong số những tác phẩm như vậy. Đọc bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được một tình bạn chân thành, sâu sắc mà còn thấy hiện lên một Nguyễn Khuyến hóm hỉnh, lạc quan. “Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả khôn chài cá Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà Cải chửa ra cây cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta”. Bài thơ lập ý bằng cách dựng lên tình huống không có gì để tiếp bạn, nhưng vẫn thể hiện được tình bạn đậm đà thắm thiết. Câu thơ đầu tiên gợi ra một hoàn cảnh rất đáng vui mừng: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà. Nguyễn Khuyến đã lui về quy ẩn, trong cái thời đại nhiễu nhương “Còn tiền còn bạc còn đệ tử / Hết cơm hết rượu hết ông tôi” thì việc có một người bạn quý đã lâu ngày “đã bấy lâu nay” đến nhà chơi thì thật đáng quý xiết bao. Và trong hoàn cảnh ấy, đáng ra, Nguyễn Khuyến phải tiếp đãi bạn thật chu đáo và thịnh soạn.Xem thêm: Văn biểu cảm - Cảm nghĩ về mái trường thân yêu Nhưng oái oăm thay, trong sáu câu kế tiếp, nhà thơ lại vẽ ra một hoàn cảnh rất đặc biệt để tạo ra sự đùa vui: Có sẵn mọi thứ nhưng hoá ra lại không có thứ gì. Vật chất đều đầy đủ cả nhưng lại cứ giảm đi, đến chỗ không còn một chút gì hết: chợ thì có đấy nhưng người sai vặt thì không có, gà vịt cũng nhiều nhưng hiềm nỗi vườn rộng rào thưa không bắt được, rau dưa đủ quả nhưng tiếc nỗi chưa đến mùa!… “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả khôn chài cá Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà Cải chửa ra cây cà mái nụ Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa”. Nguyễn Khuyến đã viết về gia cảnh khó khăn của mình với một giọng thơ đùa vui, hóm hỉnh. Người đọc vừa mỉm cười lại vừa băn khoăn, thương cảm: Khi lui về quy ẩn, Tam Nguyên Yên Đổ thực sống kham khổ như vậy sao? Và cái “bí” của nhà chủ lên đến đỉnh điểm khi “miếng trầu là đầu câu chuyện” lúc tiếp khách cũng không có nốt: “Đầu trò tiếp khách trầu không có”. Không, như vậy thì sự thực nhà thơ sống trong những năm tháng quy ẩn không đến độ khó khăn, bức bách như thế. Có lẽ đây chỉ là những cái đùa vui, cái cớ để nói đến một điều gì bất ngờ khác. Bao nhiêu vật chất không có, ngay cả đến vật chất tối thiểu cũng không vì vậy tiếp bạn chỉ còn có mỗi cái tình. Tạo ra tình huống như vậy, vừa đùa vui, vừa nói lên sự mong ước tiếp đãi chu đáo cả vật chất lẫn tinh thần, lại vừa nhấn mạnh được cái tình. Chỉ một sự chân tình có thể đủ bù đắp những thiếu hụt vật chất:Xem thêm: Vẻ đẹp của thác núi Lư qua con mắt của thi tiên Lý Bạch“Bác đến chơi đây ta với ta” Câu thứ cuối cùng và cụm từ “ta với ta” nhấn mạnh tình cảm tri âm không cần phải vật chất đầy đủ mà chỉ cần cái tình chân thực thôi. Những người tri âm, tri kỉ có khi chỉ cần gặp nhau ngâm mấy câu thơ, đàn vài bản nhạc là đã đủ vui rồi. Tình cảm không cứ nhất thiết phải có đầy đủ vật chất mới vui là như vậy. Trong bài thơ “Qua Đèo Ngang”, bà Huyện Thanh Quan cũng nhắc đến một cụm từ “ta với ta” nhưng “ta với ta” của bà là chỉ một mình tác giả với mảnh tình riêng đầy cô đơn, trống vắng. Trong bài thơ của Nguyễn Khuyến thì ngược lại, thi nhân dùng cụm từ này để chỉ bản thân và người bạn tri âm, tri kỉ. Cái “ta với ta” của Nguyễn Khuyến ấm áp và vui vầy biết bao. Qua cách ứng xử của nhà thơ, có thể nhận thấy, với bạn, Nguyễn Khuyến rất quan tâm đến bạn, muốn tiếp bạn thật là chu đáo. Đồng thời, chúng ta cũng thấy, trong tình bạn, Nguyễn Khuyến rất coi trọng cái tình, coi trọng sự cung kính trong tình bạn. Ngôn ngữ được sử dụng trong bài thơ Bạn đến chơi nhà mang tính chất dân dã đời thường, với hầu hết là các từ thuần Việt. Cái độc đáo nhất của bài thơ là tạo nên nghịch cảnh có rất nhiều mà lại chẳng có gì nhưng thực ra là có tất cả!Xem thêm: Nêu quan điểm của em về vấn đề: tự lực cánh sinh, cần cù lao động Bài thơ “Bạn đến chơi nhà”, của Nguyễn Khuyến gieo vào lòng người đọc một thoáng mỉm cười trước sự đùa vui hóm hỉnh của thi nhân. Nhưng lắng đọng lại sau cùng là niềm xúc động vô bờ về một tình bạn chân thành, sâu sắc vượt lên cả những vật chất và những cung cách ứng xử thông thường.. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến
922
Phân tích bài thơ “Câu cá mùa thu” để chứng minh cho một nhận định của Xuân Diệu: Nguyễn Khuyến là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” Gợi ý Nhắc đến những bài thơ viết về mùa thu Việt Nam, người ta không thể không nhắc đến chùm ba thơ thu của nhà thơ “Tam nguyên Yên Đổ” Nguyễn Khuyến mà “Thu điếu” là bài thơ tiêu biểu nhất. Bài thơ không chỉ khắc họa bức tranh thiên nhiên, làng cảnh Bắc bộ và tâm sự sâu sắc của nhân vật trữ tình mà còn để lại ấn tượng cho người đọc nhiều thế hệ bởi sự vận dụng sáng tạo, thành công hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân tộc. Ông xứng đáng được coi là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu). “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. “Thu điếu” là bài thơ Nguyễn Khuyến sáng tác khi đã từ quan về ở ẩn. Đọc bài thơ ta bắt gặp những hình ảnh thân thuộc vẫn thường gặp ở những vùng chiêm trũng đồng bằng Bắc bộ: Một chiếc ao thu nhỏ bé, chiếc thuyền câu cũng nhỏ, những ngõ trúc quanh co… Tình yêu thiên nhiên đất nước, tình cảm gắn bó dành cho quê hương vốn đã tiếm ẩn trong tâm hồn Nguyễn Khuyến nay được dịp “bùng nổ” mãnh liệt. Văn thơ Nguyễn Khuyên là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa những cái tinh hoa của văn học bác học với vản học dân gian được chắt lọc từ ngàn đời của dân tộc. Văn học dân gian chính là cội nguồn nuôi dưỡng văn học dân tộc nhưng cũng chính văn học bác học với những tri thức thông minh, bác cổ đã góp phần vô cùng quan trọng giữ gìn, phát huy sáng tạo văn học, giúp cho văn học dân gian phát triển. Sự trở về Yên Đổ là một bước ngoặt quan trọng quyết định trong sự nghiệp vãn học của ông. Đó chính là sự trở về với cuộc sống của nhân dân, hoà mình vào môi trường sống, môi trường văn học vốn gần gũi với ông từ thuở lọt lòng. Nguyễn Khuyến là một trong số những nhà thơ nổi tiếng viết về nông thôn của văn học dân tộc, một nông thôn Việt Nam với đầy đủ những âm thanh và màu sắc đặc trưng từ ngàn đời, độc đáo mà gần gũi, thân quen mà đẹp đẽ đến diệu kỳ. Trong “Thu điếu”, người ta bắt gặp một chủ đề quen thuộc vẫn thường gặp trong dân gian, trong cuộc sống bình dị của người lao động: hình ảnh ngư ông, thuyền câu, ao nước. Đó cũng là những hình ảnh rất đặc trưng của quê hương ông, vùng đồng bằng chiêm trũng Hà Nam, đặc trưng của vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ. Trong một không gian nhỏ nhắn, bình lặng, bài thơ không gợi nhưng cũng làm hiện lên hình ảnh nhà thơ trong dáng hình của một ngư ông – một người nông dân thực thụ. Con người và thiên nhiên hài hoà trong bức tranh thu tĩnh lặng. Khí thu buồn, ấy là chất thu đặc trưng tự ngàn đời và đến nay, nó lại tiếp tục xuất hiện trong bài thơ thu của Nguyễn Khuyến nhưng để rồi buồn theo điệu buồn của riêng nó, điệu buồn của cảnh và của người ngoạn cảnh. Những âm thanh và hình ảnh vốn quen thuộc của mùa thu lại tiếp tục được miêu tả trong sự chuyển động của làn nước và đặc biệt là chiếc lá thu:Xem thêm: Bài văn tả cây bàng trường em“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo’’ Sóng cũng chỉ “Theo làn hơi gợn tí” bởi có lẽ vì gió rất nhẹ. Gió nhẹ hợp với khí thu và cũng bởi cho khỏi phá tan đi cái bầu không khí tĩnh lặng vốn đang có từ ngàn đời kia. Và trong khung cảnh dường như tĩnh đến tuyệt đối ấy xuất hiện một hình ảnh rất động, dù chỉ là thoáng diễn ra rất nhanh: “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu xanh vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…”. “Diệp lạc tri thu”. Xưa nay, nhìn chiếc lá vàng rơi người ta biết mùa thu đang về. Mùa thu của Nguyễn Khuyến cũng vậy. Ông cảm nhận mùa thu qua cái lạnh và tĩnh của làn nước mùa thu, của làn gió thu se lạnh và ông cũng không quên đưa vào đó một chiếc lá thu “khẽ đưa vèo”. Đó là một khoảnh khắc diễn ra rất nhanh mà dường như người ta không chỉ nhìn thấy bằng mắt thường mà còn phải bằng một tâm hồn nhạy cảm nắm bắt lấy cái hồn của tạo vật. Bầu trời mùa thu cũng là hình ảnh rất hay được đưa vào trong thơ Nguyễn Khuyến. Ta đã bắt gặp hình ảnh “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” trong “Thu vịnh”, và “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” trong cặp mắt của nhân vật trữ tình trong “Thu ẩm” và ở đây là “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt”. Cũng giống như chiếc lá vàng, bầu trời thu cũng trở thành một nét đặc trưng cho mùa thu Việt Nam xứ Bắc. Bầu trời mùa thu dường như được đẩy lên, cao hơn, trong hơn nhưng cũng vì thế mà sáng và nhẹ nhàng hơn. Khí thu lạnh, bầu trời thu buồn không làm mất đi vẻ đẹp của cảnh vật cũng như không làm mất đi vẻ đẹp của bầu trời mùa thu. Nó không gay gắt như mùa hè, không u ám như mùa đông, mà với những áng mây trôi lơ lửng dường như bầu không khí mùa thu còn khiến bầu trời trở nên cao hơn, trong hơn và xanh hơn nữa. Đặt trong khung cảnh như vậy, con đường làng vốn đã vắng vẻ nay lại càng trở nên vắng vẻ, quạnh quẽ hơn. Không có chút bóng dáng của con người. Chỉ có hình ảnh ngư ông được hiện lên từ trong câu chữ khiến cho “Thu điếu” gần như trở thành một bài thơ dành trọn vẹn cho bức tranh mùa thu. Nhà thơ vào vai một ngư ông nhưng rồi một cách không cố ý lại biến mình thành người ngoạn cảnh, để rồi, thu vào tầm mắt tất cả hồn cốt của mùa thu Bắc Bộ. Người say sưa ngoạn cảnh bởi có tình yêu đối với thiên nhiên, đất nước sâu sắc, bởi mùa thu xứ Bắc đẹp, thanh bình và thu hút lòng người và cũng bởi người ngoạn cảnh trong lòng đang có nhiều tâm trạng, hoà mình với thiên nhiên, đó cũng là bởi, người đi câu cá nhưng lại là “đi câu” sự thanh thản trong tâm hồn. Bài thơ mang tựa đề “Thu điếu” (Câu cá mùa thu) nhưng mãi đến cuối bài thơ mới xuât hiện người đi câu:Xem thêm: Bình giảng bài thơ “Thương vợ" của Tú Xương“Tựa gối buông cần lâu chẳng được Cá dâu đớp động dưới chân bèo” Hình ảnh con người ở trong tư thế bất động, như chạm khắc vào thiên nhiên, hài hoà với thiên nhiên thành một khối thống nhất, tĩnh lặng. Người đi câu chăm chú với suy tư của mình đến mức dường như quên mất rằng mình đang đi câu. Chỉ đến khi tiếng “cá đâu đớp động dưới chân bèo” mới khiến cho ngư ông chợt tỉnh, kéo ông trở về với hiện thực. Chỉ là một tiếng cá đớp động dưới chân bèo nhưng lại đủ sức kéo con người trở lại với hiện thực chứng tỏ bức tranh thu đó phải tĩnh lặng lắm và con người lòng cũng đang rất nhiều tâm sự. Đó là tâm sự thầm kín của một người luôn nặng trĩu suy tư về quê hương, đất nước, về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương đất nước mình. Người đã nén cả một nhân cách lớn, một hồn thơ lớn một nỗi đau lớn vào tiếng cuốc nhớ nước thảm thiết làm chảy máu cả tâm can người đọc hôm nay. “Có phải tiếc xuân mà đứng gọi Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ”. “Câu cá mùa thu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, những nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Bài thơ dựng lên bức tranh thiên nhiên đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc bộ với rất nhiều nét thanh bình, những ấn tượng về một mùa thu đẹp và buồn. Nguyễn Khuyến đã rất tài tình trong việc vận dụng từ ngữ “lạnh, lẽo, trong veo, bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “vèo” trong làn gió thu, tiếng cá “đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã quen thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước. Những hình ngôn từ đầy sức gợi đó không chỉ chứng minh cho tài năng nghệ thuật của Nguyễn Khuyến mà còn góp phần làm nên một bức tranh mùa thu viết về làng cảnh Việt Nam rất riêng, thật buồn và cũng thật đẹp.Xem thêm: Tả cảnh biển lúc hoàng hôn Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc “Thu điếu”, “Thu ẩm”, “Thu vịnh”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đát nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Câu cá mùa thu” để chứng minh cho một nhận định của Xuân Diệu_ Nguyễn Khuyến là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”
1,784
Phân tích bài thơ “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn Gợi ý Nông Quốc Chấn là nhà thơ, nhà hoạt động văn hóa, người dân tộc Tày ở Bắc Cạn. Từ một ông giáo hiền lành, sớm được giác ngộ cách mạng, được rèn luyện trong khói lửa chiến tranh, ông trở thành một cán bộ trung kiên, một nhà hoạt động văn hóa, một nhà thơ xuất sắc của Đảng và dân tộc. Bài thơ "Dọn về làng ”được sáng tác trong chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, là tác phẩm tiêu biểu nhất của Nỏng Quốc Chấn. Nguyên tác bằng tiếng Tày, sau đó được tác giả dịch ra tiếng phổ thông theo thể thơ tự do. Nàm 1951, tại Đại hôi liên hoan học sinh sinh viên thế giới tại Béc-lin, bài thơ đã được tặng giải Nhì, đã được dịch sang tiếng Pháp, giới thiệu trên Tạp chí Châu Âu. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tương phản giữa quá khứ đau thương với niềm vui chiến thắng và giải phóng để ca ngợi sự hồi sinh, sự vươn dậy của quê hương và của đồng bào các dân tộc Cao-Bắc-Lạng. Mở đầu bài thơ "Dọn về làng” là tiếng gọi mẹ cất lên; gọi mẹ để báo tin vui, tin mừng chiến thắng: “Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng đầy như củi” Đoạn thơ làm sống lại cảnh tượng chiến trường Biên giới năm 1950. Gọng kìm đường số Bốn của giặc bị chặt đứt, bị phá tung. Quân ta đánh chiếm đồn Đông Khê, tiêu diệt hai binh đoàn Sác-tông và Lơ-pa, hàng ngàn giặc Tây “bị chết bị bắt sống”. Hai so sánh “Người đông như kiến, súng đầy như củi” đã nói lên thật hay sức mạnh và khí thế chiến đấu, chiến thắng của quân và dân ta thuở ấy. Từ niềm vui chiến thắng, đứa con đau đớn nhớ lại những năm dài gian khổ, đau thương dưới ách kìm kẹp, chiếm đóng của lũ giặc Pháp hung tàn.Xem thêm: Kể về dì của em và nghề nghiệp của dì Trên bước đường trở về làng cũ để “sửa nhà phát cỏ”, để “Cày ruộng vườn trồng lúa ngô khoai”, đứa con bồi hồi nhớ lại: “Mấy tháng năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy Chạy hết núi khe. Cay đắng đủ mùi”. Những lễ tết lâu đời phải “quên” đi! Những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc phải “quên” đi. Bàn thờ tổ tiên nguội lạnh hương khói. Trải bao cay đắng vì phải chạy giặc triền miên: “Chạy hết núi lại khe,cay đắng đủ mùi” Quên sao được những kỉ niệm thương đau một thời gian khổ với bao thiên tai, địch noạ. Mưa rừng mù mịt, gió bão, sấm sét, lán sụp, cửa nát, vắt bám đầy chân. Giặc lùng sục, đốt lán, cướp bóc, gây ra bao thảm cảnh: “Súng nổ kia! Giặc Tây lại đến lùng Từng cái lán nó đốt đi trơ trụi Nó vơ hết áo quần trong túi…” Đoạn thơ như một đoạn phim ghi lại cảnh chạy loạn giữa rừng sâu của đồng bào các dân tộc vùng biên giới phía Bắc đất nước ta trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Biện pháp liệt kê và tự sự mở ra một không gian nghệ thuật với bao chi tiết hiện thực rất sống và cảm động. Cảnh người mẹ chạy giặc, vừa địu con, vẫy em, vừa “Tay dắt bà, vai đeo đầy tay nải – Bà lòa mắt không biết lối bước đi”. Cảnh người cha bị giặc bắt, “Cha chửi Việt gian, cha đánh lại Tây” rồi bị giặc giết một cách dã man: “Súng nổ ngay đì dùng một loạt, Cha ngã xuống nằm lăn trên mặt đất” Cảnh chôn cất người chồng, người cha thân yêu đầy nước mắt: “Lán anh em rải rác không biết nơi tìm Không ván, không người đưa cha đi chôn cất Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng, Xem thêm: Kể lại những kỉ niệm ngày đầu tiên đi học Con cởi áo liệm thân cho bố, Mẹ con ẵm cha đi nằm chân rừng Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt…” Tất cả những cảnh đau đớn và thương tâm ấy được nhà thơ tái hiện lại một cách chân thực với nhiều máu và nước mắt. Sau tiếng khóc nghẹn ngào là tiếng thét căm thù uất hận vang lên: “Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn Băm xương thịt mày, tao mới hả” Qua đó, ta càng thấy rõ: máu không thể nào dìm được chân lí; súng đạn của quân giặc cướp nước không thể nào khuất phục được nhân dân ta. Phần thứ hai của bài thơ nói lên niềm vui giải phóng, quê hương được hổi sinh, sức sống của dân tộc trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ. Có bao âm thanh giữa không gian rộng lớn Cao – Bắc – Lạng. Có tiếng “cười vang”,tiếng “người nói”, tiếng cười con trẻ “ríu rít” cắp sách đến trường. Có tiếng ô tô “kêu vang”; có tiếng gà gáy, tiếng chó sủa. Có bao hình ảnh náo nức đáng yêu: “Hôm nay, Cao-Bắc-Lạng cười vang, Dọn lán, rời rừng, người xuống làng. Người nói cỏ lay trong ruộng rậm Cuốc đất dọn cỏ mẹ khuyên con” Cuộc sống hồi sinh, cuộc sống bình yên đã trở lại với bà con làng bản: “Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá". Phải nhiều máu đổ xương tan mới có ngọn khói lam chiều đáng yêu ấy. Nếu ở phần đầu bài thơ, tác giả nhắc lai sáu lẩn chữ “không" (không biết lối bước đi, cha không biết nói rối, không ai chống gậy khi bà cụ qua đời, không biết nơi tìm, không ván không người đưa cha đi chôn cất) để phản ánh bao nỗi đau đè nặng lòng người, thì ở đoạn hai, điệp ngữ “không” bốn lần xuất hiện để làm nổi bật một hiện thực kháng chiến, đó là sự hồi sinh và sự vươn mình đứng thẳng dậy của dân tộc ta, của đồng bào các dân tộc Cao – Bắc – LạngXem thêm: Khổ cuối trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận đã kết lại bài thơ bằng những hình ảnh huy hoàng, mạnh mẽ thể hiện sức mạnh và vẻ đẹp của con người. Em hãy viết đoạn văn phân tích khổ thơ này để làm rõ nhận định đó– Từ nay không ngập cỏ lối đi. – Hổ không dám đẻ con trong vườn chuối. – Quả trong vườn không lo tự chin, tự rụng. – Ruộng sẽ không thành nơi máu chảy thành vũng. Một lần nữa, Nông Quốc Chấn đã thành công ở phép liệt kê, nêu lên hàng loạt chi tiết rất thực, rất sống để thể hiện niềm vui chiến thắng và sự hồi sinh của quê hương sau ngày được giải phóng. Bốn câu thơ cuối bài là lời từ biệt mẹ già của đứa con lên đường đi chiến đấu. Mẹ ở lại hậu phương, con ra tiền tuyến với quyết tâm “đuổi hết” giặc Pháp, giặc Mỹ. Hình ảnh “Mặt trời lên sáng rõ” mang hàm nghĩa nói vể sự thắng lợi của kháng chiến, của cách mạng, sự đổi thay to lớn và niềm vui dâng lên trong lòng người. Lời mẹ dặn biết bao yêu thương thiết tha, đằm thắm. Cuộc lên đường đầy khí thế và dào dạt niềm tin: “Mặt trời lên sáng rõ rồi mẹ ạ! Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà Giặc Pháp, Mỹ còn giết người, cướp của trên đất ta Đuổi hết nó di, con sẽ về trông mẹ” Cái hay của “Dọn về làng ”là ở giọng thơ mộc mạc bình dị với bao chi tiết chọn lọc cảm động. Nỗi đau thương thời giặc giã, hình ảnh người bà, người cha, người mẹ trong khói lửa đau thương, niềm vui giải phóng và hình ảnh quê hương hồi sinh được nói lên một cách thật giản dị, cảm động đáng yêu. “Dọn về làng” là một trong những thành tựu đáng tự hào của thơ ca kháng chiến thời chống Pháp. Tự hào hơn nữa vì đó là lời ca, bông hoa rừng đẹp và thơm của đứa con thân yêu người dân tộc Tày. Hơn nửa thế kỉ sau, bài thơ vẫn để lại cho chúng ta nhiều xúc động. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn
1,400
Phân tích bài thơ “Hầu Trời” của Tản Đà thi sĩ Gợi ý Bài thơ "Hầu Trời" của Tản Đà có sự khác biệt về số câu ở hai văn bản. Bản do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, tuyển chọn – Nhà xuất bản Văn học, 1982 có 120 câu. Bản do Nguyễn Khắc Xương sưu tập, chú thích – Nhà xuất bản Văn học, 1986 chỉ có 114 câu. Chúng tôi theo bản thứ nhất. "Hầu Trời" là một bài thơ rất đặc sắc và độc đáo; độc đáo ở thi đề, độc đáo ở cảm hứng, độc đáo ở nội dung bài thơ. "Hầu Trời" được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, bên cạnh những khổ thơ bốn câu, tác giả đan xen vào những đoạn thơ sáu câu, mười câu, mười hai câu… mang dáng dấp những bài hành nhỏ. Cấu trúc đa dạng ấy đã mở ra một không gian nghệ thuật để Tản Đà bộc lộ cái ngông của mình, và cho nó "tung hoành" nơi Thiên môn đế khuyết. 1. Phần đầu bài thơ kể chuyện lúc canh ba, thi sĩ ngâm thơ nơi hạ giới, "tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà", đã "làm Trời mất ngủ…". Trời bực mình bèn sai hai cô tiên bay xuống triệu chàng thi sĩ lên Thiên môn. Bốn câu thơ mở đầu, Tản Đà dùng bốn chữ "thật" để khẳng định đó là một chuyện thật đã xảy ra "sướng lạ lùng". Trong bài "Tìm hiểu Tản Đà", thi sĩ Xuân Diệu viết: Bài "Hầu Trời", tôi phục nhất đoạn mở: "Đêm qua chẳng biết có hay không Chẳng phải hoảng hốt không mơ mộng! Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng!” Vào đột ngột câu đầu cũng ra vẻ đặt vấn đề cho nó khách quan, nghi ngờ theo khoa học, để ba câu sau toàn là khẳng định, ăn hiếp người ta". Phái viên của Trời là hai nàng tiên "miệng cười mủm mỉm",… Thi sĩ như được chắp cánh cùng bay lên Trời: "Theo hai cô tiên lên đường mây – Vù vù không cánh mà như bay". Nhìn thấy Thiên môn tráng lệ, chàng thi sĩ vô cùng ngạc nhiên tự hỏi: “Cửa son đỏ chói oai rực rỡ! Thiên môn đế khuyết như là đây?" 2. Vị khách làm thơ nơi hạ giới được Trời và chư tiên trọng thị. Sau khi thi lễ "sụp xuống lạy", Trời ân cần sai tiên nữ "dắt lôi dậy", rồi mời thi sĩ "ngồi chơi" trên "Ghế bành như tuyết, vân như mây". Tiên đồng pha nước uống. Chư tiên kéo đến mỗi lúc một thêm đông. Đến để xem mặt người trần? Đến để đón tiếp với lòng hiếu khách? Hay đến để dự cuộc bình thơ, bình văn?Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của hai câu thơ sau: "Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”. (“Lưu biệt khi xuất dương” - Phan Bội Châu) “Tiên đồng pha nước uống vừa xong, Bỗng thấy chư tiên đến thật đông, Chung quanh bày ghế ngồi la liệt, Tiên bà, tiên cô, cùng tiên ông." 3. Cuộc đọc văn và bình văn nơi Thiên môn đế khuyết được Tản Đà kể lại thật sinh động và hấp dẫn. Thính giả gồm có Trời và đông đảo chư tiên. Sau khi nghe lời truyền bảo của Trời, văn sĩ cung kính thưa: "Dạ, bẩm lạy Trời, con xin đọc", thì cuộc đọc văn, bình văn bắt đầu. Văn sĩ "Đọc hết văn vần sang vân xuôi – Hết văn thuyết lí lại văn chơi", càng đọc càng "đắc ý", càng "tốt hơi", nhất là khi được nhấp giọng bằng "chè Trời". Thính giả và văn sĩ trở thành bạn tri âm trong cuộc đọc văn, bình văn. Trời và chư tiên đều say mê thưởng thức nghệ thuật. Văn sĩ cao hứng đọc "ran cung mây". Chẳng có rượu và hoa… nhưng biết bao thú vị. Trời nghe văn nghe thơ "cũng lấy làm hay". Chư tiên mỗi người có một cách biểu cảm riêng. Có nàng tiên thì "nở dạ" hoặc "lè lưỡi". Có người đẹp nơi Thiên môn thì xúc động quá mà "chau đôi mày". Có nhiều nàng tiên bị thơ văn lôi cuốn "lắng tai đứng". Ai cũng nhiệt thành "cùng vỗ tay" tán thưởng. Hỏi đã có văn sĩ nào xưa nay được hưởng hạnh phúc, được đọc văn, đọc thơ trước một thính giả nơi Thiên môn đế khuyết như vậy? Văn sĩ tự hào "báo cáo" với Trời về những tác phẩm của mình đã được in: …Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tỉnh con là văn chơi Thần tiềny Giấc mộng văn tiểu thuyết Đài gương, Lên sáu văn vị đời Quyển Đàn bà Tàu lối văn dich Đến quyển Lên tám nay là mười… Trời "bật buồn cười" khen ngợi: "Văn đã giàu thay lại lắm lối" vì phong phú về thể cách, đa dạng về thể loại. Hạnh phúc biết bao khi văn sĩ được các tiên nữ gọi bằng "anh": l Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: – "Anh gánh lên đây bún chợ Trời!". Cách kể chuyện mộc mạc tự nhiên, cách sử dụng ngồn từ, giọng diệu hóm hỉnh, tác giả đã làm nổi bật phong cách "bình dân" của ông Trời và các chư tiên, cùng với cái điệu bộ khúm núm và "thật thà" của văn sĩ. Qua cảnh đọc văn hầu Trời, Tản Đà đã phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ thật đáng buồn, nhất là tầng lớp văn sĩ như ông:Xem thêm: Bình giảng khố cuối bài thơ Tràng Giang của Huy Cận: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa, Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu. Quanh năm luống những lo văn ế, Thân thể xem thua chú hát chèo! (Lo văn ế) Đồng thời ông chỉ rõ, trong xã hội thực dân nửa phong kiến ấy đã có mấy tri âm hiểu và biết trân trọng những tác phẩm văn chương của ông, vì thế ông phải lên hầu Trời, đọc văn cho Trời và chư tiên thưởng thức. Nguyễn Khắc Hiếu đã tự hào bộc lộ cái bản ngã, cái tài năng đích thực của mình trước con mắt đồng loại! Trời với con mắt xanh, với sự thẩm văn tinh tế đã dành cho văn sĩ lần đầu mới gặp những lời ngợi khen vô giá: Trời lại phê cho: ‘Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít! Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển Êm như gió thoảng, tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!…" Sao băng, mây, gió, sương, mưa, tuyết… được Trời đem ra so sánh để ngợi ca nhời văn, khí văn của chàng văn sĩ. Cách kể, cách tả của tác giả thật tài hoa và có duyên. Cái "tôi" bản ngã được khẳng định. 4. Sau cuộc đọc văn, bình văn là cuộc hầu chuyện với Trời của văn sĩ: Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu, họ là Nguyễn… Trời "ngợ", rồi sai Thiên Tào lấy sổ xét: "Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu – Đày xuống hạ giới vì tội ngông". Nhưng rồi Trời bao dung và ân cần an ủi, khích lệ. Trời không "đày" mà giao phó cho văn sĩ một trọng trách là đem việc "thiên lương" thuật lại cho "đời hay", cho mọi người cùng biết. Văn sĩ phải gánh trọng trách đem "thiên lương" giáo hoá người đời, để trần gian tươi đẹp hơn, yên vui hơn. Bài thơ "Hầu Trời" không chỉ mang cảm hứng lãng mạn, mà còn hàm chứa yếu tố hiện thực, đó là đoạn thơ 16 câu văn sĩ thưa với Trời về thân phận mình bấy lâu nay nơi hạ giới: rất nghèo khó, không có một thước đất cắm dùi, vốn liếng chỉ "còn một bụng văn"; kế sinh nhai ngày một thêm chật vật:Xem thêm: Phân tích để làm nổi bật cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng “…Giấy người, mực người, thuê người in Mướn cửa hàng người bán phường phố Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực là khó Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu… “ Khi nghe văn sĩ lo lắng thưa: Trời lại sai con việc nặng quá – Biết có làm nổi mà dám theo?", thì Trời đã động viên và hứa: “Rằng: "Con không nói, Trời đã biết, Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết. Cho con cứ về mà làm ăn, Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết, Cố xong công việc của Trời sai, T’rời sẽ cho con về đế khuyết…". 5. Đoạn cuối bài thơ kể chuyện Trời sai Khiên Ngưu đóng xe đưa Trích tiên trở lại trần gian. Cuộc tiễn đưa của chư tiên vừa lưu luyến, vừa trang trọng: "Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi". Khi trăng tà non Đoài, tiếng gà gáy xao xác, nhà thơ đã về tới sân nhà. cảm thấy cô đơn và ngậm ngùi. Vừa tiếc rẻ, vừa mong ước: “Giữa sân con đứng riêng ngậm ngùi. Một năm ba trăm sáu mươi đêm, Sao được đêm đêm lân hầu Trời!" Bài "Hầu Trời" như một truyện cổ tích được viết bằng thơ. Nhân vật Trời và các chư tiên rất giản dị, bình dân, thân mật và dễ mến. Bài thơ cho ta thấy Tản Đà có một trí tưởng tượng phong phú, một vốn từ ngữ giàu có, nhất là khi ông nói về Trời, về các chư tiên và cách sống của họ. Đoạn thơ nói về cuộc đọc văn và bình văn, về ngôn ngữ đối thoại giữa văn sĩ với Trời và các chư tiên được kể lại rất sinh động và lí thú. Có lúc chúng ta cảm thấy cuộc bình văn hình như đang diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật nơi cõi đời mà mình từng được tham dự. "Hầu Trời" là một bài thơ độc đáo và đặc sắc, tuy khá dài nhưng bố cục chặt chẽ, giọng thơ liền mạch, nhất khí, cảnh và tình rất tự nhiên, diễn biến theo câu chuyện, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Bài thơ trường thiên "Hầu Trời" giúp ta cảm nhận thêm chất tài tử, tài hoa và cái ngông của Tản Đà thi sĩ. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Hầu Trời” của Tản Đà thi sĩ
1,729
Phân tích bài thơ “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến Gợi ý Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) để lại khoảng 800 bài thơ chữ Nôm và chữ Hán trong đó có ngót một trăm bài thơ viết về tình bạn. Có bài như "Bạn đến chơi nhà ‘ thì hầu như ai cũng biết. Viết về Dương Khuê (1839 – 1902) bạn chí thân của. mình, Nguyễn Khuyến đã có bốn bài thơ chữ Hán. Riêng bài thơ thứ tư "Văn đồng niên Vân Đình Tiến sĩ Dương thượng thư’ (Viếng bạn đồng khoa là Vân Đình Tiến sĩ Dương thượng thư) được tác giả dịch ra chữ Nôm thành bài "Khóc Dương Khuê". Đây là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của Nguyễn Khuyến cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng khoa với Nguyễn Khuvến tại khoa thi Hương năm 1864. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to, để lại nhiều bài thơ hát nói tuyệt bút. Từ bạn đồng khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ, gồm có 38 câu thơ. Mở đầu bài thơ là một tiếng than, tiếng nấc đau đớn: "Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta". Một sự thảng thốt xót thương cất lên, tưởng như bất ngờ bị đánh rơi mất một cái gì vô cùng quý báu. Nhóm từ "thôi đã thôi rồi" thay cho khái niệm "đã mất", "đã chết", "đã qua đời" V.V.. một lối nói bình dị, làm giảm bớt đi nổi đau đớn ghê gớm đối với tuổi già. Theo cách tính tuổi của các cụ ngày trước thì Dương Khuê mất lúc 63 tuổi, khi đó Nguyễn Khuyến đã 68 tuổi rồi. Đúng là tiếng khóc bạn của những bậc cao niên. Hai chữ "nước mây" chỉ hai sự vật cách xa. Nước chảy, mây trôi, xa nhau vời vợi, nghìn trùng cách trở, có mấy khi gặp nhau. Song, lòng nước chảy, dù đi đâu về đâu vẫn ôm ấp bóng mây trôi. Hình ảnh "nước mây" được liên kết với các từ láy "man mác", "ngậm ngùi" diễn tả một trời thương xót, một không gian cách trở bao la, âm dương đôi đường, buồn đau, nặng trĩu. Chữ "bác" trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính biểu cảm sâu sắc. Nhà thơ luôn luôn gọi bạn bằng bác, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật. Chữ "kính" và chữ "lễ" in đậm trong phong cách ứng xử của tam nguyên Yên Đổ: "Bác Dương thôi đã thôi rồi… Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác… Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở",.„ Phần thứ hai gồm 24 câu thơ, tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào nhất. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn ấy là "duyên trời" tác hợp nên: "Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước, Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau Kính yêu từ trước đến sau Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời". Các từ ngữ "sớm hôm", "cùng nhau", "từ trước đến sau" thể hiện một tình bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải là nhưng tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và đáng nhớ như vậy. Xem thêm: Phân tích tâm trạng và tình cảm của Hoàng cầm thể hiện trong bài thơ “Bên kia sông Đuống" Nhớ những cuộc du ngoạn, thăm thú nơi "dặm khách” chan hoà với thiên nhiên, thảnh thơi giữa chốn lâm tuyền: "Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo". Nhớ những lần cùng nhau đi hát ả đào nơi lầu cao, thưởng thức cung đàn, giọng hát: "Có khi từng gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang". Cầm xoang nghĩa là cung đàn, giọng hát. ‘Từng gác cheo leo” như còn gợi lại cảm giác ngây ngất trên lầu cao của đôi bạn tri âm sành điệu. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê rất sành nghệ thuật hát ả đào, đã sáng tác nhiều bài hát nói nổi tiếng. Người xưa có nói: "Tửu phùng tri kỉ thiên bối thiểu – Thi hội tri âm bán cú đa”. Bạn tri âm trong hội thơ (chỉ nghe qua) nửa câu thơ đã là nhiều không cần dài lời cũng đủ hiểu bạn. Nguyễn Khuyến nhớ lại những lần cùng bạn uống rượu làm thơ: "Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp, Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân. Có khi bàn soạn cáu văn, Biết bao đông bích điển phần trước sau". Chén quỳnh tương là chén ngọc, một cách nói sang trọng. "Rượu ngon cùng nhắp" và hình ảnh "ăm ắp bầu xuân” như còn giữ lại một tình bạn trong hương vị nồng nàn, hứng khởi. Nhắc tới chuyện bàn soạn văn chương thì đầy ắp những sách vở, điển cố. Hai chữ "đông bích, điển phần” biểu lộ niềm tự hào kín đáo của những nhà nho học rộng tài cao. Nguyễn Khuyến đã sử dụng cách diễn đạt trùng điệp hai nhóm từ ngữ: "Cũng có lúc” và ”có khi” đan chéo vào nhau, bốn lần xuất hiện trên tám dòng thơ, vừa để liệt kê gợi nhớ, vừa tạo nên âm hưởng quấn quýt, thiết tha. Những kỉ niệm ấy vô cùng sâu sắc, đẹp đẽ về tình bạn, không bao giờ có thể quên được. Có kỉ niệm vui, có kỉ niệm buồn. Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng làm quan to dưới thời nhà Nguyễn. Nhưnsg rồi đất nước ta bị xâm lăng, dân tộc ta bị giặc Pháp thống trị, là kè sĩ, là nhà nho "cùng nhau hoạn nạn". Cách ứng xử của mỗi người đều có chỗ khác nhau. Nguyễn Khuyến đã cáo bệnh, từ quan về sống cuộc đời bình dị giữa xóm làng quê hương. Không tham miếng "đấu thăng”, lương bổng của triều đình. Còn Dương Khuê vẫn làm quan. Trong bài thơ chữ Hán "Gửi thăm quan thượng thư họ Dương", Nguyễn Khuyến tỏ ra rất thông cảm với bạn: "Tôi biết bác vì cha mẹ phải làm quan để lấy tấm lụa – Bác biết tôi nghèo phải làm quan để kiếm đấu gạo lương”. Cảnh ngộ và cách ứng xử tuy có khác nhau, kẻ làm quan, người từ quan, nhưng Tam nguyên Yên Đổ vẫn tỏ ra bao dung bạn, vẫn "kính yêu từ trước đến sau", không bao giờ thay lòng đổi dạ:Xem thêm: Tả cảnh công viên vào buổi sáng"Bác già tôi cũng già rồi, Biết thôi, thôi thế, thì thôi, mới là". Chữ "rồi" vẫn với ba chữ "thôi” liên tiếp như một tiếng thở dài, tự an ủi mình, như muốn quên đi thật nhanh những điều bất đắc chí. Không nỡ, không muốn nhắc đến nữa mới là bạn bè tâm giao! Bây giờ hai người đã đôi đường âm – dương vĩnh biệt. Khóc bạn, Nguyễn Khuyến nhớ lại lần gặp bạn cuối cùng. Ân hận vì đường xa, vì tuổi già sức yếu. Chữ "nhác" rất hay, nghĩa trong văn cảnh là ngại. Các chữ: "cầm tay" và "mừng rằng” thể hiện một tấm lòng quý mến, thương yêu. Đoạn thơ làm tái hiện một khung cảnh cảm động của đôi bạn già sau nhiều năm xa cách mới gặp lại nhau: "Muôn đi lại, tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần, Cầm tay hỏi hết xa gần, Mừng rằng bác vẫn tình thần chưa can". "Tinh thần chưa can" ý nói sức khoẻ vẫn bình thường tinh thần vẫn sáng suốt. Thế mà bạn đột ngột qua đời. Hình ảnh "chân tay rụng rời" cực tả nỗi đau đớn, bàng hoàng không tả xiết. Đoạn thơ sau đây thể hiện rất đúng, rất sâu sắc tâm lí và tình cảm người già khi được tin bạn mất: "Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác, Tôi lại đau trước bác mấy ngày. Làm sao bác vội về ngay? Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời!". Giọng thơ kể lể, tự tình. Trong lời than thấm đầy lệ. Các tiếng "tôi" và "bác" xuất hiện nhiều lần trong đoạn thơ như hai linh hồn đang nương tựa vào nhau; nỗi đau buồn như được nhân lên gấp bội. Đoạn thơ hồi tưởng này, những kỉ niệm được trình bày theo trình tự thời gian, từ "thuở đăng khoa" đến ngày bạn qua đời. Phép liệt kê, trùng điệp được vận dụng để gây ấn tượng về một tình bạn lâu bền. sâu sắc, thuỷ chung và vô cùng thắm thiết. Người Việt chúng ta, nhất là các cụ già lúc khóc người thân quá cố thường kể lể gợi nhắc mọi kì niệm ngụ ý thương tiếc. Có lúc ta cảm thấy người sống đang đối thoại và tâm sự với người đã khuất. Sáu đoạn thơ đã kể lại đủ hết các giai đoạn tình bạn, lời kể nào cũng chân thành, đằm thắm. Nguyễn Khuyến vừa kể lể, vừa nức nở. Tám câu thơ tiếp theo, Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là tự khóc mình, giọng thơ ngày một thêm não nùng, thê thiết, ông trách bạn "vội đi xa" để mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa: "Ai chẳng biết chán đời là phải? Vội vàng chi đã mải lên tiên? Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua". Sau chữ "chẳng" xuất hiện liên tiếp năm chữ "không" gợi tả cái trống văng, cái cô đơn của người đời, của cảnh già. Kẻ đi xa và người ở lại cùng chung nỗi niềm tâm sự "chán đời là phải". Nhà thơ kín đáo bộc lộ thái độ đối với thời cuộc trước sau không thay dổi. Như đã từng thổ lộ: "Sách vớ ích gì cho buổi ấy Áo xiêm nghĩ lại: thẹn thân già". (Ngày xuân dặn các con) Cho đến trước lúc qua đời, ông vẫn không quên trăng trối con cháu:Xem thêm: Phân tích quan điểm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu trong bài thơ "Vội vàng ""Đề vào mây chữ trong bia Rằng: Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu". (Di chúc) Bạn mất đột ngột, nỗi thương tiếc, đau xót làm tê tái cả lòng. Sống trong cô đơn ngày thêm bơ vơ sầu tủi. Cuộc đời mất hết ý nghĩa: không muốn uống rượu, không thiết ngâm thơ, gian nhà và tâm hồn trở nên trống vắng, trơ trọi. Còn đâu nữa bạn tri âm tri kỉ? "Câu thơ nghĩ đắn do không viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa! Giường kìa treo những hững hờ Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn". Lời than khóc trở nên xót xa khi nhà thơ nhắc lại điển tích Tử Kỳ-Bá Nha và Trần Phồn – Từ Trĩ. Chiếc giường dành riêng tiếp bạn nay đã trờ nên "hững hờ". Tiếng đàn cũng "ngẩn ngơ" mất hồn vì lẻ bạn. Một cách nói thậm xưng để cực tả nỗi đau tê tái khi bạn thân qua đời. Khi còn sống thì đỏi bạn cùng di chơi "dặm khách", cùng "Ịựa chiêu cầm xoang", "rượu ngon cùng nhắp", cùng "bàn soạn câu văn"… Lúc bạn qua đời chẳng còn người tri âm tri kỉ để cùng nhau uống rượu, làm thơ, nghe đàn, năng lui tới thăm nom, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau. Nguyễn Khuyến đã có nhiều cách nói rất sâu sắc, cảm động diễn tả sự thương xót bạn và nỗi buồn cô đơn của mình. Bốn câu cuối bài thơ như một tiếng nấc đau đớn. Tuổi già vốn ít lệ (hạt lệ như sương), nên chỉ biết khóc ở trong lòng. Thương bạn gắn liền nỗi nhớ. Khóc bạn chuyển thành nỗi niềm như cam chịu số phận bi thương. Chỉ cầu mong cho linh hồn bạn thanh thản "lên tiên": "Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở Tôi tuy thương nhớ lấy làm thương. Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan". Trải qua bao mưa nắng cuộc đời, bao thăng trầm hoạn nạn, tam nguyên Yên Đổ còn đâu nhiều nước mắt để khóc bạn, chỉ còn biết "lấy nhớ làm thương". Tuy nhiên cả bài thơ, nhất là bốn câu kết đã "chứa chan" nứơc mắt đau xót. Hai câu thơ: "Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở – Tôi tuy thương nhớ lây làm thương" với cách diễn đạt trùng điệp và tăng cấp đã tạo nên giọng thơ buồn đau nghẹn ngào. Nguyễn Khuyến để lại nhiều tiếng khóc: khóc vợ, khóc con, khóc bạn… Tiếng khóc nào cũng xúc động, tê tái, nặng tình, nặng nghĩa. Riêng bài "Khóc Dương Khuê" lại được viết bằng thơ song thất lục bát, lời khóc bạn càng trở nên thiết tha, não nùng, lúc thì nức nở, thảng thốt, lúc thì kể lể thở than, lúc thì phân trần, lúc thì trách móc, lời thơ thủ thỉ như nói với người còn sống, rất cảm động. Giọng thơ liền mạch, lời thơ tinh tế, biểu cảm đã thể hiện nghệ thuật vừa bình dị, vừa điêu luyện. "Khóc Dương Khuê" thể hiện một tình bạn đẹp và cảm động của nhà nho thuở trước. Sau một thế kỉ, chúng ta vẫn thấy bùi ngùi xúc động khi đọc bài thơ này. Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là khóc cho một thế hệ nhà nho và cùng tự khóc mình: "Ai chẳng biết chán đời là phải"… Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Khóc Dương Khuê” của Nguyễn Khuyến
2,323
Phân tích bài thơ “Lửa đèn” của Phạm Tiến Duật Gợi ý Phạm Tiến Duật xuất hiện trên thi đàn Việt Nam thời chống Mỹ, được bạn đọc đón chào hết sức nồng nhiệt. Những bài thơ của anh như: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Gửi em cô thanh niên xung phong… in đậm chất văn xuôi, rất hào hùng, trẻ trung, đáng yêu và đáng nhớ. “Lửa đèn” được anh viết vào năm 1967, in trong tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” (1970). “Lửa đèn” là ẩn dụ, biểu tượng nói lên sức sống mãnh liệt, tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường của quân và dân ta trong bom đạn dữ dội, ác liêt của giặc Mỹ xâm lược. Bài thơ có ba phần, mỗi phần là một ẩn dụ, mang nhiều ý nghĩa của bài ca sự sống, bài ca chiến đấu và bài ca hi vọng: Đèn – Tắt lửa – Thắp lên. 1. Đèn Mở đầu mỗi bài ca là điệp khúc cất lên ngọt ngào như tiếng hát giao duyên của lứa đôi trong mùa lễ hội: "Anh cùng em sang bên kia cầu Nơi có những miền quê yên ả”. “Những miền quê yên ả” ấy là quê hương đất nước ta, nơi có những vườn cây sum sê hoa trái. Nơi có nhiều quả chín “đỏ hoe” như “những ngọn đèn thắp trong kẽ lá”. Là trái nhót, là quả cà chua, là quả ớt… Nhà thơ đã vận dụng lối ví von so sánh dân gian để viết nên những vần thơ “ngon lành” về hoa trái trong vườn quê: “Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu Trỏ lối sang mùa hè, Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu Thắp mùa đông ấm những đêm thâu, Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng…” Chỉ có bờ xôi ruộng mật mới cho ta những hoa trái – ngọn đèn, ngọn lửa – ấy. Những “ngọn đèn, ngọn lửa” hoa trái ấy cho thấy sức sống dồi dào, mãnh liệt của quê hương đất nước ta: “Mảnh đất ta dồi dào sức sống Nên nhành cây cũng thắp sáng quê hương Một ý tưởng rất đẹp được biểu hiện bằng một hình ảnh rất đẹp. Chữ “thắp sáng” dùng rất sáng tạo thể hiện sâu sắc lòng yêu nước tự hào.Xem thêm: Trẻ em lang thang cơ nhỡ với cộng đồng xã hội. (Yêu cầu viết bài văn) Lũ xâm lược đã tràn tới đất nước ta. Chúng như “lũ ma trơi” bay trên trời cao, gieo chết chóc: “Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa”. Phạm Tiến Duật đã gợi lại những tháng ngày dữ dội và khốc liệt khi giặc Mỹ đưa hàng trăm hàng ngàn Thần Sấm, B.52, Con Ma… đánh phá điên cuồng, dội hàng vạn tấn bom lên miền Bắc nước ta. Cầu cống, đường sá bị tàn phá nặng nề. Nhiều nhà máy, xóm làng, thành phố ngập trong máu lửa. Nhưng“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, cả dân tộc ta nhất tề đứng dậy. Hàng triệu trai tráng đã lên đường ra trận. Hậu phương lớn ra sức chi viện cho tiền tuyến lớn, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược với sức mạnh truyền thống yêu nước bốn nghìn năm: “Trên đất nước đêm đêm Sáng những ngọn đèn Mang lửa tự nghìn năm về trước”. Giặc ác độc và tham tàn, muốn đưa đất nước ta, dân tộc ta trở lại thời kì đồ đá, phải quỵ gối sống nhục nhã trong đêm trường nô lệ. Nhưng trên nước ta đêm đêm vẫn “sáng những ngọn đèn” – ngọn đèn với ánh lửa bất diệt của tinh thần bất khuất, của truyền thống yêu nước chống xâm lăng. Ánh lửa của những ngọn đèn đó đã soi sáng dáng đứng Việt Nam: “Chúng muốn đốt ta thành tro bụi Ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm Chúng muốn ta bán mình ô nhục Ta làm sen thơm ngát giữa đầm". “Việt Nam máu và hoa"- Tố Hữu Phạm Tiến Duật đã xúc động nói về những “ngọn lửa " của quê hương đất nước ta. Hình ảnh ẩn dụ – hoán dụ “lửa tim” đã the hiện thật sâu sắc sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam, được hun đúc bằng lửa và máu của bốn nghìn lớp người: “Ôi ngọn lửa đèn Có nửa cuộc đời ta trong ấy! Giặc muốn cướp đi Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy“. Có thể nói, hình tượng “những ngọn đèn trong thắp trong kẽ lá ", những ngọn đèn “mang lửa tự nghìn năm về trước ", và “lửa tim" là những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà thơ – chiến sĩ Phạm Tiến Duật.Xem thêm: Kể lại kỷ niệm quê hương và nêu cảm nghĩ của em2. Tắt lửa “Anh cùng em sang bên kia cầu – Nơi có những miền quê yên ả” để đến những “nơi tắt lửa…”. Không phải “lũ ma trơi" và bom từ trường, bom tọa độ của giặc Mỹ đã gây ra cảnh tắt lửa, tối đèn. Ta phải lấy đêm làm ngày, ta chủ động tắt lửa để đánh địch, để “Bóng tối phủ dày – Che mắt địch”. Chàng lính trẻ hào hoa phong tình nói về chuyện “làm duyên ” của trúc, của cô gái, của bông hoa trong bóng tối màn đêm. Tác giả đã vận dụng nghê thuật dân gian trong biện pháp nhân hóa và điệp ngữ khá hay và hóm hỉnh: “Không nhìn thấy gì đâu Bóng tối che rồi Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói Bông hoa duyên phải lụy hương bay…” Thời chống Mỹ, quân và dân ta chủ động “tắt lửa” để đánh giặc, để “che mắt địch", để kéo pháo lên trận địa dội bão lửa xuống đầu quân xâm lược: “Nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích Kéo pháo lên trận địa đồng cao ”. “Tắt lửa" để hành quân ra tiền tuyến: "Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ô tô Những đoàn xe xích đi như không bao giờ hết Chiếc sau nối chiếc trước ì ầm” “Tắt lửa” để đoàn thanh niên xung phong ngân dài “tiếng hát” để "phá đá sửa đường”, để “những đoàn quân xung kích đi qua”, ào ào ra trận. Theo ý chúng tôi, hình ảnh hoán dụ "bào thai” trong câu thơ "Bóng tối dâng đầy tỏa ngợp bao la – Thành những màn đen che bào thai chiến dịch” chưa hợp lí. Những so sánh: "Chiếc sau nối chiếc trước ì ầm – Như đàn con trẻ chơi u chơi âm”, "Nơi tắt lửa là nơi dài tiếng hát ”, đặc biệt hoán dụ “Tóc lá sả đâu đó vẫn bay hương” bên những hố bom đầy mùi khét là những hình ảnh, những câu thơ tuyệt đẹp thể hiện tâm hồn và cốt cách Việt Nam: lạc quan và yêu đời. 3. Thắp đèn Trong chiến đấu, có lúc có nơi, ta "tắt lửa" nhưng cũng có khi ta "thắp đèn”. Dù "giặc điên cuồng bắn phá” suốt đêm ngày, trẻ em vẫn thắp đèn đi học, để “xưởng máy thay cavời vợi”, để các trai làng "đọc những lá thư thăm”. Điệp ngữ “chui vào” thật hóm hỉnh khi nhân hóa chiếc đèn:Xem thêm: Đọc sách là một công việc cần thiết, mang lại nhiều ích lợi. Em hãy viết đoạn văn phân tích cách đọc sách đúng đắn, hiệu quả-Chiếc đèn chui vào ống nước – Chiếc đèn chui vào lòng trái núi – Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn Có lúc, ta mưu trí "thắp đèn” để đánh lừa giặc: "Ta thắp đèn lên trên đỉnh núi Gọi quân thù đem bom đến dội Cho đá lở đá lăn Lấy đá kê cầu, lấy đá sửa đường tàu” Có lúc, ta mưu trí "bật đèn”rồi "tắt đèn” quay xe để “đánh lạc hướng giặc!”. Đúng là kì mưu, là thiên biến vạn hóa. Là người lính đã chiến đấu trên con đường chiến lược Trường Sơn thời đánh Mỹ, nên Phạm Tiến Duật mới có thể nói thật hay, thật sâu sắc mọi chuyện "tắt đèn ”và "thắp đèn” giữa thời máu lửa của quân và dân ta như thế. Mười câu trong đoạn cuối bài thơ, tác giả nói về “ngày mai”, một tương lai “hoàn toàn chiến thắng”. Cả đất nước và dân tộc sẽ được sống yên vui trong hòa bình, ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Ta sẽ được sống trong niềm vui hạnh phúc: "Anh dắt tay em, trời chi chít sao giăng Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm Ta thắp đèn lồng, thắp cả đèn sao năm cánh Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh Nơi ấy là phòng cưới chúng mình Ta sẽ làm cây đèn kéo quân thật đẹp”… Các điệp ngữ: “ngày mai ”, “ta thắp đèn lồng”, “ta dẫn nhau… ” rộn ràng vang lên, nhịp thơ, giọng thơ trở nên ấm áp, vui tươi, ngọt ngào. “Thắp đèn”là khúc tráng ca rất lạc quan, yêu đời. “Lửa đèn” là một bài thơ hay. Cảm hứng anh hùng và cảm hứng trữ tình lãng mạn được kết hợp một cách hài hòa, đầy chất thơ. Tác giả đã vận dụng nghệ thuật dân gian rất sáng tạo thể hiện một bút pháp tài hoa. “Lửa đèn ” bài thơ sáng ngời trí tuệ, nhân nghĩa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Lửa đèn” của Phạm Tiến Duật
1,565
Phân tích bài thơ “Mình về mình có nhớ ta…. nói… Hướng dẫn “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. DÀN Ý Mở bài: Sau chiến thắng Điện biên phủ tháng 10 -1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu VB về Hà Nội, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc trong hoàn cảnh ấy bằng nỗi niềm lưu luyến nhớ thương. Đoạn thơ này nằm trong đầu bài thơ như một tiếng hát ân tình son sắt xuyên suốt cả bài thơ. Thân bài: Tâm trạng lưu luyến, bịn rịn của người miền ngược, kẻ miền xuôi, người đi, kẻ ở + Trong đoạn thơ 8 dòng đã xuất hiện 4 từ nhớ, dường như nỗi nhớ đã bao trùm toàn bộ đoạn thơ và cả bài thơ. Nỗi nhớ chi phối tâm trạng, cảm xúc của tác giả và tạo nguồn cảm hứng để hình ảnh VB cùng những kỉ niệm hiện dần lên. + Tố Hữu thật khéo léo khi vận dụng thể thơ lục bát uyển chuyển để diễn đạt nỗi nhớ thương. Thể lục bát rất thích hợp để tâm tình, để bày tỏ, với lối gieo vần linh hoạt, ngắt nhịp đều đặn, câu thơ mềm mại lúc khoan lúc nhặt như nỗi tỉ tê của những người mang tâm sự trước lúc chia ly.Xem thêm: Hãy kể lại một kỉ niệm ngày xuân mà em nhớ mãi + Tác giả sử dụng nhiều từ láy diễn tả tâm trạng như “tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn, da diết” để nói lên chiều sâu tình cảm của quân và dân. + Đoạn thơ là lời đối đáp của hai nhân vật trữ tình “mình”, “ta” nhưng thật sự là tác giả phân thân để tường tận tấm lòng, nỗi lưu luyến và ân tình sâu nặng đối với người Việt Bắc. Cách xưng hô mình ta cũng lấy từ ca dao nhưng lại chuyển tải tâm hồn nội dung của thời đại. Tình cảm son sắt, thủy chung của nhà thơ với VB + Thời gian gắn bó của tác giả và Việt Bắc đủ lâu để nuôi dưỡng mối tình quân dân đậm sâu. Việt Bắc đối với TH không chỉ là nơi gắn bó một khoảng thời gian mà giống như nguồn cội, vì thế nhà thơ viết “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. + Với tác giả những gì thuộc về VB cũng đáng để khắc ghi, từ chiếc áo chàm lam lũ đến tiếng hát tha thiết du dương. Từ rừng cây đến núi đá đâu đâu cũng chất chứa những kỉ niệm. + Chất giọng ân tình xuyên suốt bài thơ tạo nên giọng điệu đặc sắc của thơ TH, cho thấy tình cảm gắn bó của tác giả đối với cách mạng, nhân dân. Kết bài: Đoạn thơ là tình cảm gắn bó, thủy chung của nhà thơ đối với cảnh và người VB, cũng là mối quan hệ cá nước của nhân dân và cách mạng. Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ đậm chất văn học truyền thống mang tâm hồn hiện đại. Xem thêm: Văn biểu cảm - Cảm nghĩ về một cuộc chia tay
Phân tích bài thơ “Mình về mình có nhớ ta…. nói…
562
Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” của Hồ Chí Minh để chho thấy được ý chí của người cách mạng. Hồ Chí Minh cái tên sáng ngời, Người được biết đến là một con người vĩ đại của nhân dân ta, và để tìm ra con đường đấu tranh chống lại bọn xâm lược kia thì Hồ Chí Minh đã phải bôn ba nhiều nơi làm nhiều nghề ở các nước phương Tây. Không những thế mà Người còn phải trải qua những năm tháng bị giam cầm khó nhọc ở nơi đất khách quê người trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch. Trong những năm tháng ấy Người cũng đã viết lên tác phẩm thơ đặc sắc “Nhật Kí Trong Tù”. Và đặc biệt bài thơ chính là sự đánh dấu sự ra tù của Hồ Chí Minh là bài “Mới ra tù tập leo núi’. Có thể thấy Bác ở trong tù ra sức khỏe bị giảm sút, chân chậm hơn, yếu hơn, mắt không thể nhìn xa được. và khi ấy bác đã quyết tâm tập đi cho khỏe dù có đau đớn như thế nào thì nhất định cũng phải đi được. Như thế qua đây ta thấy được tinh thần của người lúc nào cũng vượt lên trên mọi hoàn cảnh khó khăn nhất. Chính vì thế bài thơ ra đời nhằm thể hiện ý chí sắt đá kiên cường đó. Trước hết, đó chính là hai câu thơ đầu dường như đã thể hiện cảnh tượng hùng vĩ của thiên nhiên mây núi. Bên dưới là những hình ảnh của dòng sông sáng soi như gương:Xem thêm: Nghị luận xã hội về tác dụng của việc đọc sách “Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân, Giang tâm như kính, tịnh vô trần. ” (Núi ấp ôm mây, mây ấp núi, Lòng sông gương sáng, bụi không mờ. ) Có thể thấy rằng các cảnh tượng thiên nhiên hiện lên vô cùng đẹp, cái đẹp ấy là sự hùng vĩ của núi non. Hình ảnh đẹp mây núi là một hình ảnh mà chúng ta thường thấy rất rõ qua những bài hát. Mây ấp núi hay núi ấp ôm mây dường như cũng đã gợi cho ta thấy một cảnh tượng vô cùng hùng vĩ và đẹp. Những núi cao kia cao như ôm ấp mây, những làn mây như trôi chầm chậm và xà xuống chạm lên đỉnh núi mà ôm núi. Tác giả thật khéo tinh tế khi dùng từ “ôm ấp” ở đây để thể hiện một sự gắn kết hài hòa của cảnh vật. Đồng thời có thể nói chính sự hài hòa ấy khiến cho nhà thơ thấy được cuộc sống đẹp đẽ vô cùng. Và những tình cảm của mây và núi hay chính là tình cảm đồng chí anh em một lòng của Người và những người cán bộ ở nhà. Như thế mà nói cảnh thật mà như lại chứa đựng những cái tình. Và có lẽ vậy mà hình ảnh ấy khiến cho nhà thơ mong muốn chạm chân lên đó luyện tập leo núi để luyện cho đôi chân không biết mỏi mệt của mình. Thật dễ quan sát khi từ trên cao nhìn xuống nhà thơ cảm thấy hình ảnh của dòng sông kia mang một màu trắng như gương sáng. Và dòng sông sáng đến nỗi mà tưởng như không có một chút bụi mờ nào. Lòng sông kia như soi tỏ được tấm chân dung con người của Bác. Thiên nhiên cũng có những khoảnh khắc đẹp đến nao lòng, trạng thái thanh khiết đó như chính tấm lòng của Người trong cảnh ngộ đó vạy. Và lòng sông ấy hay là chính tâm hồn tấm lòng của Bác với đồng bào, với nhân dân với cách mạng Việt Nam. Đặng Thai Mai cũng đã từng đưa ra nhận xét rằng: “Đằng sau bức tranh phong cảnh này, đằng sau những tầng lớp mây núi trập trùng, đằng sau dòng nước trong dưới chân Tây Phong lĩnh, ấn tượng không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn của độc giả chính là tâm trạng vừa trong trắng sâu sắc, vừa cao cả của con người. ”Xem thêm: Soạn bài Những tấm lòng cao cả của Đơ A-mi-xi Tiếp đến là hai câu sau, với hai câu này dường như chúng ta thấy được cảnh vật hiện tại và nỗi nhớ của bác về nước nam ta, đó chính là một nỗi nhớ bạn, nhớ anh em đồng chí. “Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh, Dao vọng Nam thiên ức cố nhân” (Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh, Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa) Có thể nói rằng khi ra tù nhà thơ như đã cảm thấy vui vì được tự do, buồn vì sức khỏe giảm sút rồi lại thương nhớ đồng bào anh em. Và chính tâm hồn đẹp trong sáng ngời ‘bụi không mờ” của Bác đã làm nên điều đó. Bác như rất nhạy cảm với hiện tại và nhớ đến quê hương đất nước của mình. Nhớ họ, nhưng để bước chân tìm về cội nguồn của dân tộc thì còn là cả một khoảng thời gian khá dài. Nó như dài và rất khó khăn vì chính những khoảng cách xa xôi kia cùng tình trạng hiện tại của người không thể nào bước về được. Đồng thời nó cũng như chính là khoảng cách của con đường cách mạng khi thời cơ chưa đến thì Bác vẫn chưa thể về nước được. Bài thơ “Tân xuất ngục học đăng sơn” cứ ngỡ là miêu tả cảnh sông núi hùng vĩ và sự vui sướng của Bác khi được ra tù những không phải chỉ có thế thôi đâu. Mà bài thơ đã còn như thể hiện được những ý chí vượt qua những khắc nghiệt của số phận của cuộc sống để rồi chinh phục những khó khăn kia. Bài thơ còn chính là một nỗi niềm xao xuyến của người khi niềm vui, nỗi buồn, nỗi nhớ cứ đan xen vào nhau.Xem thêm: Tóm tắt tác phẩm số phận con người của M. Sô - lô - khốp Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bài thơ “Mới ra tù tập leo núi” của Hồ Chí Minh- Văn 12
1,032
Phân tích bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy Gợi ý Nguyễn Duy quê ở Thanh Hóa; anh viết bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào mùa thu 1986. Bài thơ gồm có 28 câu lục bát, chia thành 6 khổ thơ; khổ thứ tư có 8 câu, năm khổ còn lại, mỗi khổ có 4 câu thơ. Chữ đầu mỗi khổ thơ đều viết hoa; các chữ đầu mỗi câu thơ còn lại không viết hoa. Toàn bài thơ chỉ có 4 dấu chấm lửng và một dấu gạch ngang mà thôi, không hề có dấu chấm, dấu phẩy… nào cả. Phải chăng đó là sự cách tân về hình thức nghệ thuật thơ lục bát của Nguyễn Duy? Tác giả đã vận dụng sáng tạo ca dao, tục ngữ để tạo nên những vần thơ trữ tình giàu âm điệu và nhạc điệu thiết tha ngọt ngào. Mở đầu bài thơ là một không gian nghệ thuật thiêng liêng cổ kính, nhiều man mác bâng khuâng. Đứa con đứng bên bàn thờ mẹ, trong hương huệ thơm ngát, thành kính thắp nén nhang thầm khấn cầu mong hương hồn mẹ được siêu thoát lên cõi niết bàn: “Bần thần hương huệ thơm đêm khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn”. Nhìn khói nhang tỏa, nhìn chân nhang “lấm láp tro tàn”, đứa con cảm thấy người mẹ hiền đang hiển hiện giữa cõi đời, đang tất tả ngược xuôi: “chân nhang lấm láp tro tàn xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào ”, Các từ láy “bần thần ”, “lấm láp“,“xăm xăm” là những nét vẽ tài hoa làm cho vần thơ giàu hình tượng và gợi cảm. Khổ thơ thứ hai gợi tả hình ảnh người mẹ hiền ngày xưa. Người mẹ nghèo khổ, vất vả. Thời con gái chẳng có yếm đào, chẳng có nón quai thao mà chỉ có nón mê; áo quần chỉ một màu nâu nhuộm bùn: “Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu”.Xem thêm: Em hãy tả tấm lịch treo tường của nhà em Hai tiểu đối: “tay bí // tay bầu”,“váy nhuộm bùn // áo nhuộm nâu” – nói lên thật hay, thật cảm động sự tần tảo vất vả và đời sống nghèo khổ của mẹ: “Rối ren tay bí tay bầu váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa ”. Suốt đời mẹ sống mộc mạc, giản dị như thế. Quanh năm bốn mùa mẹ vẫn sống và ăn mặc như thế! Khổ thơ thứ ba, lời ru của mẹ hiền ngày xưa vẫn còn vang vọng trong hoài niệm. Ca dao đã nhập hồn vào thơ Nguyễn Duy: “Cái cò…sung chát đào chua… câu ca mẹ hát gió đưa về trời”. Câu ca dao “Cái cò đậu cọc cầu ao – Ăn sung sung chat, ăn đào đào chua” đã được nhà thơ vận dụng tài tình sáng tạo gợi lên bao thương nhớ người me hiền nay đã đi xa… Hai câu thơ: “Ta đi trọn kiếp con người – cũng không đi hết những lời mẹ ru” hàm chứa chất triết lí sâu sắc. Lòng mẹ bao la. Tinh thương của mẹ mênh mông đào dạt. Suốt đời con cũng không thấu hiểu, hiểu hết lời ru của mẹ. “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ…Năm canh chày thức đủ năm canh… ”. Mỗi giấc ngủ của con được nâng niu bằng lời ru của mẹ vô cùng sâu nặng với biết bao tình đời và tình người. Mọi đứa con từ bé thơ đến trưởng thành, không bao giờ có thể “đi hết mấy lời mẹ ru". Hai chữ “đi” trong vần thơ của Nguyễn Duy được chuyển nghĩa một cách thần tình. Điệp ngữ “bao giờ cho tới” trong khổ thơ thứ tư đã làm sống lại tuổi thơ với bao kỉ niệm đẹp. Ước mong được sống lại đêm rằm trung thu để phá cỗ. Ước mong được sống lại những đêm tháng năm đẹp trời để “nằm đếm sao” giữa sân nhà: “Bao giờ cho tới mùa thuXem thêm: Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ cho tới tháng năm mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”. Hai chữ “đánh đu “ đã nhân hóa trái hồng trái bưởi, món quà trung thu, tạo nên sự ngộ nghĩnh hồn nhiên. Cái giây phút thần tiên “mẹ ra trải chiến ta nằm đếm sao” là giây phút hạnh phúc nhất của tuổi thơ. Kỷ niệm ấy, Nguyễn Duy có bao giờ quên; mỗi chúng ta có bao giờ quên. Các từ láy:“nghêu ngao ”,“chập chờn ", “leo lẻo”, “xa xôi” trong bốn câu thơ tiếp theo vừa nêu lên sự hồn nhiên của tuổi thơ, vừa nói lên mơ ước được sống lại trong khung cảnh thần tiên nơi quê nhà. Đứa con có bao giờ quên những kỉ niệm đẹp, đầy hạnh phúc ấy: “Ngân Hà chảy ngược lên cao quai mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm… bờ ao đom đóm chập chờn trong leo lẻo những vui buồn xa xôi”. Ký ức tuổi thơ đã trôi vào dĩ vãng, nhưng vẫn còn chập chờn trong tâm hồn yêu thương với “những vui buồn xa xôi”. Đứa con càng thương nhớ mẹ, càng biết ơn mẹ không thể nào kể xiết! Tiếp theo là những suy ngẫm vẻ lời ru của mẹ, về công ơn trời bể của mẹ. Mẹ ru con, ru “cái lẽ dời", ru cái đạo lí làm con, ru cái đạo lí làm người. Con lớn lên từng ngày từng tháng nhờ dòng sữa ngọt ngào của mẹ, bằng lời ru thiết tha êm đềm của mẹ. Điệp ngữ “nuôi” trong hai tiểu đối đã nói lên công ơn to lớn của mẹ hiền: “Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác // hát nuôi phần hồn” Các thế hệ sẽ nối tiếp sinh ra, rồi lớn lên theo lời ru tiếng hát của mẹ, của bà. Điệu ru của bà, của mẹ sẽ được những thế hệ mai sau nâng niu, giữ gìn. Điệu ru tiếng hát của bà, của mẹ trong mỗi gia đình Việt Nam là dân ca, là tâm hồn dân tộc sẽ sống mãi đến muôn đời mai sau. Câu hỏi tu từ làm cho vần thơ trở nên thiết tha, lay động hồn người:Xem thêm: Kể một câu chuyện cảm động về chú bộ đội để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc"Bà ru mẹ…mẹ ru con liệu mai sau các con càn nhớ chăng”. Nhớ mẹ, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, đứa con ly hương đêm ngày đăm đắm “Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Càng "nhìn về” càng bồi hồi nhớ mẹ, nhớ đức hy sinh cao cả, tình thương con bao la của người mẹ nay đã khuất núi. Câu tục ngữ "Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo nhường con" được tác giả vận dụng sáng tạo: "Nhìn về quê mẹ xa xăm lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa”. Tác giả khép lại bài thơ bằng hai câu thơ mang âm điệu ca dao trữ tình thể hiện bao nỗi ân tình sâu nặng của đứa con đối với người mẹ hiền thương yêu: "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”. Dù mẹ đã mất, nhưng những kỉ niệm ân tình sâu sắc ấy của mẹ, đứa con mãi mãi ghi sâu trong lòng. Lòng hiếu thảo là một trong những tình cảm đẹp nhất của con người Việt Nam chúng ta. Thơ Nguyễn Duy man mác như điệu ru tiếng hát của bà, của mẹ sau lũy tre xanh, bên bờ dâu ruộng lúa đang vọng về năm tháng. Những suy tư triết lí của tác giả làm cho tư tưởng tình cảm trong bài thơ trở nên sâu sắc, mang tính chất dân tộc và hiện đại. "Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…" là một bài thơ rất hay, tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ. Ọuả vậy, thơ Nguyễn Duy đẹp như ca dao, đậm đà như dân ca, man mác như lời hát ru. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy
1,363
Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh. Được biết đến là nhà thơ của hạnh phúc đời thường, thật dễ nhận ra rằng thơ Xuân Quỳnh chính vì thế mà như luôn luôn trăn trở những khao khát hạnh phúc, tình yêu với cuộc sống đời thường bình dị này. Không những thế thôi đâu mà thơ Xuân Quỳnh lại như còn luôn nâng niu, trân trọng và chăm chút cho những hạnh phúc đơn sơ và bình dị ấy. Có thể nói trong số các bài thơ viết về tình yêu và cuộc sống thì có lẽ “Sóng” là thi phẩm đặc sắc hơn cả. Bởi ở “Sóng” ta như thấy được một tâm hồn như khao khát tình yêu, khát khao một tình yêu vừa hồn nhiên lại vừa chân thật, vừa mãnh liệt sôi nổi ít gặp của một trái tim phụ nữ. Thật dễ có thể nhận thấy rằng xuyên suốt bài thơ là hai hình tượng sóng đôi là “sóng” và “em”. Dường như hình tượng con “sóng” chính là một hình ảnh ẩn dụ để nói cho những cung bậc cảm xúc của người con gái khi đang yêu. Còn hình tượng “em” lại chính là sự hóa thân của cái tôi trữ tình- Xuân Quỳnh. Có thể thấy ở hai hình tượng này có khi bị phân đôi tách biệt ra để tạo được sự soi chiếu vào nhau để làm nổi bật sự tương đồng. Đồn thời lại có lúc hòa nhập vào nhau tạo nên một âm vang cộng hưởng cứ ngân vang mãi không ngừng. Chỉ với việc thông qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh như đã bộc bạch như đã bày tỏ một tình yêu dạt dào, mãnh liệt và một khát vọng vĩnh hằng về tình yêu đến mãnh liệt của đôi lứa. Mở đầu bài thơ như đã ăm ắp hình tượng “sóng” với nhiều trạng thái khác nhau: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Sóng biển đúng như tính chất vốn dĩ của nói có khi “dữ dội’ có lúc lại “dịu êm”, vừa “ồn ào” lại vừa “lặng lẽ”. Xuân Quỳnh đã thật tinh tế khi mượn những trạng thái khác nhau này của sóng để có thể chỉ r,thể hiện ra những tâm tư của người con gái đang yêu. Vẻ bề ngoài có khi họ thật đằm thắm, dịu dàng cho đến tha thiết nhưng dường như bên trong lại ẩn chứa một tâm hồn khao khát yêu thương mãnh liệt, dữ dội biết bao nhiêu. Có thể khẳng định rằng nhà thơ đã rất tài tình và khôn khéo khi đưa cặp đôi phạm trù nội dung mà chúng có tính đối nghịch đi liền nhau để nhằm có thể tạo ra sự so sánh giữa cái mạnh mẽ, ồn ào và cái dịu êm và có cả phần lặng lẽ qua đó nhằm diễn tả tính cách đan xen, đa chiều của người phụ nữ, nhất là khi họ đang yêu. “Sông không hiểu nổi mình” chính vì thế mà con sóng đã chủ động tìm ra biển, đến đại dương là để tự hiểu mình. Và cũng như em vậy, em “khát” được đến bên anh hay là đến với một tình yêu đẹp để hiểu rõ hơn về tâm hồn em, về con người đích thực của em là như thế nào.Xem thêm: Phân tích tám câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất Cũng như những sóng ngàn năm ở đại dương sâu thẳm vẫn thế, tình yêu qua năm tháng vẫn là nỗi khát khao của những lứa đôi: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Từ “Ôi!” là một từ cảm thán đã được thốt lên như một nỗi thổn thức của trái tim đang yêu bồi hồi mà lại mãnh liệt. Với lối nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” dường như đã khẳng định sự trường tồn của con sóng. Sóng nước chính là thế và sóng tình dường như hiện lên cũng chẳng khác là bao. Có thể thấy rằng tình yêu từ ngàn đời nay như chẳng hề bất di bất dịch, đó đã trở thanh một quy luật của tự nhiên và đây là điều mà ai cũng khát khao mong muốn có được. Những khao khát cháy bỏng là như thế, nó cũng đầy biến động nhưng cũng như sóng thì lúc này tình yêu thật khó hiểu và khó giải thích minh bạch, rõ ràng: Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Từ xưa cho đến nay đã có ai định nghĩa rõ ràng và tường tận cho được tình yêu, và phải làm sao biết được tình yêu bắt đầu từ đâu cơ chứ. Và làm sao có thể hiểu được trọn vẹn tình yêu đây? Ta như chỉ biết rằng tình yêu đến là “khi nào ta yêu nhau”. Đây là một cách cắt nghĩa, một sự lý giải về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính,đầy trực cảm của mọt tâm hồn yêu.Xem thêm: Ca dao dân ca là tiếng nói cảm động về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước. Em có đồng ý như vậy không? Hãy phân tích một số dẫn chứng để làm rõ Tình yêu từ trước đến nay như thường đi kèm với nỗi nhớ. Chính vì thế mà nỗi nhớ cũng đã được gọi tên và được nhắc đến. Tuy nhiên, có thể thấy nỗi nhớ của người con gái đang yêu trong bài thơ này như đã thật mãnh liệt và dạt dào: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Nhà thơ Xuân Quỳnh đã như mượn những hình ảnh những con sóng “dưới lòng sâu – trên mặt nước” nó như triền miên, như là vô hạn luôn hướng tới bờ để diễn tả nỗi nhớ người yêu của người con gái. Có thể nói nỗi nhớ ấy như dài thêm ra là nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên được và cũng không thể nào nguôi. Nỗi nhớ như còn đã bao trùm lên cả không gian và thời gian: “Ngày đêm không ngủ được”. Khổ thơ này cũng thật đặc biệt, nó như dài hơn so với các khổ thơ khác. Và đây chính là ngụ ý của tác giả, nỗi nhớ anh như cứ dài ra ngay cả con chữ cũng nhiều hơn. Và để khi vắng anh, em nhớ. Nỗi nhớ như cắt cứa ngày đêm em nhớ, khi thức, em nhớ thì có lẽ đây được coi là biểu hiện bình thường. Nhưng ở đây, dường nhu nhân vật “em” cả trong mơ em cũng vẫn nhớ đến anh. Đó chính là một nỗi nhớ mới da diết, khắc khoải, cứ thổn thức không yên: “Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức”. Với một tình yêu hết sức mãnh liệt, chân thành thì cho dù là “nơi nào em cũng nghĩ”, cũng “hướng về anh”, duy nhất một mình anh. Giống như: Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở Khổ thơ như cũng là một cách để nhà thơ khẳng định tình yêu chân thành. Con sóng nào cũng sẽ cập bến bờ dù có xa xôi cách trở đến nhường nào. Cũng như tình yêu chân thành vậy, sự chân thành sẽ đưa ta đến bến bờ hạnh phúc dù gian nan hay khó khăn đi nữa. Anh và em với tình yêu mãnh liệt sẽ cùng vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa hình tượng người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Nếu như ta nhận thấy rằng ở những khổ thơ trước là tình yêu dào dạt với những cung bậc thương nhớ giận hờn có cả sự mong ngóng thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng: Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Tương lai hạnh phúc như hãy còn đang ở phía trước kia. Và chính vì thế, ý thức về thời gian và sự thay đổi đã khiến nhà thơ- nhân vật trữ tình dường không khỏi lo lắng, trăn trở. Những từ ngữ đưỡ sử dụng như “tuy dài thế – vẫn đi qua – dẫu rộng” như chứa đựng ít nhiều nỗi âu lo về một tương lai, nỗi lo âu về hạnh phúc sắp tới. Tuy thế mà dường như nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả khó khăn, sẽ trường tồn cùng với thời gian: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Tới đây, người đọc như cũng đã nhận ra rằng trong cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để có thể tìm đến một tình yêu bao la, rộng lớn đã được đẩy cao đến khát vọng khi muốn được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thủa. Và chắc hẳn phải có một tình yêu mãnh liệt biết bao và lớn lao thì mới có được khát khao đủ đầy đến thế. Như vậy, chỉ thông qua hình tượng “sóng” và “em”, bài thơ dường như đã tạo cho người đọc biết đến một người con gái đang yêu hiện lên với tất cả những cung bậc tình cảm. Sử dụng thành công thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu giống như nhịp điệu của những con sóng với những âm hưởng mênh mang, dào dạt. Với những tình cảm dạt dào đến cháy bỏng, khát khao ấy, đây hẳn phải là một người con gái thật sâu sắc, chân thành, thủy chung. Tất cả như đã hội tụ để làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh- Văn 12
1,757
Phân tích bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến Gợi ý Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùm thơ ba bài: Thu vịnh, Thu ẩm và Thu điếu. Bài thơ nào cũng hay, cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài "Thu điếu ”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “(Điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam “. “Thu điếu " là bài thơ tả cánh ngụ tình đặc sắc: cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu đẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết "Thu điếu “ được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến. Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo “ toả hơi thu “lạnh lẽo". Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo". Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ – “bé tèo teo ”. Cái ao và chiếc thuyền câu là hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân Diệu cho biết vùng đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo ”: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo “. Các từ ngữ: “lạnh lẽo’ “trong veo ”, “bé tẻo teo “ gợi tả đường nét, dáng hình, màu sác của cảnh vật, sắc nước mùa thu: âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu hay nhất Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài hoa làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo “. Màu “biếc" của sóng hoà hợp với sắc “vàng“ của lá vẽ nên bức tranh quê (đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng“ với “sóng biếc’ tốc độ “vèo ” của lá bay tương ứng với mức độ “tí“ của sóng gợn. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đẫ nói một đời thơ của mình may ra mới có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu ”: “Vèo trông lá rụng đầy sân “. Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt“ với những tầng mây “lơ lửng“ trôi theo chiều gió nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt ”: – “Trời thu xanh ngắt /mấy tầng cao “. (Thu vịnh) – “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ”. (Thu ẩm) – “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt “.. (Thu điếu) “Xanh ngắt" là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt một màu thăm thẳm. Xanh ngắt dạ gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thư, của ông lão dang câu cá. Thế rồi, ông lơ đãng dưa mắt nhìn về bốn phía làng qué. Hình như người dân quê dã ra dồng hết. Xóm thôn vắng lặng, vắng teo. Mọi con dường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo “.Xem thêm: Để đạt được những điều bạn chưa bao giờ có, hãy dám làm những việc bạn chưa bao giờ làm Cảnh vật êm dểm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo" đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo". từ "sóng biếc" đến "lá vàng”, từ "tầng máy lơ lửng" đến "ngõ trúc quanh co" hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh,… có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mỗi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế! Cái ý vị của bài thơ "Thu điếu " là ở hai câu kết: “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo ". "Tựa gối ôm cần " là tư thế của người câu cá cũng là một tâm thế nhàn của nhà thơ đã thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh "cá đâu đớp dộng ”, nhất là từ "đâu " gợi lẻn sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh bạch trốn đời đi ở ấn. Đang ôm cần đi câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi "Cá đâu đớp động dưới chân bèo". Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy – buồn cô đơn và trống vắng. Âm thanh tiêng cá "đớp động dưới chân bèo" đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỉ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc "vàng" của lá thu, ở màu "xanh ngắt ” của bầu trời thu, ở làn "sóng biếc " trên mặt ao thu "lạnh lẽo "…Xem thêm: Phân tích nội dung và nghệ thuật các bài Ca dao yêu thương, tình nghĩa Thật vậy, "Thu điếu ” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, những nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa "vèo" trong làn gió thu, tiếng cá "đớp động" chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước. Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần "eo" đi vào bài thư rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi sĩ Xuân Diệu đà từng viết: "Cái thú vị của bài "Thu điếu " ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi"… Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc "Thu điếu ”, "Thu vịnh”, "Thu ẩm’ chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến
1,352
Phân tích bài thơ “Thề non nước” của thi sĩ Tản Đà Gợi ý Tản Đà (1889 – 1939) có câu thơ tuyệt bút: Tài cao, phận thấp, chí khí uất, Giang hồ mê chơi quên quê hương". (Thăm mả cũ bên đường) Người đọc xưa nay vẫn tìm thấy bóng dáng Tản Đà qua vần thơ ấy. Tên là Nguyễn Khắc Hiếu, lấy núi Tản, sông Đà làm bút danh. "Giấc mộng con", "Giấc mộng lớn", "Khối tình con", "Thề non nước" là những tác phẩm nổi tiếng của Tản Đà. Chất tài hoa tài tử, lãng mạn, giang hồ… in đậm trong thơ, văn Tản Đà. Những năm hai mươi của thế kỉ XX, Tản Đà là thi bá trên thi đàn Việt Nam. Ông được nhà văn Hoài Thanh trân trọng ngợi ca là "Người của hai thế kỉ’, vì thơ văn của Tản Đà chính là gạch nối giữa hai nền văn học của dân tộc: cổ điển và hiện đại. Bài thơ "Thề non nước" là một kiệt tác của Tản Đà. Bài thơ nằm trong truyện ngắn cùng tên, được Tản Đà sáng tác năm 1921. Cô đào Vân Anh và một du tử – hai nhân vật trong truyện, ngồi uống rượu, cùng nối lời nhau, làm thói vịnh bức tranh sơn thuỷ – bức cổ họa – có ba chữ triện, chữ Nôm "Thề non nước" mà thành bài thơ này. Bức cổ họa chỉ có một dày núi, không có vẽ sông nước, dưới chân núi có một ngàn dâu gợi cảnh tang thương biến đổi. Bài thơ viết bằng thể thơ lục bát, gồm có 22 câu thơ. Bốn câu đầu là lời vịnh của du khách, 10 câu tiếp theo của cô đào Vân Anh, 6 câu nối tiếp lại là lời của du khách, 2 câu cuối là tiếng thơ của Vân Anh. Ngoài những chi tiết nghệ thuật vịnh bức cổ họa, bài thơ "Thề non nước" còn ca ngợi một mối tình chung thuỷ sắt son của đôi lứa, đồng thời gửi gắm một tình yêu nước thầm kín sâu nặng. 1. Hình ảnh bức tranh sơn thuỷ. Nói là bức tranh sơn thủy nhưng không có "thủy" vì "Nước đi đi mãi không về cùng non". Chỉ có núi, một dãy "Non cao những ngóng cùng trông". Cỏ cây mai già trụi lá trơ cành (xương mai). Có sương tuyết và mây phủ dày trên đỉnh núi. Có ngàn dâu xanh tốt dưới chân núi gợi màu tang thương biến đổi. Bao phủ toàn bức tranh là màu vàng tà dương: "Trời tây ngà bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha". Có thể nói, đó là một bức tranh cổ rất đẹp mà buồn, thấm đượm cái tình thương nhớ, tang thương. 2. Nước non nặng một lời thề.Xem thêm: Qua những bài thơ đã học và đọc thêm, anh (chị) hãy phân tích những biểu hiện của cảm hứng yêu nước của nền văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 Cũng như thuyền và bến, trong bài thơ này "non” và "nước" là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lứa đôi, cho trai và gái, cho giai nhân và người tình chung. Lứa đôi, non và nước đã yêu nhau, đã thề nguyền, đã "nặng lời thề’. Lời thề sâu nặng và sắt son, bền vững như non như nước. Cảnh ngộ thật éo le và đáng thương. Lứa đôi đang trải qua những năm dài li biệt "Nước đi chưa lại, non còn dửng không”. Khi ngắm nhìn bức tranh, du khách đã cảm động nói: "núi tương tư’. Sau những năm dài đợi chờ, thương nhớ và đau buồn, giai nhân (non) đã trở thành nàng cô phụ "non còn đứng không". Khóc than thảm thiết, bao nhiêu nước mắt đã khô cạn: "Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày". Thân hình tiều tuy đáng thương như một gốc mai già trụi lá trơ cành: "Xương mai một nắm hao gầy". Mái tóc xanh mềm mại như mây ngày nào, nay đã bạc trắng: "Tóc mây một mái dã đầy tuyết sương". Tình lang đi mãi chưa về, giai nhân tuổi mỗi năm một cao, đã chiều tà ngả bóng, nhan sắc phai tàn. Còn đâu nữa "vẻ ngọc" và "nét vàng" thời con gái xa xưa: "Trời tây ngả bóng tà dương – Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha". Tản Đà đã sáng tạo nên những hình ảnh ẩn dụ để đặc tả nỗi buồn cô đơn, tương tư của giai nhân. Có không ít câu thơ trong bài "Thề non nước" vừa đẹp vừa hay không thua kém những câu Kiều của Nguyễn Du. "Tóc mây", "xương mai", "nét vàng", "vẻ ngọc", đặc biệt "suối khô dòng lệ”… là những hình ảnh mĩ lệ nói về sắc tài và bi kịch trong tình yêu của giai nhân. Còn nước mắt đâu nữa mà "tuôn". Chữ "khô" thể hiện cách chọn từ, dùng từ của Tản Đà rất tinh luyện, chính xác. Chẳng cần xem bức hoạ mà chỉ đọc vài câu thơ cũng thấy như hiện ra trước mắt chúng ta một cái "núi tương tư’ vậy: "Non cao những ngóng cùng trông, Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày. Xương mai một nắm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương. Trời tây ngả bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha". Càng tương tư càng tủi hờn: "Non còn nhớ nước, nước mà quên non". Nhưng nàng cô phụ vẫn đinh ninh lời thề: "Dù cho sông cạn đá mòn Còn non còn nước hãy còn thề xưa". "Dù… hãy…" niềm tin được khẳng định. "Sông cạn đá mòn" là một thành ngữ, nêu lên một giả định không bao giờ có thể xảy ra. Và cho dù có xảy ra trong muôn một, thì giai nhân vẫn son sắt thuỷ chung "hãy còn thề xưa". Ba chữ "còn" được láy lại trong vần thơ đã thể hiện sâu sắc, cảm động mối tình son sắt, thuỷ chung, bền đẹp của nàng cô phụ.Xem thêm: Suy nghĩ của anh chị về câu chuyện sau: “Diễn giả Lê-Ô Bu-sca-gli-a... Không có gì đâu ạ. Con chỉ để ông ấy khóc". Theo “Phép màu nhiệm của đời” - NXB Trẻ, 2005) Nước đã đi xa, tình lang đã đi xa, chì còn lại tiếng đồng vọng trong không gian và thời gian li biệt. Hẹn ngày trở lại. Hẹn ngày tái ngộ, hội ngộ của lứa đôi. Chia sẻ nỗi buồn, an ủi tình nhân: "Non cao đã biết hay chưa? Nước đi ra biển lại mưa về nguồn Nước non hội ngộ còn luôn, Bảo cho non chớ có buồn làm chi". "Ngàn dâu xanh tốt" như một chứng tích của thời gian, như một nỗi tang thương đã biến đổi, và còn lại như một kỉ vật, vì thế "non thì cứ vui". Hai câu kết như sự chung đúc một lời thề, "Thề non nước": "Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non nước nước, không nguôi lời thề’. Đã có lời "thệ hải minh sơn" trong tình sử. Đã có "đám cưới bạc". Cũng có "đám cưới vàng"… Đời người hữu hạn trăm năm. Nhưng lời thề của "non" và "nước" là lời thề "nghìn năm" kết đôi, thuỷ chung bền vững. Đó là một lời thề sâu nặng, bền đẹp đến muôn đời. Nghệ thuật sử dụng biện pháp "phân – hợp" ngôn ngữ của Tản Đà rất điêu luyện để gợi tả và biểu cảm thần tình. "Ngóng trông" được viết thành "những ngóng cùng trông" diễn tả cái dằng dặc của sự đợi chờ, trông ngóng. Trong li biệt, hình ảnh "non" và "nước" nằm ở hai phía không gian – đầu, cuối câu thơ: "Nước đi, đi mãi không về cùng non". Trong cảnh sum họp, hội ngộ của lứa đôi thì non và nước sẽ thành non non nước nước gắn bó keo sơn, bền vững, lời thề chẳng bao giờ "nguôi", chẳng bao giờ "quên" được! J Tóm lại, lời thề của non và nước được nói đến một cách thắm thiết, thuỷ chung và cảm động. 3. Nước đi chưa lại… Bài thơ "Thề non nước" là một bài thơ đa nghĩa. Có nội dung vịnh cảnh trong tranh. Có nội dung phong tình cố hữu của Tản Đà. Và còn có tấm lòng tha thiết gắn bó của nhà thơ với Tổ quốc giang sơn trong cảnh ngộ mất chủ quyền. Đầu thế kỉ XX, có một số nhà thơ nói lên lòng yêu nước, một cách thầm kín: "Có phải tiếc xuân mà đứng gọi Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ". ("Cuốc kêu cảm hứng" – Nguyễn Khuyến) "… Nặng gánh em trở ra về! Ngoảnh cổ trông sông rộng trời khuya… Vì chưng nước cạn nặng nề em dám kêu ai!Xem thêm: Phân tích bài thơ sau đây: "Tôi yêu em, Tôi yêu em: đến nay chừng có thể, Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai; Nhưng không để em bận lòng thêm nữa, Hay hồn em phải gợn bóng u hoài ... Cầu em được người tình như tôi đã yêu em" 1829 - Pu - skin (…) Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngùng Nước non gánh nặng, cái đức ông chồng hay hỡi có hay!". ("Gánh nước đêm" – Trần Tuấn Khải) "Nọ bức dư đồ thử đứng coi Sông sông núi núi khéo bia cười Biết bao lúc mới công vờn vẽ Sao dân bây giờ rách tả tơi…". ("Vịnh bức địa đổ rách" – Tản Đà) Trong bài thơ "Thề non nước", hai chữ "non" và "nước" xuất hiện ở tần số rất cao: 27 lần, lúc thì nước nhớ non, lúc thì non nhắn nước, lúc thì non non nước nước… Một giọng thơ thiết tha, có không ít câu thơ để lại nhiều ám ảnh: "Nước đi đi mãi. không về cùng non," "Nước đi chưa lại, non còn đứng không, Non cao những ngóng cùng trông, Suôi khô dòng lệ chờ mong tháng ngày"… "Non còn nhớ nước, nước mà quên non…". Có đặt bài thơ "Thề non nước" bên cạnh các bài thơ "Chim họa mi trong lồng", "Vịnh bức địa đồ rách", v.v… ta mới thấy tình yêu nước được nhà thơ kín đáo gửi gắm vào các chữ "nhớ nước", "quên non". Tình yêu nước dào dạt trong cả bài thơ. Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, trên thi đàn công khai, Tản Đà đã có một cách nói thật hay, thật xúc động về tấm lòng gắn bó thiết tha với giang sơn Tổ quốc. Trong thời Pháp thuộc, bài thơ "Thề non nước" như một vạch nối dẫn dắt người đọc, nhất là thế hệ thanh niên cảm nhận sâu hơn những vần thơ của Phan Bội Châu, của Phạm Tất Đắc, v.v… "Bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn Khói tuôn khí đất, sóng cuồn trận đau". ("Hải ngoại huyết thư1 – Phan Bội Châu) "Nghĩ thân thế héo hon tấc dạ Trông non sông lã chã dòng châu…" ("Chiêu hồn nước" – Phạm Tất Đắc) Tóm lại, ‘Thề non nước" là một bài thơ kiệt tác của thi sĩ Tản Đà. sắc điệu trữ tình dào dạt trong những vần thơ nói về sự thương nhớ, chờ mong. Chờ người yêu nặng lời thề, xa vắng. Nhớ hồn nước bơ vơ. Các biện pháp tu từ ẩn dụ, nhân hóa, điệp từ điệp ngữ, biện pháp phân – hợp v.v… đã tạo nên những câu thơ lục bát tuyệt hay, đọc qua một lần nhớ mãi. Thi sĩ Tản Đà đã nói hộ chúng ta những tình cảm đang nảy nở trong lòng. "Thề non nước1′ thể hiện tuyệt đẹp cốt cách phong tình tài hoa của thi sĩ Tản Đà. Lời thề xưa cứ ngân nga mãi trong lòng ta. Cả một trời yêu thương, mong nhớ, đợi chờ mênh mang: "Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non nước nước không nguôi lời thề". Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Thề non nước” của thi sĩ Tản Đà
1,967
Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên. Thi phẩm “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên dường như nó không đơn thuần chỉ là một bài thơ lấy sự kiện chính trị mà nó còn là một lời động viên cổ vũ tinh thần đấu tranh của quân dân ta. Nhan đề đặc sắc của bài “Tiếng hát con tàu” của bài thơ dường như cũng đã mang tính biểu tượng bởi thực tế nhưng đó chưa hề có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Và ta như đã thấy được chính những hình tượng con tàu trong bốn câu thơ đề từ là biểu tượng cho tâm hồn của chính nhà thơ Chế Lan Viên dường như cũng đã đang khát khao lên đường, mong muốn được vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, vượt ra khỏi cả những sự quẩn quanh đi đến với cuộc đời rộng lớn này. Và hình ảnh ây Bắc ngoài ý nghĩa cụ thể chỉ địa danh hay là một miền đất xa xôi của Tổ quốc, đó cũng như còn là một biểu tượng của cuộc sống lớn của nhân dân và đất nước hơn nữa, rộng ra nó như là cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Bài thơ mở đầu bằng một lời mời gọi thiết tha biết bao nhiêu Chuyến tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng? Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô? Tàu đói những vầng trăng. Với những câu thơ này ta dường như cũng đã bắt gặp chủ thể trữ tình tự phân thân để đối thoại với chính mình và như cả với hàng loạt những câu hỏi nâng cao dần cấp độ để bộc lộ khát vọng lên đường của những người lính. Và đó cũng không chỉ là lời hối thúc bản thân, dường như ta thấy được ở câu thơ còn là lời động viên, nó như chính là những lời thuyết phục để thôi thúc mọi người đi đến với những miền đất lạ xa xôi, và có thể để hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân. Chế Lan Viên thật tinh tế khi ông đã mượn hình ảnh thiên nhiên để khơi gợi lên những khát vọng lên đường của mọi người đó là những câu: Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi Ngoài cửa ô? Tàu đói những vầng trăng. Nhà thơ Chế Lan Viên dường như cũng đã nói với người khác và cũng là tự nhủ với chính lòng mình. Và có lẽ rằng chính trong cuộc kháng chiến trường kì gian khổ đã kết thúc thắng lợi, đất nước bước vào công cuộc tái thiết và cả là sự xây dựng cuộc sống mới đang rất cần sự đóng góp của mỗi người dân chúng ta. Có thể khẳng định rằng đó chính là cuộc sống lớn đó là ngọn nguồn của mọi sáng tạo nghệ thuật. Song, phải nó rằng chính nghệ thuật không thể nảy sinh khi người nghệ sĩ, và nó cũng như đã không mở rộng lòng mình đón nhận tất cả những vang vọng của cuộc đời. Và phải đi ra từ cuộc đời thì nghệ thuật nó mới mang hơi thở cuar cuộc sống và nghệ thuật mới chính là nghệ thuật chứ không phải thứ văn chương chỉ gò đẽo câu chữ mà không biết được cuộc sống cần lao của nhân dân ngoài kia ra sao.Xem thêm: Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc như tình yêu của người bình dân trong ca dao. Hãy phân tích bài thơ "Tương tư" của ông để làm sáng tỏ điều đó Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia Và có thể nói cũng có thể chính vì lẽ đó mà tâm hồn thơ Chế lan Viên muốn hóa thân thành con tàu tâm tưởng và nó như là những khao khát lên đường. Như thật hăm hở say sưa, và đồng thời cũng như thật háo hức trong hành trình khi mà trở về với cuộc đời rộng lớn, và cũng là về với nhân dân. Có thể thấy được chính cái khát vọng đến với cuộc sống rộng lớn đó chính là đến với nhân dân trở thành cảm hứng, tình cảm chân thành của nhà thơ tài ba này: Ôi chim én có bay không, chim én? Đến những đảo xa, đến những đảo mờ Ở đâu chưa đi thì lòng sẽ đến Lúc trở về, lòng ngậm những cành thơ. Ta có thể nhận thấy được trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” thì dường như những khát vọng lên đường ấy dường như mỗi lúc càng được bộc lộ cụ thể hơn. Đó chính là những niềm say mê hơn và rạo rực hơn cả là “Khi lòng ta đã hóa những con tàu”. Và cái khát vọng đó như ngày càng một mãnh liệt hơn rất nhiều. Trên Tây Bắc ôi mười năm Tây Bắc Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân Khi mà giọt máu rỏ xuống và cây mọc lên, nó cũng nư đã đơm hoa kết trái. Dường như ta cũng có thể thấy được rằng hai ý thơ đối nghịch dường như cũng đã cho ta thấy sức sống vĩ đại của miền Tây Bắc. Đó chính là từ trong cái chết thì chính sự sống vẫn tiếp tục nẩy mầm xanh. Và sử dụng rất đắt động từ “rỏ”không gây ấn tượng mạnh nhưng dường như nó lại có sức lan tỏa sâu trong lòng người đọc.Máu “rỏ” chứ không phải là máu tuôn, máu xối. Nó đồng thời cũng lại cho thấy sự hi sinh thầm lặng nhưng bền bỉ, như thật lâu dài của người dân Tây Bắc nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Những sự mất mát hi sinh là lớn lao là cao cả nhưng nó không đủ sức để thiêu mất đi những ý chí và khát vọng. Và ta như cũng chỉ cần giữ được niềm tin vào cuộc sống thì có lẽ rằng chính cuộc đời này vẫn đáng yêu, đáng sống và nó như lại thêm có thể thôi thúc con người mang khát khao cống hiến.Xem thêm: Phân tích và chứng minh Bố của En-ri-cô rất yêu thương con, nhưng cũng rất nghiêm khắc trước những lỗi lầm cua con Ta có thể nhận thấy được dường như bao trùm trong Tiếng hát con tàu là niềm khát khao mãnh liệt và đó cũng chính là những niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi được trở về với nhân dân: Con gặp lại nhân dân hư nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa Đoạn thơ trên như đã thể hiện niềm hạnh phúc lớn lao đó, tác giả sử dụng liên tiếp những hình ảnh so sánh. Ta có thể thấy được chính những hình ảnh này vừa có vẻ đẹp thơ mộng, mượt mà biết bao nhiêu đó là “nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa”, như lạivừa có sự hoà hợp giữa nhu cầu cũng như chính cái khát vọng của bản thân với hiện thực đó là những vần thơ “trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” cũng tinh tế và khéo léo khi đã nhấn mạnh niềm hạnh phúc tột độ và cả những ý nghĩa sâu xa của việc trở về với nhân dân. Đối với nhà thơ Chế Lan Viên, khi mà đã được trở về với nhân dân không chỉ là niềm vui, niềm khát khao mong chờ bấy lâu mà còn là một lẽ tự nhiên, phù hợp với qui luật. Và về với nhân dân như là về với ngọn nguồn của những điều bất tận của sự sống nó cũng như đã về với những gì thân thiết và sâu nặng của lòng mình. Ta như có thể thấy được những khát vọng của nhà thơ khi được trở về với nhân dân như là trở về với những khát vọng lớn lao như đã đực mong mỏi bấy lâu nay.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân (Có dàn ý chi tiết) Khi ta đọc những câu thơ này, có thể thấy được sự sự rung động vừa sâu sắc, tha thiết, vừa say mê, như cũng thật là mãnh liệt của một hồn thơ trong những giây phút như đã sáng rực như bừng sáng của sự giác ngộ một chân lí đời sống. Và cũng chính là chân lí của nghệ thuật đó là phải trở về thuỷ chung gắn bó với nhân dân, gắn bó với Tổ quốc và nhân dân đã hồi sinh cho một hồn thơ đã từng một thời tự giam mình trong cái tôi cô đơn, đóng khép cả Người đọc có thể thấy được những kỉ niệm ân tình, những hoài niệm về nhân dân, tác giả dường như đã nâng lên thành những chiêm nghiệm giàu sức khái quát, và đí chính là những chân lí được rút ra từ những trải nghiệm của chính mình: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng uêy đương Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn! Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương. Trên đây chish là khổ thơ là tấm lòng nhà thơ trải dài theo nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy day dứt trong tâm trí nhà thơ. Đó như lại còn là nỗi nhớ về những bản làng điệp trùng mây núi. Nhà thơ Chế Lan Viên dường như cũng đã đi qua nhiều nơi, nhưng nơi nào chẳng để thương để nhớ trong tâm hồn nhà thơ, để rồi câu thơ như xúc động bật ra thật một lời nghẹn ngào “khi ta ở chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”. Thi phẩm độc đáo thấm đẫm cảm xúc “Tiếng hát con tàu” được biết đến như là bài thơ hay của Chế Lan Viên dường như cũng đã đã góp phần làm đẹp thêm bộ phận thơ viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ta như thấy được bài thơ cũng đã thể hiện một cái nhìn mới của nhà thơ trước cuộc đời, và cả trước con người. Nhưng có lẽ điều ta bắt gặp và ấn tượng nhất ở đây chính là những sự suy tư và sự trăn trở mang màu sắc triết lý về cuộc đời về con người của nhà thơ. Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên-Văn 12
1,832
Phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên Gợi ý “Ôi, một cánh hoa dù hái vô tình Cũng là vì yêu cuộc đời quá đẹp Nói chi lời thơ viết trong nước mắt Chính là mang hạnh phúc đến lòng anh…” (Khi đã có hướng rồi) Không biết sinh thời Chế Lan Viên đã có bao nhiêu “lời thơ viết trong nước mắt” nhưng có nhiều bài thơ đẹp như “một cánh hoa…”. “Tiếng hát con tàu” là một bài thơ như thế! Sáng tác vào năm 1960, “Tiếng hát con tàu” là một giò phong lan trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên, “Tập thơ đã gây một tiếng vang cực lớn… đã thành cái mốc chuyển biến quan trọng trong thơ của Chế Lan Viên nói riêng, của thơ Việt Nam nói chung… đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách nghĩ, cách cảm mới”. (Người làm vườn vĩnh cửu – Trần Mạnh Hảo). Bài thơ, ngoài 4 câu đề từ còn có 15 khổ thơ, gồm 60 câu, chủ yếu mỗi dòng thơ 8 từ, chỉ có một câu 12 từ, đó là diện mạo của “Tiếng hát con tàu”. Năm 1960, miền Bắc bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa. Cuộc vận động đồng bào miền xuôi đi xây dựng kinh tế miền núi trở thành một phong trào cách mạng rộng lớn để biến “Tây Bắc thành hòn ngọc ngày mai của Tổ quốc” (Phạm Văn Đồng). Bài thơ “Tiếng hát con tàu” đã “mang hồn thời đại bay cao” (Tố Hữu), nó đã vượt lên khỏi tính chất thời sự mà trở thành ca khúc thể hiện đắm say khát vọng lên đường, gắn bó với cuộc sống sôi động bằng tình yêu Tổ quốc và nhân dân, để lao động, khám phá và sáng tạo. Chất suy tưởng giàu có, óng ánh vẻ đẹp trí tuệ, sự biện luận sắc sảo và hình tượng mới lạ, độc đáo… đã hội tụ và kết tinh làm nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật đích thực của bài thơ kiệt tác này. 1. Trước hết nói về khố thơ đề từ rất độc đáo và tài hoa. Cấu trúc vần thơ dưới hình thức hỏi – đáp. Không chỉ hỏi bằng câu hỏi mà đáp cũng bằng câu hỏi. Giọng điệu ngân vang, say mê, hào hứng: “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu, Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?” Bao trùm lời đề từ là niềm tự hào về một tình yêu lớn của nhà thơ, Hỏi – đáp để tự khẳng định sự thức nhận của tâm hồn mình. Câu 1 nói lên tình cảm đẹp, rộng lớn: không chỉ yêu riêng Tây Bắc mà nhà thơ còn hướng tâm hồn mình đến mọi miền của đất nước bao la với tất cả tình yêu thương tha thiết. Câu thứ 2 thứ 3 chỉ rõ nguồn gốc của tình cảm cao đẹp đó. Điều kiện chủ quan là “Khi lòng ta đã hóa con tàu”, tự thân “ta” đã sống với khát vọng đẹp muốn đi tới mọi miền của Tổ quốc thân yêu để hiến dâng và phục vụ. Điều kiện khách quan là hiện thực xã hội, là không khí của thời đại: “Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”. Đó là một thời kì rất đẹp, rất sôi động trên miền Bắc nước ta. Nhân dân phấn khởi, hào hứng xây dựng đất nước và cuộc sống mới! Một nhà thơ khác đã ca ngợi là “…bài thơ miền Bắc – rất tự do nên tươi nhạc, tươi vần”. Câu thơ thứ 4 là hệ quả tất yếu mà điều kiện chủ quan và khách quan đưa tới: “Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?”.Câu hỏi tu từ vang lên kiêu hãnh biểu lộ tâm hồn mình đã hòa nhập, đã gắn bó, đã mến yêu nồng hậu Tây Bắc. Cách so sánh và cách nói mới mẻ, hấp dẫn. Khổ thơ đề từ không chỉ nói lên tình yêu Tây Bắc, tình yêu Tổ quốc mà còn thể hiên sự biện luận sắc sảo – một nét đẹp trong thi pháp của Chế Lan Viên. 2. “Anh đi chăng?” hay “anh giữ trời Hà Nội?”, "Anh có nghe…?” và “Tàu anh gọi đi, sao anh chửa ra đi?” – Đó là tâm trạng, là nỗi niềm băn khoăn về chuyện đi hay ở lại? Tâm trạng ngại đi xa, sợ khó khăn gian khổ… là một sự thật của lòng người, không chỉ riêng nhà thơ trong những tháng ngày hòa bình sau 9 năm kháng chiến chống Pháp. Cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra trong mỗi con người, đó là một sự thật. Chế Lan Viên đã sử dụng biện pháp tương phản để tô đậm tâm trạng và nỗi niềm băn khoăn ấy. Hàng loạt câu hỏi tu lừ xuất hiện, âm điệu thơ đầy ám ảnh, giục giã:Xem thêm: Suy nghĩ về tuổi trẻ hôm nay“Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng Bạn bè đi xa. anh giữ trời Hà Nội … Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp …Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?” Hình ảnh con tàu trong 2 khổ thơ đầu: “Con tàu này lên Tây Bắc, anh đì chăng?” và “Tàu đói những vành trăng” – mới chỉ là một biểu tượng về một hành trình đi xa; con tàu này còn “đói những vành trăng” nghĩa là chưa có nhiều động lực để phóng tới những không gian, những chân trời. Nó chưa phải là “Tiếng hát hát tàu”. Đó là sự tinh tế trong tư duy nghệ thuật của Chế Lan Viên. 3. Chín khổ thơ tiếp theo hàm chứa những tư tưởng tình cảm đẹp khi nhà thơ nghĩ về Tây Bắc và con người Tây Bắc vói bao kỉ niệm sâu sắc, cảm động. Bài học về nghĩa tình thuỷ chung đối với đất nước và nhân dãn làm cho ta lớn lên về mặt tâm hồn và để ta nhớ mãi. Ngọn lửa kháng chiến thần kì, những bản, những con đèo, dòng suối, những anh du kích, em bé liên lạc, bà mế, cô gái Tây Bắc đã trở thành kỉ niệm, để thương để nhớ, đã hóa tâm hồn người cán bộ kháng chiến miền xuôi, nhà thơ… Tây Bắc là hồn thiêng sông núi, là nơi rực cháy ngọn lửa kháng chiến, ngọn lửa Điên Biên thần kì, là “xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng”, là mảnh đất yêu thương “nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất – Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân”. Tự hào mà hướng về tương lai với bao niềm tin sáng ngời: “Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường”. Nhận thức ấy đã khai sáng tâm hồn, nhận thức về con đường đi tới còn nhiều gian khổ mà tự ý thức “con cần vượt nữa” để được trở về cội nguồn “cho con về gặp lại Mẹ yêu thương”. “Mẹ” được viết hoa, một mĩ từ, là hình ảnh cao đẹp của Bà Mẹ Tổ quốc muôn quý nghìn yêu. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ chính xác, biểu cảm, sáng tạo hình ảnh đã làm cho vần thơ “Tiếng hát con tàu” cất cánh: “xứ thiêng liêng”, “nơi máu rỏ”, “trái chín đầu xuân”, “ngọn lửa… soi đường”, “Mẹ yêu thương”. Các số từ chỉ lượng thời gian: “mười năm qua”, “nghìn năm sau ”là một cách nói mang tính triết luận về một chiêm nghiệm lịch sử vô cùng thấm thía. Với Chế Lan Viên thì gặp lại nhân dân là một niềm vui lớn, một khao khát lớn, một niềm hạnh phúc lớn: “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” Một cách nói vừa quen vừa là lạ. Năm hình ảnh so sánh liên tiếp xuất hiện để cụ thể hóa, hình tượng hóa niềm vui, niềm hạnh phúc to lớn “Con gặp lại nhân dân”. Có hình ảnh về thế giới thiên nhiên, có hình ảnh vẻ cõi đời, tuổi thơ. Nhân dân là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc, là suối mát mùa xuân đón bầy nai đói khát trở về chốn cũ yêu thương, là hơi ấm mùa xuân đem lại màu xanh và hương mật cho cỏ, là ánh thiều quang cho chim én sánh đôi kết đàn, là dòng sữa ngọt cho bé thơ đói lòng, là cánh tay nhẹ đưa nôi mềm đem lại giấc ngủ say, cơn mơ đẹp cho em nhỏ… Có hình ảnh thơ mộng. Có hình ảnh ấm áp sâu nặng nghĩa tình. Những so sánh ấy còn mang một ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc: về với nhân dân là trở về ngọn nguồn hạnh phúc, là hợp đạo lí và đúng lẽ tự nhiên. Triết luận ấy càng trở nên sâu sắc, thấm thía vì nó được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ chọn lọc, hình tượng, gợi cảm, thi vị. Với Chế Lan Viên thì gặp lại nhân dân, trở về trong lòng nhân dân là để soi lại lòng mình, là để đền ơn đáp nghĩa, sống thuỷ chung trong tình người. Nhân dân đã hi sinh, đã tận tình, đã cưu mang và san sẻ. Cách mạng, anh bộ đội, anh cán bộ đã được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc trong tình thương. Nhân dân được nhà thơ nói đến là những con người cụ thể tiêu biểu cho mọi tầng lớp trong cộng đồng dân tộc với bao phẩm chất đẹp như vàng mười, sáng như ngọc. Nhân dân cần lao và anh hùng, đó là “anh con, người anh du kích”, trước lúc ra trận, với “chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn – Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách – Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”. Là “em con, thằng em liên lạc” như con thoi giữa rừng sâu đầy bóng giặc, “Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc – Mười năm tròn chưa mất một phong thư..”. Là bà mế Tây Bắc: Xem thêm: Nêu suy nghĩ của anh (chị) về việc sử dụng mạng xã hội của thanh niên hiện nay.“Con nhớ mế. Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mê thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu mủ Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi” “Lửa hồng soi tóc bạc” là một hình ảnh rất đẹp. Lửa hồng ấm áp của tình thương soi sáng mái tóc bạc của người mẹ hiền miền núi. Mế với con không phải tình máu mủ ruột thịt, không phải “hòn máu cắt" ra, nhưng mế đã nuôi con như con đẻ của mế, nên “trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi”. Những từ ngữ chỉ độ dài của thời gian như: “một mùa dài”, “trọn đời”, “nhớ mãi”, liên kết với từ “nhớ”, từ “thức” đã thể hiện một quan hệ tình sâu nghĩa nặng, thuỷ chung rất đáng tự hào. Nhớ người rồi nhớ đến cảnh. Người lính trong đoàn Tây Tiến thì “Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”; anh cán bộ về xuôi nhớ Việt Bắc là “Nhớ từng rừng nứa bờ tre – Ngòi Thìa, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”. Chế Lan Viên nhớ Tây Bắc với nỗi nhớ “đã hóa tâm hồn”: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ, Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương? Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở, Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn” Hai chữ “nhớ” diễn tả nỗi nhớ khôn nguôi. Nhớ bản sương, nhớ đèo mây là nỗi nhớ xa xôi, nỗi nhớ phủ mờ sương khói trong hoài niệm, nhớ bồn chồn không yên. Những bản sương, những đèo mây ấy đã là “nơi hồn ta thấm đất”, đã gắn bó với anh, với em, với mế… bằng bao kỉ niệm sâu sắc một thời gian khổ, vì thế “Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương?”. Hỏi mình cũng là để tự đo lòng mình, đo yêu thương tình nghĩa. Đất lành thì chim đậu, lúc đẩu thì mới “chỉ là nơi đất ở” để mưu sinh, để tồn tại. Chỉ có sống hết mình, gắn bó với “nơi ở’ bằng tâm huyết, bằng yêu thương, thi mới có thể “Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Từ những chi tiết, những hình ảnh, những cảm xúc cụ thể, tác giả đã khái quát, đã nâng lên thành chiêm nghiệm, những suy ngẫm triết luận, với ý thức sâu xa đề cao đạo lí đẹp “sống hết mình, sống thủy chung nhân dân, với quê hương đất nước”. Nỗi nhớ em là một nỗi nhớ đẹp. Nhớ “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng… Bữa xôi đẩu còn tỏa nhớ mùi hương”. Nhớ em trong mối tình quân dân thắm thiết. Nhớ em với bao xôn xao, bồi hồi: “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng, Như xuân đến chim rừng lòng trở biếc, Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” Có biết sống trong hạnh phúc tình yêu thì con thuyền của lòng ta mới neo giữ nơi bến nước nhân dân. “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét” nỗi nhớ thật tự nhiên như quy luật của sự sống. Sóng nhớ bờ, đông nhớ rét, anh nhớ em, đó là sức mạnh của tình yêu. “Tình yêu của ta” của anh và em gắn bó khăng khít, bền chặt (như cánh kiến), thơ mộng (như hoa vàng). Cũng là cách nói rất thơ, rất hồn nhiên. Tình yêu đã làm đẹp đôi ta, như khi mùa xuân đến, chim kết đôi và sánh bầy, lông trở biếc quyến rũ hơn, tiếng hót, tiếng gù gọi đàn hay hơn, đáng yêu hơn. Ở đoạn trên, tác giả viết: “Khi ta đi, đất đá hóa tâm hồn” và ở đây, ông lại nâng lên một âm tần, âm vực khác: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Đó là những câu thơ mà ngôn ngữ được nén lại, cô đúc lại, luyện thành như một châm ngôn sống và ứng xử đẹp, khẳng định quy luật và quan niệm về sống và tình yêu. Phép đối và biện pháp so sánh được vận dụng sáng tạo viết nên những vần thơ mang vẻ đẹp ngôn ngữ cân xứng, hài hòa, những hình ảnh có sắc màu gợi cảm. Triết lí, triết luận trong thơ Chế Lan Viên được khoác bằng những trang phục, những hình ảnh đầy chất thơ, một mặt, ông tránh được hạn chế “ý sâu mà khô”, trái lại, đã sáng tạo nên những câu thơ, vần thơ sáng giá nhất, những câu thơ trong trí nhớ của nhiều người.Xem thêm: Trình bày suy nghĩ của mình về tình mẫu tử 4. Bốn khổ thơ cuối nói về khúc hát lên đường. Con tàu từ chỗ “đói những cánh trăng” nay trở thành con tàu “mộng tưởng”, “uống một vầng trăng”… Giọng điệu thơ rộn ràng, diễn tả niềm vui phấn khởi lên đường. Đến đây, con tàu mới trở thành khát vọng sống, khát vọng lên đường. Lên Tây Bắc, đi tới mọi miền Tổ quốc là đáp lời kêu gọi “lên đường” của đất nước, làm theo tiếng gọi của lương tâm, của tình em, tình mẹ đang mong, đang chờ. Tất cả đều thôi thúc: “Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi? Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”. Tàu “vỗ đôi cánh”, “mắt thèm mái ngói đỏ trăm ga” là cách nói lãng mạn, say mê. Lên Tây Bắc trong không khí tưng bừng của ngày hội – ngày hội lớn của nhân dân lên đường dựng xây đất nước: “Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến, Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao” Khổ cuối giọng thơ vang lên. Có câu thơ mở rộng đến 12 từ. Hai dòng cuối sử dụng biện pháp “bắc cầu”liền mạch. Cùng với con tàu đã có thêm cơn mơ, mộng tưởng, có vầng trăng, có mặt hồng em, và có cả con suối mùa xuân: “Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em như suối lớn mùa xuân” “Mặt hồng em” là một ẩn dụ nói về hiện thực cuộc sống khi mà “mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào”, nói về những sáng tạo thi ca gặt hái được khi nhà thơ đã trở lại Tây Bắc – mẹ của hồn thơ – trở về với nhân dân. Khổ thơ cuối khẳng định một niềm tin của nhà nghệ sĩ chân chính. Trở về với nhân dân là để lấy lại “vàng ta” thứ vàng mười của lòng mình đích thực, là để gắn bó với hiện thực của đất nước và nhân dân mà khám phá và sáng tạo, để “ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”. “Tiếng hát con tàu” là tiếng hát mê say của Chế Lan Viên. Bài học thấm thìa nhất là hãy biết trở về với nhân dân, sống trong lòng nhân dân để lao động sáng tạo để hiến dâng và phục vụ, để khám phá và để… đền đáp nghĩa tình. Bài thơ còn nói lên một nhất là phải biết sống đẹp trong tình yêu lứa đôi, trong tình yêu đất nước và nhân dân. Nhan đề bài thơ là ‘Tiếng hát con tàu” gợi lên trong tâm trí chúng ta một ý tưởng đẹp đẽ là hãy sống đẹp, sống có hoài bão, sống có khát vọng như con tàu “vỗ cánh” bay cao, bay xa làm nên sự nghiệp lớn. “Tiếng hát con tàu” đã thể hiện tập trung phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên: mẫn cảm, có tài sáng tạo hình ảnh (ẩn dụ, so sánh), sử dụng tương phản đối lập và hàng loạt câu hỏi tu từ để biện luận, để tự tranh biện làm cho ý tưởng, chủ đề được thể hiện sâu sắc. Giọng thơ đa thanh, biến hóa, càng về cuối càng rộn rã như một hành khúc. Nét đặc sắc nhất của " iếng hát con tàu” là có một số câu thơ rất hay, kết hợp chặt chẽ giữa triết luận với cảm xúc, giữa trí tuệ với hình tượng. Đến nay, đường lên Tây Bắc vẫn chưa có đường tàu và con tàu, nhưng “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên vẫn hấp dẫn chúng ta bởi nó là văn chương đích thực, nó cho ta cảm và hiểu về lẽ sống và tình yêu. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên
3,185
Phân tích bài thơ “Trang giang” của Huy Cận Gợi ý Tràng giang là một bài thơ hay của Huy Cận, đó là một trong những bài thơ tiêu biêu cho phong trào Thơ mới 1932 – 1945. Tràng giang không phải là bài thơ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, đây là bài thơ thế hiện nỗi cô đon, bơ vơ của con người như không có quê hương giữa đất nước mình. Nhà thơ Huy Cận cho biết bài thơ này được lấy cám hứng từ con sông Hồng quãng Chèm. Vẽ gợi tứ, nó là bài thơ nói về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên. Vì thế đầu đề bài thơ là Tràng giang chứ không phải là Trường giang, để người đọc không lầm với sông Trường Giang, Trung Quốc. ”Tràng giang" có trong thành ngữ "tràng giang đại hải", chỉ một hiện tương mênh mông dài bất tận. Bài thơ có bốn khổ nói đến một nỗi buồn đượm màu sắc triết lí. Mở đầu bài thơ là một cảnh sông nước lai láng mênh mông: "Sóng gợn trường giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền vê nước lại sầu trăm ngả, Củi một cành khô lạc mấy dòng…" Ngay câu đầu bài thơ bằng một hình ảnh ẩn dụ, tác giả lấy cảnh sóng gợn, tràng giang trùng trùng điệp để nói đến một nỗi buồn bất tận. Còn con thuyền là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định. Đặc biệt là hình ảnh con thuyền buông mái chèo, xuôi theo dòng nước nhưng thuyền và nước chỉ "song song" với nhau, chứ không gắn bó gì. Thuyền với nước lẽ ra phải gắn bó với nhau, nhưng câu thơ thứ ba đã nói tới sự chia lìa, buồn sầu: "Thuyền về nước lại sầu trăm ngả’. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối khổ thơ càng thể hiện nói đến kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng như một vật hết sức tầm thường chẳng ai để ý đến:Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề”"Củi một cành khô lạc mấy dòng". Như vậy cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những hình ảnh song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng, lại không gợi về sự hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là tan tác, chia lìa. Trên dòng sông đó, một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh là hình tượng một cuộc đời trôi dạt vô định, ở đây, thuyền, cành củi khô, sóng gợn, sông nước đều buồn bã sầu. Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ đầu: "Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vẫn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu…" Chao ôi! Một cái cồn nhỏ, lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, sao mà buồn bã như bị cuộc sống ruồng bỏ. Huy Cận học được hai chữ "đìu hiu" trong Chinh phụ ngâm: "‘Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò" biểu hiện cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của phiên chợ chiều đang tan ở làng quê nghe xao xác xa vắng. Hai câu thơ cuối cùng càng tô đậm thêm cảm giác mông lung: "nắng xuống, trời lên sâu chót vót" gợi ra cái cảnh trời sâu thẳm khi nắng xuống tạo cảm giác một chiều cao hun hút đối diện. Với sông dài, trời rộng làm tăng thêm cái vắng vẻ. cô liêu của không gian và sông nước.Xem thêm: Phân tích bài thơ Chiều Tối của Hồ Chí Minh hay nhất Khổ thơ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc hờ hững có cái bơ vơ đều bám vào cảnh vật: "Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang, Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…" Cảnh vật ở bên nhau: bèo dạt hàng nối hàng, con sông mênh mông không có cầu, không có đò ngang, tạo thành một cảnh quan đứt đoạn, mặc dầu con sông đó có bờ xanh tiếp bãi vàng. Cảnh vật trong khổ thơ như bứt xé ra từng mảnh. Từ thuyền, sóng, củi, dòng trôi đến cồn nhỏ, làng xa, chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên, sông dài, trời rộng, bến sông hai bờ đỗ ngang. Mọi vật không có vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau. Khổ thơ cuối, nhà thơ đem cái mạch sầu từ con người hoà vào cảnh vật: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…" Cảnh sắc thiên nhiên rất đẹp nhưng vẫn mang dáng vẻ cô đơn. Mây đùn lớp lớp thành ngọn núi bạc, là hình tượng nỗi buồn tích tụ lại của con người. Một cánh chim nghiêng nghiêng bay dưới sức nặng của bóng chiều đè xuống làm ta có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Nỗi buồn có hình hài và sức nặng. Và đến đây thì lòng nhớ quê hương gợn lên như sóng dợn trên mặt nước xao động dâng lên cuộn xuống. Dợn dợn là xao động liên tục, nhiều lần hô ứng với hai chữ "điệp điệp" ở dòng đầu bài thơ; chính vậy mà nhà thơ buồn khi thấy người đọc, đọc chệch thành "rợn rợn" hay "dờn dợn’ làm mất nghĩa câu thơ.Xem thêm: Tả một người bạn thân của em Chữ "vời" và ý thơ làm ta nhớ đến hai câu tâm cảnh của nàng Kiều: "Bốn phương mây trắng một màu, Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?" Lòng nhớ quê được gợi lên từ cảnh sắc sông nước, từ mây trắng, từ cánh chim chiều, từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: "Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…". Nhà thơ nói rằng lấy ý của hai câu thơ của Thôi Hiệu: "Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai". Tràng giang là một bài thơ hay mà buồn, câu nào cũng buồn. Nhưng cái buồn được luồn vào một phong cảnh đẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng) nhiều đường nét tráng lệ mở ra, vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…) nhiều động từ có sức sống, như sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên…! Bao phủ toàn bài thơ là một nỗi buồn rộng khắp và thấm thía. Nó không phải buồn vì cảnh vật tàn phai, không gian hạn hẹp tù túng. Đó là nỗi buồn của kiếp sống nhỏ nhoi, hữu hạn trước cái vô biên, vô tận, vô hạn. "Tràng giang" đã hoà hợp được những nét cổ điển của thơ Đường với cái dáng dấp hiện đại của thơ mới. Bài thơ đã thổ lộ nỗi niềm của một trái tim cô đơn. Một cái "tôi" trữ tình thống nhất với vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với vô vàn cái "tôi" rời rạc, bơ vơ, mang nỗi buồn to lớn của thời đại. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Trang giang” của Huy Cận
1,243
Phân tích bài thơ “Trở về quê nội” của Lê Anh Xuân Gợi ý Lê Anh Xuân (1940-1968) là nhà thơ miền Nam thuộc thế hệ thi sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Anh đã ngã xuống trên chiến trường Sài Gòn trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. “Tiếng gà gáy”, “Hoa dừa”, “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” là ba tập thơ của Lê Anh Xuân gửi lại cho đất nước quê hương. Năm 1954, Lê Anh Xuân tập kết ra miền Bắc. Cuối năm 1964, anh trở lại miền Nam, trở lại Bến Tre quê nội, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra vô cùng ác liệt. Xa cách quê nội, đã “Mười một năm rồi ta nhớ, ta thương”.. Với 58 câu tự do, tác giả nói lên niém xúc động và tự hào vẻ quê nội Bên Tre thân yêu của mình. 1. Mở đầu là tiếng gọi quê hương cất lên thiết tha; giọng thơ tâm tình đằm thắm, lay động: “Ôi quê hương xanh biếc bóng dừa Có ngờ đâu hôm nay ta trở lại“. Gặp lại quê hương, nhìn bóng dừa xanh biếc thân thuộc, đứa con bồi hồi xúc động. “Có ngờ đâu”… vì niềm xúc động gặp lại quê cha đất mẹ thật quá lớn, như trong mơ. Nhà thơ tự hào vì trong bom đạn của giặc Mỹ, tuy có nhiều mất mát đau thương, nhưng quê hương “vẫn còn ”, vẫn hiên ngang trong “dáng đứng Bến Tre” anh hùng: “Quê hương ta tất cả vẫm còn đây Dù người thân đã ngã xuống đất này” Cảm xúc chất chứa trong lòng bấy nay như tràn ra câu chữ, vần thơ. Sau bao năm dài xa cách, nay gặp lại quê hương, đứa con vô cùng xúc động: “ta gặp lại”, “ta yêu biết mấy”,“ta nhìn”, “ta ngắm ”, “ta say”, “ta run run lắm… ”, “ta thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng”. Chữ “ta” được điệp lại nhiều lần, liên kết với hàng loạt động từ – vị ngữ (gặp lại, yêu, nhìn, ngắm, say… )đã cực tả niềm xúc động lớn lao, mãnh liệt dâng lên trong lòng của đứa con đi xa, nay được trở về gặp lại quê hương. Thương nhớ, xúc động, tự hào dâng lên dào dạt tưởng như tát mãi không bao giờ vơi: “Ta gặp lại những mặt người ta yêu biết mấy Ta nhìn, ta ngắm, ta say Ta run run nắm những bàn tay Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng” Mười câu mơ tiếp theo diễn tả thật hay niềm vui gặp gỡ quê hương sau những năm dài xa cách. Gặp lại con đường xưa, con đường tuổi thơ; "thương nhớ lắm” khi nghe tiếng võng đưa "kẽo kẹt ”, khi nghe tiếng mẹ “ầu ơ…” ru con. Ngắm nhìn hoa cỏ quê nhà, bông trang trắng, bông trang hồng, hoa lục bình tím biếc mà tự hào về tấm lòng trong trắng thuỷ chung của người con gái Bến Tre, mà bồi hồi nhớ về hoài niệm tuổi thơ. Đây là những so sánh liên tưởng hay nhất, xúc động nhất trong thơ Lê Anh Xuân khi nói về tình yêu và niềm tự hào đối với cảnh sắc thiên nhiên và con người quê hương. Chữ “ơi ”cất lên như một tiếng tâm tình với bao trìu mến:Xem thêm: Hãy viết một bức thư ngắn cho người thân kể về việc em được tham gia cuộc thi kể chuyện sách thiếu nhi“Ơi! những bông trang trắng, những bông trang hồng Như tấm lòng em trong trắng thủy chung Như trái tim em đẹp màu đỏ thắm Con sông nhỏ tuổi thơ ta tắm Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng Hoa lục bình tím cả bờ sông”. Hình tượng thơ, ngôn ngữ thơ đầy màu sắc đẹp: “bông trang trắng”, “bông trang hồng”, “tấm lòng em trong trắng”, “trái tim em… đỏ thắm”, “hoa lục bình tím…”, cùng với hình ảnh con sông tuổi thơ “Vẫn còn đây nước chẳng đổi dòng” mang hàm nghĩa nói lên vẻ đẹp và sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của quê hương. Câu “Hoa lục bình tím cả bờ sông” là một câu thơ hay, nhiều thi vị. Chữ “tím” là tính từ, trong văn cảnh được chuyển đổi từ loại thành động từ – vị ngữ diễn tả tình cảm thủy chung dào dạt đối với quê nội. 2. Phần thứ hai bài “Trở về quê nội” nói thật xúc động về con người quê hương. Bà mẹ và người em gái là hai nét vẽ đẹp nhất về quê nội thân yêu. Sự kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình, kết hợp giữa bút pháp hiện thực với bút pháp lãng mạn đã tạo nên những vần thơ đằm thắm nhất thể hiện một cách sinh động cho sức sống và vẻ đẹp quê hương. Giọng thơ bùi ngùi qua lời mẹ kể về những đau thương mất mát của quê nhà: “Tám em bé chết vì bom xăng đặc – Trên đường đi học trở về – Giặc giết chết mười người trong một ấp…”. Trong bom đạn giặc Mỹ, quê nội nhà thơ tang tóc, điêu tàn. Với Vũ Cao: “Bỗng cuối mùa chiêm, quân giặc tới – Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau ” (Núi đôi). Với Hoàng Cầm: “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp – Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn – Ruộng ta khô – Nhà ta cháy…” (Bên kia sông Đuống). Với Tố Hữu: “Làng ta giặc đốt mấy lần qua… ”(Quê mẹ),v.v… Và Bến Tre, quê nội Lê Anh Xuân: “Làng ta mấy lần bom gội nát Dừa ngã ngổn ngang, xơ xác bờ tre”, Cây dừa, cây tre mang nỗi đau, nỗi câm giận cùng quê hương, khi quê hội “đường trắng khăn tang” trong những năm dài đánh Mỹ xâm lược! Hình ảnh bà mẹ là biểu tượng cho chí khí bất khuất hiên ngang, cho tinh thần kiên cường cách mạng. Mẹ đào hầm bí mật, nuôi giấu chở che cán bộ “nằm vùng”. Nhà thơ xúc động tự hào: "Ta có ngờ đâu mái lều của mẹ, Dưới lớp đất kia ngọn lửa vẫn còn Mẹ ta tần tảo sớm hômXem thêm: Phân tích Đi Thi Tự Vịnh của Nguyễn Công Trứ. Nuôi các anh dưới hầm bí mật”. Hình tượng "ngọn lửa" là một sáng tạo thi ca giàu cảm xúc thẩm mĩ. Đó là ngọn lửa thiêng của lòng yêu nước, là ngọn lửa tình thương của lòng mẹ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Bà mẹ Bến Tre, bà mẹ quê nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng đã "hi sinh gan gốc ”, đã 20 năm trời “giữ đất giữ làng”. Đây là những câu thơ hay dựng lên tượng đài bà mẹ miền Nam anh hùng với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ, kính phục và biết ơn vô hạn: "Cả đời mẹ hi sinh gan góc Hai mươi năm giữ đất, giữ làng Ôi mẹ là bà mẹ miền Nam”. Tiếp theo hình ảnh bà mẹ là hình ảnh em gái quê hương. Những nét vẽ đẹp mang màu sắc lãng mạn đầy chất thơ làm hiện lên một “dáng đứng Bến Tre” xinh đẹp, duyên dáng, trong sáng, hồn nhiên, anh hùng. Với khẩu súng trên vai “Em đẹp lắm như mùa xuân bừng dậy", Mái tóc em mang hương vị hoa trái miệt vườn. Giọng cười của em trong trẻo ngọt ngào. Hương sầu riêng, nước dừa xiêm là tâm hồn trinh nữ. So sánh nào cũng độc đáo, thi vị: "Em ơi! Sao tóc em thơm vậy Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng Ta yêu giọng em cười trong trẻo Ngọt ngào như nước dừa xiêm Yêu dáng em đi qua cầu tre lắt lẻo Dịu dàng như những nàng tiên”. Nàng tiên mà biết cầm súng đánh giặc, dáng điệu lại “dịu dàng” đáng yêu. Rõ ràng đó là những nét vẽ lãng mạn. Hồn thơ Lê Anh Xuân là hồn thơ chiến sĩ nên mới viết rất hay bằng cảm hứng làng mạn về cô gái Bến Tre biểu tượng cho vẻ đẹp và sức sống quê hương: "Em là du kích, em là giao liên Em chính là quê hương ta đó Mười một năm rồi ta nhớ ta thương ", Cô gái quê hương được Hoàng Cầm nói đến trong bài thơ "Bên kia sông Đuống” là cô gái Kinh Bắc có "khuôn mặt búp sen ”, có nụ cười rạng rỡ “như mùa thu toả nắng”. Còn cô gái Bến Tre trong thơ Lê Anh Xuân là cô gái miệt vườn dũng cảm cầm súng đánh giặc, mà "Dịu dàng như những nàng tiên". Một nét rất mới trong thơ Lê Anh Xuân là hình ảnh em gái quê hương, cô du lích, cô giao liên thời đánh Mỹ. Thơ ca kháng chiến chống Pháp chưa có hình tượng về người con gái Việt Nam mang tầm vóc và vẻ đẹp như thế! 3. Mười bốn câu trong đoạn ba, nhà thơ nói lên những cảm xúc, ý nghĩ trực tiếp của mình đối với quê hương. Lòng vui sướng biết bao, hạnh phúc biết bao! Đứa con bồi hồi xúc động: “sao thấy lòng ấm lạ” được trở về, “Đêm đầu tiên ta ngủ giữa quê hương”. Đó là niềm hạnh phúc tái ngộ của đứa con li hương đã “Mười một năm rồi…" xa cách. Vả lại, “Hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên” như Chế Lan Viên đã nói. Xem thêm: Nghị luận xã hội - Tình thương là hạnh phúc của con người Hàng loạt hình ảnh vừa hiện thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng nối tiếp xuất hiện: “trời tầm tã mưa tuôn”, “tiếng đại bác gầm rung”, những “hố bom” trên đường, “áo em vẫn còn mảnh vá”, tất cả đều cho thấy quê hương Bến Tre, miền Nam thân yêu đang đứng trước những thử thách nặng nề, cuộc chiến đấu đang diễn ra vô cùng ác liệt. Điệp từ “dù”, cấu trúc câu thơ “dù…vẫn ” để khẳng định một niềm tin, niềm tự hào: “Ôi quê hương ta đẹp quá!” “Đẹp quá” vì màu xanh biếc bóng dừa, vì màu trắng màu hồng của bông trang, đẹp vì lòng mẹ, vì tình em, “đẹp quá ” vì “dáng đứng Bến Tre” của quê nội: “Dù ngoài trời tầm tã mưa tuôn Tiếng đại bác gầm rung vách lá Ôi quê hương ta đẹp quá Dù trên đường còn những hố bom Dù áo em vẫn còn mảnh vá” Câu cảm thán rung ngân cảm xúc dâng trào. Điệp từ làm cho giọng thơ vang lên hào hùng, đĩnh đạc. Trở về quê nội là để dấn thân vào cuộc chiến đấu sinh tử với quân thù, để giải phóng miền Nam. Hành trang chỉ có “trái tim chung thủy, sắc son”, chỉ có “khẩu súng… cháy bỏng căm hờn”. Tiếng thơ hùng tráng vang lên như một lời thề chiến đấu cao cả và thiêng liêng: “Ta về đây, chẳng mang gì cho em cả Chỉ có trái tim chung thủy, sắt son Và khẩu súng trong tay cháy bỏng căm hờn”. Lê Anh Xuân đã trở về quê nội với trái tim và tấm lòng “chung thủy sắt son” của đứa con đối với quê hương; với tư thế chiến đấu “cháy bỏng căm hờn” của người chiến sĩ. Và anh đã ngã xuống trên chiến trường trong tư thế người anh hùng. “Trở về quê nội” là một trong những bài thơ hay và xúc động viết về cảm hứng quê hương thời đánh Mỹ. Hàng loạt câu thơ cảm thán nối tiếp xuất hiện (”Ôi quê hương”…,“Ôi những bông trang trắng,..”,”Ôi bà mẹ là bà mẹ miền Nam”…,”Em ơi!”…,“Ôi quê hương ta đẹp quá!”) diễn tả một cái nhìn vô cùng say mê và xúc động của nhà thơ đối với quê hương. Từ cảnh vật đến con người, từ hoài niệm đến hiện tại đau thương, hình bóng quê hương đồng hiện trong không gian – thời gian – trong tâm tưởng nhà thơ. Tình yêu quê hương sâu nặng, cảm xúc thiết tha say mê, ngôn ngữ hình tượng giàu chất lãng mạn đã tạo nên cốt cách thi sĩ – chiến sĩ của Lê Anh Xuân. “Trở về quê nội” là bài thơ viết về tình yêu quê hương đất nước xuất hiện trong thời kháng chiến chống Mỹ đã cho ta nhiều bồi hồi xúc động. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Trở về quê nội” của Lê Anh Xuân
2,064
Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng Gợi ý Quang Dũng là một hồn thơ chiến sĩ thời máu lửa oai hùng! “Tây Tiến” là bài thơ của người lính nói về người lính – anh Vệ quốc quân thời 9 năm kháng chiến chống Pháp. Quang Dũng vừa cầm súng đánh giặc vừa làm thơ nên thơ ông rất chân thực và hào sảng, dư ba. Bài thơ được Quang Dũng viết vào năm 1948, khi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc bước sang năm thứ ba, chặng đường kháng chiến còn đầy thử thách gian lao. “Tây Tiến" nói lên nỗi nhớ và niềm tự hào của Quang Dũng về đồng đội thân yêu cùng vào sinh ra tử một thời trận mạc. 1. Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi làm nao lòng người. Nổi nhớ thương, nỗi nhớ như nén chặt, bỗng trào dâng: "Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi” Từ "ơi" bắt vần với từ láy "chơi vơi" làm cho âm điệu câu thơ trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Hai chữ "nhớ" như hai nốt nhấn gợi tả nỗi nhớ “chơi vơi” cháy bỏng khôn nguôi. Từ Phù Lưu Chanh ông nhớ dòng sông Mã, nhớ núi rừng miền Tây, nhớ đoàn binh Tây Tiến – một đơn vị bộ đội đã hoạt động tại vùng rừng núi miền Tây Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn La – biên giới Việt Lào trong những năm đầu kháng chiến. Bao kỉ niệm đẹp một thời chinh chiến bỗng sống dậy. Những tên bản, tên mường của rừng xưa núi cũ yêu thương hiện về, bỗng trở nên gần gũi thân thiết, làm xao xuyến hồn người chiến sĩ: "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Những Sài Khao, Mường Lát… những địa danh vời vợi nghìn trùng từng in dấu chân đoàn chiến binh Tây Tiến. Trong “sương lấp” trong "đêm hơi” mịt mù, lạnh lẽo, đoàn dũng sĩ đã phải vượt qua những nẻo đường hành quân vô cùng gian khổ. Ngày nối ngày, đêm nối đêm, trải qua bao dãi dầu, "đoàn quân mỏi" giữa cất biển sương mù của núi rừng miền Tây; "đoàn quân mỏi"tưởng như bị “lấp” đi, bị trĩu xuống trong mệt mỏi, gian truân, nhưng thật bất ngờ, bỗng xuất hiện “hoa về trong đêm hơi”. Cái mỏi mệt, cái gian khổ như đã tiêu tan. Sáu thanh bằng liên tiếp diễn tả cái nhẹ nhàng, cái lâng lâng trong tâm hồn người lính trẻ đi tới đích sau những chặng đường dài hành quân đầy thử thách: " Mường Lát hoa về trong đêm hơi". Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt giữa núi rừng miền Tây. Những đèo dốc " khúc khuỷu","thăm thẳm"chưa từng in dấu chân người! Những “cồn mây heo hút”. Những tầm cao của núi, những chiều sâu của lũng, của suối thử thách chí can trường như chặn bước tiến của đoàn quân: "Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Các từ láy: "thăm thẳm", "khúc khuỷu", "heo hút” được lựa chọn và sử dụng như những nét khắc, nét vẽ có giá trị tạo hình đặc sắc, làm hiện lên những dốc, những cồn mây mà nhà thơ và đồng đội phải vượt qua trong những tháng ngày: "áo vải chân không đi lùng giặc đánh”(Hồng Nguyên). "Súng ngửi trời" là một hình ảnh nhân hóa phản ánh cái ngộ nghĩnh, hồn nhiên trẻ trung và yêu đời của người lính trẻ. Có câu thơ gồm 2 vế tiểu đối, bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ Tây Tiến được "đo" bằng: "Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống". Núi tiếp núi, đèo nối đèo, hết lên cao, lại xuống thấp, đoàn quân đi trong mù sương, trong màn mưa rừng. Từ những đỉnh cao “ngàn thước", các chiến binh dõi tầm mắt nhìn xa. Những bản mường, những nhà sàn thấp thoáng ẩn hiện. Câu thơ thất ngôn, toàn thanh bằng gợi tả cảm xúc tươi vui, lâng lâng thanh thản dâng lên trong tâm hồn người lính trẻ rất lạc quan yêu đời khi dõi nhìn về xa qua màn mưa rừng: "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Những gì đã xảy ra trên những nẻo đường trường chinh lửa máu và gian khổ ấy? Âm điệu câu thơ bổng trìu xuống, nao nao: "Anh bạn dãi dầu không bước nữa, Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Hai tiếng "anh bạn" cất lên như một tiếng khóc thầm. Trong gian khổ "dãi dầu” trong những ngày dài hành quân và chiến đấu, có bao đồng đội thân yêu đã “ không bước nữa",vĩnh biệt đoàn binh, "bỏ quên đờ” bỏ quên đồng chí bạn bè, nằm lại vĩnh viễn nơi chân đèo, góc núi. Bốn chữ "gục lên sung mũ” thể hiện một sự hi sinh vô cùng bi tráng: ngã xuống, gục xuống trên đường hành quân giữa trận đánh khi súng còn cầm trên tay, mũ còn đội trên đầu. Mặc dù Quang Dũng đã thay thế từ “chết”, từ “hi sinh” bằng cụm từ "không bước nữa", "gục lên"…,"bỏ quên nhưng vẫn trào lên bao nổi xót xa, thương tiếc. Sự thật chiến tranh xưa nay vẫn thế! Có điều là vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưng không gợi ra bi lụy, thảm thương, mà trái lại, trong sự tiếc thương có niềm tự hào khẳng định: Vì độc lập, tự do mà có biết bao chiến sĩ anh hùng đã ngã xuống trên các chiến trường, trong tư thế lẫm liệt “gục lên súng mũ…"như vậy!Xem thêm: Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm của nhà thơ được thể hiện qua những con người cụ thể nào?Cảnh tượng chiến trường đâu chỉ có đèo cao, cồn mây, dốc thẳm, đâu chỉ có mưa ngàn, muỗi rừng vắt núi, mà còn biết bao thử thách của rừng thiên tự ngàn đời mang cái vẻ hoang sơ và bí mật, hùng vĩ và oai nghiêm. Chiều nối chiều, đêm tiếp đêm, chiến khu vang động tiếng "gầm thét"của thác, của “cọp trêu ngươi”. Trên một không gian mênh mông của chốn đại ngàn, từ Pha Luông đến Mường Hịch hoang vu, rình rập đe dọa. Chốn rừng thiêng ẩn dấu nhiều bí mật “oai linh”, được nhân hóa như tăng thêm phần dữ dội. Thác thì "gầm thét”, cọp thì “trêu ngươi” như để thử thách chí can trường các chiến binh Tây Tiến: "Chiêu chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi” Vượt lên gian khổ, hi sinh, hành trang người lính đay ắp những kí niệm đẹp của tình quân dân. Quên sao được "cơm lên khói", hương vị đậm đà của "mùa em thơm nếp xôi". Trong cái hương vị đậm đà của bát cơm tỏa khói, của hương nếp xôi còn quyện theo bao tình sâu nghĩa nặng của bà con dân bản Mai Châu, của "mùa em". Hai tiếng "nhớ ôi"gợi lên nhiềuu bâng khuâng, vương vấn, thấm thìa và ngọt ngào: "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. 2. Phần thứ hai bài “Tây Tiến" gồm có 8 câu nói về “hội đuốc hoa” và những chiều sương cao nguyên Châu Mộc. Giọng thơ man mác, bâng khuâng. Nhà thơ tự hỏi mình "có thấy" và "có nhớ". Chất tài tử, tài hoa và lãng mạn của những chàng lính chiến được nói đến thật hay trong đêm "hội đuốc hoa". Chữ “kìa” là đại từ để trỏ từ xa, gợi nhiều ngạc nhiên, tình tứ. Trong ánh lửa đuốc bập bùng, sự xuất hiện những cô gái Mường, cồ gái Thái miền Tây Bắc, những cô gái phù-xao Lào trong bộ xiêm áo dân tộc rực rỡ đã đem đến cho những người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến bao niềm vui, tình quân dân thắm thiết. Có tiếng khèn "man điệu” của núi rừng, có khúc nhạc du dương "xây hồn thơ”. Có dáng điệu duyên dáng "e ấp” của những “bông hoa rừng" đang múa xòe, đang múa lăm-vông: "Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa, Kìa em xiêm áo tự bao giờ, Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” Chữ " bừng" là một nét vẽ có thần. "Bừng" là sáng bừng lên, cháy rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm "hội đuốc hoa".Cũng có nghĩa là tưng bừng rộn ràng qua tiếng khèn "man điệu", qua giọng hát tình tứ, mê say của bài dân ca Thái, dân ca Lào. Nhớ Tây Tiến là nhớ đến những chiều sương cao nguyên, nhớ đến những con thuyền độc mộc, nhớ đến "hổn lau nẻo bến bờ”. Nhớ nhiều, nhớ mãi "dáng người trên dộc mộc", nhớ không bao giờ quên hình ảnh nên thơ “ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa". Nếu không sống mạnh mẽ, sống hết mình của đời người lính trẻ một thời trận mạc gian nan thì không thể nào viết được những vần thơ mang hương sắc núi rừng xa lạ, tươi đẹp và thơ mộng như thế. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng lâng lâng như đang ru hồn ta vào cõi mộng. Chất nhạc, chất thơ, chất hoạ toát lên từ vần thơ, cho thấy tính thẩm mĩ độc đáo của ngòi bút thơ Quang Dũng, đồng thời khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn các chiến sĩ Tây Tiến: trong gian khổ và thử thách, trong gian truân và chết chóc, họ vẫn lạc quan và yêu đời, hồn nhiên và mơ mộng. Đây là một trong những đoạn thơ hay nhất trong bài “Tây tiến” đã thể hiện sự cảm nhận và diễn tả tinh tế, tài hoa vẻ đẹp thiên nhiên và tình người, đồng thời lại rất mực hồn nhiên từng làm mê say người đọc: "Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa".Xem thêm: Hãy phân tích bài bút kí “Ai đặt tên cho dòng sông” để cùng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi đặt ra trong nhan đề tác phẩm3. Phần thứ ba, Quang Dũng đã dựng lên một tượng đài hùng vĩ, bi tráng về đoàn binh Tây Tiến. Đoàn quân luồn rừng đi trong biển sương mù, trong những cồn mây, trong màn mưa, vượt qua bao nhiêu núi cao, đèo cao, dốc thẳm, “ áo vải chân không đi lùng giặc đánh”, bỗng bất ngờ xuất hiện: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm". Đoạn thơ ghi lại một cách chân thật, hào hùng cái khốc liệt dữ dội của chiến tranh, của một dân tộc quật khởi đứng lên dùng giáo mác, gậy tầm vông chống lại sắt thép quân thù. Hình tượng thơ được đặtt trong thế tương phản đối lập để khẳng định chí khí hiên ngang, anh hùng, những tâm hồn với bao mộng mơ tuyệt đẹp. "Đoàn binh không mọc tóc", "quân xanh màu lá",có vẻ tiều tụy, ốm đau vì bệnh sốt rét rừng, nhưng tư thế vô cùng oai phong lẫm liệt: "dữ oai hùm".Cũng là một cách nói truyén thống trong thơ ca dân tộc ngợi ca sức mạnh Việt Nam: “Tâm quân tỳ hổ khí thôn Ngưu" (Phạm Ngũ Lão), “Tỳ hổ bơ quân — Giáo gươm sáng chói (Trương Hán Siêu), “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bể tôi chọn kẻ vuốt nanh"(Nguyên Trãi),… Và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh bộ đội Cụ Hồ mang sức mạnh Việt Nam từ nghìn xưa ra trận vói chí khí lẫm liệt vô song: "Quân xanh màu lá dữ hùm”. Trải qua những năm dài chiến đấu ác liệt, nếm trải biết bao cay đắng ngọt bùi, bao thiếu thốn gian truân, từng đánh những trận đánh đẫm máu giữa rừng sâu. Quang Dũng đã kế thừa một cách sáng tạo thơ ca cổ điển dân tộc để viết nên những vần thơ hào sảng như vậy! Đoàn binh Tây Tiến phần lớn cán bộ và chiến sĩ là thanh niên, học sinh, sinh viên của 36 phố phường, nơi ngàn năm văn vật. Là “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…"ra đi đánh giặc với bao "mộng" và "mơ" tuyệt đẹp: "Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Mộng chiến công. Mộng đánh tan đồn giặc, cướp súng giặc giết giặc. "Mắt trừng” gợi tả tư thế chiến đấu lẫm liệt vô song khi đánh giáp lá cà, khi tung hoành trong đồn giặc! Đồng thời trong hành trang và trong tâm hồn những người lính trẻ còn mang theo bao giấc mơ tuyệt vời. Nhớ về phố cũ trường xưa, mơ về một tà áo đẹp, một “dáng kiều thơm", nơi Hà Nội thân yêu. Câu thơ " Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thể hiện chất tài tử, hào hoa của người lính Tây Tiến. Còn người chiến sĩ trong bài “ Đồng chí” của Chính Hữu, thì nỗi nhớ hướng về ruộng nương, về "gian nhà không mặc kệ gió lung lay", về giếng nước gốc đa… Nỗi nhớ của anh Vệ quốc quân trong bài thơ "Nhớ” của Hồng Nguyên là cả một mối tình quê trang trải, đằm thắm, sâu nặng, thiết tha: … "Ba năm rồi gửi lại quê hương, Mái lều gianh, Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ, Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya"… Qua đó, ta thấy nỗi nhớ, cái mộng mơ của người lính thời trận mạc là nông dân, hay tiểu tư sản thành thị đều đẹp và đáng yêu vì nỗi nhớ, cái mộng mơ ấy đéu biểu lộ một tình yêu quê hương thắm thiết. Nếu có ai đó cho rằng câu thơ của Quang Dũng mang theo mộng rớt, buồn rớt, cái đuôi tiểu tư sản…thì mới thật buồn thay. Thời gian và độc giả hơn nửa thế kỉ qua đã khẳng định cái hay riêng của thơ Quang Đũng vì nó góp phần làm phong phú thêm chân dung "anh bộ đội Cụ Hồ” trong kháng chiến chống Pháp. Cái giá của độc lập, tự do được đo bằng tầm vóc lớn lao và khí phách của dân tộc, được ghi nhận bằng xương máu của nhân dân, mà trước hết là xương máu của hàng ngàn, hàng vạn người lính trên chiến trường. Cái ý tưởng cao đẹp: “Tổ quốc hay là chết” đã được Quang Dũng thể hiện bằng những vần thơ bi tráng lay động lòng người: "Rải rác bên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành". Có biết bao đồng đội thân yêu của nhà thơ đã ngã xuồng trong lửa đạn. Với “áo bào thay chiếu”rất bình dị, chẳng có "da ngựa bọc thây” như những tráng sĩ thời xưa, các anh đã thanh thản "về đất", vĩnh vỉễn nằm trong lòng Mẹ — Tổ quốc thân yêu. Các anh đã "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".Hai chữ rất sáng tạo. Tiếng thác sông Mã "gầm lên"vang vọng giữa núi rừng như dội lên trầm hùng trong lòng đồng đội. Nó như tiếng kèn trong bài "Chiêu hồn liệt sĩ” như loạt đại bác nổ xé trời giữa núi rừng chiến khu, mang sắc thái của một lời thề cao cả, thiêng liêng. Đặt cái chết của những anh hùng vô danh giữa một không gian rộng lớn, giữa một thiên nhiên bao la hùng vĩ, câu thơ "rải rác biên cương mồ viễn xứ” đã làm cho nỗi đau mất mát hi sinh càng thêm mênh mang, càng được nâng lên tầm lẫm liệt, bi tráng. Cao cả hơn nữa là lí tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc được khẳng định như một lời thề, một niểm tin mãnh liệt: "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Xem thêm: Phân tích đạo lý uống nước nhớ nguồn qua bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy"Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy"(Chế Lan Viên). Những câu thơ trên đây của Quang Dũng thực sự ngang tầm vóc với các chiến sĩ Tây Tiến, với những đồng đội đã bỏ mình vì Tổ quốc, đã oanh liệt hi sinh giữa núi rừng biên cương Việt – Lào. Quang Dũng đã miêu tả và ngợi ca người lính Tây Tiến mang chí khí những anh hùng vô danh, những anh hùng thời đại, ra trận với “tình sông núi ", với quyết tâm "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh". Họ đã đi tiếp con đường tổ tiên, ông cha, đã đem máu xương ra giữ vững sơn hà xã tắc. Họ đã sống bình dị, yêu đời, biết mơ ước khát khao, rất hồn nhiên, lạc quan. Họ đã sống anh dũng, chết vẻ vang, sẵn sàng đem xương máu " hiến dâng cho nhân dân và đất nước”, Nhà thơ đã làm rung lên niềm thương tiếc, tự hào! Sau này trong bài thơ "Sông Lào"cũng nói về những “nấm mồ viễn xứ” của những ngươi con ưu tú khắp mọi mỉển quê, Chế Lan Viên xúc động, nghẹn ngào: …"Tôi qua những con sông Lào đâu chỉ uống vào thơ Gặp nghìn nấm mộ Và trăm bản Lào bom Mĩ đốt ra tro! Ngủ lại Xê-băng-hiên chàng đất sông Hồng Ngủ lại Xê-băng-phai là chàng Phú Thọ Bóng klộp, bóng bằng lăng che mình thay bóng cọ. Chàng trai Nghĩa Bình ngủ ở Xê-kông Nén hương thơm lẫn với hương rừng Những cô gái Lào đến thăm phần mộ Các anh chưa từng cầm tay múa và múa lăm-vông…” Đúng là "Có cái chết hóa thành bất tử”(Tố Hữu). Nhiều nhà thơ Việt Nam, trong đó có Quang Dũng đã viết nên những bài ca nói lên ý chí chiến đấu quả cảm và sự hi sinh oanh liệt của người chiến sĩ Vệ quốc trong thời đại Hồ Chí Minh! Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi: ‘Tây Tiến người đi không hẹn trước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi". Mùa xuân ấy, khi “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non song”(Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: "Nhất khứ bất phục hoàn". Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ “Chiến trường đi chẳng đời xanh”.Các anh đã giã biệt quê hương. Những ai còn ai mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bạn bè, đồng đội thân yêu, những ai đó "Hồn Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nhưng quê hương vẫn đời đời ôm ấp bóng hình anh – người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến. Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của nó vẫn bồi hồi vang vọng trong tâm hồn ta. Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay không có tuổi cũng như mùa xuân không ngày tháng. Đó là “Đèo Cả” của Hữu Loan, là "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Đồng chí"của Chính Hữu, "Tây tiến” của Quang Dùng, và nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. “Tây Tiến” là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong độ hào hùng của nhà thơ chiến sĩ, Quang Dũng đã chạm khắc vào thời gian, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến á vô danh Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Trước linh hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm hương, nghiêng mình với tình cảm biết ơn và kính phục nhà thơ cùng những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng
3,397
Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu Gợi ý “Việt Bắc” là bài thơ kiệt tác của Tố Hữu, là một trong những thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954). Ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hào hùng của đân tộc, sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Thủ đô Hà Nội rợp đỏ bóng cờ trong ngày hội non sông (10 – 1954), bài thơ “Việt Bắc” là tiếng hát nghĩa tình son sắc thủy chung của mình với ta, của chiến sĩ, cán bộ, đồng bào đối với chiến khu “Việt Bắc” với cách mạng và kháng chiến, đối với Đảng và Bác Hồ của miến xuôi và miền ngược; là khúc tráng ca anh hùng của một dân tộc thắng trận sau hơn ba ngàn ngày máu lửa. Bài thơ “Việt Bắc” mang tầm vóc một trường ca, dài 150 câu thơ lục bát, vừa mang âm điệu ca dao, dân ca đậm đà, vừa mang vẻ đẹp thơ ca cổ điển và thơ ca cách mạng dân tộc. 1. Mở đầu bài thơ là cảnh đưa tiễn của mình với ta, giữa kẻ ở với người về đã gợi ra một trời thương nhớ, lưu luyến, bồn chồn, thiết tha: Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” hiện lên trong buổi tiễn đưa đã tạo nên màu sắc Việt Bắc, màu sắc núi rừng chiến khu, màu thương nhớ của mối tình quân dân “đậm đà lòng son ”suốt mười lăm năm trời cách mạng và kháng chiến: Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… Có biết bao kỉ niệm sâu sắc ghi nhớ trong lòng, trải suốt một chặng đường dài gian lao và anh dũng, từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nãm 1940 đến chiến thắng Điện Biên và ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (mùa thu năm 1954). Những câu hỏi của người ở lại hoà theo tiếng hát cứ quyện vào hồn, thấm sâu vào lòng người cán bộ kháng chiến về xuôi: “Mình về có nhớ… Mình đi có…” Mình đi có nhớ những tháng ngày “nhóm lửa” gian khổ: “Mưa nguồn suối lữ những mây cùng mù”. “Mình về có nhớ chiến khu" thời đánh Pháp đuổi Nhật “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”. Trong thiếu thốn gian lao, nợ nước thù nhà khắc sâu hồn người, càng chất chứa trong lòng, càng đè nặng đôi vai: “Mày sẽ chết! Thằng Pháp hung tàn – Băm xương thịt mày tan mới há” (“Dọn về làng”- Nông Quốc Chấn). Mình đi…, mình về… có nhớ, nhớ trám bùi, nhớ măng mai, nhớ lau xám, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ "Tân Hồng Thái, mái đình cây đa?”. Nhớ Việt Bắc là “Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, nhớ đồng bào các dân tộc tuy nghèo khổ thiếu thốn nhưng tình nghĩa thuỷ chung son sắt với cách mạng. Những ẩn dụ, tượng trưng trong thơ Tố Hữu thật rung động, mở ra một không gian thương nhớ mênh mông với bao tình nghĩa vơi đầy: Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son. Xa dần Việt Bắc, trên đường về Thủ đô, về xuôi, người cán bộ kháng chiến mang theo bao nỗi nhớ, chất chứa dào dạt trong tâm hồn bao kỉ niệm đẹp và sâu sắc: Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu… Người đi, người về mang theo bao nỗi nhớ: nhớ mình, nhớ trăng lên đầu núi, nhớ nắng chiếu lưng nương, nhớ bản khói cùng sương, nhớ bếp lửa, nhớ rừng nứa bờ tre, Ngòi Thia, Sông Đáy, suối Lê… Một củ sắn lùi, một bát cơm sẻ nửa, chiếc chăn sui… trong những tháng ngày “đắng cay ngọt bùi” ấy, người về có bao giờ quên. Sự đồng cam cộng khổ đã làm cho tình thương nỗi nhớ thêm bồi hồi da diết: “Thương nhau chia của sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”,Xem thêm: Bàn về Nghệ thuật gây thiện cảm Các từ ngữ: thương nhau, sẻ nửa, đắp cùng như những ngọn lửa thắp sáng vần thơ, làm cho tình đồng bào đồng chí, tình quân dân, tình cá nước thêm ấm áp. Nhớ chiến khu, nhớ Việt Bắc, ta nhớ mình, nhớ người mẹ vất vả, tần tảo “nắng cháy lưng, dịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”. Điệp ngữ “nhớ sao” diễn tả bao da diết bồn chồn: nhớ sao lớp học i tờ, nhớ sao đuốc sáng những giờ liên hoan; nhớ tiếng hát giữa lưng đèo, vách núi, nhớ tiếng mõ rừng chiều, nhớ tiếng đêm nện cối… của khúc nhạc rừng chiến khu: Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan. Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo, Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. “Chín năm nắng núi mưa ngàn ”, người cán bộ kháng chiến đã gắn bó tâm hồn mình với chiến khu. “Những hoa cùng người” của Việt Bắc trong bốn mùa đã trở thành mảnh tâm hổn của ta cùng với bao nỗi nhớ: Ta về mình có nhớ ta, Ta về ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng, Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng, Nhớ cô em gái hái măng một mình. Rừng thu trăng rọi hòa bình, Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Đoạn thơ như một bài hành mang vẻ đẹp cổ điển. Thiên nhiên và con người Việt Bắc được điểm nhãn trong bức tranh tứ bình đẹp như gấm như thêu. Màu đỏ tươi của hoa chuối giữa rừng xanh mùa đông và con dao quắm của người đi nương, đi rẫy “nắng ánh” trên đèo cao. Hoa mơ mùa xuân “nở trắng rừng” và người thợ thủ công khéo léo đan nón “chuốt từng sợi giang”. Rừng phách mùa hè “đổ vàng” trong tiếng ve và hình ảnh cô gái Việt Bắc “một mình ”đi hái măng giữa rừng tre rừng trúc. Tiếng hát ân tình thuỷ chung của ai cất lên trong rừng thu dưới ánh trăng xanh hoà binh mát dịu. Tất cả đều trở thành nỗi nhớ của ta, của người cán bộ kháng chiến. Tố Hữu đã sống hết mình với Việt Bắc nên ông mới viết thật hay về nỗi nhớ ấy. Cảnh sắc thiên nhiên đẹp rực rỡ, đẹp dịu dàng và đầy sức sống. Cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mùa nào cũng đẹp, một vẻ đẹp thơ mộng xinh tươi. Con người Việt Bắc được nói đến là con người lao động: người đi làm nương rẫy, người thợ thủ công, cô gái hái măng, và ai đang cất cao tiếng hát – tất cả đểu tượng trưng cho những đức tính tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Việt Bắc như cần cù, khéo léo, lạc quan yêu đời. Đọc bài thơ “Việt Bắc”, ta không bao giờ quên được cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa và những con người lao động đáng yêu ấy. Nhớ Việt Bắc là nhớ chiến khu bất khả xâm phạm: “Núi giăng thành lũy sắt dày”. Nhớ Việt Bắc là nhớ thế trận chiến tranh nhân dân thần kì: “Rừng cây núi đá ta cùng đánh Táy”.Nhớ Việt Bắc là nhớ chiến khu với tất cả niềm tự hào về khối đại đoàn kết dân tộc làm nên sức mạnh Việt Nam để chiến đấu và chiến thắng: Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng. Tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh ẩn dụ và nhân hóa ngợi ca chiến khu Việt Bắc mang tầm vóc dũng sĩ hiên ngang – cái nôi của cách mạng “dựng lên Cộng hòa”. “Ai về ai có nhớ không?” – Ta nhớ nhiều và nhớ lắm. Nhớ những nẻo đường chiến dịch, nhớ những địa danh lịch sử mà bộ đội ta từng vào sinh ra tử, làm cho giặc Pháp bạt vía kinh hồn: “nhớ Phủ Thông, đèo Giàng, Nhớ sông Lô nhớ phố Ràng – Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà”. Cả một trời thương nhớ không bao giờ có thể quên. Ta về ta nhớ những con đèo, những dòng sông, những ngọn núi…, nay “đã hoá tâm hồn” ta từ những tháng ngày gian khổ và oanh liệt.Xem thêm: Viết đoạn văn ngắn giải thích tại sao ngày khai trường để vào lớp Một là ngày có dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm hồn của mỗi con người Nhớ Việt Bắc là nhớ những nẻo đường chiến dịch, nhớ những đêm “rầm rập” hành quân ra trận. Là nhớ những binh đoàn “Quân đi điệp điệp trùng trùng” trong ánh sao đêm. Là nhớ những đoàn dân công vận tải “Bước chân nát đá” theo ngọn đuốc đỏ rực, cùng ánh “đèn pha bật sáng” của đoàn xe kéo pháo ra trận. Giọng thơ mang âm điệu anh hùng ca cất lên như những tiếng reo biểu lộ niềm vui trước khí thế chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta trong ba nghìn ngày khói lửa: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất nung. Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đấu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. “Ai về ai có nhớ không? – Ta về…, ta nhớ nhiều và nhớ lắm! ” Nhớ Việt Bắc là nhớ "thủ đô gió ngàn" của cuộc kháng chiến, là nhớ "Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang", là nhớ "Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào", là nhớ "Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa"… Chiến khu Việt Bắc là nơi gửi gắm bao niềm tin của đổng bào và chiến sĩ trên mọi miền đất nước gần xa trong những năm dài chiến đấu gian khổ: “Trông về Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi… Nhìn lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Việt Bắc là nơi hội tụ mọi chiến công, chiến thắng của quân và dân ta từ khắp các chiến trường báo về; niềm vui thắng trận dâng lên dào dạt: Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bấc, Điện Biên vui về. Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng. 2. Lời đối đáp tâm tình của mình,ta được thể hiện trong phần thứ hai bài thơ “Việt Bắc ” càng trở nên bồi hồi tha thiết; người ở, người về, miền xuôi và miền ngược càng gắn bó ân tình sâu nạng. Món quà Việt Bắc gửi về miền xuôi là đặc sản, là "cây nhà lá vườn ”, là hương vị của núi rừng: Mình về ta gửi về quê, Thuyền nâu, trâu mộng với bè nứa mai. Món quà ấy càng làm cho tình nghĩa mình – ta, tình non nước thêm bền đẹp, càng làm cho cuộc sống, cuộc đời thêm đậm đà sắt son: “Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhòa…Phên nhà lại ấm, mái đình lại vui”. “Việt Bắc” là bài ca tình nghĩa. Có biết bao câu hỏi vang lên dồn dập như nhắc nhở, như khắc sâu những tình cảm tốt đẹp của quân dân, của cách mạng và kháng chiến, của mình với ta: – Nhà cao còn thấy núi nữa chăng? – Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? – Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui? Hai chữ “ngày mai” được điệp lại, mở ra một trời mơ ước bao la. Và đó cũng là niềm tin yêu của những tấm lòng ân tình, ân nghĩa thủy chung: – Ngày mai về lại thôn hương Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về Ngày mai rộn rã sơn khê, Ngược xuôi tàu chạy,bốn bề lưới giăng… Việt Bắc sẽ đổi thay trong sự đổi thay của đất nước. Những nhà máy mới sẽ mọc lên. Phố phường sẽ mọc lên. Có nhiều mái trường ngói mới đỏ tươi cho tuổi thơ. Có “Chợ vui trăm nẻo về khơi nguồn hàng” Mối quan hệ đầy tình nghĩa giữa miền xuôi và miền ngược, sẽ trở nên sâu nặng, gắn bó thiết tha vồ cùng. Muối Thái Binh, cày bừa Đông Xuất, mía đường tỉnh Thanh, chum vại Hương Canh… là đặc sản miền xuôi gửi lên miền ngược sẽ góp phần làm cho cuộc sống mới thêm ấm áp, đẹp tươi. Món quà miền xuôi gửi lên miền ngược là món quà tình nghĩa "Ai mình gửi cho anh hỡi nàng”: Xem thêm: Nghị luận xã hội về tự học- Văn 12 Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông. Những món quà tình nghĩa ấy đã làm cho lời thề giữa mình với ta được khắc sâu, làm cho khúc tình ca non nước mãi mãi bền đẹp: Nước trôi lòng suối chẳng trôi Mây đi mây vẫn nhớ hồi về non. Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn… Một trong những hình ảnh đẹp nhất được Tố Hữu tô đậm trong bài thơ là hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Ông Cụ đã từng hoạt động bí mật tại Cao Bằng. Người đã đến với Tân Trào trong những ngày Quốc dân đại hội. Người đã sống và đi thuyền trên sông Đáy. Bác đã đi chiến dịch Biên giới… nay Bác về xuôi cùng đoàn quân thắng trận. Núi rừng Việt Bắc “không nguôi nhớ Người” ngẩn ngơ “trông theo bóng Người”, Bức chân dung lãnh tụ vừa cổ kính thiêng liêng vừa bình dị, gần gũi: Mình về với Bác đường xuôi Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ người. Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường! Nhớ Người những sáng tinh sương Ung dung yên ngựa trên đường suối reo Nhớ chân Người bước lên đèo Người đi, rừng núi trông theo bóng Người. Nét vẽ nào cung thần tình. Có núi rừng, có đèo cao, có suối reo… làm nền cho bức hoạ truyển thần. Có những nét chấm phá linh diệu về Ông Cụ: mắt sáng ngời, áo nâu túi vải đẹp tươi, phong thái ung dung khi ngồi trên yên ngựa trong tiếng suối reo, khi bước trên đèo cao… Thời gian là những sáng tinh sương. Thần thái của Người là thông minh tài trí, là giản dị, bình dị, là ung dung, thanh cao. Thiên nhiên được nhân hóa: “Người đi rừng núi trông theo bóng Người” làm cho tình thương nhớ, lưu luyến và sự kính yêu ngưỡng mộ của nhân dân đối với Bác Hồ thêm đậm đà, sâu sắc. Đây là một trong những đoạn thơ hay nhất, đẹp nhất của Tố Hữu viết về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Bài thơ “Việt Bắc” được khép lại trong tình non nước và lòng biết ơn Bác Hồ kính yêu. Đó là mối tình đời đời bất diệt: Ngàn năm non nước mai sau Đời đời ơn Bác càng sâu càng bền. “Việt Bắc” là sự kết tinh nghệ thuật thơ ca dân gian và thơ ca cổ điển của dân tộc. Cách đối đáp giữa mình với ta theo lối ca dao dân ca được vận dụng sáng tạo. Tinh lưu luyến, bồi hồi giữa kẻ ở người về gắn liến với bao kỉ niệm đắng cay, ngọt bùi trong suốt mười lăm năm trời, từ ngày “kháng Nhật thuở còn Việt Minh” đến ngày chiến thắng giòn giã: “Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về”. Hình ảnh quân dân kháng chiến, hình ảnh lãnh tụ kính yêu, cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng, hùng vĩ, đẹp tươi… tất cả đã chung đúc một cách hài hòa, tuyệt đẹp làm nên tính dân tộc và tính hiện đại của bài thơ tuyệt bút này. “Việt Bắc ” là khúc tình ca cũng là bản anh hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Nó đã nâng cao tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Tinh ân nghĩa thuỷ chung là bài học sâu sắc đối với mỗi chúng ta, mãi mãi là hành trang của mỗi chúng ta. “Thơ hay phải có dư vị văn chương”như có người đã nói. Trong những năm dài sống trong chế độ bao cấp, thiếu thốn đủ điều, có lúc phải ăn bo bo, nên khi đọc Việt Bắc, nhiều người chưa cảm thấy “dư vị” của nó. Bước sang thế kỉ XXI, đất nước ta đang đổi mới từng ngày từng giờ. Tuy đến nay (2008), Việt Bắc chưa có cảnh tượng “Phố phường như nấm, như măng giữa trời”, nhưng ai cũng cảm thấy lạc quan và hi vọng. Dự báo ấy chính là “dư vị văn chương” của bài thơ “Việt Bắc” Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu
2,854
Đề bài: Em hãy phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Có thể thấy những bài thơ lớn của Tố Hữu đều sáng tác vào những điểm mốc của lịch sử cách mạng Việt Nam. Bài thơ “Việt Bắc” được xem là kiệt tác của Tố Hữu cúng được sáng tác trong một thời điểm trọng đại của đất nước. Vào năm 1954, khi mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân tộc Việt Nam ta đã thắng lợi, hoà bình được lập lại. Lúc này thì chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng, cán bộ, và bộ đội rời Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội. Có thể thấy trong không khí chia tay đầy nhớ thương sự lưu luyến giữa nhân dân Việt Bắc và đó là cả những người cán bộ cách mạng, nhà thơ đã thật xúc động Tố Hữu và sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Có thể thấy được với tầm nhìn của một nhà thơ cách mạng, và cũng là một nhà tư tưởng, Tố Hữu như đã phản ánh sâu sắc hiện thực kháng chiến mười lăm năm của Việt Bắc và như cũng đàn dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. Ta có thể thấy rằng đoạn trích bài thơ “Việt Bắc” dường như đã miêu tả cuộc chia li đầy thương nhớ lưu luyến giữa Việt Bắc và cả những người cán bộ kháng chiến như đã gợi lại những kỉ niệm kháng chiến anh hùng mà biết bao tình nghĩa. Tác giả dường như cũng đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và cả những con người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Có thể thấy cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như chính là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến. Mở đầu của bài thơ đặc sắc này chính là lời của Việt Bắc. Để cho Việt Bắc – là lời người ở lại – mở lời trước là rất tế nhị, vì trong khi chia tay thì người ở lại thường không yên lòng đối với người ra đi “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?” Dường như ở bài thơ “Việt Bắc” có hai giai điệu chính. Câu thơ mở đầu đó là “Mình về mình có nhớ ta” như là một giai điệu chính thứ nhất. Câu thơ dường như cũng mới đọc thoáng qua tưởng không có gì nhưng sâu sắc lắm. Một trăm cặp tình nhân chia tay cũng đều nói lời này. Tố Hữu thật tài tình khi đã mượn màu sắc của tình yêu mà phô diễn tình cảm cách mạng. Đại từ được sử dụng rất hấp dẫn “Mình” và “Ta’ như đã đứng ở hai đầu câu thơ, đã thấy xa cách biết bao. Và cat từ “nhớ” cũng đã được điệp lại ba lần đã tạo ra âm hưởng chủ đạo của bài thơ như đầy những sự lưu luyến, nhớ thường, ân tình ân nghĩa.Xem thêm: Đặc sắc phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện như thế nào qua tùy bút Người lái đò Sông Đà Người về dường những cũng lặng đi trước những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc: “Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” Việt Bắc lại hỏi: “Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?” Và để như cho Việt Bắc hỏi là một cách nhà thơ cũng đã khơi gợi lại những ngày kháng chiến gian khổ. Chỉ với một vài hình ảnh như “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” như đã nói lên được khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. “Mình’ và ‘Ta’ dường như cũng đã từng chịu chung gian khổ với cảnh “miếng cơm chấm muối”, và cũng đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”. Vẫn còn là lời hỏi của Việt Bắc, nhưng tứ thơ chuyển như sau: “Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già. Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son” Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” như cũng đã nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Khi mà mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng biết nhường nào “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Quả trám (trám xanh và trám đen) là một trong những loại quả đặc trưng cho núi rừng Việt Bắc và măng mai chínhlà hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến. Tác giả như đã mượn cái thừa để nói cái thiếu, thật hay. Có thể thấy chính những hình thức đối lập giữa cái bên ngoài (hắt hiu lau xám) và bên trong (đậm đà lòng son) dường như cũng đã biểu hiện chân thật cuộc sống lam lũ, nghèo đói của người dân Việt Bắc, nhưng trong lòng thì thuỷ chung son sắt với cách mạng. Cuối lời Việt Bắc hỏi người về rằng: “Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?” Thật dễ nhận thấy giai điệu chính thứ hai của bài thơ xuất hiện: “Mình đi, mình có nhớ mình”. Nếu như là giai điệu một là đạo lí của dân tộc với tư tưởng ân nghĩa thì giai điệu hai là cách mạng. Việt Bắc cũng như đã nhắn nhủ với người về là chẳng những “nhớ ta” mà còn phải “nhớ mình’, nói theo ngôn từ của tình yêu thì đây có thể thấy chẳng những phải “nhớ em” mà còn phải “nhớ anh” nữa. Cái “anh” mà hồi ở với em. Mình cũng như đã sống với Ta mười lăm năm, tình nghĩa biết bao nhiêu, anh hùng biết mấy. Và như “Mình” với “Ta” cũng đã viết lên những trang sử oai hùng của dân tộc “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”. Cho nên khi bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòng đổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình:Xem thêm: Phân tích tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu-Văn 12 “Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?” Cũng như để cho Việt Bắc ướm hỏi dè chừng như vậy là một cách khéo léo nhà thơ Tố Hữu dường như cũng đã dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình. “Mình đi, mình có nhớ mình” Đây có thể coi là câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc” mà cũng là một sáng tạo tuyệt vời của Tố Hữu! Khi mà đã đón hết những lời ân tình ân nghĩa của Việt Bắc, bây giờ thì đã đến lúc người về mới mở lời. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa: “Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh, Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…” Ta có thể thấy hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Dường như ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một: “Mình đi, mình lại nhớ mình” (Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”) Ta như có thể cảm nhận thấy để diễn ra ngôn ngữ của tình yêu là “Anh đi anh lại nhớ em”. Và ngay cả nỗi nhớ của người đi cũng thật là dào dạt, nghĩa tình của người đi đối với Việt Bắc thật là bất tận biết boa nhiêu“Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu”. Người đi trả lời như vậy hẳn làm yên lòng người ở lại – Việt Bắc. Như vậy, đây chính là những biến tấu của giai điệu một đã hình thành và mở rộng đến vô cùng. Tất nhiên, đấy cũng chỉ được coi là một thủ pháp để nhà thơ miêu tả mối quan hệ khăng khít giữa Việt Bắc và cách mạng mà thôi, miêu tả lại bản anh hùng ca kháng chiến của quân dân Việt Bắc. Để xua tan đi mọi sự hoài nghi của người ở lại, người về đã như phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người: “Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” Từ “nhớ” như đã được điệp lại trùng trùng và mỗi từ lại gợi lên không biết bao nhiêu kỉ niệm thân thương giữa Ta với Mình. Có thể thấy những chi tiết nhỏ nhặt đã được hồi tưởng (mà cái nhỏ trong tình yêu chính là cái lớn). “Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” Con người Việt Bắc trong lòng người về mới đáng yêu đáng quý làm sao: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.” Một tiếng mõ trâu giữa rừng chiều thôi hay là một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về rồi. “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” Nói tóm gọn lại là khi người về nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, thơ mộng hữu tình và cả là nỗi nhớ con người Việt Bắc giản dị, tình nghĩa, thủy chung.Xem thêm: Bình giảng đoạn văn sau đây trích trong tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân: "Thuyền tôi trôi trên sông Đà... con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên" Từ giọng điệu anh hùng ca có thể thấy trong cuộc kháng chiến anh hùng của “Ta’ và “Mình’ cũng như đã được tái hiện trong hòai niệm của người về: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.” Có thể nhận thấy thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc dường như cũng trở lên tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. “vây”, “đánh” quân thù. Và trong mỗi một tên núi, tên sông, tên phố, tên bản là một chiến công lừng lẫy của quân và dân Việt Bắc. Và rồi trong cả những đêm hành quân, những đoàn dân công, những đòan xe vận tải tấp nập sôi động: “Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.” Tác giả dường như lại đã chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ – Cụ Hồ. Và ta có thể nhận thấy chính những hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, lừ niềm tin là hi vọng của cả dân tộc. Người về, dường như cũng không thể nào mà quên trả lời câu hỏi gay cấn của Việt Bắc: “Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” (Trả lời cho câu hỏi “Mình đi mình có nhớ mình”) Điều này có nghĩa là người về cũng như muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dù xa cách dù về thành thị xa xôi thì người các bộ kháng chiến năm xưa vẫn luôn luôn giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ cách mạng. Có như vậy là với biến tấu của giai điệu hay và trữ tình, tác giả Tố Hữu như đã khép lại phần một của bài thơ”Việt Bắc”. Và chủ đề chung thủy – chung thủy với cách mạng của bài thơ “Việt Bắc” đã đạt đến độ sâu sắc ngay trong phần một này. “Việt Bắc” chính là một kiệt tác của Tố Hữu mà dường như cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ như đã thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Cùng với thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Và dễ nhận thấy với lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ sẽ còn sức kay động lòng người Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12
2,180
Phân tích bài thơ “Việt Bắc” đế thấy được tính dân tộc được thể hiện rất đậm đà trong nghệ thuật thơ Tố Hữu Gợi ý Thơ Tố Hữu không phải không có những yếu tố cách tân nhưng trong hai hướng lớn của thơ tiên phong cách tân và tìm về truyền thống, thì thơ Tố Hữu nghiêng về hướng thứ hai. Vì thế bước vào thế giới Tố Hữu, người ta thấy quen nhiều hơn lạ. Người ta thấy thơ Tố Hữu gần gũi với cổ điển, với dân gian. Đó cũng chính là một yếu tố làm nên sức mạnh của thơ Tố Hữu Bản sắc dân tộc là một vấn đề vô cùng phức tạp. Người ta không thế khẳng định chắc chắn rằng tính cách này là của riêng dân tộc này. phẩm chất kia là độc quyền của một dân tộc khác Không phải sản phẩm sinh ra ở dân tộc nào thi nó chỉ kết tinh bản sắc của dân tộc ấy. Lắm khi bản sắc là sự phù hợp, ưa dùng. Có lẽ nhiều nước có đàn bầu, và Việt Nam thì chưa chắc đã là quê hương của đàn bầu, nhưng rõ ràng đàn bầu là thứ nhạc cụ thể hiện được những rung động rất sâu sắc của con người Việt Nam, âm sắc đàn bầu như thuộc về điệu hồn người Việt. Cũng như thế, hiện nay ở Đông Nam Á, người ta thấy nhiều nước có thơ lục bát. Tuy nhiên, lục bát là thể thơ được người Việt Nam ưa dùng, họ thấy lục bát gần gũi với tâm hồn mình. Nó biểu hiện một cách thuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt. Vì thế, khi một nhà thơ dùng thể lục bát, tự khắc người ta thấy gần gũi – lục bát sẽ rung lên cái sợi tơ lòng chung của những tấm lòng Việt. Tố Hữu tìm về lục bát khá sớm Trước khi viết Việt Bắc, ông đã có nhiều thành tựu về lục bát. Nhưng có lẽ "Việt Bắc" là bài thơ lục bát hay nhất của Tố Hữu, trong đó âm điệu lục bát đà nhuần nhuyễn, tinh diệu, đến mức mẫu mực: Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi đề rụng măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng sonXem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về những điều Thượng Đế sẽ hỏi và không hỏi ở trên. Theo anh (chị), Thượng Đế có thể hỏi những điều gì nữa?Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa. Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương. Những câu thơ lục bát ấy có thế xếp bên cạnh những câu ca dao dân gian, những câu lục bát cổ điển hay nhất của ta. Tiếng Việt trong những câu ấy thật bình dị mà đằm thắm, thật trong trẻo mà sâu lắng bởi thơ quện thật chặt với những tiết tấu co duỗi mềm mại. rát lên như những nốt nhạc, những giai điêu bằng ngôn từ Nhưng nói đến "Việt Bắc" có lẽ cái gây ấn tượng đậm nhất trong người đọc là cái cấu trúc độc đáo của nó. Tố Hữu đã tái hiện một bức tranh hoành tráng trải ra trong một thời gian dài tới mười lăm năm (Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh) bao quát một không gian rộng, bao quát toàn bộ Việt Bắc (Từ "Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào" đến "Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà"). Bài thơ muốn có xu hướng trở thành diễn ca lịch sử (kiểu như "Ba mươi năm đờỉ ta cỏ Đảng" sau này!) Nhưng sở dĩ nó không là diễn ca hẳn, bởi vì thi sĩ đã tìm đến một kết cấu truyền thống của lối Hát giao duyên. Cả bài thơ dài như một cuộc hát đối đáp nam nữ. Tựa như những khúc trữ tình trong "Giã bạn" hay "Tiễn dặn người yêu". Cả bài thơ dài chủ yếu là lời của hai nhân vật. Người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Tựa như liền chị – liền anh" trong hát Quan họ. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đáng và Chính phủ kháng chiến với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một đôi trai gái. Nói khác hơn, tác giả đã chọn tình yêu của đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc, với "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng". Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân tộc Đất nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách Tâm tình hoá chính là một đặc trưng của lối thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu. Việc "dời đô" (Việt Bắc là thủ đô kháng chiến – Tố Hữu gọi là "Thủ đô gió ngàn") đã thành câu chuyện ân tình chung thuỷ của người cách mạng với rừng núi chiến khu, với đồng bào, với quá khứ, với chính mình… Đôi trai gái xưng hô theo lối rất dân gian: Ta – mình. Mối băn khoản lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay giã bạn là ân tình – chung thuỷ:Xem thêm: Anh đi nhé Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăng? Phố cao còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng "Mình về mình có nhở ta" đã là chuyện chung thuỷ! Nhưng "Minh đi mình cỏ nhớ mình" thì ân tình thuỷ chung đã đươe đẩy tới một mức thật sâu. Mình đi khỏi Việt Bắc là đi khỏi thời gian khổ, nơi gian khổ. có thể mình quên ta. phu ta Nhưng mình có nhớ chính mình chăng, Có phụ chính mình được chăng? Bởi quên ta cững là quên chính mình đó. Những câu hỏi thâm thúy ân tình như vậy đã giúp Tố Hữu dân gian hóa, truyền thống hoá một vấn đề của cách mạng, vần đề của hôm nay. Người con trai cững trả lời, cũng ghi lòng tạc dạ với một tinh thần như thế: Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Nhà cao chẳng khuất non xanh Phố đông càng giục chân nhanh bước đường Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Kết cấu đối đáp hoà với lời thơ lục bát giàu chất dân gian như thể đã làm cho bài Việt Bắc của Tố Hữu cò cái dáng dấp của một bài hát giao duyên bác học được viết theo lối dân gian. Nó làm cho bài thơ gàn gũi với tâm hồn quần chúng và dễ dàng gia nhập vào mạch Văn hoá dân gian, trở thành những bài hát ru. Thậm chí có thể trình bày bài thơ theo lối diễn xướng dân gian rất phù hợp. Có lẽ cũng cẩn phải nói thêm về phong vị cổ điển của nó. Đây là một nét truyền thống khác của thơ Tố Hữu. Trong bài "Kính gửi cụ Nguyễn Du", chúng ta thấy không khí lục bát thật trang trọng. Thi sĩ đã dùng những thi liệu của "Truyện Kiều" để tâm tình với tác giả "Truyện Kiều". Ông cũng dùng hình thức lẩy Kiều, tập Kiều để làm cho bài thơ có phong vị cổ điển. Còn ở đây không thế. Chúng ta đã thấy kết cấu trữ tình của bài thơ, giọng điệu tứ bình của bài thơ có phần nghiêng về dân gian. Còn bút pháp tạo hình nhiều chỗ nghiêng hẳn về cổ điển. Câu lục bát ở những chỗ ấy thường chặt chứ không lỏng, chữ "đúc” nhiều, chữ "nước” ít. Hỉnh thức tiểu đối được sử dụng rất dầy và biến hoá nhịp nhàng. Nhưng có lẽ đáng nói hơn vẫn là lối vẽ thiên nhiên trong các câu lục bát ấy. Nói riêng đoạn "Hoa cùng người", có thể thấy ngay, thi sĩ tạo hình theo lối xây dưng bộ tranh trừ tình – một hình thức rất phổ biến của nghệ thuật cổ điển Hoa và người Việt Bắc cứ đồng hiện, mỗi dáng người là một dáng hoa. Hoa và người soi chiếu nhau, tôn vinh lẫn nhau. Bốn bức tranh dường như đã tái hiện trọn vẹn đầy đủ về nhịp văn hành luân chuyển của thiên nhiên và con người Việt Bắc:Xem thêm: Tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thầm kín của tác giả được thể hiện như thế nào trong bài thơ Tràng giang. Ta về mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiêng hát ân tình thuỷ chung Còn có thể phân tích bài thơ ở những phương diện khác như các thủ pháp nghệ thuật, lối sử dụng ngôn ngữ gần gũi với quần chúng, phát huy được vẻ đẹp riêng của tiếng Việt… Nhưng có lẽ chỉ cần điểm qua một vài nét chính ấy cũng đủ thấy nghệ thuật "Việt Bắc" nghiêng về truyền thống như thế nào. Tố Hữu đã đi trên con đường ấy bền bỉ suốt từ khi bắt đầu cầm bút cho đến tận bây giờ để khẳng định một phong cách thơ độc đáo của riêng mình. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Việt Bắc” đế thấy được tính dân tộc được thể hiện rất đậm đà trong nghệ thuật thơ Tố Hữu
1,624
Phân tích bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu Gợi ý Phan Bội Châu (1867 – 1940), ôi cái tên đẹp một thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại" (Tôn Quang Phiệt). Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào vận động giải phóng Tổ quốc khoảng 25 năm đầu thế kỉ XX. Tên tuổi ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Hội Duy tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang phục hội,… Tên tuổi Phan Bội Châu gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế và vài ba vở tuồng chứa chan tình yêu nước. “Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng” (Tố Hữu). Năm 1900, Phan Bội Châu đậu Giải nguyên khoa thi Hương trường Nghệ. Năm 1904, ông sáng lập ra Hội Duy tân, một tổ chức yêu nước. Năm 1905 ông dấy lên phong trào Đông du. Trước lúc lên đường Đông du, qua Trung Hoa, Nhật Bản để cầu ngoại viện với bao hoài bão tung hoành, ông để lại đồng chí bài thơ "Xuất dương lưu biệt ". Có thể nói bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhà chí sĩ Phan Bội Châu. "Xuất dương lưu biệt" được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, là khúc ca biểu lộ tư thế, quyết tâm hăm hở, và những ý nghĩ cao cả mới mẻ của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước. – Hai câu đề là một tuyên ngôn về chí hướng, về lẽ sống cao cả: “Sinh vi nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”. (Làm trai phải lạ ở trên đời Há để càn khôn tự chuyển dời). Tự hào mình là đấng nam nhi thì phải sống cho ra sống, mong muốn làm nên "điều lạ" (yếu hi kì). Suy rộng ra, là không thể sống tầm thường. Không thể sống một cách thụ động để cho trời đất (càn khôn) "tựchuyển dời" một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi, tự tin ở đức độ, tài năng của mình, muốn làm nên sự nghiệp to lớn, xoay chuyển trời đất, như ông đã nói rõ trong một bài thơ khác:Xem thêm: Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến"Dang tay ôm chật bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù ". Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu, ta mới cảm nhận được cái khẩu khí anh hùng cửa nhà chí sĩ vĩ đại. Đấng nam nhi muốn làm nên "điều lạ" ở trên đời, từng nung nấu và tâm niệm theo một vần thơ cổ: "Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, Lập thân tối hạ thị văn chương". ("Tuỳ viên thi thoại” – Viên Mai) (Bữa ăn những mong ghi sử sách, Lập thân xoàng nhất ấy văn chương). Đấng nam nhi muốn làm nên "điều lạ" ở trên đời ấy có một "bầu máu nóng" sôi sục: "Tôi đựơc trời phú cho bầu máu nóng cũng không đến nỗi ít, lúc còn bé đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những chỗ nói người xưa chịu chết để thành đạo nhân, nước mắt lại đầm đìa nhỏ xuống ướt đẫm cả giấy,… ” (Ngục trung thư) – Hai câu trong phần thực, ý thơ được mở rộng, tác giã tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử: "Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khẩn thiên tải hậu cánh vỏ thuỳ”. (Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở, há không ai?) "Ngã” là ta; “tu hữu ngã nghĩa là phải có ta trong cuộc đời “một trăm năm” (bách niên trung). Câu thơ khẳng định và biểu lộ niềm tự hào lớm lao của kẻ sĩ trong cảnh nước mất nhà tan. ‘‘Thiên tải hậu” nghìn năm sau, là lịch sử của đất nước và dân tộc há lại không có ai (để lại tên tuổi) ư? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái phủ định để làm nổi bật điều khẳng định. Đó là một ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sãn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Ý tưởng đẹp đẽ này là sự kế thừa những tư tường vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử: "… "Dẫu cho trâm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xúc nàyXem thêm: Cuộc sống sẽ ra sao nếu nguồn nước sạch ngày càng vơi cạn? gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” ("Hịch tưởng sĩ" -Trần Quốc Tuấn) -… "Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử, Lưm thủ đan tâm chiếu hãn thanh ”. (Văn Thiên Tường) Lấy cái hữu hạn "bách niên" của một đời người đối với cái vô hạn "thiên tải" của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu dà tạo nên một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng, biểu lộ một quyết tâm và khát vọng trong buổi lên đường. Vì thế, trên bước đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách và nguy hiểm, ông vẫn bất khuất, lạc quan: "Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!" ("Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông") – Phần luận, tác giả nói về sống và chết, nói về công danh. Đây là một ý tưởng rất mới khi ta soi vào lịch sử dân tộc những năm dài đen tối dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Khi non sông đã chết, đã bị ngoại bang xâm chiếm, giày xéo thì thân phận dân ta chỉ là kiếp ngựa trâu, có sống cũng nhơ nhuốc nhục nhã. Trong hoàn cảnh ấy có nấu sử sôi kinh, có chúi đầu vào con đường khoa cử cũng vô nghĩa. Sách vở của "Thánh hiền" liệu còn có ích gì trong sự nghiệp cứu nước, cứu nhà: "Non sông đã chết, sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu học cùng hoài". Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước hết. Ông nói bằng tất cả nhiệt huyết và chân thành, ông nhắc nhở mọi người phải đoạn tuyệt với lối học cử tử, không thể đắm chìm trong vòng hư danh, mà phái hăm hở đi tìm lí tưởng cao cả. Trong "Bài ca chúc Tết thanh niên" viết vào dịp Tết năm 1927, Cụ thiết tha kêu gọi thanh niên: "Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ…" Sống như thế là sống đẹp. Sống như thế mới mong làm nên "điều lạ" ở trên đời, mới tự khẳng định được: "Trong khoảng trâm năm cần có tớ".Xem thêm: Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Phần kết là sự kết tinh của một hồn thơ bay bổng đượm màu sắc lãng mạn: " Nguyện trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi". (Muốn vượt biển Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.) Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền, cổ vũ lòng yêu nước, khêu gợi lòng căm thù giặc. Thơ văn Phan Bội Châu sở dĩ trở thành những bài ca ái quốc vì thấm đượm cảm xúc, sôi sục nhiệt huyết, có nhiều hình tượng đẹp nói về cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng. Hai câu kết là một ví dụ hùng hồn: "trường phong’ngọn gió dài), "thiên trùng bạch lãng" (ngàn lớp sóng bạc), là hai hình tượng kì vĩ. Chí khí của người chiến sĩ cách mạng được diễn tả qua các vị ngữ "nguyện trục" (mong đuổi theo) và "nhất tề phi" (cùng bay lên). Cái không gian mênh mông mà nhà chí sĩ mong vượt qua là "Đông hải". Nếu hai thanh trắc cuối câu 7 (Đông hải khứ) làm cho âm điệu thắt lại, nén lại thì hai thanh bằng cuối câu 8 (nhất tề phi) lại làm cho âm điệu cất lên, bay lên. Âm hưởng bổng trầm ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm mạnh mẽ lên đường cứu nước của Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, bản lĩnh chiến đấu và khẩu khí của người chiến sĩ có sự hoà hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết rõ và cảm phục điều Tiên sinh đã nói ở hai câu kết bài thơ này. "Xuất dương lưu biệt" là bài thơ tuyệt tác đầy tâm huyết. Bài thơ là tiếng nói tự hào của nhà chí sĩ giàu lòng yêu nước, thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một giọng thơ đĩnh đạc, hào hùng. Tráng lệ nhất là hai câu kết. Bài thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của nhà chí sĩ vì đại Phan Bội Châu. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Xuất dương lưu biệt” của Phan Bội Châu
1,561
Phân tích bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy Gợi ý Nguyễn Duy viết bài thơ "Đò Lèn” vào tháng 9 năm 1983, in trong tập thơ “Ánh trăng", xuất bản nãm 1984. Bài thơ có hai câu thơ bảy tiếng, một câu thơ chín tiếng, còn lại 32 câu thơ tám tiếng. Các dòng thơ nối tiếp xuất hiện như giọng kể tâm tình. Các địa danh thân thuộc của quê hương thân yêu từng gắn bó với tâm hồn của tác giả thời thơ bé, từng in dấu chân, hơi thở, nhịp sống của bà được nhắc lại xiết bao nỗi ân tình: Đò Lèn, cống Na, chợ Bình Lâm, chùa Trần, đền Cây Thị, đền Sòng, Ba Trại,… Hình ảnh người bà nghèo khổ, tần tảo, đôn hậu… được tái hiện trong những vần thơ bình dị có một sức ám ảnh và cuốn hút kì lạ. Nguyễn Duy mồ côi mẹ, sống trong sự chăm chút yêu thương của bà ngoại, nên lời thơ mới chân thực và cảm động như vậy. Càng về cuối, giọng thơ càng bùi ngùi thương nhớ bà. Hai khổ thơ đầu tác giả nhắc lại những kỉ niệm tuổi thơ của một chú bé nhà nghèo, thích chơi bời lêu lổng, nghịch ngợm… chẳng kém ai: đi câu cá ở cống Na, theo bà đi chợ Bình Lâm, đi bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phạt, cũng có “đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần". Có những câu thơ giản dị, bình dị như lời nói mà gợi lên nhiều rung động về cái hồn nhiên, ngộ nghĩnh của một cậu bé nơì làng quê trước đây: “níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần". Cùng đã từng “lên chơi đền Cây Thị". Với đôi chân đất của con nhà nghèo, vẫn háo hức trong mùa lễ hội, vẫn "đi đêm xem lễ đền Sòng”. “Đền Sòng thiêng nhất xứ Thanh" (Tản Đà), giáp giới với tỉnh Ninh Bình thế mà chú bé vẫn lặn lội “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng". Hoa huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn và bóng cô đồng "lảo đảo" đã in sâu vào tâm hồn tuổi thơ của Nguyễn Duy:Xem thêm: Phân tích những phẩm chất tốt đẹp của con người Tây nguyên qua các nhân vật cụ Mết, Tnú, Dít, bé Heng trong truyện ngắn "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành"mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng” Từ láy "lảo đảo" là cái thần của bức tranh về cô đồng mà chúng ta thường nhìn thấy ở một số lễ hội dân gian. Nguyễn Duy thường nhắc đến hoa huệ với màu trắng và mùi thơm bằng tất cả sự thanh khiết của tâm hồn mình. Hoa huệ trên bàn thờ mẹ: "Bần thần hương huệ thơm đêm khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn.” (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa) Trong bài thơ "Đò Lèn", ông cũng hai lần nhắc đến: – mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm… – cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm… Sức cuốn hút, ám ảnh của bài thơ "Đò Lèn” là ở hình tượng người bà. Đó là bà ngoại của Nguyễn Duy. Ân hận, khẽ trách mình vô tâm, vô tình: “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thể”. Nhà nghèo, bà lặn lội "mò cua xúc tép" ở đồng Quan để có tiền mua gạo nuôi cháu. Bà đi gánh thuê chè xanh Ba Trại, gánh nặng, đường xa và gồ ghề, đêm tối và gió rét, đôi chân bà "thập thững" bước đi. Đôi vai “chín dạn” vì gánh đòn tre. Chân bước cao bước thấp, lúc ngả lúc nghiêng, bước đi "thập thững" trong đêm tối, trong gió rét. Bà vất vả và cơ cực. Bà là hiện thân của đức hi sinh, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam, của những cái cò lặn lội trong cuộc đời. Nguyễn Duy đã gửi gắm bao tình thương và biết ơn đối với bà:Xem thêm: Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà – Văn lớp 12 “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.” Năm đói, một củ dong riềng luộc sượng bà dành cho cháu. Trong vị ngon ngọt của củ dong riềng, đứa cháu "nghe" được mùi thơm của huệ trắng, cửa hương trầm. Nguyễn Duy đã lấy mùi thơm của huệ trắng, hương trầm để diễn tả những xúc cảm về tình thương bao la, mênh mông của bà. Bà hiền lành, tâm hồn bà đôn hậu, thánh thiện. Tiên, Phật, thánh, thần soi sáng lòng từ bi, bác ái mà bà hướng tới. Sống trong tình thương ấp ủ của bà, nên đứa cháu mới thấu hiểu được lòng bà, tâm hồn cùa bà: “Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần”. Giữa thời khói lửa, bom đạn giội làm nhà bà “bay mất", đền Sòng cũng "bay", chùa chiền "bay tuốt cả”,… Khi mà "thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết", bà vẫn trụ vững giữa cuộc đời, bà vẫn bươn bả kiếm sống, bà vẫn chống chọi với mọi khó khăn lam lũ: "bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn” Đó là một nét vẽ rất thực, rất đậm trong hình tượng về người bà của nhà thơ; và đó cũng là hình ảnh người bà rất gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Đoạn cuối nói lên nỗi xúc động của đứa cháu khi đứng trước ngôi mộ bà ngoại: “Tôi đi lính, lâu không về quê ngoạiXem thêm: Suy nghĩ của anh/chị về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc qua truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải (bài viết khoảng 600 từ). dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi khi tôi biết thương bà thì đã muộn bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.” Sự kết hợp hài hoà giữa cảm xúc và tính triết lí đã tạo nên sự rung cảm sâu xa của vần thơ. Dòng sông xưa mà tác giả nói đến là sông Chu, sông Mã, sông Đò Lèn. Những năm dài chiến tranh loạn lạc đã đi qua. Quê hương đất nước thanh bình, ngày một đổi thay, ngày một tươi dẹp. Câu thơ "dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi” mang hàm nghĩa về cuộc đời bể dâu, về sự đổi thay của quê hương xứ sở. Câu cuối bài thơ "bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” cũng mang ý vị triết lí về kiếp người hữu hạn trong dòng chảy vô cùng của thời gian và vũ trụ. Câu thơ của Nguyễn Duy man mác buồn, làm ta liên tưởng đến câu thơ của Nguyễn Gia Thiều trong “Cung oán ngâm khúc": "Trăm năm còn có gì đâu Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”. Bà ngoại đã mất, nhưng tình thương và sự tần tảo của bà vẫn còn lại mãi với con cháu. "Đò Lèn" là một bài thơ đặc sắc của Nguyễn Duy. Cùng với "Bếp lửa” của Bằng Việt, bài thơ "Đò Lèn" của Nguyễn Duy là bông hoa nghệ thuật tô đẹp hình tượng người bà kính yêu trong mỗi gia đình Việt Nam chúng ta. Hơn mười địa danh được nhà thơ nhắc đến đã làm cho ý nghĩa bài thơ thêm đẹp và sâu sắc: tình yêu bà, yêu gia đình gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết. “Đò Lèn" là một trang thơ cảm động về kí ức tuổi thơ của người lính. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy
1,287
Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước” là hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên tự sâu thẳm tâm hồn ta; vừa cao cả, trang trọng; vừa xiết bao gần gũi. Dường như hình tượng Đất Nước đã khơi nguồn cho bao hồn thơ cất cánh. Và “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm cũng là một bài thơ được nằm trong dòng chảy dào dạt ấy và có phần đầy đủ hơn cả khi thống nhất được cội nguồn đất nước và tư tưởng đất nước của nhân dân. Giản dị như một lẽ tự nhiên, bài thơ mở đầu với khát khao tìm hiểu đất nước có tự bao giờ: “Khi ta lớn lên Đất Nước có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó…” Khi xưa, khi mà đất nước gắn với những huyền thoại, truyền thuyết, với những vương triều hùng mạnh. Ngày nay, Nguyễn Khoa Điềm đã như về lại hành trình trong sự quen thuộc, gần gũi. Có cả những cái xa xăm của lịch sử nhưng gần gũi với kí ức ấu thơ. Đó chính là cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ kể con nghe; cái ấm áp của những hình ảnh dưới một mái nhà Việt, với “miếng trầu” thắm đỏ bà ăn, cây tre ngàn đời đánh giặc và nghĩa tình mẹ cha đằm thắm. “Cội nguồn” không gì khác là gia đình thân thuộc, ấm cúng. Những câu thơ như cứ thật nhẹ nhàng, ấm áp, bay bổng trong đời và hòa trộn trong ca dao, cổ tích để làm nên điệu hồn êm ái. Đó còn chính là sự tích trầu cau “Miếng trầu nên dâu nhà người”, đó còn là sự tích cậu bé làng Gióng lên ba tuổi nhổ tre mà phá giặc, là lời ca dao “Muối gừng” ân nghĩa thủy chung. Đất nước hiện lên nên thơ, bay bổng và mĩ lệ dưới con mắt tinh tế của Nguyễn Khoa Điềm. Đất Nước còn được biết đến là chiều rộng không gian địa lí – cách nhìn có lẽ không phải là mới mẻ. Ngày xưa, Nguyễn Đình Thi viết: “Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.” Đó là không gia rất dài, rất rộng, rất cao mang tầm vóc sử thi tráng lệ.Xem thêm: Cảm nghĩ về quê hương của em Với Nguyễn Khoa Điềm: “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm mát Đất Nước là nơi ta hẹn hò Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi” Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở” Đất nước là “nơi anh đến trường” – cuộc sống học tập, “nơi em tắm mát” – cuộc sống sinh hoạt và góc đời thiếu nữ, là “nơi ta hẹn hò” – thắp lửa tình yêu, “nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” – ghi dấu kỉ niệm con người. Đó cũng là một không gian giàu có, trù phú, bao la, đẹp và rộng: “Con chim phượng hoàng bay ngang hòn núi bạc – Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi”. Và những hình ảnh đó nó gần với con người lắm, chiếc khăn ấy là lời hát tha thiết trong đêm tương tư “Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất”, như đã gắn chặt với lời hát điệu hò của câu huê tình xứ Bình Trị Thiên tự buổi nào. Đất nước đồng thời là chiều dài thời gian lịch sử: “Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng” Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.” 4000 năm lịch sử đã trở thành thiêng liêng với những trang sử chói lọi của cha ông: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.” (Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi) Đến: “Đất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước.” (Mùa xuân nho nhỏ-Thanh Hải) Sau này Chế lan Viên viết: “Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm! Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? – Chưa đâu! Cả trong những ngày đẹp nhất Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc. Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…” Đến với tác giả Nguyễn Khoa Điềm thì dường như điều đó lại là khoảng thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông. Đó còn chính là truyền thuyết về một bọc trăm trứng, với nơi chim về, rồng ở, và ngày giỗ Tổ thiêng liêng. Đó còn là những kết quả trước tưởng tượng bay bổng của tâm hồn đầy khát vọng, đẹp một cách gần gũi và mơ mộng, bay bổng và mĩ lệ,…mà dường như trước và sau Nguyễn Khoa Điềm chưa ai nói được như thế.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm: "Em ơi buồn làm chi... Sao xót xa như rụng bàn tay" Đất nước cũng đi vào chiều sâu trong sự riêng tư đời người: “Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình sứ xở Làm lên Đất Nước muôn đời…” Và để khi mà hai đứa “cầm tay” thì đất nước “hài hòa nồng thắm”, ta “cầm tay mọi người” thì “vẹn tròn, to lớn”. Đất nước mang tình yêu lứa đôi, tình đồng đội quê hương và còn là “cốt nhục tình thâm”, Đất Nước là “máu xương” của ta. Đất nước dường như cũng đã được nhìn từ cái chung đến cái riêng, cá nhân đến cộng đồng, từ xa đến gần, từ bề rộng về bề sâu, từ cái hữu hình đến cái vô hình. Như là một cách sắp xếp tự nhiên, chặt chẽ và đượm lí, đượm tình. Tiếp sau đó chính là một tư tưởng đất nước của nhân dân. Một loạt những câu thơ tự do với biên giới thơ mở rộng. Nhịp thơ chậm lại, mang không khí tâm tình trò chuyện. Nghệ thuật liệt kê và cách điệp lại cấu trúc nhấn mạnh ý thơ và liền mạch. Thật không khó có thể nhận ra những lời thơ, giọng thơ sôi nổi, thiết tha và tràn đầy nhiệt huyết. Và dường như điều đó đã khẳng định những đóng góp của nhân dân trong việc làm ra đất nước. Đó còn chính là núi Vọng Phu – những năm tháng chờ đợi chung thủy sừng sững giữa trời. Đó còn là những núi bút non nghiêng xây đắp bởi lòng hiếu học của những tháng năm miệt mài đèn sách khó nhọc và vất vảvà hàng loạt các địa danh “Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”, với niềm tự hào vời vợi trong lời ca ngợi non sông gấm vóc, “non kỳ thủy tú”. Con người dường như đã cùng bao vật vô tri khác đã “hóa thân cho dáng hình xứ sở” và với tác giả đó là niềm yêu kính trước công lao to lớn của nhân dân, xây đắp “hình sông thế núi”.Xem thêm: Hiện nay rất ít học sinh giỏi chọn nghề sư phạm cho tương lai của mình. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) Khẳng định đất nước là của nhân dân đồng thời là lời yêu cầu tình yêu đất nước, thức tỉnh lòng tự hào và tinh thần dân tộc trong mỗi người. “Em ơi em” là lời gọi ngọt ngào, tha thiết, trìu mến, đầy thủ thỉ tâm tình. Vậy là nói về những điều lớn lao mà không hề sáo rỗng. Nhân dân là ai? Là những người “con gái, con trai” bằng tuổi chúng ta, và người ra trận, kẻ ở lại, có những anh hùng “cả anh và em đều nhớ” nhưng cũng có những anh hùng vô danh “Không ai nhớ mặt đặt tên – Nhưng họ đã làm ra đất nước”. “Họ đã sống và chết – Giản dị và bình tâm”, lời thơ giống như một nén hương tận tâm còn vương khói thắp lên cho nhân dân, dân tộc. Trong suốt bốn nghìn năm đất nước, nhân dân ta truyền giữ hạt lúa, truyền từng ngọn lửa, truyền giọng nói, với những tên xã, tên làng, đắp đập be bờ chống giặc ngoại xâm. Các giá trị vật chất luôn đi kèm văn hóa tinh thần, cả kiến quốc và vệ quốc. Những câu thơ gợi nhắc tới: tiểu đội xe không kính, những cô gái mở đường, anh giải phóng quân: “Em là cô gái hay nàng tiên? Em có tuổi hay không có tuổi?” Hoặc: “Hoan hô anh giải phóng quân Kính chào Anh,con người đẹp nhất!” Tác giả thật đã tinh tế khi chọn tư liệu văn hóa dân tộc trong ca dao, thể hiện cảm xúc, ý nghĩ. Và những điều đó như đã hiện lên rõ mồn một là chân dung tinh thần của nhân dân. Tâm hồn dân tộc dường như cũng đã được gửi vào trong dân gian gian nay trở thành chiều sâu văn hóa. Nhìn ở cả chiều dài, hay cả chiều rộng và chiều sâu đều thấy được vai trò của nhân dân vừa làm ra vừa bảo vệ. Cho nên tư tưởng “Đất Nước này là đất nước của nhân dân”. “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm chính là một bản nhạc mang âm hưởng dân gian hóa trong điệu hồn kháng chiến, là lời thúc giục tình yêu nước cho mỗi thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm- Văn 12
1,754
Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và nói lên cảm nghĩ của em Gợi ý “Đất nước” là bài thơ nổi tiếng nhất của Nguyễn Đình Thi. Bài thơ được sáng tác và hoàn thành trong thời gian khá dài (1948-1955) theo hành trình và phát triển đi lên của đất nước và dân tộc. “Đất nước” in trong tập thơ “Người chiến sĩ” của tác giả. Bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi thể hiện những cảm nhận vế đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam hiền hoà, đẹp tươi, trong đau thương đã quật khởi đứng lên anh dũng chiến đấu và chiến thắng với sức mạnh phi thường. 1. Vẻ đẹp đất nước khi mùa thu về Hai câu thơ đầu nói về vẻ đẹp của đất nước khi mùa thu về: Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới. Nguyễn Đình Thi chỉ gợi sắc thu, khí thu (mát trong), về gió thu về hương thu (hương cốm mới). Một cách viết hàm súc mở ra bao liên tưởng về bầu trời thu trong xanh, bao la và khí thu mát mẻ mơn man hồn người, về gió thu nhè nhẹ thổi từ những cánh đồng lúa mang theo hương cốm mới phả vào lòng người lâng lâng. Đó là vẻ hiền hoà, tươi đẹp của đất nước đã bao đời nay. Đoạn thơ tiếp theo là hoài niệm của "người ra đi" và "những ngày thu đã xa" – thu Hà Nội: Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. "Chớm lạnh" là cái lành lạnh đầu thu; chỉ có sáng và chiều thu trong buổi thu sơ mới "chớm lạnh” như thế. Hà Nội như mở rộng lòng đón nhận cái "chớm lanh" đầu thu. Hơi may toả khắp mọi nơi. Lá thu, lá vàng rụng bay bay, xoay xoay theo chiều gió, để lại tiếng thu xao xác trên những phố dài. Cảnh giã biệt phố cũ của "người ra đi" buồn lẳng lạng. Khách chinh phu cùa thời đại "ôm chí nhớn" ra đi, cố nén lại bao tâm tư trĩu lòng. "Đầu không ngoảnh lại” là một tâm thế của li khách. "Người ra đi” xa dần, xa dần năm cửa ô, chốn cũ yêu thương, tuy "đầu không ngoảnh lại”nhưng vẫn cảm thấy có bao nhiêu nắng thu, lá thu “rơi đầy" trên hè phố, thềm đường ở phía sau lưng mình. Nhà thơ tả ít mà gợi nhiều. Tâm trạng của người ra đi buổi sáng sớm đầu thu ngày xưa ấy như vương vấn mang theo một mảnh trời thu Hà Nội với nắng vàng và lá thu rơi. Có nhiều người đã đưa ra các cách ngắt nhịp cảm thụ vẻ đẹp câu thơ cuối đoạn: ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3; lại có người cho rằng nên ngắt nhịp 2/5 để làm rõ chủ thể trữ tình với không gian nghệ thuật:Xem thêm: Cảm nhận về bài tùy bút ‘Mùa xuân của tôi’ của Vũ Bằng Sau lưng/ thềm nắng lá rơi đầy. Qua đoạn thơ, ta thấy ngòi bút nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi thật là tài hoa. Lời thơ trong sáng, dịu buồn, vẻ đẹp và hồn thu đất nước, hồn thu Hà Nội như được tinh lọc trong tâm hồn tác giả, trở thành hành trang của “người ra đi”. Cuộc đời đã đổi thay, đất nước đã đổi thay nên vẻ đẹp mùa thu đất nước cũng đổi thay kì lạ. Câu thơ bảy tiếng bỗng co ngắn lại, giọng thơ như một tiếng reo cất lên náo nức: Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha Không gian nghệ thuật được nói đến là núi đồi chiến khu, là "rừng tre phất phới" trong gió thu. Cả một trời thu bao la, xao động, tươi sáng lên, ánh lên tươi thắm như “thay áo mới”. Đất nước buổi thu về đẹp tươi lạ thường và dào dạt sức sống. Có sắc thu tiếng thu là âm thanh "nói cười thiết tha" xôn xao. Hình ảnh "tôi đứng vui nghe" biểu lộ một tâm thế, một tư thế, một cảm xúc nhiều thơ mộng, nhiều tự hào trước vẻ đẹp và niềm vui khi đất nước vào thu. Đó là mùa thu chiến khu Việt Bắc, mùa thu kháng chiến thời chống Pháp. Những câu thơ bảy tiếng, năm tiếng đan xen vào nhau hoà quyện vào nhau tạo nên giọng thơ mạnh mẽ, hào hùng. Hình ảnh đất nước hiện lên tráng lệ hùng vĩ với “trời xanh", với "núi rừng", với những cánh đồng, những ngả đường, những dòng sông… Các tính từ: "xanh, thơm mát, bát ngát, đỏ nặng" là những nét vẽ, những gam màu tô đậm cái hồn đất nước, không chỉ là một giang sơn gấm vóc mà còn biểu lộ biết bao yêu mến tự hào về sự bén vững của đất nước bốn nghìn năm. Các điệp ngữ " là của chúng ta", "những" (cánh đồng, ngả đường, dòng sông) như những nốt nhấn, lúc bổng, lúc trầm của bài ca Tổ quốc, thể hiện ý chí tự lập tự cường và tinh thần làm chủ đất nước của quân và dân ta. Ngọn gió thời đại, ngọn gió của cách mạng và kháng chỉến đã làm cho những vần thơ viết về mùa thu, về đất nước của Nguyễn Đình Thi cất cánh bay lên. Đây là đoạn thơ đẹp nhất trong bài thơ "Đất nước”, trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa.Xem thêm: Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ: "Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”. ( "Câu cá mùa thu" - Nguyễn Khuyến) Khổ thơ tiếp theo, tác giả nói lên những suy ngẫm về đất nước và đân tộc. Lời thơ vang lên như một tuyên ngôn về Tổ quốc và dáng đứng Việt Nam trong trường kì lịch sử: Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về. Câu thơ thất ngôn bỗng rút ngắn lại còn ba tiếng; vần trắc (khuất – đất) như dồn nén lại, thắt lại, làm cho âm điệu thơ trầm hùng thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh về truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc. Tiếng nói của tổ tiên ông cha, tiếng gươm khua trên sông Bạch Đằng, "Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi,… vẫn "đêm đêm rì rầm trong tiếng đất", vẫn "vọng nói về” nhắn nhủ con cháu ngẩng cao đầu đi tới để bảo vệ và xây dựng đất nước hùng cường bền vững đến muôn đời. 2. Đất nước trong máu lửa Phần thứ hai bài thơ nói về đất nước trong máu lửa. Một chữ "ôi” cảm thán cất lên đau đớn nghẹn ngào: Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu. Các từ ngừ "chảy máu", "đâm nát" gợi tả cảnh đau thương của đất nước đang bị quân thù chiếm đóng, dân ta đang bị quân giặc tàn sát dã man. Luống cày, cánh đồng "chảy máu". Đồn giặc dựng lên khắp nơi. Bầu trời quê hương đang bị "đâm nát” bởi trùng trùng dây thép gai đồn giặc. Người chiến sĩ hành quân ra trận với sức mạnh của lòng căm thù giặc và tinh yêu thiết tha quê hương. Các từ láy “nung nấu”,"bồn chồn” diễn tả thật hay quyết tâm và tình cảm mãnh liệt, sâu sắc ấy. Trong chiến đấu gian lao và đau thương càng thấy vẻ đẹp quê hương "ngời lên", lòng căm thù giặc càng thêm "sôi sục". Các chữ "bay, thằng, đứa” thể hiện lòng căm thù, sự khinh bỉ của nhân dân ta đối với quân xâm lược: Thằng giặc Tây, thằng chúa đất Đứa đè cổ, đứa lột da. Độc lập tự do là lí tưởng chiến đấu, là niềm tin “đi tới và làm nên thắng trận”. Tác giả phủ định: quân thù "không khoá được", “không bắn được” để từ đó khẳng định sức sống bền vững của đất nước ta, tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Câu thơ như một chân lí lịch sử được cô đúc mà thành: Trời đầy chim và đất đầy hoa Lòng dân ta yêu nước thương nhà. Cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) là một cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, mang tính chất toàn dân, toàn diên, trường kì, nhất định thắng lợi. Cả đất nước, cả dân tộc quật khởi đứng lên. Cảnh tượng thật hào hùng đang diễn ra khắp mọi miền đất nước, từ rừng núi chiến khu đến khắp các cánh đồng làng quê:Xem thêm: Nghị luận xã hội về lòng yêu nước Khói nhá máy cuộn trong sương núi Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng. Anh bộ đội Cụ Hồ là người nông dân mặc áo lính. Người anh hùng thời đại là "những người áo vải" là La Văn Cầu, Cù Chính Lan, Nguyễn Quốc Trị, Nguyên Thị Chiên, Bế Vãn Đàn, Tô Vĩnh Diện… là hàng ngàn, hàng vạn thanh niên yêu quý của dân tộc: Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng. Con đường ra trận kéo dài hơn ba ngàn ngày khói lửa. Có biết bao máu đổ xương rơi. Trong "nắng đốt" và "mưa giội", trong chiến đấu và hi sinh, niềm tin vào một ngày mai chiến thắng, về đất nước độc lập, hoà bình toả sáng tâm hồn quân và dân ta như ngọn lửa "cháy rực", như ánh bình minh "bát ngát”: Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh Trán cháy rực nghĩ trời đất mới Lòng ta bát ngát ánh bình minh 3. Đất nước chiến thắng Khổ cuối được viết theo thể thơ lục ngôn: Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Namg từ máu lửa Rũ bùn đứng dậy sáng loà. Tác giả đã vận dụng thành ngữ, tục ngữ "tức nước vỡ bờ” để ca ngợi tư thế và sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta. Tác giả cho biết ”Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” là hình ảnh của người chiến sĩ Điện Biên từ các chiến hào dũng mãnh xông lên trong những ngày tổng công kích đầu tháng 5-1954. "Đất nước” là hồn thơ chiến sĩ, tiêu biểu cho hồn thơ Nguyên Đinh Thi. Viết về chủ đề quê hương đất nước trong chiến tranh; thơ Nguyễn Đình Thi mang tính khái quát, chất trữ tinh đằm thắm kết hợp hài hoà với chất chính luận sâu sắc, để lại một số câu thơ, đoạn thơ đẹp, đầy ấn tượng. Ngôn ngữ thơ tinh luyện, sắc nét, chan chứa nồng độ xúc cảm. Câu thơ biến hoá: thất ngôn, lục ngôn, có lúc đan xen vào câu thơ ba tiếng, năm tiếng đã làm cho giọng thơ biến hoá: lúc man mác, bồn chồn, lúc dồn dập, mạnh mẽ. Hình tượng đất nước vừa mang vẻ đẹp hiền hoà trong sắc thu, hương thu, mang cái bát ngát hùng vĩ của sông dài, núi cao, đồng rộng, vừa mang tư thế lẫm liệt, hiên ngang của quân và dân ta trong những năm dài kháng chiến. "Đất nước" là bài thơ kiệt tác, mà người đoc lúc nào cũng cảm thấy mới mẻ, niềm tự hào dân tộc cứ lâng lâng mãi tâm hồn mỗi chúng ta. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và nói lên cảm nghĩ của em
2,002
Phân tích bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng Gợi ý A. DÀN BÀI 1. Mở bài Giới thiệu về bài thơ Tây Tiến và tác giả Quang Dũng. 2. Thân bài a. Đoạn 1 (từ câu 1 đến câu 14): Cảm hứng từ cuộc hành trình đầy gian khổ, tự hào của các chiến binh Tây Tiến. b. Đoạn 2 (từ câu 15 đến câu 22): Nỗi nhớ khôn nguôi những kỉ niệm vui vầy và hào hứng: một đêm liên hoan, một cuộc vượt thác. c. Đoạn 3 (từ câu 23 đến câu 30): Cảm hứng bi tráng về cuộc đời chiến đấu gian khổ, hi sinh anh dũng của các chiến binh Tây Tiến. d. Đoạn 4 (bốn câu còn lại): Những dòng chữ ghi vào mộ chí như lời thề cùa người chiến sĩ. 3. Kết bài "Tây Tiến mùa xuân ấy” đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ lại còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến dường ấy nữa. Không có cái thuở ấy thì sẽ không có bài thơ Tây Tiến và tất nhiên là không có cái hồn thơ, cái tài thơ của Quang Dũng thì cũng sẽ không có Tây Tiến. B. BÀI LÀM Có những ngày tháng không thể quên, cái gian khổ ác liệt không thể quên, cả cái hào hùng lãng mạn cũng không thể quên. May mắn thay, giữa những ngày tháng không thể quên ấy, lại có những bài thơ không thể quên, như Tây Tiến của Quang Dũng. Thật ra số phận của Tây Tiến cũng khá truân chuyên. Đã có lúc Tây Tiến được trích dẫn như một dẫn chứng để phê phán cái xu hướng gọi là “tiểu tư sản” trong thơ kháng chiến, một “đối chứng” để khẳng định những gì nên có trong Thơ mới. Nhưng rồi Tây Tiến cuối cùng đơợc nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của kháng chiến, một tiếng thơ bi tráng của một nền thơ. Thành công đầu tiên của Quang Dũng là đã chọn cho bài thơ một thể thơ rất hợp: thể bảy chữ; nhưng không phải bảy chữ Đường luật mà là bảy chữ thể hành; mỗi vần thơ ăn theo một vần bằng, cứ một câu vần bằng lại một câu vần trắc. Điệu thơ ây, tạo cho bài thơ một nhạc điệu vừa cổ kính trang nghiêm, vừa phóng khoáng, bay bổng, vừa trùng điệp vừa như trải ra vô tận. Điệu thơ ấy, lại cộng với cách dùng từ hơi cổ kính một chút của Quang Dũng khiến cho bài thơ ngay khi vừa đọc lên, đã có một không khí vừa man mác, buâng khuâng vừa lãng mạn hào hùng. Nếu Quang Dũng sử dụng một thể thơ khác, kế cả thể thất ngôn tứ tuyệt trường thiên như ở Đôi mắt người Sơn Tây, điệu thơ sẽ khác đi, không khí bài thơ cũng khác đi, sẽ buồn hơn và sẽ không còn là Tây Tiến nữa. Nhưng đày không phải là vấn đề lựa chọn. Cảm hứng nghệ thuật của Quang Dũng, như câu bốn trong của nhà thơ, đã tìm đúng cái dạng hình phải có sự thổ lộ của mình, để cho Tây Tiến ra đời và sống cuộc đời đầy thăng trầm nhưng mãnh liệt của nó. Hình như có lúc nhan đề bài thơ gồm những ba chữ kia: Nhớ Táy Tiến. Cái nhan đề ấy hơi thừa nhưng lại rõ nghĩa, Tây Tiến là một cảm hứng bắt nguồn từ kĩ niệm, kỉ niệm về một đoạn đời chiến đấu, về một miền đất, kỉ niệm về những người đồng đội, cả những kỉ niệm khó quên về chính mình. Trong đời có những lúc nào đó, kỉ niệm bỗng sống dậy với những đường nét và sắc màu nóng bỏng để gợi lên những cảm xúc và hoài niệm vộ tận. Kỉ niệm về Tây Tiến, về cuộc hành quân tiến về Tây Tiến đánh giặc bên kia biên giới Việt – Lào, đã bắt đầu như thế: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. “Nhớ chơi vơi”! Hai tiếng chơi vơi dùng ở đây thì thực là đắc địa. “Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ không có hình, không có lượng, hình như nhẹ tênh tênh mà nặng vô cùng, bởi không đo nó được, không cân nó dược, chỉ biết nó lửng lơ, đầy ắp, mênh mông, nó ám ảnh tâm trí mình, nó da diết thương nhớ vô cùng. “Nhớ chơi vơi”, ít ai nói như thế; hình như trong ca dao cũng có và chỉ có một lần nỗi nhớ như thế xuất hiện: Ra về nhớ bạn chơi vơi…Xem thêm: Phân tích bài thơ “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn Trong bài thơ Quang Dũng, hai tiếng “chơi uơỉ” này lại ăn vần với tiếng “ơi” ở câu trên, nên càng bộc lộ hết sắc thái ngữ nghĩa và sức khơi gợi của chúng, càng trở nên như một tiếng vang tức thời bật lên từ cội nhớ: nhớ Tây Tiến – nhớ ngay về rừng núi. Ấn tượng sâu đậm nhất về Tây Tiến là ấn tượng về rừng núi. Cả một đoạn thơ đầu gồm 14 câu đều dành cho kỉ niệm về rừng núi một vùng bát ngát miền Tây, một vùng biên giới Việt – Lào. Mà rừng núi mới dữ dội khắc nghiệt làm sao: núi cao, đốc thẳm, sương dầy, mưa mịt mù, thác gầm, cọp dữ. Miền Tây, ấy là nơi ngự trị của vẻ thâm u hoang dã, những thách thức gớm ghê đặt ra trước con người: thiên nhiân ở đây luôn là mối đe dọa, môt sức mạnh sẵn sàng vồ lấy con người, nuốt chửng con người. Ta chớ quên rằng, vào cái mùa xuân Tây Tiến ấy, những người lính Tây Tiến như Quang Dứng chi vừa mới ra đi từ một mái trường hoặc một góc phố nào đó của Hà Nội – Thăng Long, nơi cỏ Hồ Gươm, Tháp Bút, Đài Nghiên, có liễu Hồ Tây, có ba mươi sáu phố phường, có cả những cuộc chiến đấu trên chiến lũy ác liệt mà vần pha nét hào hoa.. Ấn tượng trước miền Tây vì thế càng ghê gớm: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Từng chi tiết: sương, dốc, mây, mưa…, đều được Quang Dũng đưa ra với ấn tượng mạnh nhất của nó. Sương thì: “dày” đến lấp cả đoàn quân, dốc thì đã “khúc khuỷu” lại “thăm thẳm”, đã “ngàn thước lên cao” lại “ngàn thước xuống”, “cồn mây” thì heo hút và cao đến “súng ngửi trời”, mưa đến mức những ngôi nhà như bồng bềnh trên biên khơi… Những từ địa danh Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch xa lạ càng làm tăng cái ấn tượng xa ngái, hoang sơ lên một bậc nữa. Đọc mấy câu thơ sau đây: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống. tự nhiên thấy rợn ngợp cả người, cứ như khi đọc mấy câu thơ trong Thục đạo nan của Lí Bạch: Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên! (Đường xứ Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh) hoặc như khi đọc Chinh phụ ngâm mà đến câu: Hình khe thể núi gần xa Đứt thôi lại nổi, thấp đà lại cao… Tây Tiến là một cuộc hành quân cực kì gian khổ đến độ: Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Gian khổ tưởng như đã vượt lên trên giới hạn chịu đựng của con người. Những người gục xuống trên đường đi, gục xuống khi chân còn đi; chỉ khi “không bước nữa”, không thể bước nữa mới “gục lên súng mũ”, và thế là “bỏ quên đời” chứ không phải nằm xuống, ngã xuống. Cái ý thơ này dẫu buồn mà vẫn không bi đát, bởi vì con người ở đây vẫn vượt lên minh, dẫu không áp đảo được khó khăn nhưng không khuất phục, và cho đến khi chết, vần chết trong cuộc hành trình. Thật là một hình ảnh vừa bi vừa hùng. Nó đúng với cái không khí thời đại của đất nước đang bước vào một cuộc chiến đấu mà mỗi người chỉ có hai tay không và một tấm lòng, phải đương đầu với súng đạn bom pháo của một bầy giặc mạnh, chiến đấu cho một lời thề thiêng liêng: “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Mỗi cuộc ra đi đều không hẹn ngày về, giống như lời bài hát rất thịnh hành ngày đó:Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và ý nghĩa của chi tiết bức ảnh trong tác phẩm Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi Nào có mong chi đâu ngày trở về… Đừng đưa những tiêu chuẩn tinh thần lạc quan cách mạng hay gì gì đó của những năm sau này mà đo đạc hay phê phán tinh thần cua lớp người ngày ấy. Bởi vì ở họ, ở mỗi người chiến sĩ lên đường ngày ấy, đều có một hình ảnh và có một tâm trạng của Kinh Kha sang Tần: Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn (Gió hiu hắt chừ, sông Dịch lạnh tê Tráng sĩ một đi chừ, chẳng trở về). Ôi, cái lãng mạn đẹp đẽ của một thời! Đừng gọi đó là anh hùng cá nhân. Anh hùng có nhưng cá nhân thì không, bởi cái anh hùng ấy vô tư lắm. Trong đoạn thơ đầu này, nếu Quang Dũng có nói “quá lên” về cái ghê gớm của núi rừng (mà chắc chắn là không quá) thì cũng chỉ là đề nói lên cái hào hùng của con người chứ không phải để hạ nó. Rồi giữa những kỉ niệm khổ và đau như thế, đoạn thơ bỗng khép lại bằng một kỉ niệm thật ấm áp, như một tiếng hát vui bỗng vút lên. Cái khổ cái buồn thật đáng nhớ; vì thế, cái ngọt bùi giữa bao buồn khố ấy lại càng đáng ghi nhớ hơn: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Điều vui gợi nhớ điều vui, Quang Dũng dành cả phần thứ hai gồm tám câu thơ cho những kỉ niệm vui về tình người xứ bạn: Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa. Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ. Hình ảnh một cuộc liên hoan văn nghệ đã thành truyền thống trong cuộc kháng chiến chống Pháp được nhắc đến với ba nét tiêu biểu: đuốc, hoa, điệu múa, tiếng khèn, những chi tiết có màu sắc tả thực mà vẫn có chút gì rất mộng, rất ảo. Hai tiếng “kìa em” vừa ngỡ ngàng vừa trìu mến. Một nét chấm phá về nhân dân xứ bạn lại được hiện hình rất rõ trên tấm ảnh thời gian: Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong dưa. Quang Dũng đã dành phần cuối của bài thơ cho hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, một hình ảnh mà tác giả muốn ca ngợi một cách khác thường sau khi đã nói đến những nét hoặc khác thường hoặc độc đáo của Tây Tiến gian khổ, hào hùng. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm. Nếu cần sự độc đáo thì mấy từ “không mọc tóc” đã đạt đến chỗ tột cùng của độc đáo, nhưng thế thì có chân thực không? Hình ảnh anh bộ đội có trở nên quái đản không? Không! Bởi vì, đấy là hình ảnh anh “Vệ trọc” nổi tiếng một thời, hình ảnh như một dấu ấn không thể phai của những chàng trai từ thành phố, từ dưới các mái trường “xếp bút nghiên” bước vào chiến đấu, với một lòng yêu nước hoàn toàn vô tư và một chút lãng mạn của một khách chinh phu và một tráng sĩ “gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”. Hình ảnh anh bộ đội trong cái năm đầu tiên của kháng chiến ấy chưa có thể hoàn toàn thoát được hình ảnh người anh hùng mà văn thơ lãng mạn đã tạo nên, cả từ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn hay Chí anh hùng của Nguyễn Công Trứ. Mà đã có “đoàn binh không mọc tóc” thì tất nhiên cũng có được “quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Hơn nữa, cái vẻ “dừ oai hùm” ấy cũng hoàn toàn tương xứng với một ý thơ của đoạn đầu: Xem thêm: Tả lăng Bác HồChiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Tình ảnh anh bộ đội Tây Tiến đã được dựng lên như thế thì tất phải có hai câu thơ này: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Mấy câu thơ sau thì thật buồn: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Đó là hình ảnh tất nhiên của một cuộc chiến tranh. Câu thơ đầu đọng lại như một bức tranh buồn thảm bởi tất cả bảy tiếng “rải rác – biên cương – mồ viễn xứ” đều hàm chứa một lượng thông tin lớn, Câu thơ này nếu đứng một mình thì ấn tượng bi thảm thật đến vô cùng. Nhưng từ cái bi thảm ấy, những câu thơ sau lại nâng nó lên thành bi tráng chứ không còn bi thảm nữa. Nó tráng bởi Quang Dũng đã nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của Người đã chết: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Cách nhìn, cách phát biểu của nhà thơ cũng xuất phát từ cái tráng ấy. Riêng chi tiết thực này: người tử sĩ được mai táng trong chính quẫn áo của mình (không có cả chiếu) Quang Dũng đã nói khác đi. Nhà thơ không nói “áo” mà nói “áo bào”, và khi nói “áo bào” thì ta không còn nghĩ đến “áo” nữa mà nghĩ đến một cái gì đẹp và hùng tráng hơn rất nhiều. Nói “áo bào” không phải là thi vị hóa hay “tiểu tư sản”, “mộng rớt” như có người đã nói. Áo bào là đúng trong trường hợp này, vì đây là tấm áo mà người chiến sĩ đã mặc để chiến đấu cho đến phút chót của đời mình. Vả lại “áo bào” chứ không phải “chiến bào”, “chiến bào” thì nghe cố quá, không phù hợp, còn “áo bào” thì lại mới, rất đúng, (một sự kết hợp ngẫu nhiên giữa hai từ “áo”, “bào”, coi như một đóng góp về từ vựng của Quang Dũng). Người tráng sĩ thời phong kiến coi “da ngựa bọc thây” là một niềm vinh quang thì người lính bảo vệ đất nước ngày nay, “áo bào thay chiếu anh vể đất” là một hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca. “Về đất” không chi là được chôn vào lòng đất, mà còn là niềm trân trọng yêu thương của đất nước, của đồng đội. Bi tráng nhất là câu thơ cuối đoạn này: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Buồn đấy nhưng sao mà hùng tráng quá! Quang Dũng kết thúc Tây Tiến bằng một khổ thơ tứ tuyệt: Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. “Không hẹn ước” rồi lại “thăm thẳm một chia phôi”. Quang Dũng lại khẳng định lại cái ý niệm “nhất khứ bất phục hoàn” trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, cũng là ý niệm chung cả một thời kì, một thế hệ con người. Đã nói nhiều điều về Tây Tiến, đã nhắc lại nhiều kỉ niệm về Tây Tiến; nhưng cuốì cùng, cái đọng lại sâu nhất, bền vững nhất về Tây Tiến là cái tinh thần ấy. Giọng thơ trầm, nhịp thơ chậm, hơi buồn nhưng ý thơ thì vần hào hùng. “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại của lịch sử nước nhà. Sẽ không bao giờ lại còn có lại cái thuở gian khổ và thiếu thốn đến đường ấy nữa. Không có cái thuở ấy thì sẽ không có bài thơ Tây Tiến và tất nhiên là không có cái hồn thơ, cái tài thơ của Quang Dũng thì cũng sẽ không có Tây Tiến. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng
2,804
Phân tích bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương Hướng dẫn Sự nghiệp văn học mà Hoàng Đức Lương để lại cho đời không lớn, cả sáng tác thơ ca và lí luận thơ ca. Nhưng tất cả công việc ông làm từ sưu tầm, tuyển chọn, sắp xếp, trình bày rồi viết lời ca tựa tiêu chí tối cao. Nhận thức ấy, trong thời kì văn chương ấy, là một bước tiến rất quan trọng cho các hoạt động văn chương? Nếu cái đẹp không còn là cái đẹp thì văn chương sao có thể gọi là văn chương? Đây không phải là quan niệm "nghệ thuật vị nghệ thuật", bởi văn chương trước khi "vị" cái gì – như "vị nhân sinh" chẳng hạn thì nó phải là văn chương đã. Nhấn mạnh tínhđặc thù của vãn chương tuyệt đối không phải là hạ thấp văn chương. Ngược lại, đó là cái cách mà Hoàng Đức Lương nhấn vào một yêu cầu mà văn chương cần phải có. Để thưởng thức văn chương cũng thế. Nhất là với thơ ca. Người đọc phải có một trình độ kiến thức nhất định mới có thể thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca. Bởi cái đẹp của thơ là cái đẹp đặc thù. Cái đẹp trong trường hợp ấy, nó "quý hồ tinh, bất quý hồ đa", nghĩa là chất lượng quý hơn số lượng. Số lượng có thể nhiều mà có khi vẫn chỉ là không. Còn chất lượng tuy ít nhưng trước sau nó vẫn là có. Và cái "có" ấy còn lại với muôn đời. Chỉ có điều, nhận xét của nhà lí luận thơ cả không xuất phát từ lí luận thơ ca. Sức thuyết phục ở đây chính là từ sự trải nghiệm trong sáng tác của chính bản thân mình, một trải nghiệm có thể nói là hết sức nhọc nhằn, vất vả. Có lúc ông đã tự chế giễu mình về cái thói "si mê" thơ ca thái quá: suốt ngày vắt óc tìm thơ mà thơ không đến. Tận khuya mới tìm được một câu thích thú liền đánh thức tiểu đồng ghi lại không thì như cơn gió, thơ sẽ bay đi (Tự trào). Thơ Hoàng Đức Lương nghiêng về phía trầm mặc, cổ kính, rất tinh tế trong cảm nhận đời sống nội tâm: "Tĩnh trung tâm dị động" (Trong cái tĩnh, tâm ta thường dễ lay động – Đọc sách dưới bóng cây) và hương vị ngậm ngùi hoài cổ. Toàn bộ bài tựa không dài nhưng đã đặt ra một vấn đềkhá lớn: vấn đề tập hợp, sưu tầm, đánh giá những tác phẩm thơ ca trong quá khứ của cha ông. Nhân đó mà có bàn qua về đặc trưng của sáng tác vãn học. Cũng từ đó mà xác lập một quan điểm rạch ròi: lấy văn học nước nhà làm nền tảng trong mối quan hệ giao lưu văn hóa nói chung và thơ văn Trung Quốc nói riêng. Nội dung có thể nói là khá phong phú này lại dược chuyển tải dưới hình thức như một lời tâm sự, nói với người mà cứ như tự nói với mình. Tiếng nói gan ruột ấy rất cần có sự đồng cảm, tri âm. Bài văn có thể chia ra làm hai phần: Tình trạng thất tán của thơ văn truyền thống. Với bốn lí do dẫn đến việc "Thơ văn không lưu truyền hết ở đời", tác giả đã chỉ ra một thực tế cũng là một quy luật về vấn đề bảo tồn di sản. Có những lí do khách quan và cả những nguyên nhân chủ quan, vé mặt khách quan, việc đánh giá, thẩm định những giá trị đích thực của văn chương thật khó. Bởi đó là "sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được". Hiểu biết văn chương đã khó, việc không khẩn chươngquảng bá văn chương của các vương triều lại là cái khó thứ hai. Còn nguyên nhân chủ quan hướng về phía người sáng tác. Người có thể làm đã không chuyên tâm: hoặc bận rộn về sự vụ chốn quan trường hoặc còn lận đận về con đường thi cử. Những kẻ kém cỏi thì tuy cũng thích thú văn chương nhưng vì lực bất tòng tâm nên "làm được nửa chừng rồi lại bỏ dở". Trong tình hình đó thì đá nát vàng phai là một quy luật tất yếu khách quan: "Vì bốn lí do kể trên bó buộc, trải qua mấy triều đại lâu dài, dẫnđến những vật bền như đá, như vàng lại được quỷ thần phù hộ, cũng còn tan nát trôi chìm. Huống chi bản thảo sót lại, tờ giấy mỏng manh để trong cái níp cái hòm, trải qua mấy lần binh lửa thì còn giữ mãi thế nào được mà không rách nát tan tành?”. Công việc của Hoàng Đức Lương tuy quá sức nhưng không thể không làm. Nói quá sức vì thơ văn của cha ông trong quá khứ như biển cả mênh mông, song với "tài hèn đức mọn" của mình, tuy đã "tìm quanh hỏi khắp” nhưng số lượng thu thập được chẳng đáng là bao "chỉ là một hai phần trong số muôn nghìn bài". Còn đấy là công việc không thể không làm, vì tác giả "muốn sửa đổi điều lối cũ" với hi vọng" may ra tránh được chê trách của người đời sau". Nghĩa là thoát được cái nợ đồng lần. Chỉ có một con người nhiệt huyết, nhiệt tâm mới không e ngại người đời chê trách mà bổ sung vào tập Trích diễm thơ của những kẻ đương thời, "những bài vụng về" của bản thân như việc "múa rìu qua mắt thợ". Xem thêm: Ở nềm tin của tình yêu có hạnh phúcNgoài những nội dung nằm trong bài tựa trên đày, còn có một lớp nội dung thứ hai nằm ngoài văn bản. Đó là cái tôi nhận thức và cái tôi đầy trách nhiệm – cái tôi ýthức của nhà văn. Về cái tôi nhận thức Tuy nhận thức của tác giả mở ra trên nhiều bình diện như về lịch sử, văn hóa, về sáng tác và việc bảo quản, lưu truyền những sáng tác ấy, nhưng một điểm sáng nổi bật hẳn lên, đó là nhận thức về đặc trưng của tác phẩm văn chương. Nhận thức về đặc trưng này của tác giả được thể hiện trong một câu vãn hàm súc mà giàu hình ảnh: "Đến như văn thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon…". Một chân lí nghệ thuật mà gần như nghịch lí. Thì ra cái điều "bí ẩn và kì diệu của văn thơ lại ở ngoài nhà thơ. Đó là phần chìm của "tảng băng trôi" theo cách nói của Hê-minh-uê hay "ý tại ngôn ngoại" – nguyên lí sáng tạo và tiếp nhận của văn học Phương Đông trung đại. Để làm rõ đặc trưng này, tác giả đã dùng phép so sánh cái đẹp của hình thái vật chất với cái đẹp của hình thái tinh thần, về cái đẹp ở dạng vật chất, người ta dễ nhận ra: "khoái chá là vị rất ngon trên đời, gấm vóc là màu rất đẹp trên đời, phàm người có miệng, có mắt, ai cũng quý trọng mà không vứt bỏ khinh thường". Đó là cái ngon, cái đẹp thông thường. Nhưng đối với nhà thơ thì "Chỉ thi nhân là có thêm xem mà biết được sắc đẹp, ăn mà biết được vị ngon ấy thôi". Đó là cái đẹp khác thường. Chính vì vận mệnh nghiệt ngã của sáng tác thơ mà nhiều thi sĩ than thở thiếu vắng tri âm. Đến như Nguyễn Du đã là một nhà thơ nổi tiếng với kiệt tác Truyện Kiều mà còn rất băn khoăn: "Bất tri tam bách dư niên hậu – Thiên hạ hà nhân khắp Tố Như?". (Độc Tiểu Thanh kí). Chỉ những người biết quý trọng văn thơ mới cảm thấy được nỗi nhọc nhằn của người sáng tác. Về cái tôi ý thức. Cái tôi ý thức của Hoàng Đức Lương thật đậm nét. Đó là ý thức dân tộc, niềm tự tôn đối với văn thơ dân tộc. Bài tựa sở dĩ cảm động chính là ở điểm này. Không có ý thức dân tộc thì làm sao trong một bài văn ngắn có thể nhắc đến hai lần: nước ta là nước văn hiến, nhất là một nuớc văn hiến có truyền thống hàng mấy trăm năm. Một đất nước có nền văn hiến là một đất nước rất đáng tự hào. ("Như nước Đại Việt ta từ trước – Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” – Nguyễn Trãi). Trong bối cảnh của hệ ý thức phong kiến thời xưa, nước nhỏ thường phải thuần phục nước lớn, ông vua Trung Quốc mới dám tự xưng là thiên tử, triều đình Trung Quốc mới tự nhận là thiên triều. Thế mà một nước Đại Việt qua bài viết để dám xưng "đế" một phương. Cách tự hào về dân tộc ở đây có khác gì Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi? Điều khác chăng là một thứ chủ quyền về văn hóa. Thơ văn thời Đương tuy đồ sộ là thế nhưng với tác giả: nó ở tít tận xa xôi. Cần phải lấy văn thơ nước nhà làm "căn bản". Câu văn sau đây nói về sự mô phỏng mà không khỏi xót xa: "Than ôi! Một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản, mà phải tìm xa xôi để học thơ văn đời nhà Đường. Như thế chả đáng thương xót lắm sao!". Cái ý này cứ láy đi láy lại nhiều lần như một câu hỏi tu từ trước đó: "Nước ta từ nhà Lí, nhà Trần dựng nước đến nay, vẫn có tiếng là nước văn hiến, những bậc thi nhân, tài tử đều đem sở trường của mình thổ lộ ra lời nói, lẽ nào không có người hay?". Hai lần nói đến thơ văn đời Đường là hai lần nói đến thi văn Lí, Trần cũng nhằm vào ý ấy: "Đức Lương này học làm thơ, chỉ trông vào thơ bách gia đời nhà Đường, còn như thơ văn thời Lí – Trần, thì không khảo cứu vào đâu được”. Không chỉ là người Việt học hỏi thơ văn người Việt ở vào thời điểm hiện tại mà người Việt bây giờ phải có trách nhiệm lưutruyền nó cho các thế hệ về sau để tránh đi một lỗi lầm của quá khứ. Tác giả hi vọng khi biên soạn hợp tuyển Trích diễm thitập là "Rồi những người thích bình phẩm thơ ca sẽ đem truyền rộng, may ra tránh được lời chê trách của người đếnsau, chẳng khác gì hiện nay ta chê trách người xưa vậy". Không có ý thức về dân tộc, không thể nặng lòng với văn thơ dân tộc như cái thao thức rất đáng trân trọng ở Hoàng Đức Lương. Nguồn: thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
Phân tích bài Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương
1,897
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Hướng dẫn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, thể hiện cái tài và cái tâm của nhà thơ, nhà thơ đa tái hiện một thời kì lịch sử của dân tộc đầy đau thương nhưng vĩ đại. Bằng ngòi bút sắc sảo, văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã thể hiện tấm lòng yêu nước, sự chua xót trước vận mệnh của dân tộc. Giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đã góp vào kho tàng văn học dân tộc một tác phẩm xuất sắc, có ý nghĩa muôn đời. Bài văn tế ra đời đã mở đầu cho dòng văn yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỉ XIX. Bài văn được xây dựng trên cơ sở người thật, việc thật, cho nên ý nghĩa của nó càng trở nên sâu sắc… Nó đã thôi thúc, làm sôi sục ý chí đấu tranh của toàn dân tộc, góp phần vào thắng lợi sau này của dân tộc. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời và được người đời chấp nhận ngay bởi tiếng nói đầy thương cảm, bởi cái hay của văn chương bình dị, lời văn man mác, lắng động một nỗi đau vì dân vì nước. Mở đầu bài tế là lời than nghe thật chua xót: Hỡi ơi! Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ Với một câu văn ngắn ngủi, tác giả đã phác họa lên hoàn cảnh đau thương của nhân dân trong xã hội lúc bấy giờ. Kia là cuộc xâm lăng ào ạt, bạo tàn của kẻ thù và kia là bộn phận, ý chí chống quân bạo tàn đó của người nông dân. Nhân dân đau xót trước bao tang thương, áp bức nhưng ai có thể hiểu được lòng dân chứ. Họ chỉ tin có trời: "Lòng dân trời tỏ" vì chỉ có trời mới thấu hiểu được lòng dạ họ, chứ cái bọn vua tôi hèn hạ kia nào biết gì, họ chỉ biết tự xưng danh mà thôi. Những con người nông dân ngày đêm chỉ quen cuốc quen cày, họ có ngờ đâu những tai biến sẽ xảy ra. Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi tợ phao Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất tiếng vang như mõ Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ… Những người nông dân ấy đang có cuộc sống rất giản dị trong thôn xóm, lam lũ nghèo khó. Họ chỉ biết cui cút làm ăn và chỉ cần có miếng cơm anh áo. Họ chỉ biết có thế, việc gươm đao cung kiếm họ chưa từng biết. Thế mà họ vẫn giàu lòng yêu nước và căm thù giặc, họ căm thù đến mức cao độ "muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ". Điều này thể hiện rất rõ cá tình của người nông dân. Điều đáng nói là, những người chiến sĩ ấy xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ. Việc đánh giặc không phải là việc của họ, mà vì lòng yêu nước căm thù giặc, chờ đợi quân quan mãi nhưng nào thấy, đành làm những việc lớn, phải "chém rắn", "đuổi hươu"… Thực tế ta thấy được thái độ ươm hèn của triều đình nhà Nguyễn và càng đề cao hơn vai trò của người nông dân trước vũ đài lịch sử. Những người nông dân chân đất ấy đã không làm sao chịu được cảnh quân giặc giày xéo lên mồ mả tổ tiên… và họ quyết định phải đứng lên đánh chúng, đánh bằng được bọn tàn ác đó. Mười tám ban võ nghệ nào đợi tập rèn Chín chục trận binh thư chưa chờ bày bố Ngoài cật có một mang áo vải, Nào đợi mang bao tấu bầu ngòi, Trong tay cầm một ngọn tầm vông, Chi nài sắm dao tu, nón gõ. Với lòng dũng cảm và tinh thần quyết tâm chiến đấu của mình, bây giờ họ không cần gì hết, cũng không cần đợi tập rèn, trong tay có gì đánh nấy. Từ những công cụ thô sơ cũng trở nên quan trọng, quý hiếm và có tác dụng đối với họ. Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, Cũng đốt xong nhà dạy đạo kia, Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, Cũng chém rớt đầu quan hai nọ. Từng câu từng chữ trong bài văn thể hiện sự căm tức, oán trách bọn vô trách nhiệm. Phải chăng, ngòi bút của Nguyễn Đình Chiều đã diễn tả thật sinh động hình ảnh người nông dân đó chăng? Và chỉ vài câu văn cũng bật rõ phần nào lòng trung nghĩa của nhà thơ Đồ Chiểu. Rồi cứ thế, người nghĩa quân nông dân tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu với khí thế mạnh như vũ bão: Kẻ đâm ngang, người chém dọc Làm cho Mã tà, Ma ní hồn kinh…. Họ chiến đấu anh dũng với sức mạnh ý chí và lòng căm thù giặc. Họ liều mạng chăng? Không! Bởi vì họ yêu nước. Đọc bài tế ở đoạn này nào là: Chi nhọc quan quản trống kì trống giục. Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không. Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to… Liều mình như chẳng có… Nào là: Kẻ đâm ngang, người chém ngược…. Với ngòi bút sắc sảo của mình, Nguyễn Đình Chiểu giúp người đọc có liên tưởng như chính tác giả cũng đang tung hoành ngang dọc cùng với nghĩa quân trên chiến trường. Giọng văn hào hùng sảng khoái, nhịp điệu dồn dập, sôi nổi thể hiện rõ khí thế của trận công đồn. Nào là tiếng hò, ó; tiếng đạn nổ cùng với ngọn lửa đốt đồn giặc cháy sáng rực giữa dòng sông Cần Giuộc… Những yếu tố này đã xây dựng thành công hình tượng của người nông dân cứu nước giết giặc. Đây là một hình tượng độc đáo trong văn học cổ điển Việt Nam. Và kia! Bên cạnh những hình ảnh đó là cảnh quan quân nhà Nguyễn nhỏ bé, thấp kém. Bây giờ họ không còn ra gì nữa. Thật: "Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu là tâm hồn của ông đã được diễn tả thật sinh động và não nùng cảm tình của dân tộc đối với đất nước. Ở đây Nguyễn Đình Chiểu là tâm hồn của ông đã đại diện, đã thay mặt cho dân tộc, cho tình cảm dân tộc đẻ viết ca ngợi về người chiến sĩ ấy. Nhưng mặt khác, nếu như cụ Đồ không có lòng trung nghĩa thì việc thay mặt cũng quả là khó. Thơ văn ông thường là hồn, là tâm của ông. Vì vậy, khi đối diện với những người nghệ sĩ, đối diện với tang thương thì làm sao nhà thơ không tuôn dòng lệ xót: Xem thêm: Về bài Phú Sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu. Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng, Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai làng lụy nhỏ. Cuộc chiến đấu đang diễn ra gay go ác liệt, thế mà bỗng nhiên như có gì hụt hẫng, khựng lại. Người nghĩa quân đang hăng say chiến đấu trên chiến trường không hề sợ cái chết những tưởng tấm lòng mến nghĩa sẽ lâu dài… thế nhưng sao tránh khỏi cảnh hi sinh… Bằng lời văn của mình tác giả đã bày tỏ sự xót thương cho những người dân ấp dân lân chỉ biết cui cút làm ăn, nhưng khi giặc đến thì mặc dầu chỉ có những dụng cụ thô sơ mà dám liều mạng giết giặc. Nay họ đã ngã xuống trên chiến trường, thì tác giả lại càng thương tiếc gấp bội. Và dường như cả cỏ cây, trời đất cũng buồn bã, ảm đạm: Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng, Nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai làng lụy nhỏ. Dọc hai bờ sông Cần Giuộc cỏ cây ủ rũ một màu tang, chợ Trường Bình thì già trẻ tuôn hai hàng lụy nhỏ. Tất cả mọi người đều khóc thương những nghĩa quân đã bỏ mình vì nước. Không làm sao ngăn được dòng nước mắt khi đi đến đâu cũng lưu giữ hình bóng họ: Chùa Tân Thạnh, năm canh ưng đóng lại Tấm lòng son gởi lại bóng trăng rằm… Nhìn lại những cảnh vật ngày xưa thì lòng tác giả dâng lên một niềm thương tiếc, căm giận. Căm bọn bất lương, loài ác quỷ bất nhân; thương tủi cho số phận ngắn ngủi, nhỏ nhoi của những nghĩa quân, của những người đứng lên vì đạo nghĩa. Họ đã mất đi là mất hết tất cả; Mất gia đình, người thương. Và gia đình họ mất đi một chỗ nương tựa: Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ N gọn đèn khuya leo lét trong lều Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng Con bóng xế dật dờ trước ngõ Thật là đau khổ biết dường nào khi người con và người chồng đã ra đi để lại sau lưng những tiếng kêu ré đau lòng thê lương, thảm thiết. Người vợ chạy tìm chồng trong không gian vô tận, trong cái dật dờ của nửa tỉnh nửa mê. Hình dáng mẹ già không còn nước mắt nhưng vẫn khóc, khóc những tiếng khóc đắng cay cõi lòng. Cảm xúc chân thành, lớn lao của tác giả đã đem lại cho đoạn văn chất trữ tình đặc biệt, tác động mạnh vào tâm hồn người đọc. Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt đề cao cái chết vẻ vang của người nghĩa quân. Chinh vì vậy mà ông khẳng định quan điểm sống của người nghĩa sĩ "chết vinh còn hơn sống nhục". Thà thác mà đặng câu địch khái Về theo tổ phụ cũng vinh, Còn hơn mà chịu chữ đầu Tây Ở với man di rất khổ Chết như vậy mới thật sự là cái chết của người nghĩa quân, chết để được trả nợ với nước non, để đem lại danh thơm cho muôn thuở. Qua những cái chết đó, tác giả đã phê phán lối sống hèn hạ của bọn "tay sai bán nước bán dân". Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương Vì ai xui đồn lũy tan tành xiêu mưa ngã gió Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương xô bàn độc, thấy lại thêm buồn Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm khổ… Điệp từ "vì ai", "sống làm chi", như đè nén sự căm tức, như lên án kết tội, như giày vò lũ tay sai bán nước – chính là nguyên nhân của mọi đau thương, tang tóc… Càng phê phán lối sống tôi mọi của bọn thống trị bao nhiêu thì Nguyễn Đình Chiểu càng đề cao cái chết vinh quang của nghĩa quân bấy nhiêu. Đó là ý của Nguyễn Đình Chiều: Ông luôn muốn những người nghĩa sĩ đó sống mãi trong lòng dân tộc, đất nước. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu một lần nữa khẳng định quan niệm sống cao đẹp của người Việt Nam thông qua những tấm gương hi sinh sáng chói. Vì vậy nên đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận định một cách đúng đắn về cụ Đồ Chiểu: "Ngòi bút… Xưa kia chỉ quen cày cuốc bỗng chốc trở thành môt người anh hùng cứu nước…" Kết thúc bài tế là những câu nghe như lời tâm huyết: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện trả thù kia… Người đã chết đi nhưng lòng vẫn còn đó, ý chí đó vẫn còn. Phải chăng trong suy nghĩ của tác giả, linh hồn nghĩa sĩ vẫn núi chặt lấy cuộc sống để theo đuổi sự nghiệp đánh giặc cứu nước đến cùng. Có lẽ Nguyễn Đình Chiểu đã quan niệm rằng "những cái gì chính nghĩa thì không thể nào tiêu diệt được…" Những chiến sĩ năm đó đã hi sinh, nhưng lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc của những nghĩa sĩ đó không bao giờ phai mờ trong lòng mỗi người dân. Họ là những con người đáng khâm phục, đáng trân trọng, tinh thần chiến đấu đó trở thành biểu tượng vĩ đại của dân tộc, góp phần vào tháng lợi vẻ vang của dân tộc. Nguồn: thêm: Viết đoạn văn ngắn bàn về những nguyên nhân khiến trẻ em phải lang thang, cơ nhỡ
Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
2,051
Phân tích bài “Chiếu cầu hiền” của vua Quang Trung Gợi ý Chiếu là lời của vua ban bố hiệu lệnh cho thần dân. Chiếu là lối văn ứng thế, chỉ khi nào thi đỗ làm quan mới có dịp dùng đến. Chiếu có thể viết bằng cổ thể hay cận thể. Cận thể thì đặt câu theo 2 vế đối nhau, mỗi vế có 2 đoạn: 4 – 6 hoặc 6 – 4 gọi là tứ lục. Cận thể thì vừa có vần vừa có đối. Cổ thể là văn xuôi cổ, tự do, không cần có vần có đối. Bài"Chiếu cầu hiền" của vua Quang Trung được viết theo cổ thể, thỉnh thoảng đôi câu có vế đối. (qua bản dịch); 3. Chăm chú lắng nghe / sớm hôm mong mỏi 4. Kỉ cương triều đình còn nhiều thiếu sót / công việc biên di chính lúc lo toan. 5. Dân khốn khổ còn chưa hồi sức / việc giáo hóa đạo đức chưa thấm nhuần. "Chiếu cầu hiền" của vua Quang Trung do Ngô Thì Nhậm chấp bút, chỉ có thể được viết ra sau khi vua Quang Trung đại phá quân Thanh xâm lược năm 1789 (năm Kí Dậu) nhằm mục đích thuyết phục, lôi kéo các danh sĩ Bác Hà ra cộng tác với nhà Tây Sơn. Phần đầu bài Chiếu nói về vai trò và cách ứng xử của người hiền. Người hiền "như vì sao sáng trên trời", "sao tất chầu về Bắc thần", đó là quy luật tự nhiên. Người hiền là nguyên khí quốc gia, do trời sinh ra, Vì vậy "người hiền tất phải để cho thiên tử sử dụng", đó là quy luật tự nhiên, là quy luật xã hội.Xem thêm: Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao Nước ta, trong thế kỉ XVIII, trải qua những năm dài loạn lạc. Cuối thời Lê – Trịnh, "lúc mạt thời, đất nước có nhiều biến cố: nhân dân lầm than, vua quan thối nát, quân Tàu kéo sang xâm lược… Kẻ sĩ ở vào cảnh cùng khốn, nhiều người đã có những cách ứng xử riêng: "vẫn giữ vững khí tiết", hoặc "giữ lời ngậm miệng",… hoặc lui về nơi rừng suối "bất hợp tác", hoặc "giấu kín danh tiếng không.xuất hiện suốt đời". Bài "Chiếu cầu hiền" đã nói lên thật đúng thực trạng cách ứng xử của các bậc hiền tài, các danh sĩ Bắc Hà trong nửa sau thế kỉ XVIII. Phần tiếp theo, vua Quang Trung nói lên tấm lòng quý trọng người hiền. Rất trân trọng và khiêm nhường "ngồi bên mép chiếu" (dành phần rộng rãi để đợi người hiền). Thái độ trọng thị: "Châm chú nghe, sớm hôm mong mỏi". Nhà vua sốt ruột tự hỏi: vì sao những người tài cao học rộng "chưa có ai đến", hay là "trẫm ít đức hay là "đương thời loan lạc". Các bậc hiền tài "chưa thể phụng sự vương hầu?". Sau nhiều câu hỏi nêu lên, nhà vua chỉ rõ: triều đại Tây Sơn "vừa mới được trời tạo lập", chính là lúc "người quân tử thi thố tài kinh luân". Nhà nước đang cần nhiều người hiền tài ra giúp vua, giúp nước để "lo toan" việc biên ải, để hồi sức dân khốn khổ, để "giáo hóa" đạo đức thấm nhuần. "Làm nên một ngôi nhà lớn không phải chỉ một cành cày,.xây dựng nền thái bình không chỉ mưu lược một kẻ sĩ’. Một đất nước "rộng lớn có truyền thông văn chương" há lại không có người kiệt xuất hơn đời "để giúp rập chính sự buổi đầu cho Trẫm ư?".Xem thêm: Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến Cách lập luận chặt chẽ, lí và tình kết hợp hài hòa, giọng văn tha thiết, lời lẽ trang trọng, bài "Chiếu cầu hiền" đã di sâu vào lòng người, kích thích niềm tự tôn, tự hào của các nhân tài, động viên họ đem đức tài ra giúp dân, giúp nước. Phần cuối "Chiếu cầu hiền", vua Quang Trung cho phép các quan văn võ được quyền tiến cử người hiền và cho phép người hiền được tự tiến cử. Nhà vua đã nói rõ đó không phải là "đem ngọc bán rao". "Chiếu cầu hiền" của vua Quang Trung thể hiện một chiến lược phát hiện và sử dụng người tài để xây dựng và phát triển đất nước ngày một thêm cường thịnh. Tiếc rằng, năm 1792, vua Quang Trung đã băng hà đột ngột. Triều đại Tây Sơn chi tồn tại đến năm 1802 trong cảnh hỗn chiến. Vì thế, "Chiếu cầu hiền" chỉ mang ý nghĩa như một văn kiện lịch sử. một tư liệu lịch sử của một triều đại vang bóng. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài “Chiếu cầu hiền” của vua Quang Trung
791
Phân tích bài “Từ ấy” của nhà thơ Tố Hữu: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim, Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim…” Gợi ý Tố Hữu là bút danh của Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920, tại Thừa Thiên – Huế. Ông là nhà thơ lớn của nền thi ca cách mạng Việt Nam. Cuộc đời thơ của Tố Hữu gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông. Mỗi tác phẩm của thi sĩ là một chặng đường lịch sử, là một chiến công của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chủ tịch: “Từ ấy” (1937-1946), “Việt Bắc" (1954), "Gió lộng" (1961), “Ra trận" (1972), “Máu và hoa” (1977)… Bài thơ “Từ ấy" được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của Tố Hữu. Bài thơ nói lên niềm vui sướng hạnh phúc của một thanh niên yêu nước bắt gập lí tưởng cách mạng của Đảng, thấy gắn bó với nhân dân cần lao. “Từ ấy" là lúc, là khi nhà thơ được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tướng cách mạng, mà sau này, ông nói rõ trong một bài thơ: “Con lớn lên, con tìm cách mạng – Anh Lim, anh Diều dạy con đi – Mẹ không còn nữa, con còn Đảng. Dìu dắt khi con chửa biết gì" (Quê mẹ)Xem thêm: Phân tích tính huống độc đáo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân"Mặt trời chân lí" là hình ảnh ẩn dụ ngợi ca lí tưởng cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa cộng sản đã soi sáng tâm hồn, đã “chói qua tim ”, đem lại ánh sáng cuộc đời như “bừng" lên trong nắng hạ – Một cách nói rất mới, rất thơ về lí tưởng: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim " Lí tưởng cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng cách mạng đem lại: “Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim " “Hồn” người đã trở thành "vườn hoa", một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà màu sắc lãng mạn nhất trong thơ Tố Hữu. Ngoài việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ (mặt trời chân lí), hình ảnh so sánh (vườn hoa lá), tác giả lựa chọn, sử dụng từ ngữ rất chính xác, hình tượng và gợi cảm: “bừng”, "chói”, "đậm ”, "rộn ”- để diễn tả thật hay niềm say mê lí tưởng mà “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” (Aragông-Pháp). Hai khổ thư thứ hai và thứ ba nói lên tình yêu thương giai cấp của người chiến sĩ Cách mạng. Dưới ánh sáng của lí tưởng cộng sản chủ nghĩa nhà thơ thấy tâm hồn mình gắn bó với nhân dân cùng khổ:Xem thêm: Em hãy đóng vai Lang Liêu kể lại truyện Sự tích bánh chưng, bánh giầy"Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời” Các động từ – vị ngữ như: "Buộc”, "trang trải”, "gần gũi" – diễn tả tình cảm gắn bó thiết tha của người chiến sĩ cách mạng với quần chúng lao khổ. Các từ ngữ: "mọi người, trăm nơi” "bao hồn khổ” chỉ số đông nhân dân cần lao mà nhà thơ hướng tới để xây dựng "khối đời”, khối công – nông liên minh ngày thêm mạnh, thêm gần gũi chặt chẽ. Ba chữ “tôi” xuất hiện trong khổ thơ thể hiện một tình cảm chân thành, tiếng nói trái tim của người cách mạng. Khổ cuối với cách diễn tả trùng, điệp, các từ "con ”, "em ”, "anh ” xuất hiện liên tiếp, giọng thơ càng trở nên sôi nổi thiết tha: "là con… là em… là anh ”. Các số từ: "vạn " (vạn nhà), "vạn " (vạn kiếp phôi pha), "vạn ” (vạn đầu em nhỏ…) – cho thấy người chiến sĩ cách mạng sống trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc, che chở, để khơi dậy sức mạnh nhân dân đứng lên chiến đấu cho tự do và hạnh phúc. Tố Hữu đã có một cách nói sôi nổi, mới mẻ tình cảm cách mạng, tình yêu giai cấp: "Tôi đã là con của vạn nhà, Là em của van kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏXem thêm: Trình bày hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa nhan đề bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo Không áo cơm cù bất cù bơ”. "Từ ấy” mang hồn thơ trẻ trung, sôi nổi, nồng nàn, say mê và tràn đầy yêu thương. Say mê lí tưởng, yêu thương giai cấp đã tạo nên tình cảm lớn trong bài thơ "Từ ấy”. Hình tượng đẹp và mới mẻ, chất trữ tinh chính trị đã làm nên hương sắc bài thơ. Sáu mươi năm đã qua mà câu thơ "Mặt trời chân lí chói qua tim ”, vẫn còn mới mẻ. Tố Hữu là nhà thơ viết được những vần thơ hay nhất, đẹp nhất ca ngợi lí tưởng cách mạng và ca ngợi Đảng. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài “Từ ấy” của nhà thơ Tố Hữu_ “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim, Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”
919
Đề bài: Phân tích bài “Xa ngắm thác núi Lư” của Lí Bạch Bài làm Lí Bạch là nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa với phong cách thơ Đường nổi tiếng phóng khoáng, tự do thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương của tác giả Bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” thể hiện tâm hồn lãng mạn, yêu thiên nhiên, yêu cảnh đẹp của đất nước của tác giả. Dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây. Ngay từ nhan đề của bài thơ đã thể hiện sự rộng lớn của không gian, khi tác giả ngắm thác núi Lư từ một nơi xa, thể hiện sự mênh mông của thiên nhiên, sự bao la rộng lớn của đất trời. Từ một nơi xa nhìn về phía trước tác giả Lí Bạch đã quan sát rất chi tiết mọi vật xung quanh mình thể hiện sự tinh tế trong cách nhìn của nhà thơ. Những tia nắng xuyên vào dòng nước Hương Lô mù sương tạo thành những dòng mây khói màu “tía” bay lên không trung bao la ngút ngàn. Thể hiện một màu sắc tươi đẹp của cảnh sắc nơi đây. Có thể nói đây là cõi thần tiên nơi hạ giới. Chốn bồng lai tiên cảnh, khi tác giả được thả bộ tới đây nhìn thấy cảnh vật nên thơ hữu tình đã không cầm lòng được mà làm bài thơ nàyXem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Tuyệt cú’ trong chùm thơ sáu bài của Đỗ Phủ “Nắng rọi Hương Lô khói tía bay” thể hiện sự “thi vị” khi ánh nắng chiếu vào những dòng nước tạo thành những màu như màu của cầu vồng sau cơn mưa. Thiên nhiên được tác giả miêu tả, tái hiện một cách vô cùng tươi đẹp. “Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước” thể hiện sự cao lớn của thác núi Lư với độ dốc lớn, dòng nước chảy với tốc độ vô cùng lớn như lao thẳng, thể hiện sự hùng vĩ của dòng thác có thể cuốn trôi đi tất cả. Người đọc có thể cảm nhận sự hùng vĩ, hoang sơ của dòng thác này đứng chênh vênh bên một vách núi cao, hiểm trở có thể làm cho người ta cảm thấy khiếp sợ vì độ lớn của nó nhưng cũng làm người ta thích thú vì sự hùng vĩ, mạnh mẽ Hình ảnh dòng nước trắng xóa lao xuống từ vách núi “tưởng dòng ngân hà tuột khỏi mây” thể hiện sự chơi chữ, nghệ thuật so sánh vô cùng thú vị của tác giả Lí Bạch. Hình ảnh so sánh này làm nên chất thi vị cho bài thơ, thể hiện phong cách thơ của tác giả vô cùng tinh tế, phóng khoáng Câu thơ như thể hiện sự bay bổng huyền ảo của cảnh thiên nhiên nơi thác núi Lư tuôn chảy nó vừa hư hư, thực thực đan xen vào nhau tạo nên hình ảnh thơ vô cùng thú vị, độc đáo làm cho người đọc cảm nhận được bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ huyền diệu.Xem thêm: Dân gian ta có câu tục ngữ: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Nhưng có bạn lại bảo: "Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng." Em hãy viết một bài văn chứng minh thuyết phục bạn ấy theo ý kiến của em Bài thơ “Xa ngắm thác núi Lư” của tác giả Lí Bạch là một bài thơ thể hiện nghệ thuật xây dựng hình ảnh vô cùng thú vị của tác giả, đồng thời thể hiện sự phóng khoáng trong ngôn ngữ cũng như trong tâm hồn của nhà thơ nổi tiếng này. Nguồn: Tài liệu văn mẫu
Phân tích bài “Xa ngắm thác núi Lư” của Lí Bạch- văn lớp 7
634
Phân tích bài “Đám tang lão Gô – ri – ô” của Ban – dắc Gợi ý Ban-dắc(1799 – 1850) là nhà tiếu thuyết Pháp nổi tiếng, “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực". Ông đã sáng tạo ra bộ “Tấn trò đời" đồ sộ, bất hủ gồm 97 tác phẩm với trên 2.000 nhân vật. Miếng da lừa (1831), ơ-giê-ni Grăng-đê (1833), Lão Go-ri-ô (1834), ảo mộng tiêu tan (1937 – 1843),… là những kiệt tác của Ban-dắc. Bằng ngòi bút chân thực, cụ thể lịch sử, Ban-dắc đã xây dựng hàng loạt tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình qua bộ "Tấn trò đời". Tác giả đã phê phán xã hội tư sản, ví nó như một tấn hài kịch, trong đó đồng tiền tác oai tác quái, gây ra biết bao bi kịch đau lòng. 1. Lão Gô-ri-ô xưa kia nhờ buôn bán lúa mì mà giàu có. Nhưng hai "ái nữ" của lão đã bòn rút đến đồng vàng cuối cùng. Cuối đời, lão sống cô đơn, nghèo khổ trong cái quán trọ tồi tàn của mụ Vô-ke. Lão chết năm 69 tuổi. Không một người thân thích. Người ta đã tháo đinh quan tài, đặt lên ngực lão “cái hình ảnh" của hai cô con gái yêu thương của lão khi chúng nó "còn bé bỏng, đồng trinh vù trong trắng…". Một chi tiết hiện thực vô cùng chua chát nổi lên sự vô tình, bạc bẽo của hai đứa con gái lấy chồng giàu sang.Xem thêm: Phân tích một đoạn Thơ mà anh (chi) cho là “đậm đà màu sắc dân tộc” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu 2. Chỉ có Ra -xti-nhăc và Cri-xtô-phơ (hai người cùng ở chung nơi quán trọ) cùng với hai gã đô tùy đưa quan tài lào Gô-ri-ô đến ngôi nhà thờ Thánh Ê-chiên duy Mông. Xác chết của lão nghèo khó được đặt trước một giáo đường nhỏ, thấp và tối. Tang lễ sơ sài, qua quýt mất hai mươi phút với cái giá bảy mươi quan do hai vị linh mục, chú bé hát lễ và người bõ nhà thờ. Tang lễ qua quýt thế thôi, bởi lẽ "trong một thời kì mà tôn giáo không lấy gì làm giàu lắm để cầu kinh làm phúc". Như vậy là, Thánh đường, linh mục, tang lễ… đều được cân, đo, đong, đếm bằng tiền. Bọn người có mặt trong tang lễ cũng vì tiền mà đến. Cri-xtô-phơ vì "nghĩa vụ " mà anh ta đến đưa đám, vì lão Gô-ri-ô chết "đã làm cho anh ta kiếm được mấy món tiền đài công kha khá ”. 3. Không có người đưa đám, lại đã năm giờ rưỡi rồi, xác chết lão Gô-ri-ô được chở nhanh đến nghĩa địa. Lúc ấy có hai chiếc xe có treo huy hiệu nhưng không có người ngồi, một là của bá tước Đơ Re-xtô, và một là của nam tước Đơ Nuy-xin-ghen theo sau chiếc xe tang đến nghĩa địa! Dù là con gái, nhưng nay đã trở thành một mệnh phụ phu nhân rồi, không thể đi đám ma một kẻ nghèo khó, hèn mọn! Một nét vẽ sâu sắc lên án đạo lí suy đồi, tinh đời bạc bẽo!Xem thêm: Chất trào phúng trong tiêu đề “Hạnh phúc của một tang gia” (trích "Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng) 4. Cảnh hạ huyệt vội vội vàng vàng. Bài kinh ngắn cầu cho kẻ xấu số do chàng sinh viên trả tiền (như một sự bố thí). Người nhà hai cô con gái và đám người nhà đạo biến ngay! Hai gã đào huyệt mới hất được vài xèng đất xuống cho lấp chiếc áo quan thì ngẩng đầu lên đòi tiền đãi công! "ơ-gien móc túi và thấy không còn đồng nào, chàng buộc phải vay Cri-xto-phơ hai mươi xu ". Cái món nợ này lại ghi vào sổ nợ của người xấu số ngày một thêm chồng chất! Ai sẽ trả cho lão Gô-ri-ô? Cảnh nghĩa địa là "ngày tàn, một buổi hoàng hôn ẩm ướt" trên bầu trời có những đám mây. Trong cái khung cảnh buồn bã ấy, Ra-xti-nhắc “não lòng ghê gớm… ”, "giọt nước mắt trào ra… ”. Đây là giọt nước mắt duy nhất trong đám tang lão Gô-ri- ô. Thương kẻ xấu số, tội nghiệp mà khóc, hay xót xa vì thế thái nhân tình bạc bẽo mà khóc? Một đám tang của kẻ già nua, cô đơn và nghèo hèn. Số tiền làm lễ ở nhà thờ. tiền đọc kinh cầu nguyện lúc hạ huyệt, tiền đài công phu đào huyệt, và tiền thuê đón đám ma – bấy nhiêu khoản tiền, ai bố thí cho lào Gô-ri-ô? Cha cô và con chiên, cha và con,… tất cả đều vì tiền. Bằng những chi tiết chân thực, cụ thể, Ban-dắc đã làm hiện lên một đám tang của kẻ nghèo hèn trong cái xã hội kim tiền, tình đời đen bạc. Chúng ta hãy đọc lên vần thơ này để ai điếu lão Gô-ri-ô bất hạnh:Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về được và mất trong cuộc sống… "Ai chết đó? Trục xoay và bánh đẩy, Xe tang đi về tận thế giới nào? Chiều đông tàn lạnh xuống tự trời cao, Không lửa ấm, chắc bồn buồn lắm đó… " Vanmau.edu.vn
Phân tích bài “Đám tang lão Gô – ri – ô” của Ban – dắc
883
Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan Gợi ý Ai đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn: ”Song sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng". Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX: "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viển phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?". Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có giá trị tạo hình đặc sắc: ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn: "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn". Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự – như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết: ‘Trời tây bảng lảng bóng vàng" (Truyện Kiều). Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan. Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc (tù và) cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng" lại. Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao (tiếng trống đồn trên chòi cao) của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm thanh (tiếng ốc, trống dồn) tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã:Xem thêm: Nghị luận xã hội về tính cần cù"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn". Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách… thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay mỏi"… Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ (người thì có: ngư, tiều, cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có: phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều…) nhưng với tài sáng tạo vô song: chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang trọng. Vì thế, cảnh vật trở nên có hồn, gần gũi, thân thuộc mang dậm bản sắc dân tộc. Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố (bến xa) với tâm trạng nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế yên vui của ngư ông đang sống nơi miền quê yên ả, không bị ràng buộc bởi vòng danh lợi: "Gác mái, ngư ông về viễn phố". Cùng lúc đó, lũ trẻ đánh trâu về chuồng, trở lại "cô thôn". Cử chỉ "gõ sừng" của mục đồng thể hiện sự hồn nhiên, vô tư, yêu đời: "Gõ sững, mục tử lại cô thôn".Xem thêm: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà. Hãy phân tích và chứng minh. Đó là hai nét vẽ vẻ con người tạo nên hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thốn dã vô cùng thân thuộc đáng yêu. Hai câu luận tiếp theo đã mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc trong "gió cuốn": gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mịt mù dặm liễu. Và trên con đường sương gió, lạnh lẽo ấy chí có một người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đối, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa "gió cuốn" và "sương sa", đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ: "Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu, sương sa khách bước dồn". Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ tả thực cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương có hồn đến thế! Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp: "Kẻ chốn Chương Đài// người lữ thứ’. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ’ trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn" là nóng lạnh; "nỗi hàn ôn" là nổi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương ấy thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết:Xem thêm: Thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận"Kẽ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?". "Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí bằng thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán-Việt (bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố…) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng…. Vanmau.edu.vn
Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan
1,201
Phân tích Bình Ngô dại cáo để chứng minh cho nghệ thuật chính luận tài tình của Nguyễn Trãi Gợi ý Trên phương diện văn chương, Nguyễn Trãi được coi là một trong không nhiều các nhà văn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam thời kì trung đại, ông sáng tác trên nhiều thể loại, thể loại nào cũng có những sáng tác xuất sắc. Không chỉ là nhà thơ trữ tình sâu sắc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn chính luận kiệt xuất, ông để lại khối lượng khá lớn văn chính luận (Quân trung từ mệnh tập, chiếu biểu viết dưới triều Lê…) nhưng chỉ cần Bình Ngô đại cáo cũng đủ để minh chứng cho nghệ thuật chính luận tài tình của ông. Có thể nói, Bình Ngô đại cáo đạt tới trình độ mẫu mực từ việc xác định đối tượng, mục đích để sử dụng bút pháp thích hợp đến kết cấu chặt chẽ và lập luận sắc bén. Đốì tượng của văn bản chính luận này không chỉ là giặc Minh với những tội ác tày trời chúng đã gieo cho nhân dân, đất nước ta mà còn là nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân đất nước Đại Việt. Bỉnh Ngô đại cáo là áng văn yêu nước lớn của thời đại, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đó cũng chính là mục đích mà Nguyễn Trãi hướng tới. Nghệ thuật chính luận của bài cáo được thể hiện trước hết ở nghệ thuật kết cấu. Nguyễn Trãi đã kết cấu văn bản này một cách sáng tạo theo kết cấu chung của thể cáo. Bình Ngô đại cáo có kết cấu bốn đoạn rất chặt chẽ. Đoạn thứ nhất, Nguyễn Trãi nêu nguyên lí chính nghĩa làm căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung Bình Ngô đại cáo: Trong nguyên lí chính nghĩa, Nguyễn Trãi trình bày hai nội dung chính là tư tưởng nhân nghĩa:Xem thêm: Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật Việt và Chiến truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn ThiViệc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điểu phạt trước lo trừ bạo. và chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt: Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu… Sang đến đoạn thứ hai, bằng mười hai cặp tứ lục, tác giả đã hoàn thiện bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Minh. Bản cáo trạng được trình bày theo một trình tự logic. Ban đầu, tác giả vạch trần âm mưu xâm lược: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà, Để trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ, Bọn gian tà bán nước cầu vinh. Tiếp đó, tác giả lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ nướng dưới hầm tai vạ… Đoạn văn thứ ba là đoạn văn dài nhất của bài cáo, có ý nghĩa như bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tương ứng với hai giai đoạn của cuộc khởi nghĩa, Nguyễn Trãi đã khắc hoạ hình tượng chủ tướng Lê Lợi và bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa. Và cuối cùng, ở đoạn văn thứ tư, nhà văn đã kết thúc bài cáo bằng lời tuyên bố nền độc lập của dân tộc đã được lập lại và rút ra bài học lịch sử: Xã tắc từ đây vững bền, Giang sơn từ đây đổi mới… Sự điêu luyện của nghệ thuật chính luận Nguyễn Trãi không chỉ được thể hiện trong kết cấu chặt chẽ mà còn được thể hiện ở cách lập luận tài tình của nhà văn. Tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc là cơ sở chân lí để triển khai lập luận. Trước hết, tác giả nếu tiền đề có tính chất chân lí làm cơ sở để lập luận. Tiền đề đó được soi sáng vào thực tiễn, giúp tác giả chỉ đâu là phi nghĩa để tố cáo, lên án, đâu là chính nghĩa để khẳng định, ngợi ca. Trên cơ sở tiền đề và thực tiễn, kết luận được rút ra.Xem thêm: Tục ngữ xưa có câu: "Đất rắn trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu". Em hãy giải thích câu tục ngữ đó và nêu giá trị của nó trong việc nhắc nhở thanh thiếu niên xây dựng phong cách sống văn minh của thời đại ngày nay Nghệ thuật chính luận còn được thể hiện qua sự gắn bó chặt chẽ giữa lí lẽ với thực tiễn. Như khi luận giải về chân lí khách quan sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước Đại Việt, tác giả đã đưa ra những cơ sở chắc chắn từ thực tiễn lịch sử trên mọi phương diện cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, văn hiến, lịch sử riêng, chế độ riêng: Như nước Đại Việt ta… … cũng có. Sự gắn bó giữa lí luận và thực tiễn còn được thể hiện rất đậm nét ở các đoạn văn sau này. Một phương diện khác làm nên sự tài tình trong nghệ thuật chính luận của Nguyễn Trãi là bút pháp. Bình Ngô đại cáo có sự kết hợp giữa bút pháp tự sự, trữ tình và bút pháp anh hùng ca. Nhà văn không độc tôn một bút pháp nào mà luôn hài hoà chúng trong lời văn của mình. Ở đoạn thứ ba, khi phản ánh giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa, khắc hoạ hình tượng Lê Lợi chủ yếu trên phương diện tâm lí, Nguyễn Trãi đã kết hợp bút pháp trữ tình với bút pháp tự sự: Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bề khơi, Tự ta ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối… Khi dựng lại bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh nhịp điệu, tất cả đều đậm chất anh hùng ca:Xem thêm: Thuyết minh bài thơ Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán SiêuGươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận, sạch không kỉnh ngạc, Đánh hai trận, tan tác chim muông. Nổi gió to trút sạch lá khô, Thông tổ kiến phá toang đê vỡ… Như vậy, từ kết cấu đến cách lập luận, đến bút pháp nghệ thuật, tất cả đều thể hiện Bình Ngô đại cáo là một áng văn chính luận xuất sắc. Với Bình Ngô đại cảo, Nguyễn Trãi xứng đáng là cây bút chính luận lỗi lạc của văn học trung đại Việt Nam Vanmau.edu.vn
Phân tích Bình Ngô dại cáo để chứng minh cho nghệ thuật chính luận tài tình của Nguyễn Trãi
1,143
Đề bài: Phân tích bút pháp lãng mạn trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Trong trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, Nguyễn Tuân nổi lên như một gương mặt tiêu biểu của mảng sáng tác văn xuôi với những tác phẩm mang một phong cách riêng, độc đáo và hấp dẫn. Sáng tác của Nguyễn Tuân dù là truyện ngắn, tiểu thuyết hay tuỳ bút, trước 1945, đều là tiếng nói của một tâm hồn lãng mạn, một tài năng mẫu mực của nghệ thuật ngôn từ. Trong sự nghiệp Nguyễn Tuân, tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” là một mốc son đậm nét giúp người đọc hiểu và gần Nguyễn Tuân hơn, một Nguyễn Tuân tài ba, uyên bác và làm chủ gần như tuyệt đối vốn tiếng Việt phong phú, dồi dào và đầy sáng tạo. Tập truyện ngắn này của Nguyễn Tuân cũng là một thành tựu rực rỡ của văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, hội tụ trong đó những yếu tố thẩm mỹ và nguyên tắc sáng tác của phương pháp sáng tác này. Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một trong số đó. Trong “Chữ người tử tù” nói riêng và tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” nói chung, Nguyễn Tuân đã dựng lại những mảnh của cuộc sống một thời đã qua, một thời vang bóng. Cả một dấu xưa vàng son, quá vãng nay trở về sáng lại trên mỗi trang văn với vẻ đẹp mê hồn, có khi rùng rợn mang đầy nuối tiếc, bâng khuâng. Truyện tuy ngắn nhưng cũng đủ để nhà văn vẽ ra một sự tương phản giữa cái lý tưởng và hoàn cảnh thực tại, giữa cái Thiện và cái Ác, giữa ánh sáng và bóng tối. Nhân vật Huấn Cao, quản ngục, thầy thư lại là một bộ ba nhân vật mà trong đó chỉ Huấn Cao là có tên (một cái tên cũng khá mơ hồ gồm tên gọi tắt của chức vụ (Huấn) đi kèm với họ (Cao)) nhưng vẫn sáng lên như những nốt nhấn giữa một mặt bằng tăm tối. Có thể nói hoàn cảnh nhà lao nói riêng và hoàn cảnh xã hội nói chung đã giam hãm những con người trong sạch đó vào cái lồng thiên địa chật hẹp và bó buộc, là một không gian thù địch và luôn ẩn chứa sức phá hoại đối với cái Tài, cái Đẹp, cái Thiên lương. Nhân vật quản ngục và thư lại là những con người trung gian mà Huấn Cao là nhân vật lý tưởng, mẫu hình lý tưởng đối lập với cuộc sống đang níu giữ, kéo ghì quản ngục và thư lại xuống. Quản ngục và thư lại sống lẫn trong cuộc sống đó, Huấn Cao vượt lên khỏi cuộc sống đó nhưng xét đến cùng họ đều là nhân vật của văn học lãng mạn. Huấn Cao sống một cuộc sống mà bình sinh chọc trời khuấy nước mặc dầu với những hình tích và hành trạng bí ẩn đầy màu sắc truyền thuyết. Con người ấy đối lập mình với thế giới, với chế độ mà mình đang sống bởi tự ý thức được mình, ý thức được phẩm giá của mình, kiêu hãnh đứng riêng ra và cao hơn với xung quanh và cảm thấy cô độc trong niềm kiêu hãnh đó. Tuy quản ngục và thầy thư lại không được như Huấn Cao nhưng họ vẫn là những người xa lạ với hoàn cảnh của mình đang sống. “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người (…) của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”. Họ sống lạc lõng với xung quanh, là những người chọn nhầm nghề bởi nơi họ sống là một nơi “lẫn lộn (…) khó giữ thiên lương”, là nơi mà những cái thuần khiết bị đày ải giữa một đống cặn bã. Giữa cảnh sống đó, nhân cách và tài năng của Huấn Cao càng rực sáng hơn, Huấn Cao đã vượt lên khỏi những ràng buộc của hoàn cảnh để sống với chính bản thân mình dù rằng ông đang ở trong cảnh tù đày, cá nằm trên thớt. Nguyễn Tuân đã dùng những lời thật đẹp để tả lại khung cảnh “một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định (…); bấy nhiêu âm thanh phức tạp bay cao dần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ…”. Những câu văn bay bổng, tài hoa đó đã nói lên phần nào lòng yêu mến của nhà văn với các nhân vật lý tưởng của mình. Xem thêm: Thành ngữ có câu: “Không thể bẻ đũa cả nắm”. Anh (chị) có suy nghĩ gì? Bàn luận về tình đoàn kết trong xã hộiTruyện ngắn “Chữ người tử tù” là một bức tranh gồm nhiều mảng màu khác nhau, phân rõ tối sáng, đậm nhạt mà trong đó cái Thiện và cái Ác, ánh sáng và bóng tối luôn tương phản với nhau. Có thể nói, ngay ước muốn xin chữ Huấn Cao của viên quản ngục đã là một ý định đầy chất lãng mạn. Ước mơ đó đã là cái nền nâng đỡ cho hàng loạt chi tiết sau này để những mảng màu tương phản được bày ra. Cảnh tượng Huấn Cao cho chữ là tột đỉnh của quan điểm lãng mạn mà tại điểm hội tụ đó cái Thiện chiến thắng cái Ác, ánh sáng đã lấn át bóng tối và quan trọng hơn là sự phát triển của tính cách nhân vật không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh. Tính cách, cảm xúc của nhân vật đã vượt lên trên hoàn cảnh. Nguyễn Tuân đã nói đó là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” và chúng ta có thể nói nếu theo logic thông thường của cuộc sống thì đó là một cảnh tượng “không thể có”. Ở đây các nhân vật đã quên đi tất cả, quên đi địa vị, danh phận, địa điểm mình đang đứng mà chỉ sống với cái đẹp, hướng tới ánh sáng, thưởng thức chung một nét chữ, cảm nhận cùng một mùi thơm của mực. Trong bức tranh sơn dầu đó, Huấn Cao có cái đẹp lan toả của một người nghệ sĩ còn viên quản ngục và thầy thư lại có cái đẹp của lòng biệt nhỡn liên tài, vẻ đẹp của thiên lương còn giữ được giữa bao quay cuồng đen trắng. Từ hành động rỗ gông của Huấn Cao ở đầu truyện tới việc Huấn Cao viết chữ ở cuối truyện là sự thống nhất nhân cách của một nhân vật lãng mạn. Quản ngục, thư lại là hai nhân vật nâng đỡ nhưng cũng đẹp và đầy chất thơ – chất thơ của cái đẹp, của tài hoa đối lập và vượt lên khỏi thực tại tầm thường, tăm tối. Câu nói “Xin lĩnh ý” của viên quản ngục khi bị Huấn Cao quát đuổi ra ngoài chỉ đơn thuần là một sự nhũn nhặn nhưng câu nói “Xin bái lĩnh” của chính nhân vật này ở cuối truyện, nói sau khi được Huấn Cao cho chữ và khuyên bảo lại là một nét đẹp của một tâm hồn hướng thiện, yêu mến tài hoa. Trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn, người ta có thể nhận ra được hình bóng nhà văn trong nhân vật lý tưởng của mình. Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là một nhân vật như thế. Hành trạng một đời tung hoành không biết trên đầu có ai cùng sự tài hoa, ngông nghênh của ông Huấn cũng là một phần tâm hồn Nguyễn Tuân gửi vào trong đó. Con người Nguyễn Tuân ở ngoài đời cũng như con người ông trong văn chương và các nhân vật của ông có những nét chồng khít đến kỳ lạ mà trong đó sự tài hoa, ngang tàng, phóng túng là mẫu số chung của những phân số đó. Con người nghệ sĩ ấy không chấp nhận cái tầm thường xung quanh, muốn nổi loạn với tất cả mà ở đây hình mẫu lịch sử của nhân vật Huấn Cao (một số nhà nghiên cứu nói là Cao Bá Quát) chỉ còn tiếng vọng. Cũng chính con người nghệ sĩ trong Nguyễn Tuân đã giúp ông bỏ đi phần kết của truyện này khi in trên báo, không đưa vào trong tập sách “Vang bóng một thời”. Khi truyện ngắn “Vang bóng một thời” in lần đầu trên báo, sau khi nói “Xin bái lĩnh”, viên quản ngục đã nghĩ rằng mình đã có “lời”, có “lãi” khi biệt đãi Huấn Cao và nhận được bức châm do chính tay Huấn Cao viết. Cái kết này đã bị lược bỏ khi truyện được in thành sách và chính sự lược bỏ đó đã làm cho truyện thành công hơn, cuốn hút hơn. Truyện cuốn hút vì nó là một khối lãng mạn thực sự mà không bị những ý nghĩ vụ lợi xen vào dù chỉ trong từng chi tiết nhỏ. Đó chính là quan niệm cái Đẹp không gắn liền với cái hữu ích, cái Đẹp đối lập với cái vụ lợi, như Nguyễn Tuân từng nói: “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn coi là vô giá trị…”. “Vang bóng một thời” là một tiếng vọng đầy cuốn hút trong trào lưu văn học lãng mạn 1930 – 1945 và “Chữ người tử tù” là một tiếng nói góp phần làm nên sự thành công của tập truyện này. Có thể nói rằng, những đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa không phải đã tập trung đầy đủ ở đây nhưng nhà văn đã thực sự đem chúng ta đến một thế giới mà trong đó nhân vật lãng mạn vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống khác biệt với những tầm thường, tăm tối quanh mình. Cái Đẹp, cái Thiện và sự tài hoa đã cùng nhau châu tuần về đó. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà (Có dàn ý chi tiết)
Phân tích bút pháp lãng mạn trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
1,740
Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh Gợi ý A. DÀN BÀI 1. Mở bài Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lớn được Hồ Chí Minh viết và trang trọng tuyên bố trước công luận trong và ngoài nước về quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện chính trị lớn, là kết quả của cuộc đấu tranh cách mạng suốt gần một thế kỉ của dân tộc ta chống thực dân Pháp và phát xít Nhật: “bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu hi vọng gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” (Trần Dân Tiên). 2. Thân bài a. Chủ đề của bản Tuyên ngôn Độc lập Khẳng định, tuyên bố cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của thực dân Pháp trước dư luận quốc tế, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân thế giới vào sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. b. Phân tích – Lí lẽ vừa khéo léo và hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc. – Kết tội thực dân Pháp và khẳng định, biểu dương cuộc đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến của nhân dân ta. – Tuyên ngôn: + Tuyên bố thoát li và xóa bỏ mọi ràng buộc với nước Pháp về quan hệ, hiệp ước, đặc quyền. + Tranh thủ sự ủng hộ của các nước Đồng minh đối với nền độc lập của dân tộc Việt Nam. + Khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam một cách mạnh mẽ. + Tuyên bố với toàn thể nhân dân thế giới về độc lập, tự do của nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam. 3. Kết bài Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận mẫu mực, có giá trị về nhiều mặt: – Tuyên ngôn công bố quyền độc lập tự do của dân tộc ở trong và ngoài nước, khép lại một thời kì lịch sử tăm tối, nô lệ, mở ra một thời kì lịch sử mới tươi sáng. – Tuyên ngôn có giá trị về mặt pháp lí. – Tuyên ngôn là một văn kiện bênh vực quyền con người, dựa hẳn vào quyền con người để xây dựng và phát biểu quyền dân tộc. B. BÀI LÀM Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lớn được Hồ Chí Minh viết và trang trọng tuyên bố trước công luận trong và ngoài nước về quyền dộc lập của dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thánh công ngày 19-8-1945 thì chỉ gần hai tuần sau, một nghi lễ lớn đã được tổ chức tại Hà Nội để Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bản Tuyên ngôn Độc lập. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện được viết một cách sâu sắc và cảm động, là một văn kiện chính trị lớn, là kết quả của cuộc đấu tranh cách mạng suốt gần một thế kỉ của dân tộc ta chống thực dân Pháp và phát xít Nhật. “Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu hi vọng gắng sức và tin tưởng cùa hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam” (Trần Dân Tiên).Xem thêm: Nhận xét... sách Văn học 9, tập 2, NXB Giáo dục 1998 có viết: "Hình... nhất"... Qua việc phân tích vẻ đẹp hình thức của bài thơ sau, em hãy bày tỏ cách hiểu của em về vấn đề trên? Ánh trăng - Nguyễn Duy - [...] Có nhiều loại tuyên ngôn, tuyên ngôn về văn nghệ, tuyên ngôn về giáo lí của tôn giáo. Đó là những luận điểm được công bố có tính chất nhóm phái hoặc trên một loại hoạt động cụ thể. Tuyên ngôn của một đất nước, một dân tộc về quyền độc lập là thiêng liêng, cao cả. Tuyên ngôn Độc lập nhằm khẳng định chân lí lớn lao và vĩnh cửu muôn đời là con người là phải được tự do, dân tộc phải được độc lập. Đó là những nguyên tắc thiêng liêng nhất, cao quý nhất. Trước đây, người ta thường nhắc đến bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, xem đó là những văn kiện có tính tuyên ngôn. Để chứng minh cho những nguyên tắc thiêng liêng trên, Tuyên ngôn Độc lập trước hết dựa vào hai văn kiện cơ bản: Trước hết là bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 ở Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Luận điểm thứ hai dựa vào bản Tuyên ngôn Nhân quyên và Dân quyền của cách mạng Pháp 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những chân lí không ai có thể chối cãi được. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt: tác giả sử dụng những văn kiện đó của những nước lớn và chính họ hôm nay đã và đang đi ngược lại với những nguyên tắc cơ bản ấy. Trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ cùng nói đến vai trò của tạo hóa: “tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” (phải nhấn mạnh một quyền uy lớn đó là tạo hóa, đấng tối cao chi phối đến cuộc sống và hạnh phúc của mọi người. Trong bài thơ “thần”, Lí Thường Kiệt cũng viện đến “Thiên thư” – “Sách trời đã dịch”, đó là chân lí bất di bất dịch). Lấy tuyên ngôn của Pháp và Mỹ làm cơ sở, làm nguyên tắc là rất khôn khéo vì đây là hai nước lớn, có nền dân chủ lâu đời và lúc đó lại đang dính líu về vấn đề Việt Nam, đi ngược lại truyền thống của họ. Tuyên ngôn Độc lập đã tố cáo và kết án chế độ thực dân Pháp. Trong cuộc đời hoạt dộng của mình, Hồ Chủ tịch đã lên án chủ nghĩa thực dân Pháp và phát xít Nhật.Xem thêm: Trình bày quan điểm của anh (chị) về tình yêu tuổi học trò. Về chính trị, chúng thi hành những luật pháp dã man, không cho dân ta một chút quyền tự do dân chủ nào (quyền được tự do hội họp, quyền về ngôn luận, quyền ra nước ngoài). Lập nhà tù nhiều hơn trường học; dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống suy nhược; “thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta; chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu”. Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương, cướp không hầm mỏ, ruộng đất, nguyên liệu, độc quyền in giấy bạc và xuất nhập khẩu. Đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí (thuế nhà, thuế đất, thuế ruộng, thuế người, thuế chợ) – những thứ thuế làm cho những người nghèo khổ kiệt quệ. Tuyên ngôn tiếp tục tinh thần của Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Hơn tám mươi năm đô hộ là hơn tám mươi năm đàn áp, chà đạp người dân nô lệ. Nói như Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn “bọn cướp nước đã đẩy hàng triệu đồng bào ta vào cảnh đói rét, nghèo nàn, đau khổ, bệnh tật, chết chóc, dốt nát, tối tăm, lạc hậu, lại vừa khoác lác khoe khoang rằng chính chúng nó đến là bảo hộ, khai hóa, đưa lại cho đất nước ta, đồng bào ta ánh sáng của văn minh, khoa học”. Tuyên ngôn đặc biệt chú ý đến sự kiện mùa thu 1940: Nhật vào Đông Dương, mở căn cứ để đánh Đồng minh. Pháp dâng Đông Dương cho Nhật. Nhân dân ta phải gánh chịu hai tầng áp bức. Nhật bóc lột, vơ vét tiền của, gạo thóc dẫn đến thảm họa là hơn hai triệu người chết đói. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, nắm hoàn toàn chính quyền. Tác giả bản tuyên ngôn nhấn mạnh ý nghĩa nhiều mặt sự kiện này. Một là bộ mặt đớn hèn của thực dân Pháp một lần nữa lại bộc lộ. Hai là từ nay thực dân Pháp không còn dính líu và ràng buộc gì với nhân dân Đông Dương. “Trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”, “sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nừa”. “Sự thật là nhân dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Luận điểm trên vô cùng quan trọng vì thực dân Pháp đang âm mưu xâm chiếm lại nước ta. Chúng núp sau lưng quân đội Anh tuyên bố Đông Dương là đất bảo hộ của người Pháp. Trong thực tế, chúng đã bắt đầu tiến công chúng ta ở Nam Bộ và nhân dân miền Nam đã kiên quyết chống lại. Tuyên ngôn khẳng định mọi cam kết của bọn Pháp đã bị xóa bỏ.Xem thêm: Phân tích cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng ở bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Một trong những cơ sở để phát triển luận cứ là sức mạnh đấu tranh hàng trăm năm để giành quyền độc lập của dân ta. Suốt trong ngót một thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã không ngừng đấu tranh để giành quyền độc lập. Tuyên ngôn đề cao tinh thần dân chủ và quyền bình đẳng được hai Hội nghị quốc tế là Têhêrăng (12-1943) và Cựu Kim Sơn (6-1945) đề xướng và bảo vệ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng minh chống phát xít mấy năm, dân tộc đó phải tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Đó là những lí lẽ đầy sức thuyết phục và tuyên ngôn khẳng định đó không chỉ là lời kêu gợi mà sự thật thì dân tộc đó đã tự do và độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Câu nói đó thể hiện ý chí của tất cả dân tộc quyết tâm bảo vệ những gì đã giành được trong cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và cũng là sự thách thức với những lực lượng thù địch. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử lớn có giá trị về nhiều mặt. Tuyên ngôn công bố quyền độc lập tự do của dân tộc ở trong và ngoài nước, khép lại một thời kì lịch sử tăm tối, nô lệ, mở ra một thời kì lịch sử mới tươi sáng, dân làm chủ, đất nước độc lập. Tuyên ngôn có giá trị về mặt pháp lí. Đây là một bản cáo trạng đanh thép tội ác của kẻ thù và đồng thời đề xuất những lập luận sắc sảo thuyết phục về quyền con người, quyền độc lập dân tộc, khẳng định tính chất pháp lí đúng đắn của cuộc cách mạng lớn lao này. Tuyên ngôn còn là một văn kiện bênh vực quyền con người, dựa hẳn vào quyền con người để xây dựng và phát biểu quyền dân tộc. Tuyên ngôn Độc lập là môt áng văn chính luận sắc sảo. Tác phẩm đã khẳng định chân lí lớn về độc lập dân tộc với cảm hứng trang trọng và lí lẽ đầy sức thuyết phục. Văn chương vừa sáng tỏ, chặt chẽ, vừa thiết tha hùng tráng. Đây là một tác phẩm chính luận có giá trị văn chương lớn. Vanmau.edu.vn
Phân tích bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh
2,011
Đề bài: Phân tích bức tranh phố huyện nghèo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ Hai đứa trẻ tuy chưa phải là truyện ngắn hay nhất nhưng lại khá tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam: bình dị, nhẹ nhàng mà tinh tế, thâm thúy. Truyện dường như chẳng có gì: hầu như không có cốt truyện, chẳng có xung đột gay cấn, chắng có gì đặc biệt cả. Hai đứa trẻ chỉ là một mảng đời thường bình lặng của một phố huyện nghèo từ lúc chiều xuống cho tới đêm khuya, với hương vị màu sắc, âm thanh quen thuộc: tiếng trống thu không cất trên một chiếc chòi nhỏ, một ráng chiều ở phía chân trời, một mùi vị âm ẩm của đất, tiếng chó sủa, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi vo ve… những âm thanh của mấy người bé nhỏ, thưa thớt, một quán nước chè tươi, một gánh hàng phở, một cảnh vãn chợ chiều với vỏ nhãn, vỏ thị, rác rưởi và những đứa trẻ con nhà nghèo đang cúi lom khom tìm tòi, nhặt nhạnh, một đoàn tàu đêm lướt qua… và nỗi buồn mơ hồ với những khao khát đến tội nghiệp của Hai đứa trẻ. Nhưng những hình ảnh tầm thường ấy, qua tấm lòng nhân hậu, qua ngòi bút tinh tế, giàu chất thơ của Thạch Lam lại như có linh hồn, lung linh muôn màu sắc, có khả năng làm xao động đến chỗ thầm kín và nhạy cảm nhất của thế giới xúc cảm, có khả năng đánh thức và khơi gợi biết bao tình cảm xót thương, day dứt, dịu dàng, nhân ái. Đó là truyện của Hai đứa trẻ nhưng cũng là truyện của cả một phố huyện nghèo với những con người bé nhỏ thưa thớt, tội nghiệp đang âm thầm đi vào đêm tối. Ít có tác phẩm nào hình ảnh đêm tối lại được miêu tả đậm đặc, trở đi trở lại… như một ám ảnh không dứt như trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam: tác phẩm mở đầu bằng những dấu hiệu của một “ngày tàn” và kết thúc bằng một “đêm tịch mịch đầy bóng tối”, ở trong đó, màu đen, bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả: đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối, tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Một tiếng trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi cũng chìm ngay vào bóng tối… Cả đoàn tàu từ Hà Nội mang ánh sáng lướt qua trong phút chốc rồi cũng “đi vào đêm tối”… Trong cái phông của một khung cảnh bóng tối dày đặc này, là những mảnh đời của những con người sống trong tăm tối. Họ là những con người bình thường, chỉ xuất hiện thoáng qua, hầu như chỉ như một cái bóng, từ hình ảnh mẹ con chị Tí với hàng nước tồi tàn đến một gia đình nhà xẩm sống lê la trên mặt đất, cho đến cả những con người không tên: một vài người bán hàng về muộn, những đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh, tìm tòi… … Tất cả họ không được Thạch Lam miêu tả chi tiết: nguồn gốc, xuất thân, số phận… nhưng có lẽ nhờ thế mà số phận họ hiện lên càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sống một cách âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ. Văn Thạch Lam là như thế: nhẹ về tả, thiên về gợi và biểu hiện đời sống bên trong: sống trong lặng lẽ, tăm tối nhưng giữa họ không thể thiếu vắng tình người. Qua những lời trao đổi và những cử chỉ thân mật giữa họ ta nhận ra được mối quan tâm, gắn bó. Và tất cả họ dường như đều hiền lành, nhân hậu qua ngọn bút nhân hậu của Thạch Lam. Nhưng giữa bấy nhiêu con người, nhà văn chỉ đi sâu vào thế giới tâm hồn của hai đứa trẻ: Liên và An. Chúng chưa phải là loại cùng đinh nhất của xã hội nhưng là tiêu biểu cho những con nhà lành, đang rơi vào cảnh nghèo đói, bế tắc vì sa sút, thất nghiệp. Không phải ngẫu nhiên tác giả lấy Hai đứa trẻ để đặt tên cho truyện ngắn của mình. Hình ảnh tăm tối của phố huyện và những con người tăm tối không kém, sống ở đây hiện lên qua cái nhìn và tâm trạng của chị em Liên, đặc biệt là của Liên. Mở đầu tác phẩm ta bắt gặp hình ảnh Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm vào tâm hồn ngây thơ của chị” và “chị thấy buồn man mác trước cái giờ khắc của “ngày tàn””. Thạch Lam không miêu tả tỉ mỉ đời sống vật chất của họ, nhà văn chủ yếu đi sâu thể hiện thế giới tinh thần của Liên với nỗi buồn man mác, mơ hồ của một cô bé không còn hoàn toàn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Tác giả gọi “chị” là vì quả Liên là một người chỉ biết quan tâm săn sóc em bằng tình cảm trìu mến, dịu dàng, biết đảm đang tảo tần thay mẹ nhưng tâm hồn Liên thì vẫn còn là tâm hồn trẻ dại với những khao khát hồn nhiên, thơ ngây, bình dị. Xem thêm: Tả cảnh biển vào buổi sáng sớm lớp 5Ở đây, nhà văn đã nhập vào vai của “hai đứa trẻ”, thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ và diễn tả cái thế giới tâm hồn trong sáng của chị em Liên: hình ảnh bóng tối và bức tranh phố huyện mà ta đã nói trên kia được cảm nhận chủ yếu từ nỗi niềm khao khát của hai đứa trẻ. Tâm hồn trẻ vốn ưa quan sát, sợ bóng tối và khát khao ánh sáng. Bức tranh phố huyện hiện ra chính là qua tâm trạng này: “Hai chị em gượng nhẹ (trên chiếc chõng sắp gãy) ngồi yên nhìn ra phố…” Liên trông thấy “mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi” nhưng “chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó…”. Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu đóm và khiêng cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra… Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo bà cụ Thi đi lẫn vào bóng tối… “Hai chị em đành ngồi yên trên chõng đưa mắt theo dõi những người về muộn từ từ đi trong đêm”… “Từ khi nhà Liên dọn về đây… đêm nào Liên và em cũng phải ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng với cái tối của quang cảnh phố xung quanh”… Đêm tối đối với Liên “quen lắm, chị không sợ nó nữa”. “Không sợ nó nữa” nghĩa là đã từng sợ. Chỉ mất từ “không sợ nó nữa” mà gợi ra bao liên tưởng. Hẳn là Liên đã từng sợ cái bóng tối dày đặc đã từng bao vây những ngày đầu mới dọn về đây. Còn bây giờ Liên đã “quen lắm”. Sống mãi trong bóng tối rồi cũng thành quen, cũng như khổ mãi người ta cũng quen dần với nỗi khổ. Có một cái gì tội nghiệp, cam chịu qua hai từ “quen lắm” mà nhà văn dùng ở đây. Nhưng ngòi bút và tâm hồn của Thạch Lam không chỉ dừng ở đấy. Cam chịu nhưng cũng không hoàn toàn cam chịu, nhà văn đã đi sâu vào cái nỗi thèm khát ánh sánh trong chỗ sâu nhất của những tâm hồn trẻ dại. Ông dõi theo Liên và An ngước mắt lên nhìn vòm trời vạn ngôi sao lấp lánh để tìm sông Ngân hà và con vịt theo sau ông thần nông như trẻ thơ vẫn khao khát những điều kì diệu trong truyện cổ tích, nhưng vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật, lại quá xa lạ làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát, hai em lại cúi nhìn về mặt đất, và quầng sáng thân mật xung quanh ngọn đèn lay động của chị Tí… Nhà văn chăm chú theo dõi từ cử chỉ, ánh mắt của chúng và ghi nhận lại thế thôi. Nhưng chỉ cần thế, cũng đủ làm nao lòng người đọc. Sống mãi trong bóng tối, “quen lắm” với bóng tối, nhưng càng như hế, chúng càng khát khao hướng về ánh sáng, chúng theo dõi, tìm kiếm, chỉ mong ánh sáng đến từ mọi phía: từ “ngàn sao lấp lánh trên trời”, đếm từng hột sáng lọt qua phên nứa, chúng mơ tưởng tới ánh sáng của quá khứ, của những kỉ niệm về “Hà Nội xa xăm”, “Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” đã lùi xa tít tắp; chúng mải mê đón chờ đoàn tàu từ Hà Nội về với “các toa đèn sáng trưng”; chúng còn nhìn theo cả cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng xa xa mãi… Đó là thế giới của ao ước, dù chỉ là một ao ước nhỏ nhoi, dù chỉ như là một ảo ảnh. Không thấm đượm một tấm lòng nhân ái sâu xa, không hiểu lòng con trẻ, không có một tâm hồn nhạy cảm giàu chất thơ thì không thể diễn tả tinh tế đến thế nỗi thèm khát ánh sáng của những con người sống trong bóng tối. Đọc Hai đứa trẻ, ta có cảm giác như nhà văn chẳng hư cấu sáng tạo gì. Mọi chi tiết giản dị như đời sống thực. Cuộc sống cứ hiện lên trang viết như nó vốn như vậy. Nhưng sức mạnh của ngòi bút Thạch Lam là ở đấy. Từ những chuyện đời thường vốn phẳng lặng, tẻ nhạt và đơn điệu, nhà văn đã phát hiện ra một đời sống đang vận động, có bề sâu, trong đó ánh sáng tồn tại bên cạnh bóng tối, cái đẹp đẽ nằm ngay trong cái bình thường, cái khao khát ước mơ trong cái nhẫn nhục cam chịu, cái xôn xao biến động trong cái bình lặng hàng ngày, cái tăm tối trước mắt và những kỷ niệm sáng tươi… Nét độc đáo trong bút pháp Thạch Lam là ở chỗ: nhà văn đã sử dụng nghệ thuật tương phản một cách hầu như tự nhiên, không chút tô vẽ, cường điệu, và nhờ thế, bức tranh phố huyện trở nên phong phú, chân thật, gợi cảm. Đọc Hai đứa trẻ ta bị ám ảnh day dứt không thôi trước đêm tối bao trùm phố huyện và xót xa thương cảm trước cuộc đời hiu quạnh cam chịu của những con người sống nơi đây. Nhưng Hai đứa trẻ cũng thu hút ta bởi cái hương vị man mác của đồng quê vào một “chiều mùa hạ êm như ru” và “một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”… Nó làm sống lại cả một thời quá vãng, nó đánh thức tình cảm quê hương đậm đà, và làm giàu tâm hồn ta bởi những tình cảm “êm mát và sâu kín”. Nguồn Edufly Xem thêm: Hoài Thanh đã nhận xét về Xuân Diệu trong Thi nhân Việt Nam: đó là một hồn thơ "tha thiết, rạo rực, băn khoăn". Hãy chứng tỏ điều đó qua các bài thơ Vội vàng, Đây mùa thu tới, Thơ duyên của ông
Phân tích bức tranh phố huyện nghèo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
1,970
Đề bài: Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ thật đẹp nhưng lại đượm nỗi buồn da diết bâng khuâng của Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử là một hồn thơ mãnh liệt và có sức sáng tạo đặc biệt nhưng luôn quằn quại đau đớn vì một căn bệnh hiểm nghèo. Ông là tác giả tiêu biểu cho "trường phái thơ loạn" xa lạ với đời thực. Tuy nhiên, Hàn Mặc Tử cũng có những bài thơ thật tuyệt mĩ và trong trẻo lạ thường viết về thiên nhiên, đất nước và con người như Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín… Đây thôn Vĩ Dạ được in trong tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Bài thơ được ông viết khi nhận được bức ảnh chụp về phong cảnh Huế kèm theo mấy lời thăm hỏi của người bạn gái có tên là Hoàng Cúc. Những kỉ niệm về vùng đất và con người xứ Huế được sống lại trong bài thơ. Lúc này, ở Quy Nhơn ông đã biết mình mắc bệnh hiểm nghèo. Vì vậy bài thơ là một bức tranh đẹp về thiên nhiên xứ Huế nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn da diết, bâng khuâng: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Câu hỏi Sao anh không về chơi thôn Vĩ có thể là câu tự vấn. Từ anh có thể là đại từ nhân xưng được dùng ở ngôi thứ nhất, mang tính chất giãi bày, thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Giọng thơ đượm buồn có pha chút ân hận. Cảnh vườn cây đẹp trong nắng ban mai với cành lá mơn mởn ướt sương, ánh như ngọc được miêu tả trực tiếp, qua những hình ảnh cụ thể, sinh động: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Rồi con người xuất hiện: Lá trúc che ngang mặt chữ điền Khiến cho thiên nhiên bỗng trở nên sinh động hẳn lên. Thiên nhiên như được thổi thêm một luồng sinh khí, tạo nên nét đẹp hài hòa trong giá trị tạo hình. Ở đây, câu thơ vừa miêu tả khuôn mặt chữ điền vuông vức đầy đặn ẩn chứa bên trong cảm giác hiền lành đã bị trúc trong vườn che khuất (cảnh thực) vừa như nói đến một trở lực ngăn cách tình người. Sau vườn cây xứ Huế là thiên nhiên xứ Huế. Cảnh trời, mây, sông, nước ở đây thật đẹp, nhất là cảnh một dòng sông được tưới đẫm ánh trăng với con thuyền cũng đầy ắp ánh trăng. Nhưng tất cả đều thấm đượm nỗi buồn. Cách miêu tả thể hiện trạng thái ảo mộng của tâm hồn nhà thơ. Nếu như ở khổ thơ đầu, nỗi buồn chỉ lộ rõ ở một câu thì ở khổ thơ này, dường như nỗi buồn giăng trải ra ở khắp cả khổ thơ: Gió theo lối gió, mây đường mây Câu thơ như xẻ ra làm hai diễn tả sự phân cách, li tán của thiên nhiên nhưng lại gợi ra sự chia ly của lòng người. Nó như lưỡi dao rạch vào nỗi đau của thân phận kẻ bị chia lìa. Xem thêm: Đọc truyện Chí Phèo của Nam Cao, em thích nhất chi tiết, hoặc hình ảnh nào? Hãy viết một bài phân tích, hoặc bình giảng chi tiết, hoặc hình ảnh đóDòng nước buồn thiu, hoa bắp lay Nỗi buồn của thi nhân đã lan trải ra khắp không gian theo quy luật tâm lý người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du). Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? Ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ nên không khí hư ảo. Tâm trạng mộng mơ của thi nhân dường như đã cảm nhận được tất cả: sông trăng, bến trăng, thuyền chở trăng. Khổ thơ cho thấy con người nhà thơ rất cô đơn, đang khao khát được ai đó chia sẻ, tâm sự. Có chở trăng về kịp tối nay là một câu hỏi vừa như khắc khoải, bồn chồn, vừa như hy vọng chờ đợi một cái gì đang rời xa, biết có khi nào quay trở lại. Tiếp tục nối mạch thơ trên, khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong không gian bao la của trời, mây, sông, nước đã thấm đẫm ánh trăng. Đó là sự hy vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi. Vẫn ở trong mộng ảo, vì vậy cảnh và người ở đây đều hư hư, thực thực. Đối với thi nhân thì tất cả chỉ là sự cảm nhận. Nhà thơ mơ thấy một khách đường xa, cảm nhận rõ một bóng hình người con gái Huế thơ mộng song không thể nắm bắt được, thoắt ẩn, thoắt hiện, áo em trắng quá nhìn không ra. Sự hụt hẫng đến cao độ, nhà thơ muốn bấu víu, cầm nắm mà không được vì cảnh đầy màu hư ảo lẫn khói mây: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Bóng hình của giai nhân mờ ảo trong sương, nhưng cũng có thể đó là ẩn ý của người viết. Phải chăng đây là biểu tượng của cái "không đi đến đâu" trong tình yêu của Hàn Mặc Tử: Ai biết tình ai có đậm đà? Một câu hỏi không rõ ngôi thứ, không cần sự trả lời nhưng người đọc cũng hiểu được ý nghĩa của nó, vì những khổ thơ đầu của bài thơ đã xuất hiện những cụm đại từ vườn ai, thuyền ai và những câu hỏi như thế: Sao anh không về chơi thôn Vĩ Có chở trăng về kịp tối nay? Tâm trạng mong mỏi, khát khao bao nhiêu thì sự day dứt, buồn đau cũng tăng lên bấy nhiêu. Tóm lại, cảnh trong Đây thôn Vĩ Dạ là cảnh của vườn quê sông nước xứ Huế. Cảnh đẹp, giàu sức sống, thơ mộng nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng, da diết. Cảnh ấy như là sự thể hiện biện chứng tâm hồn của một nghệ sỹ tài hoa nhưng đa tình, đa cảm. Mỗi khổ thơ là một câu hỏi, như một nỗi buồn day dứt lòng người. Vì vậy âm hưởng chung của bài thơ là buồn nhưng không bi lụy. Bài thơ thể hiện một tâm trạng rất thật của nhà thơ và một tình yêu xứ Huế thiết tha. Những chi tiết hình ảnh, thủ pháp nghệ thuật, cấu tứ của bài thơ đều được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng chính tình cảm của mình. Nguồn Edufly Xem thêm: Trong hài "Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu có một "tượng đài nghệ thuật" mang tính bi tráng về người nông dân yêu nước chống ngoại xàm. Anh (chị) hãy phân tích bài văn tế để làm rõ vẻ đẹp hiếm có của hình tượng nghệ thuật đó
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
1,150
Phân tích bức tranh Tứ Bình trong bài thơ Việt Bắc Hướng dẫn Mở bài: Mười câu thơ trên nằm trong đoạn thứ năm của bài thơ Việt Bắc. Nếu tách chúng ra thì nó vẫn mang một ý nghĩa trọn vẹn về bức tranh tứ bình của Việt Bắc. Bức tranh ấy hiện lên qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông và những chuyển biến trong thiên nhiên tươi đẹp. Bức tranh ấy còn chan chứa tình người với một nỗi luyến lưu, thương nhớ giữa người đi, kẻ ở. Thân bài: a. Hai câu thơ đầu: “Ta về mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người” + Hai câu thơ đầu gợi mở nội dung của cả đoạn thơ, ấy là cuộc chia tay của những người quân dân và nhân dân nơi miền ngược. Nhưng cuộc chia tay này lại giống như cuộc chia tay của những người đang yêu nhau hay của một đôi vợ chồng son sắt. + Hai đại từ “mình”, “ta” được sử dụng xuyên suốt và lặp lại nhiều lần trong hầu khắp các câu thơ của bài thơ Việt Bắc, thế nhưng nó không hề đơn điệu, mỗi lần nhắc đến là nó lại mang cung bậc tình cảm và cảm xúc khác nhau. Sự kết hợp ta – mình – ta trong câu thơ đầu đùng để hỏi nhưng sự kết hợp ta – ta trong câu thơ sau là để nhân vật trữ tình giãi bày tâm sự.Xem thêm: Cảm nhận bài Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra của Trần Nhân Tông- văn lớp 7 + Bao nhiêu ngày gắn bó cùng Việt Bắc, kỉ niệm giữa cảnh và người, giữa người và người chan chứa bao ân tình. Khi phải rời miền ngược về xuôi, nhân vật trữ tình hẳn phải lưu luyến nhung nhớ tha thiết mỗi cảnh vật và con người nơi đây, cái nào cũng đáng nhớ, đáng thương, đáng trân trọng. b. Bức tranh tứ bình đẹp như cảnh thần tiên của Việt Bắc Bức tranh tứ bình được gợi tả bằng những hình ảnh, đường nét, âm thanh tươi vui, rực rỡ và chan chứa tình cảm của tác giả. Đọc những câu thơ nhịp nhàng, êm ái nhue tiếng suối, tiếng hát và tiếng lá rừng hòa quyện với tiếng lòng của con người. Bốn mùa hiện lên bằng bốn cặp câu, câu trên là tả cảnh, câu dưới tả người. Mỗi mùa lại có những nét rất riêng, đậm chất rừng núi mà nét nào cũng khiến người đi bịn rịn, nhớ nhung. + “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” Nhớ đến cảnh mùa đông, tác giả lại nhớ đến rừng xanh hoa chuối. nhắc đến mùa đông chắc ai cũng nghĩ đến cảnh lạnh lẽo, u ám nhất là ở giữa những cánh rừng mênh mông, thế nhưng vì một màu đỏ rực của hoa chuối rừng đã nhuốm lên ngọn lửa ấm áp cho khu rừng, cảnh vật cũng tươi tắn theo, lòng người cũng ấm lại. + Mùa xuân Việt Bắc không vàng rực mai hay đỏ thắm hồng đào mà trắng tinh khiết của hoa mơ “ngày xuân mơ nở trắng rừng”. Mùa xuân ở Việt Bắc không chỉ tươi tắn và còn nên thơ.Xem thêm: Cảm nghĩ của em khi đọc Truyện lạ nhà thuyền chài trích trong Thánh Tông di thảo. + “Ve kêu rừng phách đổ vàng” Câu thơ gợi cảnh màu thu với tông màu vàng rực của rừng phách và tiếng ve kêu râm ran khắp nơi. Sự chuyển biến của thiên nhiên cảnh vật theo mùa khiến tâm trạng con người cũng đi từ niềm vui này sang bỡ ngỡ khác. Không phải sự ấm áp tươi tắn của màu đông, không phải vẻ tinh khôi thơ mộng của màu xuân, mùa hạ ở Việt Bắc như chiếm lấy hồn người trước cái màu vàng làm xốn xang tâm trạng. + “Rừng thu trăng gọi hòa bình” Bức tranh cuối cùng là của mùa thu, màu thu ước nguyện, màu thu dịu dàng với ánh trăng sáng giữa bầu trời vằng vặc. Ánh trăng thu đại diện cho hòa bình, ấy là ước mong chình đáng cũng là mục đích của cuộc cách mạng nên ánh trăng trong bức tranh tứ bình này vùa thân thiết như tri kỉ lại vừa thiêng liêng. Câu thơ trước là cảnh, câu thơ sau là người, cảnh vật xinh đẹp làm nền cho sự xuất hiện của những con người bình dị nhưng lại chan chứa ân tình với cách mạng. Họ cưu mang, giúp đỡ cách mạng, sống chan hòa với các chiến sĩ, họ tin tưởng và son sắt với cách mạng. Cảnh và người gắn liền, hòa quyện vào nhau, tô điểm cho nhau. Tình cảm gắn bó với quê hương, cách mạng của nhà thơ Phải sống gắn bó, yêu thương và tin tưởng nhà thơ mới có thể vẽ nên bức tranh VB tuyệt đẹp như thế. Từng chi tiết nhỏ, từng âm thanh, hình ảnh bình dị đời thường nhưng lại trở thành nỗi nhớ da diết của nhà thơ khi rời nơi đây. Nếu không có một sợi dây ân tình liên kết giữa nhà thơ và người dân vùng núi rừng thì làm sao nhà thơ lại bịn rịn, lưu luyến không nỡ rời xa như một người yêu xa cách một người yêu. Cảnh núi rừng hiện ra tươi đẹp, bình yên chứ không hoang vu, hiểm nguy như những gì ta thường nghĩ, điều đó chứng tỏ nhà thơ có cái nhìn yêu thương, cảm thông, trân trọng với con người nơi đây. Cả bài thơ mang giọng điệu tha thiết, bâng khuâng, lưu luyến, đó là kết quả của việc sử dụng thành công thể thơ lục bát mang âm hưởng ca dao. Kết cấu đối đáp mình ta xuyên suốt bài thơ như lời đối đáp của hai nhân vật nhưng thật sự chính là sự phân thân của tác giả dựa trên sự đồng cảm, gắn bó, yêu thương và thấu hiểu giữa người ra đi và kẻ ở lại. Xem thêm: Nitsơ, một triết gia nổi tiếng phương Tây cho rằng: “Phải biết... mẽ”. Nhà văn Nam Cao lại cho rằng: “Kẻ mạnh... trên đôi vai mình”. Anh (chị) suy nghĩ gì về hai ý kiến trên
Phân tích bức tranh Tứ Bình trong bài thơ Việt Bắc
1,048
Đề bài: Em hãy phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Có thể thấy rằng trong không khí hân hoan của văn chương nghệ thuật khi đón nhận thơ mới, nhà thơ Tố Hữu lại lựa chọn nằm ngoài làn gió thời đại, quay về với hồn phách dân tộc. Và có thể nói rằng với thể thơ lục bát cổ truyền, bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu dường như đã làm sống lại không chỉ hào khí của một thời lửa cháy mà còn cả tình quân dân như cá với nước. Như là một bài dân ca, một khúc hát trữ tình thiết tha vậy, ta như thấy từng câu thơ thắp sáng trong lòng người đọc những kỷ niệm thương nhớ biết bao nhiêu trong những năm kháng chiến chống Pháp ở rừng Việt Bắc. Và cũng vì nơi ấy, dường như không chỉ có tình người mà thôi, mà nơi đó còn có cả cảnh vật nên thơ trữ tình, làm nên một bức tranh tứ bình mang đậm nét riêng của Việt Bắc: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Vốn như đã mang nặng nghĩa tình và tình cảm với cảnh vật và con người nơi rừng núi Việt Bắc. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã vẽ nên một Việt Bắc không những thấm đẫm tình người mà dường như ngay cả thiên nhiên nơi đây cũng khiến lòng người xuyến xao. Thi nhân từ trước đến nay đã như vẫn luôn không thể cưỡng lại sức hấp dẫn của thiên nhiên, và không ngoại lện nhà thơ Tố Hữu cũng vậy. Bằng vài nét phác họa tinh tế, cảnh rừng Việt Bắc hội tụ cả bốn mùa hiện lên trước mắt người đọc. Bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông như đã được gói gọn trong tám câu thơ lục bát.Xem thêm: Hãy viết một đoạn văn ngắn (3, 4 câu) kể về việc bạn em nhặt được của rơi trả lại người mất Và không theo lẽ thường bắt đầu bằng xuân rồi hạ, thu rồi đông, Tố Hữu bắt đầu bức tranh của mình bằng hình ảnh của mùa đông – một quy luật thường thấy đối với tranh tứ bình. Mùa đông ấy như đã hiện lên thật đẹp: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ấm dao gài thắt lưng.” Dường như không có không khí lạnh lẽo, cũng chẳng có chút tư vị khô khốc nào cả mà của mùa đông chính là nét hay và là một nét đặc sắc trong nghệ thuật tả cảnh của Tố Hữu. Và thay vì để miêu tả không khí ra sao, cảnh vật như nào một cách cụ thể thì dường như Tố Hữu đã lựa chọn những chi tiết đắt giá nhất, tiêu biểu nhất dùng làm biểu tượng cho mùa đông Việt Bắc. Ở đây chính là hình ảnh hoa chuối. Dường như trên cái nền rằng xanh mát tươi non mơn mởn là màu đỏ tràn đầy ấm áp của hoa chuối. Điều này dường như đã khiến cho vạn vật xung quanh đều như được sưởi ấm. Với một lối tả mang gợi nhiều hơn đặc tả giúp người đọc thỏa chí sáng tạo, suy ngẫm và như đã tự vẽ nên cho mình bức tranh mùa đông Việt Bắc. Dường như nắng ấm thậm chí không mất đi mà còn tô điểm thêm cho ánh đỏ hoa chuối, làm nó càng thêm chói lọi hơn. Hình ảnh đặc sắc “Dao gài thắt lung” đã như làm khung cảnh như được tiếp thêm sức sống của hơi ấm con người, xua tan đi không khí hoang dã của vừng rừng thâm u Việt Bắc. Đó cũng chính là một vẻ đẹp của lao động – vẻ đẹp không bao giờ mất đi giữa cuộc sống này.Xem thêm: Suy nghĩ về chức năng giáo dục của văn học Đông qua thì xuân tới mang theo trăm hoa đua nở thật đẹp “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón truốt từng sợ giang.” Có thể thấy vùng núi Tây Bắc vốn nổi tiếng bởi ắc trăng hoa mơ hoa mận. Mỗi khi mùa mơ mận về, cả cánh rừng đại ngàn lại ngập trong sắc trắng tinh khôi như vườn địa đàng. Không khí mùa xuân đến như đã lan tỏa muôn nơi, thổi bừng lên sức sống. Tràn ngập không khí là sự tinh khôi ngất ngây lòng người. Và dường như trung tâm của khung cảnh trắng tinh khiết ấy là con người Tây Bắc đang “truốt từng sợi giang”. Có biết bao nhiêu sợi giang là bấy nhiêu sợi nhớ sợi tình, sợi thương. Tuy cảnh vật tĩnh lặng là vậy nhưng dường như lại vẫn sống động bởi sự xuất hiện của con người lao động – những con người “đẹp tựa chân lý sinh ra”. Có thể nói những nỗi nhớ về người và vật cứ đan xen mỗi lần nhớ về vùng núi thân quen, kéo dài triền miên từ năm này sang năm khác, khiến tâm tưởng tác giả không thôi bồi hồi xúc động. Chẳng mấy chốc mà hạ đã sang: “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình” Từ rừng núi hạ sang thường râm ran tiếng ve kêu, nơi nơi dường như đã đều tràn ngập ánh nắng cháy bỏng tuôn chảy như mật, và như rót lên từng tán cây, ngọn cỏ. Và cho đến tận bức tranh mùa hạ nhộn nhịp, con người mới hiện lên một cách cụ thể,rõ ràng. Đó còn chính là hình ảnh đầy ngọt ngào và thân thương của “cô em gái hái măng”. Tưởng như trong tiếng ve râm ran là nắng hạn lung linh cùng người con gái vẫn hăng say lao động dường như cũng đã tạo nên vẻ đẹp của sự nhiệt huyết, sự căng tràn của sức sống tươi vui. Tiếng ve gọi hè kết thúc sẽ là lúc tiết trời nhường bước cho thu sang:Xem thêm: Kể lại câu chuyện “Đêm nay Bác không ngủ” của Minh Huệ -văn lớp 7 “Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Cũng đã không biết từ bao lâu trăng thu vẫn được xem là đẹp nhất. Vậy nhưng ánh trăng ở đây không phải chỉ ánh trăng bình thường thôi đâu mà đó chính là ánh sáng của độc lập tự do, là ánh trăng sáng tỏ, rõ ràng của các mạng tháng Tám. Và dường như ở giữa khung cảnh khơi gợi lòng người, tình người, ánh trăng như luồn lách thật sâu vào tâm tương thi nhân đê thấy nỗi nhớ nhung trong lòng mà không có bất cứ đối tượng cụ thể nào. Như những sự nhớ nhung bâng khuâng trong câu thơ Tố Hữu như đã khiến người đọc, người nghe nhớ đến nỗi nhớ của Nguyễn Bính Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai. Và có lẽ như đó chính là nỗi hoài niệm về những ngày tháng chung lưng đấu cật ở chiến khu Việt Bắc – nơi đầu não của cách mạng. Với bốn cặp câu thơ chữ ít ý nhiều hòa vào tâm hồn người đọc, như đã và đang giăng mắc và vấn vương như chẳng bao giờ có thể rời khỏi. Việt Bắc chính là nơi đã khiến trái tim nhà thơ rung động bởi vẻ đẹp ở cả cảnh vật lẫn con người. Và hơn thế, khi nhà thơ nhớ nhớ về Việt Bắc, Tố Hữu như còn đang nhớ lại tình nghĩa nặng sâu của những con người trong kháng chiến chống Pháp. Nguồn: Văn mẫu hay
Phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu- Văn 12
1,326
Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc Hướng dẫn Nhắc đến những nhà văn, nhà thơ cách mạng trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, ta không thể không nhắc đến Tố Hữu với một giọng thơ đầy tính chiến đấu, đầy lý tưởng, một phong cách thơ trữ tình chính trị. Tuy nhiên, trong những bài thơ ấy vẫn chất chứa những hình ảnh đậm chất trữ tình, giàu chất thơ, mượt mà và tươi sáng. Bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc chính là minh chứng tiêu biểu: “Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Đoạn thơ là một bức tranh Việt Bắc qua bốn mùa và hàm chứa trong đó một nỗi nhớ nhung da diết cùng tấm lòng thủy chung của tác giả nói riêng và người cán bộ nói chung dành cho Việt Bắc: “Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người” Hai câu thơ là lời hỏi và kể của người ra đi, muốn biết lòng người ở lại thế nào và tự bộc lộ tấm lòng của mình. Điệp ngữ “ta về” mở đầu cho hai câu thơ như đặt ra những nỗi niềm của người từ giã. Cái đẹp của câu thơ là hình ảnh “hoa cùng người”, phải chăng con người cũng là một bông hoa trong vườn hoa Việt Bắc. Hình ảnh tạo nên nét hài hòa giữa thiên nhiên và con người, hoa và người khi hòa vào nhau, khi tách biệt để tôn lên vẻ đẹp của nhau. Tiếp sau hình ảnh hoa và người là bức tranh bốn mùa Việt Bắc được vẽ ra hết sức chân thật cùng những màu sắc tươi tắn và âm thanh rộn ràng: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đeo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Mùa đông với màu xanh tha thiết, ngút ngàn của núi rừng trùng điệp hiện ra đầu tiên. Tác giả khắc họa mùa đông trước có lẽ bởi vì khi người cách mạng đến đây cũng vào mùa đông của đất nước và cũng chính thời điểm ấy sau mười lăm năm, người cách mạng cũng từ biệt Việt Bắc – cái nôi cách mạng Việt Nam.Xem thêm: Cảm nhận của tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang Giữa cái nền xanh tươi của rừng thẳm nổi bật hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi, làm cho núi rừng không lạnh lẽo hoang vu mà trở nên ấm áp lạ thường. Những bông hoa chuối ẩn trong sương như những ngọn đuốc hồng soi sáng chặng đường mà ta từng bắt gặp trong bài thơ Tây Tiến: “Mường lát hoa về trong đêm hơi”. Cái “đỏ tươi” của hoa chuối như xóa nhòa đi sự lãnh lẽo cô độc của mùa đông lãnh lẽo của núi rừng, như chất chứa, tiềm ẩn sức sống của đất trời. Sự đối lập trong màu sắc nhưng lại hài hòa trong cách diễn đạt khiến mùa đông nơi đây mang hơi hướng của mùa hèo ấm áp trong thơ Nguyễn Trãi: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiện mùi hương” Giữa thiên nhiên ấy, nét đẹp của con người Tây Bắc hiện lên với một nét độc đáo rất riêng: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Người Việt Bắc đi rừng bao giờ cũng gài một con dao ở thắt lưng để phát quang những chướng ngại và đề phòng thú dữ. Ở đây tác giả không miêu tả gương mặt hay thần thái mà miêu tả ánh sáng phản chiếu nơi lưỡi dao gài ở thắt lưng. Ánh nắng mặt trời chiếu xuống làm cho con dao lấy lánh ánh sáng tạo nên hình ảnh con người thật đẹp không thể nào quên, tưởng chừng con người chính là nơi hội tụ của ánh sáng, vừa lung linh vừa rực rỡ. Con người được đặt giữa “đèo cao, nắng ánh”, ở vị trí trung tâm giữa núi rừng Tây Bắc, vượt lên cả không gian với hình ảnh lớn lao, làm chủ thiên nhiên, làm chủ đất nước với hình ảnh kỳ vĩ, lớn lao.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu Đông qua rồi xuân. Mùa xuân Việt Bắc hiện lên với sắc trắng của hoa mơ làm bừng sáng cả khu rừng: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Nhắc đến mùa xuân, người ta lại nhắc đến thời điểm khí hậu mát mẻ, cỏ cây hoa lá vì thế tràn đầy sức sống, đâm chồi, nảy lộc xanh non. Ngày xuân của Việt Bắc được Tổ Hữu nhìn với cái nhìn rất độc đáo: “mơ nở trắng rừng”. Nghệ thuật đảo ngữ “trắng rừng” sử dụng từ “trắng” với vai trò động từ chứ không còn là tính từ chỉ màu sắc. Thêm vào đó, động từ “nở” như sự lan tỏa của sắc trắng, lấn át mọi sắc xanh của lá rừng, tạo nên một không gian trong lành, dịu mát của hoa mơ, khiến bức tranh trở nên thanh khiết hơn, trữ tình hơn. Giữa cái nền trắng của hoa mơ ấy, nổi bật lên hình ảnh con người lao động cần mẫn, dịu dàng: “chuốt từng sợi giang”. Con người đẹp một cách tự nhiên trong công việc hàng ngày. Động từ “chuốt” kết hợp với trợ từ “từng” đã thể hiện bàn tay khéo léo, tỉ mĩ, và tài hoa của người lao động. Đó cũng chính là những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Bắc hào hùng nhưng cũng rất hào hoa. Mùa hè đến, tiếng ve rộn rã vang lên khắp núi rừng: “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình” Âm vang của tiếng ve làm lá phách đổ vàng. Tưởng chừng chỉ cần tiếng ve ngân lên đã làm tiết trời đột ngột chuyển từ xuân sang hè. Câu thơ có nét tương đồng với ý thơ “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” của Khương Hữu Dụng. Chỉ với một câu thơ mà gợi lên cả sự vận động của thời gian, của cuộc sống. Và trên cái nền vàng của rừng phách ấy, hiện lên hình ảnh thật đáng yêu làm cho bức tranh thêm nên thơ, trữ tình. Đó là hình ảnh: “cô em gái hái măng một mình”, hái măng một mình nhưng không hề cô đơn mà lại toát lên vẻ đẹp của người phụ nữ chịu thương chịu khó. Câu thơ mang nỗi niềm cảm thông và cảm kích người Việt Bắc, mà người đi không bao giờ quên được những tình cảm chân thành ấy.Xem thêm: Viết một đoạn văn nói về cây phượng Rồi mùa thu Việt Bắc hiện lên với ánh trăng thu vời vợi làm cảnh núi rừng Việt Bắc trở nên mơ màng, êm ả đầy không khí thanh bình. Từ giữa đêm trăng thu huyền ảo ấy, những tiếng hát ân tình thủy chung của con người Việt Bắc lại được cất lên làm nồng ấm cả lòng người: “Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” Ở đây không có tin thắng trận, nhưng lại có tiếng hát nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc, là tiếng hát của núi rừng Tây Bắc gắn bó mười lăm năm ròng rã. Tiếng hát “ân tình” khép lại bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người, gợi cho người đi, kẻ ở và cả những độc giả hiện tại có những rung động sâu xa về tình yêu Tổ quốc. Nếu câu lục nói về cảnh thì câu bát lại nói về người. Cái đẹp của bài thơ là sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc. Phong cảnh Việt Bắc đẹp, nên thơ, trữ tình giàu sức sống như cái nền để làm nổi bật hình ảnh những con người Việt Bắc thật đáng yêu, cần cù, giàu tình nghĩa, thủy chung, son sắt. Với những nét phác họa đơn sơ, bình dị, bức tranh tứ bình Việt Bắc được vẽ ra với sự hòa quyện giữa cổ điện và hiện đại, giữa con người và thiên nhiên, tất cả tạo nên một bức tranh tổng hòa về thiên nhiên và cuộc sống. Đoạn thơ chính là một nét độc đáo trong phong cách trữ tình chính trị của Tố Hữu mà khi nhắc đến Việt Bắc, người ta lại nhớ ngay đến những tâm hồn hồn hậu, giàu nghĩa tình, thủy chung.
Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc
1,467
Đề bài: Phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối được Thạch Lam miêu tả trong truyện ngắn Hai đứa trẻ và phát biểu cảm nhận của mình Trong nền văn học dân tộc, ít có người như Thạch Lam. Bằng những truyện ngắn tưởng như đơn giản, không có cốt truyện nhưng những gì nhà văn viết, tiếng nói nhè nhẹ của ông đã để lại những lắng sâu, những nghĩ suy, những dư âm nhẹ nhàng mà sâu sắc cho độc giả. "Hai đứa trẻ" (in trong tập "Nắng trong vườn", xuất bản năm 1938) là một truyện ngắn như thế. Dưới con mắt ngây thơ của "Hai đứa trẻ", người đọc dường như cùng nhập cuộc, cùng theo dõi, để rồi bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống của phố huyện nghèo, của những con người bình dị, lam lũ hiện lên. Trong nắng chiều dần tắt, trong cái nhập nhòe nửa sáng nửa tối và trong cái chập chờn của màn đêm bao la với vài ngọn đèn lay lắt, cuộc sống hiện lên như những vật thể nhỏ xíu, trong cái đèn kéo quân đang hết dầu chầm chậm quay, để rồi rơi tõm vào màn đêm sâu thẳm. Cảnh không có gì hấp dẫn, hoạt động của con người thì lẻ tẻ, đơn điệu nhưng bức tranh chiều thì dần dần đen lại, chập chờn mấy ngọn đèn nhưng cứ lôi cuốn người đọc dõi theo cùng cô bé Liên bởi sự quan sát, cảm nhận, nhạy cảm, ngây thơ của cô bé, bởi sự hiện lên sống động, chân thực của bức tranh đời sống phố huyện nghèo đã gây nên cảm xúc trữ tình, tạo nên cảm giác buồn thương cho người đọc. Mở đầu câu chuyện, Thạch Lam bằng sự quan sát tài tình của mình, bằng ngòi bút tài hoa của mình đã vẽ lên một bức tranh đơn giản mà huyền ảo, gây cho ta cảm giác như lạc vào thế giới thần tiên của truyện cổ tích: "Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương Tây, đỏ rực như lửa cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn: dãy tre làng nước trước mắt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời". Điệp từ "chiều" được nhắc đi nhắc lại, cái bóng tối lan nhanh thấm vào tâm hồn ngây thơ của cô bé Liên, cái âm thanh "êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng" tạo nên trong Liên nỗi "buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn". Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão Phiên chợ đã "vãn từ lâu", "người về hết và tiếng ồn ào cũng mất", chỉ còn lại sự nghèo nàn, xa xác với những "rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá nứa", chỉ còn lại "mùi âm ẩm bốc lên", chỉ còn lại hơi nóng ban ngày, mùi cát bụi và cảnh mấy đứa con nhà nghèo lom khom đi lại, tìm tòi. Cái thế giới "cổ tích" mà nhà văn dựng lên khác nào thế giới của những cô Tấm, Lọ Lem ngày xưa! Và rồi lần lượt hiện lên tiếp theo hình ảnh của những con người nghèo khổ khác: mẹ con chị Tí xách điếu đóm, đội chõng tre dọn hàng nước mặc dầu chẳng kiếm được bao nhiêu: "gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau trắng để trước mặt": hàng phở của bác Siêu đến trong "tiếng đòn gánh kĩu kịt"; bà cụ Thi "hơi điên vẫn mua rượu ở hàng Liên" cất tiếng cười khanh khách lẽo đẽo đi vào trong màn đêm tối mênh mông, lay lắt như ngọn đèn trước gió của "hàng nước chị Tí". "Vũ trụ thăm thẳm bao la", "về phía huyện một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện ra"; "tiếng trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan, không vang động ra xa, rồi chìm ngay vào bóng tối". Ngày lại ngày, chiều và tối đơn điệu lặp lại sự buồn tẻ ấy như cuộc sống lầm than của người dân phố huyện này. Ánh sáng của cuộc sống ấy có chăng chỉ là sự lay lắt "chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ" như chiếc đèn của chị Tí. Sự sang trọng, vùng sáng lớn của con tàu đi qua phố huyện trong đêm chỉ lướt qua rồi mất hút vào đêm tối, chỉ là cái gì thật mơ hồ, xa lạ không biết bao giờ mới đến với cuộc đời của chị em Liên, của người dân phố huyện này. Không một lời phê phán, không một sự lên án, không đặt ra một câu hỏi, ngòi bút tài hoa của Thạch Lam chỉ miêu tả đời sống thật, đời sống tối tăm, không hi vọng của người dân một vùng quê, một phố huyện nghèo mà sao làm nhức nhối chúng ta, gieo vào lòng ta một sự hoài nghi về xã hội thời nhà văn sống. Đóng góp như thế cho cuộc đời, cảm thông như thế cho thân phận con người, miêu tả như thế trong tác phẩm của mình, tâm hồn nhà văn đẹp đẽ biết bao, giá trị văn học mà Thạch Lam sáng tạo tài hoa và đáng trân trọng biết bao. Chúng ta xếp Thạch Lam vào nhứng tên tuổi lớn của văn học nước nhà giai đoạn 1930 – 1945, độc giả biết ơn nhà văn đã viết những trang sách cho đời và coi ông như một trong những cây bút truyện ngắn bậc thầy thật đúng với tài năng của ông, đúng như tuyên bố của nhà văn với độc giả: "Đối với văn chương không phải là một cách mang đến cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn". Nguồn Edufly Xem thêm: Sống như thế nào trong thế kỉ XXI? (đề mở)
Phân tích bức tranh đời sống của phố huyện nghèo lúc chiều tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
1,062