text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Phân tích bài thơ Cuối xuân tức sự của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Đề bài: Phân tích bài thơ Cuôi Xuân Tức Sự của Nguyễn Trãi. Đây là bài văn có hay, chuc các em học tốt,
Nguyễn Trãi không chỉ là một vị quan tài giỏi, có công lớn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước mà còn là một nhà văn, nhà thơ, một đại thi hào của dân tộc. Ngoài áng thiên cổ hùng văn Bình ngô đại cáo, nhà thơ lớn này còn là tác giả của hàng trăm bài thơ Quốc âm, thơ chữ Hán đặc sắc. Trong số đó, phải kể đến bài Mộ xuân tức sự nguyên văn bằng chữ Hán.
Bài thơ được nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch thành Cuối xuân tự sự như sau:
"Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn
Khách tục không ai bén mảng gần
Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn
Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan."
Bài thơ mang tên Cuối xuân tức sự, nghĩa là tả các sự việc xảy ra trước mắt vào một ngày cuối xuân. Nguyễn Trãi viết bài thơ này khi ông đã lui về ở ẩn tại Côn Sơn. Khi ấy ông đã không được tin dùng, lại bị nghi kị, gièm pha. Không gian trong bài thơ thu hẹp lại nơi phòng văn của tác giả, vắng lặng trọn ngày cửa khép, khách tục không kẻ vãng lai. Phải chăng nơi đây được ví như tiên cảnh, tách biệt hẳn với không khí ồn ào, náo nhiệt bụi bặm của phù hoa trần thế. Trọn ngày nhàn nhã, nhà thơ đang ẩn mình giữa rừng nho biển thánh, đắm mình trong hương sắc tư tưởng đạo đức của cố nhân từ các áng sách xưa lan tỏa.
"Suốt ngày nhàn nhã khép phòng vănXem thêm: Viết bài bình luận ngắn về tai nạn giao thông tại nước ta hiện nay (không quá 400 từ)
Khách tục không ai bén mảng gần"
Lời thơ rất mực nhẹ nhàng, nhưng hàm chứa ít nhiều chua cay, bực bội và khó chịu, mang theo tâm trạng của nhà thơ. Con người trước nay ham hành động vì nước vì dân như Nguyễn Trãi, bây giờ phải chịu bó rọ giữa phòng văn suốt ngày nhàn nhã. Nhìn cảnh đất nước lầm than, dân chúng khổ sở ông rất đau lòng mà không làm gì được.
Lúc bấy giờ các bậc công thần cũ có lòng yêu nước thương dân như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đã bị gian thần gièm pha hãm hại cả rồi. Triều đình gần như chỉ còn lại một bọn xu nịnh âm mưu kéo bè kết cánh, thực hiện mọi thủ đoạn gian ác để củng cố địa vị của mình. Nhà thơ của chúng ta đã phải lánh xa bọn gian thần tục tử ấy, từ chối mọi gần gũi giao tiếp với họ. Ông chọn cho mình thái độ lánh đục tìm trong để bảo toàn khí tiết, dù phải cam chịu một nỗi cô đơn trong sạch. Thật thanh cao biết bao khi mà nhà thơ cố gắng ẩn mình để tìm sự trong sạch, từ bỏ phú quý giàu sang để không phải sống cùng những kẻ tội đồ xáu xa.
Thật ra trong thâm tâm nhà thơ lớn này, thái độ sống ấy chẳng qua là bất đắc dĩ, cùng đường nên mới phải giam mình như vậy. Tuy phải giam mình trong một phòng văn bé nhỏ, nhưng tâm hồn ông mở ra lồng lộng gió trời. Đóng cửa đấy, nhưng mùa xuân vẫn tràn qua bằng âm thanh của tiếng cuốc khắc khoải, bằng mùi hương của hoa xoan thoảng nhẹ. Cửa đóng mà lòng vẫn giao cảm chan hòa với thiên nhiên bên ngoài:Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng
"Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn"
Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan. Nhà thơ cảm nhận xuân bằng tiếng cuốc và bằng mùi hương vọng vào, ông cảm nhận ra rằng ngoài kia hoa xoan đang nở trong làn mưa bụi rắc nhẹ lay phay. Tiếng cuốc gọi hè ở đây đâu chỉ nhắc nhở cho nhà thơ biết mùa xuân sắp tàn mà phải chăng như còn đem đến cho ông âm vang một hướng vọng về đất nước như một cách cảm nhận của người xưa. Ông đã linh cảm được số phận của đất nước, số phận của nhân dân. Chim cuốc là hóa thân Thục Đế ngày nào bị mất nước, nên còn ôm mãi mối hờn khôn nguôi. Tuy trong phòng văn, nhưng chẳng phút nào nhà thơ không nghĩ đến hoàn cảnh đất nước đang buổi khó khăn. Đôi lúc lại chạnh nghĩ đến cảnh mình tuổi xuân đã muộn. Nỗi day dứt không nguôi trong lòng đã hóa thân thành từng dòng thơ hàm súc mà ta đang phân tích. Đủ thấy, dù trong hoàn cảnh nào, nhà thơ vẫn không nguôi ngoai được nỗi niềm ái quốc yêu dân của mình.
Bài thơ khép lại với hình ảnh trong làn mưa bụi, hoa xoan hé mở thoảng một mùi hương. Sao lại là hoa xoan, một thứ hoa dân dã quen thuộc của quê hương mà không là hoa huệ, hoa lan ước lệ kiêu sa? Hoa nở dìu dịu trong mưa bụi lay phay thực là gợi cảm như niềm hy vọng hé nở trong lòng người, sau cuộc phong ba. Ta không thể không liên tưởng đến đôi dòng thơ của thiền sư Mãn Giác đời Lý:
"Chớ bảo xuân làn hoa lụi hếtXem thêm: Chọn và phân tích một số câu thơ hay trong bài thơ Cảnh ngày hè
Đêm qua sân trước một nhà mai"
Hay tả đôi câu của cụ Trạng Trình sau này:
"Chín mươi thì kể xuân đã muộn
Xuân ấy qua ngày xuân khắc còn"
Tuy mỗi người một cảnh, nhưng người xưa hầu như lúc nào cũng thắm thiết lòng tin yêu cuộc sống! Có thể xem đó là một bài học lớn cho con cháu ngày sau chăng?
Tóm lại, tuy có nhan đề là Cuối xuân tức sự, nhưng trong bài thơ, đâu phải nhà thơ ghi toàn các sự việc. Rõ ràng là phía sau xuân đã muộn mà hoa xoan vẫn bừng nở đầy xuân kia là tấm lòng của Nguyễn Trãi. Tấm lòng của một con người có nỗi niềm buồn bực, âu lo trong cô quạnh, nhưng vẫn tin yêu và hy vọng: lòng ưu dân ái quốc mãi mãi vẫn tràn đầy như sức xuân bất chấp cả tuổi tác, thời gian.
Bản dịch của nhà thơ Khương Hữu Dụng giản dị, trong sáng, thể hiện được tính cách và tâm hồn của tác giả. Về tiết tấu, bản dịch đã ít nhiều thoát khỏi khuôn sáo để có được âm điệu nhẹ nhàng, đa dạng. Có thể xem đây là một bài thơ hay, vì nó đã cô đúc được tâm tình và tư tưởng cao quý, thanh bạch của một thi hào thật đáng để cho người đời sau suy nghĩ và học hỏi.
Đứng trước cảnh đất nước lầm than, nhân dân khổ cục nhiều bậc nho sĩ tự giam mình nơi yên tĩnh. Với mong muốn là có thể giúp gĩ cho đất nước. Bài thơ không chỉ có nghệ thuât hay mà nó còn thể hiện khí phách kiên cường hiên ngang của một nho sĩ trước mặt chồng.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Cuối xuân tức sự của Nguyễn Trãi | 1,238 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu của Nguyễn Khuyến
Bài làm
Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của nông thôn Việt Nam. Những đề tài trong thơ ca của ông đều viết về những vùng quê dân dã. Bài thơ Thu Điếu hay còn được gọi là bài Câu Cá Mùa Thu là một trong ba bài thuộc chùm thơ thu của ông.
Câu Cá Mùa Thu mang đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về mùa thu, về tâm trạng của nhà thơ. Mở đầu bài thơ chính là cảnh thu được đón nhận từ cao, xa đến gần:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
Hình ảnh một cái ao thu là hình ảnh thường thấy của vùng nông thôn Bắc Bộ, một vùng thuộc quê hương của Nguyễn Khuyến. Chỉ hai câu thơ ngắn ngủi nhưng lại xuất hiện rất nhiều vần “eo” khiến ý thơ như bị lắng đọng lại, không gian như gợi lên cho người đọc một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh. Ao thu không được tác giả nói đến chiều rộng nhưng vẫn khiến ta cảm nhận được chiều rộng, chiều sâu bởi thấy làn nước “trong veo”. Giữa ao thu lạnh lẽo và rộng ấy xuất hiện một chiếc thuyền câu nhỏ đối lập với chiếc ao thu ấy. Khung cảnh có dấu vết của sự sống con người khiến cho cảnh vật bớt lạnh lẽo, tiêu điều nhưng vẫn gợi lên một nỗi buồn man mác.Xem thêm: Cuộc sống là một chuỗi bất tận những lựa chọn. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này
“Sóng biếc theo làn hơi gợi tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Ao thu không quá lớn nhưng vì trong không gian có gió nên đã tạo nên làn sóng biếc “hơi gợn”. Mặc dù có sự chuyển động nhưng lại càng tô đậm thêm không gian yên tĩnh. Mùa thu chắc hẳn không thể thiếu lá vàng, chiếc lá thu nhẹ nhàng bay trong gió rồi khẽ rơi xuống mặt hồ yên ả. Phải có một một tâm hồn tinh tế, sự quan sát tỉ mỉ thì mới có thể nhận ra những âm thanh, những chuyển động rất nhẹ của cảnh vật trong không gian. Nguyễn Khuyến không chỉ cho thấy chiều sâu của cảnh mà còn thấy được độ cao, tạ nên sự khoáng đạt:
Phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”
Ao thu nay đến bầu trời thu xanh ngắt, đó chính là những đặc trưng, những biểu tượng đẹp về mùa thu. Những áng mây “lơ lửng” khắp bầu trời mở ra không gian rộng rãi cho bài thơ. Nguyễn Khuyến lại trở về với những hình ảnh quen thuộc của đồng quê đó chính là hình ảnh con ngõ nhỏ với hàng trúc xanh. Tất cả đều thân thương, mộc mạc và gần gũi đến lạ. Cảnh vật gợi cho ta thấy một không ý yên bình, êm ả. Trời vào thu, ngõ trúc quanh co ấy im lìm bởi chẳng có ai, chẳng có “vị khách” nào qua lại.Xem thêm: Hình ảnh thiên nhiên trong các bài thơ Tràng Giang (Huy Cận), Đây mùa thu tới (Xuân Diệu), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử). Phân tích những nét chung của thiên nhiên trong ba bài thơ và chỉ ra đặc điểm riêng của thiên nhiên trong từng bài thơ
Không còn buông ánh mắt đi ra xa nữa mà nhà thơ quay trở lại với nơi ông đang đứng:
“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”
Hai câu thơ cuối đã hé lộ chân dung và hành động của chính mình. Nguyễn Khuyến không dùng từ “buông cần” mà thành “ôm cần” nhưng lại cho chúng ta cảm nhận về phong cách rất riêng của nhà thơ. Những ngày tháng lui về ở ẩn, câu cá chính là thú vui tao nhã của những vị quan như ông. Bởi nó khiến cho con người ta có thể hòa mình với thiên nhiên, tâm hồn được thanh thản và tạm thời quên đi nỗi bận lòng với đất nước, với thế sự. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khi lui về ở ẩn cũng từng viết:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”
Có thể thấy rằng câu cá là thú vui mà nhiều người ưa thích, nhiều người dùng nó làm trò tiêu khiển, để hưởng thụ cuộc sống. Với Nguyễn Khuyến ông còn phát hiện ra âm thanh của sự sống “cá đâu đớp động”, một âm thanh mơ hồ, phảng phất như đâu đây mà người ôm cần câu không thể xác định được vị trí của nó. Gắn với cuộc đời của Nguyễn Khuyến, ông vốn từng là một vị quan to trong triều đình, vì yêu nước thương dân nhưng lại bất lực trước thời cuộc. Ông không chịu khuất phục, không chịu làm tay sai cho thực dân nên đã từ quan, lui về ở ẩn. Giữa lúc câu cá có thể ông dã lơ là vì bận lòng nghĩ tới giấc mộng thu, mong ước quê hương êm ả, yên bình giống với mùa thu. Nhưng bất chợt âm thanh của cá đớp mồi khiến nhà thơ như bừng tỉnh và tìm kiếm vị trí phát ra tiếng động. Bên cạnh đó âm thanh này còn làm nổi bật hơn sự tĩnh mịch của ao thu.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao - trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Từ đó nhận xét về nghệ thuật khắc họa nhân vật của nhà văn
Bài thơ Câu Cá Mùa Thu mang những nét đặc sắc trong nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến. Qua bài thơ ta thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết. Nguyễn Khuyến xứng đáng là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, giữ vị trí quan trọng trong nền thơ ca dân tộc.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Câu Cá Mùa Thu của Nguyễn Khuyến hay nhất | 1,015 | |
Phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung
Hướng dẫn
Đặng Dung là danh tướng đời Hậu Trần, theo Trần Trùng Quang chống giặc Minh, lập được nhiều chiến công rất oanh liệt, về sau ông bị giặc bắt, giải về Trung Quốc, dọc đường ông nhảy xuống sông tự tử. Ông chỉ để lại một bài thơ duynhất, bài "Cảm hoài ” được coi là bài thơ bi hùng nhất trong nền văn thơ cổ điển Việt Nam đầu thế kỉ XV, Nguyễn tác bằng chữ Hán, viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật:
“Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ longtuyền đới nguyệt ma”
Cuối thế kỉ XIV, nhà Trần suy vong. Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần lập ra triều đại mới. Nhưng chẳng bao lâu sau, nhà Minh đem quân sang xâm lược nước ta: “Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây hoạ – Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh” (Bình Ngô đại cáo). Nước ta bị quân giặc chiếm đóng, thành Thăng Long bị chúng đổi thành Đông Quan. Dân tộc ta chìm trong đau thương tang tóc.
Cha con Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt đưa về Trung Quốc. Một bộ phận quý tộc nhà Trần tổchức kháng chiến, tiêu biểu là Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng. Nhưng đại sự không thành, nhiều anh hùng bị giặc bắt, bị giặc giết, trong đó có Đặng Dung. Bài thơ “Cảm hoài" được Đặng Dung viết trong những năm tháng cầm quân đánh giặc, cứu nước. Bài thơ là tiếng nói, là nỗi lòng của một thế hệ anh hùng cay đắng trước cảnh nước mất, nhân dân lầm than, quyết chiến đấu phục thù rửa hận.
Hai câu đầu phản ánh "thế sự" nước ta vào những năm 1407, 1408, 1409… khi quân "cuồng Minh" như sóng dữ ngập tràn non sông Đại Việt. Như một tiếng than khi đứng nhìn thời cuộc: “Việc đời thì dằng dặc mà tu đã giàrồi, biết làm thế nào… Đúng là lòng dạ bối rối. Và đó là bi kịch của người anh hùng:
“Thếsự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca”
(Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say).
Nói rằng “thiên địa nhập hàm ca ” là biểu lộ một thái độ về sự đảo điên trong cuộc đời. Câu 1 và câu 2 tương phản về mặt ý nghĩa đã nói lên “nỗi lòng” cảm hoài của nhà thơ.
Hai câu trong phần “thực” đối nhau, nêu bật “gặp thời” và “thất thế” đối với người anh hùng. Như một chiêm nghiệm lịch sử đầy cay đắng:
Thời lai đồ điếu thanh côngdị,
Vận khứ anh hùngẩm hận da
Đồ điếu: là đồ tể, người làm nghề mổ thịt; điếu: câu cá. Gặp thời, những kẻ “đồ điếu ”, bần tiện cũng dễ dàng làm nên công trạng, sự nghiệp lớn. Câu thơ gợi nhớ đến những nhân vật như Phàn Khoái, bán thịt chó, Hàn Tín, câu cá, về sau giúp Lưu Bang mà làm nên sự nghiệp lớn. Trái lại, nhiều anh hùng thất thế (vận khứ) phải nếm, phải uống nhiều hận (ẩm hận đa). Lịch sử từ bao đời nay đã cho ta thấy rõ điều nhà thơ cảm hoài. Trong câu thơ như có nhiều lệ. Đây là lời thơ dịch khá hay của Phan Kế Bính:
Xem thêm: Phân tích bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh“Bần tiện gặp thời, nên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước, ngẫm càng cay”.
Bảy trăm năm đã trôi qua, biết bao vật đổi sao dời, “phế, hưng mấy lớp ” mà ba chữ “ẩm hận đa” vẫn làm nhức nhối lòng người. Đó là nỗi cảm hoài vậy. Đó là nỗi cay đắng của người anh hùng thất thế, lỡ bước.
Phần “luận ” nói lên chí lớn của người anh hùng. Hình tượng thơ kì vĩ, tráng lệ:
“Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà”.
Trên đường mưu đồ nghiệp lớn, cha bị Trần Ngỗi giết oan, ông đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, vẫn giãi gió dầm sương, xông pha trận mạc, để phò chúa, cứu nước, mong đem lại thái bình cho dân tộc. "Phù địa trục ” (nâng trục đất), “vãn thiên hà ” (lôi sông Ngân hà xuống) là hai hình ảnh kì vĩ, mang kích thước và tầm vóc vũ trụ, nói lên chí khí và khát vọng anh hùng trong thời loạn. Hai câu thơ hô ứng, đối chọi nhau, tạo nên giọng điệu anh hùng ca đầy ấn tượng. Câu thơ dịch khá hay, lột tả được ý vị cổ điển, trang trọng của vần thơ tráng lệ:
"Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây”
Hình ảnh người anh hùng mài gươm dưới ánh trăng đã "mấy độ”, trải qua nhiều năm tháng, mái tóc nay đã bạc, gợi lên màu sắc bi tráng. Trăng đã tà. Tuổi đã già. Thế mà "quốc thù ” vẫn đè nặng tâm hồn nhà thơ:
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma”
“Long tuyền ” là gươm báu, thanh gươm để giết giặc, trả mối thù nước, đem lại thái bình cho đất nước và nhân dân. Đây là hai câu thơ đẹp nhất trong thơ văn Lí Trần, chói sáng "Hào khí Đông-A”.Đúng như Lí Tử Tấn, một danh sĩ đầu thời Lê đã viết: "Phi hào kiệt chi sĩ bất năng”. (không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm nổi).
Không thể lấy sự thành, bại để luận anh hùng. Đặng Dung là một anh hùng hào kiệt. Bài thơ thấm đượm một tình yêu nước, nhức nhối nỗi đau của người anh hùng lỡ bước. Cốt cách thi sĩ lồng trong cốt cách anh hùng. Đó là tư thế hiên ngang lẫm liệt, cho đến chết vẫn mang nặng mối thù nước không nguôi.
Đặng Dung đã “ẩm hận đa ”, sự nghiệp “quốc thờ vị báo ” không thực hiện được. Nhưng khí phách lẫm liệt, lòng yêu nước thiết tha của người anh hùng mãi mãi trường tồn cùng sông núi Đại Việt. Bài thơ “Cảm hoài ” cùng với tên tuổi Đặng Dung mãi mãi là bài ca yêu nước chống xâm lăng:
“Thù trả chưa xong, đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày!”
Đó là “di hận ” của người anh hùng vận khứ – lỡ vận. Nửa thế kỉ sau Nguyễn Trãi trong bài thơ "Quan hải ” cũng nói về mối "di hận ” ấy. Đó là nỗi đau muôn thuở:
“Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên
(Hoạ phúc có manh mối, đâu phải một ngày,
Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau).
“Cảm hoài ” là bài ca yêu nước bi tráng, là tiếng vọng sông núi nghìn năm.
Nguồn: thêm: Đặc sắc của truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục - Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ) | Phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung | 1,209 | |
Phân tích bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu
Gợi ý
Cuối thế kỷ XIX, khi các phong trào đấu tranh chống Pháp lần lượt bị thất bại, đất nước chìm ngập trong đau thương. Bước sang đầu thế kỷ XX, hưởng ứng luồng gió mới từ phương Tây thổi tới, những con người yêu nước, quyết chí dành tự do cho dân tộc lại náo nức bước vào một cuộc đấu tranh mới, theo khuynh hướng dân chủ tư sản.
Phan Bội Châu xuất thân nho học song lại là người sớm có tinh thần tiên tiến, bắt nhịp với thời đại mới. Cái chí khí "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (giàu sang không thể làm cho mê đắm, nghèo khó không thể làm cho thay lòng đổi dạ, uy vũ không thể làm cho khuất phục) của một nho gia đã biến thành bản lĩnh vững vàng, thành cốt cách anh hùng trước cơn tai biến ngụy nan của một chí sĩ cách mạng. Ngày 19-1-1914, Phan Bội Châu bị bắt giam vào ngục Quảng Đông. Trước đó, thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt đối với ông. Bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông nằm trong Ngục trung thư – một huyết tâm thư tuyệt mệnh. Ngay từ đêm đầu tiên vào ngục Phan đã làm hai bài thơ Nôm (Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông là một trong hai bài ấy): "Làm xong hai bài thơ tôi ngâm nga lớn tiếng rồi cả cười, vang động cả bốn vành, hầu như không biết thân mình đang bị nhốt trong ngục". Xem ra, tù ngục cũng chẳng mảy may khiến bậc trượng phu nao núng.Xem thêm: Phân tích truyện Tam đại con gà. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu vào bài thể hiện ngay khẩu khí của bậc anh hùng:
"Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì hãy ở tù".
Nhân vật trữ tình hiện ra với một phong thái đường hoàng, tự tin đến ngang tàng, ngạo mạn. Giọng đùa vui, tự trào làm tan biến đi cảm giác của một người tù, chỉ thấy một tư thế cao ngạo, xem thường hiểm nguy. Cố nhân nói: Trí hơn vạn người gọi là "anh", trí hơn nghìn người gọi là "tuấn”, trí hơn trăm người gọi là "hào", trí hơn mười người gọi là "kiệt". Kẻ tài trí hơn người, phong thái ung dung, đường hoàng (phong lưu) đang ngân nga tỏ chí. Hai từ vẫn trong câu thơ đầu mang đậm tính khẩu ngữ. Một sự việc nghiêm trọng (tù) được nói đến bằng một thái độ cười cợt, xem thường. Bị giam hãm trong tù ngục (lại là tử tù!) mà cứ như khách tài tử tạm dừng chân trên chặng đường dài dặc. Hoàn cảnh dù có đổi thay, tai biến có thể đến bất cứ lúc nào nhưng chí khí thì chẳng khi nào dời đổi.
Hai câu tiếp, giọng thơ chợt chuyển:
Đã khách không nhà trong bốn biển,
Lại người có tội giữa năm châu
Tác giả tự nghiệm về thân thế của mình. Một cuộc đời bôn ba đầy sóng gió. Phan Bội Châu từng phiêu bạt khắp nơi (khi Trung Quốc, khi thì Nhật Bản, Thái Lan). Trên hành trình, lưu lạc ấy ông đã phải trải qua biết bao cay đắng, cực khổ.Xem thêm: Câu nói của M. Go-rơ-ki "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống" gợi cho em những suy nghĩ gì?
Chỉ vì hết lòng muốn tìm đường cứu nước, chỉ vì yêu đất nước, dân tộc mình mà người chí sĩ bị xem như một tội nhân, bị truy nã khắp nơi. Phiêu bạt, lênh đênh, chẳng được yên ổn bao giờ, con người ấy cất tiếng than cho mình cũng là đau cho nỗi đau chung của một đất nước đang mất chủ quyền. Tiếng thở dài ấy là của bậc anh hùng. Cái buồn ấy là cái buồn của một người tù yêu nước, của một nhân cách phi thường. Một phút ngẫm ngợi về mình để rồi lại sang sảng ca lên âm giai lãng mạn:
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Kinh tế – kinh bang tế thế, người chí sĩ chẳng lúc nào thôi ôm ấp hoài bão trị nước cứu đời. Đấy là con đường Phan đã chọn, nguyện dấn thân. Vẫn là cái khẩu khí hơn người, tiếng "cười" của một người tù sao mà khoáng đạt đến thế. Đến độ ta chỉ còn thấy âm hưởng hào hùng bao trùm tất cả, lấn át tất cả như cánh buồm thênh thênh lướt sóng đại dương. Lối nói khoa trương đã được sử dụng để biểu đạt cái chí lớn lao, khát vọng xoay chuyển càn khôn. Như trong bài thơ Chơi xuân, Phan viết:
Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ,
Nắm địa cầu vừa một tí con con.
Đạp toang hai cánh càn khôn,
Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà…
Hai liên giữa câu 3 – 4 câu 5-6 của bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông đã tuân thủ khuôn mẫu của một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường trong đối ý, đối lời. Sự đăng đối, hài hòa ở những câu thơ này góp phần tạo ra ấn tượng về cái vững vàng. Các cặp tứ đối: bốn biển – năm châu, bủa tay – mở miệng, bồ kinh tế – cuộc oán thù khiến cho tầm vóc của người chí sĩ trở nên phi thường phù hợp với âm hưởng chủ đạo của bài thơ.Xem thêm: Bình giảng khổ thơ sau đây trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, từ: "Súng nổ rung trời giận dữ... Rũ bùn đứng dậy sáng loà" Bản lĩnh và tư thế khác người của người anh hùng yêu nước được khẳng định dứt khoát trong hai câu thơ kết bài:
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!
Con người ấy còn sống là còn tranh đấu đến cùng cho lý tưởng chính nghĩa của mình. Hai chữ còn ngắt ra, điệp lại càng tăng thêm sắc thái mạnh mẽ, dứt khoát cho câu thơ. Ý chí thép sẽ chiến thắng hiểm nguy.
Cả bài thơ toát lên một tinh thần bất khuất, một tư thế vững vàng của bậc trượng phu trong cơn sóng gió. Truyền thống yêu nước, chí khí anh dũng của dân tộc đang tiếp tục mạch chảy bất tận trong tâm huyết chí sĩ Phan Bội Châu. Hình ảnh người anh hùng đã tạc vào lịch sử như một minh chứng cho tinh thần yêu nước, xả thân vì lý tưởng chính nghĩa.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu | 1,143 | |
Bài thơ Cảnh khuya là một sáng tác độc đáo của Hồ Chí Minh. Bác đã miêu tả khung cảnh đêm khuya thật lung linh và huyền ảo. Nhưng không chỉ có vậy, thông qua bài thơ, Bác cũng thể hiện được tâm sự của bản thân mình.
Để các em có thêm tài liệu tham khảo bổ ích, Kho tàng văn mẫu sẽ cung cấp bài dàn ý phân tích bài thơ Cảnh khuya và bài văn mẫu của đề văn này.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Cảnh khuya
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ Cảnh Khuya.
2. Thân bài phân tích bài thơ Cảnh khuya
a. Hai câu đầu: Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên
– Sử dụng biện pháp so sánh: tiếng suối như tiếng hát.
– Thiên nhiên tạo nên một bản nhạc quyến rũ.
– Điệp từ lồng: gợi sự huyền ảo của cảnh đêm.
b. Hai câu sau: Hình ảnh nhân vật trữ tình
– Khẳng định vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên.
– Tâm trạng lo âu đến không ngủ được của Bác.
3. Kết luận
– Khái quát nội dung bài thơ và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Cảnh khuya
Hồ Chí Minh không chỉ được biết đến là một vị lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, Người còn là một nhà thơ, một nhà văn hóa lỗi lạc được cả thế giới kính trọng. Bác sáng tác nhiều bài thơ dù không tự nhận mình là nhà thơ. Bài thơ Cảnh khuya của Bác là một trong những bài thơ vô cùng độc đáo. Bác vẫn giữ phong cách thơ của mình trong bài này, tả cảnh để ngụ tình.Xem thêm: Dựa vào những tác phẩm đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh ý kiến của Hoài Thanh: "Văn chương gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện những tình cảm ta sẵn có" (Ý nghĩa văn chương). Từ đó, em rút ra cho mình bài học gì về việc đọc sách?
Bài thơ Cảnh khuya có tất cả 4 câu trong đó 2 câu đầu tiên Bác dùng để miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong một đêm khuya thanh vắng:
Tiếng suối trông như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Phân tích bài thơ Cảnh khuya
Thời kháng chiến, Bác thường sống ở những nơi mà người ta vẫn gọi là rừng thiêng, nước độc. Những con suối, khe suối đã trở thành một đặc sản của miền sơn cước. Trong đêm khuya thanh tĩnh, chỉ có tiếng suối chảy róc rách vang lên. Tiếng suối càng làm tăng thêm vẻ êm đềm của màn đêm. Nếu như là ban ngày, thật khó để chúng ta có thể lắng nghe được tiếng suối. Nhưng đây là một đêm khuya, nó giúp Bác có thể lắng nghe tiếng suối chảy với những thanh âm trong veo vọng về như một tiếng hát từ đằng xa. Hòa chung với tiếng hát là hình ảnh trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Từ lồng ở đây thật đẹp, nó làm cho cây cối, cảnh vật, đất trời như hòa chung lại làm một. Trăng lồng vào ngọn cây cổ thụ, bóng của cây cổ thụ lại lồng vào với những bông hoa nở bên dưới gốc cây. Tất cả tạo nên một sự bó, thiên nhiên ôm ấp lấy nhau, hiền hòa và thơ mộng. Trong đêm, chỉ có những mảng sáng tối, vậy mà Bác nhìn ra được hình ảnh này, điều đó đủ để cho ta thấy tâm hồn của Bác thật cao đẹp.Xem thêm: Cảm nghĩ về dòng sông (hoặc dãy núi, cánh đồng, vườn cây,...) quê hương
Hai câu sau, Bác không miêu tả thiên nhiên nữa mà khẳng định vẻ đẹp của thiên nhiên. Qua đây, Bác cũng bộc lộ rõ tâm tư của bản thân mình. Bác lý giải việc mình không ngủ như sau:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Câu thơ thứ ba, Người khẳng định lý do mình chưa ngủ là vì cảnh khuya rất đẹp. Cảnh đẹp như tranh vẽ khiến cho con người yêu thiên nhiên như Bác không thể nào khước từ. Chúng ta thấy trong rất nhiều bài thơ của Bác, bài thơ nào Bác cũng miêu tả cảnh. Đó là một hồn thơ yêu thiên nhiên sâu sắc. Một người như Bác làm sao có thể từ chối cảnh đẹp như vậy. Nhưng đó chỉ là một phần, lý do chính khiến Bác không ngủ thật sự là vì Bác lo nỗi nước nhà. Nước nhà đang còn lầm than, nhân dân đang còn bị mất tự do thì Người còn tâm trí đâu để ngủ. Câu thơ đã làm toát lên được vẻ đẹp cốt cách của người lãnh tụ. Qua đây, người đọc thêm phần kính yêu Bác hơn.
Bài thơ Cảnh khuya là một sáng tác hay, nội dung thể hiện được tấm lòng của Bác đối với dân tộc, con người Việt Nam. Chính nhờ có Bác, cách mạng Việt Nam mới đi đến thắng lợi. Bác đã thức để con cháu của mình có được những giấc ngủ ngon.Xem thêm: Nguyên tiêu - Cảm nhận từ chữ nghĩa đến câu từ
Trên đây chúng ta đã cùng lập dàn ý phân tích bài thơ Cảnh khuya cũng như làm bài văn mẫu phân tích bài thơ Cảnh khuya. Bài viết này hy vọng đã đem đến cho các em thông tin bổ ích và cần thiết nhất.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết) | 949 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Cảnh Ngày Hè của Nguyễn Trãi
Bài làm
Nguyễn Trãi là một nhà thơ nổi tiếng, một danh nhân văn hóa thế giới. Ông để lại cho văn đàn Việt Nam rất nhiều tác phẩm có giá trị lớn. Ngoài tác phẩm Bình Ngô đại cáo, một tuyệt tác được xem như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc thì ông còn nhiều sáng tác khác viết về cảnh đẹp quê hương, đất nước, về vẻ đẹp tâm hồn của một thi nhân lớn của dân tộc. Một trong số đó chính là bài thơ Cảnh Ngày Hè.
Cảnh Ngày Hè được viết trong khi ông lui về ở ẩn tại Côn Sơn khi bị bề trên nghi kỵ. Tại đây ông tận hưởng một cuộc sống chan hòa với thiên nhiên, cây cỏ. Tuy nhiên vốn là một người luôn một lòng hướng về dân về nước nên ông vẫn không tránh khỏi nỗi lòng thế sự, khát khao cháy bỏng cống hiến vì nhân dân. Bài thơ được mở đầu bằng một hoàn cảnh an nhàn của người cư sĩ ở ẩn:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường”
Ý thơ kết thúc bởi từ “trường” như kéo dài cả bài thơ, cả cuộc “hóng mát”. Những vẫn thơ liên kết với nhau giống như tiếng thở dài của chủ thể trữ tình. Nhà thơ nói về sự hưởng thụ cuộc sống đó là ngồi hóng mát nhưng lại không đem đến cảm giác an nhàn, tự tại. Từ “ngày trường” giống như giãi bày nỗi chán chường của những ngày dài vô vị. Những ngày tuy được vui vầy với thiên nhiên nhưng lại không hề thư thái, không được làm những gì mình mong muôn để cống hiến cho đời. Có thể đây chính là khởi nguồn của nỗi bực dọc sau này.Xem thêm: Phân tích tâm sự của Nguyễn Du trong bài Độc Tiểu Thanh kí
Phân tích bài thơ Cảnh Ngày Hè
Ấy vậy, đứng trước thiên nhiên tươi đẹp, tất cả những buồn phiền, bực bội đều được đè nén lại:
“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Chỉ với ba câu thơ ngắn ngủi nhưng đã phác họa nên một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và chan chứa sức sống mãnh liệt. Trước tiên là hình ảnh cây hòe với màu xanh lục, màu xanh không chỉ ở vài điểm nhỏ mà “đùn đùn” giống như đang có sự chuyển động ngay trong nó và trải cả một vùng không gian rộng lớn. Màu lục của hòe giống như rợp cả đất trời. Đó là một cái nhìn rộng, bao quát của nhà thơ khi chuyển tầm mắt từ gần ra xa. Không chỉ có màu lục mà trong không gian ấy, nổi bật trên nền lục chính là màu đỏ của thạch lựu trước hiên nhà, là màu hồng của hoa sen. Cảnh vật nhiều sắc màu và còn mang theo mùi hương thanh mát của hoa sen. Thiên nhiên tươi đẹp biết bao nhiêu thêm vào đó còn mang một sức sống mãnh liệt và được tác giả miêu tả bằng những động từ như “đùn đùn”, “phun”. Cảnh vật đang bừng bừng sức sống nhưng cụm từ “tiễn mùi hương” như cô đọng lại thành một nỗi buồn man mác khi hương sen đương vào cuối hạ. Bởi có lẽ là tâm trạng khi mùa hạ sắp qua đi đón chào mùa thu bởi “Sen tàn cúc lại nở hoa”.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh ngọc trai - giếng nước
Bốn câu thơ đầu nhà thơ sống cuộc sống chan hòa giữa thiên nhiên đầy sức sống. Nhà thơ có sự cảm nhận tinh tế bằng nhiều giác quan đó là nhìn những cảnh sắc, là thấy mùi hương thơm. Không chỉ vậy mà Nguyễn Trãi còn lắng nghe âm thanh của cuộc sống:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Thiên nhiên không hề vắng lặng, u tịch mà nó gắn liền với con người, với cuộc sống của người lao động. Từ láy “lao xao” đã khắc họa rõ nét âm thanh của của chợ cá, đó là cuộc sống thanh bình, yên ấm của làng chài. Phải có cuộc sống đầy đủ, sung túc thì cảnh mua bán mới tấp nập, chợ mới đông. Trong hai câu thơ có sự đăng đối giữa làng ngư phủ và lầu tịch dương. Nghệ thuật tương phản khiến cho câu thơ trở nên trang trọng, âm hưởng mới vẻ cho bài thơ. Điều mà tác giả ấn tượng, ám ảnh không phải là lầu trong chiều tà mà là tiếng ve kêu, tiếng ve mang đặc trưng của mùa hè. “Dắng dỏi cầm ve” giống như một bản nhạc vừa mạnh mẽ, vừa rạo rực, giống như đệm tiếng đàn cho cuộc sống đang hối hả. Chính Nguyễn Trãi dường như đang muốn được hòa cùng với cuộc sống nhộn nhịp ấy chứ không phải ngồi “hóng mát” nơi đây.
Thiên nhiên giống như làm thức tỉnh khát vọng mãnh liệt của nhà thơ, đó là khát vọng muốn kết thúc chuỗi ngày nhàn hạ, được trở lại với đời:Xem thêm: Phân tích câu Vì chưng hay ghét cũng là hay thương. Bạn hiểu ý thơ trên như thế nào?
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Đó là ước mơ chân thành, giản dị và hết sức mộc mạc. Thiên nhiên quá mức tươi đẹp nhưng nhà thơ không muốn sống nhàn hạ, không muốn chỉ chăm chăm giữ lấy sự trong sạch cho riêng mình. Nguyễn Trãi luôn mong muốn được hành động, được sống vì lợi ích của dân tộc. Đó là một tấm lòng luôn hướng về nhân dân, về đất nước.
Bài thơ Cảnh Ngày Hè là một sáng tác thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước tha thiết. Qua đó ta thấy được tấm lòng của một người thi sĩ, của một người luôn muốn được cống hiến để nhân dân ấm no, hạnh phúc. Bài thơ giống như một bài học cho giới trẻ về lòng yêu nước về thái độ sống để trở thành người có ích cho xã hội.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi hay nhất | 1,052 | |
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
Bài thơ Cảnh ngày hè được Nguyễn Trãi viết vào những ngày rỗi rãi, ngồi hóng mát, nhưng tâm trạng mang nỗi niềm tâm sự sâu kín. Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên chung niềm vui với thiên nhiên, nhưng nhìn lại, tác giả vẫn không nguôi ngoai nỗi buồn đang chất chứa trong lòng mình.
Đứng trước đời sống thường ngày tại nơi ở ẩn để vẻ nên bức tranh phong cảnh với lầu cao, lúc mặt trời sắp lặn, những tiếng ve inh ỏi cuối cùng để rồi sẽ chìm vào im ắng, và người thi sĩ ấy có thể hóng mát một mình suốt ngày. Ông sẽ thấy gì ở cuộc sống ngày hè? Cây và hoa, người và vật đề bọc lệ hết nhiệt độ sống tối đa của nó. Cây thạch lựu cũng cố phun sắc đỏ. Hoa sen hồng thì cố tỏa hương ngát hơn. Chợ cá phải náo nhiệt lắm thì từ nơi xa mới vẳng lại được tiếng lao xao. Những tiếng ve cuối cùng của cuối ngày như muốn đứt giọng mà kêu.
Các động từ đùn đùn, phun, tiễn, lao xao, dắng dỏi đều diễn tả trạng thái đang vận động mạnh mẽ, ứa căng, tràn đầy của vạn vật. Cách ngắt nhịp cũng có sự biến đổi đặc biệt. Không đều đều, cân đối, nhịp nhàng 3/4 quen thuộc của thể thơ đường luật. Giữa "Hè lục đùn đùn / tán rợp gương" và "lao xao chợ cá / làng ngư phủ; dắng dỏi cầm ve / lầu tịch dương" là "Thạch lựu hiên / còn phun thức đỏ; hồng liên trì / đã tiễn mùi hương" (nhịp 3/4). Người ta sẽ cảm nhận được muôn vật, muôn vẻ khác nhau qua trạng thái và nhịp sống của nó bằng các động từ miêu tả và sự thay đổi tiết tấu ở các câu thơ. Sức sống này đầy đặn, lớp lớp sinh sôi, sức sống kia mạnh mẽ, cái này là bề rộng, cái kia là chiều cao. Tất cả đề sống động, đang khát sống. Cái thể trạng hừng hực là thể trạng riêng, là vẻ đẹp của cảnh vật ngày hè dưới con mắt nhìn của Nguyễn Trãi.
Xem thêm: Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài Cảnh ngày hè
Nhà thơ đã hòa mình vào thiên nhiên để cảm nhận vẻ đẹp của làng quê thanh bình, để tận hưởng thú vui chơi tao nhã của một kẻ sĩ có tại nhưng lại rồi nghề. Nhà thơ quan sát, tận hưởng hương vị, lắng nghe cái rướn mình sinh sôi, nảy nở, thôi thúc bên trong, đang ứa căng, tràn đầy, xôn xao của vạn vật và đời sống. Phải chăng có lòng yêu thiên nhiên, cuộc sống sâu sắc, thắm thiết, thấm thía con người này mới có thể thụ hưởng được như thế trong một buổi tối chiều hè, nhập nhoạng hoàn hôn khi đang mang một tâm rạng riêng dường như cô đơn, cô độc như vậy. Nguyễn Trãi sẽ vui cái vui sinh sôi, nảy nở đang diễn ra quanh mình để quên đi cái tâm không nhàn. Và cái tâm không nhàn của ông, chính là nỗi niềm, khát vọng về một đời sống thái bình, hạnh phúc cho dân cho nước. Nhất là khi chứng kiến đời sống thực, tự nhiên, yên lành, khát sống, không đua chen, bụi bặm của con người, tạo vật buổi tối cùng chiều như ngày hè này
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương
Cuối cùng rồi tác giả cũng giãi bày được tâm trạng của mình trước sự đói khổ của dân của nước, giữ cảnh tang thương của chiến tranh. Đúng là một nhà yêu nước yêu dân vĩ đại, con người ấy chỉ mong cho đất nước được thái bình, nhân dân được yên ổn, no đủ. Chiến tranh chấm dứt: thế sự yên ổn, không ngờ lại đang chứa chất những rối ren, chưa biết khi nào mới thái bình. Con người đó muốn quên thân mình, phận mình để day dứt cho dân, cho nước. Nỗi đau, niềm lo, nỗi khát khao và tâm trạng ngậm ngùi cùng đồng thời hiện diện ở con người trước sau chỉ giữ vựng một quan niệm, một tình cảm "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân".
Suốt cuộc đời Nguyễn Trãi đều lo cho dân cho nước, hi sinh mình để dân được ấm lo hạnh phúc. Việc ông xin về ở ẩn là vì ông thấy bất lực với thời cuộc, với chế độ xã hội lúc bấy giờ. Bài thơ cảnh ngày hè vừa miêu tả cảnh đẹp về ngày hè thật bình dị, yên bình, vừa thể hiện tâm trạng của nhà thơ, tác giả mong muốn có thể thay đổi được thời cuộc để người dân khắp nơi được ấm lo hạnh phúc.
Nguồn: thêm: Lập dàn ý cho đề văn: Phân tích bài thơ ‘Hồi hương ngẫu thư’ | Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi | 848 | |
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
1. Trong bài thơ có nhiều động từ diễn tả trạng thái của cảnh ngày hè. Đó là: đùn đùn, rạp, giương, phun, tiễn, lao xao, dắng dỏi… Trạng thái của cảnh được diễn tả sinh động, nhiều màu sắc, đầy sức sống. Câu thơ tả cảnh vật đang ở lúc cuối ngày nhưng sự vật không dừng lại mà như đang có vận động, thôi thúc từ bên trong.
2. Cảnh ở đây có sự hài hòa giữa âm thanh và màu sắc, cảnh vật và con người.
Ầm thanh của cuộc sống lao động (lao xao chợ cá…), âm thanh của thiên nhiên(dắng dỏi cầm ve…) – tiếng ve mùa hè – được vang lên trên không gian làng quê bé nhỏ nhưng tràn đầy sức sông, vui tươi. Điều đó khẳng định tâm hồn đồng cảm với thiên nhiên mạnh mẽ của nhà thơ ức Trai.
3. Nhà thơ đã vận dụng hầu hết các giác quan của con người để cảm nhận thiên nhiên (thị giác, thính giác, khứu giác). Qua bức tranh thiên nhiên sinh động và đầy sức sống, ta thấy được sự giao cảm mạnh mẽ và tinh tế của tác giả đốì với cảnh vật. Yêu thiên nhiên, hòa mình trong cuộc sông của thiên nhiên, đó là một trong những nét đẹp của tâm hồn ức Trai tiên sinh.
4. Yêu thiên nhiên, nhưng với Nguyễn Trãi, trên hết vẫn là tấm lòng tha thiết với dân với nước. Trong cảnh no ấm, yên vui thái bình, Nguyễn Trãi ước có được chiếc đàn của Ngu Thuấn (vị vua của triều đại phong kiến lí tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc) để gảy khúc Nam phong thể hiện ước muôn “Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Câu kết là một câu thơ 6 chữ (lục ngôn), thể hiện sự dồn nén cảm xúc của toàn bài. Ý thơ cũng được dồn nén ở đây: Yêu thiên nhiên, cảnh vật, nhưng trên hết là ước mơ về một cuộc sông ấm no, hạnh phúc cho muôn dân. Tâm hồn của một con người cả cuộc đời lo cho dân cho nước.Xem thêm: Nghị luận xã hội về giờ trái đất5. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và khát vọng về cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho nhân dân. Điều này thể hiện rõ vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè | 414 | |
Phân tích bài thơ của chủ Hồ Chí MInh để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người
Hướng dẫn
Lưu ý:
1- Các tác phẩm (của Bác) mà em đã được học đã đọc là những tác phẩm nào? – ‘Nhật kí trong tù’, (‘Không ngủ được’, ‘Ngắm trăng’, ‘Đi đường’, ‘Ôm nặng’, ‘Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh’).Thơ tiếng Việt và thơ chữ Hán khác: ‘Tức cảnh Pắc-Bó’, ‘Cảnh khuya’, ‘Rằm tháng giêng’.
2- Vẻ đẹp tâm hồn phong phú cao cả của nhà thơ Hồ Chí Minh là:
– Tinh yêu nước.
– Tình thương người.
– Tình yêu thiên nhiên.
3- Kiểu phân tích – chứng minh văn học.
Có một tên người đẹp nhất: ‘Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ’.
Có một bài ca đẹp nhất, bài ca: ‘Ái Quốc’.
Có một hồn thơ đẹp nhất, hồn thơ Hồ Chí Minh.
Người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh còn là nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ 20. Trong khoảng 300 bài thơ Người để lại, thơ chữ Hán cũng như thơ tiếng Việt, ta cảm thấy vẻ đẹp tâm hồn phong phú cao cả của một cốt cách chiến sĩ – thi sĩ. Thơ của Bác Hồ là những bài ca, khúc hát đằm thắm, ngọt ngào, chứa chan tình yêu nước, tình thương người và tình yêu thiên nhiên.
1. Thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh là những bài ca yêu nước. Bác đi tìm đường cứu nước ‘Những đất tự do, những trời nô lệ’,… Lúc nào Bác cũng sống trong tâm trạng: ‘Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước’ (Chế Lan Viên). ‘Nhật kí trong tù’ có bài thơ ‘Không ngủ được’', bài thơ là tiếng lòng nhớ nước thiết tha. Nằm 168
trong ngục tối, chân tay bị cùm, bị trói, Bác thao thức nhớ nước khônnguôi. Hồn nước thiêng liêng chập chờn trong tàm trí Bấc trong lúc trằn trọc và cả trong giấc mộng:
‘Canh bốn canh năm vừa chợp mắt,
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh’
BỊ đày đọa tù đày nơi xa xứ, rồi bị ốm nặng. Hai lần đau khổ đối với tù nhân. Đau khổ vì ốm nặng. Càng đau khổ hơn vì trước cảnh lầm than của dân tộc. Bài thơ ‘Ôm nặng’ thể hiện bi kịch của một chiến sĩ cách mạng giàu lòng yêu nước:
‘ ‘Ngoại cảm’ trời Hoa cơn nóng lạnh,
‘Nội thương’ đất Việt cảnh lầm than.
Ở tù mắc bệnh càng đau khổ.
Đáng khóc mà ta cứ hát tràn!’
Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, Bác sống và hoạt động tại chiến khu Việt Bắc. Đêm đêm người thao thức lo lắng cho vận mệnh của Tổ quốc trong khói lửa, sự nghiệp kháng chiến ‘việc quân việc nước’ đè nặng lên đôi vai:
‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’
(Cảnh khuya)
Xem thêm: Em hãy tưởng tượng và tả lại chân dung của Lượm (nhân vật trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Tố Hữu)* ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn,
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’
(Đi thuyền trên sông Đáy)
2. Tinh yêu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng sâu sắc, mãnh liệt, phong phú và cao cả biết bao. Tinh cảm ấy đã làm phát triển tình thương người trong lòng Bác. ‘Tự do cho đất nước tôi! Tự do cho dồng bào tôi’ là mục tiêu phấn đấu suốt đời của Bác. Lòng nhân ái của Bác bao la. Trong tù phải nếm trải bao cay đắng, bị cùm trói, muỗi rệp, phải sống đọa đày trong đói rét,… thế mà Bác vẫn hướng tình thương tới đồng loại. Bác gọi mọi tù nhân là ‘nạn hữu’, người bạn cùng chung hoạn nạn. Bác thương một em bé Trung Hoa cất tiếng khóc trong ngục tối:
‘Oa! Oa! Oa!
Cha trốn không đi lính nước nhà,
Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi,
Phải theo mẹ đến ở nhà pha’
(Cháu bé trong ngục Tân Dương)
Bác thương một người bạn tù da bọc xương chết nằm co quắp trong ngục lạnh. Bác nghĩ tới công sức vất vả của những phu phen ‘dãi nắng dầm mưa’ đã làm nên những con đường. Bài thơ ‘Người bạn tù thổi sáo’ cảm động nhất, biểu lộ một tình thương mênh mông. Người thì nhớ nước nhớ quê. Người bạn tù thì nhớ quê nhớ vợ. Người khuê phụ ngóng đợi người chồng đi tù mãi chưa về. Tiếng sáo buồn kết đọng lại ba tâm trạng buồn thương ấy:
‘Bổng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu,
Muôn dặm quan hù khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau’
3. Tình yêu thiên nhiên là một vẻ đẹp tâm hồn phong phú của hồn thơ Hồ Chí Minh. Bác có nhiều vần thơ trăng đẹp. Trong tù, không có rượu có hoa, Bác vẫn say mè thưởng trăng. Một tư thế ngắm trăng rất ung dung, thanh cao-
‘Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ’
(Ngắm trăng)
Trong kháng chiến chống Pháp, Bác ngắm trăng ‘Rằm tháng giêng’, ngắm cảnh sông nước, bầu trời mùa xuân:
‘Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân’
Suối rừng, trăng, hoa, cổ thụ… hội tụ trong thơ Bác với bao tình yêu thương dào dạt: yêu chiến khu, yêu thiên nhiên tạo vật:
‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa’
(Cảnh khuya)
‘Văn là người’.Thơ Bác là tâm hồn, trí tuệ, đạo đức, tình cảm của Bác. Lòng yêu nước, tình thương người, tình yêu thiên nhiên hội tụ và tỏa sáng trong tâm hồn Bác, trong thơ Bác. Vì thế, thơ Bác nuôi dưỡng tâm hồn ta bao cảm xúc nhân văn.
Nguồn: thêm: Hãy cho biết cảm nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn ở chương I (Tôi sống độc lập từ bé. Một sự ngỗ nghịch đáng ân hận suốt đời) mà em đã học | Phân tích bài thơ của chủ Hồ Chí MInh để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người | 988 | |
Phân tích bài Thơ Duyên của Xuân Diệu
Gợi ý
Nếu Thơ duyên là một bài thơ rất Xuân Diệu, thì xem ra nhưng lời bình mà tác giả Thi nhân Việt Nam dành cho thi phẩm này cũng hết sức Hoài Thanh. Cơ chừng chỉ bởi ấn tượng với mấy câu thơ được ngòi bút phê bình tài hoa tình tế kia nảy ra. nhiều người mải tìm đọc toàn bài. Còn trước đó ít ai ngó ngàng đến cả thi phẩm. Đến khi dành được một chỗ trong sách giáo khoa, người ta mới thấy Thơ duyên được giới phê bình si mê hơn. Thơ duyên vậy là bén duyên với Hoài Thanh mà vẫn luôn mặn duyên với giới phê bình!
Như cái tên của nó, Thơ duyên có một bình diện nội dung dễ thấy là giãi bày mối giao cảm giữa thiên nhiên với thiên nhiên, con người với tạo vật và con người với con người như một cuộc giao duyên, một cuộc hoà thơ huyên diệu trên thế gian này. Cảm hứng giãi bày ấy đã cuốn theo nó mối quan tâm của phần đông những ngòi bút phê bình kia. Thế cùng dễ hiểu. Cảm hứng này đã khiến bài thơ hiện ra như một thể sống động, tràn ngập cảm xúc. ở đó những biến thái mơ hồ nhất của thiên nhiên, cùa con người đều được thể hiện bằng những nét bút tình tế đến huyền diệu, ở dó, quả là có thể thấy rõ "sự bồng bột của Xuân Diệu được phát biểu ra đầy đủ hơn cả là trong những rung động tinh vi". Nhưng chính vẻ đẹp phố ra ấy đã làm chìm khuất đi một bình diện nội dung khác làm nên cái duyên thẩm của Thơ duyên. Ấy là nội dung cắt nghĩa. Không phải lớp nội dung này hoàn toàn chưa được biết đến, nhưng nó đòi hỏi phải được quan tâm chu đáo hơn, tận tình hơn. Bởi phần lớn bí mật của bài thơ này hãy còn nằm đó. Bạn đừng vội nghĩ rằng thư phải là sự rung động hồn nhiên của tâm hồn, còn lí giải cắt nghĩa là sở đoản của thơ. Bởi điều hiển nhiên ấy mấy ai không biết. Tuyệt đối hoá nó thì vừa thu hẹp cả tiếng nói của thơ đă đành mà còn thu hẹp cả chính Xuân Diệu đấy. Cắt nghĩa mọi thứ, có thể nói là một ham muốn lớn của cả đời Xuân Diệu, mà nhất là tình yêu. Đâu có lúc thi sĩ thân: "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu", nhưng ta đừng vội tin rằng đó là thú nhận về sự bất lực. Đơn giản vì, ngay sau đó thi sĩ đã cắt nghĩa luôn. Và cả đời ông còn theo đuổi mãi việc cắt nghĩa tình yêu. Cho nên, cứ đọc kĩ mà xem cắt nghĩa đã đi vào hình thức tổ chức của mọi bài thơ Xuân Diệu hồn dưới mạch xúc cảm sôi nổi, bồng bột của thơ ông. bao giờ củng có một mạch luận lí, cắt nghĩa và thậm chí cả lí sự nữa. Vâng, điều tôi muốn nói, đó là Thơ duyên còn là một vỡ lẽ. Một khám phá về tơ duyên đã được nảy sinh như thế nào trên mật đất này
Ý tưởng cắt nghĩa của Thơ duyên có lẽ đã khởi nguồn từ một cội rễ sâu xa hơn: cảm quan nghệ thuật cùa Xuân Diệu. Trong thơ ông, thế giới dường như được quy chiếu về hai hình ảnh tổng quát, vừa tương sinh lại vừa tương khác, đó là hai phía của cùng một cảm quan. Mặt khác, thế giới hiện ra như một mảnh vườn tình ái, trong dó mọi vật đang rạo rực đắm say, đang giao duyên tình tự với nhau, đầy ánh sáng và hơi ấm. Mặt khác, thế giới cũng hiện ra như một sa mạc vô liệu, tất cà cứ như một cõi hoang vắng, lẻ loi, trống trải, lạnh!ẽo, âm u. Nếu mảnh vườn tình ải là thiên nhiên gợi tình, thi sa mạc vô liệu, là thiên nhiên gợi buồn. Một đàng đánh thức dậy trong con ngươi khát khao luyến ái, yêu dương, một đàng đánh thức dậy nỗi cô đơn cố hữu của con người! Dù gợi tình hay gợi buồn, nó đều dẫn lối cho con người đến với một cái đích duy nhất: tình yêu. Bởi gợi tình, nó giục giã con người đến tình yêu để hưởng niềm hạnh phúc kì diệu nhất của trần gian; còn gợi buồn, nó xui khiến con người đến tình yêu để thoát một nỗi bất hạnh. Thiên nhiên của Xuân Diệu luôn giăng mắc hai sợi tơ ấy và sẵn sàng se duyên cho những lứa đôi. Tơ duyên nảy sinh những cá thể chính là ý muốn cùa một thế giới như vậy.Xem thêm: Hãy bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313 - 235 trước Công nguyên): “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve y nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy" Thì chính thế giới của Thơ duyên cũng là như thế. Có thể thấy Thơ duyên tự nó gồm hai phần rõ rệt. Mỗi phần đến bắt đầu bằng một bức tranh thiên nhiên rồi sau đó là sự chuyển biến tế nhị bên trong của nhân vật trữ tình. Đó cũng là trình tự của tứ thơ. Trung tâm của bài thơ là một đôi thiếu niên đi trong chiều mộng. Ban đầu họ là nhưng kẻ vô tâm. thế rồi thiên nhiên đã biến họ thành kẻ hữu tình. Thế giới xung quanh đồng lòng xe duyên cho họ.
Bắt đầu bằng một buổi chiều – một buổi chiều rất Xuân Diệu:
Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên,
Cây me riu rit cặp chim chuyền.
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá.
Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền
Con đương nho nhỏ gió xiêu xiêu,
Là tả cành hoa nắng trở chiều.
Sáu câu thơ ấy chẳng phải là một mành vườn tình ái đó ư? Thiên nhiên thật khéo đặt bày. Vườn tình vừa có địa chi dành cho cuộc giao duyên cùa loài vật – cây me đương lúc thu về, vừa có địa chi dành cho con người – ấy là con đường để ngỏ. Câu thơ đầu. từng chữ một sáng nghĩa nhưng kết vào một chuỗi thì nghĩa như bị tôi. bị nhòe. Tất cà trở nên hư thực. Nghĩa câu thơ chỉ tô dần khi ta đọc câu tiếp: Cây me ríu rít cặp chim chuyền". Thì ra đây là duyên cớ. Vì đôi uyên ương đang tình tự mà câu chữ trở nên đắm đuôi. Nhánh cây, nơi đôi chim chọn không còn là một nhánh vô tình, vô tri. Nó biến thành điểm hẹn tình yêu, thành địa chỉ luyến ái, liên tưởng thơ bèn biến nó thành nhánh duyên. Cuộc tình tự ríu rít kia cũng đầu còn là những tiếng kêu vô nghĩa. Nó là tiếng lòng của đôi lứa. Nó thành cuộc tình tứ, cuộc hoà thơ. Và như thế chẳng đủ để chiểu thực thành chiều mộng sao? Chiểu thơ mộng hay chiều trong cỗi mộng thì cũng vậy thôi. Một ngữ pháp rất Xuân Diệu. Bên trên vòm me là bầu trời, xung quanh vòm me là mùa thu. Tất cả hầu như châu tuần, hội tụ để phụ hoạ, tô điểm cho tình yêu, xe duyên cho đôi lứa. Sự huyến nhiệm của tình yêu phải chăng ở đây: biến cả không gian, thời gian, thanh âm, sắc màu thành ảo mộng – "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến nơi nơi động tiếng huyền". Chiều mộng là ảo, hoa thơ là ào, nhánh duyên càng ảo. Mà ngay cả cái động thái đó trời xanh ngọc hay tiếng huyền kia cũng đều ảo cả thôi! Cái nhìn đắm đuối của thi sĩ vào buổi chiểu, phút chốc đã biến tất cả thành mộng ảo. Dẫu sao thi nhánh duyên kia, vòm me kia chưa phải điểm hẹn dành cho con người. Liền ngay đó, sẵn bày một cảnh khác – đây là địa chỉ cho con người:Xem thêm: Bình luận hai câu thơ: “Ví đây đổi phận làm trai được, Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?” (Đề đền Sầm Nghi Đống - Hồ Xuân Hương)
Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu,
Lả tả cành hoa nắng trở chiều.
Một con đường tình! Lơi là, tình tứ, mời mọc! Thắm gọi bước uyên ương. Con đường như dụi đầu vào gió, cành hoang lại là mình vào nắng. Lạc vào vương quốc của yêu đương, Thi sĩ (chàng thiếu niên kia) nhận ra một biến đổi kì diệu vừa diễn ra trong lòng và ý tưởng cắt nghĩa loé lên những vỡ lẽ đầu tiên:
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,
Lần đầu rung động nỗi thương yêu.
Có một ranh giới mơ hồ và rõ rệt đánh dấu một đột biến của tâm hỗn trong hai chữ buổi ấy và lần đầu. Khi những rung động luyến ái dẫu đời thức dậy. Nó lập tức biến một cậu bé thành một chàng trai. cùng với nó, ta thấy một cuộc "đảo chính" trong lời xưng hô kiểu xung hồ cua cậu bé bị phê truất, thì kiều xưng hô đỉnh đạc của một tình nhân cũng bắt đầu tiến quyền: Ta – Bạn thành Anh – Em. Giọng cắt nghĩa nổi trội lên
Em bước điềm nhiên không vướng chân,
Anh đì lững đững chẳng theo gần.
Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu.
Anh với em như một cặp vần.
Từ vô tâm đã hoá thành hữu ỷ. Trong mảnh vườn tình ái ấy làm sao còn có thể vô tâm. Diễm nhiên là em dửng dưng, chẳng bận lòng. Lững đững gồm cả tốc độ đi lững thững, cà thái độ đi hờ hững. Nào ai có để ý đến ai đâu! Nhưng chúng ta đang đi trong chiều mộng, đang đi giữa một bài thơ. (ở bài khác, Xuân Diệu cũng có viết: "Chúng tôi ngồi giữa một bài thơ, một bài thơ mênh mông như Vũ Trụ”) Trong bài thơ ấy – trong cuộc họa thơ của sự sống ấy, anh với em là một cặp vần. Cặp vần là một sáng tạo tinh tế mà láu lỉnh của Xuân Diệu. Suốt, từ văn học dân gian qua trung đại đến hiện đại, những cặp biểu tượng về đôi lứa được tạo ra không kể xiết. Nhưng cặp vần? Có lẽ đây là lần đầu tiên. Nếu đang ờ trong một cuộc hoà thơ, trong bài thơ thì còn gì hợp hơn, thi vị hơn khi vì anh với em như cặp vần. Vả lại, cặp vần nói thâm thuý cái không thể tách rời. Vần chỉ là vần, khi đi thành cặp đôi thôi! Trời đất đã hoàn thành việc xe duyên, tơ duyên đã buộc hai kẻ vô tâm vào một cập vần.
Ấy mới là lí do thứ nhất!
Chưa hết, sự cắt nghĩa của Xuân Diệu còn triệt để hơn. Phần sau thêm một lí do nữa để hợp thành sự hoàn hào của trời đất. Cũng thiên nhiên, nhưng ở đây cảnh vẫn hoàn toàn tương phản trên kia 1 mánh vườn tình ái thì đây là hoang mạc vô liêu. Trong thiên nhiên, gởi tình là một niềm rạo rực, đắm say. ở thiên nhiên, gợi buồn là một nỗi cô đơn, hiu quạnh. Gợi tình thi đôi chim ríu rít, gợi buồn thỉ chi còn một con cò trơ trọi, lẻ loi đang phân vân lúc hoàng hồn xuống:Xem thêm: Hãy chứng minh rằng một trong những nội dung của ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương của nhân dân ta Mày biếc về đâu bay gấp gấp,
Con cò trên ruộng cánh phân vân.
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh.
Hoa Ịạnh chiều thưa sương xuống dần.
Nó gợi nhớ đến câu thơ: "Tôi là con nai bị chiều đánh lưới, chẳng biết đi đâu đường sâu bóng tối"! Con nai và con cò kia đếu là một cà thồi. Mọi gắng gỏi giang đôi cánh để xoá bớt sự trống trải đều vô vọng. Xung quanh vẫn là "Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần". Vì bài thơ được viết theo dòng thời gian tự nhiên: từ chiều đến chiều muộn tương ứng với các cảnh như thế, mà ta dễ quên đi sự phản lập có chủ ý giữa hai cảnh sắc là mảnh vườn tình ái và hoang mạc vô liêu này. Và củng nhờ được thể hiện trong một thời gian như thế mà tỉnh chất luận lí, cắt nghĩa đã được ngập sâu vào trong bài thơ, đến ngỡ như chăng có lí giải gì!
Tất cả giờ đây đều trống trải, lạnh lẽo, lẻ loi… buổn. Khổ thư có cái phấp phống. Câu thơ tả không gian mà có cái bóng gấp gáp của thời gian – "Mây biếc về đâu bay gấp gấp". Trống trải người ta cần nương tựa, lạnh lẽo người ta cần hơi ấm, lẻ loi người ta cần có đôi. Đó là trạng thái cô đơn cố hữu. Làm sao có thể vượt thoát được nỗi cô đơn, vượt thoát, được bất hạnh này? Tất cả nhu cầu ấy chỉ được đáp ứng khi con người đến với tình yêu! Chẳng phải đây là lí do thứ hai ư? – Tơ duyên cần phải mau hình thành bởi đó là con đường duy nhất để con người thoát nỗi cô đơn!
Đến đây, Xuân Diệu đã có kết luận chung cho toàn bộ sự cắt nghĩa của mỉnh, đã có thể khép lại toàn bài:
Ai hay tuy lặng bước thu êm,
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm.
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,
Lòng anh thôi đã cưới lòng em.
Khi nhu cầu cắt nghĩa nổi trội, thì lối diễn đạt luận lí lôgíc cũng giành lấy chủ quyền. Bốn câu thơ kia hoàn toàn có thể khồi phục thành một câu văn xuôi nhiều mệnh đề, thể hiện một kết luận chắc chắn: Ai hay tuy bước thu đi êm đềm bình lặng tuy chẳng có người trung gian mai mối chỉ cần trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy, thì lòng anh thôi đã gắn kết với lòng em rồi. Chữ thôi đã nói cái thế không thể cưỡng lại. không thể đảo ngược sự đã rồi. Còn chữ cưới lòng nói được một cuộc đính ước ngầm, một cuộc hồn nhân bi mật của hai tâm hồn. Nó diễn tả được cái trạng thái tế nhị "Tình trong như đã mặt ngoài còn e" cùa những cặp uyên ương đó thôi. Vậy đấy, tất cả cứ diễn ra êm đêm mà chứa đựng bao đổi thay ngấm ngầm và kỷ diệu!
Một sự cắt nghĩa rất Xuân Diệu! Vừa tế nhị vừa tinh quái!
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài Thơ Duyên của Xuân Diệu | 2,520 | |
Phân tích bài thơ Dục Thuý Sơn của Nguyễn Trãi.
Hướng dẫn
Phân tích bài thơ “Dục Thuý Sơn” của Nguyễn Trãi.
Dục Thuý Sơn
Nguyễn Trãi
Hải Khẩu hữu tiên san,
Tiền niên lũ vãnghoàn.
Liên hoa phù thuỷ thượng,
Tiên cảnh trụy trần gian
Tháp ảnh trâm thanh ngọc
Ba quangkính thuý hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu bảo.
Bi khắc tiển hoa han.
Núi Dục Thuý
Cửa biển có non tiên
Từng qua lại mấy phen.
Cảnh tiên rơi cõi Tục.
Mặt nước nổi hoa sen,
Bóng tháp hình trâm ngọc
Gương sôngánh tóc huyền
Nhớ xưa Trương Thiếu bảo
Bia khắc dấu rêu hoen.
Khương Hữu Dụng dịch.
Bài làm
Tên cũ của núi là Băng Sơn. Về đời Trần, Trương Hán Siêu lên chơi núi này, mới đổi thành Dục Thuý Sơn (núi tắm màu biếc); ngày nay gọi là núi Non Nước, thuộc thị xã Ninh Bình. Dục Thuý Sơn là một thắng cảnh, từng được nhiều tao nhân mặc khách đến thăm và làm thơ ca ngợi. Trên núi vốn có chùa và tháp rất đẹp; núi lại gần cửa biển, có sông Vân uốn quanh, Sông Vân núi Thuý là cảnh nên thơ, rất hữu tình. Sách “Đại Nam nhất thống chí" có ghi: “phía hắc núi (Dục Thuý) có động, trong động có đền thờ Tam phủ, sườn núi có một tảngđá gần sông có khắc ba chữ “Hám Giao Đình ”, phía tây nam núi có đền thờ Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, trên đỉnh có chùa… ”
Biển dâu biến đổi, nay chùa xưa tháp cũ đã đổ nát, biển lùi xa hàng chục cây số. Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Tản Đà… đều làm thơ vịnh Dục Thuý Sơn – núi Non Nước. Bài thơ này rút trong "Ức Trai thi tập ” của Nguyễn Trãi.
Bài thơ nói về cảnh sắc thần tiên núi Dục Thuý và nỗi cảm hoài của Ức Trai.
Đọc “Ức Trai thi tập” và “Quốc âm thi tập”, ta thấy Nguyễn Trãi đã từng thăm thú nhiều nơi. Lúc thì “nhẹ cánh buồm thơ vượt Bạch Đằng”, lúc thì lên núi Long Đại, say mê ngắm hang động, ao hồ:
“Ngao đội núi lên thành động đấy
Kình bơi biển lấp hoá ao rồi
(Núi Long Đại)
Lúc thì hành hương về chùa Hoa Yên trên đỉnh núi Yên Tử cao xanh, gột rửa bụi trần, thảnh thơi giữa rừng trúc, hang đá:
“Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
Bao dãi tua châu đá rủ mành ”
(Đề chùa Hoa Yên núi Yên Tử)
Trong những năm tháng “hình Ngô“, Nguyễn Trãi đã từng mang gươm đi khắp mọi miền đất nước, sau này, đất nước thanh bình, ông lại mang bầu rượu túi thơ đi thăm cảnh núi sông tráng lệ. Riêng Dục Thuý Sơn đã nhiều lần in dấu ấn nhà thơ.
1. Cảnh tiên nơi cõi tục
Có thể nói, 6 câu đầu bài thơ là bức tranh sơn thuỷ tuyệt vời về núi Dục Thuý, được vẽ bằng bút pháp vô cùng điêu luyện. Nhà thơ đã mấy lần đến chơi núi. Cảnh tuy đã quen, nhưng lần này đến không khỏi ngạc nhiên vẻ đẹp "non tiên ” hiện lên trước cửa biển. Đó là cảm hứng "Bồnglai lạc lối ” như Từ Thức trong cổ tích:
“Cửa biển có non tiên,.
Từng qua lại mấy phen ”
Người đọc như đang cùng thi nhân du mộng vào cõi thần tiên. Vừa ảo, vừa thực, hồn thơ kì thú, lâng lâng, ta như đang được “chiếm lĩnh " cõi tiên nơi trần gian. Câu 1 đã nói “non tiên” giữa cửa biển, câu 4 nói rõ thêm núi Dục Thuý "như cảnh tiên rơi xuống cõi trần gian ” (tiên cảnh truỵ trần gian). Hai hình ảnh “tiên san” và “tiên cảnh” hô ứng nhau, bổ trợ nhau, ý thơ và cảm xúc mở rộng, phát triển nhằm ca ngợi Dục Thuý sơn là một thắng cảnh, đẹp kì lạ, hiếm có trên đất nước ta.
Từ cảm nhận trực giác đến tưởng tượng, ngắm cảnh từ xa đến gần, thi sĩ tả núi như một bông sen khổng lồ xoè nở ra trên mặt nước. Hình ảnh ẩn dụ “Liên hoa phù thuỷ thượng ” tuyệt đẹp, đầy chất thơ. Hoa sen tượng trưng cho vẻ đẹp rực rỡ, sự thanh khiết thanh cao, là một biểu tượng cao quý của đạo Phật. Nhiều tượng Phật đều tọa lạc trên “đài sen Đài sen mang ý niệm tu tròn quả đức mà triết lí Phật giáo nói đến. Có tháp, có mái chùa hình hoa sen (Chùa Một Cột). Hoa sen là một mô tip khá tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc chùa chiền, tượng Phật ở nước ta. Trên núi Dục Thuý lại có chùa và tháp, Ức Trai ví núi Dục Thuý với bông sen nổi trên mặt nước thật là hay, gợi ra nhiều liên tưởng thú vị. Hai chữ “phủ ” (nổi lên) và “trụy” (rơi xuống) đối chọi nhau rất thần tình, gợi tả cảnh núi non, chùa chiền, sông nước vừa ảo vừa thực, cảm xúc chìm nổi, trầm bổng, lâng lâng:
“Liên hoa phù thuỷ thượng,
Tiên cảnh trụy trần gian ”
Xem thêm: Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi,Để hiệp vần, Khương Hữu Dụng đã đảo lại vị trí 2 câu thơ 3, 4; chất thơ nhạt đi nhiều, cấu trúc nội tại của tứ thơ bị phá vỡ:
“Cảnh tiên rơi cõi tục,
Mặt nước nổi hoa sen ”
Học giả Đào Duy Anh đã dịch: “Hoa sen trôi mặt nước -Cõi tục nổi non bồng Hai câu luận (5, 6) tả tháp trên núi và ánh sáng trên mặt sông, vẫn là bút pháp tạo hình bằng hai hình ảnh ẩn dụ mĩ lệ. Bóng ngọn tháp trên núi tựa như cái trâm bằng ngọc xanh (trâm thanh ngọc). Ánh sáng lấp lánh trên sóng nước tựa như gương soi mái tóc xanh biếc (kính thuý hoàn). Trâm, tóc và gương ấy đều mang màu sắc rất đẹp (thanh ngọc, thuý hoàn), vì là của tiên nữ (nơi non tiên, cảnh tiên). Cảnh sắc rất ngoạn mục. Phép đối được sáng tạo qua vẩn thơ như hai bức tranh của trường phái “ấn tượng”:
"Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thúy hoàn ”
(Bóng tháp hình trâm ngọc,
Gương sông ánh tóc huyền).
Núi Dục Thúy có sông Vân uốn quanh. Cách đây năm, sáu trăm năm, núi còn nằm trên cửa biển. Trên núi có chùa và tháp. Bàn tay của con người góp phần điểm tô cho cảnh núi non, sông biển thêm đẹp. Trương Hán Siêu từng ca ngợi: "Giữa dòng long lanh bóng tháp ” (Dục Thúy sơn khắc thạch); “Tháp gồm bốn tầng, đêm tỏa hào quang”, xa gần đều trôngthấy… cao sừng sững, thế chạm trời xanh, tô thêm vẻhùngvĩ cho non sông… ” (Dục Thúy SơnLinh Tế tháp kí)- Phát triển mạch cảm xúc của tiền nhân, trong bài thơ này, Ức Trai miêu tả cảnh sắc núi Dục Thúy bằng những nét vẽ tài hoa, với tất cả tâm hồn người nghệ sĩ: “một cái nhìn mới độc đáo, mangcốt cách phongtình, đầy tính chất nhân vân.
Thật vậy, Nguyễn Trãi đã liên tưởng và sáng tạo nên một loạt hình ảnh ẩn dụ có đường nét, màu sắc, ánh sáng đầy huyền áo để ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên tuyệt trần của Dục Thúy Sơn. Nhà thơ đã đem đến cho ngọn núi như con chim trả tắm nước biếc này một tình yêu say đắm của người nghệ sĩ tài hoa.
2. Nhớ xưa Trương Thiếu bảo
Du khách đối cảnh sinh tình. Hai câu kết biểu lộ một nỗi cảm hoài man mác. Nhiều bài thơ của ức Trai đều có cấu tứ cảm xúc tương tự. Nhà thơ trực tiếp thổ lộ tình cảm:
"Dẽ cố ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khấp đòi phương"
(Bảo kính cảnh giới – 43)
“Việc cũ ngoảnh đầu ôi đã dứt
Dòng trôi tìm bóngdạ bâng khuâng’’
(Cửa biển Bạch Đằng)
Gần một thế kỉ sau lên chơi núi Dục Thúy, khi người xưa đã khuất từ lâu rồi, đọc bia tháp Linh Tế, nhà thơ xúc động nhìn nét chữ khắc đã mờ dưới làn rêu. Vật đổi sao dời. Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Đất nước ta đã trải qua, bao biến cố, bao triều đại hưng vong, suy thịnh… ức Trai bồi hồi nhớ đến công đức người xưa:
“Nhớ xưa Trương Thiếu bảo,
Bia khắc dấu rêu hoen”.
Trương Hán Siêu là bậc danh sĩ cao khiết, nhà thơ lỗi lạc đời Trần. Tên tuổi ông gắn liền với Dục Thúy Sơn, với những bài kí rất nổi tiếng. Ông đã được thờ ở Văn Miếu, Thăng Long. Thiếu bảo là danh vị cao quý vua Trần ban cho ông. Ức Trai không gọi tên mà chỉ nhắc đến họ, đến danh vị Trương Hán Siêu là một cách xưng hô đầy trọng vọng, cung kính. Đúng là trông núi, ngắm tháp mà bùi ngùi thương nhớ người xưa. Hình bóng Trương Thiếu bảo còn phảng phất đâu đây. Lời thơ hàm súc, nỗi cảm hoài sâu lắng mênh mông. Hình ảnh bia đã phủ đầy rêu gợi tả cảm xúc hoài cổ đậm đà tình nghĩa. Đến chơi núi, nhìn tháp và chùa mà nhớ đến người xưa. Tấm lòng "Uống nước nhớ nguồn” thấm đẫm qua một vần thơ đẹp. Hai chữ “nhớxưa ” (hữu hoài) biểu lộ cái tâm trong trẻo của Ức Trai.
3. Dấu ấn của một ngòi bút tài hoa
"Dục Thúy Sơn ” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Bài thơ ngũ ngôn bát cú bằng chữ Hán. Hình tượng thơ mĩ lệ, cảnh sắc đượm vẻ thần tiên. Trong phần luận,4 hình ảnh ẩn dụ sóng nhau, đối nhau, hình ảnh này làm đẹp thêm hình ảnh kia, thể hiện cách cảm, cách tả của nhà thơ mang tâm hồn thơ mộng, tài hoa. Ức Trai, trong cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên, sông núi, ngòi bút tài hoa của ông rất tinh tế và nhạy cảm trong gợi tả và biểu cảm.
"Dục Thúy Sơn ” phản ánh một tài năng lớn, một nhân cách văn hóa cao đẹp của Đại Việt trong thế kỉ XV. Ức Trai đã để lại khá nhiều bài thơ giàu tình yêu thiên nhiên, đất nước. Đọc bài thơ này, ta cảm nhận úc Trai là “ôngtiên ngồi trong lầu ngọc" như bạn ông đã nói. Ông đến thăm núi Dục Thúy mà nhớ Trương Hán Siêu; chúng ta đọc thơ ông mà nhớ đến người anh hùng đã cùng Lê Lợi “bình Ngô“ và thảo “Bình Ngô đại cáo Nói rằng thơ ca mang nặng tình người và tình đời là như vậy. Bốn chữ "Vũ trụ di lai ” vuông vắn, to và đẹp khắc trên tấm đá phủ đầy rêu xanh trên đỉnh núi Dục Thúy, đó là dấu tích của Trương Hán Siêu để lại cho đời. Ai đã một lần lên thăm núi chắc sẽ bồi hồi nhìn thấy "Bia khắc dấu rêu hoen ”…
Nguồn: thêm: Giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh | Phân tích bài thơ Dục Thuý Sơn của Nguyễn Trãi. | 1,852 | |
Phân tích bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Giải đi sớm là một trong những bài thơ hay của Hồ Chí Minh trong tập "Nhật ký trong tù". Bài thơ thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm của tâm hồn Bác trước vẻ đẹp của thiên nhiên bao la. Đồng thời cũng thể hiện thái độ ung dung, hiên ngang của một người tù vĩ đại trong mọi hoàn cảnh. Bài thơ như một điệu nhạc trầm hùng, một bức tranh hoà quyện vẻ đẹp tâm hồn Bác với vẻ đẹp của thiên nhiên
Phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chi Minh, Đặng Thái Mai phân biệt hai bút pháp: bút pháp hiện thực và bút pháp tượng trưng
Có người coi bài "Giải đi sớm” chủ yếu được viết theo bút pháp tượng trưng. Thực ra không phải như vậy:
Gà gáy một lần đêm chửa tan
Câu thơ đầu ghi nhận thời điểm hiện thực của cuộc giải tù. Như vậy là một ngày đày ải nặng nề bắt đầu ngay từ khoảng quá nửa đêm. Người đọc tưởng tượng một cảnh tăm tối mịt mùng và vắng lặng vây quanh người tù cô đơn nơi đất khách.
Nhưng câu thứ hai bỗng toả sáng đột ngột trên bầu trời thơ.
Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn.
Đẹp biết bao là hình ảnh trăng sao đang đưa nhau lên đỉnh núi mùa thu: "Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san" Mạch thơ của Hồ Chí Minh vẫn thường vận động khoẻ khoắn và đột ngột như thế. Đúng là một tâm hồn có sức cải tạo hoàn cảnh, cải tạo tình thếXem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến Dĩ nhiên trăng sao là của thiên nhiên. Không có trăng sao trên bầu trời lúc ấy thì cũng không thể có trăng sao trong thơ Bác Hồ được. Tuy nhiên nếu không có tâm hồn rất khoẻ của Hồ Chi Minh luôn luôn hướng về ánh sáng, thì trăng sao cũng khó có thể đi vào thơ sáng đẹp đến thế.
Có người nói, ở khổ thơ đầu này của bài thơ, thiên nhiên và con người đối lập nhau. Đây là một sự thật. Nhưng còn một sự thật khác, sự thật trong tâm hồn nhà cách mạng vĩ đại: trong quan hệ đối lập, Người vẫn phát hiện ra sự hoà hợp với tâm hồn rất đẹp, rất sáng của mình. Một tâm hồn làm chủ trong mọi tình huống.
Thiên nhiên trong thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thường là thiên nhiên động. Khi người tù cẩt bước, thì trên trời trăng sao cũng khởi hành. Vậy là trăng sao cùng với Bác lên đường. Đấy cũng là một điều đột ngột nữa trong tứ thơ: trong hoàn cảnh đơn độc, tâm hồn nhà cách mạng vẫn không hề đơn độc. Thật là bất ngờ một cách thú vị biết bao khi có được những người bạn đồng hành không hẹn trước. Mà phải ai xa lạ: vẫn là những người bạn thiên nhiên rất quen thuộc, thậm chí là tri âm tri kỷ với nhà thơ
ở hai cảu sau của khổ thơ đầu, có người đặc biệt chú ý đến hai chữ "nghênh diện”, được hiểu như là một thái độ hiên ngang của người tù vỉ đại Có lẽ nên chú ý hơn đến hai chữ "chinh" ở câu thứ ba và hai chữ "trận" ở câu bốn. Bốn tiếng điệp với nhau tạo nên một âm hưởng rất thích:Xem thêm: “Ở đâu có lao động thì ở đó có sáng tạo ra ngôn ngữ. Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ thấp khớp ”Bình luận ý kiến trên đây của nhà văn Nguyễn Tuân và bằng thực tê”cảm nhận văn học của mình hãy làm rõ những vân đề mà nhà văn đặt ra- Văn 12 Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng
Nghênh diện thu phong trận trận hàn.
Nhịp điệu ấy, âm hưởng ấy khiến cho bài thơ không phải là tiếng hát đi đày mà là một hành khúc trầm hung.
Khổ hai của bài thơ gây ấn tượng nổi bật là sự bừng sáng của trời đất
Câu thơ thứ nhất của khổ thơ này dịch chưa sát:
Phương đông màu trắng chuyển sang hồng.
Nguyên văn chữ Hán:
Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng.
"Dĩ thành" là đã thành. Phương Đông màu trắng đã thành màu hồng rồi, ý đột ngột bừng sáng này bị đánh mất trong lời thơ dịch. Cả khổ thơ câu nào cũng như thế. Không có sự chuyển đổi dần dần. Cả vũ trụ bừng sáng, toàn cành thơ bỗng rực rờ một màu hồng và hơi ấm thì trùm lên cả vũ trụ, không một chút tàn dư của bóng tối và hơi lạnh.
Người đi dường trong không khí hoà hợp thoải mái như thế nên chữ nghĩa cũng phải thay đổi cho thích hợp: từ hai chữ "chinh nhân”, nhà thơ hạ hai chữ "hành nhân".
Hành nhân thi hứng hốt gia nồng
(Người đi thi hứng bỗng thêm nồng).
Mỗi chữ phải dùng đúng nghĩa và đúng vị trí của nó. Cái tinh tế của lời thơ là thế.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí Minh | 864 | |
Phân tích bài thơ Hai Chữ Nước Nhà của Trần Tuấn Khải:
Hướng dẫn
Đoạn thơ có khá nhiều từ Hán-Việt. Học sinh nên đọc thật kỹ phần chú thích trước khi đọc lại để hiểu nghĩa của từng câu. Học sinh cũng cần đọc lại những trang sử đời nhà Hồ-Hậu Trần lệ thuộc nhà Minh (1400-1413) để có thể dựa vào đó mà hiểu ý nghĩa của từng câu thơ.
– Khung cảnh“Chốn ải Bắc-Cõi trời Nam" lúc ấy như thế nào? (4 câu đầu)
– Người cha mang tâm sự gì? Đang ở trong hoàn cảnh nào? Có thương con không? (các câu 5-6-8).
– Người có nói gì không khỉ theo bước tiễn cha (câu 7)
*Giữa bối cảnh đau thương uất nghẹn ấy,“lời cha khuyên” ắt hẳn có giá trị thức tĩnh và thúc giục con trai “lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước
– Người cha đã gợi cho con điều gì về đất nước, dân tộc?(4 câu đầu cửa đoạn 2)
– Người cha đã than với con về tội ác của quân Minh, đó là những tội ác gì? (8 câu kế tiếp)
– Hãy cho biết nỗi lo của người cha?(8 câu cuối của đoạn 2)
– Giữa sự xâm lược nước ta của quân Minh và quân Pháp có sự khác biệt về thời gian, bối cảnh lịch sử, nhưng về bản chất thì không khác nhau.
I.Trần Tuấn Khải người Nam Định. Bút hiệu Á Nam nổi tiếng từ những năm 20 của thế kỷ XX, nhất là hai bài hát mang tựa đề Anh Khóa, sau đó là những bài thơ được viết bằng thứ ngôn ngữ chân chất theo các thể thơ thuần Việt như lục bát, song thất lục bát.
Là một nhà thơ giàu tình cảm, sống gắn bó với nỗi buồn vui của con người. Ông buồn về thói đời đen bạc, buồn về những nỗi biệt ly, buồn về thế sựthăngtrầm… về tình đời thì ông lấy luân lý làm trọng, về thế sự thăng trầm thì ông tìm kiếm đề tài ở lịch sử để kín đáo bộc lộ nỗi đau mất nước nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào mà những vần thơ Hai chữ nước nhà là một ví dụ. Mượn chuyện Nguyễn Phi Khanh bị quàn Minh bắt giải về Trung Quốc dặn dò con trai (Nguyễn Trãi) hãy về lo việc trả thù cho cha, rửa hận cho nước, Trần Tuấn Khải đã gửi gắm tâm sự yêu nước của mình.
II. Đoạn trích là phần md đầu của bài thơ. Tám câu thơ song thất lục bát giới thiệu khung cảnh của việc chuyển tù và tâm trạng của người cha. Khung cảnh là “chôn ải Bắc ”, biên giới của nước Đại Việt với Trung Quốc thời bây giờ. Vào thời điểm đó, Nguyễn Phi Khanh, người bị quân Minh bắt giải đi và Nguyễn Trãi theo tiễn chân cha đang ở “cỡ/ trời Nam", đang ở phần đất nước của Đại Việt. Nơi kia thì “mây sầu ảm đạm”, chôn này thì “gió thảm đìu hiu”. Khung cảnh hoang vắng cô liêu, tuyệt không thây bóng người mà chỉ nghe tiếng “hổ thét chim kêu” lạnh lùng. Giữa khung cảnh “như khêu bất bình ”, như gợi lên sự buồn thương và căm giận kẻ đã gây nên tội ác ấy, Nguyễn Phi Khanh, “chút thân tàn" đang chịu gông cùm vẫn canh cánh “hồn nước"ò trong tim, ông đã quay lại.
Trông con tầm tã châu rơi Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên.
Tám câu thơ song thất lục bát có nhịp điệu, tiết tấu chậm, từng cặp câu bảy chữ đôi lời đối ý thấm đậm nỗi buồn của cha con trong giờ phút biệt ly. Cả hai cha con đềư khóc. Không khóc làm sao được khi cả hai đều biết rằng ngày đi thì có còn ngày về thì không. Nhưng người cha tin con mình đúng là trang nam nhi. Nhìn con khóc nghẹn không nói được câu gì, ông đã gợi lại và nhắc con ‘‘nhớ lấy" rằng:
Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định,
Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay,
Giờ Nam riêng một cỗi này,
Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì!
Nguyễn Phi Khanh đã gợi lại thủy tổ của dân Việt thuộc họ Hồng Bàng và Lạc Long Quân. Từ thuở
Bồ ký đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều dinh nước ta
Xem thêm: Cả lớp đều khâm phục tinh thần giúp đỡ các gia đình thương bỉnh, liệt sĩ của bạn H. Bạn ấy xứng dáng là Cháu ngoan Bác Hồ. Lớp trưởng thay mặt lớp viết đơn xin Ban Giám hiệu nhà trường biểu dương, khen thưởng bạn HĐại nam quốc sử diễn ca
Đến Đại cồ Việt thời nhà Đinh. Tới năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt. Như thế, non sông Việt đã có từ trước, chưa kể thời đại Hùng Vương trị vì nước Văn Lang, Âu Lạc. Mười mấy thế kỷ về trước, cốt lỗi đã được dựng lên cả về phần xác lần phần hồn, cả về vật chất lẫn phi vật chất trong bôn câu thơ khái quát nhưng rất cơ bản. Những “anh hùng hiệp nữ” như các vua Hùng, hai Bà Trứng, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,… đều được truyền tụng như những tấm gương sáng ngời mang tâm hồn Việt. •
Những câu thơ kế tiếp, người cha đã nêu nguyên nhân khiến, “quân Minh thừa hội xâm lăng” và gây bao tội tày đình. Dù người cha không nêu đích danh nhưng câu “Than vận nước gặp khi biến đổi'" gợi lại giai đoạn lịch sử cuối đời Trần có liên quan tới Hồ Quý Ly. Theo sử sách ghi lại thì ông tên thật là Lê Quý Ly được vua Trần Nghệ Tông tin dùng. Quý Ly có hai người cô đều là vợ của Trần Minh Tông, và là mẹ của ba vua Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Nhờ có liên hệ bà con, lại giúp Trần Nghệ Tông củng cố được địa vị thống trị của họ Trần nên Quý Ly được tin dùng. Sau khi Trần Nghệ Tông mất, thì Quý Ly càng lúc càng chuyên quyền. Đầu năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi nhà Trần, lên làm vua, lấy quốc hiệu là Đại Ngu. “Vận nước gặp khi biến đổi là như thế”. Và quân nhà Minh đã lấy cớ đó để xâm lăng nước Đại Việt, gây nên đại họa:
Bốn phương khói lửa bừng bừng,
Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông!
Nơi đô thị thành tung quách vỡ,
Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con.
Cảnh quân Minh xâm lược được miêu tả thật khủng khiếp dù không đi sâu vào từng chi tiết. Chúng tha hồ đốt, và giết không nương tay. Nghệ thuật láy từ, sử dụng các từ mạnh như “bừng bừng, tung, vỡ, bỏ, lìa”. Khiến người đọc cảm nhận không thứ gì còn nguyên vẹn, kể cả con người. Thành quách, nhà cửa, vợ con trong cảnh đổ nát hoang tàn, nhất là thảm họa diệt chửng ở cụm từ so sánh “xương rừng máu sông". Cảnh tượng khủng khiếp hãi hùng do quân cuồng Minh gây ra không chỉ tạo nên mối uất hận trong mỗi người dân Đại Việt thời bây giờ mà còn “Ngậm ngùi đất khóc giời than” nữa. Mối uất hận ấy phải trả, tội tày đình ấy phải bị trừng trị. Nhưng làm sao đây?
Tám câu thơ cuối là tâm sự chân thành và tha thiết của cha với con. Sự chân thành ấy chính là:
Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Và sự tha thiết ấy chính là:
Giang sơn gánh vác sau này cậy con.
Còn hơn sự tha thiết, đó là chuyển giao trọng trách thiêng liêng nhất là giữ cho được:
Bắc Nam bờ cõi phân mao Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây…
Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải làm bài thơ này lúc chính phủ Pháp thời bấy giờ (1924) đang ra sức củng cố chế độ thực dân. Mượn chuyện Nguyễn Phi Khanh dặn dò con trai là Nguyễn Trãi “giang sơn gánh vác” là cụ muốn kín đáo gửi gắm tâm sự yêu nước của mình vào tầng lớp thanh niên thời bấy giờ.
Luật bằng trắc tạo nên nhịp điệu, tiết tấu, còn vần thì tạo sự hòa âm giữa các câu thơ. Với những đặc điểm ấy, thể loại thơ song thất lục bát phù hợp với những bi kịch giữa cuộc đời, những lời tâm sự thương khóc, oán hờn kẻ đã gieo tai vạ cho mình. Những tác phẩm như Chinh phụ ngâm (đã học ở lớp 7), Cung oán ngâm khúc, Tự tình khúc, Khóc Dương Khuê,… đều là những tác phẩm nổi tiếng. Và thế kỷ XX có thêm Hai chữ nước nhà của Á Nam Trần Khải làm kho tàng thơ văn song thất lục bát của dân tộc càng phong phú và giá trị thêm lên.
tag: hai chu nuoc nha, soan bai hai chu nuoc nha, phan tich bai tho hai chu nuoc nha, soan bai bai tho hai chu nuoc nha, giao an giang bai hai chu nuoc nha.Xem thêm: Đọc sách có lợi gì? Trong các loại sách em thích nhất loại sách nào? Đọc như thế nào thì có lợi?Nguồn: | Phân tích bài thơ Hai Chữ Nước Nhà của Trần Tuấn Khải_ | 1,578 | |
Phân tích bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu qua bản dịch thơ của thi sĩ Tản Đà.
Hướng dẫn
"Trước mắt có cảnh nói không được,
Vì thơ Thôi Hiệu ở trên đầu”
Đó là hai câu thơ của Lý Bạch nói vì sao mình không làm thơ để vịnh lầu Hoàng Hạc. Lý Bạch là một trong những nhà thơ cự phách đời Đường. Hai câu thơ trên cho thấy “thi tiên” Lý Bạch là một con người cực kì khiêm nhường, đồng thời khẳng định “HoàngHạc lâu ” của Thôi Hiệu là một áng thơ kiệt tác.
Nguyên tác là thơ thất ngôn bát cú. Thi sĩ Tản Đà sáng tạo dịch thành thơ lục bát. Nhiều nhà thơ Việt Nam đã thử bút dịch bài thơ này, nhưng theo ý kiến của Xuân Diệu thì bản dịch của Tản Đà là xuất sắc hơn cả.
Lầu Hoàng Hạc
Hạc vàngai cưỡi đi dâu,
Mà đây HoàngHạc riênglầu còn trơ.
Hạc vàngđi mất từ xưa!
Nghìn năm mây trắngbây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hươngkhuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóngcho buồn lòng ai?
Tản Đà dịch
Lầu Hoàng Hạc là một thắng cảnh ở Vũ Xương thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Lầu đẹp, cảnh nên thơ, lại được bao phủ bằng một lớp sương mờ huyền thoại, nên càng trở nên hấp dẫn. Tương truyền Phí Văn Vi, tu tiên đắc đạo, thường cưỡi hạc vàng đến đây chơi. Có biết bao tao nhân mặc khách đã đến thăm lầu, ngoạn cảnh và đề thơ. Thôi Hiệu chỉ để lại gần 40 bài thơ, nhưng chỉ có “Hoàng Hạc lâu” là được truyền tụng hơn cả.
Dào dạt qua những vần thơ là cảm hứng hoài cổ của một thi nhân, du khách. Hai câu đầu, thi hứng khơi nguồn từ chuyện“Hạc vàng ” trong huyền thoại, từ đó nói lên sự xúc động đến ngạc nhiên khi nhà thơ nhìn thấy lầu xưa. Lầu đứng chơvơ. Mái lầu như chìm trong tĩnh mịch, hoang sơ. Bao hoài niệm về "tích nhân” về Hoàng Hạc dâng lên dạt dào, man mác:
"Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ”.
Niềm thương nhớ cảm hoài một lúc một dâng cao. Hạc vàng cùng tiên đã bay đi, chẳng bao giờ trở lại nữa "nhất khứ bất phục phản Như ngẩn ngơ! Như chìm đi trong mộng tưởng. Như man mác một mối sầu thương. Nhìn mây trắng phủ trên mái lầu vàng, lơ lửng bay trên bầu trời xanh (bạch vân… du du), nhà thơ như sực tỉnh:
"Hạc vàng đi mất từxưa!
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay”
“Hạc vàng” với “mây trắng”, quá khứ với hiện tại, cái mất đi từ nghìn xưa với cái hữu hình “còn bay”… hô ứng nhau, đối ứng nhau, tạo nên những vần thơ đẹp vô cùng gợi cảm. Trong phần "đề” và “thực” của bài thơ, ba từ “Hoàng hạc ”ba lần xuất hiện trên cái nền “mây trắng ngàn năm bay chơi vơi ” (câu thơ dịch của Khương Hữu Dụng); màu sắc hài hòa tuyệt đẹp làm gợi lên một cảnh quan mỹ lệ nên thơ. Đặc biệt câu thơ thứ 4 “Hoànghạc nhất khứ hất phục phản” gồm 6 thanh trắc xuất hiện liên tiếp, luật bằng trắc của thơ Đường bị phá cách. Âm hưởng câu thơ như bị “thắt ” lại nhằm biểu hiện cái cảm giác ngẩn ngơ, bâng khuâng, tiếc nuối của du khách khi ngắm lầu vàng. Ngòi bút của Thôi Hiệu rất điêu luyện trong phối thanh hòa sắc để tạo nên những vần thơ đẹp “thi trung hữu họa, thi trung hữu cầm ” cho ta nhiều rung cảm.
Xem thêm: Tuần 15: Chính tả Buôn Chư Lênh đón cô giáo
Ngắm trời xanh, mây trắng, lầu vàng, mỗi bước chân của thi nhân như dẫn hồn mình phiêu du vào thế giới thần tiên, mộng ảo. Rồi nhà thơ bâng khuâng đưa mắt ra bốn phía, ra chân trời xa. Mặt sông lúc trời tạnh, sáng trong như tấm gương phản chiếu cây cối vùng Hán Dương rõ mồn một,cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi. Cảnh vật sông nước, cỏ cây như chan chứa xuân sắc, xuân tình. Hai câu luận được cấu trúc đăng đối hài hòa, cặp từ láy "lịch lịch – thê thê ” là hai nét vẽ tinh tế khắc họa cái "hồn ” của cảnh trí non sông. Ngòi bút của Thôi Hiệu đã làm sống dậy cỏ cây thiên nhiên bằng đường nét và gam màu tươi sáng nhiều ấn tượng:
"Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu”
Trải qua trên 1200 năm, không biết đích xác Thôi Hiệu đã đến chơi lầu Hoàng Hạc vào thời gian cụ thể nào, nhưng qua hình ảnh “tình xuyên lịch lịch… ” và “phương thảo thê thê”, người đọc cảm nhận được đó là một mùa xuân đẹp, thanh bình. Câu thơ như một bức tranh thủy mặc, đường nét xa-gần, đậm-nhạt, màu sắc trong và dịu, tinh tế và biểu cảm. Câu thơ dịch của Tản Đà thật vô cùng linh diệu, nó làm tái hiện lại “điệu Đường”, “hồn Đường” trong nguyên tác:
"Hán Dương sôngtạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non ”
Thi nhân đứng một mình trên lầu cao. Trời đã về chiều. Lầu Hoàng Hạc mờ dần trong bóng hoàng hôn. Lòng man mác sầu thương. Du khách nhìn mãi… nhìn mãi… khắp bốn phía chân trời, vẫn chẳng thấy quê hương mình ở đâu: “Nhật mộhương quan hà xứ thị? ”.Câu hỏi tu từ khơi gợi bao nỗi niềm nao nao, bâng khuâng. Người đọc như hòa điệu, đồng cảm với nỗi u hoài, thương nhớ quê hương của nhà thơ:
"Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”
“Trên sông khói sóng” (Yên ba giang thượng) là một hình ảnh đầy thi vị, huyền ảo, gợi tả cảnh sông nước phủ mờ sương khói lúc hoàng hôn. Câu thơ tả ít mà gợi nhiều. Một nỗi buồn thương thấm thìa. Một tình quê vơi đầy lâng lâng. Hình ảnh ấy, thi liệu ấy đã được tái tạo, được nhập thân vào hồn thơ dân tộc ta, làm nên vẻ đẹp phong vị Đường thi cổ kính, hoa lệ:
– “Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoànghôn cũng nhớ nhà"
("Tràng Giang" – Huy Cận)
– “Yên ba thâm xứ đàm quân sự… ”
("Nguyên tiêu" – Hồ Chí Minh)
Thơ Đường rất gần gũi và quen thuộc với nhân dân ta. Nó là món ăn tinh thần của các nhà nho, các nhà thơ Việt Nam. Phần lớn các bài thơ kiệt tác của văn học trung đại dân tộc ta đều được sáng tạo theo thi pháp Đường thi – dân tộc hóa, tạo nên bản sắc Việt Nam.
Bài thơ “Hoàng Hạc lâu " của Thôi Hiệu xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học phương Đông. Cảnh lầu đẹp nên thơ được khơi gợi dưới một lớp sương mờ huyền thoại. Cảm hứng hoài cổ man mác, tình quê bâng khuâng vơi đầy… Tất cả làm nên vẻ đẹp nhân văn của thi phẩm này, và hồn thơ dào dạt của li khách đã in dấu đậm đà trong lòng mỗi chúng ta.
Nguồn: thêm: Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất | Phân tích bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu qua bản dịch thơ của thi sĩ Tản Đà. | 1,244 | |
Bài thơ Hầu trời của Tản Đà là một trong những bài thơ thể hiện rõ cái tôi ngông cuồng của tác giả. Nhà thơ đã xem ông trời như một người bạn của mình. Cũng trong bài thơ này, tác giả đã tự ý thức về tài năng của bản thân cũng như khao khát khẳng định cái tôi giữa cuộc đời.
Để giúp các em làm tốt đề văn phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đề văn này, sau đó chúng ta sẽ cùng nhau làm bài văn phân tích.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Hầu trời
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Tản Đà và bài thơ Hầu trời.
– Tản Đà là một tác giả thuộc phong trào Thơ mới. Ông có cái tôi phóng khoáng, ngông cuồng.
– Bài thơ Hầu trời thể hiện đúng tính cách của tác giả.
2. Thân bài phân tích bài thơ Hầu trời
a. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe
– Thi nhân đọc một cách hào hứng.
– Giọng thơ hóm hỉnh, ngông cuồng.
– Nội dung kể về cuộc sống và công việc của mình.
b. Thái độ của người nghe
– Trời: tâm đắc, khen ngợi.
– Chư tiên: xúc động, tâm đắc.
c. Thi nhân trò chuyện với trời
– Thi nhân khẳng định cái tôi của bản thân.
– Tác giả có cuộc sống nghèo khó nhưng thư thái.
– Bao trùm lên bài thơ là cảm hứng nghệ thuật.
3. Kết luận
– Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của bài thơ Hầu trời và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 2 của Xuân Diệu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Quan niệm của anh (chị) về lối sống giản dị của một con người
II. Bài làm phân tích bài thơ Hầu trời
Tản Đà là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam. Ông là một trong những nhà văn thuộc phong trào Thơ mới. Ông sáng tác cả văn xuôi lẫn thơ ca nhưng vẫn được biết đến nhiều hơn là các tác phẩm thơ. Các tác phẩm thi ca của ông mang nhiều màu sắc cổ điển về hình thức nhưng lại mới mẻ về nội dung. Tản Đà vốn là tác giả có cái tôi khá lớn. Ông thể hiện rõ cái tôi chơi ngông của mình trong nhiều tác phẩm. Bài thơ Hầu trời là một trong những bài thơ thể hiện được cái tôi của ông.
Hầu trời là một bài thơ được viết dưới dạng tự sự, trong đó nhà thơ tưởng tượng mình được lên trời để đọc thơ cho trời nghe. Đối với người phương Đông, trời là một đấng tối cao. Vậy nên chỉ riêng với việc nhà thơ tưởng tượng được đọc thơ cho trời là đủ để thấy cái tôi ngông cuồng của nhà thơ. Mặc dù là một câu chuyện tưởng tượng nhưng nội dung bài thơ được triển khai một cách logic, các chi tiết cụ thể, rành mạch. Sau khi thi nhân được đưa lên trời, Trời và các vị chư tiên tỏ thái độ thành kính chứ không hề cao ngạo, họ nhiệt thành và tổ chức vô cùng long trọng. Sau khi nhà thơ giãi bày cảnh ngộ cùng Trời thì Trời cũng khen ngợi tài năng của nhà thơ và đưa nhà thơ về trần giới một cách an toàn. Như vậy là thay vì nhà thơ bộc lộ tâm sự của mình như phần đa các nhà thơ khác thì nhà thơ lại chọn một cách thể hiện mới mẻ và đầy cá tính.
Phân tích bài thơ Hầu trời
Nói thẳng ra, câu chuyện Hầu trời là một truyện bịa nhưng cách thể hiện của nhà thơ quá hấp dẫn và logic khiến cho người đọc cảm thấy như đang được tiếp cận một câu chuyện rất thật:Xem thêm: Phân tích "phần tuyên ngôn" trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị" cho đến hết), nêu rõ: Ý nghĩa sâu sắc của "phần tuyên ngôn" và lập luận chặt chẽ, giọng văn hùng biện đầy sức thuyết phục
Đêm qua chẳng biết có hay không
Thật được lên tiên sướng lạ lùng
Nhà thơ đã đưa ra lý do để mình được lên Hầu trời một cách rất đời thường nên khiến người đọc dễ tin: đó là khi nhà thơ đang đun nước uống và ngâm nga bài thơ chơi trăng động tới trời xanh. Lời thơ đã làm cho trời mất ngủ vậy là được các vị Chư tiên mời lên trời.
Nội dung Hầu trời vẽ ra cuộc hội kiến giữa nhà thơ và Trời cùng với các vị Chư tiên, nội dung ấy được kể lại một cách vô cùng chi tiết, nên càng làm tăng lên cảm giác chân thật. Nhà thơ đã thể hiện nội dung một cách hóm hỉnh với lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời.
Thông qua việc tưởng tượng, nhà thơ đã có cơ hội giới thiệu tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp và còn kể tên các tác phẩm mà mình đã viết. Với cách lựa chọn tình huống độc đáo, nhà thơ đã khẳng định được tài năng của bản thân mình:
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi
Văn dài, hơi tốt ran cung mây.
Rõ ràng, nhà thơ đang tự khen mình nhưng ông lại chọn hình thức là để cho ông Trời và các vị chư tiên khen. Đây quả là một cách chơi ngông tếu táo và đáng yêu. Thậm chí, nhà thơ còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân mình:
Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt
Văn trần được thế chắc có ít
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết
Trong thời buổi đất nước đang mất đi quyền tự chủ, việc Tản Đà đứng lên tự giới thiệu, tự khẳng định bản thân giống như một sự tự hào và tự tôn của dân tộc. Nhưng chưa dừng lại ở đó, ông còn hóm hỉnh khẳng định cái ngông của mình rằng:Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà (Có dàn ý chi tiết)
Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông
Nói về cái tôi của bản thân không đơn thuần vì nhà thơ muốn khẳng định mình. Ông nói như vậy bởi ông nhận thấy được trách nhiệm của bản thân và cũng chỉ ra trách nhiệm chung của những người nghệ sĩ đó chính là lo việc thiên lương của nhân loại. Điều này thể hiện rõ thông qua các câu thơ:
Trời rằng: Không phải là Trời đày
Trời định sai con một việc này
Là việc thiên lương của nhân loại
Cho con xuống thuật cùng đời hay
Qua đây, nhà thơ đã chỉ ra cho người đọc thấy ý nghĩa của văn chương và tầm quan trọng của văn chương trong cuộc sống, đề cao những người văn nghệ sĩ. Văn chương cũng là một nghề giúp con người ta kiếm sống. Và vì vậy, nhà thơ chẳng ngại ngần khi mang văn chương ra đường đem bán. Nhà thơ đã kể với Trời chuyện đó và mượn lời của Trời để tự an ủi chính mình.
Bằng việc sự dụng hình thức độc đáo, bài thơ Hầu trời đã mang đến một luồng gió mới cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Qua đây, nhà thơ khẳng định được mình, khẳng định được vai trò, vị trí của văn chương cũng như khẳng định vai trò của người nghệ sĩ đó là làm đẹp cho đời.
Trên đây chúng ta đã cùng lập dàn ý phân tích bài thơ Hầu trời cũng như làm bài văn mẫu phân tích bài thơ Hầu trời. Bài văn mẫu chỉ mang tính chất tham khảo, các em có thể chắt lọc và tự viết ra những bài văn của riêng mình.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà (Có dàn ý chi tiết) | 1,392 | |
Phân tích bài thơ Hữu Cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Hướng dẫn
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là một trong những vị danh nhân của dân tộc, từng đỗ trạng nguyên, có rất nhiều công trạng với vua với dân với nước, nhưng trước cuộc đời đen bạc ông đã khước từ mọi vinh hoa phú quý rút lui về sống một cuộc đời ẩn dật, giản dị tại quê nhà. Bất lực trước các sự hèn hạ của chế độ xã hội mục nát, ông đã lui về ở ẩn nhưng lòng ông vẫn nặng trĩu nỗi lo nước thương đời thương dân. Bài thơ Hữu cảm bộc lộ tâm trạng đó của nhà thơ.
Nguyễn Bỉnh Khiêm là học rộng hiểu nhiều, tâm hồn thanh cao, nhưng sống trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động loạn li, các tập đoàn phong kiến vì tranh giành quyền vị đã chém giết lẫn nhau, chiến tranh đã xảy ra liên miên. Mở đầu bài thơ, tác giả viết:
"Giặc giã tung hoành lấn đế kinh"
Thời điểm đó đang xảy ra chiến tranh giữa các nước làm cho vua chúa lo lắng vì quyền lợi ngôi báu bị đe dọa, uy hiếp; các bề tôi, những kẻ phục vụ vì vua chúa, quyền lợi của họ gắn liền với vua chúa nên họ cũng đều lo sợ. Trước tình cảnh ấy, nhà thơ tỏ thái độ thông cảm với nỗi lo của chúa, với nỗi nhục của tôi (chúa lo tôi nhục đáng thương tình xiết bao – lời dịch nghĩa).Xem thêm: Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tiễn dặn người yêu
Nếu xảy ra chiến tranh tai họa ghê gớm sẽ giáng xuống đầu những kẻ dân đen. Họ phải gánh chịu nhiều đau khổ nhất: tan cửa, nát nhà, mất chồng mất con vì chiến tranh. Trong các cuộc xâu xé vì quyền lợi của các tập đoàn phong kiến, họ biến thành những con vật hi sinh đáng thương. Vì vậy họ mong chờ những vị cứu tinh đến giải thoát cho họ ra khỏi cơn binh lửa chiến tranh, lòng khát khao cháy bỏng đó của dân chúng biết bao ngày tháng đã kết lại thành nỗi uất ức trong lòng:
"Mong mưa, dân chúng lòng dân vọng
Trừ bạo, tưng bừng đạo nghĩa binh"
(Chờ người đến cứu sống lòng mong đợi của dân chúng đến từ lâu. Thương dân đánh kẻ có tội, ai dấy quân như trận mưa gặp thời).
Thấu hiểu nỗi lòng mong mỏi của nhân dân, có những người tài giỏi đứng lên dẹp trừ gian ác,là kẻ thương dân đánh kẻ có tội? Chính lúc này nếu có ai đó vì thương dân đứng lên dấy quân để trừng trị kẻ bạo tặc dẹp yên cơn loạn lại thì bốn bể dân chúng sẽ quay về:
"Bốn bể vui theo người đạo đức"
Nếu có người đó xuất hiện, thi đó là vị cứu tinh của dân tộc, dân chúng sẽ reo vui mà mãi mãi nhớ ơn vị cứu tinh đã đem lại cho họ cảnh yên vui thái bình:Xem thêm: Phân tích đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
"Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình."
Sinh ra đúng thời loạn lạc, là người có tài và chí lớn, nhưng một mình ông không thể thay đổi được thế thời, yêu nước thương dân nhưng không thể cứu giúp được dân. Tuy đã từng làm quan đại thần dưới thời Trịnh Mạc… nhưng ông lại là con người thấu hiểu nỗi khổ đau của nhân dân, đồng cảm với họ, đứng về phía họ, bênh vực họ.
Cuộc chiến tranh không thể diễn ra liên miên, rồi cũng kết thúc có kẻ thắng, người bại, nhà thơ đã rút ra một kết luận: “ Xưa nay nhân giả là vô địch”. Một nhà nho nên rất coi trọng chữ nhân, vì thế ông khẳng định kẻ nào vì nhân ái biết thương dân kẻ ấy sẽ chiến thắng:
"Nhân giả là vô địch"
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Bỉnh Khiêm làm ta nhớ lại lời người anh hùng Nguyễn Trãi trong Bình ngô đại cáo đã khảng khái tuyên bố:
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo"
Ông đã đặt một câu hỏi, nhưng cũng là một câu trả lời cho những kẻ gây ra chiến tranh, gây ra sự hung tàn, chết chóc cho dân cho nước.
"Lo phải khư khư thích chiến tranh?"
Câu thơ ngắn gọn tưởng chừng chỉ như câu hỏi bình thường, nhưng là lời phê phán lên án những kẻ thích gây ra cảnh binh đao chỉ vì quyền lợi ích kỉ của cá nhân mình. Nhà thơ đứng trên lập trường nhân dân. Xuất phát từ lòng nhân đạo mà lên án chiến tranh. Phê phán chiến tranh phi nghĩa, một biểu hiện của tư tưởng tiến bộ. Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ rất sớm nếu không nói đầu tiên – bằng sáng tác của mình đã lên án chiến tranh bảo vệ quyền lợi của người dân.Xem thêm: 14 website văn mẫu chọn lọc dành cho học sinh
Bài Hữu cảm đã ra đời cách chúng ta rất xa, nhưng hôm nay đọc lại lòng ta vẫn xúc động về tấm lòng của nhà thơ đối với nhân dân được thể hiện qua từng câu thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm thật xứng đáng cây đại thu che rợp bóng văn học trong mấy thế kỉ, người đầu tiên giám đứng lên phê phán chiến tranh phi nghĩ, mở đầu cho hàng laotj những sáng tác về đề tài chiến tranh về sau.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Hữu Cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm. | 942 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú của nhà thơ Tố Hữu
Bài làm
Khi Con Tu Hú là một bài thơ ra đời trong thời điểm mà nhà thơ Tố Hữu đang bị giam tại nhà lao Thừa Thiên khi bị thực dân Pháp bắt vì tội làm cách mạng/ Bài thơ là nỗi niềm xốn xang, bức bối của người thanh niên cộng sản đang khao khát được tự do, được hết mình vì cách mạng nhưng lại phải chịu cảnh tù đày.
Chính tiếng chim tu hú kêu khiến cho Tố Hữu như trỗi dậy cảm xúc của mình:
“Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần”
Chim tu hú kêu báo hiệu mùa hè đã đến, đây cũng là thời điểm mà lúa chiêm chín chuẩn bị cho một mùa thu hoạch, màu mà những tia nắng khiến cho trái cây trở nên ngọt ngào, nhanh chín hơn. Đối diện với cảnh vật bừng nắng mới của ngày hè, cảnh vật rực rỡ ấy thì người thanh niên cộng sản lại phải ở trong không gian chật hẹp của lao tù, bị xiềng xích hạn chế sự tự do. Lắng nghe tiếng chim, lắng nghe âm thanh của cuộc sống khiến cho nhà thơ không cần trực tiếp chứng kiến cũng biết rằng “Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần”. Có thể thấy rằng chỉ một tiếng chim hót nhưng gợi nhớ cả mùa hè của quê hương.Xem thêm: Đọc truyện cười sau, từ đó phát biểu những suy nghĩ của anh (chị) về việc cho và nhận trong cuộc sống hàng ngày. Cứu người chết đuối...
Những ký ức như ùa về trong tâm trí của nhà thơ:
“Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt dầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”
Nhắc đến mùa hè thì không thể thiếu tiếng ve, tiếng ve ngân vang trong trí óc của những cô cậu học trò, suốt một quãng đời thơ ấu làm sao có thể quên được. Rồi ở vùng quê yên ả ấy ngoài màu vàng của nắng hạ còn có màu vàng của lúa, bắp, màu xanh của bầu trời. Một cảnh vật, một bức tranh quê hương mang nhiều màu sắc, lung linh, rực rỡ. Trên bầu trời trong xanh ấy có đôi con diều sáo vi vu, bay lượn. Chắc hẳn phải yêu, phải gắn bó với mùa hè xứ Huế thì tác giả mới có thể tái hiện được cảnh sắc tươi đẹp ấy.
Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú
Có thể nói, sáu câu thơ lục bát đầu của bài thơ đã mở ra một thế giới căng tràn nhựa sống. Gần như tất cả những đặc trưng của mùa hè được tác giả thu gọn vào mấy câu thơ trên. Gắn với hoàn cảnh của nhà thơ khi ông đang chịu sự giam cầm của thực dân Pháp có thể thấy được người tù đang có một khát khao tự do cháy bỏng, niềm yêu đời, tha thiết với quê hương. Khi Tố Hữu đang hồi tưởng về quá khứ tươi đẹp thì nhà thơ lại phải trở lại hiện thực phũ phàng:Xem thêm: Bình luận về gương, noi gương và nêu gương
“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!”
Tiếng chim tu hú, tiếng ve kêu, tiếng diều sáo khiến cho nhà thơ thấy rạo rực, nôn nao. Sự xao động trong tâm hồn của người nghệ sĩ như một cơn sóng lớn muốn phá tan rào cản, giật tung xiềng xích để trở về với cuộc sống tự do, phóng khoáng. Dường như cái sức nóng của mùa hè không phải từ bên ngoài mà là xuất phát từ nội tâm của người chiến sĩ. Kháo khát, sự bứt rứt khó chịu ấy tiếp tục được nhà thơ lột tả ở hai câu thơ cuối:
“Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”
Tâm trạng nhứ nhối, sự ngột ngạt khiến cho nhà thơ không thể kìm nén nỗi lòng của mình mà bộc bạch một cách trực tiếp. Cách ngắt nhịp chia câu thơ làm hai nửa bằng nhau kết hợp với những từ ngữ thể hiện tâm trạng khiến cho người đọc dễ dàng hình dung được tình cảnh mà nhà thơ đang chịu đựng. Giữa không gian, giữa lúc tâm trạng đang ngột ngạt thì tiếng chim tu hú ở bên ngoài cứ tiếp tục kêu khiến cho sự phẫn uất này dường như được đẩy lên cao độ. Hai câu thơ như chứa đựng sự khắc khoải, day dứt khôn nguôi đang chiếm cứ cả tinh thần và thể xác của nhà thơ, của người thanh niên cộng sản.Xem thêm: Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa
Bài thơ Khi Con Tu Hú được nhà thơ viết bằng thể thơ lục bát, một thể thơ dân tộc rất phù hợp với việc diễn tả tâm trạng của nhân vật. Với nhịp điệu thong thả, những từ ngữ và những hình ảnh gần gũi, thân thuộc khiến cho bài thơ trở nên chân thực, không xa rời thực tế. Cùng với đó chính là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật rất chân thực, tinh tế khiến cho người đọc cảm nhận sâu sắc được những tâm sự của nhân vật trữ tình. Đó là tâm trạng của một người chiến sĩ cách mạng khi chưa hoạt động được bao lâu thì đã lâm vào cảnh tù ngục và khao khát mãnh liệt được tự do, được cống hiến.
Bài thơ Khi Con Tu Hú của Tố Hữu là tiếng lòng của người chiến sĩ cộng sản. Một người còn rất trẻ tuổi, tuy chịu cảnh lao tù nhưng vẫn luôn tràn đầy sức sống và chan chứa tình yêu con người, yêu quê hương và yêu cuộc sống.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Khi Con Tu Hú của nhà thơ Tố Hữu hay nhất | 986 | |
Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng nổi tiếng của nước ta. Ông có nhiều sáng tác hay và bài thơ Khi con tu hú là một sáng tác đầy ấn tượng của ông. Bài thơ này tuy không dài nhưng nội dung của nó vẫn thể hiện được tinh thần khát khao tự do của nhà thơ khi ông đang phải ở trong hoàn cảnh ngục tù.
Để các em có thể làm một bài văn phân tích bài thơ Khi con tu hú được tốt nhất, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Khi con tu hú và cung cấp thêm bài văn mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Khi con tu hú
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu và bài thơ Khi con tu hú.
– Nhà thơ Tố Hữu quê ở Thừa Thiên – Huế. Từ thời học sinh ông đã tham gia cách mạng. Cả cuộc đời mình ông dành trọn cho cách mạng và sáng tác thi ca. Ông được xem như là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.
– Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Khi con tu hú là khi tác giả bị thực dân Pháp bắt và giam cầm ở nhà lao Thừa Phủ – Huế.
2. Thân bài phân tích bài thơ Khi con tu hú
a. Cảnh đất trời vào hè trong tâm tưởng người tù cách mạng
– Tiếng chim tu hú giống như một tiếng báo thức làm bừng tỉnh tâm hồn người chiến sĩ trẻ khiến cho anh cảm nhận được khung cảnh mùa hè rộn rã:
+ Trong vườn có tiếng ve râm ran.
+ Trên cánh đồng lúa chiêm đã chín vàng.
+ Cánh diều chao lượn trên bầu trời cao rộng.
+ Trong vườn trái cây đượm ngọt.
– Khung cảnh của mùa hè được hiện lên trong tâm tưởng của tác giả. Trong hoàn cảnh ngục tù mà có thể cảm nhận được sự sôi động của mùa hè chứng tỏ nhà thơ là người có tâm hồn trẻ trung, yêu đời.
b. Tâm trạng người tù cách mạng
– Cách ngắt nhịp bất thường, cách dùng từ ngữ mạnh, từ cảm thán làm lột tả sự ngột ngạt một cách cao độ. Thể hiện khát khao cháy bỏng được thoát ra khỏi chốn ngục từ của tác giả để tìm về với tự do.Xem thêm: Em hãy miêu tả con mèo nhà em nuôi3. Kết luận
– Khái quát lại nội dung bài thơ và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Khi con tu hú
Nhà thơ Tố Hữu sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Thừa Thiên – Huế. Ông được biết đến là nhà thơ của lý tưởng cộng sản. Những bài thơ mà ông viết ngập tràn hình ảnh lãng mạn cách mạng. Nội dung thơ được tác giả gửi gắm nhiều cảm xúc, tâm tư của bản thân mình vào trong đó. Viết cho độc giả nhưng cũng là viết cho chính mình. Trong thời gian tham gia hoạt động cách mạng, nhà thơ đã từng bị giam cầm trong nhà ngục Thừa Phủ – Huế. Trong thời gian này, ông đã viết bài thơ Khi con tu hú để thể hiện khát vọng tự do, hướng tới tự do.
Nhan đề của bài thơ là Khi con tu hú giống như một cụm từ chỉ mốc thời gian. Nó chính là thời điểm mà mọi khao khát trong tâm trí nhà thơ bùng lên. Đó là thời điểm mùa hè đầy sôi động đang đến. Với những người trẻ tuổi như Tố Hữu lúc bấy giờ, mùa hè sôi động luôn khiến con người khao khát được hoạt động, được hòa mình vào cuộc sống, được cảm nhận hương lúa chiêm chín thơm trên cánh đồng. Thế nhưng lúc này, nhà thơ đang ở trong hoàn cảnh tù đầy và mọi hình ảnh ông viết ra trong bài thơ này đều là bằng tưởng tượng hoặc là bằng nỗi nhớ của những mùa hè khi nhà thơ đang được tự do.
Phân tích bài thơ Khi con tu hú
Tác giả đã bắt đầu bài thơ của mình bằng một tiếng chim tu hú. Có thể lý giải việc tiếng chim tu hú tác động mạnh lên tâm trí của nhà thơ là bởi tiếng chim tu hú là tiếng kêu báo hiệu cho những ngày hè rực rỡ đang đến gần. Hình ảnh cánh chim bay lượn trên bầu trời lại là biểu tượng cho sự tự do. Nó tác động mạnh lên tâm tưởng của nhà thơ và ông đã viết:Xem thêm: Nghị luận xã hội về thực trạng internetKhi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Ở đây, nhà thơ không miêu tả sự đơn độc của tiếng chim mà miêu tả một tiếng chim đang gọi bầy. Đó là tiếng chim báo tin vui thể hiện một sự gắn bó, khăng khít. Chúng đang gọi nhau bởi vì trên cánh đồng lúa chiêm đang chín còn trái cây thì đang ngọt dần. Chưa dừng lại ở đó, tiếng chim còn gợi lên trong lòng tác giả cả một thế giới ngập tràn hình ảnh, màu sắc, âm thanh đầy tươi đẹp:
Vườn ươm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không
Đây là những hình ảnh, âm thanh, màu sắc của cuộc sống thường ngày. Đó là một khu vườn mùa hè với tiếng ve ngân râm ran như đáng hát khúc ca mùa hạ. Đó là khoảng sân vàng ươm màu của những hạt ngô. Đó là một bầu trời cao và rộng nơi đôi diều sáo đang lộn nhào. Không gian ấy thật vui tươi và sinh động. Tất cả những hình ảnh mà nhà thơ Tố Hữu đưa ra đều thể hiện một mùa màng bội thu, một cuộc sống no ấm và đủ đầy. Sự sống ngoài kia đang vận động và không ngừng được sinh sôi, nảy nở. Không chỉ có vậy, chúng được tác giả tô đậm và đẩy lên mức cao nhất có thể. Chẳng hạn như hạt bắp vàng được viết là bắp rây vàng hạt, ánh nắng thì là nắng đào, trời xanh thì càng rộng càng cao. Có thể thấy màu sắc trong thơ vô cùng lộng lẫy. Tiếng ve không chỉ ngân vang mà nó còn dậy lên rất nhiều điều. Và để hòa nhập vào không gian ấy, đôi con diều sáo cũng phải thể hiện sự náo nức của mình bằng cách lộn nhào tầng không.
Lý giải cho việc miêu tả của tác giả, chúng ta có thể thấy hoàn cảnh của ông lúc này là đang trong cảnh tù đầy. Nhà thơ bị giam cầm trong 4 bức tường lao nên tất thảy những gì ông miêu tả kia đều là bằng trí tưởng tượng, bằng trí nhớ và bằng tình yêu dành cho quê hương, đất nước. Chính từ những điều đó, nhà thơ mới tô đậm cuộc sống lên một chút bởi với ông lúc này, mọi hình ảnh, âm thanh, màu sắc của cuộc sống đều vô cùng quý giá. Những thứ trước đây vốn bình dị thì nay càng trở nên sâu sắc hơn.Xem thêm: Vào vai Giôn-xi kể lại câu chuyện Chiếc lá cuối cùng của O. Hen-riCảnh vật trong trí tưởng tượng của tác giả càng tươi đẹp bao nhiêu thì nó lại càng làm cho thực tại trở nên cay nghiệt bấy nhiêu. Những câu thơ cuối của bài thơ đã thể hiện rõ cái ngột ngạt, bí bách mà nhà thơ đang phải trải qua:
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi
Ngột làm sao, chết uất thôi
Khi con tu hú ngoài trời cứ kêu
Nếu như đoạn thơ trên tác giả miêu tả khung cảnh bên ngoài nhà giam thì đến đoạn thơ này nhà thơ đã miêu tả tâm trạng của mình. Thoạt tiên ta tưởng như có sự mâu thuẫn ở đây nhưng kì thực giữa hai đoạn thơ có một sự liên kết vô cùng khéo léo. Ở đây, mối dây liên kết chính là tiếng chim tu hú. Tiếng chim không chỉ gợi lên khung cảnh bên ngoài nhà giam, tiếng chim còn gợi lên trong lòng tác giả niềm khao khát được tự do. Nó khiến cho nhà thơ cảm thấy ngột ngạt, chết uất.
Ở cuối bài thơ, tiếng chim tu hú trở thành tiếng gọi của tự do và chính bởi vậy nó càng khiến cho nhà thơ bực bội, đau khổ vì không thể thoát khỏi cảnh tù đầy.
Bài thơ được viết theo thể thơ dân tộc cùng với những hình ảnh quen thuộc của làng quê nên tạo cảm giác gần gũi và yên bình. Qua đây, ta cũng hiểu và cảm nhận được sâu sắc lý tưởng cách mạng của người chiến sĩ muốn thoát ra khỏi cảnh tù đầy để hòa mình vào cuộc sống, tiếp tục chiến đấu để mang đến sự bình yên, giữ vững sự bình yên cho quê hương.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích bài thơ Khi con thu hú của Tố Hữu. Bài viết này hy vọng sẽ giúp các em có thêm một tài liệu tham khảo bổ ích để vận dụng vào việc học của mình được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) | 1,624 | |
Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu
Hướng dẫn
Bài thơ "Khi con tu hú” được sáng tác vào tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trên bước đường hoạt động cách mạng đang bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ (Huế). Bài thơ phản ánh tâm trạng ngột ngạt của một người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi, yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh, Tâm trạng ấy càng trở nên bức xúc khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến bầu trời tự do ở bên ngoài. Đặc biệt giữa không gian tự do ấy bỗng vang lên tiếng chim tu hú gọi bầy. Với âm thanh da diết đó, nỗi ngột ngạt, u uất càng dồn nén và biến thành niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm hãm nổi:
“Ta nghe /lè dậy bèn lòng
Mà chân muốn đập tan phòng, hè ôi!”.
Mở đầu bài thơ, với tựa đề “Khi con tu hú”, tác giả muốn khẳng định đây là một thứ âm thanh mở ra mạch cảm xúc toàn bài thơ. Tác động của âm thanh này đặt vào tâm cảnh của bài thơ càng trở nên tha thiết và thôi thúc hướng đến tự do.
Ta biết rằng người thanh niên cộng sản TốHữu bị tù đày, tra tấn nhưng không nản chí sờn lòng. Nhà thơ đã xác định:
“Đời cáchmạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ, súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn có một nửa”.
(Trăng trối)
Trở lại câu thơ mở đầu của bài thơ: “Khi con tu hú gọi bầy”. Đó là cái thời điểm thiết thân và thiếu thốn khi nghe con chim tu hú gọi bầy, tiếng gọi trở về với bạn bè, đồng đội dữ dội. Tiếng chim gọi bầy càng tăng thêmnỗicô đơn của nhà thơ giữa bốn bức tường lạnh lẽo. TốHữu đã bị bắt giam giữa lúc nhiệt tình cách mạng của tuổi xuân đang sục sôi. Muốn đem tất cả nhiệt huyết để cống hiến cho cách mạng.
Tiếng chim tu hú gọi bầy đã thức dậy một nỗi nhớ sâu xa trong TốHữu. Trong thế giới tối tăm của ngục tù, nhà thơ đã huy động nhiều giác quan để hình dung, tưởng tượng đồng quê thân thuộc ngoài kia:
“Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần
Vườn râm dậy tiếng ve ngân
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào”.
Xem thêm: Anh (chị) hãy viết một đoạn văn phân tích những câu trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” thể hiện đầy đủ, sâu sắc triết lí nhân sinh về quan niệm sống của ông cha ta thời kì đầu kháng chiến chống Pháp...
Một bức tranh được “vẽ” trong tâm tưởng bằng nỗi nhớ da diết. Nhịp sống của đồng quê thật rộn rã và tràn đầy sức sống: “Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dẩn”. Sự vật đang vận động tiến dần đến sự hoàn thiện, hoàn mĩ (đương chín, ngọt dần). Tất cả đã báo hiệu một mùa hè với những cảnh vật, âm thanh,màu sắc, ánh nắng quen thuộc. Phải là một con người tha thiết yêu cuộc sống, gắn bó máu thịt với quê hương mới có nỗi nhức nhối khôn nguôi đến thế.
Trí tưởng tượng của nhà thơ được chắp cánh đến với bầu trời khoáng đạt:
“Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”.
Cũng là bầu trời xanh thân thiết của tuổi thơ với “đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Giữa khoảng trời bao la, cao, rộng, vài con diều sáo nhào lộn như nét chấm nhỏ nhoi giữa cái mênh mông của đất trời. Hình ảnh con diều sáo lộn nhào giữa từng không cũng là niềm khát vọng được tự do của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm.
Niềm khát khao đó bị dồn nén lúc này đây đã bùng lên mãnh liệt:
“Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Ngột làm sao, chết uất thôi
Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”.
Nhịp sông trào dâng, mời gọi, thôi thúc tràn ngập vào tận ngõ ngách tăm tối của chốn ngục tù, len lỏi vào tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi biến thành nỗi khát khao hành động “muốn đạp tan phòng" của cái nhà tù tăm tối.
Bài thơ có 10 câu, câu mở đầu và câu kết thúc là tiếng kêu của con tu hú. Âm hưởng tiếng kêu xuyên suốttoàn bài, tiếng kêu liên hồi, khắc khoải và da diết. Tiếng kêu vang vào thế giới chật chội, tối tăm của nhà lao và tâm trạng nhà thơ trở nên bức bối, ngột ngạt đến nỗi phải kêu kên:
“Ngột làm sao, chết uất thôi”.
Bài thơ khép lại nhưng ta vẫn nghe tiếng tu hú “cứ kêu”, kêu hoài, kêumãi…
Bài thơ cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ gang thép đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng, và một niềm khát khao tự do cháy bỏng.
Nguồn: thêm: Tả thầy giáo trong một giờ học đáng nhớ | Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu | 884 | |
Phân tích bài thơ Khuê oán cuả Vương Xương Linh.
Hướng dẫn
Khuê oán
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thuỷ lâu.
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu.
Vương Xương Linh
(? – 756)
Nỗi oán cuả người phòng khuê
Trẻ trung nàng biết chi sầu,
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngẩm gương.
Nhác trông vẻ liễu bên đường,
"Phong hầu ” nghĩ dại, xui chàng kiếm chi.
Tả Đà dịch
Bài làm
Vương Xương Linh là một trong những nhà thơ kiệt xuất thời Thịnh Đường. Thi phẩm của ông đểlại hiện còn 186 bài,phần lớn là thơ thất ngôn tuyệt cú. Bài “Khuê oán ” là một kiệt tác, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Vương Xương Linh: thâm trầm, trangnhã,tinh tế.
Khuê oán
"Khuê tru nụ thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thuỷ lâu.
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu”.
Bài thơ thể hiện tâm trạng người thiếu phụ nơi phòng khuê trong những năm tháng mà người chồng thân yêu đang xông pha, đang gối đất nằm sương trên miền chiến địa.
Người thiếu phụ được nói đến trong "Khuê oán ” không phải thuộc lớp bình dân, mà là một mệnh phụ phu nhân sống trong chốn lầu son gác tía, trong những lầu đẹp (thuý lâu). Đó là điều cần biết đểcảm hiểu bài thơ "Khuê oán Hai câu thơ đầu nói lên cuộc sống nhàn nhã, đài các của thiếu phụ thời son trẻ, khi sống hạnh phúc đoàn tụ với người chồng yêu thương. Khi ấy, nàng chưa hề biết đến nỗi buồn (bất tri sầu). Phòng khuê là tổ ấm hạnh phúc. Suốt một thời son trẻ, mỗi lần trang điểm xong, nàng bước lên lầu đẹp (để dạo bước, để ngắm hoa, nhìn cảnh, nhìn trời…):
"Khuê trụng thiếu phụ bất tri sầu,
Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu
(Trẻ trung nàng biết chi sầu,
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương).
Trong câu thơ dịch, hai chữ “ngắm gương” là Tản Đà suy luận ra, chứ trong nguyên tác không hề có. Hai chữ “Xuân nhật" nghĩa đen là ngày xuân; trong văn cảnh còn mang hàm nghĩa chỉ thời trẻ trung, đầy xuân sắc, xuân tình, đó là những ngày êm đẹp, hạnh phúc nhất của nàng. Nhưng những ngày ấy đã trôi qua lâu rồi, nay chỉ còn là kỉ niệm đẹp.
Hai câu thơ đầu vừa tả tâm hồn vô tư, yêu đời (chẳng biết sầu là gì) vừa tả cử chỉ động tác (soi gương, nhẹ bước lên lầu) đúng là nhà thơ tả ít mà gợi nhiều. Hai chữ “xuân nhật” là thời gian nghệ thuật, ba chữ “bất tri sầu” là tâm trạng nghệ thuật đồng hiện, gợi tả sự trẻ trung, yêu kiều, đài các, nhàn nhã, quý phái, phong lưu…
Xem thêm: Kể tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật TấmNàng đã sống trong giàu sang phú quý, trong êm ấm hạnh phúc gia đình thời son trẻ. Nhưng ấn phong hầu cho chồng là niềm khao khát và mơ ước của nàng. Người chồng cũng vậy, “chí làm trai dặm nghìn da ngựa"… Có thể nói, giấc mộng phong hầu ấy rất đẹp và chính đáng. Nàng khuê phụ và chồng nàng được nói đến trong bài thơ là những con người thuộc tầng lớp trên thời Thịnh Đường cách chúng ta hơn 13 thế kỉ. Họ gắn bó với nhà vua theo lí tưởng trung quân.
Hai câu 3, 4, các chữ “hốt kiến ” và “hối giao ” là nhãn tự của bài thơ:
"Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,
Hối giao phu tế mịch phong hầu
(Nhác trông vẻ liễu bên đường,
"Phong hầu ” nghĩ dại, xui chàngkiếm chi).
“Dương liễu sắc ” là sắc màu dương liễu, là hình ảnh hiện tại. Sau những năm dài sống cô đơn, nàng khuê phụ lên lầu cao chọt nhìn thấy. Như có sự giật mình trước sự đổi thay của sắc màu dương liễu. “Xuân nhật” là quá khứ, “dương liễu sắc ” là hiện tại. Và đó là mùa thu, sắc thu. Hình ảnh ấy mang hàm nghĩa: tuổi xuân đẹp đã trôi qua, nhan sắc xinh tươi đã dần phai sau năm tháng đợi chờ và cô đơn. “Dương liễu sắc ” là một ẩn dụ, một hình ảnh ước lệ, lấy cảnh để tả tình.
Khuê phụ chợt nhìn thấy sắc màu dương liễu mà hối hận (hối giao) vì mình đã đểchồng đi tòng chinh mong kiếm ấn phong hầu. Hối hận vì phải trả giá cho giấc mộng công hầu. Người chồng có thể giãi thây trên chiến địa. Người chồng cũng có thể trở thành “ChàngSiêu tốc đã điểm sương mới về” (Chinh phụ ngâm). Thực tế phũ phàng: cô đơn, sầu muộn, tuổi xuân mỏi mòn, mong chờ rồi tuyệt vọng. Khuê phụ thở dài, than khóc, hối hận. Nàng tự trách mình, nàng oán trách duyên phận mình. Đó là “khuê oán”.
Ởđây, thời gian nghệ thuật và tâm trạng nghệ thuật một lần nữa lại đồng hiện. “Hốt kiến ”, “hối giao ” là tâm trạng khuê phụ, là nỗi đau, nỗi buồn của người vợ trẻ có chồng đi lính ngày xưa: hối hận, u sầu, đau khổ, nàng chỉ còn biết tự trách mình.
Có người cho rằng “Khuê oán ” tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa của con người thời Đường. Chúng tôi không nghĩ như thế. “Khuê oán ” chỉ là tiếng thở dài, giọt nước mắt, sự hối hận của người khuê phụ về mộng công hầu mà nàng phải nếm trải với bao cay đắng cô đơn. Cách viết của Vương Xương Linh nhẹ nhàng và thấm thìa. Cái ấn phong hầu thời nào cũng có giá: máu và nước mắt.
Qua bài “Khuê oán ”, ta thấy phong cách nghệ thuật của Vương Xương Linh chứa chan tình đời và tình người. Càng đọc càng suy nghĩ mới thấy hay, thấy rung động.
Nguồn: thêm: Hoàn cảnh ra đời Bình ngô đại cáo và giá trị của tác phẩm | Phân tích bài thơ Khuê oán cuả Vương Xương Linh. | 1,015 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm.
Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, có nhiều bài viết về chủ đề quê hương, đất nước. Lòng yêu nước thể hiện ở mỗi bài mỗi khác, tùy theo cảm hứng của tác giả, song mỗi bài là một nốt nhạc trong bản giao hưởng ngợi ca Tổ quốc và nhân dân anh hùng.
Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ chiến sĩ trưởng thành trong chiến khu tây Thừa Thiên gian khổ và ác liệt thời chống Mĩ. Trong những ngày mưa bom bão đạn ấy, bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ đã ra đời.
Bài thơ kể về người mẹ dân tộc Tà-ôi vừa địu con trôn lưng vừa giã gạo để nuôi bộ đội; tỉa bắp trên nương góp phần sản xuất lương thực cho kháng chiến và mơ ước sau này sẽ được thấy Bác Hồ, ước mong con mình khôn lớn được sống trong đất nước tự do. Qua đó, tác giả ca ngợi tình yêu con thiết tha, đằm thắm và tình yêu nước sâu nặng của bà mẹ Tà-ôi.
Bài thơ có 3 khúc ru, mỗi khúc đều mở đầu bằng câu:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Kết thúc là lời ru của mẹ được lặp lại ở mỗi đoạn:
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi.
Mẹ thương a-kay, mẹ thương…
Con mơ cho mẹ…
Mai sau con lớn…
Trong mỗi khúc hát ru đều có hình ảnh người mẹ với công việc vất vả cùng tình cảm, ước vọng đối với đứa con và quê hương đất nước.
Mở đầu bài thơ là tiếng ru thân thương, vỗ về của nhà thơ, đưa em bé vào giấc ngủ say nồng:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Trong lời ru đứa con chứa chan niềm thương mến sâu xa đối với người mẹ. Hai câu thơ sau miêu tả người mẹ trong công việc giã gạo nuôi quân:
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ dội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Nếu câu thơ trên tả thực thì câu thơ dưới thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng giữa mẹ và con. Tác giả vừa miêu tá công việc giã gạo nặng nhọc của người mẹ, vừa miêu tả giấc ngủ chập chờn, giấc ngủ nghiêng của cu Tai trên lưng mẹ. Dường như chú bé cũng thấy được nỗi vất vả và ý nghĩa đẹp đó trong việc làm của mẹ nên hơi thở em hoà cùng hơi thở mẹ và em cố ngủ ngoan cho mẹ yên lòng.
Nếu ai đà từng chứng kiến cảnh giã gạo bằng chày trong cối gỗ của đồng bào miền núi thì mới thấy hết sự vất vả khi biến hạt thóc thành hạt gạo trắng ngần. Nhà thơ đã chọn lựa những động tác tiêu biểu để miêu tả công việc giã gạo nặng nhọc và thế hiện tình mẹ con chân chất, sâu nặng của người mẹ miền núi. Cảnh tượng mộc mạc ấy đâ làm xúc động lòng người:
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Khi mẹ giã gạo, cu Tai vần ngủ trên lưng. Trong giấc ngủ, em vẫn cảm nhận được mồ hôi của mẹ rơi trên má em nóng hổi, cảm nhận được sự vất vả và tình yêu con thiết tha của mẹ.
Tác giả đã sử dụng thành công nghệ thuật so sánh: đôi vai mẹ gầy làm gối cho con, lưng mẹ đung đưa làm nôi ru con ngủ và nhịp tim của mẹ hát thành lời yêu thương tha thiết. Trong giấc ngủ, lúc nào Cu Tai cũng được ấp ủ tròng hơi thở và tình thương của mẹ, được nghe mẹ hát ru. Khổ thơ đã thể hiện được tình mẫu tử thắm thiết, thiêng liêng cùng công việc vất vả của người mẹ giã gạo để nuôi con, nuôi bộ đội Giải phóng.
Nếu khổ thơ đầu là lời ru của nhà thơ thì khổ thơ thứ hai là tiếng nói tâm tình của người mẹ:
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội
Câu thơ như lời ru êm ái chất chứa yêu thương. Tình cảm mẹ con vốn đã đẹp nay càng đẹp hơn bởi nó gắn liền với tình cảm lớn lao là tình thương bộ đội, tình yêu nước. Mẹ mong trong giấc ngủ, Cu Tai sẽ mơ giấc mơ của mẹ là có nhiều gạo thật ngon để nuôi bộ đội và Cu Tai sẽ lớn lẽn thật nhanh để giúp mẹ giã gạo nuôi quân:
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần
Mai sau con lớn vung chày lún sân…
Từ ước mơ có hạt gạo trắng ngần đến ước mơ mai sau con lớn vung chày lún sân đều chứa đựng niềm hi vọng cháy bỏng của người mẹ về đứa con sau này sẽ trở thành một thanh niên cường tráng, có ích cho nước, cho dân.
Hình ảnh người mẹ trong cảnh tỉa bắp trên nương thật đẹp và cảm động:
Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về nhan đề bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh HảiEm cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-Lưi
Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ
Vẫn là lời vỗ về của trái tim chan chứa thương yêu của nhà thơ, mong em bé ngủ ngon để mẹ yên tâm làm việc, nhưng ở khổ thơ này, cảm xúc da diết hơn thể hiện qua hình ảnh tương phản độc đáo: Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ. Núi thì lớn, nương bắp thì rộng mà sức mẹ có hạn. Mẹ cắm cúi, lom khom tỉa bắp, trên lưng mẹ con vẫn ngủ say. Câu thơ đã khắc sâu nổi vất vả khó nhọc của người mẹ vùng cao trong lao động sản xuất thời chông Mĩ.
Đối với những bà mẹ sớm hôm tần tảo nuôi con, dường như họ không biết mệt mỏi bởi đứa con là niềm hi vọng, là nguồn an ủi, động viên, tiếp thêm sức mạnh và nghị lực cho mẹ:
Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
Câu thơ lấp lánh nét đẹp cuộc đời và tình mẹ con. Biện pháp ẩn dụ trong những câu thơ này có nhiều ý nghĩa. Bắp trên nương tươi tốt nhờ ánh nắng mặt trời. Cu Tai cũng giống như mặt trời tỏa nắng sưởi ấm trái tim mẹ để mẹ sống tốt hơn, đẹp hơn cho đời. Em là mặt trời bé bỏng, thân yêu của mẹ.
Lời ru ở khúc ru này vẫn là tiếng nói tâm tình của người mẹ nhưng đã chứa đựng ước mơ lớn hơn:
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói
Con mơ cho mẹ hát bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi…
Càng thương con, người mẹ lại càng thương bà con dân bản. Mẹ ước mơ về một ngày mai no ấm hạnh phúc, về sự trưởng thành và sức mạnh kì diệu của đứa con thân yêu.
Nêu ở hai đoạn thờ trước, tác giả miêu tả cảnh mẹ địu con trên lưng giã gạo nuôi bộ đội, địu con lên nương tỉa bắp thì ở đoạn thơ này là cảnh mẹ địu coh cùng đi đánh giặc:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông
Mẹ địu em đi để giành trận cuối
Sự lặp lại hai câu thơ Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi, Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ đã tạo nên âm điệu ngân nga, thấm dần vào người đọc một cảm xúc thân thương. Con cùng mẹ băng suối, vượt ngàn, đạp rừng xông tới. Cả nhà, cả làng, cả nước cùng đánh giặc.
Nhịp thơ sôi nổi, thôi thúc như một hành khúc lên đường. Câu kết vẽ lên hình ảnh thật xúc động:
Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn.
Lời thơ khẳng định ý chí chiến đấu mãnh liệt của bà mẹ Tà-ôi nói riêng và đồng bào miền tây Thừa Thiên Huế nói chung. Lúc này, mẹ và em cùng lên đường vào Trường Sơn đánh giặc, nơi có biêt bao khó khăn vất vả, nơi cái chết và sự sống chỉ cách nhau gang tấc.
Kết thúc bài thơ vẫn là lời hát ru và ước nguyện của mẹ:
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ
Mai sau con lớn làm người Tự do…
Điệp khúc: Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi, Mẹ thương a-kay…, Con mơ cho mẹ…, Mai sau con lớn… đã thể hiện khát vọng cháy bỏng trong lòng người mẹ. Mẹ mong ước cho con những điều thật thiết thực và cũng thật lớn lao, kì diệu:
Mai sau con lớn vung chày lún sân…,
Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi
Mai sau con lớn làm người Tự do…
Khi giã gạo, mẹ mong con mơ cho mẹ hại gạo trắng ngần. Khi tỉa bắp trên nương, mẹ mong con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều. Khi chiến đấu, mẹ mong con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ trong ngày đất nước sạch bóng quận thù, Bắc-Nam thông nhất. Chính tình thương, đức hi sinh, lòng vị tha và nhân hậu cao cả của những người mẹ nghèo yêu nước ấy đã góp phần làm nên chiến thắng hôm nay.
Bài thơ ra đời năm 1971, trong giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến đấu chông Mĩ cứu nước nhưng đến nay nó vẫn còn giừ nguyên giá trị. Khúc hát ru đã được phổ nhạc, trở thành bài ca được nhiều người ưa thích. Tình yêu thương con của bà mẹ nghèo miền núi gắn liền với tình thương bộ đội, tình yêu làng bản, lòng kính yêu Bác Hồ và tình yêu đất nước.
Khúc hát ru những em bé lởn trên lưng mẹ được đánh giá là một trong những bài thơ hay của thơ ca giai đoạn chống Mĩ cứu nước. Giờ đây, đọc lại bài thơ, người ta vẫn rưng rưng xúc động bởi tình cảm mộc mạc, chân thành cao đẹp của những người mẹ trong cuộc kháng- chiến chống Mĩ gian khổ và oanh liệt của dân tộc ta. Tự hào thay, người mẹ Việt Nam!
Sau cuộc chiến tranh chống MI cứu nước, Tổ quốc ta, nhân dân ta đã xây dựng biết bao tượng đài để ghi nhớ công ơn và ngợi ca những người mẹ Việt Nam anh hùng, Với Khúc hát ru những em bé lớn trẽn lưng mẹ, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đã xây dựng thành công một tượng đài bằng ngôn ngữ về những người mẹ miền núi vô danh.
Xem thêm: Soạn và viết nội dung báo cáo về phong trào đội | Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm | 1,882 | |
Đề bài: Có thể xem bài thơ Lai Tân là bức tranh thu nhỏ của cái chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch được không? Phân tích bài thơ (chú ý nêu lên sự kết hợp tài tình giữa bút pháp tả thực và bút pháp trào phúng của Bác để tăng thêm sức mạnh châm biếm, tố cáo hiện thực chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch).
"Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh được kết hợp từ hai yếu tô’"trữ tình" và "hiện thực”,"Lai Tân" là một trong những bài thơ thể hiện rõ những yếu tố đó. Nó là.một thành công của Bác trong việc kết hợp bút pháp tả thực và trào phúng vẽ nên bức tranh thời sự về chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch.
Với tư cách là người thư ký trung thành của thời đại, Bác đã ghi lại một cách khách quan những cảnh:
"Giam phòng ban trưởng thiền thiên đổ
Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự"
Khác với Tú Xương trong hoàn cảnh tự do nên có ‘thể thẳng tay độp vào mặt bọn thông trị những cái tát giáng trời:
"Ớ phố Hàng Song thật lắm -quan
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang
Chồng chung vợ chạ kìa cô Bố
Dậu lạy quan xin nọ chú Hàn"
(Lắm quan)
Hồ Chí Minh chỉ có thể mỉa mai, châm.biếm sâu cay bọn thông trị bằng ngòi bút trong hoàn cảnh tù đày, gông xiềng. Từ cái mặt bên ngoài đến tận cùng những ngộc ngách bôn trong của bộ máy thông trị Trung Hoa quốc dân đảng đã chứa đầy những mâu thuẫn. Tác giả "Lai Tân" đưa ra ba gương mặt điển hình của bộ máy chính quyền Tưởng Giới Thạch đó là: "Ban trưởng","cảnh trưởng", "huyện trưởng cái chức "trưởng’ của họ khá oai vệ, đầy uy lực, nhưng việc làm của họ đầy khuất tất, bất chính. Khuôn khổ bài thơ rất ngắn gọn nhưng lại được đặt liên tiếp ba chừ "trường" trong ba cồu thơ đầu là sự "cớ tình" dùng phép lặp của Bác trong vỉệc dựng lên những chân dung tiêu biểu của giai cấp thống trị. Ba câu thơ – mồi câu là một bức tranh sống động mang tính
thời sự nóng hổi, chân thật đến từng cõi tiết được vẽ bằng nét bút bình thản, lạnh lùng Bức thứ nhất bày ra trước mắt mọi người là hình ảnh một "ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc". Bức thứ hai là hình ảnh "cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhãn bị giải".
Cả ban trưởng và cảnh trưởng đều là những công cụ thi hành pháp luật rất đắc lực của cái xã hội đầy rẫy những bỉ lậu, xấu xa. Chúng khoác trên mình chiếc áo "công lý’ để làm những việc "bất công ly’ một cách thường xuyên hết ngày này đến ngày khác. Chức "trưởng" của chúng đã to, sự phạm pháp của chúng còn lớn hơn ngàn vạn lần. Tiếng cười trào lộng bật lên từ nghịch cảnh đó. Thoạt tiên, mới nhắc đến "ban trưởng", "cảnh trưởng" thiết tưởng đó là những người cầm cân nẩy mực chắc hẳn phải công minh, trong sạch nhưng ta thực sự bất ngờ khi biết chúng chẳng qua là những con mọt dân, gây rối, bắt bớ dân để mà tham nhũng, cờ bạc. Chúng mượn cái danh để tự đặt ra cho mình cái quyền thích làm gì thì làm. Đất Lai Tân có ban trưởng, cảnh trưởng tưởng chừng cuộc sông hình yên nhưng trớ trêu thay trật tự an ninh không được đảm bảo, những vi phạm pháp luật vẫn diễn ra đầy rẫy mà những kẻ đứng đầu bộ máy thống trị ở Lai Tân cũng chính là những kẻ cầm đầu những chuyện phạm pháp đó. Nực cười thay, nhà tù là nơi giam giữ những kẻ phạm tội vậy mà lại chính là nơi để tội phạm cổ thể thịnh hành rộng rãi nhất, tiêu biểu hơn cả, nhiều hơn cả vẫn là tội phạm cờ bạc mà chính giai cấp thống trị nhà lao cũng là những "đỗ phạm’. Cái nghịch cảnh "đánh bạc ở ngoài quan bắt tội, trong tù được đánh bạc công khai" là hiện thực thôi nát của nhà tù Tưởng Giới Thạch không thể phủ nhận được.
Cấp dưới sông và hành động bê tha, tàn ác như thế, vậy mà cấp trên – huyện trưởng – vẫn đêm đêm "chong đèn lo công việc". Mức độ mỉa mai, châm biếm của tác giả tăng dần. Kích thước của những bức tranh về sau to hơn, rộng hơn bức trước. Từ chân dung một ban trưởng trông coi một phạm vi nhà tù nhỏ hẹp tới một cảnh trưởng cai quản một địa phận lớn hơn đến một huyện trưởng cai trị một vùng rộng lớn và bao quát cả quyền của ban trưởng cảnh trưởng. Bức tranh thứ ba mở ra hình ảnh "Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự’ vẻ ngoài tưởng mẫu cách, sát sao với "công việc" nhưng thực ra lại là một kẻ quan liêu, vô trách nhiệm, không biết tay chân, cấp dưới làm những gì, phạm pháp những gì. Câu thơ phạm luật "nhị tứ lục phân minh" ở một chữ "công". Bao mỉa mai, đả kích sâu cay dồn nén vào một chữ "công" đó. Huyện trưởng "lo công việc" hay là mượn "việc công" để tạo một tấm bình phong che cho mình "io việc riềng", "chong đèn’ hút thuốc phiện? Tác giả đặt chữ "đăng" chính giữa câu thơ không nhằm mục đích tỏa sáng chận dung huyện trưởng mà nhằm đối lập, phản chiếu cái tối tăm của bộ máy thông trị Lai Tân (nói riêng), hệ thống chỉnh quyền Tưởng Giới Thạch (nói chung).
Giữa thực trạng ấy, thử hỏi bình yên ở đâu? Câu trả lời là: Bình yên vẫn ở chốn Lai Tân này!
Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của hình tượng "li khách" trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm"Trời đất Lai Tân vẫn thái bình"
Câu trả lời bất ngờ đến mức khiến người đọc ngã ngửa người. Thì ra là thế! Lời bình giá đã đi ngược lại với tất cả những mục ruỗng, thối nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch được phơi bày ở trên. Từ lời bình giá đó đã vút lên một lời đã kích mạnh mẽ. Tác giả "Lai Tân" đã kết luận đầy châm biếm, mỉa mai sắc sảo và rất hùng hồn về cái xã hội ấy. Thủ pháp nói ngược của Bác đã làm bật ra tiếng cười trào phúng. ‘Trờiđất Lai Tân vẫn thái binh". Đúng vậy! Nhưng chỉ một chữ "vẫn" cũng đủ "điếng người’. Một cái bĩu môi dài, một cái cười khẩy, một giọng mĩa kéo dài bắc đầu từ chữ "vẫn" ấy. Nghệ thuật nâng cao – quật mạnh, nâng cao 1 quật càng được Bác sử dụng rất công hiệu ở câu thơ cuối bài này đã lay tỉnh người đọc nhìn sâu vào xã hộ ấy mà xem xét, đánh giá đúng thực chất của nó. Như con đà điểu thấy nguy hiểm là húc đầu vào sâu trong cát, giai cấp thống trị ở Lại Tân thấy trời đất thái bình là tưởng thây yên ổn chúng bằng lòng với cách thái bình đó mà không ngờ rằng dó chi là cảnh thái bình giả dối, trong đó chất chứa rất nhiều sóng gió, hiểm nguy. Điều ấy cũng thể hiện sự ngu dốt, vô trách nhiệm hết sức của bọn chúng. Ba bức tranh – ba chân dung của ba kẻ đại diện cho giai cấp thông trị chế độ Tưởng Gịới Thạch ghép lại với nhau thành một bức tranh lớn – một chân dung lớn đầy đủ, trọn vẹn về xã hội Trung Hoa quốc dân đảng. Với "nghệ thuật vế đường tròn dồng tâm"t tác giả "Lai Tân’ đã vẽ được một bức tranh sinh động mỗi lúc một toàn diện hơn chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch. Nhà "dột từ nóc dột xuống" chỉ qua một huyện Lai Tân mà cả bộ mặt thối nát, bỉ lậu của xã hội Tưởng được phơi bày. Tác giả đã phủ định triệt để tận gốc giai cấp thống trị ấy. Cái "loạn" của mảnh đất Lai Tân được tô đậm bằng màu xám, màu tối của những bê tha, xấu xa, vô trách nhiệm, rất quan liêu của văn võ bá quan. Và hơn thế, nó được "trang trí" bằng sự "thái bình” nhưng ai cũng hiểu trời đất Lai Tân "thái bình" như thế nào. Cách kết thúc bài thơ của Hồ Chí Minh giống lối thơ trào phúng truyền thống của các nhà thơ trào phúng Việt Nam như Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương… đồng thời đậm chất (gây cười) của phương Tây. Hai chữ Lai Tân dường như không chỉ là một tên huyện đơn thuần mà tự bản thân nó đã mang một lớp nghĩa là mảnh đất mới, sáng sủa, bình yên. Và quả thật, huyện Lai Tân rất bình yên – bình yên "như xưa". Nhưng "như xưa" ở đây nghĩa là sự trì trệ, là chậm chạp không phát triển đã thành truyền thông; "như xưa" là không hề đổi thay, là duy trì những cái xâu xã, bĩ lậu của ngày trước. Hồ Chí Minh đã đả kích trực tiếp và khách quan chế độ Tưởng, do đó sức tế cáo, châm biếm của nó rất mạnh mẽ, quyết liệt. Bác đã giáng những đòn liên tiếp, chính xác vào xã hội ấy khiến nó phải "quần lèn" ở nhát đòn quyết định có tên là "thái bình”.
Không phải chỉ ở "Lai Tân" mà ở rất nhiều bàỉ thơ khác của "Nhật ki trong tu Bác cũng đã đả kích châm biếm sâu sắc xã hội Tưởng Giới Thạch như "Trảng binh gia quyến", "Đổ", "Đổ phạm’. Đó là "những ngón đòn trào phúng thâm thúy mà Bác đă đánh thẳng vào kẻ thù, vạch trần cái vô lý, tàn tệ" của chế độ ấy khiến "ta cười ra nước mắt". Tiếng cười trào lộng cất lên vừa trữ tình, vừa đẩm chất trí tuệ khiến ta thoải mái, hả hê.
Ta chợt nhớ tới Tú Xương ngày trước cũng từng có một tiếng cười trào lộng như thế:
"Tri phủ Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ẩy cùng bình yên"
(Đưa ông phủ)
Tiếng cười dân tộc đã thâm nhuần trong thơ hiện thực trào phúng của Hồ Chí Minh mà càng đọc ta càng thây nó sâu cay. "Lai Tân" là một bài thơ cũng năm trong số đó. Vừa có ý nghĩa hiện thực chân xác, vừa mang tính chiến đâu sắc mạnh tố cáo châm biếm cao độ, bài thơ đã giúp ta hiểu thêm về xã hội Tưởng Giới Thạch và hiểu hơn tâm hồn tài năng của Bác
Xem thêm: Bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ, hung bạo, sông Đà còn mang nét đẹp trữ tình. Hãy phân tích vẻ đẹp trữ tình ấy. | Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh | 1,864 | |
Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu là một trong những tác phẩm rất hay của tác giả này. Lời bài thơ có sự khích lệ tinh thần to lớn đối với những thanh niên thời bấy giờ. Đồng thời, bài thơ nêu lên được chí làm trai theo như quan niệm của nhà thơ.
Nếu muốn phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, các em cần lập dàn ý chi tiết để khi làm bài không lo bị thiếu ý, sót ý. Dưới đây, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý và cung cấp bài văn mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Phan Bội Châu và bài thơ Lưu biệt khi xuất dương.
– Bài thơ này được tác giả viết vào năm 1905 trước lúc ông lên đường sang Nhật.
– Bài thơ nói lên đước chí làm trai đó là làm nên sự nghiệp cứu nước.
2. Thân bài phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương
a. Hai câu đề
– Là nam nhi thì phải mong có điều lạ, phải mong làm nên sự nghiệp lớn.
– Con người cần đứng lên làm chủ cuộc đời chứ không để cuộc đời xoay chuyển mình.
b. Hai câu thực
– Tác giả tự hào về vai trò của bản thân mình trong cuộc đời, trong lịch sử dân tộc.
– Khẳng định ý tưởng vĩ đại là làm nên công danh như Nguyễn Công Trứ cũng đã từng nói đến.
– Quan niệm về chí nam nhi của Phan Bội Châu mới mẻ và hướng về Tổ quốc.
c. Hai câu luận
– Quan niệm sống đẹp của kẻ sĩ trước thời cuộc.
– Phủ định cách học cũ kĩ lạc hậu là đọc sách thánh hiền.
d. Hai câu kết
– Chí lớn không bó hẹp mà mang tầm vũ trụ.Xem thêm: Thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận3. Kết luận
– Tổng quan về nội dung bài thơ và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài văn phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương
Phan Bội Châu vốn được biết đến là một chí sĩ yêu nước, là một người lãnh đạo nhiều phong trào yêu nước. Tuy con đường mà Phan Bội Châu đang đi gặp nhiều chông gai và đến cuối cùng ông phải chịu thất bại nhưng ông vẫn là tấm gương sáng của thế hệ mai sau. Không chỉ là một người chí sĩ, Phan Bội Châu còn là một người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm hay. Năm 1905, Hội Duy Tân của có chủ trương phong trào Đông Du, và đưa thanh niên ưu tú sang Nhật. Việc này vừa nhằm mục đích chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho cách mạng, vừa nhằm mục đích tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài. Ngày trước khi lên đường, Phan Bội Châu đã làm bài thơ Lưu biệt khi xuất dương để bày tỏ quan điểm và cảm xúc của mình đối với những người đồng chí, đồng đội.
Trong bài thơ Xuất dương khi lưu biệt, Phan Bội Châu đã sử dụng ngôn ngữ thơ giàu sức lay động. Người chí sĩ cách mạng hiện lên trong thơ mang một vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa hào hùng. Trong buổi ra đi tìm đường cứu nước, những tư tưởng mới mẻ, táo bạo của nhà chí sĩ cách mạng được thể hiện một cách cháy bỏng. Mở đầu bài thơ, Phan Bội Châu đã khẳng định chí làm trai ở trong trời đất:
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trước đây, Nguyễn Công Trứ cũng đã từng nói về chí làm trai rằng đã làm trai ở trong trời đất thì phải có danh gì với núi sông. Giờ đây, Phan Bội Châu cũng nói về chí làm trai nhưng viết theo một cách khác mới mẻ hơn. Đó chính là làm trai thì phải làm nên được điều lạ ở trên đời. Điều lạ ở đây có thể hiểu là đứng lên chống lại kẻ thù. Làm trai thì phải chủ động chứ không nên bị động để số phận cuộc đời mình cho trời đất xoay chuyển. Đó là một lời thuyết phục thế hệ trẻ phải biết táo bạo và quyết liệt hơn nữa. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt qua cái mộng công danh xưa nay là gắn với tam cương, ngũ thường của Nho giáo. Chí làm trai của Phan Bội Châu vươn tới lí tưởng xã hội rộng lớn và cao cả.Xem thêm: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ "Từ ấy” của Tố Hữu
Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương
Một phần cảm hứng ấy có lẽ cũng xuất phát từ lý tưởng trí quân, trạch dân của nhà Nho thuở trước nhưng vì mang tính chất cách mạng nên tư tưởng trở nên tiến bộ hơn. Đúng như tự nhiên, con tạo xoay vần là lẽ tự nhiên nhưng Phan Bội Châu không chấp nhận điều đó. Ông muốn xoay chuyển cả càn khôn chứ không để nó tự chuyển vần. Điều này đồng nghĩa với việc Phan Bội Châu không chấp nhận khuất phục số phận hay hoàn cảnh.
Sang đến hai câu thực, nhà thơ ý thức rõ về trách nhiệm của mình trước lịch sử, trước vận mệnh của đất nước:
Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai
Không chỉ đơn giản là xác nhận sự có mặt của nhân vật trữ tình ở trên đời mà câu thơ thứ ba còn hàm chứa một tâm niệm đó là sự hiện diện của tác giả trên đời không phải điều ngẫu nhiên. Chính từ ý thức đó, nhà thơ tự thấy bản thân cần phải làm những điều có ích bởi vì sau này, chắc chẽ cũng sẽ có người nối tiếp con đường mà mình đã đi.
Cái chí làm trai không chỉ là cái lý tưởng suy nghĩ ở trong lòng tác giả mà nó được tác giả đặt vào trong hoàn cảnh thực tế của lịch sử:Xem thêm: Bức tranh của em gái tôiNon sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Ở mỗi thời, có lẽ chí làm trai mỗi khác. Nếu như ở thời bình, chí làm trai là thi đỗ, làm quan thì thời chiến, sự nghiệp học hành, theo đuổi hiền thánh không còn đúng nữa. Nếu đất nước lâm nguy, rơi vào tay giặc thì việc học hành nào có ích gì. Non sông mà không còn thì sống chỉ thêm nhục. Đó là lý tưởng của con người thời đại. Đối với Phan Bội Châu, việc bây giờ là phải đánh đuổi được giặc thù. Hai câu thơ cuối đã thể hiện được khát vọng muốn vươn ra biển lớn của nhà thơ:
Muốn vượt biển Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
Hình ảnh trong hai câu thơ mang tầm vũ trụ, nó khiến cho ý chí của tác giả trở nên lớn lao hơn, kì vĩ hơn. Tất cả mọi thứ cứ như hòa nhập lại và cùng nhau thăng hoa.
Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương đã có sức lay động lòng người, khích lệ tinh thần tướng sĩ lúc bấy giờ. Đây xứng đáng là một kiệt tác mà không chỉ thế hệ trước, cả thế hệ chúng ta, thế hệ sau này cũng đều rút ra được bài học cho riêng mình.
Trên đây là phần lập dàn ý phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương và bài văn mẫu cho các em tham khảo. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích nhiều cho các em.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (Có dàn ý chi tiết) | 1,358 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của Phan Bội Châu
Bài làm
Phan Bội Châu không chỉ là một trong những chí sĩ yêu nước đầu tiên của nước ta mà ông còn được biết đến bởi những bài thơ hay do ông sáng tác. Một trong số đó là bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương.
Trong quá trình hoạt động thì ông chủ trương thành lập và phát triển phong trào Đông Du, đó chính là phong trào đưa những thanh niên ưu tú sang Nhật để học tập, tiếp thu những tiến bộ của họ để chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Trước lúc lên đường thì ông đã viết bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương để bày tỏ tâm trạng, cảm xúc của mình trước khi từ giã bạn bè, đồng chí của mình:
Phiên âm chữ Hán:
“Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di
Ư bách niêm trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tục diệc si
Nguyện trục trường phong đông hải khứ
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương
Có thể thấy bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của lớp nhà Nho tiên tiến. Họ mang những ý tưởng mạnh mẽ, táo bạo, mang theo những nhiệt huyết và khát vọng giải phóng dân tộc. Bài thơ được viết bằng chữ Hán và theo thể thất ngôn bát cú Đường luật khiến cho ý thơ trở nên hàm súc, trang trọng. Ngay hai câu đầu của bài thơ thì Phan Bội Châu đã làm toát lên quan niệm về chí làm trai:Xem thêm: Phân tích 12 câu thơ đầu bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều (Có dàn ý chi tiết)
“Sinh vi nam tử yếu hi kì
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”
(Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời”
Câu thơ giống như sự nối tiếp chí làm trai trong thơ Nguyễn Công Trứ. Dấu ấn ở câu thơ đầu đó chính là hai chữ “hi kì”, có nghĩa là hiếm lạ, khác thường. Nó có thể được hiểu theo tính chất lớn lao, kì vĩ, là trọng trách mà người nam tử phải gánh vác, phải thể hiện. Đó chính là lý tưởng về chí làm trai của Nho gia và khiến bao đáng nam nhi phải băn khoăn. Phạm Ngũ Lão vốn là danh tướng đời Trần cũng không tránh khỏi sự băn khoăn ấy:
“Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
Có thể thấy quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu đã khiến giới trẻ nể phục và noi theo. Đến câu thơ thứ hai bổ nghĩa cho câu thơ thứ nhất, song song với việc làm nên những điều lớn lao và lạ thì phải tự làm chủ chính bản thân mình. Trong quá trình vận động của càn khôn thì bản thân phải là người can dự vào, là một phần nguyên nhân khiến nó “chuyển dời”. Cảm hứng về chí làm trai của Phan Bội Châu ở thời kỳ đó chính là bởi xuất phát từ lý tưởng của những nhà Nho yêu nước đồng thời mang tính chất cách mạng. Ông là người luôn muốn chủ động, không khuất phục trước cuộc đời, trước hoàn cảnh:Xem thêm: Tả cái bàn học ở nhà
“Ư bách niên trung tu hữu ngã
Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
(Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai)
Giống như một lời khẳng định mang theo sự khí phách của một bậc đại trượng phu về sức mạnh của mình trước càn khôn. Tác giả đề cao cái tôi cá nhân của mình và đặt ngang hàng bản thân với cái “trăm năm” để khẳng định trách nhiệm của bản thân với cuộc đời, với vận mệnh của dân tộc. Phan Bội Châu đã đưa ra lời kêu gọi những thanh niên trí thức cùng nhau góp sức tranh đấu vì cách mạng dân tộc. Cũng chính bài thơ này đã cảnh tỉnh giới thanh niên trí thức để họ có thêm sự quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Tiếp nối việc khẳng định chí nam nhi ấy thì nhà thơ đã nói đến trách nhiệm của mình với non sông, đất nước:
“Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế
Hiền thánh liêu nhiên tục diệc di”
(Non sông đã chết, sống thêm nhục
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài)
Dễ nhận ra lẽ nhục vinh của nhà thơ gắn liền với an nguy của non sông đất nước. Câu thơ thứ năm đã bày tỏ một cách dứt khoát thái độ của tác giả đó là khi đất nước lâm nguy thì học sách vở thánh hiền cũng vô ích mà theo ông cần phải Duy Tân đất nước, phải vươn ra thế giới để học hỏi những tiến bộ của họ chứ không phải cố chấp, bảo thủ giữ lấy tư tưởng Nho gia. Chính vì tư tưởng đó nên tác giả đã bày tỏ khát vọng, ước muốn của mình:Xem thêm: Bình luận về tinh thần dũng cảm
“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”
Bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương với khí thế hào hùng, sục sôi nhiệt huyết nhà thơ đã cho thấy hình ảnh mang tầm vóc kỳ vĩ, lớn lao. Đó chính là nơi mà nhà thơ hướng tới, muốn vượt ra khỏi sự nhỏ bé, quẩn quanh để tìm thấy con đường cho cách mạng, con đường giải phóng dân tộc.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương của Phan Bội Châu hay nhất | 957 | |
Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
Hướng dẫn
Sau khi vận động lập hội Duy Tân (1905) Phan Bội Châu tranh thủ viện trợ của nước ngoài đào tạo cán bộ cốt cán cho phong trào yêu nước. Bài thơ được làm trong buổi chia tay với các đồng chí của mình trước khi tác giả lên đường. Ngay mở đầu của bài thơ nhân vật trữ tình trong bài thơ đã đặt cho mình một lí tưởng cao cả:
"Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời"
Người thanh niên này đã đặt cho mình một ý chí rất rõ, thể hiện ý thức cá nhân của bản than. "Làm trai" tức là ý thức về trách nhiệm của thân phận "Chí nam nhi nam bắc đông tây". "Làm trai phải lạ trên đời!". "Phải lạ" là sao? "Phải lạ" là phải có điều gì khác hẳn, vượt lên hẳn mọi thứ tầm thường trên đời. Nói như Nguyễn Công Trứ thì đó là "Phải có danh gì với núi sông". Phan Bội Châu đã ghi dấu ấn với sông với núi bằng khát vọng xoay trời chuyển đất: "Há để càn khôn tự chuyển dời". Không để đất trời tự vần xoaym phải chế ngự sự biến đổi ấy bằng những hành động, việc làm xứng đáng với thân nam nhi.
"Trong khoảng trăm năm cần có tớ
Sau này muôn thuở há không ai".Xem thêm: Hãy tưởng tượng mình là Xi - mông, kể lại chuyện Bố của Xi - mông
Đấng nam nhi này có một tấm lòng yêu nước đến phi thường, có thể hi sinh hết cuộc đời mình cho dân tộc. Lời nói hùng khí ấy chỉ có thể thốt lên từ một bậc anh hùng. Trong khoảng trăm năm cuộc đời cần có ta gánh vác. Câu thơ khẳng định vai trò cá nhân đối với vận mệnh đất nước và cũng là thể hiện một cái "tôi" đầy trách nhiệm sẵn sàng gánh vác kế trăm năm nghiệp vuông tròn của cơ đồ xã tắc. Trong thời cuộc rối ren đầu thế kỷ XX, khi bao kẻ chỉ chăm chăm "nằm co" cho khuôn vừa thời thế, sự vùng vẫy của cái tôi kia thật đáng trân trọng. Tác giả đã dùng từ “ tớ” để thể hiện ý chí quyết tâm của mình, đó là một trong những cái ngông của nhà thơ.
Tác giả đặt ra câu hỏi nhưng cũng tự trả lời cho mình"sau này muôn thuở há không ai". Sau này nghìn năm lại không có ai lưu danh muôn thuở vì dân vì nước hay sao? Câu thơ có dáng dấp một câu hỏi nhưng cũng là một câu khẳng định ắt sau này có người làm nên nghiệp lớn, lưu danh muôn thuở cứu dân cứu nước. Đó không là ta thì sẽ là một người hậu thế. Lời thơ bày tỏ niềm tin tưởng vào tương, đó giống như sự trao gửi lịch sử vào tay hậu thế.Xem thêm: Phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
Bàn về chí làm trai, bàn về cái "tôi" ở đời, nhà thơ đặt nhân vật trữ tình vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước:
"Non sông đã chết sống thêm nhục
Hiền thánh làm chi học cũng hoài".
Tác giả đã đưa ra lời nhắc nhở đối với đấng nam nhi đang sống trong xã hội lúc bấy giờ. Khi đất nước đã rơi vào tay giặc thì còn đáng sống vì lẽ gì. Luận về lẽ sống chết ở đời để khẳng định, để cao tư tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình. "Non sông đã chết sống thêm nhục". Nếu như chí làm trai gắn số phận kẻ làm trai với trách nhiệm xoay trời chuyển đất thì nước nhà có sa cơ "đã chết" cái nhục thuộc về sự sống kẻ làm trai. Nhận trách nhiệm chung về mình, đó là biểu hiện cao độ của lòng tự trọng của con người. Ở đây lòng tự trọng được thể hiện ở nỗi đau mất nước, nỗi nhục quốc thể.
"Muốn vượt bể Đông theo cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi"
Câu thơ đã cho người đọc liên tưởng tới hình ảnh người anh hùng trong buổi lên đường tìm cách cứu nước, hình ảnh đó thật đẹp, thật đáng tự hào. Lòng yêu nước không còn hiện lên trong khuôn khổ những tư tưởng ý chí mà vụt hóa thành con người của hành động. Câu thơ khắc họa một cuộc tiễn đưa hào hùng của lịch sử. Hình ảnh tư thế người ra đi vô cùng lớn lao kỳ vĩ "vượt bể Đông theo cánh gió" để "Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi". Phải là "bể Đông" "cánh gió" mới xứng đáng với sự kì vĩ của ước mơ người anh hùng. "Muôn trùng sóng bạc" của quê hương tiễn đưa người anh hùng ra đi vì chí lớn. Bài thơ khép lại nhưng mở ra hy vọng cho tương lai đất nước dựa vào cuộc ra đi hào hùng của bậc anh hùng hào kiệt.Xem thêm: Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ của mình về ý kiến sau: “Một trong những tổn thất không có gì bù đắp được là tổn thất về thời gian”
Hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ hiện lên ở nhiều phương diện: tư tưởng, khát vọng, hành động. Qua đó bộc lộ những quan điểm mới mẻ, tiến bộ về nhân sinh quan. Bài thơ kết thúc ở hình ảnh người ra đi đẹp hào hùng gieo vào lòng người những đợi chờ hy vọng.
Mượn hình ảnh nhân vật trữ tình trong bài thơ tác giả đã thể hiện được ý chí, khát vọng lên đường cứu nước của tác giả. Bài thơ ra đời đúng vào thời kì đất nước đang chìm trong vòng luẩn quẩn, chưa biết cứu nước bằng con đường nào, nó trở thành nguồn động lực vô cùng vĩ đại cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu | 1,021 | |
Phân tích bài thơ Lượm của Tố Hữu.
Hướng dẫn
Tố Hữu đã xây dựng hình ảnh nhân vật Lượm thật đẹp. Đó là một chàng thiếu niên, hồn nhiên vô tư, nhưng vô cùng dũng cảm trước bom đạn của kẻ thù. Vì lí tưởng chiến đấu để bảo vệ đất nước, Lượm đã vượt qua hết nhũng làn bom, bão đạn để góp sức của mình cho công cuộc cứu nước của toàn dân.
Hình tượng nhân vật Lượm, xuất hiện khiến người đọc hình dung như một người có thật, từ trang phục đến dáng đi, cử chỉ, lời nói.
"Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh"
Qua miêu tả của tác giả, ta nhận thấy nét hồn nhiên vui tươi trong con người của Lượm, đúng với độ tuổi của em. Nhưng điều bất bình thường ở đây là, em còn bé nhưng đã làm công việc phi thường mà những người lớn chưa chắc đã làm được. Lượm đã coi việc đi liên lạc nguy hiểm khó khăn kí như một chuyến đi chơi, thật vui và thích thú.
"- Cháu đi liên lạc
Vui lắm chú à
Ở đồn Mang Cá
Thích hơn ở nhà!"
Có lẽ niềm vui lớn nhất cần được chia sẻ lúc này là niềm vui của con cá tung tăng được từ suối, ra sông, ra biển. Lượm đã là con của đất nước "con của vạn nhà" chứ không chỉ hạn hẹp là con của một nhà. Lời thơ không phân tích lí giải mà đơn giản chỉ là sự giãi bày của Lượm, cách dẫn dắt như vậy cũng chính là một dấu hiệu về sự hồn nhiên, hợp với tuổi nhỏ. Cũng như tâm lí thích làm người lớn, tập làm người lớn mà biểu hiện cái háo hức bên trong không giấu được của mình"
"Cháu cười híp mí
Má đỏ bồ quân
– Thôi chào đồng chí!
Cháu đi xa dần…"
Lượm đã dùng từ đồng chí để nói với người đáng tuổi chú mình, vừa có ý nghĩa chứng tỏ Lượm cũng đang làm nhiệm vụ của một chiến sĩ cách mạng, và người đồng chí kia chỉ là bạn trong chiến đấu của mình, hai từ đồng chí nghe mà náo nức, xôn xao. Đó là ngôn ngữ mà cũng là tiếng reo vang khi người ta có thể giã từ tuổi thơ để bước vào đội ngũ. Một thế giới mới lạ mở ra, cho dù dấu vết của tuổi thơ còn đó (cười híp mí, má đỏ bồ quân). Với nhà thơ, những kỉ niệm ấy làm sao có thể dễ dàng quên, quên đi lớp thiếu niên của nước Việt Nam độc lập, quên đi đứa cháu thật đáng tự hào và cũng rất đáng yêu của mình như thế? Trong hành trang của nhà thơ, hình tượng bé Lượm là một sự cổ vũ lớn, có một vị trí không gì thay thế được.Xem thêm: Kể về một việc em đã làm khiến bố mẹ vui lòng.
Sự hồn nhiên nhí nhảnh, lòng dũng cảm kiên cường của em cũng không tránh khỏi bom đạn của kẻ thù. Thì ra, sự ác liệt của chiến tranh đã không loại trừ một ai kể cả những em nhỏ chưa kịp thành người lớn. Lượm tự nguyện bước vào cuộc đời chiến đấu và chấp nhận hi sinh, dũng cảm hi sinh. Hình ảnh ấy đã trở thành một tượng đài bất tử. Đoạn thơ nói về cái chết anh dũng của em bắt đầu từ câu: "Ra thế – Lượm ơi!". Một câu thơ tưởng như đơn giản vật thôi mà hội tủ đủ ba tính chất: nhất quán, cao trào và đột biến. Nói nhất quán vì đây là một bài thơ kết hợp hai yếu tố trữ tình và tự sự. Tự sự là mạch nổi, còn mạch chìm là cảm xúc của nhà thơ. Nói cao trào vì đây là những nổi niềm của nhà thơ dâng lên cực điểm. Còn nói đột biến vì dòng cảm xúc từ yêu thương, phấn khởi đã thành đột ngột, hụt hẫng, đau đớn, rụng rời. Câu thơ tự nó vỡ ra thành hai nhịp, tự nó cắt rời với những khoảng trống xót xa. "Ra thế" thuộc về câu chuyện chú bé hi sinh, còn "Lượm ơi!" là tiếng khóc thầm thì bật lên thành nức nở?. "Ra thế" thuộc về khách quan, còn "Lượm ơi!" thuộc thuộc về chủ quan, về nỗi đau của trái tim nhà thơ như viên đạn bắn vào. Từ cảm xúc tức thời ấy mà câu chuyện trong cái kênh "tin nhà" kia được kể lại, tất nhiên là trong tưởng tượng mà nhà thơ có thế hình dung:
"Một hôm nào đó
Như bao hôm nào
Chú đồng chí nhỏ
Bỏ thư vào bao…"
Chính với ý thức ấy mà nhà thơ thay đổi đại từ xưng gọi, những đại từ đơn: cháu, chú bé, Lượm… bằng một đại từ ghép: chú đồng chí nhỏ. Cách gọi tên trang trọng này tương ứng với hành động, với sự kiện hi sinh. Vị trí của người kể chuyện khi hòa nhập vào nhân vật được kể, khi thì tách ra với cự li cần có để đảm bảo tính khách quan của việc trần thuật:Xem thêm: Tùy viên thi thoại của Tuyết Mai
"Vụt qua mặt trận
Đạn bay vèo vào
Thư đề "Thượng khẩn"
Sợ chi hiểm nghèo".
Biết trước sự ra đi lúc này là rất nguy hiểm, nhưng Lượm vẫn vô tư, hiên ngang bất khuất trước bom đạn của kẻ thù. Lượm đã đối mặt với cái chết mà Lượm không hề nghĩ đến nó mặc dù nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vì yêu cầu của nhiệm vụ, Lượm đã vượt lên tất cả, đó là trường hợp tác giả đã hóa thân vào nhân vật của mình. Còn khổ thơ sau đó, ông trở lại vị trí của người quan sát:
"Đường quê vắng vẻ
Lúa trổ đòng đòng
Ca lô chú bé
Nhấp nhô trên đồng..
Chính chất biểu cảm trữ tình trong thơ tự sự tỏa ra theo một cách riêng từ phía ấy. Và chính nó làm cho người theo dõi lo lắng đến thắt lòng. Kẻ thù (đồng nghĩa với cái chết) thì tàn bạo, hiểm độc mà chú bé của chúng ta trong trẻo, thơ ngây như một tiên đồng. Cái hồn nhiên thần thánh của nhân vật là ở chỗ: trước họng súng của kẻ thù, em vẫn không biết giấu mình, cứ lồ lộ, không hề quan tâm đến hiểm họa bao vây. Bởi vậy. khi cái chết ập đến. câu thơ như có gì vỡ ra thật đau đớn, nghẹn ngào. Giọng trần thuật không còn ở dạng thông thường. Thay thế cho nó là một tiếng kêu thảng thốt cất lên. Tâm trạng của nhà thơ qua câu: "Thôi rồi! Lượm ơi!" chẳng những như người bước hụt mà còn có gì như bâng khuâng nửa mê, nửa tỉnh. Cảm giác không tin là có thật, vì bé Lượm, vì chú tiên đồng làm sao có thể chết? Nhưng thực sự đau xót "Một dòng máu tươi" lại không thể không tin. Chí có điều kẻ thù cướp đi mạng sống mà không giết được cái thanh thản, hồn nhiên của một tâm hồn thơm mùi đồng quê gặt hái.
Đoạn thơ thứ ba của bài bắt đầu bằng một câu thơ đặt biệt: "Lượm ơi, còn không". Đó là lời gọi, lòng tiếc thương và khâm phục trước sự hi sinh của Lượm, Lượm không bao giờ mất đi trong niềm mến yêu, nhớ tiếc. Lượm vẫn còn sống trong lòng đồng chí, đồng bào. Cấu trúc trùng điệp (hai khổ thơ kết lặp lại hai khổ thơ đầu của bài thơ) như một âm vang bất tử. Nó vừa là câu hỏi, vừa là những hồi âm. Sự hô ứng trong bài thơ này dễ tạo nên ở người đọc sự tri âm, đồng điệu.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng
Về nghệ thuật bài thơ, Tố Hữu đã bắc được một cái cầu nối với bạn đọc nhỉ tuổi bằng thể thơ bốn chứ thật trong trẻo, hồn nhiên như bà kể cho cháu, mẹ kể cho con. Cách kể cũng không một chiều, đơn điệu. Tuy vẫn sử dụng cấu trúc đường thẳng, lấy trục thời gian làm điểm tựa nhưng khi trực tiếp (đoạn một), lúc gián tiếp (đoạn hai), kết hợp giữa miêu tả (đoạn một, đoạn hai ) với độc thoại (đoạn ba). Tính sinh động của bài thơ còn thể hiện ở sự ngắt nhịp như những nốt lặng trên dòng chảy tâm tình. Những khổ thơ đặc biệt như "Ra thế – lượm ơi!" hoặc "Lượm ơi, còn không?" là những cơ hội giao tiếp (giữa nhà thơ với bạn đọc, giữa nhà thơ với nhân vật), cũng là cơ hội mà tác giả bộc lộ tâm tình. Một dụng ý không thể không nói là cơ hội mà tác giả bộc lộ tâm tình. Một dụng ý không thể không nói là nhà thơ đặt nhân vật anh hùng nhỏ tuổi vào bối cảnh thiên nhiên, một thiên nhiên thuần phác, trẻ trung, ngọt ngào rất quen thuộc. Với Lượm, thiên nhiên ấy như một thứ khí trời. Về với nó như cá được về với nước. Sự quấn quýt giữa Lượm với cánh đồng quê phảng phất một tình mẫu tử thân thiết lạ lùng, có một cái gì thật thanh khiết bản năng. Đó là nơi ra đi (đi chiến đấu), cũng là bờ bến trở về (lúc hi sinh):
"Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng…"
Hình ảnh Lượm trong thơ Tố Hữu thật đáng tự hào. Lượm đã cho kẻ thù thấy được trong cuộc kháng chiến ác liệt của dân tộc, toàn thể dân tộc ta đều đứng lên chiến đấu, những người nhỏ tuổi cũng có thể góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc. Thật đáng tự hào biết bao với những người con dũng cảm ấy. Thế hệ trẻ chúng ta được sống trong một xã hội hòa bình, xã hội mà cha ông ta đã đánh đổi bằng xương máu để có được chúng ta phải sống sao cho xứng đáng với công lao đó.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Lượm của Tố Hữu. | 1,725 | |
Phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đổ Phủ
Hướng dẫn
Trong đó, Đỗ Phủ (712 – 770) là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất, được tôn vinh là ‘Thi thánh’. Ông là nhà thơ giàu lòng yêu nước, thương dân, lo đời, ghét cường quyền bạo ngược. Tính hiện thực và tinh thần nhân đạo dào dạt trong hơn 1.400 bài thơ ôngđể lại, phản ánh tâm hồn cao đẹp của một ‘nhà thơ dân đen’. Cuộc đời của Đỗ Phủ trải qua nhiều bất hạnh: công danh lận đận, con chết, lưu lạc tha hương, càng cuối đời càng nghèo đói, cơm không đủ ăn, ốm đau không thuốc thang cơm cháo, nằm chết trên một chiếc thuyền rách nát nơi quê người.
‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’được xếp vào trong số 100 bài thơ hay nhất của Đỗ Phủ. Ông viết bài thơ này vào những năm cuối đời mình. Năm 760 (hay 761?) được bạn bè giúp đỡ, Đỗ Phủ đã dựng được một mái nhà tranh bên cạnh khe Cán Hoá ở phía tây Thành Đô. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ngôi nhà bị mưa bão phá nát. Năm đó, loạn An – Sử vẫn đang diễn ra khốc liệt. Bài thơ gồm có 23 câu, phần lớn là câu thất ngôn, có vài câu dài đến trên dưới chục chữ, vừa có vần trắc vừa có vần bằng. Chữ ‘ca’ trong bài thơ ‘Mao ốc vị thu phong sở phá ca’ là một loại thơ cổ (cổ phong) có nguồn gốc sâu xa với một điệu dân ca cổ. Nhiều nhà thơ đời Đường đều có viết thể ‘ca’ này: ‘Thu phô' ca’ (Lí Bạch), ‘Thiên Dục phiêu Đồ ca’ (Đỗ Phủ), ‘Trường hận ca’ (Bạch Cư Dị), v.v…
Muốn cảm nhận ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’ này, có lẽ nên đọc lại một trong hai bài thơ sau đây của Đỗ Phủ, bài thơ ‘Nhớ em’. Từ đó, ta mới có thêm căn cứ để phân tích:
‘Chạy loạn sang châu Tế Nghe em đói rét hoài Đường thăm còn vướng giặc Thư gửi biết nhờ ai?
Lủi trốn khi lo vẩn Buồn phiền lúc ốm dai Phó cho dòng nước chảy Nghìn vạn mối sầu dài!’
(Nhượng Tống dịch)
Bài thơ ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’ gồm có bốn phần: năm câu đầu nói bão tố phá nát ngôi nhà tranh, năm câu nối tiếp nói bọn trẻ con cướp tranh; tám câu tiếp theo tả cảnh mưa tầm tã nhà bị dột, cha con ngồi trong mưa rét; năm câu cuối thể hiện niềm mơ ước của nhà thơ.
1. Khổ thơ đầu như một ghi chép ngắn về trận thu phong. Đó là một trận bão tố, hoặc là một cơn lốc vào tháng 8 ‘gió thét già’. Ba lớp tranh ngôi nhà của Đỗ Phủ bị ‘cuộn mâ't’ bay tứ tung khắp mọi nơi. Có tấm tranh bay rải khắp bờ sông. Có tấm tranh ‘treo tót ngọn rừng xa’. Có mảnh tranh bị phá nát rơi xuống mương nước. Chữ ‘tranh’ (mao) được nhắc lại 2, 3 lần, lối viết liệt kê đã tái hiện lại trận cuồng phong lần lượt bóc đi từng tấm tranh, nhà thơ ngơ ngác nhìn, bất lực. Cả năm câu thơ đều được gieo vần bằng: ‘hào – mao – giao – sao – ao’, đó là những vần có âm vang diễn tả âm điệu thơ như tiếng khóc, tiếng thở than, về vần thơ, Khương Hữu Dụng thể hiện đúng dụng ýnghệ thuật của Đỗ Phủ trong nguyên tác: ‘già – ta – xa – sa’.
2. Năm câu thơ tiếp theo cho thấy thời loạn, đạo lí suy đồi đến cùng cực! Lũ trẻ con hàng xóm kéo đến cướp tranh mà Đỗ Phủ gọi là ‘dạo tặc’ – đấm kẻ cướp! Chúng khinh nhà thơ ‘già yếu’. Chúng trơ tráo trước tiếng kêu van ‘môi khô miệng 142
Xem thêm: Tục ngữ có câu: Lời nói chằng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Em hiểu lời khuyên đó như thế nào?
cháy gào không được’.Lũ trẻ gian tham cướp được chiếc tranh nào thì cứ ngang nhiên ‘cắp tranh đi tuốt vào lũy tre’ chiếc tranh ấy. Như thế là sau thiên tai, gia đình nhà thơ lại gặp ‘đạo tặc’, đó là lũ ‘quần đồng’ hạ lưu, những ‘tiểu tướng…’ sản phẩm của một xã hội đại loạn. Nếu khổ thơ đầu chỉ mới nói đến cái rủithì khổ thơ thứ 2 nói thêm nỗi đau,nỗi buồntrước một xã hội loạn lạc, đảo điên, trong đó lũ ‘quẩn đồng’ trẻ con vừa láo hỗn vừa gian tham.
3. Khổ thơ thứ ba ghi thêm một tai họa mới: trời mưa rét thâu đêm mà mái nhà đã bị gió thu phá nát. Gió lặng thì mây đen che phủ trời đất tối như mực. Mưa tầm tã suốt canh khuya. Nhà dột, giường không có một chỗ nào khô. Chăn rách nay thấm nước lạnh như sắt. Các chi tiết nghệ thuật được miêu tả vừa cụ thể, vừa hiện thực: gió, mưa, nhà dột, giường ướt, chăn rách…
‘Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt,
Con nằm xấu nết đạp lót nát Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu Dày hạt mưa, mưa chẳng dứt’
Nhà thơ ngồi trong mưa, ngồi dưới mưa thâu đêm. Tuổi già, sức yếu, bệnh tật… Đỗ Phủ vừa thương vợ con, vừa thương mình. Nỗi đau khổ như dồn lại, trút lên đầu một con người vừa nếm trải nhiều bất hạnh. Đêm như dài thêm ra:
‘Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê,
Đêm dài ướt át sao cho trót?’
Khổ thơ thứ 3,về mặt bố cục mang một ý nghĩa lớn, ghi lại cái đại họa trong một đêm thu trời mưa. Nó làm rõ thêm một kinh nghiệm sống: ‘Phúc bất trùng lai, họa vô dơn chí!’. Dân gian có câu: ‘Thứ nhất con đói, thứ nhì nợ đòi, thứ ba nhà dột!’. Đỗ Phủ còn thêm một sự đau khổ nữa, đó là thân già, ốm đau ngồi co ro trong mưa rét, nhìn cảnh vợ con đang nằm dưới mưa lạnh thì nỗi khổ ấy không thể nào tả hết. Cái chăn cũ, mỏng, lâu năm, bình thường đắp đã không đủ ấm, đêm nay lại bị con thơ đạp rách nát trong cảnh mưa rét, nhà thủng mái… là những chi tiết nghệ thuật nói lên cái nghèo khổ, cái cùng cực của một gia đình tàn tạ giữa thời loạn lạc, đúng như trong bài ‘Nhớ em’ ông đã viết: ‘Buồn phiền lúc ốm dai – Phó cho dòng nước chảy – Nghìn vạn mối sầu dài’…
Nếu như ở khổ thơ đầu, ông sử dụng toàn vần bằng thì trong khổ thơ thứ ba nàyông lại sử dụng toàn vần trắc: ‘sắc – hắc – thiết – liệt – tuyệt – triệt’. Đó cũng là một dụng ý nghệ thuật: vần thơ như diễn tả nỗi đau khổ đang thắt lại, dồn nén, uất kết lại trong lòng nhà thơ.
4. Phần thứ tư là phần hay nhất của bài thơ.Năm dòng cuối thể hiện tấm lòng cao cả của một kẻ sĩ chân chính: thương dân và lo đời:
‘Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn!
Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!’
Trong nỗi đau thương phũ phàng của cuộc đời, con người rất dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, hoặc gục đầu cam chịu, rồi than thân trách phận. Cũng có thể suốt đêm ngồi trong mưa lạnh rét cóng, Đỗ Phủ có quyền nghĩ đến một mái lều, một tấm chăn, một bát cơm, một ngọn lửa… cho vợ con và bản thân
ông. Nhưng nhà thơ đã làm cho người đọc bất ngờ trước niềm mong ước của ông. Ông mơ ước có một ngôi nhà kì vĩ ‘muôn ngàn gian’ vô cùng vững chắc ‘Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn’. Ngôi nhà ấy để ‘Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan’. Có thể nói, Đỗ Phủ có tình thương lớn của một nhà nho chân chính sống và ứng xử theo phương châm: ‘Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ’.
Thực tế xưa nay chưa hề có một ngôi nhà ‘rộng muôn ngàn gian’ như thế trên thế gian. Khổ thơ được sáng tạo nên bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng để diễn tả ước mơ to lớn và cảm hứng lãng mạn dào dạt, làm sáng bừng lên tấm lòng nhân ái bao la của một con người trải qua nhiêu bất hạnh giữa thời loạn lạc. Sau loạn An – Sử, nhiều miền rộng lớn bị đốt phá tan hoang, hàng triệu người rơi vào thảm kịch: không cơm ăn, áo mặc, không cửa nhà, khắp mọi nơi người chết đói, chết rét đầy đường. Vì thế nhà thơ mong mỏi ai cũng có một mái ấm nương thân. Lo đời và thương người, khao khát hạnh phúc cho muôn dân là tình cảm tha thiết của nhiều bậc vĩ nhân, nhiều nhà thơ lớn xưa và nay. Nhà thơ Nguyễn Trãi cũng đã từng mơ ước có một cây đàn Ngu Cầm – cây đàn thần của vua Thuấn để mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân khắp mọi phương trời:
‘Dễ có Ngu Cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương’
(Quốc âm thi tập)
Trở lại ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’, ta vô cùng xúc động trước lời nguyền của nhà ‘hàn sĩ’ Đỗ Phủ. Đây là những lời gan ruột, tâm huyết:
‘Than ôi! Bao giờ nhà ẩy sừng sững dựng trước mắt,
Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!’
Thấy được ngôi nhà ấy tức là thấy được cảnh thái bình, no ấm yên vui đến với mọi người, mọi nhà, trong đó có những kẻ sĩ nghèo. Tác giả nêu ra một giả định rất chân thành cảm động. Nếu thấy ngôi nhà ‘muôn ngàn gian’ trong mơ trở thành hiện thực thì riêng Đỗ Phủ ‘lều ta nát, chịu chết rét cũng được!’.
Chân thực là yếu tố hàng đầu của cảm xúc thơ ca. Lời nguyền của Đỗ Phủ rất chân thực. Không chỉ riêng bài thơ này, mà qua nhiều bài thơ khác, như chùm thơ ‘Tam lại’ và ‘Tam biệt’, ông đã nói đến tình thương yêu mãnh liệt và bao la đối với nhân dân lầm than giữa thời loạn lạc.
Có thể nói, năm dòng thơ cuối bài thấm đẫm tình người, chứa chan tinh thần nhàn đạo. Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn đã tạo nên giá trị nhân bản sâu sắc.
Mười ba thế kỷ đã trôi qua, ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá ‘của Đỗ Phủ vẫn để lại cho chúng ta nhiều rung động và ám ảnh. Ám ảnh về những đau khổ và cay đắng của một nhà thơ vĩ đại lỗi lạc đời Đường phải nếm trải. Rung động về một ước mơ tuyệt đẹp nhưng chẳng bao giờ có được trong một xã hội loạn lạc, bất công và thối nát. Có biết được tình cảnh bi đát của Đỗ Phủ sau khi nhà bị tốc mái, ông phải đưa vợ con xuống ở trên một chiếc thuyền con rách nát lênh đênh giữa dòng sông Tương – mới cảm được phần nào ý vị đậm đà tình nhân áicủa bài thơ, cũng như cái ý vị chua chátcủa một cuộc đời!
Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ của chủ Hồ Chí MInh để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người | Phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đổ Phủ | 1,982 | |
Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
Gợi ý
Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu xuất hiện trên văn đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ với một cá tính độc đáo: một nhà thơ của sầu và mộng, ngông và đa tình. Bài thơ Muốn, làm thằng Cuội đã thể hiện rất rõ cá tính ấy của ông.
Bài thơ Muốn làm thằng Cuội in trong tập Khối tình con (1916). Mặc dù tác phẩm được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song người đọc sẽ thấy ở đây, dưới cái hình thức còn là của thơ cổ ấy những dấu hiệu mới mẻ của cảm xúc. Tâm sự của nhà thơ ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ có chiều hướng giảm nhẹ đi tính trang trọng, mực thước. Sự giản dị, trong sáng gần với khẩu ngữ tự nhiên làm nên nét duyên của bài thơ này.
Ngay từ nhan đề của bài thơ đã cho thấy một giọng điệu suồng sã, như là đã giải tỏa được một nhu cầu nói thật, thẳng thắn của nhà thơ và cũng lại cho thấy cái ngông nghênh, bất đắc chí: muốn ở đây như một nhu cầu bức xúc, chẳng cấn giấu giếm, vòng vo. Nhưng muốn cái gì? Muốn làm cuội thì đích thực là muốn thoát lên trên rồi. Ứớc vọng lên trên thơ mộng thế mà nói tựa như là muốn ăn, muốn uống, muốn ngủ… thật là thành thực!
Và, nếu muốn thoát tục, lên trên thì thiếu gì những hình mẫu tiên để ước sao cứ phải là thằng Cuội? Thằng chứ không phải chú – cũng là một kiểu nói ngông.
Thế thì chính là thi sĩ đa tình này muốn lên cung trăng rồi!
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,
Trần thế em nay chán nửa rồi!
Chị Hằng thì phải ở cung trăng chứ còn gì nữa! Thì ra thi sĩ của chúng ta muốn làm thằng Cuội để tâm sự cùng chị Hằng Nga xinh đẹp. Hai câu mở đầu bài thơ như một tiếng kêu than. Chẳng cần phải mượn cái khác để diễn tả nỗi buồn trong lòng mình, thi sĩ bộc bạch ngay nỗi lòng mình. Hai chữ buồn lắm thật chân thành. Thi sĩ chỉ lòng mình ra trong tiếng gọi tha thiết. Ta thường gặp trong thơ Tản Đà một vẻ buồn chán, cái buồn lan trùm tất cả. Vì buồn lắm như thế nên thi sĩ mới "muốn làm thằng Cuội". Nhưng không phải là cái buồn vô cớ, càng không phải kiếm cớ buồn để được lên tiên. Cái buồn ở đây là cái buồn đời buồn chán cuộc đời tối tăm, đen bạc, đảo điên. Không ít lần Tản Đà kêu chán đời: "Đời đáng trách biết thôi là đủ – Sự chán đời xin nhủ lại tri âm", "Gió gió mưa mưa đã chán phèo – Sự đời nghĩ đến lại buồn teo"… Sống trong bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến những năm đầu thế kỉ XX, chẳng phải chỉ riêng Tản Đà buồn chán. Không khí tù hãm, u uất của một dân tộc bị mất nước bao trùm hết thảy, đè nặng tâm trí con người, nhất lại là những con người nhạy cảm như thi nhân. Tâm trạng buồn chán là tâm trạng của thời đại. Có trăm ngàn vẻ buồn khác nhau song đều thấy điểm chung là sự bế tắc trước thực tại cuộc đời, từ đó mà sinh ra chán nản, bất mãn đối với thời cuộc.Xem thêm: Anh (chị) hãy viết đoạn văn phân tích nhan đề bài thơ "Tôi yêu em" của Pus-kin Cái buồn của Tản Đà cũng bắt nguồn từ đấy. Và thế là thi sĩ tìm lối thoát bằng cách thoát li khỏi cuộc đời, sống trong một thế giới khác, thế giới mộng mơ, thần tiên. Thi nhân gọi trăng là chị xứng với trăng là em thì vừa là muốn thân tình, gần gũi để giãi bày, vừa là chơi ngông. Bốn câu thơ tiếp càng thể hiện cái ngông của Tản Đà:
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Ngông thực chất là một thái độ ứng xử đối với cuộc đời, một biểu hiện khác của sự chán ngán, bất mãn với thời cuộc. Phải là người yêu đời lắm, tha thiết với cuộc sống lắm thì mới tỏ ra buồn chán đến bất hòa trước cuộc đời đang rối ren, đen tối như thế. Câu 3 của bài thơ là lời ướm hỏi, rồi đến câu 4 là lời đề nghị. Nếu Cung quế chưa có ai thì chị cũng buồn, cũng cô đơn lắm nên hãy để em lên chơi cùng, em đỡ buồn mà chị cũng bớt cô đơn. Tính từ đấy mà cũng ngang tàng đấy! Xin chị đừng từ chối nhé, bởi vì em có lí lẽ đây này:
Có bầu có bạn, cùng tri kỷ
Cùng gió cùng mây, thế mới vui.
Cái lí của thi nhân thật là thuyết phục. Song trong sự thuyết phục để thoát li, xa lánh trần thế ấy chúng ta thấy một thực trạng buồn vắng, cô đơn của tâm hồn thi sĩ. Vốn đa tình đa cảm nễn thi nhân luôn luôn có khát vọng được người tri kỉ, mà cõi trần thì "Chung quanh những đá cùng cây; Biết người tri kỉ nơi đâu mà tìm". Cái vui của thi nhân là cái vui được tâm giao, tâm đồng. Gió, mây thơ mộng được không nếu chẳng "có bầu có bạn". Khát vọng lên trên, lánh đời ở đây thực ra là một cách bộc lộ khao khát đồng cảm, tri âm trong cuộc đời của Tản Đà. Và cái cách ở đây là ngông. Chưa hết, thi nhân còn vẽ ra viễn cảnh:Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích mà em đã đọc ở tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô HoàiRồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười
Lãng mạn hết mức, tưởng tượng ra cảnh "tựa nhau" cùng chị Hằng thì quả là cái ngông đã đến đỉnh điểm. Tác giả hạ chữ cười ở cuối bài thật đắt. Cười ở đây chứng tỏ cái hả hê thỏa mãn khi trong ước vọng được thoát tục, rồi bỏ được trần ai mà lên tiên. Cười còn là thái độ mỉa mai, khinh khi cái cuộc đời đang đầy những sầu khổ, cô đơn dưới kia. Cười thách thức. Cười ngông.
Bài thơ tuân thủ khuôn mẫu của một bài thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển. Nhưng nguồn cảm xúc tự nhiên, không chừng bay bổng đã tự tìm đến những lời thơ tựa như lời nói hàng ngày: "buồn lắm chị Hằng ơi", "em nay chán nửa rồi", "đã ai ngồi đấy chưa", "xin chị nhắc lên chơi"’, "thế mới vui", "tựa nhau trông xuống thế gian cười"; xưng hô khẩu ngữ (chị – em) tự nhiên, không đẽo gọt cầu kì và ngữ điệu biểu hiện đa dạng (ơi, rồi, đó chửa, xin, thế mới). Lên tiên, thoát tục là thì đề quen thuộc trong thơ cổ, ở đây cái không mới ấy đã được làm mới bằng giọng điệu, bằng lời thơ.
Cái ngông của Tản Đà trong bài thơ này là một hình thức ứng xử vốn nằm trong cốt cách của nhà nho tài từ trong thơ truyền thống. Song, như chúng ta đã thấy, cái ngông ấy lại là thái độ của Tản Đà đối với xã hội ta những năm đầu thế kỉ XX, bộc lộ một nguồn xúc cảm mới, đầy cá tính đa tình, phóng túng. Cái mơ mộng thành ra cái ngông thì quả là đậm chất riêng của Tản Đà.Xem thêm: Nét độc đáo trong bài thơ “Hầu Trời”Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà | 1,324 | |
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải là một khúc ca mùa xuân tràn ngập sự tươi vui, yêu đời. Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ nên cảm xúc được cô đọng. Mặc dù thời điểm này nhà thơ đang nằm trên giường bệnh nhưng tâm trạng của nhà thơ vẫn giữ được sự tươi vui.
Nhằm giúp các em có thêm tài liệu để tham khảo cho đề văn phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, Kho tàng văn mẫu hôm nay sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn này đồng thời cung cấp bài văn mẫu phân tích bài thơ này.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Thanh Hải và bài thơ mùa xuân nho nhỏ.
– Bài thơ miêu tả về mùa xuân. Đó là mùa xuân trong cảm nhận, mùa xuân trong kí ức của tác giả bởi thực tế lúc này nhà thơ đang nằm trên giường bệnh.
2. Thân bài phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
Khổ 1: Bức tranh mùa xuân với những hình ảnh quen thuộc
– Bức tranh có sự sinh động, rực rỡ của màu sắc, của tiếng chim. Nó khiến cho tâm trạng của nhà thơ trở nên rộn rã.
– Giọt long lanh là hình ảnh tu từ chứa đựng nhiều ý nghĩa, mỗi người có thể hiểu theo một hướng khác nhau.
Khổ 2: Hình ảnh mùa xuân của đất nước
– Hai hình ảnh đối xứng: người cầm súng – người ra đồng, đó chính là những con người đã làm nên mùa xuân của đất nước.
– Điệp ngữ tất cả như tạo nên nhịp điệu sôi nổi, khẩn trương.
Khổ 3: Niềm tự hào dân tộc
– Giọng thơ có sự trầm lắng, suy tư.
– Chặng đường 4000 năm lịch sử của dân tộc được tác giả nhìn lại, điểm lại những vất vả và gian lao.
– So sánh đất nước với vì sao lúc nào cũng tỏa sáng và tiến về phía trước.
Khổ 4: Ước mong giản dị của nhà thơ
– Điệp ngữ ta làm thể hiện ước mong giản dị của nhà thơ, thể hiện niềm khát khao được hòa mình vào trở thành một phần của đất trời.
Khổ 5: Mong muốn được cống hiến cho đất nước
– Hai chữ lặng lẽ cho thấy mong ước giản dị của nhà nhớ. Không cần phải lớn tiếng, không cần ai công nhận. Nhà thơ khao khát được cống hiến sức mình dù là khi còn trẻ hay khi tóc đã bạc.Xem thêm: Nghị luận xã hội Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận
Khổ 6: Khúc nhạc dân ca xứ Huế
– Câu dân ta khiến cho cảm xúc lắng lại. Nhà thơ hẳn rất yêu quê hương của mình.
3. Kết bài
Bài thơ mang một âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng cùng những hình ảnh thơ vô cùng bình dị. Thông qua những vần thơ của Thanh Hải, chúng ta càng thêm yêu mùa xuân, yêu con người và đất nước Việt Nam.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
Có thể nói, mùa xuân luôn mang đến cho con người những cảm xúc tươi mới, nhẹ nhàng. Nó khiến cho con người cảm thấy yêu đời hơn và muốn hòa mình vào với thế giới ngoài kia. Với nhà thơ Thanh Hải, ông cũng viết về mùa xuân với những câu thơ đầy tươi đẹp. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là bài thơ cuối cùng của ông và được sáng tác khi ông đang nằm trên giường bệnh nhưng thông qua nội dung bài thơ người đọc không hề cảm thấy có chút gì buồn bã. Ngược lại, bài thơ chứa đựng hình ảnh thơ đẹp, ca từ tươi vui và thể hiện được khát vọng hòa mình vào với cuộc sống của nhà thơ.
Bức tranh mùa xuân trước hết được thể hiện qua hình ảnh của dòng sông và hình ảnh của bầu trời. Trong bức tranh ấy có màu xanh của nước, có màu tím biếc của hoa và có cả thanh âm trong trẻo của tiếng chim:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ôi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời.
Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
Sắc tím của hoa ở đây có thể là hoa bèo trôi nổi trên mặt sông. Tuy bức tranh đẹp nhưng số từ “một” gợi lên một cảm giác gì đó cô đơn. Dòng sông hơi bình lặng một chút nhưng trên bầu trời lại vô cùng rộn ràng bởi tiếng chim. Chim hót vang trời cho thấy một sự tươi vui. Và chính sự tươi vui ấy khiến cho tác giả muốn ôm trọn mùa xuân vào trong lòng mình:
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng
Giọt long lanh ở đây là một hình ảnh tu từ mà mỗi người có thể hiểu theo một hướng khác nhau. Đó có thể là giọt sương ban mai đọng lại trên những chiếc lá non xanh. Đó cũng có thể là cả một mùa xuân, là tất cả nhưng gì tinh túy nhất của mùa xuân được tác giả thu nhỏ lại thành giọt long lanh. Hiểu thế nào cũng được bởi vì điều quan trọng là nhà thơ muốn hứng lấy giọt long lanh ấy. Đó là cách mà nhà thơ muốn thể hiện rằng, ông muốn được tận hưởng cuộc sống này.Xem thêm: Ngày nay, rất nhiều bạn trẻ thích sống "sành điệu". Em hiểu thế nào là "sành điệu"? "Sành điệu" có phải là hư hỏng? Hãy viết bài văn ngắn bày tỏ suy nghĩ của bản thân
Sang khổ thơ tiếp theo, nhà thơ miêu tả mùa xuân của đất nước từ những ngày đất nước còn chiến tranh. Đó là mùa xuân của những người cầm súng, mùa xuân của những người ra đồng. Họ tuy mỗi người một công việc nhưng ai cũng tràn đầy hứng khởi. Mùa xuân ấy có những nhánh lộc xanh non và chính họ là những người đã làm nên mùa xuân của đất nước:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương lúa
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao
Hai câu thơ cuối của khô thơ sử dụng phép điệp từ, điệp ngữ cùng với việc lựa chọn từ ngữ hối hả và xôn xao của tác giả khiến cho chúng ta cảm nhận được nhịp độ khẩn trương của con người thời bấy giờ. Họ mang trong lòng mình sự hăng hái. Kể cả những người đi lính, vào sinh ra tử, có khi cần kề với cái chết thì họ cũng vẫn hừng hực lửa khí thế với quyết tâm chống lại kẻ thù. Đó cũng là lý do vì sao chúng ta có được nền độc lập, có được mùa xuân như ngày hôm nay. Đất nước ta đã trải qua chiều dài hơn 4000 năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chúng ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu, vững vàng qua bao nhiêu cuộc kháng chiến để rồi vững bước đi lên và tỏa sáng như những vì sao:
Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
Khổ thơ thứ 3 giống như một tiếng nói của sự tự hào, của lòng tự tôn dân tộc. Phải cảm ơn những thế hệ cha anh đi trước đã không tiếc máu xương để bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta, những con người được sinh ra trong thời bình, được tận hưởng hết những vẻ đẹp của mùa xuân chính là nhờ thế hệ cha anh của mình. Như một sự biết ơn với thế hệ trước, cũng là để bày tỏ tình yêu với quê hương, nhà thơ Thanh Hải đã có những ước mong vô cùng giản dị. Ông ước mình được làm chim, làm cành hoa, làm nốt trầm để hòa nhập vào cùng với mùa xuân của cuộc đời. Có lẽ, đây chính là di nguyện cuối đời của nhà thơ:Xem thêm: Nghị luận xã hội về tình bạn
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Nhà thơ muốn trở thành những điều giản dị ấy là bởi vì ông muốn được hiến dâng cuộc đời mình cho một cuộc đời chung. Nếu mỗi con người là một mùa xuân thì nhà thơ muốn dâng mùa xuân của mình cho mùa xuân của đất trời. Không quan trọng tuổi tác, chỉ cần còn hơi sức, thì còn dâng hiến:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Mong ước của nhà thơ thật giản dị. Ông chỉ muốn âm thầm, lặng lẽ hiến dâng chứ không cần ai phải biết tới, chẳng cần ai phải ngợi ca. Đến khổ thơ cuối bài, nhà thơ nhắc tới khúc hát dân ca của quê hương xứ Huế. Nó như một sự dự báo rằng thời gian của ông không còn nhiều nữa. Khúc hát tâm tình đủ để cho thấy nhà thơ yêu quê hương mình đến nhường nào. Cũng giống như Bác Hồ trước lúc ra đi, người đã muốn nghe một câu hát dân ta. Tìm về với cội nguồn quê hương, đó là bản chất quý báu của con người Việt Nam:
Mùa xuân ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đã khép lại với những vần thơ như vậy. Sau khi làm bài thơ này 1 năm thì nhà thơ Thanh Hải cũng qua đời. Số lượng thơ của ông không nhiều nhưng chỉ với riêng bài thơ Mùa xuân nho nhỏ này cũng đủ để tên tuổi của ông sống mãi trong lòng chúng ta.
Trên đây là dàn ý chi tiết và bài mẫu phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. Toàn bộ nội dung trong bài viết này do Kho tàng văn mẫu biên soạn và giữ bản quyền. Hy vọng tài liệu tham khảo này sẽ giúp ích nhiều cho các em trong việc học tập.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải (Có dàn ý chi tiết) | 1,743 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ của Thanh Hải
Bài làm
Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, mùa cỏ cây hoa lá đâm chồi nảy lộc và muôn hoa khoe sắc thắm. Chính vì thế mùa xuân trở thành nguồn cảm hứng bất tận của những nhà văn nhà thơ. Mùa Xuân Nho Nhỏ chính là một trong những sáng tác hay viết về mùa xuân, mùa xuân của đất nước Việt Nam.
Nhà thơ Thanh Hải viết bài thơ này để dâng tặng cho đời trước khi ông ra đi về cõi vĩnh hằng. Vốn sinh ra và trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên bất cứ lúc nào ông cũng luôn có khát vọng dâng hiến cho đời, cho quê hương, đất nước. Bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ giống như tiếng lòng của ông chân thành mà tha thiết.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh về mùa xuân trên dòng sông:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc”
Bằng bút pháp chấm phá nhà thơ đã cho ta thấy được một khung cảnh rất lãng mạn, rất xuân và mang theo những đặc sắc của xứ Huế thanh bình. Không gian được bao phủ bởi một gam màu xanh của dòng sông Hương thơ mộng. trên cái nền xanh ấy nổi bật lên hình ảnh của một bông hoa. Đó không phải màu hồng của hoa đào hay màu vàng của hoa mai mà đó là màu “tím biếc” của bông hoa lục bình. Một hình ảnh đặc trưng của xứ Huế.Xem thêm: Hãy sử dụng câu sau làm câu chủ đề để viết một đoạn văn hoàn chỉnh (khoảng 10 - 15 câu): "Từ thân phận bị đọa đày khốn cùng, Thúy Kiều dã trở thành vị quan tòa cầm cán cân công lí."
Phân tích bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ
Nhắc đến màu tím, ta thường nhớ đến hình ảnh những cô nữ sinh với bộ áo dài tím thướt tha. Điểm nhấn của cảnh vật khiến cho người đọc cảm nhận được một không gian tràn dầy sức sống, đầy sức xuân. Một khung cảnh đẹp không chỉ ở cảnh vật mà còn mang những âm thanh từ thiên nhiên vang vọng:
“Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời”
Tiếng chim ca, ngân nga của loài chim chiền chiện. Tiếng chim như làm xao xuyến cả đất trời, khiến cho tâm hồn của người thi sĩ cảm thấy xao xuyến. Từ “ơi” đã bày tỏ cảm xúc của nhà thơ. Từ những cảnh vật rất quen thuộc, gần gũi nhưng mỗi lần chứng kiến đều khiến tác giả dạt dào cảm xúc. Hay cũng có lẽ đây là mùa xuân cuối cùng mà nhà thơ được tận hưởng nên ông mới cảm thấy mùa xuân dường như đẹp hơn, tươi sáng hơn. Trước vẻ đẹp ấy Thanh Hải cảm thấy bồi hồi xúc động:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
Đến hai câu thơ này thì chủ thể trữ tình hay chính tác giả đã xuất hiện trực tiếp trong bài thơ. Từ tiếng chim, từ bông hoa nay thấy được “từng giọt long lanh”. Đó là những giọt sương của sớm mai vốn đọng trên cành lá nay rơi rụng xuống. Nhà thơ như cảm nhận được tiếng rơi của giọt sương. Trước cảnh đẹp ấy, nhà thơ không thể kiềm được lòng của mình mà phải đưa tay hứng lấy. Chỉ với vài nét phác họa tác giả đã khắc họa được một bức tranh mùa xuân sống động, tuyệt đẹp.Xem thêm: "Cảnh... giờ."... Giải thích ngắn gọn cách hiểu của em về hai câu thơ trên, từ đó phân tích tám câu thơ cuối cùng của đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích... để làm nổi bật bút pháp tả cảnh ngụ tình đã đạt đến thành công tuyệt vời của thiên tài Nguyễn Du
Từ mùa xuân của thiên nhiên, nhà thơ Thanh Hải đã liên hệ đến mùa xuân của đất nước, của Cách mạng:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ”
Bốn câu thơ với cấu trúc song hành, đi đôi với mùa xuân là nhiệm vụ chiếc đấu, nhiệm vụ lao động sản xuất của con người. Hai nhiệm vụ quan trọng của người chiến sĩ, người nông dân trong thời đại cách mạng. Điểm sáng của bốn câu thơ là việc lặp lại từ “mùa xuân” để nhấn mạnh thời gian và từ “lộc” để tượng trưng cho sự sung túc, may mắn. Đối với người chiến sĩ thì “lộc” còn mang ý chỉ những cành lá để ngụy trang, che mắt quân thù. Còn với người nông dân thì “lộc” chính là những mầm non của cây lúa, của những loài cây khác đem lại lương thực để phục vụ đời sống sinh hoạt, đời sống chiến đấu. Dường như cả đất nước đã và đang rộn ràng bước vào xuân, khí thê khẩn trương, náo nhiệt đón chào xuân:
“Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao”
Trước không khí ấy thì tác giả không quên nhắc lại chặng đường lịch sử của đất nước với biết bao thăng trầm:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Chặng đường ấy với biết bao “Vất vả và gian lao” nhưng dân tộc ta vẫn một lòng chiến đấu, hăng say lao động sản xuất phục vụ cho đời sống chiến đấu để có thể đi tới ngày đại thắng của dân tộc. Thanh Hải so sánh đất nước với vì sao chính là để khăng định vẻ đẹp của đất nước, để nói lên sự tự hào của nhà thơ đối với đất nước, với dân tộc ta. Đất nước giống như vì sao, một nguồn sáng bất diệt và vĩnh hằng với thời gian. Đó còn là ngôi sao vàng năm cánh trên lá cờ Việt Nam. Trong không khí mùa xuân của cả nước, nhà thơ đã thể hiện khát vọng cống hiến của mình:Xem thêm: Cảm nghĩ của em về con người Nguyễn Trãi qua văn bản “Côn Sơn ca”
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Đến khổ thơ cuối, nhà thơ giống như đang hát lên khúc hát yêu thương dành tặng cho dân tộc:
“Mùa xuân, ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế”
Bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ đã cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Đó là thiên nhiên của mùa xuân tươi đẹp, mùa xuân cách mạng. Đồng thời, bài thơ còn thể hiện nỗi khát vọng của nhà thơ đó là muốn cống hiến cho đời, gợi nhắc thế hệ trẻ ngày nay đó là hãy góp “mùa xuân nho nhỏ” của mình với mùa xuân lớn của đất nước, của dân tộc.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ của Thanh Hải hay nhất | 1,164 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
Mùa xuân là để tài bất tận của thơ ca. Song, cái cảm nhận về mùa xuân của các nhà thơ theo thời gian có nhiều thay đổi. Đối với Mãn Giác Thiền sư, một cao tăng nổi tiếng thời Lý, mùa xuân mang một tính triết lý sâu sắc:
“Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai”
Còn đối với những nhà thơ trước cách mạng, mùa xuân gợi lên một nét sầu cảm:
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu,
Mang chi xuân đến gợi thêm sầu.” (Chế Lan Viên)
Nhưng đối với nhà thơ Thanh Hải, mùa xuân mang một nét đẹp đáng yêu tươi thắm; gợi lên trong lòng người đọc nhiều hình ảnh rạo rực tươi trẻ. Vì thế, mùa xuân trong thơ của TH là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ của quê hương, dân tộc. Tất cả đã được thể hiện rõ nét trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, một bài thơ đặc sắc được nhà thơ viết không lâu trước khi qua đời.
Người xưa có câu: “Thi trung hữu họa”. Thơ ca vẽ nên những bức tranh tuyệt đẹp của cuộc sống. Mở đầu bài thơ, TH đã phác họa nên một bức tranh xuân giản dị mà tươi đẹp:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chim mà vang trời”
“Dòng sông xanh” gợi nhắc hình ảnh những khúc sông uốn lượn của dải đất miền Trung quanh co, đó có thể là dòng sông Hương thơ mộng, một vẻ đẹp lắng đọng của xứ Huế mộng mơ.Trên gam màu xanh lơ của dòng sông thơ mộng, nổi bật lên hình ảnh “một bông hoa tím biếc”. Không có màu vàng rực rỡ của hoa mai, cũng không có màu đỏ thắm của hoa đào, mùa xuân của TH mang một sắc thái bình dị với màu tím biếc của bông hoa lục bình. Đây là một hình ảnh mang đậm bản sắc của cố đô Huế. Không biết tự bao giờ màu tím đã trở thành màu sắc đặc trưng của con người và đất trời xứ Huế. Màu tím biếc gợi nhớ hình ảnh những nữ sinh xứ Huế trong những bộ áo dài màu tím dịu dàng thước tha. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đảo ngữ, đưa động từ ” mọc” lên đầu câu như một cách để nhấn mạnh vẻ đẹp tươi trẻ, đầy sức sống của mùa xuân thiên nhiên. Trong bức tranh mùa xuân của TH, không chỉ có hình ảnh, mà còn có âm thanh xao xuyến, ngân nha của con chim chiền chiện. Tiếng chim lảnh lót vang lên làm xao động cả đất trời, làm xao xuyến cả tâm hồn thi sĩ nhạy cảm của nhà thơ. Những từ ngữ cảm thán “ơi, hót chi” đã thể hiện rõ nét cảm xúc của nhà thơ. Mùa xuân của thiên nhiên đã đem đến cho nhà thơ một cảm giác ngây ngất. Mùa xuân ấy không có gì khác lạ, vẫn là một mùa xuân rất giản dị trên quê hương xứ Huế của nhà thơ. Nhưng nhà thơ bỗng nhận ra vẻ đẹp lạ kì của mùa xuân, một vẻ đẹp mà bấy lâu nhà thơ không để ý. Phải chăng vì đây là lần cuối cùng được ngắm nhìn mùa xuân quê hương nên nhà thơ cảm thấy mùa xuân ấy đẹp hơn, tươi sáng hơn?
Say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp giản dị và nên thơ của mùa xuân, nhà thơ bồi hồi xúc động:
“Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng:
“Giọt long lanh” là giọt mưa xuân, giọt nắng vàng hay giọt sương sớm? Theo mạch cảm xúc của nhà thơ thì có lẽ đây là giọt âm thanh của tiếng chim ngân vang. Bằng một cảm nhận tinh tế, nhà thơ đã hình tượng hóa tiếng chim thành một sự vật có hình dáng, đây là một sự sáng tạo rất mới mẻ chỉ có thể có được nhờ tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ. Như vậy, chỉ bằng ba nét vẽ: dòng sông xanh, bông hoa tím và tiếng chim ngân vang khắp đất trời, nhà thơ đã phác họa nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp trên cố đô Huế.
Từ vẻ đẹp thanh khiết của mùa xuân thiên nhiên, nhà thơ liên hệ đến mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:
“Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ”
Bốn câu thơ mang cấu trúc song hành thể hiện rõ hai nhiệm vụ của nhân dân: chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và sản xuất làm giàu nước nhà. Hai nhiệm vụ ấy đặt nặng lên vai của người chiến sĩ – “người cầm súng” và người nông dân – “người ra đồng”. Nét đặc sắc của đoạn thơ là việc sáng tạo hình ảnh “lộc”. “Lộc” là chồi non, cành biếc; “lộc” còn tượng trưng cho sự may mắn, niềm an lành trong năm mới. Đối với người chiến sĩ, “lộc” là cành lá ngụy trang che mắt quân thù. Đối với người nông dân, “lộc” là những mầm mạ non trải dài trên đồng ruộng bát ngát, báo hiệu một mùa bội thu. Người chiến sĩ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc sẽ đem về “lộc” là sự an lành niềm vui, niềm tự hào chiến thắng cho dân tộc. Người nông dân gieo trồng lúa trên đồng ruộng sẽ đem về “lộc” là những hạt gạo trắng ngần, những bát cơm ngon ngọt cho đồng bào cả nước. Cả dân tộc bước vào xuân với khí thế khẩn trương và náo nhiệt:
“Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao…”
Bằng cách sử dụng từ láy “hối hả-xôn xao” cùng với điệp từ, tác giả đã mang đến cho câu thơ một nét rộn ràng, nhộn nhịp. “Hối hả” nghĩa là vội vả, khẩn trương. “Xôn xao” là có nhiều âm thanh trộn lẫn vào nhau, làm cho náo động. Từ những âm thanh xôn xao và sự hối hả của con người, nhà thơ lại suy tư về sự phát triển của đất nước qua bốn ngàn năm lịch sử:
Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ “Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
Chặng đường lịch sử của đất nước qua bốn ngàn năm trường tồn đã trải qua biết bao thăng trầm, với bao nhiêu là “vất vả và gian lao”. So sánh đất nước với vì sao sáng, nhà thơ đã thể hiện niềm tự hào đối với đất nước và dân tộc. Sao là nguồn sáng bất diệt, là vẻ đẹp vĩnh hằng trong không gian và thời gian. Ngôi sao sáng đã trở thành vẻ đẹp lộng lẫy trên lá cờ VIệt Nam, trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp ngời sáng của con người và đất nước Việt Nam. Đất nước vẫn không ngừng phát triển, vẫn “cứ đi lên phía trước” để sánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới. Đoạn thơ thể hiện ý chí vươn lên không ngừng của con người và dân tộc Việt Nam.
Trong không khí tưng bừng của đất nước vào xuân, nhà thơ cảm nhận được một mùa xuân tươi trẻ, rạo rực trỗi dậy trong tâm hồn. Đó là mùa xuân của lòng người, mùa xuân của sức sống tươi trẻ, mùa xuân của sự cống hiến và hòa nhập:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
Nhịp thơ dồn dập và điệp từ “ta làm” diễn tả rõ nét khát vọng cống hiến của nhà thơ. Nhà thơ muốn làm một con chim, muốn làm một nhành hoa thắm trong vườn hoa xuân để dâng tiếng hót tha thiết, để tỏa hương sắc tô điểm cho mùa xuân đất nước. “Nốt trầm” là nốt nhạc tạo nên sự lắng đọng sâu xa trong một bản nhạc. Trong cái không khí tưng bừng của ngày hội mùa xuân, nhà thơ muốn làm một nốt nhạc trầm để góp vào khúc ca xuân của dân tộc một chút vấn vương, xao xuyến. Từ khát vọng hòa nhập, nhà thơ thể hiện rõ hơn khát vọng cống hiến của mình ở những câu thơ tiếp theo:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
“Mùa xuân nho nhỏ” là cách nói ẩn dụ đầy sáng tạo của nhà thơ. Mỗi con người đều có thể góp một phần công sức của mình như “một mùa xuân nho nhỏ” để tô hương thêm sắc cho quê hương đất nước. “Dâng” là một hành động cống hiến, cho đi mà không dòi hỏi sự đền đáp. Phép đảo ngữ nhằm nhấn mạnh khát vọng cống hiến chân thành của nhà thơ. Nhà thơ muốn góp công sức của mình trong công cuộc xây dựng đất nước nhưng chỉ với một thái độ hết sức khiêm tốn, không khoa trương mà chỉ “lặng lẽ”, âm thầm nhưng lại là toàn tâm toàn ý, như nhà thơ Tố Hữu đã khẳng định:
“Lẽ nào cho vay mà không trả
Sống là cho đâu chỉ nhân riêng mình.”
Điệp từ “dù là” được điệp lại hai lần thể hiện rõ sự tự tin, bất chấp thời gian và tuổi tác của nhà thơ. Qua khổ thơ, nhà thơ đã nhấn mạnh một ý nghĩa hết sức sâu sắc: nhiệm vụ cống hiến xây dựng đất nước là của mọi người và là mãi mãi. Không ai là không có nghĩa vụ xây dựng đất nước, và nghĩa vụ ấy kéo dài cả một đời người, từ tuổi đôi mươi cho đến khi đầu đã điểm bạc theo năm tháng. Đây là lời kêu gọi mọi người cùng chung vai gánh vác công việc xây dựng và phát triển đất nước, để đất nước có thể vững vàng mà tiếp tục “đi lên phía trước”.
Khổ thơ cuối là tiếng hát yêu thương nhà thơ ban tặng cho đất nước và dân tộc, như một sự hiến dâng cuối cùng cho quê hương đất nước:
“Mùa xuân-ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế”
Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, TH muốn hát lại hai làn điệu dân ca quen thuộc của quê hương xứ Huế. Có lẽ trong những ngày tháng nằm trên giường bệnh, khi bị tử thần rình rập, nhà thơ lại thấy quê hương của mình đẹp hơn, bản sắc quê hương mình cũng đáng tự hào hơn. Đây cũng là cách để nhà thơ thể hiện tình yêu quê hương, nguồn cội. Đoạn thơ cho ta thấy rõ nhà thơ rất yêu mến quê hương thơ mộng của mình, có lẽ cũng từ đó mà nhà thơ có thể mở rộng tình cảm để yêu mến đất nước, mới có thể cống hiến cả cuộc đời cho nước nhà. Bởi lẽ, chỉ có những người biết yêu thương quê hương xóm làng thì mới có thể mở rộng lòng mình để yêu mến đất nước dân tộc.
Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được viết theo thể thơ năm tiếng, với cấu trúc gồm bảy khổ, mỗi khổ từ bốn đến sáu câu. Những hình ảnh ẩn dụ sáng tạo, biện pháp nhân hóa, điệp ngữ và những từ ngữ tượng hình được sử dụng thành công đã tạo nên nét đặc sắc của bài thơ. Qua đó, ta có thể cảm nhận được cái thi vị trong hồn thơ TH.
Tình yêu thiên nhiên, sự xúc động trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân cách mạng và khát vọng cống hiến đã được TH gửi gắm qua bài thơ “mùa xuân nho nhỏ”. Tuy là tác phẩm được viết không lâu trước khi nhà thơ qua đời nhưng bài thơ vẫn để lại trong lòng bao thế hệ bạn đọc những cảm xúc sâu lắng khó phai mờ. Và, Bài thơ vẫn sẽ tiếp tục trường tồn cùng với những bước đi lên của đất nước, gợi nhắc cho những thế hệ trẻ một cách sống đẹp: góp một “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc, để đất nước ta sẽ mãi tươi đẹp như trong tiết xuân. Thế mới biết, cuộc đời của con người thì có hạn những những giá trị tinh thần mà con người để lại cho đời sau thì có giá trí vĩnh hằng.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ Ánh Trăng của Nguyễn Duy hay nhất | Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải | 2,139 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh.
Bài thơ Mới ra tù, tập leo núi không nằm trong tập Nhật kí trong tù. Hồ Chí Minh viết bài này khi đã được giải thoát khỏi cảnh tù đày. Bài thơ được viêt bến rìa tờ báo cùng với mấy.hàng chữ "Chúc chư huynh ở nhà mạnh, khỏe và cồ’ gắng cổng tác. Ở bên này bình yên" và gửi về cho các đồng chí nhà đang ngày ngày chờ mong tin, tức Bác và lại được tin Bác đã mất trong ngục. Bài thơ đã mang lại cho các đồng chí niềm vui lớn. Người vẫn còn sống, đã ra tù và lại chuẩn bị bước vào chặng đường hoạt dộng mới.
-”Sau khi ở tù ra sức khỏe của Người bị giảm sút hẳn. Tác giả vừa đi đường vừa kể chuyện đã viết: "Khi được thả ra, mắt Bác nhìn kém, chân bước không được, Bác quyết tâm tập đi mỗi ngày mười bước dù đau mà phải bò, phải lết cũng phải mười bước mới thôi. Cuối cùng, Bác chẳng những đi vững, mà còn tréo được núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Bác cao hứng làm một bài thơ chữ Hán".
Bài thơ Mới ra tù, tập leo núi được làm trong hoàn cảnh đó. Chuyến leo núi của Bác nhằm mục đích rèn luyện ý chí và thân thể để tiếp tục hoạt động.)Chủ đề của bài thơ Mới rá tù, tập leo núi không nhằm hướng vào chủ đề vượt khổ như một số bài thơ đi đường khác mà chủ yếu là bộc lộ tình cảm nhớ thương với đất nước, với đồng chí bạn bè.
"Núi ấp ôm mây, mây ấp núi"
Hình tượng mây núi được biểu hiện qua hai hình ảnh gắn bổ: núi ấp ôm mây, mây ấp núi như tình cảm đồng chí bạn bè yêu thương nhau. Hình tượng mây núi ở đây không hàm ý ám chỉ cục diện chính trị tăm tối mù mịt ở Trung Quốc vào những năm 40 như có ý đã giải thích.
Sau gần 14 tháng xa đất nước, Người rất nóng lòng chờ tin tức bên nhà:
Xem thêm: "Ông già và Biển cả" là một bản anh hùng ca ca ngợi tư thế ngạo nghễ hào hùng của con người trên thế giới này. Hãy phân tích đoạn trích "Đương đầu với đàn cá dữ" để làm nổi bật tinh thần đó”Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng Tin tức bên nhà bừa bữa trông"
(Tức cảnh)
Nhớ đất nước, bạn bè Người cũng muôn giãi bày kín đáo phần nào tâm lòng của mình:
"Lòng sông gương sáng bụi không mờ"..
Đứng trên đỉnh núi cao nhìn xuống dòng sông, lòng sông như gương nước trong không chút bụi mờ. Thiên nhiên cũng có những khoảnh khắc, những trạng thái thanh khiết như chính tấm lòng Người trong cảnh ngộ đó. Tình cảm của Người vẫn trước sau một lòng một dạ trung thành với cách mạng, với nhân dân. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai nhận xét: "Đằng sau bức tranh phong cảnh này, đằng sau những tầng lớp mây núi trập trùng, đằng sau dòng nước sông trong dưới chân Tây Phong Lĩnh, ấn tượng không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn cua độc giả chính là tâm trạng vừa trong trắng sâu sắc, vừa cáo cả cửa con người".
Thiên nhiên ở đây đã góp phần biểu hiện tình cảm sâu kín của con người:
"Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa".
Tình bận vẫn là một tình cảm cao đẹp nằm trong chủ đề quen thuộc: nhớ bạn (ức hữu) được biểu hiện trong Nhật kí trong tù:
"Ngày đi bạn tiễn đến bên sông,
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng
Nay gặt đã xong, cày đã khắp,
Què người, tôi vẫn chốn lao lung”
(Nhớ bạn)
Tình cảm nhớ bạn trong bài Mới ra tù, tập leo núi được bộc lộ trong hoàn cảnh tác giả đã được tự do. Trong lòng Người lúc này có cả niềm vui nỗi buồn. Niềm vui của một chiến sĩ cách mạng giữ vững lòng trung kiên quá những thử thách của cảnh tù đày, niềm vui và hi vọng được gặp lại bạn bè. Nhưng dù sao Người đang còn trong cảnh ngộ xa đất nước, xa bạn bè nên không tránh khỏi cảnh buồn vắng cô đơn. Trước mắt là mệt chặng đường hoạt động mới mà Người chuẩn bị tinh thần để tham gia với lòng quyết tâm. Bao nhiêu cảm xúc bồi hồi xao xuyến trong lòng người chiến sĩ cách mạng,có ai ngờ giữa cảnh thiên nhiên hùng vĩ và trong trẻo ấy con người đương một mình dạo bước trên đỉnh núi kia với cái phong thái rất tiên phong đạo cốt lại là một chiến sĩ cộng sản của thời đại chúng ta đang chuẩn bị để bước vào một cuộc chiến đấu sống chết với kẻ thù" (Hoài Thanh).
Xem thêm: Phân tích ý nghĩa của cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác trong đoạn trích kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. | Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh | 873 | |
Phân tích bài thơ Mới ra tù, tập leo núi của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Trong tập thơ dịch Ngục trung nhật ký của Hồ Chi Minh, có một bài thơ viết sau khi Bác ra tù được xếp vào cuối tập thơ như lời kết của cuốn sách. Đó là bài Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) Bài thơ được dịch như sau:
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh
Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa.
Bài thơ lấp lánh một vẻ đẹp cổ điển, vừa ghi lại được những xúc động trong tâm hồn tác giả lúc mới ra tù, vừa như một lời báo tin, nhắn nhủ với đồng chí, bạn bè về bản thân mình sau bao ngày bị đày ải giam cầm giữa chốn ngục tù nơi đất khách.
Như chúng ta đều biết, sau mười bốn tháng bị gông cùm với bao vất vả, khó khăn, Bác Hồ đã được trả lại tự do. Những ngày đầu, do bị giam quá lâu làm Người " chân yếu, mắt mờ, tóc bạc" (Tố Hữu), đi lại không vững, vì thế Bác phải tập leo núi để tự rèn luyện thêm sức lực Bài thơ được viết khi leo núi Tây Phong Lĩnh và được gửi về nước một cách bí mật. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuốn Tư nhân dân mà ra có kể lại rằng: "Từ khi Bác bị báứt, Trung ương Đảng ta mất hẳn liên lạc, thậm chí do tin tức sai tưởng Bác đã mất trong tù. Mãi hơn một năm sau, một hôm cơ quan Trung ương nhận đươc mội tớ báo Trung Quốc bên lề có ghi một câu: "Chúc chư huynh ở bên nhà mạnh khoẻ và cố gắng công tác. Ở bên này vẫn bình yên" Và bên dưới có ghi bài thơ chữ Hán nàyXem thêm: Vẻ đẹp chân quê trong thơ Nguyễn Bính thể hiện trong bài “Tương tư” Mở đầu bài thơ là hai câu miêu tả, hai nét chấm phá về núi và sông mà như thu gọn vào tầm mắt tất cả mây trời, non nước:
"Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân
Giang tâm như kính tịnh vô trần"
Câu thơ dịch khá sát: "Núi ấp ôm mây mây ấp núi – Lòng sông gương sáng bụi không mờ". Trên những ngọn núi cao, mây thường bao phủ bốn mùa. Mây ở lưng chừng núi, núi vượt lên trên mây. Mây và núi hoà quện với nhau lẩn quất trong nhau. Và từ ở trên cao, nhìn xuống, một dòng sòng lấp lánh như mặt gương trong và sáng. Hai câu thơ tạo nên một bức tranh tả thực sinh động, chỉ bằng một vài nét như phóng bút mà ghi lại được linh hồn tạo vật. Trong bức tranh ấy vừa có cái hùng vĩ của mây của núi, lại vừa có vé đep mềm mại trong sáng dịu dàng của dòng sông; có cả cao sơn và lưu thuỷ và hơn nữa sơn thuỷ ở đây còn rất hữu tình. Đối cảnh sinh tình, lấy cảnh ngụ tình vốn là những thủ pháp quen thuộc của thơ ca phương Đông xưa nay. Hình ảnh một dòng sông lấp lánh, sáng trong không chút bụi mờ trong bài thơ vừa là cảnh đấy và cũng,chính là tình đấy; vừa là tả thực, vừa như một biểu trưng về sự sáng trong của tâm hồn người viết. Đặt trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ, phải chăng đó cỏn là một ẩn dụ, một lời nhắn gửi sâu kín cho đồng chí, đồng bào trong nước về phẩm chất tâm hồn của chính nhà thơ: sau bao nhiêu thử thách gian nan, vất vả, đắng cay, Hồ Chí Minh vẫn giữ trọn được tấm lòng sáng trong, thuỷ chung với cách mạng, với Tổ quốc, với nhân dân. Câu thơ ngắt nhịp 4/3 như một lời khẳng định vang lên quả quyết và dứt khoát, chứa chất một niềm kiêu hãnh tự hào "tịnh vô trần" (không một hạt bụi). Đứng giữa đất trời, mây núi mịt mùng, Người vẫn thấy mình trong trẻo, thanh khiết, không hề vẩn đục. Một lời tự kiểm điểm, tự đánh giá về bàn thân mình sau một chuỗi ngày bị kẻ thù giam cầm đày đoạ chăng?Xem thêm: Người xưa nói: "Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm." Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về lời khuyên trên
Nếu như hai câu thơ đầu tạo nên trong lòng người đọc cảm giác mạnh mẽ, cương quyết… thi hai câu sau lại như trầm lắng, thiết tha bởi tình cảm của người viết:
Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh
Dạo vọng Nam thiên ức cố nhân.
Lời thơ dịch hoàn toàn chính xác: "Bồi hôi dạo bước Tây phomg Lĩnh – trông lại trời Nam nhớ bạn Xưa" Mấy chừ "bồi hồi" "dao vọng" "cố nhân" trong nguyên bản, đọc lên nghe da diết và nặng trĩu một nỗi nhớ khôn nguôi. Hai câu cuối tiếp nối hai câu đầu một cách tự nhiên mà cũng hết sức chặt chẽ hợp với logíc phát triển của tâm trạng trữ tình. Từ xa xưa, leo núi nhớ bạn, nhớ quê hương (đăng sơn, ức hữu) là chuyện thường thấy trong thơ. Nhưng đây không phải là chuyện đăng sơn, ức hữu chung chung mà là nỗi lòng canh cánh ngóng trông về Tổ quốc, nóng lòng được bay về với đồng bào, đồng chi ở phía trời Nam. Đây không phải là một ẩn sĩ mà là một chiến sĩ. Sau sự "rà soát" tự kiểm điểm, tự đánh giá tư tưởng và tấm lòng của mình, Người thấy thanh thản vì vẫn giữ trọn được sự sáng trong, không nhuốm bụi trần, bỗng cảm thấy "bồi hồi" và da diết nhớ "bạn cũ", nhớ những người đồng chí phía Nam quê nhà. Phải giữ được tấm lòng trong sạch, kiên trung không phải hổ thẹn với Tổ quốc, với nhân dân, với chính mình, mới có thể náo nức một nỗi nhớ da diết đến thế.Xem thêm: Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tiễn dặn người yêu Con người leo núi ấy là một con người vừa thoát cành ngục tù với thân hình tiều tuy "chân yếu, mắt mờ" thế mà lời thơ, hình ảnh thơ thật sang trọng, ung dung. Đấy chính là chất thép, là nghị lực phi thường, là tinh thần Hồ Chí Minh đã được tôi luyện trong gian nan của cuộc đời cách mạng và đó cũng là tình cảm đậm đà và hồn thơ bay bổng của Người hướng về Tổ quốc, về đống chí, đồng bào
Nhà thơ Hoàng Trung Thông chắc cũng nhận thấy như thế khi đọc các bài thơ trong Nhật ký trong tù:
Tôi đọc trăm bài trăm ỷ đẹp
Ánh đèn toả rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.
(Đọc thơ Bác)
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Mới ra tù, tập leo núi của Hồ Chí Minh | 1,188 | |
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em
Hướng dẫn
‘Lí Công nước Việt Noi dấu tiền nhân Cầm quân tất thắng Trị nước yên dân Danh lừng trung hạ Tiếng nức gần xa…’
Lí Công la Lí Thường Kiệt, người con vĩ đại của Thăng Long nghìn năm văn vật, tác giả bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ bất hủ. Lí Thường Kiệt là danh tương thời nhà Lí, tên tuổi gắn liền với chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt trong thế kỉ 11. Năm 1076, vua nhà Tống sai tướng Quách Quỳ mang đại binh sang xâm chiếm Đại Việt, Lí Thường Kiệt lập chiến tuyến Sông Cầu – Như Nguyệt để chống giặc. Trong những giờ phút giao tranhác liệt, ông viết bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ để khích lê và động viên tướng sĩ quyết chiến quyết thắng giặc Tống. Bài thơ nói lên niềm tự hào về chủ quyền của dãn tộc, nêu cao ý chí tự lực tự cường của nhân dân ta:
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đáy,
Chúng mày nhất định phải tan vỡ!’
Hai câu thơ đầu, ngôn ngữ trang trọng, ý thơ mạnh mẽ đanh thép khẳng định một chân lí lịch sử bất di bất dịch: ‘Sông núi nước Nam’ – nước Đại Việt thân yêu của nhân dân ta là ‘nơi vua Nơm ở’. Theo quan niệm phù hợp với lịch sử thời bấy giờ, thì vua là tượng trưng cho quyển lực tối thượng và đại diện cho quyền lợi tối cao của cộng đồng dân tộc. Nước ta đã có vua, nghĩa là có người làm chủ. Nam đế có thua kém gì Bắc đế. Nước có vua là có chủ quyền, có nền độc lập. Không những thế, ‘Sông núi Nam Việt được ghi rõ ở sách trời’. Đó là một chân lí lịch sử khách quan không ai có thể chối cãi được. Bài thơ nói đến ‘Nam đê’ nói đến ‘thiên thu’ và’định phận’ dể khẳng định một niềm tin, một ý chí về chủ quyền quốc gia, về tinh thần tự lập, tự cường dân tộc:
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vẳng vặc sách trời chia xứ sở’
Có thể nói, đó là một lời tuyên ngôn về chủ quyền và nền độc lập của Đại Việt. Mọi niềm tin đều cho ta sức mạnh. Trước họa xâm lăng của ngoại bang, niềm tin về độc lập và chủ quyền sẽ làm bùng lên ngọn lửa yêu nước và căm thù giặc trong nhân dàn ta. Hai câu tiếp theo, giọng thơ vang lên sang sảng, căm giận. Lí Thường Kiệt nghiêm khắc lên án hành động ăn cướp trắng trợn của giặc Tống. Chúng đã mang quân sang xâm chiếm nước ta. Câu hỏi tu từ làm cho lời thơ thêm đanh thép:
Xem thêm: Dựa vào văn bản "Sài Gòn tôi yêu", hãy nêu cảm nghĩ về một mảnh đất mà em yêu quý‘Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?’
Hành dộng xâm lược của giặc Tống là tàn ác và phi nghĩa. Giết người, đốt phá, ăn cướp, gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn. Chúng âm mưu biến nước ta thànhquận huyện của Trung Quốc, xâm phạm tới ‘Nam quốc sơn hà’, làm trái với ‘sách Trời’. Giặc Tống nhất định sẽ bị nhân dân ta giáng cho những đòn trừng phạt đích đáng:
‘Chúng mày nhất đinh phải tan vỡ!’
Câu thơ khẳng định niềm tin chiến thắng. Chiến thắng vì ta có sức mạnh chính nghĩa đánh giặc để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng vì nhận dân ta có truyền thống yêu nước, có tinh thần đoàn kết bất khuất anh hùng chống ngoại xâm. Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước.
‘Nhất định phải tan vố’là bị đánh cho tan tác, không còn một mảnh giáp. ‘Nhất định phải tan vỡ’ là bị thất bại nhục nhã. Thực tế lịch sử đã minh chứng hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông Cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo' chạy, thất bại nhục nhã. Chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt.
Bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ vẫn được mệnh danh là bài thơ ‘Thần’. Lí Thường Kiệt với tài mưu lược của một nhà quân sự văn võ song toàn đã phủ cho bài thơ một màu sắc thần linh, có tác dụng động viên tướng sĩ đánh giặc với niềm tin thiêng liêng ‘Sông núi nước Nam’ đã được ‘vằng vặc sách trời chia xứ sở’.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ đanh thép, căm giận, hùng hồn. Nó vừa mang sứ mệnh lịch sử như một bài hịch cứu nước, vừa mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Đại Việt. Bài thơ là tiếng nói yêu nước và tự hào dân tộc của nhân dân ta. Nó biểu thị ý 'chí và sức mạnh Việt Nam. ‘Nam quốc sơn hà’ là khúc tráng ca chống xâm lăng biểu lộ khí phách và ý chí tự lập tự cường của đất nước và còn người Việt Nam. Nó là bài ca của ‘Sông núi ngàn năm’…
Nguồn: thêm: Phân tích lòng yêu nước qua hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm | Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em | 950 | |
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà cực hay và sâu sắc
Hướng dẫn
Núi sông nước Nam
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách Trời chia xử sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất định phải tan vố’
(Lê Thước – Nam Trân dịch)
Hai câu thơ đầu nói về núi sông nước Nam, đất nước Việt Nam là nơi ‘Num đế cư’ (vua Nam ở). Hai chữ Nam đế đối sánh với Bắc đế; Nam đế hùng cứ một phương chứ không phải chư hầu của Thiên triều. Vua Nam là đại diện cho uy quyền và quyền lợi tối cao của Đại Việt, cho nhân dân ta. Núi sông nước Nam thuộc chủ quyền của Nam đế, có kinh thành Thăng Long, có nền độc lập vững bền… Không những thế, núi sông nước Nam đã được ‘định phận’, đã được ghi rõ ở sách Trời, đã được ‘sách Trời chia xứ sở’, nghĩa là có lãnh thổ riêng, biên giới, bờ cõi riêng.
Hai chữ ‘sách Trời’ (thiên thư) trong câu thơ thứ hai gợi ra màu sắc thiêng liêng với bao niềm tin mãnh liệt trong lòng người, vần thơ vang lên như một lời
Tuyên ngôn về chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt:
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách Trời chia xứ sở’
(Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư)
Từ nhận thức và niềm tin ấy về sông núi nước Nam, Lí Thường Kiệt căm thù lên án hành động xâm lược đầy tội ác, tham vọng bành trướng phi nghĩa của giặc Tống. Chúng âm mưu biến sông núi nước Nam thành quận, huyện của Trung Quốc. Hành động xâm lược của chúng đã làm trái ý Trời, đã xúc phạm đến dân tộc ta. Câu hỏi kết tội lũ giặc đã vang lên đanh thép, đầy phẫn nộ:
‘Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?’
(Như hà nghịch lổ lai xâm phạm)
Vị anh hùng dân tộc đã nghiêm khắc cảnh cáo lũ giặc phương Bắc và chỉ rõ, chúng sẽ bị nhân dân ta đánh cho tơi bời, chúng sẽ chuốc lấy thất bại nhục nhã: ‘Chúng mày nhất định phải tan vơ’
(Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư)
Hai câu 3, 4 có giọng thơ đanh thép hùng hồn thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhàn dân ta quyết tâm giáng trả quân Tống xâm lược những đòn chí mạng để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt năm 1076 là minh chứng hùng hồn cho ý thơ trên. Triệu Tiết, Quách Quỳ' cùng hơn 20 vạn quàn Tống đã bị quân dân Đại Việt đánh bại, quét sạch khỏi bờ cõi.
‘Nam quốc sơn hà’là bài ca yêu nước chống xâm lăng. Bài thơ đã khẳng định chủ quyền dân tộc, ca ngợi sức mạnh chiến đấu để bảo vệ đất nước Đại Việt. Với nội dung ấy, bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ mang ý nghĩa lịch sử như một Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc Việt Nam.
Tên tuổi người anh hùng Lí Thường Kiệt cùng với bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ và chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt (1076) mãi mãi chói sáng trong tâm hồn dãn tộc.
Nguồn: thêm: Phân tích những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975. | Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà cực hay và sâu sắc | 566 | |
Phân tích bài thơ Ngày xuân dặn các con của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Nguyễn Khuyến để lại nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm. Riêng về mảng thơ viết về gia đình đã có hàng chục bài; bài nào cũng ân tình, ân cần và tha thiết. Chùm thơ “Ngày xuân dạy các con” gồm có hai bài theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật Giọng thơ nhẹ nhàng, ấm áp bao tình thương. Bài thơ dịch của Vũ Mộng Hùng được đánh giá là bài thơ dịch hay nhất.
Nguyễn Khuyến dặn các con giữ lấy nghiệp nhà: nghiệp nho gia, thanh bạch và cần kiệm. Đó là nội dung bài thơ “Ngày xuân dạy các con”-l này.
Câu phá đề nói năm mới vừa sang, mùa xuân đã về. Xuân về nên có nhiều xuân cảm. Càu thừa đề nói rõ nguồn xuân cảm ấy:
‘Tuy nghèo ta vẫn mến nhà ta”
Nhiều tài liệu cho biết: thân sinh Nguyễn Khuyến là một ông đồ nghèo. Vợ Nguyễn Khuyến là một phụ nữ đảm đang “hay lam hay làm, thắt lưng bó qua, xắn váy quai cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu…”. Nhà nghèo, bà từng bán thêm chiếc yếm để chạy đủ tiền cho chồng đi thi; khi chồng đã đỗ ông Nghè, vinh quy, thì vợ đang cấy mướn ở một đồng xa, mới chạy tắt đồng về. Thuở thiếu thời, Nguyễn Khuyến có lúc phải vừa đánh dậm vừa đi học. Sau hơn mười năm làm quan, Nguyễn Khuyến trở về làng cũ sống cuộc đời thanh bạch trong “Năm gian nhà cỏ thấp le te”, nơi vườn Bùi thuộc vùng đồng chiêm nước trũng huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Khuyến dặn các con giữ lấy gia phong nếp nhà: “Tuy nghèo ta vẫn mến nhà ta”. Năm chữ Hán “ngô tự ái ngô lư” thể hiện một cách kín đáo, thâm trầm niềm tự hào về nghiệp nhà nho gia thanh bạch.
Hai câu 3, 4 trong phần thực, người cha nói rõ với các con về cái sự nghèo của nhà mình. Chẳng có ruộng tứ bề, vàng bạc đầy kho, mà sau khi đi làm quan xa, lui về “vườn Bùi chốn cũ” gia sản chỉ có “không đầy chín sào đất” và “một bó sách” của gia tiên để lại. Thật là thanh bạch đáng kính. Vũ Mộng Hùng đã dịch rất hay hai câu thơ đăng đối hài hòa:
“Chín sào tư thổ là nơi ở,
Một bố tàn thư ấy nghiệp nhà”
Mới đọc qua phần luận tưởng như tả cảnh. Thời tiết không thuận, trời u ám “khói dày” lại “mưa ít”. Núi để làm bạn thì núi trở thành xa tắp trong những ngày đầu xuân. Cúc là bạn cũ thì cúc cũng chỉ nở lơ thơ cạnh tường. Thoáng một chút cô đơn. Hình ảnh người cha có tâm hồn thanh cao, trong sáng, có phong thái ung dung hiện lên sau vần thơ:
Xem thêm: Cảm nhận về tình yêu Sài Gòn qua Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương“Trước cửa khói dày, non khuất bóng,
Bên tường mưa ít, cúc thưa hoa”
Phần luận mang tính hàm nghĩa nhất là hai thi liệu “sơn sắc” (sắc núi) và “cúc hoa” (hoa cúc). Nó đem đến liên tưởng về Đào Tiềm (365 – 427), một danh sĩ cao khiết ở đời Tấn; người mà nhà thơ Nguyễn Khuyến hay nhắc đến: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” (Thu vịnh), “Thơ Đào ngâm vịnh đưa câu rượu” (Vịnh mùa hè),… Sắc núi và hoa cúc trong thơ Nguyễn Khuyến gợi nhớ đến những vần thơ của Đào Tiềm:
“Thái cúc đông li hạ,
Du nhiên kiến Nam sơn”
(Hái cúc dưới giậu đông,
Thư thái ngắm núi Nam)
(“Ẩm tửu”)
Nguyễn Khuyến đã noi gương Đào Tiềm để giữ vững khí tiết và nếp sống thanh bần của một nhà nho giữa thời loạn lạc. Các con cũng nên noi gương cha để giữ lấy nghiệp nhà. Đó là tính hàm nghĩa của phần luận bài thơ “Ngày xuân dạy các con”-ỉ.
Muốn nối chí cha thì các con phải biết chuyên cần, chăm chỉ đèn sách, nghiên bút, phải biết sống cuộc đời giản dị, cần kiệm. Nhẹ nhàng mà thấm thía, cảm động:
“Các con nối chí cha nên biết:
Nghiên bút đừng quên lúa, đậu, cà”
“Đừng quên lúa, đậu, cà” là đừng quên nghề nông, phải biết gắn bó với quê hương ruộng đồng, chan hòa với chốn quê… Trong bài số 2 “Ngày xuân dạy các con”, Nguyễn Khuyến phàn nàn giữa thời loạn lạc cha đã già yếu “thếmà các con hãy còn say sưa đàn hát mãi”:
“Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng,
Sao con đàn hát vẫn say sưa”
(Tác giả tựdịch)
Như ta đã biết, con cả của Nguyễn Khuyến là Nguyễn Hoan biết nối chí cha, giữ nghiệp nhà, thi đỗ Phó bảng. Con thành đạt sao bố mẹ không vui? Bài thơ “Ngày xuân dạy các con”-ỉ là một bài thơ rất hay; hay vì lời đạm mà tình sâu, đó là tình cha – con sâu nặng: hết lòng chăm sóc dạy bảo và thương yêu các con.
Nguồn: thêm: Bài văn tả mẹ gây sốc của cậu trò nghèo | Phân tích bài thơ Ngày xuân dặn các con của Nguyễn Khuyến | 867 | |
Phân tích bài thơ Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt) của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
– Nhà thơ xưa thường có hoa và rượu lúc thưởng trăng. Những thứ ấy không có nhưng trăng bên ngoài thì vẫn đẹp. Thế là xuất hiện một thoáng bối rối làm thế nào để thưởng trăng đây?
– Nhân/ nguyệt – song/ song – minh nguyệt/ thi gia trong hai câu 3 và 4 đối nhau. Cũng lù nhân, cũng là nguyệt nhưng nếu cặp đối ở đầu hai câu chí lù nêu tên sự vật thì cặp đổi ở cuối hai câu lại có thêm tính chất của sự vật, và từ đó làm tăng thêm sức truyền căm của hai câu thơ. Nhăn {người tù) ỉ rở thành thi gia thì nguyệt trở thành minh nguyệt, và được nhân hoa.
I. Từ hang Pác Bó, thang 8 – 1942 Hồ Chí Minh bí mật sang Trung Quốc để vận động các nước viện trợ cho lực lượng cách mạng Việt Nam thì ông bị chính quyền địa phương bắt ở gần thị trấn Túc Vinh vì bị nghi “là gián điệp". Suốt một năm trong cảnh tù đày, qua nhiều nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Hồ Chí Minh đã:
Ngày dài ngâm ngợi chơ khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
(Mở đầu tập nhật ký)
133 bài thơ trong Nhật ký trong tù, phần lớn là thơ tứ tuyệt được viết bằng chữ Hán về nhiều đề tài khác nhau đã chứng minh tâm hồn nhạy cảm và tài làm thơ của một lãnh tụ cách mạng. Đề tài về Trăng, nhà thơ viết mấy bài, trong đó có bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt).
II.Nhà thơ Nam Trân dịch qua tiếng Việt:
Trong từ không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
So sánh với nguyên tác bản dịch tiếng Việt của Nam Trân khá sát nghĩa và đúng với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Nguyên tác câu Khai, Hồ Chí Minh viết:
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Nhà thơ Nam Trân dịch:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Câu thơ giới thiệu nơi chốn và vật dụng cần cho nhà thơ lúc ấy. Nơi chốn ấy là “ngục trung – trong tù". Thi đúng rồi, nhà tù làm gì cố rượu với hoa. Nhưng cần rượu với hoa để làm gì mới được chứ? Như thế ý ở câu Khai chỉ gợi mở một cách kín đáo, nhẹ nhàng như tạo sự lôi cuốn người đọc đọc tiếp câu thừa:
Đôi thử lương tiêu nại nhược hà?
Câu thơ trong nguyên tác là câu nghi vấn: Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào? Dịch qua tiếng Việt:
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;
Xem thêm: Vẻ đẹp của người lao động thể hiện qua các bài ca dao than thân và yêu thương tình nghĩa đã học trong chương trìnhCâu thơ thành câu xác định, từ nghi vấn “biết làm thê'nào?"sángxác định “khó hững hờ”. Hình thức câu văn thì có khác nhưng ý văn thì tương dương vì cùng diễn tả tâm trạng của con người trước cảnh đẹp. Nhưng cảnh đẹp ấy là cảnh gì? Nếu bài thơ chấm dứt ở câu này thì người đọc cũng khó đoán ra được chính xác cảnh đẹp ở trong tù, nơi chẳng có rượu mà cũng chẳng có hoa. Mà cũng chẳng đoán ra sự liên quan giữa rượu, hoa và cảnh đẹp. Điều ấy khêu gợi trí tò mò của người đọc buộc họ phải đọc tiếp câu chuyển:
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt.
Người hướng ra trước song ngắm trăng sáng. Nghĩa câu thơ chữ Hán là như thế. Còn câu dịch ra tiếng Việt là:
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
À ra thế! “Cảnh đẹp đêm nay" chính là cảnh “trăng soi ngoài cửa sổ”, hay “trăng soi ngoài song cửa". Mà với những đêm trăng đẹp tuyệt vời như thế, các nhà thơ xưa thường bày hoa và rượu ra để nhâm nhi vài chung rượu nồng, ngửi mùi hương của hoa, lặng nhìn trăng sáng, và đôi khi cao hứng còn làm thơ. “Đêm nay”, có lẽ nhà thơ Hồ Chí Minh cũng mang tâm cảnh ấy, nhưng không quên thực tại là mình đang ở tù nên tiếc là… Thế nhưng cái thiếu thôn kia không ngăn được “Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ". Câu thơ mang hai ý nghĩa với con người, với nhà thơ thì câu thơ biểu hiện sức mạnh của tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp. Với cảnh thì làm tăng thêm nét đẹp, nét quyến rũ của đêm trăng.
Bài thơ khép lại bởi câu hợp:
Nguyệt tòng song khích khán thi gia
Câu thơ dịch:
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
Cả câu thơ chữ Hán lẫn tiếng Việt đều sử dụng nghệ thuật nhân hóa. Bao nhiêu thực tại: nhà tù, rượu, hoa đều biến mâ't, đều chẳng còn ý nghĩa gì. Trong giây phút ấy, chỉ còn Người với Trăng. Nếu ở câu chuyển nhà thơ viết “nhân khán minh nguyệt – người ngắm trăng soi (sang)" bằng ngôn ngữ miêu tả thông thường thì d câu hợp nhà thơ đã thổi hồn vào trăng bằng nghệ thuật nhân hóa: “nguyệt tòng khán thi gia – trăng nhòm ngắm nhà thơ".
III. Sau này, dù bận trăm công nghìn việc trong những năm đầu của thời kì kháng chiến, Hồ Chí Minh vẫn không quên trăng, vẫn dành cho trăng những vần thơ đẹp, như trong bài Cảnh khuya'.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Ngay cả khi bận rộn nhất, tập trung nhất như “bàn bạc việc quân” chẳng hạn, nhà thơ vẫn để tâm đến “lổng lộng trăng soi – bát ngát trăng ngân”, nhất là lúc chờ Tin thắng trận, Hồ Chí Minh vẫn không muốn làm cho trăng buồn.
Trăng vào cửa sổ đòi thơ,
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau.
Từ Ngắm trăngtrong Nhật kí trong tùđến những bài thơ sau này, người đọc có thể cảm nhận trăng là người bạn tri kỉ của nhà thơ vậy.
Nguồn: thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng: “Sông Mã xã rồi Tây Tiên ơi!(...) Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” | Phân tích bài thơ Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt) của Hồ Chí Minh | 1,056 | |
Bài thơ Ngắm trăng là một bài thơ độc đáo của Hồ Chí Minh. Vẫn giữ được cái phong thái ung dung, tự tại, Hồ Chí Minh đã làm thơ trong hoàn cảnh tù lao thiếu thốn đủ thứ nhưng Người vẫn nhìn ngắm được cảnh đẹp của trăng, của thiên nhiên phía ngoài song sắt.
Trước khi bước vào phân tích bài thơ Ngắm trăng, các em hãy cùng với Kho tàng văn mẫu lập dàn ý phân tích bài thơ Ngắm trăng. Việc lập dàn ý là quan trọng giúp các em có thể làm bài văn phân tích tốt nhất.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Ngắm trăng
1. Mở bài
– Giới thiệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và bài thơ Ngắm trăng. Có thể nêu lên hoàn cảnh Bác sáng tác bài thơ để thấy được điểm đặc biệt của bài thơ này.
2. Thân bài phân tích bài thơ Ngắm trăng
a. Hai câu đầu: Tâm trạng của nhà thơ chuẩn bị đón trăng
– Không gian: trong tù, gợi lên hình ảnh người tù bị xiềng xích, mất tự do.
– Thân thể mất tự do nhưng tâm hồn thì không vì vậy người tù vẫn bồi hồi đón trăng.
– Cảnh ngộ đón trăng: cái gì cũng không có.
– Đón trăng bằng một tình yêu giản dị.
b. Hai câu sau: Cảnh ngắm trăng
– Cả trăng và người dường như đang hướng về nhau, ngắm nhìn nhau.
– Song sắt nhà tù trở nên vô nghĩa, người và trăng như xích lại gần nhau, xóa nhòa khoảng cách địa lý.
– Bác chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ nhưng trong bài thơ này Người tự xưng là nhà thơ có lẽ là để xứng tầm với vẻ đẹp của ánh trăng.Xem thêm: Hãy sử dụng câu sau đây làm câu chủ đề để viết một đoạn văn hoàn chỉnh (khoảng 10 - 15 câu): "Đọc truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa ta thấy cái lặng lẽ chỉ là bề ngoài giấu kín nhịp sống sôi động... của những người lao dộng hết lòng vì dất nưởc"
3. Kết luận
– Khẳng định nội dung bài thơ Ngắm trăng và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Ngắm trăng
Từ xưa đến nay, ánh trăng đã trở thành nguồn cảm hứng của rất nhiều thi nhân. Trăng cũng là đề tài muôn thuở trong hội họa hay trong âm nhạc. Đặc biệt trong thơ ca, có nhiều bài thơ hay lấy cảm hứng từ ánh trăng, các thi sĩ coi trăng như người bạn tri kỉ, tâm tình. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy. Người đã có một sáng tác lấy cảm hứng từ ánh trăng đó là bài thơ Ngắm trăng. Điều đặc biệt của bài thơ này là nó được sáng tác ở trong tù.
Người đọc có thể thấy được hoàn cảnh của Bác ngay từ câu thơ mở đầu là:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Trong tù, đó là hoàn cảnh thực tế mà Bác đang phải trải qua lúc bấy giờ. Dù Người không viết nhiều về mình nhưng ai cũng hiểu rằng ở trong tù thì không thể vui sướng được. Đó là chưa kể đến chuyện người tù phải chịu cảnh xiềng xích, còng chân, còng tay, thân xác bị giam cầm trong 4 bức tường lao lạnh lẽo và bị mất tự do. Chuyện không rượu, không hoa ở trong hoàn cảnh lao tù ấy cũng là điều hết sức dễ hiểu. Ở trong hoàn cảnh như vậy, con người ta thường dễ nảy sinh những suy nghĩ tiêu cực, buồn chán, tủi hờn. Nhưng đó là người thường. Còn với Hồ Chí Minh thì khác. Người có một trái tim vĩ đại, một tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên tha thiết. Chính vì vậy, câu thơ thứ hai là sự chuyển biến tâm lý rõ rệt của tác giả. Bỏ mặc hết tất thảy những khó khăn xung quanh mình, Người hướng về phía ô cửa sổ nhỏ bé và ngắm nhìn khung cảnh đêm trăng. Dù ô cửa rất nhỏ thôi nhưng cũng đủ để cho Người phải thốt lên:Xem thêm: Suy nghĩ của em về hai chữ ‘'Nhường nhịn"
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Phân tích bài thơ Ngắm trăng
Chính ánh trăng đã giúp người tù thoát khỏi tâm trạng u ám của mình, đối diện với ánh trăng Người quê mất việc mình đang là tù nhân, đang phải chịu gông cùm xiềng xích. Đối diện với ánh trăng, Người như được đối diện với một người bạn thân, một vị khách cũ ghé chơi nhà. Câu thơ lúc này giống như một lời tạ tội với trăng bởi vì trăng đến chơi mà không có gì để tiếp đón. Ánh trăng thể hiện khát vọng tự do. Nó như mời gọi nhà thơ hãy bước ra ngoài này để ngắm nhìn cảnh đẹp. Nhưng hoàn cảnh không cho phép điều đó xảy ra. Chính vì vậy mà Người chỉ âm thầm ngắm trăng, bình thản và lặng lẽ:
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ
Lúc này, Người đã thực sự quên mất hoàn cảnh ngục tù của mình mà tự nhận mình là nhà thơ. Có thể thấy, bốn bức tường giam chật hẹp không thể ngăn được cảm xúc mênh mông của Người. Bác đã thả hồn mình theo ánh trăng, gửi gắm vào trong ánh trăng khát vọng của sự tự do. Đó là khát khao cháy bỏng của một vị lãnh tụ mang trong mình nỗi lo vì dân, vì nước. Chỉ đơn giản với hình ảnh Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ nhưng đằng sau đó nhìn đó, ta hiểu được Bác đang chất chứa trong lòng mình nhiều nỗi suy tư. Nhìn thì có vẻ ung dung, tự tại đấy nhưng không phải. Bài thơ viết trong cảnh đêm khuya thanh tĩnh nhưng lại không có bất cứ âm thanh nào xuất hiện. Sự im lặng của cảnh vật càng làm tặng thêm vẻ đẹp của tâm hồn Bác. Đáp lại Người ngồi ngắm trăng, trăng cũng nhòm qua khoe cửa để nhìn ngắm nhà thơ.Xem thêm: Kể về một việc tốt mà em đã khiến bố mẹ vui lòng
Bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh tuy có những khác biệt so với các bài thơ khác của Bác ở chỗ Bác tự nhận mình là thi nhân nhưng bài thơ vẫn toát lên được tâm hồn và nhân cách sống cao đẹp của Người. Có lẽ, Bác nhận mình là thi nhân là để tương xứng với vẻ đẹp của ánh trăng.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh. Thông qua dàn ý chi chi tiết cùng với bài văn mẫu, hy vọng các em đã có cho mình kiến thức bổ ích để việc làm văn được tốt nhất.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết) | 1,189 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh
Bài làm
Bác Hồ là một người yêu trăng và trong nhiều sáng tác của Người thì ánh trắng chính là nguồn cảm hứng chủ đạo để người bày tỏ tâm trạng, nỗi lòng của mình. Bài thơ Ngắm Trăng chính là một trong số đó.
Bài thơ được rút ra từ tập thơ Nhật Ký Trong Tù, một tập thơ được viết trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt đó chính là Người bị chính phủ Tưởng Giới Thạch bắt giam. Chính vì thế hoàn cảnh Ngắm Trăng ở đây cũng rất đặc biệt đó chính là ở trong tù. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt với ngôn từ hàm súc đã cho ta thấy được vẻ đẹp trong thơ ca và phong cách sống của chủ tịch Hồ Chính Minh. Bài thơ được viết bằng chữ Hán và bản dịch hay nhất đó chính là:
“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Mở đầu bài thơ Bác đã giới thiệu về hoàn cảnh của mình lúc bấy giờ:
“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”
Nhà thơ đang sống trong cảnh tù đày nhưng vẫn không thể ngăn cản thi hứng của Người. Bác đã giới thiệu cho người đọc thấy đực hoàn cảnh đó là trong tù, là nơi chẳng có rượu cũng chẳng có hoa thơm. Ấy nhưng tất cả những điều đó không hề ảnh hưởng gì tới chủ thể thể trữ tình. Đứng trước cảnh đẹp thì Bác vẫn thấy lòng mình bồi hồi, xúc động. Đặc biệt đó là ánh trăng, một người bạn tri kỷ với Người từ bấy lâu nay. Đối với một người thi sĩ thì trăng, rượu, hoa là những tri kỷ gắn liền với cuộc sống hằng ngày. Đó là ngắm trăng, là thưởng hoa, uống rượu là những thú vui tao nhã của những vị ẩn sĩ nơi thôn dã. Với Bác Hồ thì ngay cả đang ở trong hoàn cảnh cơ cực, mất tự do nhưng Người vẫn có cảm hứng làm thơ.Xem thêm: Triết lí nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn
Phân tích bài thơ Ngắm Trăng
ở trong không gian chật hẹp cái mà nhà thơ thấy được đó chính là cảnh đẹp ban đêm ở ngoài khung cửa sổ. Trước cảnh đẹp ấy nhà thơ như tâm sự, giãi bày với thiên nhiên về hoàn cảnh trớ trêu của mình đó là “không rượu, không hoa”. Và trước cảnh đẹp ấy thì nhân vật trữ tình không khỏi “khó hững hờ” nên phải thốt lên lời khen ngợi đối với thiên nhiên. Chính nhờ cảnh đẹp ấy khiến cho nhà thơ vượt lên trên hiện thực khốc liệt, tăm tối để thưởng thức cái đẹp. Vốn chỉ có “ta với ta” nhưng là giữa Người với ánh trăng, điều này đã được thể hiện ở ngay trong hai câu thơ cuối:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Từ phòng giam tăm tối, Bác hướng ra bên ngoài để ngắm vầng trăng đang tỏa sáng trên cao. Dù chỉ ngắm trăng qua ô cửa sổ nhỏ xíu nhưng cũng không ngăn được thi hứng và không làm giảm bớt được vẻ đẹp của vầng trăng. Dù cho nhà giam lạnh lẽo với những bức tường ngăn cách nhưng cùng không thể ngăn cách hai người bạn tri kỷ. Qua song cửa sắt nhà thơ ngắm vầng trăng đồng thời vầng trăng cũng đang nhòm qua khe cửa để nhìn ngắm nhà thơ. Phòng giam chật hẹp dường như được bừng sáng bởi ánh trăng và không gian lạnh lẽo như được sưởi ấm. Nỗi lòng của người xa quê hương, của một người đang chịu cảnh tù đày nhưng tâm hồn vẫn lo lắng chuyện quốc gia, đại sự. Có lẽ do chính nỗi lòng chứa đầy tâm sự nên trong đêm khuya Người mới thao thức không ngủ được. Cũng qua đó ta thấy được tấm chân tình của Người với ánh trăng, thấy được niềm lạc quan, yêu cuộc sống, yêu tự do của Bác Hồ.Xem thêm: Giới thiệu một nét đẹp văn hoá của quê hương em
Bài thơ Ngắm Trăng chính là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ phóng khoáng, tự do của Bác Hồ. Qua bài thơ ta thấy được một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống mãnh liệt. Chính nhờ tình yêu ấy khiến Người có động lực vượt qua mọi hoàn cảnh tăm tối để thực hiện ước mơ, khát vọng của mình.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Ngắm Trăng của Hồ Chí Minh | 789 | |
Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một triết lý sống nhàn. Nội dung bài thơ nhẹ nhàng mà yên bình, thể hiện được tâm thế ung dung, tự tại của một người đã từ quan về quê ở ẩn. Qua bài thơ này, chúng ta thấy được cốt cách thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Nhàn cùng với bài văn mẫu phân tích bài thơ Nhàn sẽ là một gợi ý hay, một tài liệu tham khảo hoàn chỉnh cho các em nhằm giúp các em hoàn thiện được kĩ năng viết của mình.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Nhàn
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ Nhàn. Nếu qua nội dung của bài thơ và dẫn dắt vào phần thân bài.
2. Thân bài phân tích bài thơ Nhàn
a. Hai câu đề: Giới thiệu về cuộc sống nhàn
– Liệt kê và chỉ ra những vật dụng quen thuộc với người dân bình dị ở Việt Nam đó là mai, cuốc, cần câu.
– Sử dụng điệp từ, từ láy, nghệ thuật đối làm nổi bật lên quan niệm sống nhàn.
b. Hai câu thực: Triết lí về lẽ dại – khôn ở đời
– Sử dụng nghệ thuật đối để cho thấy những quan niệm khác nhau về lẽ sống ở đời.
– Sử dụng cách nói ngược đầy hóm hỉnh khiến cho người đọc phải suy ngẫm.
c. Hai câu luận
– Sử dụng nghệ thuật liệt kê nhằm miêu tả chân thực cuộc sống nhàn.
– Câu thơ hiện lên bức tranh về cuộc sống đời thường giản dị. Dù nghèo nhưng không hề khổ.
d. Hai câu kết
– Công danh, lợi lộc theo quan điểm của nhà thơ chỉ như một giấc mơ.
– Thể hiện sự coi thường vinh hoa, phú quý.
3. Kết luận
– Tổng quát nội dung bài thơ và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
II. Bài làm phân tích bài thơ Nhàn
Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn được người đời biết đến là trạng Trình. Ông là một nhà tri thức nho học lỗi lạc của nước ta thế kỉ 16. Để phản ứng với thời thế nhiễu nhương thời bấy giờ, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đưa ra quan niệm sống nhàn. Bài thơ Nhàn của ông được rút ra từ tập Bạch Vân quốc ngữ thi là một tác phẩm nói lên quan niệm sống này của ông. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ và câu thơ nào cũng nêu rõ được quan niệm sống nhàn của nhà thơ.Xem thêm: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều.
Có thể nói, nhàn là một cuộc sống nhiều người hằng mong ước. Để được nhàn, đôi khi người ta phải đánh đổi công danh, lợi lộc. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xem thường danh lợi, ông trở về nơi thôn quê bình dị để sống cuộc đời nhàn. Đối với ông, như vậy mới là đáng sống. Những câu thơ mở đầu hiện lên hình ảnh một người nông dân chất phác với vui thú đồng ruộng, ao cá:
Một mai một cuốc một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Câu thơ mở đầu, nhà thơ dùng số từ một để liệt kê những vật dụng mai, cuốc, cần câu là những vật dụng rất quen thuộc đối với người nông dân. Mai và cuốc là dùng trong lao động. Cần câu là dùng trong lúc thư giãn. Đó là thú vui nhàn nhã của người dân sau những ngày lao động mệt nhọc. Nhịp thơ 2/2/3 khiến nhịp thơ trở nên chậm rãi. Nhà thơ như muốn khoe ra cuộc sống lao động bình dị ấy của mình. Qua hai câu thơ này, nhà thơ hiện lên với hình ảnh của một lão nông thực thụ, vui vẻ. Với việc sử dụng từ láy thơ thẩn, câu thơ hiện lên với một tâm thế không vướng bận. Bên cạnh đó, nghệ thuật đối thơ thẩn đối với vui thú nào giữa ta và ai làm nổi bật lên sự khác biệt trong quan niệm sống giữa ta với người. Trong khi ta thích thơ thẩn nơi chốn bình dị thì người lại thích vui thú chốn thị phi. Hai câu thơ đã cho thấy quan niệm sống nhà của nhà thơ đó là được làm những công việc mà mình yêu thích, không quan tâm đến người đời muốn gì, thích gì.Xem thêm: Văn hào Nga Lép Tôn-xtôi nói: "Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường.Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống." Phát biểu suy nghĩ của anh, chị về vấn đề này
Phân tích bài thơ Nhàn
Sang đến câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục sử dụng nghệ thuật đối giữa ta và người, giữa khôn và dại, giữa nơi vắng vẻ và chốn lao xao. Đó là sự khác biệt trong việc lựa chọn cuộc sống giữa ta và người. Trong khi ta chọn nơi vắng vẻ thì người lại tìm đến chốn lao xao:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
Quan niệm của nhiều người bấy giờ là tìm đến chốn lao xao. Chốn lao xao ở đây là chốn đông đúc, ồn ào, xô bồ. Nơi ấy có cường quyền, cũng có những thú vui của kẻ lắm tiền. Sống ở nơi như vậy mới là khôn. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm nghĩ khác. Ông không thích chốn lao xao mà thích nơi vắng vẻ. Nơi vắng vẻ ấy ít người qua lại. Nơi ấy không có sự tranh giành, đấu đá. Nhà thơ tự nhận mình là dại nhưng ở nơi ấy, ông giữ được cho mình sự thanh cao, trong sạch. Và chúng ta có thể thấy cái dại của nhà thơ chính là cái dại khôn. Đây là một cách nói vô cùng hóm hỉnh và thể hiện thái độ châm biếm sâu sắc. Qua hai câu thực này, nhà thơ thể hiện một quan niệm sống nhàn đó là tìm đến chốn thanh cao, không xô bồ, bon chen.
Tiếp đến hai câu luận, nhà thơ lại nhắc tới việc ăn và tắm là những sinh hoạt bình thường trong cuộc sống của con người. Không cao lương mĩ vị, thức ăn của nhà thơ là những gì có sẵn trong tự nhiên với măng trúc vào mùa thu, giá vào mùa đông. Chúng là những thứ bình dị nhưng lại luôn sẵn có. Mùa nào thức nấy, chẳng bao giờ lo bị chết đói. Ăn uống đạm bạc rồi lại được tắm trong hương thơm thanh mát của hoa sen, cuộc đời của con người thật thanh tao, nhàn nhã:Xem thêm: Phân tích 8 câu thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Hai câu thơ, tác giả liệt kê được cả 4 mùa trong năm và mỗi mùa lại gắn với một thú vui riêng. Mặc dù là hai câu luận nhưng nội dung của hai câu thơ này không có gì là bàn luận mà chỉ nhằm tả thực. Chính vì vậy, cuộc sống nhàn càng trở nên rõ nét hơn, chân thực hơn. Đó chính là cuộc sống hòa mình vào với thiên nhiên, tạo vật.
Hai câu kết, Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa ra quan niệm sống công danh, phú quý chỉ là một giấc chiêm bao. Mà đã là chiêm bao thì chỉ là thoảng qua, sớm muộn gì cũng sẽ vụt tắt:
Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Nhà thơ xem thường phú quý, xem thường danh lợi, thoát khỏi chốn quan trường để tìm về với cuộc sống nhàn.
Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện một quan niệm sống mới mẻ, thể hiện được tư tưởng thanh cao của nhà thơ. Thiết nghĩ con người thời bây giờ cũng nên học theo tư tưởng của ông, bớt tranh giành quyền lực, như vậy thì cuộc sống mới trở nên đơn giản hơn, nhàn hơn.
Trên đây là bài lập dàn ý chi tiết cũng như bài làm mẫu cho đề phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Kho tàng văn mẫu hy vọng đã góp được sức nhỏ bé của mình để giúp các em học môn Ngữ văn 10 được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Có dàn ý chi tiết) | 1,422 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Bài làm
Trong xã hội phong kiến, có rất nhiều người đỗ đạt làm quan nhưng vì cảnh quan trường thối nát, đầy bất công đã lui về ở ẩn, sống một cuộc sống an nhàn, tự tại. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một người như thế. Ông còn được biết đến với hai tập thơ nổi tiếng là “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi”.
Bài thơ Nhàn là bài thơ viết bằng chữ Nôm được rút từ tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Đây là một trong những tác tác tiêu biểu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ là tiếng lòng, là lời giãi bày của thi sĩ khi được sống cuộc sống an nhàn nơi đồng quê thanh bình, êm ả. Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất gần gũi, mộc mạc:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”
Với phép lặp số từ “một” câu thơ đã phác họa nên trước mắt người đọc một cảnh tượng quen thuộc. Cuốc, mai là những vật dụng quen thuộc của người dân lao động. Tất cả đều được gắn với số “một”, thể hiện sự cô đơn, một mình nhà thơ giữa chốn thôn quê nghèo khó. Cuộc đời của ông sau khi rời xa chốn quan trường thì ông giống với những người nông dân khác đó là dùng mai để xắn đất, dùng cuốc để xới đất. Hai công cụ trên còn đi kèm với chiếc cần câu ý chỉ rằng những lúc rảnh rỗi thì câu cá chính là một trong những thú vui tao nhã của ông. Mặc dù lòng vẫn còn mang nặng chí lớn, phải sống vì nhân dân nhưng lại phải ẩn mình nơi thôn dã khiến tác giả có chút cô đơn, trống vắng. Tuy nhiên khi được sống, được làm việc giống như những người nông dân lại khiến ông có cảm giác mới mẻ, thú vị, cho ông thấy mình gần gũi với công việc nhà nông, gần với tầng lớp nhân dân lao động. Đó là điều mà trước kia khi làm quan ông chưa có dịp được trải nghiệm. Đây được xem là cuộc sống đáng mơ ước của nhiều người, ít ai có thể vứt bỏ chốn quan trường xô bồ để sống cuộc sống lao động nơi đồng quê. Từ “thơ thẩn” tạo nên một nhịp điệu êm ái, khoan thai cho người đọc.Xem thêm: Phân tích nội dung và nghệ thuật các bài Ca dao yêu thương, tình nghĩa
Phân tích bài thơ Nhàn
Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì dù cho ai vui vẻ chốn nào cũng không ảnh hưởng gì đến lẽ sống của ông, ông vẫn an phận với cuộc sống hiện tại. Hai câu thơ tiếp theo càng thêm khẳng định điều đó và nhà thơ đã làm toát lên quan niệm sống của mình:
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”
Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận là mình “dại” khi rời bỏ chốn quan trường xa hoa mà nhiều người mong muốn được chen chân vào. Nhưng cuộc sống mà ông đã lựa chọn khi lui về ở ẩn đồng thời cũng khiến nhiều người ghen tỵ, ngưỡng mộ. Đối lập với ông là những người “khôn”, sự đối lập giữa “dại” – “khôn”, giữa “vắng vẻ” với “chốn lao xao”. Ông khen người chê mình nhưng rất có thể cũng là khen mình và chê người. Có khi ta tự hỏi không biết rằng việc ông ẩn mình sống nơi thôn dã có phải ông đang trốn tránh trách nhiệm với tổ quốc hay không? Tuy nhiên ta cần đặt vào thời thế lúc bấy giờ thì việc ông tìm đến nơi “vắng vẻ” mới là điều thực sự đúng đắn để có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình.
Hai câu thơ luận, nhà thơ đã gợi mở cho mọi người về cuộc sống nơi “vắng vẻ” mà ông lựa chọn:Xem thêm: Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích bản dịch Chinh phụ ngâm) của Đoàn Thị Điểm.
“Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”
Chỉ hai câu đã lột tả hết cuộc sống sinh hoạt của cả năm trời với mùa nào, thức ấy. Mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá. Tuy chẳng phải sơn hào hải vị gì nhưng lại đậm đà hương vị quê nhà. Chỉ với vài nét nhưng nhà thơ đã cho ta thấy một vùng thiên nhiên Bắc Bộ với đầy đủ thức ăn. Ăn no thì phải tắm mát mới thêm trọn vẹn cuộc sống. Tắm hồ, ao nhưng lại là cuộc sống thanh tao, không gì sánh bằng. Cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên. Cho đến hai câu thơ cuối, tác giả đã đúc kết lại suy nghĩ của mình:
“Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”
Thú vui tao nhã câu cá, tắm hồ sen, rồi đến thưởng thức rượu. Đối với ông một người từng hưởng phú quý thì ông coi đó chỉ là giấc chiêm bao. Ông từng có quyền thế, từng có của cải nhưng lại là thứ mà ông không hề nghĩ đến và không có tham vọng. Những thứ đó chỉ là tạm thời, chỉ như một giấc mộng mà khi tỉnh dậy sẽ tan biến. Đây là một cái nhìn nhận sâu sắc, một triết lý mà nhà thơ đã nhận thấy từ thực tế cuộc sống. Đối với ông sống tự do, tự tại, sống không trái với lương tâm và giữ gìn được cốt cách của mình mới là điều quan trọng nhất.Xem thêm: Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan
Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cho người đọc một cái nhìn sâu sắc về giàu sang phú quý với cuộc sống an nhàn, tự tại. Một cuộc sống khiến nhiều người ngưỡng mộ và khâm phục. Qua bài thơ ta thấy được quan niệm sống khi sống hòa hợp với tự nhiên, sống giữ cốt cách thanh cao và không màng danh lợi. Đây là triết lý sống giúp con người ta sống đẹp hơn, sống đúng với chính mình.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất | 1,065 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Tuy nhiên khi nhắc đến ông là làm mọi người phải nghĩ đến việc, lúc ông còn làm quan ông đã từng dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không thành công nên ông đã cáo quan về quê. Do học trò của ông đều là những người nổi tiếng nên được gọi là Tuyết Giang Phu Tử. Ông là người có học vấn uyên thâm,là nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ,thú thanh nhàn, đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội. Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập ; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “ Nhàn” làbài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập, được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn.Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính của ông, nét mộc mạc của làn quê.
“ Một mai một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người dến chốn lao xao
Thu ăn năng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
Rượu đến cội cay ta sẽ uống
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”
Hai câu đề đã khắc họa dược như thế nào 1 cuộc sống nhàn rỗi
“ Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẫn dầu ai vui thú nào…..”
Ở câu thơ đầu câu thơ đã khắc họa hình ảnh 1 ông lão nông dân sống thảnh thơi.Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “ một “thêm vào là 1 số công cụ quen thuộc của nhà nông nhằm khơi gợi trước mắt người đọc 1 cuộc sống rất tao nhãn và gần gũi nhưng không phải ai mún là có. Từ “ thơ thẩn” trong câu hai lại khắc họa dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai.Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn. Và từ “ vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái. Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ, tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên.
“….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Xem thêm: Những hiểu biết của em về tục ngữ Việt NamNgười khôn người dến chốn lao sao……”
Hai câu thực của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối nhau như “ ta “_ “ người” ; “ dại” _ “ khôn” ; “ nơi vắng vẻ”_ “ chốn lao xao” từ 1 loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả. Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội”. hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập hoàn toàn trái ngược nhau. Tác giả tự nhận mình là “ dại” vì đã theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn.Vậy lối sống của NBK có phải là lối sống xa đời và trốn tránh trách nhiệm?” Điều đó tất nhiên là không vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình. Do NBK có hoài bảo muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang tranh giành quyền lực, nhân dân đói khổ tất cả các ước mơ hoài bảo của ông không được xét tới.Vậy nên NBK rời bỏ “ chốn lao xao “ là điều đáng trân trọng.
“ ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………”
Hai câu luận đã dùng biện pháp liệt kê những đồ ăn quanh năm có sẵn trong tự nhiên. Mùa nào thức ăn nấy, mùa thu thường có măng tre và măng trúc quanh nhà, mùa đông khi vạn vật khó đâm chồi thì có giá thay. Câu thơ “ xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã.Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản, hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen, tranh giành.Đăt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì lối sống của NBK thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồn thanh cao đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ.
“……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”
Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn, có tính triết lí sâu sắc, vận dụng ý tượng sáng tạo của điện tích Thuần Vu. Đối với NBK phú quí không phải là 1 giấc chiêm bao vì ông đã từng đỗ Trạng Nguyên, giữ nhiều chức vụ to lớn của triều đình nên cuộc sống phú quí vinh hoa ông đã từng đi qua nhưng ông đã không xem nó là mục đích sống của ông. Mà ông đã xem đó chỉ là 1 giấc chiêm bao không có thực và ông đã tìm đến với cuộc sống thanh thản để luôn giữ được cốt cách thanh cao của mình.
Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của NBK coi thường danh lợi, luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên, dề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật. Bên cạnh đó NBK còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí. Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn đường luật, điện tích điện cố và cách phép đối thường gặp ở thể thơ Nôm 1 cách linh hoạt.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Có ý kiến cho rằng “có 3 điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”. Hãy bình luận ý kiến đó | Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm | 1,179 | |
Bài thơ Nhớ rừng là một bài thơ khá độc đáo của Thế Lữ bởi vì nhân vật chính trong bài thơ này là một con hổ. Tuy nhiên, ẩn chứa đằng sau cái khát khao được trở về rừng của con hổ chính là tâm sự của một nhà thơ yêu nước không chịu chấp nhận sống cuộc đời nô lệ.
Sau đây, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Nhớ rừng và gợi ý bài văn mẫu cho các em tham khảo. Các em hãy đọc kĩ bài viết này để có thể vận dụng tốt vào trong bài làm của mình.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Nhớ rừng
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Thế Lữ và bài thơ Nhớ rừng.
– Thế Lữ là ngọn cờ đầu của phong trào Thơ mới, là người mở đường cho phong trào Thơ mới.
– Nội dung bài thơ xoay quanh nhân vật trung tâm là con hổ nhằm làm toát lên vẻ đẹp của tâm hồn con người yêu nước.
2. Thân bài phân tích bài thơ Nhớ rừng
Đoạn thơ 1:
– Tâm trạng của con hổ trong cảnh bị giam cầm ở trong vườn bách thú.
– Sự chán chường, ngao ngán.
– Thái độ ngạo mạn, khinh thường “lũ người”.
– Khinh cả những con vật bị nhốt ở xung quanh.
Đoạn thơ 2, 3:
– Nỗi nhớ rừng da diết, khôn nguôi của con hổ.
– Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già.
– Nhớ sự tự do và sự oai hùng của bản thân mình nơi rừng xanh.
Đoạn 4, 5:
– Khinh biệt khung cảnh trong rừng xanh.
– Một tiếng than vọng về phía rừng xanh như một nỗi niềm khao khát tự do.
3. Kết luận
– Khái quát về bài thơ Nhớ rừng và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Trương Sinh trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam xương của Nguyễn Dữ
>> Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Nhớ rừng
Nhà thơ Thế Lữ là một trong những nhà thơ tiên phong cho phong trào Thơ mới. Những sáng tác của ông ghi một dấu ấn đậm nét trong nền văn học nước nhà. Trong số đó, bài thơ Nhớ rừng được đánh giá là một bài thơ xuất sắc cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện. Với thể thơ 8 chữ, nội dung, cảm xúc nói đến trong bài được bộc lộ một cách sâu sắc. Ngôn ngữ trong bài dễ hiểu nên người đọc cũng rất dễ để cảm nhận.
Hổ vốn là chúa tể của sơn lâm. Chúng oai phong, dũng mãnh với tiếng gầm khiết bất cứ con vật nào nghe thấy cũng phải sợ hãi. Ấy vậy mà nay nó phải ngậm nỗi căm hờn, không thể làm gì được khi bị nhốt trong chuồng ở vườn Bách thú:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm
Phân tích bài thơ Nhớ rừng
Thay vì đi lại trong rừng xanh và tỏ vẻ oai linh nơi rừng thẳm thì nay con hổ phải nằm dài trong cũi sắt với một sự ngao ngán. Nó chẳng có việc gì khác ngoài việc trông cho ngày tháng dần qua. Câu thơ thể hiện rõ sự khinh bỉ của lũ người ngoài kia. Chúng ngạo mạn, ngẩn ngơ và chỉ biết giường cặp mắt nhỏ bé và diễu cợt con hổ, diễu cợt oai linh của rừng thẳm. Ức chế dồn nén nhưng con hổ lại không làm được gì ngoài cam chịu:
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự
Tủi nhục, uất hận rồi cuối cùng là cam chịu số phận. Đó chính là tâm trạng của con hổ lúc này. Tuy nhiên, sự cam chịu chỉ là biểu hiện bên ngoài. Trong lòng nó vẫn không chấp nhận việc mình trở thành thứ đồ chơi trong cặp mắt của thiên hạ. Ở đây, những từ ngữ căm hờn, lũ người kia khiến người đọc cảm nhận như tác giả đang ám chỉ bọn thực dân đang nhăm nhe xâm lược nước ta, chúng khiến cho người dân căm hờn.Xem thêm: Viết một đoạn văn khoảng 4, 5 câu nói về hoa mai
Cùng với niềm uất hận của mình, con hổ khinh ghét tất cả những thứ xung quanh. Với nó môi trường mà người ta cố tạo ra chỉ là một sự giả tạo chứ không phải rừng xanh thật nơi đáng lẽ nó phải được sống. Nó ghét từ:
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối
Cho đến:
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém
Những thứ giả tạo ấy càng khiến nó nhớ hơn cảnh rừng xanh hùng vĩ ngoài kia. Nơi ấy nó đã từng có một quá khứ vàng son và đầy oanh liệt. Nó nhỡ những ngày tháng đẹp đẽ ấy:
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ở chốn thiên nhiên hùng vĩ ấy, con hổ xuất hiện như một vị chúa tể sơn lâm. Bước chân đầy dũng mãnh, đôi mắt sáng quắc như mắt thần có thể soi rọi cả hang tối. Nó là chúa tể của rừng xanh và nó có quyền năng khiến những con thú khác phải im lặng. Những thứ ấy giờ đây không còn nữa, chính bởi vậy mà lúc này đây nó thấy nhớ rừng xanh tới cháy bỏng. Nó thèm khát được trở lại cuộc sống như trước đây:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Trước đây, thay vì nằm dài đợi ngày dần qua thì nó có thể ngủ ngon khi bình minh đang lên, vui vẻ chờ đợi mặt trời tắt. Thế nhưng với nó bây giờ tất cả những điều ấy đã thành dĩ vãng.Giờ đây, nó chỉ còn biết cất lên một tiếng “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu. Từ chỗ căm uất cho số phận bị sa cơ, con hổ càng trở nên luyến tiếc cho quá khứ oai hùng của mình. Chính bởi vậy mà nó căm phẫn cuộc sống giả dối đang diễn ra xung quanh:Xem thêm: Tả cây hoa hồng
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang, tầm thường giả dối
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng
Tất cả những thứ ấy chẳng qua cũng chỉ là bắt chước lại rừng xanh mà thôi. Càng khinh bạc cuộc sống thực tại bao nhiêu nó lại càng khao khát được trở về rừng xanh bấy nhiêu, trở về với cuộc đời tự do và phóng khoáng, để được thoải mái vẫy vùng, được chạy trên những cánh đồng, được tham gia vào những cuộc rượt đuổi, được những con vật khác tỏ vẻ khúm núm và sợ hãi. Với nó, đó là một giấc mộng ngàn to lớn. Mộng chỉ là mộng và nó giờ chỉ biết than vãn với đất trời mà thôi.
Bài thơ đã thể hiện rõ khuynh hướng của phong trào Thơ mới đó là muốn thoát ly thực tại, hướng đến một cuộc sống tự do. Bài thơ không chỉ là lời con hổ mà còn là tâm trạng của cả một thế hệ hanh niên lúc bấy giờ.
Trên đây chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Nhớ rừng và đọc tham khảo bài văn mẫu. Nếu bài văn còn gì thiếu sót, các em có thể bình luận góp ý ở bên dưới và chúng ta có thể viết cho hay hơn, hấp dẫn hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ (Có dàn ý chi tiết) | 1,363 | |
Bài thơ Nói với con của nhà thơ Y Phương là một bài thơ chứa đựng nhiều cảm xúc. Nó là một lời dạy bảo của người cha đối với người con nhưng lại được diễn giải theo kiểu tâm sự. Chính vì vậy nó có sức thuyết phục hơn và khiến cho chúng ta phải suy ngẫm.
Để phân tích bài thơ Nói với con được hay nhất mà lại không sợ thiếu ý, Kho tàng văn mẫu hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đề văn này. Đồng thời, chúng tôi cung cấp cho các em bài văn mẫu để các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Nói với con
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Y Phương và bài thơ Nói với con.
– Nhà thơ Y Phương tên thật là Hứa Vĩnh Sước, ông là một nhà thơ người dân tộc Tày ở Cao Bằng.
– Ngôn ngữ thơ của Y Phương giàu tính dân tộc. Giọng điệu thơ gần gũi, cảm xúc.
– Bài thơ Nói với con là một lời thủ thỉ tâm tình của Y Phương dành cho con của mình.
2. Thân bài phân tích bài thơ Nói với con
Khổ 1: Những lời tự sự của người cha dành cho con
– Quá trình phát triển của một đứa trẻ gắn liền với niềm vui, niềm hạnh phúc của cha mẹ.
– Cha mẹ yêu thương, đùm bọc những đứa con của mình và lấy sự trưởng thành của con cái làm niềm vui.
– Hình ảnh thơ gần gũi không chỉ đối với riêng nhà thơ mà đối với tất cả chúng ta.
– Nhà thơ kể về những kỉ niệm cũ, mọi cảnh vật đều thấm đượm nghĩa tình.
– Thời khắc thiêng liêng quyết định đến sự ra đời của người con.
– Dùng hình ảnh xưa để gợi cho con tình yêu với quê hương, với những con người tuy không cùng dòng máu nhưng lại thân thiết như ruột thịt.
Khổ 2: Đức tính tốt đẹp của người đồng mình và lời nhắn nhủ của người cha
– Cuộc sống dẫu có nhiều vất vả nhưng từ trong cái khó, người đồng mình biết vươn lên.
– Nhắn nhủ con hãy học những đức tính tốt đẹp của người đồng mình, luôn vững vàng tiến lên phía trước.
– Nhắn nhủ con không được quên nguồn cội.
– Tiếp thêm cho con niềm tin vào sức mạnh của chính mình.
3. Kết luận
– Tóm tắt lại nội dung của bài thơ và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.Xem thêm: Hãy bình luận câu tục ngữ sau: "Đất tốt trồng cây rườm rà, Những người thanh lịch nói ra dịu dàng". "Đất xấu trồng cây khẳng khiu, Những người thô tục nói điều phàm phu"
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Nói với con
Nhà thơ Y Phương là một trong những tác giả miền núi tiêu biểu của thi ca Việt Nam. Cũng như bản chất con người, thơ của Y Phương dung dị, mộc mạc nhưng đọc đến đâu thấm đượm nghĩa tình đến đây. Ông làm thơ khá nhiều và một trong những bài thơ được nhiều người nhớ đến nhất đó chính là bài Nói với con. Nội dung bài thơ là lời thủ thỉ tâm tình của người cha dành cho người quen. Qua đây, ta thấy được tình cảm của nhà thơ dành cho con của mình. Và cũng trong bài thơ này, ta thấy được cái chất dân tộc đậm nét của Y Phương.
Bài thơ Nói với con được viết theo thể thơ tự do, chính vì vậy mà cảm xúc không bị giới hạn. Nhà thơ có thể bộc lộ được hết những cảm xúc của mình thông qua từng câu chữ. Không đánh đố độc giả, hình ảnh thơ mà tác giả Y Phương đưa ra gần gũi, chân thực. Người đọc nào cũng thấy được bóng dáng của mình trong đó. Điều này thể hiện rõ nét nhất trong những câu thơ mở đầu:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Phân tích bài thơ Nói với con
Đó là hình ảnh của một đứa trẻ đang tuổi chập chững biết đi. Những bước chân đầu tiên là bước về phía cha mẹ, chạm vào cảm xúc của cha mẹ. Khung cảnh của một gia đình trẻ nơi có cha mẹ đang động viên con bước đi trên đôi chân của mình thật đầm ấm và hạnh phúc. Những bước chân đầu tiên trên cuộc đời là những bước chân vô cùng quan trọng. Vì sao nhà thơ lại nêu hình ảnh một đứa trẻ tập đi đầu tiên? Đó là bởi vì con người luôn phải tự tập đi, tự đứng vững trên đôi chân của chính mình. Cha mẹ không thể nào bế bổng và nâng đỡ chúng ta được mãi. Những bước đi đầu đời, đứa trẻ nào cũng mang trong mình cảm giác lo sợ nhưng nỗi sợ hãi ấy sẽ nhanh chóng qua đi bởi cha mẹ luôn kề bên. Cha mẹ cũng vậy, họ cũng từng có nhiều lo lắng, phải trải qua nhiều khó khăn và vất vả. Nhưng mọi chuyện qua đi một cách dễ dàng bởi vì bên cạnh họ luôn có tình cảm thắm thiết của người đồng mình:Xem thêm: Nghị luận xã hội Giữ lấy truyền thống dân tộc
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời
Người đồng mình là cách mà nhà thơ Y Phương nói về những người đồng bào của ông. Họ sống nơi vùng núi Cao Bằng, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn. Hai câu thơ “Đan lờ cài nan hoa, Vách nhà ken câu hát” đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc sống của những người dân nơi đây. Đan, cài, ken là những động từ chỉ hành động, chỉ những công việc hàng ngày mà người đồng mình vẫn làm. Thế nhưng nếu xét về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, đan, cài, ken còn được hiểu là sự gắn kết. Có thể thấy, nhà thơ đã vận dụng ngôn ngữ tiếng Việt một cách tài tình để nói lên sự gắn kết của những con người miền núi với nhau. Tuy cuộc sống khốn khó nhưng họ vẫn tìm thấy niềm vui. Họ đem câu hát để lấp đầy những chỗ còn hở ở vách nhà. Sự tình nghĩa của con người tỏa lan ra cảnh vật khiến cho khung cảnh như cũng có hồn hơn, có tình hơn. Đó là lý do vì sao mà rừng thì cho hoa, con đường lại cho những tấm lòng. Từ trong tình yêu thương ấy, cha mẹ cũng đã đến với nhau. Núi rừng, con đường chứng kiến ngày vui hạnh phúc của họ. Đó là ngày hạnh phúc nhất và đó cũng là ngày mà hạt giống tình yêu được kết tinh.
Tiếp nối cho mạch cảm xúc của mình, nhà thơ nói về sự can trường, nói về những đức tính quý báu của người đồng mình. Từ yêu lắm, nhà thơ chuyển sang dùng thương lắm. Nếu xét về tính chất thì yêu và thương cũng đều chỉ cảm xúc của con người nhưng từ thương nghe có vẻ rộng lớn hơn. Thương vừa có cái tình người, vừa có sự đồng cảm, vừa có sự trìu mến. Thương vừa là yêu thương, vừa là dễ thương cũng vừa là xót thương. Xót là bởi vì cuộc sống của họ còn có nhiều khổ cực. Họ phải sống trên đá, sống trong thung nhưng họ dễ thương ở chỗ không chê đá gập ghềnh cũng không chê thung nghèo khổ:Xem thêm: Viết đoạn văn nêu những cảm nhận của em về hai tiếng "đồng chí" trong bài thơ cùng tên của Chính Hữu
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo khổ
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Từ trong gian khó của cuộc sống, người đồng mình đã biết vươn cao và vươn xa. Chính ý chí vững vàng đã khiến họ vượt qua tất thảy mọi thử thách của cuộc sống. Niềm lạc quan, tin tưởng vào tương lai tốt đẹp khiến cho họ không lo ngại những nỗi cực nhọc trong cuộc đời. Đó là lý do vì sao những người đồng mình tuy có vóc dáng nhỏ bé nhưng họ lại không bao giờ nhỏ bé trước cuộc đời:
Người đồng mình tuy thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Từ câu chuyện về những người đồng mình, nhà thơ cũng muốn gửi tới một lời nhắn nhủ tới con mình rằng hãy sống đầy tự tin và kiêu hãnh như người đồng mình. Khi chúng ta có niềm tin vào bản thân, chúng ta sẽ làm nên được nhiều điều hơn chúng ta nghĩ:
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Rõ ràng, nhà thơ đang mong muốn con mình trở nên mạnh mẽ và rắn giỏi. Thế nhưng, ông lại nói lên mong muốn ấy một cách nhẹ nhàng. Đó là lời thủ thỉ để cho con cảm nhận và hiểu ra vấn đề chứ không hề có sự ép buộc nào ở đây. Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ. Và qua đây, người đọc thấy được bản thân mình cũng cần phải học theo những lời khuyên dạy ấy. Những lời khuyên xuất phát từ đáy lòng thật dễ dàng để chạm tới trái tim.
Trên đây là hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Nói với con cũng như bài văn mẫu mà Kho tàng văn mẫu đã biên soạn. Hy vọng tài liệu bổ ích này giúp các em có thêm kiến thức để học tập môn Ngữ văn được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương (Có dàn ý chi tiết) | 1,751 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Nói Với Con của Y Phương
Bài làm
Tình cảm gia đình là thứ tình cảm rất thiêng liêng và cao quý mà mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng, giữ gìn. Nhiều nhà thơ đã mượn những tình cảm ấy để viết lên những vần thơ hay và cảm động để cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn. Chính vì có nhiều nhà thơ lấy tình cảm gia đình làm đề tài nên để có thể mang lại ấn tượng cho người đọc thì bài thơ phải mang những nét độc đáo, mới mẻ riêng. Bài thơ Nói Với Con của nhà thơ Y Phương chính là một trong những sáng tác tiêu biểu.
Nói Với Con là một bài thơ tha thiết, chan chứa nỗi niềm xúc động thông qua việc người cha dặn dò, khuyên nhủ đứa con trai của mình. Mở đầu bài thơ, người cha gợi về hình ảnh đứa con đương còn bé, đang chập chững bước đi những bước chân đầu tiên của cuộc đời:
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai tiếng chạm tiếng cười”
Những bước đi của đứa trẻ đang tập đi, hướng về phía cha, mẹ đó chính là hướng về người thân ruột thịt trong gia đình, là những người gần gũi, yêu thương. Ở khổ thơ đầu này ý của nhà thơ không chỉ dừng lại ở việc con chập chững biết đi mà còn là các giai đoạn phát triển, trưởng thành của con đều được người cha ghi nhớ, lưu giữ.Xem thêm: Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm
“Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài đan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng”
Người cha không chỉ gửi gắm tình cảm của những người thân trong gia đình mà nó còn được mở rộng ra đó là “người đồng mình”. Đó là những người sống cùng một không gian sinh sống thuộc quê hương, họ là những người cùng quê, có thể không cùng huyết thống hay dòng họ nhưng lại chất chứa tình cảm yêu thương gắn bó với nhau. Những tình cảm chân quê ấy còn được thể hiện qua cuộc sống lao đống sản xuất của họ. Đó là “đan lờ”, là vách nhà đơn sơ nhưng lại mang tiếng hát thể hiện sự yêu đời, lạc quan. Họ sống gần gũi với thiên nhiên, núi rừng.
Phân tích bài thơ Nói Với Con
Tiếp nối ý thơ trên, Y Phương đã gợi nhớ với con về kỷ niệm đẹp trong cuộc đời của mình:
“Cha mẹ nhớ mãi về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”
Con đường càng dài thì càng nhận ra được tấm lòng của nhau và đối với nhà thơ thì khi mà thấu hiểu được tấm lòng của nhau, khi hai trái tim cùng chung nhịp đập thì có nghĩa là ngày đẹp nhất trên đời, “ngày cưới”. Nhắc lại ký ức này, người cha mong muốn con có thể hiểu được sự hình thành của mái nhà hạnh phúc mà con đang sống, con là đứa trẻ được sinh ra trong tình yêu thương của cha mẹ, trong một mái ấm hạnh phúc. Ngay sau khi để người con cảm nhận được ngày hạnh phúc của chả mẹ thì Y Phương đã đưa vào bài thơ lời dạy dỗ đối với đứa con của mình:Xem thêm: Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà
“Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói”
Lời dạy của cha rất chân thành và tha thiết. Nó đem lại cho ta cảm rất nhẹ nhàng, gần gũi nhưng cũng không kém phần nghiêm khắc. Trong cuộc sống thì không chỉ có niềm vui mà cũng chan chứa những nỗi buồn. Nỗi buồn không chỉ của riêng con mà còn là cả của “người đồng mình”. Chính vì thế họ phải nuôi chí lớn để có thể làm biến mất đi nỗi buồn của quê hương, dân tộc. Người cha khuyên răn người con rằng dù cho quê hương có nghèo đói, khó khăn thì con cũng phải học cách thích nghi, cải tạo chứ không phải phủ nhận nguồn gốc, chê bai cội nguồn của chính mình. Con nên:
“Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc”
Khuyên con mình nên sống một cuộc sống phóng khoáng, tự do, phải có sức sống mãnh liệt không bao giờ cạn. Là một người con trai thì phải biết “lên thác xuống ghềnh” để vượt qua những khó khăn, thử thách chứ không được lùi bước. Nhà thơ tiếp tục nhắc đến “người đồng mình” để làm bài học cho người con:
“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Đừng bao giờ nhỏ bé
Nghe con”
Người cha nhắc về “người đồng mình” với niềm tự hào khôn xiết. Đó là nhắc về truyền thống kiến cường bất khuất, quyết tâm làm giàu đẹp cho quê hương, xứ sở. Người đồng mình “đục đá” để “kê cao quê hương” đây là một hành động có thể hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất đó chính là sức mạnh chế ngự thiên nhiên, họ xây dựng những ngôi nhà trên sườn đá, xây nên những bản làng, tạo dựng thành quê hương. Thứ hai cũng có thể hiểu là truyền thống đấu tranh của dân tộc, đục đá thể hiện sự kiên cường, quyết tâm. Dù cho “thô sơ da thịt” nhưng tầm vóc của họ lại vô cùng lớn lao mà con sau này có rời xa quê hương, hay lớn lên thì cũng phải tiếp nối truyền thống ấy.Xem thêm: Phân tích nhân vật bé Thu trong đoạn trích truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
Bài thơ Nói Với Con của Y Phương chính là những lời tâm tình đầy thiết tha và chân thành của người cha dành cho con mình. Người cha đem lại bài học cho con trai của mình rằng phải luôn biết yêu thương, kính trọng và đoàn kết, biết yêu và giữ gìn truyền thống tốt đẹp của quê hương. Đồng thời cũng phải sống mạnh mẽ, kiên cường và trở thành người có ích cho quê hương, cho dân tộc.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Nói Với Con của Y Phương hay nhất | 1,081 | |
Bài thơ Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu là một bài thơ nói về sự hùng mạnh, vẻ đẹp và ý nghĩa của con sông Bạch Đằng. Bài thơ này được viết khi tác giả có một cuộc dạo chơi trên sông Bạch Đằng. Bài thơ giúp người đọc nhìn lại lịch sử dân tộc và thêm tự hào về lịch sử của dân tộc ta.
Trước khi làm bài văn phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng, các em cần phải đọc tham khảo nhiều bài văn mẫu cũng như lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng. Bài viết này sẽ hướng dẫn các em cách lập dàn ý cũng như cách làm một bài văn phân tích.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Trương Hán Siêu và bài Phú sông Bạch Đằng.
– Trương Hán Siêu là một tham tri chính trị có tài thơ văn nổi tiếng một thời.
– Bài Phú sông Bạch Đằng đã thể hiện được sự hùng mạnh của con sông.
2. Thân bài phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng
a. Cảm xúc lịch sử của nhân vật khách
– Nhân vật khách là người thích đi ngao du đến các địa danh lịch sử.
– Là người yêu tự do và có tâm hồn phóng khoáng.
– Tái hiện lịch sử tang thương nơi sông Bạch Bằng.
– Nhân vật khách đã thể hiện nỗi niềm hoài cổ, thương tiếc.
– Tâm hồn yêu quê hương, đất nước của nhân vật khách.
b. Lời của các bô lão
– Lời kể về các chiến công có sự tự hào.
– Khẳng định mỗi chiến thắng đều có sức mạnh của con người.
– Thể hiện niềm tự hào dân tộc.
3. Kết luận
– Tổng quan nội dung bài thơ và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Ở nềm tin của tình yêu có hạnh phúc
>> Phân tích bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bình Khiêm (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng
Trương Hán Siêu vốn được biết đến là người có học vấn uyên thâm lại có tính tình trung thực nên ông rất được vua Trần tin tưởng. Không chỉ là một vị tham tri chính trị xuất sắc, ông còn là một thi sĩ có tài. Nội dung các tác phẩm của ông xoay quanh việc ca ngợi đất nước, ca ngợi lịch sử, thể hiện một tinh thần yêu nước sâu sắc. Phú sông Bạch Đằng là một trong những sáng tác hấp dẫn của Trương Hán Siêu nằm trong đề tài này. Bên cạnh việc cung cấp thông tin lịch sử, bài thơ còn đề cao vai trò của con người anh hùng trong các chiến thắng lịch sử.
Ở bài thơ này, nhà thơ tự đặt mình vào trong vai trò là một vị khách đi thăm cảnh sông nước. Chính vì vậy mà hình ảnh nhân vật khách trở nên phóng khoáng và tự do. Nhà thơ đã hòa mình vào với cảnh sông núi nước non của 50 năm sau chiến tháng trên sông Bạch Đằng. Mục đích của bài phú này là ca ngợi vẻ đẹp và nâng cao hiểu biết của con người. Thông qua các địa danh nổi tiếng như cửa Đại Than, Bách Việt, Tam Ngô, Ngũ Hồ, Cửu Giang, bến Đông Triều, tác giả đã nhìn thấy phía xa xa kia chính là sông Bạch Đằng, nơi những con sóng kình nối đuôi nhau dài đến muôn dặm. Nó làm cho cảnh sắc dòng xông trở nên kì vĩ hơn, màu trời hòa lẫn với màu nước khiến cho không gian như được mở rộng hơn:
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu
Thương thay nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu
Phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng
Khung cảnh hai bên bờ sâu với lau lách mọc um tùm gợi lên cho người đọc một cảm giác hoang vắng và đìu hiu. Nó gợi lên hình ảnh ảm đạm của một bãi chiến trường với xác người, mũi giáo chôn sâu dưới đáy sông. Nhìn vào đó, tác giả cảm nhận được sự tàn khốc của chiến tranh. Dường như mọi chuyện chỉ mới vừa xảy ra ngày hôm qua. Nghĩ vậy khiến cho lòng tác giả thêm buồn, cảnh vật cũng vì vậy mà trở nên bi sầu. Thời gian 50 năm đã làm xóa mờ đi những dấu tích của lịch sử. Những người anh hùng dân tộc xưa kia nay cũng không còn nữa.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài)
Các bô lão xuất hiện bên sông với một thái độ rất nhiệt tình và hiếu khách. Sau đó, họ kể lại những chiến tích năm xưa một cách ôn hòa. Trong đó có cả một niềm tự hào vô cùng to lớn. Đây là nơi năm xưa Ô Mã đã bị bắt sống, là nơi thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao. Nó gắn với hai trận đánh lớn của nước ta trên sông Bạch Đằng đó là chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938 và chiến thắng của Trần Quốc Tuấn năm 1288. Trong những trận đánh ấy, thế giặc đều rất mạnh, tinh kì phấp phới, hùng hổ sáu quân mà gươm giáo lại sáng chói. Trong khi đó, quân ta yếu thế hơi và nếu đánh trực diện thì coi như nắm chắc phần thua. Nhưng không, chúng ta có những vị tướng tài ba đã biết dùng mưu để đánh giặc, biết tận dụng thủy triều lên xuống để đóng cọc, biết sức mình và biết sức địch để đưa ra những kế sách đúng đắn. Và trên hết, chúng ta chiến đấu vì chính nghĩa. Chính vì lẽ đó mà cuối cùng nước Đại Việt ta đã giành chiến thắng hết lần này cho tới lần khác. Lời kể của các bô lão có sức hấp dẫn vô cùng lớn và nó khiến cho nhân vật khách cảm thấy thích thú. Thông qua đây, chúng ta thấy được tấm lòng yêu quê hương tha thiết của các bô lão:Xem thêm: Phân tích bài ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa…
Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh
Tiếp lời của các vị bô lão, nhân vật khách cũng ca rằng:
Anh minh hại vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi đâu thoát hiểm cốt mình đức cao
Sự dài rộng của sông Bạch Đằng cũng chính là một lợi thế giúp chúng ta ngăn được bước đi của quân thù. Ngay cả sóng nước cũng giận dữ trước những kẻ xâm lăng. Sau trận thua tan tác, ngàn đời quân giặc vẫn còn hãi hùng mỗi khi nghĩ đến. Còn đối với người dân nước ta, ngàn đời sau sử sách cũng vẫn còn lưu danh tên tuổi những trận đánh, tên tuổi những vị anh hùng như Ngô Quyền, như Trần Hưng Đạo. Nhờ có họ mà đất nước mới được thái bình.
Bài Phú sông Bạch Đằng được xem là một đỉnh cao nghệ thuật của thể phú bởi lời văn được sử dụng một cách linh hoạt, hình tượng nghệ thuật sinh động, ngôn ngữ hào sảng, gợi cảm. Bài phú nhắc cho chúng ta nhớ về những chiến thắng lịch sử và nhắc nhớ về những vị tướng anh hùng của dân tộc.
Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng. Dàn ý và bài văn mẫu này hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các em để các em có thể nắm được cách lập luận, tư duy và triển khai ý khi làm một bài văn phân tích.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu (Có dàn ý chi tiết) | 1,375 | |
Phân tích bài thơ Phản Chiêu Hồn.
Hướng dẫn
Bài thơ “Phản chiêu hồn” là một bài thơ có tứ độc đáo. Sự lưu truyền của bài thơ mấy trăm năm qua đã khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của nó. Bài thơ giàu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo cao cả.
Khuất Nguyên là nhà thơ yêu nước vĩ đại của Trung Quốc thế kỷ IV trước Công nguyên. Thời đại Khuất Nguyên sống được gọi là thời Chiến Quốc, khi mười hai nước lớn thời Xuân Thu đã hợp thành bảy nước lớn hơn tranh giành quyền binh, đánh lẫn nhau để rồi đến năm 221 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng thôn tính tất cả, thống nhất Trung Quốc lập ra nhà Tần. Nước Sở, Tổ quốc của Khuất Nguyên từng là xứ sở hùng mạnh nhưng lúc đó bắt đầu suy vong. Sở Hoài Nguyên lúc đầu trọng dụng Khuất Nguyên do tài năng và dòng dõi của ông, sau khi bọn gian thần gièm pha, vì những cải cách chính trị của ông đề ra ngày càng mâu thuẫn với quyền lợi của bọn chúng. Khuất Nguyên bị Sở Hoài Nguyên ruồng bỏ, thậm chí bắt ông đi đầy xuống phương Nam. Suốt những năm phiêu bạt, Khuất Nguyên vẫn một lòng trung thành với lý tưởng của mình, hướng về nhân dân, đất nước. Năm 287 trước công nguyên, Sính Đô là kinh thành nước Sở bị quân Tần đánh chiếm và tàn phá, nước Sở trước nguy cơ bị diệt vọng, Khuất Nguyên tuyệt vọng, ông nhảy xuống ông Mịch La tự vẫn. Tống Ngọc, một danh sỹ thời Chiến Quốc, học trò của Khuất Nguyên thương thầy mà gọi hồn về, đó là quan điểm tôn sư trọng đạo. Nguyễn Du viết bài Phản Chiêu hồn không phải chống lại Tống Ngọc thương thầy gọi hồn về. Nguyễn Du cũng xuất phát từ lòng thương vô hạn đối với Khuất Nguyên nhưng lại ở khía cạnh khác.
Khuất Nguyên để lại nhiều tác phẩm thơ ca bất hủ như Ly Tao, Thiên vấn, Cửu chương, cửu ca… Đó là những tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật và tư tưởng lớn, thể hiện tinh thần yêu nước và tâm hồn cao đẹp của Khuất Nguyên, trở thành mẫu mực của văn học qua nhiều thời đại về sau.Xem thêm: Top 10 website những bài văn mẫu hay lớp 11 mới nhất
Nguyễn Du đồng cảm với Khuất Nguyên vì hai ông đều có những hoàn cảnh bất đắc chí. Sự thối nát của xã hội thời Khuất Nguyên có khác gì sự mục ruỗng của chế độ phong kiến cuối thế kỷ XVIII thời Nguyễn Du sống. Đây là sự đồng cảm tâm hồn của hai nhà thơ lớn cách nhau hai nghìn năm. Có thể nói chỉ có thiên tài Nguyễn Du mới viết được bài thơ sâu sắc cả giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo như bài “Phản chiêu hồn”.
Theo Nguyễn Du cái xã hội hiện thời đã trở nên xa lạ, dù là một mảnh hồn cũng không một chốn dung thân. Theo Nguyễn Du thì Khuất Nguyên cao khiết quá, trong sáng quá đến nỗi không có người tri kỷ, đồng hành. Bài Phản Chiên Hồn đề cập đến một số vấn đề lớn của xã hội với mong muốn hồn Khuất Nguyên không nên trở về. Vì trở về nơi không xứng đáng với tấm lòng trong sạch của Khuất Nguyên.
Hồn ơi! Hồn ơi! Sao không về?
Đông,Tây,Nam, Bắc không có nơi nào nương tựa đâu!
Lên trời, xuống đất đều không được
Về đất Yên đất Dĩnh mà làm gì?
Thành quách vẫn như cũ, nhưng nhân dân đã khác rồi,
Bụi bay mù mịt bẩn cả quần áo.
Nguyễn Du đã miêu tả lại cảnh tượng hiện nay nơi đất nước Khuất Nguyên từng sống, thật bi đát và tang thương. Trước hết là bọn cầm quyền sống xa hoa, cậy quyền, ỷ thế, ra đường thì vênh vang xe ngựa, về nhà thì vỗ ngực đứng ngồi bàn tán tự coi mình là bậc cao nhân, tài đức thời thịnh như Nghiêu Thuấn. Nhưng lột cái vỏ bề ngoài của chúng đi thì bên trong là nọc độc, nanh vuốt, cắn xé người ngọt xớt…
Họ đi ra ngựa ngựa xe xe, họ ở nhà vênh vênh váo váo
Đứng ngồi bàn tán tựa như ông Cao, ông Quỳ.
Hồn không thấy mấy trăm châu ở HồNamđó sao?
Chỉ có những người gầy gò, không ai béo tốt.
Những loại người này không phải chỉ có số lượng ít, chúng ở khắp nơi khắp chốn. Tiếp đến đối lập với chúng là những dân đen mà Khuất Nguyên yêu mến, bảo vệ. Họ cũng khác xưa ở sự nghèo khổ suốt miền Hồ Nam toàn những người gầy gò, chẳng có ai béo tốt. Họ đang sống trong cảnh bị thống trị đã mất niềm tin và ngột ngạt, nếu Khuất Nguyên có trở về thì họ cũng cho ông không hiểu gì cả.Xem thêm: Tóm tắt sử thi Ô-đi-xê của Hi Lạp
Một xã hội đen tối như thế, chỗ nào cũng thấy Thượng Quan và ở đâu trên mặt đất cũng là sông Mịch La. Nếu Khuất Nguyên trở về có thể coi là lỗi thời. Vì sau thời Tam Hoàng không còn tồn tại cách sống trung nghĩa! Nếu hổ báo trên rừng không ăn thịt thì cá dưới nước cũng rỉa xác đến chết.
Với những hình ảnh miêu tả chân thực Nguyễn Du đã làm hiện hình một xã hội Trung Quốc đen tối, ngột ngạt, thối nát. Bọn thống trị thì hiểm độc, nhân dân thì đói khổ, người sống trung nghĩa thì bế tắc. Phản Chiêu hồn chính là bài thơ trùm đắp cái buồng uất âm ỉ thành nộ khí gây nên sấm chớp bão bùng của sự phản kháng cao độ, phủ nhận cuộc đời đang sống một cách không thương tiếc.
Nhà thơ đã nhắc nhở hồn Khuất Nguyên tới hai từ Thượng Quan và Mịch La, vốn là hai danh từ riêng chỉ con người và một địa điểm cụ thể rất cá biệt. Nhưng đối với Khuất Nguyên và người cùng thời thì Thượng Quan là một quyền thần xu nịnh, gian ác nổi tiếng. Nó có mặt ở mọi xó xỉnh cuộc đời. Còn Mịch La là nơi đã chôn vùi một cách oan nghiệt tài năng của một con người trung nghĩa. Đó là dòng sông mang đầy uất hận… Nhưng cả hai cái danh từ cá biệt này đã trở thành phổ biến thì nhan nhảnh trong cuộc đời, trùm lên hết thảy mọi chốn mọi nơi:Xem thêm: Những bài thơ ngắn hay về hoa đặc sắc nhất
"Đời sau ai cũng là Thượng Quan
Mặt đất đâu đâu cũng là sông Mịch La"
Ông đã khẳng định với hồn Khuất Nguyên rằng, trong xã hội tràn ngập mọi nơi những Thượng Quan và Mịch La thì bi kịch người trí thức như Khuất Nguyên là không thể tránh khỏi, là mang ý nghĩa phổ biến.
" Cá rồng không ăn, hùm sói cũng ăn"
Bi kịch đã dành sẽ là phổ biến, nhưng còn tình trạng bế tắc về lý tưởng như Khuất Nguyên cũng là thường tình, cho nên Nguyễn Du thương người mà kêu lên những lời băn khoăn, da diết:
"Hồn ai! Hồn ai! Hồn làm thế nào?"
Như một câu hỏi đặt ra trước vận mệnh một con người còn sống, không thể trả lời!
Từ số phận và hoàn cảnh của Khuất Nguyên, với bốn câu thơ kết thúc, Nguyễn Du đã khái quát nâng lên thành những số phận, cảnh ngộ phổ biến, bao quát cả không gian và thời gian. Do vậy ý nghĩa phê phán sự xấu xa độc ác trong xã hội phong kiến ở thời đại Nguyễn Du và ở Trung Quốc và Việt Nam đều có ý nghĩa sâu sắc.
Nhà văn Lỗ Tấn sau này, đã nhiều lần gọi xã hội Trung Quốc là xã hội ăn thịt người. Nhưng trong Phản Chiên hồn có hiện lên bằng những hình ảnh cụ thể gây ấn tượng rất mạnh. Phản Chiêu hồn là bài thơ Nguyễn Du viết về Khuất Nguyên với những tên đất, tên người của một thời quá khứ. Bằng những chuyện nước người, nhưng nỗi đau bi phẩn, căm giận thì không phải lấy ra từ sách vở hoặc qua suy ngẫm mà bắt nguồn từ lòng nhân ái, từ sự yêu thương sâu sắc đối với những con người trung nghĩa phải sống trong cái xã hội bản chất là ăn thịt người của nó.
Bài Thơ phản văn chiêu hồn như một nỗi niềm tâm trạng sâu kín của nhà thơ. Ông không chỉ xót thương cho Khuất Nguyên mà xót thương cho chính mình và những vị quan thanh liêm nhưng sống trong xã hội thối nát, bế tắc đến cùng đường.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Phản Chiêu Hồn. | 1,494 | |
Bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được viết khi đang trên đường thiên lí vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan. Dừng chân ở đèo Ngang, bà đã viết nên những vần thơ vừa là để miêu tả khung cảnh, vừa là để nói lên tâm sự của mình khi ấy.
Để giúp các em có thể làm tốt bài phân tích bài thơ Qua đèo Ngang, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn này đồng thời gợi ý thêm một bài văn mẫu để các em đọc tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Qua đèo Ngang
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Bà Huyện Thanh Quan và tác phẩm Qua đèo Ngang.
– Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở Nghi Tàm, Thăng Long.
– Bài thơ Qua đèo Ngang tả cảnh đèo Ngang lúc ngày tàn, qua đó nhà thơ cũng thể hiện những tâm tư trong lòng mình.
2. Thân bài
a. Hai câu đề
– Thời điểm nữ thi sĩ bước tới đèo Ngang.
– Gợi tả cảnh quan con đèo.
b. Hai câu thực
– Cuộc sống và con người nơi đèo Ngang, cảnh vật có sự đối nhau.
– Sử dụng từ láy lom khom, lác đác làm tăng thêm sự hoang vắng, nghèo nàn của khung cảnh.
c. Hai câu luận
– Tiếng kêu quốc quốc, gia gia càng làm tăng thêm nỗi nhớ nhà.
– Sử dụng phép đối và đảo ngữ, vừa tạo hình, vừa tạo nhạc.
d. Hai câu kết
– Tâm trạng ngơ ngác, bồi hồi của nữ sĩ khi dừng chân đứng lại để nhìn ngắm cảnh đèo.
– Nhận ra cái cô đơn, lẻ loi của mình giữa không gian bao la.
3. Kết luận
– Nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Qua đèo Ngang.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết)Xem thêm: Dân gian có câu: Lời nói gói vàng, đồng thời lại có câu: Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Qua hai câu trên, em hãy cho biết dân gian đã hiểu như thế nào về giá trị, ý nghĩa của lời nói trong cuộc sống
>> Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Bà Huyện Thanh Quan (Có dàn ý chi tiết)
II. Lập dàn ý phân tích bài thơ Qua đèo Ngang
Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, là một nữ sĩ sống vào giữa thế kỉ 19. Vì có chồng làm quan huyện Thanh Quan và được ngời đời ái mộ nên bà được gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Sau này, người ta cũng nhớ đến bà nhiều hơn với cái tên này. Vốn sinh ra trong một gia đình quyền quý nên bà hay chữ, giỏi thơ. Các sáng tác thơ Nôm của bà còn lại sáu bài trong đó bài thơ Qua đèo Ngang là một bài thơ nổi bật được nhiều người yêu thích. Bài thơ này được bà viết khi bà đang trên đường vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan. Bài thơ có cách thể hiện độc đáo thể hiện được tài năng thi ca của Bà Huyện Thanh Quan.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với niêm luật vô cùng chặt chẽ. Hai cầu đề cho người đọc thấy được thời gian khi bà đặt chân tới đèo Ngang đó chính là lúc chiều tà. Đèo Ngang vốn là một ranh giới tự nhiên nằm giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Nơi đây có cảnh thiên nhiên vô cùng hùng vĩ. Vốn dĩ nơi đây là một cảnh đẹp nhưng tác giả lại miêu tả nó vào một buổi chiều tà khiến cho khung cảnh nhuốm một màu buồn. Nỗi buồn có lẽ xuất phát từ trong lòng của nhà thơ và nó lan ra cảnh vật xung quanh. Âm a trong từ tà ở cuối câu thứ nhất là một âm mở vì vậy nó càng khiến cho nỗi buồn kéo dài ra mãi. Sang đến câu thừa đề, nhà thơ miêu tả một khung cảnh chen chúc của cỏ cây, hoa lá. Chúng chen nhau để được tồn tại ở nơi hoang vu ấy. Tác giả đã gieo vần a ở các tiếng tà – lá – hoa tạo nên cho câu thơ một âm điệu du dương, nhẹ nhàng nhưng cũng man mác buồn:Xem thêm: Phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của nhà thơ Chế Lan Viên
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Hoa trong câu thơ này là hoa rừng, có thể là hoa mua hoặc hoa sim tím mà như cách nói của Hữu Loan thì đó là một màu hoang biền biệt.
Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang
Sang đến hai câu thực, tác giả miêu tả cảnh cuộc sống và con người nơi đèo Ngang từ cách đây hơn 150 năm. Nơi ấy có núi, có sông, có những chú tiều đang gánh củi và có mấy nhà chợ lác đác. Hai hình ảnh một bên là núi, một bên là sông có sự đối nhau làm tăng thêm cảnh hoang vắng, trống trơ:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Những từ ngữ chỉ số lượng như vài, mấy cho thấy sự vắng vẻ, thưa thớt của con người. Với việc sử dụng phép đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đứng đầu câu không chỉ khiến cho câu thơ trở nên nổi bật mà nó còn làm tăng lên dáng vẻ của những chú tiều cũng sự sự hoang vu của những nhà chợ ven sông. Nỗi buồn của nhà thơ càng vì thế mà tặng thêm .
Trời cứ thế tối dần, những con chim đã bắt đầu quay về tổ. Chúng cất lên những tiếng kêu quốc quốc và gia gia. Lẽ ra, tiếng chim phải khiến cho nhà thơ vui hơn nhưng không. Nhà thơ đã sử dụng lối chơi chữ đồng âm trong tiếng Việt. Tiếng kêu của con chim cuốc, con chim đa khiến nhà thơ liên tưởng đến quốc quốc, đến gia gia. Đó là một tiếng gọi nhớ nhà, thương nhà. Nó khiến cho nhà thơ cảm thấy đau lòng hơn chứ không hề vui. Ở đây, tiếng chim đã nói hộ tiếng lòng của tác giả:Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mơ Tao, Mơ Xây
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Với việc vận dụng phép đối và đảo ngữ, tác giả đã khiến cho âm điệu của câu thơ trở nên da diết, khiến cho người đọc cũng cảm thấy đau lòng.
Đến hai câu cuối bài, nhà thơ đã thể hiện, đã bộc bạch vụ thể tâm trạng ngơ ngác, bồi hồi và lẻ loi của bản thân mình. Đi ngang qua đèo, dừng chân đứng lại để lắng nghe tiếng chim gọi đàn. Ở đây, nhà thơ tiếp tục sử dụng phép đối để người đọc thấy được cái lẻ loi trơ trọi của tác giả giữa khung cảnh trời đất bao la:
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
3 tiếng ta với ta đã thể hiện được cái trơ trọi của người lữ khách. Có một chút tình riêng mà nó cũng tan ra thành từng mảnh, nghe mà xót xa. Lại cộng thêm từ một đứng ở đầu câu càng làm tăng thêm nỗi buồn, côc độc.
Bài thơ Qua đèo Ngang là một trong những bài thơ thành công và thể hiện đúng niêm luật, bốc cục của thể thơ thất ngôn bát cứ. Các cặp đối xứng nhau chặt chẽ, thể hiện được tài năng nghệ thuật độc đáo của tác giả. Bài thơ thấm đượm một nỗi buồn và giúp người đọc hiểu ra được tâm trạng của nhà thơ khi ấy.
Trên đây là phần hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Qua đèo Ngang và bài văn mẫu tham khảo. Phụ huynh cũng nên tìm hiểu kĩ để có thể hướng dẫn các con của mình và cùng học với con.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan (Có dàn ý chi tiết) | 1,380 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phân tích bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
Ai đã từng một lần đi trên con đường xuyên Việt, hẳn đều biết đến đèo Ngang. Đây là một đèo khá dài và khá cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy Hoành Sơn, trước khi đâm ra biển. Lên đến đỉnh đèo, du khách sẽ được thưởng thức cảnh đẹp tuyệt vời của thiên nhiên hùng vĩ: núi non trùng điệp, đại dương bao la, trời cao thăm thẳm. Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô Huế để thi cử hay làm việc cho triều đình phong kiến đã đi qua đèo này rồi lâng lâng xúc cảm trước vẻ đẹp của nó mà làm thơ ca ngợi. Bà Huyện Thanh Quan nhân dịp từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập (dạy dỗ các cung nữ trong cung) đã sáng tác bài Qua đèo Ngang.
Đằng sau bức tranh phong cảnh thiên nhiên là tâm trạng của nữ sĩ: cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã qua. Có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ sáng tác về thắng cảnh này.
Câu phá đề đơn giản chỉ là lời giới thiệu về thời điểm tác giả đặt chân đến đèo Ngang:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Đó là lúc mặt trời đang lặn, phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. Thời điểm này rất dễ gợi buồn trong lòng người, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương.
Tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên nơi đây đẹp như một bức tranh thủy mặc:
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Cỏ cây, hoa lá chen nhau mọc bên đá núi. Có cái gì đó như linh hồn của tạo vật thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen, các vế đối: cây chen đá, lá chen hoa miêu tả sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang vu. Cảnh đẹp thì có đẹp nhưng nhuốm màu buồn bã, quạnh hiu, thiếu hơi ấm con người. Những bông hoa rừng đây đó không đủ làm sáng, làm vui bức tranh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống.
Trên bối cảnh thiên nhiên bao la ấy thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống nhưng cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời:
Xem thêm: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết)Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Con mắt tinh tế của nhà thơ phát hiện ra nét đặc trưng của người và cảnh trước tiên nên bà đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng ấy. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non làm cho con người vốn đã nhỏ bé lại càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng. Cái chợ là nơi biểu hiện sức sống của một cộng đồng làng xã, lẽ ra tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông…
Bao trùm lên cảnh vật là một nỗi buồn tê tái và nỗi buồn ấy thấm sâu vào lòng người:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đôi ấy bỗng vẳng lên tiếng chim quốc khắc khoải, tiếng chim đa đa não nuột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ (từ đồng âm khác nghĩa) để nói lên lòng mình trước cảnh, đó là tài hoa của nữ sĩ. Tiếng chim kêu không làm cho cảnh vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. Phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước thương nhà?!
Hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. Cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. Vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng:
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Quả là một nỗi buồn lớn lao, thấm thía, khó san sẻ, giãi bày. Nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót: ta với ta. Chỉ có ta hiểu lòng ta mà thôi! Vì thế nên sự cô đơn càng tăng lên gấp bội.
Bài thơ Qua đèo Ngang tuy ra đời cách đây đã hơn một thế kỉ nhưng giá trị của nó vẫn nguyên vẹn trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và ca ngợi tài năng của tác giả. Thể thơ Đường luật kiểu cách, sang trọng vào tay nữ sĩ đã trở thành gần gũi, dễ hiểu với người đọc bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng và những hình ảnh dân dã quen thuộc.
Đọc bài thơ, chúng ta thêm yêu Tổ quốc với bao phong cảnh tuyệt vời và càng trân trọng những tâm lòng ưu ái non sông đất nước.
Xem thêm: Suy nghĩ của em về bài thơ Viếng lăng Bác hay nhất | Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan | 945 | |
Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn.
Hướng dẫn
Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) đỗ Hoàng Giáp năm 16 tuổi, làm quan đến chức Thượng thư thời nhà Trần. Ông còn để lại "Giới Hiên thi tập ” bằng chữ Hán.
Bài thơ “Quy hứng" được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, sáng tác trong thời gian Nguyễn Trung Ngạn đi sứ sang triều nhà Nguyên, Trung Quốc.
‘‘Quy hứng” thể hiện nỗi nhớ gia đình, quê hương với bao niềm tự hào của một người đang sống nơi đất khách quê người:
"Lão tang điệp lạc tàm phương tận,
Tảo đạo hoa hương giải chính phì.
Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo,
Giang Nam tuy lạc, bất như quy”
Hai câu đầu nói lên bao nỗi nhớ của khách tha hương: Nhớ lá dâu già cuối vụ, vàng sẫm rụng khắp các nương bãi, nhớ những lứa tằm vừa chín vàng óng, vàng khươm trong nhà, ngoài sân, nhớ lúa sớm trổ trắng phau cánh đồng dâng hương ngào ngạt, nhớ vị béo đậm cua đồng, Thời gian mà nhà thơ nói lên nỗi nhớ đó là tháng tư hay tháng mười? Có hai chi tiết: "Dâu già lá rụng” và “cua béo” cho ta biết đó là vào dịp tháng mười khi gió heo may đã thổi về. Khí trời lành lạnh ấy càng làm cho nỗi nhớ nhà, nhớ quê thêm phần thấm thìa:
"Lão tang diệp lạc tàm phương tận,
Tảo đạo hoa hương giải chính phì ”
(Dâu già lá rụng tằm vừa chín,
Lúa sơm bóng thơm, cua béo ghê)
Các chi tiết nghệ thuật như dâu, tằm, hương lúa sớm, cua béo, đều là cảnh vật đồng quê, màu sắc, hương vị đậm đà của quê nhà thân yêu. Thật là bình dị, mộc mạc, dân dã. Khách li hương xứ sở mới có nỗi nhớ ấy. Cảnh vật ấy, hương vị ấy đã trở thành máu thịt, tâm hồn của nhà thơ.
Xem thêm: Tả lớp học của emNỗi nhớ của ông quan đi sứ trong thế kỉ XIV sao giống nỗi nhớ của anh trai cày ngày nay thế? Cũng là nỗi nhớ hương vị đậm đà quê hương:
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”
(Ca dao)
Vànỗi nhớ của người lính chiến:
“Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Vềnúi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng ”
(Mắt người Sơn Tây – Quang Dũng)
Qua đó, ta càng thấy rõ nỗi nhớ gia đình quê hương là nỗi nhớ đẹp, thể hiện tấm lòng thủy chung của con người Việt Nam chúng ta.
Trở lại hai câu cuối bài thơ, ba chữ "bất như quy” vang lên như một mệnh lệnh của tâm hồn:
"Kiến thuyết tại gia bần diệc hào,
Giang Nam tuy lạc bất như quy".
(Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt
Dẫu vui đất khách, chẳng bằng về)
Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tương phản so sánh rất lí thú: “bần diệc hảo " (nghèo vẫn tốt), “gia bần” với "GiangNam tủy lạc”. Cái "vui ” quê người sao bằng cái “nghèo ” của quê hương? Tình nghĩa của khách li hương đối với nơi chôn nhau cắt rốn thật vô cùng sâu nặng. Giang Nam là đất đô hội; quan sứ được đón tiếp linh đình, thiếu gì dê béo rượu ngon, thế mà đêm ngày lòng vẫn nhủ lòng: “bất như quy ” – chẳng bằng về.
Cảm xúc “quy hứng” dào dạt vần thơ. Tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc thấm vào từng câu chữ, từng vần thơ.
“Quy hứng” là một bài thơ hay và cảm động. Hay vì cái tình của khách ly hương. Hay vì lời thơ mộc mạc, giản dị mà ý vị thì sâu sắc đậm đà. Sau vần thơ là cả một tình quê vơi đầy, một tâm hồn rộng mở thủy chung.
Nguồn: thêm: Nêu cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau: "Mặt trời xuống biển như hòn lửa, ... Câu hát căng buồm cùng gió khơi." (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận) | Phân tích bài thơ Quy hứng của Nguyễn Trung Ngạn. | 680 | |
Bài thơ Quê hương của nhà thơ Tế Hanh lấy cảm hứng từ đề tài quê hương và bắt nguồn từ nỗi nhớ quê của tác giả. Nơi đó là một làng chài nghèo nhưng nó đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tế Hanh.
Bài viết này sẽ giúp các em lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh và cung cấp bài văn mẫu cho các em đọc tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Quê hương
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Tế Hanh và bài thơ Quê hương
2. Thân bài phân tích bài thơ Quê hương
Khổ 1: Giới thiệu về làng chài quê hương
– Làng nghề chài lưới, xung quanh là biển.
– Con người quanh năm bơi thuyền đi đánh cá.
Khổ 2: Tâm hồn náo nức của nhà thơ
– Hình ảnh con thuyền hiên ngang, náo nức hăng như con tuấn mã.
– Tư thế kiêu hãnh của người làng chài khi chinh phục sông dài, biển rộng.
– Nhà thơ đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn tha thiết, gắn bó.
Khổ 3: Cảnh đón thuyền cá trở về ồn ào, tấp nập
– Âm điệu thơ thư thái, dần lắng lại theo niềm vui no ấm, bình yên của dân làng.
– Thể hiện khung cảnh ồn ào khi đoàn thuyền đánh cá trở về.
Khổ 4: Miêu tả về con người làng chài
– Làn da rám nắng và thân hình nồng thở vị xa xăm.
– Chất muối mặn của biển ngấm vào trong từng thớ vỏ, ngấm vào da thịt và ngấm vào tâm hồn của con người.
Khổ 5: Cảm xúc của tác giả khi nhớ về làng chài
– Hình ảnh làng chài hiện lên trong trí nhớ của nhà thơ.
– Ông không giấu giếm mà thổ lộ rõ nỗi nhớ cái mùi mặn nồng của quê hương.
3. Kết luận
– Tổng kết lại nội dung bài thơ và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Quê hương.
II. Bài làm phân tích bài thơ Quê hương
Quê hương là một tiếng gọi thật thân thương và trìu mến. Đằng sau tiếng gọi ấy ẩn chứa biết bao nhiêu cảm xúc. Đó có thể là sự yêu mến xen lẫn niềm tự hào. Đó cũng có thể là nỗi nhớ mong khắc khoải của những người con xa quê hương lâu ngày. Quê hương của Tế Hanh là một bài thơ chứa đựng nhiều cảm xúc của tác giả. Bài thơ khiến cho những người dù không cùng quê với Tế Hanh cũng phải yêu mến mảnh đất và con người nơi đây.Xem thêm: Nhà văn Nguyễn Tuân khi đọc đến đoạn trích Tức nước vỡ bờ (tiểu thuyết Tắt đèn) đã cho rằng Ngô Tất Tố: "xui người nông dân nổi loạn". Viết đoạn văn nói rõ ý kiến của em
Bài thơ Quê hương được Tế Hanh viết bằng những cảm xúc chân thành và dạt dào nhất. Chính bởi vậy mà nó dễ chạm đến trái tim của người đọc. Chính vì được viết bởi một người gắn bó với quê hương nên câu thơ trở nên chân thực. Mở đầu bài thơ là những hình ảnh giới thiệu về làng chài cũng như nhịp sống hối hả ở nơi đây:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Quê hương của mỗi người sẽ khác nhau. Chẳng hạn như quê hương của Đỗ Trung Quân là chùm khế ngọt, là con diều biếc,… Quê hương của nhiều người là mái đình, cây đa, giếng nước. Còn quê hương của Tế Hành chính là làng chài làm nghề chài lưới, nơi quanh năm nước bao phủ xung quanh. Từ câu thơ của Tế Hanh, một khung cảnh yên bình hiện ra với bầu trời cao và trong xanh, gió thổi nhè nhẹ, ánh nắng buổi sớm chiếu xuống làm bừng lên những ánh hồng rạng rỡ. Đây là lúc mà những chàng trai bắt đầu bơi thuyền đi đánh cá. Cách dùng từ “bơi thuyền” của tác giả cho thấy thuyền đánh cá nơi đây còn thô sơ, thể hiện làng chài còn nghèo khó.
Phân tích bài thơ Quê hương
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng được sống trên mảnh đất quê hương, được lao động, được làm việc mình yêu thích khiến cho người dân chài luôn cảm thấy tươi vui, yêu đời. Họ bơi thuyền ra khơi với một tinh thần đầy hăng hái:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió
Một bức tranh lao động đầy hứng khởi và dào dạt sức sống hiện lên trước mắt người đọc. Ở đây, nhà thơ Tế Hanh đã so sánh con thuyền như một con tuấn mã mạnh mẽ và đầy uy lực. Nó thể hiện được tâm thế vui tươi, phấn khởi của những người dân làng chài. Cùng với đó, những động từ hăng, phăng, vượt được nhà thơ sử dụng trong khổ thơ này cũng diễn tả được khí thế băng tới đầy cũng mãnh của con thuyền. Đồng thời nó cũng toát lên được một sức sống tràn trề và đầy nhiệt huyết. Con thuyền cứ thế vươn lên đầy hiên ngang và hùng tráng, vượt qua sóng, vượt qua gió. Câu thơ thứ 3 trong khổ thơ này, nhà thơ đã so sánh cánh buồm với hồn làng. Thường người ta so sánh những hình ảnh cụ thể với nhau nhưng Tế Hanh lại khác. Ông đã lấy một hình ảnh thực, cụ thể là cánh buồm để so sánh với hồn làng là một hình ảnh trừu tượng không thể hình dung. Làm như vậy để người đọc hiểu hơn và dễ hình dung ra được mảnh hồn làng là như thế nào. Ở đây, cánh buồm chính là linh hồn của quê hương. Biết bao nhiêu hy vọng cuộc sống, người dân đặt cả vào trong cánh buồm. Hình ảnh so sánh quả thực bay bổng và mang một ý nghĩa lớn lao.Xem thêm: Tóm tắt tình huống truyện Vợ nhặt của Kim Lân
Nhịp sống càng hối hả hơn khi người dân đón những chiếc thuyền đánh cá trở về. Thuyền về, chở theo hi vọng của người dân. Trong câu thơ chứa đựng niềm lạc quan của con người, họ đã mong đợi và tin tưởng vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống:
Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng
Cái không khí đông vui, hối hả và sôi động thể hiện rõ thông qua các tính từ ồn ào, tấp nập. Cảm giác như người đọc đang được hoà mình vào trong không khí ấy. Trong niềm vui của cuộc đời, người dân không quên cảm tạ trời đất, cảm tạ biển cả. Mặc dù nhà thơ không miêu tả cảnh người dân đánh bắt cá nhưng thông qua niềm vui hân hoan khi trở về, ta hiểu họ đã phải chịu nhiều vất vả, cực nhọc như thế nào. Bởi vì có vất vả thì khi đón nhận thành quả người ta càng cảm thấy vui sướng.
Chuyến ra khơi kết thúc là lúc con người và thuyền buồm bắt đầu nghỉ ngơi:
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ
Nhà thơ đã miêu tả một cách vô cùng chân thực những người dân làng chài với làn da ngăm rám nắng. Hình ảnh mang lại ấn tượng sâu sắc cho cả bài thơ. Câu thơ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm lại cho người đọc thấy được hơi thở của biển cả nồng vị muối của đại dương bao la đã thấm đẫm vào trong thân hình vạm vỡ của người dân chài. Nét đặc sắc ở trong câu thơ này chính là nó đã gợi lên cả linh hồn và tầm vóc của con người và biển cả.Xem thêm: Có người cho rằng ngày nay trong siêu thị cái gì cũng có, vì thế nên dẹp bỏ hết các chợ quê, Ý kiến của anh (chị) thế nào?
Hai câu thơ cuối bài, nhà thơ đã miêu tả được vẻ đẹp cũng như sự mệt mỏi của con thuyền. Con thuyền cũng giống như người dân chài, thấm trong từng thớ vỏ vị mặn mòi của biển. Chính nhờ sự miêu tả này của tác giả mà con thuyền trở nên có hồn hơn. Thuyền không chỉ là công cụ giúp người dân chài ra khơi mà nó còn trở thành người bạn.
Cái chất mặn mòi của quê hương đã thấm vào da thịt và vào máu của người dân nơi đây. Để rồi khi đi xa, nhà thơ không giấu nổi cảm xúc của mình:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá
Nếu chỉ đọc những câu thơ trên, có thể nhiều người sẽ hình dung ra cảnh tượng tác giả đang chứng kiến khung cảnh của quê hương và rồi miêu tả bằng vần thơ. Nhưng sự xuất hiện của khổ thơ cuối đã khiến người đọc nhận ra rằng nhà thơ đang xa quê và ông đã miêu tả quê hương bằng trí nhớ của mình. Nhớ quê hương là nhớ đến màu nước xanh, nhớ đến con cá bạc, nhớ chiếc thuyền vôi rẽ sóng chạy ra khơi và nhớ cả mùi nồng mặn của nước biển. Nhớ quá, nỗi nhớ như cồn cào trong gan ruột nhà thơ.
Mặc dù là một trong những nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới nhưng Tế Hanh không có tư tưởng thoát ly thực tại. Hồn thơ của ông vẫn hoà quyện vào hồn dân tộc, hoà vào cánh buồm giương to như mảnh hồn làng. Bài thơ Quê hương với những hình ảnh sinh động và âm điệu khoẻ khoắn đã mang đến cho người đọc cảm giác hứng khởi, khơi dậy nỗi nhớ quê hương trong lòng mỗi người.
Trên đây là phần hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh. Các em có thể dựa theo dàn ý này và đọc tham khảo bài văn mẫu phân tích bài thơ Quê hương để có thể làm tốt bài văn của mình.
Thu Thuỷ | Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh (Có dàn ý chi tiết) | 1,779 | |
Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh cũng lấy đề tài về mùa thu nhưng lại là khoảnh khắc trời bắt đầu chuyển giao mùa vì vậy mà những cảm nhận của nhà thơ vô cùng tinh tế. Ông đã bắt trọn những thời khắc chuyển mùa với tất cả các giác quan của mình.
Để có thể làm tốt đề văn phân tích bài thơ Sang thu, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Sang thu cùng với bài văn mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Sang thu
1. Mở bài
– Giới thiệu về bài thơ Sang thu và tác giả Hữu Thỉnh.
– Bài thơ miêu tả cảnh mùa thu mới chớm tới, mang đậm hương vị, màu sắc với những hình ảnh rất đỗi thân quen. Nội dung bài thơ nhẹ nhàng và qua đây, nhà thơ cũng gửi chút tâm sự của mình vào trong đó.
2. Thân bài phân tích bài thơ Sang thu
Khổ 1: Những cảm nhận đầu tiên của nhà thơ khi mùa thu về
– Hương ổi: được cảm nhận bằng thính giác, là mùi hương đặc trưng của Bắc Bộ mỗi khi mùa thu về.
– Động từ phả gợi mùi hương ổi ở độ đậm nhất, quyến rũ nhất và nó lan tỏa trong khắp không gian.
– Sương chùng chình: gợi cảm giác thong thả, nhẹ nhàng.
=> Tâm trạng ngỡ ngàng của tác giả khi chợt nhận ra mùa thu đã về thể hiện qua các từ bỗng, hình như.
Khổ 2: Bức tranh mùa thu đẹp đẽ và trong sáng được nhà thơ cảm nhận bằng những hình ảnh quen thuộc.
– Dòng sông trôi hiền hỏa và mang một sự thanh thản.
– Những đàn chim trở nên vội vã đi tìm nơi tránh rét
– Hình ảnh mây vắt nửa mình sang thu cho thấy một cảm nhận tinh tế của nhà thơ.
Khổ 3: Thông qua hiện tượng thiên nhiên nắng, mưa để bày tỏ tâm trạng của bản thân.
– Nắng còn đó nhưng đã bớt gay gắt hơn.
– Mưa cũng vơi dần đi.
=> Hai câu thơ tả thực về hiện tượng tự nhiên của thời tiết 4 mùa.
– Sấm là hình ảnh ẩn dụ cho những vang động bất thường của ngoại cảnh.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (Có dàn ý chi tiết)
– Hàng cây đứng tuổi để nói về những con người từng trải, đã vượt qua nhiều thăng trầm của cuộc sống.
=> Hai câu thơ cuối thể hiện sự vững vàng của con người nhưng cũng mang một chút cảm xúc tiếc nuối.
3. Kết luận
– Tóm tắt lại nội dung của bài thơ trong 1 – 2 câu và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Sang Thu
Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh năm 1942 ở Vĩnh Phúc. Từ năm 1963, Hữu Thỉnh bắt đầu sáng tác thơ và ông có nhiều bài thơ rất hay. Từ năm 2000 đến nay, Hữu Thỉnh giữ chức vụ Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Trong số rất nhiều những bài thơ đặc sắc của ông viết về con người, về cuộc sống thì bài thơ Sang thu là một bài thơ vô cùng độc đáo. Mặc dù trong thi ca Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay viết về mùa thu nhưng bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh vẫn để lại một ấn tượng độc đáo trong lòng người đọc bởi sự cảm nhận quá tinh tế của tác giả. Sự cảm nhận tinh tế đó là gì thì thông qua việc phân tích bài thơ Sang thu chúng ta sẽ thấy rõ.
Mở đầu bài thơ, tác giả không viết về một hình ảnh cụ thể nào mà lại diễn tả một mùi hương đó chính là hương ổi. Hương ổi chính là hương thơm đặc trưng mỗi khi mùa thu về. Thông thường, người ta chỉ biết mùa thu đã về thật sự khi mà những chiếc lá vàng đã bắt đầu rơi. Nhưng trong bài thơ này của Hữu Thỉnh lại không hề xuất hiện bất cứ hình ảnh lá vàng rơi nào. Điều này cũng dễ hiểu bởi Hữu Thỉnh đang miêu tả khoảnh khắc chuyển giao mùa. Không phải như sự chuyển giao của thời gian khi con người có thể nhìn vào đồng hồ để đoán biết. Sự chuyển giao của thiên nhiên buộc con người phải cảm nhận. Và chúng ta cũng không thể nào đoán biết được lúc nào thì mùa thu sẽ đến để mà chờ đợi. Chính vì vậy mà nhà thơ Hữu Thỉnh mới sử dụng từ bỗng. Từ bỗng cho ta thấy sự ngạc nhiên của nhà thơ khi bất chợt nhận thấy mùi hương ổi:Xem thêm: Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm, em thích hình ảnh thơ nào nhất. Viết một đoạn văn (8 - 10 câu) nói rõ cái hay của hình ảnh thơ ấy trong đó có sử dụng thành phần tình thái và thành phần phụ chú
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Phân tích bài thơ Sang thu
Hương ổi thơm đang theo gió lan tỏa ra khắp không gian. Từ “phả” gợi lên cảm giác hương ổi đã rất đậm đà. Sau sự cảm nhận của khứu giác là đến sự cảm nhận của thị giác với hình ảnh “sương chùng chình qua ngõ”. Sương như đang đủng đỉnh, chầm chậm len lỏi vào trong khắp các ngõ nhỏ. Sương cũng là một nét đặc trưng nữa của mùa thu. Mặc dù vậy, nhà thơ vẫn chưa dám khẳng định rằng mùa thu đã về. Hai chữ “hình như” gợi lên cảm giác ngờ ngợ, thiếu chắc chắn. Cũng dễ hiểu bởi vì hương ổi hay sương đều không phải là hình ảnh cụ thể. Thế nhưng, sang đến khổ thơ thứ hai, hình ảnh về mùa thu đã hiện lên rõ nét hơn, sinh động hơn. Câu thơ có hình ảnh của sông. Nhà thơ có cảm nhận tinh tế và thể hiện rõ sự hiểu biết của mình thông qua những câu thơ này. Mùa hè ở nước ta thường có nhiều mưa lũ vì vậy nước sông chảy siết hơn. Nhưng vào mùa thu, mưa lũ ít đi, nước sông sẽ chảy chậm lại. Và cái sự dềnh dàng của sông đã khiến cho người đọc hình dung ra rõ hơn khung cảnh của mua thu. Lúc này, bức tranh về mùa thu đã có những hình khối và đường nét cụ thể:
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Nếu dưới sông nước chảy dềnh dàng thì đối lập với nó là trên bầu trời chim đang bay vội vã. Sự vội vã của những cánh chim là điều dễ hiểu. Đặc tính của các loài chim di cư là chúng sẽ tìm về nơi ấm áp để làm tổ. Do vậy, mùa thu đến cũng chính là thời khắc chúng bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc hành trình dài bay về phương nam tránh rét. Nhưng hai câu thơ sau mới thật sự là tinh tế. Nhà thơ đã nhìn thấy, đã bắt trọn được khoảnh khắc đám mây mùa hạ “vắt nửa mình sang thu”. Câu thơ mang đến một hình ảnh tươi đẹp và nó gợi lên cho chúng ta thấy rằng thời tiết đang chuyển mùa. Một nửa đã bước sang mùa thu còn một nửa vẫn đang luyến lưu mùa hạ.Xem thêm: Đất nước Việt Nam ta có một nỗi đau mang tên "màu da cam". Để góp phần giảm bớt nỗi đau do di họa của chất độc này, cả nước đã lập quỹ giúp đỡ các nạn nhân. Hãy nêu suy nghĩ của mình về các sự kiện đó
Đó là lý do vì sao mà lúc này trời vẫn còn có nắng, nhưng nắng đã bớt gay gắt hơn. Những cơn mưa rào của mùa hạ cũng đã vơi dần. Nhà thơ nói đến hiện tượng tự nhiên nắng, mưa khiến người đọc cảm giác như ông đang đơn thuần tả cảnh sang thu. Nhưng không, hai câu thơ cuối cho người đọc thấy được tâm trạng của nhà thơ:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Sấm ở đây vừa là nói về một hiện tượng tự nhiên nhưng có lẽ nó cũng nhằm ám chỉ những cái bất ngờ trong cuộc sống của con người. Chúng ta có thể dự báo được nắng vừa mưa nhưng không thể dự báo được tiếng sấm sẽ đến vào lúc nào. Nhưng một khi đã quen với tiếng sấm rồi thì sẽ không còn thấy nó bất ngờ nữa. Cũng giống như một người lớn tuổi, vì đã quen với những thử thách, khó khăn rồi nên có gặp phải thêm những thử thách nữa thì cũng nhẹ nhàng mà đối diện và vượt qua.
Bài thơ của Hữu Thỉnh khép lại với một tâm trạng man mác buồn nhưng nếu xét về tổng thể thì đây vẫn là một bài thơ hay và giàu hình ảnh đẹp. Đây cũng là một trong những bài thơ viết về mùa thu để lại trong em nhiều ấn tượng sâu đậm nhất.
Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích bài thơ Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh. Kho tàng văn mẫu hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp các em có một tài liệu tham khảo tốt, phục vụ cho việc học môn Ngữ văn 9 được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh (Có dàn ý chi tiết) | 1,656 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh
Bài làm
Một năm có bốn mùa, mỗi mùa lại mang những vẻ đẹp riêng và trở thành những đề tài quen thuộc trong văn chương. Viết về mùa thu có rất nhiều bài thơ hay và một trong số đó phải kể đến bài thơ Sang Thu của nhà thơ Hữu Thỉnh.
Sang Thu tái hiện khoảnh khắc giao mùa của trời đất khi chuyển từ mùa hạ sang mùa thu. Với Hữu Thỉnh, một nhà thơ có tài năng quan sát tinh tế và gần gũi với thiên nhiên, ông đã nhạy cảm phát hiện ra những chuyển biến rất nhỏ trong tự nhiên:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”
Không phải là màu vàng của hoa cúc, không phải sắc vàng của tán lá mùa thu hay mặt hồ yên ả mà Hữu Thỉnh nhận thấy sự giao mùa từ sớm do hương ổi, một thứ quả đặc trưng của vùng thôn quê Việt Nam. Hương ổi không giống với hương sen, hương lúa non mà nó rất đỗi nhẹ nhàng. Phải là người thật tinh tế và nhạy cảm thì mới có thể nhận ra. Cụm từ “bỗng nhận ra” diễn tả sự ngạc nhiên, như một phát hiện mới, thú vị mà tác giả bỗng nhiên nhận ra. Động từ “phả” giống như sự khẳng định sự có mặt của hương ổi đang chuyển động theo làn gió. Một mùi hương không nồng nàn, ngào ngạt và rất khó nhận ra nhưng cũng đủ để đánh thức giác quan và cảm xúc của lòng người.Xem thêm: Nghị luận xã hội về tệ nạn cờ bạc
Phân tích bài thơ Sang Thu
Hữu Thỉnh không chỉ cảm nhận mùa thu bằng khứu giác mà còn cảm nhận qua cả thị giác:
“Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
Nhận thấy hương ổi trong gió, nay lại thấy không gian phía trước ở trong ngõ có màn sương giăng mắc. Nhà thơ sử dụng từ láy “chùng chình” để diễn tả màn sương di chuyển mang đến cho ta cảm giác lưu luyến, ngập ngừng. Cảnh thu được gợi lên trong sự tĩnh lặng, thong thả và yên bình. “Chùng chình” không chỉ là sự chuyển động của màn sương mà còn là sự rung động trong tâm hồn của người thi sĩ. Có một chút ngỡ ngàng, một chút bâng khuâng của nhà thơ khi phát hiện ra sự giao mùa, nhưng dường như vẫn chưa chắc chắn nên Hữu Thỉnh đã sử dụng một từ tình thái để diễn tả sự phân vân đó của mình “Hình như thu đã về”.
Tuy nhiên tác giả không phải phân vân lâu bởi ngay sau đó nhà thơ đã quan sát được hình ảnh của mùa thu xuất hiện ở nhiều nơi trong không gian, cảnh vật:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
Đến khổ thơ này thì tác giả đã có thể khẳng định mùa thu đã về. Mùa thu đến khiến cảnh vật hình như có phần chậm lại. Đó là dòng sông không còn cuồn cuộn, chảy mạnh mẽ như khi còn là mùa hè nữa mà trôi nhẹ, “dềnh dàng”, thong thả. Tuy rằng hầu hết mọi vật đều chuyển động chậm lại nhưng chỉ có riêng loài chim là “vội vã”. Bởi thu đến, nghĩa là cận kề với cái đông giá rét. Chính vì thế đàn chim phải vội vã kiếm thức ăn để dự trữ cho mùa đông sắp tới. Điểm nhìn của tác giả được di chuyển từ dòng sông đến cánh chim, rồi là tới bầu trời cao. Hữu Thỉnh đã có sự hình dung rất đặc sắc về hình ảnh đám mây đó là “vắt nửa mình sang thu”. Đám mây giống như một dải lụa mềm mại với một nửa bên mùa hạ, một nửa vắt sang mùa thu. Cách liên tưởng thật ấn tượng, khiến cho người đọc cảm nhận được thiên nhiên có sự thay đổi thật thú vị, sống động.Xem thêm: Khan hiếm nước ngọt và những nguy cơ tiềm ẩn
Đến khổ thơ cuối nhà thơ không còn gợi tả những biến đổi trực tiếp mà tác giả thấy được mà cảm nhận thông qua sự suy ngẫm, chiêm nghiệm về những gì xảy ra trong thời gian gần đây:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”
Tuy là cuối hạ nhưng nắng vẫn còn chói chang, vẫn còn khiến người ta không dám trực tiếp đối mặt. Nhưng sang đến mùa thu thì cái nắng sẽ có phần dịu đi. Mùa hạ được biết đến với những cơn mưa rào bất chợt nhưng gần vào thu nên mưa cũng giảm bớt. Trong những trận mưa không thì những tiếng sấm cũng không còn xuất hiện nhiều, bất ngờ khiến mọi người giật mình nữa. Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” mang đến cho người đọc những suy nghĩ vè đời người. Hàng cây giống như những người từng trải, họ không còn cảm thấy bất ngờ với những thay đổi. Khi ấy con người ta trở nên điềm đạm, tĩnh lặng chứ không giống như khi còn tuổi trẻ bồng bột nữa. Giọng thơ ở câu thơ cuối như trầm lắng giống như tâm trạng của con người đang suy ngẫm về cuộc đời.
Bài thơ Sang Thu xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất viết về mùa thu. Qua những vần thơ, những hình ảnh độc đáo, thú vị ta thấy được sự chuyển biến của sự giao mùa, cảm nhận sâu sắc về cảnh sắc mùa thu của thiên nhiên ở miền Bắc nước ta.Xem thêm: Qua văn bản Phong cách Hồ Chí Minh của Lê Anh Trà, em hãy viết đoạn văn cho biết tại sao Hồ Chí Minh có được một vốn văn hoá nhân loại sâu rộng và phong phú
Loan Trương | Phân tích bài thơ Sang Thu của Hữu Thỉnh hay nhất | 999 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương…
Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Nói về đề tài mùa thu, một tác giả đã nhận định: “Đề tài "Mùa Thu" bao giờ cũng có vẻ là dễ viết. Mùa thu dường như luôn luôn nấp sẵn trong ngòi bút của chúng ta, nhất là những ngòi bút thơ: hễ động bút là mùa thu cứ chực đổ ùa ra trên mặt giấy. Tưởng như với đề tài thơ mộng muôn thuở này có thể dễ dàng chắp bút. Chỉ đến khi bắt đầu cầm bút ngồi trước mặt giấy, tôi mới thấy đề tài này thật là khó” Tại sao lại có nghịch lí trong kinh nghiệm của người sáng tác như vậy? Có lẽ vì nàng thu “thơ mộng muôn thủa” luôn có xu hướng “rủ rê” ngòi bút theo những lối mòn quen thuộc của truyền thống thơ thu. Mà hút theo những con đường dằng đặc đã định hình trước đó là đến tử lộ của văn chương…
Sang thu của Hữu Thỉnh xuất hiện khi trước nó đã có rất nhiều bài thơ nổi tiếng đông tây kim cổ: Thu hứng (Đỗ Phủ), Chùm thơ thu (Nguyễn Khuyến), Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)… Nhưng nó vẫn có cái hay, cái độc đáo riêng của một hồn thơ sâu lắng, nhạy cảm khi mùa thu tới.
Ngay từ tiêu đề, tác giả đã tự xác định một thời điểm miêu tả: thời điểm giao mùa. Đó không phải là chính thu, khi bầu trời xanh ngắt lơ lửng những tầng cao, không phải cuối thu, khi nắng trời đã nhuộm đỏ lá bàng, hay khi cái rét mùa đông đã lẩn vào trong gió…Sang thu nghĩa là mới chớm thu thôi, cái tứ kết buộc hệ thống hình ảnh trong bài cũng chỉ gói gọn trong chút “chớm” mỏng manh đó.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá (Có dàn ý chi tiết)Đặc biệt ở góc độ miêu tả tạo vật. Không hề có một từ định tính để miêu tả thế giới thu. Có hương ổi, mùi hương vừa đặc trưng cho mùa vừa đặc trưng cho làng thôn ngõ xóm. Nhưng hương ổi “thơm” như thế nào thì thi sĩ hoàn toàn không miêu tả. Có gió, nhưng gió se chứ không phải là gió lạnh. Se gợi một động thái, hơn là gợi một cảm giác. Làn sương giăng phủ ngõ thôn chẳng được đặc tả ở mức độ (mù mịt) hay màu sắc (trắng mờ)… Dòng sông, cánh chim, hay đám mây cũng không tô điểm cho phong cảnh thu bằng những gam màu đặc trưng của nó. Truyền thống thơ thường kiến trúc ngôi nhà thu bằng những chất liệu quen thuộc như cúc, liễu, ngô đồng hay màu trời, sắc nước…Hữu Thỉnh hầu như khơi gợi cảm giác về mùa trong trạng thái mơ hồ của tạo vật. Thành công nổi bật nhất của bài cũng là ở một hệ thống những động từ miêu tả rất giàu cảm giác: “phả”, “se”, “chùng chình” “dềnh dàng” “bắt đầu vội vã” “vắt nửa mình”… “Chùng chình” trước hết gợi tả chính xác những làn sương như ngưng lại và nhẹ nhàng tỏa lan ngõ xóm. Dòng nước thu vốn trong trẻo và sâu hút làm người ta khó mà thấy rõ được sự chuyển động nó nên cảm giác sông lững lờ trôi cũng rất hiện thực. Đám mây như tấm khoăn voan của người thiếu nữ, duyên dáng nối hai mùa là một liên tưởng thực sự độc đáo. Song trên hết, hệ thống động từ toàn bài còn đặc sắc ở chỗ, nó không chỉ miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật mà còn thổi vào tạo vật những cảm giác rất người. Tinh tế và sống động sao một buổi sáng chớm thu, sương như người khách ngập ngừng nơi đầu ngõ, gió se lại bởi chút lạnh xa xăm, những cánh chim vội vã tìm về phương ấm áp…
Song thời điểm chớm thu không phải chỉ hiển hiện ở những dấu hiệu mơ hồ trong trạng thái biến chuyển của cảnh vật, mà ở cả chút ngỡ ngàng bâng khuâng của lòng người: “Bỗng nhận ra hương ổi”; “Hình như thu đã về”…
Tiếp tục thể hiện những dấu hiệu mùa thu rõ rệt hơn nhưng ý nghĩa của khổ cuối không chỉ dừng lại ở đó:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Con người cảm thấy biết bao biểu hiện khác biệt của thời tiết khi mùa thu tới: mưa và sấm thưa dần, không còn dữ dội nữa. Sang thu, tất cả các dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn nhưng đã giảm dần mức độ, cường độ… Hàng cây như đã quá quen với nắng lửa mưa giông, được gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Chính các từ “bất ngờ”, “đứng tuổi” khiến ý nghĩa của câu thơ không dừng lại ở nét nghĩa tả thực mà có chiều sâu hơn. Nắng, mưa, sấm chớp… hay là những vang động của cuộc đời? Trong tương quan ấy, hàng cây tượng trưng cho con người từng trải mà bao dâu bể biến đổi không còn đáng ngạc nhiên. Cảnh như sâu lắng hơn bởi liên tưởng suy tư về mùa thu đời người.
Không hiểu sao, khi đọc bài thơ này, tôi chợt thấy nhớ rất nhiều những năm tháng đã qua của mình. Miền kí ức tuổi thơ được đánh thức bởi mùi hương ổi, bởi ngõ xóm thân quen ấy. Và có lẽ cũng nhờ giọng điệu êm nhẹ dễ cuốn người đọc vào dòng cảm xúc, suy nghĩ tự nhiên của tác giả. Nét độc đáo nhất của bài là những hình ảnh chính xác và giàu sức gợi tạo nên một bức tranh thu giản dị mà sống động. Đây xứng đáng là một bài thơ thu hay trong thế giới thi ca.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Suy nghĩ về tình bạn tình yêu tuổi học đường | Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh | 1,068 | |
Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh: Cảnh khuya “Tiếng suối trong như tiếng hát xa. Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”
Gợi ý
Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng thiên tài của dân tộc nhưng đồng thời, Người cũng là một nhà thơ sánh vai cùng những thi nhân của Đông Tây kim cổ. Trong những năm tháng chiến đấu chống Pháp gian khố của dân tộc, bên cạnh những chú trương, chiến lược đánh đuổi giặc tài tinh, Người còn có những vần thơ khiến lòng người rung động. “Cảnh khuya” là một thi phẩm trong số ấy:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lổng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
1947
Bài thơ ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta đang hồi gay go, quyết liệt: năm 1947. Trên chiến khu Việt Bắc, sau những giờ phút mỏi mệt, trong cảnh đêm của núi rừng, Người bồi hồi xúc động trước cảnh đêm khuya êm ái. Điều đầu tiên Bác cảm nhận được nơi thiên nhiên hoang sơ là tiếng suối róc rách tuôn theo dòng chảy:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Lối so sánh của Bác thật kì lạ! Tiếng suối vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nghe tiếng suối Người cảm nhận được độ “trong” của dòng chảy. Dòng suối ấy hẳn rất ngọt lành, trong mát, đó hẳn cũng là thứ quà riêng mà thiên nhiên núi rừng ban tặng riêng cho những người chiến sĩ trên đường hành quân xa xôi mệt mỏi. Chẳng những vậy, tiếng suối trong nhưng là “trong như tiếng hát xa”. “Tiếng hát xa”, là thứ âm thanh rất đặc biệt. Đó phải là tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, đế từ xa con người vẫn có thế cảm nhận được. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong thời khắc yên lặng bởi nếu không, nó sẽ bị lẫn vào biết bao âm thanh phức tạp của sự sông, liệu từ xa, con người còn có thế cảm nhận được? Điều thú vị trong câu thơ của Bác Hồ là một âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người. Điều đó thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc trong những vần thơ của Bác.Xem thêm: Tình huống truyện đặc sắc của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân). Cảnh đêm khuya hẳn trong trẻo, tĩnh lặng đên nhường nào Người mới có thể lắng nghe được tiếng suối long lanh ấy. Điều này không khó hiểu bởi không gian núi rừng thường được bao phủ bởi nhiều âm thanh phong phú: tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng cây rừng xao xác tiếng muông thú gọi bầy… Trong bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc”, Bác đã từng viết:
“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”.
Vậy thì có lẽ, đây là chút yên ả hiếm hoi của thiên nhiên núi rừng vào thời khắc đêm khuya. Thiên nhiên yên tĩnh nhưng cũng là tâm hồn con người yên tinh, thanh thản hoà mình vào vẻ đẹp cùa tự nhiên. Thiên nhiên vào giây phút ây thật hữu tình biết mấy:
Trăng lổng cố thụ bóng lồng hoa
Hai từ "lồng" cùng nằm trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất đặc biệt.:Lồng" là động từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thật khớp đế tạo thành một chỉnh thể. Câu thơ hữu tình như một bức tranh duyên: ánh trăng mênh mông toả sáng bao trùm lên cây cố thụ, bóng cây cô thụ lại dịu dâng phủ mình lên những nhành hoa. Bác dùng từ "lồng" rất "đắt", nó trở thành "nhãn tự" cho câu thơ. Chi với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà, nương dựa vào nhau một cách duyên dáng, đáng yêu. Đôi mắt người chiên sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thật hữu tình, bác ái:Xem thêm: Sự biến đổi của đất trời sang thu (bài thơ Sang thu - Hữu Thỉnh) được tác giả cảm nhận bắt đầu từ đâu và gợi tả qua những hình ảnh, hiện tượng gì? Tâm trạng của nhà thơ được bộc lộ như thế nào Cánh khuya sống động, có hồn bao nhiêu càng chứng tỏ một điều: người thưởng cảnh đang xa rời giấc ngú yên bình thường nhật. Bởi vậy nên:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Cảnh khuya trong trẻo, tĩnh lặng càng làm nổi bật hình ảnh Bác Hồ thao thức không yên trong đêm vắng. Người hoà mình vào thiên nhiên đế cát tiếng thơ ngợi ca thiên nhiên núi rừng song đó chi là giây phút phiêu du vào mày gió còn tâm hồn người thực sự đang gứi gắm ớ một chán trời khác:
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Câu thơ vang lên như một sự bừng tình cho người đọc. Ta cư ngỡ Bác đang thánh thơi thướng cảnh chơi trăng nhưng kì thực tâm lòng người vẫn đau đáu cho nỗi niềm non nước. Bác “chưa ngủ” vì một lẽ rất Hồ Chí Minh: “vì lo nỗi nước nhà”. Nói vậy bởi Bác đã có nhiều đêm không ngủ, nhiều đêm trớ trăn vì cuộc kháng chiến của dân tộc:
“Một canh, hai canh, lại ba canh
Tràn trọc băn khoăn giấc chẳng lành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh’’.
Vậy là, dù cố tạm để lòng mình hướng đến cảnh vật xung quanh (một lời hỏi thăm người bạn muôn đời của thi nhân kim cổ) tâm hồn Bác vần luôn dành trọn tàm tình cho non sông, dân tộc. Và nói như nhà thơ Minh Huệ:Xem thêm: Nghị luận xã hội về tình thương“Đêm nay Bác ngồi đó
Đêm nay Bác không ngủ
Vỉ một lẽ thường tình
Bác là Hồ Chi Minh”
Bài thơ khép lại với bao dư âm mênh mang lan toả. Đã hơn một lần chúng ta xúc động trước tấm lòng cao cả, bác ái của Bác Hồ nhưng mỗi lần đọc lại “Cảnh khuya” ta lại bồi hồi với những tâm tình của một người mà cả cuộc đời chưa bao giờ nghỉ ngơi, chưa bao giờ an mình trong giấc ngù.s
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ sau của Hồ Chí Minh_ Cảnh khuya “Tiếng suối trong như tiếng hát xa. Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.” | 1,066 | |
Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh
Gợi ý
A. DÀN BAI
1. Mở bài
Xuân Quỳnh là nhà thơ tiêu biểu của lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ, cũng là gương mặt đáng chú ý của nền thơ Việt Nam hiện đại.
– Bài thơ Sóng được viết trong chuyến đi của Xuân Quỳnh về vùng ven biển Diêm Điền, tỉnh Thái Bình, ngày 29/12/1967.
Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, gợi ra các nhịp con sóng liên tiếp gối nhau, lúc tràn lên sôi nổi, lúc êm dịu, lắng lại.
2. Thân bài
a. Bài thơ viết về tình yêu nhưng ngay từ đầu nhà thơ không trưc tiếp bộc lộ tâm trạng của mình mà mượn “sóng”, một hình tượng gần gũi, để nói.
b. Từ tự nhìn lại để nhận thức về tình yêu trong lòng minh dẫn đến nhu cầu phân tích, lí giải. Đó là một quy luật tự nhiên của tâm lí: Sóng bắt đầu… Khi nào ta yêu nhau.
c. Tinh yêu đi liền với nỗi nhớ. Nỗi nhớ của người phụ nữ đang yêu được diễn tả thật sâu đậm. Bao trùm cả không gian (Dẫu xuôi về phương Bắc. Dầu ngược về phương Nam); chiếm lấy cả tầng sâu và bề rộng (Con sóng… trên mặt nước); khắc khoải trong mọi thời gian (ngày, đèm, cả trong mơ). Nó choán đầy cõi lòng, không chỉ trong ý thức mà cả tiềm thức (Lòng em nhớ đến anh. Cả trong mơ còn thức).
d. Nhạy cảm với thời gian, ý thức về thời gian gắn với niềm lo âu và khát khao trong hiện tại.
Nhưng âu lo mà không dẫn đến thất vọng. Trái lại, càng sống hết mình, mãnh liệt hơn.
3. Kết bài
Bài thơ thể hiện những cung bậc của tình yêu: có khi mạnh mẽ, táo bạo, nhưng ở đây vẫn mang đậm bản sắc của trái tim người phụ nữ Việt Nam, nồng nhiệt mà cũng rất đôn hậu. Đó cũng là lí do khiến người đọc yêu thích bài thơ và tiếng thơ Xuân Quỳnh trở thành tiếng hát từ trái tim yêu của người phụ nữ Việt Nam.
B. BÀI LÀM
Nếu như Xuân Diệu đã từng thổn thức vì tình yêu, dâng hiến trọn đời cho tình yêu, chạy đua với thời gian để được yêu thì Xuân Quỳnh cũng thế, cũng từng thấp thỏm, lo âu, đau khổ vì yêu. Nhưng dù sao đi nữa, là phận nữ nhi nên người rất ít tỏ ra táo bạo, quá mạnh dạn như Xuân Diệu. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thường bắt gặp hình ảnh con sóng, chiếc thuyền nói hộ tình yêu… Cũng vì lẽ ấy, suy cho cùng đây chỉ là những chất liệu dung dị, bình thường nhất trong cuộc sống, song lại chứa đựng biết bao ẩn ý, biết bao ân tình mà Xuân Quỳnh muốn bày tỏ.
Chúng ta hãy đến với Sóng của Xuân Quỳnh để thưởng thức từng vị thương, vị nhớ của một người phụ nữ đang yêu.Xem thêm: Phân tích tấn bi kịch của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa" của nhà văn Nam Cao Người ta thường ví rằng tình yêu là một bông hoa kì diệu! Vâng! Quả đúng như thế, tình yêu chưa bao giờ đi theo một hướng xác định. Cũng có lúc, người ta nhìn nhận tình yêu là cây đàn muôn điệu gảy lên muôn bản nhạc tình, có khi trầm bổng thiết tha, có khi nghẹn ngào đau đớn, cũng có khi e ấp, nũng nịu, dễ thương. Thì đây, trong bài thơ này, tình cảm của nhân vật “Em” cũng biến thiên như thế!
Sóng là thơ ngũ ngôn, một thể thơ rất phù hợp để kể về một huyền thoại tình yêu đầy ăm ắp những tâm trạng khắc khoải, những cung bậc tình cảm và vì thế bài thơ dễ dàng được phổ nhạc.
Sóng là một hình tượng ẩn dụ, là phương tiện bộc lộ tình cảm của nhân vật “Em”:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tim ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
… Bồi hồi trong ngực trẻ.
Một câu chuyện cổ tích về tình yêu được nhà thơ Xuân Quỳnh kể lại. Câu chuyện bắt đầu từ một con sóng nhỏ chẳng biết xuất phát từ đâu, sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động. Hai trạng thái tâm hồn đỏi lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn. Sóng chẳng hiểu tại sao minh lại cứ “dữ dội” rồi “dịu êm”, “ồn ào” rồi “lặng lẽ”. Phải chăng sóng đang yêu, yêu âm thầm, lặng lẽ? Vâng! Một tình cảm đang rạo rực trong trái tim người con gái, làm sao ai có thể “định nghĩa được tình yêu”. Một buổi chiều mộng? Một lân gặp gỡ? Một phút xao động trong tâm hồn? Người con gái hay chính nhân vật “Em” trong bài đang cố tìm câu giải đáp cho tình yêu, cho sự bâng khuâng, đối lập của lòng mình. Và rồi chỉ còn một lối thoát: con sóng phải tìm ra tận bể cũng như “Em” đi tìm nguồn gốc của tình yêu.
Tâm hồn con người là một cõi mênh mông vô tận. Làm sao ta có thể đi hết cõi vô tận ấy. Và ngay chính trong lúc cõi lòng đang bùng lên ngọn lửa yêu thương thì cô gái trẻ lại càng trăn trở, bâng khuâng, khắc khoải, dằn vát với chính lòng mình. Phải vượt khỏi cái giới hạn chật hẹp này, phải lao mình vào chân trời bao la, những miền vô tận để hiểu rõ lòng mình. Con sóng đã rời bờ ra đi, đi thật xa, cố tìm hiểu và soi mình với những con sóng khác để biết được sự huyền diệu của tình yêu, mà hiện tại đối với sóng vẫn còn là một bí mật.
Tình yêu là gì? Một nhà thơ Pháp đã từng khẳng định: “Tình yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi”. Và thế rồi con sóng vẫn đi tìm mãi, tìm mãi:Xem thêm: "Kĩ năng... nhiều”. (Theo Phrít-men, thế giới phẳng-Friedman, NXB Trẻ, 2005). Nghĩ về lời khuyên của Phrít-men về vai trò của "phương pháp học" đối với mỗi con người trong thế giới hiện đại Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ.
Tình yêu cũng như con sóng, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Xuân Diệu đã từng nói: “Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo, hãy để tuổi trẻ nói hộ tình yêu”.
Tình yêu gắn liền với tuổi trẻ. Tuổi trẻ có trái tim dào dạt, đa cảm và rạo rực niềm yêu thương cuộc sống. Chính vì thế mà cái khát vọng tình yêu cứ bồi hồi trong ngực trẻ, nó cứ thúc đẩy tuổi trẻ đi tìm chân lí yêu đương, cũng như con sóng “ngày xưa và ngày sau vẫn thế”. Sóng chính là điển hình của sự nhận thức về cái “quy luật” không thể cắt nghĩa được tình yêu:
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em củng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau.
Sóng bắt đầu từ gió – Vâng! Gió bắt đầu từ đâu? Tình yêu bắt đầu từ đâu? – “Em” cũng không biết nữa. Đọc những câu thơ này, ta chợt hình dung cái lắc đầu nhè nhẹ như một sự bất lực của cô gái. Trong khi người con gái cố đi tìm cội nguồn tình yêu thì tình yêu trở thành trò chơi ú tim, không tài nào nắm bắt được. Và thế là, muôn đời tình yêu vẫn là sự bí hiểm.
Tình yêu của “Em” giờ đây trở thành nỗi nhớ da diết, giày vò. Nó choáng đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian. Phạm Đình An đã nhận xét: “Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ yếu buổi đầu giản đơn hò hẹn, non nớt, ngọt ngào, mà là tình yêu hạnh phúc, tình yêu gắn bó vởi cuộc sống chung với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều chứng minh của thử thách, mang đậm dấu ấn trách nhiệm”. Chính vì thế mà tình yêu của người “Em” ờ đây có thể nói không còn bồng bột mà khá chín chắn, có sự can thiệp của lí trí, có ý thức về mặt tình cảm.
Ấy thế mà trong lòng người con gái vẫn trỗi dậy mãnh liệt một nỗi nhớ muôn hình, muôn sắc:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được.
Nỗi nhớ của “Em”, của tình yêu dữ dội được khởi đầu từ những cái cao cả lớn lao, không tủn ngủn và tầm thường chút nào! Nồi nhớ ấy da diết, cuốn lấy tâm hồn người con gái! Với Xuân Quỳnh là thế: mọi con sóng đều có bờ, mục đích là vỗ vào bờ, nên khi sóng xa bờ thì phải nhớ bờ, ngày đêm không ngủ được.
Cũng như sóng, nỗi nhớ về “Anh” vẫn trào dâng mãnh liệt:Xem thêm: Kể về người hàng xóm mà em yêu quý hay nhất Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức.
Tình yêu đến, tình yêu mang theo một nỗi nhớ vô bờ đến với “Em”, choáng ngợp tâm hồn “Em”. Tinh yêu đã trở nên đậm đà đến thế, và nỗi nhớ lại càng da diết miên man.
“Có một không gian nào đo chiều dài nỗi nhớ, có khoảng mênh mông nào sâu thảm hơn tình yêu..”. Vâng! Làm sao đo được nỗi nhớ, làm sao đo được tình yêu! “Em” vẫn nhớ đến “Anh”, chỉ nhớ về phương anh mà thôi:
Dầu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương.
Tinh yêu thật huyền diệu! Điều đáng nói là “Em” biết chủ động, biết gửi trao nỗi nhớ về hướng xác định: Phương anh! – Phương của tình yêu: “Rợp trời thương ấy mấy màu xanh suốt, mà em nghiêng hết ấy mây về phương anh, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh..”. Tình yêu của người phụ nữ thật mãnh liệt nhưng cũng thật trong sáng, dung dị, một tình yêu thủy chung và trọn vẹn. Song, để toàn vẹn mối tình ấy, con sóng phải vượt qua muôn ngàn cách trở:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở.
Con sóng muốn tới bờ, phải vượt qua bao giông tố, bão bùng. Em muốn hướng về anh, phải vượt qua bao cạm bẫy cuộc đời. Suy cho cùng, tình yêu phải cần thử thách tôi luyện mới thấy rõ giá trị thực sự của nó. Tinh yêu muốn tồn tại cũng phải có sự ra đi và trở lại, phải có sự dồi lên, lắng xuống để cuối cùng trở về với tình yêu hồn nhiên thuở đầu.
Chính tình yêu của anh đã giúp cho em vượt qua tất cả, đón nhận một tình yêu vĩnh cửu – tình yêu lớn lao và cao thượng, không mang màu sắc vị kỉ, riêng rẽ mà là hòa trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng sẽ tồn tại mãi mãi:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tinh yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Bài thơ kết thúc rồi mà nhịp điệu êm ái, nhẹ nhàng của tình yêu vẫn còn lắng đọng đâu đây. Bài thơ thành công không chỉ trong việc miêu tả hình tượng “Sóng” mà còn bộc lộ một tình yêu thật sôi nổi, nỗi khao khát tình yêu của một nhà thơ nữ. Đây chính là nét mới mẻ trong thơ ca hiện đại Việt Nam. Trong rất nhiều loài hoa thì bông hoa Xuân Quỳnh tỏa ra một hương thơm riêng, một cách cảm nhận riêng về sóng – biển trong tình yêu. Tình yêu như con sóng mênh mang, vô tận, song cái đích cuối cùng cũng là một tình yêu thứ nhất, vĩnh hằng mãi măi.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh | 2,043 | |
Phân tích bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh
Gợi ý
Đề bài:
Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức!
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Biển Diêm Điền, 29.12.1967
(Văn học 12, tập một, Nxb. Giáo dục, 2000, tr.228 – 230)
Gợi ý làm bài
I. Những lưu ý về tác giả Xuân Quỳnh
– Xuân Quỳnh là nhà thơ tiêu biểu của lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, cũng là gương mặt đáng chú ý của nền thơ Việt Nam hiện đại.
– Quê ở thôn La Khê, xã Văn Khê, một vùng có nghề dệt lụa nổi tiếng. Mồ côi mẹ từ nhỏ, không sống gần cha. Niềm khao khát tình thương, tình yêu, mái ấm gia đình, sự nhạy cảm với tình mẫu tử ở Xuân Quỳnh có lẽ còn do bắt nguồn từ một tuổi thơ nhiều thiệt thòi.
– Nhà thơ khởi đầu từ sân khấu, nhưng mê thơ nên rời bỏ để hoạt động văn học. Xuân Quỳnh sớm được chú ý, nhưng lại phải vượt qua nhiều khó khăn để có thể gắn bó với thơ.
– Bản sắc thơ Xuân Quỳnh tươi tắn, hồn hậu và nồng nhiệt. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn gắn bó thiết tha với cuộc đời, con người, khao khát tình yêu, trân trọng, chăm chút cho hạnh phúc bình dị đời thường.
– Thơ tình yêu là một mảng đặc sắc ở Xuân Quỳnh. Đó là tiếng thơ bày tỏ trực tiếp những khát khao sôi nổi, mãnh liệt mà chân thành, tự nhiên của một trái tim phụ nữ trong tình yêu.
II. Cảm nhận chung về bài thơ
– Bài thơ được viết trong chuyến đi của Xuân Quỳnh về vùng ven biển Diêm Điềm, tỉnh Thái Bình, ngày 29.12.1967.
– Bài thơ có một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, gợi ra các nhịp con sóng liên tiếp gối nhau, lúc tràn lên sôi nổi, lúc êm dịu lắng lại. Thể thơ 5 chữ với những dòng thơ thường là không ngắt nhịp, cùng với sự trở đi trở lại, bồi hoàn của hình tượng sóng đã tạo ra nhịp điệu và âm hưởng ấy. Nhưng sự mô tả nhịp điệu bên ngoài (sóng) là để diễn tả nhịp bên trong của tâm hồn: những đợt sóng của tình yêu khao khát, dào dạt, sôi nổi và da diết lắng sâu. Mượn sóng để nói khát vọng tình yêu, nhà thơ đã tìm được một hình tượng thật xác đáng và đẹp.
– Kết cấu hình tượng của bài thơ, nổi lên bao trùm là hình tượng Sóng, nhưng bài thơ còn có hình tượng “em”. Sóng là ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân của em. Hai nhân vật ấy phân đôi ra để soi chiếu vào nhau và cộng hưởng. Tâm trạng người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy mình rõ hơn, nhờ sóng để biểu hiện những trạng thái xúc động, những khát khao mãnh liệt của mình.Xem thêm: Hình ảnh Bác Hồ qua những bài thơ em đã học và đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCSIII. Phân tích
1. Bài thơ viết về tình yêu nhưng ngay từ đầu nhà thơ không trực tiếp bộc lộ tâm trạng của mình mà mượn Sóng, một hình tượng gần gũi, để nói.
Sóng thể hiện những trạng thái trái ngược: dữ dội/dịu êm; ồn ào/lặng lẽ. => Tâm hồn đang yêu tự thức nhận về những biến động khác thường của lòng mình và khát khao vượt ra khỏi những giới hạn chật chội, tìm đến những miền bao la, vô tận như con sóng phải tìm ra sông bể. Khát vọng tình yêu được cảm nhận như khát vọng vĩnh hằng, muôn thuở của nhân loại, mà trước hết là của tuổi trẻ.
2. Từ tự nhìn lại để thức nhận về tình yêu trong lòng mình dẫn đến nhu cầu phân tích, lý giải. Đó như một quy luật tự nhiên của tâm lý: Sóng bắt đầu… Khi nào ta yêu nhau.
Soi vào lòng mình, đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về khởi nguồn của tình yêu, nhân vật trữ tình đã nói lên được quy luật sâu xa của tình yêu: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu (Xuân Diệu).
3. Tình yêu đi liền với nỗi nhớ. Nỗi nhớ của người phụ nữ đang yêu được diễn tả thật sâu đậm. Bao trùm cả không gian (Dẫu xuôi về phương Bắc, Dẫu ngược về phương Nam); chiếm lấy cả tầng sâu và bề rộng (Con sóng… trên mặt nước); khắc khoải trong mọi thời gian (ngày, đem, cả trong mơ). Nó choán đầy cõi lòng, không chỉ trong ý thức mà cả tiềm thức (Lòng em nhớ đến anh, Cả trong mơ còn thức).
Người phụ nữ đang yêu mạnh bạo, chân thành bày tỏ những khát khao trong lòng => Đây là điều mới mẻ cả trong đời lẫn trong thơ. Đó là tình yêu hết mình, quên mình, đòi hỏi sự duy nhất, tuyệt đối, đi liền với khát khao về mái ấm gia đình, với sự gắn bó lâu bền, thủy chung Quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh có gốc rễ trong tâm thức dân tộc.
Tâm trạng khát khao và nỗi nhớ da diết trong bài thơ nhờ cách thể hiện sóng đôi qua em và sóng làm cho nó vừa được bộc bạch trực tiếp lại vừa được miêu tả với các sắc thái cụ thể, gợi cảm, mỗi nét tâm trạng đều trở lại một điệp khúc, như những vòng sóng nối nhau, dội lại, cộng hưởng và lan tỏa.
Sóng nhớ tới bờ: Ngày đêm không ngủ được / Con nào chẳng tới bờ. Dù muôn vời cách trở.
Em nhớ đến anh: Cả trong mơ còn thức / Nơi nào em cũng nghĩ / Hướng về anh một phương.
4. Nhạy cảm với thời gian, ý thức về thời gian gắn với niềm âu lo và khát khao trong hiện tại:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Nhưng âu lo mà không dẫn đến thất vọng. Trái lại, càng sống hết mình, mãnh liệt hơn. Vượt lên tất cả là sự dâng hiến:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Đó là niềm khao khát dâng hiến, đồng thời cũng là ước muôn vĩnh viễn hóa tình yêu của mình để nó sống mãi với thời gian.
5. Bài thơ thể hiện những cung bậc của tình yêu có khi mạnh mẽ, táo bạo, nhưng ở đây vẫn mang đậm bản sắc của trái tim người phụ nữ Việt Nam, nồng nhiệt mà cũng rất đôn hậu. Đó cũng là lý do khiến người đọc yêu thích bài thơ và tiếng thơ Xuân Quỳnh trở thành tiếng hát từ trái tim yêu của người phụ nữ nước Việt.
Tư liệu tham khảo
Ngôi – nhà – thơ của một phụ nữ
Nếu không có tai nạn quái ác ngày 29.8.1988 cướp mất cùng lúc ba tài năng: Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ và Lưu Quỳnh Thơ, thì chẳng mấy ngày nữa, chị đã tròn 50 tuổi. Ngày Xuân Quỳnh mất, mới 46 tuổi, đang tràn đầy sức sáng tạo: đã có 6 tập thơ (in riêng), 7 tập truyện thiếu nhi… Sau ngày chị ra đi, nhiều nhà thơ, nhà phê bình đã ghi nhận rất công tâm những đóng góp của Xuân Quỳnh, điều mà trước đó chẳng phải ai cũng thừa nhận. Nhà phê bình Lại Nguyên Ân: Có lẽ từ thời Xuân Hương, qua các chặng đường phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một thi sĩ mà tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi dào phong phú như vậy. Nguyễn Duy đặt Xuân Quỳnh là một trong vài ba cái tên được xếp hàng đầu nếu lập danh sách những nhà thơ tiêu biểu nhất thời nay. Còn Anh Ngọc khẳng định: đấy là một tài năng phong phú, sắc sảo, với những đóng góp có vị trí đặc biệt trong nền thơ Việt Nam hiện đại nói chung và… xuất sắc nhất trong giới thơ nữ nói riêng.
Bằng chứng của những đánh giá ấy chính là ngôi – nhà – thơ của Xuân Quỳnh chứ không đơn thuần là lời khen tặng, vì đương thời, hơn ai hết, chị từng “uất ức”, “khi mới bước vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống, tức phải viết” (Bản tiểu sử, ngày 29.8.1982).Xem thêm: Em thích một con khỉ trong công viên. Hãy viết một đoạn văn ngắn về nó Xuân Quỳnh đã trải qua nhiều năm tháng cơ cực, vất vả. Mồ côi mẹ sớm, chỉ được học đến lớp sáu. Sau này, lăn lộn nhiều nơi, nhiều nghề, chị vẫn cố gắng chăm chỉ tự học. Từ năm 1955, Xuân Quỳnh gia nhập Đoàn ca múa Trung ương, ở đó, chị thành đạt, được đi biểu diễn 13 nước. Nhưng cuối cùng, nhất quyết bỏ nghề, theo “nghiệp” thơ. Cuộc đời không hứa trước những vinh quang chị gặt hái ở làng văn, còn bản thân thì luôn nhận thấy chông gai, tai ương trên con đường ấy. Song, làm thơ với Xuân Quỳnh là “sống thêm một cuộc đời nữa”, và không thể từ bỏ, vì như thế, khác nào đánh mất mình:
Ôi trời xanh – xin trả cho vô tận
Trời không xanh trong đáy mắt em xanh
Và trong em không thể còn anh
Nếu ngày mai em không làm thơ nữa!
(Nếu ngày mai em không làm thơ nữa!)
Hiếm thấy một nhà thơ nào có sự hòa quyện “nhiều con người” trong cùng một phụ nữ như Xuân Quỳnh. Thơ chị là khúc hát trữ tình đằm thắm của người con, người tình, người vợ, người mẹ, của một công dân. Chừng ấy con người mặt trong ngôi – nhà – thơ của một tâm hồn phong phú. Người làm thơ tài hoa nhưng hết đỗi hồn nhiên, thành thật và sâu lắng trong cảm xúc của mình. Bởi vậy, ngôn từ thơ Xuân Quỳnh cầu kỳ, cao xa mà gần gũi, thân thuộc hằng ngày. Chị đã thổi vào thơ hơi ấm nồng nàn của trái tim và dáng vẻ, cốt cách của mình lên câu chữ. Điều ấy làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ Xuân Quỳnh! Và, cũng giải thích vì sao thơ chị tràn ngập hình ảnh con người, cuộc sống bình thường lại không rơi vào tầm thường. Những hình ảnh ấy đi vào thơ với bóng dáng thân thuộc và tràn ngập tình thương mến của tác giả. Chị viết về Mẹ của anh (mẹ chồng) như chính mẹ mình, hơn nữa, với sự đồng cảm của người phụ nữ về niềm vui, nỗi đau, về hạnh phúc và bất hạnh ở đời:
Ngày xưa má mẹ cùng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao…
Những câu thơ cho con của Xuân Quỳnh thuộc vào loại hay nhất của thơ về trẻ em. Có người nói “chùm thơ này đã nâng bản chất làm mẹ lên nghệ thuật làm mẹ”, vì những hiểu biết tinh tế tâm hồn tuổi thơ. Song, điều đáng quý vẫn là tình yêu dạt dào, sự chắt chiu, đùm bọc tuổi thơ của một người mà khi đối diện với các em vẫn thấy thiếu:Xem thêm: Phân tích bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm- Văn 12Nắng thì lưng mẹ làm cây
Đạn bom mẹ đã vòng tay làm hầm
Một năm… rồi mấy mươi năm
Có bao em bé còn nằm nữa đâu
Vầng trăng đã vỡ trên đầu
Dòng sông đã gãy nhịp cầu tuổi thơ…
(Bài hát ru em bé trên đường chạy giặc)
Tình yêu của mẹ đối với con có phần thuộc về bản năng, tự nhiên nhi nhiên. Nghệ thuật ở mức thấp có tính tự phát của tình cảm. Nghệ thuật cũng như tình yêu, càng đẹp đẽ, tinh tế bởi ánh sáng trí tuệ. Những rung động đời thường trong thơ Xuân Quỳnh là cảm xúc sâu sắc của trí tuệ và mang đậm cá tính sáng tạo của một cây bút tài hoa.
Đóng góp nhiều trong đời làm thơ của Xuân Quỳnh là mảng thơ tình. Từ những ngày mới ra mắt bạn đọc, người ta đã cảm nhận thơ tình của cô diễn viên múa có hơi hướng “là lạ”. Một người con gái tự tin ở sức mình, hơn nữa, còn muốn chở che cho người khác:
Ngủ đi anh! Cứ ngủ
Đã có em thức canh
Cho đẹp giấc mơ anh,
Ngủ đi anh! Hãy ngủ
…
Ngủ ngon anh! Để mai bình minh đến
Buồm chúng ta lại tung cánh ra khơi.
(Ru)
Càng về sau, bản tính tự tin ấy đã khắc phục được sự e dè, thụ động cố hữu của người phụ nữ Việt Nam. Tình yêu được diễn đạt với mọi cung bậc: phóng khoáng, thiết tha và dữ dội hơn:
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ.
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ.
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió.
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố.
(Thuyền và biển)
Tuy nhiên, những đột phá ấy chỉ cốt diễn đạt đầy đủ mọi nẻo đường của tình yêu chứ không bao giờ biến hóa đi. Người đọc thấy thơ Xuân Quỳnh thiết tha, đằm thắm và gần gũi với bao trái tim đôi lứa đang yêu:
Bầu trời xanh hơn cả lúc nằm mơ
Và hạnh phúc trong bàn tay có thật:
Chiếc áo mắc trên tường
Màu hoa sau cửa kính
Nồi cơm reo trên ngọn bếp đèn
Anh trở về, trời xanh của riêng em.
(Bầu trời đã trở về)
Mấy tháng trước khi qua đời, như một điềm gở, có người chép gửi đến Xuân Quỳnh mây câu thơ của nữ bá tước thi sĩ Pháp, Noailles:
Tôi ao ước thơ tôi ngày mai ấy
Bao chàng trai sẽ cầm đọc say mê
Họ quên hết người vợ hiền thực tại
Mở hồn ra nồng nhiệt đón tôi về.
Xuân Quỳnh đọc và nói: “Nếu thơ tôi là nguyên nhân làm đổ vỡ hạnh phúc của người khác thì tôi không làm thơ nữa”. Sự thật, Xuân Quỳnh bao giờ cũng đứng ở ngôi – nhà – mình để làm thơ tình. Và ở đó, chị là người yêu, người vợ, người mẹ… thiết tha mong đợi cuộc sống bình yên. Tâm hồn người phụ nữ ấy trong trẻo, đôn hậu, giàu yêu thương và vị tha, đến cuối đời vẫn chắt chiu, lo lắng cho người khác. Cho dù “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” ấy, Xuân Quỳnh đã sống hết mình và có những bước đi dài trên con đường nghệ thuật đâu dễ ai cũng có được!
8.1992
BÙI QUANG HUY
(Những ngả đường thi ca)
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh | 2,663 | |
Bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh được viết theo thể thơ 5 chữ. Nội dung bài thơ nói về những khát vọng tình yêu của người con gái. Đó là những mong ước giản dị mà nếu như phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh chúng ta sẽ thấy rõ điều này.
Để giúp các em có thể làm tốt đề văn phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cũng như cung cấp bài mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Sóng
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng.
– Nhà thơ Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có nhiều sáng tác hay ở nhiều thể loại khác nhau. Bà được biết đến như một nữ thi sĩ của tình yêu.
– Bài thơ Sóng là một bài thơ tình nhẹ nhàng như sóng vỗ và bày tỏ được khát vọng lớn trong tình yêu.
2. Thân bài phân tích bài thơ Sóng
a. Khổ thơ 1 + 2: Trạng thái tâm lí của người phụ nữ đang yêu
– Sự đối lập trong con sóng với những trạng thái khác nhau: dữ dội >< dịu êm, ồn ào >< lặng lẽ.
– Đó cũng là những trạng thái của một người con gái đang yêu.
– Sóng mang trong mình khát vọng lớn lao, tìm ra tận bể lớn để đến với tình yêu rộng lớn hơn.
– Nói đến sự bất diệt của biển là để nói đến khát vọng tình yêu bất diệt của người trẻ.
b. Khổ thơ 3 + 4: Nhu cầu phân tích, lí giải tình yêu
– Từ đối tượng cảm nhận, sóng chuyển thành đối tượng để suy tư.
– Những câu hỏi trở thành cuộc đối thoại với vũ trụ và chủ đề không nằm ngoài tình yêu.
– Nguồn gốc của tình yêu là một câu hỏi lớn không tìm ra được lời đáp.
– Lời thú nhận hồn nhiên của Xuân Quỳnh bộc lộ nét nữ tính mềm mại của người phụ nữ.
c. Khổ 5 + 6: Nỗi nhớ tình yêu
– Yêu là nhớ. Đó không phải là nỗi nhớ bình thường mà là nhớ đến da diết, cồn cào.
– Xuân Quỳnh gửi tâm hồn vào sóng, nhờ sóng nói hộ lòng mình.
– Sự khác biệt trong độ dài của khổ thơ.
– Sử dụng hình ảnh so sánh độc đáo.
– Trong tình yêu không có giới hạn về thời gian. Dù là đêm, nỗi nhớ vẫn tồn tại.
– Sự thủy chung của người con gái khi chỉ hướng về phương anh.
d. Khổ thơ 7 + 8 + 9: Khát vọng tình yêu vĩnh hằng
– Khát vọng sống mãnh liệt của sóng, niềm tin mạnh mẽ vào cái đích tốt đẹp của tình yêu.
– Mượn quy luật của sóng biển để diễn tả quy luật của lòng người.Xem thêm: Lập danh sách nhóm bạn trong từng tổ
– Sự lo âu càng làm tặng thêm niềm tin rằng tình yêu sẽ vượt qua mọi trở ngại để tới đích.
– Mong ước được sống bất tử cùng với tình yêu.
3. Kết bài
– Tổng quát lại nội dung bài thơ sóng và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Sóng
Bài thơ Sóng được nhà thơ Xuân Quỳnh viết năm 1967 và đến năm 1968 được in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào. Nội dung của bài thơ xoay quanh vấn đề tình yêu của người con gái. Đó là khát vọng tình yêu trào dâng mãnh liệt, cuồn cuộn như sóng vỗ. Bài thơ có âm hượng nhịp nhàng như sóng đang xô bờ nhưng cũng đầy mạnh mẽ khi nói về tình yêu. Cứ như vậy, bài thơ dễ dàng đi sâu vào lòng người và in đậm trong trái tim mỗi người.
Lấy nhan đề của bài thơ là Sóng, nhiều người có thể nhầm tưởng rằng đây là một bài thơ tả thiên nhiên sóng biển. Nhưng không, đọc nội dung bài thơ ta mới có thể cảm nhận được rằng Xuân Quỳnh đang mượn hình tượng sóng để nói về tâm trạng của người phụ nữ khi yêu. Những câu thơ mở đầu tưởng là mâu thuẫn nhưng nó lại nằm trong một thể thống nhất:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Phân tích bài thơ Sóng
Nếu ai từng đến biển sẽ thấy rõ, biển không phải lúc nào cũng lặng sóng. Khi thì những con sóng trở nên dữ dội, lúc thì con sóng lại thật dịu êm. Nó cũng giống như tâm trạng của người con gái trước tình yêu. Có khi thì họ muốn yêu một cách ồn ào, muốn cả thế giới biết đến tình yêu của mình. Nhưng cũng có khi họ chỉ muốn yêu một cách lặng lẽ, muốn giữ tình yêu cho riêng mình. Dù là khi ồn ào hay khi lặng lẽ thì người con gái vẫn luôn khát khao có được một tình yêu lớn, có được một người hiểu mình, hiểu khi nào mình muốn ồn ào, khi nào mình muốn lặng lẽ. Là khát khao được khẳng định mình trong tình yêu:
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Sóng biển là một hiện tượng tự nhiên mang tính bất diệt. Từ hàng ngàn năm về trước, sóng vẫn luôn rì rào xô bờ. Cho tới bây giờ con sóng cũng vẫn luôn như vậy. Nhà thơ Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh của sóng, lấy sự bất tử của sóng để khẳng định sự bất tử của con người trong tình yêu:Xem thêm: Nêu suy nghĩ của em về ý nghĩa của tình yêu thương
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Khổ thơ này đã cho người đọc thấy rõ hơn hình ảnh của người con gái trẻ tuổi mang trong lòng những nỗi niềm khát vọng tình yêu. Tiếp đó, nhân vật trữ tình được đà bộc lộ cảm xúc của mình. Đứng trước sóng biển, người con gái suy nghĩ về tình yêu, suy nghĩ về nguồn gốc của tình yêu:
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Để lý giải cho nguồn gốc của sóng xem ra khá dễ dàng. Chúng ta đều biết rằng nhưng cơn gió thổi bên biển là nguyên nhân hình thành nên sóng. Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng có câu trả lời cho mình là:
Sóng bắt đầu từ gió
Vậy nhưng sau câu trả lời ấy, nhà thơ vẫn chưa thấy thỏa mãn mà lại tiếp tục hỏi
Gió bắt đầu từ đâu?
Hai câu thơ tiếp sau là lời thú tội thật hồn nhiên, đáng yêu:
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Nếu để đi tìm ngọn nguồn của tự nhiên thì chắc chắn sẽ có câu trả lời thôi. Nhưng chuyện tình yêu thì khác. Con người ta yêu nhau vì một lý do nào đó không thể biết. Con người ta đến với nhau như một lẽ tự nhiên của cuộc đời và khi đã yêu rồi, không ai có thể trả lời được vì sao lại yêu đối phương đến thế và tình yêu thật sự bắt đầu từ khi nào. Như người ta nói đấy, nếu như trả lời được thì tình yêu đã không được gọi là tình yêu. Và cứ thế, người ta yêu và nhớ đến nhau. Hình ảnh sóng song hành cùng với nhân vật em. Nói về sóng cũng như nói về em. Nhà thơ Xuân Quỳnh thổi hồn vào những con sóng khiến cho sóng cũng có nỗi nhớ:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Dù là trên mặt nước hay là ở dưới lòng sâu, con sóng vẫn vỗ rì rào, vẫn tìm đến với bờ. Bởi vì sóng nhớ bờ nên ngày đêm không ngủ được. Nhìn sóng, nhân vật trữ tình em lại liên tưởng đến bản thân mình. Em cũng có một nỗi nhớ, đó là nỗi nhớ dành cho anh. Khổ thơ kéo dài tới 6 câu càng thể hiện được sự mênh mông của nỗi nhớ:
Lòng em nghĩ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Có thể thấy nỗi nhớ của người con gái thật mãnh liệt. Thời gian có ngày đêm rõ ràng nhưng nỗi nhớ thì không. Hình ảnh của anh đi cả vào trong giấc mơ của em mỗi đêm. Là mơ mà cũng như là thực. Đứng giữa sự mênh mang của vũ trụ, nhân vật em bộc lộ khát khao của mình. Thế giới ngoài kia có 4 phương, 8 hướng nhưng em dẫu có xuôi ngược đến chân trời nào cũng chỉ hướng về một phương duy nhất đó là phương anh:Xem thêm: Bình luận về chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương
Trên thực tế không có phương anh nhưng nhà thơ Xuân Quỳnh dùng cách nói này để ám chỉ rằng em sẽ luôn hướng về anh. Nơi nào có anh, em sẽ dõi mắt về phía ấy, sẽ quan tâm và lo lắng cho anh. Đó là vì tình yêu. Khi tình yêu trong lòng đủ lớn, nhà thơ trào dâng một niềm tin mạnh mẽ vào kết thúc tốt đẹp của tình yêu:
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Phải, dù thế nào đi chăng nữa thì rồi đến một ngày con sóng cũng sẽ vỗ vào bờ. Giống như tình yêu của em và anh đến một ngày cũng sẽ đến được với nhau sau khi đã trải qua nhiều cách trở. Mặc dù có niềm tin mãnh liệt như vậy nhưng trái tim nhạy cảm của nhà thơ Xuân Quỳnh đã khiến bà nhận ra một thực tại đó là:
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Chính vì ý thức được thực tại nên nhà thơ mới có một mong ước tưởng là giản đơn mà rất khó để thực hiện:
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
Đó là ước vọng được sống mãi trong tình yêu, muốn tình yêu trở nên bất tử. Có thể thấy, khát vọng yêu trong lòng người con gái vô cùng mạnh mẽ. Đó là khát vọng muốn được yêu hết mình, được dâng hiến cuộc đời mình cho tình yêu.
Có thể thấy, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ đơn giản là tình yêu mà nó còn là cái đẹp, cái cao quý. Tình yêu trở thành động lực để con người hoàn thiện mình hơn nữa. Bài thơ Sóng vì vậy đã bộc lộ được cảm xúc của nhà thơ, bộ lộ được các cung bậc cảm xúc của con người trong tình yêu.
Trên đây là phần lập dàn ý chi tiết cũng như bài mẫu cho đề văn phân tích bài thơ Sóng. Qua đây, Kho tàng văn mẫu hy vọng đã cung cấp được cho các em một tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em học tập môn Ngữ văn được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Có dàn ý chi tiết) | 1,916 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Bài làm
Trong những sáng tác viết về tình yêu thì bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh để lại nhiều ấn tượng ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn. Bài thơ như một lời bộc bạch chân thành của người con gái trong tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.
Nhan đề Sóng đã cho chúng ta thấy được hình tượng trung tâm của bài thơ chính là những con sóng. Mở đầu bài thơ nhà thơ đã cho thấy trạng thái đặc biệt của những cũng bậc tình yêu qua hình tượng con sóng:
“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể”
Bài thơ năm chữ ngắn ngủi ấy vậy mà ngay trong hai câu thơ đầu nhà thơ đã sử dụng hai cặp trạng thái đối lập đó chính là “dữ dội” – “dịu êm” và “ồn ào” – “lặng lẽ”. Con sóng tự nhiên mang nhiều trạng thái khác nhau, có khi dữ dội, có lúc lại yên ả, lặng lẽ. Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh con sóng ấy để nói về những cung bậc cảm xúc của người con gái trong tình yêu. Khi yêu, người con gái có khi dịu dàng, có khi hờn giận vô cớ cũng có lúc lại yêu nồng nhiệt, vui vẻ. Con sóng giống như tâm hồn của người thiếu nữ yêu chân thành, đam mê và khát khao được yêu hết mình. Tuy nhiên tình yêu lại có sự ngăn cách có giới hạn đó là “sông” và “bể”. Xuân Quỳnh không giống những người con gái yếu đuối, chỉ biết mòn mỏi đợi chờ mà nhà thơ đã mạnh dạn đi tìm kiếm tình yêu đích thực của mình, mạnh dạn đi tìm câu câu trả lời cho lòng mình.
Ở khổ thơ tiếp theo, tình yêu được thi sĩ bộc bạch rất chân thực và sống động:
“Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”
Thời gian kéo dài mãi, có quá khứ, hiện tại và tương lai nhưng dù có bao lâu chăng nữa thì tình yêu ấy vẫn luôn nguyên vẹn, không bao giờ thay đổi. Đặc biệt là những cảm xúc, những tình cảm mới mẻ lúc ban đầu đương còn tha thiết, bồi hồi. Nhắc đến tình yêu, chính là nỗi khát vọng của tuổi trẻ. Nhà thơ mượn hình ảnh con sóng để lý giải về tình yêu, nhưng càng tìm hiểu thì càng có nhiều bất ngờ và càng không thể nào lý giải nổi:Xem thêm: Nếu em là Minh Long, em viết một đoạn văn ngắn nói về mình như thế nào?
Phân tích bài thơ Sóng
“Trước muôn trùng sóng bể
Em vẫn nghĩ về anh
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên”
Khi yêu thì người con gái luôn có nhu cầu tìm hiểu, lý giải về tình yêu. Nó là một diễn biến tâm lý khác thường khi muốn biết xuất phát điểm bắt đầu một tình yêu. Nhưng tình yêu vốn giống như biển, như sóng mặc dù có khi có quy luật nhưng cũng chứa vô vàn những bí ẩn mà khó có thể lý giải được. Chính điều ấy khiến cho “em” thao thức, băn khoăn:
“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Bao giờ ta yêu nhau”
Nếu con sóng tự mình tìm ra tận bể để có thể hiểu được mình thì “em” cũng tìm đến anh, đến tình yêu để hiểu sâu hơn về con người của em về tình yêu nam nữ. Tuy nhiên, giữa đại dương mênh mông, rộng lớn ấy đâu biết được nơi nào sóng bắt đầu nổi lên. Mặc dù biết được quy luật rằng có gió thì mới có sóng nhưng bầu trời còn rộng lớn hơn cả biển thì em sao có thể biết được gió bắt đầu từ đâu. Chính vì chẳng thể hiểu nổi nên người con gái mới tìm đến tình yêu để hiểu. Khổ thơ còn thể hiện sự hồn nhiên của người con gái trong tình yêu, đó là sự phân vân, không nắm chắc “Em cũng không biết nữa”.
Nhắc đến tình yêu thì không thể nào bỏ qua được nỗi nhớ. Nỗi nhớ nhung là thứ gia vị làm tăng thêm sự hấp dẫn, đáng chờ mong của tình yêu. Bên cạnh đó điều thiêng liêng nhất, tuyệt vời nhất trong tình yêu chính là sự đồng cảm, sẻ chia, sự hài hòa, thấu hiểu giữa hai người:Xem thêm: Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du).
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
Khổ thơ tiếp tục dùng hình tượng con sóng để khắc họa nỗi nhớ. Có nỗi nhớ âm thầm, lặng lẽ, được giữ ở trong lòng. Nhưng cũng có nỗi nhớ không sao có thể kìm nén được mà bộc lộ một cách dữ dội, biểu hiện ra bên ngoài. Nỗi nhớ trong tình yêu giống như con sóng, có lúc ẩn dưới mặt nước, có khi lại nổi lên trên một cách dữ dội. Không chỉ dùng hình tượng con sóng mà Xuân Quỳnh đã trực tiếp bộc bạch nỗi nhớ của mình:
“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Thông thường thứ mà nhớ tới anh là chuyện bình thường nhưng nỗi nhớ ấy lại ám ảnh, lại ảnh hưởng tới cả trong cơn mơ. Mơ là trạng thái vô thức của con người mà không sao có thể điểu khiển được, ấy vậy mà trong mơ vẫn còn thức, vẫn còn nhớ tới anh. Qua đó có thể thấy đó là một nỗi nhớ da diết, nỗi khát khao tình yêu cháy bỏng. Con sóng thì khát khao, muốn được tới bờ còn em thì muốn có anh. Đó chính là tình yêu chân thành, tha thiết của người con gái, hay của chính nhà thơ Xuân Quỳnh.
Không chỉ nhớ nhung khi tạm thời cách xa nhau mà nhà thơ còn khẳng định nỗi nhớ về anh sẽ vượt qua cả khoảng cách về không gian:
“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nhớ
Hướng về anh – một phương”
Khoảng cách về thời gian về địa lý khiến cho nỗi nhớ được dâng trào. Nỗi nhớ không chỉ còn là nhớ ngày đêm mà còn là cả không gian khi xa cách. Thường người ta nói ngược về phương bắc, xuôi về phương nam nhưng Xuân Quỳnh lại cố ý nói ngược đi qua đó khiến ta thấy được nỗi nhớ trong tình yêu chẳng theo quy luật nào của tự nhiên, nó có thể tự bộc phát, có thể đi ngược lại với quy luật tự nhiên thông thường. Trong không gian địa lý có bốn phương tám hướng, nhưng trong tình yêu, đối với “em” thì chỉ có một hướng duy nhất đó chính là hướng vè “phương anh”. Những người đang yêu nhau thì họ luôn nhớ về nhau, hướng về nhau bởi họ phải cùng nhau vượt qua mọi thử thách của cuộc đời:Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng nữ sinh ăn mặc sexy
“Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”
Lời thơ khẳng định sự thủy chung, son sắt một lòng của người con gái trong tình yêu. Đứng giữa trăm ngàn con sóng, giữa muôn vàn cách trở nhưng em vẫn chỉ nghĩ về anh. Khi đã yêu thương nhau thật lòng, cùng hướng về nhau và có nghị lực thì dù cho thế gian này có muôn vàn cách trở thì cả hai vẫn sẽ vượt qua được, vẫn sẽ đến được với nhau. Tất cả mọi chuyện, mọi khó khăn rồi sẽ qua đi giống như những năm tháng đang dần trôi qua. Tuy vậy, nhà thơ cũng nhạy cảm nhận thấy rằng tình yêu của con người không phải mãi mãi bởi cái hữu hạn của đời người. Chính vì thế Xuân Quỳnh luôn trăn trở:
“Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
Khát vọng tình yêu ngọn lửa như bùng cháy, con người trong tình yêu như muốn được “tan ra” được hòa quyện vào với đại dương mênh mông, để có thể trường tồn mãi mãi.
Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là một bài thơ tình vừa duyên dáng lại vừa mãnh liệt, sôi nổi, vừa trong sáng lại vừa ý vị, sâu xa. Bài thơ chính là bài tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, tiêu biểu cho phong cách thơ của thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất | 1,475 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng… đó là đề tài vô tận được các thi sỹ, nhạc sỹ, nhà văn khai thác, thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nhà văn, nhà thơ thường thông qua những hiện tượng, qui luật tự nhiên trong cuộc sống hay nhưng vật gần gũi, thân quen để ví von, ẩn dụ khi nói về tình yêu. Như nhà thơ Nguyễn Trung Kiên dùng hình tượng “Đôi dép” để triết lý sâu sắc về sự gắn bó, thủy chung, son sắt trong tình yêu. Nhà thơ Vũ Cao thì ví tình yêu đôi lứa như “ Núi đôi” không thể chia lìa “ núi chồng, núi vợ đứng song đôi”; nhà thơ Trần Hòa Bình vô tình nhìn thấy một chiếc lá rụng giữa mùa thu cũng có bài thơ hay “ thêm một” để chiêm nghiệm về cuộc đời, về tình yêu v.v… và v.v…
Nhưng có lẽ, hình tượng được nói đến khá nhiều và thể hiện được sự tinh tế, đằm thắm nhưng dữ dội, mãnh liệt của tình yêu đó là hình tượng Biển và Sóng. Và, một trong những nhà thơ có những bài thơ hay nói về tình yêu bằng sự liên tưởng đến khéo léo, tài tình có liên quan đến Biển và Sóng được nhiều người yêu thích đó là cố nữ thi sỹ Xuân Quỳnh ( 1942 – 1988)Xuân Diệu, nhà thơ tình nổi tiếng của phong trào thơ mới, với sự phóng khoáng đa tình cũng đã " mượn hình tượng sóng" để nói lên tình cảm nồng nàn, mãnh liệt của mình:
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ, thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt…
Còn với Xuân Quỳnh, nữ thi sỹ với nhiều bài thơ tình nổi tiếng như “ Thuyền và biển” thì con Sóng trong thơ của chị vừa “ Dữ dội’ lại vừa “ dịu êm” vừa “Ồn ào” lại vừa “ lặng lẽ “ như chính tính cách của người phụ nữ vậy. Bên ngoài có khi họ thật lặng lẽ, đằm thắm, dịu dàng nhưng bên trong lại ẩn chứa một tâm hồn khao khát yêu thương, với tình yêu mãnh liệt, dữ dội biết bao. Xuân Quỳnh đã rất tài tình khi đưa cặp đôi phạm trù nội dung có tính đối nghịch đi liền nhau nhằm tạo ra sự so sánh giữa cái mạnh mẽ, ồn ào và cái dịu êm, lặng lẽ qua đó nhằm diễn tả tính cách đan xen, đa chiều của người phụ nữ, nhất là khi họ đang yêu.Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nỗi mình
Sóng tìm ra tận bể
Chúng ta còn cảm nhận, đằng sau ý nghĩa ấy là thể hiện của sự giằng xé về tâm trạng của người phụ nữ, vì khi yêu phụ nữ thường phải hy sinh, chịu đựng nhiều hơn. Mà tình yêu thường cũng gặp nhiều trắc trở, không bao giờ bình yên, phẳng lặng, đôi lúc còn ẩn chứa nhiều dông bão.
Ôi con sóng ngày xưa
và ngày sau cũng thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Tình yêu đối với Xuân Quỳnh vượt qua cả khuôn khổ của thời gian và không gian, điều đó nói lên rằng, nếu đích thực là tình yêu chân chính thì nó luôn vĩnh cữu, sống mãi với thời gian, khắc sâu vào tâm khảm, trí nhớ của con tim cho dù đó là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Và tuy có nhiều cung bậc tình cảm khác nhau nhưng, tình yêu thì muôn đời vẫn thế!
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về Anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau
Đứng trước biển cả bao la, hùng vĩ nhà thơ thấy mình thật nhó bé và muốn được chiêm nghiệm lại cuộc sống, chiêm nghiệm về tình yêu. Từ những qui luật, hiện tượng tự nhiên của biển cả, nhà thơ đặt câu hỏi “Từ nơi nào sóng lên “ gió bắt đầu từ đâu?” và lại liên tưởng “em cũng không biết nữa, khi nào ta yêu nhau". Như nhà thơ Xuân Diệu cũng đã nói: “ Nào ai định nghĩa được tình yêu”. Xuân Quỳnh cũng không thể cắt nghĩa nỗi Tình yêu. Chỉ biết rằng, tình yêu đến như một lẽ tự nhiên, thường tình. Đó là cơ duyên, là sự giao hoà, cộng hưởng về rung động cùng nhịp đập của hai con tim, mà không ai có thể sắp đặt hoặc cưỡng lại được.
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngũ được
Lòng em nhớ đến Anh
Cả trong mơ còn thức
Có lẽ đây là khổ thơ mà tôi tâm đắc nhất trong cả bài thơ, tình yêu của người phụ nữ tuy mãnh liệt, mạnh mẽ là thế nhưng cũng rất e ấp, sâu kín, có khi được che dấu, ấn chứa bên trong, như những con sóng ngầm dưới lòng đại dương, mà đã là sóng ngầm thì rất dữ dội, có thể gây nên dông bão!
Lòng em nhớ đến Anh
Cả trong mơ còn thức
Sức mạnh tình yêu đã vượt lên cả qui luật tự nhiên của con người, thường khi ngủ là lúc mà người ta quên đi tất cả. Nhưng, với Xuân Quỳnh vì nỗi nhớ người yêu quá lớn, quá mạnh mẽ, luôn thường trực trong lòng, nên ngay cả trong giấc ngủ, giấc mơ nhưng vẫn thức để nhớ về Anh! Cái hay, cái tài tình là ở chổ đó. Nếu như Xuân Quỳnh nói trong giấc mơ Em gặp Anh thì đó lại là chuyện thường tình, vì bất cứ ai cũng có thể làm được điều đó. Bởi lẽ, khi trong lòng người ta nghĩ nhiều đến một ai đó, nghĩ nhiều về một điều gì đó thì lúc ngủ người ta thường mơ thấy nó. Nhưng có lẽ, “trong mơ “ mà “ còn thức” vì quá nhớ Anh thì chỉ có mỗi Xuân Quỳnh!
Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về Anh- một phương.
Đất có bốn mùa: Xuân – Hạ – Thu – Đông; trời có bốn hướng: Bắc – Nam – Đông – Tây. Nhưng với người phụ nữ khi yêu thì chỉ có một hướng duy nhất, đó là: Anh! Dù làm gì, ở đâu,ở chân trời góc bể nào họ cũng luôn hướng về người mình yêu, sống tốt, sống đẹp cho nhau. Tình yêu của người phụ nữ thật cao thượng và bao dung, đó còn là sự hy sinh, thủy chung son sắt, đợi chờ khi xa người yêu.
Ở ngoài kia đại dương
Muôn vàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
Xem thêm: Bình luận tinh thần tương thân tương áiTình yêu dù mãnh liệt, dữ dội đến mấy cũng không thể vượt qua qui luật khắc nghiệt của cuộc đời, cũng có lúc gặp phải trắc trở, chia ly, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng không vì thế mà tình yêu mất đi vẻ đẹp vĩnh hằng, hay sớm bị lãng quên; mà qua năm tháng, càng nhiều thử thách tình yêu ấy càng lớn lên, thắm thiết, sâu sắc hơn. Dù có thể, tình yêu ấy, như những con sóng ngoài khơi xa không thể đến được bến bờ của hôn nhân, hạnh phúc nhưng đó cũng sẽ là một ký ức, kỷ niệm đẹp trong đời của mỗi con người, nếu chúng ta biết nâng niu, trân trọng, gìn giữ, như một món quà quí giá mà cuộc sống đã ban tặng cho ta!
Bài làm 2
Một nhà thơ cổ điển Pháp từng nói: “Tình yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi.” Thật vậy, từ ngàn đời nay tình yêu luôn là điều bí ẩn, là đề tài vô tận của văn chương. Nhiều văn nhân thi sĩ đã mượn văn chương để lí giải tình yêu nhưng chẳng ai cắt nghĩa trọn vẹn hai mĩ từ ấy. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng ví von “Yêu là chết trong lòng một tí”, Đỗ Trung Quân cũng từng thốt lên rằng “Anh đã thấy một điều mong manh nhất – Là tình yêu, là tình yêu ngát hương” và cũng không quên nhắc đến “Sóng” của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh. “Sóng” là nơi gửi gắm những tâm tư sâu kín, những trạng thái phức tạp tinh vi của tâm hồn người thiếu nữ khi nói về tình yêu trẻ trung, nồng nhiệt gắn với khát vọng hạnh phúc muôn thuở của con người.
Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh sóng. Đó là một hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự phân thân của cái tôi trữ tình Xuân Quỳnh. Cùng với hình tượng sóng, bài thơ còn có hình tượng Em. Hai nhân vật trữ tình này có lúc phân đôi ra để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng, có lúc lại hòa nhập vào nhau tạo nên một âm vang. Xuân Quỳnh thật tài tình khi sáng tạo hình tượng sóng giàu giá trị thẩm mĩ để diễn tả tâm trạng, tình cảm với nhiều cung bậc sắc thái của một trái tim phụ nữ khao khát tình yêu và hạnh phúc.
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Bắt đầu bài thơ là hình ảnh sóng nước. Đó là con sóng lúc thì dữ dội, ồn ào có thể phá tan tất cả trong những trận cuồng phong, nhưng lúc trời yên gió lặn thì sóng lại dịu êm, lặng lẽ. Sóng là vậy đấy, dữ đấy rồi êm đấy, chợt ồn rồi chợt lặng, sóng luôn biến đổi muôn hình vạn trạng. Nhưng có ai đã từng hỏi vì sao sóng lại thế? Vô ích thôi, đến ngay sóng cũng chẳng hiểu nổi mình, chỉ biết đó là những tâm trạng thường có. Sóng bối rối, trăn trở, sóng muốn hiểu được mình nên đã tìm ra tận bể, tìm ra tận nơi mênh mông rộng lớn, sâu thẳm vô cùng. Sóng nghĩ ở nơi như thế may ra sóng mới có thể hiểu mình.
Sóng nước mà cũng có những tâm trạng như con người vậy sao? Phải chăng mượn sóng là để làm biểu tượng cho người con gái? Miêu tả sóng với những đặc điểm kì lạ cũng là để nói tới cái đa dạng phức tạp, khó giải thích của người con gái mà đúng hơn là của tình yêu. Thế là sóng nước đã dần chuyển thành sóng tình. Giống như sóng, tình yêu là một khái niệm khó giải thích cho minh bạch. Tình yêu là vậy và khát vọng tình yêu của con người thì muôn đời không thay đổi
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ
Sóng ngày xưa thế nào thì sóng ngày nay vẫn thế. Sóng nước là thế và sóng tình cũng chẳng khác gì. Tình yêu từ ngàn đời nay chẳng hề bất di bất dịch, đó là một quy luật của tự nhiên. Tình yêu không bó hẹp trong một phạm vi lứa tuổi nhưng tình yêu thường đi đôi với tuổi trẻ. Ở lứa tuổi mùa xuân của đời người, tình yêu phát triển mạnh mẽ nhất và mang đầy đủ ý nghĩa nhất. Tình yêu tràn đầy sức sống, làm bồi hồi trái tim trong ngực trẻ khiến trái tim lúc nào cũng thổn thức nhớ mong.
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
…………
Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương
Sóng tìm ra tận bể để hiểu mình thì em đây cũng tìm đến tình yêu anh để hiểu sâu hơn về con người của em. Trước không gian bao la là biển cả, làm sao em không trăn trở với những câu hỏi có từ ngàn xưa, những câu hỏi vượt qua bao không gian thời gian, những câu hỏi giản dị, tự nhiên nhưng khó lí giải. Tất cả chúng như quấn lấy tâm hồn em làm cho em thao thức khôn nguôi. Em tự hỏi, giữa đại dương mênh mông ấy nơi nào là nơi bắt đầu của sóng? Khó mà trả lời cho chính xác nhưng vẫn có thể trả lời rằng “Sóng bắt đầu từ gió”. Vâng, không thể phủ định được điều đó, có gió mới có sóng thế nhưng “Gió bắt đầu từ đâu?” Lúc này thì khó mà trả lời được. Thế là ra tới tận bể rồi ấy vậy mà sóng cũng vẫn chưa hiểu nổi mình. Cũng như sóng, em đã hòa nhập vào biển lớn của tình yêu anh mà em nào đã hiểu được em. Em yêu anh từ đâu? Khi nào? Từ cái gì? Ánh mắt, nụ cười hay giọng nói? “Em cũng không biết nữa”. Mà biết để làm gì bởi anh và em chỉ cần hiểu rằng ta yêu nhau là đủ.
Trong tình yêu, ta vẫn thường thấy hai mặt yêu và nhớ, yêu say đắm thì nhớ thiết tha. “Con sóng dưới lòng sâu – Con sóng trên mặt nước” là những cung bậc khác nhau của nỗi nhớ anh. Dù trên mặt nước hay dưới lòng sâu thì con sóng vẫn đều có bờ. Bờ là nơi đến của sóng, là đối tượng để sóng vuốt ve, vỗ về, là cái đích để đi đâu về đâu sóng lúc nào cũng nhớ đến, cũng không quên, ngay cả đó là ngày hay đêm: “Ôi con sóng nhớ bờ – Ngày đêm không ngủ được”. Nỗi nhớ có cái biểu hiện ra bên ngoài có cái ẩn chứa tự sâu trong đáy lòng. Vắng anh, em nhớ, khi thức, em nhớ đến anh. Đó là biểu hiện bình thường. Nhưng ở đây, trong mơ em vẫn nhớ. Đó là nỗi nhớ mới da diết, khắc khoải, thổn thức cứ trằn trọc không yên: “Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức”. Tình yêu là vậy đấy!
Xưa nay, nỗi nhớ luôn gắn liền với khái niệm thời gian vô tận và không gian vô cùng. Với thời gian, nó không có ngày đêm; với không gian, nó không có phương hướng. Không gian có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc nhưng tình yêu thì chỉ có một phương và đó chính là anh. Trong đời, em quen biết nhiều người, họ có thể hơn hẳn anh thế nhưng em lại chọn anh, yêu anh và chỉ biết có anh. Chỉ riêng anh là khiến em luôn nghĩ tới và hướng về: “Nơi nào em cũng nghĩ – Hướng về anh một phương”. Những người đang yêu bao giờ cũng hướng về nhau, họ là mặt trời suốt đời soi sáng và sưởi ấm cho nhau.
Tình yêu đẹp là vậy, trong sáng là vậy, mãnh liệt bay bổng là vậy nhưng nó không tránh khỏi những dâu bể của đời thường. Chính vì thế những người đang yêu ngoài sự say mê còn phải có đủ nghị lực và lí trí để vượt qua mọi thử thách, giông bão của cuộc đời với niềm tin sẽ tới đích.
Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Những con sóng ở đại dương dù gió xô bão táp tới phương nào đi chăng nữa thì cuối cùng sóng vẫn trở về với bờ. Em cũng như sóng, cho dù gặp bao khó khăn em cũng sẽ vượt qua hết để đến với anh, bởi tình yêu anh đã cho em sức mạnh như ông bà xưa có câu:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua.
Đẹp là thế, thiêng liêng là thế nhưng tình yêu cũng lại là thứ ngắn ngủi, mong manh và khó giữ.
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.
Bởi thế khi yêu con người luôn khắc khoải, trăn trở. Nỗi trăn trở đã thành bức bách, thôi thúc: Làm sao được tan ra, thành trăm con sóng nhỏ trong đại dương bao la, vô tận kia để được tồn tại mãi, sống mãi và yêu mãi. Tình yêu bùng lên thành khát vọng. Khát vọng sôi sục mà vẫn khiêm nhường, đầy nữ tính.
Thơ Xuân Quỳnh là tiếng thơ vừa dịu dàng vừa sâu lắng vừa dữ dội lại vừa thiết tha. Nhớ tới chị chúng ta càng thêm trân trọng những thi phẩm đặc sắc của chị. Cùng với “Thuyền và biến”, “Sóng” là những bài ca không thể nào quên của tuổi trẻ và tình yêu. Xin cảm ơn nữ thi sĩ đã hiến dâng cho đời những vần thơ đẹp về tình yêu con người và cuộc sống.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với dòng nước hung dữ. | Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh | 2,943 | |
Phân tích bài thơ số 28 của Ta – go
Gợi ý
Ta-go (1861 – 1941) là đại thi hào của Ấn Độ. Năm 1913, Ta-go được Giải Nô-ben về vãn chương với tập "Thơ Dâng". Ông là "nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại", một nghệ sĩ toàn tài để lại một sự nghiệp văn nghệ đồ sộ: 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, trên 3.000 bức họa.
Sau tập "Thơ Dâng" được Giải thưởng Nô-ben, năm 1914, Ta-go xuất bản tập thơ "Người làm vườn " – tập thơ tình, gồm 85 bài thơ, chỉ đánh số, không có nhan đề. Bài thơ số “28" này rút trong tập “Người làm vườn ", được truyền tụng và ngợi ca là “một trong những bài thơ tình hay nhất thế giới ".
Toàn bài thơ là lời tỏ tình của người con trai, của “anh”. Còn người con gái chỉ “lặng nghe lời nói như ru" và qua “đôi mắt qua cái nhìn “băn khoăn… buồn " – được nói đến mà thôi.
1. Sáu câu thơ đầu cho thấy một mối tình đầu rất đẹp và thơ mộng. Cô gái duyên dáng, ngỡ ngàng và “băn khoăn", vẻ đẹp dịu hiền được thể hiện qua đôi mắt và cái nhìn chan chứa yêu thương: “muốn nhìn vào tâm tưởng của anh". Rụt rè và thăm dò.
Tình yêu đến, “thần ái tình đã gõ cửa trái tim" nhưng em nào đã hay, đã biết gì nhiều về anh. Em là ánh trăng, anh là mặt biển (trong xanh) – hai hình ảnh so sánh này diễn tả rất hay một tình yêu trong sáng, chân thành, dào dạt và sự khao khát yêu thương. Cô gái có đôi mắt huyền mới có cái nhìn lung linh của ánh trăng kia. Và chàng trai có tình yêu nồng nàn, chân thành, trong sáng thì ánh trăng kia mới có thể soi vào tận đáy biển cả. Hình ảnh ánh trăng và biển cả đã thể hiện tài tình men say ái tình: niềm khao khát hạnh phúc và sự hòa hợp tâm hồn lứa đôi trong “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy". Lời tỏ tình nồng nàn và yêu thương, đàng hoàng và tin cậy. Tình yêu đâu chỉ là ‘Tìm kiếm" mà còn là “phát hiện" những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn, trong tính cách người tình của em. Như một lời nhắc khẽ mà rung động:
… "Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anhXem thêm: Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam (đề mở) Như trăng kia muốn vào sâu biển cả.
Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em,
Anh không giấu em một điều gì
Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh ”.
2. Bảy dòng thơ tiếp theo là lời tỏ tình rất đẹp. Sử dụng hình ảnh ẩn dụ về "ngọc", về "hoa" và giả định: “nếu… anh sẽ…” để biểu lộ một tình yêu nồng cháy, mãnh liệt và dâng hiến. Có gì quý hơn ngọc, giá trị bằng ngọc? Nếu đời anh là viên ngọc thì anh sẽ đập vỡ làm trăm mảnh, xâu thành chuỗi quàng vào cổ em yêu. Có gì đẹp và thơm bằng hoa? Nếu đời anh chỉ là bông hoa nhỏ bé, tròn xinh, thơm tho, anh sẽ ngắt nó ra cài lên mái tóc em, Các động từ: "đập ra", “xâu thành", “quàng vào”, “ngắt ra”, “cài lên” – diễn tả một “tấm lòng”, một sự trân trọng và dâng hiến trong tình yêu. Ta-go viết bài thơ này cách chúng ta ngày nay ngót một thế kỉ mà hình ảnh thơ vẫn mới mẻ, thú vị vô cùng:
“Nếu đời anh chỉ là viên ngọc
anh sẽ đập nó ra làm trăm mảnh
và xâu thành một chuỗi
quàng vào cổ em.
Nếu đời anh chỉ là một đóa hoa
tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng
anh sẽ hái nó ra để đặt lên mái tóc em ",
Lời dịch thơ khá sát và hay. Có điều trong nguyên tác chữ "cài" (cài lên mái tóc em), dịch giả đã chuyển thành "đặt lên mái tóc em", làm cho lời thơ thô, làm giảm đi phong cách tao nhã, phong tình của chàng trai
3. Đoạn thơ thứ ba, chàng trai khẳng định tình yêu của mình qua hình ảnh so sánh: “trái tim Ba tiếng “Nhưng em ơi!" vang lên tha thiết, đắm say. Lời tỏ tình được nâng lên một tầm cao mới, một chiều sâu thăm thẳm. Tình yêu ấy sâu sắc và mênh mông. Em là thần tượng, là nữ hoàng đang ngự trị vương quốc tình yêu – đời anh. Lại một lời nhắc nhớ khẽ em yêu! Nhẹ nhàng và tế nhị. Gần mà xa, xa mà gần. Phải biết trân trọng và phát hiện mọi điều cao quý tiềm ẩn trong tâm hồn người yêu. Lời tỏ tình sang trọng quá, chứng tỏ chàng trai có một trái tim rất đẹp! Cả đời anh, tâm hồn anh, tình yêu của anh đã thuộc về em:Xem thêm: Gần nhà em có một hồ nước gần đây một số người hay đổ phế thải xây dựng xuống hồ. Em hãy giúp Bác Tổ trưởng Tổ dân phố viết đơn gửi Ủy ban nhân dân Phường để ngăn chặn hành động thiếu ý thức này
“Nhưng em ơi, đời anh là một trái tim
Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó,
Em là nữ hoàng của vương quốc đó
Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu!
Đầu bài thơ, thi sĩ đã dùng hình ảnh "biển cả", đến khổ thơ này, ông lại tạo ra những khái niệm bổ sung: "bến bờ", "vương quốc", "biên giới" – tạo ra một hệ thống ngôn ngữ diễn tả một không gian nghệ thuật để nói lên niềm tự hào của người con trai có một tình yêu trong sáng mênh mông.
4. Tinh yêu không thể tầm thường và đơn giản. Đâu chỉ là "một phút giây lạc thú" để làm “nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm", thoảng qua. Tình yêu cũng không phải là sự hèn hạ, van xin, cầu mong một sự "ban ơn", một sự yếu mềm. Giọt lệ trong, nỗi thương đau, nỗi sầu u ẩn mà người con trai mang lại trong mỗi cuộc tình chỉ là sự hèn hạ mà thôi. Mà đâu chỉ là lĩnh vực tình yêu, mọi sự quỳ lạy, van xin trong ứng xử đâu hèn hạ, đáng khinh. Đoạn thơ này mang tính chất "phản đề* nhiều người đã hiểu không đúng. Chàng trai muốn tâm tình với người yêu là trái tim anh không phải như thế này đâu:
"Nếu trái tim anh chỉ là phút giây sướng vui, nó sẽ nở thành nụ cười dịu hiền và em sẽ thấu hiểu nó rất nhanh – Nếu trái tim anh chỉ là nỗi thương đau, nó sẽ tan thành lệ trong, phản ánh nỗi sầu thầm kín " (dịch nghĩa).
5. Hai đoạn thơ thứ tư và thứ năm tương phản đối lập. Từ phủ định đi đến khẳng định. Không nên như thế kia mà phải như thế này. Người con trai đã mang đến cho người con gái một tình yêu tuyệt đẹp. Anh tự hào thổ lộ:
"Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu,
Nên vui sướng khổ đau của nó là vô biên.
Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu
Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu! "
Trong nguyên tác: "những gì tình yêu cầu mong" được người dịch thơ viết rằng: "những đòi hỏi" dễ làm nhiều độc giá hiểu không đẹp ý thơ. Chàng trai tự hào trái tim của mình "lại là tình yêu”, tình yêu đích thực, đâu phải là thứ "trái tim chỉ là một phút giây lạc thú ”. Tình yêu của em đã và đang mang đến cho anh bao cảm xúc kì diệu, lúc thì vui sướng, lúc thì khổ đau… Tình yêu đâu chỉ toàn vị ngọt? Vui sướng và khổ đau mà tình yêu mang đến là mênh mông, là vô biên. Những cầu mong và sự giàu có mà tình yêu, mà trái tim của chàng trai là bất tận, là trường cửu.Xem thêm: Phân tích Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Chàng trai cầu mong ở người tình một tình yêu đằm thắm, chân thành và thủy chung. Cầu mong con thuyền tình của anh sẽ cập bến bờ hạnh phúc giữa mùa trăng. Nhẹ nhàng thổ lọ và trách móc: gần đấy sao mà xa xôi. Hình như em vẫn chưa hiểu tình yêu của anh đã dành cho em. Phải biết phát hiện sự vô biên và giàu sang trong tình yêu. Năm dòng cuối là một "tuyên ngôn" đẹp về tình yêu. Thơ tình mang thêm màu sắc triết lí. Có biết chiếm lĩnh trái tim người yêu mới thật sự có và được sống trong một tình yêu đẹp, trọn vẹn.
Bài thơ số 28 của Ta-go rất đẹp và giàu tính sáng tạo trong hình tượng: "đôi mắt buồn, băn khoăn " – "ánh trăng soi vào biển cả" – "viên ngọc và chuỗi ngọc", "đóa hoa thơm và vòng hoa" – trái tim yêu thương mênh mông… Ý tưởng phong phú và sâu sác: cái ngần ngại, băn khoăn của thiếu nữ trong mối tình đầu; sự chân thành, say đắm, nồng nàn, khát khao trong tình yêu của chàng trai. Như một lời nhắc khẽ: Không thể tầm thường, đơn giản trong tình yêu. Bài thơ tình còn là sự đúc kết, chiêm nghiệm: Yêu là tìm kiếm, là phát hiện và chiếm lĩnh, tình yêu là sung sướng và khổ đau, là thiếu thốn và giàu sang, gần mà xa, xa mà gần. Phải biết phát hiện và chiếm lĩnh tình yêu, có thể mới thật sự đi tới mái ấm hạnh phúc trong tình yêu đôi lứa.
Cũng như "Biển" của Xuân Diệu. "Sóng" của Xuân Quỳnh, "Tôi yêu em" của Pu-skin, bài thơ này của Ta-go không thể thiếu trong hành trang – tâm hồn "tuổi áo trắng " mộng mơ.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ số 28 của Ta – go | 1,719 | |
Thu Điếu là một trong những bài thơ viết về mùa thu cực kì đặc sắc. Nguyễn Khuyến có tới 1 chùm thơ thu gồm 3 bài nhưng bài thơ Thu điếu vẫn được đánh giá cao hơn cả. Thậm chí, nó còn được đánh giá là bài thơ thu hay nhất trong các bài thơ thu.
Nhằm giúp các em có thể phân tích bài thơ Thu điếu được hay nhất thì hôm nay Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Thu điếu và gợi ý cho các em bài văn mẫu để các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Thu điếu
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Khuyến và bài thơ Thu điếu.
– Nguyễn Khuyến là một thi gia nổi tiếng của văn học Việt Nam. Ông có nhiều sáng tác hay được nhiều người biết đến.
– Thu điếu là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông.
2. Thân bài phân tích bài thơ Thu điếu
a. Hai câu đầu
– Hình ảnh ao thu gần gũi với cuộc sống của con người.
– Không khi se lạnh của trời thu làm nước ao trong veo.
– Khung cảnh làng quê, sông nước hiện lên trong một buổi trời thu.
b. Hai câu thực
– Mọi thứ đều trở nên nhỏ bé: sóng gợn tí, gió khẽ.
– Khung cảnh mùa thu tĩnh lặng.
– Tác giả thể hiện một sự cảm nhận đầy tinh tế.
c. Hai câu luận
– Cảnh vật êm đềm, nhẹ nhàng.
– Khung cảnh vắng vẻ, buồn bã, lòng người cũng trĩu nặng.
d. Hai câu kết
– Một bức tranh thiên nhiên hài hòa.
– Cảm xúc được nén lại, không còn vương vấn thói đời.
3. Kết luận
– Khái quát lại nội dung bài thơ Thu điếu và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (Có dàn ý chi tiết)Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu>> Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Thu điếu
Trong nền văn học của Việt Nam, chúng ta may mắn có nhiều tác gia nổi tiếng. Họ đã để lại cho đời không biết bao nhiêu tác phẩm hay, độc đáo, đặc sắc. Chẳng hạn như Nguyễn Khuyến, ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Thơ của Nguyễn Khuyến có nội dung giản dị, nhiều bài thơ của ông viết về cảnh yên bình nơi thôn quê. Điển hình trong các sáng tác của Nguyễn Khuyến là chùm 3 bài thơ thu: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Bài nào cũng đều hay cả nhưng xuất sắc nhất có lẽ vẫn là bài thơ Thu điếu.
Mặc dù cùng viết về đề tài mùa thu nhưng có thể nhận thấy một điều mùa thu trong 3 bài thơ của Nguyễn Khuyến đều được ông cảm nhận theo một cách khác nhau. Chẳng hạn như, nếu bài thơ Thu vịnh cảnh thu được đón nhận từ cao xa rồi mới đến gần thì trong bài Thu điếu, Nguyễn Khuyến đã cảm nhận mùa thu từ gần, đến cao xa rồi lại từ cao xa trở về gần. Chính cách quan sát này đã khiến cho khung cảnh trở nên sinh động hơn nhiều.
Phân tích bài thơ Thu điếu
Không gian của cảnh mùa thu được mở ra trước mắt người đọc với một cảm giác trong veo:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Ao thu, thuyền câu là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Chính vì quen thuộc nên nó không tạo nên điều gì đặc biệt. Nhưng bằng cách đưa đến những hình ảnh quen thuộc ấy, nhà thơ đã mang đến cho người đọc sự dịu nhẹ, êm đềm. Chính sự nguyên sơ và trong veo ấy đã mang đến vẻ đẹp thanh khiết cho mùa thu . Mùa thu, nước trong ao, hồ, sông, suối thường chảy rất bình lặng. Chính vì tiết trời hanh khô nên nước sông cũng trở nên trong hơn. Ở đây, nhà thơ đã miêu tả trong veo cho thấy sự trong vắt của nước ao. Giữa không gian ao thu xuất hiện một chiếc thuyền câu nhưng đó là một chiếc thuyền bé tẻo teo. Nó có nghĩa là rất bé. Mặc dù như vậy nhưng nó không hề lọt thỏm trong không gian mà nó xuất hiện một cách hài hòa, cân xứng. Đó là bởi vì nó xuất hiện trong một cái ao thu chứ không phải hồ hay sông. Bằng cách gieo vần ai, nhà thơ đã nói lên được cái nhỏ nhắn, thanh thoát của khung cảnh mà không hề khiến người đọc cảm thấy tù túng.Xem thêm: Thuyết minh về con cá chépHai câu thơ tiếp theo, nhà thơ vẫn tiếp tục miêu tả bức tranh mùa thu với những hình ảnh vô cùng đẹp:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Khung cảnh mùa thu hiện lên với những đường nét hết mức mảnh mai. Sóng thì hơi gợn tí, lá thì khẽ đưa vèo gợi cảm giác mọi thứ đều nhẹ nhàng và thanh thoát. Bằng cách miêu tả hình ảnh lá vàng rơi và sóng gợn, Nguyễn Khuyến đã dùng thủ pháp lấy động tả tĩnh nhằm làm nổi bật lên không gian tĩnh lặng của mùa thu. Nếu không phải là không gian vô cùng tĩnh lặng thì nhà thơ không thể nào cảm nhận được tiếng động khẽ khàng và êm ái của mùa thu. Màu sắc của lá trong câu thơ này giống như một nét để làm bức tranh thêm hài hòa hơn. Không dừng lại ở đó, nhà thơ tiếp tục miêu tả khung cảnh xung quanh:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Lúc này, không gian mùa thu đã được mở rộng ra ở chiều cao. Nhà thơ đã đưa ánh mắt của mình nhìn lên bầu trời để cảm nhận được sắc trời xanh ngắt. Gần như mọi cảnh vật đều tĩnh lặng và sự chuyển động của nó êm ái tới mức rất khó để cảm nhận. Chúng không gợi lên bất cứ một âm thanh nào. Cái khung cảnh vắng teo của ngõ trúc gợi lên một cảm giác buồn bã, cô độc cho con người. Có lẽ nhà thơ đang tìm kiếm một bóng người nào đó. Hai câu thơ cuối bài, tác giả đã viết:Xem thêm: Trình bày quan điểm của anh (chị) về quan niệm chọn nghề nghiệp trong tương lai: chọn nghề phù hợp với năng lực thực tế của mình; chọn nghề đang được ưa chuộng trong đời sống hay nhất quyết theo đuổi nghề mà mình vẫn thiết tha yêu thích?Tựa gối ốm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Hình ảnh nhà thơ xuất hiện cuối bài với tư thế đang ngồi tựa gối ốm cần nhưng dường như ông không quan tâm đến chuyện câu cá. Có lẽ ông đang thu mình lại để cho bản thân không vướng vào thói đời, rời xa chốn quan trường để tìm về với chốn làng quê yên bình, thanh tịnh.
Nhà thơ đã mượn chuyện câu cá mùa thu để có thể cảm nhận được hết trời thu, cảnh thu vào cõi lòng mình. Ở đây, không rõ cảnh tĩnh lặng của mùa thu khiến tác giả cảm thấy cô đơn hay tâm trạng cô đơn của nhà thơ đã lan tỏa ra cảnh vật. Nhưng dù sao thì đây cũng là một bài thơ thu tuyệt đẹp.
Bài thơ Thu điếu đã thể hiện tài năng thi ca tuyệt vời của Nguyễn Khuyến với việc sử dụng từ ngữ, cách gieo vần eo. Bài thơ không chỉ cho ta thấy được một khung cảnh mùa thu tươi đẹp của làng quê Bắc Bộ mà còn thể hiện được tấm lòng yêu thiên nhiên của nhà thơ.
Như vậy là chúng ta đã cùng lập dàn ý phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, đồng thời đọc tham khảo bài viết mẫu. Bài viết này hy vọng sẽ giúp ích nhiều cho các em trong việc học.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến (Có dàn ý chi tiết) | 1,392 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến
Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi ca. Thơ viết về mùa thu của văn học Trung đại Việt Nam thường miêu tả cảnh đẹp vắng vẻ, úa tàn và u buồn. Cảnh thu được ghi lại một cách ước lệ tượng trưng với những nét chấm phá, chớp lấy cái hồn của tạo vật. Thu điếu của Nguyễn Khuyến cũng mang nét thi pháp ấy.
Nhưng Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng quê Việt Nam. Gần suốt đời mình, ông gắn bó với thôn quê, hòa hợp và thấu hiểu mảnh đất quê nhà. Thế nên, cảnh vật làng quê trong thơ ông hiện lên rất chân thực, giản dị, tinh tế. Đọc Thu điếu, ta bắt gặp một bức tranh thu đặc trưng của vùng chiêm trũng Bắc bộ, quê hương của nhà thơ. Đấy chính là nét mới mẻ của tác phẩm so với thi pháp truyền thống của văn học Trung đại Việt Nam.
Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến
Thu điếu viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Cảnh thu được miêu tả trong hầu hết 8 câu thơ, hình ảnh con người chỉ xuất hiện trực tiếp ở hai câu cuối bài. Cảnh trong bài vẫn là trời nước, gió, trúc – những thi liệu quen thuộc nhưng hồn thơ thì đã vượt ra khỏi khuôn sáo thi tứ cổ điển.
Hình ảnh đầu tiên được tác giả miêu tả là “ ao thu”. Từ “ lạnh lẽo” đặc tả khí lạnh của ao nước mùa thu, dường như cái lạnh ấy thấm sâu vào da thịt con người. Tính từ “trong veo” đã tuyệt đối hóa độ trong của nước, đồng thời còn gợi ra độ thanh sạch, sự bất động, tĩnh lặng của mặt ao. Hai âm “eo” được gieo trong một câu khiến cho cảm giác về cái lạnh và sự ngưng đọng của không gian càng trở nên tuyệt đối, đồng thời còn gợi ra không gian nhỏ hẹp của chiếc ao.
Trên nền cảnh thu ấy xuất hiện một chiếc thuyền câu lẻ loi, đơn chiếc, bé nhỏ. Số từ chỉ số ít “một chiếc” kết hợp với từ láy “tẻo teo” khiến cho chiếc thuyền càng nhỏ bé hơn, như co lại thành một nét chấm trên nền ao cũng bé xíu và trong trong tận đáy.
Hai câu đề đã vẽ nên cảnh sắc rất riêng biệt, mộc mạc, đơn sơ của mùa thu Bắc bộ với những nét đặc trưng nhất của khí thu, chất thu là cái lạnh và sự tĩnh lặng.
Mùa thu tiếp tục hiện lên với hình ảnh “sóng biếc”, “lá vàng”. Cảnh vận động một cách khẽ khàng. Tác giả đã rất nhạy cảm, tinh tế khi chớp được những biến động tinh vi của tạo vật. Đó là sự chuyển động “ hơi gợn tí” của sóng, là sự đưa nhẹ, khẽ khàng của chiếc lá vàng, là sự mong manh uốn lượn của hơi nước mờ ảo trên mặt ao.
Xem thêm: Suy nghĩ của anh chị về vấn đề: Việt Nam và con đường phát triển khoa học công nghệHai câu thơ đối nhau rất chỉnh, các sự vật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, gió thổi làm sóng gợn, làm lá rơi. Các tính từ, trạng từ “biếc”, ‘tí’, “vàng”, “khẽ”,”vèo” được sử dụng một cách hợp lí, giàu chất tạo hình, vừa tạo ra bức tranh màu sắc thanh nhã, có xanh có vàng, vừa gợi được sự uyển chuyển, sinh động của tạo vật. Cảnh được miêu tả trong hai câu thực, mặc dù là động, nhưng vì động khẽ khàng quá nên thực chất là lấy động để tả cái tĩnh lặng của mùa thu trong không gian của một chiếc ao quê nhà.
Không gian cảnh vật trong hai câu luận không chỉ dừng lại ở bề mặt chiếc ao mà còn mở rộng thêm chiều cao, chiều sâu.
Chiều cao được cụ thể bằng sự “lơ lửng” của tầng mây và độ thăm thẳm của da trời xanh ngắt. Màu da trời mùa thu dường như có ám ảnh sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Khuyến nên trong các bài thơ thu, ông thường nhắc tới: “ Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” (Thu vịnh ) hay “ Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” ( Thu ẩm ). Bởi vậy, màu xanh ngắt của da trời không chỉ đơn giản là một sắc màu khách quan đặc trưng cảu trời thu mà có lẽ còn chính là tâm trạng nhiều ẩn ức, là chiều sâu tâm hồn đầy trăn trở của thi nhân.
Chiều sâu của không gian được cụ thể bằng độ “ quanh co” uốn lượn của bờ trúc. Không gian trong hai câu luận đậm dặc một màu xanh, màu xanh bao trùm cả trên cao và chiều rộng. Cảnh vật thoáng đãng và yên tĩnh. Nguyên từ “vắng” đã nói rõ sự tĩnh lặng rồi nhưng “vắng teo” thì có nghĩa là cảnh vắng tanh vắng ngắt, không chút cử động, không chút âm thanh, không một bóng người.
Bởi thế, hai câu thơ gợi ra sự trống vắng, nỗi cô đơn trong lòng người.
Hình ảnh con người xuất hiện trực tiếp với tư thế ngồi bó gối, trong trạng thái trầm tư mặc tưởng. Nhà thơ ngồi câu cá mà chẳng chú tâm đến việc câu, bởi vậy mới giật mình trước tiếng cá “ đớp động dưới chân bèo”. Không gian phải yên tĩnh lắm, tâm hồn nhà thơ phải trong trẻo lắm thì mới nghe rõ âm thanh nhỏ nhẹ như vậy.
Từ “cá đâu” là cách hỏi vừa tạo nên sự mơ hồ trong không gian vừa gợi ra sự ngỡ ngàng của lòng người. Nhà thơ dường như mất cảm giác về không gian thực tại mà chìm đắm trong không gian suy tưởng nên không thể xác định rõ hướng gây ra tiếng động mặc dù đang ngồi trong một chiếc ao rất nhỏ.
Nhà thơ câu cá mà chẳng phải để bắt cá. Câu chỉ là cái cớ để tìm sự thư thái trong tâm hồn. Trong lúc câu, thi nhân đã thâu tóm vào lòng những vẻ đẹp tinh diệu của đường nét, màu sắc, hình khối, sự vận động tinh tế, trong sáng của cảnh vật mùa thu. Cảnh thu tuy đẹp mà buồn, buồn vì quá quạnh quẽ, vắng lặng, buồn vì người ngắm cảnh cũng đang chất chứa nỗi niềm thế sự của kẻ sĩ trước cảnh vong quốc mà thân lại nhàn nhã.
Bài thơ Thu điếu không những thể hiện được cái hồn của cảnh thu mà còn đặc tả được nét đẹp mộc mạc giản dị của nông thôn đồng bằng Bắc bộ xưa. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, Nguyễn Khuyến đã khơi gợi trong lòng người đọc những xúc cảm chân thành, trong sáng, tha thiết về cảnh sắc làng quê. Qua bài thơ, ta hiểu thêm về tấm lòng nặng tình non nước và tài thơ Nôm độc đáo của thi nhân.
Xem thêm: Nghị luận về chiến thắng của cái thiện đối với cái ác trong truyện cổ Tấm Cám | Phân tích bài thơ Thu Điếu của Nguyễn Khuyến | 1,214 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Thu Điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến
Bài làm
Ngâm thơ đối ẩm hay câu cá đều là những thú vui tao nhã của những bậc ẩn sĩ, trí giả. Nhà thơ Nguyễn Khuyến được mệnh danh là Tam Nguyên Yên Đổ, từng làm quan trong triều nhưng sau này ông lui về ở ẩn tại quê nhà. Tại đây, khi hưởng thú điền viên ông đã sáng tác nên chùm thơ thu gồm ba bài, một trong số đó chính là bài thơ Thu Điếu.
Thu Điếu là bài thơ được viết bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Đây chính là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Nguyễn Khuyến, đồng thời cũng là bài thơ minh chứng cho việc ông được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”. Mở đầu bài thơ ta thấy ngay được không gian quen thuộc:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
Không gian được gợi mở đó chính là hai hình ảnh đối lập nhau nhưng lại mang nét hài hòa, cân đối. “Ao thu” với “thuyền câu”, một bên là không gian rộng lớn với một vật nhỏ bé “bé tẻo teo”. Vần “eo” là một vần rất khó nhưng lại được nhà thơ sử dụng hiệp vần một cách linh hoạt, tạo nên sự thú vị cho bài thơ. Cái ao thu xuất hiện khiến cho người đọc liên tưởng ngay đến một vùng nông thôn ở Bắc Bộ. Tại đây có lẽ đã vào cuối thu nên ao thu cho ta cảm giác “lạnh lẽo” như đang bắt đầu mang hơi thở của mùa đông. Cái ao thu ấy với làn nước trong veo và không gian vắng lặng này có dấu vết của con người đó chính là hình ảnh chiếc thuyền câu. Một không gian yên ắng, lạnh lẽo gợi cho ta thấy được sự cô đơn, tĩnh mịch của nhân vật trữ tình.Xem thêm: Trong bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ, giữa lối sống “ngất ngưởng" với tâm niệm "nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung" có gì mâu thuẫn không? Phân tích bài thơ để nêu rõ ý kiến của anh (chị)
Phân tích bài thơ Thu Điếu
Tiếp nối hai câu đề chính là hai câu tô đậm thêm khung cảnh của mùa thu:
“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Hình ảnh thứ ba vẫn trong phạm vi cái ao thu. Nguyễn Khuyến đã vận dụng rất tài tình lối lấy động tả tĩnh. Mùa thu không có gió lớn mà làn sóng chỉ hơi gợn theo những cơn gió nhẹ. Nhắc đến thu thì không thể thiếu lá vàng rơi rụng. Tại đây Nguyễn Khuyến cũng không bỏ sót chi tiết đó. Những chiếc lá vàng theo đung đưa theo làn gió rồi rơi xuống ao. Trong không gian tĩnh lặng ấy khiến cho âm thanh của chiếc lá khi chạm xuống mặt nước trở nên rõ ràng. Hình ảnh này chúng ta đã từng bắt gặp trong thơ của Trần Đăng Khoa:
“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”
Qua bốn câu thơ đầu ta thấy được bức tranh mùa thu được tác giả gợi tả từ không gian nhỏ bé đó là trong phạm vi chiếc ao thu. Từng quan sát tinh tế của tác giả đã được vận dụng để phác họa nên bức tranh thu tuyệt đẹp. Trong bức tranh ấy ta không chỉ thấy cảnh vật, màu sắc mà dường như còn nghe thấy được âm thanh của sự sống. Nhưng đến hai câu thơ luận thì bức tranh thu đã được mở rộng cả về chiều cao, lẫn chiều sâu:Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu hay nhất
“Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo”
Không còn rơi tầm nhìn xuống ao thu nữa mà nhà thơ đã có sự di chuyển tầm mắt của mình lên cao, ra xa. Trên cao là bầu trời xanh ngắt với những đám mây lơ lửng. Bầu trời xanh chứ không xám xịt như mùa đông chính là đặc trưng của mùa thu quê hương, đồng thời cũng khiến ta cảm nhận được trạng thái mơ màng của chủ thể trữ tình. Không gian yên ắng đó khi nhà thơ nhìn vào con ngõ nhỏ phía trước thì chỉ thấy hàng trúc xanh và con ngõ quanh co, vắng lặng.
Bài thơ tiêu đề là Câu Cá Mùa Thu nhưng cho tới đây ta mới chỉ thấy mùa thu chứ chưa thấy hoạt động câu cá nào cả. Cho tới tận hai câu thơ cuối thì nhà thơ mới cho chúng ta thấy bóng dáng của người câu cá:
“Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”
Nhân vật trữ tình hay chính là bóng dáng về con người đầu tiên xuất hiện trong bài thơ chính là người đi câu với tư thế “tựa gối buông cần”. Tác giả sử dụng “buông” chứ không phải là “ôm” để nổi bật lên phong thái ung dung, thong thả của một người đã về quê sống gắn bó với quê hương, rời xa thế sự. Tuy nhiên không hẳn là không qua tâm mà ông vẫn có khi suy nghĩ và để ý đến nó. Chính vì thế mà chỉ một tiếng cá đớp động rất nhẹ nhưng cũng khiến ông giật mình. Cá “đâu”, không biết rõ nó ở vị trí nào, không phải tiếng động lớn nhưng cũng khiến người câu giật mình bởi có lẽ ông đang mải suy nghĩ nhưng lại bất lực trước thời cuộc.Xem thêm: Bài văn kêu gọi ủng hộ người đồng tính
Bài thơ Thu Điếu chính là một tác phẩm đặc sắc mà nhà thơ Nguyễn Khuyến dành cho người đọc. Qua bài thơ ta thấy được một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết, gắn bó với thiên nhiên và tâm trạng của một vị quan vốn ở ẩn nhưng vẫn lo lắng cho vận mệnh của đất nước.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Thu Điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến hay nhất | 1,025 | |
Phân tích bài thơ Thu điếu và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến
Hướng dẫn
Viết về mùa thu ở nông thôn nước ta, có lẽ Nguyễn Khuyến là nhà thơ có nhiều nét đặc sắc hơn cả.
Chỉ qua hai bài ‘Thu điếu’ và ‘Thu vịnh’ ta cũng có thể khẳng định được điều đó.
Trước hết mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyên là một mùa thu đẹp, yên tĩnh, đầy thơ mộng.
Một vòm trời cao, một màu xanh thăm thẳm đến không cùng: ‘Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao’.
Một làn mây lơ lửng càng làm tăng thêm cái vẻ cao sâu của đất trời: ‘Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt’.
Từ cái màu xanh ngắt của trời thu đến cái màu xanh ‘biếc’ của nước ao thu, rồi màu xanh của sóng, của bèo, của những bờ tre… tất cả đều xanh một màu xanh bát ngát. Xuân Diệu gọi đó là ‘cái điệu xanh’ của thơ thu Nguyễn Khuyến.
Trong cái không gian cao rộng ấy, mọi vật trở nên nhỏ bé, mọi cử động trở nên nhẹ nhàng như để giữ cho được cái yên tĩnh của mùa thu. Ta như nghe được tiếng của những làn gió nhẹ, nhẹ đến mức chỉ đủ làm cho sóng ‘gợn’ một ‘tí’ thôi, đủ làm cho một chiếc ‘lá vàng’ rơi ‘khẽ’:
‘Sóng biếc theo làn hợi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo’.
Yên tĩnh đến mức một tiếng đớp mồi của chú cá nhỏ dưới chân bèo ta cũng nghe rõ.
Xem thêm: Em hãy phát biểu về nhân vật Bốp và Entơni ở đoạn trích “Cứu bạn” trong tác phẩm “Hãy để ngày ấy lụi tàn” của Giêrơn Gođơn (Văn 6, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996)
Đêm thu, có thêm ánh trăng, có thêm tiếng ngỗng trời, cảnh vật yên tĩnh bỗng nhiên trở nén vắng vẻ.
Mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến phảng phất một nỗi buồn man mác.
Ta thấy mọi cảnh vật đều như ngưng đọng, đều như đơn chiếc; một chiếc thuyền câu ‘bé tẻo teo’, một chiếc lá vàng rơi, một ngõ trúc ‘vắng teo’, một cần trúc ‘lơ phơ’, một song thưa để mặc, rồi mấy chùm hoa năm ngoái, lại một tiếng ngỗng trên không…
Mùa thu đượm buồn hay chính tâm tư Nguyên Khuyên đượm buồn! Điều đó càng làm cho ta thêm quý trọng Nguyễn Khuyến khi ta biết rằng: ông đã cáo quan trở về sống nơi thôn dã để giữ lấy phẩm chất thanh cao của mình, khi mà cái xã hội ‘lai Tây, lai Tàu’ đang diễn ra trước mắt ông bao điều nhục nhã.
Nghệ thuật tả cảnh của ông thật điêu luyện. Vừa vẽ bằng mắt, bằng tai, vừa vẽ bằng tâm tưởng. Những màu sắc, đường nét, âm thanh đều hài hòa cân xứng và thanh nhã. Chọn lọc từ ngữ tài tình và sử dụng đúng chỗ, đến mức mà Xuân Diệu đã phải thốt lên: ‘Một nghệ sĩ cao tay’.
Nguyễn Khuyến tả cảnh để ngụ tình. Một ông ngư ngồi câu cá đến mỏi gối vẫn chưa thấy cá cắn câu, một nhà thơ nhìn trăng, nhìn hoa toan cất bút thì bỗng thấy thẹn thùng… Phải chăng chính đó là nỗi buồn man mác, là tâm sự u hoài của một nhà thơ có nhân cách đáng quý./.
Nguồn: thêm: Phân tích “Hai đứa trẻ” để chứng minh cho một nhận định của Thạch Lam: “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thường'’ | Phân tích bài thơ Thu điếu và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến | 587 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Thuật hoài (tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão.
Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320), người làng Phù ủng, huyện Đường Hào, nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, là một danh tướng đời Trần. Tuy xuất thân từ tầng lớp bình dân song chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng số một bên cạnh Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Phạm Ngũ Lão từng tham gia hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, ông cùng những tên tuổi lớn khác của triều đình đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng tạo nên hào khí Đông Á của thời đại đó.
Phạm Ngũ Lão làm bài Thuật hoài vào cuối nằm 1284, khi cuộc kháng chiến lần thứ hai đã đến rất gần. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng, được lưu truyển rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc.
Nội dung bài thơ khắc họa nổi bật vẻ đẹp của một con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại.
Phiên âm chữ Hán:
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trải,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
Dịch thơ tiếng Việt:
Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hâu.
(Bùi Văn Nguyên dịch)
Bài thơ được Phạm Ngũ Lão sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sử nước nhà. Triều đại nhà Trần (1226 – 1400) là một triều đại lẫy lừng với bao chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Nguyên – Mông hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Đại Việt.
Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuần tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng trung quân, ái quốc của đạo Nho. ông nhận thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.
Bài thơ có nhan đề chữ Hán là Thuật hoài: Thuật là kể lại, là bày tỏ; hoài là nỗi lòng. Dịch thành Tỏ lòng, nghĩa là bày tỏ khát vọng, hoài bão trong lòng. Chủ thể trữ tình ở đây là vị danh tướng trẻ tuổi đang chỉ huy quân đội làm nhiệm vụ gìn giữ non sông.
Nguyên tác Thuật hoài bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chệ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, ở hai câu thơ đầu, tác giả bày tộ niềm tự hào to lớn về quân đội của triều đình; trong đó có mình – một vị tướng. Nhà thơ đã khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những chiến binh quả cảm.
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thụ. Dịch nghĩa: Cầm ngang ngọn giáo bảo vệ giang sơn đã mấy mùa thu. Dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu. So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo. Luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù. Tư thế của những con người chính nghĩa lồng lộng trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước suốt một thời gian dài. Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Đại Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được. Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời ngời tỏa sáng.
Xem thêm: Phân tích hình tượng cây xà nu trong Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết)Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn ngưu. Dịch nghĩa: Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu. Dịch thơ: Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu đặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quân dân ta.
Hai câu tứ tuyệt chi mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm với khí thế dũng mãnh, sẵn sàng xả thân giết giặc cứu nước của đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần.
Là một thành viên trong đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiến binh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ. Trong con người ông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn. Mặt tích cực của khát vọng công danh ấy chính là ý muốn được chiến đấu, cống hiến đời mình cho vua, cho nước. Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trung quân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông (Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ). Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ công danh thì bản thân tự lấy làm hổ thẹn:
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hẩu.
(Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.)
Câu thứ ba, thứ tư nói lên khát vọng của Phạm Ngũ Lão là tận tâm phụng sự triều đại nhà Trần cho đến hết đời, lập được công danh sánh ngang với Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng (Khổng Minh) là quân sư số một của LƯU Bị, có mưu trí tuyệt vời. Song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng lại là lòng tuyệt đối trung thành với chủ. Ông đã từng phát biểu quan điểm của mình là: Cúi mình tận tụy, đến chết mới thôi. Trở lại câu thơ thứ nhất, ta thấy Phạm Ngũ Lão mới phụng sự được có mấy thu (tức là mấy năm), muốn được như Gia Cát Lượng thì ông còn phải phụng sự nhiều lắm, lâu lắm! Câu thơ thứ tư: Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu thực chất là một lời thề suốt đời trung thành với chủ tướng Trần Hưng Đạo của Phạm Ngũ Lão.
Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình.
Như thế ta có thể hiểu vì sao mà Phạm Ngũ Lão lại dùng từ thẹn. Cũng có thể đây là cách nói thể hiện khát vọng, hoài bão của ông là muốn noi gương thần tượng của mình, muốn sánh VỚI Vũ hầu.
Lấy gương sáng trong lịch sử cổ kim rồi soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấu vươn lên cho bằng người, đó là tòng tự ái, tự trọng đáng quý cẩn phải có ở một đấng trượng phu. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngụ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ. Ông đã dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra những cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.
Phạm Ngũ Lão suy nghĩ rất cụ thể và thiết thực: một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mà như vậy tức là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa. Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. Ông muốn sống cho xứng đáng với thời đại anh hùng, dân tộc anh hùng.
Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có trái tim vô cùng nhạy cảm của một thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng khí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại. Thuật hoài đã vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão đến muôn đời sau.
Xem thêm: Cảm nghĩ của em khi bước vào trường trung học phổ thông | Phân tích bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão | 1,499 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương
Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà. Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Dòng trữ tình trong thơ Tú Xương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía. Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương.
Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vẵng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sống,
Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:
“Nuôi đủ năm con với một chồng”
Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm.
Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động:
Xem thêm: Viết đoạn văn bàn về được và mất trong cuộc sống“Con cò lặn lội bờ sông
Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”
Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động.
Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công”
Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”:
“Năm nắng mười mưa dám quản công”
Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.
Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình.
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính.
Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.
Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú giành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!
Nguồn Edufly
Xem thêm: Các Mác nói: "Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”, Hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói trên | Phân tích bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương | 1,233 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tú Xương
Bài làm
Trần Tế Xương là một vị tú tài nổi tiếng ở đất thành Nam. Ông sáng tác rất nhiều bài thơ và để lại nhiều ấn tượng đối với những người yêu thơ. Bài thơ Thương Vợ là một trong những sáng tác hay nhất của ông. Bài thơ thể hiện tình cảm sâu sắc của Tú Xương dành cho người vợ của mình.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh bà Tú vất vả nuôi con:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng”
Từ “quanh năm” ở đầu câu thơ không chỉ mang ý nghĩa là thời gian kéo dài, năm này qua năm khác mà còn để gợi lên hình ảnh bà Tú đầu tắt mặt tối đi làm kiếm tiền để nuôi con. Công việc của bà chính là buôn bán, một công việc hết sức nặng nhọc và nhất là lại diễn ra quanh năm, không lúc nào được ngơi tay. Thêm vào đó, không chỉ nặng nhọc mà còn có sự nguy hiểm. Ông Tú không đùng từ “ven sông” mà lại là “mom sông”. Như ta đã biết thì “mom sông” chỉ là một khoảng đất nhỏ chìa ra lòng sông và đó là khoảng không gian chật hẹp hơn với ba bề là mặt nước. Có thể thấy đó là địa điểm chất chứa những mối nguy hiểm nhất định. Bà Tú phải đi làm quần quật quanh năm, phải chấp nhận những sóng gió, hiểm nguy chính bởi vì để có thể “Nuôi đủ năm con với một chồng”.
Phân tích bài thơ Thương Vợ
Ngay ở đầu bài thơ ta đã thấy được Tú Xương tự nhận mình là một kẻ ăn bám, một người đàn ông trụ cột của gia đình nhưng lại để cho người phụ nữ oằn lưng kiếm sống để nuôi con, nuôi mình. Ông không gộp năm con với mình thành sáu miệng ăn mà tách riêng còn mang theo ý nghĩa rằng một mình ông thì tiền sinh hoạt, ăn uống có khi bằng hoặc hơn cả năm đứa con mình cộng lại. Ông càng thấy vợ vất vả bao nhiêu thì càng cảm thấy mình vô tích sự bấy nhiêu, càng cảm thông cho nỗi vất vả, cực nhọc của vợ. Không chỉ thế ông còn dùng hình ảnh quen thuộc trong ca dao, dân ca để khắc họa rõ nét hơn sự cực nhọc của bà Tú:Xem thêm: Em chọn và phân tích cái hay của một tác phẩm văn học ở lớp 7 mà em thích nhất
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Thân cò ở đây tượng trưng cho bà Tú nói riêng và những người phụ nữ trong gia đình nói chung. Từ hình ảnh “Con cò lặn lội bờ ao” trở thành “lặn lội thân cò” như càng tô đậm thêm sự gian truân, ngược xuôi kiếm sống. Nhất là “thân cò” ấy vốn nhỏ bé nhưng lại kiếm sống không phải cho riêng bản thân mình mà còn cho “năm con với một chồng”. Câu thơ thứ ba nói về nơi vắng vẻ có thân cò lặn lội còn ở ngay câu dưới thì lại có sự đối lập. Từ “eo sèo” khiến cho ta liên tưởng đến trong công việc buôn bán của bà Tú có những người kỳ kèo mặc cả, cãi cọ nhau. Buổi đò đông còn
Với lời thơ nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng tình cảm chân thành, thiết tha của nhà thơ. Ông Tú càng thêm trân trọng bà Tú và thấu hiểu nỗi vất vả của bà để thay vợ nói lên lời tâm sự:
“Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công”
Nhà thơ đã sáng tạo từ “duyên nợ” thành “một duyên hai nợ” với ý nghĩa sâu sắc khi muốn nói rằng duyên số vợ chồng đến với nhau, duyên thì ít mà nợ thì nhiều. Tuy nhiên bà Tú lại không hề than thân, trách phận mà vẫn tần tảo nắng mưa. Chính sự nhẫn nhịn, chịu đựng đó khiến ông thấy được vợ của mình là một người rất nhân hậu và giàu đức hi sinh. Qua đó cũng phần nào cho thấy sự tự trách về việc không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha của ông Tú. Thậm chí ở ngay hai câu thơ cuối ông đã tự dằn vặt mình, tự chửi chính bản thân mình:Xem thêm: Thuyết minh về một nhà văn đã được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn 8
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không”
Không chỉ chửi anh chồng vô tích sự là mình mà còn chửi luôn cả cái thói đời bạc bẽo sản sinh ra loại chồng vô tích sự, ăn hại như ông. Tú Xương càng thấy vợ khổ cực bao nhiêu thì lại càng thấy mình ăn ở “bạc” bấy nhiêu. Câu thơ nhưng lời lên tiếng chửi mát tất cả những đấng mày râu đã và đang làm khổ vợ con mình, chẳng những không giúp được gì cho vợ mà còn để vợ nuôi mình. Đó cũng là tình cảnh phổ biến trong xã hội cũ.
Bài thơ Thương Vợ là tất cả tấm lòng biết ơn sâu sắc, là niềm thương cảm, thấu hiểu của Tú Xương đối với cuộc đời đầy gian truân, cực nhọc của bà Tú. Hình ảnh bà Tú hiện lên trong lời thơ của ông là biểu tượng cho những người phụ nữ Việt Nam với biết bao những phẩm chất tốt đẹp.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Thương Vợ của Tú Xương hay nhất | 947 | |
Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương
Hướng dẫn
Bài thơ Thương Vợ của Tú Xương đã tạo cho người đọc cảm nhận được sự hóm hỉnh hài hước trong thơ ông. Nhưng với ngòi bút tinh tế, sắc sảo cùng như tình cảm của tác giả với người vợ của mình lời thơ còn là cái cười chua chát về cuộc đời, về thân phận những người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ.
Mở đầu bài thơ, ông đã cho người đọc hình dung sự vất vả của vợ mình
"Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng"
Mom sông là nơi cheo leo, nguy hiểm khó khăn vất vả, hoàn toàn không phù hợp với những người phụ nữ chân yếu tay mền. Thế mà bà Tú vẫn mặc cảnh "mom sông", vẫn "quanh năm buôn bán", cuộc đời bà dường như gắn bó với chốn lầy lội chênh vênh này. Với cách làm ăn trên, ta dễ đoán cuộc sống gia đình bà Tú cũng rất chênh vênh. Thế mà bà vẫn "nuôi đủ năm con với một chồng" hai câu thơ sau lại đi theo một xu hướng hoàn toàn khác, đảo ngược suy nghĩ của người đọc. "Đủ" là thế nào? Có thể là cách nói của riêng ông Tú, tự ông cảm thấy vợ mình qúa đảm đang, cuộc sống gia đình mình mới được chu toàn. Như vậy là quá hạnh phúc, quá "đủ" rồi chăng? Cũng có thể hiểu "nuôi đủ" nghĩa là nuôi hết cả, không trừ ai. Cái chua chát trong cái hài hước là chỗ đó: một "ông chồng" cũng được xếp ngang hàng với những đứa con, để vợ phải "nuôi" (!) Ở đây còn có sự nhấn mạnh, đay lại, lặp lại các số từ: "năm con với một chồng". Các số từ "năm" và "một" ấy làm cho gánh nặng của bà Tú trong cuộc đời tần tảo vì chuyện sinh nhai càng trở nên nặng nề. Có vẻ trong ý thơ tác giả cũng có chút phê phán người chồng, một kẻ nam nhi nhưng vô dụng, phải sống nhờ vào sự tần tảo của vợ, đồng thời ca ngợi tấm lòng cao cả, đảm đang, giỏi giang của những người phụ nữ ấy. Bằng tình yêu gia đình, bằng sự cần cù chịu khó của mình, họ có thể cùng gia đình chéo chống vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Trong ca dao xưa, hình ảnh người phụ nữ tần tảo, chịu thương chịu khó thường gắn với hình ảnh con cò, ở đây tác giả cũng mượn hình ảnh con cò để nói về người vợ của mình.
"Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sè mặt nước buổi đò đông"
Sử dụng đảo ngữ với các từ gợi cảm "lặn lội" "eo sè", nhà thơ một lần nữa muốn tô đậm cái vất vả của bà Tú. Hình ảnh con còn ẩn dụ buộc ta chạnh nhớ đến câu ca dao thân thuộc.
"Con cò lặn lội bờ sông
Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm: Em ơi buồn làm chi... Sao xót xa như rụng bàn tay
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non"
"Tiếng khóc nỉ non"! Câu ca dao nghe mà xôn xang cả lòng.
Cũng giống như cò, bà Tú cũng gánh gạo nuôi chồng, nuôi con, một mình chống chọi với cuộc sống khắc nghiệt, chống chọi cả với những cô đơn. Nhưng con cò thì bật lên tiếng khóc còn bà Tú thì cam chịu với số phận của mình.
"Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng, mười mưa dám quản công"
Lời than không phải lời của Bà Tú mà chính là lời của Tú Xương than thay cho vợ mình. "Một duyên, hai nợ, ba tình", cái công thức mang đậm nét Á Đông xưa kia nói lên những mối phiền muộn ở đời lại được đặt vào bài thơ này. Cái sọi dây ràng buộc vô hình không phương tháo gỡ luôn thắt chặt lấy ông Tú với bà Tú. Hóa ra, cái khổ là do duyên, là bỏi bà Tú lấy phải ông Tú làm chồng (!) Vậy, nguyên nhân của nỗi khổ mà bà Tú phải gánh chịu là do ông Tú! Nhưng bà vẫn không hề phàn nàn, vẫn nhẫn nại và cam phận: "Năm nắng, mười mưa dám quản công". Các số từ một lần nữa lại được sử dụng một cách hữu hiệu để nói cái nỗi nhọc nhằn của bà Tú. Nói cách khác, ông Tú ở đây muốn động viên bà Tú một cách xót xa.
Viết Thương vợ, Trần Tế Xương thực ra còn có nỗi thương mình và xót xa thay cho thân tình thế thái. Cho nên hai câu thơ cuối không còn là tiếng cười hài hước chua chát mà là tiếng chửi, tiếng than thân trách phận mình:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không"
Chính những bất công trong cái thời đại ấy, chế độ ấy – nó đã khiến cho những kẻ tài năng như Tú Xương trở thành gánh nặng đối với gia đình. Tuy nhiên, ngay trong cái tiếng chửi vẫn còn có chất hài hước. Chửi "thói đời" nhưng mà cũng chửi mình. Chẳng có ai lại tự nêu nguyên nhân nỗi khổ của vợ lại chính là…. mình như vậy. Bằng ngời bút sắc sảo của mình, Tú Xương đã khắc họa lên hình ảnh những người phụ nữ Việt Nam cần cù chịu khó, tần tảo sớm hôm nuôi gia đình chồng con, cái phẩm chất ấy thật đáng quý, đáng tự hào.
Thương Vợ của Tú Xương là lời tâm sự, là sự phê phán của tác giả và những người có cùng hoàn cảnh như ông với cái xã hội thối nát lúc bấy giờ. Xã hội ấy đã dành mất chỗ đứng của những con người tài năng như ông, khiến ông thành kẻ bất lực, ăn bám vào người vợ yếu ớt của mình.
Nguồn: thêm: Cảm nghĩ về một tình huống đáng cười mà mình gặp trong cuộc sống | Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương | 1,028 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến.
Trung thu trăng sáng như gương. Tết Trung thu là Tết của trẻ nhỏ, người lớn thường bày cỗ trông trăng và làm nhiều đổ chơi cho các em. Ngày xưa, để khuyến khích con cháu chăm lo học hành, ông bà, cha mẹ hay tặng thứ đồ chơi đặc biệt là hình nộm ông tiến sĩ, gọi là ông tiến sĩ giấy hay ông nghè tháng Tám. Chỉ cần vài que tre, dăm ba miếng giấy màu là bàn tay khéo léo của nghệ nhân đã làm ra bộ dạng ông tiến sĩ ở thời điểm vinh quang nhất: lúc vinh quy bái tổ.
Bài thơ Tiến sĩ giấy nằm trong phần thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến. Nhưng trào phúng thường phải ngụ trữ tình mới hay. Mọi người đều biết Tam Nguyên Yên Đổ cũng là một ông nghè nổi tiếng tài ba, thừa hiểu tiến sĩ giấy chỉ là thứ đồ chơi cho trẻ con, vậy mà sao còn làm thơ chế giễu?
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến viết:
Cũng cờ, cúng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai!
Tác giả đang tả thực ông tiến sĩ giấy với đủ các thứ sang trọng vua ban cho ngày vinh quy như cờ, biển, cân đai và cũng gọi là ông nghè. Tại sao chỉ trong hai câu mà nhà thơ lại dùng một loạt bốn từ cũng? Đọc lên âm điệu giống như thể hiện thái độ ngạc nhiên trước một sự lạ. Người đọc ngầm hiểu là trong đời có những ông tiến sĩ những ông nghè thật, xứng đáng với các thứ cờ, biển, cân đai đó, còn ông tiến sĩ này tuy cũng đầy đủ các thứ và cũng được người đời gọi bằng ông nghè nhưng chẳng có chút giá trị nào, vì đó chỉ là một ông nghè giả làm bằng giấy. Nghĩa đen là thế, còn nghĩa bóng là tuy cũng có đủ thứ quý giá thật đấy nhưng tài cán, đức hạnh chẳng ra gì. Ngụ ý thâm thuý của Nguyễn Khuyến là vừa tả hình dáng ông tiến sĩ giấy, vừa gợi cho người đọc liên tưởng đến những kẻ tuy mang danh tiến sĩ, áo mũ xênh xang nhưng thật sự chẳng có một chút tài đức nào.
Hai câu thực tiếp tục phát triển ý nghĩa ấy:
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Với vài mảnh giấy xanh xanh, đỏ đỏ, người làm đồ chơi bồi bồi, dán dán thành hình một ông tiến sĩ giấy, mặt mày phết màu trắng rồi dùng màu son tô điểm cho đẹp. Phần ấy là giả. Còn thân giáp bảng (giáp bảng là bảng thứ nhất sơn vàng nên còn được gọi là bảng vàng), dùng để ghi danh những người đỗ đại khoa, từ tiến sĩ trở lên. Văn khôi nghĩa là tài giỏi về văn chương. Mặt văn khôi là cách gọi những tiến sĩ có tài xứng với học vị cao quý đó. Làm nên thân giáp bảng và điểm rõ mặt văn khôi đâu phải chĩ cần mấy mảnh giấy và vài nét son mà thành. Phải bao năm đèn sách, có khi suốt cả đời, lại phải là kẻ thông minh, tài cao, chí lớn, gặp thầy gặp bạn mới nên danh chứ đâu có dễ dàng gì. Tuy vậy, ở đời không ít những vị tiến sĩ bằng xương bằng thịt, học hàm học vị hẳn hoi nhưng cũng chẳng khác gì loại tiến sĩ giấy. Cái thân giáp bảng và mặt văn khôi chẳng qua cũng chỉ là kết quả của những mảnh giấy do chạy chọt bằng thế lực đồng tiền và những nét son vẽ vời bôi bác để che mắt thiên hạ. Dù sao, cái thật và cái giả ở đây cũng vẫn còn lẫn lộn, chưa phân biệt rạch ròi! Cái giả chưa được tác giả đem ra phê phán.
Hai câu luận:
Xem thêm: Phân tích - Bình giảng đoạn thơ sau trong bài "Việt Bắc" (10-1945) của Tố Hữu: "Những đường Việt Bắc của ta... Đèn pha bật sáng như ngày mai lên."Tấm thân xiêm ảo sao mà nhẹ,
Cái giá khoa danh ấy mới hời.
Không còn lấp lửng, bóng gió nữa, từ miêu tả bên ngoài, nhà thơ đã đi vào đánh giá bên trong, vẫn nói vể ông tiến sĩ giấy như: tấm thân nhẹ, cái giá hời bởi làm bằng giấy và bán giá rẻ mạt nhưng ý tứ đã vượt ra ngoài hình hài người giấy mà chĩa thẳng vào các vị khoác trên mình xiêm áo ông nghè nhưng tài năng, đạo đức nhẹ tênh, suốt đời không làm nổi việc gì xứng đáng với danh vị cao quý ấy. Vậy mà cũng vênh vang với Gái danh ông nghè, ông thám, thì quả là cái giá khoa danh ấy quá rẻ, quá hời, chĩ nhờ dịp may mà mua được. Ý nghĩa trào lộng, châm biếm sâu cay của đoạn thơ đến đây đã thể hiện rất rõ.
Như thế là không phải chỉ đến Tết Trung thu mới xuất hiện hàng loạt rrhững ông tiến sĩ giấy, mà tiến sĩ giấy hằng ngày có mặt khắp nơi. Trong đám quan lại của triều đình nhà Nguyễn cuối thế kĩ XIX, thiếu chi thân giáp bảng, mặt văn khôi nhưng cũng chẳng hơn gì loại tiến sĩ giấy. Lớp trước sợ giặc, hèn nhát đầu hàng. Lớp sau dựa vào lí lẽ tùy thời, ra làm quan với triều đình bù nhìn, ngoan ngoãn chấp nhận kiếp làm tay sai cho thực dân Pháp. Đến đây thì xiêm áo không chỉ nhẹ, khoa danh không chỉ hời mà đã thành dơ bẩn. Cho nên tác giả mới kết thúc bài thơ bằng hai câu nhận xét thâm thuý:
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
Trở lại với tựa đề bài thơ và hai đối tượng một hiện, một ẩn là ông tiến sĩ giấy và ông tiến sĩ bằng xương bằng thịt, chúng ta thấy giá trị chẳng khác gì nhau.
Có một điều lạ là giọng thơ Nguyễn Khuyến rõ ràng có ý phê phán, cười cợt nhưng không phải phê phán, cười cợt một cách thoải mái, hả hê mà phảng phất trong lời chế giễu ấy có cả sự tự chế giễu bản thân. Bởi cụ cũng là một ông nghè đích thực, hơn nữa là Tam Nguyên Yên Đổ nổi danh, nhưng trước tình cảnh tang thương của đất nước lúc bấy giờ, cũng đành thở dài ngậm ngùi, buông xuôi, bất lực.
Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ là lời bình phẩm theo kiểu nâng nhân vật lên cao để rồi bật ra cái cười mỉa mai chua chát, đắng cay khi phải phơi bày sự thực là tiến sĩ thật hay tiến sĩ giấy giờ đây cũng đểu là thứ đồ chơi mà thôi! Nỗi đau tuy chưa chảy thành nước mắt nhưng cứ rưng rức ở trong lòng nhà thơ.
Bài thơ Tiến sĩ giấy mới đọc qua tưởng chỉ ià một bài thơ vịnh vật đơn thuần nhưng suy ngẫm kĩ, ta sẽ thấy nó hàm ẩn chất trào phúng trữ tình sâu thẳm, thật đáng trân trọng.
Xem thêm: Phân tích hình ảnh người đàn bà làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”- Văn 12 | Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến | 1,237 | |
Phân tích bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
Hướng dẫn
..Bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ được nữ sĩ viết vào những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mĩ, in trong tập thơ ‘Hoa dọc chiến hào’ (1968). Bài thơ có 43 câu, trong đó có 39 càu thơ ngũ ngôn, bốn câu thơ có ba chữ. Câu thơ ‘Tiếng gà trưa’ được điệp lại bốn lần, cứ ngân vang mãi trong tâm hồn người lính trên đường hành quân ra trận, như tiếng gọi của quê nhà thân thương. Dòng cảm xúc từ hiện tại man mác và bâng khuâng trôi về những năm tháng tuổi thơ với bao kỉ niệm cảm động về đàn gà và ổ trứng hồng, về người bà đôn hậu, đã làm sâu nặng tình yêu đất nước quê hương. ‘Tiếng gà trưa’ là một âm thanh đồng vọng của gia đình, của xóm làng quê, trở thành hành trang của người lính trẻ.
1. Đoạn thơ đầu bảy câu nói về tâm trạng người chiến sĩ trên đường hành quân xa. Tiếng gà nhà ai nhảy ổ: ‘Cục… cục tác cục ta’ cất lên nơi xóm nhỏ. Tiếng gà nhà ai nhảy ổ là âm thanh bình dị, thân thuộc của làng quê ta đã bao đời nay. Đối với người lính trẻ lại vô cùng xúc động. Tiếng gà trưa đã làm ‘xao động’ nắng trưa và cả hồn người. Như cho người lính thêm sức mạnh mới. Như gợi nhớ tuổi thơ. Chữ ‘nghe’ được điệp lại ba lần với sự chuyển đổi cảm giác tinh tế đã làm cho giọng thơ thêm phần ngọt ngào, tha thiết, bồi hồi:
‘Cục… cục tác cục ta Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ’
2. Đoạn thơ thứ hai có 26 câu thơ. Càu thơ ‘Tiếng gà trưa’ được láy đi láy lại ba lần, một âm thanh hiện hữu đồng vọng gợi nhớ bao kỉ niêm sâu sắc một thời thơ bé. Nghe tiếng gà trưa, người lính trẻ sống lại, nhớ lại màu hồng trứng gà trên ổ rơm, nhớ lại đàn gà đông đúc mà bà đã tần tảo ‘chắt chiu’. Ta như được ngắm một bức tranh gà rất sống động, rất đẹp. Không phải là bức tranh gà Đông Hồ ngày xưa:
‘Tiếng gà trưa 0 rơm hồng những trứng Này con gà mái mơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng’
Nghệ thuật phối sắc của Xuân Quỳnh rất thần tình. Một gam màu sáng tươi mát dịu của bức tranh gà. Có màu hồng của trứng gà trong ổ rơm. Có sắc ‘đốm trắng’ của con gà mái mơ hoà. Có ‘lông óng như màu nắng’ của con gà mái vàng. Cấu trúc song hành đối xứng, chữ ‘này’ đẹp lại hai lần: ‘Này con gà mái mơ… Này con gà mái vàng…’. Ta cảm thấy tay bà, tay cháu đang chỉ, đang đếm những con gà mái tìm mồi trong sân nhà, vườn nhà thân thuộc…
Nghe tiếng gà trưa cất lên nơi xóm nhỏ, người lính lại bồi hồi nhớ lại bao kí niệm về bà. Quên sao được ‘tiếng mắng’ của bà vì tội cháu nhìn gà đẻ. Sợ bị lang mặt: ‘Cháu về lấy gương soi – Lòng dại thơ lo lắng’. Cháu nhớ mãi hình ảnh ‘Tay bà khum soi trứng…’. Bà tần tảo ‘chắt chiu’ từng quả trứng hồng ‘cho con gà mái ấp’. Là cháu nhớ tới bao nỗi lo, bao niềm mong ước của bà với tình thương bao la:
Xem thêm: Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
‘Khi gió mùa đông tới Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới’
Cái hay của thơ Xuân Quỳnh có lúc là ở những chi tiết nghệ thuật, tuy rất bình dị mà sống động nên thơ. Đó là cái ‘ổ rơm hồng những trứng’, là hình ảnh ‘tay bà khum soi trứng’. Đó là tiếng ‘sột soạt’ của bộ quần áo mới:
‘Ôi cái quần chéo go Ồng rộng dài quết đất Cái áo cánh chúc bâu Đi qua nghe sột soạt’
Tục ngữ có câu: ‘Già được bát canh, trẻ được'manh áo mới’. Cháu có bao giờ quên được cái quần chéo go, cái áo chúc bâu ngày xưa bà mua cho sau mỗi lần bán gà. Tinh thương cháu của bà đã tạo nên hạnh phúc tuổi thơ. Trang thơ nữ sĩ đã đi vào mạch sống đời thường một cách dung dị hồn nhiên.
3. Từ liên tưởng, nữ sĩ chuyển sang suy tưởng. Lần thứ tư câu thơ ‘Tiếng gà trưa’ lại cất lên. Tiếng gà gọi về những giấc mơ tuổi thơ của người lính trẻ:
‘Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng’
Tiếng gà trưa bình dị mà thiêng liêng, nó nhắc nhở, nó lay gọi bao tình cảm đẹp dâng lên trong lòng người chiến sĩ trên đường hành quân ra trận thời chống Mĩ cứu nước:
‘Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác 0 trứng hồng tuổi thơ’
Bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ có ba câu thơ hay nhất, đẹp nhất: ‘0 rơm hồng những trứng’, ‘Giấc ngủ hồng sắc trứng’, ‘0 trứng hồng tuổi thơ’. Tất cả đều nói về niềm vui hạnh phúc. Chữ ‘hồng’ là tính từ, làm chức năng vị ngữ, hình tượng thơ vừa đẹp, vừa biểu cảm.
Hơn 60 năn về trước, trong làn nắng mới và âm thanh đồng quê ‘xao xác gà trưa gáy não nùng’, thi sĩ Lưu Trọng Lư ‘rượi buồn’ nhớ về tuổi thơ, nhớ ‘nét cười đen nhánh’, nhớ màu áo đỏ của mẹ hiền nay người đã đi xa. Bằng Việt trong những năm du học ở nước ngoài, nhìn ngọn khói con tàu quê người, lại da diết nhớ về tuổi thơ, nhớ tiếng chim tu hú, nhớ bà, nhớ bếp lửa ‘ấp iu nồng đượm’ do tay bà nhen nhóm sớm hôm. Trong bài thơ cùa Xuân Quỳnh, nghe tiếng gà trưa, người chiến sĩ lại nhớ bà, nhớ ổ trứng hồng tuổi thơ. Xuân Quỳnh đã tìm được một cách nói mới về kỉ niệm tuổi thơ, về tình bà cháu chan hòa trong tình yêu quê hương đất nước.
‘Tiếng gà trưa’là một bài thơ hay, tha thiết ngọt ngào. Tiếng gà trưa cũng là tiếng vọng của quê hương, là tình hậu phương của anh bộ đội trong khángchiến chống Mĩ. Rất thơ và rất đẹp.
Nguồn: thêm: Văn mẫu cảm nghĩ về tình bạn hay nhất | Phân tích bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh | 1,129 | |
Phân tích bài thơ Tiểu Đội Xe Không Kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
Hướng dẫn
Phạm Tiến Duật sáng tác rất nhiều thơ về người lính. Thơ anh có phong cách rất riêng: giọng kể sinh động, cảm xúc chân thực, tươi trẻ pha lẫn cái ngang tàng, bụi bặm của những người lính Trường Sơn. Bài thơ về tiểu đội xe không kính là tiêu biểu cho phong cách sáng tác ấy của anh
Bài thơ Tiểu đội xe không kính ra đời năm 1969, khi cả nước đang tập trung toàn bộ sức người, sức của cho miền Nam đánh Mĩ. Con đường Trường Sơn ngày đêm đông nghịt phương tiện chuyên chở vũ khí, thuốc men, lương thực… phục vụ cho tiền tuyến lớn. Những đoàn xe vận tải vẫn rì rầm vào ra dưới mưa bom, bão đạn của quân thù để hoàn thành nhiệm vụ. Và đây, một tiểu đội xe trong biết bao tiểu đội. Những chiếc xe thật lạ kì:
"Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi"
Mới nghe, tưởng chừng như một lời giãi bày. Nhưng không, đọc kĩ lại thấy nó là lời giới thiệu, một lời giới thiệu tự nhiên như không. Bao hiểm nguy, chết chóc được nói đến một cách bình tĩnh đến lạ. Bom giật bom rung ghê sợ là thế, và đó cũng là nguyên nhân để những chiếc xe trở thành xe không kính. Vậy mà những âm thanh ấy vang lên trong hai câu thơ đầu thật nhịp nhàng. Có phải người lính đã không còn lạ với những đe dọa của chiến tranh, và họ lí giải mọi hiện tượng rất đơn giản. Thơ văn trong kháng chiến thường miêu tả sự vật mang tính ước lệ, riêng Phạm Tiến Duật lại dùng ngôn ngữ rất đời thường, giản dị.
Dù trong chiến tranh bom đạn những những người lính vẫn lạc quan yêu đời, bom đạn của kẻ thù đã làm chiếc xe không còn bộ phận để bảo vệ người ngời bên trong, nhưng trong buồng lái, người chiến sĩ lái xe cảm nhận tất cả từ bên ngoài:
"Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái."
Trong cuộc chiến đấu tranh để bảo vệ đất nước, chúng ta đã phải hi sinh rất nhiều người, những người lính ra chiến trường dù không biết sống chết thế nào họ vẫn lạc quan yêu đời. Trong bài thơ tư thế người lái xe được miêu tả chỉ bằng hai tiếng ung dung nhưng đã đủ toát lên tất cả tâm hồn của họ. Họ bình tĩnh lái xe, bình tĩnh đón nhận mọi hiện tượng từ bên ngoài. Sự tập trung chú ý của họ được diễn tả qua câu thơ thứ hai rất sinh động: Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Đất trời ấy cũng là phía trước. Con đường đứng trước mặt là mục tiêu để họ lái xe đi. Không có kính, xe lao đi bất chấp hiểm nguy. Và mọi thứ từ bên ngoài ùa vào qua ô cửa sổ vỡ ấy là một thử thách. Thế nhưng người lái vẫn mở to mắt để nhìn thấy tất cả, để chọi lại với tất cả. Gió, bụi cát… làm mắt mờ đi. Nhưng điều đó có hề gì. Anh vẫn đang nhìn thấy con đường trong tốc độ xe lao nhanh. Đường phía trước là đường chạy vào trái tim, là đường đến với miền Nam ruột thịt. Biến hiện thực thành lãng mạn, biến gian nguy thành niềm vui sống đó là cảm hứng sáng tác của Phạm Tiến Duật. Hai câu cuối của khổ thơ này thể hiện rõ điều đó: mọi thử thách từ bên ngoài lui đi, chỉ còn hình ảnh đầy lãng mạn: sao trời và cánh chim ùa vào buồng lái. Ra với thiên nhiên, người trở nên phơi phới hơn. Và rõ ràng, người lái xe đang cảm nhận được tất cả, qua một loạt các từ nhìn, nhìn thấy, thấy ở các câu thơ trên.Xem thêm: Dựa vào suy ngẫm của nhà văn Nguyễn Tuân về kết thúc truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hãy tưởng tượng và viết tiếp truyện Tắt đèn
Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ "gió","con đường" đến cả "sao trời", "cánh chim". Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh "những cánh chim sa, ùa vào buồng lái" thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh "con đường chạy thẳng vào tim" gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.
Những khó khăn vừa nêu trên vẫn còn trừu tượng lắm, phải đến hai câu thơ sau tất cả mới được bày ra cụ thể: Không có kính, ừ thì có bụi, không có kính ừ thì ướt áo, nghe lại vẫn giọng điệu thản nhiên như ban đầu. Và thản nhiên hơn, nghe như ngang tàng hơn, đó là thái độ của người lái:
"Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc.
Nhìn nhau một lần cười ha ha.
Mưa ngừng, gió lùa khô ngay thôi.
Những chiếc xe từ trong bơm rơi"
Cái giọng cười ha ha thật sảng khoái ấy đã đẩy lùi mọi vất vả về phía sau. Rõ ràng, với người lính lái xe, tất cả mọi thử thách ấy đều trở nên không còn đáng sợ.Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại "tiếng hát át tiếng bom", họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. Câu thơ "nhìn nhau mặt lấm cười ha ha" biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy. Xe chạy, rồi xe dừng, cuộc sống người lính vẫn tiếp diễn trong cái lạc quan mà trữ tình rất riêng ấy:Xem thêm: Kể lại câu chuyện Những hạt thóc giống bằng lời của nhà vua
"Những chiếc xe từ trong bơm rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi".
Hình như chính ô cửa vỡ ấy khiến họ gần nhau thêm khiến cái bắt tay của họ thêm chặt hơn, và tình đồng đội lại càng thêm thắm thiết. Cái bắt tay qua ô cửa kính vỡ như sự chia sẻ, cảm thông lẫn nhau của những người lính Trường Sơn. Học cùng nghỉ ngơi, cùng ăn uống và lại vẫn chân thật thốt nên lời:
"Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy"
Sau tất cả, những chiếc xe, những chiếc xe lại tiếp tục hành trình: lại đi, lại đi trời xanh thêm. Mỗi lần nghỉ là một lần tiếp thêm sức mạnh để họ lên đường.
Khổ thơ cuối cùng vang lên, hình ảnh những chiếc xe trụi trần đến kinh ngạc. Các từ không được lặp lại để diễn tả cái trạng thái trụi trần ấy:
"Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước"
"Trời xanh thêm" vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. "Trời xanh thêm" vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc. Nào đâu phải chỉ là không có kính. Bom giật, bom rung trên kia còn làm một chiếc xe bị thương nhiều hơn. Những vết xước trên thân mình nó càng khẳng định những thử thách, khó khăn mà người lái xe phải vượt qua. Hai câu cuối hạ xuống nhẹ nhàng mà trầm lắng bất ngờ:Xem thêm: Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Mọi người trong xã hội phải được đối xử bình đẳng
"Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim."
Đối lập hoàn toàn với hai câu thơ đầu. Và hình ảnh trái tim là hình ảnh quán xuyến tất cả. Hình ảnh hoán dụ có giá trị gợi tả đặc biệt: trái tim ở đây là con người biết yêu thương. Biết ý thức được mục đích của việc mình làm, trái tim ở đây là người chiến sĩ. Và nhờ trái tim ấy mà người lính điều khiển được những chiếc xe không kính lao đi trong mưa bom bão đạn. Có người cho rằng: rõ ràng ở đây là trái tim cầm lái. Phải chăng, câu thơ cuối với hình ảnh này đã làm sáng lên toàn bộ bài thơ, sáng lên với chủ đề của tác phẩm và sáng lên ý thức sáng tác của nhà thơ. Hình ảnh trái tim đã trở thành mắt thần, thành điểm sáng của bài thơ là vậy.
Và những chiếc xe lại lao đi. Tất cả cho tiền tuyến, mệnh lệnh của Tổ quốc và cũng là mệnh lệnh của trái tim người. Dẫu thân mình xe có xác xơ đến mấy, dẫu những ô cửa vẫn đang trống hoác thì trái tim sẽ vẫn cứ lái vững vàng.
Bằng ngòi bút của Phạm Tiến Duật, bài thơ mang âm hưởng chiến trường rất rõ. Cùng với Lửa đèn cùng Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Nhớ, tác phẩm này đã làm nức lòng bao thế hệ thanh niên thời chống Mĩ. Và cho đến hôm nay, bài thơ vẫn có vai trò lịch sử tích cực. Nó giúp chúng ta hiểu hơn về tâm hồn, tình cảm và cuộc sống của các chiến sĩ Trường Sơn. Có lẽ chúng ta những học sinh, sẽ sống tốt hơn khi nghĩ về thế hệ cha anh đi trước.
Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975.
Nguồn: | Phân tích bài thơ Tiểu Đội Xe Không Kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật. | 1,902 | |
Truyện Kiều là một kiệt tác của Nguyễn Du và là kiệt tác của văn học Việt Nam. Trong Truyện Kiều, chúng ta đã được học nhiều đoạn trích, trong đó có đoạn trích Trao duyên. Đoạn trích này có nội dung nói về cuộc trao duyên giữa hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân.
Để hiểu và có thể phân tích bài thơ Trao duyên được tốt nhất, các em cần lập dàn ý chi tiết cho bài văn cũng như đọc tham khảo nhiều bài văn mẫu. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho các em dàn ý và bài mẫu của đề văn phân tích bài thơ Trao duyên.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Trao duyên
1. Mở bài
– Giới thiệu về Nguyễn Du, Truyện Kiều và đoạn trích Trao duyên
– Trao duyên là đoạn trích có nội dung đặc sắc trong bài thơ Truyện Kiều.
– Đoạn trích thể hiện được tình cảm mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.
2. Thân bài phân tích bài thơ Trao duyên
Kiều trao duyên
– Kiều dùng những lời lẽ đầy kính cẩn để trao lại tình yêu của mình cho Thúy Vân.
– Mối tình dù vừa chớm nở nhưng vẫn vô cùng sâu đậm.
– Lời nhờ cậy khiến cho Vân không thể từ chối.
– Kiều đặt trọn vẹn niềm tin vào Vân.
– Từng lời của Kiều đều chặt chẽ, chính xác.
– Lý do trao duyên Kiều đưa ra hết sức thuyết phục.
Kiều trao kỉ vật cho Vân
– Kiều trao kỉ vật hẹn ước của mình và Kim Trọng cho Vân.
– Kiều coi như mình đã chết.
– Nỗi đau trong lòng Kiều khi phải trai duyên cho em.
3. Kết bài
– Tổng quát lại nội dung đoạn trích và nêu cảm nghĩ của em về đoạn trích này.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Trao duyên
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm được xếp vào hàng kiệt tác của thi ca. Bài thơ như một câu chuyện kể về cuộc đời của nàng Kiều với 15 năm lưu lạc, trải qua nhiều biến cố trong cuộc đời. Đoạn trích Trao duyên là một đoạn trích hay. Nội dung trong đoạn trích khiến người đọc không khỏi xúc động vì tình cảm của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng. Quả thực, không có gì đau đớn hơn việc phải trao lại mối lương duyên của mình cho người khác.Xem thêm: Phong tục lễ cưới hỏi Việt Nam
Duyên số, duyên phận, duyên tình, đó đều là những thứ vô cùng tự nhiên và không thể nào gượng ép được. Hai người gặp nhau, yêu nhau đó là cái duyên của họ. Các cụ xưa thường nói, ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên. Vậy mà trong đoạn trích này, Thúy Kiều đang “ép” Thúy Vân phải nhận lại mối lương duyên của mình. Thúy Kiều và Kim Trọng đã từng có với nhau lời hẹn ước, nhưng nay vì biến cố gia đình, Kiều phải bán thân mình để chuộc cha đồng nghĩa với việc Kiều phải từ bỏ mối lương duyên của mình với Kim Trọng. Nghĩ thương người yêu và không muốn phản bội lại lời hẹn ước, Kiều muốn Thúy Vân thay mình vừa gánh vác chuyện gia đình, chăm lo cho cha mẹ, vừa nhận lại mối tơ duyên của mình. Đó là lý do vì sao diễn ra cuộc trao duyên này.
Phân tích bài thơ Trao duyên
Biết việc này là quá khó khăn với Thúy Vân bởi có ai là không muốn tự đi tìm hạnh phúc riêng của bản thân mình. Vậy nên với vị trí là một người chị, Thúy Kiều vẫn tỏ ra lễ phép, kính cẩn thay vì ép buộc:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Hai câu thơ toát lên biết bao nhiêu nỗi chua xót, dằn mặt và chắc hẳn để nói ra được những lời như vậy thì Thúy Kiều đã phải tốn không ít nước mắt. Những từ ngữ như lạy, thưa thể hiện một thái độ thành kính. Thúy Kiều đã đặt Vân vào trong một tình cảnh vô cùng khó, khiến cho Vân bị động và buộc phải nghe theo những lời chị gái của mình nói. Có lẽ với hai câu mở đầu này, Thúy Vân vẫn chưa hiểu điều gì sẽ xảy đến với mình sắp tới. Không ai có thể đoán biết được Thúy Kiều sẽ trao duyên như vậy.Xem thêm: Bàn về Hai Bà Trưng
Tiếp theo lời mở đầu ấy, Thúy Kiều đã giãi bày nỗi lòng của mình bằng những câu thơ nghe thôi mà như dao cứa vào tận trong tim:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Đọc đến đoạn thơ này, chúng ta có thể hiểu được cậy ở đây chính là cậy nhờ, nó mang một chút ép buộc nhưng cũng có sự cầu xin. Giữa hai bên, một bên tình, một bên hiếu, Thúy Kiều đã chọn chữ hiếu và đặt chữ hiếu lên hàng đầu. Vậy nhưng nàng không muốn phụ Kim Trọng. Nàng nói đứt gánh tương tư để ám chỉ mối duyên tình đã vỡ, đã đứt gánh giữa đường. Không muốn Kim Trọng phải đau lòng, Thúy Kiều đã nhờ vậy Thúy Vân thay mình nối tiếp mối lương duyên này.
Với tính cách và tài năng của mình, Thúy Kiều đã khéo léo khi cậy duyên em gái, cậy tình máu mủ ruột già để cho Thúy Vân không nói được câu từ chối:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Nhắc đến ngày xuân của Thúy Vân, Thúy Kiều hiểu tuổi thanh xuân của em gái mình còn rất dài. Kiều hiểu nỗi khổ của Thúy Vân bởi nếu như không có sự việc này thì Thúy Vân có thể tìm được tình yêu đích thực của riêng mình. Thế nhưng xót tình máu mủ, Thúy Kiều muốn Thúy Vân nể tình chị em máu mủ mà thay mình thay lời nước non cùng với Kim Trọng. Có như vậy thì dù có thịt nát xương mòn nơi đất khách Thúy Kiều cũng có thể mỉm cười. Những lời nói chân tình như dao cứa ấy làm sao Thúy Vân có thể chối từ.Xem thêm: Phân tích 13 câu đầu trong bài Vội vàng của Xuân Diệu
Kiều nghĩ tới tương lai mù mịt của mình, nghĩ đến cái chết nhiều hơn là sự sống. Có lẽ cũng bởi với nàng giờ đây cuộc sống như là cõi chết. Tâm hồn nàng đã mất đi kể từ lúc nàng quyết định bán thân mình để chuộc cha. Cái chết càng hiện lên rõ hơn trong những lời nói tiếp theo:
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đèn nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan
Đọc những lời này, ta thấy xót thương cho số phận của nàng Kiều. Đau khổ và bế tắc, trong lòng Kiều chồng chất những nỗi đau. Với việc sử dụng từ ngữ mạnh, Nguyễn Du đã khiến cho người đọc cảm thấy xót xa hơn cho cuộc đời của nàng Kiều.
Qua đoạn trích Trao duyên, chúng ta thấy được tình cảm chân thành và mãnh liệt của Thúy Kiều. Qua đây, cũng xót thương cho số phận của những người phụ nữ xưa kia. Họ không có quyền tự quyết định cuộc sống của mình.
Trên đây là dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Trao duyên cùng với bài viết mẫu cho các em tham khảo. Tài liệu này sẽ giúp ích nhiều cho các em để học tập được tốt hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Trao duyên trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (Có dàn ý chi tiết) | 1,357 | |
Phân tích bài thơ Triệu Ẩu rút trong Hồng Đức Quốc âm thi tập.
Hướng dẫn
Triệu Ẩu
Cao một trượng, cá mười vắng
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng.
Họp chúng rừng xanh oai náo nức
Cỡi đầu voi trắng tiếng vang lừng.
Mác dài trỏ vẫy tan dàn giặc,
Ngôi cả lăm le học họ Trưng.
Ví có anh hùngduyên định mấy,
Thì chi Đông Hán dám hung hăng.
(Trích "Hồng Đức Quốc âm thi tập")
Phân tích bài thơ “Triệu Ẩu” rút trong “Hồng Đức Quốc âm thi tập”.
Bài làm
“Hồng Đức Quốc âm thi tập” là tác phẩm của vua Lê Thánh Tông và các thi sĩ trong “Hội Tao Đàn” vào nửa cuối thế kí XV. Tập thơ gồm có 324 bài thơ Nôm, đề tài đa dạng và phong phú. Phần lớn là thơ vịnh cảnh, có một số vịnh sử – ca ngợi những anh hùng liệt nữ.
Bài thơ "Triệu Âu” là một bài thơ vịnh sử độc đáo, rút trong “Hồng Đức Quốc âm thi tập”. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Hai câu đề gợi tả ngoại hình cao to, phi phàm của Triệu Ẩu. Thân cao một trượng, to lớn "củ mười vầng”, tóc dài đến ngang lưng, “vú chấm sừng” – dài chấm ngà voi, một nét vẽ thậm xưng, gợi lên sự dũng mãnh, phi thường của Triệu Âu:
“Cao một trượng, cả mười vầng,
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng’’.
Hai câu thơ phần thực đối nhau nói về Bà Triệu khởi nghĩa, cưỡi voi trắng trong tư thế oai hùng ra trận. Rừng xanh được nhà thơ nhắc tới là Ngàn Nưa thuộc tỉnh Thanh Hoá:
“Họp chúng rừng xanh oai náo nức,
Cỡi đầu voi trắng tiếng vang lừng.”
Sử sách còn ghi rõ: Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt phất cờ khởi nghĩa vào năm 248 tại Ngàn Nưa thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nghĩa quân trong quận Cửu Chân kéo về tụ họp đông tới hàng vạn người. Bà đã từng nói lên chí khí của người phụ nữ nước ta quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm để giành lại độc lập cho giang sơn Tổ quốc:
Xem thêm: Phân tích giá trị thẩm mĩ của đoạn thơ sau: "Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn" (“Đò Lèn" - Nguyễn Duy)“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người! ”
Các từ ngữ "oai náo nức” và "tiếng vang lừng” diễn tả khí thế long trời chuyển đất của nghĩa quân.
Hai câu luận nói lên ý chí chiến đấu lẫm liệt của Bà Triệu và nghĩa quân:
“Mác dài trỏ vẫy tan đàn giặc,
Ngôi cả lăm le học họ Trưng”
Không phải là gươm báu gươm thần mà chỉ là mác dài, nhưng giặc Đông Ngô đã bị đánh tan tác dưới cái “trỏ vẫy" của người nữ anh hùng. “Mác dài trỏ vẫy ” vung lên, hàng nghìn hàng vạn nghĩa quân xông tới như nước vỡ bờ. Đó là khí thế quyết chiến quyết thắng. Bà Triệu quyết noi gương Hai Bà Trưng để giành lại "ngôi cả ” – nền độc lập tự chứ cho dân tộc.
Hai câu kết dí dỏm và trang nhã gợi lên cho người đọc bao cảm xúc tự hào:
“Ví có anh hùng duyên định mấy,
Thì chỉ Đông Hán dám hung hăng”.
Nhà thơ nêu lên một giả thiết tạo nên một ý tưởng dí dỏm. Giá mà Triệu Thị Trinh sánh duyên cùng một nam anh hùng thì giặc Đông Hán (Đông Ngô) sẽ bị thảm bại, đâu còn dám hung hăng nữa. Dí dỏm ở chỗ nếu câu hỏi ngầm: bọn nam nhi sao lại vắng bóng giữa thời loạn mà chỉ thấy nữ nhi anh hùng, chí thấy Bà Trưng rồi Bà Triệu…
Hai câu kết ca ngợi và biểu lộ niềm tự hào về truyền thống yêu nước và chí khí anh hùng của người phụ nữ Việt Nam. Vịnh Triệu Ẩu mà nói lên được ý tưởng cao đẹp đó là sự thành công của một bài thơ vịnh sử ra đời cách chúng ta hơn 5 thế kỉ.
Đọc bài thơ “Triệu Ẩu’’ trong "Hồng Đức Quốc âm thi tập”, ta như được sống lại những năm tháng quật khởi oai hùng của dân tộc ta dưới nghìn năm Bắc thuộc. Bài thơ như một tượng đài tráng lệ về người nữ anh hùng dân tộc lẫm liệt và cao cả vô song.
Bài thơ "Triệu Ẩu “ đã đồng hành với bài ca dao làm sống dậy trong lòng người hình ảnh bất diệt người nữ anh hùng Ngàn Nưa 800 năm về trước:
"Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi Bờ Triệu Tướng cưỡi voi bành vàng”.
Nguồn: thêm: Phân tích nội dung và nghệ thuật Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ | Phân tích bài thơ Triệu Ẩu rút trong Hồng Đức Quốc âm thi tập. | 856 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
Bài làm
Trong phong trào Thơ Mới 1930-1945 nhà thơ Huy Cận được nhiều người biết đến với phong cách thơ rất riêng. Thơ của ông thường mang theo nỗi ưu sầu nhân thế nhưng đồng thời cũng ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên. Bài thơ Tràng Giang chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông trước Cách mạng tháng Tám.
Tràng Giang được trích từ tập Lửa Thiêng và được sáng tác khi ông đang đứng ở bên bờ của sông Hồng. Trước cảnh mênh mông sóng nước, mây trời có lẽ khiến cho người thi sĩ càng thêm cảm nhận được kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời. Mang theo những cảm nhận đó cùng với nỗi buồn u hoài khiến cho bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển lại vừa có tính hiện đại.
Ngay từ nhan đề của bài thơ thì thi sĩ đã gợi tới một nét đẹp cổ điển khi sử dụng từ Hán Việt. Tràng Giang có nghĩa là sông dài, đồng thời cũng nói lên hình tượng trung tâm của bài thơ. Vần “ang” kéo dài hai tiếng tiêu đề gợi cho người đọc không chỉ về dòng sông dài vô tận mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Khác với những nhà thơ cùng thời khi thể hiện cái tôi của mình thì Huy Cận lại ẩn sau sự mênh mông của sông nước. Nhà thơ không tìm đến thiên nhiên để hòa nhập, để giao cảm với đời mà ông đến với thiên nhiên để nhờ thiên nhiên mà biểu hiện sự ưu tư, phiền muộn về kiếp người cô đơn, nhỏ bé giữa vũ trụ bao la, vô tận. Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đây chính là “bâng khuâng”, một nỗi nhớ khó tả, một nỗi buồn, lạc lõng. Trước cảnh trời rộng, sông dài khiến cho con người càng thêm nhỏ bé, hiu quạnh. Lời đề từ như đã khái quát nên toàn bộ nội dung của bài thơ.
Ngay ở những câu thơ đầu thì người đọc đã bắt gặp khung cảnh trầm buồn:Xem thêm: Phân tích tác phẩm Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Ở những vần thơ trên toát lên một vẻ đẹp cổ điển tinh tế. Đó là việc tác giả sử dụng các từ láy “điệp điệp”, “song song” đầy sức gợi hình, gợi cảm khiến cho câu thơ mang nét Đường Thi. Trên con sông dài ấy thì hình ảnh đầu tiên mà nhân vật trữ tình hay chính là tác giả chú ý đến chính là những con sóng. Những con sóng như nối tiếp nhau trùng trùng, điệp điệp chạy xa tít không thấy điểm cuối. Sóng giống với con người mang tâm trạng u hoài, dường như sóng cũng có tình cảm cảm xúc đó chính là “buồn điệp điệp”. Song song với con sóng ấy chính là con thuyền xuôi mái, một con thuyền như lờ lững trôi chứ chẳng hề vội vã. Qua những hình ảnh ban đầu đó khiến chúng ta như lặng đi trước thiên nhiên quá đỗi mênh mông, hoang dại.
Phân tích bài thơ Tràng Giang
Dòng sông mênh mông, bát ngát mà nỗi buồn của nhân vật trữ tình cũng dâng đầy. “Thuyền” và “nước” luôn gắn liều với nhau, thế nhưng Huy Cận cảm thấy như cả hai đang tách riêng mỗi bên mỗi ngả. Cả thuyền và nước dường như đều chất chứa nỗi buồn mênh mang khi phải xa cách nhau, nỗi buồn ấy không phải hai hướng mà là “trăm ngả”, một nỗi buồn như vô hạn, không thấy hết được. Giữa cái rộng lớn, mênh mông của dòng sông, của nỗi buồn thì tâm trạng của chủ thể trữ tình đã được bộc lộ qua câu thơ” Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Phía trước đó là “trăm ngả” đối lặp với “một cành” đã cho thấy sự nhỏ bé, cô đơn của con người, của tác giả khi đứng giữa thiên nhiên.
Huy Cận rất tài tình trong việc tả cảnh ngụ tình. Chỉ với 4 câu thơ ngắn ngủi và không hề nhắc tới con người nhưng người đọc vẫn cảm nhận sâu sắc về tâm trạng, tình cảm, cảm xúc của nhân vật. Hình ảnh “củi một cành khô” như hé mở nên tâm trạng của nhân vật trữ tình và nó gợi mở nhiều hơn qua những câu thơ tiếp theo:Xem thêm: Phân tích bài Thơ Duyên của Xuân Diệu
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”
Chỉ trong một câu thơ nhưng lại có đến hai từ láy đó là “lơ thơ” và “đìu hiu”, qua đó khắc họa nên một quang cảnh vắng vẻ, thê lương. Đối lập với “tràng giang” đó là “cồn nhỏ”, càng tô đậm cho sự nhỏ bé. Đến đây ta mới thấy trong bài thơ xuất hiện âm thanh về sự sống của con người. Nhưng âm thanh của chợ chiều ấy lại ở xa tít tắp nên nhà thơ chỉ nghe thấy thấp thoáng, không rõ ràng. Câu thơ giống như khát vọng, mong mỏi của nhân vật trữ tình về một khung cảnh có sức sống, có hoạt động của con người. Tuy nhiên mong mỏi đấy dường như lại quá xa vời trong thực tại.
Bỏ lại âm thanh vang vọng phía xa, nhà thơ lại tiếp tục dõi theo cảnh vật thiên nhiên ngay trước mắt:
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
Từ đầu bài thơ mặc dù ta bắt gặp ít âm thanh nhưng sự chuyển động của thiên nhiên là có, đó là sự chuyển động của “con thuyền xuôi mái”, của củi “lạc giữa dòng”. Đến với khổ thơ thứ hai này thì thiên nhiên giống như gợi lên sự chuyển động, mở rộng về không gian. Nắng và trời dường như chuyển động về hai hướng ngược chiều nhau khiến chúng càng trở nên xa cách. Những gì thuộc về thiên nhiên, vũ trụ thì mênh mông, to lớn đó là “sông dài, trời rộng” còn những gì thuộc về con người thì lại “cô liêu”. Hai câu thơ với những thi liệu quen thuộc trong thơ cổ đã khắc họa tài tình về cảnh vật nhưng đồng thời cũng làm nổi rõ lên sự trái ngược giữa con người và cảnh vật.Xem thêm: Văn nghị luận: Thời gian của người nghèo
Từ trời mây nhà thơ như lại rơi ánh mắt về dòng sông với mong muốn kiếm tìm một thân ảnh quen thuộc nhưng càng tìm kiếm thì lại càng cảm thấy cô liêu, hiu quạnh:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cần gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
Hình ảnh cánh bèo trôi giữa dòng tương đồng với cành củi khô ở khổ một. Ta đều thấy một sự bấp bênh, vô định, không biết nay đây mai đó ra sao. Nó giống như cuộc đời con người khi trải qua mỗi ngày trên nhân thế. Tiếp nối “bờ xanh tiếp bãi vàng” chính là hình ảnh cổ điển xen với nét đẹp hiện đại:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”
Mây trời như đang có sự chuyển động “đùn”, giống như nhiều lớp mây cứ đùn ra mãi, không giới hạn. Chủ thể trữ tình đã dành thời gian cả buổi đến hoàng hôn để ngắm cảnh sông nước. Bóng chiều như đè nặng lên đôi cánh bé nhỏ khiến những chú chim như phải bay nghiêng để trở về tổ. Trong thơ cổ khi nhắc tới chiều tà vừa là khoảng thời gian kết thúc một ngày làm việc, chim mỏi cánh về chỗ ngủ đồng thời cũng là thời điểm mà con người ta dễ dàng xúc động và mang tâm trọng buồn man mác. Chính vì thế mà Huy Cận đã cho chúng ta chính thức bắt gặp tâm trạng của chính nhà thơ hay của nhân vật trữ tình trước thời cuộc:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Bài thơ Tràng Giang là một thi phẩm vừa mang nét đẹp cổ đại lại vừa có tính hiện đại. Chính nhờ hai vẻ đẹp ấy mà độc giả càng thêm khắc sâu cảnh sắc thiên nhiên sông nước rộng lớn và tình cảnh nhỏ bé, cô liêu của con người giữa cảnh vật ấy.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận hay nhất | 1,461 | |
Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận.
Hướng dẫn
Tràng giang miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, đồng thời thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình. Đó là tâm sự thầm kín của tác giả, thể hiện nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên.
Trước hết ta chú ý đầu dề bài thơ là Tràng giang chứ không phải “Trường giang”, để ta không lầm với sông Trường Giang, Trung Quốc, hay con sông dài nói chung. Trong tiếng Việt “tràng giang” thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải”, chỉ một hiện tượng mênh mông bất tận.
Mở đau bài thơ đúng là một cảnh sông nước mênh mồng bất tận.
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả.
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Ngay ở câu đầu của bài thơ, tác giả đã nhắc đến một nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bàng một hình ảnh ẩn dụ: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp. Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định, ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng (xuôi mái) theo dòng nước nhưng thuyền và nước chỉ “song song” với nhau, chứ không gắn bó gì với nhau. Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. Câu thứ ba đã nói tới sự chia li: thuyền về, nước lại sầu trăm ngả. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi lạc lõng vô định.
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Tác giả lưu ý, không phải là gỗ, thân gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gẫy, khô xác của thân cây.
Cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững, hiện ngang trước mắt nhà thơ. Những đường nét song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng, không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa rời. Trên con sông đó một con thuyền một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi, bất lực. Ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.Xem thêm: Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ của khổ đầu…
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiểu
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Một cái cồn nhỏ, lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, càng thêm vắng vẻ buồn bã hơn, như bị cuộc sống bỏ quên. Huy Cận nói, ông đã đọc được chữ “đìu hiu” trong câu thơ Chinh phụ ngâm: “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” cũng nói về cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của cuộc sống náo động của các phiên chợ, của làng quê nghe rất xa vắng, càng tăng thêm cảm giác bị bỏ quên ở đây. Hai dòng cuối càng tô đậm thêm cảm giác lạc lõng: nắng xuống, trời lên không chỉ gợi ra khung cảnh nắng chiều, mà bản thân hai hướng lên xuống, như không ăn nhập với nhau, và sông dài, trời rộng càng tăng thêm cái vắng vẻ của bến sông. Cô liêu và vắng vẻ. Trong hai dòng này nhà thơ đã đem đặt bên nhau những yếu tố vốn không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn. Giữa các yếu tố đó đều có đặt dấu phẩy (,).
Khổ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về sự hờ hững, mất hết liên lạc giữa các sự vật.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Vẫn các sự vật đặt bên nhau: bèo hàng nối hàng, bờ xanh tiếp bãi vàng, hai bờ sông mênh mông không cầu, không đò ngang, tạo thành một thế giới không liên hệ. Từ sóng, thuyền, củi, dòng trôi đến cồn nhỏ, làng xa chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên sông dài, trời rộng, bến vắng, cả hai bờ cũng không có đò ngang, không cầu, bờ tiếp nối bờ lặng lẽ… Mọi vật thì vẫn có, nhưng không vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau.Xem thêm: Nhà hoạt động chính trị Vũ Khoan nhắc nhở thế hệ trẻ: "chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới" (Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan, SGK Ngữ văn 9, tập 1). Hãy viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ về việc "chuẩn bị hành trang" của em
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Lớp lớp mây cao đùn ra thành từng núi mây bạc, chữ “đùn” mượn từ thơ cổ của Đỗ Phủ, nói rằng mây trôi ra, lừng lững như núi trên trời. Cánh chim nghiêng nghiêng bay về tổ ấm được cảm nhận như chịu sức nặng của bóng chiều đè xuống. Bóng chiều mông lung bỗng trở thành có hình có khối như có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Và cánh chim bay đi đâu cho thoát khỏi cái bóng chiều đang đè nặng xuống mình?
Lòng quê là lòng nhớ quê hương, lấy từ hai chữ “hương tâm”, chứ không phải là tấm lòng chất phác, quê mùa. Dợn là gợn lên, như ta nói sóng dợn, chỉ một chất lỏng xao động chuyển động dâng lên, uốn xuống. Dợn dợn là dợn liên tục, nhiều lần, hô ứng với chữ “sóng gợn”, “điệp điệp” ở dòng đầu bài thơ, không phải là dờn dợn, chỉ mức độ xao động thấp. Chính vì vậy mà nhà thơ phiền lòng khi thấy người ta đọc chệch thành “dờn dợn” hay “rờn rợn”, làm mất ý nghĩa câu thơ.
Cả câu này có nghĩa là lòng nhớ quê hương dâng mãi lên khi phóng tầm mắt nhìn con nước. Chữ “vời” cũng hay, ta cảm thấy như gặp ý câu Kiều:
Bốn phương mây trắng một màu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?
Lòng nhớ quê được gợi lên từ mây trắng từ cánh chim chiều, nhưng mạnh hơn là từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Viết câu thơ này chứng tỏ Huy Cận đã biết có câu thơ Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu do Tản Đà dịch:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Nhà thơ dựa ý thơ Thôi Hiệu để nói ý mình.Xem thêm: Thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam
Nhiều người, kể cả nhà thơ, khi đọc đến câu này đều nói rằng Huy Cận buồn hơn Thôi Hiệu. Bởi Thôi Hiệu trông khói sóng mới nhớ nhà, còn Huy Cận thì ngược lại, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Thực ra ai buồn hơn ai làm sao mà xác định được. Điều quan trọng là Huy Cận có một ý thơ khác. Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi lên cảnh mờ mịt mà sầu. Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp. Xưa Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thây hư vô, lòng khát khao một cõi quê hương thực tại. Nay Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp. Một đăng ý thức về thực tại, một đằng là ý thức về tình người.
Nhưng Tràng giang là một bài thơ vẽ lên một phong cảnh dẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng), nhiều đường nét hùng vĩ, mở ra, vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…), nhiều tương phận, nhiều dộng từ chỉ sức sống rộn ràng, sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên… Cái buồn của bài thơ rõ ràng không phải do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp tù túng, mọi vật chết chóc ngưng đọng. Cái buồn như toát ra từ cấu tạo của thế giới, từ cái đẹp thiếu tình người, từ một sự mất liên lạc có tính phổ quát gây nên. Một cái buồn đậm màu triết lí. Nỗi buồn này cũng phản ánh sự đổi thay của đời sống xã hội; xã hội cộng đồng truyền thống vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với vô vàn cái tôi rời rạc, bơ vơ.
Cảnh vật càng rộng, càng làm cho người ta nhớ đến nỗi buồn sâu kín trong lòng. Tác giả đã dùng những vần thơ độc đáo để nói lên cái buồn ấy
Nguồn: | Phân tích bài thơ Tràng giang của Huy Cận. | 1,551 | |
Phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)
Gợi ý
Đề bài:
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiểu thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Phù Lưu Chanh – 1948
Phân tích đề
– Đề yêu cầu phân tích một tác phẩm trữ tình trọn vẹn. Do đó, người viết cần nắm vững kỹ năng phân tích thơ, ở đây là thơ trữ tình, tất cả các yếu tố nghệ thuật đều nhằm phục vụ cho việc bộc lộ tâm trạng của chủ thể trữ tình.
– Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu của Quang Dũng, cũng là một những tác phẩm thành công của nền thơ kháng chiến Việt Nam. Đối tượng trữ tình là anh bộ đội ở những năm đầu của cuộc kháng chiến đó. Tuy nhiên, bản thân người lính Tây tiến và cách thể hiện của Quang Dũng cũng khác những nhà thơ cùng thời. Khi phân tích cần chú ý đến đặc trưng này để gợi sự độc đáo của tác phẩm.Xem thêm: Anh (chị) hiểu thế nào về tình yêu và khát vọng đối với tự do trong bài thơ tự do của p. Ê-luy-aGợi ý làm bài
1. Những hiểu biết chung về tác giả và tác phẩm:
– Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921, tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, một vùng quê để lại nhiều dấu ấn văn hóa cho nhà thơ. Trước năm 1945, Quang Dũng là một thanh niên trí thức lãng mạn. Nhà thơ tham gia Cách mạng ngay từ khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, liền sau đó đã gia nhập quân ngũ. Cuối xuân 1947, Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây Tiến, đội quân nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp, từng có mặt ở hầu khắp các chiến trường Đông Dương. Sau khi rời Tây tiến, Quang Dũng hoạt động văn học – nghệ thuật cho đến khi nghỉ hưu (1978). Nhà thơ mất tại Hà Nội, ngày 13.10.1988.
– Quang Dũng là người tài hoa, sáng tác văn, thơ, vẽ tranh… Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, cũng là sáng tác văn học xuất sắc về đoàn quân một thời lừng danh. Bài thơ được viết năm 1948, khi Quang Dũng đã rời đoàn quân Tây Tiến, tại thôn Phù Lưu Chanh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Do đó, Tây Tiến chính là sự hồi tưởng của Quang Dũng về đoàn quân Tây Tiến, về cảnh vật và con người Tây Bắc của một thời gian khổ, nhưng oai hùng.
2. Phân tích đoạn:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
…
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Bài thơ Tây Tiến là một nỗi nhớ. Đoạn đầu là một trường đoạn của nỗi nhớ ấy. Nỗi nhớ ấy có từng cung bậc:
– Từ nỗi nhớ bao la, tràn ngập (Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi), đến nỗi nhớ cụ thể với từng cảnh vật, con người Tây Bắc (Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi / Mường Lát hoa về trong đêm hơi; Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mủ bỏ quên đời!).
– Nỗi nhớ không chỉ bao trùm không gian mà còn da diết với thời gian: mở đầu là một lời cảm thán (Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!), kết đoạn cũng là một lời cảm thán tha thiết (Nhớ ôi Tây Tiến com lên khói…).
Bởi nỗi nhớ về Tây Tiến của Quang Dũng có nhiều cung bậc nên vô tình bài thơ tạo dựng thành những bức tranh đặc sắc về một Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, nhưng không kém phần thơ mộng. Sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn khiến cho những bức tranh ấy vừa chân thực vừa có sức mê hoặc lòng người, hay nói cách khác, đó là hiện thực trong nỗi lòng của nhà thơ.Xem thêm: Viết một đoạn văn khoảng 4, 5 câu nói về hoa hồng3. Phân tích đoạn:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
…
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Hai khổ thơ liên tiếp thể hiện những giờ phút sum vầy, hào hứng của đoàn quân Tây Tiên trên con đường hành quân thăm thẳm, nhiều nguy nan, khắc nghiệt.
– Khổ thứ nhất là cảnh liên hoan tưng bừng trong doanh trại của đoàn quân Tây Tiến. Buổi liên hoan ấy không chỉ có những người lính Tây Tiên mà còn góp mặt của những người dân Tây Bắc. Nhà thơ tập trung miêu tả giờ phút bùng nổ niềm vui của đoàn quân. Giờ phút hiếm hoi ấy khiến người ta có cảm tưởng như không hề có cuộc chiến tranh khóc liệt đang diễn ra. Từng con người được sống với niềm vui rộn ràng vòn có của tuổi trẻ. Hàng loạt hình ảnh diễn tả cảnh bừng sáng ấy: hội đuốc hoa; xiêm áo; nàng e ấp; xây hồn thơ…
– Khổ thơ thứ hai mặc dù nối tiếp dòng hồi tưởng của Quang Dũng về những kỷ niệm nơi miền sơn cước. Nhưng nếu cảnh trên là sự bùng nổ của niềm vui tuổi trẻ, thì ở đây là cảnh tình tha thiết, phảng phất buồn. Nỗi buồn trải rộng khắp không gian. Nhưng không phải vì cảnh buồn mà chính là vì tâm trạng con người khi nhắc nhở về người xưa cảnh cũ. Nỗi buồn ấy càng thể hiện sự gắn bó không rời của Tây Tiến và Tây Bắc trong tâm hồn Quang Dũng.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết)4. Phân tích đoạn:
Tây Tiến đoàn bình không mọc tóc
…
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Vẫn là nỗi nhớ về Tây Tiến, nhưng từ cái nền hùng vĩ và thơ mộng cùa Tây Bắc, Quang Dũng trực tiếp khắc họa chân dung người lính, với vẻ đẹp bi tráng:
– Cái đẹp toát lên từ tư thế coi thường cái chết nơi chiến địa (Rải rác hiên cương mồ viễn xứ), sẵn sàng dâng hiến đời mình cho Tổ quốc (Chiến trường đi chẳng tiếc đài xanh).
– Cái đẹp toát lên từ tâm hồn lãng mạn:
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
– Cái đẹp toát lên khoảnh khắc người lính hy sinh:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Sự độc đáo và mới lạ ở Quang Dũng khi viết về người lính kháng chiến là tác giả đã không né tránh sự gian khổ, khắc nghiệt, thậm chí trực tiếp miêu tả cái chết. Chính cái bi đã càng góp phần tôn vinh chất hào hùng, cao cả ở người lính Tây Tiến. Những mỹ từ Hán – Việt và các hình ảnh giàu chất ước lệ, tượng trưng (biên cương; viễn xứ; chiến trường; độc hành; đời xanh; áo hào; về đất) không làm cho hình tượng thơ sáo mòn. Trái lại, nó đem đến vẻ đẹp của sự trang trọng, thiêng liêng.
5. Phân tích khổ thơ cuối:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
…
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Những câu kết gợi lại hình ảnh chung về “thế giới” Tây Tiến (Đường lên thăm thẳm một chia phôi) với thời gian và không gian của chính Tây Tiến. “Thế giới” ấy tuy xa trong thực tại, nhưng lại rất gần, ở ngay trong tâm hồn của người Tây Tiến.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) | 1,425 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Bài làm
Có những năm tháng đi vào lịch sử, trở thành kí ức không bao giờ quên của biết bao thế hệ. Đó chính là những ngày chiến đấu gian khổ trong công cuộc giành lại hòa bình cho dân tộc, đó là hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Để lưu giữ những khoảnh khắc đó cho không chỉ thế hệ đã qua mà còn cho cả thế hệ ngày nay, mai sau thì biết bao nhà văn, nhà thơ đã sáng tác nên những tác phẩm tái hiện lại những năm tháng ấy. Bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng chính là một trong những tác phẩm đó.
Nhà thơ Quang Dũng là một thanh niên trí thức Hà Nội, tài hoa và lãng mạn. Ông mang trong mình một niềm yêu nước thiết tha, mãnh liệt và hăng hái tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến (1947-1948), Quang Dũng tham gia vào đoàn quân Tây Tiến và trở thành đại đội trưởng. Tây Tiến là tên một binh đoàn có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm tiêu hao sinh lực địch. Tại nơi rừng thiêng, nước độc họ phải chịu biết bao gian khổ, đối mặt với biết bao hiểm nguy. Tuy nhiên những người lính với phần đông là những chàng trai Hà Thành vẫn thản nhiên đối mặt, vất vả, cực nhọc nhưng không làm mất đi chất anh hùng, hào hoa lãng mạn trong con người họ.
Bài thơ trước kia đã từng mang tên Nhớ Tây Tiến để nói lên cảm hứng về Tây Tiến bắt nguồn từ nỗi nhớ, kỷ niệm về một quãng thời gian chiến đấu, về một miền đất với những người đồng đội, với những người dân bản xứ. Tên gọi ấy nhiều hơn chữ “nhớ” nhưng lại khái quát chung tâm trạng, tình cảm của tác giả khi viết lên tác phẩm này. Kỷ niệm gợi nhớ đầu tiên về Tây Tiến chính là hình ảnh:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Mặc dù nhan đề lược bỏ đi từ “nhớ” nhưng ở ngay hai câu thơ đầu tiên chúng ta đã bắt gặp từ “nhớ” đến hai lần. Một nỗi nhớ không được miêu tả cụ thể nhiều ít mà “nhớ chơi vơi”. Từ “chơi vơi” được Quang Dũng sử dụng rất hay, rất đắt bởi có thể khái quát nên một nỗi nhớ không định hình, không định lượng. Nó vừa mang đến cho chúng ta cảm giác nhẹ tênh nhưng đồng thời cũng làm cho con người ta cảm thấy nặng trĩu trong lòng, sự băn khoăn tự nhủ bởi vì không cân đo, đong đếm được. Với Quang Dũng thì đây là nỗi nhớ ám ảnh trong tâm trí khiến ông không bao giờ có thể quên được.Xem thêm: Có ý kiến cho rằng Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính. Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên
Phân tích bài thơ Tây Tiến
Nhắc đến Tây Tiến thì không thể không nhắc tới thiên nhiên, núi rừng. Hình ảnh đầu tiên mà nhà thơ nhớ tới đó chính là dòng sông Mã và ở mười bốn câu thơ đầu đã toát lên vẻ đẹp hùng vĩ và dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc. Trước tiên thể hiện qua đoạn thứ nhất:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Một đoạn thơ ngắn ngủi với những từ ngữ thể hiện rõ sự hiểm trở của núi rừng. Trên con đường hành quân của các chiến sĩ, họ phải chịu nhiều gian khổ bởi địa hình “khúc khuỷu” với những dốc thăm thẳm. Câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” được chia làm hai nửa và như xẻ đôi địa hình khiến cho người đọc liên tưởng tới một con đường với một bên là vách núi, một bên là vực sâu thăm thẳm. Chính cắt ngắt nhịp đó càng làm toát lên nỗi vất vả của người lính Tây Tiến. Trong bốn câu thơ trên có một hình ảnh mang đậm chất thơ đó là “súng ngửi trời”. Đứng trên địa hình trên cao, nơi mây mù che phủ, người lính hành quân với súng khoác trên vai, nòng súng chĩa lên trời khiến những người phía sau như thấy được súng đang “ngửi trời”. Qua bốn câu thơ ngắn ngủi với bút pháp lãng mạn, tác giả đã thành công dựng lên cảnh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hiểm trở, hùng vĩ nhưng lại mang nét lãng mạn. Đối lập với cái dữ dội của dốc núi, vực thẳm là hình ảnh “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (Có dàn ý chi tiết)
Bên cạnh sự hiểm nguy về địa hình thì những người lính còn phải đối mặt với những nguy hiểm khác:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Từ “chiều chiều”, “đêm đêm” gợi tới thời gian được lặp đi lặp lại liên tục chứ không phải một sớm một chiều. Hai câu văn như chìm trong tiếng kêu man rợ, sự rình rập của thú dữ và có thể đe dọa tới mạng sống bất cứ lúc nào vậy.
Bút pháp lãng mạn còn được thể hiện qua việc khắc họa chân dung người lính Tây Tiến:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Chỉ hai câu thơ ngắn ngủi đã làm toát lên sự khốc liệt của cuộc chiến. Nhà thơ Quang Dũng đã không giấu giếm sự hi sinh, mất mà mà thẳng thắn đối mặt. Trên con đường hành quân gian khổ ấy, không ít người đã hi sinh, ngã xuống. Sự hi sinh ấy được Quang Dũng khắc họa rất đặc sắc không phải mất đi mà là “không bước nữa”, “bỏ quên đời”. Nó giống như việc những người lính đã chiến đấu gian khổ, mệt mỏi và đã đến lúc “nghỉ ngơi” nhường bước cho đồng đội và những thế hệ sau họ bước tiếp.
Tuy nhiên phải đến khổ thơ tiếp theo thì hình ảnh những người lính Tây Tiến mới càng trở nên rõ nét hơn. Giữa gian khổ, giữa hi sinh nhưng vẫn không làm mờ đi nét hào hoa, lãng mạn của những người lính Tây Tiến giữa thiên nhiên miền Tây:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Những câu thơ chan chứa những âm thanh và hình ảnh sống động. Qua những vần thơ, tác giả đã không thể nào kìm nén nỗi nhớ bâng khuâng, nhớ “chơi vơi” về một miền kí ức chất chưa đầy những kỷ niệm. Trên con đường hành quân vất vả, gian khổ, những người lính có dịp được dừng chân tại một bản làng. Nơi đó hiện lên một viễn cảnh sinh hoạt cộng đồng vui tươi, thắm thiết đó là đêm hội đuốc hoa, là tiếng khèn, là những cô gái bản làng e ấp, hay đơn giản chỉ là những nắm cơm nếp xôi mà người dân bản làng đem tặng. Tất cả đều chứa chan tình cảm quân dân thắm thiết, làm vơi đi nỗi vất cả cực nhọc.Xem thêm: Cho câu chủ đề: “Chiến tranh phi nghĩa là một tội ác”. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8 đến 10 câu) để triển khai ý của câu chủ đề trên theo lối tổng hợp - phân tích - tổng hợp
Bên cạnh đời sống tình cảm đó thì hình ảnh những người lính Tây Tiến còn được khắc họa chân dung mang hình ảnh bi tráng giữa núi rừng:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Cách miêu tả rất hóm hỉnh, tươi vui về nỗi gian truân, vát vả mà chính bản thân Quang Dũng cùng đồng đội đã trải qua. Giữa nơi rừng thiêng nước độc, ngoài việc phải đối mặt với địa hình hiểm trở, thú dữ thì họ còn phải đối mặt với căn bệnh sốt rét rừng hiểm ác. Chính vì căn bệnh đó khiến tóc họ không thể mọc được, làn da xanh xao. Vẻ bề ngoài tưởng như tiều tụy, ốm yếu nhưng lại mang sức mạnh “dữ oai hùm” khiến kẻ thù khiếp sợ.
Căn bệnh sốt rét rừng ấy cũng trở thành nguyên nhân mà nhiều người lính ngã xuống:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Những người lính Tây Tiến đều là những thanh niên tuổi đời còn trẻ nên được Quang Dũng gọi tên thành “đời xanh”. Họ rời xa quê hương với một lòng quyết tâm, chẳng ngại hi sinh, gian khó. Cách nói ước lệ “áo bào thay chiếu” như đang lãng mạn hóa sự hi sinh, các anh ngã xuống thậm chí manh chiếu để liệm cũng không có chỉ có chiếc áo đang mặc. Ấy vậy mà vẫn gợi lên cho người đọc sự hào hùng, oai phong. Thế rồi những mất mát, hi sinh ấy như được dồn nén, tích tụ và bộc phát thành tiếng gầm rung trời, chuyển đất: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Qua bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng ta phần nào cảm nhận sâu sắc được cuộc hành quân gian khổ, những hi sinh thầm lặng của những người chiến sĩ. Cũng qua đó ta thấy được nét tinh tế, lãng mạn của một nhà thơ đồng thời là người chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng của học sinh giỏi | 1,693 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Có một bài ca không bao giờ quên…”
Cũng có những năm tháng không bao giờ quên, không phai mờ trong ký ức của nhiều thế hệ đã qua, hôm nay và mai sau. Đó chính là những ngày tháng kháng chiến chốngn Pháp, khi toàn dân tộc ta vừa qua nạn đói, vừa giành được độc lập thì thực dân Pháp trở lại xâm lược. Dấu ấn của nạn đói năm 1945 vẫn còn, rất đậm trong mỗi người dân Việt Nam. Tự do hay trở về với cuộc đời cũ? Đấy là câu hỏi day dứt bao người. Theo tiếng gọi của tự do, những người nông dân, công dân, học sinh, những người mẹ, người chị… tham gia kháng chiến, tạo nên hào khí dân tộc của một thời đại.
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
Trong những năm tháng đáng nhớ ấy, văn học dù chưa dám nói là đã ghi lại trọn vẹn bộ mặt đất nước, nhưng cũng đã ghi lại được hào khí của một thời với hình ảnh bao người mà hình ảnh trung tâm là người chiến sĩ cụ Hồ. Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng ra đời trong hoàn cảnh chung đó.
Bài thơ sáng tác tại Phù Lưu Chanh vào năm 1948 khi Quang Dũng đã chuyển đơn vị. Nhưng những ngày tháng Quang Dũng chiến đấu, sống ở đoàn quân Tây Tiến chưa lâu, với những kỷ niệm khó quên nên nỗi nhớ Tây Tiến da diết, cồn cào trong lòng tác giả. Toàn bài thơ là một nỗi nhớ. Tác giả nhớ về cuộc sống gian khổ, nhớ về kỷ niệm những đêm liên hoan, về cái âm u, hoang dã của rừng núi và in đậm nhất là nỗi nhớ của người lính Tây Tiến.
Ra đi kháng chiến khi còn là thanh niên, học sinh Hà Nội, Quang Dũng trở thành người lính. Kỷ niệm làm người lính Tây Tiến đã xa mà lại rất gần, để ghi nhớ lại, tác giả phải bật lên:
"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!"
Câu thơ kết thúc bằng dấu chấm than cùng âm hưởng của vần ơi, tạo nên sức mạnh lớn. Hình ảnh đó là tiếng nói của Quang Dũng vang vọng đến đoàn quân Tây Tíên? Không! Đó là tiếng lòng của tác giả “xa rồi Tây Tiến ơi!” nhưng tấm lòng thì vẫn tha thiết lắm! Âm hưởng câu thơ có sức vọng làm cho tiếng lòng của Quang Dũng như xoáy vào tâm hồn người đọc rung theo những xúc cảm do câu đầu mang lại để đến với nỗi nhớ Tây Tiến:
"Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi"
Nỗi nhớ mới lạ lùng làm sao? “Nhớ chơi vơi”! Hình như trong ca dao ta cũng từng bắt gặp:
"Ra về nhớ bạn chơi vơi"
Nỗi nhớ “chơi vơi” là nỗi nhớ không định hình khó nắm bắt đã diễn tả bằng lời. Nỗi nhớ ấy vừa bao la, bát ngát lại vừa có chiều sâu. Nó muốn tràn ra không gian để xoáy vào lòng người. Một người ngoài cuộc hẳn không thể có nỗi nhớ ấy. Chỉ có Quang Dũng với nỗi lòng của mình mới có nỗi nhớ ấy mà thôi. Với tấm lòng tha thiết thì hẳn nổi “nhớ chơi vơi” là điều hoàn toàn có lí. Cùng vẫn sử dụng vần “ơi”, câu thơ có sức lan toả rộng. Vần “ơi” lan ra theo nỗi nhớ “chơi vơi” của tác giả.
Thông thường khi nhớ về một điều gì, người ta thường nhớ đến những kỉ niệm để lại dấu ấn không quên. Quang Dũng nhớ đầu tiên là nhớ về rừng núi
"Nhớ về rừng núi…"
Rừng núi là nơi xưa kia tác giả cùng đồng đội đã cùng sống, cùng chiến đấu Rừng núi in đậm bao nỗi khổ, bao nhiềm vui nỗi buồn của những người chiến sĩ. Hơn ai hết, tác giả là người trong cuộc, tác giả nhớ về rừng núi, những khó khăn gian khổ mà mình đã từng nếm trải:
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi."
Mặc dù cuộc sống gian khổ không phải là điều nhà thơ chú trọng phác hoạ nhưng trước mắt ta vẫn hiện ra cái khắc nghiệt của rừng núi. Nhà thơ Tố Hữu đã từng có những câu thơ:
"Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng, chí không mòn!"
Tố Hữu mô tả thẳng cảnh sống người lính. Quang Dũng không làm thế, Quang Dũng chỉ mô tả cái hoang vu, hoang dã của một vùng rừng núi nhưng qua cảnh đó ai cũng hiểu rằng đời lính là như thế đó. Họ sống giữa thiên nhiên như vậy đó. Với những địa danh xa lạ “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Pha Luông”, rừng núi như càng trở nên xa ngái, hoang vu hơn. Hơn thế, cần phải nhớ rằng đoàn quân Tây Tiến hầu như toàn là những chàng trai trẻ Hà Nội theo tiếng gọi kháng chiến ra đi, nhiều người còn là học sinh nên cảnh núi rừng càng xa lạ, đáng sợ hơn. Quang Dũng là người trong cuộc sống hiểu tâm lý ấy rất rõ.
Nỗi nhớ rừng núi bắt đầu bằng những cuộc hành quân.
"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi."
Những cuộc hành quân đi qua và những cuộc hành quân mới lại tiếp nối trong cuộc đời người lính của Quang Dũng. Nhưng có lẽ cái mỏi mệt của những cuộc hành quân lần đầu sẽ không bao giờ đi qua cùng năm tháng cũng như rừng sương “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” sẽ in mãi dấu ấn, câu thơ chùng xuống, đều đều gợi lên sự mỏi mệt, bải hoải làm ta tưởng chừng như đoàn quân Tây Tiến sắp ngã, sắp chìm đi trong sương. Nhưng không, âm điệu bài thơ lại vút lên bởi một câu vần bằng:
“Mường lát hoa về trong đêm hơi”
Câu thơ ấy đã xoá đi cái mỏi mệt của đoàn quân Tây Tiến, để đoàn quân tiếp bước. Những khó khăn lại cứ rải trên đường người lính đi qua:
"Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống"
Hình ảnh “khúc khuỷu” làm nên cảm giác hình như con đường đi khó khăn quá! “Dốc thăm thẳm” lại làm cho những khó khăn như nhiều hơn, dài ra theo tính chất “thăm thẳm” của con dốc và trên những đường dốc ấy, “súng ngửi trời”. Chỉ riêng “heo hút cồn mây” đã gợi một không khí vắng vẻ, hoang sơ của núi rừng, súng ngửi trời cộng vào cái vẻ đơn độc của những người lính khi đứng giữa đèo cao.
Những khó khăn gian khổ nhiều là thế nhưng lại nhẹ đi bởi vần bằng tiếp sau:
"Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi."
Cứ như thế, với những câu vần bằng xen vào giữa những câu vần trắc, âm hưởng đoạn thơ trở nên trùng điệp hơn, âm điệu ấy cứ theo suốt bài thơ, cùng với cách dùng từ cổ kính củaQuang Dũng góp phần tạo nên nét lãng mạn mà hào hùng cho bài thơ.
Cả khổ thơ đầu là những khó khăn của vùng rừng núi thiên nhiên hoang sơ. Đứng trước bức tranh dữ dội ấy, ai cũng thầm nghĩ: vậy người lính sống thế nào nhỉ?
"Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người."
Quang Dũng tả rất thực những khó khăn của cuộc kháng chiến mà đoàn quân Tây Tiến đã gặp nhưng không làm bài thơ trở nên bi thảm, lòng người bi quan mà chỉ để ca ngợi người lính. Tác giả lại tiếp tục đưa ta đến với người lính cũng bằng ngòi bút rất thực ấy. Trước gian khổ, trên đường hành quân, nhiều người đã nằm lại mảnh đất xa lạ để không bao giờ tỉnh dậy:
"Anh bạn dãi dầu không bước nữa"
Nhưng anh hùng làm sao, những con người đã ngã xuống ấy! Người lính không chịu nỗi gian khổ đã hi sinh nhưng cũng tìm được cho mình một tư thế chết của người chiến sĩ:
"Gục lên súng mũ bỏ quên đời"
“Bỏ quên đời” chỉ là cách nói nhằm giảm nhẹ sự mất mát, tang thương khi người lính từ trần. Nhưng hình ảnh sử dụng, rất đắt là hình ảnh “gục lên súng mũ”. Ta chợt nhớ đến dáng đứng của anh giải phóng quân về sau:
"Anh ngã xuống torng khi đang đứng bắn
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng"
Dáng đứng của anh giải phóng quân đi mãi vào lòng những người dân trong kháng chiến chống Mĩ thì dáng ngã gục xuống của anh lính cụ Hồ hẳn sẽ không phai mờ trong tâm hồn của Quang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của những người tham gia kháng chiến. “Gục lên súng mũ” cũng là cách nói nhẹ và cũng là cách nói của những người thanh niên trí thức lúc bấy giờ. Người lính ra đi nhưng đồng đội anh lại tiếp bước.
Xem thêm: Thời gian biểu trong ngày của emNhững khó khăn lại đến:
"Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người."
Hình như có ai đó đã nói về cách sử dụng từ “Mường Hịch” của Quang Dũng. Địa danh đọc lên có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm. Rừng núi trở nên rờn rợn, nguyên vẻ hoang sơ của nó. Ở nơi xa xôi con người lần đầu đặt chân, thiên nhiên là chủ thì khó khăn như tăng thêm bội phần. Nhưng nét lạc quan, vui vẻ của người lính vẫn chẳng thể mất dọc cuộc hành trình.
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi."
Quang Dũng lại nhớ về những kỉ niệm của những đêm liên hoan. Nhịp điệu câu thơ hình như có cái gì nao nức, rộn rã:
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Châu xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có nhớ hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa."
Cái dữ dội, hoang dã của thiên nhiên trong hai khổ thơ đầu như biến mất đi sau những kỉ niệm vui của đoàn quân Tây Tiến. Nét nghịch ngợm, vui tươi của những chàng thanh niên Hà Nội xúng xính trong xiêm áo giả làm con gái, cùng tiếng nhạc và vẻ e ấp giả vờ. Câu thơ với hai chữ “kìa em” vừa mang vẻ ngạc nhiên vừa mang nụ cười thoải mái của người chiến sĩ. Những kỉ niệm vui đó hẳn sẽ không quên trong lòng người cũng như vẫn còn nguyên vẹn trong lòngQuang Dũng vậy. Cùng với sự vui tươi, người lính Tây Tiến còn sống với bản lĩnh lãng mạn, với tâm hồn giàu chất thơ, giàu cảm xúc của mình. Một dáng người trên độc mộc vào buổi chiều sương, một khóm hoa đong đưa trên dòng nước lũ… tất cả đi vào nhẹ nhàng cho cả đoạn thơ.
Quang Dũng xa Tây Tiến nhưng khoảng thời gian ấy chưa lâu nên kỉ niệm Tây Tiến vẫn như nguyên vẹn. Nỗi nhớ “chơi vơi” trải khắp bài thơ nhưng cô đọng vẫn là ở nỗi nhớ về người línhTây Tiến. Có lẽ người lính Tây Tiến, hình ảnh của họ đã ăn sâu tận trong máu thịt tác giả:
“Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Câu thơ đầu hoàn toàn tả thực về người lính kháng chiến, nổi tiếng bởi tên gọi “Vệ trọc”. Giữa rừng núi hoang sơ, nạn sốt rét là nạn mà người lính thường mắc phải. Sốt rét đến nỗi trọc cả đầu chỉ còn một vài sợi tóc lưa thưa đến nỗi da xanh xao “màu lá”.
Bệnh sốt rét ác nghiệt như Chính Hữu đã từng mô tả:
"Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi."
Sốt rét là bệnh tiêu biểu thường gặp ở người lính khi Quang Dũng nói về điều này, tác giả còn muốn cho ta biết, người lính Tây Tiến sống như thế đấy! Họ s61ng đ46 chiến đấu với quân thù nhưng lại phải chiến đấu với cả gian khổ, bệnh tật nữa. Giữa bao nhiêu khó khăn người lính vẫn
"Quân xanh màu lá dữ oai hùm"
Nét dữ tợn của người chiến sĩ Tây Tiến ở đây không làm nhạt đi tí nào hình ảnh người lính Tây Tiến trong ta. Bệnh tật, yếu đau tưởng chừng làm người chiến sĩ yếu đuối nhưng ta bất ngờ vì dáng vẻ “dữ oai hùm” của anh lính. “Dữ oai hùm” làm mất đi sự yếu đuối của “đoàn quân không mọc tóc” và của “quân xanh màu lá”, câu thơ trên giúp cho câu thơ sau tiếp tục:
"Mắt trừng gởi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"
Đây chính là hai câu thơ tập trung nhất vẽ nên bức tranh người lính Tây Tiến và cũng là hai câu thơ hay nhất trong cả bài thơ. Người lính Tây Tiến sống với hình ảnh của quê hương Hà Nội, chiến đấu với tương lai trước mặt. Hai câu thơ vừa mang nét lãng mạn của người chiến sĩ vừa có nét hào hùng. Mắt người lính “trừng” nhưng không hề mang nét dữ tợn, đấy chỉ là quyết tâm của họ. Họ quyết tâm chiến đấu cho Tổ Quốc, đất nước, điều này là điều tâm niệm của mỗi người. Hai câu thơ trên đã có thời bị đưa ra chỉ trích cùng với bài thơ là buồn rớt, là bi quan, là tiểu tư sản. Đành rằng buồn; nhưng cái buồn ở đây không làm mất đi quyết tâm củangười lính Tây Tiến. Quyết tâm đánh giặc và lãng mãn phãi kết hợp hài hoà mới có thể taạ nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ một cách sâu sắc. Đây là điểm mà đã có một thời vì hoàn cảnh lịch sử, vì một lý do nào đó người ta đã quên đi hay cố tình quên đi. Người lính Tây Tiếnchiến đấu cho ai? Mục đích của họ hướng tới là gì nếu không phải quê hương mà cụ thể là Hà Nội. Người lính mơ về Hà Nội, về người thiếu nữ Hà Nội thì chính những mộng mơ ấy đã tiếp sức mạnh cho người chiến sĩ sống và chiến đấu. Hai câu thơ chính vì thế lãng mạn mà rất hào hùng!
Người lính Tây Tiến gặp bao nhiêu gian khổ. Dọc con đường hành quân bao người đã ngã xuống vì gian khổ, vì khắc nghiệt của rừng núi, vì đau ốm bệnh tật và họ ngã xuống vì chiến đấu.
"Rải rác biên cương mồ viễn xứ."
Câu thơ đọc lên nghe sao mà bi thảm quá. Bao người nằm lại nơi xa lạ không người qua lại, chẳng bao giờ về. Từ “rải rác” làm ta cảm giác người lính Tây Tiến ngã xuống, ngã xuống nhiều trong cuộc chiến đấu, làm ta cảm giác thấm thía cái lạnh khi những con người phải từ giã cuộc đời. Từ “viễn xứ” tạo nên sự xa xôi, lạnh lẽo của rừngnúi, gợi sự cô đơn của những người nằm lại. Câu thơ trầm xuống xoáy vào lòng ta nỗi buồn không thể thốt nên lời, ta tưởng chừng câu thơ sau sẽ không cất nổi mình, nhưng ngược lại:
"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"
Câu thơ lại nhẹ nhàng như không hề mang chút bi thảm của những nấm mồ viễn xứ. Câu thơ trước tạo nên cái “bi”, câu thơ sau tạo nên nét “tráng”. Cái không khí bi quan bíên mất, chỉ còn lại nét ngang tàng, chút thanh thản của người lính Tây Tiến. Bảo “chẳng tíêc đời xanh” là cách nói của người thanh niên tri thức Hà Nội nhưng cũng mang cả quan niệm về lí tưởng chiến đấu. Đâu phải họ không tiếc cho tuổi trẻ. Không phải “tuổi trẻ là mùa xuân” đó sao! Nhưng cao hơn cả tuổi trẻ họ còn có tự do, quê hương. Còn người hậu phương gởi gấm cả nỗi lòng cho họ. Đó là lí do tại sao người lính Tây Tiến chẳng tiếc đời xanh. Họ nằm xuống nhẹ nhàng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Cách dùng từ “áo bào” làm câu thơ trở nên cổ kính hơn. Anh ra đi mãi mãi nhưng anh ra đi là cho lẽ sống của mình sống mãi nên cái chết của anh nhẹ nhàng như “về đất”. Hơn thế, có chăng Quang Dũng có lí khi dùng từ “về đất” ngoài ý giảm nhẹ sự đau thương? Quang Dũngkhông muốn có bất cứ giọt nước mắt nào rơi trên thi hài người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến sống lãng mạn, hào hùng thì chết cũng phải như vậy. Đấy chính là lí do tác giả có ý sử dụng từ cổ kính và nói theo lối nói của người lính Tây Tiến. Quang Dũng muốn rằng người línhTây Tiến chiến đấu là cho quê hương thì sữ ra đi của họ là nhẹ nhàng, thanh thản: họ về với đất. Đất như người mẹ giang tay ôm đứa con yêu vào lòng và người chiến sĩ ngụ trong vòng tay mẹ. Như vậy anh hi sinh ở nơi xa nhưng linh hồn anh vẫn về bên đất mẹ. Câu thơ vì thế mất đi nét bi thảm vốn có. Anh chiến sĩ chết đi, quê hương ôm anh vào lòng, sông núi hát lên tiễn đưa anh:
"Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Không hề có tiếng khóc giọt nước mắt tang thương. Chỉ có núi sông, đất mẹ chứng kiến cái chết của anh. Bóng dáng của anh hoà vào núi sông, hoà vào đất mẹ.
Người lính Tây Tiến ra đi nhưng hình ảnh của anh không bao giờ mờ phai trong tâm trí congười. Hình ảnh người lính và những kỷ niệm đậm mãi trong lòng Quang Dũng và mỗi chúng ta.
"Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về sầm nứa chẳng về xuôi."
Bài thơ khép lại nhưng âm điệu vẫn mãi vang vọng trong tâm hồn ta. Nhịp điệu trùng điệp, nét lãng mạn hào hùng của bài thơ để lại dấu ấn trong ta. Có những tác phẩm đã gặp nhiều mà ta lại quên đi nhưng có những tác phẩm chỉ bắt gặp một lần lại sống mãi. Ấy là Tây Tiến!
Hình ảnh người lính Tây Tiến lung linh ngời sáng với cả hào khí dân tộc!
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình (đoạn trích được học) của Nguyễn Thi | Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng | 3,208 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
Trong cách diễn đạt tình cảm của ca dao, dân ca, do bối cảnh giao tiếp và diễn xướng trực tiếp nên nếu các biểu hiện tâm trạng trữ tình luôn được bộc bạch một cách hết sức cụ thể, hồn nhiên thì chủ thể trữ tình và đối tượng trữ tình lại thường có tính chất phiếm chỉ, không xác định:
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất,
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai.
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt,
Mắt thương nhớ ai
Mà mắt ngủ không yên…
Trong bài thơ của Nguyễn Bính cũng vậy, một chàng trai thôn Đoài mong nhớ một cô gái thôn Đông, nhưng vì chỉ yêu đơn phương thôi nên anh dùng lối nói ỡm ờ, vòng vo, bóng gió xa xôi của người nhà quê: "Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông – Một người chín nhớ mười mong một người…". Một cái làng có hai thôn: "Hai thôn chung lại một làng", một ở bên phía đông – thôn Đông, còn một ở phía tây – thôn Đoài. Những cách gọi tên địa danh dân dã ấy khá phổ biến ở khắp mọi vùng quê đồng bằng Bắc Bộ nên chúng vừa cụ thể lại cũng vừa không xác định. "Một người chín nhớ mười mong một người": hai chữ một người trong cùng một dòng thơ nhưng được dùng để chỉ hai đối tượng, hai nhân vật khác nhau: chàng trai thôn Đoài, và cô gái thôn Đông, điều ấy, những người trong cuộc hiểu rõ hơn ai hết nhưng khách quan thì vẫn chưa có gì là cụ thể. Vì các nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn giữ được cái vỏ ngoài có tính chất chung chung, không xác định như thế nên chàng trai mới có thể thoải mái bộc bạch nỗi lòng "chín nhớ mười mong" của mình: "Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng", có thể làm như hai người đã thân mật, gần gũi từ lâu để mà hờn mát, trách yêu với người con gái trong lòng: "Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?", "Bảo rằng cách trở đò giang – Không sang là chẳng đường sang đã đành – Nhưng đây cách một đầu đình…", mạnh dạn ngỏ ước muốn được chung tình: "Bao giờ bến mới gặp đò – Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau", thậm chí còn bóng gió xa xôi đề cập đến chuyện trầu cau, cưới hỏi: "Nhà anh có một giàn giầu – Nhà em có một hàng cau liên phòng – Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?" v.v… Cách dùng những đại từ chỉ người đây, đấy, bên ấy, bên này thay thế cho các nhân vật giao tiếp và cách nói trống chủ ngữ của những câu thơ trên đây là một trong những đặc trưng nổi bật của lối nói vòng vo, ỡm ờ, bóng gió xa xôi trong ca dao, dân ca truyền thống đã được Nguyễn Bính vận dụng rất thành công, tạo cho bài thơ một giọng điệu, một dáng vẻ riêng khá độc đáo.
Xem thêm: Hãy bàn luận ý kiến sau đây: “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo"Các biểu hiện tâm trạng tương tư trong bài thơ cũng được diễn tả một cách tinh tế. Trước hết là sự chờ mong mòn mỏi của chủ thể trữ tình:
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Tâm trạng sốt ruột vì chờ mong mòn mỏi ấy không tách rời những cảm nhận tinh tế về sự thay đổi của không gian, thời gian. "Ngày qua ngày lại qua ngày" – một câu thơ với những từ ngữ bình thường và lối nói tưởng như rất giản dị nhưng lại có khả năng diễn tả khá độc đáo về cảm giác của con người mang bệnh tương tư trước sự lặp đi lặp lại từng chuỗi ngày vô vị dài lê thê, chậm chạp trong sự chờ mong khắc khoải. Một câu thơ mà chữ ngày được nhắc tới ba lần, nhấn mạnh cảm xúc về khái niệm đơn vị thời gian như thể được đếm từng ngày. Nhịp 2/2/2 của câu sáu trong thơ lục bát truyền thống đã được ngắt thành nhịp 3/3: "Ngày qua ngày/ lại qua ngày" chia ý nghĩa câu thơ thành hai vế với nội dung song trùng, ý của vế sau lặp lại vế trước và sự nhấn mạnh chữ lại gợi tả nỗi chán ngán trong lòng kẻ đa tình tương tư trước dòng thời gian vô tình, đơn điệu cứ chậm chạp trôi qua…
Cảm giác về thời gian nói trên còn được diễn tả một cách hết sức sinh động thông qua những biến đổi màu sắc của những sự vật không gian trong câu tám: "Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng". Thời gian hiện lên qua sự chuyển màu của cây lá: lá màu xanh đã chuyển thành lá màu vàng. Cùng với chuỗi ngày chờ đợi dài đằng đẵng chậm chạp qua đi, nhưng người thương vẫn chưa thấy tới, cho dù chẳng có xa xôi cách trở gì. Chữ nhuộm là một động từ ngoại động, khiến cho sự chuyển màu của cây lá dường như không phải là sự vận động, phát triển nội tại của thực vật mà như thể là do sự tác động của thời gian và tâm trạng con người thấm vào sắc màu của cây lá. Và nỗi lòng tương tư héo hon, mòn mỏi của con người cũng đã nhuộm màu lá xanh thành ra màu héo úa. Vậy là thời gian, không gian và tâm trạng của con người tương tư đã có một mối quan hệ, mối tương giao thật là kì diệu. Tương tư mỏi mòn làm cho thời gian kéo dài lê thê, chậm chạp hơn ; tương tư cũng nhuộm màu cho cây lá trở nên vàng vọt, úa héo hơn…
Nguồn Edufly
Xem thêm: Kể câu chuyện về tinh thần đoàn kết | Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính | 1,023 | |
Phân tích bài thơ Tỏ Lòng (Thuật hoài) – Phạm Ngũ Lão
Hướng dẫn
Phạm Ngũ Lão là một vị tướng có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Không những thế ông còn có tài sáng tác thơ văn, ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó phải kể đến Thuật hoài.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả khí thế oai hùng của đoàn quân đang sẵn sàng chiến đầu để bảo vệ non sông.
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Câu thơ mang một ý nghĩa đặc sắc, muốn nói đến việc cầm ngang ngọn giáo, gìn giữ non sông đã trải qua nhiều năm. Một hình ảnh khái quát, tĩnh như một bức tượng về người chiến sĩ bảo vệ tổ quốc. Câu thơ dịch là "Múa giáo", cụ thể, động. Có làm mất sức tạc hình, nhưng không làm mất ý nghĩa chính, tầm vóc lớn của hình ảnh. Câu thơ thứ hai là hình ảnh nền. Câu thơ này hiểu như bản dịch SGK hay như cách hiểu thứ hai (Ba quân khí thế át cả sao Ngưu) đều được, vì hoàn toàn không sai lệch nghĩa.
Chỉ với hai câu thơ ngắn ngủi, người đọc đã có thể hình dung ra khí thể hào hùng của đội quân đang chiến đấu bảo vệ non sông, đồng thời thể hiện lòng yêu nước ý chí căm thù giặc của nhân dân ta, một câu dựng hình ảnh chính, một câu dựng hình ảnh nền, một câu khắc điểm, một câu vẽ diện, đêu dựng được tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao của cá nhân người anh hùng, quân đội dũng sĩ, dân tộc hùng mạng, tự cường.
Cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta đã trải qua nhiều thế kỉ, nhưng lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc càng ngày càng dâng lên trong mỗi người dânKhi đất nước có chiến tranh thì việc bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh là điều ưu tiên trước nhất. Nhưng trải qua ngàn năm văn học, riêng trong thơ tạc hình người anh hùng chiến trận mà muôn đời còn nhớ, cũng chỉ có số ít thi phẩm. Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão là sự mở đầu. Cuối thời nhà Trần, khi giới quý tộc tổ chức kháng chiến chống quân đô hộ Minh, cũng thấy hình ảnh này – nhưng là hình ảnh người anh hùng chiến bại trong thơ Đặng Dung (Thù nước chưa xong đầu vội bạc / Mấy độ mài gươm dưới bóng trăng). Kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) là hình ảnh "Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo" trong bài Đồng Chí của Chính Hữu. Chống Mĩ (1954 – 1975) có hình ảnh Dáng dứng Việt Nam trong thơ Lê Anh Xuân (Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ / Anh chẳng để lại gì riêng cho anh trước lúc lên đường / Chỉ để lại dáng đứng Việt nam tạc vào thế kỉ / Anh là chiến sĩ giải phóng quân).
Xem thêm: Vẻ đẹp của trang nam nhi thời Trần qua bài thơ Tỏ lòng
Quan niệm về chí làm trai đã được nhiều nhà thơ thể hiện, mỗi nhà thơ bày tỏ một quan niệm riêng của mình. Nhưng tựu chung lại, các nhà thơ đều muốn nhắc nhở đấng nam nhi rằng đã làm trai thì phải giúp được gì cho đời, cho đất nước, nếu không làm được thì phải thấy then với lương tâm. Quan niệm đó cũng là một trong những cái ngông trong thơ ông.
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu
Thời xưa con người coi trọng nam nhi hơn nữ nhi, và đặt một kì vọng lớn vào nam nhi. Điều đó tạo một lễ giáo, như một quy định bất thành văn, đã là nam nhi thì phải làm được việc lớn. Đây là một quan niệm sống tích cực, ngày nay vẫn cần được phát huy nhưng đi cùng quan niệm nam nữ bình đẳng mới trọn vẹn. Chí làm trai thể hiện rõ nhất ở cái đích: đi ra bốn phương, lập nên công danh, sự nghiệp.
Cùng quan niệm về chí làm trai, trong ca dao có câu:
Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng
Làm trai cho đáng nên trai
Xuống đông, đông tĩnh, lên đoài, đoài yên
Nguyễn Công Trứ cũng có một quan niệm hào hùng rằng:
Đã sinh ra ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
Có thể nói rằng bài thơ Tỏ lòng thể hiện khí phách tuổi trẻ lần đầu tiên được khẳng định trong văn học một cách thẳng thắng gắn chặt với sự nghiệp lớn lao – cứu nước, trong sự so sánh, trong nỗi thẹn với một tài năng xuất chúng, công danh hiểm hách, một lòng phò vua giúp nước là Gia Cát Lượng. Thì cái chí khí, tài năng, tấm lòng của con người này đã đạt tới cao độ. Mặt khác cũng cần thấy, có tài lớn, chí cao, tâm khát vọng nhưng không có hào khí thời đại anh hùng cũng không thể sản sinh ra con người anh hùng với nỗi thẹn một lòng vì nước như thế.
Đọc toàn bộ bài thơ, người đọc có thể hiểu ra tâm ý của tác giả, tác giả đã dựng một tượng đài ở hai đầu câu, là một lời thúc giục thế hệ ở hai câu cuối. Bởi hai câu cuối không phải là chỉ sự tỏ lòng của một cá nhân, còn là lời khích lệ tướng sĩ, những trang nam nhi trước vận nước gian nguy.
Không phải đến Phạm Ngũ Lão mới có quan niệm về chí làm trai hào hùng như vậy. Nhưng đọc Thuật hoài người đọc hình dung ra hình ảnh người anh hùng hiện lên sừng sững như một bức tượng được tạc công phu, bức tượng ấy thể hiện hết được chí khí cũng như nhân cách của người anh hùng ấy.
Nguồn: thêm: Bậc thánh nhân không tích lũy, càng giúp con người giàu có, càng cho đi càng nhận lại nhiều hơn. Đạo của trời làm lợi mà không làm hại. Đức của thánh nhân chia sẻ chứ không tranh giành... hiện đại | Phân tích bài thơ Tỏ Lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão(1) | 1,072 | |
Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
VỀ NỘI DUNG
1. Vẻ đẹp của người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao
– Con người mang tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ, thể hiện trong câu thơ đầu: “Múa giáo non sông trải mấy thu”.
Đó là tầm vóc vũ trụ, là tư thế hiên ngang như sánh cùng trời đất: hoành sóc giang sơn. Đó là hành động phi thường, không hề mệt mỏi: kháp kỉ thu.
– Con người với lí tưởng và nhân cách lớn lao. Lí tưởng và nhân cách ấy thể hiện qua cái chí, cái tâm của người anh hùng: chí lớn lập công danh trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân; cái tâm với nỗi “thẹn” mang giá trị nhân cách.
– Chí của trang nam nhi thời Trần là chí làm trai mang tinh thần thời đại Đông A và tư tưởng tích cực của Nho giáo. Đó là “công danh” của bậc “nam tử”: lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm). Quan niệm lập công danh đã trở thành quan niệm lí tưởng của trang nam nhi thời phong kiến. Đặt trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội lúc đó, chí làm trai có nội dung tích cực và có tác dụng to lớn: cổ vũ con người từ bỏ lối sông tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân để cùng trời đất “muôn đời bất hủ”.Xem thêm: Nghị luận xã hội - Bình luận về lòng tự trọng– Cái tâm của người anh hùng thể hiện qua nỗi “thẹn”. Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Vũ hầu Gia Cát Lượng khôi phục cơ đồ nhà Hán. Nỗi thẹn của người anh hùng thời Trần là chưa lập được công danh trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân cách. Nỗi thẹn ấy không làm con người thấp bé đi, trái lại, đã tôn cao vẻ đẹp của con người.
2. Vẻ đẹp của thời đại qua hình tượng “ba quân” với sức mạnh và khí thê hào hùng
– Thời đại Đông A mang khí thế hào hùng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng: Trong câu thơ thứ hai, hình ảnh “ba quân” là hình ảnh nói về quân đội nhà Trần nhưng đồng thời tượng trưng cho sức mạnh dân tộc. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất của ba quân (Tam quân tì hổ – Ba quân mạnh như hổ báo) vừa hướng tới sự khái quát hóa sức mạnh tinh thần của đội quân mang “hào khí Đông A” (khí thôn ngưu – khí thế nuốt trôi trâu).
– Vẻ đẹp con người và vẻ đẹp thời đại quyện hòa vào nhau. Con người vừa là sản phẩm, vừa là sự thể hiện sức mạnh của thời đại, của dân tộc.
VỀ NGHỆ THUẬT
1. Thủ pháp nghệ thuật thiên về gợi, khái quát, đạt tới độ súc tích caoXem thêm: Phân tích tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi– Đây là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn chỉ có 28 chữ nhưng đã nói lên được cả hào khí của thời đại Đông A, với sức mạnh của quân đội thời Trần và hùng tâm, tráng chí của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Tác giả không tả mà gợi lên sức mạnh của thời đại qua hình ảnh so sánh “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Không cần nhiều lời, bài thơ vẫn thể hiện được cả chí và tâm, cả tài năng và nhân cách của người anh hùng.
2. Bút pháp nghệ thuật có tính sử thi với hình ảnh gợi cảm, mang vẻ đẹp hoành tráng
– Từ ngữ cô đọng mà hình ảnh lại có sức gợi tả mạnh mẽ, sức truyền cảm lớn. Hai chữ: “hoành sóc” trong câu thơ nguyên tác: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo mà đứng giữa đất trời, sông núi. Cây trường giáo ấy như phải đo bằng chiều ngang của non sông. Con người kì vĩ ấy như át cả không gian bao la. Làm nổi bật hình ảnh con người lù vĩ là một bốì cảnh không gian, thời gian kì vĩ. Không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông. Thời gian trải dài theo năm tháng, “đã mấy thu”.
– Câu thơ thứ hai với thủ pháp nghệ thuật so sánh “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan giữa hiện thực và lãng mạn. Hiện thực khi cụ thể hóa sức mạnh vật chất của ba quân {tam quân tỉ hổ). Lãng mạn khi hướng tới sự khái quát hóa sức mạnh tinh thần của đội quan mang “hào khí Đông A” (khí thôn ngưu).
Vanmau.edu.vnXem thêm: Chút hương tình đầu | Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão | 857 | |
Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài)
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
Tác giả Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) người làng Phù ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc Ân Thi, Hưng Yên), là gia khách, sau thành con rể của Trần Hưng Đạo, người có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, làm đến chức Điện súy, được phong tước Quan nội hầu. Ông là võ tướng nhưng yêu thích thơ văn. Tác phẩm còn lại hai bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Vương (Viếng Thượng tướng quôc công Hưng Đạo Đại Vương).
Bài thơ Tỏ lòng được sáng tác vào khoảng những ngày cuộc khởi nghĩa lần thứ hai chống Mông – Nguyên đã đến rất gần. Bài thơ làm theo thể Đường luật, nội dung khắc họa hình ảnh con người có sức mạnh, có lí tưởng, nhân cách cao cả mang khí thế hào hùng của thời đại.
Câu thơ mở đầu thể hiện vẻ đẹp của người anh hùng thời đại với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kì vĩ. “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” (Múa giáo non sông trải mấy thu). Câu thơ nguyên tác dựng lên hình ảnh người cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ đất nước. Con người ấy có một tư thế hiên ngang, mang tầm vóc vũ trụ, át cả không gian bao la. Đó là con người của thời đại, mang hào khí Đông A: tự tin, dũng mãnh, kiên cường. Vượt qua thử thách của thời gian, của không gian, người tráng sĩ vẫn đường hoàng là một vị anh hùng. Lời thơ giản dị mà cảm xúc, hình ảnh chân thực mà hoành tráng, biểu hiện tư thế hiên ngang, ý chí bảo vệ Tổ quốc của nhân vật trữ tình – người trực tiếp chiến đấu.Xem thêm: Người xưa quan niệm: “Thi trung hữu họa”. Hãy làm sáng rõ điều đó qua việc phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
2. Từ câu thơ thứ nhất đến câu thơ thứ hai là một sự vận động không ngừng của quân đội nhà Trần thế kỉ XIII. Nếu trong câu thơ đầu người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của người lính thì ở câu thứ hai này khí thế dũng mãnh của quân đội (ba quân) đã trở thành sức mạnh của dân tộc. Thủ pháp nghệ thuật so sánh khí thế của ba quân như hổ báo nuốt trôi trâu vừa cụ thể hóa sức mạnh vật chất, vừa khái quát sức mạnh tinh thần của đội quân mang “hào khí Đông A”. Đội quân này sẵn sàng đón đợi để đè bẹp mọi cuộc tấn công của quân địch.
3. Câu thơ thứ 3, 4:
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
Quan niệm lập công danh đã trở thành lí tưởng của đấng làm trai thời phong kiến. “Vương nợ” ở đây có nghĩa là chưa trả xong nợ công danh, chưa hoàn thành nghĩa vụ với đời, với dân vổi nước. Chí làm trai trong bối cảnh lịch sử thời kì này mang tính tích cực và có tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ đất nước.
4. Nỗi “thẹn” mà bài thơ nói đến ở đây là nỗi thẹn vì chưa trả xong nợ nước. “Thẹn” chưa có tài mưu lược lớn để cứu nước khi so sánh với Vũ hầu Gia Cát Lượng đời Hán. Đây là nỗi thẹn của con người có nhân cách. Nỗi thẹn này không làm thấp bé mà trái lại, nó nâng cao tầm vóc con người.Xem thêm: Kể lại một lần mắc lỗi của em 5. Bài thơ thể hiện chí làm trai của đấng nam nhi trong thời đại nhà Trần. Tác giả không chỉ nói lên hoài bão của bản thân mà còn phát ngôn cho cả một thời đại rực rỡ chiến công trong lịch sử nước ta.
Vanmau.edu.vn | Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) | 670 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão
Bài làm
Phạm Ngũ Lão là một trong những danh tướng nổi tiếng nhất dưới triều đại nhà Trần. Ông không chỉ là một vị tướng giỏi binh thao, võ lược mà còn là một nhà thơ có những quan niệm về chí làm trai, về lòng yêu nước rất đặc sắc. Một trong số đó phải kể đến bài thơ Tỏ Lòng.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, ngắn gọn, súc tích. Mở đầu bài thơ chính là hình ảnh hào hùng, tráng lệ của quân đội thời Trần:
“Hoành sóc giang san kháp kỷ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
(Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)
Hai câu thơ với hai hình ảnh song song với nhau đó là hình ảnh người tráng sĩ và ba quân. Ở câu thơ thứ nhất thì hình ảnh tráng sĩ hiện lên với tư thế hiên ngang, lẫm liệt giữa đất trời. Người cầm ngang ngọn giáo với mục đích cao cả đó là giữ gìn non sông, đất nước. Công cuộc ấy không chỉ trong ngày một ngày hai mà đã là “mấy thu”. Sự nghiệp bảo vệ đất nước là lâu dài và không được lơ là cảnh giác. Chính vì vậy tư thế “hoành sóc” đã cho ta thấy tâm thế sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, sự tập trung cao độ của người cầm giáo. Ngọn giáo không chỉ là vũ khí chiến đấu của người anh hùng, mà còn là thứ để họ thể hiện tài năng, bản lĩnh của mình, thể hiện tư thế hiên ngang, bất khuất. Bên cạnh ý nghĩa thời gian dài “kháp kỷ thu” thì ý thơ còn có ý nghĩa đó là so sánh tầm vóc của ngọn giáo với chiều dài của lịch sử và chiều rộng của giang sơn, đất nước.Xem thêm: Giới thiệu về một lễ hội đặc sắc của quê hương (Hội Gióng)
Phân tích bài thơ Tỏ Lòng
Câu thơ thứ nhất đã lột tả được tầm vóc của vị tướng quân, của người tráng sĩ thời Trần thì đến câu thơ thứ hai tác giả đã miêu tả sức mạnh của quân đội nhà Trần:
“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”
Một đội quân mang sức mạnh cả về khí lực lẫn tinh thần. Vẻ đẹp của đội quân không chỉ ở sức mạnh mà còn ở khí chất mạnh mẽ, lấn át của sao Ngưu trên trời. Sức mạn của quân đội Sát Thát thời Trần được ví như hổ có thể nuốt trôi cả một con trâu lớn. Sức mạnh ấy đã được minh chứng trong lịch sử. Lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta luôn gặp phải kẻ thù lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần về số lượng, vú khí nhưng sự đoàn kết và lòng yêu nước đã khơi dậy tinh thần sắt thép, không gì ngăn nổi ta đánh đuổi lũ giặc xâm phạm, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.
Nếu hai câu thơ đầu Phạm Ngũ Lão nói về vẻ đẹp, sức mạnh của vị tướng của quân đội nhà Trần thì hai câu thơ cuối tác giả đã thể hiện quan điểm của mình về trí làm trai thời ấy:
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe thuyết Vũ Hầu)
Vốn là một thành viên trong đạo quân anh hùng ấy, nhà thơ từ một chiến binh trở thành một danh tướng khi tuổi đời còn rất trẻ. Đối với ông, đã làm đấng nam nhi trên đời này thì cần phải luôn sục sôi trong mình khát vọng công danh, khát vọng được bỏ công sức chiến đấu, cống hiến cho đời. Đó là quan điểm trung quân ái quốc, đặc biệt đó là trong thời chiến thì phải xông pha trận mạc, bảo vệ giang sơn. Câu thơ thứ ba đã nói lên khát vọng của nhà thơ đó là tận tâm phụng sự cho nhà Trần, là lập được công danh để sánh với non sông. Phạm Ngũ Lão muốn bàn đến chí làm trai, một vấn đề được quan tâm trong văn chương thời văn học chữ Hán. Nguyễn Công Trứ cũng từng nói:Xem thêm: Phân tích cái hay của các bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
“Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
Đối với ông nếu chưa lập nên công danh gì thì phải biết “thẹn” với lương tâm, thẹn với đời. Phạm Ngũ Lão mặc dù đã trở thành danh tướng, lập được nhiều công danh nhưng so với khát vọng của ông thì vẫn chưa đủ và ông vẫn cảm thấy mình còn mang món “nợ công danh”. Chính vì thế mà ông thấy “thẹn” khi nghe điển tích về Vũ Hầu. Qua đó ta thấy ông là một con người mang chí lớn, biết khiêm tốn và có lòng tự trọng cao.
Bài thơ Tỏ Lòng đã cho người đọc thấy được tấm lòng “Trung quân ái quốc” và phẩm chất cao quý của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Bằng ngôn từ hàm súc, cô đọng, nhà thơ đã đem đến cho chúng ta một bài học về chí làm trai về mục tiêu của cuộc sống mà không chỉ thời xưa mới cần đến. Đó là bài học về lối sống tích cực, khát vọng cống hiến cho tổ quốc đối với thanh niên của mọi thời đại.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất | 936 | |
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh là một bài thơ hay thể hiện rõ phong cách của Bác. Bên cạnh đó, bài thơ cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên và con người của Bác. Qua đây, chúng ta hiểu thêm phần nào về cuộc sống của Bác Hồ nơi Pác Bó.
Để các em có thể làm tốt đề văn phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó và gợi ý bài văn mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó
1. Mở bài
a. 3 câu đầu: cảnh sinh hoạt và làm việc của Bác ở Pác Bó
– Cảnh sinh hoạt của Bác:
+ Thời gian diễn ra liên tục quay vòng sáng – tối.
+ Không gian: suối và hang.
+ Ăn uống đạm bạc.
-> Cuộc sống giản dị, đều đặn và nền nếp.
– Cảnh làm việc của Bác:
+ Điều kiện làm việc khó khăn
b. Cảm nghĩ của Bác về cuộc sống ở Pác Bó
– Cuộc sống dù nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng Người vẫn luôn cảm thấy vui vẻ.
– Bác sống một cuộc đời giản dị, cống hiến sức mình cho dân tộc.
3. Kết luận
– Khái quát nội dung bài thơ Tức cảnh Pác Bó và nêu cảm nhận của em về bài thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Phân tích và nêu cảm nghĩ về trích đoạn kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ
II. Bài làm phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó
Cao Bằng vốn là vùng đất mang nhiều dấu ấn lịch sử dân tộc. Nơi đây có địa hình vô cùng hiểm trở với núi non hùng vĩ. Cao Bằng từng là căn cứ địa của cách mạng Việt Nam, nơi Bác Hồ và nhiều chiến sĩ khác đã từng sống và làm việc. Đó là những năm kháng chiến đầy gian khổ và ác liệt. Cuộc sống của Bác vô cùng khổ cực nhưng Người không bao giờ thấy phiền lòng về cuộc sống ấy. Bài thơ Tức cảnh Pác Bó đã thể hiện rõ nét cuộc sống của Bác trong những ngày ở Cao Bằng.
Cũng như nhiều bài thơ khác của Bác, toàn bài thơ chỉ có 4 câu trong đó có tới 3 câu Bác dùng để miêu tả cảnh nơi Bác đang sống và phải đến câu thơ cuối bài Người mới nói về tâm trạng và cảm xúc của mình.
Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó
Mở đầu bài thơ Bác viết miêu tả về thời gian sáng và tối, cảm giác như cuộc sống xoay vòng đều đặn ngày này qua ngày khác cứ:
Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Lối ngắt nhịp 4/3 ở trong câu thơ trên tạo nên một nhịp điệu nhịp nhàng. Nó cho người đọc thấy được sự nền nếp trong sinh hoạt của Bác. Buổi sáng, Bác ra bờ suối để làm việc, buổi tối Bác lại trở về hang với một tâm trạng đầy bình thản. Cuộc sống giữa núi rừng và giao hòa với thiên nhiên khiến cho Người giữ được tâm trạng thoải mái. Mặc dù Người không nói ra nhưng người đọc hiểu rằng cuộc sống nơi hang động tối và ẩm không dễ chịu gì. Thậm chí nếu như không có một sức khỏe tốt thì sẽ rất dễ ốm.Xem thêm: Nghị luận xã hội về Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất
Sang đến câu thơ tiếp theo, Người nói về bữa ăn hàng ngày của mình. Bữa ăn của một vị lãnh tụ lãnh đạo cả một đất nước nhưng lại không có chút gì gọi là cao lương mĩ vị. Thay vào đó là cháo bẹ, là rau măng. Đó là những thức ăn luôn sẵn có nơi miền núi rừng Pác Bó:
Cháo bẹ rau măng đã sẵn sàng
Mặc dù chẳng phải cao lương mĩ vị gì nhưng có thể nhận thấy qua câu thơ của Bác rằng chúng lúc nào cũng có để phục vụ con người. Trong hoàn cảnh cuộc sống còn khó khăn, đất nước còn nhiều gian nguy thì việc không lo đói là một điều đáng hạnh phúc. Và hẳn với Bác lúc này, Bác hài lòng với cuộc sống ấy. Chính vì thế nên Người hết mình và toàn tâm cho công việc:
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Sự chông chênh của chiếc bàn đá là một hình ảnh ẩn dụ nói về sự chông chênh của con đường cách mạng. Mặc dù nhiều gian khổ nhưng chúng ta thấy rằng Bác vẫn đang làm việc, hết mình vì công việc. Bác đang dịch sử Đảng của Liên Xô sang tiếng Việt để cho các chiến sĩ của mình tiếp cận được với đường lối cách mạng của Liên Xô, từ đó sẽ tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc. Khó khăn, thiếu thốn không hề khiến người chùn bước.
Trong cả 3 câu thơ miêu tả cảnh sinh hoạt và làm việc của Bác, ta đều thấy thoát lên một sự đơn sơ và giản dị. Nhưng cũng chính những thứ đơn sơ ấy lại khiến cho tâm hồn của Bác trở nên thư thái. Người vốn yêu thiên nhiên và sống hòa mình với thiên nhiên, vì vậy nên Người luốn gắn bó và gần gũi với thiên nhiên. Giữa thiên nhiên, Người giữ được tâm hồn thư thái của bản thân mình. Hình ảnh Bác Hồ ngồi bên suối dịch sử Đảng cứ như vậy đi sâu vào trong tâm trí của người dân Việt Nam. Câu cuối cùng của bài thơ, Người đã đưa ra một lời khẳng định rằng:Xem thêm: Kể về một con người đáng yêu, đáng kính mà em biết
Cuộc đời cách mạng thật là sang
Vậy đấy, giữa hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề, Người vẫn cho rằng cuộc sống này thật sang. Có thể thấy cái sang ở đây không phải là sang về vật chất mà là sang về tinh thần. Nó được cảm nhận bằng tâm hồn và tình yêu của Bác dành cho thiên nhiên.
Bài thơ Tức cảnh Pác Bó là những hình ảnh chân thực, gần gũi và giản dị về cuộc đời cách mạng của Bác Hồ. Bài thơ đưa người đọc về những năm xa xưa của cuộc kháng chiến, để thế hệ mai sau hiểu hơn và biết cảm ơn thế hệ ông cha của mình. Nhờ có họ mà chúng ta mới có được cuộc sống ấm no như ngày hôm nay.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh. Với bài dàn ý cùng với bài văn tham khảo trên đây, Kho tàng văn mẫu rất mong nhận được thêm ý kiến đóng góp của các bạn để những bài viết sau được sâu sắc hơn.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết) | 1,212 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tức Cảnh Pác Pó của Hồ Chí Minh
Bài làm
Sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài tìm đường cứu nước thì vào năm 1941 chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật về hoạt động tại Pác Pó, Cao Bằng. Tại đây người đã sống và hoạt động cách mạng đồng thời đây cũng là quãng thời gian gắn bó với rừng núi nơi đây. Bài thơ Tức Cảnh Pác Pó chính được viết trong hoàn cảnh đó.
Trong thời gian về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác phải sống trong điều kiện làm việc thiếu thốn, kham khổ. Qua bài thơ này giúp chúng ta hiểu thêm được phần nào về hoàn cảnh sống mà Bác Hồ từng trải qua, hiểu về con người Bác, một người tuy sống trong gian khổ nhưng vẫn luôn yêu đời, ung dung, tự tại vượt qua hoàn cảnh để vươn tới mục tiêu cao cả. Mở đầu bài thơ Người đã cho chúng ta thấy được cuộc sống giản dị thường ngày:
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang”
Đối lập sáng, tối thể hiện hai thời điểm khác nhau trong ngày và tương ứng với hai thời điểm đó chính là hai không gian và hai hành động khác nhau. Trong không gian đó hiện lên bóng dáng của Người đang miệt mài với công việc, những khoảnh khắc về cuộc sống sinh hoạt đan xen. Sự sắp xếp của các tiếng khiến cho người đọc cảm nhận được sự vận động của thời gian tuần hoàn và sự chuyển động của con người trong thời gian đó. Không gian làm việc của Bác chỉ là hai nơi bờ suối và hang đá. Gợi cho ta thấy không gian gần gũi, giao hòa với thiên nhiên, một cảm giác về một người ẩn sĩ nơi sơn dã.Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa
Phân tích bài thơ Tức Cảnh Pác Pó
Nơi núi rừng lạnh lẽo, hoang sơ và điều kiện thì thiếu thốn nhưng dưới cảm nhận của Bác khiến chúng ta không khỏi thấy được một cảm giác tự tại, an nhiên của Người:
“Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”
Câu thơ đã tái hiện những đồ ăn thức uống hằng ngày của người chiến sĩ cách mạng. Đó không phải là những gì cao sang, cao lương mỹ vị gì mà chỉ là cơm rau đạm bạc. Đó là “cháo bẹ rau măng”, là những sản vật của rừng núi, đó là rau rừng, măng tre, măng nứa luôn sẵn sàng có trong những bữa cơm hằng ngày. Sự thiếu thốn nhưng lại được thi vị hóa, thực phẩm luôn có, luôn “sẵn sàng” phục vụ mọi người. Nhìn vào bữa cơm đạm bạc ấy ta lại nhớ tới cuộc sống của những người thi sĩ xưa khi ở ẩn:
“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”
Ở câu thơ của Bác mang theo giọng điệu lạc quan, như vừa lòng, tự hào về cuộc sống mà người đang trải qua. Nếu hai câu thơ đầu là hai câu tả thực thì hai câu thơ cuối vừa mang nét tả thực lại vừa ẩn nét trữ tình sâu sắc;
“Bàn đá chông chênh lịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”
Ta bắt gặp niềm vui sau từ “sẵn sàng” thì nay ta như thấy được sự hóm hỉnh, thâm thúy sau từ “chông chênh”. Như ta đã biết thì chông chênh có nghĩa là không bằng phẳng, chưa vững vàng. Chiếc bàn đá hay chỉ là một phiến đá ở bờ suối, ở trong hang đá là nơi làm việc của Bác. Nhưng ẩn chứa trong đó còn là nét ẩn dụ về tình thế khó khăn của cách mạng nước nhà. Cách so sánh ấy khiến ta vừa thấy nét đùa vui, hài hước nhưng lại mang ý nghĩa cách mạng lớn lao và mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Đến câu thơ cuối ta như thấy được những thiếu thốn, nghèo nàn, những khó khăn trong cách mạng đã được chuyển hóa thành cái “sang” mang tính tinh thần. Sang ở đây nghĩa là đầy đủ và cao quý. Con người đạt được những niềm mong mỏi, được làm việc mình thích, được phấn đấu cho lý tưởng của mình đó chính là niềm vui, niềm hạnh phúc. Đối với chủ tịch Hồ Chí Minh, thì được làm việc mỗi ngày, mỗi ngày thưởng thức những món ăn đạm bạc như một món quà của núi rừng như vậy chính là “sang”.Xem thêm: Con người Hồ Chí Minh hiện lên qua bài thơ Tức cảnh Pác Bó
Tức Cảnh Pác Pó chính là bài thơ mang theo sự hồn nhiên, giản dị và sâu sắc. Bài thơ cho ta thấy tinh thần lạc quan yêu đời, một tấm lòng vì dân vì nước của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Tức Cảnh Pác Pó của Hồ Chí Minh | 830 | |
Bài thơ Từ ấy không chỉ là một bài thơ hay mà nó còn là cột mốc đánh dấu sự nghiệp cách mạng của nhà thơ Tố Hữu. Từ ấy chính là thời điểm nhà thơ được đứng trong hàng ngũ của Đảng, được ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ chiếu soi.
Để giúp các em hiểu hơn về bài thơ Từ ấy cũng như có thêm tài liệu tham khảo để làm bài, chúng tôi sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý và chia sẻ bài văn mẫu phân tích bài thơ Từ ấy hay nhất.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy
1. Mở bài phân tích bài thơ Từ ấy
– Giới thiệu về nhà thơ Tố Hữu và tác phẩm Từ ấy. Nhà thơ Tố Hữu là một cây thơ đại thụ của nền văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông hay nổi bật và giàu cảm xúc. Bài thơ Từ ấy đã đánh dấu tên tuổi của nhà thơ Tố Hữu.
2. Thân bài phân tích bài thơ Từ ấy
Khổ 1: Niềm vui sướng, hạnh phúc của tác giả ki bắt gặp lí tưởng của Đảng.
– Phân tích hai chữ từ ấy để thấy cột mốc quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu.
– Phân tính hình ảnh ẩn dụ: bừng nắng hạ và chói qua tim để thấy được ánh sáng chói chang soi rọi chân lí của tác giả.
=> Cảm giác của nhà thơ khi được lí tưởng của Đảng soi sáng.
Khổ 2: Lời tự nguyện của tác giả khi đến với lí tưởng Đảng
– Phân tích các từ buộc, trang trải,… để thấy được ý chí tự nguyện của tác giả đối với cuộc đời, con người.
– Phân tích các từ lòng tôi, tình, hồn tôi để thấy được cái tình của tác giả đối với những mảnh đời còn vất vả ngoài kia.
=> Sự đồng cảm và gắn bó của tác giả, sự hòa nhập của cái tôi riêng vào cái ta chung, tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
Khổ 3: Lời khẳng định của nhà thơ
– Ngôn ngữ thể hiện sự gần gũi, thân thiết, gắn bó.
=> Tâm trạng của tác giả có sự chuyển biến sâu sắc.
Nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, điệp từ, bút pháp tự sự, lãng mạn, trữ tình.Xem thêm: Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải
3. Kết luận phân tích bài thơ Từ ấy
Tổng quát lại nội dung của bài thơ Từ ấy và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ.
Bài viết liên quan
>> Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Từ ấy
Nhà thơ Tố Hữu được xem là ngọn cờ đầu của phong trào thơ cách mạng Việt Nam. Thơ của ông viết nhiều về đề tài cách mạng, đề tài Bác Hồ. Mặc dù viết theo lối tự sự nhưng lúc nào cũng chất chứa tình cảm. Trong số những sáng tác của Tố Hữu, bài thơ Từ ấy được đánh giá khá cao. Bài thơ được rút ra từ tập thơ cùng tên sáng tác năm 1938. Cái tên Từ ấy cũng là ám chỉ mốc thời gian mà Tố Hữu được giác ngộ lý tưởng cộng sản. Chính vì vậy mà bài thơ mang một nhịp điệu tươi vui, thể hiện được cảm xúc vui sướng và hạnh phúc trong lòng tác giả.
Phân tích bài thơ Từ ấy
Đối với thanh niên thế hệ Tố Hữu, được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một niềm khát khao. Trở thành Đảng viên nghĩa là được trở thành người của muôn dân, được cống hiến bản thân mình cho Tổ quốc. Tố Hữu sau khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng thì giống như được soi sáng tâm hồn. Nhà thơ đã cất lên những vần thơ như một tiếng reo vui, vỡ òa trong hạnh phúc:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hai chữ “từ ấy” cho người đọc thấy được một sự thay đổi rõ rệt, một sự chuyển biến trong tư duy, trong nhận thức của người thanh niên trẻ tuổi. Nó sẽ là cột mốc mà suốt cuộc đời Tố Hữu không thể nào quên được. Nó không chỉ đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức nhà thơ mà nó có thể còn làm thay đổi tư duy sáng tác của ông. Từ ấy, trong lòng nhà thơ giống như “bừng nắng hạ”. Bừng lên một thứ ánh sáng chói chang của ngày hè. Nó sáng soi tất cả, xuyên qua cả thực thể để chiếu rọi vào tim. Hai hình ảnh ẩn dụ bừng nắng hạ và chói qua tim khiến câu thơ trở nên mạnh mẽ. Nó cho người đọc thấy được sức mạnh của lí tưởng cộng sản và niềm tin của nhà thơ vào con đường cách mạng. Thế cho nên, tâm hồn nhà thơ như được tưới mát, trở nên rộn ràng và vui tươi:Xem thêm: Qua những tác phẩm đã học và đọc thêm, hãy phát biểu cảm nghĩ của em về người phụ nữ trong thơ trung đại
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Trong khu vườn tâm hồn nhà thơ rộn rã tiếng chim và ngào ngạt hương thơm của một vườn hoa lá. Nhà thơ đã lấy một cái cụ thể đó là vườn hoa lá để làm đại diện cho một cái vô hình đó là hồn tôi. Câu thơ khiến người đọc dễ tưởng và dễ cảm. Niềm vui sướng và hạnh phúc lớn lao của nhà thơ như đang lan tỏa ra khắp những người xung quanh, khắp cảnh vật xung quanh. Những câu thơ như vẽ một bức tranh của tâm hồn nhưng không đơn điệu mà ngập tràn sắc hương.
Chính từ những giác ngộ trong tâm hồn mình, nhà thơ đã hình thành trong tâm hồn một tư tưởng lớn lao. Đó là tư tưởng gắn kết bản thân mình vào với cuộc đời, vào với muôn dân:
Tôi buộc lòng tôi với mọi nhà
Để tình trang trải đến trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Đại từ nhân xưng tôi trong khổ thơ này cho chúng ta thấy được cái tôi cá nhân rõ nét của tác giả nhưng ý thơ lại bộc lộ được cái ta rộng lớn và bao la. Động từ buộc tạo nên một sự gắn kết giữa tác giả và mọi nhà. Thông thường, để buộc những thứ gì đó lại với nhau người ta thường dùng một sợi dây nhưng nhà thơ thì không. Ông buộc lòng mình bằng một sợi dây vô hình, đó là sợi dây của lý trí, của lý tưởng cộng sản, sợi dây của ý thức trách nhiệm khi bản thân đã đứng trong hàng ngũ của Đảng. Đó là con đường mà Tố Hữu đã chọn và chàng thanh niên trẻ tuổi khi đó sẵn sàng đương đầu với thử thách, tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho Tổ quốc. Buộc lòng mình vào với muôn người là để nhà thơ thấu hiểu được tất thảy những mảnh đời ngoài kia, để người với người xích lại gần nhau hơn và tạo nên một sức mạnh đoàn kết tập thể cùng nhau chống lại giặc thù. Chắc chắn không chỉ có mình Tố Hữu mà tất cả các chiến sĩ khác cũng đều như vậy.Xem thêm: Cao Chu Thần từng có câu thơ để đời: Nhất sinh đê thủ bái mai hoa. Có người cho rằng vẻ đẹp của câu thơ cũng chính là vẻ đẹp của Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Ý kiến của anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích để làm sáng tỏ
Từ sự gắn kết ấy, nhà thơ tiếp tục mở rộng quan điểm của mình. Nhà thơ muốn được bao bọc, muốn được chở che cho những mảnh đời bất hạnh ở ngoài kia. Khổ thơ cuối bài chính là lời khẳng định vị thế của nhà thơ:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ
Đọc khổ thơ lên, người đọc cảm nhận được sự ấm áp và dạt dào tình cảm. Cả Tổ quốc chỉ như một nhà, một gia đình có cha mẹ, có con cái. Tố Hữu tự nhận mình là con, là em, là anh,… như vậy ông đã coi mình là một phần của tất thảy những mảnh đời phôi pha và cù bất cù bơ ngoài kia. Đó là bởi trái tim nhà thơ đang có những niềm thương xót cho những số phận ấy. Không nói ra nhưng chúng ta cũng hiểu được rằng nhà thơ đang thể hiện một ước mong đó là làm sao cho cuộc sống của những mảnh đời kia được tốt đẹp hơn.
Tiếng ca reo vui khép lại với một mong ước thật lớn lao. Tố Hữu xứng danh là nhà thơ cách mạng. Những suy nghĩ của ông sẽ là những gì mà thế hệ con cháu mai sau vẫn luôn cần phải học hỏi và noi theo.
Trên đây là phần lập dàn ý cho đề phân tích bài thơ Từ ấy cũng như bài văn mẫu phân tích bài thơ Từ ấy. Dàn ý và bài mẫu chỉ mang tính chất tham khảo, các em có thể mở rộng hơn, phát triển ý và phân tích sâu hơn để có được tác phẩm hay nhất cho riêng mình.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) | 1,626 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu
Bài làm
Tố Hữu là một trong những nhà thơ tiên phong của phong trào thơ ca cách mạng Việt Nam. Bài thơ Từ Ấy chính là dấu mốc đánh dấu sự trưởng thành của người thanh niên cách mạng, là tiếng reo vui của nhà thơ khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng.
Từ Ấy được rút ra từ tập thơ cùng tên, được Tố Hữu sáng tác năm 1938. Bài thơ đã đánh dấu sự trưởng thành của nhà thơ về tâm hồn, về lý tưởng cách mạng. Mở đầu bài thơ là lời thơ chan chứa niềm vui và sự rộn ràng trong tâm hồn người thanh niên:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim”
Cảm xúc của tác giả lúc bấy giờ chính là sự vui mừng, không biết nói nên lời, và chỉ có thể nhấn mạnh một lần nữa rằng khoảng thời gian ấy chính là “Từ ấy”. Đó là dấu mốc, là bước ngoặt trong cuộc đời của một con người khi được giác ngộ lý tưởng lớn. Hai hình ảnh ẩn dụ “bừng nắng hạ”, “mặt trời chân lý” đã cho ta thấy được một thứ gì đó như tươi sáng, như tốt đẹp nhất đang đến với người thanh niên trẻ. Từ “bừng nắng hạ” khiến cho câu thơ trở nên sáng chói, cái nắng vàng ươm của mùa hè, cái nắng tràn ngập sức sống. Chính ánh sáng đó như dẫn đường, chỉ lối cho nhà thơ bước ra khỏi vùng tăm tối, bế tắc. Cách mạng chính là ánh sáng và chân lý, là điều mà khi giác ngộ cần trân trọng, giữ gìn.Xem thêm: Phân tích quan điểm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu trong bài thơ "Vội vàng "
Phân tích bài thơ Từ Ấy
Từ khi được giác ngộ cách mạng thì người thanh niên ấy đã có những chuyển biến ngay trong tâm hồn:
“Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
Khi đang ở trong một “căn hầm tối”, không thấy ánh sáng và đang cảm thấy cuộc đời bế tắc thì chính ánh sáng của cách mạng đã khiến tâm hồn của người khi được giác ngộ, trở thành chiến sĩ cách mạng đã có sự thay đổi to lớn. Tâm hồn người chiến sĩ trẻ ấy như một khu vườn tràn ngập hoa lá và tiếng chim ca. Sự so sánh tài tình khiến ta có thể cảm thận được một tâm hồn chứa đựng muôn màu, muôn vẻ tươi vui của cuộc sống. Tác giả đã phơi bày cho chúng ta thấy được khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng thì cuộc đời của nhà thơ như tràn ngập niềm vui và sự tự hào.
Chính sự giác ngộ đó đã khiến cho người chiến sĩ có động lực sống và làm việc. Cũng qua đó hình thành nên tư tưởng lớn trong tâm hồn của nhà thơ:
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
Khi thấm nhuần lý tưởng cách mạng, nhà thơ nhận ra đã đến lúc mình phải thay đổi cách sống. Khi đất nước lầm than thì mình không chỉ sống cho riêng mình mà còn phải vì những người khác và hòa hợp với mọi người xung quanh. Đây là lúc ông phải “trang trải với muôn nơi” để thấu hiểu, để gần gũi nhau hơn, gắn kết với nhau thành gia đình lớn. Qua đó cũng thể hiện nguyện vọng đoàn kết, tạo dựng nên một “khối đời” vững chắc, mạnh mẽ để kết thành một làn sóng lớn đập tan quân thù. Đó chính là lý tưởng sống cao cả mà Tố Hữu theo đuổi.Xem thêm: Phân tích bài Chuyện chức phán sự ở đền Tản ViênCuối bài thơ nhà thơ đã gắn trách nhiệm của mình với trách nhiệm của cuộc đời, khẳng định vị thế của mình trong “khối đời” ấy:
“Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ”
Khổ thơ cuối tiếp tục ghi nhận những chuyển biến trong nhận thức và hành động của nhà thơ. Sự gắn kết của nhà thơ không chỉ với những người cùng thế hẹ mà là với các tầng lớp khác nhau trong quần chúng lao động. “Tình trang trải” khắp muôn nơi ấy chính là để gắn bó với “vạn nhà”, đó là một tập thể lớn lao. “Vạn kiếp phôi pha” chính là nói đến những người lao động cực nhọc, những người sống nghèo khó, cơ cực. Không chỉ có những tầng lớp đó mà Tố Hữu còn gắn bó với “vạn đầu em nhỏ”, đó là những em bé lang thang, nay đây mai đó, những đứa trẻ chịu nhiều thiệt thòi, khó khăn. Từ những cách xưng hô như: con, em, anh khiến cho ta thấy được tình hữu ái giữa các giai cấp, đó là tình cảm yêu thương ruột thịt như những người trong một gia đình. Điều này không phải trong mơ, hay tương lai hướng tới nữa mà đã được khẳng định bởi từ “đã là”, có nghĩa là đã và đang xảy ra. Nhà thơ đã nhận định mình là một thành viên trong quần chúng lao khổ này. Xem thêm: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân được thể hiện rõ nét qua hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà. Hãy phân tích và chứng minh.Lý tưởng cách mạng đã đã thay đổi cả một thế hệ trí thức tiểu tư sản không chỉ riêng Tố Hữu. Các văn nhân, thi sĩ đã có sự thay đổi trong phong cách sáng tác của mình. Họ không hoạt động xa rời quần chúng mà giác ngộ quan điểm: nhà thơ, nhà văn cũng là người chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Như Bác Hồ đã từng nói:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
Bài thơ Từ Ấy chính là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu. Là tiếng reo vui của người chiến sĩ cách mạng khi được giác ngộ lý tưởng, là tuyên ngôn về lẽ sống của nhà thơ chiến sĩ.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu hay nhất | 1,078 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà, thật hiếm thấy nhà thơ nào lại có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã đi vào lòng người như thơ Tố Hữu trong thế kỷ 20. Tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng.
Đọc những vần thơ, những bài thơ của Tố Hữu, chúng ta như cảm nhận được một tâm hồn thơ dạt dào cảm xúc, một trái tim nhân hậu, một tấm lòng trung trinh với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân và tình cảm gắn bó thân thiết keo sơn với đồng bào, đồng chí.
“Dù ai thay ngựa giữa dòng
Đời ta vẫn ngọn cờ hồng cứ đi
Vẫn là ta đó những khi
Đầu voi ra trận cứu nguy giống nòi"
Bao trùm lên toàn bộ sáng tác thơ của Tố Hữu là vì lý tưởng cách mạng, vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, vì lương tâm, chính nghĩa, công lý và lẽ phải trên đời.. Và một trong những giá trị tiêu biểu của thơ Tố Hữu là tính hướng thiện được biểu lộ vừa thầm kín, tinh tế, vừa sâu sắc, đậm đà qua 6 tập thơ nổi tiếng: Từ ấy, Việt Bắc, Ra trận, Gió lộng, Máu
Bài thơ “Từ ấy” được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của ông. Có thể nói “ Từ ấy” là tiếng hát của người thanh niên yêu nước Việt Nam giác ngộ lí tưởng Mác Lê Nin trong ngày hội lớn của cách mạng:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
“Từ ấy” là một thời điểm lịch sử đã trực tiếp tác động đến cuộc đời nhà thơ khi được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng,Trong buổi ban đầu ấy, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”.Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ, như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc.
Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim
Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu“ bừng nắng hạ” đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí.
Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng
Ta đi tới chỉ một đường cách mạng
Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu:
Mặt trời chân lí chói qua tim
Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng, mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã “chói” vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào.
Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại:
Xem thêm: Phân tích bài thơ "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi và nói lên cảm nghĩ của emHồn tôi là một vườn hoa lá,
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại:“hồn” người đã trở thành “vườn hoa”, một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ.
Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người:
Tôi buộc hồn tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời.
“Buộc” và “trang trải”là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. “Buộc” là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam
Để tình trang trải với trăm nơi
Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: “Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống – Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng”., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bấc cù bơ.
Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người “than bụi, lầy bùn”là lực lượng tiếp nối của “vạn kiếp phôi pha”, là lực lượng ngày mai lớn mạnh của “vạn đầu em nhỏ”,để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ “là” được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này.
Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, “Từ ấy” đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng.
Bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng – tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản.
Cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa, ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là "cõi tạm". Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng:
Tạm biệt đời ta yêu quý nhất
Còn mấy vần thơ, một nắm tro.
Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất
Sống là cho. Chết cũng là cho.
Bởi thế, con người, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và thi ca của Tố Hữu luôn sống mãi trong niềm tin yêu, kính trọng của Đảng và nhân dân..
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nêu cảm nghĩ về các nhân vật: người đàn bà vùng biển, lão đàn ông độc ác, chị em thằng Phác, người nghệ sĩ nhiếp ảnh | Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu | 1,531 | |
Nhà thơ Tố Hữu có nhiều sáng tác rất hay. Bài thơ Từ ấy là một trong những sáng tác đặc sắc của ông. Khổ thơ đầu tiên thể hiện sự thay đổi lớn trong cuộc đời của tác. Tâm hồn của nhà thơ trở nên bừng sáng như một vườn hoa lá xanh tươi.
Để các em có thể phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1 hay nhất thì Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1. Thêm vào đó là cung cấp cho các em 1 bài văn mẫu để tham khảo.
I. Lập dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Tố Hữu và bài thơ Từ ấy.
– Giới thiệu về khổ thơ 1 của bài.
2. Thân bài phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1
a. Hai câu đầu
– Cột mốc đánh dấu sự thay đổi lớn trong cuộc đời tác giả
– Bừng, chói thể hiện ánh sáng rực rỡ của chân lý.
b. Hai câu sau
– Sự thay đổi lớn trong tâm hồn tác giả.
– Tâm hồn nhà thơ như vườn hoa lá rộn ràng sắc hương.
3. Kết luận
– Khái quát nội dung khổ thơ và nêu cảm nhận của em về khổ thơ này.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích bài thơ Vội vàng khổ 2 cuẩ Xuân Diệu (Có dàn ý chi tiết)
Xem thêm: Trong Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ), Vũ Trọng Phụng viết: "Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Hãy chứng tỏ điều đó qua các nhân vật và làm sáng tỏ một thứ "thế thái nhân tình” được xây dựng trên: sự tàn nhẫn và sự dối trá
>> Phân tích bài thơ Từ ấy của Tản Đà (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1
Nhà thơ Tố Hữu vẫn được biết đến là nhà thơ cách mạng với rất nhiều sáng tác về Đảng, về Bác Hồ và về những người mẹ Việt Nam anh hùng. Thơ của Tố Hữu sử dụng ngôn từ gần gũi lại được viết từ những cảm xúc chân thành nên được nhiều độc giả yêu mến. Bài thơ Từ ấy cũng là một bài thơ được đánh giá cao. Trong đó, khổ thơ đầu tiên nhà thơ đã thể hiện được sự thay đổi lớn trong tâm hồn mình cũng như khẳng định được tài năng sáng tác thông qua cách lựa chọn từ ngữ và lựa chọn hình ảnh so sánh.
Đặt tiêu đề bài thơ là Từ ấy, người đọc cũng có thể hiệu được dụng ý của tác giả đang muốn nói đến một cột mốc thời gian nào đó. Nếu xét theo thời gian ra đời bài thơ thì có thể nhận biết rằng từ ấy chính là thời điểm nhà thơ được giác ngộ lý tưởng cộng sản, được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Đối với thanh niên yêu nước thế hệ Tố Hữu, được đứng dưới ngọn cờ Đảng mà tuyên thệ là một niềm hạnh phúc vô cùng to lớn mà không gì có thể so sánh được. Đối với Tố Hữu, cột mốc này có ý nghĩa đặc biệt bởi nó làm thay đổi cuộc đời ông. Nhà thơ đã viết:Xem thêm: Anh (chị) hiểu như thế nào về quan niệm sau đây của Vũ Trọng Phụng: “Các... thực ở đời”. Phân tích “Hạnh phúc một tang gia’’ để chứng minh cho quan điểm đó
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1
Tầm quan trọng của cột mốc từ ấy thể hiện một cách rõ nét ngay từ câu thơ mở đầu. Hình ảnh bừng nắng hạ mang đến một sự tươi sang cho không gian. Nhưng ở đây, nhà thơ không diễn tả cảnh vật không gia hiện hữu bên ngoài mà ông đang miêu tả khung cảnh ở bên trong tâm hồn mình. Được đứng trong hàng ngũ của Đảng giống như được một ánh nắng chiếu vàng khiến cho con người trở nên bừng sáng rực rỡ. Nó khiến con người có thể nhìn thấy đường đi đúng đắn, có thể nhìn thấy chân lý của cuộc đời. Chỉ có ánh sáng của chân lý mới đủ sức chiếu sáng qua tim của con người. Nó mang đến cho con người một sức sống mới, cứ như là đang được sống một cuộc đời mới. Bừng và chói đều là hai động từ mạnh diễn tả được sự thay đổi lớn lao bên trong tác giả.
Tiếp đến hai câu thơ sau, nhà thơ đã miêu tả khu vườn của tâm hồn mình. Ông đã ví tâm hồn mình giống như một vườn hoa lá đầy cỏ cây và đầy hương sắc. Tâm hồn con người vốn là thứ vô hình không có hình dạng, không thể nhìn thấy nhưng nhà thơ lại đem nó ra để so sánh với một vườn cây. Làm như vậy là để người đọc có thể hiểu và cảm nhận rõ hơn về niềm vui sướng đang trào dâng trong lòng tác giả. Ông quá hạnh phúc nên muốn đem hết tâm hồn mình ra mà phô bầy cho người khác nhìn thấy. Còn gì đẹp hơn khi ví tâm hồn như một vườn hoa lá đậm hương và rộn tiếng chim. Một khu vườn ngập tràn màu sắc và âm thanh là một khu vườn đẹp. Vậy nên có thể nói nhà thơ có một tâm hồn rất đẹp.Xem thêm: Đoạn văn nghị luận xã hội: Kỳ quan vĩ đại nhất là trái tim người mẹ
Khổ thơ 1 với những nét nghệ thuật đặc sắc như sử dụng từ đắt giá, sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh đã góp phần tạo nên sự thành công của cả bài thơ. Chỉ với riêng khổ thơ này thôi cũng đủ để cho người đọc thấy được tài năng của Tố Hữu.
Như vậy là Kho tàng văn mẫu đã hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1 và cung cấp thêm bài văn mẫu cho các em tham khảo. Chúc các em có những giờ học Văn đầy thú vị.
Thu Thủy | Phân tích bài thơ Từ ấy khổ 1 của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) | 1,078 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương
Bài làm
Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ xuất sắc với những đóng góp đáng kể vào nền thơ ca dân tộc. Sự nghiệp văn chương của bà mang phong cách thơ độc đáo với chủ yếu những sáng tác tả cảnh ngụ tình. Bà còn được biết đến là một nhà thơ chuyên viết về đề tài thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Bài thơ Tự Tình II chính là một trong những sáng tác đó.
Mở đầu bài thơ Tự Tình 2 chính là hình ảnh người phụ nữ trong đêm khuya:
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non”
Hồ Xuân Hương đã gợi mở cho người đọc thấy ngay được thời gian nghệ thuật đó chính là vào lúc đêm khuya. Đây là thời điểm mà con người ta nếu như không ngủ được thì trong lòng ắt hẳn mang những nỗi suy tư, đang ở trạng thái cảm xúc khó miêu tả nhất. Trong không gian đó thì “văng vẳng” đâu đây tiếng trống canh. Chính vì đêm khuya thanh vắng nên âm thanh trống canh từ xa mới vọng lại rõ ràng đến vậy. Cũng trong thời điểm ấy thì có một người phụ nữ vẫn còn thao thức. Ắt hẳn người này rất xinh đẹp bởi Hồ Xuân hương đã gọi tên bằng từ “hồng nhan”. Dù cho có nhan sắc mặn mà nhưng lại “trơ với nước non”, chẳng có ai nhìn nhận, chẳng có ai có thể thấy được vẻ đẹp ấy. Trong quãng đời rộng lớn, trong không gian vắng lặng, u tịch thì người phụ nữ ấy nhận ra được thân phận của mình, nhỏ bé giữa thiên nhiên, sự cô đơn, lẻ loi và tiếng trống gầm canh như càng thêm tô điểm cho sự cô đơn ấy, khiến người “hồng nhan” càng thêm buồn, trống vắng. Chính vì tâm trạng ấy nên người phụ nữ đó mới tìm đến rượu để mong giải nỗi sầu:Xem thêm: Bài văn lạ về vai trò của gia đình
Phân tích bài thơ Tự Tình 2
“Chén rượu đưa hương say lại tỉnh
Vầng trăng xế bóng khuyết chưa tròn”
Những tưởng có thể mượn rượu để giải nỗi sầu, để dốc bầu tâm sự và có thể đi vào giấc ngủ quên đi những muộn phiền. Nhưng trớ trêu thay người muốn say để quên đi thì lại chẳng thể say mãi được mà lúc tỉnh thì lại càng thêm buồn tủi. Mượn rượu giải sầu nhưng chẳng có nỗi sầu nào biến mất mà chỉ thấy vầng trăng “bóng khuyết chưa tròn”. Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh trăng khuyết để nói lên số phận hẩm hiu, chưa được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong khi tuổi xuân thì có hạn. Càng tỉnh táo thì dường như sự nhận thức về hạnh phúc của bản thân mình càng trở nên rõ ràng. Qua câu thơ cũng thể hiện khát vọng được hạnh phúc, được thoát khỏi cảnh sầu lẻ bóng. Nhìn nhận được thực tại tàn khốc ấy nhà thơ như muốn:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm tạc chân mây đá mấy hòn”
Nhà thơ sử dụng những động từ mạnh “xiên ngang”, “đâm toạc” để bày tỏ sự bộc phát tâm trạng, sự bức bối, uất ức của người “hồng nhan”. Hình ảnh những đám rêu xanh cũng mang theo những ẩn ý riêng của tác giả. Rêu vốn là một loại cây nhỏ bé nhưng lại chứa đựng sức sống mạnh mẽ, dù cho ở điều kiện sống như thế nào chăng nữa thì nó cũng cố gắng vươn lên, sống tươi tốt. “Xiên ngang mặt đất” thể hiện sự phản kháng quyết liệt, ham muốn xuống mãnh liệt của đám rêu hay của chính nhân vật trữ tình đang khao khát một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bên cạnh đó, đối lập với sự rộng lớn của bầu trời chính là hình ảnh những hòn đá nhỏ. Hòn đá tuy nhỏ bé nhưng muốn bứt phá, rời khỏi mặt đất để có thể đến với bầu trời cao xanh kia, để có thể làm một hành động phi thường đó là “đâm toạc chân mây”. Tuy nhiên, khát khao là vậy thì giữa thiên nhiên với con người cũng có sự đồng điệu nhất định, hòn đá dù có được ném lên cao, rời khỏi mặt đất nhưng vẫn sẽ phải trở lại nơi nó đã rời khỏi và con người cũng vậy, dù có vùng vẫy, gắng gượng nhưng cũng không thể thoát khỏi thực tại. Đặc biệt khi đặt vào hoàn cảnh kiếp làm vợ lẽ của người ta lại càng thấm thía nỗi buồn của bà:Xem thêm: Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
Mùa xuân của thiên nhiên vốn tuần hoàn nhưng với con người lại hữu hạn. Đối với một người phụ nữ thì tuổi xuân chẳng hề dài mà một khi đã trôi đi thì chẳng bao giờ có thể lấy lại được. Đáng buồn hơn là có rất nhiều người phụ nữ có thân phận hẩm hiu, bất hạnh, cả tuổi xuân sống trong cảnh cô đơn, lẻ loi chẳng lúc nào có được hạnh phúc trọn vẹn. Chính vì thế thi sĩ đã sử dụng từ “ngán” để bày tỏ tâm trạng của mình lúc bấy giờ. Mảnh tình vốn đã nhỏ nhoi rồi ấy vậy mà lại phải san sẻ, chia nhỏ ra chứ không được hưởng trọn vẹn, không được đong đầy hạnh phúc.
Qua đó ta thấy bài thơ Tự Tình quả thực là một bài thơ hay về đề tài thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Nhà thơ đã cất lên tiếng lòng của mình, thay những người phụ nữ nói lên nỗi niềm, khát vọng được yêu thương, được hưởng hạnh phúc trọn vẹn.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Tự Tình 2 của Hồ Xuân Hương hay nhất | 1,005 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương là nhà thơ lớn của dân tộc. Tuy sáng tác của bà để lại không nhiều, chủ yếu là những bài thơ Nôm truyền tụng và tập thơ chữ Hán Lưu Hương kí, song bà đã khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn của văn học Việt Nam với một phong cách thơ vô cùng độc đáo. Chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu về sự đóng góp của bà cho thơ ca trung đại Việt Nam. Hoàng Hữu Yên cho rằng: Thơ Hồ Xuân Hương là rực rỡ nhất; Xuân Diệu lại đánh giá Hồ Xuân Hương như là một vị chúa thơ Nôm (…) Xuân Hương dùng thể thơ Đường luật thế mà ta không chút nào nghĩ rằng đó là một điệu thơ nhập nội, thơ Xuân Hương cứ nôm na bình dân tự nhiên (…) Xuân Hương thật xứng đáng là bà chúa thơ Nôm.
Trước hết ta tìm hiểu nhan đề của bài thơ Tự tình. Tự tình ở đây là tình cảm tự bộc lộ ra, đó chính là tâm trạng bộc bạch của chính người trong cuộc, đó là lời của tâm hồn, lời của con tim khao khát hạnh phúc cháy bỏng, đó là tiếng nói phẫn uất đau đớn xót xa… Đọc Xuân Hương thi tập ta thấy trong đó có một con người luôn luôn căm phẫn, luôn luôn phẫn nộ đối với chế độ phong kiến thối nát đương thời, đồng thời trong thơ của bà còn luôn luôn ca ngợi bênh vực cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Nhưng bên cạnh đó trong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương luôn hiện lên một tâm trạng khao khát hạnh phúc, muốn bộc lộ cái tôi của mình. Cái tôi đó có lúc khao khát mãnh liệt nhưng cũng có lúc cô đơn uất hận xót xa, bế tắc bấp bênh, chới với giữa dòng đời.
Như trên đã nói, Tự tình là bài thơ Nôm được làm theo lối luật Đường. Bài thơ gồm 56 chữ, 8 câu chia thành 4 phần đề, thực, luận, kết, với niêm luật chặt chẽ, hàm súc mà cô đọng, lời ít mà ý nhiều. Hai câu đề của bài thơ hằn lên một nỗi niềm vừa cô quạnh, vừa bất bình ngao ngán cho một thân phận thiệt thòi quá lớn.
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Thông thường câu thơ đầu tiên của bài thơ thất ngôn bát cú có nhiệm vụ mở cửa thấy núi (Khai môn kiến sơn). Câu thơ mở đầu cho ta thấy phần nào chủ đề của bài thơ. Câu thơ đầu của bài thư này thoạt đầu dường như ta chưa thấy gì về sự báo hiệu cho chủ đề của nó. Nó chỉ là dấu hiệu của thời gian (tiếng gà văng vẳng gáy trên bom) mà ta thường thấy trong thơ ca xưa:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương.
Hay tiếng gà chuyển canh trong thơ Bác:
Gà gáy một lần đêm chửa tan
Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn.
Nhưng đằng sau cái tiếng gà gáy sáng văng vẳng áy ẩn sau một tâm trạng xót xa, buồn bã, cô đơn. Lúc này con người đã tình giấc đối diện với chính mình. Tiếng gà như một âm thanh chát chúa dội vào tâm trạng cô đơn của nữ sĩ khiến cho bà cất lên những lời đầy oán hận: Oán hận trông ra khắp mọi chòm. Hai câu thơ trên đã cho a thấy được phần nào tâm trạng đắng cay chua xót của nhà thơ. Nỗi bất hạnh đó còn được thể hiện sâu sắc hơn ở những câu thơ sau.
Hai câu thực nhà thơ đã diễn tả nỗi uất ức xót xa như chìm sâu vào trong tâm hồn nhà thơ đầy bất hạnh:
Mõ thảm không khua mà cũng cốc
Chuông sầu không đánh cớ sao om.
Xem thêm: Phân tích những vẻ đẹp khác nhau của các thế hệ người dân Tây Nguyên thời kháng chiến chống Mĩ trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung ThànhKhi phân tích hai câu thơ này có nhà nghiên cứu đã cho rằng ở đây Hồ Xuân Hương dùng biện pháp tu từ – mượn hình ảnh khách quan để vận vào mình để diễn tả nỗi giận hờn khó kìm lại được. Ở đây nhà thơ không chỉ mượn hình ảnh khách quan để vận vào mình mà chủ yếu nhằm lột tả đau đớn xót xa bế tắc của mình. Chuông sầu, mõ thảm là những thứ gợi lên cảm giác buồn đau cô đơn lạc lõng. Nhưng ở đây làm gì có khua có đánh thế mà nó vẫn vọng ra những tiếng nghe khô khốc thảm đạm làm sao. Vậy đó là những tiếng gì? Đó là tiếng của nỗi lòng, tiếng của sự bất hạnh giữa dòng đời. Cốc diễn tả âm thanh hay diễn tả nỗi lòng? Nghe nó chát chúa khô khốc ảm đạm làm sao! Tiếng chuông chùa không ngân lên vang vọng thành hơi mà vọng lại một tiếng nghe ảm đạm làm sao? Với từ om tác giả đã thể hiện rõ sự bế tắc xót xa trước cuộc đời đen bạc, bất công.
Như vậy qua bốn câu thơ đầu ta đã hiểu rõ được sự phẫn uất bất hạnh xót xa bế tắc trong cuộc đời của nữ sĩ tài hoa. Sự bất hạnh đó phần nào được lí giải ở hai câu luận của bài:
Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ
Sau giận vì chuyên để mõm mòm.
Hoá ra sự bất hạnh của bà chúa thơ Nôm là những tiếng nghe rầu rĩ. Đó là tiếng gì vậy? – Lời đồn đại, chuyện đơn sai chẳng? – Miệng thế gian biết đâu mà lường! Nhưng làm sao tránh khỏi? Những chuyện chẳng đâu vào đâu mà buồn phiền cứ dồn ập đến. Nói lên điều này chúng ta lại càng cảm thông hơn cho con người chịu nhiều bất hạnh thua thiệt hay xã hội xưa. Coi xã hội tàn nhẫn vô lương tâm đã vùi lấp con người. Hai tiếng thêm rầu rĩ nói lên sự chua cay chát chúa đó. Từ chuyện nhân thế chuyển về chuyển riêng tư sau giận vì cái duyên mõm mòm cũng không phải tại mình mà duyên phận cứ nổi nênh, bạc bẽo: Cảnh quá lứa lỡ thì chua chát biết bao!
Qua sáu câu thơ trên phần nào ta đã thấy được sự bất hạnh trong cuộc đời, nỗi chua cay thất vọng chán thường, ta hiểu được phần nào nguyên nhân gây nên những bất hạnh xót xa đó. Tất cả những cái đó ta có cảm tưởng như Xuân Hương không đứng vững nổi trước sóng gió xô đẩy của cuộc đời. Nhưng không, Hồ Xuân Hương vẫn hiên nang thách thức với một tư thế vô cùng ngạo nghễ.
Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom.
Đó mới đúng là Hồ Xuân Hương, mới đúng là con người luôn luôn đấu tranh cho mọi bất công ngang trái ở đời. Trong thơ Hồ Xuân Hương ta đã từng bắt gặp cá tính đó:
Khi chế giễu tên bại tướng
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bây nhiêu.
Khi phủ định một luật lệ bất công
Quản bao miệng thế đời chênh lệch
Không có nhưng mà có mới ngoan.
Có khi lại tự khẳng định một cách mạnh mẽ:
Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cảng đo xem đất ngắn dài.
Đó là những lời trách cứ, thách thức với tư thế đối diện với mọi dư luận, mọi thế lực. Chính lòng tự tin đó đã làm nên tính cách sắc sảo độc đáo của cái tôi trong thơ Hồ Xuân Hương. Cái tôi đó dù đau đớn bất hạnh đến đâu vẫn chiến đấu thách thức đến cùng chống lại mọi dư luận bất công của xã hội. Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta cảm nhận sự bất hạnh cay đắng cho thân phận nữ sĩ đến đâu thì ta lại càng cảm phục trân trọng sự đấu tranh cho quyền được sống hạnh phúc chính đàng của con người đến đó. Bài thơ Tự tình chính là nét tiêu biểu cho hồn thơ trữ tình của Xuân Hương.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Đoạn thơ thứ hai bài thơ Tây Tiến mở ra một thế giới khác với những vẻ đẹp của con người về thiên nhiên miền Tây khác với đoạn thơ thứ nhất. Hãy phân tích. | Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương(1) | 1,459 | |
Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
Hồ Xuân Hương đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Thơ của bà giản dị nhưng chứa đựng tình cảm sâu sắc, bà thường mượn hình ảnh để thể hiện tâm sự của mình. Bài thơ Tự tình là một trong những bài thơ như thế
Bài thơ xuất hiện khi nhà thơ nghe thấy nghe tiếng trống canh văng vẳng từ môt chòi canh xa vọng đến báo hiệu đã nửa đêm. Tiếng trống u buồn ấy mỗi lúc một dồn dập hơn xa đến gần càng lúc như nhanh hơn trôi. Thời gian trôi nhanh đồng nghĩa với việc tuổi trẻ của người phụ nữ được rút ngắn lại. Trong tiếng trống đêm tĩnh lặng ấy, người phụ nữ đã chua xót cho chính thân phận lẻ loi của mình. Duyện phận của người phụ nữa ấy thật hẩm hiu, dù vậy cô vẫn chung thủy với mối tình ấy. Giống như một đấng nam nhi, người phụ nữ ấy đã mượn rượu để quên đi quá khứ, nhưng càng uống lại càng tỉnh ra, và nỗi buồn lại mênh mông hơn.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Trong nỗi tuyệt vọng đến ê chề, người phụ nữ ấy đã tưởng rằng có thể mượn chén rượu để giải tỏa hộ nỗi lòng của mình, như tìm kiếm một người tri kỉ. Nhưng cảm giác say vừa đến thì lại tỉnh. Người phụ nữ muốn quên đi tất cả để có một cuộc sống đơn giản hạnh phúc, được sống với chính mình, nhưng thực tại thật tàn nhẫn, người phụ nữ đã không thể thay đổi được số phận bất hạnh của mình.
Chắc chắn chỉ có vầng trăng là nhân chứng duy nhất, chứng kiến cuộc tình đẹp của nhà thơ, nhưng hôm nay vầng trăng cũng hờ hững, vô tình, không được tròn đầy mà khuyết hẳn đi. Nỗi buồn dâng đầy trong lòng rồi lan tỏa ra không gian khắp bốn bề, khẽ đưa mắt nhìn ra khoảng trống trứoc mặt những hình ảnh thiên nhiên đập vào mắt và như hòa vào tâm trạng nhuốm nỗi buồn phiền của tác giả:
Xem thêm: Phân tích bài thơ "Lửa đèn” của Phạm Tiến Duật
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Trước nỗi buồn miên man ấy, tác giả đã tưởng tượng ra một hình ảnh mang tính mạnh mẽ, thể hiện không chấp nhận chuyên duyên tình lận đận. Thiên nhiên cũng như tâm trạng của nhà thơ thể hiện một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên mãnh liệt. Tâm trạng của nhà thơ buồn nên nhìn cảnh vật buồn, hay cảnh vật buồn làm liên lụy đến tâm trạng nhà thơ. Có lẽ do cả hai yếu tố và cũng là sự sáng tạo trong cách tả tảnh ngụ tình của nhà thơ. Những thứ nhỏ bé như rêu và đá nhưng chúng có một sức sống mạnh mẽ vô cùng và nhà thơ cũng vậy. Dù trong hoàn cảnh xót xa nhưng tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy một niềm hy vọng, bi kịch dẫu đắng cay nhưng bằng cả nghị lực tác giả vẫn cố gắng gựơng mong chờ vựơt qua để đến bến bờ bình yên cho mình. Bằng hai câu thơ ngắn ngủi, nhà thơ đã dùng tiếng nói của mình để nói lên nỗi niềm của những người phụ nữ có số phận bất hạnh. Cuộc đời nhà thơ là những thắng ngày buồn tủi không chỉ một mà đến 2 lần đều là vợ lẽ.
Chính vì nỗi tủi nhục đó nhà thơ đã thao thức ưu tư, suy nghĩ đến thân phận mình.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
Tác giả đã dùng từ ngán để thay lời mình muốn nói. Xuân đi rồi xuân lại đến, tuổi trẻ người phụ nữ chỉ có một lần. Tình cảm chỉ được san sẻ một tí con con, quá ít mà còn quá vô tình, quá hờ hững.
Cố đấm ăn xôi xôi lại hỏng
Cầm lòng làm mứơn mứơn không công
Bài thơ thể hiện tậm trạng u buồn về số phận hẩm hiu của nhà thơ và cũng là số phận chung của những người phụ nữ trong xã hội cũ. Qua mỗi lời thơ tác giả đã có một chút phê phán cái xã hội tàn độc ấy đã cướp đi những gì đáng có của con người.
Nguồn: thêm: Hãy phát biểu ý kiến của em về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" | Phân tích bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương | 799 | |
Phân tích bài thơ Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị qua bản dịch của Phan Huy Thực
Hướng dẫn
1. Cuộc tiễn đưa…
Một đêm khuya trên bến Tầm Dương, trong hơi thu quạnh quẽ, gió thổi đìu hiu, bờ lau xào xạc đã diễn ra một cuộc tiễn đưa “ngườixuốngngựa, khách dừng chèo…”.Chén quỳnh đưa tiễn nhiều lưu luyến. Một khung cảnh đầy chất thơ: dòng sông, con thuyền, vầng trăng, đôi bạn thơ. Không gian, thiên nhiên, cỏ cây, gió thu, hơi thu như thấm một nỗi buồn man mác. Hồn Đường thấm vào, quyện vào những vần thơ thất ngôn và thơ song thất lục bát, réo rắt du dương trầm bổng, đọc lên một lần đâu dễ quên?
"Bến Tầm Dương canh khuya dưa khách,
Quạnh hơi thu, lau lách dìu hiu,
Người xuống ngựa, khách dừngchèo,
Chén Quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc, ti”.
Khách và chủ đang bâng khuâng "ngạikhi chia rẽ” lòng khao khát được nghe một tiếng sáo, tiếng đàn “nhớ chiều trúc, ti” thì bỗng đâu, lúc đó tiếng tì bà vẳng lại. Dòng sông như mênh mông hơn. Vầng trăng thu như trong và sáng hơn.Một hình ảnh nên thơ: "Nước mênh môngđượm vẻ gươngtrong”. Trước đây, Tản Đà thích thú và khen câu thơ này là "tuyệt cú Tiếng đàn tì bà mới huyền diệu làm sao, đã làm cho “chủ khuây khỏa lại, khách dừngdằng”.Như níu giữ và mênh mang mênh mang… Cuộc tiễn đưa giữa đôi bạn tri âm lại là sự mở đầu cho cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động giữa một giai nhân và một tài tử.
2. Gặp kĩ nữ và nghe nàng đánh đàn
a. Giây phút đầu bỡ ngỡ
Giữa đất trời sông nước trăng thu ấy, không hẹn mà nên, cuộc gặp gỡ giữa thi nhân và kĩ nữ qua khúc đàn tì bà đã diễn ra vô cùng cảm động. Thi nhân “dời thuyền ghé lại thăm tình ” cất tiếng hỏi: "sẽ ai đàn tá? ”, kĩ nữ “dừng dây tơ nấn ná làm thinh”.Câu thơ trữ tình mang tính kịch đầy xúc động! Thi nhân ân cần “mời mọc mãi”, người đẹp tần ngần, chín mười phần bỡ ngỡ. Sự xuất hiện của mĩ nhân được tả ít gợi nhiều:
"Tay ôm đàn che nửa mặt hoa,
Vặn đàn mấy tiếngdạo qua,
Dầu chưa nên khúc tình đà thoáng hay".
Nhiều bẽn lẽn. Tiếng đàn tì bà đã “thay mật thay lời ” giao duyên.
b. Khúc dạo đùn
Mỹ nữ xuất hiện trong phút đầu gặp gỡ chưa ai rõ thân phận nàng như thế nào, nhưng qua dáng điệu và cử chí bỡ ngỡ, ngượng ngùng, mày chau, tiếng tơ của khúc dạo đàn, ta có thể đoán được một tâm trạng, một cuộc đời không chút bình thường của người kĩ nữ mà nhà thơ gặp gỡ đêm nay. Tiếng dạo đàn giãi bày bao nỗi buồn u uất. Thần thái của tiếng đàn kĩ nữ được cảm nhận một cách tinh tế. Bạn tri âm không hẹn mà gặp. Nhà thơ phải là một tài tử sành điệu cầm, kì, thi, họa mới có cái tai Chung Tử Kì ấy:
“Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dườngthan niềm tấm tức bấy lâu.
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Giãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn”.
Cảm xúc như nén chặt trong đáy sâu tâm hồn của một con người tài sắc bạc mệnh được “giãi bày” qua âm sắc, giai điệu tì bà với bao “buồn bực”, "tấm tức”, “nghe não nuột” như khóc như than. Câu thơ "Mày chau tay gảy khúc sầu” là một nét tâm trạng đầy bi kịch.
c. Tiến lị đàn kĩ nữ
Thành tựu nổi bật nhất trong tỳbà hành là nghệ thuật miêu tả tiếng đàn. Trong bữa tiệc hoa trên bến Tầm Dương, thính giả của kĩ nữ là một tài tử văn nhân rất sành nhạc, đặc biệt hơn, còn có một cuộc đời, một nỗi niềm cay đắng, trải qua nhiều thăng trầm, trôi nổi giống như kĩ nữ.
Lần thứ nhất, khúc tiền tấu được tả từ xa, mơ hồ trong sương khói Tầm Dương.
Lần thứ hai, tiếng đàn được tả trong mọi cung bậc, giai điệu và cảm xúc, nỗi niềm của hai tâm hồn đa tài, đa cảm.
Ngón tay ca nữ “buông bắt" lướt trên phím đàn, hai khúc nhạc cung đình Nghê Thường, Lục Yêu vang lên. Câu thơ gợi lên trước mắt ta người đang đàn là một nghệ sĩ tài ba hiếm thấy:
"Ngón buôngbắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu ”
Mười bốn câu tiếp theo, Bạch Cư Dịsử dụng một chuỗi 9 ẩn dụ so sánh để ca ngợi âm sắc giai điệu tiếng đàn Tì bà của kĩ nữ.
Tiếng đàn biến hóa kì ảo, lúc thì ào ào như mưa rào, lúc thì nỉnon thủ thỉ như lời tâm tình:
"Dây to nhường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng”.
Tiếng đàn lúc cao thấp, lúc trầm bổng, trong vắt như hạt châu nảy trên mâm ngọc, như tiếng chim oanh ríu rít trong ngàn hoa:
“Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy
Mâm ngọc đâu bỗngnảy hạt châu,
Tronghoa oanh ríu rít nhau… ”
Tiếng Tì bà đang như “nước tuôn róc rách chảy mau xuốngghềnh ” thì bỗng “ngừng đứt”. Kĩ nữ diễn tấu "dấu lặng” trong bản đàn một cách thần tình. Người dự tiệc và ngồi nghe đàn đều “ngẩn ngơ" trước sự huyền diệu của suối âm thanh qua ngón diễn tấu điêu luyện tài hoa:
"Nước suối mạnh dây mành ngừng đứt
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếngtơ lặngngắt bây giờ cànghay”.
Tiếng đàn như sầu thương, như giận dữ, làm mê say, đắm đuối lòng người. Bốn ẩn dụ cuối, là biến thái của giai điệu tì bà như nước tuôn trào ra khỏi bình bạc vỡ, rầm rập như đoàn quân thiết kị xung trận, như tiếng đao khua trên chiến địa, như tiếng xé lụa vang lên… Hình ảnh nào cũng thần tình, câu thơ nào cũng đẹp, cũng "thanh tao”. Ngôn ngữ thơ tràn ngập âm thanh:
“Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao;
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây… ”
Trong suối âm thanh tì bà, ngoại cảnh (dòng sông, con thuyền, bầu trời, vầng trăng thu) nhưru hồn trong mộng tưởng, say đắm, bâng khuâng, tất cả đều “lặng ngắt” tận hưởng dư âm tì bà. Khung cảnh hiện lên qua một nét vẽ đầy chất thơ. Sông như thêm mênh mông hơn. Ánh trăng như trong xanh hơn. Con thuyền như đắm chìm trong giấc mộng đêm thu:
Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)"Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trongvắt dòng sông”.
Lấy ngoại cảnh để biểu cảm âm thanh của tiếng tì bà là một thủ pháp nghệ thuật tinh tế, điêu luyện của Bạch Cư Dị. Các nhà thơ Việt Nam đã kế thừa sáng tạo. “Ngọn đèn khi tỏ khi mờ… ” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). “Mây hồng ngừng lại sau đèo – Mình cây nắng nhuộm, bóngchiều khôngđi ” (Tiếng sáo Thiên thai – Thế Lữ).
Tóm lại, đọc tỳbà hành qua bản dịch thơ của Phan Huy Vịnh (?) ta vô cùng sảng khoái trước những vần thơ réo rắt, trầm bổng, u hoài… Giữa kĩ nữ và thi nhân không chỉcó mối liên tài mà còn là đôi bạn tri âm. Bao nhiêu âm thanh là bấy nhiêu tấc lòng, bấy nhiêu tình đời cay đắng, u uất.
3. Lời kĩ nữ:
Qua bản đàn vừa được diễn tấu, kĩ nữ và thi nhân hầu như không còn "khoảng cách ” nữa, hai người trở thành đồng điệu, tri âm. Ngôn ngữ thơ từ miêu tả chuyển thành tự sự. Hai câu tả dáng điệu khép nép, đau buồn của nàng là một nét vẽ phác qua có thần:
“Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời”.
Kĩ nữ nói về cuộc đời nàng. Đã có một thời oanh liệt, vàng son “giáo phường đệ nhất chỉ đàchép tên Tài sắc của nàng từng làm mê đắm bao công tử vương tôn một thời. Chìm đắm trong truy hoan, tuổi xuân vung phí:
“Năm… năm lần nữa vui cười,
Mải trănghoa chẳngđoái hoài xuân thu”.
Như đóa hoa sớm nở tối tàn, cuộc đời kĩ nữ phôi pha: sắc đẹp phai tàn, người dì chết, đứa em trai ra lính, tình duyên hẩm hiu "thân già mới kết duyên cùng khách thương”. Kết cục nàng vẫn sống trong cô đơn, trong lạnh lẽo trên con thuyền giữa mênh mông sông nước:
"Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăngdãi, nước trôi lạnh lùng”.
Hình ảnh con thuyền, vầng trăng, dòng nước trong câu thơ mang ý nghĩa tượng trưng cho thân phận một kiếp phù hoa cô đơn của các kĩ nữ trong cuộc đời. Lời thơ buồn não nuột.
Sau lời tâm sự là suối lệ tuôn trào, nuối tiếc một thời xuân sắc rực rỡ. Lần thứ hai, thi sĩ làm rõ thêm tâm cảnh kĩ nữ:
“Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen ”…
Cóthể nói lời tâm sự của kĩ nữ cùng với tiếng đàn tì bà của nàng là hai nốt trầm, bổng của hợp âm trong hãn đàn “bạc mệnh ” của một giai nhân.
4. "Ai tri âm đó ”
Bạch Cư Dị đã dùng 20 câu thơ nói lên tâm sự của mình. Nghe đàn, rồi nghe kỹ nữ giãi bày tâm sự, thi nhân lòng nặng trĩu buồn thương:
"Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời ”
Nhà thơ thương người rồi xót xa thân phận mình bị trôi giạt "Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai ”, cay đắng đang sống buồn tẻ nhạt thảm trong cô đơn nơi xa xôi hoang vu quạnh vắng. Những câu thơ miêu tả tâm trạng đau buồn của một ông quan bị thất thế, một thi nhân đa tài đa cảm mang nặng nỗi đau đời làm ta nhớ mãi:
"Sông Bồn gần chốn cát lầm
Lau vàng trúc võ âm thầm quanh hiên ”
Sống giữa nơi “cuốc kêu sầu, vượn hót véo von " mượn chén rượu nhạt giải sầu, thi nhân vô cùng xúc động khi nghe tiếng tì bà ngỡ là đang được thưởng thức “tiên nhạc”Nỗi đau như được xoa dịu:
"Tỳ bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai”.
Giọng thơ buồn thương. Thi sĩ khóc mình cũng là khóc người. Giai nhân, tài tử tương ngộ. Khóc cho số phận, khóc cho tài năng, khóc cho một đời tài hoa mà nhiều cay đắng lận đận. Nhạc điệu thơ song thất lục bát diễn tả tuyệt hay, làm đẹp thêm nhiều lần hồn thơ nguyên tác. Có thể mượn ý câu thơ Kiều nói lên điệu tâm hồn của Bạch Cư Dị trong đêm tiệc hoa ấy: "Ai tri âm đó…”
5. Tiệc hoa đầy lệ
Lần thứ nhất, tiếng tì bà vang lên từ xa "nghe vẳng bên sông ” hòa với hơi thu, vớt tiếng lau lách đìu hiu.
Lần thứ hai, tiếng tì bà réo rắt với bao thanh âm huyền diệu nhặt khoan, sầu thương… giữa tiệc hoa.
Lần thứ ba, tiếng tì bà ai oán rung lên cuối tiệc rượu. Cảm tạ lòng tri âm mà kỹ nữ “lại lựa phím đàn kíp dây”. Tiếng đàn càng trở nên thê lương hơn, sầu não hơn với cả tấm lòng đồng điệu. Tiếng đàn hay quá nghe mãi cũng không chán, nghe đến tàn canh vẫn còn muốn nghe. Hơn thế nữa, cuộc hội ngộ đêm nay đối với thi nhân, mãi mãi là một kỉniệm, mối duyên nợ tài tử – giai nhân: "sẽ vì nàng soạn sửa bài ca… Tiếng đàn thathiết, não nuột làm cho “khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi ”, trong đó chàng Tư mã cảm động nhất:
“Lệ ai chan chứa hơn người,
Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh”.
Tiếng đàn kĩ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên màu xanh lam – chiếc áo của quan Tư mã trong đêm thu Tầm Dương mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho số phận bi kịch nhiều đắng cay và chim nổi của khách tài tử, giai nhân trong cuộc đời.
Tiếng đàn tì bà của kĩ nữ, cuộc đời trôi nổi của một giai nhân, bước thăng trầm của ông quan Tư mã, tâm hồn một tài tử văn nhân… bấy nhiêu tình ý được Bạch Cư Dị tạo nên một bài thơ tuyệt tác. Khung cảnh buồn, cảnh ngộ buồn, tâm sự buồn… đã làm cho bài thơ thấm lệ. Tình cảm nhân đạo, giá trị nhân văn của bài thơ chính là ở chỗ đó. Chủ đề số mệnh của tài tử giai nhân ta đã gặp nhiều trong thơ văn cổ, nhưng trong bài tỳbà hành, nó được diễn tả dưới cái “tôi” trữ tình nên càng trở nên xúc động thấm thìa, vì những lời tâm sự của kĩ nữ và thi nhân là chân thực, sâu sắc.
Thưởng thức tỳbà hành qua bản dịch của một nhà thơ Việt Nam trong thế kỉ XIX, ta cảm nhận được một phần nào cái "Hồn Đường” tuyệt diệu. Tỳhà hành là một bài thơ trữ tình mang yếu tố tự sự. Bi kịch cuộc đời của tài tử, giai nhân được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ cổ kính, trang nhã, hàm súc và chứa chan u hoài. Nghệ thuật tả tiếng đàn của Bạch Cư Dị điêu luyện, tuyệt vời, cổ kim ít ai sánh kịp. Đọc những câu thơ tả tiếng đàn, ta mới vỡ lẽ ra thế nào là cái hay của Đường thi, thế nào là cái đẹp của nhạc điệu thơ song thất lục bát của dân tộc ta.
Nguồn: thêm: Bi kịch của người phụ nữ qua đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du. (Yêu cầu viết bài văn) | Phân tích bài thơ Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị qua bản dịch của Phan Huy Thực | 2,335 | |
Bài thơ Viếng lăng Bác là một sáng tác của nhà thơ Viễn Phương. Nội dung bài thơ chan chứa cảm xúc của một người con dành cho Bác Hồ kính yêu. Có thể thấy nhà thơ đã dành rất nhiều tình cảm cho vị lãnh tụ của mình.
Để giúp các em có thêm tài liệu tham khảo, Kho tàng văn mẫu hôm nay sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý chi tiết cho đề văn phân tích bài thơ Viếng lăng Bác và cung cấp thêm một bài văn mẫu. Nội dung do Kho tàng văn mẫu biên soạn và giữ bản quyền.
I. Lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
1. Mở bài giới thiệu bài thơ Viếng lăng Bác
Giới thiệu về vai trò và vị trí của Bác Hồ kính yêu trong lòng người dân Việt Nam để hiểu được lý do ra đời bài thơ Viếng lăng Bác. Nêu tóm tắt nội dung của bài thơ. Bài thơ thể hiện tình cảm của tác giả đối với Bác Hồ trong một lần từ miền Nam ra thủ đô Hà Nội để viếng thăm lăng Bác.
2. Thân bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
a. Khổ 1
– Sử dụng lối viết tự sự như một lời tâm tình với Bác, một lời chào đầu tiên dành cho vị lãnh tụ kính yêu.
– Cách dùng đại từ nhân xưng tạo nên sự gần gũi, thân thiết.
– Hình ảnh hàng tre xanh quen thuộc với người dân Việt Nam qua bao thế hệ
b. Khổ 2
– Sử dụng nghệ thuật ẩn dụ một cách chân thực và độc đáo.
+ Ví Bác Hồ như mặt trời để nói lên sự vĩnh cửu của Bác.
+ Ví Bác Hồ như mặt trời để chiếu soi cho dân tộc Việt Nam.
– Lòng thành kính của người dân Việt Nam đối với Bác.
– Sự biết ơn của người dân Việt Nam đối với Bác.
c. Khổ 3
– Không gian tĩnh lặng nơi Bác Hồ đang yên nghỉ.
– Cảm xúc về sự xót thương của tác giả dành cho vị cha già kính yêu, tiếc thương cho sự ra đi của Người.
– Sử dụng hình ảnh ẩn dụ trời xanh để nói lên sự trường tồn của Bác.
d. Khổ 4
– Tâm trạng quyến luyến không muốn rời xa Bác của tác giả.Xem thêm: Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong lặng lẽ Sa Pa
– Những mong ước giản dị của tác giả để được ở bên Bác mãi mãi.
3. Kết bài phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Tổng quát lại nội dung bài thơ Viếng lăng Bác và nêu cảm nghĩ của em về bài thơ này.
II. Bài làm phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Mỗi khi nghĩ về Bác Hồ, mỗi người trong chúng ta đều có cho mình những cảm xúc riêng. Sẽ có không ít người phải rơi lệ mỗi khi nghĩ về Bác. Cả cuộc đời Người đã dành trọn vẹn cho non sông, gấm vóc. Khi Người ra đi, không chỉ có nhân dân Việt Nam mà nhân dân trên thế giới cũng vô cùng tiếc thương. Nhà thơ Viễn Phương, một người con của miền Nam xa xôi trong một lần ra thủ đô Hà Nội viếng thăm lăng Bác đã không thể giấu nổi sự xúc động của mình và đã viết nên bài thơ Viếng lăng Bác.
Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Viếng lăng Bác chính là nỗi xúc động và lòng thành kính của một người con Việt Nam dành cho vị cha già dân tộc. Đây không phải cảm xúc riêng của tác giả mà tác giả đã nói chung cho cả dân tộc Việt. Lần đầu được đặt chân tới lăng Bác, nhà thơ không khỏi xúc động. Những câu thơ bật lên đầy tha thiết. Câu thơ mở đầu như một lời chào, một lời tự sự của nhà thơ đối với Bác:
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác
Hãy xem cái cách mà nhà thơ xưng hô. Một tiếng con nghe mới thật thân thương và gần gũi làm sao. Nó khiến cho người đọc có cảm giác như con và Bác có mối quan hệ máu thịt. Phải, đối với mỗi người Việt Nam thì “Người là cha, là bác, là anh”. Nỗi xúc động vẫn tiếp tục dâng lên trong lòng tác giả khi nhìn thấy những hàng tre xanh rì rào trong gió. Hàng tre xanh xanh Việt Nam, hàng tre biểu tượng cho nhân dân, cho sự kiên cường của một dân tộc quật khởi đã đánh bại rất nhiều kẻ thù:
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
Trong bão táp, trong mưa sa, hàng tre vẫn luôn đứng thẳng hàng. Tre cũng giống như người Việt Nam vậy. Bão táp, mưa sa là hình ảnh ẩn dụ cho những cuộc chiến tranh khốc liệt mà nhân dân ta đã phải trải qua. Càng trong khó khăn, con người càng hiện lên với một vẻ đẹp phi thường. Chúng ta có thể đứng thẳng và hiên ngang chống lại kẻ thù một phần cũng là nhờ có sự lãnh đạo của Bác Hồ.Xem thêm: Suy nghĩ của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân hay nhất
Vẫn tiếp tục với mạch cảm xúc kính yêu dành cho Bác, nhà thơ Viễn Phương đã liên tưởng tới hình ảnh mặt trời. Bầu trời rộng lớn ngoài kia có một mặt trời, đó là mặt trời của tự nhiên vẫn ngày ngày chiếu sáng cho trái đất. Và đây, chúng ta cũng có một mặt trời của riêng mình, đó chính là Bác:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Hình ảnh ẩn dụ mặt trời càng khiến cho người đọc thấy được tấm lòng của nhà thơ dành cho Bác. Ví Bác như mặt trời, ý của nhà thơ đang muốn nói đến cuộc đời Bác đã chiếu soi cho dân tộc Việt Nam và cũng như mặt trời kia Bác sẽ tồn tại vĩnh hằng, sẽ sống mãi trong lòng người Việt Nam. Đó cũng là lý do vì sao mà mỗi ngày có hàng ngàn người tới đây để viếng thăm lăng Bác. Những hàng người nối nhau, chờ đợi trong văn mình để được vào chào Bác một câu, nhìn thấy Bác một lần.:
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chin mùa xuân
Điệp từ ngày ngày cho chúng ta cảm nhận được sự liên tục, sự tiếp diễn và dường như không có hồi kết. Những con người tới đây, mang theo những tràng hoa để dâng lên bảy mươi chín mùa xuân. Hình ảnh ẩn dụ bảy mươi chín mùa xuân tác giả dùng để nói về Bác. Cả cuộc đời 79 tuổi xuân của mình Bác đã dành để cống hiến trọn vẹn cho đất nước. Tràng hoa ở đây không chỉ là những tràng hoa theo nghĩa đen mà nó còn là những thành quả mà người dân đã đạt được nay đem dâng lên Người, báo cáo thành tích đối với Người.Xem thêm: Ý nghĩa nhan đề các tác phẩm Văn học lớp 9
Bước từ phía ngoài vào trong lăng Bác, nhà thơ trào dâng một nỗi niềm xúc động khi nhìn thấy Bác đang nằm yên giấc ngủ:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim
Nhìn Bác ngủ, cảm giác thật yên bình. Giờ đây, đất nước đã hoà bình, con người đang xây dựng Tổ quốc mình ngày một giàu mạnh hơn vậy nên Bác có thể yên nghỉ được rồi. Thế nhưng càng nghĩ lại càng buồn. Giá như Người còn sống để được chứng kiến những cảnh tượng này. Ở khổ thơ này, nhà thơ Viễn Phương đã so sánh Bác với trời xanh để nói lên sự trường tồn vĩnh hằng của Bác. Trời xanh là mãi mãi đấy những cũng khiến người ta xa xót. Đó là một cảm giác nhói đau ở trong tim. Từ nỗi đau ấy, nhà thơ không muốn xa Bác, không muốn rời chân khỏi nơi này. Vì vậy mà ở khổ thơ cuối cùng nhà thơ đã muốn hoá thân thành chim, thành hoa, thành cây tre để được ở mãi bên lăng Bác:
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Tác giả không có mong ước gì vĩ đại mà chỉ ước được trở thành những điều rất bình dị. Điệp từ “muốn làm” khiến cho người đọc cảm nhận được sâu sắc mong ước của nhà thơ. Có thể thấy tình cảm của nhà thơ dành cho Bác nhiều đến nhường nào.
Những tình cảm chân thành của nhà thơ đã khiến cho nội dung bài thơ chạm đến trái tim của người đọc. Bài thơ vì vậy mà có một vị trí trong nền thi ca Việt Nam. Qua bài thơ này, chúng ta cũng hiểu thêm được tình cảm của người dân Việt Nam dành cho Bác Hồ kính yêu.
Trên đây, chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý chi tiết cũng như làm bài cho đề văn phân tích bài thơ Viếng lắng Bác. Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em.
Thu Thuỷ | Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương (Có dàn ý chi tiết) | 1,594 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương
Bài làm
Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Năm 1969, Người ra đi để lại vô vàn tiếc thương, là sự mất mát to lớn của dân tộc. Năm 1976, sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cùng vừa hoàn thành. Nhân dịp ra thăm miền Bắc, Viễn Phương đã sáng tác bài thơ Viếng Lăng Bác để bày tỏ những cảm xúc dạt dào, niềm thương nhớ và kính yêu đối với Bác Hồ.
Ngay ở câu thơ đầu tiên tác giả đã nêu lên hoàn cảnh và giới thiệu về mình:
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”
Câu thơ chan chứa, dạt dào cảm xúc của nhà thơ khi lần đầu tiên được ra Hà Nội viếng lăng Bác. Viễn Phương xưng “con”giống như lời của một người con ra thăm người cha già đáng kính, chứ không phải thăm viếng một vị lãnh tụ đã ra đi. Cách xưng hô gần gũi, ấm áp trong như những người trong gia đình. Viễn Phương tự hào là “con ở miền Nam”, miền Nam gian khổ, anh hùng. Đồng thời cũng giống như đại diện cho những người con ở miền Nam ra thăm lăng Bác. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:
“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”
Miền Nam chiến thắng nhưng trong ngày vui ấy Bác lại không được chứng kiến. Đó là nỗi đau mất mát to lớn không gì có thể bù đắp được. Đến với lăng Bác, nhìn từ xa Viễn Phương như thấy được một khung cảnh quen thuộc của một miền quê nào đó:Xem thêm: Soạn bài Tiếng rao đêm
“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa xa đứng thẳng hàng”
Không phải đền đài nguy nga, tráng lệ mà là hình ảnh hết sức mộc mạc, gần gũi. Trong màn sương mỏng của buổi sớm ẩn hiện hình dáng của hàng tre. Càng đến gần thì hàng tre càng lộ diện rõ ràng trước mắt nhà thơ. Hình ảnh cây tre quen thuộc với dân tộc Việt Nam từ bao đời nay. Cây tre trung hiếu, nghĩa tình, cây tre biểu tượng cho người dân Việt Nam ngay thẳng, mộc mạc, mang những phẩm chất tốt đẹp. Hàng tre xanh gợi lên sức sống bất diệt của dân tộc.
Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác
Hòa mình vào với dòng người đang xếp hàng viếng lăng Bác, cũng là lúc mặt trời rọi chiếu vào lăng khiến Viễn Phương chợt có suy nghĩ:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
Hình ảnh mặt trời được lặp lại hai lần trong bài thơ, là hình ảnh ẩn dụ đặc sắc. Mặt trời thứ nhất là mặt trời của thiên nhiên, của tạo hóa. Đó là mặt trời đang ngày ngày chiếu sáng, tỏa ra những tia nắng ấm áp để muôn loài, muôn vật có thể sinh sôi, nảy nở, để muôn loại cỏ cây tươi tốt. Còn mặt trời trong lăng chính là hình ảnh ẩn dụ về Bác Hồ. Viễn Phương ví Bác như mặt trời, bởi với nhà thơ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung thì Bác chính là vầng thái dương chói lọi mở đường, dẫn lối, soi sáng cho con đường cách mạng gian khổ. Tuy Bác đã ra đi nhưng đối với con dân Việt Nam thì Bác là vĩnh hằng, là bất tử giống với mặt trời của tạo hóa. Tuy vậy nhưng việc Bác ra đi đã để lại muôn vàn nhớ thương khắc sâu vào tâm khảm của mỗi người:Xem thêm: Nghị luận xã hội về nghị lực sống
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”
Không khí thương nhớ Bác bao trùm và bủa vây theo những bước chân của dòng người viếng lăng Bác. Cuộc viếng thăm giống như đang đi vào một buổi tưởng niệm để ca ngợi Bác. Những người con của mọi miền Tổ quốc đều hướng về đây, trở về đây để kính dâng lên Người những bông hoa tươi thắm. Cuộc đời của Bác mỗi phút giây, mỗi năm tháng đều rất tươi đẹp. Bảy mươi chín năm cuộc đời là bảy mươi chín mùa xuân dâng hiến cho đời thêm sắc thắm. Cả cuộc đời lúc nào cũng vì dân vì nước, nay Bác đã có thể hưởng một “giấc ngủ” bình yên:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
Giữa niềm xúc động nghẹn ngào ấy, Viễn Phương cũng giống như nhiều người khác cũng phải đối mặt với sự thật rằng Bác đã ra đi. Nhưng đó là sự nghỉ ngơi, là giấc ngủ bình yên có ánh trăng làm bạn bởi Người vốn rất yêu trăng.
Dù xót xa, dù lưu luyến nhưng giây phút chia ly vẫn cứ tới và nhà thơ không khỏi tiếc nuối, nghẹn ngào muốn lưu giữ lại nơi đây:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Điệp từ “muốn làm” như nhấn mạnh ước nguyện của Viễn Phương, khát vọng chân thành muốn được canh giữ ở bên Bác, để Người có giấc ngủ bình yên. Tất cả nói lên tấm lòng kính yêu vô hạn của một người con đối với “người cha già” đáng kính của dân tộc.Xem thêm: Một lần em trót đọc nhật kí của bạn
Bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương xứng đáng trở thành một trong những bài thơ hay nhất để tưởng nhớ Bác. Qua bài thơ, tác giả muốn gửi gắm những tình cảm của không chỉ riêng nhà thơ mà còn là của nhân dân Việt Nam đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương hay nhất | 1,018 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – đã cống hiến trọn đời mình vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Người ra đi năm 1969, để lại biết bao nỗi thương nhớ và xót xa cho Tổ quốc. Có nhiều nhà thơ đã viết bài thơ tưởng nhớ về Bác, và “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một trong những bài thơ xuất sắc nhất. Chúng ta hãy cùng đến với bài thơ để cảm nhận được cảm xúc ấy.
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
….
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Năm 1976, sau ngày đất nước ta được hoàn toàn giải phóng, lăng Bác được khánh thành. Nhà thơ Viễn Phương từ miền Nam đã ra thăm lăng Bác. Cảm xúc dâng trào, nhà thơ đã làm một bài thơ như một lời bộc bạch chân tình của hàng triệu người con miền Nam với Bác. Đây là một bài thơ đặc sắc, giàu ý nghĩa, làm cho người đọc xúc động.
Hai khổ thơ đầu là những dòng cảm xúc ban đầu của nhà thơ khi được lần đầu đến thăm lăng Bác: một chút tự hào, xen lẫn vui sướng, lẫn xúc động khi sắp đc kề cận bên Ng` cha thân yêu của dân tộc.Bằng những hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, nhôn ngữ bình dị mà hàm súc, tinh tế, đoạn thơ đã để lại trong lòng người đọc những cảm xúc vô cùng sâu sắc.
Hai khổ cuối bài thơ như những nốt nhạc du dương, trầm bổng, réo rắt như tấm lòng tha thiết yêu mến của nhà thơ với Bác. Bằng những ngôn từ ẩn dụ đặc sắc,từ ngữ bình dị mà giàu sức gợi, câu thơ đã khơi gợi trong lòng người đọc những rung động sâu sắc và đáng quý.
Bài thơ được phân chia theo bố cục thời gian, và khổ thơ đầu tiên nói về cảm xúc của tác giả khi nhìn thấy lăng Bác từ xa.
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”
Câu thơ đầu tiên thật ngắn gọn nhưng nó lại là một lời tâm sự chân tình của nhà thơ cũng như hàng triệu người con miền Nam. Một tiếng “con” thật ấm áp, gần gũi, thể hiện lòng kính yêu to lớn đối với Bác. Bác thật gần gũi với người dân, như là một vị cha già của dân tộc. “Con ở miền Nam” – mấy tiếng ấy bao hàm một nỗi đau và một niềm tự hào. Miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam đi trước về sau, miền Nam thành đồng Tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo trở về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Nhà thơ mong nhìn thấy Bác một lần sau khi đất nước đã giải phóng nhưng thật đau xót, Bác đã không còn. Vì vậy, từ “viếng” đã được nhà thơ thay bằng từ “thăm” để giảm nhẹ nỗi đau cũng như bày tỏ niềm tin rằng Bác vẫn sống mãi.
“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”
Đập vào mắt nhà thơ là hình ảnh hàng tre xanh ngắt trước lăng Bác. Cây tre – biểu tượng cho sự bất khuất, kiên cường nhưng giản dị, thanh cao của người dân Việt Nam – đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lòng tác giả trước khi bước vào lăng Bác. Hàng tre bát ngát – Hàng tre xanh xanh – Hàng tre Việt Nam: hàng tre bao đời như một dấu hịêu đặc biệt của dân tộc. Hàng tre trùm bóng mát rượi lên bao thế hệ cuộc đời, hàng tre mang bao phẩm chất của con người Tổ quốc ta: dẻo dai, đoàn kết, bất khuất, kiên cường. Ở Bác có tất cả những gì mà những con người Việt Nam từng có, cũng cái dấu hiệu xanh tươi sự sống ấy, cũng cái kiên cường “đứng thẳng hàng” trong “bão táp mưa sa” ấy. Dân tộc ta thật sự có sức sống mãnh liệt, cho dù những thử thách của thiên nhiên, của lịch sử có khắc nghiệt cách mấy thì vẫn kiên cường chống chọi, và vẫn cố gắng đứng thẳng chứ nhất quyết không chịu bị bẻ cong. Hàng tre đứng đó, bên lăng Bác như ru giấc ngủ ngàn thu của Bác, gắn bó mãi mãi với Bác như dân tộc Việt Nam vẫn kính trọng Bác mãi mãi.
Đến gần lăng Bác, xếp hàng vào viếng thì tác giả có thêm nhiều cảm xúc mới.
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”
Hai câu thơ sinh động với nhiều hình ảnh gợi cảm được tạo nên từ những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi với nhau. Một mặt trời thực đi qua trên lăng, là mặt trời của tự nhiên, của muôn loài, soi sáng cho muôn loài, đem lại sức sống cho thế giới. Từ mặt trời thật ấy, một mặt trời ẩn dụ khác hiện ra trong lăng, rất đỏ. Bác nằm trong lăng với ánh sáng đỏ xung quanh như một mặt trời. Bác tồn tại vĩnh cửu trong lòng mỗi người dân Việt Nam như sự tồn tại của một mặt trời thật. Bác soi sáng đường cho dân tộc ta đi, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giành độc lập của Tổ quốc. Bác giúp nhân dân ta thoát khỏi kiếp sống nô lệ, trở thành một con người tự do để bây giờ được hạnh phúc. Công lao của Bác đối với dân tộc ta cũng như mặt trời, to lớn không kể xiết. Bác là một mặt trời. Cái ẩn dụ mặt trời ở đây không biết đã đủ nói về Bác chưa?. Không, nếu nói Bác là mặt trời thì phải nhấn mạnh thêm cho rõ cái đặc tính của vầng mặt trời ấy: rất đỏ. Cái mặt trời đang tỏa sáng trên cao kia, cái mặt trời của thiên nhiên, tượng trưng của nguồn nóng, nguồn sáng, nguồn sự sống ấy, không phải bao giờ cũng nguyên vẹn thế đâu, không phải lúc nào cũng ấm nóng thế đâu! Vầng mặt trời ấy có thể bị bóng đêm lấn át. Nhưng vầng mặt trời Bác Hồ của ta thì mãi mãi đỏ thắm, mãi mãi là nguồn sưởi ấm, nguồn sáng soi đường cho con người Việt Nam. Hôm nay có hai mặt trời chiếu rọi trên đường đời: một mặt trời tỏa sáng trước mặt, một mặt trời tỏa sáng tâm hồn…Như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu. Bác sẽ sống mãi trong lòng mỗi con người Việt Nam.
“Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”
Xem thêm: Em hãy tả một chú bê con còn bú mẹCùng với mặt trời đi qua trên lăng, ngày ngày dòng người vẫn đi qua lăng trong thương nhớ. Điệp ngữ “ngày ngày” ý nói rằng nhân dân ta mãi luôn ghi nhớ công lao to lớn của Bác, mãi mãi là như vậy. Nhịp thơ của đoạn chậm, diễn tả đúng tâm trạng khi đứng xếp hàng trước lăng chờ đến lượt vào, ngậm ngùi tưởng nhớ đến Bác đã khuất. Tuy vậy, nhịp thơ chầm chậm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm mà sao câu thơ vẫn không buồn? Phải rồi. Chúng ta không làm cái việc tưởng niệm bình thường với Bác như một người đã khuất. Dòng người đang đi đây là đang đi trong cuộc hành trình ngợi ca vinh quang của Bác. Và tràng hoa vinh quang này không phải được kết bằng những bông hoa bình thường như mọi tràng hoa vinh hiển khác trên đời đâu. Tràng hoa đây là một hình ảnh ẩn dụ của tác giả, đó chính là những đoá hoa thật sự của đời, là đàn con mà Bác đã cố công tạo nên suốt bảy mươi chín mùa xuân Bác sống trên đời. Những bông hoa trong vườn Bác nay đã lớn lên, nở rộ ngát hương kính dâng lên Bác.
Vào bên trong lăng Bác, thấy Bác đang nằm đó, nhà thơ lại một lần nữa cố giấu tiếng nấc nghẹn ngào:
“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”
Khung cảnh bên trong lăng thật êm dịu, thanh bình. Lúc này, trước mặt mọi người chỉ có hình ảnh Bác. Bác nằm đó trong giấc ngủ vĩnh hằng. Bác mất thật rồi sao? Không đâu. Bác chỉ nằm đó ngủ thôi, Bác chỉ ngủ thôi mà! Suốt bảy mươi chín năm cống hiến cho đất nước, bây giờ đất nước đã bình yên, Bác phải được nghỉ ngơi chứ. Bao quanh giấc ngủ của Bác là một “vầng trăng sáng dịu hiền”. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho những năm tháng làm việc của Bác, lúc nào cũng có vầng trăng bên cạnh bầu bạn. Từ giữa chốn tù đày, đến “cảnh khuya” núi rừng Việt Bắc, rồi “nguyên tiêu”…Tuy vậy, Bác chưa bao giờ thảnh thơi để ngắm trăng đúng nghĩa. Khi thì “trong tù không rựơu cũng không hoa”, khi thì “việc quân đang bận”. Chỉ có bây giờ, trong giấc ngủ yên, vầng trăng ấy mới thật sự là vầng trăng yên bình, để Bác nghỉ ngơi và ngắm. Trăng dịu hiền, soi sáng hình ảnh Bác. Nhìn Bác ngủ ở đấy thật bình yên, nhưng có một sự thật dù đau lòng cách mấy ta vẫn phải chấp nhận: Bác đã thật sự ra đi mãi mãi.
“Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!”
Trời xanh bao la kia kéo dài đến vô tận, không bao giờ chấm dứt. Dù lí trí vẫn luôn trấn an lòng mình rằng Bác vẫn sống đấy, vẫn còn dõi theo Tổ quốc mãi mãi như màu xanh thanh bình trên nền trời Tổ quốc độc lập nhưng con tim ta vẫn nhói đau vì một sự thật đau lòng. Một từ “nhói” của nhà thơ nói hộ ta nỗi đau đớn, nỗi đau vượt lên mọi lí lẽ, mọi lập luận lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn sống trong tâm tưởng mỗi chúng ta, Bác mãi hiện diện trên mỗi phần đất, mỗi thành quả, mỗi phần tử tạo nên đất nước này. Nhưng mà Bác mất thật rồi, ta không còn có Bác trong cuộc đời thường này. Mất Bác, cái thiếu vắng ấy liệu có thể nào bù đắp được? Tổ quốc ta đã thật sự không còn Bác dõi theo từng bước chân, không còn được Bác nâng đỡ mỗi khi vấp ngã. Bác ra đi, nỗi đau ấy liệu có từ ngữ nào diễn tả hết? Cả đàn con Việt Nam luôn tiếc thương Bác, luôn nhớ về Bác như một cái gì đó thật vĩ đại, không thể xoá nhoà. Dù Bác ra đi thật sự rồi nhưng những điều Bác đã làm vẫn sẽ đọng lại trong tâm hồn, hình ảnh Bác vẫn tồn tại trường kì trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.
Cuối cùng dẫu thương tiếc Bác đến mấy, cũng đến lúc phải rời lăng Bác để ra về. Khổ thơ cuối như một lời từ biệt đầy xúc động:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”
Ngày mai phải rời xa Bác rồi. Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên, gợi về miền đất xa xôi của Tổ quốc, một nơi từng có vị trí sâu sắc trong trái tim người. Một tiếng “thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng cuộc đời cao thượng, vĩ đại của Người. Đó là tiếng thương của nỗi đau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước mắt trào ra, thật đúng là tình thương của người Việt Nam, vô bờ bến và rất thật.
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời tự nguyện. Điệp ngữ “muốn làm” khẳng định mạnh mẽ những ước nguyện ấy. Ước chi ta có thể biến hình thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng Bác, cuộc đời và tâm hồn của Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót làm vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp mùi hương làm thơm không gian quanh Bác hay một cây tre trong hàng tre xanh xanh VN tỏa bóng mát dịu dàng quê hương của Bác, tất cả đều làm Bác vui và ngủ an giấc hơn. Đây cũng chính là nguyện ước chân thành, sâu sắc của hàng triệu con tim người Việt sau một lần ra thăm lăng Bác. Bác ơi! Bác hãy ngủ lại bình yên nhé, chúng cháu về miền Nam tiếp tục xây dựng Tổ quốc từ nền móng Bác đã tạo ra đây! Câu thơ trầm xuống để kết thùc, ngừng lặng hòan toàn.
Về nghệ thuật, bài thơ Viếng lăng Bác có nhiều điểm nghệ thuật rất đặc sắc, giúp biểu hiện thành công thêm về những giá trị nội dung. Bài thơ viết theo thể tám chữ, trong có có xen một vài câu bảy và chín chữ. Nhiều hình ảnh trong bài thơ lấy từ ngoài đời thực đã được ẩn dụ, trở thành một cách thể hiện cảm xúc thành kính của tác giả. Nhịp thơ của bài linh hoạt, lúc nhanh là biểu hiện cho ước nguyện đền đáp công ơn Bác, lúc chậm là lúc thể hiện lòng thành kính với Bác. Giọng điêu của bài trang trọng, tha thiết, ngôn ngữ thơ bình dị mà cô đúc.
Bằng những từ ngữ, lời lẽ chân thành, giàu cảm xúc, nhà thơ Viễn Phương đã bày tỏ được niềm xúc động cùng lòng biết ơn sâu sắc đến Bác trong một dịp ra miền Bắc viếng lăng Bác. Bài thơ như một tiếng nói chung của toàn thể nhân dân Việt Nam, biểu lộ niềm đau xót khi thấy Bác kính yêu ra đi. Qua bài thơ, tôi cảm thấy rằng đất nước ta có hoà bình như ngày hôm nay một phần lớn là nhờ công lao của Bác, như vậy chúng ta cần phải biết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta, để những công ơn to lớn của Bác không bị bỏ phí.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Suy nghĩ của em về tình cảm gia đình hay nhất | Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương | 2,474 | |
Bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu là một tác phẩm khá dài viết theo thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc. Bài thơ thể hiện một nỗi nhớ của người chiến sĩ dành cho người dân Việt Bắc và ngược lại.
Để giúp các em có thể làm tốt đề văn phân tích bài thơ Việt Bắc, hôm nay Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý cho đề văn này cũng như cung cấp bài văn mẫu cho các em tham khảo.
I. Lập dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Việt Bắc
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc
– Tố Hữu là nhà thơ cách mạng. Thơ của ông gần gũi và chan chứa cảm xúc. Đặc biệt, Tố Hữu lựa chọn thể thơ lục bát nên càng dễ hiểu hơn.
2. Thân bài phân tích bài thơ Việt Bắc
a. Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu trong Việt Bắc
– Sử dụng lối đối đáp giao duyên giống như trong ca dao, dân ca.
– Lời giãi bày tâm sự giữa người ở và người đi.
– Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết.
b. Nghệ thuật đặc sắc giàu tính dân tộc trong Việt Bắc
– Sử dụng thể thơ của dân tộc một cách nhuần nhuyễn khiến cho nội dung bài thơ càng trở nên tha thiết, sâu lắng.
– Kết cấu theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca da dân ca.
– Sử dụng hình ảnh gần gũi, thân thuộc với người dân Việt Nam như núi, sông, mưa nguồn suối lũ,… Hình ảnh thể hiện được sự gần gũi, thân thuộc.
– Sử dụng đại từ nhân xưng mình – ta làm xoá bỏ khoảng cách giữa người với người.
3. Kết bài
Tổng kết lại nội dung bài thơ Việt Bắc và nên những cảm xúc của em về bài thơ này.
II. Bài làm phân tích bài thơ Việt Bắc
Những năm tháng kháng chiến chống Pháp diễn ra có thể nói là khoảng thời gian bùng nổ của Thơ mới. Thế nhưng, giữa một trời những sáng tác lãng mạn, nhà thơ Tố Hữu vẫn tìm về với thể thơ truyền thống của dân tộc và vẫn giữ tinh thần của một nhà thơ cách mạng. Bài thơ Việt Bắc ngay từ những lời thơ mở đầu đã khiến cho người đọc trào dâng trong lòng một nỗi niềm dân tộc và một cảm giác thân thuộc, nghĩa tình. Đặc biệt với những ai đã từng sống trong những năm tháng kháng chiến sẽ hiểu rõ hơn ai hết những cảm xúc mà nhà thơ đã trải qua.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi. Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể… Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở. Làm nên Đất Nước muôn đời
Bài thơ Việt Bắc có độ dài như một bản trường ca với nội dung nói về nghĩa tình của người chiến sĩ và người dân Việt Bắc. Những câu thơ mở đầu là lời nói nghĩa tình của người ở lại. Nhà thơ Tố Hữu đã rất khéo léo khi để cho người ở lại mở lời trước bởi vì theo tâm lý thường tình của người Việt Nam thì người ở lại thường hay lo lắng cho người ra đi. Những câu thơ tình nghĩa cất lên, những hình ảnh quen thuộc của núi rừng Việt Bắc cũng hiện lên vẹn nguyên trong trí nhớ của con người:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Thể thơ lục bát cùng với lối đối đáp và gặp đại từ nhân xưng mình – ta khiến cho nội dung bài thơ thật gần gũi làm sao. Trong lối đối đáp của ca dao thường sử dụng nhiều cặp đại từ nhân xưng như chàng – nàng, anh – em,… nhưng Tố Hữu lại lựa chọn cặp đại từ nhân xưng mình – ta. Đây là một lựa chọn hoàn toàn sáng suốt bởi vì mình và ta làm xoá mờ đi khoảng cách. Nói là hai người nhưng lại như là một người. Những câu thơ khi mình, khi ta khiến cho người đọc đôi khi không phân cách được đâu là người ở và đâu là người đi. Ở đây, mình cũng là ta mà ta cũng là mình. Hơn nữa, cặp đại từ nhân xưng mình ta có thể bao quát được hết các cặp đại từ nhân xưng khác.Xem thêm: Miêu tả món ăn để lại ấn tượng cho em - Cá bống kho tương
Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
Bằng cách sử dụng đại từ nhân xưng như vậy, tình cảm riêng – chung được nổi bật lên trong bài thơ Việt Bắc. Lời của nhà thơ cũng là lời của nhân vật trữ tình. Nhà thơ đã có 15 năm gắn bó với những người dân Việt Bắc nên khi chia xa, bao nhiêu cảm xúc trào dâng trong lòng ông. Suốt 15 năm ấy, nhà thơ và người dân đã cùng nhau trải qua biết bao nhiêu khó khăn, cùng nhau sẻ chia từng củ khoai, củ sắn, cùng nhau đắp chung một manh áo. Đói cùng đói, rét cùng rét. Họ vốn dĩ là những người xa lạ với nhau thế nhưng trong kháng chiến lại trở nên thân thiết như người trong một nhà vậy. Trong nỗi nhớ của nhà thơ, quê hương Việt Bắc hiện lên với những hình ảnh bình dị nhưng chứa đựng nhiều màu sắc đặc trưng của vùng rừng núi. Dường như, Tố Hữu đã hướng toàn bộ tâm tư và ngòi bút của mình về con người Việt Bắc. Họ là những con người có phẩm chất bình thường nhưng cũng vô cùng vĩ đại.
Với bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã vẽ nên một bức tranh tứ bình vô cùng tươi đẹp. Bức tranh ấy có đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Nổi bật trên bức tranh ấy là những sắc đỏ trên nền xanh bao la như trong câu thơ “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”. Cùng với vẻ đẹp của cảnh vật là vẻ đẹp của con người “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Nhà thơ chọn hình ảnh con dao đi rừng làm hình ảnh thay thế cho người dân Việt Bắc bởi vì đó là món đồ quen thuộc với người dân miền núi.Xem thêm: Phân tích đoạn trích Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ
Mùa xuân đến, cả không gian bừng sáng trong sắc hoa mơ. Trong khung cảnh ấy nổi bật lên là người đan nón. Nhà thơ miêu tả nỗi nhớ một cách vô cùng cụ thể:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Người đọc có cảm giác như mỗi một sợi giang là một sợi nhớ của tác giả khi hướng về Việt Bắc. Con người hiện lên với công việc giản dị nhưng vẫn thật đẹp đẽ.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Hình ảnh cô em gái hái măng mang đến cho câu thơ một sự ngọt ngào và đầy thân thương. Tiếng ve kêu càng làm tăng thêm vẻ đẹp của mùa hè. Hình ảnh rừng phách đổ vàng là một hình ảnh đẹp và cách thể hiện của nhà thơ Tố Hữu quả thực quá tuyệt vời.
Bức tranh bắt đầu chuyển về đêm để làm nên sự hoàn mĩ cho bức tranh:
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Dưới ánh trăng, vẻ đẹp của núi rừng càng trở nên huyền ảo hơn, có hồn hơn. Nỗi nhớ trở nên mênh mang như ánh trăng, không cụ thể và không có đối tượng.
Bài thơ Việt Bắc là một nỗi nhớ mênh mang, thể hiện được tình người ấm áp. Bản thân em qua bài thơ này đã cảm nhận được nghĩa tình của dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam. Có lẽ chính từ sự tình nghĩa này mà chúng ta đã cùng nhau vượt qua được hết những khó khăn, đánh bại được mọi kẻ thù hiểm ác. Bài thơ Việt Bắc là một bài thơ hay đặc sắc và nó sẽ còn được các thế hệ mai sau biết đến.
Trên đây là dàn ý chi tiết cho đề văn phân tích bài thơ Việt Bắc cũng như bài mẫu phân tích bài thơ Việt Bắc. Hy vọng rằng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các em học sinh lớp 12.
Thu Thuỷ | Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) | 1,519 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài làm
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời ông còn được coi là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng. Từ khi được giác ngộ cách mạng thì sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với những giai đoạn phát triển của cách mạng, sự vận động của thời đại.
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu sáng tác trong hoàn cảnh đất nước ta giành được chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954. Sau chiến thắng đó miền Bắc nước ta tưng bừng trong không khí chiến thắng và được giải phóng. Trong không khí ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh, trung ương Đảng và các cán bộ, chiến sĩ rời chiến khu Việt Bắc để trở về thủ đô Hà Nội. Bài thơ Việt Bắc chính là tiếng hát nghĩa tình của “mình” với “ta” hay chính là của những người cán bộ chiến sĩ đối với đồng bào chiến khu Việt Bắc.
Đoạn trích Việt Bắc đã tái hiện cho người đọc một cuộc chia ly đầy cảm xúc và xúc động. Hơn nữa nhà thơ còn lựa chọn thể thơ lục bát, một trong những thể thơ dân tộc và lối đối đáp trong ca dao, dân ca để bày tỏ tình cảm của mình. Mở đầu bài thơ chính là lời của người ở lại dành cho người ra đi:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
Người ở lại trong cuộc chia ly này lưu luyến không muốn chia tay nhau. Đồng bào Việt Bắc đã rất lưu luyến, bịn rịn và trong cuộc chia ly ấy họ đã gợi nhắc những người ra đi về kỷ niệm, về quãng thời gian “mười lăm năm” gắn bó cùng sống và chiến đấu bên nhau. Đó là một khoảng thời gian dài và chan chứa biết bao kỷ niệm. Người ở lại mong muốn người ra đi có thể nhớ về những kỷ niệm ấy, có thể nhìn thấy những sự vật ở hiện tại để nhớ về quá khứ một thời bên nhau. Đồng thời cũng giống như một lời băn khoăn, trăn trở, không biết rằng khi về xuôi thì những người chiến sĩ có còn nhớ đến núi rừng, nhớ về con người nơi đây không.Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết thuyết minh về cây lúa Việt Nam
Phân tích bài thơ Việt Bắc
Không để những người ở lại phải đợi chờ lâu, những người ra đi đã ngay lập tức đáp lại ân tình của họ:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Tiếng của người ở lại tha thiết, mặn nồng khiến cho người ra đi cảm thấy bâng khuâng, thấy bồn chồn không yên lòng. Người ra đi cũng cảm thấy lưu luyến, bịn rịn không muốn rời xa nơi đây. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh “áo chàm” để làm hình ảnh ẩn dụ cho những đồng bào Việt Bắc. Trong cảnh phân ly ấy, người ra đi chẳng thể nói lên lời vì nỗi niềm xúc động. Chính vì thế người ở lại tiếp tục bày tỏ tâm ý của mình:
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
Không còn nói xa, nói ẩn ý nữa mà người ở lại đã trực tiếp bày tỏ tình cảm của mình, trực tiếp hỏi người ra đi. Gợi nhớ cho người ra đi những kỷ niệm mà “mười lăm năm” gắn bó với nhau. Đó là những kỉ niệm về thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc, là “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”. Những lời của người ở lại đó chính là lời tâm sự da diết, chan chứa những tình cảm dành cho những cán bộ, chiến sĩ. Đó là nỗi nhớ đồng thời cũng là lời nhắc nhở. Nhắc những người chiến sĩ khi trở về thủ đô thì cũng đừng quên những năm tháng gian khổ, những tháng ngày hoạt động cách mạng tuy còn thiếu thốn, tuy đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên nhưng lại càng khiến cho tình cảm quân dân gắn bó.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về tình bạn thời học sinh
Lời gợi nhắc của người ở lại, người ra đi trở về nhưng mang theo biết bao nỗi nhớ. Đó là nhớ người ở lại, nhớ trăng lên đầu núi, nhớ nắng chiều, nhớ rừng nứa, bờ tre rồi nhớ từng con sông dòng suối… Nhớ đến những tháng ngày đồng cam cộng khổ:
“Thương nhau chia củ sắn lùi,
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”
Bên cạnh việc nhớ tới đồng bào Việt Bắc thì Tố Hữu nói riêng và những người chiến sĩ cách mạng nói chung sẽ không thể nào quên được thiên nhiên, núi rừng nơi đây. Trong con mắt của nhà thơ thì thiên nhiên ấy rất tươi đẹp, mỗi mùa với những cảnh sắc khác nhau:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Đoạn thơ mang theo một nét đẹp cổ điển về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Giữa thiên nhiên với con người có sự giao hòa, gắn bó mật thiết với nhau. Thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp là vậy, nhưng nổi giữa nền thiên nhiên ấy chính là con người với những hoạt động lao động sản xuất, với khúc hát, lời ca trong trẻo. Có thể thấy, phải là người yêu thiên nhiên, yêu núi rừng và đồng bào nơi đây thì nhà thơ mới có thể phác họa nên một bức tranh tứ bình đẹp đến vậy, thơ mộng đến vậy. Thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc giống như một người bạn, một người đồng chí cùng kề vai sát cánh với bộ đội cụ Hồ. Giống như một người cha che chở cho đứa con thơ khỏi những hiểm nguy:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”
Bên cạnh thiên nhiên tươi đẹp thì tác giả còn nhớ đến những ngày chiến đấu gian khổ:Xem thêm: Bàn luận về câu nói của M. Go-rơ-ki: "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Lời thơ mang nhịp điệu nhanh, tươi trẻ kể về những ngày chuẩn bị hành quân cho cuộc chiến chống lại chiến dịch của thực dân Pháp. Đây cũng là lúc mà tình quân dân thể hiện rõ ràng nhất. Tất cả mọi người đều đồng lòng, những đoàn quân với những ngọn đuốc trên tay như làm bừng sáng cả chiến khu Việt Bắc. Nó giống như lý tưởng quyết tâm giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Sự quyết tâm, đồng lòng tạo nên sức mạnh to lớn “bước chân nát đá” và kết thúc cuộc kháng chiến bằng ngày đại thắng cho dân tộc. Kết thúc cho niềm vui ấy, cùng với nỗi niềm nhớ thương không muốn rời xa thì nhà thơ đã cất lên những tiếng hát về niềm tự hào dân tộc. Đó là những giây phút nhớ về quãng thời gian hoạt động, sinh hoạt đảng, là lúc bàn việc quân trong các hang động, mái đá. Để rồi đến ngày chia tay có thể thốt lên lời bày tỏ tâm tình với người ở lại:
“Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu chính là những lời tâm tình đầy cảm xúc giữa người ở lại với người ra đi. Lời thơ thật gần gũi, giản dị nhưng lại mang theo những nét đặc sắc riêng trong nền thơ ca Cách mạng. Chính vì thế bài thơ còn đem lại tiếng vang cho một thời oanh liệt đến tận ngày nay và mai sau.
Loan Trương | Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất | 1,484 | |
Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Bài thơ Việt Bắc là đỉnh cao của thơ tố Hữu và cũng là thành tựu xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ ra đời nhân một sự kiện lịch sử: tháng 10 năm l954, những người kháng chiến rời căn cứ miền núi trở về miền xuôi. Từ điểm xuất phát ấy, bài thơ ngược về quá khứ để tưởng nhớ một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, để nói lên nghĩa tình gắn bó thắm thiết với Việt Bắc, với Đảng và Bác Hồ, với đất nước và nhân dân – tất cả là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn để dân tộc ta vững vàng bước tiếp trên con đường cách mạng. Nội dung ấy được thể hiện bằng hình thức đậm tính dân tộc.Bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.
Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…. Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi.
Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng. Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương. Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.
Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp. Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng Việt Bắc vời vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước. Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng sông suối mang những cái tên thân thuộc – tất cả là khoảng thời gian và không gian lóng lánh kỷ niệm:
Nhớ gì như nhớ người yêu
………………….
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình:
Ta về, mình có nhớ ta
……………………..
Nhớ ai Tiếng hất ân tình thuỷ chung
Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa.
Gắn bó với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người bình thường người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng,….Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, họ đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn,… tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ. Việt Bắc – đó là hình ảnh những mái nhà “hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”, là hình ảnh người mẹ trong cái “nắng cháy lưng- Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”, là những tháng ngày đồng cam cộng khổ:
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng,…
Có thể nói, âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào, của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu đời.
Theo dòng hồi tưởng của chủ thể trữ tình, bài thơ dẫn người đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian núi rừng rộng lớn, những hoạt động tấp nập, những hình ảnh hào hùng, những âm thanh sôi nổi, dồn dập, náo nức. Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Bài thơ tràn đầy âm hưởng anh hùng ca, mang dáng vẻ một sử thi hiện dại, bởi vì chỉ cần phác hoạ khung cảnh hùng tráng ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho thấy khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do:
Những đường Việt Bắc của ta
…………………………….
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Xem thêm: Cảm nhận của em về truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xenDân tộc ấy đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,… Nhưng Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng. Đó là sức mạnh của lòng căm thù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên – tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên:
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…………………………
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Đặc biệt, với những lời thơ trang trọng mà thiết tha, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước. Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù )đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc:
Mình về,còn nhờ núi non
………………………
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.
Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công. Để khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc, Tố Hữu lại dùng những vần thơ rất mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình:
Ở đâu đau đớn giống nòi
……………………….
Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà.
Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ đậm đà tính dân tộc. Điểm đáng chú ý trước hết là Tố Hữu đã phát huy được nhiều thế mạnh của thể lục bát truyền thống. Cấu tứ của bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình là ta và mình, người ra đi và người ở lại hát đối đáp với nhau. Trong cuộc hát đối đáp chia tay lịch sử này, người ở lại lên tiếng trước, nhớ về một thời xa hơn, thời đấu tranh gian khổ trước Cách mạng, sau đó người ra đi nối tiếp nhớ lại kỉ niệm thời chín năm kháng chiến.
Nhà thơ rất chú ý sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao, chẳng những có tác dụng nhấn mạnh ý mà còn tạo ra nhịp thuyên chuyển, cân xứng, hài hoà, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:
Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng măng mai để già;
…Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động giao thông mở đường,…
Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú ý sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa. Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể:
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày;
Nắng trưa rực rỡ sao tràng;…
và cũng là thứ ngôn ngữ rất giàu nhạc điệu:
Chày đêm nện cối đều đều suối xa;
Đêm đêm rầm rập như là đất rung;…
Đặc biệt, thơ Tố Hữu sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian:
Mình về, mình có nhớ ta;
Mình về, có nhớ chiến khu;
Nhớ sao lớp học i tờ;
Nhớ sao ngày tháng cơ quan,;
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều,…
Tất cả tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.
Bài thơ là khúc ca ân nghĩa, là hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của Tố Hữu về chặng đường mười lăm năm đã qua của đất nước (từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến hoà bình lập lại năm 1954), từ đó mà hướng về tương lai tươi sáng, nhắc nhớ tâm nguyện thuỷ chung. Viết về nghĩa tình dân tộc và hướng về đồng bào mình, Tố Hữu đã phát huy được hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc, trong đó nổi bật là cách sử dụng thể thơ lục bát và ngôn ngữ thơ đậm sắc thái dân gian. Có thể coi Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ lớp 11 | Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu | 1,814 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.