text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Chứng minh ca dao là tiếng hát về lao động và tiếng hát ân tình của người lao động Hướng dẫn Chứng minh ca dao là tiếng hát về lao động và tiếng hát ân tình của người lao động Ca dao thực sự là tiếng hát của người dân lao động. Tiếng hát trong ca dao Việt Nam phong phú vô cùng nhưng chủ yếu vẫn là tiếng hát lao động và tiếng hát tâm tình. Qua ca dao, ta thấy được nỗi vất vả nhọc nhằn của người lao động nông thôn: Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày, tay dắt con trâu Bước chân xuống cánh đồng sâu Mắt nhắm, mắt mở đuổi trâu ra cày. Ca dao vốn phát sinh từ công việc lao động, rồi lại phục vụ lao động, nên nó thực sự là tiếng hát của nhân dân lao động. Phải là người lao động thực sự mới có thể hiểu hết được nỗi vất vả của công việc đồng áng: Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Và từ nỗi vất vả nhọc nhằn ấy người dân lao động đã hiểu rõ giá trị mồ hôi công sức mà họ đổ xuống để có được hạt lúa vàng. Cho nên họ đã nhắc nhở: Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần. Câu ca đao đã giúp ta thêm kính trọng mồ hôi nước mắt của người làm ra hạt lúa, đồng thời lên tiếng phán xét nghiêm khắc đối với bản chất ăn bám, coi khinh lao động của bọn người “ngồi mát ăn bát vàng”. Qua đó ta thấy rằng tiếng hát ca dao không bao giờ là của hạng người “ăn trên ngồi trốc”. Cuộc sống của nhân dân lao động xưa là cuộc sống đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời”, một cuộc sống lao động vất vả, nhưng tâm hồn họ rất trong sáng và rộng mở, họ luôn lạc quan và tin tưởng vào cuộc sống chân chính của mình. Người lao động phải đổ “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày nên họ tin rằng: Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương Hay: Công lênh chẳng quản bao lâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng Chính vì lạc quan, tin tưởng trong lạo động nên người dân lao động luôn hăng say với công việc của mình: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi Còn gì đẹp hơn bức tranh cô thiếu nữ tát nước dưới đêm trăng? Tâm hồn trong sáng của cô hòa với ánh trăng, trăng tan vào nước như những giọt mồ hôi của cô thấm mát từng gốc lúa củ khoai… Phải tinh tế vô cùng người nghệ sĩ quần chúng mới thấy được vẻ đẹp hào phóng của công việc lao động cũng như tâm hồn người lao động. Dù lao động vất vả, nhọc nhằn nhưng tâm hồn, tình cảm của nguời dân lao động rất phong phú trong sáng, sâu sắc và chân tình. Tình cảm đó được thể hiện qua ca dao trữ tình. Trước hết ta hãy nói đến tình cảm quê hương đất nước trong ca dao của nhân dân ta. Quê hương đất nước Việt Nam gắn liền với con người Việt Nam. Chẳng biết từ bao giờ, thiên nhiên và cuộc sống con người đã hài hòa làm một: Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ Không gian trời đất lắng trải giữa một buổi sáng êm đềm. Những cành trúc la đà trước gió, một tiếng chuông hay một tiếng gà những tưởng như chìm sâu vào cảnh tĩnh mịch đó. Thế nhưng trong “mịt mù khói tỏa ngàn sương ấy”, cuộc sống thực sự bắt đầu, sôi động và lan tỏa như mặt nước Hồ Tây. Trên đường về quê Bác, câu hò xưa lại vẳng vào tâm trí chúng ta: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Từ tình yêu quê hương trong cảnh trí, ca dao, Việt Nam còn ca ngợi những con người xây dựng và làm chủ quê hương ấy. Tình cảm đồng bào trong ca dao Việt Nam rộng lớn vô cùng: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Hay: Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Tình cảm của người dân Việt Nam mộc mạc như giàn bí, giàn bầu, nhưng lại thiêng liêng cao cả như “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”. Tình cảm “nhớ” trong ca dao Việt Nam gắn chặt với những gì rất cụ thể. Đây là tiếng lòng thổn thức của trái tim ai đó khi phải đi xa tổ ấm: Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm mai Tình bè bạn của người lao động Việt Nam chỉ có thể sánh với vầng trăng tròn dịu hiền, với bài trời cao mênh mông, xanh thẳm: Bạn ơi có nhớ ta chăng Ta về nhớ bạn như trăng nhớ trời Đứng trước tình cảm làm cha làm mẹ những thi sĩ quần chúng đã gửi vào tâm hồn chúng ta những vần điệu tha thiết: Nuôi con cho được vuông tròn Mẹ thầy dầu dãi xương mòn gối cong Con ơi cho trọn hiếu trung Thảo ngay một dạ kẻo uổng công mẹ thầy Thật vô cùng cảm động trước sự mong ước đơn sơ nhưng chính đáng và sâu sắc của những trái tim làm mẹ, làm cha. Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon Tình yêu chân chính là cội nguồn của sự thủy chung không gì lay chuyển được; Chồng em áo rách em thương Chông người áo gấm xông hương mặc người Tình cảm nam nữ trong tiếng hát của người lao động cung là một tình cảm lành mạnh, trong sáng và dạt dào: Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu. “Lửa mới nhen” nhất định sẽ bùng lên ngọn lửa, “trăng mới mọc” sẽ còn lên cao sáng tỏ, “đèn mới khêu” thì nguồn sáng mới bắt đầu. Tất cả những tình cảm lành mạnh ấy đều được “nhắn nhe” từ buổi gặp gỡ ban đầu: Đường xa thì thật là xa Mượn mình làm mối cho ta một người Một người mười chín đôi mươi Một người vừa đẹp vừa tươi như mình. Nói chung tình cảm của người dân Việt Nam vốn phát sinh từ lao động nên rất tế nhị và chân chính. Cuộc sống của nhân dân Việt Nam gắn chặt với lao động sản xuất. Từ lao động, ca dao ra đời và phục vụ lại lao động. Do đó nó chính là tiếng hát thực sự của người lao động. Tâm hồn của người lao động Việt Nam trước nỗi vất vả nhọc nhằn của cuộc sống là một tâm hồn trong sáng, rộng mở, tràn đầy niềm tin tưởng lạc quan. Ca dao ca ngợi lao động chính là ca ngợi con người lao động có tình cảm sâu sắc, tế nhị, phong phú và chân tình. Tha thiết yêu ca dao là tha thiết yêu con người lao động.
Chứng minh ca dao là tiếng hát về lao động và tiếng hát ân tình của người lao động
1,210
Chứng minh ca dao là tiếng nói tình cảm của con người Việt Nam Hướng dẫn Tham khảo bài làm 1: Tình yêu quê hương của người dân lao động Việt Nam qua Ca dao – dân ca. Ngay từ khi sinh ra, người dân quê ta đã gắn liền với đất. Đất là cuộc sống, là máu thịt, là linh hồn của mỗi con người. Do đó họ rất gắn bó và yêu thương tha thiết đối với nơi chôn rau cắt rốn của họ. Tình yêu ấy chính là những cảm hứng dạt dào để họ cất lên những bài ca bày tỏ tâm tình của mình. -Trước hết người dân quê khẳng định rất rõ sự quý giá bất khả hoán đổi của quê hương: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Ao chỉ là hình ảnh hoán dụ để chỉ làng quê. Họ không vì tham ánh sáng hoa lệ đô thành mà rời bỏ quê cha đất tổ. Bởi vì quê nhà còn đất “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tấc đất tức vàng bấy nhiêu”. Bởi vì quê nhà còn có ông bà cha mẹ “Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn”. -Yêu quê hương còn là yêu những gì thân thương mà chỉ cần mở mắt ra, ngày họ đều thấy: “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát, đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông”. Cảnh quê hương đẹp tươi chứa đựng biết bao tình “Làng ta phong cảnh hữu tình…” họ tự hào về vẻ đẹp độc đáo của quê hương. Khi thì người dân ca ngợi cảnh Lạng Sơn “Đồng Đăng có phố Kì Lừa…” Khi thì ca ngợi cảnh Hồ Tây “Gió đưa cành trúc la đà…” khi thì ca ngợi các đặc sản đáng tự hào của quê nhà (Nhớ cháo làng Ghè, Nhớ canh phố Mía, Nhớ chè Đông Viên… Thấy dừa thì nhớ Bến Tre, thấy sen nhớ đồng quê Tháp Mười). Dù có đi xa họ vẫn nhớ về quê hương nơi đó có cuộc sống tuy đạm bạc nhưng thắm thía nghĩa nặng tình “Anh đi, anh nhớ…” -> Điệp từ thân gắn bó… là nỗi nhớ nao lòng đối với ai xa quê. Cũng chính vì tình yêu ấy mà dù đang thổ lộ tình cảm khác đi nữa, lòng họ vẫn không quên nhắc đến những hình ảnh quê hương thân quen đã ăn sâu vào lòng họ. Những hình ảnh cây bưởi, hoa bưởi, cây tầm xuân, vườn cà, đầu đình, ao sen, cây trúc, cây mai, vườn hồng, giếng nước, gốc đa, con đò, bến sông… đã đi vào ca dao như những biểu tượng của quê hương. -Yêu quê hương còn biểu hiện cao hơn trong tình yêu nước, tự hào về đất nước: “Nực cười châu chấu đá xe. Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng”. Chính là cái tình yêu quê hương tha thiết mặn nồng từ xa xưa ấy đã tạo nên một nét rất đẹp trong truyền thống của người Việt Nam, đã là chất mem nên thơ nên nhạc, là động lực chủ yếu để dân tộc tồn tại trước bao lần ngoại xâm và nội chiến. Tham khảo bài làm 2: Chứng minh rằng ca dao là tiếng nói của tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước mà người Việt Nam rất trân trọng. Ca dao dân ca là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng của người dân đất Việt. Những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệu tâm hồn và chứa chan những tình cảm thiết tha, sâu năng, đặc biệt là tình cảm gia đình. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng: “Ca dao dân ca đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc”. Những lời hát ấy đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người qua tiếng ru của bà, của mẹ và nhắc nhở chúng ta về công ơn trời biển của mẹ cha: Công cha như núi ngất trời Nghĩ mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Bài ca dao như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà tha thiết. Phép so sánh được sử dụng liên tiếp khiến hai câu thơ vừa cụ thể, vừa gợi hình, sinh động. Công cha và nghĩa mẹ được ví với những hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng: núi ngất trời, nước biển Đông. Ơn cha to lớn không thể đo đếm còn tình mẹ thương con sâu nặng, đong đầy. Những lời thơ gợi nhắc về công ơn sinh thành dưỡng dục bao la vô tận của mẹ cha. Công ơn ấy được cụ thể hóa bằng “chin chữ”: (em xem chú thích và viết 9 chữ vào đây). Đồng thời, tác giả dân gian khuyên răn kẻ làm con phải có bổn phận chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ để đền đáp công ơn ấy. Những lời ca dao thấm đượm nghĩa tình như ru hồn người vào thế giới của đạo lý, yêu thương. Không những nhắn nhủ con người về công ơn cha mẹ, ca dao dân ca còn thể hiện tình cảm nhớ thương quê mẹ của người con gái xa: Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều Câu ca mở ra một âm điệu trầm buồn sâu lắng với hai từ “chiều chiều”. Thời khắc ấy gợi cái tàn lụi của một ngày và cũng gợi cảm giác sum họp gia đình. Ấy là quãng thời gian của buồn, của nhớ và bâng khuâng. Những lời hát của người con gái lấy chồng xa hướng về quê mẹ như thấm đẫm nỗi buồn xa xót ấy. Hai từ “ngõ sau” gợi một không gian khuất nẻo – nơi người con gái có thể bày tỏ nỗi long. Cả thời gian và không gian ấy như đã nói lên tâm trạng con người đang mong nhớ thiết tha. Hai chữ “chiều chiều” mở đầu hô ứng với hai chữ “chin chiều” kết thúc bài ca dao tạo nên hiệu ứng lặp đi lặp lại một nỗi long xót xa, thấm thía của người con gái khi hướng về quê mẹ xa xôi. Bên cạnh tình cảm cha mẹ – con cái, ca dao còn là những lời nhắn nhủ cảm động về tình cảm ông bà và cháu con: “Ngó lên nuộc lạt mái nhà Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” Nuộc lạt – một hình ảnh quen thuộc trên những mái nhà tranh của làng quê Việ Nam đã được đưa vào câu ca dao một cách rất tự nhiên, giản dị và gần gũi. Biện pháp so sánh bao nhiêu – bấy nhiêu đã thể hiện tình cảm nhớ thương, sự gắn bó bền chặt, ruột thịt của cháu con với ông bà. Âm điệu lời thơ tha thiết thể hiện sự kính trọng biết ơn! Và, có lẽ, những người thân, người lớn trong nhà đã khuyên bào con cháu giữ chặt tình anh em: Anh em nào phải người xa Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân Yêu nhau như thể tay chân Anh em hòa thuận hai thân vui vầy Một lần nữa lối ví von so sánh lại được sử dụng thành công trong hai câu ca dao. Tình cảm anh em gắn bó bền chặt không thể tách rời như tay với chân. Sự hòa thuận của an hem chính là niềm vui của cha mẹ gia đình. Bài ca dao là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về tình cảm ruột thịt, anh em. Với âm điệu thiết tha, sâu lắng cùng lối ví von so sánh đặc trưng, những câu thơ lục bát đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc và thấm thía. Nhắc nhở nhẹ nhàng mà không khô khan, khuyên nhủ mà không giáo huấn, ca dao chính là tiếng lòng mang chở cả tư tưởng, triết lý đạo đức của nhân dân. Nó đã trở thành viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam. Tham khảo bài làm 3:Chứng minh ca dao là lời hát tâm tình là bài ca về tình yêu quê hương đất nước của người lao động Ca dao là lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước. Em hãy chứng minh ý kiến trên. Ai trong chúng ta lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất quê hương cũng đều cảm nhận được cái hay cái đẹp của Văn học dân gian ngay từ lúc còn nằm trong nôi qua lời ru của mẹ. Vì vậy, có ý kiến nhận định rằng: “Ca dao và lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước”. Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, chúng ta nhận thức được cái đẹp, cái toàn mĩ bằng tất cả trái tim nhân hậu của mình. Rất mộc mạc và chân tình tha thiết đến xốn xang. Ta hãy nghe nỗi lòng người đi xa nhớ quê hương! Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao đơn sơ nhưng đậm đà. Đây là bức tranh thủy mạc. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Niềm tự hào về non sông đất nước được khơi gợi từ những địa danh ngọt ngào. Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc xem đền Ngọc Sơn Đài nghiên tháp bút chưa mòn Hỏi ai xây dựng nên non nước này? Một cung đàn gảy lên đôi khi còn chùng phím, nhưng sao mỗi bài ca dao đều đem đến cho ta những tình cảm ấm áp và trìu mến lạ kì. Tất cả như một bản đồng ca trỗi lên từ mỗi tâm hồn yêu nước gắn bó với quê hương của mình. Đọc nó ta như bắt gặp lại chính mình trong nhạc điệu rộn ràng bất tử của quê hương, Tất cả như đánh thức trong ta thứ tình cảm mơ hồ nhưng chợt bùng lên như đánh thức ngọn lửa. Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Mịt mù khỏi tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ Sẽ chẳng thể nào quên được những “cành trúc” gió đưa nhẹ nhàng trong gió, tiếng chuông ngân nga vang vọng trong khoảng không tĩnh mịch “mặt nước” hồ lăng đang sương mù mơ hồ huyền diệu. Cảnh đẹp ở miền Nam không mang vẻ cổ kính như Huế cũng chẳng tĩnh lặng như bức tranh Tây Hồ, mà ở đây, dường như sống động hơn. Ai về Gia Định Đồng Nai thì về” Câu ca dao như tiếng gọi của chính quê hương, níu bước chân người ra đi, mời đón kẻ trở về, đất mẹ mở rộng vòng tay đón những đứa con. Từ xa xôi một lần được trở lại quê hương, hay được viếng thăm một miền đất “ngỡ lạ mà quen” ta chợt thấy tâm hồn mình như trải dài với bao tình cảm dạt dào tha thiết nhất. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm Cũng một cánh cò trắng, chao liệng trên một khoảng không rộng mở, nhưng thấm vào ta một cảm giác mạnh mẽ mà rạo rực trước sự giàu đẹp của mảnh đất nổi tiếng miền Tây Nam bộ Đến với ca dao là đến với tâm hồn Việt Nam, với trái tim Việt Nam. Một quê hương Việt Nam với những cánh cò bay, dòng sông lặng lờ trôi, hoa bưởi trắng những đêm soi bóng nước, hay chiếc đò như khúc nước, chiếc cầu tre lắt lẻo chênh vênh. Dường như mọi cảnh đẹp mà bình dị. Nhưng văn học khác với hội họa hay âm nhạc nhờ ngôn ngữ rất riêng và độc đáo. Văn học còn thể hiện những khía cạnh khác, lột tả một chiều sâu, chiều rộng trong cuộc sống mà các nghệ thuật khác không thể thay thế. Chính vì vậy mà sức tồn tại của Văn học luôn được ví như một tòa nhà vững chắc cùng với thơ ca, ca dao cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định sự giàu đẹp của quê hương. Nó không chỉ khái quát một vẻ đẹp đơn thuần mà từ đó đi sâu vào cuộc sống, đến với tâm hồn của mỗi con người. Chẳng khó hiểu nếu như nói ca dao chính là cái nền vững chắc cho Văn học từ đó đi lên, cuộc sống đời thường và cuộc sống tình cảm của con người luôn hòa quyện sóng đôi. Đến với cuộc sống là câu ca dao đã đi đến với con người. Câu hát của người lao động luôn vang lên qua từng câu tha thiết: Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần Có đổ giọt mồ hôi để làm ra vật chất, người ta mới thấu hiểu được giá trị của sức lao động. Và từ đó biết trân trọng thành quả do mình hay người khác làm ra. Câu ca dao làm ta sực nhớ đến bài học ngày còn tấm bé: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Nhung những lời tâm sự của người phụ nữ dưới thời phong kiến khắc nghiệt vẫn là những nỗi đau làm ta bật khóc. Em như con hạc đẩu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay Câu ca dao làm ta nhớ đến lời trách móc của người con gái đồng thời cũng tâm sự về số phận của mình. Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lòng như cá cắn câu Cá Cắn câu biết đâu mà gờ Chim vào lồng biết thuở nào ra Lễ giáo phong kiến tập tục khắc nghiệt là những gọng kềm trói chặt người phụ nữ. Thân em như tấm lụa đào Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai Hay Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt, ra luống cày Gắn bó với quê hương, cuộc sống con người trang trải với ruộng vườn cảnh vật “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Một lần nữa người nông dân lại bày tỏ tâm tư của mình thông qua chú trâu người bạn gắn liền với nhà nông, với cuộc sống của họ: Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn Một cuộc sống ấm no là niềm mơ ước của người lao động, ước mơ giản dị mà hồn hậu vẫn để lại trong tâm hồn ta một cảm xúc đẹp. Đó là mơ ước đời thường xuất phát từ tình yêu cuộc sống lao động. Trải qua bao khó khăn thử thách và gian nan con người càng trân trọng hơn sự yên bình. Một hạnh phúc bình dị mà họ mong chờ. Một ngôi nhà, một đồng ruộng, một con trâu và trên cả là một chút bâng khuâng của thứ tình cảm ngọt ngào. Câu hát tâm tình của chàng trai cô gái rất tế nhị mà đáng yêu: Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào Thật tinh tế, mộc mạc mà đằm thắm. Tình yêu của họ làm đẹp thêm ngôn ngữ Ca dao và ca dao góp phần làm đẹp cuộc sống. Tất cả đều rộng mở và dâng tặng cho đời. Xuất phát từ sự cảm hứng của người viết đối với ca dao: từ tuổi thơ, ca dao đã đến với tâm hồn ta, dễ thuộc, dễ nhớ, có lẽ vì nó luôn diễn tả được nhwungx tình cảm mà ai ai cũng có, cũng quan tâm. Đó là tình gia đình đằm thắm, tình bạn keo sơn, tình làng xóm, tình quê hương tha thiết. Ca dao là tiếng nói về tình gia đình đằm thắm. Đó là lòng kính yêu, biêt ơn ông bà,, cha mẹ, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng ta nên người. ca dao ghi lại tấm lòng của lớp lớp con cháu tưởng nhớ tới tổ tiên. Con người có tổ có tông Như cây có cội, như sông có nguồn Không chi tưởng nhớ tới tổ tiên mà còn ghi nhớ công ơn trời biển của ông bà,. Cha mẹ: công ơn đó là vô cùng to lớn: Ngó lên nuộc lạc mái nhà Bao nhiêu nuộc lạc nhớ ông bà bấy nhiêu Hay: Ơn cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang Công cha nhu núi thái Sơn Tình nghĩa ấy không bao giờ nguôi cạn: Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Sự cảm nhận sâu sắc nổi vất vả mà cha mẹ phải chịu đựng để nuôi dưỡng ta bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu, nhớ đến cơm cha áo mẹ chăm chút cho ta từ ngày bé cỏn con đến khi lớn khôn thế này, họ gửi gắm tấm lòng vào ac dao, nhắc nhau nghĩ sao cho bõ những ngày cha mẹ nuôi ta và ước ao về ta: Một lòng thờ mẹ kính cha cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Ca dao còn thể hiện tình thương yêu giữa anh em trong một gia đình. Anh em thì cần phải hòa thuận để gia đình êm ấm, hạnh phúc: Anh em nào phải người xa Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân Anh em nhu thể tay chân Anh em hòa thuận hai thaanvui vầy.’ Trong lúc gặp khó khăn hoạn nạn thì cần phải biết giúp đỡ, thương yêu, phải biết đùm bọc lẫn nhau: Anh em như chân với tay, Rách lành đùm bọc dỡ hay đỡ đần. Không chỉ ông bà tổ tiên, bố mẹ,anh chi em mà nó còn thể hiện tình vợ chồng thủy chung son sắt. Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người Mặc dù cuộc sống bon chen, kiếm sống vất vả: củi than nhem nhuốc…, ăn uống đạm bạc: râu tôm nấu với ruột bầu nhung vợ chồng luôn nhắc nhau: ghi lời vàng đá xin mình chớ quên. Họ thấy cuộc sống vất vả mà vẫn vui vẫn tin vào một ngày tốt đẹp: Rủ nhau đic cấy đi cày Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Ca dao là tình nghĩa gia đình và nó còn là tiếng nói về tình làng xóm, quê hương tha thiết. Làng xóm ấy trước hết là làng xóm thanh bình, có cánh đồng mênh mông bát ngát, mọi người chăm chỉ làm ăn: Làng ta phong cảnh hữu tình, Dân cư giang khúc như hình con long Nhờ trời hạ kế sang đông, Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi Bởi vậy khi đi xa thì nhớ, nhớ những gì tuy bình dị nhưng vô cùng thân thương: Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên dduowong hôm nao. Mở rộng hơn tình làng xóm là tình yêu quê hương đất nước Tình yêu quê hương đất nước thật là đằm thắm, nó thể hiện qua không biêt bao nhiu: Thương nhau ta đứng ở đây Nước non là bạn, cỏ cây là tình. Tình yêu quê hương đất nước không phaỉ là tinh f yêu dành cho quê hương cho đất nước mà đấy là tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau của những người cùng quê hương đất nước: Bầu ơi thương lấy bis cùng Tuy rằng khác giông như ng chung một giàn. Hay Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Đó cũng chính là niềm tự hào về nước non ta về miền nào cũng tươi: Lạng Sơn thì có phố Kì Lừa, có nàng Tô thị có chùa Tam thăng, Thăng Long phồn hoa thì có: phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ. Còn miền trung thi Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Còn miền nam lại có: Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh, Nước Đồng Tháp lấp lánh cá tôm. Ca dao phần lớn là nói về tình cảm, trong đó rất nhiều câu đậm đà tình cảm gia đình, làng xóm quê hương. Nói về tình Cảmđẹp đẽ của con người, lại bằng n hững lời lẽ đẹp, nên ca dao đã dduocj nhiều người yêu thích. Nhờ vậy ca dao không chỉ có giá trị về mặt văn chương mà còn là những mẫu mực diễn đạt tình cảm cho những sáng tác văn học viết sau này.
Chứng minh ca dao là tiếng nói tình cảm của con người Việt Nam
3,448
Chứng minh ca dao thể hiện tình cảm của người lao động – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài I.Mở bài Ca dao là tiếng nói trái tim, là kho tàng tình cảm của nhân dân. Thật vậy, từ nghìn xưa đến nay, trong quá trình sống, làm việc, chiến đấu, nhân dân ta đã sản sinh ra vô vàn câu ca dao để tỏ bày tình cảm của mình. Nhận xét về điều này, có người cho rằng: “Qua ca dao, người bình dân Việt Nam đã thể hiện được những tình cảm thiết tha và cao quý của mình”. II.Chứng minh 1.Thể hiện được tình yêu thương đất nước -Gắn bó, ca ngợi, tự hào với bao cảnh đẹp của quê hương đất nước: Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương Mịt mù khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Thấy dừa thì nhớ Bến Tre Thấy sen thì nhớ đồng què Tháp Mười. – Đó cũng là lòng yêu nước, thể hiện tình đồng bào “người trong một nước” ý thức đoàn kết tương trợ nhau: Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng. 2.Thể hiện tình yêu thương gia đình – Tình cảm sâu nặng nhất, thiêng liêng nhất là tình mẫu tử, ơn nghĩa sinh thành: Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương. -Tình vợ chồng gắn bó thiết tha, thủy chung: Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon. Thà rằng ăn bát canh rau Còn hơn thịt cá nói nhau nặng lời. Một thuyền, một bến, một dây Ngọt bùi ta hưởng, đắng cay chịu cùng. Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn. 3. Thể hiện tình yêu thiết tha đối với cuộc đời – Gắn bó với người lao động: Chồng chài, vợ lưới, con câu Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi mò. Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa. – Yêu lao động, người nông dân yêu cả ruộng đồng, gắn bó với thiên nhiên: Đứng bên ni đồng ngó bên tễ đồng mênh mông bát ngát. Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông. Thân em như chẽn lúa đòng Phất phơ trong ngọn nắng hồng ban mai. – Chính tình yêu sâu đậm đối với cuộc đời, niềm lạc quan vui sống đã khiến người lao động vượt lên tất cả khó nhọc, gian lao: Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi! Bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần. Công lênh chẳng quản bao lâu Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. III. Kết luận – Ca dao là bức tranh phác họa tâm tình của nhân dân ta, tuy không đầy đủ, nhưng cũng sơ nét cho thấy sự phong phú và tha thiết của những tình cảm cao quý ấy. – Ca dao không chỉ đem lại xúc cảm thẩm mĩ của văn chương mà còn góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng cho tâm hồn chúng ta. Tags:Văn 8
Chứng minh ca dao thể hiện tình cảm của người lao động – Đề và văn mẫu 8
547
Chứng minh chị Dậu đánh tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài tham khảo Cảnh “Tức nước vỡ bờ” miêu tả tinh tế diễn biến tâm lí của một tính cách nhất quán. Chị Dậu có thể nhẫn nhục, chịu đựng, nhưng khi đã bị đẩy tới chân tường, thì cũng biết vùng lên chống trả quyết liệt, thể hiện một khả năng phản kháng tiềm tàng. Trước thái độ hung hăng, những lời quát tháo hách dịch của cai lệ, chị Dậu run run. Chị sợ thì ít, mà lo cho chồng thì nhiều. Chị gọi cai lệ là ông, tự xưng là cháu. Chị van xin, cầu khẩn bằng giọng cô” thiết tha: “Hai ông làm phúc nói với ông lí hãy cho cháu khất”, “Khốn nạn! Nhà cháu đã không có, dẫu ông có chửi mắng cũng đến thế thôi. Xin ông trông lại!”. Đến khi thấy tính mạng của chồng bị đe dọa, thái độ của chị Dậu thay đổi hoàn toàn. Chị vẫn cố van xin nhưng vội vàng đặt đứa con đang bế xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay cai lệ, không để hắn đụng tới anh Dậu. Đang xưng hô ông – cháu, chị Dậu chuyển qua ông – tôi với cai lệ. Người đàn bà uất ức đã liều mình đứng dậy tự đặt ngang hàng với cai lệ để cảnh báo hắn: “Chồng tôi đang ốm, ông không được phép hành hạ”. Thái độ của chị Dậu ngày càng quyết liệt. Người đàn bà dịu dàng bỗng trở nên đáo để. Chị hạ cai lệ xuống thứ mày và ngang nhiên thách thức: “Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem”. Chị Dậu quật ngã bọn tay sai hung ác trong tư thế ngang hàng, bất khuất với sức mạnh kì lạ – chị túm lấy cổ tên cai lệ ấn ra cửa. “Cai lệ ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn lảm nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu”. Tên người nhà lí trưởng cũng bị chị Dậu “túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm”. Giọng văn của Ngô Tất Tố trở nên hả hê. Dưới ngòi bút của ông, hình ảnh chị Dậu hiện lên khỏe khoắn, quyết liệt bao nhiêu, thì hình ảnh bọn tay sai hung ác trở nên nhỏ bé, hèn hạ, nực cười và hài hước bấy nhiêu. Thấy chị Dậu quá quyết liệt, anh Dậu vừa run vừa kêu: “U nó không được thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình phải tù, phải tội”. Nhưng tức nước thì tất yếu sẽ vỡ bờ. Nghe anh Dậu can, chị Dậu càng phẫn uất: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được”. Câu nói mộc mạc đầy phẫn uất ấy giống như lời tuyên ngôn hùng hồn cho quy luật: có áp bức, dứt khoát sẽ có đấu tranh. Tags:Văn 8
Chứng minh chị Dậu đánh tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo – Đề và văn mẫu 8
502
Chứng minh câu nói Bàn tày ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơ Hướng dẫn Chứng minh câu nói Bàn tày ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơ Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta chịu nhiều gian khổ vừa chống giặc vừa đảm bảo đời sống. Từ đó có nhiều đoàn công binh đã hăng hái đi khai hoang vỡ đất, trồng trọt sản xuất để nuôi quân. Nhằm ca ngợi tinh thần lao động của các chiến sĩ ấy, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm Nhìn lại quá trình lao động sáng tạo của nhân dân trong thời gian qua, ta càng thấy rõ giá trị của hai câu thơ trên: “Bàn tay ta làm nên tất cả”, hình ảnh “bàn tay” tượng trưng cho sức lao động của con người; “tất cả” là bao gồm của cải vật chất và tinh thần của xã hội; “sỏi đá” tượng trưng cho khó khăn, trở ngại trong lao động. Như vậy từ những mảnh đất khô cằn chính sức lao động của con người đã cải tạo, biến “sỏi đá” thành chất dinh dưỡng cho cây lúa làm ra cơm gạo và tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người. Quả thật, sức lao động sáng tạo của con người rết to lớn. Đất nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu lại phải chịu cảnh chiến tranh chết chóc, bom đạn cày xới mảnh đất quê hương. Khi hòa bình nhân dân ta phải xây dựng lại, phải “biến hoang vu thành cơm áo, hoa hồng”. Và chính đôi bàn tay cần cù lao động của người dân chịu thương chịu khó đã dần dần làm thay da đổi thịt mảnh đất này. Về vùng đất Củ Chi, ta sẽ thay những hố bom, những ụ pháo, những vành đai sắt ngày nào giờ đây nhờ sức lao động cần cù của người dân Củ Chi, xưa kia kiên cường trong chiến đấu nay lại cần mẫn trong lao động – đã trở nên trù phú xanh tươi. Rồi đến những vùng đất hoang vu quanh năm nước nổi ở Mộc Hóa, Đồng Tháp Mười – vùng rừng sát, rừng ngập mặn trước kia không ai qua lại – giờ đây mọc lên những nhà ngói đỏ sán sát, vườn tược sum suê, đồng lúa rập rờn. Chính bàn tay lao động cùng với trái tim khối óc đã làm vùng kinh tế mới này tràn đầy sức sống. Như vậy, chỉ cần cần cù lao động, tất cả mọi việc, dù khó khăn đến đâu, ta cũng có thể giải quyết được.
Chứng minh câu nói Bàn tày ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơ
460
Chứng minh câu nói của Bác Hồ: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Hướng dẫn Chứng minh câu nói của Bác Hồ: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Dân tộc ta có một truyền thống đâu tranh chống xâm lược, đã bao thế hệ cha ông nối tiếp nhau đứng lên chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc và viết nên những trang sử oai hùng. Trong giai đoạn chông Pháp gay go ác liệt, để động viên cổ vũ lòng yêu nước của toàn dân, tại Đại hội Đảng lần II năm 1954, trong bài viết “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”, Hồ Chủ tịch đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước” Thật vậy, lòng yêu nước đã trở thành truyền thống, phẩm chất của cọn người Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tình cảm này có khi được thực hiện băng những hành động cụ thể, nhiều lúc thể hiện qua thơ ca. Đó có biết bao chiến sĩ, nhà thơ đã mượn lời thơ để giãi bày tấm lòng yêu quê hương của mình. Trải qua một ngàn năm Bắc thuộc, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là một minh chứng hùng hồn nhất của lòng yêu nước: Một xin rửa sạch thù nhà Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng Đầu mùa xuân 1077, chiến thắng trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt đánh tan 4 vạn quân Tống xâm lược đã khẳng định chủ quyền dân tộc. Ta làm sao quên được bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, tương truyền của Lý Thường Kiệt, ngân nga trong ngôi đền bên sông ấy: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Sông núi nước Nam – đã dịch ra tiếng Việt) Chính lòng yêu nước mãnh liệt ấy khiến Trần Quốc Tuấn thốt lên những lời tâm sự thiết tha và đầy chân thành: “Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, dẫu cho trăm thây này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” (Hịch tướng sĩ) Và đêm đêm giấc ngủ không tròn, Nguyễn Trãi cứ mãi lo nghĩ đến quê hương đất nước: Những trằn trọc trong cơn mộng mị Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi. Đến lúc thực dân Pháp xâm lược nước ta, tinh thần yêu nước của nhân dân ta được phát huy cao độ. Với giọng thơ hào hùng, Phan Bội Châu, con người tài cao chí lớn, dù bị giam trong nhà lao vẫn tự hào, vẫn không mất nhuệ khí của người trai: Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù (Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác) Đối với người yêu nước, nhưng tù đày khổ sở mà bọn giặc cố tình hành hạ cũng không làm cho họ chùn bước ngã lòng, mà ngược lại dó là dịp để cho “người lỡ bước” thể hiện khí phách của mình: Gian nan chi kể việc con con (Đập đá ở Côn Lôn) Từ năm 1930 cuộc đấu tranh giành độc lập được tiến hành dưới ngọn cờ của giai cấp vô sản, những người thanh niên trẻ yêu nước, giác ngộ lí tưởng sẵn sàng hiến dâng đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời. (Từ ấy-Tố Hữu) Cũng trong lúc này, những tấm gương chiến đấu hi sinh dũng cảm của giới thanh niên đáng để chúng ta khâm phục. Họ là những chiến sĩ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Một canh… hai canh… lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành Canh bốn canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh (Không ngủ được – Hồ Chí Minh; Và truyền thống ấy được dân tộc ta phát huy tới đỉnh cao nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm – cuộc chiến chống Mĩ cứu nước. Giai đoạn này toàn dân trẻ, già, trai, gái… đều hiến dâng sức lực, trí tuệ của mình cho công cuộc đấu tranh giữ nước: Lớp cha trước, lớp con sau Đã thành đồng chí chung câu quân hành. Và cũng có biết bao tấm gương yêu nước của các chiến sĩ cách mạng đã làm cho kẻ thù khiếp sợ… như anh Nguyễn Văn Trỗi với chín phút cuối cùng của đời anh (Sống như anh); như chị Sứ vẫn hiên ngang giữ được phẩm chất anh hùng của mình trước cái chết gần kề (Hòn đất); như anh giải phóng quân kiên cường dũng cảm trên đường băng Tân Sơn Nhất: Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ. (Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân) Rõ ràng với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã viết tiếp những trang sử vàng của Lê Lợi, Quang Trung: Chi Lăng bài học thuở xưa Người đi thì có, người về thì không Lòng yêu nước đã khiến cho nhân dân ta có sức mạnh phi thường vượt qua mọi khó khăn gian khổ, chiến thắng bọn cướp nước và bán nước. Đáng tự hào thay sự hi sinh cao cả của những người con nước Việt. Có thể nói lòng yêu nước của dân tộc ta là nhân tố quyết định thắng lợi trong công cuộc đấu tranh chống xâm lược, để bảo vệ Tổ quốc. Em nguyện sống sao cho xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của cha anh đã ngã xuống vì độc lập, tự do, vì hạnh phúc của nhân dân.
Chứng minh câu nói của Bác Hồ_ Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
947
Đề bài: Chứng minh câu nói "Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống" qua tác phẩm Vợ nhặt Bài làm Nhắc đến năm 1945, hẳn chúng ta nhớ ngay đến sự kiện lịch sử trọng đại và niềm vui của ngày khai sinh đất nước. Nhưng cũng xót xa nhớ về những đồng bào đã ra đi trong nạn đói khủng khiếp năm ấy. Trong truyện ngắn Vợ nhặt Kim Lân đã chọn bối cảnh những ngày cái đói bủa vây con người, nhưng ông không trực tiếp viết về cái đói đã cướp đi hơn hai triệu đồng bào. Ông viết về những người đói, nhưng “họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống” với niềm tin không bao giờ tắt hướng về con người và ước muốn sự sống sẽ được gieo mầm từ cái chết. Như nhiều tác phẩm trước đó viết về nạn đói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận lương thiện và cùng khổ. Ông không dành nhiều trang viết mô tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bây giờ – người chết đói như ngả rạ – mà chủ tâm thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xơ xác vì đói khát của những người nghèo khổ – tên Tràng – độc thân, chỉ với mấy câu “hò chơi cho đỡ nhọc”, đã có được cô “vợ nhặt” – đang sống dở, chết dở vì đói. Họ thành vợ thành chồng giữa cái cảnh “tối sầm lại vì đói khát”. Đêm tân hôn của họ âm thầm trong bóng tối, giữa tiếng hờ khóc tỉ tê của những nhà có người chết đói theo gió đưa lại. Bữa cơm cưới của đôi vợ chồng trẻ và người mẹ già chỉ có cháo loãng, muối hột, nhưng ăn uống rất ngon lành, trong hồi trống thúc thuế. Ba mẹ con vừa ăn cơm. vừa bàn chuyện Việt Minh phá kho thóc chia cho dân nghèo. "Trong óc Tràng, vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống Ngay từ đầu, câu chuyện đã hiện lên đượm màu sắc tang thương tử khí: “Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngã rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba, bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người". Thực không còn gì ảm đạm hơn bức tranh quê ấy. Trong khi trước đó không lâu, mỗi chiều Tràng đi làm về, “cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy lại xôn xao lên được một lúc” còn bây giờ, cái đói đã đè nặng lên vai mỗi người; ngay cả bọn trẻ – những đứa bé hồn nhiên, vô tư nhất cũng mất đi sự tự nhiên, ngây thơ của mình, chúng ủ rủ, không buồn nhúc nhích… “Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều, người trong xóm bỗng thấy Tràng về với một người đàn bà nữa” Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để tiếp nối sự sống. Giọng văn lúc này thật dồn nén và gây cảm xúc mạnh, mộc mạc mà lôi cuốn: “Mặt hắn có vẻ gì phởn phơ khác thường”. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt hắn thì sáng lên lấp lánh”. Đọc đến đây, ta không thể không nghỉ đến những trang bi kịch của Sexpia, Molie hay Stăng-đan. Tuy nhiên, bi kịch ở đây đã vượt lên sự thông thường vẫn có; nó cũng không phải là “hiện thân của sự ngu đốt” như Mác nói, mà trở nên sự cao cả “đẹp tươi lạ thường”. Đó là biểu hiện cao nhất của sự chiến thắng, vượt lên trên thực tại chết chóc, đen tối để hướng tới sự sống, niềm tin, ánh sáng. Với chi tiết Tràng cùng vợ đi về nhà, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước nhà cũng có thêm một tiếng nói mới, có sức mạnh. Chuyện lấy vợ của Tràng, trước hết là một truyện lạ mà thú vị. Điều ấy đã khiến người dân ở xóm ngụ cư hết sức tò mò, từ bọn trẻ con cho đến tất cả người làng: “Họ bàn tán.. họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng dạng dỡ hẳn lên”. Từ trong sâu thẳm tâm hồn những người dân làng, le lói lên một chút niềm vui. Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ. Có thể nói trong phút chốc khi Tràng cùng với cô “Vợ nhặt” đi về làng, cái chết, sự ảm đạm âm u nơi xóm ngụ cư được đẩy sang một bên. Xóm ngụ cư đang ở trên miệng vực cái chết, bỗng hé lên một thoáng sống. Nhưng, niềm vui vừa đến, đã phải nhường chỗ cho sự âu lo. Dân làng lo thay cho Tràng: “Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau, sống qua được cái thì này không”. Tuy nhiên, đó không phải là nổi lo tuyệt vọng, mà là lo cho cái sống. Sự chết chóc cứ ám ảnh, đe doạ sự sống, nhưng sự sống vẫn vượt lên trên cái chết. Khuôn mặt “rạng rỡ” của người dân làng, ánh mắt của họ thực ý nghĩa, nói với chúng ta bao điều. Ở bước đường cùng, người ta sinh ra liều lĩnh – điều đó thực đúng lắm thay!. Hành động nhân đùa làm thật của cô gái theo chân Tràng vô nhà, xét đến cùng, là một hành động liều lĩnh. Tràng gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào các dịp chở thóc lên tỉnh. Với Tràng chị ta chẳng để lại trong anh một ấn tượng gì. Bởi thế, lần thứ hai gặp lại, Tràng phải mất một thời gian mới nhận ra và cũng như nhiều nhân vật khác trong các sáng tác của Nam Cao, cái dạ dày chị đã chiến thắng khối óc và con tim: được Tràng đãi, chị ăn liền một chập bốn bát bánh đúc. Cái đói đã đẩy lùi ý thức nhân cách, sĩ diện. Quên cả thẹn thùng, người đàn bà không tên ấy cắm đầu ăn “không chuyện trò gì”. Khi Tràng ngỏ lời, không cần suy nghĩ, chị cũng đi theo một cách dễ dàng, “vô tư lự”. Thế mới hay, cái đói ghê gớm biết chừng nào. Và hai cái “liều” gặp nhau đã tạo nên " gia đình thời tao loạn. Điều đáng chú ý là ở đây. khi cùng người “Vợ nhặt” về nhà, Tràng đã bỏ ra hai hào để mua một chai dầu, điều này có nghĩa là anh đã thắp lên một ngọn lửa trong cuộc sống tăm tối của mình, đem lại chút ánh sáng cho gia đình cũng như dân làng. Điều này chi phối toàn bộ văn phẩm. Cũng từ cuộc “hôn nhân" của Tràng, những người đời mới thực sự không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống. Khi Tràng cùng vợ về nhà, cuộc sống trước mất của họ không kém phần thảm hại: căn nhà vắng teo, rúm ró; niêu bát, áo xống bừa bộn… Ôi, lấy vợ cưới chồng, yên bề gia thất! Việc lớn một đời, hạnh phúc trăm năm! Vậy mà, họ bị vây bởi sự nghèo đói chết chóc.Nhưng, sự sống là bất diệt, chẳng bao giờ chán nản. Trong cái chết, sự sống vẫn tồn tại, tìm chỗ sinh sôi nảy nở. Tất cả thật dữ dội, mà ý nghĩa thì lớn lao: sự sống luôn tồn tại, bất chấp cái chết.. Việc hai người xa lạ bỗng gắn bó với nhau trong cơn đói kém, chứng tỏ quyết tâm nghĩ đến cái sống của hai người, đem lại cho họ trước hết là Tràng một niềm vui lớn lao. Trong truyện ngắn, hơn hai mươi lần nhà văn nhắc đến niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng, khi đã có vợ. Tình yêu của hai người, có sức cải biến thật lớn. “Trong một lúc, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đói khát đang đe doạ…Trong lòng hắn, lúc này chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…”. Đúng vậy. Niềm vui lớn nhất đời anh đã thành sự thực: có vợ. Cái “mới mẻ”, “lạ lẫm” ấy là tinh thần trách nhiệm của một người chủ gia đình sẽ phải lèo lái con thuyền nhà – gia đình qua thời điểm khó khăn, vươn lên hoàn cảnh khắc nghiệt để xây dựng cuộc sống. Tràng bỏ sau lưng tất cả những tiếng hờ khóc, tiếng quạ kêu… Chỉ sau một đêm “nên vợ, nên chồng”, Tràng thấy mình có sự đổi khác: “Trong người êm ái lửng lơ như người ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn ngỡ như không phải…”. Chuyện được “vợ nhặt” của Tràng ngỡ như đùa nhưng lại là sự thật; bao nhiêu sự sống, sinh khí trở lại với Tràng, với gia đình sau khi anh có vợ. Và cũng từ buổi “sáng hôm sau đó”, dường như tất cả sự chết chóc không còn tồn tại nữa, Tràng chỉ nghĩ đến sự gây dựng cuộc sống, hướng về sự sống mà tạo lập hạnh phúc: “Tràng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa, che nắng. Một nguồn vui sướng, -phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này”… Có thể nói, đó là biểu hiện cao nhât của tinh thần hướng về sự sống, quên đi cái chết đang bủa vây. Vợ Tràng là một nhân vật khá độc đáo. Chị không có tên, không tuổi, không đặc điểm nhận dạng và quê quán. Tưởng rằng, khi chị theo Tràng đi về nhà, với sự chao chát, chỏng lỏn, văn học Việt Nam lại có thêm một nhân vật “khônng bình thường”! Nhưng không, ngòi bút Kim Lân chưa bao giờ để nhân vật cùa mình bị tha hoá, biến chất đến độ ấy. Khi về đến nhà Tràng, con người thật của chị mới hiện lên đầy đủ. Chị cứ “ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khí cái thúng”. Vì sao vậy? Cái thế ngồi rụt rè, chông chênh ấy cũng là cái thế của lòng chị, trăm mối ngổn ngang. Liệu chỗ ngồi ấy có phải là chỗ ngồi của chị không? Nhà này có phải chốn để chị dung thân? Và cũng như Tràng, sau một đêm làm vợ, chị đã thay đổi hẳn: “trông chị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiển hậu, đúng mực…” Cái đói một khi được xua đi, thì sự tốt đẹp đúng như bản chất liền trở lại với chị, ấy cũng là lúc chị nghĩ đến cuộc sống, lo cho gia đình mình. Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầy ang… Có bàn tay săn sóc của chị, căn nhà trở nên gọn gàng sáng sủa. Sự sống trở về với người với cảnh… Bà cụ Tứ càng để lại cho người đọc những thiện cảm tốt đẹp. Thấy con lấy vợ trong hoàn cảnh khó khăn, bà không khỏi bùi ngùi, thương xót: “Chao ôi, người la dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái, mở mày mở mặt sau này. Còn mình thì…”. Nhưng, bà thực sự vui mừng khi con trai bà đã yên bề gia thất: “Bà lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo, u ám của bà rạng rỡ hẳn lên…”. Rồi trong bữa cơm, cả ba mẹ con đều quên đi hiện thực đau lòng để hướng đến một tương lai tươi đẹp hơn: “Tràng ạ. Khi nào có liền ta mua lấy đôi gà. Tau tin rằng cái chỗ đầu bên kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này, ngoảng đi ngoảng lại, chà mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…” Nghĩ đến cái sống, không nghĩ đến cái chết là ở chỗ đấy. Bà cố gắng xua: thực tại hãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho các con. Tuy nhiên món chè cám đã nhắc họ về với thực tại. Chao ôi, chè cám! Phải đói đến một mức nào đó, người ta ăn cám mới cảm thấy ngon! Cuộc sống khắc nghiệt, đày đoạ, bắt họ phải sống cuộc sống loài vật, nhưng nào có dập tắt được phần người đáng quý trong mỗi con người. Cái phần người ấy sẽ giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn này. Sẽ lại thiếu sót nếu bỏ qua hình ảnh những người nông dân trên đê Sộp cùng nhau đi phá kho thóc, khi nói đến những kẻ hấp hối trong vòng tử địa vẫn hướng tới cuộc sống. Đó là hình ảnh không hề ngẫu nhiên chút nào, được nhà văn chuẩn bị từ trước. Nó là dấu hiệu của "bước đường cùng”, không còn cách giành sự sống nào khác, phải vùng dậy đâu tranh, hướng tới một cuộc sống tốt hơn. Tràng thấy “ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu” bởi anh chưa bắt được mạch nguồn cách mạng. Trước mắt người đọc lúc này, sự sống trở thành mục chung của mọi người; họ đấu tranh, đoạn tuyệt dứt khoát với cái chết. Và chắc chắn, mẹ con Tràng sẽ tiếp nối dòng người kia, giành sự sống cho mình. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân đẫm chất nhân văn cao cả đã trở thành một tác phẩm xuất sắc của nền văn học cách mạng. Hiểu và cảm thông tận cùng người với người nghèo khổ ông xứng đáng là nhà văn của nông thôn và người nông dân. Vợ nhặt đã ươm được mầm sống, nó vươn lên từ cái chết. Tác phẩm sẽ còn mãi trong lòng người đọc như một bài ca về khái vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam.
Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống” qua tác phẩm Vợ nhặt
2,491
Đề bài: Chứng minh câu “Thời gian là vàng là bạc” Bài làm Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chính vì vậy, mỗi giây, mỗi phút đều vô cùng đáng quý, đúng như câu nói “Thời gian là vàng là bạc” Thời gian là vàng là bạc vì sao? Trong mỗi giây chúng ta đang sống hôm nay, khi nó qua đi chúng ta không bao giờ có thể lấy lại được. Vì thời gian là thứ không bao giờ lấy lại được. Nó quý giá hơn cả vàng bạc. Vàng bạc là một thứ khoáng sản quý hiếm nó tạo ra nhiều của cải vật chất cho con người chúng ta. Để tạo được một cục vàng, hay bạc con người phải bỏ ra rất nhiều mồ hôi công sức mới khai thác được nó. Vàng, bạc cũng là thứ khoáng sản mà tự nhiên phải tinh luyện hàng nghìn năm mới có thể thành quả. Chính vì hai thứ này đều có giá trị quý hiếm ngang nhau nên ông bà ta ngày xưa mới nói câu so sánh như vậy “thời gian là vàng là bạc”. Bên cạnh đó, thời gian giúp cho con người tạo ra nhiều của cải vật chất, những sản phẩm khác nhau tạo ra nhiều nguồn kinh tế, tiền tài, tạo ra nguồn lợi cho xã hội, làm cho nền kinh tế của nước ta, phát triển vững mạnh. Thời gian là thứ vô cùng quý giá mỗi giây trôi đi vô nghĩa là một lần chúng ta đánh mất một phút giây được sống trong cuộc đời mình. Chính vì vậy, các bạn cần phải biết quý trọng thời gian, phân chia thời gian làm việc, học tập, nghỉ ngơi, vui chơi cho thật hợp lý. Thời gian không chờ đợi một ai. Nó không hề vì bạn đang vội mà chạy chậm lại chờ đợi bạn theo kịp nó, cũng không vì bạn đang đủng đỉnh mà chạy nhanh hơn. Thời gian tuân theo quy luật riêng của nó. Trong những nhà máy xí nghiệp, những người công nhân đang làm việc vô cùng hăng say. Mỗi giây phút trôi qua họ lại tạo ra rất nhiều sản phẩm cho xã hội. Họ ngày đêm lao động miệt mài tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nếu bạn không quản lý thời gian hợp lý, lãng phí thời gian vô ích thì khi già nhìn lại bạn sẽ không làm được gì có ý nghĩa. Trong khi mọi người xung quanh bạn đã tiến rất xa thì bạn lại tụt hậu lại đằng sau lưng họ rất nhiều.
Chứng minh câu Thời gian là vàng là bạc
437
Chứng minh câu tục ngữ Có chí thì nên Bài làm Cuộc sống có rất nhiều những khó khăn, và “sống” tức là đối mặt với những khó khăn đó. Ở đời có mấy ai không muốn đạt được thành công? Song không phải ai cũng có đủ niềm tin và nghị lực khắc phục những thử thách, trở ngại để tiếp tục cho đến khi thành công. Do đó mà từ xưa, ông cha ta đã dạy: “Có chí thì nên” Trải qua bao năm tháng, câu tục ngữ vẫn còn nguyên những ý nghĩa sâu sắc, khẳng định vai trò của chữ “chí’ trong cuộc sống. Vậy “chí” là gì? “Chí được hiểu là ước mơ, hoài bão, lí tưởng cao đẹp; sự kiên trì, và quyết tâm. Ai có chí thì sẽ thành công. Điều đó được minh chứng qua bao tấm gương tữ xa xưa. Sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại không phải là ở sức mạnh, kiến thức hay sự hiểu biết – mà chính là ở ý chí. Chắc các bạn ai cũng biết Trạng nguyên Nguyễn Hiền – Trạng nguyên trẻ nhất nước ta. Để đạt được thành công đó là cả một quá trình bền bỉ. Tuy nhà rất nghèo, không có tiền cho cậu đi học nhưng ngày nào cũng vậy, dù nắng hay mưa, cậu bé hiếu học vẫn đứng ngoài cử lớp nghe thầy giảng bài. Khi đi chăn trâu, cậu viết trên lưng trâu, trên nền cát, bài tập được cậu làm trên lá chuối. Chúng ta cũng biết đến bao người học trò nghèo đêm đêm bắt đom đóm cho vào vỏ trứng, lấy ánh sáng học bài. Đó chính là tên tuổi lẫy lừng của lịch sự khoa bảng Việt Nam- ông Mạc Đĩnh Chi- “ lưỡng quốc Trạng nguyên”. Có một câu chuyện cảm động về sự kiên trì của anh Nguyễn Ngọc Kí. Dù bị liệt cả hai tay nhưng mong ước đến trường đã không ngừng thôi thúc anh tập viết bằng chính đôi chân của mình. Những nét chữ nguệch ngoạc đầu tiên đã khiến anh không khỏi buồn bã. Không chỉ có vậy, đôi bàn chân còn tê cứng, sưng buốt nhiều khi như không còn nằm trong sự kiểm soát. Và con người ấy vẫn không nản lòng, ngày qua ngày vẫn chăm chỉ tập viết. Và ngày nay, chúng ta biết đến cái tên Nguyễn Ngọc Kí- Anh hùng lao động- một nhà giáo ưu tú được bao thế hệ học sinh kính trọng, mến yêu. Nhìn ra thế giới, ta sẽ thấy vô vàn những tấm gương nêu cao ý chí, đáng ngưỡng mộ và hoc tập. Trong đó phải kể đến Hê-len Ki-lơ- đại sứ hòa bình. Các bạn có tin không, năm mới hai tuổi, thế giới của Hê-len đã không còn âm thanh và ánh sáng. Phải chăng ý chí, quyết tâm luôn nhắc nhở bà không được gục ngã. Những năm tháng tập nói thât không hoài phí để sau này, bà đã đứng leennnn cất tiếng nói hòa bình cho nhân loại. Chứng minh câu tục ngữ Có chí thì nên Vậy đó, “chí” là điều rất quan trọng và cần thiết trong cuộc sống của mỗi người, không có “chí” khó mà có thể làm thành công điều gì. Học sinh chúng ta cũng cần phải có “chí”. Bắt đầu bằng những việc lắng nghe thầy cô giảng, ghi chép bài đầy đủ, sau đó không đầu hàng tước những bài toán khó, kiên trì luyện viết những câu văn hay. Với những bạn không có hay không đủ điều kiện để học hành, đừng buồn chán mà hãy cố gắng vượt lên hoàn cảnh của mình, tự nhủ những khó khăn sẽ là nguồn động lưc thôi thúc mình tiến xa. Mỗi người hãy bắt đầu từ những việc nhỏ để sau này làm dược viêc lớn, như Bác Hồ từng nói: “Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên.” Câu tục ngữ: “Có chí thì nên” đã trở thành một chân lí. Nó như một lời nhắc nhở, khuyên dạy chúng ta trên con đường tiến tới tương lai. Cho nên có ước mơ, hoài bão là điều rất đáng quý nhưng niềm tin, nghị lực và sự kiên trì còn đáng quý hơn, đó là những yếu tố làm nên sự thành công của con người.
Chứng minh câu tục ngữ Có chí thì nên
740
Đề bài: Chứng minh câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim Bài làm Trong cuộc sống ai chẳng có một ước mơ của mình. Ước mơ giúp cho chúng ta mạnh mẽ, nghị lực hơn và có thể có đủ ý chí lòng dũng cảm vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Nhưng nếu chúng ta kiên cường chăm chỉ "Có công mài sắt có ngày nên kim" nhất định sẽ thành công. Cuộc sống của con người luôn chứa đựng những điều rủi ro những khó khăn đòi hỏi con người phải luôn kiên cường vượt qua những thử thách của mình. Dù cuộc sống có nhiều khó khăn nhưng nếu ý chí của con người đủ lớn thì chúng ta sẽ vượt qua những khó khăn thử thách và tiến tới thành công. Chính vì vậy ông bà ta thường nói "Có chí thì nên" Câu tục ngữ "Có công mài sắt có ngày nên kim" được hiểu như thế nào? Người xưa muốn dùng một việc tưởng chừng như không thể, hoang tưởng đó là việc biến một thanh sắt to mài nhỏ đi thành một cây kim. Một việc tưởng như không bao giờ làm được nhưng nếu con người ta có ý chí kiên cường, cần cù, chịu khó nhẫn nại chăm chỉ bền bỉ thì nhất định sẽ có ngày thành công. Thanh sắt kia dù to tới mấy nhưng sức lực và ý chí con người cũng có thể biến nó thành một cây kim nhỏ bé. Hình ảnh cây kim chính là thành quả lao động miệt mài chăm chỉ của con người mà thành. Đó chính là một kết quả xứng đáng nhờ nỗ lực của con người mà thành công. Ông cha thời xưa đã từng nói rằng nước chảy làm đá mòn, chỉ cần ý chí con người đủ lớn, đủ kiên trì nhẫn nại thì không có việc gì là không thành công. Chính vì vậy "Có công mài sắt có ngày nên kim" tưởng như là một việc không thể nhưng nếu chúng ta cố gắng hết mình nhất định sẽ làm được điều đó. Chứng minh câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim Thực tiễn của cuộc sống đã chứng minh chân lý của câu tục ngữ "Có công mài sắt có ngày nên kim" là hoàn toàn đúng đắn, khi mà quê hương chúng ta từ một nước Việt Nam nhỏ bé lạc hậu, nằm trong quyền cai trị của triều đình phong kiến, khi có giặc ngoại xâm triều đình phong kiến đã đầu hàng thực dân Pháp biến nước ta thành nô lệ thuộc địa của kẻ thù. Nhưng bằng ý chí kiên cường của toàn dân nên chúng ta đã giành chiến thắng vẻ vang và trở thành một nước độc. Chính tinh thần quật cường quả cảm đó của ông cha ta đã mang tới cho quê hương chúng ta những thành quả tốt đẹp như hôm nay. Đó là kết quả vô cùng đáng tự hào của dân tộc chúng ta. Cuộc sống cũng chứng minh có rất nhiều tấm gương sáng đã khẳng định chân lý "Có công mài sắt có ngày nên kim" như thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký một con người đã vượt lên số phận của mình để đạt được những thành tựu vô cùng đáng ngưỡng mộ trong cuộc sống. Thầy Nguyễn Ngọc Ký sinh ra đã gặp nhiều bất hạnh hơn người bình thường khi bị liệt cả hai tay, nhưng bằng ý chí kiên cường của mình thầy đã bắt đôi chân làm những việc phi thường trái chức năng của nó. Đôi chân của thầy vừa vừa để đi vừa dùng làm đôi tay. Thầy đạt được nhiều thành tích đáng nể trong học tập của mình, trở thành một anh hùng lao động. Câu tục ngữ "Có công mài sắt có ngày nên kim" đó chính là một lời nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn chăm chỉ kiên cường với con đường mình lựa chọn thì nhất định sẽ thành công. Minh Anh
Chứng minh câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim
684
Chứng minh câu tục ngữ Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Hướng dẫn Chứng minh câu tục ngữ Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Tục ngữ, ca dao là kho tàng kinh nghiệm vô cùng quí báu nói về tình cảm, về kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước. Một trong những kinh nghiệm được ca dao ghi lại nói về sức mạnh của sự đoàn kết: Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Đọc câu ca dao trên, ta thấy ý nghĩa của nó thật là sâu sắc. Một cây sẽ yếu ớt mỏng manh trước cuồng phong bão táp. Nhiều cây chen chúc, sát cánh bên nhau sẽ tạo ra khóm cây, rừng cây vững chãi, gió lay chẳng đổ, bão rung chẳng vời. Từ hình ảnh thiên nhiên, ta liên tưởng đến cuộc sống của con người. Đó chính là sự tập hợp ý chí, sức lực, hành động của nhiều người tạo thành sức mạnh tổng hợp, làm nên những thành công lớn mà cá nhân hoặc tập thể nhỏ không thể làm được. Lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay là nguồn gốc của bài học ấy và cũng là sự chứng minh hùng hồn cho bài học ấy. Từ xa xưa, những người thổ dân đã biết đoàn kết sống thành bộ tộc để bảo vệ đất đai, chống lại thú rừng. Trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, xây dựng khối đoàn kết vững chắc là cực kì quan trọng. Nếu biết đoàn kết, chúng ta sẽ tiêu diệt được nhiều kẻ thù. Như ở đời nhà Trần, quân dân ta đã đoàn kết tiêu diệt quân Nguyên – Mông. Thời đó quân Nguyên rất mạnh. Chúng đã từng tuyên bố “Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu cỏ không mọc được tới đó”. Trong khi đó, triều đình nhà Trần mở họi nghị Diên Hồng khơi dậy tinh thần đoàn kết của các tầng lớp nhân dân. Miền xuôi cũng như miền ngược, già cũng như trẻ, gái cũng như trai, đều chung một ý chí chống giặc ngoại xâm. Nhỏ tuổi như Trần Quốc Toản cũng cầm quân ra trận và lập được nhiều chiến công. Cuối cùng, dù thế giặc mạnh như chẻ tre nhưng quân dân ta vẫn đánh đuổi được 50 vạn quân xâm lược Nguyên – Mông ra khỏi bờ cõi nước ta. Trong cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp, Bác Hồ đã kêu gọi toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, nhất tề đứng lên giết giặc cứu nước. Khối đoàn kết toàn dân góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chín năm thần thánh. Nếu cuộc kháng chiến chống Pháp khẳng định tinh thần đoàn kết của nhân dân ta thì cuộc kháng chiến chống Mĩ là một bản anh hùng ca đáng tự hào về khối đoàn kết dân tộc. Đương đầu với nửa triệu giặc Mĩ xâm lược có pháo đài bay, có hàng rào điện tử, nhân dân hai miền Nam Bắc nước ta đã xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm nên thắng lợi vẻ vang, kết thúc hơn 20 năm kháng chiến chống Mĩ bằng chiến địch Hồ Chí Minh 1975 vang dội lịch sử, chấn động địa cầu. Ngàv nay, do không chỉ biết đoàn kết nhân dân trong nước mà còn hợp tác quốc tế, nhân dân ta đã xây dựng được ngành công nghiệp dầu khí Vũng Tàu, các nông trường cà phê, cao su… nhân dân ta cũng đã và đang hoàn thành những công trình xây dựng to lớn: nhà máy thủy điện sông Đà, đường dây tải điện 500 KV Bắc Nam, mang ánh sáng đến mọi miền quê hẻo lánh. Rồi cầu Thăng Long sừng sững, thủy điện Trị An đồ sộ… và còn biết bao nhiêu công trình to lớn khác đã, đang và sẽ mọc lên như muốn nói với các bạn năm châu rằng: đất nước chúng tôi tuy nhỏ bé nhưng luôn đoàn kết với nhau và tranh thủ sự đoàn kết quốc tế để xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, phồn vinh sánh kịp các nước tiên tiến trên thế giới. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công
Chứng minh câu tục ngữ Một cây làm chẳng lên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
761
Chứng minh câu tục ngữ Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Hướng dẫn Không ai trong chúng ta mạnh bằng tất cả chúng ta! Mở bài: Ca dao, tục ngữ là kho tàng trí tuệ của con người. Bằng những câu nói ngắn gọn súc tích cha ông ta gửi gắm vào đó những lời khuyên bổ ích về đời sống xã hội và lao động sản xuất. Không chỉ là lời khuyên bảo, tục ngữ còn là kết tinh của biết bao tình cảm yêu mến, khát vọng hướng đến tương lai của lớp lớp cha ông đi trước nhằm bồi đắp cho các thế hệ mai sau những phẩm chát tốt đẹp nhất. Câu tục ngữ: Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm đó. Thân bài: * Giải thích: – Về nghĩa đen: + Một cây: là số ít, chỉ cá nhân. + Ba cây: là số nhiều, chỉ tập thể. + Non, hòn núi cao: chỉ thành công, sự nghiệp lớn lao. Ý nghĩa: Một người khó có thể làm nên thành công. Nhưng nhiều người biết họp sức lại sẽ tạo dựng được thành công lớn. * Chứng minh Nhà thơ Tố Hữu từng nói: “Một người đâu phải nhân gian. Sống trong một đóm lửa tàn mà thôi”. Mọi thành công có được là do sự kiên trì của con người trong công việc muốn có thành công thì phải biết hợp sức cùng người khác, tương trợ lẫn nhau cùng hướng đến mục đích chung. Bởi không có ai trong chúng ta mạnh bằng tất cả chúng ta. Sức mạnh tập thể là một sức mạnh to lớn, có thể đưa tập thể vượt qua mọi khó khăn thử thách mà mỗi cá nhân không thể làm được. Câu chuyện bó đũa đã để lại cho ta bài học hết sức thâm thúy về tinh thần đoàn kết, tương trợ ấy. Chuyện kể rằng, có một phú ông lúc sắp lâm chung đã gọi các con lại và đưa ra một bó đũa rồi nói: – Trong các con, ai bẻ gãy được bó đũa này sẽ được phần nhiều nhất trong số tài sản cha để lại. Lần lượt từng người đều cố gắng hết sức không thấy bé gãy. Phú ông nhận lại bó đũa và điềm tĩnh bẻ gãy từng chiếc đũa trước sự kinh ngạc của cá người con. Rồi ông nói: “Mỗi chiếc đũa khi tách ra khỏi bó dễ dàng bị bẽ gãy. Nhưng nếu chúng hợp sức lại thì không ai có thể bẽ gãy chúng. Các con cũng phải thế. Khi cha mất đi, các con phải biết đoàn kết lại, đừng vì vật chất của cải mà rời xa nhau”. Bác Hồ cũng từng nói: “Đoàn kết thì sống. Chia rẽ thì chết “. Chính sự hợp sức của nhiều người nên sức mạnh to lớn. Giống như việc một cái cây đơn độc sẽ dễ bị quật ngã bởi gió bão. Nhưng gió bão không thể nào hủy diệt nỗi một khu rừng khi các cây đứng tựa vào nhau. Tinh thần đoàn kết đã làm nên sức mạnh của dân tộc ta từ bao đời nay. Trong quá khứ, khi đất nước có chiến tranh, tinh thần ấy tạo nên một làn sóng mạnh mẽ quét sạch kẻ xâm lăn ra khỏi bờ cõi. Khi đất nước hòa bình tinh thần ấy trở thành sức mạnh hăng say trong lao động sản xuất. Trông cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không có tinh thần đoàn kết. Họ sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân. Những người như thế thật đáng chê trách. Bài học: Sống phải biết đoàn kết gắn bó với nhau. Kết bài: Không ai có thể một mình mà làm nên một thế giới. Biết đoàn kết tương trợ lẫn nhau sẽ giúp ta vượt qua khó khăn chiến thắng nghịch cảnh, đạt đến thành công.
Chứng minh câu tục ngữ Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
657
Đề bài: Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” Bài làm Trong mỗi chúng ta ai cũng có ước mơ của riêng mình và hàng ngày chúng ta đều cố gắng để thực hiện ước mơ đó. Nhưng trong cuộc sống luôn chứa đựng những điều rủi ro, những khó khăn thử thách làm cản trở chúng ta tới được với ước mơ của mình. Tuy nhiên, nếu như chúng ta có ý chí, kiên cường bền gan quyết chí thì nhất định sẽ “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Có công mài sắt là gì? Thể hiện sự gian khổ, cần cù chịu khó của con người trong việc mình làm. Dù việc đó vô cùng khó khăn, vất vả khó thực hiện như việc mài giũa một thanh sắt to trở thành một cây kim nhỏ bé, nhưng nếu kiên trì, chịu khó không nản chí chúng ta có thể thành công. Hình ảnh cây kim là chỉ thành quả lao động miệt mài mà có, là sự nỗ lực đã được đền đáp xứng đáng. “Có công mài sắt, có ngày nên kim” ám chỉ một chuyện tưởng như hoang tưởng, không thể làm được nhưng nếu ta kiên trì, cố gắng nhất định sẽ thành công. Đúng như thế, mỗi con người chúng ta ai cũng có hướng đi của riêng mình, để thành công gặt được hoa thơm trái ngọt không hề dễ dàng, bởi vậy điều chúng ta cần là ý chí, bản lĩnh kiên trì, cần cù, nỗ lực không ngừng nghỉ thì mới có thể thành công như mong muốn. Trong lịch sử dân tộc ta từ xưa tới này chúng ta đã trảiqua vô cùng nhiều chiến tranh đau thương, mất mát, để có những ngày tháng bình yên, nhiều người dân chúng ta đã phải hy sinh máu xương, thân thể của mình ở những chiến trường khác nhau. Nhờ sự chiến đấu, nỗ lực không nghỉ ngơi đó mà con cháu hôm nay đã được hưởng tự do thái bình Trong cuộc sống chúng ta có rất nhiều người đã bị số phận bạc đãi khi cho họ một cơ thể không khỏe mạnh, thiếu đi một vài bộ phận như thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, Nguyễn Sơn Lâm… nhưng bằng sự nỗ lực của mình họ đã sử dụng đôi chân vô cùng thiện nghệ như một đôi tay có thể làm mọi việc như viết lách, chơi thể thao. Nhờ sự nỗ lực ý chí “Có công mài sắt, có ngày nên kim của mình” mà họ đã trở thành những tấm gương sáng trong học tập, làm việc mà nhiều người lành lặn có đủ tay chân như chúng ta cũng không thể theo kịp. Bên cạnh những người kiên trì, cần cù trong cuộc sống có rất nhiều bạn trẻ hay nóng vội, chóng chán nản và luôn mong muốn thành công nhanh nên bất chấp mọi thủ đoạn để thành công học bỏ cuộc giữa chừng, vì họ ngại khó ngại khổ, không muốn nỗ lực Là một học sinh ngồi trong ghế nhà trường em thấy câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” là vô cùng đúng đắn. Nó khuyên con người nên biết cố gắng, phấn đấu thì mới có thành quả tốt đẹp, xứng đáng công sức bỏ ra.
Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim
561
Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim “ Hướng dẫn Ở đâu có kiên trì ở, đó nhất định có thành công Những câu tục ngữ và thành ngữ là kho tàng trí tuệ rộng lớn. Qua mỗi câu tục ngữ cha ông ta đã gửi gắm vào lời khuyên bảo tinh tế mà sâu sắc đã được cha ông ta đúc kết và truyền dạy cho con cháu sau này. “Có công mài sắt có ngày nên kim” cũng là câu tục ngữ có ý nghĩa như vậy. Đầu tiên, chúng ta phải hiểu rõ nghĩa của từng câu trong câu tục ngữ này. Hồi xưa, để có thể làm nên những chiếc kim nhỏ xíu để khâu, thêu thùa nhưng người thợ bắt buộc phải cẩn thận và rất tỉ mỉ ngồi mài từng cục sắt to. Làm những việc này thành công không chỉ đòi hỏi sự khéo léo, mà quan trọng nhất là sự cố gắng và sự kiên trì của người thợ mài. Dẫu rằng cây kim bé nhỏ nhưng lại tốn rất nhiều mồ hôi và công sức của người lao động. Nếu ta hiểu rộng nghĩa của câu tục ngữ, thì đây chính là lời răng dạy về lòng kiên trì của con người. Ông cha ta muốn nhắc nhở và răng dạy con cháu sau này dù có việc gì khó khăn thì chỉ cần kiên trì và nhẫn nại cố gắng thì cũng sẽ vượt qua 1 cách dễ dàng. Ngay trong cuộc sống này, có biết bao nhiêu tấm gương tiêu biểu đó là thầy Nguyễn Ngọc Kí sinh ra đã bị bại liệt cả hai tay. Không đầu hàng, trước số phận với có lòng kiên trì và nhẫn nại, thầy kiên trì rèn luyện chữ bằng chân. Sau bao nhiêu tháng ngày khổ nhọc, thầy đã sử dụng được đôi bàn chân mình làm tất cả công việc đời thường Tác giả bộ truyện nổi tiếng Harry Potter cũng phải trải qua một thời kì khó khăn, cực nhọc. Cuộc sống hôn nhân khuông trọn vẹn khiến bà phải ly hôn, không dừng lại ở đó, mọi chi phí để trang trải cuộc sống của con bà đều phải phụ thuộc vào tiền chu cấp. Cuốn Harry Potter bị nhiều nhà sản xuất từ chối nhưng bà không hề nản lòng. Nhờ vậy, hiện nay đã trở thành nữ tỉ phú đầu tiên nhờ viết sách. Là học sinh chúng ta cần phải rèn luyện theo lời của cha ông ta đã khuyên bảo: trong học tập trong đời sống, sống có ước mơ hoài bão lớn lao, ý chí phấn đấu, hướng đến tương lai. Đó là lời khuyên vô cùng đúng đắn với mọi người. Muốn sống tốt đẹp và thành công phải làm theo lời dạy.
Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim “
469
Đề bài: Chứng minh câu tục ngữ "Có công mài sắt, có ngày nên kim" Bài làm Trong cuộc sống, con người ta đều có những thành công đạt được và những ước mơ muốn vươn tới. Và để thực hiện được điều đó thì ta phải có lòng kiên trì, bền bỉ, nỗ lực. Chính vì vậy ông cha ta đã có câu: “Có công mài sắt, có ngày nên kim” để động viên, khích lệ hay nói một cách khác là khuyên răn con cháu, dạy bảo những kinh nghiệm trong đời thường, cuộc sống. Câu tục ngữ được chia làm hai vế, mỗi vế có 4 từ. Hai vế này có hai cặp từ tương ứng với nhau: “Có công – có ngày ; mài sắt – nên kim”. Một vế chỉ sự nỗ lực, một vế chỉ thành quả đạt được. Cây kim tuy nhỏ nhưng nó rất có ích, tròn trịa, trơn bóng, sắc nét. Để mài được một cây kim như vậy thì thật là khó. Câu tục ngữ này mượn hình ảnh cây kim để nói lên được phẩm chất cao quý truyền thống của dân tộc Việt Nam từ hàng nghìn đời nay. Từ những việc nhỏ như quét nhà, nấu cơm đến những việc lớn như xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm. Những thành tựu hiện nay mà ông cha ta đạt được đã minh chứng cho điều đó. Những tháp chùa cổ kính có giá trị, một số công trình nghệ thuật nổi tiếng như tháp Chương Sơn, chuông chùa Trùng Quang… với những đường nét hoa văn thanh thoát, mạnh mẽ, thể hiện tinh thần thượng võ, yêu nước. Và một thành tựu lớn nhất của ông cha ta đó chính là xây dựng nên được một quốc gia văn minh, nhân dân đồng lòng, đất nước yên bình. Công cuộc dựng, giữ, phát huy, đổi mới đất nước đó đã thể hiện được sự bền bỉ, chịu thương chịu khó, sự sáng tạo, lao động kiên cường của ông cha ta. Trong lao động sản xuất, nhân dân ta cũng đã có những việc làm và kết quả đạt được để khẳng định ý nghĩa của câu tục ngữ trên là hoàn toàn đúng. Từ xưa tới giờ, đất nước ta đã gặp phải những khó khăn rất lớn, từ những thảm hoạ thiên nhiên như lụt lội, bão bùng đến những cuộc chiến tranh do con người tạo ra nhưng nhờ sự cố gắng, chịu đựng, vượt khó mà chúng ta đã khắc phục được những trở ngại đó. Và trong học tập thì điều đó lại càng được khẳng định rõ nét hơn. Những em bé chập chững bước vào lớp một, tập toẹ đánh vần, viết chữ đến những năm tháng tiếp theo lên lớp, phải kiên trì cần cù mới mong đạt được kết quả tốt trên con đường học tập của mình. Trong đường đời cũng vậy, những danh nhân, thương gia, thi sĩ, nhà nho, nhà văn nổi tiếng cũng từng phải vất vả, hi sinh, sử dụng những kiến thức mình có nhưng không thể thiếu đi và phải luôn gắn liền với sự kiên trì, chuyên cần, sáng tạo mới có thể thành đạt. Những tấm gương chăm học, những tấm gương chịu khó như Bác Hồ là một điển hình rõ nét nhất. Bác đã phải vất vả làm việc, chịu khó học tiếng nước ngoài, đi bôn ba khắp nơi để tìm đường cứu nước. Thật hiếm ai như vậy! Và cũng nhờ những sự nỗ lực đó mà đất nước ta mới được tự hào về một danh nhân, một vị lãnh tụ vĩ đại nổi tiếng mà khắp năm, châu bốn bể đều biết tới. Câu tục ngữ trên với hình thức ngôn từ dân dã nhưng thật ngắn gọn súc tích, bao hàm những ý nghĩa sâu sa. Đó chính là những đúc kết lâu đời trong quá trình lao động, kinh nghiệm chiến đấu, sản xuất và cả trong đời thường cuộc sống của ông cha ta. Nó như một bài học quý báu, một thông điệp hữu dụng, một lời dạy chân tình rằng: “Hãy biết tu dưỡng, rèn luyện những đức tính, phẩm chất kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, cần cù, sáng tạo, kết hợp với khả năng vốn có của bản thân để làm nên một sức mạnh vô địch vượt mọi gian truân, vất vả trong cuộc sống, những trở ngại éo le nhất mà đi tới thành công, thắng lợi”. Nào chúng ta hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ nhất như học tập chăm chỉ, lao động cần cù để trở thành con ngoan trò giỏi, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước.
Chứng minh câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim”
790
Đề bài: Chứng minh câu tục ngữ "Thời gian là vàng bạc" Bài làm Con người càng nhày càng phát triển. Trong công cuôc công nghiêp- hiện đai hóa con người chỉ biết chay theo dòng thời gian. Tuy vậy, không phải ai cũng biết quí trong thời gian, chính vì vây ông cha ta có câu rằng: Thời gian là vàng bạc. Để chỉ sự quí giá của thứ tài sản vô hình này. Khi đi vào câu tục ngữ này muốn hiểu về nó phải giải thích từng phần của chúng. Chắc ai cũng biết vàng bac là môt tài nguyên vô cùng quí giá. Còn thời gian là thì giờ của mỗi người. Đúng là thời gian ai cũng có còn vàng bạc thì không. Vậy thì taị sao vàng bạc đắc đỏ lại dươc ví với thời gian? Chính vì muốn thấy sự qíu giá của vàng bạc nên được so sánh như vậy. Thời gian quí giá biết bao: ai cũng biết mỗi khi thời gian trôi qua sẽ lý lại không đươc.Có thể nói trong chúng ta của cải là quan trong nhất, nhưng của cải cũng từ thời gian tao ra chứ thời gian không tạo ra chúng. Chúng ta có thể cố gắng tạo ra của cải vât chất, quả thực rất gian khổ rât gian khổ và chúng có thể mua những gì bạn muốn tuy vậy thì chưa có ai mua được thời gian cả. Nếu như vậy thì thời gian hải quí hơn vàng bac nữa chứ. Hãy quí trong thời gian như vâtj chất, hãy nhớ mỗi phút giây trôi qua dù cố gắng vẫn không trở lại đươc. Hãy vui vẻ mỗi phút giây ta có. Thời gian vô cùng quí, thế nhưng không phải ai cũng biết quí trọng thời gian. Cũng như không biết cách sắp xếp thời gian hợp lí. Trong các tổ xí nghiêp công nhân luôn quí trongg thời gian. Ho làm việc thât nhanh để có nhiều sản phẩm đóng góp vào quĩ của công ti và nâng cao tay nghề của họ. Ngoài ra ho cũng biết lo cho gia đình một cách hợ lí, Chính họ là những tấm gương biết quí trọng thời giờ. Hay những học sinh ho luôn cố gắng hoc thât nhiều ở nhà lẫn ở trường và cũng môt tay giúp việc cho bố. Thật đáng để noi theo. Tuy nhiên lại có một số người luôn sống theo thói quen.Cứ lieu lổng mãi. Họ để cho 1 tháng trôi qua, rồi một năm.. không hối tiếc. Khi về già nhân ra đã quá muộn màng, rồi trách, nhưng thời gian đâu có trở lại với họ đau!Tuy vậy, có người lại chỉ lo làm viêc mà khong biets sắp xếp thời gian để nghỉ ngơi Quả thưc việc sắp viếp và quản lí thời gian rất quan trọng.chính nó quyết đinh đến cuộc sống của mỗi người. Vậy quản lí thời gian là như thế naò? Cho đến nay những nhà chính trị luôn quí trọng thời gian. Bởi vì thời gian khong hải môt nguyên liệu có thể tích trữ. Dù muốn hay không chúng ta phải tiêu dung nó, với tốc dộ 60 giây trong môt phút. Và dù con người có tài giỏi đén đâu cũng không làm nó dừng lại hoăc chạy nhanh hơn, cũng như làm thay đổi nó.Dù bất lưc với thời gian nhưng chúng ta là người sử dung nó, chúng ta không thể thay đổi nó nhưng chúng ta quyết định phương thúc dung nó. Suy cho cùng muốn sử dụng thời gian môt cahs triêt để là hải tiết kiệm nó cũng như Lê_nin đã nói “ tranh thủ thời gian là tranh thủ đươc tất cả” Tóm lại thời gian là vô cùng quí giá. Ai cũng có môt khoản thời gian như nhau hãy sắp xếp nó cân bằng cho hút giây ở bên người than và công việc. Hi von ai cũng sẽ biết tiết kiệm và quí trọng thời gian. Hãy sử dụng hợp lí thời gian như vàng bac nhé.
Chứng minh câu tục ngữ “Thời gian là vàng bạc”
685
Chứng minh câu tục ngữ: Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao. Hướng dẫn Tục ngữ Việt Nam rất phong phú và thể hiện ở mọi mặt của đời sống xã hội. Nó là lời đúc kết những kinh nghiệm của cha ông và được chuyển thành vần thơ rồi để lại cho con cháu học tập và rèn luyện, trong đó có câu: “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Câu tục ngữ nói lên sức mạnh của sự đồng lòng, đoàn kết, gợi lên hình ảnh rất sinh động: một cây bé nhỏ, đơn độc thì “làm chẳng nên non” nhưng “ba cây chụm lại” thì “nên hòn núi cao”. “Ba cây” chỉ là cách nói ước lệ, khái quát của dân gian ý chỉ “nhiều cây thì sẽ nên rừng”.Nhưng nếu chỉ nói chuyện cây và núi thì câu tục ngữ đã không sống lâu bền trong dân gian Việt Nam như vậy. “Một cây” và “ba cây” là hình ảnh của cá nhân và tập thể. Và “non”, “núi cao” là hình ảnh của những công việc khó khăn, nặng nhọc. Bằng những kinh nghiệm xương máu của mình, ông cha ta đã đưa ra một nhận định: một cá nhân đơn lẻ thì khó làm nên việc lớn; muốn làm được những công việc khó khăn, vất vả con người phải biết đoàn kết, hợp lực với nhau. Đó chính là bài học về tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng. Lời răn dạy của cha ông thể hiện trong câu tục ngữ được dân tộc ta chứng minh qua nhiều thế hệ bằng thực tế cuộc sống chiến đấu và lao động của dân tộc. Trong những cuộc kháng chiến gian khó, nguy hiểm nhất của dân tộc, nhân dân ta vẫn đoàn kết một lòng vượt qua để chiến đấu và chiến thắng. Thế kỉ mười ba, đất nước ta phải đương đầu với kẻ thù hùng mạnh nhất thếgiới khi ấy: quân xâm lược Mông – Nguyên. “Vó ngựa Mông – Nguyên chạy tới đâu cỏ cây không mọc được đến đấy”, chúng đã đi từ Đông sang Tây, chiếm được những vùng đất đai rộng lớn và nay cũng ôm mộng xâm lược Đại Việt. Nhưng nhân dân Đại Việt dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần đã không cam tâm chịu thua. Vua Trần đã tổ chức nhiều hội nghị nhằm lấy ý kiến và tập hợp sức mạnh toàn quân, toàn dân. Từ hội nghị Bình Than đến hội nghị Diên Hồng, đâu đâu cũng vang lên tiếng hô “Đánh! Đánh!”. Với sức mạnh như vũ bão của cả một dân tộc, ba lần quân Mông – Nguyên xâm lược là ba lần chúng phải rút chạy nhục nhã. Bước vào thế kỉ hai mươi, thế kỉ của những giông bão thời đại, đối mặt với sự xâm lược của hai đế quốc hùng mạnh nhất thế giới: thực dân Pháp, đế quốc Mĩ, dân tộc ta vẫn phát huy tinh thần đoàn kết keo sơn. Bác Hồ đã kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” “bất kể đàn ông, đàn bà, người già, trẻ nhỏ không phân biệt tôn giáo đẳng cấp” đều đứng lên chống giặc. Ngay cả khi miền Bắc đã được giải phóng, miền Bắc vẫn gồng mình chung tay sản xuất để chi viện cho miền Nam đánh Mĩ. Những phong trào lao động sản xuất nổi lên như sóng cồn: “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Lao động giỏi”, “Cờ ba nhất”, “Ba sẵn sàng”… Và rồi, qua những năm trường kì kháng chiến gian khổ, cách mạng đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Từ Cách mạng tháng Tám đến chiến thắng của dân tộc là bản hùng ca ca ngợi sức mạnh của tinh thần đoàn kết, ý chí sắt đá và trí tuệ phi thường của con người Việt Nam bé nhỏ. Sau này Bác Hồ đã tổng kết: “Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó nhấn chìm bè lũ cướp nước và bán nước…”. Ngày nay, tiếp thu bài học của cha ông, đất nước ta đang phát huy sức mạnh đoàn kết toàn Đảng, toàn quân, toàn dân để xây dựng đời sống đưa đất nước phát triển hội nhập với thế giới. Để xứng đáng với vai trò của những chủ nhân tương lai của đất nước, những người học sinh chúng em cần biết học tập tinh thần đoàn kết để xây dựng tập thể lớp vững mạnh và đặc biệt là để tạo nên mối quan hệ hòa thuận, yêu thương trong gia đình của mình. Câu tục ngữ có ý nghĩa thật lớn lao đối với thế hệ trẻ chúng ta. Hiểu rõ về ý nghĩa của câu tục ngữ, dân tộc Việt Nam có sự gắn bó đoàn kết chặt chẽ hơn, mọi khó khăn gian khổ đều được vượt qua và nhanh chóng sánh vai với năm châu bốn bể.
Chứng minh câu tục ngữ_ Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao.
855
Chứng minh câu tục ngữ: ‘Một cây làm chẳng nên non…’ Hướng dẫn ĐẶT VẤN ĐỂ …Bài học về tình thương và đoàn kết đã ăn sâu vào tâm hồn dàn tộc. Vì thế, nhân dân ta thường nhắc nhở nhau: ‘Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao’. I. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ 1. Giải thích khái niệm (nghĩa đen, nghĩa bóng): ‘Một cây’chẳng thể nào làm nên núi ‘nên non’, nên rừng. Đó là một sự thật hiển nhiên. Nhưng ‘ba cây’, tượng trưng cho nhiều cây, rừng cây) thì có thể tạo nên non, ‘nên núi’, không phải là núi thấp, mà là ‘núi cao’. Từ ‘một cây’ đã chuyển thành ‘ba cây’, số lượng đã thay đổi thì chất lượng cũng biến đổi. Nhưng yếu tố quyết định của sự vận động từ ‘lượng’ thành ‘chất’ là sự ‘chụm lai’ của ‘ba cây’ nên mới có hiện tượng thiên nhiên sừng sững ‘hòn núi cao’ kia. ‘Chụm lại’ là hành động, là biểu hiện tâm lí thể hiện sự hợp lực, đổng lòng, là sự gắn bó đoàn kết. ‘Cây’ trong câu tục ngữ được nhân hóa, trở thành một biểu tượng rất sống động và thấm thía về nhân dân, nói lên tình thương yêu đoàn kết dân tộc. Qua câu tục ngữ nhân dàn ta nêu lên một bài học quý báu về tinh thần đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhau trong cộng đồng dân tộc. Lịch sử và cuộc sống, thơ văn và thực tế đã có biết bao thí dụ sống động nói về tình đoàn kết dân tộc. Từ thời xa xưa, với công cụ thô sơ, người Việt đã bạt rừng, lấn biển, đập đê đào kênh để làm nên những cánh đồng màu mỡ, xanh tươi: Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. (Nguyễn Đình Thi) Con đê sông Hồng, sông Thái Bình sừng sững như bức tường thành, dài hàng trăm cây số là kết tinh từ sức mạnh đoàn kết, chung lưng đấu cật của hàng triệu triệu con người ta qua hàng ngàn năm lao động. Nhờ công ơn của nữ tướng Lê Chân mà có ấp An Biên những năm đâu Công nguyên. Và mồ hôi, xương máu của bao thế hệ ‘chụm lại’ mà ta có thành phô’ Cửa biển to đẹp như ngày nay. Tiếng hô: ‘Quyết chiến! Quyết chiến!’ của các bô lão vang lên khắp điện Diên Hồng thời nhà Trần trong thế kỉ 13 không chỉ biểu thị cho tinh thần yêu nước bất khuất mà còn thể hiện sức mạnh lớn lao của nhân dàn Đại Việt quyết chiến quyết thắng quân xâm lược Mông cổ, như Trần Quốc Tuấn đã nói: ‘Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức’. Đoàn kết là sức mạnh. Đoàn kết để chiến thắng ngoại xâm. Đoàn kết để khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế. Từ ngày miền Nam giải phóng đến nay, sức lao động của bộ đội và nhân dân đã làm thay đổi bộ mặt Đồng Tháp Mười, vùng đồng cói mênh mông đã trở thành vựa lúa Long An. Em nhớ mãi bài thơ của Bác Hồ nói về sức mạnh đoàn kết, về chí, sự hợp sức, đồng lòng cho con người niềm vui lớn: ‘Hòn đá to Hòn đá nặng Nhiều người nhắc Nhắc lên đặng!’ Nhân dân ta đã biến lời dạy của Hồ Chủ tịch thành hiện thực: ‘Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công’ Và dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ sức mạnh đoàn kết càng được nhân lên gấp bội, nhân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc. II. KẾT THÚC VẤN ĐỂ Câu tục ngữ: ‘Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao’ đã làm cho mỗi chúng ta thêm thấm thía về bài học đoàn kết. Nó thấp sáng niềm tin và lòng tự hào dân tộc trong mỗi con người Việt Nam. Sức mạnh Việt Nam bắt nguồn từ tình yêu thương đoàn kết dân tộc.
Chứng minh câu tục ngữ_ ‘Một cây làm chẳng nên non…’
688
Chứng minh giải thích câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim Hướng dẫn Chứng minh giải thích câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim Tục ngữ dân gian là kho tàng trí tuệ của muôn đời mà mỗi câu là một bài học lớn. Một trong những bài học ấy được nhân dân ta đúc kết và khuyên dạy trong câu: Có công mài sắt có ngày nên kim Tục ngữ thường xây dựng những chân lý dựa trên những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng. Câu tục ngữ này cũng vậy. Tác giả dân gian đang nói đến một quá trình đem thanh sắt vừa to vừa cứng mà mài thành cây kim nhỏ. Công việc ấy tưởng chừng như không thể nào làm nổi bởi nó vừa khó lại vừa tốn công tốn sức. Thế nhưng vẫn có người không quản ngại gian nan, vẫn gắng sức và làm cho kỳ được. Nghĩa đen của câu tục ngữ là nói việc mài sắt thành kim nhưng nghĩa bóng của nó lại là một bài học nhân sinh quý giá. Câu tục ngữ của cha ông khuyên dạy chúng ta: làm việc gì cũng phải kiên trì, nhẫn nại, cố gắng và quyết tâm. Có được tinh thần như thế thì công việc dẫu có khó khăn gian khổ đến đâu, chúng ta cũng có thể hoàn thành. Chúng ta đã từng được đọc, được nghe nhiều câu chuyện. Trong những câu chuyện ấy, chắc chúng ta cũng đã gặp không ít những tấm gương về lòng nhẫn nại kiên trì. Ta hãy nhớ đến tấm gương anh Ký. Dù đã bị liệt cả hai tay thế nhưng cái mong ước được đến trường đã thôi thúc anh ngày đêm quyết tâm khổ luyện. Anh tập viết bằng chân một cách, khó khăn và khổ sở. Những dòng chữ đầu tiên nghuệch ngoạc, dọc ngang, uốn lượn khiến anh rất buồn lòng. Thế nhưng anh vẫn quyết tâm và rồi cuối cùng anh đã vượt qua số phận. Anh đã trở thành một người thày giáo ưu tú, được bao thế hệ học sinh kính trọng, mến yêu. Bên cạnh tấm gương anh Nguyễn Ngọc Ký chúng ta hãy nhớ đến cuộc đời của nhà thơ Đỗ Phủ. Chắc chẳng ai trong chúng ta có thể phủ nhận được tài thơ kiệt xuất của ông. Thế nhưng thi sĩ lừng danh bậc nhất Trung Hoa ấy lại có một cuộc đời rất vất vả đớn đau. Ông gần như suốt đời phải sống lang lang phiêu bạt. Nhà nghèo lại phải thường xuyên chạy loạn chiến tranh, nhiều lúc Đỗ Phủ muốn bỏ ngay nghiệp viết. Bởi những bài thơ cùa ông không thể làm ấm lòng con trẻ và không thể chữa được bệnh cho bố mẹ già. Thế nhưng cũng bằng một sự quyết tâm rất lớn, nhà thơ đã vươn lên để vừa vẫn duy trì cuộc sống vừa lại có thể theo đuổi nghiệp văn chương. Trong lao động chúng ta cũng phải nể phục những tấm gương như nhà bác học Lương Định Của – một kỹ sư nông nghiệp xuất sắc của nước ta. Những năm nước nhà còn chìm trong đói kém, nhà kỹ sư nông nghiệp đã không quản đêm ngày và thời tiết lội bì bõm trên những đám ruộng mà thử nghiệm, mà nghiên cứu để tìm ra giống lúa mới có năng suất cao hơn. Rồi những tấm gương như Anh-xtanh, Nô- ben, Men-đê-lê-ép… tất cả những nhà khoa học ấy để vươn được tới những thành công, họ cũng đã phải chịu hàng trăm lần thất bại! và chắc chắc nếu không có đủ niềm tin và nghị lực, họ đã không thể trở thành những nhà khoa học nổi tiếng với những phát minh mang ý nghĩa lớn lao.
Chứng minh giải thích câu tục ngữ Có công mài sắt có ngày nên kim
643
Chứng minh Hịch tướng sĩ thể hiện rõ tình yêu nước của vị chủ tướng Hướng dẫn Tấm lòng yêu nước của vị chủ tướng qua Hịch tướng sĩ văn Mở bài: Hịch tướng sĩ từ xưa đã được xem là một “thiên cổ hùng văn” bất hủ của dân tộc. Bài hịch là sự kết tinh sâu sắc của truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, là kết tinh của ý chí và sức mạnh quật cường của dân tộc qua mấy trăm năm lịch sử. Qua bài hịch, Trần Quốc Tuấn đã thể hiện mạnh mẽ lòng yêu nước thiết tha và căm thù giặc sâu sắc của vị chủ tướng một lòng vì nước vì dân. Thân bài: Thành công đầu tiên của Hịch tướng sĩ là chất giọng hùng hồn, thuyết phục hiếm có. Chất hùng văn của Hịch tướng sĩ được tạo nên từ nghệ thuật trữ tình hùng biện và tình cảm mãnh liệt, nồng cháy trong tim người anh hùng dân tộc. Đó ngọn lửa của tình yêu nước thiết tha và ý chí quyết tâm chống giặc cứu nước. Tình cảm sục sôi và nhiệt tình yêu nước cháy bỏng, ý chí quyết chiến quyết thắng giặc thù làm nên chất nhân văn cao đẹp của bài hịch. Mở đầu bài hịch, vị chủ tướng nêu cao gương sáng các anh hùng nghĩa sĩ đã quên mình vì chúa (Kỉ Tín, Do Vu, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh) hay anh dũng chống giặc hi sinh vì nước (Nguyễn Văn Lập, Xích Tu Tư). Đó là những tấm gương tiêu biểu, được lưu truyền trong nhân gian, không ai mà không biết nhưng dưới lời văn của Trần Quốc Tuấn lại được nâng cao lên nhiều lần, trở thành điều tâm niệm mà mỗi tướng sĩ nên có. Tình yêu nước theo vị chủ tường, trước hết là phải biết sống anh hùng và lập nên những chiến công hiển hách, lưu danh thiên cổ. Lời văn ngắn gọn, xúc tích nhưng đã đánh động được nỗi lòng của các tướng sĩ, khiến họ biết tự nhìn lại mình. Tình yêu nước của Trần Quốc Tuấn được bộ lộ rõ ràng hơn khi ông nói về sự ngang ngược và tội ác của quân giặc. Ông đã lột tả bản chất tham lam, hống hách, tàn bạo của đoàn quân xâm lược: Đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tề phụ, đòi ngọc lụa, thu bạc vàng. Thái độ của Trần Quốc Tuấn vừa tủi nhục, xót xa vừa căm giận, khinh bỉ, coi chúng như những loài cầm thú: cú diều, dê chó, hổ đói, lột rõ bản chất tham lam, tàn bạo của chúng. Trong khi, quân giặc đang giày xéo trên quê hương, muôn dân đang bị chúng cướp bóc, sát hại thảm thiết. Nỗi căm tức dâng lên tột cùng, uất nghẹn: “căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. Vì đất nước “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa”, ông cũng vui lòng. Với bút pháp khoa trương, tính chất ước lệ, giọng văn nhẹn ngào, thống thiết, hào sảng, phù hợp với ngôn ngữ hùng biện của thể hịch văn, bài hịch có sức ngân vang lớn. Đoạn văn dã thể hiện đậm nét trạng thái sục sôi, hận thù bỏng rát của một trái tim vĩ đại, chất chứa cảm xúc lớn với vận mệnh đất nước, sự tồn vong của dân tộc, số phận của nhân dân. Tất cả những trạng thái cảm xúc ấy đều được đẩy tới cực điểm. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam, lòng căm thù giặc và nỗi đau xót trước vận mệnh dân tộc lại được biểu hiện sâu sắc, mãnh liệt và xúc động lòng người đến thế. Trong khi tướng sĩ vẫn còn đang mãi lo cho bản thân, ham mê lạc thú mà quên đi nhiệm vụ bảo vệ nước nhà. Ông đã rất đau xót và nghiêm khắc khi nhắc nhở tướng lĩnh của mình. Đầu tiên ông nhắc lại mối ân tình của mình với tướng sĩ: “không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa. Ông còn nhắc lại mối giao hòa chủ tướng thắm thiết như phụ tử cùng sống chết trong trận mạc, cùng vui vẻ khi bình yên. Ông cũng nghiêm khắc chỉ trích lối sống thờ ơ, hèn nhục của tướng sĩ khi quân giặc giày xéo quê hương: thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn…, không biết căm,… không biết báo thù rửa nhục. Mỗi thú vui của tướng sĩ không có gì là xấu nhưng nó không hợp với thời cuộc. Đất nước đang trong nước sôi lửa bỏng, vận mệnh dân tộc đang lâm nguy, kẻ thù thiện chiến và hùng mạnh, mà tướng sĩ vẫn thờ ơ tức là tự đẩy mình vào diệt vong, muôn đời chịu nhục. Không những vạch rõ yếu kém của tướng sĩ, ông còn chỉ ra cái nguy cơ dẫn đến thảm kịch của đất nước, của gia đình, của cá nhân và cách để hóa giải cái nguy cơ ấy. Với bản lĩnh của một vị tướng kiệt xuất có tầm nhìn xa trong rộng và niềm tin tất thắng của dân tộc, ông hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi nếu mỗi binh sĩ đều hết lòng xả thân chống giặc cứu nước. Đó cũng là một lời hứa đinh ninh trước trời đất của vị chủ tướng để huy động toàn bộ sức mạnh dân tộc trong cuộc quyết chiến với kẻ thù xâm lược. Kết bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc tuấn đã phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược của dân tộc ta. Hịch tướng sĩ là một áng văn nghị luận mẫu mực, bất hủ với kết cấu chặt chẽ, lập luận sắc sảo, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng phong phú, sinh động và lời văn khi hùng hồn đanh thép, khi thống thiết chân thành có sức lôi cuốn và sức thuyết phục mạnh mẽ. Với bài hịch ngắn gọn, xúc tích, truyền tải lòng yêu nước sâu sắc của vị chủ tướng, Nước Đại Việt ta như một bản hùng ca vang mãi đến muôn đời.
Chứng minh Hịch tướng sĩ thể hiện rõ tình yêu nước của vị chủ tướng
1,108
Chứng minh khát vọng tự do giai đoạn 1930-1945 qua bài thơ của Thế Lữ và Tố Hữu – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Khát vọng tự do luôn là đề tài lớn của các nhà thơ, nhà văn trong giai đoạn 1930 – 1945. Nó là sự thôi thúc, niềm bứt rứt của nhân dân ta nói chung và của các nhà thơ nói riêng. Mỗi nhà thơ bộc lộ niềm khao khát tự do của mình theo một cách, làm cho tiếng nói tự do trở nên phong phú Thế Lữ và Tố Hữu, bằng một số bài thơ, cũng đã góp những tiếng thơ khao khát tự do thật tha thiết. Giữa cảnh đất nước nô lệ, Thế Lữ đã mượn hình ảnh con hổ, vị chúa tể của rừng xanh bị giam cầm trong vườn Bách thú để nói lên niềm khao khát tự do, nuối tiếc một quá khứ huy hoàng của mình trong bài Nhớ rừng. Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt. “Khối căm hờn” đó ngày một lớn dần, cùng với nỗi “nhớ rừng”, nhớ kỉ niệm vàng son mà giờ chỉ còn là trong kí ức thôi: Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối. Dòng hồi tưởng của con hổ được thể hiện qua những kỉ niệm huy hoàng, kết hợp với các câu hỏi tu từ làm bài thơ trở nên sâu sắc hơn. Các từ “nào đâu”, “đâu những” được Thế Lữ dùng như để chỉ những kỉ niệm đã tuột khỏi tay rồi, không gì lấy lại được. Nỗi tiếc nuối đó càng lớn dần lên, nhớ thời xưa ta là chúa tể sơn lâm, nhớ những ngày mưa chuyển bốn phương, những “tiếng chim ca”, tiếng chân bước mạnh mẽ… Tất cả, tất cả như va đập trong trí nhớ của con hổ, và kiêu hãnh làm sao khi: Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật. Vậy mà giờ đây, giữa lồng cũi, ta chỉ làm “trò mua vui cho thiên hạ”. Ôi thời xa xưa!… Nỗi tiếc nuối, niềm khát khao tự do lại được hổ gầm lên ở câu kết. Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? Thời “oanh liệt” ấy chẳng còn đâu nữa, chỉ còn lại hổ với tiếng gầm thét đòi tự do thật quá mãnh liệt. Hình ảnh con hổ bị tù đày ở đây phải chăng chính là hình tượng của cả một dân tộc sống trong cảnh tù đày, nô lệ. Tiếng gầm đó chính là niềm khát vọng đã thôi thúc mãnh liệt con người tìm đến tự do, tìm đến chính mình ở một thế giới bình đẳng, bác ái. Nhà thơ Thế Lữ đã thành công khi chọn lựa hình ảnh của một con hổ bị tù đày để nói lên khát vọng rực cháy muốn tìm tự do của cả một lớp người. Bằng sự cảm nhận sâu sắc của một người tù phải chịu cảnh sông mất tự do, Tố Hữu đã viết trong bài Khi con tu hú: Khi con tu hú gọi bầy. Tiếng gọi vang dội từ bên kia song sắt, nhà thơ như cảm nhận được hè về trải dài trên những đồng cỏ, những ruộng lúa, và bầu trời tự do: Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Ước gì nhà thơ được như những con chim kia, có thể tung cánh khắp bốn phương trời. Nhưng mọi sự chỉ đều là cảm nhận mà thôi, bốn bức tường, song sắt nhà tù đã ngăn cách nhà thơ với thế giới bên ngoài. Sự thiếu tự do, uất hận trào dâng: “Hè ôi!”, câu thơ như than vãn về một sự việc không thể thực hiện được. Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Hai câu thơ thể hiện sâu sắc tâm trạng của nhà thơ, khi sống thiếu tự do con người có thể “chết uất thôi”. Tiếng chim tu hú vẫn cứ kêu. Mở bài và kết bài đều là tiếng chim tu hú gọi hè dậy lên. Nhưng câu mở diễn ra với một không gian tự do, còn câu kết bài lại chính là tiếng gọi của tự do. Con chim vẫn cứ kêu lên, dù chỉ là khắc khoải, nhưng nó vẫn cố bám lấy một tia hi vọng, một tiếng “tự do”. Nếu như nhà thơ Thế Lữ rất thành công khi mượn hình tượng con hổ thì Tố Hữu cũng gây được ấn tượng không nhỏ trong người đọc về hình ảnh con chim sẻ bé bỏng. Con chim sẻ không oai hùng, không đầy sức mạnh như vị chúa sơn lâm nhưng nó cũng cần có tự do. Và nó đã gục chết khi bị nhốt trong lồng. Ngày hôm qua khi chưa bị giam cầm “nó hãy còn bay nhảy” vậy mà “chỉ một ngày giam đã chết rồi”. Tác giả đã nói lên những niềm băn khoăn, day dứt của mình bằng những câu hỏi tu từ sâu sắc, ở khổ thơ đầu là lời băn khoăn, thì ở khổ thứ hai là lời tự chất vấn. Niềm băn khoăn dần chuyển thành lời day dứt của một kẻ tù mà không nhạy cảm với sự tù. Và cái chết của con chim nhỏ đã được giải thích ở khổ thơ sau: nó chết vì thiếu “mây gió”, không được “uống ánh trời”. Ở trong tù, con chim nhỏ dầu không phải kiếm ăn, người tù đã nhường cơm cho nó, nhưng sao vật chất có thể thay được tự do. Bài thơ với những câu hỏi tu từ láy đi láy lại nhức nhối, đớn đau vì sự “vỡ nhẽ” dần dần cái giá trị vô giá của tự do. Bởi vì mất tự do thì cả con vật bé nhỏ cũng không sống nổi, huống hồ là con người. Người ta không chỉ cần tự do cho cuộc sống vật chất mà hơn thế nhiều, tự do cho cuộc sống tinh thần. Thơ ca giai đoạn 1930 – 1945 này đã xuất hiện nhiều bài thơ nói lên khát vọng tự do đến cháy bỏng của con người Việt Nam. Niềm khát khao tự do ấy cũng được thể hiện khá thành công trong bài thơ Nhớ rừng và trong thơ Tố Hữu. Tags:Văn 8
Chứng minh khát vọng tự do giai đoạn 1930-1945 qua bài thơ của Thế Lữ và Tố Hữu – Đề và văn mẫu 8
1,043
Chứng minh lão Hạc là một lão nông đôn hậu, yêu thương con – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Nói đến Nam Cao là phải nói đến Lão Hạc. Tác phẩm này được coi là truyện ngắn hiện thực xuất sắc trong trào lưu hiện thực phê phán thời kì 1930 – 1945. Truyện không những nêu được nỗi khổ của người nông dân trước tai trời ách đất, trước xã hội suy tàn mà đáng chú ý hơn là cả là đã nêu bật được hình ảnh một lão nông dân đáng kính với phẩm chất của một con người đôn hậu, giàu lòng tự trọng và rất mực yêu thương con, để lại trong lòng người đọc niềm xót xa, cảm thương và mến phục. Điều đầu tiên phải nói đến là tấm lòng đôn hậu, rất mực yêu thương con của lão Hạc… Vợ chết sớm, sống một mình trong cảnh gà trống nuôi con, lão yêu con hết mực. Khi con đến tuổi trưởng thành, vì nhà nghèo nên làm lỡ duyên con, lão vô cùng ân hận và cảm thấy mình có lỗi. Trách nhiệm làm cha luôn luôn thôi thúc giày vò lão, lão tìm mọi cách để làm yên lòng con. Nhưng người con vì phẫn uất đã bỏ nhà đi đồn điền cao su để mình lão thui thủi ở nhà. Tình yêu con của lão được biểu hiện vừa trực tiếp vừa gián tiếp. Trực tiếp qua tình cảm của lão với anh con trai, gián tiếp qua tình cảm với con Vàng – kỉ vật duy nhất của con. Lão cho nó ăn vào bát như chó nhà giàu, mình ăn gì nó ăn nấy. Lão nâng niu bế bồng nó như bà mẹ hiếm hoi chiều đứa con cầu tự. Những lúc vui buồn lão đều trò chuyện, tâm tình với nó, coi nó như người bạn tâm giao. Bao nhiêu tình cảm nhớ thương xa cách, lão đều dành cho nó. Không phải bất cứ người nào cũng có thể nhớ thương súc vật như vậy. Vậy lão không đôn hậu, yêu con đó sao? Nhưng mưa bão liên miên, hoa màu trong vườn đều bị phá sạch, việc làm chẳng còn, nếu cứ tiếp tục như vậy sẽ ăn vào số tiền lão chắt chiu dành dụm cho con. Nếu đặt lên bàn cân mà tính số suất ăn của con chó cũng bằng lão, vậy tốn quá. Giữa số tiền dành dụm cho con và con chó, người bạn tâm tình, lão chọn ai đây! Để đi đến quyết định, lão đã phải dằn vặt, đau khổ, lão đã suy nghĩ nhiều, nhiều lắm mới dũng cảm bán chó. Cuộc lựa chọn tàn khốc diễn ra trong nước mắt. Nhưng nếu không bán lão sẽ chết, và số tiền dành dụm cho con cũng chẳng còn. Lão bán chó đâu phải để ăn mà để lo tương lai cho cho đứa con. Nét cao đẹp của lão Hạc chính là ở chỗ đó. Sau khi bán chó, lão cảm thấy hụt hẫng, thiếu vắng. Lão lại tự dằn vặt lương tâm mình, tự oán trách mình vì đã trót lừa một con chó: “các nếp nhăn xô lại ép cho nước mắt chảy ra, lão hu hu khóc”. Vậy là, trong cuộc đổi chác này, cái được chẳng là bao mà cái mất thật là to lớn. Lão Hạc được vài đồng để sống qua ngày nhưng lại mất đi một người bạn, mất đi mối dây liên hệ giữa lão và đứa con. Xót xa thay, cay đắng thay cho một số phận của con người đôn hậu, hiền lành này. Lão lương thiện đến mức chỉ vì bán con chó mà tự cán trách mình đau khổ đến thế. Liệu Binh Tư, vợ ông giáo và bao người khác nữa, họ có hiểu không, hay họ chỉ thấy lão Hạc gàn dở và ngốc nghếch. Ta cảm thương cho số phận lão, ta cảm phục trước đức hi sinh và lòng nhân hậu của lão, một con người cao đẹp. Đẹp hơn nữa trong tâm hồn lão Hạc là lòng tự trọng cao quý, lão tự trọng với mọi người, với đứa con và với chính bản thân mình. Trận ốm kéo dài đã khiến lão suy sụp, lão không còn đủ sức để làm,và cũng không còn gì để ăn. Nhưng lòng tự trọng không cho phép lão xâm phạm vào số tiền của con. Và như đã nói, lão bán chó, quyết định cay đắng để giữ trọn chữ tín với con. Khi mọi thứ đều đã hết, lão vẫn tiếp tục sống, một cuộc sống tạm bợ và vất vưởng. Vì tương lai của con, vì lòng tự trọng của mình, lão đã quyết định chết, cái giá đấy phải chăng là quá đắt. Không, với lão Hạc nó không hề đắt và có lẽ cũng vì vậy mà chúng ta thấy khâm phục trước nghị lực của lão. Có thể tưởng tượng, cuộc sống của lão Hạc như một bó đuốc lớn. Nó vẫn cháy và vẫn có thể cháy nhưng lão dập tắt để thắp thêm vào ngọn đuốc của con. Cái đáng chú ý ở đây là mặc dầu không biết số phận đứa con ra sao; còn sống hay đã chết, nhưng với niềm tin cháy bỏng, lão vẫn quyết định hi sinh. Với quyết tâm cao như vậy, lão chuẩn bị, sắp xếp cho cái chết một cách tỉ mỉ và cẩn thận; nhờ ông giáo trông hộ mảnh vườn cho con và gửi tiền làm ma để đỡ phiền hàng xóm. Lòng tự trọng ấy cao đẹp biết bao. Từ đó, lão tồn tại gần như vất vưởng, vớ được thứ gì ăn thứ nấy, hôm thì quả sung, củ ráy, hôm thì củ chuối, con ốc… Lão đã chịu đựng một cách kiên gan và cao ngạo để giữ tròn phẩm giá. Lão đã từ chối gần như hách dịch tất cả mọi sự giúp đỡ của mọi người. Và cái chết của lão đâu phải là của con người. Phải chăng lão đã chết như một con vật để được sống như một con người? Ở con người này, quy luật “đói ăn vụng, túng làm liều” không thể xảy ra. Kết cục ấy là một diễn biết tất yếu của một cuộc đời trong sạch ngay thẳng như lão. Ta không những khâm phục mà còn nên lấy đó làm tấm gương noi theo. Cái cao tay của Nam Cao là để cho nhân vật lão Hạc hiện lên trong con mắt của rất nhiều người, đủ loại người: vợ ông giáo, ông giáo, Binh Tư. Tất cả đều hiểu lầm lão Hạc, coi lão thật ngớ ngẩn, dở hơi. Duy chỉ có ông giáo vì cảm thông, chịu tìm hiểu nên đã phát hiện được vẻ đẹp ẩn chứa trong tâm hồn lão Hạc. Còn riêng em, trong con mắt em, lão Hạc hiện lên là một người cha mẫu mực, một con người Việt Nam cao quý.
Chứng minh lão Hạc là một lão nông đôn hậu, yêu thương con – Đề và văn mẫu 8
1,185
Chứng minh Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam Hướng dẫn Chứng minh Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam Như chúng ta đã biết từ lâu cái tên Nguyễn KHuyến đã quá quen thuộc với người dân việt Nam đặc biệt là chum thơ mang hơi hướng thiên nhiên và tình người ở trong đó. CHúng ta không thể nào phủ nhận sức thu hút của những bài thơ trên thông qua cái hồn của nó đặc biệt là chum thơ thu nổi tiếng của ông: Thu điếu, thu vinh, thu ẩm- nó là cái hồn của làng cảnh việt nam Cái cốt lõi của bài thơ thu của Ông chính là khung cảnh thiên nhiên và không gian làng quê được tận dụng triệt để. KHông thể nói rằng những hình ảnh ấy lại ám ảnh người đọc tới như vậy, Bởi một lần nữa chúng lại làm khơi dậy ở những người yêu thiên nhiên một cái buồn man mác và một tình yêu khó tả. Như chúng ta đã thấy, ở bài thơ thu điếu không gian làng quê mở ra với hình ảnh ao cá cảnh vật tự nhiên với lá vàng ngõ trúc và tất cả đều mang một nét đượm buồn. “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. …… Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng, Cá đâu đớp động dưới chân bèo. ” Không dừng lại ở không gian ngõ trúc vắng teo của thu điếu, đến với thu ẩm mọt lần nữa khán giả như được chứng kiến tận mắt những ngôi nhà ngày xưa của người việt rất đỗi mộc mạc chân tình Ngõ tối đêm khuya đóm lập lòe ……. Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy Độ năm ba chén đã say nhè. ” Đặc biệt hình ảnh làng quê hình ảnh của những gian nhà nghèo những không thể thiếu được ở đó chính là hình ảnh là tình cảm quê hương mặn mà. trong hình ảnh của ngôi nhà cũ người ta không thể phủ nhận con người lại yêu thương nhau và hình ảnh đó lại được làm nổi lên nhờ những cảnh vật làng quê giản dị như: đóm lập lòe, giàn giậu, làn ao, trăng loe, da trời xanh ngắt.Thu ẩm đến với con người ta với hình ảnh uống rượu mùa thu mà những ẩn sĩ với thú vui tao nhã của mình. Mọi thứ thật hồn hậu thân thuộc “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu ……. Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra sợ thẹn với ông Đào!” Đây là những câu thơ nổi tiếng từ bài thu vịnh. Thu vịnh chính là cách mà tác giả dùng những cảm nhận tinh tế của mình để làm thơ vịnh mùa thu. Khung cảnh có phần hiu hắt hoàn sơ những chính nó lại tạo nên nét đẹp chốn nông thôn.đó là vẻ đẹp của sự giản dị thanh cao non xanh nước biếc, đám giậu, Chỉ với một đề tài là mùa thu thôi nhưng người ta mãi không thể quên được hình ảnh của nhữn mùa thu trên chính làng quê làng cảnh việt nam. Những hình ảnh ấy quả là thân thuộc nhừng lại đưuọc chấm phá với những ngôn từ tuy giản dị nhưng lại khắc sâu trong tâm hồn mỗi con người. Những chất liệu trong thơ chỉ là mái tranh bờ dậu chỉ là ngõ vắng bến buồn nhưng lại có sức lay động tới lòng người yêu quê như vậy Thông qua chum thơ thu và những cau thơ thấm đẫm hình và tình người chúng ta một lần nữa có thể khẳng định rằng Nguyễn KHuyến chính là nhà thơ làng cảnh Việt Nam. Sự giản dị và lối sống thanh cao của ông cũng phần nào thấm nhuần vào những câu thơ mang màu sắc của nông thôn Nguồn: Bài văn hay
Chứng minh Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam
647
Chứng minh nhà thơ Tế Hanh gửi nỗi niềm vào bài thơ Quê hương – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Tưởng nhớ quê hương trong xa cách trở thành dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời cho Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một cù lao trên sông Trà Bồng nước bao vây cách biển một ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tế Hanh, đã trở thành một điểm hướng về để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong dòng cảm xúc ấy, quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Có lẽ nhà thơ đã viết Quê hương bằng cả tấm lòng mến yêu thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, mến yêu con người lao động tràn trề sức lực, bằng những kỉ niệm nồng nàn nhất của mình. Khi trời trong gió nhẹ, sớm mai hồng; dân trai tráng trong làng bơi thuyền đi đánh cá, hình ảnh mái chèo phăng phăng cánh buồm no gió: Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã. Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng. Rướn thân trắng bao la thâu góp gió. Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiên ngang hăng hái, đầy sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Bằng các từ ngữ sinh động, nhà thơ đã khắc họa tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm! Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao động của làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên tưởng: Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng. Bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy. Cả cái cảnh ồn ào đáng yêu khi chào đón thành quả lao động cũng được miêu tả thật tươi vui: Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. Nhờ ơn trời biển lặng, cá đầy ghe. Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Ở đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn thuyền, lời thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần lắng lại theo niềm vui của dân làng, theo những chiếc thuyền trở về nằm im trên bến. Chính từ đây, xuất hiện những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của quê hương: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng. Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm. Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Chỉ ai là người con của vạn chài mới viết được những câu thơ như thế. Tế Hanh như khắc tạo bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lồng lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn. Bức tượng đài nồng thở vị xa xăm – vị muối mặn mà của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ thường chinh phục. Chất muối mặn mòi ấy ngấm vào thân hình người dân chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã ngấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kì diệu. Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường. Những hình ảnh của quê hương đã thành kỉ niệm ám ảnh, vẫy gọi: Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá – câu thơ cuối cùng cho ta rõ thêm tâm hồn thiết tha, thành thực của Tế Hanh. Tags:Văn 8
Chứng minh nhà thơ Tế Hanh gửi nỗi niềm vào bài thơ Quê hương – Đề và văn mẫu 8
644
Chứng minh nhân dân ta từ xưa đã sống đúng với đạo lí: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Hướng dẫn Sống có lòng biết ơn là lối sống đẹp Mở bài: Trong cuộc sống của ta, đạo đức là một yếu tố cực kì quan trọng để hình thành nên nhân cách. Đạo đức thể hiện qua sự văn minh tính cách của riêng họ. Trong đó có cả sự biết ơn, nhớ ơn những người đã giúp đỡ mình vượt qua khó khăn. Đó là chân lí, chính vì vậy ông cha ta luôn có câu: “Uống nước nhớ ngồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây.” Thân bài: Từ việc mượn hình ảnh “ăn quả” và “trồng cây” ý nói rằng khi hưởng thụ thành quả, cần nhớ tới những người đã bỏ ra công sức, mồ hôi nước mắt để làm ra. Về nghĩa đen: quả là sản phẩm của cây, kẻ trồng cây là người đã trồng và chăm bón cho cây. => ý nghĩa: khi ăn quả của cây này hãy nhớ ơn người đã trồng ra. Về nghĩa bóng: quả là thành quả lao động, kẻ trồng cây là người tạo ra thàng quả lao động ấy. => ý nghĩa: khi hưởng thụ thành quả lao động do người khác làm ra, hãy ghi nhớ công ơn của họ. Biết ơn là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ xưa đến nay. Chúng ta biết ơn cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ đã sinh ra tổ tiên ngày xưa. Biết ơn ngững vị vua Hùng đã khổ công gây dựng nên non nước này. Biết ơn những anh hùng đã hi sinh thân mình bảo vệ đất nước. Chúng ta cần phải biết ơn cuộc sống này đã cho ta muôn vàng thách thức để rèn luyện lại chính mình. Và chúng ta trả ơn họ và cuộc sống này bằng cách giúp đỡ người khác như ông cha ta ngày xưa. Có hai người mà em nợ ơn họ cả đời này em trả cũng chẳng hết đó chính là ba mẹ. Người sinh ra ta nuôi nấng ta mà không cần đến sự đền đáp. Khó có thể nói rằng ai cũng có đủ tình cha và tình mẹ. Có những người họ không có đủ tình thương của cả hai. Thật vậy lòng biết ơn rất cần thiết đối với con người, giúp con người gắn kết lại với nhau. Nếu như không có lòng biết ơn thì dù mình có khổ cực đến mấy cũng sẽ không có ai giúp đỡ. Sự gắn kết giữa người với người là minh chứng cho lòng biết ơn sâu sắc. Mỗi người ai cũng chỉ có một lần sống hãy biết ơn những gì mình đang có và cùng chia sẽ nó với mọi người. Hãy ghi nhớ những giây phút mình có thể sống. Hãy ghi nhớ công ơn những người đã giúp đỡ mình và đặc biệt là cha mẹ. Người đã hi sinh tuổi thanh xuân của họ mà không một lời oán than hay trách móc và cũng chẳng cần nhận lại. Hãy dành tặng những thứ mà mình có cho cha mẹ dù biết rằng cát đời này sẽ không bao giờ trả hết. Câu “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cho ta biết rằng sống ở đời nếu đã mang ơn người nào thì phải ghi nhớ và dùng cả tấm lòng để trả ơn. Kết bài:
Chứng minh nhân dân ta từ xưa đã sống đúng với đạo lí_ “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
574
Chứng minh nhân vật bé Hồng có tình yêu mẹ thắm thiết (Trong lòng mẹ) – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Những ngày thơ ấu” là một hồi kí trung thực và cảm động về tuổi thơ cay đắng của Nguyên Hồng trong chế độ cũ. Đây là tác phẩm có giá trị của Nguyên Hồng và cũng là tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Chương IV của tác phẩm đã miêu tả một cách sinh động những rung cảm mãnh liệt của một tâm hồn trẻ thơ đối với người mẹ, bộc lộ sâu sắc lòng yêu thương mẹ của bé Hồng. Điều đó trước hết được thể hiện trong sự phản ứng của Hồng đốì với người cô xấu bụng. Hồng lớn lên trong hoàn cảnh thiếu tình thương, cha chết, mẹ cùng quẫn quá phải bỏ con đi tha phương cầu thực. Hồng sống nhờ vào bà cô, thực chất là sống trong sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng giàu có. Hồng nhớ mãi câu hỏi đầy ác ý của người cô: “Hồng, mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mợ mày không?” Hồng hình dung vẻ mặt rầu rầu và sự hiền lành của mẹ, nghĩ đến cảnh thiếu thốn một tình thương áp ủ đã bao phen làm Hồng phải khóc thầm, Hồng thấy tủi thân và muốn trả lời “có”. Nhưng khi nhận ra những ý nghĩa cay độc trong gọng nói và cái cười “rất kịch” của cô, Hồng biết “chỉ cố ý gieo rắc vào đầu óc Hồng những mối hoài nghi để Hồng khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”, do đó thoạt đầu Hồng phản ứng ngầm “cúi đầu không đáp”: sau đó Hồng mới nở nụ cười chua xót. Hồng nghĩ: mẹ mình có tội tình gì mà các cô khinh miệt làm vậy? Một người đàn bà phải lấy chồng nghiện hút, chồng chết, để lại sự cùng quẫn của nợ nần nên phải rời bỏ con cái, đi tha phương cầu thực… Đó là một tội ư? Mặc dù đã gần một năm nay mẹ Hồng không có một lá thư, một lời nhắn hỏi hay một món quà gởi về, nhưng Hồng vẫn thương mẹ vô cùng. Mẹ Hồng vốn là người rất tình cảm, rất thương con. Nhất định Hồng không để cho ai xúi bẩy mà làm mất tình cảm yêu mến giữa mẹ con Hồng. Nghĩ vậy, Hồng từ chối lời khuyên của cô: – Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu! Hồng im lặng cúi đất xuống đất, “lòng càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay”. Người cô lại vỗ vai Hồng cười mà nói rằng: – Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mẹ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ?. Nghe hai tiếng “em bé” mà cô ngân dài ra thật ngọt thật rõ, Hồng cảm thấy những âm thanh ấy xoắn chặt lấy tâm can. Lần này tình yêu thương mẹ của bé Hồng trỗi dậy mãnh liệt hơn. Trước tiên đó là sự xúc động bật ra thành tiếng khóc. Nước mắt Hồng chảy dài “rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và cổ”. Đây không phải là giọt nước mắt xấu hổ, tủi thân mà là giọt nước mắt của tình thương… sao mẹ tôi lại sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi để sinh nở một cách giấu giếm, trốn tránh…”. Từ tình cảm ấy, Hồng đã biến thành lòng căm giận những cổ tục, những thành kiến tàn ác đối với người phụ nữ. “Giá những cổ tục đã đày dọa mẹ tôi là vật như hòn đá hay cục thủy tỉnh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Chính tình thương đó đã giúp cho bé Hồng nhận ra đâu là lẽ phải, đâu là những người, những tập tục cần lên án… Tình thương ấy còn được biểu hiện một cách sinh động trong lần Hồng gặp mẹ sau này. Tan học ở trường ra Hồng chợt thoáng thấy bóng một người ngồi trên xe kéo rất giống mẹ, Hồng liền đuổi theo bối rối gọi: – “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ… ơi!”. Những tiếng ấy bật ra từ lòng khao khát được gặp mẹ của bé Hồng bấy lâu nay dồn nén lại. Đó là sự thổn thức của trái tim trẻ thơ bật thành tiếng gọi. Hồng hồi hộp nghĩ: nếu người đàn bà ấy không phải là mẹ thì sự nhầm lẫn không những làm Hồng hổ thẹn với bạn bè mà còn tủi cực, đau khổ biết bao, chẳng khác gì người bộ hành ngã gục giữa sa mạc sau khi bị ảo ảnh dòng suối trong mát đánh lừa! Nghe tiếng gọi, bà mẹ nhận ra con, bảo xe chạy chậm lại và đưa nón vẫy. Một lúc sau, Hồng đuổi kịp, mồm mũi đều thở dốc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, Hồng òa lên khóc rồi cứ thế nức nở làm mẹ cũng sụt sùi theo. – “Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà”. Bà mẹ xoa đầu Hồng rồi lấy vạt áo thấm nước mắt cho Hồng. Hồng sung sướng đắm mình trong tình cảm yêu thương của mẹ: “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác âm áp đã bao lâu mất đi bỗng mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”. Hồng mải mê ngắm nhìn gương mặt mẹ hiền hiện trước mắt mình, thấy khác hẳn khuôn mặt mà Hồng phải tưởng tượng qua lời kể của cô. “Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má” “chứ không xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi”. Hồng lại nghĩ: “Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc?”. Mải ngắm nhìn và suy nghĩ về mẹ, mải say sưa tận hưởng những cảm giác êm dịu khi được ngồi trong lòng mẹ để bàn tay người mẹ vuốt ve, từ lúc lên xe cho tới khi về nhà, Hồng không còn nhớ mẹ đã hỏi cậu những câu gì và Hồng trả lời những gì cho mẹ nữa. Trong những giây phút rạo rực ấy rồi cả những câu nói của cô cũng bị chìm ngay đi, Hồng không nghĩ đến nó nữa. Sự xúc động của bé Hồng khi gặp mẹ càng chứng tỏ tình thương mẹ của Hồng thật là sâu đậm, nồng thắm. Tình thương mẹ là một nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Nó mở ra trước mắt chúng ta cả thế giới tâm hồn phong phú của bé. Thế giới ấy luôn luôn làm chúng ta ngạc nhiên vì ánh sáng nhân đạo lấp lánH của nó. Tình thương mẹ đã cho bé Hồng một cái nhìn sắc bén đôi với con người và sự việc ngoài đời. Tình thương ấy ngày càng trở nên thắm thiết nồng nàn làm cho chúng ta thêm cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh éo le của Hồng, thêm quý mến Hồng. Tags:Văn 8
Chứng minh nhân vật bé Hồng có tình yêu mẹ thắm thiết (Trong lòng mẹ) – Đề và văn mẫu 8
1,265
Chứng minh nhận định của M.Gorki về văn học dân gian Việt Nam Hướng dẫn Chứng minh nhận định của M.Gorki về văn học dân gian Việt Nam Có nơi đâu trên trái đất này như Việt Nam qua bao nhiêu sóng dập gió vùi vẫn “mát tươi tình bạn” và “ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay”. Ngay từ lúc sơ khai, những người dân đã phải đối chọi với biết bao thử thách, với mọi thứ khắc nghiệt để sống và tồn tại. Cuộc đời luôn luôn bị đè nén, bị bó hẹp trong cái giới hạn của những cái gọi là “luật” trong xã hội giai cấp lúc bấy giờ. Những tiếng nấc nghẹn ngào, những mảnh đời cực nhọc, khổ ải đã đi vào trong từng câu chuyện truyền miệng, từng câu hò điệu hát trong sinh hoạt văn hóa dân gian và gần như đã được lột xác, để tạo nên một cách đánh giá, cách nhìn nhân sinh mới. Nhà văn M. Gorki nhận xét rất tinh tế khi ông nói về văn học dân gian: “Rất cần… thù địch”. Nói đến M. Gorki, người ta hay nghĩ ngay đến một nhà văn có tên tuổi nhưng ông còn là một nhà phê bình văn học nổi tiếng. Chính vì thế, sức nặng của nhận xét trên không chỉ là sự đúc kết đầy kinh nghiệm của một nhà văn mà còn là cái “tâm” thực sự của một nhà phê bình vốn dĩ đã trải qua nhiều năm nghiên cứu, đi sâu vào lĩnh vực này – thế giới của văn học dân gian. Có phải thế chăng mà ông đã hạ bút: “Rất cần nêu lên rằng trong văn học dân gian hoàn toàn không có bóng dáng của chủ nghĩa bi quan”. Chủ nghĩa bi quan – một khái niệm có liên quan đến một phần cuộc sống con người. Nó là cuộc sống của những con người thiếu niềm tin vào cuộc sống, và nếu sống theo chủ nghĩa bi quan, họ coi như đã hoàn toàn đánh mất niềm tin 1 đời, có thể ngay cả với bản thân mình dường như cũng có sự ngộ nhận quá đáng. Nói chung, những người sống theo chủ nghĩa bi quan thường và sẽ chẳng bao giờ hạnh phúc. Đó là sự tôn sùng một triết lí sống, một định mệnh sống mang nét buồn khổ, đầy bóng xế cuộc đời. Nếu gọi cái buồn là chủ nghĩa bi quan thì không đúng, vì cái buồn ấy chỉ thoáng qua, nó chỉ là một thứ tình cảm rất tự nhiên của con người. Nó khác với sự thâm trầm sâu kín nhưng ghê sợ, xa lánh cuộc đời của chủ nghĩa bi quan. “Chủ nghĩa bi quan” – bốn tiếng ấy đã kéo con người ra khỏi cuộc sống loài người. Trong văn học dân gian, chủ nghĩa bi quan không bao giờ xuất hiện, trái lại, đó là niềm tin lạc quan vào cuộc sống của người dân. Chủ nghĩa lạc quan và chủ nghĩa bi quan vẫn tồn tại song song trong xã hội. Chủ nghĩa lạc quan với những con người có niềm tin và hi vọng vào cuộc sống, rất tôn trọng quá khứ nhưng sống hiện hữu có ích và cũng luôn luôn nhìn về tương lai với cái nhìn đầy tin tưởng. Từ đời này sang đời khác, nhân dân luôn luôn chịu sự giằng xé của phe ác, của những kẻ đầu trâu mặt ngựa, cuộc sống ấy luôn thiếu thốn về tất cả các phương diện, nhất là đời sống vật chất. Đời sống vật chất đã thiếu thốn rồi, thì đời sống tinh thần cũng bị chèn ép, thậm chí bị cướp đoạt một cách trắng trợn. Trong hoàn cảnh đó, con người rất dễ sa vào chủ nghĩa bi quan để tôn thờ sự thống trị và những giấc mơ viển vông, lạc nẻo. Không! Người dân đã vượt lên mình, thoát ra khỏi cuộc sống xấu xa thực tế để quay về với cái Đẹp, cái Chân, cái Thiện. Đời sống tinh thần của họ rất phong phú, buồn đấy nhưng cũng xen vào những niềm vui rất con người. Và đây mới là tư tưởng chính của tác phẩm dân gian. Có thể nói rằng chính tâm hồn yêu cuộc sống của các tác giả dân gian đã thực sự tạo nên cho tác phẩm họ một sức sông mãnh liệt của chủ nghĩa lạc quan, để họ động viên lẫn nhau giành chiến thắng trên tất cả các phương diện. Trong sự chiến thắng ấy, “tập thể” giữ vai trò quyết định. Đó là từng lớp quần chúng nhân dân đông đảo, một yếu tố quan trọng trong cộng đồng. Nhân dân lao động cùng suy nghĩ, cùng cảm thấy niềm vui và chung một ước mơ, khát vọng. Nói đến bất diệt, đó là sự giữ gìn kiên quyết của con người khi đã tạo ra một cái gì đó. Nói đến bất diệt, đó là sự phát triển về chất của quá trình khám phá cuộc sống từ nhiều chiều, đồng thời khẳng định sự sống bền bỉ của một sự vật, hiện tượng mà ở đây là trí tuệ tập thể. Tập thể không bao giờ chết. Đó là ý thức mãnh liệt và tột đỉnh như sức nén bên trong của những ngọn núi lửa rừng rực chỉ chờ một lúc nào đó mà trào lên mạnh mẽ. Ngay trong ý sau, M. Gorki đã xây dựng một khái niệm hoàn toàn mới về lực lượng thù địch trong hoàn cảnh ra đời tác phẩm và cả hoàn cảnh xã hội trong tác phẩm nữa. Đó chính là thiên nhiên hung bạo và ghê gớm, những kẻ làm điều ác, bất nhân bất nghĩa hay nói đúng hơn là giai cấp thống trị trong xã hội ngày xưa, Lực lượng thù địch của nhận dân, đó cũng là do những hoàn cảnh, môi trường của xã hội tạo ra. Đó là thiên nhiên nhưng cũng có khi con người tạo ra lực lượng thù địch với chính mình. Đó là những hoàn cảnh buộc họ phải làm theo “bần cùng sinh đạo tặc”. Nó tạo ra cho họ những ý muốn, hành động trái ngược với mọi người, thậm chí với chính mình. Lực lượng thù địch luôn tàn bạo đến mức kinh khủng, nhưng tập thể vẫn luôn tin rằng mình sẽ chiến thắng nó. Niềm tin ấy rất kì diệu, rất con người, đã giúp tập thể ấy chiến thắng được tất cả. Những người lao động bình dị trong xã hội xưa là những tác giả hết sức độc đáo khi họ sáng tác. Có lẽ vì thế, trong truyện cổ tích, người lao động luôn sống trong nhọc nhằn cơ cực, thậm chí không có nhà cửa; cuộc đời lại luôn gặp bất hạnh, luôn bị hắt hủi và bị đối xử tàn tệ. Truyện Thạch Sanh kể về một chàng dũng sĩ mà cuộc đời đơn côi sống ỡ gốc đa làng, tâm thân như cát bụi, kiếm ăn bằng những gánh củi trong rừng, năm này qua tháng khác làm bạn với nắng mưa. Chàng trai ấy tuyệt nhiên không nghĩ đến buồn thảm vì thiếu thốn rất nhiều thứ của cuộc sống con người, mà rất chăm chỉ để dựng xây một hạnh phúc đơn sơ, một ước mơ nhỏ nhoi. Con người sống bình dị mộc mạc ấy còn là một người yêu đời với tiếng đàn câu hát, với lao động cật lực hàng ngày và thậm chí làm những hành động anh hùng của những trang dũng sĩ mà chàng không hay biết, không tự ngắm mình… Có lẽ vì thế ta không thấy nỗi cô đơn mà chỉ thấy tính cách cao quý của con người tội nghiệp này. Truyện cổ tích có nét rất đặc trưng là sự bi lụy hóa cái khổ của con người để gợi sự cảm thông sâu sắc của mọi người. Chử Đồng Tử không có khả năng giao tiếp đã là khổ rồi, mà ngay cả cô Tấm dù được sống trong gia đình nhưng càng khổ hơn nữa vì chính cái gia đình ấy. Dì ghẻ và Cám người em cùng cha khác mẹ, đối với cô Tấm như một cái bóng ma luôn rình rập đời sống hằng ngày của cô và cuối cùng đã giết chết cô. Phải chăng cái Ác không bao giờ và không khi nào chấp nhận hạnh phúc của người lao động? Trong truyện cổ tích, chủ nghĩa lạc quan luôn luôn tồn tại trong nội dung tư tưởng của nó. Đó là ý thức bất diệt không chịu khuất phục. Trong thực tế kẻ ác thường luôn chiến thắng, càng dễ dàng chiến thắng một lực lượng con người yếu ớt nhỏ nhoi mà thực ra đó là lực lượng của cái thiện. Dân gian ta không chấp nhận sự kết cục bi thảm ấy, vì thế chuyện cổ tích luôn luôn kết thúc có hậu. Đó là sự chiến thắng kẻ Ác, nó là cuộc đấu tranh dai dẳng giữa cái Thiện và cái ác. Chính sự chiến thắng chỉ có trong cổ tích ấy, đã làm cho dân gian tin vào chân lí. Bằng sự chiến thắng của cái Thiện, truyện cổ tích đã gói trọn phần nào những ước mơ, khát vọng cháy bỏng của người dân. Truyện Tấm Cám đã chứng minh, trong thực tế xã hội, cái Ác không dễ dàng tiêu diệt được. Nó luôn tồn tại như một hung thân và để chiến thắng nó, cái Thiện phải chống lại một cách kiên quyết, mãnh liệt. Con cá bống – niềm hi vọng tinh thần của cô Tấm bị mẹ con Cám giết. Vào đỉnh điểm ấy cô Tâm có thể rơi vào tình trạng bi quan nhất thì yếu tố kì diệu của văn học dân gian đã tạo ra những cái xương cá chôn ở bốn chân giường, gieo cho Tấm một niềm hi vọng. Rồi khi buộc phải nhặt thóc do sự độc ác của mẹ con Cám tạo ra để không cho Tấm đi dự hội, Bụt xuất hiện, đã làm vơi đi nỗi khổ của Tâm và thay vào đó là niềm vui cùng với sự tin tưởng vào cuộc sống. Tấm đã nhận rõ cái Ác của mẹ con Cám nhưng thai độ tâm vẫn dịu dàng, mềm mỏng tuy đã mang tính đối đầu. Chính sự ôn hòa ấy đã đưa đến cái chết, để rồi hỏa thành chim vàng anh mới lên tiếng tố cáo: Tao cào mặt ra”… Lời tố cáo đó rất mạnh, thể hiện sự quyết liệt không thể dung hòa giữa cái Thiện và cái Ác. Đến khi biến thành khung cửi, cô Tâm – khung cửi lại lên tiếng: “lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”… Cuối cùng, Tấm đã hiện nguyên hình với tư cách con người như một lôgich tất yếu của một chân lí trong quan hệ xã hội như “luật” nhân quả: “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”! Ý thức này là một nhân tố quan trọng, đã nuôi dưỡng ước mơ của nhân dân về một xã hội dân chủ, công bằng, xã hội vì người nghèo và của nhân dân. Chính vì thế chuyện cổ tích đã tạo dựng ra những ông vua và hoàng hậu rất nhân dân. Ở truyện Tấm Cám, vua đã đi đến các hàng quán thăm hỏi người nghèo, không ngựa xe lộng lẫy, không áo dát vàng, không “tiền hô hậu ủng” và chỉ với bộ quần áo bình dân, bà chủ quán cũng không nhận ra vua. Việc vua chọn vợ là một cô gái quê mùa, bình dị và cô Tấm đã trở thành hoàng hậu, đó là điều mong mỏi của nhân dân cho cái Thiện phải được thắng cái Ác. Trong truyện Tấm Cám, Bụt xuất hiện gần như được nhân dân coi là người bạn cao quý, người có đầy quyền năng để che chở và giúp đỡ, để nhân dân tin tưởng mình sẽ không bao giờ bị tiêu diệt. Và chính Bụt đã giúp những người nghèo khó nhất như cô Tấm, anh Khoai trong các câu chuyện cổ tích quen thuộc. Cô Tấm đã gửi gắm niềm tin của mình vào Bụt một cách thiết tha nhất của một người bình thường đôi với cái đẹp, cái thiện, Mĩ. Thực ra, Bụt chính là niềm tin và sự chiến thắng của mình: phe Thiện. Kho tàng cổ tích rất phong phú,sinh động và sẽ mãi mãi lưu truyền trong nhân dân, vì đã cho biết bao ước mơ muôn thuở của con người. Với chủ nghĩa lạc quan khỏe khoắn, ý thức chiến thắng kẻ ác đã luôn luôn tạo ra cho con người sự tin tưởng vào cuộc sống với những dư âm ngọt ngào nhất mà cuộc sống dành cho cổ tích — văn học dân gian, luôn luôn là một phương cách tốt nhất, là động lực quan trọng trong việc xây dựng nhân cách con người trong bất cứ thời đại nào. Mọi người sẽ luôn nhớ đến nó: những truyện cổ tích dân gian.
Chứng minh nhận định của M.Gorki về văn học dân gian Việt Nam
2,220
Nhìn chung, về hình thức, tục ngữ thường ngắn gọn, lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh (Theo SGK Ngữ văn 7, tập 2, tr.5). Dựa vào những câu tục ngữ đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh nhận định trên. Hướng dẫn làm bài – Đề bài yêu cầu: chứng minh nhận định “Nhìn chung, về hình thức, tục ngữ thường ngắn gọn, lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh”. – Lấy dẫn chứng từ những câu tục ngữ đã học và đọc thêm. – Bài làm cần đủ các ý chính sau: Mở bài: + Giới thiệu về tục ngữ: là “túi khôn” của nhân dân. + Giới thiệu đặc điếm hình thức của tục ngữ: ngắn gọn, lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh. Thân bài: + Tục ngữ thường ngắn gọn: thường có 4 tiếng, 6 tiếng hay, 8 tiếng. + Tục ngữ cổ lập luận chặt chẽ và giàu hình ảnh. Kết bài: Khẳng định tài năng nghệ thuật nhân dân qua đặc điểm hình thức tục ngữ. Bài văn mẫu Tục ngữ là kinh nghiệm của dân gian được đúc kết lại và lưu truyền đến ngày nay. Là một thể loại của văn học dân gian nên tục ngữ về hình thức thường rất ngắn gọn, lập luận chặt chẽ nhưng cũng giàu hình ảnh. Tục ngữ dược sinh ra khi chữ viết chưa ra đời. Tục ngữ đã được con người nâng niu gìn giữ cho nên có sức sống rất vững bền. Nhưng có lẽ còn vì về hình thức, tục ngữ thường ngắn gọn, dễ thuộc dễ nhớ, số lượng tiếng trong một câu rất ít, có câu chỉ có bốn tiếng “Tấc đất tấc vàng”, “Nhất,thì, nhì thục”…; dài hơn một chút có sáu tiếng “Không thầy đố mày làm nên”, “Đói cho sạch, rách cho thơm” hoặc là một câu ‘’Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”,… Lời lẽ trong tục ngữ lại gần gũi với con người nên lại càng không thể quên. Tuy nhiên, tục ngữ không vì ngắn gọn mà kết cấu lỏng lẻo, không sâu sác. Có tìm hiểu tả mới càng khâm phục trí tuệ cha ông bởi nói ít nhưng ý nhiều, tục ngữ ngắn gọn nhưng lập luận chặt chẽ và giàu hình anh. Một câu tục ngữ về lao động sản xuất “Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng” rất ngán gọn nhưng cô đúc. Câu tục ngữ đã khái quát cho ta thấy sự khác nhau giữa hai công việc. Nêu nuôi lợn thì nhàn tản hơn, không vội vàng như khi nuôi tằm. Người ta vẫn nói “ăn như tầm ăn rỗi”, nuôi tằm tốn rất nhiều công, không thể lơ là, chỉ một chút không để ý tằm sẽ chết và bao công sức sẽ trở thành mây khói. Dựa trên thực tế đã có, nhân dân tổng kết và đưa ra lập luận chật chẽ, không thừa cũng không thiếu. Hơn nữa hình ảnh “ăn cơm đứng, ăn cơm nằm” trong cậu rất thú vị. Không hiểu theo nghĩa đen nhưng hình ảnh ấy dễ dàng giúp ta hình dung được sự vất vả, khó nhọc của công việc chăn tằm. Nhớ ơn là truyền thống đạo lí lâu đời của dân tộc được đúc kết trong các câu tục ngữ. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là một câu có nội dung như thế. Một người đã có công vun trồng, chăm sóc cây để một ngày nó ra hoa kết trái, trái chín ngọt thơm cho ta thưởng thức, ta phải biết ơn người trong cây ấy. Từ điều giản dị đó, nhân dân lập luận, khái quát nó thành bài học luân lí cho muôn đời. Với bất kì ai, dù lớn hay nhỏ nhưng đã có công giúp đỡ, mang đến cho ta điều tốt đẹp, may mắn, hạnh phúc…chúng ta đều phải nhớ ơn. Nhớ ơn cha ông thế hệ trước, nhớ ơn ông bà bố mẹ, nhớ ơn những anh hùng dân tộc… Câu tục ngữ dùng hình ảnh ẩn dụ để nói về phẩm chất con người. Dùng việc “ăn quả, trồng cây” và quan hệ chặt chẽ của hai sự việc đó để nhắn nhủ con người lòng biết ơn với những người sáng tạo ra sản phẩm tinh thần và vật chất trong xã hội. Qua tục ngữ, con người mọi thế hệ đều rất khâm phục tài năng của nhân dân xưa. Tuy là hình thức văn học buổi đầu còn sơ khai, đơn giản mà tục ngữ đến ngày nay vẫn khẳng định được mình bởi cả nội dung lẫn hình thức.
Chứng minh nhận định_ Nhìn chung, về hình thức, tục ngữ thường ngắn gọn, lập luận chặt chẽ, giàu hình ảnh
773
Chứng minh rằng Bác Hồ luôn yêu thương thiếu nhi. Hướng dẫn Thiếu niên nhi đồng Việt Nam và cả những bạn thiếu niên nhi đồng thế giới luôn dành cho Bác Hồ một tình yêu thương bao la rộng lớn. Ngược lại Người cũng rất yêu thương thiếu niên nhi đồng, không chỉ những con người sống trên đất nước Việt Nam chung một nguồn gốc con Rồng cháu Tiên mà cả những em nhỏ thiếu niên nhi đồng quốc tế. Tuy phải gánh vác rất nhiều công việc cùng một lúc nhưng lúc nào Bác cùng dành tình ywwu thương cho các em nhỏ, quan tâm đến đời sống, điều kiện học tập của thiếu niên nhi đồng cả nước. Trong những năm tháng còn hoạt động bí mật hoặc khi phải lập căn cứ cách mạng ở chiến khu Việt Bắc, Bác rất chú ý đến việc nhắc nhở các cô chú cùng làm việc chăm lo cho con cháu của họ. Có lần, thấy các cháu chơi đùa mà người lấm đất cát, mồ hôi Người đã tự tay múc nước tắm cho từng cháu một. Kháng chiến thành công, Bác càng quan tâm đến thiếu nhi hơn nữa. Chỉ vài ngày sau Cách mạng tháng Tám, Bác đã kí sắc lệnh thành lập cơ quan phụ trách việc học tập của thiếu niên nhi đồng cả nước. Trong ngày khai trường đầu tiên Bác đã gửi thư chúc mừng tới các em. Trong bức thư ấy có những dòng thật cảm động: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang được hay không chính là một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Những câu nói ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho hàng triệu người cháu nhỏ, động viên thiếu niên Việt Nam học tập, thi đua. Vào ngày Tết Trung thu, Người cũng viết những dòng thơ cảm động gửi tặng các cháu: Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng Sau đây Bác viết mấy dòng Gửi cho các cháu tỏ lòng mến thương”. Cách quan tâm tận tình, tỉ mỉ ấy thật lớn lao như tình cảm người cha đối với con, như người ông dành cho những đứa cháu ruột thịt của mình. Chuyện còn kể rằng, một lần trên đường đi công tác, Bác đang ngồi trên xe ô tô đi qua một cổng trường. Lúc ấy đúng giờ tan học, các bạn học sinh ùa ra, Bác đã yêu cầu chú lái xe đỗ xe lại để nhường đường cho các cháu học sinh đi trước. Chuyện lại kể rằng một lần Bác đến thăm trại thiếu niên, Bác muốn tặng kẹo cho các cháu. Đến lượt bạn Tộ, bạn rụt rè không dám nhận vì “Thưa Bác cháu vẫn chưa ngoan ạ”. Bác cười xòa nói rằng như vậy Tộ vẫn xứng đáng được nhận kẹo vì biết nhận ra lỗi của mình… Lòng bao dung của Bác đối với các cháu thật vĩ đại nhường nào… Đến khi sắp hoàn thành sứ mệnh cao cả của Người, đến lúc sắp nhắm mắt xuôi tay, trong di chúc thiêng liêng của mình, Người cũng để lại muôn vàn lời yêu thương, quý mến cho thiếu niên. Nhà thơ Tố Hữu khi về “Thăm cõi Bác xưa” từng nghẹ ngào thốt lên: “Ô vẫn còn đây của các em Chồng thư mới mở Bác đang xem Nên để bâng khuâng gió động rèm”. Điều đáng trân trọng là tấm lòng yêu thương thiếu nhi của Bác đã vượt không gian để chia sẻ cho thiếu nhi thế giới. Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người luôn dành những tình cảm nồng ấm nhất cho những cháu nhỏ Người gặp. Trong những câu chuyện về Bác, ta còn nhớ lá thư mà cậu bé Pôn – con một đồng chí người Pháp – đã gửi cho Bác gọi Bác là “chú Nguyễn” đầy trìu mến kèm theo đó là “một cái hôn thật kêu” vô cùng thân thiết. Pôn cũng kể lại bao kỉ niệm thân thương giữa hai chú cháu: cùng ngồi tâm sự, cùng ngồi chơi, cùng vui đùa với con chó Ma-ri-uýt… Đáng kinh ngạc là có những giây phút, tình thương thiếu nhi của Bác vượt qua cả nỗi thương mình. Trong những năm 1940, khi Bác bị giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch, được chứng kiến cảnh một em bé phải cùng mẹ vào nhà lao ngồi tù thay bố, Người đã vô cùng xúc động viết nên thơ: “Oa… oa… oa, cha trốn không đi lính nước nhà Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi Phải theo mẹ đến ở nhà pha” Lại có lần Bác đến một thành phố của Pháp, rời khỏi bàn tiệc, Người có cầm theo một quả táo. Điều đó khiến không ít người ngạc nhiên. Nhưng ngay khi gặp các cháu thiếu niên ùa ra đón, Bác đã bế lên tay cháu bé nhỏ nhất và tặng cháu trái táo. Mọi người cảm thấy vô cùng thú vị và vỗ tay tán thưởng. Cậu bé này sau đó về nhà đã giữ trái táo rất lâu, ai giục ăn cũng không ăn: em ấy muốn giữ “trái táo Bác Hồ” để làm kỉ niệm! Người đã đi xa, rất xa so với chúng ta nhưng tình yêu thương dành cho thiếu niên nhi đồng vẫn còn nguyên vẹn. Tình cảm của Bác thể hiện từ những cử chỉ nhỏ nhất nhưng ấm áp, thiêng liêng đến vô cùng. Mỗi khi nhớ đến Bác không chỉ có các em thiếu nhi mà cả người lớn cũng trào dâng một nỗi nhớ thương đến nghẹn ngào, khôn xiết.
Chứng minh rằng Bác Hồ luôn yêu thương thiếu nhi.
952
Đề bài: Chứng minh rằng bảo vệ môi trường thiên nhiên là bảo vệ cuộc sống của con người Bài làm Môi trường luôn là một trong những vấn đề có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cũng như sức khỏe của cộng đồng của con người chúng ta. Thế nhưng thật đáng buồn biết bao nhiêu khi hiện nay môi trường lại đang bị tàn phá và đe dọa một cách nghiêm trọng do chính bàn tay của con người. Chúng ta phải hiểu được rằng việc chúng ta bảo vệ môi trường cũng chính là việc chúng ta bảo vệ cuộc sống của chính mình. Đầu tiên chúng ta cần phải hiểu được môi trường là gì? Môi trường được hiểu đó cũng chính là tất cả những gì ở xung quanh chúng ta. Đồng thời môi trường cũng rất thân thiện gần gũi với con người và có mối quan hệ mật thiết với con người. Ngược lại thì con người cũng lại có mối quan hệ vô cùng thân thiết với môi trường, môi trường sống tốt con người có sức khỏe tốt và nhận được rất nhiều nguồn lợi từ môi trường. Thực tế thì môi trường bao gồm đó là môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. Người ta phân ra như vậy cũng rất rõ ràng và môi trường tự nhiên lại bao gồm đất đai, sông ngòi, không khí hay là cây cối, động thực vật,……Còn với môi trường nhân tạo đó chính là môi trường mà do con người tạo nên được nhắc đến như đường xá, nhà máy, xí nghiệp,… Thực sự tất cả những vấn đề trên luôn luôn đều có ảnh hưởng rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến với cuộc sống của chúng ta. Chứng minh rằng bảo vệ môi trường thiên nhiên là bảo vệ cuộc sống của con người Bên cạnh đó tất cả chúng ta ai ai cũng sẽ nhận thấy được khi nói đến tài nguyên nước. Tài nguyên nước cũng đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng với cấp số nhân thật khủng khiếp. Có thể dễ dàng nhận thấy được có các chất thải từ các nhà máy công nghiệp xả thải thẳng vào nguồn dẫn đến cá chết hàng loạt. Chất thải không được xử lý cũng đã làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt của người dân lúc này đây cũng không được đảm bảo một chút nào. Chính những điều này cũng đã dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm cho con người hơn rất nhiều. Riêng ở các thành phố lớn có mật độ dân cư đông, cơ cở vật chất được nâng cao xong lại bị tàn phá do ý thức, do thiên tai mà đường xá cầu cống xuống cấp. Bên cạnh đó chất lượng xe cộ nhiều và không ngừng gia tăng cho nên không khí cũng đã bị ô nhiễm nặng. Tình trạng tai nạn giao thông hiện nay ngày càng nhiều và cũng đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng. Còn đối với ở nơi nông thôn – nơi vốn được coi là có không khí trong lành như cũng đang bị ô nhiễm trầm trọng. Nguyên do cũng chính là một phần là trình độ hiểu biết của người dân lúc này đây cũng chưa cao, chính vì thế mà họ sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu không đúng nguyên tắc, vứt bừa bãi và làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Không thể phủ nhận được môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng. Đó cũng chính là nguyên do mà chúng ta nên có ý thức giữ gìn môi trường sống. Học sinh chúng ta hiện nay cũng hãy có thêm những kiến thức, ý thức để bảo vệ môi trường hơn góp phần bảo vệ chính mình chứ không phải ai khác. Minh Nguyệt
Chứng minh rằng bảo vệ môi trường thiên nhiên là bảo vệ cuộc sống của con người
648
Đề bài: Chứng minh rằng “Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta” Bài làm “Rừng vàng biển bạc” là câu nói mà tổ tiên chúng ta đã để lại nhằm nhắc nhở con cháu mình về việc bảo vệ rừng vì nó là nguồn tài nguyên vô cùng thiêng liêng, vô cùng quý giá, có giá trị vô cùng to lớn với cuộc sống của con người. Chính vì vậy mới có câu nói “Bảo vệ sinh chính là bảo vệ cuộc sống của con người” Nước ta 3/4 lãnh thổ là rừng núi, nơi có những đồi núi bao la, có nguồn thực vật phong phú. Rừng tạo ra bóng râm che chở, cuộc sống cho những con người. Rừng chống bão lũ xói mòn, sạt lở đất đá ảnh hưởng nguy hại tới cuộc sống người dân. Rừng còn cho cây ăn quả, chim thú quý hiếm tạo ra nguồn lợi cho con người phát triển kinh tế. Hàng năm, rừng của nước ta còn cung cấp nhiều loại gỗ giúp cho con người sản xuất ra những đồ dùng nội thất, phục vụ cho cuộc sống của con người, tạo công ăn việc làm, lợi nhuận.. giúp con người mưu sinh tốt hơn. Rừng còn giúp điều hòa không khí chống ô nhiễm môi trường ở nơi nào có nhiều cây xanh sẽ có nhiều khí O2 giúp cho con người có nhiều không khí để thở, tâm trạng cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng hơn, sức lực tinh thần nhờ đó mà cảm thấy khỏe mạnh phấn khởi hơn. Ngoài ra, rừng phòng hộ của nước ta khá nhiều, những cánh rừng đầu nguồn thì giúp chắn sạt lở, tránh khi mưa bão con người bị nước và đất cát cuốn trôi, những cánh rừng ngập mặn như những cánh rừng tràm, rừng đước ở vùng đồng bằng thì giúp ngăn lũ, ngăn chặn diện tích đất ngập mặn bị mở rộng, giữ lại đất canh tác nông nghiệp trồng lúa gạo, hoa màu cho người dân vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Nếu không có những cánh rừng phòng hộ, rừng ngăn ngập mặn này thì cuộc sống của người dân sẽ vô cùng khó khăn, không thể nào thuận lợi để mưu sinh, phát triển kinh tế được Rừng có vai trò vô cùng to lớn với cuộc sống của con người chính vì vậy chúng ta cần bảo vệ sự tàn phá rừng. Hiện nay, tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn rừng phòng hộ để lấy gỗ quý hiếm của lâm tặc càng ngày càng trầm trọng, những cánh rừng được mệnh danh là lá phổi của con người đang từng ngày từng giờ bị sát hại không thương tiếc, nếu tình trạng này tiếp diễn tới một lúc nào đó chính cuộc sống của con người bị trả giá. Vì vậy, bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết của mỗi chúng ta cần làm trong lúc này bởi “Bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta”.
Chứng minh rằng Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta
506
Chứng minh rằng ca dao diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương của nhân dân ta – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Chứng minh ca dao diễn tả tình yêu Bài làm Kho tàng ca dao xưa vô cùng to lớn. Nó diễn tả muôn vàn biểu hiện phong phú về tình cảm của nhân dân ta. Một trong những tình cảm trong sáng và đẹp đẽ mà ca dao luôn nói tới là tình yêu tha thiết với quê hương đất nước. Với lời lẽ mềm mại và trong sáng, ca dao đã phác lên một đất nước tuyệt đẹp trước mắt mọi trẻ thơ. Từ Lạng Sơn hùng vĩ có núi Thành Lạng, có sông Tam Cờ đến thủ đô Hà Nội, tất cả đều được ca dao vẽ nên với những “Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ” luôn khiến lòng người ngẩn ngơ: “Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền”. Và ca dao còn đưa ta tới xứ Huế mộng mơ với giọng hò mái nhì mái đẩy: “Lờ đờ bóng ngả trăng chênh, Giọng hò xa vọng thắm tình nước non”. Chúng ta thấy rõ trong ca dao một “Nhà Bè nước chảy chia hai – Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Những câu ca dao đầy truyền cảm ấy làm cho ta càng thêm yêu mến đất nước Việt Nam. Ca dao còn bồi đắp cho tuổi thơ chúng ta tình cảm gắn bó thân thiết với quê hương làng xóm. Làng ta nhỏ bé, đơn sơ mà thắm đượm tình người. Với tình yêu xóm làng tha thiết, ca dao gợi lên trước ta một làng quê có “phong cảnh hữu tình – Dân cư giang khúc như hình con long”. Tuy cuộc sống phải dãi nắng dầm mưa, nhưng niềm vui vẫn cứ tăng lên gấp bội khi đồng lúa ngày một xanh tốt. Sự cần cù lao động dường như được ca dao biến thành một sự kì diệu cho thiên nhiên, đất nước: Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi. Vụ năm cho tới vụ mười, Trong làng kẻ gái người trai đua nghề”. Tình cảm của người dân như gắn chặt với làng quê. Công việc mệt mỏi nhưng thật vui: “Trời ra gắng, trời lặn về, Ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên”. Đồng lúa quê hương tuy bình dị, nhưng lại đẹp trong con mắt của những người yêu làng quê mình. Ca dao đã vẽ nên một cánh đồng lúa xanh mướt và tình cảm cũng dạt dào: “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông”. Ca dao làm cho ta tưởng như thấy rõ từng cây lúa một trong cả cánh đồng lúa rộng mênh mông đó: “Thân em như chẽn lúa đòng Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai”. Những cảnh làng quê bình dị, đơn sơ, đã gắn bó với ta bao nhiêu năm tháng chính là vì thế, dù đi xa ta vẫn luôn nhớ tới. Dù vật chất giản đơn nhưng tình cảm tràn đầy: “Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Đến cả những cô tát nước bên đường và những người phải dãi nắng dầm sương cũng không phai nhạt trong lòng chúng ta. Những tình cảm đó đương nhiên không những được nêu rõ trong ca dao mà còn cả trong văn thơ ngày nay. Nhưng trước hết vẫn là trong ca dao. Ngoài ra ca dao còn giúp ta nhớ về cội nguồn của dân tộc, qua đó càng tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của nước nhà từ thời Bà Trưng, Bà Triệu đến Ngô Quyền và Lê Lợi. Những chiến công vẻ vang ấy ca dao đều ghi lại: Ba lần giặc đến ba lần giặc tan. Cao nhất là núi Lam Sơn, Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra”. Để có được ngày hôm nay, bao anh hùng đã ngã xuống. Các câu ca dao xưa cũng in sâu những nét đó: “Lạy trời cho cả gió lên, Cờ vua Bình Định bay trên khung thành”. Với tấm lòng quý trọng, nhân dân xưa luôn mong ước có hoà bình trên đất nước. Họ mong muốn gió nổi thật to để cờ nghĩa quân của đức vua bay phần phật trên khắp mọi miền: “Đống Đa ghi để lại đây, Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc Am”. Chính ca dao đã giúp em thêm hiểu về cội nguồn lịch sử vẻ vang. Ca dao xưa thực sự là một nguồn tình cảm vô cùng phong phú, nó bồi đắp cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là tuổi thơ chúng em một tình cảm sâu sắc với quê hương đất nước và lòng tự hào về dân tộc. Nguyễn Phương Anh (Trường THCS Ngô Sĩ Liên) >> Xem thêm Khát vọng tự do – cảm hứng của những bài thơ giai đoạn 1930 – 1945 của văn học nước nhà tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Chứng minh ca dao diễn tả tình yêu
Chứng minh rằng ca dao diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước, quê hương của nhân dân ta – Bài văn hay lớp 8
834
Chứng minh rằng ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước quê hương Hướng dẫn Chứng minh rằng ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước quê hương Kho tàng ca dao vô cùng phong phú. Nó diễn tả muôn vàn tình cảm của nhân dân ta. Đẹp đẽ nhất là ca dao nói về tình yêu tha thiết đối với quê hương, đất nước. Với lời lẽ mềm mại và trong sáng, ca dao đã phác thảo lên một đất nước tuyệt đẹp trước mắt mọi người. Từ Lạng Sơn hùng vĩ có núi Thành Lạng, có sông Tam Cờ, đến thủ đô Hà Nội được ca dao vẽ nên với những “phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ” luôn khiến lòng người ngẩn ngơ: Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền Và ca dao còn đưa ta tới xứ Huế mộng mơ với giọng hò xa vọng: Lờ dờ bóng ngả trăng chênh Giọng hò xa vọng thẳm tình nước non. Chúng em thấy rõ trong ca dao một “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”. Những câu ca dao ấy đầy sức truyền cảm, càng làm cho em thêm yêu đất nước Việt Nam. Ca dao còn bồi đắp cho tuổi thơ chúng em tình cảm gắn bó thân thiết với quê hương làng xóm. Làng ta nhỏ bé, đơn sơ mà thắm đượm tình người. Với tình yêu xóm làng tha thiết, ca dao gợi lên trước ta một làng quê ở “phong cảnh hữu tình, dân cư giang khúc như hình con long”. Tuy cuộc sống phải dãi nắng dầm mưa, nhưng niềm vui vẫn tăng lên gấp bội khi đồng lúa ngày một xanh tốt. Sự cần cù lao động dường như được ca dao biến thành sự kì diệu của thiên nhiên cho đất nước. Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi Vụ năm cho đên vụ mười Trong làng kẻ gái người trai đua nghề Tình cảm của người dân gắn chặt với làng quê. Công việc mệt mỏi nhưng thật vui: Ngày ngày tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên”. Đồng lúa quê hương tuy bình dị, nhưng lại đẹp trong con mắt của những người yêu làng quê mình, ca dao đã vẽ nên một cánh đồng lúa xanh mướt và tình cảm cũng dạt dào. Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông Ca dao làm cho ta thường thấy rõ từng cây lúa một trong cả cánh đồng lúa rộng mênh mông đó: Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai. Những cảnh làng quê bình dị, đơn sơ, đã gắn bó với ta bao nhiêu năm tháng chính là vì thế dù đi xa ta vẫn luôn nhớ tới. Dù vật chất giản đơn nhưng tình cảm lại tràn đầy: Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Đến cả những cô tát nước bên đường và những người phải dãi nắng dầm sương cũng không phai nhạt trong lòng chúng ta. Những tình cảm đó đương nhiên không những được nêu rõ trong ca dao mà còn cả trong văn thơ ngày nay, nhưng trước hết là trong ca dao. Ngoài ra ca dao còn giúp ta nhớ về cội nguồn của dân tộc, qua đó càng tự hào về những trang lịch sử vẻ vang của nước nhà từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Ngô Quyền và Lê Lợi. Những chiến công vẻ vang ấy ca dao đều ghi lại: Ba lần giặc đến ba lần giặc tan Cao nhất là núi Lam Sơn Có ông Lê Lợi trong ngàn tiến ra Để có được ngày hôm nay, bao anh hùng đã ngã xuống. Các câu ca dao xưa còn in sâu những nét đó. Lạy trời cho cả gió lên, Cờ vua Đình Định bay trên khung thành Với tấm lòng quý trọng, nhân dân xưa luôn mong ước hòa bình trên đất nước. Họ mong muốn gió nổi thật to để cờ nghĩa quân của đức vua bay phần phật trên khắp mọi miền. Đống Đa ghi để lại đây Bên kia Thanh Miếu, bên này Bộc An Chính ca dao đã giúp em thêm hiểu về cội nguồn lịch sử vẻ vang. Ca dao xưa thực sự là một nguồn tình cảm vô cùng phong phú, nó bồi đắp cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là tuổi thơ chúng em, một tình cảm sâu sắc với quê hương đất nước và lòng tự hào về dân tộc. (Bài làm tại lớp trong 45phút của Nguyễn Phương Anh- HS trường THCS Ngô Sĩ Liên, Hà Nội- Năm học 1993- 1994)
Chứng minh rằng ca dao là diễn tả tình yêu tha thiết đối với đất nước quê hương
784
Đề bài: Chứng minh rằng ca dao là tiếng nói của tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước mà người Việt Nam rất trân trọng Bài làm Ca dao dân ca là cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng tơ lòng của người dân đất Việt. Những câu ca đằm thắm, trữ tình mang chở cả điệu tâm hồn và chứa chan những tình cảm thiết tha, sâu năng, đặc biệt là tình cảm gia đình. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng: “Ca dao dân ca đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc”. Những lời hát ấy đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người qua tiếng ru của bà, của mẹ và nhắc nhở chúng ta về công ơn trời biển của mẹ cha: Công cha như núi ngất trời Nghĩ mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Bài ca dao như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà tha thiết. Phép so sánh được sử dụng liên tiếp khiến hai câu thơ vừa cụ thể, vừa gợi hình, sinh động. Công cha và nghĩa mẹ được ví với những hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng: núi ngất trời, nước biển Đông. Ơn cha to lớn không thể đo đếm còn tình mẹ thương con sâu nặng, đong đầy. Những lời thơ gợi nhắc về công ơn sinh thành dưỡng dục bao la vô tận của mẹ cha. Công ơn ấy được cụ thể hóa bằng “chin chữ”: (em xem chú thích và viết 9 chữ vào đây). Đồng thời, tác giả dân gian khuyên răn kẻ làm con phải có bổn phận chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ để đền đáp công ơn ấy. Những lời ca dao thấm đượm nghĩa tình như ru hồn người vào thế giới của đạo lý, yêu thương. Không những nhắn nhủ con người về công ơn cha mẹ, ca dao dân ca còn thể hiện tình cảm nhớ thương quê mẹ của người con gái xa: Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều Câu ca mở ra một âm điệu trầm buồn sâu lắng với hai từ “chiều chiều”. Thời khắc ấy gợi cái tàn lụi của một ngày và cũng gợi cảm giác sum họp gia đình. Ấy là quãng thời gian của buồn, của nhớ và bâng khuâng. Những lời hát của người con gái lấy chồng xa hướng về quê mẹ như thấm đẫm nỗi buồn xa xót ấy. Hai từ “ngõ sau” gợi một không gian khuất nẻo – nơi người con gái có thể bày tỏ nỗi long. Cả thời gian và không gian ấy như đã nói lên tâm trạng con người đang mong nhớ thiết tha. Hai chữ “chiều chiều” mở đầu hô ứng với hai chữ “chin chiều” kết thúc bài ca dao tạo nên hiệu ứng lặp đi lặp lại một nỗi long xót xa, thấm thía của người con gái khi hướng về quê mẹ xa xôi. Bên cạnh tình cảm cha mẹ – con cái, ca dao còn là những lời nhắn nhủ cảm động về tình cảm ông bà và cháu con: “Ngó lên nuộc lạt mái nhà Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” Nuộc lạt – một hình ảnh quen thuộc trên những mái nhà tranh của làng quê Việ Nam đã được đưa vào câu ca dao một cách rất tự nhiên, giản dị và gần gũi. Biện pháp so sánh bao nhiêu – bấy nhiêu đã thể hiện tình cảm nhớ thương, sự gắn bó bền chặt, ruột thịt của cháu con với ông bà. Âm điệu lời thơ tha thiết thể hiện sự kính trọng biết ơn! Và, có lẽ, những người thân, người lớn trong nhà đã khuyên bào con cháu giữ chặt tình anh em: Anh em nào phải người xa Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân Yêu nhau như thể tay chân Anh em hòa thuận hai thân vui vầy Một lần nữa lối ví von so sánh lại được sử dụng thành công trong hai câu ca dao. Tình cảm anh em gắn bó bền chặt không thể tách rời như tay với chân. Sự hòa thuận của an hem chính là niềm vui của cha mẹ gia đình. Bài ca dao là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về tình cảm ruột thịt, anh em. Với âm điệu thiết tha, sâu lắng cùng lối ví von so sánh đặc trưng, những câu thơ lục bát đã thể hiện tình cảm gia đình sâu sắc và thấm thía. Nhắc nhở nhẹ nhàng mà không khô khan, khuyên nhủ mà không giáo huấn, ca dao chính là tiếng lòng mang chở cả tư tưởng, triết lý đạo đức của nhân dân. Nó đã trở thành viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam.
Chứng minh rằng ca dao là tiếng nói của tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước mà người Việt Nam rất trân trọng
805
Đề bài: Chứng minh rằng con người trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là Ông lái đò tài hoa Gợi ý (1) Nguyễn Tuân chú ý tô đậm nét tài hoa, nghệ sĩ ở ông lái. Cũng như những nhân vặt chính diện khác, ông lái đò được nhà vãn miêu tả như là một nghệ sĩ – có nghĩa là rất thuần thục, điêu luyện – trong nghề leo ghềnh vượt thác. Theo Nguyễn Tuân, nét tài hoa, nghệ sĩ của con người không chỉ thể hiện trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn thế hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đối với bất kì công việc gì, khi đạt tới trình độ khéo léo, điêu luyện, con người sẽ bộc lộ nét tài hoa. Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà (2) Ông lái đò xứng đáng được coi là một nghệ sĩ còn vì ông có tâm hồn phong phú, cao đẹp. Khi vượt qua thác lũ, mọi việc vất vả, nguy hiểm xèo xèo tan trong trí nhớ những người lái đò. Họ coi việc đối mặt với sóng nước hung bạo, hiểm nguy là chuyện thường nhật, thường tính, không có gì đáng nói. Khi đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam, học chỉ bàn về cá dầm xanh, cá anh vũ… Ông lái đò cũng như đồng nghiệp của mình còn gắn bó thiết tha với làng bản quê hương. Họ thường treo bu gà trống có bộ lông đẹp vá giọng gáy hay ở đuôi thuyền để đi đựờng xa, qua bờ này bến khác, có tiếng gù gáy đem theo, nó đỡ nhớ nương ruộng bản mường mình… Như vậy, với Nguyễn Tuân, chủ nghĩa anh hùng đâu chỉ ở nơi giáp mặt với quân thù, mà có thể xuất hiện hàng ngày trong cuộc sống lao động của những con người bình thường giản dị, không tên tuổi, ở ngay cả những nơi xa xôi. hẻo lánh cùa Tổ quốc. Cuộc sông lao động của người lái đò vô danh nơi hoang vu kia xứng đáng là một thiên anh hùng ca lao động.
Chứng minh rằng con người trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân là Ông lái đò tài hoa
358
Đề bài: Chứng minh rằng dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay luôn sống theo lí: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn. Bài làm: Trong kho tàng ca dao, dân ca có nhiều câu phản ánh đạo lí sống của nhân dân Việt Nam. Ví dụ như: Con người có tổ có tông Như cây có cội như sông có nguồn. Hay: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Hoặc: Cây có cội mới nảy cành, xanh láy, Nước có nguồn mới bể rộng, sông sâu… Điều đó cho thấy nhân dân ta từ xưa đến nay sống theo đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn. Ý nghĩa của hai câu tục ngữ trên nhắc nhở chúng ta phải trân trọng, biết ơn những người đi trước đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương để đem lại thành quả tốt đẹp mà chúng ta đang được hưởng thụ hôm nay. Lòng biết ơn là biểu hiện của truyền thống coi trọng nghĩa nhân. Lòng biết ơn được nhắc tới trong mọi hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Nâng bát cơm trên tay, người ta khuyên nhau đừng quên sự vất vả, lam lũ của người nông dân: Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Uống ngụm nước mát lành giữa trưa hè oi bức, lại nhắc nhau phải nhớ nguồn. Nâng niu một trái chín mọng vừa hái trên cành, chớ quên công lao của kẻ trồng cây. Trong mỗi gia đình, dù giàu sang hay nghèo khó đều có bàn thờ gia tiên. Dẫu chỉ nén nhang, chén nước nhưng con cháu gửi gắm vào đó tấm lòng thành kính tưởng nhớ tới công đức của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Có một mối quan hệ vô hình nhưng vô cùng khăng khít giữa các thế hệ với nhau. Người đã khuất dường như luôn có mặt bên cạnh người đang sống, tiếp thêm sức mạnh cho họ trên bước đường mưu sinh vất vả. Lớp hậu sinh bày tỏ lòng biết ơn các bậc tiền nhân bằng cách gìn giữ, phát huy truyền thống để làm vẻ vang cho gia đình, dòng họ. Trải qua hơn bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải đương đầu với hàng chục đạo quân xâm lược hung hãn, tàn bạo như Hán,Tống, Minh, Thanh rồi thực dân Pháp, phát xít Nhật và cuối cùng là đế quốc Mỹ. Bao nhiêu xương máu đã đổ xuống để bảo vệ chủ quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc. Trên khắp đất nước, đâu đâu cũng có những đền miếu, chùa chiền và đài tưởng niệm để ghi nhớ công ơn của những anh hùng liệt sĩ đã cống hiến và hi sinh cho Tổ quốc. Đền thờ các vua Hùng trên đất tổ Phong Châu, đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Tây, đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình, đền thờ các vị vua đời Trần có công ba lần đánh tan quân Nguyên Mông ở Nam Định, Quảng Ninh, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, đền Bến Dược ở Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nghĩa trang Trường Sơn ở Quảng Bình… và hàng ngàn nghĩa trang liệt sĩ quanh năm được nhân dân ta chăm sóc khói nhang với tấm lòng biết ơn vô hạn. Ngoài ra, còn nhiều hình thức khác như xây dựng bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng, nhà truyền thống… để nhắc nhở mọi người phải sống sao cho xứng đáng với truyền thống bất khuất, hào hùng của dân tộc; nhắc nhở các thế hệ sau không phải chỉ biết hưởng thụ mà còn phải có nhiệm vụ giữ gìn, vun đắp và phát triển các thành quả lao động, chiến đấu do các thế hệ trước tạo dựng nên. Có thể khẳng định rằng lòng biết ơn là nền tảng của đạo lí, là thước đo phẩm chất, đạo đức của mỗi con người. Nhận thức được điều đó, chúng ta sẽ sống tốt hơn, có ích hơn cho gia đình và xã hội. Tuy vậy, lòng biết ơn không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của cả một quá trình rèn luyện, tu dưỡng lâu dài suốt cả cuộc đời.
Chứng minh rằng dân tộc Việt Nam sống theo đạo lí ăn quả nhớ kẻ trồng cây uống nước nhớ nguồn
750
Chứng minh rằng nhiều tác phẩm văn học đã nhắc nhở chúng ta hãy biết yêu thương – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Hãy biết yêu thương Bài làm 1 “Trong cuộc sống, tất cả đều cỏ thể mất đì nhưng tình thương yêu sẽ tồn tại mãi mãi ”, đó là một nhận định đúng và dĩ nhiên tôi đồng tình với nó. Cuộc sống là một dòng chảy bất tận, nhưng dòng chảy ấy có thể cuốn trôi và nhấn chìm tất cả, giống như một cơn bão lớn. Nhưng chắc chắn sẽ tồn tại yêu thương. Hai tiếng “yêu thương” làm ta rung động. Từ thuở lọt lòng, ta đã được học cách yêu thương. Học từ những người xung quanh. Ta học được nhiều điều từ vòng tay ấm áp của mẹ, nhận được quá nhiều từ bờ vai vững chắc của cha, nhận được sự đùm bọc, quan tâm từ xung quanh, và quan trọng hơn, tình yêu thương làm ta khôn lớn, trưởng thành. Nếu như một ngày, có một trận cuồng phong quét hết tất cả sinh vật trên thế giới này, có lẽ bạn nghĩ lúc ấy sẽ chẳng còn gì cả. Nhưng tôi chắc chắn, mất – không – phải – là – hết. Vẫn còn một thứ tồn tại – tình yêu thương. Nếu trong cuộc đời bạn, bạn luôn tin rằng không gì có thể lật đổ bạn, thì khó khăn sẽ đến với bạn nhiều hơn là những người khác. Khi ấy, nó như trận bão càn quét cuộc đời bạn. Mất hết? Chẳng còn gì? Không hẳn. Vẫn còn những người xung quanh bạn đấy thôi? Họ còn tình yêu thương mà! Họ sẽ bên bạn những lúc bạn gục ngã, thậm chí là trắng tay! Tình yêu thương sẽ là khởi đầu mới cho bạn, đó là lí do tại sao nó tồn tại mãi mãi, chẳng bao giờ mất đi. Tinh yêu thương không chỉ được nhắc đến trong nhận định trên, trong đời sống mà còn trong tác phẩm văn chương, của cả Việt Nam lẫn nước ngoài. Trong Lão Hạc của Nam Cao, nếu không có tình thương người của ông giáo thì lão Hạc sẽ không thể cảm thấy đỡ cô đơn. Nếu ông giáo không có tình yêu thương đối với lão Hạc thì điều gì sẽ xảy ra? Nếu như trong Ông đồ, Vũ Đình Liên không xót thương, không thán phục thì sao có áng thơ để đời như thế? Nếu không có tình thương bao la, sâu sắc ấy thì hình ảnh ông đồ còn có thể hiện hữu cho tới bây giờ? Còn trong Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri, nếu Xiu không hết mực yêu thương và cổ vũ cho Giôn-xi, mong cô mau khỏi thì cô hoạ sĩ Giôn-xi sẽ không thể sống và thực hiện ước mơ của mình. Và cũng chính bởi sự yêu thương đã làm con người ta trở nên cao cả. Bác Bơ-men sẵn sàng hi sinh cuộc sống của mình để cô hoạ sĩ không phải ra đi vì mất niềm tin. Hình ảnh chiếc lá phong trên bức tường gạch do bác Bơ-men vẽ đã làm sống dậy niềm tin của Giôn-xi. Đúng là yêu thương có thể làm sống dậy tất cả. Bác Bơ-men mất cũng chưa phải là hết mà! Bởi đâu đó trong con người Giôn-xi và Xiu, vẫn còn chỗ để chứa đựng sự thán phục và tình cảm vô bờ dành cho bác Bơ-men… Xung quanh ta là thế giới diệu kì, một khi ban nhận ra điều đó tức là bạn đã biết cách tìm lại những gì mình đã mất sau sóng gió cuộc đời, là khi bạn nhận ra tình yêu thương có thể thay đổi tất cả, vì nó luôn thường trực ở trong tâm trí mỗi người. Hãy mỉm cười và học cách sử dụng những gì tạo hoá ban cho bạn để làm ấm trái tim người khác. Những con người Nhật Bản, dù phải trải qua cơn động đất – sóng thần khủng khiếp vừa rồi nhưng họ vẫn cứ nhường nhịn nhau, họ vẫn cùng nhau xây dựng lại đất nước. Đồng bào miền Trung của chúng ta luôn phải hứng chịu những thảm hoạ của thiên nhiên, vậy mà họ vẫn kiên cường chống trả và gây dựng cơ ngơi lại từ đầu, và tất nhiên, sát cánh cùng họ là đồng bào cả nước… “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi… Để gió cuốn đi…”. Bây giờ, trong đầu tôi đang vang lên mấy câu hát đó, tự nhiên, tôi thấy lòng mình ấm lại…Bởi, dù có đi đến đâu thì tình thương vẫn theo gió đến bên ta, còn mãi! Trần Tố Uyên (Trường PTDL Lương Thế Vinh) Bài làm 2 Trong cuộc sống, khó khăn và thử thách đôi khi làm chúng ta quên đi những giá trị về tinh thần, như tình yêu thương. Bạn có thể sống mà thiếu tiền, thiếu đồ ăn, thiếu nhà cửa, bởi là một con người, bạn có sức mạnh, bạn có nghị lực, mọi khó khăn đều có thể vượt qua. Thế nhưng thiếu đi tình yêu thương, bạn sẽ chết, cái chết của tâm hồn. Tiền bạc, vật chất chỉ là những thứ tầm thường, một cơn gió, một trận bão, một con sóng thần có thể dễ dàng cuốn trôi mọi thứ, thế nhưng tình yêu thương, một thứ vô hình luôn ẩn sâu trong trái tim, sẽ chẳng bao giờ mất đi. Bởi vậy, mà có người đã cho rằng: “Trong cuộc sống, tất cả đều có thể mất đi nhưng tình yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi”. Không chỉ cuộc sống, văn chương, công cụ bồi đắp cho tâm hồn cũng đã giúp minh chứng cho ý kiến này. Với tác phẩm Cô bé bán diêm của An-déc-xen, nhà văn người Đan Mạch này đã khắc hoạ hình ảnh một cô bé yếu ớt, nhỏ bé giữa cuộc sống bao la đầy vất vả. Trong đêm Giáng sinh an lành, đêm mà mọi người quây quần bên nhau cạnh lò sưởi với “ngỗng quay”, “cây thông”, “những gói quà rực rỡ” thì cô bé lại ngồi một mình, thui thủi bên góc tường lạnh lẽo. Một số phận thật bất hạnh! Cô bé sống thiếu thốn tiền bạc, nhà cửa, vật chất. Thế nhưng sự thiếu thốn ấy thấm vào đâu so với nỗi đau mất mẹ, mất cha, mất đi người bà luôn yêu thương em, mất đi cuộc sống êm đềm năm xưa trong ngôi nhà trắng với những dải thường xuân. Đêm Nô-en, cô bé cô đơn trong cái giá rét những ngày cuối năm, cô đơn trong khi mọi người qua lại trên phố. Thế nhưng, Chúa sẽ chẳng bao giờ lấy đi của ai mọi thứ. Chúa đã lấy đi của cô bé vật chất, lấy đi những người yêu thương cô nhưng tình yêu thương ấy mãi mãi vẫn còn. Bởi vậy mà khi những que diêm phụt sáng, cô bé đã nhìn thấy tình yêu thương của cuộc đời mình, người mẹ yêu mến và người bà hiền hậu. Một trong những trào lưu tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thời kì 1930 – 1945 là văn học hiện thực phê phán. Sống trong xã hội thuộc địa phong kiến, cuộc sống cơ cực, mất hết tất cả, nhưng những người dân lao động vẫn rất thương yêu nhau. Các tác phẩm văn học hiện thực phê phán giúp ta hiểu hơn hết tình yêu thương của họ. Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là một ví dụ điển hình. Dù kết của câu chuyện là cái chết đau thương của lão, nhưng kết quả mà ông để lại chính là mảnh vườn là minh chứng cho tình yêu của ông dành cho con, tình phụ tử thiêng liêng. Thế đấy, dù cuộc sống có vất vả, khó khăn, dù chông gai trên con đường đời, cũng hãy nhớ rằng tình yêu thương luôn bên bạn mãi mãi. Với hàng tỉ người trên thế giới, đó sẽ là một tình yêu lớn đấy, và bạn, một con người đang sống trong một trái đất đầỵ yêu thương, hãy cố gắng sống sao cho thật có ích và đem tình yêu thương ấy đóng góp cho xã hội. “Trong cuộc sống tất cả đều có thể mất đi nhưng tình yêu thương sẽ tồn tại mãi mãi”. Doãn Cẩm Vân (Trường THCS Ngô Sĩ Liên) >> Xem thêm Nêu suy nghĩ về câu chuyện: “Tiếng vọng rừng sâu” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Hãy biết yêu thương
Chứng minh rằng nhiều tác phẩm văn học đã nhắc nhở chúng ta hãy biết yêu thương – Bài văn hay lớp 8
1,455
Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam ta từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn. Hướng dẫn Ca dao xưa có câu: Con người có tổ có tông Như cây có cội, như sông có nguồn Đế nói lên rằng: bất cứ ai cũng có cội nguồn, gốc rễ và câu ca dao như lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta là hãy biết trân trọng, biết ơn những thếhệ đi trước và đó cũng chính là đạo lí muôn đời được thểhiện ở câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là đạo lí cao đẹp thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với lớp cha anh đi trước, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước, những người đã ngày đêm lao động miệt mài để chúng ta có thể hưởng cuộc sống ấm no đầy đủ. Câu ca dao mang ý nghĩa sâu sắc, khẳng định một lẽ sống có tình nghĩa, thủy chung, ân tình. Truyền thống biết ơn đó đã được gìn giữ phát huy từ xưa cho đến nay. Đầu tiên có thể kể đến là cha mẹ, những người đã có công sinh thành ra ta nuôi ta lớn khôn. Bốmẹ luôn là người yêu thương chăm sóc ta nhiều nhất ngay từ khi chập chững bước những bước đi đầu tiên, mẹ đã dìu ta bước đi và nâng chúng ta dậy sau mỗi lần ngã, cha mẹ còn là người bên ta động viên an ủi ta trước những thất bại trong cuộc sống. Bốmẹ có thể dốc toàn bộ sức lực của mình để mong ta trở thành người có ích cho xãhội. Và khi đến trường, thầy, cô chính là cha mẹ thứ hai của ta, dạy cho ta những tri thức khoa học, dạy ta nên người nên ta cũng phải biết ơn bằng những việc làm như ngoan ngoãn học giỏi đề không phụ lòng tin của cha mẹ, thầy cô giáo. Ai ơi bưng bát ccnn đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần Những câu tục ngữ, ca dao nói về sự vất vả của người nông dân đểlàm ra bát cơm cũng phần nào đã bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với họ. Còn đối với những người lao động trí óc ta cũng cần biết ơn họ, dẫu họ không làm ra những sản phẩm trực tiếp nuôi sống chúng ta nhưng họ đã góp một phần lớn vào việc làm cho đời sống của chúng ta ngày càng hiện đại, nhàn hạ. Đó là những loại máy móc công nghiệp, những sản phẩm dân dụng, những thiết bị phục vụ cuộc sống. Cuộc sống ngày càng đổi thay, những con đường chúng ta đi, những ngôi nhà chúng ta ở, đều do bàn tay người lao động làm ra. Do đó, chúng ta phải biết ơn họ bằng cách giữ gìn trân trọng những công trình mà họ đã vất vả tạo nên. Hàng năm, chúng ta cũng có những cuộc thi trao giải nhằm tìm kiếm nhân tài, động viên khuyến khích họ trên con đường khoa học. Đọc một tác phẩm văn học nghệ thuật hay, chúng ta cũng phải biết ơn những người nghệ sĩ đã nhọc nhằn hôm sớm làm ra những sản phẩm tinh thần giúp cho đời sống tâm hồn của mỗi người thêm tươi đẹp. Để biết ơn những người nghệ sĩ ấy, nhà nước ta hàng năm cũng có những chính sách nhằm động viên khuyến khích họ hãy phát huy hơn nữa nguồn sáng tạo của mình để phục vụ cho nhân dân tốt hơn. Ngày nay được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc chúng ta không được quên những ngày chiến đấu anh dũng của cha anh. Họ đã hi sinh cả cuộc đời, cả tuổi thanh xuân để đem lại hòa bình, tự do cho nhân dân ta. Bởi vậy, chúng ta phải luôn biết ơn họ bằng những hành động cụ thể, thểhiện tấm lòng thành kính đền ơn đáp nghĩa như các ngày 27 tháng 7 là ngày thương binh liệt sĩ, ngày 22 tháng 12 là ngày quân đội nhân dân, các lễ hội như Đền Hùng, lễ hội Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Thánh Gióng… chúng ta lại đến thăm những gia đình thương binh liệt sĩ, động viên, thăm hỏi các anh, các chú những người đã hi sinh một phần xương máu để đem lại niềm hạnh phúc cho con cháu. Đối với những gia đình liệt sĩ, hàng năm, chúng ta cũng tổ chức các cuộc thăm hỏi động viên về mặt tinh thần cũng như vật chất, giúp cho những người thân của gia đình bớt đi phần nào nỗi đau mất người thân. Chúng ta còn có những chính sách như xây dựng nhà tình nghĩa giúp các bốmẹ của các liệt sĩ có nơi ăn chốn ở. Những em học sinh cũng thường xuyên tổ chức các buổi đến giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ họ những công việc vặt để động viên tinh thần. Những hành động đó chính là chúng ta đang thực hiện tốt câu tục ngũ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn”. Trong xã hội cũng có một số ít những người vì đồng tiền mà bất chấp cả đạo lí làm người, họ luôn coi trọng đồng tiền mà quên đi ơn nghĩa của những người đi trước, quên công lao dưỡng dục của cha mẹ thầy cô, có người cậy có tiền chỉ biết đưa tiền về cho cha mẹ mà chẳng mấy khichăm sóc, có khi còn cho các cụ vào viện dưỡng lão khiến cha mẹ họ phải sống cô đơn. Họ là những người cần phải lên án, phê phán để từ đó nâng tầm nhận thức của con người đốivới những người có công với đất nước, với cá nhân mỗi con người. Như vậy, có thể thấy bất cứ thời đại nào thì những người dân Việt Nam vẫn một lòng ghi tạc đạo lí “Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Đó là đạo lí ngàn đời chúng ta sẽ mãi mãi tiếp bước. Nó chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho nhân dân ta đoàn kết vững bước trên con đường dựng xây đất nước.
Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam ta từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí_ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn.
1,081
Đề bài: Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Hướng dẫn chứng minh: 1. Với từ ngữ đơn giản, mộc mạc, câu tục ngữ giúp ta dễ cảm nhận được nghĩa của nó. Thoạt tiên, câu tục ngữ gợi lên một hình ảnh sinh động. Khi trông thấy bên đường có một cây trái xum xuê với những chùm quả chín mọng ngon lành, một người nào đó thèm muốn và hái quả. Nhưng người đó có nhớ tới kẻ trồng cây, kẻ đã bỏ ra biết bao công sức để chăm sóc? Câu tục ngữ không chỉ gói gọn trong phạm vi nhỏ hẹp ấy, ý nghĩa của nó còn rộng hơn nhiều. Quả ở đây chính là thành quả, kết quả là những gì mà con người đang hưởng thụ hôm nay. Ý nghĩa khuyên thật sâu sắc, kín đáo: chúng ta sống phải biết ơn những người đã tạo nên của cải vật chất và tinh thần mà chúng ta đang hưởng thụ. Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây 2. Câu tục ngữ là một lời nhắn nhủ về đạo lí đối với chúng ta. Mọi vật không tự nhiên mà hiện hữu trên cõi đời này. Chúng ta có mặt trên cõi đời này là, do cha mẹ đã sinh ra ta và nuôi ta khôn lớn, dạy bảo nên người. Theo thời gian ta lớn lên, ai giúp ta nhận thức sâu sắc hơn về cuộc sống, con người và đất nước quanh ta? Đó chính là thầy cô, người đã hết lòng dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho ta. Trong từng giờ từng phút, ta đã và đang hưởng thụ hay nói một cách khác là ăn quả. Bát cơm ta cầm trên tay do dâu mà có? Đó chính là thành quả của những người nông dân đã tần tảo sớm hôm, dầm mưa dãi nắng. Tấm áo ta mặc là quả của những người dệt vải, in bông. Cuốn sách, tập vở ta đang học là kết quả của người làm ra giấy, sắp chữ in, của những nhà phát minh, những nhà khoa học. Ta làm sao có thể kể hết cho những quả trên đời này do những bàn tay lao động cần cù. Không những về vật chất mà về tinh thần, ta đã phải chịu ơn của biết bao nhiêu người. Một cuốn phim ta xem là do công sức của bao diễn viên, đạo diễn, nhà quay phim, những người phục vụ cho trường quay. Những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc là kết quả lao động của các văn nghệ sĩ với khối óc tràn đầy những cảm hứng sáng tạo và sự hiểu biết, cảm thụ cuộc sống một cách tinh tế. Hơn hết, người trồng cây ở đây là thế hệ những người đã từng đổ máu xương ra để mở mang, xây dựng, bảo vệ một đất nước Việt Nam tươi đẹp từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. Công lao của tổ tiên ta, của lớp người đi trước cũng như hôm nay, ta làm sao quên được. Chúng ta phải ghi khắc trong lòng những chiến công hiểm hách của ông cha ta, những tấm gương sáng chói của bao thế hệ anh hùng đã ngã xuống cho dân tộc Việt Nam được sống hòa bình ấm no hạnh phúc, các em thiếu nhi vui chơi, nhảy múa, hát ca dưới ánh trăng vàng. Nhưng không chỉ biết ơn kẻ trồng cây là nhớ bằng lí thuyết, mà phải bằng hành động cụ thể với cả tấm lòng chân thành. Để biết ơn người trồng cây, nhân dân ta đã lấy tên họ đặt cho tên đường, tên trường, tên công viên như đường Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo, trường Hai Bà Trưng, công viên Lê Văn Tám… Ta lại có những ngày kỉ niệm để tưởng nhớ, đặc biệt là có những đền đài, đúc tượng để lễ bái, chiêm ngưỡng. Ngày nay, chúng ta thực hiện lòng biết ơn ấy bằng những ngôi nhà tình nghĩa được mọi người ủng hộ hay ngày thương binh liệt sĩ 27-7 hằng năm.
Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn luôn sống theo đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
720
Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam xưa nay luôn sống theo đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây và Uống nước nhớ nguồn Hướng dẫn Trải qua bốn ngàn năm văn hóa, ông cha ta đã đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị về cuộc sống. Trong những bài học ấy, cha ông luôn nhắn nhủ thế hệ mai sau phải giữ trọn đạo đức, nghĩa tình, thủy chung, son sắt. Đó là truyền thống tốt đẹp được củ thể bằng nhưng câu tục ngữ quen thuộc, đời thường: “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Thật vậy, nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn xem trọng sự thủy chung và nghĩa tình trong cách sống. Hai câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” và “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” luôn được ông bà, cha mẹ nhắc nhở, dạy bảo và khuyên răn con cháu. Câu tục ngữ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nếu hiểu theo nghĩa đen chính là khi chúng ta được hưởng cây trái ngọt lành, ta cần nhớ đến công lao chăm bón, tưới tiêu của người nông dân “đắp đập, be bờ trồng cây” để ta hái trái. Thông qua hình ảnh ẩn dụ người ăn quả – kẻ trồng cây, ông cha muốn nhắn nhủ một bài học về cuộc sống đó là khi ta hưởng thụ thành quả không phải của mình, ta phải luôn biết trân trọng và tìm cách báo đáp công lao của người ấy. Đó là một bài học lớn về nhân cách con người, về đạo lí làm người trong cuộc sống. Trên mảnh đấy hình chữ S này, đã có biết bao máu xương của biết bao thế hệ anh hùng ngã xuống hiến dâng tuổi thanh xuân cho màu xanh hòa bình tươi đẹp. Đó là những vị vua Hùng dày công gây dựng đất nước từ thuở Văn Lang, Âu Lạc, là những chiến sĩ vô danh ngã xuống trong trận chiến với quân đội Trung Hoa trên dòng sông Bạch Đằng, là những anh hùng từ bỏ quê hương lên đường ra trận, giải phóng đất nước khỏi sự nô dịch của đế quốc thực dân… Làm sao kể hết được những anh hùng như thế, làm sao kể hết được những công lao to lớn ấy. Lời Bác dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữa lấy nước” đã in hằn vào trái tim của tất cả mọi người. Nên mỗi dịp Quốc giỗ Hùng Vương, con dân trăm họ đều đổ về Phú Thọ nơi đất Tổ linh thiêng, trước là tạ ơn sau là khẳng định tinh thần nồng nàn nước: “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba” Xã hội ngày nay đã không ngừng tiếp thu và tiếp nối truyền thống tốt đẹp ấy. Những đó hoa tươi thắm cùng những lời chúc từ đáy lòng gửi tặng đến thầy cô giáo nhân dịp 20/11 chính là biểu hiện rõ ràng cho lòng biết ơn vô hạn mà học sinh dành cho những người lái đó cần mẫn. Những món quà động viên, lời hỏi thăm chân tình gửi đến gia đình chính sách, gia đình mẹ Việt nam Anh hùng trong các dịp 27/7, 22/12 chính là sự biết ơn chân thành mà xã hội gửi đến những anh hùng, liệt sĩ. “Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo dai một hạt, đắng cay muôn phần” Từ đó sống sống tiết kiệm, không phung phí, sống có trách nhiệm, sống chan hòa tình cảm, yêu thương quý trọng mọi người. Hai câu tục ngữ ngắn gọn nhưng lại cô đúc, kết tinh bài học quan trọng về đạo lí làm người. Thế hệ trẻ hôm nay cần phải giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp ấy để thế hệ mai sau sẽ tự hào tiếp bước, phát huy tinh thần, nhân cách, phẩm chất và đạo đức của con người Việt Nam.
Chứng minh rằng nhân dân Việt Nam xưa nay luôn sống theo đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây và Uống nước nhớ nguồn
669
Chứng minh rằng nói dối có hại cho bản thân – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Nói dối có hại cho bản thân Bài làm Trong đời, ai cũng có một lần nói dối. Có lẽ ai cũng biết, nói dối có hại cho bản thân nhưng vì sợ hãi, họ đã trốn tránh sự thật, trốn tránh trách nhiệm của những việc mà mình đã làm. Nói dối là nói sai, nói không đúng sự thật. Nói dối là một hành vi thể hiện sự dối trá. Nhiều người quan niệm, nói dối chỉ xấu khi nó bị phát hiện. Đây là một suy nghĩ rất sai, cần phải thay đổi. Cho dù vì một mục đích gì đi chăng nữa, nói dối vẫn rất có hại cho bản thân và cho mọi người xung quanh. Mọi người tin lời nói dối của bạn, vô tình, họ chẳng khác gì kẻ đồng lõa. Nếu có một ai đó phát hiện ra bạn nói dối thì người vẫn tin vào lời nói của bạn cũng sẽ là một kẻ gian dối. Tai hại hơn, nói dối đã trở thành một thói quen, trở thành tật của mọi người, hay nói cách khác, nhiều người mở mồm ra là nói dối. Thói quen này bắt nguồn từ những việc rất nhỏ, những việc vặt vãnh trong cuộc sống. Nó cũng giống như một quả bóng bay, nếu bạn thổi một hơi, nó chưa vỡ, bạn lại tiếp tục thổi cho đến khi nó căng phồng. Nếu bạn không biết dừng lại, nó sẽ vỡ tung. Bạn nói dối những việc rất nhỏ vì không muốn ai biết, không muốn phải xấu hổ nhưng bạn đâu biết rằng, đằng sau nó là một lỗi lầm, một vũng bùn mà bạn có thể giẫm phải. Có những lúc, bạn biết lời nói dối của mình sẽ bị phát hiên nhưng bạn vẫn nói dối vì nếu may mắn, sẽ không ai biết được điều đó. “Đâm lao thì phải theo lao”, và từ những ý nghĩ, hành động như thế, tật nói dối lớn lên, trở thành thói quen xấu. Nói dối sẽ khiến bạn suốt ngày lo sợ việc bại lộ, bạn sẽ mất ăn mất ngủ. Tại sao bạn lại nói dối để chịu khổ sở như vậy? Chẳng ai nói dối cả đời được. Đến một lúc nào đó, sự giả dối của bạn cũng sẽ bị phát hiện. Khi đó, nhân cách của bạn giống như một cục than đen sì, dơ bẩn. Phẩm giá của bạn, lòng tin của mọi người đối với bạn sẽ biến mất. Không ai tin bạn, không ai muốn sống vói một kẻ giả dối. Lúc đó, bạn sẽ như thế nào? Liệu những ích lợi bạn có từ việc nói dối có giá trị bằng lòng tin của mọi người, bằng phẩm giá, nhân cách của bạn không? Cái giá phải trả quả là quá đắt. Trong mắt họ, bạn chỉ là kẻ nói dối đáng khinh. Họ thất vọng vì bạn. Họ mất lòng tin với bạn. Liệu bạn có thể lấy lại những thứ đó một cách dễ dàng không? Chắc các bạn đã từng nghe nói đến tác phẩm Tội ác và trừng phạt của Phê-đo Đô-xtôi-ép-xki nói về một chàng sinh viên lâm vào cảnh túng quẫn đã phải đem đi cầm cố tất cả những tài sản của mình. Sau đó, chàng đã nổi lòng tham, giết bà chủ tiệm cầm đồ để lấy tiền của. Chàng đã nói dối người yêu của mình, nói dối cả những người đã từng giúp đỡ chàng. Nhưng, cuối cùng, không chịu được cảm giác tội lỗi, không chịu được sự giày vò của lương tâm, chàng đã ra đầu thú. Trong câu chuyện này, chàng trai đã biết hối hận và thay đổi nhưng nhiều lồi lầm sẽ không cho chúng ta có cơ hội hối hận. Chúng ta sẽ phải trả giá đắt. Mong sao các bạn hãy ý thức rõ ràng về việc mình làm và luôn hành động đúng, đừng bao giờ nói dối. Hãy luôn luôn chân thành. Chỉ có thế bạn mới có được lòng tin của mọi người. Trần Nguyễn Ngân Hạnh >> Xem thêm Ý nghĩa câu ca dao: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài … Tràng An” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Nói dối có hại cho bản thân
Chứng minh rằng nói dối có hại cho bản thân – Bài văn hay lớp 8
730
Chứng minh rằng nói dối có hại cho bản thân Hướng dẫn Chứng minh rằng nói dối có hại cho bản thân Có nhiều lúc, nói dối là một cách thoát rất dễ dàng. Nhưng hãy cẩn thận, nói dối có thể làm mọi người gặp rắc rối nghiêm trọng… Cách đây không lâu, có một vụ dối trá trong nghiên cứu khoa học gây chấn động cả thế giới xảy ra với một nhà khoa học người Hàn Quốc. Nguyên nhân chỉ do nói dối. Đó là Giáo sư Hwang Woo Suk, Đại học Quốc gia Seoul, Hàn Quốc. Ông trở nên nổi tiếng thế giới nhờ các công trình nghiên cứu về nhân bản người. Cuối năm ngoái, ông công bố nghiên cứu của ông về tế bào mầm. Nhưng sau đó, các cuộc điều tra đã phát hiện ra rằng các nghiên cứu của ông Hwang đều không có thật. Ông đã nhận rất nhiều tiền của nhà nước để nghiên cứu, nhưng lại đưa ra những kết quả giả mạo. Trong khi đó, mọi người đều đã tin ông. Ông đã nói dối cả thế giới. Hậu quả là gì? Ông đã bị mất việc, mất lòng tin của mọi người, mất danh dự. Ông còn phải đền bù lại tiền cho nhà nước. Ông ấy phải cảm thấy xấu hổ với những người đã tin tưởng mình, Trong cuộc đời, chúng ta có gặp chuyện khó khăn, chúng ta cũng không nên nói dối. Làm như vậy sẽ gây nên hậu quả xấu. Lúc mới nói dối, chúng ta có thể thấy rằng đây là một cách thoát tội dễ dàng, không ai có thể biết được. Nhưng ngược lại, chỉ một sơ hở nhỏ là mọi thứ sẽ đổ ập xuống đầu chúng ta… Nói dối là một điều xấu và hậu quả trước hết xảy ra đối với bản thân chúng ta. Nếu chúng ta nói dối, trước hay sau rồi cũng bị phát hiện. Nhà văn Nga nổi tiếng Lev Tolstoi đã viết một câu chuyện rất hay về tính nói dối và hậu quả của nó: Một thằng bé chăn cừu giả làm như nhìn thấy chó sói, lên tiếng kêu cứu: – Cứu tôi với, chó sói! Chó sói! Các bác mu-gích chạy đến và thấy là không có chuyện đó. Thằng bé cứ làm cái trò như vậy hai, ba lần, rồi đến lúc xảy ra chuyện chó sói đến thật. Thằng bé lên tiếng kêu la: – Ôi làng nước ơi, chó sói! Các bác mu-gích nghĩ là thằng bé Lại đánh lừa như mọi lần, họ chẳng đến cứu thằng bé nữa. Chó sói thấy chẳng phải sợ hãi gì, nó tung hoành cắn chết cả đàn cừu. Câu chuyện trên của Lev Tolstoi là một bài học cho những người hay nói dối. Nói dối một lần, người khác có thể cho qua. Nhưng tới ba, bốn lần, ta sẽ làm mất lòng tin của mọi người. Nếu không một ai tin bạn thì chắc chắn bạn sẽ là một người bất hạnh. Với những câu chuyện trên đây, ta có thể thấy rằng nói dối là một thói xấu. Nó có thể làm cho chúng ta mất lòng tin, mất danh dự. Trung thực là một đức tính hàng đầu, ai cũng phải có nó.
Chứng minh rằng nói dối có hại cho bản thân
545
Chứng minh rằng phải biết quý trọng thời gian Hướng dẫn Chứng minh rằng phải biết quý trọng thời gian Người xưa đã từng có câu nói về thời gian như Thời gian là vàng hay Việc hôm nay chớ để ngày mai để nói đến sự quý giá của thời gian hay sự trôi chảy bất tận của thời gian. Thời gian tưởng như là sự lặp lại: sáng, trưa, chiều, tối, đêm và ngày hôm sau lại quay vòng như thế. Nếu bạn không quý thời gian bạn sẽ nghĩ rằng mọi việc hôm nay chưa làm thì hãy để đến ngày mai, ngày mai đâu có khác gì hôm nay. Thế nhưng thực ra chúng ta đều biết rằng thời gian là bất tận với vũ trụ nhưng sẽ là hữu hạn đối với một đời người. Cuộc đời con người vô cùng ngắn ngủi, thoắt chốc đã thành người lớn rồi thành thanh niên và cuối cùng là đến tuổi già. Vậy nên nếu bạn không biết quý thời gian thì cuộc đời của bạn đang trôi đi một cách vô nghĩa, thời gian không bao giờ cho bạn cơ hội được làm lại những điều mà hôm qua bạn vẫn chưa kịp làm. Vậy nên để cuộc sống của mình luôn có ý nghĩa thì chúng ta cần phải biết quý thời gian. Vậy biết quý thời gian là như thế nào, nhất là với chúng ta những học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường? Đối với học sinh chúng ta, biết quý thời gian là cần phải tranh thủ thời gian để học tập và tu dưỡng đạo đức. Mỗi khi đến lớp, trong từng tiết học chúng ta cần chú ý chăm chú nghe cô giáo giảng bài, để có thể tiếp thu kiến thức ngay ở trên lớp sau đó về nhà ôn lại là có thể thuộc ngay. Thực tế có những bạn khi đến lớp học chỉ tranh thủ nói chuyện, không nghe lời cô giáo giảng bài. Đến khi về nhà lại không chịu học bài có hoặc có học lại phải mất thời gian học lại lí thuyết cô đã giảng trên lớp, đó chính là sự lãng phí thời gian khiến cho việc học lại, ôn lại vừa mất thời gian mà hiệu quả lại không cao. Hoặc có bạn đi học về không chịu ôn ngay kiến thức cô vừa dạy mà cứ để lần lữa chờ đến hôm nào có môn học đó mới chịu học lại, do nghe giảng đã lâu việc ôn lại bài cũ lại mất thêm một khoảng thời gian nữa. Và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập. Dovậy đối với học sinh chúng ta, biết quý thời gian được thể hiện ở việc chăm chỉ học hành. Bởi nếu không học hành chăm chỉ thì thời gian qua đi chúng ta sẽ không có hội học lại và nếu khi đó có tiếc nuối cũng chẳng có nghĩa lí gì nữa. Ngoài việc học tập ra, trong cuộc sống con người cũng phải luôn quý trọng thòi gian trong việc tu dưỡng tác phong đạo đức. Chẳng hạn như công việc của hôm nay nên làm ngay đừng nên để đến ngày mai vì thời gian rất quý giá, ngày mai ta còn dành để làm công việc khác. Để tránh lãng phí thời gian, ta hên có kế hoạch sử dụng thời gian, hàng ngày phải có thời khoá biểu hợp lí sao cho đảm bảo việc học hành, giải trí, vui chơi, giúp đỡ gia đình. Nếu sử dụng thời gian có khoa học thì ngoài việc học hành có hiệu quả ra, bạn vẫn có thể làm được những việc mà bạn yêu thích như làm thơ, vẽ tranh… Nhiều bạn khi được cha mẹ giao cho công việc thường không làm ngay mà còn lần lữa vì mải chơi, đến lúc làm lại vội vã cho nên chẳng làm được việc gì đến nơi đến chốn. Điều này sẽ tạo thành thói quen xấu trong tác phong làm việc là sự cẩu thả và muốn sửa chữa lại phải mất một thời gian dài. Đó chính là hành động làm mất thời gian, lãng phí thời gian không cần thiết để tạo cho mình đức tính cẩn thận. Mọi việc sẽ trở nên suôn sẻ nếu ta luôn cố gắng hoàn thành nó khi có cơ hội, khi có thời gian. Vậy nên biết quý, biết tiết kiệm thời gian chính là tạo cho mình một thói quen tốt, có lợi cho bản thân. Hiện nay trong cuộc sống ta bắt gặp rất nhiêu bạn còn đang cắp sách đến trường nhưng không hề có ý thức học thực sự mà chỉ coi đó là nơi để giao du chơi bời với các bạn xấu và hơn thế có người còn nói dối bố mẹ để xin tiền đi học thêm nhưng thực chất là đi chơi. Tai hại hơn các bạn còn đốt cháy, thời gian sức lực của mình vào các trò tiêu khiển độc hại, suy đồi đạo đức. Thực tế đó chính là hành động lãng phí thời gian và đó là hành động tự hủy hoại tương lai của mình, đem lại khổ đau bất hạnh cho cha mẹ cho người thân. Vậy nên chúng ta nhận thấy quý thời gian là biết sử dụng thời gian làm những việc có ích, những việc có thể giúp chúng ta trở thành con người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội.
Chứng minh rằng phải biết quý trọng thời gian
932
Đề bài: Chứng minh rằng qua hình thức nhân hóa hình tượng con hổ bị nhốt trong cũi sắt, nhà thơ Thế Lữ đã cho thấy tâm trạng của mình và cũng là tâm trạng chung của người dân Việt Nam đang trong cảnh nước mất nhà tan. Hướng dẫn làm bài Trước hết, con hổ trong trạng thái “nằm dài trong cũi sắt” mà “gặm một khối căm hờn”, đau đớn tê tái vì “sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm”. Con hổ ý thức được nỗi bất hạnh của nó khi trở thành “trò lạ mắt, thứ đồ chơi”. Nỗi đau như được nhân lên khi nó bị xếp hàng ngang cùng “bọn gấu dở hơi” và “cặp báo chuồng bên vô tư lự”. Thái độ của con hổ, do đó, là thái độ khinh miệt: “Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ — Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm”. Từ “khinh” được nhấn mạnh bằng từ “lũ” – “lũ người”. Từ “lũ” mang trong nó sắc thái khinh bỉ miệt thị, mang tính chất phủ nhận. Sự so sánh đối lập được đẩy lên bằng từ “giương” – một động tác đòi hỏi nhiều sức lực đi liền với “mắt bé” như là một sự tương phản: “giương mắt bé” được đặt trong thế đối lập với “oai linh rừng thẳm”. “Mắt bé” là cái cụ thể, có thể cần đo đong đếm được, còn “oai linh” thì không thể (đó là chưa kể đến sự lớn lao, phi thường, dữ dội của “rừng thẳm”). Đoạn thơ cho thấy nỗi đau thấm thìa của con hổ khi bị giam hãm trong “cũi sắt”. Ý thức của con hổ càng trở nên sâu sắc hơn ở đoạn 4. Nó trở thành “niềm uất hận ngàn thâu” trước những “cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối – Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng”; trước những hình thức nhân tạo mà con người bày đặt ra thành những núi non sông suối giả tạo: “Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng – Len dưới nách những mô gò thấp kém”. Đã thế, để tạo cảnh rừng già, con người bày đặt: “Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm — Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu — Của chốn ngàn năm cao cả, âm u”. Giọng điệu của con hổ ở đây là giọng điệu mĩa mai, giễu cợt (“dải nước đen giả suối”, “len dưới nách”,…); giọng điệu trách cứ, nhấn mạnh sự giả dôi, học đòi, bắt chước. Tất cả những công trình mà con người làm ra trong vườn bách thú chỉ là thứ tầm thường so với chốn “ngàn năm cao cả âm u”. Sự so sánh được tạo ra qua sự đối lập giữa cái hiện tại ngắn ngủi, mong manh, “tầm thường”, “những cảnh không bao giờ thay đổi” với cái vĩnh hằng muôn thuở “cao cả, âm u”. Điều mỉa mai nhất qua giọng điệu của con hổ là con người tưởng rằng những thứ nó tạo ra có thể sánh ngang hàng các kì công của tạo hóa. Giọng điệu của con hổ cho thấy tâm trạng bực bội, chán chường của nó trước thực tại đen tối. Đó cũng là chính thực tại của xã hội tù hãm đương thời đang vây bủa nhà thơ và những con người chí lớn trong nỗi đau mất nước. Trong hoàn cảnh đó (đoạn 3), con hổ nhớ lại một thời oai phong lẫm liệt: “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ”. Con hổ tự xưng là “Ta” — cách xưng hô mang tính khẳng định, dứt khoát — gia tăng sức nặng cho câu thơ “Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa”. Khi nói “tung hoành” thì tự nó đã cho thấy sức mạnh mẽ, phi thường, nhưng lại được kèm theo, lại được nhấn mạnh bằng “hống hách” thì cái phi thường đó là vô song, là bản lĩnh của chúa sơn lâm. vẻ đẹp hùng vĩ của chôn núi rừng xưa cũ hiện về qua “bóng cả, cây già” mà các tính từ chỉ thời gian (hóng cả, cây già) không chỉ cho thấy sự lớn lao của đại ngàn mà còn nhấn mạnh sự trường tồn của nó. Các động từ chỉ hành động gắn với âm thanh “gào”, “hét”, “thét” (“tiếng gió gào ngàn”, “giọng nguồn hét núi”, “khúc trường ca dữ dội”,…) càng cho thấy tầm vóc của đại ngàn sâu thẳm. Đó là một không gian khác thường – không gian của sức mạnh – mà ngự trị trong đó là con hổ: “Ta biết ta chúa tể của muôn loài”. Hổ không tự nhận là chúa tể “cúa muôn loài” (với nghĩa là muôn loài đã bị thần phục hay chấp nhận tự nguyện sự thần phục con hổ) mà là chúa tể “cả muôn loài” (theo ý nghĩa là con hổ đứng trên tất cả, thống ngự tất cả, không cần biết là dưới nó có con nào không thần phục nó hay không). Nói cách khác, con hổ, qua hình thức tự phong này, toát lên vẻ kiêu hùng mạnh mẽ, chứ không phải là kiêu ngạo. Tự nó đảm đương trách nhiệm tối cao nơi núi cao rừng sâu ấy. Tại đó, con hổ hiện lên với vẻ đẹp đường bệ từ bước đi dáng đứng: “Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng – Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng — Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc”, ơ đó nó là chúa tể bởi “mắt thần khi đã quắc — Là khiến cho mọi vật đều im hơi”. Việc con hổ tự so sánh dáng đi của nó với “sóng cuộn nhịp nhàng”, mắt của nó với “mắt thần” cho thấy sự tự ý thức sâu sắc về giá trị của nó mà khi đã nhận thức sâu như vậy thì nỗi đau đớn của nó càng lớn hơn trong hiện tại. Các hình ảnh gợi nhớ về quá khứ đều kèm theo màu sắc sặc sỡ, gây ấn tượng mạnh và các hình thức biểu cảm nhất định: màu của đêm (vàng); màu của bình minh (xanh — của cây, vàng — của nắng); màu của chiều tà với mặt trời đỏ ối (“lênh láng máu”) hay mưa cùng với những hành động mang vẻ đẹp lãng mạn: “uống ánh trăng tan”, “lặng ngắm giang san” trong mưa rừng xối xả, có tiếng chim ru giấc ngủ những trưa hè,… tạo nên vẻ đẹp trữ tình của những suy tư của con hổ. Nó cũng cho thấy sự đối lập trong tâm trạng của con hổ giữa hai thực tại: một thuộc về quá khứ và một đang diễn ra trong nước mắt. Đó cũng chính là tâm trạng của nhà thơ và cũng là tâm trạng chung của những thế hệ người dân Việt Nam đang trong cảnh nước mất nhà tan. Bài thơ khơi dậy những suy nghĩ tích cực, đáp ứng và trở thành khát vọng chung của một thời.
Chứng minh rằng qua hình thức nhân hóa hình tượng con hổ bị nhốt trong cũi sắt, nhà thơ Thế Lữ đã cho thấy tâm trạng của mình và cũng là tâm trạng chung của người dân Việt Nam
1,182
Đề bài: Chứng minh rằng thiên nhiên trong Người lái đò sông Đà là con sông Đà "trữ tình" Gợi ý Sông Đà đâu chỉ hung bạo, mà còn là một dòng sông tuyệt vời thơ mộng Đặc biệt, từ mạn Thác Bờ về xuôi, Sông Đà chỉ còn vẻ dịu dàng như bất kì một dòng sông nào ở vùng đồng bằng. Bởi vậy, bên cạnh tính hung bạo, Nguyễn Tuân rất chú trọng khắc họa tính trữ tình của dòng sông này. Vốn văn hóa, vốn từ vựng giàu có, trí tướng tượng bay bổng của nhà văn thả sức tung hoành, tạo nên những đoạn văn mượt mà như những dòng thơ. Phân tích tùy bút Người lái đò Sông Đà (1) Để khác họa tính trữ tình, dịu dàng cùa dòng sông, trước hết Nguyễn Tuân miêu tả Sông Đà một cách bao quát bằng một câu văn đầy hình ảnh và nhịp điệu: Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban gạo tháng hai là cuồn cuộn mù khói nú Mèo đốt nương xuân. Có thể coi đây là một bức tranh tổng thể về Sông Đà, lúc đầu chảy ngoằn ngoèo giữa điệp trùng núi đá và đại ngàn Tây Bắc nhưng khi về dần đến miền trung du, Đà Giang chảy êm á thẳng dòng? (2) Tác giả ngắm nhìn Sông Đà ở nhiều thời gian, nhiều không gian khác nhau. Với tình cảm trìu mến thiết tha, nhà văn đã phát hiện được một cách tinh tế màu sắc của dòng sông biến đổi theo từng mùa. Xuân về, Đà giang xanh ngọc bích, tức là màu xanh rất đẹp, vừa trong xanh lại vừa óng ánh, chứ không xanh như màu xanh canh hến. Khi thu sang, nước Sông Đà một vẻ đẹp riêng. Chính vì thế, Nguyễn Tuân bực bội khi bọn thực dân cướp nước lại gọi một cách thô bạo Sông Đà là dòng sông Đen – sông có màu đen (riviere Noire). (3) Tác giả đã dành những đoạn văn hay nhất tả cảnh vật ven Sông Đà để tôn thêm tính trữ tình cùa dòng sông, nhà văn sử dụng nhiều hình ảnh trong sáng gợi cảm và đầy chất thơ. Nhịp điệu câu văn lúc thì hối hả, mau lẹ do cách ngắt câu và diễn đạt theo lối điệp (Bờ Đông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà) để diễn tả niềm sung sướng đang trào dâng trong lòng tác giả. lúc thì chậm rãi, như tãi ra để diễn tả cái vắng lặng rất nên thơ của con sông này: Cánh ven sông ở đáy lặng tờ… như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Hình ảnh một bà tiên sứ, một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa có sức khơi gợi sâu xa, khắc họa được vẻ đẹp hoang sơ, tồn tại như vĩnh hằng của thiên nhiên Với cách liên tưởng và ví von ấy, dường như Sông Đà còn có vẻ đẹp của một con sông bền bi chạy qua bao tháng năm lịch sử, mang dấu tích văn hóa ngàn xưa của dân tộc. Hơn nữa, với một tình yêu thiên nhiên Tây Bắc tha thiết, tác giả nhìn Sông Đà như một cố nhân…
Chứng minh rằng thiên nhiên trong Người lái đò sông Đà là con sông Đà “trữ tình”
560
Chứng minh rằng trong đoạn trích Nỗi oan hại chồng nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị ngờ oan Hướng dẫn Chứng minh rằng trong đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị ngờ oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu sang tàn ác khinh rẻ. BÀI LÀM Từ lâu, nhân dân ta lưu truyền câu thành ngữ đã trở nên hết sức quen thuộc “Oan Thị Kính”. Đây là thành ngữ dùng đểchỉ những nỗi oan ức đến cùng cực, nỗi oan không thể giãi bày. Thế nhưng, nhân vật của câu thành ngữ – Thị Kính – không chỉ chịu khổvì bị ngờ oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu sang tàn ác khinh rẻ. Đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” kể về đoạn đời đầy bất hạnh của người phụ nữ lương thiện ấy. Trước hết, nỗi khổ đau của Thị Kính phải chịu đựng bắt nguồn từ việc bị ngờ oan. Khi chồng “dùi mài kinh sử” đã đến hồi mệt mỏi cần được nghỉ ngơi, người vợ hiền – Thị Kính đã ân cần ngồi quạt cho chồng. Chăm sóc chồng không chỉ là việc làm của người vợ đảm đang mà đối với họ còn là một hạnh phúc. Thị Kính cũng thế. Song khi nàng muốn được chăm sóc cho chồng nhất, muốn được hưởng niềm hạnh phúc của người vợ thì lại là lúc nàng gặp phải sự đùa cợt của số phận. Nhìn thấy Thiện Sĩ có “dị hình sắc dưới cằm mọc ngược” và “dạ thương chồng” vì “trước đẹp mặtchàng sau đẹp mặt ta”, tiện có con dao sắc đang cầm trong tay, nàng định bụng sẽ xén chiếc râu quái ác ấy. Nhưng oái oăm thay, Thiện Sĩ “chợt giật mình tỉnh dậy” tình ngay mà lí gian, con dao trong tay nàng không còn là con dao làm đẹp cho chồng mà trở thành bằng chứng của một âm mưu tàn ác. Thực hư ra sao chẳng cần xét hỏi, bà mẹ chồng Sùng Bà – dồn dập đổ xuống đầu nàng những lời buộc tội và căn cứ: Yêu và thương chồng hết mực, một mảy may ý định giết chồng nàng cũng không hề nghĩ tới. Vậy việc làm chẳng hề có ấy qua lời của mụ thì “rõ rành rành mười mắt đều trông”. Đau đớn quá, oan ức quá! Nỗi oan chẳng dừng lại ở đó. Người vợ thủy chung tình nghĩa mang thêm tội ăn ở hai lòng với sự suy diễn trắng trợn từ Sùng Bà. Nguyên nhân giết chồng là do nàng đã “trót say hoa đắm nguyệt”, “đã trên dâu dưới bộc hẹn hò”. Nỗi oan ấy chẳng hề bày tỏ cùng ai. Người chồng nhu nhược đớn hèn chỉ biết làm ngơ trước tình cảm của người vợ “nghĩa nặng tình sâu”, “trăm năm kết tóc”. Ba lần tiếng kêu thảm thiết Thị Kính hướng về mẹ chồng thì bị đáp trả bằng những lời buộc tội thêm một chồng chất, bằng cú dúi tay ngã khụy nhẫn tâm. Thế nhưng, chúng ta đều biết rằng tội của nàng không phải vi phạm vào “tam tòng tứ đức” mà là tội nghèo. Ngờ oan cho con dâu chỉ là cái cớ để bà mẹ chồng tàn ác kia khinh miệt, nhục mạ xuất thân nghèo hèn của nàng, lấy cho con trai người vợ “không môn đăng hộ đối” chắc hẳn Sùng Bá âm ỉ mang trong lòng sự căm ghét với con dâu. Chỉ có những “nơi công hầu” mới xứng đáng sánh đôi cùng con trai bà, bởi “nhà bà đây cao môn lệnh tộc” nhà bà đây “giống phượng giống công”. Khác với vẻ khoe khoang vênh váo khi nói về dòng giống của mình, Sùng Bá không tiếc lời khinh bỉ, coi thường khi nhắc tới gia đình Thị Kính. Cái loại “mèo mả gà đồng”, cái loại “con nhà cua ốc” mà lại là con dâu bà thì thật là điều ô nhục. Suốt đời, những thân phận nghèo hèn chỉ thuộc địa vị thấp kém, mãi mãi không thể ngẩng đầu được: Liu điu lại nở ra dòng liu điu. Người xưa thật tài tình với những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, với việc đặt vào cái miệng nanh nọc của Sùng Bà một thứ ngôn ngữ phong phú đa dạng đến thế. Đáng thương thay cho Thị Kính, bị hành hạ về mặt tinh thần chưa đủ, nàng còn phải chịu đựng những hành vi tàn ác và rất thô bạo từ người mẹ chồng quyền quý, giàu sang. Hai lần, dưới bàn tay thô bạo của Sùng Bà, Thị Kính đã ngã xuống. Cả hai lần đều là chỉ Thị Kính mở miệng kêu oan. Khi đã rũ rượi vì khóc than đau đớn, nàng còn phải ngửa mặt lên để hứng những lời lẽ cay độc. Sùng Bà có lẽ đã giận mình không thể “chém bổ băm vàm xả xích mặt” nàng ra. Xung đột kịch đã đẩy lên tới đỉnh điểm là lúc Thị Kính chạy lại cha đẻ sau cái dúi ngã tàn nhẫn của Sùng Ông, rồi hai thân phận nghèo hèn ấy ôm nhau than khóc. Còn nỗi đau, nỗi nhục nào hơn khi một con người bất lực trước việc cha đẻ bị khinh bỉ, hành hạ. Người cha tội nghiệp ấy cũng vì nghèo hèn mà trở thành nạn nhân của trò đùa tai quái do vợ chồng Sùng Bà bày ra: gọi ông sang ăn cữ cháu nhưng thực chất là trả lại cô con gái “lăng loàn”. Họ khóc than cho nỗi đau đớn, nhục nhã của những thân phận nhỏ bé bị chà đạp bởi những kẻ giàu có tàn ác.
Chứng minh rằng trong đoạn trích Nỗi oan hại chồng nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị ngờ oan
980
Chứng minh rằng tàn phá rừng là tự thắt cổ mình Hướng dẫn Chứng minh rằng tàn phá rừng là tự thắt cổ mình Từ khi có trái đất, loài người đã sinh sống được nhờ môi trường thiên nhiên xung quanh mình, bầu không khí trong lành, nguồn nước mát và đặc biệt là màu xanh kì diệu của muôn ngàn cây lá khác nhau. Vì vậy, nhân dân ta đã có câu “Rừng vàng, biển bạc” để khẳng định giá trị của rừng và biển.. Trong bài luận văn nhỏ này ta thử bàn bạc, tìm hiểu về rừng và nạn phá rừng sẽ dẫn đến điều gì? Một số người không biết rằng: tàn phá rừng chính là tự thắt cổ mình; vì sự tàn phá đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái, tàn phá môi trường sống của chính mình. Từ xưa đến nay, rừng, lá phổi xanh của con người có vai trò rất quan trọng để duy trì sự sống, để người hít thở sử dụng nhưng hiện nay, nạn phá rừng đang là nỗi lo cho các nhà sinh thái. Trong thực tế, ai cũng biết rừng là nơi cung cấp nguyên, liệu làm giấy, xây dựng nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Thậm chí, phút cuối cuộc đời cũng nằm trong mấy tấm gỗ của cây rừng… Rừng còn là kho dược liệu vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Rừng còn là nơi sinh sống, trú ngụ cho biết bao loài động vật, côn trùng khác, là nơi tạo ra… vô số các loại quý hiếm. Rừng phục vụ cho du lịch, là nơi nghỉ mát, nơi cắm trại lí tưởng cho mọi người… Rừng cần cho cuộc sống biết nhường nào. Nhưng quan trọng hơn hết, rừng chính là môi trường sinh thái, là môi trường sống cho loài người. Các quá trình quang hợp của cây xanh liên tục xảy ra, cây hít khí cacbonic Co2 vào để rồi tạo ra khí Oxi, một thứ khí rất cần thiết cho cuộc sống. Đơn giản hơn, rừng chính là một “nhà máy lọc bụi tối tân nhất” mà chưa có một nhà máy nào trên thế giới có thể sánh nổi. Rừng điều tiết khí hậu. Rừng là lá chắn vững chắc nhất, là rào cản đầu tiên trước mọi biến động thiên tai. Rừng cản lũ rừng chống sa mạc hóa, rừng chống cát lấn đất, rừng giữ đất, giữ nước,… Khi đã hiểu được vai trò của rừng ta mới cảm nhận được hậu quả tai hại của việc tàn phá rừng. Có thích thú gì đâu khi đứng trên một mảnh đất mà xưa kia đã từng là rừng hiện giờ đang bị ánh lửa mặt trời thiêu đốt. Có sung sướng gì đâu khi phải bước chân trên sa mạc cát nóng rát cháy cả đôi chân, đôi môi thì khô khốc đắng cả miệng, khắp nơi chỉ có gió và cát bay mịt mù. Lúc ấy, sao mà thèm… một mảng xanh mát, một bóng râm, một vũng nước trong để có thể dừng chân nghỉ ngơi. Hoặc cảm giác chán chường khi thấy một ngọn núi toàn là đá, (có cây đâu-mà giữ đất). Nguy hiểm hơn cả là vấn đề khí thở. Hàng ngày trên thế giới có biết bao nhà máy thải khí độc vào bầu khí quyển, biết bao bụi bặm trên các đường phố, biết bao con người đang chia nhau từng hớp không khí ô nhiễm duới cái nắng chang chang, xung quanh chẳng có một tí bóng râm nào, chỉ toàn là khối bê tông xám xịt, cao ngất, che lấp cả bầu trời. Nếu vắng bóng rừng một khoảng thời gian dài, thì cả trái đất sẽ khô cứng lại, và cả nhân loại sẽ chết dần chết mòn. Lúc ấy, dầu nhà cao cửa rộng, dẫu bạc vàng chất đống, con người chỉ mong một cánh rừng xanh tốt mà nước mắt ràn rụa, tiếc nuối, xót xa khi nghĩ đến cánh rừng bạt ngàn xưa kia. Còn nữa, rừng vốn để chống thiên tai, bây giờ mất rừng rồi mọi tai họa trước kia ít gây thiệt hại, nay bỗng chốc trở thành đại họa. Lũ lụt, sa mạc hóa, hạn hán; bão lụt xảy ra khắp nơi. Ở nước ta, lũ lụt và bão hoành hành ở khắp nơi, nguyên do cũng tại phá rừng. Trước hiểm họa đó, con người phải làm gì? s.o.s báo động toàn thế giới: Đã đến lúc ta phải bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. Hội nghị quốc tế thượng đỉnh năm qua họp cung chỉ để bàn về một vấn đề duy nhất: bảo vệ môi trường. Ủy ban bảo vệ môi trường thế giới đã kêu gọi các quốc gia trên thế giới cùng hợp tác để bảo vệ môi trường sinh thái bằng nhiều cách khác nhau. Đó là vấn đề chung của toàn nhân loại. Riêng cá nhân ta, ta phải làm gì? Quá rõ: giảm tối thiểu việc khai thác rừng, ngăn chặn triệt để việc phá rừng bừa bãi, thực hiện tốt hơn việc bảo vệ rừng… Không quá trễ dể ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nhưng cũng không sớm để báo động về việc các cánh rừng đang biến mất khỏi trái đất. Chúng ta phải cùng nhau bảo vệ rừng, không thể để nước đến chân mới nhảy, lúc đó đã là quá muộn, con người đã tự giết mình.
Chứng minh rằng tàn phá rừng là tự thắt cổ mình
923
Chứng minh rằng Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có Hướng dẫn Chứng minh rằng Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có Đi tìm ý nghĩa của văn chương, Hoài Thanh đã giải thích: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là ở lòng thương người và rộng ra là thương cà muôn loài, muôn vật. Chính vì thế mà ông khẳng định: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Trong những chức năng cùa văn chương, người ta chú ý nhất đến chức năng truyền cảm. Nghĩa là văn chương có khả năng gây dựng những cảm xúc cho ta. Chúng ta hãy nhớ lại câu chuyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”, một câu chuyện cổ tích đến từ nước Nga rất xa xôi và tất nhiên có khá nhiều tình tiết xa lạ đối với chúng ta về văn hóa và phong tục. Thế nhưng chúng ta vẫn xúc động trước lối sống đầy ân nghĩa của chú cá vàng và vẫn căm ghét trước sự tham lam của mụ vợ. Chúng ta thường nghe nói: lòng tham của con người là vô đáy. Nhưng có lẽ đối với nhiều người, phải đọc đến tác phẩm này, chúng ta mới lần lượt hình dung về sự vô đáy của lòng tham. Những bài học, những cảm xúc mà chúng ta vừa mới nêu ra, có thể với một số người, nó bắt đầu từ cuộc sống thế nhưng với rất nhiều người nó được “truyền sang” từ những tác phẩm văn chương. Vì thế mà dân gian ta mới có câu sách là người bạn lớn. Nó dạy ta những bài học nhân sinh và nghĩa lý ở đời. Văn chương truyền cho ta niềm vui, nỗi buồn, truyền cho ta những cảm xúc và rung động. Không chỉ thế, văn chương còn tô thêm những tình cảm đã có trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Thử hỏi trong chúng ta có ai lại không còn nhớ chút gì về ngày đầu tiên đi học. Với nhiều người có khi những ấn tượng ấy thậm chí vẫn còn sâu sắc lắm. Ấy thế mà tại sao khi đọc bài văn “Cổng trường mở ra” của tác giả Lý Lan chúng ta vẫn thấy xúc động, vẫn hay, vẫn thích đọc đi đọc lại nhiều lần? Câu trả lời có thể có nhiều cách để mà giải thích. Thế nhưng, sự lý giải dễ dàng và hợp tình lý nhất là bởi vì bài văn đã khơi đúng những cảm xúc của chúng ta. Có đọc bài văn, chúng ta mới thấy cái cảm xúc kia là sâu xa lý thú. Và cũng nhờ có đọc bài văn mà chúng ta lại càng khắc sâu hơn một ấn tượng đẹp đẽ về những năm tháng tuổi thơ.
Chứng minh rằng Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có
499
Chứng minh rằng đời sống sẽ bị tổn hại nếu con người không có ý thức bảo vệ môi trường Bài làm Trong cuộc sống của chúng ta, môi trường có vai trò vô cùng quan trọng. Nó là nơi để ở, để sinh sống và phát triển của con người. Nhưng hiện nay, môi trường đang trở nên ngày càng ô nhiễm do ý thức kém và con người đang gánh hậu quả lớn từ chính ý thức của mình. Môi trường sống là gì? Môi trường sống chính là những gì đang bao quanh chúng ta, bao gồm: nước, không khí, đất, những loài sinh vật và cây xanh.Môi trường như là một người mẹ thiên nhiên vĩ đại. Bao bọc và che chở cho những đứa con bé nhỏ của mình. Mẹ thiên nhiên mang lại nguồn nước sạch, không khí trong lành, đất đai màu mỡ, giúp con người, sinh vật sinh sống và phát triển tốt trong môi trường đó. Được sống trong môi trường này, con người sẽ khỏe mạnh, vui vẻ và phát triển toàn diện. Thế nhưng, công nghiệp ngày càng phát triển, công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày càng mạnh mẽ thì ý thức con người giảm xuống. Nhiều người đã quên đi nhiệm vụ phải bảo vệ người mẹ thiên nhiên đó, ra sức khai thác, tàn phá và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Cách sống ích kỷ trong xã hội hiện đại đã đẩy môi trường đến giới hạn, tổn hại lớn đến môi trường sống. Nhiều người từ già đến trẻ vẫn hồn nhiên xả rác bừa bãi ra môi trường, rác thải theo mưa đến cống rãnh, gây tắc, gây ô nhiễm môi trường nước nặng nề. Hàng ngày, hàng giờ chúng ta có thể thấy hình ảnh những con sông đen ngòm, nhiều rác thải. Hay mùi hôi thối bốc lên vào nhưng trưa hè gay gắt,. Vậy lấy đâu ra nước sạch để sinh hoạt khi chính con người đã cắt đi nguồn sống quan trọng của mình. Đâu chỉ riêng nước, các công ty, nhà máy, xí nghiệp vô tư xả vào không khí một lượng lớn các chất độc hại như khó, hóa chất… khói đen lan tỏa khắp bầu trời. Những thứ đó làm thủng tầng ozon, tạo mưa gió, lũ lụt,làm đời sống con người khổ cực. Thêm nữa, việc bón các chất hóa học vào đất, hay việc chặt phá rừng thường xuyên đã gây ra đất trọc, đất trống, ô nhiễm đất đai. Mỗi khi mưa về, sẽ gây ra hiện tượng sạt lở, xói mòn. Trong tháng tám, ở các tỉnh miền núi, mưa lũ triền miên đã cuốn trôi đi bao bản làng, gây tổn thất nghiêm trọng về người và tài sản. Những dẫn chứng trên đã giúp ta thấy một phần nhỏ tác hại mà môi trường ô nhiễm gây ra. Nhiều thực tế đau lòng vẫn diễn ra, hiện tượng trái đất nóng lên, gây biến đổi khí hậu, nhiều thiên tai xảy ra thường xuyên và phức tạp. Băng tan, gây nước dâng, nhấn chìm nhiều vùng đất trũng. Ở nước ta, lũ lụt xảy ra thường xuyên, ô nhiễm nguồn nước làm cá chết ở bốn tỉnh miền Trung hay hàng ngày hàng giờ lại có thêm hàng trăm người được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư và những bệnh liên quan đến không khí. Tất cả chính là hệ quả của ô nhiễm môi trường, nó chính là vòng tròn luật nhân quả, con người gây ra thì chính con người phải chịu đựng. Trước tính cấp thiết đó, chúng ta cần phải giữ gìn môi trường thật tốt. Các nhà lãnh đạo cần có những chính sách hợp lý. Con người cần chung tay bảo vệ môi trường từ những điều nhỏ nhặt nhất đến những điều lớn lao hơn. Môi trường chính là nơi chúng ta sinh ra và phát triển. Chúng ta hãy chung tay và bảo vệ người mẹ thiên nhiên này. Nếu không hậu quả sẽ đến với chúng ta nhanh thôi.
Chứng minh rằng đời sống sẽ bị tổn hại nếu con người không có ý thức bảo vệ môi trường
683
Chứng minh rằng đời sống sẽ bị tổn hại nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường Hướng dẫn Chứng minh rằng đời sống sẽ bị tổn hại nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường Xã hội càng phát triển thì loài người chúng ta lại càng làm nhiều hơn những việc không tốt đối với môi trường. Giờ đây, nguy cơ môi trường bị huỷ hoại đã không chỉ còn là vấn đề của mỗi quốc gia. Nó đòi hỏi tất cả chúng ta phải ý thức rõ ràng và phải hành động quyết liệt để bảo vệ môi trường sống. Trong những năm qua, để giải quyết những vấn đề trước mắt, con người đã không ngần ngại xâm hại đến môi trường. Thực tế đã chứng minh, những nước có nền công nghiệp phát triển là những người mà người ta làm hại nhiều nhất đến bầu khí quyển. Lượng khói bụi mà hàng ngày các ông khói nhà máy và xe cộ thải ra làm cho tầng ôzôn (tấm lá chắn) của chúng ta bị thủng. Cũng từ đó mà nhiệt độ của trái đất hàng năm cứ nhích dần lên làm cho băng ở Bắc Cực và Nam Cực tan ra. Và như thế có nghĩa là loài người sẽ đứng trước nguy cơ bị dìm trong biển nước. Thế nhưng một thống kê khác lại cho rằng: ý thức và trách nhiệm của con người đối với môi trường ở những nước đang phát triển còn yếu kém hơn. Chúng ta hay nhìn vào chính thực tế của nước mình. Trong những năm qua, có đến hàng triệu héc ta rừng của chúng ta bị hủy hoại bởi người ta phá rừng tuỳ tiện để làm nương rẫy, để lấy củi đun. Hoặc tham lam hơn, bọn lâm tặc đã bất chấp thủ đoạn chiếm hữu hàng bạc tỷ từ việc chạt phá rừng. Những việc vô trách nhiệm ấy không chỉ làm cho tài nguyên rừng của chúng ta bị cạn kiệt, môi trường sống của chúng ta không được trong lành mà còn gây ra mất cân bằng sinh thái. Hơn thế nữa nó cũng là nguyên nhân sâu xa khiến chúng ta phải đối diện với nhiều trận lũ lụt – những trận lũ đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người trong suốt mấy năm qua. Đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu chúng ta không có ý thức bảo vệ môi trường, ở những thành phố lớn và ở cả nông thôn, chưa bao giờ người ta sử dụng các loại bao bì, túi ni lông nhiều đến thế. Dùng xong, người ta chỉ có một việc vứt ra thùng rác hoặc quẳng ngay vào cống rãnh. Chúng ta không biết rằng các bao bì và túi làm từ ni lông không phân hủy. Nó có thể tồn tại hàng trăm năm trong đất và làm triệt hại mầm sống của các cây con. Chúng làm ô nhiễm những dòng sông, làm chết các loài cá và thậm chí còn làm ngộ độc gây chết người nếu chúng ta ngửi phải quá nhiều hơi đốt từ các phế phẩm ni lông. Có thể kể ra nhiều và nhiều nữa những hành động vô ý thức của con người đối với môi trường. Phần nhiều trong số đó bắt nguồn từ thói quen và sự thiếu hiểu biết của chúng ta. Vì thế mà, thiết nghĩ, để có ý thức bảo vệ môi trường, chúng ta phải tự trang bị cho mình những hiểu biết về tác hại từ những hành động của chúng ta. Chúng ta chắc chắn sẽ có ý thức hơn, có trách nhiệm hơn nếu chúng ta biết rằng những hành động gây hại đến môi trường cũng có nghĩa là đang triệt tiêu cuộc sống.
Chứng minh rằng đời sống sẽ bị tổn hại nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường
644
Chứng minh rằng: Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo Hướng dẫn Đoạn văn chị Dậu đánh nhau với cai lệ tiêu biểu cho ngòi bút và phong cách của Ngô Tất Tố. Tình thế hiểm nguy xuất hiện khi anh Dậu vừa “run rẩy cất bát cháo anh mới kề vào miệng” thì cả lũ tay sai ác ôn đã “sầm sập tiến vào với những roi song, tay thước và dây thừng” (cụm từ láy “sầm sập” có sức diễn tả trạng thái vừa nặng nề vừa nhanh chóng, vừa đe dọa vừa tiến công). Đã thế, chúng còn được trang bị đầy đủ những thứ vũ khí chuyên dụng cho việc đánh người (roi song, tay thước); cho việc trói người (dây thừng). Nhân vật đại diện cho quyền uy ra oai đầu tiên và hắn cũng là người có quyền hành to nhất ở đấy. Đó là cai lệ. – Trước hết là nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Nhân vật cai lệ được miêu tả bằng cách cho hắn lộ rõ bản chất ngay từ đầu, từ điệu bộ, cử chỉ, hành động đến lời nói… Hắn không che giấu bản chất tay sai của mình và sử dụng nó để trấn áp, đe dọa những người dân hiền lành thấp cổ bé họng. Hắn đánh, hắn trói… hắn là con người — công cụ. Ớ con người hắn không có chỗ cho tình người hay nói cách khác hắn đã mất hết tính người. Hắn ra oai bằng cách “gõ đầu roi xuống đất”, bằng cách “thét” với “giọng khàn khàn”. Cách miêu tả ở đây cho thấy sự lố bịch của con người này, bởi vì “gõ xuống đất” thì có dùng sức mạnh bao nhiêu đi chăng nữa, tiếng vang cũng không lớn, nhưng với hắn thì phải “gõ” chứ không thể nào khác được. Cái “giọng khàn khàn” của hắn thì dù có “thét” hay “gào”, “rống” đi chăng nữa thì âm vực cũng không thoát ra khỏi cái “khàn khàn” (hệ quả của việc hắn đã “hút nhiều xái cũ” — sự việc cho thấy địa vị tay sai thấp hèn của hắn) nhưng hắn vẫn “thét”. Sự tác oai tác quái của hắn chưa dừng ở đó. Hắn còn “trợn ngược hai mắt”, “hắn quát”, hắn “hằm hè”, hắn ăn nói cục cằn thô lỗ theo kiểu những tay đầu gấu vô học: “Mày định nói cho cha mày nghe đấy à?”. Đã thế, hắn không chỉ nói mà còn kèm theo hành động: “Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch”, rồi “sấn đến trói anh Dậu”. Hắn hành động như một con thú say mồi: “tát vào mặt chị Dậu một cái bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu”. Thậm chí khi bị quật ngã “chỏng quèo” thì hắn “vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu”. Một đoạn văn ngắn nhưng tràn ngập âm thanh của đe dọa, của khủng bố, của chết chóc, được khắc họa bằng các hình ảnh thính giác, hình ảnh thị giác, làm nổi bật nhân vật cai lệ — một tên tay sai khát máu, một kẻ chuyên ức hiếp người lành. Hắn là hiện thân cho loại người — công cụ, loại nô lệ tuyết đối trung thành với chủ. Chính tính chất nô lệ, công cụ này đã loại bỏ tính người ra khỏi con người hắn. Sự đối lập giữa hai nhân vật chị Dậu V^L cai lệ thể hiện qua sự khác biệt về động cơ hành động. Đối với chị Dậu, mọi phản ứng chống trả đều xuất phát từ tình yêu chồng thương con, đều gắn với con người; còn đối với tên cai lệ, hắn hành động theo bản năng công cụ. Khi phân trần với cai lệ và đám người nhà lí trưởng, giọng chị Dậu “run run” nhưng không phải là run sợ mà là một cách thế hiện sự mềm mỏng, nhẹ nhàng. Tiếp đó, chị “vẫn thiết tha” van nài (“Xin ông trông lại”), thậm chí khi tên cai lệ chạy “sầm sập tới chỗ anh Dậu” thì sắc của chị biến đối, chị “xám mặt” “chạy đến đỡ tay hắn”. Cách xưng hô cho đến lúc này vẫn là cách xưng hô nhún nhường, vẫn là sự van xin: “Cháu van ông, nhà cháu mới tỉnh được một lúc, ông tha cho”. Nhưng sự van xin đó là vô ích trước một công cụ nô lệ không chút tính người. Tên cai lệ vẫn “sấn đến”. Các động từ chỉ hành động của cai lệ (“giật phắt”, “chạy sầm sập”, “sấn đến”,….) diễn tả sự thô bạo đến cùng cực của hắn. Vì thế, chị Dậu không còn nhún nhường hay phân trần nữa mà chị đấu lí. Quan hệ xưng hô cũng thay đổi: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ”. Đến lúc này, tính chất công cụ của tên cai lệ càng lộ rõ hơn bao giờ hết. Và cao trào của xung đột được tái hiện bằng sự chuyển đổi bất ngờ của chị Dậu cả về thái độ lẫn hành động: “Chị Dậu nghiến hai hàm răng: Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Sự chuyển đổi cách xưng hô trong đoạn văn này hết sức thú vị và đầy kịch tính. Ban đầu, chị Dậu hạ mình (gọi cai lệ là ôngxưng cháu, van xin: “cháu van ông”) sau đó đến quan hệ đồng đẳng (tôi – ông) và cuối cùng là hạ thấp triệt để đối thủ (bà – mày). Thái độ của chị Dậu rất quyết liệt và điều đó càng thể hiện rõ qua hành động “túm lấy cổ” cai lệ “ấn dúi ra cửa”. Tên tay sai – công cụ, nô lệ – bị quật ngã. – Cách miêu tả linh hoạt thông qua sự quan sát tinh tường và sự sắp xếp khéo léo các tình tiết, sự kiện. Các sắp xếp, bố trí chi tiết, sự kiện, hành động dồn dập tạo ra sự căng thẳng, kịch tính. Một bên là những tên đàn ông được trang bị vũ khí đủ để tạo khả năng sát thương và một bên là người đàn bà tay không, chồng ốm, con thơ; một bên là quyền uy thống trị một bên là sự khốn cùng do SƯU cao thuế nặng. Không gian xảy ra sự kiện là khoảng sân trước nhà anh Dậu — một không gian hẹp, không gian dồn đẩy, thời gian diễn ra sự kiện cũng rất ngắn nhưng số nhân vật thì khá nhiều và thuộc hai phía đối kháng nhau. Bao trùm lên đó là âm thanh của trống, của tù và, của không khí ngột ngạt đau khổ trong mùa SƯU thuế. Vì thế, “Cái đoạn chị Dậu đánh với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo” (Nguyễn Tuân)
Chứng minh rằng_ Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo
1,160
Chứng minh rằng: Có chí thì nên Hướng dẫn Có ý chí nhất định sẽ thành công Bài làm 1: Mở bài: Con người trở nên mạnh mẽ không phải bởi ở sức khỏe mà là bởi ở ý chí. Ý chí là sức mạnh duy nhất không kiệt quệ và cũng là sức mạnh ai cũng có. Nhiệt tình vĩ đại có thể chiến thắng mọi thứ. Vì vậy, chúng ta có thể nói, một người chỉ cần kiên trì mạnh mẽ theo đuổi không ngừng nghỉ nhất định có thể đạt đến mục đích. Bởi thế, cha ông ta từng khuyên rằng: có chí thì nên, người có ý chí nhát định đạt đến thành công. Thân bài: Ý chí là gì? Ý chí có nghĩa là hoài bão, lí tưởng sống tốt đẹp, là nghị lực kiên cường, sự kiên trì. Ý chí là động lực đưa ta đến thành công. Ai có ý chí, sống có ước mơi, hoài bão lớn lao, lí tưởng cao đẹp, sống vì người khác thì nhất định sẽ đạt được ước nguyện,thành công trong cuộc sống. Câu tực ngữ khẳng định mạnh mẽ vai trò và ý nghĩa to lớn của ý chí trong cuộc sống. Ai có ý chí mạnh mẽ nhất định sẽ thành công. Chứng minh: Tại sao có chí thì nên? Ý chí là yếu tố cần thiết để con người vượt qua khó khăn, trở ngại: Sức mạnh của con người là sự tổng hòa của rất nhiều năng lực, trong đó có ý chí. Chỉ có con người mới có thể dựa vào sức manh ý chí để đấu tranh với tự sinh, giành lấy cơ hội sinh tồn. Nơi nào có ý chí, nơi đó có con đường. Điều chúng ta đáng tự hào nhất không phải là không vấp ngã, mà là sau khi vấp ngã phải mạnh mẽ đứng dậy. Khi đối diện với những khó khăn trong cuộc sống, chính nhờ ý chí mà con người không chịu đàu hàng, không chịu khuất phục, mạnh mẽ vươn lên chiến thắng nghịch cảnh. Đó chính là sức mạnh lớn lao giúp con người tiến xa hơn trong tiến trình chinh phục và cải biến thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình. Không có chí thì không làm được gì: Xét về lí lẽ ta thấy, bất cứ việc gì, dù xem ra có vẻ đơn giản nhưng không có chí, không chuyên tâm, không kiên trì thì chưa hẳn đã làm được. Huống gì ở đời, làm việc gì mà không gặp khó khăn. Nếu gặp khó khăn mà chán nản, bỏ dở thì chẳng làm được gì. Người xưa từng nói, việc gì khó khăn nhr thì thành công nhỏ, khó khăn lớn thì thành công lớn, không có khó khăn thì không có thành công. Làm việc dễ thành thì sinh lòng kiêu ngạo. Càng kiêu ngạo càng dễ thất bại. Bởi thế, có thể nói chính khó khăn là điều kiện để rèn luyện ý chí ở con người. Nhờ có ý chí phi thường mà Mạc Đĩnh Chi vượt qua điều kiện khó khăn của cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn, kiên trì học tập. Vì không có đèn, Mạc Đĩnh Chi đã học tập dưới ánh sáng của đống rác, ánh sắng của vầng trăng, của đôm đóm mà thành tài, trở thành bậc trí tuệ phi thường, hiếm có, làm rạng rỡ danh tiếng đất Việt. Chính nhờ có ý chí sự kiên trì vĩ đại mà nhà bác học Edison, sau hàng nghìn lần thất bại đã chế tạo ra bóng đèn điện, xe điện và các thiết bị điện khác. Nếu không có Edison, nhân loại sẽ chìm trong bóng tối thêm vài thập kỉ nữa. Chí giúp ta vượt qua những khó khăn, trở ngại tưởng chừng như không thể vượt qua được: Những việc làm phi thường luôn khiến người ta phải kinh ngạc. Thành tựu của nó không phải là do may mắn mà chính do ý chí kết tinh mà thành. Thầy Nguyễn Ngọc Kí là người sinh ra đã không lành lặn như bao người khác. Đôi tay thầy bị bại liệt, không thể cầm nắm được. Tưởng rằng cuộc đời nhỏ bé ấy mãi mãi chìm lấp trong vòng xoay nghiệt ngã của số phận. Nhưng nhờ tinh thần ham học và ý chí không chịu khuất phục, thầy đã kiên trì luyện viết chữ bằng đôi chân. Mọt nghịch lí quá lớn khiến không ai dám tin rằng thầy sẽ làm được. Thế nhưng, sau một thời gian, không những thầy đã viết được chữ mà còn viết chữ rất đẹp và trở thành thầy giáo. Cuộc đời và số phận thầy Nguyễn Ngọc kí trở thành nguồn cảm hứng tiếp sức cho những người khác mạnh mẽ vượt lên nghịch cảnh, không chịu đầu hành số phận. Cũng nhờ có ý chí kiên định, niềm tin sắc đá và lòng yêu nước vô bờ bến, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã nuôi dưỡng ước mơ tìm kiếm một con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ra khỏi xiềng xích, áp bức của thực dân. Ba mươi năm bôn ba năm châu bốn bể, chịu không biết bao khổ cực, cuối cùng, Người cũng tìm được lí tưởng cách mạng. Bằng ý chí và sức mạnh của niềm tin, Hồ Chí Minh đã cùng dân tộc kiên cường đấu tranh, đánh đổ Thực dân Pháp, giành lại đất nước và cuộc sống hòa bình. Nơi nào có ý chí, nơi đó có cơ hội, tình yêu và sự sống. bằng ý chí và niềm tin chiến thắng, con người đã từng bước tách mình ra khỏi cuộc sống tự nhiên, tiến lên làm chỉ tự nhiên và ngày càng tiến xa hơn vào vũ trụ bằng sức manhij của khoa học. Có ý chí mới có chiến thắng và thành công. Có thành công mới có sáng tạo. Kết bài: Mỗi người chỉ sống có một lần, chỉ có một thời tuổi trẻ, nếu không có ý chí, không cơ ước mơ, hoài bão, lí tưởng cao đẹp, mạnh mẽ để làm một công việc xứng đáng, chẳng phải là đáng tiếc lắm sao. Cho nên có ý chí, hoài bõa lớn lao là điều rất đáng quý, nhưng đáng quý hơn nữa là ở nghị lực và niềm tin chiến thắng, nó đảm bảo cho sự thành công của con người. Bài làm 2: Mở bài: Sống có ước mơ, hoài bão, ý chí và nghị lực mạnh mẽ là điêu không thể thiếu đối với những ai muốn thành đạt. Bởi cuộc sống luôn đặt ra những khó khăn để con người vượt qua và chiến thắng. Không có một thành công nào tự đến với chugns ta mà không cần phải cố gắng. Câu tục ngữ: “Có chí thì nên” khẳng định tầm quan trọng đó. Thân bài: Sống tức là chinh phục những khó khăn trong cuộc đời. Không có ý chí, nghị lực, niềm tin thì không thể nào đạt được thành công. Quả không sai vì khi ta có “chí” (tức là ước mơ, ý chí, nghị lực, sự quyết tâm) thì sẽ làm “nên” (tức là thành công, đạt được thứ mà ta mong muốn). Mỗi người thành công đều để lại cho ta một bài học sâu sắc về cuộc đời, về nghị lược đã được chứng minh qua bao đời. Nói về tục ngữ “Có chí thì nên” không thể nào không nói đến thầy Nguyễn Ngọc Ký. Thầy sinh ra đã bị khuyết tật đôi tay. Nhưng với khát khao được đến trường, được học, thầy đã không đầu hàng số phận. Ngày ngày thầy vẫn miệt mài luyện tập để viết bằng chân. Những nét chữ nghệch ngoặt đầu tiên không khỏi khiến thầy buồn lòng. Không những thế, khi viết bằng chân thầy còn gặp phải muôn vàn khó khăn. Nhiều khi, vì quá cố gắng, đôi chân thầy bị tê cứng, đau nhức, khó kiểm soát bàn chân. Toàn thân ê ẩm. Nhưng với khát khao mãnh liệt cùng với nghị lực phi thường thầy đã không nản lòng mà ngày ngày vẫn chăm chỉ luyện tập. Ngày qua ngày cuối cùng thầy cũng đã viết được bằng chân. Và rồi những nét chữ của người viết bằng tay cũng không thể nào đẹp bằng chữ viết bằng chân của thầy được. Không những vậy bây giờ thầy còn là một nhà giáo ưu tú được bao nhiêu người yêu mến và kính trọng. Nếu không có nghị lực, niềm tin của Bác thì chắc chắn bây giờ nước ta vẫn còn đang bị cái trị bởi bọn giặc độc ác. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam luôn yêu mến, kính trọng và biết ơn đến vị lãnh tụ đã trọn đời cống hiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước. Mỗi nhà khoa học đều lên một tấm gương sáng ngời về ý chí và nghị lược vươn lên. Cuộc đời và sự nghiệp của họ khẳng định mạnh mẽ chân lí “có chí thì nên”. Nhà khoa học Edison nếu không có ý chí, kiên nhẫn, niềm tí thì Edison không thể nào làm ra bóng đèn sau hàng nghìn lần thất bại. Nếu không có đủ ý chí và nghị lực cùng với đức hi sinh vì khoa học, Mary Quyri không đã không đủ dũng cảm để tiến hành các thí nghiệm với chất phóng xạ đậy nguy hiểm và rủi ro, Colompo không mạo hiểm lênh đenh tren biển cả để tìm ra đại lục mới,… Vậy đó “chí” rất là cần thiết và quan trọng trong cuộc sống của con người. Là một học sinh chúng ta cũng phải có “Chí “. Đó là việc lắng nghe việc thầy cô giảng bài, ghi chép bài đầy đủ, không nản lòng trước những bài khó. Kết bài: Câu tục ngữ “Có chí thì nên” như là một chân lý của cuộc sống. Nó nhắc nhở chúng ta nên có ước mơ, hoài bão là điều đáng quý những sự quyết tâm, nghị lực, kiên trì còn quan trọng hơn. Nó là yếu tố làm nên sự nghiệp của mỗi con người. Sự khác biệt người thành công với người thất bại không phải ơn kiến thức hay sự hiểu biết mà là ở ý chí.
Chứng minh rằng_ Có chí thì nên
1,720
Viết bài văn chứng minh rằng “Giãn cách xã hội là một trong những biện pháp giúp Việt Nam đẩy lùi đại dịch Covid 19” . Bài làm Hiện nay, trên toàn thế giới đang mắc phải một loại dịch bệnh mang tên CoVid 19. Hàng ngàn hàng nghìn người đã tử vong do dịch bệnh này đồng thời có hơn khoảng 2 triệu người mắc . Các nước đang cùng nhau cố gắng đẩy lùi dịch bệnh. Báo chí Đức, tổ chức WHO, truyền thông Mỹ, … đã ca ngợi sự phản ứng kịp thời của nguời Việt Nam trong phòng chống dịch. Mặc cho Việt Nam có biên giới sát với Trung Quốc – nước đầu tiên phải hứng chịu dịch bệnh khủng khiếp này, mất đi những công dân của nước họ nhưng Việt Nam lại chưa hề có bất cứ ca tử vong nào. Chính phủ đã đưa ra các biện pháp phòng chống dịch CoVid 19 và giãn cách xã hội là một trong những biện pháp hiệu quả đó. Câu hỏi đặt ra là tại sao phải giãn cách xã hội ? Và giãn cách xã hội thì có lợi ích gì trong dịch bệnh ngày nay? Như đã biết giãn cách xã hội là tạo ra khoảng cách vật lý làm rào cản giữa hai hoặc nhiều người, từ đó giúp tránh hoặc tạm dừng quá trình virut lây lan nhanh cho người khác. Theo truyển thông thì Covid-19 đã xuất hiện và lây lan nhanh chóng tại 210 quốc gia và vùng lãnh thổ kể từ khi bùng phát tại Vũ Hán hồi tháng 12/2019, hủy hoại nền kinh tế toàn cầu và khiến một nửa cư dân thế giới phải ở trong nhà.Theo con số được thống kê gần đây nhất, trên thế giới đã có hơn 150 000 ca tử vong và hơn 2 000 000 ca nhiễm bệnh ( tính đến sáng ngày 18/4 đã có 154.126 ca tử vong, ghi nhận 2.248.037 ca nhiễm và 570.792 người bình phục ). Các nước giàu có và lớn mạnh như Mỹ, Pháp, Anh, Italia, Châu Phi, … hiện là các nước có ca nhiễm và tử vong cao nhất thế giới. Hàng ngày, họ bất lực và đau khổ khi nhìn cảnh những chiếc xe chở xác của những bệnh nhân không may mắn qua khỏi. Một người nhiễm là lây cho hàng ngàn người nhiễm. Covid có thể khả năng gia tăng rất nhanh nên chỉ cần tiếp xúc gần cũng có thể mắc bệnh. Vì vậy giãn cách xã hội là vô cùng quan trọng và nhờ có việc giãn cách mà tính đến thời diểm này, Việt Nam chỉ ghi nhận có 268 người nhiễm và không có ca tử vong nào. Mặc khác chúng ta cũng đã chữa khỏi cho 207 người tính đến ngày 20/4 . Nhưng diễn biến vẫn còn đang rất phức tạp, có khả năng cao sẽ lây lan rộng. Đất nước đang rất tốn kém trong việc phòng bệnh, chữa bệnh, hộ trợ liên quan đến dịch bệnh, … lên tới con số hàng trăm hàng nghìn tỷ đồng. Dù vậy, cả nước luôn giữ khẩu hiệu vũng chắc “Chống dịch như chống giặc”. Toàn dân đang cố gắng thực hiện tốt những biện pháp phòng ngừa dịch bệnh. Những biện pháp trên đóng vai trò rất lớn trong công cuộc phòng chống dịch bệnh của Việt Nam. Cách ly xã hội đã giúp một số nước có thể giảm dần đi những ca nhiễm và tử vong: Trung Quốc – nước đầu tiên mắc và có tử vong cao nhất thế giới đang giảm mạnh sau những ngày đầu. Từ ngày 17/11/2019, Trung Quốc đã có ca nhiễm đầu tiên và kéo theo đó là mỗi ngày đều có từ 1-5 ca bệnh mới. Ngày 17/12 là lần đầu tiên số ca nhiễm trong một ngày lên mức 2 con số. Ngày 17/4/2020, có tổng cộng 82.692 ca nhiễm và cuối cùng đến sáng ngày 18/4 không có ca nhiễm mới nào. Chỉ một việc nhỏ như cách ly xã hội, mọi người hạn chế gặp nhau mà số lượng ca nhiễm giảm đáng kể. Những nước như Singapore, Lào, Campuchia,… đang ngăn chặn dịch bệnh tốt nhờ cách ly toàn dân, toàn xã hội. Việt Nam chúng ta cũng nhờ có việc cách ly toàn nước nên đã ngăn chặn kịp thời số ca nhiễm. Ca nhiễm CoVid đầu tiên được phát hiện vào tối ngày 23/1tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM) xác nhận 2 bệnh nhân dương tính với virus SARS-CoV-2. Biện pháp cao nhất mà Việt Nam thực hiện cho tới thời điểm này là thực hiện cách ly toàn bộ xã Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) để hạn chế dịch bệnh lây lan vào chiều ngày 12/2. Tới ngày 25/2, một tháng sau khi có ca bệnh đầu tiên, toàn bộ 16 ca nhiễm Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam đều khỏi bệnh. Sau hơn 20 ngày không có ca bệnh mới, tối 6/3, TP.Hà Nội triệu tập cuộc họp khẩn và xác nhận ca nhiễm SARS-CoV-2 đầu tiên của thành phố Hà Nội, cũng là ca thứ 17 của Việt Nam. Dần dần từ con số 17 cho đến ngày 17/4 đã tăng lên con số 268 ca nhiễm. Người dân hạn chế ra ngoài đồng thời những người có nghi nhiễm sẽ bị cách ly theo dõi để không lây lan cho người khác. Tính đến 21/4, Việt Nam vui mừng thông báo không có ca nhiễm nào mới trong vòng 5 ngày liên tiếp. Đó là một bước ngoặc đáng mong đợi dẫn Việt Nam theo một con đường mới sau những ngày chiến đấu với đại dịch CoVid . Sau những ngày ban hành phong tỏa cách ly các khu vực có người nhiễm thì những nỗ lực cố gắng cho chúng ta là 5 ngày không có người nhiễm và có 207 người khỏi bệnh trong 268 người nhiễm. Nếu thực hiện tốt Việt Nam sẽ không có đỉnh điểm của dịch, không có ca tử vong, … Việt Nam sẽ lại có thể chiến thắng giặc CoVid 19 như chiến thắng từng quân giặc ngoại xâm những năm xưa kia. Mặt khác, khi người dân đang đồng lòng phòng dịch thì lại một số thành phần không chấp hành nghiêm túc những biện pháp đã đưa ra như bệnh nhân số 17,34, 100 và 178. Bệnh nhân số 17 đã khai báo gian dối, thiếu trung thực, che giấu thông tin về tình hình bệnh tình, lịch trình di chuyển qua vùng dịch khi nhập cảnh nên không được cách ly kịp thời và được cho là nguyên nhân lây lan nhiều người khác trên chuyến bay VN0054 và người thân của nữ bệnh nhân này. Ngoài ra, hành vi này khiến cả khu vực phường Trúc Bạch (quận Ba Đình, Hà Nội) phải cách ly 14 ngày. Bệnh nhân số 34 đã khai báo gian dối, nhỏ giọt khi khai xuống sân bay Tân Sơn Nhất đã đi thẳng về nhà riêng và trở thành ca lây nhiễm nhiều nhất tại Việt Nam với 10 trường hợp có liên quan. Bệnh nhân thứ 100 cũng khiến không ít người bức xúc khi có hành vi trốn cách ly khi từ vùng dịch Malaysia về. Bệnh nhân 178 do khai báo vòng vo, thiếu trung thực để răn đe giáo dục. Việc khai báo gian dối đã khiến các bác sĩ Bệnh viện huyện Đại Từ không biết để phân luồng, cách ly ngay, đã khiến 20 người phải cách ly. Người dân vô cùng bức xúc, tức giận khi nghe những tin tức này. Các bệnh nhân trên đều sẽ bị xử phạt theo đúng quy định. Lên án mạnh những người có hành động ích kỉ không thực hiện nghiêm túc sự giãn cách xã hội gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng. Đồng thời Chính phủ phải sẽ trừng phạt thật thích đáng những kẻ lợi dụng thời cơ tung tin giả gây hoang mang cho dư luận. Vân Trang – CTV Văn học của
Chứng minh rằng_ Giãn cách xã hội là một trong những biện pháp giúp Việt Nam đẩy lùi đại dịch Covid 19
1,362
Chứng minh rằng: Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ đắng cay Hướng dẫn Nghị luận về câu nói: Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ đắng cay Chứng minh rằng: Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ đắng cay là tài liệu học tốt môn Ngữ văn 10 hay dành cho các bạn tham khảo, hướng dẫn các bạn làm bài văn nghị luận xã hội về một tư tường đạo lí. Chúc các bạn đạt kết quả cao trong học tập! Trong lịch sử của chúng ta có rất nhiều anh hùng đã hi sinh để bảo vệ Tổ Quốc, có rất nhiều những thiên tài và nhà bác học đã dùng cả cuộc đời để có thể để lại những công trình nghiên cứu to lớn cho nhân loại, hay những bác nông dân vất vả canh nom để thu được hát lúa quý báu…chính những đó điều đó phần nào nói lên “không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ đắng cay”. Đúng vậy, trong cuộc sống này nếu chúng ta không chịu cố gắng, không bỏ mồ hôi công sức ra thì sẽ chẳng bao giờ thu được thành quả gì cả “trong con đường của sự thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Vậy vinh quang là gì? Chính là sự thành công, là thành quả chúng ta đạt được sau bao nhiêu sự cố gắng. Vậy còn gian khổ là gì? Chính là những khó khăn, những thử thách, quả đắng mà ta phải nếm để có thể bước gần hơn đến đích vinh quang. Chẳng có cái vinh quang nào là dễ dàng cả, và cũng chẳng có cái gian khổ nào đơn giản cả, cái gì cũng có cái giá của nó nếu không ai cũng có thể làm được, ai cũng chỉ nhẹ nhàng mà ngồi lên bục vinh quang. Trong lịch sử của chúng ta, ta không thể không nhắc đến sự hi sinh vĩ đại của Bác Hồ mà cả năm châu đều thán phục. Bác đã chịu khổ, buôn ba sang nước ngoài, chịu đói lạnh, vượt bão tát hiểm nguy của biển, làm thuê nơi đất khách quê người tìm ra con đường cứu nước. Không biết Bác đã phải chịu bao ấm ức và tủi hờn, ngậm đắng nuốt cay để mong có ngày đất nước được giải phóng. Rồi khi về nước Bác cũng đâu có ngày nào yên lòng, lo nghĩ việc nước việc dân, lo cho mọi người không có cơm ăn, lo cho từng em nhỏ các cụ già đến những chiến sĩ chiến đấu ngày đêm không nghỉ. Bác cũng ăn uống tiết kiệm, đạm bạc như mọi người. Bác luôn chịu đựng, luôn nỗ lực bản thân mọi lúc mọi nơi, nhờ có Bác mà Đảng ta đã có những bước đi đúng đắn mà giành được độc lập. Ngày nay, chúng ta biết đến tinh thần vượt lên số phận của Nguyễn Ngọc Kí, từ bé ông bị bệnh và bị bại liệt cả hai tay, nhưng ông luôn cố gắng vượt qua số phận dùng đôi chân của mình để làm việc và tập viết, mặc mọi người nghĩ gì. Có những khi còn bị chuột rút co cứng cả chân lại nhưng chưa bao giờ ông bỏ cuộc. Nhờ sự nỗ lực to lớn đó ông đã trở thành nhà giáo ưu tú, lập kỉ lục là người thầy đầu tiên ở Việt Nam dùng chân để viết. Để dành các giải thưởng, các vận động viên không ngừng cố gắng phấn đấu bản thân đem về niềm tự hào cho dân tộc ta. Nếu không có những sự hi sinh, phấn đấu, cố gắng thì liệu có đất nước hòa bình và phát triển như bây giờ không. Đúng vậy, không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ đắng cay. Mỗi người hãy cùng cố gắng và rèn luyện bản thân nhiều hơn để có thể mang lại vinh quang cho chính bản thân mình. Không ngừng học tập để xây dựng đất nước giàu đẹp hơn.
Chứng minh rằng_ Không có vinh quang nào mà không trải qua gian khổ đắng cay
694
Chứng minh rằng: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên Hướng dẫn Chứng minh có kiên trì và bền bỉ tất sẽ thành công qua lời dạy của Bác Hồ: “Không có việc gì khó” Bài làm: Mở bài: Kiên trì bền bỉ và không ngừng nỗ lực sẽ luôn dẫn ta đến con đường thành công. Luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn thì đó mới là cuộc sống chân chính. Trên đời không có gì mạnh hơn ý chí có ở con người. Bởi thế, Bác Hồ đã từng khuyên rằng: Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên Thân bài: Bài thơ là lời căn dạy đúng đắn và đáng trân trọng của người cha già vĩ đại. Câu nói thể hiện lòng kiên trì và sự quyết tâm không ngừng cố gắng để đạt được mục đính bản thân. Không có việc gì khó có nghĩa là không có việc gì khó đến mức không thể làm được. Bền lòng là sự bền bỉ, cố gắng, sức chịu đựng khó khăn trong một thời gian dài. Đào núi và lấp biển là những hình ảnh tượng trưng cho sự khó khăn vất vả, tưởng chừng như không thể đạt được. Quyết chí là có ý chí, quyết tâm khắc phục khó khăn. Có ý chí kiên trì và sự nhẫn nại mạnh mẽ thì mới có thể đạt được mục đích mà mình mong muốn và thành công. Con người, ai ai cũng ham muốn sự thành công, thành đạt mà ít ai có thể đạt được điều đó. Bởi vì, nếu chúng ta chỉ có ước mơ và đam mê thì vẫn không đủ, quan trọng nhất là niềm tin, ý chí, kiên nhẫn và năng lực của bản thân. Lịch sử dân tộc ta là một minh chứng rõ ràng cho chân lí “Quyết chí ắt làm nên”. Từ một dân tộc nô lệ, nghèo khó, nhân dân ta đã biết đùm bọc lẫn nhau, rèn luyện ý chí và không ngừng mơ ước đến một ngày được tự do. Dưới ánh sáng của cách mạng và sự lãnh đạo sáng suốt của Bác hồ và Đảng cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã làm nên cuộc cách mạng vĩ đại lật đổ hoàn toàn nền cai trị của thực dân Pháp, mở ra một kỉ nguyên mới. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một dân tộc thuộc địa với sự lãnh đạo của đảng cộng sản đã có thể giành lấy độc lập. Điều đó khẳng định một điều “không có việc gì khó”, nếu có đủ ý chí, có đủ niềm tin tưởng, nếu “quyết chí” thì việc khó đến mấy cũng có thể làm được. Trong cuộc sống, rất nhiều người đã trở thành tấm gương sáng cho thế hệ sau này học tập theo bởi sự kiên trì phi thường của bản thân. Chẳng hạn như Nguyễn Ngọc Ký, ông là một nhà giáo ở Việt Nam, từ khi lên bốn tuổi, ông đã không may bị liệt hai tay. Nhưng nhờ sự kiên trì cố gắng và lòng hiếu học đã giúp ông có thể vượt qua số phận và trở thành người thầy ưu tứu đầu tiên có thể viết bằng chân. Kết bài: Ý chí, sự kiên trì, cố gắng, kiên nhẫn và nhẫn nại đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định thành bại trong cuộc sống cũng như sự nghiệp của mỗi con người. Lời khuyên của Bác Hồ đã thúc giục mọi người xây dựng cuộc sống tốt đẹp và xã hội văn minh. Cố gắng để đạt được mục đích ước mơ bản thân.
Chứng minh rằng_ Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên
624
Chứng minh rằng: Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Hướng dẫn Lòng yêu nước của nhân dân ta Bài làm 1: Lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước cho dân tộc ta đã hình thành một truyền thống yêu nước quý báo. Truyền thống ấy đã thấm sâu vào trong mọi con người Việt Nam tạo nên một sức mạnh của dân tộc như Bác Hồ đã nói ”Dân ta có lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mọi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nỗi nó kết thành một làng sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Chúng ta đi làm rõ nhận định trên: Truyền thống yêu nước của nhân dân ta như thế nào? Trong công cuộc xây dựng đất nước. Từ bao đời nay, ông cha ta đã khai thiên ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Từ một đất nước nghèo nàng lạc hậu và dần dần trở thành một nước có nền kinh tế vững mạnh. Một đất nước giàu mạnh về mọi lịch vật để cùng sánh vai với khác cường quốc năm châu. Và đặc biệt trong công cuộc bảo vệ đất nước chảy qua bao nhiêu cuộc kháng chiến ông cha và bao lớp người đi trước đã hi sinh ko biết bao nhiêu xương máu để giữ vững hoà bình cho dân tộc. Từ khi mới độc lập thì đất nước phải đương đầu vs giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Và bik bao nhiêu thế lực của địch đg trong phá đất nước nhưng chúng ta vẫn kiên quyết đề phòng chiến tranh. Trong lịch sử phong kiến Lý Thường Kiệt đánh quân Tống trên sông Như Nguyệt. Trần Hưng Đạo chiến thắng quân Mông nguyên trên sông Bạch Đằng. Lê lợi kháng chiến chống quân Minh trong mười năm. Quang Trung đánh tan quân Thanh, khiến giặc phương Bắc trong nhiều thập kỉ không dám xâm phạm bờ cõi nước ta. Tinh thần yêu nước của nhân dân ta vô cùng to lớn,chính vì tinh thân đoàn kết chung sức vì một lòng với tổ quốc thân yêu đã giữ vững nên độc lập dân tộc thống nhất đất nước. Trong giai đoạn hiện nay thì tinh thần yêu nước ấy vẫn đc giữ vững vừa là bảo vệ vừa là xây dựng đất nước. Bài làm 2: Dân ta có một lòng nông nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của của con người Việt Nam ta. Mỗi khi bị xâm lăng thì tinh thần ấy trở nên sôi nổi và ko chịu khuất phục trước khó khăn,nhũng trái tim của con người yêu nước ko sợ kẻ thù sẽ kết hợp lại làm một và sẽ biến một làn sóng khổng lồ, mạnh mẽ, to lớn, lướt qua bao trở ngại để đem về một niềm hân hoan cho đất nước tổ tiên, con người Việt nam chúng ta. Từ xa xưa nhũng con người đã bộc lộ rõ ràng nhất, kiên cường nhất là tấm gương cũng là anh hùng được dân nhân tôn trọng như bà Trưng, bà Triệu,….. những thời kì đầy chiến tranh tàn khóc. Cũng như bây giờ, tất cả những thời kì kỉ thuật hoá, các dụng cụ, máy móc ngày càng hữu dụng nhung chỉ có mỗi tấm lòng yêu nước của từng người dân vn sẽ ko bao giờ thay đổi và sự biết ơn đến từng người anh hùng của đất nước này Mỗi lãnh thổ, mỗi dân tộc đều có những nguồn gốc phong tục tập quán khác nhau nhưng tinh thần Ìu nước vẫn luôn là một nét đẹp đặc sắc quý báu của con người Việt chúng ta. Những hành động, cử chỉ, hay cố gắng hết sức mình dù ko to lớn nhưng thành quả quả ấy mà họ tạo ra đều vô cùng vĩ đại Và họ cũng bộc lộ trong tim họ tinh thần Ìu nước như cây cầu kết nối từng trái tim của từng con người Việt nam chúng ta. Và họ cũng thể hiện rằng dù đất nước chúng ta có nhỏ bé đi chăng nữa thì trái tim họ dành cho nhau hay cho đất nước đều vô cùng to lớn.
Chứng minh rằng_ Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
741
Đề bài: Chứng minh rằng: Với bài thơ ông đồ Vũ Đình Liên đã chạm được vào những rung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi Bài làm Trước kia, vào những ngày Tết, trên bàn thờ tổ tiên, bên cạnh cặp bánh chưng, mâm ngũ quả là đôi câu đối Tết. Bởi chính vậy, những ông đồ già trên vỉa hè, phố xá rất đông khách thuê viết. Hình ảnh ông đồ đội khăn xếp, mặc áo the viết câu đối đã khắc ghi vào sâu trong tâm trí nhà thơ Vũ Đình Liên. Với bài thơ "Ông đồ", Vũ Đình Liên đã chạm được vào những dung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi đến những thế hệ sau này. Nhà thơ viết lên bài với một tấm lòng yêu thương, trân trọng, ngợi ca những tài năng, sự đóng góp của những lớp người đi trước với nền văn hoá của dân tộc. Nhà thơ đã làm như vậy khi viết bốn câu thơ đầu: "Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông người qua. " "Một thời vang bóng" của lớp người đã được xã hội trọng vọng, lúc mà nền tảng Hán học đang có một địa vị vững chắc. Gắn liền với sự hưng thịnh đó là hình ảnh những ông đồ giữa phố phường đông vui đầy sắc màu. Màu thắm của hoa đào, màu đỏ của giấy, màu đen nhánh của mực tầu và mái tóc hoa râm của ông đồ. Tất cả đã hài hoà, quyện với nhau thành một tác phẩm tranh lộng lẫy, ngoạn mục giữa phố xá tấp nập. Một vẻ đẹp sao vui tươi quá vậy! Đây mới là những hình ảnh thoáng qua như gió xuân hây hẩy nhưng cũng đã đủ để gợi lên cài gì đó thật quen trong lòng người. Ở khổ tiếp theo, hình ảnh ông đồ vẫn không phai nhạt: "Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay." Quả thực, đến lúc này, tài năng của ông đồ đã được phô bầy trong không khí phố phường, lúc này mọi người chú ý và trân trọng tài năng đó. Cái tài năng “Phượng múa rồng bay" của ông đồ dưới một bàn tay đầy khéo léo nghệ thuật đã làm rạng danh cho nên Hán học. Những con người đi trước với nền văn hoá dân tộc. Những câu chữ thánh hiền ông viết đã tặng cho mọi người về làm quà đón xuân, trang trí ngôi nhà ấm cúng, tình cảm gia đình thật ấm áp hơn. Thật đáng buồn biết bao, một truyền thống đẹp của dân tộc đã bị mai một đi, một hình ảnh đầy sắc màu mùa xuân đã dần mất đi khi nền văn hoá phương Tây du nhập vào nước ta. Người ta quên lãng đi câu đối tết và thay vào đó những bức tranh màu sấc rất sặc sỡ. "Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu." Độc giả đã hụt hẫng, cảm xúc tươi vui đã bị mất đi khi đọc khổ thơ này. Trước sự tàn tạ, ra đi của ông đồ và lớp người xưa cũ, lòng thương người của nhà thơ Vũ Đình Liên được biểu hiện ở sự cảm thông, nỗi xót xa và niềm tiếc nuối khôn nguôi. Ở 2 câu thơ: Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu? Ta như thấy nhà thơ bâng khuâng đi tìm lại bóng dáng của lớp người xưa cũ. Giọng thơ xót xa khi những con người tài hoa đã bị đẩy ra ngoài lề đường. Trong bối cảnh ấy, tình cảnh ông đồ dần trở nên buồn chán. Người thuê viết giảm đi theo thời gian và năm tháng "mỗi năm mỗi vắng”. Hình ảnh ông đồ giữa đường phố đông vui chỉ còn là một thứ bóng mờ xa xôi. Nỗi xót thương của nhà thơ được bộc lộ rõ nét khi ông đồ và lớp người xưa cũ dần mất đi: "Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu." Người buồn, nên những vật dụng từng gắn bó thân thiết với ông cũng sầu đạm theo: giấy không đỏ như xưa, mực trong nghiên cũng sầu não theo. Có lẽ, giấy, nghiên mực không có tâm trạng, nhưng cái bi kịch tâm trạng của giấy, mực mà nhà thơ Vũ Đình Liên nhìn thấy chính là những nỗi xót xa, bẽ bàng của ông đồ nói riêng và lớp người xưa cũ nói chung. Nỗi buồn ấy không chỉ thấm vào phương tiện mưu sinh mà còn thấm đẫm vào cảnh vật thiên nhiên, cảnh vật đã làm cho không gian thêm hiu quạnh và hoang vắng. "Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay." Cho dù, ông đồ vẫn ngồi đấy nhưng đã bị mọi người quên lãng, ông chỉ còn là một di tích tiều tuỵ đáng thương của "một thời tàn'”. Và có lẽ từ đó, ông vĩnh viễn vắng bóng. Đây âu cũng là sự dĩ nhiên, phũ phàng. Một Tết nào đó, khi hoa đào lại nở, người đời đã thảng thốt nhận ra sự vắng bóng của ông đồ trước cảnh nhộn nhịp của chốn phố phường. Một tiếng gọi tha thiết vang lên: "Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?" Ở hai khổ thơ đầu gợi lên cho độc giả niềm phấn chấn, tươi vui thì ba khổ thơ sau là một hình ảnh buồn bã, xót thương, sắc màu cũng phai nhạt theo. Giờ đây, ông đồ và lớp người xưa cũ đã trở nên vô nghĩa giữa cuộc đời. Bài thơ khép lại bằng những hình ảnh, câu thơ mang nặng nỗi buồn tha thiết của tác giả Vũ Đình Liên. Đọc bài thơ "Ông đồ" xong, ta thấy Vũ Đình Liên đã diễn tả được tình yêu thương con người sâu sắc trước số phận hẩm hiu của ông đồ, nhưng nó đẹp biết bao. Bài thơ còn thể hiện một tâm Hồn cao cả và nhân hậu, một con người rất giàu tình yêu thương sâu đậm, ngợi ca những tài năng của người xưa và khuyên răn chúng ta hãy sống để giữ gìn và phát huy những tinh hoa văn hoá của dân tộc. Nền văn hoá đó xứng với một tầm cao mới.
Chứng minh rằng_ Với bài thơ ông đồ Vũ Đình Liên đã chạm được vào những rung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi
1,086
Chứng minh rừng mang lại lợi ích cho con người và con người cần phải bảo vệ rừng Hướng dẫn Chứng minh rừng mang lại lợi ích cho con người và con người cần phải bảo vệ rừng Nhân dân ta thường nói “rừng vàng biển bạc”. Không phải vô cớ mà người ta kết luận như vậy. Bởi lẽ rừng là nguồn tài nguyên rất phong phú, nó tiểm ẩn kho báu vô tận và lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ cho đời sống con người. Rừng mang lại nhiều lợí ích cho con người, chính vì vậy con người phải bảo vệ rừng. Thực sự rừng có ích lợi gì? Nhìn lại. cuộc sống hàng ngày của con người ta sẽ thấy được giá trị quí báu của rừng và từ đó có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ rừng. Càng tìm hiểu ta càng thấy rõ ích lợi của rừng. Trước hết, rừng đã cung cấp cho ta các loại gỗ: gỗ tạp dùng làm vật dụng, làm củi đốt…. để phục vụ đời sống hàng ngày; gỗ quý thì làm vật liệu xây dựng, đóng tủ bàn ghế, cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp hiện đại. Những cột nhà to bằng gỗ lim bóng láng, những bộ tràng kĩ trong các gian nhà cổ, những tủ thờ bằng các loại gỗ hiếm… có được là chính từ nguyên liệu của rừng mà ra. Bên cạnh đó rừng còn cung cấp thảo dược phục vụ cho y học. Các loại cây quí hiếm có thể trị các bệnh nan y thường có trong rừng sâu được những thầy thuốc đông y tìm tòi nghiên cứu để chế biến theo phương pháp gia truyền. Ngoài ra, những cánh rừng già, rừng nguyên sinh ấy còn là nơi nuôi dưỡng sinh sống của các loài vật quí phục vụ lợi ích cho con người như hổ, báo, hươu, nai, voi… và nhiều loài chim quí lạ. Cả một thế giới loài vật thật phong phú là nguồn tài sản vô giá của rừng dành cho con người. Hơn thế nữa rừng còn là “Vạn Lí Trường Thành” vững chắc bảo vệ đời sống con người. Không có rừng thì con người sẽ khổ bởi thiên tai lũ lụt. Không có rừng xanh thì làm sao bảo vệ môi trường sống cho con người, cung cấp động vật quí hiếm và cảnh đẹp thiên nhiên nữa. Rừng giúp cho việc điều hòa khí hậu, làm trong lành không khí do khói tỏa từ các nhà máy, xe cộ gây nên. Đặc biệt trong chiến tranh rừng còn cùng con người đánh giặc, “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Phải nói rằng rừng đã trao tặng con người cả một nguồn tài sản vô giá bất tận. Đây chính là sự ưu đãi của thiên nhiên đối với loài người. Hiểu được ích lợi của rừng nên chúng ta cần phải bảo vệ nó. Trước đây vì chưa hiểu biết hết sự cần thiết của rừng mà người ta đốt phá rừng bừa bãi. Và những trận lũ lớn với biết bao hậu quả khôn lường chính là do sự khai thác rừng bừa bãi mà ra. Do vậy, chúng ta bảo vệ rừng là bảo vệ môi trường sống của con người chúng ta. Ngày nay vấn đề bảo vệ rừng là quốc sách, là vấn đề bức thiết của cả thế giới. Muốn có được môi trường tốt sạch và xanh, chúng ta phải biết trồng cây gây rừng, đốn một cây cổ thụ phải chuẩn bị trước hàng loạt cây con để thay thế. Có như thế mới giữ màu xanh của rừng được xanh tươi mãi. Vì vậy ngoài việc khai thác sử dụng nguồn lâm sản phải đúng kế hoạch, Đảng và Nhà nước đã ban hành những đạo luật bảo vệ rừng, bảo vệ động vật trong rừng, nhất là những loài vật có nguy cơ bị diệt chủng. Cụ thể là ngành kiểm lâm đã thành lập những đội bảo vệ thường trực, ngày đêm canh gác rừng và thông tin tuyên truyền mọi người dân phải có ý thức bảo vệ giữ gìn nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú do rừng tạo ra.
Chứng minh rừng mang lại lợi ích cho con người và con người cần phải bảo vệ rừng
709
Chứng minh sức mạnh tinh thần đoàn kết qua câu tục ngữ: Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao Hướng dẫn Mở bài: Ca dao tục ngữ là những bài học, những lời khuyên có ích cho mọi người trong cuộc sống. Một trong những bài học đó là tinh thần đoàn kết. Đoàn kết là một yếu tố không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta. Vì thế từ ngàn xưa, nhân dân ta khuyên nhủ nhau qua câu tục ngữ: “Một cây làm chẳn lên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Thân bài: Ý nghĩa của câu tục ngữ: “một cây” là biểu tượng cho số ít, số đơn lẽ không thể tạo nên rừng núi. “Ba cây” là biểu tượng cho số nhiều, nếu cả cây và núi hợp lại sẽ tạo nên rừng rậm, núi cao. Trong cuộc sống của con người cũng vậy, nếu chỉ có một mình thì khó có thể tạo nên sức mạnh để làm nên việc lớn. Nhưng nếu biết đoàn kết nhiều người thì sẽ tạo nên sức mạnh để làm được những việc to lớn vĩ đại. Câu tục ngữ khuyên mọi người phải đoàn kết tạo nên sức mạnh để làm được nhiều việc. Tinh thần đoàn kết tạo sức mạnh lớn lao của nhân dân ta biểu hiện trong cuộc sống: Đoàn kết trong lao động sản xuất: Đoàn kết giúp nhân dân ta trong công cuộc khai thác thiên nhiên tạo dựng cuộc sống lập nên xóm làng, thành phố rộng lớn. Đoàn kết mở ra các vùng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, các xí nghiệp, nhà máy, các hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, thủy điện…Sự đoàn kết gắn bó của dân tộc đang làm cho đất nước có một nền công nông nghiệp hiện đại, khoa hoạc kỹ thật phát triển để đất nước ngày càng giàu mạnh. Đoàn kết trong chiến đấu: lịch sử giữ nước của dân tộc ta là lịch sử toàn dân đoàn kết chống giặc ngoại xâm. Trong lịch sử hàng ngàn năm chống phong kiến phương Bắc, với tinh thần đoàn kết nhân dân đã phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh, dẹp Thanh giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc. Dân tộc ta đã phát huy tinh thần đoàn kết, trên dưới một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng để làm nên cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược, làm nên cuộc cách mạng tháng 8/ 1945 đi đến thành công. Kết quả ấy khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta đã tạo nên chiên thắng Địện Biên Phủ chấn động cả địa cầu kết thúc 9 năm trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp ở nước ta. Toàn dân ta lại đoàn kết tiêu diệt lũ bè tay sai và đé quốc Mỹ chia cắt đát nước để dành lại độc lập, thống nhất tổ quốc mà thành công rực rở nhất là chiến thắng mùa xuân 1975 đưa dân tộc ta bước vào kỉ nguyên mới. Đoàn kết trong các lĩnh vực khác: trải qua 4000 năm toàn dân tộc ta đoàn kết tạo nên các công trình văn hóa thể hiện truyền thống bản sắc dân tộc. Các hoạt động văn hóa nghệ thuật của dân tọc với đóng góp nhiều người, nhiều thế hệ để tạo ra sự phong phú đọc đáo mang nét riêng của người Việt Nam. Hiện nay, toàn dân cùng tham gia đấu tranh chống tham nhũng, tiêu quốc, bảo vệ môi trường “sạch và xanh”. Cả dân tộc ta đồng lòng nhất trí cùng nhau xây dựng nước Việt Nam hòa bình độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Đoàn kết gắn bó mọi người với nhau là điều cần thiết. Bởi thế, ý nghĩa câu tục ngữ: “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hoàn núi cao” là hoàn toàn đúng đắn, là điều có ích cho tất cả mọi người. Mỗi học sinh chúng ta cần đoàn kết với bạn bè cùng nhau học tập để chở thành những con người có ích cho xã hội.
Chứng minh sức mạnh tinh thần đoàn kết qua câu tục ngữ_ Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
722
Đề bài: Thiếu niên Việt Nam đã phấn đấu thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: Học tập tốt, lao động tốt. Ở đâu cũng xuất hiện những tấm gương tiêu biểu. Em hãy chứng minh điều đó. Bài làm Bác Hồ rất quan tâm đến các cháu thiếu niên, nhi đồng. Trong ngày khai trường năm học đầu tiên dưới chế độ mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã ân cần khuyên nhủ: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. Bác cũng đã dặn dò thiếu niên, nhi đồng cần phải: Học tập tốt, lao động tốt. Học sinh cả nước từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi sôi nổi thi đua làm theo lời Bác và nơi nào cũng có những tấm gương tiêu biểu. Ở khu tập thể nhà máy toa xe Dĩ An (Bình Dương), mọi người đều yêu quý và thán phục bạn Nguyên Thị Thanh Hà. Trong sáu năm đến trường, Hà đã được trao tặng hai mươi bốn giấy khen của các cấp. Hà không chỉ là một học sinh giỏi mà còn là một đội viên chăm, một đứa con ngoan ngoãn, hiếu thảo. Bạn Hà tự giác làm những việc hợp với sức mình để cha mẹ yên tâm công tác. Trên một quả đồi I khu Thanh Xuân (Vĩnh Phú) có một mái nhà nhỏ cũ nát, lẻ loi. Chủ nhân là bạn Nguyễn Quốc Toán, học sinh lớp 8A trường phổ thông trung học cơ sở Xuân Hòa. Cuộc đời Toán phải chịu quá nhiều bất hạnh. Năm lên lớp sáu, bố lâm bệnh qua đời. Không chịu nổi mất mát đó, mẹ mắc bệnh tâm thần rồi cũng mất khi Toán vào lớp tám. Giờ đây, Toán sống một mình. Phải vật lộn với cuộc sống cô đơn, đói khổ nên Toán gầy yếu, xanh xao, nhưng Toán vẫn đến lớp đều đặn và vẫn học giỏi. Vừa lao động nuôi thân, vừa ra sức học tập, Toán được thầy cô và bạn bè yêu mến, giúp đỡ. Toán đã có mặt trong đội tuyển học sinh giỏi của huyện. Trương Thị Nhung là một học sinh giỏi của trường phổ thông trung học cơ sở Tiên An (Bắc Ninh). Bố Nhung mất sớm, chỉ có mấy mẹ con đùm bọc nuôi nhau bằng đồng lương ít ỏi của mẹ. Thương gia đình Nhung khó khăn, địa phương cho mượn một mảnh ruộng. Thế là mấy chị em Nhung chẳng quản nắng mưa, cuốc đất trồng rau, mùa nào thức nấy. Riêng Nhung còn nhận nhiệm vụ gánh rau ra chợ bán từ sáng sớm tinh mơ để còn kịp giờ đi học. Vậy mà tám năm liền, Nhung đều là học sinh xuất sắc và đã nhiều lần đoạt giải tại các cuộc thi học sinh giỏi của huyện, của tỉnh. Gần đây, trong Hội nghị tuyên dương thiếu niên nhi đồng học giỏi và hiếu thảo ở Hà Nội, mọi người xúc động trước gương sáng của ba bạn thiếu niên là Đoàn Thị Thanh Hoa, 13 tuổi, lớp 7N trường Nguyễn Trãi; bạn Đỗ Ngọc Phương Anh, 11 tuổi, lớp 5B trường Đông Du và bạn Phạm Thị Hồng Sơn, 11 tuổi, lớp 5D trường Nguyễn Bá Ngọc, cả ba bạn đều có chung một hoàn cảnh mồ côi, nghèo khó… nhưng các bạn đã quyết tâm vượt khó bằng nghị lực phi thường để vừa giúp đỡ gia đình vừa học tập tốt. Liên tục trong nhiều năm, các bạn đều là Con ngoan, trò giỏi, đội viên chăm. Bác Hồ đã dạy: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Ở lứa tuổi thiếu niên, nhiệm vụ chính là học tập và rất nhiều bạn đã học tập thật xuất sắc. Đi liền với học tập, các bạn đều tích cực tham gia hoạt động Đội, góp sức mình xây dựng quê hương. Các bạn đó xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ, là những tấm gương sáng cho thiếu niên cả nước noi theo.
Chứng minh thanh niên Việt Nam đã thực hiện tốt lời dạy của Bác Học tập tốt, lao động tốt
711
Đề bài: Chứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo Bài làm Bản án chế độ thực dân Pháp của lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Pa-ri năm 1925 và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục có tựa đề Gửi thanh niên Việt Nam, nội dung tố cáo và kết án tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đồng thời phản ánh tình cảnh tủi nhục khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới. Từ đó, bước đầu tác giả vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn để các dân tộc tự giải phóng, giành quyền độc lập. Chương Thuế máu (Trích từ chương I – Bản án chế độ thực dân Pháp) có sự kết hợp tài tình của nhiều hình thức thể loại: phóng sự, văn chương thẩm mĩ, nhưng trên hết và trước hết, nó là một tác phẩm văn chính luận, mang đây đủ đặc trưng của một tác phẩm văn chính luận. Viết Thuế máu, Nguyễn Ái Quốc muốn vạch trần chân tướng dã man, tàn ác, xảo trá, đê hèn của thực dân Pháp, đồng thời để thức tỉnh nhanh chóng nhân dân các nước thuộc địa cổ vũ họ đứng lên đấu tranh. Nguyễn Ái Quốc đã đứng hẳn về phía nhân dân bị áp bức trên khắp thế giới và bênh vực quyền sống của họ. Người lên án mạnh mẽ các thủ đoạn xấu xa của thực dân Pháp và bè lũ tay sai nhằm xô đẩy hàng chục vạn dân vô tội vào lò lửa chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), biến họ thành vật hi sinh cho những tham vọng ngông cuồng của bọn đế quốc. Có thể khẳng định rằng, tác phẩm thuyết phục người đọc một cách mạnh mẽ bởi hệ thống luận điểm đúng đắn độc đáo, những lí lẽ, dân chứng xác đáng và phương pháp lập luận đa dạng. Văn bản Thuế máu có một luận điểm bao trùm qua tên chương và ba luận điểm cụ thể ứng với tên gọi ba phần của nó. Bài văn gây ấn tượng với người đọc ngay từ tên tiêu đề Thuế máu. Trên thực tế, không có một loại thuế nào có tên như vậy, người ta chỉ thấy thuế muối, thuế gạo, thuế thóc,… Tiêu đề Thuế máu thể hiện như một luận điểm chìm, mang ý nghĩa tiềm ẩn. Tên tiêu đề đã vạch trần được chính sách bóc lột xương máu dã man của thực dân Pháp, tác giả đã để cho hai chữ Thuế máu tự nó nói lên ý nghĩa. Đó là thứ thuế độc ác nhất, man rợ nhất, kì lạ nhất là thứ thuế đánh vào mạng sống, xương máu người dân các nước thuộc địa. Do vậy, bản thân tên gọi của chương văn cũng đã toát lên tinh thần tố cáo, lên án, buộc tội chế độ thực dân Pháp. Bên cạnh cách nêu luận điểm độc đáo, tác giả Thuế máu còn sử dụng kết hợp các phương pháp lập luận nhằm xác lập luận điểm cho từng phần và mối quan hệ giữa các phần. Đây chính là một trong những đặc điểm của phong cách chính luận Nguyễn Ái Quốc. Toàn chương có hai phương pháp lập luận cơ bản. Thứ nhất: lập luận theo quan niệm thời gian: trước chiến tranh – trong chiến tranh – sau chiến tranh. Thứ hai: lập luận theo quan hệ nhân quả (căn cứ vào số phận của người dân phải nộp thuế máu): chiến tranh – bị đi lính – kết quả nhận được. Đặc biệt, ở mỗi phần của chương cũng thể hiện sự kết hợp nhiều phương pháp lập luận. Trong chương thứ nhất: Chiến tranh và người bản xứ, Nguyễn Ái Quốc kết hợp nhuần nhuyễn ba phương pháp lập luận: Lập luận theo quan hệ thời gian: trước chiến tranh – khi chiến tranh bùng nổ; lập luận theo quan hệ liên tưởng so sánh: thái độ của các quan cai trị thực dân đối với “người bản xứ” ở hai thời điểm trước và sau chiến tranh; Lập luận theo quan hệ nhân quả: cái “vinh dự đột ngột” mà thực dân Pháp dành cho người bản xứ và cái giá đắt mà họ phải trả cho cái “vinh dự đột ngột” ấy. Sự kết hợp các phương pháp lập luận này có tác dụng làm nổi bật thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân đã bắt đầu biến người dân thuộc địa thành vật hi sinh, đồng thời làm hiện rõ số phận thê thảm của những người vô tội. Thuế máu là chương mở đầu của “bản án kết tội” thực dân Pháp. Muốn kết tội đối phương, cần phải có lí lẽ sắc bén, chứng cứ rõ ràng, không thể chối cãi. Cách nêu lí lẽ và dẫn chứng của Nguyễn Ái Quốc là dùng ngay luận điệu và hành động thực tế của kẻ thù mà vạch mặt chỉ tên chúng trước vành móng ngựa, làm cho chúng lộ rõ nguyên hình. Chính vì thế, ta gặp không ít những câu và từ ngữ vốn được thốt ra từ cửa miệng bọn quan lại thực dân được trích lại dưới dạng này hay dạng khác: Những tên da đen bẩn thỉu/ Những tên An- nam-mít bẩn thỉu/ con yêu/ bạn hiền/ chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do/ Vật liệu biết nói/ các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương…/ Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đư…Nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Ái Quốc thật tài tình. Để lí lẽ thêm hùng hồn và bằng chứng thêm thuyết phục, tác giả đã sử dụng những cách liên kết thật đa dạng, chặt chẽ, mà phổ biến là dùng các trạng từ tình thái, các cặp quan hệ từ hô ứng theo quan hệ tương phản hoặc tương đồng: “Trước năm 1914, họ chỉ những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam- mít” bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui chơi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người bạn hiền của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Nhưng họ đã phải trả bằng một cái giá khá đắt cho cái vinh dự đột ngột ấy…“ “Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô lẫn người An-nam-mít mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”. Khi dẫn chứng vạch tội, tác giả liên kết bằng những từ hô ứng theo thời gian: “Từ bao đời nay… nay…”, “thoạt tiên… sau đó” hoặc quan hệ trật tự logic: “Thế là… như thế là”, “một mặt… mặt khác…”; Khi cần bác bỏ luận điệu xảo trá che đậy của kẻ thù, Người dùng kiểu câu hỏi phủ định: “Nếu quả thật… tại sao… phải chẳng là…”. Thủ pháp trùng điệp trong khi nêu lí lẽ và dẫn chứng cũng là phong cách chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được định hình ngay từ khi viết Thuế máu. Lí lẽ liên tiếp lí lẽ, dẫn chứng liên tiếp dẫn chứng làm cho đối phương ởtrong trạng thái bị áp đảo, không kịp đối phó, đã thể hiện cái tư thế quan tòa đang luận tội của tác giả. Cùng với hệ thống hình ảnh sinh động giàu sức tố cáo (vì mang sức mạnh của sự thật) là ngôn từ mang màu sắc châm biếm và giọng điệu trào phúng, khi giễu cợt mỉa mai, lúc xót xa căm giận, từ đó toát lên lòng căm phẫn bọn thực dân tàn ác, tráo trở, niềm thương cảm cho số phận người dân nô lệ bị lợi dụng và bóc lột “thuế máu”. Đây là kết quả của sự thống nhất giữa lí trí, trí tuệ tỉnh táo và tình cảm nhân đạo cao cả trong tâm hồn Nguyễn Ái Quốc. Từ hệ thống hình ảnh và giọng điệu chung của tác phẩm, người đọc nhận ra thái độ yêu ghét rõ ràng của tác giả: căm phẫn chính quyền thực dân tàn ác và xót xa thương cảm cho thân phận người dân nô lệ của các nước thuộc địa bị bóc lột đến cả xương máu, tính mạng. Đoạn trích Thuế máu của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã giúp người đọc hiểu được bản chất độc ác, dã man và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính quyền thực dân Pháp qua việc dùng người dân các xứ thuộc địa làm vật hi sinh để bảo vệ quyền lợi của chúng trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm cũng chứng minh Nguyễn Ái Quốc là một cây bút chính luận xuất sắc trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Chứng Minh Thuế Máu Là Một Áng Văn Chính Luận Mẫu Mực Và Độc Đáo
1,618
Chứng minh tinh thần yêu nước của người Việt Nam trong truyện Thánh Gióng Hướng dẫn Thánh Gióng là truyền thuyết thể hiện rõ nét nhất truyền thống yêu nước, tinh thần tự hào về sức mạnh dân tộc của nhân dân Việt Nam. Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về truyền thuyết này, em hãy viết bài văn chứng minh tinh thần yêu nước của con người Việt Nam trong truyện Thánh Gióng. Với hệ thống dàn ý chi tiết cùng bài văn mẫu chứng minh tinh thần yêu nước trong Thánh Gióng mà giới thiệu dưới đây hi vọng rằng các bạn sẽ có những thông tin hữu ích nhất cho quá trình viết bài của mình. I. Dàn ý chi tiết cho đề chứng minh tinh thần yêu nước của người Việt Nam trong Thánh Gióng 1. Mở bài cho đề chứng minh tinh thần yêu nước của người Việt Nam trong Thánh Gióng Giới thiệu tác phẩm và nêu được yêu cầu của đề bài: Thánh Gióng là một hình tượng đẹp đại diện cho những người anh hùng Việt Nam, đại diện cho tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân ta bao đời nay. Thân bài: + Truyền thuyết chứng minh rằng, tình yêu nước nảy nở từ rất sớm trong nhân dân. Trách nghiệm bảo vệ đất nước thuộc về tất cả mọi người. + Đất nước sớm bị giặc ngoại xâm đàn áp nên tinh thần đấu tranh, lòng yêu nước ở người dân Việt Nam xuất hiện từ rất sớm. + Tình thần yêu nước, sự hi sinh và chiên đấu ấy không là trách nghiệm của riêng ai mà là trách nghiệm của toàn dân tộc. + Nhân vật Thánh Gióng trong truyền thuyết chứng minh cho tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam: Sự ra đời kỳ lạ với những biểu hiện khác thường. Gióng có một sự bắt đầu kỳ lạ bằng việc mẹ Gióng ướm chân mình vào một vết chân to lớn khác trên đồng, khi về thì mang thai và sinh ra chàng Gióng. 3 tuổi vẫn chưa biết nói. Câu nói đầu tiên trong đời của Thánh Gióng. Câu nói đầu tiên của Gióng là gọi sứ giả vào để nói chuyện. Đó là lúc Gióng nhận lấy nghiệm vụ cứu nước của một người anh hùng. Gióng vụt lớn như thổi để chuẩn bị đánh giặc. Gióng lớn nhanh như thổi để kịp đánh giặc cứu nước. Ăn bao nhiêu cũng không đủ, dân làng đã cùng nhau góp gạo thổi cơm để Gióng ăn. Đó là tình quân dân. Khi vua mang vũ khí đến Gióng vươn vai để trở thành một người anh hùng. Chàng vươn vai cao lớn bước lên ngựa xông pha tiêu diệt giặc. Bỗng chốc trở thành một tráng sĩ bước lên ngựa sắt, vung roi sắt ra trận tiêu diệt giặc. Sức mạnh của Gióng chính là sức mạnh của tinh thần yêu nước. + Hình tượng nhân vật Thánh Gióng cũng thể hiện cho khát vọng chiến thắng của nhân dân ta. Qua đó nêu bật lên trách nghiệm của người công dân với đạo lý truyền thống. + Nhân dân gửi gắm vào những trang truyền thuyết để lưu lại muôn đời sau cho con cháu. Kết bài: Ý nghĩa của truyện Thánh Gióng. Truyền thuyết Thánh Gióng được tạo nên từ sự tưởng tượng bay bổng của người xưa thể hiện tinh thần yêu nước, kháo vọng hòa bình. Là bài ca về ý chí quyết tâm chiến đấu của toàn dân.
Chứng minh tinh thần yêu nước của người Việt Nam trong truyện Thánh Gióng
580
Đề bài: Viết một bài văn chứng minh Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu và đẹp. Bài làm Người Việt Nam ta rất tự hào vì có vốn tiếng Việt giàu và đẹp.Tiếng Việt giàu đẹp vì nó là sự kết tinh của lịch sử đã bao đời nay cùa cha ông ta. Đó là lịch sử lao động sản xuất và chiến đấu để tồn tại và phát triển, để bảo vệ và dựng xây đất nước. Tiếng Việt giàu đẹp bởi nó là tiếng nói của đời sống dân tộc Việt Nam, phong phú và cũng rất đẹp. Hai nguồn giàu đẹp của tiếng Việt là ở tiếng nói của quần chúng nhân dân được thể hiện trong tục ngữ, ca dao, là ở tiếng nói của các nhà văn, nhà thơ lớn đã được đẽo gọt, trau chuốt và nâng lên đến mức nghệ thuật. Tục ngữ ca dao là ngôn ngữ của quần chúng, bản thân nó là giản dị, dễ hiểu, trong sáng vì nó là lối diễn đạt của quần chúng. Đặc tính truyền miệng và tập thể đã khiến nó ngày càng được trau chuốt, tinh tế hơn. Cuộc sống vô cùng đa dạng, tục ngữ, ca dao là tấm gương phản ánh đời sống cho nên nó cũng rất đa dạng. Đó có thể là tục ngữ ca dao về lao động sản xuất “Nhất nước nhì phân, tam cần, tứ giống”, “Cày đồng đang buổi ban trưa – Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày…” về học tập “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”. “Học ăn, học nói học gói, học mở”; về cách sống “Thương người như thể thương thân”, “Uống nước nhớ nguồn”…. Trong kho tàng tục ngữ ca dao ấy, có những câu thực sự là những viên ngọc sáng ngời lên vẻ đẹp lung linh. Hỡi cô tát nước, bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Một câu ca dao mở ra một bức tranh lao động đầy chất thơ, đồng thời cũng là một lời tỏ tình độc đáo, ý nhị. Câu ca dao đưa ta vào một không gian yên tĩnh, hư ảo của đêm trăng, ánh trăng tỏa chiếu xuống cánh đồng có một cô gái đang tát nước. Âm thanh của từng gầu nước như đẩy không gian thêm cao hơn, rộng hơn. Ánh trăng theo từng gầu nước cũng là múc “ánh trăng vàng”. Ánh trăng theo từng gầu nước lại đổ tràn lên ruộng, vỡ ra, tan ra, lấp loáng. Thời gian đã về khuya lắm. về khuya nên mới chỉ có âm thanh của từng gầu nước và tiếng nói của người con trai hỏi cô gái. Chàng trai hỏi cô trong ngỡ ngàng, tiếc nuối. “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”. Ánh trăng chiếu xuống nước đẹp quá, thể mà cô múc nó đổ đi. Đúng là chỉ có tâm hồn đẹp mới nhìn thấy vẻ đẹp này, thậm chí phải là tâm hồn nghệ sĩ mới có sự tiếc nuối cho cái đẹp kia. Một lời trách bóng gió: cô đang làm mất đi cái đẹp đấy! Nhưng ánh trăng vẫn cứ vô tư tỏa sáng để cô múc từng “gầu trăng”. Cô cũng đang tạo ra cái đẹp! Trách mà lại khen! Cô gái thì im lặng, im lặng vì chàng trai đã khéo gợi nên ở cô cảm xúc về cái đẹp, sự im lặng có thể là sự đồng tình tiếp nhận, và nhiều khi không nói mới là nói được nhiều nhất. Đúng là một câu ca dao thật đẹp. Và những bài ca dao khác: Trong đầm gi đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bài ca dao có hai lớp nghĩa. Lớp nghĩa thứ nhất là tả vẻ đẹp của “sen” có “Lá xanh bông trắng, lại chen nhị vàng” đó là tả từ ngoài vào. Còn “Nhị vàng bông trắng lá xanh” là tả từ trong tả ra. Câu thứ tư là “phẩm chất” nghĩa thứ hai cũng toát lên ở đây: Người ta cũng đẹp như sen, dù có sống nơi “hôi tanh”, hãy cố gắng trong sạch tinh khiết như sen. Bài ca dao mượn một hình tượng đẹp đầy thẩm mĩ để nói về nhân cách con người. Người Việt Nam, ai cũng nhớ câu ca dao: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng. “Nhiễu điều” là thứ lụa mỏng nhuộm màu đỏ tươi thường dùng để phủ trên bài vị nơi bàn thờ tổ tiên. “Giá gương” là cái giá có đặt khung lồng kính để bài vị gia tiên. “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” là hình ảnh bản thờ tổ tiên. Đặt trong chỉnh thể của cậu ca dao, ta hiểu lời nhắn nhủ, lời kêu gọi đoàn kết thương yêu nhau ở tất cả mọi người. Đó là một bài ca dao hết sức gợi cảm, tinh tế. Những bài ca dao ấy là đời sống tâm hồn tình cảm của người Việt Nam. nó là nguồn để nuôi dưỡng văn học bác học. Các nhà văn nhà thơ lớn của chúng ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Tố Hữu,… đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ tục ngữ, ca dao… lời văn lời thơ của họ đã được nâng lên mức nghệ thuật, tinh tế và tài hoa. Câu thơ của Nguyễn Du mà bao người đã thuộc: Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng. Có thể nói đây là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ của thơ: trời xanh, nước trong, gió rất nhẹ cho nên mới “Long lanh đáy nước in trời”. Phía xa, mây biếc đùn lên như xây thành. Trời đã về chiều nên “non phơi bóng vàng”. Một câu thơ khác sống động, vừa có hình ảnh, màu sắc, âm thanh. Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông. Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp đủ sức để diễn tả tài tình các cung bậc tâm trạng. Chúng ta hãy đọc một vài câu thơ trong Chinh phụ ngâm: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Người vợ tiễn người chồng ra trận. Người chồng dứt áo lên ngựa ra đi. Chàng đi một quãng đương rỗi quay lại nhìn vợ. Người vợ vẫn đứng đó trông chồng. Cả hai cùng khóc, họ cùng nhìn nhau mà chẳng thấy nhau vì nước mắt rơi. Giữa họ là khoảng không gian “mấy ngàn dâu” ngăn cách lòng “chàng” cũng sầu, lòng “thiếp” cũng sầu, biết ai hơn ai… Quả là tiếng Việt không giàu, không đẹp thì không thể diễn tả được cung bậc tâm trạng này. Đến văn học hiện đai chúng ta lại được đọc lời thơ ngọt ngào đằm thắm của nhà thơ Tố Hữu: Ta về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng… Ngọt ngào bởi có âm hưởng của ca dao, đằm thắm bởi nó đậm đà tình người, hồn người. Chúng ta còn rất nhiều những câu văn lời thơ để chứng minh cho tiếng Việt ta giàu đẹp. Tiếng Việt là tình cảm tâm hồn người Việt Nam. Ta ngày thêm yêu tiếng Việt, học tiếng Việt và ra sức giữ gìn sự trong sáng của tiếng ta. Đó là một cách để biểu hiện lòng yêu đất nước, yêu dân tộc mình của người Việt Nam.
Chứng minh Tiếng Việt là một thứ tiếng giàu và đẹp
1,262
Chứng minh tiếng Việt ta rất giàu và đẹp Hướng dẫn Qua bài Sự giàu đẹp của Tiếng Việt của tác giả Đặng Thai Mai, em hãy chứng minh rằng Tiếng Việt ta rất giàu và đẹp. Bài làm 1: Mở bài: Ngôn ngữ và chữ viết là sáng tạo đọc đáo của mỗi dân tộc, nó thể hiện sức sống mãnh liệt và bản lĩnh của dân tộc đó. Tiếng Việt là do người Việt ta sáng tạo ra. Tuy được kí âm bằng chữ cái Latinh nhưng thể hiện sâu sắc văn hóa và đời sống tinh thần của người Việt. Một trong những đặc điểm nổi bậc nhất đó là Tiếng Việt ta rất giàu và đẹp. Đặc điểm ấy được cụ thể hóa rõ nét trong văn bản Sự giàu đẹp của Tiếng Việt của tác giải Đặng Thai Mai. Thân bài: Ngôn ngữ là một tổng hòa các giá trị cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Ngôn ngữ được phát triển theo thời gian. người Việt Nam ta ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiếng nói của mình. Trước hết là Tiếng Việt ta rất giàu. So với các ngon ngữ khác trên thế giới, nếu so sánh về mặt chữ viết, Tiếng Việt ta thuộc loại sinh sau đẻ muộn. Chữ Quốc ngữ chính thức được công nhận và sử dụng như một ngôn ngữ chính thống của dân tộc vào giữa thế kỉ 20. Thế nhưng, tiếng nói lại có trước đó hơn 4000 năm. Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, Tiếng Việt đã tích lũy được một vốn từ to lớn. bởi thế Tiếng Việt có đầ đủ khả năng để diễn đạt tình cảm tư tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu càu đời sống văn hóa nước nhà qua các thời kì lịch sử, đủ sức biểu đạt đời sống sản xuất và đời sống tinh thần đằm thắm, hồn hậu của người Việt. Tiếng Việt có một hệ thống nguyên âm, phụ âm phong phú. Tiếng Việt lại có 6 thanh điệu, 2 âm bình và 4 âm trắc. Do đó, Tiếng Việt có thể kể là một trong những thứ tiếng giàu hình tượng ngữ âm và nhạc tính bậc nhất thế giới. Người nước ngoài khi nghe người Việt ta nói chuyện họ cảm nhận như người Việt ta đang hát bởi ngon ngữ có tính nhạc cao, lúc trầm, lúc bổng, du dương như lời ca tiếng nhạc. Ngữ pháp cũng dần trở nên uyển chuyển hơn, chính xác hơn. Có người cho rằng ngữ pháp Tiếng Việt lỏng lẻo, thiếu ổn định. Đặc điểm đó một phần là do sự biến chuyển không ngừng của ngữ pháp Tiếng Việt, một phần là do lối sống hài hòa, thích ứng cao của người Việt ta. Dựa vào đặc tính ngữ âm của bản than mình và năng lực sáng tạo, tiếp nhận của dân tộc, Tiếng Việt đã không ngừng đặt ra những từ mới, những cách nói mới hoặc Việt hóa những từ và những cách nói của các dân tộc anh em và những dân tộc láng giềng, để biểu hiện những khái niệm mới, để thỏa mãn yêu cầu của đời sống văn hóa ngày một phức tạp về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học, kĩ thuật, văn nghệ,… Bởi thế, Tiếng Việt không ngừng tiếp thu về mình những giá trị tinh hoa của thế gới và ngày một trở nên giàu có hơn. Tiếng Việt ta rất giù bởi do đời sống muôn màu, đời sống tư tưởng, tình cảm dồi đà của dân tộc ta; bởi kinh nghiệm đấu tranh lâu đời và phong phú, kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiện nhiên và đấu tranh chống giạc ngoại xâm; bỡi những kinh nghiệm sống của bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước (Phạm văn Đồng) Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Có thể nói Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Đẹp ở khả năng biểu đạt và hay ở âm điệu. Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu, mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Vẻ đẹp ấy có thể thấy qua hệ thống những câu tục ngữ, bài ca dao, câu hò, câu hát đằm thắm mang đậm sắc thái của đời sống người Việt ta mà không nơi nào có được. Tiếng Việt ta đẹp như thiên nhiên, đất nước. Tiếng Việt ta đẹp là bởi tâm hồn người Việt ta rất đẹp. Người Việt yêu thiên nhiên, gửi gắm ở thiên nhiên một tình yêu rất lớn. tiếng Việt ta rất đẹp là bởi đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước đến nay là cao quý, là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp (Phạm Văn Đồng). Kết bài: Dựa trên những lí lẽ và dãn chứng hùng hồn đó, chúng ta có thể khẳng định rằng: cấu tạo của tiếng Việt, với khả năng thích ứng với hoàn cảnh lịch sử là một chứng cớ rất rõ về sức sống của nó, cũng là một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tọc Việt Nam. Bài làm 2: Tiếng Việt là một niềm tự hào của dân tộc. Sự giàu có và nét đẹp của tiếng Việt trong thật tao nhã và thanh cao. Tiếng việt là nguồn cảm hứng sâu sắc to lớn để viết lên những bài thơ, lời hát truyền đạt tình cảm đến người đọc. Cấu tạo của tiếng Việt rất đẹp và nhẹ nhàng như từng giai điệu âm nhạc. Sự hài hòa về thanh điệu của tiếng Việt đã tạo nên một tuyệt phẩm nhân gian. Từng câu từng chữ Việt được người dân ta nói ra nghe thật êm tai và tuyệt diệu. Dường như tiếng Việt chỉ thật sự hoàn hảo khi được người dân đất Việt nói ra. Giống như đ Người ta thường nói: ”Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” quả không sai. Tiếng Việt nhìn đơn giản, quen thuộc như vậy nhưng thật ra rất phong phú. Chúng ta có thể sử dụng tiếng việt trong nhiều việc khác nhau. Dùng tiếng việt cùng với sự khéo léo chọn từ ngữ cho phù hợp để làm một bài văn hay. Dùng tiếng cùng suy nghĩ bằng đầu óc, lí lẽ để thảo luận, đưa ra ý kiến của mình. Nhưng đối với một số người trẻ ngày nay họ sử dụng tiếng việt một cách vô ý thức, tức là làm mất đi sự trong sáng của tiếng việt. Họ nói tục, chửi thề, biến những từ ngữ thuần Việt trở nên phản cảm trong mắt mọi người. Ngoài ra họ còn sử dụng từ ngữ tiếng việt để lừa gạt, dùng nó để khiến người khác tin vào, làm theo những điều xấu. Những người đó sẽ không bao giờ được mọi người tín nhiệm, tin tưởng. Cảm thấy được sự giàu đẹp của Tiếng Việt ta càng cảm thấy tự hào vì mình là người Việt Nam bên cạnh đó ta thấy tự hào bao nhiêu thì trách nhiệm giữ gìn và phát triển Tiếng Việt càng to lớn bấy nhiêu. Bên cạnh đó chúng ta cũng nên giới thiệu với các bạn từ đất nước khác về ngôn ngữ nước mình, sự trong sáng và vẻ đẹp giản dị của Tiếng Việt.
Chứng minh tiếng Việt ta rất giàu và đẹp
1,261
Chứng minh trong bài thơ của Bác Hồ chứa đầy trăng Hướng dẫn I. Mở bài: Ngoài tập ‘Nhật kí trong tù’, chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại nhiều bài thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt. Thơ của Bác phong phú đẹp đẽ chứa chan tình yêu nước thương dân. Bác cũng có viết một số bài thơ cảm hứng trữ tình nói về tình yêu thiên nhiên. Những vần thơ trăng của Bác đẹp lắm. Nhà văn Hoài Thanh nhận xét: ‘Thơ Bác đầy trăng’. I. Thân bài: 1. Phân tích và chứng minh: ‘Thơ Bác đầy trăng’ – ‘thơ trong tù’,thơ chiến khu… có nhiều bài, nhiều câu thơ nói về trăng xinh đẹp và trữ tình. a. Trước hết nói về thơ trăng trong ‘Nhật kí trong tù’. ‘Ngắm trăng’ là bài thơ tuyệt tác. Trong ngục tối, nhà thơ không có rượu, có hoa để thưởng trăng. Trăng như một người bạn thân từ phương trời xa, vượt qua song sắt nhà tù đến thăm Bác. Trăng dược nhân hóa tuyệt đẹp: có ánh mắt và tâm hồn. Vượt lên mọi cơ cực cảnh tù đày, Bác say sưa ngắm vầng trăng. Trăng với Bác lạng lẽ nhìn nhau, cảm động. Bài thơ ghi lại một tư thế ngắm trăng hiếm thấy: một tâm hồn tha thiết yêu thiên nhiên, tạo vật, một phong thái ung dung tự tại của nhà thơ – chiến sĩ. Trăng hữu tình nên thơ. Trăng với người tù cảm thông chan hòa trong mối tình tri kỉ: ‘Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ’. ‘Ngắm trăng’đã phản ánh tinh thần lạc quan và khát vọng sống hướng về ánh sáng, tự do của Bác trong cảnh tù đày. b. Tiếp theo, ta nói đến thơ trăng chiến khu của Bác. Có gì đẹp hơn gió núi, trăng ngàn? ‘Rằm tháng giêng’ là một bài thơ trăng kì diêu. Hai câu đầu là cảnh trăng xuân sông nước… Một màu xanh bao la bát ngát: Sông xuân, nước xuân, trời xuân lung linh dưới vầng trăng đêm nguyên tiêu. Ba chữ ‘xuân’ trong nguyên tác là một gam màu nhẹ, sáng và tươi mát: Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân’ Hai câu thơ cuối ghi lại công việc của Bác trong đêm rằm tháng giêng: giữa nơi khói sóng của dòng sông, Bác ‘hàn bạc việc quân’ để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Nửa đêm, con thuyền chở đầy ánh trăng vàng quay về bến: ‘Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya vê bát ngát trăng ngán đầy thuyền’ Con thuyền của lãnh tụ trở thành con thuyền của thi nhân chở’đầy ánh trăng vàng. Sự xuất hiện của vầng trăng cho ta thấy một hồn thơ tuyệt đẹp: Trong khói lửa chiến tranh ác liệt, căng thẳng, bận rộn ‘việc quân, việc nước’, nhưng Bác vẫn ung dung, lạc quan yêu đời. ‘Nguyệt mãn thuyền’ (trăng đầy thuyền) là một hình tượng thơ cổ kính, mĩ lệ rất độc đáo. c. Có vầng trăng ‘bơi theo’ con thuyền của lãnh tụ trên dòng sông Đáy mênh mang giữa núi rừng chiến khu Việt Bắc: ‘Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo’ (Đi thuyền trên sông Đáy). Có vầng trăng đến ‘đòi thơ’ như bạn tri âm, cùng 164 Bác chia vui tin thắng trận. Trăng xuất hiện thì chuông lầu đêm thu reo lên, tin vui thắng trận dồn dập báo về… Cái đẹp gắn liền với niềm vui. Trong cảnh tù đày, trăng đã đến với Bác thì trong máu lửa chiến tranh, trong niềm vui thắng trận, trăng cũng không thể nào vắng bóng: ‘Trăng vào cửa sổ đòi thơ, Việc quân đang bận xin chờ hôm sau. Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu, Ây tin thắng trận Liên khu báo về’ (‘Tin thắng trận’ – 1948) Có vầng trăng thu dát vàng núi rừng đêm khuya, cổ thụ, ngàn hoa hiện lên dưới vầng trăng làm cho cảnh khuya đẹp như vẽ. Thi nhân thao thức ngắm vầng trăng, • nghe tiếng suối chảy ‘trong như tiếng hát xa’, lòng bồi hồi, xúc động: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’ (‘Cảnh khuya’ -1947) d.Thiếu nhi, lớp măng non của dân tộc không thể nào quên vầng trăng thu thuở ấy… Bác yêu thương các cháu cho nên khi ngắm trăng Trung thu, Bác lại nhớ các cháu gần xa.’Tấm lòng của Bác như vầng trăng thu ngời sáng: ‘Trung thu trăng sáng như gương, Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng’ e. Có vầng trăng ước hẹn một ngày mai chiến thắng. Nước nhà độc lập, thanh bình, Bác thanh thản trở về cuộc sống bình dị, chan hòa với thiên nhiên: ‘Kháng chiến thành công ta trỏ lại, Trăng xưa, hạc cũ với xuân này’ (Cảnh rừng Việt Bắc) Kể sao hết vầng trăng trong thơ Bác Hồ, bởi lẽ ‘Thơ Bác đẩy trăng’. 2. Phát biểu cảm nghĩ của em về trăng trong thơ của Bác Hồ: Thơ Bác đầy trăng, trăng tròn, trăng sáng, trăng trên mọi nẻo đường Bác đã đi qua. Có vầng trăng trong cảnh tù đày. Có vầng trăng kháng chiến. Có vầng trăng thanh bình. Bác nói nhiều về trăng thu. Bác yêu thiên nhiên, sống lạc quan yêu đời cho nên tâm hồn Bác lúc nào cũng hướng về ánh sáng, về cái đẹp. Tràng là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng, là bạn tri âm của tao nhân mặc khách. Bác là một nhà thơ yêu trăng. Bác Hồ đã kế thừa tinh hoa thơ ca cổ để viết nên những bài thơ trăng kiệt tác. Trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên, của non xanh nước biếc. Bác yêu trang, viết nhiều thơ về trăng vì Bác giàu lòng yêu thương con người. Trăng trong thơ Bác chiếu sáng một tấm lòng hồn hậu đối với thiên nhiên tạo vật, đối với nhân dân và đất nước quê hương thiết tha, gắp bó. Trăng đã góp phần làm cho thơ Bác thêm đặc sắc. Thơ Bác vừa thực vừa mộng, vừa mang màu sắc cổ điển vừa mới mẻ hiện đại, đậm đà thi vị. Trăng đã tạo nên gương mặt, bản sắc và tính thẩm mĩ trong thơ Bác. III. Kết luận: Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Đọc thơ trăng của Bác Họ, tâm hồn mỗi chúng ta thêm giàu có, trong sáng, biết hướng tới ngày mai, vươn tới ánh sáng mà đi lên phía trước. Chúng ta căng yêu thêm cảnh trí non sông. Yêu cái đẹp trong thơ trăng của Bác, cái đẹp trong thơ trăng cổ nhân, chúng ta học tập tình yêu nước, thương dân của Bác. Ước sao đất nước tỏa sáng vầng trăng thanh bình, trăng thu tròn và đẹp cho tuổi thơ, trăng đến với
Chứng minh trong bài thơ của Bác Hồ chứa đầy trăng
1,131
Chứng minh truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc của ông cha ta qua một số bài thơ đã học – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Núi kia ai lấp mà cao? Sông kia, bể nọ ai đào mà sâu? Ông cha ta ngàn đời đã gây dựng, giữ gìn núi sông, đất nước này để truyền lại cho chúng ta hôm nay. Đất nước, dân tộc ta tồn tại, phát triển chính là nhờ nhân dân ta có truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc. Ba áng thơ cổ: “Sông núi nước Nam”; “Hịch tướng sĩ” và “Đại cáo bình Ngô” đã phản ánh sâu sắc truyền thống yêu nước nồng nàn và lòng tự hào dân tộc chân chính của ông cha ta xưa kia. Khi quân xâm lược nhà Tống tràn sang nước ta, Lí Thường Kiệt đọc bài thơ “Thần” như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất khẳng định chủ quyền nước Nam là của dân Nam. Khi đại quân Mông Nguyên do Thoát Hoan cầm đầu kéo sang xâm phạm chủ quyền dân tộc, vào năm 1285, “Hịch tướng sĩ” đã được Trần Quốc Tuấn truyền dạy trong các cấp tướng sĩ của mình. Và khi kết thúc mười năm kháng chiến gian khổ chống quân Minh, thắng lợi trọn vẹn vào năm 1428, Nguyễn Trãi đã tổng kết bằng bản văn “Bình Ngô đại cáo” bất hủ. Ba áng thơ văn đều vang lên tiếng nói yêu nước, bất khuất chống ngoại xâm và niềm tự hào về một dân tộc anh hùng. Yêu nước và tự hào dân tộc là một truyền thống vô cùng quí báu mà từ khi hình thành dân tộc này, đất nước này, ông cha ta đã truyền lại cho đến ngày hôm nay và mãi mãi mai sau. Lí Thường Kiệt khẳng định: Nước Nam có lãnh thổ riêng, có chính quyền riêng. “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Điều này đã được ghi ở “sách trời”. Sách trời là cơ sở pháp lí, là “thiên định”. Lí Thường Kiệt đã ghi lại những điều ấy để quân giặc thấy rõ hơn và quân dân ta càng tin tưởng hơn! Rành rành định phận ở sách trời. Lí Thường Kiệt vịn vào “thần”, vào “sách trời” để nêu chính nghĩa của dân tộc. Trần Quốc Tuấn không nói đến “thần” nữa. Vì nước ta thật sự đã có chủ quyền, có văn hóa: Triều đình riêng, nhạc thái thường, thái ấp, tông miếu. Vậy mà quân giặc là loài dê chó dám xâm phạm, làm nhục nước ta! Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc – Nam cũng khác… Nước ta thật sự là một nước độc lập, có chủ quyền. Nhân dân ta đã ra sức bồi đắp thành nền văn hiến ngàn năm. Trên lãnh thổ này đã có dân Việt với nền văn hóa riêng, khác hẳn văn hóa phương Bắc. Anh hùng hào kiệt thì nước Đại Việt lại càng không thiếu. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần, bao đời gây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương. Tự hào dân tộc, cha ông ta càng yêu nước nồng nàn. Khẳng định “Sông núi nước Nam vua Nam ở” là một khẳng định yêu nước. Vua tức là nước, lúc bấy giờ nói vua Nam hay hoàng đế nước Nam chính là đối chọi lại với “Thiển triều” Trung Hoa. Không phải là tuyên chiến, mà là cảnh cáo quân giặc cướp nước, cho chúng biết trước cái thất bại thảm hại tất yếu sẽ đến với chúng. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. Lí Thường Kiệt đã nói lên truyền thống yêu nước nồng nàn và niềm tự hào dân tộc chân chính. Không tự hào dân tộc chân chính thì không dám đánh giặc giữ nước. Ta phải đánh giặc vì giặc xâm phạm đất nước ta. Ở “Hịch tướng sĩ”, niềm tự hào dân tộc càng sâu sắc hơn. Vì tự hào dân tộc nên cảm thấy bao nhiêu cái nhục khi quân giặc xâm phạm chủ quyền: “Nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn…”. Yêu nước là phải biết bảo vệ, gìn giữ đất nước, không thể ngồi yên, khoanh tay nhìn cảnh “sứ giặc đi nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ…, vơ vét tiền của bạc vàng”. Phải hướng tất cả lòng căm thù về phía quân giặc cướp nước; “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng..”. Lưu Cung tham công nên thất bại, Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong; Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét Chứng cớ còn ghi. Nhân dân yêu nước đã tập hợp chung quanh Lê Lợi, người anh hùng áo vải của đất Lam Sơn: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới, tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào..”. Bởi chính vì Lê Lợi – Nguyễn Trãi đã thể hiện lòng yêu nước hơn ai hết, hai người không thể ngồi yên nhìn quân Minh tàn bạo “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ..”, mà đã phải đau xót, căm hờn, quyết tiêu trừ giặc cướp nước: “… Ngẫm thù lớn há đội trời chung, căm giặc nước thề không cùng sống. Đau lòng, nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời..”. Ở “Bình Ngô đại cáo”, chúng ta càng thấy trọn vẹn lòng yêu nước cao độ và niềm tự hào dân tộc chân chính. Chính lòng yêu nước, tự hào dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng quân xâm lược dù chúng đông hơn, mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Nguyễn Trãi xác định lập trường chính nghĩa sáng ngời: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Trần Quốc Tuấn kêu gọi các tướng của mình, từ bỏ thái độ thờ ơ hưởng lạc trước cảnh đất nước lâm nguy, mà phải: “Huấn luyện quân sĩ, tập dợt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bành Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghị, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở Cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Khai..”. Có như vậy mới bảo vệ được “thái ấp” vững bền, xây dựng được hạnh phúc của mình và của đất nước. Lí Thường Kiệt khẳng định sông núi nước Nam của vua Nam nên dân Nam quyết tâm chiến đấu giết giặc: “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”. Truyền thống yêu nước tự hào dân tộc của ông cha ta gắn bó, thống nhất với nhau làm nên sức mạnh không thể thất bại. Ngày nay đọc lại ba áng thơ cổ trên, chúng ta vẫn còn nghe vang vọng truyền thống yêu nước bất khuất, niềm tự hào biết bao. Càng tự hào về những chiến công oanh liệt phá Tống, đuổi quân Mông – Nguyên, bình giặc Ngô xâm lược, chúng ta phải giữ gìn, phát huy truyền thống quý báu ấy. Thế hệ hôm nay thừa hưởng biết bao truyền thống quý báu của ông cha ngàn đời để lại. Yêu nước là phải ra sức học tập, rèn luyện để xây dựng đất nước “to đẹp, đàng hoàng”, làm cho nước Việt Nam trở thành một nước giàu mạnh, sánh vai cùng với các cường quốc năm châu. Tự hào dân tộc chân chính không phải là tự kiêu, tự mãn, mà phải biết phát huy, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Làm được như vậy thanh niên chúng ta mới xứng đáng là cháu con của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tags:Văn 8
Chứng minh truyền thống yêu nước và tự hào dân tộc của ông cha ta qua một số bài thơ đã học – Đề và văn mẫu 8
1,359
Chứng minh truyện Chiếc là cuối cùng là Bức thông điệp màu xanh – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Chiếc lá cuối cùng” là tác phẩm của nhà văn bậc thầy ở Mĩ, nhà văn O. Hen-ri. Ông tên thật là Uy-liêm Xit-nây Po-tơ. Thời trẻ, để kiếm sống ông đã lang thang nhiều nơi, làm nhiều nghề khác nhau, có lần bị giam giữ trong ba năm. Ông lấy bút danh O. Hen-ri có lẽ để kỉ niệm một người bạn tốt đã giúp đỡ ông nhiều trong thời kì này. Sau khi ông mất, Hội Nghệ thuật và Khoa học ở Mĩ lập một giải thưởng mang tên o. Hen-ri để tặng cho các truyện ngắn hay hằng năm. “Chiếc lá cuối cùng” là “bức thông điệp màu xanh” tác giả gửi đến người đọc để ca ngợi tình bạn thủy chung cao quý, nhắn nhủ mọi người hãy yêu thương con người, hãy biết hi sinh vì sự sống con người. Xiu và Bơ-men là hai nhân vật bổ sung cho nhau nhằm làm nổi bật tình cảm cao đẹp trên. Hai họa sĩ nghèo này khác nhau về tuổi tác, nhưng lại có chung một mối lo lắng: làm sao cứu sống được Giôn-xi khỏi bàn tay lạnh giá của Thần Chết. Xiu đã phải làm việc rất nhiều, không tiếc sức mình để kiếm tiền mua thuốc, mời bác sĩ, mua thức ăn… và chăm sóc bạn từng li từng tí, từ việc nấu cháo xúp tới việc dỗ dành bạn ăn bằng được. Xiu đúng là một người bạn thủy chung, cùng chia sẻ gian nan, hoạn nạn với bạn. Nhưng chỉ như vậy cũng chưa thể cứu được Giôn-xi, cô bị viêm phổi nặng đồng thời lại mang tâm trạng tuyệt vọng, tin rằng mình không thể sống được khi chiếc lá thường xuân cuối cùng của cái cây bên kia cửa sổ rụng xuống. Cốt truyện của “Chiếc lá cuối cùng” thật đơn giản. Câu chuyện sống được không chỉ vì ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của nó, mà còn vì ngòi bút dựng truyện, khắc họa nhân vật đầy tài năng của tác giả. Về mặt kết cấu, ông đã sử dụng thành công thủ pháp đảo lộn tình thế hai lần một cách đột ngột, bất ngờ để hấp dẫn người đọc. Trong truyện, lần thứ nhất là khi Giôn-xi đi đến trạng thái tuyệt vọng, buông thả mọi ý chí, phó mặc cho Thần Chết đưa lưỡi hái ra cắt đứt đời mình. Cô đã đoán chắc với Xiu: “Khi chiếc lá lìa cành thì chắc chắn em cũng lìa đời”. Cô diễn tả tâm trạng của mình trong sự tuyệt vọng “chờ đợi làm em chán lắm rồi, nghĩ ngợi cũng làm em chán lắm rồi. Em muốn buông tay ra khỏi tất cả những thứ em còn đang nắm và lướt xuống, hệt như một trong những chiếc lá mệt mỏi đáng thương đó”. Người đọc cảm thấy nghẹt thở tưởng như vô phương cứu chữa trước một con người không còn một tơ vương nào vào cuộc sống. Nhưng kì diệu thay, chiếc lá cuối cùng không rụng. Nó còn đó mãi mãi như sự bất tử của cuộc đời. Rồi Giôn-xi bắt đầu bình phục. “Chiếc lá cuối cùng” là truyện ngắn về những con người bình thường, những việc bình thường nhưng lại khó quên vì ánh sáng nhân đạo tỏa sáng mãi của tác phẩm. Mãi mãi người đọc sẽ nhớ tới bác Bơ-men có hình dáng như người thợ mỏ khắc khổ nhưng lại có tấm lòng và hành động của một vị thánh. Mãi mãi người đọc sẽ nhớ tới bức thông điệp màu xanh kêu gọi sự yêu thương giữa con người với con người, kêu gọi nghệ thuật hướng về con người. Tags:Văn 8
Chứng minh truyện Chiếc là cuối cùng là Bức thông điệp màu xanh – Đề và văn mẫu 8
643
Đề bài: Em hãy chứng minh rằng “Tôi đi học” là chuyện ngắn giàu chất thơ Bài làm Nếu Thạch Lam có truyện ngắn ” Gió lạnh đầu mùa” thì Thanh Tịnh có ” Tôi đi học” đều nhẹ nhàng giàu cảm xúc ấm áp tình người, tình đời. Đặc biệt truyện ngắn ” Tôi đi học ” đã được nhận xét là truyện giàu chất thơ. Có lẽ chất thơ đã góp phần không nhỏ tạo lên sự hấp dẫn của chuyện. Chất thơ là chất trữ tình bàn bạc trong truyện nó được thể hiện ở nhiều phương diện của tác phẩm xuyên suốt từ đầu đến cuối chuyện đậm văn phong Thanh Tịnh. Đúng vậy! Trong truyện ” Tôi đi học” trước hết chất thơ được phản ánh qua tình huống chuyện. Tình huống không hấp dẫn ở tình huống gay cấn mà hấp dẫn ở tình huống nhẹ nhàng đó là ngày đầu tiên đi học. Ai cũng từng trải nghiệm nên dễ đồng cảm với nhân vật Tôi trong truyện. Tình huống khá ấn tượng với người đọc, người nghe. Tiếp theo chất thơ của chuyện còn được phản ánh qua bố cục. Bố cục xây dựng theo dòng cảm xúc, theo dòng hồi tưởng. Từ hiện tại nhớ về dĩ vãng, cảm xúc men theo trình tự thời gian, không gian và bộc lộ. Lúc đầu tâm trạng nhân vật tôi ” nao nức”, “mơn man” nhớ về ngày đầu tiên đi học. Trên đường đi học, cậu bé ngỡ ngàng trước mọi vật rồi lo sợ vẩn vơ. Cảm xúc vừa lạ vừa quen khi ngồi trong lớp học đó là cảm xúc trong sáng đẹp đẽ. Không chỉ vậy mối quan hệ giữa các nhân vật trong chuyện cũng rất giàu chất thơ. Các phụ huynh rất yêu thương lo lắng quan tâm chăm sóc con em. Ông Đốc và thầy giáo trẻ vỗ về an ủi nhẫn nại, dỗ dành động viên các em bước vào ngôi nhà thứ hai của mình. Tất cả tạo lên môi trường giáo dục ấm áp có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường, cái nôi nuôi dưỡng trẻ thơ trưởng thành. Bên cạnh đó các yếu tố khác cũng góp phần làm nổi bật chất thơ của truyện. Thiên nhiên đặc trưng mùa thu được nói đến qua mấy nét chấm phá ” Hằng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bọc”. Mái trường qua cái nhìn của nhân vật tôi cũng rất riêng. Lúc thì nó giống các ngôi nhà trong làng. Lúc thì nó xinh xắn, oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp. Tác giả kết hợp nhiều phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả biểu cảm đặc biệt là biểu cảm khiến chuyện nhẹ nhàng ấm áp, lời văn trong sáng, nhịp kể chậm giọng tha thiết bồi hồi các hình ảnh so sánh khiến lời văn cụ thể sinh động bay bổng, nhẹ nhàng, hấp dẫn. Như vậy, chất thơ thẫm đấm trong toàn truyện ” Tôi đi học” còn mãi với thời gian bởi Thanh Tịnh đã nói hộ cảm xúc kỉ niệm đẹp trong ta bằng lời văn cách kể nhẹ nhàng sâu lắng giàu cảm xúc tinh tế.
Chứng minh truyện ngắn Tôi Đi Học giàu chất thơ
551
Chứng minh Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại Hướng dẫn Chứng minh Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại Bài làm Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, dân tộc ta thừa cơ vùng lên giành lại chính quyền. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử mà còn là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực; một áng văn tràn đầy tâm huyết, khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của Người và của cả dân tộc. Nó có sức mạnh thuyết phục to lớn, làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam. Văn chính luận: là những tác phẩm văn chương sử dụng lập luận, dẫn chứng, lí lẽ để khẳng định một tư tưởng nào đó khiến độc giả tin vào điều được khẳng định là đúng sự thật. Áng văn chính luận mẫu mực: là những áng văn đạt chuẩn mực cao về nội dung và nghệ thuật có sức thuyết phục, quy tụ lòng người. “Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử vô giá: Trong bối cảnh lịch sử của nước ta lúc bấy giờ, bản “Tuyên ngôn độc lập” ra đời mang một ý nghĩa lịch sử to lớn, nó là một văn kiện trọng đại, là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc. Nó đánh dấu sự chấm dứt, sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ thực dân, phong kiến, khép lại một thời kì lịch sử tăm tối, nô lệ hàng trăm năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, mở ra một kỉ nguyên mới – độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Mặt khác, với nội dung khái quát sâu sắc, trang trọng cùng tầm vóc của tư tưởng, tầm văn hóa lớn, bản Tuyên ngôn ra đời đã khẳng định được vị thế bình đẳng, lập trường chính nghĩa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo của nhân loại trong thế kỉ XX; đồng thời, đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân đế quốc, vạch trần dã tâm quay trở lại xâm lược cùng bản chất tàn bạo của chúng trước dư luận quốc tế. “Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận mẫu mực, đặc sắc: “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn mà còn là một văn bản chính luận đặc sắc, nối tiếp tự nhiên các “áng hùng văn” trong quá khứ và có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương. Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực và văn phong sắc sảo, giàu tính thẩm mĩ của Hồ Chí Minh. Điều đó trước hết được thể hiện ở: Người nhằm nêu lên vấn đề Nhân quyền, Dân quyền – quyền của con người và quyền của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Người dẫn: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” (Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mĩ). “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, 1791). minh Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại Từ những “lời bất hủ” của hai nước, Người “suy rộng ra” câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả mọi người sinh ra trên trái đất đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc. “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Vì vậy, Người đã lấy hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của lịch sử nhân loại để mở đầu cho bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam, để khẳng định quyền của người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trước nhân dân thế giới. “Suy rộng ra”, đó là chân lí khách quan, là lẽ phải, không ai chối cãi được.’ Cách viện dẫn của Người mang lại ý nghĩa rất sâu sắc: vừa khôn khéo, vừa kiên quyết, vừa sáng tạo. Khôn khéo, kiên quyết ở chỗ: lấy “gậy ông đập lưng ông”. Người vừa tỏ ra tôn trọng những danh ngôn bất hủ của họ, vừa nhắc nhở họ đừng phản bội lại tổ tiên mình, đừng làm vấy bùn lên lá cờ “tự do, bác ái” mà họ đã giương cao trong các cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc họ. Khôn khéo và sáng tạo ở chỗ: Người viện dẫn hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới có nghĩa là Người đã đặt ba cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của ba nước ngang hàng nhau; ba nền độc lập và ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau. Đó là mạch ngầm văn bản khiến cho bất cứ ai tinh tế trong nhận định phải giật mình vì sự thâm thúy, sâu sắc của Người. Trong bản Tuyên ngôn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi khi xưa, người anh hùng đã khẳng định chủ quyền độc lập của mỗi quốc gia: Đinh, Lí, Trần … cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên… mỗi bên xưng đế một phương, thật rạch ròi, rõ ràng và đối xứng. Đó là chân lí bất khả xâm phạm của mỗi nước. Trong bản Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh cũng vậy, Người đặt quyền của ba nước là ngang hàng nhau là thể hiện niềm tự tôn, tự hào dân tộc, khẳng định vị thế của một đất nước đầy kiêu hãnh trước thế giới. Đó là hành động cách mạng táo bạo, tài tình trong xử thế chính trị của Người. Sáng tạo ở chỗ: Người đã nâng vấn đề Nhân quyền, Dân quyền lên tầm vóc cao hơn, rộng hơn. Từ quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc của cá nhân lên thành vấn đề quyền của các dân tộc: “suy rộng ra… Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…” Cụm từ “Suy rộng ra” thật thông minh, chặt chẽ, đanh thép như: “Một phát súng lệnh khởi đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa thế giới” (Nguyễn Đăng Mạnh), là đòn đánh phủ đầu vào âm mưu tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của các thế lực vào nền độc lập, tự chủ của Việt Nam; đồng thời, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế. Nhà xuất bản Sự thật năm 1967 cũng viết: “Cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh là ở chỗ, Người đã nhìn quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc. Như vậy, tất cả mọi dân tộc đề có quyền quyết định lấy vận mệnh của riêng mình.” Cách viện dẫn bằng những danh ngôn bất hủ, nổi tiếng của hai cường quốc, đó là hành động táo bạo, là tài nghệ sáng suốt của Hồ Chí Minh. Người đã đưa ra những lí lẽ ngắn gọn, sắc sảo, “lạt mềm buộc chặt”; những bằng chứng; những chân lí không ai chối cãi được. Tất cả kết tinh từ tầm tư tưởng, văn hóa lớn của Hồ Chí Minh nói riêng và của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì Nhân quyền, Dân quyền của dân tộc và của cả nhân loại nói chung. Có thể nói đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn tiêu biểu cho vẻ đẹp văn chương chính luận mẫu mực. Cách tác giả luận tội kẻ thù: Người lên án, tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với Đông Dương. Người vạch trần bản chất lợi dụng lá cờ “tự do, bác ái” để cướp nước ta, áp bức đồng bào ta của bọn chúng. Đó là hành động phi nghĩa, phi nhân đạo. Người tố cáo những hành động: Bóc lột về kinh tế: chúng bóc lột nhân ta đến tận xương tủy, cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu; độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng; đặt ra trăm thứ thuế khóa nặng nề cho nông dân; không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu lên; công nhân bị bóc lột tàn nhẫn… Đàn áp về chính trị: chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút quyền tự do nào, chúng thi hành những luật pháp dã man, chia để trị, chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu…Nô dịch về văn hóa: chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược giống nòi của ta… Tội ác chúng gây ra ở mọi mặt đời sống, ở mọi đối tượng nông dân, công nhân, thợ thủ công. Kết quả là bọn chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp “từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói” Người nhắc đi nhắc lại bằng các điệp ngữ và các động từ mạnh chỉ hành động tội ác khác nhau của chúng: chúng thi hành.., chúng lập ra…, chúng chém giết…, chúng tắm…, chúng ràng buộc…, chúng dùng…, chúng độc quyền…, chúng đặt ra…, chúng không cho…, chúng bóc lột… Kết hợp với giọng điệu đanh thép liên hoàn, trùng điệp làm nổi bật lên tội ác chồng chất của giặc. Người vạch trần bản chất hèn nhát, xảo trá, vô liêm xỉ của thực dân Pháp. Thực dân Pháp đã từng huênh hoang “bảo hộ”, “khai hóa văn minh” cho nước ta, Người chứng minh: Mùa thu năm 1940: Nhật xâm lược nước ta thì Pháp quỳ gối đầu hàng, Pháp đã bỏ chạy, đầu hàng, kết quả là trong 5 năm, Pháp bán nước ta hai lần cho Nhật. Vậy là “bảo hộ” hay hèn nhát? Là có công hay có tội? Người khẳng định: chúng ta lấy lại nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Sự thật là từ năm 1940 ta là thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp. Nhật đầu hàng Đồng minh, ta nổi dậy giành chính quyền: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Ta đánh đổ chúng dựng lên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Người láy đi láy lại hai chữ “sự thật…”, “sự thật là…”, “sự thật là…”, vì không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn là lí lẽ của sự thật. Sự thật còn là những bằng chứng xác đáng không ai có thể bác bỏ được. Bản Tuyên ngôn ca ngợi cuộc đấu tranh chính nghĩa và tinh thần nhân đạo của dân tộc ta. Người đưa ra những mặt đối lập làm nổi bật bản chất giữa ta và địch: Khi phát xít Nhật vào Đông Dương thì Pháp đầu hàng, trong khi đó thì ta tiến hành kháng Nhật. Trong khi thực dân Pháp đầu hàng Nhật và không hợp tác với ta mà ngược lại còn khủng bố, giết chết số đông tù chính trị của ta ở Yên Bái và Cao Bằng. Khi người Pháp thua chạy, ta đã “giúp, cứu, bảo vệ” tính mạng và tài sản cho họ. Như vậy thì ai đã bảo hộ cho ai? Những hành động ấy chẳng phải đã chứng minh bản chất vô nhân đạo, hèn nhát của chúng và tinh thần chính nghĩa, thái độ khoan hồng, nhân đạo của ta? Chính vì vậy mà nó được xem là: “Tuyên ngôn của bản Tuyên ngôn”: Người đã sử dụng câu văn chỉ có chín chữ mà tóm lược đầy đủ các sự kiện: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Người đã dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động và vô cùng oanh liệt của dân tộc, đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm, đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như một tất yếu lịch sử. Đó cũng chính là lời tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam độc lập. Tất cả các sự kiện trên là “sự thật” nên Người đã ràng buộc các nước Đồng minh phải công nhận nền độc lập của Việt Nam: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn”, “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam”. Đó là cách nói “lạt mềm buộc chặt”, đánh vào lòng tự trọng của họ và buộc họ phảo ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Người còn tuyên bố thoát li, xóa bỏ mọi hiệp ước, mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.Người khẳng định quyền độc lập của một dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của mình “Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” Người còn cảnh báo đối với kẻ thù: để bảo vệ thành quả thì dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo về, giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Lời kết như sấm truyền cảnh báo cho kẻ thù từ ngàn xưa vọng về tinh thần bất khả xâm phạm của dân tộc: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm – Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư” “Tuyên ngôn độc lập” là áng văn sắc sảo mà giàu tính thẩm mĩ, có sức thuyết phục, lay động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam: Khi luận tội kẻ thù, Người thể hiện thái độ căm phẫn “chúng lập ra … chúng thẳng tay…” Người xót thương khi nói đến nỗi đau của dân tộc “Chúng chém giết … tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… nòi giống ta suy nhược… dân ta nghèo, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều…”. Tình cảm tha thiết, mãnh liệt; thái độ kiên quyết khi Người nói đến quyền được hưởng độc lập, tự do của dân tộc cũng như quyết tâm đến cùng bảo vệ nền độc lập ấy: “Sự thật là… sự thật là… chúng tôi tin rằng… quyết không thể… một dân tộc… một dân tộc, dân tộc đó…”. Điệp ngữ được nhấn đi nhấn lại toát lên khát vọng, ý chí mãnh liệt của Người cũng như của cả dân tộc Việt Nam. Giọng điệu khi nồng nàn, tha thiết, khi xót xa thương cảm, khi hừng hực căm thù, khi hào sảng khích lệ. Tất cả tạo nên “áng hùng văn” của thời đại mới – thời đại Hồ Chí Minh. “Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác bằng cả tài hoa, tâm huyết của Hồ Chí Minh, Người đã thể hiện khí phách của cả dân tộc trước trường quốc tế. Tác phẩm được đánh giá là văn bản chính luận mẫu mực bởi kết cấu chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, hùng hồn, thấu tình đạt lí. Câu văn gọn gàng, trong sáng một cách kì lạ, có sức lay động hàng triệu trái tim người Việt Nam và cả thế giới. “Tuyên ngôn độc lập” rất xứng đáng là áng văn muôn đời.
Chứng minh Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại
2,699
Chứng minh tình yêu thương của Bác Hồ với nhân dân, đất nước, đảng và các cháu thanh niên nhi đồng Hướng dẫn Chứng minh tình yêu thương của Bác Hồ với nhân dân, đất nước, đảng và các cháu thanh niên nhi đồng “Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông mọi kiếp người” Bác của chúng ta là thế đấy! Cả cuộc đời và tình thương của Người luôn dành cho mọi người, cho nhân dân, cho đất nước. Vì vậy trước lúc đi xa, Bác đã ân cần nhắc lại trong Di chúc: “Tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” Lời nhắn nhủ ân cần trong Di chúc đã phản ánh chân thực tình cảm của Bác đối với toàn dân mà mỗi người Việt Nam đều có một kỉ niệm thân thương để chứng minh một cách dễ dàng. Tấm lòng của Bác luôn rộng mở; yêu nhân dân, lo cho đất nước đã trở thành niềm vui của Bác. Người đã sống quên mình vì dân vì nước. Là một lãnh tụ cách mạng, bận trăm công nghìn việc lớn lao, vậy mà Bác vẫn còn quan tâm đến những việc lớn nhỏ chăm sóc, ân cần với mọi người. Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa Chỉ biết quên mình cho hết thảy Như dòng sông chảy nặng phù sa (Tố Hữu) Tình người như “dòng sông đầy phù sa” để bồi đắp cho muôn nơi. Bác lo lắng yêu thương từ trẻ nhỏ đến tuổi già “Sữa để em thơ, lụa tặng già”. Có một lần, nhà thơ Minh Huệ đã không ngăn nỗi xúc động ghi lại những cử chỉ thương yêu lo lắng của Bác đối với các anh chiến sĩ trong một đêm Bác đến thầm chiến trường: Từng người từng người một Sợ cháu mình giật thót Bác nhón chân nhẹ nhàng! (Đêm nay Bác không ngủ) Không những thế, Bác còn thức trắng đêm vì lo lắng, vì thương cho đoàn dân công phải “ngủ ngoài rừng, rải lá cây làm chiếu, manh áo phủ làm chăn”. Sự chăm sóc, yêu thương ấy ai mà không khỏi xúc động. Vị lãnh tụ Hồ Chí Minh không phải là người lãnh tụ đơn thuần mà đối với mọi người, cái cảm giác xa cách giữa người lãnh đạo với nhân dân không có nữa, bởi “Người là cha, là Bác, là Anh; quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Ra đi tìm dường cứu nước từ quê hương miền Nam, lúc nào Bác cũng canh cánh trong lòng mong mỏi được trở về với đồng bào miền Nam ruột thịt. Cho nên đôi với đồng bào miền Nam, Bác luôn đành một tình thương đặc biệt. Nhớ đồng bào, Bác đã từng nói: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Chúng ta quên sao được, khi Quốc hội đề nghị tặng Bác Huân chương Nhà nước cao nhất để tưởng thưởng công lao đóng góp của Bác đối với đất nước thì Bác xin được đợi Bắc – Nam thống nhất, Người sẽ nhận từ tay đồng bào miền Nam. Bối với Bác, khi đồng bào Nam bộ chưa được giải phóng khỏi xích xiềng nô lệ thì Bác còn đau xót. Đến ngày thống nhất nước nhà Bắc Nam sum họp thì ta vui lòng Ai yêu các nhi đồng Bằng Bác Hồ Chí Minh Thật vậy, trong trái tim của Bác, Bác đành riêng một phần lớn cho lứa tuổi măng non, cho thế hệ nhi đồng của đất nước. Ngay trong những ngày đầu tiên trên đất nước độc lập, ở cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác bạn trăm công nghìn việc, vậy mà Bác vẫn dành thời gian viết thư gửi các cháu học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong thư, Bác ân cần nhắc nhở: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Và rồi hầu như Tết Trung thu nào trong những năm kháng chiến chống Pháp, Bác cũng viết thư, làm thơ gửi các cháu: Trung thu trăng sáng như gương Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng (Trung thu năm 1951) Cho đến sau ngày kháng chiến thắng lợi, trên lễ đài Ba Đình hay trong phủ Chủ tịch giữa thủ đô “Hà Nội, các em thiếu nhi bao giờ cũng là những vị khách quí của Bác. Cảm động hơn khi nghe câu chuyện một cô giáo mẫu giáo ở Hà Nội kể lại: Sáng hôm ấy, cô hướng dẫn một đoàn em nhỏ đi dạo chơi ngang qua phủ Chủ tịch. Khi phát hiện ra “nhà Bác Hồ” thì các em không chịu đi nữa và chen chúc nhau để được đến gần cổng. Các chú bảo vệ yêu cầu cô giáo dẫn các em đi xa. Cô giáo chưa biết phải làm gì trước tình thế này, thì trên thềm cao, Bác Hồ hiện ra như một ông tiên trong truyện cổ tích, với chùm râu bạc phất phơ trước gió, đôi mắt hiền từ, Bác vẫy tay ra lệnh mở cửa để các em vào chơi với Bác… Có phải chăng tình yêu thương của Bác đối với nhân dân, đặc biệt đối với thiêu nhi đã trở thành động lực thôi thúc Bác suốt đời phấn đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân. Bác đã có lần nói rõ: “Tôi chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi Cũng như muôn ngọn dãy Trường Sơn
Chứng minh tình yêu thương của Bác Hồ với nhân dân, đất nước, đảng và các cháu thanh niên nhi đồng
982
Chứng minh tính chân lí trong lời khuyên của Hồ Chí Minh – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Lời khuyên của Hồ Chí Minh Đề bài: Chứng minh tính chân lí trong lời khuyên: “Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên” (Hồ Chí Minh) Bài làm Hơn 60 năm về trước, trong một lần gặp gỡ anh em thanh niên xung phong làm đường ở Đèo Khế, Thái Nguyên, Bác Hồ đã đọc tặng bốn câu thơ: “Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên “ Bốn câu thơ đó, tuy ngắn gọn mà súc tích. Những lời dạy của Bác giờ đây đã trở thành phương châm sống của nhiều thế hệ trẻ thời đại mới, trong đó có cả tôi. Chỉ cần đọc qua bốn câu thơ một lần thôi thì bất cứ ai cũng hiểu được ý nghĩa mà bài thơ muốn mang lại. Trong cuộc sống, không có việc gì là dễ dàng nhưng cũng không có việc nào là quá khó khăn. Chúng ta có thể làm được mọi việc nếu như có sự “bền lòng”, kiên trì vượt khó, luôn có ý chí quyết tâm. “Đào núi và lấp biển” là những công việc tưởng chừng như không bao giờ làm được bởi nó quá vất vả, chông gai nhưng cũng đã có nơi, có người làm được. Vì vậy chỉ cần có lòng quyết tâm thì ta có thể làm được tất cả những việc ta muốn. Không chỉ với riêng tôi mà với tất cả mọi người đều đã, đang và sẽ làm theo lời Bác, bởi vì lời khuyên đó rất chí lí. Nếu như việc gì cũng đơn giản, ta chỉ việc “há miệng chờ sung” thì còn đâu là thú vị và đến khi nào ta mới biết khả năng thực sự của mình đến đâu? Mình có thể làm được những gì?… Mọi việc sẽ trở nên đơn giản hơn, giải quyết được nhanh chóng hơn nếu như ta quyết tâm và kiên trì thực hiện nó. Chính sự bền bỉ, nhẫn nại, quyết tâm sẽ đưa bạn đến với thành công. Ngược lại, chính sự chùn bước, thiếu kiên định sẽ đưa ta đến thất bại. Bất kì công việc nào, từ nhỏ đến lớn đều cần lòng quyết tâm, kiên trì mới thực hiện được. Thế mới biết, tính kiên nhẫn, chí bền bỉ có tầm quan trọng thế nào trong việc quyết định thành – bại của mỗi công việc nói riêng và sự nghiệp của cả đời người nói chung. “Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê Một viên gạch hồng Bác chống lại cả một mùa băng giá Và sương mù thành Luân Đôn ngươi có nhớ Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya”. Bác kiên nhẫn, bền bỉ đi khắp các nước trên thế giới để tìm hiểu con đường giải phóng dân tộc của họ. “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, công lao của Bác đã được đền đáp xứng đáng. Người đã giúp đất nước thoát khỏi khổ cực, nhân dân có cơm no áo đẹp, sánh vai được với các cường quốc năm châu. Tấm gương đó còn sáng mãi trong tâm trí chúng ta. Bên cạnh Bác còn có rất nhiều người để chúng ta học tập. Chắc hẳn ai cũng biết anh Nguyễn Ngọc Ký, người bị liệt cả hai tay nhưng vẫn tự mình đứng lên, bỏ qua mặc cảm của bản thân. Từ nhỏ, với mong ước lớn lao là được cắp sánh tới trường như bao bạn bè đồng trang lứa, anh đã quyết tâm tập viết bằng hai chân để có thể thực hiện được ước mơ đó. Biết bao nhiêu lần cầm bút cũng không nổi, biết bao nhiêu lần chân bị chuột rút đau tái tê người, tưởng chừng không thể viết được nữa. Nhưng bằng nghị lực, Nguyễn Ngọc Ký đã cố gắng biến ước mơ đó thành sự thật và để giờ đây, ông đã trở thành Nhà giáo Ưu tú được bao thế hệ học trò yêu quý, kính trọng. Không chỉ có những tấm gương thời nay mà từ xa xưa, nhân dân ta đã có một lòng quyết tâm, kiên trì. Trước đây, Mai An Tiêm nhờ chăm chỉ, kiên trì tìm ra được loại dưa hấu nên đã làm chủ được cuộc sống nơi hoang đảo không một bóng người, còn để lại cho người đời nay một loại quả thơm ngon, mát lành. Đến Cao Bá Quát, từ một cậu học sinh nghèo, “viết chữ như gà bới” nhưng nhờ kiên nhẫn, gắng sức tập viết, học chăm nên đã trở thành nhà nho nổi tiếng đến tận ngày nay. Từ những người bình thường nhưng nhờ nghị lực, kiên trì mà họ đã trở thành những bậc nhân tài để ta noi theo. Cá nhân tôi cũng đã học tập được rất nhiều từ những tấm gương sáng trong cuộc sống. Trước đây, tôi học yếu về môn Vật lí. Mặc dù đã nghe cô giảng trên lớp, làm nhiều bài tập nhưng tôi vẫn không hiểu và tư duy rất máy móc theo kiểu “dập khuôn” nên kiến thức cứ bị giảm sút. Điểm môn Vật lí của tôi bao giờ cũng thấp nhất, luôn bị bạn bè cười chê. Đến một ngày, tôi tình cờ xem được chương trình “Người thật việc thật” trên ti vi và suy nghĩ rất lâu về tình trạng của mình. Biết bao nhiêu người khó khăn hơn mình, hoàn cảnh éo le, vất vả hơn mình mà họ còn cố gắng vượt qua để đứng lên thì tại sao, mình chỉ gặp một vấn đề nhỏ nhoi thôi mà đã chùn bước. Từ đó, tôi đã tự nhủ phải làm sao để điểm môn Vật lí không còn kém như vậy nữa. Tôi đã học được cách tư duy sáng tạo hơn, những bài tập cô giao làm đi làm lại đến khi hiểu thì thôi không những hỏi cô mà tôi còn hỏi luôn cả bạn bè về những điều mà tôi chưa biết. Sau một học kì, điểm môn Vật lí của tôi đã không còn lẹt đẹt như trước nữa. Đến tôi còn không tin vào mắt mình, thầy cô đã tuyên dương tôi, bạn bè thì nhìn tôi với con mắt thán phục chứ không chê cười, khinh thường như khi tôi còn học kém. Điều đó thực sự làm tôi thấy hạnh phúc. việc. Đúng vậy, có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được bốn câu thơ đó, ngắn gọn mà súc tích: “Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên” Phạm Thị Phương Linh (Trường PTDL Lương Thế Vinh) >> Xem thêm Về vấn đề kỉ luật trong đời sống tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Lời khuyên của Hồ Chí Minh
Chứng minh tính chân lí trong lời khuyên của Hồ Chí Minh – Bài văn hay lớp 8
1,157
Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân- Văn lớp 12 Hướng dẫn Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân- Văn lớp 12 Bài làm Nhà văn Kim Lân là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực sau cách mạng tháng 8/1945. Ông sáng tác không nhiều nhưng mỗi tác phẩm của ông đều gây được những tiếng vang và tác động lớn tới những số phận con người nông dân nghèo khổ. Để lại niềm xúc động khó phai trong lòng bạn đọc. Vợ nhặt được tác giả Kim Lân viết sau năm 1945 nhưng ông lấy bối cảnh lịch sử về nạn đói kinh điển làm chết hai triệu dân ta làm đề tài cảm hứng sáng tác. Mở đầu truyện ngắn người ta cảm nhận vậy thấy những hình ảnh buồn thảm, u ám trong cảnh hoàng hôn mờ nắng, bóng người lập lờ trong bóng tối ảm đạm. Hình ảnh nhân vật anh cu Tràng xuất hiện chẳng khác nào nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm của Nam Cao. Hắn vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai con mắt ti hí, hai quai hàm bạnh ra, thể hiện những nét thô kệch. Ngay từ nhan đề của tác phẩm là “Vợ nhặt” đã gợi lên cho con người những suy nghĩ vô cùng tò mò, thắc mắc, bởi xưa nay việc lấy vợ là việc làm vợ cùng quan trọng. Chính vì vậy người xưa mới có câu nói rằng “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà. Trong ba việc ấy thật là khó thay” muốn thể hiện rằng việc cưới vợ là việc vô cùng trọng đại của con người, chứ không phải một việc làm có thể thực hiện qua loa đại khái. Nhưng nhan đề tác phẩm là Vợ nhặt thể hiện sự dễ dàng, vội vã, khoa loa đại khái của việc kết hôn. Người ta nhặt được vợ như nhặt được một món hàng ngoài chợ vậy. Nhan đề của tác phẩm gợi lên sự bi thảm, éo le của thân phận những người phụ nữ trong thời kỳ đói kém này. Công cha mẹ bao năm sinh thành dưỡng dục nhưng nay chỉ như một cục gạch được người ta lượm từ ngoài đường lượm về như một món đồ mà thôi. Không có cưới xin, không có đăng ký kết hôn, không ra mắt hai bên họ hàng…Số phận của người phụ nữ thật bi thảm biết bao. Nơi nào người ta cũng nhìn thấy xác chết, nằm la liệt, ngổn ngang khắp nơi, mùi xác thối rữa hòa vào không khí tạo thành một mùi sứ uế vô cùng kinh khủng. Những người sống thì đi lại vật vờ như những bóng ma chỉ còn da bọc xương mà thôi, trên khuôn mặt chỉ còn lại hai con mắt, khiến cho người ta ghê sợ. Nạn đói đã làm cho con người ta thay đổi tâm tính, của mình. Khiến cho một co gái hiền lành, rụt rè trở nên bạo dạn. Cô thường gạ gẫm người ta mời mình ăn, và khi được mời thì không ngại ngần ngồi xuống húp một chập hết bốn bát bánh đúc, rồi lấy đũa quẹt ngang mồm khen ngon! Nó khiến cho người phụ nữ chỉ vì một lời bông đùa mà nhảy lên câng câng chửi người ta là điêu toa, người thế mà điêu. Rồi cũng chính vì nạn đói mà chỉ một vài lần gặp gỡ. Những câu hò bông đùa đã khiến một cô gái theo một chàng trai về nhà làm vợ. Nhưng tất cả chỉ là vẻ bề ngoài của cô gái mà thôi, ẩn chứa bên trong người con gái đó là một tâm hồn khao khát có một hạnh phúc gia đình. Một mái ấm, nơi che nắng che mưa, chia sẻ những vui buồn, nơi sẽ có những người thân lo lắng cho cô, cùng nhau vun vén hạnh phúc tương lai, không còn phải sống cảnh một mình cô đơn, nay đây mai đó nữa. Nhân vật anh cu Tràng là một người có xuất thân bần hàn, cảnh nhà éo le, mẹ góa con côi. Anh cũng chẳng được học hành nhiều, vẻ bề ngoài thô sơ khô ráp, không có gì làm đẹp trai cả. Trong hoàn cảnh bình thường một người như anh cu Tràng rất khó để lấy được vợ nhưng trong hoàn cảnh này anh lại có thể nhặt được vợ. Đó cũng chính là điều kỳ diệu của tạo hóa. Anh Tràng đưa có gái lạ về nhà mình, mọi người hàng xóm xung quanh nhà anh lạ lắm. Họ đứng nhìn đôi bạn trẻ rồi bàn tán xôn xao. Có người vui mừng cho anh cu Tràng có tình duyên, nhưng có người lại chỉ biết thở dài “Biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không” rồi họ cùng im lặng sau câu nói chua chát khắc nghiệt đó. Một sự thật phũ phàng rằng trong thời kỳ đói kém đó người chết la liệt đó, cưới vợ về là vác thêm một miệng ăn, nhà anh Tràng cũng không giàu có gì, mẹ thì già, giờ lại cưới vợ lúc này là mang thêm một gánh nặng. Nhưng dù ai nói gì thì anh Tràng vẫn vui vẻ cười, anh cảm thấy có điều gì đó thật lạ lẫm trong tâm hồn mình. Còn cô gái đi bên cạnh anh thì bẽn lẽn, khác hẳn vẻ chanh chua, đanh đá ngày thường. Nhưng giá trị nhân đạo của tác phẩm không chỉ dừng lại ở bấy nhiêu đó. Qua sự gặp gỡ của mẹ chồng nàng dâu trong ngày đầu tiên người ta cảm nhận được một tình cảm nhân văn sâu sắc. Bà cụ Tứ mẹ anh cu Tràng xuất hiện trong bóng chiều lam lũ, ảm đạm, bà lưng đã còng mắt đã kém, nhưng nhìn từ xa bà thấy có người phụ nữ lạ ngồi trong nhà mình. Bà giật mình lắm, tưởng mình nhìn gà hóa cuốc. Nhưng khi bà lại gần thì đúng là có người con gái xa lạ ngồi trong nhà, lại còn chào mình bằng u nữa. Thì bà biết mình không nhầm Rồi khi nghe anh cu Tràng giới thiệu đây là nhà con, từ nay nó sẽ ở nhà mình. Thì bà biết rằng đó là con dâu của mình. Một chút bối rối, rồi chạnh lòng khi bà nghĩ tới thân phận của mình. Bà thương con người ta lấy nhau trong lúc ăn nên làm ra, còn mình thì…Rồi bà lại nghĩ có gặp hoàn cảnh khó khăn đói kém như lúc này thì người ta mới lấy tới con mình và con mình mới có vợ. Một người phụ nữ vô cùng nhân hậu, có tấm lòng bao dung cao cả, thể hiện sự nhân văn nhân đạo trong con người bà. Bà không sợ gia đình có thêm một miệng ăn, bà sẵn sàng giang tay tiếp nhận người con gái lạ kia làm con dâu của mình, cưu mang chở che cho cô ấy. Bà cụ Tứ thật sự là người mẹ chồng tuyệt vời. Trong câu chuyện của gia đình đó họ nói tới tương lai, trong cảnh nghèo đói nhưng họ không đầu hàng số phận. Họ vẫn luôn nghĩ tới sự sống, tìm đường sống cho mình chứ không hề tìm tới cái chết. Đó chính là giá trị nhân đạo sâu sắc mà tác phận Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân mang lại cho người đọc. Trong bữa cơm người ta nói về tin đồn Việt Minh phá kho thóc của Nhật chia cho dân nghèo, rồi việc nhiều nơi như làng bên cạnh không phải thu thuế người dân đứng lên đấu tranh giành quyền sống cho mình. Trong màn đêm tăm tối của nạn đói của bối cảnh lịch sử đó, con người ta đã tìm thấy ánh le lói của sự sống. Truyện ngắn Vợ nhặt thể hiện lòng yêu thương giữa con người với con người trong hoàn cảnh khó khăn. Nó thể hiện tinh thần nhân văn cao cả đùm bọc lẫn nhau trong hoàn cảnh khốn khổ nhất của lịch sử dân tộc. Qua tác phẩm của mình Kim Lân cũng thể hiện được tinh thần nhân văn nhân đạo sâu sắc của mình.
Chứng minh tính nhân đạo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân- Văn lớp 12
1,390
Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Có công mài sát có ngày nên kim Hướng dẫn Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Có công mài sát có ngày nên kim Trong cuộc sống, để đạt được một thành công nào đó thì nhất định người đó phải có lòng kiên trì, bền bỉ không chịu đầu hàng trước bất kì một khó khăn thử thách nào. Và người xưa đã từng đúc rút kinh nghiệm đó qua câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Trước hết câu này muốn nói lên thực tế rằng khi có một cục sắt nếu ta cứ kiên trì bền bỉ mài giũa nó thì đến một ngày nào đó, cục sắt to kia sẽ trở thành một chiếc kim nhỏ. Từ câu tục ngữ này, cha ông ta xưa muốn khuyên răn chúng ta rằng: bất cứ việc gì con người cũng có thể làm được, miễn là chúng ta biết chịu khó khổ luyện, biết kiên trì nhẫn nại, không quản gian lao vất vả. Câu nói này không biết ra đời từ bao giờ và cho đến này nó vẫn là một câu nói quen thuộc đối với mỗi người. Chúng ta có thể chứng minh được tính đúng đắn của câu tục ngữ qua thực tế. Đối với những người học sinh chúng ta lòng kiên trì cũng rất cần thiết. Ai đi học cũng mong muốn mình trở thành học sinh giỏi, song để đạt được mục đích đó lại không phải là chuyên đơn giản. Bởi kiến thức là vô cùng vô tận, sự hiểu biết của học sinh còn hạn chế, nếu ta đầu hàng trước những bài văn, bài toán khó thì ta sẽ không thể học tốt được. Thực tế có những bạn khi đọc đầu đề của một bài toán thấy khó thường nản chí không tự làm nữa rồi dần đần thành thói quen, cứ gặp những bài toán khó là bỏ thì chắc chắn bạn đó sẽ không thể đạt được kết quả cao trong học tập, còn nếu trước các bài toán hóc búa ta cứ chịu khó mày mò, một tiếng không giải được thì hai tiếng và có thể hơn nữa chắc chắn ta sẽ làm được, từ đó tạo cho ta một thói quen kiên trì học tập không hề nản lòng trước bất kì một khó khăn nào. Áo anh rách vai quan tôi có vài mảnh vá. Đêm tối chung chăn thành đôi tri kỉ. Rét run người vầng trán đẫm mồ hôi. Hay trong bài thơ Tây Tiến ta còn chứng kiến cả sự hi sinh mất mát. Anh bạn dãi dầu không bước nữa. Gục trên súng mũ bỏ quên đời. Đọc câu thơ ta thấy hoàn cảnh của các chiến sĩ vô cùng thiếu thốn thế nhưng những hi sinh mất mát đó chẳng làm nhụt ý chí chiến đấu của các chiến sĩ mà trái lại như động lực giúp họ chiến đấu anh dũng hơn. Chính nhờ ý chí kiên cường bất khuất, kiên trì bền bỉ cuối cùng chiến thắng đã về tay ta. Chúng ta đã giành lại tự do từ tay bọn đế quốc, vốn mạnh hơn ta rất nhiều. Và ngày nay, trong đời sống ta cũng bắt gặp nhiều tấm gướng sáng về ý chí sự kiên trì bền bỉ vượt lên khó khăn để trở thành một con người có ích cho xã hội. Chúng ta từng chứng kiến tấm gương thầy Nguyễn Ngọc Ký. Người ta thường nói Giàu hai con mắt khó đôi bàn tay, ấy vậy mà anh Nguyễn Ngọc Ký đã bị liệt đôi tay từ khi còn rất nhỏ. Chắc chắn khi đó ai cũng nghĩ rằng cả cuộc đời này anh sẽ trở thành con người tàn phế thế nhưng chính bằng ý chí sự kiên trì bền bỉ anh đã tận dụng sự lành lặn của đôi chân để viết những nét chữ đầu tiên, lúc đầu còn nguệch ngoạc và không biết đã bao lần anh bị chuột rứt co quắp cả chân, đau đớn bực mình anh đã vứt tất cả vào xó nhà định bụng sẽ không học nữa, nhưng rồi anh lại kiên trì tập dần mỗi ngày một ít và anh đã thành công, không những thế chữ anh còn rất đẹp. Vậy là anh có thể đi học bình thường như các bạn khác, mặc dù vào những ngày đường trơn việc đi lại không hề dễ dàng thế nhưng anh đã vượt qua tất cả để trở thành con người có tri thức. Và trong cuộc sống hàng ngày, anh cũng cố gắng làm những việc có thể làm được để giúp đỡ mẹ cha. Hơn thế anh còn làm những việc tưởng chừng như không thể đó là vớt bèo, băm bèo… Tất cả những việc làm đó rất khó khăn đối với anh thế nhưng anh đã làm được. Chúng ta hiểu rằng đó chính là ý chí nghị lực lòng kiên trì, quyết tâm đã giúp anh trở thành con người có ích cho xã hội. Anh đã trở thành một nhà giáo. Đây chính là một minh chứng cho câu tục ngữ xưa Có công mài sắt cố ngày nên kim. Trong thực tế cũng chứng minh rằng nếu ta không kiên trì bền bỉ trong học tập cũng như trong các công việc khác thì chắc chắn ta sẽ không thể thành công trong bất cứ công việc gì. Chẳng hạn như ta muốn học thật giỏi nhưng buổi tối mùa đông ngồi học một lát ta lại nghĩ đến chiếc giường ấm áp và vội vã học thật nhanh để đi ngủ trong khi bài cũ vẫn chưa học xong, bài tập cô giáo cho về nhà chưa làm, chưa chuẩn bị bài cho ngày hôm sau. Rồi có khi trước những công việc được giao chỉ cần có chút khó khăn là đã chùn bước thì chắc chắn người đó sẽ chẳng làm được việc gì tốt cả. Do vậy cho đến tận ngày nay và có lẽ cho đến muôn đời thì câu tục ngữ Có công mài sát có ngày nên kim đã trở thành chân lí. Đó là một lời khuyên, lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta trên con đường hướng tới tương lai.
Chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Có công mài sát có ngày nên kim
1,058
Chứng minh tục ngữ thể hiện tri thức của nhân dân Hướng dẫn làm bài – Đề bài yêu cầu: chứng minh nhận định “Tục ngữ thể hiện tri thức của nhân dân”. – Lấy dẫn chứng từ những câu tục ngữ trong chương trình SGK Ngữ văn 7, tập 2 và một số câu tục ngữ khác. – Bài làm cần đủ các ý chính sau: Mở bài: + Giới thiệu vị trí của tục ngữ trọng kho tàng văn học dân gian Việt Nam. + Giới thiệu về tục ngữ: là kho báu của kinh nghiệm và trí tuệ dân gian, là “túi khôn dân gian vô tận”. Thân bài: + Khái niệm tục ngữ: tục ngữ là những câu nói dân gian, thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt, được nhân dân vận dụng vào cuộc sống… + Tục ngữ về thiên nhiên, lao động sản xuất: phản ánh những hiểu biết của nhân dân về tự nhiên và công cuộc lao động, chinh phục thế giới. . Kinh nghiệm tự nhiên: Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng! Ngày tháng mười chưa cười đã tối,… . Kinh nghiệm lao động: Tấc đất, tấc vàng; Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền,… + Tục ngữ về con người, xã hội: . Ca ngợi con người: Một mặt người bằng mười mặt của; Cái răng cái lóc là góc con người,.. . Khuyên bảo con người điều hay lẽ phải – Không thầy đố mày làm nên; Ăn quả nhớ kẻ trồng cây; Một cây làm chằng nên non / Ba cây chụm lại nên hòn núi cao,… Kết bài: + Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tục ngữ đối với đời sống con người. + Bảo tồn, phát huy giá trị của tục ngữ. Bài văn mẫu Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, dù công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ song chung ta vẫn không thể phú nhận vai trò của những kinh nghiệm dân gian, đó là những câu tục ngữ. Có điều này bởi tục ngữ thể hiện vốn tri thức, vốn hiểu biết của nhân đân về nhiều mặt trong tự nhiên và xã hội. Tục ngữ là những câu nói dân gian thể hiện những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt: tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hàng ngày. Bản thân tên gọi thề loại văn học này đã phần nào phản ánh bản chất của thể loại: “tục” là thói quen, lâu đời, được mọi người công nhận; “ngữ” là lời nói. Như vậy, “tục ngữ” là lời nói phản ánh những thói quen lâu đời, những vấn đề đã được mọi người trải nghiệm và công nhận. Ta có thể kể đến câu tục ngữ: Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối. Câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm về khoảng thời gian tháng năm, tháng mười. Tháng năm đêm ngắn (chưa kịp nằm trời đã sáng), tháng mười ngày ngắn (chứa kịp cười đã tối). Như vậy, tháng năm (suy rộng ra là mùa hè) ngày dài, tháng mười (suy rộng ra là mùa đông) đêm dài. Hiểu biết trên đây xuất phát từ những lần quan sát và trải nghiệm thực tế. Áp dụng kinh nghiệm này, người ta chú ý phân bố thời gian biểu làm việc cho phù hợp; chú ý khẩn trương khi làm việc, bố trí giấc ngủ hợp lí,… Câu tục ngữ giúp con người có ý thức về thời gian làm việc theo mùa vụ. Cùng nội dung về thiên nhiên, câu tục ngữ sau đây phản ánh hiểu biết của dân gian về thời tiết: Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa. Khi trời nhiều sao “mau sao” thì sẽ nắng, khi trời không có hoặc ít sao “vắng sao” thì mưa. Cơ sở thực tiễn của câu tục ngữ cũng là dựa trên quan sát, trải nghiệm thực tế. Ít mây nên nhìn thấy nhiều sao, mây ít trời quang vậy sẽ có nắng; nhiều mây nên nhìn thấy ít sao, mây nhiều vậy trời sẽ mưa. Đây là một trong những kiến thức đơn giản, nhìn sao trên trời đêm hôm trước có thể đoán trước được thời tiết của ngày hôm sau để sắp xếp công việc. Điều kiện thiên nhiên gắn bó sâu sắc với đời sống lao động sản xuất. Ngoài việc thể hiện tri thức về thiên nhiên, qua tục ngữ, dân gian còn thể hiện tri thức trong lao động sản xuất. Trong lao động, đối với nền nông nghiệp trồng lúa nước như nước ta, không có gì quý hơn đất đai, bởi vậy nên: Tấc đất tấc vàng Đất thường tính bằng đơn vị mẫu, sào, thước. Tính tấc là muôn tính đến đơn vị nhỏ nhất. Vàng là kim loại rất quý (Quý như vàng) tính đếm bằng gam, bằng cây (dùng cận tiểu li để cân đong). Nhân dân nói “Tấc đất tấc vàng” là để khẳng định đất đai được coi quý ngang vàng: tấc đất là tấc vàng. Đất đai quý giá như vậy nên cần sử dụng đất đai cho hiệu quả. Dân gian cũng đúc rút kinh nghiệm: Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền. Câu tục ngữ nói về giá trị kinh tế khi khai thác ao, vườn, ruộng. Cũng có thể nói về sự cộng phu, khó khăn của việc khai thác các giá trị kinh tế ở các nơi đó. Ao thả cá, thả rau muống, rau cần… do đó cho phép thu hoạch đa dạng nhiều loại sản:phấm cho giá trị kinh tế cao. Nhưng đồng thời cũng vất vả nhất do phải đầu tư nhiều về ao, thức ăn, công sức… Vườn thì trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Giá trị kinh tế thấp hơn cả nhưng cao hơn lúa ngô khoai sắn. Ruộng thì phổ biến hơn cả, chỉ để cây lúa hay trồng cây lương thực, hoa màu. Cũng vì vậy mà giá trị kinh tế thấp. Người xưa đã tổng kết về giá trị kinh tế đồng thời cũng có thể hiểu là độ khó của kĩ thuật khi nuôi trồng canh tác trên ao, vườn, ruộng, Nhắc đến tục ngữ, không thể không nhắc đến những hiểu biết của nhân dân về con người yà đời sống xã hội. Nhắc đến con người, tục ngữ ngợi ca: “Một mặt người bằng mười mặt của?. Điều đó hàm nghĩa đề cao giá trị của con người. Của cải đã quý giá (“Quý như vàng”) nhưng con người còn quý hơn. Các lượng từ “một” (mặt người), “mười” (mặt của) chỉ là ước lộ nhằm khẳng định: con người quý giá hơn của cải rất nhiều. Điều dó có cơ sở thực tế là con người chính là đối tượng trực tiếp lao đọng sản xuất làm ra của cải vật chất. Bởi thế, đây là câu tục ngữ đầy tính nhàn văn. Con người không sống lẻ loi, đơn độc mà sống trong mối quan hệ cộng đồng rộng lớn, bởi vậy cũng cần biết đến những cách sống đẹp. Đó là sống có trước có sau, biết ơn những người đã giúp đỡ mình: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Sống biết yêu thương, đoàn kết với tập thể để vượt qua những khó khăn, gian khổ của cuộc sống: “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”,… Đặc biệt, đối với con người, học tập là công việc quan trọng suốt đời nên phải biết học tập mọi lúc, mọi nơi, từ nhiều người, nhiều nguồn: Không thầy đố mày làm nên. Học thầy không tày học bạn. Mới đọc tưởng chừng hai câu tục ngữ đôi lập nhau nhưng thực chất lại bô sung chặt chẽ cho nhau. Cả hai cầu, câu nào cũng đề cao việc học, chỉ có học tập, biết tìm thầy mà học thì con người mới có thể thành tài, có khả năng đóng góp cho xã hội và sống mới có ý nghĩa. Mặt khác, học hỏi ở ngay những người bạn cùng trang lứa cũng là một cách học quan trọng, bản thân mỗi người có thể lấy đó làm gương, tu dưỡng nhân cách. Tục ngữ thể hiện những tri thức quý báu của nhân dân về mọi mặt trong đời sống của con người. Đó đều là những hiểu biết vàng mười đã được thời gian và sự thật cuộc sông thử thách, sàng lọc. Điều đặc biệt là vốn tri thức ấy lại được diễn đạt bằng những hình thức vô cùng ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ lưu truyền. Và bởi thế, cho đến ngày nay và mai sau, dó thực sự là vốn quý của chúng ta, giúp chúng ta có được những hiểu biết sâu rộng về tự nhiên và xã hội.
Chứng minh tục ngữ thể hiện tri thức của nhân dân
1,482
Chứng minh tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Tục ngữ là trí khôn muôn đời của nhân dân, mỗi câu tục ngữ là một bài học lớn. Một trong những bài học ấy được đúc kết trong câu tục ngữ hàm súc: Có công mài sắt có ngày nên kim. Câu tục ngữ đã nêu lên một chân lí lớn bằng những hình ảnh tượng trưng đầy sức thuyết phục, sắt là một thứ kim loại cứng thế nhưng mài mãi cũng sẽ thành cây kim nhỏ. Đó là một sự kiên trì, cố gắng phi thường. Từ một thanh sắt to thành cái kim nhỏ phải tốn bao công sức, mồ hôi mới có được. Mới nghĩ đến ta đã thấy run sợ, ngại ngùng, nghĩ rằng chẳng ai kì công ngồi mài kim như thế. Tuy nhiên vẫn có người không quản ngại gian khổ, không sá công sức, vẫn gắng sức làm cho kì được. Cho nên cây kim dù bé nhỏ, không đáng gì nhưng nó là thành quả của biết bao sự cố gắng, kiên trì, nhẫn nại. Nghĩa đen của câu tục ngữ chỉ là việc mài sắt thành kim, nhưng nếu mở rộng nghĩa của câu tục ngữ ra thì mới thấy hết ý nghĩa của nó. Trong thực tế không ai lại mài một thanh sắt to thành cây kim nhỏ. Thế câu tục ngữ muốn nói điều gì? Câu tục ngữ là một lời khuyên, một bài học mà cha ông ta đã đúc kết từ ngàn đời và truyền lại cho con cháu. Đó chính là một triết lí trong cuộc sống: có kiên trì nhẫn nại và quyết tâm lớn thì việc gì làm cũng xong, kể cả đó là việc khó khăn tưởng chừng không hoàn thành như mài một thanh sắt thành một cây kim. Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên. cũng là trên tinh thần như thế. Qua lời dạy của Bác, chúng ta càng hiểu thêm về sức mạnh của lòng kiên trì, đức tính nhẫn nại, bền bỉ. Có quyết tâm lớn thì việc gì cũng làm được, kể cả việc đào núi và lấp biển. Trong cuộc sống, chúng ta có biết bao nhiêu tấm gương tiêu biểu về đức tính kiên trì nhẫn nại, đã quyết mài sắt để cuối cùng có được cây kim như ý mình. Tấm gương ấy không đâu xa lạ, đó chính là Bác Hồ – người Cha già của dân tộc. Đất nước ta được hòa bình, tự do như ngày hôm nay chính là một phần nhờ vào lòng kiên trì, bền gan vững chí của Bác trong hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước của Người. Khi còn là chàng thanh niên, Bác đã từ biệt quê hương ra đi tìm đường cứu nước, ở nơi đất khách quê người, Bác đã làm mọi việc để kiếm sông, chịu nằm gai nếm mật để tìm con đường giải phóng dân tộc. Và cuối cùng sự hi sinh của Bác cũng mang lại niềm hạnh phúc cho toàn dân tộc, đó chính là cây kim mà Bác đã dành hơn ba mươi năm của cuộc đời mài tặng cho dân tộc ta. Tấm gương Bác Hồ chói sáng và rực rỡ trước hết là ở chỗ Bác đã biết cất công mài sắt để cuối cùng nên kim. Gần gũi với chúng ta có không ít những tấm gương sáng đáng khâm phục. Nhà thơ Nguyễn Khuyến nổi tiếng là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Những sáng tác của ông là kết quả của một sự rèn luyện không ngừng, không biết mệt mỏi vì phải lao tâm khổ tứ. Thiên tài không thể hình thành trong một sớm một chiều mà phải qua một quá trình rèn luyện đúng như một nhà văn phương Tây từng khẳng định: Thiên tài là một sự kiên nhẫn lâu dài. Với Nguyễn Khuyến khẳng định này càng có ý nghĩa thực tế. Để trở thành một nhà thơ lớn, Nguyễn Khuyến đã trải qua một cuộc sống nghèo khổ, túng thiếu. Theo sử sách ghi lại thì nhà Nguyễn Khuyến rất nghèo, mỗi buổi sớm đến trường phải mang theo một cái giậm để sau mỗi buổi bình văn còn đi bắt cá. Quê ông vốn đồng chiêm trũng nên rất nhiều cá. Có những buổi sớm mùa đông giá lạnh, thầy đồ vẫn thấy anh học trò nghèo lam lũ dưới ao sâu. Tối về nhà không có đèn, anh học trò nghèo họ Nguyễn lại bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng hoặc tận dụng ánh trăng để đọc sách. Sự thành công của Nguyễn Khuyến không chỉ ở thiên tài thơ văn mà còn ở sự kiên trì và lòng quyết tâm của chính nhà thơ. Trong lao động, tấm gương của nhà bác học Lương Định Của là một minh chứng có sức thuyết phục cao nhất. Để lai tạo một giống lúa có năng suất cao, có khả năng chống rầy tốt, ông phải làm việc vô cùng vất vả và khó nhọc. Hàng ngày, từ khi trời chưa sáng, ông đã lội bì bõm dưới ruộng để nghiên cứu, thử nghiệm, đến tối mịt mới trở về. Qua vài vụ lúa, một giống lúa mới được hình thành. Cứ như vậy, sự lao động không biết mệt mỏi của ông đã mang lại biết bao sự thay đổi cho những người nông dân chân lấm tay bùn. Ngược dòng lịch sử, Mai An Tiêm là một bằng chứng cho sự chăm chỉ và kiên trì. Trên thế giới, không ai là không biết nhà bác học người Pháp Ma-ri-e Cu- ri-e. Họ đã kì công trong bốn năm trời lọc đi lọc lại tám tấn quặng để tìm một phần mười gam chất phóng xạ Ra-đi-um. Thế mới biết, muốn tìm một nguyên tố hóa học cũng đòi hỏi sự bền bỉ, kiên trì mãnh liệt. Lời khuyên của cha ông luôn luôn đúng đắn, thiết thực. Nó có ý nghĩa lớn hơn khi ta thực hiện tốt lời dạy đó. Tags:Văn 8
Chứng minh tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim” – Đề và văn mẫu 8
1,033
Đề bài: Chứng minh Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu Dàn ý I. MỞ BÀI Thơ Tố Hữu dễ đến với mọi tấm lòng, không chỉ vì nội dung mà còn do giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc. Điều này được bộc lộ khá rõ trong phần đầu bài thơ Việt Bắc. II. THÂN BÀI 1. Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu trong Việt Bắc a) Bài thơ nói đến nghĩa tình cách mạng nhưng thi sĩ lại dùng giọng của tình thương, lời của người yêu để trò truyện, giãi bày tâm sự. Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao, dân ca, và phần đầu này cũng thế – nó là lời giãi bày tâm sự giữa người đi (người về xuôi) với người ở lại là đồng bào Việt Bắc. Mười lăm năm cách mạng thành mười lăm năm ấy tha mặn nồng, người đi người ở thành mình – ta, ta – mình quấn quýt bên nhau trong một mối ân tình sâu nặng. Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn. Chứng minh Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết b) Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết ấy tạo nên âm hưởng trữ tình sâu đậm của khúc hát ân tình cách mạng Việt Bắc, từ khúc hát đạo đầu Mình về mình có nhớ ta… đến những lời nhắn gửi, giãi bày Mình đi có nhớ những ngày – Mình về rừng núi nhớ ai… Ta đi ta nhớ những ngày – Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…, đến những nỗi nhớ da diết sâu nặng: Nhớ gì như nhớ người yêu, Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương. Nhớ từng băn khói cùng sương, Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. …..Nhớ người mẹ nắng cháy lưng, Dịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô. 2. Nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc trong Việt Bắc a) Thể thơ: Trong phần đầu (cũng như cả bài thơ), Tố Hữu đã sử dụng thể thơ dân tộc, đó là thể thơ lục bát. Thi sĩ đã nhuần nhuyễn thể thơ này và có những biến hoá, sáng tạo cho phù hợp với nội dung, tình ý câu thơ. Có câu tha thiết sâu lắng như bốn câu mở đầu, có câu nhẹ nhàng thơ mộng (Nhớ gì như nhớ người yêu…) lại có đoạn hùng tráng như một khúc anh hùng ca (Những đương Việt Bắc của ta… Đèn pha bật sáng như ngày mai lên) b) Kết cấu: Kết cấu theo lối đốì đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao dân ca là kết cấu mang đậm tính đân tộc. Nhờ hình thức kết cấu này mà bài thơ có thể đi suốt một trăm năm mươi câu lục bát không bị nhàn chán. c) Hình ảnh: Tố Hữu có tài sử dụng hình ảnh dân tộc một cách tự nhiên và sáng tạo trong bài thơ: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; mưa nguồn suối lũ; bước chân nát đá (sáng tạo từ câu ca dao: trông cho chân cứng đá mềm). Có những hình ảnh chắt lọc từ cuộc sống thực cũng đậm tính dân tộc: miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai; hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son và đặc biệt là tình đậm đà của tình giai cấp: Thương nhau chia củ sắn lùi, Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. d) Ngôn ngữ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhât trong cặp đại từ nhân xưng ta – mình, mình – ta quấn quýt với nhau và đại từ phiến chỉ ai. Đây là một sáng độc đáo và cũng là một thành công trong ngôn ngữ thơ ca của Tố Hữu. nhạc điệu: Trong bài thơ là nhạc điệu dân tộc với thể thơ lục bát nhịp nhàng, thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng biến hoá, sáng tạo, không có đơn điệu (có hùng tráng như cảnh "Việt Bắc ra quân", trang nghiêm như cảnh buổi họp trung ương, chính phủ…) III. KẾT BÀI Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân của Tố Hữu đã góp phần quan trọng vào thành công của bài thơ Việt Bắc, cho nó nhanh chóng đến với người đọc và vẫn sống mãi trong lòng nhân ta từ khi ra đời cho đến hôm nay.
Chứng minh Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu
756
Đề bài: Chứng minh văn học của dân lộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thế thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thở ờ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn Bài làm Bạn và tôi thuở ấu thơ trong nôi, chắc chúng ta ai cũng được nghe lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ: "À ơi… Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng" Gốc của thơ và nhạc là từ đó, vốn văn học nảy sinh từ nền văn hoá dân gian mang theo điệu hồn dân tộc ở trong mỗi người. Mỗi bài thơ ta đọc, mỗi bài văn thầy giảng em nghe đều thấm đẫm một triết lý nhân sinh cao cả nhắc nhở ta đạo làm người biết "thương người như thể thương thân" và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Đó chính là tư tưởng cốt lõi của văn hoá dân tộc. Văn học là nhân học, gắn văn học với chức năng giáo dục tư tưởng thẩm mĩ, trong mỗi tác phẩm văn chương ở nhà trường, ta đều cảm nhận tinh thần nhân ái của con người Việt Nam, một truyền thông đạo lý tốt đẹp mà mỗi chúng ta luôn trân trọng nâng niu và soi vào đó để tự răn mình. Từ buổi đầu tiên cắp sách đến trường, trong những lời cô giảng, câu ca dao trong SGK lớp 1 đã thấm vào hồn con lòng nhân ái yêu thương gần gũi như lời thủ thỉ tâm tình của người mẹ. Lớn lên học lớp 5, lớp 6 nghe thầy đọc những trang thơ, những truyện cổ hay, lòng em thấy xúc động nao nao: em thương cô Tấm thảo hiền, ghét Lý Thông ở ác, em thêm yêu quê hương qua lời thơ ngọt ngào của Trần Đăng Khoa: Em nghe thấy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà Mái chèo nghe vọng sông xa Êm êm như tiếng của bà năm xưa Nghe trăng thở động tàu dừa Ào ào nghe chuyền cơn mưa giữa trời Thêm yêu tiếng hát nụ cười Nghe thơ em thấy đất trời đẹp hơn. (Nghe thấy đọc thơ) Càng yêu thơ văn dân tộc ta càng khám phá được trong mỗi tác phẩm vẻ đẹp kì diệu lung linh của nó mà cơ sở cho sự sáng tạo chính là cội nguồn của tình yêu thương sự đồng cảm, chân thành của nhà văn với con người tạo nên linh hồn trong mỗi sáng tác. Đọc truyện "Sơn Tinh Thuỷ Tinh" ai cũng hiểu đó là câu chuyện hoang đường nhưng sao nghìn đời nay ta vẫn yêu vẫn quí, đọc trăm lần không chán bởi hình tượng chàng Sơn Tinh chính là hình ảnh của dân Văn Lang thuở hồng hoang khai thiên lập địa gặp muôn ngàn khó khăn. Càng đọc ta càng khâm phục sự sáng tạo kì diệu của nhân dân khi xây dựng hình tượng nghệ thuật này dưới câu chuyện tình lãng mạn đẹp thời cổ đại. Và càng đọc ta càng thấy dụng ý ngợi ca con người, sức mạnh và ý chí con người quả là lớn lao đáng khâm phục: bao lần đấu tranh, chiến sự xảy ra nhưng Sơn Tinh vẫn thắng, Thuỷ Tinh giao chiến mệt mỏi đành rút quân về. Ca ngợi con người, những con người chính nghĩa, bảo vệ cho công lý đó là chức năng của tác phẩm nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn học nói riêng. Hồi kí "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng sao đáng yêu đến thế. Bức chân dung chân thực mà sống động về một cậu bé bất hạnh sống thiếu tình thương nhưng vô cùng trong sáng hồn nhiên và có tình yêu thương mẹ mãnh liệt. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm chính là một con người đáng quí, đáng để các bạn nhỏ học tập noi gương về nghị lực sống, về tình yêu thương và lòng nhân ái vô bờ. Cậu bé mồ côi cha phải sống bên người bà cô cay nghiệt luôn lấy chuyện mẹ em có con với người khác, phải đi ở tha phương cầu thực mà nhiếc móc hành hạ em. Song tình yêu thương mẹ và niềm tin trong sáng của cậu bé 12 tuổi đã giúp em có thêm bản lĩnh sống và vượt qua mọi thử thách để rồi cuối cùng ước mơ được gặp mẹ đã toại nguyện. Cảm giác hạnh phúc đến vô bờ khi ngồi trong lòng mẹ được mẹ ôm ấp vỗ về, được ngắm nhìn khuôn măt thân yêu của người mẹ, được mẹ gãi rôm ở sống lưng… của cậu bé Hổng được gợi lại chân thực và xúc động bằng một đoạn văn thấm đẫm chất trữ tình đã đưa mỗi chúng ta về với cội nguồn, về với tình mẫu tử thiêng liêng của chính mình mà vô tình ta chẳng nhận ra. Tập hồi kí hay và lắng đọng hồn người chính bởi tình thương, sự đồng điệu của trái tim nghệ sĩ đã hoà cùng nhân vật với niềm yêu thương xẻ chia với những cuộc đời đắng cay, bất hạnh. Văn học thể hiện tình yêu thương ngợi ca những con người có trái tim nhân ái nhưng đồng thời văn học cũng bày tỏ thái độ phê phán nghiêm khắc những kẻ bạc ác, những kẻ thờ ơ dửng dưng trước những người gặp hoạn nạn. Trong các tác phẩm của mình, người nghệ sĩ không chỉ tạo nên các nhân vật với tính cách một chiểu. Chính vì vậy, ta đọc tác phẩm và thấy trong đó những con người với những tính cách đối lập. Phải chăng nhà văn muốn để ta so sánh đối chiếu họ với nhau mà nhận ra thái độ của tác giả, tìm đến sự đồng cảm với trái tim người nghệ sĩ mà yêu, ghét, giận hờn, ngợi ca hay khinh bỉ. Đọc "Lão Hạc" của Nam Cao, ta càng yêu thương quí trọng lão nông già yếu nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và đức tự trọng để mà thêm mến thêm yêu Nam Cao, học được ở ông cái cách nhìn người "cố tìm hiểu họ" mà cảm thông chia sẻ…, thì ta càng chê trách Binh Tư, con người khoẻ mạnh mà lười biếng, nhân cách thoái hoá đi ăn cắp ăn trộm… đáng khinh bỉ. Hai tuyến nhân vật tiêu biểu cho giai cấp thống trị – bị trị trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố là 2 bức tranh đối lập về con người mà qua đó nhà văn muôn nhắn gửi bức thông điệp, tiếng kêu cứu về số phận người nông dân dưới chế độ cũ. Chính vì vậy nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nhận xét: Cái cách viết lách như thế, Ngô Tất Tố xui người nông dân nổi loạn. Sự nổi loạn mà Nguyễn Tuân muôn nói đến trong "Tắt đèn" là sự nổi loạn đầy ý thức khi cái tốt, cái thiện bị ngược đãi, chèn ép nên tức "nước vỡ bờ". Mâu thuẫn cơ bản của xã hội thể hiện trong hai tuyến nhân vật rõ rệt: một bên là những kẻ thông trị cậy chức quyền hà hiếp dân lành mà tiêu biểu là quan Tri phủ Tư Ân, Nghị Quế, Lý trưởng, Chánh tổng… Và một bên là người dân lương thiện chịu cảnh bần cùng đè nén là chị Dậu. Mâu thuẫn đối kháng dâng lên đỉnh điểm nhưng Ngô Tất Tố chỉ đặt ra ở đó. Phải chăng bởi ý thức cách mạng chưa cập đến người dân hay bởi nhà văn mới bằng trái tim nhân đạo của mình rung lên hồi chuông cảnh tỉnh về những cuộc nổi loạn sẽ xảy ra khi những kẻ núp bóng quan Tây bị mất hết nhân tính chỉ mượn cớ đục nước béo cò… Bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, văn học thể hiện tinh hoa văn hóa và khẳng định sự sáng tạo nghệ thuật của con người Việt Nam. Song điều cốt lõi và cội nguồn của văn chương chính là tình yêu thương, "thương người như thể thương thân". Tiếng nói yêu thương ấy của văn chương đã cất lên ru tâm hồn ta, khiến ta sống “người” hơn.
Chứng minh văn học của dân lộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thế thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thở ờ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn
1,400
Chứng minh ý kiến Lao động là quý nhất trên đời Hướng dẫn Chứng minh ý kiến Lao động là quý nhất trên đời Lớp chúng em vừa diễn ra một cuộc tranh luận đầy thú vị với đề tài: Trong cuộc sống cái gì quý nhất? Ba bạn An, Bình, Dung say sưa phát biểu: An nói lúa gạo là quý nhất, còn Bình nói là vàng bạc, Dung thì cho là thời gian. Mỗi bạn đều bảo vệ ý kiến của mình. Theo tôi, các thứ mà các bạn nêu lên quả thật đều quý, nhưng nó không phải là cái quý nhất, mà cái quý nhất là lao động. Qua thực tế cuộc sống cũng như qua nhưng hiểu biết từ sách vở ta có thể làm sáng tỏ ý kiến này. Trước hết ta cần hiểu lao động là gì? Lao động là hoạt động chân tay hay trí óc để làm ra của cải vật chất và tinh thần nhằm phục vụ cho sự sống, sự tiến bộ của xã hội. Cũng từ đó, những giá trị to lớn của lao động đằ chứng tỏ được cái quý nhất trên đời này. Trong cuộc sống, lao động là hoạt động đặc trưng của con người, bởi vì lao động không chỉ là hoạt dộng của chân tay mà còn là hoạt động có ý thức có mục đích mà chỉ có con người mới có thể làm được. Chính nhờ có lao động mà con người tách khỏi thủy tổ của mình là giống vượn người. Rồi cũng chính nhờ lao động mà con người dần dần tự phục vụ bản thân, biết lao động để xây dựng gia đình, xã hội… ngày càng trở nên hoàn thiện hơn. Nhờ có lao động con người mới khỏe khoắn, trí thông minh được phát trỉển, dễ dàng tiếp thu và sáng tạo mọi thứ trên đời. Không chỉ tạo ra của cải vật chất, lao động còn là nguồn gốc của mọi giá trí tinh thần. Một câu hát “ầu ơ”, một điệu hò trên cánh đồng xuất phát từ trái tim giàu cảm xúc của một chàng trai hay của một cô gái… đều là sản phẩm của lao động. Thơ, ca, nhạc, họa… đều là sản phẩm của lao động nhung mỗi thứ được biểu hiện qua hình thức khác nhau. “Truyện Kiều” là kết quả lao động trí óc của Nguyễn Du, để lại cho dân tộc một niềm vinh dự tự hào to lớn. Danh cầm Đặng Thái Sơn đã rộn rã mỗi khi đón nhận những tràng pháo tay như thành quả sau bao năm miệt mài rèn luyện trên phím đàn. Dù là thiên tài, họ vẫn phải cần cù lao động mới đạt thành tích hơn người. Trong lĩnh vực khoa học cũng vậy, muốn phát minh, sáng chế ra một vật liệu máy móc hoặc một chất mới lạ thì nhà khoa học cũng phải giam mình trong phòng thí nghiệm tìm tòi thử nghiệm với một thời gian dài, có khi cả một đời người, như Pierre Curie và Marie Curie đã phải vất vả trong suốt bốn năm trời trong phòng thí nghiệm mới khám phá ra nguyên tố phóng xạ radium. Công việc và giá trị lao động của họ không có gì sánh nổi. Của cải mất đi, bằng lao động con người có thề tìm và chế tạo lại được, còn như nếu mất khả năng lao động hoặc không chịu lao động thì tất cả sẽ mất theo, cuộc sống sẽ ngừng lại… Lúc này, lúa gạo, vàng bạc, luôn cả thời gian cũng chỉ là vô nghĩa mà thôi
Chứng minh ý kiến Lao động là quý nhất trên đời
612
Đề bài: Chứng minh ý kiến nhận định "Nhiều vần thơ xúc động đã dành để ca ngợi người phụ nữ" về thơ ca từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1975 Bài làm Văn học dân gian và vẫn học cổ thường ngợi ca người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp: cần cù lao động, đảm đang, tháo vát, tận tuỵ hi sinh cho chồng con. Từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, những phẩm chất tối đẹp đó càng được phát huy. Tình yêu chồng con mở rộng và gắn liền lòng yêu nước, đảm đang việc nhà thành đảm đang việc nước. Họ đã tích cực góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhận định về thơ ca từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1975 có ý kiến cho rằng: "Nhiều vần thơ xúc động đã dành để ca ngợi người phụ nữ". Nhiều vần thơ xúc động đã dành để ca ngợi người phụ nữ Tuỳ theo tuổi tác, tuỳ theo hoàn cảnh riêng, người phụ nữ đã góp phần vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc bằng nhiều cách. Có thể họ trực tiếp cầm súng chiến đâu như chị út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi hoặc trong thơ Lê Anh Xuân: Mẹ của sáu đứa con còn nhỏ Tóc búi cao bỏm bẻm nhai trầu Là chị út quân thù khiếp sợ Bụng có mang vẫn cướp bót phá cầu. (Lê Anh Xuân) Họ dũng cảm, kiên trì đâu tranh trong nhà tù. Đó là hình ảnh chị Lí: Điện giật, dùi đăm, dao cắt, lửa nung Không giết được em người con gái anh hùng. (Tố Hữu) Họ tích cực tham gia đâu tranh chính trị: Vì sao tuổi mẹ đã cao Đấu tranh mẹ vẫn đi đầu mẹ ơi! (Tố Hữu) Ngoài ra, còn có những người phụ nữ đấu tranh địch vận: Có em cướp bót mấy lần tay không. (Lê Anh Xuân) Song song với các cô gái, còn có những người mẹ đã đóng góp nhiều công sức trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Đó là người mẹ đào hầm nuôi cán bộ, bộ đội, bất chấp hiểm nguy: Mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh (Dương Hương Ly) Có những cô du kích bảo vệ xóm làng, luôn đặt nặng công việc nước nhà trước việc riêng tư: Chị em du kích Thái Bình Ca lô đội lệch vừa xinh vừa giòn Người ta nhắc chuyện chồng con Lắc đầu nguây nguẩy em còn đánh Tây. (Ca dao kháng chiến) Có những cô gái vừa đảm đang việc nhà vẫn tích cực tham gia việc nước, không quản ngại vất vả gian nan. Đó là người phụ nữ Bắc Giang: Em là con gái Bắc Giang Rét thì mặc rét nước làng em lo. Nhà em phơi lúa chưa khô Ngô chưa vào bồ, sắn thái chưa xong. Nhà em con bế con bồng Em cũng theo chồng đi phá đường quan. (Tố Hữu) Có những người phụ nữ gắn bó nơi chiến trường, chăm lo việc hậu cần, tiếp cho bộ đội. là nguồn động viên kịp thời cả vật chất lẫn tinh thần cho người chiến sĩ: Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương. (Chế Lan Viên) Ngoài ra, người mẹ Việt Nam còn chăm lo cho con, động viên con ra mặt trận: Tao bảo "Mày đi Mày lo cho khoẻ Đừng nghĩ lo gì Ở nhà có mế". (Tố Hữu) Thực vậy, nơi chiến trường có những con người xông pha vào lửa đạn, thì ở hậu phương không thiếu những tấm lòng, những bàn tay chung sức chiến đấu. Tố Hữu phác hoạ lại hình ảnh bà mẹ làm giao liên với ý chí vững vàng: Tàu bay hắn bắn sớm trưa Thì tui cứ việc nắnq mưu đưa đò. (Tố Hữu) Hoặc ca ngợi cô dân quân lãng mạn – anh hùng của người phụ nữ thời chống Mĩ: Chào cô dân quân vai súng tay cày Chân lội bùn mơ hạ máy bay. (Tố Hữu) Và ước mơ đó không phải là xa vời. Đã có hình ảnh thật sống động làm thế giới phải ngạc nhiên khi: O du kích nhỏ giương cao súng Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu. (Tố Hữu) Dù ở vị trí nào, giữ công việc nào trong xã hội, giữa hoàn cảnh chiến tranh chống giặc ngoại xâm, người phụ nữ cũng đều thể hiện tấm lòng yêu nước thần trách nhiệm, đóng góp công sức của mình cho cuộc chiến đấu. Người hậu phương trong bài Thăm lúa của Trần Hữu Thung cảm thấy hân hoan vì Anh đang mùa thắng lợi Lúa em cũng chín rồi Lúa tốt lắm anh ơi Giải thi đua em giật. (Trần Hữu Thung) Qua những dẫn chứng trên, thực sự thơ ca thời kì từ 1945 đến 1975 đã có nhiều vần thơ xúc động ca ngợi người phụ nữ. Lịch sử sẽ mãi mãi ghi ơn những người mẹ, những người chị, những cô gái đã âm thầm hi sinh để đất nước này được nở hoa độc lập, kết quả tự do.
Chứng minh ý kiến “Nhiều vần thơ xúc động đã dành để ca ngợi người phụ nữ” về thơ ca từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1975
851
Đề bài: "Việt Bắc cũng rất tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông".Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích Bài làm Thơ Tố Hữu dễ đến với mọi tấm lòng, không chỉ vì nội dung, mà còn do giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc. Điều này được bộc lộ khá rõ trong phần đầu bài thơ Việt Bắc cùa sách giáo khoa Văn 12. Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu trong “Việt Bắc” (phần đầu) – Bài thơ nói đến nghĩa tình cách mạng nhưng thi sĩ lại dùng giọng của tình thương, lời của người yêu để trò chuyện, giãi bày tâm sự. Cả bài thơ được viết theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao dân ca và phần đầu này cũng thế – nó là lời giãi bày tâm sự giữa người đi (người về xuôi) với người ở lại là đồng bào Việt Bắc. Mười lăm năm cách mạng thành Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng, người đi người ở thành mình – ta, ta – mình quấn quít bên nhau trong một mối ân tình sâu nặng: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết ấy tạo nên âm hưởng trữ tình sâu đậm cùa khúc hát ân tình cách mạng Việt Bắc: từ khúc hát dạo đầu Mình về mình có nhớ ta… đến những lời nhắn gửi, giãi bày Minh đi có nhớ những ngày Mình về rừng núi nhớ ai… Ta đi ta nhớ những ngày – Minh đây ta đó đắng cay ngọt bùi…; đến những nỗi nhớ da diết sâu nặng: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô… Nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc trong “Việt Bắc” (phần đầu) Thể thơ: Trong phần đầu (cũng như cả bài thơ) Tố Hữu đã sử dụng thế thơ dân tộc nhất là thể thơ lục bát. Thi sĩ đã sử dụng rất nhuần nhuyễn thể thơ này và có những biến hóa, sáng tạo cho phù hợp với nội dung, tình ý câu thơ. Có câu tha thiết, sâu lắng như bốn câu mở đầu, có câu nhẹ nhàng thơ mộng(Nhớ gì như nhớ người yêu…), lại có đoạn hùng tráng như một khúc anh hùng ca (Những đường Việt Bắc của ta… Đèn pha bật sáng như ngày mai lên). Kết cấu: Kết cấu theo lối đối đáp giao duyên của nam nữ trong ca dao dân ca là kết cấu mang đậm tính dân tộc, và nhờ hình thức kết cấu này mà bài thơ có thể đi suốt 150 câu lục bát không bị nhàm chán. Hỉnh ảnh: Tố Hữu có tài sử dụng hình ảnh dân tộc một cách tự nhiên và sáng tạo trong bài thơ: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; mưa nguồn suối lũ; bước chân nát đá (sáng tạọ từ câu ca dao: trông cho chân cứng đá mềm). Có những hình ánh chắt lọc từ cuộc sống thực cũng đậm tính dân tộc: miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai; hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son và đặc biệt là hình ảnh đậm đà của tình giai cấp: Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Ngôn ngữ: Tính dân tộc được thể hiện rõ nhất trong cặp đại từ nhân xưng “ta – mình, mình – ta” quấn quít với nhau và đại từ phiếm chỉ “ai”. Đây là một sáng tạo độc đáo và cũng là một thành công trong ngôn ngữ thơ ca của Tô Hữu. Nhạc điệu: Trong bài thơ là nhạc điệu dân tộc -từ thể thơ lục bát: nhịp nhàng, tha thiết, ngọt ngào, sâu lắng nhưng biến hóa, sáng tạo, khóng đơn điệu (có lúc hùng tráng như cảnh Việt Bắc ra quân”, trang nghiêm như cảnh buổi họp cùa Trung ương, Chính phủ…) Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc cùa Tố Hữu đã góp phần quan trọng vào thành công cùa bài thơ Việt Bắc làm cho nó nhanh chóng đến với người đọc và sông lâu bền trong lòng nhân dân ta từ khi ra đời cho đến hôm nay.
Chứng minh ý kiến “Việt Bắc cũng rất tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông”
773
Chứng minh ý nghĩa sâu sắc của câu tục ngữ Có chí thì nên Hướng dẫn Ý nghĩa sâu sắc của câu tục ngữ Có chí thì nên Mở bài: Sức mạnh không đến từ thể chất. Sức mạnh chỉ đến từ ý chí bất khuất. Chính ý chí làm nên sức mạnh chinh phục vĩ đại của con người. Bởi thế, người xưa từng khẳng định: có chí thì nên. Có ý chí thì việc khó nào cũng vượt qua được và vươn tới thành công. Thân bài: “Chí” là ý chí, là lý tưởng, hoài bảo, nghị luật, sự kiên trì của con người. Ý chí là biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của con người trong cuộc sống hoặc khi đói diện với nghịch cảnh. “Nên” là những kết quả, thành quả tốt đẹp ở đời. Câu tục ngữ khuyên con người cần có ý chí nghị lực,quyết tâm để thực hiện những ước muốn đẻ thành công trong mọi việc. Quả thực có chí thì làm nên. Thực tế đã chứng minh rằng con người mạnh mẽ bởi con người có ý chí và hành động theo ý chí. Không có ý chí, nghị lực thì không làm được gì cả. Ý chí giúp cho con người vượt qua mọi trở ngại để làm được moi đều như ý muốn. Để tạo ra bóng đèn điện chiếu sáng, Edison đã có hơn một nghìn lần thất bại. Phải trải qua biết bao gian khổ và hi sinh, Cristoforo Colombo mới tìm ra được châu Mĩ. Hơn 30 năm bôn ba khắp thế giới, chịu không biết bao nhiêu khổ cực, Bác Hồ mới tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Và phải hơn 30 năm nữa kể từ ngày Đảng cộng sản Việt nam ra đời và lãnh đạo đấu tranh, kẻ thù mới bị đánh bại, đất nước ta mới được giải phóng. Nếu không có ý chí thì những thành tựu kì vĩ ấy đã không thể có được. Một học sinh không có ý chí sẽ không bao giờ có niềm vui trong học tập. Một thanh niên không có ý chí sẽ không thể có khát vọng sống đẹp, sống hữu ích trng cuộc sống này. Người không có ý chí thường sống dựa dẫm vào người khác và trong chờ vào may mắn nhiều hơn là tự mình hành động. Bởi thế, họ thường là những người thất bại trong cuộc sống này. Những người như thế thật đáng chê trách. Kết bài: Khác biệt lớn nhất giữa một người thành công và một người thất bại không phải ở sức mạnh, kiến thức hay sự hiểu biết mà chính là ý chí. Đúng như người xưa nói: có chí thì làm việc gì cũng nên. Bởi thế, muốn thành công trong công việc và tạo dựng một cuộc sống có ý nghĩa không có điều gì quan trọng hơn là rèn luyện ý chí chí mỗi ngày.
Chứng minh ý nghĩa sâu sắc của câu tục ngữ Có chí thì nên
487
Đề bài: Chứng minh đoạn trích Trong Lòng Mẹ giàu giá trị nhân đạo. Bài làm Hoài Thanh đã nói ” Nguồn gốc của văn chương là lòng thương người, rộng ra là thương muôn loài muôn vật”. Đúng vậy! Các tác phẩm giàu giá trị nhân đạo luôn để lại trong lòng người đọc nỗi ám ảnh cảm xúc sâu sắc. ” Trong lòng mẹ” trích ” Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng là một văn bản như vậy. Đoạn trích thấm đấm giá trị nhân đạo. Có thể nói nhân đạo là lòng thương người nhà văn đã đồng cảm với số phận đắng cay tủi cực của nhân vật, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ và lên án những thế lực tàn bạo chà đạp lên cuộc sống phẩm giá của con người. Điều ấy được bộc lộ thật rõ ở đoạn trích ” Trong lòng mẹ”. Trước hết nhà văn đồng cảm với số phận của mẹ Hồng và Hồng. Người mẹ này là một phụ nữ không có hạnh phúc, phải chôn vùi tuổi thanh xuân bên người chồng nghiện ngập. Chồng chết cảnh nhà xa xút phải đi tha hương cầu thực bỏ lại hai đứa con sinh nở một cách giấu giếm, bị họ nói gièm pha ghét bỏ. Bé Hồng cũng vậy. Chú bé này sớm mồ côi cha lại thiếu thốn tình mẹ nhiều phen ” rớt nước mắt”. Gia đình họ nội không yêu thương chú. Còn nhỏ mà Hồng đã phải kìm nén che giấu cảm xúc thực trước sự xảo quyệt của bà cô. Cuối cùng giá trị nhân đạo trong đoạn trích còn được bộ lộ qua việc tác giả lên án những thế lực tàn bạo chà đạp phẩm giá của con người, mẹ Hồng bị chói buộc bởi những cổ tục nặng nề, bị nhà chồng hắt hủi. Người mẹ này cũng là nạn nhân của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu cảm xúc. Và chú bé Hồng đã chứng kiến mọi sự cay độc của bà cô khe bà tìm mọi cách để chia rẽ tình mẫu tử. Bà cô là đại diện cho lớp người hẹp hòi ích kỉ khô héo tình ruột thịt trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Làm nên thành công về giá trị nhân đạo không thể không kể đến nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật bé Hồng qua ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm. Đoạn trích giàu chất trữ tình. Chất trữ tình được phản ánh qua tình huống chuyện, qua cảm xúc dạt dào cháy bóng của Hồng và nhất là qua cách diễn tả cảm xúc của tác giả. Tác giả trọn thể hồi kí kể ở ngôi thứ nhất lời văn chân thành tha thiết kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả biểu cảm đan xen bình luận. Các hình ảnh so sánh đều hay, đặc sắc giọng văn chân thành giàu cảm xúc. Đúng là nhà văn của phụ nữa và trẻ em.
Chứng minh đoạn trích Trong Lòng Mẹ giàu giá trị nhân đạo
513
Chứng minh đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn Hướng dẫn Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống nhân nghĩa thuỷ chung son sắt. Lòng biết ơn đôi với người khác – người có công ơn với mình là một biểu hiện của truyền thống nhân nghĩa đó. Đểghi nhớ và nhắc nhở con cháu đời sau, cha ông xưa đã đúc kết và lưu truyền trong những câu tục ngữ vô cùng ý nghĩa: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Uống nước nhớnguồn Tuylà hau câu tục ngữ khác nhau, cách diễn đạt cũng khác nhau nhưng cả hai đều chứa đựng bài học luân lí về cách sống, về tình nghĩa cao đẹp của người Việt Nam với nhau. Khi ăn trái ngon ngọt, ta phải nhớ ơn người đã dàv công vun trồng, chăm sóc từ khi cây còn con đến lúc ra quả ngọt trái chín. Được uống ngụm nước trong lành, mát lạnh, nhất định ta không được quên cội nguồn – nơi dòng nước chảy tới. Vẫn là đặc điểm quen thuộc của tục ngữ, vẫn là những hình ảnh tượng trưng độc đáo và hàm súc, cha ông ta gửi gắm vào đó lời răn dạy về lòng biết ơn: người được hưởng thành quả lao động thì phải biết ơn người tạo ra nó. Đểcó được cuộc sống như ngày hôm nay, ta không được quên ơn những người đã mang đến cho ta sự ấm no hạnh phúc. Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Cứ đến dịp lễ hội đền Hùng (Phú Thọ), nhân dân cả nước lại nô nức kéo nhau về nơi quê cha đất tổ để tưởng nhớ công lao dựng nước của vua Hùng, ởmỗi làng, mỗi thôn xóm vẫn diễn ra hoạt động hội làng đều đặn nhằm ghi tạc công lao của các vị thành hoàng làng, tổ nghề, tổ sư. Để có được cuộc sống ấm no như ngày hôm nay, cha ông ta đã phải đổ mồ hôi, xương máu và cả tính mạng của mình để giữ vững bình yên cho đất nước. Từ thời “mang gươm đi mở cõi” lịch sử của Việt Nam đã là lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước. Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… đều trở thành những tên phố, tên đường, tên trường học… luôn nhắc nhở chúng ta về sự đóng góp to lớn của họ cho đất nước. Khắp các địa phương trên cả nước, đền thờ các vị anh hùng dân tộc đều là những di tích lịch sử, trở thành nơi thăm viếng của cả khách trong nước và ngoài nước. Toàn thểnhân dân Việt Nam một lòng biết ơn Đảng, cách mạng và Bác Hồ. Hàng năm, chúng ta có ngày 27/7 – ngày Thương binh liệt sĩ đểtỏ lòng biết ơntới những anh hùng có công với cách mạng, lòng biết ơn được thể hiện bằng hành động rất cụ thể như phong trào “đền ơn đáp nghĩa”,, “nhà tình nghĩa”… Xã hội cũng có nhiều chính sách ưuđãi, hỗ trợ, giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng. Những phong tục, lễ hội đáng quý ấy đã trở thành hoạt động không thểthiếu hàng năm của người Việt Nam. Bởi, nhớ ơn Người mang lại cho mình cuộc sống ấm no hạnh phúc trở thành lễ tự nhiên, trở thành nếp sống, nếp nghĩ và phẩm chất tốt đẹp của nhân dân ta. Đó cũng là một trong những đạo lí làm người của dân tộc Việt Nam. Đối với người học sinh thể hiện lòng biết ơn ông bà cha mẹ, thầy cô bằng hành động cụ thể chính là đang thực hiện đạo lí làm người ấy.
Chứng minh đạo lí Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn
637
Chứng minh đạo lý Uống nước nhớ nguồn và Ăn quả nhớ kẻ trồng cây của nhân dân ta Hướng dẫn Chứng minh đạo lý Uống nước nhớ nguồn và Ăn quả nhớ kẻ trồng cây của nhân dân ta Ca dao xưa có câu: Con người có tổ có tông Như cây có cội, như sông có nguồn để nói lên rằng: bất cứ ai cũng có cội nguồn, gốc rễ và câu ca dao như lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta là hãy biết trân trọng, biết ơn những thế hệ đi trước và đó cũng chính là đạo lí muôn đời được thể hiện ở câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là đạo lí cao đẹp thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với lớp cha anh đi trước, những người đã cống hiến cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước, những người đã ngày đêm lao động miệt mài để chúng ta có thể hưởng cuộc sống ấm no đầy đủ. Câu ca dao mang ý nghĩa sâu sắc, khẳng định một lẽ sống có tình nghĩa, thủy chung, ân tình. Truyền thống biết ơn đó đã được gìn giữ phát huy từ xưa cho đến nay. Đầu tiên có thể kể đến là cha mẹ những người đã có công sinh thành ra ta nuôi ta lớn khôn. Bố mẹ luôn là người yêu thương chăm sóc ta nhiều nhất ngay từ khi chập chững bước những bước đi đầu tiên, mẹ đã dìu ta bước đi và nâng chúng ta dậy sau mỗi lần ngã, cha mẹ còn là người bên ta động viên an ủi ta trước những thất bại trong cuộc sống. Bố mẹ có thể dốc toàn bộ sức lực của mình để mong ta trở thành người có ích cho xã hội. Và khi đến trường thầy, cô chính là cha mẹ thứ hai của ta, dạy cho ta những tri thức khoa học, dạy ta nên người nên ta cũng phải biết ơn bằng những việc làm như ngoan ngoãn học giỏi để không phụ lòng tin của cha mẹ, thầy cô giáo. Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần. Những câu tục ngữ ca dao nói về sự vất vả của người nông dân để làm ra bát cơm công phần nào đã bày tỏ lòng biết ơn cùa chúng ta đối với họ. Còn đối với những người lao động trí óc ta cũng cần biết ơn họ, dẫu họ không làm ra những sản phẩm trực tiếp nuôi sống chúng ta nhưng họ đã góp một phần lớn vào việc làm cho đời sống của chúng ta ngày càng hiện đại, nhàn hạ. Đó là những loại máy móc công nghiệp, những sản phẩm dân dụng, những thiết bị phục vụ cuộc sống. Cuộc sống ngày càng đổi thay, những con đường chúng ta đi, những ngôi nhà chúng ta ở, đều do bàn tay người lao động làm ra. Do đó chúng ta phải biết ơn họ bằng cách giữ gìn trân trọng những công trình mà họ đã vất vả tạo nên. Hàng năm chung ta cũng có những cuộc thi trao giải nhằm tìm kiếm nhân tài, động viên khuyến khích họ trên con đường khoa học. Đọc một tác phẩm văn học nghệ thuật hay chúng ta cũng phải biết ơn những người nghệ sĩ đã nhọc nhằn hôm sớm làm ra những sản phẩm tinh thần giúp cho đời sống tâm hồn của mỗi người thêm tươi đẹp. Để biết ơn những người nghệ sĩ ấy nhà nước ta hàng năm cũng có những chính sách nhằm động viên khuyến khích họ hãy phát huy hơn nữa nguồn sáng tạo của mình để phục vụ cho nhân dân tốt hơn. Ngày nay được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc chúng ta không được quên những ngày chiến đấu anh dũng của cha anh. Họ đã hi sinh cả cuộc đời, cả tuổi thanh xuân để đem lại hoà bình tự do cho nhân dân ta. Bởi vậy chúng ta phải luôn biết ơn họ bằng những hành động cụ thể, thể hiện tấm lòng thành kính đền ơn đáp nghĩa như các ngày 27.7 là ngày thương binh liệt sĩ, ngày 22.12 ngày quân đội nhân dân, các lễ hội như Đền Hùng, lễ hội Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Thánh Gióng… chúng ta lại đến thăm những gia đình thương binh liệt sĩ, động viên, thăm hỏi các anh các chú những người đã hi sinh một phần xương máu để đem lại niềm hạnh phúc cho con cháu. Đối với những gia đình liệt sĩ hàng năm chúng ta cũng tổ chức các cuộc thăm hỏi động viên về mặt tinh thần cũng như vật chất giúp cho những người thân của gia đình bớt đi phần nào nỗi đau mất người thân. Chúng ta còn có những chính sách như xây dựng nhà tình nghĩa giúp các bố mẹ của các liệt sĩ có nơi ăn chốn ở. Những em học sinh cũng thường xuyên tổ chức các buổi đến giúp đỡ các gia đình thương binh liệt sĩ giúp đỡ họ những công việc vặt để động viên tinh thần. Những hành động đó chính là chúng ta đang thực hiện tốt câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, Uống nước nhớ nguồn”. Trong xã hội cũng có một số ít những người vì đồng tiền mà bất chấp cả đạo lí làm người từ xa xưa đến nay, họ luôn coi trọng đồng tiền mà quên đi ơn nghĩa của những người đi trước, quên công lao dưỡng dục của cha mẹ thầy cô, có người cậy có tiền chỉ biết đưa tiền về cho cha mẹ mà chẳng mấy khi chăm sóc, có khi còn cho các cụ vào viện dưỡng lão khiến cha mẹ họ phải sống cô đơn. Họ là những người cần phải lên án, phê phán để từ đó nâng tầm nhận thức của con người đối với những người có công với đất nước với cá nhân mỗi con người. Như vậy có thể thấy bất cứ thời đại nào thì những người dân Việt Nam vẫn một lòng ghi tạc đạo lí Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Đó là đạo lí ngàn đời chúng ta sẽ mãi mãi tiếp bước. Nó chính là nguồn sức mạnh, vô tận giúp cho nhân dân ta đoàn kết vững bước trên con đường dựng xây đất nước.
Chứng minh đạo lý Uống nước nhớ nguồn và Ăn quả nhớ kẻ trồng cây của nhân dân ta
1,103
Đề bài: Chân dung hai chị em Thúy Kiểu và Thuý Vân được khắc hoạ trong bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển nhưng hiện lên thật đa dạng, sinh động, mỗi người một vẻ. Hãy phân tích và chứng minh điều đó qua cách miêu tả của tác giả. Bài làm Truyện Kiều là tác phẩm bất hủ của đại thi hào Nguyễn Du. Đây là một viên ngọc vô cùng quý giá trong kho tàng văn học dân tộc Việt Nam. Truyện Kiều vừa có giá trị nghệ thuật, vừa có giá trị nội dung sâu sắc. Với bút pháp miêu tả tài tình trong đoạn trích Chị em. Thuý Kiều, tác giả đã tạo nên chân dung Thuý Vân, Thuý Kiều vừa đa dạng vừa sinh động. Thuý Kiều, Thuý Vân hiện lên là những thiếu nữ đẹp, mỗi người lại có vẻ đẹp riêng. Chân dung Thúy Vân được Nguyễn Du vẽ lên trong bốn câu thơ: Vân xem trang trọng khác vời. Câu thơ này đả gợi ra vẻ đẹp cao sang, quý phái của Thuý Vân. Còn trong ba câu còn lại, tác giả đã miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vàn bằng các hình ảnh ước lệ: Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Câu thơ đã miêu tả khuôn mặt của Thuý Vân. Nàng có khuôn mặt tròn như mặt trăng, lông mày rậm, cong như con ngài. Hoa cười, ngọc thốt đoan trang – câu thơ này lại diễn tả sự đoan trang của Thuý Vân, nàng cười tươi như hoa, tiếng nói trong đẹp như ngọc. Và ta càng thấy Thuý Vân đẹp hơn trong câu thơ cuối: Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Tóc Vân đẹp hơn mây, da trắng hơn tuyết. Nguyễn Du đã rất tài tình khi lấy hình ảnh của thiên nhiên như trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết để miêu tả cái đẹp của Thuý Vân. Ta tưởng như Thuý Vân có vẻ đẹp được kết hợp từ những cái đẹp, cái cao quý của thiên nhiên. Nhưng Nguyễn Du còn tài tình hơn khi qua những vẻ đẹp ấy, ông bộc lộ được tính cách của Thuý Vân. Nàng là người cao sang mà phúc hậu, lại vô cùng đoan trang và có phần trang nghiêm, đứng đắn. Dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Thuý Vân được hiện lên cả vẻ đẹp lẫn tính cách. Và Nguyễn Du còn tài tình hơn nữa khi khắc hoạ được chân dung của Thuý Kiều. Thuý Kiều cũng đẹp nhưng cái đẹp của nàng gây ấn tượng mạnh hơn và khác xa cái đẹp của Thuý Vân: Kiều càng sắc sảo mặn mà. Nét đẹp của Kiều là vẻ đẹp đằm thắm mặn mà, sắc sảo, quyến rũ chứ không phải là vẻ đẹp phúc hậu như Thuý Vân. Để tả Kiều, Nguyễn Du đã đi sâu vào tả đôi mắt của Kiều: Làn thu thuỷ, nét xuân sơn. Kiều có đôi mắt trong sáng, long lanh như nước mùa thu, đôi lông mày cong, thanh thoát như nét núi mùa xuân. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, vì vậy Nguyễn Du khắc hoạ đôi mắt Kiều chính là cho thấy cái mặn mà, sắc sảo trong tâm hồn Kiều, cái tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân không gây nên sự đố kị thì cái đẹp của Thuý Kiều lại khiến hoa ghen, liễu hờn, cái đẹp ấy làm nghiêng nước nghiêng thành. Qua sự miêu tả của Nguyễn Du, Kiều quả thật rất đẹp, nhưng nàng không chỉ đẹp bên ngoài mà còn đẹp ở cái tài bên trong, cầm, kì, thi, hoạ – những chuẩn mực tài năng lí tưởng của xã hội xưa đều hội tụ ở Kiều. Nàng giỏi làm thơ, thông thạo vẽ tranh, âm vực, nhạc lí và đặc biệt giỏi chơi đàn. Nàng còn có tài sáng tác nhạc. Bản nhạc Bạc mệnh do nàng sáng tác khiến ai nghe cũng buồn não lòng. Bản nhạc này chính là tiếng lòng từ trái tim đa sầu đa cảm của Kiều. Nguyễn Du đã gợi tả cả sắc, tài, tình của Kiều. Nàng Kiều quả là người vẹn toàn cả tài và sắc. Tất cả những vẻ đẹp đó của Thuý Vân, Thuý Kiều được hiện lên thật sinh động chỉ qua những hình ảnh ước lệ. Hình ảnh ước lệ đã bộc lộ được cả vẻ đẹp bên ngoài lẫn tính cách của Thuý Vân Nó còn cho thấy vẻ đẹp, cái mặn mà đằm thắm trong tâm hồn, cái tinh anh trong trí tuệ, tài năng của Kiều. Hai chị em Thuý Kiều, Thuý Vân hiện lên với mỗi người một vẻ. Nếu như Thuý Vân mang vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang, cao sang thì Kiều lại có vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, sắc sảo, mặn mà, vẻ đẹp được kết hợp giữa cả tài lẫn sắc. Dù là hai chị em nhưng vẻ đẹp của Thuý Kiều, Thuý Vân rất khác nhau, báo hiệu số phận cũng khác nhau của hai người.
Chứng minh “Chân dung hai chị em Thúy Kiểu và Thuý Vân được khắc hoạ trong bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển nhưng hiện lên thật đa dạng, sinh động, mỗi người một vẻ”
852
Đề bài: Cánh cò từ trong lời ru đã đi vào tiềm thức tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời. Hãy phân tích và chứng minh qua bài Con cò của Chế lan Viên Bài làm Hình ảnh cánh cò trong lời ru của mẹ vẫn từng ngày bay vào giấc ngủ của con, mang theo tình yêu của mẹ, và như thế, cánh cò sẽ theo con trên mọi chặng đường đời. Cánh cò trong giấc ngủ tuổi thơ vỗ về con qua những câu hát của mẹ: Ngủ yên! Ngú yên! Ngủ yên! Cho cò trắng đến làm quen, Cò đứng ở quanh nôi Rồi cò vào trong tổ. Câu hát ấy của mẹ thật thiết tha, vang vọng, nhẹ nhàng để đưa con vào trong giấc ngú. Để cho cò trắng đến làm quen, rồi cò đứng quanh nôi và cò vào trong tổ. Dường như giữa cò và em bé đã có một sợi dâv gắn kết vô hình. Cánh cò đã mang tình yêu của mẹ, đi vào giấc ngủ của em, rồi từ đó đi vào tâm hồn em. Bằng sự liên tưởng, tưởng tương phong phú, nhà thơ đã sáng tạo ra những hình ảnh cánh cò đặc sắc, hàm chứa nhiều ý nghĩa. Từ cánh cò của tuổi ấu thơ thật ngộ nghĩnh mà đầm ấm đến cánh cò của tuổi tới trường quấn quýt chân con và cho đến khi trưởng thành, con thành thi sĩ: Con ngủ yên thì cò củng ngủ Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi. Mai khôn lớn, con theo cò đi học. Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân. Lớn lên, lớn lên, lớn lên… Con làm gì?, Con làm thi sỉ. Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà Và trong hơi mát câu văn… Em ngủ ngon vì có cánh cò nâng giấc, vì cánh của cò hai đứa đắp chung đôi. Hình ảnh thơ gợi ra nhiều liên tưởng độc đáo, vừa thực vừa hư ảo. Cánh cò giờ đây là hóa thân của tình mẹ, là người bạn tri âm, luôn ở bên con, luôn che chở cho con. Cò nằm cạnh con và hai đứa đắp chung đôi cánh trắng muốt, nhỏ bé. Đôi cánh ấy phải chăng là đôi cánh của những thiên thần, mang đến cho con sự ấm áp từ tình mẫu tử? Rồi từng ngày trôi qua, con đang ngày ngày khôn lớn, cánh cò sẽ theo con đi học và mang theo cả lời ru của mẹ trong suốt những năm tháng của cuộc đời. Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân là hình ảnh thơ gợi nên nhiều suy nghĩ. Là cánh cò luôn gắn bó với tuổi thơ, cũng là tình mẹ luôn trong lành, tinh khôi. Là cánh cò bay theo con, cũng như mẹ sẽ chắp cánh cho con đến những chân trời xa xôi, cho tới khi con đã trưởng thành. Câu thơ Lớn lên, lớn lên, lớn lên… với điệp từ và dấu chấm lửng đã thể hiện khát khao, mong mỏi của mẹ; mẹ mong cho con khôn lớn, nên người. Dấu ba chấm như dồn tụ, chất chứa tất cả tấm lòng người mẹ dành cho đứa con yêu quý. Khi con đã nên người, đó là lúc mẹ hỏi: Con làm gì? Câu thơ đâu phải mẹ hỏi con, mà là mẹ đang hỏi chính mình. Và mẹ lại tự trả lời: Con làm thi sĩ vì thi sĩ là những người đem cái đẹp đến cho đời. Đó cũng là ước mơ cháy bỏng của mẹ vào tương lai của con. Và cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ như tình mẹ lớn dần lên, dõi theo con, không ngừng nghỉ đế chắp cánh cho ước mơ của con. Và để tình yêu của mẹ, niềm khao khát của mẹ sẽ là nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tác của con, làm đẹp cho đời, làm nên những giá trị tinh thần thiêng liêng cho cuộc sống. Bởi tình yêu thương âm thầm, lặng lẽ của cò, của mẹ chỉ có con mới hiểu được hết.
Chứng minh “Cánh cò từ trong lời ru đã đi vào tiềm thức tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo cùng con người đến suốt cuộc đời”
687
Chứng minh: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng Hướng dẫn Gần mực tất sẽ bị nhuốm bẩn, gần đèn tất được chiếu sáng Bài làm: Mở bài: Nhân cách, nhân phẩm, đạo đức của con người trở nên tốt đẹp hay xấu xí có một phần tác động rất lớn từ môi trường sống xung quanh. Bởi thế, nhân dân ta từ xưa có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Ngẫm kĩ, câu nói trên thật đúng đắn và hữu ích. Thân bài: Mực có màu đen, tượng trưng cho những thứ xấu xa, không tốt đẹp. Cũng giống khi ta dính mực ta sẽ bị màu đen của mực dính. Gần mực thì ta cũng bị vấy bẩn như đen của mực. Đèn có ánh sáng, giúp ta nhìn rõ mọi thứ trong bóng tối. Nói cách khác, ánh sáng giúp soi rõ tâm trí mọi người, làm ta có ý thức nhìn nhận những vấn đề xung quanh. Nhu vậy tiếp xúc với đèn, ta sẽ có một cuộc sống tốt đẹp làm mạnh,tích cực. Câu tục ngữ muốn khuyên bảo rằng ta nên tiếp xúc với những gì tốt đẹp và nên tránh xa những cái gì xấu xa trong cuộc sống này để trau dòi, rèn luyện mình trở nên tốt đẹp và hữu ích. Đó là một lời khuyên vô cùng đúng đắn. Trong học tập, không phải tất cả đều là học sinh ngoan hiền. Một vài bạn lười học, ham vui, vô kỉ luật, sa sút trong học tập. Nhưng cũng có bạn chăm học,lễ phép, hoà đồng với bạn bè. Vậy nếu chọn chơi chung với các bạn hư ta sẽ lười biếng giống các bạn và dần sa sút trong học tập. Ngược lại ta học từ các bạn ngoan giỏi, ta sẽ từ từ tiến bộ trong học tập Một lần xa ngã vào “mực” ta không bị “đen” hoàn toàn. Ta còn ý thức thì ta còn thay đổi lại được. Cố gắng noi theo những người tốt và ta sẽ trở thành một con người mới. Kết bài: Câu tục ngữ trên trở thành một bài học rất giá trị cho con người. Xét trên vài khía cạnh thì cũng có cái khuyết nhưng không sao. Nó giúp ta có ý thức, khái niệm mối quan hệ xã giao với mọi người.
Chứng minh_ Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
387
Chứng minh: Không thầy đố mày làm nên Hướng dẫn Phía sau mỗi thành công lớn của con người đều có một người thầy vĩ đại Mở bài Từ xa xưa ông cha ta đã coi trọng người thầy giáo. Người xưa thường nói đi học mà không hiểu bài giảng thì cũng như không có học nên người đời có câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” Thân bài Câu tục ngữ có nghĩa sâu sắc đề cao vai trò của người thầy đối với học trò. Thầy là người truyền thụ kiến thức nâng cao hiểu biết cho chúng ta những người học sinh, thầy soi đường dẫn lối đưa chúng ta đến những chân trời mới, những ước mơ, khát vọng trang bị đầy đủ kiến thức giúp chúng ta tự tin bước vào đời. Thầy không những truyền đạt cho chúng ta một kiến thức sâu rộng, bổ ích mà dạy dỗ ta những đạo lý làm người. Họa sĩ lừng danh Leonardo Da Vanci nếu không nhờ người thầy Verrocchio khắt khe dạy từng nét vẽ đơn giản đến thành tài thì chúng ta đã không có một người họa sĩ thiên tài Có nhiều người họ coi thường người thầy giáo. Họ cho rằng lời khuyên của những câu tục ngữ là nhảm nhí. Nhưng kết quả họ phải nhận lại là một tương lai đầy cay đắng. Sự rèn luyện của người họa sĩ tài ba. Sự khắt khe với học sinh của người thầy tuyệt vời tất cả đã làm nên một người họa sĩ tài ba. Câu tục ngữ thể hiện quan điểm của ông cha ta về người thầy. Đồng thời câu tục ngữ cũng là lời nhắc dẫu mai này chúng ta trưởng thành, thành đạt trong cuộc sống cũng đừng quên công lao của người thầy. Kết bài: Không ai có thể tự mình trưởng thành mà chưa từng được một ai đó dạy bảo. Cuộc sống rất cần có những người thầy vĩ đại nâng đỡ chân ta vững bước vào đường đời. Có thể bạn từng làm được một việc lớn lao và bạn tự hào về điều đó. Nhưng cũng đừng quên rằng bạn đã học được từ ai đó những kiến thức và kĩ năng giúp bạn thành công.
Chứng minh_ Không thầy đố mày làm nên
375
Chứng minh: Nguyên Hồng đã miêu tả thành công những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại Hướng dẫn Chứng minh: Nguyên Hồng đã miêu tả thành công những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại Có tuổi thơ nào chẳng đầy ắp những kỷ niệm ngọt ngào về tình mẹ, tình quê hương, về mái trường yêu dấu. Nhưng có tuổi thơ đã hóa trang văn, mà mỗi trang ấy là trang đời về một thời thơ ấu thiếu tuổi thơ đầy cay đắng. Đó chính là Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng được hiện lên qua dòng chữ đẫm nước mắt, trong đó đoạn trích Trong lòng mẹ, chương IV của tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đánh giá về đoạn trích này, sinh thời nhà văn Thạch Lam cho rằng: Nguyên Hồng đã miêu tả thành công những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại về người mẹ yêu thương của mình. Nhân vật tôi (bé Hồng) là kết quả của một cuộc hôn nhân gượng ép, không có tình yêu, cha bé vì cờ bạc, nghiện ngập mất sớm. Mẹ vì nợ nần, cùng túng phải tha phương, cầu thực. Bé sống trong sự ghẻ lạnh của cả một họ hàng giàu có luôn tìm mọi cách chia cắt tình mẹ con. Đoạn trích không đầy bốn trang giấy, nhưng mỗi dòng chữ dường như cũng phập phồng, thổn thức bởi những rung động cực điếm của một trái tim thơ ngây yêu mẹ tha thiết đến cháy lòng. Chất trữ tình của một ngòi bút nhân đạo thống thiết thấm đẫm qua lời kể của nhân vật tôi (bé Hồng) và những lời bình luận trữ tình ngoại đề của tác giả. Hiển hiện qua những dòng hồi ký, người đọc như cảm thấu được mọi cung bậc: đau đớn, tủi hận, xót xa, căm giận, sung sướng, hạnh phúc…của bé Hồng. Tất cả cung bậc đó được khởi nguồn từ một trái tim yêu mẹ. Trước hết những rung động ấy được thể hiện bằng phản ứng quyết liệt của bé Hồng trước lời nói của người bà cô xấu bụng. Xa mẹ, rất nhớ mẹ, muốn gặp mẹ nhưng khi cô nói Hồng, có muốn vào Thanh Hóa chơi với mợ mày không tưởng đến khuôn mặt rầu rầu và hiền từ của mẹ, bé toan trả lời có nhưng nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt rất kịch của người cô, bé cúi đầu không đáp rồi lại cười đáp: Không! cháu không muốn vào. Đây có thể coi là phản ứng thông minh, xuất phát từ một trái tim nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ sâu sắc. Nhưng vì trái tim non nớt, khi người bà cô ngọt ngào: Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu và thăm em bé nữa chứ thì lòng bé thắt lại, khóe mắt cay cay … nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm, ở cổ,… cười dài trong tiếng khóc. Các từ rớt, ròng ròng, chan hòa, đầm đìa cùng một trường nghĩa, miêu tả giọt nước mắt đớn đau của bé Hồng vì thương mẹ đến vô hạn. Nỗi đau của bé âm thầm cố kìm nén bên trong giờ đây không thể nào kìm giữ nổi đã vỡ ra thành nước mắt. Mặc dù không đời nào tình thương mẹ của bé lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến nhưng lời nói của người bà cô quả như mũi dao ghê gớm, sắc lạnh đã chạm tới nơi dễ tổn thương nhất của một trái tim thơ ngây đã từng rỉ máu vì nỗi đau xa mẹ, yêu mẹ đến vô cùng. Từ nỗi đớn đau vì thương mẹ, bé Hồng căm giận những cổ tục đày đọa mẹ bé qua hình ảnh so sánh thật dữ dội. Đến đây tình thương mẹ trào lên như bão nổi, giằng xé với bao phẫn uất: Giá những cổ tục đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi. Nhà văn đã sử dụng các động từ chỉ hành động mạnh: vồ, cắn, nhai, nghiến với sắc thái biểu cảm ngày càng tăng, khiến lời văn dường như sôi sục, tuôn trào đặc tả tâm trạng phẫn uất, căm giận cao độ của bé Hồng với những thành kiến vô hình đã làm khổ mẹ bé. Qua đó, ta càng thấu hiểu bé Hồng thương yêu mẹ đến chừng nào. Trong xã hội phong kiến ngày trước, biết bao người phụ nữ đã phải chôn vùi tuổi xuân vì những thành kiến vô hình mà ác nghiệt ấy: Gió đưa cây trúc ngã quỳ Ba năm trực tiết còn gì là xuân. Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc nội dung mang ý nghĩa xã hội sâu sắc bằng những dòng văn giàu cảm xúc và hình ảnh thật ấn tượng. Thông qua những rung cảm của trái tim người con, Nguyên Hồng đã phát biểu quan điểm nhân đạo tiến bộ của mình, dứt khoát đứng về phía người phụ nữ mà thông cảm, bênh vực họ trước những thành kiến tàn ác của xã hội phong kiến. Từ tình thương và niềm tin yêu mẹ, có một niềm khát khao âm thầm, cháy bỏng luôn ấp ủ trong lòng bé Hồng: được gặp mẹ. Xa mẹ nhưng bé Hồng dường như vẫn bấm đốt ngón tay, tính từng ngày khắc khoải, chờ mong mẹ về: Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về… Nhưng đến ngày giỗ đầu thầy tôi, tôi không viết thư gọi mẹ tôi cũng về… Người mẹ đã trở về, nỗi nhớ, niềm mong của bé Hồng đã trở thành hiện thực. Đến đây có thể nói những rung động về mẹ của bé Hồng đã đến độ cực điểm qua ngòi bút miêu tả của nhà văn. Đầu tiên là cảm giác bối rối, hồi hộp đến nghẹn ngào của bé Hồng khi vừa tan trường ra nhìn thấy người đàn bà ngồi trên xe kéo giống mẹ, bé đuổi theo gọi bối rối: Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi! Tiếng gọi ấy bao lâu nay chỉ là tiếng nấc thầm đau khổ của trái tim thơ dại như Mợ! Con khổ quá mợ ơi, giá ai cho tôi một xu nhỉ, chỉ một xu thôi để tôi mua một nắm xôi hay một chiếc bánh khúc ăn cho đỡ đói. Nhưng không ai cho tồi cả. Vì người ta không phải là mẹ cửa tôi, đến đây đã bật lên thành tiếng thổn thức. Bé Hồng thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi,…ríu cả chân lại vì mừng rỡ sung sướng, vội vã đến cuống quýt tội nghiệp như sợ bóng hình mẹ tan biến mất. Lời văn miêu tả với hình ảnh so sánh gợi cảm, nhà văn đã lấy hình ảnh người khách bộ hành ngã ngục giữa sa mạc, với đôi mắt đăm đắm trông nhìn đến gần rạn nứt để so sánh với khát khao gặp mẹ cháy bỏng mãnh liệt của bé Hồng. Còn người mẹ lại được so sánh như Dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm giữa sa mạc để nói rằng mẹ bé Hồng chính là nguồn sống, là sự hiền hòa, bao dung như dòng nước mát làm dịu lòng con trước nỗi đắng cay của cuộc đời. Chỉ có mẹ mới đưa con từ cõi chết trở về với sự sống, con sống được là nhờ có mẹ. Được ngồi lên xe cùng mẹ, bé òa lèn khốc nức nở khiến người mẹ cũng sụt sùi theo. Các từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa nối tiếp nhau miêu tả cung bậc khác nhau của tiếng khóc, của dòng nước mắt đã càng làm tăng tính biểu cảm của đoạn văn và diễn tả rõ nét tình cảm của bé Hồng khi gặp mẹ. Trước đây nước mắt bé Hồng đã từng chan hòa, đầm đìa, ròng ròng rơi xuống từ niềm đau, nỗi khổ của mẹ. Bây giờ vẫn là dòng nước mắt nhưng nó vỡ “oà ra” vì bàng hoàng, sung sướng đến tột cùng. Đó là dòng nước mắt nhân lên niềm vui, nở bừng ánh sáng hạnh phúc trong giây phút hội ngộ của tình mẫu tử thiêng liêng. Những rung động của bé Hồng khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng mẹ cứ trào lên từng giây, từng phút. Được tận mắt nhìn thấy mẹ, thấy gương mặt mẹ tồi vẫn tươi sáng đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má chứ không còm cõi, xơ xác như lời người bà cô, bé thấy mẹ bé vẫn tươi đẹp như thuở còn sung túc. Với bé, mẹ chính là cô Tấm thảo hiền, là cô tiên dịu dàng xinh đẹp bởi mẹ em chỉ có một trên đời. Được ôm ấp, được sống trong lòng mẹ đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đă bao lâu mất đi bỗng lại nở và man khắp da thịt, hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường, bé Hồng tưởng như trên đời không còn hạnh phúc nào bằng. Ngôn ngữ của Nguyên Hồng đã diễn tả thật chính xác sinh động, cảm xúc, cảm giác, những rung động của một người con được ôm ấp trong lòng mẹ, cảm nhận được mùi vị riêng của người mẹ từ hơi quần áo, hơi thở. Đó chính là những rung động chỉ có được ồ người con thiết tha yêu kính mẹ. Đó cũng chính là cộng hưởng của cảm xúc, của nỗi khát khao bao ngày được sống trong lòng mẹ của bé Hồng. Được sống trong vòng tay yêu thương của mẹ, bé Hồng lại khao khát, một khao khát thật dễ thương là: Phải bé lại lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ để bàn tay của người mẹ vuốt ve, gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. Đây là lời bình luận trữ tình ngoại đề hay chính là lời độc thoại nội tám của nhân vật ẩn chứa khát khao thơ ngây và cũng thật chính đáng của mỗi con người. Ta như bồi hồi sống lại tuổi thơ, được mẹ yêu thương vỗ về, được làm nũng, hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng, được cánh tay hiền của mẹ đưa nôi cùng với điệu à ơi để mai này có lúc: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Miệng nhai cơm nắm, lưỡi lừa cá xương Bé Hồng bồng bềnh như trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực ru mình trong giấc mơ về tình mẹ dịu êm. Tôi còn nhớ câu chuyện cô bé bản diêm của nhà văn thiên tài xứ Đan Mạch, trong đêm đông lạnh giá, em bé đốt đến que diêm cuối cùng để ru mình trong giấc mơ rực sáng, ở đây bé Hồng đang ru mình vào giấc mơ giữa ban ngày, giấc mơ trong hiện thực với tình mẹ thiêng liêng, tình con cháy bỏng để quên đi tất cả. Văn chính là người, văn của Nguyên Hồng chính là hạt trai long lanh kết tụ từ nước mắt rơi xuống của chính cuộc đời nhà văn. Trang hồi ký của ông thực sự là tiếng lòng của ông vọng về từ một thời thơ ấu, chính vì thế mới là những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại, về một tuổi thơ bất hạnh luôn khao khát tình mẹ. Ta! càng cảm thông, xót xa hơn cho những tuổi thơ xa vắng mẹ. Tất cả có thể mất đi, có thể nhạt phai nhưng có một điều không thể nào chia rẽ được. Đó là tình mẫu tử. Với ý nghĩa nhân văn sâu sắc ấy, đoạn trích sẽ còn lay động mãi tới tất cả những trái tim biết yêu mẹ, hiếu để với đấng sinh thành.
Chứng minh_ Nguyên Hồng đã miêu tả thành công những rung động cực điểm của một linh hồn bé dại
2,074
Chứng minh: Thơ Bác thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết, tinh thần lạc quan và phong thái ung dung, tự tại Hướng dẫn HAY…….
Chứng minh_ Thơ Bác thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết, tinh thần lạc quan và phong thái ung dung, tự tại
24
Chứng minh: Tấc đất, tấc vàng Hướng dẫn Một tấc đất quý như một tấc vàng Mở bài: Trong sản xuất nông nghiệp, không có gì quý trọng hơn tấc đất. Bởi mọi cây trồng, vật nuôi đều phụ thuộc vào đất. Vì vậy, tục ngữ có câu “Tấc đất, tấc vàng” nhằm khẳng định mạnh mẽ giá trị ấy. Thân bài: Một tấc đất cũng quý như một tấc vàng. Câu tục ngữ đề cao ý nghĩa và giá trị của đất đai đối với đời sống con người. Mọi sinh vật sống được đều có mặt đất nâng đỡ. Trong sản xuất, đất đai đóng vai trò quyết định năng suất cây trồng và hậu quả sản xuất. Nếu đất đai cây trồng phát triển thuận lợi cho năng suất cao. Làm cuộc sống no đủ nếu đất xấu, khô cằng cây cối khó phát triển năng suất thấp, đời sống đói kém. Không có đất trồng, con người không có nơi sản xuất, không thể tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người. Ở vai trò này có thể nói đất đai còn quý hơn vàng bạc. Đất đai còn là nơi để con người Việt Nam đất gắn bó như sinh mạng của mình. Đất chứa đựng trong mình biết bao nhiêu cuộc đời, biết bao tình cảm mà con người đã gửi gắm trong nó. Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không biết quý trọng đất đai, không những họ lười biếng sản xuất, bỏ hoang đất đai mà còn hủy hoại đất một khi tổn hại phải mất một thời gian dài đất đai mới phúc hồi được. Những người như thế thật đáng lên án, phê phán. Phải biết quý trọng đất đai siêng năng sản xuất, phát huy vai trò đất trước sự tàn phá của thiên nhiên và con người. Kết bài:
Chứng minh_ Tấc đất, tấc vàng
306
Chứng minh: Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là đạo lí tốt đẹp có từ lâu đời của dân tộc ta Hướng dẫn Hãy chứng minh nhân dân Việt Nam từ sư đến nay luôn sống theo đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” là một trong những bài học đạo lý về lòng biết ơn của nhân dân ta Mở bài: Dân tộc ta từ xưa luôn nhắc nhở nhau sống phải có tinh thần đoàn kết, biết tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong khó khăn hoạn nạn. Bên cạnh đó, làm người rất cần phải biết ơn những ai đã giúp đỡ, chia sẻ khó khăn hay cưu mang, đùm bọc ta trong cuộc sống. Bởi thế, tinh thần uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây vốn đã ăn sâu trong đời sống tinh thần dân tộc bao đời nay, trở thành truyền thống tốt đẹp còn truyền lại cho đến bây giờ. Thân bài: Ý nghĩa của câu tục ngữ: Hiểu theo nghĩa đen: là khi ta ăn một trái cây nào đó thì ta phải nhớ đén người trồng cây đó. Hiểu theo nghĩa bóng: ăn là được đoán nhận, được thùa hưởng một điều tốt đẹp. Quả là kết quả, thành quả lao động tốt đẹp ở đời. Câu tục ngữ khuyên ta khi được hưởng hạnh phúc tốt đẹp thì ta phải biết ơn người đem lại hạnh phúc cho chúng ta. Trong gia đình: con cháu phải piết ơn, kính trọng ông bà, cha mẹ, biết đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục bằng hành động cụ thể. Dân tộc ta còn có tập tục thờ cúng ông bà tổ tiên đó cũng là biểu tượng của lòng biết ơn Ngoài xã hội: Nhân dân ta luon nhớ ơn người lao động đã tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người để xã hội tồn tại, phát triển. Dân tộc ta thường tổ chức ngày lễ Hùng Vương đẻ nhớ ơn người có công dựng nước. Những việt làm như: xây dựng tượng đài, lập đèn thờ các anh hùng kiệt sĩ, tổ chức kĩ niệm ngày sinh, ngày mất của các bật anh hùng ỉ niệm các ngày chiến thắng, ngày lễ….đều là biểu hiện cho lòng biết ơn của nhân dân ta Trong phong trào về nguồn: nhân dân ta láy ngày 27/7 hàng năm là ngày thương binh liệt sĩ để tỏ lòng biết ơn những người có công vs nhận dân với tổ quốc nhà nước các đoàn thể hiện tốt các chế độ, chính sách đối vs thương binh iệt sĩ, với gia đình có công vs đất nước xay dựng nhà tình nghĩa, châm sóc các ba mẹ Việt Nam anh hung, làm tốt việt quya tập hài cốt các liệt sĩ về nghĩa trang, trả lại tên tuổi cho họ đó cũng là biểu hiện của lồng biết ơn Kết bài:
Chứng minh_ Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây là đạo lí tốt đẹp có từ lâu đời của dân tộc ta
488
Chứng minh: “Có công mài sắt có ngày nên kim” Hướng dẫn Có công mài sắt có ngày nên kim Mở bài: Sự kiên nhẫn của ngày hôm nay có thể biến những nản lòng của ngày hôm qua thành khám phá của ngày mai. Những mục đích của ngày hôm nay có thể biến những thất bại của ngày hôm qua thành quyết tâm của ngày mai. Bửi thế, nhân dân ta từng khuyên rằng: Có công mài sắt có ngày nên kim. Thân bài: Ý nghĩa câu tục ngữ: Nếu ta đem một thanh sắt mài mãi, đến lúc đó sẽ thành kim nhỏ. Việc mài sắt thành kim là biểu tượng của lòng kiên trì nhẫn nại sẽ thành công mà nhân dân ta gửi gấm qua câu tục ngữ. Tinh thần kiên trì đem lại kết quả tốt đẹp được biểu hiện qua cuộc sống: Trong lao động sản xuất: nhân dân ta trải qua hàng ngàn năm lao động bền bỉ để tạo dựng đất nước trở nên giàu đẹp như ngày nay. Nhiều nhà khoa học kiên trì nghiên cứu mang lại lợi ích cho cuộc sống như: Trần Đại Nghĩa nhà chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến, Lương Định Của nhà bác học nông nghiệp lại tạo được nhiều giống cây trồng cho năng xuất cao, Tôn Thất Tùng giáo sư y học nổi tiếng về bệnh nhồi máu cơ tim… Trong học tập: có nhiều gương kiên trì học tập đạt kết quả cao như Mạc Đinh Chi, nhà nghèo, hàng ngày phải đi kiếm củi, chỉ học lén qua của lớp hc và tự học dưới ánh đèn đom đóm vạy à đã thành đạt cao. Trương Hán Siêu học giỏi nhưng chữ viết quá xáu làm ảnh hưởng đến kết quả học tập. Ông đã kiên trì tập viết sau trở thành người viết chữ đẹp nổi tiếng. Nuyễn Ngọc Ký đã bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng vẫn khao khác đến trường nhờ có sự động viết giúp đở của cha mẹ, thày cô giáo, bạn bè Ký cắng răng tập viết bằng chân, sự kiên trì nhẫn nại đã giúp ông là người có ích cho xã hội Nếu sống mà không biết kiên trì, nhẫn nại sẽ không thể làm nên việc gì lớn lao. Không ở đâu khác, chính những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống rèn luyện cho ta sự kiên nhẫn. Hãy kiên trì với công việc và quyết tâm vượt qua những khó khăn của nó bạn sẽ có đủ sức mạnh và lòng quả cảm để chiến thắng. Kết bài: Câu tục ngữ là bài học kinh nghiệm quý báu được nhân dân ta. Kinh nghiệm ấy được đúc kết qua quá trình bền bỉ lao động, học tập, chiến đấu để dựng nước. Qua bao thế hệ vẫn là bài học có giá trị thiết thực với mọi người. Bản thân mỗi học sinh phải kiên trì, nhẫn nại trong học tập và rèn luyện để chở thành người có ích cho đất nước.
Chứng minh_ “Có công mài sắt có ngày nên kim”
504
Con chim vành khuyên bị nhốt trong lồng tự kể chuyện mình Hướng dẫn Con chim vành khuyên bị nhốt trong lồng tự kể chuyện mình Tôi tên là vành khuyên, tôi mới được 20 ngày tuổi, tôi mới chập chững bay chuyền theo mẹ. Sáng nào cũng vậy, bố mẹ tôi dậy từ rất sớm, từ khi ông mặt trời còn chưa mọc sau lũy tre làng ý, để đi kiếm mồi cho tôi ăn. Sau khi cho tôi ăn no bố mẹ sẽ cùng dạy tôi bay như các anh các chị tôi. Được sống trong tình yêu thương của gia đình nên tôi hạnh phúc lắm, sáng nào khi bố mẹ đi kiếm mồi tôi cũng dậy theo nằm hót líu lo trong tổ Hôm nay cũng như mọi ngày, khi bố mẹ đã đi tôi đang nằm hót trong tổ thì bỗng nhiên tôi thấy một cái gì đó khổng lồ chộp lấy tôi, tôi cứ nghĩ là một chiếc lá to rơi trúng đầu mình. Nhưng khi ngửi mùi lạ thì không phải, đó là bàn tay của một cậu bé chừng 10 tuổi, cậu ta đã chộp lấy tôi. Tôi biết mình đã bị bắt nên muốn cầu cứu bố mẹ. Tôi ra sức kêu: – Chíp, chíp, chíp… Nhưng kêu mãi chẳng thấy bố mẹ tôi đâu. Tôi thấy cậu ta nói rằng: – Ngoan nhé em, anh sẽ đưa em về và chăm sóc em thật tốt! Đứa em gái bé bỏng của anh bị gãy chân nó ước rằng có một chú chim để trò chuyện cùng. Và thế là tôi bị bắt rồi nhốt vào một chiếc lồng làm bằng trúc, tôi quen sống cuộc sống rộng rãi rồi bây giờ bị vào đây tôi thấy cuộc sống của mình mới chật hẹp làm sao. Tôi thầm nghĩ: “Tại sao con người lại độc ác đến vậy,họ muốn có cuộc sống tự do mà sao họ lại nhốt chúng tôi vào đây”. Lúc này mặt trời đã bắt đầu lên có lẽ bố mẹ tôi đã đi kiếm ăn về, không thấy tôi đâu chắc bố mẹ tôi lo lắm. Càng nghĩ tôi càng không thể kiềm chế được cảm xúc của mình. Tôi cứ bay loạn lên trong chiến lồng, làm nước và thức ăn trong lồng bắn tung tóe khắp nơi. Khi không còn đủ sức bay nữa tôi lại nằm kêu chíp, chíp. Như để cầu cứu cho mẹ tìm thấy mình. Nhưng tiếng kêu của tôi dường như chìm trong vô vọng. Mệt mỏi, và chán nản tôi nằm ngủ thiếp đi từ lúc nào. Đang chìm trong giấc ngủ, thì tôi bị đánh thức bởi một bàn tay mềm mại, ấm áp. Mở mắt ra tôi nhìn thấy một cô bé tầm 5, 6 tuổi có đôi mắt đen láy, đôi môi hồng hào, nhưng chân lại bị băng bó kín mít. Cô bé nhìn tôi bằng ánh mắt ấm áp, tôi kêu chíp, chíp như để cầu cứu cô bé dê thương hãy thả tôi ra cho tôi về với bố mẹ. Cô bé liền nhẹ nhàng vuốt vuốt đầu tôi và nói: Thực sự tôi rất thương chị, tôi nằm in trong tay chị, tôi không kêu inh ỏi nữa. Một lát sau chị gọi anh trai lđi bắt sâu cho tôi ăn. Những con sâu béo mầm được anh bắt về, chị nhẹ nhàng đút cho tôi ăn, tôi ăn no thật no. Rồi chị nhốt tôi vào lồng, tôi không thấy chiếc lồng kia chật hẹp nữa mà tôi thấy nó nhỏ nhỏ xinh xinh. Tôi được treo trước cửa sổ phòng chị, nó đủ để tôi ngắm cảnh thiên nhiên, đủ để tôi ngắm những tia nắng ấm áp và ngắm nhìn chị. Tôi vừa đứng vừa hót líu lo, hót những bài mà tôi thược, chị ngồi xa xa và nhìn tôi cười. Tôi cảm thấy rằng chị đã cô đơn lâu lắm rồi, có lẽ lâu rồi chị không được cười như vậy. Ngày qua ngày, tôi bên chị, mỗi buổi sáng thức dậy, chị hát cho tôi nghe, chị kể chuyện khi chị đi học cho tôi nghe. Tôi cùng ăn, cùng chơi với chị, tôi dường như hiểu chị hơn. Không hiểu sao lúc này tôi không còn nghĩ suy về sự giam cầm nữa mà chỉ có ước muốn giúp chị vui vẻ hơn. – Hãy trở về với núi rừng và sống thật tốt nhé vàng anh! Chị sẽ quay lại thăm em Nhất định khi trở về với thiên nhiên tôi sẽ sống thật ý nghĩa. Nguồn: Bài văn hay
Con chim vành khuyên bị nhốt trong lồng tự kể chuyện mình
764
Con nhà võ tướng nghe văn (Về bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Con nhà võ tướng nghe văn Nếu lấy tiêu chí của một bài vãn nghị luận mà xem xét thì trong nền văn học trung đại Việt Nam có hai áng văn đặc sắc: Hịch tướng sĩ và Bình Ngô đại cáo. So với Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ như một khúc dạo đầu. Và tuy có là như thế thì nó vẫn là một bài văn mẫu mực. Tính nhất quán nếu là đòi hỏi hàng đầu thì trên phương diện này, ít có bài văn nào so sánh được: nhất quán trong vị thế phát ngôn, nhất quán trong kết cấu, bố cục, trình bày, nhất quán trong phong cách vừa hùng biện vừa trữ tình, có tác dụng khai trí, khai tâm mở đường cho hành động, nghĩa là một thái độ cần có của tì tướng và các binh sĩ dưới quyền ở vào thời điểm nước sôi lửa bỏng. Mặc dù được cử làm tiết chế thống lĩnh, Trần Quốc Tuấn không dựa vào quyền uy, mà lấy việc thu phục nhân tâm làm kế sách, nghĩa là phát huy đến mức độ tối đa tinh thần tự nguyện để những người cầm vũ khí vì lí tưởng, vì đạo lí mà từ bỏ lối sống hưởng lạc thái bình, sẵn sàng giết giặc lập công, tất cả mọi người phải giỏi như Bàng Mông, Hậu Nghệ. Võ mà cần đến văn, có gươm giáo ở trong tay, nhưng trước hết lòng người cần được thức tỉnh. Cách nhìn, cách nghĩ của Trần Quốc Tuấn sâu sắc, xa rộng đến nhường nào? Tuy vậy, muốn đi tới đích, phát ngôn của người chủ tướng phải dựa vào tài năng. Trí tuệ, tâm hồn và tài năng ấy không kết tinh lại dưới dạng một bài văn nguyên khối mà sức mạnh của nó được phân bố khoa học, tài tình đến từng đoạn, từng câu. Nếu xét một cách toàn cục thì bài văn có ba luận điểm lớn: trách nhiệm và đạo lí của kẻ làm tướng, trách nhiệm ấy đang bị chểnh mảng, lơ là, chỉ có một hành động duy nhất để sửa sai lúc này là học tập binh thư, sẵn sàng giết giặc. Cả ba luận điểm ấy đều xuất phát từ một sợi dây tinh thần nhất quán: ấy là đạo “thần chủ” mà kẻ làm tướng phải khắc cốt ghi xương. 1. Đạo thần chủ – lẽ sống của con nhà võ tướng Đây là chỗ dựa tinh thần của cả bài văn. Chỗ dựa ấy được xác lập đầy tính thuyết phục trong những quan hệ: vua – tôi, chủ soái và tì tướng, lãnh chúa (chủ) với gia tướng, gia nô (thần). Đây là một trong hệ thống ba sợi dây ràng buộc của kỉ cương (tam cương: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ), của hệ ý thức phong kiến có tính chất đặc thù và sức mạnh tuyệt đối, vô song của nó. Cách lập luận của tác giả trong phần này chủ yếu bằng biện pháp nêu gương, những tấm gương “đến nay còn lưu tiếng tốt“. Các bước dẫn dụ đều dựa vào sách vở, nghĩa là các chuẩn mực đã được công nhận nhưng từ xa đến gần, từ rộng đến hẹp. Xa thì từ thời Xuân thu – Chiến quốc, đời Hán, đời Đường – chủ yếu là đạo lí vua – tôi (rộng), còn gần thì đời Tống, đời Nguyên – chủ yếu là đạo lí chủ soái tì tướng (hẹp). Xa và gần đều có ý nghĩa ngang nhau. Những bậc trung thần nghĩa sĩ xa xôi nếu đã được “lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ”, thì những tì tướng thời Tống, Nguyên hoặc “khiến cho nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu” hoặc “khiến cho quân trưởng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt”. Cái cách bàn luận cứ thu hẹp dần biên độ này phải chăng đầy dụng ý để khi bước vào luận điểm thứ hai, tác giả bài văn có thể bắt đầu bằng một cụm từ thể hiện quan hệ cụ thể “Huống chi ta cùng các ngươi…” không có gì là đột ngột nữa. Sự thu hẹp vừa nêu, ít nhiều đã bộc lộ một phong cách: thay thế cho sự áp đặt, cứng nhắc là thái độ tinh thần dễ tạo được sự cảm thông giữa hai vai phát ngôn: người nói và người nghe, người có vị thế xã hội cao hơn với đông đảo người dưới quyền. Sự tiến lui trong đường đi nước bước này thật linh hoạt, mềm dẻo, cốt là đạt được đến cái đích cuối cùng – điều này mới là then chốt: “Các ngươi con nhà võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi những chuyện xưa, ta không nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện Tống, Nguyên mới đây”. Và ngay khi kể chuyên thời xa lắc xa lơ – mà những kẻ “con nhà võ tướng không hiểu văn nghĩa không biết thực hư”, tác giả bài vãn vẫn nhấn mạnh một ý cần bàn không bao giờ thuộc về dĩ vãng. Ấy là thái độ sống: “Giả sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường tình, thì cũng chết già ở xó cửa”. Sự thức tỉnh phải chãng từ đó đã được nhen lên, từ lương tri, lương năng của người võ tướng. Để sau đó bao nhiêu câu Kỏi liên tiếp được đặt ra xoáy vào tâm trí khi kể chuyện Tống, Nguyên: “Vương Công Kiên là người thế nào, tì tướng của ông là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào… Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào, tì tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào…”. Bài văn chính luận do cách nói ấy đã có được đà. Sự sâu sắc của tư tưởng, cái cách khái quát của tư duy, độ dồn nén bên trong của cảm xúc đã tạo nên cái đà ấy. Nỗi nhục của chủ tướng lúc này là ở chỗ: tuy có trọng trách thay vua giữ nước, nhưng để cho đất nước bị quân giặc chà đạp, ngang ngược lộng hành. Chúng đang xúc phạm đến những điều thiêng liêng nhất mà kẻ còn có lương tri không thể nhắm mắt dửng dưng. Triều đình bị sỉ mắng, tể phụ bị bắt nạt. Mà kẻ có quyền sỉ mắng đó là ai: một bọn cú diều, dê chó (“uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ”). Sự nghiêm trọng khác thường là ở chỗ: tác giả sử dụng biện pháp đối lập để nêu bật tình hình, mà cũng là một tổn thương tinh thần với người chủ tướng. Đối lập với tể phụ, triều đình, về đại từ nhân xưng, tác giả đã không ngần ngại biến chúng thành những loài dã thú. Thú vật hoá quân thù cũng là một cách bộc lộ lòng căm thù tới đỉnh cao, đến tột cùng của người chủ tướng. Chưa hết, sự im lặng về phía hành động của các tướng sĩ còn dẫn đến một nguy cơ “như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau”. Điều đó khiến người chủ tướng không thể bình tâm: ngày quên ăn, đêm quên ngủ. Cái vật vã đến đớn đau của người chủ tướng là căm tức đến nghẹn ngào vì “chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. Con người ta ai chẳng là người ham sống, nhưng tác giả tình nguyện chết đến trăm, nghìn lần, chết trong niềm vui vì giải thoát được niềm căm tức. Phóng đại, cường điệu là cách nói dường như không thật, nhưng giờ đây nó lại là “thật” nhất. Khi nỗi uất hận trong lòng như ngọn lửa bốc lên thì không gì kìm giữ nổi. Chỉ có cách nói ấy mới có khả năng đánh thức một cái gì ở đối tượng người nghe. Hiểm hoạ hiện thời – hậu quả của thú hưởng lạc ăn chơi của các ngươi dẫn đến là gì, nếu không phải là nước mất nhà tan? Nước có giặc mà không sẵn sàng đánh giặc, thì nếu có đánh giặc “cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp”, “mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh”,… tất dẫn đến. nguy cơ mà cả ta và các ngươi phải chịu. Nước đã mất, nhà sẽ không còn, ta và các ngươi đều trở thành tù binh của giặc… “Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất”. “Chẳng những” và “chẳng những”… bao nhiêu câu văn là bấy nhiêu đau xót (“đau xót biết chừng nào”). Chẳng những kiếp này, còn đến trăm năm sau “tiếng dơ khôn rửa, tên xấu còn lưu”. Cách phân tích của tác giả thật sắc sảo, hợp lí, chí tình khi vạch ra hai con đường hoạ, phúc. Hoạ có thể đến nơi mà phúc cũng như một thứ nhỡn tiền, nhìn thấy, chỉ có điểu là chúng khác nhau một vực, một trời. Điều quyết định nằm trong thái độ, trong sự dứt khoát chọn đường: ăn chơi hay gác lại thú ăn chơi? “Nhà” và “Nước” tuy là hai yếu tố gắn liền với nhau, nhưng không thể ngang hàng, không thể xếp theo thứ tự hàng ngang, mà phải cái sau cái trước, bởi “nước mất” thì “nhà tan”. Để giữ được nước – cũng là giữ được nhà, trọng trách của con nhà võ tướng không còn cách nào khác hơn là luyện tập binh đao, cung kiếm “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”. Phải tiêu diệt kẻ thù ở chính nơi chúng đã gây ra tội ác, nơi tượng trưng cho quốc thể, nơi tôn miếu thờ cúng của quốc gia, phải “bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở cảo Nhai”, người viết những điều tâm huyết mới được hả lòng. Sự “hả lòng” ấy sung sướng biết bao nhiêu khi hạnh phúc được bảo vệ, ta và các ngươi lại được an hưởng thái bình, “chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ”. Lại những câu, những cặp vế song song đôi một giữa ta và các ngươi, giữa nước với nhà giống như một thứ hạnh phúc bay đôi thật là đủ đầy viên mãn. Trọng lượng của bài văn rơi đúng vào đoạn phân tích thiệt hơn, tác động cùng một lúc đến nhận thức, tình cảm, lương tâm đối với con nhà võ tướng. Đó cũng là một cách lập luận điển hình mẫu mực, không thể có một cách nói nào đúng hơn và hay hơn vào thời điểm đó.
Con nhà võ tướng nghe văn (Về bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,870
Con sông Vôn-ga đi ra bể – Tùy bút Lòng yêu nước Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Tùy bút Lòng yêu nước Ngữ Văn 6 Bài Lòng yêu nước trích từ bài báo Thử lửa của I. Ê-ren-bua, về phương diện tinh thần giống như một thứ Hịch tướng sĩ của nước Nga trong những năm bốn mươi của thế kỉ XX. Vừa có ý nghĩa khai tâm, đánh thức những gì đẹp đẽ nhất của lòng người vốn hình như vẫn còn niêm phong, tiềm ẩn, nó vừa tập hợp sức mạnh vô song của nhân dân nước Nga, Liên bang Xô viết đối mặt với thử thách nặng nể của cuộc chiến tranh chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945). So với bài hịch của Trần Quốc Tuấn, nó không hướng tới một đối tượng hữu hạn (tướng sĩ) mà phát động toàn dân, cũng không xuất phát từ những tín điều đạo lí đã trở nên chuẩn mực một thời mà từ những rung cảm nhân văn bình dị nhất. Tính dân chủ, tính toàn dân hiện lên rất rõ ràng trong bài tuỳ bút chính luận nổi tiếng một thời. Về bố cục bài văn, có thể có những cách hiểu không giống nhau. Thông thường, người ta cho rằng bài văn có hai đoạn: đoạn một: lòng yêu nước bắt nguồn từ những gì thân thuộc nhất, đoạn hai: lòng yêu nước dược thể hiện và thử thách trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Còn một cách khác: lấy sự kiện chiến tranh làm mốc dẫn đến lòng yêu nước của con người có hai cấp độ khác nhau. Bài viết này theo phương án thứ hai. 1.Lòng yêu nước ban đầu của con người như một con suối nhỏ, chưa hề sâu rộng, mênh mông. Nó gắn với môi trường sống, với thiên nhiên như “Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời” (ý thơ Tố Hữu). Đó là những phản xạ tự nhiên mà con người thường có. Một cái cây trước nhà, một cái phố đổ ra bờ sông, vị thơm chua mát của trái lê mùa thu, đó là “những vật tầm thường nhất”. Trong câu văn kể việc đã hình thành một nhạc điệu xao xuyến, bâng khuâng của tình yêu xứ sở. Tuy còn một cái gì mơ hồ, chưa định hình rõ nét, nhưng nó đã là lòng yêu nước sơ khai, là điểm ban đầu. Quê hương của nước Nga, hay rộng hơn cả Liên bang Xô viết, mỗi nơi một vẻ nhưng nơi nào cũng yên ả, thanh bình. Đó là xứ sở của thơ và nhạc. Còn gì thơ mộng bằng những đêm tháng sáu sáng hồng của vùng cực Bắc, hoặc cảm giác về thời gian ngừng trôi giữa trưa hè vàng óng của U-crai-na. Muốn kiếm tìm chất hội hoạ điển hình phải đến Gru-di-a cùng với những niềm vui bất chợt khi thì rời những tảng đá sáng rực, lúc thì dòng suối óng ánh bạc đột ngột hiện ra trước mắt được mời chào bằng rượu vang đựng trong những túi bằng da dê như tập quán của dân du mục. Đường bệ và cổ kính là những bức tượng bằng đồng với những con chiến mã tung bờm của Lê-nin-grát, còn Mát-xcơ-va có điện Krem-li như một trái tim. Phát hiện vẻ đẹp muôn màu này, người viếí không hề có ý định phô trương. Chẳng thế mà thay cho cái hào nhoáng, cái ngạo nghễ của nền văn minh công nghiệp là thiên nhiên với tầng tầng lớp lớp những vỉa, tầng văn hoá lâu đời. Tính chất tuỳ bút bộc lộ những cảm xúc riêng tư – với tư cách một công dân Xô-viết vừa mở ra trên độ rộng, vừa lắng lại ở độ sâu. ở đó có cái chung, cũng có cái riêng. Nhưng dù là chung hay riêng, có mảnh đất nào, vùng miền nào không phải là một phần cơ thể của nước Nga, của chính người viết, nên có câu văn nào chẳng thao thức, nao lòng? 3.Điểm nhấn của bài văn là đoạn kết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể”. Đó là sự vận hành của quy luật tự nhiên. Nhưng cũng là quy luật của con người: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Ở đây không chỉ là vấn đề biến đổi về lượng. Lượng đổi, chất đổi giống như bão không phải tự nhiên mà có. Nó từ gió sinh ra. Tục ngữ Việt Nam có câu: Kẻ gieo gió phải gặt bão. Kẻ thù động vào nước Nga sẽ hiểu lòng yêu nước của người Nga. Bởi một mặt: tình yêu của con người mạnh, yếu như thế nào thì không có một cách nào khác hơn là phải đem vào thử thách, mà thử thách ghê gớm nhất là lửa đạn của chiến tranh. Và mặt thứ hai, trong thực tế, từ “mùa thu qua” (mùa thu năm 1941), một lẽ phải của tâm hồn đã được xác nhận hiển nhiên: “Mất nước Nga thì ta còn sống làm gì nữa”. Lẽ phải ấy đã được vang lên trong tiếng súng phản công, đã kéo lên ngọn cờ chiến thắng ngay tại sào huyệt của quân thù.
Con sông Vôn-ga đi ra bể – Tùy bút Lòng yêu nước Ngữ Văn 6
899
Con đường học vấn (Về đoạn trích Bàn luận về phép học – trích Luận học pháp của Nguyễn Thiếp) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Con đường học vấn Như ta biết Bàn luận về phép học (Luận học pháp) chỉ là một đoạn trích trong một bài tấu để cập đến nhiều vấn đề trong phép chấn hưng trị nước mà Nguyễn Thiếp gửi lên vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791. Vì chỉ là một yếu tố trong hệ thống, Bàn luận về phép học chỉ có ý nghĩa độc lập tương đối khi đặt vào chỉnh thể mà thôi. Tuy vậy, do cách suy nghĩ đúng đắn, do cách lập luận chặt chẽ, lời văn không trọng sự hoa mĩ khoa trương mà cụ thể xác thực, trích đoạn vẫn thể hiện được tư tưởng lớn về mục đích của con đường học vấn. Từ đó mà có một phép học thích hợp: khoa học và thiết thực dẫn đến những tài năng, có ích cho việc tu thân, góp phần tích cực vào sự hưng thịnh nước nhà. Tư tưởng lớn ấy thể hiện tronc một đoạn văn nghị luận, tuy dung lượng lời nói không dài, nhưng vẫn triệt để tuân theo những nguyên tắc cơ bản của văn nghị luận. 1. Trong phần nêu vấn đề về sự học, tác giả không bàn đến việc vì sao phải học (nguyên tắc) mà nhấn vào một khía cạnh: ‘học để làm gì? (mục đích). Là bởi vì: “Ngọc không mài không thành đồ vật ; người không học không biết rõ đạo”. Nhưng đạo ấy là gì? Ấy là cái đích của sự học vậy. Theo tác giả thì “Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người”. Đạo dạy người ta về những mối quan hệ: hẹp thì với bản thân, trong gia đình, rộng ra là ngoài xã hội. Mối quan hệ ấy trong khuôn khổ của xã hội phong kiến không nằm ngoài khái niệm “tam cương”, “ngũ thường” quen thuộc. Tóm lại, học trước hết là học đạo làm người, học để “lập đức” cho mình, để “lập công” nghĩa là phải cống hiến/tài năng cho xã hội. Đó là nền tảng của “chính học”, là cơ sở của một quốc gia nước mạnh dân giàu, xã hội thái bình, thịnh trị. Cách nhìn của tác giả đoạn văn có tầm chiến lược dài lâu vì nó đựng đến sự an nguy của xã tắc (tức đất nước). 2. Trong phần giải quyết vấn đề, tác giả nêu lên hai luận điểm lớn để một mặt phê phán lối học sai mục đích hiện thời và một mặt khôi phục lại lối học chân chính mà nguyên tắc và mục tiêu xã hội đã xác định từ xưa. 4. Ở luận điểm thứ hai: phải khôi phục lại mục đích của nền “chính học”, tác giả không nhắc lại mục đích của việc học nữa, vì nó đã được xác định từ đầu. Đây là hiện tượng chìm đi của quan điểm trong lập luận. Vì vậy, nếu người đọc vô tình sẽ có cảm giác như là hẫng hụt, thấy thiếu đi một cái gì lẽ ra phải có. Thay cho việc nhắc lại mục đích chân chính của việc học (vì không cần phải nhắc lại lần thứ hai), tác giả bàn đến việc chấn hưng trên cơ sở ấy. Sự việc chấn hưng to lớn và cấp thiết được nhìn từ hai cấp độ: chiều rộng và chiều sâu. Về chiều rộng: cần mở mang thêm nhiều trường lớp, bằng nhiều hình thức, ở khắp mọi nơi, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người đi học. Quan điểm mà nay gọi là xã hội hoá giáo dục có hai cái lợi (mà tác giả không nói rõ ra): một là nâng cao được dân trí và hai là lựa chọn được nhân tài. Đó là cái nền của “chính học”.
Con đường học vấn (Về đoạn trích Bàn luận về phép học – trích Luận học pháp của Nguyễn Thiếp) – Bình giảng Ngữ Văn 8
663
Con đường rơi vào hoàn cảnh bế tắc và tuyệt vọng của nhân vật Chí Phèo Hướng dẫn Bước đường cùng của nhân vật Chí Phèo Mở bài: Chí Phèo là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Không những có giá trị hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo mới mẻ, truyện ngắn Chí Phèo còn chứng tỏ trình độ khắc họa nhân vật bậc thầy của một nhà văn Nam Cao. Nhân vật Chí Phèo trở nên nổi bậc không những nhờ lớp ngôn ngữ miêu tả sống động, nghệ thuật khắc họa tâm lí tinh tế của nhà văn mà còn ở số phận đầy bi đát. Nhà văn đã thể hiện trọn vẹn con đường rơi vào hoàn cảnh bế tắc và tuyệt vọng của Chí Phèo bằng niềm cảm thông sâu sắc. Số phận tăm tối của Chí Phèo cũng là số phận đầy bi thương của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám ở nước ta. Thân bài: Lần đầu tiên trên trang văn, người ta nhìn thấy một kẻ dị hợm, gớm ghiếc ngất ngưỡng đi về trong cơn say cùng những lời chửi bới và tiếng gào thét điên cuồng. Lần đầu tiên người ta thấy một kẻ bị biến dạng cả nhân hình lẫn nhân tính quằn quại trong đớn đau tuyệt vọng. Hắn nổi tiếng không kém cạnh bất kì nhân vật sừng sỏ nào trong xã hội. Hắn cũng oai quyền không khác chi ông bá hộ hay vị chức sắc nào ở trong làng. Hắn gieo rắc nỗi sợ hãi từ đầu thôn đến cuối làng mà có lẽ hễ ai bất ngờ gặp hắn cũng phải đều lảng tránh đi đường khác. Đó là Chí Phèo – con quỷ dữ làng Vũ Đại. Cái tên ấy mỗi khi nhắc tới, cả làng Vũ Đại từ trẻ con cho đến người già cả đều lắc đầu ngao ngán. Chí Phèo đi về trên trang văn như một kẻ độc hành, cô đơn và lạnh lẽo. Thực sự, tâm hồn hắn đang rất lạnh lẽo. Có lẽ mọi thứ trong hắn đã khô cứng lại. Nó lạnh lẽo đến nỗi hắn cũng không còn nhận ra hắn đang lạnh lẽo. Còn mọi người xung quanh, vì quá sợ hãi và căm ghét hắn nên đâu còn nghĩ đến điều đó. Thế nhưng, cuộc đời sinh ra Chí đâu phải thế. Trời sinh ra hắn bất hạnh. Nhưng trời cũng thương hắn nên cho hắn một bản tính hiền lành, cần cù và lương thiện. Người ta nói hắn hiền như cục đất, không giận, không hờn ai bao giờ. Hắn cứ lầm lũi vô danh giữa cuộc đời. Mãi năm hai mươi tuổi, Chí vào làm công cho nhà Bá Kiến. Đây là một bước ngoặc làm thay đổi cuộc đời Chí. Ở nhà Bá Kiến, Chí vẫn hiền lắm. Hắn không ăn cắp vặt bao giờ dù đồ đạc của chủ nhà vẫn để bừa bộn ra đấy. Hắn cũng có lòng tự trọng cao quý của một kẻ cùng đinh, mạt hạng. Dù cơ cực, đói khổ nhưng lúc nào cũng giữ gìn lấy cái danh dự làm người. Nhưng bàn tay tạo hóa đã sẵn bày nghịch cảnh. Hắn muốn lương thiện cũng đâu có được. Chuyện bắt đầu bằng cái thói lăng nhăng của bà Ba. Lão Bá Kiến đã già quá rồi mà bà Ba thì còn khá trẻ. Chao ôi, cái tuổi hồi xuân phơi phới nó cứ làm khổ bà. Nhìn thấy anh nông dân lực lưỡng lại hết sức hiền lành, nói đâu nghe đấy như Chí Phèo, bà Ba đã sinh lòng cảm mến. Mỗi buổi trưa, sau công việc, bà nhờ Chí đến bóp chân cho đỡ mỏi. Cái ý của bà Ba nhìn vào là biết. Chí Phèo cũng xấu hổ lắm. Hắn miễn cưỡng làm cái việc ô nhục ấy bao ngày. Việc ấy cũng đến tai Bá Kiến. Lão già háo sắc và tinh quái ấy sao để Chí yên được. Lão ngấm ngầm toan tính kĩ lưỡng. Thế là một ngày, người ta thấy có người đến giải Chí lên huyện. Từ đó Chí Phèo bặt vô âm tính. Không ai ngạc nhiên đến việc không có mặt của hắn. Chỉ bấy nhiêu đó thôi, Nam Cao đã tài tình gợi lên cái tình cảnh điêu đứng đáng thương của cả xã hội Việt Nam thời bấy giời. Một xã hội lạnh lẽo, thiếu vắng tình thương. Một xã hội đang chìm vào sự vô cảm đến đáng sợ. Ở đó, mỗi người tự lo cho bản thân mình cũng không xong thì lấy gì lo cho kẻ khác. Mà ai lại đi lo cho một kẻ gớm ghiếc và dữ dằn như Chí bao giờ. Lòng yêu thương của con người cũng có giới hạn. Một khi nó bị đẩy đến tận cùng đau đớn thì những sự tàn độc sẽ xuất hiện. Bi kịch cuộc đời Chí Phèo bắt đầu bằng sự hủy hoại đáng sợ cả nhân hình lẫn nhân tính. Chí Phèo không những bị sỉ nhục, bị tước đoạt quyền làm người mà cả tinh thần cũng bị méo mó, biến dạng đến đáng sợ. Hắn về làng và sa vào những cuộc rượu triền miên. Say rồi hắn đi rạch mặt ăn vạ nhà Bá Kiến như Năm Thọ, Binh Chức đã từng làm. Không biết hắn học cái thới côn đồ, lưu manh ấy ở đâu. Chỉ biết hắn trở về làng thì cái thói ấy đã có rồi. Chính nhà tù thực dân đã tiếp tay cho cường hào thâm độc để giết chết phần “người” trong con người Chí Phèo, biến Chí (cái tên của hắn) thành Phèo (cái nghề của hắn) , biến người nông dân lương thiện thành con quỷ dữ tợn. Chí biết rõ ai đã đẩy Chí vào tù. Chí muốn trả thù nhưng bất lực không dám trả thù. Đó là tâm lí thường thấy trong xã hội lúc bấy giờ. Người nông dân vẫn tồn tại nỗi sợ hãi cố hữu đối với giai cấp thống trị phong kiến. Cường quyền đủ sức khuất phục họ, không cho họ cơ hội phản kháng. Chí một mình thống khổ nỗi đau đớn của số phận khắc nghiệt. Đó là nỗi thống khổ của một người được sinh ra nhưng không được làm người, không được xã hội thừa nhận. Hắn ra đời không cha mẹ, không họ hàng thân thích. Tâm hồn của hắn đã bị tổn thương từ lúc sơ khai. Nỗi thống khổ bởi cái nguồn gốc không rõ ràng là điều tủi nhục ghê gớm. Hắn biết nên hắn sống hiền lành. Hiền lành để người ta còn thương. Hắn chăm chỉ làm việc để được sống. Hắn luôn muốn được sống và sống đúng nghĩa. Thế nhưng, sự hiền lành của hắn bị bà Ba, Bá Kiến lợi dụng. Để rồi họ, những kẻ vô nhân tính lại nhẫn tâm cướp đi cái quyền làm người, cướp đi quyền sống của hắn. Bất hạnh này đè lên bất hạnh khác. Nếu nhìn nhận từ điểm ấy, thì sự tồn tại của Chí Phèo đã là phi thường rồi. Hắn luyến tiếc cái thời xa xưa của mình nhưng không còn ai thừa nhận hắn nữa. Hắn muốn chết nhưng không có lí do để chết. Thế là hắn tìm đến cơn say. Say để quên mình đi. Say để quên mình đang sống. Nhưng hắn lại không thể quên được. Thế nhưng dù say rượu đến điên khùng, Chí Phèo vẫn như cảm nhận thấm thía “nông nỗi” khốn khổ của thân phận mình. Hắn muốn điên. Điên nên hắn chửi trời, chửi đời; rồi chuyển sang chửi tất cả làng Vũ Đại. Cuối cùng hắn chửi thằng cha con mẹ nào đẻ ra cái thằng Chí Phèo. Hắn chửi tất cả những gì có liên hệ với hắn. Tiếng chửi vang lên từng ngày trong cơn say thật không khỏi khiến cho con người ta thấm thía bi kịch tinh thần của kẻ bị cả xã hội phủ nhận, bị cự tuyệt quyền làm người. Con đường dẫn đến sự bế tắc và tuyệt vọng của nhân vật Chí Phèo được đảy lên mọt bước cao hơn khi hắn trở thành tay sai đắc lực và lợi hại của Bá Kiến. Giờ đây, hắn không những là kẻ “ồn ào” ở làng Vũ Đại mà trở thành một kẻ thực sự hung ác, lì lợm, ngang ngược vô cùng. Bị Bá Kiến lợi dụng, Chí Phèo đã đẩy cuộc đời mình đi đến chỗ tàn ác. Trông hắn không còn có lòng thương xót, không có tình người. Hắn thực sự trở thành một con thú dữ, một ác quỷ gieo rắc nỗi kinh hoàng. Trên miệng hắn giờ đây không phải là tiếng chửi bới mà là tiếng gào thét hung tợn, dữ dằn. Hắn sẵn sàng ra tay tàn bạo với bất kì kẻ nào cản trở hắn hay cản trở nhà Bá Kiến. Đến lúc này, Chí Phèo thực sự chìm vào bóng tối. Cuộc đời hắn bây giờ chỉ có rượu và máu. Kẻ không dám ăn cắp ngày nào giờ vung dao không biết sợ. Anh nông dân hiền như cục đất, lúc nào cũng im lặng ngày nào giờ không ngán bất cứ một kẻ nào trong làng. Chí Phèo không bán linh hồn cho quỷ dữ như kiểu của các nhân vật đồng dạng khác. Không có một giao kèo nào giữa hắn và quỷ dữ. Linh hồn của Chí Phèo thực sự bị cướp đi một cách trắng trợn. Cái mần lương thiện, cái bản năng sống vẫn còn âm ỉ cháy ở đâu đó trong tría tim lạnh lẽo và đầy đau đớn ấy. Dù nó đã bị vằm nát, bị hủy hoại khiến hắn phải sống như một con vật lạ. Nam Cao đã đẩy con đường tha hóa của Chí Phèo lên đến tận cùng. Cón gười cho rằng ông đã quá tàn nhẫn khi miêu tả nhân vật với một trạng thái tồi tệ đến vậy. Nhưng đó là “cái sự thật ở đời”. Đã là “sự thật ở đời” thì có gì là tàn nhẫn. Nam Cao đã hết sức cảm thông cho cái số kiếp đáng thương của người nông dân và trân trọng cái tốt đẹp vẫn còn hiện diện ở con người dù nó đã biến dạng khủng khiếp. Và khi cơ hội đến, nó cựa mình hồi sinh một cách mãnh liệt, bất chấp tất cả. Đó là sức mạnh sinh tồn trong con người mà các nhà nhân đạo khác đã không nhìn thấy được. Thị Nở đến với Chí Phèo như một phép màu. Lúc đầu hoàn toàn là do cái bản năng của người đàn ông. Nhưng sau đó là rung động và khao khát thực sự nghiêm túc. Bản năng sống tốt đẹp của Chí Phèo hồi sinh ngay lúc người ta đã không ngờ tới. Một cơm ốm khiến hắn cần có sự chăm sóc và yêu thương. Hành động của Thị Nở đáp ứng được khao khát ấy. Nếu Thị Nở bỏ đi thì mọi chuyện đã khác. Nhưng Thị Nở đã ở đây, bên cạnh hắn, ngay lúc lương tri của hắn sống lại. Thj Nở đã kịp thời vun vén, nâng đỡ nó đứng vững lên. Chỉ có sự hồn nhiên thánh thiện của Thị Nở mới khuất phục được con quỷ dữ trong người Chí Phèo. Tình yêu của Thị Nở tưới một dòng nước mát lên tâm hồn vốn đã khô khan, nức nẻ của Chí Phèo, khiến những mầm sống nhỏ nhoi rục rịch chuyển mình. Quá trình chuyển mình âm thầm nhưng vô cùng mạnh mẽ. Bát cháo hành của Thị như một liều thuốc tiên hóa giải mọi mội điều ân hận, mọi thù oán, mọi khổ đau trong Chí, cho hắn niềm khao khát sống. Hắn cảm thấy yêu vô cùng, yêu cái người đàn bà kia và yêu cuộc đời. Không một sự ố bẩn hay nhơ nhuốc nào còn có trong đầu hắn nữa. Tinh thần hắn bây giờ sạch sẽ như mặt nước hồ trong xanh, mát rượi. Những lời cuối cùng của Chí nói với Bá Kiến không khỏi khiến cho người đọc cảm thấu được cái khát vọng làm người, khát vọng được sống giữa loài người của hắn: “Tao muốn làm người lương thiện (…) Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện được nữa. Biết không!”. Chí Phèo phải chết vì xã hội ấy không còn chấp nhận hắn nữa. Không ai cho hắn cơ hội làm lại cuộc đời. Bàn tay ấm áp của Thị Nở chỉ là một sự ảo tưởng của nhà văn. Nhưng rồi chính ông cũng phủ nhận nó vì nhận ra rằng cái định kiến cổ hủ của xã hội thực dân nửa phong kiến còn quá nặng nề. Tác phẩm kết thúc trong u ám tột cùng. Chí Phèo đã chết. Con quỷ dữ làng Vũ Đại đã chết. Tiếng gào thét cũng không còn vang lên mỗi sớm mỗi tối nữa. Làng Vũ Đại lại yên bình trong cái ngột ngạt. Thị Nở phát hiện mình có mang. Một tương lai u ám lại đến với người đàn bà đáng thương ấy. Nam Cao đã rất thành công khi phát hiện ra kiểu nhân vật như Chí Phèo. Một thành công khác của Nam Cao là ông đã gián tiếp phê phán về nhà tù thực dân. Nhà tù có chức năng giúp con người cải hóa tội lỗi. Thế nhưng, nó không thực hiện chức năng ấy. Nó đã biến những con người lương thiện thành những kẻ lưu manh, mất hết cả nhân hình, lẫn nhân tính. Nó đẩy con người vào chỗ khốn cùng. Nam Cao cũng đã tạo nên một giọng văn phức điệu, đa thanh khi xen lẫn giữa tự sự với độc thoại, đối thoại; kết hợp giữa lời nhân vật và lười của nhà văn có tác dụng bộc lộ tâm lí phức tạp của nhân vật. Kết bài: Tác phẩm Chí Phèo mang giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương trân trọng của Nam Cao đối với những người khốn khổ; đồng thời là lời kết tội đanh thép xã hội thực dân – phong kiến đẩy con người vào bi kịch cùng cực, bế tắc, tuyệt vọng. Cuộc sống không có gì khởi sắc dưới góc nhìn của nhà văn. Ở điểm này, truyện ngắn Chí Phèo không khác gì so với Tắt đèn của Ngô Tất Tố hay Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. Nhưng từ khi Chí Phèo nghệch ngưỡng bước ra từ trang văn thì y đã trở thành hình tượng điển hình bất hủ cho bi kịch của người nông dân trong xã hội tăm tối trước 1945.
Con đường rơi vào hoàn cảnh bế tắc và tuyệt vọng của nhân vật Chí Phèo
2,508
Con đường đến trường đã trở nên quen thuộc, em hãy tả lại con đường đó Gợi ý Con đường từ nhà em tới trường không xa lắm. Đã bao năm đi lại trên con đường này em không biết từ bao giờ nó đã trở thành người bạn thân thiết. Nhìn từ xa, con đường như một dải lụa mềm mại nổi bật giữa tấm thảm màu xanh khổng lồ của cánh đồng lúa. Con đường tới trường chạy thẳng, có những ngã rẽ đi vào các thôn. Đường tới trường là con đường đất. Nó khoác trên mình chiếc áo màu nâu, trầm tĩnh và hiền lành. Mặt đường có những chỗ lồi lõm, bà tôi bảo đó là vết thương của thời gian in dấu. Bà tôi thỉnh thoảng cũng nói thơ văn lắm. Và mặc dù chẳng hiểu vết thương thời gian là gì nhưng tôi vẫn chăm chú lắng nghe từng lời nói của bà. Đi trên con đường đất này thấy bàn chân mát rượi. Vào những ngày mưa, đường trơn như đổ mỡ. Lúc đi, nhũng ngón chân phải bám chặt cho khỏi ngã. Hai bên đường, hàng cây bạch đàn cao vút, lá xanh rì đu đưa trong gió. Những buổi đi học, chúng tôi thường chạy xuống vệ đường, đi dưới tán cây và trên đám cỏ xanh mềm xen lẫn vài bông hoa dại bé nhỏ. Lác đác bên đường người ta trồng những luống rau. Những bông hoa cải màu vàng làm cho con đường thêm rực rỡ. Vừa đi chúng tôi vừa ngắm cánh đồng thẳng cánh cò bay. Gió từ ngoài thổi vào làm dịu đi cái oi ả trưa hè. Bên cạnh con đường có một cái hồ khá rộng. Chiều chiều đi học về, học trò chúng tôi hay xuống đó nghịch nước, hái hoa sen, hoa súng, nô đùa ầm ĩ. Con đường từ nhà tới trường vào lúc tan tầm thật ồn ào, náo nhiệt, có bao người đi lại. Học trò đi học về, từng tốp, từng tốp một vừa đi vừa chuyện trò rôm rả. Chúng nói chuyện với nhau về bài giảng của cô giáo hôm nay, về thầy hiệu trưởng, về bác bảo vệ hay cô lao công, bao nhiêu là thứ chuyện. Chúng chạy tung tăng trên đường. Có đứa còn bỏ cặp trên lưng, lội xuống hồ hái sen. Có cậu học trò đi trên vệ cỏ trơn, tự dưng ngã oạch. Chúng bạn quay ra trêu đùa khiến cậu xấu hồ chạy mất. Giờ này người lớn cũng đi làm về. Người đi xe đạp, người đi bộ…hối hả. Các bác nông dân sau một ngày vất vả, vội vàng quang gánh ra về lo cơm tối. Dưới đồng, lác đác vài người đang làm cỏ. Mấy chú trâu, chú bò thảnh thơi gặm cở ngon lành. Trong khi mọi người đang về với tố ấm của mình thì những chú đánh tôm, đánh tép mới bắt đầu công việc. Trên tay chú lỉnh kỉnh bao đồ, chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi may mắn. Con đường tới trường thật đẹp và thơ mộng. Nó đã gắn bó với tôi suốt thời gian dài. Tôi thích nhất con đuờng lúc tan tầm. Đó là khoảng thời gian sôi động nhất. Lúc ấy, tôi lại lặng yên ngắm nhìn mọi thứ, cảnh vật thanh bình và con người thuần hậu. Nhìn con đuờng đi học, tôi nhớ về câu nói của một nhà văn, trên đời này làm gì có đường, người ta đi lại nhiều thì thành đường mà thôi. Vì thế mà tôi cũng chẳng biết con đường này đã bao nhiêu tuổi nữa…
Con đường đến trường đã trở nên quen thuộc, em hãy tả lại con đường đó
614
Cuộc chia li ngập tràn sầu muộn – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Trong cuộc đời con người, khi phải chia tay tiễn biệt – người thân, hoặc bạn bè – ai mà chẳng buồn rầu. Trong các cuộc chia tay, đưa tiễn, có lẽ cuộc tiễn đưa người thân ra trận để lại trong lòng người nhiều nỗi buồn lo nhất. Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc đã ghi lại cuộc chia tay như thế và hơn thế là: người chồng ấy ra đi không phải vì dân vì nước mà vì quyền lợi của giai cấp thống trị, ra đi để đàn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân ở nửa đầu thế kỉ XVIII trong xã hội phong kiến Việt Nam. Do đó, khi tiễn chồng ra đi, người vợ đã vô cùng buồn lo, sầu muộn. Đoạn trích Chinh phụ ngâm khúc mà chúng ta được đọc trong sách Ngữ văn 7, tập một chính là một cuộc chia li ngập tràn nỗi buồn lo sầu muộn đó: Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiểu chăn … Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Điều đầu tiên ta cần lưu ý là: Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc do ông Đặng Trần Côn sáng tác (khoảng năm 1741 – 1742) bằng chữ Hán, theo thể thơ tự do cổ điển. Sau đó, tác phẩm được một nữ sĩ cùng thời là bà Đoàn Thị Điểm dịch sang tiếng Việt (viết bằng chữ Nôm), theo thể thơ song thất lục bát. Song thất lục bát là thể thơ do chính người Việt Nam chúng ta sáng tạo ra. So với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú và lục bát, thơ song thất lục bát có nhạc tính phong phú hơn. GS. Phan Ngọc từng nhận xét: “Cần phải có hình thức ấy, tình cảm mới có thể mang hình thức một đợt sóng đi lên với hai câu thất, dừng lại ở câu lục ngắn gọn để toả ra trong câu bát dài nhất rồi lại vươn lên trong một khổ mới, cứ thế, đợt sóng tình cảm lên xuống ăn khớp với hình thức của ngôn ngữ”. Tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc là một bài thơ song thất lục bát, dài tới 408 câu đã thể hiện muôn vàn đợt sóng tình cảm của người chinh phụ – người vợ có chồng ra trận. Đoạn thơ trích nói trên tập trung thể hiện tình cảm hai vợ chồng trong những ngày đầu chia li. Đoạn thơ gồm ba khổ song thất lục bát, mười hai câu thơ, mỗi khổ ghi lại một cung bậc tình cảm. Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh. ghi cảm xúc phút đầu chia li. Tác giả dùng nghệ thuật đối lập: Chàng thì đi… thiếp thì về, miêu tả thật chính xác cảnh hai vợ chồng, hai phương trời đối nghịch mỗi lúc một cách xa nhau. Chồng đi vào cõi xa mưa gió biết bao gian khổ. Còn vợ thì buồng cũ chiếu chăn, sống cảnh đơn độc, vò võ, mòn mỏi với những đồ vật cũ kĩ, tàn tạ. Sự ngăn cách đã là sự thật khắc nghiệt. Nỗi sầu chia li nặng nề tưởng như phủ lên màu biếc của trời mây, trải vào màu xanh của núi ngàn. Các động từ “tuôn”, “trải” kết hợp hình ảnh mây biếc, núi xanh gợi lên cái mênh mang, nét vần vũ, quằn quại của thiên nhiên vũ trụ khiến nỗi buồn chia li thêm da diết, rộng lớn tưởng đến không cùng. Nỗi buồn chia li tăng dần, trở thành nỗi sầu muộn dâng lên tràn ngập cả cõi lòng kẻ ở người đi. Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Những địa danh Hàm Dương, Tiêu Tương không phải dùng-để tả thực mà chỉ mang ý nghĩa tượng trưng cho hai vị trí xa cách của đôi vợ chồng. Ớ khổ thơ thứ hai này, cũng vẫn bằng cách nói tương phản “Chàng còn ngảnh lại… Thiếp hãy trông sang” phối hợp cách điệp từ và đảo vị trí của hai địa danh “Chốn Hàm Dương – Bến Tiêu Tương, Bến Tiêu Tương – Cây Hàm Dương”, tác giả muốn chia đều cảm xúc của hai người, nhấn mạnh nỗi sầu xa cách. Tình cảm buồn thương, nhung nhớ cứ tăng dần, tăng dần. Điều đó cho thấy sự chia li ở đây là chia li về cuộc sống và thể xác, còn trong tình cảm, tâm hồn hai vợ chồng ấy vẫn gắn bó thiết tha. Họ vẫn hướng về nhau, dõi theo, để tìm nhau, nhìn thấy nhau. Nhung càng hướng về nhau thì không gian, thời gian càng đẩy họ xa nhau. Ở đoạn trên chỉ là “cách ngăn” đến đây sự cách ngăn thành “cách mấy trùng”. Do đó, lời thơ không chỉ biểu hiện nỗi sầu chia li mà còn nhấn mạnh sự oái oăm, nghịch chướng: gắn bó mà phải chia xa, càng dõi nhìn nhau, càng không thấy nhau… Cùng trông lại mù cùng chang thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Ở đoạn này, nghệ thuật đối nghịch được bổ sung bằng những điệp từ, điệp ngữ rất ấn tượng: cùng, thấy, xanh xanh, xanh ngắt, ngàn dâu,… Ớ trên, ít ra còn có tên hai địa danh Hàm Dương và Tiêu Tương gợi một ý niệm về địa điểm cụ thể, về vị trí hai người để có thể hướng tới nhau. Đến đây, mọi địa điểm, vị trí bị xoá mờ, hai hình hài chàng và thiếp cũng bị xoá mờ. Chỉ còn lại ngàn dâu, rất nhiều ngàn dâu nối nhau “xanh xanh” rồi “xanh ngắt” mênh mông khắp trời. Choán tất cả vũ trụ là màu xanh, xanh đến rợn ngợp, xanh não nề, nhức buốt tận đáy lòng. Từ ghép “xanh ngắt” với thanh “sắc” ở tiếng “ngắt” như mũi kim chích vào da thịt vậy. Tất cả, mười một câu thơ ở trên tập trung tả cảnh, tả cử chỉ của đôi vợ chồng, từ đó biểu hiện tâm tư, tình cảm. Đó là kiểu văn biểu cảm, mượn cảnh để biểu lộ tâm hồn. Qua cảnh vật và sự việc, người đọc thấm thìa cảm xúc của nhân vật và của tác giả. Nhân vật trong đoạn thơ này là hai vợ chồng người lính trận, chủ yếu là nhân vật chinh phụ, người chồng ra trận. Họ chia li về hình hài thể xác, nhưng tình thương và nỗi nhớ, sự gắn bó thì không chia li, rời cắt. Họ cố dõi theo nhau, tìm nhau để mãi mãi thấy nhau. Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Không dùng cách tả cảnh ngụ tình nữa, nhà thơ trực tiếp nói lên tiếng lòng của nhân vật và tiếng cảm thương của chính mình. Từ “sầu” trong câu thơ cuối này như đúc kết lại tất cả nhũng cung bậc tình cảm ở mười một câu thơ trên, Nỗi buồn li biệt đã nhân lên, dàng trào, trở thành một khối sầu thương, trĩu nặng trong tâm hồn người chinh phụ. Đoạn ngâm khúc về cuộc chia tay của đôi vợ chồng trong tác phẩm Chinh phụ ngâm cho ta thấy: nối sầu chia li của người chinh,phụ lúc tiễn chồng ra trận đã như nhuốm cả vào mây, trời, núi non, cảnh vật, cây cối. Nỗi sầu này vừa cố ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa, vừa thể hiện niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ. Đoạn thơ có giá trị nhân đạo, nhân văn thấm thìa, về nghệ thuật, đoạn thơ cho ta biết một thể thơ dân tộc với nhiều từ ngữ gần gũi, nhiều biện pháp tu từ (đối lập, điệp từ,…) kết hợp hài hoà với tính nhạc của những dòng thơ song thất lục bát rất linh hoạt, vừa biểu cảm vừa truyền cảm… Xem lại bình giảng bài Hai bức tranh thiên nhiên – hai hồn thơ thắm thiết tình quê
Cuộc chia li ngập tràn sầu muộn – Bình giảng văn 7
1,393