text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Cuộc chạm trám giữa kẻ phản bội và bậc anh hùng – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Chảy trong dòng sông văn học Việt Nam, giai đoạn đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945, truyện ngắn Những trò tố hay lủ Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc mang một màu sắc và âm điệu độc đáo: được viết bằng tiếng Pháp, xuất hiện trên đất Pháp, “có tính chiến đấu cao và bút pháp điêu luyện, hiện đại”. Trong khi các tác giả trong nước bóng bảy phê phán bọn phong kiến ươn hèn, để nhân dân đói khổ (như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học), hoặc gửi gắm tình yêu nước, lo đời kín đáo, mơ hồ (như Tản Đà, Trần Tuấn Khải) thì Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn và trực tiếp vạch mặt lũ thực dân xâm lược xảo trá, dã man ; bày tỏ tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mạnh mẽ, cháy bỏng. Trái tim người cầm bút yêu, ghét thật rõ ràng. Vì thế, tuy xuất bản ở nước ngoài, song truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu cùng nhiều tác phẩm khác mà Bác Hồ viết với bút danh Nguyễn Ái Quốc vẫn có giá trị như một áng văn Việt Nam đích thực, góp phần làm sôi động dòng chảy của văn chương dân tộc. Đọc truyện, chúng ta bắt gặp hai hình tượng nhân vật đối lập nhau: tên thực dân xảo trá và người chiến sĩ yểu nước đầy bản lĩnh. 1.Va-ren,một chính khách thực dân xảo quyệt, một kẻ phản bội nhục nhã. Ngay những dòng đầu, Va-ren đã được giới thiệu như một kẻ có lời nói và hành động mập mờ: “nửa chính thức hứa… giả thử… biết giữ lời hứa, liệu quan Toàn quyền Va-ren sẽ “chăm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao”. Đó là những từ ngữ mỉa mai, châm biếm nhẹ, mà sâu. Từ đó, tác giả định hướng cho nhân vật hiện lên trong thời gian (vào lúc nào) và mang những phẩm chất tính cách cụ thể (ra làm sao). Về thời gian, Toàn quyền Va-ren chỉ muốn chăm sóc vụ Phan Bội Châu “khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã”. Nghĩa là, hắn lo cho cái ghế thống trị thật vững vàng trước đã. Hắn muốn tỏ rõ uy quyền thực dân với công chúng ở Đông Dương trước đã. Còn Phan Bội Châu ra sao, hãy đợi đấy. Do đó, sau khi rời nước Pháp với lời hứa “nửa chính thức” sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu, Toàn quyền Va-ren đã làm một chuyến đi rề rà, lững thững, để nhấm nháp, hưởng thụ những của ngon vật lạ, những lời nói, cử chỉ tâng bốc của lũ tay sai cấp dưới. Tác giả sử dụng ngòi bút kể chuyện xen kẽ miêu tả, đối chúng bằng điệp ngữ và những câu văn kéo dài chia chuyến đi của Va-ren thành ba chặng. Chặng thứ nhất: Va-ren đến Sài Gòn. Chặng thứ hai: Va-ren ra Huế. Chặng thứ ba: Va-ren đến Hà Nội, tới đích, những trò lố chính thức của Va-ren đã diễn ra. Như vậy, Va-ren đúng là kẻ chỉ hứa suông, tuyên bố sẽ xem xét vụ Phan Bội Châu, thực tâm hắn chẳng chút động lòng nào tới số phận đau khổ của cụ Phan, hắn chẳng phải là viên quan nêu cao trách nhiệm trong công việc. Tới Hà Nội – cái đích quan trọng nhất của chuyến đi – những trò lố chính thức của Va-ren mới thực sự diễn ra, bộ mặt hề mồi, phản trắc, xảo quyệt của tên chính khách thực dân mới thực sự phơi bày. Bằng đôi cánh của trí tưởng tượng, nhà văn dẫn người đọc vào “tận cổng nhà lao chính, tận xà lim, nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết”… “Ôi, thật là một tấn kịch!”, nhà văn kêu lên, như muốn người đọc tập trung chú ý và cùng nhau suy ngẫm. Càng về cuối truyện, nhân vật Va-rén càng hiện rõ bản chất xấu xa. Những trò lố của hắn đã tự lột trần cái bộ mặt tên chính khách xảo quyệt, “kẻ phản bội nhục nhã”. Miêu tả chân dung Va-ren, Nguyễn Ái Quốc dùng ngòi bút lạnh lùng, hóm hỉnh, thông minh, sắc sảo. Đó là ngòi bút điêu luyện, hiện đại, kết hợp chất châu Âu sôi nổi với âm điệu Á Đông thâm trầm. Càng về cuối càng thâm trầm. Sử dụng ba chi tiết miêu tả thái độ và cử chỉ của Phan Bội Châu trước những lời lố bịch của Va-ren, tác giả đã đập thẳng vào mặt kẻ thù – kẻ thù của cụ Phan, kẻ thù của cả dân tộc – nhũng đòn chí mạng. Đó là lưỡi gươm sắc bén mà người thanh niên yêu nước – Nguyễn Ái Quốc – đã vung lên trong buổi đầu chiến đấu chống ngoại xâm vì nền độc lập, tự do của dân tộc. 2.Phan Bội Châu – người anh hùng. Với kẻ thù – ở đây là nhân vật Toàn quyền Va-ren – ngòi bút Nguyễn Ái Quốc mang tính chiến đấu mạnh mẽ bao nhiêu thì, với người anh hùng dân tộc – ở đây là nhân vật Phan Bội Châu – ngòi bút ấy mềm mại, nâng niu, trân trọng bấy nhiêu. Tuy không miêu tả chi tiết, song hình tượng Phan Bội Châu vẫn rõ nét, luôn song song với nhân vật Va-ren, như một đối xúng của hai màu sắc chọi nhau trong một hoạ phẩm. Viết về nhân vật Phan Bội Châu, tác giả đã dành những từ ngữ đẹp nhất để ngợi ca. Khi tác giả gọi Phan là “người đồng bào tôn kính của chúng ta”, “con người đã hi sinh cả gia đình và của cải”, lúc nâng lên tầm của “bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân”. Những phó danh từ bậc, vị, đấng đâu phải để nói về người bình thường. Đó là cách định danh mang tính thần thánh. Càng về cuối, tính cách thần thánh của hình tượng Phan Bội Châu càng được tô đậm thêm. Trong suốt buổi gặp, để mặc cho Va-ren diễn thuyết, cụ Phan chỉ “im lặng, dửng dưng”. Tai cụ không nghe, nét mặt cụ bình thản, cụ ngồi… im như một pho tượng… “làm cho Va-ren sửng sốt cả người”. Đấy chính là nhân cách hiên ngang, bất khuất của người chiến sĩ, luôn tỉnh táo, cảnh giác trước nhũng giọng lưỡi kẻ thù. Đó cũng là cách chiến đấu chống lại kẻ thù, phủ nhận, bác bỏ mọi mun ma chước quỷ của bọn ngoại xâm. Truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu nguyên văn bằng tiếng Pháp, được sáng tác cách đây trên nửa thế kỉ. Những nhân vật, những sự việc và cả tác giả đã đi vào cõi vĩnh hằng. Lúc đầu đọc, qua bản dịch, chúng ta có phần bỡ ngỡ. Song vừa đọc vừa suy ngẫm, chúng ta hiểu rằng: Bằng hình thức tưởng tượng, hư cấu, Nguyễn Ải Quốc – Bác Hồ thời trẻ — đã khắc hoạ được hai nhân vật có hai tính cách đại diện cho hai lực lượng hoàn toàn đối lập nhau: Vơ-ren: phản bội lí tưởng, quen chơi những trò lố là đại diện cho thực dân Pháp, ở Đông Dương ; Phan Bội Châu: “vị anh hùng, vị thiên sử, đấng xả thân vì độc lập” tiêu biểu cho khí phách dân tộc Việt Nam. Đằng sau hai hình tượng Việt Nam (hình tượng nhân vật trong truyện – Phan Bội Châu và hình tượng tác giả – Nguyễn Ái Quốc) ấy là một tấm lòng vừa căm thù bọn thực dân xâm lược vừa yêu nước thiết tha. Tấm lòng ấy kết hợp một tài năng, một quá trình rèn luyện đã tạo ra một ngòi bút chiến đấu thật sắc sảo, độc đáo: miêu tả sinh động, dùng từ linh hoạt, tự nhiên, trào lộng, nhất là nghệ thuật khắc hoạ nhân vật, tạo tình huống bất ngờ. Nguyễn Ái Quốc – Bác Hồ của chúng ta – ngay từ những ngày đầu cầm bút đã xứng đáng người chiến sĩ yêu nước, xứng đáng một nhà văn với nghĩa đẹp nhất của từ này. Xem lại bài bình giảng hai bức tranh đời thường tương phản
Cuộc chạm trám giữa kẻ phản bội và bậc anh hùng – Bình giảng văn 7
1,429
Cuộc sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê-Trịnh trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ Hướng dẫn Bức tranh chân thực về cuộc sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê-Trịnh Phạm Đình Hổ là một danh sĩ sống vào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XIX, cùng thời với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Gia Thiều, Phan Huy Chú,… Ông vốn con nhà quan lại, là người chí khí, giàu khát vọng nhưng thi cử không đỗ đạt, lại gặp thời buổi loạn lạc, có lúc ông sống trong cảnh cơ hàn hết sức khổ cực. Sau nhờ tài năng văn chương và soạn sách mà ông được tiến cử làm quan. Phạm Đình Hổ biên soạn sách vở thuộc nhiều lĩnh vực. Đương thời ông được xem là người thông thuộc kinh sử,địa lí, triết học,văn chương cũng hết sức sâu sắc. Trong đó, nổi bậc là tập Vũ trung tùy bút ghi lại khá chân thực nhiều sự việc đã xảy ra ở vùng đất Hải Dương quê ông. Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là bài tùy bút ghi lại đời sóng xa hoa vô độ của triều đình phong kiến thời vua Lê chúa Trịnh suy tàn. Trịnh Vương (Trịnh Sâm) chỉ thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, thường ngự ở các cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm,… nên việc xây dựng đền đài cứ làm liên tục, việc phục dịch cũng rất lãng phí, tốn kém. Bao nhiêu vật quý chốn nhân gian, Chúa đều ra sức thu lấy không thiếu một thứ gì, từ trân cầm dị thú cho đến cổ mộc quái thạch bồn hoa chậu cảnh miễn đẹp là bị quân quan tịch thu,… Bọn hoạn quan cung giám “nhờ gió bẻ măng”, dựa vào đó mà tha hồ nhũng nhiễu, gây sự, cướp đoạt của dân gây nên biết bao tình cảnh điêu đứng khốn cùng. Trước hết, nổi bậc trong tác phẩm là cuộc sống vô cùng xa hoa, quyền quý của chốn cung cấm. Chúa cho xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở các nơi để thỏa ý “thích chơi đèn đuốc”, ngắm cảnh đẹp. Ý thích đó không biết bao nhiêu cho vừa. Bởi vậy, việc xây dựng đình đài cứ diễn ra liên miên năm này qua năm khác, hao tổn không biết bao nhiêu sức lực và tiền của. Những cuộc dạo chơi của Chúa ở cung Tây Hồ được miêu tả tỉ mỉ. Cứ ba bốn tháng một lần, Chúa ghế đến nơi này. Mỗi lần, hạ cố Tây Hồ huy động rất nhiều người hầu kẻ hạ “binh lính dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ”, có cả các quan nội thần, các quan hộ giá, nhạc công, vũ nữ,… Để mua vui cho Chúa, họ bày không biết bao nhiêu trò giải trí lố lăng và tốn kém. Các nội thần giả làm các bà các cô bày bán hàng quán quan bờ hồ. Thuyền ngự lênh đênh trên sóng nước, chóc chóc lại ghé vào bờ mua bán. Dàn nhạc cũng được bố trí khắp nơi tấu nhạc làm vui khiến cho cảnh càng thêm sinh động. Thật là một cảnh tượng giả dối đến kinh tởm. Thế mà, Chúa cho thế là vui, muốn tìm lấy một cảnh giác bình dị của người bình dân dù đó chỉ là giả tạo. Việc tìm kiếm kì hoa dị thảo, của ngon vật báu ở đời cái gọi là “phụng thủ” để trang hoàng cho cung cấm diễn ra hết sức khốc liệt. Thực chất đó là hành động ăn cướp trắng trợn của dân, cưỡng bách nhân dân phải cống nạp. Từ trân cầm, cổ thụ, quái thạch, kì hoa, cổ vật miễn cái gì đẹp là bị bọn quan lại tịch thu không thương xót. Thậm chí, nhiều cây cảnh nằm trong sân nhà, không có lối khiêng ra, chúng nhẫn tâm đập đổ tường nhà để lấy lối đưa ra. Đó quả là hành dộng ngang ngược hết sức. Cảnh trong cấm cung được miêu tả là cảnh thực ở những khu vường rộng rãi, được bày vẽ đủ thứ, cái gì cũng có, điểm tô lộng lẫy như “bến bể đầu non”, nhưng âm thanh lại gợi len cảm giác ghê rợn như đứng trước một cái gì đó đang tan tác, đau thương chứ không phải trước cảnh đẹp yên bình, phồn thịnh. Cảm xúc chủ quan của tác giả đến đây mới bộc lộ ra, nhất là khi ông xem đó là “triệu bất tường”, tức điềm gở, điềm chẳng lành. Nó như báo trước sự suy vong tất yếu đang sắp xảy ra của một vương triều chỉ biết ăn chơi hưởng lạc xa xỉ trên mồ hô xương máu của muôn dân. Quả thực, điều đó đã xảy ra ngay sau khi Trịnh Vương mất sau đó ít lâu. Một bộ mặt khác không kém phần khóc liệt đó là bọn quan lại thừa cơ tác oai tác quái, gây nên biết bao điều oan nghiệt. Thời chúa Trịnh, bọn hoạn uan hầu cận Chúa rất được sủng ái bởi chúng đắc lực giúp chúa bày biện các trò ăn chơi, hưởng lạc. Do đó, chúng ỷ thế nhà chúa mà lộng hành trong nhân dân. Kết thúc đoạn miêu tả những thủ đoạn đê tiện hèn hạ của bnj hoạn quan, tác giả kể lại một sự việc đã từng xảy ra ngay tại gia đình mình. bà mẹ của ông đã phải tự tay mình chặt đi một cây lê và hai cây lựu quý mà chính bà đã vun sói bấy lâu để tránh đi tai họa. Cách dẫn dắt như thế đã làm tăng lên đáng kể tính chân thực của câu chuyện, khắc họa sâu sắc hiện thục đang xảy ra. Tình cảm của tác giả qua đó cũng được gửi gắm một cách kín đáo. Phạm Đình Hổ đã có lối văn ghi chép sự việc cụ thể, chân thực mà sinh động. Các chi tiết, sự việc miêu tả về thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và quan lại được đưa ra cụ thể, sinh động, chân thực, khách quan, để tự sự việc lên tiếng nói, đem lại ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Với thể loại tùy bút, các sự việc được ghi chép theo cảm hứng chủ quan, tản mạn, không gò bó theo hệ thống, kết cấu chặt chẽ, nhưng vẫn tuân theo một tư tưởng, cảm xúc chủ đạo, đó là thái độ phê phán thói ăn chơi xa xỉ và tệ nhũng nhiễu nhân dân của bọn vua chúa và lũ quan lại hậu cần.
Cuộc sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê-Trịnh trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ
1,125
Cuộc đời cách mạng thật là sang (Về bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Cuộc đời cách mạng thật là sang Đây là một bài thơ hay, nhưng có nhiều cách hiểu, từ đó có những cách phân tích không giống nhau. Bản thân mỗi cách hiểu và phân tích khó tránh được sự không nhất quán trong quá trình lĩnh hội hình tượng thơ. Cách phân tích sau đây cũng là một trong những con đường tiếp cận, với hi vọng không mắc lại những thiếu sót không nên có vừa nêu. Chủ đề, tư tưởng của bài thơ rất dễ nắm bắt. Ấy là tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác Hồ trong cuộc sống cách mạng đầy gian khổ ở Pác Bó. Nhưng chủ đề ấy, tư tưởng lớn ấy được thể hiện trong bài thơ như thế nào lại là điều không dễ chỉ ra cho thấu đáo, cho hợp lí hợp tình. Nên chăng là khi phân tích bài thơ này phải đi theo hai bước: Ở bước thứ nhất, khai thác khía cạnh gian khổ mà Người đã trải qua trong bước đầu “nhóm lửa” ngọn lửa cách mạng từ cái nơi tăm tối, hoang vu. Tập hợp các chi tiết một cách hệ thống theo khía cạnh này ta thấy: ở thì ở suối, ở hang (“Sáng ra bờ suối, tối vào hang“). Không gian và cả thời gian chật chội, quẩn quanh, đơn điệu. Còn gì gò bó cho bằng những ngày, những tối, những tháng, những năm mà con người vốn phóng khoáng, tự do phải chịu cảnh nhàm chán không chịu đổi thay với hang, với suối quen thuộc đến trơ mòn. Sự tù túng hiện lên ở bài thơ và nhịp thơ. Riêng về nhịp thơ có sự cứng nhắc, uể oải như cần một cái vươn vai mà không thể vươn vai. Tiếp đến là điều kiện ân uống hằng ngày: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Về câu thơ này có hai cách hiểu khác nhau. Theo cách hiểu thứ nhất: dù có phải ăn cháo bẹ, rau măng rất khổ nhưng tinh thần vẫn sẵn sàng. Còn cách hiểu thứ hai: trong hệ thống cả ba câu đầu, câu thứ hai toát lên cảm giác thích thú bằng lòng. Do hai cách hiểu này chúng ta buộc phải có cách hiểu thứ ba, vì với hai cách hiểu trên tuy khác nhau về nội dung mà giống nhau: nó không dựa trên sự nhất quán về phương pháp khi lĩnh hội một hình tượng thơ, rất dễ gây ra hiểu lầm và nhất là hiểu không toàn vẹn. Bởi nếu lúc nào, dù gian khổ đến đâu Bác cũng sẵn sàng, hơn thế còn “thích thú, bằng lòng” thì thử thách mà Người phải vượt qua, phải trải nghiệm là ở đâu? Bởi nói đến ăn, đến ở, so với cái tiêu chí vừa nêu (cũng là mơ ước của nhiều người) nó là những đối cực. Vậy hiểu câu thơ thứ hai như thế nào? Với cách hiểu thứ ba – mà khi phân tích câu đầu chúng ta đã nhập cuộc, câu thứ hai, trên ý nghĩa là hình tượng nên hiểu là những thiếu thốn điển hình. Thôi thì, trong điều kiện nào đó không có đủ thực phẩm cao sang cũng phải có cháo, có rau, nghĩa là chất tinh bột của gạo và rau xanh hái ở vườn nhà như câu thơ của Nguyễn Khuyên: Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. (Bạn đến chơi nhà) Nhưng cháo ở đây là cháo bẹ. Bẹ nghĩa là ngô, vốn không phải thức ăn quen thuộc đối với người miền xuôi, còn riêng Bác lại vừa về đến nước, có lẽ càng khó ăn hơn. Cháo bẹ đã không ngon, không đủ chất, còn không đủ no. Cháo ấy trộn với rau hay ăn nó với rau (chỉ một thứ rau măng) thì dù đói đến đâu cũng còn gì hào hứng nữa. Vậy thì hai chữ sẵn sàng ở đây, không nên hiểu là quá dư thừa, cần đến có ngay chưa một lần thiếu thốn, mà nên hiểu: nói thì nói đùa vui thế thôi, hóm hỉnh thế thôi, nhưng thật thì không một cái dạ dày nào có khả năng chấp nhận. Thiếu thốn như thế tưởng đã đến mức điển hình, hoá ra không phải. Không những hai điều kiện sống là ở và ăn vừa nói, phương tiện làm việc của Bác lại chẳng ra sao: Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng, Bàn đá, đá ở đây là đá núi, đá tự nhiên đâu phải đá xẻ, đá đã được mài, nó còn thô ráp, gồ ghề, lồi lõm. Lấy đá ấy – dù hòn đá nhặt được tốt nhất để làm bàn, không hiểu Bác viết ra sao? Đặt ba điều ấy vào trong cùng một hệ thống, mới thấy sự nghiệp cách mạng mà Người chèo lái gian nan biết chừng nào. Hiểu như vậy mới thấy những hi sinh, từ những chuyện nhỏ nhặt nhất trong thời gian dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi Bác cũng là người, trên một phương diện, cũng bình thường như tất cả chúng ta nghĩa là biết đói, biết rét, biết thiếu thốn, ấy là chưa kể những chông gai mà Người đã vượt qua trên con đường cách mạng. Nhưng kì lạ thay, câu kết bài thơ không đi về hướng ấy: Cuộc đời cách mạng thật là sang. Sang ở đây là sang trọng, cao sang, nghĩa là rất đủ đầy, rất cao quý. Con người ở vào hoàn cảnh cao sang, nhất là “thật là sang” thì hạnh phúc có thể coi là đã đến mức tột độ. Vậy mối liên hệ giữa mạch thơ gian khổ tột cùng kia với câu. kết, với chữ “sang” như thế nào? Có lẽ nên hiểu chữ “sang” và ý câu kết nghiêng về phía trí tuệ, phía tinh thần được lọc chắt ra từ chính chặng đường gian khổ ấy. sở dĩ Người cảm thấy nó “thật là sang” là bởi vì nó là “cuộc đời cách mạng”, được cống hiến cho cách mạng. Với những người cách mạng, nhất là những người dẫn đường như Bác (“Người đi trước nghìn sương muôn tuyết – Dắt dìu dân, nước Việt Nam ta” – Tố Hữu, Ba mươi năm đời ta có Đảng) thì gian khổ, khó khăn là sự trả giá, nói như Nguyễn Trãi: “Khó khăn thì mặc có màng bao“. Gian khổ thiếu thốn tột cùng mà bảo là “sang” chính vì lẽ đó. Thử so sánh hai hoàn cảnh sống: ở Pác Bó, Việt Nam và hơn một năm sau đó, gần 30 nhà ngục ở Quảng Tây, Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch, điều kiện tinh thần tuy hoàn toàn khác nhau, nhưng về vật chất, hoàn cảnh sống của Người không hơn là mấy. Nói như thế mà thương Bác vô cùng, hiểu Bác vô cùng. Trong gian truân, Người đâu nghĩ đến bản thân mình. Nghĩ đến sự nghiệp của cách mạng, của đất nước mà Người vui, nhất là tin, tin về thời cơ giành độc lập đang tới gần. Vậy nhãn tự của bài thơ nên đặt ở chữ sang hay đặt ở cụm từ “cuộc đời cách mạng”? Bởi “cuộc đời cách mạng” mới là bản lề khép mở bài thơ. Nó vừa đúc kết, chiêm nghiệm vừa là sự sang trang. Cách nói này không phải là cách nói cho vui theo hệ thống ý nghĩa được phân tích ở trên mà là những cảm nhận có thực ở Người. Khẩu khí này khác hẳn với những câu thơ Người viết hơn một năm sau đó như “Ăn cơm nhà nước ở nhà công” hoặc “Rồng uốn vòng quanh chân với tay”, trong Nhật kí trong tù. Bởi lẽ cái thiếu thốn đoạ đày nơi tù ngục với Người là một thứ cực hình tra tấn, còn ở bài thơ đang phân tích, nó lại là một niềm vui, nguồn cảm hứng thi nhân. Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay, Vượn hót chim kêu suốt cả ngày. (Cảnh rừng Việt Bắc) Cái ý vị đùa vui xuất hiện trong suốt cả bài thơ tạo ra một ý nghĩa kép cho từng câu thơ, có lẽ chính vì vậy đã có không ít người nhầm lẫn. Quả thật thế, hãy trở lại từ đầu: Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Câu thơ tự vịnh về mình thật ung dung, tự tại: muốn ở đâu thì ở, muốn đi đâu thì đi, kiểu “Non nước dạo chơi tuỳ sở thích” (Nhật kí trong tù) hoặc “Non xanh nước biếc tha hồ dạo” (Cảnh rừng Việt Bắc). Câu thơ như động tác co duỗi tự nhiên, thay đổi không khí hằng ngày chẳng có gì gò bó cả. Con người trong hoàn cảnh ấy là con người tự do. Sẵn sàng chấp nhận, sẵn sàng sống, sẵn sàng vui, cũng như “cảm giác thích thú, bằng lòng” là trên ý nghĩa tinh thần ở hệ thống thứ hai của cùng một hình tượng, của chủ thể trữ tình. “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng” thật thoải mái, thậm chí thật hồ hởi vì nó rất vô tư: cần ăn là có, như “Khách đến thì mời ngô nếp nướng – Sán về thường chén thịt rừng quay” (cảnh rừng Việt Bắc). Cái khác thường thành cái ngày thường, cái bình thường là giọng thơ nói trạng, đùa vui để quên đi cái thiếu thốn, cái gian nan mà hằng ngày đối mặt. Con người Hồ Chí Minh là thế: trang trọng và vui đùa tuỳ nơi tuỳ lúc đã đành, có khi một câu nói của Người mang cả hai ý nghĩa ấy. Hiểu như thế khi nói về ăn, ở, sinh hoạt được người nghe dễ dàng chấp nhận, đồng tình. Nhưng còn khi làm việc, nhất là khi làm việc lớn như chuyển ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Việt cuốn sách cẩm nang Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô cho các đồng chí của mình thì sao? Một công việc với ý nghĩa cực kì lớn lao, quan trọng, cần phải bao nhiêu ý chí, nghị lực, tài năng, hoàn toàn đối lập với cái “bàn đá chông chênh” tạm bợ. Không thể làm như thế, không ai làm như thế, nhưng Bác vẫn làm như thế, mà có sao đâu? Công việc vẫn hoàn thành, âu cũng là một điều thú vị, thật vui đấy chứ, vui như cái cách ăn ở hằng ngày của “cuộc đời cách mạng”. Có người cho rằng ở bài thơ này và một số bài thơ khác, Hồ Chí Minh có cái thú “lâm tuyền” (thích nơi rừng suối như những ẩn sĩ thời xưa). Cách hiểu đó ở đây không hoàn toàn đúng ít nhất trong bài thơ này, Bác chỉ là một con người, nhất là một con người cách mạng. Làm gì có chỗ cho sự nghỉ ngơi, lánh đời, thưởng ngoạn. Nếu có bằng lòng hay thích thú đi chăng nữa là với con người cùng với hai tư cách vừa nêu, và cũng vì hai tư cách vừa nêu mà hình tượng thơ mới trở nên lấp lánh, sinh động, tạo nên cảm hứng nghệ thuật dồi dào cho người đón nhận nó. Nếu cần nói thêm về nghệ thuật thơ Đường thì Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ rất đúng niêm luật có lẽ bởi ý nghĩa thứ hai là nói chơi, còn ý nghĩa đầu tiên vẫn là nói thật. Tính nghiêm túc của bài thơ phải chăng là sự phản ánh nghiêm túc những đòi hỏi có thật của cuộc đời đối với con người cách mạng. Nhưng một khi đã đáp ứng được nó, trụ vững trước nó thì ai cấm cái quyền nói chơi của người đã biết tự rèn luyện mình và vượt lên tất cả?
Cuộc đời cách mạng thật là sang (Về bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh) – Bình giảng Ngữ Văn 8
2,008
Cuộc đời giọt nước là những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Em hãy kể lại những cuộc phiêu lưu ấy Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG 1. MỞ BÀI Nhân vật Giọt Nước tự giới thiệu: Được sinh ra từ biển cả. + Cuộc đời gắn với những cuộc phiêu lưu. 2. THẨN BÀI D. Khi còn ở trong biển: + Tôi tung tăng đi đó đây. + Tôi đùa giỡn với mọi vật. E. Lúc thành hơi: + Tôi chu du khắp nơi và ngắm bao nhiêu cảnh sắc. F. Lúc thành giọt nước rơi theo mưa: + Tôi xuống dòng sông nhỏ. + Thực hiện nhiệm vụ: Kỳ cọ cho những đứa bé ở biển. + Được mang về nhà nấu pha trà và lại bay hơi. G. Chu du theo mây: + Đi chán, mỏi mệt tôi nặng nề đến công trường thủy điện sông Đà. + Thành mưa rơi xuống dòng sông và cùng các bạn chạy máy thủy diện. H. Xuôi dòng sông: + Ngắm nhìn cảnh đẹp trên sông. + Ra gặp lại mẹ biển của mình. 3. KẾT BÀI Lại muốn phiêu lưu để ngắm cảnh và làm việc có ích cho đời. Cuộc đời giọt nước là những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Em hãy kể lại những cuộc phiêu lưu ấy. BÀI LÀM Tôi vốn được sinh ra từ biển cả. Cuộc đời tôi gắn liền với nhừng cuộc phiêu lưu thật dễ thương và kỳ thú. Mẹ tôi, người có nước da xanh lơ màu trời, luôn vỗ về, âu yếm tôi. Ngày ngày, tôi theo mẹ đi khắp đó đây, lúc thì nhảy lăn tăn nô đùa với những chị rong biển dịu dàng, lúc thì trò chuyện với các chàng san hô tráng trẻo… Vào một buổi chiều nọ, tôi được bác nông dân mang về nhà, cho vào ấm và đun lên. Lúc đầu, tôi cảm thấy khoan khoái, dễ chịu vô cùng. Nhưng một lúc sau, tôi cảm thấy nóng bức quá mà bác nông dân nọ lại chẳng chịu ngừng tay. Những tiếng rên của tôi tuy nhỏ nhưng bác vẫn nghe: “e…e…e… nóng quá”, rồi đến lúc tôi rên to hơn: “ục…ục…ục… đừng đun nữa!”, không chịu đươc, tôi đành buồn rầu bảo: “rè…rè…rè… vĩnh biệt” và thoát ra ngoài qua ống vòi. Sáng hôm sau, tôi nhập vào họ hàng li ti nhà tôi và kết thành một đám mây bay bồng bềnh trên nền trời xanh ngắt, ơ trên ấy thật sung sướng. Chúng tôi luôn thấy mát mẻ và dễ chịu. Cứ rong ruổi hoài với những ngọn gió lang thang, chúng tôi lúc thì kết lại với nhau thành những tảng lớn, lúc thì phân tán thành những đám mây nhỏ. Có bạn thì muốn lại gần mặt trời, có bạn thì muốn lên cao, bạn thì muốn xuống thấp để nhìn cho rõ cảnh vật kỳ thú của núi đồi sông nước dưới kia… Một hôm tôi đang cùng bạn bè mình bay đến bàn bạc với đám mây mỡ gà ở phía chân trời. Bay mãi bay mãi mà đám mây kia vẫn cứ xa tít tắp. Mỏi mệt, nặng trĩu nỗi buồn, chúng tôi như muốn đứt hơi, đứng lơ lửng giữa tầng không. Thì bỗng nhiên bao nhiêu là mây dồn lại phía chúng tôi. Gió cứ vậy xua chúng tôi chạy đến chóng mặt ra phía Bắc. Rồi gió ngừng thổi. Cả bầu trời xám lại. Mặt trời chạy trốn từ lúc nào. Nhìn xuống phía dưới tôi thấy một dòng sông loáng nước. Và một cái đập chắn khổng lồ. Một cảnh tượng kỳ lạ, mới mẻ và thật hùng vĩ. Càng sa xuống thấp, tôi càng ngạc nhiên vì có những cột thép to lớn với những cánh tay rắn rỏi kéo căng những sợi dây điện to lớn. Tiếng thác đổ, tiếng chạy ì ì của một cái máy nào rất lớn. Tôi biết ngay đây là sông Đà và kia là nhà máy thủy điện Hòa Bình. Tôi mê mải nghe các bạn kể về những xứ sở mà các bạn ấy đã đi. Bao nhiêu nơi kỳ thú mà qua lời kể, tôi thấy rằng mình còn thèm muốn được chu du. Thì ra họ hàng nước nhà tôi có khả năng du lịch rất nhiều nơi, cả trên trời lẫn dưới đất. Một ngày nọ tôi bỗng nghe tiếng vỗ sóng dào dạt, vui tươi… Trước mặt tôi, mẹ biển cả yêu dấu đang mở lòng đón những đứa con trở về… Tôi nhìn màu nước xanh thẳm, tôi nếm vị mặn của muối mà rưng rưng, cảm động. Trên trời, những đứa con của mẹ hiền lại kết thành những đám mây bạc để tiếp tục cuộc hành trình mang lợi ích đến cho đời… Tôi muốn nghỉ ngơi trong lòng mẹ một thời gian. Rồi một ngày nào đó, tôi lại bay đi.
Cuộc đời giọt nước là những cuộc phiêu lưu kỳ thú. Em hãy kể lại những cuộc phiêu lưu ấy
796
Các bài văn mẫu tả cảnh công viên hay nhất Hướng dẫn Các bài văn mẫu tả cảnh công viên Các bài văn mẫu tả cảnh công viên hay nhất được VnDoc chọn lọc từ những bài văn hay, đặc sắc giúp các em học sinh biết cách làm bài văn miêu tả, rèn luyện khả năng diễn đạt và phát triển ý, chuẩn bị cho các bài viết văn lớp 5, lớp 6 đạt kết quả cao. Mời các em tham khảo chi tiết sau đây. Tả cảnh công viên vào buổi sáng số 1 Hôm nào cũng vậy, khi những tia nắng ban mai bắt đầu chiếu xuống, cả gia đình em đã có mặt trong công viên để tập thể dục. Công viên Bến Ninh Kiều nằm dọc theo con đường Hai bà Trưng uốn lượn. Buổi sáng ở đây, không khí thật trong lành. Cả nhà em bắt đầu bằng bài tập thể dục buổi sáng, sau đó là chạy bộ trong công viên. Khi ngồi nghỉ mệt, vài cơn gió thổi qua mát lạnh. Em còn nghe cả tiếng chim hót thật hay. Ở công viên, các cành lá của cây đang lao xao vui đùa cùng những chú ong, chú bướm xinh đẹp. Từ xa, em đã thấy tượng đài Bác uy nghi. Dọc theo các nẻo đường trong công viên, trên các bãi cỏ xanh biếc, những giọt sương long lanh còn đọng lại trong nắng sớm. Những nụ hoa nở rực rỡ đón chào bình minh. Hàng liễu dọc theo bờ kè phấp phới trước gió, soi bóng xuống dòng sông. Bình minh vừa ló dạng cũng là lúc những người bán hàng bắt đâu bày hàng. Những người tập thể dục có thể ngồi trên ghế đá, nhìn ra xa ngắm phong cảnh sông nước tuyệt đẹp. Phía đông, lấp ló vài tia sáng yếu ớt rồi sáng dần, sáng dần, và cuối cùng là ông mặt trời to lớn nhô lên, vươn vai chào ngày mới. Em cảm giác lòng mình lâng lâng đầy cảm xúc. Sừng sững chiếm một vùng trời rộng lớn là chiếc cần Cần Thơ kiêu hãnh dưới ánh nắng mặt trời. Các nẻo đường trong công viên như nhộn nhịp hẳn lên. Từng nhóm thanh niên đang chạy bộ. Các ông, bà lão tập thể dục dưỡng sinh. Dưới gốc cây liễu các cô trung niên đang uyển chuyển nhịp nhàng các động tác thể dục nhịp điệu. Các khóm hoa điệu đà khoe sắc dưới ánh nắng ban mai. Đâu đâu cũng nghe tiếng cười nói, chuyện trò rộn rã. Mọi người sau khi đến đây ai cũng có tinh thần sảng khoái. Tất cả bắt đầu một nhịp chuyển động mới. Em rất vui và tự hào vì thành phố Cần Thơ có một công viên tuyệt vời như vậy. Em luôn có ý thức giữ gìn công viên Bến Ninh Kiều sạch đẹp, và em mong ai cũng vậy. >> Tham khảo chi tiết: Văn mẫu lớp 5: Tả cảnh công viên vào buổi sáng Vào sáng chủ nhật hôm ấy, bầu trời trong xanh và mát mẻ, tôi được mẹ cho đi chơi công viên. Cảnh tượng nơi đây đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Ngay từ ngoài cổng đã tấp nập người qua lại. Bước qua cánh cổng màu xanh rộng mở là vào đến công viên. Tôi thức sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp lộng lẫy của nó. Trên cành cây, những chú chim nô đùa, hót líu lo. Những bồn hoa nhỏ nhỏ xinh xinh chạy dọc theo con đường rải đầy sỏi. Tôi nhẹ nhàng bước đi. Gió xuân hây hẩy nồng nàn lay những nhành hoa mỏng manh. Trên những cành hoa còn đọng lại những giọt sương mai long lanh như nhựng hạt ngọc trong suốt mà ông mặt trời đã hào phóng rắc xuống ban tặng cho những bông hoa. Nổi bật nhất trong khu công viên là hồ nước trong xanh, xung quanh hồ được xây kè đá rất chắc chắn. Mặt hồ phẳng lặng soi bóng mây trời. Tôi đưa tay vốc từng vốc nước. Nước mát lạnh sóng sánh trên tay tôi. Một làn gió nhẹ thổi qua làm mặt hồ lăn tăn gợn sóng. Nắng chiếu lấp lánh trên những đầu ngọn sóng như dát vàng, dát bạc. Những chiếc thuyền đạp nước đứng lặng im như bầy thiên nga đang nằm ngủ. Các cụ già đi tập thể dục đã ra về. Kìa! Hình như ở đâu đó đang vang lên tiếng nhạc nghe rất vui tai thì phải. À! Thì ra tiếng nhạc đó phát ra từ những khu vui chơi giải trí. Trẻ em nô đùa, chạy theo sau bố mẹ của mình. Lúc này, ông mặt trời đã lên cao, tôi và mẹ đành phải tạm biệt công viên. Ra về, lòng tôi xốn xang bao niềm vui khó tả. Tôi tự nhủ mình phải cố gắng học thật giỏi để mai sau góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, để xây dựng lên nhiều công viên đẹp hơn, hấp dẫn hơn. Tả cảnh một công viên mà em đã có dịp đến thăm vào một buổi sáng mùa xuân nắng đẹp Học kì một vừa qua, em đạt danh hiệu học sinh tiên tiến xuất sắc nên được bố mẹ cho lên phố thăm người bác ruột. Em được bác cho ra thăm công viên vào một buổi sáng mùa xuân nắng đẹp. Cảnh đẹp của khu công viên đã để lại cho em nhiều ấn tượng sâu sắc. Hai bác cháu rảo bộ trên vỉa hè hít thở không khí trong lành của buổi sớm. Và kìa khu công viên đã hiện ra với một màu xanh tràn trề sức sống. Bước qua cánh cổng sơn xanh rộng mở là vào đến công viên. Em thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp và màu sắc rực rỡ của nó. Hiện ra trước mắt em là bồn hoa nhỏ xinh xinh chạy dài dọc theo con đường được rải sỏi. Em nhẹ bước đi.. Gió xuân hây hẩy nồng nàn lay những nhành hoa mỏng manh. Đó là bồn hoa cẩm chướng. Xung quanh bồn là một hàng tóc tiên xanh mượt. Trước mắt em là hồ nước trong xanh. Xung quanh hồ được xây kè đá rất chắc chắn. Mặt hồ phẳng lặng soi bóng mây trời. Em đưa tay vốc từng vộc nước. Nước mát lạnh sóng sánh trên tay em. Một làn gió nhẹ thoảng qua làm cho mặt nước hồ chao nghiêng. Nắng chiếu lấp lánh trên những đầu ngọn sóng như dát vàng dát ngọc. Em chợt reo lên thích thú: “Ô! đẹp quá!” Em đưa tay khẽ nhặt một bông hoa tầm xuân mới rụng, cánh còn tươi. Bông hoa như ánh lên sắc màu hồng hồng tươi trẻ. Bác em bảo: “Khi ra chuồng thú mới thật làm cháu mê say. Ở đó toàn những chú vật ngộ nghĩnh”. Những chú khỉ nghịch ngợm leo trèo chuyền qua các song sắt đưa tay bắt lay từng cái kẹo của mọi người. Những em bé được bố mẹ bế, tay chỉ trỏ, miệng cười khanh khách làm rộn cả khu chuồng thú. Những chú vẹt tinh ranh, bộ lông xanh mượt óng ả, cái mỏ vàng luôn mấp máy câu: “Chào khách, chào khách”. Nhưng có lẽ nổi bật hơn cả là một chú đà điểu chân dài, cổ cao, chạy đi chạy lại quanh chuồng, tỏ vẻ vui mừng trước những tiếng vỗ tay của mọi người. Em đứng ngây người ngắm chú hươu vàng có những đốm đen, cặp sừng to cong mềm mại, khéo léo vút cao chú đang gặm cỏ, trông đến là ngon lành. Lúc ra về, lòng em xốn xang bao niềm vui khó tả. Nắng xoa nhẹ trên đôi má em, tóc em bay bay cùng nắng gió. >> Tham khảo chi tiết: Viết đoạn văn tả cảnh buổi sáng (trưa, chiều) trong vườn cây (công viên, đường phố, cánh đồng) Tả cảnh công viên vào buổi chiều Chiều chiều đi học về, em rủ Quân cùng ra công viên hóng mát. Công viên buổi chiều thật là nhộn nhịp. Chiều về ánh nắng đã bớt oi ả. Vì thế, công viên cũng sôi động hẳn lên. Làm việc chăm chỉ cả ngày, ông mặt trời thấm mệt dần lui về nghỉ ngơi, rong chơi cùng những đám mây. Mây đi đâu suốt buổi giờ về đây che bóng mát. Chị gió rong ruổi khắp nơi bây giờ cũng rẽ vào công viên như để bù đắp cho một ngày nắng gắt. Không khí dịu mát dần dần. Mấy chiếc lá trên nền gạch bay xào xạc như đùa giỡn. Những hàng cây xanh sau ngày oi ả đứng thẳng người, vươn vai kiêu hãnh. Màu xanh của lá dường như đậm đà hơn, đang vẫy vẫy đùa trong gió. Những nàng hoa thu mình vì sợ nắng cũng nở tung rực rỡ khoe sắc màu, chúng muốn mình thật đẹp trước khi trời tối. Phía xa xa, cái hồ không còn yên tĩnh như hồi sáng nữa. Xung quanh hồ, người ta ngồi trò chuyện rất đông, vừa nói chuyện vừa cười đùa rôm rả. Gió từ hồ thổi mát rượi. Nước hồ buổi chiều trong veo tưởng nhìn được đến tận đáy. Mặt nước như chiếc gương, soi bóng mọi vật. Đám mây trên cao bay ngang qua hồ bỗng dừng lại lơ lửng không muốn đi. Nàng liễu lại nghiêng mình, nhẹ nhàng chải mái tóc dài. Khung cảnh thêm vui nhộn bởi những tiếng chim. Chúng về đây tụ họp sau bữa chiều, cùng cất lên khúc nhạc rộn rã … Kết thúc một ngày làm việc vất vả nên nhìn ai cũng thật thoải mái khi dạo mát trong công viên. Cảm ơn “bạn công viên” nhiều lắm. >> Tham khảo chi tiết: Văn mẫu lớp 5: Tả cảnh công viên vào buổi chiều
Các bài văn mẫu tả cảnh công viên hay nhất
1,661
Các bài văn mẫu tả ngôi nhà hay nhất Hướng dẫn Các bài văn mẫu tả ngôi nhà hay nhất Các bài văn mẫu tả ngôi nhà hay nhất được VnDoc chọn lọc từ những bài văn hay, đặc sắc giúp các em học sinh biết cách làm bài văn miêu tả, rèn luyện khả năng diễn đạt và phát triển ý, chuẩn bị cho các bài viết văn lớp 5, lớp 6đạt kết quả cao. Mời các em tham khảo chi tiết sau đây. Dàn ý chi tiết tả ngôi nhà 1. Mở bài: – Giới thiệu ngôi nhà của em. 2. Thân bài: – Tả hình dáng nhìn từ phía ngoài của ngôi nhà. + Cánh cổng, cánh cửa (cửa lớn, cửa sổ). + Màu ngói, màu tường. – Bên trong các phòng: + Vị trí từng phòng. + Cách trang trí từng phòng. + Cách trang trí của riêng em cho phòng của mình. – Vườn nhà: + Cây cỏ trong vườn. – Ngoài phòng mình ra, em yêu nhất căn phòng nào? Vì sao? – Hoạt động của gia đình. 3. Kết bài + Em rất yêu quý ngôi nhà của mình. + Nếu có điều kiện, mời các bạn ghé thăm. Tham khảo chi tiết: Lập dàn ý bài văn miêu tả ngôi nhà của em lớp 5 Tả ngôi nhà Bài tham khảo 1 Dù ai đi bất cứ nơi đâu cũng đều có một nơi để trở về. Đó chính là nhà. Tổ ấm của em chính là ngôi nhà nhỏ hai tầng đã ở bên em từ khi em chào đời. Ngôi nhà được xây cách đây 5 năm do chính bố em thiết kế, nhưng trông nó vẫn còn mới. Ngôi nhà được khoác lên mình tấm áo màu xanh da trời tươi sáng. Cánh cửa chính và cửa sổ được hai chị em em lau chùi thường xuyên nên trông sạch sẽ và sáng bóng. Ở mái hiên, bố em có treo 2 giàn hoa phong lan màu trắng và màu hồng. Dường như, nhờ có chúng mà ngôi nhà của em trở nên thơ mộng hơn. Tầng một là phòng khách và gian bếp. Tầng 2 là phòng nghỉ của bố mẹ và hai chị em em. Phòng khách được mẹ em bày biện thật đẹp mắt. Giữa phòng khách được kê một bộ ghế gỗ màu nâu nhỏ nhắn và trang nhã. Trên bàn uống nước là lọ hoa tươi để trang trí cho phòng khách thêm sinh động. Bàn thờ tổ tiên được đặt trang trọng ở trên cao, thẳng hướng cửa ra vào. Bố em là người rất mê đồng hồ. Vì thế trên tường, bố đã treo 5 chiếc đồng hồ rất đẹp. Phía tay phải là gian bếp và cũng là phòng ăn. Trên tầng hai, phòng của bố mẹ và của hai chị em em đều rất ngăn nắp, sạch sẽ và ấm cúng. Em được bố mẹ mua cho một bộ bàn ghế học ngay gần cửa sổ thoáng mát, nơi có giàn hoa giấy thơ mộng. Tuy ngôi nhà không có nhiều đồ sang trọng nhưng mỗi khi trở về nhà em lại cảm thấy thật thoải mái và ấm cúng. Xung quanh nhà em là vườn rau và vườn cây ăn cỏ. Có rất nhiều loài cây và loài hoa trong khu vườn. Có ai đó từng nói “Không nơi đâu bằng nhà mình”. Em rất yêu quý tổ ấm nhỏ của gia đình em. Nó sẽ gắn bó với em từ bé cho hết cuộc đời này. Tham khảo chi tiết: Văn mẫu lớp 5: Tả ngôi nhà thân yêu của gia đình em Tả ngôi nhà Bài tham khảo 2 Đi học về là em chạy nhanh trên con đường quen thuộc mang tên Cát Linh để về nhà. Kia rồi, ngôi nhà thân thuộc nằm trên phố Giảng Võ đã dần hiện ra trước mắt em. Nơi này đã gắn bó với em từ khi còn bé tí mà đến bây giờ đã trở thành một cô bé phổng phao, hoạt bát thế này. Ngôi nhà của em được xây làm bốn tầng. Tầng một là nhà bếp và phòng khách. Phòng khách được mẹ em trang trí rất đơn sơ và giản dị. Bộ ghế salon màu mận chín kê quanh chiếc bàn tròn bằng gỗ cẩm lai, bên trên đặt một tấm kính trong suốt. Chiếc tủ buýt-phê được kê ở giữa phòng, bên trong là các bộ ấm chén và lọ hoa các kiểu, cả chú gấu nhồi bông và cô búp-bê tóc vàng cũng được bày trong đó. Mẹ em đặt một bình hồng nhung lên chiếc bàn làm việc của bố em. Chiếc đồng hồ quả lắc mỗi giờ lại buông một hồi chuông ngân nga, thánh thót. Trên tường, bức tranh sơn mài vẽ phong cảnh quê hương được đặt trang trọng trong khung lớn. ở dưới tủ sách là hai chiếc loa ngồi hai bên như muốn át giọng nói của bác ti-vi ngồi chễm chệ ở giữa. Bên ngoài phòng khách là nhà bếp với bộ bàn ghế bằng gỗ pơ-mu được kê ngay ngắn. Chiếc tủ bếp xinh xinh xếp đầy bát đĩa vẫn ngồi yên trên giá. Xoong, nồi, dao thớt đều được xếp ngăn nắp trong tủ dưới. Những bữa cơm thân mật của gia đình em diễn ra đều đều ở đây. Phòng của em ở trên tầng ba còn phòng của ba mẹ em thì ở tầng hai. Mỗi phòng đều được trang trí khác nhau với đủ chăn, ga, gối, đệm. Chiếc bàn học của em được kê ngay sát cửa sổ. Mỗi buổi sáng, ánh nắng chan hòa, hắt qua cửa sổ giúp em học bài. Trên bàn, bác đồng hồ Liên Xô luôn miệng kêu “tích tắc”. Em còn dán thời khóa biểu, thời gian biểu và các khẩu hiệu khác lên tường như: “Chưa làm bài xong chưa đi ngủ, chưa làm bài đủ chưa đi chơi”. “Học tốt – chăm ngoan”. Xung quanh, em trang trí bằng các sản phẩm lao động kĩ thuật mà cô đã dạy ở trên lớp. Ngước mắt lên trần, em gặp ngay bác bóng đèn, bác đang hì hục làm công việc của mình là thắp sáng ngôi nhà này. Nhìn ra cửa sổ, em thấy nào là mùi hoa xoan tim tím thơm phảng phất, mùi khế ngọt thơm nồng, mùi của những bông hoa cúc đang độ lớn. Em yêu quý biết bao ngôi nhà này vì nơi đây em đã sinh ra và lớn lên. Nó đã gắn bó với em như máu thịt, cùng em chia sẻ nỗi buồn, niềm vui. Em đang được sống giữa mái ấm của gia đình mình. được sống trong vòng tay yêu thương của ông bà, cha mẹ. Tả ngôi nhà Bài tham khảo 3: Nếu có nơi nào để em đi dẫu xa đến mấy cũng nhớ về với biết bao yêu thương, mong nhớ thì đó chính là ngôi nhà thân yêu của em. Nơi đó có cha, có mẹ, có người anh trai yêu quý và có cả những cảnh trí vô cùng thân quen. Hình ảnh ngôi nhà đã in sâu vào tâm trí của em. Nhà có hai tầng, mặt tiền rộng bốn mét, cao bảy mét và chiều dài của ngôi nhà là mười hai mét. Mặt tiền quay về hướng nam được sơn màu xanh da trời, trước cửa nhà có trồng một giàn hoa ti-gôn. Trên đường đi học về, từ xa nhìn lại, ngôi nhà của em rất dễ nhận biết bởi giàn ti-gôn xanh tươi và những chùm hoa màu hồng duyên dáng gần như phủ kín phía trước. Tầng một có bốn phòng. Bước qua cánh cửa gỗ màu nâu gụ là phòng khách rộng rãi, thoải mái, ngoài cửa chính còn có hai cửa sổ mở ra hướng đông đón ánh mặt trời. Bộ ghế salon màu trắng sữa được đặt áp tường phía tây. Ở phía Bắc, ngăn cách phòng khách với nhà bếp là một chiếc tủ thấp chừng một mét. Trên tủ đặt ti vi và những đồ trang trí như búp bê, con lật đật,… Giữa chiếc tủ và tường phía đông có một lối đi rộng chừng mét rưỡi. Lối nhỏ ấy dẫn vào phòng bếp. Gọi là phòng bếp nhưng nơi đó kiêm luôn nhà bếp và nhà ăn. Giữa phòng đặt một chiếc bàn ăn hình tròn. Áp sát phía trái là kệ bếp ga, phía trên kệ bếp là tủ bát bằng gỗ. Liền ngay nhà ăn là cầu thang đi lên tầng hai. Kế tiếp cầu thang là nhà vệ sinh và nhà tắm. Phòng của bố mẹ em nằm sâu trong cùng. Căn phòng khá rộng và được trang trí chủ đạo bằng màu tím – màu mẹ em rất thích – trông vô cùng dịu mát. Cầu thang dẫn lên tầng hai rộng chừng nửa mét được lát đá ga-ni-to. Đi hết các bậc cầu thang, lên đến tầng hai, nhìn sang bên phải là phòng của anh trai em và bên trái là căn phòng đáng yêu của em. Phòng anh trai em khá gọn gàng thể hiện rất rõ tính cách của anh. Áp sát tường phía tây là bàn thờ gia tiên. Phía đông là hai cửa sổ rất rộng. Tường phía nam được trổ một cửa phụ dẫn ra ban-công đón gió nam mát mẻ mỗi khi hè đến. Căn phòng của em sặc sỡ nhất trong căn nhà yêu dấu được trang trí bằng một màu hồng rực rỡ. Chiếc giường nhỏ sát tường phía tây được trải ga hồng. Bàn học sát tường phía nam trải khăn hồng; phía trên đó, giá sách của em cũng được bọc dán giấy hồng. Những bức tranh các nhân vật hoạt hình Sakura, Tiểu Anh Đào, Đô- rê-mi,… phần lớn cũng màu hồng. Và đặc biệt, các đồ trang trí “hand­ made” của em như những chú hạc, những chiếc lọ hoa, những chiếc xúc xích cũng được làm bằng giấy hồng rất đáng yêu! Tường phía đông cũng có một cửa sổ rộng mở và tường phía bắc thì có một cửa trổ ra sân phơi. Khoảng sân khá rộng thường là nơi phơi quần áo hoặc những đồ lặt vặt trong nhà. Ngôi nhà thân yêu của em đã bao năm rồi không hề thay đổi, nó gắn bó với em như một người bạn lớn luôn bao dung và sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn tuổi thơ. Nhớ về căn nhà ấm áp, những kỉ niệm xúc động lại ùa về khiến em thêm yêu ngôi nhà hơn nữa… Tham khảo chi tiết: Văn mẫu lớp 6: Hãy miêu tả ngôi nhà em ở Tả ngôi nhà Bài tham khảo 4 Gia đình tôi đã sống trong một ngôi nhà dọc tỉnh lộ, thuộc vùng ven thị xã. Chính nơi đây tôi đã được sinh ra và lớn lên. Đó là một ngôi nhà gạch nhỏ nằm lọt thỏm giữa một khu vườn rộng, bốn phía vây bọc bởi hàng rào bằng cây bùm sụm hai mùa mưa nắng xanh tốt. Chỉ cần bước qua cánh cổng gỗ là đi vào màu xanh mát rượi của vườn nhà tôi. Dẫn vào một lối đi tráng xi măng rộng rãi nằm bên một khoảng sân trồng nhiều hoa kiểng. Ngôi nhà của tôi hiện ra khiêm nhường với ba gian tường vôi, mái ngói. Gian giữa là gian chính nên hai cánh cửa cái luôn mở rộng. Bước vào là phòng khách với bộ trường kỉ đã lên nước đen bóng. Phía trong nhà, sát tường là chiếc tủ thờ Gò Công bằng cây cẩm lai xinh xắn trên có đặt bộ chân đèn và lư nhang bằng đồng thau sáng choang đầy vẻ trang nghiêm và cung kính. Phía bên phải là bộ ván rộng. Cạnh cửa sổ là tủ li, bàn máy may và ti vi. Ở bên trái là bàn viết của ba tôi. Gần đó là chiếc bàn dài, góc học tập ấm cúng của anh em chúng tôi. Nơi đây là chỗ tiếp khách mà cũng là nơi đêm đêm, sau bữa cơm tối, cả nhà tôi ngồi lại trò chuyện xem ti vi, người lo học tập. Nổi bật trên tường là mấy bức tranh màu trang nhã và đẹp mắt. Bên trong là hai phòng rộng rãi, thoáng mát được ngăn riêng và có cửa đóng. Mỗi phòng đều có tủ kính đựng quần áo và mỗi bên đều có một chiếc giường rộng là chỗ ngủ. Phía sau cùng là phòng ăn và nhà bếp. Nơi đây tuy có đồ dùng nhiều thứ lỉnh kỉnh nhưng với bàn tay ngăn nắp hay làm của bố của má tôi, nên nhìn đâu cũng thấy ngăn nắp, gọn gàng. Ngôi nhà tôi đang ở, tuy thật bình thường, nhưng nói làm sao xiết được lòng thương yêu của tôi dành cho nơi này, nơi tôi được hưởng trọn vẹn tình thương biển trời sâu nặng của ba má tôi.
Các bài văn mẫu tả ngôi nhà hay nhất
2,149
Các bài văn mẫu tả ngôi trường hay nhất Hướng dẫn Các bài văn mẫu tả ngôi trường hay nhất Các bài văn mẫu tả ngôi trường hay nhất bao gồm các bài văn mẫu hay chọn lọc, giúp các em học sinh biết cách làm bài văn miêu tả, rèn luyện khả năng diễn đạt và phát triển ý, chuẩn bị cho các bài viết văn lớp 5, lớp 6 đạt kết quả cao. Mời các em tham khảo chi tiết sau đây. Bài tham khảo 1: Tả ngôi trường vào buổi sáng Những buổi sáng đẹp trời, em cùng các bạn thường cắp sách tới trường với tâm trạng háo hức phấn khởi. Bởi niềm vui của tuổi thơ chúng em là những giây phút túm năm tụm bảy trước giờ học hay giờ ra chơi, những giây phút ngắm cảnh sân trường vào buổi sớm mai. Bầu trời trong xanh, thoáng đãng, không khí rất trong lành. Chỉ có tiếng lá cây xào xạc và tiếng chim hót líu lo. Lúc này, sân trường thật tĩnh mịch, yên ả. Có rất ít học sinh đến trường. Những ánh đèn trong lớp học dần được thắp sáng, những chiếc quạt cũng dần bật lên, để lộ những hàng ghế màu vàng. Ba dãy nhà tầng được xếp theo hình chữ L, để lại một khoảng sân trống rỗng với lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới, cũng chẳng có tiếng học sinh nô đùa. Mặt trời đã nhô lên, trông giống như quả bóng khổng lồ. Những tia nắng dìu dịu chiếu xuống sân trường làm nó sáng hẳn lên. Những giọt sương sáng sớm đọng lại trên những chiếc lá xanh non long lanh như những hạt ngọc. Một vài phút sau, học sinh đến nhiều hơn. Bây giờ, sân trường đã náo nhiệt hơn lúc trước. Tiếng học sinh cười, nói vang dội khắp sân trường. Mỗi bạn chơi một trò, bạn thì đá cầu, bạn thì nhảy dây… Chốc chốc tiếng reo hò lại rộ lên thán phục cổ vũ cho những người thắng cuộc. Trên cành phượng, cành xà cừ những chú chim sẻ, chim chích bông đua nhau nhảy nhót, cất tiếng hót líu lo như muốn cổ vũ, hòa mình với những cuộc vui phía dưới. Các thầy, cô giáo đều đã đến trường để chuẩn bị bài giảng của mình. Bác trống nằm im nhìn chúng em. Các khu nhà sáng rực lên như được dát vàng. Mấy phút sau, tiếng trống vào học vang lên: “Tùng! Tùng! Tùng!”, thế là giờ học bắt đầu. Bên ngoài không khí lại tĩnh mịch, yên lặng trở lại. Chỉ còn lá cờ bay phần phật và tiếng cô giáo giảng bài vang vang. Em rất thích quang cảnh của buổi sớm mai vì đó là một quang cảnh yên tĩnh và thơ mộng đáng nhớ. Bài tham khảo 2: Tả ngôi trường giờ ra chơi Cả sân trường đang im lặng, chỉ nghe thấy những tiếng chim hót ríu rít và tiếng gió rì rào. Bỗng một hồi trống vang lên giòn giã báo hiệu giờ ra chơi đã đến. Những cánh cửa lớp bật mở. Từ tất cả các lớp học, học sinh ùa ra như bầy ong vỡ tổ. Dường như không một bạn nào ở lại trong lớp. Tất cả đều đổ xuống sân trường. Sau hai tiết học tập trung căng thẳng, giờ ra chơi ai cũng thấy phấn chấn vì được chạy nhảy, được nói cười ríu rít. Chẳng mấy chốc sân trường đã ngập tràn âm thanh. Giờ thì chẳng ai nghe thấy tiếng chim hót, tiếng gió thổi rì rào nữa. Tất cả chỉ có tiếng hò hét, tiếng cười nói, tiếng chân chạy thình thịch vang động khắp mọi nơi như một bản nhạc sôi động. Những trò chơi diễn ra thật sôi nổi. Giữa sân, các bạn nam chơi đá cầu. Một tốp gồm mười bạn đứng thành vòng tròn. Quả cầu trên chân các bạn bay qua bay lại như cánh én trắng nhảy nhót trên những đôi chân nhịp nhàng. Ở hai góc sân là đất của các bạn nữ. Nơi đây vang lên tiếng dây quay. Sợi dây vung lên vung xuống vun vút theo tay quay, thế mà chẳng bạn nào bị vướng cả. Các bạn nhún nhảy, nhấc lên hạ xuống mềm mại, uyển chuyển, hết sức nhịp nhàng. Các bạn thoăn thoắt và chỉ cần nhấc nhẹ chân một chút là sợi dây đã chuyển từ bên nọ sang bên kia. Có lúc cả bọn xúm vào nhảy đôi, nhảy ba, bạn nào cũng trông thật nhanh nhẹn. Dưới cây bàng xòe rộng như chiếc ô còn có mấy bạn say sưa chơi đánh chuyền. Một quả banh nhỏ tung lên, bàn tay nhanh nhẹn bắt lấy. Các bạn còn khéo léo gắp theo một que chuyền nhỏ. Trong thư viện, các bạn ngồi xem báo, đọc truyện. Thỉnh thoảng lại thấy tiếng cười khúc khích vang lên. Chắc có chi tiết gì trong truỵện thú vị lắm. Giờ ra chơi đầy ắp tiếng cười, tiếng nói rồi cũng qua đi. Một hồi trống dài vang lên. Mọi người nhanh chóng xếp hàng vào lớp, trả lại cho sân trường không khí yên lặng quen thuộc. Những giây phút thư giãn, nghỉ ngơi đã đem lại một sự sảng khoái cho tất cả mọi người. Một tiết học mới sắp bắt đầu.Trên những tán cây cao, giờ lại nghe thấy tiếng chim hót và nghe thấy tiếng gió thì thầm trong kẽ lá. >> Tham khảo chi tiết: Bài tập làm văn lớp 5: Tả quang cảnh trường em giờ ra chơi Bài tham khảo 3: Cảm xúc khi sắp xa ngôi trường thân yêu Càng đến những buổi học cuối, tôi lại càng thấy yêu ngôi trường này hơn vì mỗi góc sân, mỗi hàng cây đã gắn với tôi bao nhiêu kỉ niệm. Sáng nay, tôi đến trường sớm hơn mọi ngày để được ngắm cảnh trường được nhiều hơn. Ôi chao, cảnh trường lúc này mới tuyệt làm sao! Dù cho lúc này còn khá sớm. Bác mặt trời vừa tỉnh giấc, mặt đỏ như quả cầu lửa bẽn lẽn nấp sau lũy tre làng. Một dải sương mờ còn phảng phất trong vòm cây. Ấy thế mà bác cổng trưởng đã dậy từ lúc nào, dang tay đón chúng tôi vào lớp. Tôi lững thững một bước vào sân trường, trong lòng trào dâng một cảm xúc khó tả. Bất giác một làn gió thoảng qua, mang theo hương thơm của bồn hoa chúng như mời gọi tôi nói lời tạm biệt. Tôi bước lại gần nhìn những bông hoa đang hồn nhiên trước gió mà muốn mình cũng được như những bông hoa đó. Tôi ngồi xuống gốc bàng ngước nhìn bầu trời xanh mướt, trong đầu lại hiện về bao kỉ niệm. Cũng dưới gốc bàng này chúng tôi có bao nhiêu trò chơi lí thú. Lúc này, bác mặt trời vẫn tươi cười, ban phát những tia nắng vàng tươi làm cho màn sương mỏng tanh vội vã chốn biệt chỉ để lại những hạt sương long lanh còn đọng trên lá cây, ngọn cỏ. Những ánh nắng xuyên qua kẽ lá thật tinh nghịch như đang chơi trò trốn tìm. Tất cả như không hề biết tôi đang sắp phải xa ngôi trường này. Tôi bước về đứng trước cửa lớp của mình, ôi sao mà thân thương quá! Trước mắt tôi như hiện ra hai mươi tám gương mặt trìu mến thân thương của các bạn đang nói cười, đang say sưa học bài. Tôi như thấy giọng nói thân thương, ấm áp của cô. Tất cả như đang bên cạnh tôi. Lòng tôi sao xuyến, bâng khuâng quá. Tôi chỉ muốn tổ ấm 5B cùng người mẹ hiền yêu dấu này mãi mãi không rời xa. Ôi quang cảnh trường lúc đó thật tươi đẹp nhưng sao lòng tôi bỗng thấy trống trải. Tôi biết dù không muốn nhưng cũng chỉ mai đây thôi, tôi phải xa tất cả những gì tôi đã gắn bó năm năm qua. Ước gì thời gian quay trở lại để tôi mãi là cô bé bỡ ngỡ ngày nào. Đã từ lâu, mái trường đã trở thành ngôi nhà thứ hai của tôi. Ở đó có thầy cô hiền như mẹ, bạn bè thân thiết như anh em. Dù biết rằng tôi phải chia tay nó song có lẽ hình ảnh ngôi trường tiểu học thân thương cùng thầy cô với bạn bè sẽ mãi mãi in đậm trong tâm trí tôi. >> Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 5: Tả lại ngôi trường lúc giờ phút chia tay Bài tham khảo 4: Tả ngôi trường gắn bó với em Hôm nay em đi học sớm hơn thường lệ. Từ xa, em đã nhìn thấy ngôi trường thân yêu lấp ló sau những hàng cây xanh. Ngôi trường của em rất to và đẹp, nó được đặt ngay ở khu trung tâm của xã. Con đường dẫn vào trường được đổ bê tông phẳng lì. Hai bên đường là những hàng bạch đàn thẳng tắp, cao vút, cành lá lao xao như vẫy chào chúng em tới trường. Bước qua cổng trường, em đã gặp ngay bác trống nằm tròn vo trên giá ngay cạnh phòng bác bảo vệ. Có lẽ vì chưa có ai đánh thức nên bác vẫn còn ngủ say. Sân trường lát gạch đã được các bạn trực ban quét dọn sạch sẽ nên càng rộng thênh thang. Giữa sân trường, mấy cây bằng lăng đã nở hoa tím ngát. Đằng kia là bác xà cừ già, cành lá sum sê che rợp cả góc sân cho chúng em vui chơi thỏa thích. Trên đỉnh cột cờ, lá cờ đỏ sao vàng phấp phới bay như đùa vui trong gió. Dãy nhà hiệu bộ và hai dãy phòng học cao tầng được bố trí theo hình chữ U ôm gọn lấy sân trường. Các phòng học đều được quét vôi vàng, cửa sổ sơn xanh rất đẹp. Phòng học nào cũng rộng rãi, thoáng mát và được trang trí giống nhau. Bàn ghế trong các phòng học cũng được kê ngay ngắn thẳng hàng. Vì thế, đã có rất nhiều bạn vào nhầm lớp nếu không chú ý đến tấm biển nhỏ được treo trên cửa lớp. Có lẽ đã rất lâu em mới lại có dịp ngắm kĩ quang cảnh trường em trước buổi học để cảm nhận hết tình cảm sâu đậm của mình với mái trường thân yêu. Trường học như ngôi nhà thứ hai của em. Ở đó có thầy cô, bạn bè cùng chắp cánh cho em những ước mơ tươi đẹp. Mai ngày dù đi đâu xa, em cũng không quên được mái trường tuổi thơ. Bài tham khảo 5: Quang cảnh trường lúc tan học Tiếng việt 5 Khi ông mặt trời chuẩn bị đi nghỉ ngơi, lấp ló sau chân núi cũng là lúc trống tan trường đã điểm. Chúng em sắp lại sách vở ngay ngắn rồi cho vào cặp sau khi kết thúc một buổi học căng thẳng. Trước của lớp, các bạn học sinh xếp thành hai hàng ngay ngắn, quay đầu rồi cùng nhau hướng về phía cổng trường. Các bạn cười nói vui vẻ, kể về những vấn đề trong buổi học. Người bàn về bài toán khó, người lại lo lắng về đề văn cô giao về nhà. Mấy bạn nam tinh nghịch ý ới nhau ra về ở lại đá bóng. Trước khi về, cô giáo chủ nhiệm không quên nhắc các lớp về lịch trực tuần ngày mai. Cô tươi cười vẫy tay chào tạm biệt học sinh. Các bạn cũng khoanh tay chào cô rất lễ phép. Bác bảo vệ đã mở cổng trường từ trước, các bạn chạy ào về phía bố mẹ đang đứng ở cổng chờ sẵn. Trong phút chốc, sân trường náo động như một đàn ong vỡ tổ. Bố mẹ các bạn phải chăm chú nhìn về phía con mình, liên tục vẫy tay ra hiệu để các bạn nhìn thấy. Tiếng còi xe, tiếng nổ máy vang vọng khắp cổng trường. Tất cả hòa với nhau thành một bản giao hưởng sôi động. Làn gió chiều thổi bay cái nắng nóng, mệt mỏi của tất cả mọi người. Vạn vật được bao trùm một màu vàng cam mờ ảo thật nên thơ. Khi chúng em về đã vãn, bác bảo vệ đóng cánh cổng trường lại. Chỉ còn thấp thoáng bóng dáng bác lao công đang cần mẫn dọn dẹp lại bàn học, quét những chiếc lá cây vương trên sân trường. Sân trường lại trở về vẻ im lặng, trầm ngâm như buồn buồn chờ đón chúng em vào ngày mai. Buổi tan học diễn ra náo nhiệt mà thật nhanh chóng. Chúng em lại trở về với ngôi nhà thân thương cùng bố mẹ sau một ngày học tập vất vả. Sau bữa tối, em ngồi vào bàn học để chuẩn bị thật tốt bài học ngày mai. Sân trường ơi, lớp học ơi, ngày mai gặp lại! >> Tham khảo chi tiết các bài văn mẫu: Văn mẫu lớp 5: Tả quang cảnh trường em lúc tan học
Các bài văn mẫu tả ngôi trường hay nhất
2,202
Các bài văn tả con đường từ nhà đến trường hay nhất Hướng dẫn Các bài văn tả con đường đến trường hay nhất Các bài văn tả con đường từ nhà đến trường hay nhất giúp các em học sinh tham khảo thêm nhiều ý tưởng mới khi miêu tả con đường đi học từ nhà đến trườngchuẩn bị cho các bài viết văn lớp 5, lớp 6 đạt kết quả cao. Mời các em tham khảo chi tiết sau đây. Dàn ý tả con đường đến trường I. Mở bài Giới thiệu nét chung về con đường làng từ nhà đến trường. II. Thân bài 1. Tả hình ảnh con đường quen thuộc – Con đường nhìn chung như thế nào? (Rộng hay hẹp? Đường đất hay đường rải đá? Lát gạch, tráng xi măng…?) – Những nét riêng quen thuộc. + Bên đường (những rặng cây, những lùm tre, những hàng rào dâm bụt, những ngôi nhà). + Một nét đặc biệt: một cây bàng hay cây gạo, một giếng nước. 2. Con đường vào buổi sáng khi em đi học – Nét riêng biệt của con đường vào lúc sáng sớm. – Cảnh học sinh đi học: từng nhóm nhỏ, cách ăn mặc, cử chỉ, thái độ. – Cảnh người làng đi làm: người ra đồng, người đi chợ; cách ăn mặc, dáng điệu, lời nói. III. Kết luận Tình cảm của em đối với con đường như thế nào? Tham khảo chi tiết: Lập dàn ý bài văn tả con đường từ nhà em đến trường lớp 5 Tả con đường đến trường: Bài tham khảo 1 Có lẽ sau này khi đã lớn, tôi sẽ đi rất nhiều nơi, qua rất nhiều con đường khác có thể to, có thể nhỏ, có thể giàu nhưng trong một góc ở trong tim mình, mọi đường nét của con đường từ nhà đến trường sẽ không bao giờ có thể phai nhòa. Mỗi sớm mai thức dậy, khi bình minh lên trên thành phố, tôi sải từng bước trên con đường đến trường trong niềm vui hân hoan đón đợi. Nhà tôi ở trong một con ngõ nhỏ hướng ra mặt phố, đi từ ngõ ra là đường lớn và khoảng cách trường vẻn vẹn năm trăm mét đường thẳng. Trên con đường xi măng phẳng lì còn lấp lánh khi ánh mai tỏa rạng ngời, không bao giờ vắng những lượt xe đi ngang. Dù mỗi sáng, khi tôi đi học còn khá sớm nhưng trên đường vẫn rộn ràng tiếng người, tiếng xe làm cho lòng tôi chợt thấy nhuốm màu mùi vị của cuộc sống tươi vui, nhiệt thành. Hai bên đường là nhà cửa cao tầng mọc san sát nhau với những mảng sơn lúc nào cũng tươi mới, càng rực rỡ hơn trong nắng và gió. Trên hè phố, luôn có thể nhìn thấy những tốp người đi bộ buổi sáng, những tốp học sinh đi học,… hòa mình trong không khí tươi vui nói cười của dòng người trên hè phố trong làn gió nhẹ khiến cho tôi yêu quý cuộc sống này biết bao. Dọc con đường còn có những hàng ăn sáng rất khang trang và phong phú như hàng phở, bánh mì, bánh cuốn,… Tôi vẫn thường hay tạt vào các quán trên con đường này để mua đồ ăn sáng, có lẽ đã quen nên tôi luôn thấy đồ ăn trên con đường này là ngon nhất. Trên con đường ấy, cách trường khoảng năm mươi mét, sau khi qua một ngã tư đèn xanh đèn đỏ, hai bên đường lúc này chỉ còn là hai hàng cây xanh ngắt tỏa bóng mát khắp con đường, rải màu xanh dẫn đến ngôi trường thân yêu. Khi đã bước vào cung đường này, nếu là mùa hè thì cái nóng bức ngoài kia không còn đáng lo ngại nữa mà thay vào đó là những luồng gió mát rượi và những tiếng chim hót líu lo trong vòng cây kẽ lá khiến cho ai cũng phải yêu đời hơn.Trong tôi, con đường đi học lúc nào cũng đẹp, cũng thân thương, là con đường vô cùng quan trọng trong cuộc đời tôi. Đây là con đường đưa tôi đến với ước mơ, với niềm vui mỗi ngày, là con đường cả đời tôi không bao giờ có thể quên. Tả con đường đến trường: Bài tham khảo 2 Trong kí ức của mỗi người, có những cảnh vật đã hằn sâu trong tâm trí mà suốt đời ta không thể nào quên. Con đường đi học là một trong số đó. Ta có thể đi qua nhiều nẻo đường khác nhau nhưng con đường đi học thì luôn thân thuộc và gần gũi với bất kì người nào. Con đường đi học đã gắn liền với tuổi thơ của tôi. Hàng sáng, mỗi khi ông mặt trời vén màn mây và tỏa ánh nắng chan hòa khắp muôn nơi, tôi lại cùng đám bạn đi đến trường trên con đường làng quen thuộc. Không khí buổi sáng thật trong lành và mát mẻ. Nắng sớm và gió mát làm tâm hồn tôi thật dễ chịu và thư thái. Đi trên đường, tôi có thể nghe thấy tiếng chim hót lảnh lót trên cao, ngắm những bông hoa dại ở ven đường, nhìn thấy những giọt sương còn đọng lại ở cánh hoa hay phiến lá. Hai bên đường là hai hàng cây xanh mát. Vào buổi sớm, cây cối dường như mới tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, ánh nắng chiếu qua cành cây đang tràn trề sự sống. Những chiếc lá khẽ đu đưa trong gió như muốn chào chúng tôi. Trên con đường đi học, tôi còn đi qua cánh đồng lúa rộng lớn thẳng cánh cò bay. Lúa đang thì con gái tỏa hương thơm dìu dịu mà ngọt ngào, ngây ngất. Cả cánh đồng như một tấm thảm khổng lồ màu xanh mướt, chỉ cần một cơn gió thoảng qua là cả biển lúa ấy nhấp nhô tạo thành muôn ngàn con sóng nhỏ. Tôi bắt gặp vài bác nông dân ra thăm đồng sớm, bên bờ ruộng, con cò trắng đang kiếm ăn bỗng sải cánh bay lên. Đằng sau những khu vườn xanh tốt là nếp nhà ngói đỏ nằm im lìm trong nắng mới. Trên con đường đi học, tôi cũng gặp các bạn học sinh đang đi thành từng tốp trên đường. Các bạn đeo khăn quàng đỏ thắm trên vai, khoác ba lô trên lưng, vừa đi vừa trò chuyện về chuyện bài vở, trường lớp. Các bà, các mẹ xách làn đi chợ sớm. Vài bác nông dân cùng chú trâu đang thong thả đi làm đồng buổi sớm, họ hỏi thăm nhau về việc đồng áng, tin tưởng vào một vụ mùa bội thu. Con đường buổi sớm thật náo nhiệt và rộn rã, gương mặt ai cũng ánh lên vẻ vui tươi, nụ cười thường trực trên môi. Tiếng nói, tiếng cười, tiếng gọi nhau í ới, tiếng còi xe ồn ào suốt cả con đường. Đi trên đường, tôi còn cảm nhận được mùi ngai ngái của đất, mùi của hương đồng gió nội hòa quyện phả vào nhau. Con đường đi học đã trở thành một phần quan trọng trong tuổi thơ của tôi. Con đường đi học cũng là con đường đưa tôi đến với tri thức, chắp cánh cho những ước mơ của tôi được bay cao bay xa. Tả con đường đến trường: Bài tham khảo 3 Nhà thơ Đỗ Trung Quân có viết: “Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay…” Đối với em cũng thế! Con đường đi học gần gũi, thân thiết với em như bầu bạn. Nó là một hình ảnh của quê hương đang đắm sâu và ngân vọng trong em. Con đường phố mang tên đường Nguyễn Du. Lòng đường tuy hẹp nhưng đẹp lắm. Hai bên đường có hàng me xanh che mát. Buổi sáng, những cành me thả lá úa xuống mặt đường. Con đường nhựa láng bóng, đen sẫm, ở giữa có vạch sơn trắng chia hai phần đường cho xe chạy ngược chiều nhau. Xe máy, xe đạp tấp nập trên đường. Tiếng còi píp píp liên hồi. Các cô bán hàng rong kĩu kịt những quang gánh đầy ắp rau quả. Chúng em tung tăng cắp sách đến trường. Ai cũng hối hả trên đường phố. Trên cây sấu già ven đường, những chú chim nhảy nhót, chuyền cành. Tiếng chim không ngớt vọng ra, vang cả trên bầu trời xanh thẳm. Mặt Trời trên cao, đường thưa người hơn. Những ngôi nhà cao tầng nhìn ra đường với vẻ nguy nga, tráng lệ. Các cửa hàng, cửa hiệu mở cửa đón khách. Ánh nắng óng ả rải xuống mặt đường. Con đường ánh lên, bóng loáng như dải lụa. Một làn gió nhẹ thổi qua, những lá me lìa cành rơi lả tả, rơi trên vai áo người qua đường như lưu luyến. Hoa sữa trên cả vỉa hè ngan ngát hương đưa. Hoa đậu từng chùm tím biếc, rủ xuống lề đường như muốn nói một điều: con đường này đẹp lắm! Những buổi chiều hay những đêm tối mùa hè ngồi ở đây thì thật là thú vị. Em nhớ từng nụ hoa, từng viên gạch trên lề đường, từng gốc me già thân thiết. Con đường này không chỉ là bạn của riêng em, nó còn là bạn thân của những chị lao công. Đêm đêm, trên con đường này, dù là mùa hè hay mùa đông giá rét, tiếng chổi tre luôn xao xác dưới hàng me. Nhà nhà đã ngủ say. nhưng vẫn có tiếng chổi tre sột soạt trên đường. Những lúc ấy, con đường mới vắng vẻ và đẹp làm sao! Con đường quá thân quen với em. Từ lâu, đường và em như đôi bạn. Đường đã nâng bước em đi, giúp em thực hiện ước mơ hoài bão của riêng mình. Tả con đường đến trường: Bài tham khảo 4 Mùa khô năm ngoái, nhân dân địa phương em đã góp tiền, góp sức làm lại con đường nối xã Tân Long với các xã lân cận. Trường em nằm bên cạnh đường đi, cách nhà khoảng gần cây số. Sáng sáng, em cùng các bạn tung tăng cắp sách đến trường trên con đường giống như dải lụa hồng mềm mại uốn quanh thôn xóm. Đường trải đất đỏ, được san ủi kĩ nên rất phẳng phiu, đủ rộng để hai ô tô có thể tránh nhau. Mặt đường cao ở giữa và thoải dần sang hai bên cho dễ thoát nước. Hàng cây bạch đàn trồng ven đường dạo nào giờ đã vươn cao, thân thẳng tắp, cành lá sum suê tỏa bóng mát. Mỗi khi có cơn gió thổi qua, lá cây lao xao, cành cây đung đưa như những cánh tay chào đón. Lúc chúng em đi học cũng là lúc con đường nhộn nhịp, đông vui nhất. Dân trong vùng họp chợ cạnh đường, tíu tít bên những gánh rau tươi, những đống trái cây hay những bu gà vịt. Các cửa hàng ăn uống mở cửa, phục vụ mọi người. Trên đường, tiếng xe lam, xe ba gác máy làm náo động không gian của một vùng quê yên tĩnh. Các loại xe tấp nập chở hàng hóa lên chợ huyện. Ra khỏi ngã tư với cảnh họp chợ tấp nập, con đường chạy giữa cánh đồng lúa và rau màu xanh tốt. Gần Tết, khí trời buổi sáng se se lạnh. Nắng sớm vàng rực trải trên màu xanh mỡ màng, non tươi của những liếp rau cải, cà chua, xà lách… Dăm ba cánh bướm trắng chập chờn trên những bông cải đơm hoa vàng tươi. Con đường đã trở nên thân thuộc với tất cả mọi người. Ngày hai lần đi về trên con đường này, chúng em đã khắc sâu hình ảnh của nó trong lòng. >> Tham khảo: Văn miêu tả lớp 3: Tả con đường đi học của em Tả con đường đến trường: Bài tham khảo 5 Ngày nào đến trường em cũng đi về trên con đường quen thuộc ấy. Đến nỗi, nếu nhắm mắt lại là em có thể hình dung rõ mồn một ngay từng cảnh sắc. Đó là một cột con đường làng rải đá đỏ đơn sơ cũng như bao con đường làng không tên khác. Tuy không rộng lắm, lại gồ ghề, lồi lõm nhưng con đường này cũng đủ thênh thang cho những bước chân nhún nhảy như chim sẻ của chúng em từng ngày lớn lên. Sáng ra, từ đầu ngõ, em bước vào con đường là đã gặp ngay một cây bàng già đứng giương dù che nắng, bốn mùa lích chích tiếng chim. Từ đó, hai bên đường, hai hàng khuynh diệp chạy dài thẳng tắp một màu xanh ngút ngát. Thấp thoáng sau hai hàng cây là hàng rào của hai dãy nhà ven lộ, có hàng rào dâm bụt được cắt xén phẳng phiu. Cũng có hàng rào tre hoặc hàng rào tường xây dây kẽm gai kiên cố. Tuy vậy, đi trên đường vẫn nhìn thấy rõ những ngôi nhà xinh xắn giữa một màu xanh vườn tược mượt mà. Ngay từ khi mặt trời vừa nhô lên nhóm lửa ở đằng đông, những ngọn cau, ngọn dừa trong các khu vườn bên cạnh đường đã lấp lánh hồng lên. Con đường làng cũng bừng dậy. Người đi trên đường càng lúc càng đông. Trẻ em đến trường. Người lớn ra đồng. Kẻ buôn bán về huyện, lên tỉnh. Xe đạp, xe gắn máy, máy cày chen chúc ngược xuôi. Tiếng cười nói, hỏi thăm, trò chuyện, tiếng máy, tiếng xe hòa lẫn nhau tạo thành một dàn đồng ca vui vẻ. Đến gần xóm nhà, con đường làng rẽ phải. Đến đây chúng em đã nhìn thấy ngôi trường quen thuộc của mình hiện ra với hình ảnh cây phượng già tán lá xanh um che rợp cổng. Những năm sắp tới, có thể em sẽ đi tiếp con đường này lên huyện, lên tỉnh để nối tiếp việc học hành. Nhưng dù đi đâu, đặt chân lên con đường xinh đẹp mới mẻ nào nhưng cũng không dễ gì quên con đường tuổi thơ đơn sơ này được.
Các bài văn tả con đường từ nhà đến trường hay nhất
2,369
Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo có vai trò rất quan trọng trong các truyền thuyết. Em hãy làm rõ điều đó qua tác phẩm con Rồng cháu Tiên Gợi ý Thể loại truyền thuyết có mối quan hệ chặt chẽ với thần thoại. Các chi tiết hoang đường, kì ảo vốn là đặc trưng của thần thoại cũng thường xuyên được sử dụng trong truyền thuyết làm chức năng “huyền ảo hoá” các nhân vật, sự kiện; thể hiện sự tôn sùng, ngưỡng mộ của nhân dân đối với các nhân vật đã đi vào truyền thuyết. Các chi tiết này có vai trò rất quan trọng đối với thể loại truyền thuyết. Điều này được thể hiện rất rõ trong truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên. Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên có nhiều chi tiết thể hiện tính chất kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ về nguồn gốc và hình dạng của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Trước hết, cả hai đều thuộc dòng dõi các thần. Lạc Long Quân là con trai Thần Long Nữ (thường ở dưới nước), Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông (ở trên núi). Thứ hai, Lạc Long Quân có sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ, thường giúp dân diệt trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi; Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần. Việc kết duyên của Lạc Long Quân cùng Âu Cơ và chuyện Âu Cơ sinh nở có nhiều điều kì lạ: Một vị thần sống dưới nước kết duyên cùng một người thuộc dòng họ Thần Nông ở trên núi cao. Âu Cơ không sinh nở theo cách bình thường. Nàng sinh ra một cái bọc một trăm trứng, trăm trứng lại nở ra một trăm người con đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần. Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con ra làm hai: năm mươi người theo cha xuống biển, năm mươi người theo mẹ lên núi. Chia như vậy là để khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau. Chi tiết tưởng tượng, kì ảo là những chi tiết không có thật. Đó là những chi tiết có tính chất hoang đường, kì lạ. Trong truyện truyền thuyết, nhân dân sáng tạo ra những chi tiết tưởng lượng, kì ảo nhằm dựng lên những câu chuyện thần kì, giải thích những sự kiện, sự việc chưa thể giải thích theo cách thông thường hoặc là để thần thánh hoá các nhân vật mà nhân dân ngưỡng mộ, tôn sùng. Trong truyện Con Rồng, cháu Tiên, những chi tiết này có vai trò tô đậm tính chất kì lạ, đẹp đẽ của các nhân vật (Lạc Long Quân và Âu Cơ), đồng thời chứng tỏ người Việt có nguồn gốc khác thường, rất cao quý và đẹp đẽ. Qua việc thần kì hoá, linh thiêng hoá nguồn gốc dân tộc, nhân dân ta muốn nhắn nhủ người đời sau hãy luôn luôn tự hào, tôn kính tổ tiên mình. Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo trong truyện vừa phản ánh một trình độ hiểu biết nhất định ở giai đoạn lịch sử sơ khai, vừa là kết quả của óc tưởng tượng phi thường của người Lạc Việt. Truyện Con Rồng, cháu Tiên tuy có những yếu tố tưởng tượng, kì ảo nhưng về cơ bản đã giải thích, suy tôn nguồn gốc của đất nước ta. Đồng thời truyện cũng thể hiện niềm tự hào dân tộc, ý nguyện đoàn kết, thống nhất từ xa xưa của cộng đồng người Việt: dù ở bất cứ đâu, đồng bằng hay miền núi, trong Nam hay ngoài Bắc, người Việt Nam đều là con cháu các vua Hùng, có chung dòng dõi Con Rồng, cháu Tiên, vì thế phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.
Các chi tiết tưởng tượng, kì ảo có vai trò rất quan trọng trong các truyền thuyết. Em hãy làm rõ điều đó qua tác phẩm con Rồng cháu Tiên
648
Các quan cai trị nhà ta (Về chương Thuế máu – trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc) – Bình giảng ngữ văn 8 Hướng dẫn Các quan cai trị nhà ta Với tư cách là một thiên phóng sự điều tra, Bản án chế độ thực dân Pháp là văn chương báo chí. Sức thuyết phục của nó là những con số, những nhân chứng, những thống kê, nghĩa là những sự thật không gì chối cãi được. Người viết nó ở vào vị thế khách quan không hề khoa trương cường điệu. Song, một mặt khác, tác phẩm rất gần với văn chương hình tượng, nghĩa là những sáng tạo nghệ thuật ở một loạt hình ảnh gợi cảm, ở giọng điệu trào phúng, giễu cợt, mỉa mai. Sự kết hợp về mật thể loại này đã đưa đến một hiệu quả không ngờ: tố cáo chế độ thực dân, phơi bày cuộc sống khốn cùng của người dân các xứ thuộc địa. Lòng căm giận (đối với chế độ thực dân) và yêu thương (đối với nhân dân các nước thuộc địa) là những mạch ngầm văn bản thể hiện một khát vọng mãnh liệt, sâu sắc của tinh thần chiến đấu, của ý chí chiến đấu giành độc lập tự do của cây bút tài hoa cũng là của một người chiến sĩ cách mạng. Thuế máu là một cách đặt tên chương đầy ấn tượng, có sức biểu cảm, khơi gợi rất cao. Đây là một thứ thuế cực kì vô lí, một sự bóc lột tàn bạo, trắng trợn đến tận cùng sinh mạng của những người dân thuộc địa. Chiến tranh phi nghĩa đối với bọn đế quốc là một cách làm giàu nhanh nhất và bóc lột xương máu của những người dân thuộc địa mà chúng tự phong cái nghĩa, vụ khai hoá, bảo hộ là con đường rẻ nhất. Đó là những cuộc chiến tranh mang lại lợi nhuận vô cùng lớn. Bóc lột sức lực mồ hôi đã là một tội ác. Bóc lột xương máu lại là một tội ác lớn hơn. Bản chất độc ác ấy, lần đầu trên báo chí được phanh phui, bộ mặt của bọn thực dân hiện nguyên hình là những loài dã thú trong thời đại văn minh. Tính chất phản nhân loại ấy được lôi ra ánh sáng, trước vành móng ngựa của lương tri. Trình tự và cách đật tên các phần trong chương đầu của tác phẩm vừa theo lô gích thời gian, trọn vẹn một quy trình công nghệ đưa thân xác người dân thuộc địa vào guồng máy chiến tranh (Chiến tranh và “người bản xứ” ; Chế độ lính tình nguyện ; Kết quả của sự hi sinh) vừa theo nguyên tắc của nghệ thuật. Hình thức đầu cuối tương ứng trong kết cấu (như hình ảnh chiếc lò gạch trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao) tạo nên sự va đập dữ dội trong tâm trí của người đọc, người nghe. Xương máu mà người dân thuộc địa phải trả cho các cuộc chiến tranh đế quốc thật là vô nghĩa. Sự lừa bịp của bọn thực dân không còn một thứ bình phong hay mĩ từ nào che giấu được. Người bản xứ, truớc mắt bọn thực dân, vốn chỉ là “những tên da đen bẩn thỉu”, “những tên An-nam-mít bẩn thỉu”, tưởng không liên quan gì đến các cuộc chiến tranh, thậm chí không biết gì về các cuộc chiến tranh. Cái họ biết chỉ là “kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta”. Bởi vậy, khi đột ngột nhận được vinh dự đặc biệt, danh hiệu tối cao thì chính họ không sao hiểu nổi. Thì ra chiến tranh bùng nổ, họ là những vật hi sinh, họ phải đóng một thứ thuế không nằm trong văn bản luật định thông thường: thuế máu. Bọn đế quốc thời nay không hẳn giống bọn đế quốc thời xưa ở chỗ chúng khôn ngoan hơn. Không “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ” (Hịch tướng sĩ), chúng lừa bịp những người dân đen bằng những lời đường mật. Bị cưỡng bức phải nghe theo (không nghe đã có roi vọt, có nhà tù), những người dân đen ấy lập tức phải rơi vào những cảnh ngộ thảm thương: xa lìa gia đình quê hương, vật hi sinh cho lợi ích và danh dự của kẻ cầm quyền. Kẻ ở lại hậu tuyến chẳng khác nào người ra trận “đằng nào cũng thế thôi” có mà chạy đằng trời trước cuộc chiến tranh “để bảo vệ cho cái công lí và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào”, sắc điệu trào phúng, mỉa mai trong ngôn từ, trong giọng điệu, đặc biệt là trong những quan hệ không ăn nhập gì với nhau, thậm chí đối lập với nhau dẫn đến hậu quả gây cười, một cách gây cười đối với trí tuệ, với nhận thức người nghe thật là sâu sắc. Ấy là chưa kể một văn phong theo kiểu thời thượng châu Âu, nhất là văn chương Pháp đã tạo nên một sự hoà nhập giữa văn học Việt Nam vào văn chương thế giới mà đây là tác phẩm đầu tiên. 2. Chế độ lính tình nguyện Bản thân cụm từ “chế độ lính tình nguyện” đã là một cách gọi giễu cợt mỉa mai nhằm che đậy một sự thật bên trong hoàn toàn ngược lại. Cũng như sau khi công việc bắt lính đã hoàn tất, phủ toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố một cách trịnh trọng, vui vẻ:’”Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”. Sự thật trong việc bắt lính đã bị nhà cầm quyền xuyên tạc đi, tô hồng lên một cách đáng hổ thẹn. Đó là một gian dối không có lương tâm nhằm lừa bịp dư luận có lợi cho những kẻ chủ trương. Tuy vậy (hay chính là vì vậy) vì cảm thấy luận điệu trên đây là một sự xúc phạm ghê gớm không chỉ đến tính mạng mà còn đến danh dự con người – ở đây là người dân các nước thuộc địa, tác giả bài viết đã ngay lập tức vạch trần cái dụng ý tối tăm đằng sau những mĩ từ kệch cỡm. Lời lẽ tuy nhẹ nhàng nhưng sự thật được đưa ra như một cái tát vả vào miệng kẻ ăn không nói có không biết ngượng mồm: “Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh lị, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn?”. Bao nhiêu câu hỏi liên tiếp đặt ra dưới hình thức nghi vấn, nhưng có ý nghĩa phủ định, ví như tác giả nói về sự phản ứng quyết liệt chế độ bắt lính bằng các cuộc biểu tình, những vụ bạo động “phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân tấp nập và không ngần ngại?”. 3. Kết quá của sự hi sinh Dấu hiệu của cuộc chiến tranh kết thúc không phải bằng sự im lặng của tiếng súng đại bác sau khi “đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi”, mà bằng sự im lặng của “các quan cai trị nhà ta”. Họ im lặng cũng phải, vì thân xác, sinh mạng của những người sống sót trở về như những món hàng lỗi mốt. Trước con mắt của nhà cầm quyền, họ đâu còn là những “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”, họ trở về cái thân phận của chính họ lúc ban đầu sau khi chịu đóng thuế máu cho các quan cai trị, họ mặc nhiên trở lại là “giống người bẩn thỉu”. Toàn bộ bài văn, xét về mặt nghệ thuật thì cái nổi trội nhất là bút pháp trào phúng: ngôn ngữ trào phúng, ngữ điệu trào phúng, kết cấu, lập luận nhằm mục đích trào phúng. Tác giả của nó đã sử dụng cách đánh chính diện, đánh vỗ mặt theo lối bóc trần tâm địa của kẻ lừa bịp mị dân, dồn chúng vào đến chân tường không nơi ẩn nấp. Còn cách đánh lại rất văn chương, đã đạt đến chiều sâu của sự thâm thuý.
Các quan cai trị nhà ta (Về chương Thuế máu – trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc) – Bình giảng ngữ văn 8
1,464
Các từ loại chủ yếu – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 Hướng dẫn Các từ loại chủ yếu – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6 1. Danh từ – Danh từ là những từ chỉ người (M: cô giáo, học sinh,…), vật (M: bàn, ghế, cây, cỏ, sông, biển, gà, cá,…), hiện tượng (M: gió, bão, nắng, mưa,…), khái niệm (M: đạo đức, tấm lòng, cuộc sống,…), hoặc đơn vị (M: cân, mét, con,…) – Danh từ được chia làm hai loại: + Danh từ chung là tên của một loại sự vật (M: nhà, vườn, ao, hồ,…). + Danh từ riêng là tên riêng của một sự vật (M: Trần Quốc Toản, Vịnh Hạ Long, Hồ Gươm,…). Danh từ riêng luôn được viết hoa. Bài tập 1. Tìm các danh từ trong bài thơ dưới đây và xếp chúng vào bảng phân loại. Vui sao khi chớm vào hè Xôn xao tiếng sẻ, tiếng ve báo mùa Rộn ràng là một cơn mưa Trên đồng bông lúa cũng vừa uốn câu. (Trần Đăng Khoa) – Danh từ chỉ sự vật – Danh từ chỉ hiện tượng – Danh từ chỉ khái niệm – Danh từ chỉ đơn vị Bài tập 2. Tìm các danh từ chỉ khái niệm trong đoạn thơ sau: Lúc giao thừa nhớ Bác Trống gọi giao thừa, mừng Tết đến Quá khứ, tương lai xích lại gần Bồi hồi nhớ Tết bao năm trước Tưởng nghe tiếng Bác đọc thơ xuân (Cao Đức Tiến) Bài tập 3. Đặt câu với một danh từ chỉ khái niệm tìm được. Bài tập 4. Hãy tìm: a) 5 danh từ chỉ sự vật. b) 5 danh từ chỉ hiện tượng. c) 5 danh từ chỉ khái niệm. d) 5 danh từ chỉ đơn vị. Bài tập 5. Tìm các danh từ chung và danh từ riêng có trong các câu sau: a) Sông Rừng tức Bạch Đồng Giang là một khúc sông rất rộng, sách xưa đều ghi là sông Vân Cừ. b) Ở Trường Sơn, vào ngày chợ phiên, người từ các bản làng khuất trong rừng đi chợ rất đông, nào người Nguồn, người Sách, người Vân Kiều, người Xô, người Xêk, người Bru,… c) Dưa hấu Nam Bộ có nhiều giống: ngon nhất, đỏ nhất và nhiều cát nhất là giống dưa gốc ở Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hoà; nổi tiếng nhất là dưa Trảng (Tràng Bàng, Tây Ninh),… Bài tập 6. Hãy viết: a) Tên của 5 tỉnh / thành phố. b) Tên của 5 người anh hùng dân tộc. c) Tên của 5 dòng sông. d) Tên của 5 cây cầu. e) Tên 5 môn học. 2. Động từ – Động từ là những từ chỉ hoạt động và trạng thái. + Động từ chỉ hoạt động trả lời cho câu hỏi Làm gì? (M: nói, viết, hát, múa, ăn, uống,…) + Động từ chỉ trạng thái trả lời cho câu hỏi Làm sao? Thế nào? (M: trôi, bay,…) – Trong câu, một số từ chỉ thời gian (đã, sẽ, đang, sắp,…) thường đi kèm với động từ để bổ sung ý nghĩa về thời gian cho hoạt động, trạng thái của sự vật. (M: Nó đã ăn cơm. / Lá cờ đang bay./,…) Bài tập 1. Tìm các động từ có trong bài thơ sau: Ông Ông vóc cây tre dài Lưng của ông vẩn thẳng Ông đẩy chiếc cối xay Cối quay như chong chóng. Đường dài và sông rộng Ông vẫn luôn đi về. Tay của ông khoẻ ghê Làm được bao nhiêu việc Thế mà khi ông vạt Thua cháu liền ba keo. (Hữu Thỉnh) Bài tập 3. Chọn từ đã hoặc đang hoặc sẽ để điền vào chỗ trống trong mẩu chuyện sau: Con cáo và người đốn củi Một con cáo bị thợ săn đuổi bắt. Nó cầu khẩn người đốn củi cho náu nhờ. Người đốn củi liền giấu cáo trong lều. Lát sau, đám thợ săn chạy tới, hỏi: “Bác có thấy con cáo chạy qua đây không?”. Người đốn củi miệng nói to “Không thấy!” nhưng tay lại ra dấu hiệu chỉ chỗ nấp của cáo. Thợ săn không để ý đến dấu hiệu nên kéo nhau đi thẳng. Cáo bò ra lẳng lặng bỏ đi. Người đốn củi mắng nó: – Tao.. cứu mày thoát chết mà sao chẳng nghe được một lời cảm ơn? – Tôi ….. đội ơn ông vô cùng, nếu lời nói và cử chỉ của ông không khác nhau. – Cáo trả lời. (Theo Ngụ ngôn thế giới chọn lọc) Bài tập 4. Tìm các từ không cùng nhóm trong mỗi dãy từ dưới đây: a) hát, múa, thêu, đan, vẽ, viết, đọc, vui b) chạy, nhày, mệt, tìm, xếp, dọn, quét, giặt c) ăn, uống, nấu, khâu vá, cày, cấy, lúa d) nghe, nghĩ, việc, nhìn, ngâm, ngủ, lo, đoàn Bài tập 5. Những động từ được in đậm trong các câu sau có gì khác nhau? a) Minh đang nặn mâm ngũ quả. b) Bố tôi đang cuốc ruộng. c) Lá cờ đang bay phần phật trong gió. d) Dòng sông mài miết trôi. Bài tập 6. Hãy tìm: a) 3 động từ chỉ hoạt động. b) 3 động từ chỉ trạng thái. 3. Tính từ – Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật (M: người tốt, núi cao), hoạt động (M: chạy nhanh, vẽ đẹp), trạng thái (M: bay phần phật, trôi nhanh),… – Có một số cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất như sau: + Thêm các từ rất, quá, lắm,… vào trước hoặc sau tính từ (M: rất đẹp, đẹp lắm, đẹp quá). + Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho (M: tím nhạt, tim tím). + Tạo ra phép so sánh (M: đỏ hơn, chậm nhất, ngọt như mía lùi). Bài tập 1. Tìm các tính từ có trong đoạn văn sau: Trời đột nhiên đổ mưa. Một đất đang nóng bức, ngột ngạt bỗng dưng được tưới một làn nước mát, nhẹ tênh. Sân trường đầy bụi bặm giò được gột rửa nom sạch sẽ, thoáng mát. Chưa kịp lấy hơi để hít vào cái không khí dễ chịu ấy thì trời lại chợt nóng, đỏ bừng. Thật đúng là cơn mưa rào mùa hạ! (Theo Nguyễn Thế Thọ) Bài tập 2. Tìm các tính từ trong các câu văn sau. Chỉ ra những cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất trong mỗi câu. a) Sau trận mưa rào, những tấm lá dọc mùng trông xanh nõn nà, những bông râm bụt thêm đỏ chói, b) Những cánh hoa tràm nhỏ li ti chụm vào nhau tạo thành một chuỗi dài trông rất dễ thương. c) Ông mặt trời vừa nhô lên phía đàng đông, chị cỏ cúi xuống ngắm nghía giọt sương đọng trên áo và cảm thấy mình như rực rỡ hơn. Bài tập 3. Hãy thể hiện mức độ của các đặc điểm, tính chất nêu dưới đây ( theo mẫu) Bài tập 4. Tìm tính từ thích hợp với mỗi chỗ trống trong câu. a) Trong đêm rằm… vằng vặc. b) Cánh đồng mùa gặt.. rực. c) Toà nhà mới xây……ngất trời, Bài tập 5. Viết đoạn văn ngắn tả một người thân quen với gia đình em. Đoạn văn tham khảo: Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mát cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bây giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không gáy gò, tiều tụy quá như mọi người nói. Gương một mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò mó. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hỉnh hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp lại như thuở còn sung súc? (Theo Nguyên Hổng) 4. Đại từ – Đại từ là từ dùng để xưng hô hay để thay thế danh từ, động từ, tính từ (hoặc cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) trong câu cho khỏi lặp lại các từ ngữ ấy. – Đại từ xưng hô là từ được người nói dùng để tự chỉ mình hay chỉ người khác khi giao tiếp: tôi, chúng tôi ; mày, chúng mày ; nó, chúng nó Ngoài ra, người Việt Nam còn dùng nhiều danh từ chỉ người làm đại từ xưng hô để thể hiện rõ thứ bậc, tuổi tác, giới tính: ông, bà, anh, chị, em, cháu, thầy, bạn,… Lưu ý.: Khi xưng hô, cần chú ý chọn từ cho lịch sự, thể hiện đúng mối quan hệ giữa mình với người nghe và người được nhắc tới. Bài tập 1. Tim đại từ xưng hô trong đoạn truyện dưới đây: Thằng Chiến mải mê kể chuyện cô giáo dìu dắt nó học văn. Nó khoe: – Cô giáo bày cho tớ làm thơ nữa nhé. Tớ làm được khối bài. Nhưng mà thôi, cậu xem làm gì, tớ viết dở lắm! Kệ nó nói, tôi cứ giở ra. Một bài, hai bài, ba bài… Ái chà! Khá thật! Nó làm được hơn hai chục bài rồi. {Theo Lê Khắc Hoan) Bài tập 2. Trong những đại từ có trong đoạn văn ở bài tập 1: a) Những đại từ nào chỉ mình (người nói)? b) Những đại từ nào chỉ người nghe? c) Những đại từ nào chỉ người được nhắc đến? Bài tập 3. Tìm đại từ trong các câu sau và cho biết chúng được dùng để thay thế cho từ ngữ nào. a) Mùa hè, nước dạo chơi cùng những làn sóng. Mùa thu, nó mệt và đứng lại với màu xanh nhạt, Nó mệt mỏi. b) Tôi thích chơi bóng bàn. Em trai tôi cũng vậy. c) Hoa cà tim tím. Hoa bìm bìm cũng thế. Bài tập 4. Trong đoạn văn sau đây, những danh từ chỉ người nào đã được dùng làm đại từ? Thừa linh kiện Sáng chủ nhật, Phong xách chiếc đài bán dẫn tới trước mặt bố khoe: – Bố ơi! Con vừa tháo đài ra rồi láp vào để tìm hiểu bên trong thế nào. Bố Phong hốt hoảng nhìn con, hỏi: – Vậy con có đánh rơi mất linh kiện nào không? (Theo Học sinh cười) Bài tập 5. Hãy tìm những danh từ chỉ người được dùng làm đại từ xưng hô để thể hiện rõ thứ bậc, tuổi tác, giới tính. M: ông – cháu 5. Quan hệ từ – Quan hệ từ là từ nối các từ ngữ hoặc các câu, nhằm thể hiện mối quan hệ giữa những từ ngữ hoặc những câu ấy với nhau: và, với, hay, hoặc, nhưng, mà, thì, của, ở, tại, bằng, như, để, về,… – Nhiều khi, từ ngữ trong câu được nối với nhau bằng một cặp quan hệ từ. Các cặp quan hệ từ thường gặp là: + Vì… nên … ; do … nên… ; nhờ … mà … (biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả). + Nếu … thì… ; hễ… thì… (biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả, điều kiện – kết quả). + Tuy … nhưng ; mặc dù … nhưng … (biểu thị quan hộ tương phản). + Không những … mà … ; không chỉ … mà … (biểu thị quan hệ tăng tiến). Bài tập 1. Tìm các quan hệ từ trong các câu sau: a) Em tôi đã viết được đoạn văn dài và hay. b) Về đến nhà, tôi mới biết mình cầm nhầm vở của bạn. c) Nó với tay lấy cuốn truyện để đọc. d) Tôi ở lại mảnh đất này với mẹ tôi. Bài tập 2. Cặp quan hệ từ nào thích hợp với chỗ trống trong các câu sau: a) Hồ ………. đẹp bất chợt thường cố những xoáy nước rất mạnh. b)……….. đã sang thu ……bãi biển Sầm Sơn vân đông người. c) Thuỷ Tinh dâng nước lên………………….. Sơn Tinh lại nâng núi cao……………….. d) Trời nắng như đổ lửa cây cối trong vườn héo rũ. Bài tập 3. Tìm các quan hệ từ có trong câu văn hoặc đoạn văn sau và cho biết tác dụng của mỗi quan hệ từ tìm được. a) Trời nắng và oi ả. b) Chiều nay, tôi nên đi đá bóng hay ở nhà nấu cơm giúp mẹ nhỉ? c) Có được chiếc vòng tay, tôi rất vui. Nhưng cũng từ hôm đó, tôi luôn cảm thấy mình có lỗi. Mẹ tôi đã phải làm quần quật cả ngày, kiếm từng đồng nuôi hai chị em tôi… (Theo Ngô Quân Miện) d) Ông già Đương bàn với mọi người trong làng việc ghép đá thành bậc thang vượt núi. Cả làng khâm phục ông. Vậy mà ngày khởi công chẳng có ai đi theo ông. (Theo Truyện đọc lớp 5) Bàỉ tập 4. Viết tiếp để hoàn thành các câu sau: a) Nếu tròi oi bức, ngột ngạt………………. b) Vì trời mưa như trút nước……………….. c) ………………………….vì thấy mây đen đang ùn lên phía chân tròi. d) ………………. mà vẫn rét cắt da cắt thịt. Bài tập 5. Đặt câu có chứa các quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ sau: a) tại b) bằng c) hễ … thì… d) không những … mà (còn) … >>Xem đáp án bài tập tại đây. Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Các loại từ loại chủ yếu · Tiếng Việt 5
Các từ loại chủ yếu – Ôn tập tiếng việt lớp 5 thi vào lớp 6
2,126
Các yếu tố miêu tả, biểu cả trong văn tự sự – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Các yếu tố miêu tả, biểu cả trong văn tự sự Đến lớp 9, yêu cầu tạo lập văn bản tổng hợp là một yêu cầu quan trọng. Tất cả các yếu tố của các phương thức biểu đạt cần được huy động và kết hợp với nhau trong một phương thức biểu đạt chính. Vì vậy, văn tự sự đã được học và thực hành ở lớp 6 bây giờ được nâng cao hơn – đưa các yếu tố miêu tả, nghị luận và biểu cảm vào văn tự sự 1. Miêu tả trong văn tự sự Trong thực tế khi kể chuyện, nếu chỉ kể các sự việc và nhân vật thì câu chuyện sẽ không hấp dẫn. Đó chỉ là bản thống kê các sự việc và hành động của nhân vật. Muốn câu chuyện trở nên cụ thể, gợi cảm, sinh động thì trong khi kể, người kể cần miêu tả chi tiết hành động, cảnh vật, con người. Yếu tố miêu tả là không thể thiếu vắng trong những văn bản tự sự hấp dẫn. Ví dụ, khi Kim Lân kể chuyện ông Hai đi ra phòng thông tin, rồi đi ra lối huyện cũ gặp những người tản cư để thăm hổi tin tức, để cho ông lão nghe cái tin khủng khiếp cả làng ông là Việt gian theo Tây, nhà văn miêu tả: cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ổng lão lặng đi tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt cái gì vướng ở cổ, ồng cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: – Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại… Những chi tiết miêu tả ấy làm cho người đọc thấy rõ được sự đau đớn, xấu hổ, nghẹn ngào của ông Hai. Vì ông rất yêu làng ông, ông rất tự hào về cái làng kháng chiến của ông. Thế mà bây giờ tin dữ ấy cho thấy làng ông chẳng có gì đáng khoe, thậm chí lại còn là làng Việt gian, đang bị khinh bỉ, tẩy chay. Riêng đối với nhân vật thì miêu tả nội tâm là một điều hết sức quan trọng. Người kể chuyện thông qua miêu tả, tái hiện những suy nghĩ, cảm xúc và diễn biến tâm trạng của nhân vật. Chính miêu tả tâm trạng nhân vật làm cho nhân vật không chỉ có diện mạo, mà còn có tâm hồn. Nhân vật vì thế mà sống động hơn. Và do đó văn bản tự sự cũng hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nhà văn Nguyên Hồng đã miêu tả nỗi đau đớn của mình khi người cô xúc phạm đến mẹ đồng thời miêu tả nỗi sung sướng cực điểm của mình khi được ngồi trong lòng mẹ. Đấy chính là những miêu tả nội tâm làm cho chúng ta thấy yêu mến nhân vật bé Hồng. Nhà văn Nam Cao miêu tả cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó, lão hu hu khóc như con nít vì ân hận đã trót lừa, nỡ tâm lừa nó. Việc dằn vặt, đau đớn của lão Hạc cho chúng ta thấy lão là người tử tế, lương thiện như thế nào. 2. Nghị luận trong văn tự sự Trong văn bản tự sự, người kể chủ yếu là kể sự việc, và nhân vật, có sử dụng yếu tố miêu tả để làm rõ cảnh vật, thể hiện nội tâm nhân vật. Đồng thời, để người đọc (người nghe) suy nghĩ về vấn đề nào đó, người viết, người kể và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu ra các nhận xét, ý kiến, lí lẽ để thuyết phục. Nội dung này thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận. Tính chất triết lí của tác phẩm thường được thể hiện ở đây. Ông giáo khi nói chuyện với lão Hạc về sự sướng khổ của một kiếp người, đã ôn tồn bảo ông lão: – Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc ; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng. Lão Hạc đã từ chối khéo, xin để khi khác. Nhưng ông giáo nói: – Việc gì còn phải chờ khi khác?… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại […]. Đây chính là lập luận của nhân vật có tính triết lí về sự sướng khổ và thái độ đối với cái sướng ở đời. Điều đó gợi cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống của mình. Lỗ Tấn trong Cố hương cũng nghị luận về niềm mong ước, hi vọng gần gũi, xa xôi và sự sùng bái tượng gỗ, sự tin tưởng về niềm hi vọng sẽ biến thành hiện thực, cũng như người ta đi mãi thì thành đường. 3. Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn tự sự Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm là những hình thức quan trọng để thể hiện nhân vật trong văn tự sự. Đối thoại là hình thức đối đáp, trò chuyện giữa hai hoặc nhiều nhân vật. Đối thoại thể hiện ngôn ngữ của mỗi nhân vật. Ví dụ: Đoạn trích Tức nước vỡ bờ (Ngữ văn 8, tập một) có đối thoại của chị Dậu với bà lão láng giềng, có đối thoại của chị Dậu với cai lệ, đối thoại của chị Dậu với chồng. Trong những văn bản truyện ngắn, tiểu thuyết, chúng ta thường gặp các hình thức đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. 4. Kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận trong văn tự sự Như chúng ta đã biết, văn bản tự sự không chỉ dùng một phương thức kể. Nó có thể sử dụng phương thức miêu tả, miêu tả nội tâm ; sử dụng yếu tố nghị luận ; sử dụng hình thức đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm để làm phong phú nội dung tự sự. Các yếu tố trên chỉ đóng vai trò phụ trợ, giúp làm cho phương thức tự sự đạt hiệu quả cao. Nếu sử dụng quá, văn bản sẽ không còn là văn bẳn tự sự nữa, mà sẽ trở thành phương thức khác, mang tên khác.
Các yếu tố miêu tả, biểu cả trong văn tự sự – Ngữ Văn 9
1,079
Cách làm bài văn kể chuyện hay nhất, chi tiết nhất Hướng dẫn I. CÁCH VIẾT MỞ BÀI: Có hai cách: Mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. • Mở bài trực tiếp: Kể ngay vào sự việc mở đầu câu chuyện. • Mở bài gián tiếp: Nói chuyện khác để dẫn đến câu chuyện định kể. Ví dụ: Kể lại chuyện Tấm Cám bằng lời kể của em. • Mở bài trực tiếp: Em dã đọc được nhiều truyện cổ tích, nhưng em thích nhất là truyện Tấm Cám. • Mở bài gián tiếp: Em đã đọc được nhiều câu chuyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn,… Mỗi câu chuyện đã cho em nhiều điều bổ ích. Em đã hiểu được cuộc sống của người nông dân nghèo khổ, rất đáng thương, hiểu được lòng dạ của kẻ ác trong xã hội thời xưa. Một câu chuyện mà em nhớ nhất là truyện Tấm Cám. II. CÁCH VIẾT THÂN BÀI: – Biện pháp chính là kể. – Chọn kế những hành động tiêu biểu cua nhân vật trong truyện. Thông thường, hành động nào xảy ra trước thì kể trước, hành động nào xảy ra sau thì kể sau. Nhiều khi cần kết hợp miêu tả ngoại hình của nhân vật trong truyện. Những đặc điểm ngoại hình tiêu biểu có thể góp phần nói lên tính cách hoặc thân phận của nhân vật và làm cho câu chuyện thêm sinh động, hấp dẫn. Khi kể cũng cần chú ý đến lời nói và ý nghĩ của nhân vật. Lời nói và ý nghĩ cũng nói lên tính cách nhân vật trong câu truyện. Có hai cách: Kết bài không mở rộng và kết bài mở rộng. – Kết bài không mở rộng: Chỉ cho biết kết cục của câu chuyện, không bình luận gì thêm. – Kết bài mở rộng: Nêu ý nghĩ hoặc đưa ra lời bình luận của mình về câu chuyện. Ví dụ: Kế lại câu chuyện Cây khế bằng lời kể của em. – Kêt bài không mở rộng: Sức chim có hạn nhưng lại phải chở người anh cùng cái túi vàng quá nặng, thế là chim chao cánh trút người anh cùng túi vàng nặng trịch ấy rơi tòm xuống biển. – Kêt bài mở rộng: Sức chim có hạn nhưng người anh vẫn khư khư ôm lấy cái túi vàng nặng trịch. Gặp cơn gió mạnh, cánh chim chao đảo. Thế là người anh cùng cái túi vàng đã rơi tòm xuống biển. Nếu người anh không tham lam thì đâu có kết cục bi thương đến thế!
Cách làm bài văn kể chuyện hay nhất, chi tiết nhất
422
Cách làm bài văn nghị luận về giá trị bản thân Hướng dẫn Hướng dẫn làm bài văn nghị luận về giá trị bản thân Bàn về giá trị của bản thân Cuộc sống là hành trình con người đi tìm và tự khẳng định mình. Ai cũng khát khao vươn tới cái hoàn mĩ của cuộc sống. Sẽ là điều lí tưởng, trong cuộc sống của bạn được xác định dựa trên giá trị bản thân. Vậy chúng ta hãy thử lạm bàn về giá trị của bản thân trong cuộc sống. –Giá trị bản thân là gì? Giá trị bản thân là những nội lực riêng biệt của mỗi người về tố chất, trí tuệ, năng lực, kĩ năng… để đem đến thành công trong việc học tập và làm việc của bạn. Từ đó, bạn có thể tỏa sáng và tạo lập được nhiều thành tích trong học tập và sự nghiệp. Vậy, chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của giá trị bản thân. Khi ta biết được giá trị bản thân, chính là biết được điểm yếu,điểm mạnh sở thích, sở trường và xu hướng năng lực… của bản thân. Từ đó tạo được giá trị của riêng mình, dấu ấn của riêng mình và thực sự biết mình là ai, đang đứng ở đâu, tâm thế như thế nào. Qua đó, ta có niềm tin trong cuộc sống, tự tin chọn công việc hay học tập, tạo được hứng khởi từ đó cơ sở cho thành công. Qua phần bàn về ý nghĩa trên, mỗi cá nhân chúng ta làm thế nào để có được giá trị bản thân và ứng dụng vào cuộc sống. Cuộc sống thật là hạnh phúc nếu như mỗi người đều biết cách tạo ra giá trị của bản thân. Quá trình tạo ra giá trị của bản thân là quá trình tạo ra sự riêng biệt. Mỗi cá nhân đều có dấu ấn riêng, đặc điểm riêng, giống như thế giới rộng lớn bao la muôn màu muôn vẻ. Thực tế trong cuộc sống, có người may mắn có được tiền đề tố chất bẩm sinh mà cha mẹ sinh thành, đó là cơ sở của năng khiếu hay thiên tài một lĩnh vực nào đó… Những điều đó mỗi người cần phải chăm chút bồi dưỡng và rèn luyện để phát triển không bị “thui chột” thì tố chất thiên bẩm ấy mới phát triển được. Còn nhìn chung, giá trị riêng của bản thân không dễ dàng có được, nó phải trải qua một quá trình mà bạn phải tích cực chủ động học tập rèn luyện cùng với sự kiên trì sáng tạo mới có được, hay nói ngắn gọn lại là phải trải nghiệm qua cuộc sống thì mới có giá trị của bản thân. Khi có gí trị bản thân giúp chúng ta tự tin vượt khó và dễ dẫn bạn tới thành công. Thực tế điều đó không đơn giản. Để có giá trị bản thân, bạn cùng tôi phải có bộ óc năng động sáng tạo, luôn bùng nổ với các ý tưởng và trái tim nhiệt tình dành hết tâm trí cho học tập và rèn luyện kiến thức để sẵn sàng bước vào cuộc sống. Với cách học tập năng động sáng tạo, rèn luyện thường xuyên, bạn có thể khám phá rất nhiều giá trị bản thân, đêm đến hiệu quả trong học tập và sự nghiệp sau này. Tôi cùng bạn hãy bình tĩnh lựa chọn trong nhiều giá trị của bản thân, nên chọn giá trị nào cao nhất, phù hợp nhất. Từ đó mỗi chúng ta không ngừng bồi đắp để giá trị “đắt nhất” ngày càng phát triển không bị “thui chột” và điều cuối cùng muốn trao đổi cùng bạn là chúng ta hãy tự tin biến giá trị của mình thành công dụng hữu hiệu nhất để tỏa sáng trong học tập và sự nghiêp.
Cách làm bài văn nghị luận về giá trị bản thân
653
Cách làm bài văn tự sự tập làm văn lớp 6 Hướng dẫn Cách làm bài văn tự sự NHỮNG KIẾN THÚC CƠ BẢN VỀ VĂN TỰ SỰ Tự sự là một trong sáu phương thức biểu đạt cơ bản (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ) được vận dụng hết sức rộng rãi trong giao tiếp của con người nói chung và giao tiếp của học sinh nói riêng. Theo nghĩa phổ quát nhất, tự sự (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự giúp ngưòi kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê. Văn bản tự sự bao gồm: cốt truyện, những hành động liên quan đến nhân vật, một ngưòi kể chuyện. Tóm lại, văn bản tự sự thực chất là một côt truyện dựa trên một hành động mà nhân vật tạo ra, trải nghiệm và có một người kể về nó. Các em học sinh lớp 6 đã được làm quen với văn tự sự từ khi học Tiểu học. Lên các lớp trên, các em sẽ còn học tiếp về văn bản tự sự với những nội dung, mức độ sâu và khó hơn. Chương trình Tập làm văn ở SGK Ngữ văn 6 chỉ bước đầu cung cấp cho các em các kiến thức cơ bản về văn tự sự như: đặc điểm, mục đích của văn bản tự sự ; ngôi kể, thứ tự kể trong văn tự sự…. Phân môn Tập làm văn ở SGK Ngữ văn 6 cũng yêu cầu các em biết cách tạo lập một số’ kiểu bài văn tự sự: kể một truyện đã đọc (hoặc đã nghe), kể một chuyện đời thường, kể chuyện tưởng tượng.. tự sự tại đây.
Cách làm bài văn tự sự tập làm văn lớp 6
320
Cách làm tốt bài văn thuyết minh Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Văn thuyết minh ngữ văn 9 I. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA VĂN THUYẾT MINH Trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu tìm hiểu các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội. Một sự vật, một phong cảnh, một con người, một buổi biểu diễn nghệ thuật, một bài thơ, một cuốn sách,… đều khơi gợi à người tiếp xức những mong muốn tìm hiểu bản chất, đặc điểm, nguyên nhân, sự hình thành,… Khi chúng ta đáp ứng những nhu cầu đó, tức là phải tiến hành trình bày, giới thiệu, giải thích. Chúng ta đã sử dụng văn bản thuyết minh. Những bản hướng dẫn cấu tạo, tính năng, cách dùng và bảo quản một dụng cụ nào đó (máy bơm, quạt điện, ti vi, phích, tủ lạnh,…); những hướng dẫn một cách chế biến một món ăn theo kiểu Việt Nam, Trung Quốc, Pháp, Nga,… ; những hướng dẫn cách làm một đồ chơi cho các cháu thiếu nhi ; hướng dẫn tham quan du lịch đối với một thắng cảnh; trình bày cách làm thí nghiệm, giải thích tiểu sử nhà văn, trình bày về đặc điểm thể loại văn học,… đều là văn bản thuyết minh. Văn bản thuyết minh khác văn bản tự sự ở chỗ nó không kể sự việc và diễn biến; cũng khác với miêu tả ở chỗ nó không tả tỉ mỉ, chi tiết theo chủ quan của người miêu tả (không nhằm mục đích làm cho người đọc cảm thấy mà chủ yếu là làm cho họ hiểu dược) ; khác với văn bản biểu cảm vì nó cố gắng trình bày một cách khách quan, không bộc lộ tình cảm riêng của người viết ; khác với văn bản nghị luận vì nó trình bày nguyên lí, quy luật, cách thức,… chứ không trình bày luận điểm, lí lẽ ; văn bản thuyết minh cũng khác với văn bản hành chính – công vụ ở chỗ nó không giải quyết các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, mà hướng tới việc làm cho người ta hiểu bản chất của sự vật, hiện tượng. Văn bản thuyết minh cung cấp tri thức khách quan về sự vật, hiện tượng, giúp người đọc, người nghe hiểu được chúng một cách đúng đắn, đầy đủ. Cung cấp tri thức, văn bản thuyết minh đặt mục đích làm cho người ta hiểụ lên hàng đầu, yêu tố cảm nhận hay thưởng thức được đặt xuống hàng thứ yếu. Ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh yêu cầu chính xác, chặt chẽ, tường minh. Nó không đa nghĩa mà càng đớn nghĩa càng tốt ; tuy nhiên không loại trừ việc thuyết minh hấp dẫn nhờ cách đặt vấn đề, cách nêu tình huống độc đáo và một số biện pháp nghệ thuật khác. II. CÁCH LÀM BÀI VĂN THUYẾT MINH 1. Tri thức để làm bài văn thuyết minh Bài văn thuyết minh là bài cung cấp tri thức cho người đọc (người nghe) để họ có thể hiểu, nắm được đặc điểm, bản chất một sự vật, hiện tượng nào đó. Vì thế muốn thuyết minh được mạch lạc, rõ ràng, người viết phải có vốn tri thức nhất định về điều mình viết. Muốn có tri thức, người viết phải trực tiếp tìm hiểu sự vật, quan sát, ghi chép, hỏi những người am hiểu,… Đó là cách tích luỹ kiến thức trực tiếp. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề cần thuyết minh đều đòi hỏi phải đi thực tế và cũng khó mà đi thực tế. Bởi vậy, tri thức cũng có thể tích luỹ một cách gián tiếp thông qua sách vở, thông qua mạng in-tơ-nét,… Cũng có khi phải kết hợp sử dụng các nguồn tri thức với nhau. Bài văn thuyết minh cũng được làm theo quy trình chung của một bài tập làm văn, gồm 4 bước: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài và sửa chữa. Muốn viết được bài văn thuyết minh thành công cần phải tìm hiểu đề và tìm được các ý cho bài viết. Sau khi tìm được ý, phải chọn phương pháp thuyết minh cho phù hợp. Sau đó là lập dàn ý và viết bài. Trong khi viết, có thể bổ sung, thêm bớt ý cho dàn bài hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là sửa lại bài viết, nhất là sửa các lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp. 3. Các phương pháp thuyết minh Đối với bài văn thuyết minh về sự vật, hiện tượng có thể sử dụng những phương pháp thuyết minh sau đây: a. Phương pháp nêu đinh nghĩa, giải thích Đây là phương pháp thuyết minh khá phổ biến. Người thuyết minh sẽ xác định đối tượng thuộc loại sự vật, hiện tượng gì, đặc điểm của nó là thế nào. Chẳng hạn, nếu văn bản trữ tình chú ý đến vẻ đẹp của Huế: Đường vô xứ Huế quanh quanh – Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ – Ai vô xứ Huế thì vô (Ca dao) thì văn bản thuyết minh chú ý đến việc nêu vị trí vai trò của Huế: Huế là cố đô của nước ta, là một trung tâm văn hoá, nghệ thuật của miền Trung và cả nước. Khi nêu định nghĩa hay giải thích, người viết cần chú ý đến giới hạn chính xác. Không định nghĩa quá hẹp hay quá rộng sự vật khiến cho người khác khó hình dung và khó hiểu. b. Phương pháp liệt kê Đây là một cách để người viết trình bày những tri thức liên qua đến sự vật, hiện tượng được thuyết minh. Chẳng hạn, thuyết minh về cây dừa, tác giả Hoàng Văn Huyền viết: Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm,... (Ngữ văn 8, tập một, trang 114). Như vậy, tác giả đã liệt kê về sự cống hiến của cây dừa. Trong khi nói về nước dừa, tác giả lại liệt kê những ích dụng của nó: để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm. Nguyễn Trọng Tạo khi viết về cây chuối cũng sử dụng phương pháp liệt kê: Chuối xanh nấu với các loại thực phẩm có vị tanh như cá, ốc, lươn, chạch có sức khử tanh rất tốt, nó không chỉ làm cho thực phẩm ngon hơn mà chính nó cũng có cái ngon bổ riêng không thay thế được. Người ta có thể chế biến nhiều món ăn từ quả chuối như chuối ép,- mứt chuối, kẹo chuối, bánh chuối,… (Cây chuối Việt Nam) c. Phương pháp nêu ví dụ Để thuyết minh, người viết có thể nêu ra một ví dụ có tính chất tiêu biểu. Ví dụ càng độc đáo, càng chính xác và được đưa ra đúng lúc, đúng chỗ thì sức thuyết phục càng cao. Nói về khả năng, gây bệnh ung thư của thuốc lá, tác giả Nguyễn Khắc Viện (trong bài Ôn dịch thuốc lá) nêu ví dụ: Thấm vào các tê bào, chất hắc ín lại thường gây ra ung thư. Ta đến bệnh viện K sẽ thấy rõ: Bác sĩ viện trưởng cho biết trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá. (Ngữ vãn 8, tập một, trang 119) Thật ra, nêu các con số cũng là một cách nêu ví dụ. Nhưng ở đây nhấn mạnh đến ý nghĩa của con số. Các con số thống kê tự bản thân nó đã có ý nghĩa lớn, gây ấn tượng mạnh mà không cần phải thuyết minh thêm. Trong bài Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, G. Mác-két sử dụng việc nêu số liệu rất ấn tượng: Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính toán của FAO, năm 1985, người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số lượng ca-lo trung bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX… Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trá tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có được thực phẩm trong bốn năm tới. (Ngữ văn 9, tập một, trang 18) e. Phương pháp so sánh So sánh là một biện pháp nhằm làm cho người đọc, người nghe hình dung rõ, sự vật được nói tới. So sánh là một trong ba thể tiêu biểu để triển khai nội dung của một bài ca dao: phú, tỉ (so sánh) và hứng. Diễn tả vẻ đẹp của cô gái, ca dao viết:Cổ tay; em trắng như ngà – Con mắt em sắc như là dao cau. Ngà làm cho ta cảm nhận được màu trắng cổ tay, dao cau giúp ta cảm nhận được độ sắc của cặp mắt. Nhờ so sánh mà đối tượng được hình dung rất cụ thể, sính động. Viết về thành phố Sài Gòn ba trăm năm tuổi, muốn nhấn mạnh Sài Gòn vẫn trẻ, Minh Hương so sánh: Sài Gòn vẫn trẻ […]. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà íhay da, đổi thịt (Ngữ văn 7, tập một, trang 168). So sánh ba trăm năm với năm ngàn năm ; Sài Gòn với cây tơ đương độ nõn nà, người đọc thấy ngay là Sài Gòn vẫn trẻ. g. Phương pháp phân loại và phân tích Thuyết minh là văn bản dùng cho nhiều loại đối tượng khác nhau. Có món ăn, có đồ dùng, có danh lam thắng cảnh, có khi là một loài động vật, thực vật. Chính điều này đã đòi hỏi phải phân loại để chọn các phương pháp và cách trình bày phù hợp. Thêm nữa, ngay trong bản thân đối tượng thuyết minh cũng có những Ịoại phức tạp, nhiều bộ phận, nhiều mặt. Vĩ thế phải có sự phân loại, phân tách ra các bộ phận nhỏ hơn để thuyết minh. Ví dụ về một món ăn, người ta thường thuyết minh các phần: Nguyên liệu và dụng cụ chế biến ; Cách chế biến ; Yêu cầu thành phẩm; Cách ăn món đó như thế nào là ngon nhất. 4. Một số kiểu bài vãn thuyết minh Thuyết minh về một thứ đồ dùng Thuyết minh về một loài vật Thuyết minh về một phương pháp Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh Thuyết minh về một thể loại văn học Thuyết minh về một phong tục, một đồ chơi dân gian III. CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT (TỰ THUẬT, ĐỐI THOẠI, ẨN DỤ, NHÂN HÓA) VÀ MIÊU TẢ TRONG VĂN THUYẾT TRÌNH) Để văn bản thuyết minh sinh động, hấp dẫn, người thuyết minh thường sử dụng một số yếu tố nghệ thuật như ẩn dụ, nhân hoá và yếu tố miêu tả. Cách sử dụng rất linh hoạt và đa dạng, tuỳ thuộc vào đối tượng thuyết minh và dụng ý của người thuyết minh. Trong Hạ Long — Đá và Nước, nhà văn Nguyên Ngọc đã dùng phép nhân hoá để nói về những khối đá trên vịnh, đồng thời kết hợp với việc miêu tả để làm rõ sắc thái những con người đá: Ánh sáng hắt lên từ mặt nước lung linh: chảy khiến những con người bằng đá vâỵ quanh ta trên mật vịnh càng lung linh, xao động, như đang đi lại, đang tụ lại cùng nhau, hay đang toả ra. Hoặc cũng rất có thể, khi đêm đã xuống, dưới ánh sao chi chít trên bầu trời và chi chít xao động dưới cả mặt nước bí ẩn nữa, sẽ có cuộc tụ họp của cái thế giới người bằng đá sống động đó, biết đâu!… Tường Lan khi thuyết minh về ruồi xanh đã tưởng tượng ra một phiên toà của Ngọc Hoàng có vệ sĩ Nhện, có tội nhân Ruồi Xanh, có luật sư bào chữa. Lời khai của Ruồi Xanh chính là một cách thuyết minh về loài ruồi, họ hàng và nơi sinh sống của nó: Con là Ruồi Xanh, thuộc họ côn trùng hai cánh, mắt lưới. Họ hàng con rất đông, gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm… Nơi ở là nhà vệ sinh, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…, bất kì chỗ nào có thức ăn mà không đậy diệm con đều /ấy làm nơi sinh sống. Văn Hùng khi thuyết minh về chiếc kim khâu đã dùng phép nhân hoá và tự thuật, để cho cây kim tự kể chuyện và giới thiệu về mình: Trong các dụng cụ của con người, có lẽ chúng tôi thuộc loại bé nhất. Tuỵ bé nhưng nhà ai cũng cần đến. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là những cái kim khâu bằng kim loại, bề ngang độ nửa mi-li-mét, bề dài khoảng hai, ba xăng-ti-mét… Nhìn chung văn bản thuyết minh ở lớp 9 vẫn là các kiểu văn bản thuyết minh đã học ở lớp 8, nhưng được nâng cao hơn về cách thức và hiệu quả thuyết minh, đặc biệt là việc sử dụng một số yếu tố nghệ thuật và yếu tố miêu tả làm cho bài thuyết minh sinh động, hấp dẫn. Tuy vậy, cần luôn luôn nhớ rằng các yếu tố trên chỉ là yếu tố phụ trợ, dùng quá nhiều thì bài thuyết minh sẽ không còn là thuyết minh nữa.
Cách làm tốt bài văn thuyết minh Ngữ Văn 9
2,291
Cái chết của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Hướng dẫn Cái chết của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Có thể nói Chí Phèo là “đứa con ruột” của nhà văn Nam Cao. Để xây dựng nên hình tượng của Chí, Nam Cao đã thâu tóm lại một cách ngắn gọn và chân thực nhất về cuộc sống lầm than, ai oán của những người nông dân trong xã hội cũ nói chung và ở làng Vũ Đại nói riêng. Là “con ruột” nhưng Nam Cao không ưu ái dành cho Chí một cái kết có hậu trong truyện ngắn cùng tên của mình mà lại là một cái chết đầy thảm khốc và bi thương. Cái chết ấy mang bao ý nghĩa sâu sắc và cũng là một mũi tên sắc nhọn chĩa vào rất nhiều người. Chí là một đứa trẻ mồ côi không cha không mẹ, không nhà, không vợ, không con, không người thân thích. Chí lớn lên nhờ sự nuôi nấng của bà con hàng xóm rồi dạt vào nhà Bá Kiến làm thuê kiếm cơm sống qua ngày. Nhưng thật không may cho chàng trai trẻ hiền lành, chịu khó bị bà ba dụ dỗ, lừa gạt rồi đẩy và tù. Không biết cuộc sống tù đày ra sao mà khi mãn hạn, Chí trở về với bao tàn tích ghê rợn, đến ngay cả tính cách của Chí cũng đổi thay. Chí suốt ngày uống rượu. Khi say, hắn lại đi chửi bới cả làng vũ đại, chửi cả đứa nào đã đẻ ra hắn khiến hắn phải sống kiếp người nhục nhã khổ sở như thế này. Chưa hết, hắn còn đi rạch mặt ăn vạ, đòi tiền uống rượu. Cuộc sống cứ thế ngày qua ngày, cả làng Vũ Đại cũng đã quen với cái cảnh một tên say rượu lướt khướt đi ngoài đường chửi bới nên chẳng ai thèm để ý, chỉ có lũ chó chạy quanh sủa ầm ĩ. Thế rồi, cuộc đời Chí thêm một bước ngoặt lớn khi gặp Thị Nở. Dù Thị chỉ là một người đàn bà ế chồng, dở hơi, đã thế lại còn xấu tệ xấu hại, xấu đến mức ma chê quỷ hờn, nhưng chính Thị lại là người mang đến luồng sáng mới cho cuộc đời Chí. Men tình Thị mang đến đã xua tan men rượu bấy lâu nay ngấm sâu trong con người Chí. Bát cháo hành của Thị khiến hắn tỉnh rượu sau một cơn say dài và cảm nhận được mọi thứ xung quanh mình. Hắn bỗng lo lắng cho tương lai. Hắn sợ cô độc, sợ tuổi già. Lòng lương thiện cũng bắt đầu mon men trở về trong tâm hồn Chí. Nhưng chao ôi, Chí tỉnh rượu nhưng Thị đâu có tỉnh táo. Đang yêu đương say đắm mặn nồng, thị lại bỗng nhớ ra mình còn có người bà cô ở đời. Thị phải tạm dừng yêu để về hỏi bà cô đã. Bị cô chửi cho một trận và can ngăn, Thị quay lại dồn hết cơn tức giận lên đầu Chí, khiến Chí bẽ bàng, hụt hẫng và đau khổ. Cái đau khổ ghê gớm của một kẻ thất tình đang yêu say đắm, yêu hết mình, yêu thật lòng khiến Chí trở nên tuyệt vọng vô cùng. Chí cứ ngỡ từ nay mình được trở lại làm người lương thiện, được sống một cuộc sống bình yên, có vợ, và rồi sẽ có con. Hai vợ chồng bảo nhau lo lắng làm ăn chăm con chăm cái. Nhưng mọi thứ đã vụt tắt sau cái níu kéo không thành của Chí dành cho Thị. Thị đã cự tuyệt Chí thật rồi. Đau đớn và xót xa, Chí lại lao đầu vào uống rượu. Nhưng lần này càng uống Chí càng tỉnh. Càng tỉnh lại càng đau. Nỗi khát khao làm người lương thiện của Chí càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chí dắt theo con dao, trong đầu toan tính đi giết chết cả nhà Thị Nở nhưng bước chân lại đi thẳng tới nhà Bá Kiến. Đến nơi, Chí dõng dạc tuyên bố: Tao muốn làm người lương thiện. Nhưng chỉ còn một cách duy nhất, đó là giết chết Bá Kiến rồi cũng tự tử luôn. Cả hai nằm giãy giụa trong vũng máu rồi nhắm mắt lìa đời. Như vậy, Chí đã chết. Con đường dẫn Chí tới cái chết là do bị Thị Nở cự tuyệt. Nhưng đó chỉ là một sự tác động nhẹ trong nguyên nhân sâu xa khiến Chí tự kết liễu cuộc đời mình. Trong tiếng chửi của Chí có sự than trách Thị phũ phàng, nhưng Chí cũng hiểu Thị chỉ là một người đàn bà dở hơi nên Chí không chấp Thị. Chí chỉ buồn vì đến ngay cả việc yêu một người đàn bà dở hơi, Chí cũng không thể làm được. Tại sao vậy? Tại vì Chí giờ đây là một con quỷ dữ ở làng Vũ Đại chứ không phải một anh Chí hiền lành, tốt bụng như ngày Chí còn chưa đi ở tù. Chính vì thế, người bà cô của Thị mới can ngăn Thị không được yêu Chí. Chí tuy say nhưng vẫn đủ tỉnh táo để hiểu hết mọi cơ sự nghiệt ngã của cuộc đời mình. Chí nhận ra mình không còn được ai nhìn nhận là người nữa. Cùng một lúc, Chí bị cự tuyệt cả ba quyền rất căn bản của con người: Thứ nhất là quyền được làm người, thứ hai là quyền được yêu, thứ ba là quyền được làm người lương thiện. Rõ ràng, Chí có thể yêu bất kỳ một ai khác sau khi bị Thị Nở từ chối, nhưng thật đáng buồn là Chí không được ai ngoài Thị công nhận là người, nên dù có yêu ai khác đi nữa, Chí cũng vẫn chỉ nhận lại sự đau đớn, phũ phàng. Về việc làm người lương thiện cũng vậy, đương nhiên Chí muốn là được nhưng ở cái xã hội ấy, người chèn ép người, liệu rằng Chí có thể sống yên ổn với cha con nhà Bá Kiến ác độc kia không? Chí hiểu rõ tất cả bi kịch của cuộc đời mình. Vậy nên, Chí đã mang dao đến thẳng nhà Bá Kiến để giết hắn. Trong xã hội ấy còn rất nhiều người như Chí, bị tha hóa, bị xã hội gò ép rồi đẩy vào bước đường cùng là mất nhân tính, tha hóa đạo đức. Cuối cùng, họ phải chết để tìm lại chính mình. Chết để kết thúc một cuộc đời đầy éo le và bất hạnh. Đồng thời, cái chết ấy cũng chính là tiếng kêu cứu khẩn thiết của những con người đang trong bờ vực thẳm của tội lỗi. Hẳn là cũng có lúc họ giống như Chí, cũng muốn được quay trở lại làm hòa với mọi người, được làm lại cuộc đời. Nhưng một mình họ không thể nào đứng dậy được vì thế lực của xã hội quá lớn. Họ cần có một bàn tay nâng đỡ. Như Thị Nở đã đỡ Chí Phèo dậy. Nhưng đừng ai như Thị, vừa đưa Chí từ vũng bùn của lầm lỗi trở về nơi có ánh sáng và hi vọng, chưa được bao lâu, Thị lại đẩy Chí xuống cái vực sâu thẳm hơn, tuyệt vọng hơn.
Cái chết của Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
1,247
Cái hay cái đẹp trong bài thơ Duyên của Xuân Diệu Hướng dẫn Cái hay cái đẹp trong bài thơ Duyên của Xuân Diệu Xuân Diệu là nhà thi sĩ của tình yêu và tuổi trẻ chính vì thế những sáng tác của ông đã khiến cho biết bao con tim của những người trẻ tuổi chung một nhịp đập một khát vọng tới bùng cháy. Và một trong những nỗi khát khao đó phải nói tới tình yêu đôi lứa. Thành công ở đề tài này, Xuân Diệu đã có bài thơ Duyên vô cùng đặc sắc với những nét chấm phá. Bằng cái hay cái đẹp của bài thơ “ Duyên” tác giả mang tới cho người đọc người nghe những cung bậc của buổi mới quan nhau. Trước hết cái hay cái đẹp của bài thơ Duyên được thể hiện qua hình ảnh của một buổi chiều thu vô cùng ướt át và lãng mạn “Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên. Cây me ríu rít cặp chim chuyền Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến nơi nơi động tiếng huyền. ” Chính cái duyên cái tình yêu một thời của tuổi trẻ ấy đã khiến cho những con người bắt gặp tình yêu đã vội quyến luyến. dưới con mắt của một người đang yêu thì những thứ họ nhìn thấy được đều vô cùng đẹp và đầy cảm xúc biết bao nhiêu. Chính cái duyên mà tình yêu mang lại đã khiến cho thiên nhiên và cảnh vật đều nhuốm một màu yêu thương và đẹp đẽ, mọi thứ đều tràn trề sức sống. chúng ta có thể thấy như hình ảnh cây me thì ríu rít những cặp chim chuyền cành, màu trời kia như ai đổ lên những màu xanh ngọc qua muôn lá. Và âm thanh được tác giả sử dụng chính là tiếng huyền. mùa thu xuất hiện với tiếng huyền. một tiếng huyền khiến cho tâm hồn con người như nhẹ bỗng với mọi thứ, tâm hồn như lâng lâng khó tả và cảm xúc thì bộn bề Cái duyên trong lòng người hay chính là cái duyên của đất trời đã tạo ra cái duyên cho tình yêu đôi lữa. mọi thứ rất dịu ngọt âm thanh bay bổng và có lúc lại ngân dài theo những tiếng động và bước chuyển của thời gian. Tiếp nối những câu thơ của tác giả chúng ta lại bắt gặp những hình ảnh tinh tế tiếp theo như: “Con đường nho nhỏ, gió xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn. Lần đầu rung động nỗi thương yêu” Bằng những tính từ láy tác giả như diễn tả từng cung bậc cảm xúc một cách nhẹ nhàng và cũng hết sức tinh tế. đó chính là con đường nhỏ gió hiu hiu thổi và hoa và nắng như quyện vào nhau tạo nên một khung cảnh thật say đắm lòng người. Con đường đó, ngọn gió đó hoa đó nắng đó hay chính là cái cớ để bày tỏ nỗi lòng thương yêu dấu kín bấy lâu. Cho dù như thế nào thì con người cũng có cái gì đó để làm cho cảm xúc bản thân thăng hoa, và khi nói tới cái yêu thương bộc phát ở trong lòng làm sao người ta không bị tác động bởi ngoại cảnh lãng mạn ấy chứ? “Em bước điềm nhiên không vướng chân, Anh đi lững thững chẳng theo gần, Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu, Anh với em như một cặp vần. ” Trước sự dịu dàng của thiên nhiên mọi thứ thật tinh tế và đẹp đẽ biết bao nhiêu, những thứ mà chúng ta thấy thực chất là tâm lí của những con người đang yêu. Em bước trước anh lững thững theo sau, cố làm ra vẻ vô tâm nhưng thực chất lại là muốn người kia chú ý tới, và câu thơ cuối bài như giải thích rõ” anh em với cặp vần” một hình ảnh đối rất chỉnh rất đẹp Bài thơ duyên của Xuân Diệu với những chất liệu tạo dựng từ cuộc sống đã khiến cho người đọc đặc biệt những đôi lứa đang yêu bắt gặp hình ảnh và cảm xúc của mình trong đó. Bởi vậy mà người ta mới cho rằng Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu và tuổi trẻ. Thơ của ông thấm đẫm chữ duyên mà người đời ban tặng. Nguồn: Bài văn hay
Cái hay cái đẹp trong bài thơ Duyên của Xuân Diệu
735
Đề bài: Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội cùng những tìm tòi đổi mới trong nghệ thuật. Bài làm Tản Đà tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỹ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”. Từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1939, văn đàn Việt Nam không có một nhà thơ nào nổi tiếng và được yêu mến như Tản Đà. Kể cả khi phong trào thơ mới xảy ra, thì Tản Đà, sau khi “phái thơ mới” bị đả kích kịch liệt lại được chính những người đả kích mời về ngồi chiếu trên. Trong cuốn Thi Nhân Việt Nam, cuốn sách bình luận thơ mới rất giá trị, Hoài Thanh và Hoài Chân đã đặt bài tưởng niệm Tản Đà lên những trang đầu, với lời lẽ tôn kính. Những năm 20 của thế kỷ XX, Tản Đà là thi bá trên thi đàn Việt Nam. Tài hoa, lãng mạn, thoát ly và ngông là phong cách nghệ thuật của thi sĩ Tản Đà. Trong bài Thú ăn chơi, thi sĩ viết: “Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có, cửa nhà thời không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông, Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly, Túi thơ đeo khắp ba kỳ, Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng…” Muốn làm thằng Cuội là bài thơ nằm trong mạch cảm hứng thoát li đó của Tản Đà, cùng với những bài Trời nắng, Tống biệt, Hầu trời (thơ)… và những Giấc mộng lớn, Giấc mộng con (mà Xuân Diệu gọi là “du kí”)… Xuất hiện trong tập Khối tình con năm 1916, có thề nói Muốn làm thằng Cuội là bài mở đầu cho lối thơ phóng túng, đầy ý tưởng lãng mạn cua Tản Đà. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội là bài thơ kiệt tác, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật “ngông” của Tản Đà thi sĩ: Trần thế em nay chán nửa rồi. Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi Có bầu có bạn can chi tủi, Cùng gió, cùng mây thế mới vui. Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám, Tựa nhau trông xuống thế gian cười.” Nói về “ngông”, theo cuốn “Tản Đà thơ và đời” (NXB Văn học, 1995, tr 100) cho rằng: “Ngông trước hết là một tính cách. Biểu hiện của tính cách đó là những hành động khác đời gây nên sự chú ý của số đông, những hành động ngông thường mang tính chất ngang tàng, phóng túng, đùa cợt.Tính cách ngông biểu hiện một mâu thuẫn với số đông bình thường, nó tách ra, nổi lên.Tính cách ngông vừa mang tính bi kịch lại vừa mang tính hài kịch và nó là sự phủ định thực tại, chỉ trích thực tại bằng sự giễu cợt và khinh thường. Ngông cũng là một cách sống, cách sống ấy vượt ra ngoài khuôn khổ của xã hội đương thời, trở thành một thách thức với xã hội đó.Cách sống ấy mang tính chất chủ quan và coi thường dư luận xã hội. Ngông còn là một hiện tượng tư tưởng: đó là tư tưởng bất mãn, bất đắc chí, bất cần đời, khinh thế ngạo vật. Một con người không có bản lĩnh không thể ngông, không có tâm sự không thể ngông, không đối kháng và phủ định thực tại trong những khía cạnh nào đó cũng không thể ngông”. Như vậy, ta có thể hiểu “ngông” thể hiện thái độ, phản ứng của người nghệ sĩ tài hoa có cốt cách, tâm hồn khác biệt với người thường, không chấp nhận sự đơn điệu mà luôn phá cách, sống phóng túng, tự do khẳng định cá tính và bản lĩnh của mình. Vậy, “ngông” trong bài thơ Muốn làm thằng cuội được thể hiện như thế nào? Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu buồn lắm chị Hằng ơi. Một tiếng kêu đầy ắp tâm sự như Xuân Diệu từng nhận xét. Trần thế em nay chán nửa rồi.” Nỗi buồn đến mức buồn lắm trong cô đơn chỉ còn biết gọi chị Hằng để giãi bày tâm sự. Ba tiếng chị Hằng ơi rất biểu cảm, ý vị làm cho giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ đầy ắp tâm sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết: Đời đáng chán hay không đảng chán, nay thì đã chán nửa rồi. Bài thơ in trong tập Khối tình con xuất bản năm 1916, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát tù hãm. Vì công danh dở dang: Tài cao, phận thấp, chí khí uất. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “Lệ ai giàn giụa với giang san”. Đó là nỗi buồn của một thế hệ trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu: “Nửa ngòi bút ngỗng bao sinh lụy Một mối tơ tằm mấy đoạn vương. (Đề khối tình con thứ nhất) Một chữ xin rất chân thành thiết tha, như nài nỉ: Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi.” Hai câu thực đã làm rõ đề bài Muốn làm thằng Cuội ở nơi cung trồng, cung quế. Câu hỏi tu từ gợi nhiều man mác bâng khuâng. Cành đa đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây cao xanh để chị nhắc lên chơi cung quế. Đó là giấc mộng thoát ly. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định. “Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.” (Nhớ mộng) Có lên được cung quế mới đỡ tủi, mới thỏa thích, thế mới vui. Có chị Hằng làm bầu bạn. Có gió, có mây cùng chơi với. Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được vận dụng sáng tạo, có cả tiểu đối và bình đối. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn, đọc lên nghe rất thú vị: Cùng gió! cùng mây, / thế mới vui.” Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn Tản Đà thi sĩ (1939) đã nhận xét: Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với những cảnh tượng không rõ rệt những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mỹ…. Cái ngông, cái phong tình của thi sĩ đã dâng lên cực điểm. Đêm rằm tháng Tám, là đêm trung thu đẹp nhất. Chẳng còn buồn vì cô đơn nữa, thi sĩ được cùng chị Hằng tựa nhau trông xuống thế gian cười. Cái cử chỉ tựa nhau và nụ cười ấy cũng là một giấc mộng đẹp. Thoáng một chút mỉa mai (cho trần thế), nhưng đầy thú vị vì được thoát li, được thỏa thích nơi cung quế: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám: “Tựa nhau trông xuống thế gian, cười” Cái kết thoát ly một cách nói phong tình, tài hoa. Có đọc bài thơ Hầu trời mới thấy được, cảm được cái hay, cái thú vị của bài Muốn làm thằng Cuội. Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe giọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bảy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen: “Văn đã giàu thay, lại lắm lối Trời nghe Trời cũng bật buồn cười Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: Anh gánh lên đây bán chợ Trời!” (Hầu Trời) Bài Muốn làm thằng Cuội là một bài thơ cổ thi đề độc đáo, thú vị. Giọng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng phong phú, kỳ diệu. Chất mộng ảo, màu sắc lãng mạn thấm đẫm bài thơ. Tuy có nói đến buồn, nói đến chán, có nói đến thoát ly, có thấm vị phong tình… nhưng toàn bài thơ toát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa, khao khát được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn, để mãi mãi giữ trọn thiên lương cao đẹp. Giá trị đích thực của bài thơ Muốn làm thằng Cuội là ở chỗ ấy…
Cái Ngông Của Tản Đà Trong Bài Thơ Muốn Làm Thằng Cuội _ Văn Mẫu
1,529
Cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám Hướng dẫn Cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám Nếu ví văn đàn văn học Việt Nam là vườn hoa rực rỡ hương sắc thì một trong những bông hoa rực rỡ nhất chính là văn học dân gian. Khác với văn học thành văn, văn học bác học, văn học dân gian không cần đến những “Khuôn vàng thước ngọc”, những điển tích, điển cố cầu kì, xa hoa mà chỉ giản dị, gần gũi như chính những tác giả dân gian, những người nông dân lao động sáng tạo nên chúng. Thể hiện đầy đủ nhất thế giới quan, nhân sinh quan của ông cha ta “ngày xưa” chính là thể loại truyện cổ tích. Thuộc thể loại tự sự dân gian truyện cổ tích phản ánh đầy đủ đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của ông cha ta “ngày xưa”. Đặc biệt là ước mơ cháy bỏng về một thế giới công bằng, văn minh cùng triết lí “ở hiền gặp hiền, ác giả ác báo”. Thể hiện nổi bật nhất suy nghĩ về cái thiện, cái ác của nhân dân lao động chính là truyện Tấm Cám. Truyện cổ tích Tấm Cám thuộc vào loại truyện đời sống sinh hoạt vẫn mang dấu ấn của những yếu tố hoang đường, kỳ ảo nhưng không còn đậm nét mà đi sâu, tập trung phản ánh đời sống sinh hoạt hằng ngày, những tâm tư, suy nghĩ của nhân dân lao động Việt xưa. Nằm trong motip “mẻ ghẻ, con chồng”, câu chuyện gia đình cô Tấm, cô Cám chính là câu chuyện thu nhỏ của xã hội phong kiến đương thời. Là suy nghĩ sâu sắc của ông cha ta về “cái thiện”, “cái ác”, về những mâu thuẫn tồn tại lâu đời trong xã hội. Truyện kể rằng: Ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có gia đình hai cha con, người con tên là Tấm, mẹ Tấm mất sớm, người cha liền cưới một bà vợ hai sinh ra đứa con gái đặt tên là Cám, ít lâu sau thì cha Tấm cũng mất Tấm một mình sống chung với mẹ con Cám”. Từ đây, cuộc sống của Tấm là một chuỗi khó khăn, vất vả, bị áp bức, chịu bất công. Tấm thì vất vả ngày đêm làm hết những công việc trong nhà từ lau nhà, nấu cơm đến chăn trâu, cắt cỏ,… ngược lại Cám thì cả ngày chỉ lo ăn diện, quần áo là lượt, hái hoa, bắt bướm rong chơi. Làm việc vất vả là thế chẳng những không được khen ngợi Tấm còn thường xuyên bị dì ghẻ mắng chửi, đánh đập. Trong gia đình Tấm là người con chồng không được yêu thương, không có quyền hành, bị đánh, bị mắng. Tấm chính là hiện thân của người nông dân lao động xưa, hiền lành, chịu thương, chịu khó, không có quyền hành trong xã hội. Còn mẹ con Cám là đại diện của tầng lớp thống trị, có địa vị, có quyền hành, mưu mô, độc ác, áp bức những con người nhỏ bé, lương thiện. Hay nói cách khác Tấm chính là hiện thân của “cái thiện”, mẹ con Cám là đại diện của “cái ác”. Tấm là một cô gái không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết, chăm chỉ, lương thiện, ăn nói nhẹ nhàng, lễ phép được nhân dân trong làng quý mến. Ngược lại, Cám không chỉ xấu người mà xấu cả nết, vừa lười làm, lại ham chơi. Tấm xinh đẹp, khéo léo bao nhiêu, Cám lại xấu xí, hậu đậu bấy nhiêu. Như vậy, chỉ cần qua việc miêu tả ngoại hình, tính cách của Tấm và Cám cũng có thể thấy rõ suy nghĩ ưu ái, yêu thương đối lập mà nhân dân lao động dành cho cái thiện và cái ác. Các tác giả dân gian ưu ái cô Tấm bao nhiêu thì ghé bỏ cô Cám bấy nhiêu. “Chị Tấm ơi chị Tấm Đầu chị lấm Chị hụp cho sâu Kẻo về mẹ mắng”, vốn nhẹ dạ, cả tin và sợ dì Tấm vội vã đi gội đầu theo lời Cám mách. Nàng đâu biết, Cám mải ham vui, chẳng bắt nổi một con tôm, con tép nhưng lại tham lam tấm yếm đào đã lừa chị, cướp đi thành quả lao động, cướp đi phần thưởng vốn dĩ thuộc về Tấm. Trước sự việc như thế Tấm chỉ khóc bởi nàng biết dù có giải thích bao nhiêu, như thế nào thì dì ghẻ cũng không nghe và tấm yếm đào vẫn thuộc về Cám. Thật vậy, trong xã hội phong kiến, với tư tưởng phân biệt giàu, nghèo, phân chia giai cấp sâu sắc. Trong xã hội giai cấp vua chúa, quan lại, quý tộc là những “thiên tử”, những đứa con trời muốn gì được nấy thì việc chúng tước đoạt công sức, thành quả lao động của nhân dân là một chuyện hết sức bình thường, không có gì lạ lẫm. Đối diện với sự bất công đó Tấm – người dân lao động chỉ có thể bấu víu, cầu mong sự giúp đỡ của những “bà tiên”, “ông bụt” tầng lớp siêu nhiên với những phép mầu kỳ diệu giúp đỡ, thay đổi số phận của mình, thay đổi những áp bức, bất công trong xã hội đương thời. Ước mơ cháy bỏng thay đổi số phận, thay đổi cuộc sống các tác giả dân gian đã để “ông bụt” trao vào tay Tấm một “phần thưởng” xứng đáng. Một cuộc hôn nhân thay đổi số phận, cuộc hôn nhân giữa người giàu với người nghèo, giữa tầng lớp thống trị với bị trị. Vì không muốn cho Tấm đi dự hội “Dì ghẻ trộn một đấu gạo với một đấu thóc bắt ở nhà nhặt cho xong mới được đi xem hội”. Nhờ Bụt giúp đỡ Tấm không những được đi hội mà còn có quần áo đẹp và chiến thắng trong cuộc “thử giày kém vợ” của nhà vua. Từ một người con riêng chịu nhiều áp bức, bóc lột, bất công Tấm đã thy đổi số phận trở thành bậc “mẫu nghi thiên hạ”, được hưởng giàu sang, hạnh phúc tột đỉnh. Từ thân phận của một người bị trị thành thân phận của một người thống trị. Đấy cũng có lẽ là ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động về một ngày được thay đổi số phận, được hưởng vui vẻ, hạnh phúc trọn vẹn. Để giành lại hạnh phúc của mình Tấm đã hóa thân bốn lần. Lần đầu tiên thành chim vàng anh ngày ngày bầu bạn vui đùa cùng nhà vua, cám thấy vua cả ngày chỉ vui đùa, bầu bạn với chim thì ngay lập tức giết vàng anh đổ lông ra góc vườn. Từ đống lông chim lại mọc lên hai cây xoan đào tươi tốt, Cám chặt cây làm khung cửu. Chỉ muốn làm niền vui nhỏ, làm bóng mát bên cạnh người chồng yêu quý nhưng “năm lần, bảy lượt” bị mẹ con Cám hãm hại Tấm dường như đã trở nên mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn “lúc ngồi dệt vải Cám nghe khung cửu kêu: Cót ca cót két/ Lấy tranh chồng chị/ Chị khoét mắt ra”. Sợ hãi Cám vội đốt khung cửu đổ tro ra xa hoàng cung. Từ đống tro mọc lên một cây thị xanh tốt, chỉ có duy nhất một quả to vàng, thơm ngát. Ngày nọ có bà lão đi qua nhìn thị thấy thích lắm bèn nói: “Thị ơi thị rơi bị bà/ Bà để bà ngửi/ Chứ bà không ăn” quả thị ngay lập tức rơi vào bị bà. Tấm từ trong quả thị bước ra ngày ngày lo cơm nước, nhà cửa sống với bà lão như hai mẹ con. Một ngày nọ, vua đi ngang nhà bà lão thấy trầu têm cánh phượng giống hệt Tấm têm ngày xưa vội vàng xin gặp mặt. Hai vợ chồng đoàn viên trong hạnh phúc. Tấm trở lại cung vua, trở lại vị trí vốn thuộc về mình, trừng trị mẹ con Cám đích đáng. Và hưởng cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn. Như vậy, dù phải chịu bao nhiêu khó khăn, thử thách, bị mẹ con Cám hết lần này đến lần khác hãm hãi, giết chết Tấm với tấm lòng lương thiện, hiền lành cuối cũng đã tự mình giành lại được hạnh phúc, sống cuộc sống vui vẻ mãi mãi. Bằng việc sử dụng những câu chuyện, tình tiết có thật trong cuộc sống kết hợp với những yếu tố siêu nhiên, kỳ ảo cộng với nhịp nhàng trong sử dụng nững motip hay, hấp dẫn như motip hóa thân, motip hôn nhân giàu – nghèo,… truyện cổ tích Tấm Cám không chỉ thành công trong việc gây hứng thú, hấp dẫn nơi người đọc người nghe mà còn thể hiện rõ nét tâm tư, suy nghĩ, nguyện vọng của nhân dân lao động. Đối với các tác giả dân gian cái thiện luôn là cái đẹp nhất, hoàn mỹ nhất, cái ác luôn là những thứ xấu xí nhất. Sống trong xã hội còn đầy rẫy những áp bức, bất công ấy họ luôn luôn mong muốn có được một cuộc sống công bằng, văm minh, tốt đẹp hơn. Cuộc sống mà ở đó cái thiện sẽ thắng cái cái ác, những người tốt, người lương thiện sẽ được hưởng hạnh phúc. Thể hiện rõ triết lý ngàn đời của nhân dân ta “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Trong đời sống xã hội luôn tồn tại song song hai thái cực thiện và ác. Đối với các tác giả dân gian, tác giả của những câu chuyện cổ tích cái thiện là cái thiện đến tận cùng, cái ác cũng là cái ác đến tận cùng không có sựu pha lẫn, đan xen, không có những nhân vật trung lưu nằm giữa ranh giới thiện và ác. Mọi nhân vật đều đảm nhận một chức năng nhất định” cô Tấm duy trì, khẳng định cái thiện, trừng phạt cái ác; ông bụt giúp đỡ, bảo vệ cái thiện; mẹ con dì ghẻ thể hiện cái ác,… mọi diến biến, tình tiết câu chuyện đều hướng đến phục vụ một mục đích cuối cùng khẳng định triết lý muôn đời không thể thay đổi “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo”. Không ai có thể xác định chính xác thời gian ra đời của truyện cổ tích Tấm Cám. Chỉ biết nó đã có từ rất lâu, từ hàng trăm, hàng ngàn năm trước, thậm chí là lâu hơn nữa nhưng cho đến tận ngày nay mọi người dân Việt Nam vẫn thuộc lòng câu chuyện về cô Tấm. Đủ để thấy sức hút mạnh mẽ, sâu sắc của nó. Sức hấp dẫn ấy không chỉ đến từ những chi tiết hấp dẫn, thu hút, màu sắc siêu nhiên, kỳ ảo mà còn đến từ chính giá trị nhân đạo, ý nghĩa nhân văn, sâu sắc khẳng định triết lý ngàn đời “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” đồng thể hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân về một xã hội công bằng, tốt đẹp hơn.
Cái thiện và cái ác trong truyện Tấm Cám
1,885
Cái thú không mất tiền (Về bài Đi bộ ngao du – trích Ê-min hay Về giáo dục của G.Ru-xô) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Cái thú không mất tiền Đi bộ ngao du như một thiên phiếm luận, dưới hình thức “nói chơi”. Thiên phiếm luận ấy đặt trong khuôn khổ một cuốn tiểu thuyết nên có nét đặc thù. Tác dụng của nó không ngoài mục đích làm cho nhân vật có được một chút thư giãn, thảnh thơi cả đầu óc và tâm hồn. Tuy chỉ là nói chơi mà không vô bổ. Đoạn văn chứng minh cho lợi ích của việc đi bộ. Ở vào thời điểm của thế kỉ XVIII, đây là một phát hiện bất ngờ. Cách đi (đi bộ) của người chân đất, cách đi hành xác nhọc nhằn lại trở thành một thú chơi hơn hẳn các phương tiện của văn minh (đi ngựa) hay bất cứ của các thành tựu khoa học nào (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ,…). Câu hỏi ở đây là cách nhà văn nói thật hay nói chơi, với người đọc cứ lởn vởn trong đầu. Cần tìm ra đáp số, phải theo dõi bài văn. Bài văn ấy lại như một cuộc đàm đạo, nghĩa là đối thoại với người nghe một cách từ tốn, hồn nhiên, không có gì nặng nề, áp đặt. Mở đầu là một phát hiện bất ngờ và kháị quát, rồi sau đó là những luận điểm chứng minh, mà chứng minh ấy lại nằm trong một hệ thống nói chơi nửa thực nửa đùa. Chính từ giọng điệu ấy đã tạo ra sức thuyết phục độc đáo không tìm thấy ở một tác phẩm nào trong thứ vãn chương được gọi là nghiêm túc cả. Thì không đúng như thế hay sao? 1. Thứ nhất: đi bộ ngao du là cách mà con người được giải phóng, được tự do. Từ một khái niệm về phương diện thông thường của vật chất, của sinh hoạt hằng ngày mà người viết đã nâng lên một cái đích cao siêu của tinh thần, tư tưởng. Nó là một tiếng reo thú vị biết bao! Nhà văn giống như người tìm ra một chân lí bất ngờ mà không mấy ai quan tâm, để ý. Một chữ “ta” chủ thể, chủ thể của ý thích, chủ thể của hành động, chủ thể của bản thân mình, chẳng phụ thuộc vào ai. Đoạn văn diễn tả được cái hứng khởi tràn đầy trong bối cảnh tự do khi con người được “cởi trói” khỏi những ràng buộc với xung quanh. “Cái tôi” của nhà văn lúc này là cả một thế giới tự do, nó được tháo cũi sổ lồng. Này nhé: về ý thích, ta “ưa”, ta muốn “nhiều ít thế nào thì tuyvề hành động cũng tha hồ như thế. Nào “Ta quay sang phải, sang trái, ta xem xét tất cả những gì thấy hay hay, ta dừng lại ở tất cả mọi khía cạnh”. Câu văn, rồi cả đoạn văn say người chính là ở tư thế tự do mà con người ta có được. Nó là nhận thức, nó cũng bay lượn như một nỗi niềm lần đầu được chắp cánh bởi tự do. Cái duy nhất lúc này mà người viết phụ thuộc là chính bản thân, một bản thân không gì còn vướng cản để tha hồ “hưởng thụ tất cấ sự tự do mà con người có thể hưởng thụ”. Cách lập luận của đoạn văn vừa là song hành vừa là móc xích. Song hành trong cách bộc lộ một chủ thể tự do, móc xích dưới hình thức câu hỏi và tự mình giải đáp. Vừa trần thuật giả định trong một câu chưa trọn ý “Nếu tôi mệt…” đã lập tức có một “cái tôi” khác trả lời – trong quan hệ hô, ứng vang lên: “Nhưng Ê-min có mệt gì lắm đâu ; em to khoẻ ; và sao em có thể mệt được cơ chứ?” Sự phân thân tách mình ra làm hai con người khác kết hợp với sự hội nhập (hỏi và đáp cũng chỉ là con người ấy) đã làm nên sắc thái đa dạng, sinh động của lời văn, không rơi vào tình thế phát ngôn một chiều, đơn điệu. Nó hấp dẫn được người đọc, người nghe. Nó như một tiếng reo thầm khi nhu cầu cần giãi bày, chia sẻ. 3. Đi bộ ngao du là cách tốt nhất để tăng cường sức khoẻ. Cách trình bày luận điểm này độc đáo ở chỗ: tác giả đặt nó trong ý nghĩa kép của cuộc đi bộ ngao du. Việc tăng cường sức khoẻ, do cách đặt vấn đề ấy như một tác dụng phụ, tác dụng bổ sung, một công đôi việc. Câu văn vừa như một chuyển ý vừa như nêu vấn đề: “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao du thú vị ấy, không kể sức khoẻ được tăng cường, tính tình trở nên vui vẻ”. Câu văn tươi tắn như trạng thái cải lão hoàn đồng. Nhờ đi bộ ngao du mà con người vốn già đi, nay trẻ lại cùng gương mặt tươi cười đến mức chính người trong cuộc không còn nhận ra mình nữa. Đi bộ ngao du là một liều thuốc bổ, một loại tiên dược thần kì mà nào có tốn kém gì đâu? Trong việc trình bày luận điểm thứ ba này, nhà văn không tự thể nghiệm mình trong các cuộc đi bộ ngao du mà đứng ở một góc nhìn khách quan, quan sát. Người viết so sánh hai hình thức ngao du: đi xe và đi bộ. Trong thời đại khoa học văn minh, tất nhiên đi xe tốt hơn đi bộ vì nó nhanh hơn, đỡ vất vả hơn. Nhưng rốt cuộc cái giá của thành tựu khoa học kĩ thuật văn minh cũng chỉ cỏ thế. Còn đi bộ (trong trường hợp ngao du, nghĩa là không cần tốc độ) thì có ích cho tính tình, cơ thể hơn nhiều. Đây là hai thái cực trái ngược nhau: “Tôi thường thấy những kẻ ngồi trong các cỗ xe tốt chạy rất êm nhưng mơ màng, buồn bã, cáu kỉnh hoặc đau khổ ; còn những người đi bộ lại luôn luôn vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả”. Hai trạng thái ấy là sự vận động hay không vận động tạo ra, không có gì là lạ lùng khó hiểu cả. Nếu sức thuyết phục của đoạn văn ở góc độ quan sát nói trên được dễ dàng thừa nhận thì đoạn viết tiếp theo bằng một giọng điệu hân hoan, dù là chủ quan, nó cũng có rất nhiều khi năng được chia sẻ, đồng cảm. Những câu văn ngắn giống như những bước chân đi bộ, bước nọ nối tiếp bước kia thật thanh thản, cởi mở, tươi cười: “Ta hân hoan biết bao khi về gần đến nhà! Một bữa cơm đạm bạc mà sao có vẻ ngon lành thế! Ta thích thú biết bao khi lại ngồi vàổ bàn ăn! Ta ngủ ngon giấc biết bao trong một cái giường tồi tàn”. Điều kiện ăn ngủ tuy thật đơn sơ, thậm chí còn thiếu thốn của đời sống vật chất bình thường không ngăn cản được những khoan khoái tự thân, ở cơ thể và tâm hồn mà cuộc đi bộ ngao du đem lại. Cuộc đời ta được nối tiếp nhau bằng những cuộc đi bộ ngao du như thế chắc sẽ trẻ mãi không già. Thông qua một bài văn được viết theo lối văn nhật dụng đời thường, ta thấy hiện ra một con người có văn hoá. Ấy là một Ru-xô giản dị, quý trọng tự do và yêu mến thiên nhiên. Nhưng khi gắn bài văn vào hoàn cảnh đời tư của tác giả không nên chỉ nhấn mạnh một chiều, chẳng hạn, khi còn thơ ấu, ông thường bị chủ xưởng chửi mắng đánh đập,… nên khao khát tự do, hoặc cũng từ nhỏ vì không được học hành nên ông khao khát kiến thức. Nếu theo cái đà lập luận đó thì ông thích tăng cường thể lực vì từ bé đã bệnh tật, ốm yếu hay sao? Thêm nữa, bản thân việc đi bộ ngao du vừa có ý nghĩa khách quan của chính nó (không loại trừ một ai, ở bất cứ đẳng cấp xã hội nào) vừa có ý nghĩa chủ quan đối với từng con người cụ thể. Và như thế, lấy tiêu chí chủ quan mà xem xét vấn đề rõ ràng là khiên cưỡng, không nên. Ngoài vấn đề nêu trên, cách sử dụng đại từ nhân xưng là “ta” và “tôi” chẳng qua cũng chỉ là thay đổi cách xưng hô, làm cho diễn đạt thêm phần linh hoạt, sinh động bằng việc thay đổi cách nhìn. Vẫn chỉ là một “cái tôi” khi tách ra, lúc nhập lại với người đọc, người nghe như một người tri kỉ đồng hành. Văn nghị luận mà giống với kể chuyện, gần gũi với mọi người chính là vì thế.
Cái thú không mất tiền (Về bài Đi bộ ngao du – trích Ê-min hay Về giáo dục của G.Ru-xô) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,540
Câu chuyện nâng niu từng hạt giống Hướng dẫn Bài tập làm văn câu chuyện nâng niu từng hạt giống lớp 3 bao gồm hướng dẫn làm bài câu chuyện nâng niu từng hạt giống và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh làm tốt bài văn câu chuyện nâng niu từng hạt giống. Hướng dẫn làm bài câu chuyện nâng niu từng hạt giống Để kể lại câu chuyện, em cần nắm được nội dung câu chuyện, dựa vào các câu hỏi gợi ý sau: – Viện nghiên cứu của ông Của nhận được quà gì? (Mười hạt lúa giống quý) – Trời rét đậm, ông phải làm gì để bảo vệ giống lúa ấy? – Kết quả ra sao? Bài văn mẫu câu chuyện nâng niu từng hạt giống Câu chuyện nâng niu từng hạt giống – Bài 1 Viện nghiên cứu của ông Lương Định Của bất ngờ nhận được một món quà do một người bạn của ông gửi tặng. Đó là mười hạt giống lúa quý. Đang lúc trời rét đậm kéo dài, ông Của chia mười hạt giống lúa ra làm hai. Một nửa gieo ở phòng thí nghiệm, còn một nửa ông đem về, dùng nước ấm để ngâm, rồi gói vào khăn. Tối tối, ông ủ vào trong người để nhờ nhiệt độ cơ thể giúp hạt giống nảy mầm. Quả nhiên sau đợt rét, chỉ có năm hạt giống ủ trong người là nảy mầm xanh tốt. Ông là một nhà khoa học đã tạo ra được nhiều giống lúa quý cho nền nông nghiệp Việt Nam. Câu chuyện nâng niu từng hạt giống – Bài 2 Ông Lương Định Của là một nhà khoa học có công tạo ra nhiều giống lúa mới. Một lẩn, một người bạn nước ngoài gửi cho viện nghiên cứu của ông mười hạt giống quý. Thời tiết lúc đó đang rét đậm. Sợ rằng những hạt giống này khi nảy mẩm ra sẽ chếí rét nên ông chia chúng làm hai phẩn. Năm hạt ông đem gieo trong phòng thí nghiệm. Năm hạt kia ông ngâm nước ấm, gói vào khăn, tối tối đem ủ trong người, trùm chăn ngủ để hơi ấm toả ra làm cho hạt thóc nảy mẩm. Sau đợt rét kéo dài, những hạt gieo ở phòng thí nghiệm nảy mẩm rồi chết hết, chỉ còn năm hạt được ông Của ủ trong người là giữ được mầm xanh. Câu chuyện nâng niu từng hạt giống – Bài 3 Ông Lương Định Của một nhà khoa học nổi tiếng ở nước ta và thế giới. Viện nghiên cứu của ông có lần nhận được món quà mười hạt thóc giống do một người bạn nước ngoài gửi tặng. Lúc ấy, trời đang rét đậm kéo dài. Để cứu mấy hạt thóc giống, ông đem chia ra làm hai, một nửa gieo trong phòng thí nghiệm, một nửa ông ngậm nước ấm rồi lấy khăn gói cẩn thận. Tối đi ngủ, ông đem theo mình, trùm chăn kín để hơi ấm của cơ thể làm cho thóc nảy mầm. Sau đợt rét ấy, chỉ có năm hạt giống ông luôn đem theo trong mình là nảy mầm xanh tốt. Trên đây là bài tập làm văn câu chuyện nâng niu từng hạt giống, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Câu chuyện nâng niu từng hạt giống
552
Câu nói của M. Go-rơ-ki: Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống. Gợi cho em suy nghĩ gì? Hướng dẫn Sách đã có mặt trong cuộc sống của con người từ rất xa xưa. Ban đầu sách được làm từ các thanh tre, trúc, nứa gỗ…, sang thế kỉ XV sách mới được làm ra từ giấy. Trong cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài, con người đã có vai trò quan trọng trong đời sống nhân loại. Chính vì thế, Mác-xim Goóc- ki đã nói: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức. Chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vậy sách là gì? Theo A.Ghéc- xen (quan niệm ngày xưa): Sách là di huấn tinh thần của thế này đối với thế hệ khác: đó là lời khuyên của người già sắp từ giã cõi đời đối với người trẻ mới bước vào cuộc sống…, Nhưng trong sách không chỉ có quá khứ. Sách còn là văn kiện giúp ta làm chủ hiện tại, nắm lấy tất cả mọi chân lí và sức mạnh được tìm ra và chọn lọc qua nhiều đau khổ, đôi khi nhuốm đầy mồ hôi và máu, sách báo là cương lĩnh của tương lai. Theo quan điểm ngày nay: sách là sản phẩm tinh thần phi vật thể, là kho báu trí tuệ của nhân loại từ xưa đến nay. Còn kiến thức là gì? Kiến thức là kĩ năng, kĩ xảo, là những hiểu biết của con người trong cuộc sống. Khi chúng ta muốn giải một bài văn thì chúng ta cần có một kĩ năng giải bài văn và cách viết bài văn ấy. Con đường sống là con đường phát triển trí tuệ. Theo M.I Xa-cốp-xki, sách là nguồn kiến thức của con người, do đó cũng là nguồn sức mạnh của con người. Vì vậy, sách và kiến thức có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Sách có một tầm quan trọng trong đời sống của con người. Sách là công cụ, là phương tiện để giao tiếp với nhau. Từ xa xưa, con người đã có những phát minh vĩ đại trong khoa học kĩ thuật, những tác phẩm văn học tuyệt vời, những ý kiến và những câu hỏi chưa được thống nhất và giải đáp. Nhờ sách mà con tìm ra sự thật, tìm ra được chân lí đúng đắn cho nhân loại. Sách là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Sách như nhà sử học nhỏ nhắn ghi chép lại từng quá trình lịch sử phát triển của loài người một cách đúng đắn nhất, chi tiết nhất giúp cho con người ngày nay có thể hiểu được lịch sử phát triển của đất nước, tạo nên một niềm tự hào dân tộc. Sách là luồng thông tin vượt thời gian và không gian. Nó mở ra cho con người thấy những bí mật và quy luật của thiên nhiên. Sách giúp chúng ta thấu hiểu những bí mật và quy luật thiên nhiên. Sách giúp chúng ta thấu hiểu những quy luật đó để trở thành người chủ trái đất; người cải tạo trái đất và người sáng tạo một thế giới mới tốt đẹp hơn. Sách cung cấp kiến thức cho con người về mọi mặt: tự nhiên, xã hội, giúp con người hiểu biết rộng hơn, giúp con người tồn tại được trong cuộc sống hiện đại. Sách là sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra. Tất cả những cái tốt đẹp nhất, quý báu nhất, thông minh nhất và kì diệu nhất đều chứa đựng trong quyển sách. Sách như màn ảnh nhỏ đưa con người đi du lịch trên khắp thế giới. Ai yêu mến sách sẽ không bao giờ cảm thấy thiếu người bạn trung thành, một người bạn đường trong mọi thành công trong mọi việc làm của mình. Sách là người khuyên bảo hữu ích, người đồng chí vui vẻ, người an ủi chân tinh. Khi đọc, khi nghiên cứu, khi suy nghĩ, chúng ta có thể giải trí một cách lành mạnh, trong sạch: có thể sử dụng tốt thời gian rãnh rỗi vào bất cứ lúc nào và trong mọi hoàn cảnh. Sách không những mở rộng được tầm nhìn và làm phong phú hiểu biết của chúng ta trong suốt cuộc đời, sách đã và đang là người giúp đỡ, là người thầy, người bạn tâm tình của chúng ta. Đứng sau “ Thuế máu” là một Hồ Chí Minh – một người thầy vĩ đại của văn học, của chính trị, của ngoại giao. Đứng sau “Đi bộ ngao du” là một Rút-xô – một bậc thầy của giáo dục… Chúng ta hãy học cách tôn trọng những cuốn sách, chúng ta hãy nhớ rằng sách do con người tạo ra, vì vậy chúng ta tôn trọng sách cũng là tôn trọng con người. Chúng ta yêu sách nhưng không mù quáng như Đôn-ki-hô-tê trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Xéc-van-tex. Chúng ta cũng phải biết lựa chọn sách tốt, tránh xa những sách có hại. Theo Đề-các: “Đọc những cuốn sách tốt…hơn nữa, đấy lại là các cuộc chuyện trò uyên bác mà trong đó. Bài viết số 6_ Câu nói của M. Go- rơ -ki:” Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì? 20:09 – 08/03/2014 Uchiha Sakura Chưa có chủ đề Nếu ví tri thức nhân loại như đại dương mênh mông thì thì sự hiểu biết của chúng ta chỉ là muối bỏ bể. Trên chuyến hành trình đi tìm biển kiến thức vô tận, con người đã dần lớn lên để từ một cá thể nhỏ bé mà tạo nên tiếng nói riêng, phong cách riêng. Sách chính là phương tiện đưa ta đến với nguồn kiến thức vô tận, mở ra môt cánh cửa kì diệu. Chính vì vậy, khi nhận định về tầm quan trọng của sách, M. Go-rơ-ki đã nói:” Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống.” Con người yêu sách, nuôi dưỡng “con đường sống” để khẳng định rằng mình tuy là một hạt muối nhỏ bé nhưng góp phần quan trọng trong việc hình thành nên đại dương bao la. vậy sách là gì? Sách là di huấn tinh thần của thế hệ này đối với thế hệ khác, lời khuyên của người già sắp từ giã cõi đời với người trẻ bước vào tương lai. Sách là sản phẩm tinh thần phi vật thể, kho báu trí tuệ của nhân loại. Sách đã trường tồn với thời gian như một nhân vật quan trọng mãi không bao giờ khuất. Mỗi sớm mai thức giấc, bạn có thấy rằng thế giới quanh ta có biết bao điều kì lạ. Sau cơn mưa, tại sao bầu trời lại xanh ngắt với lung linh bảy sắc cầu vồng? Hiện tượng sấm sét đáng sợ là do đâu? Vì sao nhưng ngôi sao chỉ có thể thắp sáng vào ban đêm?… Tất cả đều mang tầm vóc từ vĩ mô như vũ trụ đến vi mô như tâm hồn con nghười, đều có ở sách. Vì vậy, chúng ta hãy yêu sách. Hãy bảo quản, trân trọng, nâng niu như một người bạn tri kĩ, phải phát huy giá trị mà sách mang đến cho con người. Bởi vì sách không đơn thuần chỉ là ” của kho vô tận” mà còn là nơi kí thác những tâm sự riêng tư, thầm kín. Thế tại sao nói sách là nguồn kiến thức? Bởi vì sách là kết tinh trí tuệ con người. Sách không chỉ tác động vào tri thức mà còn ăn sâu vào tinh thấn, bồi dưỡng tâm hồn để ta biết cách sống đẹp, sống tốt và có ích. Sách kết nối không gian, thời gian, kết nối trái tim, tấm lòng con người. Sách là chiếc cầu nối đưa ta từ thực tại ngược dòng thời gian trở về quá khứ để chứng kiến những mốc son vàng lịch sử. Nhờ có sách_ màn ảnh thu nhỏ mà ta có thể đi du lịch khắp thế giới, ngắm nhìn cảnh đẹp và hiểu được cuộc sống sinh hoạt của con người ở những vùng đất xa xôi. Sách mở ra những câu chuyện, tác phẩm văn học thấm đẫm nhân văn để khiến ta khi đọc phải có những suy ngẫm chính chắn hơn về cuộc đời. Ai cũng biết rằng, nguồn kiến thức mà sách mang đến cho chúng ta là vô tận. đọc sách khoa học để hiểu được nhân loại đã tiến bộ như thế nào từ sự xuất hiện lần đầu tiên của lửa, thích thú với những phát minh của các bậc thầy như Acsimec, Niu-tơn, Anh-xtanh,.. Tìm hiểu sách xã hội để biết được sự phong phú bí ẩn của nên văn hóa từng quốc gia, những địa thế sông núi đẹp do thiên nhiên hữu ý hay vô tình dựng nên. Say sưa bay bổng cùng những tác phầm văn học để đồng cảm hơn với nhân loại. Có tồn tại hay chăng nền văn minh nhân loại nếu không có sách? Không có sách, chúng ta sẽ tiếp nhận nguồn kiến thức khổng lồ bằng cách nào? Hậu quả nếu không có sách là sự tồn tại của lạc hậu, ngu dốt, bần hàn. Nếu con người không tự lớn lên về mặt tri thức thì làm sao có thể làm chủ vận mệnh bản thân và đất nước? Chính vì thế, chỉ có kiến thức mới là con đường sống. Đọc sách là nghệ thuật cũng là một thú vui hưởng lạc của tâm hồn. Nhưng đọc sách là một việc, ứng dụng sách vào đời sống lại là một việc khác. Một đời người có thể đọc hàng ngàn quyển sách nhưng giá trị của chúng đã được phát huy hết chăng? Cuộc đời vẫn vỗ sóng, bạn có thể khẳng định được gì khi chỉ ngồi ở một chỗ mà tiếp nhận kiến thức? Vì thế, phải biết ứng dụng sách vào thực tiễn một cách phù hợp, đúng đắn. Chẳng lẽ ai lại muốn như Đôn-ki-hô-tê_ vị “quý tộc tài ba” xứ Mantra mãi đắm chìm trong những mộng ảo hão huyền. Nên, hãy đặt trang sách vào cuộc đời chứ đừng nên đặt đời người vào trang sách. Nên nhớ thực tiễn mới là nơi ta sống, sách là phù sa làm giàu có dòng chảy cuộc đời. Nhưng có điều, không phải sách nào cũng có ích. Loại sách vô ích đầu độc ý nghĩ con người, xuyên tạc cuộc sống, làm ta u mê, ngu muội thì hãy nên loại bỏ. Tuy đọc sách nhều nhưng phải biết gạn lọc mới chính là thái độ đọc sách đúng đắn. Hãy yêu quý, lựa chọn những loại sách giúp ta mở rộng kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn, giúp ta yêu cuộc sống, nó phải ca tụng nhân nghĩa, lòng bác ái, vị tha thì mới chính là hành trang của con người trong cuộc chinh phục những đỉnh cao hy vọng. ” Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là coon đường sống.” Sách là kho báu trí tuệ. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau giữ gìn, phát huy những giá trị của sách, ứng dụng sách vào đời sống để sách mãi là ngọn đèn soi sáng tâm hồn ta. Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”gợi cho em nhứng suy nghĩ gì? ​ Bài làm Bàn về giá trị của sách, đại văn hào Nga M. Go-rơ-ki có viết:“ Sách mở ra trước mắt tôi một chân trời mới”. Đúng vậy, mỗi trang sách mở ra trước mắt ta là cả một chân trời bao la được khám phá. Nào những kiến thức thú vị, nào những tình thương chân thành, rồi những bí ẩn của cuộc đời… tất cả lần lượt hiện ra sau từng trang sách mở. Ta đọc sách, tầm nhìn ta thay đổi, cuộc sống ta cũng được nâng cao, phát triển. Qủa thật sách có một giá trị và tầm quan trọng lớn đối với cuộc sống chúng ta, cho nên M.Gorki đã khuyên nhủ mọi người: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vậy sách là gì? Khó mà có thể định nghĩa được chúng.Theo quan niệm của người học đạo Thánh hiền theo triết lý Á Đông xưa, sách vốn là di huấn tinh thần mà các bậc tiền nhân để lại cho người đời sau. Nhưng đối với ngày nay thì sách lại là một phương tiện do con nguời đã chế tạo ra nhằm chứa đựng kiến thức được tích luỹ qua bao thế hệ. Sách ra đời để đáp ứng nhu cầu muốn lưu giữ lại kiến thức về mọi lĩnh vực mà người xưa đã bỏ cả đời để khám phá. Ban đầu, sách được làm bằng cách xâu những chiếc lá lại với nhau, bằng những thanh tre kết lại thành miếng hay trên những tấm da dê, da cừu…Cho đến khi giấy được ra đời và thay thế các phương tiện cổ điển khác và được sử dụng cho đến ngày nay. Từ việc chép tay, người xưa đã nghĩ ra việc khắc bản gỗ để in thủ công. Rồi máy in được ra đời với kĩ thuật hiện đại hơn để từ đó đến nay, chúng ta có là cả một kho tàng sách bất tận. Câu nói của M. Go-rơ-ki trình bày rất rõ ràng với hai luận điểm khá thuyết phục: ta yêu sách vì “nó là nguồn kiến thức” và “chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Nhưng tại sao sách lại đươc xem là nguồn kiến thức? Trong cuộc sống, chúng ta có biết bao nhiêu lĩnh vực để tìm hiểu, để hoạt động. Tương ứng với bao nhiêu lĩnh vực ấy là có bấy nhiêu loại sách ra đời. Mỗi loại lại có nhiều quan điểm tư tưởng, phương pháp khác nhau để hướng dẫn, minh hoạ, phân tích sâu hay phát triển mở rộng. Có rất nhiều loại sách khác nhau, từ sách về Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội đến các sách văn học, kinh tế, chính trị, triết học và cả những loại sách bồi dưỡng tâm hồn. Loại sách nào cũng có giá trị riêng của nó trên con đường đưa nhân loại đến với tầm cao trí tuệ. Có thể nói, sách là kho tàng kiến thức chứa đựng tinh hoa của nhân loại. Từ những tinh hoa tri thức của phương Đông đến những phát minh khoa học của phương Tây, từ những kinh nghiệm của cổ đại đến những kiến thức văn minh hiện đại, tất cả đều được lưu giữ trong những trang sách ấy. Các sách về khoa học tự nhiên cho ta biết về kiến thức thực tiễn. Nhờ đó mà ta biết được Định luật vạn vật hấp dẫn của Isaac Newton, Thuyết tương đối của nhà bác học Albert Enstein lừng danh thế kỉ XX, rồi Thuyết điện tử của Micheal Faraday hay là Thuyết tiến hoá của Charles Darwin. Đặc biệt là Louis Pasteur với những nghiên cứu về y học như vắc-xin phòng bệnh *** dại… Các loại sách về khoa học xã hội lại đưa con người đến với những tư tưởng triết học nổi tiếng của các nhà tríêt học cổ đại như Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử của phương Đông; Xô-crát, Pha-ton, Arixtot của phương Tây hay những tác phẩm bất hủ đến muôn đời như các bộ truyện thần thoại, các bộ sử thi Ô-đi-xê, Iliat của Hy Lạp, sử thi Ramayana của Ấn Độ… Cũng nhờ các pho kinh điển tôn giáo như Vệ Đà, Đại Tạng, Cựu ước-Tân ước, Cô-ran… mà chúng ta mới hiểu một cách sâu sắc về triết lí, niềm tin của các tôn giáo lớn trên thế giới như Ấn giáo, Phật giáo, Thiên Chúa, Hồi giáo… Sách là những cột mốc đánh dấu những chặng đường phát tiển của lịch sử. Nhờ các tác phẩm còn để lại mà người đời sau hiểu rõ được từng bước thăng trầm của lịch sử để thêm tự hào vì các bậc tiền nhân, rút ra bài học kinh nghiệm cho đời sau phát triển. Cho đến nay, chưa có lĩnh vực nào dám khẳng định không cần đến kiến thức để tồn tại và phát triển.M.GORKI viết: “ Như những con chim kì diệu trong truyện cổ tích, sách ca hát về việc cuộc sống đa dạng và phong phú như thế nào,con người táo bạo như thế nào trong khát vọng đạt tới cái thiện và cái đẹp.Và càng đọc,trong lòng tôi càng tràn đầy tinh thần lành mạnh và hăng hái.Tôi trở nên điềm tĩnh hơn,tin ở mình hơn,làm việc hợp lí hơn và ngày càng ít để ý đến vô số những chuyện bực bội trong cuộc sống”. Những trang viết của Gorki đã giúp ta hiểu được vì sao “chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Thật thế, nhờ có sách lưu giữ lại tri thức của thế hệ trước mà thế hệ tiếp theo chỉ việc kế thừa và phát triển. Nhờ Jame Watt phát minh ra điện mà ngày nay con người tiến hành điện khí hoá toàn cầu từ thuỷ điện, nhiệt điện, cho đến điện mặt trời, phong điện. Nhờ Graham Bell phát minh ra điện thoại mà thế hệ ngày đã nối mạng toàn cầu bằng hệ thống Internet, hay nhờ có thuyết tương đối của Enstein mà khoa học đã vươn lên tầm vũ trụ. Những phát minh ấy đều lưu truyền cho đời sau đều thông qua những trang sách quí. Đọc sách giúp ta sát lại gần nhau hơn.Ta hiểu thêm được nhiều hoàn cảnh khó khăn hơn ta để ta biết cảm ơn cuộc sống,biết căm ghét những điều xấu xa.Ta hiểu thêm được nhiều gương giỏi giang hơn ta để ta biết cố gắng và đạt những thành quả tốt đẹp.Hình ảnh một em bé bán diêm đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa cùng với những mộng tưởng đẹp đẽ và niềm hạnh phúc khi cùng được bay lên với bà hằng yêu mến chẳng phải là những điều quý giá mà sách mang lại cho chúng ta để khiến nó tươi đẹp và thú vị hơn sao. Sách nhỏ bé nhưng những gì chúng mang lại cho chúng ta những điều không thể tưởng tượng. Nhờ sách mà con người ở thế kỉ XXI được hiểu biết cả mấy triệu năm trước kể từ thuở hồng hoang của loài người,tìm hiểu những phong tục,tập quán của tất cả các nước trên thế giới,từ cực Nam cho đến cực Bắc,từ Địa Trung Hải cho đến Đại Tây Dương…Sách triệt tiêu khoảng cách giữa con người với con người,tạo ra một thế giới hoà bình. M. Go-rơ-ki đã từng viết: “ Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên tôi tách khỏi con thú để lên tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất là về sự thèm khát cuộc sống ấy”. Hiện nay đất nước ta đang trên đà phát triển thì vai trò của sách càng được khẳng định khắp mọi nơi. Sách thật quý giá và cần thiết biết bao! Hãy yêu sách như lời khuyên tha thiết chân thành của nhà đại hào văn Nga bằng cách làm giàu tủ sách của mình từ những quyển sách hay và thú vị. Trong khi từng khắc của dòng thời gian bất tận trôi qua thì xã hội lại từng lúc một phát triển hơn. Từng bước đi lên vững chắc của xã hội chính là nhờ vào kho tàng kiến thức nhân loại đã đúc kết từ bao đời nay, mà sách chính là chiếc cầu tri thức đã nối giữa không gian này với không gian khác, giữa thời đại trước với thời đại sau. Không có cách giải trí nào rẻ hơn đọc sách, cũng không có sự thú vị nào bền lâu hơn đọc sách, cho nên khi nhận định về sách, M.Go-rơ-ki đã nói:”Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Sách là một kho tàng huyền bí làm kích thích sự tò mò của biết bao người. Vậy chính xác thì sách là gì? Sách là những trang giấy ghi lại các sự kiện đời sống, các phát minh khoa học, những diễn biến lịch sử, các kiến thức tự nhiên, các tác phẩm văn học,… của nhân loại. Tóm lại, sách là một kho tàng tri thức vô tận cung cấp cho ta mọi kiến thức trong cuộc sống. Nhưng kiến thức ở đây không chỉ là sự hiểu biết về thế giới xung quanh một cách khoa học mà còn là sự khai tâm mở trí cho tâm hồn con người để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Do đó, sách còn là một phương tiện giúp chúng ta rèn luyện nhân cách con người thông qua các tư tưởng, chân lí đường đời mà lớp người đi trước đã tìm ra được. Trong giai đoạn xã hội phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay thì tri thức con người là tiền đề vô cùng quan trọng. Mà “không có sách thì không có tri thức”, ngoài việc học ở trường lớp thì thực tế, sách là người bạn không thể thiếu của con người giúp chúng ta nâng cao trí thức lẫn nhân cách. Sách mở mang trí tuệ, hiểu biết cho ta, dẫn dắt ta vào những bí ẩn sâu sắc của thế giới xung quanh: từ sông ngòi, rừng núi cho tới vũ trụ bao la. Sách đưa ta vào thế giới cụa lớn như thiên hà, cực nhỏ như các hạt vật chất. Sách có sức sống phi thường vượt qua mọi giới hạn về không gian và thời gian đứa ta “trở về quá khứ”, tìm đến những biến cố lịch sử, những cuộc đấu tranh ác chiến của các triều đại xưa. Hoặc chắp cánh cho ta tưởng tượng tới ngày mai hoặc giúp ta hiểu sâu hơn hiện tại. Sách văn học đưa ta vào một thế giới của những tâm hồn con người đủ các thời đại để ta thông cảm với những cuộc đời, chia sẻ những niềm vui, nỗi đau dân tộc và nhân loại. Sách không chỉ giúp mở mang kiến thức mà con đem đến nguồn hạnh phúc,sự thanh thản cho tâm hồn. Chính nhờ có sách mà đôi khi, con người ta khám phá ra sức mạnh của bản thân, tìm ra chân lí thiết thực cho con đường đời của chinh mình, mở rộng thêm tầm hiểu biết về thế giới xung quanh,… Thực tế trong những trang sử nhân loại đã chứng minh được điều đó. Nhiều nhà phát minh, Bác học trên thế giới cũng thành công qua việc tự học, tự mài mò qua sách như Êđixơn, An-be Anh-xtanh,… Hay chính vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam ta- Chủ tịch Hồ Chí Minh qua việc chịu khó đọc sách, đã phát hiện và ứng dụng chủ nghĩa Mác lê-nin vào con đường giải phóng dân tộc, cuối cùng đã thành công, giúp dân ta thoát khỏi cảnh nô lệ. Đó chẳng phải đều là những nhân chứng hùng hồn cho câu nói của M. Go-rơ-ki::”Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Từ đó ta thấy mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ đưa ta tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất. Với vai trò lớn lao như thế, ta thấy sách là một vật nhỏ bé nhưng vĩ đại. Thế mà trong xã hội ngày nay, không ít những thành phần lười đọc sách, khinh chê và không tôn trọng sách. Họ không biết rằng sách chứa đựng kiến thức, kiến thức lại bao bọc thành công. Không một ai bước đi trên con đường thành đạt mà không song hành cùng kiến thức. Không có kiến thức, con người sẽ trở nên vô dụng, lạc hậu, thấp kém trong một xã hội hiện đại hóa như bây giờ. Thế giới này sẽ ra sao nếu không có sách, không có kiến thức? Mọi thứ sẽ bước vào một thời kì tăm tối của sự ngu ***. Lúc này chỉ có kiến thức mới là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai tốt đẹp, là con đường sống duy nhất của con người. Sách là cây đèn thần soi sáng cho con người trên những nẻo đường xa xôi nhất và tăm tối nhất của cuộc đời. Vì vậy ta phải yêu sách. Phải chăm chỉ đọc sách mà thực sự hiểu nó, đam mê nó. Tuy nhiên, ta cần chọn lọc ra những kiến thức hữu dụng và đúng đắn- Một cuốn sách tốt mở ra thì gợi niềm hy vọng, khép lại thì đem lại điều hữu ích. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần biến những kiến thức trong sách vở thành thực tế qua thực hành ứng dụng vào thực tiển cuộc sống. Quan trọng là thái độ của chúng ta đối với sách, cần yêu quý, giữ gìn và nâng niu sách như một báu vật. Quả thật câu nói của M.Go-rơ-ki là một lời khuyên vô cùng chính xác. Sách đúng là kho tàng trí tuệ của nhân loại là giá trị vô giá của loài ngươi. Tuy sách rất quí nhưng không tự đến với con người mà con người phải tìm lấy sách để đọc. Chỉ có việc đọc sách mới đưa con người đến một tương lai tươi sáng và tốt đẹp hơn. Chúc các bạn học giỏi!
Câu nói của M. Go-rơ-ki_ Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống. Gợi cho em suy nghĩ gì_
4,363
Câu thơ Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng được hiểu như thế nào? Hướng dẫn Từ trước đến nay có không ít người cho rằng trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó, Bác Hồ nói về cuộc sống sinh hoạt thiếu thốn, vất vả, khó khăn của những người chiến sĩ cách mạng trong những ngày ở Pác Bó. Nhưng cũng có người cho rằng nói cái khó khăn, thiếu thốn của cuộc sống nơi chiến khu chỉ là cách tác giả làm nổi bật tinh thần sẵn sàng, khí thế cách mạng của người cộng sản. Vậy “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng” là sự sẵn sàng của đời sống vật chất hay sự sẵn sàng về tinh thần của người cách mạng? Văn chương là sự đồng sáng tạo. Bởi vậy sẽ thật khiên cưỡng nếu cho rằng hình ảnh thơ chỉ có duy nhất một cách hiểu đúng. Dẫu hiểu theo cách nào thì câu thơ cũng phơi phới niềm lạc quan, tin tưởng.
Câu thơ Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng được hiểu như thế nào_
167
Câu tiếng việt – Ôn tập môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 Hướng dẫn Câu tiếng việt – Ôn tập môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 1. Câu và các thành phần của câu – Câu được cấu tạo bởi nhiều thành phần, trong đó có các thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ. Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính của câu. + Chủ ngữ là bộ phận câu trả lời cho câu hỏi Ai (cái gì, con gì,…)? + Vị ngữ là bộ phận câu trả lời cho câu hỏi Là gì? Làm gì? Như thế nào? + Trạng ngữ là bộ phận câu trả lời cho câu hỏi Ớ đâu? Khi nào (bao giờ, mấy giờ)? Vì sao, nhờ đâu)? Để làm gì (nhằm mục đích gì, vì cái gì)? Bằng cái gì, với cái gì)? – Câu kể Ai làm gì? nêu hành động của người, vật ; câu kể Ai thế nào? miêu tả tính chất, trạng thái của người, sự vật, hiện tượng ; câu kể Ai là gì? giới thiệu hoặc nhận định về sự vật. Bài tập 1. Nối ô chữ ở cột A với ô chữ thích hợp ở cột B để có được ý đúng. A B (1) Trong câu kể Ai là gì? a) vị ngữ được nối với chủ ngữ bàng từ là thường do danh từ (hoặc cụm danh từ) tạo thành. (2) Trong câu kể Ai làm gì? b) vị ngữ thường là động từ chỉ trạng thái hoặc tính tù chỉ đặc điểm, tính chất. (3) Trong câu kể Ai thế nào? c) vị ngữ thường là động từ (hoặc cụm động từ) chỉ hành động. Bài tập 2. Tìm bộ phận chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ trong mỗi câu sau: a) Nơi đây, từ lúc một trời mọc đến lúc một trời lặn, trời nóng hầm hập. b) Để trở thành kiện tướng bơi lội, chị ấy tập luyện rất chăm chỉ. c) Anh ấy vượt qua mọi khó khăn, gian khổ bằng nghị lực phi thường. d) Nhờ những lời động viên của mẹ, tôi đã biến ước mơ thành hiện thực. Bài tập 3. Xác định bộ phận trạng ngữ trong mỗi câu sau: a) Ngoài trời, mưa rả rích không ngớt b) Đêm đêm, bên bếp lửa bập bùng, các cụ già kể lại cho con cháu nghe biết bao kỉ niệm vui buồn. c) Ở Tây Nguyên, suốt mùa phát rây trỉa lúa, cho đến khi cây lúa đơm bông, tiếng đàn tơ-rưng luôn vang lên rộn rã. Bài tập 4. Tìm câu kể Ai làm gì? trong đoạn văn sau. Xác định bộ phận chủ ngữ, bộ phận vị ngữ của các câu đó. Mặt trời từ từ nhô lên phía đàng đông, toả những tia nắng vàng ấm áp xuống làng quê. Chị cỏ vươn vai choàng tỉnh giấc. Chị khẽ mỉm cười với món quà mà tạo hoá ban tặng chị đêm qua, Đó là giọt sương trong như ngọc bích lấp lánh ánh cầu vồng, (Theo Hoa cỏ may) Bài tập 5. Mỗi câu dưới đây thuộc kiểu câu Ai làm gì? hay kiểu câu Ai thế nào? a) Cheo cheo hiền lành, nhút nhát nhưng xinh xắn nhất rừng. b) Loài cheo cheo đi ăn cả ngày lẫn đêm. c) Cheo cheo dũi mủi xuống đất đào giun hoặc mầm măng. d) Có động, cheo cheo vểnh tai lên nghe ngóng. Bài tập 6. Tìm câu kể Ai là gì? trong các câu sau và cho biết đó là câu giới thiệu hay nêu nhận định. a) Chị tôi là vận động viên bơi lội. c) Mẹ tôi là người phụ nữ quên mình vì chồng con. d) Kẻ mang chiêng, người mang trống, người thổi tù và… tạo nên một không khí hội hè thật là tưng bừng, náo nhiệt. Bài tập 7. Hãy viết tiếp để tạo thành câu kể Ai là gì? a) Thiếu nhi…………………………….. b) Tre…………………………………… c) Đại bàng………………………………. d) Vịnh Hạ Long…………………………… 2. Các kiểu câu theo cấu tạo Câu đơn – Câu ghép – Căn cứ vào cấu tạo, câu được chia làm hai kiểu: câu đơn và câu ghép. + Câu đơn là câu do 1 cụm chủ vị tạo thành. Căn cứ vào vị ngữ, câu đơn có các loại: Ai là gì? / Ai làm gì? / Ai thế nào? + Câu ghép là câu do nhiều vế câu (nhiều cụm chủ – vị) ghép lại. Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ và vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế khác trong câu. – Có hai cách nối các vế câu ghép: nối bằng từ ngữ có tác dụng nối và nối trực tiếp (không dùng từ ngữ), giữa các vế câu có dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm. Cụ thể: + Các vế câu có quan hệ nguyên nhân – kết quả có thể được nối với nhau bằng một quan hệ từ: Vỉ, bởi vì, nên, cho nên, nhờ,… hoặc một cặp quan hệ từ: Vỉ’ …. nên bởi vì …. cho nên do …. mà do …. nên nhờ…. mà …. + Các vế câu có quan hệ điều kiện – kết quả có thể được nối với nhau bằng một quan hệ từ: nếu, hễ, giá, thì,… hoặc một cặp quan hệ từ: nếu………… thì nếu như… thì hễ… thì hễ mà … thì giá … thì… + Các vế câu -có quan hệ tương phản có thể được nối với nhau bằng một quan hệ từ: tuy, dù, mặc dù, nhưng hoặc một cặp quan hệ từ: tuy … nhưng mặc dù … nhưiĩg dù … nhưng … + Các vế câu có quan hệ tăng tiến nối với nhau bằng cặp quan hộ từ: không những … mà chẳng những … mà không chỉ… mà … + Ngoài cuan hệ từ, các vế câu ghép còn có thể được nối với nhau bằng các cặp từ hô ứng như: vừa … đã chưa … đã mới… đã vừa … vừa càng … càng đâu … đấy, nào … ấy, sao … vậy, bao nhiêu … bấy nhiêu. Bài tập 1. Trong các câu sau, câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép? Xác định bộ phận chủ ngữ và vị ngữ của mỗi câu hoặc vế câu. a) Chôm chôm, xoài tượng, xoài cát mọc chen nhau. b) Hoa lá, quả chín, những vạt nấm ẩm ướt và con suối chảy thầm dưới chân đua nhau toả mùi thơm. c) Tiếng mưa êm, sợi mưa đều như dệt. d) Ở mảnh đất ấy, tháng giêng, tôi đi đốt bãi, đào ổ chuột ; tháng tám nước lên, tôi đánh giậm, úp cá, đơm tép … Bài tập 2. Tìm các vế câu trong mỗi câu ghép sau và cho biết ranh giới giữa các vế câu được đánh dấu bằng những từ ngữ nào. a) Chúng ta cần chọn thóc giống từ trước khi thu hoạch và phải bảo quản cẩn thận để lúa mùa sau có năng suất cao. b) Chúng ta cán đổ khoai thành từng khoang xuống sàn đất cho khoai chóng khô ráo. a) Buổi chợ nào bà Xoan cũng mua cho cháu nội mấy đồng quà. b) Mơ cố tỏ ra vùi vẻ cho cha mẹ yên lòng. c) Tôi gắng làm lụng để con tôi có tương lai. d) Thằng bé Sinh để quên tất cả sách vở ở nhà. e) Ngày nào ông tôi cùng làm cỏ, tưới nước cho cây mau lớn. g) Tôi ra tỉnh học, để lại sau lưng mọi kỉ niệm thuở ấu thơ. Bài tập 4. Tim các vế câu trong mỗi câu ghép sau và cho biết chúng được nối với nhau bằng những từ ngữ nào. a) Dù trời mưa rất to nhưng học sinh lớp 5A vẫn đi học đủ. b) Cây cam tuy nhỏ nhưng quả rất sai. Bài tập 5. Chuyển đổi các vế câu của các câu sau đây (theo mẫu): M: Bà con nông dân rốt phấn khỏi vì thòi tiết năm nay thuận hoà. -> Thời tiết năm nay thuận hoà nên bà con nông dân rất phấn khởi. -> Vì thời tiết năm nay thuận hoà nên bà con nông dân rất phấn khởi. -> Vì thời tiết năm nay thuận hoà cho nên bà con nông dân rất phấn khởi. a) Nó bị ngã liên tục vì đường trơn. b) Cây phát triển tốt vì chúng tôi chăm bón chu đáo. c) Chị ấy mang theo áo mưa vì trời âm u. d) Đồng ruộng nứt nẻ vì nắng nóng kéo dài. Bài tập 6. Chuyển đổi các vế trong câu ghép chỉ điều kiện – kết quả sau đây (theo mẫu): M: Tôi sẽ mua một chiếc xe máy nếu việc chăn nuôi của tôi thành công. -> Nếu việc chân nuôi của tôi thành công, tôi sẽ mua một chiếc xe máy. -> Nếu việc chân nuôi của tôi thành công thì tôi sẽ mua một chiếc xe máy. -> Nếu như việc chăn nuôi của tôi thành công, tôi sẽ mua một chiếc xe máy. a) Ngô sẽ lên xanh nếu được trận mưa như mấy hôm trước. b) Hồ cá sẽ thiếu nước nếu nắng nóng kéo dài. c) Ông Ba sẽ chuyển đổi hướng làm ăn nếu năm nay ông vẫn thua lỗ. d) Tôi sẽ đi thăm bản Hmông trên núi, nếu trời tạnh ráo. Bài tập 7. Chuyển đổi các câu đơn thành câu ghép. a) Trời tối sầm lại. Gió thổi ào ào. b) Cậu bé ra cổng trường đợi mẹ. Mẹ cậu vẫn chưa đến. c) Người mẹ làm việc quần quật. Đứa con chỉ ăn với chơi. d) Người đứng đợi dưới bến đã đông. Thuyền vẫn chưa sang. Bài tập 8. Chuyển mỗi câu ghép dưới đây thành những câu đơn. a) Tiếng ve kêu râm ran và hoa phượng nở đỏ rực. b) Mùa hè đã hết nhưng hoa sen vẫn còn nở trong đêm. c) Anh tôi cầm dây diều chạy trước còn tôi lịch bịch chạy theo sau. d) Cảnh vật thơ mộng và lòng người phơi phới. 3. Các kiểu câu theo mục đích nói Câu kể – Câu hỏi – Câu cảm – Câu khiến Dựa vào mục đích nói, có thể chia thành 4 kiểu câu: câu hỏi, câu khiến, câu cảm và câu kể. Cụ thể: – Câu hỏi (còn gọi là câu nghi vấn)dùng để hỏi về những điều chưa biết. Phần lớn câu hỏi được sử dụng để hỏi người khác, một số trường hợp câu hỏi được dùng để tự hỏi mình. Ngoài ra, câu hỏi còn được dùng vào mục đích khác: tỏ thái độ khen / chê, sự khẳng định / phủ định, bày tỏ yêu cầu / mong muốn. Câu hỏi thường có các từ nghi vấn: ai, gì, nào, sao, không,… Khi viết, cuối câu hỏi có dấu chấm hỏi (?). – Câu cảm (câu cảm thán) dùng để bộc lộ cảm xúc (vui, mừng, thán phục, đau xót, ngạc nhiên,…) của người nói. Câu cảm thường có các từ ngữ: ôi, chao, chà, trời; quá, ỉắm, thật,… Cuối câu cảm thường có dấu chấm than. – Câu kể (còn gọi là câu trần thuật) dùng để: kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc hoặc nói lên ý kiến, tâm tư, tình cảm của mỗi người. Cuối câu kể có dấu chấm. Bài tập 1. Căn cứ vào mục đích nói, mỗi câu dưới đây thuộc kiểu câu nào? Giải thích cách dùng dấu câu của mỗi câu. a) Hải dập lửa chưa? b) Hải dập lửa đi! c) Hải chưa dập lửa. Bài tập 2. Với các từ cho dưới đây, viết thành các câu theo những mục đích nói khác nhau. mưa, trời, rồi Bài tập 3. Giải thích vì sao cuối câu a có dấu chấm hỏi, cuối câu b có dấu chấm. a) Bạn tên là gì? b) Hãy nói cho cho tớ biết bạn tên là gì. Bài tập 4. Điền dấu câu thích hợp vào ô trống cuối mỗi câu dưới đây và cho biết chúng thuộc kiểu câu nào? a) Cô ơi, cô có biết nhà bác Hạnh ở đâu không ạ b) Cô làm ơn chỉ giúp cháu nhà bác Hạnh ở đâu ạ Bài tập 5. Điền dấu câu nào vào cuối mỗi câu sau đây. Giải thích tại sao. a) Bạn có biết đây là cây gì không b) Mình không biết đây là cây gì Bài tập 6. Đọc đoạn văn sau và cho biết câu hỏi nào dùng để hỏi người khác, câu hỏi nào để tự hỏi mình. – Bà ơi, chú Cuội là ai hà bà? – Chú Cuội cũng bé như con ấy, Chú Cuội chăn trâu cho nhà trời mài chơi để trâu ân lúa, nhà trời phạt, bắt ngồi gốc cây đa… Tôi căng mắt nhìn. Chú Cuội ngồi đâu nhỉ? Con trâu đâu? ông trời là ai mà ác thế?Hôm kia, thằng Quyết đi chăn trâu, cũng để trâu ăn lúa, nhưng mẹ nó chỉ mắng và phát khẽ cho nó một cái rồi thôi. Đằng này… (Theo Kao Sơn) Bài tập 7. Câu hỏi (được in đậm) trong mẩu chuyện sau được dùng làm gì? Có lần, Rốt-xi-ni được một phu nhân nọ mời ân tối. Suốt bữa ăn, bà ta hỏi nhạc sĩ nhiều đến nỗi, khi rời bàn ân Rốt-xi-ni hầu như không có gì trong bụng. Khi từ biệt, bà chủ nhà hồ hởi nói với ông: – Được trò chuyện cùng ngài thật thú vị. Hôm nào đó ngài có thể cho phép tôi lại được mời ngài đến dùng bữa, được không ạ? – Rất vui lòng. – Rốt-xi-ni trả lời. – Tôi muốn được nhận lời mời ngay bây giờ. (Theo Kể chuyện âm nhạc) >>Xem đáp án bài tập tại đây. Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Câu tiếng việt · Tiếng Việt 5
Câu tiếng việt – Ôn tập môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6
2,260
Cây bút giúp người lương thiện, chống kẻ tham tàn – Truyện cổ tích Cây bút thần Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Cây bút giúp người lương thiện Chúng ta đã được học, được nghe kể nhiều truyện cổ tích Việt Nam về những nhân vật có tài năng kì lạ như truyện Thạch Sanh, truyện Em bé thông minh,… Loại truyện này cũng được kể, được ghi lại ở nhiều nước trên thế giới. Truyện Cây bút thần là một tác phẩm như thế. Nhân vật chính của câu chuyện là cậu bé Mã Lương nhà nghèo nhưng có tấm lòng nhân hậu, thương yêu dân nghèo, căm ghét bọn bất lương, độc ác. Em có tài năng hội hoạ kì lạ, một phần do chính năng lực của mình, một phần được thần linh giúp đỡ. Tương tự với tài năng, dũng khí của Thạch Sanh, trí khôn của em bé thông minh trong cổ tích Việt Nam, tài năng và tấm lòng của em bé Trung Quốc ấy luôn hướng về nhân dân, làm theo ý nguyện người dân, chứ không theo ý bọn thống trị. Nói khác đi cây bút của Mã Lương đã giúp người lương thiện một cách chân tình, chống kẻ tham tàn một cách kiên quyết. 1. Cây bút tích tụ công sức con người và phép nhiệm màu của thần linh Vào đầu câu chuyện, chúng ta bắt gặp em bé thông minh tên là Mã Lương. Cảnh ngộ gia đình em thật khốn khổ. Cha mẹ mất sớm, em sống tự lực bằng những công việc lao động vất vả: chặt củi, cắt cỏ kiếm ăn hằng ngày. Nhà nghèo đến nỗi, Mã Lương không có tiền để mua một chiếc bút. Vậy mà em lại yêu thích môn vẽ, rất chăm học vẽ. Em học vẽ trong lao động, tập vẽ ở bất cứ chỗ nào. Trong nhà em “bốn bức tường dày đặc các hình vẽ”. Nét vẽ của em tiến bộ dần dần. Em vẽ chim, người ta tưởng như sắp được nghe tiếng chim hót, vẽ cá ngỡ như trông thấy cá đang bơi lội. Nói khác đi, nhờ năng khiếu, trí thông minh và tinh thần say mê rèn luyện, bàn tay người hoạ sĩ như có hồn, hay chính người hoạ sĩ đã thổi hồn vào các tác phẩm của mình. Em vẽ bằng gì? Nghèo, không đủ tiền mua bút, Mã Lương dùng những công cụ lao động thay bút. Khi thì lấy que củi vạch xuống đất, lúc nhúng ngón tay vào nước vẽ trên mặt nước, vẽ trên tường. Không có bút mà nét vẽ của Mã Lương sinh động, tài hoa như thế. Nếu có cây bút trong tay… Nhiều đêm Mã Lương mơ ước có một cây bút. Và kì diệu thay, tài năng, khát vọng của người hoạ sĩ tí hon đã thấu lòng trời. Hoạ sĩ được thần tặng cho cây bút, “cây bút bằng vàng sáng lấp lánh”. Từ đây, Mã Lương thực sự trở thành một hoạ sĩ tài năng. Cây bút của Mã Lương vẽ chim, chim tung cánh, hót líu lo, vẽ cá, cá trườn xuống sông bơi lượn tung tăng. Như vậy, tài năng hội hoạ của Mã Lương là sự hoà hợp trí tuệ, công sức của con người với phép màu của thần linh. Nếu Mã Lương không có thực tài, không khổ công học tập, rèn luyện, chắc rằng thánh thần không cho bút. Và cây bút vàng kia phải chăng là một phần thưởng xứng đáng cho người học trò có tài và có chí. Hai yếu tố: con người và thần linh, nội lực và sự giúp đỡ của bên ngoài hài hoà với nhau, tạo nên “cây bút thần”. Cây bút thần chỉ có phép màu khi Mã Lương vẽ, còn những kẻ khác dùng bút thì… phép màu tiêu tan… Câu chuyện cứ đan xen sự thật với yếu tố thần kì, vừa gắn với tài vẽ của nhân vật trong truyện, vừa gợi cho người nghe, người đọc những bài học thấm thìa về tài năng và quá trình rèn luyện để thành tài… Sau khi có bút thần, Mã Lương vẽ cho tất cả người nghèo trong làng. “Nhà nào không có cày, em vẽ cho cày. Nhà nào không có cuốc, em vẽ cho cuốc. Nhà nào không có đèn, em vẽ cho đèn…”. Những tác phẩm hội hoạ Mã Lương vẽ tặng dân làng không phải là thóc gạo, nhà cửa, vàng bạc, châu báu mà là cái cày, cái cuốc, cây đèn, cái thùng,… Điều này không phải vô cớ! Chàng hoạ sĩ không vẽ của cải vật chất có sẵn để hưởng thụ mà vẽ các công cụ cần thiết cho cuộc sống để người dân sản xuất, sinh hoạt, tạo ra thóc gạo, nhà cửa và các của cải khác. Vẽ tặng những bức tranh “cái cày, cái cuốc” như thế, Mã Lương như ngầm nói với dân làng rằng: của cải mà chúng ta hưởng thụ phải do chính bàn tay, khối óc của chúng ta làm ra, sự giúp đỡ chỉ là phương tiện hỗ trợ phần nào mà thôi. Cây bút của Mã Lương vừa mang sức mạnh kì diệu của thần linh vừa thấm đẫm sắc màu, đường nét của tấm lòng, trí tuệ con người. Rất thương dân làng mình nghèo khổ thiếu thốn, nhưng Mã Lương không chiều họ, tặng họ của cải ăn sẵn. Chàng đã nhắc nhở họ phải cầm lấy cày đi cày ruộng, cầm lấy cuốc mà cuốc vườn, không nên lười biếng, ỷ lại. Việc vẽ tranh tặng dân làng của Mã Lương gợi chúng ta nhớ một câu nói cửa miệng, cũng là một thái độ ứng xử đúng đắn của nhân dân ta: “Tôi không cho anh con cá để anh ăn sẵn mà tặng anh cái cần câu để anh tự đi câu cá mà ăn”. Cây bút thần và bàn tay người hoạ sĩ Mã Lương kì diệu và sáng suốt làm sao! 3. Cây bút chống kẻ tham tàn Tài năng, tấm lòng của Mã Lương được truyền tụng khắp vùng. Người tốt thì ngợi khen, quý trọng. Kẻ xấu ắt nảy lòng ghét ghen, ham muốn. Mã Lương và cây bút thần phải đối mặt với kẻ ác. Trước hết là đối với tên địa chủ trong làng. Hắn đã bắt Mã Lương về nhà, ép vẽ theo ý của hắn. Mã Lương quyết không làm theo. Hắn giam Mã Lương nhằm hãm hại em. Nhưng, cây bút và sự thông minh đã giúp Mã Lương trốn thoát. Cuộc thử thách tài năng và ý chí đối với Mã Lương mỗi lúc một tăng lên. Lúc đầu, cây bút nằm im tỏ thái độ bất khuất. Nhưng rồi, Gây bút vẽ lò sưởi, vẽ bánh, vẽ thang để bảo vệ và giải thoát cho Mã Lương. Đến lúc nguy hiểm nhất “bút thần” đã “biến” thành ngựa, cung, tên tiêu diệt tên địa chủ. Thế là, những bức tranh vốn lành hiền bỗng hoá thành vũ khí. Ngòi bút và tài năng của người hoạ sĩ linh hoạt, sắc nhọn như gươm giáo, vừa bảo vệ người lương thiện vừa chống lại kẻ độc ác tham lam. Tiếp sau tên địa chủ, Mã Lương phải đối mặt với nhà vua. Lần này, đối thủ của người hoạ sĩ tí hon có uy quyền lớn hơn, lớn nhất nước và lòng tham, sự tàn ác cũng lớn hơn, lớn không ai sánh kịp. Cuộc đấu trí của Mã Lương căng thẳng, phức tạp hơn. Do đó mưu mẹo, trí khôn của Mã Lương cũng khéo léo và sáng suốt hơn. Hiệp đấu thứ nhất: Mã Lương làm ngược lại ý nhà vua. Vua bắt vẽ rồng, em vẽ con cóc ghẻ. Vua bắt vẽ phượng, em vẽ con gà trụi lông. Hai con vật đó vừa xấu vừa bẩn “nhảy nhót tứ tung bên cạnh nhà vua”, như giễu cợt, trêu tức nhà vua. Hiệp thứ hai: Mã Lương bị hạ ngục, bút rơi vào tay vua. Thay Mã Lương, bút chống lại vua. Lòng tham của vua mỗi lúc một dâng cao thì “bút thần” cũng “đánh trả” mỗi lần thêm mãnh liệt. Vua vẽ núi vàng, núi vàng thành tảng đá nặng từ “đỉnh núi lăn xuống, suýt đè gãy chân vua”. Vua vẽ một thỏi vàng dài không biết bao nhiêu thước thì thỏi vàng thành “con mãng xà dài, miệng há hốc, đỏ lòm, đang bổ lại phía hắn”… Hiệp thứ ba, Mã Lương và “bút thần” đấu dịu hơn, nhưng lại tinh khôn và kiên quyết hơn. Em nhận vẽ theo ý muốn của nhà vua. Đầu tiên, em vẽ biển, “biển rộng mênh mông, xanh biếc”. Tiếp sau, em vẽ cá, rồi vẽ thuyền, vẽ gió. Cả ba thứ ấy đều thoả mãn lòng ham muốn của nhà vua. Nhưng tên vua ấy đâu chỉ ham muốn chừng mực như người khác. Hắn luôn mang thói hợm hĩnh, kì quái, luôn có những ham muốn cực đoan và đòi hỏi người khác phải chiều theo ý mình. Vâng, Mã Lương đã “chiều” theo ý vua, Em vẽ gió và sóng để đẩy thuyền vua ra khơi. Rồi theo lệnh vua “cho gió to thêm một tí”, cây bút của Mã Lương “đưa thêm mấy nét… tô thêm nhiều nét bút nữa… tiếp, tục vẽ những đường cong lớn…”. Từng nét, từng đường, từng mảng màu từ ngòi bút của Mã Lương trút xuống bức tranh biển cả, đồng thời đánh thức từng ngọn gió, từng con sóng… Từ ngọn gió nhỏ, con sóng lăn tăn, dần dần biến thành dông tố, sóng cồn. Gió mạnh nổi lên, biển động dữ dội. Càng về sau, ngòi bút của Mã Lương càng vung mạnh. Lòng em sôi sục căm hờn. Sóng gió và biển đã nổi giận cùng với em. “Gió bão càng to, mây đen kéo mù mịt, trời tối sầm,…”. Kết quả là: cả tên vua lẫn quần thần bị nhấn chìm trong biển cả,… Hình ảnh cuối của truyện “Mã Lương vờ như không nghe thấy, cứ tiếp tục vẽ” đẹp như vị thiên sứ trời sai xuống để tiêu diệt kẻ ác, thực hiện công lí. Và để thực hiện công lí, chàng hoạ sĩ tí hon vừa được trời giúp đỡ vừa có trí thông minh, bền bỉ rèn luyện tài năng và lòng dũng cảm, ý chí kiên cường quyết không đội trời chung với kẻ ác, cái ác. Cây bút thần là truyện cổ tích về nhân vật có tài năng kì lạ. Cây bút thần và bàn tay vẽ của Mã Lương có một khả năng và sức mạnh kì diệu vừa là chi tiết tưởng tượng, thần kì vừa chứa đựng yếu tố hiện thực. Truyện thể hiện quan niệm của nhân dân về công lí xã hội, về mục đích của tài năng nghệ thuật. Hội hoạ nói riêng, các bộ môn nghệ thuật nói chung phải biết hướng về nhân dân, giúp người lương thiện chống kẻ tham tàn thì nghệ thuật ấy mới có sức mạnh, có khả năng thần kì. Câu chuyện cũng thể hiện ước mơ của nhân dân về những khả năng kì diệu của con người để giúp cho người lương thiện đối phó với bọn bất lương hằng ngày theo dõi hãm hại con người. Truyện về một cây bút lặng lẽ mà cất lên bao lời nhắn gửi thiết tha, không, chỉ gửi tới người nghe, người đọc bình thường mà tới cả các nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ,… tài danh nữa đấy!
Cây bút giúp người lương thiện, chống kẻ tham tàn – Truyện cổ tích Cây bút thần Ngữ Văn 6
1,955
Cây lau chứng kiến nhân vật Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang tha thở một mình rồi tự vẫn. Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba. Hướng dẫn Cây lau chứng kiến nhân vật Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang tha thở một mình rồi tự vẫn. Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba. Một buổi chiều gió lộng. Mặt trời đã ngả về phía chân trời, để lại những đám mây đỏ ửng báo hiệu một ngày sắp tàn. Bến Hoàng Giang cũng đang nghiêng mình hứng lấy chút ánh nắng cuối cùng yếu ớt. Những đám lau, trong đó có cả tôi đang hướng mình ra đón gió thì bỗng nghe tiếng khóc than của một người thiếu phụ. Tất cả ngưng lại lắng tai nghe lời nàng than thở: – Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ. Nói xong nàng gieo mình xuống sông mà chết. Chúng tôi ai nấy đều bàng hoàng. Hà cớ chi mà người thiếu phụ trẻ lại nói những lời cay đắng rồi tự vẫn thế kia. Thân nàng chìm dần xuống lòng sông, chiếc áo trắng lờ lờ đi trong nước. Chúng tôi dù muốn lắm nhưng chẳng thể nào cứu nàng được. Có chuyện gì mà lại đến nông nỗi này cơ chứ? Các đám lau ngơ ngác hỏi nhau. Đang xôn xao thì bác Chim sâu bay đến, đậu trên bờ. Bác cũng lắc đầu buồn thương. Hỏi ra mới rõ sự tình. Nàng tên Vũ Nương – một người con gái ngoan hiền nết na được Trương Sinh mến mộ xin hỏi cưới làm vợ. Cuộc sống vui vầy chẳng được bao lâu thì chàng phải lên đường đi đánh giặc. Phép nước không thể lui được. Thời gian ở nhà, nàng vào ra trông ngóng ngày đoàn tụ cùng chồng. Mẹ chồng chết, nàng cũng cố gắng lo lắng ma chay tươm tất. Nhớ chồng, mỗi tối, nàng vẫn thường chỉ bóng mình trên tường và bảo với con đó là cha. Ngày cha về, nó không chịu nhận và nói có một người cha khác tối nào cũng đến với mẹ. Trương Sinh nổi lòng ghen tuông ruồng rẫy vợ. Nàng giải thích chàng không nghe. Bị xúc phạm và oan ức mà không minh chứng được, người thiếu phụ tội nghiệp đành gieo mình xuống bến Hoàng Giang để lấy lại sự trong sạch cho bản thân. Thật đáng thương. Nhưng tại sao Trương Sinh không hỏi rõ vợ mình mọi chuyện, lắng nghe vợ một chút thì mọi chuyện đâu đến nỗi này chứ. Giờ người chết rồi, sự trong sạch có được sáng tỏ nhưng đâu có thể cứu lại được mạng sống nữa. Sáng hôm sau, một người đàn ông, hẳn là Trương Sinh đến bờ Hoàng Giang tìm vớt xác vợ mình nhưng chẳng thấy đâu. Rõ ràng chiều qua chúng tôi đều chứng kiến nàng gieo mình tại đây. Nhưng suốt cả một ngày chàng tìm, chàng lặn hụp quanh đó mà không thấy vợ đâu cả. Trương Sinh ngồi bần thần trên bờ. Có lẽ chàng cũng đã tin sự trong sạch của vợ mình nên xót thương và hối hận. Nhưng sự hối hận ấy đã quá muộn màng rồi. Thằng bé con chàng chạy lại nói với chàng: – Tối qua cha Đản đến đấy. Thì ra thằng bé chỉ cái bóng trên tường và bảo đó là cha mình. Lúc bấy giờ Trương Sinh mới hiểu ra tất cả. Trương Sinh chỉ biết ôm con vào lòng và khóc. Trời nhá nhem tối, hai cha con dẫn nhau về với cái bóng liêu xiêu. Mấy hôm sau, Trương Sinh ra bến lập đàn giải oan cho vợ suốt ba ngày đêm. Ánh nến vừa đốt lên thì Vũ Nương xuất hiện. Nàng ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện. – Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa. Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.
Cây lau chứng kiến nhân vật Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang tha thở một mình rồi tự vẫn. Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba.
790
Có 1 đoàn du khách nước ngoài muốn tìm hiểu về mâm ngũ quả trên bàn thờ của người Việt trong những ngày tết cổ truyền, em hãy thay mặt người dân Việt Nam giới thiệu về mâm ngũ quả Hướng dẫn Xin chào các bạn, hôm nay tôi xin thay mặt người dân Việt Nam giới thiệu cho các bạn một nét đặc sắc của quê hương tôi. Thưa các bạn, vào mỗi độ Tết đến xuân về, người dân nước tôi thường chuẩn bị câu đối đỏ, bánh chưng xanh, hoa mai,…Nhưng để thể hiện được cả tấm lòng hiếu thảo và ước mong những điều tốt lành cho năm mới sắp tới, thì ta chắc chắn không thể phủ nhận tầm quan trọng của mâm ngũ quả. Nào, bây giờ các bạn hãy lắng nghe thật kĩ nhé, sẽ rất thú vị đấy. Thưa các bạn, theo một tài liệu cho biết trong chiêm thư, đối với cư dân vùng nông nghiệp, người ta chọn cách nhìn “ngũ quả” (tức là năm loại quả khác nhau) để dự đoán được, mất của vụ mùa lương thực. Lâu dần nó trở thành một tập quán, “ngũ quả” biểu trưng cho sự cầu nguyện mùa màng bội thu, nên cuối cùng được chọn để dâng lên ông bà tổ tiên vào dịp Tết. Phong tục này sau dần lan ra cả nước và trở thành một truyền thống khắc sâu trong tâm trí người Việt Nam chúng tôi. Vậy chắc các bạn cũng có thắc mắc rằng tại sao lại là “ngũ quả” – năm loại trái chứ không phải là sáu loại hoa hay thực phẩm nào khác? Câu trả lời là ở chữ “quả”, ở đây “quả” mang ý nghĩa sung túc nhờ vào cấu tạo của nó” bên trong là hạt tượng trưng cho sao, phần thịt quả bên ngoài bao bọc lấy tượng trưng cho vũ trụ, thể hiện ý nghĩa sinh sôi, sự bất tận và sự tái sinh của sự sống. Những sản vật này là kết tinh của công sức, mồ hôi, nước mắt, là thành quả sau một năm lao động miệt mài. Người nông dân đã lựa dịp tốt lành để kính dâng lên ông bà tổ tiên. Tiếp đến là “ngũ” (tức số năm) là một số lẻ tượng trưng cho sự phát triển không ngừng, sự nảy nở, biểu trưng cho sự sống. Ngày nay, để thể hiện tấm lòng hiếu thảo hơn, cộng với thẩm mĩ mà người ta không còn quan trọng việc phải chọn đúng số quả là năm nữa, tuy nhiên người dân miền Bắc vẫn chọn số quả lẻ để bày lên mâm ngũ quả. Trái lại, người miền Trung và miền Nam thì không quan trọng về việc số quả chẵn hay lẻ nhưng việc bày mâm ngũ quả vẫn giữ một số qui tắc truyền thống dân gian như: mâm ngũ quả chỉ bày quả không bày thực phẩm khác, chỉ tính loại không tính số lượng quả (ví dụ chỉ cần một nải chuối không cần quan tâm là có mấy quả). Và dù cho số lượng có nhiều hơn năm quả đi nữa thì vẫn gọi là “mâm ngũ quả”. Như các bạn biết đấy, đất nước hình chữu S của chúng tôi cũng giống nước các bạn, chia làm nhiều vùng khác nhau, kéo theo đó là điều kiện tự nhiên cũng có khác biệt dẫn đến có nhiều cách bày mâm ngũ quả với các ý nghĩa khác nhau. Ở miền Bắc, chọn theo năm loại quả với màu sắc khác nhau theo quan niệm xưa là giống ngũ hành, ứng với số mệnh của con người: mệnh Lim (màu trắng), Mộc (màu xanh), Thủy (màu đen), Hỏa (màu đỏ), Thổ (màu vàng). Tuân theo màu sắc năm quả đó ý muốn nói là quả ở năm phương đất nước được mang về dâng lên gia tiên. Ngoài ra, mâm ngũ quả của người miền Bắc còn thể hiện ước vọng của người dân đó là được “ngũ phúc lâm môn”: Phúc-Sang-Thọ-Khang-Ninh nghĩa là cầu mong sự giàu có, sang trọng, sống lâu, sức khỏe, yên bình. Thật ý nghĩa phải không nào? Còn miền Trung của nước tôi là vùng đất khô cằn ít hoa trái lại thêm dịp Tết là mùa đông nên trái,qủa lại càng khan hiếm hơn, Người dân quê không câu nệ hình thức, rất giản dị, chủ yếu là có gì cúng nấy. Vì miền Trung (tức ở giữa) nên chịu sự giao thoa của hai nền văn hóa Bắc và Nam vì vậy quan niệm về mâm ngũ quả của người ở đó cũng rất đa dạng,phong ohus. Cuôi cùng là miền Nam, mâm ngũ quả của họ bao gồm mãng cầu xiêm, dừa hay dưa, đu đủ, xoài, sung. Đôi khi còn có cả trái dứa hay còn gọi là thơm để thể hiện sự vững vàng, và không thể thiếu là đôi dưa hấu để riêng trên bàn thờ vì dưa hấu xanh vỏ đỏ lòng biểu tượng cho lòng trung nghĩa của người miền Nam. Đặc biệt hơn cả là họ có cả cách gọi cho mâm ngũ quả theo kiểu gần âm: mẫng cầu là cầu, đu đủ gần âm với chữ đủ, dừa hay dưa gần âm với vừa, xoài gần âm với “xài” (tiếng miền Nam có nghĩa là dùng) sung là “sung túc” đọc thành “cầu vừa đủ xài sung” hay “cầu sung vừa đủ xài”. Thêm nữa người miền Nam khác gần như hoàn toàn với người miền Bắc về việc trưng bày mam ngũ quả. Họ không bao giờ chọn những thứ quả có tên mang ý nghĩa xấu đặt lên mâm ngũ quả của gia đình mình. Như là chuối (có chữ đọc thành “chúi nhủi”, mang ý nghĩa thất bại), quả lê (có ý nghĩa là lê lết), táo (người miền Nam đọc là bom), lựu (lựu đạn), quýt, cam ( vì có câu quýt làm cam chịu) hay ngay cả sầu riêng – thứ quả mà bình thường người miền Nam rất thích ăn cũng không được lựa chọn bày lên mâm ngũ quả bởi vì có ý buồn rầu, là không mang lại may mắn cho năm mới. Thông thường, một số gia đình Việt Nam vẫn có nhiều băn khoăn khi lựa chọn mâm ngũ quả vào dịp Tết Nguyên Đán mặc dù là một tập tục rất quen thuộc, đó là có nhất tiết phải chọn các loại quả có màu sắc giống trong màu Ngũ Hành hay không? Trong khi vẫn muốn bày thêm các loại quả khác để thể hiện mong ước riêng của gia chủ. Nếu các bạn cũng muốn trưng bày mâm ngũ quả, tiện đây tôi cũng xin nói rằng là theo quan niệm thì Ngũ Hành không có ý nghĩa trên bàn thờ, không mang ý thực tiễn tâm linh cho nên các bạn vẫn có thể lựa chọn các loiaj quả khác để bày lên mâm ngũ quả theo ý muốn của mình. Về việc chọn lực quả, người dân của tôi cũng rất kĩ càng. Khi đi chợ mua quả, thì cần chọn những quả chắc khoogn trầy và còn nguyên cành lá để mâm ngũ quả được nhìn xum xuê, đẹp mắt. Muốn chọn dưa hấu ngon cần lấy tay búng vào vỏ quả dưa, nếu âm thanh nghe trầm, kêu bịch bịch có nghĩa là quả ngon. Còn khi chọn quýt nên chọn những quả lõm phía dưới vì thường là những quả ngọt. Về phần bưởi nếu là quả tươi ngon thì cầm sẽ thấy nặng và chắc. Thông thường việc bày mâm ngũ quả được các gia đình thiến hành vào ngày ba mươi Tết, chọn buổi sáng hoặc chiều để dâng lên ông bà tổ tiên. Tuy nhiên, việc mua quả đã được tiến hành sớm hơn nhiều. Do công việc, có thể chúng tôi đã đi mau quả từ ngày hai bảy, hai tám Tết thậm chí là sớm hơn nữa. Nếu khi mua mà không chú ý đến việc mâm ngũ quả sẽ để đến sau ngày ba mươi Tết vài ngày nữa mà chọn mua những quả chín dẹp, nhìn vừa mắt thì khi đến ngày ba mươi Tết bày quả lên mâm chúng sẽ bị chín quá, héo là và mềm vỏ. Cho nên khi chọn mua cần lữa những quả còn xanh, hoặc gần chín đế trưng được lâu. Đặc biệt là chuối phải xanh để đủ cứng cáp đỡ được sức nặng của các loại quả khác được đặt trong lòng nó (người dân thường đặt những loại quả nhỏ vào lòng nải chuối để ngụ ý được bao bọc, ấm áp). Ngoài ra, các loại quả khác như hồng, xoài, măng cụt,…nên chọn những quả đang chín tới để khỏi bị thối vào ngày ba mươi Tết. Cho dù có nhiều loại quả thì có nhiều gia đình vẫn mau thêm quả phật thủ có hình dáng giống bàn tay Phật mong mang lại điều an lành. Điều cuối cùng là khi mau về chúng tôi sẽ không rửa quả để tránh quả nhanh bị hỏng. Ngoài ý nghãi tâm linh ra, mâm ngũ quả làm cho không khí ngày Tết cũng như bàn thờ gia tiên thêm phần rực rỡ tươi vui, ấm áp. Mâm ngũ quả thể hiện triết lí, ý nghĩa cao về tâm hồn người Việt chúng tôi cũng như thể hiện tính thẩm mĩ. Tìm hiểu về mâm ngũ quả cũng là các bạn đã tìm hiểu về lịch sử, truyền thống tốt đẹp của dân tộc tôi. Mặc dù mỗi miền mỗi khác nhưng dù sao mâm ngũ quả cũng là thứ hội tụ đầy đủ hồn quả, hương cây của khắp mọi miền đất nước chúng tôi. Cho dù đi xa quê hương các Việt kiều cũng vẫn nhớ nét văn hóa này, vẫn không quên chuẩn bị mâm ngũ quả tươm tất để đón Tết. Như vậy, các bạn đã cùng tôi tìm hiểu về mâm ngũ quả – một nét đẹp văn háo lâu đời của đất nước tôi. Hi vọng những kiến thức này giúp các bạn hiểu thêm về đất nước con người tôi, qua đó tôi cũng mong nếu yêu thích phong tục này, các bạn cũng sẽ trưng bày mâm ngũ quả vào ngày Tết của đất nước mình. Xin chào các bạn và hẹn gặp lại vào một ngày không xa để tôi lại có thể vinh dự được giới thiệu về quê hương yếu dấu của mình.
Có 1 đoàn du khách nước ngoài muốn tìm hiểu về mâm ngũ quả trên bàn thờ của người Việt trong những ngày tết cổ truyền, em hãy thay mặt người dân Việt Nam giới thiệu về mâm ngũ quả
1,768
Có hai hạt cây nằm cạnh nhau hạt thứ nhất vườn mình mọc lên khỏi mặt đất, hạt thứ hai nằm im lìm em tưởng tượng và kể lại câu chuyện Hướng dẫn Những bài văn mẫu hay lớp 6 Văn mẫu lớp 6: Có hai hạt cây nằm cạnh nhau trong một ngày xuân ấm áp. Hạt thứ nhất vườn mình mọc lên khỏi mặt đất. Hạt thứ hai nằm im lìm. Một con chim bay qua, sà xuống … và điều gì sẽ xảy ra? Em hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện bao gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo. Đề bài: Có hai hạt cây nằm cạnh nhau trong một ngày xuân ấm áp. Hạt thứ nhất vườn mình mọc lên khỏi mặt đất. Hạt thứ hai nằm im lìm. Một con chim bay qua, sà xuống … và điều gì sẽ xảy ra? Em hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện. Hướng dẫn Tôi là một hạt phấn hoa bé nhỏ. Lúc nào tôi cũng được mẹ hoa ấp ủ trong lòng. Nhưng trong một trận bão, tôi đã phải lìa xa người mẹ yêu dấu và đáp xuống giữa một bãi cỏ nhỏ, và tôi đã làm quen với một người bạn thân khác. Tôi và người bạn đã nhanh chóng kết thân. Bạn ấy cũng bị trận bão đưa đến nơi này như tôi. – Ở trên đó chắc là lạnh lắm! Tớ không lên đâu! Nếu cậu muốn thì cứ lên một mình đi! Thấy bạn ấy quá sợ hãi, tôi cũng không thuyết phục thêm nữa. Tôi quyết định lên mặt đất một mình. Tôi vươn vai một cái thật mạnh. Thế là tôi trồi lên khỏi mặt đất và thấy khắp nơi sáng bừng ánh nắng xuân. “Ôi, đẹp quá!” – Tôi reo lên sung sướng! Trên mặt đất đẹp hơn cả những gì tôi đã tưởng tượng. Bầu trời xanh biếc với những đám mây trắng thơ thẩn dạo chơi. Mấy chú chim nhìn tôi, hót líu lo: – Lích cha lích chích, chào mừng bé mầm cây mới chào đời! Tôi thấy yêu cuộc sống này biết bao. Tôi muốn bạn tôi vùng dậy để cùng tôi hưởng niềm sung sướng này. Bỗng tôi thấy một con chim to lớn hung hăng bay tới đậu ngay sát gần tôi. Tôi sợ hãi nghiêng mình né tránh, nhưng có lẽ nó để ý đến bạn tôi nhiều hơn là tôi. Sau một hồi ngắm nghía, con chim cười ồ lên rồi nói: – Hà hà … Ta thấy rồi nhé! Ta thấy rõ một hạt cây nhút nhát nằm ép mình trong cái áo khoác cũ rích ấy mà không chịu vươn vai trồi lên khỏi mặt đất như người bạn dũng cảm này của ngươi …. – Một người nhút nhát như ngươi có sống trên đời này cũng chẳng làm gì được nữa, thôi thì để ta kết liễu đời người đi cho rồi. Nghe tới đây, tôi giật thót mình. Tình bạn mãnh liệt trong lòng tôi trỗi dậy. Tình bạn ấy đã lấn át hết sự sợ hãi trong lòng tôi. Chẳng kịp nghĩ ngợi, tôi dùng hết sức lực của mình, dang rộng cánh tay che không cho cái mỏ nhọn hoắt mổ vào bạn tôi. Thấy thế, con chim vô cùng ngạc nhiên, nó sửng sốt kêu lên: – Ngươi dám đưa tay ra chặn ta ư? Ngươi dũng cảm đấy! Nhưng sao ngươi không cho ta kết liễu cuộc sống của tên cây nhút nhát này? Tôi không trả lời câu hỏi của con chim mà chỉ chậm rãi nói: – Tôi biết tôi làm thế này là đã làm một việc vô cùng nguy hiểm, có khi còn tự đưa mình vào chỗ chết. Nhưng tôi không thể đang tâm nhìn người bạn thân ra đi như thế được. Xin ông hãy cho bạn ấy một cơ hội để thay đổi mình. Tôi hứa sẽ cố gắng thuyết phục bạn ấy! Con chim sững người một lúc lâu rồi nhìn chằm chằm vào người bạn của tôi và nói một câu thật to: Nói đoạn, con chim bay vút lên trời xanh và biết mất vào khoảng không bao la. Lúc này, bạn tôi đã hiểu ra mọi chuyện. Bạn ấy vươn vai, trồi hẳn lên khỏi mặt đất và cùng tôi đón ánh mặt trời tươi đẹp, ấm áp. Chẳng bao lâu, chúng tôi đã trở thành những cây to cao lớn, mạnh mẽ, có ích cho đời.
Có hai hạt cây nằm cạnh nhau hạt thứ nhất vườn mình mọc lên khỏi mặt đất, hạt thứ hai nằm im lìm em tưởng tượng và kể lại câu chuyện
771
Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Em hãy giải thích câu nói trên. Hướng dẫn Trong chúng ta, không ít những người mải mê học tập mà quên cả rèn luyện tính cách, đạo đức. Ngược lại, có những thanh thiếu niên được uốn nắn kĩ càng về đạo đức nhưng lại kém cỏi về tài năng. Cho nên có câu: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Câu nói ngắn gọn này thật có ý nghĩa sâu sắc. Chúng ta thử tìm hiểu kĩ hơn sẽ rút ra được bài học bổ ích cho mình. Tài là gì? Đức là gì? Tài là khả năng thực hiện một công việc hoặc sáng tạo một sản phẩm nào đó cho mọi người, có những người có thể thực hiện được những việc khác nhau một cách xuất sắc, ta gọi đó là người “đa tài”, có những người làm gì cũng thất bại, thất bại luôn luôn trong mọi lĩnh vực, ta gọi dó là người “bất tài”. Bên cạnh khả năng cống hiến cho xã hội, giá trị con người còn được đánh giá qua “đức”, tức là những phẩm chất về tâm hồn, tính cách, lối xử sự của một con người trong xã hội. Ví dụ: một con người có những phẩm chất như: nghị lực, trọng danh dự, giữ chữ tín, siêng năng, nhân ái… Người ta gọi đó là người có đạo đức tốt. Ngược lại, kẻ nào mang thói biếng nhác, đê hèn, xảo, trá, tham lam, độc ác… Ta gọi đó là loại người vô đạo đức. Thế nào là người vô dụng? Người vô dụng là người không giúp ích gì cho xã hội, không mang lại hạnh phúc cho một ai. Con người ấy sống cũng như đã chết, gọi là “sống thừa” trongxã hội. Tại sao thế? Vì một người có tài mà không có đức sẽ không biết sử dụng đúng chỗ tài năng của mình. Đôi khi tài năng ấy dùng vào những mục đích ngu xuẩn, độc ác thì thật là nguy hiểm và bất hạnh cho xã hội và dân tộc. Ví dụ: một kĩ sư hóa học giỏi mà vô đạo đức có thể kết cấu với bọn côn đồ để dùng hóa chất giết người, cướp của, phản bội dân tộc, chế tạo vũ khí sát hại nhân loại.v.v… Trái lại, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, vì tuy đạo đức người ây đáng tin cậy nhưng bên cạnh thiện chí, anh ta lại thiếu trình độ, thiếu khả năng chuyên môn hoàn thành công việc một cách xuất sắc. Ví dụ: một giám đốc có nhiều phẩm chất như: yêu nước, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm… nhưng lại không có tài điều khiển nhân viên, không đủ khả năng kiểm tra công việc của những người kĩ sư dưới quyền… thì xí nghiệp ấy khó lòng đứng vững, nói chi đến việc mở rộng hay phát triển. Từ đó, người có đức mà bất tài dễ bị coi thường, bị mất uy tín… Chẳng bao lâu sau ông ta sẽ không thuyết phục, không cộng tác, không làm ăn được với ai trong nước, còn hi vọng gì đưa sản phẩm của mình đi xuất khẩu? Một nguy cơ rất dễ xảy ra là khi người chỉ huy không thể kiểm soát được công việc của các nhân viên, những nhân viên có tài mà không có đức dễ dàng làm những việc gian tham, móc ngoặc gây phương hại đến cho xí nghiệp, mang hậu quả nặng nề cho vị chủ quản. Sau khi giải thích câu nói trên của Bác, chúng ta đã hiểu được ý nghĩa sâu xa, tầm quan trọng của TÀI và ĐỨC, nguyên nhân và mục đích của lời dạy trên. Đó là một lời nói thâm thúy nhấn mạnh tầm quan trọng thiết yếu của đạo đức, sau đó là tài năng. Nếu ai trong thanh niên chúngta cũng biết thực hiện được điều này thì thật là một tương lai sáng lạngcho tổ quốc ta. Một danh nhân thế giới đã nói: “Chín mươi phần trăm thiên tài là sự nhẫn nại”. Vậy chúng ta hãy cốgắng nhẫn nại trong việc rèn luyện tài và đức.
Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Em hãy giải thích câu nói trên.
746
Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Liên hệ bản thân – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Đất nước ta đang bước vào một thời kì mới, thời kì xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Nhiệm vụ lớn lao mà đất nước và thời đại đặt ra cho mỗi thanh niên ta là phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, bồi dưỡng tài năng để có thể gánh vác nhiệm vụ vẻ vang mà Tổ quốc và lịch sử giao phó. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn sống, trong một cuộc nói chuyện với học sinh có nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Lời nói của Bác đặt ra cho thanh niên, học sinh chúng ta một vấn đề rất cụ thể và cần thiết. Phải tu dưỡng, rèn luyện để có đức, có tài. Chúng ta nên hiểu lời dạy của Bác thế nào cho đúng? Có tài là có kiến thức, có kĩ năng, kinh nghiệm để hoàn thành tốt mọi công việc được giao dù công việc có khó khăn, gian khổ thế nào, dù tình huống có phức tạp đến đâu. Chẳng hạn, trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, các chiến sĩ binh chủng đặc công của chúng ta đã khéo léo ngụy trang để che mắt giặc, dùng tài năng và tinh thần dũng cảm chiến đấu của mình để tiêu diệt nhiều căn cứ ngay trong lòng giặc. Anh Đặng Thái Sơn, một nhạc sĩ pi-a-nô có tài đã biểu diễn xuất sắc các nhạc phẩm của nhạc sĩ Sô-panh, đoạt giải nhất trong kì thi âm nhạc quốc tế tổ chức tại Vác-xa-va, thủ đô của Ba Lan, quê hương của nhạc sĩ thiên tài. Anh Lê Bá Khánh Trình đã sử dụng tài trí của mình để giải xuất sắc các bài toán trong cuộc thi toán quốc tế, đem về tấm huy chương vàng cho Tổ quốc… Tài và đức, phẩm chất và năng lực là hai mặt của một con người. Có tài mà không có đức là người vô dụng, bởi lẽ có tài mà không đem ra phục vụ nhân dân, đất nước há chẳng phải là vô dụng sao? Có tài mà làm việc xấu, trái đạo đức, tiếp tay cho kẻ phản bội Tổ quốc thì chẳng những vô dụng mà còn có tội. Người có tài mà đạo đức kém thì tác hại càng lớn, càng phải phê phán, lên án. Một cán bộ quản lí giỏi nhưng tham ô, hối lộ thì chỉ gây thiệt hại cho Nhà nước và trước sau cũng dẫn đến sự yếu kém của đơn vị. Một học sinh học giỏi mà vô tổ chức, kỉ luật thì chẳng có tác dụng gì trong lớp… Đức và tài liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung lẫn nhau cho con người toàn diện. Đức là yếu tố quyết định nhưng không phải là cái gì chung chung, trừu tượng mà đức phải thể hiện cụ thể trong việc hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, đạt hiệu quả cao. Ngày nay, khi nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi mỗi chúng ta chẳng những phải cố gắng, nỗ lực, khiêm tốn học hỏi, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc và nhân dân, mà còn phải phấn đấu học tập không ngừng để đáp ứng những đòi hỏi của trình độ khoa học cao, để theo kịp những thành tựu của nhân loại, của các nước tiên tiến. Thanh thiếu niên chúng ta không thể thờ ơ, chạy theo lối sống mới sa đọa, thiếu đạo lí, mà phải không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức, tích cực học tập văn hóa, khoa học, tiếng nước ngoài để có khả năng tiếp cận trình độ tiên tiến của thời đại. Lời dạy của Bác là một bài học về nhân sinh, bài học về thực tế cuộc sống cần thiết cho mỗi người chúng ta. Lời dạy của Bác động viên, tiếp sức cho chúng ta tu dưỡng, vươn lên trên tầm cao của lịch sử, của thời đại mà mình đang sống. Riêng em, em thấy mình phải không ngừng rèn luyện tư cách, đạo đức của một người học sinh, một người thanh thiếu niên mới dưới mái trường Xã hội Chủ nghĩa, cố gắng để luôn luôn xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt. Chỉ có thể làm một học sinh tốt hiện nay, một công dân vá một cán bộ, một người lao động tốt sau này, mới có thể góp phần thực hiện mơ ước của bản thân, góp phần cùng thế hệ mới xây dựng đất nước ta giàu mạnh trong tương lai.
Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Liên hệ bản thân – Đề và văn mẫu 8
827
Có ý kiến cho rằng, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một “thiên cổ hùng văn”. Qua việc phân tích tác phẩm, hãy làm sáng tỏ nhận định trên Hướng dẫn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng văn bất hủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đề yêu cầu phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định là một “thiên cổ hùng văn”, vì vậy cần làm rõhoàn cảnh sáng tác, bốcục, thể loại, chủ đề của tác phẩm khi phân tích. 1. Hoàn cảnh sáng tác Sau 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, tháng 1 năm 1428, nhân dân ta dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước. Sau chiến thắng, Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô) để tuyên bốcho toàn dân biết rõ công cuộc cứu nước, trải qua nhiềunguy nan đã thắng lợi, từ đây dân tộc bước vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên hòa bình, thống nhất. 2. Tựa đề Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại cáo bình Ngô, nghĩa là tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô. Tên Bình Ngô đại cáo là cách đảo lại tựa đề cho dễ hiểu, chứ chưa hẳn là dịch. Chữ Ngô ở đây là cách gọi của người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương Bắc, với sắc thái coi khinh. Trong tác phẩm, quân Ngô chính là giặc Minh. 3. Thể loại – Bài văn được viết theo thể cáo, thể văn biến ngẫu, thường ra đời nhằm công bốsự kiện trọng đại của quốc gia hoặc sau một cuộc kháng chiến lâu dài. Đây là văn kiện chính luận, không phải lúc nào người ta cũng dùng. – Kiểu câu trong văn biển ngẫu: tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, gối hạc. – Phần 1 (từ đầu đến chứng cớ còn ghi): nêu chính nghĩa của cuộc kháng chiến. – Phần 2 (Vừa rồi… chịu được), tốcáo tội ác của giặc Minh. – Phần 3: thuật lại quá trình kháng chiến. – Phần 4 (Xã tắc..Ai nấy đều hay): tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỉ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước. 5. Phân tích 5.1. Nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến – Tư tưởng nhân nghĩa: Việc nhân dân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo + Đập lại luận điệu của quân Minh + Cuộc chiến của ta vì dân -> nội dung khác, cụ thể hơn (liên hệ). + Giải thích -> chiến đấu vì trừ bạo -> quân Minh, bọn tay sai. => Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lí tưởng xã hội phải chăm lo cho dân được sống có hạnh phúc, yên bình. – Tư cách độc lập của dân tộc. + Biểu hiện: tên đất nước, nền văn hóa riêng, bờ cõi, phong tục, nền chính trị, nhân tài. => Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia (so với các tác phẩm trước Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ). + Giọng văn: sảng khoái, tự hào. + Cách viết: câu văn biền ngẫu “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần… Cùng Hán, Đường, Tông, Nguyên..” -> Bình đẳng, ngang hàng (đế). => Cuộc chiến đấu của ta là chính nghĩa. 5.2. Tố cáo tội ác của giặc Minh – Liệt kê hàng loạt: Khủng bố(thui sống, chôn sống), bóc lột (thuế má: nặng thuế khoá; phu phen: những nỗi phu phen nay xây mai đập đất…; dâng nạp: còm lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng, bắt dò chim trả, bất bẫy hươu đen…; diệt sản xuất: tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ; diệt sự sống: Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng… Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Đây là hình ảnh vừa cụ thể, lại vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội. => Lột tả tội ác tày trời của giặc, làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn chúng. Đó cũng là lí do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến. 5.3. Lược thuật cuộc kháng chiến 5.3.1. Buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa – Hình tượng trung tâm là anh hùng Lê Lợi (Ta đây). + Tập trung miêu tả về nội tâm: ngẫm, đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai, giận, suy xét, đắn đo, trằn trọc, băn khoăn. => Chân dung tâm trạng Lê Lợi: lòng yêu nước, căm thù giặc, quyết tâm cao, nung nấu nghiền ngẫm chí lớn, là người nhìn xa trông rộng. + Hình tượng Lê Lợi có sự gởi gắm tâm trạng của Nguyễn Trãi, của toàn dân -> chân thực, xúc động. – Khó khăn trong buổi đầu kháng chiến: + Chênh lệch về lực lượng: ta yếu, địch mạnh + Thiếu thôn về vật chất + Hiếm nhân tài. – Vì sao vượt qua được? + Ý chí, tấm lòng cầu hiền + Có chiến lược, chiến thuật đúng đắn, đánh bất ngờ, đánh nhanh + Dựa vào sức mạnh nhân dân + Lấy nhân nghĩa làm cơ sở. – Giọng điệu: trầm lắng, suy tư. 5.3.2. Lược thuật chiến thắng – Diễn tả của trận đánh qua 3 bước + Phản công: Bô Đằng – Trà Lân -> bất ngờ; câu văn ngắn, chắc, hình ảnh bất ngờ: Sấm vang chớp giật, Trúc chẻ tro bay. Giặc: sợ hãi. + Tiến công: Tây Kinh, Đông Đô -> nơi đầu não của giặc. Trận chiến ác liệt -> hình ảnh máu chảy thành sông, thây chất đầy nội, giặc thất bại thảm hại. Mưu phạt tâm công dùng ngọn cờ chính nghĩa, dùng mưu trí và thu phục lòng người. Giặc tiến sang rầm rộ (câu văn dài) 2 mũi tiến công từ Khâu Ôn và Vân Nam. Ta: đánh bất ngờ, dứt khoát: chặt, tuyệt. Nhịp văn ngắt bất ngờ. Liệt kê -> chiến thắng dồn dập. Hình ảnh đối lập giữa ta và giặc. => Khắc họa sự thất bại thảm hại của kẻ thù và sức mạnh, khí thế của quân ta. Giọng điệu: sảng khoái, hào hùng khi khắc họa tư thế của người chiến thắng. – Thái độ nhân nghĩa yêu chuộng hòa bình: Giọng văn chậm rãi, khoan thai. Tha chết cho kẻ thù, cấp ngựa và thuyền để về nước. Muôn nhân dân nghỉ sức. Tính kế lâu dài. 5.4 Tuyên bố hòa bình – Giọng văn hả hê, vui mừng tin tưởng vào hòa bình lâu dài (Giang sơn từ đây đổi mới… Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu). – Một loạt các từ tả vũ trụ -> cảm hứng độc lập dân tộc được nâng lên gắn liền với cảm hứng vũ trụ bao la vĩnh hằng. Mặt khác thể hiện ý thức về sự thiêng liêng tôn kính lịch sử. 6. Chủ đề Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại, nêu cao lòng tự hào, niềm hân hoan vô hạn trước thắng lợi của chính nghĩa, ca ngợi tài năng lãnh đạo cả khí phách hào hùng của dân tộc. 7. Kết luận – Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có nên được mãi mãi là thiên cổ hùng văn. – Bài cáo thể hiện năng lực cấu trúc tác phẩm nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn chỉnh, năng lực tư duy hình tượng sắc sảo, biến hóa, hấp dẫn phù hợp với cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.
Có ý kiến cho rằng, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một “thiên cổ hùng văn”. Qua việc phân tích tác phẩm, hãy làm sáng tỏ nhận định trên
1,248
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Phát biểu cảm nghĩ của em đối với công ơn của cha mẹ. Hướng dẫn Ca dao có câu Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Em hãy giải thích câu ca dao trên (có liên hệ với cuộc sống thực của em). Phát biểu cảm nghĩ của em đối với công ơn của cha mẹ. DÀN Ý 1.Mở bài Ca dao có nhiều câu hay nói về tình cảm gia đình Nói về công ơn của cha mẹ với con cái, câu ca dao sau đây tình ý thật thấm thìa: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. 2. Thân bài * Ý nghĩa câu ca dao Thái Sơn là tên một ngọn núi bên Trung Quốc, là một trong năm ngọn núi lớn nhất, mà họ gọi nó là “Ngũ Nhạc”. Ví công cha với núi Thái Sơn là ví công ơn sinh dưỡng của cha chồng chầt như núi non, sừng sững và bất diệt. Hiện hữu thực tế và bất biến trong đời thường, trong xương máu của từng đứa con. “Nước trong nguồn” khác với nước mưa, nước hồ ở chỗ nó tuôn chảy mãi mãi. Mưa có lúc tạnh, hồ có lúc khô. Nhưng dù dòng nước ấy nhỏ như một khe suối, nó vẫn tuôn chảy quanh năm. Đó chưa kểnếu đó là nguồn thác, nguồn sông, thì nước ấy mênh mông tuôn hòa vào biển cả. Ví nghĩa mẹ với nước trong nguồn là ví tình mẹ bao la vô tận, không giới hạn, không đo đếm được. Đúng như một câu ca dao: Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày” “Đạo” là con đường. “Đạo làm con” là con đường đúng nhất mà người làm con phải tuân theo cho đúng luân lí đạo đức xã hội. Con đường ấy là “thờ mẹ, kính cha”. Người ta còn dùng chữ đạo để chỉ một tôn giáo. Mỗitôn giáo có một giáo chủ và những điều lệ, những lời răn về đạo đức. Người theo tôn giáo nào thì tôn thờ vị giáo chủ đứng đầu tôn giáo ấy. Nhưng nhiều người thờ Phật kính Chúa mà lại không thờ cha kính mẹ thì thật là lỗi đạo làm con. Làm thế nào để tròn chữ hiếu, tròn đạo con? Ởđây, lời khuyên của ông bà là: hãy “thờ Mẹ, kính Cha”. Vậy thế nào là thờ mẹ kính cha? Thờ Mẹ kính Cha không chỉ là chữ dành cho người đã khuất. Khi cha mẹ còn sống, thờ kính có nghĩa là vâng lời cha mẹ răn dạy, sống đúng đạo nghĩa, làm tốt những bổn phận người con, người học sinh, người công dân xã hội, mang danh thơm tiếng tốt, mang sự thành đạt của mình về để làm mát lòng cha mẹ. Dù nụ cười của cha không làm mẹ trẻ lại. Dù niềm vui của mẹ không làm tóc trắng hóa tóc xanh, nhưng sự thành đạt của con cái luôn là niềm hạnh phúc của cha mẹ. Khi cha mẹ đau ốm, miếng ăn, viên thuốc, bàn tay của con là nguồn an ủi cho cha mẹ đỡ đớn đau, đỡ buồn và hiu quạnh. Đó là nguồn sức mạnh tăng sinh lực, giúp cha mẹ chống chọi với cơn bệnh và vượt qua cơn bệnh. Phát biểu cảm nghĩ của em đối với công lao to lớn của cha mẹ. Tùy từng học sinh, phần này sẽ có nội dung khác nhau. Sau đây là một sốcâu gợi ý: Qua sự phân tích trên, em thấy ngay từ khi còn nhỏ, bổn phận của em đối với cha mẹ phải như thế nào? Từ trước đến nay em có làm được như thế không? Vì sao? Từ bây giờ về sau và sau này khi lớn lên, em sẽ làm gì để đền đáp công lao to lớn đó của cha mẹ? 3. Kết bài Tình cảm và cách cư xử của bản thân mỗi người đối với cha mẹ là thước đo đầu tiên đánh giá tư cách đạo đức của mỗi người. Cha mẹ có công lao to lớn đối với bản thân ta, chúng ta phải kính yêu cha mẹ, vâng lời cha mẹ, học tập và làm việc tốt đểcha mẹ vui lòng, lớn lên phai trông nom săn sóc cha mẹ. Nếu ta không chăm sóc cha mẹ chu đáo, thì sau này đừng trách sao con cháu bất hiếu với chúng ta.
Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Phát biểu cảm nghĩ của em đối với công ơn của cha mẹ.
746
Công việc là chất bồi dưỡng cho sự sống Hướng dẫn Công việc là chất bồi dưỡng cho sự sống Công việc là tất cả những việc phải làm, những hoạt động của con người bằng chân tay hoặc bằng đầu óc. Và sống trong cuộc đời, ai cũng phải làm việc, mỗi người ít nhất có một công việc hay còn gọi là nghề nghiệp chủ yếu. Công việc ấy sẽ đem lại cho chính cá nhân và xã hội những ý nghĩa to lớn. Công việc giúp ta duy trì cuộc sống, tạo ra của cải vật chất, những giá trị tinh thần cho xã hội. Đóng góp công sức của mình cho cộng đồng và sự phát triển của đất nước. Đem lại niềm vui, hạnh phúc cho chính bản thân và xã hội. Vì thế, công việc được xem là chất bồi dưỡng cho sự sống. Công việc là sự sống. Công việc cuốn ta vào niềm đam mê, yêu thích không còn thời gian trống để buồn chán. Có việc làm, người ta cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa. Ngược lại, nếu bị rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp hoặc không có việc làm, lười biếng con người ta dễ sinh ra buồn chán, bi đát, thất vọng, sống thấy không có nghĩa. Từ không có việc làm hoặc lười lao động dễ dẫn người ta đến hư đốn “nhàn cư vi bất thiện” trở thành kẻ vô công rồi nghề. Dẫn đến cuộc sống nghèo khó, túng thiếu. Dân gian thường có câu: Không dưng ai dễ đem phần cho ai” Dù ở vị trí nào, làm bất cứ công việc gì nếu ta trân trọng và say mê bằng cả tâm huyết của mình, ta sẽ tìm thấy niềm vui, hạnh phúc, sự giàu có và ý nghĩa cuộc sống. Đối với học sinh, học tập là công việc, nếu không say mê, lười biếng sẽ sinh ra buồn chán, hư đốn. Vì thế, say mê học tập, có tri thức bước vào cuộc sống sẽ giúp ta thoát nghèo, cuộc sống mới giàu có, hạnh phúc.
Công việc là chất bồi dưỡng cho sự sống
346
Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến Hướng dẫn Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến Tây Tiến là đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với quân đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào…Quang Dũng chính là đại đội trưởng trong đơn vị đó. Chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là thanh niên Hà Nội, trong đó có rất nhiều học sinh, sinh viên chiến đấu trong những hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, những người chiến sĩ trẻ vẫn sống rất lạc quan, yêu đời và chiến đấu dũng cảm. Viết về những người lính, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp với hai vẻ đẹp bi tráng và lãng mạn, hào hoa. Bút pháp lãng mạn của nhà thơ có khuynh hướng tô đậm những khác thường và sử dụng rộng rãi thủ pháp đối lập nhằm tác động mạnh vào cảm quan của người đọc. Cái khác thường, cái đặc biệt cũng để khêu gợi trí tưởng tượng vốn là đặc trưng của cảm hứng lãng mạn. Trong đoạn thơ đầu, hình tượng người lính Tây Tiến ẩn hiện trong bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ dữ dội. Nhắc tới hàng loạt các địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Lương, Mường HỊch… không theo trật tự nhất định nào cả, nó hiện về trong nỗi nhớ vơi đầy và ấn tượng về những chặng đường Tây Tiến đã phải hành quân nếm trải bao gian khổ, hy sinh. Mường lát hoa về trong đêm hơi” Người lính không chỉ mệt mỏi vì bị vùi lấp trong những đám mây mù dày đặc, mà còn phải trải qua bao núi dốc, rừng vô cùng hiểm ác: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Hình ảnh người lính khi đạt được độ cao như bay giữa mây ngàn, tâm hồn nhẹ lâng trút hết mọi mệt nhọc để phóng tầm mắt vào bốn phương ngắm nhìn “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ đã được phủ lên màn sương lãng mạn của những nốt nhạc, những vần thơ đầy tâm hồn người lính vượt lên cái khốc liệt của chiến tranh. Trong chiến tranh, người lính phải chịu đựng gian khổ, hy sinh nhiều nhất nhưng qua cái nhìn của Quang Dũng nói về điều đó thật nhẹ nhàng “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Bởi dẫu thế nào thì người lính cũng hiểu rằng khi dấn thân là chấp nhận, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Đó là vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến nói riêng và người lính trong các cuộc chiến tranh vệ quốc nói chung. Và trong tâm hồn người lính chan chứa bao cảm xúc khi được sưởi ấm trong cuộc sống vui đầy, đầm ấm tình gia đình của nhân dân: Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Tâm hồn như bốc men say ngây ngất, đâu đây dư âm của chiến tranh khốc liệt tạm lắng xuống và chỉ còn phút giây được sống trong hòa bình. Những vũ điệu,giai điệu xứ lạ đã đưa hồn thơ người chiến sĩ đến với những mộng mơ “ Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Hơn nửa thế kỷ qua đi nhưng bài thơ Tây Tiến vẫn mãi mãi khắc sâu trong tâm trí người đọc bức tượng đài thi ca về người lính bất tử. Hình ảnh người lính trong cả cõi sống và chết đều bi tráng, lãng mạn và hào hùng. Không chỉ ở người lính Tây Tiến mà còn là tinh thần, vẻ đẹp chung của hình tượng người lính trong suốt các cuộc trường chinh bảo vệ non sông đất nước.
Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến
658
Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của Tây Tiến Hướng dẫn Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của Tây Tiến Tây Tiến là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng, bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa và phong độ hào hùng của một nhà thơ chiến sĩ, Quang Dũng đã chạm khắc vào thời gian, vào thơ ca, và lòng người hình ảnh chiến sĩ vô danh của Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Là một thi phẩm xuất sắc đạt gần đến độ toàn bích, bài thơ Tây Tiến ở đoạn nào cũng có những câu đặc sắc, những hình ảnh thơ độc đáo. Nhưng sức hấp dẫn của bài thơ chính là vẻ đẹp của chủ nghĩa lãng mạn và tinh thần bi tráng khi khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến – người lính cách mạng xuất thân từ thành thị tham gia vào cuộc kháng chiến gian khổ mà hào hùng của dân tộc. Cảm hứng lãng mạn trong văn học là cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc, hướng về lí tưởng. Nó đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hàng ngày, nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của trí tưởng tượng liên tưởng. Cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, đối lập, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ. Cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới, vẻ đẹp con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Cảm hứng lãng mạn đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác, nó nâng đỡ con người có thể vượt lên mọi thử thách trong máu lửa của chiến tranh gian khổ để hướng đến ngày chiến thắng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện đậm nét trước hết ở cái tôi của Quang Dũng. Nó trào ra từ đầu bài thơ đầy ắp và mãnh liệt một nỗi nhớ – nhớ chơi vơi, một nỗi nhớ rất lạ, hình như nhẹ tênh mà nặng trĩu vô cùng, để rồi sau đó tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi” Nỗi nhớ trải dài theo dòng sông Mã trùng điệp theo hình non thế núi. Nhớ đến hụt hẫng, trống vắng trong lòng người. Tây Tiến là một đoàn quân, những tiếng gọi “ơi” lại trìu mến như tiếng gọi với một người thân. Ba vần “ơi” như da diết vang vọng vào vách núi. Đó là nỗi nhớ của tác giả với Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến. Nỗi nhớ da diết, lan tỏa thấm đượm trong từng câu thơ, hình ảnh thơ. Cái tôi Quang Dũng có mặt khắp nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cảnh chiến trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình thơ mộng đến đêm hội đuốc hoa đầy màu sắc xứ lạ phương xa, từ nỗi nhớ bản làng “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đến “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thật hào hoa, lãng mạn. Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến còn thể hiện đậm nét trong bút pháp lãng mạn. Những thủ pháp cường điệu, đối lập được sử dụng rộng rãi, sáng tạo đã tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hào hùng, hùng vĩ và cái tuyệt mỹ của con người và thiên nhiên. Thiên nhiên miền Tây Bắc qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng được cảm nhận với vẻ đẹp đa dạng, vừa độc đáo, vừa hùng vĩ dữ dội, vừa thơ mộng trữ tình, vừa hoang sơ mà ấm áp, làm say lòng người. Trí tưởng tượng bay bổng khiến thi nhân hình dung ra một “đêm hơi’, không chỉ có sương rừng ướt lạnh mà còn có cái lãng đãng, huyền ảo, cảm được cái oai linh của thần núi, thấy được cái “hồn lau nẻo bến bờ” và nghe thấu được cả tiếng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Nhà thơ nhớ những cuộc hành quân gian khổ qua những chặng đường núi non hiểm trở, thử thách ghê gớm với các chiến sĩ Tây Tiến vốn là những thanh niên đất Hà thành lần đầu tiên đến Miền Tây. Các tên bản, tên Mường như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… được nhắc đến không chỉ gợi bao nỗi nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang sơ. Nó vừa gợi ra sự gian nan, bí ẩn, thách thức, vừa gửi sự tò mò, háo hức của những chàng trai thành thị. Tất cả khung cảnh thiên nhiên đều được khắc họa với ấn tượng mạnh nhất. Đoàn binh hành quân trong sương mù ẩm ướt dày đặc đến mức che lấp cả đoàn quân. Nhưng ngay trong cảnh khắc nghiệt, người chiến sĩ Tây Tiến vẫn phát hiện ra vẻ đẹp của “hoa về trong đêm hơi”. Những bông hoa núi với hương thơm ngan ngát hiện ra dần dần mờ ảo qua đêm sương, qua cái nhìn say mê lãng mạn, khiến cái mệt mỏi của đoàn quân dường như tan biến. Bao đèo cao, dốc thẳm dựng thành phía trước mà người chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua: Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Dốc lên thì khúc khuỷu, gập ghềnh, ngoằn ngoèo; dốc xuống thì thăm thẳm, dựng đứng. Câu thơ giàu chất tạo hình như họa lại một chặng đường hành quân hiểm trở. Dốc núi ngoằn ngoèo, dốc vút lên ngàn thước, rồi lại đổ xuống thẳng đứng ngàn thước. Câu thơ cũng gập ghềnh với nhiều thanh trắc và cách ngắt nhịp 4/3 bẻ gập câu thơ tạo thế núi hoang dại, khủng khiếp. Độ cao của dốc như được đo bằng hơi thở dồn dập của người lính vượt đèo, nên càng ấn tượng. Những đỉnh núi cao mù sương, cao vút như chạm mây, mây nổi thành cồn heo hút ở lưng trời. Mũi súng trên vai của của người chiến binh được nhân hóa tạo thành hình ảnh “súng ngửi trời” vừa diễn tả được độ cao ngất, hoang sơ, lạ lẫm vừa hàm chứa vẻ đẹp tâm hồn người lính. Đó là chất tinh nghịch, hồn nhiên rất lính của người chiến binh Tây Tiến. Cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” thật dữ dội mà nên thơ. Mưa mịt mù khiến những ngôi nhà sàn Pha Luông ở lưng chừng núi thấp thoáng trong mưa như bồng bềnh trên biển khơi. Câu thơ toàn thanh bằng gợi không gian mênh mông, ngập chìm trong mưa qua cái nhìn từ trên cao trải xuống. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người lính Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành, yêu thương, nơi các anh đã và đang đem máu xương và lòng dũng cảm để bảo vệ. Gian khổ với các chiến sĩ còn là “thác gầm thét” dữ dội hòa với tiếng hú man dại, ghê gớm của thú rừng. “Cọp trêu người” như mang theo cái oai linh, bí ẩn của rừng đại ngàn. Vẻ hoang dại ấy không chỉ mở ra ở không gian cụ thể mà còn được khám phá ở thời gian “đêm đêm”, “chiều chiều”. Tác giả miêu tả thời gian, nhưng lại gợi được không gian núi rừng, lúc nào cũng âm u, hoang vu như trong bóng tối. Nó luôn là mối đe dọa sẵn sàng nuốt chửng con người. Đặc biệt họ toàn là những người lính trẻ thủ đô mới lần đầu rời thành phố đến rừng đại ngàn. Vì thế ấn tượng về Tây Bắc với những địa danh xa ngái, càng xa lạ, dữ dội, ác liệt, không kém cuộc đọ sức với quân thù. Những cảnh ấy cũng càng kích thích chiến sĩ không ngại ngần xông pha với tinh thần hào hứng hăng say. Đối lập với sự khắc nghiệt là vẻ đẹp tuyệt mỹ của thiên nhiên Tây Bắc. Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc như được kết bằng hoa rừng: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”; “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Đặc biệt đoạn thơ: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” Tất cả gợi nhớ cảnh Châu Mộc trong một buổi chiều sương phủ trên dòng nước mênh mông, hoang dại thật huyền ảo. Cảnh vật như nhòe đi, như mềm mại và có hồn hơn. Chữ “ấy” ở câu trên và chữ “thấy” ở câu dưới bắt thành một vần lưng giàu âm điệu. Hoa lau nở trắng sáng, lá lau lay động xào xạc trong gió vốn là những thi liệu cổ điển quen thuộc nhưng khi đi vào thơ của Quang Dũng như mang hồn lưu luyến của cảnh chia li. Nổi bật trên dòng nước là dáng uyển chuyển thanh tú trên thuyền độc mộc của các cô gái Tây Bắc. Hình ảnh “hoa đong đưa” vừa là hình ảnh tả thực: những bông hoa khẽ lay động đong đưa trên dòng nước lũ vừa như ẩn dụ, gợi tả vẻ đẹp của các cô gái Tây Bắc như những bông hoa rừng đong đưa trên sông nước. Đó là những vần thơ thi trung hữu họa, khiến người đọc như lạc vào cái đẹp của cõi mơ. Mơ những rất thực, làm say lòng người, nhất là các chiến sĩ Tây Tiến lãng mạn, trẻ trung, nó ẩn chứa tình yêu sâu nặng với thiên nhiên đất nước của Quang Dũng và của các chiến sĩ Tây Tiến. Hình ảnh những cô gái Tây Bắc, những con người Tây Bắc được gợi nhớ trong bài thơ càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Sau bao ngày đêm hành quân gian khổ, băng rừng vượt núi, trèo đèo lội suối, những người lính tạm dừng chân bên bản làng quây quần bên những nồi xôi bốc khói. Mùi thơm hương nếp mới và ấm tình quân dân đã xua tan bao nhọc nhằn gian khổ: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Gói xôi ấm tình cô gái Mai Châu, những cô gái miền sơn cước xinh đẹp làm nhiệm vụ nuôi quân không quản ngại vất vả, hiểm nguy đã để lại trong lòng người lính trẻ một nỗi nhớ không nguôi. Nỗi nhớ cất lên thành lời tha thiết “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói”. Hai chữ “mùa em” kết tinh cả hương nếp ngày mùa lẫn tình em ấm áp. Làng bản Mai Châu, bóng hình sơn nữ, hương nếp xôi quyện lại trong hình ảnh thơ thành nỗi nhớ ngọt ngào, bâng khuâng, lãng mạn trong tâm hồn của người lính trẻ.Những đêm liên hoan văn nghệ ở doanh trại bừng lên sôi nổi, vui tươi trong ánh lửa đuốc lung linh, trong âm thanh của tiếng kèn réo rắt, trong tâm hồn say sưa của người lính trẻ với những ấn tượng khó có thể quên. Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” Ngọn đuốc rừng thắp sáng đêm liên hoan văn nghệ truyền thống đã thành “hội đuốc hoa” khiến khung cảnh tuy thiếu thốn mà rực rỡ lung linh bao ước mơ, hạnh phúc. Hai chữ “kìa em” diễn tả cái nhìn ngỡ ngàng đến say mê, rạo rực của người lính trẻ. Hình ảnh các cô gái Tây Bắc bất ngờ hiện ra lộng lẫy trong bộ áo xiêm rực rỡ dưới ánh đuốc lung linh nhưng vẫn giữ nguyên vẻ e ấp, tình tứ trong điệu múa lạ như múa sạp, múa xòe… trong tiếng khèn mang linh hồn của núi rừng càng trở nên lôi cuốn. Tâm hồn các chiến sĩ mộng mơ, lãng mạn. Nét đẹp những đêm liên hoan văn nghệ trên biên cương xa xôi như đã “xây hồn thơ” cho thấy tâm hồn trong sáng, giàu mộng mơ, giàu lí tưởng trong kí ức của chiến sĩ trẻ. Giọng thơ hân hoan, say mê hoài niệm nhung nhớ một thời gian khổ mà hào hùng, lãng mạn đầy ắp nghĩa tình. Qua đó càng cho thấy đời sống tinh thần vô cùng trong sáng, phong phú, lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến ở nơi chiến trường gian khổ ác liệt xưa. Đặc biệt bức chân dung người lính Tây Tiến được vẽ những nét vẽ phi thường, khác lạ: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùm” Cả đoàn binh không mọc tóc ví sốt rét rừng khắc nghiệt, hoặc vì chủ trương cạo trọc tóc để tiện cho việc đánh giáp lá cà với địch. Quang Dũng không né tránh hiện thực của cuộc kháng chiến gian khổ này. Thơ ca kháng chiến chống Pháp cũng thường nói về căn bệnh sốt rét rừng: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh. Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” trong Đồng chí của Chính Hữu.Nhưng Quang Dũng cảm nhận sự thật này trong cảm hứng lãng mạn, anh hùng nên khắc họa được vẻ đẹp kiêu dũng của người lính vượt lên xem thường mọi gian khổ thiếu thốn. Từ ngữ mạnh bạo mang âm hưởng mạnh mẽ. Chữ “đoàn binh” có âm vang và mạnh hơn chữ “đoàn quân”; còn “không mọc tóc” thì gợi nét ngang tàng, chủ động, hiên ngang lẫm liệt của đoàn quân Tây Tiến trước hoàn cảnh. “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” là màu da xanh xao do sốt rét rừng, nhưng qua nét bút lãng mạn và cảm hứng anh hùng của Quang Dũng thì màu xanh ấy lại mang vẻ tươi xanh đầy sức sống của núi rừng. Hình ảnh “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” gợi ánh mắt quyết liệt, hướng đến quân thù, khao khát giết giặc lập công cho tổ quốc. Nhưng bên ngoài dáng vẻ oai phong đó là tâm hồn trẻ trung, trong sáng, giàu mộng mơ. “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” – lối diễn đạt này có vẻ cầu kì nhưng phù hợp với tâm hồn những người lính trẻ thủ đô xa người yêu đi kháng chiến. Nhớ về các cô gái hà thành, bóng dáng những thiếu nữ Hà Nội yêu kiều thơ mộng không hề phai nhạt trong tâm hồn những người lính ngay cả trong khói lửa chiến tranh. Lãng mạn đó là vẻ đẹp lạc quan, yêu đời của những người lính xuất thân từ thành thị đi kháng chiến. Tinh thần bi tráng trong tác phẩm văn học được thể hiện ở việc miêu tả hiện thực, không né tránh cái bi, tức cái gian khổ, đau thương. Cái bi nhưng không phải là bi lụy mà là bi tráng, hào hùng. Là cái chết nhưng không bi lụy mà là cái chết hào hùng lẫm liệt, cái chết đi vào cõi bất tử. Cái bi thường được biểu hiện ở giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ hào hùng. Tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến thể hiện ở chỗ lời thơ không né tránh cái bi, thường đề cập đến cái chết, nhưng đó không phải là cái chết bi lụy mà là cái chết hào hùng, mãnh liệt, cái chết của người chiến sĩ đi vào cõi bất tử.Trên nền thiên nhiên Tây Bắc dữ dội và huyền ảo, nhà thơ tô đậm hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hào hùng và hào hoa bằng bút pháp lãng mạn, nhưng không thoát li hiện thực và cảm hứng bi tráng. Bài thơ viết về chiến tranh, nhưng Quang Dũng không hề nói đến trận đánh, tiếng súng. Nhưng người đọc vẫn hình dung được sự khốc liệt của chiến tranh. Bởi bài thơ viết nhiều về sự hi sinh của người lính. Nhưng bằng ngòi bút tài hoa lãng mạn và cảm hứng bi tráng, Quang Dũng đã miêu tả điều đó một cách thấm thía, xúc động, hào hùng. Cái chết, sự hi sinh bao giờ cũng gợi cảm xúc đau thương. Hình ảnh những nấm mồ “rải rác biên cương mồ viễn xứ” càng nhân lên cảm xúc bi thương đó, nhưng cách Quang Dũng dùng từ Hán Việt trang trọng đã khiến cái bi thương lạnh lẽo mờ đi. Hơn nữa câu thơ tiếp theo: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Đã khẳng định mạnh mẽ khí phách của tuổi trẻ một thời không chỉ tự nguyện chấp nhận mà còn vượt lên cái chết, sẵn sàng dâng hiến cả sự sống, cả tuổi trẻ cho nghĩa lớn của dân tộc. Họ đã ra đi với tất cả lòng say mê của người thanh niên yêu nước, yêu lí tưởng, dâng hiến cả đời xanh, đời trai trẻ đầy hi vọng của mình cho tổ quốc. Đây không phải chỉ là cách nói của thơ ca mà thực sự đây là dũng khí tinh thần và hành động của nhiều thế hệ trong những năm kháng chiến. Với lí tưởng đánh giặc thanh thản đến lạ lùng như thế thì cái chết có nghĩa lí gì với họ.Các tráng sĩ xưa ở chốn sa trường từng lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh thì ở đây các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ của đồng bào tặng hay chỉ bằng tấm áo đẫm máu và mồ hôi của các anh cũng tạọ nên sự hi sinh bất tử. Sự kết hợp một từ Hán Việt và một từ thuần Việt: “áo bào” khiến tấm áo liệm thân của liệt sĩ trở nên trang trọng. Sự hi sinh của các anh là “về đất”, về lòng đất mẹ thân yêu. Một sự hi sinh thầm lặng, thanh thản như một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ. Giây phút vĩnh biệt đồng đội vang lên không phải bằng lời ngợi ca hay những giọt nước mắt, mà trong tiếng gầm của dòng Sông Mã như một “khúc độc hành” bi tráng. Dòng sông được nhân hóa như có linh hồn, có tâm trạng, cất lên tiếng khóc xót xa, thương tiếc, uất hận căm thù trong âm hưởng dữ dội, hào hùng của Sông Mã. Sự hi sinh của người lính Tây Tiến thấm đẫm tinh thần bi tráng và đậm đà chất sử thi. Và từ đây các anh đã hòa quyện vào cỏ cây, sông núi, trở thành hồn thiêng của đất nước. Bài thơ 3 lần nói đến cái chết, cái chết nào cũng đẹp, nhưng đẹp nhất là cái chết trang trọng này: Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Sang trọng vì được bao bọc trong tấm chiến bào, được về tụ nghĩa với đất mẹ quê hương và nhất là được thiên nhiên tấu lên khúc nhạc dữ dội và oai hùng để tiễn đưa hương hồn các chiến sĩ. Ở đây thủ pháp nhân hóa và cường điệu đã đẩy chất bi tráng lên đến đỉnh cao, kì diệu của nó.Chất bi tráng làm nên sắc diện bài thơ có mặt trong cả tác phẩm, nhưng nổi rõ và in dấu đậm nét nhất chính là đoạn Quang Dũng miêu tả chân dung người lính Tây Tiến. Những cặp hình ảnh đối lập giữa ngoại hình tiều tụy với phong thái “dữ oai hùm”; giữa “mắt trừng” và “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”; và nhất là sự đối lập giữa gian khổ, hi sinh với lí tưởng vì nước quên thân khiến sự hi sinh của người lính Tây Tiến trở nên cao đẹp bi hùng. Chiến trường Tây Tiến ác liệt hoang vu, nhiều thú dữ, bệnh sốt rét rừng gây nhiều tử vong… Nhiều chiến sĩ ngã xuống trên con đường hành quân là cái bi, là hiện thực khốc liệt của chiến trường, Quang Dũng đã không né tránh cái bi nhưng cái bi mang màu sắc, âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Cái tráng này là của Quang Dũng và của cả một lớp trai trẻ sống với bầu máu nóng: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cái tráng ấy lại gặp luồng gió yêu nước của thời đại anh hùng rực lửa nên càng hào hùng, rực rỡ. Đúng là bài thơ đã lột tả được cái khí phách của một thời đại và chắp cánh cho cái bi tráng bay lên như một nét đẹp hiếm có của một thời đại thơ. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng bao trùm bài thơ làm nên vẻ đẹp riêng của Tây Tiến, nhưng điều đó do đâu mà có? Ở đây có sự gặp gỡ giữa hồn thơ lãng mạn, hào hùng của thi nhân cùng nhân vật trữ tình là những người lính Tây Tiến cũng hào hoa, lãng mạn, với cái thời anh hùng rực lửa của buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, và chiến trường Tây Tiến ác liệt, dữ dội nhưng lại rất thơ mộng, trữ tình. Bốn yếu tố khách quan và chủ quan này như đã hội tụ mãnh liệt và da diết trong nỗi nhớ của Quang Dũng để trào ra cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong phút xuất thần của hồn thơ để sinh ra đứa con đầu lòng hào hoa tráng kiện – Tây Tiến.Như vậy, cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng luôn gắn bó với nhau, nâng đỡ nhau, cộng hưởng với nhau làm nên linh hồn bất diệt của bài thơ và tạo nên vẻ đẹp độc đáo của chân dung người lính Tây Tiến và vẻ đẹp đặc sắc của thi phẩm. Có những bài thơ đã sống cuộc đời thăng trầm và cũng quá nhiều truân chuyên, nhưng cuối cùng cũng định hình trong lòng độc giả và khẳng định giá trị đích thực của mình trong thi ca. Tây Tiến của Quang Dũng là một tác phẩm như thế. Bài thơ nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của thời kháng chiến, bởi đó là tiếng thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của một thời đại anh hùng rực lửa, không thể nào quên. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng đã làm nên vẻ đẹp riêng và giá trị bền vững của bài thơ Tây Tiến. Đó là vẻ đẹp của một thời hoa lửa hào hùng một đi không trở lại. Những tiếng thơ bi tráng và hồn thơ lãng mạn hào hoa của Quang Dũng đã kịp ghi lại và giữ cho đời một khung cảnh chiến trường đã đi vào lịch sử – một tượng đài bất tử bằng thơ về người lính vô danh ưu tú của dân tộc mà người đọc muôn đời yêu quý, tự hào. Nguồn: Bài văn hay
Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng của Tây Tiến
3,955
Cảm hứng trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Hướng dẫn Cảm hứng trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm là hai nhà thơ nổi tiếng ở hai thời điểm khác nhau. Một người ở thời kháng chiến chống Pháp còn người kia nổi tiếng ở thời kháng chiến chống Mỹ. Thế nhưng chính hoàn cảnh đất nước là xảy ra những cuộc đấu tranh chống quân xâm lược ấy mà hai nhà thơ này lại cùng có chung cảm hứng về đất nước. Chính vì thế họ cùng sáng tác ra một thi phẩm với tựa đề là đất nước. tuy nhiên cách khám phá về đất nước của hai người có những điểm chung và khác nhau. Vậy những điểm chung và điểm riêng biệt đó là gì? Trước hết là điểm chung thì họ đều chọn cho mình cảm hứng về quê hương đất nước. Đề tài về đất nước là một đề tài không mới nhưng cũng không bao giờ cũ bởi nó mang đến những tình cảm cá nhân của từng nhà thơ với đất nước của mình. Hai nhà thơ này cũng không nằm ngoài những nhà thơ viết về đất nước. Cả hai người đều là người có tài và yêu quê hương đất nước. Điểm chung thứ hai là tư tưởng đất nước của nhân dân. Chính nhân dân là người làm ra đất nước. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã viết về sự đứng lên của nhân dân ta trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ. Những người nông dân ấy căm hờn tội ác của thực dân Pháp vì thế cho nên họ đứng lên để bảo vệ tổ quốc của mình: “Khói nhà máy cuộn trong sương sớm Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng Ôm đất nước những người áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng” Còn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân qua hàng loạt các hình ảnh đất nước trong những hình ảnh thân thuộc, đồng thời chính những người nhân dân không biết mặt đặt tên lại chính là những người chiến đấu và làm nên đất nước. Bởi chính sự hi sinh của họ đã làm nên đất nước hôm nay. Không chỉ trong tranh đấu mà họ còn là người giữ gin giọng nói, dáng điệu, hạt lúa, ngọn lửa để truyền lại cho con cháu mai sau làm nên bản sắc riêng của con người Việt. Vậy chính họ đã tạo nên lịch sử của một đất nước, tạo nên văn hóa của đất nước: Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm nên đất nước” Và “Họ truyền cho ta hạt lúa ta trồng ……. Để đất nước là đất nước nhân dân Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao huyền thoại” Điểm chung thứ ba mà cả hai nhà thơ đều tìm thấy trong cảm hứng đất nước đó là hình ảnh đất nước đều hiện lên trong những hình ảnh thân thuộc của quê hương. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết: “Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa” Nguyền Khoa Điềm lại viết về những điều rất đỗi thân quen bình di: “Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…” Điểm chung thứ tư là thể thơ. Cả hai nhà thơ đều chọn thể thơ tự do để thể hiện cảm xúc của mình. Có thể nói thể thơ ấy là điểm thuận lợi để cho cảm xúc tuôn chảy một cách thoải mái nhất. Tuy có những điểm chung những cả hai bài thơ đều có những nét riêng biệt mà bài kia không giống. Nguyễn Đình Thi khám phá đất nước từ buổi sang mát trong của mùa thu nhớ ngày ra đi không ngoảnh lại buồn xao xác hơi may. Và đến ngày nay thì mùa thu đã vui tươi trở lai. Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ về những ngày thu đã xa ….. Trong biếc tiếng nói cười thiết tha”. Thế rồi từ chỗ nói về cảm xúc của mình mùa thu năm xưa và hiện tại nhà thơ khẳng định chủ quyền dân tộc qua những hình ảnh hữu hình vô hình của đất nước. Sau đó là hình ảnh đất nước của nhân dân qua việc chính nhân dân chịu những đau thương mất mát rồi từ đó bật lên những tiếng căm hờn đứng lên thành những anh hùng giữ nền độc lập tự do của đất nước: “Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta” Để rồi: “Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt nam từ máu lửa Đứng dậy rũ bùn sáng lòa” Đó chính là cách khám phá đất nước và cách thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân của nguyễn Đình Thi. Đất Nước đối với nhà thơ mà nói là đất nước từ những năm đau thương đến những giây phút đứng lên quật khởi chống lại bọn đế quốc. Có thể nói rằng nhân dân ta vốn hiền lành và ưa chuộng hòa bình thế nhưng nếu như chúng không biết điều và cố tình xâm chiếm đất nước ta thì nhân dân ta chắc chắn sẽ đứng lên đấu tranh. Mặc cho chúng có nhiều súng đạn đến đâu cũng không thể nào bắn chết được người Việt Nam yêu nước. Còn Nguyễn Khoa Điềm lại có cách khám phá riêng. Nhà thơ đi từ cội nguồn đất nước có từ bao giờ: “Đất nước có từ cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương sau bằng gừng cay muối mặn…” Và nhà thơ tiếp tục đi vào giải thích định nghĩa đất nước là gì trên bà phương diện không gian thời gian. Đất nước được tách ra thành hai khái niệm đất và nước sau đó lại được hợp lại thành đất nước. Không gian đất nước tồn tại trong chính cả tình yêu đôi lứa thầm kín, trong không gian sinh tồn của nhân dân ta. Đất nước còn là thời gian đằng đẵng từ thời mẹ Âu Cơ và Lạc Long Quân đến thời vua Hùng, thời của anh và em trong hiện tại và tương lai của con cái chúng ta. Để làm rõ cho tư tưởng đất nước của nhân dân nhà thơ đi vào phân tích tư tưởng ấy trên ba phương diện: địa lý, lịch sử, văn hóa. Ở phương diện nào thì người dân vẫn là người làm nên những di tích của đất nước. ở phương diện nghệ thuật chúng ta cũng thấy được sự khác nhau. Nếu như nhà thơ Nguyễn Đình thi thể hiện với giọng thơ khi buồn nhớ khi vui vẻ phơi phới khi lại hào hùng kể chuyện đứng lên của nhân dân thì Nguyễn Khoa Điềm lại góp vào chủ đề đất nước một giọng thơ trầm lắng suy tư, nhẹ nhàng thủ thỉ. Nó mang hơi thở của ca dao thần thoại. như vậy qua đây ta thấy được sự giống nhau và khác biệt của hai nhà thơ khác nhau ở hai thời kì khác nhau nhưng chung cảm hứng về đất nước. Mỗi bài thơ đều có một cách khám phá riêng song cả hai bài thơ đều chất chứa tình cảm của hai tác giả dành cho quê hương đất nước mình.
Cảm hứng trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
1,282
Cảm nghĩ bài ca dao Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không Hướng dẫn Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không”. “Miếng trầu” là cách nói hoán dụ lấy một bộ phận chỉ toàn thể, một cuộc lễ hỏi có ý nhắn nhủ, với thái độ nhún nhường nhằm trách nhẹ chàng trai. Với em thì dễ dàng thôi mà, sao chàng không sớm mạnh bạo tỏ lời ý ấy trong cảnh này làm dịu đi nỗi lòng đang cháy lên bao nhớ tiếc của chàng trai. Duyên dáng và nhân hậu biết nhường nào. Nhân hậu ngay trong một nghịch cảnh đã không thể khác, không thể lấy lại được rồi: Cô gái đã ngầm ý để rồi truyền báo một sự thật: “Bây giờ em đã có chồng” Về mặt lý, đến đấy đã có thể dừng lời. Vì trong cuộc gặp gỡ muộn mằn này, nỗi lòng phía chàng và cảnh ngộ hiện tại phía em dã trình bày tròn ý, cạn lời, đột ngột ở đây có làm cháy thêm nỗi tiếc thương, day dứt của chàng trong khung cảnh rạo rực bồi hồi? Bởi thế cần phải tiếp lời mới mong giãi bày hết lòng mình. “Như chim vào lồng như cá cắn câu Cá Cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra” Hình ảnh so sánh có ý nghĩa ẩn dụ “chim vào lồng, cá cắn câu” đã cụ thể hóa hoàn cảnh thực tại của cô gái. Nhưng không phải là lời than thở, ngậm ngùi đầy vơi nước mắt. Cùng với lối điệp câu, những hình ảnh ấy chỉ khẳng định một tình thế không thể đổi khác và cũng có ý khéo léo chối từ. Vả chăng, cô gái còn có ý này. Cô gái dường như chủ động khi nói về hạnh phúc của mình. Hình ảnh “chim lồng”, “cá chậu” không có ý nghĩa về sự tù túng bế tắc mà chỉ có ý nghĩa về tương ứng hoặc về một sự ổn định – Chim dã có nơi chốn có chủ, cá đã cắn mồi – đã có người câu, như phận em nay gái đã có chồng!
Cảm nghĩ bài ca dao Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không hỏi những ngày còn không
367
Cảm nghĩ bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Trước hết đây là bài thơ thể hiện thái độ và khí phách của tác giả trong hoàn cảnh bị chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) bắt cầm tù: ngồi trong tù, người chiến sĩ cách mạng vẫn hiên ngang, bất khuất và giữ một niềm tin sắt son và sự nghiệp cứu nước. Vì vậy bài thơ có sức truyền cảm lớn do nhiệt tình yêu nước sôi nổi, mãnh liệt của tác giả; do giọng thơ vui, yêu đời. Bài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú tuân theo đúng các qui tắc về bố cục, vần, niêm, luật của thể thơ này. Bốn câu thơ đầu có thể chia thành hai cặp: 1, 2 và 3, 4. Cặp 1, 2 theo bố cục của thơ Đường luật gọi là phần đề (thừa đề và phá đề) có nội dung nhằm giới thiệu vấn đề cần nói tới. Ở đây nhà thơ muốn nói tới hoàn cảnh mình bị bắt giam: Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Ý của hai câu có thể diễn đạt lại: mình ở tù không phải bị bắt mà vì chạy mỏi chân (từ hoạt động cách mạng đã nhiều), tạm thời nghỉ ở đây. Vào tù, mình vẫn giữ được tài trí và cách sống của mình: là người có chí lớn khác thường (hào kiệt), là người luôn giữ dáng vẻ lịch sự, trang nhã (phong lưu). Câu 3, 4 là phần thực, có nhiệm vụ tả cảnh hay trình bày sự việc do phần đề đặt ra. Đã khách không nhà trong bốn bể Lại người có tội giữa năm châu. Tả người tù mà nói “khách không nhà”, “người có tội” thì thật đúng. Chữ “đã” và chữ “lại” mở đầu hai câu thực càng nhấn mạnh thêm tình cảnh tù đày của người chiến sĩ cách mạng. Song gắn “khách không nhà” với “năm châu”, nhà thơ như muôn vẽ chân dung người tù một cách phóng khoáng hơn. Nghệ thuật bình đối trong hai câu thơ này không làm cho ý thơ đối chọi. Ngược lại, sự đối lập ấy lại càng tôn hơn chân dung khác thường của người tù: một con người của năm châu bốn biển, của toàn thế giới. Hai câu thơ này vẫn tiếp nối giọng điệu cười cợt, vui đùa như giọng điệu của hai câu đề. Như vậy, từ ý thơ đến giọng thơ, bốn câu đầu bài toát ra tinh thần lạc quan yêu đời, thái độ ngạo nghễ coi thường lao tù của người tù – chí sĩ Phan Bội Châu. Chính thái độ ngạo nghễ, tinh thần lạc quan yêu đời phân tích ở trên đã là một biểu hiện của khí phách hiên ngang, bất khuất. Nhưng bốn câu cuối thì thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất ở các khía cạnh khác: Hai câu 5, 6 là hai câu luận, có nhiệm vụ bàn luận, mở rộng vấn đề. Ở đây tác giả khẳng định: chí lớn tài cao của người chiến sĩ cách mạng không cảnh tù đày nào có thể đè bẹp. Do đó, bị bắt, nhưng người tù vẫn tự chủ: Dang tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Các động tác “dang tay”, “mở miệng” thể hiện thái độ coi thường, coi khinh mọi khó khăn trước mắt. Hai câu 7, 8 là hai câu kết, có nhiệm vụ nâng cao vấn đề hoặc bày tỏ cảm xúc của tác giả. Trong bài thơ này, hai câu kết khẳng định dứt khoát niềm tin của nhà thơ vào tương lai, thể hiện thái độ coi thường lao tù nguy hiểm. Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu. Hai tiếng “còn” đứng cạnh nhau tạo nên âm điệu khẳng định mạnh mẽ ý chí đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước. Nó như hai tiếng trống chắc nịch, âm vang, kích động lòng người, kết thúc một bản hùng ca. Tags:Văn 8
Cảm nghĩ bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông – Đề và văn mẫu 8
680
Đề bài: Cảm nghĩ bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà huyện Thanh Quan Bài làm Qua đèo ngang là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Qua khi bà đang đi qua đèo Ngang – một địa danh nổi tiếng với những phong cảnh hữu tình, mà nên thơ. Bài thơ chính là một bức tranh thiên nhiên đầy sắc màu nhưng những bộc lộ những tâm trạng man mác buồn của tác giả vì một thời hoàng kim đã tàn lụi của xã hội trước. Bước đến đèo Ngang bóng xế tài Cỏ cây chen đá, là chen hoa Chỉ bằng hai câu thơ đơn giản, tác giả đã khái quát lên toàn bộ khung cảnh và thời gian khi vẽ nên cảnh sắc nơi đây: chỉ mới khi bước chân đến nơi đây, khung cảnh nơi đây đã mang mác bóng hoàng hôn “xế tà”. Hình ảnh bóng xế tà như gợi đến một nỗi buồn mang mác phải chăng tác giả đang có chút nuối tiếc về một ngày trôi qua. Tại sao có một cảnh hoàng hôn đẹp đến như vậy, một cảnh đẹp trời cho như vậy mà tại sao như lời văn của tác giả lại mang một nỗi buồn đến như vậy? Nhưng phải chăng chỉ có cảnh hoàng hôn, ngược lại một hình ảnh khiến cho người đọc cảm thấy thích hợp: Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Trước hung cảnh hoàng hôn đang dần buông, lại có những hình ảnh cỏ cây chen nhau vươn lên đầy sức sống. NHững hình ảnh cây hoa ấy trông thật nhỏ bé đối với núi rừng và cảnh vật nơi đâ, nhưng chính những sự vật ấy lại vươn lên thật mãnh liệt. Ngay trong ánh chiều tà đang dần lụi tàn ấy, lại có những hình ảnh đối lập nhau đến vậy, những hình ảnh đã khiến cho người đọc thật nhiều suy nghĩ về những sự vật đó. Nếu hai câu thơ đầu, tác giả muốn gợi lên khung cảnh thiên nhiên thì đến hai câu tiếp theo, tác giả lại nhắc đến những hình ảnh của con người: Lác đác bên sông chợ mấy nhà Trong một bức tranh hiu hắt, những hình ảnh con người sẽ làm cho mọi vật trở nên sinh động hơn nhiều. Nhưng đến cả khi có sự hình dung của con người thì khung cảnh nơi đây cũng trở nên ảm đạm đến lạ lung, tác giả đã sử dụng từ “lác đác” và “tiều vài chú” để gợi lên sự cô đơn, lẻ loi. Làm sao mà hình ảnh con người nhỏ bé lại có thể so sánh với khung cảnh núi non hùng vĩ, hiểm trở đến vậy? Tưởng chừng như khi có sự xuất hiện của con người, cảnh vật sẽ trở nên ấm áp hơn, nhưng không, vấn như vậy, không khí xung quanh nơi đèo Ngang vẫn trở nên vắng vẻ, hắt hiu như vây. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Tiếng kêu của con chim quốc hay phải chăng chính là tiếng lòng của tác giả. Tiếng kêu của con chim quốc phải chăng đã làm phá vỡ cái cảnh yên tĩnh của nơi đây, của nơi bóng xế chiều sắp lụi tàn. Đâu chỉ có tiếng kêu của con chim quốc, đây còn là tiêng kêu của con chim gia gia gợi lên một nỗi nhớ thương nhà. Nhưng phải chăng là đây chính là tiếng lòng của tác giả, đó chinh là tình yêu thương quê hương đất nước, nỗi nhớ nước thương nhà da diết của tác giả. Kép lại 2 câu thơ trong bài, tác giả có viết: Một mảnh tình riêng ta với ta. Cảnh vật trên đèo Ngang lại hút vào tâm mắt của tác giả khi nhìn từ trên cao nhìn xuống lại thật hùng vĩ đến như vậy. Sự hùng vĩ thiên nhiên ấy, sự bao la của đất nước, núi non như đang níu chân của nữ thi sĩ. Những càng đáng lâu, càng được lặng ngắm khung cảnh hùng vĩ thu trong tầm mắt, tác giả lại nhận thấy môt nỗi buồn man mác, một nỗi cô đơn được ẩn hiện trong lòng mình. Đó như là một tiếng lòng được ẩn dấu sâu kín mà thi sĩ không thể nói với ai, chỉ có thể tự khắc khoải, từ chia sẻ, cảm thông. Âm hưởng của câu thơ như một tiếng trải lòng của tác giả muốn ở mãi nơi đây mà không nỡ về. Bài thơ như là một lời gửi gắm, tâm sự của tác giả đến người đọc, một nỗi buồn man mác, một tiếng thở dài đầy tiếng nuỗi trước hiện thực của xã hội cũ, một nỗi xót xa được dâng lên trong lòng của nữ thi sĩ để cảm nhận được nỗi nhớ nước, thương nhà trào dâng trong tâm hồn của nữ nhà thơ Bà Huyện Thanh Quan.
Cảm nghĩ bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà huyện Thanh Quan
827
Đề bài: Cảm nghĩ về câu nói “Đèn nhà ai nấy rạng” Bài làm Xã hội hiện đại khiến cho con người sống ích kỷ hơn, đòi hỏi nhiều hơn và ít quan tâm tới những người xung quanh. Theo kiểu cuộc sống “đèn nhà ai nấy rạng” Nhiều người sống trong một khu phố, một khu chung cư nhưng không bao giờ nói chuyện, chào hỏi nhau, không quan tâm tới chuyện của nhau. Thậm chí bên nhà hàng xóm có bạo hành gia đình, hay bị trộm vào vơ vét của cải thì những nhà xung quanh cũng câm lặng, mặc kệ xem như chẳng liên quan tới mình. Họ sợ những phiền lụy có thể xảy ra nếu như họ can dự vào. Con người sống trong xã hội là một cá nhân. Mỗi cá nhân là một mắt xích tạo nên một tập thể. Nếu một tập thể đoàn kết yêu thương nhau thì xã hội mới phát triển được, nhưng nếu những cá thể mà không đoàn kết thì sẽ tạo ra những xung đột, mối quan hệ thờ ơ, lạnh lùng, không có sự tương thân tương ái. Đèn nhà ai nấy rạng thể hiện những con người sống hẹp hòi, ích kỷ sống chỉ biết tới bản thân mình mà không quan tâm tới những người xung quanh mình. Đây là lối sống đáng lên án, thường có ở những thành phố lớn. Người xưa muốn lấy hình ảnh chiếc đèn trong mỗi gia đình để ám chỉ mối quan hệ giữa con người với nhau trong một cộng đồng, một tập thể. Nó là hình ảnh đầy ẩn dụ tinh tế. Trong mỗi gia đình sẽ có những sự sáng tối, sự sắp xếp khác nhau mà người ngoài không muốn bận tâm, can thiệp miễn sao nó không ảnh hưởng tới nhà mình là được. Câu nói này thể hiện mối quan hệ mờ nhạt, không gắn bó trong quan hệ cộng đồng xóm làng, láng giềng với nhau. Người xưa thường nói “bán anh em xa mua láng giềng gần” để thể hiện sự quan trọng trong mối quan hệ làng xóm, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, tạo điều kiện giúp đỡ nhau. Nhưng câu nói “đèn nhà ai nấy rạng” lại dạy con người ta sống khép kín, ích kỷ không quan tâm tới người xung quanh. Chính vì vậy lối sống này cần phải loại bỏ Những người sống ích kỷ, sống không quan tâm tới hàng xóm, tới những người xung quanh mình thì sẽ có những hậu quả đáng tiếc, đó là họ không nhận được nhiều tình cảm của những người xung quanh, khi họ gặp khó khăn chẳng có ai muốn giúp đỡ, cuộc sống con người ai cũng có lúc gặp khó khăn trở ngại mong muốn có một bàn tay chìa ra giúp đỡ mình. Một xã hội phát triển giàu mạnh là một xã hội mà những con người trong đó biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển, chứ không phải một xã hội sống lạnh lùng, ích kỷ theo kiểu đèn nhà ai nấy rạng.
Cảm nghĩ câu nói Đèn nhà ai nấy rạng
526
Đề bài: Cảm nghĩ của bạn về một người thân yêu nhất đời mình Bài làm Trong cuộc sống hàng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, mọi người thân yêu nhất của bạn là ai chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè chẳng hạn. Còn riêng tôi, hình ảnh người bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này. Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. 40 tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng (…). Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình. Cảm nghĩ của bạn về một người thân yêu nhất đời mình Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe lai. Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngả bóng. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương. Công việc ấy rất dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường xóc, thì nhừng cơn đau dạ dày của bố lại tái phát. Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có nhừng trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-40 độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vần cố gắng đứng dưới những bóng cây kia dợi khách qua đường. Tôi luôn luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hi sinh, chịu thương chịu khó như vậy. Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên khóc. Nhìn thây bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không? Những lúc ấy, tôi chi biết ôm bố, xoa đầu cho bố, tôi chỉ muốn bố đừng đi làm nữa, tôi có thế nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng ở tôi nhiều lắm. Bố luôn nói rằng bố sẽ luôn “chiến đấu”. “Chiến đấu” cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa bố học rất giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn bày dạy cho mấy chị em học bài. Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Bố thuộc Truyện Kiều hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nối tiếng… Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền đế phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong tuổi trẻ của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường sáng ngời, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy những lời bố dạy đế sống, lấy bố là gương sáng để noi theo. Và, tôi khâm phục không chi bởi bố là một người cao cả, đứng đắn, kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sông lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi. Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên tưới nước vào mỗi buổi sáng; những cây thiết ngọc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa nhài có bao giờ không tỏa hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật. Nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo thế mà có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim đẹp. Và hơn thế, trong suốt hơn 5 năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn. Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngả, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bàng đôi chân của mình, bởi bố đã đi xa, không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa. Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn (…). Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng, biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố đã chỉ đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỉ niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng nó như chính linh hồn của mình.
Cảm nghĩ của bạn về một người thân yêu nhất đời mình
1,317
Cảm nghĩ của em khi mùa xuân về Bài làm “Xuân đã về, xuân đã về…” – Xuân của đất trời, xuân của tình yêu. Câu hát vang lên như lời mời gọi, nhắc nhở mọi người hãy tạm gác những công việc mưu sinh, những gánh nặng cơm áo gạo tiền hằng ngày để hòa mình vào thiên nhiên, đất trời, để được cảm nhận những cái đẹp đẽ nhất, tinh túy nhất của tạo hóa ban tặng. Mùa xuân là thời điểm bắt đầu và cũng là thời điểm kết thúc của một chu kỳ tự nhiên: Xuân – Hạ – Thu – Đông. Sự chuyển dịch của vũ trụ làm cho muôn loài, muôn vật và muôn sự không ngừng thay đổi. Mùa đông sẽ qua đi và chúng ta được sống trong những ngày xuân. Mỗi mùa trong năm đều có một nét đẹp riêng. Hạ náo nức ve ngân, phượng nở rộ rực rỡ, thu trong xanh bầu trời và đông se sắt cái lạnh. Mùa xuân dường như được đất trời dành cho nhiều ưu ái hơn. Trong vòng luân chuyển của vũ trụ, không có sự hiện diện nào làm lòng người rạo rực hơn sự hiện diện của mùa xuân. Khi bóng dáng mùa xuân thấp thoáng bên thềm nhà, người người đều tất bật rộn ràng, ai nấy đều hối hả hoàn tất những gì còn dang dở. Nhịp sống những ngày giáp Tết như gấp gáp, khẩn trương hơn. Để khi mưa xuân đã tràn về khắp nẻo; khi hoa lá phô sắc màu rực rỡ không chỉ trên những vạt đất nâu mà trên cả những vỉa hè, phố chợ, trên đôi tay bao người; khi không gian tràn ngập hơi thở nồng nàn của mùa xuân và đâu đó vang lên những giai điệu thân thương của mùa xuân…thì mỗi người đều có những “bản tự tổng kết năm” cho bản thân, cho gia đình. Ai đó mỉm cười mãn nguyện với những thành công, ai đó ngậm ngùi khép lại những ngày thất bại và tất cả đều đặt ra cho mình những mục tiêu, hy vọng trước ngưỡng cửa mùa xuân. Cùng với mùa xuân trở lại, con tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông lạnh giá. Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ Thánh, bàn thờ Tổ tiên làm cho lòng mỗi con người thêm ấp áp, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm thấy như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan. Một mùa xuân mới đang tới! Sắc xuân rực rỡ trên những phố phường, cây cỏ dang cành lá quấn quýt với gió xuân, lòng ta tràn ngập niềm vui sướng trong sự thanh bình, chợt lặng lại, bồi hồi nghe những lời ca chân thành của người nhạc sĩ đa tài luôn tin vào những giá trị chân thật của cuộc sống con người. Một điệu valse nhẹ nhàng, êm ái thật thích hợp khi trời đất đang bẽn lẽn khoác lên mình chiếc áo rực rỡ của mùa xuân. Mùa xuân dặt dìu theo con én lượn về, mênh mang, mơ màng. Tưởng chừng như xuân thật đơn giản với tiếng gà gáy xa xa khi những giọt nắng trưa vàng cùng những sợi khói bềnh bồng len nhè nhẹ qua vòm cây, kẽ lá song lại có sức biểu cảm, lay động lòng người. Hòa trong sắc xuân, em trong tay anh bước đi trên con đường ngập tràn sắc xuân, lòng bồi hồi, hạnh phúc. Mùa xuân của đất trời hòa quyện cùng mùa xuân của hạnh phúc lứa đôi .
Cảm nghĩ của em khi mùa xuân về
639
Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi học xong câu chuyện Mẹ hiền dạy con Chúng ta đều biết rằng, không ai yêu thương lo lắng cho con bằng cha mẹ, không ai cả một đời lam lũ vì con bằng cha mẹ. Tình yêu thương chỉ có thể sánh với núi sông trường cửu mà thôi. Đã có biết bao câu chuyện, bài ca ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng. Tiêu biểu cho tình yêu thương, chăm sóc mong con khôn lớn thành người là người mẹ hiền của thầy Mạnh Tử trong câu chuyện Mẹ hiền dạy con. Mẹ hiền – hai tiếng gọi thiêng liêng, cao quý của những đứa con dành cho cha mẹ. Sao có thể quên được mẹ chín tháng mang nặng rồi đẻ đau, chắt chiu từng giọt sữa ngọt ngào nuôi con khôn lớn. Người mẹ nào chẳng ước ao con thành người có ích cho gia đình và xã hội. Bởi vậy người mẹ không chỉ có chăm chút chắt chiu nuôi nấng mà luôn san sẻ, thậm chí hy sinh vì con cái. Miếng nạc thì để dành chồng. Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng con ăn. Mẹ cho ta sự sống, cho ta một thân xác khoẻ mạnh và hơn thế mẹ cho ta một tâm hồn, một nhân cách và những tri thức về lễ giáo giúp con đứng vững trên cuộc đời này. Do vậy việc dạy con cực kì quan trọng, hơn thế phải lựa chọn cách dạy con cho phù hợp. Bà mẹ thầy Mạnh Tử quan tâm trước hết trong, việc dạy con là vấn đề môi trường sống của đứa trẻ. Bà hiểu rằng trẻ con Như tờ giấy trắng nó sẽ bị bôi đen nếu như môi trường xung quanh thiếu lành mạnh. Phải tạo cho con một môi trường sống tốt đẹp để đứa trẻ có thể tiếp thu những mặt tích cực, những yếu tố lành mạnh của môi trường sống đó mà tự phát triển và trưởng thành. Trẻ em trình độ nhận thức còn thấp chúng chưa thể phân biệt tốt xấu, trắng đen và do vậy chúng có thể bắt chước, làm theo tất cả những gì người lớn làm, nếu ở môi trường sống không tốt thì sẽ bị ảnh hưởng ngay những điều không tót đó, như khi ở gần nghĩa địa, thầy Mạnh Tử đã bắt chước người ta đào, chôn, lăn khóc; đến lúc dọn nhà ra gần chợ thì lại bắt chước nô nghịch cách buôn bán điên đảo. Cuộc sống chợ búa buôn bán làm cho đứa trẻ bị ô nhiễm, và mất đi những ý thức tuổi thơ, thay vào đó là sự đấu đá, bon chen thậm chí còn tồi tệ hơn thế kia. Bà mẹ thấy Mạnh Tử ý thức rõ ràng không thể cho con sống trong môi trường này được, bà dọn nhà đến bên cạnh trường học. Đến đây bà mới yên tâm Chỗ này là chỗ con ta ở được đây, đến ở cạnh trường học, một môi trường sư phạm dạy chữ, dạy người. Thầy Mạnh Tử đã bắt nhập và ảnh hưởng ngay cách Học tập lễ phép, cắp sách vở. Đúng là sự bắt chước học đòi của trẻ nhỏ khá nhanh nhạy, chúng có thể thích ứng ngay với môi trường sống. Môi trường sô'ng lành mạnh, tốt đẹp thì nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách. Được giao du, được sống bên cạnh những con người tốt trẻ nhỏ sẽ học tập được cách sống tốt. Và ngược lại nếu giao du với kẻ sấu, sẽ bị tiêm nhiễm thói hư tật xấu, làm ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ nhỏ thậm trí làm cho chúng phát triển lệch hướng trong nhận thức. Do vậy sự lựa chọn môt trường sống cho con, dạy con ra sao cũng là những công việc mà các bậc cha mẹ phải cần chú ý và thận trọng. Bà mẹ thầy Mạnh Tử đã lựa chọn môi trường sống cho con là cạnh trường học. Trong môi trường này thầy Mạnh Tử đã học tập được bao điểm tốt. Cách cư xử trong giao tiếp quan hệ thầy trò, quan hệ bạn bè, đồng môn, anh em… Tuy nhiên thầy Mạnh Tử không chỉ được sống trong môi trường mà người mẹ hiền thân yêu tạo lập, mà còn được bà dạy bảo ân cần. Bà nhận thấy cần phải làm gương cho con trong mọi công việc từ ăn nói, cử chỉ, hành động. Khi biết mình lỡ mồm bà mẹ đã kịp thời chữa lại ngay. Không phải bà đính chính lại câu nói đùa của mình mà đi mua thịt lợn về cho con ăn thật. Bà muốn chứng tỏ với con câu nói của bà là đúng vì Con ta thơ ấu, tri thức mới mỡ màng mà ta nói dối nó chẳng ra ta dạy nó nói dối hay sao?. Cách dạy con của bà thật khéo léo, bởi nếu để trẻ em nói dối từ lúc nhỏ thì thật nguy hiểm vô cùng. Hành động này của bà nhằm khẳng định một điểm rằng trẻ em có thể tiếp thu tất cả những gì mà nó thấy qua biểu hiện của người lớn. Và dĩ nhiên các cụ đã nói Giỏ nhà ai, quai nhà nấy câu nói không đơn thuần là dòng giống, thế hệ mà nó còn mang nặng tư tưởng nhân cách từ gia đình và cha mẹ. Cho nên không thể cho tâm hồn trẻ thơ một chút vẩn đục nào. Đôi lập với cách dạy khéo léo là cách dạy kiên quyết. Phải nói rằng cách dạy này của bà đã gây ấn tượng mạnh và có tác dụng tích cực đối với thầy Mạnh Tử. Bởi không chỉ tỏ thái độ kiên quyết phủ định việc bỏ học di chơi bằng hành động cắt đứt tấm vải đang dệt mà nó còn vang lên trong câu nói Con đang đi học mà bỏ học, thì củng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt dứt đi vậy. Bà mẹ phải đau đớn lắm mới nói như thế, và cũng kiên quyết lắm mới cắt đứt tấm vải như thế. Bà thật kiên quyết, đi học mà bỏ học đi chơi là hư, là thiếu ý thức, không cần cù siêng năng và như vậy tất dẫn đến hư hỏng. Hiện nay không ít những hiện tượng học trò bỏ giờ, trốn học hư hỏng mà cha mẹ không hay biết. Nếu như bà mẹ thầy Mạnh Tử không kiên quyết làm như vậy thì làm sao Mạnh Tử nhận ra lỗi lẳm của mình. Bà yêu thương con nhưng không nuông chiều con quá mức. Bài học cắt đứt tấm vải đang dệt mà-thầy Mạnh Tử được chứng kiến như thức tỉnh trong mình. Đau xót lắm bà mới làm như vậy. Tình yêu thương của bà mẹ dành cho Mạnh Tử vô bờ bến và đúng như dân gian đã nói Dạy con từ thuở còn thơ, Yêu thì cho roi cho vọt. Muốn cho con nên người, phải mẫu mực, nghiêm khắc đồng thời chọn cách dạy phù hợp mới đạt được kết quả cao. Mẹ thương con chưa đủ mà phải biết dạy con. Bà mẹ thầy Mạnh Tử là tấm gương sáng về tình thương và cách dạy con. Trên thực tế hiện nay cũng không thiếu những tấm gương sáng về sự giáo dục con cái thành người, nhưng bên cạnh đó còn khá phố biến tình trạng nuông chiều con cái quá mức, để rồi các “Cậu ấm”, “Quý tử”, “Công chúa” kia mắc vào con đường tội lỗi từ khi nào mà gia đình không biết. Câu chuyện tuy đơn giản nhưng có giá trị sâu sắc, nhắc nhở mọi người chúng ta trong việc dạy con cần phải thận trọng. Muốn chúng nên người trước hết phải lựa chọn môi trường sống thích hợp, cùng với lòng yêu thương, đức độ và đặc biệt phải mẫu mực về nhân cách cho các con noi theo. Có được như vậy các bậc cha, mẹ cần phải hiểu con cái cần gì, cho chúng học cái gì và dạy chúng ra sao?. Trong xã hội hiện đại với nền kinh tế thị trường hiện nay, làm được điều này không phải là dễ. Đây là vấn đề toàn cầu được xã hội quan tâm bởi Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai. Xuất phát từ câu nói ấy, câu chuyện Mẹ hiền dạy con lại càng có triết lý sâu sắc. Nó nhắc nhở chúng ta trong việc giáo dục con cái nói riêng và trẻ em nói chung. Xã hội tương lai sẽ ra sao, tốt hay xấu chính là nhờ vào thế hệ trẻ hôm nay. Câu chuyện không còn là vấn đề gia đình mà nó là vấn đề xã hội, vấn đề nhân loại trong việc giáo dục nhân cách con người.
Cảm nghĩ của em sau khi học xong câu chuyện Mẹ hiền dạy con
1,510
Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi học xong truyện cười Lợn cưới áo mới Bài làm Lợn cưới, áo mới là một trong những chuyện cười hay của nước ta, mang nhiều nét đặc trưng tiêu biểu cho thể loại này. Câu chuyện ngắn gọn giống như màn kịch nhỏ kể lại một cuộc “chạm trán” thật bất ngờ và thú vị của hai anh hay khoe của: Một anh khoe con lợn cưới bị sổng và một anh khoe chiếc áo mới may. Từ đó mà bật ra tiếng cười khoái trá trước cái cảnh hai con người “trổ tài khoe của”. Tính khoe của cũng là tính khoe khoang nói chung của con người nhưng lại mang một sắc thái riêng khá đặc biệt. Đây không phải là khoe trí tuệ, tài năng, học vấn, hay công lao, đóng góp, địa vị trong xã hội… mà là khoe của. Đành rằng khoe cái gì cũng là xấu, là không nên cần phải tránh nhưng khoe của thì thật là tầm thường, lố bịch, đáng cười, đáng phê phán chứng tỏ một nhân cách thấp hèn của loại người chỉ chú mục vào cuộc sống vật chất, tìm nguồn vui vào cuộc sống vật chất. Người có tính khoe của là người thích phô trương, huênh hoang những gì mình có với mọi người cho dù đó chỉ là “một chiếc áo mới” hay “một con lợn cưới”. Thói phô trương, huênh hoang đã trở thành một nhu cầu, một thói quen trong cuộc sống của họ đến mức không khoe của thì không thể nào chịu được. Khi khoe của, họ hãnh diện, họ sung sướng vì thấy mình giàu có hơn người, có những cái mà người khác không có và lấy đó làm hạnh phúc trong cuộc sống. Nhưng thật nực cười, lố bịch, tầm thường là những thứ mà họ khoe nào có lớn lao, nào có làm cho họ cao siêu, nào có phải là mthước do giá trị con người, mà trái lại chỉ làm cho họ nhỏ bé và thấp kém. Anh đi tìm lợn khoe của trong một hoàn cảnh đặc biệt: đang tất tưởi chạy đi tìm con lợn sổng, vậy mà vẫn không quên việc khoe của, bởi nó đã thành một nhu cầu, thành thói quen trong cuộc sống của anh. Trên thực tế, ta thấy rằng những người hay khoe bao giô cũng tìm cơ hội đế’ khoe của. Và cơ hội đã đến khi đi tìm lợn sổng lại gặp người đứng đó. Đi tìm lợn lẽ ra phải hỏi: Bác có thấy con lợn của tôi chạy qua đây không? thì anh lại hỏi to: Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?. Trong câu hỏi đã thừa từ cưới với người được hỏi nhưng lại cần đối với anh chàng khoe của. Thành ra câu hỏi của anh vừa có mục đích tìm lợn, vừa có thêm mục đích khoe của và dường như mục đích thứ hai “khoe của” quan trọng hơn, cần hơn. Từ cưới hoàn toàn lạc lòng trong câu hỏi tìm lợn, được chú ý hơn, ý thức hơn, nên hỏi to, nhấn mạnh, xoáy sâu vào đó và như vậy khiến người được hỏi phải chú ý vào điều mà anh ta muốn “khoe” của. Như vậy ta thấy rằng tính khoe khoang, phô trương của anh chàng trên đây đã rõ. Nó đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống. Anh ta lợi dụng việc tìm lợn để khoe của, và dĩ nhiên khoe khoang là hành động lố bịch, gây cười, nhưng khoe như anh ta lại càng đáng chê trách nhiều hơn. Anh ta nhấn mạnh “con lợn cưới” để cho anh chàng đứng đó tập trung chú ý và đâu biết rằng “anh áo mới” đang tìm cơ hội. Các cụ xưa vẫn nói già bát cơm canh, trễ manh áo mới nhưng thích thú đến như anh chàng trong truyện thì thật là điển hình cho sự lố bịch đáng chê cười và phê phán. Có áo mới, anh ta diện ngay rồi đứng hóng ở cửa, đợi mọi người đi qua khen. Chi tiết “đứng hóng ở cửa” thật buồn cười, đành rằng áo mới nhưng trê con cũng không đến mức như vậy. Nhưng đối với anh chàng trong truyện đó lại là điều bình thường, thói quen. Đứng suốt từ sáng đến chiều chỉ để khoe một cái áo thì quá buồn cười. Nó hoàn toàn trái với lẽ tự nhiên, thật lố bịch, ngớ ngẩn đến khó tin. Ấy thế mà hoàn toàn thật. Rồi chờ mãi cũng có người đi qua, khi trả lời anh lợn cưới thì cái tính khoe của ấy lại càng bộc lộ một cách hài hước và tức cười hơn nữa trong cả điệu bộ và lời nói của nhân vật. Anh ta liền giơ ngay vạt áo ra, bảo: Từ lúc tôi mặc cái áo này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!. Rõ ràng trong câu trả lời bộc lộ niềm vui sướng khi được cởi mở lòng mình, được “khoe” mà từ sáng đến giờ mới được bộc lộ, và như vậy cho nên phần đầu câu trả lời là thừa, không liên quan gì đến việc tìm lợn, thấy lợn cả. Người ta hỏi về con lợn song sao lại trả lời về cái áo mới? Anh ta lợi dụng câu trả lời để khoe chiếc áo mới, và để cho anh kia biết rõ hơn, anh ta giơ vạt áo lên cái áo có mặt trong câu trả lời về việc tìm con lợn thật lạc lõng. Nhưng có cụm từ từ lúc tôi mặc cái áo này có nghĩa là từ sáng đến chiều chẵng thấy con lợn nào chạy qua cả có phần hóm hỉnh làm cho phần thông tin thừa bỗng biến thành phần chỉ ý thời gian. Song nó càng lố bịch, nực cười của hai kẻ thích khoe của gặp nhau. Câu chuyện ngắn gọn nhưng ý nghĩa sâu sắc bao nhiêu. Truyện phê phán tính khoe khoang khoác lác của con người. Đây là một tính xấu khá phổ biến ở mỗi người mà vẫn thường mắc phải. Tính xấu ấy thể hiện trong cách nói năng, dáng điệu, cử chỉ và nó đã biến nhân vật thành trò cười cho thiên hạ. Trong cuộc sống ta vẫn thấy những sự việc như vậy. Người ta nhiều khi muốn người khác hiểu hơn về những khả năng của bản thân lại hoá ra lố bịch, nực cười. Do vậy trong cuộc sống cần tránh mắc phải những tính xấu này, đôi khi bản thân không kiểm soát được hành vi của mình để dẫn đến thành kẻ khoác lác, trò cười cho tính khoe của. Đã có bao câu chuyện phê phán những kẻ khoác lác khoe khoang trong cuộc sống. Tất cả, dân gian đã nhằm phê phán đả kích những thói hư tật xấu và khuyên mọi người hãy sống thật giản dị, khiêm tốn chân thành chớ đừng như hai anh khoe của như câu chuyện trên đây. Hai anh khoe của chạm trán nhau, họ rất tự nhiên bộc lộ bản tính của mình nhưng dẫu thế nào cũng không giấu được thói khoe của, khoác lác đến lực cười, đến lố bịch. Câu chuyện là một bài học đầy ý nghĩa cho chúng ta trong cuộc sống.
Cảm nghĩ của em sau khi học xong truyện cười Lợn cưới áo mới
1,253
Đề bài: Cảm nghĩ của em sau khi học xong “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch Bài làm Lý Bạch là một nhà thơ trong thời cổ đại nổi tiếng của đất nước Trung Quốc. Ông nổi tiếng với những vần thơ lãng mạn, trữ tình sâu lắng làm người đọc đắm say, như chìm vào trong chốn bồng lai tiên cảnh, nhưng cũng mộc mạc, giản dị gần gũi đời thường. Trong thơ của Lý Bạch những hình ảnh thiên nhiên như trăng, gió, mây, tuyết thường xuyên được xuất hiện được thổi hồn như một con người. Tác phẩm “Tĩnh dạ tứ” được tác giả Lý Bạch sáng tác trong những năm ông phải rời xa quê hương, sống cuộc đời tha phương, nay đây mai đó ở những vùng quê khác nhau, bất chợt một đêm khó ngủ ông bắt gặp vầng trăng sáng trong một phút xuất thần ông đã viết bài thơ này để thể hiện tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê hương tha thiết của mình. Bài thơ được viết với bút pháp bay bổng lãng mạn, trữ tình nhưng cũng có những nét mộc mạc giản dị, thể hiện tình cảm nhớ quê, nỗi buồn trong lòng của tác giả. “Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương (Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương) Khi nhớ về Lý Bạch người ta thường nhớ tới những bài thơ vương mùi thơm của rượu, thưởng thức tửu trà dưới ánh trăng, rồi tức cảnh sinh tình. Nhưng lần này dù vẫn là một bài thơ về ánh trăng nhưng lại trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác. Một không gian khác, nó không ma mị, ngà ngà say sưa, mà là hiện thực rõ nét, phản ảnh chân thực tới từng chi tiết, thể hiện cho việc tác giả hoàn toàn tỉnh táo, không có hơi men. Tác giả cảm thấy ánh trăng giống như một người bạn tri kỷ xa cách lâu ngày hôm nay mới có dịp gặp gỡ, cảm xúc vui mừng xen lẫn sự buồn vương, tủi hơn đang dâng lên trong lòng một cách vô cùng mãnh liệt. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương (Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương) Trong câu thơ đầu tiên tác giả thể hiện sự mừng vui khi thấy ánh trăng người bạn tri kỷ thân thiết lâu năm. Một câu thơ có ý ẩn dụ sâu sắc. Sự đối lập giữa ngẩng và cúi. Khi tác giả ngẩng lên thể hiện sự hướng tới, vươn cao nhìn thấy ánh trăng tâm trạng vô cùng hoan hỉ, nhưng khi những giây phút vui vẻ đó đi qua tác giả cúi xuống đối diện với trái tim ấm nóng của mình, một cảm xúc nhớ cố hương, nhớ quê nhà khiến cho người cảm thấy rưng rưng lệ. Ánh trăng thực chất là chất xúc tác dẫn dắt tác giả đi tới phía sâu trong tâm hồn mình. Ánh trăng hôm nay và ánh trăng nơi quê nhà, nơi cố hương vẫn là một vầng trăng. Tác giả chợt nhớ lại những ngày tháng sống ở quê hương chắc có nhiều đêm cùng uống rượu thưởng trăng, ngắm hoa thưởng nguyệt… Nhưng đêm nay trong một không gian khác, ở một nơi đất khách quê người vẫn vầng trăng đó nhưng cuộc sống hiện thực đã đổi thay rất nhiều. Với tứ thơ giản dị, ngôn ngữ bình dân và cảm xúc chân thành, bài thơ “TĨnh dạ tư” của Lí Bạch đã thực sự khiến người đọc cảm nhận được những xúc cảm tinh tế nhất. Có lẽ vì thế người ta mới nói thơ Lí Bạch càng đọc càng ngấm, càng thấm.
Cảm nghĩ của em sau khi học xong “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch
615
Cảm nghĩ của em về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Bánh trôi nước là một loại bánh dân dã thường thấy trong đời sống của nhân dân, bánh thường xuất hiện nhiều nhất và dịp mồng 3 tháng 3, tương truyền đó là ngày giỗ Hai Bà Trưng. Do vậy, nói đến chiếc bánh trôi nước người ta thường nghĩ đến chiếc bánh để ăn, thế nhưng nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương của chúng ta đã nhìn thấy một hình ảnh khác ẩn hiện trong chiếc bánh trôi chính bởi vậy bài thơ “Bánh trôi nước” của bà đã đem lại cho người đọc một ấn tượng rất sâu sác và mang ý nghĩa sâu xa. Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Mở đầu bài thơ, tác giả viết: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Câu thơ rất đơn giản và như là một lời giới thiệu về hình dáng của chiếc bánh, đó là hình dáng quen thuộc của chiếc bánh trôi ta vẫn thường gặp “vừa trắng, vừa tròn”. Chiếc bánh trôi được làm bằng bột gạo nếp nhỏ mịn và trắng tinh nên rất đẹp thế nhưng bên cạnh hình ảnh chiếc bánh trôi bình thường này còn gợi cho ta hình ảnh về người phụ nữ và điều đó được khẳng định qua từ “thân em”, rõ ràng nhà thơ muốn mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để nói về hình ảnh người phụ nữ có đáng vẻ bên ngoài thật đẹp, trắng trẻo, tròn trịa. Một dáng vẻ rất phụ nữ của người con gái Việt Nam. Câu thơ tiếp theo: Bẩy nổi ba chìm với nước non, Như vậy có thể nối mạch câu thứ nhất và câu thứ hai để thấy rằng Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh chiếc bánh trôi để nói lên thân phận vất vả long đong của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Chúng ta biết rằng chế độ phong kiến là một xã hội trọng nam khinh nữ, trong gia đình người đàn ông làm chủ gia đình nắm mọi quyền hành trong tay còn người phụ nữ thì chỉ việc sinh con và làm theo sự sai bảo của chồng, của người đàn ông trong gia đình. Chính vì vậy người phụ nữ thời xưa không có quyền lựa chọn hạnh phúc theo ý muốn của mình mà cả một đời họ chỉ có một việc là làm lụng nuôi chồng nuôi con, nếu may mắn được làm dâu trong một gia đình tử tế có người chồng tốt thì coi như tốt số, còn nếu chẳng may chồng xấu nết đánh đập hành hạ thì cũng phải cam chịu do vậy cuộc đời của những người phụ nữ thời xưa thường lênh đênh vất vả như chiếc bánh trôi nước. Với hình ảnh này ta có thể hiểu đó là một lời than vãn của Hồ Xuân Hương cho những người phụ nữ cùng thời với bà về sự gian truân vất vả kiểu như bà Tú: Quanh năm buôn bán ở mom sông. Nuôi đủ năm con với một chồng. Eo sèo mặt nước buổi đò đông. hoặc ta cũng có thể hiểu đó chỉ là lời giãi bày của bà khi nói về thân phận người phụ nữ. Họ vừa đẹp người vừa đẹp nết, tức là luôn là người phụ nữ ngoan hiền tận tụy với gia đình dẫu cuộc sống vất vả gian nan. Đây chính là vẻ đẹp tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam và điều này đã được khẳng định rõ ở câu thơ tiếp theo; Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Đọc câu thơ này lên ta vẫn thấy câu thơ chứa đựng hai ý tầng ý nghĩa, thứ nhất là ý nghĩa về chiếc bánh sẽ ngon sẽ đẹp là phụ thuộc vào người nặn chiếc bánh đó thế nào nhưng chiếc bánh vẫn; Mà em vẫn giữ tấm lòng son Chiếc bánh trôi bao giờ nhân cũng được làm bằng thứ đường đỏ và khi luộc lên dù thế nào thì nó vẫn giữ trong lòng cái nhân màu đỏ đó. Và từ đó ta có thể liên tưởng đến cái nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay người phụ nữ Việt Nam luôn là những người phụ nữ đảm đang, nhân hậu, dịu dàng, hơn thế học còn là những người sẵn sàng hi sinh vất vả cho chồng cho con. Và nét đẹp ấy luôn được giữ gìn dù cho cuộc sống của họ đầy vất vả, khó khăn. Câu thơ là lời thách thức, lời khẳng định dứt khoát của Hồ Xuân Hương trước số phận, trước cuộc đời. Đây đồng thời cũng phần nào thể hiện tính cách của Hồ Xuân Hương, một người phụ nữ mạnh mẽ, dám nói lẽn tiếng nói của mình, cái tôi của mình một cách dứt khoát. Đó là điều hiếm thấy đối với người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Bởi thời kì đó người phụ nữ ít khi dám nói lên cái quyền của mình, cái tôi của mình trong khi đó Hồ Xuân Hương lại là người dám bộc lộ thẳng thắn suy nghĩ của mình, điều đó được thể hiện trong cách dùng từ ở câu thơ đầu: Thân em đây là cách xưng hô rất tự tin biểu hiện cái tôi rất rõ. Vậy nên có thể thấy người phụ nữ thời xưa vất vả truân chuyên nhưng vẫn giữ được nét đẹp về phẩm chất của họ. Bài thơ được viết theo kiểu kết cấu đối lập đó là đối lập giữa cái vất vả khó khăn với cái đẹp tâm hồn và hình thức.
Cảm nghĩ của em về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
981
Cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ Hướng dẫn … Chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 là một chiến công lớn của quân và dân ta: ‘Trận chợ Đồn, chợ Rã Ta đánh giặc chạy re… Rồi Bông Lau, Ỷ La Ba trăm thằng tan xác… Tàu giặc đắm sông Lô Tha hồ mà uống nước. Máu tanh đến bây giờ Chưa tan mùi bữa trước…’ (‘Cá nước’ – Tố Hữu) Khi chiến dịch Việt Bắc đang diễn ra ác liệt, Bác Hồ đã viết bài thơ ‘Cảnh khuya’ theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’. Bài thơ tả cảnh khuya chiến khu Việt Bắc và thể hiện tâm trạng của Bác. Cảnh khuya Việt Bắc rất đẹp. Có suối và trăng. Có hoa và cổ thụ: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa’ – Thơ của Bác vừa có âm thanh, đường nét, màu sắc. Tiếng suối chảy rì rầm trong rừng khuya rất ‘trong’ được ví với ‘tiếng hát xa’. Cách so sánh ấy rất hay: lấy thiên nhiên so sánh với tiếng hát của con người đã làm nổi bật ý nghĩa cảnh. rừng chiến khu Việt Bắc mang hơi ấm và sức sống của quân dân kháng chiến. Nghệ thuật lấy động để tả tĩnh rất đặc sắc; tiếng’ suối trong nghe êm đềm gợi lên sự thanh vắng của rừng khuya. ‘Côn sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’:.. (‘Côn Sơn ca’) ‘Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm, Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông’… (‘Chinh phụ ngâm’) Hai câu cuối bài thơ nói lên tâm trạng của Bác. Cảnh khuya rất đẹp, Bác lặng ngắm rồi khẽ thốt lên: “Cảnh khuya như vẽ’. Ba chữ ‘người chưa ngủ’ thể hiện niềm thao thức, nỗi xúc động của nhà thơ: yêu thiên nhiên, yêu non nước hữu tình. Câu cuối bài thơ, cánh cửa tâm hồn của Bác như được mở rộng. Bác không chỉ thao thức vì xúc động trước vẻ đẹp cảnh khuya núi rừng chiến khu Việt Bắc mà còn vì một lí do sâu xa hơn nữa: ‘Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà’ Bác thao thức, lo lắng vì công cuộc kháng chiến của quân và dân ta, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Lúc bấy giờ, cuộc kháng chiếnchống Pháp đang diễn ra ác liệt khó khăn. Câu cuối bài thơ diễn tả tình yêu nước sâu nặng, thiết tha của Bác. Hai chữ ‘chưa ngủ’ được điệp lại hai lần đã làm cho thơ liền mạch, tô đậm tâm trạng thao thức, ‘lo nỗi nước nhà’ của lãnh tụ kính yêu. ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’ ‘Cảnh khuya’là bài thơ kiệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa mang tính thời đại, tính lịch sử. Cốt cách thi sĩ lồng trong tâm thế chiến sĩ. Ngôn ngữ thơ trong sáng, hình tượng thơ mĩ lệ, cảm xúc thơ nồng hậu. Tinh yêu thiên nhiên, tình yêu nước tỏa sáng trong những vần thơ đẹp mà em nhớ mãi.
Cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ
538
Cảm nghĩ của em về bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan Bài làm “Qua đèo Ngang” là tác phẩm nổi tiếng nhất của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ được viết khi bà trên đường vào Phú Xuân, đi qua đèo Ngang- một địa danh nổi tiếng ở nước ta với phong cảnh hữu tình. Bằng giọng thơ man mác, hồn thơ tinh tế và lối thơ điêu luyện, “Qua đèo Ngang” không chỉ là bức tranh thiên niên đầy màu sắc mà còn bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả, có chút gì đó nuối tiếc về thời phong kiến huy hoàng đã dần tàn lụi. Bài thơ “Qua đèo Ngang” được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mở đầu là hai câu đề: Bước đến đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Chỉ với câu thơ đầu tiên tác giả đã khái quát lên toàn bộ về hoàn cảnh, không gian, thời gian khi viết bài thơ. Cách mở đầu rất tự nhiên, không hề gượng ép, tưởng như tác giả chỉ thuận chân “bước đến” rồi tức cảnh sinh tình trước khung cảnh đèo Ngang trong buổi chiều hoàng hôn “bóng xế tà”. Hình ảnh “bóng xế tà” lấy ý từ thành ngữ “chiều ta bóng xế” gợi cho ta một nét gì đó buồn man mác, mênh mang, có chút nuối tiếc về một ngày đang sắp qua. Trong khung cảnh hoàng hôn đẹp mà buồn ấy, tác giả chú ý đến một vài hình ảnh độc đáo của đèo Ngang “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”. Với việc nhân quá các loại cảnh vật qua động từ “chen” cùng với phép liệt kê hoàng loạt cho ta thấy nét sống động trong bức tranh khung cảnh này. Cỏ cây cùng với đá núi, lá và hoa đua nhau vươn lên đầy sức sống. Những hình ảnh nhỏ bé nhưng sức sống thật mãnh liệt. Trong ánh chiều ta lụi tàn mà còn bắt gặp được những hình ảnh này để lại cho ta thật nhiều suy nghĩ. Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Hình ảnh con người đã hiện ra nhưng dường như chỉ làm bức tranh thêm hiu hắt. Tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ cũng với từ láy gợi tả để thể hiện lên điều này. Con người ở đây chỉ có “tiều vài chú” kết hợp với từ láy “lom khom” dưới núi. Cảnh vật thì “lác đác” “chợ mấy nhà”. Tất cả quá nhỏ bé so với cảnh thiên nhiên hùng vĩ của đèo Ngang. Dường như không khí vắng vẻ, hiu quạnh bao trùm lên toàn cảnh vật. Hai câu luận là nỗi buồn được khắc họa rõ nét qua những âm thanh thê lương: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Tiếng kêu thiết tha hay chính là tiếng lòng tác giả. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” là câu thơ từ điển tích xưa về vua thục mất nước hóa thành con cuốc chỉ biết kêu “cuốc cuốc”. Tiếng cuốc kêu khắc khoải càng làm bóng chiều thêm tĩnh lặng. Còn tiếng “gia gia” là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi “thương nhà”. Ở đây cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ rõ rệt. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp nhân hóa cùng chuyển đổi cảm giác gây ấn tượng mạnh đã cho ta thấy được tấm lòng yêu nước thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan. Dừng chân đứng lại: trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta. Cảnh vật đèo Ngang thật hùng vĩ khiến tác giả dừng chân không muốn rời. Cái bao la của đất trời, núi non, sông nước như níu chân người thi sĩ. Nhưng đứng trước không gian bao la hùng vĩ ấy, tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần dâng lên “một mảnh tình riêng ta với ta”. Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn thì nỗi cô đơn của người lữ khác cũng càng đầy. Một mảnh tình riêng, một nỗi lòng sâu kín, những tâm sự đau đáu trong lòng mà không biết chia sẻ nhắn nhủ với ai. Âm hưởng nhịp điệu câu thơ như một tiếng thở dài nuối tiếc. “Qua đèo Ngang” là lời nhắn gửi tâm sự của nỗi lòng tác giả đên người đọc. Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đượm nét buồn mà còn là những tiếc nuối, một tấm lòng yêu nước thương dân. Phải thật giàu cảm xúc, thật yêu thiên nhiên cùng con người, Bà Huyện Thanh Quan mới có thể để lại những vần thơ tuyệt tác như vậy.
Cảm nghĩ của em về bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan
810
Cảm nghĩ của em về bài Tào tháo uống rượu luận anh hùng trong Tam quốc diễn nghĩa Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về bài Tào tháo uống rượu luận anh hùng trong Tam quốc diễn nghĩa Đề tài về những vị anh hùng là đề tài nổi bật trong thời gian dài. Vì thế mà có rất nhiều tác phẩm nói về những vị anh hùng tiếng tăm lừng lẫy đặc biệt là tác phẩm Tam Quốc Diễm Nghĩa của La Quán Trung. Đây là một tác phẩm cực kì nổi tiếng cho đến tận ngày hôm nay và tác phẩm này đã được chuyển thành phim. “Tam quốc diễn nghĩa” là bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, gồm có 120 hồi. Tiêu biểu nhất trong tác phẩm này ta phải kể tới đoạn trích Tào Tháo uống rượu luận anh hùng. Đoạn trích Tào Tháo uống rượu luận anh hùng thuộc chương thứ 21 của bộ tiểu thuyết. Đoạn trích kể về cuộc uống rượu luận anh hùng của Lưu Bị và Tào Tháo. Cốt truyện rõ ràng gây cấn hấp dẫn người đọc muốn biết kết quả sẽ ra sao. Lúc thì thắt nút đẩy nhân vật vào nguy hiểm khi đi tới cao trào đỉnh điểm thì mở nút giải thoát cho nhân vật của mình. Ba anh em Lưu, Quan, Trương muốn cùng nhau xây dựng sự nghiệp trị quốc nhưng sức yếu nên đành phải sang nhờ Tào Tháo. Biết đây là cách làm mạo hiểm nhưng chỉ còn cách này vì biết Tào Tháo là một người mưu mô quỷ quyệt. Vì thế mà Huyền Đức đã trồng một bãi rau vun sưới thật tươi tốt ở sau nhà để Tào Tháo không nghi ngờ. Trước tiên Lưu Bị một người anh hùng đã giả vờ là một người nông dân suốt ngày chỉ biết chăn sóc vườn rau cho tươi tốt. Nhưng Tào Tháo là một người thông minh và sắc bén ông đã sớm nhận ra kế hoạch của ba anh, muốn thu phục người tài và tránh họa sau này ông đã mua chuộc dụ dỗ. Còn chị Lưu Bị thì vẫn chưa bị lộ ra. Tác giả thật sắc sảo trong việc xây dựng tình huống, ông đã dựng nên cảnh uống rượu giữa Lưu Bị và Tào Tháo ngồi đối diện nhau. Một cuộc nói chuyện đầy mưu mô và toan tính. Trong khi Tào Tháo là một người cực kì thông minh và gian trá luôn hỏi những câu hỏi đả động khiến Lưu Bị thi thoảng rơi vào thế bị động vì lo cho Huyền Đức. Chợt mây đen mù mịt, cơn mưa to sắp kéo đến, nghe quân sĩ nói đến vòi rồng. Rồi sau đó Tào Tháo đã cố ý hỏi Lưu Bị về sự chuyển biến của vòi rồng đây là câu hỏi mang ý xa xăm mang tính chất thăm dò về sự biến chuyển của Lưu Bị. Ông nói tiếp “Rồng lúc thì to, lúc thì nhỏ, lúc thì bay. lúc thì nấp. Lúc to thì nổi mây phun mù; lúc nhỏ thì thu hình ẩn bóng; khi bay ra thì liệng trong trời đất; khi ẩn thì núp ở dưới sông. Nay đang mùa xuân, rồng gặp thời biến họá, cũng như người ta lúc đắc chí, tung hoành trong bốn bề. Rồng ví như anh hùng trong đời…” Tào Tháo vốn là người thông minh sắc bén ông dần lái câu chuyện sang một hướng khác khiến Lưu Bị bị cuốn và và khó xừ khi ông lại hỏi về Huyền Đức: “Huyền Đức lân nay đã đi khắp bốn phương, bao nhiêu anh hùng”. Lưu Bị vốn tự nhủ mình là người trần nên ít được gặp các vị anh hùng. Tào Tháo vốn thông minh liền nói không được gặp nhưng ắt hẳn có nghe đến tên các vị anh hùng. Buộc Lưu Bị phải kể ra tên năm vị anh hùng Viên Thuật, Viên Thiệu, Lưu Biểu, Tôn Sách, Lưu Chương. Do quan điểm của mỗi người là khác nhau vì thế khi nghe Lưu Bị kể về các vị anh hùng ông đã gạt phăng đi. Theo ông thì::“Anh hùng là người trong bụng có chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm được cả vũ trụ, có chí nuốt cả trời đất” điều này càng thể hiện rõ bản chất bóc lột của giai cấp thống trị lúc bấy giờ. Còn đối với Lưu Bị thì anh hùng là những người mưu cao trí lớn biết vì nhân dân đây là một phẩm chất rất đỗi cao đẹp được người đời nể phục. Lúc này Tào Tháo lại nói “ Anh hùng trong thiên hạ ngày nay chỉ có sứ quân với Tháo này mà thôi!”. Từ đó làm cho Lưu Bị giật mình đánh rơi cả đũa nhưng may mắn lúc đó sớm to cũng vang nên lớn khiến cho Lưu Bị lấy cái cớ để che đậy khỏi bị lộ thiên cơ. Chính vì sự khôn khéo đó mà người đời vẫn có câu khen ngợi Huyền Đức rằng: Lộ mặt anh hùng, đũa rớt lăn! Vội vã bầy ra trò sợ sấm, Tùy cơ ứng biến lẹ như thần” Theo mọi người thì những người tài giỏi cần phải có đươc thì mí là vị anh hùng. Tào Tháo tuy giỏi nhưng không có đước bởi ông ta chỉ biết áp bức nhân dân dùng những mưu mô quỷ quyệt như thế không đáng là một vị anh hufnh của thời đại được nhân dân tôn kính. Bỗng Quan Vân Trường và Trương Phi xông vào. Khi thấy Lưu Bị và Tào Tháo đang uống rượu với nhau hai người nảy ra ý kiến lấy cớ múa kiếm cho hai người xem không sẽ bị lộ thiên cơ. Ngày hôm sau Tháo lại cho mời Lưu Bị đến uống rượu thì nghe được tin Viên Thiệu đã diệt Công Tôn Toản. Nhân sự kiện đó mà Huyền Đức có cơ hội “Ta đang như chim trong lồng, như cá trong lưới. Ta đi chuyến này cũng như cá ra biển cả, chim lượn trời xanh, không còn bị ràng buộc gì nữa!” Tháo cho người đuổi theo nhưng nhờ tài khôn khéo và mưu trí cuộc hành trình của ba anh em Lưu Bị vẫn diễn ra bình thường. Đây quả là một vị anh hùng xứng đáng biết chớp lấy thời cơ để làm nên việc lớn. Qua đoạn trích đã cho ta thấy được những vị anh hùng kiệt xuất cho xã hội biết cách nhẫn nhịn chịu đựng dù phải hạ thấp bản thân để làm nên sự nghiệp lớn. La Quán Trung cũng thật tinh tế và sắc sảo trong từng chi tiết của câu chuyện để làm bộc lộ rõ phẩm chất tốt đẹp của những vị anh hùng.
Cảm nghĩ của em về bài Tào tháo uống rượu luận anh hùng trong Tam quốc diễn nghĩa
1,139
Cảm nghĩ của em về bài Tào Tháo uống rượu luận anh hùng Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về bài Tào Tháo uống rượu luận anh hùng Có rất nhiều những tác phẩm để đời mà mỗi lần nhắc tới ai cũng đều yêu mến và muốn đọc đi đọc lại để suy ngẫm. Trong số những tác phẩm đã được học thì tác phẩm tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung là nổi bật và được biết đến nhiều nhất. Tiêu biểu trong tác phẩm này chúng ta không thể không kể đến đoạn trích tào tháo uống rượu luận anh hùng. Có thể nói đây là một đoạn trích hấp dẫn và lôi cuốn người đọc nhất. Tam quốc diễn nghĩa hay còn được gọi với một tên khác là tam quốc. Nó là một tiểu thuyết lịch sử của Trung Quốc được La Quán Trung viết ở thời thế kỉ 14 về thời kì hỗn loạn của Trung Quốc, tiểu thuyết này được xem là một trong bốn tác phẩm hay nhất của văn học Trung Quốc. Đoạn trích tào tháo uống rượu luận anh hùng ở chương thứ 21 của bộ tiểu thuyết kể về cuộc uống rượu của Lưu Bị và Tào Tháo. Cốt truyện ở đây hấp dẫn người đọc bởi sự thắt nút đã đẩy nhân vật vào đỉnh điểm của cao trào và sau đó là mở nút giải thoát cho nhân vật của mình. Qua đó chúng ta thấy được sự tài tình qua việc xây dựng nhân vật của tác giả. Ba anh em Lưu,Quan, Trương đang muốn xây dựng sự nghiệp, tuy nhiên do mới khởi nghiệp cho nên vẫn còn rất yếu, đất đai không có cho nên sang nhờ Tào Tháo. Huyền Đức trồng một vườn rau sạch sau nhà ngày ngày vun xới để cho Tào Tháo không nghi ngờ gì. Tào Tháo cũng không phải là người không biết gì, ông vốn sẵn có tính thông minh, có tài cho nên cũng đã sớm biết được âm mưu của ba anh em họ Lưu,Quan, Trương nhưng mà muốn thu phục người tài cho nên ông đã ra sức mua chuộc dụ dỗ họ. Vì muốn dấu mình cho nên khi được Tào Tháo mời đến uống rượu luận anh hùng thì Tào Tháo đã tái mét mặt mày. Tới đây thì kịch tính đã bắt đầu được xuất hiện. Đặc biệt là khi Tào Tháo nói “Huyền Đức dạo này ở nhà làm một việc lớn lao đấy nhỉ?” Lưu Bị lúc này hơi giật mình nhưng mà ông đã lấy lại được bình tĩnh nên đã trả lời lại là không có việc gì làm cho nên lấy đó làm trò tiêu khiển mà thôi. Khi bị Tào Tháo hỏi dồn về vị anh hùng thì Lưu Bị đành kể cho Tào Tháo nghe những anh hùng được thiên hạ nhắc tới chứ cũng chưa được gặp mặt bao giờ. Lưu bị đã cố gắng che đi cái giật mình của mình nhưng vẫn bị Tào Tháo phát hiện ra.Đây được xem như một cuộc đấu trí chứ không đơn thuần là uống rượu bình thường. Trong đoạn trích có những lúc chúng ta phải giật mình và lo sợ thay cho Huyền Đức bởi vì Tháo quá thông minh gian xảo luôn đẩy họ vào tình huống kịch tính. Qua đoạn trích ta thấy có khi Lưu Bị sợ đến tái mặt, có khi làm rơi cả đũa, có nghĩa là Lưu Bị thua nhưng mà trong cuộc đấu trí này ông lại là người giành được phần thắng, thực hiện thành công màn kịch của người có chí lớn mưu cao, biết chớp lấy thời cơ, biết cương nhu khi cần. Khi Lưu Bị kể ra đều bị Tào Tháo gạt phăng đi,nào là “ Viên Thiệu mặt béo mà gan non, háo mưu mà vô đoán, gánh việc lớn thì tiếc thân, thấy lợi nhỏ lại quên mệnh, không phải là anh hùng”. Khi Lưu Bị hỏi thế ai là anh hùng thì Tháo nói “ Anh hùng trong thiên hạ ngày nay chỉ có sứ quân với Tháo này mà thôi!”. Với câu trả lời này thì Lưu Bị nghe mà cũng không khỏi giật mình. Thật may lúc đó có sấm to cho nên Lưu lấy cớ sợ sấm để che đi sự giật mình không đáng có đó. Nhờ đó mà Tào Tháo nghĩ rằng tên này chỉ là một kẻ không đáng để Tháo quan tâm,là một nam nhi đại trượng phu mà lại sợ sấm. Chính sự khôn khéo đó mà Lưu Bị được an thân. Qua đoạn trích này ta càng thấy yêu mến thêm những bậc anh hùng thời xưa củaTrung Quốc, đồng thời khâm phục tài năng cũng như mưu lược của Lưu Bị. Không những vậy mà đoạn trích còn giúp ta tưởng tượng ra được lịch sử trung quốc thời bấy giờ
Cảm nghĩ của em về bài Tào Tháo uống rượu luận anh hùng
821
Cảm nghĩ của em về câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Bài làm “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Ta nên hiểu câu này như thế nào và đánh giá nó ra sao? Phải chăng đây chính là kinh nghiệm quý báu mà ông cha của chúng ta từ nghìn xưa đã để lại cho con cháu suy ngẫm và học hỏi. Câu tục ngữ dùng hai sự vật “gỗ” và “nước sơn” để làm một phép so sánh.”Gỗ” là chất liệu để làm đồ dùng như tủ,giường,bàn,ghế…Còn “nước sơn” là chất liệu để quét lên lớp bên ngoài cho các đồ dùng ấy thêm đẹp thêm bền.Nhiều người chỉ chú ý đến lớp nước sơn bóng nhoáng bề ngoài mà đã mua phải một đồ dùng bằng gỗ xấu hoặc gỗ mọt.Ông cha ta với kinh nghiệm sống của mình đã kết luận là: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Đó là hiểu theo nghĩa đen.Còn nghĩa bóng của câu tục ngữ thì rộng hơn rất nhiều.Nó bao hàm một lời khuyên về cách nhìn nhận,đánh giá một sự vật,một con người đừng nên để cái vỏ hình thức hào nhoáng bên ngoài mê hoặc mà phải coi trọng cái thực chất bên trong.Ngoài ra,câu này còn bao hàm một lời khuyên về cách sống;hãy sống chân thật bằng thực chất của mình,chân thành trong cách đối nhân xử thế,đừng ba hoa,khoác lác lòe đời bằng cái vỏ hình thức giả tạo,”chớ khéo đem cái mã bề ngoài để che đậy cái sơ sài bên trong”. Nhưng cũng không thể chỉ xem trọng nội dung mà lãng quên đi mặt hình thức.Một vật dụng,một món hàng đã có chất lượng tốt,gỗ tốt gỗ quý lại có bao bì,hay nước sơn xinh xắn tô điểm,trang trí đẹp đẽ thì giá trị vật dụng ấy,món hàng ấy càng được nâng thêm.Hình thức bên ngoài như thế đã góp phần làm tăng thêm cho giá trị bên trong.Một cái tủ,một chiếc bàn làm bằng gỗ đỏ hay bằng lăng mà lại còn được sơn bóng nhoáng hẳn sẽ vừa ý vừa lòng người mua.Một con người cũng vậy,có học vấn,đạo đức lại nói năng lịch sự thanh nhã,ăn mặc gọn gàng,sạch đẹp dễ làm ta thêm quý trọng hơn hẳn người tuy cũng có tài năng,đạo đức nhưng ăn nói thô lỗ,cộc cằn,áo quần xốc xếch.Đúng là cái đẹp lí tưởng phải là hài hòa giữa nội dung và hình thức. Tóm lại,”tốt gỗ hơn tốt nước sơn” không những chỉ giúp ta một phương châm đúng đắn trong việc nhìn nhận,đánh giá,chọn lọc ở đời mà còn giúp ta một phương châm trong cách đối nhân xử thế.Không nên dựa dẫm vào cái hình thức bề ngoài vay mượn,không phải của mình để vênh vang tự phụ với mọi người rồi không chịu tu dưỡng rèn luyện.Cũng đừng nên quá chú trọng hình thức bên ngoài,trang điểm mặt này,chưng diện quần áo mà quên đi cái chân giá trị của con người là đạo đức,trí tuệ và tài năng.Bài học mà câu tục ngữ này dạy ta thật là đúng đắn và sâu sắc. Tuy câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn xuất hiện đã khá lâu nhưng cho đến nay nó vẫn giữ nguyên giá trị. Câu tục ngữ là một lời khuyên sáng suốt, thiết thực trong cách đánh giá sự vật và con người trong mọi hoàn cảnh, đồng thời đó cũng là lời cảnh tỉnh đối với những ai chỉ chạy theo hình thức hào nhoáng bên ngoài mà quên đi phẩm chất tốt đẹp – yếu tố cơ bản tạo nên giá trị đích thực của một con người.
Cảm nghĩ của em về câu nói “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
622
Đề bài: Cảm Nghĩ Của Em Về Cây Hoa Tầm Xuân Mà Em Yêu Thích Bài Làm Trong tất cả những loài hoa em thích nhất là hoa của cây nụ tầm xuân. Không hiểu vì lý do gì mà em lại thích loài hoa này, hoa tầm xuân thường không thể cắm được mà chỉ có thể cắt vào ngắm hoặc cắm vào trong một chiếc lọ nhỏ. Em còn nhớ, năm em học lớp 4, bố em mua từ chợ hoa về một cây hoa, lá nhỏ nhưng thân cây nhỏ lắm, nhìn thì giống như cây hoa hồng nhưng khi em hỏi bố tên của loài hoa này thì bố bảo em: “đây là cây nụ tầm xuân”. Em thấy rất lạ vì từ trước đến giờ em chưa bao giờ nghe thấy một tên nào như vậy, bình thường chỉ là: hoa hồng, hoa violet, hoa ly, loa kèn,… nhưng nụ tầm xuân thì đúng là lần đầu tiên. Cây hoa làm em ấn tượng hơn rất nhiều khi bố em bảo phải làm dàn hoa để hoa leo lên giàn gỗ trước cổng em. Và thế là ngày nào em cũng chăm sóc cây để cây mau lớn, cũng chính bởi sự tò mò về loài hoa này, không biết khi nở ra nó sẽ như thế nào? Nên càng tò mò, em lại càng chăm chút cho cây nhiều hơn. Cây cứ từ từ lớn lên, những cành cây như cành hoa hồng, nhưng chỉ to bằng một phần tư của cành hồng, lá cây cũng vậy, bé bé, xinh xinh và cũng chiếc răng cưa nhỏ nhỏ như lá cây hoa hồng. Đăc biệt, trên thân khẳng khiu ấy lại có những chiếc gai nhọn và cứng, chỉ cần chẳng may chạm phải thì chắc chắn sẽ bị chảy máu. Cũng bởi thế mà bố em bảo cây hoa như một chàng vệ sỹ bảo vệ khỏi bọn trộm. Mỗi lần nghe bố em nói thế cả nhà em lại cười ồ lên, nhìn về phía cổng, những chiếc lá tầm xuân cũng đang rung rinh như để đồng cảm. Đúng như tên gọi của cây tầm xuân, vào những tháng chuyển từ đông sang xuân, những chiếc chồi non xanh mơn mởn lại nhú lên, rồi cả cây tầm xuân như căng tràn sức sống. Cây như một nghệ sỹ leo chuyên nghiệp, những cành cây bám chặt vào những song sắt, những cành non chưa tìm được chỗ bán thì cứ xòa xuống rồi đung đưa trước gió, mỗi lần thế, bố em lại “thiết kế” những chỗ cho cây bám tốt hơn. Đến tầm tháng 2-3, những bông hoa đầu tiên nhú ra. Em hào hứng lắm, không biết sẽ như thế nào. Nụ hoa y hệt như nụ hoa hồng, nhưng bé lắm, chắc chỉ bằng đầu đũa, rồi dần dần to dần lên. Nhưng có một điều khác, hoa của cây tầm xuân không mọc riêng như hoa hồng mà là mọc theo chùm. Một chùm có ít nhất từ 3 nụ trở lên. Khi những bông hoa đầu tiên bừng tỉnh giấc đông, những cánh hoa màu hồng nhạt, nhỏ xinh. Cánh hoa mềm mềm, được xếp thành từng lớp với nhau, trông như một cách xếp đầy nghệ thuật. Hoa có mùi thơm dịu nhẹ, không quá nồng như hoa ly nhưng lại mang đến một cảm giác của mùa xuân thật sự rất dễ chịu. Những chùm hoa đầu tiên đã nở, em cắt đem vào nhà cắm vào chiếc lọ nhỏ xinh, nhưng cành hoa mềm quá nên không thể đứng thẳng mà rủ xuống dưới, tạo nên một kiểu cắm rất khác biệt. Cho đến bây giờ em vẫn không hiểu nổi, sao một loài hoa nhỏ bé, khiêm nhường đến thế mà lại có một sức hút lớn đến vậy. Nó không rực rỡ hay ngát hương nhưng mỗi khi nhìn vào chúng, một cảm giác thanh bình và dễ chịu đến khó tả lại bỗng chợt ùa về trong em.
Cảm Nghĩ Của Em Về Cây Hoa Tầm Xuân Mà Em Yêu Thích
672
Cảm nghĩ của em về loài cây em yêu Hướng dẫn Nói đến bưởi Diễn thì có rất nhiều người biết đến, nó là đặc sản của vùng đất Hà Tây. Đất nhà tôi không rộng lắm nhưng vẫn cố giữ lại một cây bưởi như một sự tự hào về sản phẩm đặc biệt của quê mình. Cây bưởi nhà tôi được trồng ở vườn, ngay giáp sân. Cái ngày nhà tôi xây nhà mới, mọi người định phá đi để cho rộng nhà, nhưng suy đi tính lại, bố tôi quyết định không phá nữa mà càng chăm sóc nó nhiều hơn. Bà kể lại rằng từ trước khi qua đời, ông tôi đã trồng cây bưởi này, đúng dịp mẹ sinh tôi. Đến bây giờ cây đã cao to bằng ngôi nhà hai tầng. Dầm mưa dãi nắng nhiều năm, thân cây trở nên bạc phếch, đã thế còn mọc những u tròn, sần sùi, to bằng cái nắm tay. Cành cây vươn xa, tán lá rộng tỏa bóng mát cho chúng tôi ngày còn thơ ấu. Lá cây màu xanh sẫm, trông như những nậm rượu nhỏ, đu đưa trong gió. Hoa bưởi nhỏ xinh, trắng muốt tỏa hương thơm dìu dịu, thu hút nhiều loại ong bướm ve vãn. Hương bưởi đã từng đi vào rất nhiều bài thơ hay, nổi tiếng. Cứ đến vào dịp tết và đầu xuân, hoa bưởi nở rộ, mang theo mùi hương quyến rũ của nó bao quanh cả làng. Nhà tôi không có nhiều đất nên chỉ trồng một cây, những nhà có nhiều đất có thể trồng vài chục cây, thậm chí vài trăm cây. Vào những dịp đó, nếu có ai ghé thăm làng quê tôi, sẽ được hưởng cảm giác vô cùng sảng khoái của hoa bưởi. Những cánh hoa trăng trắng nhỏ xinh cuộn tròn theo gió, đuổi nhau trên những con đường gạch. Nhớ những ngày còn bé, lũ trẻ chúng tôi thường rủ nhau vào vườn nhặt những cành hoa kết thành vòng đeo đầy cổ, đầy tay. Có vài cậu nhóc nghịch ngợm, leo trèo làm cho những cánh hoa đang cựa mình tung ra, rơi lả tả xuống sân. Lũ con gái nhìn lên, xuýt xoa, tiếc nuối. Lại những buổi trưa hè, tôi hay trốn mẹ ra ngồi gốc bưởi vừa thưởng thức mùi hương ngọt ngào, quyến rũ mà đến tận bây giờ vẫn không thể quên được. Mùng một đầu tháng hay ngày rằm, mẹ tôi thường ra vườn từ sớm, hái những cành hoa bưởi còn đọng sương mai trân trọng đặt lên bàn thờ thắp hương. Nhìn bóng mẹ lặng lẽ đứng bên bàn thờ, tôi càng thêm nhớ tới ông hơn. Lá bưởi có thể đun nước để gọi đầu, nó không những làm sạch đầu mà còn làm cho tóc mượt mà óng ả. Qua cả mùa đông hanh hao, ẩm ướt mà tóc cuả chúng tôi vẫn mượt mà, óng ả. Bởi mẹ tôi thường hái lá bưởi cùng một số các lá khác trong vườn đun nước gội đầu cho chúng tôi, mẹ bảo như thế tóc mới đẹp. Mùi hương nhẹ nhàng thoang thoảng cùng cái mượt mà, tinh khiết của dầu bưởi đan vào từng sợi tóc. Cuối tháng ba, cây bưởi bắt đầu ra hoa kết trái. Ban đầu, nó chỉ bé bằng quả bóng bàn nhỏ. Thế rồi quả bưởi to dần theo năm tháng. Nó to bằng quả cam rồi đến bằng miệng bát ô tô. Vào tháng tám, những trái bưởi to, tròn trịa, mọng nước sai lúc lỉu trên cây. Quả bưởi chuyển từ màu xanh sẫm sang rám vàng trông rất bắt mắt. Mỗi lần về quê, bà thường ra vườn chọn những quả bưởi to tròn và ngọt nhất bổ ra cho cả nhà cùng nếm thử. Đưa múi bưởi chạm vào đầu lưỡi, mùi vị ngọt lịm, thơm thơm như tan trong miệng mà không ở nơi nào có được. Có thể nói, bưởi Diễn là sản phẩm đặc trưng của vùng quê tôi mà mỗi người dân đều cảm thấy yêu mến và tự hào. Khi lớn hơn một chút, tôi được đi nhiều nơi, được thưởng thức những đặc sản của các vùng quê khác, nhưng tôi vẫn ao ước sản phẩm của quê mình.
Cảm nghĩ của em về loài cây em yêu
720
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em về mái trường Bài làm Dường như trong mỗi người đều có một tuổi thơ. Tuổi thơ được biết đến là quãng thời gian đẹp đẽ và quý giá nhất của mỗi người. Và có thể trong tuổi thơ luôn có một ngôi nhà rộng lớn, ngôi nhà không chỉ chứa ta mà còn chứa cả thầy cô giáo, bạn bè, kiến thức và cả những tình cảm. Ngôi nhà ấy ai cũng biết và dường như đã dành một tình cảm đặc biệt cho nó, và nó chính là Mái trường thân yêu. Mái trường thân yêu có thể không gian có rộng rãi hay nhỏ nhắn thì đều luôn mở rộng đón ta. Dù cho chúng ta có lớn thế nào đi chăng nữa thì mái trường vẫn ấm áp, ngọt ngào và đẹp đến kì lạ. Mái trường được xem là cái nôi của tri thức, bước đường của tương lai, là bài ca của tình bạn, … là tất cả những gì của ta. Có thể nói rằng mái trường luôn luôn sát cánh bên ta, là con đường rộng, dài, đầy chông gai nhưng cũng thắm đượm tình cảm. Nếu như mà có để định nghĩa về mái trường thì quả thật rất nhiều nhưng nếu ai đó thực sự có mái trường trong trái tim thì mới có thể hiểu được sâu sắc điều đó. Mái trường dường như là một dấu ấn ngọt ngào nhưng cũng đầy nước mắt. Nhớ ngày còn bé thơ kia, khi ta lần đầu tiên cắp sách tới trường. Đối với chúng ta lúc đó mái trường mới xa lạ và bí ẩn làm sao. Dường như mọi thứ đều lạ lẫm, tất cả đều phải thay đổi. Ta dường như đã được vào một thế giới mới, ta phải tự bước trên chính đôi chân nhỏ bé của mình. Nhưng sát cánh bên ta chính là bạn bè thân thương dẫn đường chỉ lối cho ta là thầy cô. Và chính mái trường sẽ mở ra và tiếp nhận ta, chăm sóc cũng như yêu thương ta không kém gì gia đình. Thời gian vội trôi qua thật nhanh và đã để lại trong ta biết bao kỉ niệm. Giờ đây, dường như ta đã có kỉ niệm về mái trường; mọi thứ thật gần gũi, thân thiết và làm cho ta cảm thấy hạnh phúc. Có lẽ mái trường đã cho ta quá nhiều, những thứ ấy ta đều phải nhớ, phải trân trọng, coi nó như thứ quý giá. Và bạn hãy thử tưởng tượng xem một ngày kia bạn sẽ rời xa mái trường. Và khi ngày ấy đến thật, thì nước mắt ai sẽ rơi, trái tim ai sẽ buồn, lòng ai sẽ đau? Đó không ai khác mà chính là ta, bởi vì trong tim ta đã có mái trường, ta yêu thương và quý trọng mái trường. Mai đây, dù có đi đâu xa đi chăng nữa thì trái tim ta vẫn hướng về mái trường, về tuổi thơ. Mái trường là ngôi nhà thứ hai của ta. Nơi đây, cũng như đã cho ta nhiêu điều quí giá, luôn cổ vũ, động viên ta dù có thế nào. Cám ơn mái trường, tình yêu tuổi thơ của ta.
Cảm nghĩ của em về mái trường
549
Cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ khiến em nhớ mãi ( hộp phấn màu) Hướng dẫn Mở bài: Nếu tuổi thơ là một cuốn sách dày, tôi xin đươc mở lại từ trang đầu tiên nhất để nhắc nhở chính mình mãi ghi khắc từng kỉ niệm. Tôi sẽ dành trọn một ngày để nhớ về món quà tuổi thơ gắn với hình ảnh bà tôi. Món quà ấy dù chỉ là một hộp phấn màu nhưng nó chứa đựng cả nước mắt và nụ cười mà tôi đã đánh rơi trong kí ức. Cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ Tôi sinh ra ở một vùng nông thôn nghèo và nhà bà tôi cũng nghèo như thế. Vì cuộc sống mưu sinh, cha tôi phải đi làm xa, lâu lâu về thăm chúng tôi vài ngày rồi lại đi. Mẹ thay cha gánh vác mọi việc đồng án và chăm lo con cái. Thời gian của chị em tôi chủ yếu là quanh quẩn bên bà rồi xây những ngôi nhà chòi bên liếp chuối. Tôi vào lớp một nhưng chỉ được vài quyển sách cũ của anh chị trước và hai cuốn tập trắng. Giờ mỹ thuật tôi chỉ biết mượn những cây màu sáp của đứa bạn gần nhà để sơn. Có một lần vì giận tôi nó không cho mượn nữa, giờ mỹ thuật tôi bị điểm thấp với lời phê không đầy đủ dụng cụ học tập. Tôi đã khóc sướt mướt cả ngày hôm đó và kể lại cho bà nghe. Bà nựng cháu rồi mắng yêu “tổ cha bây, có vậy mà khóc lóc, để hai bữa nữa gom đủ mớ trứng gà với mấy trái ổi chín ra chợ bán, nội mua cho”. Hai ngày hôm sau, tôi chờ đợi và hi vọng. Tôi thấy bà tôi cặm cụi bắt từng con sâu và bọc từng trái ổi sợ lũ chim đến bói. Nội chăm chút cho cô gà mái mơ đẻ thật nhiều trứng. Và ngày thứ ba, nội tất tả đi chợ từ rất sớm. Nhà tôi cách con đường lớn hơn 2 cây số, nội phải lội bộ ra con đường lớn để bắt xe ôm đi chợ. Trưa hôm đó, vừa thấy bóng dáng bà tôi đã chạy đến và nhận món quà từ tay bà. Hộp màu hình chữ nhật khá nhỏ so với tưởng tượng của tôi nhưng lại nặng hơn hộp màu của các bạn tôi. Vỏ hộp bằng giấy cứng màu xanh nhạt có in hình những viên phấn màu xanh đỏ đang nằm ngay ngắn. Trong lúc háo hức tôi chẳng mảy may nghi ngờ dù đã đọc được dòng chữ trên mặt trước của hộp màu “phấn màu viết bảng không bụi”. Phía trên cùng gần nắp hộp có in logo nhà sản xuất “Công ty phấn MiC”. Phía dưới thêm vào một hàng chữ khá to viết bằng tiếng Anh in màu đỏ mà sau này tôi mới biết nó cũng có nghĩa là phấn bảng. Tôi không đợi đọc hết những gì bên ngoài vỏ đã lấy màu ra sơn vào tập. Thế nhưng tô đến đâu phấn bay đến đó chẳng chút nào bám vào tập. Tôi phát hiện ra đó là phấn màu dành cho thầy cô viết bảng chứ không phải bút sáp màu mà tôi mong muốn. Tôi lật tới lật lui hộp phấn, bên hông hộp có để số lượng 10 viên phấn màu. Phải rồi 10 viên phấn màu của tôi còn nằm ngay ngắn trong một giá đựng bằng giấy với các màu xanh, đỏ, vàng, trắng, cam, hồng, da trời, xám, nâu, lục. Thế nhưng nó chẳng phải là bút sáp màu. Tôi òa lên khóc tức tửi. Tôi bảo bà không thương tôi, bà chẳng hiểu tôi. Những lời nói ấy mãi sau này khi nhớ lại, tôi ân hận vô cùng. Lúc ấy, bà tôi buồn lắm, bà lẳng lặng lau dòng nước mắt rồi hứa với tôi sẽ dẫn tôi mua hoppj bút sáp màu thật sự. Giá mà tôi hiểu được bà đã dành dụm tiền và lặn lội đường xa vì tôi, tôi đã không cư xử thế. Trên đời, không có gì là vô dụng cả. Bà tôi xin của chị hàng xóm một tấm bảng thật to nhưng bị vỡ về treo ngay ngắn ở trước nhà. Tôi thích thú dùng phấn màu viết lên bảng và tưởng tượng mình là cô giáo tí hon. Tôi nắn nót cả ngày để luyện chữ mà chẳng cần đi chơi cùng đám bạn. Có bảng và phấn, tôi dạy các em mình đọc chữ O, A. Lũ trẻ hàng xóm thích thú cũng sang chơi và tôi nghiễm nhiên trở thành cô giáo học chưa hết lớp một. Từ ngày tôi siêng năng luyện chữ và học bài cùng viên phấn, kết quả học tập của tôi tiến bộ rõ ràng. Anh đối diện nhà cho mượn chì màu trong môn vẽ nên tôi cũng quên đi lời hứa của bà và không đòi bà mua cho mình sáp màu nữa. Thấy tôi vui vẻ nâng niu từng viên phấn, bà cũng mỉm cười hài lòng. Nhờ luyện chữ mỗi ngày nên tôi được tuyển đi thi chữ đẹp cấp trường. Kết quả được giải nhì và chuẩn bị đi thi cấp huyện. Cha, mẹ tôi rất vui đã thưởng cho tôi một quyển vỡ trắng tinh và một cây bút thật đẹp. Bà ôm tôi vào lòng rồi nói nhỏ “nội có tiền rồi, nội vừa bán mớ trầu với buồng cau sau hè, mai bà cháu mình đi chợ, nội mua cho con hộp màu”. Tôi lại háo hức định nhận lời nhưng nghĩ lại nội mặc chiếc áo vá vai nên thôi. Tôi nói với bà “Con có màu rồi nội, anh An cho con hộp màu cũ, nhưng nó còn mới lắm bà”. Bà cười to “Tổ cha bây, lúc trước đòi lắm mà giờ lại thôi, vậy và để tiền sang năm tới bà mua cho bộ sách mới mà đi học”. Thế mà chưa đến sang năm học mới, bà tôi đã mất. Tôi nghẹn ngào ôm món quà bà tặng rồi âm thầm khóc. Với tôi giờ đây, hộp phấn màu không chỉ là người bạn đồng hành mà còn là một kí ức chẳng bao giờ tôi muốn mất đi.
Cảm nghĩ của em về món quà tuổi thơ khiến em nhớ mãi ( hộp phấn màu)
1,071
Cảm nghĩ của em về mùa hạ cuối cùng của thời áo trắng Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về mùa hạ cuối cùng của thời áo trắng Bài làm Có những khoảnh khắc trôi đi không trở lại, có những điều dù níu giữ lại cũng chỉ ở trong tim. Có những mùa hè xa rồi còn gặp lại nhau khi năm học mới đến. Nhưng có một mùa hè, mùa hè cuối cùng của thời áo trắng mãi mãi đứng đó, không trở lại. Mùa hè năm học lớp 12 khép lại, mỗi đứa mỗi nơi, một con đường đi mới, nhiều khó khăn và thử thách hơn. Nhưng mùa hè đó còn neo giữ lại bao nhiêu kỉ niệm bao nhiêu buồn vui lẫn lộn. Mùa hạ cuối, mùa hạ chia li và mùa hạ hội ngộ ở những chặng đường mới. Chắc hẳn rằng tâm trạng của cô cậu học trò nào học lớp 12 cũng sẽ bồi hồi, xúc động khi nghĩ đến mùa hè năm nay. Đây là giai đoạn nước rút để chuẩn bị cho hai kì thi căng thẳng là tốt nghiệp và đại học. Mùa hạ vẫn cứ trôi qua, những tiếng cười, tiếng nói vẫn còn văng vẳng đâu đây nhưng cảm xúc trong mỗi người dừng như đang nghẹn lại. Suốt 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, vô tư, hồn nhiên, không phải lo lắng, băn khoăn hay nghĩ ngợi quá nhiều ngoài chuyện học tập. Nhưng sau mùa hè này, các bạn sẽ phải định hướng con đường đi trong tương lai cho mình. Con đường đi đó sẽ được quyết định ở năm 12 này một phần, sự nỗ lực và cố gắng sẽ được đền đáp xứng đáng. Mùa hè đang đến gần thì thời gian cho hai kì thi cũng không còn xa nữa. Lo âu, hồi hôp hiện hữu trên từng gương mặt. Không ai mong mình phải trải qua mùa hè của năm học lớp 12, bởi rằng đó là mùa hè cuối cùng của thời áo trắng mộng mơ. CHúng ta ai rồi cũng sẽ trưởng thành, sẽ phải đối mặt với chia li, đối mặt với rất nhiều thử thách, đối mặt với không ít chông gai đang chờ phía trước. Có những cô bạn trong buổi lễ tổng kết năm học ở lớp 12 đã ôm mặt khóc rưng rức vì nghĩ đến chặng đường 3 năm học cùng với nhau, chơi đùa cùng nhau, tâm sự cùng nhau. Ấy vậy mà sau mùa hè này, liệu rằng có được học chung dưới một mái trường nữa hay không? Câu hỏi ấy cứa vào trái tim mong manh và dễ vỡ, để rồi những tiếng nấc cứ thế, cứ thế vang lên nghe chua xót Ai dù mạnh mẽ nhưng cũng sẽ có lúc yếu lòng. Có không ít cậu con trai đã đứng sau gốc cây phượng thân quen, nhìn lần lượt từng chỗ ngồi từng đến, những đứa bạn từng cốc đầu nhau mỗi giờ ra chơi cũng bật khóc ngon lành. Bởi ai cũng biết rằng mùa hè không trở lại, thời gian không trở lại để chúng ta có thể vô tư như thế này nữa. Chúng ta ai rồi cũng sẽ phải lớn, phải trưởng thành… Có lẽ những kỉ niệm suốt 3 năm học trên ghế trung học phổ thông sẽ là những điều tươi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người về sau. Vì đó là bước ngoặc, là những suy nghĩ của một người sắp phải lớn. Lớp học,thầy cô và bạn bè là tất cả những gì mà chúng ta có được, còn lưu giữ cho đến khi không còn học ở đây nữa. Dù buồn, dù nuối tiếc nhưng cuộc đời là vậy. Trân trọng những gì đã qua, để đón nhận những điều chắc sẽ tốt đẹp ở phía trước. Những gì mà bản thân có được khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông sẽ là hành trang đáng quý nhất trong cuộc đời về sau. Mùa hạ năm 12 đến rồi, chúng ta sẽ trân trọng những điều đã qua. Để mỗi khi nhớ về mỉm cười hạnh phúc vì những điều đã có với nhau.
Cảm nghĩ của em về mùa hạ cuối cùng của thời áo trắng
699
Cảm nghĩ của em về mùa thu khai trường Bài làm Trong cuộc đời của mỗi con người, có ai mà chưa từng trải qua mùa thu, có ai chưa từng ngây ngất trước vẻ đẹp của đất trời khi sang thu. Riêng tôi, tôi yêu thu bởi vẻ đẹp quyến rũ, yên bình, ấm áp của nó: ánh nắng nhẹ nhàng, làn gió dịu mát hơi se se lạnh, bầu trời như rộng hơn, cao hơn, những chú chim ríu rít hót. Tôi yêu cả cái không khí vui tươi, rộn rã trên gương mặt của những lũ trẻ mỗi buổi tựu trường. Tôi yêu với tất cả niềm háo hức và mong đợi.. Mỗi mùa thu đến là một năm học mới lại bắt đầu. Nó mở ra cho tôi những trang sách mới, những niềm hi vọng mới, nó mang lại cho tôi những cảm nhận, những trải nghiệm sâu sắc và giúp tôi trưởng thành hơn. Nhưng năm nay, mùa thu đối với tôi thật đặc biệt- tôi lên lớp 10 – năm học đầu tiên ở trường THPT Hai Bà Trưng. Buổi học đầu tiên có lẽ là buổi học mà tôi không bao giờ quên. Tôi đạp xe trên con đường làng để đến trường. Chiều, gió thổi nhè nhẹ. Mùi hương của nhịp sống mới đang khiến người ta thật sảng khoái. Hai bên đường, hàng cây xanh trải dài xanh mướt. Trước mắt tôi, thiên nhiên, con người đều thật đẹp và rộng lớn. Nó nhắc tôi nhớ lại buổi học đầu tiên cách đây 9 năm. Ngôi trường mà từ khi còn là cô học sinh cấp THCS tôi vẫn thường hàng ngày qua lại và nhìn bằng ánh mắt tò mò, khao khát. Không hiểu sao, nó lại có sức hấp dẫn với tôi đến thế. Thế rồi, mấy tháng trời vùi đầu vào ôn luyện, những giây phút căng thẳng khi đi thi, những ngày hồi hộp chờ kết quả. Cuối cùng, niềm vui và hạnh phúc đã đến với tôi. Tôi đã trúng tuyển vào trường THPT Hai Bà Trưng và may mắn hơn nữa là tôi được học ở lớp chọn của khối 10. Vậy là giờ đây, tôi có thể khoác trên mình chiếc áo đồng phục trường màu trắng tinh có in logo của trường, có thể bước vào trường với tư cách là một học sinh thực sự – học sinh trường THPT Hai Bà Trưng. Trong lòng tôi bâng khuâng nhiều cảm xúc khó tả. Ngôi trường mới của tôi nằm ngay bên cạnh dòng sông Hương thơ mộng, tại trung tâm thành phố Huế – vùng đất cố đô của đất nước. Theo lối cổng vào, trường trải một con đường bê tông phẳng phiu,đẹp đẽ. Những ánh nắng chiếu xuống hắt vào tường, vào khung cửa sổ, vào mái nhà càng làm cho nó trở nên lộng lẫy. Phía sau trường, còn có khu chơi, nhà thi đấu, và sân đá banh rộng rãi, sạch sẽ nữa chứ. Buổi học đầu tiên của năm học mới nên sân trường rất đông. Rất nhiều bạn học sinh từ những nơi xa đã tề tựu đến, họ cũng như tôi – những học sinh mới bước vào trường – rụt rè, lạ lẫm như những chú chim non nớt vừa rời tổ. Và tôi có cơ hội được ngắm kĩ hơn, gần hơn vẻ đẹp của ngôi trường. Trường khang trang, sạch đẹp với các dãy nhà tầng, những hành lang thoáng đãng, những chiếc ghế đá, hàng cây. Tôi có cảm giác không khí ở đây sao ấm áp và thân thuộc quá! Những đứa bạn mới quen qua những câu hỏi chân thành và ân cần đã trở nên thân thiết, gắn bó. Những lời động viên và quan tâm của thầy cô làm ấm lòng những học sinh bé bỏng chúng tôi. Vậy là chẳng biết từ bao giờ. Tôi đã yêu mến ngôi trường này. Đối với tôi, được học lớp chọn không chỉ vui, sự tự hào mà đó còn là thử thách lớn. Ở lớp học này, mọi yêu cầu đều cao hơn lớp khác. Tôi cảm thấy lo âu vì sợ không theo kịp kiến thức, không theo kịp các bạn. Nhưng tôi rất vui vì cô giáo chủ nhiệm lớp tôi là một cô giáo trẻ, xinh đẹp nữa. Cô luôn lo lắng, động viên chúng tôi qua những lời khuyên bổ ích. Cô đã giúp chúng tôi tự tin hơn vào khả năng của mình. Qua những buổi học đầu tiên, tôi càng hiểu hơn về thầy cô và bạn bè của mình.
Cảm nghĩ của em về mùa thu khai trường
769
Đề bài: Cảm nghĩ của em về mùa xuân thành phố Hồ Chí Minh. Bài làm Chỉ còn đúng một tuần nữa thôi là đến Tết Nguyên Đán Đinh Hợi. Những ngày cuối cùng của năm cũ, thời gian trôi nhanh vùn vụt. Nhịp điệu cuộc sống ở thành phố Hồ Chí Minh thường ngày vốn đã hối hả lại càng thêm hối hả. Khác với mùa xuân phương Bắc, mùa xuân phương Nam không có mưa bay, gió lạnh mà lại rực vàng một màu nắng ngọt ngào. Bầu trời cao vời vợi trong vắt như thủy tinh. Gió thổi lao xao trên những hàng cây dầu, cây sao trồng dọc những con đường lớn, đem lại cảm giác mát mẻ, lâng lâng trong lòng người đang náo nức đón xuân. Sau ngày hăm ba tháng Chạp cúng đưa ông Táo về trời, không khí Tết rộn ràng hẳn lên. Từ khắp các cửa ngõ thành phố, dưa hấu được chở bằng ghe, thuyền, bằng xe tải đổ về các chợ lớn nhỏ và chất đầy cả các sạp ven đường. Thôi thì đủ các loại: dưa để cúng trên bàn thờ Tết, trái lớn hàng chục kí, màu da xanh bóng. Dưa hấu Long Trì ngọt ngon nổi tiếng bày bên cạnh dưa ruột đỏ, ruột vàng của Gò Công, Mỹ Tho… Người miền Nam ăn Tết không thể thiếu được món này vì nó đem lại cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu trong những ngày nắng nóng. Bên cạnh dưa hấu là hàng chục thứ trái cây quen thuộc, thứ nào cũng đẹp, cũng quý như bưởi Năm Roi, vú sữa Cái Bè, măng cụt Lái Thiêu, quýt Lai Vung, xoài cát Hòa Lộc, thanh long Châu Thành… Khi đặt cạnh nhau, màu sắc tương phản của chúng sẽ tạo nên bức tranh tĩnh vật tuyệt vời, thể hiện sự trù phú, phì nhiêu của xứ sở này. Theo đường thuỷ và đường bộ, hoa cùng cây cánh từ miền Tây lên, từ Đà Lạt xuống, từ các vùng trồng hoa ở ngoại thành vào, tràn ngập khắp nơi. Các chợ hoa như Tao Đàn, công viên 23 tháng 9 với hàng trăm loài hoa đua nhau khoe hương, khoe sắc. Phong lan, địa lan, hồng, cúc, lay-ơn, loa kèn, hướng dương, huệ, cẩm chướng… thứ nào cũng đẹp, cũng thu hút du khách. Người xem tập trung rất đông ở khu trưng bày cây cảnh để thưởng ngoạn vẻ kì thú của những chậu mai bon sai cể thụ hàng trăm tuổi, đủ mọi hình thù lạ mắt, bông hoa khá lớn với ba bốn lớp cánh mịn màng màu vàng tươi, vàng nghệ hoặc trắng ngần. Khách xúm xít bàn tán, bình luận bên những cây mai chi chít nụ xanh, lác đác vài bông nở sớm… Miền Nam là xứ sở của mai. Hoa mai tượng trưng cho mùa xuân phương Nam. Cây chắt chiu tinh tuý từ lòng đất suốt một năm, để đến khi Tết đến, xuân về, bừng nở sắc hoa vàng rực như lời chúc tốt lành, may mắn. Đi dạo trong chợ hoa xuân, ta sẽ thấy tâm hồn rạo rực niềm vui và hi vọng. Khi hoàng hôn đã tắt và màn đêm buông xuống, thành phố Hồ Chí Minh lung linh, rực rỡ trong ánh đèn màu. Từ trên cao nhìn xuống, ta sẽ thấy bao nhiêu con đường là bấy nhiêu dòng sông ánh sáng cuồn cuộn chảy trôi vô tận. Âm thanh thành phố là thứ âm thanh náo nhiệt của một trung tâm công nghiệp và thương mại lớn nhất nước. Thành phố Hồ Chí Minh đang giang rộng vòng tay, đón người từ trăm nẻo về đây chung sống góp phần xây nên một gương mặt mới mẻ, trẻ trung và hiện đại cho thành phố thân yêu.
Cảm nghĩ của em về mùa xuân thành phố Hồ Chí Minh
638
Cảm nghĩ của em về mùa xuân Bài làm Hoa mai vàng đã nở báo hiệu cho mùa xuân cho mùa xuân đã về. “Xuân xuân ơi xuân đã về Có nỗi vui nào vui hơn ngày xuân đến… Bất chợt được nghe bài hát của ca sĩ Thanh Thảo thì trong em tràn về bao nhiêu niềm vui và rộn ràng khi mùa xuân đến. Ngày xuân đem lại cho em nhiều điều thích thú gợi nhớ. Mùa xuân thường bắt đầu từ những đóa pháo hoa đêm giao thừa, đó là thời điểm giao thoa giữa năm cũ và năm mới. Ai cũng ngước nhìn những tràn pháo hoa sáng lung linh đủ sắc màu tung ra như những ngôi sao bé nhỏ nhảy nhót tung tăng vui đùa. Mọi người cầu khẩn chúc nhau. Độ 6,7 giờ sáng mặt trời bắt đầu chiếu những tia sáng yếu ớt đầu tiên xuống vạn vật. Bầu trời dường như cao hơn. Những cánh én chao liệng trên bầu trời cùng với điệu nhạc du dương. Mùa xuân là mùa của trăm hoa đua nở, cây cối đâm chồi nảy lộc, tất cả đều khoác lên chiếc áo màu xanh mơn mởn. Dường như chúng được nàng Đông ủ ấm sau một thời gian dài để trồi ra những chiếc lá li ti mạnh mẽ, nhà nào cũng có những cành mai, chậu cúc để tô thêm cho một mùa xuân tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân là mùa mà các bạn trẻ thiếu nhi thích nhất, được nhận những bao lì xì, được mặc những bộ quần áo đẹp, được ba mẹ chở về quê chơi,… Ôi! Thật tuyệt! Mùa xuân năm nay đã để lại cho em nhiều kỉ niệm khó quên. Em sẽ nhớ mãi. Em ước gì mình là cánh chim có thể bay tung tăng trên bầu trời ngày xuân để cất tiếng hát “Tết, tết, tết, tết đến rồi…”. Em cũng mong rằng những tháng ngày buồn phiền của năm cũ sẽ vơi hết đi và bắt đầu cho một năm mới yên lành và hạnh phúc.
Cảm nghĩ của em về mùa xuân
343
Cảm nghĩ của em về ngày khai giảng đầu tiên lớp 7 Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về ngày khai giảng đầu tiên lớp 7 Bảy năm học trò đã trôi đi mà sao kỷ niệm vẻ cái ngày khai trường đầu tiên của tôi vẫn không phai. Ngày khai trường là một kỷ niệm mà tôi sẽ không bao giờ quên. Từ ngày này trở đi tôi sẽ không còn là một chú bé con suốt ngày chỉ biết chơi đồ chơi mà từ ngày hôm nay tôi đã trở thành một cậu học sinh lớp một. Một cậu học sinh lớp một sẽ học viết, học nói, học những điều mới lạ mà tôi chưa được biết. Với tôi, công việc chuẩn bị quần áo, cặp sách hay sách vở… là một phần không thể thiếu cho ngày lễ khai trường long trọng. Tôi cảm thấy vui biết bao, náo nức biết bao. Thế nhưng tôi vẫn cảm thấy lo lắng làm sao ấy. Học là gì, sống là gì, rất nhiều rất nhiều điều mà tôi chưa biết thế sẽ có lúc tôi sẽ hiểu được những ý nghĩa sâu xa của những câu hỏi mà tôi chưa biết. Thời gian như trôi rất nhanh ngày khai trường đến với tôi như trong chớp mắt. Tôi cảm thấy ngày hôm đó mới đẹp làm sao. Những chú chim như một giàn đồng ca đưa tôi cũng như bao bạn khác đến trường. Tán cây hai bên đường như xòe to hơn để che nắng cho chúng tôi. Những cơn gió thổi qua mát dịu như muốn chung niềm vui với chúng tôi. Ông mặt trời như muốn gửi đến cho chúng tôi những lời chúc tốt đẹp nhất. Và rồi cổng trường mở ra, những lá cờ xanh, đỏ, tím vàng bay phấp phới. Từ bất ngờ này đến bất ngờ khác cứ đến với tôi làm bao nhiêu âu lo của tôi về ngày khai trường đó như dần tan biến. Gặp lại người bạn mình làm quen từ hè tôi thấy ngôi trường không xa lạ nữa. Nhìn ai cũng mặc những bộ đồng phục trông thật là vui nhộn. Tôi đã dược tham dự 7 lễ khai trương nhưng có lẽ ngày khai trường đầu tiên đó luôn là ngày khai trường quan trọng nhất với tôi. Nó sẽ là một ngày luôn in đậm trong tâm trí tôi.
Cảm nghĩ của em về ngày khai giảng đầu tiên lớp 7
399
Đề bài: Kỉ niệm về ngày khai trường đầu tiên luôn in sâu trong tâm trí em. Em hãy viết bài văn nêu cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên đó. Bài làm Từ hồi còn bé, tôi luôn nghĩ những ngày khai trường cũng như kỷ niệm tuổi thơ khác luôn được cất giữ trong một chiếc hộp sắt và theo thời gian nó sẽ bị mối mọt dần. Nhưng đến bây giờ thì tôi thấy ngược lại – những ngày khai trường sẽ lần lượt qua đi nhưng nó luôn còn mãi trong ký ức mỗi người, nhất là ngày khai trường đầu tiên. Để có thể trưởng thành, ai ai cũng phải có một lần đến trường. Và có lẽ đối với ai đã từng là học trò thì cái ngày khai trường đầu tiên bao giờ cũng là kỷ niệm sâu đậm nhất. Vào cái ngày ấy – cái ngày mà được coi là một bước ngoặt lớn của mỗi đứa trẻ, tôi cũng đi đến trường học. Đôi bàn tay của mẹ, lời chúc của cha luôn nắm chắc tay tôi, đưa tôi vững bước trên con đường học tập. Bây giờ, cứ mỗi khi nhớ lại ngày khai trường đầu tiên, tôi luôn tự cười một mình. Tôi cười vì cái sợ hãi trên khuôn mặt của mình khi không dám bước vào lớp. Mẹ đã không dắt tôi mà để tự tôi bước vào. Mẹ chỉ đứng đó và động viên tôi. Những lời động viên ấy như làm tôi nhớ lại bài học mà mẹ đã dậy tôi tối hôm trước. Mẹ dạy tôi cách chào hỏi, cách lễ phép với thầy cô, cách làm để xua tan nỗi sợ hãi mà bước vào lớp với biết bao bạn bè. Bằng sự dũng cảm của mình, tôi rụt rè bước vào lớp và ngồi vào cái bàn đầu tiên theo sự hướng dẫn của cô giáo. Đúng như vậy, ai ai cũng nhớ đến ngày khai trường đầu tiên của mình. Nó luôn là kỉ niệm đẹp nhất trong ký ức tuổi thơ của mỗi con người. Đối với tôi, ngày khai trường đầu tiên luôn sáng bừng trên con đường học tập của tôi, nó nhắc nhở tôi, động viên tôi khi tôi vấp ngã.
Cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên
381
Cảm nghĩ của em về ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông Hướng dẫn Đề bài: Hãy ghi lại cảm nghĩ chân thực của anh / chị về những ngày đầu tiên bước vào trường Trung học phổ thông. NGÀY ĐẦU BƯỚC CHÂN VÀO TRƯỜNG THPT Chắc hẳn trong mỗi chúng ta, ai cũng sẽ có riêng cho mình những khoảnh khắc khó quên của cuộc đời. Và đối với tôi cũng vậy, những ngày tháng chia tay với mái trường cũ để bước vào ngôi trường mới – một cánh cửa mới của cuộc đời thật sự là giây phút khó quên. Chia tay với chiếc khăn quàng đỏ, với ngôi trường THCS, ngưỡng cửa trường THPT đã đến, một cảm giác bồi hồi, mới lạ tràn về trong tôi: Tôi ngỡ như mình được trở về với những ngày đầu bước vào lớp 1, ngỡ như những ngày đầu bước vào cánh cổng trường THCS. Cái cảm giác ấy vẫn khó tả như ngày nào! Tháng 8 – tháng giao mùa từ cuối hạ đến đầu thu – tháng mà những chùm phượng vĩ chỉ còn thưa thớt vài nhánh nở muộn và cũng là tháng đầu tiên tôi bước vào trường THPT với những bài học đầu tiên. Cánh cửa THPT đã mở ra sau ba tháng hè ôn luyện. Nơi đây với tôi xa lạ hoàn toàn. Mọi thứ quả thật đều rất mới từ quang cảnh, ngôi trường và cả những con người: trường mới, bạn mới, thày cô mới, cách học mới và cả một môi trường mới, thế nhưng tất cả lại lưu lại cho tôi những kí ức đẹp về buổi đầu. Tôi sẽ phải thích nghi dần, làm quen dần vì ba năm ở đây gần như sẽ quyết định cuộc đời tôi. Đây sẽ là quãng đường thật sự gian nan thử thách. Ngày đầu tiên đến trường đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái, theo sự thông báo của nhà trường tôi đã chuẩn bị mọi thứ cần thiết. Nhưng trong lòng tôi vẫn cứ xôn xao một cảm xúc khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới.Trong những năm học trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trường thân quen với những hàng cây, ghế đá,… in đậm bao kỉ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa trường THPT- một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang với không gian thoáng đãng. Từ cổng trường dẫn vào các dãy nhà ba tầng uy nghi là con đường trải bê tông nhẵn nhụi. Nào là hàng cây, cột cờ, phòng học,… thu vào tầm mắt tôi khiến lòng tôi dấy lên bao cảm xúc ngỡ ngàng và vui sướng. Sau đó, chúng tôi được phân công về các lớp. Tôi thầm ước sao mình có thể học cùng với các bạn cũ. Nhưng trong lớp tôi hoàn toàn là những người bạn xa lạ. “Nhưng dần dần mình cũng sẽ quen với các bạn ấy thôi”- tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào lớp. Hình ảnh của cô làm tôi nhớ về cô giáo chủ nhiệm hồi lớp 9. Vẫn dàng người thon thả, đôi mắt hiền từ. Chính hình ảnh đó của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng. Những lời đầu tiên cô nói là những lời dạy bảo ân cần về ý thức trách nhiềm đối với bản thân, với trường, với lớp trong học tập cũng như rèn luyện trong những năm học THPT. Đó là bài học đầu tiên tôi nhận được ở ngôi trường mới này. Ấn tượng nhất trong lòng tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục áo trắng quần sẫm màu, tôi ra dáng là một nữ sinh THPT thực sự. Tôi cảm thấy mình như người lớn hẳn lên. Tiếng trống trường do thày hiệu trưởng gióng lên như vội vã thúc giục chúng tôi học thật tốt. Tôi biết từ lúc đó tôi đã chính thức hòa nhập vào môi trường mới. Trước đây khi còn nhỏ, tôi đã từng mơ ước được trở thành học sinh THPT, giờ đây ước mơ ấy đã thành hiện thực. Được mặc đồng phục mới mà trước đây tôi chưa từng mặc, ngồi gần những người bạn mới mà trướcđây tôi chưa từng quen và học những thày cô giáo mà bây giờ tôi mới biết đến. Khi giấc mơ bé nhỏ đã thành hiện thực thì trong tôi lại nhen nhóm, ấp ủ những ước mơ hoài bão lớn hơn( tốt nghiệp THPT, thi đỗ đại học …). Những cảm xúc khó tả lại trào dâng xen lẫn niềm vui nhưng hòa vào đó là nỗi nhớ. Vui vì tôi đã như trưởng thành hơn và biết thêm được nhiều điều mới mẻ từ những bài học mới, thày cô mới, những người bạn mới…. Những hình ảnh thày cũ, trường xưa cứ dâng trào trong tôi, và cả những lời khuyên, những lời chúc chân thành của mọi người dành cho tôi vào ngày thi THPT. Nhưng thời gian có bao giờ dừng lại, nó sẽ lặng lẽ trôi, trôi mãi không bao giờ ngừng. Và tôi sẽ phải cố gắng để nắm giữ từng giây từng phút ấy. Phải biết tận dụng quãng thời gian 3 năm tuy ít ỏi nhưng vô cùng quan trọng để phấn đấu. Được học trong một ngôi trường THPT có bề dày truyền thống và thành tích, bản thân tôi có biết bao niềm vui sướng và tự hào xen lẫn cả nỗi lo lắng. Nhưng điều quan trọng đối với tôi lúc này là tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện tốt sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường. những ngày này- những ngày đầu tiên tôi bước vào trường THPT Trần Hưng Đạo- những ngày giữa tháng 8 êm dịu. Nguyễn Thị Thư Lớp 10A1 Cảm nghĩ của em ngày đầu tiên bước chân vào trường PTTH​ Với tuổi học trò, ai cũng có cái nao nao của buổi tựu trường, Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT.Bao niềm vui, sự hảnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi với nhũng ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng. Ngày đầu tiên đến trường – đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái, theo sự thông báo của nhà trường, tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách. Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp đều mới tinh.Trong những năm trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trừơng thân quen với những hàng cây, ghế đá,..in đậm bao kỹ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba – một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang, và không gian thoáng đãng..Từ cổng trường là một hàng cây me già rợp bóng mát dẫn lối vào các dãy phòng học ba tầng uy nghi, đẹp đẽ. Nào là hàng cây, phòng học, cột cờ.tất cả đều dập vào mắt tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng, bao niềm vui sướng và tôi đã thốt lên: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!”. Chúng tôi, các lớp 10 cũng như anh chị lớp 11 dược phân công về các lớp. Tôi thầm ước sao cho mình có thể học chung với một số người bạn cũ. Tiếc thay, lớp tôi học hoàn toàn là bạn lạ. “Nhưng dần rồi mình cũng sẽ quen với những bạn ấy thôi” – Tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ ban đầu, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi, hình ảnh của cô làm cho tôi gợi nhớ về cô giáo chủ nhiệm năm lớp 9.Vẫn một dáng người thon thả, đôi mắt hìên lành, mái tóc đen dài.. Chính hình ảnh có của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là bạn lạ. Lởi đầu tiên cô nói với chúng tôi là những lời dạy bảo ân cần về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của ngưỡng cửa cấp ba.Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này.. Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục là một bộ đồ dài trắng tinh, tôi ra dáng là một nữ sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trưởng gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hoà nhập vào một môi trừong mới. Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thống dạy học – Trường THPT chuyên Huỳnh Mẫn Đạt, bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui sướng và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ. Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường. Với bao nhiêu diều suy nghĩ trong tôi, có cả niềm vui xen lẩn niềm kiêu hảnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng. Bấy nhiêu cảm xúc của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ. Bài văn giàu cảm xúc Lứa tuổi học trò của chúng ta, ai mà chẳng có những ngày tự trường vui vẻ cùng với bạn bè, người thân, thầy cô. Ai mà chẳng có những cảm xúc mới lạ khi ngày đầu tiên được đi học. Và tôi cũng vậy, mặc dù đã bao lần được đón ngày khai giảng, đã bao lần được vui vẻ cắp sách đến trường nhưng sao lần này thì lạ quá! Cảm giác dường như lần đầu tiên được đi học vây. Bởi, đầy là lần đầu tiên tôi bước chân vào ngôi trường này – trường THPT thị xã Quảng Trị. Ngày đầu tiên đi học, lòng tôi bỗng rối bời và bỡ ngỡ làm sao! Lúc đó, tôi chỉ muốn có ai bên cạnh nắm tay và đưa vào lớp. Thật giống là một cô cô bé quá con nít phải không? Bao năm nay. tôi đã quen tựu trường dưới ngôi trường cấp hai quen thuộc và thân thương của mình. Tôi cứ suy nghĩ về những hàng cây, ghế đá … Nơi mà chúng tôi đã từng nô đùa, vui chơi ở đó. Nhưng bây giờ thì khác, tôi chẳng có những hình ảnh nào quen thuộc, thân thương như trước kia nữa. Bởi, đây là lần đầu tiên tôi bước vào ngôi trường này. Đứng trước cổng trường, ngôi trường đã hiện ra trước mắt tôi. Đó là một dãy nhà ba lầy y như là một tòa lầu đài to lớn vậy. Chắc tại bỡ ngỡ quá nên tôi mới nghĩ như thế. Nhưng sao những bước chân nặng nề đến thế. Tại sao tôi không bước nổi? Mọi người khác đều có thể làm được kia mà, tôi cũng phải dũng cảm lên chứ! Dọc đường, tôi cứ thầm mong rằng lớp học sẽ có những bạn cũ của minh. Nhưng không, xung quanh tôi đây, trong cái lớp học này, chỉ toàn là những gương mặt mới lạ,mà thôi. Tôi bắt đầu cảm thấy sợ! Nhưng nỗi sợ hãi đó đã tan nhanh đi khi những người bạn mới đã vui vẻ chuyện trò và bắt chuyện cùng với tôi. Tất cả họ thầm cảm ơn trời đã cho tôi quen với những cô cậu học sinh này. Một lát sau, cô giáo chủ nhiệm bước vào lớp. Không biết cô có hiền hay không nhỉ? Tôi tự nghĩ. Trước mắt tôi đây là một người phụ nữ với hình dáng thân quên, mái tóc dài với khuôn mặt rất đỗi nhân từ. Nhìn cô mà tội lại nhớ tới cô Lan, một người cô và cũng như là một người mẹ đối với tôi. Cô là người đã dạy tôi lúc còn học cấp hai. Và ngay giừo đây, cô giáo chủ nhiệm mới của tôi lại rất giống cô Lan, rất đỗi nhân từ và hiền dậu. Cô giới thiệu là giáo viên phụ trách bộ môn Toán và cũng là người chủ nhiệm của chúng tôi, cô tên Dung. Buổi gặp mặt đầu tiên, cô ân cần dạy bảo chúng tôi về việc học tập, ý thức của bản thân đối với trường, lớp, thầy cô giáo và bạn bè. Lời cô nói thật nhẹ nhàng làm sai, có lẽ cô xem chúng tôi như là những đứa con của mình vậy.Và có lẽ, đó cũng chính là bài học đầu tiên mà chúng tôi được học khi bước vào trường Sáng ngày khai giảng, bầu trời thật yên bình, ấm áp. Những tia nắng chói chang đang còn núp sau những cành cây phượng vĩ. Mang trên mình bộ áo trắng tinh khôi, tôi vui vẻ làm sao. Giờ đây, tôi đã trở thành một cô nữ sinh thật rồi. Đã bao lần mơ ước được diện tà áo trắng, hôm nay đây, điều đó đã trở thành hiện thực. Giữa sân trường này, giữa những khuôn mặt rất đỗi thân quen và cũng có những khuôn mặt lạ lẫm này, cảm giác bỡ ngỡ, xao xuyến, hãnh diện xen lẫn niềm vui mới kì lạ làm sao! Ba tuần học đã trôi qua, tôi đã quen hết với các bạn mới, thầy cô mới. Mọi thứ dường như không còn xa lạ với tôi nữa. Tôi đã thích nghi với môi trường mới này. Những tiết học thú vị, những buổi ra chơi vui vẻ. Tất cả đã gây ấn tượng tốt trong tôi. Được học dưới một mái trường có nhiều bề dày thành tích như thế này, tôi nguyện sẽ cố gắng học tập thật giỏi để không phụ lòng thầy cô, bạn bè, cha mẹ. Và cảm giác ngày đầu tiên bước vào trường này, tôi sẽ không bao giờ quên. Hãy nêu cảm nhận của anh/chị về những ngày đầu tiên bước chân vào trường THPT Võ Thị Sáu Trong cuộc đời của mỗi con người sẽ có những khoảnh khắc thật sự có ý nghĩa. Bước vào mái trường cấp III, với bao nhiêu là niềm vui của tuổi học trò, khoảng thời gian thướt tha bên tà áo dài trắng, tung bay cùng những kỉ niệm thân thương với bạn bè và thầy cô. Và … khoảnh khắc đó, có lẽ chính là lúc này đây, khi mà tôi đặt chân bước vào ngôi trường Võ Thị Sáu. Võ Thị Sáu- một nữ anh hùng tuổi 16 đầy mơ mộng, 1 cô gái rất trẻ, trong trắng, sống rất lạc quan nhưng có tinh thần dũng cảm và sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Đó là tên của ngôi trường thân thương sẽ gắn bó với tôi trong suốt quãng thời gian học cấp III này. Võ Thị Sáu là một ngôi trường có lịch sử khá lâu đời, với khoảng sân rộng rãi, hàng cây xanh mát, ngôi trường tuy có chút cổ xưa nhưng vẫn mang lại cho học sinh chúng tôi một cảm giác thoải mái và thân quen. Ở ngôi trường này, các thầy các cô như là những người cha người mẹ, thật vậy, có nhiều lúc nhờ sự động viên và nhiệt tình của thầy cô làm cho bao nhiêu áp lực, mệt mỏi của việc học tập gần như tan biến. Được làm quen với trường ngay từ những tháng hè, tôi đã có dịp tìm hiểu đôi nét về nơi đây. Vậy nhưng, sao hôm nay tôi có cảm giác lạ quá! Trong lòng tôi, lâng lâng đến khó tả, chắc vì đây là lần đầu tiên tôi được mặc áo dài trắng, ra dáng một nữ sinh cấp III với bao nhiêu là kỉ niệm sẽ còn đợi tôi trong khoảng thời gian tới. Đúng rồi… Vì hôm nay là ngày khai trường, hôm nay là ngày đầu tiên chính thức bắt đầu cho 3 năm học cấp III của tôi. “ Ôi! Cái cảm giác thân quen này, xen lẫn chút hồi hộp, bỡ ngỡ. Thân quen vì được trở lại với trang sách, con chữ, hồi hộp vì từ nay chặng đường học sinh của tôi sẽ bước qua 1 ngưỡng cửa mới. “ Tôi cứ ngỡ, lên cấp III áp lực học tập nặng nề sẽ làm tan đi hết những tiếng cười trong trẻo, những nụ cười hồn nhiên nhưng không, tôi đã lầm. Đến với mái trường Võ Thị Sáu sẽ là một trang mới trong kí ức học sinh của tôi. Từ ánh mắt, nụ cười, từng lời dặn, những cử chỉ hỏi han, quan tâm của các thầy các cô ở đây làm lòng tôi như ấm lại, tôi chợt nhớ đến cái cách mà các thầy các cô cầm tay từng học trò của mình để nắn nón từng nét chữ như hồi còn cấp I. Tôi may mắn vì được học vào lớp chuyên, cô giáo chủ nhiệm lớp tôi còn khá trẻ, giọng cô ấm, lời nói nhẹ nhàng và đặc biệt là: như những thầy cô khác, cô có một tấm lòng, một lòng nhiệt thành với các học sinh của mình. Bạn bè ở đây, cho dù chỉ là những người bạn không quen, chỉ mới tiếp xúc với nhau trong vài buổi sinh hoạt nhưng tôi có cảm giác thân thuộc như là anh em trong gia đình của mình. Họ- Những học sinh của ngôi trường mang tên Võ Thị Sáu này, và đặc biệt là những anh, em trong tập thể lớp 10A8 của tôi luôn mang đến cho nhau tiếng cười, họ đến với nhau bằng tất cả lòng chân thành, không ích kỉ, nhỏ nhen và điều quan trọng nhất là: chúng tôi sẽ đoàn kết bên nhau để vượt qua những khó khăn không chỉ trong ba năm học mà còn cả chặng đường tương lai phía trước. Chỉ ngay trong những buổi sinh hoạt đầu tiên, tôi đã nhận ra ngay đây thật sự là một ngôi nhà chung, một tập thể vô cùng đoàn kết không những trong phạm vi lớp học mà là toàn trường. Các bạn cùng giúp nhau tiến bộ, các thầy cô nhiệt tình chỉ dẫn cho các bạn từng li từng tí một. Trong một tương lai không xa, tôi tin chắc rằng trường Trung học Phổ thông Võ Thị Sáu sẽ ngày càng phát triển hơn nữa, ngày càng phát huy được truyền thống “ dạy tốt học tốt “ vốn có của trường. Và, còn có một điều mà tôi có thể chắc chắn đó là: Ngôi trường này sẽ là cái nôi chắp cánh cho tất cả học sinh chúng tôi bay vào tương lai đang rộng mở phía trước. Mai này, khi xa rồi có ai còn nhớ đến mái trường thân thương cũng như kỉ niệm của những ngày đầu tiên bước vào nơi đây. Thời gian không bao giờ là ngừng trôi, vì vậy chúng ta phải giữ thật chặt không chỉ hiện tại mà là cả con đường tương lai phía trước.
Cảm nghĩ của em về ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông
3,357
Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu Bài làm Trong đời sống tinh thần đa dạng và phong phú của con người thì tình cha con là tình cảm máu thịt thiêng liêng, sâu đậm nhất. Công lao to lớn của người cha được nhắc đến rất nhiều trong ca dao, dân ca: Công cha như núi Thái Sơn,.., Con có cha như nhà có nóc, Phụ tử tình thâm… Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái… thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ! Em thấy ở bác có những nét rất giống cha em, một người thợ cơ khí bình thường, quanh năm làm việc với máy móc, dầu mỡ. Đôi bàn tay cha chai sần, thô ráp, mạnh mẽ nhưng ấm áp lạ thường. Có thể nói rằng trong gia đình em, cha làm nhiều nhất và hưởng thụ ít nhất; Cha giống mẹ ở chỗ nhường nhịn hết cho đàn con những miếng ngon miếng lành, còn mình chỉ cơm dưa cơm mắm qua ngày. Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ. Chúng em yêu kính cha, cố gắng chăm học, chăm làm để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách đáp đền chữ hiếu cụ thể và thiết thực nhất. Cảm ơn nhạc sĩ Phạm Trọng cầu đã nói giúp tuổi thơ chúng em những suy nghĩ tốt đẹp về cha mẹ: Cha sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực. Cha mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con… Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương!
Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu
555
Đề bài: Cảm Nghĩ Của Em Về Người Cha Bài làm “Tình cha ấm áp như vầng Thái Dương…”. Từ xưa tới nay, có rất nhiều lời thơ, tiếng hát nói về tình cảm thiêng liêng của cha mẹ dành cho con cái. Nếu người mẹ luôn gần gũi yêu thương thì người cha tuy ít thể hiện tình cảm ra bên ngoài những cũng hết mực lo lắng, quan tâm. Cha em là một người như thế. Người có ảnh hưởng tới em nhất có lẽ là người cha thân yêu. Cha em năm nay đã ngoài ba mươi tuổi. Nhưng cuộc đời sương gió làm cho cha trở nên già hơn so với tuổi thật của mình. Cha có nước da ngăm đen, mái tóc đốm bạc. Em còn nhớ những câu nói ngây thơ thuở lên sáu, lên bảy tuổi. Cả nhà ngồi quây quần bên chiếc tivi cũ. Em thấy một vài sợi tóc bạc của cha. Em hỏi “cha ơi, cha già rồi kìa, cha có tóc bạc”. Nghĩ lại ngày ấy thật ngô nghê, cha già đi có lẽ bởi những tháng ngày vất vả nuôi chị em em khôn lớn. Cha em là người đàn ông trụ cột trong gia đình. Cha luôn tỏ ra mạnh mẽ và quyết đoán trong mọi việc. Những việc lớn trong nhà đều do cha quyết định. Người ta nói trong nhà mà không có người đàn ông thì như nhà không có nóc. Em thấy câu nói ấy đúng với gia đình em. Có cha ở nhà, ngôi nhà như vững trãi hơn, mọi thứ đều đi vào trật tự, khuôn phép. Bởi tính cha quyết đoán và nghiêm khắc. Cha em là người làm nhiều nghề nhất mà em từng biết. Để cho gia đình có cuộc sống sung túc, cha đã trải qua rất nhiều việc. Ngày trước hồi em còn bé tí, gia đình theo nghề đóng gạch, làm ngói của ông bà ngày xưa truyền lại. Rồi do khí thải lò gạch không tốt cho sức khỏe chúng em nên cha không làm nữa. Có thời gian cha còn đi đào vàng ở rất xa, xa lắm. Đó là khoảng thời gian chúng em và mẹ ở nhà nhớ cha vô cùng. Rồi chúng em vào lớp một, cha mở một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ bán ở nhà. Mọi thứ khá lên, cha mua xe máy thêm việc chở xe ôm nữa. Giờ có của ăn, của để, cha lại mua chiếc ô tô nhỏ chở taxi. Kể qua đã thấy cha em đúng là siêu nhân, cha làm bao việc. Em nhớ lời cha nói “cha không mệt khi làm nhiều việc, cha chỉ mệt khi các con không ngoan, không chăm chỉ học hành. Cha mong các con khôn lớn nên người”. Nghĩ lại, em thấy thương cha lắm. Lại nhớ về kỷ niệm của những ngày xưa nghèo khó. Khi em còn nhỏ lắm. Nhà ngói nhiều chỗ bị dột. Mỗi lần mưa cha lại bảo mấy chị em đi lấy xoong, chậu hứng nước khỏi ướt nhà. Hồi nhỏ thấy vậy vui lắm. Rồi có những khi thời tiết ẩm ương, bỗng nhiên mưa đá, mấy chị em lại ra hiên nhà hứng đá. Đúng lúc cha về, gương mặt lo lắng, cha mắng một trận rồi kêu chúng em chui hết xuống gầm phản không đá to rơi vỡ ngói rồi trúng đầu thì khổ. Ngồi dưới gầm phản, nghe tiếng sấm sét kinh hoàng ai cũng sợ, cha mẹ lại dỗ dành. Những ngày trời mưa to khiến mùa hè mát mẻ, cha lại cho mấy chị em ra ngoài sân tắm mưa, cha còn làm những con thuyền giấy thả xuống sân thật thích thú. Đó là những kỷ niệm mà mãi mãi cuộc đời này em không bao giờ quên được.
Cảm Nghĩ Của Em Về Người Cha
643
Đề bài: Cảm nghĩ của em về người thân Bài làm Nếu như có ai đó mà hỏi tôi rằng một trong những người mà tôi yêu thương nhất là ai thì tôi sẽ trả lời rằng đó là bà nội. Bà nội tôi là một người rất nhân hậu và hiền từ nhưng gần như suốt cuộc đời của bà đầy những khó khăn và bệnh tật. Và tôi cũng thương bà lắm! Tôi thương cái mái tóc đã như điểm bạc của bà, thương cả cái dáng đi chầm chậm mà khập khễnh của bà tôi. Bà tôi năm nay đã 70 tuổi rồi. Tôi đã được nghe bố kể rất nhiều về bà, bà là một con người chăm chỉ và chất phác. Bà đã tần tảo nuôi hai người con trai khôn lớn trong khi ông tôi phải đi bộ đội. Đến khi bố tôi có con thì bà lại vất vả trông cháu nhưng bố tôi nói bà lại thấy đó chính là niềm vui của bà. Khi chưa bị bệnh, bà tôi còn đi làm lao công cho một cơ quan nhỏ để mong sao có thể kiếm thêm được chút tiền giúp đỡ phần nào cho gia đình tôi khi khó khăn. Bà tôi còn hay mua quà cho anh em tôi nữa, những món quà dù là nhỏ nhưng nó như chứa đầy ý nghĩa như cái đồng hồ báo thức để cho tôi đi học khỏi muộn giờ hay những gói kẹo, gói bánh… Từ những việc ấy cũng đã đủđể tôi hiểu bà yêu thương anh em chúng tôi đến chừng nào! Bà tôi là một người giàu tình cảm, khi bà ra chợ hay đi đâu đó mà nhìn thấy những cảnh tượng người ăn xin nghèo đói thì bà không bao giờ bỏ mặc làm ngơ cả. Của ít lòng nhiều, bà cũng hay cho họ một chút ít tiền nhỏ như nó lại được đưa cẩn thận bởi bà tôi Bà tôi còn biết đến là một người rất yêu thiên nhiên nữa. Và trong khoảng hiên nhỏ trước nhà bà tôi dường như lúc nào cũng chật đầy những chậu hoa nhài toả hương thơm ngát, có những cây ớt nhỏ chi chít những quả xanh, vàng … Bởi vì bà tôi từng bảo thiên nhiên có thể giúp cho tâm hồn mõi người chúng ta trở nên trong sáng hơn. Và lần nào về thăm bà tôi cũng ngả đầu vào vai bà và tâm sự mọi chuyện của mình. Có lúc tôi ôm bà khóc thút thít rồi bà cũng xoa đầu tôi an ủi và vỗ về thật là ấm áp biết bao. Dường như những khi ấy tôi bỗng cảm thấy bà như đang truyền một hơi ấm tinh thần cho tôi, giúp tôi có thêm nghị lực để vượt qua chuyện buồn. Nhưng thật buồn biết bao nhiêu khi cả nhà tôi nghe tin bà bị bệnh hiểm nghèo và rất khó có thể qua khỏi. Cả nhà ai cũng buồn và thương cho bà lắm. Và cứ mỗi lần tôi đến chơi, tôi đều thấy bà cười nhưng trong lòng tôi luôn lo lắng rằng ẩn sau nụ cườI đó là nỗI đau về thể xác đang dằn vặt bà tôi. Bà tôi vẫn lạc quan và yêu đời. Và tôi như đã biết bà chỉ đang cố gắng tỏ ra vui vẻ cho tôi đỡ buồn. Tôi biết cơn đau đó nó như đã hành hạ bà tôi suốt hàng tháng trời làm bà tôi gầy hẳn đi, không được nhanh nhẹn như trước nữa. Bây giờ, mỗi khi tôi nhớ đến bà, cổ họng tôi lại thấy tắc nghẹn và cả đôi mắt như đã cay xè. Bà đã cho cháu bài học thật qúy giá là “Ta hãy trân trọng từng phút giây dù là nhỏ nhất khi ở cạnh người mà minh yêu thương”. Và hình ảnh của bà sẽ mãi còn trong tâm trí cháu.
Cảm nghĩ của em về người thân
661
Cảm nghĩ của em về nhân vật Lượm trong bài thơ Lượm của Tố Hữu Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về nhân vật Lượm trong bài thơ Lượm của Tố Hữu Tố Hữu là một nhà thơ xuất sắc trên nền trời văn học Việt Nam. Ông đã để lại cho đời sau một khối lượng tác phẩm đồ sộ với những bài thơ khác nhau. Đối với lứa tuổi học sinh thì chắc hẳn ai cũng biết tới bài “lượm” do ông sáng tác. Bài thơ đã mang lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về hình ảnh chú lượm nhanh nhẹn, dũng cảm trong cuộc kháng chiến chống pháp. Mở đầu cho bài thơ thì hình ảnh chú lượm được tác giả miêu tả một cách chân thực và rõ nét: “Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh. Ca nô đội lệch Mồm huýt sáo vang Con chim chích Nhảy trên đường vàng… ” Hình ảnh lượm hiện lên thật là đẹp, chú còn rất bé, bé loắt choắt lại mang bên mình một chiếc xắc xinh xinh để đi làm công tác nhiệm vụ phục vụ kháng chiến. Nhiệm vụ của cậu bé đó chính là người mang thư,dường như cậu bé rất vui và tự hào khi mình được phục vụ kháng chiến. Không những vậy, cái đầu của chú lúc nào cũng nghênh nghênh kết hợp với đôi chân thoăn thoắt, mũ cano thì đội lệch ra dáng của một người đưa thu liên lạc. Đến đây cậu bé toát lên là một người nhỏ nhắn nhưng lại rất nhanh nhẹn khi ở độ tuổi còn quá trẻ. “Cháu đi liên lạc Vui lắm chú à Ở đồn Mang Cá Thích hơn ở nhà” Lượm đi liên lạc mà cảm thấy vui ở trong lòng, vui từ nét mặt và cử chỉ. Tưởng chừng như cái xắc cậu mang bên mình cũng vui và nhún nhảy theo nhịp chân của chú bé. Đeo xắc là dấu hiệu của một người làm cán bộ, và lượm cảm thấy tự hào vì điều này. Khi chia tay với tác giả hình ảnh ấy hiện lên thật vô tư và hồn nhiên biết bao nhiêu: “ Cháu cười híp mí Má đỏ bồ quân” Câu chuyện của chú Lượm trong chuyến liên lạc cuối cùng được kể qua lời của người kể chuyện với những cảm xúc đau xót, tiếc thương và tự hào được biểu hiện lên trực tiếp và cả qua cách nhìn, cách miêu tả. Khi nghe tin chú lượm hi sinh tác giả đã đau đớn mà thốt lên: Ra thế Lượm ơi!… Những kỉ niệm đẹp đẽ của tác giả về chú lượm vẫn còn hằn sâu thì bỗng dưng nghe tin chẳng lành. Dấu chấm than thể hiện tâm trạng ngạc nhiên và xúc động tới bàng hoàng. để tưởng nhớ về người chiến sĩ liên lạc ấy thì cuối bài thơ hình ảnh chú lượm tinh nghịch hồn nhiên lại một lần nữa được hiện lên trong khổ cuối cùng của bài thơ. “Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh. Ca nô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng… ” Câu thơ như muốn nói rằng lượm vẫn sống trong lòng quê hương đất nước và luôn sống mãi trong lòng của tác giả. Bài thơ hết ý nhưng lại có thể mở ra như tiếp nối về một hình ảnh đẹp hồn nhiên ngây thơ của chú bé. Bài thơ đã gợi lên cho chúng ta thật nhiều những suy nghĩ về một hình ảnh cậu bé liên lạc tuy là còn nhỏ tuổi nhưng lại có những hành động dũng cảm không tiếc thân hình. Đó là những hình ảnh khó quên về cậu bé lượm. Nguồn: Bài văn hay
Cảm nghĩ của em về nhân vật Lượm trong bài thơ Lượm của Tố Hữu
622
Cảm nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Du và Thúy Kiều Qua hai câu thơ Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Du và Thúy Kiều Qua hai câu thơ Bài Làm Trong tác phẩm kinh điển Triệu Kiều của Nguyễn Du có viết “ Khi tỉnh rượu lúc tàn canh Giật mình, mình lại thương mình xót xa” Với 2 câu thơ này Nguyễn du đã diễn tả sâu sắc bi kịch nội tâm của nhân vật Thúy Kiều, nhưng nghe như đâu đó có tiếng lòng của tác giả Nguyễn Du. Câu thơ là nỗi đau tự thương mình, thương người, thương đời đến u uất thời phong kiến. Thúy kiều đang ở lầu Ngưng Bích thì bị tú bà lập mưu cho sở khanh dụ nàng đi trốn để bắt về. lấy cớ đó ép nàng phải tiếp khách. Thúy Kiều bị mắc lừa và phải cam chịu sống trong tủi nhục ê chề ở lầu xanh với bướm lả ông loi. Cuộc say đầy tháng. Trận cười suốt đêm và để rồi có những lúc nàng trở về với nỗi đâu một mình. Câu thơ lạc ngắt nhịp 3/3 gợi bước đi của thời gian khi tỉnh rượu, lúc tàn canh là lúc khoảnh khắc hiếm hoi ở lầu xanh mà Kiều có thể sống thực với lòng mình nhất. Đó là lúc con người tỉnh táo nhất và không gian xung quanh cũng vắng lặng nhất để Kiều lắng nghe thấy lòng mình, hồi tưởng về những điều đã qua. Suy ngẫm về cuộc đời và đối với chính mình. Câu thơ trên cân đối hài hòa thì đến nhịp thơ dưới có sự thay đổi phá cách 2/4/2 biểu hiện nỗi bàng hoàng rực tỉnh của Kiều. Điệp từ Mình lập lại 3 lần dẫn cho một tư mong thanh bằng những không gợi được sự nhẹ nhõm mà chỉ dáy lên một cảm giác nặng nề bởi câu thơ có nhịp điệu như tiếng nấc đan xen tiếng thở dài. Đây là cái giật mình của kiều thấy mình bị rơi vào bi kịch. Vào thời cảnh ê trề nhục nhã như hôm nay. Tiếng nấc và tiếng thở dài ấy là sự thở dài không cam tâm nhưng đành bất lực trước sự sô đẩy vùi dập của cuộc đời.Hai câu thơ đã giúp cho chúng ta hiểu được bi kịch cao đẹp của con người có thiên lương cao đẹp. Đời kiều là một chuỗi các bất hạnh kiều chuộc cha kiều phải chôn vùi tuổi xuân của mình trong chốn lầu xanh” Thanh lầu 2 lượt” Kiều phải làm vợ lẽ của thực sinh làm nô tì và mắc phải bẫy Hồ Tôn hiếu để rồi cuối cùng phải tự vẫn ở sống tiễn đường vì là người có khát vọng sống mãnh liệt, lại ý thức rất cao về bản thân mình nên thúy kiều đã rơi vào bi kịch tinh thần đau xót. Thương cho thương thân phân mình, thương cho dòng đời đầy bất hạnh. “Giữ đường đứt gánh tương tư” Thương cho thân phận mình bị trà đạp đầy đạo và hoảng hốt trước sự thay đổi thảm hại của mình. Sự đồng cảm nỗi niềm thông cảm của Nguyễn Du cảm thông cho bản thân của Thúy Kiều và thực sự đồng cảm với nàng thể nên trong mình của kiều mới nghe như có lỗi xót xa của Nguyễn Du trong đó vì bi kịch của đời kiều như bi kịch của cuộc đời của tác giả. Xuất thân trong một gia đình quý tộc giàu có nhưng cơn lốc cuộc sốc đã hất đổ hầu hết khiến ông vào cuộc sống lay lắt phiêu bạc tha hương. Chính nỗi thương mình ấy là cơ sở tạo lên tấm lòng yêu thương, trân trọng mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến xưa. Ông ca ngợi vẻ đẹp toàn vẹn của người phụ nữ, bênh vực con người và tố cáo xã hộ phong kiến xấu xa, đầy đọa con người. Tất cả tạo lên cảm hứng nhân văn cho truyện kiều nói riêng và tác giả Nguyễn Du nói chung cảm hứng ấy khiến ngòi bút của ông như có máu nhỏ trên đầu bút, nước mắt thấm qua từng trang giấy. Nguyễn Du miêu tả nội tâm nhân vật là một trong những thành công đặc sắc nhất của truyện kiều và thể hiện rõ nhất sự đồng cảm sâu sắc và tình thương yêu mà nguyễn du dành cho nhân vật vì có thực sự hiểu và yêu nhân vật.
Cảm nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Du và Thúy Kiều Qua hai câu thơ
767
Cảm nghĩ của em về Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê Hướng dẫn Đề bài: Cảm nghĩ của em về truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Tiếp cận với chiến tranh, miêu tả chiến tranh có nhiều cách, của nhiều người. Tuy nhiên, chiến tranh đã và sẽ qua đi, cái gì từ những trang văn còn lại? Câu hỏi ấy phải chờ đến thời gian, người trọng tài công minh nhất chưa một lần bỏ sót tài năng. Vậy, Những ngôi sao xa xôi liệu có phải là một trong số ứng cử viên được bầu chọn? 1.Điều sáng giá nhất tạo nên một cái nhìn không nhàm chán về chiến tranh, đối lập với chiến tranh là cái nhìn và khắc hoạ chân dung các cô gái. Bức tranh dữ dội về cái sống và cái chết nơi đạn bom trận mạc có được một thứ đường viền cứ óng ánh lên từ cái nhìn trong trẻo ấy. Ấy là chưa nói nhân vật trong truyện bước vào cuộc chiến đấu đầy ắp những ảo tưởng. Tường rằng gia nhập một đơn vị thanh niên xung phong ngoài hoả tuyến là "phải vác súng kia, đi rầm rộ dưới những cánh rừng không trăng sao. Nói với nhau phải mạnh và gọn như những câu khẩu hiệu", nghĩa là oai hùng lắm, một thứ hào quang của một thế hệ nếu không vừa rời ghế nhà trường thì cũng gần như thế. Dày dạn trước cái sống và cái chết hằng ngày mà chị Thao còn sợ máu, sợ nước mắt. Phương Định thì sợ nhất: cô đơn. Giữa tiếng bom địch gào thét, chỉ cần một tiếng súng bắn trả, "dù chỉ một tiếng súng trường thôi, con người cũng thấy mênh mông bên mình một sự che chở đồng tình". Gian khổ, thiếu thốn đến cùng cực, nhiều bữa cơm không có canh, bọn con gái lấy nước uống chan vào. Nhưng khi biết rằng "bọn con trai phải kêu lên vì thương", thế là đời lại tươi lên như không có gì đáng phàn nàn, lo lắng. Cuộc nói chuyện của nhân vật nữ xưng "tôi" với đại đội trưởng đơn vị trong điện thoại có lúc gắt lên: "Trinh sát chưa về", nhưng một cái gì đấy như ấm lòng hơn khi hình ảnh người cán bộ chỉ huy ấy hiện lên dưới con mắt dịu dàng con gái "Đại đội trưởng rất hay dùng những từ tế nhị như "cảm ơn", "xin lỗi", "chúc may mắn". Anh trẻ, người gầy, hay đau khớp, hay làm ca dao cho báo tường. Nhà đâu như cuối phố Lò Đúc". Trong bối cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, bao nhiêu tình cảm mới mẻ hình thành như tình đồng chí, tình bạn bè. Tất cả được cảm nhận bằng nỗi niềm riêng như thế. Có nhiều anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm, còn viết thư cho một cô gái (nhân vật tôi) làm trinh sát mặt đường, "những thư dài gửi đường dây, làm như ở cách xa nhau hàng nghìn cây số, mặc dù có thể chào nhau hằng ngày". Cách tỏ tình thời hiện đại trong chiến tranh qua cách nhìn riêng này không phải không thú vị. Còn gì âu yếm hơn khi gặp một đồng đội vừa tắm ở dưới suối lên: "Tôi muốn bế nó lên tay. Trông nó nhẹ, mát mẻ như một que kem trắng". 2.Họ thực sự là những anh hùng không tự biết. Tình nguyện vào cái nơi mà cái sự mất, còn chỉ diễn ra trong nháy mắt. Hơn ai hết họ biết thần chết là ai, "Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn ta lẩn trong ruột những quả bom". Nhưng có điều lạ là cái chết đối với họ chưa bao giờ là một ám ảnh, chưa bao giờ phải trằn trọc đêm đêm. "Bao giờ thì xong nhỉ", "cái gì xong?",… Những câu hỏi bâng quơ dường như không hiểu mấy về chiến tranh nói về những mơ ước xôn xao sau đó. Nho bảo xong chiến tranh sẽ làm thợ hàn của một nhà máy thuỷ điện lớn, thành cầu thủ bóng chuyền. Chị Thao muốn làm y sĩ. Chồng chị sẽ là một anh bộ đội đeo quân hàm trung uý, hay đi xa và có râu quai nón, còn nhân vật "tôi" chưa biết lựa chọn thế nào: kiến trúc sư, thuyết minh trong rạp chiếu bóng thiếu nhi, lái xe ở cảng,… Chao ôi! Họ là những người ham sống biết bao! Cuộc đời phía trước là một ngày hội lớn. Có một tương lai, một tương lai hiển hiện mà giống như một giấc chiêm bao, họ còn có cả một quá khứ. Cái quá khứ ấy của Phương Định (nhân vật "tôi") dù chỉ thu gọn trong một căn phòng nhỏ gác hai, nó có sức mở rộng ra cả một thế giới cảm giác đêm đêm để cô biết được "cái bao la và trong lành của đêm thành phố". Ở cái căn gác nhỏ ấy đầy ắp kỉ niệm của thương yêu, nơi cô thề là sẽ không lấy chồng vì cái tính bừa bãi mà mẹ cô đã từng doạ "Lấy chồng rồi mà no đòn", đó thật sự là một hạnh phúc. Có tương lai dang hứa hẹn từng giờ, có quá khứ để ràng buộc, những cô gái không xem đó là những nơi ẩn nấp để thu mình. Cái mà họ đang đối mặt là sự còn, mất từng phút, từng giây. Không khí của chiến tranh (không giống tương lai hay quá khứ) có một âm điệu riêng. Chẳng hạn như sự im lặng: "Cuộc sống ở đây dã dạy cho chúng tôi thế nào là sự im lặng". Im lặng có nghĩa là cái chết đang rình rập đâu đây, nó ập đến bất cứ lúc nào. Ấy là những trái bom, mà "nghe tiếng bom đầu tiên, có đứa chết giấc, nằm dán xuống đất". Nhưng, cái im lặng của không gian còn chưa đáng sợ bằng cái im lặng của lòng người. Đây là cái "vắng lặng đến phát sợ" của kẻ đi đêm sợ ma, yếu bóng vía. Đến với toạ độ chết, đến với quả bom cần phải phá nổ (mà không biết nó sẽ nổ vào lúc nào), sự cầu viện tâm linh của cô gái (nhân vật tôi) giống như một ảo ảnh "Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không?". Mặc dù "Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần", nhưng cái hồi hộp vẫn dường như không hể thay đổi. Như cái cảm giác chờ bom phát nổ: tất cả đều đứng im, cả gió, cả nhịp tim trong lồng ngực. Chỉ có chiếc đồng hổ: "Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu…". Còn sau mỗi lần bom nổ, như từ cái chết trờ về đây là gương mặt tươi tắn của chị Thao "Chị cười răng trắng, vết sẹo bóng lên, mảnh dù bay trên lưng…", còn với Phương Định, cái chết chi là khái niệm "mờ nhạt, không cụ thể". Tuy dặn mình phải cảnh giác với nó, nhưng không phải là sợ nó mà chỉ vì sợ nếu "mảnh bom ghim vào cánh tay thì khá phiền". Còn khi tưởng là Nho đã chết, tất cả đều lặng đi với bao nhiêu tâm trạng trái ngược nhau. Kẽ muốn hát, người thì muốn khóc. Chị Thao muốn hát và chị đã hát, một bài hát có phần lạc lõng ("Đây Thăng Long, đây Đông Đô… Hà Nội"). Nhạc sai bét, còn giọng thì chua, nhưng tình cảm rất đỗi chân thành: ấy là một khúc thánh ca. Còn người thứ hai, thích hát, hát hay "nhưng không muốn hát lúc này" vì những bài hành khúc bộ đội hành quân hay quan họ mềm mại, nhưng với Phương Định, tất cả đều không đúng chỗ. Trước đau thương, cũng là trước cái dẹp, cái cao cả, cái vĩnh hằng, chưa có một bài ca nào diễn tả nổi. 3.Đặc sắc nghệ thuật ở truyện ngắn này là cách xây dựng nhân vật và sự phối hợp giữa hai bút pháp: tự sự, trữ tình. Về xây dựng nhân vật, tác giả rất lưu ý đến sự đa dạng. Mỗi nhân vật có những đặc điểm không giống nhau. Nho, mộc mạc và thơ mộng. Còn gì mộc mạc hơn, thậm chí vụng về hơn, trên cái gối nhỏ nhắn, màu trắng, Nho thêu những bông hoa cẩu thả và loè loẹt, những "đường viển to như dây thừng", vì một lẽ đương nhiên "A, cho nó nối!". Có đến hai chi tiết, hai lần miêu tả Nho ở dưới suối đi lên, và cả hai lần Nho đều rất đẹp. Lần thứ nhất: "Tóc ướt. Nước dọng từng giọt trong trên trán và trên mũi". Lần thứ hai: "cứ quần áo ướt ngồi đòi ăn kẹo". Cái thực của nhân vật gần với cái thực trong mơ, vì tất cả không liên quan gì đến sự căng thẳng ở chiến trường, nó thuộc về vĩnh cửu. Còn chị Thao giống như một sự phân thân. Là một người con gái rất sợ máu và vất, cứ thấy máu và vắt là chị "nhắm mắt lại, mặt tái mét", nhưng trước lúc "có chuyện", trong khi Nho chụp cái mũ sắt lên đầu, chị Thao lại "móc bánh bích quy trong túi thong thả nhai". Trước tình huống Nho có thể hi sinh, chị yêu cầu Định hát, nhưng có trời mới biết "những tình cảm gì đang quay cuồng" ở trong đầu con người giàu nghị lực ấy. Còn về sự đan gài giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn thể hiện trong tâm hồn người con gái như những trận mưa bóng mây chợt đi chợt đến, bất ngờ. Nó giống như những vì sao, những đốm sáng. Một mặt chiến trường là một nhận thức hiên thực, thậm chí hiện thực nghiệt ngã "ở đây là nơi mà tuổi trẻ chúng tôi đang lớn lên", nhưng còn nỗi nhớ là hiện thực thứ hai, hiên thực tâm hồn "không lúc nào chúng tôi không nhớ về Hà Nội", cả hai không tách rời nhau tạo được một thứ âm hưởng bè đôi rất giàu có chất thơ, là một trong những thành công của tác giả. Cái kết của truyện đẩy sự kết hợp trên đây đến mức thăng hoa. Một trận mưa đá bất ngờ trở thành nỗi nhớ "Mà tôi nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố". Nỗi nhớ ấy chính là sự nối dài, quá khứ, hôm nay và khát vọng mai sau. Những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích, về những xứ sở thần tiên, trong bối cảnh của cuộc chiến tranh, nó giống như một huyền thoại có một sức mạnh diệu kì để con người đi tới với đôi cánh đang bay. Hiện thực và lãng mạn, âm điêu trữ tình bay bổng cứ toả ánh sáng ra từ đó, từ "những ngôi sao xa xôi".
Cảm nghĩ của em về Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê
1,889
Cảm nghĩ của em về nụ cười của mẹ Hướng dẫn Mỗi chúng ta đều có những thứ để yêu, để quý. Không ai giống ai nhưng tôi dám chắc rằng thứ mà bạn quý, bạn yêu sẽ là thứ tuyệt với nhất, đẹp nhất trong trái tim bạn. Tôi cũng thế, điều khiến tôi sắn sàng đánh đổi mọi thứ để có là nụ cười của mẹ. Nụ cười đã sưởi ấm trái tim bé nhỏ, dắt tôi qua bao tháng năm nhọc nhằn của tuổi thơ. Tôi không còn mong ước được lên cung trăng ngắm chị Hằng hay mơ thấy các cô tiên mỉm cười với tôi từ ngày tôi nhận ra nụ cười mẹ tôi mới là đẹp nhất. Đẹp hơn cả những nụ hoa hồng ngoài kia và ngọt ngào hơn miền cổ tích. Mẹ cười rất tươi trên vành môi không điểm tô son phấn mà vẫn hồng hồng. Mỗi lần mẹ cười là dịp đôi má lúm đồng điếu hiện rõ ra. Ba tôi nói ấy là nét duyên ngầm của mẹ chỉ xuất hiện khi mẹ cười. Không chỉ thế khi mẹ cười tôi còn nhìn thấy chiếc cằm chẻ be bé tôn lên vẻ phúc hậu, tự nhiên của khuôn mặt. Ba kể câu chuyện tình yêu của ba và mẹ cũng bắt đầu từ nụ cười duyên dáng và chân thành của mẹ. Ba bảo với tôi mẹ là người dễ khóc nhưng cũng mau cười. Mẹ thẳng tính và rất thật thà chẳng bao giờ chấp nhận chuyện sai trái hoặc im lặng phó mặc thân phận. Và mẹ chẳng bao giờ cười giả tạo, cười xả giao để che đậy một tâm hồn rỗng tuếch hoặc một ý nghĩ không mấy tốt đẹp. Thế nên chỉ cần thấy mẹ cười là tôi và ba đều hiểu mẹ vui thật sự. Mẹ là người sâu sắc nhưng chẳng bao giờ để lòng những chuyện nhỏ nhặt. Dù có ai làm mẹ phiền lòng mẹ cũng cười xòa thông cảm. Câu chào, nụ cười thân thiện của mẹ được lòng mọi người quanh xóm. Con hãy nhìn tấm gương này và thử mỉm cười, con sẽ thấy điều kì diệu xảy ra. Tôi ngoan ngoãn nghe lời nhưng chẳng thấy điều kì diệu ở đâu, chỉ thấy một con bé mắt ướt đỏ hoe lại nở nụ cười mếu máu đang nhìn tôi. Tôi nhận ra bộ dạng của mình thật đáng cười. Con cười trông con sẽ đẹp hơn nhiều. Mẹ biết chuyện con giúp bạn, mẹ rất tự hào vì con nhưng lần sau có chuyện như thế phải nói với mẹ nhé! Tôi ngẩng đầu lên nhìn vào mắt mẹ. Mắt mẹ trong vắt ánh lên nụ cười, nụ cười đẹp rạng ngời như ánh mặt trời buổi sớm mai. Ánh mặt trời sưởi ấm trái tim tôi. Tôi mỉm cười theo mẹ và quên hết những phiền muộn. Có gì quý bằng tình mẫu tử thiêng liêng, có gì đẹp bằng nụ cười vui của mẹ. Dắt ta đi qua bao năm dài tháng rộng không gì khác là bàn tay mẹ. Dìu ta qua những nỗi đau trong đời không gì sánh bằng nụ cười trên môi mẹ. nếu còn một ngày để sống trên đời, xin được sống trọn vẹn một ngày bên mẹ để được làm mẹ vui, khiến mẹ cười.
Cảm nghĩ của em về nụ cười của mẹ
558
Cảm nghĩ của em về sách vở em học hàng ngày Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về sách vở em học hàng ngày Có những vật tưởng như vô tri vô giác nhưng lại có một tâm hồn, biết suy nghĩ, biết đau khổ, biết buồn vui, giận hờn. Những vật đó luôn luôn ở bên ta, luôn giúp đỡ ta. Thật đáng tiếc khi ta không quan tâm đến những vật như vậy. Sách chẳng phải là một trong những thứ đó hay sao? Sách không hề biết đứng, biết ngồi, mình đặt đâu thì nó vẫn nằm đấy, thế là chúng ta bảo nó vô tri vô giác. Nhưng chẳng phải sách đã dạy cho ta bao nhiêu điều hay sao? Sách giúp ta biết bao nhiêu điều, ân cần dạy bảo ta như một người thầy. Nhưng có nhiều người không bao giờ nhớ đến nó. Có lần, tôi đã chứng kiến một người bạn của tôi đối xử vội một quyển sách như thế nào? Cậu ta đã dẫm đạp lên nó một cách vô tình nhưng cậu ta cũng không hé biết rằng cậu ta đã vô tình dẫm đạp lên chính học thức của mình. Sách đã truyền dạy cho cậu ta kiến thức thì sách cũng như là kiến thức của cậu ta vậy. Thật đáng thương cho ai chà đạp lên quyển sách, rồi học thức của người đó sẽ mất dần đi cũng như quyển sách cũ dần theo năm tháng. “Hãy trân trọng mọi cuốn sách mà bạn có”. Đó là lời nhắn nhủ của tôi với các bạn để khi ban trở thành người lớn, mỗi lần giở sách ra, nhìn một vết mực giây, nhìn thấy một nét chữ thì bạn sẽ nhớ tới tuổi học trò hồn nhiên, ngây thơ của chính mình.
Cảm nghĩ của em về sách vở em học hàng ngày
300
Đề bài: Cảm nghĩ của em về thầy cô Bài làm Có lẽ trong cuộc đời của mỗi con người chúng ta thì ngoài cha mẹ là những bậc sinh thành, thầy cô giáo cũng có công lao rất lớn. Cha mẹ có công sinh thành ra ta, và người thầy, người cô là những người có công giáo dục chúng ta, cho chúng ta những chân trời kiến thức. Thầy cô – hai chữ quá đỗi thiêng liêng mà chỉ có những học sinh mới được phép gọi. Họ chính là những người đã dẫn dắt chúng em đi trên con đường đời của trí thức, của cuộc đời riêng mình, người chắp cánh ước mơ cho chúng em. Và có thể thấy mọi người vẫn thường nói thầy cô là người lái đò cho học sinh. Khi một năm học kết thúc là chuyến đò cập bến. Và có lẽ trong chuyến đò đó đã có biết bao điều thú vị. Các thầy cô dạy cho chúng em biết rằng trong cuộc sống này còn có rất nhiều khó khăn, cũng như thử thách nhưng cũng có vô vàn niềm vui và sự bất ngờ. Nhờ thầy, nhờ cô đã luôn luôn tận tình điều khiển, chèo lái chuyến đò đó nên chúng em đã vượt qua tất cả những khó khăn. Và để rồi theo chuyến đò cập bến cảng kiến thức trong niềm vui, niềm vui đó không chỉ riêng của chúng em, mà còn của thầy cô nữa.Những gì thầy cô làm cho chúng em thiêng liêng, cao quí đâu kém những gì cha mẹ làm cho chúng em. Chúng em luôn tự hào vì là học sinh của trường Nguyễn Huệ, tự hào không chỉ vì được học tập trong một môi trường tốt,mà còn vì chúng em đã được những thầy cô giáo giỏi tận tình dạy dỗ. Ở đây,thầy cô giáo là những người không chỉ đơn thuần là một người thầy,người cô mà còn là người cha người mẹ.Thầy cô sẵn sàng dành thời gian lắng nghe những thắc mắc,những tâm sự của chúng em.Thầy cô có thể tạo cho chúng em những trận cười sảng khoái trong giờ học khi chúng em cảm thấy căng thẳng.Thầy cô có thể kiên nhẫn lắng nghe và thông cảm với chúng em.Thầy cô khẽ cười và gật đàu khi chúng em cúi chào lễ phép.Nhưng thầy cô buồn khi chứng kiến chúng em hỗn láo. Phải chăng thầy cô đã luôn luôn không cho phép mình được khóc mỗi khi học trò hư. Và như cũng để giữ lòng mãi cứng rắn dạy bảo chúng em. Dường như tất cả những gì nhỏ nhặt nhất đến những điều cao cả nhất chúng em đều coi trọng,vì đó là tình thương mênh mông như trời biển của thầy cô dành cho chúng em.
Cảm nghĩ của em về thầy cô
475
Cảm nghĩ của em về truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh Tôi đi học là truyện ngắn của nhà văn Thanh Tịnh, in trong tập Quê mẹ và được xuất bản năm 1941. Đây là một truyện ngắn thể hiện rất đầy đủ phong cách sáng tác của tác giả: đậm đà chất trữ tình, đằm thắm, êm dịu, trong trẻo và tràn đầy chất thơ. Truyện đã thể hiện một cách xúc động tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật tôi, chú bé được mẹ đưa đến trường lần đầu tiên trong ngày tựu trường. Cảm xúc bắt đầu được khơi nguồn từ hiện tại với cảnh lá rụng vào cuối thu. Đó là một buổi ban mai đầy sương thu và gió lạnh: Buổi tựu trường xa xưa ấy thật đáng nhớ, cậu con trai bé bỏng được mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi. Con đường đi đến trường là con đường làng dài và hẹp vốn đã quen đi lại lắm lần nhưng tự nhiên chú bé thấy lạ. Cảnh vật quê nhà hình như đều thay đổi bởi lẽ vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Chú bé bảy tám tuổi cảm thấy mình đã khôn, không còn chơi bời lêu lổng lội qua sông thả diều như thằng Quý và không đi ra đồng nô đùa như thằng Sơn nữa. Làm sao quên được buổi tựu trường xa xưa đó. Chú bé cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn khi được mặc chiếc áo vải dù đen dài, cầm trong tay hai quyển vở mới. Chú thêm cảnh mấy cậu học trò bằng tuổi mình áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem. Chỉ cầm hai quyển vở mới, dù tay ghì thật chặt mà chú vẫn cảm thấy nặng, rồi một quyển vở Xệch ra và chênh đầu chúi xuống đất. Nhìn thấy mấy cậu ôm sách vở nhiều lại còn kèm cả bút thước nữa, chú ngây thơ nghĩ chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước. Ý nghĩ, tâm lý ấy của nhân vật tôi đã thoáng qua trí nhớ của mình một cách nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi. Hình ảnh so sánh duyên dáng quá, không hề sáo mòn, công thức: so sánh cái ý nghĩ chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước được so sánh với làn mây lướt ngang trên ngọn núi đã làm nổi bật ý nghĩ non nớt và ngây thơ trong sáng của nhân vật tôi. Chú bé cũng như những học trò khác bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, con chim đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng, e sợ. Hình ảnh so sánh đặc sắc quá! Tâm trạng vừa khao khát học hành, ước mơ bay tới những chân trời xa. Chân trời ước mơ và hy vọng đã hiện về trong tâm tưởng của tuổi thơ trong buổi tựu trường. Tiếng trống trường, tiếng trống trường ngày khai giảng tiếng trống dù ở đâu và bất cứ thời nào cũng gây chấn động, hồi hộp kỳ lạ. Hồi trông trường của trường Mỹ Lí đã thúc vang dội cả lòng chú bé. Khi học sinh xếp hàng vào lớp, chú cảm thấy mình chơ vơ. Và tất cả học trò đều bắt đầu vụng về lúng túng. Tưởng như không đi mà bị kéo dìu tới trước. Co chân rồi duỗi chân, cứ dềnh dàng mãi. Toàn thân thì run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. Và khi ông đốc gọi tên, khi ông đốc nói…, các em học trò vào lớp Năm đã lúng túng… càng lúng túng hơn. Nhiều em ôm mặt khóc, nhiều em thút thít. Riêng chú bé thì cố bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước nhưng vẫn dúi đầu vào lòng mẹ tôi khóc nức nở. Có bao giờ, chú quên được cái bàn tay yêu thương của mẹ vuốt nhẹ lên tóc mình. Tuy vậy, chú bé khi xếp hàng vào lớp Năm, được thầy giáo trẻ tuổi tươi cười đứng đón ở cửa lớp, nhưng chú vẫn cảm thấy lẻ loi: trong thời thơ ấu tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này. Bằng trang hồi ức của mình, Thanh Tịnh đã diễn tả những kỷ niệm, những diễn biến tâm trạng hồi hộp, cảm giác bỡ ngỡ của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường theo trình tự thời gian, không gian: lúc đầu là buổi sớm mai mẹ dẫn đi trên con đường làng, sau đó là lúc đứng giữa sân trường, một hồi trống vang lên, nghe ông đốc đọc tên và dặn dò, cuối cùng là khi thầy giáo trẻ đưa vào lớp. Tôi đi học là trang văn đầy chất thơ, chất thơ của kỷ niệm thời thơ ấu ngày tựu trường. Chất thơ ở giọng văn nhẹ nhàng, truyền cảm. Chất thơ ở sự lắng đọng và khơi gợi tâm hồn kí ức thời cắp sách trong mỗi chúng ta. Tôi đi học là một tiếng lòng man mác, bâng khuâng của một thời để nhớ, một thời để yêu. Kỷ niệm ấy rất đẹp và sâu sắc, vì thế sau này Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.
Cảm nghĩ của em về truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh
937
Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh Hướng dẫn Tình bà cháu là một thứ tình cảm gần gũi, tự nhiên và vô cùng thiêng liêng sâu sắc. Nhà thơ Xuân Quỳnh đã có một bài thơ thật hay khi viết về đề tài giản dị mà gợi bao niềm xúc động này. Đó là bài thơ “Tiếng gà trưa”. Nhân vật trữ tình của bài thơ là người chiến sĩ trẻ tuổi. Theo tiếng gọi của Tổ quốc anh đã tạm cất đi sách vở đểlên đường chống Mỹ. Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ bà, nhớ quê cồn cào, da diết của anh. Và những kỉ niệm êm đẹp tuổi thơ, tình bà cháu sâu nặng đã làm sâu sắc hơn tình cảm đối với gia đình, quê hương, non sông đất nước. Mở đầu bài thơ là hình ảnh của người chiến sĩ dừng chân nghỉ lại ở một xóm nhỏ bên đường khi đang hành quân và bất giác tiếng gà trưa vang lên làm sống dậy những kỉ niệm thuở ấu thơ: Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: Cục, cục tác, cục ta Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ. Chỉtừ một tiếng gà lanh lảnh bất chợt nghe được lúc đang dừng chân bên xóm nhỏ, giữa buổi trưa nóng nực của mùa hè đã gợi dậy cả một trời thương nhớ, đã làm thay đổi mọi vật xung quanh. Chỉ một tiếng gà trưa quen thuộc ấy thôi không những làm cho cái nắng hè xao động, bàn chân đỡ mỏi sau chuyến băng rừng, vượt biển hiểm trở, gian nguy, gợi dậy bao khát vọng tuổi thơ mà bên cạnh đó còn làm xao động lòng người. Bằng điệp từ “nghe” được nhắc lại nhiều lần đoạn thơ đã làm tăng lên gấp bội tình cảm nồng nàn đối với quê hương, điều đó thể hiện sự rung cảm vô bờ trong tâm hồn người chiến sĩ. Tiếng gà trưa Ổrơm hồng những trứng Này con gà mái mơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng… Làm sao có thể quên được hình ảnh quen thuộc của “Ổrơm hồng những trứng”, của mấy chị mái mơ, mái vàng khoác trên mình chiếc áo xinh xắn, rực rỡ, tươi đẹp. Làm sao có thế quên được hình ảnh người bà kính yêu đã một đời tần tảo, chắt chiu vì con vì cháu. Thương biết mây, hồn nhiên biết mấy cái cảnh đứa cháu nhìn trộm gà đẻ bị bà mắng: “Gà đẻ mà mày nhìn, rồi sau này lang mặt”. Bịbà mắng, cháu không khóc mà lại có những hành động thật đáng yêu: “Cháu về lấy gương soi, lòng dại thơ lo lắng”. Giờ đây, người cháu ước ao trở về thời thơ ấu đểlại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được thấy hình bóng bà khum tay soi trứng, chắt chiu, gìn giữ từng quả trứng hồng, những mầm hi vọng nhỏ đểsẽ có được một đàn gà con đông đúc: Cứ hàng năm hàng năm Khi gió mùa đông đến Bà lo đàn gà toi… Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới. Suốt một cuộc đời làm lụng vất vả, biết bao lo toan, khó nhọc, bà chẳng bao giờ nghĩ cho riêng bà, bởi đứa cháu đối với bà là tất cả. Bà lo cho đàn gà, mong nó không bị dịch bệnh đểmỗi mùa đông tới: Cháu được quần áo mới. Mong ước của đứa cháu được cái quần chéo go, cái áo cánh trúc bâu, còn mới hồ sột soạt và thơm mùi vải mới được nhân lên gấp bội trong lòng bà yêu thương cháu. Hạnh phúc gia đình giản dị, đầm ấm rất đỗi thiêng liêng với bao khát vọng tuổi thơ, dường như gói gọn cả trong tiếng gà trưa: Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. Giờ đây, khi đã cầm chắc cây súng nơi biên cương nhưng hình ảnh ấn tượng ấy vẫn luôn luôn trĩu nặng trong tâm hồn, trong cả những ước mơ và hoài bão. Đối với người chiến sĩ, đó là quê hương, “tiếng gà trưa” là tất cả, là hạnh phúc, là muôn vàn yêu thương. Chính chúng đã thắp sáng tâm hồn anh bộ đội Cụ Hồ, đã nâng anh đến khung trời đẹp đẽ với ổ trứng hồng xinh xinh. Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơicũng vì bà Vì tiếng gà: “Cục tác” Ổtrứng hồng tuổi thơ. Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Trải qua sau bao nhiêu thử thách, giờ đây anh mong ước, những ước muốn thật bình dị. Chinh chiến nơi xa xôi, trái tim anh luôn hướng về với tiếng gọi quê hương, hằng mong có sức khỏe và nghị lực chiến đấu vì hạnh phúc em thơ, vì người bà yêu dấu, vì xóm giềng, hơn cả là vì tiếng gà gần gũi yêu thương. Điệp từ “vì” đã được sử dụng tài tình khiến mục đích chiến đấu đó lại càng trở nên cao cả, thiêng liêng hạ thường. Bài thơ sử dụng thể thơ năm chữ nên rất linh hoạt trong việc giúp nhân vật trữ tình chia sẻ những tâm sự, suy nghĩ về tuổi thơ, về người bà yêu dấu. Đặc biệt, câu thơ ba tiếng “Tiếng gà trưa” được lặp đi lặp lại nhiều lần như mô phóng tiếng gà “Ò Ó O” như điệp khúc bất tử, cảm động về tuổi thơ say mê đầy thương mến.
Cảm nghĩ của em về tình bà cháu trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
952
Cảm nghĩ của em về tình bạn Hướng dẫn Cảm nghĩ của em về tình bạn Bài làm Con người, đặt bản thân là trung tâm, luôn có rất nhiều mối quan hệ xoay quanh. Có những người, những mỗi quan hệ chỉ thoáng qua nhưng cũng có những người hay những mối quan hệ bằng một cách nào đó luôn gắn bó với ta, đi theo ta trong suốt cuộc đời. Tình bạn là một mối quan hệ như vậy. Trong cuộc đời mình, ai cũng có ít nhất là một vài người bạn. Tình bạn không đến từ một người, nó là sự sẻ chia, thông cảm, là sự thấu hiểu về nhau giữa hai người. Một tình bạn đẹp phải xuất phát từ sự chân thành, trong sáng, vô tư và tin tưởng. Những điều này tưởng như đơn giản nhưng đó lại là điều kiện tiên quyết để khởi đầu một tình bạn đẹp. Con người luôn sợ cô đơn, luôn muốn có người đáng tin tưởng để có thể sẻ chia, tâm sự nhưng cũng luôn dè chừng, cảnh giác với những người muốn chạm vào cảm xúc của họ. Cũng phải thôi, thật tồi tệ nếu một người bạn coi là bạn, lắng nghe những điều họ sẻ chia biết đâu sau đó lại đem những câu chuyện của bạn ra làm trò đùa. Tình bạn cũng không thể bền vững nếu không trong sáng, có mục đích hay để lợi dụng lẫn nhau. Chúng ta không thể gọi một người là bạn mà luôn phải đề phòng họ. Để hai người khác nhau trở thành bạn của nhau cần rất lớn sự thấu hiểu. Bởi mỗi người sẽ có một tính cách khác nhau. Dẫu có thể có nét tương đồng nhưng điểm khác nhau sẽ vẫn rất lớn. Sự thấu hiểu đối với nhau không dễ dàng có được, nó cần phải có thời gian để vun đắp, có khó khăn hoạn nạn để thử thách và trưởng thành. Phải có sự sẻ chia, thông cảm và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai người bạn mới có thể khiến họ hiểu nhau hơn. Mặt khác, con người không hoàn hảo, luôn có những thói quen xấu bên cạnh những cái tốt. Muốn tình bạn được bền lâu, ta không được bao che dung túng trước những thói quen xấu này. Rất khó để có được một tình bạn nhưng một tình bạn đẹp sẽ khiến cuộc sống của ta thi vị hơn rất nhiều. Thật bình yên khi gặp khó khăn mà luôn có người sẵn sàng đưa tay giúp đỡ hay khi có tâm sự có người yên lặng ngồi bên lắng nghe. Cũng thật hạnh phúc khi có tin tưởng chia sẻ với ta những điều giản dị. Và thật ấm áp khi có người luôn nhớ những thói quen nhỏ nhặt của ta để khi ta đi đâu, làm gì họ sẽ lại quan tâm, nhắc nhở. Nếu tìm được một người bạn như thế bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và đầy đủ vì bạn sẽ không phải lo âu hay đối mặt với những nỗi cô đơn hay sợ hãi trước cuộc sống tẻ nhạt.
Cảm nghĩ của em về tình bạn
531
Đề bài: Nêu cảm nghĩ của em khi đọc bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan Bài làm "Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới" là bài báo của Vũ Khoan, lần đầu được giới thiệu trên báo “Tia sáng" năm 2001. Tác giả là một trong những gương mặt mới của đội ngũ lãnh đạo đất nước ta trong thời kì đổi mới hội nhập. Đối tượng đối thoại của tác giả là "lớp trẻ Việt Nam", những chủ nhân của đất nước ta trong thế kỉ XXI, thế hệ nối bước ông cha, gánh trên đôi vai mình sứ mệnh lịch sử vô cùng nặng nề là xây dựng Việt Nam trở nên giàu mạnh. Có thể xem câu văn đầu bài đã nêu lên ý tưởng chủ đạo của bài luận văn: "Lớp trẻ Việt Nam cần nhận ra những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam để rèn những thói quen tốt khi bước vào nền kinh tế mới". Tác giả đặt vấn đề và khẳng định. Chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất trong những hành trang mà đất nước ta phải có và cần có. Bởi lẽ con người, từ cổ chí kim "vẫn là động lực phát triền của lịch sử", "vai trò con người lại càng nổi trội" 'rong thế kỉ XXI khi nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ. Phải chuẩn bị những cái cần thiết trong hành trang mang vào thế kỉ mới khi mà “sự phát triển như huyền thoại của khoa học và công nghệ…", khi mà "dưới tác động của những tiến bộ về khoa học và công nghệ, sự giao thoa, hội nhập giữa các nền kinh tế chắc chắn sẽ sâu rộng hơn nhiều!". Vấn đề thời cơ và thách thức được Vũ Khoan nêu lên và giải thích một cách khúc chiết, sáng tỏ. Tiếp theo, tác giả nêu lên 3 nhiệm vụ: một là, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp; hai là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; ba là phải tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức. Và Vũ Khoan chỉ rõ: "Làm nên sự nghiệp ấy đương nhiên là những con người Việt Nam với những điềm mạnh và điểm yếu của nó". Có thể nói: ý chí tự lực tự cường, tinh thần đổi mới hội nhập, và cái nhìn tỉnh táo là tư tưởng bao trùm phần đầu bản luận văn này. Phần thứ hai, tác giả lần lượt nêu lên, giải thích và bình luận những điểm mạnh, những điểm yếu của con người Việt Nam. – Cái mạnh của con người Việt Nam là "sự thông minh sáng tạo", bản chất tốt đẹp ấy "rất có ích" trong xã hội mới, khi mà "sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu". Trong cái mạnh đó, dân trí ta lại có "những lỗ hổng kiến thức cơ bản", "khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế". Nguyên nhân là do "thiên hướng chạy theo những môn học trừu tượng","do lối học chay học vẹt nặng nề". Nếu "không nhanh chóng lấp những lỗ hổng này", khắc phục những điểm yếu này "thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng". – Cái mạnh nữa của dân ta là "sự cần cù sáng tạo”; nhưng trong cái mạnh ấy, "lại ẩn chứa những khuyết tật" của con người sản xuất nhỏ nhoi "thiếu đức tính tỉ mỉ", hành động theo phương châm "nước đến chân mới nhảy" (thiếu nhìn xa trông rộng, còn bị động), "liệu cơm gắp mắm" (làm ăn kiểu cò con, dễ dãi); "chưa có được thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc là cường độ khẩn trương". Ngay như bàn tính "sáng tạo" cũng chỉ "loay hoay cải tiến, làm tắt, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ". Truyền thống lâu đời "đùm bọc, đoàn kết" của nhân dân ta đã làm nên sức mạnh Việt Nam để chiến thống ngoại xâm, để bảo vệ và xây dựng đất nước. Nhưng do ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ, dân ta mang nhiều cái yếu cố hữu như: tính đố kị, lối nghĩ "trâu buộc ghét trâu ăn" (ghen ghét tài năng), tự do tùy tiện… Con người Việt Nam còn có nhiều điểm yếu khác nữa như thái độ kì thị đối với sự kinh doanh, thói quen ảnh hưởng sự bao cấp, nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức. Không ít người lại có thói quen: "khôn vặt", "bóc ngắn chi dài", không coi trọng chữ "tín". Những cái yếu ấy, những thói quen xấu ấy, theo tác giả "sẽ gây tác hại khôn lường trong quá trình kinh doanh và hội nhập". Phần cuối bài báo, Vũ Khoan nêu lên hai điều kiện khi đất nước ta, nhân dân ta bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm chân" thì: Một là, phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu. Hai là, hãy làm cho lớp trẻ – những người chủ thực sự của đất nước – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất. "Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới" là một văn bản độc đáo, đặc sắc. Tác gỉa đã dũng cảm chỉ ra những cái yếu của con người Việt Nam khi bước vào thế kỉ mới, khi đứng trước vận hội mới, thách thức mới. Giọng văn sắc sảo, nhiệt thành, tâm huyết. Tác giả đứng trên tầm cao của thời đại mới, với ý chí tự cường để trao đổi với thế họ trẻ những cái mạnh, những cái yếu của dân ta, động viên thanh thiếu nhi Việt Nam vươn lên gánh vác sứ mệnh lịch sử. Cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, mang tính tranh biện đầy sức thuyết phục. Những câu tục ngữ, câu ca dao được tác giả vận dụng tạo nên một lối nói dung dị, đậm đà, gợi cho người đọc bao liên tưởng thú vị. Bài văn của Vũ Khoan đã giúp ta có một cái nhìn sáng suốt về nhân dân ta, về bản thân mỗi chúng ta. Thế kỉ mới là thế kỉ hi vọng và bừng sáng đối với đất nước và con người Việt Nam.
Cảm nghĩ khi đọc bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan
1,098
Đề bài: Em hãy nêu cảm nghĩ của em sau khi đọc bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác Bài làm Trước hết đây là bài thơ thể hiện thái độ và khí phách của tác giả trong hoàn cảnh bị chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) bắt cầm tù: ngồi trong tù, người chiến sĩ cách mạng vẫn hiên ngang, bất khuất và giữ một niềm tin sắt son và sự nghiệp cứu nước. Vì vậy bài thơ có sức truyền cảm lớn do nhiệt tình yêu nước sôi nổi, mãnh liệt của tác giả, do giọng thơ vui, yêu đời. Bài thơ viết theo thể Đường luật thất ngôn bát cú tuân theo đúng các qui tắc về bố cục, vần, niêm, luật của thể thơ này. Bốn câu thơ đầu có thể chia thành hai cặp: 1, 2 và 3, 4. Cặp 1, 2 theo bố cục của thơ Đường luật gọi là phần đề (thừa đề vừa phá đề) có nội dung nhằm giới thiệu vấn đề cần nói tới. Ở đây nhà thơ muốn nói tới hoàn cảnh mình bị bắt giam. Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu, Chạy mỏi chân thì hãy ở tù. Ý của hai câu thơ có thể diễn đạt lại: mình ở tù không phải do bị-bắt mà vì chạy mỏi chân (từ hoạt động cách mạng đã nhiều), tạm thời nghỉ ờ đây. Vào tù, mình vẫn giữ được tài trí và cách sống của mình: là người có chí lớn khác thường (hào kiệt), là người luôn giữ dáng vẻ lịch sự, trang nhã (phong lưu). Cách vào đề khéo. Tác giả có nói đến việc bị bắt vào nhà tù nhưng không nhấn mạnh khía cạnh rủi ro, đau khổ hoặc âu lo, khiếp sợ. Ngược lại, bằng giọng điệu thản nhiên pha chút đùa vui ấy được thể hiện ngay từ cách dùng điệp từ “vẫn” đi liền với hai tính từ thể hiện phẩm chất trước sau như nhà cách mạng (hào kiệt, phong lưu). Nó trở thành nụ cười khi nhà thơ hạ câu thứ hai cụm từ “thì hãy ở tù”, biến sự việc bị động, mất tự do thành chủ động do mình muôn thế. Câu ba, bốn là phần thực, có nhiệm vụ tả cảnh hay trình bày sự việc do phần đề đặt ra. Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu. Tả người tù mà nói “khách không nhà”, “người có tội” thì thật đúng. Chữ “đã”, chữ “lại” mở đầu hai câu thực càng nhấn mạnh thêm tình cảnh tù đày của người chiến sĩ cách mạng. Song gắn “khách không nhà” với “năm châu”, nhà thơ như muốn vẽ chân dung người tù một cách phóng khoáng hơn. Nghệ thuật bình đối trong hai câu này không làm cho ý thơ đối chọi. Ngược lại, sự đối lập ấy lại càng tôn hơn lên chân dung khác thường của người tù: một con người của năm châu, bốn biển, của toàn thế giới. Hai câu thơ này vẫn tiếp nối giọng điệu cười cợt, vui đùa như giọng điệu của hai câu đề. Như vậy, từ ý thơ đến giọng thơ, bốn câu đầu bài thơ toát ra tinh thần lạc quan yêu đời, thái độ ngạo nghễ coi thường lao tù của người tù – chí sĩ Phan Bội Châu. Chính thái độ ngạo nghễ, tinh thần lạc quan yêu đời đã phân tích ở trên là một biểu hiện của khí phách hiên ngang, bất khuất. Nhưng bốn câu cuối thì thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất ở các khía cạnh: Hai câu 5, 6 là hai câu luận, có nhiệm vụ bàn luận, mở rộng vân đề. Ở đây tác giả khẳng định: chí lớn tài cao của người chiến sĩ cách mạng không cảnh tù đày nào có thể đè bẹp. Do đó, bị bắt nhưng người tù vẫn tự chủ: Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế, Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Các động tác “bủa tay”, “mở miệng” thể hiện thái độ coi thường, coi khinh mọi khó khăn trước mắt Hai câu 7, 8 là hai câu kết, có nhiệm vụ nâng cao vấn đề hoặc bày tỏ cảm xúc của tác giả. Trong bài thơ này, hai câu kết khẳng định dứt khoát niềm tin của nhà thơ vào tương lai, thể hiện thái độ coi thường lao tù nguy hiểm. Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sự gì đâu. Hai tiếng “còn” đứng cạnh nhau tạo nên âm điệu khẳng định mạnh mẽ ý chí đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước. Nó như hai tiếng trống chắc nịch, âm vang, kích động lòng người, kết thúc một bản tình ca. Bài thơ có sức truyền cảm lớn, trước tiên do nhiệt tình yêu nước cháy bỏng của nhà thơ. Bị bắt, có nguy cơ Phan Bội Châu bị giao lại cho thực dân Pháp, kẻ đã kết án tử hình vắng mặt ông, song tác giả bài thơ không một chút bi quan, một chút chán nản. Từ đầu đến cuối, nhà thơ vẫn thể hiện tinh thần lạc quan, niềm vui sắt đá vào sự nghiệp đang theo đuổi: sự nghiệp cứu nước. Mặt khác, sức truyền cảm lớn của bài thơ được khơi dậy từ chính giọng thơ vui vui, yêu đời thể hiện một tâm hồn cứng cỏi, một thái độ hiên ngang. Nó kích thích ý chí quật cường của người đọc, nhất là của lớp thanh niên và trung niên.
Cảm nghĩ khi đọc bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác
920
Đề bài: Cảm nghĩ khi đọc bài Về thăm cố hương trích trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của Lãn ông Lê Hữu Trác Bài làm Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791) là vị danh y của Đại Việt ở thế kỉ XVIII. Ông để lại bộ "Y tông tâm lĩnh" gồm 66 quyển nói về các bài thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh cứu người, riêng quyển cuối cùng là một tác phẩm văn học rất đặc sắc mang tựa đề "Thượng kinh kí sự". Bài "Thăm cố hương" nằm ở vị trí gần cuối tập kí sự. Sau ba mươi năm trời xa cách mới được trở về thăm quê cha, đứa con li hương bồi hồi xúc động khi lặp lại cảnh cũ người xưa. Một số bài thơ viết theo thể ngũ ngôn xen vào làm cho bài kí sự thêm hồi hồi xúc động. Đoạn thứ nhất ghi lại một vài cảnh vật và tâm trạng của người lữ khách trên đường trở lại thăm cố hương. Đó là đoạn đường từ Bát Tràng đến Liêu Xá. Một ấn tượng rất đẹp về làng gốm bên tả ngạn sông Hồng: "Hai bên đường, làng mạc sầm uất, đình chùa mái ngói đỏ san sát; hàng quán bún rượu, bún nước liền nhau", vốn là một nhà thơ lại mang tâm trạng buồn nhớ cố hương, nên Lãn Ông “đi rồi lại dừng", bâng khuâng ngắm nhìn cảnh vật, ung dung "chống gậy dạo chơi". Cái cầu gạch là hình bóng đầu tiên của quê hương mà ông nhận ra sau những năm dài li biệt, xa cách. Tác giả kết hợp miêu tả với biểu cảm, tạo nên giọng văn nhẹ nhàng diễn tả một cách tinh tế những rung động tâm hồn của khách cố lí tha hương. Đoạn thứ hai nói lên những cảm xúc của đứa con xa quê nay gặp lại ngôi nhà của người cha thân yêu đã quá cố, gặp lại người chị dâu "đã ngoài bảy mươi, tóc bạc như tơ". Lê Hữu Trác dòng dõi quý tộc, thân phụ của ông là đại quan dưới thời Lê Trịnh; anh trai của ông làm quan Thự trấn Lạng Sơn. Trở về cố hương, ông được vào nghỉ ở dinh cũ của tiên phụ. Chị dâu gặp lại người em chồng sau những năm dài xa cách "mừng mừng tủi tủi, sụt sùi nói chuyện". Người em chồng thì vô cùng cảm động "sống trong cảnh lữ thứ buồn rầu khôn xiết". Biển dâu biến đổi, nhà cũ ngày xưa tráng lệ thế mà nay chỉ còn lại "móng nhà cũ" và một ít gạch ngói giữa vườn cau. Đứa con li hương "dạo chơi trong vườn", lần tìm dấu vết, bâng khuâng ngắm nhìn, thầm thì trong lòng: "Đây là phòng ngủ của thầy tôi ngày trước. Vườn cau này, xưa là nhà khách, nhà sảnh. Đằng sau là nhà trong. Bên trái là nhà bếp, bên phải là nhà học"… Trước cảnh vật tang thương, khách li hương buồn khôn xiết kể "băn khoăn suy nghĩ". Người thân yêu đã mất, cảnh vật tiêu điều, thời gian như nước chảy qua cầu, mái tóc đã bạc,… khách xa quê lâu ngày trở lại thăm cố hương sao không khỏi "băn khoăn suy nghĩ" về lẽ phế hưng của cuộc đời. Đoạn văn này, tác giả chỉ nhắc và gợi tả một vài nét nhưng dào dạt cảm xúc về tình cố hương. Đó là tình cảm sâu nặng, thuỷ chung đối với quê cha đất tổ. Đoạn thứ ba tiếp theo: trong tâm trạng "thử li", tác giả "càng thêm buồn", trước sự biến đổi, "càng dùng dằng không nỡ rời chân" khu vườn với bao di tích thương yêu. Đứa con li hương "sau một cái lễ cáo yết nhà thờ", đi thăm mộ và lễ ở nhà thờ họ, lễ các vị thần linh ở miếu làng. Mỗi việc làm là một nét đẹp thuần phong mĩ tục, thể hiện tình nghĩa đậm đà, thuỷ chung đối với cố hương. Được gặp lại bà con, anh em họ hàng, Lê Hữu Trác hoặc tặng tiền, hoặc mời uống rượu và cùng ngồi nói chuyện, nhưng trong mấy chục người, ông "chỉ biết mặt có vài người", "có người phải nói đến tên cúng cơm của cha ông, nói đến quan hệ họ hàng thân thuộc như thế nào", ông mới nhận ra, rồi "bỗng khóc oà lên". Đó là những bi kịch của những khách li hương "khi đi trẻ, lúc về già…" như Hạ Tri Chương – nhà thơ đời Đường đã nhắc đến trong bài thơ "Hồi hương ngẫu thư" mà nhiều người đã biết. Là một thầy thuốc giỏi mà lại có tài thơ văn, trong cảnh sum họp với bà con, anh em họ hàng, ông đã "cảm hứng" làm một bài thơ ngụ ngôn diễn tả tình cố hương dào dạt: "Chợt về thăm lại cố hương – Bỗng dưng trăm nỗi ngổn ngang bời bời". Qua đó, ta càng thâm thía về tình cố hương, một trong những tình cảm đẹp nhất, thắm thiết nhất của con người Việt Nam chúng ta. Đoạn thứ tư nói về cái cầu làng và những kỉ niệm đẹp về thời thơ ấu. Khi mọi công việc đã xong, Lê Hữu Trác đã rủ mấy công tử là em họ ra chơi thăm lại cầu làng. Như đưực gặp lại một người bạn nhỏ xưa. Đó là cái cầu nối hai bờ ngòi nhỏ hình trái bầu. Trên mặi cầu dựng một cái nhà ngói, hai bên bắc ván, đóng bao lớn. Trên cầu có đàn bà trong làng ngồi bán nước chè, bán rượu, bánh trái, nem chả. Những kỉ niệm thời bé thơ ngồi chơi trên cầu, những đêm mùa hạ tắm mát, hụp lặn, nhớ người anh trai… Khách li hương cảm thấy câu nói của người anh trai như một câu sấm ngữ linh nghiệm, nhất là đối với kẻ "phiêu bạt giang hồ" như mình. Quá xúc động, ông lại ngâm một bài thơ: … "Lá vàng mấy độ bay dồn, Trở về, trông thấy sóng còn trắng phau. Cầu ngang in cũ quanh queo, Cây xưa bóng vẫn đứng nao tà tà.” Rồi cùng các công tử đi thăm chùa Tử Vân, ngắm hồ sen "hương thơm ngào ngạt", dắt nhau lên gác chuông ngắm cảnh. Chiêm nghiệm về cuộc đời và lẽ xuất xứ xưa nay", ông nói với những người anh em cũng như tự nhắc khẽ lòng mình: "Phàm người ở ẩn thì giữ được đạo, ra đời thì cứu được dân, mới là hạng người có sự nghiệp… Kẻ đi xa, ai không khỏi buồn khi nhớ quê nhà. Huống nữa, cái vui nơi quê cha đất tổ, đến nay đã muộn rồi"… Lê Hữu Trác ngâm bài thơ vịnh hồ sen và chùa Tử Vân. Lần theo tiếng chuông lanh lảnh ngân vang, ông đến thăm chùa Liêu Xuyên, thăm sư cụ Đàm Hoa trong niềm vui hội ngộ "mừng rỡ khôn xiết", vừa đàm đạo vừa uống trà. Nhà sư ca ngợi khách li hương thoát vòng danh lợi, được “cao ngạo ở một nơi nước trong núi mát, cảnh trí u nhàn, vượn hạc đi từng đàn, khói mây đầy cả của"… Khách xa quê tâm đắc bày tỏ về cái chí thanh nhàn của mình: "Người gặp được cảnh nên người vẻ vang, cảnh gặp được người nên canh cùng thú". Người vẻ vang thì được thiên nhiên nâng đỡ tâm hồn. Cảnh càng thú vì cảnh gặp người, được người trân trọng thương yêu mà trở nên hữu tình. Lê Hữu Trác không chỉ nói lên tình cố hương mà còn muốn bày tỏ tâm hồn thanh cao, tình yêu thiên nhiên tạo vật, ưa nhàn xa lánh bụi trần. Khi mặt trời sắp lặn, trước cảnh hoa cỏ u nhàn nơi thôn dã, ông viết bài thơ ngũ ngôn ở phòng thiền để lưu biệt. Đó là bài thơ thứ tư ông cảm hứng về cố hương. "Thăm lại cổ hương" được viết theo dòng chảy thời gian và nỗi niềm tâm trạng của khách li hương sau ba mươi năm trở lại quê nhà. Người xưa đã vắng bóng, cảnh cũ đã đổi thay. Kỉ niệm tuổi thơ sống dậy man mác bồi hồi. Một nỗi buồn mênh mang thấm sâu vào từng trang kí sự. Bốn bài thơ ngũ ngôn đã cho thấy tình cố hương thắm thiết biết bao. Cách viết của Lãn Ông rất thâm hậu, vui buồn thấm thía làm nao lòng người. Mỗi câu văn, mỗi bài thơ là cả những tiếng lòng trang trải.
Cảm nghĩ khi đọc bài Về thăm cố hương trích trong tác phẩm Thượng kinh kí sự của Lãn ông Lê Hữu Trác
1,448
Đề bài: Cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao Bài làm Chúng ta đã từng học qua những truyện như Lão Hạc, Tắt đèn và chắc không mấy ai trong số chúng ta lại không trầm trồ thán phục tài năng nghệ thuật của Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Với riêng tôi, dù đã đọc đi đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao rất nhiều lần nhưng dường như lần nào tôi cũng lại tìm thấy thêm được một vài điều lý thú. Nó cuốn hút tôi, lay động tôi, khi thì gợi trong tôi sự căm thù, khi lại gọi về chan chứa những yêu thương. Lão Hạc là sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Nó là tình yêu thương, là sự ngợi ca, trân trọng người lao động của Nam Cao. Giống như Ngô Tất Tố cùng nhiều nhà văn thời đó, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh người nông dân Việt Nam trước cách mạng với những phẩm chất đáng quý, đáng yêu: chăm chỉ, cần cù, giàu tình yêu thương và giàu đức hy sinh. Trước cách mạng, Nam Cao say sưa khám phá cuộc sống và tính cách của nông dân. Trong các tác phẩm của ông, môi trường và hoàn cảnh sống của nhân vật chính thường gắn liền với cái nghèo, cái đói, với miếng ăn và với các định kiến xã hội đã thâm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ vào cách nhìn của con người ở nông thôn. Lão Hạc cũng vậy, suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão thương con vô bờ bến: thương khi con không lấy được vợ vì nhà ta nghèo quá, thương con phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi để ôm mộng làm giàu giữa chốn hang hùm miệng sói. Và đọc truyện ta còn thấy lão đau khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng, kỳ vật duy nhất của đứa con trai. Không bán, lão biết lấy gì nuôi nó sống? Cuộc sống ngày thêm một khó khăn. Rồi cuối cùng, đến cái thân lão, lão cũng không giữ được. Lão ăn củ chuối, ăn sung luộc. Nhưng lão nghĩ, lão “không nên” sống nữa. Sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình. Vậy là, thật đớn đau thay! Lão Hạc đã phải tự “sắp xếp” cái chết cho mình. Cuộc sống của nông dân ta trước cách mạng ngột ngạt đến không thở được. Nhìn cái hiện thực ấy, ta đau đớn, xót xa. Ta cũng căm ghét vô cùng bọn địa chủ, bọn thực dân gian ác. Lão Hạc chết. Cái chết của Lão Hạc sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nồng dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, chết mà không muốn làm luỵ phiền hàng xóm. Cái chết của Lão Hạc thay cho lời tố cáo cái xã hội phi nhân đạo – một thứ sản phẩm hỗn tạp của phong kiến, thực dân. Đọc Lão Hạc ta thấy đâu phải chỉ mình lão khổ. Những hạng người như Binh Tư, một kẻ do cái nghèo mà bị tha hoá thành một tên trộm cắp. Đó là ông giáo, một người trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng không thoát ra khỏi áp lực của cảnh vợ con rách áo, đói cơm. Cái nghèo khiến ông giáo đã phải rứt ruột bán đi từng cuốn sách vô giá của mình. Nhưng cái thứ ấy bán đi thì được mấy bữa cơm? Vậy ra ở trong truyện tất cả đã đều là Lão Hạc. Lão Hạc phải oằn mình mà chết trước thử hỏi những người kia có thể cầm cự được bao lâu? Ở tác phẩm Lão Hạc, ta có thấy niềm tin và sự lạc quan của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của con người. Thế nhưng điều quan trọng hơn mà nhà văn muốn nhắn gửi đó là một lời tố cáo. Nó cất lên như là một tiếng kêu để cứu lấy con người. Từ chiều sâu của nội dung tư tưởng, tác phẩm nói lên tính cấp bách và yêu cầu khẩn thiết phải thay đổi toàn bộ môi trường sống để cứu lấy những giá trị chân chính và tốt đẹp của con người. Lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Nó cũng dạy ta, cuộc sống là một cuộc đấu tranh khỏng phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách.
Cảm nghĩ nổi bật nhất về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao
811
Đề bài: Cảm nghĩ sau khi đọc “Sự tích Hồ Gươm” Bài làm Truyện cổ tích nằm trong kho tàng truyện cổ dân gian của nước ta. Nó nói lê ước mơ, tâm tư tình cảm của người dân Việt Nam từ thời kỳ xưa truyền cho đời nay. Là những bài học bổ ích để thế hệ con cháu có thể rút ra kinh nghiệm cho riêng mình. Sự tích Hồ Gươm là một câu chuyện vô cùng nổi tiếng trong kho tàng truyện cổ của nước ta. Câu truyện cổ tích này kể về việc vua Lê Lợi được rùa vàng cho mượn kiếm thần đánh tan giặc ngoại xâm. Chính yếu tôi hư cấu, kỳ ảo đã làm nên sức hấp dẫn của truyện cho tới thế hệ hôm nay mọi người vẫn còn yêu thích truyện này. Bối cảnh truyện viết về những năm thế kỷ XV khi quân Minh sang xâm lăng nước ta, chúng reo cái chết lên những người dân vô tội, coi dân ta như nô lệ của mình, coi nước ta như cỏ rác. Câu chuyện kể rằng cho một người làm nghề kéo lưới một đêm nọ anh chàng Thuận đi kéo lưới thấy nặng tay anh ta tưởng là đánh được mẻ cá lớn nên mừng lắm. Nhưng kéo lên chỉ là một thanh sắt. Anh lại quăng xuống sông. Nhưng ba lần liên tiếp anh chàng Thuận đều kéo được thanh sát lấy làm lạ nên anh Thuận mới lấy lửa soi kỹ thì nhận ra đó là thanh gươm. Chiến tranh xảy ra, Thuận gia nhập quân Tây Sơn của Lê Lợi đánh giặc, nhưng do binh mỏng, lực yếu nên quân ta phải chạy thoát thân trong lúc nguy cấp thì Thuận đã dâng hiến thanh gươm của mình cho Lê Lợi. Lê Lợi cầm lấy và khắc lên thanh gươm hai chữ “Thuận Thiên” có nghĩa là ý trời. Khi Lê Lợi cầm thanh gươm lên tay ngay lập tức thanh gươm phát sáng, sắc nhọn không còn là một thanh sắt han rỉ nữa. Gươm vung tới đâu thì đầu giặc rơi tới đó, khiến cho quân giặc vô cùng khiếp sợ uy danh của Lê Lợi tháo chạy về nước. Quân ta thoát cảnh xâm lăng. Một hôm nhân cảnh đất nước thái bình, Lê Lê đi thuyền rồng trên sông ngắm cảnh nhân dân thái bình, thịnh vượng khi ông đang đi thì bỗng có một chú Rùa nổi lên xin lại thanh gươm hôm nào. Lê Lợi liền rút thanh gươm đang mang trên mình trao trả cho Rùa thần. Rùa thần ngậm gươm rồi lặn xuống đáy sông để lại một ánh sáng xanh. Từ đó, người ta gọi hồ đó là Hồ Gươm, hay chính là Hồ Hoàn Kiếm, nơi Lê Lợi đã trao trả thanh gươm quý báu cho rùa thần. Câu chuyện này nó lên tinh thần yêu nước cũng như việc chúng ta đánh giặc ngoại xâm đến cả Long Vương cũng thương tình giúp đỡ thể hiện tinh thần chính nghĩa thuộc về ta. Còn giặc Minh là lũ cướp nước gây ra chiến tranh phi nghĩa, nên bị trời trừng phạt.
Cảm nghĩ sau khi đọc Sự tích Hồ Gươm
527
Cảm nghĩ truyện Cô bé bán diêm nói chung và kết truyện nói rieng – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Cô bé bán diêm có lẽ là một trong những truyện An-đéc-xen làm em xúc động hơn cả. Thân phận của cô bé đã tội nghiệp lắm rồi, nhưng cảnh ngộ cụ thể của cô bé mồ côi này trong đêm giao thừa càng khiến ta vô cùng thương xót, và không thể không buộc em phải nghĩ ngợi về thái độ người đời đối với những cô bé như vậy. Một em nhỏ, lại là bé gái phải chân trần đi bán diêm trong một đêm mịt mùng, tuyết rơi giá buốt. Hơn nữa, đây là một đêm giao thừa.,Sự đối lập quá trái ngược giữa đêm tuyết giá ngoài trời đó với cảnh “ánh đèn sáng rực” trong các gia đình em bé đi qua, giữa mùi “ngỗng quay sực nức” với bụng đói cô bé lang thang trên đường, giữa quá khứ “những ngày đầm ấm” trong ngôi nhà xinh xắn có dây thường xuân bao phủ với hiện tại phải chui rúc trong “một xó tối tăm” luôn phải nghe những lời mắng chửi… làm nổi bật thân phận đáng thương của cô bé. Nhưng điều làm em buồn bực hơn cả là thái độ của những người qua lại. Tại sao trong một đêm giá rét như thế, lại là đêm giao thừa, mà bao người qua đó đều “rảo bước rất nhanh”, “chẳng ai đoái hoài” đến em cả? Tình người đâu nhỉ? Dù trời rét, dù vội về nhà tết nhất, nhưng lẽ nào không thể dừng chân đôi ba phút, nếu không cưu mang chia sẻ được gì, ít ra cũng có vài lời hỏi han an ủi em chứ! Cái thằng bé lấy mất chiếc giày của em “để làm nôi cho con chó sau này” còn không đáng giận bằng những người lớn nọ, Thằng bé chỉ độc ác một cách vô tư, hồn nhiên, chứ những người lớn đầy đủ ý thức mà đã dửng dưng vô cảm, thiếu hẳn tình đồng loại tối thiểu, nói gì đến lòng nhân đạo “thương người như thể thương thân”! Trong cảnh ngộ tăm tối đói lạnh của cô bé, dù chỉ một ngọn lửa diêm bé nhỏ thôi, cũng đã thành cả một niềm vui “sáng chói”, không chỉ sưởi ấm bàn tay tê cóng của bé, mà quý giá hơn là còn đáp ứng những mong muốn, khát khao biết bao thiết tha của bé! Trước mắt cô bé đáng thương, ngọn lửa diêm bé xíu cũng đã gợi ra những màu sắc tươi đẹp, ít nhiều tượng hình hạnh phúc. Những hạnh phúc hết sức bình dị, với bao bạn nhỏ khác, nhưng với cô bé ở đây lại chỉ có thể đạt được trong mơ ước. Có điều là mơ ước của cô bé vì độ nung nấu mãnh liệt của nó, nên đã đủ sức làm thể hiện lên trước mắt cô bé như có thực vậy. Nào là chiếc lò sưởi có lửa cháy “đến là vui mắt” và “hơi ấm dịu dàng”, nào là bàn tiệc đêm Nô-en có chú ngỗng quay, biết nhảy ra khỏi đĩa kèm theo cả dao, đĩa ăn mà “tiến về phía em bé”! Nào là cây thông Nô-en lộng lẫy biết bao! Em được biết có những cô chú đã tổ chức những bạn nhỏ bụi đời thành một tập thể, biết gom công đấu sức lại để tự nuôi sống mình và để có một mái ấm, bù đắp tình cảm cho nhau, như tổ bán báo “Xa mẹ”, như những lớp học tình thương… Nhưng còn bao nhỏ khác đang phải lang thang, thiếu đói cả miếng ăn lẫn tình cảm! Chính bản thân em cũng đã nhiều lần “bước rảo” đi qua những cảnh đáng thương như cô bé bán diêm này! Ước gì mỗi người biết kịp thời tự vấn lương tâm mình hơn, biết dừng lại chia sẻ dù chỉ một ngọn lửa diêm ấm áp với những cảnh ngộ bất hạnh hằng ngày quanh ta.
Cảm nghĩ truyện Cô bé bán diêm nói chung và kết truyện nói rieng – Đề và văn mẫu 8
690
Đề bài: Cảm nghĩ về bà của em. Bài làm Bà tôi váy đụp áo thâm Nón mê bà đội quanh năm ngoài đồng Mỗi khi nhớ đến những câu thơ này, lòng tôi chợt xao xuyến, bồi hồi nhớ về người bà của tôi. Cảm nghĩ về bà của em Bà nội tôi hiền từ, nhân hậu. Chắc hẳn ai gặp bà lần đầu tiên đều sẽ có ấn tượng như vậy. Cái hiền từ toát lên từ đôi mắt sâu sa, thời gian trôi để lại nơi khóe mắt những vết chân chim đậm nét. Mỗi lần bà cười, đôi mắt tựa như tỏa ra một thứ ánh sáng đầy dịu hiền, soi đường, chỉ lối những bước đường đời của từng người con, người cháu. Đôi môi bà đỏ bởi bà thường nhai trầu. Mái tóc dày, đen nhánh khiến bà như trẻ thêm cả chục tuổi. Có lẽ tuổi thật của bà thể hiện rõ nhất ở dáng đi. Dáng hơi còng, khi mà biết bao gian khổ bà đã gánh trên lưng cả một đời như thế. Thế nhưng tôi chưa bao giờ thấy bà chống gậy. Bà đi nhanh, làm nhanh. Bà trông vẫn khỏe mạnh lắm. Cấy lúa, trồng ngô, nuôi lợn, nuôi gà, đều một tay bà quán xuyến. Trong gia đình, bà là một người phụ nữ vẹn toàn, biết lo lắng việc gia đình, biết chăm sóc chồng con chu đáo. Ở bên ngoài, bà là một người sống có đạo lý, biết phải trái. Có ai khúc mắc chuyện gì, thường tìm đến bà hỏi lời khuyên. Bà thường kể chuyện xưa, bà hay nói bằng ca dao tục ngữ. Xóm giềng ai cũng kính nể, tôn trọng bà. Bà cũng rất hay đi chùa. Vì thế hồi nhỏ tôi cũng thường được đi chung với bà, học bà niệm Phật, học bà khấn vái, học bà tịnh tâm. Còn lần nào không đi chùa được với bà, bà lại mang oản, mang bánh về cho mấy chị em. Bà hay gọi chúng tôi lại gần và kể chuyện. Những câu chuyện khi thì là cổ tích, khi thì lại là những câu chuyện thực của bà. Tôi quên sao được âm thanh ôn tồn rủ rỉ đầy trầm ấm ấy đã đưa chúng tôi về những vùng cổ tích xa xôi. Thạch Sanh trải bao gian khổ mới cưới được công chúa, người anh trong truyện Cây khế vì quá tham lam phải bỏ mình nơi biển mênh mông. Quên sao được câu ca: Thương người rồi mới thương ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm Ở hiền thì lại gặp hiền Người ngay thì được Phật tiên độ trì. Lại không khỏi bồi hồi nhớ về những câu chuyện tự thuật về chính mình của bà. Một thời trẻ tuổi đầy cái nhớ, đầy cái thương. Một thời đói kém, đầy đau thương mà cũng vô cùng oai hùng. Bà kể về việc học hành của bà, một thời nô đùa trẻ con giống như chúng tôi vậy. Rồi bà lại kể về những ngày phải chạy giặc, đánh giặc. Bà kể về những chiến công anh dũng của quân đội ta, những chiến thắng bà tận mắt chứng kiến, những người lính gan dạ quyết hi sinh thân mình vì Tổ quốc, một thời đạn bom khói lửa đầy hào hùng. Và dường như khi nhắc đến nó, tôi thấy bà như rạng rỡ hẳn lên, tưởng chừng như bà đang trở về một thời tuổi trẻ đầy ước mơ, hi vọng. Những câu chuyện khiến những đứa trẻ chúng tôi há hốc mồm, hào hứng mà chú ý lắng nghe cho hết. Giọng nói của bà trở thành một điều quen thuộc thân thương trong tiềm thức những đứa trẻ nhỏ chúng tôi. Những trưa hè oi ả, nằm trên cái chõng tre đầu hè, lim dim mắt để bà phe phẩy quạt, gió mát thấm đượm vào lòng, thổi cả mát lành vào tâm hồn thơ trẻ. Những kỉ niệm bên bà trở thành những điều vô giá được lưu giữ mãi trong chiếc ba lô tôi bước lên đường đời. Bà hay gọi mấy đứa cháu chúng tôi nhổ tóc sâu cho bà. Một sợi là hai trăm đồng, cứ mười sợi được hai nghìn, chị em tôi lại chia nhau đi mua kem về ăn. Cái kem chỉ bằng ngón tay cái của người lớn, ngọt lịm, gắn liền với những sợi bạc nơi mái tóc bà như thế. Bà chăm chỉ, quanh năm gắn bó với ruộng đồng. Cả một năm, ít khi thấy bà được nghỉ ngơi bao giờ. Cấy lúa, gặt về, tuốt rồi phơi thóc. Những chiều gặt về, bà lại bắt vài con muồm muỗm hay châu chấu nướng cho chị em tôi ăn, món ăn dẫn dã bình dị từng gắn liền với tuổi thơ tôi như thế. Giờ đây, khi cuộc sống đã khá giả hơn, bà cũng không còn cực khổ như xưa nữa. Tôi bây giờ sống xa bà, mỗi năm về thăm quê được đôi ba lần, mỗi lần về sẽ theo thói quen nhổ tóc bạc cho bà. Tóc bạc của bà càng ngày càng nhiều hơn. Bà ngày càng già đi. Đôi khi thấy bà đi khập khiễng vì sưng chân khi trời trở lạnh, lòng tôi thắt lại. Chỉ mong bà khỏe mạnh, sống lâu với con cháu, để tôi có thể ở bên bà, hiếu thảo với bà nhiều hơn nữa. Mỗi lần về thăm quê, bà vẫn như ngày nào, ra tận đầu ngõ đón tôi, xoa đầu ân cần: Cháu bà lớn quá rồi nhỉ? Mắt tôi không tự chủ được lại đỏ hoe. Ánh Nguyên
Cảm nghĩ về bà kính yêu của em
944
Cảm nghĩ về bà ngoại của em lớp 7 Hướng dẫn Bà tiên trong truyện cổ tích là người mà các em nhỏ yêu quý vì bà có một tấm lòng bao dung, nhân hậu đối với mỗi con người trên trần đời này. Còn với riêng em, bà tiên ngoài đời thực của em đó chính là bà ngoại. Bà ngoại của em năm nay đã bày mươi tuổi, tóc đã bạc trắng, dáng vẻ khom khom của tuổi già. Khuôn mặt bà em phúc hậu lắm! Bà hay kể cho em về những gì thời chiến mà bà đã trải qua. Bà kể về các đồng đội của mình đã chiến đấu oanh liệt như thế nào, bà kể những mất mát, hi sinh trong chiến trận. Thời chiến, bà là một chiến sĩ tay cầm súng vai gánh vác việc gia đình (vì ông em mất trên chiến trường năm đó nên bà gánh vác hết mọi việc). Em tự hào về Bà lắm, một người phụ nữ với tấm vai gầy nhưng đảm nhiệm trên mình việc nước, việc nhà. Thử hình dung xem, bà mạnh mẽ đến thế nào? Một tay bà nuôi năm đứa con khôn lớn, một tay bà dạy các con về lí lẽ sống sao thành người có ích cho đời. Mẹ thường nói với em: trong mắt mẹ, bà là người cha, người mẹ, người bạn bè thân thiết của mẹ. Cũng hiểu thôi, vì ông mất sớm mà! Nhưng em thắc mắc vì sao bà lại là người bạn thân của mẹ. Mẹ trả lời rằng: ’bất kể chuyện gì, mẹ đều tâm sự với bà và sau đó bà gải đáp những tò mò, những nỗi lòng của mẹ như một người bạn thực thụ’ Bà tiên trong mắt em tốt bụng làm sao? Bà không chỉ tốt với những đứa cháu của mình mà với các em nhỏ nhà hàng xóm xung quanh bà thường cho những cái kẹo, gói bánh. Tấm lòng của bà đức độ, rộng lớn lắm. Bà hay dạy em những bài học trong cuộc sống, những bài học về đạo làm người, những bài học về cách ứng nhân xử thế. Bà đối với em không chỉ là bà ngoại của em mà như cô giáo dạy cho em lẽ phải cuộc đời. Một mình bà đã nuôi dưỡng năm đứa con ăn học, trở thành những người giáo viên, cán bộ trong quân ngũ hẳn rất vất vả nhưng thực sự đáng nể phục biết bao. Bà ngoại là thần tượng trong mắt em. Mm yêu quý bà nhiều lắm. Em sẽ cố gắng ngày ngày chăm ngoan, học giỏi để bà được vui, để bà biết được đứa cháu gái của mình cũng giỏi giang lắm. Bà thật tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ. Bà hi sinh tất cả cho những đứa con của mình để giờ đây khi về già bà thỏa nguyện với những gì mình tạo ra, đã dạy dỗ các con.
Cảm nghĩ về bà ngoại của em lớp 7
499
Cảm nghĩ về bà ngoại thân yêu Hướng dẫn Ai cũng có một người bà yêu quý và sau đây là bài cảm nghĩ về bà ngoại thân yêu của tác giả Mời các bạn học sinh và giáo viên theo dõi bên dưới. Bài văn cảm nghĩ về bà Trong cuộc sống của mỗi người luôn có một nơi để ta trở về sau bao vất vả và mệt mỏi, có người gọi đó là nhà, có người gọi đó là mái ấm là gia đình nhưng quan trọng nhất vẫn là ở nơi đó có người mà mình yêu thương, tin tưởng và là nơi để tựa vào. Đối với tôi người đó chính là bà, một người bà đáng kính. Bà người đã sinh ra mẹ tôi, người dường như cho tôi một phần của cuộc sống. Bà là người luôn đứng về phía tôi, yêu thương và che chở cho tôi. Cho dù tôi có bất cứ lỗi lầm nào, có sai điều gì đi nữa thì đứng trước mặt người khác bà luôn bênh vực tôi không phải là bà không phân định đúng sai mà bà nói rằng cho dù tôi có đúng hay sai thì trước hết bà vẫn phải bênh tôi đã vì tôi là cháu của bà còn việc tôi làm sai về nhà bà sẽ mắng và dạy lại sau. Đúng như lời bà nói, bà bênh tôi nhưng lại chẳng dung túng, bà luôn cho tôi biết đâu là đúng đâu là sai dạy tôi cách sống và cách ứng xử sao cho tốt. Những ngày tháng bên cạnh bà là những ngày làm nũng đòi bà mua cho bằng được cây kẹo mà mình thích, là những lúc bị bắt nạt luôn có bà che chở và bảo vệ, là hôm bà nhờ nhổ tóc sâu sẽ được cho bánh, kẹo để làm thù lao. Vào những ngày lễ tết, rằm trung thu tôi lại chạy đến nhà ngoại vì tôi biết ngoại sẽ lại cho tôi ăn những món thật ngon và lạ mà mẹ chưa bao giờ nấu, bà nấu ăn rất ngon tôi chắc chắn điều đó vì mỗi lần ngoại nấu cơm là chẳng có ai ở nhà ăn cơm mẹ nấu cả, mẹ nói chắc mẹ chưa học hết được bí kíp của ngoại nên nấu chẳng ngon bằng. Thật ra đối với tôi món ngoại nấu sẽ là món ăn ngon nhất trên đời vì ngoại chẳng nấu bằng những hương liệu, gia vị bình thường mà ngoại nấu bằng tình yêu thương, nấu bằng niềm vui và hạnh phúc khi những đứa cháu cứ quấn lấy xin ngoại nấu cho một bữa ăn. Ngoại tôi sống một mình, không phải vì gia đình tôi không sống chung mà vì ngoại bảo thích sống một mình như vậy ngoại thích làm gì thì làm sẽ chẳng phiền đến ai cũng chẳng ai phiền đến ngoại. Tôi biết ngoại chỉ nói vậy thôi chứ thật sự ngoại cũng buồn lắm, tôi biết ngoại sợ làm phiền con cháu sợ con cháu lo cho mình nên mới vậy. Tính ngoại giống một đứa trẻ, tôi nghe mọi người nói khi về già thì tính tình sẽ rất trẻ con ví như tôi đi học xa ngoại sẽ suốt ngày gọi điện thoại bảo ngoại nhớ mong tôi về chuyện cũng sẽ bình thường nếu như ngoại không gọi một ngày gần 50 cuộc điện thoại chỉ để nói một nội dung duy nhất, ngoại cũng hay giận hờn vu vơ và vô cớ nếu như tôi có nấu ăn cho ba mẹ mà chẳng nấu cho ngoại hay khi về nhà ít chịu chơi với ngoại. Khi ở bên ngoại, ngoại như chẳng muốn xa tôi như muốn tôi chỉ được ở bên ngoại thôi vậy và tất cả những điều đó tôi điều nhận ra, nhận ra bà đang cô đơn, nhận ra bà sợ ở một mình, sợ cái vắng vẻ và yên ắng khi về nhà. Ngoại đã lớn tuổi, tóc cũng bạc trắng cả, miệng thì móm mém nhưng ngoại vẫn rất khỏe cho dù ngoại bệnh rất nhiều. Đừng thấy nó mâu thuẫn vì thật ra ngoại rất khỏe vẫn có thể tự buôn bán, tự lo cho bản thân, bưng những đồ nặng ngoại vẫn làm bình thường có vẻ như vì ngoại là nông dân đã quen rồi lại buôn gánh bán bưng cả một đời nên bây giờ ngoại vẫn khỏe như thế, đôi lúc trở trời là ngoại lại bị đau nhứt, cái bệnh xương khớp của những người già. Có khi các khớp của ngoại còn bị xưng phù nhưng ngoại vẫn chịu đựng tự mình mua thuốc tự mình lo âm thầm và lặng lẽ chẳng cho con cháu biết. Tôi thường nghĩ có phải ai khi về già cũng như vậy, sợ mình trở thành gánh nặng cho người khác, sợ mình sẽ vô dụng và chẳng làm được gì không? Nhưng sao họ lại chẳng biết rằng một đời họ đã sống vì con cháu, một đời lo toan và vất vả vậy cho đến cuối cùng, đến lúc về già cũng là lúc họ nên nghỉ ngơi và an dưỡng tuổi già, cuộc sống xô bồ và vất vả đó hãy để lại cho con cháu, những người chịu ơn một cách lớn lao đó sẽ chăm sóc họ như một quy luật của tự nhiên của tình yêu thương và kính trọng. Võ Hạnh.
Cảm nghĩ về bà ngoại thân yêu
919
Đề bài: Cảm nghĩ về bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn” Bài làm Kho tàng ca dao tục ngữ của nước ta vô cùng phong phú. Nó phản ánh tâm tư tình cảm của người dân trong cuộc sống lao động hàng ngày. Đồng thời thể hiện mối quan hệ tình cảm gia đình thiêng liêng cao quý. Công cha nghĩa mẹ là những điều khắc cốt ghi tâm của phận làm con đối với cha mẹ mình. Bởi công ơn của cha mẹ như trời biển, không gì có thể sánh được. Công ơn sinh thành dưỡng dục, cho chúng ta làm người thì phận làm con chúng ta phải báo hiếu, biết ơn cha mẹ đó mới là phải đạo. Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Bài ca dao này gắn liền với con người Việt Nam qua nhiều thế hệ. Nó có sức sống vô cùng mãnh liệt mà ai sinh ra cũng đều biết đều thuộc lòng. Bởi nó hay dễ đọc, dễ nhớ và nó dạy chúng ta bài học làm người mà ai cũng phải biết: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Trong hai câu này bài ca dao sử dụng nghệ thuật so sánh. Ví von công lao to lớn của người cha cao tựa như núi Thái Sơn một ngọn núi hùng vĩ, sừng sững ở Miền Bắc nước ta. Một trong những ngọn núi hoang sơ lâu đời có truyền thống lâu năm. Điều này thể hiện cho sự biết ơn, tôn kính của người con với cha mẹ với công lao như trời biển của cha mẹ dành cho con cái. “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” tình mẹ là cái gì đó ngọt ngào ấm áp vô cùng. Nó tựa như dòng suối mát trong, những dòng sữa ngọt ngào dịu dàng mẹ dành cho con từ khi sinh ra cho tới khi trưởng thành. Tình mẹ là vô bờ bến, nó chảy hoài chảy mãi như nước trong nguồn không có điểm kết thúc. Chúng ta dù con cái có lớn khôn, hay có trưởng thành thì tình mẹ vẫn theo chúng ta cho tới khi chúng ta già tóc đã đổi màu mẹ vẫn còn lo lắng cho con. Tình mẹ không bao giờ có giới hạn. Nỗi lo lắng của người mẹ dành cho con mình thì chỉ khi đã nhắm mắt xuôi tay cũng không hết. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Trước những công ơn to lớn như trời biển của mẹ cha dành cho mình, thì đạo làm con cần phải coi trọng chữ hiếu nghĩa. Phải biết nghe lời cha mẹ, đền đáp công ơn cha mẹ của mình. Lúc nhỏ thì học hành chăm chỉ, giúp đỡ cha mẹ những việc nhà phù hợp sức lực. Khi cha mẹ già yếu, không còn sức lao động thì hay chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ như khi chúng ta còn nhỏ cha mẹ đã chăm sóc ta. Bài ca dao có ý khuyên nhủ con người ta phải sống đúng đạo đức làm người, biết ghi nhớ công ơn của cha mẹ, phụng dưỡng báo hiếu cha mẹ khi về già.
Cảm nghĩ về bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn
553
Cảm nghĩ về bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công…”- Văn lớp 7 Hướng dẫn Cảm nghĩ về bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công…”- Văn lớp 7 Bài làm Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có rất nhiều bài ca dao hay thể hiện nỗi lòng của người nông dân, thể hiện những tâm tư tình cảm của người lao động xưa. Ca dao tục ngữ chính là nơi bày tỏ những tâm tư, tình cảm, mong ước trong lòng của con người một cách thầm kín, chân thực nhất. Mỗi bài ca dao đều thể hiện những ước mơ, nguyện vọng khác nhau, của con người về cuộc sống lao động, tình cảm: Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng Bài ca dao này thể hiện nỗi niềm của người nông dân khi mong cho thời tiết mưa thuận gió hòa, để cho công việc đồng áng, của người nông dân được thuận lợi, nhẹ nhàng hơn. Mở đầu bài ca dao thể hiện việc so sánh giữa người nông dân với những người khác. “Người ta” chỉ những người đi làm thuê để kiếm thêm thu nhập cho mình. Họ làm việc xong nhận tiền công rồi đi về, không phải lo lắng trăn trở gì nhiều. Những người nông dân làm việc cho đồng ruộng nhà mình thì hoàn toàn khác. Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Hai câu thơ gợi lên cho người nghe về hình ảnh một người phụ nữ tháo vát, biết lo lắng chu đao trong ngoài, nhìn xa trông rộng. Khi đã cấy lúa xong xuôi không hề được nghỉ ngơi mà vẫn còn lo lắng nhiều bề. Hai câu thơ gợi lên hình ảnh về người phụ nữ Việt Nam tần tảo chăm chỉ, thương chồng thương con quanh năm đầu tắt mặt tối lo hết việc lớn bé trong gia đình. Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Điệp từ “Trông” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần thể hiện sự mong mỏi, trông chờ, thể hiện sự lo lắng khắc khoải của người phụ nữ, người nông dân lao động. Người nông dân chỉ biết phó mặc số phận của mình vào ông trời, bởi công việc của nhà nông phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Nếu mưa nhiều quá thì lúa sẽ ngập úng mà chết, nắng nhiều quá cũng hạn hán mà khô cằn không lớn được…Bão lụt thì làm cho cây lúa tơi bời, nghiêng ngả. Tất cả đều làm cho người nông dân cảm thấy lo lắng cho tương lai của mình. Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng Trong hai câu ca dao cuối cùng này thể hiện ước mong của người nông dân mong cho mình khỏe mạnh, có sức mạnh để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Rồi tiếp theo người nông dân mong muốn thời tiết thuận hòa để vụ mùa của người nông dân được bội thu, bõ công bao ngày vun trồng. Thông qua bài ca dao này ta thấy rằng những người nông dân vô cùng cực nhọc khi làm ra những hạt gạo thơm dẻo. Họ đã phải đánh đổi rất nhiều mồ hôi công sức, tâm huyết của mình mới có những hạt cơm gạo thơm ngát. Qua đây chúng ta thêm trân trọng người nông dân chăm chỉ làm việc, cần mẫn trong cuộc sống công việc của mình.
Cảm nghĩ về bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công…”- Văn lớp 7
601
Cảm nghĩ về bài Chức phán sự đền tản viên trong Truyền kì mạn lục Hướng dẫn Cảm nghĩ về bài Chức phán sự đền tản viên trong Truyền kì mạn lục “Chức phán sự đền Tản Viên” một một trong những tác phẩm nổi tiếng đặc sắc của Nguyễn Dữ. Truyện ca ngợi sự dũng cảm, kiên cường, bất khuất dám chống lại cái ác, cái xấu của Ngô Tử Văn. Truyện được viết bằng chữ hán và theo thể văn xuôi. Trong truyện có nhiều yếu tố kì ảo, hoang đường để phản ánh cuộc sống suy thoái và khủng hoảng lúc bấy giờ cần phải được thay đổi. Đồng thời tác giả cũng hướng người đọc đến chân lí cuộc sống cái thiện sẽ thắng cái ác và sự dũng cảm của con người. Tác giả đã giới thiệu nhân vật chính ở ngay đầu truyện cực kì chi tiết là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được. Ngụ ý của tác giả hướng người đọc đến một thứ gì đó cao đẹp vì những phẩm chất cao đẹp của con người này để người đọc hiểu được một phần về tác phẩm như thế nào. Để cho người đọc thấy rõ hơn về phẩm chất con người này tác giả đã minh chứng cho nhân vật Ngô Tử Văn đốt đền. Trong khi “mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần làng” quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Bởi Tử Văn muốn trừ ma, trừ hại cho dân mong nhân dân được sống bình an. Đến chiều tối Tử Văn lại gặp một ông già “ áo vải mủ màu đen, phong độ nhàn nhã” ông là Ngự sử đại phu thời Lí Nam Đế chết vì việc cần vương. Hồn ông bơ vơ vì bị chiếm mất miếu đền. ông còn nói con ma kia rất là gian trá nên Tử văn nên cẩn thận. “Thượng đế bị nó bưng bít, hạ dãn bi nó quấy rầy”. Ông cụ còn cho tử Văn biết thêm “hắn đã kiện thầy ở Minh ti, thầy phải liệu kế, khỏi phải chết một cách oan uổng.Trước Minh ti, thầy nhớ kêu “xin tư giấy đến đền Tản Viên, tôi sẽ khai rõ”. Rồi sau đó Tử Văn bị hai tên quỷ sứ dẫn đi. Hai con quỷ dùng gông dài thừng lớn gông trói giải đi. Bước qua một cái cầu dài ước hơn nghìn thước bắc qua một con sông lớn “gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương”. Khi đến đây Tử Văn thấy rất là nhiều quỷ Dạ xa xong sau đó Tử Văn bị dẫn vào cửa điện. Diêm Vương vốn là người công bằng liêm minh vì thế đã cho người làm theo. Khi mọi chuyện thực hư đã rõ Diêm Vương bắt đầu xử án tên họ Thôi “ấy lồng sắt chụp vào đầu, khẩu gỗ nhét vào miệng, bỏ vào ngục Cửu U”. Ngài khen Tử Văn “có công trừ hại”, sai lính đưa chàng về. Qua cuộc đấu tranh chống lại cái ác, Ngô Tử Văn đã nổi bật lên là người chính trực, dũng cảm bảo vệ công lí đến cùng, là một kẻ sĩ cứng cỏi của nước Việt. Từ đó, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác. Như vậy cuối cùng cái thiện cũng thắng cái ác. Sau đó mộ tên họ thôi tự dưng bật lên và xưng cốt tan tành trong mây khói còn ông lão kia đã được trở về miếu cũ. Rồi không lâu sau đó Tử Văn không ốm mà mất đây là một điều cực kì kì lạ. Sáng sớm năm Giáp Ngọ, một người làng đã nhìn thấy Ngô Tử Văn ngồi trên chiếc xe ngựa chạy ầm ầm ở ngoài cửa tây thành Đông Quan, nghe tiếng người quát: “Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự! Và ở quê cũ “nhà quan phán sự” vẫn còn đó. Không những vậy tác giả còn khắc họa rõ cuộc sống của con người khốn cùng của xã hội lúc bấy giờ bị suy thoái, nạn tham ô, áp bức nhân nhân vào mức đường cùng. Để cái xấu cái ác hoành hành một cách tự do. Như vậy qua truyện này đã đã thấy rõ được sự dũng cảm và chính trực của Ngô Tử Văn biết đứng lên chống lại cái xấu cái ác để xã hội được bình yên hơn. Đây là một phẩm chất cực kì cao đẹp được tác giả đề cao. Đồng thời tác giả muốn phản ánh cuộc sống hiện thực lúc bấy giờ để người đọc hôm nay và mai sau mãi không quên về lịch sử của dân tộc.
Cảm nghĩ về bài Chức phán sự đền tản viên trong Truyền kì mạn lục
846
Cảm nghĩ về bài Cây tre Việt Nam Hướng dẫn Cảm nghĩ về bài Cây tre Việt Nam Từ lâu cảm nghĩ về bài cây tre Việt Nam luôn là một biểu tượng về sức mạnh, tinh thần đoàn kết và sự chịu khó lao động của nhân dân ta. Hình ảnh cây tre gắn liền với làng quê Việt Nam với tinh thần bất khuất, kiên cường cũng như những phẩm chất của con người đất Việt. Qua tác phẩm cây tre Việt Nam của nhà văn Thép mới hình ảnh cây tre thật đẹp và đáng tự hào. Hình ảnh cây tre trong tác phẩm được tác giả vẽ lên như hiện than của những con người Việt Nam, hình ảnh thân thuộc nhưng vẫn cao quý chính là cây tre Việt Nam. Với phép so sánh với những loại cây khác như vậy để khẳng định sự quan trọng của cây tre và ca ngợi loại cây bất diệt này. Những lũy tre bao bọc xóm làng, có mặt khắp nơi trên đất nước ta gần gũi với con người Việt Nam. Với nét bút sắc sảo, Théo Mới đã giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về loại cây này, dù có nhiều loại nhưng tất cả đều có một điểm giống nhau đó là mọc lên từ mầm măng non bất tận. Tre cứng cáp trông thanh cao và giản dị vô cùng giống như khí chất của con người. Làng quê Việt Nam gắn bó với cây tre từ lâu đời, điệp từ bóng tre, lặp lại nhiều lần tạo nên khung cảnh của làng quê hữu tình, tươi đẹp. Những công việc đồng áng, sinh hoạt của người dân đều được gắn bó với hình ảnh của cây tre, tre chia sẻ ngọt bùi với người lao động, chịu thương chịu khó với người dân đất Việt, đồng hành cùng những người dân trong lúc ấm no, hạnh phúc hay khó khăn. Tre tham gia vào hoạt động vui chơi của trẻ em và người già với cây sáo, que chuyền, cái điếu cày, góp phần gói chiếc bánh chưng xanh ngày Tết. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để ta biết được ý nghĩa và sự quan trọng của cây tre Việt Nam. Không chỉ có mang lại niềm vui, tre còn góp mặt trong những trận kháng chiến của người dân: “gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù, tre xung phong vào xe tang đại bác, tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín, tre hi sinh để bảo vệ con người…”. Cây tre được nhân hóa mang theo trí khí của con người để chiến đấu, giữ gìn hòa bình cho tổ quốc. Những hình ảnh của cây tre Việt Nam thật sự rất oai hung và tráng lệ. Khi kháng chiến thì giữ làng, giữ nước, lúc hòa bình tre duyên dáng bên làng quê, rì rào khúc ca hòa bình, tre phát triển trong thời kỳ dựng nước và giữ nước. Và cả đến tương lai, những lũy tre vẫn tiếp bước tre già, măng mọc, hiện hữu trong chiếc phù hiệu của thiếu nhi Việt Nam, tre còn mãi với bao thế hệ, bóng mát tre luôn đồng hành và trường tồn theo thời gian, vi vút giữa đồng quê, những mặt hàng thủ công của tre đi khắp nơi để làm đẹp cho đất nước.
Cảm nghĩ về bài Cây tre Việt Nam
570
Cảm nghĩ về bài Hồi trống cổ thành trích Tam quốc diễn nghĩa Hướng dẫn Cảm nghĩ về bài Hồi trống cổ thành trích Tam quốc diễn nghĩa La Quán Trung là một nhà văn tài ba ông có biệt tài viết sử dã. Các tiểu thuyết của ông đều mang đậm chất lịch sử sâu sắc. Trong đó không thể không kể đến tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa đây là bộ tiểu thuyết cực kì hay cho đến ngày hôm nay và hiện tại nó đã được chuyển thành phim thu hút rất nhiều độc giả. Và tiêu biểu nhất là đoạn trích Hồi trống cổ Thành. Đoạn trích Hồi trống cổ Thành thuộc hồi 28 của tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung. Đoạn trích kể về ba anh em Lưu – Quan – Trương đã rời Tào Tháo và bị Tào Tháo đuổi đánh khiến. Trong lúc này thì Quan Công đi tìm Lưu Bị nhưng không ngờ lại lại gặp Trương Phi. Trương Phi là một trong ngũ hổ tướng của Lưu Bị. Trương Phi to cao, khỏe mạnh nhưng tính tình thẳng thắn lại nóng nảy. Lập trường của Trương Phi khẳng định: “Trung thần thì chết không chịu nhục, đại trượng phu không thờ hai chủ”. Quan điểm này đã nói lên dũng khí anh hùng của Trương Phi “Không thờ hai chủ”. Còn Quan Công là người tài giỏi võ nghệ, cũng trung thực thẳng thắn ông thuộc mẫu người giàu không ham mà nghèo hèn thì cũng không đổi lòn, đứng trước uy vũ nhưng cũng không chịu khuất phục. Khi bị tào tháo đuổi thì ba anh em Lưu Bị bị lạc mất nhau. Còn Quan Công thì phải bảo vệ hai chị dâu nên liều mình quay lại cứu và vượt qua những trận ải của Tào tháo. Quan Công đã phải liều mình mở con đường máu để dẫn hai chị đi nhưng trời không tuyệt lòng người. Thấy Quan Công quyết trí như vậy cuối cùng những gì Quan Công làm cũng được đề đáp. Khi đến thành Quan Công hay tin Trương phi đã chiếm được thành lập tức Quan Công sai Tôn Càn báo cho Trương Phi trợ giúp. Quan Công không biết làm gì chỉ một miệng minh oan cho bản thân, và mặc kệ những lời năng mạn của em. Quan Công quả thật là một người anh mà chấp nhận để cho em nhục mạ mặc cho mình không làm gì sai. Như vậy ta thấy một đức tính kiên nhẫn của một người anh trai biết vì em lại vì mình mà không để mọi chuyện ngày càng phức tạp hơn. Nhưng dù Quan Công có nói thế nào đi nữa thì Trương Phi cũng không tin và kết tội Quan Công: “bỏ anh là bất nghĩa hàng Tào là bất trung rồi phong tước. Quan đến đây chỉ là để lừa Trương để giúp Tháo mà thôi như thế là bất nhân”. Tác giả xây dựng tình huống anh em bất hòa thật độc đáo khiến người đọc nhanh muốn biết kết cuộc của cuộc mẫu thuẫn ra sao. Ngay sau đó thì ý kiến đấy được Trương Phi tán thành và Trương Phi thách thức Quan Công trong ba hồi trống. Có lẽ đây chính là ẩn ý của tên đoạn trích. Nhưng khi hồi trống đầu tiên vang lên thì Quan Công đã chém lìa đầu Sái Dương chứ không cần đến hai hồi trống tiếp theo. Điều này càng chứng minh rõ là Quan Công bị oan và một mực muốn chứng minh rõ là bản thân không làm sai và cũng không phản bội anh em. Thế rồi ông bắt một người lính phải kể hết đầu đuôi câu chuyện từ trước đến giờ từ đó Trương Phi mới tin. Hồi trống vang lên: “Chém Sái Dương, anh em hòa giải Hồi cổ thành tôi chúa đoàn viên” Như vậy ta thấy được hồi trống này mang ý nghĩa rất lớn là một kết thúc đẹp của tình anh em đoàn tụ hòa thuận. Dù có chông gai và sương máu nhưng anh em vẫn một lòng, một dạ. Tiếng trống cũng là một sự chiến thắng quân Tào một cách oanh liệt chỉ trong một hồi trống. Đồng thời thể hiện tài năng võ nghệ của Quan Công, hồi trống thách thức y về tài năng và lòng chung thành. Qua đoạn trích ta thấy được Quan Công và Trương Phi là những người anh hùng kịch xuất có những vẻ đẹp chính trực vì dân vì nước chiến đấu chống kẻ thù. Đặc biệt qua đó thể hiện tình cảm anh em chung thủy một lòng đây là phẩm chất tốt đẹp. Hồi trống đó như một vị cứu tinh mang nhiều ý nghĩa để tác phẩm nổi bật lên khiến độc giả bị cuốn hút theo.
Cảm nghĩ về bài Hồi trống cổ thành trích Tam quốc diễn nghĩa
811
Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng Hướng dẫn Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng Nhắc đến mùa xuân, con người ta thường hay nhắc đến sự đâm chồi, này lộc, mùa của sức sống, của sắc xuân. Chính bởi vậy mà khi viết về mùa xuân, nhiều nhà văn, nhà thơ hãy dành cho mùa xuân những nét yêu kiều, tươi mới nhưng lại căng tràn nhựa xuân. Phải chăng như vậy mà khi mùa xuân đến, nàng tiên mùa xuân như đang đặt những bước chân đầu tiên xuống mặt đất khiến cho hoa cỏ như bừng tỉnh, cảnh vật đua nhau khoe sắc. Cũng chính bởi sức cuốn hút của mùa xuân mà đến nhà văn Vũ Bằng cũng phải viết nên những tâm tư, tình cảm của mình để gửi gắm đến mùa xuân. Bài tùy bút “mùa xuân của tôi” được trích từ thiên tùy bút “Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt in” trong tập Thương nhớ mười hai của tác giả Vũ Bằng. Tác phẩm được sáng tác trong những năm tháng kháng chiến oai hùng của dân tộc ta, khi mà đất nước ta vẫn đang bị chia cắt, tác giả phải sống trong vùng địch kiểm soát, bởi vậy mà tác giả phải xa đất Bắc, xa nơi chon rau cắt rồn của mình. Nỗi như quê hương, nhớ gia đình và lòng mong mỏi đến một cuộc sống hòa bình, ấm no hạnh phúc, đã được tác giả gửi gắm vào những vần thơ. Và niềm hy vọng ấy của tác giả càng được nung nấu khi trong những tháng mùa xuân đầy hy vọng này. Câu mở đầu của tác giả hết sức tự nhiên, tác giả đã sử dụng từ “ai” để nhấn mạnh. Như một câu hỏi tu từ, ai có thể ngăn cấm được những điều tự nhiên đến như vây: “Ai bảo được non đừng thương nước; ; ai cấm được trai thương gái;…” nhưng điều bình dị ấy thì ai có thê ngăn cấm. Giặc Mỹ sao? Không, giặc Mỹ chỉ có thể cùm trói được thể xác ta, nhưng làm sao chúng có thể trói buộc được tâm hồn ta? Và đó cũng là những nỗi tâm tình mà tác giả muốn gửi gắm. Nhà văn nhớ về đất Bắc, nhớ những cảnh sinh hoạt đời thường, nhớ những nét đặc trưng của con người Bắc: “ Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cồ gái đẹp như thơ mộng…” Giọng văn của tác giả nhẹ nhàng mà sao lại dào dạt đến vậy? Bằng một cách vô hình nào đó, tác giả đã đưa chúng ta quay về với những hồi ức đẹp để có thể quên đi những điều thực tại. Trong bài văn, nhà thơ luôn nhấn mạnh mùa xuân của tôi, mùa xuân của tác giả, mùa xuân đang rực cháy trong lòng của một con người xa xứ Bắc. Ấy thế mà mùa xuân ấy thật lạ lung, mùa xuân như đã khắc sâu vào trong tâm hồn của tác giả một nét khác biệt, một nét văn không thể giống với bất kỳ nơi nào: “: Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người cứ căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.” Mùa xuân như làm con người ta thêm trẻ ra, càng căng tràn sức sống hơn, tim ta cùng đập nhanh và rộn rã hơn. Mùa xuân bao phủ cả đất trời, khiến ta nhìn ai cũng thấy yêu, thấy quý. Mùa xuân đâu chỉ phủ xuống đường phố, mùa xuân len lỏi vào từng ngóc ngách, mùa xuân đến với từng ngôi nhà nhỏ bé của mỗi chúng ta. Để rồi, trên bàn thơ ngày Tết, có đủ sắc xuân và trong ngôi nhà nhỏ bé ấy lại là tình cảm anh em, ông bà, bố mẹ sum vầy. Nhắc đến mùa xuân, tác giả đã sử dụng một giọng văn vừa sục sôi, vừa da diết, lắng đọng, vừa suy tư. Bài văn kép lại với sự lưu luyến của tác giả, qua đó ta không chỉ cảm nhận được, tác giả không những là người hiểu rõ về mùa xuân đất Bắc mà còn biết trân trọng và nâng niu từng khoảng khắc mà mùa xuân đã đem lại cho con người. Nguồn: Bài văn hay
Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
824
Đề bài: Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi – Vũ Bằng Bài làm Nhắc đến mùa xuân, con người ta thường hay nhắc đến sự đâm chồi, này lộc, mùa của sức sống, của sắc xuân. Chính bởi vậy mà khi viết về mùa xuân, nhiều nhà văn, nhà thơ hãy dành cho mùa xuân những nét yêu kiều, tươi mới nhưng lại căng tràn nhựa xuân. Phải chăng như vậy mà khi mùa xuân đến, nàng tiên mùa xuân như đang đặt những bước chân đầu tiên xuống mặt đất khiến cho hoa cỏ như bừng tỉnh, cảnh vật đua nhau khoe sắc. Cũng chính bởi sức cuốn hút của mùa xuân mà đến nhà văn Vũ Bằng cũng phải viết nên những tâm tư, tình cảm của mình để gửi gắm đến mùa xuân. Bài tùy bút “mùa xuân của tôi” được trích từ thiên tùy bút “Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt in” trong tập Thương nhớ mười hai của tác giả Vũ Bằng. Tác phẩm được sáng tác trong những năm tháng kháng chiến oai hùng của dân tộc ta, khi mà đất nước ta vẫn đang bị chia cắt, tác giả phải sống trong vùng địch kiểm soát, bởi vậy mà tác giả phải xa đất Bắc, xa nơi chon rau cắt rồn của mình. Nỗi như quê hương, nhớ gia đình và lòng mong mỏi đến một cuộc sống hòa bình, ấm no hạnh phúc, đã được tác giả gửi gắm vào những vần thơ. Và niềm hy vọng ấy của tác giả càng được nung nấu khi trong những tháng mùa xuân đầy hy vọng này. Câu mở đầu của tác giả hết sức tự nhiên, tác giả đã sử dụng từ “ai” để nhấn mạnh. Như một câu hỏi tu từ, ai có thể ngăn cấm được những điều tự nhiên đến như vây: “Ai bảo được non đừng thương nước; ; ai cấm được trai thương gái;…” nhưng điều bình dị ấy thì ai có thê ngăn cấm. Giặc Mỹ sao? Không, giặc Mỹ chỉ có thể cùm trói được thể xác ta, nhưng làm sao chúng có thể trói buộc được tâm hồn ta? Và đó cũng là những nỗi tâm tình mà tác giả muốn gửi gắm. Nhà văn nhớ về đất Bắc, nhớ những cảnh sinh hoạt đời thường, nhớ những nét đặc trưng của con người Bắc: “ Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cồ gái đẹp như thơ mộng…” Giọng văn của tác giả nhẹ nhàng mà sao lại dào dạt đến vậy? Bằng một cách vô hình nào đó, tác giả đã đưa chúng ta quay về với những hồi ức đẹp để có thể quên đi những điều thực tại. Trong bài văn, nhà thơ luôn nhấn mạnh mùa xuân của tôi, mùa xuân của tác giả, mùa xuân đang rực cháy trong lòng của một con người xa xứ Bắc. Ấy thế mà mùa xuân ấy thật lạ lung, mùa xuân như đã khắc sâu vào trong tâm hồn của tác giả một nét khác biệt, một nét văn không thể giống với bất kỳ nơi nào: “: Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người cứ căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.” Mùa xuân như làm con người ta thêm trẻ ra, càng căng tràn sức sống hơn, tim ta cùng đập nhanh và rộn rã hơn. Mùa xuân bao phủ cả đất trời, khiến ta nhìn ai cũng thấy yêu, thấy quý. Mùa xuân đâu chỉ phủ xuống đường phố, mùa xuân len lỏi vào từng ngóc ngách, mùa xuân đến với từng ngôi nhà nhỏ bé của mỗi chúng ta. Để rồi, trên bàn thơ ngày Tết, có đủ sắc xuân và trong ngôi nhà nhỏ bé ấy lại là tình cảm anh em, ông bà, bố mẹ sum vầy. Nhắc đến mùa xuân, tác giả đã sử dụng một giọng văn vừa sục sôi, vừa da diết, lắng đọng, vừa suy tư. Bài văn kép lại với sự lưu luyến của tác giả, qua đó ta không chỉ cảm nhận được, tác giả không những là người hiểu rõ về mùa xuân đất Bắc mà còn biết trân trọng và nâng niu từng khoảng khắc mà mùa xuân đã đem lại cho con người.
Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi – Vũ Bằng
813
Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi Hướng dẫn Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi Đề tài mùa xuân luôn là một đề tài bất tận cho các nhà thơ, nhà văn thể hiện những cảm xúc sáng tác của mình. Một trong những cây bút thơ văn hay và sâu sắc như Vũ Bằng cũng không thể nào bỏ qua đề tài này để vẽ nên một bức tranh xuân tuyệt đẹp và ngọt ngào qua bài tùy bút: Mùa xuân của tôi . Với ngòi bút đầy chất thơ và giọng văn vô cùng tinh tế những câu văn trong: Mùa xuân của tôi như những dòng suy nghĩ tản mạn của nhà văn nói với độc giả nhằm giãi bày cảm xúc sâu lắng của mình về một mùa xuân trong trẻo – mùa giao thoa của đất trời với một năm mới ấm áp, bình an và nỗi nhớ thương của một người con đang xa quê nhà. Bằng lời lẽ nhẹ nhàng, câu từ truyền cảm, tác giả dìu dắt người đọc liên tưởng về mùa xuân đất Bắc với tiết trời tươi đẹp, đầy căng nhựa sống, mô tỏa một cách tỉ mỉ bằng lời lẽ bay bổng về một mùa ấm áp nhất trong năm. Các đoạn trong bài tùy bút tưởng chừng như riêng rẽ mà lien kết mạch lạc với nhau mục đích thể hiện tình cảm của con người với mùa xuân, cảm nhận về tháng giêng…những tình cảm này rất tự nhiên và rõ rang. Không chỉ những hình ảnh và âm thanh xung quanh, tác giả còn thể hiện sức sống mãnh liệt của con người với những hình ảnh so sánh: Ngồi yên không chịu được, nhựa sống trong người căng lên như máu”, hay: “tim người ta dường như trẻ hơn, và đập mạnh hơn…”. Ngay cả cảm nhận về cái rét cũng quá đỗi ngọt ngào, chứ không còn tê buốt, ớn lạnh. Tác giả sử dụng ngôn ngữ chọn lọc rất tinh tế, hình ảnh so sánh cụ thể, cùng với sự cảm nhận và sáng tạo đã khiến cho tác phẩm: Mùa xuân của tôi gợi nên nhiều dư vị trong lòng người đọc. Tác giả tập trung miêu tả vẻ đẹp của đất trời ở đoạn văn cuối, nét đẹp của thiên nhiên sau ngày rằm tháng giêng. Thời điểm giao mùa ấy đất trời dường như giao thoa với nhau, chỉ cần đọc thôi lòng người cũng như muốn đồng điệu theo thiên nhiên. Chính vì tình yêu và nỗi nhớ da diết của một người con xa quê hương đã khơi gợi được những cảm xúc đáng quý đó đồng thời khơi gợi bao nỗi niềm của chính tác giả qua ngòi bút nhạy cảm và tinh tế.
Cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi
463
Cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng Hướng dẫn Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên. Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên. Yên ba thâm sứ đàm quân sự. Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. Về sau nhà thơ Xuân Thuỷ dịch bài thơ ra tiếng Việt thể lục bát. với tên là ” Rầm Tháng Giêng “. Bản dịch diển tả gần hết ý thơ trong nguyên tácvới nội dung biểu hiện tính yêu thiên nhiên tha thiết và lòng yêu nước của Bác. Ở bài ” Cảnh Khuya ” Bác tả dêm trăng rừng Việt Bắc thì bài này cảnh trăng được Bác tả trên sông nước hùng vĩ: Rằm xuân lòng lọng trăng soi Sông xuân nước lần màu trời thêm xuân Vầng trăng tròn toả sáng bát ngát khắp nơi bầu trời mặt đất đều lồng lộng ánh trăng. Khung cảnh mênh mông tưởng dường như sông nước tiếp liền với bầu trời ” sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân”. Vạn vật đều mang sắc xuân, Sông xuân, nước xuân, trời xuân giao hoà cới nhau tạo nên một khung cảnh tràng dầy sức sống làm náo nức lòng người. Điệp từ xuân lập lại nhiều lần tạo nên không khí vui tươi của cảnh trăng rầm: Giữa dòng bàn bạc việc quân khuya về bát ngát trăng ngân dầy thuyền. Trên một chiếc thuyền nhỏ giữa chốn mịt mù khói sóng. Bác cùng các vị lãnh đạo Trung ương Đảng bàn việc quân, việc nước. bu6ồi dầu cu6ỗc kháng chiến dầy giang khổ biết bao? Tuy vậy BÁc vẫn ung dung, thư thả.Buổi họp kết thúc vào lúc nữa đêm. Trăng tròn treo giữa trời ( nguyệt chính viên ) ánh trăng đang loà sáng khắp mọi nơi. Cảnh sông nước trong đêm càng trơ nên thơ mộng. Dòng sông nước biến trỏ thành dòng sông trăng và con thuyền nhỏ dường như chở dầy trăng tuyệt dẹp tâm hồn Bác lâng lâng bạn tri âm muôn đời. Hình ảnh con thuyền nhỏ chở dầy ánh trăng trên sông vô cùng lãng mạng àa sâu sắc. Chắc có lẽ Bác đã có một phong thái ung dung, tự tại, lac quan mãnh liệt nên Bác đã tạo ra đươc hình tượng nghệ thuật độc đáo trong hoàn cảnh đặc biêt. Bài ” Rầm tháng giêng với âm sắc sâu lắng, tười vui đem lại cho người đọc cảm hứng thanh cao, trong sáng. Bài thơ là một dẫn chứng cho thấy Bác là vị lãnh tụ cách mạng tài ba, vùa là một thi sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm. Qua bài thơ cho chúng tôi học được tinh thần lạc quan và phong thái ung dung bình tỉnh ở Bác.
Cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng
448
Cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra Hướng dẫn Trong lịch sử nước ta có một số vị vua hiền đức: vừa nhân hậu, vừa là một nhà thơ lớn. Vâng, đó chính là Trần Nhân Tông, một vị vua đời Trần vừa là một vị vua anh minh, một vị anh hùng dân tộc, một nhà tư tưởng lớn đồng thời còn là một vị tổ sáng lập phái Trúc Lâm. Ông đã sáng tác ra nhiều bài thơ trữ tình, gây xúc động cho người đọc, người nghe và một trong những bài thơ hay như thế là bài “Thiên Trường vãn vọng” (Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra). Bài thơ mang nét quen thuộc của văn thơ cổ đã miêu tả cảnh vật làng quê yên lành, thanh tĩnh. Bài thơ được viết như sau: “Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biền Mục đồng địch lí ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền.” Dịch thơ: “Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.” Cảnh hoàng hôn, sự vật xóm trước, thôn sau chìm dần vào trong sương đang dần buông khi xế chiều. Trong ánh hoàng hôn, mọi vật thấp thoáng ẩn hiện. Hình ảnh trong thơ thật giản dị đến lạ lùng. Điều đơn giản đó tác giả hoạ lên vẻn vẹn chỉ trong một câu thơ: Câu thơ thứ hai lại làm cho khung cảnh buổi chiều ở Thiên Trường càng thêm huyền ảo hơn: “Bán vô bán hữu tịcli dương biên” (Bóng chiều man mác có dường không) Bán vô bán hữu có ý mơ hồ, không rõ, lúc có, lúc không, có lúc huyền ảo, có lúc diệu kì… Đọc câu thơ ta liên tưởng đến một quang cảnh mờ ảo trong làn sương chiều: không gian kì diệu tiên cảnh hoá vạn vật, thực mờ xen lẫn lúc rõ ràng sáng tỏ, lúc hư hư ảo ảo. Cảnh vật tĩnh lặng nhưng không đìu hiu. Tâm hồn của nhà vua lúc này giản dị, thanh cao, thấm đẫm tình yêu thiên nhiên đất nước tha thiết, gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã. “Mục đồng địch lí ngưu quy tận.” (Mục đồng sáo vẳng trâu về hết) Lời thơ không chỉ để kể mà còn diễn tả một cảm xúc kì lạ, một niềm vui rạo rực. Cảnh tượng xế chiều ở nông thôn được tác giả phác hoạ bằng những nét vẽ đơn sơ nhưng đậm đà nét quê, hồn quê với hình ảnh những chú mục đồng thổi sáo văng vẳng đưa trâu về. Đọc đến đây ta có thể cảm nhận được cảnh tượng buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh tượng của một vùng quê trầm lặng nhưng không u buồn. Ớ đây vẫn ánh lên nét hoà hợp với thiên nhiên một cách nên thơ, chứng tỏ tác giả là con người tuy có địa vị vương giả nhưng tâm hồn vẫn gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã. (Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng). Khung cảnh lãng mạn đầy huyền ảo, đẹp lạ lùng hiện ra trước mắt nhà vua: một cuộc sống thanh bình yên ấm. Từng đôi cò trắng nhẹ nhàng lướt xuống cánh đồng… thật bình yên. Nhà vua thật hạnh phúc khi thấy nước nhà yên ấm, cư dân sống trong hai chữ hạnh phúc. Hướng mắt nhìn về phía xa xa ấy, nhà vua nở một nụ cười mãn nguyện. Bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” là một tác phẩm thành công viết về thiên nhiên tươi đẹp của nước ta. Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, giọng điệu nhẹ nhàng thiết tha, bài thơ đã lôi cuốn người đọc, người nghe, ghi sâu vào lòng người đọc, người nghe hình ảnh tuyệt đẹp về khung cảnh một thôn quê yên lành, êm ấm. Từ đó làm tăng thêm trong lòng mọi người tình yêu quê hương, đất nước.
Cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra
675
Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến – Bài 1 Nguyễn Khuyến đã để lại nhiều bài thơ Nôm rất xuất sắc cho kho tàng văn học Việt. Thơ của ông nói nhiều về tình người, tình bạn, tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước con người. Bài thơ: Bạn đến chơi nhà nói về một tình bạn thiêng liêng sâu sắc Bài thơ là cảm xúc của tác giả khi được bạn đến chơi nhà. Đó là tâm trạng hồ hởi vui sướng của tác giả khi có người bạn tri kỉ đến thăm. Đã bấy lâu nay bác đến nhà Chắc hẳn người bạn tri kỉ của nhà thơ đã lâu rồi chưa đến chơi, và nhà thơ thì mong mỏi lắm. Tác giả đã chọn cách xưng hô gọi bạn là “bác” thể hiện sự thân tình, gần gũi và thái độ tôn trọng tình cảm bạn bè giữ hai người. Chỉ với một câu thơ mở đầu, người đọc đã cảm nhận được quan hệ bạn bè của hai người rất bền chặt, thân thiết, thuỷ chung. Khi người bạn than tình như vậy đến chơi, chắc chắn chủ nhân sẽ phải thiết đãi chu đáo để thể hiện tấm chân tình của mình. Nhưng ở đây nhà thơ lại không thể láy gì mà đãi bạn. Có ruộng, có vườn, có ao cá, có gà mà cũng như không Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Tác giả đã khắc họa lên hình ảnh làng quê thân thuộc hiện lên sống động, vui tươi. Cuộc sống của nhà thơ thật giản dị, đáng sống biết bao. Qua đó ta thấy hiện lên một cuộc đời thanh bạch, ấm áp cây đời và tình người rất đáng tự hào. Thứ mà tác giả thiết đãi bạn là cảnh vật yên bình là lòng người ấm áp chân tình. Món quà đó còn quý giá hơn nhiều những sơn hào hải vị quý hiếm trên đời. Không chấp nhận chốn quan trường thị phi, nhà thơ tài năng đã cáo quan về ở ẩn và sống cuộc đời nghèo khó. Sống trong nghèo khó nhưng tác giả vẫn lạc quan yêu đời, ung dung tự tại. Có lẽ vì nghèo mà tác giả đã thậm xưng hoá cái nghèo, thi vị hoá cái nghèo. Đây là một lời thơ hóm hỉnh, pha chút tự trào vui vui, để bày tỏ một cuộc sống thanh bạch, một tâm hồn thanh cao của một nhà nho trước thế thời của đất nước. Kết thúc câu chuyện, tác giả lại một lần nữa, nhắc lại tấm chân tình của tác giả đối với người bạn của mình: “Bác đến chơi đây, ta với ta”. Chữ bác lại lần nữa xuất hiện ở cuối bài thơ cho thấy tình bạn thật cao cả thiêng liêng. Vật chất không có những tình người thì chan chứa và ấm áp. Cụm từ “ta với ta” biểu lộ một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy và lắng đọng trong tâm hồn, toả rộng trong không gian và thời gian. Bài thơ có niêm luật, đối chặt chẽ, hợp cách. Ngôn ngữ thuần Nôm, không có một từ Hán – Việt nào, đọc lên nghe thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên. Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến – Bài 2 Nguyễn Khuyến là một nhà thơ được độc giả biết đến với những bài thơ luôn có những nét mộc mạc, lối suy nghĩ đơn giản, dễ hiểu nhưng bao hàm trong đó là những tình cảm thiết tha, hết lòng vì mọi người. ông đã có những bài thơ rất hay để nói về tình bạn của mình với những lời tâm tình, thể hiện tình bạn trong sáng, hết lòng vì nhau mà không có điều gì ngăn cách. Và trong số những bài thơ ấy, “ bạn đến chơi nhà” là minh chứng rõ nhất cho điều đó. Đã bấy lâu nay bác tới nhà Mở đầu bài thơ như một lời tâm tình của tác giả, cũng như một lời nói thân mật của một người bạn dành cho tri kỉ của mình. Trong đó chúng ta cũng cảm nhận được sự thân ái, và thoải mái khi được gặp lại những người có cùng tâm tình của mình trong hoàn cảnh đã rất lâu rồi mới được gặp nhau. Trẻ thời đi vắng chợ thời xa Ao sâu, sóng cả khôn chài cá Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Cả sáu câu tiếp theo, tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật để liệt kê ra hàng loạt những khó khăn hiện tại của mình. Tuy cũng có những sự phóng đại ở đó, nhưng chúng ta không thể phủ nhận được rằng trong hoàn cảnh ấy, gia đình của nhà thơ thực sự không có gì “ra trò” để đãi khách. Lúc người bạn tới chơi, trong gia đình lúc này chẳng có ai ngoài nhà thơ nghèo cả. Tất cả người trẻ đã đi ra ngoài rồi, không còn ai để nhở mua đồ tiếp khách được nữa. Có cái chợ là nơi mua bán tất cả những đồ cần thiết thì lại quá xa, khiến cho chủ nhà không biết phải làm như thế nào hết. Người chủ nhà ấy đã nghĩ ngay tới việc xem trong gia đình mình còn có gì có thể làm để chiêu đãi khách hay không. Không có những đồ đắt giá ở ngoài thì mình sẽ làm cho khách những đồ từ chính cây nhà lá vườn cũng được. ấy vậy mà, tác giả lại vô cùng thất vọng bởi ở nhà cũng chẳng có gì khả thi để dùng được. Hai người già thì sao có thể bắt cá giữa những đợt sóng lớn hay bắt gà ở trong khoảng vườn rất rộng được đây. Ngay cả những món rau dân dã cũng không có sẵn ở trong vườn. Hàng loạt những dẫn chứng của tác giả như lời than trách “ cải chửa ra cây”, “ cà mới nụ”, “ bầu vừa rụng rốn”, ” mướp đương hoa”, … Trong đầu của người chủ nhà, dần dần từng thứ được đưa ra, từ những thứ cao sang cho tới những thứ gần gũi và bình dị đối với món ăn thường ngày của mỗi người vậy mà vẫn không có đủ để dành cho bạn. Bác đến chơi đây ta với ta Tất cả những thứ vật chất giờ đã không còn quan trọng nữa. chỉ cần có tấm lòng, có sự chân thành là đủ. Đã không còn là hai con người, tác giả và cả người tri kỉ đã giống nhu nhau “ta với ta”. Đó cũng chính là điều đáng quý nhất trong mối quan hệ của con người và con người. Qua bài thơ trên, ta cảm nhận được một cách sâu sắc về tình bạn của nhà thơ Nguyễn Khuyến và người bạn của mình. Đó là một tình bạn không màng vật chất mà chỉ có sự chân thành và tấm lòng đối xử với nhau. Đó làm một điều rất đáng được trân trọng và học tập trong mối quan hệ của chúng ta. Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến – Bài 3 Mỗi chúng ta ai cũng có những người bạn để cùng nhau tâm tình và có được những phút giây chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Có những người bạn, người tri kỉ bên cạnh chia sẻ, niềm vui sẽ được nhân lên gấp đôi, nỗi buồn cũng sẽ vơi đi một nửa. Những điều đó đã khiến cho cuộc sống của chúng ta có nhiều kỉ niệm và động lực hơn bao giờ hết. Nhưng không phải ai cũng may mắn có được những tình bạn như vậy. Và Nguyễn Khuyến nằm trong số những người may mắn đó. Ông có được một tình bạn rất đẹp và tình cảm ấy được thể hiện rất rõ trong bài thơ Bạn đến chơi nhà sau đây. Đã bấy lâu nay bác tới nhà Trẻ thời đi vắng. chợ thời xa Hai câu thơ đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoàn cảnh khi hai người bạn gặp nhau. Lúc ấy, người bạn của nhà thơ tới chơi sau một khoảng thời gian khá lâu mà hai người mới gặp nhau. Thế nhưng, tình trang lúc ấy, chỉ có một mình nhà thơ ở nhà, những người trẻ tuổi trong nhà đều đã đi vắng hết, ngay cả nơi để cho mọi người mua bán cũng lại không gần nhà. Những lí do hết sức khách quan ấy khiến cho nhà thơ không thể tìm được những đồ tốt để mời người bạn của mình. Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà Không đi được ra chợ, nhà thơ lại nhìn vào nhà mình xem có những đồ gì ngon để thiết đãi khách hay không. Từ cá ở dưới ao cho tới những chú gà được nuôi ở ngoài vườn. Thế nhưng, mọi thứ dường như đều không thể thực hiện được. Nước ao rất to, không thể nào mà bắt cá được, còn gà lại không ở trong chuồng mà lại thả ngoài. Đều là những thứ ngon, tác giả rất muốn mang tới cho người bạn của mình, thế nhưng mọi ý định của ông đều không thể trở thành sự thực. Những thứ muốn mua bắt đầu đơn giản dần. Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Không có thịt, mà ngay cả những loại cây cà mướp cũng không có. Những thứ gần gũi với bữa ăn gia đình nhưng lại không có được loại cây nào có thể dùng để tiếp khách, nấu cho người bạn của mình một bữa ngon. Tất cả khiến cho nhà thơ có vẻ cảm thấy buồn, cũng bất lực trước những mong muốn của mình. Thế nhưng, biết làm như thế nào được. Hoàn cảnh của ông lúc bấy giờ thực sự là không thể thực hiện được một điều nào. Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đây, ta với ta Theo tập tục của người Việt Nam chúng ta, miếng trầu là đầu câu chuyện. Thế nhưng, trong căn nhà của tác giả, thậm chí ngay cả một miếng trầu cũng không có mời khách. Thế nhưng, chính trong những hoàn cảnh như vậy, câu thơ cuối về tình bạn của ông mới được tỏa sáng. Đâu cần những vật chất bên ngoài, tình cảm bạn bè chẳng cần gì cả, chỉ cần có sự hòa hợp về chí hướng mà thôi. Với ông, người bạn, người tri kỉ đã không còn là người khác nữa mà là bản thân của ông. Hai người chính là một. Tuy chỉ là một bài thơ ngắn, thế nhưng bài thơ đã khiến cho chúng ta xúc động trước tình bạn của những người tri kỉ cùng nhau. Đối với họ, không hề có vật chất xem vào mà chỉ có tình bạn luôn được tỏa sáng, là sự đồng điệu của hai tâm hồn mà thôi. Đó mới chính là giá trị lớn nhất của tình bạn.
Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
1,895
Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Ngữ văn lớp 7 Hướng dẫn Tình bạn là một tình cảm rất đỗi thiêng liêng và cao quý. Đề tài này gây cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ sáng tác ra những bài thơ xuất sắc. Một trong những tuyệt tác đó chính là bài bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến được xưng tụng là Tam Nguyên Yên Đổ. Những vần thơ trữ tình, dí dỏm dã tự động len vào lòng người đọc, người nghe về một tình bạn đậm đà, thắm thiết, không cần những vật chất tầm thường mà vẫn gắn bó keo sơn. Tình bạn tri kỉ đó đã được mọi người truyền từ đời này sang đời khác qua nguyên văn của cụ Nguyễn Khuyến như sau: “Đã bấy lâu nay, bác tới nhà, Trễ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Đầu trò tiếp khách, trầu không có, Bác đến chơi đây, ta với ta” Bài thơ mở đầu thật sinh động và hàm súc bằng hình ảnh như sau: “Đã bấy lâu nay, bác tới nhà” Đọc câu thơ trên, em cảm nhận được tình cảm của tác giả chất chứa trong từng câu chữ, thể hiện được tình cảm thâm giao sâu sắc khi người bạn đến thăm trong hoàn cảnh nhà thơ cáo quan về ở ẩn tại thôn quê mà từ lâu lắm rồi tình đời bạc bẽo hầu như không ai ngó ngàng tới. Để đáp lại tấm chân tình của người bạn, tác giả đã gọi “bác”. Đại từ “bác” chỉ được sử dụng khi gọi một người mà mình rất mực yêu quý như người thân trong gia đình. Cũng giống như người dân Việt Nam đã gọi vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc bằng “Bác Hồ” thể hiện sự kính trọng, lòng yêu thương Bác như một bậc bề trên trong gia đình. “Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu nước cả, khôn chài cá.” Ở nông thôn, muốn đãi bạn bằng những món ăn ngon nhất thì phải đi ra chợ, ra phố. Nhưng ngặt một nỗi ngay vào lúc đó, vợ con, người hầu đều di vắng thì làm sao sai bảo ai ra đứợc. Món ăn ngon ngoài chợ không có, thôi thì đành tìm món ăn ngon nhất ở quanh nhà vậy. À, thì ra đây rồi! Có món cá đặc sản của miền quê: món cá. Niềm vui chưa kịp bùng lên thì đã tắt vi nhìn ra ao thì hỡi ôi: ao quá sâu trong khi đó nước lại đương lớn, đương dâng cao mà đối với một người tuổi già sức yếu thì đành chịu thua. Không có món ăn ngon thì đành đãi bạn bằng những món tàm tạm vậy: “Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ” Món cá thịt thường đi dôi với nhau. Không có cá thì nghĩ đến thịt. Nhưng thật tiếc vì vườn thì rộng, còn rào thì thưa: làm sao đuổi bắt được gà để làm món ăn đây. Thịt cá không có thì đành làm tạm một bữa ăn dưa cà thanh đạm vậy. Nhưng khi nhìn ra vườn rau thì nỗi thất vọng hiện lên vì cải chỉ mới lú nhú chưa mọc ra cây, còn cà thì không thấy bóng dáng đâu mà chỉ toàn là nụ. “Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Đầu trò tiếp khách, trầu không có.” Đến lúc này, người đọc thấy được nét bối rối hiện rõ trên nét mặt của tác giả. Những món ăn ngoài chợ, ngoài vườn đều không có thì đành cầu cứu đến giàn mướp, giàn bầu ngay trước cửa nhà. Nhưng oái oăm thay khi không thấy một trái bầu nào cả, còn tìm đến trái mướp cũng như không vì chỉ nhìn thấy toàn là hoa. Cuối cùng đành phải bước vào nhà tiếp bạn bằng khay trầu để trên bàn theo tục lệ thông thường nhất ngày xưa “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Vậy mà không hiểu sao hôm nay khay trầu dùng để tiếp khách ở trên bàn lại biến đâu mất. Thế là đến món đãi khách bình thường nhất cũng không có. Mà đâu phải khách tầm thường, đây là người bạn thân quý mến nhất, dáng trân trọng nhất. Thật là khó xử! Trong tình thế như vậy, nhà thơ sẽ xử sự ra sao? “Bác đến chơi đây, ta với ta.” Câu thơ cuối cùng bỗng bừng sáng, bỗng oà lên niềm vui sau bao nỗi buồn vì không có gì để tiếp bạn hiền. Bác đến chơi dây chỉ còn có “ta với ta” mà thôi: nhà thơ và bạn hiền tuy hai người nhưng chỉ là một, chung một tấm lòng, một tình bạn chân thật. Và diều này mới là cao quý nhất trên đời hơn hẳn những vật chất tầm thường. Ớ dây em thấy được nhà thơ đã gửi vào tác phẩm của mình một điều mới mẻ: với bố cục sáng tạo (1-6-1) phá luật thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, nhà thơ đã khéo léo lồng ghép tình huống vào từng câu thơ làm cho mọi người cảm xúc theo từng nỗi băn khoăn, khó xử khi không có gì để tiếp đãi bạn để rồi cuối cùng nêu lên một câu kết hóm hỉnh chứa đựng tình bạn đậm đà, thắm thiết, gây bất ngờ cho người đọc, người nghe. Thật là xuất chúng! Thế mới là Tam Nguyên Yên Đổ!
Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Ngữ văn lớp 7
939
Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tịnh của Lý Bạch Bài làm Đêm nay là đêm đầu tiên em xa quê hương yêu dấu đi đến một nơi xa xôi. Trăng sáng vằng vặc, xen lẫn cảnh tượng yên ắng tĩnh mịch của vùng làng quê là một tiếng ve sầu não ruột, không gian tối lành lạnh, hơi sương đêm mênh mang, gió gợi man mác. Nỗi nhớ quê nhà lại trào dâng trong lòng em và em chợt ngân nga bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch và em cũng cảm nhận nó bởi tâm trạng của nhân vật rất giống với tâm trạng hiện tại của em. Bản phiên âm: Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương Bản dịch thơ: Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương. Người ta cứ ngỡ đây là một bài tứ tuyệt Đường thi. Nhưng thực ra không phải thế, Lý Bạch không phối hợp các thanh điệu trong thơ và đúng luật bằng trắc của thơ Đường mà viết phóng túng theo cảm xúc riêng tư của mình. Bài thơ gồm bốn câu, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, biểu cảm đan xen kết hợp nhuần nhuyễn với nhau. Khi sáng tác bài thơ này thì tác giả đang sống trên đất khách quê người với biết bao gian khổ và nỗi nhớ quê hương không bao giờ nguôi ngoai. Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương. Hai câu trên vừa miêu tả ánh trăng sáng, vừa tự vẽ chân dung, tự bộc lộ tâm trạng của người xa quê. Thấy trăng rọi sáng ở đầu giường nghĩa là tác giả không ngồi đọc sách hay đứng ngắm trăng mà nằm trên giường trằn trọc không ngủ. Nằm trên giường mà thao thức không ngủ được, bất chợt thấy trăng rọi mà ngỡ mặt trời đã thức, mặt đất phủ sương đánh thức mình dậy. Tâm trạng luôn khắc khoải, trăn trở, thao thức của kẻ ly hương như bị nỗi nhớ nhà dày vò của tác giả đang giống với nỗi nhớ quê hương của em. Câu ngỡ mặt đất phủ sương vừa trực tiếp tả tâm trạng bâng khuâng, bồi hồi lại vừa gián tiếp tả cử chỉ của người ngồi trên giường cúi đầu nhìn vào xa xôi, mông lung, như tìm kiếm một thứ gì đó mà đối với tác giả nó rất gần gũi, thân thương, nhớ đất, nhớ người nhớ cả quê hương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương Đến hai câu cuối thì nỗi nhớ quê trào lên bội phần, cử chỉ hành động cũng thêm bối rối trằn trọc, trăn trở. Ở câu trên, tác giả tả ngoại cảnh cho đến nội tâm thì ở hai câu sau thì cảnh và tình, chỉ vào tâm trạng đan xen, kết hợp như đang hòa quyện nhau không thể nào tách bạch. Đang cúi đầu nhìn đất, nhớ nhà rồi bất chợt ngẩng đầu để cố xua đi nhanh, vơi bớt nỗi nhớ, nhưng rồi nỗi nhớ lại trở lại, tràn ngập trái tim của tác giả nên đành cúi đầu nhớ quê hương. Câu nói người buồn cảnh có bao giờ vui đâu thật là đúng, trong cái đêm yên tĩnh ấy, trăng rất sáng, rất trong, rất đẹp nhưng lòng người không thể vui với trăng được mà ngược lại, dù ngẩng hay cúi đầu thì nỗi nhớ quê day dứt vẫn tồn tại, vẫn khắc khoải trong lòng tác giả. Cảnh vui, cảnh đẹp nhưng người nhớ, người sầu thì có cảnh cũng chỉ làm sầu thêm thôi. Nghệ thuật phối hợp thế giới khách quan với nội tâm con người thật đáng nể phục kính trọng. Với những từ ngữ đơn giản mà chắt lọc, bài thơ đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tình cảm quê hương của một người sống xa nhà, xa quê. Một cơn gió mát lạnh thoảng qua làm em bừng tỉnh. Ôi! Lý Bạch không hổ danh là tiên thi. Nỗi buồn vẫn còn đọng trong lòng em, em hiểu thêm được nỗi đau khổ tột cùng khi phải xa quê hương của Lý Bạch. Bỗng em chợt buột miệng ngâm lại bài thơ một cách bình thản, nhẹ nhàng: Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương.
Cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tịnh của Lý Bạch
750
Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. Bài làm Nhắc đến thơ của Hồ Chí Minh ta thường thấy thơ Người luôn mang một hơi thở rất riêng, rất hòa hợp với thiên nhiên và tràn ngập ánh trăng. Cái hòa hợp giữa thiên nhiên và lý tưởng Cách mạng của một con Người luôn vì dân vì nước. Và bài thơ Cảnh khuya cũng vô cùng hay như thế. Bài thơ Cảnh khuya sáng tác năm 1947, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đầy khó khăn và gian khổ. Thế nhưng Hồ Chí Minh vẫn luôn giữ trong mình tư thế ung dung, tự tại, với một niềm tin tưởng sắt son vào chiến thắng của đất nước. Điều ấy đã trở thành một sức mạnh to lớn cổ vũ tinh thần quân và dân ta. Nhưng bên cạnh một niềm tin mãnh liệt, Hồ Chủ tịch vẫn không nguôi được nỗi lo lắng, thương dân. Và tất cả những niềm tin, yêu, lo lắng ấy, Người đã gửi hết vào thiên nhiên nơi núi rừng Việt Bắc. Mở đầu bài thơ Người viết: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Giữa cái tĩnh lặng của núi rừng khi về đêm, tiếng suối trở thành một âm thanh vô cùng thanh thúy, vang vọng khi gần khi xa. Tiếng suối trở nên vô cùng đặc biệt bởi nó là thứ âm thanh duy nhất của rừng già về đêm, khi vạn vật đang say giấc thì suối vẫn âm thầm, róc rách chảy. Tiếng suối gợi cho người ta cái cảm giác thanh bình, lại càng làm nổi bật sự tĩnh lặng của thiên nhiên. Không những thế, qua biện pháp so sánh tiếng suối với tiếng hát xa để thấy rằng suối cũng có một tâm hồn như con người, nó đang thay thiên nhiên cất lên tiếng hát cao vút, tiếng hát trong trẻo rất riêng, rất trữ tình. Mà Bác, phải yêu thiên nhiên nhiều lắm mới có thể cảm nhận được. Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya Không chỉ cảm nhận qua thính giác, Bác còn dùng thị giác để cảm nhận khung cảnh Việt Bắc về đêm. Ánh trăng chiếu lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại trùm lên những cành hoa thấp phía dưới – hình ảnh rất thực qua cái nhìn của Bác như lồng vào với nhau. Từ lồng trong bài thơ trở nên vô cùng đắt giá, thể hiện sự tinh tế trong quan sát của Bác. Động từ lồng được lặp hai lần trong một câu thơ còn gợi sự đùm bọc che chở, tưởng chừng như thiên nhiên cũng đang dang tay bao bọc lấy nhau. Sự hòa quyện giữa trời và đất, giữa vũ trụ với thiên nhiên, giữa vầng trăng với cây cỏ,… tất cả tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp của núi rừng về đêm. Vì thế mà Bác lại viết: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Câu thơ như được chia đôi thành hai vế rõ ràng. Một bên là về thiên nhiên, khi vị thi sĩ tài ba dùng những lời thơ của mình để tạo nên những gam màu tuyệt đẹp. Một bên là con người, một con người Cách mạng, con người hiện thực, Người vĩ đại giữa bao người, đang trằn trọc trong trạng thái chưa ngủ. Hai vế rõ ràng như khẳng định sự hòa quyện giữa tình yêu thiên nhiên và tình yêu đất nước, sự hòa hợp giữa một vị thi sĩ yêu trăng với một người chiến sĩ Cách mạng yêu nước. Sự hòa hợp đến bất ngờ ấy đã làm nên một phong cách Hồ Chí Minh, phong cách của vị lãnh tụ tài ba của dân tộc. Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Hóa ra, Người chưa ngủ là bởi vì Người lo cho đất nước. Người thương dân tộc chịu cảnh nô lệ lầm than khổ sở. Người mong một ngày đất nước hòa bình, nhân dân ấm no hạnh phúc. Giữa cảnh núi rừng yên tĩnh Người vẫn đang cần mẫn làm việc, luôn luôn suy tính kế sách đánh giặc, thắng giặc. Người mong muốn truyền tải con đường Cách mạng trở nên sâu rộng hơn nữa. Những tưởng Người giống như bao vị thi sĩ thời xưa sống ẩn dật, lánh đời, lánh người mà hòa mình vào thiên nhiên. Nhưng không. Người vẫn một lòng hướng đến Cách mạng, mang trong mình những lo lắng thầm kín, gửi vào thiên nhiên. Ngắm thiên nhiên mà lòng vẫn không nguôi nhớ về đất nước. Một chặng đường gian lao, vị lãnh tụ ấy đã dành cả cuộc đời cho dân tộc. Là một đêm không ngủ hay nhiều đêm không ngủ? Ánh Nguyên
Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
800
Đề bài: Cảm nghĩ về bài thơ Hầu Trời của thi sĩ Tản Đà Bài làm Bài thơ "Hầu Trời" của Tản Đà có sự khác biệt về số câu ở hai văn bản. Bản do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, tuyển chọn – Nhà xuất bản Văn học, 1982 có 120 câu. Bản do Nguyễn Khắc Xướng sưu tập, chú thích – Nhà xuất bản Văn học, 1986 chỉ có 114 câu. Chúng tôi theo bản thứ nhất. "Hầu Trời" là một bài thơ rất đặc sắc và độc đáo; độc đáo ở thi đề, độc đáo cảm hứng, độc đáo ở nội dung bài thơ. "Hầu Trời" được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, bên cạnh những khổ thơ bốn câu, tác giả đan xen vào những đoạn thơ sáu câu, mười câu, mười hai câu… mang dáng dấp một bài hành nhỏ. Câu trúc đa dạng ấy đã mở ra một không gian nghệ thuật để Tản Đà bộc lộ cái tôi của mình, và cho nó "tung hoành" nơi Thiên môn đế khuyết. Phần đầu bài thơ kể chuyện lúc canh ba, thi sĩ ngâm thơ nơi hạ giới, tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà", đã "làm Trời mất ngủ…". Trời bực mình bèn sai hai cô tiên bay xuống triệu chàng thi sĩ lên Thiên môn. Bốn câu thơ mở đầu, Tản Đà dùng bốn chữ "thật" để khẳng định đó là một chuyện thật đã xảy ra "sướng lạ lùng!". Trong bài "Tìm hiểu Tản Đà", thi sĩ Xuân Diệu viết: "Bài "Hầu Trời", tôi phục nhất đoạn mở: Đêm qua chẳng biết có hay không Chằng phải hoảng hốt không mơ mộng Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng! Vào đột ngột cứu đầu cũng ra vẻ đặt vấn đề cho nó khách quan, nghi ngờ theo khoa học, để ba câu sau toàn là khẳng định, ăn hiếp người ta". Phái viên của Trời là hai nàng tiên "miệng cười mủm mỉm",… Thi sĩ như được chắp cánh cùng bay lên Trời: "Theo hai cô tiên lên đường mây – Vù vù không cánh mà như bay". Nhìn thấy Thiên môn tráng lệ, chàng thi sĩ vô cùng ngạc nhiên tự hỏi: Cửa son đồ chói oai rực rỡ! Thiên môn đế khuyết như là đây? Vị khách làm thơ nơi hạ giới được Trời và chư tiên trọng thị. Sau khi thi lễ "sụp xuống lạy", Trời ân cần sai tiên nữ "dắt tôi dậy", rồi mời thi sĩ "ngồi chơi" trên "Ghế bành như tuyết, văn như mây". Tiên đồng pha nước uống. Chư tiên kéo đến ngày một thêm đông. Đến để xem mặt người trần? Đến để đón tiếp với lòng hiếu khách? Hay đến để dự cuộc bình thơ, bình văn? Tiên đồng pha nước uống vừa xong, Bỗng thấy chư tiên đến thật đông, Chung quanh bày ghế ngồi la liệt, Tiên bà, tiên cô, cùng tiên ông. Cuộc đọc văn và bình văn nơi Thiên môn đế khuyết được Tản Đà kể lại thật sinh động và hấp dẫn. Thính giả gồm có Trời và đông đảo chư tiên. Sau khi nghe lời truyền bảo của Trời, văn sĩ cung kính thưa: "Dạ, bẩm lạy Trời, con xin đọc", thì cuộc đọc văn, hình văn bắt đầu. Văn sĩ "Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi", càng đọc càng "đắc ý", càng "tốt hơi ", nhất là khi được nhấp giọng bằng "chè Trời". Thính giả và văn sĩ trở thành bạn tri âm trong cuộc đọc văn, bình văn. Trời và chư tiên đều say mê thưởng thức nghệ thuật. Văn sĩ cao hứng đọc "ran cung mây". Chẳng có rượu và hoa… nhưng biết bao thú vị. Trời nghe văn nghe thơ "cũng lấy làm hay". Chư tiên mỗi người có một cách biểu cảm riêng. Có nàng tiên thì "nở dạ" hoặc "lè lưỡi''. Có người đẹp nơi Thiên môn thì xúc động quá mà "chau đôi mày". Có nhiều nàng tiên bị thơ văn lôi cuốn "lắng tai đứng”. Ai cũng nhiệt thành "cũng vỗ tay" tán thưởng. Hỏi đã có văn sĩ nào xưa nay được hưởng hạnh phúc, được đọc văn, đọc thơ trước một thính giả nơi Thiên môn đế khuyết như vậy? Văn sĩ tự hào “báo cáo” với Trời về những tác phẩm của mình đã được in:… Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tình con là văn chơi Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết Đài gương, Lên sáu văn vị đời Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch Đến quyển Lên tám nay là mười” Trời "bật buồn cười" khen ngợi: "Văn đã giàu thay lại lắm lối" vì phong phú về thể cách, đa dạng về thể loại. Hạnh phúc biết bao khi văn sĩ được các tiên nữ gọi bằng "anh”: “Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: Anh gánh lên đây bún chợ Trời!". Cách kể chuyện mộc mạc tự nhiên, cách sử dụng ngôn từ, giọng điệu hóm hỉnh, tác giả đã làm nổi bật phong cách "bình dân" của ông Trời và các chư tiên, cùng với cái điệu bộ khúm núm và "thật thà" của văn sĩ. Qua cảnh đọc văn hầu Trời, Tản Đà đã phản ánh thực trạng xã hội lúc bấy giờ thật đáng buồn, nhất là tầng lớp văn sĩ như ông: Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu. Quanh năm luống những lo văn ế, Thân thế xem thua chú hát chèo! (Lo văn ế) Đồng thời ông chỉ rõ, trong xã hội thực dân nửa phong kiến ấy đã có mấy tri âm hiểu và biết trân trọng những tác phẩm văn chương của ông, vì thế ông phải lên hầu Trời, đọc văn cho Trời và chư tiên thưởng thức. Nguyễn Khắc Hiếu đã tự hào bộc lộ cái bản ngã, cái tài năng đích thực của mình trước con mắt đồng loại! Trời với con mắt xanh, với sự thẩm văn tinh tế đã dành cho văn sĩ lần đầu mới gặp những lời ngợi khen vô giá: Trời lại phê cho: "Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít! Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển Êm như gió thoảng, tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!…, Sao băng, mây, gió, sương, mưa, tuyết được Trời đem ra so sánh để ngợi ca nhời văn, khí văn của chàng văn sĩ. Cách kể, cách tả của tác giả thật tài hoa và có duyên. Cái "tôi" bản ngã được khẳng định. Sau cuộc đọc văn, bình văn là cuộc hầu chuyện với Trời của văn sĩ: Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu, họ là Nguyễn… Trời "ngợ", rồi sai Thiên Tào lấy sổ xét: "Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông. Nhưng rồi Trời bao dung và ân cần an ủi, khích lệ. Trời không "đày" mà giao phó cho văn sĩ một trọng trách là đem việc thiên lương" thuật lại cho "đời hay", cho mọi người cùng biết. Văn sĩ phải gánh trọng trách đem "thiên lương"- giáo hoá người đời, để trần gian tươi đẹp hơn, yên vui hơn. Bài thơ "Hầu Trời" không chỉ mang cảm hứng lãng mạn, mà còn hàm chứa yếu tố hiện thực, đó là đoạn thơ 16 câu văn sĩ thưa với Trời về thân phận mình bấy lâu nay nơi hạ giới: rất nghèo khó, không có một thước đất cắm dùi, chỉ "còn một bụng văn"', kế sinh nhai ngày một thêm chật vật: …Giấy người, mực người, thuê người in. Mướn cửa hàng người bán phường phố Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực là khó Kiếm được thời ít, tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu… Khi nghe văn sĩ lo lắng thưa: "Trời lại sai conviệc nặng quá – Biết có làm nổi mà dám theo?", thì Trời đã động viên và hứa: Rằng: "Con không nói, Trời đã biết, Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết. Cho con cứ về mà làm ăn, Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết, Cố xong công việc của Trời sai, Trời sẽ cho con về đế khuyết… Đoạn cuối bài thơ kể chuyện Trời sai Khiên Ngưu đóng xe đưa Trích tiên trở lại trần gian. Cuộc tiễn đưa của chư tiên vừa lưu luyến, vừa trang trọng: "Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi". Khi trăng tà non Đoài, tiếng gà gáy xao xác, nhà thơ đã về tới sân nhà, cảm thấy cô đơn và ngậm ngùi. Vừa tiếc rẻ, vừa mong ước: Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi. Một năm ba trăm sáu mươi đêm, Sao được đêm đêm lên hầu Trời! Bài "Hầu Trời" như một truyện cổ tích được viết bằng thơ. Nhân vật Trời và các chư tiên rất giản dị, bình dân, thân mật và dễ mến. Bài thơ cho ta thấy Tản Đà có một trí tưởng tượng phong phú, một vốn từ ngữ giàu có, nhất là khi ông nói về Trời, về các chư tiên và cách sống của họ. Đoạn thơ nói về cuộc đọc văn và bình văn, về ngôn ngữ đối thoại giữa văn sĩ với Trời và các chư tiên được kể lại rất sinh động và lí thú. Có lúc chúng ta cảm thấy cuộc bình văn hình như đang diễn ra giữa thanh thiên bạch nhật nơi cõi đời mà mình từng được tham dự. "Hầu Trời" là một bài thơ độc đáo và đặc sắc, tuy khá dài nhưng bố cục chặt chẽ, giọng thơ liền mạch, nhất khí, cảnh và tình rất tự nhiên, diễn biến theo câu chuyện, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối. Bài thơ trường thiên "Hầu Trời" giúp ta cảm nhận thêm chất lài tử, tài hoa và cái ngông của Tản Đà thi sĩ.
Cảm nghĩ về bài thơ Hầu Trời của thi sĩ Tản Đà
1,621
Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư) Hướng dẫn Dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, luôn sẵn sàng đứng lên chống giặc, sẵn sàng hi sinh vì đất nước. Vì thế lịch sử nước ta thấm đẫm những cuộc chiến tranh đau thương, tàn khốc nhưng cũng đầy hào hùng, vẻ vang với những chiến thắng vinh quang in đậm dấu vết của biết bao anh hùng dân tộc trên từng trang lịch sử vàng. Một trong những vị anh hùng đó là Trần Quang Khải, một vị tướng tài ba dưới thời nhà Trần, là con trai thứ ba của vua Trần Nhân Tông, lập công lớn tại Chương Dương Độ, lừng danh muôn đời. Ông không chỉ là một vị tướng kiệt xuất mà còn là một văn nhân có những vần thơ sâu xa, lý thú. Bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” (Phò giá về kinh)) là một bài thơ do Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai. Bài thơ nói về cảm xúc người tướng khi theo xa giá vua trở về kinh đô khải hoàn được thể hiện qua những câu thơ như sau: “Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san.” (Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. ) Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt hàm súc đã vẽ lên một khung cảnh hoành tráng với khí thế chiến đấu và thắng lợi vẻ vang của quân ta. Lúc bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long, còn chiến thuyền thì đóng ở bến Chương Dương, thuộc địa phận huyện Thượng Phúc. Trần Quang Khải được lệnh vua, cùng Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão dem quân từ Thanh Hóa đi thuyền vòng đường biển ra đến bến Chương Dương tấn công chiến thuyền của quân Nguyên. Quân giặc địch không nổi phải bỏ thuyền lên bờ chạy. Nghệ thuật đảo ngữ đưa hai cụm từ “đoạt sáo”, “cầm Hồ” lên trên đầu câu đã thể hiện được khí thế dũng mãnh của quân ta, đồng thời cũng diễn tả được sự thất bại nhục nhã của quân giặc. Nhịp điệu bài thơ nhanh, gấp kết hợp với các động từ biểu thị động tác mạnh mẽ, dứt khoát tạo nên nhịp dộ dồn dập, sôi động, quyết liệt của không khí chiến trận. Nhà thơ không nói nhiều về những chiến công và cũng không tỏ ra say sưa với chiến thắng nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh vô bờ toát lên từ âm hưởng của bài thơ. Hơn nữa, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. Hai chiến công oanh liệt này dã làm ‘thay đổi thế trận của quân ta: mở đầu và tiếp thêm sức mạnh, niềm tin đến quân và dân ta đập tan âm mưu xâm lược, đánh bại được kẻ thù hung bạo nhất thế giới thời bấy giờ, giành lại kinh thành Thăng Long. Ở đây có một điểm nổi bật là Trần Quang Khải là nhà thơ dầu tiên đã đưa địa danh sông núi Đại Việt vào thơ ca. “Thái hình tu trí lực, Vạn cổ thủ giang san.” (Thải bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. ) Nếu muốn đất nước không bị hoạ xâm lược thì dân phải giàu, nước phải mạnh. Cho nên Trần quang Khải đã khuyên nhủ mọi người không nên ngủ trên chiến thắng mà phải bắt tay ngay vào xây dựng đất nước, củng cố lực lượng cả về kinh tế và chính trị thì mới có thể giữ vững nền độc lập, dập tắt mọi tham vọng ngông cuồng của bọn ngoại xâm. Chỉ hai câu thơ ngắn gọn mà đã thể hiện dược tấm lòng và tài trí của một danh tướng với tầm nhìn xa, hiểu biết rộng, suy xét sự việc một cách sâu sắc kết hợp với lòng yêu nước thương dân, có trách nhiệm với Tổ quốc luôn đặt Đất nước lên hàng đầu. Bằng thể thơ ngữ ngôn tứ tuyệt, lời thơ cô đọng, ý thơ hàm súc, Trần Quang Khải đã dựng lên trước mắt người dọc bức tranh sinh động về khí thế chiến đấu hào hùng của quân dân ta, về quyết tâm hoà bình, độc lập, giữ vững chủ quyền, nhất là khẳng định nước Nam là của người dân Đại Việt, đó là định luật muôn đời không thể thay đổi. Dầu đã trải qua bao thế hệ, với bao lớp bụi thời gian nhưng bài thơ vần còn mang ý nghĩa lớn lao, không chỉ vào thời xưa mà cả ở thời nay. Lớp trẻ chúng ta muốn dất nước hùng mạnh, độc lập chủ quyền thì phải mở mang kiến thức, rèn luyện phẩm chất xứng đáng với những người làm chủ tương lai của đất nưức.
Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư)
852