text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Bình luận về đức tính siêng năng cần cù Bài làm Siêng năng, cần cù là phẩm chất tốt đẹp của người lao động, mà học sinh chúng ta, tuổi trẻ chúng ta phải rèn luyện hằng ngày. Chăm chi làm việc và học hành một cách đều đặn, thường xuyên thì gọi là siêng năng cần cù nghĩa là chăm chỉ, chịu khó một cách thường xuyên trong bất cứ công việc nào, nhất là trong lao động và học tập. Bình luận về đức tính siêng năng cần cù Có quý trọng thì giờ, mới biết cần cù, siêng năng. Có biết coi thì giờ quý như vàng bạc thì mới có ý thức chăm chỉ, chịu khó trong lao động sản xuất, trong học hành luyện trí, luyện tài. Có siêng năng, cần cù mới có ý thức không để thì giờ trôi qua một cách vô ích. vô vị. Biết dùi mài kinh sử, biết suy nghĩ vận động, vươn lên học hỏi những điều mới mẻ, những kiến thức khoa học hiện đại thì mới có thể nói là cần cù, siêng năng. Thức khuya dậy sớm. chăm chỉ làm ăn, vượt qua mọi khó khăn thì mới gọi là siêng năng, chịu khó. Người thợ coi tám giờ lao động là vàng ngọc. Người nông dân cuốc bẫm cày sâu, một nắng hai sương đế làm nên những mùa vàng bội thu, những cánh đồng đầy khoai xanh tốt. cần cù, siêng năng để làm ra của cải vật chất, để sáng tạo nên mọi giá trị tinh thần để làm cho cuộc sống ngày một ấm no hạnh phúc, làm cho đất nước, xã hội ngày một thêm giàu có. Muốn được sống trong ấm no, hạnh phúc thì phải siêng năng, cần cù. “Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ đem phần đến cho” là một lời khuyên chí lí. Muốn dân giàu, nước mạnh thì người người phải lao dộng, nhà nhà phải lao động; lao động một cách cần cù. siêng năng. Nhân dân ta, đặc biệt là người nông dân rất siêng năng, cần cù. Có biết bao bài ca dao ngợi ca phẩm chất cao quý của họ: Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày, tay dắt con trâu. Bước chân xuống cánh đồng sâu, Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày. Ai ơi, bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng. Trên đời, xưa và nay. cái đáng quý là lao động, người đáng quý là người lao động. Chính nhân dân lao động đã giáo dục chúng ta lòng yêu nước và đức tính cần cù, siêng năng. Nhờ siêng nàng, cần cù mà mỗi chúng ta không sợ khó, sợ khổ, biết bền bỉ. nhẫn nại trong làm ăn, trong học hành. Trái với siêng năng, cần cù là lười biếng, là “nhác làm siêng ăn”, là lãng phí thì giờ, trở thành kẻ sống thừa, vô tích sự. Châm biếm ke lười biếng, nhân dân ta có câu ca: Đời người chỉ một gang tay Ai hay ngủ ngày còn một nửa gang. Kẻ "hay ngủ ngày" là kẻ lười biếng, chi biết “há miệng chờ sung”. Học sinh chúng ta, tuổi trẻ chúng ta phải chăm học chăm làm, phải siêng năng thức khuya dậy sớm, chịu khó cần cù học hành, luyện tập thì mới nên người. Phải biết “học ngày chưa đủ, tranh thủ học đêm”. Trong đợt ôn tập, kiểm tra, thi cứ, học sinh phải siêng năng, phải cần cù ôn luyện. Có chịu khó, có nỗ lực cao thì mới có thể vươn lên học khá, học giỏi, mới giành được điểm cao trong thi cử? Học tập hôm nay là để có ngày mai đúng ý nghĩa. Đó là một ngày mai lao động sáng tạo, ấm no, hạnh phúc. Siêng năng và cần cù hôm nay là để có một ngày mai tươi đẹp…
Bình luận về đức tính siêng năng cần cù
650
Đề bài: Bình luận về ứng xử lịch sự văn minh Bài làm Phép đối xử lịch sự với người khác là một nghệ thuật sống. Nghệ thuật sống có thể gói gọn trong sáu chữ: văn nhã, hòa khí, khiêm tốn. Văn nhã, tức là phải biết sử dụng những từ ngữ giao tiếp như: xin chào, cảm ơn, tạm biệt, xin thứ lỗi… và sử dụng cho đúng lúc. Nét mặt, giọng nói, cứ chỉ phải nhẹ nhàng, trang trọng, kính cẩn, thân mật. lịch thiệp… Bình luận về ứng xử lịch sự văn minh Hòa khí: tức là khi nói chuyện phải bình tĩnh, từ tốn, nhẹ nhàng, nội dung câu chuyện phải có tình, có lí, biểu cảm: tránh suồng sã, khiếm nhã; tránh nói to, cười to, vừa nói, vừa vung tay. Khiêm tốn: không khoe khoang, nói ít mà nghe nhiều, biết lắng nghe, không cướp lời. Người khiêm tốn thường sống chân thành, chân thật, cởi mở; ý tứ lúc đi xe, đi đường: không nên tranh lấn mà biết nhường nhịn. Nói tóm lại phải đề cao chữ “lễ”, đúng như Khống Tử đã nói: “Bất học lễ vô dĩ lập”, nghĩa là không học lễ nghĩa thì không nên người. Ở trường phải kính thầy, quý bạn, ở nhà phải hiếu để ra ngoài xã hội phải lễ phép, ứng xử lịch sự là biết tôn trọng, kính trọng người khác, mà thực chất là tự trọng bản thân mình. Nếu thô lỗ, cục căn, vô lễ… là tự hạ thấp nhân cách mình. Ứng xử lịch sự là phong cách sống văn minh, sống có văn hóa.
Bình luận về ứng xử lịch sự văn minh
269
Đề bài: Bình luận ý kiến của Bảo Định Giang: "Mắt Nguyễn Đình Chiểu mù lòa, nhưng tấm lòng ông vằng vặc như sao Bắc đẩu" Bài làm Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của dân tộc ta cuối thế kỉ XIX, là ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là bài ca yêu nước tự hào dân tộc. Trong bài phát biểu nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất nhà thơ yêu nướcNam Bộ, Bảo Định Giang có nói: "Mắt Nguyễn Đình Chiểu mù lòa, nhưng tấm lòng ông vằng vặc như sao Bắc đẩu". Câu nói ấy biểu lộ một tình cảm kính yêu và khâm phục của nhân dân ta đối với nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. "Mắt Nguyễn Đình Chiểu mù lòa" đó là một bi kịch của nhà thơ. Sau khi đỗ tú tài, ông ra Huế chuẩn bị cho một kì thi mới thì được tin mẹ mất. Ông bỏ thi, trở về quê chịu tang. Đi đường vất vả, bị cảm, lại thương khóc mẹ nhiều, ông bị mù. Không khuất phục trước số phận, ông mở trường dạy học, làm thuốc cứu người và sáng tác thơ văn. Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi là tấm gương sáng chói. Truyện Lục Vân Tiên, Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Dương Từ – Hà Mậu và hàng trăm bài thơ, bài văn tế chứa chan tình yêu nước của ông đã góp phần làm giàu đẹp nền văn học Việt Nam cận đại. Sinh ra và sống trong xã hội loạn lạc, chế độ phong kiến Việt Nam suy tàn và thối nát cực độ, đầy rẫy chuyện đau lòng, bọn bất lương, bọn lừa thầy phản bạn, bọn trộm cướp nổi lên như ong, Nguyễn Đình Chiểu đã lấy thơ văn đề cao đạo đức, "đâm mấy thằng gian bút chẳng tà". Ông đã sáng tạo ra một thế giới nhân vật "trung, hiếu, tiết, hạnh". Lục Vân Tiên là đứa con hiếu thảo, là người anh hùng vị nghĩa đánh cướp cứu dân: Tôi xin ra sức anh hào, Cứu người cho khỏi lao đao buổi này. Ông Ngư sống cuộc đời sông nước, coi thường danh lợi, giàu tình nhân ái. Vân Tiên chết đuối được ông cứu vớt. Cả nhà săn sóc cơm cháo thuốc thang: Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ, Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn. Đọc truyện Ngư Tiều y thuật vấn đáp, hình ảnh Nhân Sư đã để lại trong tâm hồn chúng ta một ấn tượng rất sâu sắc. Tổ quốc bị quân thù chiếm đóng, là một trí thức đầy danh vọng, không thể để lũ giặc mua chuộc, dụ dỗ, ông xông mù đôi mắt, giữ trọn khí tiết, quyết không đội trời chung với giặc: Sự đời thù khuất đôi tròng thịt, Lòng đạo xin tròn một tấm gương. Vương Tử Trực, Hớn Minh nghĩa khí, cao cả trong tình bạn. Kiều Nguyệt Nga tiết nghĩa, chung thủy trong tình yêu,v.v,.v Trái lại, bọn Phong Lai, Bùi Kiệm. Trịnh Hâm, cha con Võ Thái Loan, v.v… tiêu hiểu cho bọn tà tâm, độc ác, đã bị trừng phạt. Qua đó, ta thấy thái độ yêu, ghét, phân biệt chính, tà của nhà thơ rất rõ ràng, dứt khoát, tiến bộ và sáng ngời niềm tin. Thật vậy, tấm lòng nhà thở "vằng vặc như sao Bắc đẩu". Thơ văn yêu nước là lời tâm huyết của nhà thơ mù đất Đồng Nai. Giặc Pháp xâm lăng nước ta, vua quan nhà Nguyễn đầu hàng nhục nhã, dâng nước ta cho giặc. Nguyễn Đình Chiểu đau đớn thương xót nhân dân lầm than. Ông trách móc và tha thiết mong đợi: Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ở đàn chim dáo dát bay… (…) Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng Nỡ để dân đen mắc nạn này? (Chạy giặc) Tuy bị mù lòa nhưng nhà thơ đã đứng về phía các lãnh tụ nghĩa quân, bàn mưu tính kế đánh Pháp. Ông ca ngợi lòng yêu nước, chí quả cảm của các nghĩa sĩ đã oanh liệt hi sinh vì đại nghĩa. Với ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, họ xung trận với khí thế "kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã tà, ma ní hồn kinh". Tấm lòng son sắt trung nghĩa của họ vằng vặc như ánh trăng rằm. Khí phách chiến đấu của nghĩa sĩ lẫm liệt vô song: "Sống đánh giặcc, thác cũng đánh giặc linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia…" (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Trong thế nước hiểm nghèo, tiếng thơ của ông ngùn ngụt bốc lửa căm giận, tin tưởng mãnh liệt về một ngày mai tươi sáng, đất nước được giải phóng, nhân dân được sống yên vui thanh bình: …Bờ cõi xưa đà chia đất khác, Nắng sương nay há đội trời chung Chừng nào thánh đế ân soi thấu, Một trận mưa nhuần rửa núi sông (Xúc cảnh) Chí căm thù giặc Pháp xâm lược, tình cảm yêu nước thương dân của nhà thơ đã làm cho nhân dân ta vô cùng kính phục. Đúng như Bảo Định Giang đã nói: "Mắt Nguyễn Đình Chiểu mù lòa, nhưng tấm lòng ông vằng vặc như sao bắc đẩu". Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ vĩ đại "Thư sinli giết giặc bằng ngòi bút" (Tùng Thiện Vương). Cuộc đời và thơ văn Nguvễn Đình Chiếu là bài ca nhân nghĩa và yêu nước tuyệt vời. Tên tuổi nhà thơ không hao giờ phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Ông là tấm gương cao quý của kẻ sĩ trước mọi sóng gió cuộc đời, tận trung, tận hiếu với nước với dân. Vĩ đại thay nhà thơ mù yêu nước Nam Bộ. Nhân cách cao đẹp của ông là bài học lớn cho nhân dân ta.
Bình luận ý kiến của Bảo Định Giang _ “Mắt Nguyễn Đình Chiểu mù lòa, nhưng tấm lòng ông vằng vặc như sao Bắc đẩu”
982
Bình luận ý kiến sau: Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí Hướng dẫn Bình luận ý kiến sau: Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí Bài làm Cuộc sống là một vũ trụ với muôn màu muôn vẻ. Trong đó, có rất nhiều lĩnh vực mà chúng ta quan tâm, tìm hiểu và học hỏi. Khoa học là một lĩnh vực như vậy, bởi khoa học là bao gồm rất nhiều điều mới mẻ, hấp dẫn, đòi hỏi chúng ta phải bỏ thời gian, công sức để tìm hiểu một cách kỹ càng hơn. Con đường đến với khoa học cũng chưa bao giờ là bằng phẳng, nhẹ nhàng và không phải ai cũng có đủ dũng khí để đi theo con đường này một cách nghiêm túc và lâu dài. Vì vậy nên có người nói rằng: tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí. Đó là điều chúng ta đang muốn bàn đến ngày hôm nay. Khoa học có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống hiện nay, đặc biệt là khi xã hội ngày càng phát triển. Những điều khoa học đem lại cho xã hội là không thể đo đếm được, bởi khoa học đã làm thay đổi vô số những quan niệm, cũng như mang đến những phát minh lớn cho thế giới. Trong đó, không thể không nhắc đến công lao của những nhà khoa học nổi tiếng như Galile, Niu tơn, Đác Uyn, Nô ben, Edison….cùng vô số những nhà khoa học khác, đóng góp cho sự phát triển của toàn xã hội. Khoa học có thể làm nên những điều kì diệu mà chúng ta không thể ngờ tới, và để đạt được những điều đó, các nhà khoa học của chúng ta đã phải ngày đêm vất vả, làm việc với một dũng khí và tinh thần kiên định hơn bao giờ hết. Những người làm khoa học trước tiên phải có đam mê. Có đam mê họ mới sẵn sàng dành hết sức mình cho công việc mà họ đang làm. Bên cạnh đó, họ phải có cái tâm với công việc, họ làm vì lợi ích của xã hội, của nhân loại, nơi họ đang sinh tồn. Phải có tinh thần làm việc hết mình dành cho khoa học, họ mới có thể góp phần cải tạo cuộc sống, đưa ra những công trình khoa học có ích cho xã hội. Họ là những người có dũng khí, kiên định, dám nghĩ dám làm, mặc kệ những lời rèm pha, đàm tiếu của những người xung quanh, mặc kệ những khó khăn nguy hiểm gặp phải trong quá trình làm việc, họ vẫn cố gắng hết sức, sống hết mình cho khoa học. Tất cả những điều đó chính là tinh thần khoa học, và tinh thần phải đi đôi với dũng khí dám làm dám chịu, họ mới có thể thành công. Bởi trong quá trình làm việc, những người làm khoa học chắc chắn sẽ gặp vô số những khó khăn. Đó là những vấn đề về vật chất, rồi tư tưởng khác nhau, quan điểm bất đồng… Những khi đó, tinh thần khoa học cũng như dũng khí, sự kiên định là vô cùng cần thiết. Người làm khoa học cần có trách nhiệm với công việc mình đang làm, cần phải kiên trì tìm hiểu, đấu tranh với những điều mới, điều khó khăn…có như vậy mới mong đạt được thành công, phát minh ra được những điều có ích cho xã hội. Như vậy, khoa học là vô cùng cần thiết trong cuộc sống. Và để làm khoa học, người ta cần phải có được lòng đam mê, yêu nghề, cùng tinh thần khoa học và dũng khí, lòng kiên định theo đuổi đam mê. Có như vậy, đất nước, xã hội mới ngày càng phát triển bằng những phát minh mới có ích cho con người, cho nhân loại.
Bình luận ý kiến sau _ Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí
658
Bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Đê – nông (364-254 TCN): Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn. Hướng dẫn Bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Đê – nông (364-254 TCN): Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn. Bài làm Con người ta sinh ra, ai cũng có một bản năng cũng như nhu cầu vô cùng bình thường, đó là nói chuyện và nghe người khác nói. Những điều này được gọi chung là giao tiếp, ứng xử của con người. Nhưng giao tiếp ứng xử sao cho đúng thì chưa hẳn ai cũng làm được. Như nhà triết học Hi Lạp Đê- nông đã từng nói: “ Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn.” Tại sao Đê- nông lại nói như vậy để nhắc nhở chúng ta? Và tại sao lại phải nghe nhiều hơn và nói ít hơn? Khi chúng ta nói và nghe, đó là phương thức đơn giản nhất để trao đổi thông tin giữa con người với nhau. Tất cả mọi tâm tư, suy nghĩ, tình cảm đều có thể được biểu đạt bằng phương thức này. Theo lẽ thường, khi một người nói phải có người nghe, đó là phép lịch sự tối thiểu. Khi thấy người khác biểu đạt ý kiến, chúng ta nên dừng lại và lắng nghe người ta trình bày quan điểm của mình. Khi nói, ta không nên nói quá to, không nên khua tay múa chân trước mặt người đối diện. Ta nên nhìn thẳng vào người đối diện, với nét mặt nhẹ nhàng, tươi vui, không nên có những biểu hiện khó chịu, khiếm nhã khiến người nghe cảm thấy không thoải mái. Nói những điều mình biết, mình hiểu, không nên khoa trương, khoác lác mà nói một cách chân thành, mộc mạc. Khi giao tiếp, người ta sẽ chú ý đến cách người đối diện giao tiếp, lắng nghe để đánh giá người đó. Vì vậy, ta cũng cần phải biết cách lắng nghe người khác khi họ đang trình bày một vấn đề cho chúng ta. Phải chú ý lắng nghe, rồi sau đó suy nghĩ, tìm hiểu xem người ta đang nói điều gì để rút ra được mấu chốt của vấn đề. Việc lắng nghe rất quan trọng trong giao tiếp. Lắng nghe giúp chúng ta tiếp thu được những điều mà người khác nói, đó có thể là vấn đề mà ta quan tâm, ta chưa biết, nghe người khác nói sẽ giúp ta thấu hiểu vấn đề một cách sâu xa nhất. Nhưng ta cũng phải lắng nghe có chọn lọc và thông minh. Không phải người khác nói điều gì dù sai hay đúng ta cũng phải nghe. Ta nghe để biết nếu họ đang nói điều sai, hoặc có những cử chỉ không đúng mực, ta có thể góp ý để họ tốt hơn, không trở thành người bất lịch sự. Ngược lại nếu người ta đang nói những điều đúng đắn, việc lắng nghe sẽ giúp ích cho ta rất nhiề điều trong cuộc sống. Trong mọi trường hợp, khi giao tiếp ta cần phải chủ động tìm hiểu, phân tích vấn đề để tìm ra giá trị của câu chuyện người đối diện đang nói với mình. Chúng ta nên nói những điều ta biết, và lắng nghe những điều ta chưa hiểu, chưa nắm rõ, chưa biết về mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Ta cũng cần phải sống thật, cũng như chia sẻ những điều ta biết với mọi người. Sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau sẽ giúp cho tất cả chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, mở rộng đhược tri thức cũng như những mối quan hệ trong cuộc sống.
Bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Đê – nông (364-254 TCN) _ Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn.
652
Bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313-235 TCN): Người chê ta mà chê phải là thầy của ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy. Hướng dẫn Bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313-235 TCN): Người chê ta mà chê phải là thầy của ta; người khen ta mà khen phải là bạn ta; những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy. Bài làm Tuân Tử ( 313- 235 TCN) là một nhà văn, nhà triết học lỗi lạc thời chiến quốc. Ông thường khuyên con người ta phải tích đức, hướng thiện và phải được dạy dỗ cẩn thận mới có thể nên người, đồng thời cũng thường xuyên có những lời động viên, lời khen ngợi người khác khi cần thiết. Nhưng lời khen cũng như lời chê cũng phải đặt đúng lúc, đúng chỗ mới có tác dụng. Ông đã từng nói rằng: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy.” Câu nói này thật sự mang hàm ý sâu xa và không phải ai cũng hiểu được hết sự sâu sắc mà tác giả muốn gửi gắm trong đó. Đầu tiên, Tuân Tử nói rằng: “ người chê ta mà chê phải là thầy ta.” Thế nào là chê phải? Chê phải tức là khi ta làm điều gì sai, người khác thấy ta đang làm sai và thẳng thắn chỉ ra lỗi sai của mình, để từ đó mình có thể thấy được cái sai của bản thân và rút kinh nghiệm, sửa chữa cái sai. Theo lẽ thường, chẳng có ai thích bị người khác chê mình. Nhưng nếu như là người có hiểu biết, ta phải biết phân biệt được đâu là lời chê thật lòng, và có ý muốn tốt cho ta. Tất nhiên trong cuộc sống có rất nhiều người ghen ghét, đố kỵ, luôn tìm cách chê bai, nói xấu ta một cách ác ý, muốn ta không tốt lên được. Những lúc như vậy ta phải thật tỉnh táo để phân biệt được đâu là những lời chê mang ý xấu để bỏ ngoài tai, còn đâu mới là những lời chê mang tính góp ý, giúp ta thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn. Khi ta biết tiếp thu ý kiến của người khác để thay đổi, khi đó ta mới có thể hoàn thiện bản thân và thành công được. Ngược lại, nếu cứ làm theo ý mình mà không biết tốt xấu thế nào, thì trước sau gì ta cũng sẽ gặp thất bại trong cuộc sống. Tiếp theo, ông có nói đến những người thường đưa ra những lời khen dành cho ta. Tất nhiên là những lời khen phải. Đó là những lời khen chân thành, không vì lợi ích cá nhân mà muốn khen những điểm tốt thật sự của ta, để ta có động lực cố gắng làm tốt hơn. Dù được khen sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy dễ nghe và tự hào, nhưng cũng phải tỉnh táo để biết đâu là khen thật và đâu là những lời xu nịnh ta. Nếu tin vào những lời xu nịnh, sẽ dẫn đến bản tính tự kiêu, không biết bản thân mình thế nào, trước sau gì cũng sẽ gặp thất bại. Những người thật lòng dành cho ta những lời khen, chính là những người bạn, những người tri kỷ mong muốn ta tốt đẹp hơn. Cuối cùng, Tuân Tử muốn nói đến những kẻ luôn xu nịnh người khác, đó chính là kẻ thù của chúng ta. Họ khen ta chỉ để xu nịnh nhằm vụ lợi cho bản thân họ mà không xuất phát từ sự ngưỡng mộ, tấm lòng chân thành của họ đối với ta. Những lời khen đó vô tình khiến cho ta trở nên tự cao tự đại, dường như là một con dao hai lưỡi khiến cho ta ngày càng trở nên kém cỏi, sống trong những lời xu nịnh, dối trá mà ảo tưởng về bản thân. Có thể nói, Tuân Tử chỉ bằng một câu nói nhưng đã răn dạy mọi người rằng phải luôn ghi nhớ, chọn bạn mà chơi trong cuộc sống. Phải luôn tỉnh táo, lý trí để biết đâu là những người thật lòng với ta, không vì những lời nói ngon ngọt mà đánh mất bản thân, đồng thời không vì những lời chê bai mà vội vàng oán trách người khác. Có như vậy, tất cả chúng ta mới có thể hoàn thiện và trở nên thành công trong cuộc sống.
Bình luận ý kiến sau đây của Tuân Tử (313-235 TCN) _ Người chê ta mà chê phải là thầy của ta_ người khen ta mà khen phải là bạn ta_ những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy.
801
Bình luận ý kiến Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới Hướng dẫn Bình luận ý kiến Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới Từ bao lâu nay tri thức chính là nguồn vô tận của con người. của cải vật chất có thể mất đi bất cứ lúc nào nhưng chính những thứ như tri thức hay king nghiệm cóp nhặt được sẽ không bao giờ mất đi, hay nói cách khác con người có thể xây dựng lại mọi thứ từ đâu từ tri thức. vậy trải qua biết bao nhiêu sóng gió con người có thể tìm đến với tri thức từ đâu? Phải chăng là từ những nguồn tài liệu quí giá từ sách? Giống như người Do Thái đã nói, con người có thể mất đi nhiều thứ nhưng không bao giờ mất đi tri thức, khi mà họ cố công tạo dựng. Và một lần nữa họ khẳng định rằng sách là thứ vô cùng quí giá thiêng liêng. Bởi theo những người xưa để lại những kinh nghiệm sống và những kiến thức quí báu được sách lưu trữ lại. ngày xưa khi giấy còn chưa được phát minh thì tre hoặc nứa được dùng để viết chữ được dùng để lưu trữ những tài liệu quan trọng. nhưng khi có sự xuất hiện của giấy sách chính là công cụ lưu trữ tân tiến và để lại cho hậu thế những kiến thức cũng như kinh nghiệm sâu rộng được chắt chiu qua hàng nghìn năm Hơn thế nữa sách còn là nguồn vô tận để mở ra những nguồn kiến thức liên quan tới địa lí hay sinh học. những kiến thưc về sự vật hiện tượng những vùng đất trên trái đất những hiện tượng mà con người có thể nghiên cứu có thể được ghi chép một cách tỉ mỉ. Và nhờ có sách những thành quả về lĩnh vực này được tiếp thu và tiếp nối một cách rộng rãi hơn bao giờ hết. Cuối cùng sách cong lầ một nguồn kho tàng quí cho những vấn đề liên quan tới xã hội và con người. Những vấn đề về lịch sử phát triển của con người về tư duy những câu chuyện giải thích muôn hình vạn trạng về đời sống con người. ở đó có cả phong tục tập quán có cả văn hóa và sự hiểu biết của con người. sách giống như hạt giống nuôi dưỡng tâm hồn con người Sách là một thứ có thể khiến con người vượt trội hơn với những kiến thức được tích lũy từ ngàn đời nay. Con người từ đó cần biết trân trọng những đóng góp và kiến thức trong sách giống như quí trọng trân trọng những gì thuộc về tinh hoa của một con người. Nguồn: Bài văn hay
Bình luận ý kiến Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới
474
Đề bài: Bình luận ý kiến Đọc sách là tìm đến một thế giới khác? Bài làm Sách là một món giải trí, xưa nay người ta vẫn nói thế, không sai. Nhưng quả là một môn giải trí kì lạ: khác mọi thú vui khác ở đời, nó giải trí bằng cách, không để cho ta được yên. Đọc sách là tìm đến một thế giới khác? Trong trăm nghìn lời bàn bất tận về sách và về hành vi đọc sách của con người xưa nay, hãy nghe chẳng hạn một cách nghĩ về sách của Linda Lê, một nhà văn gốc Việt hiện đang sống ở Pháp. Chị ấy viết: “Chalamov nói: Sách là sự bất tử của chúng ta. Chúng rì rào bao nhiều điềm báo đến mức cuối cùng chúng ta quyết định phải lắng nghe, chúng thổi ngọn gió tranh biện và làm xáo động niềm yên tĩnh của chúng ta. Kẻ nào chiếm lĩnh được một cơn lốc những từ mang đầy những câu hỏi sẽ được lôi kéo vào một vận động ở đó sự tự tháo lui lại đưa đến một cuộc tái chiếm; anh tự rứt ra khỏi chính mình để có thể học được cách tái tạo lại mình tốt hơn, bởi món chiến lợi phẩm có được bằng cách này chỉ có thể là một tài sản nếu nó được dùng để trả giá trong các cuộc du hành vào bên trong những điều kì lạ. Ở đây ta đem những niềm tin chắc của mình đổi lấy những chóng mặt và phân vân”. Còn Marie Darrieussecq, một nhà văn nữ khác thì nói bằng thơ: Đọc là biến đi khỏi thế giới Đọc là tìm lại được thế giới Đọc là còn lại một mình với cả thê giới trong lòng bàn tay… Quả vậy, sách và hành vi đọc chứa trong nó một mâu thuẫn kì lạ và kì diệu. Khi đã quyết định cầm một cuốn sách lên và bắt đầu đọc, là ta đã rút lui khỏi thế giới này, để tìm đến một thế giới khác. Là rút lui vào cô đơn đến chỉ còn lại mỗi một mình, mà kì thay lại một mình với cả một thế giới khác, mênh mông nhưng nén chặt trong lòng bàn tay. Thế giới nào vậy? Thế giới rì rào của những điềm báo. Định nghĩa của Linda Lê thật hay: sách là nơi chứa đầy những điềm báo. Cầm một cuôn sách lên cũng giống như ta bắt đầu xóc một ống thẻ bói vậy. Không gì bí mật và nguy hiểm, đe dọa bằng một ống thẻ bói, nó chứa đựng vô số dự báo may và rủi, được và mất, hạnh phúc và đau khổ, thành công và thất bại, thậm chí tử và sinh… đến nỗi cuối cùng không dừng được nữa ta quyết định lắng nghe, lắng nghe tiếng nói của số phận, của định mệnh. Để mong tìm được một câu trả lời, cho lòng lắng đi, yên tĩnh lại. Nhưng mà nào có được. Sách thổi vào đầu óc, vào tâm hồn chúng ta ngọn gió của sự tranh biện, nhiệm vụ của một cuốn sách, cái mục đích cốt yếu vì đó mà nó được viết ra, sứ mệnh của nó, nghịch lí thay, lại là lay chuyển, đánh giật, phá tan những niềm tin đinh ninh đến tưởng chừng tất yếu, đến ngỡ đã là cuối cùng của chúng ta. Một cuốn sách hay không mang đến những câu trả lời mà đổ ra trước mắt ta, vào trong đầu, trong lòng ta một mớ những câu hỏi, một cơn lốc những câu hỏi, ồ ạt, dồn dập, cả những câu hỏi ta chưa từng ngờ, xáo tung tất cả lên, đặt lại tất cả. Và diễn ra điều kì diệu này: ta tự tháo lui Linda Lê nói – tháo lui khỏi gì? Khỏi chính mình, khỏi những chân lí đinh ninh của mình, tự làm trống rỗng chính mình – có lẽ có chút nào đó giống như trong hành vi thiền vậy – để tạo điều kiện cho một cuộc tái chiếm, cuộc tái chiếm của những sự thật mới, những chân lí và niềm tin mới, một cuộc tự tái tạo lại mình. Đọc một cuốn sách là được sinh ra lần nữa. Cho ra đời một “mình” mới. Tự sáng tạo lại mình… Cho đến cuốn sách sau. Mỗi lần đọc là một lần tự phá hoại, tự phá hủy, và tự xây lại, mãi mãi không ngừng. Chính vì vậy mà Linda Lê bảo rằng đọc sách là phiêu lưu vào thế giới của những điều kì lạ, nơi ấy người ta đem niềm tin chắc và sự yên tĩnh an lành của mình đổi lấy những cơn chóng mặt và phân vân. Đọc sách, vậy đó, bạn nên biết, là một hành vi nguy hiểm. Bởi sự sáng tạo mới, sự tái tạo nào cũng chất đầy hiểm nguy. Hay nói cách khác, không chấp nhận hiểm nguy thì chẳng bao giờ có sáng tạo. Sẽ là yên tĩnh chết. Sách sinh ra là để phá vỡ sự yên tĩnh đó. Để cho con người và thế giới này được tái tạo lại không ngừng. Chính vì thế mà Chalamov mới nói: Sách là sự bất tử của chúng ta. Nó tái tạo con người và thế giới, từng ngày. Khai thiên lập địa lại mỗi ngày. Bạn có muốn được tham gia và hưởng thụ cuộc khai thiên lập địa bất tận ấy không? Xin hãy cầm cuốn sách lên. Và đọc. Hành vi đẹp nhất của sinh vật được gọi là con người.
Bình luận ý kiến Đọc sách là tìm đến một thế giới khác_
946
Đề bài: Hãy bình luận ý kiến sau đây của Các Mác: "Tình bạn chân chính là viên ngọc quý". Bài làm Cùng với tình yêu, nhiều người trong cuộc đời còn có tình bạn, sống trong tình bạn. Đã có nhiều ý kiến, nhiều câu ca, câu thơ nói về tình bạn. Nhà triết học vĩ đại Các Mác từng nói: “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý”. Bình luận về tình bạn đẹp Ngọc là một loại đá – kim loại rất cứng, màu sắc óng ánh tuyệt đẹp, rất quý hiếm; quý hiếm hơn cả vàng, thường được chế tác thành đồ nữ trang, pho tượng. Ngọc có nhiều loại, đủ màu sắc như hồng ngọc, bạch ngọc, ngọc lam, ngọc phỉ thúy, bích ngọc, ngọc trai. Các vua chúa ngày xưa hay dùng ngọc để làm quốc ấn. quốc bảo – biểu tượng cho vương triều. Tình bạn chân chính là tình bạn trong sáng, tâm đầu ý hợp, thủy chung, hết lòng yêu thương nhau, tôn quý nhau; không vụ lợi, không dung tục tầm thường. Các Mác dùng lời nói so sánh “tình bạn chân chính là viên ngọc quý" nhằm hình tượng hóa, cụ thể hóa tình bạn chân chính là tình bạn đẹp, tình bạn quý, rất đáng trân trọng, ngợi ca. Nếu ngọc có nhiều loại thì tình bạn cũng có nhiều thứ: bạn học thời ấu thơ, bạn cùng trang lứa (đồng tuế), bạn cùng quê (đồng hương), bạn đồng khoa, bạn buôn bán làm ăn, bạn đồng đội, bạn chiến đấu… Tại sao “tình bạn chân chính là viên ngọc quý?". Bạn chân chính yêu thương nhau, quý trọng nhau như anh em ruột thịt, cùng chung chí hướng, giúp đỡ nhau học hành, làm ăn. Bạn chân chính sẽ cùng nhau chia ngọt sẽ bùi với nhau, nghèo khổ, hoạn nạn có nhau, hết lòng giúp đỡ lần nhau vượt qua vận hạn. Bạn chân chính vào sinh ra tử có nhau, nghèo khổ, vinh hiển đều gắn bó với nhau, trọn đời sắt son chung thủy. Tình bạn tri âm, tri kí, tình bạn chiến đâu, tình đồng chí… là viên ngọc quý, sáng trong mãi trong cõi đời. Sống trong tình bạn chân chính, ai cũng tự hào cảm thấy mình vô cùng hạnh phúc, “lớn lên” trong cuộc đời, tự tin trước mọi gian nan thử thách. Bá Nha – Tứ Kì. Lưu Bình – Dương Lễ, Mác – Ang-ghen… là những gương sáng tuyệt đẹp về tình bạn chân chính thủy chung. Có những câu ca nói về niềm hạnh phúc được sống trong tình bạn chân chính, được gặp gỡ bạn hiền: Ra đi gặp được bạn hiền, Sướng bằng ăn quả đào tiên trên trời. (Ca dao) Cụ Tam nguyên Yên Đổ có bài thơ kiệt tác Khóc Dương Khuê nói lên một tình bạn thủy chung của hai nhà nho ngày xưa. Một tình bạn chân chính tuyệt đẹp. Lời thơ thấm đầy lệ: Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn, Phận đấu thăng chẳng dám than trời. Bác già tôi củng già rồi Biết thôi thôi thế thì thôi mới là (…) Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương. Tuổi già hạt lệ như sương, Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan. Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu ca ngợi tình bạn chiến đấu của hai người lính cụ Hồ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), nhiều người trong chúng ta đã được học và nhớ: Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí! Trên đời, có bạn chân chính sắt son thủy chung, lại có thứ bạn sớm nắng chiều mưa của bọn lừa thầy phản bạn. “Tin bạn mất vợ, tin bợm mất bò” là câu tục ngữ chê trách “tình bạn” của kẻ bất lương. Có trải qua hoạn nạn, khó khăn mới đo được tình bạn; tình bạn chân chính hay cách sống của kẻ vụ lợi, cơ hội: Khi vui thì vỗ tay vào, Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai! (Ca dao) Sống ở đời có mấy người không có bạn? Bạn thân hay bạn sơ. Có một tình bạn chân chính, bạn tri âm tri kỉ đâu phải dễ. Nguyễn Sương, một danh sĩ đời Lê từng nói: “Hồ hải thập niên tri kỉ thiểu”. Nghĩ về những gương sáng về tình bạn trong cuộc đời xưa nay, gần xa nhắc lại câu nói của Các Mác về tình bạn, tuổi trẻ mỗi chúng ta đang sống trong thời hội nhập của nền kinh tế thị trường, chắc đã nhìn thấy bao kẻ ăn chơi đua đòi mà sa ngã. Câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là bài học sâu sác mà mỗi chúng ta cần nhớ khi chọn bạn và kết bạn.
Bình luận ý kiến “Tình bạn chân chính là viên ngọc quý”
797
Bình luận ý kiến“Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời” – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Đã từ lâu, sách luôn là một món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sông hàng ngày của chúng ta. Sách luôn là một kho tàng huyền bí làm kích thích sự tò mò của biết bao người. Nó càng bí ẩn bao nhiêu thì càng gợi sự say mê của con người bấy nhiêu. Chúng ta có thể sống thiếu bạn nhưng không thể học thiếu sách được. Sách là một người thầy, người bạn luôn sát cánh bên ta giúp ta hiểu nhiều hơn, chững chạc hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Sách là chiếc chìa khóa mở mang tiềm thức, tầm hiểu biết và làm đẹp cuộc đời. Cho nên khi nhận định về giá trị của sách, nhà văn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. Sự thật sách có được một giá trị to lớn và kì diệu đến thế không? Trong cuộc sống xã hội, nếu như không có sách báo cho môi người giải trí sau những giờ phút căng thẳng làm việc, không có một nguồn thông tin nào để biết được mọi diễn tiến ở trong và ngoài nước, không có một kiến thức mới lạ nào… thử hỏi cuộc sông, xã hội đó sẽ ra sao? Do vậy, chính nhờ có sách báo mà đời sống con người thoải mái hơn. Sách bao giờ cũng mang đến cho chúng ta nhiều điều mới mẻ trong cuộc sống. Sách có nhiều loại, nhiều đề tài khác nhau. Do đó, nó giúp cho ta có nhiều kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đến với sách, chúng ta không chỉ biết được cả những việc đã xảy ra từ thời xa xưa, những vấn đề liên quan ở trên cung trăng hoặc ở dưới đáy đại dương. Xem truyện cổ tích, ta biết được cuộc sông, ước mơ của cha ông ta thuở trước. Sách lịch sử giúp ta hình dung những trận ác chiến với quân thù, những thời vàng son rực rỡ qua các triều đại… Sách còn giới thiệu với ta những kinh nghiệm, những thành tựu về khoa học, kiến thức về nông nghiệp, công nghiệp và cả về chính trị nữa. Ngoài ra, sách còn là hướng dẫn viên đưa ta đến những danh lam thắng cảnh, những kì quan trên thế giới. Tất cả những điều trên là “chân trời mới” như lời nhận định của. nhà văn. Sách còn dạy cho ta biết được bao điều hay lẽ phải trong cuộc đời, giúp ta sống ngày một hoàn thiện hơn nữa về nhân phẩm, đạo đức con người. Cho nên, ta có thể nói rằng sách là người bạn thân vô cùng hữu ích, mang lại niềm tin yêu, vui vẻ đến cho ta. Sách không những giúp ta mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn mà còn mang lại nguồn hạnh phúc, sự thanh thản cho tâm hồn. Sách vừa là người bạn vừa là người thầy luôn có mặt trong cuộc sống của ta. Do đó, lời nhận định trên của M. Go-rơ-ki là một quan niệm đúng đắn. Nhưng không phải bất cứ loại sách nào cũng là người bạn tốt cho con người. Bao giờ cũng vậy, bên cạnh cái tốt luôn có mặt cái xấu. Cho nên, chúng ta cần phân biệt được loại sách chứa đựng nội dung tốt và các loại sách có nội dung xấu. Đọc sách tốt, ta có được những hiểu biết đúng đắn về cuộc sông, từ đó tình cảm yêu ghét sẽ đặt đúng chỗ rạch ròi. Sách tốt góp phần giáo dục ta biết sống nhân ái, biết khát vọng để vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện, giúp ta có những ước mơ, lí tưởng tốt đẹp. Rõ ràng “mọi quyển sách tốt đều là bạn hiền”. Bên cạnh độ, các loại sách xấu cũng đã ảnh hưởng không ít đến con người. Sách xấu là những văn hóa đồi trụy, đen tối. Chúng xuyên tạc cuộc sống và con người, đẩy ta vào u mê, ngu muội. Những loại sách ấy không dạy cho ta biết sống yêu thương, lành mạnh mà lại bôi nhọ xã hội, làm đen tối tâm hồn trong sáng của thanh thiếu niên, khiến ta phát sinh ra những ý nghĩ xấu xa. Loại sách ấy lại kích động, gây nên những thị hiếu thấp kém, những lối sống đồi trụy. Xã hội sẽ ra sao nếu thanh thiếu niên đều say sưa đọc sách xấu, làm những việc xấu xa hại đến bản thân, gia đình và xã hội đất nước? Do vậy, sách xấu không thể lan tràn trong xã hội, không thể để trí óc con người bị nhồi nhét bởi những kiến thức không ra gì lại còn có hại nữa. Muốn thế chúng ta phải xa lánh những loại sách ấy, phải biết chọn sách phù hợp với lứa tuổi của mình. Chúng ta đọc sách là để giải trí một cách trong sáng, lành mạnh, coi đó là một thú vui tinh thần. Bên cạnh đó, ta nên coi sách là một cách tự học, tự bồi dưỡng – vì vậy, phải biết đọc sách đúng lúc, đúng chỗ. Không phải lúc nào cũng đọc như con mọt sách hay đọc sách để rồi không còn thực tế như chàng Đôn Ki- hô-tê nhà quí tộc tài ba xứ Mantra. Chúng ta phải biết sắp xếp thời gian hợp lí, đọc sách đúng cách để biến kiến thức của sách thành kiến thức của riêng mình. Sách là người bạn tốt cho ai biết nâng niu, trân trọng và biết học hỏi, tìm tòi. Chúng ta sẽ không tiến bộ nếu lười đọc sách, lại càng có hại hơn nếu đọc sách mà không hiểu hoặc đọc bừa bãi… Tags:Văn 8
Bình luận ý kiến“Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời” – Đề và văn mẫu 8
1,001
Đề bài: Bình luận ý thơ sau đây của nhà thơ Tố Hữu. Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Bài làm “Phải sống như thế nào?” là một câu hỏi tự đặt ra, luôn luôn trăn trở với nhiều người trong cuộc sống hằng ngày. Đó là một câu hỏi mà nhiều người trong chúng ta từng phấn đấu thể hiện không mệt mỏi. Thi sĩ Tố Hữu đã từng viết: “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?” Có thể nói đó là một câu thơ hay, một ý thơ đẹp, nhiều gợi mở, từng trở thành hành trang tâm hồn của bao bạn trẻ ngày nay. Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? 1. Vậy thế nào là sống đẹp? Cách sống là cách làm người; sống đẹp là sống đúng đạo lí của dân tộc, sống đúng gia phong nếp nhà, biết “giấy rách phải giữ lấy lề”. Sống đẹp là cách sống có văn hóa, có học, từ cách ăn mặc đi đứng đến ngôn ngữ ứng xử từ hành động thái độ đến việc làm cụ thể đều đúng mực, có ích, được mọi người đồng tình và ngợi khen, cổ nhân lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm chuẩn mực đế đánh giá nhân cách kẻ sỉ để phân biệt quân tử với tiểu nhân. Ngày nay, nhân dân ta lại lấy gương người tốt việc tốt, nêu cao những con người biết sống, học tập, lao động theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để hướng tới và vươn lên. 2. Sống đẹp phải tùy thuộc vào lứa tuổi, vị thế xã hội. Các em nhỏ chăm ngoan, vệ sinh sạch sẽ, học giỏi là sống đẹp. Các cụ già “tuổi xưa nay hiếm” lại nêu cao khẩu hiệu: “Sống khỏe, sống vui, sống có ích” để làm gương cho con cháu noi theo. Một em bé chăn trâu đã dũng cảm nhảy xuống dòng sông cứu bạn khỏi chết đuối là sống đẹp. Một cán bộ biên phòng dũng cảm băng qua dòng nước lũ để cứu dân là sống đẹp. Một Việt kiều, một cán bộ sứ quan Việt Nam đã nêu cao, làm nổi bật những nét bản sắc của nhân dân ta trước bạn bè năm châu bốn biển là sống đẹp. 3. – Phải biết sống đẹp trong đời thường hằng ngày. Siêng năng làm ăn, cần cù lao động, sống giản dị khiêm tốn, học hành chăm chi… là sống đẹp. Tham ô, lãng phí, đè đầu cưỡi cổ nhân dân là kẻ tha hóa, bất lương. Cán bộ, công chức sống đẹp là phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm theo điều Bác Hồ dạy là sống dẹp. Thầy, cô giáo thương yêu, chăm lo dạy bảo học sinh, coi học sinh như con em ruột thịt của mình, phấn đấu dạy tốt, dạy giỏi là sống đẹp. Thầy thuốc hết lòng săn sóc bệnh nhân, chữa bệnh giỏi, lương y như từ mẫu là sống đẹp. Nhân ái là truyền thống đạo lí cao đẹp của nhân dân. Tình thương đã tỏa sáng tâm hồn mỗi con người Việt Nam. Các câu ca, câu hát: “Lá lành đùm lá rách”, "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng” luôn luôn được hàng triệu người nhắc đi nhắc lại và làm theo. Người có lòng nhân sống yêu thương săn sóc mọi người là sống đẹp. Gia huấn ca tương truyền là của Nguyễn Trãi được các cụ già nhắc lại để khuyên bảo con cháu biết sống đẹp đế giữ lấy gia phong, giữ lây nếp nhà: Khi còn bé tại gia hầu hạ, Dưới hai thân vâng dạ theo lời, Khi ăn, khi nói, khi cười, Vào trong khuôn phép, ra ngoài đoan trang… Thời kháng chiến chông Mĩ tuổi trẻ Việt Nam đã xả thân anh dũng chiến đấu để sống đẹp, nêu cao tâm thế và lí tưởng: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thẳng!”. 4. “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn'?” – Đó là một câu thơ, câu hỏi rất thú vị. Một anh bạn đã nói: “Chí hướng của mình là học giỏi hôm nay để làm giàu ngày mai”. Lại có một cô nữ sinh lớp 12 tâm sự: “Phấn đẩu thi tốt nghiệp, thi đại học đạt điểm cao, thi đỗ vài trường mà mình mơ ước”.
Bình luận ý thơ sau đây của nhà thơ Tố Hữu. Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn_
748
Bình luận đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong Quan Âm Thị Kính Hướng dẫn Bình luận đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong Quan Âm Thị Kính Quan Âm Thị Kính là một tích chèo quen thuộc với đông đảo công chúng độc giả Việt Nam. Câu chuyện xoay quanh cuộc đời Thị Kính, một người con gái đức hạnh nhưng lại trải qua bao nỗi trái ngang. Ngay ở phần đầu vở diễn, chúng ta đã thấy “nhân vật Thị Kính không chỉ chịu khổ vì bị ngờ oan mà còn mang nỗi nhục của một thân phận nghèo hèn bị kẻ giàu sang, tàn ác khinh bỉ”. Cuộc đời của Thị Kính là cuộc đời của những nỗi oan không có cách nào giải được. Những oan khiên ấy có lẽ bắt đầu từ cái ngày mà Thị Kính đặt chân về nhà chồng. Thị Kính là con gái Mãng ông, gia đình cô là một gia đình nông dân nghèo thực sự. Thế nhưng cô lại lấy Thiện Sĩ, con của một gia đình giàu có trong vùng. Cuộc hôn nhân không “môn đăng hậu đối” ấy dường như là điềm báo trước những nỗi oan khiên và là căn nguyên bắt đầu mọi việc. Mối oan “hại chồng” của Thị Kính bắt đầu từ một hành động tình ngay nhưng lý gian. Nàng bị bắt gặp khi đang cầm dao kề lên cổ của chồng. Dù đã hết mực ra sức biện minh, thế nhưng không một ai trong gia đình của Sùng Ông, Sùng Bà muốn tin rằng: Thị Kính đang dùng đao để cắt Sợi râu mọc của chồng. Câu chuyện cứ thế được đẩy lên khiến Thị Kính bị rơi vào một nỗi oan không sao giải được “… Lấy vợ cho con thì phải kén họ. Tôi đã bảo là phải kén những nơi công hầu kia mà! Giống phượng giống công Giống nhà bà đây giống phượng giống công Còn tuồng bay mèo mả gà đồng lẳng lơ…” Hoặc: “Trứng rồng lại nở ra rồng Liu đìu lại nở ra dòng liu điu Này Ị Nhà bà đây cao môn lệnh tộc Mày là con nhà cua ốc Cho nên chữ tam tòng mày ăn ở đơn sai”… Lời của Sùng Bà quả là vô cùng độc đoán và cay độc. Nó thể hiện rõ sự tàn ác dã man của những kẻ giàu sang quyền thế. Cái cách mà Sùng Bà đổ tội cho Thị Kính cũng vậy. Nó hoàn toàn chỉ là những phán quyết có tính chất một chiều theo kiểu chủ nhà – con ả ở trong màn ấy Thị Kính cũng bị đẩy từ vị trí một người con dâu xuống thân phận một đứa ở trong nhà. Nàng chỉ biết ngậm đắng cay mà không thể có cách nào cự được. Như vậy rõ ràng ở đoạn đầu của vở chèo này, nỗi đau của Thị Kính không chỉ là nỗi oan của một cô gái bị ghép vào tội “giết chồng”. Nỗi đau ấy còn là nỗi đau câm lặng của thân phận con ong cái kiến. Cái nghèo và sự thấp hèn đã khiến Thị Kính không thể có lời nào để tự minh oan. Nó đẩy Thị Kính đến bên bờ vực và cướp đi toàn bộ cái ước mơ hạnh phúc của người con gái đức hạnh, thủy chung. Nỗi oan của Thị Kính vì thế mà còn tiêu biểu cho bao kiếp người lầm than nhỏ bé khác trong xã hội phong kiến lạc hậu ngày xưa.
Bình luận đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong Quan Âm Thị Kính
581
Bình luận đoạn trích Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố Bài làm “Tức nước vỡ bờ”, câu tục ngữ nêu một quy luật của tự nhiên, mà có ý nghĩa xã hội sâu sắc, thâm thuý vô cùng. Tác giả sách giáo khoa đã vận dụng cách nói dân gian ngắn gọn, rất thông minh ấy để đặt tên cho chương XVIII cùa tiểu thuyết Tắt đèn khi chọn đưa vào sách giáo khoa từ buổi đầu xây dựng nhà trường XHCN Việt Nam, cũng thật sâu sắc và thâm thuý vô cùng. Nhờ vậy, ngày nay đọc lại chương truyện này, chúng ta dễ dàng định được hướng đi, để cảm nhận những tình huống hấp dẫn, những hình tượng nhân vật sống động, điển hình. Những điều gì làm “tức nước”? Khi nào thì nước phá vỡ bờ? Nước phá, bờ vỡ… ra sao? Ý nghĩa của cuộc công phá và sự đổ vỡ? Nghĩa đen, nghĩa bóng? Quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội? Những điều gì làm tức nước? Trước hết, ấy là dồn dập những trận dông tố bất công phi lí từ chính sách thuế thân quái gở của thực dân Pháp, đến những thủ đoạn bóc lột trắng trợn của gia đình nhà Nghị Quế, những hành động dã man của bọn lí dịch trong làng dội xuống gia đình chị Dậu. Chính chị Dậu – nạn nhân trực tiếp của những cơn dông tố ấy – ở giữa nhà lí trưởng, đã phải hét to lên những lời uất nghẹn này: “Ôi trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai gánh khoai mới được hai đồng bảy bạc. Tưởng rằng đủ nộp tiền sưu cho chồng, thì chồng tôi khỏi bị hành hạ đêm nay. Ai ngờ lại còn suất sưu của người chết nữa! Khốn nạn thân tôi! Trời ơi! Em tôi chết rồi còn phải đóng sưu, hở trời?” Ba lần người nông dân khốn khổ ấy kêu trời, hỏi đất! Nhưng làm gì có trời để kêu, để hỏi? Chỉ có bọn đầu trâu mặt ngựa mà thôi. Chúng không có tai để nghe, chúng không có tim để rung cảm. Chúng chỉ biết văng tục, chửi bới, ức hiếp, đánh đập, hành hạ người khác một cách dã man. Đại diện cho bọn trâu ngựa ấy là tên cai lệ và tên người nhà lí trưởng. Chúng chính là những cơn bão tố, những ngọn hồng thuỷ trực tiếp làm cho cái mặt nước cuộc đời, những con sóng căm uất của chị Dậu đầy lên, căng ứ không thể kìm nén được! Khi anh Dậu vừa tỉnh lại, run rẩy cất bát cháo kề vào miệng định cố ăn – như cố níu giữ chút hơi tàn của cuộc sống – thì chúng sầm sập tiến vào nhà, với roi song tay thước, dây thừng, hệt như những con quỷ dữ từ âm phủ hiện về. “Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu! Mau!”. Cái giọng khàn khàn do hút nhiều xái cũ của tên cai lộ thổi tắt phụt chút hơi tàn của anh Dậu “khiến anh lăn đùng ra đó, không nói dược câu gì”. Rồi tới tấp, dồn dập, hắn quát mắng, chửi bới, đe doạ chị Dậu. Trong khi người đàn bà khốn khổ vừa ôn tồn, vừa tha thiết xin khất thuế, thì hắn cứ khăng khăng một mực đòi cho kì được. Hắn gọi chị Dậu là “mày”, xưng là “cha”, rồi xưng “ông”. Hắn doạ “dỡ nhà”, rồi doạ “trói cổ” anh Dậu điệu ra đình. Cuối cùng, hắn giật phắt cái thừng trong tay người nhà lí trưởng, sầm sập đến chỗ anh Dậu. Và trắng trợn, tàn bạo hơn nữa, tên ác quỷ ấy đã… đánh chị Dậu. Hắn “bịch vào ngực chị mấy bịch”, rồi “tát vào mặt chị một cái đánh bốp”… Mỗi lần chị Dậu van xin, ngăn cản hắn, đỡ đòn cho anh Dậu, là mỗi lần tên cai lệ hung hăng thêm. Vừa đánh, vừa chửi chị Dậu, hắn vừa “sấn đến”, “nhảy vào” cạnh anh Dậu. Nhà văn đã sử dụng những từ ngữ thật sát hợp, ngắn gọn, miêu tả thật chính xác cái bản chất ác thú, không còn tính người của tên tay sai mạt hạng trong cái guồng máy bạo tàn của bọn quan lại bấy giờ. Nổi bật là những lời nói thô lỗ của hắn, như câu “Mày định nói cho cha mày nghe đấy à…”, “trói cổ thằng chổng nó lại”… và những từ tượng thanh “bịch… bịch”… “… bốp”. Chị Dậu càng lùi, càng nhịn, thì tên cai lệ càng lấn tới. Tinh huống truyện cứ căng thẳng mãi lên. Bản chất súc vật của tên cai lộ phơi bày trắng trợn. Bão táp, mưa sa đã dến độ phũ phàng, bức bối. Cơn lũ đã lên đến đỉnh. Nước đã tức! Sau cái tát giáng xuống chị Dậu, tên cai lệ đã bị chị “túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa… ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chổng kẻ thiếu sưu”. Thảm hại thay cho một kẻ cậy thế, cậy quyền, mượn uy danh lũ thống trị ức hiếp người dân! Cái hình ảnh “ngã chỏng quèo”, mấy tiếng nói “nham nhảm” và cả cái hành động “chạy thoát ra đình” để trình báo cấp trên của cai lệ được nhà văn miêu tả thật đặc sắc. Đó là những nét điển hình của bọn lính tráng, tay sait Chúng chỉ mạnh ở cường quyền, bạo lực, còn bản chất thì yếu hèn, xấu xa. Chúng xấu từ hình dáng bên ngoài đến nhân cách bên trong. Cai lộ là thế. Tên người nhà lí trưởng cũng vậy. Sự thất bại của chúng sau trận hành hung và vật lộn với chị Dậu là lời cảnh cáo đối với những kẻ bạo tàn, cũng là sự mỉa mai, giễu cợt mạnh mẽ mà nhà văn nhằm vào cái bộ máy thống trị với một lũ quan lại, cường hào, tay chân lớn nhỏ lúc bấy giờ. Chúng hung hăng, tàn bạo, xảo quyệt, độc ác đến mấy, rồi cũng phải “ngã chỏng quèo” trước người đàn bà lực điền, giàu tình thương và ngang tàng, bất khuất. Có thể nói, chính sách thuế thân vô lí, thuế đánh vào mạng người sống và cả người chết, cùng những hành động ức hiếp nhân dân của bọn thống trị không có tính người là nguyên cớ làm cho… nước bị tức, xô đẩy, dồn ép con người vào cái tình thế bức bách, không sao kìm nén, chịu đựng được. Nước bị tức thì phải nổi sóng, tràn ra. Và phá… vỡ bờ! Đến giây phút căng thẳng nhất – lúc anh Dậu ngất như một cái xác bị bọn tuần đinh quẳng vể nhà – chị vẫn cố gắng giữ bình tĩnh để chăm sóc, cứu anh khỏi tay thần chết. Buổi sáng hôm ấy, chị mới dịu dàng làm Sao! Nấu xong cháo, quạt nguội, bưng bát cháo đến tận chỗ chồng nằm, chị động viên anh: “Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột”. Lúc bọn cai lệ sầm sập vào nhà, chị vẫn dịu dàng và bình tĩnh. Nói với bọn chúng, giọng chị run run: “Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nó nữa, nên mới lôi thôi rihư thế. Chứ cháu có dám bỏ bễ tiền sưu của nhà nước đâu”… Lời nói thật rành mạch, rất có lí, có tình. Trong ứng xử với bọn cai lệ, chị Dậu cũng luôn giữ thái độ nhã nhặn, nhún nhường, đủ tình, đủ lí. Khi bọn cai lệ nói năng thô tục, chị Dậu vẫn gọi chúng là “ông”, “các ông”, xưng là “cháu”, “nhà cháu”. Hai lần chị xin chúng: “Hai ông làm phúc nói với ông lí hãy cho cháu khất”…, “Nhà cháu đã không có… Nhưng, “cây muốn lặng, mà gió chẳng đừng”, “nước” muốn ở yên mà bão tố cứ quật xuống. Chị Dậu cố chịu đựng nhưng bọn cai lệ vẫn làm càn. Thế là, “nước” đã tức. Sau khi bị tên cai lệ đánh và đe doạ không tha anh Dậu, chị Dậu tức quá, không thể chịu được… cự lại: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!”. Và, sau khi tên cai lệ tát chị, nhảy vào cạnh anh Dậu, người đàn bà giàu tình thương chồng và ngùn ngụt lòng căm giận đã đứng thẳng, nghiến hai hàm răng, ngăn cản và thách thức kẻ thù: -Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem! Thế là tất cả đã thay đổi. “Nước” đã nổi sóng. Nhân vật thay đổi tính cách. Ngôn ngữ vSn chương cũng chuyển sang giọng điệu khác. Thể hiện lời nói của chị Dậu, nhà văn dùng các từ thông tục “mày”, “bà” và những câu ngắn, nhịp nhanh (“… ông không được phép!… bà cho mày xem”…). Chị Dậu – với sức khoẻ của người đàn bà lực điền, sự bùng cháy của lòng uất hận và của tình thương để bảo vệ chồng và tự vệ, đã vùng lên nhanh nhẹn, táo tợn, ngang tàng, trong chốc lát đã quật ngã hai tên ác ôn dầu trâu mặt ngựa. Tới đây, tác giả chuyển từ văn kể sang văn miêu tả thật sống động, hào hứng. Cuộc tỉ thí chia làm hai hiệp. Hiệp một: chị Dậu túm cổ tên cai lệ, ấn dúi ra cửa khiến hắn ngã chỏng quèo. Hiệp hai: chị Dậu nắm được gậy của tên người nhà lí trưởng, du đẩy, rồi buông gậy ra, áp vào vật nhau… Rồi chị Dậu “túm tóc lẳng cho một cái”, dối thủ ngã nhào ra thềm. Rõ ràng, trong cả hai hiệp, người đàn bà nhà quê ấy đểu chủ động, bình tĩnh, nhanh nhẹn, gan góc, dũng cảm. Chị đã chiến thắng giòn giã. Viết đoạn văn này, lựa chọn được những từ ngữ đúng nhất, những câu vãn đẹp nhất dành cho nhân vật yêu mến của mình, hẳn nhà văn Ngô Tất Tố rất hả hê, sảng khoái! Ông như nhập hồn cùng nhân vật để đồng cảm, đồng tình, vừa tả, vừa kể, vừa ca ngợi, khích lệ. Người đọc chúng ta, khi đọc truyện, cũng đồng cảm với nhà văn, đổng cảm với nhân vật, trân trọng nhà văn, yêu mến nhân vật. Chị Dậu, đến phút này đã đổi thay căn bản: từ van xin lễ phép, nhẫn nhục chịu đựng, chị trở thành con người quyết liệt, liều lĩnh, muốn chống lại tất cả, muốn quật ngã tất cả. Khi nghe anh Dậu than thở, can ngăn, chị Dậu đã trả lời: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được”. Lời nói mới rắn rỏi, khoẻ khoắn làm sao! Người, nông dân ấy dám chấp nhận tất cả, dám thách thức tất cả. Không phải chỉ là tiếng nói của một con người mà là tiếng nói, là bản lĩnh của vạn triệu con người bị áp bức lúc bấy giờ. Đó cũng chính là chân lí muôn đời trong cuộc sống. Với chị Dậu, đến câu nói ấy, nhà văn đã hoàn tất công việc khắc hoạ một hình tựợng. Chị Dậu là điển hình xuất sắc của người phụ nữ nông dân Việt Nam trong xã hội thực dân nửa phong kiến, tuy đói nghèo, vẫn giàu tình thương và tiềm ẩn chí căm thù, tinh thần bất khuất, vẫn đầy đủ sức mạnh để chống lại cường quyền, áp bức. Rõ ràng, nếu gió mưa của bạo lực, bất công cứ liên tiếp quật xuống, làm cho những đấu khổ và lòng uất hận dâng đầy, thì sẽ “tức nước’.’ và “vỡ bờ”. Khi nước đã phá bờ rồi, nó không hề biết sợ, nó có thể quật ngã tất cả, phá vỡ tất cả. Ra đời trong xã hội thực dân nửa phong kiến, tiểu thuyết Tắt đèn có tác dụng giáo dục, thức tỉnh bạn đọc mạnh mẽ. VI thế, nhà văn Nguyễn Tuân từng nhận xét: “Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn”…, “Cách viết lách như thế, cách dựng truyện như thế, không phải là phát động quần chúng nông dân chống quan Tây, chống vua ta thì còn là cái gì nữa(1)”. Trong chương truyện thứ XVIII nàỵ, chị Dậu đã “nổi loạn”, chống lại bọn tay sai của “quan Tây” và “vua ta”. Song đó là sự vùng lén tự phát, bột phát. Muốn thực sự được giải phóng để vĩnh viễn thoát khỏi sự hánh hạ của bọn cai lệ, của ách thống trị thực dãn, phong kiến, chị Dậu cũng như những người nông dân khác và cả dân tộc ta phải biết tổ chức nhau lại, phải làm cách mạng, đi theo cách mạng. Khi viết Tắt đèn, nhà văn Ngô Tất Tố chưa được giác ngộ cách mạng. Song ông đã phát hiện những tiềm năng cách mạng trong quần chúng nông dân, phát động họ chống quan Tây, vua ta. Ngòi bút của ông sắc mạnh như gươm giáo. Và ông xứng đáng được xem là đồng minh tích cực của cách mạng!
Bình luận đoạn trích Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố
2,242
Bình Ngô Đại Cáo có phải là “thiên cổ hùng văn” hay không, hãy làm sáng tỏ nhận định trên – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Gợi ý viết bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng văn bất hủ trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đề yêu cầu phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định là một “thiên cổ hùng văn”, vì vậy cần làm rõ hoàn cảnh sáng tác, bố cục, thể loại, chủ đề của tác phẩm khi phân tích. 1.Hoàn cảnh sáng tác Sau 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, tháng 1 năm 1428, nhân dân ta dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước. Sau chiến thắng, Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế. Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô) để tuyên bố cho toàn dân biết rõ công cuộc cứu nước, trải qua nhiều nguy nan đã thắng lợi, từ đây dân tộc bước vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên hòa bình, thông nhất. 2.Tựa đề Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại cáo bình Ngô, nghĩa là tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô. Tên Bình Ngô đại cáo là cách đảo lại tựa đề cho dễ hiểu, chứ chưa hẳn là dịch. Chữ Ngô ở đây là cách gọi của người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương Bắc, với sắc thái coi khinh. Trong tác phẩm, quân Ngô chính là giặc Minh. 3.Thể loại – Bài văn được viết theo thể cáo, thể văn biền ngẫu, thường ra đời nhằm công bố sự kiện trọng đại của quốc gia hoặc sau một cuộc kháng chiến lâu dài. Đây là văn kiện chính luận, không phải lúc nào người ta cũng dùng. – Kiểu câu trong văn biền ngẫu: tứ tự, bát tự, song quan, cách cú, gối hạc. – Phần 1 (từ đầu đến chứng cớ còn ghi): nêu chính nghĩa của cuộc kháng chiến. – Phần 2 (Vừa rồi … chịu được), tố cáo tội ác của giặc Minh. -Phần 3: thuật lại quá trình kháng chiến. -Phần 4 (Xã tắc..Ai nấy đều hay): tuyên bố kết thúc chiến tranh mở ra kỉ nguyên hòa bình, khẳng định địa vị, tư thế của đất nước. 5.Phân tích 5.1.Nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến -Tư tưởng nhân nghĩa: Việc nhân dân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo + Đập lại luận điệu của quân Minh + Cuộc chiến của ta vì dân -> nội dung khác, cụ thể hơn (liên hệ). + Giải thích → chiến đấu vì trừ bạo → quân Minh, bọn tay sai. => Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lí tưởng xã hội phải chăm lo cho dân được sống có hạnh phúc, yên bình. -Tư cách độc lập của dân tộc. + Biểu hiện: tên đất nước, nền văn hóa riêng, bờ cõi, phong tục, nền chính trị, nhân tài. => Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia (so với các tác phẩm trước Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ). + Giọng văn: sảng khoái, tự hào. + Cách viết: câu văn biền ngẫu “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần… Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên..” → Bình đẳng, ngang hàng (đế). => Cuộc chiến đấu của ta là chính nghĩa. 5.2.Tố cáo tội ác của giặc Minh – Liệt kê hàng loạt: Khủng bố (thui sống, chôn sống), bóc lột (thuế má: nặng thuế khoá; phu phen: những nỗi phu phen nay xây mai đập đất…; dâng nạp: còm lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng, bắt dò chim trả, bắt bẫy hươu đen…; diệt sản xuất: tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ; diệt sự sông: Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khôn cùng… Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Đây là hình ảnh vừa cụ thể, lại vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội. => Lột tả tội ác tày trời của giặc, làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn chúng. Đó cũng là lí do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến. 5.3. Lược thuật cuộc kháng chiến 5.3.1 Buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa -Hình tượng trung tâm là anh hùng Lê Lợi (Ta đây). + Tập trung miêu tả về nội tâm: ngẫm, đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai, giận, suy xét, đắn đo, trằn trọc, băn khoăn. => Chân dung tâm trạng Lê Lợi: lòng yêu nước, căm thù giặc, quyết tâm cao, nung nấu nghiền ngẫm chí lớn, là người nhìn xa trông rộng. + Hình tượng Lê Lợi có sự gởi gắm tâm trạng của Nguyễn Trãi, của toàn dân → chân thực, xúc động. -Khó khăn trong buổi đầu kháng chiến: + Chênh lệch về lực lượng: ta yếu, địch mạnh + Thiếu thốn về vật chất + Hiếm nhân tài. -Vì sao vượt qua được? + Ý chí, tấm lòng cầu hiền + Có chiến lược, chiến thuật đúng đắn, đánh bất ngờ, đánh nhanh + Dựa vào sức mạnh nhân dân + Lấy nhân nghĩa làm cơ sở. – Giọng điệu: trầm lắng, suy tư. 5.3.2.Lược thuật chiến thắng – Diễn tả của trận đánh qua 3 bước +Phản công Giặc: sợ hãi. Bô Đằng – Trà Lân → bất ngờ; câu văn ngắn, chắc, hình ảnh bất ngờ: Sấm vang chớp giật, Trúc chẻ tro bay. + Tiến công: Tây Kinh, Đông Đô → nơi đầu não của giặc. Trận chiến ác liệt → hình ảnh máu chảy thành sông, thây chất đầy nội, giặc thất bại thảm hại. + Đánh quân cầu viện: Giặc tiến sang rầm rộ (câu văn dài) 2 mũi tiến công từ Khâu Ôn và Vân Nam. Ta: đánh bất ngờ, dứt khoát: chặt, túyệt. Nhịp văn ngắt bất ngờ. Liệt kê → chiến thắng dồn dập. Hình ảnh đối lập giữa ta và giặc. => Khắc họa sự thất bại thảm hại của kẻ thù và sức mạnh, khí thế của quân ta. Giọng điệu: sảng khoái, hào hùng khi khắc họa tư thế của người chiến thắng. -Thái độ nhân nghĩa yêu chuộng hòa bình: Giọng văn chậm rãi, khoan thai. Tha chết cho kẻ thù, cấp ngựa và thuyền để về nước. Muôn nhân dân nghỉ sức. Tính kế lâu dài. 5.4 Tuyên bố hòa bình -Giọng văn hả hê, vui mừng tin tưởng vào hòa bình lâu dài (Giang sơn từ đây đổi mới… Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu). -Một loạt các từ tả vũ trụ → cảm hứng độc lập dân tộc được nâng lên gắn liền với cảm hứng vũ trụ bao la vĩnh hằng. Mặt khác thể hiện ý thức về sự thiêng liêng tôn kính lịch sử. 6. Chủ đề Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại, nêu cao lòng tự hào, niềm hân hoan vô hạn trước thắng lợi của chính nghĩa, ca ngợi tài năng lãnh đạo cả khí phách hào hùng của dân tộc. 7. Kết luận -Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có nên được mãi mãi là thiên cổ hùng văn. -Bài cáo thể hiện năng lực cấu trúc tác phẩm nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn chỉnh, năng lực tư duy hình tượng sắc sảo, biến hóa, hấp dẫn phù hợp với cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Tags:Văn 8
Bình Ngô Đại Cáo có phải là “thiên cổ hùng văn” hay không, hãy làm sáng tỏ nhận định trên – Đề và văn mẫu 8
1,223
Bút pháp nghệ thuật trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá Hướng dẫn Thành công của Huy Cận trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạng trong việc khác họa hình ảnh đoàn thuyền ra khơi và tư thế người lao động trên biển. Bút pháp lãng mạn nổi bật trong bài việc sáng tạo hình ảnh thơ, với những liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo, độc đáo, nhiều so sánh thú vị, thủ pháp phóng đại được sử dụng hợp lí. Dưới tầm nhìn của tác giả, hình ảnh vũ trũ và đoàn thuyền đang trong tư thế ra khơi hết sức kì vĩ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. Không khí ra khơi tràn đầy khí thế trong câu hát tin tưởng: Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng. Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ, khổng lổ, hòa nhập vào kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ: lái gió, buồm trăng, giữa mây cao với biển bằng, dò bụng biển, dàn đan thế trận,… Dưới ngòi bút lãng mạn, con thuyền hòa nhập với đại dương mênh mang và vũ trụ kì vi, rộng lớn: Lướt giữa mây cao với biển bằng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Những hình ảnh mang vẻ đẹp của một bức tranh sơn mài lung linh huyền ảo, được sáng tạo liên tưởng, tưởng tượng bay bổng, nhưng nó vẫn có cơ sở hiện thực. Những sắc màu của cá, của biển trở nên lấp lánh, phát sáng: cá song như ngọn đuốc, cá đuôi em quẫy trăng vàng chóe,… “Đêm thở” hay chính hơi thở của người lao động. Không khí lao động tươi vui, mạnh mẽ và hăng say, tràn đầy tin tưởng: Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao, Biển cho ta cá như lòng mẹ, Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Đoàn thuyền đánh cá là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng. Nhà thơ ca ngợi biển cả mênh mông – nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ca ngợi những con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước.
Bút pháp nghệ thuật trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá
417
Bướm và Ong gặp nhau trong rừng cây, cùng nhau đối thoại về cách sống ở đời. Em hãy kể lại cuộc đối thoại đó theo tưởng tượng của em Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG A. MỞ BÀI Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh. + Trong khu vườn rậm. + Bướm nhởn nhơ trên những bông hoa. + Bướm nhìn thấy Ong đang mải mê hút mật. B. THÂN BÀI Phát triển câu chuyện: – Bướm thắc mắc với Ong tại sao cứ bận rộn mà không thảnh thơi như Bướm? – Ong đáp vội vàng cho rằng lao động là cần thiết. Rồi có ngày Bướm phải hiểu điều đó. – Bướm cho rằng ở đời có cánh bay là để nhởn nhơ. Làm việc chỉ mệt mỏi. Chi bằng mang quần áo đẹp đi chơi. – Ong cho Bướm biết con người ca ngợi và phê phán Bướm. – Bướm cho xã hội loài Ong là xã hội gò bó. Cuộc sống như vậy rất chán. C. KẾT BÀI + Trong trò chuyện, Ong vẫn hăng hái làm công việc hút mật. + Khi đã đầy mật, nó không bàn cãi mà bay về tổ. BÀI LÀM Trong khu rừng cây rậm rạp, um tùm có một chú Bướm vàng với những chấm đen trên cánh đang xập xòe nhởn nhơ dạo chơi. Bướm bay qua những cành cây với một vài bông hoa đang nở rộ đón chào. Bỗng Bướm phát hiện một chú Ong mật đang mải mê hút mật trên một bông hoa mà Bướm vừa đến. Bướm bay tới, buông lời thỏ thẻ: – Ô, bạn nói sao? Suốt đời bạn chỉ biết du ngoạn thôi à! Không thể đơn giản như thế đâu, cũng có đến một lúc nào đó bạn nên làm việc như tôi đây này, Bướm ạ! Vẫn cái giọng thỏ thẻ ấy vang lên: – Trời cho ta đôi cánh, còn con người ở đời lại được đôi chân. Cánh chẳng để bay nhởn nhơ, chân chẳng để rong chơi thì để làm gì? Bạn chẳng biết gì cả, suốt ngày lo làm lụng, thật là mệt nhọc. Còn tôi chỉ biết bay khắp nơi, bay dập dìu qua những rừng cây trái ngọt, những vườn hoa màu sắc rực rỡ suốt cả bốn mùa. Xuân đến, loài bướm chúng tôi được khoác lên những bộ trang phục mới để dạo chơi, thật là hạnh phúc! Ong vốn ít nói nhưng nghe cái giọng chua loét ấy của Bướm, bèn cất tiếng: – Bướm có biết con người nói gì về chúng ta không? Bướm suốt ngày chỉ biết rong chơi, còn loài Ong chúng tôi bay đây đó để tìm mật giúp con người chữa bệnh và đem lại cuộc sông con người nhiều điều tốt đẹp. – Ô, cuộc sống bạn lúc nào cũng bận bịu, vất vả như vậy, ai mà chịu được. Các nhà khoa học đã bảo rằng xã hội loài ong là một xã hội nghiêm ngặt, đi làm về phải có phấn hoa, có sản phẩm thì mới được vào cửa, mà khi vào không được lộn cửa lộn nhà. Còn nếu không có sản phẩm thì đừng hòng vào cửa. Ôi! Cuộc sống của bạn sao lại gò bó như thế! Còn cuộc sống tôi thì khác hẳn, suốt ngày tôi chỉ biết dạo chơi, chỉ biết đi khắp nơi để tìm nhiều điều mới mẻ, tốt đẹp. Tôi không phải làm nhiều chi cho cực cái thân! Tuy trò chuyện với Bướm nhưng Ong vẫn không ngừng làm việc. Ong vẫn mải mê hút mật. Nghe Bướm nói, Ong rất bực mình nhưng cố lặng thinh bởi Ong còn làm biết bao công việc. Trong khu rừng bao la này có biết bao bông hoa chứa đầy ắp mật vàng óng đang chờ đón Ong. Vì vậy, Ong không nỡ bỏ lỡ công việc để phân giải đối với gã Bướm lười biếng này Ong phải đi làm đây. Ong sẽ chắt chiu cho con người những giọt mật ngọt ngào tươi mát và làm cho cuộc sống của chúng ta ngày tốt đẹp hơn.
Bướm và Ong gặp nhau trong rừng cây, cùng nhau đối thoại về cách sống ở đời. Em hãy kể lại cuộc đối thoại đó theo tưởng tượng của em
670
Đề bài: Bạn có ý kiến gì trước cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước ta Bài làm Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng. Nhân dân ta vốn có truyền thống nhân đạo. “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách” không chỉ là những câu nói cửa miệng mà chính là tấm lòng sâu thẳm và hành động chí tình của những người con Lạc cháu Hồng trên dải đất hình chữ S từ bao đời nay đã cưu mang, đùm bọc lẫn nhau. Ngày xưa đã thế, ngày nay lại càng như thế. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã gặp ánh sáng khoa học của thời đại để tạo nên những hiệu quả to lớn đẩy lùi cái đói nghèo và những cuộc đời bết hạnh vẫn còn trong xã hội trên bước đường đi lên của đất nước. Suy nghĩ trước cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh Đất nước đang đổi mới, phát triển, đi lên nhưng cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn hiện hữu trong xả hội – chua xót và nhức nhối! Vì sao như vậy và cần nhìn nhận hiện tượng đó như thế nào? Đi lên từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu hàng ngàn năm nay, không thể một sớm một chiều có thể xóa bó ngạy được cái đói nghèo ấy. Lại nữa, và đây mới là nguyên nhân chủ yếu, đất nước ta đả trải qua ba mươi năm chiến tranh ác liệt, hậu quả của nó để lại không chỉ là cái đói nghèo mà còn là những cuộc đời bất hạnh của bao nhiêu con người tàn tật do chiến tranh, đặc biệt là những di chứng khôn lường của chất độc da cam đi-ô-xin mà kẻ thù đã rải xuống trên nhiều vùng đất nước và nhiễm độc vào hàng triệu con người. Nhìn nhận như vậy mới thấy được tội ác tày trời cùa kẻ thù xâm lược, càng nhận rõ sự đau khổ ghê gớm của “nạn nhân chiến tranh" mà nhân dân ta phải hứng chịu, càng thương yêu, chia sẻ và có trách nhiệm hơn đối với những cuộc đời bất hạnh đó. Đói nghèo và bất hạnh không còn là của riêng ai mà đã trở thành một vấn đề nhức nhối cua toàn xã hội đòi hỏi mọi người phải chung lưng đấu cật để cùng giải quyết, ở đây, vừa là tình thương, vừa là trách nhiệm. Tình thương giữa những con người với nhau “thương người như thế thương thân”, nhưng cũng là trách nhiệm của “người trong một nước phải thương nhau cùng”. Chính vì thế, chúng ta phải chống bệnh vô cảm. Phải lên án những người dửng dưng, không quan tâm đến cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước ta. Vì chất dộc da cam. nhiều cặp vợ chồng không thể có con hoặc chỉ sinh ra những quái thai vì chất độc da cam, những em bé mới ra đời đã bị tật nguyền, không nhìn thấy ánh sáng, không nghe được âm thanh, không sinh hoạt như con người bình thường, trở thành gánh nặng và nỗi ám ảnh suốt cuộc đời của gia đình và xã hội… Những con người như thế, lẽ nào ta có thể dửng dưng, vô cảm được, trong khi ta được sống đầy đủ, sung sướng, được ăn ngon, mặc đẹp, được vui chơi, học hành thoải mái? Theo tôi, dửng dưng, vô cảm trước những con người này là một sự thất đức, chưa nói là có quan tâm đến họ, có giúp đỡ họ không? Bởi, không là họ hàng, nhưng họ cũng là đồng bào, cùng dân tộc, và chí ít, họ cùng là con người, là đồng loại của ta; và quan trọng hơn, họ chính là “nạn nhân” của một cuộc chiến tranh tàn khốc do kẻ thù gây ra trên đất nước ta, trên quê hương của họ. Lẽ nào lại có thể vô cảm, nhẫn tâm như thế? Đương nhiên, số người vô cảm, dửng chrng, nếu có, cũng chỉ là số ít và đó là điều đáng tiếc. Dòng máu thương người của dân tộc Việt Nam không cho phép như vậy. Và trong thực tế, cả nước đã đến với họ – những người nghèo, tàn tật, bất hạnh – để cùng sẽ chia, đùm bọc họ trong cánh tay yêu thương của mình. Nhiều tổ chức được thành lập – cấp nhà nước, cấp tỉnh, cáp hội, đoàn thể để cứu trợ; nhiều cơ quan, công ty, nhà máy, thậm chí không hiếm những cá nhân đã trở thành những “Mạnh Thường Quán”của người nghèo, người tàn tật, người bất hạnh: nhiều bà mẹ, người chị… đã trở thành những “bà tiên", “bà phật” của người nghèo ngày nay như trong cổ tích xưa, và nhiều câu chuyện đã trở thành huyền thoại như chàng thanh niên Nguyễn Hữu Ân vừa tự học đại học, vừa nuôi hai người mẹ ruột và mẹ nuôi trong bệnh viện, cô sinh viên Nguyễn Thị Oanh tự kiếm sống để vừa học vừa nuôi ba chị em nghèo khiếm thị… Những nghĩa cử ấy, những tấm lòng ấy chắc chắn sẽ sưởi ấm, động viên nhiều cho những người nghèo, người bất hạnh vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Sự giúp đỡ về vật chất, (tiền của, nhà cửa) là rất cần để tạo dựng cuộc sống cho họ. Đó là yếu tố cần thiết ban đầu. Nhưng điều quan trọng hơn là phải truyền cho họ nghị lực, niềm tin và cách sống tự lập trên chính đôi chân và bàn tay của họ. Ai đó đã nói rất đúng: “Cho con cá đã quý, nhưng cho cái cần câu để câu cá còn quý hơn”. Phải tạo cho họ một nghề nghiệp ổn định để họ tự sống và chính họ sẽ tự xóa bó cái đói nghèo và đẩy lùi sự bất hạnh của mình từng bước. Điều này mang ý nghĩa nhân văn lớn lao khi chính họ sẽ tự định đoạt lấy cuộc đời và hạnh phúc của họ. Trong thực tế đã có nhiều tấm gương người nghèo, người tàn tật, bất hạnh tự đi lên bằng nghị lực, niềm tin, sức mạnh của mình và họ đã trở thành những người hữu ích cho xã hội, được xã hội tôn vinh và yêu quý. Đó cũng là một tiền đề quan trọng giúp cho đất nước xóa bỏ đói nghèo, tiến lên xây dựng một xã hội công bằng, dân chú, văn minh như mong muốn của Đảng và nhân dân ta. Với những ý nghĩa đã phân tích trên đây, trong giai đoạn hiện nay, tình cảm, thái độ và sự quan tâm đối với cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước ta chính là phẩm chất, lương tâm và thước đo giá trị của mồi con người chúng ta.
Bạn có ý kiến gì trước cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước ta
1,197
Bạn Dương Ngọc Anh bị thủy đậu, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho Gợi ý Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thanh Hóa, ngày 14 tháng 9 năm 2009 ĐƠN XIN NGHỈ HỌC Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3B Trường Tiểu học Thanh Sơn Em tên là: Dương Ngọc Anh Học sinh lớp: 3B Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày từ 14/9/2009. Lý do nghỉ học: em bị thủy đậu. Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ. Ý kiến của gia đình học sinh Học sinh Cháu bị thủy đậu. Kính xin cô cho cháu Ngọc Anh được nghỉ học đến khi khỏi bệnh. Dương Ngọc Anh Thu Nguyễn Thị Thu
Bạn Dương Ngọc Anh bị thủy đậu, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
126
Bạn em chỉ say mê học toán mà chưa chú ý đến học văn. Em hãy góp ý để bạn có cách nhìn đúng đắn trong việc học văn? Hướng dẫn Bạn em chỉ say mê học toán mà chưa chú ý đến học văn. Em hãy góp ý để bạn có cách nhìn đúng đắn trong việc học văn? Bài làm Đã là học sinh trải qua mười hai năm đèn sách trên ghế nhà trường, ai cũng đều phải học tập rèn luyện đầy đủ các môn học. Ngoài những môn học bổ sung thêm kiến thức về lịch sử, tự nhiên xã hội, thì quan trọng nhất vẫn là hai môn văn và toán. Đây là hai môn học làm nền tảng cơ bản, kiến thức chính được dạy trên ghế nhà trường. Nếu như toán học giúp chúng ta có kiến thức logic, tư duy nhạy bén, thì văn học lại giúp chúng ta tưới mát tâm hồn. Vậy nhưng có nhiều bạn hiện nay lại đang coi nhẹ việc học văn, cho rằng học văn không giúp ích gì được cho cuộc sống sau này. Đó thật sự là một suy nghĩ sai lầm, cần phải được thay đổi. Trước tiên cần phải bàn lại về khái niệm của môn văn và lợi ích của việc học văn. Văn học chính là những sáng tạo, sáng tác phục vụ đời sống tinh thần của con người. Những tác phẩm văn học hay, có ý nghĩa, sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn tích cực hơn, cũng như có được một lối sống, một hướng đi đúng đắn trên con đường phía trước. Không chỉ có vậy, với nhiều người, văn học còn là một món ăn tinh thần không thể thiếu, như dòng suối tắm mát tâm hồn ta từ lúc trẻ thơ cho đến khi trưởng thành. Người yêu văn học sẽ có tư tưởng, tình cảm phong phú, yêu thích cái đẹp, biết nhìn nhận đúng sai.Văn học giúp chúng ta sống tốt hơn, biết yêu thương và giàu lòng vị tha đối với mọi điều xung quanh. Văn học thật sự là một môn học cần thiết, và không thể thiếu với mỗi người. Từ khi bắt đầu bước chân vào ngưỡng cửa học đường, điều đầu tiên chúng ta được học là học chữ, học ngôn ngữ của dân tộc. Văn học dạy cho ta biết đọc, biết viết, biết cách diễn đạt những lời yêu thương đến mọi người. Khi chúng ta thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ, chúng ta có thể dễ dàng học tập, làm việc, cũng như làm tiền đề cho việc học những ngôn ngữ khác trong tương lai. Nhờ có học văn, chúng ta sẽ được nâng cao kỹ năng nói, kỹ năng viết. Yêu thích điều gì đó, hay cụ thể ở đây là học toán là quyền tự do riêng của mỗi người. Vậy nhưng điều cần nói ở đây, chúng ta sinh ra ai cũng cần phải có sự phát triển toàn diện, cả về nhân cách, tài năng cũng như con người. Nếu như không coi trọng môn văn, chúng ta không thể có được một tư tưởng tốt, một tâm hồn đẹp, điều mà rất cần thiết trong xã hội hiện nay. Thật vậy, các bạn hãy cứ yêu thích môn toán hay những môn học nào đó mà các bạn cảm thấy hứng thú, say mê. Nhưng mong các bạn hãy dành thêm thời gian cho môn văn, quan tâm, yêu thích môn văn hơn một chút, để chúng ta lớn lên sẽ là những con người toàn diện, đẹp cả về tài năng, cũng như nhân cách và tâm hồn bạn nhé!
Bạn em chỉ say mê học toán mà chưa chú ý đến học văn. Em hãy góp ý để bạn có cách nhìn đúng đắn trong việc học văn _
616
Bạn Hương kể về việc học tập trong học kì I Gợi ý Học kì I vừa qua, lớp em học tập rất hăng hái. Bạn nào cũng thi đua giành được nhiều điểm 10 nhất để mang về khoe với bố mẹ. Không khí học tập ở lớp em rất vui. Vì vậy cũng như các bạn, em đã quyết tâm học tập và giành được rất nhiều điểm 10. Em cũng chẳng nhớ nổi là mình được bao nhiêu điểm 10 nữa, chỉ biết rằng rất nhiều. Em thấy rất vui khi có một môi trường học tập như vậy.
Bạn Hương kể về việc học tập trong học kì I
100
Bạn Kim Anh kể về gia đình mình với người bạn mới Gợi ý Gia đình mình có 4 người bạn ạ! Bố mình là công nhân, hàng ngày bố đi làm từ rất sớm. Mẹ mình là kĩ sư nông nghiệp, mẹ rất yêu cây cối. Vì vậy nếu bạn có dịp đến nhà mình chơi, bạn sẽ được chiêm ngưỡng khu vườn nhà mình với rất nhiều loại cây khác nhau được mẹ trồng ở những chiếc chậu rất xinh xắn. Anh mình đang học cấp 2, tương lai sau này có lẽ anh ấy cũng sẽ trở thành kĩ sư nông nghiệp như mẹ mình, vì có thời gian rảnh rỗi là anh mình lại ra vườn để chăm sóc cho chúng. Còn mình, vẫn rất mải chơi.
Bạn Kim Anh kể về gia đình mình với người bạn mới
128
Bạn Kiều Trang kể về buổi đầu tiên đi học Gợi ý Năm nay em đã lên 9 tuổi. Mỗi khi nhớ lại buổi đầu tiên mới đến trường, lòng em vẫn thây rất bồi hồi, xúc động với biết bao kỉ niệm. Sáng hôm ấy, em được mẹ gọi dậy từ rất sớm. Mẹ mặc cho em một bộ quần áo mới tinh, bộ quần áo em được mẹ mua cho cách đó đã hơn một tuần. Vậy mà hôm nay em mới được mặc, trông em ra dáng một “thanh niên” ghê. Không hiếu sao lúc đó em thấy rất hồi hộp. Khoác chiếc cặp ra sau lưng, em cất tiếng chào mọi người trong gia đình để cùng mẹ đi đến trường. Cả nhà em đồng thanh nói: Chúc “chú cuội” đi học vui vẻ. Lòng em thấy vui vui. Trên đường đi, em vừa muốn mẹ đi nhanh, nhưng cũng lại muốn mẹ đi chậm lại vì em cảm thấy hơi lo lo. Càng đến gần trường, tim em lại càng đập mạnh. Nhưng hình như mẹ lại rất tin tưởng ở con trai, nên trông mẹ rất bình thản và dắt em vào lớp. Vào đến cửa lớp, mẹ xoa đầu nói: Chào con trai mẹ, vào với Cô và các bạn đi nhé. Chúc con có một buổi học bổ ích. Rồi mẹ trở ra về chỉ còn lại mình em. Em rón rén bước vào lớp cất tiếng chào cô và được cô đón vào với nụ cười trên môi. Điều đó khiến em cảm thấy vững tin hơn và không còn cảm thấy hồi hộp nữa. Buổi học đầu tiên với em thật là thú vị.
Bạn Kiều Trang kể về buổi đầu tiên đi học
279
Bạn Linh Chi kể lại buổi đầu đi học Gợi ý Đã ba năm trôi qua, nhưng mỗi khi thu về, lòng em lại bồi hồi, nao nức nhớ buổi đầu tiên đến trường. Buổi sáng hôm ấy, em dậy rất sớm, mặc quần áo mới, vai đeo cặp sách cùng mẹ đi đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Tới cổng trường, mẹ dừng lại mua cho em một quả bóng bay và lá cờ đỏ sao vàng trông rất đẹp. Mẹ đưa em vào tận sân trường, đến chỗ cô giáo đang tập trung các bạn học sinh lớp một. Lúc đầu em còn bỡ ngỡ nhưng khi nhìn thây mấy bạn học cùng lớp mẫu giáo, em mừng quá chạy tới chuyện trò tíu tít. Buổi lễ khai giảng năm học mới hôm ấy diễn ra thật vui vẻ. Những quả bóng xanh đỏ thi nhau bay vút lên trời cao như mang theo cả niềm vui buổi đầu tiên đến trường của chúng em.
Bạn Linh Chi kể lại buổi đầu đi học
165
Bạn Lê Kim Dung gửi điện báo tin cho gia đình Gợi ý – Họ tên, địa chỉ người nhận: Lê Quang Bách, thôn An Giới, xã An Sơn, huyện Nam Sách, Hải Dương. – Nội dung: Con đã lên đến nơi rồi. – Họ tên, địa chỉ người gửi: Lê Kim Dung, tổ 2, thị trấn Tân Thanh, Lạng Sơn.
Bạn Lê Kim Dung gửi điện báo tin cho gia đình
57
Bạn Lê Thanh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học Gợi ý Hoà trong không khí chung của học sinh cả nước, ngày mồng 5 – 9 – 2007 là ngày em được công nhận là một học sinh. Buổi sáng hôm đó là một kỉ niệm thật đẹp trong đời học sinh của em. Đúng 6 giờ em bước chân ra khỏi nhà. Ô hay! Sao hôm nay bầu trời lại đẹp thế? Hàng cây ven đường khẽ đung đưa theo gió như đang đưa bước chân em nhanh đến trường. Con đường làng quen thuộc hôm nay lại càng trở nên thân thương hơn. Tiếng lúa rì rào như chào đón em, vẫy gọi em. Lòng thấy vui vui, em nhảy chân sáo thật nhanh. Đến trước cổng trường, em ngỡ ngàng bởi khung cảnh ở đây. Cánh cổng mở to. Đứng trước cổng trường là hai hàng anh chị học sinh lớp 5 đang cầm cờ giơ tay vẫy vẫy. Bước vào bên trong, hai dãy nhà còn mới tinh. Một khung cảnh thật sôi động diễn ra trước mắt em. Các bạn học sinh đã đứng vào hàng. Tiếng trông trường rộn rã. Em vội vàng đi tìm lớp của mình và hoà vào không khí chung của ngày khai giảng.
Bạn Lê Thanh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học
212
Bạn Mai Ly kể về gia đình mình với người bạn mới Gợi ý Nhà mình ở quận Tư, đường Nguyễn Tất Thành. Ngôi nhà mình ở nằm ngay phía ngoài mặt đường lớn của thành phố. Bố mình thường xuyên phải đi công tác xa nhà, mẹ mình thì làm diễn viên. Công việc của mẹ rất bận rộn, cũng vắng nhà luôn. Mình và em trai ở nhà với ông bà nội. Ông bà rất thương anh em mình. Năm nay ông bà cũng đã ngoài 70 rồi, may sao trời phú cho bà một sức khoẻ để bà có thể chăm sóc cho anh em mình. Nếu không có bà thì anh em mình không biết sẽ ra sao. Ông mình rất hiền, ông rất yêu cây côi vì vậy nhà mình lúc nào cũng được sống trong một bầu không khí mát lành của cây xanh. Tối đến ông bà thường kế cho anh em mình nghe những câu chuyện cổ tích thật là lý thú. Mình rất yêu gia đình của mình.
Bạn Mai Ly kể về gia đình mình với người bạn mới
175
Bạn Mai Trang kể về gia đình với một người bạn mới quen Gợi ý Gia đình mình có bốn người. Đó là bố mình, mẹ mình, mình và mình trai em. Bố em làm công an. Bố rất hiền nhưng cũng thật nghiêm khắc. Mẹ mình là cô giáo. Mẹ rất đảm đang và nấu ăn khá ngon. Em trai mình hàng ngày đi học mẫu giáo. Ngày nghỉ, chị em mình thường được bố mẹ cho đi chơi công viên hoặc đi sở thú. Mình rất yêu quí gia đình – tổ ấm bé nhỏ của mình.
Bạn Mai Trang kể về gia đình với một người bạn mới quen
97
Bạn Minh Quân kể về gia đình mình với người bạn mới Gợi ý Gia đình mình rất đồng bạn ạ! Ông bà mình năm nay đã ngoài 70. Ông có mái tóc trắng như cước, chòm râu bạc, trông rất hiền từ. Bà mình trông có vẻ yếu hơn ông một chút, tóc bà đã rụng gần hết vì vậy ngày nào bà cũng phải vấn khăn mỏ quạ trên đầu. Bố mẹ mình đều là công nhân, ngày nào cũng đi làm từ rất sớm, chiều tối mới về. Hai chị em mình còn nhỏ vì thế mẹ mình rất vất vả. Sáng mẹ dậy sớm đi chợ chuẩn bị thức ăn cho cả nhà. Buổi trưa mẹ tranh thủ về nấu cơm, ăn vội vàng rồi lại đi ngay. Tối về mẹ lại lo cơm nước cho cả nhà, dọn dẹp nhà cửa đến khuya mới xong mọi công việc. Mong sao mình lớn thật nhanh để giúp mẹ việc nhà.
Bạn Minh Quân kể về gia đình mình với người bạn mới
162
Bạn Minh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học Gợi ý Niềm vui lớn nhất của trẻ em chính là được cắp sách đến trường. Nhà em ở thành phố vì vậy việc đến trường không có gì là xa lạ và ngạc nhiên với chúng em. Nhưng không hiểu sao, ngày hôm đó em vẫn cảm thấy có một sự thay đổi trong lòng. Ba mẹ em đã chuẩn bị cho em rất đầy đủ. Từ sách vở đến sữa, bánh ngọt. Tất cả đều được mẹ em đựng trong một chiếc ba lô khá to so với thân hình của em. Sáng hôm ấy, em mặc bộ quần áo đồng phục của nhà trường. Chưa bao giờ em thấy mình lại chững chạc đến vậy. Em thấy phấn khởi trong lòng và háo hức được đến. trường ngay. Vừa đến cổng trường, em vội vàng xuống xe. Quên cả chào mẹ, em chạy tọt vào trường, tự đi tìm lớp và các bạn của mình. Nhưng chính lúc này, tự nhiên em lại thấy hơi lo vì không biết thầy cô mới của mình như thế nào, bạn bè ra sao?… Biết bao câu hỏi ở đâu tự nhiên cứ hiện về. Đang chạy bỗng em dừng bước vì những suy nghĩ đó, thì cũng là lúc em đứng trước cửa lớp mình. Ánh mắt hiền hoà của cô nhìn em khiến em cảm thấy yên tâm và tự tin bước vào lớp.
Bạn Minh Sơn kể về buổi đầu tiên đi học
240
Bạn Mùi Thu Thủy kể lại buổi đầu tiên đi học Gợi ý Ngày đầu tiên đi học đối với em là một kỉ niệm không bao giờ quên. Biết bao bỡ ngỡ và rụt rè trước cảnh tượng của ngôi trường rất khang trang và rộng rãi. Trong sân trường, các bạn đã đến rất đông và mang trên mình rất nhiều bộ quần áo khác nhau tạo nên một bức tranh rất đẹp. Dưới cái nắng mùa thu, em cảm thấy rất bồi hồi khí lần đầu tiên bước chân tới trường. Em quay lại chào bố mẹ và hoà mình vào đám đông các bạn. Thế là từ nay em đã là một học sinh!
Bạn Mùi Thu Thủy kể lại buổi đầu tiên đi học
116
Bạn Mạnh Hùng kể về gia đình mình với người bạn mới Gợi ý Chắc bạn sẽ ngạc nhiên lắm nếu có dịp đến thăm nhà mình. Nhà mình tuy không rộng nhưng cũng đủ chỗ cho 11 người ở đấy bạn ạ. Cụ mình năm nay đã 91 tuổi nhưng cụ vẫn còn minh mẫn lắm. Cụ hát trầu văn rất hay, thỉnh thoảng cụ vẫn hát cho mình nghe những đoạn trầu văn nghe rất hài hước. Ỏng bà nội mình cũng già, đã 70 rồi. Ông có mái tóc trắng như cước, nhưng ông cắt ngắn. Chỉ có chòm râu là ông đế dài. Mỗi khi mình bị mẹ mắng, ông lại ôm mình vào người và cho mình vuồt chòm râu bạc của ông. Hàng ngày ông phụ cho bà bán hàng nước ngoài ngõ, cạnh cửa hàng gia đình mình thuê để mở cửa hàng kinh doanh. Bố mẹ mình làm ở cửa hàng cùng với; vợ chồng chú thím mình. Chị mình năm nay 15 tuổi, chị rất đảm đang. Đi học về là chị lại thay mẹ nấu cơm cho gia đình. Thông thường thì cụ, ông bà, hai chị em minh và hai em con của chú thím ăn cơm trước. Dù ở đông như vậy nhưng gia đình mình rất hoà thuận, chẳng mấy khi có “chiến sự” cả. Có chăng chỉ là bọn mình đùa nghịch rồi chí choé với nhau một tí thôi. Gia đình mình vui lắm bạn ạ!
Bạn Mạnh Hùng kể về gia đình mình với người bạn mới
248
Bạn Nguyễn Diệu Anh gủi điện báo tin cho gia đình Gợi ý – Họ tên, địa chỉ người nhận: Nguyễn Kim Thành, 47 phố Hàng Ngang, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội – Nội dung: Cháu đã về tới quê bình an. – Họ tên, địa chỉ người gửi: Nguyễn Diệu Anh, thôn Mậu, xã Tam Nông, huyện Lâm Thao, Phú Thọ.
Bạn Nguyễn Diệu Anh gủi điện báo tin cho gia đình
58
Bạn Nguyễn Quốc Thiên gửi điện báo tin cho gia đình Gợi ý – Họ tên, địa chỉ người nhận: Trần Văn Trung, số nhà 22 phố Trần Hưng Đạo, thị xã Sơn Tây. – Nội dung: Cháu đã đến chỗ bố rồi. – Họ tên, địa chỉ người gửi: Nguyễn Quốc Thiên, thốn Đông, xã Trạm Tấu, huyện Nghĩa Lộ, Yên Bái.
Bạn Nguyễn Quốc Thiên gửi điện báo tin cho gia đình
59
Bạn Nguyệt Anh kể lại buổi đầu tiên đi học Gợi ý Buổi đầu tiên đi học với em là một buổi học đầy ý nghĩ và bỡ ngỡ. Khung cảnh sân trường thật hay và lạ. Có bạn thì khóc rất to, có bạn thì cười rất lớn, có bạn thì ngơ ngác trước bao điều lạ lẫm. Riêng em, em cảm thấy mình vừa như muốn bước chân vào lớp, vừa như muốn trở ra về. Muốn vào vì muốn có nhiều bạn bè mới. Muốn về vì thấy nhớ mái trường mầm non thân quen. Tiếng trống vang lên như nhắc nhở em nhanh bước chân vào lớp. Và thế là ngôi trường mới đã nhận thêm một học trò nhí là em.
Bạn Nguyệt Anh kể lại buổi đầu tiên đi học
124
Bạn Phương Anh kể về việc học tập trong học kì I Gợi ý Cô giáo em rất nhiệt tình, quan tâm đến lớp. Đặc biệt học kì I vừa qua cô đã tổ chức cho lớp em rất nhiều trò chơi bổ ích giúp cho việc học được tốt hơn như Học mà chơi, chơi mà học, Câu lạc bộ yêu thơ, Bé làm toán… Chúng em rất thích các trò chơi mà cô tổ chức. Mỗi khi được chơi xong bạn nào cũng thấy ham học hơn và học tiến bộ hơn rất nhiều. Cũng nhờ có động lực ấy mà học kì I vừa qua em đã đạt học sinh giỏi. Em thây rất vui.
Bạn Phương Anh kể về việc học tập trong học kì I
116
Bạn Phạm Thu Hoa bị ốm, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho Gợi ý Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam Độc hập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 12 thúng 10 năm 2009 ĐƠN XIN NGHỈ HỌC Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3A2 Trường Tiếu học Trưng Vương Em tên là: Phạm Thu Hoa Học sinh lớp: 3A2 Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày 12/10/2009. Lý do nghỉ học: em bị ốm Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ. Ý kiến của gia đình học sinh Cháu bị ốm. Kính xin cô cho cháu được nghỉ học một ngày. Hùng Phạm Thế Hùng Hoc Sinh Hoa Phạm Thu Hoa
Bạn Phạm Thu Hoa bị ốm, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
115
Bạn Quốc Cường kể lại buổi đầu tiên đi học Gợi ý Đó là một buổi sáng đẹp trời. Em dạy từ rất sớm. Đánh răng, rửa mặt, chuẩn bị mọi thứ ngay ngắn rồi đeo cặp sách lên lưng. Eo ôi! Chiếc cặp mới nặng làm sao, em tưởng như mình không thể khoác nổi chiếc cặp trên lưng. Không hiểu sao em thấy rất vui và háo hức được đến trường ngay bây giờ. Em giục mẹ rốì rít và bắt mẹ đưa đi từ sớm. Ra đến ngoài đường em thấy hình như ai cũng đang nhìn em và cười. Em thấy rất vui. Đến cổng trường, em vô cùng ngạc nhiên. Ôi! Sao ngôi trường lại to lớn đến vậy. Em sung sướng chào mẹ và chạy ngay vào lớp.
Bạn Quốc Cường kể lại buổi đầu tiên đi học
130
Bạn Quốc Thái kể những điều biết về nông thôn Gợi ý Trong câu chuyện bà kể, trong bài học cô giảng, nông thôn là một nơi có cuộc sống thật thanh bình, tình ríghĩa. Điều đáng quý nhất ở nông thôn chính là tình làng nghĩa xóm, là tối lửa tắt đèn có nhau. Nông thôn là bữa cơm đạm bạc với canh rau muống cà dầm tương. Là những người nông dân, chân lấm tay bùn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, một nắng hai sương để làm ra hạt gạo ta ãn hàng ngày.
Bạn Quốc Thái kể những điều biết về nông thôn
97
Bạn Quỳnh Liên làm văn tả quang cảnh sau cơn mưa. Bài văn có bốn đoạn nhưng chưa đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn viết thêm để hoàn chỉnh từng đoạn văn Hướng dẫn 1.Đoạn 1: Lộp độp, lộp độp. Mưa rồi. Cơn mưa ào ào đô xuống làm mọi hoạt động dường như ngừng lại. Mưa ào ạt. Mưa như trút nước, dường như ông trời có bao nhiêu nước đều đô xuống cùng một lúc. Những hạt mưa đan chéo nhau dày đặc, tạo thành những hàng rào bằng lưới nước màu xám bạc. Chỉ cách nhau chừng mười lăm thưđc đã không nhìn thấy nhau. Một lát sau, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. 2.Đoạn 2: Ánh nắng lại chiếu sáng rực rỡ trên những thảm cỏ xanh. Nắng lấp lánh như đùa giỡn, nhảy nhót với những gợn sóng trên dòng sông Nhuệ. Mấy chú chim không rõ tránh mưa ở đâu giờ đã đậu trên cành cây cất tiếng hót véo von. Chị gà mái tơ nhanh nhẹn có mặt ơ đụn rơm mục vừa bươi vừa “tục tục” gọi con. Đàn gà con nghe tiếng của mẹ, ba chân bốn cẳng tranh nhau chạy đến. Chú mèo khoang lững thững đi lại trước sân nhà, thỉnh thoảng ngước nhìn ông mặt trời, mặt nhăn lại như chú khỉ ngậm phải gừng. 3.Đoạn 3: Sau cơn mưa, có lẽ hoa lá là tươi đẹp hơn tất cả. Bao nhiêu bụi bặm bám vào mình đã được ông trời tắm gội, lau chùi sạch sẽ. Trông chúng tươi xanh, rực rỡ dưới ánh mặt trời.
Bạn Quỳnh Liên làm văn tả quang cảnh sau cơn mưa. Bài văn có bốn đoạn nhưng chưa đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn viết thêm để hoàn chỉnh từng đoạn văn
267
Bạn Quỳnh Như kể lại buổi đầu tiên đi học Gợi ý Hình như ở xóm em ai cũng biết nãm nay em vào lớp 1. Buổi sáng hôm ấy, em được anh trai đưa đến trường. Ngồi đằng sau xe đạp của anh, đeo chiếc cặp màu vàng sau lưng vậy mà không ngớt tiếng gọi của mọi người trong xóm: Cóc con đi học đấy à? Học ngoan nhé! Vèo một cái anh đã đưa em đến trước cổng trường. Trước mắt em là một băng rôn dài và rất nhiều lá cờ được treo ở sân trường. Anh em nói: “Vui không? Đấy cả trường đang nhiệt liệt chào đón học sinh lớp một đến trường đấy. Thích nhé. Thôi vào lớp đi”. Em xuống xe, chạy vào giữa sân trường và đứng ngắm nhìn xung quanh một hồi rồi đi tìm lớp học của mình.
Bạn Quỳnh Như kể lại buổi đầu tiên đi học
144
Bạn Thanh Hoa kể những điều biết về nông thôn Gợi ý Nông thôn là một vùng quê yên ả, thanh bình. Không có sự ồn ào của, xe cộ, cũng không có nhiều những ngôi nhà khổng lồ và những nhà máy lớn. Nông thôn chỉ có những cánh đồng lúa chín vàng, những ngửời dân lao động giản dị, sống vui vẻ trong những ngôi nhà mái ngói. Nông thôn có những luỹ tre làng xanh thắm, thẳng tắp và con trâu là đầu cơ nghiệp.
Bạn Thanh Hoa kể những điều biết về nông thôn
86
Bạn Thu Tuyết kể về buổi đầu tiên đi học Gợi ý Kỉ niệm về buổi đầu tiên đi học vẫn mãi còn trong kí ức tuổi thơ của em. Hôm đó mẹ đưa em tới trường trên con đường làng quen thuộc thơm mùi của lúa. Con đường hôm nay bỗng trở nên xa lạ quá. Đi bên cạnh mẹ, bàn chân em như muốn dừng bước và ước sao con đường thật dài để không phải xa rời bàn tay mẹ. Tới cổng trường, đi gần tới cửa lớp, em oà khóc và ôm chặt lấy mẹ. Mẹ dỗ dành, an ủi mãi. Cô giáo bước ra, ân cần, dịu dàng đón em vào lớp. Các bạn ai cũng tròn xoe mắt nhìn em như gọi mời: bạn vào lớp đi, đừng khóc nữa, chúng mình cũng như bạn thôi: Em cảm thấy vững tin hơn và theo chân cô vào lớp. Chỗ em ngồi là bàn đầu, cạnh bàn cô giáo. Thỉnh thoảng cô lại nhìn em bằng ánh mắt trìu mến. Em cảm thấy lòng mình ấm áp hẳn lên và từ hôm sau đi học, em không còn thấy lo sợ nữa.
Bạn Thu Tuyết kể về buổi đầu tiên đi học
193
Bạn thân của em thường hay vô lễ, không biết vâng lời cha mẹ. Hãy viết một bức thư khuyên nhủ bạn ấy Hướng dẫn Một con người hư hỏng luôn bắt đầu từ việc không biết vâng lời cha mẹ! Gửi bạn thân mến của tôi! Tôi muốn nói với bạn rằng nếu không biết quý trọng những gì bạn đang có thì nhất định một ngày nào đó bạn sẽ bị nỗi cô đơn giày vò khủng khiếp. Tôi không mong điều đó sẽ xảy đến nhưng đó sẽ là hậu quả tất yếu nếu bạn không thay đổi từ hôm nay. Đã biết bao năm tháng chúng ta chơi với nhau, chia sẻ những nổi buồn, niềm vui cho nhau. Và chúng ta cũng biết rõ cách ứng xử với mọi người của bạn và của tôi. Tôi đã muốn nói với bạn từ rất lâu rồi. Nhưng tôi còn ngần ngại vì điều đó có thể làm cho bạn tôi tổn thương. Nhân ngày hôm nay là ngày sinh nhật của mẹ bạn nên tôi sẽ chia sẻ thật lòng về những gì tôi đã trông thấy. Bằng những dòng chữ này và tôi mong bạn sẽ thay đổi và làm cha mẹ bạn cảm thấy hài lòng và tự hào về bạn và cảm thấy hạnh phúc, từ ngày hôm nay đến mãi mãi về sau. “Đi khắp thế gian không ai sánh bằng mẹ. Gian khổ cuộc đời ai nặng gánh hơn cha”. Tôi chắc chắn bạn đã nhiều lần nghe câu nói ấy. “Hiếu thành kính tổ tiên ơn gia độ. Báo ân phụ mẫu nghĩa sinh thành”. Truyền thống ấy vốn đã có từ ngàn đời nay trong văn hóa dân tộc. Và đến bây giờ nó vẫn còn nguyên giá trị. Chắc hẳn bạn cũng suy nghĩ như tôi. Và chắn rằng bạn cũng đã từng nghe: “Vạn cổ tình thâm ơn cúc dục. Thiên thu nghĩa trọng đức sinh thành”. Công ơn sinh thành dưỡng dục ấy sâu nặng nhất vũ trụ này. Không có cha mẹ, không có bạn ở trên đời. Và xin bạn đừng quên: “Còn mẹ đời càng thêm tươi. Con yêu mẹ quá nụ cười bao dung Mẹ nằm chỗ ướt canh sương Chỗ khô lót tiếng ru nhường con thơ”. Ơn sâu nghĩa nặng như trời cao, biển rộng, sông dài. Đừng vì một chút kiêu ngạo hay dỗi hờn mà phụ tấm lòng cao quý ấy. Thế mà, ngày hôm qua, bạn đã nặng lời với mẹ, cãi lại lời cha. Không những thế, bạn còn tỏ thái độ thờ ơ đối với những lời khuyên, lời dạy bảo của ba mẹ khi chính bạn là người mắc lỗi. Tôi cảm thấy bức xúc khi bạn xem cái tôi của bạn quá lớn. Bạn luôn làm theo những gì bản thân mình thích và không hề quan tâm đến suy nghĩ của mọi người xung quanh. Điều đó khiến tôi vô cùng thất vọng và không ngừng suy nghĩ về những hành động, thái độ và cách cư xử của bạn thể hiện đối với chính ba mẹ của mình. Và với cả tương lai của bạn nữa. Cha mẹ là người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng chúng ta từ lúc chào đời đến tận bây giờ. Luôn dành cho ta những gì tốt đẹp nhất. Cha mẹ là những thiên thần mà ông trời dã gửi đến cho chúng ta cùng với những món quà vô giá. Mọi Cha mẹ đều sẽ rầy la, khiển trách chúng ta khi chúng ta làm sai, mắc lỗi. Tuy nhiên bên cạnh đó họ luôn cho ta những lời khuyên nhủ để giúp ta sửa chữa lỗi lầm. Không ba mẹ nào lại muốn đánh, la mắng con của mình, một đứa con mà mình đã chợ đợi từng ngày để được nhìn thấy cả. Ơn sinh thành lớn lắm, nó có thể to lớn hơn cả vũ trụ này mà không có thứ gì so sánh được. Cho nên bạn phải biết vâng lời cha mẹ, người đã cho ta mọi thứ trong cuộc đời này. Lỗi lầm nào cũng có thể sửa chữa. Nhưng để làm thay đổi bản tính và cái tôi của một con người là cả một quá trình. Mình có thể hiểu rõ rằng bạn không biết nên bắt đầu từ đâu phải không? Nhưng bạn cứ yên tâm có mình ở đây mình sẽ luôn sát cánh bên bạn và mình sẽ cho bạn những lời khuyên thiết thực nhất có thể. Mình chắc rằng bạn sẽ nghĩ để biết vâng lời ba mẹ sẽ làm những việc rất khó khắn, cực nhọc. Nhưng không, bạn chỉ cần luôn lắng nghe và làm theo lời ba mẹ dạy bảo, khuyên nhủ, luôn tỏ thái độ kính trọng, nói năng lễ phép với ba mẹ của mình. Chỉ cần những hành động đó đã đủ rèn luyện bạn trở thành một người con hiếu thảo, biết vâng lời cha mẹ và có một nhân cách tốt đẹp. Nước biển mênh mông cũng không đong đầy tình mẹ. Mây trời lồng lộng không thể phủ kín công cha. Khi bạn còn là một bào thai nhỏ bé, ai đã mang nặng đẻ đau? Khi bạn cất tiếng khóc chào đời, ai đã mỉm cười hạnh phúc? Lúc bạn chập chững bước đi, ai đã nâng tay đỡ ngã? Còn khi bạn ốm đau, ai đã từng đêm thức trắng? Ai đã dắt bạn đến trường trong buổi học đầu tiên của cuộc đời? Tất cả đều là miễn phí. Đó là vất vả, gian lao bạn có hiểu không? Mỗi ngày bạn lên lớp, ai đã tảo tần kiếm tiền trang trải cuộc sống? Ai đã đi sớm về khuya, khổ nhọc với đời để bạn có áo quần đẹp, sách vở mới? Đó là đức hi sinh bạn có biết không? Ai đã gửi gắm niềm tin tưởng, mong bạn chăm ngoan, học giỏi, được thầy yêu, bạn mến? Ai đã che chở cho bạn khi người khác bắt nạt hay làm khó bạn? Từ những niềm tin nhỏ, ước mơ sẽ cất cánh bay về tương lai. Đó là tin tưởng bạn có biết không? Bạn đã từng làm những điều ấy với ai chưa? Nếu bạn chưa từng làm điều ấy thì bạn không thể cảm nhận hết nỗi vất vả, đức hi sinh và niềm tin tưởng mà cha mẹ đã dành cho bạn, cho riêng bạn mà thôi. Hãy mau trở về nhà và xin lỗi cha mẹ bạn để được tha thứ. Hay làm vơi đi nỗi khổ đau mà cha mẹ bạn đang chất chứa ở trong lòng vì những hành động bạn đã gây ra. Mọi lỗi lầm của bạn sẽ được tha thứ nếu bạn thành tâm hối lỗi. Xin bạn đừng ngần ngại vì cha mẹ bạn đang chờ đợi điều đó. Ai cũng có lỗi làm trong cuộc đời của mình. Và tha thứ cho con là bản năng của các bậc cha mẹ đó. Vâng lời cha mẹ nghĩa là đáp trả lại tấm lòng mong mỏi ấy. Đừng vô lễ với cha mẹ dù bất kì lí do gì. Hãy làm cho cha mẹ bạn thấy vui lòng và an tâm bằng việc có gắng học tập cho thật tốt. Đừng nghĩ gì xa xôi và đừng cầu mong may mắn sẽ đến khi bạn không chăm lo học tập. Ông trời chỉ mang may mắn đến cho những ai không ngừng cố gắng mà thôi. Hãy bằng nghị lực của bạn mà chiếm lĩnh tri thức càng nhiều càng tốt. Bởi tri thức là sức mạnh, ai có tri thức người đó có sức mạnh. Tôi biết những dòng chữ thay cho lời nói của mình sẽ phần nào làm bạn tổn thương. Nhưng mình cũng tin chắc rằng qua những dòng chữ nhỏ nhoi này sẽ góp phần giúp bạn khắc phục những khuyết điểm của bản thân mình và trở nên tốt hơn. Hôm nay là ngày sinh nhật mẹ bạn, nên hãy thể hiện những hành động đó để bù đắp lại những khoảng trống ưu phiền của ba mẹ bạn, đừng bao giờ làm cho ba mẹ buồn lòng và hãy trở thành một người tốt, biết vâng lời cha mẹ, một người có ích cho xã hội để ba mẹ tự hào bạn nhé! Tôi chờ đợi bạn làm được điều cao quý ấy. Còn nếu bạn không làm được, tôi sẽ suy nghĩ lại về tình bạn của chúng ta và tất cả những gì chúng ta đã cùng cố gắng.
Bạn thân của em thường hay vô lễ, không biết vâng lời cha mẹ. Hãy viết một bức thư khuyên nhủ bạn ấy
1,426
Bạn thân của em ước mơ trở thành chiến sĩ công an Mang bộ trang phục công an dùng để biểu diễn về nhà, Hùng Sún – thằng bạn thân của tôi khoe khắp xóm ngày mai nó được đóng vai chú công an trong hội diễn của trường. Tối, tôi sang chơi thấy cu cậu vẫn lúi húi với bộ quân phục. Nào là ủi, nào là gấp, rồi lại treo, suốt cả tiếng đồng hồ mà không biết chán. Vừa làm lại vừa huyên thuyên đủ chuyện. Mà chuyện nào cũng là các chú công an giỏi thế này, các chú giỏi thế kia. Bởi trong mắt Sún, các chú công an vốn là hình mẫu lí tưởng, là thần tượng lâu nay. Sáng hôm sau, khi tôi còn đang ngái ngủ, tiếng thằng Hùng đã í ới gọi tôi từ đầu ngõ. Mơ màng, tôi kéo lê mình ra mở cửa. Nhìn thấy nó tôi tỉnh cả ngủ. Ngay trước mắt tôi là Hùng Sún như một chiến sĩ công an thực thụ với bộ cánh xanh xanh màu lá cây. Còn trên đầu là chiếc mũ cứng được bọc vải xanh, vành mũ màu nâu bóng, ở giữa là một đường viền lớn bằng vải đỏ. Nổi bật trên đỏ là sợi dây màu vàng được tết khéo léo. Ở chính giữa mũ là một ngôi sao vàng năm cánh ẩn giữa hai nhành lúa hướng thẳng lên trên. Bộ quân phục Hùng mặc trông rất vừa vặn, y như là đặt may sẵn cho nó vậy. Trên nền cổ áo sơ mi trắng tinh là chiếc cà vạt màu xanh được thắt rất chuyên nghiệp. Mặc bên ngoài lớp áo trắng là chiếc áo khoác xanh với hàng khuy tròn, mạ vàng. Hai bên vai áo gắn hai chiếc quân hàm nền đỏ thắm. Trên đó đính hai ngôi sao nhỏ và hai đường kẻ chỉ màu vàng, ở phần eo, Hùng Sún cũng đeo một chiếc thắt lưng da màu nâu, to bản. Còn dưới chân là đôi giầy da bóng loáng còn thơm thơm mùi xi. Nhìn Sún khác hẳn mọi ngày. Trông nghiêm nghị và oai phong lắm. Đến nơi tôi suýt không nhận ra.
Bạn thân của em ước mơ trở thành chiến sĩ công an
370
Bạn Trung Dũng kể về gia đình mình với người bạn mới Gợi ý Nhà mình chỉ có hai mẹ con. Mẹ mình là giáo viên Trường Tiểu học. Hàng ngày hai mẹ con mình cùng đến trường và cùng về nhà. Ngôi nhà của mình rất nhỏ bé, nằm cách trường không xa lắm, nhưng ở đó mình thấy rất ấm áp bởi tình yêu thương mẹ dành cho mình. Mẹ là người rất gọn gàng, ngăn nắp. Mọi thứ của gia đình đều được mẹ sắp xếp ngay ngắn, đặc biệt là chiếc giá sách và bàn học của mình. Nhiều khi mình mải chơi để đồ đạc bừa bộn khắp nhà nhưng chợt nhớ đến mẹ thế là mình lại phải đi dọn lại ngay.
Bạn Trung Dũng kể về gia đình mình với người bạn mới
126
Bạn Trần Công Chính bị sốt cao, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho Gợi ý Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Phú Thọ, ngày 19 tháng 10 năm 2009 ĐƠN XIN NGHỈ HỌC Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 3B Trường Tiểu học Lâm Thanh Em tên là: Trần Công Chính Học sinh lớp: 3B Em làm đơn này xin phép cô cho em nghỉ học ngày 19/10/2009. Lý do nghỉ học: em bị sốt cao, phải vào bệnh viện truyền nước. Em xin hứa sẽ chép bài, học bài và làm bài đầy đủ. Ý kiến của gia đình học sinh Học sinh Cháu bị sốt cao. Kính xin cô cho cháu Chính được nghỉ học một ngày. Trần Công Chính Trực Trần Chính Trực
Bạn Trần Công Chính bị sốt cao, em hãy giúp bạn viết đơn xin nghỉ học theo mẫu đã cho
127
Bạn Trần Huy cường kể những điều biết về nông thôn Gợi ý Nông thôn là một nơi rất xa thành phố. ở nông thôn có những bãi cỏ xanh mượt mà, những cánh đồng bát ngát thẳng cánh cò bay, hàng tre xanh, dòng sông, con đò, mái đình cây đa… Nếu ta muốn biết về nét đẹp truyền thống văn hoá dân tộc thì đó chính là nông thôn. Nhiều món ăn đặc sản của người thành phố ngày nay như ốc, ếch,… chính là những món ăn đạm bạc, dân dã của người nông thôn xưa. Đến với nông thôn là về với cuộc sống của chính mình.
Bạn Trần Huy cường kể những điều biết về nông thôn
109
Bạn Trần Quý Quyết gủi điện báo tin cho gia đình Gợi ý – Họ tên, địa chỉ người nhận: Mai Thu Trang, tổ 5, thị trấn Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. – Nội dung: Con đang ở nhà bác Thanh rồi. – Họ tên, địa chỉ người gửi: Trần Quý Quyết, số 44/5, đường Cách mạng tháng Tám, thành phố Hồ Chí Minh.
Bạn Trần Quý Quyết gủi điện báo tin cho gia đình
60
Bạn Vũ Văn Quyền kể về buổi đầu tiên đi học Gợi ý Với em, buổi, đầu tiên đi học là một kỉ niệm không bao giờ quên. Cuộc sống của gia đình em rất khó khăn, Vì vậy, hành trang cho em vào lớp một là một chiếc cặp sách đã cũ cùng bộ sách giáo khoa do chị em để lại. Buổi sáng hôm ấy, em cũng được bố mẹ và chị gái chuẩn bị rất tinh tươm để đến trường. Bố mẹ thì phải đi làm xa, em cùng chị gái đi học vì chị đang học lớp 4. Hai chị em đi bộ, con đường mọi khi em vẫn theo chị đến trường chơi hôm nay sao bỗng nhiên em cảm thấy nó dài quá và xa lạ làm sao. Trong đầu em lúc đó có biết bao điều muốn hỏi chị. Bỗng từ đâu tiếng trống vang lên, đó là tiếng trống báo chào đón học sinh lớp 1 và ngôi trường từ từ hiện ra trước mắt em. Chân em như muốn dừng lại, biết bao ánh mắt tò mò đang nhìn vào em. Em rụt rè bước theo chị vào cửa lớp. Ôi! Em không sao kể hết được lòng mình lúc đó.
Bạn Vũ Văn Quyền kể về buổi đầu tiên đi học
205
Bạn Xuân Phong kể lại buổi đầu tiên đi học Gợi ý Nhớ lại ngày đầu tiên đi học đến bây giờ em vẫn thấy ngờ ngợ như mới vừa hôm qua. Thật là vui vì chưa bao giờ em được chứng kiến cảnh sân trường đông vui tấp nập đến như vậy. Biết bao nhiêu là học sinh của trường và các thầy cô giáo trong những bộ trang phục mới mẻ và đẹp mắt đi đi lại lại trong sân trường để đón chào một năm học mới. Em mải mê đứng ngắm nhìn khung cảnh sân trường mà quên mất từ bao giờ là mình phải vào lớp để chuẩn bị học buổi học đầu tiên.
Bạn Xuân Phong kể lại buổi đầu tiên đi học
117
Bạo lực học đường Hướng dẫn Bạo lực học đường là những hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn thương về mặt thể xác lẫn tinh thần giữa học sinh vs học sinh hay giữa học sinh vs giáo viên, vì những lý do không đâu như là thấy ghét là lại có một vụ bạo lực học đường, những chuyện bạo lực học đường xảy ra đã dẫn tới việc học tập sa sút. Hậu quả của việc bạo lực học đường có thể bị đưa ra hội đồg kỹ luật hoặc nếu nặng hơn thì sẽ bị đuổi học, rồi sau đó có thể là lâm vào các tệ nạn xã hội như là sử dụng ma tuý,đua xe,rượu bia v.v….. Những việc làm đó sẽ ảnh hửơng tới gia đình,làm cho các thành viên trog gia đình thất vọng và buồn, làm hư danh tiếng của một gia đình, bị bạn bè xa lánh. Chúg ta phải có sự quyết liệt phê phán răng đe, giáo dục cải tạo, trừng phải để làm gương cho ng khác, trong mỗi gia đìh ng lớn trog nhà phải làm gương, mạnh dạng phê phán những bạo lực học đường, cần quản lý và ngăn chặn những hoạt động có tác hại đến môi trường văn hoá xã hội.
Bạo lực học đường
219
Bản hùng ca trị thủy trong buổi đầu dựng nước – truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Bản hùng ca trị thủy trong buổi đầu dựng nước Trước đây một số người xếp truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh trong nhóm truyện thần thoại. Nay tìm hiểu và suy ngẫm, chúng ta nhận rõ câu chuyện về hai vị thần này – thần Núi, thần Nước – gắn liền với thời đại Hùng Vương, thời đại mở đầu của lịch sử xây dựng đất nước ta. Do đó, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh được coi là một truyền thuyết, tuy nhiều yếu tố hoang đường, thần linh nhưng vẫn có cơ sở thực tế. Thực tế mà câu chuyện phản ánh là công cuộc lao động gian khổ, rất đỗi hào hùng của cha ông ta chống lại nạn bão lụt trên lưu vực đồng bằng Bắc Bộ. Đây là bản hùng ca trị thuỷ của dân tộc Việt Nam trong buổi đầu xây dựng đất nước. 1. Khúc ca thứ nhất. Từ đầu truyện đến … “mỗi thứ một đôi”: Vua Hùng kén rể Truyện kể rằng: “Hùng Vương thứ mười tám có ngứời con gái … đẹp như hoa, tính nết hiền dịu…”. “Thứ mười tám” là những năm nào, thuộc thế kỉ nào, chưa ai xác định được. Mà cũng không cần phải xác định, bởi vì đây là thời gian ước lệ, thời gian thiêng để đưa người kể và người nghe trở về thuở xa xưa, sống với thời đại buổi đầu tổ tiên ta dựng xây đất nước. Vua Hùng có người con gái đẹp, “muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng”. Điều ấy có ý nghĩa là đức vua, các Lạc hầu, bàn dân thiên hạ đang sống hạnh phúc, tha thiết mong muốn hạnh phúc ấy được bảo vệ, được phát triển bền vững, đẹp như tình yêu tuổi trẻ của đôi trai tài, gái sắc. Ước mơ, khát vọng được cụ thể hoá bằng câu chuyện kén rể, thật thú vị. Có hai chàng trai đến cầu hôn. Hai nhân vật chính của truyền thuyết xuất hiện: Sơn Tinh – Thuỷ Tinh. Nếu tưởng tượng, chúng ta sẽ hình dung cuộc “ra mắt” của hai chàng trai vô cùng… ngoạn mục. Sơn Tinh thì “vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi”. Còn Thuỷ Tinh, tài cũng không kém: “gọi gió, gió đến ; hô mưa, mưa về”. Hai chàng trai, hay là hai vị Thần, hai con người, hay là hai yếu tố tạo nên Đất và Nước ; chuyện trai gái tìm nhau hay là chuyện của vũ trụ, đất trời đua tranh sức mạnh, sự diệu kì của cuộc sống? Biết bao ý nghĩa ẩn hiện đằng sau hai hình tượng Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. Vì vậy cuộc kén rể của vua Hùng ắt phải nảy sinh một… “bài toán”, một “câu đố”. Điều kiện được nêu lên gồm: thời gian dâng lễ nhanh, hay chậm: “ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ cho cưới con gái ta”, lễ vật long trọng, độc đáo: “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nộp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi”. Nếu không phải là thần linh, hai chàng trai kia làm sao mà bình tĩnh chấp nhận “bài toán thách cưới” ấy của vua Hùng? Có thể nói, việc vua Hùng kén rể vừa giống việc của con người, rất bình thường lại vừa là việc của thần thánh, phi thường, kì ảo. Đúng là một khúc ca vừa hiện thực vừa lãng mạn, thấm đẫm trí tưởng tượng. Kết quả việc kén rể của vua Hùng đã rõ. Sơn Tinh vừa là người thắng cuộc vể thời gian vừa là người rất đỗi tài hoa, dâng “đầy đủ lễ vật”. Hạnh phúc thuộc về chàng. Nhưng đối thủ đâu chịu để cho chàng yên. Thế là cuộc giao chiến đã diễn ra. Câu chuyện được kể bằng ba sự việc, có thể coi là ba hiệp đấu dữ dội, căng thẳng, rất đỗi hào hùng. Hiệp một, Thuỷ Tinh vào trận bằng tất cả sự tức giận của kẻ đến muộn, bị mất hạnh phúc: “Thần hô mưa, gọi gió làm thành dông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước”. Chiến thuật, quân lính, vũ khí mà Thuỷ Tinh tung ra thật khủng khiếp. Đây là sự giận dữ của thần linh, hay chính là sự khốc liệt của mưa, gió, bão lụt,… mà “thành Phong Châu” – ruộng đồng, nhà cửa, cuộc sống của nhân dân ta ngày xưa và ngày nay đã phải chịu đựng – trong cơn cuồng nộ của thiên tai? Hiệp hai, cuộc giao chiến lên đến đỉnh cao. “Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép lạ bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành luỹ đất, ngăn chặn dòng nước lũ: Nước sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu”. Bức tranh chiến trận giữa hai vị thần tiếp tục được người xưa miêu tả vẫn theo bút pháp vừa kì ảo, giàu tưởng tượng vừa rất hiện thực, gợi cho chúng ta nhiều liên tưởng cụ thể. Tổ tiên ta đâu chỉ kể chuyện Sơn Tinh chống Thuỷ Tinh đơn thuần mà có lẽ đây là ý chính – phản ánh và ngợi ca công cuộc lao động gian lao, vất vả chống bão lụt để bảo vệ cuộc sống của chính mình và muôn đời con cháu mai sau. Hình ảnh đặc sắc nhất trong đoạn truyện này cũng là khúc cao trào của bản hùng ca trị thuỷ là “Nước sông dâng lên bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu”. Phải chăng, đây chính là biểu tượng thẩm mĩ mà cha ông ta muốn thần linh hoá những con đê, con đập ngăn lũ, chống lụt? Phải chăng trí tuệ, bàn tay, sức lực của dân tộc Việt Nam từng bao đời chống bão lụt đã được truyền thuyết chung đúc lại, huyền thoại hoá, tôn vinh, thần linh hoá? Hiệp hai của cuộc giao chiến giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh toát ra nhiều ý nghĩa nói mãi không cùng. Đến hiệp ba, kết thúc trận giao chiến thật hợp lẽ đời, hợp lòng người. “Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời, cuối cùng Sơn Tinh vẫn vững vàng mà sức Thuỷ Tinh đã kiệt. Thần Nước đành rút quân”. Sơn Tinh chiến thắng, giữ trọn được hạnh phúc bên người đẹp. Đó cũng chính là nhân dân ta đã chiến thắng bão lụt, giữ vững cuộc sống thanh bình. Nghe kể, hoặc đọc truyện, ai mà chẳng vui, thở phào nhẹ nhõm. Thán phục chàng Sơn Tinh bao nhiêu, chúng ta càng thán phục và nhớ ơn Tổ tiên ta, nhân dân ta bấy nhiêu. Bởi vì, chính Sơn Tinh – vị thần núi Tản Viên là người đại diện cho cả dân tộc ta đã bao đời nay tấu lên bản hùng ca trị thuỷ để bảo vệ non sông, đất nước, bảo vệ cuộc sống hạnh phúc, thanh bình cho mỗi chúng ta. Người xưa kể rằng: “Từ đó, oán nặng, thù sâu, hằng năm Thuỷ Tinh làm mưa gió, bão lụt dâng nước đánh Sơn Tinh. Nhưng năm nào cũng vậy, Thần Nước đánh mỏi mệt, chán chê vẫn không thắng nổi Thần Núi…, đành rút quân về”, Về sự việc này, nhân dân vùng Tây Bắc cũng có bài đồng dao kể tiếp rằng: “Núi cao sông hãy cồn dài – Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen”. Vén bức màn huyền thoại, kì ảo của câu chuyện truyền thuyết xa xưa, chúng ta dễ dàng nhận ra ý nghĩa hiện ‘thực và dễ dàng nghe được lời nhắn nhủ của cha ông rằng: Thiên tai, bão lụt hằng năm là kẻ thù mang “cơn ghen” truyền kiếp đối với con người. Muốn bảo vệ cuộc sống hạnh phúc của mình, như Sơn Tinh bảo vệ hạnh phúc bên nàng Mị Nương xinh đẹp, chúng ta phải không ngừng cảnh giác, thường xuyên nêu cao ý thức phòng chống bão lụt, phòng chống thiên tai nói chung. Tóm lại, truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là câu chuyện tưởng tượng, kì ảo, giải thích hiện tượng bão lụt và thể hiện sức mạnh, ước mong của người Việt cổ muốn chế ngự thiên tai, đồng thời suy tôn, ca ngợi công lao dựng nước của các vua Hùng. Câu chuyện được kể bằng những hình ảnh vừa hiện thực vừa lãng mạn, ngân nga như một bản anh hùng ca, bản hùng ca trị thuỷ của dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước. Là truyền thuyết xuất hiện từ xa xưa, nhưng âm vang của câu chuyện, nhất là hai hình tượng nhân vật Sơn Tinh, Thuỷ Tinh vẫn sống động, nhắc nhở chúng ta ngày nay nhiều điều, cả về công cuộc chế ngự thiên tai, lẫn cảnh giác, chế ngự với thói đời ghét ghen, hờn giận…
Bản hùng ca trị thủy trong buổi đầu dựng nước – truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh Ngữ Văn 6
1,564
Đề bài: Gia đình em và cửa hàng vật liệu xây dựng làm hợp đồng thống nhất với nhau về mua bán. Em hãy giúp bố mẹ làm bản hợp đồng đó Bài làm Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ****** HỢP ĐỒNG MUA BÁN VẬT LIỆU XÂY DỰNG – Căn cứ vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày… tháng… năm… của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản hướng dẫn thi hành của các cấp các ngành. – Căn cứ vào nhu cầu và khả năng của hai bên. Hôm nay, ngày 16 tháng 05 năm 2009 Tại địa điểm: Trung tâm Thương mại huyện Nam Sách, Hải Dương Chúng tôi gồm: Bên A: Cửa hàng vật liệu xây dựng Thành Phong Địa chỉ: tầng 2 Trung tâm Thương mại huyện Nam Sách, Hải Dương Điện thoại: 0320…. Fax: 0320… Tài khoản:… Mã số thuế:… Đại diện là ông Nguyễn Văn Quyền Chức vụ: Trưởng phòng Kinh doanh Bên B: Bà Trần Thị Minh Việt Địa chỉ số nhà… đường… thành phố Hải Dương Điện thoại: 0906868XXX Hai bên thoả thuận kí kết Hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng với nội dung và các điều khoản sau: Điểu 1. Nội dung giao dịch bao gồm việc mua và bán vật liệu xây dựng gồm sắt, thép. Điều 2. Trách nhiệm và nghĩa vụ bên A – Bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời sắt, thép cho bên B theo đúng đơn giá đã công bố; – Vận chuyển hàng hoá bảo đảm, an toàn đến giao tận địa chi đã đăng kí của bên B. Điểu 3. Trách nhiệm và nghĩa vụ của bên B. – Kiểm tra số lượng, chủng loại, chất lượng và bốc xếp hàng hoá từ phương tiện chuyên chở vào cửa hàng. – -Thanh toán đầy đủ theo đơn giá của bên A và đúng thời gian cho bên A. Điểu 4. Phương thức thanh toán – Bên B thanh toán cho bên A chậm nhất là 7 ngày sau khi nhận hàng; – Bên B chủ động gặp bên A để hoàn tất việc thanh toán. Điểu 5 Hiệu lực của hợp đồng. Hợp đổng này có hiệu lực từ ngày 16 tháng 05 năm 2009 đến hết ngày 16 tháng 11 năm 2009. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có điểm nào chưa phù hợp thì hai bên sẽ bàn bạc đi đến thống nhất cách giải quyết. Những nội dung hiệu chỉnh sẽ được ghi lại trong bản "Phụ lục hợp đồng". "Phụ lục hợp đổng" có giá trị như hợp đổng chính thức. Hợp đồng này được lập thành 04 bản có giá trị như nhau, mỗi bên giữ 02 bản. Đại diện bên A Đại diện bên B Quyền Việt Nguyễn Văn Quyền Trần Thị Minh Việt
Bản hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng
447
Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên – Bình giảng văn lớp 7 Hướng dẫn Ông cha ta kể rằng: Năm 1076, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (một khúc của sông Cầu, nay thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh). Bỗng một đêm, quân sĩ chợt nghe từ trong đền Trương tướng quân (thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát là hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt) có tiếng thơ ngâm vẳng ra: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phân tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Đó là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo thể Đường luật, nguyên văn chữ Hán. Chúng ta có thể đọc bản dịch thơ như sau: Sông núi nước Nam- vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu chưa xác định ai là tác giả bài thơ. Vì bài thơ được vọng ra từ một đền thờ linh thiêng có tác dụng khích lệ quân dân ta quyết tâm chiến đấu chống giặc, nên người đời gọi đây là bài “Thơ Thần”. Bài thơ không có tên. Để tiện ghi nhớ, nhiều người đặt tên là bài Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam). Như vậy, từ hoàn cảnh ra đời, đến việc tiếp nhận, truyền bá, việc tìm tác giả, việc đặt tên, tác phẩm thơ này đậm chất huyền thoại, linh thiêng. Đó không còn là tiếng nói của con người, mà âm vang tiếng thánh thần, không còn là suy ngẫm cảm xúc của một người – tác giả – mà là trí tuệ, tâm hồn của cả dân tộc Việt Nam xưa cũng như nay. Nói bài thơ làm theo thể Đường luật, thất ngôn tứ tuyệt vì mỗi câu thơ gồm bảy tiếng (bảy chữ, đọc ra bảy âm), cả bài gồm bốn câu. Trong bài thơ, câu 1, 2, 4 vần với nhau ở tiếng cuối: đế cư, thiên thư, bại hư. Ba tiếng bắt vần với nhau đều là Vần bằng, thanh không. Ở bản dịch thơ, ba tiếng cuối câu 1, 2, 4 cũng vần với nhau: ở, sở, vỡ, khác với bản nguyên tác là người dịch dùng vần trắc, hai thanh “hỏi, ngã”, nhưng vẫn đúng luật thơ, đọc lên ta vẫn thấy xuôi tai, mang âm điệu của thơ trung đại, hài hoà cân đối. Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên đinh phận tại thiên thư Nước Nam là của người Nam ở. Điều hiển nhiên đó đã được sách trời ghi rõ, xác định rõ. Ở câu đầu, ta chú ý hai chữ “Nam đế”. Nam đế là hoàng đế nước Nam, hiểu là “vua nước Nam”. Tại sao tác giả không dùng chữ “Nam vương”, cũng có nghĩa là “vua nước Nam”? Bởi vì, trong quan niệm của những kẻ thống trị phong kiến phương Bắc, thì chỉ có vua của họ ‘mới được phép xưng là “đế”. Họ tự cho mình là “thiên tử” (con trời), hơn tất cả các vị vua ở các xứ sở khác. Dùng chữ “Nam đế”, tác giả Nam quốc sơn hà biểu hiện một niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đằng sau câu thơ, ta như nghe được một tiếng nói mạnh mẽ, kiêu hãnh: Phương Nam ta cũng có đế, bình đẳng, ngang hàng với phương Bắc, không kẻ nào được phép coi thường. Sau câu thứ nhất vừa sáng ngời ý tưởng vừa dạt dào cảm hứng tự hào, đến câu sau tiếp tục ý tưởng và cảm hứng ấy. “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” mang âm trầm hùng, rắn chắc như một lời khẳng định dút khoát. Hai chữ cuối “thiên thư” nghĩa là “sách trời, ý của trời”, tiếp tục nhấn mạnh một lẽ đương nhiên, ngày nay ta gọi là chân lí, là lẽ phải. Như vậy, về nội dung “biểu ý”, hai câu thơ đầu khẳng định chủ quyền đất nước, quyền độc lập, bình đẳng của dân tộc ta. Đồng thời từ ý nghĩa, từ âm điệu và ngôn ngữ thơ toát ra niềm tự hào, kiêu hãnh, thái độ hiên ngang, tư thế ngẩng cao đầu của tác giả bài thơ, của cả dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Nội dung biểu ý cũng thật rõ ràng: kẻ thù kia, không được xâm phạm. Nếu xâm phạm tới, chúng bay sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại. Lời lẽ và âm điệu rắn đanh lại, vừa nêu một phán đoán, vừa cảnh cáo bọn ngoại xâm. Nghe được lời thơ này, hẳn quân dân ta – những con người đã ý thức được chủ quyền đất nước, tin ở luật hiển nhiên của tạo hoá, tin ở “sách trời” – sẽ vô cùng phấn khởi, càng thêm niềm tin và quyết tâm xốc tới, tiêu diệt kẻ thù. Còn bọn ngoại xâm phi nghĩa, khi nghe những lời này – lời thơ, lời thánh thần truyền dạy, – hẳn sẽ không thể yên lòng. Chúng sẽ hoang mang, nghĩ tới tương lai, số phận “thủ bại hư”, sự thất bại tất yếu phải nhận lấy. Lời thơ khác nào lời kêu gọi, truyền hịch, truyền niềm tin, niềm phấn khởi cho quân ta, đồng thời cũng là lời cảnh cáo, lời báo hiệu, gieo sự hoang mang, hoảng hốt tới quân thù. Cũng giống hai câu thơ trên, hai câu thơ cuối bài này đã hài hoà ý tưởng với tình cảm, tính “biểu ý” hài hoà tính “biểu cảm”. Tính biểu ý nổi rõ trên bề mặt ngôn từ, còn tính biểu cảm ẩn sâu trong chữ nghĩa, trong nhạc điệu và trong sự cảm nhận, liên tưởng suy đoán tự nhiên của người đọc. Xem lại bài bình giảng Ca dao châm biếm – vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta
Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên – Bình giảng văn lớp 7
1,034
Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta (văn mẫu 7) Hướng dẫn Bảo vệ rừng là bảo vệ ngôi nhà chung của loài người Mở bài: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Nếu rừng bị phá hoại, diện tích bao phủ của rừng giảm sẽ gây ra những tai họa khủng khiếp. Điều đó đe dọa trực tiếp đến đời sống của con người. Vì thế, bảo vệ rừng xanh là trách nhiệm của mỗi con người trên trái đát này. Thân bài: Tại sao phải bảo vệ rừng: Nếu cây rừng bị tàn phá, lớp thảm thực vật xanh cũng biến mất. Diện tích rừng giảm khiến lượng khí cacbonic tăng cao, khí oxi giảm thấp. Hiện tượng hiệu ứng nhà kính tăng cường mạnh mẽ làm trái đất nóng lên. Nguy hiểm nhất là băng ở hai cực sẽ tan nhanh, triều cường dữ dội hơn. Một phần đất đai sẽ bị chìm sâu dưới biển. Đất ở và đất sản xuất thu hẹp. Nhất là các đồng bằng ven biển. Biển lấn sâu hơn vào đất liền ảnh hưởng đến dân sinh và anh ninh lương thực thế giới. Theo báo cáo của các tổ chức môi trường thế giới, trong những năm qua, diện tích rừng trên thế giới liên tục bị thu hẹp bởi sự tàn phá của con người để lấy đất làm nông nghiệp hoặc xây dựng các nhà máy. Diện tích rừng nguyên sinh có mật đọ bao phủ dày cũng dần biến mất. Khi diện tích rừng bị thu hẹp, người ta cũng nhận thấy các hiện tượng khí hậu cực đoan cũng diễn ra trầm trọng và ngày càng có dấu hiệu tăng dần về mức độ và khả năng tàn phá đời sống con người. Nếu rừng bị tàn phá, vòng tuần hoàn của nước cũng bị ảnh hưởng nhiều. Cây xanh hút nước trong lòng đất và giải phóng vào không khí, tạo nên đội ẩm, thúc đẩy vòng đối lưu. Khi rừng bị tàn phá, cây không còn giải phóng hơi nước nữa. Điều này khiến cho khí hậu nóng bức, khô hạn ở nhiều nơi. Có thể nhận thấy khí hậu trên trái đất ngày càng nóng lên rõ rệt. Độ ẩm trong không khí cũng suy giảm tác động trực tiếp sức khỏe và các hoạt động sản xuất của con người. Rừng có vai trò điều phối nguồn nước bề mặt và nguồn nước ngầm. Không có rừng, toàn bộ nguồn nước bề mặt bị chảy nhanh ra biển, nguồn nước ngầm dần bị cạn kiệt. Tính trên toàn thế giới, có gần 1.2 tỉ người không thể tiếp cận được nguồn nước sạch. Cứ 6 người thì có 1 người chịu ảnh hưởng của tình trạng thiếu nước. Tỉ lệ này còn tiếp tục tăng cao. Đặc biệt nhiêm trọng hơn ở các nước châu Phi. Trên toàn bộ lục địa đen này có khoảng 360 triệu người không có nước sạch hằng ngày. Phá rừng sẽ làm giảm sự đa dạng sinh học và làm môi trường bị suy kiệt. Hằng năm có hàng trăm loài bị tuyệt chủng và hàng trăm loài khác rơi vào tình trạng giảm số lượng nghiêm trọng. Nếu tính từ khi các loài hình thành trên trái đất cho đến ngày nay, đã có hơn 80% các loài vật đã không còn được tìm thấy trên trái đất. Số loài bị tuyệt chủng tiếp tục tăng cao trong tương lai nếu con người không có những giải pháp thiết thực và hiệu quả đối với việc phục hồi và bảo vệ rừng cây trên trái đất. Một ngày nào đó, rất có thể, trái đất sẻ trở thành hành tinh chết khi con người đã tàn phá hết cây xanh. Chính con người là tác nhân lớn nhất hủy hoại rừng. Các hoạt đọng sản xuất của con người từng ngày giết chết sự sống của rừng. Một ngày nào đó, khi rừng cây không còn nữa, sự sống của con người thật khó mà tiếp diễn. Phải làm gì để bảo vệ rừng trên trái đất? Hãy dừng ngay các hành động tàn phá rừng nhằm lấy đất làm nông nghiệp hoặc xây dựng các công xưởng, sân golf,… Mỗi cây xanh bị chặt xuống khiến chúng ta phải trả giá đắt hơn những gì ta thu được từ hoạt động sản xuất. Lập tức phục hồi các diện tích rừng đã bị tàn phá. Nhanh chống phủ xanh các đồi trọc và tăng cường độ che phủ của cây xanh để lấy lại màu xanh cho trái đất. Mỗi cây xanh là nguồn sống, là hơi thở, là linh hồn của trái đất. Hãy biết quý trọng nó dù là mầm xanh nhỏ nhất. Hãy bảo vệ những rừng xanh còn lại bằng mọi giá bởi phải mất đến vài chục năm. Thậm chí là vài trăm năm chúng ta mới có được những cánh rừng như thế. Phải mất vài chục năm, một mầm xanh mới phủ bóng. Nhưng chỉ vài phút là có thể đón hạ nó. Một cây xanh bị đốn hạ chẳng khác nào giết chết một tế bào sống trong một cơ thể. Không có gì bù đắp nổi thiệt hại nếu chúng ta đốn hạ một cây đại thụ trăm năm tuổi. Hãy vì tương lai trái đất, vì những con người trên các lục địa đang phải gánh chịu hậu quả do lòng tham của chúng ta gây ra. Bằng những hành động thiết thực, hãy đánh thức những trái tim vô cảm trước cuộc sống. Bằng lòng dũng cảm, hãy chặn đứng những hành dộng đang ngày đêm tàn phá rừng, tàn phá sự sống trên trái đất. Và chắc chắn rằng lương tri sẽ chiến thắng. Những hành động tàn bạo đối với rừng xanh sẽ phải dừng lại và màu xanh sẽ trở lại trên trái đất. Kết bài: Rừng chính là tài nguyên vô giá của nhân loại. Rừng đóng một vai trò không thể thay thế được trong tự nhiên và đời sống xã hội. Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Hãy giữ lấy rừng; hãy giữ lấy lá phổi xanh của trái đất trước khi quá muôn.
Bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta (văn mẫu 7)
1,086
Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người,… Tiếng nói văn nghệ – Nguyễn Đình Thi Hướng dẫn Đề bài: “Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn con người. Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”. (Tiếng nói văn nghệ – Nguyễn Đình Thi) Bằng việc phân tích một vài tác phẩm văn chương trong chương trình Ngữ văn, em hãy làm sáng tỏ nhận định của Nguyễn Đình Thi. Gợi ý: a) Giải thích ngắn gọn ý kiến của Nguyễn Đình Thi: Ý kiến của Nguyễn Đình Thi nêu lên nguồn gốc của văn nghệ (nghệ thuật) – trong đó có văn học – cũng như vai trò, ý nghĩa, tác động của văn nghệ (nghệ thuật) đối với tâm hồn người tiếp nhận, thưởng thức: – Văn nghệ “bắt rễ ở cuộc đời hàng ngày của con người”. Các tác phẩm văn học, nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực. Người nghệ sĩ lấy chất liệu sáng tác từ đời sống hàng ngày. – Văn nghệ “tạo được sự sống cho tâm hồn con người”. Đồng thời làm “mở rộng khả năng của tâm hồn”. Văn học, nghệ thuật giúp đời sống tinh thần của con người trở nên phong phú hơn. Nó làm giàu có thêm tâm hồn với những tình cảm vui – buồn, yêu thương – căm giận… “Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”. Văn nghệ góp phần nuôi dưỡng, bồi đắp thế giới tinh thần của người thưởng thức, tiếp nhận. “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có” (Hoài Thanh) b) Làm sáng tỏ ý kiến của Nguyễn Đình Thi qua việc phân tích một vài tác phẩm trong chương trình ngữ văn. Thí sinh chỉ cần chọn 1 đến 2 tác phẩm mà mình tâm đắc, tập trung phân tích và cảm nhận sâu sắc, tinh tế để làm sáng tỏ ‎ ý kiến của Nguyễn Đình Thi. Bài làm: Mở bài: Từ khi biết nhận biết về cái đẹp, con người không ngừng dùng cái đẹp để làm phong phú thêm cuộc sống của mình. Trong những vẻ đẹp ấy, văn chương đêm lại cho đời sống con người cái đẹp muôn hình vạn trạng. Xuất phát từ ý thức con người, văn chương quay trở lại phục vụ và làm đẹp thêm cuộc sống. Bởi thế, nhận xét về văn chương, trong Tiếng nói văn nghệ, Nguyễn Đình Thi có viết: “Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn con người. Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”. Thân bài: Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Văn chương con được gọi với tên gọi khác là văn nghệ. Đôi khi văn học cũng được đồng nhất với văn chương. Trước hết, văn chương là một loại hình nghệ thuật đặc thù của con người. Văn chương “bắt rễ ở cuộc đời” không chỉ về khái niệm nguồn gốc mà còn ở nội dung phản ánh. Từ khi con người biết dùng ngôn ngữ để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên và đời sống tình cảm thì văn chương xuất hiện. Không ở đâu khác, nó hiện hình ngay trong đời sống, xuất phát từ nhu cầu trình bày, thể hiện và thưởng thức của con người. Từ những sản phẩm văn chương có giá trị đã được tạo thành, nó lưu truyền trong xã hội. Từ cảm xúc của một người, văn chương tạo cảm xúc cho nhiều người, nhiều thế hệ và nhiều thời đại. Văn chương tạo được sự sống cho tâm hồn con người. Đọc một tác phẩm hay, ta không khỏi rung động và mường tượng về những gì được biểu đạt trong đó. Người đọc có thể khóc, cười, khổ đau hay hạnh phúc cùng nhân vật. Người đọc thấy thật hạnh phúc khi nhân vật tốt đẹp có được hạnh phúc sau khi trải qua nhiều bi kịch, nhiều khổ đau. Người đọc cũng thấy thật hả hê khi kẻ xấu, kẻ ác bị trừng trị thích đáng. Thấy thõa mãn khi công lí được bảo vệ, điều chân thiện được gìn giữ. Nghệ thuật lại có thể mở rộng khả năng của tâm hồn. Nó làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn. Nó làm cho tai mắt ta biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị. Nó giúp ta sống được nhiều hơn. Từ một điểm nhìn hạn hẹp, thông qua nghệ thuật, con người không ngừng mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Nó giúp ta vượt không gian, thời gian, chạm đến những thế giới xa xôi nhất trong vũ trụ và cả trong thế giới mờ ảo của nội tâm con người. Chứng minh thông qua một vài tác phẩm: Truyện Kiều: Không ở đâu khác, Truyện Kiều“bắt rễ ở cuộc đời” này. Toàn bộ thi liệu và cảm hứng của tác giả bắt nguồn từ trong sâu thẳm cuộc đời. Nguyễn Du mang một trái tim đầy rung cảm. Tuy xuất phát là một nhà Nho, con nhà quyền quý, lại làm quan to nhưng ông sống gắn bó và gần gũi với người dân hiền lành trong một thời gian dài. Những số phận nghèo khó, những mảnh đời nghiệt ngã khiến ông không ngừng suy nghĩ. Ông suy nghĩ về tình đời, tình người và kiếp người phù sinh nhỏ bé trong dòng đời nghiệt ngã. Từ cuộc đời lận đận, gian truân của mình, ông trải niềm tâm cảm cùng với nhân gian. “Bắt rễ ở cuộc đời”, Truyện Kiều lại “tạo được sự sống cho tâm hồn con người”. Mấy ai đọc Truyện Kiều mà không cảm phục cái tài, cái tình và cái tâm của đại thi hào Nguyễn Du. Mỗi câu, mỗi chữ trong Truyện Kiều có khả năng đánh thức những cảm xúc chìm ẩn, tưởng chừng như đã ngủ quên từ lâu trong tâm hồn ta. Nó khiến cho từng tế bào rung rung. Nó khiến cho lí trí ta biết cảm nhận, trái tim ta biết yêu biết ghét, biết căm hờn và cảm thương. Nó mở rộng khả năng của tâm hồn ta, làm cho ta vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn. Nó khiến cho tai mắt ta biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị và trái tin được sống được nhiều hơn. Đọc Truyện Kiều là được tìm thấy mình trong cội nguồn nguyên thể của dân tộc. Chiếc lược ngà: Hoàn cảnh chiến tranh ác liệt tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ là cội rễ sản sinh ra tác phẩm Chiếc lược ngà. Không cần cố công tìm kiếm, Nguyễn Quang Sáng hiển nhiên nhìn thấy ý tưởng ngay trong hiện thực chiến tranh khốc liệt. Cuộc đời của anh Sáu cũng là cuộc đời chung của biết bao anh em đồng chí cách mạng. Đó cũng là cuộc đời chung của con người Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Họ anh dũng, kiên trung với đất nước. Vì sự nghiệp giải phóng đất nước, họ sẵng sàng rời bỏ gia đình đi chiến đấu. Họ sẵn sàng từ bỏ tình riêng, cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp lớn của Cách mạng, của đất nước. Bắt nguồn từ cuộc sống, hình ảnh anh Sáu chân thực và sinh động như cuộc sống vốn có. Từ hình tượng nghệ thuật ấy, tác phẩm không ngừng “tạo được sự sống cho tâm hồn người” và “mở rộng khả năng của tâm hồn” người đọc. Đọc Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, người đọc sao khỏi bâng khuân nhung nhớ khi nghĩ về nỗi nhớ con của anh Sáu ở chiến khu. Ra đi lúc con gái chưa đầy một tuổi. Bảy năm đằng đẵng chờ đợi. Trái tim người cha rọn ràng mỗi khi nghe vợ kể về con và khao khát được trở về ôm con vào lòng. Trái tim người cha có thể vỡ tung nếu ngày đó anh không trở về. Đọc tác phẩm, người đọc được cùng tác giả nghẹn ngào trước tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh và tình đồng chí của những người cán bộ cách mạng. Chính nó đã mở rộng khả năng của tâm hồn người đọc. Nó làm cho người đọc vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn. Đó không chỉ là tình cảm muôn thủa, có tính nhân bản bền vững. Nó còn được khắc sâu bằng hoàn cảnh ngặt nghèo và éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của người cán bộ cách mạng. Vì thế, tình cảm ấy càng đáng trân trọng. Đồng thời, nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người. Chiếc lược ngà – Một kỉ vật đơn sơ mà vô giá, đã nối hai cuộc gặp gỡ với ba con người, nối kết tác phẩm và người đọc. Nhưng vang vọng suốt cả câu chuyện, suốt những cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu. Một tiếng kêu bình dị mà thiêng liêng bậc nhất của cõi đời này. Ấy là tiếng “ba” của bé thu. Tiếng “ba” vỡ ra từ sâu thẳm cõi lòng cô bé. Còn đối với người cha, đó là tiếng gọi “ba” đầu tiên và cũng là những tiếng cuối cùng ông nghe được từ con! Kết bài: Các tác phẩm trên là tác phẩm của những tác giả khác nhau. Tuy ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng chúng đều là minh chứng tiêu biểu cho mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, nghệ thuật và người thưởng thức văn nghệ. Nhận định của Nguyễn Đình Thi đúng đắn và có tầm khái quát cao. “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có” (Hoài Thanh).
Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người,… Tiếng nói văn nghệ – Nguyễn Đình Thi
1,787
Đề bài: Bằng lời của Sơn Tinh hãy kể lại chuyện sơn Tinh Thuỷ Tinh Bài làm Cách đây đã lâu, vào thời vua Hùng Vương thứ XVII, vua có một người con gái tên là Mị Nương nổi tiếng là xinh đẹp nết na. Khi nàng đến tuổi lấy chồng Hùng Vương đã truyền tin kén rể. Tin loan truyền đi khắp nơi một cách nhanh chóng. Tất cả các chàng trai tới đều đến để xin cầu hôn với Mị Nương. Nhưng vua chẳng vừa ý ai cả. Ta liền chọn một ngày đẹp trời xin cầu hôn. Hôm đó, ta tưởng như chỉ có mình ta nhưng lại có một người nữa đã đến trước ta, người này tên là Thuỷ Tinh. Tài của hắn là: gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về. Nhưng tài của ta cũng không kém. Ta vẫy tay về phía đông thì mọc lên cồn cát, vẫy tay về phía tây thì mọc lên những dãy núi đồi. Vua Hùng băn khoăn không biết chọn ai bèn mời các Lạc hầu vào bàn bạc và phán: – Cả hai người đều ngang sức, ngang tài và đều vừa ý ta, nhưng ta chi có một đứa con gái mà thôi. Cho nên ngày mai, hễ ai đem sính lễ đến trước thì ta gả con gái cho. Sính lễ gồm: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi. Sáng hôm sau, khi trời vừa tờ mờ sáng ta đã đến trước và đem đầy đủ lễ vật. Sau đó ta được rước Mị Nương về núi. Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ hắn tức giận sai quân đuổi theo đánh ta hòng cướp lấy Mị Nương. Trận đấu giữa ta và hắn rất quyết liệt. Hắn hô mưa, gọi gió, lẩm thành giông bão rung chuyển đất trời, nước dâng cao mãi tràn ngập cả nhà cửa, ruộng nương. Nước lên đến lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu lúc bấy giờ nổi lềnh trên một biển nước. Sau đó ta mới dùng phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi để ngăn chặn dòng nước. Thuỷ Tinh dâng nước cao bao nhiêu thì ta lại biến phép cho đồi núi cao bấy nhiêu. Cuộc đọ sức giữa ta và hắn kéo dài mấy tháng liền. Sau đó Thuỷ Tinh thua cuộc đành rút quân về. Từ đó trở đi cứ hằng năm hắn lại làm mưa gió, bão lụt để đánh ta. Lần nào cũng thua cuộc nhưng có lẽ mối thù xưa mà hắn không thể nào quên được nên hàng năm hắn vẫn thường làm giông bão, dâng nước làm các dòng sông lũ lớn để báo thù ta.
Bằng lời của Sơn Tinh hãy kể lại chuyện sơn Tinh Thuỷ Tinh
463
Bố cục của bài văn miêu tả: văn tả cảnh – văn tả người – tả đồ vật – tả cây cối, tả con vật Hướng dẫn 1. Tả cảnh: a. Mở bài: Giới thiệu cảnh sẽ tả. Cảnh ở đâu? Tả vào lúc nào? Vào dịp nào? b. Thân bài: Tả bao quát toàn cảnh rồi tả chi tiết từng cảnh vật theo trình tự không gian hoặc trình tự thời gian. Một số cảnh vật cần chú ý:, + Hình khối + Đường nét + Màu sắc + Âm thanh Cần chú ý tả cảnh thiên nhiên (tác động đến cảnh vật) như bầu trời, mây, gió, nắng, cây cối… – Để cảnh sinh động cần chú ý đến các hoạt động của con người và loài vật tác động đến cảnh vật được tả. c. Kết bài: Nêu cảm xúc của người viết về cảnh đã tả. Thể hiện suy nghĩ, hành động của người viết về cảnh được tả. 2. Tả người: a. Mở bài: Giới thiệu người được tả: Người đó là ai? Quan hệ với em như thế nào? b. Thân bài: * Tả ngoại hình: Tả bao quát về tuổi tác, tầm vóc, dáng,điệu. Tả chi tiết về khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, làn da, mũi, miệng,… * Tả tính tình: Lời nói, cử chỉ, thái độ. Việc làm Tình cảm đối với mọi người xung quanh. Lưu ỷ: Nếu đề bài yêu cầu tả người đang hoạt động thì phần tả ngoại hình không đi sâu, phần trọng tâm là tả hoạt động, thao tác làm việc. Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của em về người mình tả. 3. Tả đồ vật: a. Mở bài: Giới thiệu đồ vật em định tả: Đồ vật đó em có từ lúc nào? Ai mua cho? Mua vào dịp nào? b. Thân bài: Có thể tả bao quát từ ngoài vào trong: Chất liệu. Hình khối Đường nét Màu sắc Âm thanh khi sử dụng. c. Kết bài: Cảm nghĩ của em về đồ vật em tả. ích lợi của đồ vật đối với em Cách bảo quả của em để đồ vật dùng được bền đẹp 4. Tả cây cối: a. Mở bài: Giới thiệu cây em tả. Do ai trồng? Trồng từ bao giờ? Em nhìn thấy cây vào thời điểm nào? b. Thân bài: Tả bao quát Tả chi tiết từng bộ phận: Rễ, thân, lá, hoa,… • Nếu là cây ăn quả thì cần tả thêm bộ phận quả của nó lúc còn non và cả lúc chín. • Nếu là cây cho bóng mát: cần tả kĩ tán lá của cây. Tả thêm những hoạt động của con người, con vật tác động đến cây, làm cho cây thêm đẹp. c. Kết bài: Cảm nghĩ của em đối với cây. ích lợi của cây Cách chăm sóc, bảo vệ cây. 5. Tả con vật a. Mở bài: Giới thiệu con vật em định tả. Con gì? Em nhìn thấy ở đâu? Nếu là con vật nuôi ở nhà em: Em nuôi từ bao giờ? * Hình dáng: Tả bao quát. Tả chi tiết từng bộ phận: đầu, mình, đuôi, chân, màu lông,… * Hoạt động, tính nết: Thói quen Hoạt động hằng ngày. c. Kết bài: ích lợi Cách chăm sóc.
Bố cục của bài văn miêu tả_ văn tả cảnh – văn tả người – tả đồ vật – tả cây cối, tả con vật
485
Bố em đi công tác nước ngoài, hãy viết thư thăm bố Gợi ý Điện Biên, ngày 5/5/2009 Bố thân yêu! Lâu rồi con không viết thư thăm bố. Bố có khoẻ không ạ? Ớ. Tô-ki-ô bố đã thấy quen thuộc chưa? Công việc của bố thế nào rồi? Còn nhà mình, mẹ và hai chị em con vẫn khoẻ. Chỉ có điều, hai đứa vẫn hay cãi nhau bố ạ. Có khi lại trêu nhau cười sằng sặc. Con báo cho bố một tin vui nhé, con được học sinh giỏi. Chị Thinh thi thử tốt nghiệp được 48 điểm, thi thử đại học được 20 điểm bố ạ! Cuối thư con chúc bố mạnh khoẻ, vui vẻ và luôn nhớ đến ba mẹ con còn. Bây giờ con phải dừng bút rồi. Con chào bố. Con của bố Quân Lường Hải Quân
Bố em đi công tác nước ngoài, hãy viết thư thăm bố
136
Bộ mặt thật của bọn quan lại phong kiến, cường hào, địa chủ và tay sai được thể hiện khá sâu sắc trong các tác phẩm sống chết mặc bay, Đồng hào có ma và Tắt đèn. Hãy chứng minh Hướng dẫn Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 có ba khuynh hướng văn học chính là văn học cách mạng, văn học lãng mạn và văn học hiện thực. Cùng với hai khuynh hướng kia, văn học hiện thực phát triển mạnh mẽ, màtiêu biểu là các tác giả Phạm Duy Tôn, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố. Ba tác phẩm Sống chết mặc bay, Đồng hào có ma và Tắt đèn, tuy ra đời ở ba thời điểm khác nhau, nhưng chúng đã dựng lên một bức tranh sinh động về những bộ mặt thật của bọn quan lại, cường hào, địa chủ và tay sai. Trước hết, chúng ta hãy xem bản chất của bọn quan lại phong kiến thời bấy giờ là gì. Chúng trước tiên là những kẻ hay xu nịnh. Chúng ta thử hỏi xem những tên như quan phụ mẫu trong sống chết mặc bay, tên huyện Hinh trong Đồng hào có ma, tên quan phủ Tư Ân trong Tắt đèn, liệu có phải vì chúng có tài đức gì nên mới được làm quan? Không, chúng chỉ là những tên dùng thủ đoạn đút lót quan trên để có những chiếc ghế đó, để nhiễu dân, vơ vét của dần. Khi đã được yên vị, chúng vẫn luôn bợ đỡ, nịnh nọt những ông Tây để leo cao hơn, cao hơn. Có thể nói, chúng chỉ là những kẻ dốt nát, nhờ xu nịnh mà được leo cao làm quan. Bọn quan lại phong kiến cũng lại là những tên tàn ác vô lương tâm. Thì đấy “ông quan phụ mẫu” chính là như thế. Trong lúc nhân dân lo giữ đê để cứu làng, cứu mọi người, thì quan không lo làm trách nhiệm của quan là đốc thúc nhân dân, mà ung dung ngồi trong ngôi đình cao để chơi bài, ăn yến. Trong đó quan được kẻ dưới tâng bốc lên, rồi khi ù thì bọn kia (chỉ lũ hương lí, chần tay của quan) lại kêu lên: “Ngài giỏi thật”. Đến khi có người vào báo đê sắp vỡ, quan còn quát mắng kẻ đó phá niềm vui của “ngài” và đòi “cách cổ” hắn ta. Tệ hại hơn là quan còn thản nhiên, thậm chí vui vẻ, đúng vào lúc đê vỡ, khi “người sông không chỗ ở, người chết không chỗ chôn”, bởi khi ấy quan thắng ván bài. Cùng là người dân đất Việt, nhưng khi thấy đồng bào bị nạn, quan không mảy may xót thương, tấm lòng “phụ mẫu” đi đâu rồi? Như vậy chỉ bằng chi tiết đó, Phạm Duy Tôn đã đả kích mạnh mẽ cái sự vô lương tâm, cái tàn nhẫn đến mức không còn tính người của tên quan phụ mẫu và các loại người như hắn, Hắn mang danh là quan cha mẹ của dân, nhưng thực chất là sâu mọt chuyên đục khoét dân, còn tính mạng của dân thế nào thì quan thây kệ. Trong Tắt đèn chúng ta cũng thấy sự tàn nhẫn của bọn này. Mặc dù chúng không trực tiếp cầm roi, cầm,gậy hành hạ dân, nhưng hành động của chúng còn độc ác hơn. Chúng đặt ra thuế khóa nặng nề, một phần để cung phụng quan Tây, quan trên, còn lại thì vơ vào túi. Chính những thứ thuế đó đã phá tan bao gia đình chị Dậu, làm cho bao kẻ sống dở chết dở như anh Dậu, và làm cho mẹ con li tán, như mẹ con chị Dậu. Bộ mặt người mà lòng lang dạ thú của chúng thật đáng đem ra vạch trần. Và các tác giả đã vẽ lên được bộ mặt thật của chúng thật sắc sảo, tài tình. Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. quả là đúng. Chúng ta thử trông vào huyện Hinh mà xem, tại san ông ta “béo ơi là béo”? Chính là vì ông ta ăn bẩn! Tác giả đã tài tình làm sao khi dùng từ “ăn bẩn”. Đó là hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh đã bóc trần bộ mặt “cướp ngày” của hắn. Khi chị Nuôi đến công đường nhờ quan “đèn trời soi xét”, tìm cho ra kẻ trộm, nhưng lạ thay, quan ngồi yên như phỗng, và đến khi chị Nuôi vì sợ mà đánh rơi tiền, quan bỗng cử động. Đấy là cử động lấy chân giẫm lên đồng hào đôi của chị Nuôi. Thành ra chị không đủ một đồng lệ phí trình quan, đành ra về. Có thể chị biết “con ma” lấy tiền của chị đấy, nhưng dám làm gì? Bởi vậy màn kịch câm cuối câu chuyện này là một màn kịch thật xuất sắc. Nó đã lột trần bộ mặt “cướp ngày” một cách hèn hạ, bẩn thỉu của bọn quan lại bấy giờ. Và nét cuối cùng trong bộ mặt thật của bọn quan lại mà các tác giả đã vẽ lên chính là sự dâm ô của chúng. Trong tác phẩm Tắt đèn, chúng ta biết đã có lúc chị Dậu bị bắt lên phủ vì tội “chống lại người nhà nước” là bọn tay sai của quan. Và trong lần đó, tên quan phủ Tư Ân đã lợi dụng cảnh ngộ của chị, bắt chị vào phòng hắn. Nhân lúc vợ vắng nhà, hắn định cưỡng hiếp chị. Mặc dù kết thúc cảnh đó là chị Dậu thoát được, nhưng bộ mặt dâm ô của hắn vẫn còn ghi rõ trong từng chữ của Ngô Tất Tố. Thế nhưng tránh lần này chị Dậu vấp phải lần khác. Đó là một đêm “tắt đèn”, vào cái dạo chị đi ở vú cho nhà quan tỉnh, quan cụ đã mò vào phòng chị và giở trò bỉ ổi. Loại người thứ hai đáng lên án trong các tác phẩm này là bọn địa chủ cường hào. Về loại nhân vật này, không ai miêu tả tài tình bằng Ngô Tất Tố. Điển hình cho loại người này là vợ chồng Nghị Quế. Bọn này trước hết mang bản tính hách dịch. Chị Dậu vào nhà Nghị Quế để nói chuyện bán con, chúng cứ để cho lũ chó xông ra cắn chị. Thái độ thờ ơ như thế lại tiếp tục cho đến khi chị Dậu gặp mặt chúng. Chị quỳ ở cửa, còn bọn chúng thản nhiên lau mồm lau mép. Rồi đến khi vào việc trao đổi, Nghị Quế cậy quyền cậy thế, nói với chị Dậu mà như quát với súc vật. Chúng ta phải nói vậy vì từ lúc chị vào nhà hắn, hắn đâu có coi chị là con người. Thái độ đáng ghét của bọn địa chủ như Nghị Quế đã được Ngô Tất Tốvạch trần. Và không chỉ thế, chúng còn là loại người độc ác, tàn nhẫn. Chúng giàu nứt đốđổ vách mà chỉ có hơn hai đồng bạc chúng đã bắt chị Dậu đổi bằng chính đứa con của chị và cả một đàn chó mới đẻ. Rồi khi đã có được đứa ở mới là con chị Dậu, chúng bắt em phải bốc cơm của chómà ăn ngay trước mặt mẹ em. Chúng nhẫn tâm hành hạ một đứa trẻ và một người mẹ đã phải rứt ruột bán con. Có lẽ, mỗi dòng chữ Ngô Tất Tốviết ra là một nỗi căm giận hòa cùng nước mắt. Tóm lại, bọn địa chủ cường hào cũng lại là những kẻ điển hình cho loại người độc ác vô lương tâm và vô cùng hông hách. Cuối cùng loại người thứ ba mà các tác giả đã dựng lên trong bức tranh xã hội là bọn tay sai. Bọn tay sai này cũng gian ác không kém gì chủ của chúng. Trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, tội ác do chúng gây ra không phải là ít. Chúng vào từng nhà dân, quát tháo ầm ĩ để đốc thúc dân nộp thuế. Nhà nào không đủ thuế thì chúng bắt người đem về hành hạ. Anh Dậu cũng chỉ vì một suất SƯU mà bị chúng đánh cho sông mà chỉ còn như một xác chết. Hành hạ một con người ốm đau đến như thế chỉ có bọn lang sói đội lốt người mới đang tâm làm. Đánh đập người ta đến khi moi được suất SƯU rồi chúng vẫn chưa hài lòng. Chúng còn đòi anh phải đương đầu với một thảm họa tiếp: nộp SƯU cho người em đã chết! Mặc dầu anh vừa mới tỉnh dậy sau những trận đòn trước, chúng vẫn sấn vào bắt trói anh, bỏ ngoài tai tất cả những lời van xin thảm thiết của vợ con người ta. Rồi chúng còn đánh cả một người phụ nữ thân cô thế cô. Chúng tát vào mặt chị Dậu, bịch mấy cái vào ngực chị. Hành động thô lỗ, cục cằn mà ác độc đó thử hỏi người thường có ai làm được, nếu không phải là loài cầm thú. Giống như quan thầy của chúng, bọn tay sai này cũng ăn “cướp ngày” như ranh. Chị Nuôi, người đàn bà nghèo kiết xác, đến công đường, chúng cũng bắt đưa tiền, không đưa thì chắc chắn là ở ngoài cổng. Đưa rồi cũng chưa chắc được việc. Bằng chứng là chị Nuôi đưa tiền rồi lỉnh mất! Bản chất tráo trở, lừa lọc của chúng, tuy chỉ được vẽ qua bằng vài nét như vậy, nhưng cũng đủ cho thấy chúng thật đáng nguyền rủa.
Bộ mặt thật của bọn quan lại phong kiến, cường hào, địa chủ và tay sai được thể hiện khá sâu sắc trong các tác phẩm sống chết mặc bay, Đồng hào có ma và Tắt đèn. Hãy chứng minh
1,632
Đề bài: Bức tranh thiên nhiên làng quê trong Lao Xao Bài làm Đọc xong đoạn trích Lao Xao (Trích Tuổi thơ im lặng – Duy Khán), gấp sách lại, trước mặt ta vẫn hiện lên một bức tranh làng quê Việt Nam xiết bao thân thương trìu mến, nồng ấm tình người. Qua những trang viết hồn hậu của Duy Khán, làng quê Việt Nam hiện lên thật bình dị và êm ả. Chính cuộc sống yên ả ở làng quê đã trở thành sức thu hút của loài chim tụ họp về đây, sống chan hoà thân ái với con người. Mở đầu bài văn là một không gian làng quê lúc chớm hè. Nét đặc đã quyến rũ biết bao là bướm, là ong tìm đến hút mật. Âm thanh lao xao của tiếng ong bay, tiếng ong đánh lộn tranh nhau hút mật đem lại cho người đọc một rung cảm nhè nhẹ và dư vị man mác, khó quên. Nổi bật trên bức tranh cảnh sắc mùa hè tươi đẹp là hình ảnh của các loài chim. Không biết cơ man nào là chim, tưởng như đây là khoảng trời của riêng chúng. Đầu tiên là những loài chim quen thuộc với làng quê và cũng rất gắn bó với cuộc sống của con người: chim, lành. Chúng gồm đủ các chủng loài khác nhau: Từ con bồ các đến chim ri, rồi sáo sậu, sáo đen, tu hú, chim ngói, chim nhạn… Chúng họp thành một thế giới hồn hậu, đáng yêu với những âm thanh rộn rã, tưng bừng. Ta giật mình trước tiếng kêu váng tai của chú bồ các “các… các… các…”, nhưng cũng cười thú vị trước sự hốt hoảng “vừa bay vừa kêu cứ như bị ai đuổi đánh” của nó. Ta lâng lâng trước tiếng hót vui tai của chú sáo sậu, sáo đen, và thích thú trước âm thanh “tọc, tọc” học bắt trước tiếng người của con sáo nhà bác Vui. Rồi âm thanh náo động tưng bừng, da diết của tiếng chim tu hú như gọi về, như đánh thức trong ta bao hoài niệm, khiến lòng ta bồi hồi. Tiếng chim tu hú trong bài văn gợi cho người đọc nhớ tới những mùa vải chín ngọt, gợi nhớ tới cả tiếng chim tu hú trong bài thơ của Bằng Việt. Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa Hoà vào những âm thanh rộn rã trên những ngọn cây, những đồng lúa, văng vẳng tiếng chao cánh của lũ chim ngói sạt qua, tiếng “chéc, chéc” của mấy chú nhạn vùng vẫy tít tận mây xanh. Rồi bỗng vang lên mấy tiếng “bìm bịp” của mấy con bìm bịp núp trong bụi cây. Những tiếng kêu thật não lòng. Có lẽ, bao nhiêu nỗi oan ức mà nhân gian gán cho nú không gột rửa được hoá thành nỗi niềm gửi vào cả mấy tiếng kêu u uất, nặng nề dó. Thật tội nghiệp cho con bìm bịp, nó cũng là một giống chim hiền mà suốt ngày đêm cứ phải âm thầm chui rúc trong mấy bụi cây, chẳng dám vui vầy cùng họ hàng nhà chim. Gắn bó với cuộc sống của con người, những loài chim lành đã được nhà văn nhìn nhận bằng con mất đầy thiện cảm, và mối thiện cảm ấy của ông truyền rất nhanh vào người đọc, khiến họ thấy gắn bó với các loài chim, với thiên nhiên, với làng quê. Để tô thêm vào bức tranh thiên nhiên phong phú của làng quê, có hình ảnh của những con diều hâu đáng ghét chỉ biết rình trộm gà, hình ảnh của những con quạ xấu xí đáng khinh với cặp mắt “lia lia, láu láu” dòm ngó vào chuồng lợn, rồi lũ chim cắt ác độc đã xỉa chết bao nhiêu con bồ câu hiền lành. Chúng là những loài chim ác nhưng chúng là một phần của thế giới các loài chim, Một phần của sự sống. Mặc dù chúng hiện lên qua cái nhìn đầy ác cảm của nhà văn nhưng thiết nghĩ cũng không thể thiếu được chúng. Bởi thiếu chúng, làm sao có những cảnh tượng vui mắt của trận đánh của lũ Chèo Bẻo trị lại chim ác. Những cảnh tượng ấy làm cho bức tranh sinh hoạt của thế giới các loài chim thêm sống động, hấp dẫn. Thế giới các loài chim khiến cho cuộc sống thêm hương vị, nồng ấm. “Lao Xao” là một bức tranh thiên nhiên đồng quê muôn màu sắc, một phần của cuộc sống làng quê được cảm nhận bằng một tâm hồn nhạy cảm, và được phác hoạ lại bằng ngòi bút nghệ thuật tinh tế, tài hoa. Phải gắn bó sâu sắc với làng quê, với thiên nhiên làng quê đến thế nào, phải yêu mến và trân trọng thiên nhiên và cuộc sống làng quê đến nhường nào, Duy Khánh mới có thể viết được những trang văn đặc sắc như thế. Lao Xao sẽ mãi xao động trong tâm hồn người đọc!
Bức tranh thiên nhiên làng quê trong Lao Xao
854
Bức tranh về cảnh đẹp ở nước ta Hướng dẫn Bức tranh về cảnh đẹp ở nước ta I. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Em có thể tùy ý chọn một bức tranh về một cảnh đẹp ở nước ta, (cảnh Hồ Gươm ở thủ đô Hà Nội, cảnh hồ Xuân Hương ở Đà Lạt, cảnh vịnh Hạ Long, cảnh chụp bãi biển Nha Trang, Vũng Tàu v.v…) – Em quan sát toàn cảnh bức tranh rồi nói những điều em biết được về bức tranh ấy: + Bức tranh vẽ (chụp) cảnh gì? Cảnh đó ở đâu? + Trong tranh (ảnh) có những sự vật gì? Hình khối, màu sắc, đường nét có gì đặc biệt? + Vẻ đẹp của những sự vật có ở tranh, ảnh ra sao? + Em có suy nghĩ về cảnh đẹp đó? II. NHỮNG BÀI VĂN THAM KHẢỌ Bài làm 1 Trước mắt em là bức tranh về Hồ Gươm ở thủ đô Hà Nội. Có lẽ bức tranh vẽ buổi bình minh đang lên. Nhìn ra xa, những gợn sóng nhỏ dần, nhỏ dần, rồi cuối cùng là một tấm gương phẳng óng ánh những tia nắng của buổi ban mai. Xa xa, giữa mặt hồ là Tháp Rùa đứng uy nghi với vẻ trầm mặc muôn thuở giữa cồn cỏ xanh mượt. Trên đỉnh tháp là ngọn quốc kì đang phấp phới tung bay. Đằng sau tháp là hàng cây um tùm đang soi bóng xuống mặt hồ trong xanh. Trường trung cấp y khoa Pasteur thông báo tuyển sinh năm 2016 các lớp trung cấp dược hà nội, trung cấp điều dưỡng vàtrung cấp y học cổ truyền, xét tuyển hồ sơ đi học ngay tại Hà Đông Nhìn bức tranh em nhớ lại câu chuyện mà mẹ đã từng kể cho em nghe về “Sự tích Hồ Gươm”. Hồi ấy, có một vị thần Kim Quy ngậm thanh kiếm thần kì trao cho Lê Lợi để tiêu diệt giặc Minh, giữ gìn bờ cõi. Và cũng chính nơi đây, nhà vua đã hoàn lại thanh kiếm cho vị thần. Cái tên Hồ Hoàn Kiếm bắt nguồn từ giai thoại từ ấy. Không biết bây giờ vị thần tốt bụng đó với thanh kiếm nằm ở chỗ nào dưới những lớp sóng lăn tăn kia! Trong những bức ảnh chụp cảnh vật thiên nhiên, em thích nhất bức ảnh về cảnh hồ Xuân Hương – Đà Lạt một thắng cảnh tuyệt vời của cao nguyên miền Trung. Từ nhỏ đến giờ, em chưa có dịp đi tham quan Đà Lạt lần nào, nên càng nhìn bức ảnh, em lại càng ao ước được đến thăm Đà Lạt một lần. Dường như cảnh hồ Xuân Hương được chụp vào một buổi sáng trời trong. Không gian rất yên tĩnh bởi mặt hồ phẳng lặng không một gờn sóng. Mặt hồ trong xanh màu ngọc bích. Những hàng cây hai bên bờ hồ và những biệt thự cao tầng trên những ngọn đồi lộng gió in hình xuống đáy hồ, trông thật nên thơ! Phía xa xa, đồi núi trập trùng, ngọn cao ngọn thấp với những rừng thông bạt ngàn nối đuôi nhau chạy xa tít đến chân trời. Cảnh vật vừa đẹp, vừa nên thơ và đầy quyến rũ. Cám ơn người thợ chụp hình đã đem đến cho em một phong cảnh Đà Lạt nên thơ. Bài làm 3 Nhà em có rất nhiều bức tranh vẽ cảnh vật thiên nhiên. Nhưng bức tranh về Hồ Hoàn Kiếm ở thủ đô Hà Nội vẫn là bức tranh mà em thích nhất, ngắm mãi mà không hề thấy chán. Giữa hồ là Tháp Rùa cổ kính soi bóng trên mặt hồ trong xanh. Trên cao là những đám mây trắng bồng bềnh trôi giữa bầu trời cao vời vợi. Nhìn xa hơn, tòa nhà Bưu điện thành phố đồ sộ và lộng lẫy được trang trí cờ hoa rực rỡ. Và kia nữa là cầu Thê Húc màu son, uốn cong như một nét hoa văn, tượng trưng cho bàn tay của một nàng tiên nữ hiếu khách, vẫy chào chúng em đến viếng đền Ngọc Sơn cổ kính. Mái đền ngàn năm tuổi nép mình dưới gốc đa cổ thụ cành lá xum xê. Nhìn bức tranh Hồ Gươm, em tưởng tượng đến sự tích về cái hồ này, mà mới đây không lâu, bố đã kể cho em nghe. “Ngày xửa ngày xưa ấy, có một con rùa lớn ngoi lên mặt nước, đòi vua Lê Lợi trả kiếm cho Long Vương” để rồi hồ mang tên “Hoàn Kiếm” từ đấy cho đến bây giờ. Và có lẽ cái tên ấy, sự tích ấy sẽ truyền lại muôn đời cho các thế hệ mai sau. Ước gì một ngày nào đó, em được đứng trên Bờ Hồ mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của một di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng của thủ đô. Đó là bức ảnh chụp phong cảnh Vịnh Hạ Long một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng của Việt Nam, một kì quan của thế giới. Em biết được như vậy là vì phía dưới bức ảnh ấy có hai hàng chữ tiếng Việt và tiếng Anh giới thiệu tên của bức ảnh. Bao trùm lên toàn cảnh là những hòn núi đá to, nhỏ mọc lên giữa biển nước xanh mênh mông với những hình thù khác nhau. Hòn cao nhất giống như một chú gà trống đang ngẩng cao đầu để gáy, gọi là “hòn Trống”. Phía bên phải có hai hòn chồng gối lên nhau, trông thật chông chênh nguy hiểm. Xa xa là một cửa hang rộng với những dòng thạch nhũ chảy từ trên cao xuống, tạo cho cửa hang có những hình thù kì dị, lạ mắt. Xung quanh là biển nước xanh mênh mông. Một chiếc tàu du lịch đang rẽ sóng tiến vào một cửa động. Phong cảnh vịnh Hạ Long quả thật là đẹp và hấp dẫn. Lớn lên, nhất định em sẽ thực hiện một chuyến tham quan du lịch đến với Hạ Long. Bài làm 5 Đó là bức ảnh chùa Thiên Mụ, một cảnh đẹp nổi tiếng của xứ Huế. Trên nền giấy màu xanh xa trời nổi bật lên hình một chiếc tháp nhiều tầng, màu nâu sẫm, với một kiểu cấu trúc của thời xưa. Bầu trời cao xanh lồng lộng, đây đó lớt phớt những vệt mây như những dải lụa trắng trôi từ từ theo làm gió nhẹ. Ngôi chùa nằm cạnh bên dòng sông Hương hiền hòa êm ả. Một không gian yên ắng tưởng như không có tiếng động bao phủ lấy ngôi chùa. Nhìn bức ảnh, em cứ ngỡ như nhìn vào một chốn bồng lai tiên cảnh của thế giới hư ảo trong truyện cổ tích. Thật là một cảnh tượng hiếm có.
Bức tranh về cảnh đẹp ở nước ta
1,136
Ca dao châm biếm – vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Trong kho tàng – dân ca Việt Nam, cùng với những bài ca về tình cảm gia đình, những bài ca tình yêu quê hương đất nước, con người, những tiếng hát than thân, mảng ca dao châm biếm chiếm một số lượng đáng kể. Những câu hát châm biếm đã thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam. Qua các hình thức ẩn dụ, tượng trưng, biện pháp nói ngược và phóng đại, v.v. những câu hát châm biếm đã phơi bày các sự việc mâu thuẫn, ngược đời, phê phán những thói hư, tật xấu, những hạng người và hiện tượng đáng cười, đúng chê trách trong cuộc sống. Nói khác đi, ca dao châm biếm là vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta. Trong số hàng trăm, hàng ngàn câu ca dao châm biếm, bốn bài trong văn bản Những câu hát châm biếm và ba bài đọc thêm mà học sinh lớp 7 được học có lẽ là tiêu biểu nhất. Trước hết, chúng ta thử điểm mặt xem đối tượng nhân dàn ta châm biếm, chê trách là hạng người nào, là hiện tượng gì? Đó là “chú tôi” – một chàng trai làng – nào đó, là một ông thầy bói, là một “cậu cai” (trong bài học chính). Đó là một ông thầy cúng luôn tay gõ chập cheng, là “con mèo” – một loại quan chức, địa chủ trong làng. Đó còn là ông “quan tướng” (trong phần đọc thêm). Về hiện tượng xã hội, ca dao châm biếm tập trung nói tới việc ma chay trong làng (bài 3, văn bản chính), hoặc cưới hỏi, lễ bái ở đình chùa,… Tất cả những chân dung con người ấy điển hình cho loại người vô công rồi nghề, loại người chức sắc, quan lại từ nhỏ đến lớn, loại người chuyên nghề mê tín dị đoan,… Họ lười biếng, bê tha, gian dối, tàn ác, sách nhiễu nhân dân, gây ra biết bao hiện tượng tiêu cực trong xóm ngoài làng, gieo biết bao đau khổ cho nhân dân. Họ thật đáng cười, đáng chê trách và lên án. Tiếp sau chân dung “chú tôi” là chân dung ông thầy bói và “cậu cai”, ở bài thứ hai, tác giả nhại lời thầy bói, ghi âm nguyên văn nhũng lời phán của thầy trước một cô gái mê tín. Thầy đoán về những điều gì và phán thế nào? Toàn là những điều quan trọng mà cô “đệ tử” ước ao điều tốt lành, điều mới mẻ. Nhưng thầy phán toàn là những lời vô nghĩa, những điều vốn nó như thế, hiển nhiên chẳng cần bói toán, suy đoán gì cả. “Số cô chẳng giàu thì nghèo – Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà…”, đấy là thầy đoán về “tài lộc” của cô gái. Còn về “gia cảnh, về “nhân duyên” thì… “cô có mẹ, mẹ là đàn bà, có cha, cha là đàn ông, cô sẽ có chồng, có chồng sẽ có con, con gái hoặc con trai”… Rõ ràng cái nhà ông thầy bói này chỉ ba hoa, mồm mép, nói nhũng điều ai cũng biết. Tục ngữ ta có câu “thầy bói nói mò”. Ông thầy bói này không chỉ “nói mò” mà nói lăng nhăng, vô vị, thật đáng cười. Đáng cười hơn nữa là giọng nói của thầy. Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật “nói nước đôi”, nói phóng đại, càng nói càng vô vị, vô nghĩa. Rõ ràng, bài ca dao đã phê phán những kẻ hành nghề mê tín dị đoan, lừa bịp lòng tin của người khác để kiếm tiền. Đồng thời, bài ca cũng giễu cợt, phê phán những người ít hiểu biết, thiếu niềm tin cuộc sống, tìm đến sự bỏi toán, lễ bái vu vơ, phản khoa học, nhiều khi thêm lo nghĩ không cần thiết “Bói ra ma, quét nhà ra rác”. Cha ông ta từng nhắc nhở như thế. Phê phán ông thầy bói, bài ca dao đồng thời cảnh tỉnh chúng ta. Còn “cậu cai” – trong bài thứ tư – thì có gì đáng phê phán và cách phê phán thế nào? Chân dung “cậu cai”, được vẽ bằng hai nét đối chọi nhau. Hằng ngày cậu ăn mặc khá sang trọng, nào “nón dấu lông gà”, nào “ngón tay đeo nhẫn”. Nhưng khi có công việc, cần sự sang trọng, cần uy quyền thì “Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê”, nghĩa là cậu chẳng có của cải, tài năng đích thực gì. Đó là một thân phận rởm, uy quyền rởm mà thôi! Tác giả dân gian vừa dùng nghệ thuật đối lập (bên ngoài oai vệ bên trong tầm thường) kết hợp với cường điệu (ba năm một chuyến sai, áo mượn, quần thuê) để hạ bệ “cậu cai”, cũng có nghĩa là châm biếm, phê phán tầng lóp thống trị xưa. Chúng lố lăng, bắng nhắng, nhưng bản chất thì rất tầm thường, quyền hành thảm hại đến nực cười… Xem lại bài bình giảng Những bài hát than thân
Ca dao châm biếm – vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta – Bình giảng văn 7
883
Ccảm nhận về đoạn thơ Thề nguyền trích Truyện Kiều của Nguyễn Du Hướng dẫn Ccảm nhận về đoạn thơ Thề nguyền trích Truyện Kiều của Nguyễn Du Chỉ với 3254 câu thơ lục bát đậm đà màu sắc của Việt Nam, Nguyễn Du đã vẽ nên cuộc đời của nàng Kiều với “ hồng nhan bạch mệnh” với những thăng trầm, sóng gió dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân. Truyện Kiều được xem như một công trình nghệ thuật thấm nhuần nhân đạo và có giá trị tố cáo rất sâu sắc. “Thề nguyền “ là một đoạn trích mà tác giả đã giành để nói về đêm thề nguyền của Kim Trọng và Thúy Kiều ở trong một khung cảnh lãng mạn, đây chính là một chuyện tình đẹp nhưng gặp nhiều sự trắc trở. Kim Trọng và Thúy Kiều gặp gỡ nhau như một định mệnh se duyên của ông trời ở trong buổi du xuân tảo mộ đầu xuân. Hai người đã kết thành một mối tình tuyệt đẹp với những lời hứa hẹn, thề nguyền ở dưới đêm trăng. Đoạn trích “Thề nguyền” đã kể về lần thứ hai khi Kiều quay trở lại gặp Kim Trọng nhân lúc gia đình không có một ai ở nhà và chính thời điểm này hai người đã làm lễ thề nguyền cùng với nhau. “Cửa ngoài vội rủ rèm the Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình Nhặt thưa, gương rọi đầu cành Với 4 câu thơ này, người đọc đã mường tượng ra được một khung cảnh lãng mạn, huyền ảo của đem thề nguyền có ánh trăng sáng vằng vặc cùng với ngọn đèn hiu hắt. Hình ảnh một nàng Kiều “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đã cho ta thấy nàng đã lấy hết mọi can đảm để vượt qua mọi rào cản tới gặp người mà mình đang thầm thương trộm nhớ. Còn với chàng Kim thì khoảng khắc này thực sự đáng quý hơn bao giờ hết bởi sau những tháng ngày mong chờ thì giờ đây đã được gặp trực tiếp để giãi bày nỗi lòng của mình. “Sinh vừa tựa án thiu thiu Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê Tiếng sen sẽ động giấc hòe Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng” ở trong đoạn này, Nguyễn Du đã khéo léo trong việc sử dụng hình ảnh ước lệ, lấy“tiếng sen” để nói về từng bước chân nhẹ nhàng của Kiều khi chàng đang nửa tình nửa mê, luyến tiếc thấy Kiều trở về nhà sau lần gặp gỡ đầu tiên. Nguyễn Du còn khéo lép trong việc mượn điển tích điển cố “đỉnh Giáp non thần” vua nước Sở nằm mơ thấy thần nữ núi Vu Giáp trong điển tích của văn học cổ Trung Quốc. Ở lần gặp thứ hai này, Kiều đã mở lời trước: Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa Bây giờ rõ mặt tìm hoa Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao” “Khoảng vắng đêm trường” đó là khoảng thời gian dài mà nàng phải vượt qua để tới gặp chàng Kim. Câu thơ “Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa” đã nói lên quan niệm hoàn toàn khác biệt của Kiều về quan niệm tình yêu không hề giống như những cô gái khác, nàng muốn làm chủ tình yêu của bản thân và từ đó vượt lên mọi rào cản về quan niệm xã hội cũ để có thể vươn tới một tình yêu đích thực do bản thân tạo nên. Trước sự chủ động mở lời của Thúy Kiều, Kim Trọng đáp trả bằng hành động “rước vào”: “Vội mừng làm lễ rước vào Đài sen nối sáp song đào thêm hương” Hành động này của Kim Trọng đã thể hiện được sự trân trọng nàng Kiều rồi tiếp đến là thắp sáng đèn, làm tăng hương thơm cho cả căn phòng. Hình ảnh nến sáp tạo một không gian ấm áp, hạnh phúc. Những lời thề nguyện, hẹn ước đã được chuẩn bị sẵn, kỉ vật cũng đã sẵn sàng cho khoảnh khắc thề nguyền của hai người: “Tiên thề, cùng thảo một chương Tóc mây một món, dao vàng chia đôi” Hai người cùng nhau làm lễ thề nguyền ở dưới ánh trăng, như một minh chứng cho tình yêu của cả hai từ đây: Đinh ninh hai mặt một lời song song Tóc tơ căn vặn tấc lòng Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” Bằng những câu thơ này mà người đọc có thể tưởng tượng ra được không khí tang nghiêm và thiêng liêng biết bao nhiêu. Từ láy “đinh ninh” cùng lời thề “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương” là minh chứng rõ nhất về tình yêu mãnh liệt của họ dưới vũ trụ bao la. Chỉ với một đoạn thơ ngắn nhưng Nguyễn Du đã cho người đọc thấy được tình yêu thực sự lãng mạn,tuyệt đẹp của chàng Kim Trọng và Thúy Kiều Không chỉ có vậy, thông qua tình yêu của hai người, Nguyễn Du còn muốn thể hiện tư tưởng nhân đạo của mình, yêu thương và trân trọng hạnh phúc của con người, đặc biệt là đối với người phụ nữ ở dưới chế độ phong kiến xưa. Nguồn: Bài văn hay
Ccảm nhận về đoạn thơ Thề nguyền trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
876
Cha mẹ là thần tiên con cháu khỏe mạnh đông vui đoàn kết – Truyền thuyết con rồng cháu tiên Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên Theo một nét đẹp văn hoá cổ truyền, các dân tộc trên thế giới thường sáng tác những truyện thần thoại, những truyền thuyết nhằm giải thích cội nguồn, tổ tiên của dân tộc mình. Mỗi dân tộc lấy một con vật nào đó làm vật tổ, gọi là “tôtem”. Có tôtem là một con rắn, một con đại bàng, một con bò, một “gấu mẹ”, hoặc một “gà trống”,… Riêng ở nước ta, tổ tiên dân tộc Việt Nam chúng ta đã giải thích cội nguồn của mình bằng một “tôtem” độc đáo trong một truyền thống đẫm chất thần thoại, chất thơ. Đó là truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên. Chúng ta biết rằng: truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng, kì ảo. Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật được kể. Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, truyện Con Rồng cháu Tiên là trang đầu vàng son óng ánh để mở tiếp những trang sau lung linh kì ảo. Nghe kể lại, hoặc được đọc trên văn bản (do các nhà sưu tầm ghi chép) về áng văn chương cổ xưa này, chúng ta hiểu và rung động về biết bao điều thú vị. 1. Cha mẹ là thần tiên kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ, phi thường Đó là nguồn gốc và hình dạng của tổ tiên – bố Rồng, mẹ Tiên với hai cái tên thật là đẹp: Lạc Long Quân, Âu Cơ. Cả hai người đều là “thần”. Lạc Long Quân là thần nòi rồng, ở dưới nước, con thần Long Nữ. Âu Cơ là thần nòi Tiên, ở trên núi, thuộc dòng họ Thần Nông – vị thần chuyên trách nghề nông, dạy loài người trồng trọt và cày cấy. Lạc Long Quân “sức khoẻ vô địch, có nhiều phép lạ”, còn Âu Cơ thì “xinh đẹp tuyệt trần”. Cả hại đều là trai tài, gái sắc, xứng đôi vừa lứa nên đã tìm đến nhau thành duyên chồng vợ. Mối duyên tình ấy đẹp đẽ biết bao! Điếu thú vị thứ nhất của câu chuyện Con Rồng cháu Tiên là: bằng nhiều chi tiết tưởng tượng, kì ảo, thần tiên hoá nguồn gốc, nòi giống dân tộc, cha ông ta đã ca ngợi cội nguồn, tổ tiên người Việt chúng ta. Nói khác đi, ta có thể hiểu rằng dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ một nòi giống thần tiên, tài ba, xinh đẹp, rất đáng tự hào. Mỗi người Việt Nam ngày nay vinh dự là con cháu thần tiên hãy tin yêu, tôn kính tổ tiên dân tộc mình. 2. Điều thú vị nữa toát ra từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên là gì? Phải chăng đó là hình ảnh những người con và cuộc phân chia gia đình của Lạc Long Quận và Âu Cơ? Muốn hiểu rõ điều này, ta hãy bắt đầu từ những chi tiết thánh thần, kì ảo. Chỉ một lần sinh mà Âu Cơ cho ra đời những… một trăm con. Những người con ấy không ra đời từ bụng mẹ mà “nở ra” từ những quả trứng, vừa nở ra thì “một trăm người con” đều “hồng hào, đẹp đẽ lạ thường”. Đúng là con của Thần dưới biển, và Tiên trên trời! Điểu kì lạ, kì diệu hơn nữa là những người con thần tiên ấy “không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh như thần”. Một gia đình có tới một trăm con, thật là đông đúc, vui vầy! Trăm người con ấy ai cũng “tự lớn lên, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh…”, đúng là nòi giống Rồng, Tiên, cùng một bọc nên giống nhau cả về dáng hình, sức sống và bản lĩnh làm người. Điều cần ghi nhớ là lời căn dặn của cha Rồng trước khi chia tay: “Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn”. Rõ ràng, cùng với ý nghĩa tôn vinh, ca ngợi nguồn gốc dân tộc, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên còn thể hiện một ước mơ, cũng chính là lời nhắn gửi của cha ông đối với con cháu rằng: là dòng dõi Thần Tiên, con cháu đông vui, khoẻ mạnh, giàu bản lĩnh, phải biết yêu thương nhau như anh em ruột thịt, phải luôn luôn đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Hình ảnh “bọc trăm trứng, nở trăm người con” là một chi tiết kì ảo, lãng mạn, giàu chất thơ, gợi cho chúng ta nhớ tới từ “đồng bào” – một từ gốc Hán, nghĩa là người cùng một bọc. “Ý niệm về giống nòi cũng bắt đầu từ đó và mở rộng ra thành tình cảm của dân tộc lớn đoàn kết nhiều nhóm người lại với nhau như anh em ruột thịt – dù người miền núi hay miền xuôi, người vùng biển hay trên đất liền. Hình tượng “sinh ra trong cùng một bọc” là cội nguồn của hai tiếng “đồng bào” mãi mãi nghe rất thân thương. Tóm lại, truyện Con Rồng cháu Tiên với nhiều chi tiết tưởng tượng, kì ảo là một truyền thuyết mở đầu cho các truyền thuyết Việt Nam về thời đại Hùng Vương, vừa giải thích vừa ngợi ca nguồn gốc, giống nòi và thể hiện ý nguyện đoàn kết thống nhất cộng đồng người Việt chúng ta. Nghe kể, hay được đọc văn bản ghi lại truyền thuyết này, ấn tượng không thể mờ phai trong chúng ta như một lờii tâm niệm, lời răn dạy về nét văn hoá truyền thống dân tộc: Cha mẹ là thần Tiên, con cháu khoẻ mạnh, đông vui, đoàn kết,… Tôtem: động vật,* cây, vạt hoặc hiện tượng tự nhiên mà tộc người nguyên thuỷ tin là có mối liên hệ siêu tự nhiên, có sự gần gũi máu mủ với mình, mỗi tộc người coi tôtem là biểu tượng thiêng liêng của mình.
Cha mẹ là thần tiên con cháu khỏe mạnh đông vui đoàn kết – Truyền thuyết con rồng cháu tiên Ngữ Văn 6
1,051
Chia sẽ và cảm nhận bài ca dao trong đầm gì đẹp bằng sen Hướng dẫn Đất nước Việt Nam thân yêu có muôn ngàn cây lá khác nhau, hoa thơm quả ngọt bốn mùa. Một màu xanh bát ngất bao trùm sông núi. Cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Lòng người hồn hậu, giàu tình yêu thương. Những khúc dân ca, những bài ca dao cùng với sữa mẹ, lời ru của bà đã thấm sâu vào tâm hồn của mỗi chúng ta. Con trâu, con cò, con bống, hoa sen, hoa bưởi, hoa cà… cùng với lời ca tình nghĩa đem đến cho ta men say cuộc đời, làm vợi đi ít nhiều lam lũ, vất vả. Em từng nghe anh hát: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Em từng nghe chị hát: “Hoá thơm thơm lạ thơm lùng, Thơm cành, thơm rễ, người trồng cũng thơm” Và còn hoa sen trong đầm đã làm em say mê từ thuở ấu thơ qua lời ru của mẹ. Năm tháng đã trôi qua, hồi tưởng lại, em cảm thấy lòng mẹ ngạt ngào hương sen: “Trong đầm gì đẹp bằng sen, Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Cảnh đầm sen đẹp quá. Và lòng người cũng đẹp như sen. Sen là loại cây, loại hoa đẹp nhất trong đầm. Hoá súng hoa lục bình, hoa muống màu tím biếc đã đẹp, nhưng không thể so sánh với sen. Bằng cách nói so sánh “gì đẹp bằng”, tác giả tự hào khẳng định: “Trong đầm gì đẹp bằng sen”. Câu thứ hai giới thiệu cụ thể vẻ đẹp của đầm sen. Nhà thơ dân gian đang cùng chúng ta say mê ngắm đầm sen một ngày hè đẹp: Trên mặt hồ trong vắt, lá sen xòe ra như những chiếc lọng xinh xinh, những bông sen trắng, sen hồng nở xòe ra, nhị hoa màu vàng tươi, tỏa hương thơm ngào ngạt. Lá, hoà, nhị, xanh, trắng, vàng, bấy nhiêu nét vẽ chấm phá trong một câu thơ tám từ mà làm nổi bật vẻ đẹp của sen với màu sắc hài hòa. Sự thần diệu của lời ca là chẳng nói đến hương sen mà người đọc vẩn cảm thấy hương sen tỏa ngát, tâm hồn lâng lâng”. Câu thứ ba đổi vần một cách kì lạ. Hai hình ảnh “lá xanh” và “nhị vàng” được giao hoán cho nhau. Câu thứ ba hầu như khép Lại câu thứ hai (giản lược) hai chữ ‘Tại chen”. Nghệ thuật đổi vần ở đây chứng tỏ một bút pháp già dặn, điêu luyện của một nghệ sĩ cao tay, tạo nên một ấn tượng đặc biệt. Ta như cảm thấy có một bàn tay thon thả, xinh xinh của thiếu nữ đang lật đi lật lại từng lá sen xanh, nàng niu từng bông sen trắng, ngắm nghía trầm trồ nhị vàng của búp sen: “Nhị vàng, bông trắng, lá xanh” Vẻ đẹp của đầm sen, của hoa sen cũng là vẻ đẹp của làng quê, của thiên nhiên đất nước. Tác giả miêu tả vẻ đẹp rực rỡ của đầm sen với tình yêu cỏ cây hoa lá của tạo vật, với cả niềm tự hào dân tộc về đất mẹ quê cha. Ca dao dân ca có biết bao bài học đặc sắc nói về hoa lá. Có bài nói về dáng trúc mang tiết tháo người hiền “trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Có bài nói về hoa mai thanh cao. Có bài nói về hoa nhài tinh khiết, trong trắng. Dân ca Quan họ có bài nói về trăm loài chim, trăm loài hoà… Qua đó ta thấy tâm hồn nhân dân ta rất đẹp, yêu mến quý trọng hoa thơm cỏ lạ mà thiên nhiên ban tạng cho con người. “Rủ nhau ra tắm hồ sen, Nước trong bóng mát, hương chen cạnh mình. Cứ chi vườn ngọc, ao quỳnh, Thôn quê vẫn thú hữu tình xưa nay”… Trong chúng ta, ai đã có lần được ngắm sen Hồ Tây, sen hồ Tĩnh Tàm (Huế), sen Đồng Tháp Mươi…? Nghĩ về đầm sen, hương sen, chúng ta tự hào biết bao về người con vĩ đại của làng Sen thân thuộc như nhà thơ Bảo Định Giang đã ngợi ca: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”
Chia sẽ và cảm nhận bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen
738
Chiếc lá dũng cảm, tình người bao la (Về truyện Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Chiếc lá dũng cảm, tình người bao la Đọc các tác phẩm tự sự – như đoạn trích hồi kí Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, truyện ngắn Cô bé bán diêm của An-đéc-xen, chúng ta vô cùng xúc động trước những tình cảm gia đình (mẹ con, cha con, bà cháu) sâu nặng. Đó là những tình cảm ruột thịt, thể hiện bản chất cao quý của con người mà văn học đã ngợi ca. Nhưng bài ca tình người trong văn chương không chỉ dừng lại ở tình máu mủ, ruột thịt như thế, mà bao la vô tận. Bởi vì tình thương yêu giữa con người, tấm lòng vị tha cũng là một nét nhân bản cao quý từng xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc trên trái đất này. Đọc và suy ngẫm về truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri, nhà văn Mĩ sống và sáng tác cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chúng ta biết thêm một câu chuyện về tình người cao quý ấy. Chuyện kể về ba người hoạ sĩ, hai cô gái trẻ và một hoạ sĩ già, sống nghèo khổ trong một nhà chung cư gần công viên Oa-sinh-tơn giữa mùa đông lạnh giá. Họ không phải là người ruột thịt, nhưng đã yêu thương nhau như người ruột thịt, hi sinh cả cuộc sống của mình để giúp nhau vượt qua cái chết. Đọc truyện ngắn ấy, người đọc không chỉ xúc động bởi nội dung câu chuyện mà còn bị lôi cuốn bởi nghệ thuật xây dựng tình huống và chi tiết truyện hết sức độc đáo của nhà văn. Đoạn cuối của tác phẩm (trích trong sách Ngữ văn 8) đã để lại cho chúng ta những ấn tượng không thể phai mờ là hình ảnh chiếc lá và tấm lòng của cụ Bơ-men. Đó là chiếc lá dũng cảm, là tình người bao la. Tình người ấy biểu hiện trước hết ở nhân vật cụ Bơ-men, rồi đến nhân vật Xiu, nhân vật Giôn-xi. Cụ Bơ-men không phải nhân vật chính, cũng không xuất hiện nhiều trong văn bản. Nhưng chỉ qua vài nét chấm phá của nhà văn, người đọc đã hình dung khá rõ về người hoạ sĩ này. Đó là một cụ già ngoài sáu mươi, thân hình nhỏ nhắn, râu tóc loà xoà dữ tợn. Suốt đời cầm bút, ông cụ luôn mơ ước vẽ được một kiệt tác, nhưng chưa bao giờ bắt đầu và tự cho mình là “một người thất bại trong nghệ thuật”. Vậy mà lần này cụ đã làm được một việc kì diệu, đã sáng tạo được một tác phẩm hội hoạ đích thực, một kiệt tác. Khi lên gác, cảm nhận rõ giấc ngủ yếu đuối của Giôn-xi, rồi nhìn qua cửa sổ, thấy những chiếc lá trên cây thường xuân rụng gần hết, cụ Bơ-men đã nhìn Xiu – cô chị kết nghĩa của Giôn-xi, lặng lẽ chẳng nói năng gì. Tuy không nói, nhưng trong tâm trạng ông cụ hẳn đang nung nấu một ý nghĩ, một quyết định nào đó vô cùng quan trọng. Đối với Bơ- men, hai cồ hoạ sĩ nghèo hàng xóm là những người thân yêu gần gũi như ruột thịt. Cụ thường ngồi làm mẫu cho cô chị vẽ. Cụ hiểu rất rõ tình trạng bệnh tật và tâm hồn yếu đuối của Giôn-xi. Cụ đã từng “tự coi mình là con chó xồm lớn chuyên gác cửa bảo vệ hai hoạ sĩ trẻ ở phòng vẽ tầng trên” kia mà! Do đó, ông cụ đã… Nhà văn không kể tiếp cụ Bơ-men đã nghĩ gì, làm gì ngay trong đêm mưa gió ấy, mà dùng thủ pháp buông thả nhân vật, giấu kín sự việc, ngắt đoạn, đảo ngược thời gian để kể câu chuyện về hai chị em Xiu và Giôn-xi. Cho đến giây phút quan trọng nhất của cuộc đời Giôn-xi – giây phút chiến thắng cái chết, dần dần trở về với sự sống – Giôn-xi và người đọc chúng ta mới biết rõ công việc của cụ Bơ-men. Thì ra, giữa cái đêm lạnh giá, gió bấc ào ào, mưa đập mạnh vào cửa sổ, người hoạ sĩ già ấy đã vẽ chiếc lá thường xuân thay cho chiếc lá cuối cùng vừa lìa cành trên bức tường đối diện ở phòng của Giôn-xi. Một mình ông cụ đã bắc thang trèo lên tường, cầm đèn bão, mang đầy đủ bút lông và bảng pha màu,… để sáng tác tác phẩm của mình. Tuổi cao, sức yếu mà dám đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, làm việc âm thầm như thế, thật là một con người dũng cảm. Nhưng không chỉ là một hành động dũng cảm, vẽ chiếc lá thường xuân trên tường giữa đêm mưa gió như thế thực sự là một quá trình sáng tạo gian khổ mà hào hứng của cụ Bơ-men. Ngỡ như người hoạ sĩ đã dồn hết tâm hồn, khát vọng và sức lực của đời mình cho tác phẩm. Do đó, đúng như lời nhận xét của Xiu, hình ảnh chiếc lá thường xuân trên bức tường kia “chính là kiệt tác của cụ Bơ-men”. Gọi đó là kiệt tác vì chiếc lá ấy giống in như chiếc lá thật, thậm chí còn hơn cả một chiếc lá thật. Nó đã dũng cảm bám vào cuống lá, bám chắc trên tường, mặc cho mưa tuôn, bão thổi, mặc cho khí lạnh hoành hành. Chính sức sống kiên cường ấy của chiếc lá đã thổi vào tâm hồn cô hoạ sĩ Giôn-xi hơi ấm của niềm tin và nghị lực, kéo cô từ vực thẳm của bệnh tật vươn lên chiến thắng bệnh tật, vượt qua cái chết, trở về sự sống. Trong lí luận hội hoạ, kiệt tác không phải là bức tranh giống thật kiểu “sao chép”, “chụp ảnh” đơn thuần mà phải là những đường nét, những sắc màu, những bố cục, chất liệu tác phẩm chứa đựng sự sống, toát ra sức sống, tác động tích cực đối với cuộc sống, lay động tâm hồn, tình cảm của người xem rồi thức tỉnh họ,… Bức tranh “Chiếc lá thường xuân” ấy của hoạ sĩ Bơ-men đã mang đầy đủ các yếu tố của một kiệt tác hội hoạ. Trong một phút xuất thần, bằng tình thương yêu mạnh mẽ đối với Giôn-xi, bằng quyết tâm cứu sống cô gái, một nữ hoạ sĩ còn trẻ, đang hứa hẹn nhiều sáng tạo nay mai, cụ Bơ-men đã vẽ thành công tác phẩm, thoả nguyện những ước mơ ám ảnh của cả cuộc đời. Sau đó, cụ đã lặng lẽ ra đi. Người hoạ sĩ già ấy đã hiến dâng sự sống của mình để giành lại sự sống và tuổi trẻ cho Giôn-xi. Cái nghĩa cử ấy của cụ Bơ-men cũng là một kiệt tác. Kiệt tác này không có đường nét, sắc màu, bố cục cụ thể và cũng không hiện lên trước mắt mọi người đến mức độ kì diệu. Có thể nói, với hình ảnh chiếc lá được vẽ ở trên tường và cách “sáng tác” âm thầm, lặng lẽ của nhân vật cụ Bơ-men, nhà văn O Hen-ri đã ngợi ca tình thương, tấm lòng vị tha cao cả của những con người nghèo khổ trên đất Mĩ đầu thế kỉ XX nói riêng, trên mọi đất nước của trái đất này nói chung, ngày xưa cũng như ngày nay. Điều đặc sắc hơn nữa của ngòi bút O Hen-ri là ông không trực tiếp kể chuyện và cũng không,kể vào cái đêm chiếc lá được vẽ mà để cho Xiu thuật lại với Giôn-xi, sau khi Giôn-xi khoẻ lại nhằm khích lệ cô gái, tạo sự hấp dẫn, bất ngờ cho người đọc và làm nổi bật đức hi sinh, tấm lòng vị tha như thánh thần của người hoạ sĩ già. Cùng với nhân vật cụ Bơ-men, nhân vật Xiu, cô hoạ sĩ nghèo, cũng được nhà văn khắc hoạ và ngợi ca bằng những sự việc, chi tiết truyện thật cảm động. Tuy chỉ là chị em kết nghĩa, nhưng đối với Giôn-xi, Xiu đã thương yêu chăm sóc như đối với đứa em ruột thịt. Cảnh ngộ của Xiu cũng đói nghèo, thiếu thốn giống Giôn-xi. May mắn hơn em, Xiu không bị đau ốm. Song cô luôn lo lắng thấp thỏm trước tình trạng sức khoẻ và tâm trạng bi quan của em. Ngày ngày, thấy Giôn-xi đếm từng chiếc lá rụng, Xiu tưởng như thần chết đang từng bước đến gần căn phòng của hai chị em. Cho đến ngày cuối cùng, ngó ra ngoài cửa sổ nhìn cây tầm xuân – chắc rằng trên cành chỉ lơ thơ một hai chiếc lá – Xiu thực sự đã sợ sệt, nhìn cụ Bơ-men một lát mà “chẳng biết nói năng gì”. Giống như sự im lặng của cụ Bơ-men mà chúng ta đã đoán định ở trên, hẳn tâm trạng Xiu lúc này đang trĩu nặng tình thương và nỗi lo âu trước giờ phút sức lực của Giôn-xi đang tàn dần. Do đó, sáng hôm sau, khi nghe Giôn-xi thều thào ra lệnh kéo tấm mành lên để nhìn xem còn chiếc lá nào trên tường, Xiu đã làm theo một cách chán nản, gần như tuyệt vọng. Nhưng, ô kìa, sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng kéo dài suốt đêm vẫn còn một chiếc lá bám trên tường gạch. Một chiếc lá đơn độc, mỏng manh đã hiện lên và những dự cảm như tuyệt vọng của Giôn-xi (“Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”) như những giọt tuyết giá lạnh gieo vào lòng Xiu. Cô cúi khuôn mặt hốc hác xuống thì thào với em: “Em hãy nghĩ đến chị, nếu em… Chị sẽ làm gì đây?”. Đối với Xiu, mất Giôn-xi là mất nửa cuộc đời, mất Giôn-xi, mọi việc làm sẽ chẳng còn ý nghĩa nữa. Vì thế, mặc dù rất xót thương và lo lắng, Xiu vẫn cố hết sức chăm sóc em. Cô nấu cháo, pha sữa để bồi dưỡng sức lực cho Giôn-xi. Cô mời bác sĩ và luôn thường trực bên cạnh Giôn-xi, tận tình cứu chữa và chiều chuộng Giôn-xi. Ngỡ như mỗi nhịp đập của trái tim Giôn-xi cũng là nhịp đập trong trái tim Xiu. Tinh bè bạn, tấm lòng nhân ái, vị tha của Xiu bao la, sâu nặng vô bờ. Tinh cảm cao đẹp ấy đã được đền đáp. Suốt cả ngày hôm đó, cho đến sáng hôm sau, trải qua một đêm mưa gió ào ào, mưa đập mạnh vào cửa sổ và rơi lộp độp xuống đất,… chiếc lá dũng cảm, chiếc lá cuối cùng kia vẫn không rụng. Khi Xiu kéo tấm mành lên, cô thấy “chiếc lá thường xuân vẫn còn đó” và cô đã. sung sướng vô ngần khi nghe Giôn-xi gọi lại đòi ăn cháo, uống sữa, pha rượu vang, hẹn sẽ “vẽ vịnh Na-plơ”. Sung sướng hơn nữa là lúc Xiu nghe người bác sĩ báo: “Chăm sóc chu đáo thì sẽ chiến thắng… Cô ấy đã khỏi nguy hiểm rồi, chị đã thắng”. Lời nói của người thầy thuốc ấy thật có ý nghĩa. Phải chăng, cùng với sự khích lệ của “Chrếc lá dũng cảm” – kiệt tác của cụ Bơ-men, tình thương và sự chăm sóc tận tuỵ, hết mình của Xiu đã giúp cho Giôn-xi chiến thắng bệnh tật, chiến thắng những yếu mềm trong tâm hồn. Trong thắng lợi này của cô em yếu đuối, có phần quan trọng của chị Xiu nên cũng có thể coi Xiu chính là người chiến thắng. Tinh thương và tấm lòng vị tha đã chiến thắng. Khắc hoạ nhân vật Xiu, nhà văn sử dụng một giọng kể thủ thỉ, tâm tình như quạt một làn hơi ấm dịu dàng giữa những đêm đông giá buốt. Nhìn thấy chiếc lá cuối cùng bám mãi trên tường trong đêm mưa gió, Xiu đã rất ngạc nhiên. Cô reo thầm trong lòng: “Nhưng, ô kìa”… Thế thôi, nhà văn không kể tiếp về thái độ này của Xiu mà lái sang những việc khác. Cho đến hai ba ngày, sau khi chắc chắn Giôn-xi khỏi bệnh, Xiu mới khoan thai, nhỏ nhẻ kể hết mọi sự việc về chiếc lá dũng cảm kia cho em nghe. Cách ngắt đoạn, đảo ngược thời gian như thế khiến cho nhân vật Xiu trở nên tinh tế, vai trò người chị của Xiu đối với Giôn-xi càng thêm nổi bật. Và đối với người đọc, hình tượng Xiu thêm hấp dẫn. Rõ ràng, cùng với nhân vật cụ Bơ-men, nhân vật Xiu góp những sắc màu nhỏ nhẹ, trong sáng làm đẹp thêm bức tranh tình người bao la, kì diệu của câu chuyện Chiếc lá cuối cùng độc đáo. Tóm lại, chỉ đọc mấy trang cuối truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Mĩ O Hen-ri, chúng ta thấy rõ: truyện được xây dựng bằng nhiều tình tiết hấp dẫn, sắp xếp chặt chẽ, khéo léo, khắc hoạ nhân vật rõ nét, kết cấu đảo ngược tình huống hai lần thật độc đáo và hấp dẫn. Nổi bật hơn tất cả là hình ảnh chiếc lá dũng cảm và chân dung những con người tuy nghèo khổ nhưng tình thương thì bao la, vô tận. Truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng là bài ca cảm động, giàu chất nhân văn ngợi ca tình người, rất đáng đọc, đáng suy ngẫm.
Chiếc lá dũng cảm, tình người bao la (Về truyện Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri) – Bình giảng Ngữ Văn 8
2,312
Cho các nhân vật Chim Chích, Hoa Sen, Mặt Trời. Hãy tưởng tượng và viết một câu chuyện về các nhân vật đó Gợi ý Vào một buổi sáng mùa hè, Chim Chích Bông thức dậy, nó đứng rỉa lông, rỉa cánh một hồi rồi bay vút đi. Nó sục sạo vào các tán lá, bụi cây, nghiêng cái đầu xinh xắn, tìm những con sâu phá hoại cây trồng. Chích Bông làm việc miệt mài đến giữa trưa thì nghỉ. Nó thấy rất mệt và nghĩ rằng: ‘‘Giờ nếu mình ra hồ nghỉ ngơi thì có lẽ sẽ tốt hơn chăng? Ngoài đấy gió rất mát mẻ mình sẽ lại sức nhanh chóng và làm việc được tốt hơn”. Và thế là Chích Bông dang đôi cánh bé nhỏ bay ra phía hồ nước. Chim Chích Bông mới biết đến hồ nước này từ mùa xuân thôi. Trong một lần đi chơi Tết nó có bay qua đây, hồ rất rộng, trên phủ một lớp lá xanh mướt y như tấm thảm vậy. Chim Chích chẳng bao giờ chú ý đến những đám lá xanh hay mặt nước hồ thế nào. Nó đến đây chỉ với mục đích nghỉ ngơi chứ không phải để ngắm cảnh. Hơn nữa, nó nghĩ chẳng nên phí phạm thời gian để ngắm nghía cái hồ trong khi nó có thể làm việc để giúp đỡ các bác nông dân. Nhưng hôm nay thì khác, khi Chim Chích đến nơi thì nó trông thấy một bông hoa, một bông hoa đẹp nhất mà nó từng gặp. Bông hoa màu hồng với các cánh hoa như những bàn tay khum khum che chở cho đài hoa màu vàng rực như nắng. Bông hoa đó hồng trông thật nổi bật giữa đám lá xanh. Nó đứng ngẩn ngơ nhìn bông hoa và thầm hỏi bông hoa tên gì. Nó quyết định đi hỏi ông Mặt Trời. Nghĩ sao làm vậy, nó bèn đi tìm gặp Mặt Trời. Thấy nó, Mặt Trời liền hỏi: – Cháu chào ông Mặt Trời. – Chích lễ phép thưa – Thưa ông, ông có biết bông hoa mọc ở bờ hồ tên là gì không ạ? – Ồ, đấy là Hoa Sen. Con bé xinh đáo để, mà lại ngoan ngoãn nữa chứ. Thế nào, cháu định kết bạn với nó à? – Ông mặt trời hấp háy mắt hỏi. – Vâng, thưa ông – Chim Chích lúng túng – Nhưng cháu sợ bạn ấy từ chối. – Đừng lo, Chim Chích ạ. Hoa Sen tốt bụng lắm, cháu cứ mạnh dạn lên, đừng sợ. – Vâng, cháu cảm ơn ông! Cháu về ạ. Chim Chích bay đi nhưng không về nhà mà vòng lại bờ hồ, nó đứng ngắm Hoa Sen rồi lại nhìn mình. Nó thở dài: “Hoa Sen thật xinh đẹp, đáng yêu. Vậy thế làm sao lại kết bạn với mình được, mình vừa xấu xí vừa bé nhỏ, chắc bạn ấy chẳng muốn làm bạn với mình đâu”. Thế rồi Chim Chích dang cánh bay về nhà. Tất nhiên mọi hành động của Chim Chích chẳng thể lọt qua mắt ông Mặt Trời và ông đã quyết định một chuyện. Sáng hôm sau, Chim Chích đến bờ hồ thật sớm, nó ngạc nhiên khi thấy Hoa Sen được trang điểm bằng vô vàn hạt sương long lanh như ngọc. Mỗi tia nắng ban mai chiếu vào đều làm loé lên muôn vàn tia sáng lung linh, Chim Chích sững sờ trước vẻ lộng lẫy của Hoa Sen thì chợt có tiếng gọi làm nó giật mình: – Này bạn! Chim Chích ngó nghiêng xem ai vừa lên tiếng thì thấy Hoa Sen đang nhìn mình. Chim Chích lập cập: – Bạn… gọi tôi… à? – Phải, bạn có thể lại đây được không? Chim Chích sung sướng bay tới gần. Hoa Sen hỏi nó: – Có phải bạn muốn làm quen với tôi không? – Ừ… à… ừm – Chim Chích ngượng ngùng. – Bạn đừng ngại. Ông Mặt Trời đã nói hết với tôi rồi. Vậy từ giờ chúng ta là bạn nhé! Chích Bông tưởng như không còn gì hạnh phúc hơn đối với nó trên đời này. Hàng ngày, mỗi sáng sớm nó bay đi bắt sâu, sau đó lại ra hồ chơi đùa với Hoa Sen đến tận trưa. Đối với Chim Chích đây là quãng thời gian hạnh phúc nhất. Nhưng cũng chẳng được bao lâu, Hoa Sen ốm nặng, Chim Chích túc trực ngày đêm bên bạn, chẳng màng đến công việc. Hoa Sen rất cảm động trước tấm lòng của Chim Chích, nhưng nó chẳng thể cưỡng lại được số mệnh, nó nói với Chim Chích: – Bạn Chim Chích thân mến! Bạn cũng nên nghỉ ngơi đi, đừng gắng sức quá kẻo lại ốm mất. – Nhưng bạn sẽ khỏi bệnh, phải không? – Chim Chích lo âu. – Không đâu, tôi sắp chết rồi, cuộc sống của tôi đã gần hết, tôi biết rõ lắm. – Không, Hoa Sen ạ, bạn nhầm rồi, bạn sẽ không chết đâu mà! – Chim Chích, không gì có thể tồn tại mãi được. Hoa sẽ tàn, đồ vật sẽ hỏng, chim muông sẽ chết, đó là quy luật của tự nhiên mà. Chim Chích im lặng, nó biết rõ điều đó, nhưng nó muốn trốn tránh sự thật, nó sợ cái sự thật ấy. Giọng Hoa Sen lại cất lên dịu dàng: – Chim Chích, hãy hứa với tôi! Khi các cánh hoa của tôi rụng hết, bạn hãy giữ lại cánh hoa cuối cùng, được không? Chim Chích muốn trả lời, nhưng cổ họng nó tắc nghẹn lại, nó đành gật đầu. Đêm ấy có cơn mưa rào, Chim Chích nằm trong tổ lo lắng cho Hoa Sen. Trời vừa sáng, Chim Chích đã bay vút ra mặt hồ. Đêm qua Hoa Sen đã bị rụng gần hết cánh nhưng nó đã dùng toàn bộ sức lực còn lại níu giữ cánh hoa cuối cùng để đợi Chim Chích. Khi nhìn thấy Chim Chích từ xa nó mừng rõ nhưng nó đã kiệt sức. Cánh hoa rời khỏi đài hoa và bị cuốn theo làn gió. Chim Chích thấy vây bèn đuổi theo cơn gió, nó dang rộng đôi cánh bé nhỏ, gắng hết sức đua tranh với cơn gió để giành lại cánh Sen. Nó thở hổn hển, hai cánh rã rời nhưng vẫn không chịu thua, cố đeo bám lấy. Cuối cùng, nó cũng giữ lại được cánh hoa. Chim Chích ngậm chặt cánh hoa vào mỏ, bay về phía hồ. Hoa Sen giờ chỉ còn trơ lại cái đài xác xơ, chẳng ai ngoài Chim Chích biết rằng bông hoa kia đã có một thời lộng lẫy thế nào. Chim Chích đã khóc, giọt nước mắt rơi vào đài sen. Thật kỳ diệu, Hoa Sen đã mở mắt, nó mỉm cười khi thấy Chim Chích cắp cánh hoa bên mình, Hoa Sen nói yếu ớt. Thế rồi Hoa Sen nhắm mắt để lại Chim Chích ủ rũ bên bờ hồ. Chim Chích cắp cánh Hoa Sen bay lên, bay mãi, cuối cùng đến chỗ ông Mặt Trời. Chim xin ông phép màu để cánh hoa mãi tươi và mang về tổ. Hàng đêm, Chích Bông ngủ bên cánh Hoa Sen hồng thơm dịu dàng ấy. Và trong thời gian đó nó đã phát hiện Hoa Sen sai một điều, vẫn có thứ mãi mãi tổn tại trên thế gian này, đó là tình bạn.
Cho các nhân vật Chim Chích, Hoa Sen, Mặt Trời. Hãy tưởng tượng và viết một câu chuyện về các nhân vật đó
1,231
Đề bài: Chuyển bài bút kí Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử của Thuý Lan thành một bài tự sự Bài làm Tôi là một cây cầu bắc qua sông Hồng. Người ta đặt cho tôi cái tên khá kêu: Long Biên. Thực ra thì cái tên Long Biên cũng không phải là tên khai sinh của tôi. Mà mãi tới khi tôi đã trưởng thành, vào năm 1945, tôi mới được đổi tên gọi Đu-me thành Long Biên. Mẹ tôi thai nghén tôi vào năm 1898 và bốn năm sau, tôi cất tiếng khóc chào đời. Mẹ tôi giao cho tôi nhiệm vụ nằm vắt qua con sông Hồng đỏ ngầu phù sa, nối đôi bờ để cho con người qua lại. Đây là một nhiệm vụ thật nặng nề và cũng đầy vinh quang, khiến tôi rất đỗi tự hào. Tôi càng kiêu hãnh hơn bởi cái dáng vẻ hùng dũng vừa dẻo dai, vững chắc, vừa oai vệ của mình. Thời bấy giờ ở cả xứ Đông Dương này đã có một anh cầu nào khoẻ mạnh, đẹp trai và oai phong như tôi đâu! Mà trên thế giới, tôi cũng chẳng thua kém chúng bạn là bao. Mẹ thường bảo tôi: “Con là một thành tựu quan trọng trong thời văn minh cầu sắt”. Nhiều lần, mấy gã giông bão ghen tị với tôi, vào hùa với nhau định nhấc tôi lên không trung để ném xuống làm tôi gãy xương, nhưng tôi vẫn sừng sững đứng đó, hai chân tôi choãi ra bám chắc vào lòng sông, đung đưa thân mình như trêu tức họ. Cả thần Nước cũng hậm hực với tôi, dâng nước lũ cuồn cuộn định nhấn chìm tôi. Nhưng đừng có mơ tưởng! Tuy tôi rất kiêu hãnh về mình nhưng nhiều lúc, tôi vẫn bị ác mộng ám ảnh. Chả là hồi thai nghén tôi, mẹ tôi đã uống máu của hàng ngàn dân phu Việt Nam để nuôi dưỡng tôi. Nhớ lại điều đó, tôi rùng mình kinh sợ. Và tôi đâm oán mẹ tôi, sao bà có thể ác như thế? Nếu hồi ấy mẹ tôi nhân từ hơn thì lí lịch của tôi đâu có một vết hoen ố lớn như thế. Tôi cố gắng hiền hoà và cần mẫn làm việc để chuộc tội thay cho mẹ tôi, mong con người Việt Nam khoan dung mà quên đi quá khứ đau thương của họ, mà nhìn tôi với ánh mắt thiện cảm hơn. Tôi nhận thêm một bà mẹ nhân hậu, bao dung: mẹ Việt Nam. Thế là, suốt một thế kỉ, tôi tận tuỵ phục vụ mẹ Việt Nam. Tôi đưa không biết bao nhiêu lượt người từ Hà Nội sang Gia Lâm, rồi từ Gia Lâm sang Hà Nội. Bao nhiêu chuyến xe khách, xe hàng đã từ bờ bắc sang bờ nam sông Hồng rồi ngược lại. Cả những đoàn tàu hoả chạy xinh xịch ở giữa lòng tôi. Những lúc ấy, lòng tôi hân hoan vô cùng. Tôi gắn bó với con người Việt Nam hiền hoà và anh dũng suốt chiều dài thế kỉ, với bao kỉ niệm vui buồn. Kí ức tôi bây giờ vẫn còn hằn sâu những dấu ấn của những thời khắc lịch sử hào hùng. Một ngày đầu xuân năm 1947, tôi đã chứng kiến những người dân Thủ dô cùng trung đoàn yêu dấu của họ bí mật ra đi dưới chân tôi. Họ ra đi thầm lặng, tám năm sau, họ trở lại Thủ đô, hùng dũng nện gót giày trên lưng tôi, miệng hát vang những lời ca bi thương và hùng tráng: Những đêm ra đi đất trời bốc lửa Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn phất phơ mười phương cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa… Thực ra, đây không phải là khúc ca khải hoàn, mà là lời ca gợi họ nhớ lại cái ngày rời Hà Nội ra đi. Tôi không hiểu gì về âm nhạc, nhưng tôi nghe đoàn quân hát, lòng cũng thấy nao nao. Rồi những năm tháng Hà Nội bị máy bay Mĩ đánh phá, tôi trở thành mục tiêu ném bom dữ dội của không lực Hoa Kì (có lẽ chúng nhận ra tầm quan trọng của tôi). Bom Mĩ ném vào tôi tới hàng chục lần, khiến tôi bị thương nặng. Cả thân hình tôi tả tơi, rách nát, ứa máu. Nhưng tôi vẫn sừng sững đứng đó, hiên ngang bám trụ để đưa đón những lượt người và những đoàn xe qua sông. Có người lính, trước khi xa Hà Nội đã chạy đến chào từ biệt tôi. Chiến tranh kết thúc, người lính trở về giờ đã là một thương binh. Anh đã bỏ lại một chân ở chiến trường Tây Nguyên. Anh chống nạng lò dò từng bước đến gặp lại tôi. Chúng tôi gặp nhau sau gần 20 năm xa cách mừng mừng tủi tủi. Anh lặng lẽ ngồi xuống bên tôi, mắt đàm đăm nhìn tôi, rồi nói: – Cậu kiên cường lắm. Tôi bỗng thấy mình hạnh phúc quá! Một thế kỉ tuổi đời với bao kỉ niệm khó quên, tôi làm sao có thể kể hết. Mẹ tôi (tức bà mẹ mới của tôi- Mẹ Việt Nam) đã nhanh chóng thay da dổi thịt từ sau ngày hoà bình. Mẹ sinh thêm hai em nữa đặt lên sông Hồng. Hai em Thăng Long và Chương Dương của tôi thật oai vệ gấp tôi cả chục lần. Chúng cao lớn và khoẻ mạnh lắm. Chúng tranh hết cả những công việc nặng nhọc của tôi. Tôi trở thành ra an nhàn. Bây giờ, tôi lại có nhiệm vụ khác, đó là đón những đoàn khách du lịch nước ngoài đến thăm. Họ muốn qua tôi để hiểu hơn về bà mẹ Việt Nam đau thương và anh dũng của tôi. “Mình vẫn là người có ích”- Tôi nhủ thầm như vậy.
Chuyển bài bút kí Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử của Thuý Lan thành một bài tự sự
1,000
Đề bài: Chuyển bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa thành bài văn xuôi Bài làm Em đang ngồi học bài. Chợt nghe tiếng gà con rộ lên rối rít. Có chuyện gì xảy ra với chúng rồi! Em vội ra cửa nhìn. Trời sắp mưa, chúng tìm nơi để ẩn nấp. Đúng là trời sắp mưa! Họ hàng nhà mối ở đâu mà bay ra nhiều thế! Mối già bay cao, mối trẻ bay thấp, chao đi liệng lại trong không trung. Bầu trời như sắp sập xuống bởi những đám mây đen kịt bao phủ. Ông mặt trời mọi ngày thường khoác trên mình “bộ cánh” màu xanh thăm thẳm, nét mặt tươi cười rạng rỡ là thế mà hôm nay trông oai vệ như một dũng tướng mặc áo giáp đen để ra trận. Xa xa cánh đồng mía của làng với muôn nghìn cây mía, lá nhọn sắc đang quay cuồng trong gió trông như những lưỡi gươm khua lên trong tay các chiến sĩ của một đội quân đông đảo. Kiến ở đâu đó kéo ra, đi theo từng đàn vội vã có hàng lối như một đoàn quân đang hành quân khẩn trương. Tất cả! Tât cả! Như sẵn sàng vào một trận đánh dữ dội với khí thế mạnh mẽ. Gió vẫn thổi. Những chiếc lá khô xao xác bay đầy trên đường làng, ngõ xóm, cuốn theo cả những lớp bụi bay mù mịt cuộn lên theo làn gió thổi. Ngoài vườn, những cây cỏ gà rung rinh trước gió trông như những cái tai dỏng lên để “thưởng thức” các âm thanh cua gió. Rặng tre sau nhà em đang ngả nghiêng, cành tre và lá tre cuộn vào nhau rồi lại tung ra tưởng chừng như những mớ tóc rối được những cơn gió thổi mạnh gỡ ra. Hàng bưởi trước nhà quả sai trĩu chịt đang đung đưa trước gió như người mẹ giang vòng tay bế những đứa con thơ đầu tròn còn chưa mọc tóc. Đang mải mê ngắm nhìn cảnh vật thay đổi, trước mắt em bỗng loằng ngoằng loé lên một vạch như cắt ngang trời, một tia chớp kèm theo là một tiếng sét nổ inh tai, nhức óc nghe sao khô khốc! Tiếng sấm rền vang nối tiếp nhau nghe “khanh khách” như tiếng người cười. Gió thổi mỗi lúc càng mạnh. Cây dừa trước ao nhà như đang sải những cánh cay uyển chuyển của mình bơi trong gió. Chị mùng tơi nhún mình như đang nhảy múa đón những cơn gió thổi trước lúc mưa ào đến. Mưa! Mưa đã đến! Nghe ù ù như tiếng cối xay lúa. Lộp bộp, lộp bộp… Mưa rơi trên mái nhà, mái bếp… đập lùng tùng vào những tàu lá chuối của bụi chuối trước sân nhà. Mưa mỗi lúc một to hơn, nước mưa ào ào tuôn xuống liên tiếp không ngớt. Mưa rèo rèo, đan chéo mặt sân, mưa sủi bong bóng nước. Đất trời mù trắng trong mưa. Ngoài vườn, mấy chú cóc bị ướt nhảy chồm chồm tìm chỗ để tránh mưa. Con mực đang nằm cuộn tròn trong ổ rơm ở đầu hè nhà đang lim dim ngủ, bỗng sủa inh lên bởi có một con cóc nhảy chồm qua lưng chú ta. Ngoài trời cây cối được tắm mưa tưởng chừng như tâm trạng rất hả hê, sung sướng. Xa xa thấp thoáng ngoài cánh đồng, em nhìn thấy bố đi cầy về dưới cơn mưa đang dữ dội. Bất chấp cả sấm, cả chớp, cả trời mưa! Con người lao động hiên ngang quá! Có đủ sức mạnh để sánh với thiên nhiên, vũ trụ.
Chuyển bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa thành bài văn xuôi
611
Đề bài: Chuyển văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ thành một văn bản tự sự Bài làm – Thưa ngài! Ngài có thư ạ! Chàng thanh niên da đỏ có mái tóc xoăn và đôi mắt sáng; kính cẩn đưa cho thủ lĩnh của mình một bức thư. Thủ lĩnh Xi- át- tớn hỏi: – Thư của ai vậy? – Thưa ngài, của tổng thông Mĩ Phreng-klin pi-ơ-xơ ạ! Chàng thanh niên đáp – Hừ, đồ tham vọng bỉ ổi! Làm sao ta có thể bán đất đai của tổ tiên cho chúng được! Thủ lĩnh Xi-át-tơn rít lên. Dường như bao nhiêu nỗi bực bội, câm uất trong lòng ông tích tụ lại nay mới có dịp bùng lên. Ông giậm chân, giậm tay, đập bàn đập ghế như thể tổng thống Mĩ Phreng-klin pi-ơ-xơ đang ở trước mặt ông. – Thưa ngài, ngài có trả lời thư không ạ? Chàng thanh niên rụt rè hỏi: – Ta sẽ viết thư trả lời hắn. Ta phải dạy cho hắn một bài học. Rồi thủ lĩnh bảo chàng thanh niên: – Đem giấy bút lại đây cho ta! Viết gì nhĩ? Thủ lĩnh tự hỏi mình. Trong óc ông hiện lên hình ảnh nhiều năm về trước. Lúc bấy giờ, ông còn là một chàng trai. Cả bộ lạc của ông đang sống yên bình giữa thiên nhiên tươi đẹp và thoáng đãng. Những buổi ban mai, chàng thanh niên Xi-át-tơn say mê ngắm những hạt sương long lanh đọng trên lá cây, ngọn cỏ. Những đêm trăng sáng, Xi-át-tơn cùng bạn bè ca hát, nhảy múa trên đất mẹ. Kí ức sông lại, và thủ lĩnh Xi-át-tơn đặt bút viết những dòng đầu tiên trong bức thư trả lời tổng thống Mĩ: …Đôi oái đồng bào tôi, mỗi tấc đất là thiêng liêng, mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương long lanh trong những cánh rừng rậm rạp, rnẫi bãi đất hoang và tiếng thi thầm của côn trùng là những điều thiêng liêng trong kí ức… Thủ lĩnh Xi-át-tơn không thể hiểu nổi tại sao người da trắng khi chết đi lại mong được lên thiên đàng, dạo chơi giữa các vì sao và quên đi đất nước họ sinh ra. Còn người da đỏ của ông lại mong trở về đất mẹ. Ông viết tiếp: …Còn chúng tôi, chúng tôi chẳng thể quên được mảnh đất tươi đẹp này. Bởi lẽ mảnh đất này là bà mẹ của người da đỏ. Chúng tôi là một phần của mẹ và mẹ cũng là một phần của chúng tôi. Những bông hoa ngát hương là người chị, người em của chúng tôi. Những mỏm đá, những vũng nước trên đồng cỏ, hơi ấm của chú ngựa cọn và của con người, tất cả đều cùng chung một gia đình… Trong kí ức của thủ lĩnh Xi-át tơn lại hiện về cái ngày mà người da trắng xuất hiện. Họ lăm lăm những cái ống dài khạc ra lửa (Hồi đó người da đỏ chưa biết đó là súng). Họ rượt theo đồng bào của ông đến tận con sông lớn đầu nguồn. Hàng ngàn người đã ngã xuống trước những cái ống quái ác khạc lửa. Máu họ nhuộm đỏ dòng sông: Nỗi căm hận trong ông trào lên ngọn bút: Dòng nước óng ánh, êm ả trôi dưới những dòng sông, con suối đâu chỉ là những giọt nước, mà còn là máu của tổ tiên chúng tôi. Thủ lĩnh Xi-át tơn còn nhớ rất rõ, sau khi đã xua đuổi những bộ tộc da đỏ vào tận rừng sâu, chiếm được đất đai của họ, bọn da trắng thi nhau khai thác đất đai làm giàu. Những đồn điền mọc lên. Rồi những thành phố mọc lên. Rồi những nhà máy mọc lên. Khói của các ống khói đen nhả ra vấy bẩn cả bầu trời. Rồi bụi bặm từ các nhà máy xi măng, những công trường… tưởng như ngạt thở! Không thể để chúng làm vấy bẩn bầu không khí của ta. Thủ lĩnh bèn viết: Không khí quả là quý giá đối với người da đỏ, bởi lẽ bầu không khí này là của chung, cây cối, những con người và muông thú cùng nhau hít thở. Người da tráng củng cùng chia sẻ hít thở bầu không khí đó. Nhưng hình như người da trắng chẳng để ý gỉ đến nó. Bọn da trắng thật là tàn ác! Quân dã man! Thủ lĩnh Xi- át-tơn gầm lên. Ông nhớ lại cảnh ông đã tận mắt chứng kiến: Một con ngựa sắt nhả khói chạy qua đồng cỏ. Bọn lính da trắng trên con ngựa sắt đó trông thấy một đàn trâu rừng. Chúng nâng súng lên chĩa vào những con vật hiền lành, ngơ ngác. Những con vật đáng thương rú lên rồi ngã vật ra giãy giụa. Máu chảy lênh láng trên đồng cỏ. Bọn da trắng cười hô hố… Cả đàn trâu hàng triệu con giờ chỉ còn lại vài con nuôi trong công viên làm cảnh. Máu trong người thủ lĩnh Xi-át tơn sôi lên. Ông viết tiếp: … Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu tại sao một con ngựa sát nhả khói lại quan trọng hơn nhiều con trẩu rừng… Con người là gì nếu cuộc sống thiếu những con thú? Và nếu chúng ra đi thì con người cũng chết dần, chết mòn rồi nỗi buồn cô đơn về tinh thần, bởi lẽ điều gì đã xảy ra với con thú thì củng xảy ra với con người. Mọi vật trên đời đều có sự ràng buộc. Phải gửi ngay lá thư này đến Pi-ơ-xơ, để hắn biết người da đỏ yêu đất đai, đất nước của mình biết nhương nào! – Con hãy chuyển ngay lá thư trả lời của ta đến Pi-ơ-xơ! – Thủ lĩnh gọi chàng thanh niên giúp việc – Con nhớ đưa đến tận tay hắn, càng sớm càng tốt. . “Không hiểu đọc thư này, tay Pi-ơ- xơ sẽ nghĩ như thế nào?”. Thủ lĩnh Xi-át-tơn nghĩ thầm. Và ông khẽ mỉm cười.
Chuyển văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ thành một văn bản tự sự
999
Đề bài: Chân dung Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan Bài làm Nguyễn Công Hoan Là nhà văn am hiểu sâu sắc xã hội phong kiến, ông đã khắc hoạ nổi bật tính cách bọn quan lại chuyên ăn hối lộ, chuyên đục khoét, chuyên ăn bẩn… Một trong những viên quan mà ông miêu tả là Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma. Khi nhắc đến bọn quan lại dưới thời phong kiến, nhân dân ta thường nhìn chúng với thái độ căm ghét, ghê tởm và gọi chúng là “quan tham, sâu mọt”. Là nhà văn am hiểu sâu sắc xã hội phong kiến, Nguyễn Công Hoan đã khắc hoạ nổi bật tính cách bọn quan lại chuyên ăn hối lộ, chuyên đục khoét, chuyên ăn bẩn… Một trong những viên quan mà ông miêu tả là Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma. Mở đầu truyện nhà văn cực lực lên án sách vệ sinh, ông cho rằng sách vệ sinh sai khi dạy người ta phải ăn ở hợp vệ sinh thì mới có sức khỏe tốt. Với Huyện Hinh điều đó không đúng một chút nào, hắn chuyên “ăn bẩn” mà vẫn béo, rất béo là đằng khác. Phải chăng “ăn bẩn” mà nhà văn nói ở đây là “ăn bẩn” theo một nghĩa khác? Giọng văn châm biếm hài hước, thật kinh ngạc: Chà! Chà! Béo ơi là béo vì to béo quá, thân hình quan đồ sộ làm cho quan tưởng là “nói xỏ” khi có thằng dân nào nói nhờ bóng quan lớn to béo đến mức ra mặt hắn căng lên, râu không sao chồi ra ngoài được. Bởi vậy ngoài tứ tuần mà mặt hắn cứ nhẵn thín, cố gắng lắm trên mép hắn mới có được cái dấu chua chủa. Ta hãy xem hắn – Huyện Hinh ăn bẩn như thế nào? Trong truyện này chỉ là một phương cách trong muôn nghìn phương cách mà Huyện Hinh ăn bẩn. Con mẹ Nuôi vào cửa quan. Nó đi trình việc mất trộm hôm trước lên quan. Trước khi lên quan nó phải đi chạy vạy vay mượn một đồng hai hào, vì nó biết được “thông lệ gặp quan”. Trước mặt quan, ngài oai vệ quá, mắt trừng trừng nhìn nó. Thế là lúng túng, run quá, hoảng quá, nó đi trình việc mất trộm mà y như nó là kẻ ăn trộm vậy. Thế là rơi tiền, đồng rơi ở xó này, đồng rơi ở xó kia, quái! Còn một đồng nữa? Nó không biết rằng đồng hào mà nó tưởng là có ma ấy đang nằm dưới chân “con ma” trước mặt nó. Không đủ tiền “vi thiềng” quan con mẹ Nuôi lủi thủi ra về. Huyện Hinh chờ cho con mẹ khốn nạn đi khuất đưa mắt xuống chân dịch chiếc giày ra một tí mà vẫn thản nhiên như không, thò tay nhặt đồng hào, thổi những hạt cát còn bám và bỏ tọt vào túi. Tội nghiệp cho con mẹ Nuôi đã mất trộm lại mất cả tiền đi trình việc mất trộm. Nó phải đi vay tiền cả thảy có một đồng hai, khốn nạn có phải lót cho tên lính lệ hai hào từ cổng. Còn một đồng cứ tưởng… do lúng túng, hoảng sợ trước cửa quan, cả năm đồng hào đôi rơi tuốt xuống sân nhà, và thế là trong số tiền rơi ấy có một đồng “có ma”. Nó khăng khăng là “đồng hào của nó có ma”, nó không dám nghi ngờ cho quan bởi vì cửa quan là nơi tôn nghiêm, uy nghi sao có chuyện như vậy được. Nó lủi thủi ra về, mất đến bốn hào bạc mà không giải quyết được việc gì. Con mẹ Nuôi sẽ không khỏi hoài nghi về tiền mà nó mang đi lót tay cho quan để trình việc mất trộm. Có phải có ma thật trong đồng hào đôi của nó? mà nếu có ma thì tại sao nó lại không biến mất khỏi bao tượng bên người nó. Vậy thì ma ở đâu? Có ma thật không? sự nghi ngờ này được Nguyễn Công Hoan giải mã bằng đoạn băng ghi hình sau …Dịch chiếc giày ra một tí… bỏ tọt vào túi. Trong buồng quan chỉ có con mẹ Nuôi và quan vậy ai là ma? Con ma ấy là Huyện Hinh. Con ma đang trừng trừng nhìn nó vẻ soi mói, và có lẽ y quan sát xem đối tượng trước mặt mình là ai, y sẽ khoét bằng cách nào. Con ma giữa công đường, con ma thực thi pháp luật, phụ mẫu hi dân phải chăng quan lại phong kiến đều là bọ ma quái, tham lam nhũng nhiễu như vậy sao? Chúng dùng bao phương cách “mưu na trước quỷ” để bóc lột đến tận xương tuỷ của nhân dân. Vậy thì dân có thể trông tin quan như trời hạn trông mưa thế nào được. Cũng là quan huyện, nhưng viên quan phụ mẫu lại được Phạm Duy Tốn miêu tả sinh động ở góc độ khác. Vô trách nhiệm với nhiệm vụ của mình, ăn chơi hưởng thụ phó mặc cuộc sống của dân lành, khi thấy có khả năng mình bị liên lụy y đổ tội cho kẻ khác. Như vậy bộ mặt quan lại xưa là như thế, chúng bẩn thỉu ti tiện, vô lương tâm. Chẳng thế mà có bao câu ca dao tục ngữ chế giễu, đả kích bọn quan lại, coi chúng là sâu bọ, ung nhọt, kẻ cướp trong xã hội. “Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” Hay “Quan đi kinh lý trong vùng Đâu có… gà vịt thời lùng về xơi” Có thể nhà văn dùng chút ít lối viết phóng đại, nhưng bản chất sự việc là có thật. Huyện Hinh là một tên quan có tâm địa hèn hạ, bẩn thỉu không từ chối bất kỳ thủ đoạn kiếm ăn nào. Đó cũng chính là bản chất chung của bọn quan lại dưới thời phong kiến. Cách nhìn của nhà văn đối với chúng cũng chính là cách nhìn của nhân dân ta. Từ đó dẫn đến một thái độ căm ghét, phản kháng, và tất yếu dẫn đến đấu tranh chống lại cường quyền áp bức.
Chân dung Huyện Hinh trong truyện ngắn Đồng hào có ma
1,058
Chí làm trai trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão Hướng dẫn Chí làm trai trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão Bài thơ khắc họa hình ảnh tráng sĩ đời Trần trong khí thế hào hùng chống giặc ngoại xâm. Đó là hình ảnh đấng nam nhi có tư thế oai hùng, tầm vóc lớn lao, ý chí mạnh mẽ và cái tâm cao đẹp luôn khát khao cống hiến, lập công bằng tất cả tài năng, tâm huyết. Bài thơ còn thể hiện một thái độ sống khiêm tốn, không bao giờ tự mãn với bản thân, cống hiến bao nhiêu cho đất nước vẫn chưa hài lòng, vẫn cảm thấy hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu. Đó là khát vọng, hoài bão cao đẹp của Phạm Ngũ Lão và thanh niên thời đại phong kiến. Có ý kiến cho rằng sự hổ thẹn của tác giả là kiêu kì bởi Vũ Hầu tên thật là Gia Cát Lượng, thường gọi là Khổng Minh, là một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Tam Quốc, có trí tuệ siêu phàm, tài năng xuất chúng hiếm ai sánh nổi, người đã trả nợ công danh đến hơi thở cuối cùng. Phạm Ngũ Lão thấy thẹn với lòng mình khi nghe chuyện Vũ Hầu quả là mạnh mẽ, táo bạo, thiên hạ xưa nay mấy ai làm được. Nhưng lại có ý kiến cho rằng sự hổ thẹn của tác giả là tự cao, tự đại. Đó là ý kiến thiếu công bằng, chưa thấu đáo ý thơ, tiếng lòng Phạm Ngũ Lão. Ngược lại, có nhiều ý kiến ca ngợi thái độ biết hổ thẹn của Phạm Ngũ Lão, cho đó là biểu hiện của sự khiêm tốn, có khát vọng, hoài bão cao cả. Đúng vậy! Phạm Ngũ Lão thẹn vì thấy mình chưa có tài năng lớn như Vũ Hầu để lập công danh gánh vác giang sơn, Tổ quốc. Cái thẹn của ông là cái thẹn của người có chí lớn, có cái tâm trong sáng, có hoài bão, khát vọng cống hiến hết mình cho dân cho nước. Cái thẹn làm nên nhân cách lớn của thời đại. Trong bài thơ “thuật hoài”, cái thẹn của Phạm Ngũ Lão là hoàn toàn chính đáng, bởi Khổng Minh là một con người chứ không phải thánh. Sự tài giỏi của ông là kết quả của quá trình rèn luyện học hành mà có, Ông là tấm gương cho hậu thế noi theo. Bài thơ là lời đúc kết lý tưởng sống cao đẹp của thanh niên thời đại phong kiến. Khát vọng, hoài bão đó chính là quan niệm về chí làm trai, làm trai phải có công danh, sự nghiệp, phải gánh vác giang sơn, phải lập công, báo quốc, vì dân vì nước. Quan niệm đó xuyên suốt lịch sử phong kiến, được trải nghiệm trong thực tế và lưu bút trong nhiều áng văn chương: Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu… tới những thanh niên “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, những chàng trai cô gái sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc.
Chí làm trai trong bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão
525
Chí muốn làm người lương thiện, nhưng tại sao lại đi giết người? Hướng dẫn Chí muốn làm người lương thiện, nhưng tại sao lại đi giết người? “Tao muốn làm người lương thiện!” nhưng “Ai cho tao lương thiện bây giờ?”… Những khẩn cầu da diết của một anh Chí chuyên đi rạch mặt ăn vạ, sống say xỉn suốt ngày cuối cùng cũng làm lòng người vương chút xót thương. Chỉ tiếc rằng, đến lúc nhận ra đâu là cái thiện, cái ác lại chính là lúc Chí kết liễu cuộc đời mình. Kết cục bi thảm của câu chuyện, khiến người đọc tự đặt ra câu hỏi đầy day dứt: Chí muốn làm người lương thiện, nhưng tại sao lại đi giết người? Phải chăng nhà văn Nam Cao đã cố tình để “đứa con đẻ” của mình vào hoàn cảnh éo le, để rồi ông phải đau đớn cởi nút thắt ấy bằng chính máu và nước mắt của những người nông dân cùng khổ giống như Chí? Chí là một đứa trẻ mồ côi, không cha không mẹ. Chí chưa một lần được biết đến hơi mẹ. Cả làng Vũ Đại thay nhau nuôi nấng Chí. Cho đến khi làm được việc, Chí đi ở cho nhà Bá Kiến để lấy chỗ nương thân sinh sống qua ngày. Ngỡ rằng, cuộc đời làm nô bộc cứ thế qua đi, nhưng sự đời éo le cùng những tai họa đã ập đến với Chí. Chí bị bà ba – vợ ba của Bá Kiến dụ dỗ, hãm hại đẩy vào tù. Oan ức, cay nghiệt và lòng thù hận đã theo Chí trong suốt những năm tháng dài đày ải trong tù. Khiến Chí từ một chàng thanh niên hiền lành tốt bụng trở thành một con quỷ dữ khi quay lại làng. Giờ đây, trước mắt mọi người là một con quái vật suốt ngày say xỉn, chuyên đi rạch mặt ăn vạ với những trận chửi om sòm, nghiệt ngã. Mãi cho tới khi gặp Thị Nở, dù chỉ là một cuộc tình chóng vánh mỏng manh với người đàn bà dở hơi, xấu xí nhưng chính từ những điều tưởng chừng như buồn cười ấy lại làm nên bước ngoặt lớn cho cuộc đời Chí. Lần đầu tiên Chí tỉnh rượu, lần đầu tiên hắn thấy yêu cuộc sống, yêu những điều giản dị nhất, hắn ý thức về tuổi tác, về sự đời, về những gì sắp diễn ra trước mắt mình. Cái bản chất lương thiện trong Chí đã được đánh thức sau bao ngày bị vùi dập trong men say. Nhưng bất hạnh chưa hết, Thị bỏ rơi Chí giữa lúc tình yêu đang say đắm, nồng nàn. Trong cơn tuyệt vọng, Chí càng thức tỉnh hơn, càng hiểu hơn vì sao mình ra nông nỗi này. Và Chí đã đi đến một quyết định rất táo bạo: giết chết Bá Kiến rồi tự tử để làm người lương thiện. Tình cảnh oái oăm, bi thương này khiến người đọc không khỏi xót thương và đưa ra câu hỏi: Chí muốn làm người lương thiện nhưng tại sao lại đi giết người? Chí giết Bá Kiến để làm người lương thiện là hoàn toàn đúng. Mặc dù đó là hành động giết người, nhưng trong cái xã hội ấy, hành động này lại là hành động đáng được nhân dân hưởng ứng. Bởi giết Bá Kiến là giết bọn tàn ác, bất nhân. Bọn chúng không chỉ đàn áp mình Chí mà còn đàn áp tất cả những ai thấp cổ bé họng như Chí. Biết bao nhiêu người nông dân cũng đang phải khổ sở chịu đựng cảnh sống lầm than, oan ức như Chí mà không thể nào lên tiếng được. Bọn chúng còn sống ngày nào, nhân dân còn khổ sở ngày đó. Có lẽ, trong những giây phút tủi hờn, Chí nghĩ rằng mình chẳng còn gì phải đáng tiếc cho cuộc đời này, mẹ không, cha cũng không, rồi đến ngay cả một mảnh tình vắt vai tưởng chừng như hạnh phúc cũng vừa bị vụt tắt ngay trong chốc lát, vậy thì Chí còn sống trên cõi đời này làm gì? Rồi khi Chí già nua, ai sẽ bên cạnh, lúc ốm đau mệt mỏi, chắc chỉ có mình Chí nằm co ro hưu quạnh trong túp lều rách nát. Chí nghĩ về sự cô đơn, nó còn đáng sợ hơn cả bệnh tật. Bởi thế, cái chết lúc này vừa giải thoát Chí khỏi cuộc đời đầy ngang trái, vừa là động lực để Chí cầm giao giết chết kẻ cầm quyền ác độc kia. Chí giết chết Bá Kiến rồi tự tử – hành động giết người nhưng lại được mang tên là lương thiện. Tại sao ư? Bá Kiến chết, nhân dân sẽ bớt khổ dù sau hắn vẫn còn những bè lũ tay say. Nhưng ít nhất cái chết của hắn cũng là một mũi dao chĩa thẳng vào đồng bọn của hắn và cảnh cáo rằng: con giun xéo lắm cũng quằn, nhất định sẽ có ngày họ đứng lên để giành lại quyền sống, quyền tự do cho chính mình. Chí chết, nhưng vẫn còn bao nhiêu người dân nữa, họ sẽ cùng nhau đoàn kết hợp sức lại lật đổ chế độ phong kiến bạo tàn thâm độc. Bởi thế, hành động Chí giết Bá Kiến là hoàn toàn đúng, và lúc này tâm trí của Chí cũng hoàn toàn tỉnh táo. Chí không say. Chí làm rất đúng. Nhà văn Nam Cao đã rất thành công khi dẫn dắt và sắp đặt cho các nhân vật của mình vào những tình huống éo le nhưng lại rất hợp tình hợp lý. Chí giết Bá Kiến cũng chính là ý niệm của ông khi ông chứng kiến cảnh dân mình phải chịu áp bức bóc lột nặng nề đến mức đánh mất cả nhân tính tốt đẹp vốn có của bản thân. Dù ông đau xót khi phải để Chí chết nhưng đó lại là một cách rất xứng đáng để Chí không làm nên những cái nhìn ghê tởm cho mọi người nữa. Mặt khác, giết Bá Kiến là để cứu giúp nhân dân, để đánh thức lòng can đảm của dân chúng, thúc giục họ hãy đứng lên tự giải phóng lấy chính mình. Như vậy, hành động Chí giết Bá Kiến là hoàn toàn đúng, đặc biết rất đúng với tâm niệm được làm người lương thiện của Chí.
Chí muốn làm người lương thiện, nhưng tại sao lại đi giết người_
1,088
Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái tỉnh rượu hay say? Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến? Hướng dẫn Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái tỉnh rượu hay say? Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến? Truyện ngắn Chí Phèo khép lại bằng hai cái chết của hai nhân vật đối địch nhau: bá Kiến và Chí Phèo. Một người bị giết, một người tự sát. Hai cái chết xảy ra cùng một lúc: Chí Phèo văng dao tới chém bá Kiến túi bụi và quay ngang lưỡi dao còn vấy máu kẻ thù vào cố họng mình. Vì sao lại có chuyện lạ như vậy? Giết được kẻ thù, lẽ ra phải sông, nhưng sao Chí Phèo lại tự sát? Điều này chỉ có thể lí giải khi ta nhìn lại toàn bộ cuộc đời nhân vật trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, trong quan hệ khác với các nhân vật khác của truyện. Nhân vật điển hình xuất sắc của nhà văn Nam Cao là Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên ra đời năm 1941. Chí là một người nông dân vốn lương thiên, hiền lạnh, nhưng từ khi gặp Bá Kiến cuộc đời Chí lại bước snag trang sách mới. Chí bị Bá Kiến cho đi tù oan, bị lưu manh hóa, côn đồ hóa. Sau khi gặp Thị Nở, gặp được tình yêu cua đời mình, được hưởng tình cảm yêu đương. Chí thèm muốn được lương thiện. Tuy nhiên không phải lúc nào “quay đầu cùng là bờ”, không thể hoàn lương Chí tuyệt vọng. Chí cầm dao giết Bá Kiến sau khi đã nốc rất nhều rượu rồi tự sát. Vậy là một kẻ bị giết và một kẻ tự giết. Tuy nhiên người ta vẫn không lí giải được hành động của Chí là say hay tỉnh? Tại sao ngừi ta lại nói rằng không biết Chí đang say hay tỉnh. Bởi vốn từ trước đến giờ mỗi khi uống rượu là Chí lại chửi, chửi đời, chửi người, nhưng lần này Chí không chửi, Chí đã nói những lời rất tỉnh táo. Hắn khẳng định: “Tao muốn làm người lưng thiện!”. Một câu đầy uất hận: “Ai cho tao lương thiện?” và một câu khiến người ta đau lòng “Tao không thể là người lương thiện nữa”. Chí hiểu, chí biết mình như thế nào, tình yêu đã đánh thức Chí, nhưng nó cũng đã kết thúc cuộc đời của Chí. Bởi vậy ta mới nói quay đầu không phải lúc nào cũng là bờ. Hắn hiểu rõ mình, hắn hiểu rằng không phai vết sẹo nào cũng lành lại được, hắn hiểu rằng những vết mảnh chai trên mặt, dấu vết của tội lỗi, của bao lần rạch mặt, ăn vạ, ức hiếp, gây rối không bao giờ lành đực, khong bao giờ thay đổi được. Chí còn hiểu rõ rằng bản thân mình đang muốn gì, đang cần gì, ai làm cho mình như vậy. Như vậy là Chí rất tỉnh. Vả lại lời văn của Nam Cao cho chúng ta thấy rõ khi Chí Phèo uống thêm chai rượu nữa nhưng “càng uống càng tỉnh ra”. Tỉnh ra, Chí buồn, khóc rưng rức rồi ra đi với con dao ở thắt lưng. Phải nói, theo cách dẫn truyện Nam Cao, Chí Phèo đang tỉnh. Và sau khi giết bá Kiến, Chí Phèo đã quay lưỡi dao còn vấy máu kẻ thù vào cồ họng mình đề kết liễu một cuộc đời đầy bi thảm với cái chôt hết sức thảm thương: chết vì xã hội không cho mình được quyền sông làm người. Bi kịch cự tuyệt quyền sông làm người. Bi kịch cự tuyệt quyền làm người dẫn đến cái chết bất đắc kì tử, hơn nứa thế kỉ qua, vẫn không thôi nhức nhối trong lòng người đọc chúng ta. Trước hết là giá trị hiện thực của truyện. Bi kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo tuy chỉ xảy ra ở giai đoạn cuối truyện ngắn nhưng bi kịch đó cho ta thấy rõ một cuộc đời vô cùng thê thảm, một sô phận cực kì bi đát của người nông dân nghèo bị đẩy vào con đường lưu manh hóa trong xã hội cũ đến mức mất cả nhân tính, nhân hình và nhân dạng. Đó là lí do khiến họ không thể quay về cuộc sống làm người, dù họ muốn sống lương thiện. Không những thế, bi kịch này còn tố cáo cái xã hội thực dân phong kiến vô cùng độc ác, bất nhân, đã bóp chết từ trong trứng cái ước mơ muôn hoàn lương của con người. Chính cái xã hội này đã đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa rồi lại sập cánh cửa, chặn đứng không cho y quay trở về với cuộc sống của con người. Một xã hội như thê thấy rõ sự đã man, tàn bạo. Tiếng nói phê phán, tố cáo của Nam Cao ở đây cũng thật mạnh mẽ, sâu sắc. Chính nhờ Nam Cao mà Chí Phèo có được sức sống mạnh mẽ đến vậy trong lòng độc giả. Mỗi lần đọc Chí Phèo là mỗi lần cảm nhận khác nhau về cảnh đời, số phận của những con người trong xã hội cũ. Và mỗi lần như vậy, người đọc lại càng thương cảm hơn cho cái dáng vẻ ngất ngưởng, dềnh dàng bước ra từ trang sách của Chí Phèo. Càng thêm căm ghét cái xã hội bất công cũ đã đày đọa, vùi dập con người, biến họ trở thành lưu manh và cắt đứt con đường hoàn lương của họ. Khiến họ, một khi không có cơ may tìm thấy lối ra, mà sự khát khao làm người rực cháy thì chỉ còn một con đường là cùng chết với kẻ thù. Nguồn: Bài văn hay
Chí Phèo giết Bá Kiến trong trạng thái tỉnh rượu hay say_ Ý nghĩa cái chết của hai nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến_
990
Chùm truyện ngụ ngôn văn học dân gian Việt Nam Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Chùm truyện ngụ ngôn văn học dân gian Việt Nam Cùng với truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn là một thể loại truyện dân gian được mọi người ưa thích. Ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc về chính con người để nói bóng gió kín đáo về chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy chúng ta bài học nào đó trong cuộc sống. Kho tàng truyện ngụ ngôn trên thế giới cũng như ở nước ta vô cùng phong phú, đa dạng. Người kể chuyện ngụ ngôn bằng văn xuôi nổi tiếng từ xa xưa là Ê-dốp, nhà văn Hi Lạp sống ở thế kỉ VII – VI tr. CN. Trong thế kỉ XVII, ở Pháp có nhà thơ La Phông-ten chuyên kể chuyện ngụ ngôn bằng thơ. Các truyện ngụ ngôn Việt Nam thường được kể bằng văn xuôi, do nhà văn hoá Nguyễn Văn Ngọc (đầu thế kỉ XX) và nhiều giáo sư, nhà nghiên cứu sưu tầm, kể lại. So với truyền thuyết và cổ tích, truyện ngụ ngôn thường ngắn gọn hơn. Mỗi truyện được kể nhẹ nhàng, giản dị, nhưng hấp dẫn, toát ra những lời khuyên bảo, răn dạy thật thấm thía. Chùm truyện ngụ ngôn trong sách Ngữ văn 6, tập một: Ếch ngồi đáy giếng ; Thầy bói xem voi ; Đeo nhạc cho mèo ; Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng tiêu biểu cho những đặc điểm của ngụ ngôn Việt Nam. Mỗi tác phẩm kể một câu chuyện lí thú. Mỗi câu chuyện ngụ ý những lời khuyên bảo, răn dạy thấm thía, sâu sắc. 1. Câu chuyện về một chú ếch huênh hoang Đó là truyện Ếch ngồi đáy giếng. Vì sống lâu ngày trong đáy giếng, xung quanh ếch lâu nay chỉ có một vài con vật nhỏ bé, mà tiếng ếch kêu “ồm ộp” vang động trong giếng nên ếch ta cứ tưởng ”bầu trời trên đầu bé chỉ bằng chiếc vung và nó thì oai như một vị chúa tể”. Điều đó chứng tỏ môi trường, hoàn cảnh sống của ếch rất nhỏ hẹp, tầm nhìn, sự hiểu biết của ếch cũng rất nông cạn, thiếu chính xác. Bầu trời bao la, rộng mênh mông như thế mà ếch ta tưởng nó chỉ bằng chiếc vung. Thế giới bên ngoài cũng vô cùng rộng lớn, phong phú như thế mà ếch ngỡ chỉ có vài con vật nhỏ bé, yếu đuối hơn mình. Ở trong đáy giếng lâu ngày, do tầm nhìn, sự hiểu biết hạn chế, lại có một chút năng lực là kêu “ồm ộp” trong giếng, được thành giếng cộng hưởng khiến tiếng kêu âm vang lên một chút nên chú ếch kia nhiễm bệnh chủ quan, kiêu ngạo, huênh hoang, cho mình là chúa tể muôn loài. Đúng là kẻ “coi trời bằng vung” như thành ngữ cha ông ta thường nói. Nhưng rồi, hoàn cảnh sống của ếch thay đổi. Sau một trận mưa to, nước giếng dềnh lên, đưa ếch lên khỏi đáy giếng tiếp xúc với thế giới bao la. Vậy mà chú ta vẫn không thay đổi tính tình. Nó cứ “nhâng nháo đưa cặp mắt nhìn lên bầu trời, chả thèm để ý đến xung quanh”. Hậu quả là ếch “bị một con trâu đi qua giẫm bẹp”. Chao ơi! Chú ếch hư đốn kia đã phải trả giá, một cái giá quá đắt bằng chính mạng sống của mình. 2. Câu chuyện năm ông thầy bói phán về hình thù con voi Chuyện được kể qua truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi. Là thầy bói – người khiếm thị thì không thể nhìn được thế giới muôn loài phong phú, sinh động. Họ phải “quan sát” để nhận biết sự vật bằng tai nghe, hoặc bằng tay sờ. Do đó, tầm hiểu biết sự vật của họ bị hạn chế. Năm ông thầy bói trong truyện ngụ ngôn ấy, mỗi người chỉ sờ được một bộ phận của con voi. Người sờ vòi voi, người sờ ngà voi, người sờ tai voi. Người thứ tư sờ chân voi, người thứ năm sờ đuôi voi. Điều thú vị và hấp dẫn của truyện là cách năm thầy bói đặc tả hình thù con voi bằng trí tưởng tượng, cách ví von cụ thể. Người thứ nhất phán: Con voi “sun sun như con đỉa”. Người thứ hai phán: Con voi “chần chẫn như cái đòn càn”. Người thứ ba, thứ tư, thứ năm… xem ra các thầy quan sát và nhận xét khá chính xác đấy chứ. Đúng! Năm bộ phận của con voi là như thế! Nhưng mỗi bộ phận ấy không thể đại diện cho toàn thể thân hình con voi. Điều sai sót của năm thầy bói là: xem xét con voi một cách phiến diện, nhưng cứ chủ quan cho mình là người tài giỏi đã “nhìn” thấy đầy đủ về một con voi. Từ đó mà gây ra xô xát đánh nhau. Câu chuyện không nhằm chế giễu người mù – sự khiếm khuyết về thể chất mà nói tới sự mù loà về nhận thức, sự sai sót về phương pháp tìm hiểu thực tế. Qua tình huống cách sờ voi, rồi phán về hình thù con voi của năm thầy bói, người đọc, người nghe truyện bật cười, nụ cười nhẹ nhàng, thú vị. Như vậy, từ câu chuyện chế giễu cách xem và phán về con voi, chế giễu cả nghề thầy bói nữa, truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi khuyên chúng ta: muốn hiểu biết về sự vật, sự việc, con người,… phải xem xét đối tượng một cách toàn diện. Trước khi tìm hiểu và nhận xét điều gì, việc gì hãy thận trọng để không bị người khác chế giễu bằng thành ngữ “cái đồ thầy bói xem voi”, bạn nhé! 3. Chuyện về một sáng kiến của họ nhà chuột Đây vốn là một truyện ngụ ngôn của Ê-dốp, nhà văn cổ đại Hi Lạp. Khi vào Việt Nam, tác phẩm được Nguyễn Văn Ngọc kể lại, trở nên rất sinh động với nhiều hình ảnh, nhiều tình huống hấp dẫn, đậm đà chất dân tộc. Điều hấp dẫn thứ nhất là cảnh họp làng chuột đầy những chi tiết đối lập. Lúc đầu, cuộc họp bừng bừng khí thế. Sau khi nghe ông Cống – một con chuột to lớn nhất đàn, loại chuột chuyên sống trong cống rãnh nêu sáng kiến “đeo nhạc vào cổ mèo”, cả làng chuột đều “dẩu mõm, quật đuôi… và đồng thanh ưng thuận”. Nhưng sau khi kiếm được nhạc, bàn việc cử người đeo nhạc vào cổ mèo thì… “cả hội đồng im phăng phắc, không một cái tai nào nhích, một cái răng nào nhe cả”. Sự đối lập tiếp tục diễn ra ở cuối truyện là việc chuột Chù thay mặt cả làng mang nhạc đeo vào cổ mèo. Chưa trông thấy hình dáng, mới chỉ nghe tiếng mèo, Chù đã sợ run cả mình… Rồi khi thấy mèo nhe nanh, giơ vuốt thì nó “cắm đầu, vác cái thân-ì ạch chạy khốn chạy khổ” và cả làng chuột “cũng sợ, bỏ chạy tán loạn, chẳng ai hỏi đến cái nhạc…”. Thế là “sáng kiến” của làng chuột trở thành “tối kiến” vô nghĩa, vô vị! Điều hấp dẫn thứ hai của truyện này là hình hài, tính tình của từng loại chuột. Tác giả đã dùng nghệ thuật trào phúng để đặc tả một số cọn chuột. “Nào anh Chù, mùi hôi đến nỗi thành câu ca ; nào chú Nhắt, có tính nhí nhắt, đã nên câu ví ; nào lại ông Cống, rung rinh béo tốt, quan trường lại chấm cho ở trên ông Đồ…”. Mỗi con chuột đã được nhân hoá, mang ngoại hình và tính cách con người, gợi cho chúng ta nghĩ tới một số người trong xã hội. Ở đây là xã hội phong kiến ngày xưa. Cảnh làng chuột họp bàn cử người đeo nhạc vào cổ mèo cũng là hình ảnh làng xã ngày xưa. Tại đây những kẻ có chức có quyền như ông Cống, anh Nhắt thường o ép, bắt nạt những người cùng đinh trong làng là anh Chù ì ạch. Trong những cuộc họp làng ngày xưa ấy, nhiều khi giống như cuộc họp của hội đồng chuột, mọi người ồn ào nói chuyên, tranh cãi, bàn bạc,… nhưng cuối cùng chẳng quyết định được điều gì ích nước, lợi dân mà toàn những chuyện viển vông, hão huyền không thể thực hiện được, y như chuyện chuột quyết định đeo nhạc vào cổ mèo vậy! Có thể nói, truyện ngụ ngôn Đeo nhạc cho mèo miêu tả sinh động làng chuột và từng loại chuột khi đề xuất và khi thực hiện không thành một quyết định hão huyền mà cứ tưởng đó là sáng kiến. Từ đó, truyện khuyên nhủ mọi người luôn phải cân nhắc đến điều kiện và khả năng thực hiện một việc nào đó. Truyện còn phê phán những ý tưởng viển vông, những kẻ ham sống sợ chết, chỉ nói mà không làm, trút khó khăn, nguy hiểm cho người dưới quyền. Thành ngữ “đeo nhạc cho mèo”, “treo chuông cổ mèo”, “hội đồng chuột” trong lời ăn tiếng nói thường ngày của nhân dân ta chắc đã sinh ra từ truyện ngụ ngôn đặc sắc này. Ở hai truyện Ếch ngồi đáy giếng, Đeo nhạc cho mèo, những con vật đã được nhân hoá có những hành động, ý nghĩ của con người. Đến truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, nghệ thuật biến hoá đổi sang hướng khác. Đó là nhân hoá các bộ phận trên cơ thể con người. Tác giả đã thổi hồn và gán hành động, ngôn ngữ cho năm bộ phận quan trọng để cấu tạo nên một con người. Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng biết nói, biết nghĩ, hành động và trở thành cô, cậu, bác, lão. Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, ai cũng tự cho mình có nhiều công lao, vất vả. Từ đó họ xúm vào chê trách lão Miệng chỉ ăn mà không làm. Họ đã đình công. Nhưng hậu quả là… tất cả đều phải trả giá: “cả bọn thấy mệt mỏi, rã rời… lão Miệng cũng nhợt nhạt… không buồn nhếch mép”. May thay, cuối cùng cả năm người đều tỉnh ngộ… Họ hiểu rằng: trong một cơ thể thống nhất, chân, tay, tai, mắt, miệng có quan hệ khăng khít với nhau, bộ phận nọ hỗ trợ bộ phận kia, tất cả đều có công, tất cả bình đẳng như nhau. Từ câu chuyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, tác giả truyện ngụ ngôn này nhắc chúng ta bài học: Trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại, do đó phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau. Qua bốn truyện vừa đọc vừa nghe, chúng ta hiểu rõ hơn đặc điểm và ý nghĩa của truyện ngụ ngôn. Theo nghĩa của từ gốc Hán,.ngụ là hàm chứa kín đáo, ngôn là lời nói. Ngụ ngôn nguyên nghĩa là lời nói có ngụ ý, lời nói có ý kín đáo để người nghe, người đọc tự suy nghĩ mà hiểu ý người nói, người viết. Truyện ngụ ngôn kể về những chuyên nhẹ nhàng, tế nhị, kín đáo nhưng sinh động, hấp dẫn đầy ngụ ý, giúp chúng ta đọc, hoặc nghe kể chuyện hiểu được những lời khuyên, những lời răn dạy bổ ích cho cuộc sống chúng ta. “Bài học luân lí khô khan, khiến người ta dễ chán. Câu chuyện kể giúp bài học luân lí dễ lọt tai hơn”. Từ những câu chuyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng ; Thầy bói xem voi ; Đeo nhạc cho mèo và Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, chúng ta tiếp nhận được nhiều bài học luân lí rất sâu sắc mà không khô khan. Tất cả đều “dễ lọt tai” và rất thú vị!
Chùm truyện ngụ ngôn văn học dân gian Việt Nam Ngữ Văn 6
2,044
Chú đồng chí nhỏ – Bài thơ Lượm của Tố Hữu Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Về bài thơ Lượm của Tô Hữu Bài thơ Lượm của Tố Hữu Ngữ Văn 6 Lượm là bài thơ rất tiêu biểu cho thơ Tố Hữu trên nhiều phương diện. Về mặt hình tượng, Lượm là một nhân vật nằm trong hộ thống những nhân vật trở đi trở lại nhiều lần trong các tác phẩm của ông, nhất là trong tập thơ Việt Bắc: những bà mẹ, người chị, anh bộ đội, đứa em,… nghĩa là hình ảnh một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Giọng kể, cách kể trung thực và sinh động trong một bài thơ bốn chữ với tiết tấu nhanh thích hợp với nhân vật được kể. Bố cục của bài thơ rõ ràng, mạch lạc: cuộc gặp gỡ tình cờ giữa nhà thơ và nhân vật, chuyến đi liên lạc cuối cùng, sự hi sinh dũng cảm của em, kết thúc là những cảm nghĩ của nhà thơ về “con người không chết” ấy. 1. Hình tượng nhân vật Lượm, trong năm khổ thơ đầu nếu chuyển từ thơ ca sang kí hoạ miêu tả chân dung, ta thấy đó là một người có thật, từ trang phục đến dáng đi, cử chỉ, lời nói. Nhưng giá trị của bức tranh không chỉ dừng lại ở những nét vẽ ngoại hình. Hoặc nói khác đi, từ những đường nét có thật của ngoại hình, vẻ đẹp bên trong của em được bộc lộ. Đó mới là điều tạo nên ấn tượng sâu sắc với nhà thơ: Chú bé lo ắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Giọng thơ dĩ nhiên là theo lời kể, một cách kể nhịp nhàng, về trang phục và dáng đi, cả nét người, khuôn mặt. Những từ “cái” đặt ở đầu câu tạo nên một cấu trúc hệ thống, vừa lặp lại vừa rất đáng ngạc nhiên hay là cảm giác ngạc nhiên trong sự lặp lại. Thích hợp với hệ thống ấy, là một loạt những tính từ, động từ chỉ vật (đồ vật) và chỉ người hoàn toàn bằng từ láy. Có những từ láy gần âm và gần nghĩa (giữa “thoăn thoắt” và “loắt choắt”) bổ sung cho nhau tạo ấn tượng về sự nhỏ bé và nhanh nhẹn, nhưng cũng có những từ láy mà cả âm và nghĩa đều khác xa nhau: “xinh xinh” với “nghênh nghênh” chẳng hạn: “xinh xinh” là vẻ đẹp tươi tắn, hồn nhiên (hoà hợp giữa trang phục với dáng người thấp nhỏ), còn “nghênh nghênh” tạo dáng một trẻ em mới lớn cả sức vóc và ý chí, mong muốn sớm tự khẳng định mình. Tính đồng bộ về sự ăn nhập ngoại hình phải đến câu tiếp theo “Ca lô đội lệch”, và chỉ chờ có thế là một niềm vui oà ra, cất cánh “Mồm huýt sáo vang – Như con chim chích – Nhảy trên đường vàng”. So sánh đã thay dần cho tả thực, một tính cách đã định hình. Nhà thơ không chỉ quan sát, nhìn ra mà là cảm thấy. Con đường mà em Lượm đang đi cứ lớn rộng dần ra, và là con đường rất đẹp (đường vàng). Hình ảnh con đường mang nhiều lớp nghĩa vừa chỉ hướng đi, vừa chỉ hướng đời. Đặt chân vào con đường ấy (con đường kháng chiến của toàn dân), em như bước vào ngày hội (“Mồm huýt sáo vang”). Nhịp thơ không chỉ thể hiện bước đi nhanh và ngắn như ở khổ hai mà dài hơn, xa hơn và thay cho “đi” là “ữhảy”. Những điệp từ và từ láy không còn cũng vì lí do ấy. Sự lớn lên trong tâm hồn, trong tư tưởng ở em giống như một bước nhảy vọt trong khi về dáng dấp, hình hài vẫn là một đứa trẻ thơ. Chính sự không ăn khớp đến so le này đã tạo cho Lượm một vẻ đẹp riêng, vượt qua cái khác lạ hình thức bên ngoài (ngộ nghĩnh) có tính chất đơn lẻ, cá nhân mà vươn tới một vóc dáng tinh thần khác mang âm vang cái hào hùng có tính chất thời đại, có tính chất toàn dân. Chỉ có điều cái “khác thường” ấy thống nhất với cái bình thường. Đứa trẻ bình thường ấy đã rất hồn nhiên: Vui lắm chú à Ở đồn Mang Cá Thích hơn ở nhà! Có lẽ niềm vui lớn nhất cần được chia sẻ lúc này là niềm vui của con cá tung tăng được từ suối, ra sông, ra biển. Lượm đã là con của đất nước “con của vạn nhà” chứ không chỉ hạn hẹp là con của một nhà. Thơ không phân tích lí giải mà đơn giản chỉ giãi bày thì đó cũng là một dấu hiệu về sự hồn nhiên, hợp với tuổi nhỏ. Cũng như tâm lí thích làm người lớn, tập làm người lớn là biểu hiện của cái háo hức bên trong không giấu được của mình: Cháu cười híp mí Má đỏ bổ quân – Thôi chào đồng chí! Cháu đi xa dần… Một từ “đồng chí” mà náo nức, xôn xao. Đó là ngôn ngữ mà cũng là tiếng reo vang khi người ta có thể giã từ tuổi thơ để bước vào đội ngũ. Một thế giới mới lạ mở ra, cho dù dấu vết của tuổi thơ còn đó (cười híp mí, má đỏ bồ quân). Với nhà thơ, những kỉ niệm ấy làm sao có thể dễ dàng quên, quên đi lớp thiếu niên của nước Việt Nam độc lập, quên đi đứa cháu thật đáng tự hào và cũng rất đáng yêu của mình như thế? Trong hành trang của nhà thơ, hình tượng bé Lượm là một sự cổ vũ lớn, có một vị trí không gì thay thế được. 2. Giá như Lượm không mất thì chưa chắc Tố Hữu đã có được bài thơ cảm động này. Thì ra, sự ác liệt của chiến tranh đã không loại trừ một ai kể cả những em nhỏ chưa kịp thành người lớn. Lượm tự nguyện bước vào cuộc đời chiến đấu và chấp nhận hi sinh, dũng cảm hi sinh. Hình ảnh ấy đã trở nên một thứ tượng đài bất tử. Đoạn thơ nói về cái chết anh dũng của em bắt đầu từ câu: “Ra thế – Lượm ơi!”. Mật câu thơ tưởng như đơn giản vậy thôi mà hội đủ ba tính chất: nhất quán, cao trào và đột biến. Nói nhất quán vì đây là một bài thơ kết hợp hai yếu tố trữ tình và tự sự. Tự sự là mạch nổi, còn mạch chìm là cảm xúc của nhà thơ. Nói cao trào vì đây là những nỗi niềm của nhà thơ dâng lên cực điểm. Còn nói đột biến vì dòng cảm xúc từ yêu thương, phấn khởi đã thành đột ngột, hụt hẫng, đau đớn, rụng rời. Câu thơ tự nó vỡ ra thành hai nhịp, tự nó cắt rời với những khoảng trống xót xa. “Ra thế” thuộc về câu chuyện chú bé hi sinh, còn “Lượm ơi!” là tiếng khóc thầm thì bật lên thành nức nở? “Ra thế” thuộc về khách quan, còn “Lượm ơi!” thuộc về chủ quan, về nỗi đau của trái tim nhà thơ như viên đạn bắn vào. Từ cảm xúc tức thời ấy mà câu chuyện trong cái kênh “tin nhà” kia được kể lại, tất nhiên là trong tưởng tượng mà nhà thơ có thể hình dung: Một hôm nào đó Như bao hôm nào Chú đồng chí nhỏ Bỏ thư vào bao… Chuyển thư từ, mệnh lệnh là nhiệm vụ hằng ngày của những em bé “liên lạc” như Lượm thì có gì phải kể? Nhưng mà không. Yếu tố tự sự của lời kể bỗng nhiên có ý nghĩa khi nó kết hợp làm một với yếu tố trữ tình, thông qua yếu tố trữ tình. Yếu tố trữ tình ở đây thể hiện trong việc sử dụng một thứ thời gian không xác định “Một hôm nào đó – Như bao hôm nào”. Có một cái gì thật mơ hồ, một phần có lẽ vì trong chiến tranh người ta không nhớ được thật cụ thể (ngày, giờ), một phần diễn tả đúng được tính cách vô tư của Lượm. Em có biết đâu đấy là ngày định mệnh của mình. Khổ thơ chuẩn bị cho cái chết của nhân vật ở đoạn sau. Cái chết đang đến gần mà Lượm không biết, nhưng người kể thì đâu có vô tâm. Chính với ý thức ấy mà nhà thơ thay đổi đại từ xưng gọi, những đại từ đơn: cháu, chú bé, Lượm… bằng một đại từ ghép: chú đồng chí nhỏ. Cách gọi tên trang trọng này tương ứng với hành động, với sự kiện hi sinh. Vị trí của người kể chuyện khi thì hoà nhập vào nhân vật được kể, khi thì tách ra với cự li cần có để đảm bảo tính khách quan của việc trần thuật: Vụt qua mặt trận Đạn bay vèo vèo Thư đề “Thượng khẩn” Sợ chi hiểm nghèo? Đối mặt với cái chết mà Lượm không hề nghĩ đến nó mặc dù nó có thể diễn ra bất cứ lúc nào. Vì yêu cầu của nhiệm vụ, Lượm đã vượt lên tất cả, đó là trường hợp tác giả đã hoá thân vào nhân vật của mình. Còn khổ thơ sau đó, ông trở lại vị trí của người quan sát: Đường quê vắng vẻ Lúa trổ đòng đòng Ca lô chú bé Nhấp nhô trên đồng… Tách nhà thơ ra khỏi nhân vật được kể trong thơ, nhưng thi sĩ đã tạo nên một sự hoà nhập mới giữa nhân vật trẻ thơ của mình với đồng quê, ruộng lúa, những gì thật gần gũi, thân thuộc với trẻ thơ. Chất biểu cảm trữ tình trong thơ tự sự toả ra theo một cách riêng từ phía ấy. Và chính nó làm cho người theo dõi lo lắng đến thắt lòng. Kẻ thù (đồng nghĩa với cái chết) thì tàn bạo, hiểm độc mà chú bé của chúng ta trong trẻo, thơ ngây như một tiên đồng. Cái hồn nhiên thần thánh ở nhân vật là ở chỗ: trước họng súng của kẻ thù, em vẫn không biết giấu mình, cứ lồ lộ, không hề quan tâm đến hiểm hoạ bao vây. Bởi vậy, khi cái chết ập đến, câu thơ như có gì vỡ ra thật đau đớn, nghẹn ngào. Giọng trần thuật không còn ở dạng thông thường. Thay thế cho nó là một tiếng kêu thảng thốt cất lên. Tâm trạng của nhà thơ qua câu: “Thôi rồi, Lượm ơi!” chẳng những như người bước hụt mà còn có gì như bâng khuâng nửa mê nửa tỉnh. Cảm giác không tin là có thật, vì bé Lượm, vì chú tiên đồng làm sao có thể chết? Nhưng sự thực đau xót “Một dòng máu tươi” lại không thể không tin. Chỉ có điều kẻ thù cướp đi mạng sống mà không giết được cái thanh thản, hồn nhiên của một tâm hồn thơm mùi đồng quê gặt hái. 4.Về nghệ thuật bài thơ, Tố Hữu đã bắc được một cái cầu nối với bạn đọc nhỏ tuổi bằng thể thơ bốn chữ thật trong trẻo, hồn nhiên như bà kể cho cháu, mẹ kể cho con. Cách kể cũng không một chiều, đơn điệu. Tuy vẫn sử dụng cấu trúc đường thẳng, lấy trục thời gian làm điểm tựa nhưng khi trực tiếp (đoạn một), lúc gián tiếp (đoạn hai), kết hợp giữa miêu tả (đoạn một, đoạn hai) với độc thoại (đoạn ba). Tính sinh động của bài thơ còn thể hiện ở sự ngắt nhịp như những nốt lặng trên dòng chảy tâm tình. Những khổ thơ đặc biệt như “Ra thế – Lượm ơi!”, hoặc “Lượm ơi, còn không?” là những cơ hội giao tiếp (giữa nhà thơ với bạn đọc, giữa nhà thơ với nhân vật), cũng là cơ hội mà tác giả bộc lộ tâm tình. Một dụng ý không thể không nói là nhà thơ đặt nhân vật anh hùng nhỏ tuổi vào bối cảnh thiên nhiên, một thiên nhiên thuần phác, trẻ trung, ngọt ngào rất quen thuộc. Với Lượm, thiên nhiên ấy như một thứ khí trời, về với nó, cá được về với nước. Sự quấn quýt giữa Lượm với cánh đồng quê phảng phất. một tình mẫu tử thân thiết lạ lùng, có một cái gì thật thanh khiết bản năng. Đó là nơi ra đi (đi chiến đấu), cũng là bờ bến trở về (lúc hi sinh): Cháu nằm trên lúa Tay nắm chặt bông Lúa thơm mùi sữa Hồn bay giữa đồng… Thiên nhiên ấy, với đầu óc còn thơ ngây của Lượm, nó chính là quê hương, và rộng hơn: nó là đất nước.
Chú đồng chí nhỏ – Bài thơ Lượm của Tố Hữu Ngữ Văn 6
2,147
Chương 4: Số phức – Chuyên đề 2: Phương trình bậc hai với hệ số phức trên tập số phức – Tài liệu ôn thi THPT Quốc Gia Hướng dẫn Phương trình bậc hai với hệ số phức Kiến thức cơ bản Loading… Bài tập trắc nghiệm Loading… Loading… Đáp án Tải tài liệu đầy đủ tại đây. Tags:bài tập có đáp án · số phức · trắc nghiệm
Chương 4_ Số phức – Chuyên đề 2_ Phương trình bậc hai với hệ số phức trên tập số phức – Tài liệu ôn thi THPT Quốc Gia
59
Chương 4: Số phức – Chuyên đề 3: Tập hợp điểm – Tài liệu ôn thi THPT Quốc Gia Hướng dẫn Bài tập về tập hợp điểm Kiến thức cơ bản Loading… Bài tập trắc nghiệm Loading… Loading… Đáp án Tải tài liệu đầy đủ tại đây. Tags:bài tập có đáp án · số phức · trắc nghiệm
Chương 4_ Số phức – Chuyên đề 3_ Tập hợp điểm – Tài liệu ôn thi THPT Quốc Gia
48
Đề bài: Chất hiện thực và lãng mạn trong bài thơ Đồng Chí. BÀI LÀM Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ cho văn chương bén rễ và sinh sôi nên các tác phẩm văn học luôn phản ánh về hiện thực đời sống và thơ cũng không ngoại lệ. Thơ ca chưa bao giờ nằm im, nó luôn đi tìm cái đẹp trong hiện thực ấy, vì thế , khi tạo ra “đứa con tình thần”, người thi sĩ luôn mong muốn tác phẩm ấy thể hiện được sự lãng mạn nhưng không đánh mất đi chất hiện thực. Chính Hữu đã lươm nhặt những hạt mầm lãng mạn trong hiện thực cuộc chến tranh nhiều gian khổ để xây dựng nên hình tượng người chiến sĩ buổi đầu chống Pháp thật đẹp. Chính vì thế, khi nhận xét vầ bài thơ này, có ý kiến cho rằng “Đồng Chí “ là bài thơ có sự kết hợp hài hoà giữa hiẹn thực và lãng mạn. Tác phẩm Đồng Chí được ra đời vào năm 1948, sau khi Chính Hữu cùng đồng đội tham chiến trong chiến dịch Việt Bắc, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp len chiến khu Việt Bắc. Sống trong thời kì chiến tranh loạn lạc, Chính Hữu đã cảm nận được sự gắn bó keo sơn của người lính phụ hồ để rồi, ông viết ra bài thơ Đồng Chì như nhằm tôn vinh lên vẻ đẹp của tình cảm mới lạ này Qua lời thơ mộc mạc giản dị, Chính Hữu đã tái hiện lại chân thực và sinh động hoành cảnh xuất thân của người lính cụ Hồ: “ Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.” Những người lính chất phác được đưa vào trong thơ thật tự nhiên và giản dị làm cho người đọc ngỡ rằng, cuộc đời những người lính đẹp tựa lời bài thơ. Với cặp sóng đôi “anh” và “tôi” cùng thành ngữ giàu sức gợi “ nước mặn đồng chua”, “ đất cày lên sỏi đá”, những câu thơ hiện lên như khúc ca chứa chan tự hào của hai người nông dân mặc áo lính. Họ đều xuất thên từ gia cảnh nghèo khó, lam lũ, người được lớn lên ở vùng trung du, người được nuôi nấng từ vùng ven biển, dường như, việc cùng chung xuất thân đã làm tiền đề cho người lính sát lại gần nhau hơn. Quê hương ‘anh” và “tôi” đều lam lũ, gian khổ, con người “anh” và “tôi” đều là những người nông dân đã quen cày sâu quốc bẫm, họ đều phải đổ mồ hôi mặn để đối lấy miêng cơm manh áo sống qua ngày, tuy vậy, trong họ vẫn ánh lên sự tự hào. Tự hào vì từng thửa ruông chua, từng mảnh đất sỏi đá kia đều do ông cha ta, những thế hệ trước phải hi sinh xương máu, mạng sống để dành lại độc lập, vì thế, trong lòng người lính, họ luôn mang trên mình sự tự hào và quyết chiến vì Tổ QUốc, dân tộc. Qua hai câu thơ trên, Chinh Hữu đã cực tả cuộc sống kham khổ của những người nông dân, tuy nhiên, với tình yêu quê hương, lớn hơn là yêu đất nước, các anh đã từ giã con trâu, cái cày để nghe theo con tim đang ngân vang tên Tổ Quốc, khoắc trên mình khẩu súng quyết chiến vì hoà bình. Những người nông dân mặc áo lính chất phác cũng được nhắc đến trong bài thơ Nhớ của nhà thơ Hồng Nguyên: “ Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi “một hai” Súng bắn chưa quen Quân sư mươi bà i Lòng vẫn vui cười kháng chiến.” Khi xa quê hương vào nơi chiến trận, các anh đã trải qua nhưng khó khăn gian khổ vì thiếu thốn về vật chất, có lẽ, phải là người lính thực thụ cùng tâm hồn nhạy cảm đặc biệt, CHính Hữu mới vẽ lên bức tranh hiện thực sống dộng về những gian nan đời lính. “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày.” Câu thơ chầm chậm vang lên đầy sâu lắng nhưng nhịp thơ ngắt quãng không đồng đều làm người đọc ngỡ rằng, vừa cất bút lên dòng thơ về đêm buốt lạnh, tác giả như sống lại trong lòng những cảm giác run sợ, lạnh lẽo. Sống giữa rừng Việt Bắc lạnh lẽo, người lónh đã nếm trải những khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây. Hình ảnh tả thhucjw đã hiện rõ nét về những nguy hiểm, bệnh tật nơi núi rừng đang bùa vây các anh. Đất nước bấy giờ còn nghèo khó, những người lính chiến đấu phải chịu đựng khổ cực vì thiếu thuốc men, vật chất. Họ đói ăn đói mặc, bệnh sốt rét đáng sợ như một nỗi ám ảnh với người linh. Ám ảnh không chỉ vì sự nguy hiểm cướp đi mạng sống của nó , họ sợ khi bị bệnh sẽ chẳng cóng hiến được cho đất nước và hơn hết là trở thành gánh nặng cho đồng đội. Trong những nam tháng lăn xả ấy, những tấm áo xanh bộ đội của họ đã nhiều lần rách tả tơi, nhưng, thời chiến tranh khốn khổ, họ đã dùng những mảnh vài thừa,vá cho nhau lên mấy bộ áo lính rách. Sự dệt vá không chỉ che đi bờ vai đang nhuốm máu, họ còn dệt cho nhau sự an ta,, chiến đấu vì ngày mai tất thắng. Những bàn chân không giày rướm máu vì đường đồi, những bàn chân trần nứt nẻ vì tiết trời lạnh giá càng tô đâm lên sự cực khổ, khắc nghiệt của núi rừng Việt Bắc vào đông. “ Đêm nay rừng hoang sương muối.” Câu thơ đã khắc hoạ rõ nét về thời gian và không gian hoạt động của người lính, đó là vào đêm lạnh đến, khi khu rừng đang chìm vào sương muối hoang vu, các anh chống chọi cái lạnh, cái thiếu ngủ để hiên ngang phục kịch giặc. Thời gian này có lẽ là khoảng thời gian khắc nghiệt nhất, bởi lẽ, khi đêm buông xuống sẽ kéo theo lạnh giá đến buốt tâm can, không những thế, những giấc ngủ luôn kéo đến dày vò họ, điều đó càng khắc hoạ rõ nét sự vất vả, gian lao người lính phải chịu. Tuy nhiên với ý chí quyết tâm bảo vệ mảnh đất quê nhà luôn thường trực trong họ đã tiếp cho họ sức mạnh vượt len phía trước.Qua lời chia sẻ của ông Lê ĐÌnh Phương về đời người lính, ta càng hiểu sâu hơn về sự gian khổ: “Có lúc, nhiều tháng liền ăn dầm ăn dề trên núi, lương thực thiếu, phải hái trái rừng, đào củ, ăn lõi cây, uống nước suối, lấp tạm bao tử.Trang phuc mục nát, rách chỗ nào vá chỗ ấy, CHiếc quần cứ dày thêm theo năm tháng, Có nhiều đồng đội phải chịu đói, chịu khát chống chọi với đói rẻ. Anh em vào sinh ra tử tóc rụng dần vì căn bệnh quái ác. Và không ít đồng đội đã bỏ mạng trên chiến trận vì căn bệnh quái ác đó.” Đời người lính hiện lên với gian nan vất vả, họ phải chịu đựng những bất hạnh, khó khăn để giữ gìn mảnh đất thiêng liên cho dân tốc,vì thế , thế hệ trẻ chúng ta cần biết giữ gìn, xây dựng lên một Việt Nam giàu đẹp, vững mạnh. Huy Trực từng nói : “Thơ là rượu của thế gian.” Thực vậy, thơ là chén rượu tình làm biết bao con người say đắm, sự lãng mạn trong thơ như chất men say đôi khi làm tâm hồn người hưởng phiêu lãng lên chín tầng mây nhưng có lúc, lại khiến họ phải bật khóc, chua xót khi những câu thơ thấm đúng vào nỗi lòng họ. Chất lãng mạn trong thơ Đồng Chí của nhà thơ Chính Hữu cũng thế, vẻ đẹp của tình đồng chí lung linh và lãng mạn đã làm người đọc mê say ngây ngất, để họ phải thốt lên sao tình đồng đội lại tuyệt vời đến thế. Khi chỉ dùng vài câu thơ tả thực để khắc hoạ rõ nét về sự khắc nghiệt nơi chiến trận, ông đã đặt chọn tâm mình vào những câu thơ về tình đồng đội đẹp đẽ. DƯờng như viếc xây dựng lên sự vất vả nơi rừng núi chỉ là bức phông nền cho tình đồng chí hiện lên vẻ vang hơn: “Quê hương anh nước mặn đòng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Từ phương trời chẳng hẹn quen nhau.” Ngay từ lần đầu nhập ngũ, hai người lính đã thân nhau vì họ đèu chung hoàn cảnh nghèo khó. Sự đồng cảm về gia cấp đã khiến họ gần nhau hơn. Cặp từ xưng hô “anh” luôn đứng trước “tôi” đã khẳng định tầm quan trong và đề cao bạn của người lính cụ Hồ. Nhưng cái khéo, cái hay của Chính Hữu được thể hiện qua cách chọn lọc từ tinh tế, ông dùng từ “ đôi” thay cho từ “hai” làm hai con người xa lạ ấy như có mối liên kết bền bỉ với nhau từ rất lâu. Trước khi ra lính, họ vẫn là người nông dân cày sâu cuốc bẫm, họ chưa từng gặp, chưa từng biết đến sự tồn tại của nhau. Tuy vậy, hoj đều chung lí tưởng chiến đấu, chung tái tim luôn hướng về TỔ Quốc thân yêu, vậy nên “ đôi người xa lạ” ấy đã “ từ phương trời chnawr hẹn quan nhau” như cuộc gặp gỡ duyên số, như gặp nhau để hoà lại thành một, thắp sáng lên ngọn đuốc chiến đấu anh dũng vì nước nhà. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí! Từ những người xa lạ chẳng hề quen biết, giờ đây, hình ảnh người lính gắn bó keo sơn như hình với bóng qua nghệ thuật hoá dụ “súng”,” đầu” cùng điệp từ “bên”. Đây không chỉ hình ảnh tả thực về người lính, đó còn là một biểu tượng đẹp về tình đồng chí keo sơn. Trong những đêm trường canh gác chiến khu, hai người họ đứng cạnh bên nhau đầy tâm tình. “Súng bên súng” là đại diện cho lý tưởng chiến đấu, là đại diện cho sự quyết chí, là lời đanh thép muốn dành lại chủ quyền dân tộc. “Tôi “ với ‘anh” , “súng bên súng”, chúng ta sẽ luôn bên nhau , nuôi nấng cho nhau niềm tin, sự lạc quan, quyết tâm vì Tổ Quốc.Còn “Đầu sát bên đầu” là đại diện cho sự đồng lòng đồng sức, đồng cam cộng khổ giữa hai người lính. “Anh” đi gác trong đêm lạnh giá, “tôi” theo “anh” để ta truyền hơi ấm cho nhau.Sự có mặt của anh và của tôi đã làm núi rừng trở nên ấm áp,không gian tĩnh mịch như được thắp sáng và sống động hơn, bởi lẽ, ở một khoảng trời nào đó, có hai trái tim đang ấm nồng tình đồng chí. Với điệp từ “súng”, “bên”, “đầu”, câu thơ tưa như nhịp đập con tim, qua đó, tình đông chí càng thêm gắn bó, thắt chặt với nhau . CÙng xuất thân trong gia cảnh nghèo nàn, cùng lí tưởng chiến đấu cao đẹp, họ còn cùng chịu cảnh thiếu thốn về vật chất. TUy nhiên, sự thiếu thốn ấy như sợi dây vô hình kết nối hai người: “Đêm rét chúng chăn thành đôi tri kỉ.”, khi màn đêm lạnh buông xuống, những người lính phải trải lá rừng ra để nằm, họ đắm trên mình tấm chăn mỏng hay thậm chí chỉ là chiếc áo lính rách để vượt qua đêm rét.Trong đêm trường đó, hai người lính chia sẻ với nhau hơi ấm của mình, tuy hơi ấm của hai người không thể đánh bại được buốt giá của rừng hoang sương muối, nhưng sao họ lại cảm thấy ấm áp lạ thường. “Chung chăn’’ là chung hơi ấm chung khó khăn ,chung lý tưởng, chính từ những thứ đó đã bén vào tâm hồn họ, thắp sáng ngọn lửa đỏ rừng rực xua tan đi buốt giá, sự thiếu thốn khắc nghiệt nơi chiến trường. Và từ ấy, từ “Thương nhau sau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.” (Tố Hữu) họ đã trở thành “đôi tri kỷ”. Qua cách sử dụng từ Hán Việt “tri kỷ” tác giả đã đã nói lên sự hiểu bạn như hiểu mình trong lòng hai người lính. Không những thế, ông còn cho ta thấy được định nghĩa mới, “tri kỷ” không chỉ nói tới bạn đời, theo ta đời đời kiếp kiếp, tri kỷ còn là sự thấu hiểu, đề cao sự quan trọng của đối phương. Trong màn đêm buốt giá, chùm tấm chăn vào là họ mở ra biết bao nhiêu câu chuyện, biết bao tâm tư nỗi niềm riêng của mình. Hai hơi thở khác nhau nhưng chung nhịp đập của trái tim, điều đó đã làm họ gắn kết bền bỉ với nhau. Họ trao cái ôm nồng hậu, hai bàn tay siết chặt ý chí quyết tâm. Tình bạn thiêng liêng của họ vượt lên trên tất cả để trong trái tim họ thầm khẳng định ‘anh’ và’tôi’ là đôi tri kỉ. Khép lại những dòng thơ đẹp về đồng chí với giọng thơ mộc mạc, bình dị như lời ăn tiếng nói của người nông dân, Chính Hữu đã reo lên hai chữ : “Đồng chí!” đầy kính trọng. Nhịp thơ chuyển ngắt đột ngột đã tạo nên một điểm trống sâu lắng khiến người đọc phải suy ngẫm. “Đồng chí!” -một lời kết thơ đặc biệt, một điểm nhấn, điểm tận như bản lề khép mở: khép lại cơ sở hình thành lên tình đồng chí, mở ra biết bao những biểu tượng đẹp về tình đồng đội. “Anh’ với ‘tôi’ trao cho nhau ngọn lửa sưới ấm, trao cho nhau sự quan tâm, gắn bó bền bỉ để rồi, những tình cảm mộc mạc ấy đã cho lòng tôi gọi anh là ‘đồng chí’. Hai tiếng “Đồng chí” không chi là tiếng gọi đơn thuần, đó còn là lời khẳng định được kết tinh từ những gì đẹp nhất, tinh tuý nhất của tình đông chí đồng đội. Đơn sơ mà cảm động đến nao lòng, tiếng reo “Đồng chí” trong thơ đã làm bừng sáng cả bài, cho người đọc thấy sư thiêng liêng, cao cả của tình đồng chí trong chiến tranh. Ngồi bên nhau, hai anh lính đã nói ra biết bao tâm tư, nỗi nhớ của mình: Gian nà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.” Ba câu thơ đã chia sẻ nỗi longf riêng nhưng rất chung của những người lính.ĐI ra chiến trận, họ bỏ lại gia tài của mình, ruộng nương họ gửi bạn, căn nhà không hộ mặc cho gió lùng. Từ “mặc kệ” không chi thể hiện sự không cần thiết so với sinh mệnh của Tổ Quốc, nó còn thể hiện sự hi sinh lớn lao, quyết bỏ cơ ngơi để bảo vệ nước nhà. Từ tình yêu quê hương, các anh nâng thành tình yêu dân tộc nhưng sâu thẳm trong tim họ là một nỗi nhớ thương da diết. “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” với biện pháp nghệ thuật nhấn hoá kết hợp cùng hoán dụ, Chính Hữ đã trải nỗi nhớ về hai chiều: bên kia chân trời, nơi xóm làng anh đã trú ngụ, những người thân yêu, người cha người mẹ, đứa con thơ cùng người vợ hiền đang trông ngóng tin anh, gửi vội những lá thư thăm hỏi hay hình bóng anh về thăm nhà. Còn nơi đây, nơi mưa bom bão đạn, các anh nghĩ về quê hương với nỗi nhớ da diết khôn nguôi. Tuy , nỗi nhớ khiến các anh khóc vì nhớ nhà, buồn vì quê hương nhưng nó đã biến thành sức mạnh, thúc đẩy các anh phải chiến đấu, phải chiến thắng để về với quê nhà. “Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.” Câu thơ chầm chậm vang lên sâu lắng, tái hiện tình cảm đồng chí đẹp đẽ giữa cuộc sống khó khăn, vất vả. Cách xây dựng cặp sóng đôi ‘áo anh” , ‘quần tôi’đã thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa hai người lính. Họ luôn sát cách bên nhau, sẻ chia cho nhau từng miếng cơm manh áo. Áo anh rách, tôi sẽ vá cho anh, chúng ta đùm bọc lẫn nhau qua bao thử thách nơi chiến trường: “ Cuộc đời anh tôi chia một nửa Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm Nửa dãy Trường Sơn tháp nghềnh vất vả Nửa bát cơm hạt muôi nhọc nhằn.” Cuộc sống gian nan vất vả là thế, họ vẫn luôn giữ cho mình nụ cười lạc quan. Họ truền cho nhau nụ cười ấm áp giữa mùa đông giá rét. Chân trần đất lạnh vẫn làm họ thấy vui. Nụ cười của họ hiện như một bông hoa mang lại sự lạc quan, tin tưởng về tương lai phía trước cho nhừng người bạn của mình. “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.” họ gửi cho nhau những cái bắt tay nồng hậu, trao cho nhau hơi ấm, sức mạnh chiến đấu. Cái nắm tay như làm họ trở nên hoà hợp hơn, hiểu nhau hơn để từ đó, họ thương lấy nhau, thương từng nỗi nhớ, thương từng sự khốn khố của người bạn lính.. Từ ‘thương’ khôgn chỉ dừng lại ở tình thương người, nó đã vượt lên trên tất cả, là sự cảm thông, sự xót thương cho nhau, sự sẵn sàng chia sẻ hi sinh cho người bạn của mình. Họ đã đến bên đời nhau qua cái bắt tay tình nghĩa. Chất lãng mạn đã hiện rõ nét nhất trong câu thơ cuối : “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” Giữa không gian bao la tĩnh mịch ẩn chứa đầy nguy hiểm, hình ảnh hai người lính đứng bên nhau dưới ánh trăng hiện lên đẹp đẽ và lung linh lạ lùng. Họ đứng hiên ngang giưax trời đất, ung dung tự tại bất chấp mọi nguy hiểm. Nhịp thơ 2/2 như nhịp lắc chông chiêng, chông chênh lơ lửng.Hình ảnh thơ thật độc đoá, gây xúc đông bất ngờ, thú vị cho người đọc. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, vừa thực vừa thơ, vừa xa lại vừa gần, vừa mang tính chiến đấu lại vừa mang tính trữ tình. “Súng” là đại diện cho chiến tranh, sự quyết tâm dành lại hoà bình, là người chiến sĩ với lí tưởng chiến đấu cao đẹp mong ngày giải phóng đất nước. Còn “ trăng” là vẻ đẹp của thiên nhiên, là đại diện cho hoà bình nhưng cũng là tâm hồn lãng mạn bay bổng của thi sĩ. Hai hình ảnh đối lập nhau nhưng hoà trong thơ khiến câu thơ trở nên đẹp đã và đầy chất lãng mạn.Độ rung động và xao xuyến của bài thơ có lẽ chỉ nhờ cào hình ảnh ánh trăng này. Tình đồng chí cũng thế, lan toả trong không gian, xoa đi nối nhớ, làm vơi đi cái giá lạnh của màn đêm. Sự kết hợp giữa cái chân thực dữ dội tàn khốc của cuố kháng chiến và sự bay bổng của tâm hồn người chiến sĩ, sự hoà quyện giữa tình thần chiến đấu và vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên đã biến hình ảnh tat thực trở thành một biểu tượng cao đẹp về đồng chí. Lấy cảm hứng từ cuộc sống chân thực mà chính bản thân tác giả dã trải qua, CHính Hữu đã đưa ta sống lại những ngày tháng gian khổ nhưng lãng mạn và phi thường, DƯới ngòi bút tài hoa của minh, những hình ảnh của người lính nông dân hiện lên đôn hậu, giản dị lại vô cùng lậc quan, lãng mạn. Qua đó, ta cũng thấy được những vẻ đẹp rực rỡ, cao cả củ người lính thời chống Pháp, để từ đó, ta càng yêu thêm những con người vì quê hương đất nước.
Chất hiện thực và lãng mạn của bài thơ Đồng chí
3,484
Đề bài: Chất Thơ Trong Truyện Ngắn Tôi Đi Học Của Thanh Tịnh Bài làm Không biết bao nhiêu thế hệ học trò đã từng đọc, từng học và từng nhầm lẫn một cách rất đáng yêu rằng truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh chính là bài tâp đọc đầu tiên của mình. Sự nhầm lẫn vô lí mà lại hết sức có lí. Vô lí vì bài tập đọc đầu tiên hẳn phải là các câu văn, đoạn văn hay bài thơ chứ khó có thể là cả một truyện ngắn. Còn có lí bởi học trò các thế hệ có thể quên đi nhiều bài tập đọc khác, như­ng hình như­ ít ai hoàn toàn quên đư­ợc những cảm xúc trong trẻo nguyên sơ mà từng dòng từng chữ của Tôi đi học gợi lên trong miền kí ức tuổi thơ của mình. Để có được điều đó, cũng bởi như nhận xét của nhà văn Thạch Lam: “Truyện ngắn nào hay cũng có chất thơ và bài thơ nào hay cũng có cốt truyện”. Để hiểu vì sao Tôi đi học là một truyện ngắn giàu chất thơ, chúng ta cần hiểu chất thơ là gì? Chất thơ là tính chất trữ tình – tính chất được tạo nên từ sự hoà quyện giữa vẻ đẹp của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp của cách biểu hiện nó để có thể khơi gợi những rung động thẩm mĩ và tình cảm nhân văn. Chất thơ là một thuật ngữ lý luận chỉ một phẩm chất đặc biệt của văn xuôi. Tác phẩm văn xuôi được xem là có chất thơ khi nội dung của nó đi sâu vào trạng thái cảm xúc, diễn tả diễn biến trong trạng thái chủ quan với những rung động tinh tế. Chất thơ còn nằm trong hình thức thể hiện. Đó là tính nhạc, sự hàm xúc của ngôn từ, đó là sự linh hoạt của các thủ pháp nghệ thuật tạo cho giọng văn, lời văn sức truyền cảm lớn. Một truyện ngắn (hoặc tác phẩm văn xuôi) được coi là giàu chất thơ khi mối bận tâm của người viết không đặt vào việc kể lại một biến cố, sự việc, hành động mà là việc làm bật lên một trạng thái của đời sống hoặc của tâm hồn con người. Trước hết, chất thơ được thể hiện ở chỗ truyện ngắn không có cốt truyện mà chỉ là dòng chảy cảm xúc, là những tâm tư tình cảm của một tâm hồn trẻ dại trong buổi khai trường đầu tiên với những cảm xúc ngọt ngào, man mác buồn nhưng cũng tưng bừng khi lần đầu tiên được cắp sách tới trường: “Hàng năm cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường… Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. Những câu văn trong sáng, gợi cảm và giầu chất thơ kiểu như thế này đã để lại những dấu ấn đậm nét trong hành trang tinh thần của nhiều thế hệ bạn đọc. Có thể dễ dàng tìm thấy nhiều câu văn, nhiều đoạn văn đẹp và tha thiết trong các trang viết của ông. Thanh Tịnh thuộc loại nhà văn viết không nhiều. Tác phẩm của ông không gây ra những choáng váng, đột ngột mà nhẹ nhàng thấm sâu. Chừng nào con người còn yêu thương cảm xúc, còn nặng lòng gắn bó với quê hương, đồng loại thì còn tìm thấy trong những trang viết của Thanh Tịnh mối dây đồng cảm và niềm an ủi. Con người trong tình yêu, tình bạn, tình vợ chồng, cha con, con người với quê hương… tất cả đều được ngòi bút của ông trình bày một cách nhẹ nhàng, thanh thoát và đằm thắm. Thứ hai, trong truyện ngắn Tôi đi học, hình ảnh được tác giả huy động sử dụng với tần số lớn. Các hình ảnh này đều mang những đặc điểm chung: đẹp, lãng mạn và thi vị. Ngay ở phần mở đầu câu chuyện, tác giả đã dựng nên một khung cảnh cuối thu tuyệt đẹp để làm “chất xúc tác” cho những kỷ niệm tuổi thơ ùa về: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường”. Dọc theo câu chuyện, những hình ảnh giàu chất thơ như vậy thường xuyên xuất hiện: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”, “người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa”, “trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp”, “một con chim liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao”… Những hình ảnh so sánh trong truyện cũng thật đẹp, gợi cảm: “những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”, “ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi”, “họ như con chim non đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ”…Có thể nói, trong một dung lượng truyện tương đối nhỏ, những hình ảnh lãng mạn, ý vị được sử dụng với số lượng khá lớn đã góp phần làm cho câu chuyện trở nên giàu chất thơ, hình tượng trong truyện trở nên lung linh, đẹp hơn rất nhiều. Thật vậy, theo như Trần Hữu Tá, “nhìn chung, tác phẩm Thanh Tịnh đậm chất trữ tình. Thông qua tâm hồn tác giả, hiện thực cuộc sống được phản ánh giản dị mà sâu sắc, không phải chỉ ở bề ngoài, mà ở cái linh hồn sâu kín bên trong. Văn Thanh Tịnh gợi cảm, đằm thắm và trong sáng” (Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, H., 2004, tr. 1636). Tôi đi học, một truyện ngắn giàu chất thơ, là tác phẩm rất tiêu biểu cho điều này.
Chất Thơ Trong Truyện Ngắn Tôi Đi Học Của Thanh Tịnh
1,085
Chẳng may em đánh vỡ một lọ hoa đẹp. Hãy kể lại sự việc đó Hướng dẫn Ngày nhỏ, ai cũng có lần làm hỏng, làm hư đồ đạc trong gia đình. Em cũng đã có một lần trót nghịch ngợm làm vỡ một lọ hoa rất đẹp của bà. Lỗi lầm ấy đã đem đến cho em nhiều bai học. Đó là một lọ hoa bằng gốm sứ Bát Tràng được tráng men trắng, vẽ mực xanh mịn màng, sáng bóng. Nó được trân trọng đặt trên bàn thờ giữa nhà. Mẹ em nói đó là một kỉ vật thời trẻ của bà, bà đã giữ gìn, nâng niu chiếc lọ ấy mấy chục năm nay, lọ hoa này có số tuổi nhiều hơn cả tuổi của mẹ em. Bà quý chiếc lọ ấy lắm. Thỉnh thoảng bà lại mang lọ ra lau chùi cho sáng bóng. Mỗi lần như thế, bà ngắm chiếc lọ không biết chán, đôi mắt đã nhăn nheo vì thời gian lại ánh lên vẻ long lanh kì lạ. Ai cũng biết tình cảm bà dành cho chiếc lọ nên hết sức giữ gìn, nâng niu. Mỗi lần sửa sang bàn thờ mẹ lại cẩn thận đặt nó vào một chiếc hộp xốp để tránh va đập. Buổi sáng hôm ấy. Mọi người trong nhà em đi làm hết cả. Bà đi sang nhà bà hàng xóm chơi. Em ở nhà một mình buồn quá bèn rủ mấy đứa bạn sang nhà đá bóng, sân nhà em rất rộng, đủ cho chục đứa bằng tuổi em đá bóng, đùa nghịch. Đi một vòng quanh xóm, em đã gọi được sáu đứa bạn cùng sang chơi. Em lại có bóng trong chân. Dắt bóng. Rê bóng. Và… “Sút!”. Em hét lên và co chân sút bóng về phía “khung thành” đội bạn. Nhưng bóng lao thẳng vào nhà, bay về phía bàn thờ, đập vào cái lọ. Lọ hoa từ trên cao rơi xuống vỡ tan thành những mảnh vụn. Em hoảng hốt lao vào nhà. Sững sờ. Trời ơi! Biết làm sao bây giờ? Đám bạn xôn xao rồi từng đứa một đi về. Em sợ hãi ngồi lo lắng. Biết nói gì với bà bây giờ? Bà sẽ rất tức giận. Bà sẽ la mắng em. Bố mẹ sẽ quở trách, thậm chí… đánh em. Em nhắm mắt sợ hãi nghĩ đến những điều có thể xảy ra. Em đang đau khổ vì lỗi lầm của mình thì tiếng gậy lộc cộc chống xuống sân vang lên. Bà đã về! Em chạy vội ra sân, miệng lắp bắp: “Bà… bà ơi!”. Bà ngẩng lên nhìn em, lo lắng hỏi: “ Sao thế con? Có việc gì mà mặt tái mét lại thế?”. Em run rẩy: “Bà ơi… cái lọ hoa bị vỡ. Con… con xin lỗi”. Bà khẽ giật mình. Bà đi nhanh vào nhà, sững sờ nhìn những mảnh vụn vỡ tan tành của chiếc lọ bà hằng gìn giữ mấy chục năm. Em vội vàng tránh cơn giận của bà có thể đến bằng một câu nói dối: “Chúng con đá bóng… Thằng Tí nó sút vào”. Bà không nói gì chỉ run run lượm những mảnh vụn đặt vào một chiếc bình cũng bằng gốm. Bữa cơm trưa hôm đó là một bữa cơm buồn. Cả nhà lặng lẽ ăn không ai nói câu gì. Nhất là bà. Người ăn chưa hết lưng cơm đã ngừng đũa đi vào phòng. Đôi mắt bà u sầu, buồn bã. Em ăn cũng không yên lòng. Trời ơi! Em đã làm gì thế này? Chỉ vì mải mê chơi đá bóng, chỉ vì bất cẩn mà em đã làm mất đi một kỉ vật quý giá của bà. Nhưng tội lỗi hơn là em đã nói dối. Lời nói dối trơn tru như một đứa dối trá chuyên nghiệp. Đổ tội cho thằng Tí, em đã tránh được những la rầy, trách mắng, nhưng không tránh được sự dằn vặt về tội lỗi của chính mình. Giấc ngủ trưa không an lành. Em thấy một bóng người bay ra từ chiếc lọ hoa đã vỡ. Đó là một cụ già trông rất đỗi quen thân. Cụ nhìn em chăm chú rồi thở dài hỏi: “Sao con lại nói dối? Sao con lại nói dối?…”. Câu hỏi cứ ngân vang đầy ám ảnh. Em sợ hãi ngồi bật dậy, mồ hôi ướt đầm đìa. Em vội vã đi sang phòng bà rồi cứ thế òa khóc nức nở: Bà lo lắng hỏi: -Con làm sao vậy? -Hu hu… Bà ơi, con đã nói dối. Chính con đã làm vỡ lọ hoa của bà… Bà ôm em vào lòng, xoa đầu em rồi thủ thỉ: -Con biết nhận lỗi là tốt. Con biết không, đó là chiếc lọ ông tặng bà khi còn trẻ. Bà gìn giữ nó đã lâu… Trời ơi, vậy cụ già trong giấc mơ vừa rồi là ông nội em đó. Bố đã có lần kể rằng ông mất khi bố còn nhỏ, bà cứ ở vậy nuôi bố lớn lên. Em chỉ được nhìn thấy ông qua một bức vẽ truyền thần. Chẳng vậy mà em thấy gương mặt ấy quá quen thân. Em nhẹ lòng khi đã nói ra được lời thú lỗi của mình. Vậy là bà không trách mắng gì em. Càng nghĩ về chiếc lọ đã vỡ, em càng thấm thìa hơn tình cảm gia đình ấm áp thiêng liêng. Nhìn quanh bà, em hiểu rằng mỗi đồ vật đều có cuộc sống riêng của nó. Mỗi món đồ đều gắn với một kỉ niệm riêng mà chỉ những ai biết trân trọng tình cảm mới hiểu được.
Chẳng may em đánh vỡ một lọ hoa đẹp. Hãy kể lại sự việc đó
935
Chẳng may em đánh vỡ một lọ hoa đẹp. Hãy kể lại sự việc đó Bài làm Ngày nhỏ, ai cũng có lần làm hỏng, làm hư đồ đạc trong gia đình. Em cũng đã có một lần trót nghịch ngợm làm vỡ một lọ hoa rất đẹp của bà. Lỗi lầm ấy đã đem đến cho em nhiều bai học. Đó là một lọ hoa bằng gốm sứ Bát Tràng được tráng men trắng, vẽ mực xanh mịn màng, sáng bóng. Nó được trân trọng đặt trên bàn thờ giữa nhà. Mẹ em nói đó là một kỉ vật thời trẻ của bà, bà đã giữ gìn, nâng niu chiếc lọ ấy mấy chục năm nay, lọ hoa này có số tuổi nhiều hơn cả tuổi của mẹ em. Bà quý chiếc lọ ấy lắm. Thỉnh thoảng bà lại mang lọ ra lau chùi cho sáng bóng. Mỗi lần như thế, bà ngắm chiếc lọ không biết chán, đôi mắt đã nhăn nheo vì thời gian lại ánh lên vẻ long lanh kì lạ. Ai cũng biết tình cảm bà dành cho chiếc lọ nên hết sức giữ gìn, nâng niu. Mỗi lần sửa sang bàn thờ mẹ lại cẩn thận đặt nó vào một chiếc hộp xốp để tránh va đập. Buổi sáng hôm ấy. Mọi người trong nhà em đi làm hết cả. Bà đi sang nhà bà hàng xóm chơi. Em ở nhà một mình buồn quá bèn rủ mấy đứa bạn sang nhà đá bóng, sân nhà em rất rộng, đủ cho chục đứa bằng tuổi em đá bóng, đùa nghịch. Đi một vòng quanh xóm, em đã gọi được sáu đứa bạn cùng sang chơi. Em lại có bóng trong chân. Dắt bóng. Rê bóng. Và… “Sút!”. Em hét lên và co chân sút bóng về phía “khung thành” đội bạn. Nhưng bóng lao thẳng vào nhà, bay về phía bàn thờ, đập vào cái lọ. Lọ hoa từ trên cao rơi xuống vỡ tan thành những mảnh vụn. Em hoảng hốt lao vào nhà. Sững sờ. Trời ơi! Biết làm sao bây giờ? Đám bạn xôn xao rồi từng đứa một đi về. Em sợ hãi ngồi lo lắng. Biết nói gì với bà bây giờ? Bà sẽ rất tức giận. Bà sẽ la mắng em. Bố mẹ sẽ quở trách, thậm chí… đánh em. Em nhắm mắt sợ hãi nghĩ đến những điều có thể xảy ra. Em đang đau khổ vì lỗi lầm của mình thì tiếng gậy lộc cộc chống xuống sân vang lên. Bà đã về! Em chạy vội ra sân, miệng lắp bắp: “Bà… bà ơi!”. Bà ngẩng lên nhìn em, lo lắng hỏi: “ Sao thế con? Có việc gì mà mặt tái mét lại thế?”. Em run rẩy: “Bà ơi… cái lọ hoa bị vỡ. Con… con xin lỗi”. Bà khẽ giật mình. Bà đi nhanh vào nhà, sững sờ nhìn những mảnh vụn vỡ tan tành của chiếc lọ bà hằng gìn giữ mấy chục năm. Em vội vàng tránh cơn giận của bà có thể đến bằng một câu nói dối: “Chúng con đá bóng… Thằng Tí nó sút vào”. Bà không nói gì chỉ run run lượm những mảnh vụn đặt vào một chiếc bình cũng bằng gốm. Đúng lúc ấy, bố mẹ em đi làm về. Em lại sợ hãi tránh tội bằng lời nói dối như khi nãy. Mẹ chăm chú nhìn vào mắt em hỏi nhỏ: “Con nói thật chứ?”. Em nhắm mắt, cúi đầu nói khe khẽ: “Vâng ạ!”. Mẹ không nói gì nữa, lẳng lặng đi chuẩn bị bữa trưa. Bữa cơm trưa hôm đó là một bữa cơm buồn. Cả nhà lặng lẽ ăn không ai nói câu gì. Nhất là bà. Người ăn chưa hết lưng cơm đã ngừng đũa đi vào phòng. Đôi mắt bà u sầu, buồn bã. Em ăn cũng không yên lòng. Trời ơi! Em đã làm gì thế này? Chỉ vì mải mê chơi đá bóng, chỉ vì bất cẩn mà em đã làm mất đi một kỉ vật quý giá của bà. Nhưng tội lỗi hơn là em đã nói dối. Lời nói dối trơn tru như một đứa dối trá chuyên nghiệp. Đổ tội cho thằng Tí, em đã tránh được những la rầy, trách mắng, nhưng không tránh được sự dằn vặt về tội lỗi của chính mình. Chẳng may em đánh vỡ một lọ hoa đẹp. Hãy kể lại sự việc đó Giấc ngủ trưa không an lành. Em thấy một bóng người bay ra từ chiếc lọ hoa đã vỡ. Đó là một cụ già trông rất đỗi quen thân. Cụ nhìn em chăm chú rồi thở dài hỏi: “Sao con lại nói dối? Sao con lại nói dối?…”. Câu hỏi cứ ngân vang đầy ám ảnh. Em sợ hãi ngồi bật dậy, mồ hôi ướt đầm đìa. Em vội vã đi sang phòng bà rồi cứ thế òa khóc nức nở: Bà lo lắng hỏi: – Con làm sao vậy? – Hu hu… Bà ơi, con đã nói dối. Chính con đã làm vỡ lọ hoa của bà… Bà ôm em vào lòng, xoa đầu em rồi thủ thỉ: – Con biết nhận lỗi là tốt. Con biết không, đó là chiếc lọ ông tặng bà khi còn trẻ. Bà gìn giữ nó đã lâu… Trời ơi, vậy cụ già trong giấc mơ vừa rồi là ông nội em đó. Bố đã có lần kể rằng ông mất khi bố còn nhỏ, bà cứ ở vậy nuôi bố lớn lên. Em chỉ được nhìn thấy ông qua một bức vẽ truyền thần. Chẳng vậy mà em thấy gương mặt ấy quá quen thân. Em nhẹ lòng khi đã nói ra được lời thú lỗi của mình. Vậy là bà không trách mắng gì em. Càng nghĩ về chiếc lọ đã vỡ, em càng thấm thìa hơn tình cảm gia đình ấm áp thiêng liêng. Nhìn quanh bà, em hiểu rằng mỗi đồ vật đều có cuộc sống riêng của nó. Mỗi món đồ đều gắn với một kỉ niệm riêng mà chỉ những ai biết trân trọng tình cảm mới hiểu được.
Chẳng may em đánh vỡ một lọ hoa đẹp
1,008
Chẳng thà thất bại một cách vinh dự còn hơn thành công bằng sự gian xảo (Sophocle). Suy nghĩ về câu nói trên Hướng dẫn Chúng ta nên chiến thắng như thế nào? Mở bài: Thất bại và thành công là hai biểu hiện trái ngược của công việc trong đời sống con người. Ai cũng muốn thành công và luôn tìm cách hạn chế thất bại. Có những thành công đến bằng sự nỗ lực chân chính. Cũng có những thành công do gian xảo, lừa lọc mà có. Những thành công ấy thường không bền vững được. Bởi thế, Sophocle từng khuyên rằng: “Chẳng thà thất bại một cách vinh dự còn hơn thành công bằng sự gian xảo”. Thân bài: Thất bại một cách vinh dự là gì? Thất bại một cách vinh dự là không đạt được kết quả như mong muốn hoặc chịu thua đối phương, nhưng do những nguyên nhân khách quan qua lớn không thể vượt qua được, dù đã tận dụng hết nỗ lực cố gắng của bản thân. Thành công bằng sự gian xảo là gì? Thành công bằng sự gian xảo là gặt hái, đạt được kết quả, mục đích như dự định, nhưng không phải bằng trí tuệ, tài năng, bằng ý chí quyết tâm của mình mà bằng sự dối trá, lừa lọc, bằng những thủ đoạn đê hèn. Ý nghĩa cả câu: Bằng phép so sánh, câu nói đã đề cao tính trung thực của con người trong cuộc sống. Những biểu hiện của lối sống trung thực, không giả dối: Điều trung thực cao hơn tất cả – là hãy trung thực với chính mình. Hiểu biết khả năng và thực chất của bản thân, trung thực trong suy nghĩ, lời nói và hành động; biết chấp nhận những hạn chế của mình, biết nhận lãnh trách nhiệm và hậu quả do công việc mình đã làm. Không trung thực với bản thân mình thì không thể nào trung thực được với xã hội. Trung thực trong học tập, thi cử: Học tập và thi cử bằng thực lực, thật chất của mình, không lừa thầy, dối bạn, không gian lận trong thi cử, không chạy trường chạy lớp, chạy điểm, chạy bằng cấp. Trung thực trong công việc: Làm ăn ngay thẳng, có trách nhiệm, làm hết khả năng mình, không lánh nặng làm nhẹ; không sản xuất loại hàng kém chất lượng, không làm ăn trái pháp luật, không báo cáo sai sự thật. Trung thực trong mối quan hệ với mọi người: Không nói sai sự thật, không tham lam của người khác, tuân theo những nội quy, những quy tắc trong giao tiếp. Sự trung thực là nền tảng cơ bản giữ cho những quan hệ được bền vững. Người sống trung thực sẽ tạo được uy tín và được mọi người tin yêu, từ đó giúp bản thân thành đạt trong cuộc sống. Thiếu trung thực làm thật giả bất phân, ngay gian lẫn lộn, gây ra nhiều nguy hại cho xã hội. Phê phán lối sống thiếu trung thực trong xã hội ngày nay: Hiện nay, cách sống thiếu trung thực khá phổ biến. Học sinh không trung thực trong thi cử. Cán bộ xài bằng giả, mua quan bán chức. Hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng lan tràn khắp nơi. Quảng cáo rầm rộ không đúng thực. Thể thao thiếu trung thực trong thi đấu. Trong khoa học cũng sao chép lẫn nhau… Nguyên nhân: giáo dục quá chú trọng bằng cấp, điểm thi đua, không chăm lo đúng mức đến “tiên học lễ, hậu học văn”. Nhiều cá nhân chạy theo thành tích, ham làm giàu, thiếu ý thức rèn luyện nhân cách, không muốn là việc vất vả mà muốn hưởng thụ nhiều. Liên hệ bản thân: Bản thân cần nhận thức sâu sắc trung thực là giá trị là nên nhân cách của mình; ngay khi đối diện với thất bại, thua thiệt vẫn sống cho trung thực. Không ngừng tu dưỡng để có được phẩm chất trung thực. Kết bài: Thành công không đến với ta một cách tự nhiên. Nó là kết quả của biết bao nỗ lực, biết bao cố gắng. Nhưng dù cuộc sống có khó khăn đến thế nào, dù có bao lần thất bại đi chăng nữa, mỗi con người cũng cần phải biết sống trung thực. Không vì lợi ích của bản thân mà dẫm đạp lên đạo đức, lẽ sống và đạo lí làm người.
Chẳng thà thất bại một cách vinh dự còn hơn thành công bằng sự gian xảo (Sophocle). Suy nghĩ về câu nói trên
735
Chỉ ra và phân tích những bài học trong truyện cười Treo biển Hướng dẫn Đề bài: Trong truyện cười Treo biển, em có suy nghĩ về lời góp ý của những người qua đường? Qua đó em rút ra bài học gì từ câu chuyện này. Hãy chỉ ra và phân tích những bài học trong truyện cười Treo biển. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu truyện cười “Treo biển”: “Treo biển”, câu chuyện đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác qua sự góp ý của những người đi đường. 2. Thân bài – Ý nghĩa của tấm biển trong tác phẩm “Ở đây có bán cá tươi” tấm biển thể hiện vị trí, địa điểm, hoạt động và chất lượng của sản phẩm là “Cá” – Suy nghĩ về sự góp ý của người đi đường thứ nhất + Người thứ nhất: Góp ý về tấm biển với nội dung chữ “Tươi”, cho rằng hàng cá trước giờ bán đồ ươn –> Quan điểm: Ý kiến không thỏa đáng, chữ “Tươi” thể hiện chất lượng và chủng loại của sản phẩm. + Suy nghĩ về sự góp ý của người đi đường thứ hai + Người thứ hai: Trong biển không nên có chữ “Ở đây” bởi hàng cá là mặc định là bán cá –> Quan điểm: Góp ý đó không đúng, hai chữ “Ở đây” thể hiện địa điểm riêng của tiệm, rất cần thiết không thể bỏ được + Suy nghĩ về sự góp ý của người đi đường thứ ba –> Người thứ ba: Không nên để chữ “Có bán” khi tấm biển chỉ còn ba chữ “Có bán cá” bởi bày cá ra là để bán cá –> Quan điểm: Góp ý sai lệch, hai chữ “Có bán” thể hiện hình thức kinh doanh là “Bán” chứ không phải “Mua” + Suy nghĩ về sự góp ý của người láng giềng –> Người láng giềng: Bỏ chữ “Cá” đi bởi từ đằng xa đã ngửi thấy mùi tanh của cá, chẳng cần để bảng cũng biết ở đó có cá –> Quan điểm: Góp ý hết sức vô lí, “Cá” là để thể hiện mặt hàng sản phẩm, hoạt động kinh doanh nhất định, đặc trưng – Bài học rút ra Tiếp thu ý kiến là quan trọng nhưng cần biết tiếp thu một cách có chọn lọc, mỗi người một cách nghĩ không vì theo người khác mà thay đổi quyết định của bản thân 3. Kết bài Cảm nghĩ về câu chuyện: Tác phẩm vừa đem lại tiếng cười vừa mang ý nghĩa châm biếm, phê phán cái xấu, cái đáng chê trách, tác phẩm đưa tới bài học quý giá là phải suy nghĩ trước sau cho thật chín chắn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. II. Bài tham khảo Trong cuộc sống mỗi người đều có một quan điểm, một ý kiến nhận định riêng và việc tiếp thu ý kiến người khác để bản thân trở nên hoàn thiện là vô cùng quan trọng, vậy tiếp thu sao cho có chọn lọc, sao cho hợp lí thì không phải ai cũng làm được, giống như nhân vật trong câu chuyện “Treo biển”, câu chuyện đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác qua sự góp ý của những người đi đường. Trong tác phẩm nội dung gây cười xoay quanh tấm biển với nội dung “Ở đây có bán cá tươi”, xét theo nghĩa của tấm biến thì tất cả những nội dung là vô cùng phù hợp với một của hàng buôn bán, tuy có hơi dài một chút nhưng mang đầy đủ ý nghĩa từ vị trí địa điểm, hoạt động đến chất lượng mặt hàng. Vậy nhưng chỉ vì những lời góp ý của những người đi đường mà ông chủ tiệm cá đã vô tình bỏ đi phần nào ý nghĩa của tấm biển để rồi cuối cùng là không cần treo biển nữa. Người thứ nhất góp ý về tấm biển với nội dung chữ “Tươi”, đối với người đi đường này thì việc thêm chữ “Tươi” vào biển là không hợp lí, trong suy nghĩ của người này thì có chữ “Tươi” trong biển chỉ cho rằng trước đây cửa tiệm toàn bán cá ươn, đến bây giờ mới bán cá tươi nhưng ý kiến này đưa ra thực sự không thỏa đáng, chữ “Tươi” trong tấm biển là để thể hiện chất lượng của sản phẩm mà ông chủ này bán đồng thời xây dựng thương hiệu riêng của tiệm, bên cạnh đó còn là để chỉ chủng loại với ý nghĩa rằng ở đây bán cá tươi chứ không phải cá khô. Sau người thứ nhất góp ý thì tấm biển chỉ còn nội dung “Ở đây có bán cá”, nhưng không dừng ở đó người thứ hai đi ngang qua cũng cho rằng chữ “Ở đây” là không cần thiết, bởi hàng bán cá thì sẽ bán cá chứ “Chẳng lẽ ra hàng hoa mua cá”. Ý kiến được đưa ra và ông chủ tiệm cảm thấy hợp lí nên đã bỏ hai chữ “Ở đây” nhưng lại quên mất đi tầm quan trọng của hai chữ đó, hai chữ “Ở đây” như một điểm nhấn cho địa điểm, đối với khách thì hình ảnh đó sẽ trở nên ấn tượng và đi sâu vào trong tiềm thức của mỗi người, khi mỗi lần nhắc đến tiệm cá người ta sẽ tìm tới tiệm này. Ngoài ra chữ “Ở đây” cũng là để khẳng định vị trí, địa điểm giữa các hàng cá khác cũng như những loại hình kinh doanh khác. Sau người thứ hai thì người thì ba lại tiếp tục góp ý khi tấm biển chỉ còn ba chữ “Có bán cá”. Đối với người này mà nói thì hai từ “Có bán” không có ý nghĩa, theo người này thì việc bày cá ra là để bán chứ không thì để làm gì, thế nên hai chữ đó không nên có trên biển, nhưng hai chữ “Có bán” mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng, rằng hình thức kinh doanh của tiệm là bán chứ không phải mua. Cuối cùng sau sự góp ý đó tấm biển chỉ còn duy nhất một chữ “Cá” Người cuối cùng bàn về chữ “Cá” rằng từ đằng xa đã ngủ thấy mùi tanh mùi đặc trưng của cá, đến gần thì thấy đầy cá nên treo biển với chữ “Cá” là không cần thiết, nhưng ý kiến này là hết sức vô lí, bởi bất cứ một hoạt động kinh doanh nào để cần có biển quảng cáo với hình ảnh sản phẩm của mình. Cuối cùng qua những sự góp ý của người đi đường và người làng giếng thì tiệm cá của ông chủ đã không còn biển nữa, qua đây cũng cho ta thấy được việc tiếp thu ý kiến có chọn lọc là rất cần thiết, mỗi người một suy nghĩ, mỗi người một quan điểm nên không thể nào sống để vừa lòng với tất cả mọi người được. Đặc biệt hơn cả là cần hiểu ý nghĩa việc mình đang làm sẽ đem lại lợi ích gì cho bản thân chứ không phải để phù hợp với những người xung quanh. Tác phẩm vừa đem lại tiếng cười vừa mang ý nghĩa châm biếm, phê phán cái xấu, cái đáng chê trách, tác phẩm đưa tới bài học quý giá là phải suy nghĩ trước sau cho thật chín chắn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.
Chỉ ra và phân tích những bài học trong truyện cười Treo biển
1,251
Đề bài: Chọn những bức tranh về cảnh đẹp ở nước ta. Nói những điều mà em quan sát được từ cảnh đẹp ấy Bài làm Đó là bức ảnh chùa Thiên Mụ, một cảnh đẹp nổi tiếng của xứ Huế. Trên nền giấy màu xanh xa trời nổi bật lên hình một chiếc tháp nhiều tầng, màu nâu sẫm, với một kiểu cấu trúc của thời xưa. Bầu trời cao xanh lồng lộng, đây đó lớt phớt những vệt mây như những dải lụa trắng trôi từ từ theo làn gió nhẹ. Ngôi chùa nằm cạnh bên dòng sông Hương hiền hòa êm ả. Một không gian yên ắng tưởng như không có tiếng động bao phủ lấy ngôi chùa. Nhìn bức ảnh, em cứ ngỡ như nhìn vào một chốn bồng lai tiên cảnh của thế giới hư ảo trong truyện cổ tích. Thật là một cảnh tượng hiếm có. Kể về những cảnh đẹp ở nước ta Bài làm 2 Đó là bức ảnh chụp phong cảnh Vịnh Hạ Long một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng của Việt Nam, một kì quan của thế giới. Em biết được như vậy là vì phía dưới bức ảnh ấy có hai hàng chữ tiếng Việt và tiếng Anh giới thiệu tên của bức ảnh. Bao trùm lên toàn cảnh là những hòn núi đá to, nhỏ mọc lên giữa biển nước xanh mênh mông với những hình thù khác nhau. Hòn cao nhất giống như một chú gà trống đang ngẩng cao đầu để gáy, gọi là “hòn Trống”. Phía bên phải có hai hòn chồng gối lên nhau, trông thật chông chênh nguy hiểm. Xa xa là một cửa hang rộng với những dòng thạch nhũ nhảy từ trên cao xuống, tạo cho cửa hang có những hình thù kì dị, lạ mắt. Xung quanh là biển nước xanh mênh mông. Một chiếc tàu du lịch đang rẽ sóng tiến vào một cửa động. Phong cảnh vịnh Hạ Long quả thật là đẹp và hấp dẫn. Lớn lên, nhất định em sẽ thực hiện một chuyến tham quan du lịch đến với Hạ Long. Bài làm 3 Nhà em có rất nhiều bức tranh vẽ cảnh vật thiên nhiên. Nhưng bức tranh về Hồ Hoàn Kiếm ở thủ đô Hà Nội vẫn là bức tranh mà em thích nhất, ngắm mãi mà không hề thấy chán. Giữa hồ là Tháp Rùa cổ kính soi bóng trên mặt hồ trong xanh. Trên cao là những đám mảy trắng bồng bềnh trôi giữa bầu trời cao vời vợi. Nhìn xa hơn, tòa nhà Bưu điện thành phố đồ sộ và lộng lẫy được trang trí cờ hoa rực rỡ. Và kia nữa là cầu Thê Húc màu son, uốn cong như một nét hoa văn, tượng trưng cho bàn tay của một nàng tiên nữ hiếu khách, vẫy chào chúng em đến viếng đền Ngọc Sơn cổ kính. Mái đền ngàn năm tuổi nép mình dưới gốc đa cổ thụ cành lá xum xê. Nhìn bức tranh Hồ Gươm, em tưởng tượng đến sự tích về cái hồ này, mà mới đây không lâu, bố đã kể cho em nghe. “Ngày xửa ngày xưa ấy, có một con rùa lớn ngoi lên mặt nước, đòi vua Lê Lợi trả kiếm cho Long Vương” để rồi hồ mang tên “Hoàn Kiếm” từ đấy cho đến bây giờ. Và có lẽ cái tên ấy, sự tích ấy sẽ truyền lại muôn đời cho các thế hệ mai sau. Ước gì một ngày nào đó, em được đứng trên Bờ Hồ mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của một di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng của thủ đô. Bài làm 4 Trong những bức ảnh chụp cảnh vật thiên nhiên, em thích nhất bức ảnh về cảnh hồ Xuân Hương – Đà Lạt một thắng cảnh tuyệt vời của cao nguyên miền Trung. Từ nhỏ đến giờ, em chưa có dịp đi tham quan Đà Lạt lần nào, nên càng nhìn bức ảnh, em lại càng ao ước được đến thăm Đà Lạt một lần. Dường như cảnh hồ Xuân Hương được chụp vào một buổi sáng trời trong. Không gian rất yên tĩnh bởi mặt hồ phẳng lặng không một gợn sóng. Mặt hồ trong xanh màu ngọc bích. Những hàng cây hai bên bờ hồ và những biệt thự cao tầng trên những ngọn đồi lộng gió in hình xuống đáy hồ, trông thật nên thơ! Phía xa xa, đồi núi trập trùng, ngọn cao ngọn thấp với những rừng thông bạt ngàn nối đuôi nhau chạy xa tít đến chân trời. Cảnh vật vừa đẹp, vừa nên thơ và đầy quyến rũ. Cám ơn người thợ chụp hình đã đem đến cho em một phong cảnh Đà Lạt nên thơ.
Chọn những bức tranh về cảnh đẹp ở nước ta. Nói những điều mà em quan sát được từ cảnh đẹp ấy
795
Chủ điểm: Bác Hồ – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Cảm thụ văn học lớp 4 Chủ điểm: Bác Hồ Bài 1: Trong bài thơ “Viếng lăng Bác” nhà thơ Viễn Phương viết “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”. Hình ảnh “mặt trời” trong đoạn thơ trên có ý nghĩa gì đẹp đẽ và sâu sắc? Nêu cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ trên. Gợi ý: Hình ảnh “mặt trời” ở dòng thơ thứ nhất chỉ mặt trời có thật trên vũ trụ của chúng ta: Mặt trời luôn toả ánh sáng đem sự sống đến cho con người và muôn vật, mặt trời có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự sống. Hình ảnh mặt trời ở dòng thơ thứ 2 (có ý so sánh ngầm) muốn nói đến Bác Hồ kính yêu và tình thương yêu bao la của Bác, sự hy sinh to lớn của Bác dành cho nhân dân cho đất nước giống như ánh sáng mặt trời. Tình cảm, sự kính trọng biết ơn của nhân dân đối với Bác. Bài 2: “Ôi! Lòng Bác vậy cứ thương ta. Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa Chỉ biết quên mình cho hết thảy Như dòng sông chảy lặng phù sa”. (“Theo chân Bác” Tố Hữu) Đoạn thơ trên có hình ảnh nào đẹp gây xúc động nhất với em vì sao? * Tham khảo Hình ảnh “dòng sông chảy nặng phù sa” là hình ảnh đẹp và gây xúc động nhất bởi nó được dùng để so sánh với tấm lòng yêu thương quên mình vì dân vì nước của Bác. Dòng sông quê hương mang nặng phù sa hay tấm lòng của Bác lúc nào cũng chứa chan tình yêu thương dành cho mỗi chúng ta. Bác chia sẻ tình thương cho tất cả mọi người, cho cỏ cây hoa lá mà chẳng nghĩ đến riêng mình. Dòng sông cũng vậy cứ chảy mãi chảy mãi, đem đến cho đôi bờ những hạt phù sa đỏ hồng để làm nên hạt gạo, làm nên cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đoạn thơ là sự thể hiện tình cảm kính yêu, sự biết ơn của tác giả nói riêng và của nhân dân ta nói chung đối với Bác Hồ kính yêu. » Tải về file word tại đây – Chủ điểm: Tình cảm gia đình – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Bác Hồ – Cảm thụ văn học lớp 4
441
Chủ điểm: Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Chủ điểm: Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4 Bài 1: Em có suy nghĩ gì về nhân vật Nguyễn Hiền trong câu chuyện “Ông Trạng thả diều”. Tham khảo: Đọc mẫu chuyện “Ông Trạng thả diều” ta thực sự ngưỡng mộ tài năng (tư chất và đức tính ham học, chịu khó của nhân vật Nguyễn Hiền, ông là người có trí thông minh “thiên bẩm”. Mới lên sáu tuổi ông đã “học đâu hiểu đấy” và có trí nhớ “lạ thường” khiến thầy giáo phải “kinh ngạc”. Song điều đáng quý hơn ở ông đó là đức tính chịu khó, ham học, ý chí vượt lên những khó khăn để vươn lên, ta hãy xem cách học của ông: Vì nhà nghèo, ông phải bỏ học nhưng hàng ngày ông vừa chăn trâu vừa “nghe giảng nhờ ngoài cửa lớp” bàn học của ông là “lưng trâu” sách vở của ông là “mặt cát” là “lá chuối” bút mực là “ngón tay” “mảnh gạch” … và ông đã đỗ Trạng Nguyên khi mới 13 tuổi, ông là trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử nước ta. Bằng những câu văn kể mộc mạc, dễ hiểu, câu chuyện “Ông Trạng thả diều” đã cho ta hiểu được những đức tính quý báu của Trạng Nguyên Nguyễn Hiền, ông là niềm tự hào của đất nước dân tộc và là tấm gương sáng cho tuổi trẻ chúng ta ngày nay. Bài 2: Ý chí và nghị lực của nhân vật Bạch Thái Bưởi trong câu chuyện “Vua tàu thuỷ Bạch Thái Bưởi” đã để cho em cảm nhận gì? »Tải về file word tại đây – Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4
331
Chủ điểm: Khám phá thế giới – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Cảm thụ văn học lớp 4 Chủ điểm: Khám phá thế giới Bài 1: Đoạn văn “Phong cảnh ở đây thật đẹp. Thoắt cái, lác đác lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên cành đào, lê, mận. Thoát cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý” “Đường đi Sa Pa” Nguyễn Phan Hách – Em nhận xét gì về cách dùng từ đặt câu ở đoạn văn trên. Nêu tác dụng của cách dùng từ đặt câu đó. Gợi ý: – Điệp từ “thoắt cái” (3 lần) (trạng ngữ gợi cảm giác về thời gian). – Đảo ngữ “Trắng long lanh một cơn mưa tuyết” “lác đác, lá vàng rơi” – Cách dùng từ đặt câu rất đặc biệt đó gợi cảm giác đột ngột, ngỡ ngàng nhấn mạnh sự thay đổi nhanh chóng của thời gian và sự biến đổi kỳ lạ của cảnh sắc thiên nhiên ở Sa Pa. Bài 2: Đoạn thơ “Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha Trưa về trời rộng bao la Áo xanh sông mặc như là mới may” “Dòng sông mặc áo” Nguyễn Trọng Tạo Nghệ thuật nào được sử dụng trong đoạn thơ trên? nghệ thuật đó có tác dụng gì trong việc miêu tả vẻ đẹp của dòng sông quê hương. + Nghệ thuật nhân hoá lồng dùng hình ảnh gợi tả “điệu” “mặc áo lụa đào thướt tha” “áo xanh sông mặc”. + Tác dụng: Gợi sự biến đổi kỳ diệu màu sắc của dòng sông theo thời gian nhằm miêu tả vẻ đẹp độc đáo của dòng sông quê hương – dòng sông đẹp như nàng thiếu nữ điệu đà thích làm duyên làm dáng. + Thể hiện tình yêu tha thiết của tác giả với dòng sông quê hương. + Cảm xúc của bản thân. Bài 3: Đoạn văn “Chao ôi! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh. Bên cái cánh mỏng như giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thuỷ tinh. Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu. Chú đậu trên một canh lộc vừng ngả dài trên mặt hồ”. “Chú chuồn chuồn nước” Nguyễn Thế Hội Nghệ thuật nào được sử dụng trong đoạn thơ trên? nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó. Gợi ý: Nghệ thuật so sánh “Cánh mỏng như giấy bóng” “Mắt như thuỷ tinh” “Vàng như màu vàng của nắng mùa thu” + Nghệ thuật dùng hình ảnh gợi tả “lấp lánh” “long linh” + Cách dùng từ bộc lộ cảm xúc mạnh “chao ôi!”. + Tác dụng: Cách so sánh vừa cụ thể vừa sinh động làm nổi bật hình dáng, màu sắc, vẻ đẹp hấp dẫn của chú chuồn chuồn nước. +“Chao ôi … làm sao! Bộc lộ” cảm giác thích thú của tác giả trước vẻ đẹp của chú chuồn chuồn ® tình yêu cảnh vật quê hương của tác giả. Bài 1: Bài thơ “Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. “Ngắm Trăng” Hồ Chí Minh Trình bày cảm nhận của em về bài thơ trên. Đoạn văn tham khảo: Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta, người còn là một nhà thơ tài ba. Bác đã viết rất nhiều bài thơ hay, ý mỗi bài thơ Bác viết đều ngắn, ý thơ mộc mạc dễ hiểu và rất sâu sắc. “Ngắm trăng” là một bài thơ Bác viết trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch. Bài thơ mang nét đẹp của con người Bác: Bác là người yêu thiên nhiên vì thế trước cảnh đẹp của đêm trăng Bác vẫn “khó hững hờ” dù trong tù, chân tay bị cùm bị trói, chẳng có rượu, hoa để thưởng thức. “Trong tù… hững hờ” Và cách ngắm trăng của Bác thật khác thường: “Người ngắm… ngắm nhà thơ” Nghệ thuật nhân hoá trăng “nhóm”, “ngắm” sử dụng rất khéo léo khiến ta cảm thấy dường như trăng không còn là vật mà đã trở thành người bạn tri âm, tri kỷ của Bác và dưới ánh mắt của trăng Bác không còn là người tù mà là một nhà thơ tao nhã. Bài thơ “Ngắm trăng” là sự thể hiện tâm hồn trong sáng, phong thái thanh tao, ung dung tự tại của Bác đồng thời cũng thể hiện tình yêu trăng, yêu thiên nhiên của Bác. “Bay cao cao vút chim biến mất rồi Chỉ còn tiếng hát Làm xanh da trời” “Con chim Chiền Chiện” Huy Cận Trình bày cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ trên. Gợi ý: + Đoạn thơ nêu lên tác dụng kỳ diệu của tiếng chim hót. + Ca ngợi cuộc sống thanh bình, tươi đẹp của quê hương, đất nước. »Tải về file word tại đây – Chủ điểm: Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Vẻ đẹp muôn màu – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Khám phá thế giới – Cảm thụ văn học lớp 4
856
Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Bài 1: Đoạn thơ: “Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường Lưng trần phơi nắng phơi sương Có manh áo cộc tre nhường cho con” “Tre Việt Nam” Nguyễn Duy Đoạn thơ trên có những hình ảnh nào đẹp. Nêu ý nghĩa đẹp đẽ của những hình ảnh đó. Gợi ý: Hình ảnh măng tre “nhọn như chông”: Cho thấy sự kiêu hãnh, hiên ngang, bất khuất, bản chất ngay thẳng, khảng khái của “nòi tre” -> nghệ thuật so sánh. + Hình ảnh “lưng trần phơi nắng phơi sương” -> gợi sự dãi dầu, chịu đựng mọi khó khăn của tre. + Hình ảnh “manh áo cộc tre nhường cho con” gợi sự liên tưởng đến sự che chở, hy sinh tất cả vì măng non của trẻ. + Thông qua những phẩm chất đáng quý của tre đến ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam, dân tộc Việt Nam: Kiên cường bất khuất, ngay thẳng chịu thương chịu khó -> thể hiện tình yêu và lòng tự hào của nhà thơ đối với tre Việt Nam dân tộc Việt Nam. + Cảm xúc của bản thân: Yêu quý và tự hào. Bài 2: “Năm qua đi, tháng qua đi Tre già măng mọc có gì lạ đâu Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh”. “Tre Việt Nam” – Nguyễn Du Em hãy cho biết những câu thơ trên nhằm khẳng định điều gì? Cách diễn đạt của nhà thờ có gì độc đáo nhằm góp phần khẳng định điều đó. + Điệp từ “Mai sau” nhắc lại 3 lần thể hiện rất đẹp sự kế tiếp tre già – măng mọc đồng thời gợi cảm xúc về không gian và thời gian như mở ra vô tận tạo cho ý thơ bay bổng. Điệp từ “xanh” (3 lần) -> gợi sức sống mãnh liệt, vĩnh cửu của màu sắc của trẻ. -> Nghệ thuật (…) đã góp phần khẳng định sự trường tồn, sự sống mãnh liệt của tre Việt Nam, dân tộc Việt Nam. + Cảm xúc: yêu quý và tự hào về nòi tre Việt Nam về dân tộc Việt Nam. Bài 3: Trình bày cảm nhận của em về nhân vật “Gà trống” trong câu chuyện thơ “Gà trống và Cáo” của tác giả La-Phông-Ten. Tham khảo: Đọc truyện thơ “Gà trống và Cáo” của nhà thơ La-Phông-Ten ta có ấn tượng thật sâu sắc về chú Gà Trống đáng yêu. Chú ta thật thông minh nhanh nhẹn với cái dáng “vắt vẻo” trên cành và “tinh nhanh lõi đời”. Nhưng trước một lão cáo già có cái dáng “đon đả” và những lời đường mật ngọt ngào “kìa anh bạn quý, xin mời xuống đây” và cái thông điệp tuyệt vời mà Cáo mang đến liệu gà ta sẽ xử lý thế nào?. Gà rằng xin được “ghi ơn” trong lòng đã khiến ta giật mình lo lắng cho Gà Trống, lĩnh mạng của Gà Trống rõ ra. Sao khi bị cáo lừa gạt và rồi: “kìa tôi thấy cặp chó săn từ xa chạy lại chắc loan tin này” đã khiến cáo ta “hồn bay phách lạc” “quắp đuôi, co cẳng” chạy mất khiến ta thở phào nhẹ nhõm và bật lên tiếng cười sảng khoái trước sự thông minh tuyệt vời của Gà Trống. Với lời kể chuyện bằng những vần thơ nhẹ nhàng, dí dỏm, câu chuyện là một bài học sâu sắc đừng vội tin những lời nói ngọt ngào của kẻ xấu mà hại đến thân và nhân vật gà trồng đã để lại cho ta tình cảm yêu quý và mến phục. »Tải về file word tại đây – Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Thương người như thể thương thân – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4
670
Chủ điểm: Thương người như thể thương thân – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Chủ điểm: Thương người như thể thương thân Bài 1: Trình bày cảm nhận của em về “Lòng thương người” một nét tính cách tiêu biểu của Dế Mèn trong câu chuyện “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” của nhà văn Tô Hoài. Gợi ý: 1. Chi tiết thể hiện hành động của Dế Mèn – Quan tâm đến người yếu đuối bất hạnh: Nghe “Tiếng khóc tỷ tê” nhìn thấy “chị nhà trò đang gục đầu” bên tảng đá cuội “đến gần” “gạn hỏi mãi”. – Bênh vực giúp đỡ người gặp hoạn nạn “Xoè hai càng ra” “Dắt chị Nhà Trò đi”. – Lời nói “Em đừng sợ, hãy về với tôi đây…” 2. Tính cách, phẩm chất: Dế Mèn rất “giàu lòng thương người” luôn quan tâm giúp đỡ người gặp khó khăn hoạn nạn. 3. Tư tưởng, ý nghĩa: Ca ngợi những con người giàu lòng nhân ái. 4. Cảm xúc của bản thân cảm phục, yêu mến, học tập. Tham khảo: Nhân vật Dến Mèn trong mẩu chuyện “Dế mèn bênh vực kẻ yếu” của Nhà văn Tô Hoài đã để lại cho ta ấn tượng tuyệt đẹp. Đó là một con người giàu tình thương người: Khi nghe “Tiếng khóc tỉ tê” và thấy chị Nhà Trò “gục đầu” bên tảng đá cuội, nếu là người khác chắc sẽ thờ ơ, bỏ mặc nhưng Dế Mèn đã “đến gần” và “gặn hỏi” cho thấy Dế Mèn đã rất quan tâm đến mọi người. Hình ảnh chị Nhà Trò “đã bé nhỏ lại gầy gò quá” và đôi cánh “ngắn chùn chụt” đã làm Dế Mèn rất cảm thương, chú ta càng xúc động hơn trước cảnh ngộ bất hạnh của chị: “mẹ mất” “sống thui thủi” một mình, rồi “túng thiếu” … lại còn bị đe dọa bởi món nợ truyền đời của bọn nhện. Cứ chỉ “Xoè hai càng ra” “dắt chị Nhà trò đi và lời nói “Em đừng sợ… càng thể hiện rõ hơn phẩm chất đáng quý của Dế Mèn giàu tình thương yêu, sẵn sàng che chở, giúp đỡ những người yếu đuối bất hạnh. Dế Mèn đúng là biểu tượng của tình thương yêu, lòng nhân ái. Dế Mèn đã để lại trong lòng ta bao tình cảm mến thương, cảm phục. Gợi ý: Hình ảnh chị Nhà Trò được miêu tả qua các chi tiết: + Ngoại hình: “bé nhỏ lại gầy yếu” “cánh non nớt lại ngắn chùn chùn”. + Hoàn cảnh: “mẹ mất” “sống thui thủi” “bị đe doạ”: “đánh” “vặt cánh vặt chân ăn thịt”… -> Chị là hiện thân của sự yếu đuối, bất hạnh và bị bóc lột trong xã hội. – Cảm xúc của bản thân: thương cảm, xúc động. Bài 3: Đoạn thơ “Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ ngon Rồi ra đọc sách cấy cày Mẹ là đất nước tháng ngày của con”. “Mẹ ốm” Trần Đăng Khoa Theo em, hình ảnh nào góp phần nhiều nhất làm nên cái hay của đoạn thơ trên! Vì sao?. Gợi ý: + Hình ảnh “Mẹ là đất nước, tháng ngày của con” góp phần làm nên cái hay của đoạn thơ. + Nghệ thuật so sánh “Mẹ-Đất nước, tháng ngày” + Hình ảnh “Đất nước” “tháng ngày” cho thấy trong suy nghĩ của người con mẹ là tất cả những gì vĩ đại, lớn lao và cao quý không bao giờ thiếu được với mỗi con người. + Thấy được tình yêu thương lòng biết ơn vô hạn của con cái đối với mẹ. Bài 4: “Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì. Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra run lẩy bẩy”. Tôi chẳng biết làm cách nào. Tôi nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia. – Ông đừng giận cháu, cháu không có để cho ông cả” (“Người ăn xin” – Tuốc-Ghê-Nhép”). Trình bày suy nghĩ của em về nhân vật cậu bé được miêu tả trong đoạn văn trên. Gợi ý: Hành động “Lục tìm hết túi nọ túi kia” “Nắm chặt lấy bàn tay run rẩy” + Lời nói: “Ông đừng giận cháu …” -> Cậu bé là một con người có tấm lòng nhân hậu thương cảm và muốn giúp đỡ ông lão ăn xin nghèo khổ dù ông lão và cậu là hai con người ở hai hoàn cảnh khác nhau. – Ý nghĩa: Ca ngợi những con người giàu lòng nhân ái. – Cảm xúc của bản thân: yêu quý – cảm phục – học tập. »Tải về file word tại đây. – Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Thương người như thể thương thân – Cảm thụ văn học lớp 4
821
Chủ điểm: Trên đôi cánh ước mơ – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Cảm thụ văn học lớp 4 Chủ điểm: Trên đôi cánh ước mơ Bài 1: Đoạn văn “Trăng đêm nay sáng quá! Trăng mai còn sáng hơn. Anh mừng cho các em vui tết trung thu độc lập đầu tiên và anh mong ước ngày mai đây những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa sẽ đến với các em” “Trung thu độc lập” – Thép Mới. – Đoạn văn trên giúp em cảm nhận được điều gì? Em có suy nghĩ gì, mơ ước gì về tương lai của Đất nước?. Gợi ý: + Câu cảm ở đầu đoạn văn “Trăng đêm nay sáng quá” gợi vẻ đẹp của ánh trăng và cảm xúc vui sướng của anh chiến sỹ khi ngắm trăng độc lập đầu tiên. + Các từ chỉ cảm xúc “mừng” “mong ước” từ gợi tả “tươi đẹp” -> diễn tả niềm vui, những suy nghĩ của anh chiến sỹ về tương lai tươi đẹp của các em của đất nước. + Suy nghĩ và mơ ước của bản thân: Bài 2: “Nếu chúng mình có phép lạ Hái triệu vì sao xuống cùng Đúc thành ông mặt trời mới Mãi mãi không còn mùa đông” “Nếu chúng mình có phép lạ” – Đinh Hải Đoạn thơ thể hiện những điều gì đẹp đẽ. Em có những cảm nhận gì khi đọc đoạn thơ trên. Gợi ý: + Nghệ thuật liên tưởng Biểu tượng “Ông mặt trời” gợi một thế giới ấm no hạnh phúc, đầy ánh sáng. Biểu tượng “Mùa đông” gợi sự lạnh lẽo, đói rét, nghèo khổ. + Đoạn thơ thể hiện sinh động ước mơ cao đẹp đầy tính nhân văn của tuổi thơ không còn đói rét nghèo khổ và bất công. Các em ước mơ một thế giới tốt đẹp đầy ánh sáng văn minh, ấm no và hạnh phúc. + Cảm xúc của bản thân Bài 3: Đoạn thơ “Nếu chúng mình có phép lạ Hoá trái bom thành trái ngon Trong ruột không còn thuốc nổ Chỉ toàn kẹo và bi tròn” “Nếu chúng mình có phép lạ”- Đinh Hải Trình bày cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ trên. »Tải về file word tại đây – Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Trên đôi cánh ước mơ – Cảm thụ văn học lớp 4
401
Chủ điểm: Tình cảm gia đình – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Cảm thụ văn học lớp 4 Chủ điểm: Tình cảm gia đình Bài 1: Nghĩ về người bà yêu quý, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha viết: “Tóc bà trắng tựa mây bông Chuyện bà như giếng cạn xong lại đầy” Nghệ thuật so sánh trong 2 dòng thơ trên giúp em thấy rõ hình ảnh người bà như thế nào?. Gợi ý: – Mái tóc trắng của bà được so sánh với hình ảnh “mây bông” trên trời cho thấy: Bà có vẻ đẹp hiền từ cao quý và đáng kính trọng… – Chuyện của bà kể (cho cháu nghe) được so sánh với hình ảnh cái “giếng” thân thuộc ở làng quê Việt Nam cứ “cạn xong lại đầy” ý nói kho chuyện của bà rất nhiều không bao giờ hết, đó là những câu chuyện bà kể cho cháu nghe với tình yêu thương đẹp đẽ. – Tình cảm yêu quý kính trọng của nhà thơ (người cháu) đối với bà. Bài 2: Trong bài văn “Về thăm bà” nhà văn Thạch Lam có viết: “Thanh đi, người thẳng, mạnh, cạnh bà lưng đã còng. Tuy vậy Thanh cảm thấy chính bà che chở cho mình cũng như những ngày còn nhỏ”. Em cảm nhận được ý nghĩa gì đẹp đẽ qua đoạn văn trên?. * Yêu cầu: – Chỉ ra được nghệ thuật dùng hình ảnh đối lập. – Nêu được ý nghĩa: + Tình yêu thương của bà đối với Thanh thật bao la rộng lớn, luôn che chở cho Thanh trong suốt cuộc đời. Bài 3: Trong bài thơ “Con cò” nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con” Hai dòng thơ trên giúp em cảm nhận được điều gì đẹp đẽ và sâu sắc? Bài 4: ” Quê hương là bàn tay mẹ Dịu dàng hái lá mồng tơi Bát canh ngọt ngào toả khói Sau chiều tan học mưa rơi” Em cảm nhận được điều gì qua đoạn thơ trên? * Gợi ý: Nghệ thuật: so sánh, dùng hình ảnh gợi tả. * Nội dung: Tình yêu thương, sự chăm sóc của người mẹ đối với con. Sự kính yêu, lòng biết ơn của người con đối với mẹ. » Tải về file word tại đây – Chủ điểm: Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Tình cảm gia đình – Cảm thụ văn học lớp 4
416
Chủ điểm: Vẻ đẹp muôn màu – Cảm thụ văn học lớp 4 Hướng dẫn Cảm thụ văn học lớp 4 Chủ điểm: Vẻ đẹp muôn màu Bài 1: Đoạn văn “Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về cái dáng cây kỳ lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngang thẳng đuột, thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn chiều lượn của cây xoài, cây nhãn. Vậy mà khi trái chín, hương toả ngào ngạt, vị ngọt đến đam mê”. “Sầu riêng” – Mai Văn Tạo Em có nhận xét và cảm nghĩ gì khi đọc đoạn văn trên. Gợi ý: Đoạn văn miêu tả dáng vẻ đặc của cây và hương vị của trái sâu riêng. Hình ảnh (thân cây) “khẳng khiu”, “cao vút” Cành: “ngang”, “thẳng đuột” Lá: nhỏ, xanh vàng, như lá héo. → dáng vẻ đặc biệt của cây sầu riêng + Quả sầu riêng: “hương toả ngọt ngào, vị ngọt đam mê” Từ “vậy mà” được dùng rất đắt nhằm nhấn mạnh sự đối lập giữa vẻ bên ngoài và giá trị nội dung của nó (quả sầu riêng). → Qua cách miêu tả độc đáo trên, người đọc nhận ra giá trị đặc biệt của cây sầu riêng, một loại trái quý hiếm của Miền Nam. Bài 2: Đoạn thơ “Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà gianh Trên con đường viền trắng mép đồi xanh Người các ấp tưng bừng ra chợ tết” “Chợ Tết” – Đoàn Văn Cừ Đoạn thơ trên miêu tả cảnh gì? Nêu cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ trên. Đoạn tham khảo: Đoạn thơ là một bức tranh ngôn từ đầy màu sắc về khung cảnh tươi đẹp tráng lệ của một vùng quê vào buổi “bình minh”. Trong ánh bình rực rỡ dải mây trắng ở đỉnh núi “đỏ dần” lên, những giọt sương mai long lanh như những viên ngọc “hồng lam” đang “ôm ấp” những nóc nhà giành nơi thôn ấp rồi con đường uốn lượn “viên trắng” nhưng mép đồi xanh. Đỉnh núi, nóc nhà, con đường… Tât cả đều mang màu sắc tinh khôi rực rỡ. Với óc quan sát tinh tế và cách sử dụng từ ngữ chính xác biểu cảm của nhà thơ, cảnh vật gần gũi quen thuộc của quê hương trở nên đẹp đẽ, sống động lung linh sắc màu. Qua đó ta cảm nhận tình cảm tha thiết của nhà thơ với quê hương. Bài 3: Đoạn thơ Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa Tia nắng tia nháy hoài trong ruộng lúa Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh “Chợ Tết” Đoàn Văn Cừ Nghệ thuật nào đã góp phần làm nên nét độc đáo của đoạn thơ trên? Nêu cảm nhận của em?. Bài 4: Đoạn thơ Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng sao Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự thuở nào” “Đoàn thuyền đánh cá” Huy Cận Đoạn thơ miêu tả cảnh gì? Nêu cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ trên. – Chủ điểm: Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4 – Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4 Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4
Chủ điểm_ Vẻ đẹp muôn màu – Cảm thụ văn học lớp 4
546
Đề bài: Chứng câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Bài làm "Ăn quả nhớ kể trồng cây" chính là một truyền thống đạo đức vô cùng quan trọng của người Việt Nam. Truyền thống "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" là một bài học đạo đức sáng ngời của người dân chúng ta từ hàng trăm năm nay để lại. Đó chính là truyền thống của sự biết ơn, một trong những đức tính vô cùng đáng quý mà con người cần phải có, Câu tục ngữ chính là một lời khuyên, một lời răn dạy của ông cha ta đối với con cháu của mình, sống trên đời phải luôn biết ơn những người có ơn với mình. Những người sinh ra chúng ta, chăm sóc nuôi dưỡng chúng ta, những người đã dạy chữ, dạy viết cho chúng ta ho chúng ta biết thế nào là đạo đức làm người. Và cả những người đã hy sinh thân mình để cho chúng ta có một cuộc sống ăm no hạnh phúc hôm nay. Câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" đã sử dụng hình ảnh quả ngọt chính là thành quả mà chúng ta được hưởng thu với người trồng cây – những người chịu khó nhọc, chịu nhiều cay đắng để cho chúng ta quả ngọt để chúng ta được hưởng thụ cuộc sống êm ái hạnh phúc này. Chứng minh câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" Để có một cuộc sống như ngày hôm nay quê hương chúng ta, dân tộc của chúng ta đã trải qua nhiều hy sinh, đau thương, mất mát biết bao máu xương của các chiến sĩ đã anh dũng quên mình để bảo vệ từng nắm đất của quê hương, biết bao nhiều gia đình ân dương cách biệt, chịu cảnh ly thương để cho quê hương hôm nay sạch bóng kẻ thù, để mỗi người dân chúng ta hôm nay được ăn ngon mặc ấm. Trẻ thơ được tung tăng vui vẻ cắp sách tới trường, để có được thành quả này chúng ta phải biết ơn những người đi trước. Khi chúng ta được ăn quả ngọt, được nhận bát cơm thơ dẻo phải hiểu rằng để có được thành quả đó người nông dân phải trồng cấy vô cùng vất vả. Ba mẹ chúng ta cũng phải chịu khó miệt mài kiếm kế mưu sinh mới mua được những hạt gạo đó cho chúng ta ăn. Do đó mỗi người chúng ta cần biết ơn những người làm ra hạt gạo và cả người nuôi dưỡng chăm sóc mình, cho chúng ta có thể trưởng thành khôn lớn như hôm nay. Truyền thống 'Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" được người dân nước ta kế thừa và phát huy từ đời này sang đời khác. Mỗi năm nước ta đều có những ngày lễ ngày kỉ niệm nhằm tri ân tới người đã hy sinh vì quê hương, tổ quố. Chúng ta cũng có những ngày kỉ niệm dành cho các thầy cô giáo những người có công truyền đạt, chấp cánh những ước mơ cho thế hệ trẻ Việt Nam. Chúng ta có ngày thầy thuốc để gửi lời cảm ơn tới những người thầy thuốc làm việc tận tình cứu chữa cho người bệnh không kể ngày đêm. Ngoài ra, nhà nước ta cũng có nhiều chính sách đãi ngộ đặc biệt với những gia đình thương binh liệt sỹ, những gia đình có công với cách mạng, xây nhà tặng cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng, Tất cả những hoạt động đó của chúng ta đều thể hiện tinh thần "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của toàn thể dân tộc ta. Câu tục ngữ thể hiện lòng tông kính, sự biết ơn của những người dân trên quê howng ta với những người đi trước, với những người đã cho chúng ta cuộc sống yên bình ngày hôm nay. Chúng ta cũng luôn biết ơn đáng sinh thành của mình, thầy cô giáo, đã dẫn dắt chỉ dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải trong cuộc sống để chúng ta trở thành những con người có ích trong cuộc sống này. Minh Anh
Chứng câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
703
Đề bài: Chứng minh bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã bộc lộ sâu sắc nhiệt tình yêu nước và tinh thần trách nhiệm của ông trước hoạ ngoại xâm Bài làm Trước khí thế tiến công ào ạt của ba mươi vạn quân Nguyên lần thứ hai sang xâm lược nước ta, Trần Quốc Tuấn đã viết bài: Hịch tướng sĩ để khích lệ lòng yêu nước, quyết chiến đấu của các tướng sĩ. Tác phẩm của Trần Quốc Tuân không những là một áng thiên cổ hùng văn mà còn “bộc lộ sâu sắc nhiệt tình yêu nước, và tinh thần trách nhiệm của ông trước hoạ ngoại xâm”. Trước hết, đúng như ý kiến đã nhận định, bài Hịch tướng sĩ đã thể hiện sâu sắc nhiệt tình yêu nước của người trước hoàn cảnh đất nước đang bị ngoại xâm. Vì lòng yêu nước, Trần Quốc Tuấn không thể nhắm mắt bịt tai trước những hành vi ngang ngược của sứ giả nhà Nguyên mà ông đã tức giận gọi chúng lũ diều hâu dê chó, hổ đói”, những con vật hung.dữ; để bày tỏ thái độ căm thù. khinh bỉ. Bằng lối văn biền ngẫu nhịp nhàng và rắn rỏi, Trần Quốc Tuân vạch mặt bọn giả nhân giả nghĩa, có lòng tham không đáy, mưu toan vét sạch tài nguyên của cải đất nước ta. "… thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụạ; để thoả lòng tham không cùng, lấy hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn,..” Vì lòng yêu nước, Trần Quốc Tuân đã quên ăn, mất ngủ, đau lòng nát ruột vì chưa có cơ hội để “xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù” cho thoả lòng tức giận. Ông sẵn sàng hy sinh, để cho Tổ quốc được độc lập, tự do. Ông viết: Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Điều rất dễ hiểu là nếu không vì nhiệt tình yêu nước nồng nàn thì Trần Quốc Tuấn đã không thể đau đớn dằn vặt căm thù sôi sục như thế! Mặl khác, hài Hịch tướng sĩ còn nêu cao tinh thần trách nhiệm của vị chủ soái trước cảnh Tổ quốc đang lâm nguy bằng những lời phê phán nghiêm khắc thái độ hàng quan, chỉ biết hưởng lạc của các tướng sĩ vô trách nhiệm. Ông đã khéo léo nêu lên lòng yêu thương của ông đốì với các tướng sĩ, cùng với tinh thần đồng cam cộng khổ của ông để khơi gợi sự hồi tâm của họ. Giọng văn của ông vô cùng thiết tha và thấm thìa: “.. không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm, quan thấp thì ta tăng chức, lương ít thì ta cấp bổng…” Tiếp đến, bằng những hình ảnh tiêu biểu đầy xúc động, ông đã nêu lên những hậu quả nghiêm trọng, không những sẽ xảy đến cho ông mà còn cho gia đình những tướng sĩ vô trách nhiệm ấy, một khi đất nước rơi vào tay quân thù. Bằng cách sử dụng các hệ thống từ dồn dập “chẳng những… mà… cũng” lặp đi lặp lại có giá trị nêu bật những hậu quả tai hại, những nỗi khổ nhục của người dân mất nước, Tổ quốc mất độc lập, tự do: "… Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị tan mà vợ con các ngươi cũng khốn, chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên… Tinh thần trách nhiệm của ông còn thệ hiện ở việc ông viết nên cuốn Binh thư yếu lược để cho các tướng sĩ rèn luyện. Đối với ông, yên nước là phải có bổn phận giữ nước, phải có hành động thiết thực cứu nước tầm binh pháp các thời để tạo nên bí quyết chống giặc, phá giặc, Trần Quốc Tuấn đã thể hiện lòng yêu nước và trách nhiệm của người chỉ huy công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Chính lòng yêu nước mãnh liệt tinh thần trách nhiệm cao độ của ông đã đốt cháy lên ngọn lửa chiến đấu và chiến thắng trong lòng các tướng sĩ lúc bấy giờ. Từ sự nhìn thâu suốt dã tâm của giặc, nhận thức rõ mối hoạ của Tổ quốc, ông đã chứng minh sự còn mất của mỗi quan tướng, gắn liền với sự thắng bại của cuộc kháng chiến; lợi ích thiết thân của họ gắn liền với lợi ích lối cao của Tổ quốc. Chính vì thế bài Hịch tướng sĩ đã biểu hiện một chủ nghĩa yêu nước chân chất mà sâu sắc, đã biểu hiện một nhận thức hồn nhiên và cụ thể đầy tinh thần trách nhiệm của Hưng Đạo Đại Vương đầy lòng yêu nước…
Chứng minh bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã bộc lộ sâu sắc nhiệt tình yêu nước và tinh thần trách nhiệm của ông trước hoạ ngoại xâm
832
Chứng minh Bác luôn làm chủ hoàn cảnh với tinh thần lạc quan chiến thắng Hướng dẫn Chứng minh Bác luôn làm chủ hoàn cảnh với tinh thần lạc quan chiến thắng Nhật kỳ trong tù là một tập thơ nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nói lên những tâm tư, tình cảm, ý chí của người cách mạng trong lao tù. Cái mà Nhật ký trong tù thể hiện thành công nhất, khắc họa rõ nét hơn cả chính là hình ảnh người tù cách mạng – Hồ Chí Minh – không những dũng cảm chịu đựng hoàn cảnh sống khác loài người vô vàn cực khổ trong nhà tù tàn bạo mà còn vượt lên hoàn cảnh ấy với thái độ ung dung tự chủ, lạc quan chiến thắng. Sống trong lao tù, Bác đã phải chịu đựng bao gian khổ, bao nỗi cay đắng, đau xót của cuộc đời, tưởng chừng như đây không phải là cuộc sống của một con người nữa. Ấy thế mà Bác đã dũng cảm vượt qua tất cả là một điều kỳ diệu. Phải chăng điều đó chỉ có Người tù cách mạng — Hồ Chí Minh mới cổ đủ bản lĩnh để vượt qua. Bác đã từng phải chịu đựng những đêm dài cô đơn, lạnh lẽo với khổ ải đọa đày: Đêm thu không đệm cũng không chăn Gối quắp lưng còng ngủ chẳng an (Đêm thu) Rệp bò lổm ngổm như xe cóc, Muỗi lượn nghênh ngang tựa máy bay (Đêm thu) Nhật ký trong tù còn có những câu thơ thấm đượm nét chân thực, giản dị nhưng vô cùng sâu lắng thể hiện nỗi cực nhục mà Bác từng phải nếm trải: Lót lòng mỗi bữa lưng cơm đỏ Không muối không canh cũng chẳng cà (Cơm tù) Bốn tháng đêm không ngủ Bốn tháng áo không thay, Bốn tháng không giặt giũ (Bốn tháng rồi) Tưởng chừng như những điều này đến với một người bình thường chắc chắn sẽ không chịu đựng nổi. Nhưng Bác đã vượt qua và còn tiếp tục bỏ lại đằng sau những nỗi gian truân hơn nữa: Đầy mình đỏ tím như hoa gấm Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn. (Ghẻ lở) Ghẻ lở phát triển hoài thành những vết tím đỏ khắp người, rất ngứa ngáy khó chịu. Thế nhưng với bút pháp hài hước, hóm hỉnh, đọc bài thơ người đọc không cảm nhận cái gian khổ mà nổi bật cái ung dung tự chủ của Bác. Trong bài thơ Mới đến nhà lao Thiên Bảo, Bác viết: Áo mủ dầm mưa, rách hết giày Các bạn thấy đấy, Bác đã sống một cuộc sống tưởng như không thể sống. Vậy mà bằng nghị lực phi thường Bác đã vượt qua. Đâu chỉ có vậy, bọn tay sai Tưởng Giới Thạch đã đày Bác đi hết nhà lao này đến nhà lao khác khiến Bác phải đi bộ: Năm mươi ba cây số một ngày (Mới đến nhà lao Thiên Bảo) Bọn chúng còn tra tấn dã man khi giải Bác đi bằng thuyền: Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình. Nỗi vất vả gian nan của người đi đường mới thấm thìa làm sao qua những câu thơ trong bài Đi đường của Bác: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi tại núi cao trập trùng, Núi cao lên đến tận cùng… Vừa đi hết lớp núi này lại gặp ngay lớp núi khác, cứ thế… khó khăn chồng chất khó khăn, gian lao tiếp liền gian lao, khó khăn gian lao triền miên dường như bất tận, như những dãy núi này tiếp dãy núi khác, cứ tiếp nối trập trùng. Trong câu thơ chữ Hán, hai chữ trùng san được lặp lại để diễn tả những khó khăn như bất tận. Cực nhọc vất vả hơn, Người đi đường còn bị xiềng xích mất tự do: Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung (Đi Nam Ninh) Chốn lao tù, mọi sinh hoạt đều thiếu thốn, cơ cực, mọi sự đầy ải người tù đến kiệt sức nên hậu quả thật thương tâm. Hình ảnh Bác gầy gò lại tiều tụy: Răng rụng mất một chiếc Tóc bạc thèm mấy phần Ghẻ lở mọc đầy thân Bài thơ tả rất thực giúp ta hiểu chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch thật hà khắc, vô nhân đạo! Hành hạ người tù đến kiệt quệ, thê thảm. Rõ ràng, trải qua gian khổ, Bác vẫn dũng cảm vượt qua. Và cũng chính bằng lời thơ của mình, Bác đã thể hiện rất xuất sắc ý chí, tinh thần của người cách mạng. Đối với Bác, gian nan nguy hiểm chỉ là những trò chơi. Bác đón nhận những trò chơi ấy với thái độ ung dung, tự chủ, lạc quan chiến thắng. Cái ung dung đó chỉ có ở trong con người Bác Người cộng sản vĩ đại. Trong tư thế bị treo ngược, khổ sở vất vả nhưng Bác vẫn có cảm giác vững vàng, đàng hoàng để ngắm nhìn cảnh đẹp hai bên đường: Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình Làng xóm bên sông đông đúc thế, Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh (Giữa đường đáp thuyền đi Ưng Ninh) Điều này đã chứng tỏ tư thế làm chủ của Bác giữa thiên nhiên. Ngay cả khi bị xiềng xích, Bác vẫn có thể vui đùa, lạc quan được: (Đi Nam Ninh) Bác còn sử dụng những lời thơ thật dí dỏm, hài hước để tả ở tù của mình: Ăn cơm nhà nước, ở nhà công Lính tráng thay phiến đến trị tòng Non nước dạo chơi tùy sở thích Làm trai như thế cũng hào hùng (Pha trò) Người xưa ngắm trăng phải có rượu có hoa. Nhưng đối với Bác, việc thiếu rượu, hoa càng làm cho cuộc ngắm tràng trở nên thi vị Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đèm nay khó hững hờ Bác và trăng đã cùng làm cuộc vượt ngục để tìm đến nhau như đôi bạn tri âm, tri kỷ: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ (Ngắm trăng) Mặc dù vất vả nhưng Bác luôn giữ vững, luôn khẳng định ý chí của mình. Bác muốn thu vào tầm mắt, bao quát cảnh đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp kỳ vĩ, lớn lao của con người làm chủ, vượt lên hoàn cảnh, xác lập cho mình một tư thế: Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non (Đi đường) Bác luôn nghĩ những gian lao chính là môi trường rèn luyện thử thách, rèn luyện quyết tâm: Vật chất tuy đau khổ Không nao núng tinh thần. Ý chí, tinh thần của con người thật to lớn, nhất là khi đã vượt qua bao nguy nan, cực khổ, điều đó càng trở nên sáng, đẹp hơn. Qua Nhật ký trong tù, hình ảnh Bác đã đi sâu vào tâm trí mỗi người chúng ta. Đó là người chiến sĩ cộng sản — Hồ Chí Minh.
Chứng minh Bác luôn làm chủ hoàn cảnh với tinh thần lạc quan chiến thắng
1,122
Đề bài: Chứng minh bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của ta ( Lớp 7 trường THCS Thái Dương) Bài làm Trong cuộc sống đã có rất nhiều câu hỏi đặt ra tại sao phải bảo vệ rừng? Bảo vệ rừng để làm gì? Không có rừng thì có làm sao đâu? Có rừng thì bão vẫn kéo đến thì cần gì phải bảo vệ rừng? Những câu hỏi họ đặt ra họ không biết là trái lại những gì rừng đã mang lại. Học không biết là bảo vệ rừng là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta. Rừng luôn là một tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao. Rừng cho ta gỗ làm nhà, làm bàn ghế. Rừng là nơi ở của các loại chim thú. Đặc biệt là những loài chim thú quý hiếm. Là một địa điểm du lịch để mọi người khám phá. Rừng hút những khói bụi làm cho cuộc sống của chúng ta được trong lành. Nhưng do gần đây dân du chan du cư không hợp lý, đốt rừng làm nương rãy. Nay đốt đây mai đốt đó đã làm cho diện tích rừng bị giảm đi đáng kể. Ngoài ra còn lạn lâm tặc hoành hoành, chặt trộm rừng để lấy gỗ, riêng những năm 1991 đến 2001 số gỗ bắt được của bọn lâm tặc là 200.000 m3 thực ra con số đó còn lớn hơn nhiều. Còn do cháy rừng trong những ngày hè, hầu như năm nào cũng có. Việc chữa cháy khẩn cấp, nhưng do đám cháy rất lớn nên việc chữa cháy đã diễn ra hàng tuần, số rừng bị thiêu chui lên tới hàng trăm hecta. Nhưng người bảo vệ rừng đã sinh cả tính mạng để bảo vệ rừng. Nhưng những người phá rừng thì chỉ cho dó là chuyện thường. Họ không biết đến trồng được cánh rừng phải mất bao nhiêu công sức. Mà họ đã hủy hoại nó chỉ trong vài giờ. Họ không biết hay cố tình không để ý đến những hậu quả mà rừng gây ra là rất to lớn. Bị mất rừng đầu nguồn, con lũ sẽ kéo đến rất nhanh làm cho mọi người bị cuốn trôi, mất hết nhà cửa tài sản.Miền trung, là một vùng năm nào cũng sảy ra lũ lụt làm cuốn trôi lớp học, bản làng gây thiệt hại về người và của. Những người đốt rừng làm nương rãy thì làm cho đất bị bạc màu và thoái hóa khó có thể trồng trọt được nữa. Đất bị sạt nở và sỏi mòn. Những loài chim thú quý, không có nơi sống luôn có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Chứng minh bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của ta
452
Chứng minh bộ mặt thật của bọn quan lại phong kiến, cường hào, địa chủ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 có ba khuynh hướng văn học chính là văn học cách mạng, văn học lãng mạn và văn học hiện thực. Cùng với hai khuynh hướng kia, văn học hiện thực phát triển mạnh mẽ, mà tiêu biểu là các tác giả Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan và Ngô Tất Tố. Ba tác phẩm Sống chết mặc bay, Đồng hào có ma và Tắt đèn, tuy ra đời ở ba thời điểm khác nhau, nhưng chúng đã dựng lên một bức tranh sinh động về những bộ mặt thật của bọn quan lại, cường hào, địa chủ và tay sai. Trước hết, chúng ta hãy xem bản chất của bọn quan lại phong kiến thời bấy giờ là gì. Chúng trước tiên là những kẻ hay xu nịnh. Chúng ta thử hỏi xem những tên như quan phụ mẫu trong sống chết mặc bay, tên huyện Hinh trong Đồng hào có ma, tên quan phủ Tư Ân trong Tắt đèn, liệu có phải vì chúng có tài đức gì nên mới được làm quan? Không, chúng chỉ là những tên dùng thủ đoạn đút lót quan trên để có những chiếc ghế đó, để nhiễu dân, vơ vét của dân. Khi đã được yên vị, chúng vẫn luôn bợ đỡ, nịnh nọt những ông Tây để leo cao hơn, cao hơn. Có thể nói, chúng chỉ là những kẻ dốt nát, nhờ xu nịnh mà được leo cao làm quan. Bọn quan lại phong kiến cũng lại là những tên tàn ác vô lương tâm. Thì đấy “ông quan phụ mẫu” chính là như thế. Trong lúc nhân dân lo giữ đê để cứu làng, cứu mọi người, thì quan không lo làm trách nhiệm của quan là đốc thúc nhân dân, mà ung dung ngồi trong ngôi đình cao để chơi bài, ăn yến. Trong đó quan được kẻ dưới tâng bốc lên, rồi khi ù thì bọn kia (chỉ lũ hương lí, chân tay của quan) lại kêu lên: “Ngài giỏi thật”. Đến khi có người vào báo đê sắp vỡ, quan còn quát mắng kẻ đó phá niềm vui của “ngài” và đòi “cách cổ” hắn ta. Tệ hại hơn là quan còn thản nhiên, thậm chí vui vẻ, đúng vào lúc đê vỡ, khi “người sống không chỗ ở, người chết không chỗ chôn”, bởi khi ấy quan thắng ván bài. Cùng là người dân đất Việt, nhưng khi thấy đồng bào bị nạn, quan không mảy may xót thương, tấm lòng “phụ mẫu” đi đâu rồi? Như vậy chỉ bằng chi tiết đó, Phạm Duy Tốn đã đả kích mạnh mẽ cái sự vô lương tâm, cái tàn nhẫn đến mức không còn tính người của tên quan phụ mẫu và các loại người như hắn. Hắn mang danh là quan cha mẹ của dân, nhưng thực chất là sâu mọt chuyên đục khoét dân, còn tính mạng của dân thế nào thì quan thây kệ. Trong Tắt đèn chúng ta cũng thấy sự tàn nhẫn của bọn này. Mặc dù chúng không trực tiếp cầm roi, cầm gậy hành hạ dân, nhưng hành động của chúng còn độc ác hơn. Chúng đặt ra thuế khóa nặng nề, một phần để cung phụng quan Tây, quan trên, còn lại thì vơ vào túi. Chính những thứ thuế đó đã phá tan bao gia đình chị Dậu, làm cho bao kẻ sống dở chết dở như anh Dậu, và làm cho mẹ con li tán, như mẹ con chị Dậu. Bộ mặt người mà lòng lang dạ thú của chúng thật đáng đem ra vạch trần. Và các tác giả đã vẽ lên được bộ mặt thật của chúng thật sắc sảo, tài tình. Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. quả là đúng. Chúng ta thử trông vào huyện Hinh mà xem, tại sao ông ta “béo ơi là béo”? Chính là vì ông ta ăn bẩn! Tác giả đã tài tình làm sao khi dùng từ “ăn bẩn”. Đó là hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh đã bóc trần bộ mặt “cướp ngày” của hắn. Khi chị Nuôi đến công đường nhờ quan “đèn trời soi xét”, tìm cho ra kẻ trộm, nhưng lạ thay, quan ngồi yên như phỗng, và đến khi chị Nuôi vì sợ mà đánh rơi tiền, quan bỗng cử động. Đấy là cử động lấy chân giẫm lên đồng hào đôi của chị Nuôi. Thành ra chị không đủ một đồng lệ phí trình quan, đành ra về. Có thể chị biết “con ma” lấy tiền của chị đấy, nhưng dám làm gì? Bởi vậy màn kịch câm cuối câu chuyện này là một màn kịch thật xuất sắc. Nó đã lột trần bộ mặt “cướp ngày” một cách hèn hạ, bẩn thỉu của bọn quan lại bấy giờ. Và nét cuối cùng trong bộ mặt thật của bọn quan lại mà các tác giả đã vẽ lên chính là sự dâm ô của chúng. Trong tác phẩm Tắt đèn, chúng ta biết đã có lúc chị Dậu bị bắt lên phủ vì tội “chống lại người nhà nước” là bọn tay sai của quan. Và trong lần đó, tên quan phủ Tư Ân đã lợi dụng cảnh ngộ của chị, bắt chị vào phòng hắn. Nhân lúc vợ vắng nhà, hắn định cưỡng hiếp chị. Mặc dù kết thúc cảnh đó là chị Dậu thoát được, nhưng bộ mặt dâm ô của hắn vẫn còn ghi rõ trong từng chữ của Ngô Tất Tố. Thế nhưng tránh lần này chị Dậu vấp phải lần khác. Đó là một đêm “tắt đèn”, vào cái dạo chị đi ở vú cho nhà quan tỉnh, quan cụ đã mò vào phòng chị và giở trò bỉ ổi. Loại người thứ hai đáng lên án trong các tác phẩm này là bọn địa chủ cường hào. về loại nhân vật này, không ai miêu tả tài tình bằng Ngô Tất Tố. Điển hình cho loại người này là vợ chồng Nghị Quế. Bọn này trước hết mang bản tính hách dịch. Chị Dậu vào nhà Nghị Quế để nói chuyện bán con, chúng cứ để cho lũ chó xông ra cắn chị. Thái độ thờ ơ như thế lại tiếp tục cho đến khi chị Dậu gặp mặt chúng. Chị quỳ ở cửa, còn bọn chúng thản nhiên lau mồm lau mép. Rồi đến khi vào việc trao đổi, Nghị Quế cậy quyền cậy thế, nói với chị Dậu mà như quát với súc vật. Chúng ta phải nói vậy vì từ lúc chị vào nhà hắn, hắn đâu có coi chị là con người. Thái độ đáng ghét của bọn địa chủ như Nghị Quế đã được Ngô Tất Tố vạch trần. Và không chỉ thế, chúng còn là loại người độc ác, tàn nhẫn. Chúng giàu nứt đố đổ vách mà chỉ có hơn hai đồng bạc chúng đã bắt chị Dậu đổi bằng chính đứa con của chị và cả một đàn chó mới đẻ. Rồi khi đã có được đứa ở mới là con chị Dậu, chúng bắt em phải bốc cơm của chó mà ăn ngay trước mặt mẹ em. Chúng nhẫn tâm hành hạ một đứa trẻ và một người mẹ đã phải rứt ruột bán con. Có lẽ, mỗi dòng chữ Ngô Tất Tố viết ra là một nỗi căm giận hòa cùng nước mắt. Tóm lại, bọn địa chủ cường hào cũng lại là những kẻ điển hình cho loại người độc ác vô lương tâm và vô cùng hống hách. Cuối cùng loại người thứ ba mà các tác giả đã dựng lên trong bức tranh xã hội là bọn tay sai. Bọn tay sai này cũng gian ác không kém gì chủ của chúng. Trong Tất đèn của Ngô Tất Tố, tội ác do chúng gây ra không phải là ít. Chúng vào từng nhà dân, quát tháo ầm ĩ để đốc thúc dân nộp thuế. Nhà nào không đủ thuế thì chúng bắt người đem về hành hạ. Anh Dậu cũng chỉ vì một suất sưu mà bị chúng đánh cho sống mà chỉ còn như một xác chết. Hành hạ một con người ốm đau đến như thế chỉ có bọn lang sói đội lốt người mới đang tâm làm. Đánh đập người ta đến khi moi được suất sưu rồi chúng vẫn chưa hài lòng. Chúng còn đòi anh phải đương đầu với một thảm họa tiếp: nộp SƯU cho người em đã chết! Mặc dầu anh vừa mới tỉnh dậy sau những trận đòn trước, chúng vẫn sấn vào bắt trói anh, bỏ ngoài tai tất cả những lời van xin thảm thiết của vợ con người ta. Rồi chúng còn đánh cả một người phụ nữ thân cô thế cô. Chúng tát vào mặt chị Dậu, bịch mấy cái vào ngực chị. Hành động thô lỗ, cục cằn mà ác độc đó thử hỏi người thường có ai làm được, nếu không phải là loài cầm thú. Giống như quan thầy của chúng, bọn tay sai này cũng ăn “cướp ngày” như ranh. Chị Nuôi, người đàn bà nghèo kiết xác, đến công đường, chúng cũng bắt đưa tiền, không đưa thì chắc chắn là ở ngoài cổng. Đưa rồi cũng chưa chắc được việc. Bằng chứng là chị Nuôi đưa tiền rồi lỉnh mất! Bản chất tráo trở, lừa lọc của chúng, tuy chỉ đươc vẽ qua bằng vài nét như vậy, nhưng cũng đủ cho thấy chúng thật đáng nguyền rủa. Tags:Văn 8
Chứng minh bộ mặt thật của bọn quan lại phong kiến, cường hào, địa chủ – Đề và văn mẫu 8
1,621
Chứng minh ca dao là lời hát tâm tình là bài ca về tình yêu quê hương đất nước của người lao động Hướng dẫn Chứng minh ca dao là lời hát tâm tình là bài ca về tình yêu quê hương đất nước của người lao động Ca dao là lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước. Em hãy chứng minh ý kiến trên. Ai trong chúng ta lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất quê hương cũng đều cảm nhận được cái hay cái đẹp của Văn học dân gian ngay từ lúc còn nằm trong nôi qua lời ru của mẹ. Vì vậy, có ý kiến nhận định rằng: “Ca dao và lời hát tâm tình của người lao động, là bài ca về tình yêu quê hương đất nước”. Trải qua bốn nghìn năm lịch sử, chúng ta nhận thức được cái đẹp, cái toàn mĩ bằng tất cả trái tim nhân hậu của mình. Rất mộc mạc và chân tình tha thiết đến xốn xang. Ta hãy nghe nỗi lòng người đi xa nhớ quê hương! Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Tình yêu quê hương đất nước trong ca dao đơn sơ nhưng đậm đà. Đây là bức tranh thủy mạc. Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Niềm tự hào về non sông đất nước được khơi gợi từ những địa danh ngọt ngào. Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc xem đền Ngọc Sơn Đài nghiên tháp bút chưa mòn Hỏi ai xây dựng nên non nước này? Một cung đàn gảy lên đôi khi còn chùng phím, nhưng sao mỗi bài ca dao đều đem đến cho ta những tình cảm ấm áp và trìu mến lạ kì. Tất cả như một bản đồng ca trỗi lên từ mỗi tâm hồn yêu nước gắn bó với quê hương của mình. Đọc nó ta như bắt gặp lại chính mình trong nhạc điệu rộn ràng bất tử của quê hương, Tất cả như đánh thức trong ta thứ tình cảm mơ hồ nhưng chợt bùng lên như đánh thức ngọn lửa. Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương. Mịt mù khỏi tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ Sẽ chẳng thể nào quên được những “cành trúc” gió đưa nhẹ nhàng trong gió, tiếng chuông ngân nga vang vọng trong khoảng không tĩnh mịch “mặt nước” hồ lăng đang sương mù mơ hồ huyền diệu. Cảnh đẹp ở miền Nam không mang vẻ cổ kính như Huế cũng chẳng tĩnh lặng như bức tranh Tây Hồ, mà ở đây, dường như sống động hơn. “Nhà Bè nước chảy chia hai Ai về Gia Định Đồng Nai thì về” Câu ca dao như tiếng gọi của chính quê hương, níu bước chân người ra đi, mời đón kẻ trở về, đất mẹ mở rộng vòng tay đón những đứa con. Từ xa xôi một lần được trở lại quê hương, hay được viếng thăm một miền đất “ngỡ lạ mà quen” ta chợt thấy tâm hồn mình như trải dài với bao tình cảm dạt dào tha thiết nhất. Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm Cũng một cánh cò trắng, chao liệng trên một khoảng không rộng mở, nhưng thấm vào ta một cảm giác mạnh mẽ mà rạo rực trước sự giàu đẹp của mảnh đất nổi tiếng miền Tây Nam bộ . Đến với ca dao là đến với tâm hồn Việt Nam, với trái tim Việt Nam. Một quê hương Việt Nam với những cánh cò bay, dòng sông lặng lờ trôi, hoa bưởi trắng những đêm soi bóng nước, hay chiếc đò như khúc nước, chiếc cầu tre lắt lẻo chênh vênh. Dường như mọi cảnh đẹp mà bình dị. Nhưng văn học khác với hội họa hay âm nhạc nhờ ngôn ngữ rất riêng và độc đáo. Văn học còn thể hiện những khía cạnh khác, lột tả một chiều sâu, chiều rộng trong cuộc sống mà các nghệ thuật khác không thể thay thế. Chính vì vậy mà sức tồn tại của Văn học luôn được ví như một tòa nhà vững chắc cùng với thơ ca, ca dao cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định sự giàu đẹp của quê hương. Nó không chỉ khái quát một vẻ đẹp đơn thuần mà từ đó đi sâu vào cuộc sống, đến với tâm hồn của mỗi con người. Chẳng khó hiểu nếu như nói ca dao chính là cái nền vững chắc cho Văn học từ đó đi lên, cuộc sống đời thường và cuộc sống tình cảm của con người luôn hòa quyện sóng đôi. Đến với cuộc sống là câu ca dao đã đi đến với con người. Câu hát của người lao động luôn vang lên qua từng câu tha thiết: Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần Có đổ giọt mồ hôi để làm ra vật chất, người ta mới thấu hiểu được giá trị của sức lao động. Và từ đó biết trân trọng thành quả do mình hay người khác làm ra. Câu ca dao làm ta sực nhớ đến bài học ngày còn tấm bé: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Nhung những lời tâm sự của người phụ nữ dưới thời phong kiến khắc nghiệt vẫn là những nỗi đau làm ta bật khóc. Em như con hạc đẩu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay Câu ca dao làm ta nhớ đến lời trách móc của người con gái đồng thời cũng tâm sự về số phận của mình. Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lòng như cá cắn câu Cá Cắn câu biết đâu mà gờ Chim vào lồng biết thuở nào ra Lễ giáo phong kiến tập tục khắc nghiệt là những gọng kềm trói chặt người phụ nữ. Thân em như tấm lụa đào Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai Hay Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt, ra luống cày Gắn bó với quê hương, cuộc sống con người trang trải với ruộng vườn cảnh vật “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Một lần nữa người nông dân lại bày tỏ tâm tư của mình thông qua chú trâu người bạn gắn liền với nhà nông, với cuộc sống của họ: Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn Một cuộc sống ấm no là niềm mơ ước của người lao động, ước mơ giản dị mà hồn hậu vẫn để lại trong tâm hồn ta một cảm xúc đẹp. Đó là mơ ước đời thường xuất phát từ tình yêu cuộc sống lao động. Trải qua bao khó khăn thử thách và gian nan con người càng trân trọng hơn sự yên bình. Một hạnh phúc bình dị mà họ mong chờ. Một ngôi nhà, một đồng ruộng, một con trâu và trên cả là một chút bâng khuâng của thứ tình cảm ngọt ngào. Câu hát tâm tình của chàng trai cô gái rất tế nhị mà đáng yêu: Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào Thật tinh tế, mộc mạc mà đằm thắm. Tình yêu của họ làm đẹp thêm ngôn ngữ Ca dao và ca dao góp phần làm đẹp cuộc sống. Tất cả đều rộng mở và dâng tặng cho đời.
Chứng minh ca dao là lời hát tâm tình là bài ca về tình yêu quê hương đất nước của người lao động
1,275