text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Hình ảnh người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu Hướng dẫn Hình ảnh người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và của văn học Việt Nam thời trung đại nói chung. Với tác phẩm này, Nguyễn Đình Chiểu được xem là người đầu tiên đưa hình ảnh người nghĩa sĩ thành hình tượng trung tâm trong văn học viết của dân tộc. Bài văn tế được tác giả viết để tưởng nhớ những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đánh Pháp ở Cần Giuộc trên đất Gia Định. Bài văn tế được viết theo thể phú Đường luật, bố cục gồm bốn phần: Lung khởi, thích thực, ai vãn và kết: Phần một: Lung khởi (từ đầu đến “tiếng vang như mõ”): Cảm tưởng khái quát về những nghĩa sĩ nông dân hi sinh trong trận Cần Giuộc. Phần hai: Thích thực (từ “Nhớ linh xưa” đến “tàu đồng súng nổ”): Hồi tưởng về cuộc đời người nghĩa sĩ. Phần ba: Ai vãn (từ “Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng” đến “dật dờ trước ngõ”): Than tiếc các nghĩa sĩ Phần bốn: Kết (phần còn lại): Tình cảm xót thương của người đứng tế với linh hồn người chết. Trong bài văn tế, chỉ cần câu mở đầu thôi “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ” đã thể hiện được tư tưởng của toàn bộ bài văn. Đáng lẽ ra, khi giặc nổ súng xâm lược nước ta thì phải có phản ứng của triều đình nhưng ở đây ta chỉ thấy “lòng dân” đương đầu với quân thù. Từ đó, cho ta thấy chủ đề khái quát của tác phẩm là sự ca ngợi tấm gương hi sinh tự nguyện của những nghĩa binh với tấm lòng yêu nước sâu sắc. Trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ta thấy hình tượng người nghĩa sĩ nông dân hiện lên với một vẻ đẹp bình dị. Họ chỉ là những người nông dân bình thường, chất phác: “chẳng qua là dân ấp, dân lân”, “ngoài cật có một manh áo vải”, “trong tay cầm một ngọn tầm vông”, “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”. Việc nhấn mạnh cái gốc nông dân của người nghĩa sĩ được xem là một nét mới so với thời kì văn học trung đại, với điều này Nguyễn Đình Chiểu đã đưa được hình tượng người nông dân đánh giặc bước vào những trang văn của mình. Những người nông dân bình dị ấy, khi có thực dân Pháp xâm lược họ bỗng trở thành những người lính, vậy điều gì đã thôi thúc họ đó chính là ý thức dân tộc, tình cảm sâu nặng với quê hương đất nước. Qua những trang viết của Nguyễn Đình Chiểu, ta nhận thấy đang có một sự chuyển biến trong con người những nghĩa sĩ nông dân ấy. Từ những người nông dân hiền lành, chất phác “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”, “việc cày, việc cuốc, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”, nhưng họ có một lòng yêu nước sâu sắc: “tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa, mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”. Tình yêu đối với quê hương đất nước là lớn lao như vậy, chính vì thế họ luôn sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn. Lối sống của người nông dân Nam Bộ thật đơn giản mà sâu sắc, quyết liệt, không có lòng yêu nước đến mức lớn lao như vậy thì Nguyễn Đình Chiểu làm sao có thể tìm thấy nét dũng cảm, kiên cường, dám xả thân vì nước của những người nông dân: “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ”, “chi nhọc quan quản gióng trống kì, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”, “kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt, tàu đồng súng nổ”. Người đọc như tưởng tượng ra được một chiến trận với những âm thanh vang động, những động tác quyết liệt với một không khí gấp gáp, khẩn trương. Qua đây, ta thấy được tấm lòng của tác giả được dồn hết vào những trang văn bởi với một nhà thơ mù để viết được những trang viết giàu tính hiện thực như thế thì cần cả một tấm lòng cao cả. Qua bài văn tế, tác giả bộc lộ niềm tự hào về tinh thần yêu nước cũng như khí phách của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc, đồng thời bày tỏ niềm cảm phục và xót thương đối với họ. Đây là một trong những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Đình Chiểu, một khúc ca bi tráng về những người anh hùng tuy thất trận nhưng vẫn chiến thắng trong lòng mọi người và chính bản thân họ.
Hình ảnh người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
934
Hình ảnh người thầy trong truyện Người thầy đầu tiên – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Ai đã từng một lần “rụt rè núp dưới nón mẹ trong lần đầu tiên đi đến trường với lòng tưng bừng rộn rã giữa một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh? Tuổi bé thơ đã đi qua mấy năm rồi, nhưng đâu dễ quên? Và những ai đó lần đầu tiên được đi học “Bình dân học vụ” sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, hạnh phúc biết bao được “sáng mắt sáng lòng!” Có thể nói, phần đông trong chúng ta, ai cũng lưu giữ trong tâm hồn mình hình ảnh tuyệt đẹp về một người thầy mà không bao giờ có thể phai mờ được. “Các em cứ gọi ta là thầy, các em có muốn xem trường không?Vào đây, các em đừng ngại gì cả…?. Đó là tiếng nói của thầy Đuy-sen, một Đoàn viên Thanh niên Cộng sản, với trái tim yêu thương mênh mông, với nhiệt tình say mê đã đem ánh sáng Cách mạng tháng Mười Nga đến với tuổi thơ miền núi hẻo lánh xa xôi. Thầy Đuy-sen và cô học trò người dân tộc An-tư-nai bé bỏng, tội nghiệp hiện lên trên trang văn trong sáng, nhẹ nhàng của Ai-ma-tốp đã để lại bao rung động bồi hồi trong lòng ta một thời cắp sách. “Người thầy đầu tiên” là một truyện ngắn xuất sắc của Ai-ma-tôp kể về thầy giáo Đuy-sen qua hồi ức bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-na, vốn là học trò trước đây của thầy Đuy-sen. Hình ảnh một người thầy tuyệt đẹp và đáng kính là cảm nhận sâu sắc nhất của mỗi chúng ta khi đọc truyện ngắn này. Khi đến vùng núi quê hương của cô bé An-tư-nai. Thầy Đuy-sen còn trẻ lắm. Học vấn của thầy lúc đó chưa cao, nhưng trái tim thầy dạt dào tình nhân ái và sôi sục nhiệt tình cách mạng. Một mình thầy lao động hằng tháng trời, phạt cỏ, trát lại vách, sửa cánh cửa, quét dọn cái sân…, biến cái chuồng ngựa của phú nông hoang phế đã lâu ngày thành một cái trường khiêm tốn nằm bên hẻm núi, cạnh con đường vào cái làng nhỏ của người Kir-ghi-di, vùng Trung Á nghèo nàn lạc hậu. Khi An-tư-nai và các bạn nhỏ đến thăm trường với bao tò mò “xem thử thầy giáo đang làm gì, ở đấy cũng hay” thì thấy thầy “từ trong cửa bước ra, người bê bết đất”. Thầy Đuy-sen “mỉm cười, niềm nở” quệt mồ hôi trên mặt, rồi ôn tồn hỏi: “Đi đâu về thế, các em gái”. Trước các “vị khách” nhỏ tuổi, thầy hiền hậu nói: “Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xọng đến nơi rồi…? Thầy Đuy-sen quả là có tài, giàu kinh nghiệm sư phạm. Chỉ sau một vài phút gặp gỡ, vài câu nói nhẹ nhàng, thầy đã chiếm lĩnh tâm hồn tuổi thơ. Thầy đã khơi dậy trong lòng các em nhỏ người miền núi niềm khao khát được đi học. Với An-tư-nai, thầy nhìn thấu tâm can em, cảm thông cảnh ngộ mồ côi của em, thầy an ủi và khen em một cách chân tình: “An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không?”. Câu nói ấy cùng với nụ cười hiền hậu của Đuy-sen đã khiến cho cô gái dân tộc thiểu số bé nhỏ, bất hạnh “thấy lòng ấm hẳn lại”. Trước khi thầy đi lấy rạ khô, lúc tiễn các em nhỏ ra về, thầy nhẹ nhàng uốn nắn, thầy mời mọc ân cần. Các em nhỏ ra về mà cảm thấy yêu mến thầy, gắn bó với thầy và ngôi trường nhỏ của làng quê thân yêu. Hơn 30 năm sau, An-tư-nai đã thành đạt mà tâm hồn cô vẫn còn nghe tiếng nói nhỏ nhẹ củạ Đuy-sen: “Các em cứ gọi ta là thầy. Các em có muốn xem trường không? Vào đây, các em đừng ngại gì cả?”. Đuy-sen là người thầy đầu tiên, người thầy khai tâm khai sáng cho An-tư- nai. Thầy hiền hậu, thầy yêu thương tuổi thơ. Thầy đã đốt cháy lên trong lòng các em ngọn lửa nhiệt tình khát vọng và khát vọng đi học. Đuy-sen là hình ảnh tuyệt đẹp của một ông thầy tuổi thơ. Con đường tuổi trẻ là con đường học hành. Trên con đường đầy nắng đẹp ấy, anh chị và mỗi chúng ta sẽ được dìu dắt qua nhiều thầy, cô giáo. Cũng như An-tư-nai, trong tâm hồn mỗi chúng ta luôn luôn chói ngời những người thầy, những Đuy-sen cao đẹp. An-tư-nai – cô học trò bé nhỏ đáng thương và đáng yêu vô cùng. Mồ côi mẹ, ở với chú thím, cô phải làm quần quật suốt ngày. Ăn mặc tồi tàn, rách rưới “gấu váy thủng hở một mảng đầu gối”. Điều đau khổ, bất hạnh nhất trong cuộc đời ấu thơ của em là thiếu tình thương. Mỗi bát cơm phải đổi nhiều nước mắt, luôn luôn bị người thím độc ác, tàn nhẫn đánh chửi. Chỉ một bao “ki-giắc” (phân gia súc khô) mà em bị mụ ta “đánh vào đầu”. Mụ đay nghiến, chửi rửa: “Quân không cha không mẹ! Chó sói có bao giờ lại thành chó nhà được!… Muốn xem trường thì rồi tao sẽ cho xem, mày cứ còn bén mảng đến gần đấy là tao đánh què cẳng đi. Tao sẽ làm cho mày nhớ đời cái trường ấy…”. Nếu thầy Đuy- sen đã khơi dậy trong lòng An-tư-nai tình yêu thương, lòng khao khát học tập thì mụ thím tồi tệ làm em đau khổ, tan nát cả lòng, chìm đắm trong lo âu, ngồi thui thủi một mình trong xó bếp “lặng lẽ khóc vụng”. Em “không khóc vì những đòn thím đánh” vì em đã quen rồi, mà em chỉ khóc vì “hiểu rằng thím tôi không đời nào chịu cho tôi đi học”. Qua đó ta càng thấy rõ: bị thất học là nỗi đau khổ, bất hạnh lớn nhất của tuổi thơ! Ra khỏi trường, An-tư-nai vòng quay lại một mình, em đổ bao ki-giắc của mình vào kho đựng chất đốt. Trời đã chiều, em vội vã quay lại “cắm đầu chạy men theo các khe rãnh, các hẻm đá ở chân núi nhặt ki giắc”. Mấy chục năm sau khi trở thành viện sĩ, An-tư-nai “vẫn không hiểu hôm ấy cái gì xui khiến tôi dám làm một việc như thế”. Từng nếm trải nhiều đau khổ tủi nhục, bị mắng chửi, bị tạt tai, mọi ước nguyện mọi ý muôn của tuổi xuân “òị chôn vùi”, nên cô bé An-tư-nai “muốn làm một việc gì để cám ơn con người thật ra không quen biết ấy, để đền đáp lại nụ cười đã sưởi ấm lòng tôi, đền đáp lòng tin cậy, đền đáp mấy câu nói nhân từ ấy”. Với tâm hồn trong sáng của tuổi thơ, An-tư-nai vừa nhặt ki-giắc vừa thấy trái tim mình “sung sướng đập rộn rã”. Mặt trời đã gác núi, mặt trời như chia vui, như đồng cảm san sẻ với em: “Và mặt trời cũng biết rõ vì đâu tôi sung sướng đến thê’!”. Cô bé cảm thấy tự hào vì “đã làm được một việc nhỏ hữu ích”. Con người nhỏ bé An-tư-nai như đã có một bước nhảy vọt về mặt tính cách. Từ chỗ em muôn đền ơn con người xa lạ đã săn sóc, quý mến mình đến chỗ tự giác thấy mình phải làm được một việc nhỏ hữu ích. Ai-ma-tốp đã lấy hình tượng “mặt trời” để miêu tả những rung động, những biến thái trong tâm hồn cô gái nhỏ bé người dân tộc Kir-ghi-di. Hình tượng “mặt trời” ở đây còn mang ý nghĩa như một biểu tượng nhằm ca ngợi ánh sáng Cách mạng tháng Mười đã chiếu rọi tỏa sáng vùng núi rừng lạc hậu Cư-gơ-rư-xtan, đem đến sự thức tỉnh và đổi đời trong lòng nhân dân các dân tộc mà An-tư-nai là một điển hình cảm động. “Mặt trời đã xế bóng ngang các sườn đồi, nhưng tôi cảm thấy hình như còn chần chừ không muốn lặn, còn muốn nhìn tôi. Ánh mặt trời tô điểm con đường tôi đi: mặt đất rắn mùa thu trải ra dưới chân tôi nhuộm thành màu đỏ, màu hồng, màụ tím. Từng cụm bông lau khô vun vút bay hai bên như những tia lửa lập lòe. Mặt trời dọi lửa lên những chiếc cúc mạ bạc trên tấm áo đầy mụn vá tôi mặc”. Tình thương của người thầy, mái trường vẫy gọi ánh sáng cách mạng đã lay tỉnh mọi cuộc đời, từ bóng tối vươn ra ánh sáng. Như con chim sổ lồng cất tiếng hót, An-tư-nai cũng vậy, cô vừa chạy vừa reo với đất trời, với gió mây: “Hãy nhìn tôi đây! Hãy nhìn tôi đang kiêu hãnh chừng nào! Tôi sẽ học hành, tôi sẽ đến trường và sẽ dẫn cả các bạn khác đến!”. An-tư-nai như được truyền thêm sức mạnh để vượt qua thử thách, để đến với mái trường tuổi thơ cùng các bạn. Con đường đến với mái trường, con đường đi học của An-tư-nai cũng là con đường đi tới ánh sáng cách mạng và hạnh phúc. Ai-ma-tốp đã viết nên một truyện ngắn dưới dạng hồi ức chân thực, cảm động. Hình ảnh Đuy-sen – người thầy đầu tiên và hình ảnh An-tư-nai, cô bé mồ côi khát khao được đi học, được tác giả nói đến với tất cả sự ca ngợi, với niềm thương mến bao la. Người thầy trong truyện ngắn là người thầy của tình thương đến với tuổi thơ, đem ánh sáng cách mạng làm thay đổi mọi cuộc đời. Ngọn lửa tình thương như tỏa sáng trang văn Ai-ma-tốp, mãi mãi làm ấm áp lòng người. Thầy Đuy-sen càng trở nên gần gũi trong niềm thương mến của tuổi thơ chúng ta. Tags:Văn 8
Hình ảnh người thầy trong truyện Người thầy đầu tiên – Đề và văn mẫu 8
1,696
Hình ảnh nhân vật người chồng vũ phu trong Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu Hướng dẫn Nhân vật người đàn ông xuất hiện không nhiều nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm trong tâm trí người đọc. Cuộc sống đói nghèo, vất vả, quẩn quanh với bao nhiêu lo toan cực nhọc đã biến “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” thành một người chồng vũ phu, một lão đàn ông độc ác. Cứ lúc nào thấy khổ quá, bế tắc quá thì lão lại đánh vợ. Lão đánh như để giải tỏa vất ức, để trút cho sạch nỗi buồn phiền trong cuộc sống. Lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà. Nguyên nhân trực tiếp của tình trạng bạo lực trong gia đình hàng chài là do sự tăm tối và thói vũ phu của người đàn ông. Nhưng nguyên nhân xâu xa hơn đó chính là tình trạng đói nghèo. Xa hơn nữa là đời sống bấp bênh kéo dài gây ra tâm lí bế tắc, u uất. Cũng chính vì thế mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nhìn nhận người đàn ông “ mái tóc tổ quạ” chân chữ bát, “hai con mắt đầy vẻ độc dữ” vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho những người thân của mình, lại vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Nguyễn Minh Châu lại miêu tả cảnh lão đàn ông vũ phu đánh vợ thường xuyên ở bãi xe tăng hỏng. Phải chăng qua hình ảnh này, tác giả muốn nhấn mạnh cuộc chiến đấu chống đói nghèo tăm tối còn gian nan hơn cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Chừng nào chưa thoát khỏi sự đói nghèo thì chừng đó con người còn phải chung sống với cái xấu, cái ác. Thói vũ phu của người đàn ông miền biển được nhà văn Nguyễn Minh Châu đặt dưới những góc nhìn phán xét rất khác nhau. Đẩu nhìn dưới góc độ luật pháp. Phùng nhìn dưới góc độ lí lịch, thành phần (lão ta trước thời 75 có đi lính Ngụy không? ). Phát nhìn với con mắt trẻ thơ, thương mẹ và căm ghét bố. Còn với người đàn bà là cái nhìn thương xót, thấu hiểu! Đây cũng là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu đối thoại với bạn đọc. Ông đưa con người vào cái khung đời sống nhiều chiều, dân chủ hóa mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng; khơi gợi, nêu vấn đề để bàn bạc chứ không áp đặt chân lí cho người đọc. Bài viết liên quan: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa
Hình ảnh nhân vật người chồng vũ phu trong Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu
461
Hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích truyện những ngôi sao xa xôi Đề bài: Hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. 1. Yêu cầu – Viết bài nghị luận (mặc dù không có từ ngữ trực tiếp nêu yêu cầu về dạng bài). – Bài viết về một nhóm nhân vật trong tác phẩm, do đó cần làm rõ nét riêng và chung của các nhân vật. – Đề bài không đưa ra nhận xét về nhân vật, cần tự xác định nội dung trình bày trong bài. 2. Gợi ý – Cần đọc kĩ và nắm vững tác phẩm trước khi làm bài. – Đặt câu hỏi tìm nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác phẩm. – Đặt câu hỏi để phát hiện điểm giống nhau về tính cách của ba nhân vật. Tìm dẫn chứng minh hoạ cho những điểm này: + Điểm giống nhau của họ là gì? + Điểm khác nhaụ của họ là gì? Chú ý sắp xếp các ý tìm được thành hệ thống luận điểm. Từ ba nhân vật nữ thanh niên xung phong trong tác phẩm, nêu nhận xét khái quát về thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. 3. Lập dàn ý a. Mở bài – Giới thiệu tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. – Giới thiệu chung về ba cô gái trong tổ trinh sát mặt đường. b. Thân bài – Nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác phẩm Câu chuyện kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật xưng “tôi” là một cô gái Hà Nội, tự kể về mình và các bạn. Nhân vật vừa kể sự việc vừa bộc lộ súy nghĩ cảm xúc nên câu chuyện chân thực, mềm mại, dễ gợi cảm xúc cho người đọc. – Phân tích chung ba nhân vật – Họ đều rất trẻ, dễ xúc động, mơ mộng Cùng thích ca hát, thích làm đẹp cho cuộc sống. Có tinh thần trách nhiệm cao, dũng cảm và rất gắn bó yêu thương nhau. – Thế nhưng mỗi người vẫn giữ được nét cá tính riêng của mỗi người: Phân tích nhân vật Phương Định Trong gian khó vẫn giữ được nét đẹp tâm hồn của cô gái Hà Nội. Dũng cảm trong chiến đấu. c. Kết bài: Kể về ba nữ thanh niên xung phong nhưng tác phẩm cho ta hiểu về những nữ thanh niên xung phong thời kì chống Mĩ cứu nước, về thế hệ trẻ Việt Nam… Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi là tác phẩm của nhà văn Lê Minh Khuê – một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Tác phẩm là bức tranh hiện thực về cuộc sống chiến đấu, từ đó nêu lên vẻ đẹp trong sáng của ba cô gái ở tổ trinh sát mặt đường trong kháng chiến chống Mĩ. Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, tác giả để cho nhân vật xưng “tôi” kể về mình và đồng đội. Việc lựa chọn ngôi kể cũng góp phần làm nên thành công cho câu chuyện. Nhân vât vừa bộc lộ được những suy nghĩ cảm xúc của mình, vừa miêu tả những điều đang diễn ra, góp phần tạo nên một câu chuyện chân thực, mềm mại gợi nhiều xúc cảm cho người đọc. Tổ trinh sát mặt đường có ba cô gái là Phương Định, Nho, Thao. Họ còn rất trẻ, nhiều mơ mộng. Công việc chính của các cô là “đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” – rất nguy hiểm và đòi hỏi ý chí cao. Nhưng ba cô gái ấy luôn hoàn thành tốt công việc. Công việc không hề đơn giản chút nào, luôn phải chạy trên cao điểm suốt cả ngày. Đôi lúc bị bom vùi về chỉ nhìn thấy hai con mắt lấp lánh, những lúc ấy họ thường gọi nhau bằng cái tên rất ngộ nghĩnh “những con quỷ mắt đen”. Bất chấp những khó khăn của công việc họ vẫn tìm được cho mình những niềm vui, lấp đi nỗi buồn khi nhớ về gia đình, bạn bè. Say mê ca hát, làm đẹp cho cuộc sống. Họ cũng giống như nhiều cô gái tuổi mới lớn khác. Mặc dù sống trong chiến tranh với những hiểm nguy luôn rình rập nhưng họ vẫn yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp. Và trong công việc họ là những người có tinh thần trách nhiệm, có lòng dũng cảm, không ngại hi sinh thân mình. Một ngày của các cô gái trẻ thường kết thúc khi “phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần”. Với họ công việc không đơn giản là nhiệm vụ nữa, mà nó đã ăn sâu vào tâm trí, như một điều gì đó không thể thiếu. Hình ảnh Phương Định và Thao moi đất bế Nho lên khi hầm bị sập thật cảm động. Ở một nơi nguy hiểm, cái chết luôn cận kề nhưng trong họ vẫn có tình đồng đội thắm thiết, hơn thế nữa đó còn là tình chị em gắn bó trong một gia đình. Cùng chung sống với nhau, nhưng ở mỗi người vẫn bộc lộ những tính cách riêng biệt. Thao là chị cả của nhóm, là người chỉ huy công việc. Không hiểu có phải vì lí do này hay không mà trong tác phẩm cô luôn hiện ra với vẻ bề ngoài cứng rắn, xử lí công việc một cách cương quyết, táo bạo. Có lỗ, do chị là người lớn tuổi nhất trong nhóm nên suy nghĩ có phần thiết thực và những dự tính về tương lai rõ ràng hơn. Nhưng ẩn chứa sau vẻ cứng cỏi là trái tim giàu tình cảm. Chị luôn giành những công việc khó khăn về mình. Sở thích của chị thật giản dị, lúc rảnh rỗi chị thích chép lời bài hát, thậm chí chép cả những lời tự bịa ra. Qua nhân vật Thao, ta cũng thấy rõ được những khát khao trong công việc và những rung động của tuổi trẻ thời kháng chiến.. Không trầm tư như Thao, Nho là một cô gái hồn nhiên, thích được ăn kẹo, trắng trẻo và có vóc người nhỏ bé. Những hình ảnh trên cho người đọc hình dung ra một cô gái rất đáng yêu và vô tư. Nhưng trái lại Nho rất dũng cảm trong công việc. Đó là khi Nho bị thương, mọi người thì rất lo, còn Nho lại nói: “Không chết đâu, đơn vị đang làm đường kia mà. Việc gì khiến mọi người lo lắng”. Cả ba nhân vật đều cho người đọc những cảm nhận riêng. Nhưng có lẽ, để lại ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi cũng như đa số người đọc tác phẩm là cô gái tên Phương Định. Là con gái Hà Nội, Định tự nhận là “một cô gái khá” với đôi mắt mà các anh lái xe thường nói: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”. Định có ý thức về mình, biết được có nhiều anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm hoặc đơn giản là “viết những thư dài gửi đường dây, làm như ở cách xa hàng nghìn cây số”. Cô thấy vui vì mình được các anh yêu quý, nhưng với sự kín đáo của một cô gái Hà Nội, Định chỉ cất giữ ở trong lòng. Mặc dù với cô, người can đảm, thông minh nhất vẫn là những người mặc quân phục, có sao trên mũ. Cũng giống như Thao, Phương Định là người yêu âm nhạc, rất mê hát. Cô thích ngồi dựa vào thành đá và khẽ hát trong những buổi trưa im lặng. Đôi lúc buồn cô nghĩ vẩn. vơ về Hà Nội, về những ngày sống trong hoà bình cùng gia đình. Trong công việc, Định cũng không thua kém một ai cả. Bình tĩnh và tự chủ trong mọi tình huống. Vì cô biết à đâu đó có sự dõi theo của các anh cao xạ, nên sẽ không còn run sợ mà dũng cảm làm nhiệm vụ. Sống trong bom đạn, sự ác liệt của chiến tranh nhưng Định vẫn giữ được tâm hồn, nét đẹp trong sáng của một cô gái Hà Nội. Chính nhờ những điều ấy, nhân vật Phương Định đã thật sự toả sáng trong tác phẩm với hình ảnh của nữ thanh niên xung phong trong thời chiến. (Trần Mai Vy, lớp 9A1, Trường THCS Trứng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) Nhận xét Bạn đã biết cách làm bài nghị luận về nhân vật trong tác phẩm văn xuôi. Đây. là một tập thể ba cô gái và người viết đã nêu rõ sự khác biệt của mỗi người trong nét chung thống nhất là dũng cảm, hồn nhiên yêu đời và sống có trách nhiệm với bạn bè, với mọi người. Từ sự đánh giá về chị Thao, về Nho, và cuối cùng là dừng lại ở Phương Định, bạn đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp bình dị của những con người dũng cảm, tiêu biểu cho những nữ thanh niên xung phong thời chống Mĩ và cho những người phụ nữ Việt Nam. Phần nói về nghệ thuật của tác phẩm còn sơ lược. Nếu tham khảo bài viết của nhà văn Lê Minh Khuê trên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ thì có lẽ bài viết sẽ tốt hơn.
Hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” – Ngữ Văn 9
1,592
Hình ảnh những đứa trẻ đáng thương trong Chiếc thuyền ngoài xa Hướng dẫn Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được 6 năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra. Một vấn đề nóng bỏng được Nguyễn Minh Châu chú ý đó là số phận của những đứa trẻ trong gia đình không có hạnh phúc. Trong gia đình mà bố mẹ có chuyện bất hòa thì người đáng thương nhất và chịu nhiều tổn thương nhất là những đứa trẻ. Chúng bị đẩy vào tình thế khó xử: Biết đứng về phía ai? Biết làm như thế nào để giữ đạo làm con? Chị thằng Phác – một cô bé yếu ớt mà can đảm đã phải vật lộn để cướp con dao trên tay thằng em trai, không cho nó làm một việc luân thường trái với đạo lí. Hẳn cô bé phải đau đớn, xót xa đến chừng nào khi phải chứng kiến bố điên cuồng hành hạ mẹ; Em trai thì cầm dao lao vào bố để bạo vệ mẹ;… Cô bé lúc ấy là điểm tựa cho người mẹ đáng thương… Cô đã hành động đúng khi ngăn cản được hành động dại dột nông nổi của đứa em; Và biết chăm sóc lo toan khi mẹ phải đến Tòa án Huyện. Còn thằng Phác lại thương mẹ theo kiểu một đứa con còn nhỏ, theo cái cách một đứa con trai miền biển. Nó “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt cổ chằng chịt”. Nó “tuyên bố với những bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh”. Mặc dù thật khó chấp nhận kiểu bảo vệ mẹ của nó nhưng hình ảnh thằng Phác vẫn khiến người đọc cảm nhận lòng yêu thương mẹ dạt dào. Viết về tệ nạn bạo hành gia đình, Nguyễn Minh Châu không chỉ lên án thói vũ phu mà còn lên tiếng bảo vệ khát vọng được sống trong tình yêu thương, yên bình của trẻ em. Con mắt nhân đạo của nhà văn còn thể hiện một nỗi lo âu đầy trách nhiệm “Những đứa trẻ như cậu bé Phác sẽ thành người thế nào nếu môi trường sống không được thay đổi một cách tích cực? ”. Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với những cảnh đời, những thân phận trớ trêu, gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống đồng thời gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật: nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn bó với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách giản đơn, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều. Bài viết liên quan: Phân tích nhân vật người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa-Nguyễn Minh Châu
Hình ảnh những đứa trẻ đáng thương trong Chiếc thuyền ngoài xa
545
Hình ảnh oai hùng trước cái chết và bức chân dung lẫm liệt của người lính Tây Tiến Hướng dẫn Hình ảnh oai hùng của người lính Tây Tiến Hình ảnh oai hùng trước cái chết của người lính Tây Tiến “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi”. Trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ và dữ dội ấy thể hiện lênh hình ảnh đoàn quân đang miệt mài trèo đèo lội suối băng rừng. Có những người không còn đủ sức bước nữa đã đổ xuống và trút hơi thở cuối cùng: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Hình ảnh thơ nói lên sự hi sinh mất mát lớn lao nhưng không gợi lên tình cảm bị lụy. Người chiến binh ấy đã vượt lên bao gian khổ khó khăn, đến lúc sức tàn lực kiệt vẫn cố gắn tiến bước cái chết đến với anh thật nhẹ nhàng thanh thản như trong một giấc ngủ say vậy. Có cảm giác như anh chỉ nghỉ ngơi trong chốc lát để rồi lại tiếp tục bước đường hành quân, chiến đấu của mình: “Vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng. Lòng khỏe nhẹ anh dân quê sung sướng Ngả mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành Và trong mơ thơm ngát lúa đồng xanh” (Trân trối – Tố Hữu) “Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu ngươi”. Hai câu thơ gợi về một thế giới hoang sơ dữ dằn, bí ẩn nơi sơn cùng thủy tận. Thiên nhiên ở đây không phải là đội tượng thưởng ngoạn mà là đối tượng người lính Tây Tiến phải đương đầu thử thách. Thiên nhiên – hiện thân của uy lực hoang sơ như muốn uy hiếp tinh thần người lính nhưng họ vẫn giám đương đầu và chế ngự bằng ý chí quan tâm to lớn của mình. Phải chăng miêu tả thiên nhiên như vậy của Quang Dũng muốn làm nổi bật vẻ đẹp lãng mạn, phi thường của người lính? Bức chân dung lẫm liệt người lính Tây tiến “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá giữ oai hùng Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Với cảm hứng và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ. Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc.
Hình ảnh oai hùng trước cái chết và bức chân dung lẫm liệt của người lính Tây Tiến
467
Hình ảnh thiên nhiên thay đổi nhẹ nhàng mà rõ rệt trong khoảng khắc giao mùa và cảm nhận hết sức tinh tế của tác giả (Sang thu-Hữu Thỉnh) Hướng dẫn Khoảng khắc giao mùa mong manh trong bài thơ Sang thu-Hữu Thỉnh Mở bài: Xưa nay, cảnh sắc mùa thu vốn là thi hứng bất tận của các thi nhân. Với sắc lá vàng phai phủ khắp đất trời, làn sương nhẹ che bóng không gian, thu xưa gợi vẻ u buồn, nhớ thương trong thơ cổ điển. Tiếp nối nguồn thi hứng ấy, Hữu Thỉnh góp vào làng thơ một vẻ thu hoàn toàn mới mẻ, vừa nhẹ nhàng, đằm thắm vừa sôi động và trẻ trung đặc sắc miền đồng bằng Bắc Bộ với bài Sang thu. Cảnh thiên nhiên thay đổi nhẹ nhàng mà rõ rệt trong khoảng khắc giao mùa và cảm nhận của tác giả cũng hết sức tinh tế. Thân bài: Bằng những cảm nhận tinh tếm với phút rung động rất nghệ sĩ, sự chuyển biến trong cảnh vật được miêu tả rất tài hoa…Mùa thu đến không phải từ lá ngô đồng, từ hoa cúc, hương cốm mà l từ hương ổi ngọt ngào: Bỗng nhận ra hương ổi Pha vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. Nếu trong Đây mùa thu tới, cảm nhận thu sang của Xuân Diệu là rặng liễu thu buồn ven hồ: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng thì Hữu Thỉnh lại cảm nhận về một mùi hương quen thuộc phảng phất trong “gió se”, thứ gió khô và se se lạnh, đặc trưng của mùa thu về ở miền Bắc. Đó là “hương ổi”, mùi hương đặc sản của dân tộc. Mùi hương riêng của mùa thu làng quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam nhẹ nhàng lan tỏa khắp dường làng ngõ xóm. Hương thơm ấy không ngọt ngào như hoa sữa Hà Nội, cũng không nhạt nhòa dễ quên mà nó thơm dịu, thanh ngọt và nhẹ nhàng. Hương ổi gắn liền với bao kỉ niệm của thời thơ ấu. Đó là mùi vị của quê hương đã thấm đẫm trong tâm tưởng nhà thơ. Và cứ mỗi độ thu vềthì nó lại trở thành tác nhân gợi nhớ. Chính Hữu Thỉnh đã tâm sự rằng: “Giữa trởi đất mênh mang, giữa cái khoảnh khắc giao mùa kì lạ thì điều khiến cho tâm hồn tôi phải lay động, phải giật mình để nhận ra đó chính là hương ổi… Hương ổi tự nó xốc thẳng vào những miền thơ ấu thân thiết trong tâm hồn chúng ta. Mùi hương đơn sơ ấy lại trở thành quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng vào tâm hồn mỗi người, có khi là cả một thế hệ…”. Mùi hương ấy không hòa vào quyện vào mà “phả” vào trong gió. “Phả” nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra từng luồng. Hữu Thỉnh đã không tả mà chỉ gợi, đem đến cho người đọc một sự liên tưởng thú vị. Tại vườn tược quê nhà, những quả ổi chín vàng trên các cành cây kẽ lá tỏa ra hương thơm nức, thoang thoảng hương đưa trong gió. Chỉ một chữ “phả” thôi cũng đủ gợi hương thơm như sánh lại. Sánh lại bởi hương đậm một phần, sánh bởi tại gió se. Cơn gió như mùa hạ cũng không lạnh lẽo như gió mùa đông mà chỉ lành lạnh, se sắt làn da. Đất trời mới chỉ đang dần bước qua ngưỡng cửa của mùa hạ để nhẹ nhàng chuyển mình vào thu: Sương đang đợi ai mà dung dằng. Nó như cố ý chậm lại, cố níu kéo một cái gì đó.Hay sương cố tình chùng chình để cho mùa hè làm nốt cuộc chia tay với đất trời? Biện pháp nghệ thuật nhân hóa làm sương chở nên có hồn, tinh tế hơn, nhạy cảm hơn và giàu sức gợi. Cảm nhận được những điều này, Hữu Thỉnh bất ngờ thốt lên: Hình như thu đã về. “Hình như” như có mà như không, vừa mơ hồ vừa rõ rệt. Một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng không thật rõ ràng. Đúng là một trạng thái cảm xúc của thời điểm chuyển giao. Thu đến nhẹ nhàng quá, mơ hồ quá. Đằng sau không gian làng quê sang thu ấy ta cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm của một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thiết tha. Bởi tất cả chỉ đang trong dây phút chuyển mình. Hương ổi chỉ mới thanh dịu. Gió bắt đầu nhuốm chút hanh hao. Sương còn đang chùng chình, dùng dằng… Trong khổ thơ thứ hai, không gian miêu tả rộng lớn hơn, khái quát hơn: Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Con sông sau mùa lũ bây giờ như lắng lại, hiền hòa và tĩnh lặng hơn. Miêu tả về con sông, có lần Hữu Thỉnh đã từng viết: Sông gầy, đê choãi chân ra Hữu Thỉnh cảm nhận dòng sông đang nhẹ nhàng lắng xuống để nghỉ ngơi sau một mùa lũ mỏi mệt. Nếu như con sông còn đang dần dàng thì những cánh chim lại bắt đầu vội vã: Chim bắt đầu vội vã Những chú chim bay về phương Nam trách rét. Nhưng Hữu Thỉnh lại tinh tế ở chỗ này. Chim bắt đầu vội vã chứ không phải là đang vội vã. Cảm nhận được sự thay đổi trong từng cách chim thì quả là tinh tế biết bao! Hai hình ảnh trên tưởng chừng như thuộc hai thái đối lập trong từng cánh chim thì quả là tinh ý. Hai hình ảnh trên tưởng chừng như thuộc hai thái cực đối lập. Dềnh dàng vội vã nhưng chúng lại cùng hướng với sự chuyển mình của đất trời vào thu. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. Đám mây mỏng hơn, bồng bềnh hơn. Trong đám mây còn vương lại những dấu hiệu cuối cùng của mùa hè nhưng cũng đã mang sắc thái của mùa thu. Đám mây mỏng manh như chiếc khan của người thiếu nữ duyên dáng “vắt nửa mình sang thu”. Cái “vắt nửa mình kia sao mà thi vị”! Hữu Thỉnh thật tinh tế ở cách cảm nhận. Đám mây kia đang ở ranh giới giữa mùa hạ và mùa thu. Phải tài hoa đến đâu mới nghĩ cách “vắt nửa mình sang thu” thật ra mới lạ độc đáo và duyên dáng! Nguyễn khuyến trong bài Thu điếu cũng đã một lần trong thấy bầu trời thu ấy: Tần mây lơ lửng trời xanh ngắt Huy Cận cũng đã từng thảng thốt khi nhận ra cuộc chuyển luân vĩ đại của vũ trụ: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Xuân Quỳnh cũng đã có lần tự thán trước mùa thu: Cuối trời mây trắng bay Lá vàng thưa thớt quá Phải chăng lá về rừng Mùa thu đi cùng lá. Những dấu hiệu của mùa hạ vẫn còn vương lại sự thay đổi trong cảnh vật cũng bắt đầu rõ rệt hơn: Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Nắng vẫn đang tràn trề khắp không gian. Những cơn mưa của mùa hạ dần vơi, thưa thớt hơn, không còn ồn ào và xối xả nữa. Cách nói “bao nhiêu nắng”, “vơi dần cơn mưa” thật hay. Nó thể hiện được sự tinh tế trong tâm hồn Hữu Thỉnh: Hơn một loài hoa đã rung cảnh (Xuân Diệu-Đây mùa thu tới) Nhưng nó lại độc đáo và mới lạ. Cũng giống như nắng và mưa, sấm giờ đây cũng chỉ là những âm thanh ì ầm loang ra khắp bầu trời: Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi Sấm cũng nhẹ hẳn đi, đã mang sắc thái của mùa thu. Nó không còn nổ vang trời như trong những cơn mưa mùa hạ mà nhẹ dần rồi vắng hẳn. Sự chuyển biến nhẹ nhàng của cảnh vật, đất trời cũng trở nên rõ ràng. Cái triết lí ngầm ẩn cũng trở nên sâu sắc. Cảnh vật, thời tiết thay đổi. Tất cả vẫn còn nhiều dấu hiệu của mùa hè nhưng giảm dần mức độ, cường độ. Để rồi tất cả lặng lẽ vào thu qua con mắt quan sát và cảm nhận tinh tế của tác giả. Giọng thơ trầm hẳn xuống. Câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy nghĩ, chiêm nghiệm về đời người. Nhìn cảnh vật biến chuyển khi thu mới bắt đầu, Hữu Thỉnh nghĩ đến cuộc đời khi đã “đứng tuổi”. Phải chăng, mùa thu đời người là sự khép lại của những tháng ngày sôi nổi với những bất thường của tuổi trẻ và mở ra một mùa thu mới, một không gian mới, yên tĩnh, trầm lắng, bình tâm, chín chắn…trước những chấn động của cuộc đời? Họ không còn bất ngờ trước những thay đổi của cuộc sống. Họ đã trở nên vững vàng hơn, chính chắn hơn và bình thản hơn. Triết lí của đời nhẹ nhàng và đi vào lòng người vầ để lại bao cảm xúc trong lòng tác giả, hương ổi sang thu, sương, sông, mây, nắng… Và cuối cùng là lòng người tất cả đều sang thu. Như vậy bài thơ đã chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt trong những thời điểm cuối hạ, đầu thu. Qua đây ta cũng thấy được những cảm nhận tinh tế của hồn Hữu Thỉnh. Kết bài: Với một đề tài đã quá quen thuộc như mùa thu, phải làm sao để vượt qua những lối mòn xưa cũ để tạo nên những điều mới mẻvà không hề dễ dàng. Nhưng Hữu Thỉnh đã làm được. Hơn nữa còn xuất sắc. Ý kiến trên là hoàn toàn đúng. Nó khẳng định một phần giá trị của bài thơ. Bài thơ đã khép lại những dư âm vẫn còn vang vọng trong lòng hay độc giả. Đó là sự nhẹ nhàng trong phút chuyển mình của cảnh vật hay cảm nhận tinh tế của nhà thơ. Cảm nhận bài thơ Sang thu-Hữu Thỉnh
Hình ảnh thiên nhiên thay đổi nhẹ nhàng mà rõ rệt trong khoảng khắc giao mùa và cảm nhận hết sức tinh tế của tác giả (Sang thu-Hữu Thỉnh)
1,680
Hình ảnh Tây Tiến vừa thơ mộng, trữ tình vừa dữ dội, kì vĩ qua nỗi nhớ của người lính Hướng dẫn Mở bài: Bài thơ Tây Tiến biểu hiện một nỗi nhớ da diết mênh mang về người, về cảnh, về những kỉ niệm mà đoàn quân Tây Tiến đã đi qua. Quang Dũng đã sống những tháng ngày không thể nào quên trong cuộc đời cầm súng và cầm bút của mình. Hình tượng nhân vật trữ tình trung tâm bài thơ là người lính hào hoa, lãng mạn. Họ tự dấn thân vào cuộc chiến đấu với ý chí quyết tâm lớn với những ước mong cao đẹp và một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm. Bức tranh Tây Tiến vừa thơ mộng, trữ tình, dịu êm, vừa dữ dội, kì vĩ được khắc họa đậm nét qua nỗi nhớ thiết tha của người lính. Thân bài: Hình ảnh thơ mộng của núi rừng sông Mã Bài thơ Tây Tiến được mở đầu bằng tiếng gọi thiết tha như vọng từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” Nhớ về Tây Tiến là Quang Dũng nhớ về dòng sông Mã. Ông nhớ về cảnh sắc thiên nhiên chốn núi rừng miền Tây xa xôi, kì bí. Nổi nhớ man mác, mênh mang như gửi về muôn nẻo“nhớ chơi vơi”. Trong thơ ca Việt Nam xưa nay đã có khá nhiều những bài thơ, câu thơ hay nói về nỗi nhớ. “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi” (Ca dao) “Nhớ gì như nhớ người yêu” (Việt Bắc – Tố Hữu) “Anh bồng nhớ em như đông về nhớ rét (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) Nhưng “nhớ chơi vơi” thì dường như Quang Dũng là người đầu tiên nói tới. Nỗi nhớ ấy như có dáng hình cụ thể. Nó cứ bồng bềnh trong không gian và thời gian. Nó thường trực trong ý thức và lấn chìm cả trong những giấc ngủ. Nỗi nhớ ấy cứ lan tỏa thấm đượm trong từng câu thơ, khổ thơ. Có thể nói, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng được xây dựng trên nền cảm hứng thương nhớ với bao kỉ niệm không thể nào quên. Cùng với nỗi nhớ cả một miền đất xa xôi lần lượt hiện về sống dậy trong lòng hồi tưởng của nhà thơ: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Những địa danh nơi miền Tây xa xôi như Sài Khao, Mường Lát được tác giả nhắc đến trong bài thơ gợi nên cái âm u mịt mù của miền đất lạ. Nơi có “đoàn quân mỏi” đi trong sương. Nơi ấy lại có một vẻ đẹp lãng mạn huyền ảo: Câu thơ thật mới mẻ, độc đáo lan tỏa trong ta cảm giác lâng lâng. Tác giả nói “hoa về” mà không phải là “hoa nở”;“đêm hơi” chứ không phải “đêm sương”. Bông hoa hiện ra mờ mờ trong gương. Trong màn sương dày dặc, người lính Tây Tiến vẫn thấy hoa. Bông hoa mờ ảo như núi rừng, như đất trời hội tụ tinh hoa. Lại thêm “đêm hơi” càng làm cho nó mờ khuất trong tâm trí. Câu thơ gây được sự ám ảnh lớn bởi hình ảnh thơ độc đáo ấy. Đọc đến đây ta có cái cảm giác như cái mệt mỏi của đoàn quân dường như tan biến hết. Quang Dũng đã viết câu thơ rất tài tình với hầu hết là thanh bằng. Câu thơ êm đềm tạo cảm giác nhẹ nhàng, lâng lâng, chơi vơi. Nó lan tỏa muôn nơi giống như sương, như hương hoa, như hồn người vậy. Bài thơ đã khắc họa, tô đậm chân dung người lính Tây Tiến. Cả bài thơ là sự hồi tưởng, hoài niệm của Quang Dũng về những người đồng chí, về những miền đất đã đi qua. Tất cả chỉ là sự nhớ, là sự hồi tưởng. Tất cả là những kỉ niệm không thể nào quên. Vì thế, nó có một vẻ đẹp lung linh, huyền ảo của thiên nhiên miền Tây của Tổ Quốc. Quang Dũng vừa làm nổi bật được vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình vừa diễn tả được khắc nghiệt dữ dội, hiểm trở của nó. Thiên nhiên miền Tây qua con mắt nhìn của Quang Dũng có vẻ đẹp khác thường. Nó có một vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình và mềm mại như một bức tranh lụa. Những bông hoa đong đưa làm duyên bên suối. Những bản làng thấp thoáng ẩn hiện trong sương. Những dáng người chèo thuyền độc mộc trên sông,… Tất cả hoang sơ, kì bí và huyền ảo đến mê li. Thiên nhiên miền Tây cũng hiện lên với tất cả sự hiểm trở, dữ dội, khắc nghiệt của nó. Hàng loạt hình ảnh dữ dội được nhà thơ nhắc đến. Núi rừng với đèo cao, vực sâu, mưa nguồn, thác lũ. Cái nào cũng hung hiểm, dữ dội. Núi rừng còn có thú dữ, cơn sốt rét rừng khủng khiếp,… Cái nà cũng đáng sợ. Đó là mặt trận, là địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến. Qua vẻ đẹp thơ mộng trữ tình, Quang Dũng đã thể hiện được tâm hồn lãng mạn của người lính. Nó khẳng định sự tinh tế, tài hoa của người lính Tây Tiến. Miêu tả một thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt, Quang Dũng không chỉ muốn nói lên sự gian khổ, vất vả mà còn làm nổi bật ý chí quan tâm của họ. Khung cảnh thiên nhiên hiện lên dữ dội bao nhiêu thì hình ảnh người lính Tây Tiến càng lớn lao, hùng vĩ bấy nhiêu. Sau khi nhìn toàn cảnh nhà thơ Quang Dũng tái hiện con đường hành quân. Đó là con đường gập ghềnh, khúc khuỷu đầy hiểm nguy. Đó là đèo cao dốc đứng, với vực sâu thăm thẳm thật đáng sợ. Người lính luôn phải hành quân trong mưa lũ, thét gào. Khung cảnh thiên nhiên dữ dội khắc nghiệt ấy được Quang Dũng khắc họa bằng những câu thơ gân guốc giàu tính tạo hình: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”. Sự dữ dội, hiểm trở, khắc nghiệt của thiên nhiên, của con đường đã được nhà thơ Quang Dũng thể hiện bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật. Đó là bút pháp xây dựng hình ảnh tương phản, đối lập. Nhà thơ còn sử dụng nhiều thanh trắc tạo nên sự đứt gãy của câu thơ thật ấn tượng. Những câu thơ này không những tạo hình bằng hình ảnh mà còn được tạo hình bằng thanh điệu… Trong tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng của Nguyễn Du có những câu thơ giàu chất tạo hình như thế: “Vó câu khập khểnh, bánh xe gập ghềnh”. Bản thân thanh điệu của câu thơ đã đủ diễn tả con đường gập ghềnh ấy. Nhưng Nguyễn Du đâu có trực tiếp miêu tả đường. Nhà thơ chỉ miêu tả vó câu (bước chân ngựa) và bánh xe lăn đi như thế nào. Vậy mà người đọc vẫn có thể hình dung ra con đường ấy thật rõ ràng. Có thể nói, qua ba câu thơ, Quang Dũng đã vẻ lên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ hiểm trở và dữ dội. Những thủ pháp nghệ thuật đối lập được nhà thơ Quang Dũng khai thác triệt để. Con đường hành quân của người chiến sĩ hết lên cao lại xuống sâu, gập ghềnh, khúc khuỷu. Đọc câu thơ lên ta có cảm giác như nghe thấy được cả hơi thở nặng nhọc của người lính trên đường hành quân. Con đường hành quân đầy vất vả, gian lao của người chiến sĩ Tây Tiến. Đây đèo cao, vực sâu thăm thẳm, kia thác lũ mưa nguồn. Tất cả như án ngữ, ngăn chặn bước đường của người chiến sĩ Tây Tiến. Cách sử dụng từ ngữ của nhà thơ rất mới mẻ đầy táo bạo. Trên đỉnh trời nhưng nhà thơ không viết súng chạm trời mà lại viết “súng ngửi trời”. Cách dùng từ táo bạo ấy vừa diễn tả được độ cao của đỉnh núi lại vừa thể hiện được sự dó dỏm, thông minh, lạc quan của người chiến sĩ. Đó cũng là cách nói vui đùa, tếu táo, mang đậm chất lính. Qua những câu thơ này, Quang Dũng không những nói lên được sự khác biệt dữ dội của thiên nhiên mà còn thể hiện được sự vất vả gian lao và chí quyết tâm to lớn của người lính Tây Tiến. Nếu như ở ba câu thơ đầu Quang Dũng sử dụng nhiều thanh trắc với những nét vẽ gân guốc mạnh mẽ thì ở câu thơ thứ tư lại toàn thanh bằng giống như một nét bút mềm mạc và tinh tế. “Nhà ai Pha Luông mưa xa”. Có thể hiểu câu này theo hai mức độ và sắc thái khác nhau. Từ trên đỉnh núi cao nhìn ra xa, người lính Tây Tiến thấy những ngôi nhà ở Pha Luông thấp thoáng ẩn hiện trong cơn mưa. Nhưng cũng có thể hiểu khi cơn mưa trút xuống cả một vùng rộng lớn mịt mờ, trắng nước ngỡ như biển khơi. Những ngôi nhà ở Pha Luông như dập dềnh trên biển lớn. Hình ảnh những ngôi nhà ở Pha Luông đã gợi lên trong tâm hồn người chiến sĩ trẻ Tây Tiến một cảm giác nhẹ nhõm thanh thản, bình yên sau một chặng đường dài hành quân vất vả. Ở khổ thơ này, từng mảnh hình khối, đường nét chuyển đổi rất nhanh. Tất cả dường như đột ngột xuất hiện trong một khung cảnh núi rừng bao la, hùng vĩ giống như một bức tranh hoành tráng. Kết bài: Thành công của Tây Tiến là khắc họa đậm nét chất lãng mạng và hào hùng củ người lính Tây Tiến. Quang Dũng đã vân dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật tạo hình trong hội họa. Bút pháp nghệ thuật của nhà thơ thật uyển chuyển, phóng khoáng, đưa lại cho người đọc những cảm xúc mới mẻ phong phú.
Hình ảnh Tây Tiến vừa thơ mộng, trữ tình vừa dữ dội, kì vĩ qua nỗi nhớ của người lính
1,692
Hình ảnh “chú tôi” và “cậu cai” trong ca dao châm biếm Hướng dẫn ‘Chú tôi”là một người đàn ông rất đặc biệt. Bốn chữ ‘hay” giới thiệu cái nết ‘chú tôi” là say sưa rượu chè. ‘Hay tửu hay tăm” là nghiện rượu thích uống rượu ngon. ‘Hay nước chè đặc” ‘là nghiện chè, nghiện trà ngon. Người nồng dân vốn cần cù ‘hai sương một nắng”, chân lấm tay bùn quanh năm, nhưng chú cái cò lại ‘hay nằm ngủ trưa”, nghĩa là rất lười biếng: ‘Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa” Những điều ‘ước” của chú cái cò cũng rất lạ, ta ít thấy trong tâm lí, trong suy nghĩ của người nông dân xưa nay. ‘Ước những ngày mưa” để khỏi phải ra đồng làm lụng. ‘Ước những đêm thừa trống canh” để ngủ được đẫy giấc. Điều ‘ước” của ‘chú tôi” vừa kì quặc, vừa phi lí. Đêm chỉ có năm canh, làm sao có thể ‘đêm thừa trống canh”. Chỉ thích ăn no ngủ kĩ mà lại rất lười biếng không muốn động chân mó tay vào bất cứ công việc gì, nên mới ‘ước” như vậy: ‘Ngày thì ước những ngày mưa, Đêm thì ước những đêm thừa trống canh” Giọng bài ca nhẹ nhàng mà bỡn cợt. Chú cái cò là hình ảnh người nông dân nghiện rượu chè, thích ăn no ngủ kĩ mà lại rất lười biếng. Đó là đối tượng châm biếm của dân gian được thể hiện một cách hóm hỉnh qua bài ca dao này. Có bài ca dao là bức chân dung biếm họa về ‘cậu cai”. Không phải là ông cai, mà là ‘cậu cai” vì vị chức sắc này còn rất trẻ, hay là cách nói ngọt mơn trớn để châm biếm? ‘Nón dấu lông gà”là sắc phục tượng trưng cho uy quyền. ‘Ngón tay đeo nhẫn” là biểu hiện cho sự sang trọng. Nhẫn vàng mười hay vàng MĨ-KÍ (vàng giả)? Chí bằng hai chi tiết về ngoại hình, về sắc phục, trang phục, nhà thơ dân gian đã ‘điểm nhãn” về sự oai vệ và sang trọng của tên cai lệ nơi cửa quan ngày trước. Không phải là khen, là trầm trồ. Đã ‘cậu cai” rồi lại nói tiếp ‘gọi là cậu cai”, ngữ điệu, giọng điệu trở nên mơn trớn, châm biếm, giễu cợt: ‘Cậu cai nón dấu lông gà, Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai” Vị thế của cậu, thân phận của cậu chí là tôi tớ của quan, hầu hạ vợ con con quan phụ mẫu. Ăn chực nằm chờ mãi mới được quan sai phái. Chữ ‘ba năm” trong câu ca ‘Ba năm dược một chuyến sai” là cách nói thậm xưng. Bề ngoài cậu cai có vẻ oai vệ, sang trọng, mỗi lần được quan sai phái đi ra ngoài cũng có áo quần Xênh xang, cỏ vẻ ta đây, nhưng thực chất là chi ‘đi mượn”, ‘đi thuê”. Câu cuối bài ca là một tiếng cười bật lên, con người thật của cậu cai đã bị lột trần, bị hạ bệ: Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê”.
Hình ảnh “chú tôi” và “cậu cai” trong ca dao châm biếm
519
Hóa thân thành một loại đồ vật em hãy kể lại những cảm xúc của đồ vật ấy Hướng dẫn Trong cuộc sống có rất nhiều những đồ vật khác nhau phục vụ cho mục đích sinh hoạt của con người. Em hãy hóa thân vào một loại đồ vật và kể lại những cảm xúc của đồ vật ấy. Bài làm Chúng ta ai cũng đã từng có những món đồ gắn liền với tuổi thơ, những kỉ niệm đẹp của chính mình, tuy chúng chỉ là đồ vật, theo thời gian có thể bị hư hao nhưng những giá trị về mặt tinh thần và ý nghĩa đặc biệt của chúng vẫn luôn tồn tại và được ghi sâu vào trong tâm hồn mỗi chúng ta. Vào một ngày chủ nhật, gia đình tôi đang tất bật cùng nhau dọn dẹp đồ để chuyển tới một nơi ở mới, tôi được giao nhiệm vụ dọn dẹp chính căn phòng của mình sao cho sạch sẽ và mọi thứ được xếp vào thùng caxton thật ngay ngắn. Tôi bắt tay vào dọn và không có gì quá khó khăn bởi tôi vốn đã sắp xếp mọi thứ theo một vị trí nhất định rất có trật tự và gọn gàng. Riêng có tủ sách của tôi, nó khá to và nặng nên tôi phải nhờ bố kéo ra để dọn dẹp dưới gầm tủ, bởi đã có vài lần tôi làm rơi nhiều quyển sách mà lại quên không tìm lại. Trong lúc đợi bố giúp đỡ tôi ngồi nhìn vào đó và bất chợt tôi nghe thấy tiếng thút thít khe khẽ phát ra ở phía gầm tủ, tôi chạy ra thật nhanh nhờ bố vào kê tủ ra ngay lúc đó. Chiếc tủ được nhấc ra ngoài, tôi bàng hoàng khi nhìn thấy con gấu bông trắng của tôi nằm thều thào giữa những quyển sách và bụi bẩn. Nhặt con gấu lên, tôi phủi bụi cho nó, con gấu nhìn tôi khẽ nói: – Cậu đã quên tôi rồi sao? Tôi đã nằm ở nơi gầm tủ này suốt hơn một năm qua, chẳng lẽ cậu không còn nhớ tới tôi sao? Hai tay tôi vẫn nâng con gấu mà run run, cảm xúc nghẹn ngào đến khó tả. – Cậu không còn nhớ chúng ta đã có những kỉ niệm đẹp như thế nào sao? Vào năm sinh nhật tám tuổi, cậu đã mong ước rằng mình có một con gấu bông màu trắng thật dễ thương. Và khi được dẫn đi mua cậu đã khăng khăng chọn lấy tôi, tôi và cậu cùng nhìn nhau, ánh mắt như đã quen từ rất lâu rồi. Cậu được mua và trong suốt quãng đường về cậu ôm tôi, ghì chặt tôi vào lòng, khẽ vuốt ve và còn thơm liên tục lên má tôi nữa. Tôi đã cảm thấy hạnh phúc biết bao. Từ ngày đó cậu làm bất cứ việc gì cũng nhớ đến tôi, thường để tôi trên bàn học, giá sách để cùng học bài, để tôi cạnh đầu gối để đi ngủ cùng cậu, cậu còn hay tắm cho tôi, bởi tôi màu trắng rất dễ bám bụi bẩn và đổi màu. Nhưng tất cả những việc đó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, có lần cậu vì giận dỗi mẹ mà ném tôi vào tủ sách, tôi rơi xuống và nằm tại gầm tủ này, tôi đã cảm thấy rất đau đớn, tủi thân và thực sự rất cô đơn. Cậu đã ném tôi đi mà không hề luyến tiếc hay do dự, trong một phút nóng giận cậu đã không còn muốn thấy sự có mặt của tôi nữa. Tôi nằm đây cùng với bụi bẩn và vài quyển sách, hơn một năm rồi chưa được tắm, không được nâng niu và yêu thương. Tôi thực sự cảm thấy rất tuyệt vọng, nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng và mong chờ một ngày nào đó cậu sẽ nhớ ra tôi và đi tìm tôi. Chỉ cần biết cậu đi tìm tôi thì dù mọi đớn đau như thế nào tôi cũng sẽ quên hết và sẽ thật hạnh phúc. Tôi ôm gấu bông vào lòng, trong lòng tôi lúc đó ngập tràn sự ân hận, xót xa, tôi tự trách móc bản thân mình sao có thể vô tâm và ích kỉ như vậy, tôi đã không biết trân trọng những thứ ý nghĩa xung quanh mình. Nhìn vào con gấu bông, tôi khóc, tôi đã nhận ra bản thân cần phải sửa sai và nhìn nhận lại chính bản thân mình, tôi mang gấu bông đi tắm thật sạch, sấy thật khô và lại đặt gọn vào một góc trong thùng caxton, tôi nói với gấu bông: – Từ bây giờ chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau nhé! Con gấu bông mỉm cười, ánh mắt long lanh thể hiện sự hạnh phúc, và tôi cũng vậy.
Hóa thân thành một loại đồ vật em hãy kể lại những cảm xúc của đồ vật ấy
818
Hóa thân vào một trong bốn nhân vật chân, tay, tai, mắt, miệng kể lại câu chuyện Hướng dẫn Truyện ngụ ngôn Chân, tay, tai, mắt, miệng là bài học sâu sắc về tinh thần đoàn kết. Dựa vào những hiểu biết về câu chuyện, em hãy hóa thân vào một trong bốn nhân vật chân, tay, tai, mắt, miệng để kể lại câu chuyện. Bài tham khảo Tôi là Mắt, từ xưa đến nay, tôi cùng với cậu Chân, cậu Tay, bác Tai và lão Miệng vẫn chung sống với nhau rất thân thiết. Một ngày nọ, tôi than thở với cậu Chân, cậu Tay rằng: – Các anh ạ! Càng nghĩ tôi càng tức. Bác Tai với hai anh và tôi quần quật làm việc, mệt nhọc quanh năm. Trong khi đó, lão Miệng lại chẳng làm gì cả. Từ nay, chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão ấy có sống được không! Cậu Chân, cậu Tay nghe vậy cũng gật gù đồng tình với ý kiến của tôi, họ nói: “Chúng ta đi gặp lão Miệng, nói cho lão biết hãy tự lo thân. Nay đã đến lúc lão phải tự đi kiếm thức ăn, xem lão có làm nổi không nào”? Nói xong, tôi cùng với cậu Chân, cậu Tay kéo nhau đến nhà lão Miệng. Đi ngang qua nhà bác Tai, thấy bác ngồi im lặng như đang nghe ngóng, suy nghĩ điều gì, chúng tôi chạy vào nói: – Bác Tai ơi, bác có đi cùng chúng cháu đến nhà lão Miệng không? Chúng cháu định nói cho lão biết là từ nay chúng ta sẽ không làm để nuôi lão nữa. Bác cháu mình vất vả nhiều rồi, tới lúc phải nghỉ ngơi thôi! Bác Tai nghe xong gật đầu lia lịa: – Phải đấy! Phải đấy! Bác sẽ đi cùng các cháu! Vậy là bác Tai cùng chúng tôi chạy đến nhà lão Miệng. Đến nơi, chúng tôi chẳng chào hỏi gì cả nói thẳng luôn với lão Miệng: – Chúng tôi hôm nay đến đây không phải để thăm hỏi, trò chuyện gì với ông đâu mà nói thẳng cho ông biết: Từ nay, chúng tôi không làm để nuôi ông nữa. Bấy lâu nay, chúng tôi cực khổ, vất vả vì ông nhiều rồi! Lão Miệng thấy chúng tôi nói vậy thì ngạc nhiên lắm, lão bảo: – Ấy, có chuyện chi thì mọi người hãy vào nhà đã, làm gì mà nóng nảy thế? Bốn người chúng tôi lắc đầu cả quyết: – Không, không bàn bạc gì nữa! Từ nay trở đi, ông phải tự lo lấy mà sống. Còn chúng tôi có biết cái gì là ngọt bùi ngon lành đâu, làm chi cho cực! Nói rồi, chúng tôi kéo nhau về và hả hê nghĩ rằng phen này thì lão Miệng cứ là chết đói! Một ngày, hai ngày trôi qua, Tôi cùng với cậu Chân, cậu Tay và bác Tai chẳng làm gì cả. Nhưng thật lạ, chúng tôi không thấy vui tươi, nhàn nhã mà lại thấy mệt mỏi, rã rời. Cậu Chân, cậu Tay chẳng cất nổi mình để chạy nhảy, nô đùa như trước nữa. Tôi thì suốt ngày lờ đờ, hai mí nặng trĩu. Bác Tai mọi ngày nghe gì cũng rõ, nay lúc nào cũng cảm thấy như có cái cối xay lúa quay ù ù ở bên trong. Chúng tôi cứ sống trong tình trạng như thế cho tới ngày thứ bảy thì không thể chịu đựng được nữa, đành họp nhau lại để bàn. Bác Tai cố cất tiếng: – Chúng ta suy nghĩ và hành động sai lầm rồi các cháu ạ! Chúng ta không làm để kiếm thức ăn nuôi lão Miệng thì chúng ta cũng tê liệt cả. Lão Miệng tuy không làm nhưng lão có công việc là nhai. Như thế cũng là làm việc chứ không phải ăn không ngồi rồi. Từ trước đến nay, chúng ta sống gắn bó thân thiết với nhau, nay tự dưng lại gây nên chuyện. Lão Miệng có cái ăn thì chúng ta mới khoẻ khoắn lên được. Theo ý bác, chúng ta nên đến nói lại với lão Miệng, các cháu có đi không? Cậu Chân, cậu Tay và tôi cố gượng dậy theo bác Tai đến nhà lão Miệng. Khốn khổ cho lão, lão cũng sống dở chết dở. Môi thì nhợt nhạt, hai hàm khô cứng, không buồn nhếch mép. Chúng tôi thành thật xin lỗi lão về sự hiểu lầm vừa qua. Thế rồi tôi và bác Tai vực lão Miệng dậy. Còn cậu Chân, cậu Tay vội vã đi kiếm thức ăn. Lão Miệng ăn xong, dần dần tỉnh lại. Lạ thay! Bác Tai, cậu Chân, cậu Tay và tôi cũng thấy đỡ mệt và tinh thần sảng khoái hẳn ra. Tôi nhận thấy là mình đã nghĩ sai cho lão Miệng thật rồi. Từ đấy, năm người chúng tôi lại chung sống thuận hoà, thân thiết như xưa.
Hóa thân vào một trong bốn nhân vật chân, tay, tai, mắt, miệng kể lại câu chuyện
819
Đề bài: Hóa thân vào nhân vật Phùng để phân tích Chiếc thuyền Ngoài xa Bài làm Là một chiến sĩ đã từng trải qua biết bao bom đạn trong trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, tôi – nghệ sĩ Phùng lại vinh hạnh được trở về công tác chính nơi mà tôi đã từng một thời gắn bó và chiến đấu. Trong cuộc sống hoà bình, sau những va đập với với thực tế cuộc sống, tôi mới chợt nhận ra, mình chưa là gì so với những người dân rất đỗi bình thường quanh mình. Để lại cho tôi cảm xúc sâu sắc nhất là câu chuyện về người đàn bà làng chài trong buổi sáng hôm ấy. Hóa thân vào nhân vật Phùng để phân tích Chiếc thuyền Ngoài xa Trên bãi biển mờ sương, lác đác những hạt mưa, xuất hiện trước mắt tôi là một chiếc thuyền lưới vó đang thẳng vào bờ. Một chiếc thuyền, một khung cảnh thật đẹp, thật thơ mộng, có lẽ đó là vẻ đẹp, mà cả đời bấm máy, tôi chỉ có diễm phúc bắt gặp được một lần. Niềm hạnh phúc ngập tràn, tôi tưởng rằng mình vừa khám phá được cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá được cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn … Nhưng những gì tôi chứng kiến sau đó, thật quá sức tưởng tượng của tôi. Tôi không ngờ sau cái vẻ đẹp lãng mạn mà tôi vừa nhìn thấy là một sự thật tàn nhẫn và trớ trêu. Nó như một trò đùa quái ác dáng xuống đầu tôi. Mọi thứ dường như bị đảo lộn. Trước mắt tôi là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một người đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một trò giải toả những uất ức, đau khổ. Bom đạn trên chiến trường khốc liệt, không làm tôi run sợ. Nhưng hôm nay, giữa cuộc sống bình yên, chứng kiến một sự thật tàn nhẫn như vậy, tôi cảm thấy thật khủng khiếp. Tôi không tin vào mắt mình. Chẳng nhẽ vẻ đẹp nhìn từ xa kia đã đánh lừa tôi sao? Lão đàn ông đánh vợ, đứa con trai nhào tới xô xát, rồi nước mắt rơi, rồi họ lại lặng lẽ trở về trên chiếc thuyền nhỏ…Tôi thấy trước mắt mình tối sầm và mờ mịt. Chân tay tôi đang tê cứng hay lòng tôi đang tê dại. Hạnh phúc vừa đến thì đau khổ đã ùa về choáng ngập trong tôi. Bao nhiêu suy nghĩ, mâu thuẩn ùa về cắn xé tâm hồn tôi. Nhiều lần chứng kiến cảnh bạo lực ấy của gã đàn ông, không thể kìm chế nổi, tôi đã lao thẳng vào chỗ họ, với ý nghĩ gã đàn ông kia sẽ phải chấm dứt ngay hành động độc ác của mình. Nhưng một lần nữa, tôi không ngờ rằng, gã đàn ông quay lại đánh luôn cả tôi…Tôi bị thương nhẹ, còn người đàn bà được mời về toà án huyện. Tôi đinh ninh rằng, sau những vụ đòn ấy, người đàn bà sẽ nhất định nghe theo lời của của chúng tôi: bỏ người chồng tàn ác. Nhưng lại thêm một bất ngờ nữa đến với tôi và Đẩu, bạn tôi, chánh án toà án huyện. Bị đánh đạp tàn nhẫn như vậy, ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, nhưng người đàn bà một mực nhất quyết không bỏ người đàn ông vũ phu – chồng mình. Mụ chắp tay vái lia lịa: “ Con lạy quý toà, quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…” Lúc bầy giờ, tôi đang dấu mặt. Sau câu nói của mụ, tôi vén màn bước ra. Nhìn thấy tôi hình như mụ hốt hoảng. Tôi nghĩ lần này, mình nắm chắc phần thắng. Nhưng lại một bất ngờ khác đến với tôi. Hình như qua phút bối rối ban đầu, bỗng người đàn bà khốn khổ đứng dậy, nhìn thẳng vào chúng tôi, nói thật tự tin: “ Chị cảm ơn các chú! Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu phải là người làm ăn, cho nên các chú đâu hiểu được công việc của người làm ăn lam lũ, khó nhọc…” Tôi không tin vào tai mình nữa. Từ lời giãi bày thật khẩn thiết của người đàn bà, người vợ đáng thương…tôi đã phần nào hiểu được lẽ đời, hiểu được nguồn gốc của mọi sự chịu đựng, hi sinh của người đàn bà… Đó là tình thương vô bờ bến của người mẹ giành cho những đứa con. “Đám đàn bà hàng chài chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới một chục đứa… Chúng tôi phải sống cho con …” Trái tim tôi, cả tâm hồn tôi dường như chết lặng sau những lời nói ấy của người đàn bà. Nếu hiểu sự việc một cách đơn giản như tôi và Đẩu, thì chỉ yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nhưng nghe những lời trần tình đau đớn của người đàn bà, tôi mới vỡ ra rằng, suy nghĩ và xử sự của bà là không thể khác được. Trong nỗi đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm vui nhỏ nhoi. “ Vui nhất là khi nhìn đàn con được ăn no, …trên thuyền cũng có lúc hoà thuận, vui vẻ…” Sau những suy nghĩ, giãi bày của người đàn bà, dường như tôi mất hết tự tin vào những lời nói của mình.. Tôi không ngờ đằng sau chiếc thuyền vó nhỏ bé ấy, không chỉ là một sự thật tàn nhẫn, tàn khốc, mà còn cả một thế giới tâm hồn, một tình thương vô bờ bến, một sự thấu hiểu lẽ đời sâu sắc của chính người đàn bà nhìn bề ngoài thô kệch, xấu xí. Khi tôi và Phùng đưa ra lời khuyên và giải pháp cho mụ, tôi cứ đinh là người đàn bà phải biết ơn, chịu ơn chúng tôi. Nhưng trớ trêu thay, sự thực là ngược lại. Chính tôi và cả Đẩu là những người phải biết ơn người đàn bà ấy. Một thằng lính đã qua trận mạc như tôi, nay trên trận chiến không tiếng súng, tôi lại là kẻ thất bại. Vâng! Bác kể câu chuyện này với các cháu cũng là mỗi lần bác tự dặn mình: hãy đừng bao giờ tự cho phép mình đơn giản, dễ dãi khi nhìn nhận một sự việc, nhất là với một con người. Sự thấu hiểu lẽ đời của người đàn bà làng chài, phẩm chất cao quý của bà – một người mẹ, một người vợ – đã thực sự thuyết phục tôi cùng bạn tôi – chánh án Đẩu. Bác tin chắc rằng sau khi câu chuyện của bác, các cháu sẽ tự nhận ra những vẻ đẹp của chính người mẹ của các cháu, những người đang ngày đêm lam lũ, tảo tần vì các cháu. Các cháu sẽ phát hiện ra vẻ đẹp của tất cả những người thân yêu quanh cháu.
Hóa thân vào nhân vật Phùng để phân tích Chiếc thuyền Ngoài xa
1,223
Hóa thân vào những que diêm kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc của truyện cô bé bán diêm Hướng dẫn Dạng đề bài này có hai cách làm: Thứ nhất: kể lại câu chuyện theo lời của que diêm, tức là trước khi kể bạn phải giới thiệu mình là que diêm và chứng kiến việc cô bé quẹt từng que diêm như thế nào cho đến chết. Thứ hai: bạn có thể dựa vào diễn biến như trong tác phẩm cô bé bán diêm và tự viết ra một kết thúc khác. Có thể là một kết thúc có hậu cho cô bé ví dụ như: cô bé được sống lại bên người cha thân yêu của mình hoặc được một gia đình giàu có nhưng không có con nhận về nuôi. Bạn có thể tham khảo những bài làm dưới đây Đề bài: Hóa thân vào những que diêm kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc của truyện Cô bé bán diêm (hoặc diễn biến sự việc tương tự, nhưng kết thúc khác). Trời đã tối, cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Giây phút đón giao thừa sắp đến. Vậy mà chúng tôi vẫn cùng cô bé tội nghiệp rong ruổi qua từng con phố. Chúng tôi tự nhủ hãy nằm yên, nằm yên và cầu nguyện để tất cả chúng mình sẽ đi về nhà ai đấy. Chỉ có vậy và chỉ có vậy thôi, cô chủ mới được về nhà để đón Tết trong ấm cúng. Thế nhưng thật oái oăm thay. Đêm ba mươi, ai còn đi mua diêm làm chi nữa. Giờ này họ đã yên ổn cả rồi. Họ đang ngồi bên lò sưởi và chờ đến giờ phá cỗ. Chúng tôi biết vậy và cả cô chủ nhỏ tội nghiệp của chúng tôi cũng thế. Nhưng cô vẫn cứ đi, lang thang trong rét mướt và hy vọng. Niềm hy vọng ấy trong cái đêm nay thật quá nhỏ nhoi. Vậy mà nó chỉ chực chờ để tan biến mất. Trời đã về khuya. Và chúng tôi cảm thấy đôi bàn tay của cô chủ đang cứng lại. Cô dừng lại và ngẫm nghĩ về một điều gì đó. Bỗng đột nhiên, cô rút một trong số chúng tôi ra và quẹt sáng. Anh bạn của chúng tôi bén lửa rất nhanh loáng qua rồi biến đi trên nền than hồng rực. Chúng tôi không biết cô bé nghĩ gì nhưng ánh mắt cô bé rất vui và hình như miệng cô còn ánh lên cả một nụ cười thì phải. Cô bé duỗi chân ra nhưng đờ đẫn nhìn que diêm vụt tắt. Cô lại bần thần và suy nghĩ hồi lâu. Chắc cô bé đang lo không bán được diêm, về nhà sẽ bị cha chửi mắng. Thế rồi, mạnh mẽ hơn, cô lại quẹt lửa anh bạn thứ hai. Lửa lại cháy và sáng rực. Ánh mắt cô bé lại vui lên. Khuôn mặt đỏ hồng rạng rỡ. Nhưng không đầy một phút sau, anh bạn tôi vụt tắt. Trước mặt cô bé chỉ còn là những bức tường lạnh lẽo, dày đặc, tối tăm. Phố xá vẫn vắng teo và lạnh buốt. Tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến nơi hò hẹn. Cô bé lại quẹt thêm một que diêm nữa. Một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Cô bé cười và reo lên hạnh phúc: – Bà ơi! Cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây thông Nô-en ban nãy. Nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi đây. Trước khi bà về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết nhường nào. Dạo ấy bà từng chủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà. Bà ơi! Cháu van bà, bà xin với Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu. Anh bạn thứ tư của chúng tôi vụt tắt. Thế là cái ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt cô chủ nhỏ cũng biến mất luôn. Nhưng cô bắt đầu lôi ra tất cả chúng tôi và quẹt sáng. Dường như cô chủ của chúng tôi đang muốn níu kéo một điều gì. Chúng tôi nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Và chúng tôi nhận ra trên khuôn mặt kia đang nở ra một nụ cười mãn nguyện. Một xó tường bỗng vụt sáng lên nhưng cũng chỉ một phút sau nó lại trở về với cái tối tăm lạnh lẽo. Chúng tôi đã thắp lên những tia sáng cuối cùng còn cô chủ của chúng tôi thì bỗng nhiên gục xuống. Có lẽ cô mệt quá. Cô đã không ăn và không nghỉ suốt những ngày qua nên chắc bây giờ đang đói lả. Chúng tôi thương cô chủ quá và cầu mong sao cho đêm giao thừa qua thật là nhanh. Sáng ngày mùng một, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng và chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Chúng tôi – những que diêm còn sót lại trong túi của cô chủ đêm qua bỗng nghe thấy tiếng gọi của một người phụ nữ: – Cháu bé ơi! Cháu bé ơi! Cháu là con cái nhà ai mà ra nông nỗi thế này. Người đi đường cũng bắt đầu xúm lại. Họ tò mò đoán và ngắm nghía cô gái có đôi má hồng và đôi môi đang cười mỉm nằm giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết hẳn. Người đàn bà khi nãy rẽ đám đông ra để chen vào. Tay bà mang theo một cốc sữa đang còn nóng và một chiếc áo lông cừu đang còn mới. Uống một cách khó khăn vài ngụm sữa, cô chủ đã mơ màng tỉnh lại. Mấy người đàn ông giúp người phụ nữ đưa cô chủ về một ngôi nhà nhỏ rồi họ tản mác đi chơi. Bây giờ cô chủ đã tỉnh hẳn và đang ngồi bên lò sưởi. Người phụ nữ nhanh nhảu đáp: – Không có gì đâu cháu ạ! Nhìn cháu ta đã đoán ra tất cả mọi việc rồi. Ta cũng buồn như cháu. Trước đây ta cũng có một cô cháu gái nhưng Thượng đế chí nhân đã rước nó đi. Giờ ta gặp cháu đâu phải chăng là Thượng đế thương ta mà trả cho ta đứa cháu. Ta tuy nhỏ nhưng rất rộng lòng thương. Nếu cháu muốn, cháu có thể ở đây với ta làm bạn. Cô bé không đáp lời người phụ nữ. Mắt cô bé rưng rưng nhìn những bông tuyết đang rơi trắng xóa ngoài khung cửa. Nhưng rồi bỗng nhiên cô quay lại, sà vào vòng tay âu yếm của người thiếu phụ và nức nở: Bà ơi! Bà ơi! Bà thương cháu mà trở về với cháu thật hay sao! Đề bài: Hãy hóa thân thành những que diêm và kể lại chuyện cô bé bán diêm của AnDecXen Đêm giáng sinh năm ấy trời thật lạnh. Đã mấy ngày liền tuyết rơi liên miên, như hối hả điểm trang cho thành phố vẻ thánh khiết để đón mừng ngày kỷ niệm Chúa Cứu Thế ra đời. Em bé tay ôm bao giấy đầy những hộp diêm, vừa đi vừa cất giọng rao mời. Lạnh thế mà bé phải lê đôi chân trần trên hè phố. Đôi dép cũ rích của bé sáng nay bị lũ nhóc ngoài phố nghịch ngợm dấu đi mất. Trời lạnh như cắt. Hai bàn chân của bé sưng tím cả lên. Bé cố lê từng bước sát dưới mái hiên cho đỡ lạnh, thỉnh thoảng đôi mắt ngây thơ ngước nhìn đám đông hờ hững qua lại, nửa van xin, nửa ngại ngùng. Không hiểu sao bé chỉ bán có một xu một hộp diêm như mọi ngày mà đêm nay không ai thèm hỏi đến. Càng về đêm, trời càng lạnh. Tuyết vẫn cứ rơi đều trên hè phố. Bé bán diêm thấy người mệt lả. Đôi bàn chân bây giờ tê cứng, không còn chút cảm giác. Bé thèm được về nhà nằm cuộn mình trên chiếc giường tồi tàn trong góc để ngủ một giấc cho quên đói, quên lạnh. Nhưng nghĩ đến những lời đay nghiến, những lằn roi vun vút của người mẹ ghẻ, bé rùng mình hối hả bước mau. Được một lát, bé bắt đầu dán mắt vào những ngôi nhà hai bên đường. Nhà nào cũng vui vẻ, ấm cúng và trang hoàng rực rỡ. Chỗ thì đèn màu nhấp nháy, chỗ có cây giáng sinh với những quà bánh đầy mầu. Có nhà dọn lên bàn gà tây, rượu, bánh trái trông thật ngon lành. Bất giác bé nuốt nước miếng, mắt hoa lên, tay chân run bần bật, bé thấy mình lạnh và đói hơn bao giờ hết. Đưa tay lên ôm mặt, bé thất thểu bước đi trong tiếng nhạc giáng sinh văng vẳng khắp nơi và mọi người thản nhiên, vui vẻ, sung sướng mừng Chúa ra đời… Sáng hôm sau, những người trong phố tìm thấy em bé đáng thương nằm chết bên cạnh đống diêm vãi tung tóe trong ngõ hẻm.
Hóa thân vào những que diêm kể lại câu chuyện theo diễn biến và kết thúc của truyện cô bé bán diêm
1,565
Hướng dẫn cảm thu văn học bài Mưa – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Mưa Mây đen lũ lượt Kéo về chiều nay Mặt trời lật đật Chui vào trong mây. Chớp đông chớp tây Rồi mưa nặng hạt Cây lá xoè tay Hứng làn nước mát Gió reo gió hát Giọng trầm giọng cao Chớp dồn tiếng sấm Chạy trong mưa rào. Bà xỏ kim khâu Chị ngồi đọc sách Mẹ làm bánh khoai Lửa reo tí tách. Chỉ thương bác ếch Lặn lội trong mưa Xem từng cụm lúa Phất cờ lên chưa. (Trần Tâm) Cách đọc Trong mỗi khổ thơ, đọc nhấn vào các tiếng bắt vần và đối thanh điệu (đối thanh): Chớp đông chớp tây Rồi mưa nặng hạt Cây lá xoè tay Hứng làn nước mát. (tây vần với tay, hạt vần với mát; tây với hạt đối thanh, tay với mát đối thanh) Ngoài ra đọc nhấn vào các từ gợi tả: lũ lượt, lật đật, tí tách, lặn lội. Gợi ý cảm thụ Những hình ảnh được miêu tả trong bài thơ cho ta thấy đây là một cơn mưa đầu mùa, tức vào khoảng tháng ba âm lịch (tháng tư dương lịch): trước khi mưa thường có dông gió rất mạnh, trời tối sầm và khi mưa thì cây cối hả hê đón nước mưa mới sau một mùa khô hạn. Đặc biệt, đối với cây lúa, lúc này đang thì con gái, được mưa mới lớn rất nhanh. Tục ngữ có câu: Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên. Tất cả các sự vật trong thiên nhiên đều được nhân hoá, trở nên rất sinh động và gần gũi. Mây đen (loại mây gây mưa) lũ lượt (rất nhiều, đám nọ tiếp đám kia) kéo về (tập trung về một hướng, một chỗ). Mặt trời bị mây che nhanh quá được miêu tả bằng từ lật đật (vội vàng) chui vào mây ẩn trốn. Cây lá thì không sợ mưa, trái lại, xoè tay để hứng được nhiều nước mát nhất. Gió, sấm, chớp là những “nhân vật” phụ hoạ cho mưa, nên reo, dồn, chạy cổ vũ cho mưa thêm nhanh, mạnh và vui. Trong khi ngoài trời náo động dữ dội như thế thì trong nhà là một không khí ấm cúng, bình yên. Mỗi người mỗi việc và những việc đặc thù của ngày mưa, tức là những việc làm lúc rỗi rãi: bà khâu vá, mẹ làm bánh (vì không ra đồng hoặc chạy chợ), chị ngồi đọc sách (vì mưa không đi chơi hoặc đi theo giúp mẹ). Đây là một không khí rất quen thuộc của nông thôn ngày mưa. Duy có người bố không thấy nói đến, nhưng cuối bài lại có hình ảnh bác ếch lặn lội trong mưa. Hình ảnh bác ếch vừa rất thực, đó là khi mưa rào đầu mùa, ếch chui ra khỏi hang (đã nằm suốt mùa đông) tìm nước mới, lại vừa có ý nghĩa ẩn dụ, chỉ bác nông dân đi thăm đồng. Đó rất có thể là người bố. Ngày mưa, không phải tất cả mọi người ở nhà. Người bố vốn dày dạn kinh nghiệm đồng áng và có sức khoẻ xông pha mưa gió, đã ra đồng để thăm nom, kịp thời điều chỉnh lượng nước trong mộng, giúp cho cây lúa “phất cờ mà lên”. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thu văn học bài Mưa – Tiếng việt 3
534
Hướng dẫn cảm thụ bài Chiếc máy bơm – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Chiếc máy bơm Thấy những người nông dân phải múc nước sông vào ống, rồi vác lên tưới cho ruộng nương ở tận trên dốc cao, anh thanh niên Ác-si-mét thầm nghĩ: “Liệu có cách gì để nước chảy ngược lên cho đỡ vất vả không nhỉ?” Sau nửa tháng trời tính tới tính lui, Ác-si-mét đã làm ra một chiếc máy bơm. Đó là một đường ống có hai cửa: một cửa dẫn nước sông vào, còn một cửa dẫn nước ra ruộng. Bên trong đường ống có một trục xoắn. Bằng cách làm quay trục xoắn này, nước sông được dẫn lên cao trước những đôi mắt thán phục của mọi người. Chiếc máy bơm đầu tiên của loài người đã ra đời như vậy cách đây hơn hai nghìn năm. Đến bây giờ, nhiều nơi vẫn còn sử dụng loại máy bơm ấy. Xin nói thêm: những cánh xoắn máy bay, tàu thuỷ và cả những chiếc đinh vít bạn thường dùng đều là con cháu của chiếc máy bơm cổ xưa. Theo Vũ Bội Tuyền Cách đọc Đọc hơi chậm, nghỉ lâu hơn sau mỗi sự việc (chỗ ngắt xuống dòng). Đoạn thứ hai, đoạn miêu tả cấu tạo của trục xoắn trong chiếc máy bơm, đọc chậm để hình dung rõ cấu tạo cơ bản của nó. Ngắt rõ ràng sau các trạng ngữ, ví dụ: -Sau nửa tháng trời tính tới tính lui, Ác-si-mét… -Đến bây giờ, nhiều nơi vẫn… Gợi ý cảm thụ Ác-si-mét là nhà bác học vĩ đại của Hi Lạp thời cổ đại. Nhiều phát minh của ông ngay từ thời ấy đã được ứng dụng vào sản xuất và chiến đấu bảo vệ thành phố quê hương. Nhiều phát minh còn có giá trị đến ngày nay. Phát minh “trục xoắn” để tải nước từ thấp lên cao là một trong những phát minh nổi tiếng của ông. Nếu động lực để nhà bác học Ê-đi-xơn chế ra xe điện là hình ảnh bà cụ ngồi đấm lưng thùm thụp vì đi bộ đau mỏi thì đối với nhà bác học Ác-si-mét là việc chứng kiến cảnh người nông dân phải vác nước lên cao rất vất vả, khiến ông nghĩ cách làm sao cho nước “chảy ngược”. Đoạn hai của bài đã miêu tả cấu tạo và nguyên lý hoạt động của máy bơm. Nó rất đơn giản: một trục xoắn đặt trong một đường ống ; khi trục xoắn quay, nước sẽ theo rãnh xoắn đó đi lên. Do quay tốc độ cao, nước chỉ có đi lên, không kịp chảy xuống. Nguyên lí ấy đến nay vẫn sử dụng cho một số máy móc, dụng cụ, mà hình ảnh dễ thấy nhất là chiếc đinh vít. Chúng ta khâm phục Ác-si-mét, một người sống cách đây 2000 năm, không có phương tiện nghiên cứu như ngày nay, chủ yếu do quan sát và mày mò mà đã có phát minh vĩ đại như vậy. XEM THÊM CẢM THỤ BÀI CÁI CẦU TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ bài Chiếc máy bơm – Tiếng Việt 3
506
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ai có lỗi – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Ai có lỗi 1.Tôi đang nắn nót viết từng chữ thì Cô-rét-ti chạm khuỷu tay vào tôi, làm chocây bút nguệch ra một đường rất xấu. Tôi nổi giận. Cô-rét-tì cười, đáp: “Mình không cố ý đâu!” Cái cười của cậu làm tôi càng tức. Tôi nghĩ là cậu vừa được phần thưởng nên kiêu căng. 2. Lát sau, để trả thù, tôi đẩy Cô-rét-ti một cái đến nỗi hỏng hết trang tập viết của cậu. Cậu ta giận đỏ mặt, giơ tay dọạ tôi, nói: “Cậu cố ý đấy nhé!” Thấy thầy giáo nhìn, cậu hạ tay xuống, nhưng lại nói thêm: “Lát nữa ta gặp nhau ở cổng.” 3. Cơn giận lắng xuống. Tôi bắt đầu thấy hối hận. Chắc là Cô-rét-ti không cố ý chạm vào khuỷu tay tôi thật. Tôi nhìn cậu, thấy vai áo cậu sứt chỉ, chắc vì cậu đã vác củi giúp mẹ. Bỗng nhiên, tôi muốn xin lỗi Cô-rét-ti, nhưng không đủ can đảm. 4. Tan học, tôi thấy Cô-rét-ti đi theo mình. Tôi đứng lại, rút cây thước kẻ cầm tay. Cậu ta đi tới, tôi giơ thước lên. – Ấy đừng! – Cô-rét-ti cười hiền hậu – Ta lại thân nhau như trước đi! Tôi ngạc nhiên, ngây ra một lúc, rồi ôm chầm lấy bạn. Cô-rét-ti nói Cách đọc Đoạn 1: đọc giọng kể chuyện, chậm rãi, nhấn giọng ở các từ ngữ: nắn nót, nguệch ra, nổi giận, càng tức, kiêu căng. Đoạn 2: đọc nhanh, căng thẳng hơn, nhấn giọng ở các từ ngữ: trả thù, đẩy, hỏng hết, giận đỏ mặt. Lời Cô-rét-ti bực tức. Đoạn 3: trở lại chậm rãi, nhẹ nhàng khi En-ri-cô hối hận, thương bạn, muốn xin lỗi bạn, nhấn mạnh ở các từ ngữ: lắng xuống, hối hận. Đoạn 4: giọng đọc nhẹ nhàng, sâu lắng. Lời Cô-rét-ti dịu dàng, lời bố En-ri-cô nghiêm khắc. Gợi ý cảm thụ Ét-môn-đô đơ A-mi-xi (1846 – 1908) là nhà văn I-ta-li-a (Ý), tác giả của các cuốn sách: Những tấm lòng cao cả (truyện thiếu nhi, 1886), Cuốn truyện của người thầy (1890), Giữa trường và nhà (tập truyện ngắn, 1892),… Trong cuốn sách nổi tiếng Những tấm lòng cao cả, khi En-ri-cô trót nói lời thiếu lễ độ với mẹ kính yêu, người cha đã dạy con: “Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó. Và cũng chính người cha nghiêm khắc, kiên quyết và rất sâu sắc ấy trong đoạn truyện “Ai có lỗi?” đã giúp En-ri-cô nhận ra lỗi của mình để từ đó, em biết quý trọng tình bạn hơn. Câu chuyện nhỏ nhưng thật cảm động. Câu chuyện của trẻ con, cách ứng xử, những giận dữ và ý nghĩ “trả thù” cũng là của con trẻ. Nhà văn A-mi-xi đã thật tinh tường và rất tâm lí khi miêu tả những cung bậc tâm trạng, suy nghĩ của các nhân vật. Phần đầu truyện kể về những cáu giận liên tiếp của cả hai bạn En-ri-cô và Cô-rét-ti: nổi giận, càng tức, giận đỏ mặt, giơ tay doạ, hạ tay xuống,… và đầy thách thức khi nói: “Lát nữa, ta gặp nhau ở cổng”. Cả hai bạn đều có lỗi vì đã làm xấu trang vở tập viết của nhau. Có điều, Cô-rét-ti vô tình còn En-ri-cô thì cố ý để “trả thù” bạn, vì theo En-ri-cô, Cô-rét-ti đã gây chuyện. En-ri-cô cũng là cậu bé đáng yêu vô cùng. Nhà văn nắm bắt được tâm lí của trẻ nhỏ, trẻ con dễ giận dỗi và cũng thật mau quên. Câu hỏi “Ai có lỗi?” ban đầu được đặt ra. En-ri-cô trong cơn tức giận vì trang vở hỏng, lại càng tức hơn vì Cô-rét-ti cười, cậu cho rằng đó là cái cười kiêu căng. Đích thị lỗi hoàn toàn từ phía Cô-rét-ti. Cùng với một chút thời gian, cơn giận lắng xuống, En-ri-cô bắt đầu hối hận, lúc hối hận, En-ri-cô mới nhìn thấy vai áo sứt chỉ của Cô-rét-ti “chắc vì cậu đã vác củi giúp mẹ”. Sự hối hận, thương bạn, những tình cảm trong sáng đã làm cho En-ri-cô muốn xin lỗi bạn mà không đủ can đảm. Câu hỏi “Ai có lỗi?” một lần nữa lại được đặt ra. Cách giải quyết vấn đề của nhà văn thật tinh tường và sâu sắc. Cả hai bạn nhỏ đều cảm thấy mình có lỗi, cả hai đều muốn làm lành. Chi tiết cả hai bạn ôm nhau và nói: “Chúng ta sẽ không bao giờ giận nhau nữa, phải không?”, và câu trả lời “Không bao giờ! Không bao giờ!” thực sự xác nhận một tình bạn đẹp đẽ, bền vững. Đoạn kết truyện, khi hai bạn đã làm lành, trong lòng En-ri-cô thật vui, cậu về kể với bố. Cậu bất ngờ vì bị bố mắng. Sau lời nói của bố: “Đáng lẽ chính con phải xin lỗi bạn vì con cố lỗi. Thế mà con lại giơ thước doạ đánh bạn”, câu trả lời thực sự mới xuất hiện. Nếu đoạn 1, lỗi là của Cô-rét-ti ; đoạn 2, lỗi của En-ri-cô ; đoạn 3, En-ri-cô hối hận, muốn xin lỗi bạn nhưng không đủ can đảm ; đoạn 4, Cô-rét-ti chủ động làm lành thì ở đoạn 5, kết thúc truyện, người cha trách mắng con, dạy con phải mạnh mẽ, can đảm nhận lỗi khi cư xử không tốt với bạn. Trong truyện Những tấm lỏng cao cả, khi En-ri-cô mắc lỗi với mẹ, bố không nói trực tiếp mà viết thư cho con để con biết lỗi của mình. Tình cảm của người bố thật sâu sắc, tế nhị, nhiều lúc đi đường vòng lại là con đường ngắn nhất đến trái tim con. En-ri-cô là cậu bé hiếu thảo và thành thật nhận ra lỗi của mình để sửa chữa, cậu bé cũng luôn tin tưởng vào sự săn sóc, dạy bảo của bố. Và trong mẩu chuyện nhỏ này, ở tình huống này, người bố không cần dùng cách viết thư mà trách mắng ngay cậu bé, để cậu nhận ra lỗi sai của mình, biết trân trọng và nâng niu một người bạn tốt như Cô-rét-ti. XEM BÀI 2: HAI BÀN TAY EM TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ai có lỗi – Tiếng việt 3.
1,062
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Anh đom đóm – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Anh đom đóm Mặt trời gác núi Bóng tối lan dần Anh Đóm chuyên cần Lên đèn đi gác. Theo làn gió mát Đóm đi rất êm, Đi suốt một đêm Lo cho người ngủ. Tiếng chị Cò Bợ: “Ru hỡi! Ru hời! Hỡi bé tôi ơi, Ngủ cho ngon giấc”. Ngoài sông thím Vạc Lặng lẽ mò tôm Bên cạnh sao Hôm Long lanh đáy nước. Từng bước, từng bước Vung ngọn đèn lồng Anh Đóm quay vòng Như sao bừng nở. Gà đâu rộn rịp Gáy sáng đằng đông, Tắt ngọn đèn lồng Đóm lui về nghỉ. (Võ Quảng) Cách đọc Đọc giọng nhịp nhàng, êm dịu, hài hoà. Khổ 1, 2 đọc với giọng say sưa, hồ hởi thể hiện được niềm say mê, đầy tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc của anh Đom Đóm. Khổ 2, 3 đọc với giọng êm nhẹ như tiếng ru trẻ ngủ. Khổ 4, 5 đọc với giọng hân hoan, như bừng tỉnh đầy thích thú. Gợi ý cảm thụ Bài thơ được làm theo thể thơ 4 chữ bao gồm 9 khổ thơ. Bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3, tập một, trích 6 khổ. Với vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, nhà thơ đã đưa chúng ta vào khung cảnh thiên nhiên ban đêm nên thơ, yên bình, ấm áp. Hai tín hiệu về thời gian ở đầu và cuối bài thơ cho thấy điểm khởi đầu (“Mặt trời gác núi”) và điểm kết thúc công việc (“Gà đâu rộn rịp – Gáy sáng đằng đông”). Anh Đóm làm việc hết sức tận tuỵ, “chuyên cần” với thời gian là suốt một đêm. Anh không chỉ hoàn thành công việc mà còn lặng lẽ giữ bình yên cho giấc ngủ của mọi người. Trong hai khổ thơ đầu, bằng nhịp điệu uyển chuyển được tạo ra từ cách gieo vần (các vần đều là thanh bằng: dần-cần ; êm-đêm), nhà thơ đã gợi ra được không khí nhẹ mát của đêm tối và hình ảnh anh Đóm hăng say trong công việc đầy ý nghĩa. Hai khổ thơ tiếp theo là cả thế giới ban đêm tĩnh mịch. Chỉ với 8 câu thơ mà thế giới loài vật hiện ra thật sinh động, đáng yêu, rất gần gũi với thế giới trẻ thơ: đó là tiếng chị Cò Bợ ru con, là đàn cò con trong giấc ngủ. Tiếng ru của chị Cò Bợ thật tha thiết như gửi trong đó những tình cảm, mong ước của mẹ dành cho con. Bên cạnh đó còn là hình ảnh của thím Vạc vẫn cặm cụi mò tôm bắt tép kiếm ăn đêm. Dưới con mắt và tấm lòng nhân hậu, nhà thơ miêu tả con vạc không phải lười biếng như trong truyện cổ tích, vì xấu hổ với mọi người nên phải đi kiếm ăn đêm ; ở đây là một thím Vạc hiền lành, chịu thương chịu khó, đáng được tôn trọng. Nhà thơ nhìn vạn vật đều như có hồn, được đặt trong những mối quan hệ thân thiết, gắn bó, chân tình, nào anh Đom Đóm, chị Cò Bợ, bé cò con, thím Vạc. Cũng cần lưu ý thêm về một hình ảnh đẹp đẽ, giàu chất thơ, hình ảnh sao Hôm “Long lanh đáy nước”. Dù là “một ngôi sao chẳng sáng đêm” nhưng cũng đủ sáng long lanh để giúp thím Vạc mò tôm dưới đáy nước. Trong không gian yên bình ấy, anh Đom Đóm vẫn say sưa công việc của mình. Điệp ngữ “Từng bước, từng bước” tạo ấn tượng về sự cần mẫn, đầy tinh thần trách nhiệm với công việc của anh Đom Đóm. Từ “vung” chỉ hành động nhanh, dứt khoát, đưa từ dưới thấp lên cao. Khổ thơ thứ 5 đã miêu tả vẻ đẹp trong dáng bay của anh Đom Đóm. Hình ảnh so sánh “Anh Đóm quay vòng – Như sao bừng nở” đã khắc hoạ vẻ đẹp rực rỡ, rạng ngời, thăng hoa của ánh sáng, của tinh thần lao động quên mình, không mệt mỏi. Nếu trên trời là ánh sáng của sao Hôm thì giữa không trung là vẻ đẹp lộng lẫy, huyền diệu của anh Đom Đóm. Bài thơ ca ngợi anh Đóm chuyên cần, qua đó nhà thơ gửi gắm tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết. Các bạn nhỏ cũng rút ra được bài học cho mình: hãy yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước mình và làm những việc thật có ích cho mọi người! XEM THÊM BÀI MỒ CÔI XỬ KIỆN TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Anh đom đóm – Tiếng Việt 3
757
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Buổi học thể dục – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Buổi học thể dục 1.Hôm nay có buổi học thể dục. Thầy giáo dẫn chúng tôi đến bên một cái cột cao, thẳng đứng. Chúng tôi phải leo lên đến trên cùng, rồi đứng thẳng người trên chiếc xà ngang. Đê-rốt-xi và Cô-rét-ti leo như hai con khỉ. Xtác-đi thì thở hồng hộc, mặt đỏ như chú gà tây. Ga-rô-nê leo dễ như không. Tưởng chừng cậu có thể vác thêm một người nữa trên vai vì cậu khoẻ chẳng khác gì một con bò mộng non. 2. Đến lượt Nen-li. Bạn này được miễn học thể dục vì bị tật từ nhỏ, nhưng cố xin thầy cho được tập như mọi người. Nen-li bắt đầu leo một cách rất chật vật. Mặt cậu đỏ như lửa, mồ hôi ướt đẫm trán. Thầy giáo bảo cậu có thể xuống. Nhưng cậu vẫn cố sức leo. Mọi người vừa thấp thỏm sợ cậu tuột tay ngã xuống đất, vừa luôn miệng khuyến khích: “Cố lên, cố lên Ị” Nen-li rướn người lên và chỉ còn cách xà ngang hai ngón tay. “Hoan hô! cố tí nữa thôi!” – Mọi người reo lên. Lát sau, Nen-li đã nắm chặt được cái xà. 3.Thầy giáo nói: “Giỏi lắm! Thôi, con xuống đi!” Nhưng Nen-li còn muốn đứng lên cái xà ngang như những người khác. Sau vài lần cố gắng, cậu đặt được hai khuỷu tay, rồi hai đầu gối, cuối cùng là hai bàn chân lên xà. Thế là cậu đứng thẳng người lên, thở dốc, nhưng nét mặt rạng rỡ vẻ chiến thắng, nhìn xuống chúng tôi. Cách đọc Đọc biểu hiện cảm xúc khác nhau ở mỗi chi tiết: Phần 1: từ giọng bình thường (đoạn 1) chuyển sang đọc nhanh, vui (đoạn 2) Phần 2: đoạn 1,2,3 đọc hơi chậm, giọng hồi hộp cho thấy sự vất vả của Nen-li và sự lo lắng của các bạn. Phần 3: từ đọc nhanh, thể hiện sự hồi hộp, chuyển dần sang giọng vui ở cuối bài. Gợi ý cảm thụ Bài thể dục leo cột rồi đứng lên xà ngang là một bài tập khó. Có những bạn có sức khoẻ và có khiếu bam sinh như Ga-rô-iiê, Đê-rốt-xi và Cô-rét-ti thì leo dễ dàng. Có bạn vất vả hơn, như Xtác-đi, thở hồng hộc, mặt đỏ như chú gà tây. Kết quả trên của các bạn vừa động viên Nen-li vừa có thể làm Nen-li nản lòng. Đây là sự thử thách khó vượt qua với Nen-li. Thực ra cậu được miễn, nhưng cậu mong được tập như mọi người. Hoàn thành phần thứ nhất (leo cột) với cậu đã cực kì khó khăn. Hình ảnh “mặt đỏ như lửa, mồ hôi ướt đẫm trán” cho thấy cậu đã đã cố gắng đến mức tối đa, khó có thể cố hơn nữa, vì vậy, thầy giáo bảo cậu có thể xuống. Tuy nhiên cậu vẫn tiếp tục. Được các bạn động viên, Nen-li leo cho đến khi nắm được cái xà ngang. Như thế đã là xuất sắc, cho nên thầy bảo xuống. Nhưng quyết tâm của Nen-li là cũng đứng lên xà ngang như các bạn. Việc đó thật quá sức với Nen-li nhưng vì sao thầy giáo và cac bạn không ngăn cản? Là bởi thầy giáo và các bạn tuy lo cho Nen-li nhưng cũng hi vọng điều phi thường có thể có ở những con người giàu nghị lực. Sự chiến thắng của Nen-li là nhờ nghị lực, lòng dũng cảm và sự sáng tạo của chính cậu, đồng thời phải kể đến tấm lòng nhân ái, tin tưởng của thầy giáo và các bạn. XEM THÊM BÀI CÙNG VUI CHƠI TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Buổi học thể dục – Tiếng Việt 3
616
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bài hát trồng cây – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Bài hát trồng cây Ai trồng cây Người đó có tiếng hát Trên vòm cây Chim hót lời mê say. Ai trồng cây Người đó có ngọn gió Rung cành cây Hoa lá đùa lay lay. Ai trồng cây Người đó có bóng mát Trong vòm cây Quên nắng xa đường dài. Ai trồng cây Người đó có hạnh phúc Mong chờ cây Mau lớn lên từng ngày. Ai trồng cây… Em trồng cây… Em trồng cây… (Bế Kiến Quốc) Cách đọc Giọng đọc vui, thể hiện niềm vui của người trồng cây. Mỗi khổ có 4 câu, thường hai câu làm thành một cặp về ý, cho nên đọc gần như nhập hai câu đầu với nhau và hai câu cuối với nhau. Ví dụ: Ai trồng cây / Người đó có tiếng hát Trên vòm cây / Chim hốt lời mê say. Ba câu cuối đọc chậm, nhấn vào điệp ngữ “Em trồng cãy”. Gợi ý cảm thụ Hãy thử tưởng tượng cuộc sống này sẽ ra sao nếu thiếu cây xanh? Hãy chưa nói đến việc cây xanh cung cấp ô-xy để duy trì sự thở của người và động vật. Hãy chỉ tưởng tượng mùa hè với những con đường nắng như thiêu như đốt không một bóng cây. Và hè đến cũng chẳng có tiếng chim lích chích hay tiếng ve sầu kêu râm ran trong vòm lá. Còn thu về không có lá vàng rơi xuống công viên, không có luỹ tre rì rào lúc ban mai,… Cây không biết hát nhưng nhờ có cây mà chim chóc tụ họp, hát lời mê say. Cây không tạo ra gió, nhưng nhờ có cây, ta cảm nhận được gió. Còn cây tạo ra bóng mát thì ai cũng thấy: nhờ có bóng mát mà người đi đường “quên nắng xa đường dài”. Và cây còn gì nữa? Khổ cuối kết thúc bài bằng cách bỏ lửng: Ai trồng cây… Em trồng cây… Em trồng cây… Có nghĩa là ai trồng cây còn được nhiều thứ nữa. Và các cô cậu học sinh nhỏ đã sung sướng tự nguyện “Em trồng cây… – Em trồng cây…”. XEM THÊM BÀI BÁC SĨ Y-ÉC-XANH TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bài hát trồng cây – Tiếng Việt 3
349
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bàn tay cô giáo – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Bàn tay cô giáo Một tờ giấy trắng Cô gấp cong cong Thoắt cái đã xong Chiếc thuyền xinh quá! Một tờ giấy đỏ Mềm mại tay cô Mặt trời đã phô Nhiều tia nắng tỏa. Thêm tờ xanh nữa Cô cắt rất nhanh Mặt nước dập dềnh Quanh thuyền sóng lượn. Như phép mầu nhiệm Hiện trước mắt em: Biển biếc bình minh Rì rào sóng vỗ… Biết bao điều lạ Từ bàn tay cô. (Nguyễn Trọng Hoàn). Cách đọc Đọc nhấn vào các tiếng gieo vần và đổi thanh điệu (đối thanh). Ví dụ: Một tờ giấy trắng Cô gấp cong cong Thoắt cái đã xong Chiếc thuyền xinh quá! Gợi ý cảm thụ Bài thơ nói về giờ học thủ công hoặc là một buổi vui chơi. Từ những tờ giấy màu, cô gấp thành thuyền, cắt hình mặt trời, hình sóng nước. Những hình ấy xếp khéo bên nhau, tạo ra một cảnh biển thật đẹp. Tưởng như bàn tay cô giáo có phép nhiệm mầu. Và những đồ chơi ấy không chỉ là sản phẩm của sự khéo tay. Nó còn chứa cả tâm hồn, tình cảm, cho nên mỗi sự vật mang sức sống như thật: mặt trời “nhiều tia nắng toả”, mặt nước “dập dềnh”, “quanh thuyền sóng lượn”, biển biếc “rì rào sóng vỗ”. Bàn tay nhiệm mầu của cô giáo còn truyền tiếp sang các bạn nhỏ. Niềm vui không chỉ là được chơi mà còn là được tự mình làm ra đồ chơi. Đó là những giờ học thật là vui và bổ ích. Đồ chơi hiện đại ngày nay có những chiếc tàu, thuyền được điều khiển từ xa, chạy dưới nước như thật, nhưng không thể thay thế những cái thuyền giấy gấp do tự tay mình làm. Bởi nó là trí tuệ, là tâm hồn của chính mình, là tình yêu quê hương, đất nước của mình. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bàn tay cô giáo – Tiếng Việt 3
307
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bận – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Bận Trời thu bận xanh Sông Hồng bận chảy Cái xe bận chạy Lịch bận tính ngày Con chim bận bay Cái hoa bận đỏ Cờ bận vẫy gió Chữ bận thành thơ Hạt bận vào mùa Than bận làm lửa. Cô bận cấy lúa Chú bận đánh thù Mẹ bận hát ru Bà bận thổi nấu. Còn con bận bú Bận ngủ bận chơi Bận tập khóc cười Bận nhìn ánh sáng. Mọi người đều bận Nên đời rộn vui Con vừa ra đời Biết chăng điều đó Mà đem vui nhỏ Góp vào đời chung. (Trinh Đường) Cách đọc Giọng đọc tươi vui, rộn rã, nhịp nhàng. Mười câu thơ đầu đọc với giọng ngạc nhiên, thích thú. Tám câu tiếp đọc với giọng trìu mến, yêu thương. Sáu câu cuối bài đọc với giọng hân hoan, náo nức. Gợi ý cảm thụ Nếu tính cả nhan đề thi bài thơ có tới 21 chữ “bận”: sự vật bận, con người (cả người lớn, trẻ con) đều bận. Bài thơ như một định nghĩa đầy đủ nhất về chữ “bận”. Mười câu thơ đầu kể về sự bận rộn của vạn vật xung quanh ta. Từ trời thu, sông Hồng, cái xe, quyển lịch, con chim, cái hoa đến cờ, chữ nghĩa, hạt, than,… và có lẽ mọi thứ khác nữa cũng đều rộn ràng, loay hoay trong công việc bình thường, hằng ngày của mình. Đã là trời thu phải xanh, là sông phải chảy, cái xe phải chạy ; đã là chim phải biết bay, là bông hoa phải thắm sắc tươi màu,… Như vậy, chữ “bận” ở đây có ý nghĩa gì? Các em đều thấy rằng, mọi vật xung quanh ta đều làm đẹp cho đời, đều có ích. Tác giả đã sử dụng một loạt các từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ ; từ chỉ hoạt động: chảy, chạy, tính, bay, vẫy, vào, làm ; các từ chỉ sự vật: ngày, gió, thơ, mùa, lửa. Mỗi sắc màu, hoạt động của sự vật đều làm cho cuộc sống trở nên rộn rã, tươi vui. Vạn vật thu gọn lại trong chữ “bận” và toả ra niềm vui chung. Phải yêu đời tha thiết như thế nào, nhà thơ Trinh Đường mới mô tả thế giới xung quanh ta nhiều màu sắc, nhiều chuyển động đến thế. Từ trời rộng sông dài đến những sự vật nhỏ bé nhất như con chim, cái hoa, cái chữ, hạt giống, cái gì cũng phải làm việc giúp ích cho đời, ai vào việc nấy, lúc nào cũng thật bận rộn, đáng yêu. Sáu câu cuối, nhà thơ chỉ ra ý nghĩa, kết quả, mục đích của sự bận rộn: bận là để cho đời rộn vui. Con có biết rằng, sự có mặt của con trên đời là niềm vui lớn nhất của cha mẹ? Con ra đời và cuộc đời ngoài kia tươi trẻ mãi, cuộc sống sẽ bận rộn hơn, miệt mài hơn. Mai này khi con lớn lên, con sẽ hiểu ra, con hãy sống thật “bận rộn” để đem niềm vui cho mọi người, cho cuộc đời. Những câu thơ đã thể hiện tình yêu thương của cha mẹ với em bé, niềm hạnh phúc lớn lao của người cha, người mẹ khi em bé ra đời. Lời thơ chứa chan niềm tin yêu, hi vọng của cha mẹ dành cho con. XEM THÊM BÀI 19: LỪA VÀ NGỰA – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bận – Tiếng việt 3.
561
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bội đội về làng – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Bộ đội về làng Các anh về Mái ấm nhà vui, Tiếng hát câu cười Rộn ràng xóm nhỏ. Các anh về Tưng bừng trước ngõ, Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau. Mẹ già bịn rịn áo nâu Vui đàn con ở rừng sâu mói về. Làng tôi nghèo Mái lá nhà tre. Các anh về Xôn xao làng bé nhỏ. Nhà lá đơn sơ Tấm lòng rộng mỏ Nồi cơm nấu dỏ Bát nước chè xanh Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau. (Hoàng Trung Thông) Cách đọc Đọc nghỉ lâu hơn ở câu kết thúc khổ thơ. Nhấn mạnh vào các từ gợi tả: hớn hở, hịn rịn, xôn xao. Ngắt rõ ràng ở các hình ảnh đối xứng nhau: Nhà lá đơn sơ// Tấm lòng rộng mở Nồi cơm nấu dở// Bát nước chè xanh. Gợi ý cảm thụ Bài thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông làm trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Thuở ấy nhân dân còn rất nghèo, nhưng hết lòng giúp đỡ bộ đội, coi bộ đội như người nhà. Cảnh đón bộ đội về làng như đón người thân đi xa về. Các em nhỏ thấy bộ đội như những người anh, các bà mẹ thấy bộ đội như những người con: Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau. Mẹ già bịn rịn áo nâu Tác giả tả rất chính xác: trẻ em hồn nhiên, cứ thấy người đi xa về là thích, cho nên “hớn hở chạy theo sau”, còn các bà mẹ thì “bịn rịn”, vui buồn lẫn lộn, bởi thương bộ đội bao ngày ở rừng sâu thiếu thốn, gian khổ. Cuộc sum họp diễn ra trong không gian làng quê nghèo, không có cỗ bàn, yến tiệc, không có những bài diễn văn trang trọng, mà dưới mái lá nhà tre, bên nồi cơm nấu dở, bát nước chè xanh, những thứ quen thuộc thường ngày với đời sống dân quê. Nhà cửa, đồ ăn thức uống đều đạm bạc nhưng quân dân quây quần thân mật, ấm cúng. Hình ảnh Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau như hình ảnh đoàn tụ gia đình rất thân thương, đầm ấm. XEM THÊM BÀI HAI BÀ TRƯNG TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Bội đội về làng – Tiếng Việt 3
368
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Chiếc áo len – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Chiếc áo len 1.Năm nay, mùa đông đến sớm. Gió thổi từng cơn lạnh buốt. Đã hơn một tuần nay, Lan thấy Hoà có chiếc áo len màu vàng thật đẹp. Áo có dây kéo ở giữa, lại có cả mũ để đội khi có gió lạnh hoặc mưa lất phất. Lan đã mặc thử, ấm ơi là ấm. Đêm ấy, em nói với mẹ là em muốn có một chiếc áo len như của bạn Hoà. 2. Mẹ đang định mua áo ấm cho hai anh em Tuấn, Lan. Thấy con gái nói vậy, mẹ bối rối: – Cái áo của Hoà đắt bằng tiền cả hai cái áo của anh em con đấy. Lan phụng phịu: – Nhưng con chỉ muốn một chiếc áo như thế thôi. Dỗi mẹ, Lan đi nằm ngay. Em vờ ngủ. 3. Một lúc lâu, bỗng em nghe thấy tiếng anh Tuấn thì thào với mẹ: – Mẹ ơi, mẹ dành hết tiền mua cái áo ấy cho em Lan đi. Con không cần thêm áo đâu. Giọng mẹ trầm xuống: – Năm nay trời lạnh lắm. Không có áo ấm, con sẽ ốm mất. – Con khoẻ lắm, mẹ ạ. Con sẽ mặc thêm nhiều áo cũ ở bên trong. Tiếng mẹ âu yếm: – Để mẹ nghĩ đã. Con đi ngủ đi. 4. Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá. Em muốn ngồi dậy xin lỗi mẹ và anh, nhưng lại xấu hổ vì mình đã vờ ngủ. Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng để nói với mẹ: “Con không thích chiếc áo ấy nữa. Mẹ hãy để tiền mua áo ấm cho cả hai anh em”. Theo Từ Nguyên Thạch Cách đọc Đọc với giọng kể chuyện, nhẹ nhàng, chậm rãi. Chú ý những từ ngữ tả hành động, tâm trạng, suy nghĩ của bé Lan, cần đọc thật chậm, diễn cảm để người nghe hình dung cụ thể, đồng thời cảm nhận được ý vị sâu xa của câu chuyện. Giọng Lan nũng nịu. Giọng Tuấn thì thào nhưng mạnh mẽ, thuyết phục. Giọng mẹ lúc bối rối, khi cảm động, âu yếm. Ai cũng thích có quần áo đẹp, em bé nào cũng thích được xúng xính diện quần áo mới và đẹp để khoe với bạn bè. Bé Lan trong truyện Chiếc áo len cũng vậy, em thấy bạn Hoà có chiếc áo len màu vàng “có dây kéo ở giữa, lại có cả mũ để đội khi có gió lạnh hoặc mưa lất phất”, “ấm ơi là ấm”. Em nói với mẹ là em muốn có một chiếc áo len như thế. Người mẹ yêu con nhưng cũng không thể chiều theo ý thích của cô con gái, vì mẹ phải để tiền mua áo cho cả hai anh em. Mẹ lo lắng khi mùa đông năm nay lạnh hơn, rét hơn, nếu không mua áo cho Tuấn, mà chỉ mua áo cho Lan thì Tuấn sẽ ốm mất. Mẹ “bối rối” trước ý thích của Lan, và “giọng mẹ trầm xuống” trước lời đề nghị rất dứt khoát của Tuấn: “Mẹ ơi, mẹ dành hết tiền mua cái áo ấy cho em Lan đi. Con không cần thêm áo đâu”. Mẹ luôn lo lắng, chăm chút cho các con và rất công bằng. Những lời nói của Tuấn đã động viên mẹ nhiều, mẹ cũng yên tâm hơn dù mẹ nói: “Để mẹ nghĩ đã”. Hình ảnh người mẹ trong những đoạn đầu của truyện thật hiền hậu, mẹ thương con hết mực, mẹ luôn nói với con bằng những câu nói nhẹ nhàng, âu yếm. Để diễn tả tâm trạng của mẹ, tình yêu của mẹ dành cho con, tác giả đã sử dụng những từ láy có giá trị biểu cảm cao như: “bối rối”, “âu yếm”. Tác giả hai lần tả giọng nói của mẹ, lúc thì “trầm xuống” vì lo lắng, khi thì “âu yếm” vì vui, xúc động trước những lời nói rất ngoan, trước tình cảm của đứa con trai bé bỏng nhưng rất ra dáng người anh trai, độ lượng, biết nhường nhịn em. Nhân vật Tuấn là một cậu bé ngoan ngoãn, đáng yêu. Tuấn biết thương mẹ, nhường nhịn, lo cho em. Những lời nói của Tuấn vừa giản dị, dứt khoát vừa chững chạc và dễ thương, dễ mến: -Mẹ ơi, mẹ dành hết tiền mua cái áo ấy cho em Lan đi. Con không cần thêm áo đâu. -Con khoẻ lắm, mẹ ạ. Con sẽ mặc thêm nhiều áo cũ ở bên trong. Em bé gái thường thích điệu đà, cần phải mặc đẹp. Là anh trai, Tuấn có thể ăn mặc đơn giản hơn một chút cũng không sao, và nếu rét, em sẽ mặc nhiều áo cũ vào là đủ ấm. Bậc cha mẹ nào cũng sẽ thật ấm lòng khi nghe con cái nói những câu đầy tình yêu thương như vậy. Tuấn còn nhỏ mà đã biết nhường nhịn em, biết lo nghĩ, biết thương bố mẹ, thật đáng quý biết bao! Về em bé Lan, cũng vì là bé gái, Lan thích có một cái áo đẹp, chỉ là một cái áo len giống như bạn Hoà thôi. Mẹ nói vậy nghĩa là mẹ không thể mua cái áo đắt tiền đó cho Lan. Lan dỗi mẹ, đi nằm, vờ ngủ. Em còn bé, chưa suy nghĩ thấu đáo, chỉ thích làm theo ý mình, muốn gì là phải được ngay. Nhưng Lan vẫn là em bé ngoan, nằm trong chăn ấm, Lan nghe thấy cuộc nói chuyện của mẹ và anh. Suy nghĩ, lời nói, tấm lòng của mẹ và anh đủ để bé Lan nhận ra lỗi của mình. Chỉ trong hai câu văn, tác giả đã dùng một loạt các từ để miêu tả tâm trạng của Lan: ân hận, xấu hổ, muốn xin lỗi mẹ và anh. Cô bé đã vô tình làm cho mẹ phải suy nghĩ, anh Tuấn phải xin mẹ nhịn mặc để nhường em. Lan đã làm mẹ buồn, Lan thấy mình ích kỉ, chỉ biết nghĩ đến điều mình thích, không biết nghĩ đến anh, cho dù anh đã yêu thương, nhường nhịn mình biết bao. Cả mẹ và anh đều không trách mắng gì Lan, nhưng em đã tự nhận ra lỗi của mình. Có lẽ từ khi ấy đến lúc trời sáng, Lan sẽ chẳng thể nào ngủ được. Càng thương mẹ, thương anh, cô bé sẽ càng thấy mình có lỗi biết bao. Chi tiết “em mong trời mau sáng” đã chứng tỏ Lan muốn sửa chữa ngay khuyết điểm để mẹ và anh không phải phiền lòng vì mình nữa. Thật vui biết bao khi cả hai anh em sẽ cùng có áo mới, cùng mặc áo ấm trong những ngày đông giá rét. Đâu cần phải là áo thật đẹp, thật diện, thật đắt tiễn như của bạn Hoà cơ chứ? Điều quan trọng nhất trong gia đình là anh em phải biết yêu thương, lo lắng và nhường nhịn lẫn nhau. Mẹ của Lan và Tuấn là người mẹ hạnh phúc vì có những đứa con ngoan, biết thương mẹ, biết yêu thương nhau. XEM THÊM BÀI 5: CÔ GIÁO TÍ HON – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Chiếc áo len – Tiếng việt 3.
1,208
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Chõ bánh khúc của dì tôi – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Chõ bánh khúc của dì tôi Dì tôi cắp một chiếc rổ lớn, dắt tay tôi đi hái rau khúc. Cây rau khúc rất nhỏ, chỉ bằng một mầm cỏ non mới nhú. Lá rau như mạ bạc, trông như được phủ một lượt tuyết cực mỏng. Những hạt sương sớm đọng trên lá long lanh như những bóng đèn pha lê. Hai dì cháu tôi hái đầy rổ mới về. …Ngủ một giấc dậy, tôi đã thấy dì mang chõ bánh lên. Vung vừa mở ra, hơi nóng bốc nghi ngút. Những cái bánh màu rêu xanh lấp ló trong áo xôi nếp trắng được đặt vào những miếng lá chuối hơ qua lửa thật mềm, trông đẹp như những bông hoa. Nhân bánh là một viên đậu xanh giã nhỏ vàng ươm, xen một thỏi mỡ xinh xắn, pha hạt tiêu, cắn một miếng bánh thì như thấy cả hương đồng, cỏ nội gói vào trong đó. Bao năm rồi, tôi vẫn không sao quên được vị thơm ngậy, hăng hắc của chiếc bánh khúc quê hương. Theo Ngô Văn Phú Cách đọc Đọc đúng giọng văn miêu tả (xen với kể), nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Đọc giọng hồn nhiên, vui vẻ, phù hợp với giọng điệu của một bạn nhỏ. Gợi ý cảm thụ Nếu em nào sinh trưởng ở các vùng quê đồng bằng Bắc Bộ thì hẳn không xa lạ với cây rau khúc và chiếc bánh khúc mộc mạc, dân dã nhưng có hương vị khó quên. Bài văn Chõ bánh khúc của dì tôi của nhà văn Ngô Văn Phú đã miêu tả một cách tự nhiên, khéo léo và tinh tế hình ảnh cây rau khúc, chiếc bánh khúc ; đã diễn tả cũng khéo léo và tinh tế tình yêu quê hương gắn với những kỉ niệm thời thơ ấu của chính tác giả. Trước hết, hình ảnh cây rau khúc nhỏ nhoi, khiêm nhường, mọc trên các luống khoai lang hoặc ở đồng bãi của các vùng quê đồng bằng Bắc Bộ được tác giả miêu tả rất khéo, rất sinh động. Điểm nổi bật trong đoạn văn miêu tả cây rau khúc là tác giả đã sử dụng thủ pháp so sánh khá nhiều. Vì vậy, đoạn văn giàu hình ảnh và người đọc dễ hình dung sự vật mà nhà văn muốn diễn tả. Để diễn tả “cây rau khúc rất nhỏ”, tác giả ví: “chỉ bằng một mầm cỏ non mới nhú”. Rồi “lá rau như mạ bạc, trông như được phủ một lớp tuyết thật mỏng”. Còn “những hạt sương sớm đọng trên lá” thì “long lanh như những bóng đèn pha lê”… Mật độ dày của những hình ảnh so sánh nêu trên đã gây được ở người đọc một ấn tượng đẹp về hình ảnh của những cây rau khúc nhỏ bé, dễ thương ; hình ảnh của bờ bãi, đồng quê trên quê hương yêu dấu. Tiếp đến là hình ảnh của những chiếc bánh khúc được tác giả nhớ lại, vẽ nên một cách cụ thể và sinh động. Đó là “những cái bánh màu rêu xanh lấp ló trong áo xôi nếp trắng được đặt vào những miếng lá chuối hơ qua lửa thật mềm, trông đẹp như những bông hoa”. Trong câu văn trên, “áo xôi nếp trắng” là một hình ảnh ẩn dụ. Những hạt xôi nếp bọc quanh chiếc bánh được coi như một lớp áo ngoài của bánh. Lớp áo đó điểm tô cho chiếc bánh và làm tăng sự hấp dẫn của thứ sản phẩm đồng quê này. Cạnh đó là một hình ảnh so sánh: “những cái bánh màu rêu xanh lấp ló trong áo xôi nếp trắng… trông đẹp như những bông hoa” ; bông hoa có màu xanh rêu của thân bánh, màu trắng điểm xuyết của những hạt xôi, vừa đẹp vừa ngon mắt. Nhưng thú vị nhất là khi được trực tiếp thưởng thức món quà quê này: “Cắn một miếng bánh thì như thấy cả hương đồng, cỏ nội gói vào trong đó”. Quả là như vậy, bánh khúc được coi là một thức quà của đồng nội và hương vị đó là hương vị đồng quê Việt Nam. Điều đó giải thích được vì sao sau bao nhiêu năm tháng của cuộc đời, tác giả vẫn không quên được hương vị của chiếc bánh khúc quê hương. Và tình yêu, nỗi nhớ đối với quê hương cũng thường bắt đầu, khởi nguồn từ tình yêu, nỗi nhớ đối với những sự vật rất đỗi bình thường như vậy. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Chõ bánh khúc của dì tôi – Tiếng việt 3.
782
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Chú chim sẻ và bông hoa bằng lăng – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Chú chim sẻ và bông hoa bằng lăng Ở gần tổ của một chú sẻ non đang tập bay có một cây bằng lăng. Mùa hoa này, bằng lăng nở hoa mà không vui vì bé Thơ, bạn của cây, phải nằm viện, sẻ non biết bằng lăng đã giữ lại một bông hoa cuối cùng để đợi bé Thơ. Sáng hôm ấy, bé Thơ về, bông bằng lăng cuối cùng đã nở. Nhưng bông hoa lại nở cao hơn cửa sổ nên bé không nhìn thấy nó. Bé cứ ngỡ là mùa hoa đã qua. Sẻ non rất yêu bằng lăng và bé Thơ. Nó muốn giúp bông hoa. Nó chắp cánh, bay vù về phía cành bằng lăng mảnh mai. Nó nhìn kĩ cành hoa rồi đáp xuống. Cành hoa chao qua, chao lại. Sẻ non cố đứng vững. Thế là bông hoa chúc hẳn xuống, lọt vào khuôn cửa sổ. Lập tức, sẻ nghe thấy tiếng reo từ trong gian phòng tràn ngập ánh nắng: – Ôi, đẹp quá! Sao lại có bông bằng lăng nở muộn thế kia? Cách đọc Đọc bài với giọng kể chậm, nhẹ nhàng ở đoạn 1 và 2. Đoạn 3 đọc với giọng hồi hộp. Đoạn 4 đọc với giọng nhanh, vui, như một tiếng reo, ngạc nhiên, thích thú. Chú ý nghỉ hơi đúng, đọc đúng các câu hỏi, câu cảm. Phạm Hổ là nhà văn của thiếu nhi. Thơ văn Phạm Hổ hấp dẫn người đọc trước hết ở sự hồn nhiên và lòng nhân ái. Truyện Chú sẻ và bông hoa bằng lăng được viết với cái nhìn ấm áp và nhân hậu, nhà văn coi tất cả thế giới vạn vật xung quanh đều là bầu bạn của trẻ thơ. Câu chuyện có ba nhân vật: chú sẻ non, cây bằng lăng và bé Thơ, bạn của cây. Các nhân vật được đặt trong tình huống sau: chú sẻ non đang tập bay, chú sẻ rất yêu quý cây bằng lăng và bé Thơ ; bé Thơ phải nằm viện ; còn cây hoa bằng lăng đang cố giữ lại bông hoa cuối cùng để chờ bé Thơ trở về nhà. Câu văn mở đầu giới thiệu hai người bạn của bé Thơ: “Ở gần tổ của một chú sẻ non đang tập bay có một cây bằng lăng”. Hai người bạn vì yêu quý bé Thơ nên mỗi bạn đều cố gắng làm một việc tốt để đem lại niềm vui cho bé, nhất là khi bé bị ốm, phải nằm viện. Bằng lăng giữ lại một bông hoa cuối cùng để đợi bé Thơ. Chú sẻ non tìm mọi cách để bông hoa có thể lọt vào khuôn cửa sổ cho bé Thơ nhìn thấy. Cả hai không ai bảo ai, đều hết lòng theo cách của mình để dành tặng món quà tinh thần đầy ý nghĩa cho cô bé. Bé Thơ có hai người bạn tốt, có tấm lòng thật đáng quý. Cả bé Thơ cũng là người bạn đáng yêu vô cùng vì bé Thơ biết yêu hoa, không phụ lòng tốt của cây bằng lăng và chú sẻ non. Mẩu chuyện nhỏ ẩn chứa cái nhìn nhân hậu của nhà văn Phạm Hổ. Nhà văn vừa nâng niu từng ý nghĩ, tình cảm, hành động của nhân vật vừa nâng niu từng câu, từng chữ trong sáng tác của mình. Lời văn nhẹ nhàng, tươi vui, ngộ nghĩnh, từng câu chữ như những bậc thang tạo thành chiếc cầu nối giữa trẻ thơ với thế giới xung quanh. Câu chuyện của chú sẻ non, cây hoa bằng lăng và bé Thơ đã hướng chúng ta tới những tình cảm trong sáng đầy thân ái giữa con người với thiên nhiên, giữa thiên nhiên với trẻ thơ. Thiên nhiên chính là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người từ lúc thơ ấu cho đến suốt cuộc đời Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Chú chim sẻ và bông hoa bằng lăng – Tiếng việt 3.
663
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Con cò – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Con cò Đồng phẳng lặng, lạch nước trong veo, quanh co uốn khúc sau một nấm gò. Màu thanh thiên bát ngát, buổi chiều lâng lâng. Chim khách nhảy nhót ở đầu bờ, người đánh giậm siêng năng không nề bóng xế chiều, vẫn còn bì bõm dưới bùn nước quá đầu gối. Một con cò trắng đang bay chầm chậm bên chân trời. Vũ trụ như của riêng nó, khiến con người ta vốn không cất nổi chân khỏi đất, cảm thấy bực dọc vì cái nặng nề của mình. Con cò bay là là, rồi nhẹ nhàng đặt chân lên mặt đất, dễ dãi, tự nhiên như mọi hoạt động của tạo hoá. Nó thong thả đi trên doi đất. Rồi nó lại cất cánh bay, nhẹ như chẳng ngờ, không gây một tiếng động trong không khí. Theo Đinh Gia Trinh Cách đọc Đọc chậm, giọng nhẹ nhàng. Nhấn vào các từ miêu tả buổi chiều quê yên tĩnh và thoáng đãng: phẳng lặng, trong veo, quanh co uốn khúc, bát ngát, lâng lâng, bì bõm, chầm chậm, là là, nhẹ nhàng, thong thả. Gợi ý cảm thụ Cánh đồng chiều quê thật yến tĩnh và thoáng đãng. Không gian như rộng ra bởi cánh đồng phẳng lặng, da trời màu thanh thiên bát ngát và lạch nước trong veo quanh co uốn khúc. Cảnh tĩnh mịch và trong trẻo đến mức người ta có thể nghe thấy cả tiếng bì bõm của một người đánh giậm một mình, nhìn thấy cả mấy con chim khách nhỏ bé nhảy nhót ở đầu bờ, đặc biệt nhìn thấy một con cò đang bay lẻ chầm chậm ở tận chân trời xa. Đây là cách dùng “động” tả “tĩnh” của văn thơ: tả tiếng động nhỏ để thấy cái vắng của cảnh chiều. Cái hay nữa ở đây là cái không khí “chung sống hoà bình”. Ba “nhân vật” – người đánh giậm, mấy con chim khách và con cò – việc ai nấy làm, không ai xâm chiếm của ai, đe dọa ai. Thật là một bức tranh về cuộc sống tự do, thanh bình. Bài văn kết hợp miêu tả với suy ngẫm một cách kín đáo, nhẹ nhàng, khiến khi đọc xong ta thấy lâng lâng, dễ chịu. Văn của Đinh Gia Trinh đúng như nhận xét của nhà thơ Lê Đạt, “như một khung cửa nhỏ tầng thượng mở ra cho một cơn gió nhẹ mùa xuân đến sớm, một mùi hoa ngát hương và có thể tiếng hót mộng một con chim lành”. XEM THÊM BÀI BÀI HÁT TRỒNG CÂY – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Con cò – Tiếng Việt 3
441
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cuốn sổ tay – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Cuốn sổ tay Tuấn và Lân ra chơi muộn. Lúc đi ngang qua bàn Thanh, chợt thấy quyển sổ để trên bàn, Tuấn tò mò, toan cầm lên xem. Lân vội can: – Đừng! Sao lại xem sổ tay của bạn? Vừa lúc ấy, Thanh bước vào. Nghe Lân nói, Thanh bảo: – Để mang ra sân cùng xem! Các bạn đang đố nhau về các nước, nhờ tớ làm trọng tài. Cả ba cùng chạy ào ra sân. Quyển sổ được mở ra. Những dòng chữ nắn nót ghi nội dung họp, các việc cần làm, những chuyện lí thú… Thanh lên tiếng: – Đây rồi! Mô-na-cô đúng là nước vào loại nhỏ nhất, diện tích chỉ gần bằng nửa Hồ Tây ở thủ đô Hà Nội. Nhưng Va-ti-căng còn nhỏ hơn: Quốc gia đặc biệt này rộng chưa bằng một phần năm Mô-na-cô. Nước lớn nhất là Nga, rộng hơn nước ta trên 50 lần. Bốn, năm bạn cùng reo lên. Riêng Tùng chưa chịu thua: – Thế nước nào ít dân nhất? Tất cả nhìn nhau, rồi nhìn Tùng. Anh chàng vẻ rất tự tin: – Cũng là Va-ti-căng. – Đúng đấy! – Thanh giải thích – Va-ti-căng chỉ có khoảng 700 người. Còn nước đông dân nhất là Trung Quốc: hơn 1 tỉ 200 triệu. Nguyễn Hoàng Cách đọc Đọc bình thường ở những câu kể chuyện, đổi giọng ở những câu hỏi và trả lời. Đọc nhấn vào: – Từ ngữ mang thông tin quan trọng: tên các nước, từ chỉ số lượng hoặc miêu tả diện tích, dân số: Mô-na-cô -nhỏ nhất, bằng nửa Hồ Tây ; Va-ti-căng – 700 người; Nga – hơn nước ta trên 50 lần ; Trung Quốc -1 tỉ 200 triệu. Gợi ý cảm thụ Sổ tay là phương tiện ghi chép rất nhiều thứ cần thiết, sổ tay của bạn Thanh ghi nội dung họp, các việc cần làm, những chuyện lí thú,… đó là một cuốn sổ tay hữu ích. Nó nhắc nhở, ghi nhớ công việc đồng thời lưu giữ kiến thức khoa học, để khi cần dùng đến, vì không ai có thể nhớ hết. Tuy nhiên, không nên tự ý xem sổ tay của bạn, vì sổ tay ghi chép cả những điều riêng tư. Sổ tay của bạn Thanh ghi những con số lí thú về diện tích và dân số của một số nước, về diện tích, có nước khổng lồ là nước Nga, gấp ta hơn 50 lần, nhưng lại có nước tí hon là Mô-na-cô, chỉ bằng nửa Hồ Tây, nghĩa là chỉ bằng khoảng một phần 600 nước ta. Nhưng đó chưa phải là nước nhỏ nhất: nhỏ nhất là Va-ti-căng, chỉ bằng một phần năm Mô-na-cô. Về dân số, Trung Quốc là nước khổng lồ: hơn 1 tỉ 200 triệu, nghĩa là gấp 13 lần nước ta. Va-ti-căng vẫn là nước tí hon về dân số: 700 người (có tài liệu nói 1000 người), như vậy, ít hơn nhiều so với một xã, phường của ta. XEM THÊM BÀI MÈ HOA LƯỢN SÓNG TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cuốn sổ tay – Tiếng Việt 3
512
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cuộc chạy đua trong rừng – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Cuộc chạy đua trong rừng 1. Ngày mai, muông thú trong rừng mở hội thi chạy để chọn con vật nhanh nhất. Ngựa Con thích lắm. Chú tin chắc sẽ giành được vòng nguyệt quế. Chú sửa soạn không biết chán và mải mê soi bóng mình dưới dòng suối trong veo. Hình ảnh chú hiện lên với bộ đổồ nâu tuyệt đẹp, với cái bờm dài được chải chuốt ra dáng một nhà vô địch… 2. Ngựa Cha thấy thế, bảo: – Con trai à, con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng. Nó cần thiết cho cuộc đua hơn là bộ đồ đẹp. Ngựa Con mắt không rời bóng mình dưới nước, ngúng nguẩy đáp: – Cha yên tâm đi. Móng của con chắc chắn lắm. Con nhất định sẽ thắng mà! 3. Cuộc thi đã đến. Sáng sớm, bãi cỏ đông nghẹt. Chị em nhà Hươu sốt ruột gặm lá. Thỏ Trắng, Thỏ Xám thận trọng ngắm nghía các đối thủ. Bác Quạ bay đi bay lại giữ trật tự. Ngựa Con ung dung bước vào vạch xuất phát. 4. Tiếng hô “Bắt đầu!” vang lên. Các vận động viên rần rần chuyển động. Vòng thứ nhất… Vòng thứ hai… Ngựa Con dẫn đầu bằng những bước sải dài khoẻ khoắn. Bỗng chú có cảm giác vướng vướng ở chân và giật mình thảng thốt: một cái móng lung lay rồi rời hẳn ra. Gai nhọn đâm vào chân làm Ngựa Con đau điếng. Chú chạy tập tễnh và cuối cùng dừng hẳn lại. Nhìn bạn bè lướt qua mặt, Ngựa Con đỏ hoe mắt, ân hận vì không làm theo lời cha dặn. Theo Xuân Hoàng Cách đọc Đọc hơi nhanh, thể hiện sự hồi hộp theo dõi cuộc thi. Chú ý lời thoại thể hiện thái độ, suy nghĩ của mỗi nhân vật. Lời của Ngựa Cha: ôn tồn ; lời Ngựa Con: tự tin quá mức. Gợi ý cảm thụ Mở đầu câu chuyện giới thiệu cho ta một cuộc đua rất vui nhưng kết thúc lại đượm buồn vì sự bỏ cuộc của Ngựa Con, người đáng lẽ giành vòng nguyệt quế. Trước cuộc thi, Ngựa Con đầy tin tưởng, nó tin chắc sẽ giành vòng nguyệt quế, do đó chỉ mải mê tự ngắm mình, thích thú với bộ đồ nâu tuyệt đẹp, cái bờm dài. Nó nghĩ đến vẻ đẹp ấy khi nhận giải thưởng. Đó là sai lầm đầu tiên, khi Ngựa Con chỉ nghĩ đến vẻ đẹp của chiến thắng mà không chuẩn bị đầy đủ điều kiện để chiến thắng. Sai lầm trên đã được Ngựa Cha nhắc nhở rất ân cần, chu đáo, rằng nên đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng, nhưng Ngựa Con đã bỏ qua, tiếp tục soi mình làm dáng. Đây là sai lầm không thông cảm được. Phải chăng Ngựa Con đã nắm chắc phần thắng? Đúng vậy. Nhưng đáng trách là Ngựa Con quên mất những điều kiện cần thiết cho chiến thắng. Loài ngựa chạy khoẻ và nhanh không chỉ vì vốn khoẻ và nhanh mà còn do sự giúp sức của đôi móng sắt, để ngựa không bị đau chân khi giẫm phải gai và vật cứng. Và sự thể đã diễn ra cái điều mà Ngựa Cha đã căn dặn. Thất bại này đau đớn hơn cả thất bại do thua chạy. Bởi vì nó vốn chỉ là một việc nhỏ nhưng do chủ quan, Ngựa Con đã bỏ qua. XEM THÊM BÀI RƯỚC ĐÈN ÔNG SAO TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cuộc chạy đua trong rừng – Tiếng Việt 3
597
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cuộc họp của chữ viết – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Cuộc họp của chữ viết Vừa tan học, các chữ cái và dấu câu đã ngồi lại họp. Bác Chữ A dõng dạc mở đầu: – Thưa các bạn! Hôm nay chúng ta họp để tìm cách giúp đỡ em Hoàng. Hoàng hoàn toàn không biết chấm câu. Có đoạn văn em viết thế này: “Chú lính bước vào đầu chú. Đội chiếc mũ sắt dưới chân. Đi đôi giày da trên trán lấm tấm mồ hôi”. Có tiếng xì xào: – Thế nghĩa là gì nhỉ? – Nghĩa là thế này: “Chú lính bước vào. Đầu chú đội chiếc mũ sắt. Dưới chân đi đôi giày da. Trên trán lấm tấm mồ hôi”. Tiếng cười rộ lên. Dấu Chấm nói: – Theo tôi, tất cả là do cậu này chẳng bao giờ để ý đến dấu câu. Mỏi tay chỗ nào, cậu ta chấm chỗ ấy. Cả mấy dấu câu đều lắc đầu: – Ẩu thế nhỉ! Bác Chữ A đề nghị: -Từ nay, mỗi khi em Hoàng định chấm câu, anh Dấu Chấm cần yêu cầu Hoàng đọc lại câu văn một lần nữa đã. Được không nào? Phỏng theo Trần Ninh Hồ Cách đọc Đọc đúng ngữ điệu của các kiểu câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm) ; phân biệt được lời người dẫn chuyện (hóm hỉnh) và lời các nhân vật (bác Chữ A nói to, dõng dạc ; Dấu Chấm nói rõ ràng, rành mạch) ; ngắt nghỉ hơi đúng sau các dấu câu. Chú ý nhấn giọng ở một số từ ngữ: dõng dạc, xì xào, lấm tấm, lắc đầu, mũ sắt, để ý, ẩu thế. Về thể loại, đây là truyện đồng thoại dành cho thiếu nhi. Nhân vật của truyện là các con chữ. Các con chữ thường tổ chức họp bàn khi các em học sinh đã ra về. Tinh huống của câu chuyện này là Hoàng hoàn toàn không biết chấm câu, vì vậy các chữ cái họp nhau lại bàn cách giúp Hoàng. Nhà văn đã tưởng tượng ra một cuộc họp của các chữ cái và ghi chép lại bằng giọng văn hóm hỉnh, vui tươi. Mục đích của nhà văn là muốn truyền cho các em một thông điệp về dấu câu. Biện pháp nhân hoá đã giúp nhà văn truyền tải thông điệp này một cách dễ dàng và sống động. Chữ A là chữ cái đầu tiên trong bảng chữ cái tiếng Việt, vì vậy trong cuộc họp rất khẩn cấp này, “bác Chữ A dõng dạc mở đầu”. Tính cấp thiết, khẩn trương được thể hiện trong những từ ngữ ở đầu câu chuyện, thời gian rất gấp gáp, phải tiến hành họp ngay vào thời điểm “vừa tan học”. Tại sao lại phải họp ngay như vậy? Đó là bởi các con chữ rất lo lắng cho bạn Hoàng, không thể để bạn hoàn toàn không hiểu gì về dấu câu. Vì không biết nên Hoàng viết văn rất lộn xộn, đánh dấu câu tuỳ tiện ; câu văn trở nên tối nghĩa, ngược lô gích thông thường: “Chú lính bước vào đầu chú. Đội chiếc mũ sắt dưới chân. Đi đôi giày da trên trán…”. Trước tình huống nực cười này, các con chữ đầu tiên xì xào, sau khi nghe chỉnh sửa, “tiếng cười rộ lên” và cuối cùng “cả mấy dấu câu đều lắc đầu”. Bác Chữ A lại có lời đề nghị với chính anh Dấu Chấm, vì chỉ một mình anh có thể giúp Hoàng. Câu nói của bác Chữ A cũng chính là lời nhắc nhở rất âu yếm, nhẹ nhàng của nhà văn với tất cả các bạn học sinh. Truyện còn giúp các em biết cách tổ chức một cuộc họp. Những câu trong bài thể hiện đúng diễn biến của một cuộc họp. Bài học này cho chúng ta những kinh nghiệm bổ ích, lí thú về học tập, đồng thời cũng cho các em làm quen với việc tổ chức và điều hành một cuộc họp nho nhỏ. XEM THÊM BÀI 13: MÙA THU CỦA EM – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cuộc họp của chữ viết – Tiếng việt 3.
684
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Các em nhỏ và cụ già – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Các em nhỏ và cụ già 1. Mặt trời đã lùi dần về chân núi phía tây. Đàn sếu đang sải cánh trên cao. Sau một cuộc dạo chơi, đám trẻ ra về. Tiếng nói cười ríu rít. 2. Bỗng các em dừng lại khi thấy một cụ già đang ngồi ở vệ cỏ ven đường. Trông cụ thật mệt mỏi, cặp mắt lộ rõ vẻ u sầu. – Chuyện gì xảy ra với ông cụ thế nhỉ? – Một em trai hỏi. Đám trẻ tiếp lời, bàn tán sôi nổi: – Chắc là cụ bị ốm? – Hay cụ đánh mất cái gì? – Chúng mình thử hỏi xem đi! 3. Các em tới chỗ ông cụ, lễ phép hỏi: – Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không ạ? Cụ già thở nặng nhọc, nhưng đôi mắt ánh lên nhữnq tia ấm áp: – Cảm ơn các cháu. Nhưng các cháu không giúp ông được đâu. 4. Cụ ngừng lại, rồi nghẹn ngào nói tiếp: – Ông đang rất buồn. Bà lão nhà ông nằm bệnh viện mấy tháng nay rồi. Bà ốm nặng lắm, khó mà qua khỏi, ông ngồi đây chờ xe buýt để đến bệnh viện, ông cảm ơn lòng tốt của các cháu. Dẫu các cháu không giúp gì được, nhưng ông cũng thấy lòng nhẹ hơn. 5. Đám trẻ lặng đi. Các em nhìn cụ già đầy thương cảm. Theo Xu-khôm-lin-xki (Tiếng Việt 3, 1995) Cách đọc Đọc với giọng kể chuyện, nhẹ nhàng, chậm rãi. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả như ríu rít, mệt mỏi, u sầu, bàn tán, sôi nổi, nặng nhọc, ấm áp, nghẹn ngào, thương cảm. Đọc đúng các kiểu câu kể, câu hỏi. Khi đọc chú ý phân biệt lời dẫn chuyện với lời nhân vật. Những câu hỏi của các bạn nhỏ đọc với giọng lo lắng, băn khoăn, thể hiện sự lễ độ, ân cần với cụ già. Giọng cụ già buồn, nghẹn ngào. Gợi ý cảm thụ Câu chuyện Các em nhỏ và cụ già nhắc nhở mọi người trong cộng đồng phải quan tâm đến nhau. Sự quan tâm, sẵn sàng chia sẻ của người xung quanh làm cho mỗi người thấy những lo lắng, buồn phiền dịu bớt và cuộc sống tốt đẹp hơn. Tác giả dẫn dắt người đọc vào câu chuyện bằng một tín hiệu thời gian: buổi chiều, khi “mặt trời đã lùi dần về chân núi phía tây” và một tín hiệu về không gian với hình ảnh “đàn sếu đang sải cánh trên cao”. Truyện bắt đầu bằng chi tiết các em nhỏ đi về nhà sau một cuộc dạo chơi vui vẻ. Các em nhỏ gặp một cụ già đang ngồi ven đường, vẻ mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu. Các em dừng lại, đều thấy lo lắng không hiểu có chuyện gì không hay khiến cho ông cụ buồn bã, u sầu đến vậy. Tất cả đều băn khoăn và trao đổi với nhau. Có bạn đoán cụ bị mất cái gì đó. Cuối cùng, cả tốp đến tận nơi hỏi thăm ông cụ. Ông cụ gặp chuyện buồn vì cụ bà bị ốm nặng, đang nằm trong bệnh viện, rất khó qua khỏi. Như tên gọi của câu chuyện, nhà văn kể về cuộc gặp gỡ, chuyện trò của các em nhỏ và cụ già, sự quan tâm, chia sẻ của các em với cảnh ngộ đáng buồn của cụ. Hình ảnh cụ già được miêu tả qua các chi tiết: cụ đang ngồi ở vệ cỏ ven đường, dáng điệu mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu, cụ thở nặng nhọc. Hình ảnh một cụ già mệt mỏi, buồn bã ngồi ven đường đã làm các em nhỏ không thể không chú ý. Các em chia sẻ, hỏi han cụ không phải bằng những câu hỏi thăm qua loa, đại khái, với cái nhìn ái ngại, thương hại mà với thái độ lễ phép, sự quan tâm ân cần, chân thành. Các em thực sự xúc động trước nỗi đau của cụ già, “đám trẻ lặng đi” trước lời tâm sự của cụ. Vì thế, cho dù cụ già “thở nặng nhọc” nhưng đôi mắt cụ vẫn “ánh lên những tia ấm áp” và cụ “cũng thấy lòng nhẹ hơn”. Cụ già hai lần nói lời cảm ơn đối với các em nhỏ, cho dù các em không thể giúp gì được cho cụ. XEM THÊM BÀI 20: BẬN – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Các em nhỏ và cụ già – Tiếng việt 3.
753
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cái cầu – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Cái cầu Cha gửi cho con chiếc ảnh cái cầu Cha vừa bắc xong qua dòng sông sâu Xe lửa sắp qua, thư cha nói thế Con cho mẹ xem, cho xem hơi lâu. Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghê! Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió Con kiến qua ngòi bắc cầu lá tre. Yêu cái cầu treo lối sang bà ngoại Như võng trên sồng ru người qua lại Dưới cẩu, thuyền chở đá, chở vôi Thuyền buồm đi ngược, thuyền thoi đi xuôi. Yêu hơn cả cẩu ao mẹ thường đãi đỗ Là cái cầu này ảnh chụp xa xa Mẹ bảo: cầu Hàm Rồng sông Mã Con cứ gọi cái cầu của cha. (Phạm Tiến Duật) Cách đọc Ngắt hơi theo nhịp thơ. Các câu thơ trong bài hầu hết ngắt nhịp 4/4, ví dụ: Cha gửi cho con // chiếc ảnh cái cầu Cha vừa bắc xong // qua dòng sông sâu Tuy nhiên, cũng có một số câu ngắt nhịp khác: – Dưới cầu, // thuyền chở đá, // chở vôi – Yêu hơn cả cầu ao // mẹ thường đãi đỗ – Mẹ bảo: // cầu Hàm Rồng sông Mã – Con cứ gọi // cái cầu của cha. Giọng đọc vui theo cách nghĩ thơ ngây, hồn nhiên của nhân vật “con”. Gợi ý cảm thụ Ảnh cái cầu mà người cha gửi cho con là cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã. Đây là một cái cầu có vị trí quan trọng đặc biệt trên đường Bắc Nam. Trong chiến tranh, máy bay Mĩ luôn bắn phá cầu này nhằm chặn đường tiếp viện của miền Bắc cho miền Nam. Cầu “tơ” của nhện: Đó là hình ảnh nhện chăng tơ ; sợi tơ mỏng manh có thể giúp nhện đu từ bờ này qua bờ bên kia chum nước, chẳng khác gì cái cầu qua sông của con người. Cầu “gió” của chim sáo: Chim sáo lợi dụng ngọn gió để bay qua sông, cho nên gió cũng được nhìn như một cái cầu. Cầu “lá” của kiến: Con kiến lợi dụng những lá tre rơi đặc mặt ngòi vào mùa lá rụng để bò từ bờ này sang bờ kia con ngòi. Cầu treo của người bắc qua sông nhỏ hoặc kênh, rạch là cầu mà bạn nhỏ thường qua khi sang nhà ngoại. Cầu khó đi nhưng bạn nhỏ lại thấy thú vị như nằm võng, càng thích thú khi thấy dưới cầu là các loại thuyền xuôi ngược tấp nập. Cầu ao chỉ bắc từ bờ vươn ra mặt nước một đoạn dùng để rửa ráy, một loại cầu vô cùng quen thuộc, gần gũi ở làng quê ngày trước. Tóm lại, trí tưởng tượng của bạn nhỏ tạo liên tưởng đến nhiều cái cầu khác nhau. Có những liên tưởng ngộ nghĩnh: những chiếc cầu của nhện, của chim, của kiến. Mỗi loại cầu đều có vẻ độc đáo, đáng yêu. Nhưng bạn nhỏ yêu hơn cả là chiếc cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã. Vì chiếc cầu này do cha làm và là chiếc cầu chi viện cho miền Nam kháng chiến. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cái cầu – Tiếng Việt 3
518
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cóc kiện trời – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Cóc kiện trời 1. Ngày xưa, có một năm nắng hạn rất lâu, ruộng đồng nứt nẻ, cây cỏ trụi trơ, chim muông khát khô cả họng. Cóc thấy nguy quá, bèn lên thiên đình kiện Trời. Dọc đường, gặp Cua, Gấu, Cọp, Ong và Cáo. Tất cả đều xin đi theo. 2. Đến cửa nhà Trời, chỉ thấy một cái trống to, Cóc bảo: – Anh Cua bò vào chum nước này. Cô Ong đợi sau cánh cửa. Còn chị Cáo, anh Gấu, anh Cọp thì nấp ở hai bên. Sắp đặt xong, Cóc một mình bước tới, lấy dùi đánh ba hồi trống. Thấy chú Cóc bé tẹo dám náo động thiên đình, Trời nổi giận, sai Gà ra trị tội. Gà vừa bay đến, Cóc ra hiệu, Cáo nhảy xổ tới, cắn cổ Gà tha đi. Trời sai Chó ra bắt Cáo. Chó mới ra tới cửa, Gấu đã quật chó chết tươi. Trời càng tức, sai Thần Sét ra trị Gấu. Thần Sét cầm lưỡi tầm sét hùng hổ đi ra, chưa kịp nhìn địch thủ, đã bị Ong ở sau cửa bay ra đốt túi bụi. Thần nhảy vào chum nước, lập tức Cua giơ càng ra kẹp. Thần đau quá, nhảy ra thì bị Cọp vồ. 3. Trời túng thế, đành mời Cóc vào. Cóc tâu: – Muôn tâu Thượng đế! Đã lâu lắm rồi, trần gian không hề được một giọt mưa. Thượng đế cần làm mưa ngay để cứu muôn loài. – Thôi, cậu hãy về đi. Ta sẽ cho mưa xuống! Lại còn dặn thêm: – Lần sau, hễ muốn mưa, cậu chỉ cần nghiến răng báo hiệu cho ta, khỏi phải lên đây! Cóc về đến trần gian thì nước đã ngập cả ruộng đồng. Từ đó, hễ Cóc nghiến răng là trời đổ mưa. Truyện cổ Việt Nam Cách đọc Phần 1 và 3 đọc chậm, phần 2 đọc nhanh để diễn tả trận chiến mau lẹ và chiến thắng bất ngờ của đội quân trần gian do Cóc chỉ huy. Lời của Cóc: bình tĩnh, dõng dạc, tự tin ; lòi của Tròi: ôn tồn, tỏ vẻ biết lỗi. Gợi ý cảm thụ Câu chuyện dẫn dắt ta vào một tình huống thú vị. Không ngờ con cóc bé nhỏ, xấu xí vẫn thơ thẩn ở bờ bụi hay dưới gầm giường lại có chí lớn và tài giỏi đến vậy. Các con vật ở trần gian hồi ấy đều bị nạn hạn hán, khát khô cả họng. Nhưng khác với các con vật nằm chờ chết, Cóc quyết tâm một mình lên thiên đình kiện Trời. Hành động dũng cảm của Cóc được nhiều con vật khác xin theo, nhờ đó đội quân mạnh hẳn lên. Tuy đội quân có cả loài mạnh như Gấu và Cọp, tinh ranh như Cáo, nhưng chỉ huy vẫn thuộc về Cóc. Vì chỉ có Cóc mới đủ quyết tâm, lòng dũng cảm và trí thông minh. Cóc và các con vật ở hạ giới tiêu biểu cho chính nghĩa, tình đoàn kết, mưu trí và lòng dũng cảm. Trời phải nhượng bộ trên thế thua và từ đó hễ Cóc nghiến răng, tức là nhắc nhở (hoặc coi là ra lệnh cũng được) là Trời phải làm mưa. Nó phản ánh cuộc đấu tranh chống nạn hạn hán thật quyết liệt của người xưa. XEM THÊM BÀI CUỐN SỔ TAY TẠI ĐÂY
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cóc kiện trời – Tiếng Việt 3
564
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cô giáo tí hon- Tiếng việt 3. Hướng dẫn Cô giáo tí hon Bé kẹp lại tóc, thả ống quần xuống, lấy cái nón của má đội lên đầu. Nó cố bắt chước dáng đi khoan thai của cô giáo khi cô bước vào lớp. Mấy đứa nhỏ làm y hệt đám học trò, đứng cả dậy, khúc khích cười chào cô. Bé treo nón, mặt tỉnh khô, bẻ một nhánh trâm bầu làm thước. Mấy đứa em chống hai tay ngồi nhìn chị. Làm như cô giáo, Bé đưa mắt nhìn đám học trò, tay cầm nhánh trâm bầu nhịp nhịp trên tấm bảng. Nó đánh vần từng tiếng. Đàn em ríu rít đánh vần theo. Thằng Hiển ngọng líu, nói không kịp hai đứa lớn. Cái Anh hai má núng nính, ngồi gọn tròn như củ khoai, bao giờ cũng giành phần đọc xong trước. Cái Thanh ngồi cao hơn hai em một đầu. Nó mở to đôi mắt dịu hiền nhìn tấm bảng, vừa đọc vừa mân mê mớ tóc mai. Cách đọc Đọc bài với giọng vui thong thả, nhẹ nhàng. Chú ý ngắt nghỉ đúng chỗ, theo dấu câu và theo lô gích ý nghĩa, nhấn giọng ở các từ khoan thai, khúc khích, tỉnh khô, rối rít, núng nính, hiền dịu, mân mê. Gợi ý cảm thụ Bé là con chị Nguyễn Thị út, anh hùng quân đội, quê ở xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Bài Cô giáo tí hon trích trong Mẹ vắng nhà của Nguyễn Thi – kể chuyện về Bé. Chữ Bé được viết hoa, là tên gọi thể hiện tình cảm yêu thương của bố mẹ dành cho con. Mặc dù còn ít tuổi, Bé đã chăm sóc các em nhỏ để mẹ đi chiến đấu. Đoạn đầu, tác giả đã miêu tả “cô giáo” Bé trông rất chững chạc; Để ra vẻ người lớn, giống cô giáo, Bé “kẹp lại tóc, thả ống quần xuống, lấy cái nón của má đội lên đầu”. Qua cách gọi “má”, có thể thấy bối cảnh của câu chuyện là ở miền Nam. Trò chơi lớp học giống như vở kịch có phân vai: Bé làm cô giáo, các em của Bé đóng vai học trò. Mọi cử chỉ, động tác, Bé đều cố gắng “bắt chước cô giáo”, “làm như cô giáo”: đi vào lớp, dáng đi khoan thai, treo nón, mặt tỉnh khô, đưa mắt nhìn đám học trò ; bắt chước cô giáo dạy học, bẻ nhánh trâm bầu làm thước, nhịp nhịp cái thước, đánh vần từng tiếng. Đám học trò thật ngộ nghĩnh, đáng yêu. Các em của Bé làm y hệt các học trò thật: đứng dậy, khúc khích cười chào cô, ríu rít đánh vần theo cô. Mỗi người một vẻ: thằng Hiển ngọng líu, cái Anh hai má núng nính, ngồi gọn tròn như củ khoai, bao giờ cũng giành phần đọc xong trước ; cái Thanh mở to đôi mắt dịu hiền nhìn bảng, vừa đọc vừa mân mê mớ tóc mai. Tất cả các chi tiết đều có lựa chọn, rất hợp lí, tự nhiên, các câu văn vừa kể xen lẫn tả rất sống động, hấp dẫn. Ngoài một số từ tượng thanh như khúc khích, ríu rít, ngọng líu để miêu tả tiếng nói, tiếng cười của trẻ thơ, đoạn văn chủ yếu dùng các từ ngữ tượng hình để miêu tả cử chỉ, hành động của Bé khi đóng vai cô giáo. Làm như cô giáo là đầu tóc phải gọn gàng, cặp tóc sau gáy, dáng đi phải khoan thai, cử chỉ thong thả, ánh mắt nhìn học trò phải điềm tĩnh, âu yếm và nghiêm nghị. Điều đó cho thấy, trong ấn tượng của các em, lời nói, việc làm, hành động của cô giáo luôn là chuẩn mực cho mọi lời nói, hành động. Các em say sưa, vui thích nhìn “cô giáo” chị, và trong những đôi mắt thơ ngây ấy phải chăng cũng ẩn chứa những ước ao mai sau lớn lên được là cô giáo? XEM BÀI 4: KHI MẸ VẮNG NHÀ – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cô giáo tí hon- Tiếng việt 3.
692
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cậu bé thông minh – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Cậu bé thông minh 1. Ngày xưa, có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước. Vua hạ lệnh cho mỗi làng trong vùng nọ nộp một con gà trống biết đẻ trứng, nếu không có thì cả làng phải chịu tội. Được lệnh vua, cả vùng lo sợ. Chỉ có một cậu bé bình tĩnh thưa với cha: -Cha đưa con lên kinh đô gặp Đức Vua, con sẽ lo được việc này. Người cha lấy làm lạ, nói với làng. Làng không biết làm thế nào, đành cấp tiền cho hai cha con lên đường. 2. Đến trước cung vua, cậu bé kêu khóc om sòm. Vua cho gọi vào, hỏi: – Cậu bé kia, sao dám đến đây làm ầm ĩ? – Muôn tâu Đức Vua – cậu bé đáp – bố con mới đẻ em bé, bắt con đi xin sữa cho em. Con không xin được, liền bị đuổi đi. Vua quát: – Thằng bé này láo, dám đùa với trẫm! Bố ngươi là đàn ông thì đẻ sao được! Cậu bé bèn đáp: – Muôn tâu, vậy sao Đức Vua lại ra lệnh cho làng con phải nộp gà trống biết đẻ trứng ạ? Vua bật cười, thầm khen cậu bé, nhưng vẫn muốn thử tài cậu lần nữa. 3. Hôm sau, nhà vua cho người đem đến một con chim sẻ nhỏ, bảo cậu bé làm ba mâm cỗ. Cậu bé đưa cho sứ giả một chiếc kim khâu, nói: Vua biết là đã tìm được người giỏi, bèn trọng thưởng cho cậu bé và gửi cậu vào trường học để luyện thành tài. Cách đọc Đọc với giọng kể chuyên, nhẹ nhàng, chậm rãi. Giọng người dẫn chuyện thể hiện được sự lo lắng trước yêu cầu oái oăm của nhà vua ; khoan thai, thoải mái sau mỗi lần cậu bé tài trí vượt qua được thử thách của nhà vua. Giọng cậu bé lễ phép, bình tĩnh, tự tin. Giọng nhà vua oai nghiêm, có lúc tỏ ra bực tức, quát tháo. Gợi ý cảm thụ Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống nạn ngoại xâm, chống thiên tai lũ lụt. Vì thế, các triều đại phong kiến, các đời vua luôn phải mở các cuộc thi tài, kén rể, tìm người hiền tài ra giúp nước. Có thể kể đến các truyện cổ dân gian Thánh Giống, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, Thạch Sanh,… Nhưng chỉ có một truyện cổ tích mà trong đó người hiền tài nhà vua tìm được lại là một cậu bé, con của một người nông dân. Đó là truyện Cậu bé thông minh. Không có ông bụt, bà tiên, không có phép màu kì diệu, không có những nhân vật cổ tích chết đi sống lại nhưng truyện vẫn hấp dẫn, đầy sức sống trong lòng nhân dân qua nhiều thế hệ, đặc biệt với lứa tuổi nhỏ. Đoạn đầu truyện giới thiệu chú bé thông minh qua tình huống truyện là nhà vua nghĩ ra một cách để tìm người tài trong thiên hạ: “lệnh cho mỗi làng trong vùng nọ phải nộp một con gà trống biết đẻ trứng”. Trong những truyện cổ tích về những người tài trí, thông minh, tình huống nói trên là một thử thách để nhân vật bộc lộ tài năng, phẩm chất, sự thông minh của mình. Em bé trong truyện đã vượt qua hai lần thử thách. Lần một, lên kinh đô, cậu bé kêu khóc om sòm ở trước cung vua để khi được gặp vua, cậu kể một câu chuyện khiến vua cho là vô lí (chuyện bố đẻ em bé), từ đó làm ngài phải thừa nhận: lệnh của ngài cũng vô lí (gà trống không thể đẻ trứng). Lần sau, cậu yêu cầu sứ giả về tâu Đức Vua rèn chiếc kim thành một con dao thật sắc để xẻ thịt chim. Cậu yêu cầu một việc không ai có thể làm nổi để khỏi phải thực hiện lệnh của vua. Có thể gọi là một mũi tên bắn trúng hai đích, vừa thể hiện trí thông minh, tài đối đáp vừa không cãi lệnh và cũng không cần phải thi hành lệnh vua ban. Cách giải đố của cậu bé rất lí thú ở chỗ, cậu làm cho người ra câu đố tự thấy điều phi lí mà mình đã nêu. Sự thông minh của cậu bé không phải do được học ở một trường lớp nào, đó là nhờ kinh nghiệm sống, do trí tuệ dân gian. Câu đố hóc búa và phi lí của vua ra không thể phản bác quyết liệt, vì nhà vua là người trị vì đất nước, không thể phạm thượng. Lời giải đố và cách trình bày của cậu bé thật giản dị mà bất ngờ, làm cho nhà vua ngạc nhiên, thích thú “bật cười, thầm khen cậu bé”. Đây là kiểu truyện cổ tích về nhân vật thông minh. Truyện đề cao sự mưu trí, thông minh của em bé, con trai người nông dân đồng thời tạo nên tiếng cười vui vẻ, hồn nhiên trong đời sống hằng ngày. Đã là truyện cổ tích, dĩ nhiên, chỉ là hư cấu tưởng tượng, song qua đó, mỗi chúng ta cũng đều rút ra được những điều bổ ích lí thú cho bản thân mình. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cậu bé thông minh – Tiếng Việt 3
897
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cửa Tùng – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Cửa Tùng Thuyền chúng tôi đang xuôi dòng Bến Hải – con sông in đậm dấu ấn lịch sử một thời chống Mĩ cứu nước. Đôi bờ thôn xóm mướt màu xanh luỹ tre làng và những rặng phi lao rì rào gió thổi. Từ cầu Hiền Lương, thuyền xuôi khoảng sáu cây số nữa là đã gặp biển cả mênh mông. Nơi dòng Bến Hải gặp sóng biển khơi ấy chính là Cửa Tùng. Bãi cát ở đây từng được ngợi ca là “Bà Chúa của các bãi tắm”. Diệu kì thay, trong một ngày, Cửa Tùng có ba sắc màu nước biển. Bình minh, mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt. Trưa, nước biển xanh lơ và khi chiều tà thì đổi sang màu xanh lục. Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển. Theo Thuỵ Chương Cách đọc Đọc bài văn với giọng nhẹ nhàng, chậm rãi, tràn đầy cảm xúc ngưỡng mộ, tình cảm mến yêu. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả: mướt màu xanh, rì rào, mênh mông, diệu kì, đỏ ối, hồng nhạt, xanh lơ, xanh lục. Gợi ý cảm thụ Sông Bến Hải bên bồi bên lở Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương Bài văn được viết theo lối miêu tả khách quan có kèm theo lời bình của tác giả. Tác giả xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm qua cách xưng hô “chúng tôi”. Câu văn mở đầu khiến chúng ta hình dung đoạn văn như một thước phim quay chậm: “Thuyền chúng tôi đang xuôi dòng Bến Hải”… Những câu văn tiếp theo thể hiện cảm nhận của tác giả về Cửa Tùng. Bài văn chia thành ba đoạn. Đoạn 1 là cảnh dòng sông Bến Hải với đôi bờ là làng quê yên bình với “thôn xóm mướt màu xanh luỹ tre làng và những rặng phi lao rì rào gió thổi”. Đây là những hình ảnh giản dị, đẹp đẽ, thân thiết của mọi làng quê Việt Nam. Chỉ có hàng phi lao rì rào trong gió mới giúp ta mường tượng ra đất trời Cửa Tùng, vì phi lao thường được trồng nhiều ở bờ biển để che gió báo. Biện pháp đảo ngữ “mướt màu xanh” có tác dụng nhấn mạnh, đặc tả độ xanh tươi, trù phú của làng quê hai bên bờ sông. Câu kết bài, tác giả đã nhắc lại lời người xưa: “Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển”. Cách ví von so sánh thật độc đáo làm tôn lên vẻ đẹp tuyệt vời, duyên dáng, hấp dẫn của cảnh quan thiên nhiên nơi đây. XEM THÊM BÀI 32: VÀM CỎ ĐÔNG – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Cửa Tùng – Tiếng việt 3
495
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Em vẽ Bác Hồ – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Em vẽ Bác Hồ Em vẽ Bác Hồ Trên tờ giấy trắng. Em vẽ vầng trán Trán Bác Hồ cao. Em vẽ tóc râu Chỉ vờn nhè nhẹ. Em vẽ Bác bế Hai cháu trên tay. Cháu Bắc bên này Cháu Nam bên ấy. Vẽ hết trang giấy Toàn những thiếu nhi. Theo bước Bác đi Khăn quàng đỏ thắm. Em vẽ chim trắng Bay trên trời xanh. Em để dưới tranh: “Đời đời ơn Bác”. (Thy Ngọc) Cách đọc Bài thơ gồm nhiều khổ, mỗi khổ gồm hai câu và hai câu trong một khổ đó đối nhau về thanh điệu ở tiếng thứ tư. Khi đọc cần nhấn vào những tiếng đối thanh đó, ví dụ: Cháu Bắc bên này Cháu Nam bên ấy. Giọng đọc vui tươi, thể hiện tình cảm yêu quý thiếu nhi của Bác và tình cảm yêu quý Bác của thiếu nhi. Gợi ý cảm thụ Toàn dân Việt Nam ai cũng kính yêu Bác Hồ. Nhiều em nhỏ có thể chưa từng gặp Bác Hồ nhưng trong tưởng tượng của các em luôn có hình ảnh đẹp về Bác Hồ. Bạn nhỏ vẽ Bác Hồ với những tưởng tượng ngây thơ nhưng rất chính xác về Bác. Những nét em vẽ không những là hình dáng bề ngoài mà còn thể hiện tính tình, đạo đức của Bác. Vầng trán cao là trí tuệ, tóc râu, tay bế hai cháu là hình ảnh người ông hiền từ trong gia đình. Hai cháu, một cháu Bắc và một cháu Nam, tượng trưng hai miền Nam Bắc, đó là hình ảnh đất nước thống nhất, là tình thương bao la của Bác. XEM THÊM BÀI NHÀ ẢO THUẬT TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Em vẽ Bác Hồ – Tiếng Việt 3
274
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Giọng quê hương – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Giọng quê hương 1. Thuyên và Đồng rời quê đi làm đã mấy năm. Một hôm, hai anh rủ nhau đi chơi thật xa, nhưng đến giữa trưa thì lạc mất đường về. Hai người phải ghé vào cái quán gần đấy để hỏi đường, luôn tiện để ăn cho đỡ đói. Cùng ăn trong quán ấy có ba thanh niên. Họ chuyện trò luôn miệng. Bầu không khí trong quán vui vẻ lạ thường. 2. Lúc đứng lên trả tiền, Thuyên mới biết mình quên chiếc ví ở nhà. Hỏi Đồng, Đồng cũng không mang tiền theo. Hai người đang lúng túng, chợt một trong ba thanh niên bước lại gần, nói: – Xin hai anh vui lòng cho tôi được trả tiền. Thuyên ngạc nhiên nhìn anh thanh niên. Trên gương mặt đôn hậu, cặp mắt anh ánh lên vẻ thành thực, dễ mến. Thuyên bối rối: – Xin lỗi. Tôi quả thật chưa nhớ ra anh là… Người thanh niên không để Thuyên kịp dứt lời: – Dạ, không! Bây giờ tôi mới được biết hai anh. Tôi muốn làm quen… 3. Ngừng một lát như để nén nỗi xúc động, anh thanh niên nói tiếp: – Hai anh đã cho tôi nghe lại giọng nói của mẹ tôi xưa… Bất ngờ trước tình cảm của người bạn mới, Thuyên chỉ biết nói: – Cảm ơn anh… Anh thanh niên xua tay: – Tôi cảm ơn hai anh mới phải. – Mẹ tôi là người miền Trung… Bà qua đời đã hơn tám năm rồi. Nói đến đây, người trẻ tuổi lẳng lặng cúi đầu, đôi môi mím chặt lộ vẻ đau thương. Còn Thuyên, Đồng thì bùi ngùi nhớ đến quê hương, yên lặng nhìn nhau, mắt rớm lệ. Theo Thanh Tịnh Cách đọc Đọc với giọng kể chậm rãi, nhẹ nhàng, thể hiện được tâm trạng, tình cảm của nhân vật. Chú ý diễn tả rõ những câu nói lịch sự, nhã nhặn, chân thành của các nhân vật; chú ý phân biệt lời dẫn chuyện và lời nhân vật. Gợi ý cảm thụ Về diễn biến của câu chuyện, nếu chú ý, các em sẽ thấy đoạn 1 và đoạn 2 chủ yếu nêu tình huống để giọng nói quê hương được bộc lộ (qua những câu hỏi han, trò chuyện của hai nhân vật Thuyên và Đồng). Đó cũng chính là tình huống để nhân vật anh thanh niên nhận ra giọng nói miền Trung quen thuộc, gần gũi của người mẹ đã quá cố của mình, từ đó khơi dậy nỗi nhớ da diết ở trong anh đối với người mẹ đã đi xa tám năm nay… Có thể nói đoạn 1 và đoạn 2 của câu chuyện hấp dẫn, cuốn hút người đọc bằng các tình tiết, chi tiết khá thú vị. Nhưng đoạn 3 mới là trọng tâm của câu chuyện, lôi cuốn người đọc ở một phương diện khác. Đó là tình cảm tha thiết gắn bó của các nhân vật trong câu chuyên đối với quê hương, với người thân mà giọng nói của quê hương là sợi dây, là nhịp cầu nối liền ba con người lại với nhau. Người khơi nguồn cảm xúc, tình cảm đối với quê hương, với người thân chính là anh thanh niên. Anh là người có tâm hồn nhạy cảm, có tình yêu thương sâu nặng, vô bờ đối với người mẹ đã quá cố của mình. Vì vậy, chỉ thoáng nghe giọng nói thân quen của những người đồng hương với mẹ mình, anh đã không kìm nén được nỗi xúc động. Những cử chỉ và lời nói của anh cho ta thấy rõ điều đó. Về cử chỉ, anh thanh niên dường như bị cảm xúc chi phối, trở nên yếu đuối. Anh “ngừng một lát như để nén nỗi xúc động”, “nghẹn ngào”, “lẳng lặng cúi đầu, đôi môi mím chặt lộ vẻ đau thương”,… Về lời nói, anh thanh niên thốt lên mấy lời sau trong sự xúc động: “Hai anh đã cho tôi nghe lại giọng nói của mẹ tôi xưa”… “Mẹ tôi là người miền Trung… Bà qua đời đã hơn tám năm rồi…”. Tình cảm chân thành, sâu nặng của anh thanh niên đã đánh thức nỗi nhớ quê hương sau những tháng ngày xa quê biền biệt của Thuyên và Đồng. Chẳng thế mà “Thuyên, Đồng bùi ngùi nhớ đến quê hương, yên lặng nhìn nhau, mắt rớm lệ”… Trong đoạn văn trên, hai từ láy nghẹn ngào và bùi ngùi góp phần đáng kể trong việc diễn tả tâm trạng nhớ thương da diết, tình cảm sâu nặng của ba con người đối với quê hương, với người thân của mình. XEM THÊM BÀI 23: NHỮNG CHIẾC CHUÔNG REO – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Giọng quê hương – Tiếng việt 3.
792
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Gặp gỡ ở Lúc-Xăm-Bua – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Gặp gỡ ở Lúc-Xăm-Bua 1. Hôm ấy, chúng tôi đến thăm một trường tiểu học. Cô hiệu trưởng mời đoàn vào thăm lớp 6A. Điều bất ngờ là tất cả học sinh đều lần lượt tự giới thiệu bằng tiếng Việt: “Em là Mô-ni-ca”, “Em là Giét-xi-ca”,… Mở đầu cuộc gặp, các em hát tặng đoàn bài hát Kìa con bướm vàng bằng tiếng Việt. Rồi các em giới thiệu những vật sưu tầm được như đàn tơ-rưng, cái nón, tranh cây dừa, ảnh xích lô,… Các em còn vẽ Quốc kì Việt Nam và nói được bằng tiếng Việt: “Việt Nam, Hồ Chí Minh”. 2. Hoá ra cô giáo của các em đã từng ở Việt Nam hai năm. Cô thích Việt Nam nên đã dạy các em tiếng Việt và kể cho các em nghe nhiều điều tốt đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Các em còn tìm hiểu về Việt Nam trên in-tơ-nét. Về phần mình, các em đặt cho chúng tôi rất nhiều câu hỏi về thiếu nhi Việt Nam: “Học sinh Việt Nam học những môn gì?”, “Trẻ em Việt Nam thích những bài hát nào?”, “ở Việt Nam, trẻ em chơi những trò chơi gì?”… 3. Đã đến lúc chia tay. Dưới làn tuyết bay mù mịt, các em vẫn đứng vẫy tay chào lưu luyến, cho đến khi xe của chúng tôi khuất hẳn trong dòng người và xe cộ tấp nập của thành phố châu Âu hoa lệ, mến khách. Cách đọc Đọc tốc độ trung bình, trừ đoạn cuối. Những câu trích dẫn câu nói đặt trong ngoặc kép đọc ngắt giọng và thấp giọng để phân biệt. Đoạn cuối đọc chậm thể hiện sự xúc động, lưu luyến. Gợi ý cảm thụ Lúc-xăm-bua là một nước rất nhỏ ở châu Âu: diện tích khoảng 2600 km2 (bằng một tỉnh nhỏ của Việt Nam), dân số gần 400 nghìn người (bằng một phần ba một tỉnh trung bình của Việt Nam). Tuy nhiên Lúc-xăm-bua có nền kinh tế và khoa học kĩ thuật phát triển cao, gần đây đã có những viện trợ tích cực cho Việt Nam. Bài văn cho ta một bất ngờ thú vị: một trường tiểu học ở một nước châu Âu xa xôi và bé nhỏ như Lúc-xăm-bua mà lại quan tâm, đặc biệt là nhiều thiện cảm với đất nước và con người Việt Nam như vậy. Các em biết tự giới thiệu bằng tiếng Việt, hát bài hát bằng tiếng Việt, có nhiều sản phẩm văn hoá Việt: đàn tơ-rưng, cái nón, tranh cây dừa, ảnh xích lô,… Chúng ta có thể tự giải thích tại sao các bạn lại dành cho Việt Nam sự quan tâm đặc biệt như vậy. Là vì hồi chúng ta kháng chiến chống xâm lược Pháp, tiếng tăm Việt Nam anh hùng đã lan toả khắp thế giới. Là vì các bạn ham học hỏi và rất quý tình bạn quốc tế. Đặc biệt, do sự dạy bảo của cô giáo chủ nhiệm, người đã từng ở Việt Nam hai năm. đến bài hát Trái đất này là của chúng mình nói về tình bạn không biên giới của thiếu nhi: Trái đất trẻ của bạn trẻ năm châu Vàng, trắng, đen… dù da khác màu Câu chuyện cũng khiến ta phải suy nghĩ: Ngày nay chúng ta phải làm gì để xứng đáng với lòng tin yêu của bạn bè quốc tế? Ta đã từng được yêu mến vì là một dân tộc anh hùng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nhưng hiện nay hãy còn nhiều thứ không hay: giao thông kém, dịch vụ kém, đường phố bẩn, người bán hàng rong đeo bám khách,… đã khiến nhiều khách quốc tế hiện nay ngần ngại đến Việt Nam là hiện tượng đáng để ta suy nghĩ. XEM THÊM BÀI LỜI KÊU GỌI TOÀN DÂN TẬP THỂ DỤC TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Gặp gỡ ở Lúc-Xăm-Bua – Tiếng Việt 3
658
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hai Bà Trưng – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Hai Bà Trưng 1. Thuở xưa, nước ta bị giặc ngoại xâm đô hộ. Chúng thẳng tay chém giết dân lành, cướp hết ruộng nương màu mỡ. Chúng bắt dân ta lên rừng săn thú lạ, xuống biển mò ngọc trai, khiến bao người thiệt mạng vì hổ báo, cá sấu, thuồng luồng,… Lòng dân oán hận ngút trời, chỉ chờ dịp vùng lên đánh đuổi quân xâm lược. 2. Bấy giờ, ở huyện Mê Linh có hai người con gái tài giỏi là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Cha mất sớm, nhờ mẹ dạy dỗ, hai chị em đều giỏi võ nghệ và nuôi chí giành lại non sông. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách cũng cùng chí hướng với vợ. Tướng giặc Tô Định biết vậy, bèn lập mưu giết chết Thi Sách. 3. Nhận được tin dữ, Hai Bà Trưng liền kéo quân về thành Luy Lâu hỏi tội kẻ thù. Trước lúc trẩy quân, có người xin nữ chủ tướng cho mặc đồ tang. Trưng Trắc – Không! Ta sẽ mặc giáp phục thật đẹp để dân chúng thêm phấn khích, còn giặc trông thấy thì kinh hồn. Hai Bà Trưng bước lên bành voi, Đoàn quân rùng rùng lên đường. Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn tràn theo bóng voi ẩn hiện của Hai Bà. Tiếng trống đồng dội lên vòm cây, đập vào sườn đồi, theo suốt đường hành quân. Theo Văn Lang Cách đọc Bài văn là một câu chuyện lịch sử kể về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Khi đọc, cần ngắt giọng rõ ràng khi chuyển sang sự kiện mới (đã được đánh số), nhấn mạnh vào các từ ngữ gợi tả: đoàn quân rùng rùng lên đường ; giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn ; tiếng trống đồng dội lên vòm cây, đập vào sườn đồi. Hai đoạn đầu đọc chậm, giọng xót xa, căm giận ; đoạn 3 đọc nhanh hơn, giọng phấn khởi, mạnh mẽ ; đoạn 4 đọc hơi nhanh, tự hào, sảng khoái. Gợi ý cảm thụ Những năm đầu sau Công nguyên, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Dưới ách tham tàn của chúng, dân ta vô cùng cực khổ. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, toàn dân ta nhất tề hưởng ứng, chẳng bao lâu thu lại non sông. Bài văn làm sống lại không khí cuộc khởi nghĩa, một sự kiện xảy ra năm 40, cách nay gần hai nghìn năm. Bọn quan quân đô hộ thi hành chính sách rất tàn bạo: thẳng tay chém giết, cướp hết ruộng đất màu mỡ. Đặc biệt, chúng vét sản vật quý hiếm như thú lạ, ngọc trai, khiến dân ta phải lên rừng đặt bẫy, xuống biển mò ngọc, những công việc vô cùng nguy hiểm, nhiều người dân đã bỏ mạng vì thú dữ. Hình ảnh “lòng dân oán hận ngút trời” cho thấy lòng căm thù tột độ chất chứa trong lòng dân ta, chỉ chờ có người lãnh đạo là vùng lên. Hai Bà ra trận thật độc đáo: Dù Thi Sách mới mất, quân lính xin mặc đồ tang nhưng Trưng Trắc không đồng ý. Chính Hai Bà mặc thật đẹp, cưỡi voi chỉ huy, hiên ngang, lẫm liệt. Nhân dân vì thế phấn khích, theo rất đông, còn quân giặc trông thấy thì “kinh hồn”. Hình ảnh “Đoàn quân rùng rùng lên đường. Giáo lao, cung nỏ, rìu búa, khiên mộc cuồn cuộn tràn theo bóng voi ẩn hiện của Hai Bà…” cho thấy khí thế quật khởi của toàn dân tộc, nó như một dòng thác, làm cho ”Thành trì của giặc lần lượt sụp đổ dưới chân đoàn quân khởi nghĩa”. Tô Định trước kia hung ác, tàn bạo bao nhiêu thì lúc này hèn nhát, thảm hại bấy nhiêu, phải “ôm đầu chạy về nước”. Đất nước được giải phóng, nhân dân thoát khỏi cảnh lầm than. Sách Đại Nam quốc sử diễn ca, một cuốn cổ sử bằng văn vần đã viết về Hai Bà đầy tự hào như sau: Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên Chị em nặng một lời nguyền Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân Ngàn Tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành Đô kì đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta Ba thu gánh vác sơn hà Một là báo phục, hai là bá vương. XEM THÊM BÀI ÂM THANH THÀNH PHỐ TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hai Bà Trưng – Tiếng Việt 3
762
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hai bàn tay em – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Hai bàn tay em (trích) Hai bàn tay em Như hoa đầu cành Hoa hồng hồng nụ Cánh tròn xinh xinh Đêm em nằm ngủ Hai hoa ngủ cùng Hoa thì bên má Hoa ấp cạnh lòng. Tay em đánh răng Răng trắng hoa nhài. Tay em chải tóc Tóc ngời ánh mai. Có khi một mình Nhìn tay thủ thỉ Em yêu em quý Hai bàn tay em. Giờ em ngồi học Bàn tay siêng năng Nở hoa trên giấy Từng hàng giăng giăng. Huy Cận Cách đọc Đọc bài thơ với giọng hồn nhiên, ngây thơ, đầy tình cảm yêu quý. Chú ý ngắt nghỉ hơi đúng, tự nhiên, thể hiện tình cảm qua giọng đọc. Ngắt nghỉ hơi giữa các dòng thơ ngắn hơn, nghỉ hơi giữa các câu thơ thể hiện trọn vẹn một ý. Nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm như siêng năng, giăng giăng, thủ thỉ,… Gợi ý cảm thụ Bài thơ được viết theo thể thơ bốn chữ, với giọng điệu nhẹ nhàng, thủ thỉ, ngây thơ của một em bé gái. Mở đầu bài thơ, nhà thơ giới thiệu đôi bàn tay xinh xắn của cô bé qua một hình ảnh so sánh: “Hai bàn tay em – Như hoa đầu cành”. Hai bàn tay của bé được so sánh với nụ hoa hồng, những ngón tay xinh như những cánh hoa. Hình ảnh so sánh vừa chính xác vừa độc đáo. Cánh hoa tròn như ngón tay em xinh đẹp: “Cánh tròn ngón xinh”. Bài thơ có năm khổ, khổ nào cũng có những hình ảnh đẹp và thú vị. Khổ 1, hai bàn tay em đẹp như nụ hoa đầu cành. Khổ 2, hai bàn tay dễ thương vì lúc nào cũng ở bên cạnh em, ngay cả khi em ngủ. Khổ 3, có hai hình ảnh đẹp “Răng trắng hoa nhài”, “Tóc ngời ánh mai”. Người lớn bảo: “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Để có được vẻ đẹp toả rạng như vậy, cần có một đôi tay khéo léo, chăm chỉ, tự giác. Và đôi tay siêng năng, cần cù sẽ giúp trang giấy nở hoa khi em viết. Hình ảnh vui, ngộ nghĩnh nhất là hình ảnh em bé ngồi thủ thỉ với đôi bàn tay của mình và để nói rằng: em rất yêu, rất quý đôi bàn tay ấy. Tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật để miêu tả bàn tay của em bé. Hình ảnh so sánh bàn tay của em “Như hoa đầu cành” xinh xắn, đáng yêu ; biện pháp đối ứng từ ngữ làm nổi bật hình ảnh hai bàn tay em bé khi ngủ: Hoa ấp cạnh lòng. Khổ thơ thứ ba, tác giả sử dụng biện pháp lặp rất thú vị, có đủ cả lặp nối tiếp câu 1-2, 3-4 (răng, tóc) và lặp cách quãng ở câu 1 và 3 (tay em) ; có đủ cả lặp đầu và lặp cuối câu thơ: Tay em đánh răng Răng trắng hoa nhài Tay em chải tóc Tóc ngời ánh mai. Biện pháp lặp đem lại sự nhịp nhàng cho câu thơ, gợi ra thật sinh động những động tác nhịp nhàng, đều đặn của em bé khi đánh răng, chải đầu. Và ở khổ 4, tác giả đã dùng cách nói hình tượng để miêu tả bàn tay chăm chỉ học tập có thể khiến trang giấy nở hoa “Từng hàng giăng giăng”. Một bài thơ nhỏ, vui, ngộ nghĩnh dành cho trẻ thơ. Không chỉ khen đôi tay mình đẹp, em bé thật tự hào vì đôi bàn tay ấy rất có ích, giúp bé trở nên đáng yêu, xinh tươi. Qua bài thơ, nhà thơ Huy Cận muốn nhắc nhở các bé hãy nâng niu, giữ sạch đôi tay. Sự tinh tế, hồn hậu của nhà thơ thể hiện ở chỗ, nhà thơ nhắc nhở, chỉ bảo các em mà vẫn như đang kể chuyện, để tâm tình, để khen ngợi các em nữa. XEM BÀI 1: CẬU BÉ THÔNG MINH TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hai bàn tay em – Tiếng việt 3.
663
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hũ bạc của người cha – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Hũ bạc của người cha 1. Ngày xưa, có một nông dân người Chăm rất siêng năng. Về già, ông để dành được một hũ bạc. Tuy vậy, ông rất buồn vì cậu con trai lười biếng. Một hôm, ông bảo con: – Cha muốn trước khi nhắm mắt thấy con kiếm nổi bát cơm. Con hãy đi làm và mang tiền về đây! 2. Bà mẹ sợ con vất vả, liền dúi cho một ít tiền. Anh này cầm tiền đi chơi mấy hôm, khi chỉ còn vài đồng mới trở về đưa cho cha. Người cha vút ngay nắm tiền xuống ao. Thấy con vẫn thản nhiên, ông nghiêm giọng: -Đây không phải tiền con làm ra. 3. Người con lại ra đi. Bà mẹ chỉ dám cho ít tiền ăn đường. Ăn hết tiền, anh ta đành tìm vào một làng xin xay thóc thuê. Xay một thúng thóc được trả công hai bát gạo, anh chỉ dám ăn một bát. Suốt ba tháng, dành dụm được chín mươi bát gạo, anh bán lấy tiền. 4. Hôm đó, ông lão đang ngồi sưởi lửa thì con đem tiền về. Ông liền ném luôn mấy đồng vào bếp lửa. Người con vội thọc tay vào lửa lấy ra. Ông lão cười chảy nước mắt: – Bây giờ cha tin tiền đó chính tay con làm ra. Có làm lụng vất vả, người ta mới biết quý đồng tiền. 5. Ông đào hũ bạc lên, đưa cho con và bảo: – Nếu con lười biếng, dù cha cho một trăm hũ bạc cũng không đủ. Hũ bạc tiêu không bao giờ hết chính là hai bàn tay con. Cách đọc Đọc đúng các kiểu câu, chú ý phân biệt được lời dẫn truyện và lời nhân vật (ông lão). Giọng ông lão: khuyên bảo (khi đưa tiền cho con ra đi tập kiếm lấy cơm ăn) ; nghiêm khắc (khi vứt nắm tiền xuống ao); cảm động (khi thấy con đã biết quý đồng tiền làm nên nhờ lao động) ; ân cần, trang trọng trong lời nói với con ở cuối truyện khi trao hũ bạc cho con. Giọng người kể phù hợp với sự phát triển của tình tiết truyện. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả: siêng năng, lười biếng, nghiêm giọng, làm lụng, vất vả, thản nhiên, hũ bạc,… Gợi ý cảm thụ Cốt truyện xoay quanh mong muốn của một ông lão nông dân người Chăm: “trước khi nhắm mắt thấy con kiếm nổi bát cơm”. Một người cha chăm chỉ lao động có một người con trai lười biếng, đó là điều mà người cha trăn trở suốt cuộc đời. Ông muốn con trở thành người siêng năng chăm chỉ, tự làm, tự nuôi sống mình, không phải nhờ vào bố mẹ. Lần thứ nhất, người con trai ra khỏi nhà theo ý nguyện của người cha. Người mẹ nào cũng thương con. Bà mẹ ở đây cũng rất thương con, không muốn con vất vả, cho con tiền. Điều đó không phải là tốt, vì anh con trai vẫn không chịu lao động, chỉ biết đi chơi, tiêu gần hết tiền rồi về nhà. Khi người cha vứt những đồng tiền còn lại xuống ao, người con vẫn thản nhiên. Thái độ này chứng tỏ người con chưa hiểu ra điều mà người cha muốn dạy bảo, vẫn tiếp tục lầm đường lạc lối, tiêu tiền không cần biết đồng tiền ấy là do công lao khó nhọc của bố mẹ. Truyện có tên là Hũ bạc của người cha nhưng hình ảnh cái hũ bạc chỉ xuất hiện ở phần đầu và phần kết truyện. Truyện kết thúc có hậu, chàng trai vừa hiểu ra giá trị của lao động, vừa được cha trao lại cho một tài sản quý giá mà cha mẹ cả đời làm lụng tích cóp, chỉ mong đến khi nào người con đủ khôn lớn, trưởng thành, biết quý trọng đồng tiền để trao cho con. Cách nghĩ của người Chăm cũng là chân lí của cuộc đời mà ai cũng phải công nhận. Truyện đem đến cho chúng ta một bài học về cuộc sống: phải biết quý trọng sức lao động, quý trọng đồng tiền có được do bàn tay lao động của con người. Người xưa thường nói: “Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ đem phần đến cho” và: Nên thợ, nên thầy vì có học No ăn, no mặc bởi hay làm (Nguyễn Trãi) XEM THÊM BÀI MỘT TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG CAO – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hũ bạc của người cha – Tiếng Việt 3
770
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hội vật – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Hội vật 1. Tiếng trống vật nổi lên dồn dập. Người tứ xứ đổ về như nước chảy. Ai cũng náo nức muốn được xem mặt, xem tài ông Cản Ngũ. Người ta chen lấn nhau, quây kín quanh sới vật, nhiều người phải trèo lên những cây cao gần đấy xem cho rõ. 2. Ngay nhịp trống đầu, Quắm Đen đã lăn xả vào ông Cản Ngũ. Anh vờn bên trái, đánh bên phải, dứ trên, đánh dưới, thoắt biến, thoắt hoá khôn lường. Trái lại ông Cản Ngũ có vẻ lớ ngớ, chậm chạp. Hai tay ông lúc nào cũng dang rộng, để sát xuống mặt đất, xoay xoay chống đỡ… Keo vật xem chừng chán ngắt. 3. Ông Cản Ngũ bỗng bước hụt, mất đà chúi xuống. Quắm Đen nhanh như cắt, luồn qua hai cánh tay ông, ôm lấy một bên chân ông, bốc lên. Người xem bốn phía xung quanh reo ồ cả lên. Thôi thế là ông Cản Ngũ ngã rồi, nhất định ngã rồi, có khoẻ bằng voi cũng phải ngã! 4. Tiếng trống dồn lên gấp rút, giục giã. Ông cản Ngũ vẫn chưa ngã. ông vẫn đứng như cây trồng giữa sới. Còn Quắm Đen thì đang loay hoay, gò lưng lại, không sao bê nổi chân ông lên. Cái chân tựa như bằng cột sắt chứ không phải là chân người nữa. 5. Ông Cản Ngũ vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi mồ kê nhễ nhại dưới chân. Lúc lâu, ông mới thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen, nhấc bổng anh ta lên, coi nhẹ nhàng như giơ con ếch có buộc sợi rơm ngang bụng vậy. Cách đọc Là một bài văn tường thuật và miêu tả một keo vật, một keo vật rất sôi nổi, đầy bất ngờ, cho nên tuỳ diễn biến mà đọc tốc độ khác nhau: đọc hơi chậm đoạn 1 để hình dung quang cảnh toàn hội vật ; đọc nhanh đoạn 2, 3, 4 để thấy khí thế dồn dập và ưu thế nổi trội của anh Quắm Đen ; đọc chậm đoạn 5 để làm nổi bật động tác chậm rãi, chính xác, chắc thắng của ông Cản Ngũ Gợi ý cảm thụ Hội vật là một truyền thống của nhiều làng quê Việt Nam xưa (và nay nhiều nơi vẫn còn). Hội thường tổ chức về mùa xuân, thu hút đông đảo cả người thi đấu và người xem. Nếu em nào có dịp đọc cả truyện này (truyện ông Cản Ngũ) sẽ thấy đây là một hội vật đặc biệt của làng năm ấy. Ông Cản Ngũ, người từng vô địch năm tỉnh lớn nhất xứ Bắc, là khách phương xa đến tham gia “phá giải” của làng. Làng cử anh Quắm Đen, một đô vật vào bậc nhất của tỉnh Bắc Ninh, học trò yêu của cụ Cả Lẫm, được cụ truyền cho những miếng bí truyền, ra đấu với ông Cản Ngũ. Đoạn trích Hội vật trong sách giáo khoa kể về trận đấu này. Vào đầu trận đấu, Quắm Đen cậy khoẻ và nhanh, ra đòn tới tấp. Ông Cản Ngũ thì chậm chạp, lúng túng. Khi ông Cản Ngũ bước hụt, mất thế, ai cũng tưởng ông thua, nhưng điều bất ngờ đã xảy ra: dù Quắm Đen gò lưng lại nhưng không sao bê nổi chân ông lên, vì cái chân tựa như bằng cột sắt chứ không phải là chân người nữa. Cuối cùng, ông Cản Ngũ thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen, nhấc bổng anh ta lên, nhẹ nhàng như giơ con ếch. Nếu đọc cả phần sau của truyện, ta thấy thực ra việc đi vật của ông Cản Ngũ chỉ là cách đi tìm người tài cho nghĩa quân Bãi Sậy. Ông Cản Ngũ yêu quý tài năng và tinh thần chiến đấu của Quắm Đen vô cùng. Sau hội vật này, ông đã nhận anh làm học trò. XEM THÊM BÀI TIẾNG ĐÀN TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hội vật – Tiếng Việt 3
672
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hội đua voi ở Tây Nguyên – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Hội đua voi ở Tây Nguyên Trường đua voi là một đường rộng phẳng lì, dài hơn năm cây số. Chiêng khua trống đánh vang lừng. Voi đua từng tốp mười con dàn hàng ngang ở nơi xuất phát. Trên mỗi con voi, ngồi hai chàng man-gát. Người ngồi phía cổ có vuông vải đỏ thắm ở ngực. Người ngồi trên lưng mặc áo xanh da trời. Trông họ rất bình tĩnh vì họ thường là những người phi ngựa giỏi nhất. Đến giờ xuất phát, chiêng trống nổi lên thì cả mười con voi lao đầu chạy. Cái dáng lầm lì chậm chạp thường ngày bỗng dưng biến mất. Cả bầy hăng máu phóng như bay. Bụi cuốn mù mịt. Các chàng man-gát phải rất gan dạ và khéo léo điều khiển cho voi về trúng đích. Những chú voi chạy đến đích trước tiên đều ghìm đà, huơ vòi chào những khán giả đã nhiệt liệt cổ vũ, khen ngợi chúng. Theo Lê Tấn Cách đọc Giọng đọc thể hiện không khí vừa tươi vui vừa trang trọng của ngày hội đua voi ở Tây Nguyên. Nhấn giọng vào các từ miêu tả: chiêng khua trống đánh vang lừng, lầm lì chậm chạp, phóng như bay, mù mịt, ghìm đà, huơ vòi. Gợi ý cảm thụ Trong số các vật nuôi để cày kéo, thồ hàng, một số loài còn được con người huấn luyện cho chúng biết tham gia những cuộc đua thể thao. Nhưng ta thường chỉ biết đến đua ngựa, đua bò, chọi trâu, chứ chưa mấy ai biết về đua voi. Qua không khí hội đua voi, ta thấy voi là người bạn đáng mến của con người. Nhờ có đàn voi, cuộc sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thật tươi vui và độc đáo, con người Tây Nguyên thật thông minh, dũng cảm. XEM THÊM BÀI HỘI VẬT TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Hội đua voi ở Tây Nguyên – Tiếng Việt 3
328
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Khi mẹ vắng nhà – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Khi mẹ vắng nhà Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ vườn Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng. Sớm mẹ về, thấy khoai đã chín Buổi mẹ về, gạo đã trắng tinh Trưa mẹ về, cơm dẻo và ngon Chiều mẹ về, cỏ đã quang vườn Tối mẹ về, cổng nhà sạch sẽ. Mẹ bảo em: Dạo này ngoan thế! – Không, mẹ ơi! Con đã ngoan đâu! Áo mẹ mưa bạc màu Đầu mẹ nắng cháy tóc Mẹ ngày đêm khó nhọc Con chưa ngoan, chưa ngoan! Trần Đăng Khoa Cách đọc Đọc chậm rãi, giọng đọc vui vẻ, hồ hởi, tình cảm, nhẹ nhàng, xúc động. Chú ý ngắt nhịp ở chỗ đánh dấu câu. Nhấn giọng ở điệp khúc “Khi mẹ vắng nhà”, Chú ý thể hiện cảm xúc ở 6 câu thơ cuối bài. Gợi ý cảm thụ Trần Đăng Khoa từng tâm sự: “Tôi chỉ có thể viết được về cái gì tôi đã thực sự thấy bằng mắt, chỉ rung cảm về cái gì thực sự tôi đã trải trong tâm trí mình. Có thể tìm thấy trong thơ tôi những sự việc hoàn toàn có thực của bản thân tôi, gia đinh tôi, làng quê tôi và những nơi tôi sống…”(1). Bài thơ Khi mẹ vắng nhà viết về một kỉ niệm của tuổi thơ, đây là một trong những bài thơ thật sự xúc động về tình cảm gia đình, cụ thể hơn là tình yêu thương của một em bé đối với người mẹ lam lũ, vất vả, nhọc nhằn. Khổ 1: Khi mẹ vắng nhà Điệp khúc “Khi mẹ vắng nhà” vang lên năm lần trong khổ thơ đầu. Tác giả không chỉ sử dụng biện pháp lặp từ ngữ mà còn lặp lại cả kết cấu ngữ pháp của câu để nhấn mạnh những công việc mà em bé hăng hái làm để giúp bố mẹ vì “mẹ cha bận việc ngày đêm”. Các câu thơ chỉ khác nhau ở việc liệt kê các hoạt động của em bé: luộc khoai, cùng chị giã gạo, thổi cơm, nhổ cỏ vườn, quét sân và quét cổng. Cách kết cấu rất lạ, chỉ là một động tác liệt kê đơn thuần, cũng chưa hề thể hiện một thái độ rõ ràng của em bé đối với công việc. Khổ 2: Khi mẹ đi làm đồng về Việc nhà nông bận rộn, giờ nào việc ấy, mẹ đi về sớm tối, không ngoi tay, không hết việc: “sớm mẹ về”, “buổi mẹ về”, “trưa mẹ về”, “chiều mẹ về”, “tối mẹ về”. Mẹ về không có nghĩa là mẹ đã kết thúc công việc của một ngày, mà mỗi lần mẹ về chỉ có thể là mẹ đã giải quyết xong một đầu việc. Và lúc nào mẹ đi làm về cũng thấy mọi việc con đã làm xong đâu vào đấy: khoai đã chín, gạo đã giã trắng tinh, cơm dẻo và ngon, cỏ quang vườn, cổng nhà được quét dọn sạch sẽ,… Đến đây, tứ thơ mới được hé mở. Năm câu ở khổ 1 và năm câu tiếp ở khổ 2 như một sự đăng đối hài hoà, hô ứng nhịp nhàng: mẹ đi làm ngoài đồng, con ở nhà giúp mẹ những việc bếp núc, sân vườn. Ở những câu thơ này, tác giả đã sử dụng những tính từ để mô tả thành quả công việc. Mọi việc chỉn chu, được sắp đặt đến nơi đến chốn bởi bàn tay cần cù, chăm chỉ, khéo léo. Bạn nhỏ say sưa kể về công việc mình đã làm: khoai chín, gạo được trắng tinh, cơm dẻo canh ngọt, sân vườn, cổng nhà sạch sẽ quang quẻ. Áo mẹ mưa bạc màu Đầu mẹ nắng cháy tóc Mẹ ngày đêm khó nhọc Con chưa ngoan, chưa ngoan! Nếu năm câu trên chỉ đơn thuần là kể, năm câu tiếp là kể xen với tả, thì bốn câu thơ cuối bài, Trần Đăng Khoa đã tả lại hình ảnh của mẹ trong nỗi vất vả, khó nhọc. Phải là đứa con rất ngoan mới thấy áo mẹ bạc màu vì mưa, đầu mẹ cháy tóc vì nắng. Cần chú ý biện pháp đối ở hai câu thơ: Áo mẹ mưa bạc màu Đầu mẹ nắng cháy tóc. Biện pháp đối đã khắc sâu hình ảnh người mẹ của Trần Đăng Khoa, người mẹ tần tảo, lam lũ, chịu thương chịu khó cũng như bao người mẹ khác ở làng quê Việt Nam. Nhà thơ như nói hộ chúng ta lòng biết ơn vô hạn của những người con đối với các bà mẹ Việt Nam nghèo, suốt đời gắn bó với đồng ruộng, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Thật cảm động biết bao trước tình thương yêu, lòng hiếu thảo của một người con – một cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Sức nặng và giá trị của bài thơ nằm ở bốn câu thơ cuối. Cảm xúc cũng theo lời thơ mà vỡ oà, giọng thơ tràn đầy niềm vui và rưng rưng những giọt nước mắt của yêu thương. Bằng câu chữ, hình ảnh thơ giản dị, bài thơ đã làm xúc động lòng người bởi niềm thương lo, lòng biết ơn, kính yêu của một em bé đối với mẹ. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Khi mẹ vắng nhà – Tiếng việt 3.
897
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Luôn nghĩ đến miền Nam – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Luôn nghĩ đến miền Nam Đầu năm 1969, một chị cán bộ miền Nam ra Bắc được gặp Bác Hồ. Chị thưa với Bác: – Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác… trăm tuổi. Chị đã nói ra cái điều mọi người hằng nghĩ nhưng không ai dám nhắc đến. Năm ấy, Bác bảy mươi chín tuổi. Nghe vậy, Bác mỉm cười, hóm hỉnh: – Còn hai mươi mốt năm nữa Bác mới trăm tuổi cơ. Bác kêu gọi các cô, các chú đánh Mĩ năm năm, mười năm, hai mươi năm chứ có nói hai mươi mốt năm đâu. Nếu hai mươi năm nữa mà ta thắng Mĩ thì Bác cũng còn một năm để vào thăm đồng bào miền Nam. Thật ra, lúc ấy Bác đã yếu rồi. Tối mồng 1 tháng 9 năm 1969, Bác mệt nặng. Những lúc tỉnh lại, Bác vẫn hỏi: – Trong Nam mấy hôm nay đánh giặc thế nào? Sắp ra đi mãi mãi, Bác vẫn nghĩ đến miền Nam. Theo tập sách Bác Hồ kính yêu Sinh thời, Bác Hồ từng nói: “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Theo tập sách Bác Hồ kính yêu Cách đọc Đọc giọng kể chuyện, chậm rãi, cảm động. Câu nói của Bác đọc giọng vui, tếu táo nhưng ẩn chứa sự khắc khoải, mong đợi. Chú ý phân biệt lời dẫn và lời các nhân vật. Gợi ý cảm thụ Bài văn nói tới tình cảm bao la của Bác Hồ dành cho đồng bào miền Nam cũng như tình cảm kính yêu của đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ. Các em hình dung câu chuyện được nói tới trong bài văn diễn ra vào đầu năm 1969, khi đó Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã 79 tuổi. Trong câu chuyện cảm động này có hai sự việc đáng lưu ý. Trước hết là sự việc chị cán bộ miền Nam thưa chuyện với Bác Hồ. Trong lời nói của chị cán bộ miền Nam: “Chúng cháu đánh giặc Mĩ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác… trăm tuổi”, câu thứ nhất bày tỏ quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ của đồng bào miền Nam lúc ấy. Ở câu thứ hai, chị cán bộ miền Nam đã dùng cách “nói tránh” và nội dung câu nói được hiểu theo nghĩa bóng (sợ Bác trăm tuổi có nghĩa là sợ Bác mất). Nhưng thật thú vị, Bác Hồ lại dùng cách nói đùa vui, hóm hỉnh, khai thác chữ “trăm tuổi” theo nghĩa đen, để trả lời chị cán bộ miền Nam. Vì vậy, Bác nói: “Còn hai mươi mốt năm nữa Bác mới trăm tuổi cơ”. Rồi Bác nhắc lại “Lời kêu gọi chống Mĩ, cứu nước” ngày 17 – 7 – 1966 của Bác, trong đó có mấy câu quen thuộc: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do…”, nhưng lại nói một cách hóm hỉnh, đùa vui. Đến câu cuối trong lời nói của Bác: “Nếu hai mươi năm nữa mà ta thắng Mĩ thì Bác cũng còn một năm để vào thăm đồng bào miền Nam”, chúng ta thấy thực sự xúc động. Nội dung câu nói này của Bác chỉ là một giả định nhưng ẩn chứa trong đó là tấm lòng, tình cảm sâu nặng của Bác đối với đồng bào miền Nam lúc đó đang sống đau thương dưới gót giày của bọn xâm lược. Riêng câu “Bác cũng còn một năm để vào thăm đồng bào miền Nam” thể hiện sự khắc khoải, nỗi mong đợi bấy lâu nay của Bác – một niềm mong ước của vị lãnh tụ mà mỗi con dân Việt Nam khi nhắc lại đều không cầm lòng được. Ta càng thấm thìa hơn câu nói của Bác lúc sinh thời: “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. XEM THÊM BÀI 29: NẮNG PHƯƠNG NAM – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Luôn nghĩ đến miền Nam – Tiếng việt 3
713
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Lừa và ngựa – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Lừa và Ngựa Người nọ có một con lừa và một con ngựa. Một hôm, có việc đi xa, ông ta cưỡi ngựa, còn bao nhiêu đồ đạc thì chất lên lưng lừa. Dọc đường, lừa mang nặng, mệt quá, liền khẩn khoản xin với ngựa: – Chị ngựa ơi! Chúng ta là bạn đường. Chị mang đỡ tôi với, dù chỉ chút ít thôi cũng được. Tôi kiệt sức rồi. Ngựa đáp: – Thôi, việc ai người nấy lo. Tôi không giúp chị được đâu. Lừa gắng quá, kiệt lực, ngã gục xuống và chết bên vệ đường. Người chủ thấy vậy bèn chất tất cả đồ đạc từ lưng lừa sang lưng ngựa. Ngựa bấy giờ mới rên lên: – Ôi, tôi mới dại dột làm sao! Tôi đã không muốn giúp lừa dù chỉ chút ít, nên bây giờ phải mang nặng gấp đôi. Theo Lép Tônxtôi – Thuý Toàn dịch Cách đọc Lời người dẫn chuyện đọc với ngữ điệu thong thả, chậm rãi. Giọng lừa mệt nhọc, khẩn khoản, cầu xin. Giọng ngựa lạnh lùng, thờ ơ khi trả lời lừa ; rên lên, hối hận khi phải chở tất cả đồ đạc của lừa. Chú ý diễn cảm để người nghe hình dung cụ thể, đồng thời cảm nhận được ý nghĩa sâu xa của câu chuyện. Nhấn giọng ở một số từ ngữ: khẩn khoản, kiệt sức, kiệt lực, ngã gục, chết, rên lên, dại dột. Truyện ngụ ngôn là những câu chuyện mượn một cốt truyện hoàn toàn hư cấu để gửi gắm một bài học về cách sống, cách cư xử, đạo đức. Mượn câu chuyện con ngựa, con lừa, nhà văn Lép Tôn-xtôi đã giúp các em hiểu rằng: Bạn bè phải thương yêu, giúp đỡ nhau lúc khó khăn. Giúp bạn nhiều khi chính là giúp mình, bỏ mặc bạn chính là làm hại mình. Nhà văn đã “mượn chuyện loài vật để dạy loài người” (La Phông-ten). Hai nhân vật ngụ ngôn được xây dựng trong truyện là những người “bạn đường”. Lừa và ngựa có những đặc tính loài vật tương đối giống nhau. Trong những chuyến đi xa, khi chưa có nhũng phương tiện giao thông hiện đại, người ta thường chọn ngựa để cưỡi và lừa để chở đồ đạc. Ở câu chuyện trên cũng vậy. Sau đoạn đường dài, lừa “kiệt sức”, “khẩn khoản” xin ngựa mang đỡ dù chỉ chút ít đồ. Ngựa lười không muốn chở nặng thêm vì nếu giúp bạn thì mình phải vất vả hơn. Ngựa không chút băn khoăn đáp lại rằng “việc ai người nấy lo” và không hề giúp đỡ gì bạn. Sự thản nhiên, vô tình của ngựa đã gián tiếp dẫn tới cái chết của lừa. Ngựa rất ích kỉ, chỉ nghĩ đến mình. Ngựa chỉ nghĩ đến việc từ chối lời đề nghị của bạn mà không hề nghĩ đến hậu quả khôn lường. Lừa kiệt lực, ngã và chết bên vệ đường, rất khốn khổ, đáng thương. Câu chuyện kết thúc bằng hành động tất yếu của ông chủ. Ông chất tất cả đồ đạc từ lưng lừa sang lưng ngựa. Lẽ ra, chỉ cần giúp bạn thì gánh nặng sẽ chia đều, được san sẻ. Thói ích kỉ gây hậu quả khôn lường, chỉ biết bản thân mình mà không biết nghĩ trước nghĩ sau, sớm muộn sẽ phải trả giá đắt. Câu kết truyện là lời than vãn, ân hận của ngựa, đúng là không cái dại nào giống cái dại nào. Hơn cả sự dại dột, sự nhẫn tâm của ngựa đã gây ra hậu quả đáng buồn là cái chết tội nghiệp của lừa. XEM THÊM BÀI 18: TRẬN BÓNG DƯỚI LÒNG ĐƯỜNG – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Lừa và ngựa – Tiếng việt 3.
631
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mè hoa lượn sóng – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Mè hoa lượn sóng Mè hoả mè hoa Ùa ra giỡn nước Chị bơi đi trước Em lượn theo sau Ruộng rộng, ao sâu Đìa con đìa cạn Gọi chúng gọi bạn Đắp đập be bờ Quăng đó quăng lờ Cắm cờ lá chuối Cá mè ăn nổi Cá chép ăn chìm Con tép lim dim Trong chùm rễ cỏ Con cua áo đỏ Cắt cỏ trên bờ Con cá múa cờ Đẹp ơi là đẹp! (Thạch Quỳ) Cách đọc Bài thơ gần gũi với đồng dao (loại bài bát dân gian của thiếu nhi), cho nên đọc giọng vui, dí dỏm. Đọc nhấn vào tiếng gieo vần và tiếng đối thanh ở cuối câu. Ví dụ: Mè hoả mè hoa Ùa ra giỡn nước Chị bơi đi trước Em lượn theo sau Ruộng rộng, ao sâu Đìa con đìa cạn Gọi chúng gọi bạn (Các tiếng nước và trước, cạn và bạn là tiếng bắt vần ; các tiếng hoa và nước, trước và sau, sâu và cạn là tiếng đối thanh) Gợi ý cảm thụ Cuộc sống dưới nước là cả một thế giới phong phú. Nhà thơ Thạch Quỳ đã cho chúng ta thấy một phần cuộc sống đó qua bài thơ này. Nhân vật trung tâm ở đây là đàn cá mè hoa, những con mè hoa còn nhỏ, cho nên được gọi theo cách trìu mến là “mè hoả mè hoa” (giống như cách hát “bống bống bang bang”, “con vỏi con voi” trong các bài đồng dao). Đàn mè hoa mặc dù đông đúc vẫn ngao du thiên hạ tìm thêm bạn chơi. Chúng đi khắp “Ruộng rộng, ao sâu – Đìa con đìa cạn”, nghĩa là gần như bất cứ chỗ nào có các loài sống dưới nước. Đi đến đâu cũng mời gọi bạn vào các công việc hay trò chơi: “Đắp đập be bờ – Quăng đó quăng lờ – cắm cờ lá chuối”. Cái ngộ nghĩnh ở đây là tác giả biến những hoạt động đánh bắt cá của con người thành trò chơi của chúng, cũng chỉ để cho thấy các hoạt động phong phú của thế giới dưới nước. XEM THÊM BÀI NGƯỜI ĐI SĂN VÀ CON VƯỢN TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mè hoa lượn sóng – Tiếng Việt 3
355
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mặt trời mọc ở đằng…tây! – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Mặt trời mọc ở đằng…tây! Thi hào Nga Pu-skin giỏi ứng tác thơ từ nhỏ. Có lần, trong giờ văn ở trường, thầy giáo bảo một học sinh làm thơ tả cảnh mặt trời mọc. Anh bạn này nghĩ mãi mới ra một câu: Mặt trời mới mọc ở đằng tây… Cả lớp cười ồ lên vì câu thơ vô lí quá. Ai chẳng biết đằng tây!à phía mặt trời lặn. Thầy giáo bảo Pu-skin tìm cách chữa cho bạn. Pu-skin liền đứng dậy đọc tiếp: … Thiên hạ ngạc nhiên chuyện lạ này, Ngơ ngác nhìn nhau và tự hỏi: “Thức dậy hay là ngủ nữa đây?” Thế là tránh được điều vô lí, mà bốn câu lại hợp thành một bài thơ ngộ nghĩnh. Sau đó ít lâu, bài thơ được đăng trên báo Người đưa tin châu Ầu với đầu đề Gửi bạn làm thơ. Bạn bè trong lớp vô cùng hãnh diện về nhà thơ của lớp mình. Theo Chuyện làng văn Cách đọc Đọc giọng vui, thể hiện sự bất ngờ và ngộ nghĩnh của bài thơ. Câu đầu đọc chậm, nhấn mạnh từng tiếng để cảm nhận rõ sự vô lí về nội dung câu thơ ; ba câu tiếp đọc nhanh thể hiện tài ứng phó nhanh của Pu-skin. Gợi ý cảm thụ Câu thơ của người bạn cùng lớp nghe nực cười vì cái ý “mặt trời mọc ở đằng tây”, là điều không bao giờ có, thế nhưng cách chữa của Pu-skin hoàn toàn không như thầy giáo và các bạn mong đợi (lẽ ra sửa là Mặt trời mới mọc ở đằng đông). Cậu đã dẫn dắt tiếp sự vô lí ấy ở câu thứ hai: Thiên hạ ngạc nhiên vì lệ thường chỉ có mặt trời mọc ở đằng đông, lặn ở đằng tây, chứ làm gì có chuyên ngược lại, mặt trời mọc ở đằng tây. Hai câu 3, 4 dẫn dắt tiếp sự vô lí ấy: vì mặt trời mọc ở đằng tây nên không biết đấy là buổi sáng hay buổi chiều, bình minh hay hoàng hôn, cho nên cũng không biết là nên thức dậy hay là ngủ tiếp. Sự vô lí này khiến ta nghĩ đến những giấc mơ, những điều không giống như lệ thường, làm ta sửng sốt hoặc thích thú. Bài thơ ngộ nghĩnh cho thấy trí tưởng tượng và tài làm thơ của Pu-skin bộc lộ từ rất sớm. XEM THÊM BÀI ĐỐI ĐÁP VỚI VUA TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mặt trời mọc ở đằng…tây! – Tiếng Việt 3
418
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mặt trời xanh của tôi – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Mặt trời xanh của tôi Đã có ai lắng nghe Tiếng mưa trong rừng cọ Như tiếng thác dội về Như ào ào trận gió. Đã ai lên rừng cọ Giữa một buổi trưa hè Gối đầu lên thảm cỏ Nhìn trời xanh, lá che… Đã có ai dậy sớm Nhìn lên rừng cọ tươi Lá xoè từng tia nắng Giống hệt như mặt trời. Rừng cọ ơi! Rừng cọ! Lá đẹp, lá ngời ngời Tôi yêu thường vẫn gọi Mặt trời xanh của tôi. (Nguyễn Viết Bình) Cách đọc Đọc giọng vui, thể hiện tình cảm yêu mến, thích thú, nhấn vào các tiếng đối thanh và gieo vần. Ví dụ: Đã ai lên rừng cọ Giữa một buổi trưa hè Gối đầu lên thảm cỏ Nhìn trời xanh, lá che… (cọ đối thanh với hè, cỏ đối thanh với che ; cọ vần với cỏ, hè vần với che) Gợi ý cảm thụ Người ta thường tả vẻ đẹp của rừng thông, rừng trúc, rừng dừa,… ít ai nghĩ đến vẻ đẹp của rừng cọ. Nhưng bài thơ của Nguyễn Viết Bình cho ta thấy rừng cọ có vẻ đẹp thật độc đáo. Khi có mưa, rừng cọ có vẻ đẹp hoang sơ và dữ dội: Như tiếng thác dội về Như ào ào trận gió. Đây là cảm giác rất đặc trưng ở rừng cọ khi có mưa rào. Tàu cọ to và cứng như miếng tôn, khi hạt mưa dội vào tạo nên âm thanh lộp độp rất lớn. Mưa nhỏ mà tưởng như mưa to. Nếu mưa rào xối xả thì tiếng mưa tạo thành một dòng chảy âm thanh dữ dội, giống như tiếng thác đổ về, như ào ào trận gió. Thành ngữ Mưa rừng cọ, gió rừng thông là để diễn tả sự cộng hưởng của lá các loài cây này với mỗi hạt mưa, làn gió. Những buổi sáng sớm, ánh mặt trời chiếu lên những tàu cọ tạo màu xanh óng ánh, các răng cưa to bản của lá như những tia nắng mặt trời toả ra bốn phương. Đấy là hình ảnh đẹp nhất của cây cọ khiến cho tác giả gọi đó là “Mặt trời xanh của tôi”. XEM THỂM BÀI CÓC KIỆN TRỜI TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mặt trời xanh của tôi – Tiếng Việt 3
363
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mẹ vắng nhà ngày bão – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Mẹ vắng nhà ngày bão Mấy ngày mẹ về quê Là mấy ngày bão nổi Con đường mẹ đi về Cơn mưa dài chặn lối. Hai chiếc giường ướt một Ba bố con nằm chung Vẫn thấy trống phía trong Nằm ấm mà thao thức. Nghĩ giờ này ở quê Mẹ cũng không ngủ được Thương bố con vụng về Củi mùn thì lại ướt Nhưng chị vẫn hái lá Cho thỏ mẹ, thỏ con Em thì chăn đàn ngan Sáng lại chiều no bữa Bố đội nón đi chợ Mua cá về nấu chua… Thế rồi cơn bão qua Bầu trời xanh trở lại. Mẹ về như nắng mới Sáng ấm cả gian nhà. (Đặng Hiển) Cách đọc Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, nhẹ nhàng, tha thiết. Chú ý ngắt nghỉ hơi giữa các dòng thơ, chú ý ngắt nhịp ở những chỗ sử dụng dấu câu. Khổ cuối đọc với giọng vui tươi, tràn ngập hạnh phúc vì cả gia đình được vui vầy, đoàn tụ. Gợi ý cảm thụ Bài thơ Mẹ vắng nhà ngày bão của nhà giáo – nhà thơ Đặng Hiển được in lần đầu ở tạp chí Văn nghệ Hà Tây năm 1980, được đưa vào Tuyển tập thơ thiếu nhi. Bài thơ được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học trong nhiều năm. Khổ 1: Tình huống mẹ vắng nhà ngày bão Khổ 2, 3, 4: Cảnh bố con ở nhà trong những ngày mưa bão Nếu khổ 1 nói về hình ảnh mẹ trên con đường về quê thì khổ 2 lại là hình ảnh bố con nằm ngủ trong đêm mưa bão, trong một ngôi nhà nhỏ, đơn sơ, nghèo nhưng thanh sạch mà yên ấm, hạnh phúc. Nhà dột đến mức “hai chiếc giường ướt một”, ba bố con “nằm ấm mà thao thức” vì nhớ mẹ. Cả nhà luôn không lúc nào thiếu vắng một ai, giờ mẹ về quê, căn nhà vắng mẹ, lại là những ngày mưa bão, nên dù thế nào, vẫn thật trống trải. Ba bố con nằm một giường mà “vẫn thấy trống phía trong” chỗ mẹ vẫn nằm vì thiếu hình bóng của mẹ. Ngôi nhà vắng đi tiếng cười của mẹ, bóng dáng thân yêu của mẹ, dù chỉ là một ngày cũng làm cả nhà trống vắng, ngẩn ngơ, nữa là những ngày mưa bão. Nhưng đâu phải chỉ có bố con nghĩ đến mẹ, chắc hẳn, mẹ cũng lo cho bố con vì “vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp”. Khi không có mẹ, bữa cơm trong những ngày mưa bão cũng thật lúng túng từ củi lửa, bếp núc đến việc nấu nướng, chế biến món ăn. Am áp và cảm động thay tình cảm gia đình: bố con thao thức, trống trải, nhớ mẹ ; mẹ thương bố con. Khi mẹ đi vắng, nhà cửa sẽ thế nào, cơm cháo liệu có được tươm tất không? Nhà thơ đã diễn tả thật cảm động và chính xác nỗi thương lo của người chồng dành cho vợ, của người mẹ dành cho các con, của người phụ nữ dành cho tổ ấm nhỏ bé của mình. Khổ cuối: Mẹ trở về làm cả ngôi nhà toả rạng ánh sáng của niêm vui, niềm hạnh phúc Cơn bão đến rồi đi, mẹ đi rồi trở về nhà. Hình ảnh đẹp nhất của bài thơ là giây phút mẹ bước về ngôi nhà thân yêu. Hình ảnh so sánh “Mẹ về như nắng mới – Sáng ấm cả gian nhà” là hình ảnh giàu sức gợi, nhiều ý nghĩa. Nắng mới là nắng ấm, tươi sáng, rạng ngời. Mẹ về, cả gian nhà không chỉ sáng mà còn ấm áp, tươi vui lạ thường. Nếu ở đầu bài thơ là cảnh huống mang tâm trạng trống vắng, bâng khuâng vì mẹ vắng nhà và vì bão nên giường ướt, mưa lạnh thì đến đây là cảnh tượng mới mẻ, tràn ngập ánh sáng của niềm vui khi mẹ về. Điều đó chứng tỏ người vợ, người mẹ cũng là người nuôi dưỡng Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mẹ vắng nhà ngày bão – Tiếng việt 3.
673
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mồ côi xử kiện – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Mồ côi xử kiện 1. Ngày xưa, ở một vùng quê nọ, có chàng Mồ Côi được dân tin cậy giao cho việc xử kiện. Một hôm, có người chủ quán đưa một bác nông dân đến công đường. Chủ quán thưa: – Bác này vào quán của tôi hít hết mùi thơm lợn quay, gà luộc, vịt rán mà không trả tiền. Nhờ Ngài xét cho. 2. Mồ Côi hỏi bác nông dân. Bác trả lời: – Tôi chỉ vào quán ngồi nhờ để ăn miếng cơm nắm. Tôi không mua gì cả. Mồ Côi bảo: – Nhưng bốc có hít hương thơm thức ăn trong quán không? Bác nông dân đáp: – Thưa có. Mồ Côi nói: – Thế thì bác phải bồi thường. Chủ quán muốn bồi thường bao nhiêu? – Thưa Ngài, hai mươi đồng. – Bác hãy đưa hai mươi đồng đây, tôi phân xử cho! Nghe nói, bác nông dân giãy nảy: – Tôi có đụng chạm gì đến thức ăn trong quán đâu mà phải trả tiền. – Bác cứ đưa tiền đây. 3. Bác nông dân ấm ức: – Nhưng tôi chỉ có hai đồng. – Cũng được – Mồ Côi vừa nói vừa thản nhiên cầm lấy hai đồng bạc bỏ vào một cái bát, rồi úp một cái bát khác lên, đưa cho bác nông dân, nói: – Bác hãy xóc lên cho đủ mười lần. Còn ông chủ quán, ông hãy chịu khó mà nghe. – Bác này đã bồi thường cho chủ quán đủ số tiền. Một bên “hít mùi thịt”, một bên “nghe tiếng bạc”. Thế là công bằng. Nói xong, Mồ Côi trả hai đồng bạc cho bác nông dân rồi tuyên bố kết thúc phiên xử. Truyện cổ tích Nùng Cách đọc Đọc đúng các kiểu câu, chú ý phân biệt được lời dẫn truyện và lời nhân vật (chủ quán, bác nông dân, Mồ Côi). Giọng chủ quán vu vạ, thiếu thật thà. Giọng bác nông dân phân trần, thật thà, ngạc nhiên. Giọng Mồ Côi nhẹ nhàng, thản nhiên, khi nghiêm nghị, khi giấu nụ cười hóm hỉnh. Đọc bài với giọng đọc vừa phải, đọc chậm rãi. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ chỉ thái độ của các nhân vật. Gợi ý cảm thụ Mồ Côi xử kiện là truyện cổ thể hiện tài trí dân gian, nói lên ước mơ của nhân dân được sống trong một xã hội công bằng. Trước hết, ta hãy nói về nhân vật chính trong truyện với cái tên rất đặc biệt: Mồ Côi. Mồ Côi là người bị mất cha, hoặc mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ khi còn bé. Chàng trai trong truyện bị mất cả cha lẫn mẹ nên được đặt tên là Mồ Côi. Tên này thành tên riêng của chàng nên được viết hoa. Theo lời dẫn truyện, chàng được dân làng tin cậy giao cho việc xử kiện. Còn tại sao chàng được tin cậy thì người kể chuyện không nói rõ. Đó là cách để lôi cuốn người đọc vào câu chuyện. Mồ Côi đã xử kiện như thế nào để được dân tin cậy giao cho việc quan trọng như vậy? Vụ án thật khó phân xử, phải xử sao cho công bằng, bảo vệ được bác nông dân bị oan, làm cho chủ quán bẽ mặt mà vẫn phải tâm phục, khẩu phục. Lí lẽ của bác nông dân rất đơn giản: bác chỉ vào quán ngồi nhờ để ăn cơm nắm, và không mua gì. Bác nhận là bác có hít mùi thơm của thức ăn trong quán. Mồ Côi đã xử như sau: Trước hết, bác nông dân phải bồi thường 20 đồng để quan toà phân xử. Bác nông dân giãy nảy lên vì bác không hề đụng chạm vào thức ăn, sao lại phải trả tiền. Mâu thuẫn trở nên căng thẳng hơn. Mồ Côi yêu cầu bác nông dân xóc 2 đồng bạc đủ 10 lần để đủ số tiền 20 đồng. Cuối cùng, chàng tuyên bố: Bác này đã bồi thường cho chủ quán đủ số tiền. Một bên “hít mùi thịt”, một hên “nghe tiếng bạc”. Thế là công bằng. Mồ Côi xử trí thật tài tình, công bằng đến bất ngờ làm cho chủ quán tham lam không thể cãi vào đâu được và bác nông dân chắc là rất sung sướng, thở phào nhẹ nhõm. Lời phán của chàng dõng dạc, rõ ràng và giấu một nụ cười hóm hỉnh. Cách lập lí của chàng thực sự thông minh, nhanh trí khiến tên chủ quán đành chịu thua. Truyện kết thúc có hậu mang lại tiếng cười sảng khoái và niềm hân hoan vui sướng của tất cả mọi người. Bác nông dân vô tội chiến thắng, kẻ tham lam bị vạch mặt, thật đúng là “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Bác nông dân thật thà được thấy chàng Mồ Côi phán xử hay như thế nào. Tình huống của câu chuyện này có thể xác nhận một châm ngôn sống: “Thật thà là cha quỷ quái”. XEM THÊM BÀI BA ĐIỀU ƯỚC TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Mồ côi xử kiện – Tiếng Việt 3
847
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Một mái nhà chung – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Một mái nhà chung Mái nhà của chim Lợp nghìn lá biếc Mái nhà của cá Sóng xanh rập rình. Mái nhà của em Nghiêng giàn gấc đỏ Mái nhà của bạn Hoa giấy lợp hồng. Mái nhà của dím Sâu trong lòng đất Mái nhà của ốc Tròn vo bên mình. Mọi mái nhà riêng Có mái nhà chung Là bầu trời xanh Xanh đến vô cùng. Mọi mái nhà riêng Có mái nhà chung Rực rỡ vòm cao Bảy sắc cầu vồng. Bạn ơi, ngước mắt Ngước mắt lên trông Bạn ơi, hãy hát Hát câu cuối cùng: Một mái nhà chung Một mái nhà chung… (Định Hải) Cách đọc Đọc nhấn vào những tiếng đối thanh cuối câu để tạo nhạc điệu cho câu thơ. Ví dụ: Mái nhà của chim Lợp nghìn lá biếc Mái nhà của cá Sóng xanh rập rình. Bài thơ có nhiều từ gợi tả sắc vẻ khác nhau của mỗi ngôi nhà, khi đọc, cần nhấn vào các từ đó: nghìn lá biếc, sóng xanh rập rình, tròn vo, nghiêng giàn gấc đỏ, hoa giấy lợp hồng Gợi ý cảm thụ Bài thơ bắt đầu từ những mái nhà riêng: nhà của chim là “nghìn lá biếc” (vòm cây xanh lá), của cá là “sóng xanh rập rình” (môi trường nước), của dím là “sâu trong lòng đất” (hang đào sâu vào lòng đất),.. Nhưng ngôi nhà không chỉ là nơi sinh sống mà còn là vẻ đẹp gắn với đời sống riêng của mỗi loài, vẻ đẹp ngôi nhà của chùn là màu xanh biếc của muôn nghìn lá hợp lại, khiến cho việc ra vào ẩn hiện thật biến hoá, đúng với đời sống của con chim trời tự do. Ngôi nhà của cá là nước, mà là nước “rập rình”, luôn đùa giỡn vui vẻ với cá. Ngôi nhà của nhím lại đẹp ở cái vẻ sâu tối, bí mật. Còn ngôi nhà của con người là vẻ riêng của mỗi nhà, có ngôi nhà “Nghiêng giàn gấc đỏ”, có ngôi nhà “Hoa giấy lợp hồng”. Và tất cả các ngôi nhà ấy đều ở trên trái đất, dưới một bầu trời xanh, cho nên đấy là ngôi nhà chung. Ngôi nhà chung này đẹp vẻ đẹp tráng lệ của vũ trụ: Rực rỡ vòm cao Bảy sắc Cầu vồng. Ngôi nhà chung này cần được giữ gìn thì mới có các ngôi nhà riêng. Cho nên điệp khúc câu hát cuối cùng: Một mái nhà chung – Một mái nhà chung… – nhắc nhở mỗi chúng ta có trách nhiệm đối với môi trường sống của tất cả các loài. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Một mái nhà chung – Tiếng Việt 3
417
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Một trường tiểu học vùng cao – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Một trường tiểu học vùng cao Nghe nói ở xã Sủng Thài có trường nội trú, chúng tôi lặn lội lên thăm. Hội đồng giáo viên đang họp nên em Sùng Tờ Dìn, liên đội trưởng, dẫn chúng tôi đi thăm trường. Trường có đủ phòng học cho năm lớp, có bếp, phòng ăn và nhà ở. Các thầy cô ăn ở cùng học sinh. Vừa đi, Dìn vừa kể: “Cứ sáng thứ hai, chúng em đến trường cùng với gạo ăn một tuần, chiều thứ bảy lại về. Nhà ai nghèo thì uỷ ban xã giúp gạo.” Tôi hỏi: – Hằng ngày, các em làm việc gì? – Buổi sáng, chúng em học trên lớp, buổi chiều làm bài. Ngoài giờ học, chúng em hát múa, chơi thể thao hoặc trồng rau, nuôi gà để cải thiện bữa ăn. – Đi học cả tuần, Dìn có nhớ nhà không? – Lúc đầu, chúng em cũng nhớ, nhưng ở trường rất vui. Về nhà, ai cũng mong sớm đến sáng thứ hai để lại được gặp nhau. Trúc Mai Cách đọc Đọc phân biệt lời kể của vị khách với lời của Dìn. Các câu hỏi của vị khách: đọc thể hiện được sự chân tình, thân ái. Câu trả lời của Dìn: thật thà, mạnh dạn, tự tin. Gợi ý cảm thụ Bài văn đưa chúng ta đến với một trường tiểu học ở vùng cao: Trường Tiểu học nội trú ở xã Sủng Thài, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Các em đã biết rằng ở miền núi, các làng bản nằm rải rác rất xa nhau. Học sinh tiểu học còn nhỏ, không thể lội suối trèo đèo đi, về hằng ngày được. Vì vậy, ở đây, xã Sủng Thài có sáng kiến tổ chức cho học sinh ở nội trú suốt tuần. Thế là một trường tiểu học dân tộc nội trú cấp xã được ra đời. Bài văn mới chỉ là những nét phác hoạ về ngôi trường nội trú này, nhưng ta cũng có thể hình dung được về ngôi trường đồng thời là tổ ấm gần gũi, thân thương của các bạn học sinh tiểu học nơi đây. Này nhé, trường chỉ có năm lớp, lại chủ yếu là lớp ghép (học sinh lớp 1, lớp 2 hoặc lớp 2, lớp 3 học cùng trong một lớp). Rồi trường học mà cứ như gia đình vậy, có cả bếp, phòng ăn, nhà ở. Cảm động nhất là chi tiết “các thầy cô ăn ở cùng học sinh”. Bởi vì bình thường, đời sống của giáo viên vùng cao rất khó khăn, nhưng đời sống, sinh hoạt của đa số các gia đình học sinh vùng cao còn khó khăn hơn. Các thầy cô “ăn ở cùng học sinh” nghĩa là các thầy cô chia sẻ những khó khăn với học sinh của mình. Bữa ăn của thầy trò có thể còn đạm bạc, nơi ăn chốn ở có thể còn thiếu thốn nhưng vẫn ấm áp tình người. Thầy trò cùng chia ngọt sẻ bùi, lá lành đùm lá rách,… Bên cạnh đó, qua lời kể của bạn liên đội trưởng Sùng Tờ Dìn, ta còn biết: “Cứ sáng thứ hai, chúng em đến trường cùng với gạo ăn một tuần, chiều thứ bảy lại về. Nhà ai nghèo thì Uỷ ban xã giúp gạo”. Như vậy, bên cạnh sự tận tâm, chia sẻ của các thầy cô, địa phương nơi đây cũng quan tâm giúp đỡ một cách mộc mạc và thiết thực, giúp cho nhiều học sinh nghèo được đến trường, về tình hình sinh hoạt và học tập của các bạn học sinh vùng cao ở trường nội trú này, bạn Dìn cho biết: “Buổi sáng, chúng em học trên lớp, buổi chiều làm bài. Ngoài giờ học, chúng em hát múa, chơi thể thao hoặc trồng rau, nuôi gà để cải thiện bữa ăn”. Ở nơi vùng cao heo hút này, rõ ràng đây là một tổ ấm thân thương, một đại gia đình. Công việc học tập và các sinh hoạt tập thể đã gắn kết các bạn học sinh với nhau, như một sợi dây tình cảm chắp nối thầy trò, bạn bè với nhau. Chả thế mà, qua lời của bạn Dìn: “Về nhà, ai cũng mong sớm đến sáng thứ hai để lại được gặp nhau”, ta thấy ngôi trường tiểu học nội trú thân thương này là gia đình thứ hai của các bạn. “Một ngôi trường tiểu học vùng cao” được nói tới trong bài văn đã mở ra cho các em nhiều hiểu biết thú vị và cảm động. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Một trường tiểu học vùng cao – Tiếng Việt 3
781
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ngày hội rừng xanh – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Ngày hội rừng xanh Chim gõ kiến nổi mõ Gà rừng gọi vòng quanh Sáng rồi, đừng ngủ nữa Nào, đi hội rừng xanh! Tre, trúc thổi nhạc sáo Khe suối gảy nhạc đàn Cây rủ nhau thay áo Khoác bao màu tươi non. Công dẫn đầu đội múa Khướu lĩnh xướng dàn ca Kì nhông diễn ảo thuật Thay đổi hoài màu da. Nấm mang ô đi hội Tới suối, nhìn mê say: Ơ kìa, anh cọn nước Đang chơi trò đu quay! Cách đọc Mỗi khổ thơ gồm hai cặp câu ; trong mỗi cặp câu, hai câu thường đối thanh ở tiếng cuối, cần nhấn ở những tiếng đối thanh đó. Ví dụ: Chim gõ kiến nổi mõ Gà rừng gọi vòng quanh Sáng rồi, đừng ngủ nữa Nào, đi hội rừng xanh! Gợi ý cảm thụ Trong rừng muôn vật rất phong phú, mỗi sự vật có vẻ riêng. Mỗi buổi sáng, chúng thi nhau lên tiếng, khoe tài khoe sắc. Quan sát hình ảnh ấy và bằng sự liên tưởng ngộ nghĩnh, nhà thơ cho ta thấy mỗi một buổi sáng, rừng xanh lại vui như hội. Và mỗi loài đóng góp bằng vẻ riêng độc đáo của mình. Chim gõ kiến có cái mỏ lớn, luôn gõ vào cây để tìm sâu, cho nên hình dung anh ta là người “nổi mõ”, tức là nổi hiệu lệnh (tiếng mõ thời xưa giống như tiếng trống, tiếng kẻng thời nay), mở đầu cho ngày hội. Gà rừng gáy báo trời sáng như thúc giục muôn vật thức dậy. Gió nổi lên, tre, trúc vi vu như điệu sáo. Tiếng suối rì rầm, êm êm một điệp khúc như gảy đàn. Cây rụng đi lá vàng, thay bằng lá non tươi như người thay áo mới. Công có bộ lông sặc sỡ, múa đẹp, được coi “dẫn đầu đội múa”. Khướu có tiếng hót vang nên là người “lĩnh xướng” (hát một câu mở đầu để dẫn dắt) dàn đồng ca. Kì nhông luôn thay đổi sắc màu giống như người làm ảo thuật. Nấm có hình cái ô nên được nhìn như ngưòi đi dự hội (đi xem hội). Hình ảnh cuối cùng là cọn nước. Với bánh xe to lớn quay đều đặn, cọn nước được ví như trò đu quay thật ngộ nghĩnh. XEM THÊM BÀI HỘI ĐUA VOI Ở TÂY NGUYÊN TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ngày hội rừng xanh – Tiếng Việt 3
390
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ngày khai trường – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Ngày khai trường Sáng đầu thu trong xanh Em mặc quần áo mới Đi đón ngày khai trường Vui như là đi hội Gặp bạn, cười hớn hở Đứa tay bắt mặt mừng Đứa ôm vai bá cổ Cặp sách đùa trên lưng. Nhìn các thầy, các cô Ai cũng như trẻ lại Sân trường vàng nắng mới Lá cờ bay như reo. Từng nhóm đứng đo nhau Thấy bạn nào cũng lớn Năm xưa bé tí teo, Giờ lớp ba, lớp bốn. Tiếng trống trường gióng giả Năm học mới đến rồi Chúng em đi vào lớp Khăn quàng bay đỏ tươi. (Theo Nguyễn Bùi Vợi) Cách đọc Đọc bài thơ với giọng trìu mến, thiết tha, phấn khởi, vui tươi, rộn rã, thể hiện được không khí náo nức, tưng bừng của ngày khai trường. Chú ý ngắt nhịp giữa các dòng thơ ; nghỉ hơi đúng sau mỗi dòng thơ và giữa các khổ thơ. Gợi ý cảm thụ Bài thơ Ngày khai trường không miêu tả mùa thu mà tả không khí náo nức của ngày khai trường khi mùa thu đến. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đã say sưa nói về niềm vui của các cô cậu học trò nhỏ. Bài thơ có năm khổ, mỗi khổ thơ là một niềm vui. Những câu thơ năm chữ với tiết tấu nhanh, giọng điệu tươi vui, rộn ràng. Mở đầu bài thơ là sắc trời đặc trưng của mùa thu: “Sáng đầu thu trong xanh”. Nhớ sao những sớm mùa thu trời xanh trong cao vời vợi, sắc trời sắc nắng hoà vào nhau làm tâm hồn chúng ta thấy thật thư thái, dễ chịu. Với các em thiếu niên nhi đồng, buổi sáng mùa thu đáng nhớ nhất là buổi sáng ngày khai trường. Sau ba tháng hè, các em lại được đến trường, được lên thêm một lớp, được gặp lại thầy cô, bè bạn. Và bắt đầu cho một ngày mới, một năm học mới, các em rộn ràng, xúng xính trong những bộ quần áo mới “Đi đón ngày khai trường”. Niềm vui đến trường của các em được nhà thơ miêu tả qua hình ảnh so sánh quen thuộc “Vui như là đi hội”. Ngày khai trường chỉ có niềm vui, niềm vui của sự hội ngộ, sum vầy, niềm vui của tình thầy trò, bè bạn. Không khí hồ hởi, phấn khởi, đông vui, náo nức không khác gì không khí của một ngày hội. Năm khổ thơ khắc hoạ lại những khuôn mặt rạng rỡ, bóng hình thân quen, tiếng nói, tiếng cười rộn rã, những cử chỉ thân mật,… Mọi thứ đều tưng bừng, náo nức. Từ các em học sinh tíu tít: cười hớn hở, tay bắt mặt mừng, ôm vai bá cổ ; thầy cô như trẻ lại; đến những màu sắc, những sự vật sống động, tươi vui: “Sân trường vàng nắng mới – Lá cờ bay như reo”, “Khăn quàng bay đỏ tươi”. Và tất nhiên, không thể thiếu âm thanh của tiếng trống trường vẫy gọi, thúc giục em vào lớp, tiếng trống trường nói với em năm học mới đã đến, em hãy học hành chăm ngoan… Năm khổ thơ đầy ắp sắc màu tươi tắn (màu xanh của trời, màu vàng của nắng, màu đỏ thắm của cờ, khăn quàng đỏ) ; đầy ắp âm thanh tươi vui, tiếng nói, tiếng cười, tiếng trống trường ; đầy ắp những khuôn mặt, dáng hình của thầy cô, học sinh. Có thể nói, bài thơ đã đem đến cho chúng ta niềm vui sướng, phấn khởi, không khí náo nức của buổi tựu trường. Tác giả đã sử dụng nhiều động từ miêu tả hoạt động, trạng thái, các tính từ, các từ láy tượng hình, tượng thanh. Chúng ta không có cảm giác bề bộn mà chỉ thấy niềm vui đến say sưa, ngây ngất. Đọc bài thơ, trẻ thơ muốn được đến trường đi học, người lớn muốn trẻ lại, muốn trở lại tuổi thơ trong sáng. Nhà thơ Giang Nam trong bài thơ Quê hương từng viết: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ Tuổi thơ của mỗi con người không thể thiếu niềm vui đến lớp, niềm vui của ngày khai trường, niềm vui khi lật giở những trang vở mới, trang sách mới thơm tho, tinh khiết. Đọc thơ để thấy yêu thêm cuộc sống, yêu thêm con người, có lẽ đó là ý nghĩa muôn thuở của thi ca! XEM THÊM BÀI 15: BÀI TẬP LÀM VĂN – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ngày khai trường – Tiếng việt 3.
748
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người con của Tây Nguyên – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Người con của Tây Nguyên 1. Tháng ba, có giấy trên tỉnh kêu anh Núp đi dự Đại hội thi đua. Núp nói với anh Thế: – Nên để bok Pa đi. Bok kể được nhiều việc hơn tôi. Anh Thế cười: – Không, tỉnh kêu anh đi đấy. Đi để học mà. 2. Núp đi Đại hội về giữa lúc Pháp càn quét lớn. Ban ngày, anh chỉ huy đánh giặc, ban đêm kể chuyện Đại hội cho cả làng nghe. Lũ làng ngồi vây quanh anh. Ông sao Rua mọc lên giữa lòng suối như một chùm hạt ngọc. Tay Núp cầm quai súng chặt hơn. Anh nói với lũ làng: Đất nước mình bây giờ mạnh hung rồi. Người Kinh, người Thượng, con gái, con trai, người già, người trẻ đoàn kết đánh giặc, làm rẫy giỏi lắm. Ở Đại hội, Núp cũng lên kể chuyện làng Kông Hoa. Nghe xong, nhiều người chạy lên, đặt Núp trên vai, công kênh đi khắp nhà, mừng không biết bao nhiêu. Cán bộ nói: – Pháp đánh một trăm năm cũng không thắng nổi đồng chí Núp và làng Kông Hoa đâu! Lũ làng nghe tới đó vui quá, đứng hết dậy: – Đúng đấy! Đúng đấy! 3. Núp mở những thứ Đại hội tặng cho mọi người coi: một cái ảnh Bok Hồ vác cuốc đi làm rẫy, một bộ quần áo bằng lụa của Bok Hồ, một cây cờ có thêu chữ, một huân chương cho cả làng, một huân chương cho Núp. Theo Nguyên Ngọc. Cách đọc Đọc giọng kể, chậm rãi. Chú ý thể hiện sắc thái dân tộc khi đọc lời nói của các nhân vật. Đoạn cuối đọc với giọng trang trọng và cảm động. Gợi ý cảm thụ Bối cảnh của câu chuyện trên là những năm 1952 – 1953, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta nói chung, đồng bào Tây Nguyên nói riêng đang diễn ra ác liệt. Lúc đó, thế và lực của quân đội ta đã lớn mạnh không ngừng, cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn phản công, thắng lợi đang đến gần. Bài văn trên trích trong tác phẩm Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc viết về anh hùng Núp và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân làng Kông Hoa thời ấy. Những chi tiết đầu tiên của bài văn cho thấy anh hùng Núp là người nổi tiếng dũng cảm, mưu trí, dám đánh giặc Pháp và thắng giặc Pháp nhưng lại là con người thật thà, chất phác. Điều đó phần nào được thể hiện qua câu nói chân thành của anh Núp: “Nên để bok Pa đi. Bok kể được nhiều việc hơn tôi”. Ta còn nhận thấy ở Núp, việc đánh giặc là một việc làm bình thường và tất yếu, bởi vì giặc đến nhà thì phải đánh, bình thường như việc làm rẫy, làm nương. Chả thế mà, sau khi đi dự đại hội về, ban ngày anh Núp chỉ huy dân làng đánh giặc, ban đêm kể chuyện Đại hội cho cả làng nghe. Anh Núp còn có phẩm chất đáng quý khác là có niềm tin mãnh liệt, vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lúc ấy, tin tưởng ở sức mạnh của khối đoàn kết giữa đồng bào miền xuôi với miền ngược, người Kinh và người Thượng,… Niềm tin đó đã tạo cho anh sức mạnh, sự ngoan cường trong cuộc đương đầu với bọn thực dân xâm lược. Không thể không nói tới “chất” Tây Nguyên, bản sắc Tây Nguyên, sắc màu Tây Nguyên được thể hiện khá rõ nét trong bài văn. Có thể qua cách tả, cách kể của nhà văn (ví dụ: “Lũ làng ngồi vây quanh anh. Ông sao Rua mọc lên giữa lòng suối như một chùm hạt ngọc…”, “Lũ làng đi rửa tay thật sạch rồi cầm lên từng thứ, coi đi, coi lại, coi đến mãi nửa đêm…”). Có thể qua lời nói, cách nói của nhân vật (ví dụ: “Không, tỉnh kêu anh đi đấy. Đi để học mà”, “Đất nước mình bây giờ mạnh hung rồi”),… Bài văn khép lại, nhưng những ấn tượng tốt đẹp về hình ảnh anh hùng Núp – người con ưu tú của mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ và bất khuất – thì mãi không phai mờ trong tâm trí người đọc. XEM THÊM BÀI 30: LUÔN NGHĨ ĐẾN MIỀN NAM – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người con của Tây Nguyên – Tiếng việt 3
762
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người liên lạc nhỏ – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Người liên lạc nhỏ 1. Sáng hôm ấy, anh Đức Thanh dẫn Kim Đồng đến điểm hẹn. Một ông ké đã chờ sẵn ở đấy. Ông mỉm cười hiền hậu: – Nào, bác cháu ta lên đường! Ông ké chống gậy trúc, mặc áo Nùng đã phai, bợt cả hai cửa tay. Trông ông như người Hà Quảng đi cào cỏ lúa. Kim Đồng đeo túi nhanh nhẹn đi trước, ông ké lững thững đằng sau. Gặp điều gì đáng ngờ, người đi trước làm hiệu, người đằng sau tránh vào ven đường. 2. Đến quãng suối, vừa qua cầu thì gặp Tây đồn đem lính đi tuần. Kim Đồng bình tĩnh huýt sáo. Ông ké dừng lại, tránh sau lưng một tảng đá. Lưng đá to lù lù, cao ngập đầu người. Nhưng lũ lính đã trông thấy. Chúng nó kêu ầm lên. Ông ké ngồi ngay xuống bên tảng đá, thản nhiên nhìn bọn lính, như người đi đường xa, mỏi chân, gặp được tảng đá phẳng thì ngồi nghỉ chốc lát. 3. Nghe đằng trước có tiếng hỏi: – Bé con đi đâu sớm thế? Kim Đồng nói: – Đón thầy mo này về cúng cho mẹ ốm. Trả lời xong, Kim Đồng quay lại, gọi: – Già ơi! Ta đi thôi! Về nhà cháu còn xa đấy! 4. Mắt giặc tráo trưng mà hoá thong manh. Hai bác cháu đã ung dung đi qua trước mặt chúng. Những tảng đá ven đường sáng hẳn lên như vui trong nắng sớm. Cách đọc Đọc giọng kể ; chú ý phân biệt lời dẫn chuyện và lời nhân vật. Đoạn 1 đọc giọng kể bình thường ; đoạn 2 đọc giọng hồi hộp ; đoạn 3 đọc giọng Kim Đồng rất tự nhiên, bình thản. Đoạn 4 đọc giọng vui, phấn khởi (nhất là câu cuối bài). Gợi ý cảm thụ Vào những năm 40 của thế kỉ XX, khi mà đất nước ta còn đắm chìm trong vòng nô lệ, nhân dân ta sống rên xiết dưới gót giày của bọn thực dân xâm lược thì ở vùng Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xa xôi đã có những thiếu niên tuổi nhỏ chí lớn, sớm giác ngộ cách mạng, nhiệt tình tham gia cách mạng, “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ – Tuỳ theo sức của mình”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng… Đó là người Đội viên Thiếu niên tiền phong đầu tiên ở nước ta: anh Kim Đồng, tên thật là Nông Văn Dền, quê ở bản Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Công việc nhỏ bé nhưng có ý nghĩa lớn mà anh Kim Đồng đảm nhiệm lúc ấy là làm nhiệm vụ liên lạc, dẫn đường và canh gác cho các cán bộ cách mạng. Bài văn Người liên lạc nhỏ nói trên của nhà văn Tô Hoài kể về một trong những lần anh Kim Đồng dẫn đường cho các cán bộ cách mạng. Các em đã biết, vào thời điểm này, thực dân Pháp xâm lược còn chiếm đóng nước ta, các cán bộ cách mạng phải hoạt động bí mật để lãnh đạo nhân dân ta đứng lên chống thực dân xâm lược, giải phóng đất nước. Qua câu chuyên Người liên lạc nhỏ, ta thấy phẩm chất nổi bật nhất của anh Kim Đồng được thể hiện, khắc hoạ ở đây, đó là sự thông minh, nhanh trí và dũng cảm. Tình huống để qua đó anh Kim Đồng bộc lộ những phẩm chất cao đẹp của mình là tình huống trên đường anh Kim Đồng làm nhiệm vụ thì gặp bọn địch đi tuần. Anh đã bình tĩnh, chủ động tìm cách đối phó với kẻ thù và vượt qua tình huống nguy hiểm này. Anh không hề bối rối, sợ sệt mà “bình tĩnh huýt sáo” báo hiệu để “ông ké” kịp tránh vào ven đường. Tình thế càng nguy hiểm, gay cấn hơn khi không kịp nữa, bọn địch đã trông thấy và “chúng nó kêu ầm lên”. Anh Kim Đồng vẫn không bối rối mà nhanh trí trả lời bọn địch khi chúng hỏi: “Bé con đi đâu sớm thế?”, anh Kim Đồng trả lời: “Đón thầy mo này về cúng cho mẹ ốm”. Rồi anh chủ động, thản nhiên quay lại gọi “ông ké”: “Già ơi! Ta đi thôi! Về nhà cháu còn xa đấy!”. Một màn kịch được dựng lên nhằm che mắt địch tưởng không thể khéo hơn được. Trong tình huống ấy, nếu anh Kim Đồng có những biểu hiện, dù là rất nhỏ, của sự vụng về, thiếu tự nhiên, bọn địch sẽ phát hiện được ngay. Nhưng bằng sự thông minh, nhanh trí của mình, anh Kim Đồng hoàn toàn qua mặt bọn chúng, khiến chúng không mảy may nghi ngờ. Thế là hai bác cháu – một cán bộ cách mạng và một chiến sĩ liên lạc nhỏ tuổi – đã thoát hiểm một cách ngoạn mục. Và như ta biết, qua sự việc này, anh Kim Đồng không chỉ thể hiện sự thông minh, nhanh trí mà còn thể hiện sự dũng cảm tuyệt vời. Bởi lẽ, nếu bọn địch phát hiện ra thì cả “ông ké” và anh Kim Đồng sẽ bị bắt và tính mạng sẽ không được bảo toàn. XEM THÊM BÀI CỬA TÙNG TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người liên lạc nhỏ – Tiếng việt 3
898
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người lính dũng cảm – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Mùa thu của em Mùa thu của em Lá vàng hoa cúc Như nghìn con mắt Mở nhìn trời êm Mùa thu của em Lá xanh cốm mới Mùi hương như gợi Từ màu lá sen. Mùa thu của em Rước đèn họp bạn Hội rằm tháng tám Chị Hằng xuống xem. Ngôi trường thân quen Bạn thầy mong đợi Lật trang vở mới Em vào mùa thu. (Quang Huy) Cách đọc Đọc bài thơ với giọng trìu mến, thiết tha, phấn khởi. Chú ý ngắt nhịp giữa các dòng thơ ; nghỉ hơi đúng sau mỗi dòng thơ và giữa các khổ thơ. Khổ 1, 2 đọc với giọng ngỡ ngàng, ngạc nhiên, thích thú. Khổ 3, 4 đọc với giọng vui tươi, rộn rã. Gợi ý cảm thụ Mỗi lứa tuổi, người ta yêu mùa thu theo những cách khác nhau. Người nước ngoài thường được khuyên hãy đến Hà Nội vào mùa thu, rất đơn giản vì mùa thu là mùa đẹp nhất ở miền Bắc. Thi nhân yêu mùa thu vì mùa thu là mùa của thi ca. Mùa thu gợi cảm hứng cho bao nghệ sĩ sáng tác những tác phẩm thi ca nhạc hoạ. Người lớn yêu mùa thu theo cách của người lớn và trẻ con lại yêu mùa thu bằng đôi mắt trong sáng, ngây thơ của mình… Nhan đề bài thơ Mùa thu của em đã nói với chúng ta điều đó. Hai khổ thơ đầu tác giả miêu tả vẻ đẹp thanh cao, hương sắc đẹp đẽ và tinh khiết của mùa thu. Có điều vẻ đẹp rất riêng của mùa thu xứ sở lại được cảm nhận qua con mắt của trẻ thơ, qua cách nói hồn nhiên, nhí nhảnh của trẻ thơ: -Mùa thu của em Là vàng hoa cúc… -Mùa thu của em Là xanh cốm mới… Cấu trúc câu “A là B” như một định nghĩa về đối tượng miêu tả. Bằng lối nói quen thuộc này, “Mùa thu của em” được cụ thể hoá bằng những hình ảnh chân thực, sống động, tiêu biểu. Mùa thu dần hiện ra lung linh sắc màu tươi tắn: màu vàng của hoa cúc, màu xanh non của cốm mới; thoảng hương cốm quyện trong mùi hương thanh nhã và tinh khiết của lá sen già. Khổ thơ đầu, tác giả đặc tả sắc vàng của mùa thu qua hình ảnh so sánh bông cúc vàng “Như nghìn con mắt – Mở nhìn trời êm”. Những bông cúc vàng với những cánh hoa nhỏ và dài xếp chồng lên nhau, ken dày, êm mượt đều đặn được ví với nhũng con mắt trong sáng, ngây thơ đang ngắm nhìn tấm thảm nhung xanh ngắt của bầu trời thu. Hai sự vật quen thuộc được đặt bên cạnh nhau, đi sóng đôi với nhau, làm nổi bật vẻ đẹp đặc trưng của từng sự vật. Nếu hai khổ thơ đầu khiến ta hình dung ra cảnh tượng một em bé đang mở to mắt nhìn lên trời, em bé khám phá ra nhiều điều kì diệu của mùa thu thì hai khổ thơ sau lại khiến ta náo nức, hân hoan chờ đón đêm hội trăng rằm và tiếng trống trường rộn rã mở đầu cho năm học mới. Với trẻ thơ, mùa thu là mùa bắt đầu cho những niềm vui, những cuộc hội ngộ, sum vầy với bạn bè, trường lớp, thầy cô. Biết bao điều để kể, để nói, biết bao mong đợi, tin yêu. Em sẽ đến trường, sẽ lật những trang vở đầu tiên để năm học mới chính thức bắt đầu. Ba khổ thơ trên đều được bắt đầu bằng điệp khúc “mùa thu của em”. Bằng những câu thơ mang giai điệu thiết tha, nhà thơ vẽ ra toàn cảnh mùa thu trong mắt trẻ thơ. Đến khổ thơ cuối có sự thay đổi, nhân vật chính không còn chỉ thưởng thức hương sắc mùa thu nữa mà thật phấn khởi, tự tin bước vào mùa thu. Nếu như ở những khổ thơ trên, nhà thơ Quang Huy chỉ tả thì đến cuối bài thơ nhà thơ đã nói hộ em bé những cảm xúc, tâm trạng qua các từ “thân quen”, “mong đợi”. Nhà thơ không chỉ khẳng định đó là mùa thu của em nữa, mà “em” đã bước hẳn vào mùa thu, đã học những bài học đầu tiên trong ngôi trường thân yêu của mình. XEM THÊM BÀI 12: NGƯỜI LÍNH DŨNG CẢM – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người lính dũng cảm – Tiếng việt 3.
742
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người mẹ – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Người mẹ 1. Bà mẹ chạy ra ngoài, hớt hải gọi con. Suốt mấy đêm ròng thức trông con ốm, bà vừa thiếp đi một lúc, Thần Chết đã bắt nó đi. Thần Đêm Tối đóng giả một bà cụ mặc áo choàng đen, bảo bà: – Thần Chết chạy nhanh hơn gió và chẳng bao giờ trả lại những người lão đã cướp đi đâu. Bà mẹ khẩn khoản cẩu xin Thần chỉ đường cho mình đuổi theo Thần Chết. Thần Đêm Tối chỉ đường cho bà. 2. Đến một ngã ba đường, bà mẹ không biết phải đi lối nào. Nơi đó có một bụi gai băng tuyết bám đầy. Bụi gai bảo: – Tôi sẽ chỉ đường cho bà, nếu bà ủ ấm tôi. Bà mẹ ôm ghì bụi gai vào lòng để sưởi ấm nó. Gai đâm vào da thịt bà, máu nhỏ xuống từng giọt đậm. Bụi gai đâm chổi, nảy lộc và nở hoa ngay giữa mùa đông buốt giá. Bụi gai chỉ đường cho bà. 3. Bà đến một hồ lớn. Không có một bóng thuyền. Nước hổ quá sâu. Nhưng bà nhất định vượt qua hồ để tìm con. Hổ bảo: – Tôi sẽ giúp bà, nhưng bà phải cho tôi đôi mắt. Hãy khóc đi, cho đến khi đôi mắt rơi xuống! Bà mẹ khóc, nước mắt tuôn rơi lã chã, đến nỗi đôi mắt theo dòng lệ rơi xuống hổ, hoá thành hai hòn ngọc. Thế là bà được đưa đến nơi ở lạnh lẽo của Thần Chết. 4. Thấy bà, Thần Chết ngạc nhiên, hỏi: – Làm sao ngươi có thể tìm đến tận nơi đây? – Vì tôi là mẹ. Hãy trả con cho tôi! Theo An-đéc-xen (Nguyễn Văn Hải, Vũ Minh Toàn dịch) Cách đọc Đoạn 1: đọc với giọng hồi hộp, dồn dập, thể hiện tâm trạng hoảng hốt của người mẹ khi bị mất con. Nhấn giọng ở các từ ngữ: hớt hải, thiếp đi, nhanh hơn gió, chẳng bao giờ trả lại, khẩn khoản cầu xin. Đoạn 2 và 3: đọc với giọng thiết tha, thể hiện sự sẵn lòng hi sinh của người mẹ trên đường tìm con. Nhấn giọng ở các từ ngữ: không biết, băng tuyết bám đầy, ủ ấm, ôm ghì, đâm, nhỏ xuống, đâm chồi, nảy lộc, nở hoa. Đoạn 4: đọc chậm, rõ ràng từng câu. Giọng Thần Chết ngạc nhiên. Giọng người mẹ điềm đạm, khiêm tốn, dứt khoát. Gợi ý cảm thụ Người mẹ là một câu chuyện cảm động viết về tấm lòng người mẹ, người mẹ có thể làm tất cả, hi sinh tất cả vì con. Một câu chuyện buồn có đau ốm, bệnh tật, có đau thương, chết chóc, có rớm máu, hi sinh,… có tất cả nỗi đau cả về thể xác và tâm hồn. Song trên cả nỗi đau, điều đọng lại trong tâm trí của độc giả là tình mẫu tử thiẽng liêng. Truyện không bắt đầu bằng lối kể chuyện quen thuộc của truyện cổ tích mà đưa ngay người đọc vào tình huống bất ngờ: một người mẹ vừa bị mất con. Bà mẹ thức mấy đêm ròng trông đứa con ốm. Mệt quá, bà thiếp đi. Tỉnh dậy, thấy mất con, bà hớt hải gọi tìm. Thần Đêm Tối nói cho bà biết: con bà đã bị Thần Chết bắt. Bà cầu xin Thần Đêm Tối chỉ đường cho bà đuổi theo Thần Chết. Để bụi gai chỉ đường cho mình, không chút băn khoăn, bà mẹ chấp nhận yêu cầu của bụi gai. Bà “ôm ghì bụi gai vào lòng để sưởi ấm nó”, làm nó “đâm chồi, nảy lộc và nở hoa giữa mùa đông buốt giá”, dĩ nhiên, gai đâm vào da thịt bà, máu nhỏ xuống từng giọt đậm. Sự đau đớn về thể xác không hề làm bà nao núng. Để hồ nước chỉ đường cho mình đến nơi ở của Thần Chết, bà làm theo lời của hồ nước, bà khóc đến nỗi đôi mắt theo dòng lệ rơi xuống hồ, hoá thành hai hòn ngọc. Và sau hai thử thách nghiệt ngã, phải đau đớn ứa máu, phải đánh đổi đôi mắt, bà đã đến nơi ở của Thần Chết. Câu chuyện chỉ dừng ở đó. Liệu Thần Chết có trả con cho bà không bởi vì như lời của Thần Đêm Tối thì câu trả lời sẽ là không? Còn bà mẹ, khi bà đã bước vào nơi ở của Thần Chết nghĩa là bà cũng không còn trên cõi trần nữa. Lòng yêu thương vô bờ bến của người mẹ dành cho con làm ta xúc động. Câu chuyện buồn đến vô cùng, tình mẫu tử cao cả đến vô cùng! XEM THÊM BÀI 8: CHÚ SẺ VÀ BÔNG HOA BẰNG LĂNG – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người mẹ – Tiếng việt 3.
797
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người trí thức yêu nước – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Người trí thức yêu nước Năm 1948, bác sĩ Đặng Văn Ngữ rời Nhật Bản về nước tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Để tránh bị địch phát hiện, ông phải vòng từ Nhật Bản qua Thái Lan, sang Lào, về Nghệ An, rồi từ Nghệ An lên Việt Bắc. Dù băng qua rừng rậm hay suối sâu, lúc nào ông cũng giữ bên mình chiếc va li đựng nấm pê-ni-xi-lin mà ông gây được từ bên Nhật. Nhờ va li nấm này, bộ đội ta đã chế được thuốc chữa cho thương binh. Năm 1967, lúc đã gần 60 tuổi, ông lại lên đường ra mặt trận chống Mĩ cứu nước, ở chiến trường, bệnh sốt rét hoành hành, đồng bào và chiến sĩ cần có ông. Sau nhiều ngày khổ công nghiên cứu, ông chế ra thuốc chống sốt rét và tự tiêm thử vào cơ thể mình những liều thuốc đầu tiên. Thuốc sản xuất ra, bước đầu có hiệu quả cao. Nhưng giữa lúc ấy, một trận bom của kẻ thù đã cướp đi người trí thức yêu nước và tận tuỵ của chúng ta. Theo Đức Hoài Cách đọc Đọc chậm, thể hiện sự cống hiến lớn lao về khoa học và đặc biệt là tấm lòng yêu nước của bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Trong bài có nhiều câu có trạng ngữ, khi đọc cần ngắt giọng, ví dụ: -Để tránh bị địch phát hiện,… – Ở chiến trường,.. – Sau nhiều ngày khổ công nghiên cứu,… Gợi ý cảm thụ Bác sĩ Đặng Văn Ngữ quê ở Huế, tốt nghiệp bác sĩ từ năm 1937 thời Pháp thuộc, đã có nhiều công trình khoa học nổi tiếng ngay thời còn trẻ. Năm 1943, ông đi du học tại Nhật Bản. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1946), ông tìm cách về nước tham gia kháng chiến. Đây là một cuộc hành trình đầy mạo hiểm và gian khổ, thế mà ông vẫn đem từ Nhật về chiếc va li đựng nấm pê-ni-xi-lin để từ đó chế ra kháng sinh pê-ni-xi-lin chữa các bệnh do vi trùng gây ra. Từ bỏ sự nghiệp đầy hứa hẹn ở Nhật Bản, về nước tự nguyện tham gia vào cả hai cuộc kháng chiến đầy gian khổ, đó là hình ảnh của người trí thức dấn thân trước vận mệnh Tổ quốc. Là bác sĩ quân y, ngoài hằng ngày cứu chữa thương binh, bệnh binh như các bác sĩ quân y khác, ông còn dốc sức nghiên cứu khoa học để tìm ra những cách chữa trị mới. Kháng chiến chống Mĩ, mặc dù tuổi đã cao, ông lại xung phong vào chiến trường miền Nam. Trên đường Trường Sơn rừng thiêng nước độc, ông chú tâm nghiên cứu về bệnh sốt rét, một loại bệnh hoành hành ác liệt sức khoẻ bộ đội và nhân dân miền núi không kém gì bom đạn. Nhiều người tử vong vì sốt rét lâu ngày chuyển sang ác tính. Những người vượt qua được thì da dẻ xanh tái, sức khoẻ suy giảm, có khi không đi tiếp vào chiến trường được. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ ngã xuống khi sự nghiệp còn dang dở. Nhưng ông đã có những đóng góp lớn cho nền y học Việt Nam. Ngoài việc chế ra thuốc pê-ni-xi-lin, ông đã bước đầu thành công trong việc chế ra thuốc chữa sốt rét, một bệnh mà cho đến nay vẫn đe dọa hàng triệu sinh mạng. Và điều quan trọng hơn nữa: ông đã nêu tấm gương về lòng yêu nước, suốt đời vì sức khoẻ của bộ đội và nhân dân. XEM THÊM BÀI BÀN TAY CÔ GIÁO TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Người trí thức yêu nước – Tiếng Việt 3
624
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ngọn lửa Ô-Lim-Pích – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Ngọn lửa Ô-Lim-Pích Tục lệ tổ chức Đại hội Thể thao Ô-lim-pích đã có từ gần 3000 năm trước ở nước Hi Lạp cổ. Đại hội được tổ chức bốn năm một lần, vào tháng bảy, thường kéo dài năm, sáu ngày. Trai tráng từ khắp nơi trên đất nước Hi Lạp đổ về thành phố ô-lim-pi-a thi chạy, nhảy, bắn cung, đua ngựa, ném đĩa, ném lao, đấu vật,… Những người đoạt giải được tấu nhạc chúc mừng và được đặt một vòng nguyệt quế lên đầu tượng trưng cho vinh quang, chiến thắng. Trong thời gian lễ hội, mọi cuộc xung đột đều phải tạm ngừng. Thành phố ô-lim-pi-a trở nên đông đúc, tưng bừng, náo nhiệt vì sự có mặt của người tứ xứ. Từ năm 1894, tục lệ tốt đẹp này được khôi phục và tổ chức trên phạm vi toàn thế giới. Ngọn lửa mang từ thành phố ô-lim-pi-a tới được thắp sáng trong giờ khai mạc, báo hiệu bắt đầu những cuộc đua tài theo tinh thần hoà bình và hữu nghị. Theo Những mẩu chuyện lịch sử thế giới Cách đọc Đọc chậm, ngắt rõ các thành phần được liệt kê, ví dụ: Trai tráng từ khắp nơi trên đất nước Hi Lạp đổ về thành phố Ô-lim-pi-a thi chạy, nhảy, bắn cung, đua ngựa, ném đĩa, ném lao, đấu vật,… Giọng đọc thể hiện tinh thần vừa trang trọng vừa vui vẻ của đại hội này. Gợi ý cảm thụ Hi Lạp là một nước nằm ở phía nam châu Âu, giáp với nước Thổ Nhĩ Kì ở châu Á, nghĩa là trên đường giao lưu Âu – Á. Đại hội Thể thao Ô-lim-pích tổ chức tại thành phố Ô-lim-pi-a có từ thời cổ đại đã thu hút các vận động viên nhiều nơi đến tham dự. Cách thức tổ chức, các môn thi, không khí những ngày diễn ra Đại hội cho ta thấy Đại hội Thể thao Ô-lim-pích thời xa xưa khá giống với Đại hội Thể thao Ô-lim-pích ngày nay. Các môn thi như chạy, nhảy, bắn cung, đua ngựa, ném đĩa, ném lao, đấu vật,… đòi hỏi sức mạnh, sự khéo léo, lòng quả cảm, ý chí kiên cường, là những phẩm chất mà con người thời nào cũng cần rèn luyện. Những người đoạt giải được tấu nhạc, được tặng vòng nguyệt quế, tức là được tôn vinh rất long trọng. Đặc biệt trong thời gian lễ hội, họ ngừng mọi cuộc xung đột (thời ấy, mỗi bang Hi Lạp như một quốc gia và họ thường xuyẽn có chiến tranh với nhau). Như vậy, Đại hội Thể thao Ô-lim-pích đã góp phần quan trọng vào việc giữ gìn hoà bình, tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Ngày nay, Đại hội Thể thao Ô-lim-pích được lần lượt tổ chức ở các thành phố khác nhau trên thế giới (theo sự bình chọn của Uỷ ban Ô-lim-pích). Dù tổ chức ở đâu đều có nghi lễ đem ngọn đuốc được thắp từ Ô-lim-pi-a tới trong giờ khai mạc. Đây là biểu tượng để thể hiện tinh thần hoà bình và hữu nghị đã có từ 3000 năm trước. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ngọn lửa Ô-Lim-Pích – Tiếng Việt 3
540
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhà bác học và bà cụ – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn NHÀ BÁC HỌC VÀ BÀ CỤ 1. Ê-đi-xơn là một nhà bác học nổi tiếng người Mĩ. Khi ông chế ra đèn điện, người từ khắp nơi ùn ùn kéo đến xem. Có một bà cụ phải đi bộ mười hai cây số. Đến nơi, cụ mỏi quá, ngồi xuống vệ đường bóp chân, đấm lưng thùm thụp. 2. Lúc ấy, Ê-đi-xơn chợt đi qua. Ông dừng lại hỏi chuyện. Bà cụ nói: – Già đã phải đi bộ gần ba giờ đồng hổ để được nhìn tận mắt cái đèn điện. Giá ông Ê-đi-xơn làm được cái xe chở người già đi nơi này nơi khác có phải may mắn hơn cho già không? – Thưa cụ, tôi tưởng vẫn có xe ngựa chở khách chứ? – Đi xe ấy thì ốm mất. Già chỉ muốn có một thứ xe không cần ngựa kéo mà lại thật êm. 3. Nghe bà cụ nói vậy, bỗng một ý nghĩ loé lên trong đầu Ê-đi-xơn. Ông reo lên: – Cụ ơi! Tôi là Ê-đi-xơn đây. Nhờ cụ mà tôi nảy ra ý định làm một cái xe chạy bằng dòng điện đấy. Bà cụ vô cùng ngạc nhiên khi thấy nhà bác học cũng bình thường như mọi người khác. Lúc chia tay, Ê-đi-xơn bảo: – Tôi sẽ mời cụ đi chuyến xe điện đầu tiên. -Thế nào già cũng đến… Nhưng ông phải làm nhanh lên nhé, kẻo tuổi già chẳng còn được bao lâu đâu. Hôm chạy thử xe điện, người ta xếp hàng dài để mua vé. Ê-đi-xơn mời bà cụ dạo nọ đi chuyến đầu tiên. Đến ga, ông bảo: – Tôi giữ đúng lời hứa với cụ rồi nhé! Bà cụ cười móm mém: – Cảm ơn ông. Giờ thì già có thể đi chơi cả ngày với chiếc xe này rồi! Theo Truyện đọc 3, 1995 Cách đọc Bài văn có nhiều lời thoại, cần đọc mỗi lời thoại phù hợp với tình cảm, thái độ của các nhân vật: – Đoạn 2: bà cụ buồn rầu, than thở ; Ê-đi-xơn ân cần. – Đoạn 3: bà cụ ngạc nhiên ; Ê-đi-xơn vui mừng. – Đoạn 4: bà cụ và Ê-đi-xơn đều vui mừng. Gợi ý cảm thụ Ê-đi-xơn (1847 – 1931) là người sáng chế ra rất nhiều loại máy và thiết bị như đèn điện, đĩa hát (đĩa ghi âm giống như băng, đĩa ngày nay), máy chiếu phim,… Ông đã được cấp khoảng hơn một ngàn bằng phát minh, sáng chế. Con đường học vấn của ông chủ yếu là tự học (Câu nói nổi tiếng của ông: “Làm nên thiên tài, chín chín phần trăm do khổ luyện, chỉ một phần trăm do trời phú”). Câu chuyện trong bài kể việc ông chế tạo ra xe điện. Việc chế ra xe điện bắt nguồn từ sự việc rất tình cờ: Ê-đi-xơn gặp một bà cụ đang than thở vì phải đi bộ đường dài. Bà cụ nhắc đến “giá có ông Ê-đi-xơn làm cho chiếc xe…”, đó là một chi tiết thú vị chứng tỏ Ê-đi-xơn lúc này đã rất nổi tiếng và được mọi người tin tưởng (Ê-đi-xơn hồi đó được coi là “phù thuỷ”). Điều đó khuyến khích ông sáng tạo. Nhưng còn có lí do quan trọng hơn: thương bà cụ già yếu, ông nghĩ đến một thứ xe chạy làm sao vừa nhanh, vừa êm cho những người già. Chính tình thương yêu con người là động lực chủ yếu giúp ông phát minh, sáng chế. Câu chuyện cho thấy những nhà bác học lỗi lạc luôn phấn đấu không mệt mỏi để giải phóng con người khỏi nỗi vất vả, khắc phục tuổi già và bệnh tật. XEM THÊM NGƯỜI TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhà bác học và bà cụ – Tiếng Việt 3
623
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhà bố ở – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Nhà bố ở Nghỉ hè, Páo đi thăm bố Ngọn núi ở lại cùng mây Mặt trời theo về thành phố Tiếng suối nhoà dần sau cây. Con đường sao mà rộng thế Sông sâu chẳng lội được qua Người, xe đi như gió thổi Ngước lên mới thấy mái nhà. Nhà cao sừng sững như núi Mấy trăm cửa sổ gió reo Đường lên đi vào trong ruột Quanh co như Páo leo đèo. Bố ở tầng năm chót vót Gió như đỉnh núi bản ta Sớm chiều xuống lên thang gác Nhớ sao đèo dốc quê nhà… (Nguyễn Thái Vận) Cách đọc Đọc với giọng ngạc nhiên, ngỡ ngàng, thể hiện được tâm trạng của bạn nhỏ lần đầu tiên về thăm bố ở thành phố. Ngắt nhịp đúng theo dấu câu, nghỉ hơi giữa các dòng, các khổ thơ. Đọc đúng ngữ điệu: khổ 1 giọng kể thong thả, chậm rãi theo bước chân của Páo ; khổ 2, 3 ngạc nhiên, háo hức ; khổ cuối đọc với giọng tha thiết, nhớ thương quê nhà. Gợi ý cảm thụ Nguyễn Thái Vận đã từng tình nguyện lên dạy học ở vùng núi Cao Bằng. Thầy giáo – nhà thơ đã nếm trải những ngày gian khổ, khó khăn nhưng đầy tình cảm thân thiết, gắn bó với người dân miền núi, đặc biệt là các em nhỏ con em đồng bào các dân tộc ở Cao Bằng như em Páo trong bài thơ. Khổ 1: Giới thiệu sự việc Páo về thành phố thăm bố Mở đầu bài thơ là một tín hiệu thời gian thông qua sự việc Páo được “nghỉ hè”, được đi thăm bố. Cả khổ thơ là một cuộc chia tay đầy lưu luyến của Páo với núi rừng. Qua cách miêu tả của nhà thơ, ngọn núi – mây – mặt trời – suối – cây dường như đều là những người bạn rất thân thiết của Páo. Tất cả đều ở lại, chỉ có mặt trời là theo Páo cùng về thành phố với bố thôi. Biện pháp nhân hoá cho thấy phần nào tình cảm gắn bó, yêu mến núi rừng quê hương của bạn Páo. Chúng ta có cảm giác như được cùng Páo xuống núi, cùng vừa đi vừa tạm biệt núi rừng thân yêu. Bản làng, mây trời lùi lại phía sau bước chân Páo và tiếng suối cũng cứ “nhoà dần sau cây”… Khổ 2, 3: Tâm trạng, suy nghĩ của Páo khi về thành phố Páo thấy cái gì cũng vô cùng lạ lẫm: đường quá rộng, sông quá sâu (không lội qua được như suối), người xe lướt qua nhanh như gió thổi, mái nhà quá cao, có hàng trăm cửa sổ. Hai khổ thơ có đến ba hình ảnh so sánh: – Nhà cao sừng sững như núi – Đường lên đi vào trong ruột Quanh co như Páo leo đèo. Điều đó cho thấy, trong suy nghĩ của Páo luôn có những so sánh đối chiếu giữa thành phố với rừng núi quê hương em. Ở khổ cuối cũng vậy, Páo say sưa miêu tả nhà bố ở trong sự đối sánh với quê nhà. Khổ 4: Nhà bố ở Khổ cuối bài thơ, nhà thơ mới miêu tả cụ thể về nhà bố ở: nhà cao giống như trái núi, bố ở tầng năm gió lộng, gió cũng giống như gió trên đỉnh núi ; lên xuống thang gác như leo đèo khiến em thấy nhớ đèo dốc quê nhà. Bố Páo về dưới xuôi công tác, Páo chỉ đợi đến nghỉ hè mới được đi thăm bố. Nhưng dù cho thành phố có làm em ngỡ ngàng, ngạc nhiên đến bao nhiêu, có đẹp đẽ, hiện đại đến bao nhiêu cũng không thể nào thay thế được hình ảnh quê hương luôn ở trong tâm trí em. Páo yêu núi rừng, làng bản, yêu tiếng suối trong, yêu từng con đèo, con dốc mà hằng ngày em vẫn đi qua. Bài thơ cho ta thấy một cách nhìn, cách cảm nhận của một em nhỏ người dân tộc thiểu số về sự khác biệt giữa cuộc sống ở thành phố với cuộc sống ở vùng núi cao phía bắc. Nhưng trên hết là tình yêu quê hương đất nước thiết tha của em nhỏ người dân tộc có tâm hồn trong sáng, đẹp đẽ. Qua bài thơ, ta cũng thấy được tấm lòng nhân hậu của nhà thơ với con trẻ, ông luôn nâng niu, trân trọng những nét đẹp trong tâm hồn các em. Biện pháp so sánh, nhân hoá được sử dụng nhiều trong bài đã tạo nên sự phong phú, sống động, biểu cảm của hình ảnh, làm cho bài thơ giàu sức gợi, giàu liên tưởng, tưởng tượng. Cách diễn đạt của nhà thơ thể hiện được cách nói chân thực, giàu hình ảnh của người miền núi. XEM THÊM BÀI HŨ BẠC CỦA NGƯỜI CHA TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhà bố ở – Tiếng Việt 3
815
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhà ảo thuật – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Nhà ảo thuật 1. Ở nhiều nơi trong thành phố, người ta dán quảng cáo về buổi biểu diễn của một nhà ảo thuật Trung Quốc nổi tiếng. Chiều nay, trường của Xô-phi và Mác tổ chức cho học sinh đi xem. Nhưng hai chị em không dám xin tiền mua vé vì bố đang nằm viện, các em biết mẹ rất cần tiền. 2. Tình cờ trong lúc ra ga mua sữa, hai chị em gặp chú Lý, nhà ảo thuật. Các em giúp chú mang những đồ đạc lỉnh kỉnh đến rạp xiếc. Biết hai chị em thích xem ảo thuật, chú Lý bảo các em chờ một lát. Nhưng chị em Xô-phi đã về ngay vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác. 3. Thế rồi, chẳng biết hỏi thăm ai, buổi tối hôm ấy, chú Lý tìm tới nhà. Lúc đó, mẹ đang chuẩn bị bữa tối. Bước vào nhà, chú nói: – Tôi đến để cảm ơn các con chị. Các cháu rất ngoan. 4. Mẹ mời chú Lý uống trà. Chú nhận lời. Nhưng từ lúc chú ngồi vào bàn, cả nhà cứ chứng kiến hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Xô-phi lấy một cái bánh, đến lúc đặt vào đĩa lại thành hai cái. Khi mẹ mở nắp lọ đường, có hàng mét dải băng đỏ, xanh, vàng bắn ra. Còn Mác đang ngồi bỗng cảm thấy có một khối nóng mềm trên chân. Hoá ra đó là một chú thỏ trắng mắt hồng. Theo Blai-tơn. Cách đọc Là câu chuyện kể, bài văn có nhiều trạng ngữ, để thể hiện thời gian, địa điểm, tình huống xảy ra sự,việc, cần đọc ngắt các trạng ngữ ấy, ví dụ: – Ở nhiều nơi trong thành phố, người ta… – Tình cờ trong lúc ra ga mua sữa, hai chị em gặp chú Lý… – Biết hai chị em thích xem ảo thuật, chú Lý bảo… – Thế rồi chẳng biết hỏi thăm ai, buổi tối hôm ấy, chú Lý tìm tới nhà. Giọng đọc hơi buồn ở đoạn 1, vui dần từ đoạn 2 đến đoạn 4. Gợi ý cảm thụ Xem ảo thuật bao giờ cũng thú vị, nhất là với trẻ em. Nhưng khi có nhà ảo thuật Trung Quốc nổi tiếng đến biểu diễn tại thành phố quê hương thì hai chị em Xô-phi lại không đi xem vì muốn dành tiền mua thuốc cho bố đang nằm viện. Tuy vậy, hai chị em đã giúp chú Lý – nhà ảo thuật Trung Quốc – khuân đồ đạc vào rạp. Cảm động trước tấm lòng đối với cha mẹ và lòng mến khách của hai chị em Xô-phi, chú Lý định sẽ mời hai em vào rạp xem mà không cần mua vé. Nhưng hai chị em đã về để mẹ khỏi mong và cũng không muốn làm phiền chú Lý. Chính vì vậy, chú Lý đã tìm đến tận nhà để biểu diễn cho hai bạn xem, Đó là một việc hiếm khi xảy ra đối với một nghệ sĩ biểu diễn, nhất là với nghệ sĩ nổi tiếng (vì không thể có nhiều thì giờ để biểu diễn chỉ cho một, hai người xem). Đến nhà Xô-phi, chú Lý khéo léo biểu diễn ngay lúc uống trà mà không tuyên bố ; chú lại tận dụng ngay các đồ đạc xung quanh mà không cần đạo cụ, không cần sân khấu, làm cho cả nhà Xô-phi chứng kiến hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Chú Lý đúng là một nhà ảo thuật đại tài. XEM THÊM BÀI CHIẾC MÁY BƠM TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhà ảo thuật – Tiếng Việt 3
610
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhớ lại buổi đầu đi học – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Nhớ lại buổi đầu đi học Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học. Cũng như tôi, mấy học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ. Cách đọc Đọc chậm rãi, thể hiện được những cảm xúc bâng khuâng, hoài niệm, tâm trạng hồi hộp, phấn chấn, náo nức, cảm giác bỡ ngỡ của tác giả trong ngày đầu tiên đi học. Nhấn mạnh các động từ, tính từ chỉ trạng thái cảm xúc của nhân vật “tôi”. Chú ý ngắt nghỉ đúng chỗ, đặc biệt ở những dấu chấm xuống dòng, dấu hai chấm. Dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” được khơi mở từ một tín hiệu thời gian – thời điểm cuối thu: “Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều…”. Hình ảnh lá vàng rơi là tín hiệu đặc trưng của mùa thu. Cứ mỗi độ thu về, lòng người trở nên xốn xang trước những thay đổi rõ rệt của cảnh vật: lá úa vàng, dần rơi rụng, hơi thu se lạnh, sương thu bàng bạc khắp không gian vào mỗi buổi sớm mai,… Riêng với nhân vật “tôi”, những hình ảnh ấy đã khơi gợi một hoài niệm đẹp đẽ về buổi đầu đi học. Dòng cảm xúc này đã được tác giả Thanh Tịnh chuyển tải bằng nghệ thuật tự sự xen miêu tả và biểu cảm, với những rung động tinh tế. Ở đoạn văn đầu, nhân vật “tôi” đã bộc bạch những suy nghĩ, cảm xúc của mình qua một hình ảnh so sánh: “những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Cảm giác trong tâm hồn của con người được so sánh với hình ảnh một bầu trời trong sáng, quang đãng với những cánh hoa tươi tắn, rạng rỡ, một ấn tượng cảm xúc được so sánh với một ấn tượng thị giác. Cảm xúc ấy trở nên trong trẻo và thánh thiện hơn khi nó được soi sáng bởi ánh sáng mặt trời rạng rỡ. Trong hai câu văn, tác giả đã sử dụng khá nhiều những từ láy như: nao nức, mơn man. Các từ láy này đã làm cho lời văn dạt dào cảm xúc, sống động. Qua lời kể của nhân vật “tôi”, những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên cũng sống dậy trong lòng độc giả. Đoạn văn cuối mô tả hình ảnh những cậu học trò nhỏ, cũng như “tôi”, “đứng nép bên người thân, chỉ dám đi từng bước nhẹ”. Biện pháp so sánh đã làm nổi rõ tâm trạng ngập ngừng, hồi hộp, lo âu và cả chút vui sướng “như con chim nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ”. Bằng việc sử dụng những từ ngữ giàu hình ảnh, câu văn giàu nhạc điệu được tạo nên bởi các tiếng phần lớn là thanh bằng, lời văn giàu chất trữ tình, đoạn trích đã đem lại ấn tượng sâu sắc về một kỉ niệm ai cũng từng trải qua trong thời thơ ấu. Yếu tố miêu tả, biểu cảm được sử dụng trong văn tự sự đã góp phần diễn tả cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật, khiến cho những rung động trong tâm hồn nhân vật hiện lên chân thực, sâu sắc, đẹp đẽ, phong phú. XEM THÊM BÀI 16: NGÀY KHAI TRƯỜNG – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhớ lại buổi đầu đi học – Tiếng việt 3.
739
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhớ Việt Bắc – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn NHỚ VIỆT BẮC Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây. Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù. Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng. (Tố Hữu) Cách đọc Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, tha thiết. Nhịp thơ chủ yếu là nhịp chẵn, riêng câu thơ cuối đoạn ngắt nhịp lẻ 3/5. Ngắt nghỉ hơi đúng, linh hoạt giữa các dòng, các câu thơ lục bát; biết nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm (đỏ tươi, trắng rừng, giăng thành luỹ sắt dày, rừng che, rừng vây,…). Mười câu thơ đầu đọc với giọng ngạc nhiên, thích thú như một tiếng reo vui. Sáu câu cuối đoạn đọc với giọng trìu mến, thân thương, tự hào về Việt Bắc gian khổ và hào hùng trong chiến đấu. Gợi ý cảm thụ Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc khi kháng chiến thắng lợi, cán bộ và Chính phủ ta trở về xuôi, về Thủ đô (1954). Cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn giữa người về xuôi với người dân Việt Bắc: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… Mười câu thơ trên là bức tranh tứ bình xuân, hạ, thu, đông với nỗi nhớ cảnh, nhớ người Việt Bắc. Hai câu đầu giới thiệu nội dung khái quát của đoạn thơ. Nếu hoa là tinh tuý của thiên nhiên thì con người là tinh tuý của trời đất, hoa và người gắn bó với nhau, soi chiếu vào nhau, vẻ đẹp của con người hiện ra rạng ngời giữa thiên nhiên nguyên sơ, trong trẻo. Câu trên là hỏi người, còn câu dưới là giãi bày lòng mình, vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc hiện về trong nỗi nhớ của người ra đi. Tám câu còn lại của đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ cụ thể của người ra đi. Ta thấy bốn cặp lục bát có một kết cấu rất đẹp, câu sáu nói nhớ cảnh, câu tám nói nhớ người. Cảnh và người trong mỗi cặp câu lục bát lại có đặc điểm, sắc thái riêng, vẻ đẹp nên thơ đa dạng về đường nét màu sắc, ánh sáng, âm thanh lần lượt hiện lên sinh động trước mắt người đọc. Cảnh vật Việt Bắc được khắc hoạ rất điển hình. Phong cảnh được tác giả gợi tả ở đây là phong cảnh núi rừng được thể hiện qua vẻ đẹp riêng của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa đông, trên nền xanh của đại ngàn rực lên sắc đỏ của hoa chuối. Mùa xuân “mơ nở trắng rừng”. Tiếng ve râm ran trong rừng phách đổ vàng khi mùa hạ đến. Và ánh trăng rọi hoà bình cùng tiếng hát ân tình thuỷ chung làm cho mùa thu có hồn hơn. Bức tranh có buổi trưa tràn đầy nắng, có bầu trời đêm mát dịu ánh trăng, có tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui, có nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, trắng, vàng,… Vẻ đẹp của cảnh núi rừng Việt Bắc được tạo ra bởi sự hài hoà tuyệt diệu giữa màu sắc và âm thanh. Đoạn thơ được cấu trúc hài hoà, có giá trị tạo hình, trong một cặp câu lục bát, cứ câu sáu tả cảnh, câu tám lại tả người. Nếu như tác giả miêu tả thiên nhiên bằng bút pháp tả thực chi tiết thì khi tả người lại chỉ dùng những nét điểm xuyết nhưng lại là những nét có hồn nhất của con người Việt Bắc (“dao gài thắt lưng”, “chuốt từng sợi giang”, “cô gái hái măng một mình”…). Cấu trúc đoạn thơ độc đáo đan xen nhịp nhàng cho ta thấy cảnh và người Việt Bắc luôn có sự quấn quýt giao hoà, sự gắn bó hữu tình làm nên vẻ đẹp cuộc sống, cho dù đây là cuộc sống kháng chiến gian khổ. Thể thơ lục bát ngân nga thiết tha uyển chuyển, câu nọ gọi câu kia, cảm xúc dào dạt. Nhịp thơ đều đặn, câu sáu nhịp 2/4, câu tám nhịp 4/4 cân xứng tạo ra sự nhịp nhàng, dìu dặt cho lời thơ. Đoạn thơ cùng với cả bài, có nhạc điệu êm dịu như một khúc hát ru kỉ niệm. XEM THÊM BÀI NGƯỜI LIÊN LẠC NHỎ TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nhớ Việt Bắc – Tiếng Việt 3
804
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Những chiếc chuông reo – Tiếng việt 3. Hướng dẫn NHỮNG CHIẾC CHUÔNG REO Giữa cánh đồng, có một túp lều bằng phên rạ màu vàng xỉn, xung quanh xếp đầy những hàng gạch mới đóng. Đó là túp lều của gia đình bác thợ đóng gạch. Tôi rất thích ra lò gạch chơi trò ú tim với thằng Cu và cái Cún, con bác. Một chiều giáp Tết, gạch vào lò, sắp nhóm lửa, thằng Cu rủ tôi nặn những chiếc chuông con to hơn quả táo, có cái núm để xâu dây, lại thêm cả một viên bi nhỏ ở trong để tạo ra tiếng kêu. Bác thợ gạch để hộ cái kho báu đó vào một góc lò nung. Khi các đồ đất nung đã nguội, bác lấy hai sợi dây thép xâu những chiếc chuông thành hai cái vòng: một vòng treo trước cửa nhà bác cho Cu và Cún chơi, vòng kia tặng tôi đem về treo Lên cây nêu trước sân. Tết ấy, những tiếng chuông đất nung kêu lanh canh trên cây nêu làm sân nhà tôi ấm áp và náo nức hẳn lên. Theo Ngô Quân Miện Cách đọc Đọc truyện với giọng kể vui, nhẹ nhàng. Chú ý ngắt nghỉ hơi theo các dấu câu, nhấn giọng ở một số từ ngữ gợi tả như: màu vàng xỉn, xếp đầy, lanh canh, ấm áp, náo nức. Gợi ý cảm thụ Câu chuyện đưa chúng ta về với một vùng quê nghèo, bình yên những ngày giáp Tết. Mở đầu truyện là hình ảnh túp lều bằng phên rạ màu vàng xỉn của gia đình bác thợ đóng gạch. Bây giờ không còn nhiều những túp lều như vậy nữa, nhưng thời trước, ở làng quê Việt Nam, hình ảnh mái rạ, nhà tranh vách đất không phải là hiếm gặp. Trần Đăng Khoa trong trường ca Khúc hát người anh hùng đã viết những câu thơ rất hay về hình ảnh làng quê nghèo với mái gianh, phên rạ: Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương. Ở đây, hình ảnh bình dị ấy của quê hương đã trở thành một hoài niệm. Kỉ niệm của một thời thơ ấu được nhà văn Ngô Quân Miện kể lại rất tự nhiên, sống động và thật hấp dẫn. Người thợ làm nghề đóng gạch nhưng vẫn ở túp lều bằng phên rạ, vàng xỉn, nhỏ bé, nghèo nàn, rúm ró ở giữa cánh đồng. Những đứa trẻ con bác cũng có những tên gọi rất giản đơn là thằng Cu và cái Cún. Trò chơi của trẻ con nông thôn được nói tới ở đây là nặn đất sét, thích hình gì là tưởng tượng ra và ngồi nặn ra đủ thứ hình thù theo ý muốn. Hơn nữa, gia đình có lò gạch, nên mới có cái trò đặc biệt hấp dẫn là “nặn những chiếc chuông con to hơn quả táo, có cái núm để xâu dây, lại thêm cả một viên bi nhỏ ở trong để tạo ra tiếng kêu”. Sản phẩm ra khỏi lò nung là những chiếc chuông đất, bác thợ gạch đã lấy dây thép xâu thành hai cái vòng, một treo trước cửa nhà bác cho thằng Cu và cái Cún chơi ; một bác tặng cho “tôi” để đem về treo lên cây nêu trước sân. Câu chuyện giản dị vô cùng mà thật đáng nhớ, nó gắn liền với tuổi thơ, với làng quê, cánh đồng. Một không gian làng quê dân dã được khơi mở từ hình ảnh một túp lều, cái lò gạch, những chiếc chuông được chính các cậu bé nặn bằng đất và nung trong lò. Hình ảnh cây nêu gợi ra không khí của ngày Tết cổ truyền, mang màu sắc truyền thống ở làng quê Việt Nam. Cây nêu treo để đuổi quỷ, trừ tà mà lại được gắn vào đó tiếng chuông kêu lanh canh nữa thì thật tuyệt. Mùa xuân, ngày Tết, cây nêu, âm thanh của những cái chuông bằng đất nung… kí ức tuổi thơ nguyên sơ, trong trẻo làm tươi mát tâm hồn nhà văn – khi xưa, chỉ là một chú bé ở vùng quê nghèo như bao vùng miền ở trên đất nước Việt Nam thời trước. Cuộc sống của những người dân quê thật bình dị, thân thiện. Con người đón Tết bằng niềm vui, trao tặng nhau những món quà giản đơn mà không hề vô vị, nó làm cho ngày xuân “ấm áp và náo nức hẳn lên”. Truyện có tên là Những chiếc chuông reo, tiếng chuông lanh canh cứ ngân vang mãi trong lòng người đọc niềm vui, hạnh phúc thật giản dị, đầy tình thân ái của những người lao động ở nông thôn. Truyện rất ngắn mà giàu ý nghĩa, đầy ấn tượng, có sức ngân vang và lắng đọng, có không khí ngày Tết, có tình bạn trong sáng, ngây thơ, có bao hoài niệm, nhớ nhung về một tuổi thơ yên bình ở làng quê. XEM THÊM BÀI 22: TIẾNG RU – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Những chiếc chuông reo – Tiếng việt 3.
844
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nắng phương nam – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Nắng phương nam 1. Hôm nay đã là hai mươi tám Tết. Chợ hoa trên đường Nguyễn Huệ đông nghịt người. Uyên cùng các bạn đi giữa rừng hoa như đi trong mơ. Đang ríu rít chuyện trò, cả nhóm bỗng sững lại vì tiếng gọi: – Nè, sắp nhỏ kia, đi đâu vậy? 2. Tưởng ai, té ra là nhỏ Phương. Uyên đáp: – Tụi mình đi lòng vòng tìm chút gì để kịp gửi ra Hà Nội cho Vân. – Có phải Vân hát dân ca ở trại hè Nha Trang không? – Phải đó. Mấy đứa mới nhận được thư Vân sáng nay. – Tết ngoài đó chắc là vui lắm? – Vui nhưng mà lạnh dễ sợ luôn. Đây nè, mình đọc một đoạn thư của Vân nhé! – Vừa nói, Uyên vừa rút trong túi ra một tờ giấy – “Hà Nội đang rạo rực trong những ngày giáp Tết. Trời cuối đông lạnh buốt. Những dòng suối hoa trôi dưới bầu trời xám đục và làn mưa bụi trắng xoá”. Viết hay quá, phải không? – Ước gì chúng mình gửi cho Vân được ít nắng phương Nam nhỉ! – Huê nói. 3. Không ngờ điều ước của Huê lại gợi ra một sáng kiến. Phương reo lên: – Mình nghĩ ra rồi! Cả đám trẻ nhao nhao: – Gì vậy? Gì vậy? Phương tủm tỉm cười, bí mật: – Vật gì vậy? – Cả bọn xoắn xuýt hỏi. – Một cành mai! – Một cành mai? – Tất cả sửng sốt, rồi cùng kêu lên – Đúng! Một cành mai chở nắng phương Nam. Cả bọn hớn hở quay lại đầu đường Nguyễn Huệ, nơi một rừng mai vàng thắm đang rung rinh dưới nắng. Theo Trần Hoài Dương Cách đọc Đọc giọng vui, hồn nhiên, phân biệt các câu hỏi, câu kể ; chú ý diễn tả giọng của các nhân vật trong bài ; chú ý phân biệt lời dẫn chuyện và lời nhân vật. Gợi ý cảm thụ Bài văn viết về tình bạn gắn bó của các bạn thiếu nhi miền Nam với thiếu nhi miền Bắc. Bối cảnh của câu chuyện được thể hiện trong bài văn là trên đường hoa Nguyễn Huệ ở Thành phố Hồ Chí Minh vào một ngày giáp Tết. Các bạn nhỏ đang đi lòng vòng tìm một vật kỉ niệm nho nhỏ nào đó làm quà Tết gửi tặng một người bạn ở Hà Nội mà đôi bên quen biết nhau tại trại hè thiếu nhi Nha Trang. Phải nói rằng các bạn nhỏ phía Nam nghĩ ra việc tặng bạn nhỏ phía Bắc một cành mai phương Nam là một sáng kiến thú vị. Một cành mai phương Nam đến với bạn nhỏ ở Hà Nội giữa những ngày cuối đông lạnh giá sẽ làm ấm lòng người bạn phương Bắc. Cành mai vừa thể hiện được đặc trưng của cái Tết phương Nam, vừa tượng trưng cho tình cảm thắm thiết của bạn bè phương Nam gửi cho bạn nhỏ ở Hà Nội. Như vậy, sáng kiến tặng người bạn phương Bắc một cành mai Nam Bộ là một sáng kiến độc đáo và cũng rất lãng mạn của các bạn nhỏ ở phương Nam. Bài văn thể hiện được tình bạn đẹp đẽ, thân thiết, gắn bó giữa thiếu nhi hai miền Nam – Bắc. Bài văn tái hiện được không khí, sắc màu phương Nam và tràn ngập “nắng phương Nam”. XEM THÊM BÀI 28: CHÕ BÁNH KHÚC CỦA DÌ TÔI – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Nắng phương nam – Tiếng việt 3
585
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quà của đồng nội – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Quà của đồng nội Cơn gió mùa hạ lướt qua vùng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết Khi đi qua những cánh đồng xanh, bạn có ngửi thấy mùi thơm mát của bông lúa non không? Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ. Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại, bông lúa ngày càng cong xuống, nặng vì chất quý trong sạch của trời. Đợi đến lúc vừa nhất, người ta gặt mang về. Bằng những cách thức riêng truyền từ đời này sang đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn, các cô gái làng Vòng làm ra thứ cốm dẻo và thơm ấy… Cốm là thức quà riêng biệt của những cánh đồng lúa bát ngát, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ Việt Nam… Theo Thạch Lam Cách đọc Đọc chậm, thể hiện niềm trân trọng với một đặc sản là kết quả của đức tính cần cù và sáng tạo của người bình dân. Ngắt giọng sau các trạng ngữ chỉ tình huống, thời gian, phương tiện. Ví dụ: -Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm,… -Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại… -Bằng những cách thức riêng truyền từ đời này sang đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn, cắc cô gái làng Vòng làm ra… Gợi ý cảm thụ Nói đến cốm làng Vòng, trước hết tác giả gợi một hình ảnh gắn với cốm. Đó là hương thơm của lá sen mùa hạ. Lá sen dùng để gói cốm, tạo thêm màu sắc và hương thơm cho cốm, cho nên thấy hương sen là đã nghĩ đến cốm như hai thứ đi đôi với nhau, tôn giá trị của nhau lên. Cốm gói trong lá sen được gọi là “thức quà thanh nhã và tinh khiết”, không chỉ là món ăn mà còn là văn hoá, là đời sống tinh thần. Quá trình hình thành hạt cốm thật bền bỉ và kì diệu. Bông lúa non đã có vị thơm mát và trong đó đã chứa giọt sữa trắng thơm. Giọt sữa dần dần đông lại để trở thành hạt lúa nhờ “chất quý trong sạch của trời”, tức là hội tụ của thức ăn từ đất, ánh sáng từ nắng, độ ẩm từ gió mưa và đặc biệt là công sức chăm sóc của người nông dân. Có hạt lúa rồi, nhưng lại phải biết chế biến để thành hạt cốm. Công việc chế biến này là nhờ bàn tay khéo léo của các cô gái làng Vòng. Đây là “một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn”, nghĩa là chỉ truyền nhau trong nội bộ gia đình hay làng nghề, người ngoài không ai được biết. XEM THÊM BÀI MẶT TRỜI XANH CỦA TÔI TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quà của đồng nội – Tiếng Việt 3
518
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quê hương – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Quê hương Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay. Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ Êm đềm khua nước ven sông. Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Quê hương là đêm trăng tỏ Hoa cau rụng trắng ngoài hè. Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người. (Theo Đỗ Trung Quân) Cách đọc Đọc bài thơ với giọng thong thả, nhẹ nhàng, tình cảm, nhấn giọng ở những từ ngữ mang hình ảnh so sánh. Chú ý ngắt nhịp giữa các dòng thơ ; nghỉ hơi đúng sau mỗi dòng thơ và giữa các khổ thơ. Khổ cuối đọc với giọng ngợi ca, tin tưởng, cũng là lời nhắc nhở tha thiết, chân thành. Gợi ý cảm thụ Bất cứ một người Việt Nam nào cũng từng nghe và thuộc bài thơ Quê hương của Đỗ Trung Quân. Bài thơ đã được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc với ca từ không hề thay đổi, bằng giai điệu mượt mà, trữ tình, đằm thắm. Ai đã từng nghe một lần, không dễ gì quên được. Ba khổ thơ đầu, với cấu trúc A là B, nhà thơ đưa ra một định nghĩa về quê hương theo cách của riêng mình: – Quê hương là đường đi học – Quê hương là con diều biếc – Quê hương là con đò nhỏ – Quê hương là cầu tre nhỏ – Quê hương là đêm trăng tỏ Nhà thơ đã sử dụng biện pháp lặp từ ngữ, lặp cấu trúc ngữ pháp câu, biện pháp liệt kê, cấu trúc thơ vắt dòng rất đặc sắc. Khung cảnh làng quê trên mọi miền Tổ quốc Việt Nam hiện lên thân thương, giản dị mà xúc động lòng người. Những cặp câu thơ dần hiện lên như những thước phim quay chậm, cảnh vật có gần có xa, có mờ có tỏ, có lớn có nhỏ. Nhịp thơ đều đặn, nhịp nhàng, gần như cả bài thơ chỉ có một nhịp 2/4. Cả ba khổ thơ với những câu thơ cùng một nhịp, kết cấu giống nhau nhưng vẫn nhẹ nhàng, thanh thoát vô cùng. Phải chăng, vẻ đẹp của những hình ảnh thơ đã làm cho người đọc quên đi hình thức bên ngoài của ngôn ngữ? Nhà thơ đã biến cái không thể thành cái có thể, và được độc giả nồng nhiệt đón nhận bằng một sự đồng cảm rất tự nhiên. Quê hương là một khái niệm trừu tượng, nhà thơ đã cụ thể hoá nó bằng những hình ảnh sống động. Quê hương không thể tương đương với chùm khế ngọt, đường đi học rợp bướm vàng bay, con diều biếc thả trên cánh đồng, con đò nhỏ khua nước ven sông, cầu tre nhỏ, nón lá nghiêng che, đêm trăng tỏ, hoa cau rụng trắng ngoài hè… nhưng tất cả những điều đó lại làm nên một hình ảnh quê hương đẹp đẽ, lung linh, trọn vẹn và thiêng liêng. Người xưa nói: hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần. Với lòng yêu quê hương thiết tha, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh quê hương mang hồn quê, cảnh quê, người quê bằng một ngọn bút có thần… Hình ảnh con bướm vàng cũng là một hình ảnh thực và đặc sắc của làng quê mà ở thành phố không bao giờ thấy được. Nhà thơ Giang Nam nhớ về tuổi thơ “Có những ngày trốn học đuổi bướm cạnh cầu ao – Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc”, nhà thơ Huy Cận nhớ “Một buổi trưa không biết ở thời nào – Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao – Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ”, và nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa viết bài thơ đầu tiên của mình là bài Con bướm vàng. Ở bài thơ Quê hương nêu trên, hình ảnh con đường đi học “rợp bướm vàng bay” đẹp như một giấc mơ, đẹp như trong truyện cổ tích vậy. Bài thơ kết thúc bằng một hình ảnh so sánh mang ý nghĩa sâu sắc. Quê hương được so sánh với mẹ vì đó là nơi ta được sinh ra, được nuôi dưỡng lớn khôn, giống như người mẹ đã sinh thành nuôi ta khôn lớn trưởng thành. Vì vậy, nếu ai không yêu quê hương, không nhớ quê hương mình thì không trở thành một người tốt được. Lời thơ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy luôn sống và làm việc có ích, hãy biết yêu quê hương xứ sở, vì quê hương là mẹ và mẹ chính là quê hương, vì “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn” (Chế Lan Viên). Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quê hương – Tiếng việt 3.
826
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quạt cho bà ngủ – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Quạt cho bà ngủ Ơi chích choè ơi! Chim đừng hót nữa, Bà em ốm rồi, Lặng cho bà ngủ Căn nhà đã vắng Cốc chén nằm im Đôi mắt lim dim Ngủ ngon bà nhé. Bàn tay bé nhỏ Vẫy quạt thật đều Ngấn nắng thiu thiu Đậu trên tường trắng. Hoa cam, hoa khế Chín lặng trong vườn Bà mơ tay cháu Quạt đầy hương thơm. (Thạch Quỳ) Cách đọc Đọc bài thơ với giọng trìu mến, thiết tha, xúc động, tràn đầy tình thương yêu của em bé dành cho bà. Chú ý ngắt nhịp giữa các dòng thơ ; nghỉ hơi đúng sau mỗi dòng thơ và giữa các khổ thơ. Khổ 1, 2 đọc với giọng thiết tha, mong mỏi, lo lắng không yên vì bà ốm. Khổ 3, 4 đọc với giọng kể, nhẹ nhàng, êm ái như lời ru. Gợi ý cảm thụ Nhan đề của bài thơ đã gợi lên một niềm thương mến, chứa chan tình cảm của người cháu thương bà. Mở đầu bài thơ là tiếng gọi thiết tha: “Ơi chích choè ơi! Chim đừng hót nữa” Tại sao em bé lại muốn con chim hay hót phải yên lặng? Lý do rất thuyết phục là “Bà em ốm rồi”, nên hãy “Lặng cho bà ngủ”. Giữa trưa hè mênh mang yên ả, tiếng chim vẫn cứ rộn rã đến nao lòng. Khổ thơ cho thấy em bé nâng niu giấc ngủ của bà, em biết rằng bà tuổi cao sức yếu, khó ngủ. Em không muốn có một âm thanh nào làm ảnh hưởng đến giấc ngủ ấy. Em bé tuy nhỏ tuổi nhưng thật tình cảm, sâu sắc. Tiếng gọi chích choè thiết tha của em dường như là tiếng gọi không lời, gọi trong tâm tưởng, trong suy nghĩ, trong niềm mong mỏi bà được ngủ yên giấc, để mau mau khỏi ốm. Cả khổ thơ đầu là những câu văn biểu lộ tình cảm, cảm xúc (câu cảm thán), câu văn thể hiện sự mong muốn, yêu cầu (câu cầu khiến). Điều đó đã làm nổi bật tình cảm, cảm xúc, nỗi lo lắng của em bé khi bà em bị ốm. Khổ thơ tiếp theo miêu tả hình ảnh em bé ngồi quạt cho bà ngủ. Không gian trong nhà, ngoài vườn gần như yên lặng. Bé đã ngồi quạt cho bà thật lâu rồi, bàn tay bé nhỏ ấy chỉ đủ đưa quạt thật đều tay. Có lẽ hơi mát toả ra cả không gian, khiến cho cả ngấn nắng nhẹ in trên tường cũng theo hơi mát mà “thiu thiu”. Hình ảnh “Ngấn nắng thiu thiu – Đậu trên tường trắng” thật đẹp, thể hiện sự cảm nhận tinh tế và cách miêu tả sự vật sinh động, biểu cảm. “Ngấn nắng” vàng, sáng trên nền tường vôi trắng cứ lấp ỉoá, in hình mãi như đang ngủ yên giữa trưa hè oi ả. Ở hai khổ thơ sau, tác giả tả xen lẫn kể sự việc “quạt cho bà ngủ”. Trong nhà, ngoài vườn, mọi vật đều im lìm, lặng lẽ như đang ngủ: cốc chén “nằm im” ; hoa cam, hoa khế ngoài vườn “chín lặng”. Và bà cũng đang dần chìm vào giấc ngủ trưa yên tĩnh. Nhà vắng người, lại vào lúc nghỉ trưa, nên cốc chén cũng nằm im. Hoa cam, hoa khế lặng lẽ toả hương thơm dịu. Chỉ hai câu thơ và một từ dùng rất sáng tạo, từ “chín lặng”, nhà thơ đã giúp người đọc hình dung ra cảnh tượng vắng vẻ, im lìm của ngôi nhà, mảnh vườn. Từ “lặng” không chỉ là trạng thái nở bừng toả hương của hoa ; chỉ sự yên ả, trong lành của không gian mà còn để chỉ trạng thái yên lặng, xúc động của tâm hồn em bé, của tâm hồn nhà thơ và cả tâm hồn của người đọc. Khổ thơ cuối có hai hình ảnh đẹp: một không gian yên tĩnh tuyệt đối đến nỗi hoa trong vườn cũng phải toả hương lặng lẽ để bà em ngủ ; một giấc mơ mang theo cả hương hoa, hơn nữa, lại là hương thơm toả ra từ bàn tay bé nhỏ của em bé. Bài thơ giản dị, trong sáng đến kì lạ, làm tâm hồn chúng ta trở nên trong trẻo, đầy thương mến gia đình, ngôi nhà, mảnh vườn yêu dấu, quen thân,… XEM THÊM BÀI 6: CHIẾC ÁO LEN – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Quạt cho bà ngủ – Tiếng việt 3.
739
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Sự tích chú Cuội và cung trăng – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Sự tích chú Cuội và cung trăng 1. Ngày xửa ngày xưa có một tiều phu tên là Cuội. Một hôm Cuội vào rừng, bỗng đâu gặp một con hổ con xông đến. Không kịp tránh, anh đành liều mạng vung rìu lên đánh nhau với hổ. Hổ còn non nên thua sức người, bị Cuội bổ một rìu lăn quay ra đất. Vừa lúc đó, hổ mẹ về tới nơi. Cuội chỉ kịp quăng rìu, leo tót lên cây. Từ trên cao nhìn xuống, Cuội thấy hổ mẹ chạy đến một bụi cây gần đó, đớp một ít lá về nhai mớm cho con. Khoảng giập bã trầu, hổ con tự nhiên cựa quậy, vẫy đuôi rồi sống lại. Chờ cho hổ mẹ tha con đi nơi khác, Cuội tìm đến bụi cây kia, đào gốc mang về. 2. Từ khi có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Một lần, Cuội cứu được con gái một phú ông, được phú ông gả cô gái ấy cho. Vợ chồng Cuội sống với nhau thật êm ấm. Nhưng một lần, vợ Cuội trượt chân ngã vỡ đầu, Cuội rịt lá thuốc cho mà mãi vẫn không tỉnh lại. Thương vợ, Cuội nặn thử bộ óc bằng đất cho vợ rồi rịt thuốc lại. Không ngờ vợ Cuội sống lại, tươi tỉnh như thường. Nhưng từ đó, người vợ mắc chứng hay quên. Ngày nay, mỗi khi nhìn lên mặt trăng, ta vẫn thấy chú Cuội ngồi dưới cây thuốc quý. Truyện cổ Việt Nam Cách đọc Đọc chậm, như giọng kể cổ tích của bà khi ru cháu ngủ. Các trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn, tình huống được ngắt rõ ràng để gây chú ý thời điểm, không gian, tình huống xảy ra sự việc hoặc sự chuyển tình tiết câu chuyện, ví dụ: – Ngày xửa ngày xưa có một tiều phu… – Không kịp tránh, anh đành liều mạng… -Vừa lúc đó, hổ mẹ về tới nơi. – Từ trên cao nhìn xuống, Cuội thấy… – Khoảng giập bã trầu, hổ con tự nhiên… – Từ khi cố cây thuốc quý, Cuội cứu sống… Gợi ý cảm thụ Trí tưởng tượng phong phú của người xưa đã giải thích rất nhiều hiện tượng tự nhiên. Câu chuyện Sự tích chú Cuội cung trăng cho ta một cách giải thích thú vị về hình một người ngồi dưới gốc đa trên mặt trăng. Câu chuyện bắt đầu bằng một sự việc rủi ro của anh tiều phu tên là Cuội, Anh vào rừng đốn củi, chẳng may bị một con hổ tấn công, không còn đường tránh, anh buộc phải chém nó bị thương nhưng lại gặp hổ mẹ, thế là anh phải leo lên cây trốn. Cái sự không may đó lại hoá thành cái may: từ trên cao, anh phát hiện ra cây thuốc mà hổ mẹ dùng để cứu con. Và anh tận dụng cơ may đó để có cây thuốc quý. Như vậy, kết cục của việc Cuội được cây thuốc quý cũng vừa là may vừa rủi. Cuộc sống ở trên cung trăng, tuỳ theo cách nghĩ của mỗi người mà cho là khổ hay sướng (cung trăng được coi là “trên trời”, là “cõi tiên”), nhưng nhìn chung, chúng ta thấy thương chú Cuội một mình trên đó, xa quê hương, xa người thân. Nếu ai đã đọc truyện Từ Thức chắc đều biết có một chàng Từ Thức buồn chán cõi trần, tìm đường lên cõi tiên, nhưng ở cõi tiên lâu ngày, chàng vô cùng nhớ quê hương, cho nên lại tìm cách trở về trần. Đối với chàng Cuội, chàng không tự tìm đường lẽn cung trăng mà chỉ vì muốn giành lại cây thuốc, chàng buộc phải lên cung trăng. Những đêm trăng sáng, chắc là Cuội càng thương nhớ quê hương, gia đình nhưng không sao trở về được. XEM THÊM BÀI QUÀ CỦA ĐỒNG NỘI TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Sự tích chú Cuội và cung trăng – Tiếng việt 3
665
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử 1. Đời Hùng Vương thứ 18, ở làng Chử Xá bên bờ sông Hồng, có một chàng trai tên là Chử Đồng Tử. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, hai cha con chàng chỉ có một chiếc khố mặc chung. Khi cha mất, chàng thương cha nên đã quấn khố chôn cha, còn mình đành ở không. 2. Một hôm, đang mò cá dưới sông, chàng thấy một chiếc thuyền lớn và sang trọng tiến dần đến. Đó là thuyền của công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng, đang du ngoạn. Chàng hoảng hốt, chạy tới khóm lau thưa trên bãi, nằm xuống, bới cát phủ lên mình để ẩn trốn. Nào ngờ, công chúa thấy cảnh đẹp, ra lệnh cắm thuyền, lên bãi dạo rồi cho vây màn ở khóm lau mà tắm. Nước giội làm trôi cát đi, để lộ một chàng trai khoẻ mạnh. Công chúa rất đỗi bàng hoàng. Nhưng khi biết rõ tình cảnh nhà chàng, nàng rất cảm động và cho là duyên trời sắp đặt, liền mở tiệc ăn mừng và kết duyên với chàng. 3. Sau đó, vợ chồng Chử Đồng Tử không về kinh mà tìm thầy học đạo và đi khắp nơi truyền cho dân cách trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải. Cuối cùng cả hai đều hoá lên trời. Sau khi đã về trời, Chử Đồng Tử còn nhiều lần hiển linh giúp dân đánh giặc. Theo Hoàng Lê Cách đọc Đọc chậm. Đoạn 2 thể hiện sự hồi hộp rồi chuyển sang vui mừng. Đọc ngắt các trạng ngữ ở đầu câu. Ví dụ: – Đời Hùng Vương thứ 18, ở làng Chử Xá bên sông Hồng, có một chàng trai… – Nhà nghèo, mẹ mất sớm, hai cha con chàng chỉ có… – Một hôm, đang mò cá dưới sông, chàng thấy. -Sau khi đã về trời, Chử Đồng Tử còn… – Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một vùng bờ bãi… Gợi ý cảm thụ Những người dân chài thường nghèo nhưng hiếm ai nghèo như cha con Chử Đồng Tử: hai cha con chỉ có một chiếc khố. Khi cha mất, chàng lại chôn cho cha chiếc khố duy nhất. Không ai có thể nghèo hơn thế nữa. Không may cho chàng, một hôm công chúa Tiên Dung đi du ngoạn qua khúc sông chàng đang dầm mình. Lại không may cho chàng, công chúa thấy chỗ đó cảnh đẹp, liền quây màn tắm vào trúng chỗ chàng ẩn trốn. Gặp trường hợp như thế, thông thường công chúa thẳng tay trừng trị. Nhưng công chúa là người nhân từ, lại rất cảm động về tình cảnh của chàng trai nghèo, và cho rằng đó là duyên trời, nên quyết định kết duyên với chàng. Nhưng công chúa đã quyết định ở lại, gắn bó cuộc đời mình với chàng trai nghèo và nhân dân quanh vùng. Từ cuộc sống “lá ngọc cành vàng”, công chúa trở thành người lao động. Hai vợ chồng còn dạy dân trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải. Từ vùng hoang vu, thưa thớt, họ biến thành xóm làng trù phú. Về sau vợ chồng Chử Đồng Tử bay về trời nhưng thỉnh thoảng vẫn hiển linh giúp dân đánh giặc. Nghĩa là họ đã bất tử trong kí ức của nhân dân. Câu chuyện tình đẹp đẽ này khiến ta nghĩ đến một câu chuyện tình khác cũng xảy ra vào thời ấy, nhưng vô cùng buồn thảm, ấy là chuyện Trương Chi. Công chúa Mị Nương không thể vượt qua thành kiến giàu nghèo để lấy Trương Chi, một chàng thuyền chài nghèo và xấu xí, chỉ có mỗi giọng hát hay. Cuối cùng chàng phải gieo mình xuống sông nhưng oan tình thì vẫn nguyên vẹn, làm cho Mị Nương mãi đau lòng và hối hận. Câu chuyện giải thích nguồn gốc một lễ hội nhưng đằng sau chuyện lễ hội là mong ước về tình yêu và hôn nhân bình đẳng, ước mơ về cuộc sống sung túc, lòng biết ơn tổ tiên, nhất là những người đi mở đất. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử – Tiếng Việt 3
697
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Tiếng ru – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Tiếng ru (Trích) Con ong làm mật, yêu hoa Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời Con người muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu người anh em. Một ngôi sao, chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng. Một người – đâu phải nhân gian? Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi! Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu? Muôn dòng sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn? (Tố Hữu) Cách đọc Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, nhẹ nhàng, tha thiết. Chú ý ngắt nghỉ hơi giữa các dòng thơ. Chú ý sử dụng ngữ điệu phù hợp cho các câu cảm thán, câu hỏi, câu khẳng định, câu phủ định. Gợi ý cảm thụ Dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, yêu thương nhau: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng. Bằng những câu lục bát có nhạc điệu hài hoà, êm dịu, bằng giọng thơ tâm tình ngọt ngào thương mến, bài thơ Tiếng ru của nhà thơ Tố Hữu đã góp phần làm sáng lên truyền thống đạo lí đó của dân tộc. Khổ 1: Con người phải biết yêu thương nhau Bài thơ chia thành 3 khổ nhưng chủ đề của bài nằm ngay trong câu thơ ở khổ 1: Con người muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chí, yêu người anh em. Tố Hữu đã sử dụng cách nói của ca dao, dùng ngoại vật để gợi cảm hứng, để rồi rút ra một quy luật của sự sống. Con ong yêu hoa, con cá yêu nước, con chim yêu bầu trời, và con người phải biết đoàn kết, yêu thương nhau. Quy luật của cuộc sống con người cũng giống như quy luật của thiên nhiên, vì con người cũng là một phần của thế giới tự nhiên. Hai câu thơ cuối khổ với nhịp thơ chẵn 4/2, 4/4 để nhấn mạnh tiếng gọi tha thiết, trìu mến “con ơi” như lời ru của mẹ dành cho con. Từ “phải” như một sự khẳng định, bắt buộc ; như một quy luật, phải xảy ra như thế, như mặt trời hằng ngày vẫn mọc. Từ “yêu” được lặp lại hai lần trong câu thơ có sử dụng lối tiểu đối (đối trong một câu) để nhấn mạnh một điều kiện tất yếu trong cuộc sống là con người phải biết yêu thương mọi người, vì theo tinh thần quốc tế vô sản thì “bốn phương đều là anh em”, đều là “anh em”, “đồng chí”. Kết cấu câu “Muốn… phải” với lối thơ vắt dòng đã đưa ra một điều kiện chí lí, chí tình. Quy luật của vạn vật trong vũ trụ chính là: “chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh”. Muốn sống tốt, sống hữu ích, sống đẹp thì điều kiện cao nhất và có thể nói là duy nhất là tình yêu thương con người như một câu hát quen thuộc: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Vẫn theo kiểu kết cấu ở khổ 1, khổ 2 cũng đưa ra một quy luật: một ngôi sao không thể làm sáng bầu trời đêm, một thân lúa chín không làm nên mùa lúa chín và một người không thể là cả thế giới loài người, sống một mình giống như một đốm lửa đang tàn lụi. Nhiều người mới làm nên nhân loại, sống cô đơn một mình, con người giống một đốm lửa nhỏ không toả sáng, cháy lan ra được, con người sẽ tàn. Ở khổ 1, tác giả tạo ra một sự so sánh: con ong, con cá bơi với con người. Sang khổ 2, lại có sự so sánh đối chiếu giữa một ngôi sao, một thân lúa chín và một người, một đốm lửa tàn. Điệp từ “một” được lặp lại bốn lần để khẳng định rằng một cá nhân không thể tạo nên sức mạnh. Đây là cách nói mang âm hưởng của ca dao: Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Câu thơ lục bát trong khổ thơ được ngắt nhịp rất linh hoạt và sinh động: 3/3, 4/4/, 2/4, 2/4/2. Sự phối hợp của ba kiểu câu: câu kể, câu hỏi, câu cảm thán đã góp phần tạo nên thứ nhạc điệu du dương, trầm bổng, hài hoà, tinh tế, nhuần nhị. Núi không chê đất thấp vì núi nhờ có đất bồi mà cao. Biển không chê sông nhỏ vì biển nhờ có nước của muôn dòng sông mà đầy. Câu thơ còn nhắc tới một triết lí sống của dân tộc Việt Nam: uống nước phải biết nhớ nguồn, thành công hay sự trưởng thành của một người không phải tự nhiên mà có, đó phải là do sự phấn đấu lâu dài, bền bỉ, do sự nâng đỡ, dìu dắt của những người khác, những người xung quanh ta, những người thân yêu, ruột thịt. Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người, sống để yêu nhau. (Tố Hữu) XEM THÊM BÀI 21: CÁC EM NHỎ VÀ CỤ GIÀ – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Tiếng ru – Tiếng việt 3.
856
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Tiếng đàn – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Tiếng đàn Thuỷ nhận cây đàn vi-ô-lông, lên dây và kéo thử vài nốt nhạc. Sau đó, em bước vào phòng thi. Ánh đèn hắt lên khuôn mặt trắng trẻo của em. Em nâng đàn đặt lên vai. Khi ắc-sê vừa khẽ chạm vào những sợi dây đàn thì như có phép lạ, những âm thanh trong trẻo vút bay lên giữa yên lặng của gian phòng, vầng trán cô bé hơi tái đi nhưng gò má ửng hồng, đôi mắt sẫm màu hơn, làn mi rậm cong dài khẽ rung động. Tiếng đàn bay ra vườn. Vài cánh ngọc lan êm ái rụng xuống nền đất mát rượi. Dưới đường, lũ trẻ đang rủ nhau thả những chiếc thuyền gấp bằng giấy trên những vũng nước mưa. Ngoài Hồ Tây, dân chài đang tung lưới bắt cá. Hoa mười giờ nở đỏ quanh các lối đi ven hồ. Bóng mấy con chim bồ câu lướt nhanh trên những mái nhà cao thấp. Theo Lưu Quang Vũ Cách đọc Đoạn thứ nhất đọc chậm, đầu đoạn (từ đầu đến “Em nâng đàn đặt lên vai”) thể hiện không khí trang trọng, có phần hơi căng thẳng, cuối đoạn chuyển sang giọng vui. Đoạn thứ hai, giọng vui. Nhấn vào các từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái: bay, êm ái, rụng xuống, tung lưới, nở đỏ, lướt nhanh. Gợi ý cảm thụ Cuộc thi mà bạn Thuỷ tham gia là một cuộc thi nghệ thuật biểu diễn. Nó khác các cuộc thi ở nhà trường mà học sinh đã ít nhiều quen biết (ngồi tại chỗ làm bài theo yêu cầu của đề), cuộc thi này phải lên sân khấu trình diễn trước ban giám khảo và đông đảo khán giả. Vậy nên, điều đầu tiên là phải bình tĩnh, tự tin. Bạn Thuỷ đã lên sân khấu như một nghệ sĩ đích thực: nhận cây đàn vi-ô-lông, bạn lên dây và kéo thử vài nốt rồi đặt đàn lên vai. Khi tiếng đàn “bay” ra vườn thì “vài cánh ngọc lan êm ái rụng xuống nền đất mát rượi”, trẻ em thả những chiếc thuyền gấp bằng giấy trên những vũng nước mưa, ngoài Hồ Tây, dân chài đang tung lưới bắt cá, hoa mười giờ nở đỏ quanh các lối đi ven hồ… Thực ra, những con người, cây cối và chim chóc không thay đổi khi nghe tiếng đàn của Thuỷ mà đây là cảm giác của tác giả, của những người nghe trực tiếp tiếng đàn: tiếng đàn của Thuỷ đã làm cho mọi người thấy cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Tiếng đàn – Tiếng Việt 3
442
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Trên con tàu vũ trụ – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Trên con tàu vũ trụ Kim đồng hồ chỉ 9 giờ 7 phút. Tôi nghe thấy một tiếng nổ kinh khủng và cảm thấy con tàu đang bay lên một cách chậm chạp. Mặt đất thông báo: “Đã bay được 70 giây”. Tôi không còn ngồi trên ghế được nữa, mà treo lơ lửng giữa trần và sàn tàu. Tất cả bỗng nhiên nhẹ hẳn. Tay, chân và mọi bộ phận cơ thể như không còn của tôi nữa. Tất cả đồ đạc cũng bay. Suốt thời gian đó, tôi vẫn làm việc, theo dõi các thiết bị của con tàu, ghi chép mọi nhận xét vào cuốn sổ. Có lúc tôi quên mình đang ở đâu, đặt bút chì xuống cạnh người và lập tức nó bay ra xa. Tôi nhìn thấy những dải mây nhẹ nhàng trôi trên trái đất thân yêu xa xôi, những ngọn núi, dòng sông, cánh rừng và bờ biển. Trên bầu trời đen có những ngôi sao sáng rực. Mặt trời so với lúc nhìn từ trái đất cũng rực rỡ hơn nhiều. Theo Ga-ga-rin Cách đọc Đoạn 1 và 2: đọc tốc độ trung bình, giọng vui, hóm hỉnh, gợi cảm giác ngạc nhiên, lạ lùng. Đoạn 3: đọc hơi chậm, gợi cảm giác thân thương, trìu mến. Gợi ý cảm thụ Mơ ước chinh phục vũ trụ đã có từ ngàn đời nhưng con người cũng chỉ biết mơ ước. Đôi khi có chuyện đi lên trời nhưng lại là đi bất đắc dĩ: đi kiện trời như Cóc và các con vật đầy gian nan và nguy hiểm, đi giành lại cây thuốc như chú Cuội để rồi không bao giờ trở về được nữa. Để hiểu những điều anh Ga-ga-rin kể, cũng cần có một số kiến thức về vũ trụ và ngành du hành vũ trụ. Cách chuyến bay của Ga-ga-rin tới nửa thế kỉ, con người đã chế ra máy bay, nhưng máy bay chỉ bay được ở tầng thấp, trong khí quyển bình thường của trái đất, và nhất là trong điều kiện chưa ra khỏi lực hút (trọng lượng) của trái đất. Máy bay không thể bay được vào khoảng không vũ trụ, nơi khí quyển loãng hoặc không còn khí quyển. Đặc biệt, máy bay không thể thắng được lực hút của trái đất để bay vào vùng không trọng lượng. Giống như ta ném hòn đá, ném lên trời, nó lại tự rơi xuống mặt đất. Nghĩa là phải có một tốc độ đủ lớn để nó có thể “văng” ra khỏi phạm vi vùng có lực hút trái đất. Tốc độ đó được gọi là tốc độ vũ trụ, bao gồm tốc độ vũ trụ cấp 1, cấp 2, cấp 3,… Với tốc độ cấp 1 (7,9 ki-lô-mét trong một giây, viết tắt: 7,9 km/s), tàu vũ trụ sẽ vào được vùng cân bằng giữa lực hút của trái đất với lực chuyển động của tàu, từ đấy, nó tự bay vòng quanh trái đất (bay mãị mãi, không rơi xuống nữa). Với tốc độ vũ trụ cấp 2 (11,2 km/s), tàu vũ trụ sẽ thoát khỏi hoàn toàn lực hút của trái đất, có thể bay lên mặt trăng. Từ trên vũ trụ nhìn về trái đất xa xôi, anh thấy những dải mây nhẹ nhàng trôi, những ngọn núi, những dòng sông, cánh rừng và bờ biển. Những cảnh ấy hằng ngày vẫn hiển hiện xung quanh ta, nhưng phải khi cách biệt như anh Ga-ga-rin, anh mới thấy nó thân yêu xiết bao. Cũng từ tàu vũ trụ, anh thấy sao sáng hơn, bầu trời rực rỡ hơn. Không phải anh đã bay gần các vì sao và mặt trời hơn, vì khoảng cách từ tàu vũ trụ đến trái đất là rất nhỏ bé so với khoảng cách từ tàu vũ trụ đến mặt trời và các vì sao. Mà có thể ở đây do những yếu tố về khí quyển, về ánh sáng tạo nên ảo giác đó. Hạnh phúc cho Ga-ga-rin là được nhìn những cảnh rực rỡ mà ở trái đất khó có thể thấy được. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Trên con tàu vũ trụ – Tiếng Việt 3
695
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Trên đường mòn Hồ Chí Minh – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn TRÊN ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH Đường lên dốc trơn và lầy. Người nọ đi tiếp sau người kia. Đoàn quân nối thành vệt dài từ thung lũng tới đỉnh cao như một sợi dây kéo thẳng đứng. Họ nhích từng bước. Nhìn lên chỉ thấy những chiếc ba lô lù lù nối nhau trên những cái lưng cong cong. Nhìn xuống là những chiếc mũ tai bèo lúp xúp trên những mái đầu đang cắm về phía trước. Những khuôn mặt đỏ bừng. Đoàn quân đột ngột chuyển mạnh. Những dặm rừng đỏ lên vì bom Mĩ. Những dặm rừng xám đi vì chất độc hoá học Mĩ. Những dặm rừng đen lại, cây cháy thành than chọc lên nền trời mây… Tất cả, tất cả lướt qua rất nhanh. Dương Thị Xuân Quý Cách đọc Đọc ngắt từng câu rõ ràng và nhấn vào các từ gợi tả (trơn, lầy, vệt dài, thẳng đứng, nhích, lù lù, cong cong, lúp xúp, cắm, đỏ bừng, chọc, lướt) để khắc ghi những gian nan của bộ đội trên mỗi bước đường hành quân. Ở đoạn hai, nhấn vào các điệp ngữ “những dặm rừng” để thấy sự huỷ diệt của bom đạn Mĩ. Gợi ý cảm thụ Đường mòn Hồ Chí Minh hay đường Trường Sơn là con đường chạy từ Bắc vào Nam, dọc theo núi rừng phía tây dãy Trường Sơn, là con đường miền Bắc chi viện cho miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Nhà văn Dương Thị Xuân Quý cũng là một trong những chiến sĩ vượt Trường Sơn thuở ấy (1966). Về sau, bà hi sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam (1969). Con đường ấy do bộ đội và thanh niên xung phong mở, nó xuyên qua núi cao, rừng rậm, sông suối, thác ghềnh. Đó là một con đường cực kì gian khổ. Bài văn tả một đoàn bộ đội đang vượt một cái dốc dài, dựng đứng, từ trên cao nhìn xuống đoàn người như một sợi dây kéo thẳng đứng. Người đi sau nhìn lên chỉ thấy ba lô người đi trước, còn nhìn xuống chỉ thấy những chiếc mũ tai bèo lúp xúp. Ta có thể hình dung trong cảnh ấy chỉ cần trượt chân hay tuột tay khỏi một chỗ bám là có thể ngã rơi xuống vực như một hòn đá. Ta cũng thấy nhà văn chỉ tả những đường nét, không thấy một âm thanh, tiếng động nào. Như vậy là đoàn quân đi trong im lặng, trong sự nỗ lực từ bên trong. Hình ảnh “những khuôn mặt đỏ bừng” cho thấy thần kinh họ phải tập trung chú ý cao độ. Ở hai bên đường, đoàn quân còn chứng kiến những cảnh huỷ diệt của bom đạn Mĩ. Những mảng rừng có màu sắc đối lập nhau – đỏ lên, xám đi, đen lại – cho thấy cảnh huỷ diệt thật là khủng khiếp. Đặc biệt, hình ảnh “cây cháy thành than chọc lên nền trời mây” không chỉ nói lên sự huỷ diệt mà còn như biểu tượng của lòng căm thù, của sự bất khuất của những con người ở đây. Huỷ diệt những cánh rừng, quân giặc muốn cắt ngang con đường chi viện cho miền Nam, nhưng điều đó càng làm cho các chiến sĩ thêm quyết tâm vào Nam chiến đấu. Vì vậy, tất cả những cảnh đó “lướt qua rất nhanh” trước con mắt họ. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Trên đường mòn Hồ Chí Minh – Tiếng Việt 3
585
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Trận bóng dưới lòng đường – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Trận bóng dưới lòng đường 1. Trận đấu vừa bắt đầu thì Quang cướp được bóng. Quang bấm nhẹ bóng sang cánh phải cho Vũ. Vũ dẫn bóng lên. Bốn, năm cầu thủ đội bạn lao đến. Vũ ngần ngừ giây lát. Chợt nhận ra cánh trái trống hẳn đi, Vũ chuyền bóng cho Long. Long như chỉ đợi có vậy, dốc bóng nhanh về phía khung thành đối phương. Cái đầu húi cua của cậu bé chúi về phía trước. Bỗng một tiếng “kít…ít” làm cậu sững lại. Chỉ chút nữa thì cậu đã tông phải xe gắn máy. Bác đi xe nổi nóng làm cả bọn chạy tán loạn. 2. Nhưng chỉ được một lát, bọn trẻ hết sợ, lại hò nhau xuống lòng đường. Lần này, Quang quyết định chơi bóng bổng. Còn cách khung thành chừng năm mét, em co chân sút rất mạnh. Quả bóng vút lên, nhưng lại đi chệch lên vỉa hè và đập vào đầu một cụ già. Cụ lảo đảo, ôm lấy đầu và khuỵu xuống. Một bác đứng tuổi vội đỡ lấy cụ. Bác quát to: – Chỗ này là chỗ chơi bóng à? Đám học trò hoảng sợ bỏ chạy. 3.Từ một gốc cây, Quang lén nhìn sang. Bác đứng tuổi xuýt xoa, hỏi han ông cụ. Một chiếc xích lô xịch tới. Bác đứng tuổi vừa dìu ông cụ lên xe, vừa bực bội: Quang sợ tái cả người. Bỗng cậu thấy cái lưng còng của ông cụ sao giống lưng ông nội thế. Cậu bé vừa chạy theo chiếc xích lô, vừa mếu máo: – Ông ơi…cụ ơi…! Cháu xin lỗi cụ. Nguyễn Minh Cách đọc Đọc với giọng kể chuyện, nhẹ nhàng, chậm rãi. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả: dẫn bóng, ngần ngừ, dốc bóng, chúi, sững lại, nổi nống, lảo đảo, khuỵu xuống, xuýt xoa, xịch tới,… Biết đọc phân biệt lời dẫn chuyện với lời các nhân vật (bác đứng tuổi, Quang) ; bước đầu biết thay đổi giọng đọc cho phù hợp với nội dung từng đoạn. Gợi ý cảm thụ Tình huống truyện ở đây là tình huống bất ngờ: bất ngờ vì Long mải đá bóng suýt tông vào xe máy ; bất ngờ vì Quang đá bóng trúng đầu cụ già đi đường ; bất ngờ vì Quang thấy cái lưng còng của cụ rất giống ông nội mình. Truyện bắt đầu bằng một tình huống giàu kịch tính, các bạn nhỏ say mê theo trái bóng ở dưới lòng đường. Nhan đề của câu chuyện đã xuất hiện mâu thuẫn, chơi bóng đá phải ở trong sân chứ sao lại ở dưới lòng đường, nơi có rất nhiều người qua lại? Phần đầu câu chuyện, tác giả tường thuật lại trận bóng ngay từ phút bắt đầu với nhịp độ nhanh, khẩn trương, ráo riết. Hoạt động của người chơi bóng được miêu tả bởi một loạt các động từ: cướp được bóng, bấm nhẹ bóng sang cánh phải, dẫn bóng, lao đến, chuyền bóng, dốc bóng. Quang có lỗi vì làm cụ già bị thương. Quang biết ân hận, đã chạy theo xích lô xin lỗi ông cụ. Quang là người giàu tình cảm, biết nhận ra lỗi của mình. Nhìn thấy cái lưng còng của cụ già, bạn thấy cụ giống ông nội mình. Bạn thương cụ, ân hận vì đã gây ra tai nạn đáng tiếc. Lỗi lầm của Quang và các bạn có thể được thông cảm và tha thứ. Các bạn còn nhỏ tuổi, trẻ người non dạ, chưa thực hiện tốt nếp sống văn minh nơi công cộng. Chi tiết cuối cùng của câu chuyện rất xúc động, đố là những giọt nước mắt hối hận của Quang, và lời xin lỗi muộn mằn: “Ông ơi…cụ ơi…! Cháu xin lỗi cụ”. XEM THÊM BÀI 17: NHỚ LẠI BUỔI ĐẦU ĐI HỌC Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Trận bóng dưới lòng đường – Tiếng việt 3.
656
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Vàm cỏ đông – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Vàm cỏ đông Ở tận sông Hồng, em có biết Quê hương anh cũng có dòng sông Anh mãi gọi với lòng tha thiết: Vàm Cỏ Đông! ơi Vàm cỏ Đông! Đây con sông xuôi dòng nước chảy Bốn mùa soi từng mảnh mây trời Từng ngọn dừa gió đưa phe phẩy Bóng lồng trên sóng nước chơi vơi. Đây con sông như dòng sữa mẹ Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây Và ăm ắp như lòng người mẹ Chở tình thương trang trải đêm ngày. (Hoài Vũ) Cách đọc Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, nhẹ nhàng, tha thiết, bộc lộ lòng yêu thương và tự hào. Nhấn giọng ở những từ láy: tha thiết, phe phẩy, chơi vơi, ăm ắp, trang trải,… đặc biệt ở tiếng gọi “Vàm cỏ Đông! Ơi Vàm cỏ Đông!”. Gợi ý cảm thụ Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, các em sẽ được học nhiều bài thơ viết về dòng sông quê hương, như Nhớ con sông quê hương (Tế Hanh), Bè xuôi sông La (Vũ Duy Thông), Dòng sông mặc áo (Nguyễn Trọng Tạo). Và trong chương trình Tiếng Việt lớp 3, chúng ta sẽ được đến với con sông Vàm Cỏ Đông yêu thương của nhà thơ Hoài Vũ qua bài thơ Vàm cỏ Đông. Bài thơ ca ngợi dòng sông Vàm cỏ Đông, nói lên niềm tự hào và tình cảm yêu thương của tác giả với dòng sông quê hương. Tình yêu tha thiết ấy được khơi mở từ một câu hỏi đối với “em” – người con gái miền Bắc: Câu hỏi như để giới thiệu rằng nếu ở miền Bắc quê em có sông Hồng đỏ nặng phù sa, thì ở miền Nam quê anh cũng có dòng sông Vàm cỏ Đông. Bài thơ được viết trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, các từ “sông Hồng” và “em” không chỉ là một danh từ cụ thể, mà đấy là một nửa đất nước. Nửa phía Bắc, tác giả lấy biểu trưng là sông Hồng, nửa phía Nam, ở đây là sông Vàm cỏ Đông. Bài thơ gồm ba khổ thơ, cả ba khổ đều chứa chan những cảm xúc, nỗi nhớ, niềm tự hào và cả ân tình ân nghĩa của nhà thơ đối với con sông Vàm Cỏ Đông. Khổ 1: Tình yêu tha thiết của nhà thơ với con sông quê hương Nhà thơ đứng trên dòng sông quê hương, đứng ở mảnh đất quê hương mình mà nghĩ tới quê em “ở tận sông Hồng” xa lắm, em có biết rằng “Quê hương anh cũng có dòng sông”. Câu thơ vừa như lời kể, vừa như câu hỏi, hỏi để mà so sánh, để giới thiệu dòng sông quê hương: đó là con sông Vàm cỏ Đông, một nhánh của sông Vàm cỏ. Nhà thơ đã dành những tình cảm thiết tha, trìu mến khi nói về dòng sông quê hương. Với cảm xúc dạt dào chan chứa tình cảm yêu thương, gắn bó, nhà thơ cất lên tiếng gọi: “Vàm cỏ Đông! Ơi Vàm cỏ Đông!”. Khổ 2: Vẻ đẹp của con sông quê hương Sau tiếng gọi thiết tha, khổ thơ tiếp theo đưa ta xuôi theo dòng nước. Từ “đây” như để khẳng định, giới thiệu con sông quê mình, chắc chắn không thể lẫn với một con sông nào khác. Nhà thơ miêu tả con sông không phải trong khoảnh khắc, mà là ấn tượng về con sông đã, đang và bao đời nay quanh năm bốn mùa vẫn chảy trôi. Độ trong vắt của nước sông được gợi ra từ hình ảnh “Bốn mùa soi từng mảnh mây trời”. Con sông nào mặt nước cũng soi bóng mây trời, thơ mộng, đẹp đẽ, vời vợi nỗi nhớ thương của những con người nặng tình với quê hương xứ sở. Cả khổ thơ bốn câu, ba câu trên ngắt nhịp 3/4. Câu cuối khổ, nhịp thơ thay đổi 2/3/2 cùng với từ láy “chơi vơi” ở cuối câu thơ đã tạo nên nhạc điệu ngân nga, thứ nhạc điệu của tâm hồn, của tình yêu quê hương tha thiết, nồng đượm. Khổ 3: Hình ảnh dòng sông nuôi dưỡng mảnh đất quê hương XEM THÊM BÀI 31: NGƯỜI CON CỦA TÂY NGUYÊN – TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Vàm cỏ đông – Tiếng việt 3
709
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Vẽ quê hương – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Vẽ quê hương Bút chì xanh đỏ Em gọt hai đầu Em thử hai màu Xanh tươi đỏ thắm Em vẽ làng xóm Tre xanh, lúa xanh Sông máng lượn quanh Một dòng xanh mát Trời mây bát ngát Xanh ngắt mùa thu Xanh màu ước mơ… Em quay đầu đỏ Vẽ nhà em ở Ngói mới đỏ tươi Trường học trên đồi Em tô đỏ thắm Cây gạo đẩu xóm Hoa nở chói ngời A, nắng lên rồi Mặt trời đỏ chót Lá cờ Tổ quốc Bay giữa trời xanh… Chị ơi bức tranh Quê ta đẹp quá! (Định Hải) Cách đọc Đọc bài thơ với giọng say sưa, nhịp nhàng, hồn nhiên. Chú ý ngắt nhịp giữa các dòng thơ ; nghỉ hơi đúng sau mỗi dòng thơ và giữa các khổ thơ. Khổ 1 đọc chậm rãi, bình thường. Khổ 2, 3 đọc với giọng ngỡ ngàng, ngạc nhiên, thích thú, thể hiện niềm say mê với bức tranh vẽ quê hương. Hai câu cuối đọc với giọng vui tươi, rộn ràng như một tiếng reo vui, phấn khởi. Gợi ý cảm thụ Ở môn Hát nhạc Lớp 2, các em đã được học bài hát Cây bút chì với giai điệu trữ tình, thiết tha, trong sáng, đầy tình cảm yêu mến quê hương, ngôi trường. Lên Lớp 3, các em lại được học bài thơ Vẽ quê hương của nhà thơ Định Hải, một bài thơ xinh xắn, cũng chứa chan tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ được làm theo thể thơ 4 chữ dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc, lời thơ nhẹ nhàng, trong sáng, hồn nhiên. Cả bài thơ hầu hết là hình ảnh tả thực nên cảnh hiện lên rất chân thực, sống động, tươi màu thắm sắc. Khổ 1 giới thiệu việc em bé chuẩn bị cho bức vẽ. Biện pháp điệp ngữ, lặp cấu trúc câu ở câu thơ thứ hai và thứ ba cho chúng ta hình dung ra dáng vẻ vui thích, say mê của em bé. Khổ 1 có 4 câu thơ, câu 1 như thu lại trong chiếc bút nhỏ xinh “Bút chì xanh đỏ”, sau khi em gọt bút rồi, mới tách ra, rõ ra hai màu: “xanh tươi, đỏ thắm”. Nhưng màu sắc chỉ thật sự sinh động, gợi cảm xúc khi nó gắn liền với những cảnh, những sự vật cụ thể. Và tất nhiên, đó là những sự vật rất quen thuộc, thân thiết đối với em bé. Khổ thơ thứ 3 tả màu xanh: này là tre xanh, lúa xanh ; này là dòng sông xanh mát, bầu trời xanh bát ngát, xanh ngăn ngắt; này là ước mơ xanh của tâm hồn thơ trẻ… Vừa đưa từng nét vẽ một cách chăm chú, bé vừa nhẩm ra, chỉ ra cảnh trời mây non nước của quê hương. Ngày trước, trẻ em chỉ có một chiếc bút chì màu hai đầu, một đầu xanh, một đầu đỏ chứ không như bây giờ, các em có đủ 18 màu, 24 màu trong một hộp mà tha hồ chọn lựa. Nên có lẽ với hai màu chì, một xanh, một đỏ nhưng em vẫn tưởng tượng ra đủ sắc điệu xanh đỏ, hiện ra thật sống động trong tâm trí, trong những cảm xúc trong ngần về cảnh sắc quê hương. Lá cờ Tổ quốc Bay giữa trời xanh Là một nét vẽ hài hoà, lá cờ đỏ nổi bật trên nền trời xanh. Kết cấu của bài thơ rất rõ ràng, rành mạch dựa trên hai gam màu chủ đạo: xanh đỏ – xanh tươi, đỏ thắm. Và cuối cùng, bài thơ dẫn chúng ta tới bức tranh toàn cảnh quê hương đẹp trong tiếng reo vui, hớn hở, hồn nhiên của em bé. Có biết bao bài thơ, bài hát về tình yêu quê hương đất nước nhưng những bài thơ viết cho thiếu niên nhi đồng luôn có một nét riêng rất độc đáo, đó là tình yêu quê hương luôn được soi chiếu qua đôi mắt trong veo và tâm hồn ngây thơ, đáng yêu của trẻ con. Bài thơ Vẽ quê hương là một trong số những bài thơ như vậy, bài thơ đẹp đẽ, hài hoà, cân đối ; từ vần điệu, giọng điệu đến câu chữ đều ánh lên tình yêu tha thiết với gia đình, làng xóm, quê hương, đất nước. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Vẽ quê hương – Tiếng việt 3.
718
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Về quê ngoại – Tiếng việt 3 Hướng dẫn Về quê ngoại Em về quê ngoại nghỉ hè, Gặp đầm sen nở mà mê hương trời. Gặp bà tuổi đã tám mươi, Quên quên nhớ nhớ những lời ngày xưa. Gặp trăng gặp gió bất ngờ, Ở trong phố chẳng bao giờ có đâu. Bạn bè ríu rít tìm nhau Qua con đường đất rực màu rơm phơi. Bóng tre mát rợp vai người Vầng trăng như lá thuyền trôi êm đềm. Về thăm quê ngoại, lòng em Yêu thêm cuộc sống, yêu thêm con người: Em ăn hạt gạo lâu rồi Hôm nay mới gặp những người làm ra. Những người chân đất thật thà Em thương như thể thương bà ngoại em. (Hà Sơn) Cách đọc Đọc chậm rãi, giọng đọc tình cảm, tha thiết. Nhịp thơ chả yếu là nhịp chẵn. Mười câu thơ đầu đọc với giọng ngạc nhiên, thích thú như một tiếng reo vui. Sáu câu cuối bài đọc với giọng trìu mến, thân thương. Gợi ý cảm thụ Bài thơ là lời tâm tình của một em bé. Em kể lại một kỉ niệm đẹp nhân dịp nghỉ hè về thăm quê ngoại. Những ấn tượng, cảm xúc về cảnh quê và người quê lưu lại trong tâm trí em thật sâu sắc, xúc động. Những vần thơ lục bát uyển chuyển, nhịp thơ chẵn (2/2/2, 2/4, 2/2/4, 4/4) rất thích hợp trong việc diễn tả tâm tư tình cảm con người. Vẻ đẹp quê hương hiện lên qua hương vị thanh khiết, lan rộng, ngào ngạt của sen trong đầm. Đó là mùi vị quen thuộc của quê hương trong những buổi chiều hè, nhất là vào những đêm trăng thanh gió mát. Hình ảnh hoán dụ “hương trời” đã đặc tả mùi hương sen toả ngát trong không gian. Em nhỏ say sưa thưởng thức khí trời trong lành, “hương trời” tràn ngập khắp không gian của chiều quê yên bình, của đêm trăng sáng lung linh,… Các từ láy “ríu rít”, “êm đềm” đã tái hiện khung cảnh làng quê với hình ảnh các em nhỏ cùng gặp gỡ vui đùa dưới ánh trăng trong. Con đường làng vào ngày mùa được mô tả “rực màu rơm phơi”. Tính từ “rực” ở đây được sử dụng như một động từ để đặc tả ánh nắng chói chang của mùa hè đã nhuộm vàng màu rơm rạ. Những câu thơ đầu đã mô tả cảnh đẹp thân thương của một vùng quê thanh bình, trù phú trong ngày mùa, với đầm sen ngát hương, với đêm trăng sáng, và đặc biệt là hình ảnh người bà kính yêu kể cho cháu nghe những câu chuyện ngày xửa ngày xưa… Cuộc gặp này nối tiếp những cuộc gặp kia, thêm cảnh, thêm người, thêm ý nghĩ, tâm tư, nhen nhóm lên tình yêu quê hương tha thiết, gặp cảnh – nhớ cảnh, gặp người – mến yêu người: Về thăm quê ngoại, lòng em Yêu thêm cuộc sống, yêu thêm con người. Nhịp thơ 4/4 và kết cấu tiểu đối góp phần tăng lên, nhân lên tình cảm yêu thương dành cho quê hương. Em nhỏ như chợt nhận ra một điều thiêng liêng, quý giá trong lần về thăm quê: cần phải biết ơn những người làm ra hạt gạo. Bài học sâu sắc rút ra không phải là lí thuyết, đó là những ý nghĩ trong trẻo, hồn nhiên mà thật cao đẹp: Em thương như thể thương bà ngoại em. Hình ảnh so sánh tương đồng với điệp từ “thương” đã gợi ra tình cảm thắm thiết, trìu mến, nghĩa tình sâu nặng, cả lòng biết ơn của em bé với những con người đáng kính, gần gũi thương yêu nhất – những người nông dân chân lấm tay bùn, trong đó có cả người bà vô cùng kính yêu của em. Bài thơ mộc mạc, giản dị, nhưng đầy ắp những hình ảnh đẹp ; những tình cảm vừa trong sáng, thiêng liêng, vừa gần gũi ấm áp. Tình bà cháu, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước, con người đã làm sáng đẹp tâm hồn của mỗi chúng ta. XEM THÊM BÀI ĐÔI BẠN TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Về quê ngoại – Tiếng việt 3
684
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Âm thanh thành phố – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Âm thanh thành phố Hồi còn đi học, Hải rất say mê âm nhạc. Từ căn gác nhỏ của mình, Hải có thể nghe tất cả các âm thanh náo nhiệt, ổn ã của thủ đô. Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây bên đường. Tiếng kéo lách cách của những người bán thịt bò khô. Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt. Tiếng còi tàu hoả thét lên và tiếng bánh sắt lăn trên đường ray ầm ầm. Rồi tất cả như im lặng hẳn để nghe tiếng đàn vi-ô-lông trên một cái ban công, tiếng pi-a-nô ở một căn gác. Hải đã ra Cẩm Phả nhận công tác. Mỗi dịp về Hà Nội, Hải thích ngồi lặng hàng giờ để nghe bạn anh trình bày bản nhạc Ánh trăng của Bét-tô-ven bằng đàn pi-a-nô. Anh cảm thấy dễ chịu và đầu óc bớt căng thẳng. Theo Tô Ngọc Hiến Cách đọc Biết ngắt nghỉ đúng chỗ. Cần chuyển giọng linh hoạt, phù hợp nội dung tả thành phố ồn ào với những âm thanh khác nhau, có cả những giây phút yên tĩnh, lắng đọng. Đoạn 1 đọc với giọng rộn ràng, nhấn giọng ở các từ gợi tả như náo nhiệt, ồn ã, rền rĩ, lách cách, gay gắt, thét lên, ầm ầm. Đoạn 2, 3 đọc chậm lại, trầm lắng. Gợi ý cảm thụ Bài văn Âm thanh thành phố chỉ là một trích đoạn trong tác phẩm Kỉ niệm về một nhà máy của Tô Ngọc Hiến. Tác giả tường thuật câu chuyện của Hải. Những câu chuyện được kể là những chuyện đã diễn ra trong quá khứ: “Hồi còn đi học, Hải rất say mê âm nhạc… Hải đã ra cẩm Phả nhận công tác”. Người kể chuyện đã kể và tả rất khách quan câu chuyện. Hải đã cảm nhận mọi âm thanh “náo nhiệt, ồn ã của thủ đô” từ căn gác nhỏ của mình: tiếng ve kêu, tiếng kéo lách cách của những người bán thịt bò khô, tiếng còi ô tô, tiếng còi tàu hoả, tiếng bánh sắt lăn trên đường… và còn nhiều âm thanh khác nữa. Nhà văn đã sử dụng biện pháp liệt kê và tách bộ phận của câu ra thành các câu riêng biệt để nhấn mạnh những đặc trưng riêng của từng loại âm thanh: tiếng ve “rền rĩ”, tiếng kéo “lách cách”, tiếng còi ô tô “gay gắt”, tiếng còi tàu hoả “thét lên”, tiếng bánh sắt lăn trên đường ray “ầm ầm”,… Mỗi một thứ âm thanh được diễn tả bằng một ngữ danh từ, trong đó có các định ngữ hạn định miêu tả đặc điểm của từng loại âm thanh. Các ngữ danh từ được tách thành các câu riêng biệt với một dấu chấm cuối câu. Kết quả là trước mắt người đọc xuất hiện một loạt nét miêu tả cụ thể, sinh động các loại âm thanh. Cảm nhận được các âm thanh thành phố thủ đô thật sự sống động, trọn vẹn như vậy chỉ có thể có ở một người Hà Nội, “say mê” âm nhạc, biết vươn tới cái đẹp và những điều cao quý của cuộc sống như Hải. Có thể nói, trong cái ồn ã, náo nhiệt của thành phố, Hải vẫn phân biệt được từng âm thanh. Niềm say mê âm nhạc của Hải trước hết là say mê âm thanh của cuộc sống, và trên hết, tất cả âm thanh ấy cũng sẽ im lặng hẳn để nghe tiếng đàn. “Anh ngồi lặng hàng giờ để nghe bạn anh trình bày bản nhạc Ánh trăng của Bét-tô-ven bằng đàn pi-a-nô”, âm nhạc đã cho anh những phút giây thư thái của tâm hồn, một tâm hồn thiết tha với cái đẹp. Từng nốt nhạc rơi trong không gian khiến cho Hải “ngồi lặng hàng giờ”. Nếu ai đã từng nghe bản xô-nát Ánh trăng của Bét-tô-ven, thì có thể hiểu được lí do vì sao mà Hải đã thả hồn vào âm nhạc ngây ngất, say sưa đến thế. Những nốt nhạc vang lên và cả một không gian tràn ngập ánh trăng, tâm hồn ta chơi vơi, thanh thản, sáng láng,… XEM THÊM BÀI ANH ĐOM ĐÓM TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Âm thanh thành phố – Tiếng Việt 3
720
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ông tổ nghề thêu – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Ông tổ nghề thêu 1. Hồi còn nhỏ, cậu bé Trần Quốc Khái rất ham học. Cậu học cả khi đi đốn củi, lúc kéo vó tôm. Tối đến, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng, lấy ánh sáng đọc sách. Chẳng bao lâu, Khái đỗ tiến sĩ, rồi làm quan to trong triều đình nhà Lê. 2. Một lần, Trần Quốc Khái được triều đình cử đi sứ bên Trung Quốc. Vua Trung Quốc muốn thử tài sứ thần, sai dựng một cái lầu cao, mời ông lên chơi, rồi cất thang đi. Không còn lối xuống, ông đành ở lại trên lầu. Lầu chỉ có hai pho tượng Phật, hai cái lọng, một bức trướng thêu ba chữ “Phật trong lòng” và một vò nước. 3. Bụng đói mà không có cơm ăn, Trần Quốc Khái lẩm nhẩm đọc ba chữ trên bức trướng, rồi mỉm cười, ông bẻ tay pho tượng nếm thử. Thì ra hai pho tượng ấy nặn bằng bột chè lam. Từ đó, ngày hai bữa, ông cứ ung dung bẻ dần tượng mà ăn. Nhân được nhàn rỗi ông mày mò quan sát, nhớ nhập tâm cách thêu và làm lọng. 4. Học được cách thêu và làm lọng rồi, ông tìm đường xuống. Thấy những con dơi xoè cánh chao đi chao lại như chiếc lá bay, ông liền ôm lọng nhảy xuống đất bình an vô sự. Vua Trung Quốc khen ông là người có tài, đặt tiệc to tiễn về nước. Theo Ngọc Vũ Cách đọc Là một câu chuyện kể, mỗi sự việc (tình tiết) ứng với một đoạn (đã được đánh số), cần nghỉ ở đó lâu hơn ; cụm từ của câu đầu đoạn kế tiếp cần đọc nhấn để người nghe dễ theo dõi. Nhiều câu có trạng ngữ, cần ngắt rõ phần trạng ngữ đó: – Hồi còn nhỏ, cậu bé Trần Quốc Khái rất ham học. – Tối đến, nhà không có đèn, cậu bắt đom đóm… – Về đến nước nhà, Trần Quốc Khái truyền dạy… Gợi ý cảm thụ Trần Quốc Khái (1606 – 1661), người làng Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), trong một lần đi sứ Trung Quốc đã học được nghề thêu và làm lọng, đem truyền dạy cho dân, trở thành ông tổ nghề thêu của nước ta. Ông học được hai nghề này trong hoàn cảnh rất đặc biệt: bị giam lỏng trên lầu cao, phải tự tìm cách sống và tìm cách xuống đất. Trước hết nhờ có kiến thức sâu rộng nên ông giữ được bình tĩnh trong cảnh hiểm nghèo. Ông đọc các chữ trên bức trướng và có thể tìm ra được điều gợi ý nào đó. Ông phát hiện hai bức tượng bằng chè lam, cứ việc bẻ ra ăn nên không bị đói. Trong lúc nhàn rỗi, ông tìm hiểu những đồ vật, do đó học được cách thêu và làm lọng. Có chuyện còn kể rằng ông gỡ những chữ thêu trên trướng rồi tập đan lại, làm nhiều lần, thế là biết cách thêu. Còn lọng, ông cũng tháo ra chắp vào, xem xét vải sơn vải lợp, cùng cách lắp cán, lắp chân, thế là nắm được cách làm lọng. Không chỉ dùng tài tự cứu mình, ông còn đem nghề thêu và làm lọng truyền dạy cho nhân dân. Đó là trường hợp không nhiều ở các ông quan to thời xưa, thường chỉ coi đọc sách là cao quý, chỉ biết văn chương thơ phú, chứ không giỏi các nghề tinh xảo của dân gian. XEM THÊM BÀI TRÊN ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ông tổ nghề thêu – Tiếng Việt 3
620
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đi hội Chùa Hương – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Đi hội Chùa Hương Nườm nượp người, xe đi Mùa xuân về trẩy hội. Rừng mơ thay áo mới Xúng xính hoa đón mời. Nơi núi cũ xa vời Bỗng thành nơi gặp gỡ. Một câu chào cỏi mở Hoá ra người cùng quê. Bước mỗi bước say mê Như giữa trang cổ tích. Đất nước mình thanh lịch Nên núi rừng cũng thơ. Dù không ai đợi chờ Cũng thấy lòng bổi hổi. Lẫn trong làn sương khói Một mùi thơm cứ vương Động chùa Tiên, chùa Hương Đá còn vang tiếng nhạc. Động chùa núi Hinh Bồng Gió còn ngân khúc hát. Ôi phải đâu lễ Phật Người mới đi chùa Hương. Người đi thăm đất nước Người về trong yêu thương. Cách đọc Đọc nhấn vào những tiếng bắt vần và tiếng đối thanh trong mỗi khổ thơ. Ví dụ: Nơi núi cũ xa vời Bỗng thành nơi gặp gỡ. Một câu chào cởi mở Hoá ra người cùng quê. Gợi ý cảm thụ Chùa Hương là một thắng cảnh nổi tiếng của nước ta. Mỗi năm vào dịp lễ hội (tháng giêng đến tháng ba âm lịch) người khắp nước kéo về dâng hương và thưởng thức cảnh đẹp. Bài thơ vừa nói về không khí trẩy hội vừa diễn tả cảm xúc của tác giả đối với một danh thắng của đất nước. Quang cảnh vùng chùa Hương bước vào mùa lễ hội bỗng trở nên sống động: Nườm nượp người, xe đi ; Rừng mơ thay áo mới ; Lẫn trong làn sương khói – Một mùi thơm cứ vương… Sức cuốn hút của lễ hội khiến những người xa lạ bỗng thấy gần nhau: gần nhau ở tình cảm mến yêu đất nước, gần nhau ở tấm lòng thành kính đối với Tiên, Phật, ai ai cũng cởi mở, cho nên người xa lạ bỗng thành “người cùng quê”. Mỗi bước đi như lần giở từng trang cổ tích và con người được tắm mình trong không khí nguyên sơ tinh khiết của vũ trụ. Quê hương đất nước trở nên vừa quen vừa lạ, khiến cho lòng người luôn xao xuyến: Dù không ai đợi chờ – Cũng thấy lòng bổi hổi. Và trong niềm vui lâng lâng ấy, người ta tưởng như mọi vật đều như có “tiếng nói”: Đá còn vang tiếng nhạc ; Gió còn ngân khúc hát là bởi thế. XEM THÊM BÀI SỰ TÍCH LỄ HỘI CHỬ ĐỒNG TỬ TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đi hội Chùa Hương – Tiếng Việt 3
396
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đôi bạn – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Đôi bạn 1. Thành và Mến là đôi bạn ngày nhỏ. Ngày ấy, giặc Mĩ ném bom phá hoại miền Bắc, Thành theo bố mẹ sơ tán về quê Mến. Mĩ thua, Thành về lại thị xã. Hai năm sau, bố Thành đón Mến ra chơi. Thành dẫn bạn đi thăm khắp nơi. Cái gì đối với Mến cũng lạ.Ở đây có nhiều phố quá. Phố nào cũng nhà ngói san sát, cái cao cái thấp, chẳng giống những ngôi nhà ở quê. Mỗi sáng, mỗi chiều, những dòng xe cộ đi lại nườm nượp. Ban đêm, đèn điện lấp lánh như sao sa. 2. Chỗ vui nhất là công viên, ở đây, bên cạnh vườn hoa có cầu trượt, đu quay, có cả một cái hồ lớn. Mến rất thích chơi ở ven hồ. Hồ này rộng hơn cái đầm ở làng của Mến nhưng không trồng sen. Nhìn mặt hồ sóng gợn lăn tăn, hai đứa lại nhắc chuyện hồi nào bơi thuyền thúng ra giữa đầm hái hoa. Đang mải chuyện, bỗng các em nghe tiếng kêu thất thanh: – Cứu với! Thành chưa kịp hiểu chuyện gì đã thấy Mến lao xuống nước. Giữa hồ, một cậu bé đang vùng vẫy tuyệt vọng. Trên bờ, mấy chú bé ướt lướt thướt hốt hoảng kêu la. Mến bơi rất nhanh. Chỉ một loáng, em đã đến bên cậu bé, khéo léo túm được tóc cậu, đưa vào bờ. Mãi khi Mến về quê, bố mới biết chuyện. Bố bảo: – Người ở làng quê như thế đấy, con ạ. Lúc đất nước có chiến tranh, họ sẵn lòng sẻ nhà sẻ cửa. Cứu người, họ không hề ngần ngại. Nguyễn Minh Cách đọc Đọc giọng kể, chú ý phân biệt lời dẫn chuyện với lời nhân vật (giọng người dẫn chuyện: thong thả, chậm rãi ở đoạn 1 ; nhanh hơn, hồi hộp ở đoạn 2 ; giọng chú bé kêu cứu: thất thanh, hoảng hốt ; giọng bố Thành: trầm xuống, cảm động). Gợi ý cảm thụ Bài văn nói tới cuộc sống và con người vào những năm 1965 – 1973, khi giặc Mĩ ném bom miền Bắc nước ta. Nhân dân ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã ở miền Bắc phải sơ tán về nông thôn. Các gia đình ở nông thôn nhường nơi ăn chốn ở, sẻ nhà sẻ cửa cho các gia đình ở thành phố. Thành và Mến, một bạn nhỏ ở thành phố và một bạn nhỏ ở nông thôn kết thân với nhau trong hoàn cảnh như vậy. Giặc Mĩ dừng ném bom miền Bắc, Thành chia tay Mến về lại thị xã với tình cảm bịn rịn, vấn vương. Khi gia đình Thành đón Mến ra thị xã chơi, thật thú vị, dưới cái nhìn của một bạn nhỏ ở làng quê, Mến thấy cái gì cũng lạ và luôn có sự so sánh với những cái ở quê nhà. Nào là nhà cửa trên phố lô nhô, cái cao cái thấp, chẳng giống những ngôi nhà ở quê. Rồi những dòng xe cộ đi lại nườm nượp, đèn điện lấp lánh như sao sa – một cảnh tượng mà Mến chưa từng nhìn thấy. Còn cái hồ lớn ở công viên thị xã thì rộng hơn cái đầm ở quê Mến nhưng chẳng thấy có một bông hoa sen nào… Dưới cái nhìn của Mến, thị xã là một thế giới mới lạ và đầy hấp dẫn. Qua cái nhìn của Mến, ta thấy Mến là một bạn nhỏ mộc mạc, chân thật, đáng quý. Nhưng điều đáng nói nhất ở người bạn nhỏ này là Mến sẵn lòng giúp đỡ, cứu giúp người khác khi người ấy gặp nạn. Hành động cứu người của Mến diễn ra thật tự nhiên, đơn giản, không tính toán. Nghe tiếng kêu cứu, Mến lập tức lao xuống hồ cứu một em bé đang vùng vẫy tuyệt vọng, bất chấp cả nguy hiểm có thể đến với bản thân mình. Như vậy, lòng tốt của Mến là lòng tốt tự nhiên, trong sáng và thật đáng trân trọng. Nhìn chung, bài văn mộc mạc này rất giàu ý nghĩa nhân văn, ca ngợi những con người sống với nhau rất tình nghĩa, thuỷ chung. XEM THÊM BÀI NHÀ BỐ Ở TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đôi bạn – Tiếng Việt 3
725
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đất quý, đất yêu – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Đất quý, đất yêu 1. Ngày xưa, có hai người khách du lịch đến nước Ê-ti-ô-pi-a. Họ đi khắp đất nước thăm đường sá, núi đồi, sông ngòi. Vua nước Ê-ti-ồ-pi-a mời họ vào cung điện, mở tiệc chiêu đãi và tặng họ nhiều vật quý. Sau đó, vua sai một viên quan đưa khách xuống tàu. 2. Lúc hai người khách định bước xuống tàu, viên quan bảo khách dừng lại, cởi giày ra. Ông sai người cạo sạch đất ở đế giày của khách rồi mới để họ xuống tàu trở về nước. Hai người khách rất ngạc nhiên, hỏi: – Tại sao các ông lại phải làm như vậy? Viên quan trả lời: – Đây là mảnh đất yêu quý của chúng tôi. Chúng tôi sinh ra ở đây, chết cũng ở đây. Trên mảnh đất này, chúng tôi trồng trọt, chăn nuôi. Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng tôi. Chúng tôi đã tiếp các ông như những khách quý. Nhà vua đã tặng các ông nhiều sản vật hiếm. Song đất Ê-ti-ô-pi-a đối với chúng tôi là thiêng liêng, cao quý nhất. Chúng tôi không thể để các ông mang đi, dù chỉ là một hạt cát nhỏ. 3. Nghe những lời nói chân tình của viên quan, hai người khách càng thêm khâm phục tấm lòng yêu quý mảnh đất quê hương của người Ê-ti-ô-pi-a. (Mai Hà dịch) Cách đọc Đọc với giọng kể, nhấn giọng ở câu hỏi của hai vị khách (thể hiện sự ngạc nhiên); đọc giọng thể hiện sự cởi mở, chân tình, tự hào của viên quan (ở đoạn 2); phân biệt lời dẫn chuyện và lời nhân vật (hai vị khách, viên quan). Gợi ý cảm thụ Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết về mảnh đất thiêng liêng của quê hương, đất nước Việt Nam như sau: […] Đất là nơi anh đến trường […] Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ […] Đất Nước là máu xương của mình […] Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Năm 1941, tại Cao Bằng sau ba mươi năm bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước, Bác Hồ đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc. Bác xúc động hôn lên nắm đất quê hương. Nhà thơ Chế Lan Viên đã viết về sự kiện này: Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đất Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai. Đối với người dân của bất cứ dân tộc nào, đất đai Tổ quốc là thứ thiêng liêng, cao quý nhất. Bởi lẽ ở đó cha ông họ từ ngàn đời đã đổ bao nhiêu mồ hôi, công sức, kể cả máu xương để mở mang, bảo vệ, giữ gìn. Ở đó, khi họ sống, mảnh đất màu mỡ nuôi sống họ ; khi họ chết, đất mẹ lại mở lòng đón họ. Người dân Ê-ti-ô-pi-a cũng vậy. Câu chuyện Đất quý, đất yêu ở trên đã minh chứng cho điều đó. Điều thú vị là nói về tấm lòng yêu quý đất đai Tổ quốc nhưng ở đây tình yêu ấy đã được cụ thể hoá thành một câu chuyện với nhiều chi tiết hấp dẫn. Trong câu chuyện, những chi tiết gây ấn tượng sâu đậm nhất và cũng thú vị nhất đối với người đọc được thể hiện qua hành vi và lời nói của nhân vật “viên quan” tiễn khách xuống tàu. Cụ thể, viên quan “sai người cạo sạch đất ở đế giày của khách rồi mới để họ xuống tàu trở về nước”. Viên quan còn nói với khách những lời chân tình: “Chúng tôi không thể để các ông mang đi, dù chỉ là một hạt cát nhỏ”. Có thể nói, yêu quý đất đai Tổ quốc là lẽ thường, nhưng yêu quý đến mức độ như người dân Ê-ti-ô-pi-a được nói tới trong câu chuyện thì cũng là một sự lạ. Đó là một tập quán có thể nói là kì lạ nhưng qua đó cho ta thấy tình yẽu thắm thiết, sâu nặng biết nhường nào của người dân nơi đây đối với từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mình. Những tình cảm cao quý đó của họ thật đáng được trân trọng. Câu chuyện dân gian mộc mạc nhưng để lại cho ta bao suy nghĩ về tấm lòng, tình cảm và trách nhiệm của mỗi người dân đối với mảnh đất quê hương thiêng liêng và cao quý của mình. XEM THÊM BÀI 25: QUÊ HƯƠNG Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đất quý, đất yêu – Tiếng việt 3.
765
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đối đáp với vua – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Đối đáp với vua 1. Một iần, vua Minh Mạng từ kinh đô Huế ngự giá ra Thăng Long (Hà Nội). Vua cho xa giá đến Hồ Tây ngắm cảnh. Xa giá đi đến đâu, quân lính cũng thét đuổi tất cả mọi người, không cho ai đến gần. 2. Cao Bá Quát, khi ấy còn là một cậu bé, muốn nhìn rõ mặt vua. Cậu nảy ra một ý, liền cởi hết quần áo, nhảy xuống hồ tắm. Quân lính nhìn thấy, hốt hoảng xúm vào bắt trói đứa trẻ táo tợn. Cậu bé không chịu, la hét, vùng vẫy, gây nên cảnh náo động ở hồ. Thấy thế, vua Minh Mạng truyền lệnh dẫn cậu tới hỏi. 3. Cậu bé bị dẫn đến trước mặt nhà vua. Cậu tự xưng là học trò mới ở quê ra chơi nên không biết gì. Thấy nói là học trò, vua ra lệnh cho cậu phải đối được một vế đối thì mới tha. Nhìn thấy trên mặt hồ lúc đó có đàn cá đang đuổi nhau, vua tức cảnh đọc vế đối như sau: Nước trong leo lẻo cá đớp cá. Chẳng cần nghĩ ngợi lâu la gì, Cao Bá Quát lấy cảnh mình đang bị trói, đối lại luôn: Tròi nắng chang chang người trói người. Vế đối vừa cứng cỏi vừa rất chỉnh, biểu lộ sự nhanh trí, thông minh. Vua nguôi giận, truyền lệnh cởi trói, tha cho cậu bé. Cách đọc Những chi tiết nói về hành vi của nhà vua và quân lính thể hiện thái độ oai nghiêm, hách dịch ; những chi tiết nói về hành vi của cậu bé thể hiện sự bướng bỉnh, tinh quái. Hai vế đối đọc chậm, rõ ràng, nhấn vào từng từ đối nhau: Nước/ trong/ leo lẻo/ cá / đớp/ cá ; Trời/ nắng / chang chang/ người trói / người. Gợi ý cảm thụ Thời xưa, nhà vua khi ngự giá, dân chúng trên đường phải tránh hết, cho nên người dân thường muốn xem mặt vua cũng chẳng dễ gì. Cậu bé Cao Bá Quát muốn xem mặt vua phải tìm cách để “được” bắt. Đó là một cách rất mạo hiểm, chẳng khác gì đùa với tử thần. Nhưng chỉ bằng cách ấy mới có thể giáp mặt vua. Phải đủ can đảm và đủ tài năng mới dám làm việc đó. Và bọn lính đã trúng kế của cậu. Cậu được giải đến trước mặt vua như một kẻ tội phạm. Biết vua Minh Mạng là một người hay chữ, cậu tự xưng là học trò và thế là đến lượt nhà vua “trúng kế” cậu: ra vế thách đối. Cái rắc rối trong vế ra chủ yếu nằm ở 3 chữ cuối: “cá đớp cá”. Nó vừa lặp hai lần chữ “cá” vừa trỏ một hình ảnh thực đang diễn ra dưới hồ: cá lớn đớp cá nhỏ. Người đối lại phải tìm được chữ sao cho đối lại và cũng phải trỏ được một sự việc có thực vừa diễn ra. Cậu bé đối lại ba chữ cuối bằng “người trói người” (chỉ việc cậu bị bọn lính bắt trói). Đối như thế là rất chuẩn, đạt cả “chữ” lẫn “nghĩa”. Vế đối lại vừa khiến vua không thể bắt bẻ chỗ nào vừa khiến vua phục tài, cho nên không có cách nào khác là phải tha cho cậu. XEM THÊM BÀI EM VẼ BÁC HỒ TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Đối đáp với vua – Tiếng Việt 3
579
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ở lại với chiến khu – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Ở LẠI VỚI CHIẾN KHU 1. Trung đoàn trưởng bước vào lán, nhìn cả đội một lượt. Cặp mắt ông ánh lên vẻ trìu mến, dịu dàng, ông ngồi yên lặng một lúc lâu, rồi lên tiếng: – Các em ạ, hoàn cảnh chiến khu lúc này rất gian khổ. Mai đây chắc còn gian khổ, thiếu thốn nhiều hơn. Các em sẽ khó lòng chịu nổi. Nếu em nào muốn trở về sống với gia đình thì trung đoàn cho các em về. Các em thấy thế nào? 2. Trước ý kiến đột ngột của chỉ huy, bọn trẻ lặng đi. Tự nhiên, ai cũng thấy cổ họng mình nghẹn lại. Lượm bước tới gần đống lửa. Giọng em rung lên: – Em xin được ở lại. Em thà chết trên chiến khu còn hơn về ở chung, ở lộn với tụi Tây, tụi Việt gian… Cả đội nhao nhao: – Chúng em xin ở lại. Mừng nói như van lơn: – Chúng em còn nhỏ, chưa làm được chi nhiều thì trung đoàn cho chúng em ăn ít cũng được. Đừng bắt chúng em phải về, tội chúng em lắm, anh nờ… 3. Những lời van xin thơ ngây mà thống thiết, van xin được chiến đấu hi sinh vỉ Tổ quốc của các chiến sĩ nhỏ tuổi làm trung đoàn trưởng rơi nước mắt. Ông ôm Mừng vào lòng, nói: 4. Bỗng một em cất tiếng hát, cả đội đồng thanh hát vang: “Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi Nào có mong chi đâu ngày trở về Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi Ra đi, ra đi, thà chết không lui…” Tiếng hát bay lượn trên mặt suối, tràn qua lớp lớp cây rừng, bùng lên như ngọn lửa rực rỡ giữa đêm rừng lạnh tối, làm cho lòng người chỉ huy ấm hẳn lên. Theo Phùng Quán Cách đọc Giọng người kể chuyện đọc khác lời nhân vật nói. Diễn tả đúng tình cảm khác nhau ở mỗi câu nói: – Lời trung đoàn trưởng lần thứ nhất (Các em ạ, hoàn cảnh chiến khu lúc này…): giọng ôn tồn, chân thành, thương yêu. – Lời Lượm: Em thà chết…: giọng xúc động nhưng rắn rỏi, thể hiện quyết tâm ở lại chiến khu. – Lời Mừng: tha thiết, chân thành. – Lời trung đoàn trưởng lần thứ hai {Nếu các em đều xin ở lại…): giọng cảm động, mến phục. Đoạn 4 đọc giọng vui tươi, hùng tráng. Gợi ý cảm thụ Đoạn trích lấy từ truyện Tuổi thơ dữ dội. Đây là câu chuyện kể về đội thiếu niên tham gia Vệ quốc quân thời kháng chiến chống Pháp (Đội Thiếu niên trinh sát Trung đoàn Trần Cao Vân, thành phố Huế). Chính nhà văn Phùng Quán, người viết truyện này là một trong những chiến sĩ Vệ quốc quân nhỏ tuổi ấy. Phùng Quán (1932 – 1995), người Huế, 13 tuổi tham gia Vệ quốc quân, làm chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (trước đó gọi là Trung đoàn Trần Cao Vân). Nhà văn Nguyễn Khắc Viện nhận xét về Tuổi thơ dữ dội: “Những sự việc khi thì li kì, khi thì hài hước, khi thì gây xúc động đến ứa nước mắt… Tôi chỉ mong làm sao cho tất cả các em thiếu nhi Việt Nam được đọc sách này”. Về phía các em, lời nói của trung đoàn trưởng lại gây ra một sự bất ngờ quá lớn khiến các em lặng đi, cổ họng nghẹn lại. Bởi vì khi từ giã nhà lên chiến khu các em đã xác định chiến đấu vì Tổ quốc, “ra đi thà chết không lui”. Trong hoàn cảnh khó khăn này, các em một lần nữa thể hiện quyết tâm: “thà chết trên chiến khu còn hơn về ở lộn với tụi Tây” ; “chúng em ăn ít cũng được”. Đó là những câu nói rất hồn nhiên tự đáy lòng, nhưng cũng thể hiện một ý chí mãnh liệt, khiến trung đoàn trưởng cảm động trào nước mắt. Trước những tấm lòng trong sáng vì Tổ quốc như thế, trung đoàn trưởng khó có thể từ chối, nhưng cũng không dám nhận lời ngay mà hứa sẽ báo cáo với trung đoàn (nghĩa là vẫn phải cân nhắc thêm). XEM THÊM BÀI BỘ ĐỘI VỀ LÀNG TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài Ở lại với chiến khu – Tiếng Việt 3
718
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài “Bài tập làm văn” – Tiếng việt 3. Hướng dẫn Bài tập làm văn 1.Có lần, cô giáo ra cho chúng tôi một đề văn ở lớp: “Em đã làm gi để giúp đỡ mẹ?” Tôi loay hoay mất một lúc, rồi cầm bút và bắt đầu viết: “Em đã nhiều lần giúp đỡ mẹ. Em quét nhà và rửa bát đĩa. Đôi khi, em giặt khăn mùi soa.” 2. Đến đây, tôi bỗng thấy bí. Quả thật, ở nhà, mẹ thường làm mọi việc. Thỉnh thoảng, mẹ bận, định bảo tôi giúp việc này việc kia, nhưng thấy tôi đang học, mẹ lại thôi. Tôi nhìn sang Liu-xi-a, thấy bạn ấy đang viết lia lịa. Thế là tôi bỗng nhớ có lần tôi giặt bít tất của mình, bèn viết thêm: “Em còn giặt bít tất.” 3. Nhưng chẳng lẽ lại nộp bài văn ngắn ngủn như thế này? Tôi nhìn xung quanh, mọi người vẫn viết. Lạ thật, các bạn viết gì mà nhiều thế? Tôi cố nghĩ, rồi viết tiếp: “Em giặt cả áo lót, áo sơ mi và quần.” Cuối cùng, tôi kết thúc bài văn của mình: “Em muốn giúp mẹ nhiều việc hơn, để mẹ đỡ vất vả.” 4.Mấy hôm sau, sáng chủ nhật, mẹ bảo tôi: – Cô-li-a này! Hôm nay con giặt áo sơ mi và quần áo lót đi nhé! Tôi tròn xoe mắt. Nhưng rồi tôi vui vẻ nhận lời, vì đó là việc làm mà tôi đã nói trong bài tập làm văn. Cách đọc Đọc với giọng kể chuyện, nhẹ nhàng, chậm rãi. Biết ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả. Giọng nhân vật “tôi” nhẹ nhàng, hồn nhiên như lời tâm tình. Giọng mẹ dịu dàng Gợi ý cảm thụ Câu chuyện Bài tập làm văn được kể từ ngôi thứ nhất, là câu chuyện của nhân vật “tôi” – cậu bé Cô-li-a. Vì vậy, lời kể như lời tâm sự chân tình, hóm hỉnh và giàu ý nghĩa. Bài tập làm văn không nhũng giúp “tôi” đạt điểm tốt, mà còn khiến cho “tôi” trở nên chăm chỉ, ngoan ngoãn hơn, tự giác và “người lớn” hơn rất nhiều. Đề văn của cô giáo khiến Cô-li-a không biết phải làm thế nào, vì thực sự cậu bé chưa biết giúp đỡ mẹ nhiều việc. Thỉnh thoảng, Cô-li-a mới làm một vài việc lặt vặt. Vì ở nhà, mẹ thường làm mọi việc, dành thời gian cho Cô-li-a học. Có lúc bận, mẹ định nhờ Cô-li-a giúp việc này việc nọ nhưng thấy con học bài lại thôi. Cô-li-a cố nhớ lại những việc thỉnh thoảng mới làm và kể ra cả những việc mình chưa bao giờ làm như giặt áo lót, áo sơ mi và quần. Cô-li-a viết một điều có thể trước đây em chưa nghĩ đến: “muốn giúp mẹ nhiều việc hơn, để mẹ đỡ vất vả”. Bài văn của em đạt điểm cao, dù trong những việc em kể có cả những việc em chưa từng làm, mà em chỉ tưởng tượng ra, hoặc em thấy đó là những việc em cần làm giúp mẹ. Tiến trình làm bài văn của Cô-li-a được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn 1, cậu bé bắt đầu kể, nhưng chưa kể đã hết việc (quét nhà, rửa bát đĩa, giặt khăn mùi soa), vì thực sự cậu có giúp mẹ việc gì gọi là nhiều nhặn đâu. Giai đoạn sau, cậu nghĩ ra thêm một việc nữa là giặt bít tất. Có vẻ như đến đây là quá bí rồi, chẳng còn gì để mà kể nữa, trong khi các bạn xung quanh vẫn viết lia lịa, đặc biệt là cô bạn gái Liu-xi-a. Các bạn vẫn viết, và Cô-li-a lại tiếp tục kể thêm những việc khác như “giặt áo lót, áo sơ-mi và quần”. Câu chuyện kể lại một kỉ niệm đáng nhớ thời học sinh. Qua đó, tác giả cũng đưa ra một bài học nhẹ nhàng và rất đáng quý, giúp chúng ta hiểu rằng: Lời nói phải đi đôi với việc làm, những điều chúng ta tự nói tốt về mình phải cố gắng làm cho bằng được. Người ta khen những người miệng nói tay làm, những người biết nói lời hay, làm việc tốt. Người xưa cũng dạy ta phải luôn: “Nói lời phải giữ lấy lời – Đừng như con bướm đậu rồi lại bay”.. Tags:Văn 3
Hướng dẫn cảm thụ văn học bài “Bài tập làm văn” – Tiếng việt 3.
733
Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học bài Bác sĩ Y-éc-xanh – Tiếng Việt 3 Hướng dẫn Bác sĩ Y-éc-xanh 1. Bà khách ước ao được gặp bác sĩ Y-éc-xanh phần vì ngưỡng mộ người đã tìm ra vi trùng dịch hạch, phần vì tò mò. Bà muốn biết điều gì khiến ông chọn cuộc sống nơi góc biển chân trời này để nghiên cứu những bệnh nhiệt đới. 2. Y-éc-xanh quả thật khác xa với nhà bác học trong trí tưởng tượng của bà. Trong bộ quần áo ka ki sờn cũ không là ủi, trông ông như một khách đi tàu ngồi toa hạng ba. Chỉ có đôi mắt đầy bí ẩn của ông làm bà chú ý. 3. Bà khách thổ lộ nỗi băn khoăn của mình: – Y-éc-xanh kính mến, ông quên nước Pháp rồi ư? Ông định ở đây suốt đời sao? Y-éc-xanh lặng yên nhìn khách, hai bàn tay đan vào nhau, đặt trên đầu gối. -Tôi là người Pháp. Mãi mãi tôi là công dân Pháp. Người ta không thể nào sống mà không có Tổ quốc. Ngừng một chút ông tiếp: -Tuy nhiên, tôi với bà, chúng ta đang sống chung trong một ngôi nhà: trái đất. Trái đất đích thực là ngôi nhà của chúng ta. Những đứa con trong nhà phải thương yêu và có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau. Tôi không thể rời khỏi Nha Trang này để sống ở nơi nào khác. Chỉ có ở đây, tâm hồn tôi mới được rộng mở, bình yên. Theo Cao Linh Quân Cách đọc Giọng đọc thay đổi theo diễn biến câu chuyện: – Đoạn 1: giọng bình thường. – Đoạn 2, đoạn 3: thể hiện sự ngạc nhiên của bà khách, sự tự tin của bác sĩ Y-éc-xanh. – Đoạn 4: đọc chậm, thể hiện sự trầm lắng, vừa cảm phục vừa xót thương. Gợi ý cảm thụ Bác sĩ Y-éc-xanh người Pháp nhưng sinh tại Thuỵ Sĩ và mất tại Nha Trang, Việt Nam. Ông có rất nhiều cống hiến cho ngành sinh học, y học (như tìm ra vi trùng gây bệnh dịch hạch), ông cũng là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Y khoa Hà Nội, là người phát hiện và thiết lập thành phố Đà Lạt, là người đưa cây canh-ki-na (để chế biến thuốc) vào trồng ở Việt Nam,.. Bác sĩ Y-éc-xanh là nhà khoa học lỗi lạc, nhưng ông lại chọn Việt Nam, một xứ nghèo nàn và lạc hậu, nơi vừa xa quê hương vừa xa các trung tâm khoa học lớn để sinh sống. Điều đó làm nhiều người ngưỡng mộ nhưng khó hiểu. Câu chuyện kể về một bà khách nước ngoài có tâm trạng như thế, nên đã tìm đến gặp ông. Khi gặp, bà khách lại càng ngạc nhiên. Ngạc nhiên trước hết vì sự giản dị của ông. Với bộ quần áo ka ki sờn không là ủi, trông ông không có dáng vẻ trí thức mà như một khách đi tàu hạng ba, tức là người bình dân, người nghèo. Không phải ông không thể có cuộc sống giàu sang ở ngay xứ sở này, mà vì giàu sang không phải là điều ông quan tâm. Ông chỉ có một tình yêu khoa học và tình yêu con người, cụ thể là những người dân bản xứ nghèo khổ. Câu nói cuối cùng của ông trong cuộc gặp này – “Chỉ có ở đây, tâm hồn tôi mới được rộng mở, bình yên.” – cho thấy Việt Nam thực sự là Tổ quốc thứ hai của ông. Sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã lập miếu thờ ông. Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội. Tại Đà Lạt, mới đây có trường đại học mang tên ông: Đại học Dân lập Y-éc-xanh Đà Lạt. XEM THÊM BÀI NGỌN LỬA Ô-LIM-PÍCH TẠI ĐÂY Tags:Văn 3
Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học bài Bác sĩ Y-éc-xanh – Tiếng Việt 3
632
Hướng dẫn Khái quát phân tích văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Hướng dẫn KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HÉT THẾ KỈ XIX I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Hai bộ phận chủ yếu cấu thành nên văn học trung đại Việt Nam là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Trong quá trình phát triển hai bộ phận này không đối lập nhau mà bổ sung hoàn thiện lẫn nhau. 2.Văn học trung đại Việt Nam được chia thành bốn giai đoạn lớn theo sự phát triển về tư duy nghệ thuật, về nội dung, thể loại và ngôn ngữ văn học: -Các giai đoạn văn học từ thế ki X đến thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII, tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan niệm: văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nước. Thể loại văn học chủ yếu tiếp thu từ Trung Quốc (từ thế kỉ XV mói có những sáng tác bằng chữ Nôm tiêu biểu và có giá trị). -Hai giai đoạn sau, từ thể kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX và giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX. Tư duy nghệ thuật đã có sự phân biệt văn với sử, triết. Văn học gắn với hiện thực cuộc sống nhiều hơn. Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng nhân văn,cảm hứng về con người. 3.Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, cảm hứng thế sự là những đặc điểm lớn về nội dung của văn học trung đại Việt Nam. 4.Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài là những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam trung đại. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Những điểm chung và những điểm riêng của hai bộ phận văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm: -Điểm chung: + Phát triển trên cơ sở văn tự của người Hán. + Đều tích cực phản ánh những vấn đề trong đời sống xã hội, tâm tư, tình cảm của con người thời trung đại. + Đều có được những thành tựu rực rợ và kết tinh được những tác phẩm xuất sắc. -Điểm riêng: + Bộ phận văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn. + Thành tựu của văn học Nôm chủ yếu là thơ (văn học chữ Hán có thành tựu lớn ở cả hai mảng thơ và văn xuôi). 2.Bảng khái quát tình hình phát triển của văn học Việt Nam thời trung đại 3.Một số tác phẩm văn học đã học trong chương trình Trung học cơ sở (THCS) thể hiện nổi bật nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX: -Nội dung nhân đạo: Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện Kiều, Bánh trôi nước.–Nội dung thế sự: Câu chuyện trong phủ chúa Trịnh (Vũ Trung tưỳ bút), Lục Vân Tiên,… 4.Về nghệ thuật, văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có những đặc điểm lớn như: tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị, tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài. Văn học cổ nói nhiều đến cái chí khí, cái đạo lí trong phép úng xử hằng ngày của con người. Trong khi đó, văn học hiện đại có điều kiện đi sâu hơn vào đời sống riêng tư, vào thế giới nội tâm của con người. Chính hai điểm lớn này tạo nên sự khác biệt trong quá trình đọc các tác phẩm văn học cổ và văn học hiện đại. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Khái quát phân tích văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX
653
Hướng dẫn Luyện tập viết đoạn văn nghị luận – Ngữ văn 10 Hướng dẫn LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG Bài này chủ yếu yêu cầu chúng ta viết được đoạn văn ngắn phù hợp với vị trí và chức năng của chúng trong bài văn nghị luận. Để viết tốt, cần chú ý các khâu: lựa chọn luận điểm, lựa chọn cách đưa lập luận (bằng lí lẽ hay bằng dẫn chứng) và lựa chọn thao tác lập luận chính. Có như vậy việc viết đoạn mới có thể diễn ra nhanh chóng và hiệu quả. II- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Với đề bài: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”. (Go-rơ-ki), và với dàn ý đã cho sẵn trong SGK, có thể lựa chọn tuỳ ý một luận điểm trong mục 1, -Hoặc 3 (phần thân bài) để viết đoạn theo các bước sau: -Lựa chọn luận điểm. -Thiết lập các ý nhỏ. -Lựa chọn thao tác lập luận. -Viết đoạn văn. -Rà soát và sửa chữa. Tham khảo một số đoạn văn dưới đây: -Luận điểm: Sách là sản phẩm tinh thần kì diệu của văn minh nhân loại. Từ lâu con người đã biết đến sự kì diệu của sách, đó là cái thần kì trong ĩĩhững cái thần kì mà nhân loại đã sáng tạo nên. Thật không thể hình dung một nền văn minh mà không có sách. Từ hàng nghìn năm trước, khi chưa có chữ in, chưa có máy in, chưa có cả giấy bút nữa, thì nhân loại đã nghĩ đến sách rồi, đã có những hình thức đầu tiên của sách rồi. Sách là cái cần có để con người lưu giữ và truyền lại cho người khác, cho thế hệ khác, những hiểu biết của mình về thế giới xung quanh, những khám phá về vũ trụ và con người, cả những ý nghĩ, những quan niệm, những mong muốn về cuộc sống cần gửi đến cho mọi người và trao gửi đến đời sau. -Luận điểm: Sách có sức mạnh vượt thời gian và không gian. Tác động của sách không hề bị giới hạn bởi thời gian không gian. Con người ngày nay vẫn không hề giảm sút hứng thú tìm lại những trang sách đã có hàng mấy nghìn năm nay, từ những hình vẽ bí hiểm trên những phiến đất sét, những chữ cái từ lâu đã trở nên lạ lùng trên các tấm da cừu, những con chữ tượng hình trên các thẻ tre… cho đến hôm nay, những cuốn sách được in hàng loạt bằng máy in điện tử hiện đại. Một người sống ở một làng hẻo lánh châu Á cũng có thể đọc được cuốn sách của một người viết từ một đất nước xa xôi ở châu Mĩ. Thật có thể nói không ngoa rằng: có sách, các thế kỉ và các dân tộc xích lại gần nhau. (Trần Thanh Đạm (Chủ biên), Làm văn 10, sđd) XEM THÊM HƯỚNG DẪN ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Luyện tập viết đoạn văn nghị luận – Ngữ văn 10
506
Hướng dẫn làm bài Hãy nêu suy nghĩ của em về một vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội: gian lận trong thi cử – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Gian lận trong thi cử. Văn 9 Đề bài: Hãy nêu suy nghĩ của em về một vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội: gian lận trong thi cử. Bài làm “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Câu tục ngữ đã thể hiện phần nào sự thông minh, tinh nghịch của những cô cậu tuổi đến trường. Sự thông minh ấy được bộc lộ trong việc tiếp thu bài, trong việc vui chơi, trong việc sinh hoạt tập thể,… Tuy nhiên, thời gian gần đây, sự thông minh của học trò được sử dụng vào một mục đích không tốt, gây bức xúc trong nhà trường nói riêng và với xã hội nói chung. Mục đích đó là: gian lận trong thi cử. Gian lận trong thi cử là sử dụng những hình thức vi phạm quy chế thi cử như mang tài liệu vào phòng thi, quay cóp, nhờ người thi hộ, bàn bài, viết “phao”…, trong đó hình thức quay cóp, bàn bài, viết “phao” được áp dụng rất phổ biến. Quay cóp, viết “phao” thường xảy ra nhiều nhất trong những giờ kiểm tra môn xã hội – những bộ môn học thuộc lòng khó “nhằn”. Còn đối với các bộ môn tự nhiên như Toán, Vật lí, Hoá học,… thì hình thức bàn bài hay nhìn bài bạn được học sinh “ứng dụng” triệt để. Một thực trạng đáng buồn hiện nay là việc gian lận trong thi cử đã trở thành chuyện “thường ngày ở huyện” đối với học sinh. Ở những nơi gần phòng thi ta có thể nhặt được rất nhiều mẩu giấy bé hơn lòng bàn tay chi chít những con chữ nhỏ xíu. Chủ nhân của những mẩu giấy này dường như chẳng cần chọn chỗ huỷ “phao”, bởi họ quan niệm “người người chép phao, nhà nhà chép phao, có phải mình mình chép đâu mà sợ!”. Còn việc bàn bài, nhìn bài bạn hay thậm chí là cho bạn nhìn bài mình qua con mắt học sinh trở thành biểu tượng của tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái! Gian lận trong thi cử dường như không có gì sai trái, mà lại còn là cách học sinh thể hiện sự thông minh của mình trong việc qua mặt giám thị. Nhưng liệu gian lận trong thi cử có thật sự là một việc làm thông minh? Hãy cùng nhau xem xét. Đối với học sinh, gian lận thi cử có thể khiến họ trở nên lười biếng, không chịu động não, không chịu đào sâu suy nghĩ vào bài học. Không những vậy, việc có được điểm số cao một cách không quá khó khăn khiến cho học sinh kém chú ý trong giờ học, quay ra làm việc riêng hoặc nói chuyện, vừa ảnh hưởng tới trật tự lớp, cản trở việc tập trung nghe giảng của các bạn khác, vừa ảnh hưởng đến việc giảng dạy của thầy cô. Hơn nữa, không nắm được kiến thức cơ bản khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường sẽ khiến học sinh không đủ hành trang để bước vào cuộc đời, khó có thể tìm kiếm cho bản thân con đường đúng đắn để xây dựng đất nước. Hơn nữa, gian lận khi còn trong giai đoạn trưởng thành có thể khiến học sinh mất đi tính trung thực, tự giác, khả năng phấn đấu, học hỏi, từ đó những tính xấu như dối trá, biếng lười có thể thừa cơ phát triển. Gian lận trong thi cử đang làm hỏng cả một thế hệ tương lai của đất nước. Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến những việc làm thiếu trung thực ấy? Có nhiều ý kiến cho rằng việc học sinh gian lận trong thi cử xảy ra là bởi sự phát triển quá nhanh chóng của công nghệ thông tin. Những trang web, mạng Internet, những trò chơi trực tuyến đang ngày một thu hút thêm sự chú ý và say mê của giới trẻ. Thời gian dành cho việc lướt web, chơi game thay thế cho thời gian học tập ở nhà vốn đã vô cùng ít ỏi. Khi học sinh sa vào những trò chơi hấp dẫn này, thì đừng nói một tiếng, cả đêm thậm chí cả ngày hôm sau cũng khó mà có thể dứt ra được. Như vậy, các trò chơi trên Internet đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực đối với việc học hành thi cử của học sinh. Không những vậy, có rất nhiều học sinh chia sẻ rằng lí do khiến họ phải gian lận trong thi cử là do sức ép từ các bậc phụ huynh, những người luôn muốn được tự hào khoe thành tích học tập của con mình. Khá nhiều bậc phụ huynh đầu tư kĩ lưỡng cho việc học của con bằng cách thuê gia sư về dạy kèm con, cho con đi học thêm, luyện thi ở các “lò” luyện đông đúc chật chội. Họ không hiểu rằng những gì con họ cần là thời gian dành cho việc làm bài tập và tự ôn luyện. Nhiều học sinh nhà xa, đến được với trung tâm ôn luyện đã mất nửa tiếng, mệt đứt hơi, ngồi trong lớp mà mắt cứ díp lại, đầy mệt mỏi. Thử hỏi kiến thức thu thập được là bao? Sức ép từ gia đình, từ thầy cô khiến học sinh mất phương hướng, lầm tưởng mục đích của việc học là để có điểm cao, chứ không phải là để trau dồi kiến thức cho chính bản thân mình. Từ đó, việc gian lận trong thi cử diễn ra như một cách để học sinh đối phó với gia đình và nhà trường, một cách để họ tự giải toả phiền phức cho bản thân. Gian lận trong thi cử là một việc làm xấu, cần phải được nhanh chóng đẩy lùi, ngăn chặn. Với mong muốn có được môi trường học thân thiện, công bằng, nghiêm túc, đặc biệt là xoá bỏ việc gian lận trong thi cử, cả xã hội đang chung tay góp sức thực hiện những việc làm thiết thực cho nền giáo dục. Hiểu được tâm lí học trò thích các hoạt động vui chơi, hiện nay trường học đẩy mạnh hình thức học có giáo cụ trực quan, tổ chức trò chơi củng cố kiến thức bài học trên lớp, giúp cho học sinh có thể “học mà vui, vui mà học”. Hình thức giảng dạy theo cách thảo luận nhóm cũng giúp học sinh nhớ kiến thức lâu hơn. Khi học sinh nắm chắc và nhớ kĩ kiến thức, việc ôn luyện cho kiểm tra sẽ đỡ vất vả hơn, học sinh sẽ không cần phải dựa dẫm vào “phao” thi hay bất cứ hình thức gian lận nào khác nữa. Thêm vào đó, cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” đã và đang đi sâu vào tâm lí học sinh, khiến cho họ ý thức rõ nét hơn về những tác hại mà gian lận gây ra cho cuộc sống mai sau của họ. Sự thấu hiểu của gia đình đối với những cố gắng nỗ lực của con em mình cũng khiến cho nhiều học sinh thay đổi cách nghĩ, trở nên kiên trì hơn trong quá trình học tập. Hơn nữa, học sinh cũng cần phải biết cách sử dụng thời gian của mình có hiệu quả nhất. Thay vì lên mạng lướt web, chơi game, tại sao ta không lên các diễn đàn trao đổi tư liệu, kinh nghiệm học để mở rộng thêm kiến thức đã được học trên lớp? Với cách này, Internet sẽ trở thành người bạn đồng hành đáng tin cậy đối với mỗi học sinh, giúp học sinh trau dồi kiến thức, tiếp tục bước đi trên con đường học vấn của mình. Học tập không phải vì điểm số mà là vì chính tương lai của bạn. Đừng để gian lận trong thi cử làm hại đến cuộc sống mai sau. Trung thực và thẳng thắn từ bây giờ, sẽ giúp cuộc sống mai sau của bạn tươi đẹp và mãi mãi vững bền! Nguyễn Thị Hoà Bình (Trường THCS Lê Lợi) Tags:gian lận thi cử · Tập làm văn 9 · Văn nghị luận
Hướng dẫn làm bài Hãy nêu suy nghĩ của em về một vấn đề đang gây bức xúc trong xã hội_ gian lận trong thi cử – Tập làm văn 9
1,418
Hướng dẫn làm bài Kể chuyện về thăm trường xưa – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Kể chuyện về thăm trường xưa. Văn 9 Đề bài: Kể chuyện về thăm trường xưa. Bài làm 1 Mùa thu, tiết trời se lạnh, lá vàng theo gió bay bay rải thảm xuống mặt đường. Thế là đã hai mươi năm trôi qua. Hôm nay, ngày hội trường, lớp 9H chúng tôi hẹn nhau cùng về thăm lại trường xưa. Đêm trước ngày hội ngộ, tôi cứ thấp thỏm không yên, nào sợ nhỡ ngày mai trời mưa lớn, nào sợ nhỡ sáng mai mình có việc đột xuất, nào sợ nhỡ ngày mai mình ốm,…Thế rồi, trời sáng từ lúc nào. Tôi vội vã chuẩn bị đến trường. Trên đường đi, tôi hồi hộp mường tượng cảnh lúc gặp lại mọi người. Ngắm con đường thân quen mà ngày ngày mình đã từng cắp sách đến trường, lòng tôi lại rộn lên một cảm giác khó tả. Và rồi ngôi trường THCS Lê Quý Đôn cũng đã hiện ra trước mặt. Hàng chữ “Trường THCS Lê Quý Đôn” màu đỏ không khỏi khiến ta bị thu hút. Ở góc biển có một chiếc camera nhỏ màu đen. Tôi gặp bác bảo vệ. Tôi mừng quá. Vẫn bác bảo vệ ấy, người đã từng đuổi theo những đứa học trò trèo tường vì đi học muộn, người đã từng đau đầu vì những trò nghịch như quỷ của lũ học sinh, giờ đã già biết bao. Lưng bác đã hơi còng, dáng đi lom khom và tóc thì bạc trắng. Bác tươi cười đáp lại lời chào của tôi. Tôi lén nhìn vào phòng bác, giờ đã được trang bị hiện đại, có ti vi, có cả điều hoà và máy tính. Bước qua cổng, tôi đi một vòng quanh trường. Ngôi trường mang tên nhà bác học Lê Quý Đôn hiện lên sừng sững với bốn toà nhà năm tầng. Những dãy nhà hai tầng trước kia nay đã biến mất. Dưới nắng mai, ngôi trường thật bề thế, uy nghi. Sân trường giờ là một thảm cỏ xanh um với những lối đi sỏi trắng toả ra nhiều hướng. Những cây phượng vĩ, xà cừ cành lá xum xuê. Chợt nhớ ra một điều, tôi chạy lại bên một cây phượng. Thân cây phồng lên bởi nhiều nét chữ. Cuối cùng tôi cũng tìm được dòng chữ mà hồi xưa tôi và đám bạn lén khắc: “Nhớ mãi Lê Quý Đôn”. Tôi bước lên Cầu thang. Qua hành lang, tôi liếc nhìn vào các lớp học. Các phòng học đều rộng rãi, thoáng mát và được trang bị rất hiện đại. Phòng nào cũng có máy chiếu, ti vi, điều hoà. Cứ hai em học sinh một bộ bàn ghế. Trên tường treo các bức tranh, các mặt nạ các em tự vẽ, tự làm. Tôi lại nhớ về tiết mĩ thuật hồi trước, chúng tôi làm mặt nạ từ những chiếc rổ tre sau đó sơn bằng màu nước. Khi sơn, chúng tôi nghịch, vẩy vào người, vào mặt nhau, thậm chí làm bắn cả lên quần áo cô giáo bị cô ghi vào sổ đầu bài rồi bắt viết kiểm điểm. Tôi nhớ có lần không thuộc bài, tôi trốn bằng cách ngồi thu lu dưới gầm bàn… Rồi cả những lần giấu dép củâ các bạn nam khi các bạn đang chơi đá bóng… Nhớ lại cái thời “Nhất quỷ nhì ma” ấy tôi cứ buồn cười. Sao hồi ấy mình trẻ con thế nhỉ? Cuối cùng tôi dừng lại ở lớp 9H, lớp mà cách đây 20 năm tôi đã ngồi trong đó. Một chút bâng khuâng nghẹn ngào dâng trào. Lấy tay đẩy cửa lớp, đứng áp lưng vào tường, tôi bồi hồi suy nghĩ, vẫn biết thời gian trôi đi là không quay trở lại nhưng sao tôi vẫn mong một lần nữa được học tập, vui chơi dưới mái trường, được làm cô học trò nhỏ vui sướng khi được điểm 10, ỉu sìu khi bị điểm kém. Bỗng một hồi trống vang lên. Đã bao năm qua đi, hôm nay nghe lại tiếng trống trường tôi bỗng thấy xốn xang, bồi hồi. Học sinh trong trường nhanh chóng đứng vào hàng ngũ. Chúng tôi ngạc nhiên nhìn lên sân khấu, cô tổng phụ trách giờ là Minh Anh “xù”. Thảo nào nó bảo sẽ dành cho chúng tôi một sự ngạc nhiên. Tiếng Minh Anh chợt vang lên: “Toàn trường đứng dậy làm lễ chào cờ. Nghiêm… Nghỉ… Thôi”. Chúng tôi đưa mắt nhìn về phía đại biểu. Bây giờ có nhiều thầy cô mới. Kia rồi, cô Quyên chủ nhiệm của chúng tôi cũng có mặt. Hết phần nghi lê, chúng tôi chạy lại phía cô. Cô dạo này gầy và xanh quá, lưng còng, tóc trắng xoá. Đám con gái sụt sùi nắm chặt lấy tay cô. Cô chẳng quên ai cả, cả những “tật” nhỏ của mỗi người. Cô trò cùng nhau ôn lại những kỉ niệm cũ. Những chuyện buồn ngày xưa, giờ nhắc lại chỉ thấy bùi ngùi, thậm chí còn vui vui nữa. Đã đến lúc phải chia tay, chúng tôi trao cho nhau địa chỉ, hẹn năm sau gặp lại Với tôi, tuổi học trò là tuổi đáng yêu nhất. Tôi biết ơn các thầy cô đã vất vả dạy bảo chúng tôi nên người. Mong sao các thế hệ sau hãy luôn là trò giỏi, con ngoan để không phụ lòng thầy cô, cha mẹ. Nguyễn Lê Thuỷ Tiên (Trường THCS Lê Quý Đôn) Bài làm 2 Những ngày hè tưng bừng, rộn rã. Tiếng ve kêu râm ran. Phượng nở đỏ rực các ngôi trường. Hôm nay, ngày hội Trường THCS Lê Quý Đôn, lớp chúng tôi sẽ về thăm lại mái trường xưa. Cả lớp hẹn gặp nhau vào lúc 7 giờ sáng, riêng tôi, cứ thấp thỏm, hồi hộp không ngủ được, mới 5 giờ tôi đã dậy để tới trường. Xe lăn đều trên con đường ngày xưa vốn đã rất quen thuộc đối với tôi. Chỉ còn một quãng ngắn nữa là tới trường, lòng tôi lại rạo rực, bồi hồi. Xe dừng trước cổng trường, cảnh trường khác xưa nhiều quá, suýt nữa thì tôi không nhận ra. Thì cũng đã hai mươi năm rồi còn gì, hai mươi năm tôi rời xa mái trường yêu dấu, nơi đầy ắp những kỉ niệm tuổi thơ của bốn năm cấp THCS. Bên trên cánh cổng trường là hàng chữ đỏ thắm: “Trường THCS Lê Quý Đôn”. Tôi tiến về phía cổng trường, cánh cửa điện tử từ từ mở. Tôi nhớ ngày trước, mỗi khi có người vào trường, bác bảo vệ hơặc các bạn trong đội xung kích lại phải chạy ra kéo cánh cửa màu xanh cũ kĩ, luôn kêu cót két đến là đau thương. Giờ đây, cơ sở vật chất của trường khang trang hơn trước nhiều, lòng tôi thấy vui vui. Cứ tưởng thời gian trôi đi, bao bộn bề công việc, lo toan trong cuộc sống sẽ khiến mình quên đi những kỉ niệm xưa nhưng nào ngờ, vừa bước chân vào cổng trường, những kỉ niệm, cảm xúc lại ùa về khiến tôi có cảm giác “lạ mà quen”. Lạ vì bao năm nay tôi mới quay về trường, giờ nó đã thay đổi nhiều quá. Quen vì đây là nơi lưu giữ bao kỉ niệm thuở thiếu thời của tôi, Trong làn nắng nhẹ của buổi ban mai, ngôi trường thật bề thế, tươi tắn. Dãy nhà hai tầng đã biến mất, thay vào đó là những toà nhà năm tầng sừng sững uy nghi. Tôi dạo quanh sân trường. Các chậu hoa được trồng bên ngoài hành lang như tô điểm cho sân trường thêm nhiều màu sắc, tươi vui. Những cây phượng ngày xưa giờ đã cao vút, to lớn, gốc của nó chừng phải hai người ôm mới xuể. Đang mùa hè, phượng nở đỏ rực như những ngọn đuốc cháy giữa trời, như thi gan cùng nắng lửa. Những cây bằng lăng cũng không kém, từng chùm hoa tím ngắt như tượng trưng cho tình bạn thuỷ chung son sắt. Nhưng ấn tượng nhất với tôi là khu vực lễ đài. Tôi nhớ những ngày thứ hai đầu tuần được đại diện cho lớp lên nhận phần thưởng của trường. Thật hãnh diện biết bao. Lễ đài bây giờ hoặnh tráng hơn trước rất nhiều. Bên trái vẫn là bức tượng cụ Lê Quý Đôn nhưng hai bên cánh gà được trang trí bằng những dải đèn màu rực rỡ để phục vụ cho những đêm liên hoan văn nghệ. Sân sau của trường cũng rộng rãi hơn trước, nó được chia thành sân bóng rổ, sân bóng đá và sân thể dục. Thời gian trôi quá nhanh và cảnh vật cũng thay đổi quá nhiều. Gần bảy giờ sáng, trường đã rất đông học sinh. Tiếng cười nói râm ran vui vẻ. Tôi nhìn quanh, tìm kiếm những gương mặt thân quen. Kia rồi, Dũng “lơgo” cao lênh khênh có cái cổ dài như gà “lơgo”, hai cánh tay thì loằng ngoằng không lẫn vào đâu được. Tôi chạy ù qua chỗ đó. Các bạn tôi đang tay bắt mặt mừng, nói cười hớn hở. Cái Hà, cán sự toán của lớp, sau khi hết lớp 9, xin được một suất học bổng du học tại Pháp. Nghe đâu nó được nhiều trường đại học nước ngoài mời làm việc nhưng nó đều từ chối, đã về nước mấy năm nay, hiện là chuyên viên toán. Bỗng, tiếng trống trường tưng bừng rộn rã vang lên. Tiếng cô tổng phụ trách điều khiển các lớp tập trung. Những học sinh cũ của trường cũng đi về phía hai bên cánh gà. Tôi đưa mắt tìm cô Quyên, cô giáo chủ nhiệm cũ của lớp tôi. Cô kia rồi, đúng là cô nhưng cô khác đi nhiều lắm. Mái tóc đen của cô giờ đây bạc trắng, khuôn mặt có vẻ gầy đi. Hình như cô cũng đang tìm học sinh cũ. Rồi ánh mắt cô gặp ánh mắt chúng tôi. Chúng tôi giơ tay chào cô, cô mỉm cười đáp lại. Mãi rồi chương trình văn nghệ cũng chấm dứt, kết thúc phần nghi lễ. Chúng tôi chạy ùa lại phía cô Quyên. Cô trò gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Có bạn gái mau nước mắt cứ sụt sịt hoài, có bạn ôm chặt lấy cô không chịu rời. Đã nhiều năm nhưng cô không quên đứa nào. Cô nhớ cả tật xấu củạ từng người. Cô cùng chúng tôi nhắc lại những kỉ niệm xưa, buồn vui lẫn lộn. Rồi chúng tôi gặp cả thầy Bổng dạy lí, cô Châu dạy toán, cô Chấp dạy văn… Các thầy cô đều đã nghỉ công tác. Tôi được các thầy cô nhớ nhất – cán bộ lớp mà. Tôi nhớ có lần không quản được lớp làm các thầy cô phiền lòng. Rồi có lần, làm lớp trưởng mà thiếu gương mẫu, rủ các bạn đi xem phim, không chịu chuẩn bị bài. Lại còn có lần bao che cho Dũng, bị cô phát hiện… Ôi, những kỉ niệm buồn nhưng thật đáng nhớ. Cô trò chúng tôi đi thăm lại lớp học xưa. Tôi nhớ ngày nào 45 đứa sát cánh bên nhau, cùng học tập vui chơi, vậy mà bây giờ mỗi đứa một cuộc sống riêng. Tôi lại phía bàn cuối, nơi tôi ngồi trước đây. Chỗ ngồi này đã chứng kiến bao nỗ lực của tôi, chứng kiến cả những niềm vui, nỗi buồn và cả những thói xấu thời học sinh. Lớp học bây giờ hiện đại hơn trước nhiều lắm. Lớp nào cũng có máy chiếu, ti vi, tủ đựng đồ,… Bàn học của lớp cũng được thay đổi, thay vào những dãy bàn dài giờ là những bộ bàn. đôi, bóng loáng. Trường cũng có đến gần chục phòng thí nghiệm và chức năng. Phòng nào cũng rộng rãi, thoáng mát, hiện đại. Nhìn ngôi trường cũ giờ trở nên hiện đại, tôi thầm mong các em học sinh hãy cố gắng học giỏi hơn nữa để xứng đáng với ngôi trường mang tên nhà bác học Lê Quý Đôn. Đến trưa, khi ánh nắng chói chang trên đỉnh đầu cũng là lúc hội trường kết thúc. Thời gian trôi nhanh quá. Ai cũng bịn rịn. Chúng tôi ra về trong bâng khuâng tiếc nuối. Hôm nay, ngày chúng tôi gặp lại thầy cô và bạn bè, ngày chúng tôi về lại mái trường xưa, thực sự là ngày hạnh phúc. Và tất cả những kỉ niệm dưới ngôi trường này sẽ theo tôi đi suốt cuộc đời. Nguyễn Thu Trang (Trường THCS Lê Quý Đôn) Tags:Buổi thăm trường · Tập làm văn 9 · Văn tự sự · viết thư
Hướng dẫn làm bài Kể chuyện về thăm trường xưa – Tập làm văn 9
2,145
Hướng dẫn làm bài văn nghị luận một vài suy nghĩ về ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về ngôn ngữ của giới trẻ. Văn 9 Đề bài: Một vài suy nghĩ về ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Bài làm Chỉ trong vài năm gần đây, cuộc sống và xã hội đã thay đổi rất nhiều. Và giới trẻ đã góp một phần không hề nhỏ vào những thay đổi ấy. Thay đổi của giới trẻ giờ đây không dừng lại ở tóc tai, trang phục, mà đã lan sang cả cách suy nghĩ và cách để diễn đạt những suy nghĩ ấy. Tiếng mẹ đẻ trong sáng đã dần dần được thay thế bằng những ngôn ngữ “xj tyn”. Ngôn ngữ “trong sáng” và “giàu có” như tiếng Việt đã được “thoát xác” hoàn toàn khỏi các quy chuẩn và hầu hết được giới trẻ thay bằng thứ ngôn ngữ “hok aj hju” và dùng tiếng lóng trong cộng đồng teen hằng ngày. Người trẻ ngày nay không chọn cách ra sạp mua báo Thanh niên, Tuổi trẻ về đọc, không bật ti vi vào sáu giờ sáng để xem “thời sự”, không hỏi bố mẹ, ông bà xem “Thế giới hôm nay thế nào?”. 9x chỉ cần ngồi vào bàn, bật PC, gõ một địa chỉ trang web là nắm được tình hình của cả thế giới. Cuộc sống công nghiệp nhanh và hiện đại cũng đòi hỏi con người phải bắt kịp với chúng. Thế là vài năm trước, ra đời thứ ngôn ngữ “xj tyn”. Ban đầu, giới trẻ chỉ dùng thứ ngôn ngữ ấy trên mạng, cụ thể là khung chat và các diễn đàn và chỉ tìm cách biến đổi sao cho có thể gõ thật nhanh. Thế la “j” thay thế cho “gi”, “w” thay thế cho “qu”, “ko” thay thế cho “không”,… dần dần những ngôn ngữ ấy được teen bê từ máy tính ra ngoài cuộc sống đời thực. Giới trẻ dùng những từ, những chữ mới sáng tạo ra để chép bài cho nhanh, viết thư cho tiện. Nếu như mục đích ra đời ban đầu của ngôn ngữ teen là để thuận tiện nhắn tin hay “chát chít”, nói chuyện trên mạng thì giờ đây ngôn ngữ ấy trẻ nên rắc rối hơn bao giờ hết. Qua rồi các thời teen mình dùng chèn thêm tiếng Anh vào cuộc nói chuyện, tiếng Việt của teen bây giờ thay đổi hoàn toàn. Ví dụ đơn giản nhất là “xin chào” thành “sin trẳo” hay “quên” thành “cuên”, “cho em xin hai chữ bình yên” sẽ là “cko iem xyn hạ ckữ bỳnk yên”!!! Đây là kiểu chữ phổ biến nhất mà teen mình sử dụng hàng loạt hiện nay. Kiểu chữ này mọi người không biết cũng có thể luận ra được. Nhưng thời gian gần đây, các blog,forum, mạng xã hội đều rộ lên phong trào cho ra đời thứ ngôn ngữ thoáng nhìn có thể tưởng là tiếng Thái, tiếng Á Rập. Một vài chữ cải trong bảng chữ cái của thứ “tiếng Ả Rập” đó là A = Cl; B = 3 ho’c B; c = (; D = J); E = F kiểu chữ này còn chưa thật sự quen thuộc với tất cả các bạn trẻ bây giờ. 9x đời đầu và 8x đọc đoạn chữ kiểu này bó tay là cái chắc!!! Giới trẻ hiện nay bị khá nhiều lời chỉ trích vì sử dụng thứ ngôn ngữ khó hiểu này. Những người thật sự trưởng thành coi đó là trò vô bổ, không thích giới trẻ sử dụng ngôn ngữ phức tạp ấy. Nhưng thực ra theo ý kiến chủ quan của tôi, cho ra đời ngôn ngữ teen của riêng giới trẻ không phải là điều đáng chê trách. Giới trẻ hiện nay có suy nghĩ rất thoáng về cuộc sống. Sáng tạo ra thứ ngôn ngữ mới đơn giản chỉ là muốn làm cho cuộc sống trở nên thú vị. Họ muốn làm mới mẻ mọi thứ xung quanh, nhìn cuộc sống bằng đôi mắt trẻ trung. Họ muốn đặt tên cho thế giới của riêng mình. Ngôn ngữ mà giới trẻ sử dụng phần nào phản ánh tính cách, cá tính của họ. Sử dụng ngôn ngữ khó hiểu không phải là điều đáng lên án như tôi đã nói ở trên. Vấn đề là cách họ sử dụng chúng. Dùng những từ ngữ độc đáo để trò chuyện trên mạng với bạn bè, xả stress sau những giờ học và làm việc căng thẳng thì tốt nhưng lạm dụng những từ ngữ, cách nói đó quá mức quả là không nên. Tôi có một người bạn sử dụng ngôn ngữ đó thường xuyên, cả khi nói chuyện ở ngoài, cũng như “chát chít” trên mạng. Một lần, cô bạn chia sẻ với tôi chuyện buồn qua tin nhắn. Khi đọc tin nhắn của bạn mình, tôi chẳng thấy có chút cảm xúc nào hết, “mình” thành “mek”, “không” thành “ko”, “lúc” thành “lúk”,…Tiếng Việt giờ đã không còn trong sáng theo cách riêng vốn có trong đời sống giới trẻ. Ngôn ngữ teen đang dần làm xấu đi hình ảnh giới trẻ trong mắt những người lớn tuổi không chấp nhận sự thay đổi. Đào Phương Bảo Linh (Trường PTDL Lương Thế Vinh) Tags:ngôn ngữ giới trẻ · Tập làm văn 9 · Văn nghị luận
Hướng dẫn làm bài văn nghị luận một vài suy nghĩ về ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay – Tập làm văn 9
908
Hướng dẫn làm bài văn nghị luận về vấn đề vì sao trẻ vị thành niên dễ sa ngã? – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Vì sao trẻ vị thành niên dễ bị sa ngã? Đề bài: Vì sao trẻ vị thành niên dễ sa ngã? Bài làm “Con đang ở đâu, về gấp, mẹ đau nặng, mọi lỗi lầm cha mẹ sẽ tha thứ…”. Những câu như vậy ngày nào cũng thấy trên báo chí, ti vi, nghe thật não nề. Rồi thỉnh thoảng trên báo lại có bài, tin về các cô cậu thanh niên gây án. Có nhiều vụ vừa nghe qua người lớn không khỏi giật mình bởi tính chất côn đồ, liều lĩnh của trẻ phạm tội vị thành niên. Một câu hỏi bức thiết đặt ra cho toàn xã hội “Vì sao trẻ vị thành niên dễ sa ngã?”. Câu hỏi đó, vấn đề ấy rất đáng suy nghĩ trong cuộc sống ngày nay khi mà những tệ nạn xã hội, như người nghiện ma tuý phần lớn là thanh thiếu niên, xu hướng chung của chúng là tự tách mình ra khỏi xã hội người lớn, tập hợp với nhau tạo ra một nền văn hoá xã hội đối nghịch. Đó là đặc điểm nổi bật của sự sa ngã ở trẻ vị thành niên đầu thế kỉ XXI, của cả thế hệ thanh thiếu niên để tự khẳng định mình, đồng thời phủ định và phủ nhận cả một nền xã hội văn hoá mà cha anh đã dựng nên. Vậy vì sao trẻ vị thành niên lại thích bỏ nhà để đi bụi hoặc phạm tội trong khi đáng lẽ thời gian ấy các bạn đó được ngồi trong lớp học hoặc được chăm sóc trong vòng tay bố mẹ? Theo các nhà tâm lí giáo dục thì tuổi vị thành niên là quãng thời gian các bạn trẻ có những thay đổi lớn về tâm sinh lí, thích làm người lớn và muốn được tôn trọng chứ không chịu bị xem là nhóc con. Thế mạnh ở giai đoạn này là các bạn có ý thức tự lập, trách nhiệm tập thể cao, nhưng cũng có những hạn chế buộc người lớn phải quan tâm, đó là hành vi bắt chước người lớn. Những hành vi xấu như hút thuốc, uống rượu, chửi thề,… lại dễ hấp dẫn trẻ. Chúng cũng ra quán nhậu cụng li, ngả nghiêng say xỉn như ai. Chẳng qua giai đoạn này trẻ thích tỏ ra người hùng, rất dễ cuốn vào những thói hư tật xấu và nạn bạo hành. Cũng để giống người lớn, trẻ vị thành niên thích cặp bồ, thích tỏ ra “ga lăng” với bạn gái và muốn có nhiều tiền để tiêu xài. Theo bà Nguyễn Thị Hoà Minh- Giám đốc trung tâm tư vấn tâm lí giáo dục gia đình và thanh thiếu niên, giai đoạn trẻ không còn con nít nhưng cũng chưa phải là người lớn thường cớ tâm lí rất phức tạp nên gia đình và xã hội phải có sự nhạy cảm tế nhị, hiểu trẻ và đặc biệt là tôn trọng, biết cách phân tích nhẹ nhàng. Nguyên nhân trẻ bỏ nhà đi gây án hoặc tự tử thường xuất phát từ những bất đồng giữa trẻ và người lớn: như trẻ bị đánh đập, la mắng, xúc phạm,… Chúng ta vẫn chưa quên sự việc đau lòng vừa xảy ra ở Hải Dương khi năm nữ sinh cột tay nhau tự tử tập thể. Nguyên nhân được làm rõ từ những trang nhật kí của các em, chủ yếu là phản ứng trước sự thờ ơ của người lớn. Rất nhiều bạn trẻ đã tâm sự: “Mẹ nói quá nhiều, tại sao mẹ cứ theo dõi từng chút rồi cằn nhằn mình. Nói một lần mình còn lắng nghe, nhắc lại lần hai, lần ba mình cứ muốn bỏ nhà đi cho đỡ đau đầu”. Cha mẹ cãi nhau trước mặt con cái cũng tạo ra cú sốc tâm lí gây ảnh hưởng xấu, Dưới con mắt các em thì “cãi nhau, ghét nhau như thế thì không biết họ lấy nhau để làm gì?”. Những hành vi của người lớn đều được trẻ vị thành niên phân tích theo cách riêng mà thường là rất đặc biệt. Tâm lí nổi loạn ở trẻ vị thành niên rất cao nên những suy nghĩ ấy của các em được giấu kín, không nói với cha mẹ mà chỉ bộc lộ qua phản ứng đối chọi với người lớn, sau đó là lối sống phiêu lưu, theo lời rủ rê của bạn bè, sa đà vào các tệ nạn xã hội (ma tuý, cướp của, giết người, mại dâm, lừa đảo,…). Có như vậy, mới khắc phục được tình trạng sa ngã ở trẻ vị thành niên. Cả xã hội, gia đình và bản thân chúng ta phải cùng nhau cố gắng. Trần Thu Nga (Trường THCS Ngô Sĩ Liên) Tags:Tập làm văn 9 · trẻ vị thành niên · Văn nghị luận
Hướng dẫn làm bài văn nghị luận về vấn đề vì sao trẻ vị thành niên dễ sa ngã _ – Tập làm văn 9
839
Hướng dẫn làm bài về hiện tượng học sinh quá ham mê trò chơi điện tử – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Hiện tượng học sinh mê trò chơi điện tử Đề bài: Về hiện tượng học sinh quá ham mê trò chơi điện tử. Bài làm Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đại hoá, mở rộng giao lưu với các nước phát triển nên việc tiếp cận với máy tính, với công nghệ thông tin là thiết yếu. Tuy vậy, nó cũng có mặt hạn chế: sự sa đà, nghiện ngập trò chơi điện tử gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, đạo đức của con người, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Ham chơi điện tử là một hiện tượng phổ biến trong giới học sinh hiện giờ. Do sức hấp dẫn của trò chơi mà các bạn học sinh chểnh mảng học hành và có thể dẫn đến các vi phạm khác. Trong một số báo gần đây của tờ An ninh Thủ đô cũng như các tờ báo điện tử có nhắc đến trường hợp một em học sinh nam do chơi trò chơi điện tử quá nhiều, nhất là các trò chơi bạo lực, đã giết chết mẹ nuồi của mình chỉ để lấy tiền đi chơi điện tử. Sự việc đó khiến ai cũng phải giật mình. Học sinh nghiện chơi điện tử nên nhân đó mà các hàng Internet mọc lên như nấm và có khi còn trở thành một nghề mà thu nhập tương đối khá. Một số hàng Internet lẩn khuất vào những ngõ sâu để che mặt phụ huynh. Một số hàng còn sử dụng những thủ thuật tinh vi để bao che cho những “khách hàng ruột”. Cứ một trò chơi nào mới ra thì lập tức các băng rôn quảng cáo được căng lên, rực rỡ và bắt mắt. Càng ngày, tỉ lệ học sinh trốn học đi chơi điện tử ngày càng tăng. Tuy vậy, nhưng trò chơi điện tử cũng có những lợi ích nhất định. Đó là trò chơi để giải trí sau những giờ học căng thẳng, là nơi để bạn bè giao lưu, trò chuyện với nhau. Nhưng những lợi ích đó chỉ thực sự phát huy đúng cách khi ngứời chơi biết kiềm chế và chơi một cách hợp lí. Vậy lí do tại sao mà học sinh ham chơi điện tử như vậy? Thứ nhất là do các trò chơi quá hấp dẫn với đồ hoạ đẹp, bắt mắt, những băng rôn quảng cáo rực rỡ. Không chỉ vậy các nhà sản xuất đánh vào tâm lí trẻ con thích tìm tòi, khám phá những cái mới nên các trò chơi vô cùng phong phú, đa dạng: đánh nhau có, những trò chơi nhỏ như nấu ăn, nuôi thú, làm vườn cũng có, đá bóng có, bóng rổ có,… Vì không có sân chơi nên các bạn học sinh đã tìm đến quán Internet và trò chơi điện tử. Sau những giờ học căng thẳng, học sinh rất cần được giải trí. Nhưng sân chơi cho học sinh quá ít hoặc quá nhỏ. Muốn đá bóng hay chơi bóng rổ, các bạn đều phải thuê sân với giá không rẻ chút nào. Vậy nên tất nhiên họ sẽ chọn trò chơi điện tử vì giá chỉ từ một đến ba nghìn một giờ. Cũng không thể không nói đến trách nhiệm của các vị phụ huynh. Phụ huynh ngày ngày vẫn cho con mình tiền mà không quản lí, không theo dõi sát sao, để con tiêu tiền phung phí vào những thứ không cần thiết. Các bậc cha mẹ cũng nên trò chuyện với con để nắm bắt được tâm lí con trẻ và đưa ra cho con những lời khuyên đúng đắn. Trong thực tế cuộc sống hiện nay và xung quanh em có rất nhiều bạn mải chơi điện tử mà xao nhãng học tập và còn vi phạm những sai lầm khác. Điều này trở thành một vấn nạn đòi hỏi sự can thiệp của gia đình và còn cửa pháp luật nữa. Tiếp xúc với máy tính, với công nghệ thông tin. là tốt nhưng cần học những điều tốt, tránh sa vào nghiện ngập trò chơi điện tử. (Trường THCS Hoàn Kiếm) Tags:Tập làm văn 9 · trò chơi điện tử · Văn nghị luận
Hướng dẫn làm bài về hiện tượng học sinh quá ham mê trò chơi điện tử – Tập làm văn 9
726
Hướng dẫn làm thể loại văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em Hướng dẫn 1. Ngữ liệu cần chú ý khi sử dụng trong văn biểu cảm về mẹ a. Từ ngữ: Dưới đây là một số từ ngữ có thể sử dụng trong bài viết của đề. -Yêu quý, yêu thương, kính trọng; – Cuộc sống lam lũ, vất vả, khó nhọc, “Một nắng hai sương”. – Âm thầm, chịu đựng, bền bỉ, dẻo dai, hi sinh thầm lặng,… – Kính yêu, tự hào, biết ơn,… b. Hình ảnh: – Hình dáng, mái tóc, khuôn mặt, đôi tay, nụ cười, giọng nói,… – Hình ảnh mẹ lo lắng, chăm sóc khi con bị ôm. – Niềm hạnh phúc của mẹ khi con trưởng thành. – Mẹ luôn lo lắng, vun đắp cho cả gia đình. c. Nhân vật: – Người kể xưng “tôi”. – Người mẹ. – Người bố. 2. Gợi ý cách lập dàn ý bài văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em 2.1. Gợi ý cách làm bài văn – Đây là dạng đề văn biểu cảm có kết hợp các yếu tố miêu tả, tự sự nên trong quá trình làm bài, ngoài việc chú ý các nội dung chính của câu chuyện, người viết cần chú ý sử dụng đan xen các yếu tố liên tưởng, tưởng tượng, suy ngẫm một cách hợp lí nhằm tạo dược sự hấp dẫn, sinh động cho bài văn của mình. Với nội dung của bài viết cần xác định rõ bố cục, sắp xếp ý hợp lí. 2.2. Hướng dẫn lập dàn ý bài văn * Mở bài: Giới thiệu về người mẹ kính yêu và tình cảm của em đối với mẹ. * Thân bài: Những tình cảm và kỉ niệm về người mẹ kính yêu. – Hình ảnh người mẹ kính yêu: hình dáng, mái tóc, nụ cười, ánh mắt… với những lo lắng, lam lũ, nhọc nhằn trong cuộc sống của mẹ. – Tình cảm của mẹ: sinh thành, yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ, sự lo lắng khi con bị bệnh,… – Niềm vui, niềm hạnh phúc của mẹ khi các con trưởng thành. – Sự vun vén khéo léo, chăm sóc cho gia dinh khi bố đi làm xa. – Tình cảm của con: yêu thương, kính trọng, hứa hẹn,… (Chú ý dưa các yếu tố tự sự, miêu tả đan xen để khơi gợi cảm xúc hợp lí) * Kết bài: Tình cảm của em dành cho mẹ như thế nào? – Mẹ mãi là chỗ dựa vững chắc của con. – Dẫu con có trưởng thành, đi xa, nhưng con không bao giờ quên tình yêu thương, sự chăm sóc tận tình của mẹ và con vẫn luôn nhớ về mẹ. 3. Mẫu bài văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em BÀI VĂN 1 Ai cũng có một người mẹ để được yêu thương và để ta yêu thương. Trong cuộc đời bạn hay tôi, có mẹ, được mẹ yêu và yêu mẹ là niềm hạnh phúc vô bờ. Bởi thế mỗi khi nhắc đến mẹ, nhớ về mẹ, kể về mẹ là lòng tôi tràn ngập cảm giác bâng khuâng. Mẹ tôi không đẹp xét về ngoại hình. Mẹ tôi cũng không phải là người học rộng, tài cao. Xét tận cùng những thứ ấy ở mẹ tôi đều ồ mức bình thường, nghĩa là mẹ tôi có thể lẫn vào vô số những người phụ nữ mà ta bắt gặp hằng ngày trong cuộc sống. Nhưng với tôi, mẹ vẫn đẹp, vẫn “trên mức bình thường” bởi trái tim và tình yêu mẹ giành cho tôi là bất tận. Đến tận bây giờ sau 13 năm được làm con của mẹ tôi vẫn thấy đó là điều may mắn, hạnh phúc lớn nhất mà cuộc đời tặng cho tôi. Rồi tháng năm trôi, tôi lớn lên, từ cô bé lớp Một hay làm mất bút chì, tôi lên lớp Sáu tôi vào học trường chuyên. Trường học xa nhà, tôi không thể tự đi học. Mẹ lại thêm một nỗi vất vả đưa đón tôi mỗi ngày. Thấy mẹ tất bật, có lúc tôi đã đòi mẹ chuyển về trường nhà. Nhưng hơn hết, mẹ giúp tôi hiểu nỗi vất vả của mẹ sẽ chẳng là gì để con mình được học hành đến nơi đến chốn. Cảm giác nghẹn ngào, tồi lại thấy mình thật may mắn khi được làm con của mẹ. Vậy mà có lúc tôi vẫn lười học, ham chơi, không nhường nhịn em. Tôi không hiểu hết nỗi lòng mẹ, tôi làm mẹ buồn. Mẹ yêu thương tôi hết mực nhưng cũng là người nghiêm khắc trong việc dạy dỗ con cái. Lúc nhỏ, mẹ rèn giũa từ lời ăn, tiếng nói, câu chào, từng việc nhỏ nhặt như bỏ cái muỗng vào bát canh ra sao, đi dép không được kéo lê trong nhà thế nào. Rồi mẹ dạy tôi đi chợ, nấu cơm… Bây giờ mỗi khi đến môn công nghệ, học nấu ăn là tôi có dịp để trổ tài với các bạn trong lớp và thường được cô giáo cho điểm mười. Lúc ấy tôi lại thầm nhủ: “cồng của mẹ đấy”. Cả những việc lớn hơn trong cuộc sống như phải biết tự lập, tự trọng, không ỷ lại,… Mồi ngày qua di, tôi càng thấu hiểu lòng mẹ. Để chị em tôi khoẻ mạnh, hạnh phúc, lớn khôn mẹ phải đổi những đêm trắng. Bước chân nhẹ nhàng và bàn tay mát dịu mỗi khi chị em tôi bị sốt. Tôi đã bất chợt thức giấc và biết mẹ ngồi cả đêm khi em Tí sốt. Mẹ không dám ghé lưng nằm vì sợ mệt quá thiếp đi lỡ em sốt cao, Chợt hiểu một con bé bé nhỏ hay ốm yếu là tôi đã lấy đi của mẹ bao nhiêu đêm không ngon giấc. ***** BÀI VĂN 2 “Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi. Và mẹ em chỉ có một trên đời…”. Những câu hát vừa quen thuộc, vừa thân thương đã đi sâu vào tâm hồn con từ những ngày còn thơ dại. Đối với con, mẹ là chỗ dựa vững chắc để con thắp sáng niềm tin vào cuộc đời, vào một tương lai tốt đẹp. Chính mẹ đã giúp con vượt qua khó khăn trong cuộc sống, đã đưa con vững bước đi lên. Thật sự, mẹ luôn à trong trái tim con. Có thể mẹ không xinh đẹp và tài giỏi như những người phụ nữ khác nhưng trong lòng con, mẹ là người phụ nữ tuyệt vời nhất, là người mẹ đảm đang nhất. Mẹ sớm tối làm việc để kiếm tiền nuôi con. Con đã quen với dáng người cao cao, gầy gầy của mẹ. Mẹ bị bệnh á sừng. Mỗi lần thời tiết hanh khô là những vết nứt trên tay lại toác ra, rớm máu. Con không đếm được đã bao lần mẹ bôi thuốc, nhưng chẳng lành. Tại mẹ làm việc vất vả. Đôi tay ấy ngày ngày giặt giũ, cơm nước cho ba bố con con. Cũng chính nó làm lụng, may vá để kiếm tiền nuôi con ăn học. Đôi bàn tay còn vỗ về con, tết tóc cho con, dắt con đi trên con đường rộng lớn. Những vết toác trên tay mẹ như nhưng dấu vết của nhiều cơ cực mà mẹ đã trải qua. Con biết trong cuộc đời mẹ đã từng có những khổ đau, mất mát rất lớn (bà ngoại mất từ khi mẹ lên chín), nhưng con chưa bao giờ thấy mẹ than vãn cả. Mẹ luôn nở nụ cười hiền hậu, luôn ở bên con lúc con vui nhất, luôn vỗ về nhưng lúc con cảm thấy tuyệt vọng. Mẹ luồn dặn dò con đủ mọi thứ. Mẹ rất quan tâm đến con và chưa lần nào rời mắt khỏi con cả. Nhưng dâu phải lúc nào con cũng nghe lời mẹ, điều đó đã làm cho mẹ phiền lòng… Hôm nay trời bỗng nổi mưa rất to. Lòng con lại xôn xao nhớ về kỉ niệm của năm năm trước. Mẹ ơi, mẹ có nhớ không? Chuyện ấy xảy ra khi con mới lên tám tuổi. Sáng hôm đó, trời nổi cơn giông vào lúc con đi học. Đã gần đến giờ vào lớp mà mưa vẫn chưa ngớt, mẹ lo lắng nhìn con. Mẹ khoác áo mưa cho con, rồi dặn đi dặn lại không được hấp tấp vội vàng. Con nhanh chóng vâng dạ qua loa cho xong chuyện, Cái bóng bé nhỏ của con vội mất hút trong con phố ngập tràn nước mưa. Con chạy vội trên con đường khá trơn và bị ngã, Con thấy đau nhói, ở chỗ khuỷu tay sưng to như quả trứng vịt. Cả người bê bết bùn đất. Thế nhưng mưa vẫn cứ rơi, mọi người vẫn đi lại bình thường mà không đoái hoài đến con, cho dù con cảm thấy mình đau ê ẩm. Cố gượng dậy và đi về nhà, con chỉ sợ mẹ sẽ mắng. Nhưng mẹ không mắng con. Mẹ lo cuống cả lên, đưa con đến bệnh viện. Và con phải bó bột vì gãy tay. Ngày tháo bột, bác sĩ bảo có thể con sẽ bị liệt cả cánh tay. Nước mắt mẹ giàn giụa. Mẹ khóc suốt đêm đó. Ngày hôm sau, con thấy mắt mẹ trũng xuống. Làm mọi thứ mẹ đều không tập trung. Không khí trong gia đình ảm đạm đến đáng sợ. Nhưng mấy hôm sau, con không thấy mẹ như vậy nữa. Mẹ chạy đôn đáo khắp nơi tìm thầy thuốc. Lúc thì mẹ dẫn con đến các ông thầy lang, lúc thì mẹ đưa con lên những phòng khám đông ních người. Và chưa dừng lại ở dó, mẹ kiên trì bắt con nâng nước, gập duỗi tay. Hằng đêm, ước khi đi ngủ, mẹ lại xoa nắn tay con hàng giờ. Tháng ngằy trôi qua, một năm sau, tay con dần hồi phục. Thật như một phép màu. Con cứ nghĩ sẽ chẳng còn hi vọng, nhưng tình yêu của mẹ đã làm được điều đó. Phải chăng Thượng Đế đã rủ lòng thương, ban cho con một ngọn nến trong tối tăm, mù mịt, cho con một nguồn ánh sáng hi vọng tuyệt vời. Đó là mẹ. Và con hiểu, con không được mắc thêm lỗi lầm nào nữa… Bỗng đồng hồ điểm tám tiếng và mưa đã bắt đầu ngớt. Trời hửng nắng. Mấy giò phong lan trước cửa đung đưa. Tâm hồn con trở về thực tại. Một bàn tay vuốt nhẹ lên mái đầu con. Đó là bàn tay của mẹ. Quay đầu lại, con đã thấy dáng mẹ thân thương đứng bên bàn học. Con bỗng nhận ra tóc mẹ có thêm sợi bạc. Thời gian trôi nhanh quá. Con không còn là một con bé ương bướng và nghịch ngợm, chỉ thích cãi lời mẹ nữa. Con đã khôn lớn. Giờ đây con phải cố gắng học thật giỏi, luôn chăm chỉ việc nhà để cho mẹ – người luôn sống mãi trong lòng con – bớt khổ, để tay mẹ bớt đau, để mẹ nở nụ cười hanh phúc như chùm lan đang ngào ngạt toả hương trước hiên nhà. *****
Hướng dẫn làm thể loại văn nêu cảm nghĩ về người mẹ của em
1,845
Hướng dẫn làm văn nghị luận bàn về việc học sinh chưa thích học môn Ngữ Văn – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Việc học sinh chưa thích học môn Ngữ Văn Đề bài: Bàn về việc học sinh chưa thích học môn Ngữ Văn Bài làm Hiện nay, vẫn còn hiện tượng một số học sinh không thích học môn Ngữ văn vì nghĩ rằng nó không cần thiết. Đó hoàn toàn là ý nghĩa sai lầm, vì học Ngữ văn là để làm giàu tri thức và nâng cao trình độ hiểu biết. Cần phải có phương pháp học tốt và đạt kết quả cao thì mới có niềm say mê môn học này. Có thể nói, lịch sử phát triển của văn học cũng lâu đời như lịch sử của nhiều lĩnh vực khác. Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng văn học như một phương tiện để lưu truyền kinh nghiệm và phản ánh đời sống xã hội. Dân tộc nào trên thế giới cũng coi văn học là sản phẩm tinh thần của dân tộc mình, văn học cũng là tiếng nói dân tộc, tiếng mẹ đẻ thân yêu. Nếu chúng ta không học tốt môn Ngữ văn thì điều đó sẽ ảnh hưởng xấu đến con đường tri thức sau này, nói đúng hơn là thiệt thòi cho chính bản thân mình. Ngay từ khi học THCS, nhiều học sinh đã tập trung học theo ban A nên chỉ chú trọng những môn Toán, Vật lí, Hoá học vì vậy chỉ cần học Ngữ văn sao cho đủ điểm trung bình là được rồi. Hoặc nhiều học sinh đến giờ Ngữ văn chưa tập trung nghe bài giảng của thầy cô, không hiểu bài nên kiểm tra không đạt kết quả cao, vì vậy họ không thích môn Ngữ văn và về nhà không làm bài tập. Điều đó cứ dần dần trở thành thói quen, càng về sau này kiến thức văn học sẽ càng bị mất gốc. Muốn học Ngữ văn tốt cần phải có một năng lực suy nghĩ, một trực quan nhạy bén, một tư duy hợp lí, điều hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, học sinh phải chăm chỉ học thì mới hiểu và nắm vững kiến thức một cách có hệ thống. Nếu lơ là, chểnh mảng, thiếu nghiêm túc trong việc học Ngữ văn thì rốt cuộc là tốn thời gian, tiền bạc mà kết quả thu được chẳng đáng là bao. Ngữ văn là môn học cần thiết, nếu không đó cũng là môn học đặc biệt quan trọng để tạo nên nhân cách. Nếu chúng ta không coi trọng môn này thì tâm hồn sẽ khô cứng, vô cảm trước con người và cuộc đời, dẫn đến thái độ dửng dưng trước vẻ đẹp phong phú và sự giàu có của lịch sử dân tộc. Hiện nay, chính vì một số học sinh không nhận thức được tầm quan trọng của việc học Ngữ văn đối với sự thành công hay thất bại của đời người, nên mới dẫn đến những nhận thức lệch lạc và có hành động sai lầm, thiếu suy nghĩ. Đến lúc muốn học lại thì cũng đã quá muộn màng. Điểm mới trong việc học môn Ngữ văn là sự kết hợp chặt chẽ giữa quá trình tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng. Chính vì vậy, điều có ý nghĩa quyết định đối với năng lực học Ngữ văn của mỗi người là phải nắm vững lí thuyết, nắm vững những kiến thức cơ bản. Khi làm một bài văn muốn nó hay thì bài văn đó phải truyền đạt được tâm tư, tình cảm của người viết đến với người đọc. Làm thế nào để được như vậy? Trước hết, chúng ta phải có niềm đam mê học Ngữ văn, không hẳn là phải quá say mê và dành quá nhiều thời gian cho môn học này, mà ít nhất cũng tự bản thân mình phải ý thức được, phải chăm chỉ, chủ động học tập bằng cách chịu khó đọc sách, suy ngẫm, khám phá và phát hiện, biến kiến thức của sách vở, của người khác thành của chính mình, ở trên lớp phải chăm chú nghe thầy cô giảng bài qua việc thực hiện đồng bộ bốn thao tác tai nghe, mắt nhìn, có suy nghĩ và tay ghi bài giảng. Nếu đọc một tác phẩm văn học thì phải hiểu được cái hay, cái đẹp về nghệ thuật và nội dung của tác phẩm đó. Khi ghi chép lời thầy cô giảng thì phải cân nhắc, suy nghĩ, ghi những điều được nhấn mạnh, khắc sâu. Khi soạn bài môn Ngữ văn, thì phải đọc trước bài văn, bài thơ sẽ học. Phải chăm chỉ tự mình làm bài tập, không sao chép của các bạn, không nhờ người khác giải giùm. Chúng ta cần tìm hiểu thêm những kiến thức mới có liên quan đến bài học. Tuyệt đối không nên chép bài giải có sẵn để học đối phó với thầy cô. Học Ngữ văn là để rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho nên phải thường xuyên, liên tục, theo trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Kiến thức vững vàng, chính xác quyết định phần lớn đến khả năng cảm thụ của bài học. Năng lực thưởng thức, phân tích một tác phẩm văn học tuỳ thuộc vào trình độ hiểu biết cùng cách cảm thụ của mỗi cá nhân. Trước một tác phẩm văn học, muốn hiểu được cái hay về nội dung, cái đẹp về nghệ thuật, người đọc phải vận dụng hiểu biết của mình về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, tâm trạng tác giả, đặc trưng của thể loại, ngôn từ và hình tượng văn học trong tác phẩm. Mà muốn hiểu được như vậy thì điều cần nhất là phải chăm học, biết cách tự học để không ngừng bổ sung và nâng cao kiến thức. Có vốn liếng kiến thức chưa phải là đủ. Khi làm bài, người viết còn phải biết huy động kiến thức, vận dụng trí nhớ để chọn ra những kiến thức cần thiết cho một bài làm văn cụ thể. Chúng ta phải biết rèn cho mình kĩ năng học thuộc lòng vì trong quá trình học tập, khối lượng kiến thức cần nhớ rất nhiều, phải nhớ chính xác những bài tập đã học và tự tìm hiểu, bổ sung để không ngừng nâng cao kiến thức. Phải biết tự giác đào tạo bản thân, biến kiến thức của sách vở và của mọi người thành kiến thức củá mình. Học Ngữ văn mà không có tính tự giác, cần mẫn thì kết quả không cao. Quá trình rèn luyện nghị lực sẽ đem lại cho chúng ta khả năng hiểu biết, phân tích, cảm thụ và sáng tạo, làm được bài văn hay thì thái độ và tình cảm của người viết cũng rất quan trọng. Đó là biết ứng xử giao tiếp trong gia đình, trường học và xã hội một cách có văn hoá. Để rèn luyện kĩ năng học Ngữ văn thì cần có một quá trình học tập và phấn đấu lâu dài, quan trọng nhất là sự nỗ lực của bản thân. Nguyễn Diệu Hằng Nga (Trường THCS Hoàng Hoa Thám) Tags:học sinh chưa thích học môn Ngữ Văn · Tập làm văn 9 · Văn nghị luận
Hướng dẫn làm văn nghị luận bàn về việc học sinh chưa thích học môn Ngữ Văn – Tập làm văn 9
1,252
Hướng dẫn làm đề tưởng tượng mình được nói chuyện với các chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong bai “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật) – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Văn 9 Đề bài: Em hãy tưởng tượng mình được nói chuyện vối các chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật). Bài làm 1 Hôm ấy là một buổi sáng chủ nhật, tôi cùng gia đình về quê ngoại thăm ông bà và họ hàng. Tôi rất yêu quê bởi nơi ấy đã nuôi dưỡng tôi trong những ngày thơ bé. Gặp lại người thân, tôi vô cùng mừng rỡ và cảm động. Căn nhà ông bà rộn rã tiếng nói cười thăm hỏi. Mãi đến trưa, khi đã cơm nước xong, tôi một mình đi ra mảnh vườn đằng sau nhà, ngồi lên chiếc võng, tận hưởng không khí mát lành, trong trẻo của vùng quê. Đây là khoảng không gian mà tôi rất thích, nơi mà hồi bé hai bà cháu tôi thường ra đây nằm ngủ và hóng gió. Tôi đung đưa võng và cảm thấy mình giống các chú bộ đội Trường Sơn năm xưa, nằm nghỉ trên võng trong rừng, chờ giao liên đến dẫn đường ra mặt trận. Chợt, tôi nhớ đến Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật mà cô vừa giảng hôm qua. Cao hứng, tôi đọc to: “Không có kính không phái vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.” Đọc hết bài thơ tôi mới nhận ra bác Hùng, anh ruột của bố tôi đang đứng đấy tự lúc nào. Bác khen bài thơ hay, tôi đọc diễn cảm, rồi bác ngồi xuống bên tôi, hỏi: – Thế cháu có biết những người lính ấy bây giờ làm gì không? Tôi im lặng, không biết trả lời thế nào. Bác nói tiếp: – Bác chính là một trong những người lính ấy. Chắc cháu bất ngờ lắm phải không? Tôi mừng quá, liền vòi bác kể lại chuyện xưa. Bác cũng vui lắm, nói: – Bác cứ tưởng thế hệ các cháu bây giờ không còn quan tâm đến những giá trị thiêng liêng ấy nữa. Bác cảm ơn cháu. Cháu có biết không, những người lính lái xe như bác lúc đó chỉ độ mười tám, đôi mươi, còn trẻ và đầy nhiệt huyết. Ngày ấy, thanh niên ai cũng muốn được góp công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Nhiều lá đơn tình nguyện được viết bằng máu. Bác còn nhớ thời đó rất khó khăn, gian khổ. Mình còn rất nghèo trong khi đế quốc Mĩ thì có nhiều vũ khí tối tân hiện đại. Đọc bài thơ chắc cháu cũng phần nào hình dung ra sự khó khăn ấy: xe không kính, không mui xe, không đèn xe, thùng xe bị xước. Dường như tất cả những cái “không” ấy sẽ làm chùn bước bánh xe, nhưng không, thật không dễ gì làm nhụt ý chí, tinh thần quả cảm của những người lính lái xe, ngược lại, những khó khăn đó càng làm cho họ trở nên mạnh mẽ hơn, tin tưởng nhau hơn và vì miền Nam ruột thịt, xe họ vẫn nối nhau tiến về phía trước. – Thế bác không thấy sợ à? – Tôi buột miệng hỏi. Bác cười và nói: – Không, các bác không một chút sợ hãi. Trong lòng các bác lúc đó tràn ngập một niềm tin vào chiến thắng, không có chỗ cho sự sợ hãi. Bác cùng đồng đội ngồi trên xe ra mặt trận, kể cho nhau nghe về quê hương, gia đình rồi cùng hát với nhau… Giờ nghĩ cũng thấy mình hồi đó lạc quan thật, chẳng có gì ngăn được niềm vui ra trận. Dù cho bom đạn quanh xe cũng không sợ, bởi vì trong xe đã có một trái tim, trái tim luôn tin tưởng vào tương lai trước mặt. Hồi ấy, cả nước lên đường. Tất cả mọi cánh quân đều chỉ có một con đường duy nhất: ra mặt trận, vì miền Nam thân yêu. Mọi người không quen biết nhau nhưng yêu thương nhau như ruột thịt. Tình cảm ấy đã xóa đi những khó khăn, gian khổ của cuộc chiến. Không có kính nên bụi bay đầy mắt, không có mui xe nên mưa ướt đẫm áo quần,… Người lính lái xe đã vượt qua tất cả, vượt qua những cái tưởng chừng không thể vượt qua được. Cháu còn nhớ chi tiết bếp Hoàng Cầm trong bài thơ không? Chính nó đã sưởi ấm, làm trỗi dậy bao tình cảm của người lính trong một gia đình. Bác sẽ không bao giờ quên được những tháng ngày đẹp đẽ ấy. Tôi bỗng bất giác nhớ đến hình ảnh bắt tay nhau qua cửa xe không kính, bèn hỏi: – Thế hồi ấy bác cũng bắt tay như lời trong bài thơ đã nói ạ? Bác vỗ vai tôi: – Bác có biết những người lính của “tiểu đội xe khôríg kính ấy” sau này làm gì không ạ? – Có người thì làm quản lí như bác, có người lại về với ruộng đồng, có người lại tiếp tục lái xe,… Họ lại sống cuộc đời bình thường như bao người dân khác. Vừa lúc đó, tiếng bà từ trong nhà gọi vọng ra. Hai bác cháu tôi cùng vào nhà. Tôi thầm cảm ơn câu chuyện mà bác vừa kể, cảm ơn những chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa. Dù không được sống trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước nhưng tôi đã phần nào hiểu được giá trị to lớn của những “anh bộ đội Cụ Hồ”. Chính họ đã cho tôi một niềm tin và ý chí quyết tâm học giỏi để mai sau có thể góp phần vào dựng xây đất nước. Ngày mai trở lại trường, tôi phải kể cho cả lớp nghe về cuộc trò chuyện đầy thú vị này, Chắc tụi nó sẽ ghen tị lắm đấy. Tôi tự nhủ: “Bác hãy yên tâm, hãy tin tưởng vào chúng cháu. Chúng cháu luôn ghi nhớ công lao to lớn của những chiến sĩ, liệt sĩ và sẽ quyết tâm học tập tốt hơn, không bao giờ chùn bước trước khó khăn, gian khổ”. Lã Thu Phương ( Trường THCS Lê Quý Đôn) Bài làm 2 Tuần trước, ở trên lớp, em đã được học Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Bài thơ đã để lại nhiều ấn tượng cho em. Khâm phục những người lính lái xe năm xưa, em muốn được tận mắt nhìn thấy họ và những chiếc xe không kính ấy. Thật tình cờ, ngay ngày chủ nhật, em được bố mẹ đưa đi tham quan Bảo tàng Quân đội. Bước qua cổng là một khoảng sân rất rộng, ở đó em nhìn thấy rất nhiều xe tải, xe tăng của quân đội ta và xác máy bay Mĩ bị ta bắn rơi. Em thích thú đi xem khắp nơi rồi dừng lại trước “Chiếc xe vận chuyển lương thực và vũ khí trong kháng chiến chống Mĩ”. Chẳng lẽ đống sắt vụn han gỉ và cũ kĩ này lại là những chiếc xe tải ư? Bỗng nhiên, một bác đứng tuổi đứng ngay bên cạnh nói với em: “Chiếc xe này đã từng là bạn của bác trong những năm tháng chống đế quốc Mĩ. Những chiếc xe không có kính”. Em mừng quá. Đây đúng là người lính lái xe năm xưa và chiếc xe trong bài thơ em đã học. Em cuống quýt ờhào hỏi bác và nói muốn được nghe bác kể lại chuyện chiến trường năm xưa. Những người đứng quanh em cũng có nguyện vọng đó. Bác đồng ý và từ tốn kể: “Những chiếc xe bị biến dạng trở nên xấu xí thế này cũng là do hậu quả của chiến tranh. Bom đạn địch đã làm cho kính bị vỡ, đèn xe bị mất, mui xe bị phá hỏng”. Em thắc mắc, nếu không có kính thì nào gió, nào mưa, nào bụi bay vào, chắc khó khăn, gian khổ lắm nhưng sao các bác vẫn hoàn thành nhiệm vụ? Bác cười bảo rằng không có kính bác lại nhìn thấy rõ hơn con đường đang tiến về phía trước, nhìn rõ hơn bầy công đang múa, nhìn rõ hơn những ngôi sao đang nhấp nháy,… tất cả cứ như ùa vào buồng lái. Và vì không có kính nên bụi bay vào buồng lái, bám vào tổc trông trắng xoá như những ông già, các bác nhìn nhau, lạ lẫm rồi cười rung buồng lái, Em biết cuộc sống của các bác lúc đó rất nguy hiểm nhưng các bác vẫn lạc quan yêu đời. Xe không có kính, mưa tuôn xối xả ướt đẫm áo quần nhưng các bác vẫn lái xe với ý nghĩ vui vẻ. Mưa ngừng gió tạnh, quần áo sẽ khô, chẳng cần giặt giũ. Xe không có kính, rất tiện cho đồng đội bắt tay khi gặp nhau. Những cái bắt tay truyền cho nhau sức mạnh và niềm tin. Bác quả quyết, sở dĩ các bác vượt qua được mọi khó khăn gian khổ vì các bác tin vào ngày chiến thắng – một niềm tin không gì lay chuyển nổi. Chợt bác chỉ cho mọi người xem, gần đấy là cái bếp Hoàng Cầm. Bác bảo những lúc nghỉ ngơi, nhóm bếp Hoàng Cầm vừa nấu cơm vừa chuyện trò vui lắm. Nấu xong, mọi người quây quần bên nhau, chung bát chung đũa như anh em một nhà, thật đầm ấm, chẳng thấy gian nguy đâu nữa. Bây giờ, các bác chỉ ước ao lại được như ngày ấy. Nghe bác kể, em nghĩ mình phải cố gắng học tập sao cho tốt để xứng đáng với công lao, sự hi sinh mà các bác đã dành cho thế hệ trẻ. Đã đến giờ phải về, em chia tay bác đầy luyến tiếc. Cuộc gặp gỡ đã làm em hiểu rõ hơn về những người lính lái những chiếc xe không kính trên tuyến đường Trường Sơn năm xưa. Cuộc gặp thật bất ngờ và thú vị. Hôm nào được nghỉ học, em sẽ đến chỗ bác, tìm hiểu thêm về cuộc sống, chiến đấu của các chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn năm xưa. Ngô Thị Thu Uyên (Trường THCS Đông Thái) Bài làm 3 Mười một giờ đêm, tôi đang ngồi soạn văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính củạ Phạm Tiến Duật. Đây quả là một bài thơ rất hay và giàu ý nghĩa… Mải ngồi suy nghĩ miên man về người chiến sĩ lái xe, chợt đèn điện tắt. Tôi chơi vơi trong bóng đêm. Rồi bỗng, một lực đẩy vô hình cuốn tôi vào không gian mênh mông, cứ như đây không phải là phòng học của tôi nữa vậy… Một cơn gió lớn thốc vào mặt làm tôi như bừng tỉnh. Không thể tin được! Cơn gió đã đưa tôi đến một nơi xa lạ: xung quanh tôi bây giờ là lá, là cây, là cả một khu rừng rậm rạp trong ánh hoàng hôn ngả bóng. Quá bất ngờ, tôi dường như không biết phải làm gì. Tôi chẳng khác nào một vị viễn khách nơi xa tới và lạc vào rừng mà không có một chiếc la bàn hay bản đồ. Chợt tôi nghe thấy một tiếng động “xoạt” ngày một rõ và gần tôi hơn. Tôi sợ hãi núp vào một gốc cây cổ thụ lớn và tìm một cành cây nhỏ để tự vệ. Chợt đi tới từ trong bụi rậm là một chiếc xe xanh màu quân đội, trên xe chỉ có một người lái xe mà thôi. Nhưng điều đặc biệt làm tôi chú ý đến nhiều nhất vì đây là một chiếc xe không có kính. Trời đã ngả chạng vạng, màu đen huyền của màn đêm đang bao trùm lên cả khu rừng. Có vẻ anh thanh niên đã chú ý thấy tôi lấp ló sau cây, chiếc xe dừng lại cách tôi không xa. Nhìn nó hiện giờ chẳng khác gì một tảng sắt gỉ cả, nó có cả cái vẻ hoang sơ và trần trụi của thiên nhiên. Nhưng vì sao xe lại không có kính nhỉ? Tôi chưa thấy một chiếc xe nào không có kính mà vẫn chạy được cả. Cửa xe bật mở. Trên xe bước xuống một anh bộ đội mới chỉ mười tám, đôi mươi, còn rất trẻ. Trong bộ quân phục màu xanh, anh tuy cao, gầy nhưng lại toát lên một vẻ nhanh nhẹn, tháo vát. Anh mỉm cười hỏi: – Em bị lạc à? Có cần anh giúp gì không? – Giọng nói của anh vang lên vô cùng ấm áp làm tôi cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều. – Em cũng không biết em đang ở đâu nữa. – Thôi không sao — anh mỉm cười an ủi – lên xe anh, khi đi qua làng nào thì em xuống cũng được. Hai anh em cùng lên xe đi tiếp. Hoá ra, anh là người lái xe vận tải để chở hàng hoá, thuốc men vào chiến trường miền Nam. Chiếc xe lăn trên đường, chầm chậm, không phát ra tiếng động to. Tôi hỏi anh điều mình thắc mắc: – Anh ơi, sao kính lại chẳng có thế này? – À! Dĩ nhiên ban đầu, chú xe chiến này có kính đàng hoàng chứ. Thế nhưng đi dưới bom giật, bom rung của kẻ thù, kính bị vỡ mất rồi em ạ! – Anh dịu dàng trả lời. – Ôi!. Xe thì đi để che nắng, che mưa. Thế xe không có kính thì làm thế nào hả anh? Ngoài trời gió bụi thì mù mịt, lại có những hôm mưa xối xả nữa chứ – Tôi lo lắng hỏi. Trước mặt tôi, anh lính vẫn ung dung nhìn thẳng phía trước. Anh không hề lo lắng, ngại ngần vì những chiếc cửa kính. Trái lại, anh còn tự tin trả lời: – Ôi dào! Có gì mà phải lo hả em. Bụi vào cùng lắm thì bám lên tóc. Mấy hôm anh đi với đồng chí của anh, mọi người còn tưởng mình thành người già tóc bạc ấy chứ, rồi cùng phá lên cười, vui lắm em ạ. Gió với mưa cũng thế. Mưa làm ướt áo, thì gió lại hong khô. Mà nhờ những chiếc xe không kính thế này, anh mới có cảm giác hoà mình vào thiên nhiên ấy chứ. Cảm giác cũng hay lắm nhé! Giống như cả vũ trụ, thiên nhiên cùng anh ra trận ấy! Còn lo gì nào! Anh phá lên cười vô tư và sảng khoái. Tiếng cười ấy làm tôi khựng lại. Ôi các anh lính mới lạc quan làm sao! Anh không quản gió mưa, bão bùng, vẫn điều khiển chiếc xe băng băng trên rừng núi tiến vào Nam để chi viện cho bộ đội. Không hề run sợ, anh vẫn mỉm cười đầy tự tin, mặc kệ cho bom đạn của kẻ thù có phá huỷ như thế nào. Chưa hết, các anh còn xem đây là một cơ hội tốt để con người gần gũi với thiên nhiên. Oi những người lính, dù trong hoàn cảnh nào, tâm hồn các anh vẫn đậm chất lãng mạn. Những chiếc xe không kính, những sự thực dù có trần trụi đến mức riào thì với người lính, nó vẫn rất đẹp, rất tiện dụng. Các anh quả là đáng khâm phục! – Lính mà em – anh nháy mắt tinh nghịch rồi nói tiếp – bọn anh sợ là sợ khône bảo vệ được Tổ quốc chứ mấy cái này thì nhằm nhò gì! Còn đồng đội của anh thì phân ra các xe khác nhau rồi. Thỉnh thoảng gặp nhau trên đường, bọn anh dừng lại, bắt tay qua cửa kính vỡ rồi đấy! Em thấy tuyệt không? Không có kính, bọn anh không có rào cản nào cả. Những người chiến sĩ là một gia đình lớn, gần gũi và thương nhau hơn cả anh em. Anh chưa bao giờ hối hận vì mình đã nhập ngũ để đi chiến đấu vì Tổ quốc. Cái bắt tay! Cái bắt tay của các anh lính sao mà ấm áp thế! Đó là cái bắt tay để truyền cho nhau hơi ấm, tinh thần đồng đội và ý chí quyết thắng. Các anh chiến sĩ an ủi nhau và tự an ủi chính mình bằng cái bắt tay ấy- cái bắt tay gắn kết trái tim, tâm hồn và ý chí của họ lại chứ không phải là cách xã giao thông thường. Phải chăng chính tinh thần đoàn kết mạnh mẽ đã chiến thắng bom đạn huỷ diệt của kẻ thù, đã giúp các anh vượt qua mọi khó khăn? – Điều gì giúp anh luôn điều khiển xe để tiến lên phía trước hả anh? Tôi cất tiếng hỏi, đinh ninh là mình đoán đúng, nhưng câu trả lời của anh đã làm tôi bất ngờ: – Đó chính là vì miền Nam thân thương, vì nền độc lập nước nhà em ạ. Anh tiến xe về phía trước để được nhanh chóng hoà mình vào đại gia đình. Đại gia đình ấy không chỉ là những đồng chí, đồng đội của anh mà còn là cả nước Việt Nam mình. Chỉ nghĩ đến điều này là lòng anh lại thôi thúc muốn đi thật nhanh để kịp chi viện cho đồng đội. Anh đang nói bằng cả trái tim mình. Đó là một anh thanh niên còn rất trẻ, trước mặt anh còn biết bao mơ ước lớn lao. Cháy trong tim anh đang là tấm lòng yêu nước nồng nàn và mãnh liệt. Với tấm lòng yêu nước, anh đã vượt qua những khó khăn, mưa gió bão bùng để lạc quan, dũng cảm tiến bước cùng đồng đội tiến vào giải phóng miền Nam. Bỗng trong tôi có một cảm giác tự hào vô cùng về những “anh bộ đội Cụ Hồ”— những người lính bình dị, khiêm tốn nhưng lại thật cao cả, đáng trân trọng. Tôi chợt cảm thấy xấu hổ khi so sánh với bản thân mình: tôi đã nản chí trước một bài toán khó, tôi oà khóc vì một bài văn điểm kém. Chỉ những khó khăn bé nhỏ ấy đã làm tôi nhụt chí rồi. Nhìn gương “anh bộ đội Cụ Hồ”, tôi tự nhủ mình cần phải cố gắng tiếp tục vươn lên để theo đuổi ước mơ của mình… – Trang! Dậy đi học đi con! – Chợt có tiếng mẹ tôi gọi. Thì ra tất cả chỉ là một giấc mơ. Tôi giật mình tỉnh giấc. Mẹ đang đứng trước mặt tôi rõ nét. Tôi ôm chầm với mẹ và nói: – Mẹ ơi! Từ nay con sẽ noi gương anh bộ đội, cố gắng học tập tốt hơn. Con xin hứa… Hôm nay là một ngày mới, ta cần phải sống lạc quan, tin tưởng vàọ tương lai tươi sáng với một ý chí và tinh thần bất diệt. Tôi đến trường với một niềm vui phơi phới. Tôi sẽ luôn nhớ mãi giấc mơ này và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính’. “Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.” Trần Hà Trang (Trường THCS Trưng Vương) Tags:Bài thơ về tiểu đội xe không kính · nói chuyện với các chiến sĩ lái xe · Tập làm văn 9 · Văn tự sự
Hướng dẫn làm đề tưởng tượng mình được nói chuyện với các chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong bai “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” (Phạm Tiến Duật) – Tập làm văn 9
3,297