text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Hướng dẫn soạn văn Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Tỏ lòngvới hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình tìm hiểu và phân tích bài thơ Tỏ lòng. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Chỉ ra điểm khác nhau giữa hai câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch. Có gì đáng lưu ý về không gian, thời gian trong đó con người xuất hiện? Con người mang tư thế, vóc dáng thế nào? Trả lời: Thông qua việc so sánh câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt: hai từ “múa giáo” trong lời dịch chưa thể hiện được hai từ “hoành sóc” của câu thơ chữ Hán. Câu thơ nguyên tác dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) mà trấn giữ đất nước. Con người vì thế xuất hiện với một tư thế hiên ngang mang tầm vóc vũ trụ và làm chủ khong gian bao la. Trong câu thơ đầu, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian mang tầm vóc vĩ mô, kì vĩ lớn lao. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm, còn thời gian trải qua “cáp kỉ thu” qua mấy năm. Hình ảnh con người hiện lên hiên ngang mang tầm vóc của con người vũ trụ, non sông. Câu 2. Anh (chị) cảm nhận như thế nào về sức mạnh quân đội nhà Trần qua câu thơ “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”? Trả lời: Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có thể hiểu theo hai cách: – Cách hiểu thứ nhất là “ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. – Cách hiểu thứ hai là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Thông qua thủ pháp nghệ thuật so sánh cụ thể hóa sức mạnh dũng mãnh của ba quân, chúng ta có thể thấy được sức mạnh khái quát của thời đại “Hào khí Đông A”: mạnh mẽ về cả về trí và lực, không những nó có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật…). Câu 3. Nợ công danh mà tác giả nói tới được hiểu theo cách nào? Trả lời: Nợ công danh mà tác giả nói đến trong bài thơ có thể hiểu theo hai nghĩa: – “Nợ công danh” là chí làm trai theo tinh thần Nho giáo: lập công để trả lại sự nghiệp, lập danh (để lại tiếng thơm). Đây là quan niệm chi phối tư tưởng của nam nhi thời phong kiến. Công danh được xem là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai. – “Nợ công danh” là chưa hoàn thành nghĩa vụ với dân, với nước gắn liền với sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, cứu nước, cứu dân. Qua đây chúng ta thấy được ý thức, trách nhiệm với nhân dân, dân tộc của tác giả Phạm Ngũ Lão. Dù hiểu theo cách nào thì “chí công danh” của Phạm Ngũ Lão cũng là một quan niệm sống cao đẹp, có ý nghĩa tích cực trong mọi thời đại. Câu 4. Phân tích ý nghĩa nỗi “thẹn” trong hai câu thơ cuối Trả lời: Nỗi thẹn trong hai câu cuối mang ý nghĩa: – Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng (Khổng Minh – đời Hán) để giúp dân cứu nước và trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề. – – Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chưa khôi phục được giang sơn, đất nước. Dù hiểu theo cách nào thì nỗi thẹn cũng thể hiện được chí khí và vẻ đẹp nhân cách của Phạm Ngũ Lão, đồng thời thể hiện tấm lòng đối với giang sơn đất nước cùng lòng yêu nước của tác giả. Câu 5. Qua bài thơ Tỏ lòng anh(chị) thấy hình ảnh trang nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì đối với tuổi trẻ hôm nay và ngày mai Trả lời Qua bài thơ Tỏ lòng anh(chị) thấy hình ảnh trang nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp vĩ mô và sánh ngang tầm vóc vũ trũ. Đó là trang nam tử hán “đầu đội trời chân đạp đất” cống hiến hết mình vì dân, vì nước, luôn hướng tới lí tưởng sống cao đẹp và từ bỏ lối sống vị kỉ, xấu xa. Chính những vẻ đẹp đó đã làm nổi bật vẻ đẹp hùng tráng của “hào khí Đông A”. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão – Chương trình Ngữ văn lớp 10
820
Hướng dẫn soạn văn Từ mượn đầy đủ chi tiết nhất Hướng dẫn Tiếng Việt vô cùng giàu có, phong phú, tuy nhiên để làm nên sự giàu có đó bên cạnh vốn từ thuần Việt thì còn có số lượng lớn những từ ngữ được vay mượn từ nước ngoài.Hướng dẫn soạn văn Từ mượndưới đây sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị cho người học về vấn đề này, các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. TỪ THUẦN VIỆT VÀ TỪ MƯỢN Câu 1: Dựa vào chú thích ở bài Thánh Gióng, hãy giải thích các từ trượng, tráng sĩ trong câu sau: Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng […]. Trả lời – Trượng: đơn vị đo độ dài bằng 10 thước Trung Quốc cổ (tức 3, 33 mét); ở đây có nghĩa là rất cao. – Tráng sĩ: người có sức lực cường tráng, chí khí mạnh mẽ, hay làm việc lớn (tráng: khỏe mạnh, to lớn, cường tráng; sĩ: người trí thức thời xưa và những người được tôn trọng nói chung). Câu 2: Theo em các từ được chú thích có nguồn gốc từ đâu? Trả lời Các từ được chú thích có nguồn gốc từ tiếng Hán. Câu 3: Trong số các từ dưới đây, những từ nào được mượn từ tiếng Hán? Những từ nào được mượn từ các ngôn ngữ khác? Sứ giả, ti vi, xà phòng, buồm, mít tinh, ra-đi-ô, gan, điện, ga, bơm, xô viết, giang sơn, in-tơ-nét. – Những từ được mượn từ tiếng Hán: sứ giả, giang sơn, gan, buồm, điện. – Những từ mượn của các ngôn ngữ khác là: ti vi, xà phòng, mít tinh, ra-đi-ô, ga, bơm, xô viết, in-tơ-nét. Câu 4: Nêu nhận xét về cách viết các từ mượn nói trên Trả lời – các từ mượn đã được Việt hóa cao viết như từ thuần Việt. Ví dụ: mít tinh, xô viết, xà phòng. – Đối với những từ mượn chưa được Việt hóa hoàn toàn thì khi viết nên dùng gạch ngang dể nổì các tiếng. Ví dụ: in-tơ nét, ra-đi-ô. II. NGUYÊN TẮC MƯỢN TỪ Câu 1: Em hiểu ý kiến sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh như thế nào? Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổi mới. Có nhưng chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng, thì cần phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: “độc lập”, “tự do”, “giai cấp”, “cộng sản”, v.v… Còn những chữ tiếng ta có, vì sao không dùng, mà cũng mượn chữ nước ngoài? Ví dụ: Không gọi xe lửa mà gọi “hỏa xa”; máy bay thì gọi là “phi cơ” […] Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ý lại hay sao? Trả lời: Bác đã nêu ra ý kiến về việc sử dụng từ mượn: bao gồm những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực: – Mặt tích cực: Mượn từ là một cách bổ sung những vốn từ còn thiếu trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc. – Mặt tiêu cực: Lạm dụng việc mượn từ làm cho ngôn ngữ dân tộc bị pha tạp, thiếu trong sáng. III. LUYỆN TẬP Câu 1: Ghi lại các từ mượn có trong những câu dưới đây. Cho biết các từ ấy được mượn của tiếng (ngôn ngữ) nào? Đúng ngày hẹn, bà mẹ vô cùng ngạc nhiên vì trong nhà tự nhiên có bao nhiêu là sính lễ. Ngày cưới, trong nhà Sọ Dừa cỗ bàn thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Ông vua nhạc pốp Mai-cơn Giắc-xơn đã quyết định nhảy vào lãnh địa in-tơ-nét với vi-ệc mở một trang chủ riêng. Trả lời: Các từ mượn tiếng Hán: vô cùng, ngạc nhiên, tự nhiên, sính lễ. Các từ mượn tiếng Hán: gia nhân Các từ mượn tiếng Anh: pốp, in-tơ-nét. Câu 2: Hãy xác định nghĩa của từng tiếng tạo thành các từ Hán Việt dưới đây: khán giả: người xem; thính giả: người nghe; độc giả: người đọc. yếu điểm: điểm quan trọng; yếu lược: tóm tắt những điều quan trọng; yếu nhân: người quan trọng. Trả lời: Khán giả Khán: xem Giả: người Thính giả Thính: nghe Giả: người Độc giả Độc: đọc Giả: người Yếu điểm Yếu: quan trọng Điểm: điểm Yếu lược Yếu: quan trọng Lược: tóm tắt Yếu nhân Yếu: quan trọng Nhân: người Câu 3: Hãy kể một số từ mượn Là tên các đơn vị đo lường. Là tên một số bộ phận của chiếc xe đạp. Là tên một số đồ vật. Trả lời: Một số từ mượn: Là tên các đơn vị đo lường: mét, lít, ki-lô-mét, ki-lô-gam Là tên một số bộ phận của chiếc xe đạp: ghi đông, pẽ đan, gác-đờ-bu… Là tên một số đồ vật: ra-đi-ô, vi-ô-lông, xoong, xích…
Hướng dẫn soạn văn Từ mượn đầy đủ chi tiết nhất
798
Hướng dẫn soạn văn Từ mượn – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Từ mượn với hệ thống lời giải chi tiết, bám sát chương trình Ngữ văn lớp 6 sẽ là nguồn tham khảo chất lượng cho người học trong quá trình tìm hiểu bài học Từ mượn. I. Từ thuần Việt và từ mượn 1. Dựa vào chú thích ở bài Thánh Gióng, hãy giải thích các từ trượng, tráng sĩ trong câu sau: Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng […]. Trả lời: – Trượng: đơn vị đo độ dài bằng 10 thước Trung Quốc cổ (tức 3, 33 mét); ở đây hiểu là rất cao. – Tráng sĩ: người có sức lực cường tráng, chí khí mạnh mẽ, hay làm việc lớn (tráng: khỏe mạnh, to lớn, cường tráng; sĩ: người trí thức thời xưa và những người được tôn trọng nói chung). 2. Theo em các từ được chú thích có nguồn gốc từ đâu? Trả lời: Các từ được chú thích có nguồn gốc từ tiếng Hán (tiếng Trung Quốc) 3. Trong số các từ dưới đây, những từ nào được mượn từ tiếng Hán? Những từ nào được mượn từ các ngôn ngữ khác? Sứ giả, ti vi, xà phòng, buồm, mít tinh, ra-đi-ô, gan, điện, ga, bơm, xô viết, giang sơn, in-tơ-nét. Trả lời: – Những từ mượn từ tiếng Hán: sứ giả, giang sơn, gan, buồm, điện. – Những từ mượn của các ngôn ngữ khác: ti vi, xà phòng, mít tinh, ra-đi-ô, ga, bơm, xô viết, in-tơ-nét. 4. Nêu nhận xét về cách viết các từ mượn nói trên. Trả lời: – Các từ mượn đã được Việt hóa thì viết như từ thuần Việt. – Đối với những từ mượn chưa được Việt hóa hoàn toàn, nhất là những từ gồm hai hai tiếng trở lên, ta nên dùng gạch nối để nối tiếng với nhau. II. Nguyên tắc mượn từ Em hiểu ý kiến sau của Chủ tịch Hồ Chí Minh như thế nào? Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổi mới. Có nhưng chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng, thì cần phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: “độc lập”, “tự do”, “giai cấp”, “cộng sản”, v.v… Còn những chữ tiếng ta có, vì sao không dùng, mà cũng mượn chữ nước ngoài? Ví dụ: Không gọi xe lửa mà gọi “hỏa xa”; máy bay thì gọi là “phi cơ” […] (Hồ Chí Minh toàn tập) Trả lời Bác Hồ muốn nói về mặt tích cực và mặt tiêu cực của việc mượn từ. – Mặt tích cực: Mượn từ là một cách làm giàu ngôn ngữ dân tộc. – Mặt tiêu cực: Lạm dụng việc mượn từ làm cho ngôn ngữ dân tộc bị pha tạp, thiếu trong sáng. III. LUYỆN TẬP 1. Ghi lại các từ mượn có trong những câu dưới đây. Cho biết các từ ấy được mượn của tiếng (ngôn ngữ) nào? a) Đúng ngày hẹn, bà mẹ vô cùng ngạc nhiên vì trong nhà tự nhiên có bao nhiêu là sính lễ. (Sọ Dừa) b)Ngày cưới, trong nhà Sọ Dừa cỗ bàn thật linh đình. (Sọ Dừa) c) Ông vua nhạc pốp Mai-cơn Giắc-xơn đã quyết định nhảy vào lãnh địa in-tơ-nét với việc mở một trang chủ riêng. Các từ mượn có trong các ví dụ: a. vô cùng, ngạc nhiên, tự nhiên, sính lễ: đây là những từ mượn tiếng Hán. b. gia nhân: đây là từ mượn tiếng Hán. c. pốp, in- tơ- nét: đây là các từ mượn tiếng Anh. 2. Hãy xác định nghĩa của từng tiếng tạo thành các từ Hán Việt dưới đây: a. khán giả: người xem, thính giả: người nghe; độc giả: người đọc. b. yếu điểm: điểm quan trọng; yếu lược: tóm tắt những điều quan trọng; yếu nhân: người quan trọng. Trả lời a. khán: xem, giả: người thính: nghe, giả: người độc: đọc, giả: người. a. yếu: quan trọng, điểm: điểm yếu: quan trọng, lược: tóm tắt yếu: quan trọng, nhân: người 3. Hãy kể tên một số từ mượn: a. Là đơn vị đo lường b. Là tên một số bộ phận của chiếc xe đạp c. Là tên một số đồ vật. Trả lời: a. Là đơn vị đo lường: mét, lít, ki-lô-mét, ki-lô-gam, gram b. Là tên một số bộ phận của chiếc xe đạp: ghi- đông, gác- đờ- bu, gác ba ga,… c. Là tên một số đồ vật: băng rôn, áp phích, xoong,… 4. Những từ nào trong các cặp từ dưới đây là từ mượn? Có thể dùng chúng trong những hoàn cảnh nào, với những đối tượng giao tiếp nào? a. Bạn bè tới tấp phôn/ gọi điệnđến. b. Ngọc Linh là một fan / người say mê bóng đá cuồng nhiệt. c. Anh đã hạ nốc ao / đo ván võ sĩ nước chủ nhà. Trả lời Các từ mượn là: a. phôn b. fan c. nốc ao cách sử dụng: – Sử dụng trong ngữ cành giao tiếp lời ăn tiếng nói hằng ngày, mag tính thân mật suồng sã.
Hướng dẫn soạn văn Từ mượn – Chương trình Ngữ văn lớp 6
804
Hướng dẫn soạn văn Văn bản – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Trong hoạt động dạy và học, chúng ta từng nhiều lần nghe đến khái niệm “văn bản”, vậy văn bản gì gì, đặc điểm nhận biết văn bản ra sao? Các bạn hãy cùng tham khảo hướng dẫn soạn văn Văn bản dưới đây để tìm thấy lời giải đáp thuyết phục nhất cho mình nhé! I. Khái niệm, đặc điểm 1. Đọc các văn bản (1), (2), (3) (SGK trang 23, 24) và trả lời các câu hỏi bên dưới: Câu 1. Mỗi văn bản trên được người nói, người viết tạo ra trong loại hoạt động nào? Để đáp ứng nhu cầu gì? Dung lượng (số câu) ở mỗi văn bản như thế nào? Trả lời – Các văn bản trên được người viết tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. – Các văn bản trên để đáp ứng nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm… với người đọc. – Dung lượng số câu ở mỗi văn bản: + Văn bản 1: dung lượng ngắn gọn, súc tích. + Văn bản 2: dung lượng ngắn gọn + Văn bản 3: dung lượng dài hơn văn bản 1 và văn bản 2. 2. Mỗi văn bản trên đề cập vấn đề gì? Vấn đề đó được triển khai nhất quán trong toàn bộ văn bản như thế nào? Trả lời + Văn bản 1: Nội dung đề cập tới vấn đề ảnh hưởng của môi trường đến nhân cách và phẩm giá con người. + Văn bản 2: đề cập đến số phận, thân phận của người phụ nữ. + Văn bản 3: nội dung thể hiện lời kêu gọi nhân dân chống Pháp. 3. Ở những văn bản có nhiều câu, nội dung của văn bản được triển khai mạch lạc qua từng câu, từng đoạn như thế nào? Đặc biệt ở văn bản 3, văn bản còn được tổ chứng theo kết cấu ba phần thế nào? Trả lời: – Mở bài: bao gồm tiêu đề và đoạn mở đầu – Thân bài: tiếp theo đến “đồng bào ta nhất định thắng lợi” – Kết bài: Phần còn lại. 4. Về hình thức, văn bản có dấu hiệu mở đầu và kết thúc như thế nào? Trả lời: Về hình thức, văn bản có dấu hiệu mở đầu và kết thúc – Văn bản (3) + Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi (Hỡi đồng bào toàn quốc!) với mục đích dẫn dắt người đọc vào phần nội dung. + Phần kết thúc là hai câu khẩu hiệu để cổ vũ và khích lệ tinh thần yêu nước mạnh mẽ hơn. Điều này là do văn bản trên là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng một lời kêu gọi. 5. Mỗi văn bản trên được tao ra nhằm mục đích gì? Trả lời Mục đích của việc tạo lập: – Văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một quan điểm về sự tác động và ảnh hưởng của môi trường sống đối với tính cách của con người. – Văn bản (2) nói lên thân phận phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công. Họ không có quyền cất lên tiếng nói riêng, không có quyền quyết định số phận của bản thân mà hoàn toàn phải phụ thuộc vào kẻ khác. – Văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên đồng sức, đồng lòng để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. II. Các loại văn bản 1. Vấn đề và lĩnh vực của văn bản Trả lời: Văn bản Vấn đề Lĩnh vực Từ ngữ Cách thức thể hiện 1 Ảnh hưởng của môi trường sống đến phẩm chất, nhân cách của con người Cuộc sống thường nhật Thường ngày Mang tính khẩu ngữ và giao tiếp thông thường 2 Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Nghệ thuật Nhiều hình ảnh có sức gợi hình, gợi cảm Giàu giá trị biểu cảm 3 Kêu gọi toàn dân chống Pháp Chính trị Lớp từ vựng vừa thân thuộc, vừa thuộc lĩnh vực chính trị Sử dụng phương thức thuyết minh 2. So sánh văn bản (2), (3) với một bài học thuộc môn khoa học khác (văn bản 4) và một đơn xin nghỉ hoc (5). Rút ra nhận xét Văn bản Về phạm vi sử dụng Về mục đích giao tiếp Về trường từ vựng Về kết cấu 1 Lĩnh vực văn học nghệ thuật Thể hiện tư tưởng, tình cảm Văn học nghệ thuật Theo mô- típ 2 Chính trị Lời kêu gọi kháng chiến Chính trị Bố cục: ba phần 3 Khoa học Trình bày tri thức và kĩ năng Khoa học Có các phần rõ ràng 5 Hành chính Đề xuất nguyện vọng Hành chính Theo hình thức có sẵn Theo
Hướng dẫn soạn văn Văn bản – Chương trình Ngữ văn lớp 10
761
Hướng dẫn soạn văn Ông lão đánh cá và con cá vàng – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Ông lão đánh cá và con cá vàng là hệ thống lời giải chi tiết cho những câu hỏi từ cơ bản đến nâng cao được biên soạn trong sách giáo khoa. Để có quá trình tìm hiểu tác phẩm được hiệu quả nhất, các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Trong truyện, mấy lần ông lão ra biển gọi cá vàng? Việc kể lại những lần ông lão ra biển gọi cá vàng là biện pháp lặp lại có chủ ý của truyện cổ tích. Hãy nêu tác dụng của biện pháp này Trong truyện, có tới 5 lần ông lão ra biển gọi cá vàng: + Lần 1: “Thế là ông lão đi ra biển” + Lần 2: “Thế là ông lão lại đi ra biển” + Lần 3: “Ông lão lại lóc cóc ra biển” + Lần 4: “Ông lão đành lủi thủi ra biển” + Lần 5: “Ông lại đi ra biển” Việc kể lại những lần ông lão ra biển gọi cá vàng là biện pháp lặp lại có chủ ý nhằm: gợi ra thêm các tình huống cuốn hút người nghe, người đọc. Ở mỗi lần ra biển lại xuất hiện thêm những chi tiết mới thể hiện lòng tham của mụ vợ ngày càng tăng lên, cảnh biển cũng thay đổi dữ dằn hơn và tâm trạng của ông lão cũng thay đổi. Câu 2: Mỗi lần ông lão ra biển gọi cá vàng, cảnh biển thay đổi như thế nào? Vì sao? Mỗi lần ông lão ra biển gọi cá vàng, cảnh biển thay đổi: + Lần 1: Biển vẫn êm ả và gợi sóng lăn tăn, rất yên ả + Lần 2: Biển xanh đã nổi những cơn sóng nhỏ + Lần 3: Biển xanh đã nỗi sóng dữ dội, mạnh mẽ + Lần 4: Biển nỗi sóng mì mịt, những con sóng liên tiếp kéo tới + Lần 5: Một cơn giông tố kinh khủng kéo đến, mặt biển nổi sóng ầm ầm. Mặt biển có sự thay đổi trong mỗi lần ông lão ra biển gọi cá vàng là bởi mỗi lần những đòi hỏi của mụ vợ càng vô lý, tham lam và quá quắt. Đó là phản ứng của biển cả đối với những điều phi lí, hay chính là thái độ của nhân dân trước lòng tham của con người bội bạc. Câu 3: Em có nhận xét gì về lòng tham và sự bội bạc của nhân vật mụ vợ? Sự bội bạc của mụ đối với chồng đã tăng lên như thế nào? Khi nào sự bội bạc của mụ đi tới tột cùng? (Chú ý thái độ của mụ đối với cá vàng thể hiện ở ý muốn cuối cùng) Lòng tham và sự bội bạc của nhân vật mụ vợ càng ngày càng không có giới hạn, là người không có ơn nghĩa gì đối với cá vàng nhưng hết lần này tới lần khác đòi hỏi những điều vô lý, bản chất tham lam, bội bạc. Không ý thức được giá trị của bản thân, chỉ biết đòi hỏi. Sự bội bạc của mụ đối với chồng đã tăng lên: + Đầu tiên mụ chửi chồng là “đồ ngốc”, “đồ ngu”, “ngốc sao ngốc thế”. + Rồi đỉnh điểm là khi mụ ta tát vào mặt chồng “Mày cãi à? Mày dám cãi một bà nhất phẩm phu nhân à?” + Sự bội bạc đã đi tới tận cùng khi bà coi chồng mình – cũng là một người ân nhân chính là chướng ngại vật, mụ thẳng tay gạt ra để cá vàng trực tiếp hầu hạ mụ. Mụ ta đã không còn giữ được những tình nghĩa, từ không tôn trọng chồng cho tới khinh thường, nhục mạ, rồi ruồng bỏ một cách bội bạc. Câu 4: Câu chuyện đã được kết thúc như thế nào? Ý nghĩa của cách kết thúc đó Câu chuyện đã được kết thúc bằng hình ảnh “Trước mắt ông lão lại thấy túp lều nát ngày xưa, và trên bậc cửa, mụ vợ đang ngồi trước cái máng lợn sứt mẻ”. Ý nghĩa của cách kết thúc: Hình ảnh đó đã đưa ông lão trở về với cuộc sống bình yên như trước, tuy thiếu thốn nghèo đói nhưng có được cái giản dị và hạnh phúc. Đối với mụ vợ thì kết thúc ấy như một sự trừng phạt, quả báo và bài học thích đáng cho lòng tham và sự bội bạc. Câu 5: Thảo luận ở lớp: Cá vàng trừng trị mụ vợ vì tội tham lam hay bội bạc? Hãy nêu ý nghĩa tượng trưng của hình tượng con cá vàng Cá vàng trừng trị mụ vợ vì cả hai tội tham lam và bội bạc: Bởi chính lòng tham của mụ đã khiến cho bà mù quáng, mất hết lương tri con người. Sự bội bạc lại có ý nghĩa quyết định đến lòng tham ấy, là điều kiện khiến cho lòng tham trở nên vô hạn. Chính vì vậy cá vàng đã trừng phạt cả lòng tham và sự bội bạc của mụ. Ý nghĩa tượng trưng của hình tượng con cá vàng: Cá vàng vừa thể hiện cho sự biết ơn đối với tấm lòng nhân hậu, vừa thể hiện ước mơ công lý của nhân dân đối với những kẻ vong ân bội nghĩa, tham lam và bội bạc. II. Luyện tập Có người cho rằng truyện này nên đặt tên là “Mụ vợ ông lão đánh cá và con cá vàng”. Ý kiến của em thế nào? Theo em không nên đặt nhan đề như vậy vì trên hình thức nhan đề quá dài, song về mặt nội dung cuộc đối thoại trực tiếp trong truyện là ông lão – con cá, hơn nữa truyện không tô đậm hình tượng của mụ vợ mà tô đậm lòng tốt và tính thiện của con người nên nhan đề chỉ nên nhắc tới ông lão và con cá vàng.
Hướng dẫn soạn văn Ông lão đánh cá và con cá vàng – Chương trình Ngữ văn lớp 6
1,000
Hướng dẫn soạn văn Đeo nhạc cho mèo – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Đeo nhạc cho mèo là câu chuyện ngụ ngôn đặc sắc, chứa đựng nhiều bài học sâu sắc. Vậy những nội dung mà Đeo nhạc cho mèo muốn truyền tải đến độc giả là gì? Các bạn hãy cùng tham khảo Hướng dẫn soạn văn Đeo nhạc cho mèo mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Hãy tóm tắt truyện, dựa vào mấy ý sau: – Lí do cuộc họp làng chuột – Cảnh họp làng chuột lúc đầu và sáng kiến “đeo nhạc cho mèo” – Cảnh họp làng chuột lúc cử người “đeo nhạc cho mèo” – Kết quả của việc cử người và thực hiện sáng kiến. Trả lời Tóm tắt truyện Từ xưa đến nay, chuột hay bị mèo ăn thịt nên chuột rất sợ mèo. Một hôm, cả làng chuột bàn bạc và đưa ra sáng kiến “đeo nhạc cho mèo” để khi mèo đến gần thì chuột sẽ nhận ra. Nhưng đến lúc cử người thực hiện sáng kiến thì lũ chuột không ai dám đeo nhạc cho mèo và đùn đẩy nhau: Chuột Cống đùn đẩy Chuột Nhắt, Chuột Nhắt đùn đẩy chuột Chù. Chuột Chù cũng lấy lí do chậm chạp để thoái thác nhưng không được chấp nhận. Cuối cùng, chuột Chù phải nhận nhiệm vụ nhưng kết quả là bị mèo dọa cho một trận sợ khiếp vía. Cả làng chuột bỏ chạy tán loạn và từ đó, chuột vẫn sợ mèo. Câu 2. Cảnh họp làng chuột lúc đầu và lúc cử người “đeo nhạc cho mèo” rất đối lập nhau. Hãy chỉ ra và nêu ý nghĩa của những chi tiết đối lập ấy Trả lời: Cảnh họp làng chuột lúc đầu Lúc cử người “đeo nhạc cho mèo” – Khí thế hăng hái: tề tựu đông đủ, lấy làm phục câu chí lí của ông Cống và đồng thanh ưng thuận. – Tâm trạng phấn khởi: “Con nào con nấy lao xao hớn hở” – Khí thể đi xuống, khiến cho không khí căng thẳng khi giao nhiệm vụ cho người đeo nhạc cho mèo: ““cả hội đồng im phăng phắc, không một cái tai nào nhích, một cái răng nào nhe” Qua sự đối lập này, chúng ta có thể thấy được sự phi lí trong ý tưởng của lũ chuột cũng như sự hèn nhát của chúng. Đồng thời sự đối lập còn tạo nên yếu tố hài hước cho câu chuyện. Câu 3. Em có nhận xét gì về việc tả các loài chuột trong truyện? Phải chăng mỗi loại chuột ám chỉ một loại người nào đó trong xã hội cũ? Trả lời Tác giả đã miêu tả các loài chuột rất sinh động, và mỗi loài chuột ám chỉ một loại người trong xã hội cũ: – Chuột Cống: người nắm quyền cao nhất và là người đưa ra ý tưởng đeo nhạc cho mèo., là hình ảnh ẩn dụ cho những kẻ giả tạo, tính toán và hèn nhát. – Chuột Chù: địa vị thấp nhất, đại diện cho những con rối không có tài năng và vô dụng, chậm chạp. – Chuột Nhắt: lém lỉnh, đại diện cho những kẻ nhanh mồm nhanh miệng. Câu 4. Trong cuộc họp của làng chuột, ai có quyền xướng việc và sai khiến? Ai phải nghe theo và nhận những việc khó khăn, nguy hiểm? Trả lời – Trong cuộc họp làng, chuột Cống là người có quyền xướng việc và sai khiến. – Chuột Chù là người phải nghe theo và nhận những việc khó khăn là vì vừa hôi vừa chậm chạp. Câu 5. Mục đích chính của truyện ngụ ngôn là khuyên nhủ, răn dạy con người ta bài học nào đó trong cuộc sống. Đeo nhạc cho mèo dạy cho ta bài học gì? Trả lời – Truyện khuyên nhủ ta phải cân nhắc kĩ lưỡng trước khi đưa ra ý tưởng. – Truyện phê phán những kẻ ham sống sợ chết, hăng hái lúc đề xuất ý tưởng nhưng tới lúc hành động lại hèn nhát, đùn đẩy. II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Đeo nhạc cho mèo – Chương trình Ngữ văn lớp 6
674
Hướng dẫn soạn văn Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du đầy đủ, chi tiết nhất Hướng dẫn Độc tiểu Thanh kí được Nguyễn Du sáng tác dựa trên cuộc đời và số phận của nàng tiểu Thanh. Để hiểu một cách chi tiết nhất về giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ này, các bạn hãy cùng tham khảo hướng dẫn soạn văn Độc Tiểu Thanh kímà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Hướng dẫn đọc bài Câu 1: Theo anh (chị), vì sao Nguyễn Du lại đồng cảm với số phận của nàng Tiểu Thanh? Nguyễn Du đồng cảm với số phận của nàng Tiểu Thanh bởi nàng là một người có sắc lại có tài nhưng cuộc đời có quá nhiều bi kịch, số phận hẩm hiu đau khổ của nàng đã làm cho nhà thơ suy nghĩ về định mệnh nghiệt ngã của những người có tài văn chương nghệ thuật. Câu 2: Câu “Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi” có nghĩa gì? Nỗi hờn (hận) ở đây là gì? Tại sao tác giả cho là không thể hỏi trời được? -“Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi” có nghĩa là: Nỗi hờn từ người xưa cho tới người nay đến ông trời cũng không hỏi được. -Nỗi hờn (hận) ở đây là: có một thông lệ vô cùng nghiệt ngã ông trời luôn bất công của với những con người tài sắc. -Tác giả cho là không thể hỏi trời được vì: Nỗi hận ấy từ hàng trăm năm nay chẳng có gì thay đổi, nó như một câu hỏi lớn không lời đáp cứ treo lơ lửng giữa không trung, đến “ông trời” cũng “không hỏi được”. Câu 3: Nguyễn Du thương xót và đồng cảm với người phụ nữ có tài văn chương mà bất hạnh. Điều đó nói gì về tấm lòng của nhà thơ? -Niềm thương cảm đó ngoài ý nghĩa thương cảm cho số phận một người bất hạnh còn là niềm thương cảm dành cho một người nghệ sĩ. Ông đâu đớn bởi “Văn chương không có số mệnh mà bị đốt bỏ”. ông có một tấm long biết trân trọng những giá trị tinh thần của người nghệ sĩ, đó là một giá trị nhân bản tiến bộ của Nguyễn Du. Câu 4: Phân tích vai trò của mỗi đoạn thơ (đề, thực, luận, kết) đối với chủ đề toàn bài? -Hai câu đề: từ khung cảnh hoang phế ở Tây Hồ, người đọc liên tưởng đến sự thay đổi của cuộc đời, chính ở hai câu này đã nên ra hoàn cảnh làm nảy sinh cảm xúc của nhà thơ. -Hai câu thực: suy nghĩ của tác giả về số phận bất hạnh của Tiểu Thanh thông qua hình ảnh son phấn và văn chương. -Hai câu luận: liên hệ số phận của nàng Tiểu Thanh với những bậc văn nhân tài tử, trong đó có nhắc đến cả nhà thơ. -Hai câu kết: nhà thơ mong mỏi tìm được một tiếng lòng đồng cảm của người đời sau. II. Luyện tập Đọc đoạn thơ sau đây trong Truyện Kiều (từ câu 107 đến câu 110) và chỉ ra điểm tương đồng với bài Độc Tiểu Thanh kí: Rằng: Hồng nhan từ thuở xưa Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu Nỗi niềm tưởng đến mà đau Thấy người nằm đó biết sau thế nào? Gợi ý: Tìm hiểu xem đoạn thơ này nói về nhân vật nào, lời nói trên là của ai. Từ đó, tìm ra đề tài mà Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông. -Đoạn thơ là lời của Thúy Kiều nói về nhân vật Đạm Tiên -Điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ: đều nhắc tới quy luật nghiệt ngã của ông trời “hồng nhan bạc mệnh”, những người xinh đẹp cũng bạc mệnh mà vừa có sắc có tài lại càng bạc mệnh hơn. -Đề tài mà Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông đó là hình ảnh của những con người tài hoa mà bạc mệnh. Theo
Hướng dẫn soạn văn Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du đầy đủ, chi tiết nhất
662
Hướng dẫn soạn văn Động từ – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Động từ đóng vai trò quan trọng cấu tạo câu. Vậy động từ là gì, động từ có những đặc điểm như thế nào? Các bạn hãy cùng tham khảo bài hướng dẫn soạn văn Động từmà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Đặc điểm của động từ 1. Tìm động từ trong những câu dưới đây: a. Động từ: đi, ra, đến, hỏi b. Động từ: lấy, làm, lễ c. Động từ: treo, có, xem, cười, bán, đề 2. Ý nghĩa khái quát của các động từ vừa tìm được là gì? Các động từ trên có ý nghĩa diễn đạt các hoạt động và trạng thái của sự vật, hiện tượng 3. Động từ có đặc điểm gì khác danh từ: -Về những từ đứng xung quanh nó trong cụm từ?: danh từ không thể kết hợp với các từ như “đã, sẽ, đang, đừng,”, còn động từ có thể kết hợp với các từ “đang, đã, sẽ, đừng” để tạo thành cụm động từ. -Về khả năng làm vị ngữ?: Động từ thương làm vị ngữ trong câu, nhưng danh từ thì thường làm chủ ngữ, khi là vị ngữ phải có từ “là” đứng trước danh từ. II. Các loại động từ chính 1. Xếp các động từ sau vào bảng phân loại ở bên dưới: buồn, chạy, cười, dám, đau, đi, định, đọc, đứng, gãy, ghét, hỏi, ngồi, nhức, nứt, toan, vui, yêu Thường đòi hỏi động từ khác đi kèm phía sau Không đòi hỏi động từ khác đi kèm phía sau Trả lời câu hỏi “Làm gì?” Chạy, cười, đi, đọc, đứng, hỏi, ngồi Trả lời các câu hỏi “Làm sao?”, “Thế nào?” Dám, định, toan Buồn, đau, gãy, ghét, nhức, nứt, yêu 2. Tìm thêm những từ có đặc điểm tương tự động từ thuộc mỗi nhóm trên Thường đòi hỏi động từ khác đi kèm phía sau Không đòi hỏi động từ khác đi kèm phía sau Trả lời câu hỏi “Làm gì?” nghe, hát, cúi, tập, đợi, gửi, đánh Trả lời các câu hỏi “Làm sao?”, “Thế nào?” Chờ, nên, phải, cần Vỡ, mất, thương, nhớ, mỏi, mệt, III. Luyện tập 1. Tìm động từ trong truyện “Lợn cưới, áo mới”. Cho biết các động từ ấy thuộc những loại nào Những động từ trong truyện “Lợn cưới, áo mới” được phân chia thành ba loại động từ: + Động từ chỉ hoạt động: may, mặc, đem, đi, hỏi, chạy, giơ, bảo + Động từ chỉ trạng thái: thấy, tức tối, tất tưởi + Động từ chỉ tình thái: đem, hay 2. Đọc truyện vui sau và cho biết câu chuyện buồn cười ở chỗ nào Câu chuyện buồn cười ở chỗ anh nhà giàu ngay cả khi sắp chết đuối cũng không chịu đưa tay mình cho người khác cứu. Với bản tính tham lam, keo kiệt, anh ta không muốn đưa cho ai bất cứ thứ gì, khi nghe từ “đưa” có nghĩa phải trao cái gì đó cho người khác nên anh ta đã không làm. Hai từ “đưa” và “cầm” đều chỉ hành động nhưng lại đối lập về nghĩa, “cầm” có nghĩa là nhận và giữ gì đó.
Hướng dẫn soạn văn Động từ – Chương trình Ngữ văn lớp 6
513
Hướng dẫn soạn văn Ếch ngồi đáy giếng – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Soạn văn Ếch ngồi đáy giếngsẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết nhằm hỗ trợ tốt nhất cho quá trình tìm hiểu và phân tích truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Vì sao ếch tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng cái vung và nó thì oai phong như một vị chúa tể? Trả lời: Ếch tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng cái vung và nó thì oai phong như một vị chúa tể vì: – Môi trường sống của ếch chỉ thu hẹp trong cái giếng nhỏ. – Trong cái giếng mà ếch sống chỉ có những loài vật nhỏ bé, và ếch ngang nhiên trở thành loại vật lớn nhất. – Hằng ngày tiếng kêu “Ồm ộp” của ếch làm cho các loài vật trong giếng cảm thấy vô cùng sợ hãi. Như vậy, chính môi trường sống hạn hẹp, nhỏ bé đã hình thành thói tự phụ, kiêu căng, coi trời bằng vung của chú ếch. Câu 2. Do đâu ếch bị con trâu đi qua giẫm bẹp? Trả lời Ếch bị con trâu đi ngang qua dẫm bẹp vì: – Dù thay đổi môi trường sống nhưng ếch vẫn giữ thói tự phụ, không chịu quan sát sự thay đổi xung quanh, và luôn cho rằng “bầu trời trên đầu chỉ bé bằng chiếc vung và nó thì oai phong như một vị chúa tể”. – Thái độ kiêu căng đã khiến nó chủ quan dù đặt chân đến một thế giới mới. – Ếch vẫn giữ nguyên thói quen cũ và đưa cặp mắt ngông nghênh, không coi ai ra gì lên nhìn đời, do đó nó không thèm để ý gì đến xung quanh. Câu 3. Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng nhằm nêu lên bài học gì? Ý nghĩa của bài học? Trả lời: Bài học của Ếch ngồi đáy giếng: – Dù môi trường sống hạn hẹp vẫn phải không ngừng quan sát để học hỏi và mở mang tầm hiểu biết. – Khi thay đổi môi trường sống, phải tích cực tăng cường quan sát để hiểu và thích ứng với môi trường mới. – Không được chủ quan, kiêu ngạo và coi thường mọi người xung quanh. Sự tự phụ không chỉ giới hạn tầm nhìn của mình mà còn gây ra những hiệu quả nghiêm trọng. Ý nghĩa của bài học: bài học trên có ý nghĩa nhắc nhở và giáo dục mọi người không được kiêu căng, tự phụ mà phải luôn luôn nỗ lực, không ngừng học hỏi. II. LUYỆN TẬP 1. Hãy tìm và gạch chân hai câu trong văn bản mà em cho là quan trọng nhất trong việc thể hiện nội dung, ý nghĩa của truyện? Trả lời: Hai câu văn quan trọng nhất: – “Ếch cứ tưởng bầu trời trên đầu chỉ bé bằng cái vung và nó thì oai phong như một vị chúa tể”. – “Nó nhâng nháo đưa cặp mắt nhìn lên bầu trời, chả thèm để ý gì đến xung quanh nên đã bị một con trâu đi ngang qua dẫm bẹp” 2. Thử nêu một số hiện tượng trong cuộc sống ứng với thành ngữ Ếch ngồi đáy giếng. Trả lời: – Một bạn học giỏi nhất lớp và luôn kiêu căng cho rằng mình có tài năng kiệt xuất nên coi thường các bạn có điểm kém trong lớp. Vì thế bạn đã tự phụ, chủ quan không chú tâm học hành nên kết quả học tập đã giảm sút và thua kém những bạn khác.
Hướng dẫn soạn văn Ếch ngồi đáy giếng – Chương trình Ngữ văn lớp 6
598
Hướng dẫn thuyết minh bài giới thiệu về hoa sen – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Thuyết minh về hoa sen. Văn 9 Đề bài: Giới thiệu về hoa sen. Bài làm Trên đất nước ta có biết bao loài hoa. Mỗi người có thể chọn cho mình một loài hoa yêu thích nhưng hoa sen – thứ hoa cao quý thì hẳn ai cũng biết. Sen là loài sống dưới nước, mọc từ bùn lên. Thân sen ngập dưới bùn, dân gian quen gọi là ngó sen. Cuống lá xốp rỗng, vươn lên đỡ hoa và lá sen vượt khỏi mặt nước. Khi bẻ, cuống lá có những sợi tơ dài, dính kết, hình ảnh ấy gợi sự vương vấn nên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có câu: “Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”. Phía ngoài cuống có những gai ngắn, mềm màu sẫm. Lá sen to tròn như cái mẹt nhỏ, xanh biếc, hơi khum xoè rộng trên mặt nước. Mùa hè, sen nở, lá sen phủ kín mặt hồ. Hoa sen có hai loại: sen trắng và sen hồng, màu hoa tươi thắm, sáng. Hoa sen có nhiều lớp cánh khum khum, ôm ấp nhau. Gánh to ở ngoài, cánh nhỏ ở trong ôm lấy đài hoa và nhị hoa. Đài sen to tròn, hình chóp ngược, màu xanh gọi lạ gương sen, khi già chuyển sang màu nâu. Trong gương có những hạt nhỏ. Khi sen già, cánh hoa rụng, gương sen lớn dần, những hạt đó phát triển thành hạt sen, Nhị hoa mọc quanh đài, màu vàng, là những tua nhỏ. Lớp hạt trắng ở đầu tua nhị gọi là gạo sen. Đây là túi hương của sen, dùng để ướp trà. Hương sen thơm dịu, man mác, thanh cao. Ca dao đã ca ngợi vẻ đẹp của sen: Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Sen là loài dễ trồng, dễ sống. Chỉ cần thả ngó sen xuống bùn là cây sen tự mọc. Cây sen có sức sống mãnh liệt. Hết mùa thì sen tàn, năm sau sen lại tự mọc. Sen có thể xuyên qua bờ đất lan sang đầm bên cạnh. Những đầm lầy nhiều bùn, khó canh tác, người ta thường thả sen. Sen là loài cây có ích. Tất cả mọi bộ phận của cây đều mang đến lợi ích cho con người. Ngó sen dùng để nấu canh, làm gỏi, là vị thuốc chữa mất ngủ. Lá sen dùng gói thức ăn: gói xôi, gói thịt quay,… và không thể thiếu để gói cốm: “Trời sinh ra cốm ủ trong lá sen và trời sinh ra ĩá sen để bao bọc cốm” (Thạch Lam). Người ta còn sắc lá sen khô lấy nước uống để giảm cân, giảm mỡ máu. Hạt sen để nấu chè, làm mứt. Đám cưới hỏi, khi Tết đến, mứt sen là thứ không thể thiếu. Uống nước trà sen, nhấm nháp vài hạt mứt sen là thú thư giãn tinh tế của người Hà Nội. Ngay trong hạt sen, cái tâm sen đắng cũng là vị thuốc chữa mất ngủ rất hiệu nghiệm. Hoa sen không chỉ dùng để trưng bày mà còn lấy hạt nhị ướp trà, làm nên thứ trà sen quý giá và độc đáo. Trên cánh máy bay của hàng không Việt Nam, biểu tượng bông sen nổi bật, đưa tâm hồn Việt nam đến khắp nơi trên thế giới. Thành Hương Linh (Trường THCS Trưng Vương) Tags:Hoa sen · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh bài giới thiệu về hoa sen – Tập làm văn 9
594
Hướng dẫn thuyết minh con trâu tự kể – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Thuyết minh về con trâu. Văn 9 Đề bài: Con trâu tự kể. Bài làm “Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra đồng ruộng trâu cày với ta”. Không biết tự bao giờ, người nông dân đã gọi chúng tôi một cách tha thiết và thân mật đến như vậy. Cũng không biết tự bao giờ, chúng tôi đã gắn liền với người nông dân, với những cánh đồng thẳng cánh cò bay của làng quê Việt Nam. Là một con vật cần cù, chịu khó, chúng tôi được con người yêu quý, trân trọng. Giống như các loài trâu trên thế giới, chúng tôi thuộc họ Bò, phân bộ Nhai lại, nhóm Sừng rỗng, bộ Guốc chẵn, lớp Thú có vú. Tổ tiên của chúng tôi là những bác trâu rừng thuộc lớp trâu đầm lầy đã được thuần hoá. Giống như tổ tiên, chúng tôi có thân hình to lớn, vạm vỡ. Bốn cái chân của chúng tôi chắc như bốn cái cột nhà nhỏ. Vai u lên những bắp thịt thể hiện sức kéo vô địch. Lông chúng tôi có màu xám hoặc xám đen, bóng mượt và cũng có khi là màu trắng. Thấp thoáng sau lớp lông ấy là bộ da căng bóng. Phía sau, cái đuôi chúng tôi luôn ngoe nguẩy theo nhịp bước. Trên đầu, hai chiếc sừng rỗng cong như hình trăng lưỡi liềm, có những đốt như đốt mía. Bật mí cho các bạn biết, nhờ vào cặp sừng ấy mà các bác nông dân phân biệt được trâu dữ hay trâu lành. Đặc biệt hơn cả là chúng tôi chỉ có mỗi hàm trên mà không có hàm dưới. Tôi nghe truyện Trí khôn của ta đây nói sở dĩ như vậy vì tổ tiên tôi cười đập răng vào đá nên gãy hết hàm dưới. Chúng tôi “Làm hùng hục như trâu húc mả” nhưng ăn uống lại rất đơn giản, không đòi hỏi cao lương mĩ vị mà chỉ có rơm và cỏ, thậm chí lại còn nhai lại nữa. Vì yêu thương những người nông dân nên chúng tôi tiết kiệm đấy. Vào những ngày tháng ba hay tháng tám nông nhàn, khi những bông lúa lên cao xanh mướt, chúng tôi được nghỉ ngơi đôi chút, suốt ngày thung thăng gặm cỏ rồi nằm dài nghếch đầu lắng nghe tiếng sáo diều du dương của lũ trẻ mục đồng. Đây là thời gian nhàn nhã nhất của chúng tôi trong năm. Nhưng sung sướng hơn cả là chúng tôi được chia sẻ sự khó khăn vất vả với những người nông dân một nắng hai sương “Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Vâng, không quản cái nắng như thiêu như đốt, không quản trời rét căm căm như cắt da cắt thịt, không quản mưa to gió lớn, chúng tôi luôn đồng hành cùng người nông dân trên cánh đồng làng. Chúng tôi cần cù, chậm rãi theo sự chỉ huy “vắt, diệc” của bác nông dân. Chúng tôi cứ nhẫn nại ngày này sang ngày khác, cày hết thửa ruộng này đến thửa ruộng khác. Chúng tôi làm đất tơi xốp màu mỡ để hạt lúa đâm mầm nảy lộc thành những hạt gạo – hạt ngọc. Vào những ngày mùa, lúa chín vàng cả cánh đồng, chúng tôi lại kéo xe, chở những lượm lúa trĩu hạt từ đồng vể nhà, Dường như cảm nhận được sự chịu thương chịu khó của chúng tôi, bác nông dân vừa âu yếm xoa lưng tôi vừa thủ thỉ: Ta đây trâu đấy ai mà quản công. Bao giờ cầy lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”. Không chỉ biết kéo cày, thịt chúng tôi còn là nguồn thực phẩm rất tốt cho mọi người, da có thể làm mặt trống, sừng làm đồ trang trí,… Trâu chúng tôi xem ra có rất nhiều lợi ích, chả thế mà được con người nâng niu, trìu mến. Từ bao đời nay chúng tôi đã là báu vật của người nông dân. Ngày nay, cho dù có máy móc hiện đại nhưng vị trí của chúng tôi vẫn không hề bị suy suyển trong trái tim người Việt Nam. Hoàng Thanh Hương (Trường THCS Lê Quý Đôn) Tags:Tập làm văn 9 · Thuyết minh về con trâu · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh con trâu tự kể – Tập làm văn 9
728
Hướng dẫn thuyết minh giới thiệu về cá heo – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Giới thiệu về cá heo. Văn 9 Đề bài: Giới thiệu về cá heo. Bài làm Ngày nay, hình ảnh của đàn cá heo tung mình trên mặt nước, nô đùa với tàu thuyền và lao vun vút giữa biển khơi đã trở nến quen thuộc với không chỉ ngư dân ven biển mà còn đối với mọi người trên khắp thế giới. Cá heo có nhiều loại, chúng khác nhau về hình dạng, màu sắc, tập tính và tiếng kêu. Dân chài nước ta có nơi còn gọi là “cá lợn” hoặc “cá ông sư”. Cá heo là động vật có vú, có máu nóng và thở bằng phổi. Mũi cá heo ở phía trên mồm chứ không chuyển về phía sau và nằm trên lưng như cá voi. Để thích nghi với cuộc sống dưới nước, cá heo có cấu tạo với hình dáng cơ thể đặc biệt, mình dài hình thoi, chân- sau thoái hoá, chân trước biến thành hai vây ngực để bơi. Đuôi của các loài cá nằm dọc, còn đuôi của cá heo nằm ngang để lái khi di chuyển. Cá heo có hai vú chính, một số cặp vú phụ. Cá heo là loài đẻ con, mỗi lần một con, cũng có khi sinh dôi, sinh ba nhưng rất hiếm. Thời gian mang thai của cá heo là 10, 11 tháng nhưng có loài kéo dài đến 16 tháng và nuôi con bằng sữa mẹ. Thức ăn của cá heo ià các loại cá nhỏ như cá cơm, cá trích, các loại tôm nhỏ và cả giun biển. Đàn cá nhỏ di chuyển đến đâu thì đàn cá heo theo sau đến săn mồi. Cá heo mẹ quấn quýt với con cái, chăm sóc những con non, kể cả khi con đã có cuộc đời tự lập. Tính cách “đại gia đình” của cá heo cũng rất đặc biệt, quần thể hợp thành đàn lớn vài trăm con. Đầu đàn là cá heo mẹ, không phải cá heo bố. Chúng có thể đi xa tới hàng nghìn ki lô mét, lặn sâu hàng nghìn mét, nín thở gần hai tiếng đồng hồ. Cá heo có chiều dài trung bình 2 – 2,5 m, thậm chí có con dài 3,6 m như cá heo hai bên sườn trắng và có tuổi thọ khoảng 25-30 nărri; Cá heo bơi rất nhanh, thường là 20 – 30 km/h, thậm chí 70 km/h. Sở dĩ cá heo lao đi nhanh như vậy là do chúng liên tục lột da và cứ sau khoảng 2 giờ cá lại có một bộ da hoàn toàn mới, hỗ trợ cho việc bơi trong nước. Hiện tượng cá heo lột da liên tục khi bơi cùng với hình dáng thuôn gọn nhằm giảm áp lực của nước lên da và giảm ma sát. Con người có thể huấn luyện cá heo làm xiếc. Cá heo còn có khả năng lặp lại lời nói của con người. Ngày nay, nhiều công viên trên thế giới và ở Tuần Châu, vịnh Hạ Long nước ta đã có cá heo biểu diễn những trò như nhảy cao, nhảy dài, đánh bóng rổ, vượt vòng tròn lửa, biểu diễn đội hình đồng ca,… Cá heo còn dẫn đường cho tàu thuyền qua những vùng biển sóng dữ. Trên biển, cá heo luôn là người bạn đồng hành với con người và sẵn sàng chủ động cứu vớt khi con người bị lâm nạn. Ngoài ra, một số nước trên thế giới sử dụng cá heo cho mục đích thực phẩm, y dược bởi cá heo có hàm lượng dinh dưỡng cao, mỡ và gan của chúng được sử dụng để sản xuất vitamin A và làm thuốc chữa bỏng. Bùi Hồng Anh (Trường THCS Nguyễn Trường Tộ) Tags:Cá heo · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh giới thiệu về cá heo – Tập làm văn 9
648
Hướng dẫn thuyết minh về con chó – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Thuyết minh về con chó. Văn 9 Đề bài: Thuyết minh về con chó. Bài làm Trong cuộc sống bộn bề những lo toan, khó khăn vất vả, một con vật nuôi sẽ là bạn tốt cho ta, giúp ta thư giãn, thoải mái hơn. Nếu như bạn đang băn khoăn không biết nuôi con vật nào thì một chú chó sẽ là người bạn trung thành và thân thiết. Còn nếu như bạn đang nuôi một chú chó và yêu thương nó hết mực thì bạn có chắc là mình đã hiểu rõ nó chưa? Thống kê trên thế giới cho thấy có rất nhiều loài chó và nguồn gốc của chúng là do cáo và chó sói tiến hoá mà thành. Có một số loài chó phổ biến như chó béc giê (phần lớn là ở Trung Quốc và Đức) có bộ lông vàng pha đen trên lưng, mõm cũng có màu sẫm, thường được cảnh sát huấn luyện để bắt giữ tội phạm, tìm ma tuý; một số loại chó được huấn luyện để dẫn đường cho người mù và phát hiện những người bị bệnh ung thư. Giống chó Chihuahua – loài chó nhỏ nhất – thường được các gia đình khá giả ưa chuộng. Giống chó Papilon hay còn gọi là chó bướm bởi đôi tai có hình dáng của đôi cánh bướm, rất thân thiện và thông minh. Giống chó Shih Tzu mà chúng ta vẫn quen gọi là chó Nhật thường được nuôi trong nhà làm cảnh. Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau bốn mươi tuổi nó đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc. Mắt chó có đến ba mí: mí trên, mí dưới và mí thứ ba nằm giữa hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chó cực thính, chúng có thể nhận được ba mươi lăm ngàn âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất tuyệt vời. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm thấy cả những cây nấm con nằm rất sâu trong rừng, bởi lẽ, chúng có thể phân biệt gần hai trăm hai mươi triệu mùi. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động, sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng, vì thị giác của chúng rất kém. Các loài chó ngày nay hầu hết là do lai giữa các loại khác nhau. Giống chó mới thường mang thuộc tính của bố mẹ chúng. Như chúng ta đã biết, sau nhiều năm được con người thuần hoá, chó sói tiến hoá và trở thành chó nhà. Thói quen săn mồi theo bầy đàn của chó sói đã bị mất khi nó trở thành chó nhà. Nhưng, có một đặc tính chung cho cả chó sói lẫn chó nhà, đó là thói quen khoanh vùng sống bằng nước tiểu. Bất kể con chó nào từ vùng khác đến, nếu không to khoẻ, dũng mãnh hơn con chó đã khoanh “chủ quyền” bằng nước tiểu trước đây thì sẽ phải bỏ đi nơi khác, ngược lại, nếu dũng mãnh hơn thì ngay lập tức nó sẽ khoanh vùng bằng bãi nước tiểu của nó để đánh dấu. Chó được nhiều người yêu thích không chỉ do thân thiết, thông minh mà còn do tính trung thành. Chó là người bạn hoàn toàn không vụ lợi, không vô ơn, không bao giờ tráo trở. Nó luôn ở cạnh ta trong phú quý cũng như trong bần hàn, khi khoẻ mạnh cũng như khi đau ốm. Nó sẽ phủ phục trên nền đất lạnh trong mùa đông buốt giá, miễn sao được cận kề bên chủ, được bảo vệ chủ. Nó hôn tay ta dù ta không có gì cho nó. Nó sẵn sàng chống trả lại những kẻ dám động đến chủ nó. Nó canh giấc ngủ cho ta cho dù ta là một ông hoàng hay một gã ăn xin. Dù ta có tán gia bại sản, thân bại danh liệt thì con chó vẫn trung thành với ta. Nếu chẳng may ta trở thành kẻ vô gia cư thì chắc chắn bạn đồng hành với ta trên con đường hoạn nạn sẽ là con chỏ. Và một khi thân xác ta đã nằm trong lòng đất lạnh thì khi ấy, khi mọi người đã quay về hết, chỉ còn lại con chó nằm gục mõm giữa hai chân trước trên nấm mồ của ta, đồi mắt ướt buồn như muốn cùng ta nằm trong ngôi mộ lạnh lẽo này. Trong thế giới tâm linh của một số dân tộc, những đức tính của chó được tôn vinh. Chó không chỉ là loại vật nuôi trung thành mà còn là người bạn tận tuỵ bên ta trong suốt cuộc đời. Trịnh Hồng Vân ( Trường THCS Ngô Gia Tự) Tags:Con chó · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về con chó – Tập làm văn 9
861
Hướng dẫn thuyết minh về cây dừa – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Thuyết minh về cây dừa. Văn 9 Đề bài: Thuyết minh về cây dừa. Bài làm Mỗi lần đi dạo ven Hồ Tây, tôi lại có dịp ngắm những hàng dừa bên hồ. Và tự bao giờ, không rõ nữa, cây dừa đã trở thành loại cây quen thuộc đối với tôi. Dừa là loại cây phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là vùng Nam Bộ. Nguồn gốc của cây dừa cho đến nay vẫn là chủ đề gây ra nhiều tranh cãi. Một số học giả cho rằng, dừa có nguồn gốc ở miền tây Bắc Mĩ. Các mẫu hoá thạch tìm thấy ở New Zealand chỉ ra rằng, các loại thực vật nhỏ tương tự cây dừa đã mọc ở khu vực này từ khoảng 15 triệu năm trước. Hiện nay, dừa đã được nhân giống khắp vùng nhiệt đới. Dừa là một loại cây trong họ cau với các lá đơn xẻ thuỳ lông chim một gân. Cuống và gân chính dài từ 4 đến 6 mét. Dừa thân tròn, màu nâu, in dấu những bẹ lá đã rụng. Các thuỳ với gân cấp hai có thể dài từ 6 đến 9 mét. Dừa có thể phát triển tốt trên đất pha cát và có khả năng chống chịu mặn. Nó cũng thích ứng với những vùng đất nhiều mưa, nắng có độ ẩm cao. Điều này lí giải tại sao chúng ta khó tìm thấy dừạ ở những vùng đất có độ ẩm thấp, chẳng hạn như khu vực Địa Trung Hải. Quả dừa hình tròn, nhọn ở dưới, có vỏ cứng và mang màu xanh nhẵn bóng. Ẩn sau lớp vỏ xanh là một lớp xơ dừa màu nâu bọc lấy quả dừa. Nếu chúng ta bổ quả dừa ra sẽ được một lớp cùi dừa màu trắng và nước dừa trong vắt như nước suối. Trái dừa thường mọc thành buồng lớn, lúc la lúc lỉu. Trong đời sống, dừa có rất nhiều công dụng. Chẳng hạn, nhựa dừa thu được từ việc rạch các cụm hoa sẽ được ủ cho lên men để sản xuất rượu vang dừa. Xơ dừa được dùng để sản xuất dây thừng, thảm, bàn chải, chão,… Thảm xơ dừa xuất khẩu đã đem lại nguồn thu đáng kể cho những người nông dân miệt vườn, vỏ dừa có thể dùng làm nguồn nhiên liệu. Lá dừa dùng để kết thành giỏ đựng đồ hoặc làm chổi quét nhà. Các que xiên để nướng thịt chính là các gân giữa của lá dừa vì nó có độ cứng rất thích hợp. Còn nữa, bạn đã bao giờ được thưởng thức kẹo dừa chưa nhỉ? Món kẹo đặc trưng này của miền Nam được làm từ nước cốt dừa cô đặc, ăn vừa béo vừa thơm. Mỗi độ Tết về, chúng ta lại được thưởng thức mứt dừa, làm từ cùi dừa non… “Cây dừa xanh toả nhiều tàu, Dang tay đón gió gật đầu gọi trăng. Thân dừa bạc phếch tháng năm, Quả dừa đàn lợn con nằm trên cao”. (Trần Đăng Khoa) Trải qua bao thế kỉ, cây dừa vẫn luôn gắn bó thân thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân Việt Nam. Với riêng em, những cây dừa cạnh ngôi trường Đông Thái thân yêu luôn khiến trái tim em xao xuyến. Chúng như những người bạn lớn, luôn vẫy tay chào đón chúng em tới trường. Bùi Thu Hường (Trường THCS Đông Thái) Tags:cây dừa · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về cây dừa – Tập làm văn 9
589
Hướng dẫn thuyết minh về cây lúa Việt Nam tự giới thiệu – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Cây lúa Việt Nam tự giới thiệu. Văn 9 Đề bài: Cây lúa Việt Nam tự giới thiệu. Bài làm Những tia nắng ban mai dịu dàng chiếu xuống mặt đất. Những chú chim líu lo gọi nhau rời tổ kiếm ăn. Tôi đang ngủ say chợt nghe có tiếng gọi: “Lúa ơi, dậy đi em!”. Tiếng gọi quen thuộc khiến tôi khẽ cựa mình, tỉnh giấc. Tưởng ai hoá ra là chị Gió hằng ngày vẫn kể cho tôi nghe về những miền đất xa xôì mà chị đã từng đi qua. Không biết hôm nay có chuyện gì mà chị tới tìm tôi sớm thế nhỉ? Như đọc được suy nghĩ của tôi, chị Gió tươi cười giải thích: – Hôm nay, chị có nhiệm vụ phỏng vấn họ nhà lúa các em đấy. Em có thể tự giới thiệu về mình được không? – Em là lúa, tên khoa học là Cryza Sativa. Em là loài thực vật thuộc thân thảo, sống một năm, có rễ chùm, thuộc lớp một lá mầm. – Em có biết gì về tổ tiên của mình không? – Tổ tiên của em là loại lúa hoang, xuất hiện từ cách đây 3000 đến 2000 năm, trước Công nguyên đã được con người thuần hoá thành các giống lúa hiện nay. – Em sinh sống ở đâu? – Em rất dễ trồng. Chỉ cần đất không quá chua và đủ nước là em có thể sống được. Vì thế, trên đất nước Việt Nam, từ Bắc vào Nam, đâu đâu cũng thấy những cánh đồng lúa xanh ngút ngàn. – Lúa chúng em chủ yếu có hai vụ là vụ chiêm và vụ mùa. Đầu vụ, các bác nông dân sẽ chọn ra những hạt thóc tốt làm giống. Hạt giống sẽ được gieo ở ruộng riêng cho phát triển thành những cây lúa non gọi là mạ. Đến khi mạ cao khoảng 15-20 cm, các bác nông dần nhổ mạ sang cấy ở ruộng chính. Làm như thế, các bác nông dân vừa tiết kiệm được thóc giống mà lúa chúng em lại phát triển khoẻ mạnh. Được sự chăm bẵm của các bác nông dân, chúng em phát triển, cao dần và đẻ nhánh. Đó là lúc chúng em “đương thì con gái”. Rồi chúng em ra đòng, trổ bông, hình thành nên các hạt lúa và dần chín. Khi lúa chín vàng, đòng uốn cong vì sức nặng của những hạt thóc vàng mẩy, các bác nông dân sẽ đem liềm hái gặt chúng em về. – Thế thì các bác nông dân chắc vất vả lắm nhỉ? – Vâng. Chị biết không, khi chúng em ra đòng là lúc rất dễ bị sâu bệnh phá hoại nên các bác nông dân phải vất vả, nào là phun thuốc trừ sâu, nào là bón phân để bổ sung chất dinh dưỡng cho chúng em. Phải vất vả lắm mới làm nên được hạt thóc nên họ coi đó là “hạt ngọc”. – Họ hàng của em rất đông đúc, đúng không? Chị thấy có bao nhiêu loại lúa: Khang Dân, Bắc Hương, Tám,… – Họ hàng nhà em đông lắm. Hiện nay, các nhà khoa học đã lai tạo được hơn 30 giống lúa. Đấy đều là những giống lúa có năng suất cao, hứa hẹn cho những vụ mùa bội thu. – Suýt nữa chị quên mất, sau khi nông dân gặt lúa về thì họ làm gì? – Họ cho chúng em vào máy tuốt để tách rơm và thóc, rơm để đun hoặc lợp mái nhà, còn thóc họ đem đi xát để tách vỏ (gọi là trấu) và nhân (gọi là gạo). Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới. Việt Nam ta có hơn 80% người dân sống bằng nghề trồng lúa. Ngoài ra, ta còn có những đồng bằng màu mỡ thẳng cánh cò bay để trồng lúa, do vậy, nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới sau Thái Lan. – Ngoài nấu cơm ăn hằng ngày, người ta còn dùng gạo để làm gì nữa hả lúa? – Ngoài gạo tẻ để nấu cơm còn có gạo nếp dùng để làm bánh chưng, bánh giầy, thổi xôi, nấu chè,… Đây là những thứ không thể thiếu được trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc ta. Chị đã bao giờ được thưởng thức hương vị của cốm chưa? Cốm được làm từ lúa nếp non. Đấy là một thức quà dân dã nhưng vô cùng thanh tao của dân tộc. Từ gạo người ta cũng có thể làm ra các loại bánh như bánh giò, bánh cuốn, bánh tẻ, bánh rợm,…tạo nên một nét văn hoá ẩm thực rất đặc trưng của người Việt. – Em không chỉ giữ vai trò quan trọng trong đời sống vật chất mà còn cả trong đời sống tinh thần của người Việt. Từ khi còn nằm nôi, những đứa trẻ đã thấm đượm những câu hát ru của mẹ: “Con cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng”. (Ca dao) Hình ảnh cánh đồng lúa đã đi sâu vào trong tiềm thức và trái tim mỗi người con dân đất Việt khi nhớ về quê hương Tổ quốc: “Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn”. (Nguyễn Đình Thi – Bài thơ Hắc Hài) Cây lúa đã gắn bó với đất nước, với con người Việt Nam từ bao đời nay, tạo nên một nền văn minh lúa nước phát triển rực rỡ từ trong quá khứ. Hiện nay, đất nước đang bước vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cây lúa vẫn đi cùng sự phát triển của đất nước. Cầy lúa không chỉ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước mà còn là một nét đẹp văn hoá rất riêng, rất ấn tượng của con người và đất nước Việt Nam. Lê Trần Bích Ngọc ( Trường THCS Nguyễn Huy Tưởng) Tags:Cây lúa · Tập làm văn 9 · Tự giới thiệu · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về cây lúa Việt Nam tự giới thiệu – Tập làm văn 9
1,023
Hướng dẫn thuyết minh về cây tre trong đời sống con người Việt Nam – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Thuyết minh về cây tre. Văn 9 Đề bài: Thuyết minh về cây tre trong đời sống con người Việt Nam. Bài làm Đã tự bao đời nay, tre xuất hiện bên người dân Việt Nam một cách tự nhiên như phải thế, không thể nào khác được. Qua bao thăng trầm của lịch sử, dù khó khăn vất vả, tre vẫn đứng đó, vẫn sát cánh bên người dân Việt. Và cũng chính vì lẽ đó, tre trở thành biểu tượng cho sự dẻo dai, tràn đầy sức sống của dân tộc. “Tre xanh xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”. (Nguyễn Duy –Tre Việt Nam) Trong khu vực Đông Nam Á, không chỉ có Việt Nam mà cả Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a,…cũng đều có tre. Tuy vậy, tre mỗi nơi mỗi khác. Tre ở Ấn Độ thân gầy mà cao; tre ở Nhật Bản, Trung Quốc vỏ dày mà xanh. Còn tre ở Việt Nam lại khác. Tre Việt Nam thuộc họ thân đốt, gầy và rắn, không giống như tre Nhật Bản có vỏ dày nhưng mềm. Nhưng dù ở đâu thì tre cũng mang dáng dấp như nhau, mọc thành bụi như một gia đình. Tre thật đặc biệt. Tre có thể sống trên mọi loại đất đai. Nó có một sức sống thật tuyệt vời. ở Hi-rô-si-ma, nơi đất đã bị nhiễm xạ, tre vẫn kiên cường sống. Dưới chân núi lửa Pi-na-tu-bo ở Phi-líp-pin, nơi đất đai dường như đã hoá thành than, tre vẫn vươn lên, dẻo dai, mạnh mẽ. Hay ở ngay đất lửa Quảng Trị, mảnh đất cằn cỗi “chó ăn đá, gà ăn sỏi”, tre vẫn mọc, tràn đầy nhựa sống. Cuộc sống của tre như một bài học về triết lí sống dành cho con người. Tre chịu được mọi loại thời tiết, mọi loại đất đai. Ớ đâu, trong hoàn cảnh nào, tre vẫn sống, vẫn không ngừng vươn cao, như con người, không chịu khuất phục mọi gian lao, vất vả. Tre luôn mọc thành bụi, thành rặng, như một gia đình, một dân tộc luôn kề vai sát cánh bên nhau chống lại mọi phong ba bão táp. Tre vươn eao, mọc thẳng như sự ngay thẳng, trung thực của người dân Việt… Đã bao lần trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, tre đã trở thành vũ khí, trở thành thành luỹ bảo vệ non sông gấm vóc. Muôn ngàn đời còn ngợi ca Thánh Gióng nhổ tre làm vũ khí đuổi giặc Ân. Nỏ thần trăm phát trăm trúng của Thục An Dương Vương cũng được làm từ cây tre trong vườn. Rồi những cọc tre cùng cọc gỗ đã đâm thủng thuyền giặc trên sông Bạch Đằng bao năm trước… Không chỉ góp phần đuổi giặc ngoại xâm, tre còn đi vào đời sống hằng ngày của người dân đất Việt. Còn gì thanh bình hơn những buổi chiều tà, bên bờ ao, những cụ già đang chăm chú nhìn vào đầu những chiếc cần câu mềm mại, cong cong được làm từ tre. Những đêm trăng sáng, trên cái chõng tre ngoài hiên nhà, những người nông dân khoan khoái chuyền tay nhau cái điếu cày làm từ tre, thanh thản lắng nghe tiếng sáo tre cao vút. Sáng ra, xen lẫn tiếng cười tiếng nói là tiếng đòn gánh tre kĩu kịt trên vai các bà, các chị… Dù đất nước đang trên đà phát triển nhưng tre vẫn luôn có chỗ trong tâm hồn mỗi người dân Việt. Tre giúp người tránh được những cơn giận dữ của thiên tai. Thân tre trở thành nguyên liệu sản xuất giấy, đồ thủ công mĩ nghệ. Những cọc tre cao, chắc chắn là nền móng vững chắc cho những ngôi nhà… Tre không thể thiếu trong đời sống của người dân Việt. Cùng với cây đa, bến nước, sân đình,… tre đã trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Bùi Doãn Bách ( Trường THCS Ngô Gia Tự) Tags:Cây tre Việt Nam · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về cây tre trong đời sống con người Việt Nam – Tập làm văn 9
691
Hướng dẫn thuyết minh về giới thiệu con trâu theo cách đối thoại – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Giới thiệu con trâu đối thoại. Văn 9 Đề bài: Giới thiệu con trâu theo cách đối thoại. Bài làm Nắng hè rải nhẹ trên đồng cỏ xanh mướt. Gió lượn khẽ khàng làm rung rinh những ngọn cỏ non. Những ngọn tre cao vút cũng rì rào. – A! Chào bác trâu Vạn! Bác đang nghỉ trưa ạ? – Nghé ọ chào trâu Vạn. – Chào nghé con, bác vừa cày xong thửa ruộng mà! – Trâu Vạn dừng gặm cỏ, nhìn nghé ọ. – Bác ơi, sao họ nhà trâu chúng ta cứ phải làm việc vất vả cho con người như vậy? – Nghé có vẻ bức xúc. Trâu giải thích: – Chúng ta làm việc để trả ơn con người mà cháu. Chính họ đã thuần hoá trâu rừng Đông Nam Á – tổ tiên chúng ta thành trâu nhà ngày nay đấy. Nghé con gặm búi cỏ non, hếch mặt thắc mắc: – Hoá ra vậy. Không biết hình dáng của tổ tiên có giống chúng ta ngày nay không hả bác? Vừa gặm cỏ, trâu Vạn vừa giảng giải: – Bác chỉ biết rằng trâu rừng sống hoang dã to lớn và dữ tợn hơn trâu nhà. Nhưng nhìn chung, trâu rừng hay trâu nhà cũng có những điểm chung. Trâu lông ngắn màu đen hoặc xám, cũng có khi màu trắng gọi là trâu bạc. Bụng và đầu trâu to, mông dốc, bốn chân vững chãi. Trâu có cái trán gồ, đôi mắt hơi lồi, đen và rất sáng. Họ nhà trâu đặc biệt vì có đôi sừng dài và cong nhọn như lưỡi liềm ở trên đầu. Cặp sừng này khiến kẻ thù dù đáng sợ cũng phải gờm. Nghé con vẫn ngây thơ hỏi: – Bác bảo họ nhà trâu to thế sao cháu bé tí thế này. Mà bác sao cũng không to bằng bác trâu Mộng? – Thế bao giờ cháu mới mọc sừng? Các anh chị của cháu ai cũng có sừng rồi – Nghé phụng phịu. – Mỗi trâu mẹ có khoảng năm hay sáu con, cháu chưa phải là con út đâu. Các anh chị của cháu đã trưởng thành nên mọc sừng, phải đi làm việc như trâu bố mẹ. Còn cháu mới là con nghé chưa mọc răng thì so sánh làm gì!. – Vâng, cháu nhớ rồi, bác bảo đến ba tuổi trâu mới mọc răng cửa giữa cố định, đến sáu tuổi thì có tám răng cửa giữa. Vậy là còn ba năm nữa cháu là trâu trưởng thành, bác nhỉ? – Cháu nhớ giỏi lắm! – Trâu Vạn khen nghé. Tất cả những gì bác dạy cháu đều nhớ, nhất là những kiến thức về họ trâu nhà mình. – Nghé con tự hào – Bác dạy cháu rằng: Trâu là loài động vật thuộc họ Bò, thuộc nhóm Sừng rỗng, bộ Móng guốc chẩn, lớp Động vật có vú. Và… – Nghé con cau mày nhớ bài cũ. Và vì có tới bốn ngăn dạ dày nên trấu thuộc phân bộ Nhai lại. Điều này thuận lợi cho chúng ta vì trâu làm việc vất vả nên cần có thức ăn dự trữ khi đói – Bác trâu cười, nhắc bài cho nghé con. – Như vậy trời sinh ra trâu là để làm việc nặng nhọc hả bác? Bác trâu Vạn tự hào, mắt sáng lên: – Ừ, có thể nói như vậy vì nhà nông nuôi chúng ta để lấy sức kéo cày, mà kéo căy là công việc rất nặng nhọc. Như bác đây là loại trâu khoẻ, có thể cày được từ ba đến bốn sào mộng mỗi ngày, còn có trâu chỉ cày được đến ba sào. Trâu còn giúp cho người nhiều việc như kéo xe, kéo gỗ,… Cái đáng quý nhất là họ nhà trâu ai cũng chăm chỉ, cần mẫn. – Chưa hết đâu ạ. Sữa trâu còn là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời cho con người. Mỗi chu kì, trâu sữa cho từ 400 đến 500 kg sữa tươi. Sữa này làm nguyên liệu chế biến bánh kẹo – Nghé bổ sung. Trâu Vạn nói với nghé con: – Họ nhà trâu giúp người làm ra cây ngô, cây lúa nên người cũng yêu quý trâu hết lòng, người chăm sóc trâu rất chu đáo. Người nấu cháo gạo và cám chợ trâu ăn khi trâu làm việc nhiều. Trâu được người cho ăn cỏ non, rơm tươi. Mùa đông ít cỏ tươi thì cho ăn rơm, ăn cỏ khô, lá ngô,…; mùa hè cho trâu tắm mát dưới sông. Trâu là bạn của người nông dân. Từ tuổi thơ, trẻ con ở làng quê đã quen với việc chăn trâu, cắt cỏ. Chiều chiều, lũ trẻ cưỡi trâu, thổi sáo từ cánh đồng trở về là cảnh không thể quên khi nhớ về làng quê. Cảnh này đã đi vào thơ ca, chắc ai cũng nhớ câu thơ của vua Trần Nhân Tông “Mục đồng địch lí ngưu quy tận” (“Mục đồng sáo vẳng trâu về hết”) tả cảnh buổi chiều trên cánh đồng. Trâu đi vào tranh dân gian, điêu khắc,… Tục ngữ có biết bao câu nói đến trâu: Con trâu là đầu cơ nghiệp, Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng,… Lòng trâu dịu đi sau những lúc vất vả lại nghe người hát: Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Câỳ cày vốn nghiệp nông gia, Ta đây, trâu đấy ai mà quản công. Bao giờ cây lúa cố bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.” Nghé con gật gù như người lớn nhưng vẫn cứ hỏi: – Bác ơi, người yêu trâu thế sao vẫn cứ làm thịt trâu để lấy thịt, lấy sừng, lấy da trâu? Rồi người còn tổ chức hội chọi trâu, lễ đâm trâu? Vừa nói xong, nghé con đã sụt sịt. Bác trâu Vạn an ủi: – Cháu còn nhỏ nên nhiều điều chưa hiểu cũng phải thôi. Da, thịt, sừng là những bộ phận của trâu mang đến lợi ích cho người, được người dùng làm thực phẩm, đồ mĩ nghệ hoặc đồ dùng. Còn hội chọi trâu, đâm trâu là những phong tục có ý nghĩa tâm linh văn hoá của dân tộc Việt Nam nên rất có ý nghĩa, cả thế giới loài người đối xử với trâu bò như vậy mà. Cháu à, ở đời, sống chết là chuyện sớm muộn, cái chính là phải sống sao cho có ích, có tình, có nghĩa để khi chết đi vẫn là một cái chết có ích cho đời, không phụ công người đối với ta. “Trâu chết để da, người ta để tiếng” là như vậy. – Vâng, cháu hiểu rồi, cháu sẽ cần cù chăm chỉ như họ nhà trâu bao đời. Cao Khánh Linh (Trường THCS Trưng Vương) Tags:Con trâu đối thoại · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về giới thiệu con trâu theo cách đối thoại – Tập làm văn 9
1,140
Hướng dẫn thuyết minh về giới thiệu danh thắng Hương Sơn theo cách đối thoại – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Thuyết minh về danh thắng Hương Sơn. Văn 9 Đề bài: Giới thiệu danh thắng Hương Sơn theo cách đối thoại. Bài làm Hôm nay mùng hai Tết mà thiên đình vẫn vắng vẻ. Ngọc Hoàng: Các khanh! Trẫm chán quá, chẳng có việc gì để làm cả! Nam Tào (nhanh nhẩu đáp): Hay thần chuẩn bị kiệu để Ngọc Hoàng đi chúc tết các Táo. Như vậy liệu có được không ạ? Ngọc Hoàng: Việc đó đã nhầm rồi. Năm nào chả đi. Các ngươi có sáng kiến gì không? Bắc Đẩu: Khởi bẩm Ngọc Hoàng, thần có ý này ạ. Thần thấy ở dưới hạ giới, đầu năm ai cũng đi lễ để cầu phúc cho cả năm. Hay ngày mai Ngọc Hoàng thử xuống thăm thu cảnh chùa chiền ở hạ giới xem sao? Ngọc Hoàng: Sáng kiến của ngươi rất hay. Ngày mai, ta sẽ đi thử một chuyến. Nhưng có bao nhiêu chùa, như vậy, ta biết đi chùa nào? Nam Tào: Thần thấy hình như có Chùa Hương rất nổi tiếng, ai cũng biết đến. Ngọc Hoàng đi thăm ngôi chùa này được không? Ngọc Hoàng: Vậy hả. Ta quyết định sáng sớm mai sẽ xuất phát. (Theo như kế hoạch đã định, hôm sau Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu lên đường) Ngọc Hoàng: Nam Tào, nghe nói ngươi giỏi địa lí, thế ngươi có biết Chùa Hương nằm ở đâu không? Nam Tào: Khởi bẩm Ngọc Hoàng, Chùa Hương chỉ là cách nói trong dân gian. Trên thực tế, Chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hoá – tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm Chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Hà Nội, ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là Chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là Chùa Trong. Hội Chùa Hương diễn ra từ ngày mồng sáu tháng giêng đến rằm tháng ba âm lịch hằng năm. Ngọc Hoàng: Ra là vậy! Thế nhưng tại sao nó lại có tên là Chùa Hương? Nguồn gốc lịch sử là từ đâu? Nam Tào: Theo truyền thuyết, vùng nhiều hang động này được tìm thấy cách đây hơn nghìn năm và đã được đặt tên Hương Sơn – lấy tên một ngọn núi ở phía bắc Tuyết Sơn trong dãy Hi-ma-lay-a (Ấn Độ) nơi Đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt sáu năm ròng rã. Đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã có am thờ Phật dựng trên mảnh đất chùa Thiên Trù. Theo sách Hương Sơn Thiên Trù thiên phú thì Chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Huy Tông, niên hiệu Chính Hoà (1680 – 1705). Bia tại chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo Kim dung Bảo điện của chùa được thực hiện vào năm 1686. Các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn vào khoảng cuối thế kỉ XVII. Cho đến đầu thế kỉ XX, trong khu vực này đã có hơn 100 ngôi chùa. Ngọc Hoàng: Ngươi tả qua cho ta nghe về khu di tích này đi. Bắc Đẩu: Thưa Ngọc Hoàng, quần thể thắng cảnh Chùa Hương bao gồm 18 đền chùa, hang động nằm rải rác ở bốn thôn Yến Vĩ, Đục Khê, Hội Xá và Phú Yên thuộc địa phận xã Hương Sơn. Các chùa động ở đây phần lớn được phát hiện và xây dựng vào các thế kỉ XVIII, XIX, đa số dựa vào sườn núi hoặc nằm dưới thung lũng, những nơi có địa thế đẹp dễ kiến tạo. 18 điểm được chia làm bốn khu như sau: 1. Khu Hương Thiên có tám di tích là: động Hương Tích, chùa Thiên Trù, Đền Trình, Ngũ Nhạc, chùa Giải Oan, đền cửa Võng, chùa Tiên Sơn, chùa Hinh Bồng và động Đại Binh. 2. Khu Thanh Hương: gồm chùa Thanh Sơn và động Hương Đài. 3. Khu Long Vân gồm bốn điểm: chùa Long Vân, động Long Vân, động Cây Khế, hang Thánh Hoá. 4. Khu Tuyết Sơn gồm bốn di tích: chùa Bảo Đài, động Ngọc Long, chùa Ngư Trì, đền Trình Phú Yên. Nếu có đủ thời gian, Ngọc Hoàng phải đi trọn ba ngày mới hết. Bác Đẩu: Nếu vậy thì chúng ta chỉ tham quan những phần chính thôi. Mà cũng đến nơi rồi đấy Ngọc Hoàng ạ. Trước mắt chúng ta là Bến Đục, nằm bên bờ sông Đáy. Đây là cửa ngõ vào khu danh lam thắng cảnh, thuyền đò chen chúc. Mời Ngọc Hoàng lên thuyền. Ngọc Hoàng: Ái chà! Cảnh vật ở đây thật đẹp và nên thơ. Lên đến bờ rồi, chúng ta đi đâu đây? Nam Tào: Từ Bến Đục, ta đi bộ gần một cây số sẽ đến Bến Yến để lên thuyền xuôi theo một dòng suối có tên là Yến Vĩ đến Bến Trò (Bến Thiên Trù). Ngoài ra, có thể đi theo con đường bộ ven chân núi. Trên đường từ Bến Yến vào Bến Trò, ta có thể dừng chân tại Đền Trình (có nghĩa là nơi “trình diện” với thần linh trước khi đến cõi Phật) trên núi Ngũ Nhạc. Đây là đền thờ một vị thần núi. Đền còn có tên Đền Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua Hùng. Trên dòng suối Yến có cây cầu gỗ tên là cầu Hội. Từ chân cầu đi vào bên trái có thể đi vào chùa Thanh Sơn trong một động núi. (Thuyền vừa cập bến Đền Trình, Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu vui vẻ thưởng ngoạn cảnh chùa) Ngọc Hoàng: Chúng ta trình diện thần linh rồi, tiếp tục lên đường thôi. Nam Tào: Bây giờ, ta sẽ đến chùa Thiên Trù hay còn gọi là chùa Ngoài. Ngọc Hoàng: Chùa Ngoài à? Đây là lần đầu tiên ta nghe thấy đấy! Nam Tào: Chùa được khởi dựng từ thời Lê Thánh Tông, năm Đinh Hợi (1467), niên hiệu Quang Thuận thứ tám. Đến niên hiệu Chính Hoà năm thứ bảy (1686), hoà thượng Trần Đạo Viên Quang tái thiết. Qua bao thế kỉ, đến năm 1942 thì toàn bộ công trình hoàn chỉnh, trở thành một lâu đài tráng lệ “ Biệt chiếm nhất Nam thiên”. Trong kháng chiến chống Pháp, bọn thực dân và tay sai đã ba lần tàn phá chùa vào những năm 1947, 1948, 1950. Ngày 11 tháng 2 năm Kỉ Tị (1989), Ban xây dựng chùa Hương khởi công xây dựng lại. Đến ngày 11 tháng giêng năm Tân Mùi (1991) thì hoàn thành. Hiện nay, với quần thể kiến trúc nguy nga, hoành tráng khiến Thiên Trù trở thành trung tâm của thắng cảnh Hương Sơn. Giữa sân chùa có một đỉnh đồng cao 3m. Cạnh sân chùa có hồ bán nguyệt và vườn tháp. Trong vườn tháp có ngôi tháp Viên Công chứa hài cốt Trần Đạo Viên Quang, người có công trùng tu Chùa Hương. Ở đây còn có Thiên Thuỷ Tháp là một mỏm đá mọc ngược thành một cây tháp thiên tạo, nước mưa trên núi theo tháp chảy xuống. Ngọc Hoàng: Vãng cảnh chùa ở đây thật là thích. Không gian tĩnh mịch, trang nghiêm. Ngôi chùa còn rất đẹp nữa chứ! Bác Đẩu: Thưa Ngọc Hoàng, phía trước mắt chúng ta còn rất nhiều chùa chiền, Ngọc Hoàng nhanh chân kẻo không kịp! Gần chùa Thiên Trù là Núi Tiên, có chùa Tiên ở trong hang. Năm 1770, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đã đề một bài thơ bát cú ca ngợi cảnh đẹp của động này. Trong chùa còn có năm pho tượng bằng đá do những người thợ đá ở Kiện Khê (Hà Nam) tạc năm 1907 dựa theò truyền thuyết Bà Chúa Ba Diệu Thiện đã đắc đạo thành Quan Thế Âm Bồ Tát ở Hương Sơn. Tượng Bà Chúa Ba ở giữa, phía trước là người chị cả Diệu Thanh cưỡi sư tử xanh (Văn Thù Bồ Tát) và tượng người chị thứ hai Diệu Âm cưỡi voi trắng (Phổ Hiền Bồ Tát). Phía sau là tượng vua cha và hoàng hậu mẹ của bà Chúa Ba. Ngọc Hoàng: Không ngờ đây chính là nơi Quan Thế Âm Bồ Tát đã đắc đạo. Bác Đẩu: Thần cũng vô cùng ngạc nhiên, thưa Ngọc Hoàng. Gần núi Tiên là chùa Giải Oan, nơi có giếng nước trong vắt gọi là “Thiên nhiên Thanh trì” hay còn gọi là giếng Long Tuyền. Tương truyền Phật Bà Quan Âm đã tắm ở giếng này để tẩy bụi trần nghỉ ngơi trước khi vào cõi Phật. Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối Giải Oan. Chùa Giải Oan nằm trên sườn núi, phía trái đường đi Hương Tích, do sư tổ Thông Dục khai sáng vào thời Lê Thuần Tông (1735). Đến năm 1928, đại sư Thanh Tích tôn tạo lại theo thế bích sơn. Năm 1995, Ban xây dựng Chùa Hương trùng tu quanh chùa có: am Phật Tích, động Tuyết Kình Âm, Từ Vân, giếng “Thiên nhiên Thanh trì”. Nam Tào: Ngọc Hoàng chưa thấy được phần tuyệt vời nhất đâu ạ. Từ chùa Thiên Trù, theo đường núi đi quanh co khoảng 2 km thì đến Chùa Hương (Chùa Trong). Đường xuống hang chùa là một cái dốc có 120 bậc đá. Vách núi trước cửa động có chữ “Nam Thiên đệ nhất động” khắc năm 1770. Ngọc Hoàng: Cái tên này do ai đặt vậy? Nam Tào: Bẩm Ngọc Hoàng, đây là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Ông ta thật sự đã bị thu hút bởi vẻ đẹp của chùa… Ngọc Hoàng: Thế thì ta nên đi tiếp nhanh nhanh. Nam Tào: Vào trong động, vẻ đẹp khác thường của những nhũ đá tưởng như những công trình điêu khắc tuyệt tác của thiên nhiên. Nhũ đá ở đây có khối to, có khối nhỏ, có cái đẹp ở toàn khối, có cái đẹp ở dáng dấp tinh vi, có cái rủ từ trên trần xuống, có cái mọc từ dưới đất lên. Tất cả đều tuỳ theo hình dáng mà được đặt những cái tên rất trần thế, biểu hiện những mơ ước của con người. Trước hết là Đụn Gạo đồ sộ, bước vào cửa động đã trông thấy. Gạo là cái quan trọng hàng đầu nên Đụn Gạo trong động nhà Phật cũng ở vào vị trí hàng đầu. Dưới chân Đụn Gạo là một hõm đá nhỏ xíu gọi là Cối Giã. Gần Đụn Gạo là Núi Cô và Núi Cậu. Núi Cô nhỏ hơn Núi Cậu nhưng giống nhau ở chỗ có những hình em bé nằm nghiêng, nằm sấp hoặc đang bò lổm ngổm, đầu nhẵn thín. Núi Cậu ngang tầm với Sữa Mẹ quanh năm suốt tháng rỏ xuống không ngừng. Cùng một hàng dọc với Núi Cô, Núi Cậu và lui vào phía trong là Cây Bạc, Cây Vàng ngồn ngộn chất chứa những hình tròn như những đồng tiền vàng, bạc lấp lánh. Vào trong góc động, gần tận cùng sẽ thấy Chuồng Lợn, Ao Bèo, Nong Tằm, Né Kén,… toàn là những hình ảnh bằng nhũ đá. Trên trần động, thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là toà Cửu Long. Ngọc Hoàng: Ta thấy bức tượng nào cũng đẹp cả. Vậy theo ngươi, cái nào là tuyệt vời nhất? Nam Tào: Giá trị nhất về mặt nghệ thuật điêu khắc không những trong Chùa Hương mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn. Pho tượng bằng đá, có dáng người thon thon, mặt trái xoan, nét thanh tú, đầu đội mũ Tì Lư (tức là mũ Bồ Tát) nhưng lại có búi tóc và tóc mai, sau lưng có hai món tóc buông xuống. Tượng ngồi ở tư thế đặc biệt, tay phải cầm viên ngọc minh châu, chân trái duỗi đặt trên một bông sen nở, chân phải co, dưới chân cũng có một bông sen. Theo bài kí khắc trên đá năm 1806 thì pho tượng này được tạc năm 1793. Trong động Hương Tích còn có quả chuông đồng cao 1,24 m, đường kính đáy 0,63 m đúc năm Thịnh Đức thứ ba (1655). Ngọc Hoàng: Đẹp, đẹp thật, vẻ đẹp của ngôi chùa này khó có thể miêu tả bằng lời. Thật không uổng công ta vất vả từ trên Thiên đình xuống đây. Sao từ nãy không thấy Bắc Đẩu nói câu nào nhỉ? Bắc Đẩu: Khởi bẩm Ngọc Hoàng, thần đang suy nghĩ: nếu Chùa Hương đẹp như vậy thì hẳn nó còn phải có ý nghĩa lớn lao nào đấy. Ngọc Hoàng: Các ngươi nghĩ xem có đúng thế không? Nam Tào: Ngọc Hoàng còn nhớ lúc chúng ta đi qua rừng mơ không. Những cánh rừng mơ đã ửng vàng, toả hương thơm dịu nhẹ cả không gian. Mơ là đặc sản của Chùa Hương. Giống mơ vàng óng nơi đây nổi tiếng khắp đất nước bởi hương vị dịu nhẹ, quả chắc và mọng nước, thơm ngon không nơi nào có được. Nếu giã từ cảnh đẹp Hương Sơn, Ngọc Hoàng có thể mang về làm kỉ vật một gậy trúc đã chống trên đường hành hương, vài mảnh gốc mơ già để pha nước uống, những quả mơ dày cùi nhọ hạt và mấy mớ rau sắng nấu canh hương vị thơm ngọt. Đó đều là những kỉ niệm rất tuyệt vời. Bắc Đẩu: Thần nghĩ rằng cảnh đẹp Hương Sơn rất đa dạng, phong phú, vừa thực mà cũng thơ mộng, là trần thế mà thoáng chút thần tiên. Cảnh đẹp như thơ, như vẽ giúp chúng ta có thêm cảm hứng yêu núi sông này. Nét trội nhất, đặc sắc nhất của vẻ đẹp thiên nhiên Hương Sơn là sự hài hoà giữa non và nước, tạo nên vẻ tuyệt vời, xứng với bốn chữ “Sơn thuỷ hữu tình” khắc trên vách đá. Chính vì thế, đã có rất nhiều bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của Chùa Hương. Chùa Hương là nguồn gợi cảm hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt Nam. Trong số đó, hổi tiếng nhất có lẽ là Hương Sơn phong cảnh ca (.Bài ca phong cảnh Hương Sơn) của Chu Mạnh Trinh, làm từ thế kỉ XIX, xưa nay rất được ca ngợi: “Bầu trời cảnh Bụt Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay. Kìa non non, nước nước, mây mây, Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải? Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái Lững lờ khe Yến cá nghe kinh. […] Nhác trông lên, ai khéo hoạ hình, Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt. Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây ” Ngọc Hoàng: Theo ta nghĩ, du khách trở về với Hương Sơn như được trở về với cái thanh sạch, với đất thiền, cho tâm hồn trong trẻo, tinh khôi. Đứng trước những kiệt tác mà tạo hoá đã hào phóng ban tặng cho trời Nam ấy, cần rũ bỏ mọi bụi trần vương vấn, sống gần hơn với thiên nhiên để tìm lại cái thanh sạch cho tâm hồn. Khi xuống đây, ta đã lâng lâng một niềm vui, rời khỏi những công việc bộn bề trên Thiên đình để hoà vào một chốn Bồng Lai ngay trên trần gian. Nam Tào: Bắc Đẩu: Ngọc Hoàng nói chí phải ạ. Ngọc Hoàng: Cảm ơn các ngươi. Cuộc đi chơi của chúng ta hôm nay thật thú vị. Nếu chỉ cứ ngồi mãi trên Thiên đình thì chắc ta không thể biết rằng chốn trần gian lại có một ngôi chùa đẹp đến nhường này. Nhưng ta thấy cũng còn một vài điều cần nhắc nhở con người nơi hạ giới. Thứ nhất, ta thấy trên đường đi còn rất nhiều rác do khách du lịch vứt. Chính vì thế, ta sẽ gọi Táo Môi Trường đến để bảo ông ta nhắc nhở người dân có ý thức hơn. Thứ hai, đây là một ngôi chùa đẹp đã có từ rất lâu nên việc tu bổ, giữ gìn là vô cùng quan trọng. Ta sẽ đề nghị vị sư trụ trì tu bổ, sửa chữa những nơi đã cũ, có nguy cơ hỏng để chùa trở nên đẹp hơn, to hơn,… Nếu làm được như vậy thì ta tin chắc rằng Chùa Hương sẽ là một thắng cảnh không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Nam Tào: Thần nghe nói hình như Chùa Hương đang được UNESCO xem xét để có thể công nhận là Di sản thế giới đó ạ. Ngọc Hoàng: Nếu vậy thì tuyệt quá! Ta mong Chùa Hương sớm trở thành Di sản văn hoá thế giới. Thôi, cũng sắp tối rồi, ta và các ngươi cùng về Thiên đình. Năm sau, chắc ta sẽ rủ các Táo cùng xuống thưởng ngoạn cảnh tuyệt vời của Chùa Hương. (Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu cùng nhau trở lại Thiên đình. Tuy vậy, Chùa Hương đã để lại một ấn tượng vô cùng sâu sắc trong lòng mỗi người về vẻ đẹp hoàn thiện hoàn mĩ của nó). Đặng Kim Anh (Trường THCS Ngô Sĩ Liên) Tags:Danh thắng Hương Sơn · Tập làm văn 9 · Theo cách đối thoại · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về giới thiệu danh thắng Hương Sơn theo cách đối thoại – Tập làm văn 9
2,914
Hướng dẫn thuyết minh về một cuộc đối thoại về con trâu – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Một cuộc đối thoại về con trâu. Văn 9 Đề bài: Một cuộc đối thoại về con trâu. Bài làm Trời thu mát mẻ đang đần trải khắp làng quê Việt Nam. Chiều tà, ông mặt trời đang khoan thai hưởng thụ chút gió, chút nắng cuối cùng của một ngày. Gió hiu hiu thổi làm cách đồng lúa nhẹ nhàng dập dềnh như sóng biển vỗ bờ: không ào ạt mà mềm mại, dịu dàng. Trên cánh đồng, một nhóm bạn đang ngồi bàn luận rất sôi nổi: nào là bạn Ngô, Khoai, Sắn và cả bạn Lúa nữa. Các bạn đang tranh luận xem điều gì trực tiếp giúp đỡ các bác nông dân trên cánh đồng để có được những mùa bội thu như bây giờ đấy. Ngô mở đầu: – Theo tớ nghĩ, để có được những vụ mùa tốt tươi, con người phải có được loại hạt giống tốt. Chắc chắn hạt giống là quan trọng nhất. Ngô đang chắc chắn như đinh đóng cột thì Khoai phản đối ngay: – Ngô ơi, cậu quên mất rằng phải có đất thì mới gieo trồng được chứ. Đất mới là đúng nhất. – Nhưng các cậu không nhớ câu “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” à? Cánh đồng nào mà chả cần nước để sinh sống? Không là chết khô hết đấy! – Sắn không đồng tình với hai bạn. Ba bạn tiếp tục tranh cãi gay gắt, chỉ riêng Lúa nãy giờ vẫn suy nghĩ. – Kìa Lúa, ý kiến cậu thế nào? Đất là quan trọng nhất đúng không? – Khoai thúc giục Lúa, mong Lúa sẽ theo ý kiến của mình. Lúa nghĩ ngợi thêm một chút rồi lên tiếng, giọng phân vân: – ừm… Các cậu đều nói đúng cả. Đất, nước và hạt giống đều rất quan trọng nhưng đó đều là những yếu tố tự nhiên, được trời đất ban cho. Nhưng điều trực tiếp giúp đỡ con người trên đồng ruộng là gì nhỉ?… Sự chăm chỉ chăng?… Cũng không phải… A! Tớ nghĩ ra rồi! Cả ba bạn cùng chăm chú lắng nghe Lúa nói. Chắc hẳn, đây chính là một điều gì cao quý lắm đây. – Đó chính là Trâu – Lúa mỉm cười nói tiếp. – Hả! Là bác Trâu ấy à! – bất giác, cả ba bạn cùng đồng thanh rồi phá lên cười. – Đúng thế, là bác Trâu. Các cậu không biết đấy thôi chứ bác Trâu đã gắn bó với con người lâu lắm rồi. Từ thuở khai thiên lập địa, con người không thể tự san bằng đất được nên đã cầu cứu đến các con vật. Thế nhưng chỉ duy nhất có trâu là đồng ý giúp đỡ con người. Từ đó trở đi, trâu và người trở thành đôi bạn thân thiết của cánh đồng Việt Nam đấy. Ngô vẫn lắc đầu: – Cậu nói thế nào ấy chứ. Làm sao mà con trâu đen đen, người thì to đùng, cục mịch, chân thì ngắn cũn lại giúp đỡ nhiều cho bác nông dân được? Mà riêng miệng trâu nhé, lúc nào tớ cũng thấy nhai nhóp nhép mấy miếng cỏ non từ hôm trước ấy. Ghê lắm! – Ngô lấy tay che miệng, thì thầm cho chúng bạn nghe. – Thật á? Sao bác Trâu lại phải ăn uống khổ sở thế? – Sắn ngạc nhiên hỏi. Lúa cười phá lên rồi hân hoan nói: – Đấy là do các cậu không biết thôi. Trâu có nguồn gốc từ trâu rừng, được con người thuần hoá. Loài trâu là thuộc họ Bò, bộ Guốc chẵn, nhóm Sừng rỗng và đặc biệt là thuộc phân bộ Nhai lại. Thế nên, bác Trâu nhai đi nhai lại cỏ non là một đặc điểm riêng trâu có chứ không xấu đâu nhé! Nghe Lúa nói, Ngô, Khoai và sắn vẫn chưa tin lắm, càng nghe càng thấy tò mò về bác Trâu. Khoai thắc mắc: – Thế còn cậu bảo trâu giúp ích cho con người nông dân là giúp ích thế nào? Không lẽ chỉ vì chuyện từ hồi xưa thế thôi à? – Ừ, đúng đấy, cậu nói đi xem nào! – các bạn còn lại đồng thanh nói. – Đây nhé! – Lúa bắt đầu giải thích – Vì mỗi bác trâu đều nặng từ khoảng 200 đến 400 kg nên các bác rất khoẻ mạnh, việc gì khó nhọc, các bác đều giúp đỡ người nông dân hết. Từ sáng sớm tinh mơ, bác trâu đi trước, chăm chỉ, cần mẫn kéo chiếc cày, theo sau là bác nông dân. Thế mà mỗi ngày trâu phải kéo cày được 1,5 đến 4 sào cơ đấy. Mà chưa hết, trâu còn kéo xe chở hàng hoá giúp con người. Hay thịt trâu, sữa trâu đều cung cấp chất dinh dưỡng; phân trâu thì để bón ruộng, Tất có lợi cho cây trồng. Mà hằng ngày, các cậu đều nghe thấy tiếng trống trường làng ta vang lên, nhắc nhở các bạn học sinh vào lớp thì chính mặt trống ấy được làm bằng da trâu, trông vừa đẹp lại rất bền. Thế nhưng, một khi nhà ai đó có trâu thì yêu quý trâu nhiều lắm, không muốn xẻ thịt nó đâu. Trâu là bạn của con người mà! – Ừ, đúng đấy nhỉ. Công nhận là trâu thật sự rất quan trọng với làng quê Việt Nam. Mà hôm nào tớ cũng thấy các bạn nhỏ dắt trâu ra đồng ăn cỏ. Các bạn không chỉ ngồi nhìn trâu ăn cỏ mà còn cưỡi lên lưng, ngồi đó đọc sách, thả diều hay thổi sáo. Không chỉ có vậy mà các bạn còn chơi đùa với trâu vui vẻ lắm nhé! – Dĩ nhiên rồi! Các bạn nhỏ đều gắn bó với trâu từ thuở nhỏ đến khi trưởng thành cơ mà. Trâu gắn liền với tuổi thơ của không chỉ các bạn nhỏ mà còn của các cụ sinh ra và lớn lên ở làng quê đấy nhé – Ngô đồng tình. – Các cháu đúng là giỏi quá! – Bác cổ Thụ ở gần đó lên tiếng. – A! Bác Cổ Thụ! Chúng cháu chào bác ạ! – Cả bốn bạn cùng đồng thanh chào bác. – Chào các cháu – bác cổ Thụ ôn tồn nói tiếp – Nãy giờ, bác đã nghe hết câu chuyện và rất đồng ý với các cháu. Quả thật, hình ảnh những chú trâu giản dị, vạm vỡ đang thung thăng gặm cỏ non trên cánh đồng mênh mông, xanh mượt; trên lưng chở một chú bé ba chòm tóc đang ngồi thổi sáo diều vi vu, trong trẻo,… trông mới đẹp làm sao! – Còn nữa bác ạ, con trâu còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người. Ở Đồ Sơn ấy bác, năm nào người ta cũng tổ chức một hội hội trâu tưng bừng, náo nhiệt lắm. Cờ hoa tung bay phấp phới. Những chú trâu được chọn để thi đấu khi bước ra thì bệ vệ, trông quyết tâm lắm. Rồi khi đã vào cuộc đấu, hai chú trâu bao giờ cũng chọi nhau cho tới khi phân biệt thắng bại rõ ràng thì thôi. Cuộc chiến đấu gay go, kịch tính lắm bác ạ — sắn nói trong niềm phấn khởi – Mà chẳng phải đi đâu xa, ở làng mình ấy, hôm nào có lễ hội gì, các bác nông dân đều dẫn trâu ra đình, mặc cho trâu những tấm áo màu vàng, đỏ rất trang trọng. Trâu chính là niềm tự hào của người nông dân đấy mà! Bác Cổ Thụ khen: – Các cháu đều nói đúng cả! Con trâu chính là biểu tượng của cánh đồng, của làng quê và đặc biệt, trâu tượng trưng cho con người Việt Nam: chăm chỉ, cần cù, kiên trì và dũng cảm; không bao giờ lùi bước. Những chú trâu mang đến cho chúng ta một cảm giác quen thuộc và ấm áp. Con người, dù là đi đến nước nào trên thế giới, khi quay lại chỉ cần nhìn thấy con trâu trên cánh đồng là biết ngay mình đã về quê nhà. Năm bác cháu tiếp tục ngồi trò chuyện. Ở đằng xa, mặt trời đã xuống núi. Những tia nắng cuối cùng cũng khuất dần. Phía cuối con đường, bác nông dân đang dắt trâu về sau một ngày làm việc vất vả. Hình ảnh ấy mới đẹp làm sao! Con trâu của làng quê Việt Nam là một nét đẹp truyền thống cao quý mà không gì có thể thay đổi được! Trần Hà Giang (Trường THCS Trưng Vương) Tags:Cuộc đối thoại về con trâu · Tập làm văn 9 · Văn thuyết minh
Hướng dẫn thuyết minh về một cuộc đối thoại về con trâu – Tập làm văn 9
1,456
Hướng dẫn Thực hành các phép tu từ: Phép điệp và phép đối- Ngữ văn 10 Hướng dẫn THỰC HÀNH CÁC PHÉP TU TỪ: PHÉP ĐIỆP VÀ PHÉP ĐỐI I- LUYỆN TẬP VỀ PHÉP ĐIỆP NGỮ 1.Đọc những ngữ liệu sau để trả lời các câu hỏi. (1) Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc, Em có chồng rồi anh tiếc em thay. Ba đồng một mớ trầu cay, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá mắc câu. Cá mắc câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thuở nào ra. (Ca dao) (2) – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng: (Tục ngữ) -Có công mài sắt cố ngày nên kim. (Tục ngữ) -Bà con vì tổ vì tiên không phải vì tiền vì gạo. (Tục ngữ a.– Ở ngữ liệu (1), hình ảnh nụ tầm xuân đã được lặp lại nguyên vẹn trong câu thơ thứ ba. Đây là một ý đồ nghệ thuật khá rõ ràng của tác giả dân gian. Nó nhất quyết không thể thay thế bằng cụm từ hoa tầm xuân hoặc hoa cây này được, bởi chính nhờ sự lặp lại của cụm từ nụ tầm xuân, câu này mới gợi được sự liên tưởng đồng nhất giữa hình ảnh nụ tầm xuân và người con gái. Nếu được thay thế bằng những cụm từ trên, câu thơ này sẽ không còn chút ý nghĩa nghệ thuật nào. Hơn thế, cũng nhờ biện pháp điệp ngữ mà câu 2 và câu 3 mới có được một nhịp điệu hài hoà thuần nhất và ít nhiều câu thơ đã có thêm tính nhạc. -Cũng ở ngữ liệu (1), sự lặp lại trong các câu: Bây giờ em đã cố chồng, Như chim vào lồng, như cá mắc câu. Cá mắc câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thuở nào rà. Chính là nhằm mục đích nhấn mạnh, khắc sâu cái tình thế khó khăn của cô gái. Nếu thiếu đi sự so sánh này thì chắc chắn cái tình thế “đã có chồng” của cô gái chưa thể được hình dung một cách rõ ràng và sinh động được. Hình thức lặp ở trong hai câu thơ này cũng chính là cách lặp trong cụm từ nụ tầm xuân ở câu trên (đều là lối điệp vòng tròn). b.Các câu tục ngữ ở ngữ liệu (2), tuy cũng có những từ ngữ, hoặc những kiểu cấu trúc câu lặp lại nhau nhưng việc lặp từ ở đây không phải là phép điệp tu từ. Sự lặp lại ở đây chỉ có tác dụng diễn đạt cho rõ ý mà thôi. Phép điệp là biện pháp tu từ được xây dựng bằng cách lặp lại một hoặc một số yếu tố diễn đạt (vần, nhịp, từ, cụm từ, câu) nhằm nhấn mạnh, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa, có khả năng gợi hình tượng. 2.a. Tìm ba ví dụ có điệp từ, điệp câu nhưng không có giá trị tu từ. Loại điệp từ không có màu sắc tu từ có thể thấy xuất hiện rất phổ biến ở các bài văn. Nó chỉ có tác dụng nhằm diễn đạt cho rõ ý. Ví dụ: -Và cả những cây rừng, những cây rừng cũng tới, rừng Mai Châu, rừng đảo Cát Bà, ông lão nào đã quảy về đây những cây kim giao – mà tiếng đồn ngày xưa vua chúa cầm đũa chỉ cầm đũa bằng gỗ quý này. (Ngữ văn 10, tập hai, tr.64) -Cái đẹp của xứ Nghệ không phải ở nơi cánh đồng phì nhiêu… cái đẹp của Nghệ – Tĩnh là ở nơi núi non hùng vĩ,… (Ngữ văn 10, tập hai, tr.54) -Nhưng để chống được tham nhũng, trước hết phải hiểu tham nhũng là gì đã! (Báo Văn nghệ) b.Một số ví dụ về phép điệp trong các tác phẩm văn chương đã học. -Đến như văn thơ, thì lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được. (Tựa “Trích diễm thi tập”) -Khi sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường. Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bây thân! (Truyện Kiều) -Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên. Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chần g thăm thẳm đường lên bằng trời. (Chinh phụ ngâm) c.Viết một đoạn văn có phép điệp theo nội dung tự chọn. Gợi ý: Với yêu cầu của bài tập này, khi thực hiện cần chú ý phân biệt phép điệp có màu sắc tu từ (có tính gợi hình và gợicảm) với cách viết trùng lặp để làm rõ ý, hoặc phải viết đầy đủ các thành phần cho đúng ngữ pháp, hoặc do vô tình mà lặp lại không cần thiết. II- LUYỆN TẬP VỀ PHÉP ĐỐI 1.Đọc những ngữ liệu sau để trả lời các câu hỏi (tr.125, SGK). (1) – Chim có tổ, người có tông. (Tục ngữ) -Đói cho sạch, rách cho thơm. (Tục ngữ) -Người có chí ắt phải nên, nhà có nền ắt phải vững. (2) Tiên học lễ: diệt trò tham những, Hậu học văn: trừ thói cửa quyền: (Câu đối, báo Giáo dục và Thời đại, số Xuân 2000) (3) Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tốc tuyết nhường màu da. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) (4) Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt, Trót đem thân thế hẹn tang bồng. (Nguyễn Công Trứ) Gợi ý: a.Ở ngữ liệu (1) và (2), cách sắp xếp các từ ngữ đều có điểm đặc biệt đó là sự phân chia thành hai vế rất đều đặn và có sự đối ứng nhau rất chỉnh. Sự phân chia thành hai vế câu vừa cân đối và lại vừa có sự gắn kết với nhau đó là nhờ vào phép đối. Vị trí của các danh từ {chìm, người; tổ, tông các tính từ (đói, rách, sạch, thơm,…), các động từ (có, diệt, trừ,…) đều nằm ở thế đối ứng với nhau hoặc về thanh, hoặc về từ loại, hoặc về ý nghĩa,… khiến cho các câu văn hài hoà, cân đối với nhau. b.Ở trong ngữ liệu (3), các câu 2 và 4 đều có tồn tại phép đối. Phương thức đối trong các câu này là đối từ loại (khuôn trăng / nét ngài, đầy đặn / nở nang,…). Trong khi đó, ở ngữ liệu (4), phép đối được xây dựng theo kiểu đối ý và đối thanh. c.Một số ví dụ về phép đối: -Trong Hịch tướng sĩ (Trần Hưng Đạo) + Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. + Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm. -Trong Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi: +Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. + Dối trời lừa dân, đủ muôn nghìn kế, Gây binh kết oán, trải hai mươi năm. -Trong Truyện Kiểu: + Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình mình lại thương mình xót xa. -Trong một số bài thơ Đường luật: + Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. (Nguyễn Trãi, Cảnh ngày hè) + Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhàn) + Cổ kim hận Sự thiên nan vấn, (Nguyễn Du, Độc “Tiểu Thanh kí”) d.Định nghĩa về phép đối Phép đối là cách xếp đặt từ ngữ, cụm từ và câu ở vị trí cân xứng nhau để tạo hiệu quả giống nhau hoặc trái ngược nhau nhằm gợi ra một vẻ đẹp hoàn chỉnh và hài hoà trong diễn đạt để hướng đến làm nổi bật một nội dung ý nghĩa nào đó. 2.Phân tích các ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi (tr.126, SGK). -Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng. (Tục ngữ) -Bán anh em xa, mua láng giềng gần. (Tục ngữ) a.Các ngữ liệu nêu trên đều là tục ngữ và đều có sử dụng phép đối. Có thể nói trong tục ngữ, việc vận dụng phép đối để diễn đạt ý là khá phổ biến. Bởi ưu thế của phép đối trong tục ngữ ngoài việc tạo ra sự hài hoà, cân đối, nó còn giúp cho việc diễn đạt ý được khái quát và cô đọng. Đồng thời, nó cũng giúp cho người nghe, người đọc dễ nhớ và dễ thuộc. Các từ trong mỗi câu tục ngữ thường thuộc một kiểu đối nào đó (ví dụ: từ bắn và mua nằm trong phép đối từ loại và đối ý,…)- Vì thế không dễ để thay thế những từ này Thông thường, phép đối phải dựa vào những biện pháp ngôn ngữ cả về vần, về từ và về câu đi kèm. Trong đó đặc biệt là những biện pháp ngôn ngữ về từ và về câu. b.Tục ngữ ngắn mà có khả năng khái quát được hiện tượng rộng, đồng thời cũng dễ nhớ, dễ lun truyền. Bởi cách nói trong tục ngữ hàm súc cô đọng, đồng thời nhờ sự hỗ trợ tích cực của phép đối mà tục ngữ cũng dễ lun truyền và dễ nhớ hơn. 3.a. Có thể nêu ra những kiểu đối sau: -Kiểu đối thanh (trắc đối bằng): Chim có tổ (trắc)/ người có tông (bằng). -Kiểu đối về nghĩa: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. -Kiểu đối từ loại (tính từ đối tính từ, danh từ đối danh từ…): Đói cho sạch, rách cho thơm; Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân,… b.Muốn ra được vế đối cho phù hợp, cần xem lại đặc điểm của các kiểu đối nêu trên để vận dụng cho họp lí. Ví dụ: Tết đến, cả nhà vui như tết. Xuân về, trường lớp ngát hương xuân. (đối ý và đối thanh). XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VĂN BẢN VĂN HỌC – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Thực hành các phép tu từ_ Phép điệp và phép đối- Ngữ văn 10
1,680
Hướng dẫn Trình bày một số vấn đề – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ I.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Ví dụ: Yêu cầu trình bày về chủ đề: “Thời trang và tuổi trẻ”. 1.Chuẩn bị a.Xác định các đề tài nhỏ của vấn đề trên -Thời trang truyền thống với tuổi trẻ ngày nay. -Cách ăn mặc của giới trẻ hôm nay, -Trang phục với vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ,… b.Chọn đề tài Học sinh chọn tuỳ ý một đề tài (trên đây) hoặc có thể nghĩ ra một đề tài khác (vẫn nằm trong phạm vi của vấn đề). c.Lập đề cương -Trình bày những ý gì? -Các ý được sắp xếp ra sao? -Tự hệ thống ý, lập đề cương cho bài văn. Dưới đây là dàn ý cho đề tài “Trang phục với vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ (1)Trang phục là người bạn đồng hành thuỷ chung với con người, đặc biệt nó quan trọng và có ý nghĩa nhiều hơn với người phụ nữ. -Con người có nhiều nhu cầu trong cuộc sống, trong đó cơm ăn, áo mặc là nhu cầu thiết yếu nhất. -Trang phục làm đẹp con người cả hình thức lẫn nội dung (thể hiện qua quan niệm và cách thức ăn mặc). . – Mỗi người đẹp làm tăng thêm vẻ đẹp của cộng đồng. (2)Trang phục đẹp không thay thể được vẻ đẹp của tính cách, của tâm hồn: -Dân gian từng nói “cái nết đánh chết cái đẹp”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. -Trang phục chủ yếu làm nên cái đẹp bên ngoài (dễ nhạt phai). Cái đẹp về tính cách, về tâm hồn tuy khó thấy nhưng nó có giá trị và vô cùng bền vững. -Tuy nhiên cần phải thấy người ta đã “đẹp nết” lại cần phải học để “đẹp người” (cách ăn mặc). -Đẹp không có nghĩa là chơi trội, lập dị, tách biệt (như một bộ phận trong giới trẻ hiện nay). -Đẹp phải hài hoà giữa truyền thống và hiện đại. Cái đẹp phải tìm được sự ủng hộ và cảm mến ở mọi người. d.Chuẩn bị trước lời chào hỏi, nhũng câu chuyển ý và dự kiến trước một số tình huống có thể xảy ra (từ đó chuẩn bị cách úng phó). 2.Tiến hành trình bày Lần lượt tiến hành các công việc: -Chào hỏi khi xuất hiện. -Giới thiệu nội dung bài nói. -Trình bày lần lượt các ý đã nêu trong đề cương. -Kết thúc bài nói và cảm ơn người nghe. II.LUYỆN TẬP 1.(1) Bắt đầu trình bày: 5, 6, 7. (2)Trình bày nội dung chính: 4. (3)Chuyến qua câu đề khác: 1, 2. (4) Tóm tắt và kết thúc nội dung trình bày: 3, 8. 2.Triển khai các đề tài thành những khía cạnh nhỏ để chuẩn bị nội dung cho bài trình bày: a.Đề tài: Nét thanh lịch trong ứng xử hằng ngày. -Thanh lịch là một nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc ta. -Thanh lịch thể hiện trong: + Lời ăn tiếng nói hằng ngày. + Cách ăn mặc. + Thái độ sẵn sàng giúp đỡ. + Sự kính nhường. -Nét thanh lịch trong ứng xử hằng ngày của học sinh: + Thái độ lễ phép, trung thực, thẳng thắn. + Ăn mặc theo chuẩn mực của người học sinh. + Quan hệ bạn bè chân thật, hoà nhã. + Sẵn sàng giúp đỡ mọi người. b.Đề tài: Nghệ thuật gây thiện cảm -Gây thiện cảm là chìa khoá quyết định sự thành công vì: + Tạo ra được sự chú ý tốt đẹp ngay từ lúc ban đầu. + Tạo ra sự thuận lợi cho việc học hành, công việc và sự phấn đấu vươn lên. + Quan tâm tìm hiểu trước đối tượng (sở thích, thói quen, tính tình…). + Chuẩn bị trước lời ăn tiếng nói cho phù hợp. + Có óc khôi hài để chủ động tạo ra không khí gần gũi thân mật và vui vẻ. + Khéo léo tạo cho người khác niềm tin về năng lực, tình cảm,… của mình. c.Đề tài: Thần tượng của tuổi học trò -Thế nào là thần tượng? (là người mà mình yêu mến và cảm phục vì tài năng, nhân cách hay một năng lực đặc biệt nào đó,…). -Thần tượng có ích gì (là mục tiêu để chúng ta phấn đấu và hướng tới hoặc đơn thuần là tấm gương, là động lực cho chúng ta học tập). -Thần tượng của giới trẻ hôm nay là gì? + Chủ yếu là các ngôi sao điện ảnh, ca nhạc, thể thao,… + Cách thức “tôn thờ” thần tượng của giới trẻ hôm nay có nhiều thái quá (nhiều khi vượt qua cả những giới hạn đạo đức). + Ngày nay việc tôn thờ thần tượng có khi lại có hại cho việc học hành. -Cần phải quan niệm thế nào cho đúng về thần tượng: + Yêu quý là không sai nhưng cần có cách thể hiện văn hoá. + Cần phải coi đó là một động lực để học hành hoặc ít ra thần tượng cũng phải có những điểm khiến ta ham mê và khâm phục thực sự. + Cần tránh lối tôn thờ thần tượng theo kiểu a dua. d.Đề tài: Giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp -Môi trường sống của chúng ta hiện đang bị tàn phá và ô nhiễm vô cùng nghiêm trọng (sưu tầm những số liệu): + Nạn phá rừng bừa bãi. + Xả rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp vô ý thức. + Nguy hiểm đến tính mạng (lũ lụt, lở đất,…). + Gây hậu quả lâu dài (các chất độc hại gây ra các bệnh truyền nhiễm, sinh dị tật, thiểu năng hoặc tử vong). + Gây thiệt hại về vật chất cho xã hội. -Giải pháp gìn giữ, môi trường xanh, sạch,đẹp: + Xây dựng, quy hoạch nơi xử lí rác thải. + Quản lí chặt và xử lí nghiêm ngặt các hành vi làm tổn hại môi trường (chặt phá rừng, xả rác vô ý thức). + Giáo dục, nâng cao ý thức của mọi người về việc bảo vệ môi trường sống. e.Đề tài: An toàn giao thông là hạnh phúc của mỗi người -Mất an toàn giao thông là tình trạng phổ biển và đáng báo động ở nưóc ta hiện nay (đưa ra số liệu). -Mất an toàn giao thông gây nhiều tai hoạ cho con người: + Nguy hiểm đến tính mạng (gây chết người). + Để lại nhiều thương tích làm giảm hoặc mất khả năng lao động và cũng vì thế trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. + Gây thiệt hại về vật chất. + Gây ùn tắc giao thông, làm lãng phí thời gian, ảnh hưởng đến sức khoẻ, công việc,… của nhiều người. -Giải pháp lập lại trật tự an toàn giao thông: + Xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông cơ bản, hiện đại. + Nâng cao chất lượng các phương tiện giao thông. + Giáo dục nâng cao ý thức tôn trọng luật lệ giao thông của tất cả mọi người. 3.Để trình bày, người nói cần chuẩn bị thêm lời giới thiệu, mở đầu, dự kiến một số tình huống ứng xử và phần cảm ơn. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CẢM XÚC MÙA THU – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Trình bày một số vấn đề – Ngữ văn 10
1,163
Hướng dẫn Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn thuyết minh – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TÍNH CHUẨN XÁC, HẤP DẪN CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH I.- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Tính chuẩn xác trong văn bản thuyết minh -Văn bản thuyết minh có nhiệm vụ đưa ra những tri thức về sự vật, hiện tượng. Công việc thuyết minh chỉ đạt được ý nghĩa và mục đích của nó khi tri thức nêu ra trong văn bản chuẩn xác. Do vậy, chuẩn xác về nội dung là tiêu chuẩn đầu tiên và quan trọng nhất của mọi văn bản thuyết minh. -Để đạt được sự chuẩn xác trong mỗi văn bản thuyết minh, cần lưu ý một số điểm sau đây: + Phải tìm hiểu một cách thấu đáo sự vật, sự việc, hiện tượng,… trước khi viết. + Thu thập đầy đủ những tài liệu tham khảo, tìm được những tài liệu có giá trị của các nhà khoa học, của các cơ quan chuyên trách về vấn đề cần thuyết minh. + Luôn chú ý đến thời điểm xuất bản của các tài liệu để có thể cập nhật những thông tin mới, cũng như những thay đổi thường xuyên của vấn đề (ví như sự gia tăng dân số, tỉ lệ người nghiện ma tuý hằng năm…) Văn bản thuyết minh đòi hỏi những tri thức được giới thiệu, trình bày phải có cơ sở khoa học, phải được kiểm chứng và phải phù hợp với chuẩn mực được công nhận, chứ không phải chỉ là những phỏng đoán thiếu căn cứ, mơ hồ. Vì thế cần phải tôn trọng khách quan. Tính khách quan cùng với tính khoa học luôn thuộc vào những đặc điểm quan trọng nhất của văn bản thuyết minh. 2.Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh Ngoài tính chuẩn xác, văn bản thuyết minh còn cần phải hấp dẫn thì mới lôi cuốn, thu hút được sự chú ý quan tâm của người đọc. Có nhiều cách làm cho bài văn thuyết minh hấp dẫn. Có thể kể ra một số cách sau đây: a.Khi thuyết minh một vấn đề trừu tượng, cần đưa ra những sự việc, những chi tiết, những con số cụ thể để bài văn thêm sinh động, không mơ hồ. b.Khi thuyết minh cần sử dụng so sánh để làm nổi bật sự khác biệt nhằm tạo ra những ấn tượng sâu sắc, khiến, người đọc (người nghe) nhớ rõ, nhớ lâu, c.Câu văn thuyết minh phải biến hoá linh hoạt, tránh đơn điệu (có thể sử dụng nhiều kiểu câu dài ngắn khác nhau, nhiều giọng điệu khác nhau, V.V.). d.Văn thuyết minh, tuỳ trường hợp, cũng rất cần người viết phô bày tình cảm, cảm xúc. Tình cảm chân thật góp phần không nhỏ vào việc làm cho lời văn hấp dẫn. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Kiểm tra tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh về chương trình học Ngữ văn 10. Gợi ý: đối chiếu với mục lục sách Ngữ văn 10 để thấy được những điểm chưa chuẩn xác trong câu văn đã nêu. Đó là: -Chương trình Ngữ văn 10 không phải chỉ có văn học dân gian. -Chương trình Ngữ văn 10 học về phần văn học dân gian không phải chỉ có ca dao, tục ngữ. 2.Kiểm tra tính chuẩn xác của các câu văn: Gọi “Đại cáo bình Ngô là áng thiên cổ hùng vân vì đó là bài văn hùng tráng đã được viết ra từ nghìn năm trước”. Gợi ý: Câu văn này giải thích ý cụm từ “thiên cổ hùng văn” chưa chuẩn xác vì nó không phù hợp với ý nghĩa thực của cụm từ này. “Thiên cổ hùng văn” là “áng hùng văn của nghìn đời” chứ không phải là áng hùng văn viết trước đây một nghìn năm. 3.Xem xét văn bản thuyết minh dưới đây về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có nên dùng văn bản này để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hay không? Giải thích lí do. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là một trong những ông trạng nổi tiếng nhất của khoa cử Việt Nam. Ông là người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lí Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Năm 1535, thời Mạc Đăng Doanh, ông đỗ đầu cả ba kì thi. Nhưng ông chỉ làm quan với nhà Mạc có 7 năm, và sau khi dâng sớ xin chém 18 tên quyền thần mà không được, ông xin trí sĩ ở quê nhà. Ở quê, ông mở trường dạy học bên sông Hàn – tức sông Tuyết –nên khi mất, học trò tôn ông làm Tuyết Giang Phu Tử. Mặc dầu ông đã về trí sĩ, nhà Mạc vân kính trọng và vẫn hỏi ông về việc nước. Khi ông sắp mất, nhà Mạc có phong cho ông tước Trình Quốc công. Vì thế, người đời sau gọi ông là Trạng Trình. Gợi ý: Văn bản dẫn trong bài tập này không thể dùng để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm được vì nội dung của nó không nói gì đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách một nhà thơ. 4.Đọc đoạn văn sau (dẫn theo SGK) và cho biết tác giả đã làm như thế nào để luận điểm trở nên cụ thể, dễ hiểu và hấp dẫn. Nếu bị tước đi môi trường kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm. Ví dụ, các nhà nghiên cứu tại Trường Đại học Y khoa Bai-lo đã phát hiện ra rằng những đứa trẻ ít được chơi đùa hoặc ít được tiếp xúc sẽ có bộ não bé hơn bình thường 20 — 30% so với lứa tuổi của chúng. Các vật nuôi ở trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy điều xảy ra tương tự. Các nhà nghiên cứu tại Trường Đại học I-li-noi ở Ur-ba-na Sam-pa đã phát hiện ra rằng những con chuột con được nuôi trong cũi có rải đồ chơi không những biểu hiện sự ứng xử phức tạp hơn những con chuột nhốt trong những hộp rỗng không có gì hấp dẫn, mà bộ não của những con chuột này còn có số tiếp điểm thần kinh cho mỗi nơ-ron nhiều hơn (tới 25%) so với những con chuột kia. Nối cách khác, càng trải qua nhiều kinh nghiệm càng làm cho bộ não giàu hơn. (Vũ Đình Cự (Chủ biên), Giáo dục hướng tới thế kỉ XX) 5.Đọc đoạn trích sau (dẫn theo SGK) và phân tích tác dụng tạo hứng thú của việc kể lại truyền thuyết về hòn đảo An Mạ: Hồ Ba Bể từ lâu đã, nổi tiếng là danh lam thắng cảnh bậc nhất ở Việt Nam… Chuyện kể rằng:“Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, cả khu vực hồ Ba Bể ngày nay là một vùng trù phú… Rồi bỗng một đêm trời nổi cơn thịnh nộ, mưa đổ ầm ầm, nước sông dâng lên, mặt đất nứt nẻ và sụp xuống làm cho cả vùng dân cư đều cuốn theo dòng nước. Duy chỉ có một người đàn bà sống cô đơn, hiền lành, chân thật là thoát nạn, vì bà đã được báo trước trận hồng thuỷ sẽ xảy ra. Theo lời dặn, bà goá đã lấy tro rắc quanh nhà và lấy hạt thóc bà tiên để lại cắn đôi thả xuống hồ, vỏ thóc biến thành những chiếc thuyền để cứu người gặp nạn. Cả vũng thung lũng trù phú đã trở thành biển nước mênh mông. Chỉ còn một mảnh đất nhỏ nhoi là khu nhà của người đàn bà sống hiền lành, đức độ, người ta gọi đó là Pò Giá Mải (đảo bà goá)… Mảnh đất cuối cùng còn sót lại nằm giữa hồ Hai đất đai màu mỡ là nơi an nghỉ của những người xấu số trong trận hồng thuỷ năm xưa. Nhân dân trong vùng đã lập một đền thờ ở đảo này để tưởng nhớ đến những người đã khuất. Vì vậy hòn đảo có tên là An Mạ (nơi an nghỉ của dân làng). Đó là truyền thuyết gắn liền với sự hình thành hồ Ba Bể theo cách lí giải của người xưa. (Theo Bùi Văn Định, Ba Bể- huyền thoại và sự thật) Gợi ý: Ta hãy nhớ lại truyện Sự tích Hồ Gươm. Việc biết sự tích vua Lê trả kiếm cho rùa thần tạo thích thú cho ta khi đứng trước Hồ Gươm. Ta không chỉ thấy phong cảnh Hồ Gươm hôm nay mà còn hiểu sâu về lịch sử, về văn hoá, về đời sống tâm linh của dân tộc. Chính vì thế khi tham quan một thắng cảnh, một di tích nào, ta cũng muốn biết những sự tích, những truyền thuyết liên quan đến thắng cảnh, di tích đó. Nắm bắt được tâm lí đó, người viết bài thuyết minh này đã làm cho hình ảnh hồ Ba Bể trở nên hấp dẫn hơn khi gắn nó với những sự tích, những truyền thuyết giúp ta như trở về một thuở xa xưa thần tiên, kì ảo. Ngắm phong cảnh với những cảm xúc như thế, tâm hồn ta sẽ ngày càng giàu có và sâu sắc hơn. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Đọc đoạn trích sau và phân tích tính hấp dẫn của nó. […] Thật thế, phở đối với một hạng người, không còn là một món ăn nữa, mà còn là một thứ nghiện, như nghiện nước trà tươi… Ngay từ ở đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong, rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở: thật là cả một bài trí nên thơ. Qua lần cửa kính ta đã thấy gì? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quả ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ gầu cố, vè cũng có,… Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Một làn khói toả ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương móng, mơ hồ như một bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu. Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế, thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp, ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được.[…] (Theo Vũ Bằng, Miếng ngon Hà Nội) Gợi ý: Đoạn văn thuyết minh của Vũ Bằng sinh động và hấp dẫn vì: -Sử dụng linh hoạt các kiểu câu: câu đơn, câu ghép, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu khẳng định. -Dùng những từ ngữ giàu hình tượng, giàu liên tưởng: “Bó hành hoa xanh như lá mạ”, “một làn khói toả ra khắp gian hàng … mơ hồ như một bức tranh tàu”,… -Kết hợp nhiều giác quan (thị giác, khứu giác, vị giác) và liên tưởng phong phú khi quan sát: nói chuyện ăn phở mà lại liên tưởng cuốn hút như đang trèo lên đỉnh chùa Hương, nghiện phở như nghiện nước trà,… -Đoạn trích còn hấp dẫn bởi cách bộc lộ cảm xúc trực tiếp, chân thực bằng những câu cảm thán: + Trông mà thèm quá! + Có ai lại đừng vào ăn cho dược… XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn thuyết minh – Ngữ văn 10
1,946
Hướng dẫn Tổng kết phần văn học – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TỔNG KẾT PHẦN VĂN HỌC 1.Tổng kết khái quát về văn học Việt Nam Văn học Việt Nam gồm hai bộ phận lớn: Văn học dân gian và Vàn học viết. Hai bộ phận văn học này đều mang những đặc điểm truyền thống của văn học Việt Nam, đó là: tinh thần yêu nước chống xâm lược, tinh thần nhân văn, đề cao đạo lí, nhân nghĩa. Nhưng cũng có những đặc trưng riêng (xem bảng so sánh dưới đây): 2.Tổng kết bộ phận văn học dân gian. -Chú ý ba đặc trưng cơ bản của văn học dân gian: + Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng. + Là kết quả của quá trình sáng tác tập thể. + Gắn bó với những hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng (văn học dân gian mang tính nguyên hợp). -Hệ thống thể loại văn học dân gian (tổng kết theo loại thể): + Tự sự gồm thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ, vè. + Trữ tình: gồm có ca dao – dân ca. + Sân khấu dân gian (Kịch), bao gồm chèo, tuồng dân gian, múa rối. Chú ý: Riêng tục ngữ và câu đố có những đặc trưng riêng (thường tồn tại dưới dạng những câu văn nhưng có vần, có đối, có khi cũng rất giàu hình ảnh và nhạc điệu). Như thế, nó vừa mang những đặc trưng của thể loại tự sự lại vừa mang những đặc trưng của thể loại trữ tình. -Những giá trị của văn học dân gian truyền thống: giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị nghệ thuật. a.Văn học viết Việt Nam được chia thành hai thời kì lớn: thời kì văn học trung đại và thời kì văn học hiện đại. -Đặc điểm chung: + Văn học viết phản ánh hai nội dung lớn là nội dung yêu nước và nội dung nhân đạo. + Thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam trong những mối quan hệ đa dạng như quan hệ với thế giới tự nhiên, quan hệ với quốc gia, với dân tộc, quan hệ xã hội, quan hệ bản thân. -Đặc điểm riêng (xem bảng so sánh dưới đây): b.Một số tác phẩm và trào lưu văn học chứng tỏ văn học Việt Nam phát triển trong sự ảnh hưởng qua lại với các yếu tố truyền thống dân tộc, tiếp biến văn học nước ngoài: Truyện Kiều của Nguyễn Du (trong sự so sánh với Kim Vân Kiều truyện của Thảnh Tâm Tài Nhân), thơ ca lãng mạn 1930 – 1945 (ảnh hưởng thơ tượng trưng, thơ lãng mạn Pháp,…), văn học hiện thực (ảnh hưởng của văn học hiện thực phương Tây thế kỉ XIX),… 4.Tổng kết văn học viết Việt Nam thời kì từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. a.Văn học trung đại gồm hai thành phần văn học: chữ Hán và chữ Nôm; được chia thành bốn giai đoạn văn học: từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV, từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII, từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX, nửa cuối thế kỉ XIX. -Những đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam: + Nội dung yêu nước với những biểu hiện phong phú, đa dạng, vừa phản ánh truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, vừa chịu sự tác động của tư tưởng “trung quân ái quốc”. + Nội dung nhân đạo trong văn học trung đại được xây dựng trên cơ sở truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam, kết hợp những ảnh hưởng tư tưởng tích cực vốn có của đạo Nho, đạo Phật và đạo Lão. Truyền thống nhân văn của người Việt Nam biểu hiện qua lối sống tương thân tương ái, qua những nguyên tắc đạo lí, những cách ứng xử tốt đẹp giữa người với người trong xã hội,… Tư tưởng nhân văn của Phật giáo là lòng từ bi, bác ái; của Đạo giáo là sống thuận theo lẽ tự nhiên, hoà hợp với tự nhiên ; của Nho giáo là học thuyết nhân nghĩa, tư tưởng thân dân. *Về nghệ thuật: những điểm lớn là tính quy phạm, tính trang nhã, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nước ngoài, vừa sáng tạo những giá trị văn học mới mang bản sắc dân tộc. b.Thống kê những thể loại văn học trung đại đã học: c.Thống kê những tác giả, tác phẩm văn học trung đại tiêu biểu và những điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật. Gợi ý: Xem lại mục lục để thống kê tên tác giả, tác phẩm. Đồng thời xem lại phần ghi nhớ của mỗi bài để thống kê những điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật. Gợi ý: Đây là một câu hỏi có phạm vi bao quát rộng. Mỗi tác phẩm lại có biểu hiện về nội dung yêu nước và nhân dạo riêng, điều quan trọng là thấy được những biểu hiện vừa đa dạng vừa thống nhất của hai nội dung này. Cần xem lại phần ghi nhớ của mỗi bài và phần giảng văn ở trên lớp để vận dụng vào việc phân tích mỗi bài cụ thể. 6.Tổng kết phần Văn học nước ngoài. Nêu những thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của văn học cổ Hi Lạp, Ấn Độ, văn học trung đại Trung Quốc, Nhật Bản, những thể loại lớn như Sử thi, thơ Đường luật, thơ hai-cư, tiểu thuyết chương hồi. Gợi ý: Cần lập bảng thống kê theo loại thể, đồng thời so sánh các tác phẩm văn học Việt Nam có loại thể tương ứng với văn học nước ngoài hoặc các tác phẩm văn học nước ngoài tương ứng với nhau để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt. -Về sử thi -Về thơ Đường và thơ hai-cư -Về “Tam quốc diễn nghĩa ” Tam quốc diễn nghĩa thuộc loại tiểu thuyết chướng hồi với đặc điểm nổi bật là kể lại sự việc theo trình tự thời gian. Tính cách nhân vật thường được thể hiện thông qua hành động và ngôn ngữ đối thoại. 7.Tổng kết phần Lí luận văn học Gợi ý: ôn tập lại những kiến thức theo yêu cầu của SGK
Hướng dẫn Tổng kết phần văn học – Ngữ văn 10
1,054
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 2: Văn Tự Sự – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 2: VĂN TỰ SỰ ĐỀ 1. Kể lại một truyện cổ tích hoặc một truyện ngắn mà anh (chị) yêu thích (Ví dụ: Sọ Dừa. Bến quê, Những ngôi sao xa xôi,…). Gợi ý. Bài làm phải đảm bảo vừa đúng vừa đủ nội dung cốt truyện. Kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình. Tuy nhiên, trong khi kể vẫn có thể dẫn y nguyên câu văn hoặc lời đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm. Có thể tham khảo dàn ý dưới đây (kể lại truyện cổ tích Sọ Dừa). I.Mở bài -Kể giới thiệu gia cảnh bố mẹ Sọ Dừa. -Sự ra đời thần kì và hình ảnh dị dạng của Sọ Dừa. II.Thân bài Lần lượt kể các sự việc sau: -Sọ Dừa đi chăn bò cho nhà phú ông nhưng tưởng sẽ rất khó khăn nhưng cậu lại chăn rất giỏi. -Phú ông cắt cử ba cô con gái đưa cơm cho Sọ Dừa. + Hai cô chị ác nghiệt, kiêu kì, thường hắt hủi Sọ Dừa. + Cô út hiền lành, tính hay thương người, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế. +Cô út nhiều lần bắt gặp Sọ Dừa biến thành chàng trai tuấn tú khôi ngô và đem lòng yêu thương chàng. +Sọ Dừa đòi mẹ sang hỏi cho mình con gái phú ông. +Hai cô chị xấu tính nên từ chối. Cô út vì biết được thân hình của Sọ Dừa nên cúi mặt, e lệ bằng lòng, -Sọ Dừa đi thi. Trước khi đi còn dặn dò và trao cho vợ những vật hộ thân. -Hai cô chị bày mưu ác rồi đẩy cô em vào bụng cá. -Cô em không chết, dạt vào sống ở đảo hoang rồi may mắn nhờ vào những vật hộ thân mà gặp được chồng mình. III.Kết bài -Hai cô chị thấy cô em trở về thì xấu hổ bỏ đi biệt tích. -Vợ chồng quan trạng từ đấy sống hạnh phúc bên nhau. Gợi ý. Với kiểu loại đề bài này, người viết phải biết lựa chọn những chi tiết, những sự việc tiêu biểu trong tác phẩm rồi diễn đạt lại bằng văn phong của mình, tránh kể dài dòng, quá tham chi tiết. Bài viết tham khảo: Bài 1. Kể lại truyện cổ tích Sọ Dừa. Ngày xưa, có hai vợ chồng một lão nông nghèo đi ở cho nhà một phú ông. Họ hiền lành, chăm chỉ nhưng đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có lấy một mụn con. Một hôm, người vợ vào rừng lấy củi. Trời nắng to, khát nước quá, thấy cái sọ dừa bên gốc cây to đụng đầy nước mưa, bà bèn bưng lên uống. Thế rồi, về nhà, bà có mang, ít lâu sau, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa con không có chân tay, mình mẩy, cứ tròn lông lốc như một quả dừa. Bà buồn, toan vứt nó đi thì đứa bé lên tiếng bảo. -Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp. Bà lão thương tình để lại nuôi rồi đặt tên cho cậu là Sọ Dừa. Lớn lên, Sọ Dừa vẫn thế, cứ lăn lông lốc chẳng làm được việc gì. Bà mẹ lấy làm phiền lòng lắm. Sọ Dừa biết vậy bèn xin mẹ đến chăn bò cho nhà phú ông. Nghe nói đến Sọ Dừa, phú ông ngần ngại. Nhưng nghĩ: nuôi nó thì ít tốn cơm, công sá lại chẳng đáng là bao, phú ông đồng ý. Chẳng ngờ cậu chăn bò rất giỏi. Ngày ngày, cậu lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà. Cả đàn bò, con nào con nấy cứ no căng. Phú ông lấy làm mừng lắm! Vào ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho Sọ Dừa. Trong những lần như thế, hai cô chị kiêu kì, ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa, chỉ có cô em vốn tính thương người là đối đãi với Sọ Dừa tử tế. Một hôm đến phiên cô út mang com cho Sọ Dừa. Mới đến chân núi, cô bỗng nghe thấy tiếng sáọ véo von. Rón rén bước lên cô nhìn thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tủ đang ngồi trên chiếc võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Thế nhưng vừa mới đứng lên, tất cả đã biến mất tăm, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như vậy, cô út biết Sọ Dừa không phải người thường, bèn đem lòng yêu quý. Đen cuối mùa ở thuê, Sọ Dừa về nhà giục mẹ đến hỏi con gái phú ông về làm vợ. Bà lão thấy vậy tỏ ra vô cùng sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ mãi, bà cũng chiều lòng. Thấy mẹ Sọ Dừa mang cau đến dạm, phú ông cười mỉa mai: -Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây. Bà lão đành ra về, nghĩ là phải thôi hẳn việc lấy vợ cho con. Chẳng ngờ, đúng ngày hẹn, bỗng dưng trong nhà có đầy đủ mọi sính lễ, lại có cả gia nhân ở dưới nhà chạy lên khiêng lễ vật sang nhà của phú ông. Phú ông hoa cả mắt, lúng túng gọi ba cô con gái ra hỏi ý. Hai cô chị bĩu môi chê bai Sọ Dừa xấu xí rồi ngúng nguẩy đi vào, chỉ có cô út là cúi đẩu e lệ tỏ ý bằng lòng. Trong ngày cưới, Sọ Dừa cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, chẳng ai thấy Sọ Dừa trọc lốc, xấu xí đâu chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú đứng bên cô út. Mọi người thấy vậy đều cảm thấy sửng sốt và mùng rỡ, còn hai cô chị vừa tiếc lại vừa ghen tức. Từ ngày ấy, hai vợ chồng Sọ Dừa sống với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra rất thông minh. Chàng ngày đêm miệt mài đèn sách và quả nhiên năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Thế nhưng cũng lại chẳng bao lâu sau, Sọ Dừa được vua sai đi sứ. Trước khi đi, chàng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà nói là để hộ thân. Ganh tị với cô em, hai cô chị sinh lòng ghen ghét rắp tâm hại em để thay làm bà trạng. Nhân quan trạng đi vắng, hai chị sang rủ cô út chèo thuyền ra biển rồi cứ thế lừa đẩy cô em xuống nước. Cô út bị cá kình nuốt chửng, nhưng may có con dao cô lấy dao khoét bụng cá chui ra. Cô dạt vào một hòn đảo, đánh đá lấy lửa nướng thịt cá ăn. Sống được ít ngày trên đảo, cặp gà cũng kịp nở thành một đôi gà đẹp để làm bạn cùng cô út. Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, con gà trống nhìn thấy bèn gáy to: Ò… ó… o Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về. Quan cho thuyền vào xem, chẳng ngờ đó chính là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Đưa vợ về nhà, quan trạng mở tiệc mừng mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai cô chị thấy thế khấp khởi mừng thầm, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Hai cô chị nhìn thấy cô em thì xấu hổ quá, lén bỏ ra về rồi từ đó bỏ đi biệt xứ. Bài 2. Kể lại truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu. Nhĩ vừa ngồi trên giường bệnh để vợ bón cho từng thìa thức ăn vừa nghĩ, thời tiết đã thay đổi, đã sắp lập thu rồi. Cái nóng ở trong phòng cùng ánh sáng loa lóa ở mặt sông Hồng đã không còn nữa. Vòm trời như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, nơi một vùng phù sa lâu đời của sông Hồng đang phô ra trước khuôn cửa sổ gian gác nhà Nhĩ những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Suốt đời, Nhĩ đã từng đi khắp đó đây vậy mà cái bờ bên kia sông Hồng tưởng như gần gũi nhung lại xa lắc xa lơ bời anh chưa đặt chân đến đó bao giờ. Nhĩ khó nhọc nâng cánh tay lên ẩy cái bát miến trên tay của Liên ra. Anh chàng ngửa mặt như một đứa trẻ để cho thằng con lau mặt. Chờ khi đứa con trai đã bưng thau nước xuống dưới nhà, anh hỏi vợ: -Đêm qua lúc gần sáng em có nghe thấy tiếng gì không? -Liên giả vờ không nghe chồng nói. Anh lại tiếp: Liên vẫn không đáp. Chị biết chồng đang nghĩ gì. Chị đưa nhũng ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve chồng, rồi an ủi: -Anh cứ yên tâm, vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng chăm lo cho anh được. Nhĩ thấy thương Liên. Cả đời chị đã vì anh mà khổ. Anh thương chị lắm nhưng chẳng biết nói sao. Ngừng một lát, Liên lại động viên anh: -Anh cứ tập tành và uống thuốc. Sang tháng mười, nhất định anh sẽ đi lại được. Nhĩ thoáng chốc quên đi bệnh tật. Anh bị cuốn vào những câu nói bông đùa của Liên. Nhưng rồi, Liên đặt bàn tay vào sau phiến lưng đã có nhiều mảng thịt vừa chai cứng vừa lở loét của Nhĩ. Thế là cái cảm giác mệt mỏi vì bệnh tật lại trở về với anh. Liên đã đi ra ngoài và dọn dẹp. Chị hãm thuốc cho chồng xong rồi đi chợ. Chờ cho vợ đi hẳn xuống dưới nhà rồi, Nhĩ mới gọi cậu con trai vào và nói: -Đã bao giờ con sang bên kia chưa? Nhĩ vừa nói vừa ngước nhìn ra ngoài cửa sổ. Cậu con trai dường như nghe chưa rõ bèn hỏi lại: -Sang đâu hả bổ? -Bên kia sông ấy! Tuấn đáp vẻ hững hờ: -Chưa… -Nhĩ tập trung hết sức còn lại để nói ra cái điều ham muốn cuối cùng của đời anh: -Bây giờ con sang bên kia sông hộ bố. -Để làm gì ạ? -Chẳng để làm gì cả. Nhĩ ngượng nghịu nhận ra sự kì quặc trong ý nghĩ của mình. Nhưng anh vẫn tiếp: -Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi loanh quanh đâu đó hoặc vào một hàng quán nào đó mua cho cha cái bánh rồi về. Cậu con trai miễn cưõng mặc quần áo, đội chiếc mũ nan rộng vành rồi ra đi. Vừa nghe Tuấn bước xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần, lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài phiến nệm nằm, anh mệt lử và đau nhức. Anh chỉ muốn có ai đỡ cho để nằm xuống. Nghe tiếng buúc chân ở bên kia tường, Nhĩ cúi xuống thở hổn hển để lấy lại sức rồi cất tiếng gọi yếu ót: “Huệ ơi!”. Cô bé nhà bên chạy sang. Và dường như đã rất quen, cô lễ phép hỏi: “Bác cần nằm xuống phải không ạ?”. -ừ, ừ… chào cháu. Nhĩ trả lời. Cô bé chưa vội đỡ Nhĩ. Nó chạy ra ngoài gọi mấy đứa bạn vào và rồi cả bọn cùng giúp Nhĩ nằm ra ngoài tấm nệm. Chúng giúp anh đặt một bàn tay lên bậu cửa sổ và chèn một đống gối sau lung. Anh thấy hạnh phúc và càng yêu hơn lũ trẻ. Ngoài sát ngay sau khuôn cửa sổ, Nhĩ nhìn thấy ở bờ bên kia một cánh buồm vừa bắt gió. Sát bên bờ của dải đất lở bên này, một đám đông đợi đò đang đứng nhìn sang nhưng Nhĩ cứ nhìn mãi mà không thấy bóng thằng con trai đâu cả. Thì ra thằng con anh đang dán mắt vào một bàn cờ thế. Ngày xưa, anh cũng từng mê cờ thế. Và bây giờ, Nhĩ nghĩ một cách vô cùng buồn bã: con người ta trên đường đời thật khó tránh được nhũng cái vòng vèo quanh co. Nhĩ chợt nhớ về cái ngày anh mới cưới Liên. Một cô gái nhà quê nay đã trở thành một người đàn bà thành thị. Tuy vậy cũng như cánh bãi bồi bên sông, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên nét tảo tần và chịu đựng. Và chính nhờ những điều này mà sau bao ngày bôn tẩu, Nhĩ đã tìm thấy một nơi nương tựa ấy chính là cái gia đình bé nhỏ này. Con đò đã sang quá nửa sông. Và chính giữa lúc Nhĩ đang tưởng tượng mình đội chiếc mũ nan và sang sông như một nhà thám hiểm thì có tiếng người vào. Anh quay lại. Đó là ông cụ giáo Khuyến – người ngày nào cũng ghé qua hỏi thăm sức khoẻ của anh. Hai người đang nói chuyện thì bỗng ông hàng xóm hốt hoảng nhận ra mặt mũi Nhĩ đỏ rựng, hai mắt long lanh, hai bàn tay bấu chặt vào bậu cửa và run rẩy. Anh đang cố thu nhặt hết chút sức lực cuối cùng để đu mình nhòm ngươi ra ngoài, giơ một cánh tay làm ra vẻ ra hiệu cho một người nào ngoài đó. Ngay lúc bấy giờ, chiếc đò ngang mỗi ngày một chuyến chở khách qua lại hai bên sông Hồng vừa chạm mũi vào cái bờ đất lở dốc đứng phía bên này. (Sưu tầm) Đề 2. Hãy tưởng tượng mình là bố Xi-mông, kể lại truyện Bố của Xi-mông. Gợi ý: Đây là kiểu kể chuyện tưởng tượng để nhập vai. Muốn làm tốt cần phải đặt mình vào hoàn cảnh của Xi-mông, biến chuyện của Xi-mông thành lời tự thuật của mình. Có thể xây dựng dàn ý kế chuyện như sau: I.Mở bài -Giới thiệu: + Tôi là Xi-mông, là con của mẹ Blăng-sốt và bố Phi-líp yêu thương. + Thế nhưng, các bạn biết không, trước đây tôi đã vô cùng đau khổ vì bị coi là đứa trẻ không có bố. II.Thân bài Kể lại lần lượt các sự kiện trong đoạn trích “Bố của Xi-mông”. 1.Hôm ấy là ngày đầu tiên tôi đi học: -Bị bạn bè trêu như thế nào? -Bán thân đau đớn ra sao? (trong suy nghĩ, hành động,…) -Cảm giác sợ hãi, muốn lẩn tránh, xa lánh bạn bè. 2.Tôi đã bỏ lên bờ sông, trong đầu vương vấn ý định tự tử ngay lúc ấy. -Kể lại tâm trạng vô cùng tuyệt vọng lúc ở bờ sông. -Cảnh vật lúc đó thế nào? Nó khiến “tôi” cảm giác ra sao? 3.Đang tuyệt vọng, bỗng nhiên có một bàn tay chắc nịch đặt lên vai tôi. Đó là bác thợ rèn Phi-líp. -Kể lại việc bác thợ rèn nói chuyện với mình ra sao? -Bác đưa mình về và nói chuyện với mẹ thế nào? 4.Vô cũng sung sướng khi bác Phi-líp đồng ý nhận làm cha của mình. -Muốn khoe với các bạn và tự hào vì mình có bố. III.Kết bài -Đây là câu chuyện có ý nghĩa nhất đối với bản thân tôi. -Kể từ ngày ấy, tôi luôn hạnh phúc và tự hào vì được sống trong tình thương yêu của cả bố mẹ tôi. Bài viết tham khảo: Quá khứ của tôi đã có những ngày buồn đau và tuyệt vọng. Nhưng nếu không có những ngày như thế, có lẽ tôi sẽ không cảm thấy hạnh phúc tuyệt vời như chính lúc này đây. Câu chuyện của tôi xảy ra vào ngày đầu tiên khi tôi bước chân vào lớp một. Hôm ấy, tôi mừng vui lắm và thật háo hức vô cùng. Tôi đến trường vui tươi và phấn khởi. Thế nhưng khi tôi vừa chực bước chân vào lớp thì một đám bạn xúm đến vây quanh lấy chân tôi. Một đứa trong đám bắt đầu ném vào tai tôi bao lời chua chát mà cho đến bây giờ tôi vẫn chẳng thể nào quên. Tôi giận nhưng đành câm lặng bởi đúng là lúc ấy… tôi không có bố. Tôi bật khóc, vậy mà lũ bạn tôi vẫn chưa chịu thôi cái trò quái ác. Buổi học đầu tiên với bao mong đợi đã không thành. Tôi buồn nản và vô cùng thất vọng bỏ ra phía bờ sông. Trời ấm áp và dễ chịu. Ánh mặt trời êm đềm sưởi ấm bãi cỏ. Nước lấp lánh như gương. Tôi muốn nằm ngay ra đó và ngủ đi một giấc nhưng lại không sao ngủ được. Không thể nào quên được những câu nói vừa rồi. Đầu tôi choáng váng, chân tay mệt mỏi rã rời. Tôi muốn chìm ngay xuống dưới lòng sông để quên đi tất cả. Nhưng không hiểu sao tôi lại chần chừ không muốn làm ngay. Mắt tôi rệu rã nhìn theo những đám bọt trên sông. Đang chán ngán, tôi bỗng thấy một chú nhái con màu xanh lục nhảy nhót dưới chân. Tôi vung tay tóm lấy mà không được. Tôi đuổi theo, vồ hụt ba lần liền rồi mới tóm được hai chân sau của nó. Tôi bật cười nhìn con vật cố giãy giụa để thoát thân. Nó thu mình lại trên đôi cẳng lớn, rồi bật phắt lên. đột ngột duỗi cẳng, ngay đơ như hai thanh gỗ: trong lúc giương tròn con mắt có vành vàng, nó dùng hai chân trước đập vào khoảng không, huơ lên như hai bàn tay. Trò nghịch với chú nhái bỗng gợi cho tôi nhớ về một đồ chơi thuở nhỏ. Và thế là tự nhiên tôi nghĩ đến nhà, đến mẹ. Tôi thấy buồn vô cùng và lại khóc. Người tôi rung lên, tôi sợ, quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ nhưng không đọc hết. Nỗi buồn càng lúc càng giăng kín lòng tôi. Tôi chẳng còn nghĩ được điều gì nữa, chẳng nhìn thấy cái gì nữa. Tôi chỉ ngồi ôm mặt và cứ nức nở mãi không thôi. Thế rồi, bỗng nhiên tôi giật nảy mình. Một bàn tay chắc nịch của ai đó vừa đặt lên vai tôi và tai tôi nghe những lời nói Ồm Ồm nhưng đầy chia sẻ: -Có điều gì làm cháu buồn phiền đến thế, cháu ơi? Tôi quay lại. Một bác công nhân cao lớn, râu tóc đen, quăn, đang nhìn tôi bằng ánh mắt nhân hậu vô cùng. Tôi trả lời, giọng nghẹn ngào trong khi mắt vẫn còn ươn ướt: -Chúng nó đánh cháu… vì… cháu… cháu… không có bố… không có bố. -Sao thế – bác ta mỉm cười bảo – ai mà chẳng có bố. Tôi nói tiếp (một cách khó khăn) trong tiếng nấc: -Cháu… cháu không có bố. Tôi nhận ra bác công nhân bỗng nghiêm mặt lại. Và hình như bác đã nhận ra tôi. Bác nói: -Thôi nào, đừng buồn nữa, cháu ơi, và về nhà với mẹ cháu, với bác đi. Người ta sẽ cho cháu… một ông bố. Ngay lúc ấy, tôi không biết lời nói kia có thật hay không. Thế nhưng trên đường về, lòng tôi tràn đầy hi vọng. -Thưa bác, đây rồi! Nhà cháu ở đây. – Tôi nói. Mẹ tôi mở cửa bước ra khi bác công nhân đang mải ngắm ngôi nhà nhỏ, quét vôi trắng và hết sức sạch sẽ của mẹ con tôi. Thấy mẹ tôi, bác e dè, cầm mũ một bên tay và nói: -Đây, thưa chị, tôi dắt về trả cho chị cháu bé bị lạc ở gần bờ sông. Không để cho mẹ kịp trả lời, tôi bỗng ôm chầm lấy mẹ rồi òa khóc: -Không, mẹ ơi, con đã muốn nhảy xuống sông cho chết đuối, vì chúng nó đánh con… đánh con… tại con không có bố. Đôi má của mẹ tôi cứ thế đỏ bừng lên và đôi mắt gợi một nỗi buồn sâu thẳm. Mẹ ôm tôi vào lòng, hôn lấy hôn để trong nghẹn ngào nước mắt khiến tôi càng nức nở hơn. Nhưng rồi như vừa chợt nghĩ đến một điều gì trước đó, tôi bỗng chạy đến bên bác công nhân và nói: -Bác có muốn làm bố cháu không? Tôi hồi hộp đợi chờ, trong khi ấy mẹ tôi ngả vào tường và hai tay ôm ngực. Không thấy trả lời, tôi lại nói, mạnh mẽ và dứt khoát: -Nếu bác không muốn, cháu sẽ quay trở lại nhảy xuống sông chết đuối. Đến đây, bác công nhân mới nở nụ cười rồi đáp: -Có chứ, bác muốn chứ. Tôi ngây thơ và sung sưóng vô cùng. Tôi hỏi tiếp ngay: -Thế bác tên gì để cháu còn trả lời chúng nó khi chúng nỏ muốn biết tên của bác? -Phi-líp. – Người đàn ông đáp. Tôi im lặng một giây để ghi nhớ cái tên ấy vào đầu. Rồi hết cả buồn, tôi vươn hai cánh tay ra nói: -Thế nhé! Bác Phi-líp, bác là bố cháu. Tôi sung sướng quá! Bác Phi-líp bước đến nhấc bổng tôi lên, hôn vào hai má tôi, rồi bác sải từng bước dài bỏ đi vội vã. Sau hôm ấy, tôi lại đến trường. Vừa bước vào cửa lớp, tôi lại nghe một tiếng cười ác ý. Buổi học hôm ấy qua nhanh, lúc tan học, đứa bạn hôm trước lại định trêu chọc tôi. Nhưng tôi lớn tiếng quát vào mặt nó: -Bố tao ấy à, bố tao tên là Phi-líp. Khắp xung quanh tôi lại bật lên những tiếng la hét vô cùng thích thú: -Phi-líp gì?… Phi-líp nào?… Phi-líp cái gì?… Mày lấy đâu ra Phi-líp của mày thế? Nhưng tôi không trả lời. Tôi một mực tin tưởng và đưa con mắt thách thức bọn kia. Cũng may đúng lúc ấy thầy giáo đến. Bọn bạn kia nhìn thấy thầy bèn giải tán. Còn tôi, tôi cảm ơn thầy rồi cũng ra về. Nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay tôi hãnh diện và vui mừng lắm. Câu chuyện của tôi là thế. Bây giờ, bố Phi-líp đã về ở với mẹ con tôi và lũ bạn cũng không còn trêu tôi nữa. Ngẫm lại, những chuyện ngày xưa thật đáng buồn. Thế nhưng sau tất cả tôi phải cảm ơn, cảm ơn rất nhiều bố Phi-líp của tôi. (Sưu tầm) Đề 3. Sau khi tự tử ở giếng Loa Thành, xuống thuỷ cung, Trọng Thuỷ đã tìm gặp lại Mị Châu. Hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện đó. Bài viết tham khảo: Trọng Thuỷ tỉnh dậy thì bàng hoàng nhận ra mình đang ở giữa mênh mông biển nước. Những tầng san hô cứ liên tiếp nối nhau làm che khuất tầm nhìn. Xung quanh chàng lúc ấy chỉ có nước và những đàn cá tung tăng bơi lội. Trọng Thuỷ vẫn còn ngơ ngác. Chàng dấn bước đi miễn cưỡng và không phương hướng. Thế nhưng vừa ra khỏi đám san hô, Trọng Thuỷ đã bị bốn năm hình nhân quái lạ mình người đầu tôm cá từ đâu kéo đến trói chặt đưa đi. Trọng Thuỷ được đưa đến một cung điện nguy nga lộng lẫy, cái mà chàng chưa bao giờ thấy ở trên trần gian. Những ngôi nhà tráng lệ sáng trưng màu ngọc, có đầy đủ lính canh và người hầu ra vào tấp nập. Qua bốn năm lần cửa canh như thế, Trọng Thuỷ bị bắt vào quỳ ở trong đại điện. Một tên lính trong nhóm người kia cũng quỳ xuống và thưa: -Thưa công chúa! Bọn thuộc hạ bắt được tên này ở ngoài cổng điện. Xem chừng hắn đến đây có ý gian tà, xin công chúa đưa ra xét tội. Người ngồi trên kia lên tiếng. Trọng Thuỷ nghe thấy quen quen nhưng mặt người kia bịt kín nên chàng không nhìn rõ. -Này, anh kia! Anh ở đâu mà lại lạc đến đây? -Dạ, bẩm! Tôi người trần, vì ngỡ người tình đang ở trong giếng nước nên mới lao mình xuống giếng rồi bị lạc đến nơi đây. -Vậy anh tên gì? -Tôi là Trọng Thủy, là con trai của Triệu Đà Vương. -Ta nghe nói ở trên trần, ngươi gây ra nhiều tội ác cho nhân dân Âu Lạc, khiến họ vô cùng oán thán. Điều đó có đúng hay không? Trọng Thuỷ vô cùng ngạc nhiên. Không ngờ một người hoàn toàn xa lạ lại biết ngọn ngành mọi chuyện của mình. Biết là không thể chối, Trọng Thuỷ bèn viện lí do: -Thực tình tôi cũng là làm theo ý của vua cha. -Nhà ngươi lại còn định chối tội hay sao? Người ngồi trên điện kia nổi nóng. Nhà ngươi giả vờ sang cầu hoà Âu Lạc, xin cưới công chúa Mị Châu để chờ cơ hội trộm nỏ thần đã là một tội. Tàn bạo hơn, ngươi lại cho quân lính sang giày xéo bờ cõi nước Nam làm cho muôn dân kêu gào trong đau khổ. Không những thế, nhà ngươi còn nhẫn tâm bức chết vua Âu Lạc, bức chết người vợ thuỷ chung mà ngây thơ dại dột của mình. Với bằng ấy tội danh nhà ngươi còn muốn đổ lỗi cho ai? Trọng Thuỷ tái mặt, không biết người ngồi trên điện là ai. Nhưng sợ quá, chàng cúi đầu nhận tội: -Thưa công chúa! Tôi biết mình mang tội lớn nhưng tôi một lòng yêu quý Mị Châu, ngày đêm mong ngóng được gặp nàng để tỏ bày nỗi lòng ân hận. -Bây giờ nhà ngươi mới hối hận thì có giải quyết được gì đâu? -Tôi biết vậy. Nhưng ngày xưa, Mị Châu vì rất yêu thương tôi mà nghe tôi tất cả. Tôi yêu thương nàng thật lòng tôi đã lừa dối trái tim trong trắng của nàng nên tôi day dứt vô cùng. Đến khi nàng mất đi tôi mới biết dù có là vua Âu Lạc nhưng nếu mất Mị Châu, cuộc sống của tôi cũng chẳng có ý nghĩa gì. Tôi rất muốn gặp nàng để ít nhất được nói với nàng sự hối hận của tôi. -Trọng Thủy! Chàng hãy ngẩng mặt lên và nhìn xem thiếp là ai? -Nàng là… Mị Châu! -Vâng thiếp đúng là Mị Châu. Sau khi thiếp chết đi, vua Thuỷ Tề đã rất thương tình mà nhận thiếp làm con gái. Vì thế thiếp mới được ở nơi đây. -Mị Châu! Ta xin lỗi nàng. Vì ta mà nàng phải chịu bao đau khổ. Bấy lâu nay, ta chỉ ước được gặp nàng. Ta sẵn sàng bỏ đi tất cả để được cùng nàng sống trong hạnh phúc. Hãy tha thứ cho ta. -Thiếp mừng vì chàng đã nhận ra lầm lỗi. Nhưng chúng ta không thể sống với nhau. Nếu làm như vậy, người đời sẽ nhạo báng chúng ta mãi mãi. Không được sống với nhau coi như cũng là một sự trừng phạt xứng đáng với những lỗi lầm quá lớn của chúng ta ở trên hạ giới. Thiếp đã đợi ngày này từ rất lâu rồi và chỉ để được nói với chàng một câu: Hãy sống sao cho tốt trong nhũng ngày sắp tới để bù đắp cho những gì mà chúng ta đã gây ra. Trọng Thuỷ cứ ngồi đó hàng chục ngày đêm. Và rồi không biết tự bao giờ. Chàng đã hoá thành người đá. Sau này hàng mấy trăm năm, có người lặn xuống biển Đông mò ngọc quý vẫn còn nhìn thấy một tảng đá hình người âu sầu khổ não đang dang hai cánh tay ra như cầu xin ai đó một điều gì. Nguồn: Lính Chì Đề 4. Kể lại một kỉ niệm sâu sắc của anh (chị) về tình cảm gia đình hoặc tình bạn, tình thầy trò theo ngôi kể thứ nhất. Gợi ý: Kỉ niệm được chọn cần có chọn lọc (phải quan trọng, phải giàu ấn tượng và giàu cảm xúc). Khi kể cần chú ý đảm bảo đúng ngôi người kể (ngôi thứ nhất). Có thể tham khảo dàn ý như sau: I.Mở bài -Giới thiệu mối quan hệ của bản thân với người mà mình đã có được kỉ niệm giàu ấn tượng và sâu sắc (ông bà, cha mẹ, bạn bè, thầy cô… ). -Kể lại hoàn cảnh nảy sinh kỉ niệm ấy (trong một lần về thăm quê, trong một lần cùng cả lớp đi chơi, đi học nhóm hoặc trong một lần được điểm tốt, hay một lần mắc lỗi được thầy cô rộng lượng phân tích và tha thứ…). II. Thân bài 1.Giới thiệu chung về tình cảm của bản thân với người mà ta sắp xếp (tình cảm gắn bó lâu bền hay mói gặp, mới quen, mới được thầy (cô) dạy bộ môn hay chủ nhiệm…). 2.Kể về kỉ niệm. -Câu chuyện diễn ra khi nào? -Kể lại nội dung sự việc. + Sự việc xảy ra thế nào? + Cách ứng xử của mọi người ra sao? Ví dụ: Vào giờ kiểm tra, tôi không học thuộc bài nhưng không nói thật. Tôi tìm đủ lí do để chối quanh co (do mẹ tôi bị ốm…). Nhưng không ngờ hôm trước, cô giáo gọi điện cho mẹ trao đổi về tình hình học tập của tôi. Nhưng ngay lúc ấy, cô không trách phạt. Để giữ thể diện cho tôi, cô mời tôi cuối giờ ở lại để hỏi thăm sức khoẻ của mẹ tôi. -Kỉ niệm ấy đã để lại trong bản thân điều gì? (Một bài học, thêm yêu quý ông bà, bạn bè, thầy cô hơn…). III.Kết bài -Nhấn mạnh lại ý nghĩa của kỉ niệm ấy. -Tự hào và hạnh phúc vì có được người ông (bà, cha mẹ, bạn, thầy cô…) như thế. Bài viết tham khảo: Như một tín hiệu không rõ ràng cụ thể, thoắt thu sang, những hàng cây ven đường rùng mình đổi áo mới. Những chiếc lá vàng thấm đẫm hương vị ngọt ngào se lạnh của mùa thu lác đác bay. Mỗi lần, nhìn chiếc lá lìa cành chu du cùng cơn gió heo may, tôi lại nhớ đên ông nội. Những chuỗi kỉ niệm về ông như theo cái sắc vàng giòn tan của mùa thu ùa về trong tâm trí, khiến tôi không khỏi bồi hồi. Ông tôi là một người mà tôi rất mực yêu mến và kính yêu. Thuở nhỏ, tôi thường hay tưởng tượng ông như một cây đại thụ: Dáng ông cao lớn, bàn tay to bè, làn da ngăm đen, sần sùi thô ráp, những nếp nhăn xô lại với nhau thành những kẽ nứt trên khuôn mặt có phần hơi khắc khổ vì gió sương cuộc đời. Ông tôi đặc biệt yêu thích cây, quanh nhà có một khu vườn mênh mông, gần như gom hết đủ thứ cây cỏ trên đời này: Từ cây cảnh đến cây ăn quả. Hồi bé, tôi chỉ thích về quê nội chơi, ăn no nê quả thơm trái ngọt, hay lừa lừa lúc ông không để ý mà vặt trộm bông hoa hiếm hoi của cây hoa cảnh, làm ông tiếc ngẩn ngơ. Ông có thói quen ra vườn và nghe cây. Ông cứ đứng đó, giữa vườn cây, nhắm mắt, nghe cái âm thanh xào xạc, ngửi mùi đất hăng nồng, mùi nhựa cây chan chát. Ông tôi hay bịt mắt tôi giữa vườn cây, ông dạy tôi cách lắng nghe: Tiếng chim hót, tiếng ve, tiếng dế, tiếng lá cây xào xạc khua lên những bản nhạc yên bình thồn dã. Không chỉ nghe, tôi còn cảm nhận nhiều hơn nữa từ thiên nhiên: Cái mát lành của gió mơn man, cái ran rát của nắng hè trên da, mùi đất, mùi nồng nồng của những cơn mưa hè vội vã… Ông tôi gọi cái giây phút tĩnh lặng đúng giữa vườn cây đó là “cảm nhận sự sống”. Người già thường luôn có linh cảm về những giây phút cuối cùng của đời người. Một chiều, ông dẫn tôi ra vườn. Ông chỉ những chiếc lá vàng bay bay, nói “Đó là ông”, ông chỉ những chiếc lá xanh non mỡ màng vẫn còn trên cày “Đó là cháu”. Tôi hỏi tại sao. “Bởi một chiếc lá bao giờ cũng phải tuân theo quy luật của tự nhiên. Muốn có lá xanh, lá vàng phải rụng. Lá xanh góp cái tươi non cho đời, rồi lại trở thành lá vàng. Con người cũng thế, hãy sống hết mình khi cháu hãy còn xanh, cháu nhé!” Thuở ấy tôi còn bé quá, chưa hiếu triết lí gì sâu xa, chỉ thấy đôi mắt ông buồn buồn, cảnh vật dường như cũng ảo não theo. Những chiếc lá không còn cháy lên sắc vàng mật ngọt, chỉ còn một màu héo úa lặng lẽ bay. Tôi rời xa ông, theo bố mẹ ra thành phố. Chuyện học hành, thi cử cuốn tôi đi, khiến cho những phút “cảm nhận sự sống” kia dường như xa lắm. Mọi thứ sang trọng, tiện nghi của cuộc sống thay thế cho cái dân dã, yên bình của thôn quê. Tôi quên ông như quên đi vườn cây, quên đi lá vàng… Chiều chiều, khi những cánh chim bay về tổ ấm, những áng mây tìm chỗ trú ngụ bình yên nơi cuối trời, ông lặng lẽ thổi cơm. Lùa trệu trạo cái rau, con cá cho qua bữa, ông hay thẫn thờ nhìn ảnh bà tôi, thắp vài nén hương: “Bà trên trời có linh phù hộ cho chúng nó làm ăn phát đạt, con cháu hay ăn chóng lớn”. Đắp chiếc chăn mỏng, tấm lưng to bè của ông rùng mình theo từng cơn gió lùa qua cửa sổ. “Đông về rồi đấy”, ông lâm nhâm, và trong căn nhà lạnh lẽo này, mùa đông cũng dài hơn. Gia đình tôi có hiềm khích. Các chú dì đòi bán khu vườn của ông, lấy tiền đi làm kinh tế. Ông giận dữ: “Khu vườn này của mẹ chúng mày, không được bán”. Nhưng chuyện ngườ lớn, tôi cũng không thể tham gia, và dần dần quên đi. Vì lo lắng cho việc này, sức khoẻ của ông giảm sút rõ rệt! Tôi đến thăm ông, nhắc ông giữ gìn sức khoẻ rồi lại vội vàng đi ngay. Khu vườn vẫn xào xạc như nuối tiếc vẫy chào tôi. Để ý thấy, từ khi ông trở bệnh, khu vườn thiếu bàn tay ông chăm sóc, xơ xác đi. Lá vàng rụng nhiều hơn, như đời người sắp tàn, Nhẹ nhàng và thanh thản, ông tôi ra đi, như chiếc lá lìa cành. Ngày đưa tang ông, trời mưa nhẹ. Tôi tưởng tượng ra rằng, vào những giây phút cuối, ông nghĩ đến hình ảnh một khu vườn xanh mướt ngập tiếng chim, tiếng cười trong trẻo của tôi, nụ cười hiền hậu của bà. Tôi bông thấy hụt hẫng quá, từ trước đến giờ, dường như tôi đã quên mất cái gì quan trọng lắm. Để bây giờ, khi ông ra đi, tôi mới thấy mất mát vô cùng, không có gi cứu vãn nổi.Nước mắt tôi cứ tự trào ra từ lúc nào không hay. Nhưng chạy ra vườn, những đám lá vẫn xào xạc như vỗ về, ánh nắng, tiếng chim, lá cây… vẫn hiền hoà như thuở bé, tất cả như bao dung tha thứ. Và đâu đó, trên vòm cây cao kia, dường như vẫn còn vương nụ cười hiền hậu của ông dành cho tôi. Tôi bất chọt thấy nhẹ nhõm, và bao phút giây “cảm nhận sự sống” xưa vẫn còn nguyên vẹn theo về. Đời người như chiếc lá. Thà huy hoàng chợt tắt còn hơn le lói trăm năm, như một thi sĩ nào đã nói. Tròi thu xanh ngắt, lồng lộng, biết đâu, ỏ’ trên cao kia, ông vẫn đang dõi theo tôi, mỉm cười. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TRUYỆN CƯỜI: NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 2_ Văn Tự Sự – Ngữ văn 10
6,000
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 4: Văn thuyết minh – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VIẾT BÀI LÀM VĂN số 4: VĂN THUYẾT MINH I- ĐỀ BÀI THAM KHẢO Đề 1: Vai trò của cây cối (hoặc của rừng, của các loài động vật hoang dã, của nhiên liệu sạch,…) trong việc bảo vệ môi trường sống. Đề 2: Tác hại của ma tuý (hoặc của rượu, thuốc lá,…) đối với đời sống của con người. Đề 3: Một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn. II.- HƯỚNG DẪN 1.Tìm hiểu đề -Đề bài yêu cầu tạo lập kiểu văn bản nào? (thuyết minh). -Tương ứng với kiểu văn bản ấy, sử dụng phương thức biểu đạt nào là chủ yếu? -Đối tượng biểu đạt là gì? Nội dung cần biểu đạt ra sao? -Để thực hiện yêu cầu của đề bài, cần chuẩn bị những tri thức và kĩ năng gì? 2.Lập dàn ý a.Mở bài: Mở bài theo kiểu trực tiếp hay gián tiếp? Xác định những nội dung cần biểu đạt trong phần Mở bài tuỳ theo từng cách. Giới thiệu về đề tài, chủ đề của bài văn. Giới thiệu khái quát về đối tượng thuyết minh. b.Thân bài: Triển khai nội dung cần biểu đạt (nêu luận điểm và đưa ra những dẫn chứng giàu sức thuyết phục về vai trò của cây cối, của rừng, của nhiên liệu sạch,… về tác hại của ma tuý, thuốc lá,… hoặc mô tả lại những kinh nghiệm của bản thân về việc học tập môn Ngữ văn,…). c.Kết bài: Đưa ra nhận định, đánh giá tổng quát về nội dung biểu đạt. 3.Gợi ý cho từng đề bài a.Đề 1: -Cây cối, rừng, động vật hoang dã, nhiên liệu sạch,… có vai trò gì đối với cuộc sống của chúng ta? Nêu dẫn chứng? (Ví dụ: chức năng điều hoà không khí, duy trì sự cân bằng sinh thái, ngăn chặn lũ lụt, lở đất, làm phì nhiêu cho đất, làm giảm sự ô nhiễm môi trường,…). -Thế nhưng, hiện nay, ở nhiều nơi, con người vẫn đang làm những việc có hại đối với môi trường. Những việc đó là gì? (chặt phá rừng bừa bãi, săn bắt trái phép các loài thú hoang dã, quý hiếm,…). -Chúng ta phải làm gì để phát huy vai trò của rừng, của cây cối,… trong việc bảo vệ môi trường sống? (tuyên truyền tích cực về vai trò quan trọng của rừng, của cây xanh, xử lí nghiêm minh những người vi phạm luật bảo vệ rừng, đồng thời tích cực nghiên cứu để tìm ra những nguồn năng lượng mới, những nguồn nhiên liệu sạch). Lưu ý: Phần quan trọng nhất cần tập trung làm rõ vẫn là vai trò của cây cối, của rừng,… đối với môi trường sống. Có thể thuyết minh bằng lí lẽ nhưng cũng có thể đưa vào bài viết những số liệu tin cậy mà em đọc được trên sách báo hoặc nghe trên đài, ti vi,… b.Đề 2: -Tác hại của ma tuý, rượu, thuốc lá,… đối với cuộc sống của chúng ta như thế nào? + Đối với gia đình và xã hội: người nghiện trở thành gánh nặng cho gia đình về vật chất và tinh thần. Họ còn gây những ảnh hưởng xấu tới xung quanh: gây ồn ào; gây mất trật tự xã hội; làm nảy sinh các tệ nạn khác một cách nhanh chóng; làm tổn hại sức khoẻ của những người cùng sống trong gia đình hay làm việc trong cùng cơ quan; về lâu dài, con cái của những người mắc nghiện nếu được sinh ra chắc chắn cũng ở trong tình trạng suy nhược,… -Nhận thức của con người về tác hại của những chất gây nghiện này ra sao? (Con người biết khá rõ về tác hại của những chất này nhưng vì một số kẻ tham lợi mà những chất gây hại nêu trên vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở khắp nơi trên thế giới) -Tình trạng nghiện ngập trong giới học sinh, sinh viên hiện nay, ra sao? (khá phổ biến, chủ yếu là đua đòi học theo người lớn) -Chúng ta phải làm gì để ngăn chặn những tệ nạn nêu trên? (Tuyên truyền, động viên tích cực người thân, bạn bè để mọi người hiểu rõ tác hại của chúng và tìm cách lánh xa các chất gây hại đó. Thêm nữa, nhà nước cần có biện pháp hạn chế sản xuất cùng việc nhập khẩu rượu và thuốc lá. Cũng cần xử lí thật nghiêm minh những người sử dụng chất gây nghiện trái phép, hoặc sử dụng tại những nơi công cộng gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của nhiều người,…) -Kinh nghiệm học hoặc làm văn đó là gì? (kinh nghiệm học thuộc thơ, kinh nghiệm tóm tắt truyện, kinh nghiệm xây dựng dàn ý, kinh nghiệm viết mở bài, kết bài, đưa dẫn chứng,…). -Mô tả lại quá trình trải nghiệm của bản thân để có được kinh nghiệm ấy. (Bạn học được điều đó ở đâu? Từ sách vở, từ thầy cô hay do bản thân tự nghĩ ra và đã thực hiện thành thục nhiều lần? Kinh nghiệm của bạn đã được kiểm chứng hay chưa? Nó đạt hiệu quả thế nào? Thầy cô và bạn bè đã đánh giá về điều đó ra sao? Bản thân bạn tự thấy kinh nghiệm đó nếu được phổ biến cho người khác thì có gặp khó khăn trong việc áp dụng hay không? Hiệu quả sẽ thế nào?) -Phổ biến lại kinh nghiệm đó (trình bày rõ ràng, dễ hiểu, sử dụng các cụm từ như: trước hết, bước thứ hai là, cuối cùng,…). Lưu ý: Bài viết trình bày kinh nghiệm trước hết phải đúng, phải khoa học và ít nhiều phải mang tính khả thi. Tuy nhiên, lời văn trong bài không vì thế mà thiếu đi cảm xúc. Một kinh nghiệm hay được truyền đạt lại bằng những câu văn truyền cảm, chân thực và nhiệt huyết thì càng thu hút và thuyết phục người nghe. XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 4 _ Văn thuyết minh – Ngữ văn 10
1,015
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 6: văn thuyết minh văn học – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 6: VĂN THUYẾT MINH VĂN HỌC I- ĐỀ BÀI THAM KHẢO Viết một bài văn thuyết minh để giới thiệu về: 1.Một tác phẩm văn học. 2.Một tác giả văn học. 3.Một thể loại văn học. Hoặc kết hợp thuyết minh về một tác giả, tác phẩm: 4.Trương Hán Siêu và Phú sông Bạch Đằng. 5.Nguyễn Du và Truyện Kiều. II- HƯỚNG DẪN 1.Tìm hiểu đề -Đề bài yêu cầu tạo lập kiểu văn bản nào? (thuyết minh) -Tương ứng với kiểu văn bản ấy, sử dụng phương thức biểu đạt nào là chủ yếu? -Đối tượng biểu đạt là gì? Nội dung cần biểu đạt ra sao? -Để thực hiện yêu cầu của đề bài, cần chuẩn bị những tri thức và kĩ năng gì? 2.Lập dàn ý a.Mở bài: Mở bài theo kiểu trực tiếp hay gián tiếp? Xác định những nội dung cần biểu đạt trong phần mở bài tuỳ theo từng cách. Giới thiệu về đề tài, chủ đề của bài văn. Giới thiệu khái quát về đối tượng thuyết minh. b.Thân bài: Triển khai nội dung cần biểu đạt (nêu luận điểm và lần lượt thuyết minh về các luận điểm đó). c.Kết bài: Đưa ra nhận định, đánh giá tổng quát về đối tượng thuyết minh. Chú ý: Để bài văn thuyết minh vừa chuẩn xác lại vừa hấp dẫn, cần: -Đọc, nghe, quan sát, tham khảo, sưu tầm tài liệu về những lĩnh vực liên quan đến bài làm để lựa chọn những nguồn tri thức không chỉ chính xác, phong phú, sâu sắc mà còn mới lạ, đặc sắc và lí thú. -Tìm đọc những bài thuyết minh hay, hấp dẫn để học tập cách tạo nên sự lôi cuốn của một quá trình trình bày, giới thiệu. -Vận dụng các phương pháp thuyết minh sao cho linh hoạt, tránh sự nhàm chán. 3.Gợi ý cho từng đề bài Các đề bài ở bài viết số 6 này đều đưa ra yêu cầu tạo lập văn bản thuyết minh. Trong bài viết của mình, các em có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là phương thức thuyết minh. a.Đề 1. Cần tập trung làm rõ các ý sau: Mở bài: -Tác phẩm mà anh (chị) định chọn để thuyết minh là tác phẩm nào? Của ai? -Nêu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó. Thân bài: -Nêu hoàn cảnh ra đời tác phẩm (nếu hoàn cảnh ra đời có liên quan mật thiết đến việc thuyết minh nội dung tác phẩm). -Giới thiệu thể loại và đặc trưng thể loại của tác phẩm (thường chỉ áp dụng với những thể loại mới lạ hoặc những thể loại văn học cổ có khoảng cách đối với việc nhận thức của con người hôm nay). -Giới thiệu về đề tài của tác phẩm (ví dụ về hình tượng sông Bạch Đằng, về cuộc đời tài mệnh của Tiểu Thanh,…) -Thuyết minh về các mặt nội dung của tác phẩm (nội dung hiện thực, nội dung nhân đạo, các nội dung trữ tình khác,…) -Thuyết minh về giá trị nghệ thuật của tác phẩm (về bút pháp, về từ ngữ, về giọng điệu, kết cấu, về các biện pháp tu từ, về âm luật, niêm đối,…). Kết bài: -Khái quát lại các giá trị của tác phẩm. -Đánh giá về vị trí của tác phẩm trong đời sống và trong lịch sử văn học của dân tộc và nhân loại. b.Đề 2. Mở bài: -Tác giả mà chúng ta cần giới thiệu là ai? -Đánh giá vai trò, vị trí của tác giả đó trong lịch sử văn học (khái quát). Thân bài: Lần lượt triển khai thuyết minh về: -Năm sinh, năm mất, tên tự, tên hiệu, bút danh,… -Cuộc đời (tuổi thơ, thời niên thiếu,… đã trôi qua như thế nào? Đã gặp phải những khó khăn gì và đã vượt qua ra sao? Cuộc sống lúc trưởng thành có những điểm gì đặc biệt?,…) -Sự nghiệp văn học: + Những sáng tác chính. + Nội dung của các sáng tác hướng đến những vấn đề gì? Đã đạt được những giá trị ra sao? + Thành tựu nghệ thuật có những nét gì nổi bật? (chú ý những nét riêng về phong cách cá nhân). Kết bài: Khẳng định lại những đóng góp và chỗ đứng của tác giả đó trong đời sống văn học quá khứ và đương thời. Chú ý: Trong một số trường hợp, nếu cần thuyết minh ngắn gọn, có thể đưa mục năm sinh, năm mất, quê quán,… lên phần trên để làm phần Mở bài. c.Đề 4. Cần tập trung làm rõ các ý sau: -Trình bày về cuộc đời của tác giả Trương Hán Siêu (năm sinh, năm mất, quê quán, cuộc đời,…). -Thuyết minh về đề tài của tác phẩm (sông Bạch Đằng và cảm hứng thi ca đã có trong lịch sử về dòng sông này). -Thuyết minh về đặc điểm của thể loại mà nhà văn sử dụng. -Giá trị nội dung của bài phú. -Giá trị nghệ thuật của bài phú. d. Đề 5 -Trình bày về cuộc đời của tác giả Nguyễn Du (xem bố cục ở đề 2). -Thuyết minh về Truyện Kiều. + Giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác, mối quan hệ giao lưu văn hoá, văn học của Truyện Kiều với văn học Trung Hoa. + Giới thiệu ba phần của Truyện Kiều. + Tóm tắt truyện. + Trình bày những giá trị nhiều mặt của Truyện Kiều (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, các giá trị về nghệ thuật như: nghệ thuật tả người, tả cảnh, miêu tả nội tâm, nghệ thuật kể chuyện,…) -Kết luận: Đánh giá tầm vóc của Nguyễn Du và Truyện Kiều. Tham khảo bài văn thuyết minh sau: Về một thể loại (Trường ca) Những bản trường ca vĩ đại trên thế giới đều đánh dấu những giai đoạn lớn, những bước ngoặt của lịch sử. Trường ca I-li-át hơn một vạn rưỡi câu, trường ca Ô-đi-xê hơn một vạn câu của Hô-me-rơ phản ánh thời cổ đại anh hùng của Hi Lạp, trường ca Riêm-kê của Cam-pu-chia dài hơn một vạn câu đánh giá thời đại rực rỡ nhất của dân tộc Cam-pu-chia. Bộ sử thi của Ấn Độ cũng dài như một bộ kinh tôn giáo… đó là những bản trường ca bất hủ thuộc về của cải chung của nhân loại. Trường ca Đăm Săn, Xinh Nhã của Tây Nguyên cũng thuộc vào loại có cỡ trên thế giới. Trong những năm dài khi dân tộc ta còn bị nô lệ, trường ca hầu như bị phai mờ trong các thể loại văn học. Thỉnh thoảng người ta nhắc đến trường ca như một cái tên chung tượng trưng cho các quyển sách hay, những tập thơ hay. Trường catrong nhiều năm không được ai nhắc đến. Năm 1932, cuộc tranh luận về thơ mới thơ cũ nổ ra trên văn đàn một cách sôi nổi, người ta phân rạch ròi ra các khuynh hướng thi ca nhưng cũng chẳng ai nói đến trường ca, may ra có nhắc đến bài Tiếng địch sông ô của nhà thơ trẻ lúc bấy giờ là Phạm Huy Thông xem đó như một anh hùng ca nhưng cũng diễn giải bằng tích của Tàu. Trường ca bị quên lãng và bị gán ghép vào những bài thơ dài, thơ truyện và bị đánh mất chân dung của mình. Năm tháng trôi qua trường ca có lúc thấp thoáng trong những áng văn thơ của một vài tác giả rồi chìm nghỉm như một người con gái hết nhan sắc không được ai nhắc đến. Nhất định phải có những bản trường ca hùng tráng tương xứng để ca ngợi cuộc chiến đấu đầy khí phách anh hùng, ca ngợi công cuộc lao động đầy sáng tạo và không biết mệt mỏi của nhân dân ta. Tất nhiên các thể loại văn học khác cũng có nhiệm vụ đó, nhưng trường ca với đặc trưng của nó có nhiều khả năng trong việc này. Và như không hẹn mà gặp, trường ca đã có mặt những nơi đầu sóng ngọn gió. Đội quân tinh nhuệ này ra đời thật đúng lúc, nó sẽ trở thành đội ngũ hùng hậu tự khẳng định mình, tự mình cắt nghĩa mình, định hình trong đời sống văn học 35 năm tuy chưa dài nhưng, trường ca có thể làm một cuộc duyệt binh nho nhỏ trước quãng trường văn học Việt Nam: Lửa sáng rừng của Thái Giang, Bài ca Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi, Bài ca chim chơ rao, Ba-dan khát và Cam-pu-chia hi vọng của Thu Bồn, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Kể chuyện ăn cơm giữa sân của Nguyễn Khắc Phục, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh… Trường ca có khả năng đặc biệt đi vào hiện thực. Trong thơ trữ tình, khuynh hướng hiện thực cũng được phản ánh, nhưng tính lãng mạn hầu như bao trùm và có những lúc bị quằn lại trước những hiện thực dữ dội. Thơ trữ tình thường né tránh những đề tài quá ư phức tạp trong đời sống và nếu có thể hiện thì phần nhiều sử dụng phương pháp lãng mạn. Trường ca có thể xông vào hiện thực cuộc sống với tất cả sức mạnh của nó, giống như một người công binh đào hầm lại có đủ cả xẻng cuốc, khoan máy, thuốc nổ… Trường ca dám xông vào những chỗ hắc búa, những vỉa đá ngầm của cuộc sống. Tuy vậy, trường ca chứ không phải tiểu thuyết, trong khuôn khổ đặc trưng của nó, cũng phải kiêng nể một đôi chỗ… Trường ca có đủ khả năng hiện thực và trữ tình nên sức công phá và độ bền của nó rất lớn. Do sự yêu cầu nghiêm ngặt về bố cục, tính tư tưởng và sự đa dạng của nó nên trường ca là một kiến trúc hoàn hảo có một sức mạnh nương tựa vào nhau, làm tôn thêm vẻ đẹp và sức mạnh cho nhau. Những ngôn ngữ và hình ảnh khi bước vào ngưỡng cửa của trường ca thực sự được chuyển hoá và nâng mình lên một bước, tự bản thân chúng tạo nên cho chúng những vẻ riêng rất là trường ca. Trường ca đã hình thành một bộ môn văn học, lừng lững đi vào đời sống; khác với những ngày tên gọi của nó chỉ thấp thoáng một cái bóng mơ hồ không có bộ mặt và hình dáng. […] Trường ca là một thể loại thơ dài nhằm thể hiện một chủ đề tư tưởng thông qua hình tượng thơ ca, sử dụng ngôn ngữ, âm điệu, bố cục… một cách điêu luyện và tinh xảo nhất của toàn bộ nghệ thuật thơ ca. Nó động viên nhiều phương pháp, vốn sống, xúc cảm, lao động trí tuệ nhằm ca ngợi con người, tình yêu, chiến đấu, lao động sáng tạo và thiên nhiên,… Hiện nay trường ca giống như cô gái đẹp, tuỳ theo sự chiêm ngưỡng của người này người khác mà trang điểm thêm cho nó những phần mà mình ưa thích. Tuy nhiên, nó cũng có những quy luật khắt khe của nó. Ngay hiện nay có những bài diễn ca đã được ghi lại bên cạnh chữ to tướng là trường ca nhưng quần chúng không công nhận đó là trường ca, dù bài diễn ca đó hay và tác dụng đến mấy đi nữa. Đừng nên vì cái hay của thể loại này lại chuyển thể nó qua một thể loại khác. […] Trường ca khác hẳn với thơ truyện và diễn ca. Có thể ví tạm trường ca là một toà lâu đài, thơ truyện là một toặ nhà, diễn ca là một dãy trại lán. Do yêu cầu nghiêm túc của thiết kế mà đẻ ra hình thức này chứ tuyệt đối không phải trọng cái nào, khinh cái nào, vì cái nào sinh ra cũng do yêu cầu của nó. Gỗ, đá, gạch có thể làm nhà, làm lâu đài, cũng như ngôn ngữ có thể làm diễn ca, làm thơ truyện, làm trường ca. Nhưng gỗ làm toà lâu đài cũng khác gỗ làm lán trai; cũng như ngôn ngữ trường ca khác ngôn ngữ diễn ca. Sự khác nhau đó là do tính tất yếu của nội dung công trình khắt khe đòi hỏi chứ không phải ý muốn một ai. Vì vậy, khi những ngôn ngữ nhân vật bố cục bước vào công trình của trường ca chúng phải kiểm nghiệm mình và nâng mình lên một bước để xứng đáng phù hợp với công trình mà nó đảm nhiệm. Trường ca là một toà lâu đài của thơ ca, là một kiến trúc tổng hợp của thơ ca. Cũng như các bộ môn văn học khác, trong thơ, nhà thơ phải có thường trực ba con người: một kiến trúc sư thiết kế ra công trình, một người thợ lành nghề để thể hiện công trình đó, một người lao động tận tụy khai thác nguyên vật liệu dồi dào trong đời sống. Có khi nhà kiến trúc sư đi trước, có khi người lao động đi trước, do những nguyên vật liệu đã có đó kêu gọi công trình. Nói chung nguyên vật liệu, vốn sống trong văn học là một thứ nguyên vật liệu đặc biệt. Nó có thể nhao nhao lên đòi kết hợp để biến thành những công trình, nhưng cũng có thể tự nó biến mất đi hoặc nằm ngổn ngang ra đó biến thành những chướng ngại vật, cản trở và có khi vùi lấp nhà thơ. Tất cả cái đó đều do cuộc sống và trình độ của nhà thơ quyết định. Trong nghệ thuật đều có những bước giống nhau nhưng trong thể loại trường ca cũng có những cái riêng của nó, tin chắc rằng sắp đến mọi người sẽ cùng nhau tìm ra những đặc trưng riêng biệt của nó. Có thể ví thêm mỗi bài thơ như một trận đánh, trường ca lại là một chiến dịch. Nó có đầy đủ những tính chất của các trận đánh, chính vì thế nó khác hẳn một trận đánh, nó có những yêu cầu cao hơn một trận đánh… XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TÀO THÁO UỐNG RƯỢU LUẬN ANH HÙNG- NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 6_ văn thuyết minh văn học – Ngữ văn 10
2,392
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 7: Văn nghị luận – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 7: VĂN NGHỊ LUẬN I- ĐỀ VĂN THAM KHẢO Đề 1: Dân tộc ta có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Theo anh (chị), truyền thống ấy được nối tiếp như thế nào trong thực tế cuộc sống hiện nay? Đề 2: Có ý kiến cho rằng: Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính. Anh (chị) thấy ý kiến này như thế nào? Đề 3: Hưởng ứng đợt thi đua Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát động, chi đoàn lớp 10A tổ chức hội thảo với chủ đề: Hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp. Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó. Đề 4: Học bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, có bạn cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là thái quá, kiêu kì. Ngược lại, có bạn lại ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn của người thanh niên yêu nước. Hãy cho biết ý kiến của anh (chị). II-HƯỚNG DẪN 1.Tìm hiểu đề -Đề bài yêu cầu tạo lập kiểu văn bản nào? (Nghị luận). -Tương ứng với kiểu văn bản ấy, sử dụng phương thức biểu đạt nào là chủ yếu? -Đối tượng biểu đạt là gì? Nội dung cần biểu đạt ra sao? 2.Lập dàn ý a.Mở bài: Mở bài theo kiểu trực tiếp hay gián tiếp? Xác định những nội dung cần biểu đạt trong phần mở bài tuỳ theo từng cách. Giới thiệu về đề tài, chủ đề của bài văn. Giới thiệu khái quát về đối tượng nghị luận. b.Thân bài: Triển khai nội dung cần biểu đạt (nêu luận điểm và lần lượt trình bày ý kiến về các luận điểm đó). c.Kết bài: Đưa ra nhận định, đánh giá tổng quát về đối tượng nghị luận. 3.Gợi ý cho từng đề bài Các đề bài ở bài viết số 7 này đưa ra yêu cầu tạo lập văn bản nghị luận. Trong bài viết của mình, các em có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là phương thức nghị luận. Với mỗi đề bài có thể trình bày các ý sau: a.Đề 1: -Giải thích ý nghĩa của câu nói “Tôn sư trọng đạo” + Thế nào là “Tôn sư” + Đạo có nghĩa là gì? + Thế nào là “Tôn sư trọng đạo”? -Chứng minh “Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta (Cách ứng xử của học trò ngày xưa như thế nào? Ngày nay truyền thống ấy vẫn được phát huy ra sao?). -Trình bày ý kiến của mình về câu nói: + Truyền thống được nêu ra trong câu nói là tốt đẹp, cần được lưu giữ và phát huy. -Khẳng định ý nghĩa tốt đẹp của câu nói, đặc biệt là trong cuộc sống hôm nay. b.Đề 2: -Giải thích ý nghĩa của ý kiến đã cho. + Ba sự so sánh: thói xấu với khách qua đường, thói xấu với người bạn thân và thói xấu với ông chủ nhà khó tính, khác nhau như thế nào về ý nghĩa? + Ý nghĩa chung của cả câu nói là gì? (những thói xấu nếu không được sửa chữa kịp thời sẽ trở thành những thói quen rất khó thay đổi). + Các thói hư tật xấu đã trở thành những thói quen như thế nào? (lặp lại nhiều lần mà ta không có ý thức sửa chữa, uốn nắn) -Chứng minh bằng các dẫn chứng mà mình đã gặp trong cuộc sống (miêu tả lại quá trình những thói hư tật xấu trở thành thói quen: thói quen ngủ dậy muộn, các thói quen không tốt trong giao tiếp, trong học tập,…), -Nêu ra cách giải quyết. -Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến đã nêu ra ở đề bài. c.Đề 3: -Khẩu hiệu: Hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp có ý nghĩa gì? -Tại sao lại phải đưa ra khẩu hiệu đó? (Vì hiện nay, không chỉ trong nhà trường mà trên phạm vi toàn thế giới, con người đã và đang phải đối diện với hàng loạt những vấn đề bức xúc của môi trường) -Làm thế nào để ngôi trường của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp? (nêu những giải pháp trước mắt và lâu dài). d.Đề 4: -Khái quát lại nội dung của bài thơ. -Do đâu mà có hai quan điểm nêu trên? (bắt nguồn từ “nỗi thẹn” của nhà thơ) -Sự khác nhau cơ bản giữa hai quan điểm nêu trên là gì? (Cùng đánh giá theo hướng tuyệt đối hoá một mặt của vấn đề) -Ý kiến của bản thân: + Cần phải thấy rằng cách nói của tác giả trong bài thơ là một cách biểu hiện nghệ thuật quen thuộc của thời trung đại, không bao gồm hàm ý “đao to búa lớn”. + Hơn nữa, bài thơ ra đời đúng vào cái thời mà “Hào khí Đông A” đang sục sôi hừng hực, mỗi người đều mong góp hết sức mình cho đất nước, non sông. Vì thế có thể coi “nỗi thẹn” của tác giả trong bài thơ là nỗi thẹn đầy trách nhiệm của kẻ trượng phu một lòng vì nước. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CÁC THAO TÁC NGHỊ LUẬN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Viết bài làm văn số 7_ Văn nghị luận – Ngữ văn 10
899
Hướng dẫn viết bài tập làm văn số 2 – Văn tự sự Hướng dẫn Đề 1. Tưởng tượng 20 năm sau, vào một ngày hè, em về thăm lại trường cũ. Hãy viết thư cho một bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động đó. I – Tìm hiểu đề: – Thể loại: tự sự ( kết hợp với miêu tả và biểu cảm ). – Nội dung: kể về một buổi thăm trường vào một ngày hè, sau 20 năm xa cách. – Hình thức: một lá thư gửi bạn học cùng lớp. – Yêu cầu: Người viết phải tưởng tượng mình đã trưởng thành,đóng vai một người có một vị trí, một công việc nào đó, nay trở lại thăm ngôi trường. Cần trả lời được các câu hỏi sau: + Lí do về thăm trường cũ là gì? + Thăm trường vào thời gian nào? Với ai? + Đến trường gặp ai? Thấy quang cảnh trường thế nào? Nhớ lại cảnh trường ngày xưa mình học ra sao? + Những gì gợi lại cho em những kỉ niệm buồn, vui của tuổi học trò, trong giờ phút đó bạn bè hiện lên như thế nào?…. * Chú ý: – Bài viết cần tự nhiên, chân thành. – Để bài văn hấp dẫn, sinh động hơn, trong quá trình làm bài, cần kết hợp các yếu tố miêu tả (hình ảnh ngôi trường với những hang cây,mái ngói, cột cờ, lớp học…) và yếu tố biểu cảm ( tâm trạng bồi hồi, xúc động khi nhớ lại kỉ niệm xưa bên thầy cô, bạn bè; xúc động khi bất ngờ gặp lại thầy(cô) giáo cũ…) II – Dàn ý chi tiết: 1. Đầu thư: – Thời gian, địa điểm viết thư. – Lời chào gửi đầu thư. – Lí do viết thư. 2. Nội dung bức thư: – Hỏi thăm tình hình trong những năm qua ( học tập, cuộcsống, công tác của bạn và một số bạn khác trong lớp ). – Giới thiệu về hoàn cảnh hiện tại của bản thân ( công việc,gia đình…) – Kể lại tình huống về thăm trường: + Lí do về thăm trường cũ ( đi ngang qua, có chủ định về thăm…) + Thời gian ( mùa hè); đi một mình hay đi với ai? + Tâm trạng trước khi về thăm ( nếu là chủ định ): bồi hồi,xúc động, hồi hộp… – Quang cảnh ngôi trường khi đếm thăm: + Ấn tượng đầu tiên khi nhìn thấy trường. + Cảnh vật, thiên nhiên, sự thay đổi của cảnh vật ( hàng cây, cổng trường…) + Quang cảnh ngôi trường khi đến thăm: miêu tả đôi nét về ngôi trường ( các dãy nhà, các phòng học, phòng chức năng, cơ sở vật chất của trường…) + Cảnh vật gợi nhớ đến những hình ảnh xưa của bạn bè, thầy cô ( những kỉ niệm buồn, vui của tuổi học trò…) ( Chú ý: Lồng cảm nghĩ và nhận xét về sự thay đổi của ngôi trường) – Kể lại những cuộc gặp gỡ: đã gặp ai ( thầy cô, bạn bè…)?Nói chuyện gì? (tâm sự, ôn lại những kỉ niệm trong quá khứ…)? Cảm nghĩ sau buổi trò chuyện? 3. Cuối thư: – Lời chào, lời chúc và lời hứa hẹn. – Ký tên. Đề 2: Kể lại một giấc mơ, trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày. I – Tìm hiểu đề: – Thể loại: tự sự ( kết hợp với miêu tả và biểu cảm): – Nội dung: kể lại một giấc mơ gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày. – Hình thức: bố cục rõ ràng, đủ ba phần mở bài, thân bài, và kết bài. – Yêu cầu: Đề bài đưa ra giả định em có một người thân đã xa cách lâu ngày, nay trong mơ được gặp lại. Người đó phải là người có những gắn bó sâu nặng, quen thuộc và thân thiết với em, nay đang đi công tác xa hoặc chuyển đến nơi ở khác hoặc đã mất từ lâu… Cần trả lời được các câu hỏi sau: + Giấc mơ ấy diễn ra khi nào? + Người ấy là ai? Bây giờ ở đâu? Làm gì? + Hoàn cảnh gặp lại là gì? + Hình dáng, nét mặt, cử chỉ, lời nói… của người ấy khi em gặp lại như thế nào? + Khi tỉnh dậy, tâm trạng của em như thế nào? * Chú ý: – Đây là dạng bài kể chuyện sáng tạo, người viết cần thể hiện được trí tưởng tượng của mình trong quá trình kể, tưởng tượng nhưng vẫn phải phù hợp, gần gũi với thực tế cuộc sống. – Câu chuyện về cuộc gặp gỡ ấy phải thể hiện một ý nghĩa nào đó đối với người viết hoặc đối với độc giả ( nhằm ca ngợi một điều gì đó tốt đẹp, khẳng định những ảnh hưởng tích cực mà nhân vật hay cuộc gặp gỡ ấy tác động tới…) – Để bài văn thêm sinh động, hấp dẫn, người viết nên sử dụng kết hợp với yếu tố miêu tả ( hình dáng, nét mặt, cử chỉ của người thân; khung cảnh nơi gặp gỡ;…), yếu tố biểu cảm (tâm trạng, cảm xúc khi được gặp lại người thân, khi giấc mơ qua đi,…) II – Dàn ý chi tiết: 1. Mở bài: – Giới thiệu về giấc mơ, về người thân được gặp trong giấc mơ. 2. Thân bài: * Kể lại hoàn cảnh diễn ra giấc mơ: – Giấc mơ ấy diễn ra khi nào? Vì sao lại có giấc mơ ấy ( do được gợi nhớ bởi một điều gì đó, do hôm ấy là ngày có liên quan đến người thân…)? Thời gian của giấc mơ? – Gặp ai? (Người ấy còn sống hay đã mất? Khoảng cách về địa lí? Tình cảm của mình đối với người thân ấy?Đã bao lâu không gặp?) – Bối cảnh của giấc mơ( không gian, thời gian, màu sắc, cảnh vật chủ đạo trong giấc mơ). – Gặp người thân như thế nào? (Người ấy bỗng xuất hiện hay tình cờ gặp nhau?). * Kể lại cuộc gặp gỡ và trò chuyện: – Chào hỏi giữa mình và người thân đó. – Miêu tả người thân: khuôn mặt, mái tóc, ánh mắt, dáng điệu, lời nói, cử chỉ ( thay đổi nhiều hay vẫn nguyên vẹn như trong tiềm thức của mình) – Nội dung cuộc trò chuyện: + Hỏi về công việc, cuộc sống hiện tại của người thân ( của mình ) + Nhắc lại kỉ niệm ( sự gắn bó ) giữa mình và người thân đó. + Lời động động, khích lệ, nhắc nhở, dặn dò của người thân với mình. + … * Kể lại tình huống khiến mình tỉnh giấc: – Chợt tỉnh dậy, nhận ra là mơ. – Những hình ảnh vẫn còn đọng lại, những chi tiết về giấc mơ in sâu vào tâm trí. 3. Kết bài: – Cảm xúc, suy nghĩ ( nhớ người thân, mong gặp người ấy…) – Hứa hẹn với bản thân, với người thân về một điều gì đó trong tương lai. Đề 3: Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh. I – Tìm hiểu đề: – Khi làm bài văn này, người viết cần kể lại được chi tiết,các sự việc chính. Đó là trận chiến đấu nào? Diễn biến của trận chiến ấy ra sao? … Đó phải là một trận chiến đầu có ý nghĩa to lớn trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta hoặc của các dân tộc yêu chuộng hòa bình khác trên thế giới. Lời kể phải tự nhiên, chân thực như em đã từng được tham gia hoặc trực tiếp chứng kiến. – Để bài viết hay và sinh động hơn, các em nên sử dụng kết hợp với yếu tố miêu tả ( quang cảnh cuộc chiến, hành động của “các nhân vật”…)kết hợp với biểu cảm ( cảm xúc, suy nghĩ của em). Việc miêu tả ( trang phục, vũ khí…) cũng như sử dụng từ ngữ xưng hô cũng phải phù hợp với thời kì lịch sử mà trận chiến diễn ra. II – Dàn ý chi tiết: 1. Mở bài: – Đất nước ta đã có bao nhiêu trận chiến đấu các liệt với những chiến công hiển hách. – Trận chiến đấu… đã để lại cho em những cảm xúc khó phai. 2. Thân bài: – Kể khái quát về trận chiến đấu: + Diễn ra vào năm nào? Ở đâu? Ở thời kì nào? Chống giặc ngoại xâm nào? Mục đích của trận chiến đấu? + Em đã được biết về trận chiến ấy từ ông (bà) kể lại haysau khi học môn Lịch sử hoặc sau khi xem phim? – Kể lại diễn biến chính của trận chiến đấu qua các giai đoạn: + Chuẩn bị, phòng ngự. + Tấn công: tư thế chủ động, tinh thần dũng cảm, quyết chiến quyết thắng của quân ta; sự chống trả của địch… ( Kết hợp miêu tả tư thế, hành động của ta, của địch; tả quang cảnh của trận chiến… Khi kể, chú ý làm nổi bật vai trò của vị chỉ huy tài giỏi, anh dùng và một vài chi tiết thể hiện tinh thần quả cảm của quân ta). + Quân ta: chiến thắng ( kết hợp với miêu tả không khí chiến thắng, nét mặt, nụ cười của những người lính) và những hi sinh mất mát… + Quân địch: thất bại ( kết hợp với miêu tả không gian hoang tàn sau trận chiến, hình ảnh những tên lính còn sống sót…) – Ý nghĩa của trận chiến đấu trong lịch sử. 3. Kết bài: – Cảm xúc, suy nghĩ của em về trận chiến đấu ác liệt ấy. – Tự hào về lòng yêu nước của các thế hệ cha ông, về những trang sử vàng của dân tộc ta. – Suy nghĩ, liên hệ tới bổn phận của cá nhân và thế hệ sau. Đề 4: Đã có lần em cùng bố, mẹ ( hoặc anh,chị) đi thăm mộ người thân trong ngày lễ, tết. Hãy viết bài văn kể về buổi đi thăm đáng nhớ đó. Yêu cầu chung: HS nắm vững phương pháp làm bài văn tự sự có kết hợp miêu tả. Bố cục chặt chẽ, rõ ràng, diễn đạt tốt, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. Yêu cầu cụ thể: HS có thể trình bày nhiều cách khác nhau, nhưng cần phải làm được các yêu cầu sau đây: 1. Mở bài: – Giới thiệu về buổi đi thăm mộ người thân cùng bố, mẹ… – Ấn tượng chung của bản thân về buổi đi thăm đó. 2. Thân bài: * Kể, tả về sự chuẩn bị cho buổi đi thăm: ( thu xếp thời gian, mua sắm lễ vật,…) * Xuất phát: mấy giờ, đi xe gì? Quang cảnh trên đường đi,tâm trạng lúc đó? * Đến thăm mộ: – Miêu tả cụ thể quang cảnh xung quanh. – Kể lại những việc làm trong buổi đi thăm mộ: + Dọn dẹp sạch sẽ xung quanh ngôi mộ. + Bày các đồ cúng lễ ( hoa quả, vàng hương…) + Thắp hương và làm lễ khấn vái ( nói lên ước nguyện của gia đình, bản thân, như là tâm sự với người đã khuất…) + Bố, mẹ ( hoặc anh,chị) đã kể lại những kỉ niệm gì về người thân đã khuất. Kết hợp với miêu tả cảnh hương cháy và tâm trạng của mọi người trong gia đình. – Nỗi xúc động, thể hiện tình cảm của bản thân với người thân đã mất. – Kết thúc buổi viếng thăm như thế nào? ( hóa vàng và tiền âm phủ, tưới rượu lên mộ, thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh…) 3. Kết bài: – Khẳng định lại tình cảm của bản thân đối với người thân đã mất. – Suy nghĩ về đi thăm đáng nhớ đó.
Hướng dẫn viết bài tập làm văn số 2 – Văn tự sự
1,938
Hướng dẫn viết bài tập làm văn số 5 – Văn nghị luận Hướng dẫn Bài viết số 5 lớp 9 đề 1: Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc,danh nhân văn hóa thế giới. Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về Người. I. Mở bài: – Giới thiệu về Bác Hồ với những vinh danh: + Dân tộc Việt Nam tự hào đã sinh ra Chủ tịch HồChí Minh. + Là một người con ưu tú, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dânViệt Nam,anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. + Nhân dân Việt Nam ai cũng yêu quý, tôn kính gọiNgười là Bác Hồ kính yêu. II. Thân bài: 1. Giới thiệu tómtắt về cuộc đời, sự nghiệp của Bác: – Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) sinh ra trong một giađình nhà nho yêu nước ở vùng quê nghèo xứ Nghệ – nơi có truyền thống anh dũngchống ngoại xâm. – Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Bác đã sớm nhận ra sựlầm than, đau thương của nhân dân, sự mất chủ quyền của đất nước dưới ách đô hộcủa thực dân Pháp. – Vì vậy, năm 1911, từ bến Cảng Nhà Rồng, Người đã ra đi tìmcon đường cứu nước. Ba mươi năm bôn ba nước nước ngoài hoạt động cách mạng bíẩn với biết bao khó khăn, gian khổ nhưng Bác không nản chí, vẫn kiên trì hoànthành chí lớn, tìm đường đi cho cách mạng Việt Nam. – Năm 1941, Bác trở về trực tiếp lãnh đạo nhân dân đánhPháp, đuổi Nhật giành thắng lợi. Ánh sáng cách mạng mà người tìm ra con đườngdẫn lối của dân tộc Việt Namđi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự kiện Cách mạng tháng Tám thành cônglà một minh chứng cho đường lối cách mạng đúng đắn của Bác. – 2/9/1945, Bác đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa, xóa bỏ hơn 80 năm nô lệ. – Rồi Bác lãnh đạo nhân dân ta tiến hành hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để đi đến thắng lợi hoàn toàn. => Cả cuộc đời Bác đã cống hiến trọn vẹn cho nhân dân,cho đất nước. Bác là người Việt Namđẹp nhất thế kỉ XX. 2. Suy nghĩ vềcuộc đời và sự nghiệp của Bác: – Bác đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do củadân tộc. Sự hi sinh của Bác đã làm cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do,đưa nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ. – Bác là tấm gương sáng cho mọi thế hệ người Việt Nam noi theo. – Tên tuổi Bác, sự nghiệp cách mạng của Người sống mãi cùngnon sông, đất nước… – Tất cả những việc làm của Bác xuất phát từ lòng yêu nướcnồng nàn, lòng thương dân, thương những kiếp người lầm than cực khổ… – Tỏ lòng biết ơn Bác, ngày nay khắp mọi nơi trên đất nướcta đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức ở Bác. – Là học sinh, chúng ta ta thực hiện tốt 5 điều Bác dạy vàgóp phần đưa đất nước sánh vai cùng các cường quốc năm châu như lúc sinh thờiBác đã từng mong ước. III. Kết bài:Khẳng định lại công lao to lớn của Bác. Bài viết số 5 lớp 9 đề 2:Nước ta có nhiều tấm gương vượt lên số phận, học tậpthành công(như anh Nguyễn Ngọc Kí bị hỏng tay, dùng chân viết chữ; anh Hoa XuânTứ bị cụt tay, dùng vai viết chữ; anh Đỗ Trọng Khơi bị bại liệt đã tự học, trởthành nhà thơ; anh Trần Văn Thước bị tai nạn lao động, liệt toàn thân đã tựhọc, trở thành nhà văn,…) Lấy nhan đề “Những người không chịu thua sốphận”, em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về những con ngườiấy. I. Mở bài: Lá xanh tươi rồi cũng sẽ về với cội, cuộc sống con người hối hả rồicũng sẽ lắng vào dòng cát bụi thời gian. Nên lá kia đâu thể mãi màu xanh thángnăm. Nên tuổi đời con người đâu thể “Hai lần thắm lại”. Cho nên là người thìphải sống một cuộc đời có ý nghĩa. Phải có ý chí, nghị lực để vượt lên hoàncảnh, vượt lên những khó khăn, gian nan phía trước. Giống như anh Nguyễn NgọcKý, anh Hoa Xuân Tứ, anh Đỗ Trọng Khôi… họ đều là những người không may mắnnhưng họ vẫn tự mình vươn lên. Họ là “những người không chịu thua số phận”, lànhững tấm gương sáng cho tất cả chúng ta học tập. II. Thân bài: 1. Giải thích: – “Số phận” ở đây được hiểu là những nỗi khốn khổ về hoàn cảnh hoặc bấthạnh ( tàn tật, khiếm khuyết,…) về thể xác của một ai đó. Xưa nay, số phậnthường được nhiều người coi là sự an bài của ông trời, do trời định đoạt “Ngẫmhay muôn sự tại trời” (Nguyễn Du, “Truyện Kiều”) nên người có số phận bất hạnhthường có tâm lí cam chịu, trời phạt đành chịu… – “Những người không chịu thua số phận” là những con người có ý chí, nghị lực,niềm tin vào cuộc sống. Họ không đầu hàng trước số phận mà mạnh mẽ vươn lên đểsống một cuộc sống có ích và ý nghĩa. – Những con người không chịu thua số phận là những con người: + Có nhận thức đúng đắn về số phận ( họ nhận ra rằng số phận nằm trong tay mỗicon người và họ quyết tâm vượt lên hoàn cảnh, vượt lên chính mình để tạo dựngcuộc sống tốt đẹp cho mình và người thân, để trở thành người có ích…) + Có nhiều đóng góp cho xã hội ( họ tự phục vụ mình, làm ra của cải nuôi sốngbản thân, giảm bớt gánh nặng cho gia đình, cho xã hội, cống hiến cho xã hội…) + Họ là những tấm gương sáng ( tấm gương vươn lên trên nỗi bất hạnh của mình đểcất lên những tiếng ca ca ngợi cuộc đời, nhen lên niềm tin lẽ sống cho mọingười…) – Nhắc đến “những người không chịu thua số phận”, trong chúng ta, ai cũng vôcùng cảm phục khi nói về những tấm gương giàu nghị lực như: + Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, mặc dù bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng thầy vẫn quyếttâm đến trường, kiên trì học viết bằng chân, học hết đại học, trở thành Nhàgiáo Ưu tú, nhà văn, nhà thơ. Từ nghị lực và ý chí vượt khó vươn lên của bảnthân, thầy Nguyễn Ngọc Kí đã viết lên trang huyền thoại cho chính cuộc đời mìnhvà trở thành tấm gương của biết bao thế hệ học sinh, thanh niên Việt Nam. + Hiệp sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Công Hùng, từ khi còn nhỏ đã mắc căn bệnhhiểm nghèo khiến anh bị liệt toàn thân, nhưng anh vẫn cố gắng học tập, mở trungtâm tin học dành cho người khuyết tật, giúp đỡ họ có một hướng đi trong cuộcđời mình, có niềm tin vào cuộc sống. Anh làm cho mọi người cảm phục bởi ý chíphi thường vươn lên trong cuộc sống, sống có ích, có cống hiến cho xã hội… + Hay Nick Vujicic – chàng trai người Úc sinh ra với cơ thể không tay khôngchân, nhưng điều đó không khiến anh nản chí. Vượt qua những khiếm khuyết trên cơthể mình, anh trở thành một diễn giả nổi tiếng khắp thế giới, được mọi ngườibiết đến như một tấm gương của sự vượt khó… => Họ chính là những tấm gương tiêu biểu cho một lẽ sống đẹp, không chịukhuất phục sự nghiệt ngã của số phận. 3. Nguyên nhân: Nhờ đâu họ có sứcmạnh để vượt lên số phận? – Bởi vì họ có ý chí nghị lực, có niềm tin yêu mãnh liệt vào cuộc sống. Họ đãtạo dựng cuộc sống từ muôn vàn khó khăn,gian khổ, thử thách bằng sự kiêntrì,nhẫn nại và quyết tâm chiến thắng số phận của mình. Họ là những bông hoahướng dương luôn hướng về phía mặt trời. – Bên cạnh đó, nhờ có sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè xã hội nên họcó đủ dũng cảm, tự tin để vượt qua hoàn cảnh, số phận và những chông gai ở phíatrước. 4. Ý nghĩa: – Nếu như chim mang tiếng hót cho đời thêm vui, nếu như hoa mang vẻ đẹp cho đờithêm sắc, thì nghị lực, không chịu thua số phận đã mang lại cho họ những điềuđáng quý. “Không chịu thua số phận” giúp họ có tinh thần, quyết tâm vượt lênhoàn cảnh, vượt lên chính mình để sống có ích, sống có cống hiến cho xã hội,giảm bớt gánh nặng cho gia đình… “Tàn” nhưng không “phế”, bằng khả năng củamình họ đã có nhiều thành công và khẳng định được mình trong xã hội. – Hơn hết, họ là những tấm gương sáng để lại trong chúng ta bài học sâu sắc về nghịlực và ý chí vươn lên. Chính những tấm gương về họ dạy cho chúng ta phải biếtvượt qua những khó khăn trong cuộc sống để thực hiện hoài bão ước mơ. Không aikhác, họ là thần tượng của mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày hôm nay. 5. Phản đề: Cuộc đời thì có 2mặt: đúng – sai, phải – trái…cho nên, bên cạnh ca ngợi những tấm gương vượt khóthì chúng ta cũng cần phê phán những cá nhân không kiên cường, nhụt chí trướcnhững chông gai cuộc sống. Mõi khi gặp khó khăn thường rất dễ nản lòng, chưathật sự cố gắng đã đầu hàng số phận, dễ buông xuôi hoặc ý lại, hoặc phải ứngtiêu cực…( Học sinh lấy một vài dẫn chứng tiêu biểu ). Đó là những người hènnhát, không dám đối diện với sự thật nên khó thành công trong mọi việc. 6. Ý kiến đánh giá, bình luận: – Không đao to búa lớn, chính cuộc đời họ – “những người không chịuthua số phận” là thông điệp cao cả về lối sống có ích. Làm thơ, viết văn, dạyhọc… bằng những công việc thầm lặng, họ đã cống hiến cho xã hội như cây xanhlàm đẹp cho đời, điểm tô cho cuộc sống – Họ là bài học lớn cho thể hệ trẻ hôm nay, trong hoàn cảnh đầy đủ tiện nghisung túc, được sống trong sự yêu thương, quan tâm của cha mẹ, xã hội thì khôngít học sinh, thanh niên tự đánh mất mình, lao vào tệ nạn xã hội, lối sống vônghĩa ăn chơi, hưởng thụ, không biết cố gắng phấn đấu, để trở thành người choích cho xã hội, đất nước. – Họ là những tấm gương khiến chúng ta vô cùng khâm phục, trân trọng, quýmến… – Trách nhiệm của chúng ta: + Những người tàn tật cần được quan tâm, giúp đỡ hơn nữa. ( Phần lớn nhữngngười may mắn như chúng ta đã bao giờ cho rằng giúp đỡ những người tàn tật làvấn đề cần được quan tâm hơn nữa không? Và chúng ta đã làm được những gì chohọ? ) + Giúp đỡ người tàn tật là trách nhiệm của cả cộng đồng ( Giúp đỡ họ không chỉlà trách nhiệm của những tổ chức nhân đạo, các cơ quan chính quyền mà còn làtrách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta ). + Giúp đỡ người tàn tật là biểu hiện sâu sắc nhất của lòng nhân ái. – “Những người không chịu thua số phận” mãi mãi được mọi người yêu quý,khâm phục và kính trọng. – Rút ra được nhiều bài học bổ ích về lẽ sống, về ý chí, nghị lực, niềm tin,khát vọng… ( trong bất kì hoàn cảnh nào, dù số phận có nghiệt ngã đến mấy vẫnquyết tâm vươn lên, vượt qua mọi thử thách để sống có ích). – Ngưỡng mộ họ, sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ để họ bớt đi những đau đớn, nhọcnhằn. Bài viết số 5 lớp 9 đề 3: Việt Namtuy điều kiện kinh tế hạn chế,cơ sở vật chất chưa phát triển, nhưng đã có nhiềuhọc sinh đoạt huy chương vàng tại cuộc thi quôc tế về toán, lí, ngoại ngữ,…Năm 2004,sinh viên Việt Namlại đoạt giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc. Hãy viết bài vănnêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó. I. Mở bài: – Tinh thần hiếu học, vượt khó đã trở thành truyền thống tốtđẹp của người Việt Nam. – Giới trẻ ngày nay tiếp thu truyền thống quý báu của ôngcha và không ngừng làm vẻ vang truyền thống đó. – Vượt lên gian khó, đã biến những ước mơ thành hiện thực vàgặt hái những thành công ( đem những tấm huy chương vàng, đem vinh quang về choTổ quốc). II. Thân bài: 1. Tình hình đấtnước Việt Namtrong thời đại mới: – Đất nước: nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở vật chất chưa pháttriển, đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, đời sống của nhân dân so với các nướctiên tiến trên thế giới còn thua kém nhiều về mọi mặt,… – Về thanh niên Việt Nam trong thời đại mới ( luôn khaokhát, ước mơ dù bất cứ hoàn cảnh nào, khát vọng biến ước mơ thành hiện thực). 2. Những thànhcông đã đạt được ( của HS,sinh viên) trong các cuộc thi: – Thành tích: trong các kì thi quốc tế về các môn khoa họccơ bản, HS, sinh viên Việt Namđã đạt được nhiều thành tích, đặt biệt là trong những năm gần đây. – Cảm nhận của bản thân về những thành tích đó. 3. Nguyên nhân củanhững thành công: a. Nguyên nhânkhách quan: – Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các cấp, cácngành đặc biệt là ngành Giáo dục và Đào tạo ( tạo môi trường, đầu tư…) – Được sự quan tâm, động viên, tạo điều kiện của gia đình,thầy cô, bạn bè, người thân… b. Nguyên nhân chủquan: – Có nghị lực, quyết tâm, thông minh, năng động, sáng tạo,có phương pháp học tập tốt. – Luôn mơ ước và khát khao biến ước mơ thành hiện thực. – Có tinh thần thi đấu quyết liệt vì màu cờ, sắc áo, vì niềmtự hào dân tộc. 4. Suy nghĩ về họvà những điều mà họ đạt được: – Là những tấm gương sáng về lòng quyết tâm, nghị lực vượtlên gian khó. – Là tấm gương điển hình của những con người sống để mơ ước– khát khao – cống hiến. – Là những con người có công lớn với đất nước, làm rạng danhnon sông gấm vóc Việt Nam. III. Kết bài: – Thành công của họ chứng tỏ con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn tiềm tàng một sức mạnh nộilực sẵn sàng vượt lên gian khó. – Họ có thể làm được những điều lớn lao như bất kì một cườngquốc nào trên thế giới. Đó là niềm tự hào của “con Rồng cháu Tiên”. – Cảm phục trước tấm gương sáng về tinh thần vượt khó, nghịlực, quyết tâm, lòng đam mê. Bài viết số 5 lớp 9 đề 4: Một hiện tượng khá phổ biến hiện nay là vứt rácra đường hoặc những nơi công cộng. Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng,người ta cũng tiện tay vứt rác xuống…Em hãy đặt một nhan đề để gọi ra hiệntượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình. I. Mở bài: – Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống. – Vậy, chúng ta suy nghĩ như thế nào về hiện tượng này? II. Thân bài: 1. Biểu hiện: – Vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng là một thói quen vẫn thường xảyra trong đời sống của con người Việt Nam: + Trên xe khách, trong rạp chiếu phim, ngoài công viên,… người ta vẫn sẵn sằngvứt ra túi ni lông, thuốc lá,… + Ngay cả trong trường học, học sinh cũng thường vứt rác vào ngăn bàn, chân cầuthang, dưới sân trường… + Những khu du lịch nổi tiếng như Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha, lượngrác thải cũng quá nhiều, bộ phận gom rác cũng phải làm việc liên tục nhưng vẫnchưa giải quyết triệt để về vệ sinh môi trường. + Ngồi trên hồ, dù là hồ đẹp, nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống.Nằm giữa trung tâm thủ đô Hà Nội, Hồ Gươm là niềm tự hào của người dân Việt Namthế mà do rác thải của khách dạo chơi ven hồ vứt xuống đã làm cho nước bị biếnchất, biến “nàng hồ” xinh đẹp trở thành cái bể nước thải trong lòng thủ đô, cụRùa sống lâu năm ở đó cũng phải ngoi lên… -> Những hành vi đó không phải là cá biệt. Người ta xả rác như các quyềnđược thế, thành một cố tật xấu khó sửa chữa. 2. Nguyên nhân: a. Chủ quan: – Do thói quen đã có từ lâu đời. – Do thiếu hiểu biết. – Do thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, ích kỉ, lười nhác, thiếu lòng tựtôn dân tộc, thiếu một tấm lòng… ( Người Việt Namcó thói quen vứt rác ra đường, nơi công cộng bởi họ bắt đầu bằng một nhận thức:nơi ấy không thuộc phạm vi nhà mình, có bẩn cũng không ảnh hưởng đến mình,không ai chê cười đến cá nhân mình thế là cứ hồn nhiên xả rác. Người lớn xả,trẻ con xả…Không ai cười, cũng chả ai lên án người xả rác, có chăng một sốngười có ý thức cũng chỉ ngậm ngùi, thở dài, ngao ngán nhìn…rồi đành vậy chứchả biết nói sao vì biết mình cũng chẳng làm được gì trước thói quen vô ý thứccủa cả một đám đông khổng lồ…) b. Khách quan: – Do đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu ( các phương tiện thu gom rác cònhạn chế, thiếu thốn, có nơi còn không có phương tiên cũng như người thu gomrác…) – Giờ thu gom rác không đáp ứng được với tất cả người dân. – Không có chế tài xử phạt nghiêm khắc. c. Tuyên truyền rộng rãi nhưng khôngsâu sắc về tác hại của việc xả rác ( chừng nào người dân còn chưa thấyxấu hổ khi xả rác nơi công cộng, chưa có ý thức giữ gìn nơi công cộng như nhàmình, chưa nghĩ rằng mình sẽ bị phạt nặng hoặc có thể bị ra tòa hoặc bị mọingười chê cười, lên án…chừng ấy vẫn còn hiện tượng xả rác ra đường, nơi côngcộng). 3. Tác hại/ hậu quả: – Tạo ra một thói quen xấu trong đời sống văn minh hiện đại. – Gây ô nhiễm môi trường. – Bệnh tật phát sinh ( có khi thành dịch), giảm sút sức khỏe, tốn kém tiền bạc… – Ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mĩ, mất đi vẻ xanh-sạch-đẹp vốn có ( có nơi cònbị biến dạng,bị phá hủy do rác). – Ngành du lịch gặp khó khăn, hình ảnh dân tộc, đất nước bị giảm đi ấn tượngtốt đẹp. – … 4. Ý kiến đánh giá, bình luận: – Xả rác bừa bãi là một hành động thiếu văn hóa, đáng bị phê phán. – Những hiện tượng này chứng tỏ con người chưa có ý thức về vấn đề bảo vệ môitrường sống, chưa có trách nhiệm với cộng đồng cũng như đối với cuộc sống củabản thân mình. – Bởi vậy, mỗi người cần phải rèn cho mình tinh thần trách nhiệm, cũng như ýthức bảo vệ môi trường. – Chúng ta phải tuyên truyền cho mọi người hiểu được tác hại của hiện tượngnày. – Đồng thời, nhà nước cũng cần có những biện pháp hữu hiệu trong việc thu gomrác thải và cũng cần phải xử phạt nghiêm khắc với các hành vi vi phạm. ( liênhệ với đất nước Singapore) III. Kết bài: – Mơ ước chung của nhân dân ta: trong tương lai không xa Việt Nam sẽtrở thành một trong những con rồng châu Á. – Mỗi người cùng đóng góp sức mình vào công cuộc chung ấy. – Bắt đầu bằng việc làm nhỏ của mỗi người: bỏ rác đúng nơi quy định.
Hướng dẫn viết bài tập làm văn số 5 – Văn nghị luận
3,340
Hướng dẫn Viết Quảng Cáo – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VIẾT QUẢNG CÁO I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Vai trò Văn bản quảng cáo là loại văn bản thông tin, thuyết phục khách hàng về chất lượng, lợi ích, sự tiện lợi,… của sản phẩm, dịch vụ thuyết phục người mua thích mua hàng và sử dụng dịch vụ đó. 2.Yêu cầu chung của văn bản quảng cáo Văn bản quảng cáo cần ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn, tạo ấn tượng, trung thực, tôn trọng pháp luật và thuần phong mĩ tục của dân tộc. 3.Cách viết văn bản quảng cáo Để viết một văn bản quảng cáo cần lựa chọn được nội dung độc đáo, tạo ấn tượng, thể hiện tính ưu việt của sản phẩm, của dịch vụ rồi trình bày ngắn gọn theo kiểu quy nạp hoặc so sánh và sử dụng những từ ngữ khẳng định tuyệt đối. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Đọc các quảng cáo và trả lời câu hỏi (tr. 142 – 143, SGK). BÁN MÁY VI TÍNH Máy mới 100%, đúng hãng INTEL — IBM, lãi suất thấp, thủ tục đơn giản, tiền trả trước thấp. Liên hệ: Công ti X, số nhà…., phố…., Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại:………… PHÒNG KHÁM ĐA KHOA H.D -Khám chữa bệnh theo yêu cầu. -Do tập thể giáo sư, bác sĩ giỏi của các bệnh viện trung ương đảm nhận. -Với trang thiết bị khám chữa bệnh đồng bộ, hiện đại, chính xác, nhanh chóng, giá cả hợp lí. Số5, đường…., TP. Hà Nội. Gợi ý trả lời: a.Các văn bản trên quảng cáo về việc bán máy vi tính và dịch vụ khám chữa bệnh đa khoa. b.Các loại văn bản này thường gặp trên các pa-nô, áp-phích, báo, tờ rơi, trên đài phát thanh, đài truyền hình,…. c.Có thể kể thêm một vài ví dụ: -Quảng cáo bán điện thoại di động, xe máy (mới, cũ), các loại mĩ phẩm,…. -Quảng cáo bán các loại tân dược, các dịch vụ chăm sóc sắc đẹp,…. 2.Nhận xét về các quảng cáo: quảng cáo nước giải khát và quảng cáo về một loại kem làm trắng da. Gợi ý: Yêu cầu của mỗi quảng cáo là vừa phải ngắn gọn, vừa phải nêu bật được sự vượt trội của hàng hoá, dịch vụ được quảng cáo. Dựa vào những tiêu chí này thì quảng cáo về nước giải khát tuy dài dòng nhưng không nêu được tính ưu việt của sản phẩm. Trong khi đó, quảng cáo về kem làm trắng da lại tâng bốc quá đáng sản phẩm, sử dụng nhiều từ ngữ không chuẩn mực khiến người nghe bị phản cảm và nảy sinh sự nghi ngờ về chất lượng của sản phẩm. 3.Viết quảng cáo cho sản phẩm rau sạch. Tham khảo lời quảng cáo sau: BÁN CÁC SẢN PHẨM RAU SẠCH -Rau trồng theo công nghệ Hà Lan, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không sử dụng chất kích thích tăng trưởng, không có các chất độc hại. -Chủng loại đa dạng, thoả mãn nhu cầu của người mua. Liên hệ: Tổ sản xuất, đường…, TP. Hà Nội. Điện thoại:……….. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Phân tích tính súc tích, hấp dẫn và tác dụng kích thích tâm lí người mua hàng của các quảng cáo: quảng cáo về một loại xe ô tô, về một loại sữa tắm mới và về một loại máy ảnh tự động. Gợi ý: -Cả ba văn bản nêu trên đã đáp ứng được yêu cầu của một quảng cáo tốt, bởi tuy đều viết rất ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ những nội dung cần quảng cáo. -Mỗi quảng cáo đều đã nêu được những phẩm chất nổi trội của từng sản phẩm. + Tính vượt trội của chiếc ô tó là: sự sang trọng, tinh tế, mạnh mẽ, quyến rũ. Đồng thời quảng cáo này còn khiến cho người đọc cảm thấy thích thú khi so sánh chiếc xe như là một người bạn đáng tin cậy. + Tính ưu việt của sản phẩm sữa tắm là sự thơm ngát hương hoa. Đó chính là bí quyết làm đẹp. + Tính ưu việt của máy ảnh tự động là sự thông minh và sự tự động hoá. Tính năng này làm cho máy ảnh vừa vô cùng tiện lợi, vừa dễ sử dụng. Nói tóm lại cả ba quảng cáo này đều rất ngắn gọn và hấp dẫn. Các từ ngữ được lựa chọn đều rất phù hợp và đắc dụng. Cách sử dụng các kiểu câu cũng rất linh hoạt và đạt hiệu quả cao. Gợi ý: Để viết được những quảng cáo này, trước tiên cần nêu được những nét đặc biệt, có lợi, hấp dẫn của đối tượng cần quảng cáo. Sau đó tìm cách tốt nhất để diễn đạt chúng. Ví dụ: -Quảng cáo cho việc đi xe buýt, cần nêu được những tiện dụng của xe buýt như: sự an toàn, tránh được sự căng thẳng, ô nhiễm, giảm chi phí đi lại, góp phần giải quyết được vấn đề ách tắc và tai nạn giao thông,… -Quảng cáo cho một trận bóng đá, cần nêu được tính chất quan trọng của trận đấu, sự hấp dẫn của lối chơi,… -Quảng cáo cho đêm văn nghệ, cần nêu được mục đích tổ chức, sự đặc sắc của các tiết mục được lựa chọn, sự xuất hiện của những ca sĩ được nhiều người yêu thích,… -Quảng cáo cho một danh lam thắng cảnh, một món ăn đặc sản của địa phương, cần nêu được vẻ đẹp độc đáo, thú vị của thắng cảnh đó,… nêu được những nét đặc trưng trong hương vị của món ăn,…. -Quảng cáo cho một sáng kiến, một tờ báo tường của lớp: nêu những ứng dụng thực tiễn của sáng kiến và cách thức phổ biến, vận dụng nó,… nêu những nét độc đáo, nổi trội về nội dung và hình thức của tờ báo tường,…. XEM THÊM HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Viết Quảng Cáo – Ngữ văn 10
980
Hướng dẫn Ôn tập phần tiếng việt – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT 1.Nhắc lại những kiến thức về hoạt động giao tiếp: a.Khái niệm: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là một trong những hoạt động cơ bản của con người. Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ… để tổ chức xã hội hoạt động. b.Hoạt động này bao gồm hai quá trình: sản sinh văn bản và lĩnh hội văn bản. Sản sinh văn bản chính là hành vi nối hoặc viết để truyền đạt thông tin. Lĩnh hội văn bản chính là hành vi nghe hoặc đọc để tiếp nhận thông tin. c.Các nhân tố của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: -Nhân vật giao tiếp, là những người tham gia giao tiếp: người phát (người nói / người viết) và người nhận (người nghe / người đọc). -Công cụ giao tiếp và kênh giao tiếp, là ngôn ngữ được chọn dùng làm phương tiện chuyên chở thông tin và hình thức thực hiện giao tiếp. -Nội dung giao tiếp, là phạm vi hiện thực bên ngoài ngôn ngữ gồm những sự vạt, sự việc nào đó trong đó sự vật thế nào, vì sao, ai làm, làm gì, với ai, ở đâu, khi nào, nhằm mục đích gì,… thường phải được xác định rõ; là bản thân ngôn ngữ, trong trường hợp này, ngôn ngữ được dùng để nói về chính ngôn ngữ. 2. Lập bảng so sánh đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết: 3.a.Các đặc điểm của văn bản: -Văn bản bao giờ cũng tập trung nhất quán vào một chủ đề và triển khai chủ đề đó một cách trọn vẹn. -Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ và liên kết về mặt nội dung. Đồng thời, cả văn bản còn phải được xây dựng theo một kết cấu mạch lạc, rõ ràng. -Mỗi văn bản thường hướng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định. -Mỗi văn bản có những dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặt nội dung: thường mở đầu bằng một tiêu đề và có dấu hiệu kết thúc phù hợp với từng loại văn bản. b.Phân tích các đặc điểm ấy qua một văn bản cụ thể trong sách giáo khoa Ngữ văn 10. -Ví dụ với văn bản: Ba Bể – huyền thoại và sự thật của Bùi Văn Định (Ngữ văn 10, tập hai, trang 26). + Chủ đề của văn bản là truyền thuyết về hòn đảo An Mạ. + Câu chuyện được kể rất lô gích. Các câu trong văn bản được liên kết với nhau bằng các liên từ, các từ chuyển tiếp (Chuyện kể rằng; rồi bỗng một đêm; duy chỉ có;…) và liên kết theo mạch kể thời gian. + Về hình thức: Văn bản được chia thành ba phần rõ ràng, mạch lạc và rất dễ nhận ra. c.Điền tên các loại văn bản đã học (phân biệt theo phong cách ngôn ngữ) vào sơ đồ phân loại sau đây: 4.Lập bảng ghi các đặc điểm cơ bản cho thấy các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: 5.a.Trình bày khái quát về nguồn gốc, quan hệ họ hàng và lịch sử phát triển của tiếng Việt, (xem lại bài Khái quát về lịch sử tiếng Việt, Ngữ văn 10, tập hai, trang 33) b.Kể tên một số tác phẩm văn học Việt Nam: + Viết bằng chữ Hán: Nam quốc sơn hà, Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Đại cáo bình Ngô, Chuyện người con gái Nam Xương, Hoàng Lê nhất thống chí,… + Viết bằng chữ Nôm: Quốc âm thi tập, Truyện Kiều, Bánh trôi nước, Qua Đèo Ngang, Truyện Lục Vân Tiên, … + Viết bằng chữ quốc ngữ: Cha con nghĩa nặng, Lão Hạc, Làng, Đoàn thuyền đánh cá, Viếng lăng Bấc,… 6.Tổng hợp những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực theo bảng 7.Trong những câu sau, câu nào anh (chị) cho là đúng: a.Muốn chiến thắng đòi hỏi ta phải chủ động tiến công. c.Được tham quan danh lam thắng cảnh làm chúng ta thêm yêu đất nước. d.Được tham quan danh lam thắng cảnh, chúng ta càng thêm yêu đất nước, e. Qua hoạt động thực tiễn nên ta rút ra được những kinh nghiệm quý báu. g.Qua hoạt động thực tiễn, ta rút ra được những kinh nghiệm quý bâu. h.Nhờ trải qua hoạt động thực tiễn, nên ta rút ra những kinh nghiệm quỷ bấu. -Gợi ý trả lời: + Các câu b, d, g, h là các câu đúng. + Ba câu a, c và e là những câu sai. Lỗi sai trong ba câu này cùng giống nhau ở chỗ người viết không phân định được ranh giới giữa các thành phần phụ với nòng cốt câu XEM THÊM HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI VĂN SỐ 7: VĂN NGHỊ LUẬN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Ôn tập phần tiếng việt – Ngữ văn 10
838
Hướng dẫn Ôn tập phần tập làm văn – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ÔN TẬP PHẦN LÀM VĂN I – PHẦN LÍ THUYẾT Gợi ý: Các câu hỏi ôn tập trong phần này đều là những câu hỏi yêu cầu tái hiện lai kiến thức lí thuyết đã học. Vì thế, cần xem lại mục lục, kiểm tra nội dung của từng bài rồi ôn lại theo những yêu cầu mà các câu hỏi đã nêu ra. II-PHẦN LUYỆN TẬP Tập tóm tắt nội dung các bài: Khái quát văn học dân gian Việt Nam (Ngữ văn 10, tập một); Nguyễn Du và bài Văn bản văn học (Ngữ văn 10, tập hai) 1.Gợi ý: Các bài được yêu cầu tóm tắt nêu trên đều là những bài có nhiều mục với nhiều nội dung phức tạp. Vì vậy muốn tóm tắt được dễ dàng, cần tiến hành theo các bước sau: -Đọc lướt qua một lượt toàn bộ nội dung văn bản. -Xác định những mục chính, những nội dung cơ bản của bài (xác định bằng cách tìm câu chủ đề của mỗi đoạn văn). -Tiến hành tóm tắt (bám vào các câu chủ đề vừa xác định được). -Kiểm tra lại văn bản tóm tắt và sửa chữa nếu thấy cần thiết. 2.Tham khảo văn bản tóm tắt dưới đây: -Tóm tắt bài: Văn bản văn học. Bài Văn bản văn học gồm ba phần lớn. Mở đầu bài viết trình bày những tiêu chí của một văn bản văn học (để phân biệt với những văn bản thuộc phong cách khác). Theo những tiêu chí này, văn bản văn học là những văn bản đi sâu khám phá thế giới tình cảm, nhu cầu thẩm mĩ của con người bằng ngôn từ nghệ thuật có tính hình tượng và tính thẩm mĩ cao. Thêm nữa, mỗi văn bản văn học bao giờ cũng phải thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước thể loại riêng. Bài viết kết thúc bằng việc đặt văn bản văn học vào quá trình tiếp nhận. Theo đó văn bản của nhà văn chỉ thực sự trở thành tác phẩm văn học thông qua việc đọc, thông qua sự cảm thụ của người đọc. 3.Áp dụng các bước nêu trên để hoàn thành văn bản tóm tắt hai bài viết còn lại. XEM THÊM HƯỚNG DẪN TỔNG KẾT PHẦN VĂN HỌC – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Ôn tập phần tập làm văn – Ngữ văn 10
393
Hướng dẫn Ôn tập văn học dân gian Việt Nam – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM I.NỘI DUNG ÔN TẬP 1.Định nghĩa về văn học dân gian có thể được phát biểu theo nhiều cách nhưng cần chú ý thể hiện được những đặc điểm cơ bản của dòng văn học này: Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, được hình thành, tồn tại và phát triển nhờ tập thể. Tác phẩm văn học dân gian gắn bó và phục vụ cho các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng. -Các đặc trưng của văn học dân gian (xem chi tiết trong Bài 2 – Khái quát văn học dân gian Việt Nam): + Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng. + Là sáng tạo mang tính tập thể. + Gắn bó và phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng. Người ta còn gọi ba đặc trưng trên là: tính truyền miệng, tính tập thể và tính thực hành. Có thể minh hoạ: -Tính truyền miệng: Các tác phẩm văn học dân gian đều gắn với quá trình diễn xướng. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong ca dao (gắn với lời hát), sử thi, cổ tích (gắn với hình thức kể)… Ví dụ bài ca dao về “lời dẫn cưới và thách cưới” (học tron» Bin 9) thực chất là lời hát đối đáp của tập thể trai gái trong ngày hội hoặc trong một buổi sinh hoạt tập thể nào đó. -Tính tập thể: Nghĩa là nói đến tính vô danh (tác phẩm là sản phẩm của cả cộng đồng) và tính dị bản của văn học dân gian. Chính việc tác phẩm văn học dân gian không bị “hạn chế” về việc sửa chữa trong quá trình truyền miệng nên mới sinh ra các văn bản khác nhau của cùng một tác phẩm (các dị bàn: các câu ca dao có mô tip mở đầu là: “Thân em như…”). -Tính thực hành: Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong các bài ca nghi lễ, bài hát đối đáp giao duyên, các bài hò lao động,… 2.Văn học dân gian Việt Nam gồm những thể loại chính như: thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao -dân ca. vè, truyện thơ; các thể loại sân khấu (chèo, tuồng, múa rối. các trò diễn mang tích truyện). -Những đặc trưng chủ yếu của một số thể loại văn học dân gian: a.Sử thi (nhất là sử thi anh hùng) -Nội dung: đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa lớn đối với đời sống của cộng đồng. -Đặc điểm nghệ thuật: + Là những tác phẩm tự sự có quy mô lớn. + Hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng về sức mạnh và trí tuệ. + Câu văn trùng điệp, ngôn ngừ trang trọng, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu với những biện pháp so sánh, ẩn dụ và phóng đại đặc trưng b.Truyền thuyết -Nội dung: Kể về những sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo quan điểm đánh giá của dân gian. -Đặc điểm nghệ thuật: + Là những tác phẩm văn xuôi tự sự có dung lượng vừa phải. + Có sự tham gia của những chi tiết, của các sự việc có tính chất thiêng liêng kì ảo (các nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ hay những sự biến thân). c.Truyện cổ tích -Nội dung: + Là những câu chuyện kể về số phận của những con người bình thường hay bất hạnh trong, xã hội (chàng trai nghèo, người thông minh, người em, người đi ở, chàng ngốc,…) + Thể hiện tinh thần nhân đạo và sự lạc quan của người lao động. -Đặc điểm nghệ thuật: + Là những tác phẩm văn xuôi tự sự. + Cốt truvện và hình tượng đều được hư cấu rất nhiều. + Có sự tham gia của nhiều yếu tố kì ảo, hoang đường (nhân vật thần: bụt, tiên, phù thuỷ… các vật thần kì ảo như cây đũa thần, cái thảm bay… hoặc những sự biến hoá kì ảo…). + Thường có một kết cấu quen thuộc: Nhân vật chính gặp khó khăn hoạn nạn cuối cùng vượt qua và được hưởng hạnh phúc. -Nội dung: Phản ánh những điều kệch cỡm, rởm đời trong xã hội, những sự việc xấu hay trái với lẽ tự nhiên trong cuộc sống mà có tiềm ẩn những yếu tố gây cười. -Đặc điểm nghệ thuật: Dung lượng ngắn, kết cấu chặt chẽ, mâu thuẫn phát triển nhanh, kết thúc bất ngờ và độc đáo. g.Truyện thơ -Nội dung: Diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của con người khi hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội bị tước đoạt. -Đặc điểm nghệ thuật: + Truyện thơ là những tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ nên nó vừa có tính chất tự sự (có cốt truyện) vừa giàu tính chất trữ tình. + Thường sử dụng những hình ảnh so sánh, ví von, các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp (điệp câu) để nhấn mạnh ý.. + Là những tác phẩm có dung lượng lớn (Tiễn dặn người yêu có 1846 câu thơ). 3.Bảng tổng hợp so sánh các thể loại văn học dân gian Việt Nam 4. Ca dao than thân thường là lời của ngườị phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Thân phận của họ thường bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội, giá trị phẩm chất của họ không được người ta biết đến và trân trọng. Thân phận ấy thường được so sánh như: củ ấu gai, tấm lụa đào, hạt mưa, miếng cau khô, cái giếng,… Ca dao yêu thương, tình nghĩa đề cập đến tình bạn cao đẹp, tình yêu đôi lứa (với những cung bậc phong phú như nhớ thương, hờn giận…), tình cảm gia đình, tình nghĩa thuỷ chung của con người trong cuộc sống,… Ca dao yêu thương thường gắn với những biểu tượng như: cái khăn, chiếc cầu,… vì đây là những vật, những nơi mà nam nữ thường có nhiều kỉ niệm. Cái khăn là kỉ vật luôn đi cùng người con gái. Nó mang theo hơi ấm của người yêu. Còn chiếc cầu là nơi nam nữ hẹn hò tâm sự. Ca dao tình nghĩa còn thường sử dụng những ước lệ như: cây đa, bến nước, con thuyền, gừng cay, muối mặn… Vì đó là những hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc với người bình dân vừa biểu tượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ước muốn, khát khao về sự thuỷ chung tình nghĩa của con người. Trong ca dao hài hước, tiếng cười tự trào là tiếng cười hóm hỉnh, hồn nhiên vô tư nhằm “thi vị hoá” cuộc sống nghèo khổ của mình. Nó là tiếng cười tiếp sức để người ta vượt lên hoàn cảnh. Trong khi đó, tiếng cười phê phán xã hội có mục đích đấu tranh xã hội mạnh mẽ hơn. Nó hướng vào những thói hư, tật xâu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp thống trị ti tiện, tham lam,… Tiếng cười phê phán có nhiều mức độ: nhắc nhở, giễu cợt, đả kích, phủ nhận…. Có thể nhận xét rằng ca dao hài hước là sản phẩm của tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động. Nó nảy sinh ngay từ trong cuộc sống vất vả, khốn khó và bộn bề lo toan của người nông dân. b.Các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao: -Thường lặp lại các mô thức mở đầu: thân em, em như, cô kia, ước gì,… -Sử dụng nhiều các mô típ biểu tượng: gừng cay – muối mặn, con đò, bến đợi, ngọn đèn, tầm khăn, cái cầu,… -Sử dụng phổ biến các biện pháp: so sánh, ẩn dụ, cường điệu, tương phản đối lập. -Sử dụng các thể thơ quen thuộc của dân gian (chủ yếu là lục bát). -Ngôn ngữ mang tính chất lời ăn tiếng nói hằng ngày, tuy rất đời thường nhưng mang nhiều hàm nghĩa sâu sắc… Các biện pháp nghệ thuật này có khá nhiều điểm khác với nghệ thuật thơ của văn học viết. Lí do của sự khác biệt đó là do ca dao, là sản phẩm, là tiếng nói của cộng đồng. Tập thể sáng tác bao giờ cũng có xu hướng tìm những cách thức diễn đạt có tính phổ biến chung. Trong khi đó. những sáng tác của văn học viết lại in đậm những dấu ấn cá nhân (luôn có xu hướng tìm cách diễn đạt mới, lạ lẫm để thu hút độc giả và để tạo ra những “ấn tượng nghệ thuật” riêng). II.BÀI TẬP VẬN DỤNG 1.Nhận xét về hai đoạn miêu tả cảnh Đăm Săn múa khiên và đoạn cuối tả hình ảnh và sức khỏe của chàng trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây: Trong ba đoạn vãn này, nét nổi bật trong nghệ thuật miêu tả nhân vật anh hùng nằm ở các thủ pháp sau: -Thủ pháp so sánh: Với những câu văn như “chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc”, “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực…”. -Thủ pháp phóng đại: “Một lần xốc tới, chàng vợt một đồi tranh”, “khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung… -Thủ pháp trùng điệp: Nằm ở nội dung của các câu văn và ở cả cách thức thể hiện. Các hành động, cũng như đặc điểm của Đăm Săn đều được luyến láy nhiều lần nhằm tạo nên sự kì vĩ, lớn lao: “Chàng chạy vun vút qua phía đông, vun vút qua phía tây”, “Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang… Đăm Săn vôn ngang tàng từ trong bụng mẹ”,… -Sự kết hợp linh hoạt của các biện pháp nghệ thuật này cùng với trí tướng tượng hết sức phong phú của tác giả, dân gian đã góp phần tôn lên vẻ đẹp của người anh hùng sử thi – một vẻ đẹp kì vĩ, lớn lao trong một khung cảnh cũng rất hoành tráng và dữ dội. 2.Tấn bi kịch của Mị Châu – Trọng Thuỷ trong chuỗi truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.4.Đặc sắc nghệ thuật của truyện Tấm Cám là đã khắc hoạ được hình tượng Tấm có sự phát triển về tính cách. Theo dõi câu chuyện, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này: -Ở giai đoạn đầu, khi gặp những sự đè nén hay những khó khăn, Tấm rất thụ động, yếu đuối, thường chỉ khóc không biết làm gì (lúc mất giỏ cá, lúc mất con bống, lúc bị bắt ngồi nhặt thóc…), ở giai đoạn này, Tấm chỉ biết trông đợi vào sự giúp đỡ của bên ngoài (ông Bụt). -Nhưng đến giai đoạn sau, Tấm đã kiên quyết đấu tranh để giành lại cuộc sống, giành lại hạnh phúc (chim vàng anh, chiếc khung cửi đều lên tiếng doạ Cám và kết thúc truyện, Tấm đã buộc mẹ con Cám phải nhận một kết cục xứng đáng với tội ác của mình). Ở giai đoạn này, tuy Tấm nhiều lần hoá thân nhưng nhân vật Bụt đã không còn xuất hiện. Thay vào đó, Tấm đã chủ động hơn trong những hành động của mình. Có thể nói, sở dĩ có sự phát triển về tính cách như vậy là vì ban đầu, Tấm chưa ý thức được thân phận của mình, những mâu thuẫn chưa tới mức căng thẳng và quyết liệt. Hơn nữa, Tấm lại có sự giúp đỡ của nhân vật thần kì nên Tấm còn thụ động. Ở giai đoạn sau, mâu thuẫn bắt đầu quyết liệt đẩy Tấm vào thế phải đấu tranh để giành lại cuộc sống và hạnh phúc của mình. Sự phát triển tính cách của nhân vật Tấm cũng cho thấy sức sống bất diệt của con người trước sự vùi dập của các thế lực thù địch. Nó là sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác trong cuộc sống. 4.Bảng phân tích truyện cười 5. Các bài ca dao mở đầu bằng Thân em… hoặc Chiều chiều… -Thân em như cái bàn cờ Hễ đánh lại xoá bao giờ cho xong. -Thân em như miếng cau khô Người thanh tham mỏng, người thô tham dày. -Thân em như thể cây thông Mùa hè tươi tốt mùa đông rậm rà. -Chiều chiểu ra đứng ngõ sau -Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò. -Chiều chiều lại nhớ chiều chiều Nhớ người yếm trắng dải điều thắt lưng. Cách mở đầu những bài ca dao bằng mô thức lặp như thế này có tác dụng rất nhiều trong việc tạo ấn tượng thẩm mĩ và xúc cảm cho người đọc. Mô típ “thân em như…” thường gợi ra thân phận chua xót, ngậm ngùi. Còn mô típ “chiều chiều…” gọi đến một khoảng thời gian “nhạy cảm” – khoảng thời gian của nỗi nhớ nhung. b.Các hình ảnh so sánh trong các bài ca dao đã học: tấm lụa đào, củ ấu gai, chiếc khăn, ngọn đèn,… Những hình ảnh này đều là những hình ảnh rất quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày. Nó đã được tác giả dân gian chọn lọc và nâng lên thành những hình ảnh nghệ thuật. Nó mang những lớp nghĩa biểu tượng tương đối ổn định. Vì thế mà, nó dễ gây xúc động và cũng dễ đi vào tâm hồn của người đọc, người nghe. c.Một số bài ca dao có: -Chiếc khăn, chiếc áo: + Chồng em áo rách em thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người. + Thôi thôi buông áo em ra Để em đi bán kẻo hoa em tàn. -Nỗi nhớ của những đôi lứa đang yêu: + Nhớ ai hết đứng lại ngồi Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân. + Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi Nhớ chỗ chàng đứng, nhớ nơi chàng nằm. Vắng chàng em vẫn hỏi thăm Nào em đã bỏ mấy năm mà hờn! + Nhớ ai con mắt lim dim Chân đi thất thểu như chim tha mồi. -Biêu tượng cây đa, bến nước, con thuyền, gừng cay – muối mặn + Cây đa cũ, bến đò xưa Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ. + Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa. + Thuyền em đậu bến Phú An Mau đi em đợi, mau sang em chờ. + Tay nâng chén muối, đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau. d.Một sô câu ca dao hài hước có tính chất giải trí, mua vui: -Ai làm chùa ngã xuống sông Phật nổi lồm ngồm, chuông đồng chìm theo. -Cái bống đi chợ Cầu Canh Cái tôm đi trước củ hành đi sau Con cua lạch đạch theo hầu Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua. -Ngồi buồn đốt một đống rơm Khói bay nghi ngút chăng thơm chút nào Khói lên đến tận Thiên Tào, Ngọc Hoàng phán hói, thẳng nào đốt rơm? -Xắn quần bắt kiến cưỡi chơi Trèo cây rau má đánh rơi mất quần. 6.Một số câu thơ (bài thơ) của các nhà thơ trung đại và hiện đại có sử dụng văn học dân gian làm chất liệu sáng tác: -Câu trong Truyện Kiều: Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. Lấy ý từ câu ca dao: Ai đi muôn dặm non sông Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy. -Cảm hứng “thân em như” trong ca dao cũng là cảm hứng của Hồ Xuân Hương về thân phận người phụ nữ trong nhiều bài thơ như bài Bánh trôi nước. -Hoặc nhà thơ Tố Hữu viết: Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm lỡ để trên đầu. Là khởi hứng từ truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. -Truyện Thánh Gióng cũng gợi ý cho nhà thơ Chế Lan Viên viết hai câu thơ rất hay trong bài Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng. Còn có thể tìm thấy ở nhiều tác giả khác những sáng tác liên quan ít nhiều đến văn học dân gian. Điều đó chứng tỏ văn học dân gian có một sức sống trường tồn và không những thế nó còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn học viết. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH lUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Ôn tập văn học dân gian Việt Nam – Ngữ văn 10
2,741
Hướng dẫn đóng vai Trương Sinh kể lại “Chuyện người con gái Nam Xương” – Tập làm văn 9 Hướng dẫn Trương Sinh kể lại “Chuyện người con gái Nam Xương” Đề bài: Hãy đóng vai Trương Sinh kể lại “Chuyện ngưòi con gái Nam Xương” (từ đẩu cho đến khi Trương Sinh hiểu ra nổi oan của vợ). Bài làm 1 Tôi là Trương Sinh, con một nhà hào phú nức tiếng giàu có trong vùng. Từ nhỏ, tôi đã chẳng mặn mà gì với việc dùi mài kinh sử nên lúc lớn cũng chỉ sống dựa vào nếp nhà. Nhiều người nói tôi trăng hoa ong bướm nhưng tôi thì không nghĩ vậy, vì từ khi lớn lên đến giờ, tôi chỉ thích có mỗi một người, đó là Vũ Thị Thiết, người con gái ở Nam Xương, nhà nghèo nhưng nổi tiếng khắp vùng về nết na và tư dung tốt đẹp. Tôi thưa với mẹ. Tính ngày lành tháng tốt, mẹ sửa soạn trăm lạng vàng, sang nhà Vũ Nương xin nàng cho tôi. Tuy là con nhà nghèo nhưng nàng rất “công dung ngôn hạnh”, vì vậy cuộc sống lứa đôi của chúng tôi vô cùng hạnh phúc. Nhưng “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”, chẳng bao lâu sau, đất nước có chiến tranh, tôi bị sung vào lính. Khi đó, Vũ Nương đang mang thai đứa con đầu lòng. Ngày chia tay bịn rịn, lưu luyến đầy nước mắt. Tôi cúi đầu thương cảm nhận lời dạy bảo của mẹ già. Tôi đau đớn nghe những lời li biệt của Vũ Nương rồi lên đường ra nơi biên ải. Ở nơi chinh chiến, tôi không nguôi nhớ về ngôi nhà đơn sơ với bà mẹ già và người vợ trẻ. Mãi rồi cuộc chiến cũng chấm dứt, tôi được trở về quê. Vừa đặt chân đến nhà thì hay tin mẹ già đã mất, đứa con trai tên Đản đã biết nói. Cảnh nhà heo hút, sầu thảm. Tôi bế con ra thăm mộ mẹ. Đứa con chưa bén hơi cha cứ quấy khóc hoài. Tôi cố gắng dỗ con: – Nín đi con, đừng khóc. Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi. Đứa bé ngây thơ hỏi lại tôi: – Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít. Khi cha gạn hỏi, đứa con nói: – Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả. Nghe lời con trẻ, tôi đau quặn từng khúc ruột. Vậy ra vợ tôi là người đàn bà hư hỏng. Thế mà, ở nơi tên rơi đạn lạc, tôi đã quên cả mình để không ngừng nhớ tới nàng. Về đến nhà, tôi la um lên cho hả giận. Vợ tôi đã hết lời thanh minh, hàng xóm đã hết lời khuyên giải, nhưng mặc, tôi đuổi Vũ Nương đi. Biết tôi không tin vào sự thật, nàng đau đớn ôm con lần cuối rồi ra khỏi nhà. Chiều muộn hôm đó, tôi nghe tin nàng đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Tuy vẫn giận nhưng tôi cũng mang lưới ra để vớt xác nàng nhưng vớt mãi suốt đêm cũng chẳng thấy đâu. Một đêm vắng vẻ, tôi ngồi ôm con bên ngọn đèn mới thắp, lòng buồn rầu nghĩ đến Vũ Nương. Bỗng, thằng bé reo lên: – Cha Đản lại đến kia kìa! Tôi vội hỏi đâu thì nó chỉ vào cái bóng của tôi trên tấm vách. Tôi chợt hiểu ra mọi chuyện. Trời ơi! Chính tôi đã giết vợ mình. Vợ tôi đã chết oan uổng vì sự hồ đồ, đa nghi, cả ghen, ích kỉ,… của chính tôi. Tôi hối hận quá. Nhưng muộn mất rồi. Chính tôi đã làm tôi mất vợ, làm bé Đản mất mẹ. Tôi ân hận quá nhưng muộn mất rồi, muộn mất rồi… (Trường THCS Đông Thái) Bài làm 2 Hoàng hôn đã ngả những ánh nắng yếu ớt lên vùng quê Nam Xương. Ta vác cày trở về căn nhà nhỏ bé của mình. Căn nhà này bấy lâu nay đã không vang tiếng cười. Bàn ghế lại bụi bặm bởi không có bàn tay ấm áp của người phụ nữ chăm sóc nên căn nhằ càng trở lên lạnh lẽo. Càng nhìn, ta càng cảm thấy lòng đau thắt lại khi nhớ đến người phụ nữ mà ta hằng yêu dấu lại bị chính ta phũ phàng đẩy đến bước phải gieo mình xuống sông Hoàng Giang mà chết. Tất cả chỉ vì cái tính đa nghi, gia trưởng, ít học của ta mà hạnh phúc gia đình mãi mãi tan vỡ không thể hàn gắn được. Ta đã làm cho căn nhà này trở nên hiu quạnh, làm cho đứa con trai duy nhất của ta phải khắc khoải mong chờ ngày mẹ nó trở về, hằng mong ước được sống trong tình mẹ, trong mái ấm gia đình hạnh phúc. Ta căm giận chính bản thân mình! Ta thù ghét dòng máu ghen tuông đang chảy trong lồng ngực mình! Ta đã làm gì, đã làm gì để giờ đây phải đau đớn nhường này, bẽ bàng nhường này… “Vào hai năm trước, ta vốn là chàng trai phong lưu, tốt mã, nhà lại khá giả trong làng. Cùng thời gian ấy có bao nhiều cô gái đến tuổi cập kê. Nhưng trong mắt ta chỉ người con gái tên Vũ Nương là xinh đẹp nhất. Nàng nổi tiếng nết na, thuỳ mị, lại thêm tư dung tốt đẹp nên ai cũng quý mến nàng. Vì quá cảm mến dung hạnh tuyệt vời của nàng nên ta xin mẹ trăm lạng vàng đem đến xin cưới nàng về làm vợ. Nàng quả là người con gắi dịu dàng và hiểu phép tắc. Biết tính ta đa nghi nên nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để cho vợ chồng phải thất hoà. Bởi vậy, ta với nàng, dù tính tình trái ngược nhau nhưng vợ chồng luôn sống trong cảnh êm đềm hạnh phúc. Nàng luôn dịu dàng với ta, chăm lo cho ta và mẹ chu đáo. Dù là mẹ ta nhưng Vũ Nương luôn coi đó là mẹ ruột và hết lòng hiếu thảo, phụng dưỡng bà… Cuộc sống bình yên tưởng như có thể trôi qua mãi mãi cho tới khi làng ta nhận được tin dữ: giặc đã xâm lược bờ cõi. Vua đang cho lính đi khắp các làng để tuyển trai tráng đi đánh giặc cứu nước. Ta cũng nằm trong danh sách phải đi lính năm đó. Ngày chia tay, ta không nỡ lòng nào để người vợ nết na một mình vừa mang nặng đứa con của ta, vừa chăm sóc mẹ già cơ chứ! Nàng rót chén rượu đầu tiên mà rằng: – Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ; chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng… Nơi chiến trường chỉ đầy chông gai và khắc nghiệt. Bởi vậy, không lúc nào là ta không nghĩ đến nàng. Thiếu vắng nàng, cuộc đời ta thật cô đơn, buồn tẻ. Những mùa đầu khi mới xa nhà, nhìn cảnh vật xung quanh ta, dường như chỉ là một màu xanh đơn điệu. Chiến trường thì chỉ đầy màu sương khói. Nhưng tất cả chỉ làm lòng ta đau nhói và thầm nghĩ rằng mình phải cố gắng để bảo vệ đất nước, bảo vệ những ngôi làng, những cánh đồng,… và đặc biệt là bảo vệ cả người mẹ thân yêu, cả nàng và cả đứa con hình hài máu mủ của ta. Ta cứ thầm nghĩ thế mấy mùa thu, để rồi cũng đến ngày đất nước bình yên, ngày ta được trở về với nàng. Ôi, thật hạnh phúc làm sao! Cứ nghĩ tới là ta lại phơi phới hưng phấn. Bước về làng trong nỗi niềm hân hoan bởi ta sắp được gặp lại mẹ và nàng. Ta sắp được ôm nàng vào lòng, ta sắp được người vợ nết na hết mực yêu thương và chăm sóc này sưởi ấm tâm hồn ta khỏi những ngày lạnh giá trên chiến trường. Gia đình của chúng ta sắp được đoàn tụ và sống hạnh phúc mãi mãi… Nhưng vừa về tới nơi, ta đã nhận được tin dữ rằng mẹ quá lo lắng và nhớ thương ta mà ốm rồi mất. Ta không khỏi đau lòng. Chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi sinh mạng của bao nhiêu người, bao nhiêu đồng đội của ta rồi bây giờ lại cả mẹ ta. Ta thật có lỗi khi không có thể ở nhà để phụng dưỡng, chăm sóc người khi tuổi già sức yếu. Cũng may ta còn có nàng bên cạnh. Biết rằng nàng đã cố gắng chăm sóc mẹ cẩn thận và khi bà mất thì nàng lo ma chay chu đáo nên ta cũng cảm thấy yên lòng phần nào. Nhưng bỗng có một sự việc xảy ra làm ta sụp đổ hoàn toàn. Ta bế bé Đản đi thăm mộ bà nhưng đứa trẻ lại không chịu rồi quấy khóc và không nhận ta là cha. Con ta bảo trước đây thường có người đàn ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, me Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả. Lời nói của bé Đản như sét đánh ngang tai ta. Ta như chết đứng khi nghe tin ấy. Con trẻ thì không thể nói sai bao giờ! Tại sao người đàn ông kia chỉ hằng đêm mới tới? Tại sao hắn chỉ theo vợ ta mà không quan tấm đến con trai ta? Sau chuyện buồn mẹ mất, chuyện này chẳng khác gì thêm dầu vào lửa. Ta nổi giận đùng đùng, không còn đủ thời gian để xem xét, nghĩ ngợi gì nữa. Ta đã chờ mong biết bao nhiêu để được về bên nàng. Ta nhớ thương nàng biết chừng nào trong suốt cuộc chiến tranh dai dẳng. Ta ấp ủ-mong ước được xây dựng hạnh phúc cùng nàng. Vậy mà, sự thật là nàng tặng ta, bù đắp cho ta bằng thói trăng hoa mất nết thế này đây. Đất dưới chân ta như đang chuyển động. Ta lập tức trở về tìm Vũ Nương để hỏi cho ra nhẽ. Nàng phân trần với ta về tình nghĩa vợ chồng, về lòng chung thuỷ của nàng, về tình nghĩa vợ chồng. Nàng đã cầu xin ta nghĩ lại để hạnh phúc gia đình khỏi tan vỡ. Nhưng trong đầu ta lúc bấy giờ, hai chữ “chung thuỷ” của nàng thật vô nghĩa. Chính nàng là người đã phá tan đi hạnh phúc gia đình vậy mà nàng vẫn nói nàng chung thuỷ ư? Trái tim ta khi ấy đã hoá đá mất rồi. Bây giờ nghĩ lại, ta thấy nàng thật đáng thương! Ta đã quá nhẫn tâm khi đánh đập nàng, không nghe nàng nói. Khi ấy, trong tâm ta, ta cảm thấy bàng hoàng, thất vọng đinh ninh là vợ hư nên mới như vậy. Vì quá uất ức, nàng đã chạy ra sông kêu lên YỚi trời đất, với các vị thần linh. Cảm xúc ấy trong ta thật hỗn độn: nửa muốn chạy theo nàng, nửa lại không. Không bởi vì “cái tôi” của ta quá lớn, hơn nữa, nàng lại là người có lỗi chứ không phải ta. Nhưng nửa ta muốn đuổi theo bởi nàng là người ta yêu thương nhất, người ta luôn tin tưởng nên ta không muốn đánh mất nàng. Cuối cùng, “cái tôi”, sự ích kỉ đã chiến thắng. Cái chết của nàng đã làm tim ta trống rỗng. Ta chợt cảm thấy cô đơn, sầu thảm và lạnh lẽo trong tâm hồn. Cho tới đêm hôm ấy, ta như cảm giác trời long đất lở, như rơi xuống vực sâu thẳm nhất của đời người. Khi bé Đản nói rằng cha Đản lại đến và nó chỉ bóng ta trên vách, bấy giờ, ta mới vỡ lẽ ra tất cả. Ta gục xuống, người run lên bần bật! Chính tay ta đã giết chết người phụ nữ mà ta hằng yêu thương, mong nhớ. Ta cảm thấy ăn năn, hối hận vô cùng. Giá mà ta đừng như thế. Giá mà ta bình tĩnh chứ không bồng bột thì ta có thể cứu được hạnh phúc gia đình. Ta thật đáng chết! Ta thật đáng chết!”. Trần Hà Trang (Trường THCS Trưng Vương) Tags:Chuyện người con gái Nam Xương · Tập làm văn 9 · Trương Sinh kể lại · Văn tự sự
Hướng dẫn đóng vai Trương Sinh kể lại “Chuyện người con gái Nam Xương” – Tập làm văn 9
2,175
Hướng dẫn đọc hiểu Truyện An Dương Vương Và Mị Châu – Trọng Thủy Hướng dẫn TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY (Truyền thuyết) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Tóm tắt truyện: Xưa kia ở nước Âu Lạc cổ. Vua An Dương Vương muốn xây dựng một tòa thành nhưng xây tới đâu thì lở tới đấy. Vua lập đàn thì có một cụ già đến bảo với vua là sẽ có sứ Thanh Giang tới giúp đỡ. Đúng như lời cụ già, một con Rùa Vàng biết nói tiếng người từ phía Đông nổi lên và ở lại giúp vua xây thành trong nửa tháng. Ba năm sau. thần Rùa trở về biển Đông, trước khi đi. ngài để lại cho nhà vua cái vuốt để làm nỏ “Linh quang Kim Quy thần cơ’”. Triệu Đà sang xâm lược, vua lấy nỏ ra bắn và quân địch lần nào cũng thất bại. Triệu Đà bày mưu bèn cầu hôn công chúa đất Âu Lạc là Mị Châu cho con trai mình – Trọng Thủy. Trọng Thủy dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi lén lút tráo nỏ thật đem về nước. Triệu Đà nhân cơ hội đem quân sang đánh, vua An Dương Vương lấy nỏ ra bắn thì biết đó là nỏ giả. Sau đó, ngài đang cùng con gái chạy về phương Nam thì thần Rùa hiện lên và bảo Mị châu chính là giặc. Vua tức giận, tuốt kiếm chém chết con gái rồi cầm sừng tê bảy tấc đi xuống biên. Mị Châu chết, máu chày xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Còn xác nàng biến thành ngọc thạch đúng như lời khấn cho sự trong sạch của mình trước khi chết, Trọng Thủy thương nhớ vợ vô cùng, khi đi tắm đã gieo mình xuống giếng vì tưởng thấy nàng dưới đó. 2.Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là câu chuyện về bi kịch mất nước của cha con An Dương Vương và bi kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy. Từ câu chuyện ấy, nhân dân ta muốn rút ra và truyền lại cho con, cháu các thế hệ sau bài học về ý thức đề cao cảnh giác với âm mưu xâm lược của kẻ thù. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Các chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương -An Dưong Viron g xây thành nhưnsĩ thất bại. -An Dương Vương được Rùa Vàng giúp xây thành và chế nỏ thần. -Vua đánh thắng quân Triệu Đà lần thứ nhất. -Vua chủ quan khi Triệu Đà đem quân đánh. -Vua bại trận và chém chết Mị Châu. a.An Dương Vương được thần linh giúp đỡ bởi nhà vua đã có ý thức cảnh giác cao, sớm lo việc xây dựng thành, đắp lũy và chuẩn bị vũ khí để chống ngoại xâm. Tưởng tượng ra sự giúp đỡ thần kì này, nhân dân ta đã tỏ lòng ca ngợi công lao của nhà vua và tự hào về việc xây thành, chế nỏ cũng như nhũng chiến công trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. b.Sự thất bại của An Dương Vương bắt đầu từ chỗ nhà vua chấp nhận lời cầu hoà và thêm nữa còn cho Trọng Thuỷ về ở rể. Trong sự việc này, An Dương Vương đã tỏ ra mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù và mất cảnh giác. Hơn nữa, việc mất nước còn do nhà vua chủ quan ỷ vào có vũ khí lợi hại nên đã không đề phòng khi quân giặc tấn công. c.Chi tiết Rùa Vàng, Mị Châu và việc vua chém đầu con gái theo lời kết án của Rùa Vàng được sáng tạo ra để nhân dân ta gửi gắm lòng kính trọng đối với vị vua anh hùng, dũng cảm – con người sẵn sàng hi sinh những tình cảm riêng tư để giữ tròn khí tiết và danh dự trước đất nước. Nó cũng phê phán thái độ mất cảnh giác của Mị Châu, đồng thời cũng là lời giải thích nhẹ nhàng nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước. -Đặc trưng của thể loại truyền thuyết. -Ý thức xã hội, chính trị, thẩm mĩ của nhân dân khi đến với thể loại này. Đầu tiên, truyền thuyết là một loại hình nghệ thuật đầy tính sáng tạo, phản ánh lịch sử, kể về sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử để nhằm ca ngợi, đề cao cái đẹp, cái tốt, cái tích cực và phê phán cái xấu, cái tiêu cực theo quan niệm của nhân dân. Lịch sử nước ta từ sau thời Âu Lạc đến truyền thuyết trên được cố định hoá trong văn bản Lĩnh Nam chích quái, nhân dân ta luôn không ngừng chăm lo giữ nước và cũng không ngừng chiến đấu vì độc lập tự do. Trong bối cảnh như thế, lòng yêu nước thương nòi, tinh thần tự hào dân tộc… nhất định phải là một trong những truyền thuyết sâu rễ bền gốc nhất và phát triển liên tục nhất. Điều đó cho thấy vì sao nhân dân ta phê phán Mị Châu bằng bản án cao nhất một cách đích đáng. Thấu lí nhưng nhân dân cũng rất đạt tình, thấu hiểu Mị Châu mắc tội không do chủ ý mà chỉ vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ. Bởi vậy mà, truyền thuyết đã sắp xếp để máu nàng khi chảy xuống nước trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu đúng như lời nguyện của nàng. 3.Mị Châu bị thần Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu..Nhưng sau đó, máu của nàng khi trai sò ăn phải hoá thành ngọc trai, xác nàng hoá thành ngọc thạch. Hư cấu như vậy, người xưa vừa bày tỏ thái độ nghiêm khắc, đã thi hành bản án của lịch sử vừa thể hiện tình cảm bao dung, thấu hiểu cảm thông với sự vô tư, trong sáng, thơ ngây vì vô tình mà mắc tội của Mị Châu. Bài học mà người xưa muốn nhắn gửi đến thế hệ trẻ muôn đời sau là phải đặt việc nước lên trên việc nhà, đặt cái chung lên trên cái riêng. Đây là một bài học đạo đức cần thiết cho cả mọi ngửời, mọi nhà, mọi thời đại. 4.Chúng ta có thể thấy “ngọc trai – giếng nước’” vừa là hình ảnh có giá trị thẩm mĩ cao, vừa là một tình tiết đất xét về phương diện tổ chức cốt truyện. Nó là sự kết thúc duy nhất hợp lí cho số phận của đôi trai gái Mị Châu – Trọng Thủy, cùng với sự thể hiện tư tưởng, tình cảm, cách đánh giá của nhân dân đối với bi kịch tình yêu này nói chung, nhân vật Mị Châu nói riêng. Nàng Mị Châu bởi nhẹ dạ, cả tin làm nên nỗi “Cơ đồ đắm biển sâu”. Nàng đã phải nhận lấy cái chết với danh nghĩa một kẻ bất hiếu, phản nghịch. Nhưng sâu xa, tác giả dân gian đã thấu hiểu nỗi lòng một người con gái ngây thơ, trong trắng vì tình yêu đã vô tình gây nên tội mà đã cho máu của nàng khi trai sò ăn phải sẽ hoá thành những viên ngọc trai. Những viên ngọc trai lấp lánh như đáp lại lời cầu nguyện của nàng trước khi vua cha chém đầu. Nàng không phải là người có lòng phản nghịch muốn hại cha, nàng là người có lòng trung hiếu nhưng vô tình bị người ta lừa dối. Những viên ngọc ấy ẩn sâu trong lớp vỏ trai dưới làn nước đầy bụi bẩn vẫn thanh lọc để sáng lên như chính tâm hồn ngây thơ trong trắng của Mị Châu. Ánh sáng ngọc trai ám ảnh tâm trí người đọc, tìm sự chia sẻ, đồng cảm. Tác giả dân gian đã có tấm lòng vô cùng độ lượng khi thấu hiểu và cảm thông với nàng Mị Châu để nàng được toại nguyện biến thành ngọc trai. Sự hoá thân ấy mang theo một ước mơ của nhân dân về những Mị Châu sáng suốt sau này, “vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác”. Nói về Trọng Thuỷ. Hắn là một kẻ chiến thắng trên phương diện chính trị nhưng lại là kẻ thất bại thảm hại về phương diện tình cảm. Hắn đã mất đi người vợ yêu quí, mất đi sự thanh thản trong tâm hồn và càng ám ảnh hơn chính hắn gây nên cái chết của Mị Châu, người hết lòng yêu thương hắn. Giếng nước ở Loa thành là tấm gương hội tụ và phản chiếu tất cả tội ác mà Trọng Thuỷ gây nên. Chính ở nơi này, hắn nhìn thấy bản chất xấu xa của mình và thực lòng hối cải. Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự vẫn, dòng máu hoà dòng nước nơi giếng ngọc là sự chứng nhận cho sự hối cải tội lỗi của hắn. Từ tương truyền, nếu dùng nước giếng ở cổ Loa mà rửa ngọc thi ngọc thêm sáng hơn, có người cho rằng, hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” là hình ảnh ngợi ca mối tình thuỷ chung của Mị Châu – Trọng Thuỷ, Nhưng thiết nghĩ, với tinh thần yêu nước, cha ông ta sẽ không bao giờ sáng tạo nghệ thuật để ngợi ca những ai đưa họ đến bi kịch mất nước. Chỉ có thể lí giải, hình ảnh ngọc sáng hơn bởi ở thế giới bên kia Mị Châu đã tha thứ, hoá giải tội lỗi cho Trọng Thuỷ. Màu ngọc ấy cũng sáng như tấm lòng yêu thương, vị tha của công chúa Mị Châu. Hư cấu chi tiết này, người xưa còn muốn giảm nhẹ bớt tội lỗi của nàng trong việc mất cảnh giác làm nước mất, nhà tan. Để Mị Châu biến thành ngọc trai, Trọng Thuỷ tự vẫn nơi giếng nước và để hình ảnh “ngọc trai – giếng nước” sáng tạo nghệ thuật đẹp tới mức hoàn mĩ. Đó chính là tấm lòng nhân đạo bao dung, nhân hậu của nhân dân. Nó thể hiện truyền thống nhân văn sâu sắc. 5.“Cốt lõi lịch sử” của truyện là việc An Dương Vương xây thành cổ Loa và sự thật về sự thất bại của nước Âu Lạc trước sự xâm lược của Triệu Đà. Cái cốt lõi ấy đã được dân gian làm cho sinh động bằng việc thêm vào nhiều sự việc, chi tiết thần kì như chuyện xây thành, chế nỏ, chuyện về cái chết của An Dương Vương và Mị Châu, chi tiết về “ngọc trai – giếng nước”… Chính việc thêm vào truyền thuyết các chi tiết thần kì này đã giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn và sinh động. Nó cũng thể hiện một cái nhìn bao dung của nhân dân ta với các nhân vật lịch sử và với tất cả nhưxng gì đã xảy ra. III.LUYỆN TẬP 1.Trọng Thuỷ là con Nam Việt vương Triệu Đà – luôn có âm mưu thôn tính Âu Lạc. Trọng Thủy sang Âu Lạc với mục đích giảng hoà để đánh cắp nỏ thần. Trước lúc cầu hôn Mị Châu, Trọng Thuỷ chưa hề có cảm tỉnh mà chỉ là toan tính. Đến khi trở thành vợ chồng với Mị Châu, tình yêu của Trọng Thủy mới nảy nở. Nhưng ý thức làm con, làm tôi trung thành trong hắn vẫn lớn hơn. Hắn dối lừa người vợ cả tin, ngây thơ của mình để đánh cắp nỏ thần, thôn tính nước Âu Lạc, dồn An Dương Vương và Mị Châu đến bước đường cùng. Hắn đúng là tên gián điệp nguy hiểm trong cái nhìn của cha ông chúng ta. Hắn xứng đáng phải chịu nỗi ân hận vò xé tâm can khi dẫn đến cái chết của người vợ yêu quí. Không có nỗi khổ nào bằng sự day dứt lương tâm. Bản án đích đáng của Trọng Thuỷ là cái chết trong nỗi ám ảnh. Nhân dân đã bày tỏ thái độ căm phẫn không tha thứ và không đội trời chung với kẻ cướp nước. Kẻ cướp nước sẽ bị toà án lương tâm và lịch sử phán xét, sớm muộn chúng sẽ thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, tình yêu mà Trọng Thuỷ dành cho Mị Châu cũng là chân thật và sâu nặng. Chính vì vậy, nhân vật này chúng ta thấy vừa đáng thương lại vừa đáng giận. 3.Một số bài thơ viết về Mị Châu – Trọng Thủy Mị Châu Lông ngỗng lông ngan rơi trắng đường chạy nạn Những chiếc lông không biết tự giấu mình. Nước mắt thành mặt trái của lòng tin Tình yêu đến cùng đường là cái chết Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu. Giá như trên đời còn có một Mị Châu Vừa say đắm yêu thương vừa luôn luôn cảnh giác Không sơ hở chẳng mắc lừa mẹo giặc Một Mị Châu như ta vẫn hằng mơ. Thì hẳn Mị Châu không sống đến bây giờ Để chung thuỷ với tình yêu hai ngàn năm có lẻ Như anh với em dẫu yêu nhau chung thủy Đen bạc đầu bất quá chỉ trăm năm. Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng Vẫn không thể cứu Mị Châu khỏi chết Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu. Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào. Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác Nhưng nhắc sao được người hai ngàn năm trước Nên em ơi ta đành tự nhắc mình. (Anh Ngọc) Nhang vòng thắp viếng Mị Châu Am không lạnh ngắt người đâu thấy người Ngàn năm đá tảng lặng ngồi Mà nghe buốt nhói những lời gió trăng Đã hoen lá ngọc cành vàng Còn tan thành quách máu loan bên bờ Trắng đường lông ngỗng ngu ngơ Nào hay sóng cuộn đến giờ chưa vơi Ngọc trai vùi đáy giếng khơi Đục trong ai biết nói lời gió bay Thân nàng ở mãi nơi đây Không đầu còn trái tim này làm tin. (Bùi Thị Xuân Mai) Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, cho đến ngày nay vẫn chiếm được cảm tình của người đọc. Người ta đọc truyện để hiểu về lịch sử, để rút ra những bài học bổ ích cho mình và cho con cháu đời sau. Nhưng không chỉ thế, đọc truyền thuyết này người ta còn muốn hiểu sâu sắc hơn bi kịch của mối tình rất đẹp trong lịch sử. Sức sống của truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ còn khơi nguồn cho những cảm hứng thi ca. Các tác giả như: Tố Hữu, Trần Đăng Khoa, Anh Ngọc,… đều có những sáng tác lấy cảm hứng từ tác phẩm này. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ( TIẾP THEO) – NGỮ VĂN 10
Hướng dẫn đọc hiểu Truyện An Dương Vương Và Mị Châu – Trọng Thủy
2,527
Hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm Phú Sông Bạch Đằng – Ngữ văn 10 Hướng dẫn PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG (Bạch Đằng giang phú – TRƯƠNG HÁN SIÊU) I.- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Trương Hán Siêu (? – 1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Am, huyện Yên Ninh (nay thuộc thành phố Ninh Bình), từng làm tới chức Hàn lâm học sĩ, rồi Tham tri chính sự. Trương Hán Siêu tính tình cương trực, học vấn uyên thâm, được các vua Trần tin cậy và được nhân dân vô cùng kính trọng. Trương Hán Siêu có công cùng Nguyễn Trung Ngạn soạn bộ Hoàng triều đại điển và bộ Hình thư. Tác phẩm của Trương Hán Siêu hiện còn 4 bài thơ, 3 bài văn; trong đó có bài Phú sông Bạch Đằng nổi tiếng. 2.Sông Bạch Đằng từng ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Tại đây, năm 938, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán giết Lưu Hoằng Thao và trận thuỷ chiến năm 1288, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông – Nguyên, bắt sống tướng giặc Ô Mã Nhi. Từ xưa sông Bạch Đằng đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào của các tao nhân mặc khách. Trần Minh Tông viết Bạch Đằng giang, Nguyễn Trãi có Bạch Đằng hải khẩu, Nguyễn Mộng Tuân với Hậu Bạch Đằng giang phú,… Trong đó, bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu được nhiều người biết đến nhất. 3.Phú nghĩa đen có nghĩa là bày tỏ ra, phô bày ra. Phú là một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời,… Phú có bốn loại: cổ phú, bài phú, luật phú, văn phú. Nhìn chung, một bài phú thường gồm 4 đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết. Bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu làm theo lối phú cổ thể – loại phú có từ trước thời Đường, có vần mà không đối, cuối bài thường được kết bằng thơ. 4.Phú sông Bạch Đằng là niềm tự hào về truyền thống yêu nước, về những chiến công lịch sử thông qua những hoài niệm sâu sắc về quá khứ oai hùng, Đồng thời, nó cũng là niềm tự hào về truyền thống đạo lí nhân nghĩa, về tư tưởng nhân văn của dân tộc thông qua việc đề cao vai trò, vị trí và đức độ của con người. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Đọc kĩ lại phần Tiểu dẫn, cần tóm tắt để nắm được bố cục bài phú, vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc. Nắm được vị trí của đề tài sông Bạch Đằng trong văn học. Đọc lại các chú thích để hiểu các từ khó, các điển tích, điển cố được dùng trong bài. 2.a) Nhân vật “khách” trong tác phẩm này thể hiện một phần cái tôi của tác giả. “Khách” giương buồm giong gió lướt bể chơi trăng nhưng mục đích không chỉ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, mà còn tìm hiểu mảnh đất từng ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt của dân tộc. “Khách” xuất hiện với tư thế của con người đi nhiều, hiểu biết rộng, lại có tâm hồn phóng khoáng, chí hướng lớn lao: Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết. Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều, Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết. b.Cái tráng chí bốn phương của “khách” được gợi lên thông qua hàng loạt địa danh. Những địa danh này chia thành hai loại: Loại địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc, tác giả (“khách”) đi qua chủ yếu bằng sách vở, bằng tưởng tượng. Những địa danh này đều gắn với không gian to rộng phù hợp với “tráng chí bốn phương”. Loại địa danh thứ hai gắn với không gian cụ thể trên đất Việt Nam, ví dụ: cửa Đại Than, bến Đông Triều,… Những địa danh này đều có thực và đang hiển hiện ngay trước mắt. Cảnh được nhà thơ miêu tả cũng như trên, rất hùng vĩ và hoành tráng: Bát ngát sóng kình muôn dặm, Thướt tha đuôi trĩ một màu. Qua những địa danh này chúng ta có thể thấy nhân vật “khách” có tầm hiểu biết rộng về lịch sử dân tộc, có tráng chí bốn phương và có tâm hồn tự do, phóng khoáng. Về mặt nghệ thuật, đoạn thơ chủ yếu ngắt bằng nhiều nhịp chẵn tạo nên giọng điệu nhịp nhàng, trầm lắng và khơi gợi nhiều nỗi suy tư. 4.Trong bài phú này, hình tượng các bô lão đóng vai trò là người kể chuyện và là người bình luận những chiến tích xưa. Các nhân vật này có thể là thật nhưng cũng có thể là nhân vật hư cấu, nhân vật đối thoại để nhà thơ bày tỏ tâm tư tình cảm của mình. Các bô lão xuất hiện và kể cho “khách” nghe về những chiến công, nhất là chiến công của “nhị thánh”. Lời kể của các bô lão rành rọt theo trình tự diễn biến tình hình: từ lúc quân ta xuất trận với khí thế hào hùng, đến khi trận chiến diễn ra gay go, quyết liệt. Và rồi cuối cùng chính nghĩa đã chiến thắng gian tà, quân giặc “hung đồ hết lối” đành chấp nhận chuốc lấy bại vong: Đến nay nước sông tuy chảy hoài. Mà nhục quân thù khôn rửa nổi! Thái độ và giọng điệu của các bô lão khi kể chuyện đầy nhiệt huyết, tự hào. Nó là cảm hứng của những người trong cuộc. Lời kể tuy ngắn gọn, súc tích và cô đọng nhưng vẫn khái quát đầy đủ, chân thực, sinh động không khí của trận đánh, của chiến trường. Qua lời bình luận của các bô lão về chiến thắng trên sông Bạch Đằng, có thể thấy ta thắng giặc vì địa thế núi sông hiểm trở, hơn nữa, do ta có nhân tài mà chí hướng, sức mạnh có thể nuốt sao Ngưu. Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, Bởi đại vương coi thế giặc nhàn. Những người bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh. Lời của ‘‘khách” ca ngợi sự “anh minh” của “hai vị thánh quân” (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) đồng thời ca ngợi giá trị của những chiến công lịch sử (đem lại nền thái bình muôn thuở). Nhân vật “khách” bình luận rồi đi đến kết luận: trong mối quan hệ giữa “địa linh” (đất hiểm) với “nhân kiệt” (người tài) thì “nhân kiệt” giữ vai trò quyết định. Ta thắng giặc không chỉ ở “đất hiểm” mà quan trọng hơn còn là bởi dân tộc ta có “đức cao”. Sau này trong Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi cũng nhắc đến cái “đức” của ta. Tư tưởng đề cao nhân tố con người, đề cao sức mạnh của chính nghĩa trở thành một điểm nhấn về giá trị nhân văn của bài phú. 6.Khái quát về giá trị của bài phú -Giá trị nội dung: Bài phú thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc – tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất và truyền thống đạo lí nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người. -Giá trị nghệ thuật: Phú sông Bạch Đằng có cấu tứ đơn giản mà hấp dẫn, bố cục chặt chẽ, lời văn linh hoạt, hình tượng nghệ thuật sinh động, vừa gợi hình tượng vừa giàu sức khái quát và triết lí. Ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm trang trọng, tráng lệ và lắng đọng, gợi cảm, giàu suy tư. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Lời ca của “khách” trong phần kết của bài Bạch Đằng giang phú và bài thơ Bạch Đằng giang của Nguyễn Sưởng có nhiều nét giống nhau: cả hai bài thơ đều thể hiện lòng tự hào trước những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng. Ngoài lòng tự hào dân tộc, cả hai bài còn là lời khẳng định sự anh minh của “nhị thánh” và bày tỏ thái độ đề cao, trân trọng vai trò và vị trí của con người trong quá trình làm nên lịch sử.
Hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm Phú Sông Bạch Đằng – Ngữ văn 10
1,410
Hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô (tiếp theo) – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (Bình Ngô đại cáo — NGUYỄN TRÃI – tiếp theo) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Mùa xuân năm 1428, sau khi dẹp yên giặc Ngô, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh vua Lê viết Đại cáo bình Ngô. 2.Cáo là thể văn có chức năng hành chính, một thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết. Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài câu ngắn không gò bó, mỗi cặp thường có hai vế đối nhau. Cáo là thể văn chính luận, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc. Đại cáo bình Ngô vừa là tác phẩm văn học có hình tượng sinh động vừa là một văn kiện chính trị tổng kết súc tích về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Nhan đề Đại cáo bình Ngô có thể dịch theo hai cách: bài cáo quan trọng về việc dẹp yên giặc Ngô hoặc bố cáo rộng khắp về việc dẹp yên giặc Ngô. 3.Với nghệ thuật viết văn chính luận tài tình, Đại cáo bình Ngô là bản cáo trạng tố cáo mạnh mẽ tội ác của kẻ thù xâm lược, ngợi ca cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đại cáo bình Ngô là bản tuyên ngôn độc lập, là áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Đại cáo bình Ngô có thể chia thành bốn đoạn, mỗi đoạn đều có một chủ đề riêng, nhưng tất cả đều hướng tới tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt của tác phẩm, đó là tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với lòng yêu nước, yêu độc lập và niềm tự hào dân tộc. -Đoạn 1 (Từ đầu đến “Chứng cớ còn ghi”): Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập dân tộc của Đại Việt (nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống xâm lược). -Đoạn 2 (Tiếp theo đến “Ai bảo thần nhân chịu được?”): Tố cáo, lên án tội ác giặc Minh. -Đoạn 3 (Tiếp theo đến “Cũng là chưa thấy xưa nay Kể lại diễn biến của cuộc chiến từ lúc mở đầu đến khi thắng lợi hoàn toàn. Đoạn này cũng nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước kết tinh thành sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. -Đoạn 4 (Phần còn lai): Lời tuyên bố độc lập và bài học lịch sử. 2.Về đoạn 1 a.Nguyễn Trãi nêu nguyên lí chính nghĩa để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Trong nguyên lí chính nghĩa của Nguyễn Trãi, có hai nội dung chính: -Tư tưởng nhân nghĩa. -Chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt ta. b.Đoạn mở đầu tuyên ngôn về độc lập dân tộc. Tác giả đã không chỉ đưa ra một chân lí về chính nghĩa mà còn nêu ra chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt ta. Chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của nước ta có cơ sở chắc chắn từ thực tiền lịch sử: Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Khái niệm quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi được giới thuyết một cách khá đầy đủ (ở thời điểm đó) và có một bước tiến dài so với Nam quốc sơn hà. Những yếu tố đã được Nguyễn Trãi đưa ra để xác định độc lập, chủ quyền của dân tộc bao gồm: cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến lâu đời và thêm nữa là lịch sử riêng, chế độ riêng với “hào kiệt đời nào cũng có”. Bước tiến của tư tưởng thời đại và tầm cao tư tưởng của Nguyễn Trãi biểu lộ ở định nghĩa hoàn chỉnh về dân tộc đó. 3.Về đoạn 2 a.Trong đoạn văn này, tác giả đã vạch trần tội ác của giặc Minh với một trình tự rất lô gích: vạch trần âm mưu xâm lược, lên án chủ trương cai trị thâm độc, tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác. -Chỉ rõ âm mưu xâm lược của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã vạch trần luận điệu bịp bợm “phù Trần diệt Hồ” của chúng. Âm mưu thôn tính nước ta vốn có sẵn, có từ lâu trong đầu óc của “thiên triều”. -Cũng ở đoạn này, Nguyễn Trãi chủ động đi sâu tố cáo những chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc Minh: huỷ hoại cuộc sống con người bằng hành động diệt chủng, tàn sát người dân vô tội (“nướng dân đen”, “vùi con đỏ”), huỷ hoại môi trường sống (“Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”),… b.Bản cáo trạng tội ác của giặc Minh rất hùng hồn và đanh thép. Nó gợi lên ở bao người những hờn căm sôi sục. Hiệu quả biểu đạt ấy có được là nhờ nghệ thuật viết cáo trạng rất sắc sảo của nhà văn. Với những câu văn giàu cảm xúc, giàu hình tượng như: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. hay: Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán, cùng với sự thay đổi giọng văn một cách linh hoạt cũng như nhịp điệu câu văn nhanh dần, tác giả đã khái quát triệt để tội ác chất chồng của giặc và nói lên khối căm hờn chất chứa của nhân dân ta. Nguyễn Trãi kết thúc bản cáo trạng bằng những câu văn đầy hình tượng: Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Lời văn trong bản cáo trạng: khi uất hận trào sôi, khi cảm thương tha thiết, lúc muốn thét thật to, lúc nghẹn ngào, tấm tức,… cùng một lúc diễn tả được những biểu hiện khác nhau nhưng luôn gắn bó với nhau trong tâm trạng, tình cảm con người. 4.Về đoạn 3 Tác giả hồi tưởng cuộc kháng chiến chống quân Minh trong cảm hứng chiến thắng. Vì thế đoạn văn thứ 3 trở thành bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. a.Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chủ yếu được tái hiện qua những khó khăn gian khổ: thiếu nhân tài, thiếu lương thực, quân đội,… thế nhưng người anh hùng Lê Lợi (hình tượng trung tâm của cuộc khởi nghĩa, đại biểu cho sự thống nhất giữa con người bình thường và lãnh tụ cuộc khởi nghĩa) vẫn thể hiện được cái ý chí và sự quyết tâm của toàn dân tộc: Căm giặc nước thề không cùng sống. Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời; Nếm mật nằm gai, há phải một hai sám tối, Như thế sức mạnh để quân ta chiến thắng đó là ở cái ý chí quyết tâm, ở sự đoàn kết muôn người: Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới, Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. b.Phản ánh giai đoạn phản công của cuộc khởi nghĩa, tác giả dựng lên bức tranh toàn cảnh về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với bút pháp nghệ thuật đậm chất anh hùng ca. -Ở đoạn vàn này, Nguyễn Trãi tập trung miêu tả những loạt trận ở ba thời điểm: thời kì đầu của cuộc tổng phản công; giai đoạn đánh tan viện binh của giặc và giai đoạn kết thúc của cuộc khởi nghĩa. Mỗi giai đoạn lại có một đặc điểm riêng, theo đó tính chủ động và sức mạnh của quân ta ngày một rõ hơn. Càng tiến gần về chiến thắng, quân ta càng thể hiện rõ hơn tư tưởng chính nghĩa, và quan điểm “dĩ chí nhân dịch cường bạo” (dùng chí nhân để làm cho cường, bạo phải thay đổi). -Miêu tả chiến thắng bằng bút pháp nghệ thuật đậm chất, anh hùng ca, từ hình tượng đến ngôn ngữ, từ màu sắc đến âm thanh nhịp điệu của Nguyễn Trãi,, tất cả đều mang đặc điểm của bút pháp anh hùng ca. Những hình tượng phong phú, đa dạng, đo bằng sự lớn rộng, kì vĩ của thiên nhiên: Chiến thắng của ta như: “sấm vang chớp giật”, “trúc chẻ tro bay”, “sạch không kình ngạc”, “tan tác chim muông”, “trút sạch lá khô“, “phá toang đê vỡ”, Sức mạnh của ta khiến: “đá núi cũng mòn”, “nước sông phải cạn”. Trong khi đó thất bại của địch rất nặng nề: “máu chảy thành sông”, “máu trôi đỏ nước”, “thây chất thành núi”, “thây chất đầy đường”. Khung cảnh chiến trường khiến: “sắc phong vân phải đổi”, “ánh nhật nguyệt phải mờ”, Về mặt ngôn ngữ, các động từ mạnh liên kết với nhau tạo thành những chuyển rung dồn dập, dữ dội. Các tính từ chỉ mức độ ở điểm tối đa tạo thành hai mảng đối lập, thể hiện cái thế, cái đà chiến thắng của ta và cái sự đại bại của quân thù. Nhạc điệu của đoạn văn dồn dập, sảng khoái, bay bổng. Âm thanh giòn giã, hào hùng, như sóng trào, bão cuốn. Xen giữa bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là hình ảnh kẻ thù xâm lược. Mỗi tên một vẻ, mỗi đứa một cảnh: Trần Hiệp – phải bêu đầu, Lí Lượng – đành bỏ mạng, Liễu Thăng thất thế,… Tất cả bọn chúng đều giống nhau ở một điểm, đó là sự ham sống sợ chết đến hèn nhát. Hình tượng kẻ thù thảm hại, nhục nhã càng tôn thêm khí thế hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đồng thời qua hình tượng kẻ thù hèn nhát và được tha tội chết, được tạo điều kiện để sống, Nguyễn Trãi càng làm nổi bật tính chất chính nghĩa, nhân đạo sáng ngời của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. 5.Đoạn kết -Trong lời tuyên bố độc lập được lập lại, tác giả đã đồng thời rút ra bài học lịch sử: Đó là quy luật bĩ, thái (khốn cùng, thông suốt) của trời đất, cũng là quy luật suy vong hưng thịnh tất yếu của mỗi quốc gia. Vì thế sự vững bền khi đã được xây dựng trên cơ sở phục hưng dân tộc, thì viễn cảnh của đất nước chắc chắn sẽ thật tươi sáng, huy hoàng. -Sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại: có hiện thực hôm nay và tương lai ngày mai cũng là bởi “nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ nhờ có chiến công trong quá khứ: “Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm”. Trong lời tuyên bố kết thức, cảm hứng về độc lập dân tộc và tương lai đất nước đã hoà quyện với cảm hứng về vũ trụ khi “bĩ”, khi “hối” nhưng quy luật là hướng tới sự sáng tươi, phát triển, càng khắc hoạ sâu đậm niềm tin và quyết tâm xây dựng lại đất nước của nhân dân ta khi vận hội duy tãn đã mở. 6.Những giá trị chung về mặt nội dung và nghệ thuật của bài Cáo -Về nội dung: Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, là bản cáo trạng tội ác của kẻ thù, là bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và về chiến thắng của quân ta. Đây là một áng văn yêu nước lớn, chói ngời tư tưởng nhân văn. -Về nghệ thuật, Đại cáo bình Ngô là áng văn chính luận xuất sắc vào bậc nhất trong văn học Việt Nam thời trung đại, có sự kết hợp tuyệt diệu giữa yếu tố chính luận và văn chương, là sự vận dụng sáng tạo kết cấu chung của thể cáo. Sự kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn, giữa bút pháp tự sự, bút pháp trữ tình và bút pháp anh hùng ca, cùng với những hình ảnh giàu sức biểu cảm giúp cho bài cáo có sức thuyết phục và hấp dẫn cao. Dựa vào những gợi ý trên đây, hãy lập dàn ý và triển khai viết các đoạn văn phân tích từng khía cạnh nội dung và nghệ thuật của bài Cáo. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Có thể lập sơ đồ kết cấu của Đợi cáo bình Ngô như sau: 2.Tác dụng của nghệ thuật kết cấu: Kết cấu của Đại cáo bình Ngô là điển hình cho thể văn chính luận. Các tiển đề được bố trí sắp đặt một cách chặt chẽ và lô gích. Tiền đề chính nghĩa có tính chân lí được đưa ra trước để làm cơ sở cho lập luận. Tiếp đến tiền đề chính nghĩa vừa mới nêu ra được soi sáng trong thực tiễn (chỉ rõ đâu là phi nghĩa để tố cáo, lên án, đâu là chính nghĩa để khẳng định, ngợi ca). Cuối cùng, một chân lí mới được rút ra trên cơ sở tổng kết các tiền đề và íhực tiễn. Cách kết cấu bài cáo của nhà vồn như thế đã đảm bảo sự chặt chẽ và sắc bén, do đó nó thuyết phục và cuốn hút người nghe. –XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO- NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY –XEM THÊM HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 4: VĂN THUYẾT MINH – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô (tiếp theo) – Ngữ văn 10
2,303
Hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (Bình Ngô đại cáo – NGUYỄN TRÃI) I.-KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Cuộc đời Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau rời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình mà hai bên nội, ngoại đều có truyền thống: văn hoá, văn học và yêu nước. Thuở thiếu thời, ông sớm chịu nhiều mất mát, đau thương: mẹ mất sớm, cha bị bắt sang Trung Quốc khi giặc Minh xâm lược nước ta. Vì thế, Nguyễn Trãi sớm nuôi chí đền nợ nước, trả thù nhà. Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm có. Khi làm quân sư cho Lê Lợi, ông đã góp bao công lao vào những chiến thắng hiển hách của quân ta trong cuộc kháng chiến chống Minh. Cuối năm 1427 sau khi dẹp yên giặc Minh, theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Đại cáo bình Ngô. Bi kịch xảy ra với Nguyễn Trãi năm 1442. Nhân cái chết của Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên, bọn gian thần trong triều vu cho ông âm mưu giết vua, rồi khép ông vào tội “tru di tam tộc”. Năm 1464, đời vua Lê Thánh Tông trị vì, Nguyễn Trãi mới được minh oan. 2.Sự nghiệp thơ văn a.Những tác phẩm chính: Nguyễn Trãi là tác giả xuất sắc trên nhiều thể loại. Ông để lại một khối lượng tác phẩm lớn với nhiều giá trị. Những tác phẩm chính viết bằng chữ Hán có: Quân trung từ mệnh tập, Đại cáo bình Ngô, ức Trai thi tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục, Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng,… Sáng tác chữ Nôm có tập thơ Quốc âm thi tập gồm 254 bài. Ngoài văn học, Nguyễn Trãi còn để lại cuốn Dư địa chí, một bộ sách địa lí cổ nhất Việt Nam. b.Nguyễn Trãi không chỉ là nhà thơ, nhà văn mà còn là nhà văn hoá lớn. Trong văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận lỗi lạc nhất. Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt các áng văn chính luận của Nguyễn Trãi là tư tưởng nhân nghĩa mà thực chất là tư tưởng yêu nước, thương dân. Văn phong chính luận của ông đạt tới trình độ nghệ thuật mẫu mực, chặt chẽ, sắc bén và giàu sức thuyết phục. Thơ trữ tình của Nguyễn Trãi toát lên vẻ đẹp tâm hồn người anh hùng và tâm tình của con người trần thế. Tâm hồn của người anh hùng thể hiện ở sự hoà quyện giữa nhân nghĩa với yêu nước thương dân, thể hiện ở thái độ đấu tranh chống cường quyền bạo ngược, ở cốt cách ngay thẳng cứng cỏi. Là một con người trần thế, Nguyễn Trãi đau nỗi đau của con người và cũng yêu tha thiết thiên nhiên, cuộc sống quê hương. Những vần thơ viết về thiên nhiên đất nước, về tình cha con, tình bạn, về nỗi nhớ quê,… của ông gợi xiết bao những gần gũi, thân thương đối với mỗi tâm hồn Việt. II.- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1. Vào cuối thế kỉ XIV, đất nước ta ở vào tình trạng hết sức rối ren. Hồ Quý Ly lên thay nhà Trần. Thế nhưng sức đề kháng của nhà Hồ trước âm mưu xâm lược của quân Minh cũng chỉ như ngọn đèn trước gió, leo lét được nửa năm rồi tắt hẳn. Trong hoàn cảnh ấy, hơn lúc nào hết ý chí bất khuất của dân tộc được phát huy mạnh mẽ bằng một cao trào đấu tranh rộng lớn, thu hút đông đảo mọi tầng lớp tham gia. Cuộc tụ nghĩa Lam Sơn nổi lên như là một đỉnh cao của cao trào ấy. Nguyễn Trãi đến với Lê Lợi ngay trong những ngày trứng nước. Ông cùng Lê Lợi xây dựng một đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, táo bạo đưa lực lượng từ yếu đến mạnh, ít có thể địch nhiều. Cho đến khi có thể đấu tranh ngoại giao với giặc, Nguyễn Trãi lại trực tiếp là người chắp bút lập ngôn, dụ giặc ra hàng. Chiến thuật “tâm công” (đánh vào lòng người) và tập văn Quán trung từ mệnh tập quả thực có sức mạnh hon cả chục vạn quân. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn cùng Lê Lợi trực tiếp chỉ huy và đốc chiến nhiều trận chiến quan trọng có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ví như khi ông điều binh chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang, quân ta đã đánh tan 15 vạn quân giặc do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy từ Trung Quốc kéo sang, mở ra một bước ngoặt lớn về quân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ngoại giao. Đất nước hoà bình, Nguyễn Trãi lại đi đầu trong công cuộc tái thiết nước nhà. Ông vẫn một mực hiếu trung cho đến khi phải nhận cái án oan thảm khốc nhất lịch sử nước ta. Tư tưởng chính trị mà ông suốt đời phấn đấu và phụng sự hết mình là tư tưởng nhân nghĩa mà cái nền tảng là tình yêu nước và lòng thương dân. Với những đóng góp to lớn ấy, có thể nói Nguyễn Trãi xứng đáng là một trong những nhân vật vĩ đại trong lịch sử nước ta. 2.Ngoài những tác phẩm của Nguyên Trãi mà chúng ta đã được học như: Côn Sơn ca (Bài ca Côn Sơn), Bạch Đằng hải khẩu (Cửa biển Bạch Đằng), Đại cáo bình Ngô, Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43),… còn có thể kể thêm các bài Cây chuối, Dục Thuý sơn (Núi Dục Thuý), Tùng, Thư lại dụ Vương Thông, Mộ xuân tức sự (Cuối xuân tức sự),… Giới thiệu một vài tác phẩm tiêu biểu: -Côn Sơn ca là khúc ca về bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Cảnh trí Côn Sơn với nhà thơ như là hai người bạn tâm giao. Thiên nhiên với tấm lòng tròn đầy đã dâng tặng tất cả cho cố nhân để rồi biến thành một lời ru êm ái nâng đỡ hồn người. Dẫu cái giai điệu có khoẻ khoắn song về cơ bản, âm hưởng chủ đạo của Côn Sơn ca vẫn là tiếng thở dài bi thiết về kiếp nhân sinh. -Cuối xuân tức sự viết về mùa xuân ở cái thời điểm tận cùng của nó với một tâm trạng nuối tiếc bâng khuâng. Tiếc xuân, tiếc đời, tiếc tuổi xuân là tâm trạng rất con người, rất nhân văn, rất đời thường của người anh hùng Nguyễn Trãi. -Cây chuối thể hiện cốt cách đa tình của người thi sĩ. Cây chuối với mùa xuân như một nỗi đợi chờ hò hẹn. Nó là một thứ tình yêu nhưng tình yêu ấy chẳng qua chỉ là một chút hương xuân, hương lòng thầm kín mà thôi. -Từng là bài thơ có hai lớp nghĩa đan cài vào nhau. Cái chúng ta nhìn thấy là một cây tùng cốt cách cứng cỏi, thẳng ngay, còn đằng sau nó hàm chứa cái hoài bão của kẻ trượng phu. -Thư lại dụ Vương Thông là một trong những bức thư dụ hàng mẫu mực, trích trong Quân trung từ mệnh tập. Sức thuyết phục của bài được thể hiện ở giọng văn chính luận sắc bén, ở những luận điểm được phân tích hợp lí, hợp tình. Nó chứng tỏ sự khéo léo, tài ba của Nguyễn Trãi và tính ưu việt của chiến thuật “tâm công”. 3.Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi qua một số câu thơ tiêu biểu. Gợi ý: Tham khảo một số đoạn văn sau. -Về hai câu cuối bài Cuối xuân tức sự: Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn, Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan. “Lắng nghe thời gian đang mải miết trôi đi không cách gì cầm giữ được thì còn bồn chồn khắc khoải nào hơn là qua tiếng cuốc. Cứ đều đều, đơn điệu như không có gì đáng chú ý, ấy thế mà nó cứ chậm rãi cướp đi cái phần đẹp nhất của một năm, cái sự khởi đầu của tuổi trẻ. Còn gì đáng tiếc hơn khi “lực bất tòng tâm”, phần chủ thể không kìm giữ được icái khách thể cứ vận động khách quan ngoài ý muốn con người. Tiếc xuân, tiếc đời, tuổi xuân qua đi để chỉ còn là một hoài niệm, tâm trạng của Nguyễn Trãi là tâm trạng rất con người, rất nhân văn mà con người ai chẳng thấy mình dù một lần trong đó”. NXB Giáo dục, 1999) -Về hai câu kết bài Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43): Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương. “Nhìn cảnh sống của dân, đặc biệt là người lao động – những dân chài lam lũ – được yên vui, no đủ, Nguyễn Trãi ước có được chiếc đàn của vua Thuấn để gảy khúc Nam phong ca ngợi cảnh: Dân giàu đủ khắp đòi phương. Câu kết của bài thơ là một câu sáu chữ ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài. Điểm kết tụ của hồn thơ ức Trai không phải ở thiên nhiên, tạo vật mà chính là ở con người, ở người dân. Nguyễn Trãi mong cho dân được ấm no hạnh phúc: “dân giàu đú” nhưng đó phải là hạnh phúc cho tất cả mọi người, mọi nơi: “khẵp đòi phương”. Thông thường mỗi khi nói đến người dân, thơ Nguyễn Trãi vân đượm một nỗi lo âu, trở trăn, dằn vặt. Bởi lẽ, với ức Trai, đem lại cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho dân là món nợ suốt đời ông chưa trả được. Chỉ trong hai trường hợp ông nói đến dân với tất cả niềm hân hoan mãn nguyện: khi chiến thắng kẻ thù xâm lược, nhân dân được giải phóng và khi chiến thắng đói nghèo, nhân dân được yên vui, no đủ. Niềm vui của Nguyễn Trãi thể hiện trong bài thơ là thuộc trường hợp thứ hai; với Nguyễn Trãi vui hay buồn, lo âu hay thanh thản, tất cả đều xuất phát từ cuộc sống của nhân dân. Dù ở cung bậc và sắc thái tình cảm nào thì lòng ức Trai với,dân chỉ là một: Sách một hai phiên làm bầu bạn, Rượu dám ba chén đổi công danh. Ngoài những phận ấy cầu đâu nữa, Cầu một: ngồi coi đời thái bình”. (Nguyễn Khắc Phi (Chủ biên), Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10,NXB Giáo dục, 2002). 4.Khái quát những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Trãi. Xuất hiện ở đầu thế kỉ XV, văn chương của Nguyễn Trãi đã hội tụ đầy đủ và kết tinh xuất sắc hai nguồn cảm hứng lớn của văn học dân tộc trước đó và cả sau này, đó là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo. Về nghệ thuật, văn chương Nguyễn Trãi kết tinh trên cả hai bình diện cơ bản là thể loại và ngôn ngữ. Nguyên Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất, là nhà thơ khai sáng văn học tiếng Việt. Ông đưa đến cho văn học dân tộc thể thơ Nôm Đường luật và nâng ngôn ngữ tiếng Việt lên một tầm cao lớn. XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ (TIẾP THEO) – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn đọc hiểu tác phẩm Đại Cáo Bình Ngô – Ngữ văn 10
1,952
Hậu quả của căn bệnh vô cảm Hướng dẫn Những hậu quả nặng nề do căn bệnh vô cảm gây ra Mở Bài: Thật không thể phủ nhận sự xâm lấn mạnh mẽ của căn bệnh vô cảm trong xã hội và ở giới trẻ hiện nay. Từ một vài hiện tượng đơn lẻ, vô cảm tiến đến trở thành một căn bệnh phổ biến. Vô cảm thực sự đã gây ra nhiều tác hại khôn lường đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội. Hậu quả của bệnh vô cảm sẽ còn nghiêm trọng hơn nếu chúng ta không có những giải pháp thiết thực và hữu hiệu. Thân bài: Đối với mỗi cá nhân: Căn bệnh vô cảm sẽ khiến họ ngày càng xa rời cuộc sống, rơi vào trạng thái cô lập. Vô cảm làm họ mất cảm nhận đối với tình yêu thương. Họ không biết chia sẻ hay cảm thông đối với người khác. Đồng thời, mất khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội. Người vô cảm thường chọn cách sống tách biệt với mọi người. Họ không thích bị phiền phức, bị nhờ vả và ít khi giúp đỡ ai. Bởi thế, họ cũng thường không cần đến sự cảm thông chia sẻ của người khác. Họ thể nói họ sống biệt lập và ngày càng xa rời bản chất loài người. Bệnh vô cảm còn khiến con người có những hành vi sai lầm, cực đoan. Nó đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức và thuần phong mĩ tục. Thực tế cho thấy, người vô cảm dễ nảy sinh những hành động phạm tội. Bởi họ không còn biết tôn trọng con người, không biết tôn trọng luật pháp và các quyền lợi đi kèm. Họ chỉ biết đến lợi ích cá nhân và sẵn sàng dẫm đạp hoặc bức hại người khác. Biết bao nhiêu sự việc về hành động “hôi của” đã được báo chí phản ánh khiến chúng ta không khỏi đau lòng về nhân cách làm người. Biết bao nhiêu vụ bạo hành trên đường phố, trong trường học, trong gia đình khiến chúng ta phải tự hỏi tình người đang ở đâu? Bệnh vô cảm khiến con người mất cảm nhận đối với cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Tâm hồn họ trở nên khô khan, tàn nhẫn. Nghệ thuật hay cái đẹp của tình người đối với họ không có giá trị gì nữa. Họ còn thường bị mắc phải các hội chứng thần kinh. Lúc nào họ cũng hoang tưởng hoặc bức bối, hoặc hoài nghi, hoặc sự hãi trước cuộc sống. Cuộc sống của người bị vô cảm lúc nào cũng đầy xáo trộn, đầy biến động bởi thần kinh tâm lí gây ra. Họ tự tách mình ra khỏi những ràng buộc xã hội. Từ đó mất dần đi mối liên kết bền chặt đối với đời sống con người. Cuộc sống cô đơn là tất yếu đối với những người vô cảm. Mỗi cá nhân vô cảm sẽ đẫn đến một xã hội vô cảm. Một khi, vô cảm trở thành hội chứng phổ biến mà không được ngăn chặn sẽ dẫn đến những hậu quả khủng khiếp. Trước hết, bệnh vô cảm là nguyên nhân làm xói mòn nhân cách. Nó hủy hoại các chuẩn mực, giá trị đạo đức từ lâu vốn được khẳng định trong xã hội. Xã hôi ngày ngay phát triển với tốc độ chống mặt. Kéo theo nó là sự thây đổi về chuẩn mực hành vi đạo đức con người. Có những chuẩn mực vốn rất tốt đẹp trong quá khứ. Nhưng lại có thể sẽ bị phủ nhận trong xã hộ ngày nay. Sự sàng lọc các giá trị ấy để phù hợp với đời sống mới đang diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bởi thế, một khi con người vô cảm, hành động mù quáng, thiếu suy nghĩ, thiếu khoa học sẽ làm tổn thất biết bao nhiêu thành quả mà ông cha ta đã gây dựng. Ngày nay, người ta chào hỏi nhau không còn lịch sự và cung kính như trước nữa. Việc chào hỏi trong xã hội trở thành một hành động bị xem là khách xáo, không còn mang tính trang trọng nữa. Việc nuôi dưỡng ông bà, cha mẹ của một số người không còn mang tính ràng buộc của bổn phận và nghĩa vụ. Sự vô cảm của con người làm mất tinh thần đoàn kết, tương trợ trong cuộc sống. Lòng tốt bị phủ nhận, tội ác không bị trừng trị. Cái xấu, cái ác hiển nhiên được tồn tại gây ảnh hưởng nặng nề đến an inh xã hội và chất lượng cuộc sống con người. Kết bài: Một con người không thể hạnh phúc khi sống trong vô cảm. Một xã hội không thể phồn vinh khi con người thờ ơ, lạnh lùng và tàn ác. Một đất nước không thể phát triển khi con người đặt lợi ích cá nhân đặt lên cao và nhiệm vụ chung bị né tránh. Hãy chống lại căn bệnh vô cảm. Hãy tuyên chiến với căn bạo bệnh ấy. Hãy loại trừ nó ra khỏi cuộc sống của chúng ta. Hãy cùng nắm tay nhau trong tình thân ái bước đến tương lai rực sáng. Giải pháp khắc phục hiện tượng vô cảm
Hậu quả của căn bệnh vô cảm
886
Hậu quả khôn lường của hành vi nói dối, làm giả trong xã hội Hướng dẫn Nói dối, làm giả gây ra những hậu quả nặng nề đối với xã hội Đôi khi những lời nói dối không phải lúc nào cũng xấu. Có khi nó hỗ trợ cho một mục đích tốt đẹp nào đó. Có những lời nói dối được con người sử dụng để vui đùa, làm người khác yên tâm, thoải mái, hoạc bớt đau khổ. Thế nhưng, căn bản, nói dối là một hành vi không tốt, có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với bản thân và người khác. Hậu quả của lời nói dối thực sự tác động sâu sắc đến đời sống xã hội con người. Đối với bản thân, người hay nói dối thường không được người khác tin tưởng, tôn trọng và yêu thương. Họ lúc nào cũng sống trong bất an. Họ luôn sợ người khác phát hiện bản chất giả dối, tinh thần căng thẳng, lo lắng. Từ đó làm cho cơ thể mệt mỏi, hốt hoảng, suy kiệt sinh lực. Kẻ hay nói dối thường nói lời không thật, thiếu tôn trọng người khác. Họ chọn lối sống cá nhân, ích kỉ, mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Họ sẵn sàng dẫm đạp lên tình người, gây đau khổ cho người khác. Người hay nói dối, làm giả thường bị xã hội che bai, lên án và trừng phạt. Ít khi ta thấy một kẻ hay lừa dối có thể hành công bền vững trong cuộc sống. Đối với xã hội, dối trá, lừa lọc làm rối loạn trật tự xã hội. Các mối quan hệ xã hội không thể bền vững nếu con người thường hay nói dối. Con người hoài nghi lẫn nhau, dẫm đạp lên nhau mà sống. Họ bất chấp đạo lí, pháp luật và tình người. Một xã hội không có đạo lí, công bằng nhất định sẽ bị hủy diệt. Ngày nay, sự giả dối phổ biến đến nỗi con người quên rằng mình đang sống rất giả tạo. Nếu giả dối trong suy nhĩ thì tự an ủi mình đó chỉ là suy nghĩ. Giả dối trong lời nói nhiều khi được khen là khéo léo, biết điều, biết sống. Giả dối trong hành động lại được khen là khon ngoan, thức thời, nắm bắt cơ hội tốt,… Một khi hiện tự nói dối, làm giả, dối trá không bị nghiêm trị thì kéo theo nó là sự xuống cấp của nền đạo đức, pháp luật không được thực thi, xã hội mất an toàn, bạo lực gia tăng,… Con người hoài nghi lẫn nhau, không còn thân tình hữu ái nữa. Nói dối làm con người mất niềm tin vào bản thân và cuộc sống. Con người càng trở nên ích kỉ, tham lam, đặt lợi ích bản thân lên hàng đầu, đời sống vật chất thực dụng được đề cao đe dọa đến trật tự an ninh xã hội và nền văn hóa nhân văn của dân tộc ta vốn đã tồn tại hơn nghìn năm qua. Có thể bạn đang tìm kiếm: Nguyên nhân của căn bệnh nói dối, làm giả trong xã hội ngày nay
Hậu quả khôn lường của hành vi nói dối, làm giả trong xã hội
531
Hậu quả nghiêm trọng của hiện tương suy thoái đạo đức, nhân cách học sinh Hướng dẫn Những hậu quả của việc suy thoái đạo đức Học sinh ngày càng ngang bướng, bất chấp, vô lễ, không tuân thủ nội quy trường lớp, lười học, bỏ học tràn lan, gây khó khăn trong quá trình giáo dục của nhà trường. Hiện tượng học sinh đánh nhau, tung video clip xấu, hăm dọa, thách thức trở nên phổ biến trước sự bất lực của nhà trường. Học sinh suy thoái đạo đức, nhân cách dễ sa vào tệ nạn, vi phạm pháp luật, kết quả học tập sút kém, nhận thức lệch lạc, nhân cách kém cỏi là nguyên nhân đẫn đến các hành vi phạm tội. Theo thống kê hằng năm, đối tượng vi phạm pháp luật ở lứa tuổi học sinh tăng cao, gây mất trật tự an ninh xã hội. Xu hướng phá cách, nổi loạn, đề cao cá tính làm bùng phát các trào lưu tiêu cực, gây ảnh hưởng xấu đến nền tảng đạo đức và thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc. Kết quả học tập kém, nhận thức lệch lạc, thiển cận của học sinh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của nhà trường. Những hành vi vi phạm, những nhận thức sai lầm nếu không được khắc phục sẽ nêu gương xấu, ảnh hưởng đến nhiều học sinh khác. Gia đình lo lắng, xã hội thiếu ổn định, tệ nạn xã hội tăng cao. Bạo lực học đường diễn biến phức tạp. Không chỉ là các vụ việc mâu thuẫn hay xung đột đãn đến bạo lực như trước đây nữa, tình trạng bạo lực học đường diễn biến hết sức đa dạng, mức độ ảnh hưởng đối với hành vi ứng xử của học sinh là rất lớn. Giải pháp giáo dục đạo đức, tác phong cho học sinh hiện nay
Hậu quả nghiêm trọng của hiện tương suy thoái đạo đức, nhân cách học sinh
323
Hẵy tả cảnh quê hương nơi em đang sống Hướng dẫn Hẵy tả cảnh quê hương nơi em đang sống Đề bài: Hãy tả cảnh quê hương nơi em sinh sống Nhà em ở ngay cạnh những bụi tre cao vút xanh rờn khi nào cũng đung đưa trước gió như chào đón. Xung quanh còn là những hàng phi lao thẳng tắp rì rào trước những làn gió thoảng qua như reo vui. ÔI, với em quê hương thật đẹp biết bao nhiêu. Nhà em nối từ một con đường nhỏ quanh co đi đến trường và lấp sau những rặng tre đó. Đi trên đường có khi em dừng lại hái hoa dại ven đường rồi cài lên mái tóc rồi nô đùa cùng các bạn. Nhìn xa xa bỗng thấy hàng dừa như đang dang rộng vòng tay ôm lấy cả một bầu trời. Em nhớ những buổi trưa hè đi học cùng đám bạn trong làng, thi nhau chạy quần áo ướt sũng hết,da mặt thì đỏ ửng. Môi lần chúng em đưa nhau đi tắm ở sông thì toàn nô đùa nhau, làm cho nước văng tung tóe cười một cách vô tư sảng khoái. Tắm xong bọn em lại rủ nhau ra ruộng chơi rồi theo nhau làm diều dấy để thả,rồi còn làm cả trò chơi mẹ con, rồi đám cưới cô dâu chú rể. Quê em có con sống dài cho nên chúng ta thường hay trốn bố mẹ ra ngoài nô đùa cùng nhau trên những bờ đê, chăn trâu,thả diều, tắm sông rồi chèo thuyền ra giữa ghe.Cuộc sống miền quê chúng mình gắn liền với những tuổi thơ dữ dội rất vui. Xa xa là những cánh đồng lúa chín vàng óng ảnh như những tấm lụa đào, mỗi khi đi ngang qua lại thấy thơm phúc mùi lúa mới ngào ngạt Quê em có những ngôi nhà mái lá đơn sơ nằm san sát cạnh nhau. Cách nhau chỉ mấy bước chân. So với thành phố thì chúng em còn thua thiệt nhiều nhưng mà không phải vậy mà nó không có những điều thú vị. Đó là tình làng nghĩa xóm, đó là tình cảm bền chặt của tình làng xóm đối với nhau, khi có chuyện thì giúp đỡ lẫn nhau. Cho dù sau này có đi đâu thì một mảnh tâm hồn vẫn giành đấy cho quê hương. Em không hề muốn xa quê hương của mình với những hàng dừa bát ngát hay con đê mỗi lần đợi mẹ về. Em yêu cả những cơn mưa mùa hạ cùng nhau nô đùa tắm trần dưới mưa, yêu cả những cánh đồng, những cái nắng, những góc vườn sau hè vào mỗi trưa cùng nhau chơi trò chơi, đi bắt chuồn chuồn ớt. Nhớ lắm quê hương của em những ngày hè nóng bức đi tắm sông nô đùa với nhau. Quê hương tuy đang còn nghèo, đang còn khó khăn nhưng mà tuổi thơ em thì chắc chắn sẽ không bao giờ quên mã ở trong lòng những đứa trẻ thơ như bọn e. Cho dù sau này có đi đâu và về đâu thì e sẽ nhớ suốt đời không quên
Hẵy tả cảnh quê hương nơi em đang sống
531
Đề bài: Học tập là công việc vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với học sinh. Em có suy nghĩ gì về công việc này của học sinh thời nay Bài làm Công việc học tập đang từng ngày được xã hội hoá, nhà nhà học tập, người người học tập. Nhưng đến với công việc này, mỗi người có một cách thức học tập, một mục đích học tập khác nhau. Vậy cần nhìn nhận vấn đề học tập ngày nay như thế nào? Học tập là một quá trình dài, là một cách để con người tiếp cận tri thức, nâng cao trình độ, mở mang trí óc để khám phá những điều hay lẽ phải. Học là việc cần thiết suốt đời bởi tri thức nhân loại là một kho tàng vô cùng phong phú, nó như biển cả mênh mông mà sự hiểu biết của con người lại có hạn. Đâu phải chỉ cần thời gian mà con người có thể hiểu biết được mọi điều trong cuộc sống. Con người ta khi sinh ra, chưa có hiểu biết về cuộc sống, chưa biết làm gì cả, vì vậy phải học từ việc nhỏ nhất, đơn giản nhất trở đi. Lớn lên đến trường phải học đọc, học viết, học những kiến thức tự nhiên và xã hội để trang bị cho mình những trí thức cần thiết trong cuộc sống nhằm giúp mình sau này có thể làm việc tốt bởi trẻ mà không học thì sẽ rất khó để chúng ta có thể vào đời một cách vững vàng. Khi trưởng thành lại cần phải học. Những kiến thức ta được học trong trường không chỉ là nền tảng cơ bản trong cuộc sống, khi bắt tay vào công việc thường nảy sinh ra nhiều vấn đề. Để giải quyết được ta phải tự học, tự nâng cao kiến thức. Hiện nay trình độ khoa học kỹ thuật, văn hoá tri thức ngày càng phát triển, càng có nhu cầu đòi hỏi cao đối với con người. Nếu chúng ta ngừng học tập thì sẽ bị lạc hậu, tụt lùi, không đảm đương được các công việc được giao, không hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Không ngừng học tập thì mới trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội. Ngày nay, mỗi con người đều có cách học riêng của mình. Nhiều bạn rất chăm chỉ, cần cù và giành được những thành công lớn. Đã có biết bao những bạn học sinh đạt thành tích cao trong học tập. Họ luôn lấy gương các vị danh nhân, các bậc cha anh đi trước để noi gương theo. Như Lênin với câu nói "Học, học nữa, học mãi" hay nhà bác học Đácuyn lừng danh cũng nói rằng: "Bác học không có nghĩa là ngừng học". Học tập là một yếu tố quan trọng, không những giúp cho chính bản thân mỗi học sinh chúng ta có một tương lai tốt đẹp mà còn giúp cho đất nước ngày một giàu mạnh. Có câu danh ngôn: "Đường đời là một chiếc thang không có nấc chốt và việc học là một quyển sách không có trang cuối cùng". Vì thế học sẽ không bao giờ là đủ và học tập là một việc vô cùng cần thiết đối với cuộc sống ngày càng phát triển như hiện nay. Tuy nhiên vẫn có không ít những bạn học sinh mải chơi quên học, hoặc nếu có cũng chỉ là học vẹt, học đối phó. Đó quả thực là những hành động hết sức sai lầm. Các bạn hãy đến với những em nhỏ lang thang, hãy nhìn những khuôn mặt nhỏ bé, những đôi mắt thơ ngây luôn ao ước được một lần cắp sách tới trường như bao bạn nhỏ khác. Lúc đó các bạn sẽ nghĩ sao? Chúng ta được may mắn hơn các bạn bé nhỏ ấy, chúng ta được cha mẹ yêu thương, được thầy cô tận tình dạy dỗ, vậy mà chúng ta lại không học, lại coi thường việc học. Như vậy chảng phải thật đáng trách sao? Lúc ấu thơ, ngoài bản năng tự nhiên là khóc và ăn thì mọi thao tác còn lại đều phải trải qua một quá trình học tập. Những người cha, người mẹ là những người thầy đầu tiên của trẻ, dạy cho trẻ biết lẫy, biết bò. Vậy đấy, ngay từ khi còn nhỏ, khi chưa phải đến trường thì bất kỳ một đứa trẻ nào cũng phải học, phải trải qua một sự khổ công. Để rồi đến khi lớn lên, cắp sách tới trường, thầy cô dạy ta biết đọc biết viết, học những thao tác ngồi, cầm bút viết. Lớn hơn nữa, thầy cô lại dạy cho tà kiến thức theo từng cấp học phù hợp với khả năng nhận thức, để sau này có thể vận dụng vào cuộc sống, công việc. Tất cả những điều đó đều giúp chúng ta trở thành những con ngoan trò giỏi. Học là để trưởng thành, để hoà nhập với cuộc sống văn minh, có khả năng thích ứng với những tiến bộ khoa học. Quả thật, tương lai là ở trong tay chúng ta, nó sáng sủa hay mờ mịt là phụ thuộc vào sự nỗ lực học tập của mỗi con người. Vì thế chúng ta đừng để phí hoài những gì đã học được ở ghế nhà trường, bởi "một bước lỡ, nghìn thu ân hận". Nếu mải chơi chúng ta sẽ làm lỡ mất một chuyến tàu đi đến tương lai. Chuyến tàu đó không hề đi đến một cái đích nào nhất định. Chuyến tàu đó rất đặc biệt bởi người lái tàu là chúng ta và hành khách cũng chính là chúng ta. Nó được chèo lái bởi chính đôi bàn tay của chúng ta. Kiến thức trong trường ta học là nền tảng cơ bản để ta làm việc. Nhưng nhiều khi chính những kiến thức ấy cũng không đáp ứng đủ được những yêu cầu của sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Nếu không tiếp tục học chúng ta sẽ không có đủ khả năng để đảm đương công việc. Việc học tập không phân biệt tuổi tác, trình độ, địa vị hay hoàn cảnh xã hội mà tuỳ theo ham muốn hiểu biết của mỗi con người. Khi còn nhỏ đang ở lứa tuổi cắp sách đến trường, thầy cô dạy cho ta rất nhiều kiến thức về tự nhiên, xã hội… vì vậy mà chúng ta phải không ngừng nâng cao hiểu biết, trau dồi tri thức, tận dụng mọi cơ hội để học tập. Và đến tuổi trưởng thành chuẩn bị bước chân vào đời, để tự lập bằng vốn kiến thức của mình được trang bị trong nhà trường, chúng ta vẫn phải tìm tòi nghiên cứu không ngừng trong công việc, sách báo… để nâng cao tay nghề, trình độ. Thông thường một người trong nhà trường học giỏi thì ra trường cũng sẽ làm việc tốt, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Vì vậy, chúng ta phải học ở mọi lúc mọi nơi, học ở những người đi trước mình, lớn tuổi hơn mình, những đồng nghiệp xung quanh mình để làm sao lấp đầy những khoảng trống mà mình thiếu sót trong quá trình học tập và làm việc… Mỗi học sinh chúng ta cần phải nhận rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, trong thời kỳ đang sống nhờ vào gia đình và xã hội. Nhưng học bằng cách nào để đạt kết quả tốt. Phương pháp học tập có rất nhiều ta có thể học qua sách vở. Ở trường, ta được sự dạy dỗ của thầy cô và bạn bè nhưng cũng cần đọc thêm báo chí, để có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về xã hội ngày nay. Mỗi lúc vấp ngã ta đều phải tự biết rút cho mình những kinh nghiệm vì đó là những kiến thức thực tế quý báu, trang bị cho ta hành trang vào đời. Ở các thành phố hiện đại, việc học của học sinh, sinh viên được chăm lo đầy đủ nhưng ở các vùng quê nghèo thì việc học chưa được chú trọng. Người dân chưa nắm rõ được ý nghĩa lớn lao khi cho con em mình đến trường. Rất nhiều em học sinh phải bỏ dở việc học hành để sống cuộc sống "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" như cha ông họ. Thật là đáng tiếc thay khi có những học sinh được sự quan tâm của gia đình, xã hội được lo lắng đầy đủ vật chất lại không biết quý trọng. Đây là hiện tượng khá phổ biến của các học sinh "lười học". Đó không phải là những tấm gương "sáng". Chúng ta hãy học tập theo các thế hệ cha ông như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lê Quý Đôn… những Lê Bá Khánh Trình, Tôn Thất Tùng, Đặng Thái Sơn… để trở thành con người có ích. Ngày nay đất nước đã phát triển, việc học đã được chú trọng, tuy nhiên, việc học của học sinh vẫn còn nhiều hiện tượng gây bức xúc. Không chỉ có chuyện học lực kém của nhiều học sinh, mà còn nhiều vấn đề nữa rất đáng phải xem xét lại. Đó là tình trạng cận thị ở học đường. Do học quá nhiều, lại thêm chơi các trò chơi điện tử nên số lượng cận thị tăng lên rất nhanh. Một số học sinh có ý thức học tập rất kém, thường xuyên trốn tiết để đi chơi. Lười biếng và ham quậy phá, sẽ rất khó để họ trở thành những người có ích cho xã hội sau này. Đây là những "con sâu làm rầu nồi canh” cần được chinh đốn cách thức và mục đích học tập. Việc học của học sinh thời nay là vô cùng cần thiết. Với xu thế hội nhập, học sinh ngày càng phải trau dồi vốn kiến thức hiểu biết của mình. Hành trang để vào đời chính là những kiến thức mà chúng ta tích luỹ được từ thuở ấu thơ, nó sẽ là vô giá nếu chúng ta tranh thủ học nhưng củng sẽ là vô nghĩa nếu chúng ta mải chơi, lười học.
Học tập là công việc vô cùng quan trọng đặc biệt là đối với học sinh. Em có suy nghĩ gì về công việc này của học sinh thời nay
1,737
Học để biết, học để làm, học đển chung sống, học để khẳng định mình (UNESCO). Suy về mục đích của việc học Hướng dẫn Mục đích cuối cùng của việc học là học làm người tốt Mở bài: Chủ tịch Mendela đã từng khẳng định: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất người ta sử dụng để thay đổi cả thế giới”. Trong bản định hướng của mình, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”. Ngày nay, trong sự phát triển như vũ bão của nền khoa học, điều ấy một lần nữa được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thân bài: Học là gì? Học là tiếp nhận tri thức, rèn luyện kĩ năng, hoàn thiện nhân cách trở thành một người hiểu biết, có nhân cách tốt đẹp trong cuộc sống. Học để biết là học để có kiến thức về cuộc sống, về xã hội trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, lịch sử, địa lí,…Hiểu biết là chìa khóa để mở cách cửa cuộc đơi, là cội ngồn của những thành công. Học để làm là học chuyên sâu về một lĩnh vực, học những kĩ năng làm việc, học phương pháp, học đi đôi với hành, phải biết ứng dục vào thực tế để giải quyết vấn đề. Học để chung sống là học những kĩ năng sống, quan hệ, giao tiếp, hợp tác, có khả năng thích ứng với những thay đổi của cuộc sống…, tích cực tạo ra môi trường sống thân thiện, tôn trọng mọi người, chung sống hòa bình, chống chiến tranh. Vai trò, ý nghĩa của việc học: Mục đich giáo dục UNESCO rất đúng đắn và hiện đại nhằm tạo ra những con người toàn diện, phù hợp với toàn cầu hóa hiện nay, đồng thời thể hiện tầm nhìn xa của những người đề xướng. Mục đích giáo dục của UNESCO sẽ là kim chỉ nam cho mọi nền giáo dục trên thế giới.Mỗi nước tùy vào hoàn cảnh cụ thể mà đưa ra mục đích giáo dục cho phù hợp. Liên hệ và suy nghĩ về tính đúng đắn của mục tiêu giáo dục của nước ta hiện nay là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Phê phán mục đích học tập không đúng đánh và thái độ học tập không lành mạnh của học simh sinh viên hiện nay như học thụ động, học đối phó, học vì điểm số, vì thành tích… Xác định mục đích học tập của bản thân cho phù hợp với xu thế của thời đại. Phấn đấu rèn luyện phương pháp học tập tích cực để chủ động tiếp thu kiến thức làm hành trang vào đời. Rèn luyện kĩ năng sống từ việc thăm ra những hoạt động cụ thể của trường của lớp; tham gia những hoạt động xã hội như: thăm mái ấm tình thương, người già neo đơn, thương binh kiệt sĩ, chiến sĩ tình nguyện,…Qua đó, tự rút cho mình những bài học và biết tự giải quyết vấn đề trong những tình huống cụ thể. Hành động của tuổi trẻ trong thời đại mới:
Học để biết, học để làm, học đển chung sống, học để khẳng định mình (UNESCO). Suy về mục đích của việc học
592
Đề bài: "Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng; và như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay đơ. Rồi hươu mẹ làm một việc kỳ lạ: đá hươu con cho đến khi nào chú ta chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Đến lúc hươu con đã thực sự đứng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã xuống để chú phải tự mình đứng dậy lần nữa." Em đã học được những gì từ loài hươu cao cổ? Dàn ý Bài làm có thể trình bày nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo 1 số ý chính như sau: – Phân tích cách sinh con của loài hươu: + Điểm lạ: sinh con không nằm mà đứng, không nâng niu, vuốt ve mà bắt hươu con vận động ngay khi vừa lọt lòng. + Mục đích: muốn hươu con tự lập ngay từ nhỏ + Nguyên nhân: cuộc sống hoang dã vốn nhiều nguy hiểm, thậm chí có những cuộc đấu tranh một mất một còn, vì vậy hươu con cần phải học cách thích nghi để sinh tồn từ rất sớm. Chính nhờ điểm lạ này mà loài hươu cao cổ có khả năng chiến đấu thành thạo, phi nước đại rất nhanh… => Loài hươu đã cho chúng ta một bài học đáng quý. – Bài học từ loài hươu: + Biết sống tự lập, tự đứng vững trên đôi chân của mình [tự giải quyết những vấn đề của mình trong cs, không phụ thuộc, trông chờ, ý lại vào người khác] + Sống có ý chí, bản lĩnh, không ngừng vươn lên, chớ vội nản chí trước khó khăn, thử thách. – Tại sao con người cần tự lập và dũng cảm đối mặt với khó khăn, thách thức? + Cuộc đời vốn dĩ không bằng phẳng, luôn chứa đựng những bất ngờ. + Không ai có thể sống thay chúng ta, đi theo nâng đỡ chúng ta trong suốt cuộc đời, ngay cả bố mẹ + Không vươn lên chúng ta sẽ bị tụt hậu, bị đào thải. => Có bản lĩnh, biết tự lập sẽ giúp chúng ta vượt qua nó. [Cho ví dụ cụ thể] – Rèn luyện tính tự lập, tôi luyện ý chí, bản lĩnh, chúng ta được gì? Trong khó khăn, thử thách, chúng ta có thể khám phá ở bản thân những năng lực đặc biệt mà thường ngày chính chúng ta cũng chưa hề biết tới. Nói cách khác, những "đá tảng" giữ đường đi hay "giông bão" cuộc đời sẽ giúp chúng ta trưởng thành hơn, hoàn thiện mình hơn. [Lấy ví dụ cụ thể trong đời sống, trong văn học…] – Phản đề: bên cạnh những con người mạnh mẽ, tự lập, có ý chí, chúng ta vẫn thấy những người sống phụ thuộc như cây tầm gửi, dễ dàng buông xuôi, nản chí, sớm chấp nhận là người thua cuộc,… -> đáng phê phán. – Khẳng định lại vấn đề, liên hệ bản thân. Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng Bài làm Cuộc đời của con người là một cuộc hành trình dài với rất nhiều phiêu lưu, mạo hiểm và cả những điều bí ẩn đang chờ chúng ta khám phá. Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng có một khao khát được hoàn thiện bản thân mình về cả suy nghĩ lẫn hành động. Vì thế, chúng ta cần phải không ngừng tìm tòi, học hỏi từ bất cứ điều gì xung quanh mình. Tôi đã đọc được đâu đó về cách sinh con lạ lùng của loài hươu cao cổ rằng: “Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng và như vậy hươu con chào đời bằng một cú rơi hơn 3m xuống đất và nằm ngay đó. Rồi hươu mẹ làm một việc kỳ lạ: đá hươu con cho tới khi nào chú ta chịu đứng dậy mới thôi. Khi hươu con mỏi chân và nằm, hươu mẹ lại thúc chú đứng lên. Đến lúc hươu con đã thực sự đứng được, hươu mẹ lại đẩy chú ngã để chú phải tự mình đứng dậy lần nữa”. Câu chuyện đã đem đến cho tôi bài học về ý chí, nghị lực, sự tự lập và niềm tin để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Cũng giống như những loài vật khác, hươu cao cổ là một sinh vật sống trong môi trường tự nhiên. Nhưng điều khác biệt của loài hươu là khi sinh con và nuôi dạy con cái, chúng không nằm, không nâng niu, vuốt ve, nhẹ nhàng, ân cần mà bắt hươu con vận động ngay khi vừa mới lọt lòng. Liệu rằng hươu mẹ làm vậy là vì ghét bỏ hươu con? Không! Trái lại đó là cả một biển trời yêu thương mà hươu mẹ dành cho con, một tình thương đúng đắn, sáng suốt. Hươu mẹ làm như vậy để rèn luyện cho hươu con tính tự lập, ý chí, nghị lực bởi trong chốn rừng sâu nước độc có biết bao nhiêu là hiểm nguy đang rình rập chúng. Có như vậy, hươu con mới trưởng thành hơn, có thể tự mình vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống và sinh tồn từ rất sớm. Nhờ vậy, loài hươu cao cổ có khả năng chiến đấu thành thạo, phi nước đại rất nhanh. Về phần hươu con, chúng ta thấy ngay được ý chí sắt đá, nghị lực, tinh thần quyết tâm của nó. Dù sinh ra trong hoàn cảnh hết sức nguy hiểm, bị hươu mẹ đá, thúc, đẩy ngã nhưng chú ta vẫn không hề nản chí, không hề bỏ cuộc, vẫn kiên trì tự mình đứng lên, vượt qua những khó khăn chẳng chút nề hà. Tại sao một loài vật nhỏ bé lại làm được như vậy mà chúng ta lại không? Trong cuộc sống, gian nan, thử thách và khó khăn là những điều tất yếu sẽ xảy ra đối với con người. Nó hiện hữu trong cuộc sống từ những điều rất nhỏ: một em bé 3 tuổi lần đầu tiên chập chững bước đi và chắc chắn em sẽ bị ngã, cậu học sinh không giải được bài toán khó, một cô bé làm hỏng chiếc bánh sinh nhật tự tay làm mà cô muốn dành tặng cho mẹ….hay là những khó khăn lớn lao hơn: chàng sinh viên thất nghiệp, gia đình khó khăn về kinh tế, cô ca sĩ bị người hâm mộ tẩy chay, “ném đá”….Đó là lúc cuộc đời buộc chúng ta phải có sự lựa chọn: Sẽ gục ngã, than thân trách phận hay dừng lại và bỏ cuộc hay đứng dậy, bước tiếp? Chính chú hươu con đã cho chúng ta câu trả lời. Nhờ sự tự lập, ý chí và nghị lực ngay từ lúc mới sinh hươu con mới có những khả năng sinh tồn giữa cuộc sống hoang dã nhiều hiểm nguy. Con người chúng ta cũng vậy. Hãy học cách sống tự lập và nghị lực ngay từ khi còn nhỏ, từ những việc làm nhỏ bé nhất: tự làm bài tập thay vì xem sách giải, tự dọn dẹp phòng thay vì nhờ mẹ, học cách nấu ăn để những khi mẹ vắng nhà, hai bố con vẫn có một bữa cơm đầy đủ, ấm cúng,… Chúng ta hãy học cách tự giải quyết những vấn đề của mình thay vì than vãn, phàn nàn, trách cứ,… Cuộc sống luôn chứa đựng những khó khăn bất ngờ, nếu không chuẩn bị sẵn những kĩ năng sống như vậy, chúng ta sẽ dễ dàng trượt dốc, thất bại và gục ngã. Hơn nữa, sự nâng đỡ của những người xung quanh không phải là mãi mãi. Cha mẹ không thể đi cùng ta đến hết cuộc đời, những người bạn còn có cuộc sống riêng, những gánh nặng riêng của họ. Chúng ta không thể sống trông chờ, phụ thuộc vào người khác mãi. Bởi vậy, để vượt qua thử thách, để không bị tụt hậu, đào thải, không có cách nào hơn là chúng ta phải đi xuyên qua nó. Và có thể bạn không tin nhưng chắc chắn, sau mỗi lần vượt qua nó, bạn sẽ trưởng thành hơn, thậm chí có thể khám phá ở bản thân những năng lực đặc biệt mà thường ngày chúng ta không nhận ra. Nói cách khác, những "đá tảng" giữa đường đi hay những "giông bão" của cuộc đời sẽ giúp chúng ta hoàn thiện mình hơn về cả nhân cách lẫn tâm hồn. Cũng với thông điệp như câu chuyện về loài hươu cao cổ, trong cuốn nhật ký của mình, nữ bác sĩ – liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng viết: “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi đầu trước giông tố”. Trong một bài thơ của mình, tác giả Tố Hữu cũng viết: “Đừng nản chí, hãy vươn vai mà sống Bùn dưới chân nhưng nắng ở trên đầu” Tôi đã thấm thía biết bao những bài học ấy từ hàng ngàn tấm gương người thật, việc thật trong cuộc sống. Đó là bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Đó là thầy Nguyễn Ngọc Ký “vẽ cuộc đời từ chính đôi chân” – một nhà giáo ưu tú được nhiều người biết đến và khâm phục; là thầy giáo Nguyễn Ngọc Sơn – tác giả của “Xin đừng khóc nữa mẹ ơi!” và “Không là cơn gió thoảng” – người đã chung sống với căn bệnh suy thận từ những năm tháng tuổi trẻ nhưng vẫn không ngừng cống hiến cho giáo dục. Hay gần gũi hơn là những anh, chị từ nghèo khó biết vươn lên để trở thành thủ khoa đại học…. Họ là những tấm gương sáng cho chúng ta học tập, noi theo. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta lại bắt gặp không ít người có lối sống vị kỉ, không có ý chí, nghị lực, không có niềm tin vào cuộc sống, có người chỉ biết bó chặt mình trong bóng tối của sự đau khổ hoặc có người lại sống dựa dẫm vào người khác như những cây tầm gửi. Họ tự biến mình thành gánh nặng của gia đình và xã hội mà không hay. Những con người ấy sẽ không nhận được sự tôn trọng, tin yêu của mọi người. Lối sống ấy thật đáng chê trách, loại bỏ. Câu chuyện về loài hươu tuy giản dị nhưng chứa đựng những bài học thật quý báu: sống có ý chí, có nghị lực, sống tự lập, không ngừng vươn lên, không bao giờ chùn bước trước khó khăn. Từ nay, tôi đã biết mình phải làm gì khi gặp một bài toán khó, khi kết quả học tập chưa được hài lòng như mong đợi và làm thế nào biến ước mơ thành hiện thực. Còn bạn thì sao?
Khi sinh con, hươu mẹ không nằm mà lại đứng … Em đã học được những gì từ loài hươu cao cổ_
1,822
Khái quát lịch sử Tiếng Việt – Ngữ văn 10 Hướng dẫn KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Lịch sử tiếng Việt gắn bó chặt chẽ với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu đã chứng minh được tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á, dòng Môn – Khmer và có quan hệ cội nguồn, họ hàng gần gũi với tiếng Mường. Tiếng Việt cũng có quan hệ tiếp xúc khá gần gũi với tiếng Thái, tiếng Ba-na, tiếng Hán,… 2.Tiếng Việt không ngừng phát triển qua các giai đoạn lịch sử, không ngừng vươn lên để thực hiện đầy đủ các chức năng và những đòi hỏi ngày càng cao, càng phong phú của đời sống xã hội. Trong quá trình này, tiếng Việt đã tiếp nhận và cải biến nhiều yếu tố ngôn ngữ từ bên ngoài đưa tới. Chính vì vậy mà tiếng Việt ngày càng trở nên phong phú, uyển chuyển, tinh tế và chuẩn xác. Trong thời đại hiện nay, hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải bảo vệ sự trong sáng và phải làm cho tiếng Việt ngày một trong sáng hơn, Để thực hiện được yêu cầu ấy, trước hết cần hiểu đúng và dùng đúng từ ngữ Việt, chống thái độ tuỳ tiện trong nói viết tiếng Việt và chống lạm dụng từ ngữ nước ngoài. 3.Trước khi có chữ Nôm, trong một thời gian khá dài của lịch sử, dân tộc ta phải dựa vào văn tự Hán. Vì thế sự ra đời của chữ Nôm là một thành quả văn hoá lớn lao, thể hiện ý thức độc lập tự chủ rất cao của một dân tộc vốn rất giàu truyền thống. Song do còn tồn tại nhiều hạn chế, nên chữ Nôm vẫn không chiếm được vị trí chủ đạo trong đời sống. Giữa lúc đó, chữ quốc ngữ xuất hiện với những ưu điểm như sự đơn giản, thuận tiện, dễ viết, dễ đọc,… đã sớm trở thành hệ thống chữ viết ưu việt, đáp ứng được nhu cầu của toàn dân cũng như ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước ta. II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Nêu một số ví dụ để minh hoạ cho các biện pháp Việt hoá từ ngữ Hán được vay mượn: -Việt hoá theo hình thức sao phỏng, dịch nghĩa ra tiếng Việt: Bô lão thành người cao tuổi, cẩm thạch thành đá hoa, chi lưu thành sông nhánh, ái quốc thành yêu nước,… -Việt hoá theo kiểu rút gọn, đảo lại vị trí, thay đổi yếu tố: Chính đại quang minh thành quang minh chính đại, chính thị thành đích thị, diệp lục tố thành diệp lục, dương dương tự đắc thành tự đắc, đại trượng phu thành trượng phu,… 2.Cần nêu được các ưu điểm của chữ quốc ngữ: sự đơn giản, thuận tiện, dễ viết, dễ đọc. Những ưu điểm này rõ ràng có tác dụng giúp cho việc phổ cập tiếng Việt được nhanh chóng, giúp cho quá trình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp không gặp khó khăn và do đó, nó có khả năng thúc đẩy các lĩnh vực khác của đời sống xã hội phát triển. 3.Tìm ví dụ để minh hoạ cho ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học: -Phiên âm thuật ngữ khoa học của phương Tây: Base —>Bazơ (ba-dơ), cosin —>côsin, Container —>công-te-nơ, laser —>la-de,… -Vay mượn thuật ngữ khoa học, kĩ thuật qua tiếng Trung Quốc: Bán dẫn, biến trở, nguyên sinh, côn trùng học, đa bội,… -Đặt thuật ngữ thuần Việt (dịch ý hoặc sao phỏng): Giống loài (thay cho chủng loại), âm khép, âm rung, máy tính, cà vạt, giây chứng minh (thay cho chứng minh thư),…
Khái quát lịch sử Tiếng Việt – Ngữ văn 10
637
Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945 Hướng dẫn Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945 Nội dung I. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945 Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa: Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hiện đại hóa: – Sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, đến đàu thế kỷ XX xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc: nhiều đô thị, thị trấn ra đời; nhiều thành phần xã hội mới xuất hiện với đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã đòi hỏi một thứ văn chương mới. – Văn hóa Việt Nam mở rộng tiếp xú văn hóa phương Tây – Chữ quốc ngữ phổ biến rộng rãi. – Xuất hiện những hoạt động kinh doanh văn hóa, làm cho nghề in, nghề xuất bản, nghề làm báo phát triển. Khái niệm hiện đại hóa: Hiện đại hóa được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện dại thế giới. Các bước của quá trình hiện đại hóa: Giai đoạn 1: (từ đầu thế kỉ XX đến 1920) – Chữ quốc ngữ phổ biến rộng rãi. – Báo chí, dịch thuật phát triển. – Thành tựu chủ yếu của văn học giai đoạn này là thơ văn của các chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… Sáng tác văn học giai đoạn này mặc dù đã có đổi mới về nội dung, tư tưởng nhưng thể loại, ngôn ngữ… vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. Giai đoạn 2 (1920 – 1930) – Một số tác phẩm có giá trị xuất hiện như tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, thơ của Tản Đà, truyện ngắn của Phạm Duy Tốn… – Truyện kí của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp có tính chiến đấu cao và bút pháp hiện đại. – Đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, yếu tố của văn học trugn đại vẫn tồn tại ở mọi thể loại từ nội dung đến hình thức. Giai đoạn 3 (1930 – 1945) – Nở rộ truyện ngắn và tiểu thuyết viết theo lối mới. Khác với cách viết trong văn học cổ, tư cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện: tiểu thuyết của tự lực văn đoàn, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, … – Thơ ca đổi mới sâu sắc ở cả phương diện nội dung (cách nhìn, cách cảm xúc mới mẻ đối với con người và thế giới) và nghệ thuật (phá bỏ lối diễn đạt ước lệ, những quy tắc cứng nhắc, công thức gò bó). – Kịch nói, phóng sự, phê bình văn học xuất hiện. – Công cuộc hiện đại háo được hoàn tất. – Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển: Bộ phận văn học công khai: Do khác nhau về quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ nên bộ phận văn học công khai lại phân hóa thành nhiều xu hướng, nổi bật là: – Lấy con người làm trung tâm đề cao cái tôi cá nhân – Đề tài tình yêu, thiên nhiên, quá khứ… – Thành tựu: thơ mới, tiểu thuyết của Tư Lục văn đoàn, truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh,… Văn học hiện thực: – Phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, phản ánh tình cảnh khốn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức với một thái độ cảm thông sâu sắc. – Các nhà văn thường đề cập đến chủ đề thế sự với thái độ phê phán trên tinh thần dân chủ và nhân đạo. – Thành tựu: truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao v.v.. Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. v.v… Bộ phận văn học không công khai: – Là tiếng nói của chiến sĩ và quần chúng nhân dân tham gai phong trào cách mạng. – Quan niệm: thơ văn là một thứ vũ khí sắc bén chiến đấu chống kẻ thù, truyền bá tư tưởng yêu nước. – Thành tựu: thơ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu,… – Văn học phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng: – Biểu hiện: sự phát triển về số lượng tác giả, tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học. – Nguyên nhân: +Do sự thúc bách của thời đại. +Do sức sống nội tại cảu nền văn học dân tộc +Do sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân +Văn chương trở thành hàng hóa, viết văn trở thành nghề để kiếm sống. Thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945: – Về nội dung: – Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học: +Các thể loại văn xuôi phát triển mạnh, nhất là tiểu thuyết và truyện ngắn. Các thể loại mới như phóng sự, bút ký, tùy bút, kịch nói đều đạt được thành tựu. +Tiểu thuyết: Hồ Biểu Chánh, Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng… +Truyện ngắn phong phú và đặc sắc: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam,… +Phóng sự, kịch, tùy bút với nhiều tác phẩm có gái trị. +Thơ ca thoát khỏi những quy tắc chặt chẽ của thơ ca trung đại mới với cái tôi cá nhân đầy cảm xúc: Tản Đà, Xuân Diệu, Hồ Chí Minh, Tố Hữu,… Câu hỏi gợi ý: 1. Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945 2. Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945 có sự phân hóa phức tạp thành nhiều bộ phận, nhiều xu hướng như thế nào? Nêu những nét chính của mỗi bộ phận, mỗi xu hướng văn học đó. 3. Trình bày nguyên nhân của tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng của văn học thời kì từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945. 4. Trình bày những thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến cách mạng tháng tám năm 1945.
Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng tám năm 1945
1,072
Khái quát về đề văn nghị luận xã hội ôn thi THPTQG Ngữ Văn Hướng dẫn Văn nghị luận xã hội ôn thi THPTQG Ngữ Văn I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản quan trọng và phổ biến trong đời sống và trong học thuật. Văn bản nghị luận được dùng để trực tiếp trình bày, phát biểu các tư tưởng, quan điểm bằng luận cứ và lập luận trước một vấn đề đặt ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, thái độ, lập trường, hành động nào đó, hoặc hướng tói giải quyết những vấn đề trong thực tế đời sống. Ở nhà trường THCS và THPT, học sinh (HS) được học hai dạng nghị luận chính: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Khác với nghị luận văn học chỉ bàn về các vấn đề văn học, nghị luận xã hội bàn về một lĩnh vực rộng lớn, gồm hai nhóm đề tài: nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một sự việc, hiện tượng đòi sống. Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bài nghị luận trình bày nhận thức, quan điểm của người viết về những vấn đề thuộc tư tưởng, đạo lí có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống xã hội, con người. Các vấn đề tư tưởng, đạo lí đó thường được đúc kết trong các câu tục ngữ, danh ngôn, châm ngôn, khẩu hiệu… Đề tài nghị luận thuộc lĩnh vực này vô cùng phong phú, bao gồm các vấn đề: lí tưởng, hoài bão, mục đích sống; tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc; lòng khoan dung, nhân ái; đức tính trung thực, dũng cảm, khiêm tốn; thói ích kỉ, vô cảm, vụ lợi, ba hoa, chuộng hình thức, chuộng bằng cấp;… Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống là những hình thức nghị luận phổ biến, quen thuộc. Phạm vi bàn luận thuộc lĩnh vực này cũng hết sức đa dạng, bao gồm các vấn đề như: tấm gương người tốt việc tốt; tai nạn giao thông; ô nhiễm môi trường; dịch bệnh; nạn chặt phá rừng; bạo lực gia đình, bạo lực học đường; nghiện ma tuý, nghiện game; bệnh thành tích; tiêu cực trong học tập và thi cử; lười biếng, đua đòi, thất hứa, nói tục;… Thông qua việc bàn luận và tạo lập văn bản nghị luận về những vấn đề xã hội, HS có điều kiện mở rộng vốn sống, vốn hiểu biết về xã hội, cuộc đời, con người; nâng cao ý thức, trách nhiệm đối vói bản thân và cộng đồng; rèn luyện bản lĩnh, tinh thần tự chủ, khả năng ứng xử nhanh nhạy trước nhũng vấn đề phức tạp đang đặt ra trong cuộc sống; phát triển khả năng tư duy logic, tư duy phê phán và tư duy sáng tạo. Câu hỏi / đề bài nghị luận xã hội trong đề thi Trung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn nhằm: – Kiểm tra kiến thức, sự hiểu biết, độ nhạy cảm của HS trước những vấn đề tư tưởng đạo đức, lối sống; những vấn đề có tính thời sự, bức xúc về chính trị, xã hội, văn hoá, … đã và đang diễn ra trong đời sống; – Đánh giá khả năng tư duy logic, tư duy phản biện xã hội; khả năng lập luận, giải quyết vấn đề và ý thức, trách nhiệm của HS đối với những vấn đề đặt ra; – Đánh giá kĩ năng diễn đạt, kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong việc tạo lập một văn bản nghị luận đảm bảo tính chính xác, mạch lạc và thuyết phục. III. NHẬN DIỆN DẠNG THỨC CÀU HỎI / ĐỀ BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Câu hỏi / đề bài nghị luận xã hội thường có dạng thức chung gồm hai phần: – Nêu vấn đề cần nghị luận bằng việc đưa ra một hoặc hơn một nhận định, quan điểm, ý kiến, câu chuyện, sự việc, đoạn vần, văn bản, hình ảnh…; – Nêu mệnh lệnh, yêu cầu người viết bàn luận bằng việc bình luận hoặc phát biểu suy nghĩ, ý kiến, quan điểm của mình về nhận định, quan điểm, ý kiến, câu chuyện, sự việc, đoạn văn, văn bản, hình ảnh,… đó. Tuy nhiên, có khá nhiều cách diễn đạt khác nhau về yêu cầu, mệnh lệnh của đề bài / cầu hỏi. Có thể kể ra một số hình thức diễn đạt như sau: + Suy nghĩ của anh (chị) về… + Anh (chị) hãy bình luận… + Anh (chị) có tán thành quan điểm… không? Vì sao? + Anh (chị) tán thành hay phản đối quan điểm cho rằng…? Vì sao? + Ý kiến / quan điểm của anh (chị) về vấn đề … + Hãy viết một bài văn… chữ bàn về … + Theo anh (chị), ý kiến / sự việc trên đúng hay sai? Vì sao? + Có hai ý kiến khác nhau về… Anh (chị) tán thành quan điểm nào? Hãy làm sáng tỏ quan điểm và lập luận của mình bằng các ví dụ từ sách báo, các trải nghiệm cá nhân hoặc các quan sát của anh (chị) trong cuộc sống. + Theo anh (chị), có nên / cần…? Hãy viết một bài luận để phát biểu / thể hiện / trình bày quan điểm của anh (chị) về vấn đề này. + Hãy viết bài luận dưới dạng một bức thư để thuyết phục… từ bỏ … + Hãy viết một bài luận khuyên… Ví dụ: Câu dẫn / vấn đề cần bàn luận: Có ý kiến cho rằng: “Tiền là chìa khoá vạn năng, có tiền là có tất cả”. Các câu lệnh có thể có: + Anh (chị) có tán thành quan điểm trên hay không? Vì sao? + Ý kiến / quan điểm-của anh (chị) về vấn đề trên? + Anh (chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về vấn đề trên. + Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên. + Hãy viết một bài văn khoảng 600 chữ bàn về vấn đề trên. Tiền là chìa khoá vạn năng, có tiền là có tất cả; Tiền không phải là tất cả. Anh (chị) tán thành quan điểm nào? Hãy làm sáng tỏ quan điểm và lập luận của mình bằng các ví dụ từ sách báo, các trải nghiệm cá nhân hoặc các quan sát của anh (chị) trong cuộc sống. + Theo anh (chị), tiền tài có phải là điều kiện cơ bản nhất để có hạnh phúc? Hãy viết một bài luận phát biểu / thể hiện / trình bày quan điểm của anh (chị) về vấn đề này. … IV. YÊU CẦU CHUNG ĐỐI VỚI BÀI LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Để tạo lập được một bài văn nghị luận xã hội tốt, người viết cần đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: – Phải thể hiện được sự hiểu biết, vốn sống, những trải nghiệm của bản thân về vấn đề được nêu ra bàn luận; – Biết nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau; biết phân tích để nhận ra đúng / sai, phải / trái, hay / dở; biết phê phán cái sai, cái cũ kĩ, lạc hậu; biết ngợi ca, ủng hộ cái đúng, cái tiến bộ; – Đề xuất được những ý kiến, quan điểm, giải pháp riêng của mình cho vấn đề đó; – Biết bố cục bài văn mạch lạc; lập luận chặt chẽ, logic, sắc bén; sử dụng các thao tác nghị luận phù họp; biết lựa chọn và sử dụng những dẫn chứng tiêu biểu, sinh động để củng cố, bảo vệ quan điểm, lập luận của mình.
Khái quát về đề văn nghị luận xã hội ôn thi THPTQG Ngữ Văn
1,292
Khát vọng của một tuổi thơ đau khổ (Về truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Khát vọng của một tuổi thơ đau khổ Tuổi trẻ chúng ta, ai đã từng cắp sách đến trường hẳn đều biết đến H.C. An-đéc-xen, người viết truyện kể cho trẻ em nổi tiếng thế giới. Ông là nhà văn Đan Mạch, sống và viết trong thế kỉ XIX (1805 – 1875). Bạn đọc khắp năm châu đã rất quen thuộc với các tác phẩm của ông như Nàng tiên cá, Bầy chim thiên nga, Bộ quần áo mới của hoàng đế, Cô bé bán diêm,… Truyện của An-đéc-xen nhẹ nhàng, trong trẻo, toát lên lòng thương yêu con người – nhất là những người nghèo khổ và niềm tin, khát vọng những điều tốt đẹp nhất trên thế gian này sẽ thuộc về con người. Truyện Cô bé bán diêm đưa người đọc chúng ta vào khung cảnh một đêm giao thừa giá rét ở đất nước Đan Mạch, Bắc Âu cách đây hơn một trăm năm. Em bé gái ấy nhà nghèo, mồ côi mẹ, bà vừa mất, bố sai đi bán diêm kiếm từng đồng xu nhỏ độ thân. Suốt cả ngày cuối năm, cho đến đêm giao thừa, em chẳng bán được bao diêm nào. Vừa đói, vừa rét, em bé thu mình lại trong xó tường của một toà nhà lớn để… ước ao, mơ tưởng. Những khát vọng tuổi thơ ấy cứ sáng lên, sáng lên đẹp đẽ, kì ảo làm sao và đau khổ làm sao! Thể hiện điều này, nhà văn đã xây dựng những hình ảnh đối lập, thực tế và mộng tưởng, mộng tưởng và thực tế cứ đan cài vào nhau, tranh chấp với nhau, lôi cuốn người đọc… Phần mở đầu tác phẩm (phần này không có trong đoạn trích của sách Ngữ văn 8) kể rõ cảnh ngộ éo le của cô bé bán diêm với những chi tiết đối lập rõ nét: “Trời đông giá rét, tuyết rơi”, nhưng “cô bé đầu trần, chân đất” bước đi. Ngoài đường lạnh buốt và tối đen, nhưng “cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn”. Cô bé “bụng đói”, cả ngày chưa ăn uống gì, mà “trong phố sực nức mùi ngỗng quay”,… Những chi tiết tương phản đó khiến người đọc thấy tình cảnh em bé thật tội nghiệp, đáng thương. Cái rét, cái đồi, công việc kiếm sống giày vò, đày đoạ em. Em đã rét, đã khổ, có lẽ càng rét khổ hơn khi thấy mọi nhà rực ánh đèn. Em đã đói, có lẽ càng đói hơn khi ngửi thấy mùi ngỗng quay sực nức… Đi vào đoạn trích trong sách giáo khoa, từ câu mở đầu “Cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn…” đến câu “… đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”, người đọc thấy ngay tình cảnh khốn khó của cô bé. Năm xưa, “khi bà nội hiền hậu của em còn sống”, “em được đón giao thừa trong căn nhà xinh xắn… có dây trường xuân bao quanh, em đã sống những ngày đầm ấm”. Giờ đây, giữa đêm giao thừa này, “em ngồi nép trong một góc tường, thu đôi chân vào người, mỗi lúc càng thấy rét hơn”… Đây cũng là hai hình ảnh tương phản, đối lập giữa hiện tại và quá khứ. Trước kia, cô bé được sống hạnh phúc bao nhiêu thì bây giờ bơ vơ, côi cút bấy nhiêu. Cả nhà, chỉ có bà là người thương yêu em nhất, là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất giờ không còn nữa. Trước kia, đêm giao thừa, em được vui chơi quây quần trong nhà, giờ em phải bơ vơ ngoài phố kiếm sống. Mường tượng hình ảnh cô bé bán diêm côi cút, đói khổ giữa đêm giao thừa, ta chợt thấy nhớ mấy câu thơ trong bài Mồ côi của Tố Hữu: Đi tìm tổ bơ vơ Quanh nẻo rừng hiu quạnh Lướt mướt dưới dòng mưa.. Cảnh ngộ em bé Đan Mạch trong đêm giao thừa vẫn phải đi kiếm sống tuy có khác cảnh ngộ em bé Việt Nam mồ côi tìm mẹ, nhưng đọc văn, nhớ lại thơ, hình dung thân phận hai kiếp người thơ dại ấy, ai mà chẳng não lòng, rớm lệ! Phần thứ hai của câu chuyện, từ câu “Chà! Giá quẹt một que diêm…” đến “Họ đã về chầu Thượng đế”, kể về những lần cô bé quẹt diêm đốt lửa, đốt sáng lên những ước mơ, khát vọng. Ở phần này, những hình ảnh đối lập, tương phản càng lúc càng gay gắt, thực tế và mộng tưởng, cuộc đời và ảo ảnh cứ sóng đôi hiển hiện, đan cài, tranh chấp nhau, nâng dần lên, bay cao lên… Cô bé quẹt que diêm thứ nhất: diêm sáng rực như than hồng. Em tưởng chừng như “đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng… Lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Nhưng, em vừa duỗi chân ra thì “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Niềm vui của em cũng vụt tắt. Em bần thần nghĩ đến nhiệm vụ bán diêm và lời cha quở mắng. Cô bé quẹt que diêm thứ hai: “Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay… Ngỗng ta nhảy ra khỏi dĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sét cắm trên lưng, tiến về phía em bé”. Nhưng diêm vụt tắt. Trước mặt em chỉ còn là những bức tường dày đặc và lạnh lẽo. Phố xá vắng teo. Mấy người khách qua đường vội vã hoàn toàn lãnh đạm với em. Em bé cố tìm lại ngọn lửa để tiếp tục sưởi ấm, xua đi bóng tối và giá lạnh. Em quẹt que diêm thứ ba: Một cây thông Nô-en hiện lên, “Cây này lớn và trang trí lộng lẫy hơn cây thông mà em đã được thấy năm ngoái qua cửa kính một nhà buôn giàu có. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực…”. Nhưng diêm vụt tất. Tất cả các ngọn nến bay lên, bay lên mãi, rồi biến thành những ngôi sao trên trời. Từ lần quẹt diêm thứ nhất, đến lần thứ hai, thực tế đã xoá nhoà đi mộng tưởng của em bé. Nhưng đến ngọn nến thứ ba thì dường như mộng tưởng đã vươn dậy, cố vượt lên trên thực tế. Vì thế, sau khi diêm tắt, em bé thấy tất cả các ngọn nến bay lên, biến thành những ngôi sao trên trời. Dường như em bé đang ngẩng đầu nhìn sao trời, rồi nhớ tới người bà thân yêu. Em liền quẹt luôn que diêm thứ tư thì… bà em hiện lên. Em sung sướng reo lên, trò chuyện với bà, xin bà cho đi theo…”cho cháu về với bà”. Có thể đến phút này, cô bé tội nghiệp ấy đã sức tàn, lực kiệt đang gục xuống cạnh bức tường giá buốt. Em lịm dần, lịm dẩn và trôi vào trong một giấc mơ đẹp. Diêm vụt tắt. Ánh sáng, hơi ấm vụt tắt, “ảo ảnh” biến mất. Nhưng em bé bừng tỉnh, như ngọn lửa trước khi tắt hẳn đã sáng loé lên. Thế là cô bé quên hết mọi thực tế phũ phàng, quên nhiệm vụ bán diêm, quên sự quở mắng của cha. Những que diêm thứ năm, thứ sáu, thứ bảy… và tất cả những que diêm trong bao được đốt sáng lên, nối ánh sáng, chiếu sáng như ban ngày. Em bé thực sự được sống trong một giấc mơ kì diệu. Em thấy “bà em to lớn và đẹp lão… Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ họ nữa…”. Rõ ràng, mỗi lần quẹt diêm, đốt lửa là một lần cô bé đói khổ kia ước mơ, khát vọng. Những ước mơ của em thật giản dị và ngây thơ, gắn liền với tuổi thơ trong sáng và nhân hậu của em. Em khao khát có cuộc sống vật chất đầy đủ, được hưởng những thú vui tinh thần, được sống trong hạnh phúc gia đình ấm êm, được bà – người thân yêu nhất – chăm sóc, chiều chuộng. Đó cũng là những ước mơ khát vọng chính đáng, muôn đời của các em bé nói riêng và của con người nói chung. Thể hiện khát vọng, ước mơ của một em bé cụ thể trong câu chuyện này, nhà văn Đan Mạch ấy hẳn đã cháy lòng mong muốn các em bé và mọi người, trước hết là những kiếp người đói khổ, vượt qua được những thực tế phũ phàng để vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có miếng ăn no đủ, có áo ấm, được yêu thương, chăm sóc. Mỗi lần em bé quẹt diêm đốt lửa dường như cũng là một lần ngọn lửa tin yêu, khát vọng trong trái tim nhà văn cháy lên, sáng lên, động viên con người, giục giã con người,…
Khát vọng của một tuổi thơ đau khổ (Về truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,557
Khát vọng tự do – cảm hứng của những bài thơ giai đoạn 1930 – 1945 của văn học nước nhà – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Khát vọng tự do Đề bài:Khát vọng tự do là một trong những cảm hứng không ít trong những bài thơ giai đoạn 1930 – 1945 của văn học nước nhà. Dựa vào một số bài thơ của Thế Lữ và Tố Hữu mà em đã học, hãy chứng minh điều đó. Bài làm Khát vọng tự do luôn là đề tài lớn của các nhà thơ, nhà văn trong giai đoạn 1930 – 1945. Nó là sự thôi thúc, niềm trăn trở của nhân dân ta nói chung và của các nhà thơ nói riêng. Mỗi nhà thơ bộc lộ niềm khao khát tự do của mình theo một cách, làm cho tiếng nói tự do càng trở nên phong phú. Thế Lữ và Tố Hữu, bằng một số bài thơ, cũng đã góp những tiếng thơ khao khát tự do thật tha thiết. Giữa cảnh đất nước nô lệ, Thế Lữ đã mượn hình ảnh con hổ, vị chúa tể của rừng xanh bị giam cầm trong vườn bách thú để nói lên niềm khao khát tự do, nuối tiếc một quá khứ huy hoàng của mình trong bài Nhớ rừng. “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”. “Khối căm hờn” đó ngày một lớn dần, cùng với nỗi “nhớ rừng”, nhớ những kỉ niệm vàng son mà giờ chỉ còn là trong kí ức thôi: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối”. Dòng hồi tưởng của con hổ được thể hiện qua những kỉ niệm huy hoàng, kết hợp với các câu hỏi tu từ làm bài thơ trở nên sâu sắc hơn. Các từ “nào đâu”, “đâu những” được Thế Lữ dùng như để chỉ những kỉ niệm đã tuột khỏi tay rồi, không gì lấy lại được. Nỗi nuối tiếc đó càng lớn dần lên, nhớ thời, xưa, ta là chúa tể sơn lâm, nhớ những ngày mưa chuyển bốn phương, những tiếng chim ca, tiếng bước chân mạnh mẽ… Tất cả, tất cả như va đập trong trí nhớ của con hổ, và kiêu hãnh làm sao khi: Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật”. Vậy mà giờ đây, giữa lồng cũi, ta chỉ làm “trò mua vui cho thiên hạ”. Ôi, thời xa xưa…! Nỗi nuối tiếc, niềm khát khao tự do lại được chúa sơn lâm gầm lên ở câu kết: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”. Thời “oanh liệt” ấy chẳng còn đâu nữa, chỉ còn lại hổ với tiếng gầm thét đòi tự do thật quá mãnh liệt. Hình ảnh con hổ bị cầm tù phải chăng chính là hình ảnh của cả một dân tộc đang sống trong cảnh tù đày, nô lệ? Tiếng gầm đó chính là niềm khát vọng, thôi thúc con người tìm đến chính mình ở một thế giới bình đẳng, bác ái. Nhà thơ Thế Lữ đã thành công khi chọn hình ảnh con hổ bị tù đày để nói lên khát vọng rực cháy muốn tìm tự do của cả một lớp người. Bằng sự cảm nhận sâu sắc của một người tù phải chịu cảnh sống mất tự do, Tố Hữu đã viết: “Khi con tu hú gọi bầy” Tiếng gọi vang dội từ bên kia song sắt, nhà thơ như cảm nhận được hè về trải dài trên những đồng cỏ, những ruộng lúa, và bầu trời tự do: “Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…” Ước gì nhà thơ có thể như những con chim kia, có thể tung cánh khắp bốn phương trời. Nhưng mọi sự chỉ là cảm nhận mà thôi, bốn bức tường, song sắt nhà tù đã ngăn cách nhà thơ với thế giới bên ngoài. Sự thiếu tự do, ụất hận trào dâng: “Hè ôi!”, câu thơ như than vãn về một sự việc không thể thực hiện được: “Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! ” Hai câu thơ thể hiện sâu sắc tâm trạng của nhà thơ, khi sống thiếu tự do, con người có thể “chết uất thôi”. Tiếng chim tu hú vẫn cứ kêu. Mở bài và kết bài đều là tiếng chim tu hú râm ran gọi hè. Nhưng, câu mở diễn ra với một không gian tự do còn câũ kết lại chính là tiếng gọi của tự do. Con chim vẫn cứ kêu lên, dù chỉ là khắc khoải, nhưng nó vẫn cố bám lấy một tia hi vọng, một tiếng “tự do”. Nếu như nhà thơ Thế Lữ rất thành công khi mượn hình tượng con hổ thì Tố Hữu cũng gây được ấn tượng không nhỏ trong người đọc về hình ảnh con chim sẻ bé nhỏ trong bài Con chim của tôi. Con chim sẻ không to lớn, không đầy sức mạnh như vị chúa sơn lâm nhưng nó cũng cần có tự do. Và nó đã gục chết khi bị giam cầm trong chiếc lồng chật hẹp. Ngày hôm qua, khi chưa bị giam cầm, “nó hãy còn bay nhảy”, vậy mà “chỉ một ngày giam đã chết rồi”. Tác giả đã nói lên băn khoăn, day dứt của mình qua những câu hỏi tu từ sâu sắc. Nếu ở khổ thơ đầu là lời băn khoăn thì ở khổ thơ thứ hai là lời tự vấn: Nỗi băn khoăn dần chuyển thành lời day dứt của một kẻ tù mà không nhạy cảm với sự tù. Và cái chết của con chim nhỏ đã được giải thích ở khổ thơ sau: nó chết vì thiếu “mây gió”, không được “uống ánh trời”. Ở trong tù, con chim nhỏ không phải kiếm ăn, người tù đã nhường cơm cho nó. Nhưng không gì có thê thay thế được tự do. Bài thơ với những câu hỏi tu từ láy đi láy lại như nhức nhối, đớn đau vì sự “vỡ nhẽ” dần dần cái giá trị vô giá của tự do. Bởi vì mất tự do thì ngay đến con vật nhỏ bé cũng không sống nổi huống hồ là con người. Người ta không chỉ cần tự do cho cuộc sống vật chất mà hơn thế nhiều, tự do cho cuộc sống tinh thần. Thơ ca giai đoạn 1930 – 1945 này đã xuất hiện nhiều bài thơ nói lên khát vọng tự do đến cháy bỏng của mỗi người dân Việt. Niềm khát khao tự do ấy cũng được thể hiện khá thành công trong các tác phẩm Nhớ rừng (Thế Lữ), Con chim của tôi, Khi con tu hú (Tố Hữu). Đặng Linh Hương (Trường THCS Trưng Vương) >> Xem thêm Về lời dạy của Bác Hồ trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Khát vọng tự do
Khát vọng tự do – cảm hứng của những bài thơ giai đoạn 1930 – 1945 của văn học nước nhà – Bài văn hay lớp 8
1,136
Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn Hướng dẫn Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn Mỗi ngày, tôi vẫn thường dành ra 30 phút suy ngẫm về những việc đã xảy ra trong ngày hôm nay, để suy xét xem việc gì đúng, việc gì sai. Trong lúc những suy nghĩ đang miên man, tôi chợt giật mình nhớ đến câu nói của Hồn Trương Ba trong bài “Hồn Trương Ba da Hàng Thịt” mà mình đã học trong tiết văn sáng nay. Vở kịch do nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ dựng lên. Trương Ba bị chết oan, Đế Thích đã giúp ông được sống lại bằng cách nhập hồn vào xác Hàng Thịt vừa mới chết. Nhưng sau những đảo lộn và trái ngang của cuộc sống mới, Trương Ba đã không chịu đựng được và buộc phải lên tiếng: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Một cơ thể nhưng hai số phận. Một là xác Hàng Thịt đã chết, hai là Hồn Trương Ba còn sống. Nhưng điều đáng nói là giữa hai thân phận này có tính cách và quan điểm sống trái ngược nhau hoàn toàn. Một bên hướng đến những lý tưởng sống cao đẹp, còn một bên lại chìm đắm trong những đam mê trần tục tầm thường. Hai người không thống nhất được nhau. Thế nên câu nói của Trương Ba không những ước muốn của chính bản thân ông lúc này mà còn là một bài học sâu sắc cho tất cả mọi người cùng nghĩ suy. Câu nói trên vừa là mệnh lệnh vừa là lời khẩn cầu mà Trương Ba nói với Đế Thích sau bao nhiêu ngày chịu đựng cái xác thô tục và tầm thường của anh Hàng Thịt. Trương Ba vốn tính thanh cao, luôn hướng đến những điều tốt đẹp. Ngược lại, Hàng Thịt lại có những thói xấu như hay đánh đập vợ, thích ăn uống rượu thịt… Trong khoảng thời gian trú ngụ trong xác anh ta, Trương Ba đã gặp biết bao rắc rối: vợ Hàng Thịt đòi chồng, gia đình chưa quen nên cũng chưa thể chấp nhận một người có tính cách phàm phu tục tĩu là Trương Ba ở trong nhà. Mọi thứ bị đảo lộn. Dần dà, Hồn Trương Ba đôi khi không thể khống chế được những ham mê tầm thường của xác thịt. Ông nhận ra tâm hồn trong sáng và thanh cao của mình đang bị xâm lấn bởi những thú vui của xác Hàng Thịt. Nhiều lần ông tự vấn cái xác nhưng càng suy nghĩ, ông càng thất vọng. Bởi mình không đủ sức chống lại những thói hư tậ xấu ấy hay tại những hấp dẫn của chúng quá mạnh khiến ông không thể nào chối bỏ được? Dù là gì đi nữa, Trương Ba lúc này cũng chỉ khát một là được trở về làm chính mình, hai là chết hẳn không còn tồn tại nữa. Thế nên ông khẩn khoản với Đế Thích: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Tôi muốn được là tôi vẹn toàn”. Họ sống bên trong một đằng bên ngoài một nẻo vì những lý do vô vàn khác nhau. Nhưng suy cho cùng, tất cả đều là dối trá và giả tạo. Và hậu quả của nó là một tâm hồn bị xáo trộn, một con người nhưng sống cho nhiều thân phận khác nhau. Kết quả được gì chứ? Lương tăng? Nhiều tiền bạc? Nhưng cái cốt yếu, cái nguyên bản của bản thân mình đâu mất rồi? Tiền tài có ý nghĩa gì không khi phải sống trong giả tạo? Lừa người và lừa cả chính mình. Nhưng làm thế nào để “tôi” được là “tôi toàn vẹn”? Như ai đó đã từng nói “kẻ thù lớn nhất chính là bản thân mình” chứ không phải bất kỳ một ai khác. Thật vậy, vì bản thân ham mê danh lợi, tiền tài nên không thể thẳng thẳn biểu lộ những chính kiến của mình, mà ngược lại luôn khúm núm nịnh bợ kẻ đương quyền để được “thơm lây”. Thơm đâu chẳng thấy, chỉ thấy trước mắt là một con người bị tha hóa, bị biến chất. Vì vậy, để là “tôi toàn vẹn” cần có sự bản lĩnh rất cao ở mỗi người. Nếu như người con dâu kia thẳng thắn kiểm điểm bản thân mình, phân biệt phải trái, sống hòa hợp, công bằng với mọi người thì đâu có những chuyện rắc rối đôi co này nọ xảy ra. Và nếu anh nhân viên tự đi lên được bằng chính đôi chân của mình chứ không phải bằng những lời nịnh bợ thì vinh quang ấy mới thực sự xứng đáng và tỏa sáng. Nếu mỗi một người tự ý thức được bản thân mình, tự biết mình nên làm gì và không nên làm gì thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp biết mấy. Nhưng đâu phải ai cũng có bản lĩnh để chối bỏ những thứ đầy hấp dẫn như tiền, như bạc, như chức danh…
Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn
881
Khúc khải hoàn đầu tiên – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên xâm lược đời Trần, Thượng tướng Trần Quang Khải đã lập được nhiều chiến công to lớn. Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư. Bài thơ nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể Đường luật ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tuy tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn đầu tiên của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Trước thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa được đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng – thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán: Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hổ Hàm Tử quan. Thúi bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san. Và đọc bản dịch thơ của Trẩn Trọng Kim: Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thúi bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Bố cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầu: Chương Dương cướp giáo qiặc, Hàm Tử bắt quân thù. Tìm hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chỉ nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định để giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước (tháng 4 năm 1285), chiến thắng Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285). Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước – Hàm Tử – người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm hồn. Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú,… Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết, ở mỗi chiến thắng, cũng đúc lại bằng hai từ: “đoạt sáo” (cướp giáo), “cầm Hồ” (bắt quân Hồ). Cần chú ý câu thơ nguyên tác “đoạt sáo”. “Đoạt” nghĩa gốc là “lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ “cướp giáo” làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng, ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hoà, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động “đoạt sáo”, “cầm Hồ”. Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn ca. Xuống hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lai đất nước: Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài năng, sức lực. Đồng thời ông động viên quân dân “gắng sức, đồng lòng” phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết “Vạn cổ thử giang san” vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hoà với niềm tin, niềm hi vọng. Ba năm sau khi bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông), đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơ: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu. (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Phải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Thượng tướng Trần Quang Khải? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hào khí Đông A? Hào khí Đông A nghĩa là thế nào? Đông A là chiết tự tên họ Trần, gồm hai chữ: chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chỉ là tư tưởng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, XIII. Trở lại với bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu sắc, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như: “Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn”. Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả – người sống cách chúng ta gần một ngàn năm. Nếu ta gọi bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, thì cũng có thể coi Phò giá về kinh là khúc khải hoàn ca đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt Nam. Bằng hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bùi thơ Phò giá về kinh đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần.
Khúc khải hoàn đầu tiên – Bình giảng văn 7
1,511
Kiến thức không phải bỗng nhiên mà có – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Kiến thức không phải bỗng nhiên mà có Bài làm Người Trung Quốc đã từng quan niệm: “Nhân bất học, bất tri lí”, có nghĩa là người không học thì không hiểu nổi điều hay lẽ phải. Cuộc sống với rất nhiều điều vô cùng phong phú ở xung quanh ta, muốn biết được về chúng, ta phải nghiên cứu, mày mò, tìm hiểu…Vậy nên câu nói “Kiến thức không phải bỗng nhiên mà có” thật chí lí. Ta có thể lĩnh hội tiếp thu được kiến thức từ sách vở hoặc lời giảng của thầy cô giáo, người lớn tuổi, hoặc bạn bè hiểu biết hơn mình. Khi sinh ra, chưa có ai thông thái, giỏi giang. Theo quy luật của tự nhiên thì “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi”, rồi bập bẹ bi ba bi bô học nói. Từ khi cắp sách tới trường, được làm quen với sách vở mỗi người có sự hiểu biết hơn. Nhỏ nhất là biết được công lao sinh thành của cha mẹ, biết được màu sắc của cỏ cây, biết được sự thăng trầm của dân tộc. Lớn lao hơn là nắm bắt được những hiện tượng tự nhiên, những định lí, định luật, những ngành khoa học trên thế giới. Nếu thời gian cắp sách tới trường mà không chú ý nắm bắt kiến thức, không học hỏi điều hay lẽ phải, khi lớn lên sẽ không hiểu biết, chỉ là bộ óc rỗng có lớn mà không có khôn. Kiến thức còn được tích luỹ trong cuộc sống của mỗi con người qua quá trình sống và làm việc. Ngày xưa, khi đất nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu, con người chủ yếu lao động thủ công, người Việt Nam có quan niệm “Trăm hay không bằng tay quen”, nghĩa là chỉ cần làm nhiều là sẽ có kinh nghiệm, có sáng kiến. Giống như nhiều người nông dân không có trình độ học vấn mà vẫn tăng gia, chăn nuôi, cấy cày giỏi để thành giàu có. Ngày nay khi khoa học kĩ thuật phát triển, nhu cầu cuộc sống đòi hỏi nhiều hơn, không còn nhiều ngành nghề cần lao động thô sơ, thủ công. Con người đã sử dụng máy móc trong lao động để giảm thời gian và sức lực. Nếu không học tập, không hiểu biết, ta không thể áp dụng khoa học kĩ thuật vào cuộc sống lao động được. Công nghệ thông tin phát triển, bất kì ngành nào cũng cần máy vi tính để tiện theo dõi quản lí. Thanh niên, học sinh mà không kịp thời học tập, không sử dụng được máy vi tính sẽ không thể đáp ứng công việc. Hiện nay chúng ta đang ở thế kỉ XXI, thế kỉ của nền kinh tế hội nhập nên nếu không học sẽ không có kiến thức, không có chung tiếng nói. (Đơn giản trong một tập thể nhỏ mọi người chênh lệch trình độ sẽ rất khó hoà đồng). Từ xa xưa nhiều bậc danh nhân đã tự khẳng định tên tuổi, uy thế bằng kiến thức uyên thâm, đến nay vẫn được người đời khâm phục và ngưỡng mộ. Đó là các vị quan như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Lương Thế Vinh,… Bác Hồ là tấm gương sáng của chúng ta. Ngay từ nhỏ, sống trong hoàn cảnh đất nước là thuộc địa của thực dân Pháp, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã luôn có ý thức tìm hiểu xã hội, được cha cho theo học ở trường Quốc học Huế. Với lòng ham mê học tập, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành trở thành thầy giáo ở trường Dục Thanh (Bình Thuận). Do đọc sách nhiều, vốn hiểu biết về thế giới càng phong phú, Người ra nước ngoài học hỏi thêm kinh nghiệm đấu tranh giải phóng dân tộc. cả cuộc đời Bác là quá trình học tập không ngừng, nhờ thế mà Bác có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt. Nhờ lòng ham mê học tập, Bác đã trở thành người có học vấn uyên thâm, có năng lực lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đổ thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, dân tộc Việt Nam được sống trong hòa bình, tự do. Ngoài ra, cũng phải kể đến các thầy, cô giáo, nhà khoa học, bác sĩ,… nếu lúc còn trẻ họ mải chơi không chú ý lĩnh hội kiến thức thì làm sao có vốn kiến thức sâu rộng để truyền đạt cho thế hệ mai sau, làm sao tìm ra cách chữa bệnh, làm sao nghiên cứu để có những công trình vĩ đại?… Năm 2010, đánh dấu sự thành công của Giáo sư Ngô Bảo Châu với giải thưởng toán học danh giá thế giới – Giải thường Fields. Đó cũng là phần thưởng vô giá cho một tinh thần học tập miệt mài không ngừng nghỉ. Giáo sư Ngô Bảo Châu là một tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo và vươn lên trong học tập. Chính nhờ lòng say mê học, ông đã có vốn tri thức sâu rộng trên lĩnh vực toán học. Mọi thành quả của người đi trước được thế hệ sau tiếp nối và phát huy. Vì vậy, ai cũng cần phải có quá trình học tập để hiểu và nắm được những điều thiết yếu cơ bản nhất, có như vậy mới vững vàng trong cuộc sống, giải quyết công việc một cách khoa học. Tri thức là sức mạnh, con người có sức mạnh mới làm nên sự nghiệp. Từ xưa ông cha ta đã dạy: “Chưa học bò chớ lo học chạy”, có ý nhắc nhở con cháu phải từng bước nắm chắc kiến thức cơ bản, áp dụng hiệu quả vào công việc hằng ngày, luôn luôn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống để hiểu rõ lí thuyết hơn, có những sáng kiến mới và hay hơn. Bên cạnh việc học văn hoá, tu dưỡng đạo đức, con người vừa phải có tài vừa phải có đức; đem tài năng và đức độ của mình để hoàn thành tốt công việc, đem lại lợi ích cho tập thể, được mọi người quý trọng. Vì tri thức của nhân loại như biển cả bao la, nhận thức của con người lại như hạt cát nhỏ. Vậy nên yêu cầu tiếp thu kiến thức là một quá trình liên tục không ngừng nghỉ luôn có ý thức hoàn thiện bản thân bằng cách trang bị cho mình vốn kiến thức phong phú, tự tin bước vào đời. Xã hội phát triển không ngừng. Nếu không nắm bắt được kiến thức cần thiết sẽ bị lạc hậu. Còn gì tốt đẹp hơn nếụ mỗi học sinh, thanh niên chúng ta hiểu được rằng “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Thân Nhân Trung) mà có người tài thì phải xuất phát từ con đường chăm chỉ học tập, tích luỹ kiến thức với mục đích cao đẹp. Nhiều người cùng ham hiểu biết, đất nước ta sẽ phát triển, văn minh và tiến bộ. (Trường PTDL Lương Thế Vinh) >> Xem thêm Chứng minh tính chân lí trong lời khuyên của Hồ Chí Minh – tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Kiến thức không phải bỗng nhiên mà có
Kiến thức không phải bỗng nhiên mà có – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
1,246
Kê lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã kể hoặc xem trên màn ảnh Hướng dẫn Kê lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã kể hoặc xem trên màn ảnh Bài mẫu 1: Kể lại trận chiến ác liệt Mậu Thân năm 1968 của nhân dân ta Những câu thơ mang hào khí, tinh thần quyết chiến của những con người trẻ tuổi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Họ có thể đánh đổi cả thanh xuân, tuổi trẻ, cuộc đời mình, làm những việc tưởng chừng như không thể chỉ để hoàn thành sứ mệnh của cuộc đời mình: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bài làm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Những câu thơ mang hào khí, tinh thần quyết chiến của những con người trẻ tuổi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Họ có thể đánh đổi cả thanh xuân, tuổi trẻ, cuộc đời mình, làm những việc tưởng chừng như không thể chỉ để hoàn thành sứ mệnh của cuộc đời mình: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong dịp 30/4 vừa qua, tôi đã may mắn xem được bộ phim tài liệu về cuộc Tổng công kích – tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân (1968) của quân và dân ta thời kì chống Mĩ. Sau hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, sự tương quan lực lượng trên chiến trường miền Nam đã có sự thay đổi cho quân và dân ta. Đồng thời, lúc này ở Mĩ đang diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Mĩ (1968) với những mâu thuẫn nội bộ đang xảy ra, ta chủ trương mở một cuộc tiến công và nổi dậy trên quy mô toàn miền Nam, chủ yếu tập trung vào các đô thị nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân Mĩ, đánh sập chính quyền ngụy và buộc Mĩ phải đàm phán và rút quân về nước. Quân ta đã tập kích chiến lược vào hầu hết các đô thị trong đêm ngày 30 rạng sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968 (trong giao thừa Tết Mậu Thân), mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy. Qua ba đợt từ đêm 30 tháng 1 đến ngày 25 tháng 2; tháng 5 và tháng 6; tháng 8 và tháng 9 năm 1968 quân và dân ta ở miền Nam đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở 37/44 tỉnh, 4/6 đô thị lớn, 6/242 quận lị và ở hầu khắp các ấp chiến lược, các vùng nông thôn. Tại Sài Gòn, quân giải phóng đã tấn công vào các vị trí đầu não của địch, phá hủy một khối lượng lớn vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng. Quả thực, chính kẻ địch cũng không ngờ được cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trong khi thời khắc giao thừa vừa mới điểm. Có lẽ chính vì sự chủ quan ấy mà quân và dân ta mới nhanh chóng tiến hành được cuộc tiến công thần tốc ấy. Trong mưa bom bão đạn và khói súng mù trời, những người con anh dũng của mảnh đất hình chữ S lao ra mặt trận. Súng nổ bên tai, thần chết theo sát từng bước chân nhưng các anh, các chị vẫn vững vàng, kiên quyết không hề run sợ. Bao nhiều năm nằm gai nếm mật, cực khổ trăm bề mà gan không núng, chí không mòn, tất cả chỉ chờ đợi thời khắc phản công, tấn công bất ngờ khiến địch trở tay không kịp mà thôi. Kết cục của mọi cuộc chiến tranh phi nghĩa là kẻ đi xâm lược thất bại thảm hại còn nhân dân yêu chuộng hòa bình và đánh đổi tất cả trong cuộc chiến tranh vệ quốc sẽ giành được chiến thắng vẻ vang. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã làm lung lay ý chí xâm lược của quân Mĩ, buộc chúng phải tuyên bố phi Mĩ hóa chiến tranh xâm lược, đồng thời cũng châm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc. Quan trọng hơn nữa, Mĩ đã phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán ở Paris để bàn về việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trận chiến ác liệt, dữ dội và cam go này cũng đã mở ra một bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước ở Việt Nam. Chứng kiến thời khắc lịch sử hào hùng của dân tộc và sự anh dũng, oai hùng của thế hệ thanh niên, cha ông trong quá khứ, tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé biết bao. Họ đã hi sinh tất cả những gì mình có, chỉ để bảo vệ những gì họ yêu. Và trận chiến khốc liệt thời kì chống Mĩ, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Mậu Thân 1968 ấy chính là lời tuyên bố đanh thép của nhân dân Việt Nam trước những kẻ thù đang lăm le xâm lược nước ta. Giống như bài thơ thần mà Lý Thường Kiệt đã đọc bên sông Như Nguyệt năm nào: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” Bài mẫu 2: Kể lại trận chiến ác liệt chống quân Nguyên Mông Vua tôi nhà Trần đã bàn phương lược đánh giặc trên những con thuyền xuôi sông Hồng. Khi được Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư Trần Thủ Độ đã trả lời: ”Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Bài làm Trong thế kỷ XIII, dân tộc Việt Nam đã lập nên những chiến công vĩ đại: ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông xâm lược. Lần thứ nhất xảy ra vào tháng Giêng năm 1258. Bấy giờ, vua chúa Mông Cổ đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc. Bên cạnh những đạo quân ồ ạt đánh vào đất Tống, một đạo quân khoảng bốn vạn người, gồm kỵ binh Mông Cổ và binh lính người Thoán Vân Nam, do tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uryangquadai) chỉ huy, từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Vua Trần là Thái Tông đã đem quân lên chặn giặc ở Bình Lệ Nguyên, bên sông Cà Lồ. Nhưng sau đó, quân ta rút lui để bảo toàn lực lượng trước thế mạnh ban đầu của giặc. Quân ta rút lui, bỏ Thăng Long lại phía sau, nhưng Triều đình nhà Trần và quân dân vẫn không nao núng. Vua tôi nhà Trần đã bàn phương lược đánh giặc trên những con thuyền xuôi sông Hồng. Khi được Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư Trần Thủ Độ đã trả lời: ”Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Giặc đóng ở Thăng Long, trong một tòa thành trống, đã khốn đốn vì thiếu lương thực. Chúng cố đánh ra xung quanh để cướp lương thực, nhưng ở đâu cũng gặp sức chống trả mãnh liệt của nhân dân. Vì vậy mà chỉ sau 9 ngày, chúng đã vô cùng hốt hoảng. Đó chính là thời cơ để quân ta phản công. Ngày 29-1-1258, Vua Trần Thái Tông đã đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thăng Long. Quân địch bị đánh bật khỏi Kinh thành, theo đường cũ, chạy về Vân Nam. Trên đường tháo chạy, chúng còn bị quân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh cho tan tác. Sau lần thất bại đó, bọn vua chúa Mông Cổ vướng vào cuộc nội chiến (1259 -1264) và cuộc chiến tranh với Tống (1267-1279) nên chưa thể tiếp tục ngay cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mãi đến năm 1279, nhà Tống mất, toàn bộ đất Trung Quốc đã nằm dưới ách thống trị của nhà Nguyên, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt (Quibilai) mới chuẩn bị xâm lược nước ta bằng quân sự. Sau khi không thể khuất phục được Đại Việt bằng những sứ bộ ngoại giao, cuối năm 1284, đạo quân Nguyên Mông do Thoát Hoan (Toan), con trai Hốt Tất Liệt, và A Lý Hải Nha (Ariquaya) chỉ huy, đã lên đường, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Lần này, ngoài cánh quân lớn của Thoát Hoan đánh vào mặt Lạng Sơn, Vua Nguyên còn sai Nạp Tốc Lạt Đinh (Nasirud Din) đem một cánh quân từ Vân Nam đánh vào mặt Tuyên Quang, và ra lệnh cho Toa Đô (Sogatu) đem đạo quân còn đóng ở Bắc Chămpa, đánh vào mặt Nam của Đại Việt. Sau một vài trận đánh chặn giặc ở mặt Lạng Sơn và Tuyên Quang, trong tháng 2/1285, quân ta lại rút lui và lần nữa bỏ trống Thăng Long, kéo về mạn Thiên Trường và Trường Yên (Ninh Bình). Và để tránh cái thế bị kẹp vào giữa các gọng kìm của giặc, đại quân và Triều đình chờ cho cánh quân của ba Đô tiến đến Trường Yên (Ninh Bình) thì rút vào Thanh Hóa. Trong khi một bộ phận lớn quân chủ lực rút, thì khắp nơi, quân địa phương và dân binh các lộ, phối hợp với các cánh quân nhỏ của Triều đình để lại đã không ngừng tập kích, tấn công vào quân địch ở vùng bị chiếm đóng. Kế hoạch ”vườn không nhà trống” được toàn dân thực hiện. Giặc đóng quân phân tán, thiếu lương thực, có nguy cơ bị tiêu diệt. Mùa hè đến, lại giáng lên đầu chúng những tai họa mới. Sử Nguyên chép: “Bệnh dịch hoành hành… Nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại… “. Thời cơ phản công của quân ta đã tới. Tháng 5/1285, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân tiến ra Bắc. Kế hoạch diệt địch như sau: Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải và một số tướng lĩnh được giao nhiệm vụ diệt địch trên phòng tuyến sông Hồng, còn Hưng Đạo Vương, đem quân vòng qua vùng Hải Đông, tiến lên Vạn Kiếp, chặn đường tháo chạy của địch. Cục diện chiến tranh xảy ra đúng như dự liệu: cuối tháng 5-1285, Trần Quang Khải cùng với Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản đã đánh tan giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, rồi tiến lên giải phóng Thăng Long. Thoát Hoan hoảng hốt, rút khỏi Thǎng Long, chạy về phía Vạn Kiếp. Đến đây, bọn giặc lọt vào trận địa mai phục của Trần Hưng Đạo, chúng bị thương vong rất nhiều. Đám tàn quân hoảng loạn cố mở đường máu tháo chạy. Nhưng đến biên giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng rồi bắt quân lính khiêng chạy về nước. Viên đại tướng Lý Hằng đi đoạn hậu, bị tên độc trúng đầu gối, về đến Tư Minh thì chết. Trong khi cánh quân Thoát Hoan chạy về phía Lạng Sơn thì cánh quân Nạp Tốc Lạt Đinh tìm đường tẩu thoát về Vân Nam, cũng bị quân dân ta tập kích, đánh cho tơi bời. Không biết Thoát Hoan đã bỏ chạy, Toa Đô kéo ra Bắc, theo sông Hồng định về Thǎng Long, nhưng đến Tây Kết thì bị quân ta chặn đánh. Toa Đô bị chém. Thế là cuộc chiến tranh xâm lược của Nguyên Mông lần thứ hai hoàn toàn thất bại. Ngay sau thất bại năm 1258, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới. Nhưng phải đến cuối năm 1287, các đạo quân viễn chinh mới có thể lên đường. Một đạo do Thoát Hoan và áo Lỗ Xích (Agurucxi) chỉ huy tiến vào Lạng Sơn. Một đạo khác, do ái Lỗ (Airuq) cầm đầu, từ Vân Nam đánh vào Tuyên Quang. Lần này, không còn cánh quân phía Nam, nhưng Vua Nguyên lại phái thêm một cánh thủy quân, sai ô Mã Nhi (Omar) chỉ huy, hộ tống đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ vào Đại Việt theo đường biển. Tháng 12/1287, khi đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào vùng biển An Bang (Quảng Ninh), Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đem thủy quân chặn đánh, nhưng không cản được giặc. ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến thẳng vào cửa sông Bạch Đằng, không chú ý đến đoàn thuyền lương nặng nề chậm chạp ở sau. Mãi đến tháng 1/1288, đoàn thuyền lương của giặc mới tiến đến vùng đảo Vân Đồn. Trần Khánh Dư lại đem quân tập kích. Trương Văn Hổ chống đỡ không nổi, đổ cả lương thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ, trốn về Quỳnh Châu (Hải Nam). Bấy giờ, Thoát Hoan cũng đã tiến vào Lạng Sơn, hội quân với cánh quân thủy của ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Thoát Hoan dừng lại ở đây gần một tháng, xây dựng Vạn Kiếp thành một căn cứ vững chắc, mãi đến cuối tháng 1/1288 mới chia quân tiến về Thăng Long. Lần thứ ba, quân dân nhà Trần lại bỏ ngỏ Thăng Long. Quân Nguyên vào Thăng Long ngày 2/2/1288. Ngay sau đó, Thoát Hoan vội sai ô Mã Nhi đem chiến thuyền ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Nhưng thuyền còn đâu nữa. Không có lương thực, đạo quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long lâm vào tình thế khốn quẫn.Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân về Vạn Kiếp. Trên đường rút về Vạn Kiếp, giặc bị quân ta chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại. Kéo về đóng ở Vạn Kiếp, đạo quân xâm lược vẫn bị quân ta tập kích ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, bọn tướng Nguyên đã nói với Thoát Hoan: ”ở Giao Chỉ, không có thành trì để giữ, không có lương thực đủ ăn, mà thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khí trời đã nóng nực, lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống đỡ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên bảo toàn quân mà về thì hơn” Trước tình hình đó, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường: cánh quân bộ rút qua vùng Lạng Sơn, còn cánh quân thủy sẽ rút ra biển theo sông Bạch Đằng. Kế hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự liệu của Trần Hưng Đạo. ông đã bố trí chặn giặc ở vùng biên giới và chuẩn bị cho một trận quyết chiến lớn trên sông Bạch Đằng. Từ tháng 3, quân sĩ và nhân dân đã đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về đẽo nhọn, đóng xuống lòng sông, làm thành những bãi cọc lớn. Thủy quân và bộ binh ta đã phục sẵn trong các nhánh sông và các khu rừng rậm ven sông Bạch Đằng, chờ ngày tiêu diệt địch. Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng. Khi đoàn thuyền giặc lọt vào trận địa mai phục của ta thì từ các nhánh sông, các thuyền nhẹ của ta lao ra, đánh tạt vào sườn giặc, dồn chúng vào các bãi cọc. Giặc định áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút, nhưng bị bộ binh ta đánh hắt xuống. Một trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra. Nước triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh theo dòng nước, vướng cọc, tan vỡ rất nhiều. Cho đến giờ dậu (5-7 giờ tối), toàn bộ đạo quân thủy của giặc bị tiêu diệt. ô Mã Nhi bị bắt sống. Lần thứ ba trong lịch sử giữ nước của dân tộc, dòng Bạch Đằng lại ghi thêm một chiến công oanh liệt. Trong khi đó, đạo quân của Thoát Hoan cũng khốn đốn rút chạy ra biên giới. Sau khi bị phục kích ở cửa ải Nội Bàng, chúng bỏ con đường ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba (Đình Lập), chạy tạt ra biên giới. Nhưng ở đây, chúng cũng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích (Abaci) bị trúng tên. Mãi đến ngày 19/4/1288, đám tàn quân của Thoát Hoan mới về đến Tư Minh. Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt đã chôn vùi vĩnh viễn mộng xâm lược của Hốt Tất Liệt. Bài mẫu 3: Kể lại trận chiến ác liệt đại thắng thành Thăng Long 1789 Sự phối hợp hai trận đánh Ngọc Hồi, Đống Đa làm cho Tôn Sĩ Nghị hết sức bất ngờ, choáng váng và lâm vào thế hoàn toàn bất lực, sụp đổ. Với cả một lực lượng dự bị khá lớn ở tổng hành dinh, nhưng viên chủ soái quân Thanh đành phải tháo chạy trong cảnh hoảng loạn và tan rã. Bài làm Cuối năm Mậu Thân (1788), nhân dân Thăng Long và Bắc Hà phải chịu đựng những ngày tháng đau thương, tủi nhục vì nạn ngoại xâm. Lợi dụng sự cầu cứu của Lê Chiêu Thống, 290 nghìn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị thống lãnh, đã tràn vào chiếm đóng kinh thành và kiểm soát phần lớn đất Bắc Hà. Quân đồn trú Tây Sơn do tướng Ngô Văn Sở chỉ huy, đã theo kế sách mưu trí của tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, lui về giữ phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn. Giành được thắng lợi tương đối dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị tỏ ra rất chủ quan. Hắn ra lệnh cho quân sĩ tạm đóng quân ở Thăng Long để nghỉ ngơi ăn tết và chuẩn bị mọi mặt thật chu đáo rồi sau tết sẽ “tiến vào tận sào huyệt của giặc, bắt sống Nguyễn Huệ” (Hoàng Lê nhất thống chí), Hắn đóng đại bản doanh ở cung Tây Long bên bờ sông Nhị và bố trí lực lượng phòng thủ quanh Thăng Long, nhất là hướng đường thiên lý và đường thượng đạo mà quân Tây Sơn có thể bất ngờ tiến công. Trên hai hướng phòng ngự này, đồn Ngọc Hồi và đồn Đống Đa giữ vị trí then chốt. Những ngày giáp tết năm đó, nhân dân kinh thành đã chứng kiến biết bao tội ác của quân giặc: ”kiếm mọi cách vu hãm những người lương thiện, áp bức, cướp bóc những nhà giàu có, thậm chí giữa chợ, giữa đường cũng cướp giật của cải, hãm hiếp đàn bà, không còn kiêng sợ gì cả”; và sự phản bội hèn mạt của bọn bán nước: ”nước Nam ta từ khi có đế, có vương đến nay, chưa bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế” (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhưng cũng trong thời gian đó, tại Phú Xuân, ngày 24 tháng 11 Mậu Thân (21/12/1788) Quang Trung nhận được tin cấp báo và ngay hôm sau làm lễ xuất quân. Với những phán đoán tình hình và công việc chuẩn bị được trù liệu trước, chỉ trong vòng 35 ngày từ 25/11 đến 30/12 Mậu Thân (22/12/1788 – 25/1/1789), trên đường hành quân và tập kết đại quân ở Tam Điệp, Quang Trung đã hoàn tất mọi việc chuẩn bị cho chiến dịch đại phá quân Thanh. Đúng đêm giao thừa Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn bất ngờ tiến công tiêu diệt đồn tiền tiêu của giặc ở Gián Khẩu, cách Thăng Long gần 90 km, mở đầu cuộc đại phá quân Thanh. Sau 5 ngày đêm tiến quân thần tốc, đạo quân chủ lực của Quang Trung đã phá tan hệ thống phòng ngự của địch trên hướng đường thiên lý tiến về Thăng Long. Mờ sáng mùng 5 tết (30/1/1789), đạo quân chủ lực của Quang Trung phối hợp với đạo quân đô đốc Bảo công phá và tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Ngọc Hồi – Đầm Mực. Cùng lúc đó, đạo quân do đô đốc Long chỉ huy, bất ngờ diệt đồn Đống Đa rồi đánh thọc sâu vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Sự phối hợp hai trận đánh Ngọc Hồi, Đống Đa làm cho Tôn Sĩ Nghị hết sức bất ngờ, choáng váng và lâm vào thế hoàn toàn bất lực, sụp đổ. Với cả một lực lượng dự bị khá lớn ở tổng hành dinh, nhưng viên chủ soái quân Thanh đành phải tháo chạy trong cảnh hoảng loạn và tan rã. Trên đường tháo chạy, chúng lại bị một cánh quân Tây Sơn khác chặn đánh ở vùng Yên Thế, Phượng Nhãn, Lạng Giang và bị bồi thêm những đòn tổn thất nặng nề. 35 ngày chuẩn bị trên đường hành quân dài khoảng hơn 500 km từ Phú Xuân đến Tam Điệp và 5 ngày đêm tiến công tiêu diệt trên một tuyến phòng ngự dài khoảng 90 km từ Gián Khẩu đến Thăng Long, quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Quang Trung đã đạt mức kỷ lục về tính thần tốc trong hành quân chuẩn bị và tiến công tiêu diệt địch. Đại thắng Thăng Long xuân Kỷ Dậu 1789 là một trong những vũ công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Đó là chiến thắng tiêu biểu cho đỉnh cao của sự phát triển và thắng lợi của phong trào Tây Sơn, được tạo nên bằng sức mạnh quật khởi của nông dân kết hợp với sức mạnh yêu nước và đoàn kết của cả dân tộc. Trong hàng ngũ quân đội Tây Sơn lập nên vũ công mùa xuân đó có những người đã tham gia dấy nghĩa từ đất Tây Sơn, có những con các em dân tộc Tây Nguyên chuộng tự do phóng khoáng, có những người dân khắp mọi miền của đất nước đã tự nguyện đứng dưới lá cờ nghĩa Tây Sơn, có những trí thức yêu nước như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp… những võ quan cũ của chính quyền Lê – Trịnh như Đặng Tiến Đông…, những tướng soái Tây Sơn đã đày dạn chiến trận như Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết…. Đó là chiến thắng của quân đội Tây Sơn với quyết tâm và ý chí đánh cho nó ”chích luân bất phản”, đánh cho nó ”phiến giáp bất hoàn”, đánh cho ”sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. ý chí đó lại được nhân dân hết lòng giúp đỡ. Và như chúng ta đã biết, trên đường hành quân chiến đấu của quân Tây Sơn, nhân dân đã cho con em mình gia nhập nghĩa quân, đã tiếp tế lương thực, giúp các phương tiện vượt sông… Nhân dân các làng xã quanh Thăng Long đã giúp quân Tây Sơn bí mật giấu quân ém sát đồn giặc, góp ván gỗ làm mộc công phá đền Ngọc Hồi, đã phối hợp làm trận rồng lửa trong trận diệt đồn Đống Đa… Bằng lối đánh thần tốc và một thế trận lợi hại kết hợp tiến công chính diện mãnh liệt với những mũi thọc sâu bất ngờ và những mũi vu hồi sau lưng, Quang Trung với số quân chỉ hơn 10 vạn, nhưng đã đặt Tôn Sĩ Nghị và 29 vạn quân Thanh vào thế hoàn toàn bị động, bất ngờ đi từ thất bại này đến thất bại khác và cuối cùng phải chấp nhận sự thảm hại, tháo chạy trong hoảng loạn. Đại thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) biểu thị tập trung thiên tài quân sự của Quang Trung Nguyễn Huệ. Cũng ngay sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích dùng mọi biện pháp ngoại giao mềm mỏng và tích cực để nhanh chóng lập lại quan hệ hòa hiếu với nhà Thanh. Chỉ trong vòng nửa năm, hai bên đã thông sứ bộ và sau đó, quan hệ bang giao và buôn bán giữa hai nước đã được khôi phục. Đặc biệt, là đường bộ, biết bao thanh niên nam nữ phá núi, phá đèo để bộ đội đưa pháo vào trận địa. Hình ảnh hàng dãy người kéo pháo lên núi thật gian khổ và dũng cảm biết bao. Bên cạnh đó là hình ảnh tấp nập của đông đảo dân công hỏa tuyến bằng quang gánh, bằng xe đạp thồ đưa lương thực, đạn dược ra tuyến đầu bất chấp mưa bom bão đạn của giặc. Bài làm Em đã được xem một trận chiến oanh liệt của quân và dân ta nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất nước. Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ (mật danh chiến dịch là “Trận Đình”), quân và dân ta gồm cả công binh, bộ binh và thanh niên xung phong mở đường thắng lợi đi vào chiến dịch. Với kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, quân và dân ta ra sức sửa đường, làm đường. Tại các bến đò, các đèo cao địch ném bom, bắn phá ác liệt, song công tác mở đường, thông tuyến vận chuyển vẫn bảo đảm tiến độ. Ở đường thuỷ, nhiều thanh niên, bộ đội nhiều ngày ngâm mình dưới nước lạnh buốt phá thác, phá ghềnh khai thông dòng chảy để các đoàn thuyền độc mộc, các bè mang đưa gạo thóc từ các nơi ra chiến dịch. Đặc biệt, là đường bộ, biết bao thanh niên nam nữ phá núi, phá đèo để bộ đội đưa pháo vào trận địa. Hình ảnh hàng dãy người kéo pháo lên núi thật gian khổ và dũng cảm biết bao. Bên cạnh đó là hình ảnh tấp nập của đông đảo dân công hỏa tuyến bằng quang gánh, bằng xe đạp thồ đưa lương thực, đạn dược ra tuyến đầu bất chấp mưa bom bão đạn của giặc. Ngày 30/3, chúng ta bước qua giai đoạn 2 với cuộc đánh chiếm các đồi phía đông, F, D, đặc biệt là trên đồi A1, cuộc chiến đã diễn ra hết sức gay go trên từng tấc đất. Nơi đây, địch cố thủ trong các hầm ngầm, địa đạo kiên cố. Quân ta ngày đêm đào biết bao giao thông hào, đặc biệt là đào hầm vào tận căn cứ của địch… Đợt cuối cùng của chiến dịch là vào ngày 3/5 khi quân ta tiến sâu vào trung tâm, chỉ cách sở chỉ huy địch khoảng 300 mét. Giặc thả tiểu đoàn dù cuối cùng hòng giúp phá vòng vây chạy qua Lào. Nhưng toàn bộ pháo binh và đặc biệt đại đội hỏa tiễn 6 nòng bắn dồn dập đã phá tan âm mưu này. Lúc 21 giờ ngày 6/5, khối bột phá gần 1 tấn, đặt giữa đồi bằng đường ngầm đã nổ tung vang trời, và đó là lệnh tổng tiến công. Lúc 17g30 ngày 7/5, tướng Đờ Cát-tơ-ri cùng toàn bộ tham mưu đầu hàng. Ngọn cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Hồ Chủ tịch phất cao trên nóc hầm của tên tướng này. Xem xong các trận đánh ác liệt trong bộ phim, em rất cảm phục tinh thần dũng cảm của bộ đội ta đã tạo nên một chiến thắng chấn động địa cầu như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Chín năm làm một Điện Biên Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng.” Bài mẫu 5: Kể lại huyền thoại Ngã ba Đồng Lộc Đến 3 giờ sáng, con đường xuyên qua làng đã hoàn tất. Chiếc xe đầu tiên đã lăn bánh đến phà và qua cầu an toàn. Để bảo vệ bí mật và che mắt địch, bộ phận dân quân và nhân dân Hạ Lôi bắt khum những ngọn tre lại với nhau, làm ngụy trang. Con đường chạy trong làng được giữ bí mật cho đến ngày ngừng bắn. Bài làm Năm nay theo gia đình đi du lịch, tôi được dự lễ kỷ niệm 40 năm Huyền thoại Ngã ba Đồng Lộc đã được tổ chức từ 16-24/7/2008 bằng một chương trình hoành tráng, tôn nghiêm. Được về dự tôi mới được hồi tưởng lại trận chiến ác liệt mà năm đó những người thanh niên xung phong đã làm nên lịch sử. Những nhân chứng sống của cuộc chiến đã bắt đầu hồi tưởng lại trận chiến năm ấy. Mùa thu năm 1968, từ Thạch Hà ra Hồng Lĩnh, máy bay Mỹ đánh phá ác liệtngày đêm. Quốc lộ 1A bị tắc nghẽn, hệ thống cầu cống bị máy bay địch phá hủy hoàn toàn. 130 chiếc xe chở xăng dầu vào Nam bị tắc lại ở phía Nam huyện Can Lộc, do cầu Dà bị cắt đứt. Đoàn xe phải tấp vào làng Hạ Lôi, xã Tiến Lộc. Trước hoàn cảnh đó, Bộ Chính trị, Bộ Giao thông Vận tải cùng với Ban đường bộ giao thông của tỉnh Hà Tĩnh đưa ra quyết định bất ngờ: Chia làng Hạ Lôi ra làm đôi. Sáng ngày 13/8/1968, sau khi tiếp thu mệnh lệnh từ cấp trên, ban lãnhđạo xã tiến hành họp dân, với khẩu hiệu: xe chưa qua là nhà không tiếc. Sau đó các công tác như bố trí người già, trẻ em đến chỗ an toàn, tất cả các lực lượng được tập trung khẩn trương để chuẩn bị phá nhà, mở đường cho cho xe qua. Cả làng hưởng ứng rất nhiệt tình, ai có gì là mang ra góp sức. Nhà dỡ đến đâu thì các lực lượng công binh, thanh niên xung phong làm đường đến đó. Chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, 130 ngôi nhà đã được tháo dỡ, đường xe đã mở xong. Đến 3 giờ sáng, con đường xuyên qua làng đã hoàn tất. Chiếc xe đầu tiên đã lăn bánh đến phà và qua cầu an toàn. Để bảo vệ bí mật và che mắt địch, bộ phận dân quân và nhân dân Hạ Lôi bắt khum những ngọn tre lại với nhau, làm ngụy trang. Con đường chạy trong làng được giữ bí mật cho đến ngày ngừng bắn. Trong một đêm, người dândời, dọn 130 nóc nhà, làm đường cho 130 xe chở hàng ra tiền tuyến, Ban đảm bảo giao thông tỉnh đặt tên làng Hạ Lôi là làng K130. Thế mà, nay tên làng từ thời chiến đang còn, con đường thời chiến lại không. Vừa kể lại trận chiến người kể lại đi theo những dấu tích còn xót lại. Mỗi dấu tích lại hiện lên một nét bùi ngùi xúc động, xúc động vì mình may mắn sống xót, xúc động vì những đồng đội đã hi sinh để mình được sống, được hưởng cuộc sống tươi đẹp hôm nay. Thời gian qua đi những dấu tích của chiến tranh đã không còn nguyên vẹn, nhưng nó sẽ còn nguyên trong tiềm thức của những nhân chứng, và những nhân chứng ấy đã kể lại cho tôi, cho thế hệ trẻ nghe và cảm nhận được sự ác liệt của chiến tranh, sự mất mát hi sinh mà cha ông ta đã đánh đổi, để chúng ta có cuộc sống này. Nghe rồi hành động, chúng ta hãy xây dựng và bảo vệ đất nước thêm giàu đẹp, xứng đáng với những gì mà cha ông đã tạo ra cho chúng ta.
Kê lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã kể hoặc xem trên màn ảnh
5,197
Đề bài: Kế lại câu chuyện về một số việc làm tốt đẹp thể hiện nếp sống văn minh ở nơi công cộng Bài làm 1 Sáng thứ năm nào cũng thế, tôi và chị tôi thường đến phòng đọc sách thuộc Nhà Văn hoá trung tâm đế xem sách. Nơi ấy vừa yên tĩnh lại vừa có nhiều sách hay lạ. Một lần chúng tõi đến như thường lệ. Cả một gian phòng lớn lặng trang. Bên ngoài, ánh sáng toả vào xuyên qua các ô kính màu xanh nhạt nón rất dịu mắt. Nơi các dãy bàn kê ngay ngắn trước các kệ sách dài, khá đông khách ngồi. Đa số là người lớn, các anh chị sinh viên và học sinh cấp hai, ba. Chi lé tẻ năm ba hoc sinh tiểu học như tôi. Sau khi gặp có quản thủ thư viện mượn sách, hai chị em cũng đến bàn ngồi đọc. Gặp chỗ hấp dẫn, tôi liền gọi chị tôi: – Nè chị ơi, lại đây. Đoạn này hay ghê! Chị tôi “suyt” một cái ra hiệu cho tôi nói khẽ. Tôi hiểu ngay, chẳng dám hó hé, vì tôi dư biết chị tõi lúc nào cũng có lý và lịch sự. Mọi người đều lặng lẽ đọc sách, có người còn lấy giấy ra viết viết ghi ghi. Lát sau, bỗng đâu nghe tiếng oang oang, tôi nhìn lại thấy hai anh thanh niên mặc áo phanh ngực, để râu lởm chởm bước vào: – Ê, vào đáy ngồi trú nắng một chút. Đợi tụi nó tới mình nhập bọn đi chơi. – Thôi chỗ này thiên hạ đọc sách. Buồn chết. – Mặc kệ. Ai đọc thi đọc, mình tán dóc cho vui. Thế là hai anh đó hết chuyện này đến chuyện khác, bất chấp mọi người xung quanh. Có mấy chú, mấy bác lâu lâu liếc nhìn hai anh với ánh mắt khó chịu. Lúc ra về chị tôi mới khều vai tôi mà dặn rằng: “Nơi công cộng như phòng đọc sách, chúng ta phải giữ yên lặng. Có thế mới là người lịch sự. Em đừng bắt chước hai anh hồi nãy nhé!”. Kế lại câu chuyện về một số việc làm tốt đẹp thể hiện nếp sống văn minh Bài làm 2 Trưa nay đi học về, vì bụng đói nên tôi cố đi nhanh hơn. Nhưng phía trước, một dòng người quá đông đã cản đường, lại, nghe có tiếng kèn nữa. Thì ra là một đám tang. Chiếc xe tang được chạm trổ thành hình chiếc thuyền rồng nhiều màu rất tinh vi. Hai bên có mấy người trong đội táng mặc đồ đen viền tráng hộ tống. Theo sau là nhiều người đầu bịt khăn, họ vừa đi vừa sụt sùi khóc. Chắc họ đau khổ lắm, vì phải vĩnh viễn chia tay một người yêu quý nhất trên đời của mình. Xe tang đến đâu, ô tô, xe đạp lớn nhỏ đều dạt ra đến đó để nhường lối. Người đi hai bên đường cũng thế. Có người dừng lại lột nón xuống, kính cẩn chào người quá cố đang đi qua và chia sẻ nỗi buồn với gia đình bất hạnh kia. Thấy thế, tôi và mấy bạn học cùng trường cũng bắt chước lột nón, đứng nghiêm. Một ông cụ nhìn chúng tôi gật đầu: – Học sinh trường nào mà ngoan ngoãn và lịch sự quá. Ông cụ vừa dứt lời, bỗng tôi nghe có tiếng xe rú ga thật lớn, tiếng kèn “chéo chéo” như tiếng đạn bay liên tục. Hai anh thanh niên áo phanh ngực, râu tóc lởm chởm đang chở nhau trên chiếc mô tô bóng lộn, lạng lách giữa đám đông cố vượt qua. Những người đi theo xe tang hốt hoảng nhảy vào lề, lấn vào nhau suýt té. Chiếc mô tô chạy khỏi rồi, mọi người mới hoàn hồn nhìn theo lắc đầu. Về đến nhà, tôi cứ suy nghĩ mãi. Người lịch sự phải biết nhường lối trước cụ già, em bé, người tật nguyền, người có con mọn hay trước đám cưới, đám tang. Tại sao hai anh thanh niên kia lại nông nổi như thế! Hay là hai anh đó giàu có mà thiếu học chăng?
Kế lại câu chuyện về một số việc làm tốt đẹp thể hiện nếp sống văn minh ở nơi công cộng
695
Đề bài: Kể buổi tập thể dục giờ ra chơi Bài làm Vào mỗi buổi ra chơi,cô giáo thường cho chúng em tập thể dục giữa giờ để rèn luyện thân thể. Khi tiếng trống trường báo hiệu giờ ra chơi,chúng em đều ùa ra sân,xếp hàng ngay ngắn.Cô giáo cho chúng em tập những động tác: hít thở đều, nhảy lên,xoay gối, xoay cổ …Em là lớp trưởng,nên em luôn cố gắng tập thật tốt để làm gương cho các bạn. Kể buổi tập thể dục giờ ra chơi Ở động tác tay,em tập đều theo tiếng còi của cô hòa với nhịp thở của mình. Bài tập càng ngày càng khó,nhưng lại làm cho chúng em thêm khỏe mạnh. Sau khi tập thể dục,cô còn cho chúng em chơi những trò chơi rất vui.Chúng em ai cũng đổ mồ hôi khắp người,nhưng gương mặt bạn nào cũng cũng vui cười vì vừa được học được chơi. Em rất yêu thích những buổi tập thể dục giữa giờ. Vì sau giờ học tập căng thẳng,chúng em được thư giản bằng những động tác nhẹ,vui khỏe và an toàn nữa.
Kể buổi tập thể dục giờ ra chơi
184
Kể bằng văn xuôi câu chuyện về tình bạn giữa Bê Vàng và Dê Trắng – Tập làm văn 4 Hướng dẫn Gọi bạn Tự xa xưa thuở nào Trong rừng sâu xanh thẳm Đôi bạn sống bên nhau Bê Vàng và Dê Trắng. Một năm trời hạn hán Suối cạn, cỏ héo khô Lấy gì nuôi đôi bạn Chờ mưa đến bao giờ? Bê Vàng đi tìm cỏ Lang thang quên đường về Dê Trắng thương bạn quá Chạy khắp nẻo tìm Bê Đến bây giờ Dê Trắng Vẫn gọi hoài: “Bê! Bê!” (Định Hải) GỢI Ý -Cảnh mở đầu diễn biến: Thế rồi một năm trời hạn hán. Nắng như thiêu như đốt. Tre nứa nổ lốp bốp vang động khắp rừng. Chim chóc ngừng ca. Suối ngừng chảy. Đáy suối cạn khô phơi những tảng đá lớn. Cái nóng hầm hập làm cây cối, muông thú trong rừng chết khát. Đôi bạn Bê Vàng và Dê Trắng chốc chốc lại đi ra đi vào, ngước mắt nhìn trời vẻ sốt ruột. Họ ngắc ngoải chờ đợi trong sự đói khát giày vò. Dê Trắng yếu đuối không còn sức để đứng dậy được nữa. Bộ lông trắng xốp, mịn màng của chú xù ra trông thật tội nghiệp. Đôi mắt hằng ngày tinh nhanh là thế mà giờ đây đờ đẫn hẳn đi -Cảnh kết thúc câu chuyện: Dê Trắng quyết định đi tìm người bạn thân thiết của mình. Hết chạy lên đầu suối, Dê Trắng lại đi vào giữa rừng rậm hoang vu.Mặc cho cây rừng cản lối, mặc cho gai cào rách thịt, lòng thương bạn khiến Dê Trắng quên cả đau đớn. Vừa đi, Dê Trắng vừa gọi hoài: “Bê Vàng, Bê Vàng ơi! Bạn ở đâu?” Chỉ có tiếng vọng từ vách núi trả lời chú. Bầu trời ảm đạm Bỗng mây đen ùn ùn kéo đến. Mưa! Những giọt mưa dần dần nặng hạt. Nước mưa hòa cùng nước mắt chảy lã chã trên mặt Dê Trắng. Kiệt sức, chú ngã quỵ xuống, miệng vẫn gọi trong hơi thở yếu ớt: “Bê! Bê!”. TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Kể bằng văn xuôi câu chuyện về tình bạn giữa Bê Vàng và Dê Trắng – Tập làm văn 4
337
Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện mà em đã gặp ở trường Gợi ý 1. Mở bài: Giới thiệu câu chuyện? Cảm nghĩ của em về câu chuyện ấy? Tham khảo: Chiều nay sau khi ăn cơm xong, cả nhà quây quần bên nhau nói cười vui vẻ. Bỗng dưng tôi chợt nhớ câu chuyện xảy ra sáng nay ở trường, một câu chuyện khá cảm động, tôi liển kể cho bố mẹ nghe. 2. Thân bài: Kể toàn bộ câu chuyện (kể kết hợp với miêu tả,biểu cảm và lời thoại giữa em và bố mẹ đan xen trong quá trình kể) Mở đầu: Bố mẹ biết không? Sáng nay ở trường con có một chuyện rất cảm động ạ. Chuyện gì thế con…? Kể cho bố mẹ nghe nhé? Dạ! Trong lớp con có một bạn tên là… (tả ngoại hình, trang phục, dụng cụ học tâp, ăn uống… giống như con nhà giàu ) học với bạn nhiều tháng mà không ai biết được hoàn cảnh thật sự của bạn nếu không có sự việc sáng nay… Diễn biến: Sáng nay, giờ ra chơi, trong khi mọi người chạy đùa, cười giỡn và tranh thủ xuống căn tin mua đồ ăn thì … chỉ đứng trâm ngâm, lặng lẽ vẻ mặt có phần bực bội chuyện gì đó… Vừa lúc ấy có một người phụ nữ (tả ngoại hình, thái độ…) bước vào sân trường như tìm ai đó… Chợt bất ngờ người ấy bước đến chỗ bạn … với ánh mắt. nét mặt… (tả, biểu cảm). Một sự ngạc nhiên vì không ai nghĩ bạn… lại có mẹ ăn mặc kham khổ trông thê lương thế… Dường như mặc cảm trước lũ bạn nên bạn… đã…(kể hành vi, thái độ, lời nói của bạn…làm người mẹ đau lòng). Người phụ nữ sững sờ, nghẹn ngào trước thái độ của bạn… Thầy chủ nhiệm sau khi cho học sinh vào lớp đã mời người phụ nữ ấy vào văn phòng để hỏi thăm… Không biết người phụ nữ ấy nói gì với thầy nhưng sau đó thầy lên lớp với khuôn mặt buồn bã, đôi mắt đỏ hoe dường như thầy vừa khóc, cả lớp ai nấy đều im lặng…(tả thêm không khí lớp). Thầy kể cho lớp nghe về hoàn cảnh của bạn … (kể hoàn cảnh khó khăn, công việc của ba mẹ vất vả như thế nào…). Thái độ của bạn…? Thầy khâm phục mẹ bạn…? Thầy trách, nhắc nhở khuyên nhủ bạn…? Thầy nói chung với cả lớp về tình mẹ…? Thái độ của cả lớp… (lắng nghe, vài bạn khóc…)? Kết thúc: Sau khi nghe thầy phân tích bạn … đã hiểu và khóc nức nở (sự hối hận, lời hứa của bạn …) Bố mẹ biết không? Chẳng những bạn … hối hận mà trong lớp con nhiều bạn cũng đã tự xem lại mình về thái độ đối với mẹ cha… 3. Kết bài: Câu chuyện cảm động ấy cứ đọng mãi trong tâm trí tôi, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ – mẹ bạn… hớn hở tìm con để rồi nhận sự tổn thương sâu sắc. Bất chợt nhớ những câu thơ bố đọc: « Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ, Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha… »
Kể cho bố mẹ nghe câu chuyện mà em đã gặp ở trường
526
Kể cho bố mẹ nghe một câu chuyện lí thú (hoặc cảm động) mà em đã gặp ở trường Hướng dẫn Tuổi học trò có biết bao kỉ niệm đẹp, nhưng ngồi trước bài tập làm văn bạn không nghĩ ra được kỉ niệm nào ấn tượng và hay nhất. Để giúp bạn nhớ và viết lại những kỉ niệm đã qua tại trường trong bài tập làm văn lần này, vanmau.net sẽ hướng dẫn các bạn cách lập dàn ý và những bài văn mẫu hay. Các bạn cùng tham khảo nhé. Hướng dẫn lập dàn ý: Mở bài: – Thời gian kể chuyện cho bố mẹ nghe (sau bữa cơm tối, trước khi đi ngủ hoặc lúc đang ngồi xem ti vi). – Giới thiệu truyện mình sẽ kể (truyện biểu cảm, truyện cười hay cảm động). Thân bài: – Đưa ra thời gian, địa điểm chính xác câu chuyện em sắp kể (bao giờ, ở đâu). – Những nhân vật trong câu chuyện là gi? Em có mặt trong đấy không hay chỉ chứng kiến và kể lại? – Diễn biến của câu chuyện. Trong truyện có các tình tiết cảm động, vui, buồn hoặc gây cười hay không? – Kết thúc câu chuyện em rút ra bài học gì? Em có suy nghĩ gì về câu chuyện đó không? – Ghi lại thái độ của bố mẹ? Bố mẹ có lời khuyên gì hay không? Kết bài: – Không khí gia đình sau khi nghe câu chuyện em kể. – Nêu cảm xúc và suy nghĩ của bạn thân. Tham khảo những bài văn mẫu dưới đây Đề bài: Em hãy viết bài văn kể lại một câu chuyện lý thú (hoặc cảm động, hoặc buồn cười) mà em gặp ở trường. Chiều qua, khi hồi trống tan trường vừa điểm tôi vội vã đi thẳng về phía nhà xe. Trên con đường quen thuộc, đôi chân tôi guồng những vòng xe mạnh mẽ hơn. Tôi đạp xe về nhà mà trong lòng háo hức. Tôi vừa xúc động lại vừa thấy vui vui. Tôi mong sao được kể thật nhanh cho cả nhà nghe câu chuyện cảm động mà tôi vừa được chứng kiến ở trường mình. Chả là để thể hiện lòng biết ơn thực sự của các thế hệ con cháu đối với sự hy sinh của cha ông, trường tôi có mời một đoàn ca nhạc về trường biểu diễn. Điều đặc biệt là các ca sĩ đều là những người đã phải gánh chịu ít nhiều những di chứng của chất độc màu da cam. Người thì bị mất đôi chân, người thì không con đôi mắt. Đáng thương hơn khi có những người dường như chỉ còn tồn tại một vài bộ phận trong con người. Thế nhưng tất cả những con người ấy đã khiến cho cả trường chúng tôi phải vô cùng khâm phục bởi họ là những tấm gương tuyệt vời về ý chí và sự quyết lâm. Thú thực, mới đầu chúng tôi đi xem chỉ vì đứa nào cùng háo hức tò mò. Thế nhưng khi tấm màn nhung khép lại chương trình biểu diễn thì chúng tôi đứa nào đứa nấy đều cảm thấy xúc động sâu xa. Khác hẳn với màn giới thiệu, buổi trình diễn lại chẳng có một chút gì gợi ra cảnh đau thương. Rất nhiều và rất nhiều bài hát đã được biểu diễn bởi những chất giọng khác nhau. Thế nhưng chúng đều có chung một đặc điểm đó là đều ngợi ca những ước mơ, lòng bác ái và sự công bằng; ngợi ca những ước mơ và khát khao của tuổi thơ của những người đang sống và cả những người đã khuất. Chương trình cuốn hút tất cả người xem, thậm chí nhiều bạn, trong đó có cả tôi đã bước lên sân khấu để tặng hoa và để cùng hát lên những lời ca chia sẻ. Chúng tôi đã khóc, khóc thực sự trong niềm thân ái, trong sự yêu thương và mong ước được sẻ chia. Buổi trình diễn nằm ngoài sự hình dung của tất cả chúng tôi. Nó thực sự khiến chúng tôi bất ngờ và xúc động. Câu chuyện được tôi kể cho gia đình nghe ngay sau khi mọi người dùng xong cơm trưa. Nhấp một chút nước trà, bố tôi vừa dặn đò vừa tâm sự: “Các con còn nhỏ hiểu được như thế là rất quý. Thế nhưng, những gì các con đã làm là chưa thật lớn đâu. Các con còn phải làm nhiều việc tốt lành hơn nữa để đền đáp công ơn của những người đã hy sinh để mang lại hạnh phúc cho cuộc đời mình”. Bài viết số 1 lớp 7 đề 1: Kể cho bố mẹ nghe một câu chuyện lí thú (hoặc cảm động) mà em đã gặp ở trường. BÀI LÀM “Tùng! Tùng! Tùng!”- tiếng trống tan học vừa dứt, tôi vội chạy ngay về nhà với hộp quà cầm trên tay. Ôi! Con đường hôm nay sao mà dài quá, đi mãi một lúc tôi mới về nhà. Tôi khẽ đi vào phòng khách, mẹ đang ngồi say sưa đọc báo. Nhìn thấy tôi, mẹ ngạc nhiên bảo; – Mẹ ơi, hôm nay cô giáo đã cho chúng con một bất ngờ cảm động vào tiết sinh hoạt lớp đấy ạ! Để con kể cho mẹ nghe nhé! – Ừ, con kể đi!- Mẹ tôi vui vẻ trả lời. – Dạ, hôm nay vào tiết tư, chúng con đang học thực hành môn Tin ở phòng thực hành thì bỗng có vài bạn xin thầy cho về lớp trước. Mọi người còn chưa hết ngạc nhiên thì tiết tư kết thúc. Tất cả chạy ùa vào lớp. Lớp học được trang trí rất đẹp: những quả bong bong nhỏ xinh dược treo khắp các cửa sổ cùng những dải kim tuyến lấp lánh. Trên bảng được viết dòng chữ: “Chúc mừng sinh nhật” bằng phấn phấn màu rất đẹp. Con vô cùng ngạc nhiên vì không biết các bạn tổ chức sinh nhật cho ai, mà trong tháng mười này lại có ngày sinh nhât của con. – Chà, thú vị thật đó, con mau kể tiếp đi! –Mẹ tôi háo hức nói. – Vâng ạ. Thế rồi, cô giáo bước vào lớp và bắt nhịp cho các bạn hát bài “Happy birthday”. Cô và các bạn đồng thanh hát và vỗ tay rất nhịp nhàng. Rồi, cô thay mặt cho tập thể lớp phát biểu rằng: “Các con ạ, tháng Mười này lớp ta có sinh nhật của các bạn Uyên Phương, Bảo Khánh và Như Ngọc. Cô và ban cán sự lớp đã bí mật tổ chức sinh nhật cho các bạn. Cô chúc các con có một bữa tiệc sinh nhật thật vui vẻ bên tập thể lớp, ngày càng chăm ngoan, học giỏi để ba mẹ và thầy cô vui lòng nhé! Cả lớp cho các bạn một tràng vỗ tay nào!”. “Hoan hô cô giáo! Hoan hô cô giáo!”. Và, tiếng vỗ tay từ các bạn vang lên không ngớt. Cô cho chúng con lên bảng để nhận quà sinh nhật từ lớp. Rồi cả lớp ngồi thưởng thức những tiết mục văn nghệ tuyệt vời của các bạn. Chúng con xúc động vô cùng. Con được đại diện cho các bạn lên phát biểu. Mọi việc đều bất ngời khiến con lúng túng quá, phải mất mấy phút con mới nói được lời cảm ơn cô và các bạn: “Chúng con xin cảm ơn cô giáo và các bạn trong lớp đã tổ chức sinh nhật cho chúng con. Đây là bữa tiệc sinh nhật ý nghĩa nhất mà chúng con sẽ không bao giờ quên. Chúng con hứa sẽ cố gắng chăm ngoan, học giỏi để không phụ long cô giáo và các bạn.”. Cả lớp vỗ tay rào rào không ngớt khiến con sung sướng vô cùng. Thật là thú vị và cảm động phải không mẹ?- Ừ, từ nay con phải chăm ngoan, học thật tốt để xứng đáng với tình yêu thương mà cô và các bạn đã dành cho con đấy! – Vâng ạ! con xin hứa! Đề bài: Kể cho bố mẹ nghe một câu chuyện lí thú (hoặc cảm động) mà em đã gặp ở trường Sau bữa cơm, gia đình tôi quây quần trong phòng khách. Bỗng tôi chợt nhớ đến chuyện sáng nay và muốn kể ngay cho bố mẹ nghe. Thế là tôi nhanh nhảu “Bố mẹ ơi, lớp con có chuyện này vui lắm. Con kể cho bố mẹ nghe nhé”. Bố mẹ tôi mỉm cười gật đầu, tôi hào hứng: “Hôm nay, ở lớp con, cô giáo đã kể cho chúng con nghe một câu chuyện, vui và cảm động lắm. Câu chuyện vừa xảy ra vào ngày chủ nhật, hôm 20-11. Ba bạn Nga lớp con là bác sĩ, đồng thời là hội trưởng hội phụ phuynh của lớp. Chiều thứ 7, ngày 19-11, ba của bạn Nga ghé thăm cô và tặng cô một chục cam sành. Cô giáo con cảm ơn bác hội trưởng nhưng đã đem túi cam tặng lại cho thím Tư, một thím nghèo, sống cô đơn ở căn nhà nhỏ đầu hẻm. Ai ngờ, lần này, thím Tư thấy chục cam lớn quá, một mình ăn không hết, bèn mang đến tặng lại cho một người bà con đông con, nghèo hơn mình. Cả cô giáo, cả thím Tư lẫn người bà con nghèo của thím đều không giở kỹ túi cam nên không thấy một tấm thiệp nhỏ lọt giữa những quả cam sành to tướng, tấm thiệp do Nga cắt và ghi vào đó lời chúc mừng cô thật tình cảm”. Tôi dừng lại, nghiêng mặt nhìn bố mẹ, cười lém lỉnh “Bố mẹ đoán thử chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?” Chưa đợi bố mẹ trả lời, tôi nói luôn “Bố mẹ chịu rồi phải không?” Để con kể tiếp nghe. Túi cam không dừng ở đó. Một lần nữa, nó lại “lên đường”, nhưng đi đâu? Hay lắm bố mẹ ơi. Để con kể tiếp cho cả nhà nghe nhé! Người bà con của thím Tư ai ngờ lại là bệnh nhân của ông bác sĩ, ba của Nga. Bà ấy rất biết ơn ông đã chữa cho bà ấy khỏi bệnh nhưng vì nhà nghèo, con đông, bà chưa có tiền mua quà đến cám ơn ông. May quá, thím Tư lại mang cho chục cam sành thật to. Thế là ngay sáng hôm sau, 20-11, người bà con thím Tư đã mang túi cam đến tặng ông bác sĩ”. Cả nhà tôi vỗ tay tán thưởng. Hành trình của túi cam, trong câu chuyện kể của tôi thú vị quá. Nhưng, cái đáng chia sẻ nhất về túi cam giản dị, bé nhỏ, đó là nó trĩu nặng ân tình.
Kể cho bố mẹ nghe một câu chuyện lí thú (hoặc cảm động) mà em đã gặp ở trường
1,798
Kể chuyện biểu cảm về mẹ Hướng dẫn – Mẹ! Tôi khẽ gọi khi mẹ với lấy chiếc áo mưa móc ở phía sau cánh cửa – Mấy giờ mẹ về với con? – Xong việc mẹ sẽ về. Con ngủ cùng em nhé. Trời mưa lạnh, nhớ đắp chăn cho em kẻo em lại ho nhiều. Sáng mai mẹ sẽ đưa em đi khám bác sĩ. Mẹ tôi vừa vuốt nước mắt trên má tôi vừa khuyên. Trên khóe mắt mẹ cũng rưng rưng. Khoát áo mưa lên mình, mẹ tôi khẽ khàng mở cửa bước ra rồi nhẹ nhàng khép lại, sợ thằng Hảo giật mình. Ngoài trời mưa lâm râm. Tôi nhìn qua cửa sổ cho đến khi bóng mẹ chìm khuất trong bóng tối. Mẹ tôi là công nhân vệ sinh đường phố. Từ ngày ba tôi qua đời, một mình mẹ gồng vai gánh vác việc gia đình. Để có thời gian chăm sóc và đưa chúng tôi đi học, mẹ xin làm ca đêm. Biết là vất vả nhưng làm thế nào được. Mẹ chỉ có một mình, còn chúng tôi thì còn nhỏ quá, bao nhiêu công việc chẳng biết nương nhờ vào ai. Mẹ tảo tần sớm hôm để chị em tôi được học hành chu đáo. Mẹ thường bảo các con phải gắng học mới có tương lai tốt hơn được. Thương mẹ, tôi chăm chỉ từng ngày, vừa học vừa trông em. Tuy thành tích không đứng đầu lớp, nhưng danh hiệu học sinh giỏi cuối năm học vừa rồi khiến mẹ vui lắm. Tôi thương mẹ những ngày giông gió. Trời Sài Gòn không lạnh nhưng làm việc trong đêm mưa gió thì không vất vả nào bằng. Mỗi đêm đi làm về, bàn tay mẹ lạnh cóng. Nằm ôm thằng Hảo, mà mẹ thao thức, thỉnh thoảng lại thở dài. Mẹ thở rất khẽ nhưng tôi vẫn nghe được. Có lẽ vì đã quá giấc, lại thêm nỗi lo cho công việc ngày mai khiến mẹ không thể nào ngủ được. Nhiều đêm mất ngủ khiến mẹ mệt mỏi, đôi mắt mờ đục, trĩu nặng lo âu. Tôi thương mẹ tôi những ngày lễ tết. Ngày tết, mọi nhà sắm sửa linh đình, mẹ vẫn tất bật với công việc. Đến đêm ba mươi, mẹ chỉ kịp mua sắm vài thứ cần thiết rồi về sửa soạn trong nhà. Ngày tết, chúng tôi chỉ luẩn quẩn trong nhà. Ở đây, không có họ hàng thân thiết nên chẳng qua lại cùng ai. Nhà ngoại thì ở xa quá, tận miền Châu Đốc. Năm ngoái mẹ đưa chúng tôi về rồi nên năm nay không về nữa. Mẹ bảo để dành tiền để mua cho tôi chiếc xe đạp đi học. Tôi cũng không đòi về. Thằng Hảo trở mình rồi ho lên mấy tiếng, tôi vội kéo chăn đắp rồi ôm nó. Mấy hôm nay trở trời, nó bị ho. Mẹ tôi vẫn chưa đưa nó đi khám bác sĩ được. Đêm hôm qua nó trở dậy, không thấy mẹ liền khóc. Tôi dỗ dành mãi nó mới chịu ngủ. Mới bé xíu mà nó cũng biết thương mẹ lắm. Nghe tôi khuyên mẹ đi làm vất vả, em ngủ ngoan cho mẹ yên tâm làm việc, nó ôm tôi không khóc nữa nhưng vẫn thút thít. Một lúc thì ngủ.
Kể chuyện biểu cảm về mẹ
555
Kể chuyện Chiếc đồng hồ Hướng dẫn “Năm 1954, các cán bộ đang dự hội nghị tổng kết ở Bắc Giang thì có lệnh Trung ương rút bớt một số người đi học lớp tiếp quản Thủ đô. Ai nấy đều háo hức muốn đi. Nhất là những người quê Hà Nội. Bao năm xa nhà, nhớ Thủ Đô, nay được dịp về công tác, anh em bàn tán sôi nối. Nhiều người đề nghị cấp trên chiếu cố nỗi niềm riêng đó và cho được toại nguyện. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có chiều phân tán… Giữa lúc đó, Bác Hồ đến thăm hội nghị. Các đại biểu ra đón Bác. Bác bước lên diễn đàn, mồ hôi ướt đầm hai bên vai áo nâu… Khi tiếng vỗ tay đã ngớt, Bác hiền từ nhìn khắp hội trường và nói chuyện về tình hình thời sự. Nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng trong lúc này, Bác bỗng rút trong túi áo ra một chiếc đồng hồ quả quýt và hỏi: -Các cô chú có trông thấy cái gì đây không? Mọi người đồng thanh: -Cái đồng hồ ạ. -Thế trên mặt đồng hồ có những chữ gì? -Có những con số ạ. -Cái kim ngắn, kim dài để làm gì? -Để chỉ giờ, chỉ phút ạ. -Cái máy bên trong dùng để làm gì? -Để điều khiến cái kim chạy ạ. Bác mím cười, hỏi tiếp: -Thế trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng? -Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không? -Thưa không được ạ. Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên cao và kết luận: -Các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các cô chú thử nghĩ xem: trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ, cứ tranh nhau chỗ đứng như thê thì có còn là cái đồng hồ được không? Chỉ trong ít phút ngắn ngủi, câu chuyện chiếc đồng hồ của Bác đà khiến cho ai nấy đều thấm thía, tự đánh tan được những thắc mắc riêng tư. (Theo sách BÁC HỒ KÍNH YÊU)
Kể chuyện Chiếc đồng hồ
387
Kể chuyện con rồng cháu tiên bằng lời của em bài văn của Thu Hằng chuyên văn Hướng dẫn Con rồng cháu tiên là truyền thuyết nổi tiếng trong dân gian, bằng những hiểu biết của mình sau khi được học hoặc nghe kể em hãy kể lại truyện Con rồng cháu Tiên bằng lời văn của mình. Để có thêm những thông tin thú vị cho bài viết, các bạn hãy cùng tham khảo phần dàn ý và bài văn mẫu hoàn chỉnh mà giới thiệu dưới đây nhé! I. Dàn ý chi tiết cho đề kể chuyện con rồng cháu tiên bằng lời của em 1. Mở bài cho đề kể lại truyện Con rồng cháu Tiên bằng lời văn của mình – Giới thiệu một số truyền thuyết lý giải nguồn gốc dân tộc của người Việt: “Chuyện quả bầu” của người Khơ Mú, truyện “Quả trứng to nở ra con người” của người Mường… – Giới thiệu truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”: Nhưng truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc được nhiều người Việt biết đến và quen thuộc hơn cả là “Con Rồng cháu Tiên”. 2. Thân bài cho đề kể lại truyện Con rồng cháu Tiên bằng lời văn của mình – Giới thiệu bối cảnh của câu chuyện (ngày xưa, ở đất Lạc Việt…) – Nguồn gốc của hai vị thần: + Lạc Long Quân: – Thuộc nòi Rồng, con trai thần Long Nữ. – Thần mình Rồng, sức khỏe phi thường, có nhiều phép lạ. – Thần giúp dân trừ yêu quái, còn dạy dân cách chăn nuôi trồng trọt, giúp vùng đất Lạc Việt trở nên trù phú + Âu Cơ – Ở vùng núi cao phương Bắc – Tiên nữ thuộc dòng dõi Thần Nông. – Mối lương duyên giữa hai vị thần: + Âu Cơ tìm đến thăm đất Lạc Việt. + Hai người tình cờ gặp gỡ, yêu nhau, kết thành vợ chồng + Chẳng bao lâu sau, Âu Cơ sinh bọc trứng, nở trăm đứa con, tất cả đều không cần bú mớm mà tự lớn lên, khôi ngô, đẹp đẽ, có sức mạnh phi thường. – Cuộc chia tay giữa hai vị thần + Lạc Long Quân nhớ thương miền nước thẳm, cũng không quen sống trên cạn nên trở về với mẹ. + Âu Cơ vò võ nuôi con một mình nên buồn tủi, phải gọi chồng lên than thở. + Lạc Long Quân suy nghĩ và nhận thấy “người nòi Rồng, kẻ dòng Tiên, khó mà chung sống với nhau” nên đề nghị chia con + Âu Cơ ưng thuận, 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển. + Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn làm vua, lấy hiệu Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, dựng lên nước Văn Lang 3. Kết bài cho đề kể lại truyện Con rồng cháu Tiên bằng lời văn của mình Khái quát lại ý nghĩa của truyền thuyết: + Từ đó người Việt luôn tự hào, suy tôn nguồn gốc giống nòi nhớ ơn dựng nước của vua Hùng + Người Việt luôn ghi nhớ bài học về tinh thần đoàn kết dân tộc
Kể chuyện con rồng cháu tiên bằng lời của em bài văn của Thu Hằng chuyên văn
507
Kể chuyện Cuộc chạy đua trong rừng Hướng dẫn Trong bốn năm học vừa qua, em đã được học nhiều truyện hay và có ý nghĩa. Nhưng em ấn tượng hơn cả là truyện “Cuộc chạy đua trong rừng”. Em xin kể lại câu chuyện đó. Tại buổi hội họp hàng năm, muông thú trong rừng tranh luận rất gay gắt về việc con vật nào chạy nhanh nhất. Cuối cùng, để chấm dứt cuộc tranh luận, các con vật đều nhất trí mở một hội thi chạy để chọn ra một con vật chạy nhanh nhất. Sau buổi họp, các con vật đều rất hứng khởi. Con vật nào tham gia vào cuộc thi này đều chuẩn bị rất kĩ lưỡng bởi đến chị Rùa và cô Ốc Sên cũng tham dự cơ mà. Gia đình nhà bác Ngựa cũng đang bàn nhau xem có nên tham gia vào cuộc thi hay không. Nhà chỉ có ba người, hai bác Ngựa thì đã già, chân yếu lắm rồi, có thì cũng không thể chiến thắng được. Chỉ còn mỗi Ngựa Con. Nhưng bố mẹ ngựa con cho rằng Ngựa Con chưa có kinh nghiệm gì cả. Nghe bố mẹ bàn bạc, Ngựa Con hào hứng nói: -Bố mẹ ơi! Con sẽ tham gia hội thi ngày mai. Bố mẹ yên tâm, con sẽ chứng minh cho muông thú trong rừng biết rằng: “Chạy nhanh như ngựa là như thế nào?”. Bố mẹ Ngựa Con đồng ý để Ngựa Con tham gia vì nghĩ rằng đây cũng là một cơ hội giúp Ngựa Con trưởng thành hơn. Ngựa Con thích lẳm. Chú tin chắc rằng mình sè chiến thắng. Chú sửa soạn không biết chán. Ra dòng suối trong veo gần nhà, chú soi bóng mình xuống nước và hài lòng khi nhìn thấy hình ảnh cùa mình – một chú ngựa xinh xắn với bộ lông màu nâu, mượt mà tuyệt đẹp, cái bờm dài được chải chuốt trông ra dáng một nhà vô địch… -Con trai à, con phải đến bác thợ rèn để xem lại bộ móng. Nó cần thiết cho cuộc đua hơn là bộ đồ đẹp đấy con ạ! Nghe cha nói vậy, Ngựa Con mắt vẫn không thể rời bóng mình nước, ngúng nguẩy đáp: -Cha yên tâm. Móng của con chắc chắn lắm. Con nhất định sẽ chiến thắng mà. Cuộc thi đã đến. Từ sáng sớm, bãi cỏ xanh rộng đã dông nghịt các con vật đến dự thi. Rất nhiều con vật khác đứng vòng trong vòng ngoài cổ vũ. Bác Sư Tử già được bầu làm trọng tài của cuộc thi đang ngồi chễm chệ trên hòn đá to giữa bãi cỏ, trông rất oai vệ. Đằng kia, chị em nhà Hươu đang sốt ruột gặm lá. Thỏ Trắng, Thỏ Xám được bài học từ lần chạy thi với Rùa nên lần này thận trọng ngắm nghía kỹ các đối thủ. Bác Quạ già thì bay đi bay lại nhắc giữ trật tự. Còn chú Ngựa Con thì ung dung đi về phía vạch xuất phát. “Chuẩn bị!… Bắt đầu!” Khi tiếng hô của Sư Tử vang lên, các vận động viên rần rần chuyển động. Hết vòng thứ nhất, Ngựa Con dẫn đầu bằng những bước sải dài khoẻ khoắn. Đến vòng thứ hai, đang chạy hết tốc độ thì Ngựa Con thấy vướng vướng ở chân. Chú giật mình thảng thốt và đau đớn nhận ra rằng một cái móng của mình đã bị lung lay mất rồi, sau đó thì cái móng ấy rơi hẳn ra. Gai nhọn đâm vào chân làm Ngựa Con đau điếng. Chú chạy tập tễnh, tụt lại dần về phía sau và cuối cùng thì dừng hẳn lại. Đứng nhìn đám bạn lướt qua mặt, Ngựa Con đỏ hoe mắt. Chú thấy ân hận vì đã không nghe theo lời cha dặn. Xuân Hà Linh – Hà Tây Nhận xét của giáo viên: * Những ưu điểm cần học tập Đọc câu chuyện “Cuộc chạy đua trong rừng” qua lời kể của Linh, ta mới thấy thế giới động vật sống động làm sao. Bài văn kể chuyện của Linh có kết cấu 3 phần rõ ràng, các tình tiết lần lượt diễn ra một cách hợp lý, đúng với cốt truyện. Nhân vật chính trong câu chuyện là chú Ngựa Con. Chú Ngựa Con trong cuộc đua để chọn con vật chạy nhanh nhất này cũng có điểm giống như chú Thỏ trong câu chuyện quen thuộc “Rùa và Thỏ” – đó là quá tự tin, chủ quan, không lường trước được sự việc. Nhưng nếu chú Thỏ thất bại do mãi chơi, khinh thường ý chí quyết thắng cùa Rùa, thì chú Ngựa Con lại thất bại do chỉ lo chải chuốt, tô điểm cho vẻ ngoài của mình, không nghe lời khuyên của bố. Cách kể chuyện của Linh hấp dẫn, chân thật, ngôn ngữ giản dị, trong sáng. Câu chuyện sở dĩ cụ thể và sinh dộng cũng là bởi bạn đã biết tưởng tượng thêm một số chi tiết để dẫn dắt nhịp nhàng câu chuyện. Ví dụ: Cuộc tranh luận gay gắt của muông thú trong rừng; sự hứng khởi và sự chuẩn bị của các con vật trước cuộc đua… đặc biệt các chi tiết: hai con vật được coi là chạy chậm nhất “Rùa và Óc Sên” cũng tham gia cuộc dua; rồi “Bác Sư Từ già được bầu làm trọng tài của cuộc thi đang ngồi chễm chệ trên hòn đá to giữa bãi cỏ, trông rất oai vệ”, “Thỏ Trắng, Thỏ Xám được bài học từ lần chạy thi với rùa nên lần này thận trọng ngắm nghía kỹ các đối thủ”… mang tới sự thú vị cho người đọc. Bài luyện tập 1.Những chi tiết nào trong câu chuyện cho thấy Ngựa Con rất chủ quan, tự tin bản thân mình? 2.Ý nghĩa của câu chuyện là gì? 3.Viết phần kết bài nói lên cảm nghĩ của em về câu chuyện? Kể lại câu chuyện bằng lời của Ngựa Con. Tham khảo thêm những bài kể khác tại đây:
Kể chuyện Cuộc chạy đua trong rừng
1,003
Kể chuyện Cô bé bán diêm bằng cách hóa thân vào que diêm Hướng dẫn Kể chuyện Cô bé bán diêm bằng cách hóa thân vào que diêm 5 (100%) 1 đánh giá Đêm nay là một đêm giao thừa! Một đêm rét mướt ngoài trời chỉ toàn là tuyết, tôi cũng những người bạn diêm của mình nằm im lìm trong bao trong một chiếc giỏ được ôm trong lòng của một cô bé. Đúng vậy! Một cô bé hiền lành và đáng thương! Đêm nay, đáng ra cô bé phải được ngồi trước lò sưởi, bên một bàn ăn thịnh soạn và cùng gia đình đón giao thừa nhưng lại phải lang thang khắp đường phố để giao bán những que diêm như chúng tôi để có tiền mang về. Ôi chao, cuộc đời của những que diêm chúng tôi ngắn ngủi nhưng chẳng mấy khổ đau còn cuộc đời của nhiều còn người lắm khổ đau quá đỗi. Trong tiếng gió rít cuốn theo tuyết bay len vào mọi ngóc nghách đường phố, một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối. Tôi còn nhớ cách đây vài ngày cô bé vẫn còn giày để đi nhưng là một đôi giàu vải mỏng và cũ, không may thay, nó đã bị mất trong một sự cố với xe ngựa và cô bé chỉ có thể đi chân đất như vậy trong đêm đông giá buốt. Tôi cố ló ra nhìn cô bé và thấy gương mặt cô đỏ ửng nhưng không phải trong màu da hồng hào mà là dưới khuôn mặt nhợt nhạt, hiện rõ sự cóng lạnh của cô. Cứ mỗi lần có người đi lại trên con đường vắng tanh này, cô bé lại đưa một tay đang cầm bao diêm ra, mời họ mua, nhưng chả ai thèm dừng lại đoái hoài dù chỉ một lần. Có lẽ là d trời quá lạnh và họ đang bận về nhà chăng hay họ không muốn dùng đến chúng tôi nữa vì đã có lò sưởi? Nhưng dù thế nào, tôi đâu còn muốn quan tâm đến số phận của một que diêm bé nhỏ như tôi sẽ đi về đâu, nếu người ta không dùng thì tôi cứ ở đó, còn nếu được quẹt lên, tôi sẽ cháy sáng trong vài phút rồi từ giã cõi đời trong sự thanh thản chẳng mảy may nhiều nghĩ suy khi đã cống hiến cho cuộc đời và làm tròn trách nhiệm của mình. Người tôi lo là cô gái bé nhỏ đáng thương của tôi. Cô bé sống với cha ở trên gác, sát mái nhà mà mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà. Đặc biệt người cha là một kẻ say luôn đòi tiền con gái để uống rượu, nếu đêm nay, cô không có tiền đem về, nhất định sẽ bị đánh đập vô cùng tàn nhẫn. Có lẽ do quá lạnh, cô lấy ra một bao diêm và quẹt. Cô quẹt một que đầy, ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biếc đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt. Cô bé hơ đôi tay trên que diêm sáng rực như than hồng. Và tôi thấy mắt cô ánh lên niềm vui vì cô tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng. Trong lò, lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng. Nhưng vòng đời những que diêm như tôi vốn ngắn, chưa được bao lâu, lò sưởi đã không còn. Cô bé tiếp tục quẹt, cô quẹt que diêm thứ ba. Một cây thông Noel xuất hiện. Cây to lớn và cao. Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ. Như một phản xạ, cô bé với đôi tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Tất cả những ngọn nến bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời. Khi này, tôi nghe thấy tiếng cô bé thủ thỉ: – Chắc hẳn có ai vừa chết, em bé tự nhủ, vì bà em, người hiền hậu độc nhất đối với em, đã chết từ lâu, trước đây thường nói rằng: “Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với thượng đế”. Nỗi thất vọng tràn lên trong đôi mặt của cô và thế là cô quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Phải chăng cô muốn níu bà cô lại? Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một bà lão to lớn và đẹp như thế này. Bà cụ cầm lấy tay cô bé, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về với Thuợng đế. Tôi chính là que diêm cuối cùng đã cháy mở con đường cho hai bà cháu bay về cõi vĩnh hằng. Tôi đã đi cùng với hai bà cháu đến nơi hạnh phúc. Tôi tin rằng mọi khổ đau cô bé phải chịu đã qua, nơi thành phố lạnh lẽo tình người ấy không xứng đáng có được một thiên thần như cô và cô thuộc về cõi mơ. Khi ra đi, trên môi cô bé đã nở một nụ cười tươi tắn và rạng ngời nhất của một thiên thần.
Kể chuyện Cô bé bán diêm bằng cách hóa thân vào que diêm
926
Kể chuyện lớp 5 Người đi săn và con Nai Hướng dẫn Đề bài: Dựa theo tranh và lời chú thích đã cho ở dưới mỗi bức tranh, em hãy kể lại từng đoạn truyện “Người đi săn và con nai”. Hướng dẫn 1-Bức tranh 1: Người đi săn chuẩn bị mọi dụng cụ cần thiết cho chuyến đi săn nai khi mùa trám chín đến. 2-Bức tranh 2: Gặp con suối, suối khuyên người đi săn đừng bắn nai. 3-Bức tranh 3: Cây trám giận dữ trước ý định của người đi săn muôn bắn con nai. 4-Bức tranh 4: Thẫn thờ trước vẻ đẹp của con nai, người đi săn đã hạ súng xuống. *Đoạn 1: “Mùa trám chín, nai sẽ về nhiều, chuẩn bị đi săn thôi”. Nghĩ vậy, người thợ săn vội vàng chuẩn bị súng kíp, đạn dược xếp vào túi vải và đeo cái đèn ló lên đường vào rừng. Khi đi qua một con suối, suối hỏi: -Đi đâu mà tối thế, hở anh bạn? -Đi săn con nai – Người thợ săn trả lời. -Đừng bắn nai. Nai hay đến đâv soi gương lắm, ông bạn ạ. Người thợ săn không nói gì lầm lũi bước đi. Đến gốc cây trám, anh ta ngồi nghỉ, hạ chiếc đèn ló xuống. Cây trám hỏi: -Anh đến đây chơi với tôi à? -Tôi đợi nai về cho nó một phát. -Sao anh ác thế? -Thịt nai ngon lắm. -Vậy thì anh hãy cút đi. *Đoạn 2: Thế rồi trên lưng đồi, bóng một con nai xuất hiện. Ánh đèn ló trên trán người đi săn bỗng sáng rực lên. Hai con mắt nai đỏ như hổ phách bối rối trong làn sáng đèn. Con nai ngây ra, đẹp quá đến nỗi người đi săn quên mất thịt nai ngon, quên đưa súng lên, cứ ngắm hoài vẻ đẹp ngơ ngác của con nai. Rồi anh ta chợt nhớ lời suối, trám nói: muông thú và cây cỏ trong rừng đều là bạn ta, sao ta lại thèm ăn thịt bạn. *Đoạn 3: Con nai vẫn lặng yên, trắng muôt trong luồng ánh sáng. Vẻ đẹp của nó đã làm cho người thợ săn cảm mến, xúc động. Anh đèn ló lệch xuống, mất bóng con nai. Người đi săn luông cuông điều chỉnh lại luồng sáng nhưng con nai đã biến mất. *Đoạn 4: Người đi săn bàng hoàng, ngơ ngẩn bước xuống đồi. Vầng trăng nhìn anh mỉm cười: – Ngủ ngon được đấy! Chúc ngủ ngon! Người thợ săn trở về nhà, cất khẩu súng, bao đạn và chiếc đèn ló vào chỗ cũ. Đêm ấy, trong giấc ngủ êm đềm, anh mơ thấy con nai. Và chưa bao giờ anh thấy nó đẹp và đáng yêu như thế.
Kể chuyện lớp 5 Người đi săn và con Nai
441
Kể chuyện Lớp trưởng lớp tôi Hướng dẫn Vân được bầu làm lớp trưởng. Cuối giờ học, con trai chúng tôi kéo nhau ra một góc, bình luận sôi nổi. Lâm “voi” nói to lên: – Lớp trướng gì mà vừa gầy vừa thấp bé, chả có dáng tí nào… Quốc “lém” lên tiếng: -Lớp trưởng phái mồm mép, nhanh nhau. Cái Vân cạy răng chắng nói nửa lời, có mà chỉ huy người… câm. Riêng tôi, tôi quan niệm lớp trưởng phải học giỏi. Vân chỉ được cái chăm chỉ, chứ học chả hơn tôi. Giờ Địa hôm qua, cô giáo trả bài kiếm tra. Cái Vân được điểm mười, bài cua tôi chỉ được năm, lí do là khi điền bản đồ, tôi đã “sơ tán” Hà Tây, Hoà Bình lên tận biên giới phía Bắc. Vân làm lớp trưởng hôm trước thì hôm sau đã có nhiều chuyện đáng nhớ. Trống xếp hàng được một lúc, Quốc mới hớt hải từ đâu chạy đến, miệng lắp bắp: -Chết… chết tớ rồi. Hôm nay đến phiên trực nhật, tớ, tớ lại ngủ quên. Cả bọn hoảng quá. Lớp tôi vừa đăng kí thi đua. Nhưng vào lớp, chúng tôi rất ngạc nhiên: lớp sạch như lau, bàn ghế ngay ngắn, bảng đen rành rành một dòng chữ con gái tròn trặn, nắn nót: “Thứ ba, 27 tháng 8 năm…” Nét chữ của Vân! Lâm trố mắt nhìn, còn Quốc và tôi thì thở phào… Buổi chiều, chúng tôi đi lao động. Nắng như thiêu. Đứa nào đứa nấy mồ hôi đẫm lưng, cổ khát khô. Bỗng Lâm kêu toáng lên: Bọn con trai chúng tôi ùa tới, vây quanh phích kem. Vân mồ hôi nhẻ nhại, đang nhanh nhẹn chia kem cho mọi người. Quốc vừa ăn vừa tấm tắc: -Lớp trương “tâm lí” quá! À, bạn lấy phích kem ở đâu ra thế? -Bà hàng kem cho mượn cả phích đây. Còn tiền là của chi đội làm lao động hè… Bây giờ, có ai hỏi về lớp trưởng lớp tôi, tôi sẽ tự hào nói: “Vân không chỉ học chăm mà còn học rất giỏi.” Hỏi Lâm, chắc nó sẽ oang oang: “Vân là con gái, nhỏ người thật nhưng xốc vác lắm đấy”. Và chẳng phải hỏi, Quốc cũng sẽ khoe ngay: “Vân củ mỉ cù mì mà giỏi đáo để, bọn con trai chúng tớ ai cùng phải nể phục.” (Theo LƯƠNG TỐ NGA)
Kể chuyện Lớp trưởng lớp tôi
390
Kể chuyện Người đi săn và con Nai Hướng dẫn Từ chập tối, người đi săn đã lôi cái súng kíp trên gác bếp xuống, xếp đạn vào chiếc túi vải chàm, rồi đeo cái đèn ló trước trán, vào rừng. Mùa trám chín, chắc nai về nhiều rồi, đi săn thôi! Người đi săn bước đến con suối. Suôi róc rách hỏi: -Đi đâu tối thế? -Đi săn con nai. Suôi bảo: -Con nai hay đến soi gương xuống mặt suối. Đừng bắn con nai! Người đi săn lùi lũi bước đi. Tới gốc cây trám, anh ngồi xuống, hạ chiếc đèn ló. Cây trám hỏi: -Đến chơi với tôi à? -Không phải. -Thế đi đâu? Ở đây vắng quá! Chẳng có ai đến chơi. Đến mùa quả mới được nhìn thấy con nai về. sắp đến lúc nai về đấy! -Tớ chỉ đợi lúc ấy. Cho nó một phát! -Sao? -Cái đèn ló này… để rọi cho nai chói mắt, không biết đường chạy, cái súng này… để bắn. -Ác thế! -Thịt nai ngon lắm. Cây trám rưng rưng: -Thế thì cút đi! Người đi săn không để ý đến những tiếng rì rào tức tưởi trên cây trám. Anh đợi. Thế rồi, trên lưng đồi sẫm đen dưới ánh trăng, bóng con nai hiện rõ dần. Ánh đèn ló trên trán người đi săn vụt rực lên. Hai con mắt nai đỏ như hổ phách bối rối trong làn sáng đèn. Con nai ngây ra đẹp quá. Người đi săn quên mất thịt nai ngon. Người đi săn quên hai tay đã giơ súng. Người đi săn lại nhớ ra lời suôi, lời đồi, lời cây: Muông thú và cây cỏ trong rừng là bạn ta, sao ta lại thèm ăn thịt bạn! Người đi săn mải ngắm con nai, mồ hôi đầm trên trán. Cái dây da tụt xucmg, ánh đèn ló lệch vào bóng tối, mất bóng con nai. Con nai chạy biến. Người đi săn luông cuống giơ tay đẩy chiếc dây da lên. Nhưng trong làn sáng đèn không thấy con nai đâu. Người đi săn ngơ ngẩn xuống đồi. Vầng trăng đã nhìn thấy tất cả, mỉm cười: -Ngủ ngon được đấy! Chúc ngủ ngon! Lát sau, người đi săn đã ngồi trước bếp lửa. Khẩu súng, bao đạn lại treo lên hốc cột gác bếp. Đêm ấy, trong giấc ngủ dìu dịu, anh chiêm bao thấy con nai. Chưa bao giờ anh thấy một con nai đáng yêu đến thế! Theo TÔ HOÀI
Kể chuyện Người đi săn và con Nai
394
Kể chuyện Vì muôn dân Hướng dẫn Năm 1235, khi Trần Quôc Tuấn mới 5, 6 tuổi, cha ông là Trần Liễu có chuyện tị hiềm với vua Trần Thái Tông. Năm 1251, Trần Liễu lâm bệnh nặng, trước khi mất có trăng trối dặn Trần Quôc Tuấn phải vì cha mà giành lại ngôi vua. Biết cha không quên hận cũ, thương cha, Quốc Tuân đành gật đầu đế cha yên lòng, nhưng ông không cho đó là điều phải và luôn tìm cách hoà giải mối hiềm khích trong gia tộc. Cuối năm 1284, nhà Nguyên lại kéo hàng chục vạn quân sang xâm chiếm nước ta. Thế giặc mạnh như chẻ tre. Vua Trần Nhân Tông (cháu Trần Thái Tông) cho mời Hưng Đạo về kinh. Vừa từ Vạn Kiếp về tới Thăng Long, đậu thuyền ở bến Đông, ông sai mời Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải (con vua Trần Thái Tông) đến cùng bàn kế đánh giặc. Biết Quang Khải ngại tắm, ông sai nấu sẩn nước thơm và xin được tắm giùm. Ông tự tay cởi áo cho Quang Khải, dội nước thơm cho Quang Khải và thân mật đùa: -Hôm nay, thật may mắn, tôi được tắm hầu Thái sư. Quang Khải cũng kìm nổi xúc động, đùa lại: -Tôi mới thật có may mắn vì được Quốc công Tiết chế tắm cho. Trước tấm lòng chân tình của cả hai người, mối hiềm khích giữa hai bên được cởi bỏ. Hôm sau, hai người vào cung. Vua đà chờ sẵn để bàn việc nước. Nhà vua băn khoăn: -Lần trước, giặc Nguyên đã bị ta đánh bại. Nhưng lần này chúng đông và mạnh hơn trước bội phần. Các khanh xem có kế gì để giừ yên xà tắc? Hưng Đạo trình bày kĩ mọi việc, từ trân giừ biên thuỳ, cắt cứ các tướng…, đoạn ông nhấn mạnh: -Nên triệu gấp bô lão cả nước về kinh dế cùng luận bàn. Có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh trcăm họ! Anh em hoà thuận, trên dưới một lòng thì giặc kia dẫu mạnh mấy cũng phải tan! Vua y lời. Một sáng đầu xuân năm 1285, bô lão từ mọi miền đất nước tụ hội về diện Diên Hồng. Vua quan nhà Trần tề tựu dông đú. Vua ướm hỏi: -Nhà Nguyên sai sứ giả mang thư sang, xin mượn đường đế đánh Chăm-pa. Ý các khanh thế nào? Hưng Đạo tâu: -Cho giặc mượn đường là mất nước! Cả điện đồng thanh: -Không cho giặc mượn đường! Vua hỏi tiếp: -Ta nên hoà hay nên đánh? Điện Diên Hồng như rung lên bởi những tiếng hô của muôn người: -Nên đánh! -Sát Thát! Nhờ trên dưới đồng lòng, vua tôi hoà thuận… quân dân ta đã đánh tan giặc Nguyên, giữ vững độc lập dân tộc.
Kể chuyện Vì muôn dân
453
Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ Gợi ý “Chẳng phải liu điu cũng giống nhà…” Nhắc đến bài thơ “Rắn đầu biếng học” chắc hẳn ai cũng nhớ ngay đến Lê Quý Đôn – nhà bác học tài danh nổi tiếng thông minh, lém lỉnh từ nhỏ. Không chỉ vậy, Lê Quý Đôn còn có trí nhớ rất phi thường. Thuở hàn vi, có lần Lê Quý Đôn không mang đủ tiền trả cho nhà hàng mà ông ăn nghỉ trên đường đi. ông phải ghi vào sổ nợ của người ta. Nhân vì tò mò, Lê Quý Đôn liếc qua họ tên và những khoản nợ của những khách ăn chịu chưa trả tiền. Ít lâu sau, có việc đi qua đường ấy, Lê Quý Đôn ghé lại nhà hàng cũ để nghỉ chân và trả tiền thì thấy quán hàng cũ đã cháy trụi. Bấy giờ chủ quán đang ngồi trong túp lều mới dựng tạm bên cạnh, trông thấy Lê Quý Đôn liền mếu máo nói: “Cậu ơi! Nhà cửa cháy sạch rồi. Cả quyển sổ nợ cậu xem mấy hôm trước cũng không còn nữa, bây giờ tôi biết căn cứ vào đâu mà đòi nợ?”. Lê Quý Đôn mỉm cười bảo chủ quán lấy giấy bút ra. Trước đôi mắt kinh ngạc của vị chủ quán, ông ghi lại đầy đủ, không sót một ai, tên họ của những người ăn chịu cùng các khoản tiền nợ. Nhờ thế, chủ quán cứ theo danh sách mà thu đủ số tiền nợ. Không lâu sau đó, Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn. Ông cùng một số tân khoa khác được một người tên là Lê Hữu Kiều mời về chơi nhà mình. Đầu làng có một cái cầu đá đẹp nổi tiếng, cạnh cầu có tấm bia khắc bài thơ thất ngôn bát cú. Đi qua cầu, ai cũng có ý đi chầm chậm để kịp nhìn bài thơ trên bia đá. Chủ nhà thấy vậy chỉ tủm tỉm cười. Đến khi vào nhà, trong bữa tiệc vui vẻ, Lê Hữu Kiều nói về chiếc cầu đá và hỏi các chàng tân khoa xem có ai nhớ được bài thơ trên tấm bia không. Cũng có vài người nhớ được nhưng cũng chỉ nhớ lõm bõm được một hai câu đầu và câu kết. Riêng chàng bảng nhãn Lê Quý Đôn thì đọc lại đầy đủ cả bài thơ không sót một chữ nào. Cả bàn tiệc từ chủ đến khách ai cũng phải thán phục cái trí nhớ hết sức kì diệu của Lê Quý Đôn. Sau đó, vị chủ nhà hóm hỉnh đã quyết định gả con gái cho chàng bảng nhãn họ Lê. Bấy giờ mọi người mới vỡ lẽ, thì ra đây không phải là trò đánh đố chữ thông thường, mà chính là một cách thử tài để kén rể của ông. Có lần được hỏi về trí nhớ siêu phàm của mình, Lê Quý Đôn đã mang ra rất nhiều những chiếc túi mà ông gọi là “túi gấm”. Trong túi gấm chứa những tờ giấy ông ghi chép về mọi điều xung quanh. Mỗi túi là một vấn đề, một đối tượng… Trong quá trình sàng lọc thông tin để ghi chép lại, ông đã nhớ được mọi điều. Khi quên hay cần đến thông tin chính xác, ông lại giở túi gấm ra. Việc ghi chép, phân loại túi gấm đã giúp Lê Quý Đôn rèn luyện cách ghi nhớ rất nhanh sự việc.
Kể chuyện về một danh nhân mà em ngưỡng mộ
582
Đề bài: Em hãy kể chuyện về một lần em không vâng lời thầy cô giáo. Bài làm Cuối năm học vừa qua, em đạt được danh hiệu Học sinh tiên tiến xuất sắc. Có được kết quả này một phần là nhờ em rút ra được bài học cay đắng ở đầu học kì I. Chuyện là thế này: Thầy dạy Toán của em rất nghiêm khắc và cẩn thận. Thầy thường nói rằng Toán là bộ môn mà kiến thức liên kết với nhau rất chặt chẽ, nếu hiểu không kĩ phần trước thì phần sau sẽ khó tiếp thu. Em đã không vâng lời thầy, dù chỉ một lần. Vốn là học sinh giỏi Toán nên bài kiểm tra nào em cũng đạt điểm 9, điểm 10. Mỗi lần thầy gọi điểm, em trả lời rất rành rọt trước sự thán phục của bạn bè. Một hôm, trong giờ ôn tập, em chủ quan không học bài cũ. Theo thường lệ, thầy giáo gọi học sinh lên bảng. Em đã có điểm kiểm tra miệng nên tin chắc là thầy sẽ chẳng gọi đến mình. Vì vậy, em ung dung ngắm bầu trời qua khung cửa sổ và tha hồ tưởng tượng đến trận đá bóng giao hữu chiều nay giữa lớp em với lớp 7B mà em là một chân sút có hạng. Nhưng một chuyện bất ngờ đã xảy ra là thầy giáo yêu cầu cả lớp lấy giấy ra làm bài. Biết làm sao bây giờ? Mọi khi kiểm tra một tiết, thầy thường báo trước. Còn hôm nay, sao lại thế này?! Đây đó trong lớp nổi lên tiếng xì xào thắc mắc của một số bạn. Em ngơ ngác nhìn quanh một lượt và chợt bừng tỉnh khi bạn Hoa ngồi cạnh huých cùi tay vào sườn, nhắc nhở: “Kìa, chép đề đi chứ!”. Tuần sau, thầy giáo trả bài. Như mọi lần, em nhận bài từ tay thầy để phát cho các bạn. Liếc qua bài mình, thấy bị điểm 4, tim em thắt lại. Em cố giữ vẻ mặt thản nhiên để che giấu bao sóng gió trong lòng. Thật là chuyện chưa từng có. Ăn nói làm sao với thầy, với bạn, với bố mẹ bây giờ? Chỉ vì em không nghe lời thầy, chủ quan trong học tập nên mới ra nông nỗi. Sau đó, em đã cố gắng rất nhiều nhưng điểm trung bình môn Toán học kì I chỉ đạt loại khá. Nhờ cố gắng học tập, cuối năm, em vẫn đạt được danh hiệu Học sinh tiên tiến xuất sắc nhưng em không sao quên chuyện cũ. Giờ đây, em kể lại chuyện này với thái độ tự kiểm điểm nghiêm túc. Chủ quan, tự mãn tất sẽ dẫn đến thất bại. Đó là bài học sâu sắc không chỉ trong đời học trò mà trong suốt cuộc đời của mỗi con người.
Kể chuyện về một lần em không vâng lời thầy cô giáo
481
Kể chuyện về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác Hướng dẫn Chưa bao giờ em đi xa như lần ấy. Đó là chuyến tham quan du lịch tại thành phố Đà Lạt do cơ quan bố tố chức vào dịp hè năm ngoái. Em và bé Mi được bố mẹ cho đi theo. Một chuyến du lịch lí thú mà chẳng bao giờ em quên được. Thành phố Đà Lạt – đẹp không các bạn!!! Nhìn phía trước, con đường nhựa tí tẹo vắt lên, lượn xuống trông như một đường chì ngoằn ngoèo kẻ trên tấm bản đồ. Bây giờ, em mới thực sự hiểu được khái niệm “đồi núi” mà trước đây trong giờ từ ngữ cô đã giải thích: Rừng cây bạt ngàn ngút cả tầm mắt. Trên các ngọn núi cao, những dải mây trắng vắt ngang như một tấm lụa trắng, nổi bật trên màu xanh thẳm của lá rừng. Xe đã đến địa phận của thành phố. Điểm tham quan đầu tiên mà bác tài đỗ xe lại nằm ngay trên con đường đi vào thành phố: Thác Pren. Ôi! Thác Pren đây rồi! Đẹp quá! Giống hệt như trong tivi mà em đả từng được thấy trong chương trình Dự báo thời tiết. Nước từ trên cao đố xuống hồ thành một đường cầu vồng trắng xóa. Hơi nước bốc lên lành lạnh như tiết trời có gió mùa đông bắc. Bé Mi ngắm mãi dòng thác không chán. Bố dản cả ba mẹ con bước đi lên một chiếc cầu nổi dạo một vòng quanh hồ. Khi đi qua chỗ thác đổ, Mi sợ quá, níu lấy tay bô không muốn bước tiếp. Bố bảo: “Con đừng sợ, thác nó đổ vượt qua đầu mình, con cứ tự nhiên mà đi!” Đến chỗ tránh nắng, bô gọi thợ chụp hình, bấm cho mỗi chị em hai kiểu, cả nhà một kiểu Lúc này, các cô chú trong đoàn ai cũng chụp một số kiểu làm kĩ niệm. Sau đó, đoàn rời thác Pren lên xe vào thành phố. Đến nhà nghĩ Công đoàn đúng mười một giờ trưa. Cả đoàn xuống xe tạm nghĩ ở hành lang chờ bác trương đoàn liên hệ phòng nghỉ. Như kế hoạch đã định, chiều hôm ấy, xe đưa đoàn đến tham quan Thung Lũng Tình Yêu. Đứng trên đồi cao nhìn xuống thung lũng, em có cảm giác như mình đã bắt gặp cảnh này đâu đó trong một truyện cổ xa xưa của nước mình. Chẳng khác gì một “bồng lai tiên cảnh”. Một tiếng đồng hồ sau, xe lại đưa đoàn đến với Đồi Thông Hai Mộ, Hồ Than Thở trữ tình, ở đó có Đồi Ái Ân và xung quanh là một rừng thông bạt ngàn suốt đêm ngày vi vu cùng gió núi sương ngàn. Cảnh thơ mộng đến thế mà sao có cái tên âu sầu, buồn bã như vậy. Đứng trên Đồi Ái Ân ai cũng muốn ghi lại nơi đây một kĩ niệm đẹp, nên các thợ chụp hình liên tục bấm máy. Em và bé Mi cũng được bố mẹ cho chụp hai pô. Bé nói: “Hình em sẽ đẹp hơn hình chị đấy! Nghe chú thợ chụp hình nói: Cười lên! Tươi lên nào!. “Em cười tươi lắm đó!”. Nó nhí nhảnh như một con chim, lại đòi cưỡi ngựa đi dạo nữa. Ngồi trên mình ngựa bé xinh như một con búp bê. Qua ngày thứ hai, xe lại đưa đoàn đến với Đồi Cù, với thác Cam Li, nhà Toàn quyền, dinh thự Bảo Đại… Mỗi nơi đều có một vẻ đẹp riêng, một sự mới lạ, hấp dẫn khách tham quan du lịch. Tạm biệt thành phố Đà Lạt trong một cảm giác lâng lâng, một trạng thái luyến tiếc.. Ôi, một chuyến tham quan du lịch đầy hấp dẫn và thú vị!
Kể chuyện về một lần em được đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác
651
Đề bài: Kể chuyện về một người bạn tốt Bài làm Tôi và Vân chơi với nhau từ năm lớp ba. Đến tận bây giờ nó vẫn là đứa bạn thân thiết nhất và hiểu tôi hơn bất kì ai. Vân là một đứa cao, to lớn hơn tôi rất nhiều. Mạnh mẽ, vui vẻ và sôi động chính là những từ thích hợp nhất để nói về Vân. Trong khi tôi – đứa bạn của nó thì hoàn toàn ngược lại: bé nhỏ, nhút nhát và hơi tự ti. Với tính cách đó nên khi chuyển vào lớp Vân, ban đầu tôi không có bạn. Tôi chỉ lặng lẽ thu mình trong không gian riêng, không trò chuyện, hay nói đúng hơn là không dám bắt chuyện với ai. Chính chiếc bút chì màu Vân cho tôi trong giờ mĩ thuật đã bắt đầu tình bạn của hai đứa. Nhớ lúc đó tôi đang loay hoay không biết làm thế nào để hoàn thiện hình vẽ ông mặt trời trong khi cây bút chì màu đỏ của tôi không cánh mà bay thì một cánh tay đưa ra, trên đó là thứ tôi cần. Bạn có dùng không? Ưu tiên bạn mới tô trước. Dúi bút vào tay tôi, Vân cười hì hì rồi quay lên. Tôi bất ngờ và cảm động. Không hiểu sao lúc đó, trong trí óc ngây thơ của tôi, Vân như thể là một cô tiên vừa ban cho tôi một phép màu. Từ đó, tình bạn giữa hai đứa bắt đầu. Trong lớp hai đứa lúc nào cũng như hình với bóng, đi đâu cũng có nhau. Chúng tôi đến trường cùng nhau, ngồi gần bàn nhau, cùng học bài và cùng nhau vui chơi. Những lúc tôi bị bắt nạt, Vân luôn là “bảo kê” số một của tôi. Âu yếm và hài hước, Vân gọi tôi là Ngố còn tôi gọi nó là Voi con. Chơi với nhau lâu nên Vân hiểu tôi lắm. Những lúc tôi buồn nó thường đến bên tôi ngồi lặng lẽ, không nói gì. Bởi nó biết những lúc thế này tôi chỉ muốn một không gian yên tĩnh, tôi sợ cảm giác bị thương hại. Bên ngoài trông Vân có vẻ là một đứa nóng tính như Trương Phi nhưng thực ra nó cũng rất tình cảm. Nó thường viết thư trò chuyện, an ủi động viên tôi. Nó như một người chị lớn, luôn muốn dang rộng cánh tay che chở cho đứa em gái bé nhỏ của mình vậy. Khi chúng tôi chia tay để sang trường THPT khác nhau, dù rất ghét ngồi tỉ mẩn làm những đồ trang trí thế mà vì tôi, nó chịu ngồi cả tuần trong nhà, quyết gấp bằng được nghìn con hạc tặng tôi. Hôm nó mang đến, mặt tươi như hoa, tay đưa tôi một hộp thuỷ tinh rất to, bên trong là bao nhiêu chú hạc xinh xắn đủ các màu lại còn khuyến mại thêm đôi dây buộc tóc hình xúc xắc rất đáng yêu nữa chứ. Sung sướng và cảm động đến phát khóc, tôi ôm chặt nó, không nói lên lời… Bây giờ tuy mỗi đứa một trường, gặp nhau không được nhiều như trước nên chúng tôi hay nói chuyện với nhau qua điện thoại. Nhờ ảnh hưởng từ nó mà giờ đây tôi mạnh mẽ hơn rất nhiều, không còn nhút nhát như trước, thậm chí còn rất sôi nổi và hoạt bát. Tôi phải thầm cảm ơn Vân – người bạn yêu quý – đã đánh văng cái tính nhút nhát kinh niên của tôi, giúp tôi hoàn thiện mình hơn. Đối với tôi, Voi con luôn là người bạn mà tôi yêu quý nhất. Không bao giờ tôi muốn đánh mất người bạn này.
Kể chuyện về một người bạn tốt
629
Kể chuyện Ông Nguyễn Khoa Đăng Hướng dẫn Nguyễn Khoa Đăng là một vị quan án có tài xét xử, được dân mến phục. Một lần, có anh hàng dầu gánh hàng ra chợ bán. Lợi dụng lúc anh bận đong dầu, có kẻ thò tay vào bị lấy trộm tiền. Khi biết bị mất tiền, anh hàng dầu nhớ hồi nãy có một người mù quanh quấn bên gánh hàng, đuổi mấy cũng không đi. Anh đoán hắn là kẻ cắp, bèn gửi gánh hàng cho người quen rồi đi tìm người mù. Người này ra sức chối, nói rằng mình mù biết tiền để đâu mà lấy. Hai bên xô xát, lính bắt họ giải lên quan án Nguyễn Khoa Đăng. Thấy người mù khăng khăng chối không ăn cắp tiền, quan hỏi: – Anh có mang tiền theo không? Người mù đáp: -Có, nhưng đấy là tiền của tôi. -Cứ đưa đây. Của ai rồi sẽ rõ. Khi người mù móc tiền ra, quan sai người múc một chậu nước, bỏ sôố tiền vào chậu. Một lát thấy trên mặt nước có váng dầu nổi lên. Người mù hết đường chôi cãi, đành nhận tội. Vụ án tương đã xong, không ngờ quan lại phán: -Tên ăn cắp này là kẻ giả mù vì nếu mù thật thì làm sao hắn biết người bán dầu để tiền ở đâu mà lấy. Ổng sai lính nọc tên mù ra đánh, kì đến khi hắn mở mắt mới thôi. Lúc đầu, người mù còn chôi, chỉ sau 3 roi hắn đành mở cả hai mắt. Để bắt bọn cướp, quan sai chê một loại hòm gỗ kín có lỗ thông hơi, vừa một người ngồi, có khóa bên trong để người ở trong có thế mơ tung ra dễ dàng. Ông kén một số võ sĩ, đem theo vũ khí, ngồi vào hòm. Rồi sai quân sĩ ăn mặc như dân thường, khiêng những hòm ây qua truông, ra vẻ như khiêng những hòm của cải nặng. Lại cho người đánh tiếng có một vị quan to ở ngoài Bắc sắp sửa về quê sẽ đi qua truông cùng những hòm của cải quý. Bọn cướp đánh hơi, nghĩ đây là cơ hội làm ăn hiếm có, rình lúc đoàn người đi qua cửa truông thì cướp, rồi hí hửng khiêng những hòm nặng ấy về tận sào huyệt. Về đến nơi, vừa đặt hòm xuống thì những cái hòm bật mở toang, các võ sĩ ngồi trong tay lăm lăm vũ khí bất ngờ xông ra đánh giết bọn cướp. Đang lúc hoảng hốt chưa kịp đối phó thì phục binh của triều đình từ ngoài ùn ùn kéo vào đông như kiến cỏ, bọn cướp đành chắp tay xin tha mạng. Bọn cướp ấy, Nguyễn Khoa Đăng đưa đi khai khẩn đất hoang ở biên giới, lập thành những đồn điền rộng lớn. Sau đó, ông cho đưa dân đến lập làng xóm ở dọc hai bên truông khiến một vùng núi rừng xưa vắng vẻ trở thành nhừng xóm làng dân cư đông đúc, bình yên.
Kể chuyện Ông Nguyễn Khoa Đăng
505
Kể câu chuyện bác đánh cá và gã hung thần Hướng dẫn Kể câu chuyện bác đánh cá và gã hung thần Ngày xửa ngày xưa, có một bác ngư dân nọ ngày nào cũng siêng năng ra biển quăng lưới. Một ngày kia, Bác cũng ra biển quăng lưới. Suốt từ sáng đến chiều, Bác chẳng bắt được con cá, con tôm nào. Quyết định quăng lưới mẻ cuối rồi về. Lạ thay, trong mẻ cuối, một cái bình bằng đồng được đóng nắp bằng chì mắc vào lưới. Bác mừng thầm vì ít nhất cũng có cái bình đồng bán cũng được kha khá tiền. Bác vội mở bình ra xem có gì đáng giá bên trong không thì một làn khói đen tỏa ra rồi tụ lại thành một con ác qủy. Nó trợn mắt rồi nói: “Lão già, ngươi tới số rồi”. Bác liền đáp: “Ta cứu người, tại sao lại đòi giết ta?”. Gã ác qủy cười ha hả rồi trả lời: “Ta bị nhốt từ lâu trong cái bình đồng đó. Ta nguyện rằng ai cứu ta, ta sẽ cho người đó giàu có sung sướng. Chờ hoài không thấy ai cứu, ta mới đổi lời nguyện. Ai cứu ta, ta sẽ giết người đó. Nào ngờ, mới đó đã được ngươi cứu ra. Ngươi đúng là tận kiếp rồi. Ha ha ha!”. Bác ngư dân nghe thấy thế thì bình tĩnh đáp lại: “Ta chết bây giờ cũng được. Nhưng ta muốn biết điều này trước khi chết. Ngươi to lớn như thế làm sao chui tọt vào cái bình bé tí thế hả?” Bác đánh cá vội vàng lấy nắp bình chì đóng lại rồi quăng bình đi thật xa thật sâu vào lòng biển để gã hung thần gian ác mãi mãi bị chôn vùi trong đáy biển sâu.
Kể câu chuyện bác đánh cá và gã hung thần
302
Đề bài: Kể câu chuyện em làm có nội dung như câu Có công mài sắt, có ngày nên kim Bài làm 1 “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Đó là câu tục ngữ mà thầy thường dẫn ra trong lớp để khuyên nhủ chúng em. Nhiều bạn làm theo lời khuyên của thầy mà đã đạt kết quả mỹ mãn, trong đó có em. Còn nhớ hồi đầu năm cứ đến giờ tập làm văn là em ngồi thừ ra cắn bút trong khi các bạn khác trong lớp chữ nghĩa cứ tuôn trào. Đến khi các bạn viết đã đầy trang rồi, thế mà em cố gắng lắm cũng chỉ được sáu bảy dòng rồi cạn nguồn và em cứ ngồi loay hoay mãi. Có công mài sắt, có ngày nên kim Chưa bao giờ em được điểm bảy hay tám về môn văn. Má em khuyên nhủ: “Con phải ráng mà kiên nhẫn, đừng chán nản. Phải có công mài sắt thì mới có ngày nên kim được con ạ! Văn ôn, võ phải luyện mà. Con ôn luyện đi. Má sẽ giúp sức cho con”. Lời căn dặn của má thúc giục em, từ đó, ngoài việc học và làm bài mới, em đã dành hẳn mỗi ngày một giờ đồng hồ để học văn. Thoạt tiên, em tìm lại sách lớp bốn, đọc kỹ phần ghi nhớ. Má hướng đẫn thật chu đáo khâu tìm hiểu đề, xác định nội dung và thể loại của nó. Má cho em đọc nhiều lần bài văn mẫu, bài đọc thêm ở sách tham khảo rồi yêu cầu em viết bài làm của mình không được giống với những điều gì đã đọc. Lúc đầu, em bắt chước các bài vàn mẫu ấy nhưng dần dần tập viết khác đi bằng cách diễn đạt của mình. Má dạy em cách dùng từ, diễn ý sao cho xác hợp mà thoát ý. Nghe lời má, em sắm một quyển sổ tay chép các đoạn văn hay của các nhà văn nổi tiếng. Lúc nào rảnh rỗi là em lấy số tay đọc để tìm hiểu và học tập cách dùng từ, diễn ý sinh động hấp của các bậc tiền bối này. “Học thầy không tầy học bạn”, trong lớp, em làm thân với Nguyên và Hương hai cây văn có tiếng. Hai bạn này truyền đạt lại các kinh nghiệm học văn mà các bạn ấy có được. Điều chi, bài nào khó quá, em mạnh dạn vào lớp hỏi cô. Cô vui vẻ chỉ dẫn tận tình, cho em mượn cả sách tham khảo mà em không có. Thấy em cố gắng, ba em cũng hết lòng khích lệ. Ba đã tìm mua cho các em sách tham khảo tập làm văn cần thiết. Ba tháng sau, em tiến bộ rõ. Không những biết làm dàn ý, em còn biết viết câu văn sao cho có hình ảnh gợi tả và gợi cảm. Tiến bộ ấy đã được cô em công nhận trong lớp. Bài tập làm văn và các bài tập tiếng Việt khác của em điểm số cứ tăng dần. Hai tuần trước đây, lần đầu tiên bài tập làm văn của em đạt điểm chín, được cô đọc cho cả lớp nghe và đặc biệt khen ngợi. Nhưng đặc biệt hơn là cuối học kì một, em được nhà trường tuyển chọn vào đội học sinh giỏi. Xúc động biết bao, nước mắt em cứ muốn trào lên. Câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim" sáng lên trong tâm trí em lúc này. Bài làm 2 Ít ai hiểu được ý nghĩa câu tục ngữ: “Có công mài sắt, có ngày nên kim" một cách sâu xa như Nguyên, bạn học cùng lớp với em. Thật vậy. Em còn nhớ như in là trong năm học trước, năm lớp bốn, lần nào trả bài kiểm tra môn toán thầy cũng, nhắc nhở bạn ấy bằng lời phê trên bài làm: “Toán còn yếu phải cố gắng nhiều” chưa lần nào bài tập cùa Nguyên đạt được điểm năm. Tuy là có thua kém với các bạn trong lớp nhưng Nguyên vẫn không nản lòng. Bạn ấy về nhà xin ba mua đủ các sách giải toán rồi miệt mài đọc kỹ và tập giải với mong muốn mãnh liệt là mình sẽ giỏi toán. Từ đó, nhất là từ đầu năm lớp năm, vào lớp em thấy Nguyên luôn để tâm nghe thầy giảng giải các bài toán, về nhà, hôm nào cũng vậy, dùng bữa xong là bạn bắt tay ngay vào việc giải toán. Nguyên đã tìm hỏi các bạn trong lớp trong đó có em, cách giải các bài toán mà bạn ấy bị điểm thấp. Em và các bạn đều vui vẻ chi dẫn rành rọt cho bạn mình. Có lần Nguyên đã khẩn khoản hỏi Nga, cô bạn học giỏi toán nhất lớp: – Nga ơi! Bạn có cách nào mà học giỏi toán như vậy. Bạn chỉ cho mình đi. Nga tươi cười cời mở: – Chẳng có gì khó hết bạn ơi! Bạn chỉ cần tbuộc và hiểu kỹ bài học và làm cho thật nhiều bài tập là được. Bạn cứ làm đi. Chỗ nào không làm được, nếu mình biết mình sẽ giúp. Ta sẽ cùng giải.. Nghe lời bạn, Nguyên về nhà giải thật nhiều bài tập toán. Nhiều lúc, bạn ấy đã từ chối lời mời đi chơi của các bạn mình. Nguyên miệt mài làm cả các bài tập không có lời giải trong sách và mang tới nhờ thầy sửa giúp. Thấy Nguyên cố gắng, thầy vui mừng lắm và nhiều lần khuyến khích. Thế rồi điều phải đến đã đến. Bài kiểm tra toán của Nguyên lần ấy được điểm chín. Thầy rất hài lòng nên khen ngợi Nguyên trước lớp. Nhìn bạn mình phút ấy em biết lòng bạn sung sướng lắm. Nguyên ơi! Nhờ bạn, mình mới sáng thêm ý nghĩa câu tục ngữ “Có công mài sắt, có ngày nên kim” mà thầy thường nhắc nhở để khuyên chúng ta chăm chỉ học hành. Muốn học giỏi phải kiên trì cố gắng.
Kể câu chuyện em làm có nội dung như câu Có công mài sắt, có ngày nên kim
1,017
Đề bài: Kể câu chuyện lần đầu tiên em được đi chơi xa Bài làm Một ngày gần cuối năm học lớp năm của em, cậu Trung đến nhà chơi và hỏi em có cần cậu giúp học bài gì không. Em sung sướng mang bài tiếng Việt ra hỏi cậu vê ý nghĩa của câu "Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Cậu vui vẻ giải thích: – Câu này có nghĩa là nếu cháu chịu khó đi đây đi đó thì sẽ được mở mang hiểu biết, ở một một nơi xa lại học thêm được điều hay, điều lạ. Em phụng phịu: – Cậu nói vậy thì cháu hiểu nhưng cháu có được đi chơi xa bao giờ đâu! Nơi xa nhất mà cháu từng đi là chợ huyện đấy! Cậu vui vẻ cười: – Cháu muốn đi xa thì dễ thôi, nhưng cháu phải chứng minh cho cậu thấy là cháu xứng đáng với phần thưởng đó. Nếu cuối năm cháu đạt học sinh giỏi, cậu sẽ đưa cháu đến một nơi rất hay là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam! Cuối năm học đó, nhờ những nỗ lực không ngừng, em đạt danh hiệu quý giá ấy và cậu em đã giữ lời hứa! Đó là chuyến đi xa lần đầu tiên của em. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là nơi trưng bày những hiện vật văn hóa của 54 dân tộc anh em sống trên đât nước Việt Nam. Không chỉ thế, tại đây còn thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa tinh thần, các trò chơi dân gian củạ nhiều dân tộc khác nhau rất độc đáo và hấp dẫn. Cậu Trung chọn rất khéo, đó là ngày thứ 7, 30 tháng 4, hôm ấy vừa là ngày nghỉ vừa gần ngày Quốc tế Thiếu nhi nên bảo tàng có rất nhiều khách vào chơi mà đa số là các bạn thiếu nhi được bố mẹ cho đến. Xe cậu vừa đỗ lại em đã bị choáng ngợp bởi lượng người rất đông đứng ngoài bảo tàng. Hai bên cổng là những người bán hàng rong: những quả bóng ni lông đầy màu sắc, hình dáng; nhũng con tò he xinh xắn sặc sỡ; những món đồ chơi lạ mắt nhự máy bay cánh quạt, con chim giấy,… Đứng trước cổng là hàng chục người đang xếp hàng chờ mua vé vào tham quan. Em và cậu cũng trật tự nối nếp vào hàng người ấy. Bước qua cánh cổng bảo tàng, em đứng trước một khối nhà mái vòm rất lớn. Trước nhà là một chiếc ao nhỏ, để đi vào khối nhà đó cần đi qua một chiếc cầu xây hình bậc thang. Phía trên cổng chính to rộng là một dòng chữ bằng đá rất nổi bật: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Cậu em bảo đó là khu trưng bày trong nhà. Theo chân cậu, em bước vào trong. Khu trưng bày trong nhà gồm hai tầng. Chính giữa sảnh chính tầng trệt là một cây nêu rất lớn. Nó cao gần chạm mái tầng trên, từ một nhánh chính, có rất nhiều nhánh nhỏ được tách ra, mỗi nhánh lại được trang trí bằng nhiều màu sắc rất đẹp đẽ, lộng lẫy. Đó là cây nêu ngày Tết dùng để trừ tà vẫn thường xuất hiện trong phong tục người Việt. Theo chân cậu, em bước tiếp vào trong và được chiêm ngưỡng các dụng cụ lao động, săn bắt như liềm, cung, dao,… của người Bana, Êđê, Tày, Nùng,… còn có rất nhiều mô hình nguời dân tộc Mông, Mường, Việt,… trong các lễ ma chay, cưới hỏi, thời bao cấp,… Rồi nhũng chiếc ti vi luôn luôn được mở quay cảnh sinh hoạt của các dân tộc,… Nhưng điểm hấp dẫn nhất thu hút những khách tham quan "nhí" như chúng em là khu trưng bày ngoài trời. Rời ngôi nhà mái vòm, em bước ra một không gian thoáng rộng vô cùng. Ngoài đó có rất nhiều những cây xanh mát, những dòng nước trong vắt. Đi trong khuôn viên ngoài trời của bảo tàng giống như đi trong một khu vườn rợp mát vậy. Tại đây có trưng bày rất nhiều mô hình nhà ở, nhà mồ, thuyền,… cùa nhiều dân tộc. Tất cả đều có kích thước giống như thật. Đa số đều được làm từ các loại cây cối đã làm khô như nứa, gỗ lim, gỗ pơ-mu, cỏ gianh,… Riêng nhà của người Hà Nhi rất đặc biệt: nó được làm bằng đất nện! Nhà rông Tây Nguyên cao vút lên trời xanh, muốn lên được nhà phải trèo lên những bậc thang cao chừng hơn hai mét bằng gỗ. Mái nhà được xếp từ những nắm cỏ rơm khô, vách ken bằng nứa, khung và xà nhà làm từ gỗ. Nhà dài của người Ê-đê thì rất… dài! Đủ cho cả một dòng họ gồm hàng chục người sinh sống. Ngôi nhà cũng gần giống mô hình nhà sàn, muốn lên nhà phải leo lên bậc gỗ, bậc nhà dài Ê-đê thấp gần bằng một nửa bậc lên nhà rông Tây Nguyên. Vách nhà được ken bằng nứa, mái nhà được lợp cỏ gianh. Trong nhà chứa rất nhiều cồng, chiêng, trống, gùi, bình rượu cần, dụng cụ lao động,.. Nhà của người Hà Nhì không phải là nhà sàn, nó gần giống nhà người Kinh, duy có điều khác lớn nhất là tường nhà hoàn toàn được làm từ đất. Tường nhà dày khoảng 30cm, em tự hỏi không biết người Hà Nhì đã làm thế nào để tạo được tường nhà như vậy? Ngoài những ngôi nhà còn có các nhà mồ của người Ể-đê, Ba-na,… dược chạm trổ cầu kì, đẹp mắt thể hiện bản sắc văn hóa riêng mỗi dân tộc, vùng miền. Bên cạnh đó, em còn được chiêm ngưỡng những chiếc thuyền thúng, thuyền độc mộc, thuyền đua yới kích thước như thật rất tuyệt vời! Vui nhất là những trò chơi được tổ chức mà chính là các anh chị tình nguyện viên đến từ các trường đại học: nhảy sạp, lò cò, kéo co, đi cà kheo, nhảy bao bố, ném còn, bắn bi,… và cả múa rối nước nữa chứ! Trò chơi được các bạn nhỏ tham gia rất nhiệt tình. Các bạn từ nhiều tỉnh thành, quận huyện đến vơi bảo tàng, hàng ngày ít có dịp vui chơi nhu vậy nên ai cũng hào hứng. Em nhiệt tình tham gia đến mức cậu Trung cứ lắc đâu cười bảo: "Cứ thế này bao giờ cậu mới được về!" Cậu chỉ nói vậy thôi, cậu cũng rất thích chơi, bằng chứng là cậu đã cùng chơi với chúng em trò nhảy bao bố này, trò kéo co này,… Kết quả là lần nào cậu cũng… thua! Cậu giải thích rằng: vì cậu mải cười quá nên không tập trung thi đấu! Trời đã về trưa tự lúc nào, nắng tháng sáu khá gay gắt, mặt bạn nhỏ nào cũng đỏ gay. Mồ hôi nhễ nhại, bụng đói meo mà em vẫn muốn chơi tiếp với các bạn. Nhưng cậu em đã chỉ tay vào đồng hồ ra hiệu đến giờ về. Em phụng phịu bước theo cậu lòng đầy luyến tiếc. Chuyến đi chơi xa đầu tiên của em thật lí thú và bổ ích biết bao! Nó cho em bao hiểu biết về vốn văn hóa đa dạng, phong phú của các dân tộc trên đất nước Việt Nam ta. Đặc biệt, em đã có những giờ phút vui chơi thật thoải mái, vui vẻ. Nhất định em sẽ cố gắng học giỏi hơn nữa để được đến những nơi lí thú như vậy!
Kể câu chuyện lần đầu tiên em được đi chơi xa
1,287
Kể câu chuyện mà em làm cha mẹ phiền lòng Hướng dẫn Kể câu chuyện mà em làm cha mẹ phiền lòng Bài làm Từ trước đến nay bố mẹ vẫn luôn hài lòng vì những gì mà mà em làm. Nhưng có một lần, em đã khiến cho bố mẹ buồn lòng và lo lắng. Mỗi khi nhớ đến việc làm đó, em lại cảm thấy xấu hổ và tự hứa với bản thân mình rằng sẽ cố gắng không để bố mẹ phải buồn phiền khi nghĩ về mình nữa. Hôm đó, vào một buổi trưa hè oi bức, cái nắng miền Trung như đổ lửa khiến cho gương mặt ai cũng mệt mỏi. Bố mẹ và em gái đều đi nghỉ ngơi, chiều bố mẹ còn đi làm, và nhiệm vụ của em là trông chừng em gái. Em gái em mới được 3 tuổi nên phải có người trông, vì chẳng may em đi lạc đâu không ai biết. Em đã nhận trách nhiệm trông chừng em gái nhưng trưa hôm đó thằng Tý ở lớp đã rủ em đi bắn chim. Em quên mất trách nhiệm mà bố mẹ đã giao, nên hí hửng nhận lời thằng Tý đi bắn chim. Trong đầu chẳng mảy may nghĩ đến lời bố mẹ đã nói. Có lẽ đứa bé lớp 6 lúc ấy còn mải chơi hơn là nghe theo lời của bố mẹ. Em ngồi sau xe đạp của thằng Tý sang làng bên cạnh, ở bên đó có một cái đồi lớn, rất nhiều cây và nhiều chim. Em đã bị hút hồn với khung cảnh nơi đây và say mê với trò bắn chim cùng thằng Tý. Hai đứa hì hục, rượt đuổi nhau trên đồi để bắn chim. Em bắn trượt mấy phát nhưng cũng bắn được mấy con chim. Thằng Tý bảo chim này mà nướng với lá bưởi thì thơm ngon lắm. Chỉ nghĩ đến được ăn thịt chim nướng lá bưởi do bố làm mà em đã thấy thích thú. Bống nhớ đến bố, em mới cuồng cuồng nhớ ra việc bố mẹ giao trọng trách trông em. Em cuống quýt nói với thằng Tý và hai thằng hồng hộc đạp xe về nhà. Về tới nhà thì đã 3h chiều. Em thấy bố mẹ ngồi ở cửa, gương mặt vừa lo lắng, vừa tức giận. Khi thấy em và thằng Tý đứng trước cổng, mẹ em quát “Đi đâu mà bây giờ mới về, không nghe bố mẹ dặn gì sao”. Trong lúc mẹ nói thì bố vẫn im lặng. Em sợ nhất những lúc bố im lặng. Thằng Tý thấy không khí căng thẳng nên đã bỏ mấy con chim bắn được và đạp xe nhanh về nhà. Em vẫn đứng trơ ra đó, rồi chầm chậm bước vào nhà. Bố vẫn giữ gương mặt đó, bố tức giận vì những gì bố mẹ dặn mà em lại không nhớ đến, chỉ mải chơi. Vì em mải chơi mà bố mẹ đã lỡ mất việc quan trọng. Mẹ cứ quát em mãi, cuối cùng bố cũng cất tiếng, rất nhẹ nhưng lại có sức nặng “Lần sau bố mẹ dặn gì thì nhớ lấy, con đi thế lỡ có chuyện gì thì làm sao. Con cũng lớn rồi, đừng để bố mẹ lo lắng như thế nữa”. Nghe lời bố nói, em chỉ cúi mặt, nước mắt ngắn dài cứ chảy ròng ròng trên má. Mẹ bảo nín đi, bố cũng bảo đừng khóc nữa. Lần sau đừng làm bố mẹ phiền lòng và lo lắng như thế nữa.
Kể câu chuyện mà em làm cha mẹ phiền lòng
590
Đề bài: Kể câu chuyện về nghĩa đồng bào như câu Lá lành đùm lá rách Bài làm Sáng nay, nhân nghe thầy giảng về ý nghĩa câu “Lá lành đùm lá rách" làm em chợt nhớ lại một bà lão, cứ thỉnh thoảng vài ba tuần, có ghé nhà em một lần. Bà cũng có mái tóc bạc phơ, mặc bộ đồ đen già lọm khọm, giọng nói và gương mặt hiền từ, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Sao bà giống ngoại em hồi còn sống quá! Ban đầu, em không nghĩ bà là người ãn xin. Vì bà cũng có nét sạch sẽ như bao cụ già bình thường khác. Lá lành đùm lá rách Mỗi lần bà lão đến đều được ba má em niềm nở tiếp đón và biếu nhưng thứ bà cần. Một lần, đang bữa cơm, bà bước vào, ba má ern khẩn khoản mời nhưng bà một mực từ chối: – Con có lòng như vậy, tôi cám ơn lắm. Già cả rồi đảu có ăn uống được nhiều, nên không thấy đói. Cho tôi ngồi nghỉ một lát. Em vội vàng đi rót một tách trà nóng mang lên. Sau khi mẹ em xúc gạo trút vào giỏ cho bà lão, ba em còn nháy mắt ra hiệu. Mẹ em hiểu ý, mở tủ lấy tiền đem lại và nói: – Bà nhận chút ít để mua trầu. Bà lão cầm tờ giấy bạc trong tay run run, nhìn mẹ em mà đôi mắt rưng rưng ngấn lệ vì cảm động. – Tôi để dành tiền này, khi bệnh, uống thuốc. Tiền lớn quá, ít có ai cho tôi thế này. Thật ra thì tờ giấy bạc có bao nhiêu, nhưng nghe bà nói thế, lòng em nổi lên một niềm thương cảm. Tờ giấy bạc ấy, sở dĩ lớn vì đối với bà quá nghèo. Và em cũng chẳng hiểu sao, có nhiều người giàu sang, nhà cửa lộng lẫy, ăn xài phung phí, mà gặp người nghèo khổ họ lại dửng dưng hoặc là họ ném ra vài đồng tiền lẻ như một cách xua đuổi cho kẻ ăn xin sớm đi khuất mắt. Qua lời hỏi thăm giữa ba má em và bà lão, em mới biêt bã đã ngoài tám mươi tuổi rồi, chẳng có con cái gì, chỉ một mình tá túc nơi nhà đứa cháu, cũng nghèo nàn thiếu ăn. Đôi lúc tủi thân, tủi phận, bà đành lang thang như thế. Lúc bà bước ra, ba em còn căn dặn “có dịp qua đây, mời bà ghé nhà con chơi. Đừng ngại gì hết”. Nhưng lâu lắm rồi, gần cả năm nay, em không thấy bà lão ấy đến nữa… Đôi lúc rảnh rỗi, ba em có nhắc chuyện bà lão và vẫn thường khuyên em “một miếng khi đói bằng một gói khi no” đồng tiền mình giúp người nghèo khó, già cả, cô đơn bệnh tật đáng là bao, nhưng đã mang lại cho họ niềm hạnh phúc trong lúc thắt ngặt. Niềm hạnh phúc ấy của họ cũng chính là niềm vui thanh thản của lòng ta, con ạ”.
Kể câu chuyện về nghĩa đồng bào như câu Lá lành đùm lá rách
512
Kể câu chuyện đã nghe đã đọc lớp 5 Hướng dẫn Trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, ở miền Nam xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm, trong đó thiếu nhi góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, Câu chuyên mà tôi kể cho các bạn nghe nói về một anh hùng nhỏ tuổi đã diệt xe tăng của bọn Mĩ – Ngụy. “Lai là một thiếu nhi nhà nghèo. Cha đau ốm, Lai phải thay cha lên đồn làm phu phen tạp dịch cho bọn Mĩ – Ngụy: đầm đất bằng những khúc gỗ lớn, bê những máng vôi vữa. Công việc đối với Lai quá nặng nhọc, nhiều lần Lai còn bị bọn chúng đánh té xỉu. Bấy giờ ở xã có phong trào đồng khởi, Lai xin mấy anh gia nhập đội du kích bảo vệ xóm làng. Hàng ngày, Lai được phân công trèo lên một ngọn cây cao ở đầu xóm để canh gác. Nhờ vậy mà nhiều lần Lai đã kịp thời thông báo tình hình địch chuyển quân, giúp đội du kích lập được chiến công. Một hôm, mới sáng tinh mơ, ngồi trên ngọn cây, Lai nghe rõ tiếng động cơ ầm ầm từ xa vọng lại. Nhìn về phía đó, bụi mù trời. Súng nổ chan chát. Một đoàn xe tăng lội nước của địch như một lũ bọ hung khổng lồ đang vượt qua cánh đồng trống tiến vào xóm. Tu, tu, tu, tu, Lai đưa tù và lên miệng rúc liên hồi. Báo động xong, Lai ôm cây tụt vội xuống đất, nhanh như một con sóc. Nghe tiếng tù và dồn dập, đội du kích đã tập hợp xong và bố trí trận địa chặn các ngả đường. Lai cũng nhận mấy quả thủ pháo, đeo bên sườn, Lai trèo lên cây tiếp tục quan sát. Từ trên ngọn cây, Lai hổi hộp nói vọng xuống: Súng bỗng nổ dữ dội cắt ngang lời Lai nói. Anh đội trưởng hét: –Lai xuống hầm! xuống mau lên! Liền lúc đó một quả đạn cày tung đất lên làm gãy mấy cành lá. Đoàn xe tăng của địch bò vào, vừa đi vừa bắn loạn xạ. Chúng triển khai thành một vòng cung nhằm bao vây chặt xóm nhỏ. Lúc này các đội viên du kích vẫn nén lòng chờ đợi. Lai đã kịp tụt xuống nằm cạnh anh đội trưởng. Lai khẩn khoản nói: –Phần em chiếc xe to đi giữa. Để coi nó chịu nổi mấy trái thủ pháo này không,nghen? Anh đội trưởng nhắc nhở: –Cẩn thận, phải bám sát mục tiêu và chờ lệnh. Đoàn xe tăng đã đến gần. Bỗng anh đội trưởng phát lệnh: –Thủ pháo! Ném! Ầm, ẩm, ầm. Mấy tiếng nổ lớn kể nhau như sấm. Khói dựng lên thành cột. Bị chống trả quyết liệt, đoàn xe địch khựng lại, một chiếc bốc cháy dữ dội. Lai đuổi theo chiếc xe đã nhận phần từ trước. Bọn địch ngồi trong xe bắn ra như vãi đạn, nhưng Lai vẫn bám theo. Từng luồng đạn lướt qua đầu Lai. Phút chốc Lai đã đuổi kịp, Lai quăng ngay một thủ pháo vào gầm xe rồi nằm dán xuống đất. Thủ pháo nổ, khói om, nhưng xe vẫn chạy. Lai nghĩ bụng: “Chiếc này lớn hơn, kiên cố hơn mấy chiếc khác, chắc là chỉ huy”. Nghĩ vậy, Lai quyết không để cho nó thoát. Lai chạy theo và bám vào gờ xe. Trên nắp xe có một lỗ thông hơi. Lai nhét thủ pháo vào trong nhưng bọn địch lại hất ra ngoài. Chỉ còn một thủ pháo cuối cùng, lúc đó toàn thân Lai đã mệt lử, rã rời. Làm thế nào đây? Sau một giây suy nghĩ, Lai nhét nốt thủ pháo cuối cùng vào thùng xe rồi lấy thân mình bịt kín lỗ thông hơi không cho bọn địch kịp ném ra ngoài. Một tiếng nổ dữ dội, chiếc xe tăng to kềnh đứng sững lại, bốc cháy. Toàn ban chỉ huy của địch ở trong xe tan xác. Nhưng bạn du kích Lai không còn nữa. Lai đã anh dũng hi sinh như anh hùng Cù Chính Lan năm xưa chống Pháp. Câu chuyên tôi kể cho các bạn nghe nhằm ca ngợi gương chiến đấu hi sinh của một du kích miền Nam những năm chống Mĩ, cứu nước.
Kể câu chuyện đã nghe đã đọc lớp 5
724
Kể lai một kỉ niệm khó quên về cô giáo của em Hướng dẫn Ai cũng thế, ai ai cũng có những kỉ niệm vui buồn ở thuở ấu thơ. Em cũng vậy. Em sẽ mãi mãi không bao giờ quên được ngày đầu tiên đến trường. Thứ 2 năm xưa, mẹ đưa em đến trường. Đó là lần đầu tiên em được bước chân vào mái trường thân yêu ấy. Khi bước vào cổng, em rất ngạc nhiên bởi vẻ uy nghi, tráng lệ này. Ngôi trường bây giờ rất ồn vì có các anh chị háo hức chờ đón ngày khai giảng. Em rất sợ khi đi gần đến lớp học. Em khóc òa lên, cô giáo thấy vậy liền chạy ra vỗ về em và cô còn nói cho em biết đi học vui biết bao nhiêu – có nhiều đồ chơi, bạn bè và có cô nữa. Nỗi sợ trong như biến mất. Em ôm cô và nắm tay cô bước vào lớp. Đầu giờ, các bạn giới thiệu với nhau rồi làm quen. Chúng em cùng nhau hat khúc ca về trường, về lớp. Cô còn dạy chúng em những bài thơ hay về tình cô trò với nhau. Chúng em chơi cùng nhau rất rất vui. Em làm quen được thật nhiều các bạn cùng trang lứa. Đồng hồ điểm lúc 4 giờ cũng là lúc chúng em tan học ra về. Bao nhiêu phụ huynh đến đón con. Người thì thưởng cho con những chiếc kẹo, người lai thưởng cho con những chiếc bánh. Mẹ vừa bước đến cửa thì em vội chạy ra sà vào lòng mẹ. Mẹ ôm em và tặng em những chiếc kẹo mút. Cô và mẹ nói chuyện với nhau một lúc lâu. Em sợ cô nói với mẹ là em không nghe lời cô, nhưng cô lại khen em ở lớp rất ngoan. Mẹ mừng lắm, em và mẹ tạm biệt cô rồi về nhà. Em yêu cô và mẹ nhiều lắm.
Kể lai một kỉ niệm khó quên về cô giáo của em
332
Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con Hướng dẫn Những bài văn mẫu hay lớp 6 Văn mẫu lớp 6: Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo. Đề bài: Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con Có nhà hiền triết ngày xưa đã nói: “Mỗi người mẹ là mội người thầy đần tiên của con thơ”. Trong truyện “Mẹ hiền dạy con”, ta cảm thấy Mạnh mẫu đúng là người thầy đầu tiên của Mạnh Tử. Chuyện kể lại 5 việc làm vô cùng tốt đẹp của bà mẹ vĩ đại này. Một là, nhà ở gần nghĩa địa. Suốt ngày con thơ chỉ bắt chước đào, chôn, lăn, khóc. Mạnh mẫu tự nghĩ: “Chỗ này không phải chỗ con ta ở được”, bèn vội vàng dời nhà đến gần chợ. Hai là, đến ở gần chợ, bà chỉ thấy đứa con trai nhỏ của mình suốt ngày bắt chước nô nghịch cách buôn bán điên đảo. Bà nghĩ: “Chỗ này con ta ở cũng chẳng được”. Ba là, Mạnh mẫu quyết định dời nhà đến gần trường học. Bà sung sướng, thấy đứa con thơ bắt chước trẻ nhỏ cắp sách vở, học tập lễ phép… Bà vui lòng nghĩ: “Chỗ này là chỗ con ta ở được đây”. Sự việc thứ tư là người mẹ lấy lời nói của mình, hành dộng của mình làm gương mẫu giáo dục đức tính trung thực cho con trai. Muốn dạy con thật thà thì mẹ không nói dối con. Khi con hỏi: “Người ta giết lợn làm gì thế?”; bà lỡ miệng nói đùa: “Để cho con ăn đấy”. Sau Mạnh mẫu đã di mua thịt cho con ăn thật để chứng tỏ mẹ không nói dối con. Sự việc thứ năm là một việc làm nghiêm khắc của Mạnh mẫu. Bà đã giận dữ cắt đứt tấm vải đang dệt dở dang khi thấy con trai đi học bỏ trốn về nhà. Mẹ đã dạy con tinh thần, thái độ học tập nghiêm túc. Mạnh Từ sau này đã trở thành một con người vĩ đại. Chính Mạnh mẫu đã dạy bảo, rèn luyện, đã góp phần to lớn hình thành và phát triển nhân cách Mạnh Tử, sớm trở thành một bậc đại hiền của Trung Quốc. Công ơn của Mạnh mẫu vô cùng to lớn, cỏi của con. Tấmvải đang dệt mà bị cắt đứt, xem như bị hỏng. Không la mắng! Không roi vọt! Bà chỉ nói với con: “Con đang đi học mà bỏ học, thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi vậy”. Một lời dạy con rất nghiêm, rất sâu sắc. Mạnh mẫu đã dạy con tính nghiêm túc, tính chăm chỉ trong học tập. Nhờ công giáo dục quý báu của mẹ hiền mà từ đó về sau, Mạnh Tử học tập rất chuyên cần, chẳng bao lâu trở thành một bậc đại hiền, được người đời ngưỡng mộ.
Kể lại 5 sự việc chứng tỏ bà mẹ Mạnh Tử rất quan tâm đến dạy bảo con
550
Kể lại buổi chào cờ đầu tuần của trường em Hướng dẫn Tùng! Tùng! Tùng!… Hồi trống tập trung rộn rã vang lên. Chúng em túa ra tức các lớp náo nức như những chú chim non. Trên tay mỗi người lã những chiếc mũ ca nô. Hôm nay là thứ hai, cả trường rợp màu đồng phục trắng. Các bạn học sinh ai cũng hóa hức đón những tiết học đầu tiên của một tuần trong đó đặc biệt là tiết chào cờ. Chỉ sau một hồi trống chưa đầy năm phút, mỗi lớp đã xếp thành hai hàng ngăn ngắn trước sân khấu. Cùng lúc đó, các thầy cô giáo cũng đã ngồi đầy đủ trên hai hàng ghế đối diện với học sinh. Chị Liên đội trưởng của trường là một học sinh lớp 9. Tuy dáng người nhỏ nhắn nhưng lần nào giọng hô và đọc của chị cũng dứt khoát, rõ ràng. Sau khi ổn định tổ chức xong, chị Liên đội trưởng kính mời các thầy cô giáo và các bạn học sinh cùng đứng dậy làm lễ chào cờ. Tiếng hô vang lên, cả trường đứng nghiêm trang và hát bài hát quốc ca, đội ca. Màn nghi thức vừa xong, cả trường ngồi xuống, chị Liên đội trưởng thay mặt ban phụ trách đội đánh giá kết quả thi đua trong tuần vừa qua. Bản tổng kết ngắn nhưng đầy đủ kéo theo cả nỗi buồn, niềm vui của mấy trăm bạn đội viên. Có lớp rất vui mừng khi lớp mình tăng mấy bậc thi đua nhưng có lớp lại buồn thiu khi các mặt của lớp mình đều bị sút kém. Lễ chào cờ được tiếp nói bằng bài phát biểu của cô tổng phụ trách đội. Giọng của cô trầm ấm và nghiêm nghị nhưng lời lẽ bao giờ cũng giản dị và thân thiện. Cô thông báo kế hoạch hoạt động của tuần học tiếp theo. Tuần học này có rất nhiều nhiệm vụ trọng tâm. Một bản phân công nhiệm vụ chi tiết được cô giao phó cho từng lớp trong trường hứa hẹn đợt thi đua sẽ diễn ra nghiêm túc và hiệu quả. Để kết thúc tiết chào cờ là một số tiết mục văn nghệ do chi đội lớp 9A biểu diễn.
Kể lại buổi chào cờ đầu tuần của trường em
384
Đề bài: Một bạn cho rằng có rất nhiều ngày khai trường, nhưng ngày khai trường vào lớp Một để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm hồn. Em có tán thành với ý kiến trên không? Vì sao? Bài làm Năm nay, em đã là học sinh lớp 7. Bảy lần khai trường với bao kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò. Tuy thế, ngày khai trường vào lớp Một vẫn để lại trong kí ức em ấn tượng sâu đậm nhất. Mỗi khi nhắc tới, những hình ảnh đẹp đẽ dường như lại hiện lên nguyên vẹn trước mắt em. Em còn nhớ là suốt mấy ngày liền, em sống trong tâm trạng nôn nao và háo hức. Bài hát quen thuộc mọi khi em vẫn hát sao hôm nay nghe xúc động lạ thường: Tạm biệt búp bê thân yêu, Tạm biệt gấu Misa nhé, Tạm biệt thỏ trắng xinh xinh, Mai ta vào lớp Một rồi. Nhớ lắm, thương nhiều, trường Mầm Non thân yêu! Có một điều gì đó lạ lắm, quan trọng lắm đang xảy ra trong căn “nhà nhỏ bé của gia đình em. Ông bà, cha mẹ đã chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết cho em như chiếc cặp xinh Xắn có hai quai để đeo lên vai; bộ sách giáo khoa, những cuốn tập bìa in hình chú chuột Mikey hay cô vịt Donan ngộ nghĩnh. Rồi hộp màu vẽ, chiếc bảng nhỏ phấn viết, đồ lau, bút mực, bút chì… đủ cả. Em thích thú giở từng thứ, nhìn ngắm không chán mắt. Sáng hôm sau, mẹ dắt em tới trường. Ngôi trường tiểu học Lê Văn Tám cách nhà em chỉ khoảng nửa cây số. Trên đường, bao bạn nhỏ tung tăng, hớn hở bên cạnh cha mẹ. Giăng ngang cổng trường là tấm băng rôn đỏ nổi bật dòng chữ vàng tươi: Chào mừng năm học mới. Hai hàng cờ đuôi nheo đủ màu phất phới trong gió sớm trông giống như những bàn tay đang vẫy vẫy. Niềm vui tràn ngập nơi nơi, từ bầu trời trong xanh, quang đãng; từ màu nắng tinh khôi; từ tiếng chim líu lo chào đón bình minh trong những vòm lá lóng lánh sương thu; từ những gương mặt ngời ngời hạnh phúc và tin tưởng. Trong sân trường, người đông dần. Các bạn nam tỏ ra mạnh dạn hơn. Các bạn nữ cứ ngại ngùng quẩn bên chân mẹ, chẳng nỡ rời. Em cũng vậy. Nhìn ngôi trường đồ sộ, em cảm thấy mình mới nhỏ bé làm sao! Mẹ khuyên em hãy bình tĩnh, vui vẻ và tập làm quen với chỗ đông người. Bất chợt, một hồi trông vang lên giục giã. Giờ khai mạc sắp bắt đầu. Các bậc phụ huynh trao con mình cho các thầy cô giáo. Đây đó nổi lên tiếng khóc thút thít, tiếng gọi mẹ ơi nho nhỏ. Em không khóc nhưng nước mắt cũng rơm rớm quanh mi. Một nỗi xúc động khó tả đang dâng lên trong lòng. Em bịn rịn chia tay mẹ, cùng các bạn xếp hàng theo lớp ở sân trường. Buổi khai giảng lần đầu tiên trong đời mới long trọng và trang nghiêm làm sao! Tiếng trống trường giòn giã, thôi thúc, náo nức lòng người. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trên đỉnh cột. Học sinh từng khối, từng lớp đội ngũ ngay ngắn, nghiêm chỉnh hướng về lá Quốc kì. Tiếng quốc ca trầm hùng vang vang trên sân trường rực nắng. Các anh chị lớp Bốn, lớp Năm, khăn quàng đỏ thắm trên vai. Mở đầu buổi lễ, cô Hiệu trưởng đọc lời khai mạc và dặn dò, khuyên nhủ chúng em nhiều điều. Cô chúc chúng em học tập ngày càng tiến bộ. Những tràng vỗ tay vang lên không ngớt. Tan học, mẹ đã đợi sẵn ở cổng trường. Ríu rít như chú chim non, em kể cho mẹ nghe những chuyện đã xảy ra trong buổi khai trường đầu tiên trong đời. Em cảm thấy mình đã lớn. Dường như tất cả con người, cảnh vật đều chia vui với em, cô học trò lớp Một. Bên tai em văng vẳng lời khuyên của cô Hiệu trưởng: Các em hãy chăm ngoan, học giỏi để cha mẹ vui lòng.
Kể lại buổi khai trường vào lớp một của em
716
kể lại buổi sinh hoạt của lớp em Hướng dẫn kể lại buổi sinh hoạt của lớp em Bài làm Cứ vào thứ 7 hằng tuần, lớp em lại sinh hoạt lớp một lần để tổng kết tuần vừa qua cũng như triển khai công việc của tuần sắp tới. Buổi sinh hoạt luôn có mặt đầy đủ các thành viên trong lớp, và có sự tham gia của cô giáo Buổi sinh hoạt lớp thường bắt đầu khi kết thúc tiết 3 của ngày thứ 7. Hầu như lớp nào cũng sinh hoạt lớp vào thời điểm này. Buổi sinh hoạt lớp do lớp trưởng chủ trì, có thư kí ghi chép lại quá trình sinh hoạt. Kết thúc buổi sinh hoạt thì thư kí sẽ ghi chép lại đầy đủ gửi lại cô giáo chủ nhiệm để cô nắm bắt tình hình của lớp. Khi lớp trưởng báo cáo thì hầu như các bạn đều im lặng lắng nghe. Em thấy rằng giờ sinh hoạt lớp là giờ mà các bạn không ai dám làm ồn, vì ai cũng sợ tên mình được nêu danh. Cô giáo thường nhìn từng bạn rất chăm chú và lắng nghe lớp trưởng. Cô giáo thường nhắc bạn thư kí phải ghi thật đầy đủ và chi tiết để cô làm tài liệu báo cáo với phụ huynh. Khi các bạn có hành vi không tốt trong tuần thường sẽ bị cô giáo gọi lên bảng đứng thành hàng và phát biểu ý kiến của mình, hứa cố gắng và sửa chữa như thế nào. Bạn nào cũng cúi mặt bước lên mục giảng và không dám nhìn ai. Buổi sinh hoạt khép lại khi cô giáo đã bước ra khỏi lớp, nhiều bạn hớn hở ra về, nhiều bạn bị phạt lại bắt đầu than thở. Sinh hoạt lớp lúc nào cũng là giờ “học” để lại nhiều dấu ấn đối với mỗi bạn học sinh như vậy.
kể lại buổi sinh hoạt của lớp em
316
Đề bài: Kể lại buổi sinh hoạt lớp của em Bài làm Cứ thứ bảy mỗi tuần lớp em lại tổ chức một buổi sinh hoạt để tổng kết lại những điểm mạnh điểm yếu trong tuần vừa qua và triển khai công việc trong tuần kế tiếp. Buổi sinh hoạt luôn có sự góp mặt của cô giáo chủ nhiệm. Các bạn trong ban cán sự lớp lần lượt báo cáo về tình hình học tập của lớp trong tuần qua. Những ưu điểm là các bạn đều đi học đúng giờ trang phục chỉnh tề, khăn quàng đỏ đầy đủ. Trong tuần vừa qua có nhiều bạn được điểm cao. Như bạn Minh Hằng được 10 trong giờ toán, bạn Minh Nguyệt được 10 trong kiểm tra miệng môn anh văn… Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đạt được cũng có một vài bạn mắc lỗi quên vở bài tập ở nhà khiến thầy cô giáo không hài lòng. Giờ văn hôm thứ ba có hai bạn nói chuyện riêng là cho cô giáo dạy tiết văn hôm đó phải dừng lại mất 10 phút để chỉnh đốn lại trật tự lớp. Trong khi lớp trưởng báo cáo lại tổng kết những thành quả đạt được trong tuần qua cả lớp đều lắng nghe. Ai mà bị nhắc tới trong danh sách khuyết điểm đều cúi đầu xấu hổ cảm thấy mình đã làm ảnh hưởng tới tập thể lớp. Sau khi lớp trưởng báo cáo xong cô chủ nhiệm yêu cầu bạn thư ký buổi họp ghi chép lại thật đầy đủ để cô còn gửi tài liệu về cho gia đình. Sau buổi sinh hoạt chúng em ra về, những ai cũng hứa với lòng mình phải cố gắng hơn nữa để trở thành con ngoan trò giỏi không để thầy cô cha mẹ phải buồn lòng vì mình.
Kể lại buổi sinh hoạt lớp của em
306
Kể lại buổi đi thăm mộ cùng gia đình – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Kể lại buổi đi thăm mộ cùng gia đình Đề 4. Hãy kể lai buổi đi thăm mộ người thân cùng gia đình vào dịp lễ, tết. 1. Yêu cầu – Kể lại những cảm xúc, suy nghĩ, kỉ niệm về người thân đã mất qua buổi thăm mộ (Thanh minh, tảo mộ, ngày giỗ,…). – Xây dựng câu chuyện cho bài tự sự – nhân vật là người thân đã mất. Câu chuyện nhằm có một nội dung ý nghĩa giáo dục. – Đây là câu chuyện gắn liền với đời sống tâm linh của con người, cần tìm hiểu về tục lệ Thanh minh, viếng mộ người thân vào các dịp lễ, tết, giỗ,… Việc làm vừa thể hiện lòng thành kính vừa gửi gắm những nguyện vọng, ước mơ của người sống đối với người thân đã mất. – Luyện tập, củng cố thêm về độc thoại nội tâm khi kể chuyện. 2. Gơi ý – Cần chọn nhân vật (đã mất) có nhiều kỉ niệm gắn bó với người kể, hoặc nghe kể nhiều (cũng có thể người thân là liệt sĩ ở một nghĩa trang liệt sĩ nào đó). – Chọn thời gian, địa điểm cho thích hợp. – Nên sử dụng liên tưởng để câu chuyện trở nên sinh động và giàu ý nghĩa hơn. 3. Lập dàn ý a. Mở bài: Nhân dịp tết, giỗ, lễ, ngày thương binh liệt sĩ,… ; gợi nhớ nhất là buổi thăm mộ. b. Thân bài * Chuẩn bị – Cùng bố mẹ, vào thời gian nào (tối, sáng, trưa…). – Địa điểm nghĩa trang. * Tả lại các công việc thăm mộ – Thắp hương – bày lễ – làm lễ – hoá vàng. – Tả cảnh sắc thiên nhiện phù hợp với tâm trạng con người. – Tự nhủ trong lòng, mong người đã mất có mặt để được gặp gỡ. – Khấn, ước nguyện (độc thoại nội tâm). * Hồi tưởng kỉ niệm xuầ (trọng tâm) – Những kỉ niệm gần gũi, gắn bó. – Câu chuyện về một kỉ niệm sâu sắc (có cảm giác như người thân có mặt bên mình cùng tham gia vào câu chuyện của kỉ niệm). – Mong muốn. – Hình ảnh sống mãi trong kí ức người thân. – Khoẻ mạnh, học giỏi, trưởng thành, làm tiếp những gì còn dang dở của người thân. c. Kết bài: Luôn dành cho những người thân yêu những tình cảm tốt đẹp nhất 4. Bài làm minh hoạ Thanh minh trong tiết tháng ba Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. Cứ sau mỗi dịp Tết Nguyên đán, mọi người, mọi nhà lại đi tảo mộ để tưởng nhớ đến những người thân đã khuất. Gia đình tôi cũng vậy. Mọi người đang rậm rịch cho buổi đi tảo mộ ngày mai. Nghe bố mẹ tôi nói, người ta đi tảo mộ sau mỗi dịp lễ, tết để sửa sang, dọn dẹp phần mộ của tổ tiên. Đồng thời cũng là để cầu mong các cụ phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khoẻ, thành đạt. Tôi rất háo hức nhưng cũng hơi lo vì đây là lần đầu tiên tôi đi tảo mộ. Mẹ tôi thường dặn: “Đi tảo mộ phải chuẩn bị kĩ mọi thứ. Không được quên hương, hoa, oản, quả, rượu, vàng mã,… đôi khi còn phải mang cả cuốc, xẻng để trồng cây quanh mộ để phần mộ của các cụ được “mát mẻ”. Và mọi thứ cũng được chuẩn bị đầy đủ, tươm tất dưới bàn tay tài ba của mẹ tôi. Sáng hôm sau, đúng sáu giờ rưỡi chúng tôi xuất phát. Mộ của các cụ và ông nội tôi ở nghĩa trang Thanh Tước – Vĩnh Phúc. Thời tiết sau tết thật dễ chịu. Nền trời không còn đùng đục như màu pha lê mờ mà bây giờ đã trong xanh hơn hẳn. Khiến ai cũng có cảm giác khoan khoái, dễ chịu. Trên xe, mọi người tâm sự với nhau. – Thời tiết hôm nay đẹp thật. Đi thăm mộ hôm nay đúng là tuyệt. Hai tiếng sau, chúng tôi có mặt tại nghĩa trang. Nghĩa trang Thanh Tước là những quả đồi và những rừng thông xanh um tùm quanh năm, được chia làm nhiều khu vực. Vừa xuống xe, bố tôi, đứng dưới chân đồi chỉ lên và nói: – A! Kia rồi! Mộ của các cụ ở trên kia! Tay bố hướng lên. Rồi ai làm việc nấy, bố bê lễ lên, mẹ sắp xếp lễ. Còn bọn trẻ chúng tôi được miễn, chỉ việc đi lên thôi. Thằng em tôi, cũng bắt chước làm theo mọi người rồi nói rõ to: – Ông ơi, ông cho Tí ăn với nhé! Ôi trời ơi! Buồn quá đi mất! Bố tôi ra bảo nó. Nhưng cu cậu cứ mè nheo. – Không được đâu! Mình đang thắp hương cúng cụ cơ mà! Thôi bố dẫn con đi chơi nhé! Trong lúc đó, tôi và mẹ tiếp tục công việc. Mẹ thì thắp hương cho các cụ và ông tôi xong thì thắp hương cho các mộ xung quanh, gọi là mộ “hàng xóm” để ở dưới ấy, các cụ có bạn. Còn tôi, tiếp tục nhặt cổ mọc ở những mộ xung quanh. Đến ngôi mộ của ông nội, tôi có cảm giác gì đó. Tôi nhìn thấy hình ông cùng với những kỉ niệm của hai ông cháu. Hình như tôi cũng đang nghe thấy tiếng ông căn dặn: – Phương à! Cháu phải ngoan ngoãn nghe lời bố mẹ nghe không! Có việc gì làm được thì nhớ giúp bố mẹ. Chiều em một tí đi, đừng bướng bỉnh như trước nữa! Tôi xúc động lắm, đến rơi cả nước mắt. Rồi tôi hỏi ông: – Ông ơi, ông có khoẻ không ạ? Cuộc sống của ông thế nào? Ông chỉ mỉm cười hiền hậu rồi bỗng… quay mặt đi. Hình ảnh của ông cũng mờ dần. Tôi cố gọi nhưng không được. Rồi hình ảnh của ông biến mất hẳn. Nhưng trong trái tim tôi luôn có một ngăn dành sự yêu thương, kính trọng cho ông. Quay trở lại với công việc được giao, tôi tiếp tục nhọ cỏ. Xong xuôi, tôi chạy ra chỗ mẹ. Mẹ bảo tôi cùng đem vàng hương ra hoá. Sau khi hoàn tất công việc thì cũng là lúc bố và em tôi trở xuống. Bố nói: – Ở đây còn có khu tưởng niệm những vị anh hùng đấy. Mình ra đấy thắp hương đi! Xong xuôi, gia đĩnh tôi đi bộ một lát rồi trở về Hà Nội. Đúng bảy giờ tối, chúng tôi có mặt tại Hà Nội. Một ngày dài mệt mỏi nhưng vui vẻ. Có thể nói, tảo mộ là một tục lệ truyền thống rất có ý nghĩa của nhân dân ta. Nó thể hiện sự hiếu thuận, biết ơn của con cháu đối với ông bà tổ tiên. Tôi cũng hi vọng mình sẽ thể hiện được sự hiếu thuận, biết ơn của mình qua việc làm bé nhỏ này. (Phan Nguyễn Hoài Phương, lớp 9A8, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Bạn đã kể lại một chuyến đi tảo mộ của gia đỉnh lên nghĩa trang Thanh Tước. Câu chuyện phát triển theo thời gian hợp lí. Có chi tiết thú vị là cu Tí đòi ăn đồ lễ với ông trong khi chưa cúng xong. Những việc nhổ cỏ, đặt lễ, thắp hương, hoá vàng được kể lại không sót. Bạn cũng không quên kể lại việc thắp hương cho những ngôi mộ xung quanh. Có điều cần lưu ý rằng bạn thể hiện mình là người quá nhạy cảm. Nhổ cỏ ở mộ ông nội mà nhìn thấy cả hình ông, còn nghe cả tiếng ông căn dặn, xúc động đến rơi cả nước mắt, lại còn hổi han ông nữa chứ. Cứ y như là trong một giấc mơ. Bạn kể là đi tảo mộ lần đầu, mà lại nói mẹ thường nhắc, chứng tỏ là mẹ là người rất chu đáo, cẩn thận với công việc có ý nghĩa tâm linh. Nếu bạn mô tả quang cảnh khu nghĩa trang kĩ hơn, kể cả việc tả một vài gia đình khác cùng đi tảo mộ thì bài văn hoàn chỉnh hơn. Một nghĩa trang lớn như thế đâu chỉ có một gia đình đi tảo mộ đầu năm. Phải vậy không?
Kể lại buổi đi thăm mộ cùng gia đình – Ngữ Văn 9
1,376
Đề bài: Kể Lại Bài Thơ Đêm Nay Bác Không Ngủ Bằng Văn Xuôi Bài Làm Vào mùa thu năm 1950, Đảng ta và Chính phủ quyết định định mở chiến dịch Cao – Bắc – Lạng (còn gọi là chiến dịch Biên giới) nhằm phá vỡ phòng tuyến bao vây căn cứ Việt Bắc của thực dân Pháp, mở đường liên lạc giữa nước ta với các nước anh em như Trung Quốc, Liên Xô. Quân ta chuẩn bị lực lượng tương đối kĩ, có sự phối hợp chặt chẽ trên các chiến trường để giành thắng lợi. Trước khi chiến dịch mở màn, Bác đến thăm một đơn vị bộ đội và nghỉ lại nơi trú quân. Đêm mưa, trời lạnh, chiến sĩ ngủ quây quần bên Bác. Riêng Bác thì lại không ngủ. Bác ngồi bên đống lửa, hai tay bó gối, đôi mắt trầm ngâm, những vết nhăn như sâu hơn trên vầng trán rộng. Đăm chiêu nhìn những thanh củi cháy rực rỡ mà lòng vẫn còn canh cánh nỗi lo, làm thế nào để đất nước sớm giành được độc lập, để nhân dân có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc theo đúng nghĩa, để cả đất nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đêm đã về khuya, cảnh rừng đêm bắt đầu chìm trong bóng tối, mọi vật trở nên yên tĩnh, chỉ một tiếng lá rơi cũng làm xao động cả rừng. Thỉnh thoảng văng vẳng đâu đó tiếng vỗ cánh của loài chim ăn đêm hay tiếng mưa rơi tí tách trên mái lán. Những chiến sĩ đang ngủ say sau một ngày hành quân vất vả, mọi người chìm dần vào giấc ngủ đêm. Chỉ có Bác – người Cha già kính yêu của quân đội và nhân dân Việt Nam vẫn đang còn thức. Bác khơi cho bếp lửa cháy bùng lên, hơi ấm tỏa khắp căn lều dã chiến. Rồi Bác đi dém chăn cho từng chiến sĩ. Bác coi trọng giấc ngủ của bộ đội nên nhón chân rất nhẹ nhàng, cố gắng không gây ra tiếng động. Bác ân cần săn sóc các chiến sĩ, không khác gì bà mẹ hiền thương yêu lo lắng cho đàn con. Bác không ngủ – đáng ra Bác mới là người cần được nghỉ ngơi nhất thì lại ngược lại, Bác đang chăm chút cho những người con của mình, mà không màng đến sức khỏe của mình. Dõi theo từng cử chỉ của Bác mà trong lòng mỗi người đều trào lên tình cảm yêu thương và biết ơn Bác vô hạn. Ánh lửa bập bùng in bóng Bác trên bức vách. Tình thương của Bác đã sưởi ấm trái tim chiến sĩ trước giờ ra trận, và cũng chỉ cần có thế là nguồn động lực tốt nhất để tiếp sức cho các chiến sỹ. Tôi cảm thấy mình như được che chở trong tình thương bao la, nồng đượm ấy. Lòng tôi bồi hồi, rưng rưng một niềm xúc động. Tôi thì thầm hỏi nhỏ: – Thưa Bác, sao Bác chưa ngủ ạ? Bác có lạnh lắm không? Bác không trả lời câu hỏi của tôi mà ân cần khuyên nhủ: – Chú cứ việc ngủ ngon, để lấy sức ngày mai đánh giặc! Vâng lời Bác, tôi nhắm mắt mà lòng vẫn thấp thỏm không yên. Những chiến sĩ trẻ chúng tôi sức dài vai rộng, còn Bác vừa yếu lại vừa cao tuổi, ai lại người già chăm cho người trẻ như vậy. Nhưng nghe lời Bác, tôi lại nằm yên. Thời gian âm thầm trôi qua, trời đang chuyển dần về sáng. Lần thứ ba thức dậy, tôi giật mình thấy Bác vẫn ngồi im như pho tượng, đôi mắt trĩu nặng suy tư đăm đăm nhìn ngọn lửa hồng. Không thể đành lòng, tôi bèn lên tiếng: – Thưa Bác! Cháu xin Bác, Bác hãy chợp mắt một chút cho khỏe ạ! Cháu đừng bận tâm! Bác không thể yên lòng mà ngủ. Trời thì mưa lạnh thế này, dân công ngủ ngoài rừng, tránh sao cho khỏi ướt?! Bác nóng ruột lắm, chỉ mong trời mau sáng! Nghe Bác nói, tôi càng thấu hiểu được tình yêu vô bờ bến của Bác đối với dân với nước. Đối với Bác, chỉ cần một người dân còn khổ thì Bác cũng thể yên tâm nghỉ ngơi. Bác luôn suy nghĩ làm thế nào đó để không còn người dân nào phải khổ nữa. Tình yêu của Bác lớn lao đến vậy, tình yêu ấy đã bao trùm lên cả đất nước, cả dân tộc. Hạnh phúc và tự hào biết bao khi được làm người chiến sĩ chiến, đứng dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, của Bác. Bác đã khơi dậy trong lòng tất cả những người dân và cả những người chiến sỹ tình đồng đội, tình giai cấp đẹp đẽ và cao quý. Đêm hôm đó, Bác không ngủ, tôi cũng không ngủ và giữa Bác cháu tôi còn cả ngọn lửa rực cháy, như muốn sưởi ấm cho căn phòng, cho lòng người và cho cả cánh rừng còn bao trùm bởi màn đêm thanh vắng.
Kể Lại Bài Thơ Đêm Nay Bác Không Ngủ Bằng Văn Xuôi
859
Đề bài: Kể lại bài thơ đêm nay bác không ngủ. Bài làm Mùa thu năm 1950, Đảng và Chính phủ ta mở chiến dịch Biên giới (hay còn gọi chiến dịch Cao – Bắc – Lạng) nhằm phá vỡ phòng tuyến của thực dân Pháp xâm lược, giải phóng căn cứ Việt Bắc và mở đường liên lạc với các quốc gia anh em như Liên Xô, Trung Quốc… Trước khi chiến dịch mở màn, Bác đến thăm đơn vị tôi đang đóng quân và nghỉ lại. Trời lạnh, đêm mưa, tôi cùng những người đồng đội của mình nằm quây quần bên Bác. Nhưng khi chợt tỉnh giấc, tôi giật mình vì Bác vẫn còn thức. Cảnh vật ngoài trời tối đen như mực, giữa bốn bề không gian tĩnh lặng của màn đêm, tiếng giọt mưa rơi tí tách nghe thật rõ ràng, vang vọng, như tiếng kim giây của chiếc đồng hồ đang chạy thật đều. Những người đồng đội của tôi đang say giấc sau ngày hành quân vất vả, còn tôi lại lặng lẽ ngắm nhìn người Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam. Lúc này trời đã về khuya, trong căn lán tranh nhỏ liêu xiêu, Bác ngồi bó gối bên đống lửa, nét mặt trầm ngâm dường như có nhiều điều cần suy nghĩ, những vết nhăn trên vầng trán cao rộng của bác lại càng hằn sâu hơn. Bác khơi bếp lửa cháy bùng lên, cho hơi ấm lan tỏa khắp căn lều dã chiến. Rồi bỗng nhiên bác đứng dậy, nhón chân nhẹ nhàng tiến đến phản nằm, dém chăn cho từng chiến sĩ. Hình ảnh Bác chăm lo cho những người chiến sĩ của mình khiến tôi chợt liên tưởng tới người Cha già tóc bạc, chăm sóc cho đàn con thơ. Tôi thì thầm hỏi nhỏ: – Thưa Bác, sao Bác vẫn còn chưa ngủ ạ? Bác có lạnh lắm không? Bác ân cần nhìn tôi và khuyên nhủ: – Chú cứ việc ngủ ngon, ngày mai mới có sức đánh giặc. Tôi vâng lời Bác, nhắm mắt đi ngủ nhưng trong lòng vẫn thấp thỏm không yên, Bác đã cao tuổi như thế rồi, không nghỉ ngơi làm sao chịu được? Lần thứ ba tỉnh giấc, trời đã gần sáng, tôi giật mình khi Bác vẫn còn ngồi đó, đôi mắt nặng trĩu suy tư nhìn ngọn lửa hồng không rời mắt. Không thể kìm lòng, tôi nằng nặc nói với Bác: – Thưa Bác! Trời đã gần sáng rồi, xin Bác ngủ một chút để giữ sức khỏe, kháng chiến còn dài, còn cần Bác chỉ đạo ạ! Bác cất giọng trầm ấm bảo tôi: – Chú cứ việc ngủ ngon, mặc Bác. Bác không ngủ được, Bác lo đoàn dân công ngủ ngoài rừng bị ướt, không có chiếu cũng chẳng có chăn. Chỉ mong sao trời mau sáng. Trong lòng tôi dâng lên một niềm tự hào, vui sướng lớn lao, vì được là một chiến sĩ cứu quốc, chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ vinh quang của Bác, của Đảng. Tôi ra khỏi chăn, bước đến ngồi bên bếp lửa, cùng Bác thức chờ trời sáng. Những ngọn lửa hồng như hiểu được lòng Bác, lòng tôi nên nhảy múa không ngừng. Có lẽ chúng đang muốn báo hiệu một thắng lợi vẻ vang ngay trước mắt của toàn quân, toàn dân trong cuộc chiến bảo vệ non sông, gấm vóc Vua Hùng./.
Kể lại bài thơ Đêm Nay Bác Không Ngủ
570
Đề bài: Kể lại bằng lời văn của mình nội dung đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều Bài làm Xưa nay, có một người thiếu nữ nổi tiếng khắp kinh thành bởi nhan sắc không ai sánh bằng và tài năng toàn vẹn: cầm, kì, thi, họa. Đó chính là Thúy Kiều. Nàng là con của một gia đình trung lưu lương thiện cùng hai em là Thúy Vân và Vương Quan. Nhưng trớ trêu thay, gia đình nàng bị mắc oan, cha nàng là Vương ông bị bắt. Giữa hoàn cảnh éo le đó, nàng đã chọn chữ hiếu để trọn đạo làm con. Kiều đã quyết định bán mình chuộc cha, mà kẻ mua nàng chính là Mã Giám Sinh – một tên buôn người có tiếng. Mụ mối mà Kiều nhờ đã hoàn thành nhiệm vụ, mụ đã dẫn Mã Giám Sinh đến mua Kiều. Màn chào hỏi, vấn danh diễn ra thật chóng vánh: – Mã Giám Sinh – hắn xưng tên. – Huyện Lâm Thanh – hắn trả lời như vậy khi được hỏi đến quê quán. Nhìn đến vẻ bề ngoài cũng đủ thấy hắn là một kẻ giả dối, xấu xa. Đã khoảng bốn mươi mà trông hắn vẫn ăn diện, ra vẻ trai lơ, không có gì là đĩnh dạc, đường hoàng. Người hầu kẻ hạ của hắn thì nhiều, vô học, ra vào không ngớt. Ngay hắn thôi cũng thể hiện sự vô học qua lời ăn, tiếng nói cộc lốc, giả dối. Hắn đến gia đình Kiều như thể đến nhà hắn vậy. Không thèm chào hỏi, mời mọc, hắn ngồi ngay ở ghế trên – chiếc ghế chỉ dành cho người chủ của gia đình. Trong khi kẻ vô học ỷ thế đồng tiền còn đang ra vẻ quan lớn thì mụ mối đã nôn nóng giục Kiều ra mắt. Bề ngoài có vẻ như Mã Giám Sinh đến hỏi vợ nhưng thực chất đó lại là một cuộc mua bán người. Kiều hiểu rõ điều đó hơn ai hết nên nàng sao có thể vui được. Gia đình gặp họa, mỗi người mỗi ngả, thân nàng thì phải bán mình chuộc cha. Nàng nhớ biết bao những ngày gia đình sum họp, những khoảnh khắc bên người đã cùng hẹn ước trăm năm. Nhưng những Ngày đó đã qua rồi. Giờ đây, nàng bước ra gặp Mã Giám Sinh mà trong lòng cảm thấy sợ hãi, rụt rè. Kiều buồn nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp vốn có của mình. Nàng mảnh dẻ, yếu ớt như cây mai, cây trúc trước cơn gió lớn, khác gì cây liễu trước ngọn sóng to. Phần Kiều là vậy, còn về phần Mã Giám Sinh thì khác. Vốn là kẻ buôn người nên hắn ngắm nhìn, đắn đo về Kiều như lật từng mớ rau xem kĩ để mua. Hồi lâu sau, hắn mới thử tài Kiều. Hắn bắt Kiều phải chơi đàn nguyệt, làm thơ trên quạt cho hắn nghe. Hắn xem Kiều tấu lên bản nhạc buồn ai oán cùng bài thơ than phận trách trời, thật đáng thương. Nhưng Mã Giám Sinh không thèm để ý đến điều đó, hắn nhận thấy Kiều là một món hàng hiếm có, chắc chắn sẽ đem lại nhiều món hời nên hắn chẳng ngại gì mà đồng ý mua ngay. Bằng giọng điệu của kẻ buôn người chuyên nghiệp, hắn hỏi giá: – Xưa mua ngọc đến Lam Kiều, nay đây cũng vậy. Thật là một người sắc khó ai sánh bằng, tài hiếm ai bì kịp. Vậy sính nghi là bao? Mụ mối thấy vậy khấp khởi mừng thầm, phen này sẽ được đổi đời, giàu to. Mụ ra giá ngay: – Thúy Kiều vốn là quốc sắc thiên hương, chẳng may gặp gia biến nên cũng không dám giấu, đáng giá nghìn vàng không hơn không kém. Quả đúng là một cái giá cao, Mã Giám Sinh chưa vội trả giá ngay. Hắn và mụ mối kẻ bớt một, kẻ thêm hai, cò kè một hồi lâu mới được cái giá ngoài bốn trăm, tức là chưa được một nửa giá đầu. Thế mới tường tận đây là hai kẻ chi biết đến đồng tiền. Thật xót xa thay cho thân Kiều tội nghiệp. Vậy là từ đây, Kiều bước vào một cuộc đời sóng gió, ba chìm bảy nổi, lưu lạc khắp bốn phương.
Kể lại bằng lời văn của mình nội dung đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
726
Kể lại chuyến dã ngoại đáng nhớ của em Bài làm Tôi – một nữ sinh ngày nào mới chập chững bước vào ngôi trường cấp ba, giờ đây đã gắn bó với trường gần một năm. Là người con thế hệ thứ 101 của mái trường hồng, tôi rất mong muốn tận hưởng đêm trại đầu tiên ở trường mới này. Nhưng khi nghe thông báo năm nay sẽ không tổ chức trại mà thay vào đó là đi thăm viếng các anh hùng liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn và đi chơi ở bãi biển Cửa Việt, tôi lại có cảm giác khác, một cảm giác mới lạ, bồi hồi trong lòng, mong sao nhanh đến ngày hôm đó. Các bạn biết không, chính buổi tham quan ngày hôm ấy đã cho tôi những kỉ niệm đẹp, những cung bậc cảm xúc mới cho năm tháng cấp ba này, và tôi cảm thấy rất trọn vẹn về ngày thứ sáu hôm ấy… Trước ngày quan trọng ấy, lớp chúng tôi đã cùng nhau chuẩn bị rất nhiều thứ, từ những chiếc áo lớp độc đáo cho đến những món ăn và kế hoạch ngày hôm đó. Sáng thứ sáu tinh mơ rồi cũng đến, ai nấy đều có mặt rất sớm. Chuyến hành trình của lớp chúng tôi đã bắt đầu. Thật kì lạ khi hầu hết khoảng thời gian chúng tôi ngồi trên xe là vui nhất, là náo nhiệt nhất và hòa hợp nhất… Đến địa điểm thứ nhất là nghĩa trang Trường Sơn, không khí đã trở nên nghiêm trang và im ắng hơn. Giờ đây tôi vẫn còn nhớ nguyên vẹn cái cảm xúc khi ở nghĩa trang, trước những tấm bia mộ. Nhớ lắm, nhớ những mảnh đất ta đã đi qua, ở nơi ấy, có những người Bác, người Chú, người Anh, người Cô, người Chị đã nằm xuống để bảo vệ Tổ Quốc, để cho tôi, cho các bạn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay. Nếu như không được trực tiếp đến đây, được tận mắt chứng kiến tất cả những đau thương, mất mát của một thời đạn bom, khói lửa, thời của những người mẹ xa con, người vợ xa chồng mà không biết có ngày gặp lại thì tôi cũng chưa khi nào hình dung được những mất mát ấy lại lớn và đau thương đến vậy. Thương lắm khi được biết tại mảnh đất đó thân xác các anh đã không còn nguyên vẹn, từng mảnh, từng mảnh đã hòa cùng cây cỏ, đất trời. Thương lắm với những cánh thư viết vội cho người thân của các anh. Các anh, chú liệt sĩ vẫn luôn tràn đầy niềm lạc quan, yêu đời và tự hào khi góp phần nhỏ bé của mình để bảo vệ cho Tổ quốc thân yêu, cho người thân an toàn. Và trong thâm tâm các Anh luôn chắc chắn một điều rằng rồi đây nước nhà sẽ độc lập – ngày ấy sẽ không còn xa. Đối với tôi thì công lao ấy thật sự rất lớn lao và có ý nghĩa không chỉ ngày nay mà còn là bài học cho thế hệ mai sau… Đứng trước nơi đây, tôi thấy mình thật nhỏ bé, nhỏ bé trước những mất mát, những hi sinh, nhỏ bé trước cả một thế hệ anh hùng đã ra đi để bảo vệ cho nền độc lập. Muốn lắm, muốn được thắp cho tất cả các Anh những nén nhang thành kính, nhưng làm sao có thể đi hết được bây giờ? Bởi nơi các anh nằm rộng lớn quá, bao la quá mà thời gian ở nơi này thì có hạn. Xin được thắp nén nhang trong tâm để gửi đến các Anh, mong các Anh được yên nghỉ và linh hồn các Anh được siêu thoát. Có những tấm bia mộ khắc tên của những anh, chị liệt sĩ tuổi đời còn rất trẻ, họ chỉ hơn thế hệ chúng ta một, hai tuổi, nhưng họ đã sẵn sàng xả thân vì nước. Đứng trước những tấm bia đó lòng tôi nghẹn ngào và xúc động vô cùng, khóe mắt tôi cay cay lúc nào không hay, vì khói hương, vì thương các chị, các anh, hay vì xấu hổ cho bản thân mình? Tôi tự hỏi: “Bằng tuổi các chị ngày ấy tôi đã làm được gì?” Vẫn biết ở thời nào theo thời đó, nhưng tôi lại không khỏi dằn vặt và suy nghĩ, vì tôi biết bản thân mình còn nhiều lúc chưa thực sự cố gắng mặc dù được sống và làm việc trong một môi trường rất tốt. Ở thời các chị dù có khốc liệt, gian khổ biết mấy nhưng trong mỗi người đều tràn đầy nhựa sống, tràn đầy niềm tin, hi vọng và tinh thần lạc quan, luôn sống vui vẻ, yêu đời. Tôi lại tự hỏi, vậy tại sao ở thời bình ta lại không làm được, mặc dù hoàn cảnh sống tốt hơn gấp trăm ngàn lần nhưng tại sao lại có những lúc bi quan, chán trường và muốn lẩn trốn thực tại? Qua chuyến đi lần này, tôi đã thực sự hiểu được phần nào những mất mát mà thế hệ trước đã phải gánh chịu để cho chúng ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như bây giờ. Tôi thầm cảm ơn đến những người đã hi sinh và những người thân của họ. Từ đó, tôi thấy bản thân mình cần thay đổi để sống tốt hơn và xứng đáng hơn với những hi sinh, mất mát của một thời. Tôi và các bạn sinh ra ở thời bình nhưng không phải vì thế mà chúng ta được phép chủ quan, nghĩ rằng mình sống như vậy là đã tốt rồi, mà tôi nghĩ mình phải luôn cầu tiến, phải biết tiếp thu, lắng nghe ý kiến của mọi người, sau đó chắt lọc những ý kiến đó để hoàn thiện bản thân mình hơn. Chúng ta không phải làm một cái gì đó quá cao xa để bày tỏ lòng biết ơn đó mà hãy thực hiện từ những việc nhỏ nhất, chúng ta hãy là những người có trách nhiệm với công việc, với những người xung quanh, sống chan hòa, yêu thương, dành những tình cảm chân thành, làm việc chăm chỉ, hăng say, có hiệu quả để giúp đất nước ta ngày một phát triển… Chắc hẳn các bạn sẽ có những suy nghĩ như tôi, chúng ta đã rất may mắn khi được làm việc và học tập trong môi trường rất tốt, rất thuận lợi.
Kể lại chuyến dã ngoại đáng nhớ của em
1,115
Đề bài: Kể lại chuyến về quê thăm bà Bài làm Tôi sống với bố mẹ ở thành phố còn bà nội tôi vẫn sống ở quê cùng với chú thím tôi. Quê nội tôi ở vùng trung du có những đồi hoa sim tím rất đẹp. Cứ đến tháng sáu, cả một vùng đồi núi như được trải một tấm thảm rực rỡ những bông hoa sim, hoa mua tím. Tôi có thể ngắm những đồi hoa ấy không biết chán. Hè nào, bố mẹ tôi cũng cho tôi về quê chơi. Đã thành lệ nên ngay sau khi dự lễ bế giảng ở trường về là tôi vội sắp xếp “hành lí” cho thật chu đáo để sáng hôm sau “khởi hành” cho sớm. Hồi còn bé, tôi thường cùng bố đi ô tô về quê, nhưng năm nay, bố tôi đã mua được xe máy nên hai bố con tôi đi bằng xe máy. Tầm 8 giờ, bố con tôi đã về đến làng. Ngay ở cổng làng, tôi đả gặp lũ bạn ở quê vẫn chơi đùa cùng tôi những dịp hè trước. Trông thấy tôi, chúng reo lên và chạy theo xe của bố tôi. Tôi bảo bố dừng xe lại và tụt xuống ôm chầm lấy chúng. Thằng Hoà thưa với bố tôi: – Bác cứ về trước đi ạ, để Nam ở lại chơi với chúng cháu một chút. Tí nữa nữa chúng cháu đưa Nam về. Rồi cả xnấy đứa nhao nhao trêu đùa bố tôi: – Bác cứ yên tâm đi ạ, không sợ cậu “quý tử” sứt mẻ gì đâu. – Chúng cháu bồi cho lại vui hơn tết ấy chứ lị. Bố tôi mỉm cười bẹo má mấy đứa đứng gần nói: – Được, nhưng phải về sớm kẻo bà mong. Rồi bố lên xe, đi về phía cuối làng, nơi có căn nhà nhỏ thân thương của bà tôi. Mải chơi đùa với mấy đứa bạn, mãi hơn 10 giờ tôi mới về đến nhà bà. Bà tôi đứng sẵn ở cổng chờ tôi. Bà âu yếm ôm tôi vào lòng, khẽ xoa đầu tôi rồi dẫn tôi ra giếng rửa mặt. Bà bảo tôi: – Để bà rửa mặt cho. Mặt tôi đỏ bừng. Năm nay tôi đã lớn rồi, đã lên lớp 8 rồi chứ còn bé bỏng gì nữa đâu. Tôi lắc đầu nguầy nguậy: – Không, bà để cháu tự rửa, cháu lớn rồi mà. Bà mắng yêu tôi: – Bố tiên sư nhà anh, ra dáng ghê nhỉ. Rồi hai bà cháu cùng cười vang Bố tôi ở trong nhà hỏi vọng ra – Hai bà cháu có điều gì vui mà cười giòn thế? Hai bà cháu chỉ nhìn nhau, lại cười. Nụ cười của bà mới hiền hậu làm sao, ấm áp làm sao, khiến tôi thấy lòng lâng lâng bao niềm vui không tả nổi. Vào nhà, bà múc cho tôi một bát nước vối và bảo: – Uống đi cháu, cho mát ruột. Lá vối này tự tay bà ủ đấy. Quả thật tôi rất thích uống thứ lá vối quê do bà tôi ủ. Bà tôi ủ vối khéo lắm; Lá không còn mùi ngái mà không mốc, uống vào có một hương vị thật đặc biệt, nó mộc mạc mà thanh nhã, đậm đà vị hương đồng gió nội và đậm đà cái tình của bà tôi nữa. Ăn cơm xong, tôi lại chạy ra gốc đa đầu làng chơi với mấy thằng bạn. Mọi lần, chúng tôi thường trèo lên tận ngọn đa để bắt chim non. Nhưng năm nay, bỗng nhiên tôi không muốn bắt chim non nữa. Tôi bảo bọn thằng Hoà, thằng Quảng: – Đừng bắt chim non các cậu ạ, tội nghiệp mẹ nó lắm. Bọn chúng nghe tôi nói vậy cũng đồng ý. Thằng Hoà bỗng reo to: – Thôi, về lấy diều ra thả đi, gió to thế này diều sẽ lên cao lắm đấy. Chúng tôi vác diều lên sườn đồi sau làng thả cho quang, diều không bị vướng vào các ngọn tre trong làng. Gió rất mạnh nên cánh diều lên rất cao. Tiếng sáo vi vu nghe thật vui tai. Bọn tôi cứ mải miết chơi thả diều tới tận xầm tối mới về. Trông thấy tôi quần áo lem luốc, bố tôi mắng: – Sao con nghịch thế. Quần áo bẩn quá. Bà tôi cười hiền hậu: – Trẻ con phải thế chứ. Hồi còn bé, anh có khác gì nó bây giờ đâu. Bố tôi cười chống chế: – Là con sợ nó không quen lại ốm thì khổ bà. Bà không trả lời bố, quay sang ôn tồn bảo tôi: – Thôi, đi tắm đi con, chờ chú thím về rồi ăn cơm. Chú thím tôi đi làm mãi tối mịt mới về. Chờ chú thím tắm xong rồi cả nhà quây quần bên mâm cơm. Bà gắp cho tôi và em An (con chú thím tôi, cu cậu mới ba tuổi rưỡi) mỗi anh em một cái trứng cá rất lớn. Tôi cảm ơn bà rồi gắp phần tôi cho em An: – Cháu để phần em, cháu lớn rồi. Bà lại mắng yêu tôi: – Bố nhà anh! Rồi bà cười, ánh mắt bà rất vui. Trong bữa ăn, bà hỏi thăm bố tôi về chuyện của các cô, các chú trong cơ quan bố mẹ. Nghe bố kể dạo này nhà nào cũng khá lên, bà vui lắm. Vừa ăn xong, rất nhiều cô bác và cả các anh chị thanh niên, cả bọn thằng Hoà đã kéo đến chật nhà bà tôi. Họ tíu tít hỏi chuyện bố tôi. Mãi khuya mọi người mới về. Chà, cái tình quê ấm áp quá. Đêm hôm đó, tôi lại được rúc đầu vào lòng bà, nghe bà kể truyện cổ tích. Ở giường bên bố nói vọng sang. – Thôi, ngủ đi con, để bà còn ngủ, khuya rồi. Nhưng bà tôi vẫn cứ kể truyện cổ tích cho tôi nghe. Câu chuyện của bà đưa tôi vào giấc ngủ êm đềm. Với những giấc mơ thật đẹp.
Kể lại chuyến về quê thăm bà
977
Đề bài: Kể lại chuyện Con Hổ có nghĩa theo phương pháp sáng tạo Bài làm Vào một ngày đẹp trời, ở dưới một gốc cây cổ thụ trong khu rừng già, một đàn hổ con đang quây quần bên bà nội. Chúng say sưa nghe bà kể chuyện. Lúc đầu là tiếng một con hổ đầu đàn cất lên: – Bà ơi bà kể chuyện cho chúng cháu nghe đi. – Các cháu của bà thích nghe chuyện gì nào? – Chúng cháu thích nghe một câu chuyện có ý nghĩa nhất. Hổ bà trầm ngâm suy nghĩ và nói: “Được rồi, bà sẽ kể cho các cháu nghe về cái ngày mà cha các cháu ra đời. Các cháu có thích nghe không nào?” Đàn hổ con reo lên: “Chúng cháu rất thích ạ!” – Thế là hổ bà bắt đầu kể. Các cháu biêt không cách đây hai mươi năm năm về trước, bà đã mang thai cha các cháu, thế rồi đến ngày trở dạ, bụng bà đau quần quại, những cơn đau co thắt làm bà tưởng như chết đi, sống lại. Cứ như thế kéo dài từ sáng sớm đến đêm. Ông các cháu cứ loay hoay mãi mà chẳng thể nào giúp bà cho được. Thế rồi trong cơn đau bà chợt nghĩ đến loài người. Loài người thật thông minh và nhân hậu, loài người được tiếp thu những văn minh của khoa học. Chỉ có loài người mới giúp bà qua được cơn nguy này. Thế là bà liền kêu ông cháu đi tìm đến loài người. Hồi ấy, cách khu rừng của chúng ta không xa, ở huyện Đông Triều loài người sinh sống rất đông. Trong số họ, có bà đờ Trần đỡ đẻ cho người rất giỏi, ông cháu liền tới gõ cửa. Khi bà Trần mở cửa, đang khẩn cấp, ông cháu vội lao tới cõng bà ấy tới nhà của chúng ta. Bà Trần đến cũng là lúc mà bà của cháu đang lăn lộn vì đau đớn, bà cào tung cả đất lên. Thấy vậy, bà Trần lại ngỡ rằng bà và ông các cháu chuẩn bị để ăn thịt bà ấy. Các cháu biết không lúc đó, bà Trần run lên bần bật, gương mặt xinh tươi hiền hậu bỗng trở nên tái mét. Bà Trần cứ đứng im một chỗ không dám nhúc nhích. Ông các cháu hiểu ý run sợ của bà Trần, ông liền đến gần cầm tay bà Trần rồi nhìn bà trong cơn đau mà rơi nước mắt. Chỉ thế thôi bà Trần đã hiểu ý, bà ấy lấy ngay thuốc sẵn có trong túi, rồi hoà với nước muối cho bà uống, lại còn xoa bụng cho bà nữa. Lát sau, bà sinh ngay ra được cha cháu cùng chú hổ hai, chú hổ ba, chú hố tư, cô hổ năm. Ông cháu thấy vậy mừng lắm còn bà thì mỏi mệt, nằm sụp xuống. Để cảm ơn bà Trần, chẳng biết lấy gì hơn, ông các cháu vội đào số bạc có hơn mười lạng dành dụm đem biếu bà Trần. Bà Trần cũng hiểu tấm lòng của ông các cháu. Bà ấy còn đến vuốt ve bố và các chú, cô của các cháu rồi mới trở về. Cảm phục bà Trần, ông cháu còn tiễn bà ấy ra tận cửa rừng, rồi cứ đứng nhìn theo bóng bà ấy và gầm lên một tiếng khá to để cảm ơn mới quay về. Năm ấy, được biết loài người bị mất mùa đói kém lắm, nhưng nhờ có số bạc nhà ta, gia trình bà Trần đã qua nạn đói. Nghe đến đây lũ hổ con rất cảm động trước ơn nghĩa của con người. Hổ bà lại nói tiếp: Đó mới chỉ là một chuyện thôi. Còn chuyện về bác hổ trắng ở xóm bên mới xúc động làm sao! Các cháu có muốn nghe nữa không? Lũ hổ con đồng thanh đáp: Có ạ! Hổ bà tiếp tục kể: Ngày ấy bác hổ trán trắng ở xóm bên đi ăn cỗ, không may bị hóc xương, mà lại là xương bò, rất to. Chẳng biết làm thế nào, bác liền chạy xuống thung lũng để móc họng lấy chiếc xương ra. Nhưng càng móc lại càng đau, máu me, nhớt dãi trào ra. Đau quá bác ấy cào bới đất rồi nhảy lên, nhảy xuống vật lộn đến khổ. Tưởng rằng bác ấy sẽ chết. May sao lại gặp loài người Một người đi kiếm củi thấy thế liền trèo lên ngọn cây kêu to: “Cố họng ngươi đau phải không, đừng cắn ta, ta sẽ lấy xương ra cho.” Bác hổ trán trắng nghe thấy dù đau nhưng rất mừng, vội nằm phục xuống mồm há to nhìn người kiếm củi như cầu cứu. Người kiếm củi trèo ngay xuống lấy tay thò vào cổ họng bác hổ lấy ra chiếc xương to như bắp chân của bà. Bác hổ liếm mép, nhìn người ra hiệu cảm ơn, rồi bỏ đi. Mấy hôm sau, bác hổ trán trắng có bắt được con nai to và béo, bèn đến gõ cửa nhà người đã cứu mình và biếu bác ấy con nai. Thế rồi hơn mười năm sau, người cứu mạng bác hổ qua đời, bác hổ biết tin đã đến khóc thương, chia buồn. Từ đó trở đi cứ mỗi năm đến ngày giỗ người ấy, bác hổ trán trắng lại đem đến con dê hoặc con lợn để thắp hương, nhớ ơn cứu mạng.
Kể lại chuyện Con Hổ có nghĩa theo phương pháp sáng tạo
917
Kể lại chuyện Cây bút thần theo lời kể của em Gợi ý Ngày xưa có một em bé rất thông minh tên em là Mã Lương. Cha mẹ em mất sớm. Em thích học vẽ từ nhỏ nhưng không có tiền để mua bút. Hàng ngày em tập vẽ bằng cách đi kiếm củi, em lấy que vạch xuống đất vẽ những con chim bay trên trời. Lúc cắt cỏ, em nhúng tay xuống nước vẽ con cá con tôm. Khi về nhà, em vẽ mọi đồ đạc lên tường. Mã Lương học vẽ rất say mê và em tiến bộ rất mau. Em vẽ cái gì cũng giống như thật nhưng chỉ khổ nỗi là không có bút. Một hôm, nằm mơ em thấy có một ông già râu tóc bạc phơ hiện ra đưa cho em một chiếc bút và nói: – Đây là bút thần, nó sẽ giúp con nhiều. Mã Lương vui sướng reo lên. – Cây bút đẹp quá! Cháu cảm ơn ông, cảm ơn ông! Mã Lương chưa kịp nói hết lời ông già đã biến mất. Khi tỉnh dậy, em thì thấy mình đang cầm cây bút thần đó và rất lấy làm lạ. Mã Lương cầm cây bút vẽ cơn chim, chim tung cánh bay, vẽ con cá, cá trườn xuống nước. Mã Lương rất thích, rồi em cầm cây bút này đi vẽ cho những người nghèo khó trong làng, nhà nào thiếu cái gì Mã Lương vẽ cho cái đấy. Mười tên đầy tớ xông vào chuồng ngựa thì Mã Lương đã vượt qua tường bằng chiếc thang mà em vẽ. Thoát khỏi nhà tên địa chủ, Mã Lương vẽ một con ngựa và nhảy lên mình ngựa phóng đi. Chẳng bao lâu có tiếng ồn ào ở sau lưng, Mã Lương biết là bọn chúng tới gần, em giương cung bắn vào tên địa chủ và cưỡi ngựa phi thẳng. Sau mấy ngày đêm em dừng lại bên thị trấn nhỏ. Hàng ngày em vẽ tranh để đem bán kiếm sống qua ngày nhưng đều cố tình vẽ dở dang. Một hôm khi vẽ một con chim không có mắt, em vô tình đánh rơi giọt mực, mực rơi đúng vào chỗ mắt chim, con chim tung cánh bay. Việc đó làm chấn động đến cả thị trấn, rồi đến tai vua, vua bắt Mã Lương vào cung để vẽ. Mã Lương biết vua là kẻ tham lam nên em không vẽ, vua bảo em vẽ con rồng thì em vẽ con cóc ghẻ, vua bảo em vẽ con phượng thì em vẽ con gà trụi lông, nhà vua tức tối nhốt Mã Lương vào ngục và cướp cây bút thần. Nhà vua vẽ núi vàng song khi xem lại thì không phải là quả núi vàng mà là những tảng đá lớn. Rồi lão lại vẽ tiếp những thỏi vàng. Một viên chưa đủ, hắn còn muốn vẽ một thỏi vàng dài thật là dài, lúc nhìn lại thì không phải là thỏi vàng mà là một con mãng xà đang bò lại phía hắn. May có người đến cứu, nếu không thì nó đã cắn chết nhà vua. Biết nếu không có Mã Lương thì sẽ không làm gì được, vua đành thả Mã Lương ra và hứa sẽ gả công chúa cho. Mã Lương giả vờ đồng ý. Vua trả bút thần cho em vào bảo em vẽ biển, biển mênh mông không có sóng. Nhà vua ngắm nhìn rồi bảo: – Sao biển này không có cá? Mã Lương chấm vài chấm, biển hiện lên đầy cá khin vua rất thích. Vua bảo Mã Lương vẽ một con thuyền để đi dạo. Có thuyền rồi, vua và các quần thần cùng hoàng hậu, công chúa, thái tử lên thuyền ra khơi. Thuyền đi quá chậm. Vua đứng trên mũi thuyền kêu lớn: “Cho gió to lên, cho gió to lên!”. Mã Lương tô thêm vài nét bút đậm. Sóng biển nổi lên. Mã Lương lai tô thêm vài nét sóng nữa, sóng biển nổi lên cuồn cuộn. Biển dộng. Vua cuống quýt kêu lên: – Đừng cho gió thổi nữa. Đừng cho gió thổi nữa! Mã Lương không hề đếm xỉa đến những lời nói đó mà cứ thế vẽ những đường sóng lớn. Sóng biển xô vào bờ hết đợt này đến đợt khác. Vua bị ướt hết quần áo một tay ôm lấy cột buồm một tay ra hiệu gào to: “Mã Lương không vẽ nữa”. Mã Lương vờ như không nghe thấy, cứ liếp tục vẽ. Gió bão càng to rồi vùi chôn cả thuyền vua vào lớp sóng dữ. Sau khi vua chết, câu chuyện Mã Lương được truyền khắp nước. Không ai biết là Mã Lương đi đâu. Người ta đồn rằng chàng về nơi thôn dã sống yên bình bên những người nông dân lương thiện.
Kể lại chuyện Cây bút thần theo lời kể của em
799
Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của chim Phượng Hoàng Hướng dẫn Vào một ngày nắng đẹp, tôi cùng đứa con ngao du trên bầu trời. Bay một lúc lâu, chúng tôi hạ cánh xuống khu vườn nhỏ nghỉ ngơi. Chợt con tôi hỏi: “Cha ơi! Cha đã đi rất nhiều nơi, có chuyện gì mà cha nhớ nhất?”. Nghe con hỏi, tôi liền nhớ lại chuyện “Cây khế” rồi kể cho con nghe: “Hồi đó, cha còn rất trẻ. Với đôi mắt xanh biếc, chiếc mỏ đỏ chót và bộ lông đẹp, nhiều màu sắc cùng thân hình cường tráng, cha bay đi khắp nơi ngắm thế gian. Một hôm, cha đậu xuống cây khế trồng trên một mảnh vườn nhỏ bên cạnh ngôi nhà rách nát. Nhìn những trái khế chín mọng, ngon lành, lúc dầu cha định ăn một quả thôi nhưng càng ăn càng thấy ngon. Cha ăn cho dến khi chỉ còn vài quả trên cây, bỗng có tiếng người nói: “Chim ơi! Nhà ta chỉ có cây khế này thôi,chim ăn hết thì vợ chồng ta lấy gì mà sống?” Lúc này, cha mới để ý thấy một chàng thanh niên gầy gò, xanh xao, mặc bộ quần áo rách rưới đang đứng dưới gốc cây khế. Thấy anh ta có vẻ nghèo khổ, nhất là khi nhìn căn nhà tồi tàn cùa vợ chồng anh ta thì cha thấy ái ngại quá. Thương họ, cha liền nói: “Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”, rồi cha bay đi. Sáng hôm sau, cha đến đón anh ta theo lời hẹn. Trên đường, cha và anh ta nói chuyện rất vui vẻ. Cha dược biết, trước đây gia đình anh ta rất giàu có. Nhưng khi cha mẹ mất đi, vợ chồng người anh đã chiếm hết gia tài, nhà cửa, ruộng vườn, chỉ để cho vợ chồng anh ta một căn nhà rách nát, một mảnh vườn nhỏ, trên mảnh vườn cằn cỗi đó chỉ có một cây khế. Hai vợ chồng anh ta phải làm lụng vất vả, cày thuê cuốc mướn để kiếm sống. Vui chuyện, cuối cùng đã đến hòn đảo có một cái hang chứa đầy vàng. Cha hạ cánh xuống hòn đảo để anh ta vào hang lấy vàng. Cha thấy anh ta chỉ lấy vàng vào cái túi ba gang mà anh ta mang theo. Đưa anh ta về tới nhà, cha thầm nghĩ: “Người thanh niên này cũng hiền lành, thật thà”. Sáng hôm sau, cha đưa hắn đi, nhưng hắn mang tận cái túi chừng mười hai gang. Đến hòn đào, nhìn thấy cái hang chứa vàng đó, hắn ta hí hửng chạy vào lấy vàng. Đợi mãi vẫn chưa thấy hắn ra, nhìn biển thấy sắp có bão, cha vào hang giục hắn về nhưng hắn vẫn mê mải lấy vàng không chịu ra. Mãi lâu sau, hắn mới ì ạch kéo cái túi vàng nặng trịch ra, xung quanh người hắn cũng buộc toàn vàng, thế mà ra đến cửa hang rồi, hẳn ta vẫn còn cảm thấy tiếc rẻ. Hẳn chậm chạp bước lên lưng cha, vàng nhiều, nặng quá, cha phải cố hết sức mới bay được. Đi đến giữa biển, dôi cánh cùa cha mỏi râ rời tường như không cắt lên được nữa, chợt giông tố nổi lên, sấm sét ầm ầm. Cha cố gắng bay, cha bảo hắn vứt bớt vàng đi nhưng hắn không chịu. Gió mạnh quá, người cha nghiêng ngả, chao đảo làm hăn rơi tõm xuống biển cùng với túi vàng cùa hắn. Thật đáng đời kè tham lam! Con thấy đấy! Người em “ở hiền thì gặp lành”, còn người anh tham lam thì đã phải trả giá. Con hãy nhớ lấy bài học từ câu chuyện này nhé! Hoàng Xuân Hai – Hải Dương Nhận xét của giáo viên: 1.Những ưu điểm cần học tập “Cây khế” là một câu chuyện cổ tích quen thuộc với chúng ta. Nhưng câu chuyện “Cây khế” mà Xuân Hải kể vẫn làm cho người đọc rất thú vị theo dõi từ đầu đến cuối diễn biến của câu chuyện. Vì sao vậy? Chính là bởi Hải đã “nhập vai” Chim thần để kể lại một cách rất hấp dẫn câu chuyện này. Thêm nữa Hải lại còn tưởng tượng ra chi tiết: Chim thần kể câu chuyện “Cây khế” cho con trai cùa mình nghe. Vẫn là cốt truyện “Cây khế”, nhưng qua lời kể của Chim thần, vị trí của các tình tiết trong cốt truyện có sự thay đổi. Ví dụ: Đoạn mở đầu câu chuyện (đoạn nói về hoàn cành gia đình của người anh và người em) được kể lại qua cuộc nói chuyện giữa Chim thần và người em. Bên cạnh dó, trong câu chuyện bạn kể kết hợp với tả khá tốt ngoại hình cùa các nhân vật: Chim thân (“đôi mắt xanh biếc, chiếc mỏ đỏ chót và bộ lông đẹp, nhiều màu sắc cùng với một thân hình cường tráng”), người em (“gầy gò, xanh xao, mặc bộ quần áo rách rưới”), người anh (“mập mạp, hồng hào, chăng có vẻ gì là thiếu ăn, thiếu mặc”). Việc tả ngoại hình cùa người anh và người em góp phần bộc lộ hoàn cảnh sống của mỗi người. 2.Những hạn chế cần rút kinh nghiệm Hài kể còn thiếu một số chi tiết khá quan trọng trong truyện cho nên một số câu văn chưa có sự liên kết chặt chẽ về ý với nhau. Ví dụ các câu: “Năm sau, đến mùa khế chín, cha lại đến ăn khế. Có một người chạy ra, nhưng không phải là anh thanh niên lần trước mà là một người đàn ông mập mạp, hồng hào, chẳng cỏ vẻ gì là thiếu ăn, thiếu mặc cả. Nghe hắn than thở cha cũng nói: “Ăn một quà, trà một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Bạn nên dưa thêm chi tiết giải thích lý do vì sao người anh lại có cây khế (vì cây khế vốn là của người em), cuộc sống của người em sau khi được chim thần giúp đỡ như thế nào?… Bài luyện tập: 1.Em hãy viết bổ sung giúp bạn 4-5 câu văn giải thích lý do vì sao người anh lại có cây khế, cuộc sống của người em thay đổi như thế nào sau khi được Chim thần giúp đỡ?2.Em hãy kể lại câu chuyện “Cây khế” theo lời của người anh hoặc lời của người em.
Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của chim Phượng Hoàng
1,089
Kể lại chuyện Cổ tích Sọ Dừa bằng lời Sọ Dừa Gợi ý Nhân dịp quan Trạng đi sứ thành công trở về, nhà vua cho mở tiệc rượu chúc mừng. Các quan lại trong triều đều có mặt đầy đủ để chúc tụng. Rượu đã ngà ngà say, vua cao hứng nói lớn: – Sọ Dừa! Trẫm đã nghe thiên hạ đồn đại nhiều về cuộc đời của ái khanh. Nhưng trẫm chưa rõ thực hư thế nào. Nay nhân buổi tiệc rượu, lại có mặt đầy đủ bá quan văn võ trong triều, ái khanh hãy kể cho mọi người cùng nghe được không? Sọ Dừa biết từ chối không bằng tuân mệnh, chàng bèn thưa: – Muôn tâu bệ hạ! Thần được mẫu thân kể rằng: Trước đây, phụ mẫu thần rất nghèo nhưng ăn ở hiền lành, nhân đức, chẳng làm hại ai bao giờ. Ấy vậy mà sao trời chẳng thương, đã năm mươi tuổi mà vẫn chưa có được một mụn con. Phụ mẫu thần rất buồn khổ về việc này. Thế rồi, vào một hôm trời nắng to, mẫu thân thần vào rừng hái củi cho chủ. Vì khát nước quá mà không tìm thấy suối, lại thấy cái sọ dừa bên gốc cây đựng đầy nước mưa, bà liền bưng lên uống. Sự việc tưởng chừng như rất đơn giản ấy lại khiến mẫu thân thần có mang. Có lẽ bởi sự việc kì lạ như vậy nên sau này thần mới mang tên là Sọ Dừa. Chẳng bao lâu sau, phụ thân thần qua đời, rồi mẫu thân sinh ra thần. Thật đáng buồn là khi sinh ra thần không có hình dáng con người như bây giờ. Nghe đến đây, nhà vua và triều thần đều rất ngạc nhiên và tò mò. – Thế hình dáng ái khanh lúc đó ra sao? – Nhà vua hỏi. – Muôn tâu, thần không chân, không tay, tròn như quả dừa. – Quả thật là chuyện kì lạ, hiếm có xưa nay. Chắc mẫu thân ngươi phải đau khổ lắm! – Bệ ha đoán rất đúng ạ! Mầu thân thần rất buồn, bà còn định đem vứt thần đi. Nhưng thần đã cất tiếng van xin. – Người nói được ư? – Tâu vâng. Không hiểu sao vừa sinh ra thần đã nói được. Đó cũng là một điều kì lạ. Mẫu thân nghe xong thì mủi lòng nên giữ thần lại nuôi và đặt cho thần cái tên Sọ Dừa. Thần biết vậy nên cũng xin đi chăn bò. Gia mẫu nửa tin nửa ngờ, nhưng cũng đến xin phú ông cho thân chăn bò thuê. Thấy hình dáng thần kì dị nên ban đầu ông ta không đồng ý. Sau lão thấy nuôi thần không tốn cơm, trả công lại ít hơn trẻ khác nên đồng ý cho thần đến làm. Từ đó, sáng sáng thần lăn ra đồng. Tối đến, sau khi đã lùa bò vào chuồng,, thần lại lăn về nhà. Nắng cũng như mưa, thần đều hoàn thành tốt công việc. Phú ông thấy vậy mừng lắm. Lại kể, nhà phú ông có ba cô con gái. Hai cô chị thì kiêu kì, thấy thần xấu xí thì khinh ghét, hắt hủi. Riêng cô út lại rất hiền lành, hay thương người nên đối đãi với thần rất tử tế. Thần cũng đem bụng thầm thương mến cô. Đến ngày mùa, người làm ra đồng cả nên các cô phải thay phiên nhau đưa cơm cho thần. Ở trong lốt sọ dừa đã lâu, thần phát hiện ra mình còn một lốt thật nữa. Bởi vậy, những lúc chăn bò một mình thần thường bỏ lốt sọ dừa xấu xí và trở thành hình dáng một chàng trai như hiện giờ. Những lúc đó, thần thường ngồi trên chiếc võng đào mắc vào hai cành cây và thổi sáo. Một hôm, đương lúc thần thổi sáo thì có tiếng động ở phía bụi cây. Giật mình, thần chui ngay vào lốt sọ dừa. Lúc đó thần không biết là ai. Mãi sau này thần mới biết là cô út mang cơm đến, nghe tiếng sáo thấy lạ, bèn nấp nghe, về sau, khi lấy nhau rồi nàng mới kể rằng sau nhiều lần nghe tiếng sáo, nàng sinh lòng yêu mến, bao của ngon vật lạ đều mang đến cho thần. Phần thần thì thấy nàng hiền lành lại đối tốt với mình nên cuối mùa, thần giục mẫu thân đến hỏi nàng về làm thê tử. Gia mẫu hết sức sửng sốt, không dám đi. Nhưng do thần năn nỉ quá nên người cũng chiều lòng. Gia mẫu đành mang buồng cau đến nhà phú ông. Chê thân hình dáng dị dạng, xấu xí nên phú ông không muốn gả con. Để dễ dàng từ chối và cũng muốn mỉa mai nhà thần, ông thách cưới rất lớn; “Một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm“ Thần đã đoán trước mọi việc nên đã chuẩn bị đâu vào đấy. Với phép thuật mà thần có thì việc này không khó. Đúng hẹn, thần cùng gia nhân mang lễ vật đến. Phú ông dù tức giận nhưng vẫn phải làm theo đúng lời hứa. Lão hỏi ý kiến các con. Hai cô chị đều giãy nảy lên chỉ riêng nàng út là bằng lòng. Đến ngày cưới thần bày cỗ bàn trang trọng, bỏ lớp vỏ sọ dừa, hoá lại làm người sánh duyên cùng nàng út. Mọi người ai nấy đều bất ngờ. Người vui nhất là mẫu thân và nàng út. – Chắc từ đó cuộc sống của người hạnh phúc lắm phải không? Nhà vua hỏi. – Tâu vâng. Từ khi trở lại hình dáng con người, thần cùng gia đình sống rất hạnh phúc. Nhưng thần thiết nghĩ đã là đấng nam nhi thì phải “đầu đội trời, chân đạp đất” phải ra giúp nước giúp dân. Do đó, thần miệt mài học tập và tham gia ứng thí. – Ngươi nghĩ thế ta thấy rất phải – Nhà vua gật đầu hài lòng. – Nhờ ân đức của bệ hạ, thần đã đỗ Trạng nguyên Sau đó; như bệ hạ đã biết, thần được người tin tưởng giao cho trọng trách đi sứ. Dự cảm ở nhà nương tử thần sẽ gặp điều không lành nên trước khi đi thần đã để lại cho nàng một hòn đá lửa, một con dao và hai quá trứng gà phòng thân rồi dặn nàng phải luôn đem theo bên mình. Dặn dò mọi việc xong xuôi thần mới lên đường. Sau đó ít lâu, trên đường về nước, thuyền của thần có đi qua một hòn đảo hoang. Thần nghe có tiếng gà kêu rất lạ: “Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước Cô tôi về “ Thần bèn cho thuyền ghé vào xem thì liền gặp lại thê tử của mình. Sau bao ngày xa cách nay được găp lại nàng, thần mừng rỡ vô cùng. – Tại sao nương tử ái khanh lại có mặt trên hòn đảo hoang? – Nhà vua tò mò hỏi. Nghe xong chuyện thần vô cùng phẫn nộ. Thần bèn đưa vợ về nhà, mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui nhưng thần chưa để nàng xuất hiện vội. Thần muốn thử xem hai cô chị sẽ cư xử ra sao? Hai ả không biết gì, thấy thần về thì có vẻ mừng rỡ lắm. Họ tranh nhau kể chuyện nương tử thần gặp rủi ro rồi giả vờ khóc nức nở ra chiều thương tiếc lắm. Quả là độc ác, nhẫn tầm. Thần tuy giận tím gan nhưng cố nén và bỏ đi. Tiệc xong, thần đưa nương tử ra. Hai cô chị xấu hổ quá phải bỏ làng ra đi. Và bây giờ thần đang sống rất hạnh phúc với gia mẫu và nương tử của mình. Chuyện của thần chỉ có vậy thôi ạ! Nhà vua nghe xong câu chuyện lấy làm lạ lùng. Suy nghĩ hồi lâu, người cho rằng đó là ý trời sai Sọ Dừa – một người tài giỏi xuống giúp nước nên rất trọng dụng và ban thưởng hậu hĩnh. Kể từ đó về sau, Sọ Dừa sống rất hạnh phúc. Câu chuyện về cuộc đời chàng được nhân dân truyền tụng từ đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay.
Kể lại chuyện Cổ tích Sọ Dừa bằng lời Sọ Dừa
1,382
Kể lại chuyện em được nhận món quà bất ngờ dịp sinh nhật Hướng dẫn Kể lại chuyện em được nhận món quà bất ngờ dịp sinh nhật Tuổi thơ ai cũng có những kỉ niệm để nhớ,để thương,để xao xuyến bâng khuâng,để mỉm cười hay rơi lệ. Từ bé cho tới bây giờ,tôi đã trải qua nhiều dịp sinh nhật,dịp nào tôi cũng thấy đáng nhớ. Nhưng có lẽ lần sinh nhật thứ mười để lại trong tôi những cảm xúc khó tả,bồi hồi và xúc động lạ lùng.Các bạn cùng nghe tôi thuật lại ngày sinh nhật ấy nhé! ” – Bố mẹ ơi,con đạt giải rồi,con đạt giải rồi!” Vừa về đến nhà,tôi đã reo ầm ĩ lên về kết quả thi học sinh giỏi cấp thành phố của mình. Tuy chỉ đạt giải ba thôi nhưng tôi rất vui vì dù sao đi chăng nữa thì tôi cũng đã “giành giật” được một vị trí quan trọng trong hàng nghìn thí sinh mà. Cả nhà chưa kịp phản ứng gì thì tôi đã chạy một mạch đến bên cạnh mẹ thỏ thẻ: “- Mẹ hứa rồi đấy nha,mua cho con chiếc xe đạp điện vào ngày sinh nhật nếu con đỗ rồi nhé!” Ba ngày sau,ngày tôi mong chờ nhất cũng đã đến-ngày sinh nhật,tôi háo hức mong chờ những món quà tuyệt vời của mình. Ngày sẽ sinh nhật năm nay của tôi,bạn bè đến chơi vui vẻ quá. Suốt cả buổi sáng,nhà tôi tấp nập kẻ ra,người vào,tiếng cười nói ríu ra ríu rít không ngớt. Hai chiếc bình cắm đầy hoa thế mà các bạn còn mang đến mấy bó nữa. Hoa hồng bạch,hoa hồng nhung,hoa cẩm chướng,lại có cả những bông hoa cỏ nhỏ xíu tím nhạt mà tôi rất thích nữa. Các bạn tôi ngồi chật nhà,bao nhiêu ghế mượn thêm của cô hàng xóm cũng không đủ,chật chội nhưng mà rất vui. Các bạn mang đến tặng tôi bao nhiêu là quà,bày la liệt trên bàn. Bố và bà tôi khéo tay cắt tỉa các loại hoa quả bày ra mâm trông rất đẹp mắt. Ở giữa là chiếc bánh gato ba tầng màu xanh có in tên tôi cùng dòng chữ ” chúc mừng sinh nhật ” cùng mười cây nến đủ màu sắc lung linh. Khi mọi người ngồi đủ hết,tôi mới chợt nhận ra thiếu mẹ. ” Mẹ đi đâu nhỉ? Chắc mẹ đi mua quà cho mình “- tôi nghĩ thầm trong bụng,tự dưng thấy nóng ruột và hồi hộp lạ kì. Mọi người cùng hát bài “Happy birthday” chúc mừng sinh nhật tôi,sau đó tôi thổi nến,tiếng vỗ tay vang lên. Một niềm vui hân hoan khó tả xuất hiện trong lòng,tôi cảm thấy mình là người may mắn và hạnh phúc nhất thế gian này. Sau khi bữa tiệc kết thúc,tôi lâng lâng,sung sướng,khệ nệ bê quà vào phòng. Đến chiều,tôi hồi hộp mở từng gói quà. Chao ôi,toàn là những thứ đẹp đẽ,đáng yêu,xinh xắn mà các bạn tặng tôi như kẹp tóc,con gấu bông,quyển nhật kí….làm tôi mê tít. Ai cũng có quà,chỉ mỗi mẹ là chưa có. Tôi nôn nao mong chờ món quà này. Không biết mẹ sẽ mua cho tôi xe màu gì nhỉ,ngồi trong phòng mà tôi cứ tha hồ tưởng tượng về ” con ngựa sắt” mà mẹ sẽ mua cho mình. Bỗng mẹ tôi gọi: ” Linh ơi,quà mẹ tặng con này!” Không nén nổi tò mò,tôi phi như bay ra chỗ mẹ. Mẹ mỉm cười rồi rút từ trong cặp ra một quyển sách “Làm sao để học tốt”. Lúc này,tôi trợn tròn mắt ngạc nhiên và thấy bực bội vô cùng. Tay tôi nắm chặt quyển sách và chạy vào phòng,ngồi khóc tu tu…Một lúc sau lấy lại bình tĩnh tôi mới mở trang sách ra xem và bỗng thấy có cái gì cồm cộm. Tò mò,tôi lật lên. Thì ra là…phiếu bảo hành chiếc xe đạp điện. Phải nói tôi mừng rỡ,hạnh phúc đến cỡ nào. Tôi vội chạy ra ôm chặt lấy mẹ và nói lời cảm ơn. Tôi cảm thấy mình như đứa trẻ lên ba cần sự che chở,vỗ về từ mẹ. Sau đó mẹ đưa tôi đi lấy xe. Ôi,chiếc xe đẹp quá,đúng màu hồng mà tôi rất thích. Mai đi học tôi tha hồ mà hãnh diện,mà khoe với mọi người. Tôi luôn tự nhủ với bản thân mình rằng phải học tập thật tốt hơn nữa để xứng đáng với công sức mà gia đình đã bỏ ra nuôi tôi ăn học.
Kể lại chuyện em được nhận món quà bất ngờ dịp sinh nhật
756
Đề bài: Kể Lại Chuyện Em Được Nhận Món Quà Bất Ngờ Trong Dịp Sinh Nhật Bài làm Tuổi thơ ai cũng có những kỉ niệm để nhớ,để thương,để xao xuyến bâng khuâng,để mỉm cười hay rơi lệ. Từ bé cho tới bây giờ,tôi đã trải qua nhiều dịp sinh nhật,dịp nào tôi cũng thấy đáng nhớ. Nhưng có lẽ lần sinh nhật thứ mười để lại trong tôi những cảm xúc khó tả,bồi hồi và xúc động lạ lùng.Các bạn cùng nghe tôi thuật lại ngày sinh nhật ấy nhé! ” – Bố mẹ ơi,con đạt giải rồi,con đạt giải rồi!” Vừa về đến nhà,tôi đã reo ầm ĩ lên về kết quả thi học sinh giỏi cấp thành phố của mình. Tuy chỉ đạt giải ba thôi nhưng tôi rất vui vì dù sao đi chăng nữa thì tôi cũng đã “giành giật” được một vị trí quan trọng trong hàng nghìn thí sinh mà. Cả nhà chưa kịp phản ứng gì thì tôi đã chạy một mạch đến bên cạnh mẹ thỏ thẻ: “- Mẹ hứa rồi đấy nha,mua cho con chiếc xe đạp điện vào ngày sinh nhật nếu con đỗ rồi nhé!” Ba ngày sau,ngày tôi mong chờ nhất cũng đã đến-ngày sinh nhật,tôi háo hức mong chờ những món quà tuyệt vời của mình. Ngày sẽ sinh nhật năm nay của tôi,bạn bè đến chơi vui vẻ quá. Suốt cả buổi sáng,nhà tôi tấp nập kẻ ra,người vào,tiếng cười nói ríu ra ríu rít không ngớt. Hai chiếc bình cắm đầy hoa thế mà các bạn còn mang đến mấy bó nữa. Hoa hồng bạch,hoa hồng nhung,hoa cẩm chướng,lại có cả những bông hoa cỏ nhỏ xíu tím nhạt mà tôi rất thích nữa. Khi mọi người ngồi đủ hết,tôi mới chợt nhận ra thiếu mẹ. ” Mẹ đi đâu nhỉ? Chắc mẹ đi mua quà cho mình “- tôi nghĩ thầm trong bụng,tự dưng thấy nóng ruột và hồi hộp lạ kì. Mọi người cùng hát bài “Happy birthday” chúc mừng sinh nhật tôi,sau đó tôi thổi nến,tiếng vỗ tay vang lên. Một niềm vui hân hoan khó tả xuất hiện trong lòng,tôi cảm thấy mình là người may mắn và hạnh phúc nhất thế gian này. Sau khi bữa tiệc kết thúc,tôi lâng lâng,sung sướng,khệ nệ bê quà vào phòng. Đến chiều,tôi hồi hộp mở từng gói quà. Chao ôi,toàn là những thứ đẹp đẽ,đáng yêu,xinh xắn mà các bạn tặng tôi như kẹp tóc,con gấu bông,quyển nhật kí….làm tôi mê tít. Ai cũng có quà,chỉ mỗi mẹ là chưa có. Tôi nôn nao mong chờ món quà này. Không biết mẹ sẽ mua cho tôi xe màu gì nhỉ,ngồi trong phòng mà tôi cứ tha hồ tưởng tượng về ” con ngựa sắt” mà mẹ sẽ mua cho mình. Sau đó mẹ đưa tôi đi lấy xe. Ôi,chiếc xe đẹp quá,đúng màu hồng mà tôi rất thích. Mai đi học tôi tha hồ mà hãnh diện,mà khoe với mọi người. Tôi luôn tự nhủ với bản thân mình rằng phải học tập thật tốt hơn nữa để xứng đáng với công sức mà gia đình đã bỏ ra nuôi tôi ăn học. Mấy năm trôi qua nhưng những kỉ niệm về ngày sinh nhật thứ mười ấy vẫn khắc sâu mãi trong trí óc tôi. Chiếc xe đạp ấy vẫn luôn là người bạn đồng hành cùng tôi tới trường. Từ món quà bất ngờ này,tôi thêm hiểu,thêm yêu gia đình tôi,nhất là bố mẹ – người luôn hết lòng vì con cái.
Kể Lại Chuyện Em Được Nhận Món Quà Bất Ngờ Trong Dịp Sinh Nhật
582
Đề bài: Kể lại chuyện gia đình em vào một tối thứ bảy Bài làm Công việc của bố em rất bận rộn lại cách nhà rất xa nên gia đình em ít có dịp sum họp đông đủ. Buổi tối thứ bảy vừa qua là dịp để cả nhà em quây quần trò chuyện. Vừa nghe tiếng bố ngoài cửa, chị em tôi đã cuống quýt chạy đến mở cửa rồi chưa kịp đợi bố cho xe vào nhà đã ôm vai, bá cổ bố, cu Chuột còn bắt bố bế nữa! Mẹ nhìn cảnh tượng ấy phì cười nói: “Nào, Chuột xuống cho bố rửa mặt cái đã, bố đi đường xa chắc một lắm rồi!”. Thế là Chuột tụt xuống nhưng còn phụng phịu. Mẹ cất áo và cặp cho bố rồi nhắc bố đi tắm, nước ấm mẹ vừa pha. Lúc mẹ vào nhà thì chị em tôi đã ríu rít ngồi đoán xem hôm nay bố mua quà gì. Khi bố xong việc cũng là lúc mẹ pha nước cam cho bố. Mẹ hỏi han bố xem công việc cơ quan tiến triển đến đâu. Trong khi bố mẹ nói chuyện, chị em tôi vui đùa tranh giành nhau những tập truyện, những gói bánh bố mang về làm quà. cả nhà trò chuyện xong, bố cùng tôi lên phòng của tôi. Bố hỏi rất cặn kẽ về tình hình học tập, xem lại những bài tôi đã học, giảng những bài tôi chưa hiểu kĩ. Bố và tôi chơi trò “bingo” giống như trong tiếng Anh. Bố ra một chủ đề nào đó, ví dụ như “mùa xuân”, tôi sẽ viết năm từ về chủ đề ấy, bố sẽ viết mười từ cũng về chủ đề này. Bố sẽ đọc mười từ của mình, nếu tôi có cả năm từ giống từ của bố thì tôi sẽ hô “bingo”. Bố và tôi chơi rất vui, hết chủ đề này sang chủ đề khác, và cũng khá nhiều lần tôi hô “bingo”. Cu Chuột phải chơi một mình thì có vẻ ganh tị. Chú ta chạy sang phòng tôi giận dỗi: “ứ ừ, con không biết đâu, bố chỉ chơi với mẹ và chị thôi, chẳng chơi với con gì cả!”. Bố vội thanh minh: “Trời ơi, xin lỗi Chuột yêu của bố. Nào, đồ chơi đâu, đưa đây bố con mình cùng chơi nào!”. Bố chơi ô tô, máy bay, người máỹ,… với cu Chuột. Còn tôi xuống phụ mẹ làm bếp. Nhân dịp bố về, hôm qua mẹ bảo tôi mua đỗ xanh, đường phèn,… vò đỗ mẹ nấu chè. Chà! Thơm quá! Mẹ thật tâm lí! cả nhà quây quần bên chiếc bàn tròn nhâm nhi bát chè đỏ xanh nóng hổi thì thật tuyệt. Cả nhà tôi trò chuyện vui vẻ, cu Chuột còn lên hát và múa những bài học ở mẫu giáo làm cả nhà còn vui hơn, tiếng cười và vỗ tay vang rộn rã! Những buổi tối thứ bảy như thế tối không thể nào quên. Tổ ấm gia đình thực sự là nơi hạnh phúc nhất!
Kể lại chuyện gia đình em vào một tối thứ bảy
514
Đề bài: Kể lại chuyện mà em từng mắc lỗi Bài làm Con người ai cũng từng mắc phải lỗi lầm, có những lỗi lầm kịp sửa chữa, nhưng cũng có những lỗi lầm khiến ta day dứt và nhớ suốt đời. Tiếc thay, đã có một lần tôi mắc phải một lỗi lầm như vậy. Hồi đó, tôi học lớp năm. Trong lớp, tôi là một trong những đứa gia đình giàu có nhất nên nhóm mấy đứa chúng tôi luôn tỏ ra kỳ thị với những đứa bạn nghèo cùng trang lứa. Lớp tôi có một bạn gái tên Trang (nhưng lúc ấy chúng tôi toàn gọi xếch mé là con bé Trang). Trang nhà nghèo, lại không có bố nên luôn là đối tượng trêu chọc của tụi tôi. Một hôm, Trang vừa bước vào lớp, năm đứa chúng tôi đã nhảy ra đồng loạt hô to: "Con không cha như nhà không nóc! Ô hô! Ô hô!", rồi cứ chạy quanh trêu chọc đủ điều. Thay vì ứng xử bằng khuôn mặt lỳ lợm và đôi mắt thoáng buồn như mọi hôm, hôm nay, Trang chạy nhanh về chỗ rồi gục mặt xuống bàn. Thấy vậy tụi tôi lại càng tiếp tục trò chơi quái ác. Trang không thể chịu được, đành bật khóc. Đúng lúc đó thì… Tùng! Tùng! Tùng! Năm phút sau cô giáo bước vào. Thấy mắt Trang đỏ hoe và vẫn còn nức nở, cả lớp lặng im phăng phắc, hình như cô giáo đã đoán được mọi điều. Nhưng trái với dự tính của tôi, cô không hề to tiếng mà lại nhẹ nhàng nhắc nhở: Chúng ta ai cũng có những niềm hạnh phúc nhưng trong một lúc nào đó ai mà tránh khỏi được những nỗi đau. Điều quan trọng nhất là ta phải động viên nhau, đừng bao giờ có ý khơi lên nỗi đau của người khác. Cô vừa nói đến đó thì cả lớp tôi đều ngoái lại vì Trang không kìm được mà bật lên tiếng khóc. Tôi thấy xấu hổ vô cùng, tưởng như tất cả mọi ánh mắt đang nhìn thẳng vào mình. Cô lại tiếp: Cũng vì một lý do đặc biệt mà bạn Trang lớp mình mới có một hoàn cảnh như vậy. Sống trong cùng một tập thể, các em hãy tỏ ra thông cảm và chia sẻ với bạn. Đó cũng là giúp bạn bớt đi những nỗi buồn. Sau đó lớp tôi bước vào bài học mới. Điều lạ nhất hôm đó là cô giáo không hề nhắc đến mấy đứa chúng tôi. Cô cũng chẳng trách phạt gì. Vậy mà chúng tôi thấm thìa lắm. Mấy đứa bàn nhau, định một lúc nào đó gặp để xin lỗi bạn Trang. Nhưng thật bất ngờ, sau đó ba hôm, Trang chuyển đi trường khác. Nghe nói, Trang cùng mẹ đi vùng kinh tế mới. Chúng tôi thấy ân hận vô cùng. Không biết bây giờ Trang ở đâu. Nhiều lần tôi tự hỏi không biết có phải trò đùa quái ác năm xưa của lũ chúng tôi mà Trang phải ra đi như thế? Ra đi khi chưa cho chúng tôi nói một lời xin lỗi. Nghĩ đến bạn, tôi thấy ân hận vô cùng và càng thấm thía sai lầm của mình. Tôi sẽ phải sống tốt hơn với bạn bè mình, nhất là những bạn có hoàn cảnh thiệt thòi như Trang.
Kể lại chuyện mà em từng mắc lỗi
563
Kể lại chuyện một con vịt xấu xí Hướng dẫn Kể lại chuyện một con vịt xấu xí Đề bài: Kể lại chuyện một con vịt xấu xí Mùa đông sắp đến, cái lạnh rét buốt sắp càn quét khắp mọi nơi, đó cũng là mùa hàng trăm loại chim bay về phương Nam tránh rét. Thiên nga cũng không ngoại lệ. Có hai vợ chồng trẻ thiên nga nhà nọ vừa mới chào đón một nhóc thiên nga ra đời. Họ cũng lo bé thiên nga còn nhỏ quá không cầm cự nổi nên gồng mình thay phiên nhau bế con qua sông. Đi được một quãng, thấy đuối quá, họ mới dừng chân nghỉ ngơi. Nghĩ thấy tình hình đưa con đi xa trong khi còn quá nhỏ như thế này không ổn, thiên nga mẹ mới nói với thiên nga cha gửi con cho ai trông một thời gian qua cái giá rét này. Sau một hồi tìm kiếm, họ nhìn thấy gia đình vịt nọ cũng có những đứa con mới chào đời. Nhanh chóng đưa thiên nga con đến nhờ vả gia đình vịt kia. Vì cũng có con nhỏ nên những người mẹ có sự đồng cảm với nhau. Vịt mẹ đồng ý coi thiên nga con như người trong nhà đến khi cha mẹ nó trở về. Thế là thiên nga con ở lại với gia đình vịt. Những con vịt kia dần lớn lên, hiểu chuyện hơn. Chúng thấy thiên nga phổng phao khác hẳn chúng nó thì chế giễu thiên nga xấu xí. Lúc nào cũng hắt hủi, đem thiên nga ra làm trò đùa, mặc cho sự cấm cản la mắng của vịt mẹ. Rồi mùa xuân cũng đến, những con chim cũng trở về sau mùa đông lạnh giá. Đôi thiên nga quay trở về đón con trong niềm vui mừng con khôn lớn. Thiên nga con bỡ ngỡ nhận cha mẹ. Bầy vịt con thì ngỡ ngàng khi biết được sự thật.
Kể lại chuyện một con vịt xấu xí
327