text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Hướng dẫn lập dàn ý bài văn thuyết minh – Ngữ văn 10 Hướng dẫn LẬP DÀN Ý BÀI VĂN THUYẾT MINH I.DÀN Ý BÀI VĂN THUYẾT MINH 1.Bố cục một bài văn a.Mở bài: Giới thiệu sự vật, sự việc, con người, vấn đề.. được đề cập ở đề bài. b.Thân bài: Nội dung chính của bài văn. c.Kết bài: Nêu suy nghĩ, hành động của người viết. 2.Bố cục của bài văn thuyết minh -Bố cục ba phần của một bài làm văn phù hợp với bố cục của bài văn thuyết minh. -Vì văn bản thuyết minh là kết quả của thao tác làm văn. (Người viết cũng cần giới thiệu, trình bày rõ các nội dung thuyết minh, có lúc cần miêu tả, nêu cảm xúc, trình bày sự việc,…) 3.So sánh mở bài và kết bài của văn bản thuyết minh với bài văn tự sự a.Giống nhau: -Mở bài: Giới thiệu đối tượng cần tự sự hoặc đối tượng cần thuyết minh. -Kết bài: Kết thúc câu chuyện hoặc kết thúc việc giới thiệu, trình bày đối tượng thuyết minh. b.Khác nhau: -Kết bài của văn bản tự sự: Chỉ cần nêu cảm nghĩ của người viết. -Kết bài của văn bản thuyết minh: Trở lại đối tượng cần thuyết minh, lưu lại những suy nghĩ, cảm xúc lâu bền trong lòng độc giả. 4.Trình tự sắp xếp ý ở thân bài -Thời gian: xưa + nay. -Không gian: xa -> gần; ngoài -> trong; dưới -> trên,… hoặc ngược lại. -Nhận thức: dễ thấy -> khó thấy; quen -> lạ. -Trình tự chứng minh: phản bác -> chứng minh. II.LUYỆN TẬP 1.Giới thiệu một tác giả văn học -Xác định đề tài: Một nhà văn, nhà thơ: Thi hào Nguyễn Du. -Lập dàn ý: a.Mở bài: *Yêu cầu: -Dẫn dắt vào đề để giới thiệu đối tượng cần thuyết minh: Giới thiệu chung về Nguyễn Du. -Để người đọc nhận ra được kiểu văn bản của bài làm, cần giới thiệu theo cách: Giới thiệu bằng những tri thức khách quan về đối tượng thuyết minh (không bộc lộ những suy nghĩ chủ quan như: …để lại cho tôi một ấn tượng khó quên). (Giới thiệu cho người đọc thấy được: Nguyễn Du là một tác giả lớn trong văn học Việt Nam trung đại nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung. Lí giải vì sao UNESCO công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hoá thế giới). *Định hướng: -Giới thiệu vị trí của Nguyễn Du trong văn học Việt Nam trung đại nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung. -Giới thiệu về mối liên hệ giữa cuộc đời và sự nghiệp văn học của ông. b.Thân bài: *Tìm ý, chọn ý: -Giới thiệu về tiểu sử, thân thế và cuộc đời của Nguyễn Du. -Giới thiệu về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du: các sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, a;iá trị nội dung và giá trị nghệ thuật, tác phấm đỉnh cao,… *Sắp xếp ý: -Giới thiệu về tiểu sử, thân thế và cuộc đời Nguyễn Du: + Tên hiệu, tên chữ, năm sinh, năm mất,… + Quê hương. + Thân thế gia đình. + Thời đại. + Các giai đoạn chính trong cuộc đời,… -Giới thiệu về sự nghiệp văn học của Nguyễn Du: + Những tác phẩm tiêu biểu (chữ Hán, chữ Nôm). + Giá trị nội dung các sáng tác. + Giá trị nghệ thuật các sáng tác,… c.Kết bài: -Ảnh hưởng từ cuộc đời, tấm lòng nhân hậu của Nguyễn Du đối với đương thời và hậu thế. -Sức sống lâu bền của các sáng tác của Nguyễn Du. 2.Lập dàn ý thuyết mình một tấm gương học tốt Yêu cầu cách làm: -Chọn tấm gương có thực, thuyết phục ở trong lớp hoặc trong trường bạn, hoặc một người bạn biết. -Giới thiệu quá trình và phương pháp học tập của bạn. -Giới thiệu những bài học kinh nghiệm từ tấm gương của bạn. Bài viết tham khảo: Kết thúc năm học 2009 – 2010 rất nhiều học sinh của đơn vị trường trung học phổ thông Bình Tân, xã Bình Tân được tuyên dương, khen thưởng do đạt thành tích tốt trong học tập, trong đó Trần Ngọc Trân học sinh lớp 10 là một trong những học sinh tiêu biểu của phong trào “vượt khó học tốt”. Ngọc Trân sinh năm 1995 hiện ngụ tại ấp Thuận Trị, xã Bình Tân, hoàn cảnh gia đình rất neo đon lại khó khăn về kinh tế, mẹ phải bươn chải làm ăn xa, cha không nghề nghiệp ổn định, em cùng người anh trai sống với bà nội tuổi gần 90. Ngay từ những ngày thơ ấu, hai anh em đã tập làm quen với cuộc sống tự lập, ngoài việc đùm bọc, bảo ban nhau trong học tập, sinh hoạt, cả hai còn là người cháu hiếu thảo luôn ân cần chăm sóc người bà đã già yếu. Dù sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn mọi thứ 11 nhưng Ngọc Trân vẫn rất chăm học và đạt nhiều thành tích, 10 năm liền đi học, từ lớp 1 đến 10, em luôn đạt danh hiệu “học sinh giỏi”. Chẳng những học giỏi, Ngọc Trân còn là một cán bộ xuất sắc của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, tích cực tham gia sinh hoạt và đạt nhiều thành tích trong các phong trào của Liên đội nhà trường, sống ở một xã vùng ven của huyện Gò Công Tây, điều kiện sinh hoạt khó khăn nhưng Ngọc Trân vẫn xuất sắc đạt giải nhì trong hội thi Chỉ huy Đội giỏi. Ngoài thành tích trong học tập và sinh hoạt Đội, em còn là học sinh có nhiều năng khiếu khi tham gia các phong trào. Ngoài ra, em còn tỏ ra có năng khiếu kể chuyện, năm học 2008 – 2009 em đã đạt giải ba khi tham dự hội thi “Kể chuyện đạo đức Bác Hồ”, năm học 2009 – 2010 trong hội thi kể chuyện văn học, em đã đạt giải nhì cấp trường và cấp huyện. Vừa qua, khi tham gia Hội thi “Kể chuyện sách hè” do Phòng văn hoá thông tin huyện Gò Công Tây tổ chức em đã xuất sắc đạt hai giải nhì trong phần “thi kể chuyện” và “giới thiệu sách”. Trong các sinh hoạt của nhà trường, của lớp Trân còn thể hiện năng khiếu của một MC, hầu như các hoạt động do lớp hoặc Liên đội tổ chức đều do em đảm nhận vói vai trò người dẫn chương trình và em luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được phân công. Truờng THPT Bình Tân có truyền thống cuối mỗi năm học đều tổ chức “Hội thi Nguyễn Hữu Huân”, đây là hội thi đặc biệt chỉ dành cho các học sinh xếp loại giỏi của trường để chọn ra người thủ khoa. Năm học 2009 – 2010, Trần Ngọc Trân đã xuất sắc vượt qua 33 thí sinh của toàn khối 10 để đạt danh hiệu ấy, thành tích thật đáng khâm phục. (Sưu tầm) 3 và 4. Học sinh tự lập dàn ý. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn lập dàn ý bài văn thuyết minh – Ngữ văn 10
1,172
Hướng dẫn Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt – Ngữ văn 10 Hướng dẫn NHỮNG YÊU CẦU VỀ SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp -Về ngữ âm và chữ viết: cần phát âm theo âm thanh chuẩn của tiếng Việt, viết đúng theo các quy tắc hiện hành về chính tả và về chữ viết nói chung. -Về từ ngữ: cần dùng từ ngữ đúng với hình thức và cấu tạo, với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của chúng trong tiếng Việt. -Về ngữ pháp: cần đặt câu theo đúng quy tắc ngữ pháp, diễn đạt đúng các quan hệ ý nghĩa. Đồng thời cần phải sử dụng một cách linh hoạt các biện pháp liên kết câu nhằm làm cho các câu trong văn bản được chặt chẽ, rõ ràng, mạch lạc và thống nhất. -Về phong cách ngôn ngữ: cần nói và viết phù hợp với các đặc trưng và chuẩn mực trong từng phong cách chức năng ngôn ngữ. 2.Sử dụng tiếng Việt hay và hiệu quả trong giao tiếp Khi nói và viết, chẳng những cần sử dụng tiếng Việt đúng theo các chuẩn mực của nó mà còn có thể sử dụng một cách sáng tạo. Sử dụng sáng tạo và linh hoạt tiếng Việt là vận dụng các phương thức và các quy tắc chung của tiếng Việt theo các phép tu từ để cho lời nói, câu văn có tính nghệ thuật và đạt hiệu quả cao trong giao tiếp. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Sửa lỗi về ngữ âm và chữ viết. a.Hãy phát hiện lỗi về chữ viết (chính tả) và chữa lại cho đúng: -Không giặc quần áo ở đây. -Khi sân trường khô dáo, chúng em chơi đá cầu hoặc đánh bi. -Tôi không có tiền lẽ, anh làm ơn đỗi cho tôi. b.Đọc đoạn hội thoại sau đây giữa một người cháu (ở thành phố) với một người bác (ở nông thôn ra chơi) và phân tích sự khác biệt của những từ phát âm theo giọng địa phương so với những từ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân: -Thế tại sao đang ở thành phố, bác lại về nhà quê? -À.., chuyện ấy thì dài lắm. Nhẩn nha rồi bác kể. Dưng mờ… chẳng qua cũng là do cái duyên, cái số… Gì thế, cháu? -Bác nói giọng nó khang khác thế nào ấy.Trời bác nói là giời […]. Nhưng mà bác nói là dưng mờ. Bảo bác nói là bẩu. -Ăn nước ở đâu nói giọng ở đó mờ, cháu… (Ma Văn Kháng,Heo may gió lộng) Gợi ý: Lỗi mà các câu trên đã mắc là: a.Các từ bị phát âm sai dẫn đến viết sai chuẩn. -giặt —> giặc: nói và viết sai phụ âm cuối. -ráo —> dáo: nói và viết sai phụ âm đầu. -lẻ, đổi —> lẽ, đỗi: nói và viết sai thanh điệu (sai dấu thanh). b.Lời nói của nhân vật bà bác trong đoạn văn của Ma Văn Kháng có nhiều từ ngữ nói theo âm địa phương, khác với âm trong ngôn ngữ chung: dưng mờ (nhưng mà), mờ (mà), bẩu (bảo), giời (trời). Các từ địa phương loại này nếu không dùng với mục đích sáng tạo nghệ thuật thì rõ ràng không nên khuyến khích sử dụng trong giao tiếp vì nếu được sử dụng nó sẽ cản trở quá trình giao tiếp. Trong thực tế, rất cần tiến tới thống nhất về phát âm và chữ viết theo chuẩn ngôn ngữ chung,, khắc phục những lỗi phát âm địa phương, để quá trình giao tiếp giữa mọi người diễn ra hiệu quả. 2.a. Hãy phát hiện và chữa lỗi về từ ngữ trong các câu sau: (1) Khi ra pháp trường, anh ấy vẫn hiên ngang đến phút chót lọt. (2) Những học sinh trong trường sẽ hiểu sai các vấn đề mà thầy giáo truyền tụng. (3) Số người mắc và chết các bệnh truyền nhiễm đã giảm dần. (4) Những bệnh nhân không cần phải mổ mắt được khoa Dược tích cực pha chế, điều trị bằng những thứ thuốc tra mắt đặc biệt. b.Lựa chọn những câu dùng từ đúng trong các câu sau: (1)Anh ấy cố một yếu điểm: không quyết đoán trong công việc. (2)Điểm yếu của họ là thiếu tinh thần đoàn kết. (3)Bọn giặc đã ngoan cố chống trả quyết liệt. (4)Bộ đội ta đã ngoan cường chiến đấu suốt một ngày đêm. (5)Tiếng Việt rất giàu âm thanh và hình ảnh, cho nên có thể nói đó là thứ tiếng rất linh động, phong phú. Gợi ý: t a.Các lỗi sai về từ ngữ trong các câu là: -Câu (1): dùng từ sai về cấu tạo: chót lọt. Cần thay bằng từ chót -Câu (2): nhầm lẫn từ Hán Việt gần âm, gần nghĩa: truyền tụng. Cần chữa lại là: truyền thụ hoặc truyền đạt. -Câu (3): Sai về kết hợp từ, thông thường, người ta chỉ nói hoặc viết là “mắc các bệnh truyền nhiễm”, chứ không thể là “chết các bệnh truyền nhiễm”, Cần chữa là: Số người mắc và chết vì các bệnh truyền nhiễm đã giảm dần. b.Lựa chọn những câu đúng: -Các câu (2), (3), (4) là những câu đúng. -Câu (1) sai từ “yếu điểm”, cần chữa thành “điểm yếu”. -Câu (5) sai từ “linh động”, cần chữa thành “sinh động”. 3.a Hãy phát hiện và chữa lỗi về ngữ pháp trong các câu sau: (1)Qua tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đã cho thấy hình ảnh người phụ nữ nông thôn trong chế độ cũ. (2)Lòng tin tưởng sâu sắc của những thế hệ cha anh vào lực lượng măng non và xung kích sẽ tiếp bước mình. b.Lựa chọn những câu văn đúng trong các câu sau: (1)Có được ngôi nhà đã làm cho bà sống hạnh phúc hơn. (2)Ngôi nhà đã làm cho bà sống hạnh phúc hơn. (3)Có được ngôi nhà, bà sống hạnh phúc hơn. (4)Ngôi nhà đã mang lại niềm hạnh phúc cho cuộc sống của bà. c.Từng câu trong đoạn văn sau đều đúng, nhưng đoạn văn không có được tính thống nhất, chặt chẽ. Hãy phân tích lỗi và chữa lại. Thuý Kiều và Thuý Vân đều là con gái của ông hà Vương viên ngoại. Nàng là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống hoà thuận hạnh phúc với cha mẹ. Họ sống êm ấm dưới một mái nhà, cũng có những nét xinh đẹp tuyệt vời. vẻ đẹp của Kiều hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. Còn Vân có nét đẹp đoan trang thuỳ mị. Còn về tài thì nàng hơn hẳn Thuý Vân. Thế nhưng nàng đâu có được hưởng hạnh phúc. Gợi ý: a.Phát hiện và sửa lỗi về ngữ pháp trong các câu đã cho: -Câu (1): lỗi của câu này là người viết không phân định rõ các thành phần trạng ngữ và chủ ngữ của câu. Có thể nêu ra mấy cách chữa sau (tuỳ thuộc vào vị trí của câu trong văn bản, vào mối quan hệ của câu này với những câu khác trong văn bản mà lựa chọn cho phù hợp): + Bỏ từ “qua” ở đầu câu. + Bỏ từ “của” và thay vào đó bằng dấu phẩy. + Bỏ cụm từ “đã cho thấy” và thay vào đó bằng dấu phẩy, đồng thời thêm mộtvị ngữ vào cuối câu. -Câu (2): Cả câu này mới chỉ là một cụm danh từ được phát triển dài, chưa đủ các thành phần chính của câu. Cần chữa bằng cách tạo cho câu có đủ hai thành phần chính. Có thể chữa theo một trong những cách sau: + Đó là lòng tin tưởng sâu sắc của các thế hệ cha anh vào lực lượng mãng non xung kích, những lớp người sẽ tiếp bước mình. (Thêm chủ ngữ cho câu). + Lòng tin tưởng sâu sắc của cấc thế hệ cha anh vào lực lượng măng non và xung kích, những lớp người sẽ tiếp bước họ, đã được biểu hiện trong tác phẩm. (Thêm vị ngữ cho câu). b.Chọn câu đúng. Câu (1) sai vì người viết đã không phân định được rõ thành phần phụ trạng ngữ với chủ ngữ của câu. Các câu sau đều là những câu đúng. c.Nhận xét về đoạn văn: -Đoạn văn này tập hợp toàn những câu đúng nhưng cả đoạn vẫn không có được tính thống nhất, chặt chẽ vì các câu chưa có mối liên hệ với nhau. Giữa các câu còn khá lộn xộn và thiếu liên kết lô gích. -Cách sửa: Cần sắp xếp lại các câu, các vế câu và thay đổi một số từ ngữ để ý của đoạn văn mạch lạc và phát triển theo trình tự hợp lí. Chẳng hạn: Thuý Kiều và Thuý Vân đều là con gái của ông bà Vương viên ngoại. Họ sống êm ấm dưới một mái nhà, hoà thuận và hạnh phúc cùng cha mẹ. Họ đều có những nét xinh đẹp tuyệt vời. Thuý Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, vẻ đẹp của nàng hoa cũng phải ghen, liễu cũng phải hờn. cỏn Thuý Vân có nét đẹp đoan trang, thuỳ mị. về tài thì Thuý Kiểu hơn hẳn Thuý Vân. Thế nhưng, nàng đâu có được hưởng hạnh phúc. 4.a.Hãy phân tích và chữa lại những từ dùng không phù hợp với phong cách ngôn ngữ: -Trong một biên bản về một vụ tai nạn giao thông: (1)Hoàng hôn ngày 25-10, lúc 17h30, tại km 19 quốc lộ 1A đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông. -Trong một bài văn nghị luận: (2) “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã nêu cao một tư tưởng, nhân đạo hết sức là cao đẹp. b.Hãy nhận xét về các từ ngữ thuộc ngôn ngữ nói trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ở đoạn sau đây: Bẩm cụ, từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù; bẩm có thế, con có dám nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá. Đi ở tù còn có cơm để mà ăn, bây giờ về làng về nước một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù. (Nam Cao, Chí Phèo) Những từ ngữ và cách nói như trên có thể sử dụng trong một lá đơn đề nghị được không? Vì sao? Gợi ý: a.Lỗi sai trong các câu là: -Câu (1): Sai từ hoàng hôn. Hoàng hôn tuy có nghĩa là buổi chiều tà (chiều muộn), nhưng thông thường nó chỉ dùng trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật hoặc trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, không thể dùng trong biên bản hành chính. Có thể bỏ từ này bởi đằng sau nó đã có từ ngữ chỉ thời gian một cách chính xác (lúc 17h30). -Câu (2): Lỗi sai nằm ở từ hết sức. Hết sức là từ chỉ mức độ cao (tương đương với rất, vô cùng…) nhưng chỉ dùng trong ngôn ngữ nói thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Đây là văn bản nghị luận, nên cần thay thế từ này bằng từ rất hoặc vô cùng. b.Lời thoại của Chí Phèo trong đoạn văn của Nam Cao có nhiều từ ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt như: -Các từ xưng hô: bẩm, cụ, con. -Thành ngữ: trời tru đất diệt, một thước cắm dùi không có. -Các từ ngữ mang sắc thái khẩu ngữ: sinh ra, có dám nói gian, quả, về làng về nước, chả làm gì nên ăn,… Các từ ngữ trên không thể dùng trong một lá đơn đề nghị, dù mục đích lời nói của Chí Phèo cũng là khẩn cầu, giống mục đích của một đơn đề nghị. Đơn đề nghị là văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính. Vì vậy, cách dùng từ và diễn đạt phải khác lời nói, phải đảm bảo sự trang trọng và nghiêm túc. 5.Trong câu tục ngữ “Chết đứng còn hơn sống quỳ”, các từ đứng và quỳ được dùng với nghĩa chuyển. Chúng không biểu hiện các tư thế của thân thể con người, mà theo phép ẩn dụ, chúng biểu hiện nhân cách, phẩm giá: “chết đứng” là chết hiên ngang, có khí phách cao đẹp, còn “sống quỳ” là sống luồn cúi, quy luỵ, hèn nhát. Dùng từ đứng và quỳ như vậy làm cho câu văn vừa mang tính hình tượng lại vừa mang tính biểu cảm (Ví dụ nếu ta thay thế bằng câu Chết vinh còn hơn sống nhục thì câu này mới chỉ thể hiện được sắc thái biểu cảm. Tính hình tượng của câu tục ngữ sau này rõ ràng mờ nhạt hơn). 6.Phân tích hiệu quả biểu đạt của việc dùng ẩn dụ và so sánh trong câu sau: Chứng ta luôn nằm trong lòng chiếc nôi xanh của cây cối, đó là cái máy điều hoà khí hậu của chúng ta. (Nguyễn Bá Cát – Lã Vĩnh Quyên, Sức khoẻ thanh niên) Gợi ý trả lời: Hai cụm từ chiếc nôi xanh và cái mấy điều hoà khí hậu đều nhằm biểu thị chức năng của cây cối, nhưng cách nói này rõ ràng mang tính hình, tượng và biểu cảm hơn. Chiếc nôi và máy điều hoà đều là những vật giúp ích cho con người. Vì thế, người viết dùng chúng để biểu hiện cho chức năng của cây cối sẽ làm cho câu văn vừa có tính cụ thể, vừa gợi liên tưởng sinh động, lại vừa tạo được xúc cảm thẩm mĩ cho người đọc. 7.Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh viết: Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không cố gươm thi dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000) Hãy phân tích giá trị nghệ thuật của phép điệp, phép đối, của nhịp điệu câu văn. Gợi ý: Trong đoạn văn trên, Bác đã dùng phép đối và phép điệp (Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dàng gươm…) để nhấn mạnh ý. Đồng thời, đoạn văn cũng có nhịp điệu dứt khoát và khoẻ khoắn (Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, khônq có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc,…). Sự kết hợp giữa các biện pháp tu từ và nhịp điệu của các câu văn đã tạo cho lời kêu gọi có được một âm hưởng hùng hồn, vang dội. Theo đó, nó tác động mạnh mẽ đến người nghe, người đọc, khiến người nghe, người đọc thực sự cũng cảm thấy giục giã và khát khao được hành động. 1.Lựa chọn những từ ngữ viết đúng trong các trường hợp sau: Bàn hoàng/bàng hoàng; chất phát/chất phác; bàn quan/bàng quan; lãng mạn/ lãng mạng; hiu trí/ hưu trí; uống riệu/uống rượu; trau chuốt/ chau chuốt; lồng làn/ nồng nàn; đẹp đẽ/đẹp đẻ; chặc chẻ/ chặt chẽ. Những từ viết đúng là: bàng hoàng, chất phác, bàng quan, lãng mạn, hưu trí, uống rượu, trau chuốt, nồng nàn, đẹp đẽ, chặt chẽ. 2.Phân tích tính chính xác và tính biểu cảm của từ lớp (thay cho từ hạng) và của từ sẽ (thay cho từ phải) trong bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (trong bản thảo Di chúc, lúc đầu dùng từ hạng, phải, sau đó gạch bỏ): -Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là [hạng] lớp người “xưa nay hiếm ”… -Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi [phải] sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và cấc vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi khỏi cảm thấy đột ngột. (Bút tích “Di chúc ” của Chủ tịch Hổ Chí Minh, trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, 2000) Gợi ý: Phân tích tính chính xác và tính biểu cảm của: -Từ lớp: dùng để phân biệt người theo tuổi tác, thế hệ, không có nét nghĩa xấu. Còn từ hạng phân biệt người theo phẩm chất tốt – xấu, mang nét nghĩa xấu (khi dùng với người). Vì thế, trong phạm vi của câu văn này, từ lớp có nét nghĩa phù hợp hơn. -Tương tự như vậy: từ phải trong câu sau mang nét nghĩa “bắt buộc”, “cưỡng bức” nặng nề, không phù hợp với sắc thái ý nghĩa “nhẹ nhàng, vinh hạnh” của việc “đi gặp các vị cách mạng đàn anh”, ngược lại từ sẽ có nét nghĩa nhẹ nhàng, phù hợp hơn. Do đó ở câu văn này Bác đã chủ động thay thế từ phải bằng từ sẽ. 3.Phân tích chỗ đúng, chỗ sai của các câu và của đoạn văn sau: Trong ca dao Việt Nam những bài về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn tất cả. Họ yêu gia đình, yêu cái tổ ấm cùng nhau sinh sống, yêu nơi chôn nhau cắt rốn. Họ yêu người làng, người nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công việc trong xóm ngoài làng. Tình yêu đó nồng nhiệt, đằm thắm và sâu sắc. Gợi ý: Đoạn văn tập hợp tất cả các câu văn tuy đều nói về tình cảm của con người trong ca dao nhưng vẫn mắc những lỗi sau: -Có thể coi câu đầu của đoạn văn là câu chủ đề của toàn đoạn. Thế nhưng ý nghĩa của câu này (nói về tình yêu nam nữ) và những câu sau (nói về những tình cảm khác) lại không nhất quán với nhau. -Từ họ trong các câu 2 và câu 3 không rõ thay thế cho cụm từ nào ở câu trước đó. Có thể chữa lại đoạn văn trên như sau: Trong ca dao Việt Nam, những bài nói về tình yêu nam nữ là nhiều nhất, nhưg còn có nhiều bài thể hiện những tình cảm khác. Những con người bình dân trong ca dao yêu tha thiết gia đình, yêu cái tổ ấm cùng nhau sinh sống, yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Họ yêu người làng, người nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công việc trong xóm, ngoài làng. Tình yêu đó nồng nhiệt, đằm thắm và sâu sắc. 4.Câu văn sau được tổ chức mạch lạc theo cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt (chủ ngữ – vị ngữ – bổ ngữ – thành phần phụ chú), đồng thời cũng đậm đà sắc thái biểu cảm và có tính hình tượng cụ thể. Hãy phân tích và làm sáng tỏ điều đó. Chị Sứ yêu biết bao nhiêu cái chốn này, nơi chị dã oa oa cất tiếng khóc đầu tiên, nơi quả ngọt trái sai đã thắm hồng da dẻ chị. (Theo Anh Đức, Hòn Đất) Gợi ý: Câu văn của nhà văn Anh Đức có tính hình tượng cụ thể và tính biểu cảm cao là nhờ: dùng quán ngữ tình thái (biết bao nhiêu), dùng các từ ngữ miẻu tả âm thanh và hình ảnh gợi liên tưởng sinh động (oa oa cất tiếng khóc đầu tiên), dùng hình ảnh ẩn dụ (quả ngọt trái sai đã thắm hồng da dẻ chị). Câu văn hay vì vừa phù hợp với các chuẩn mực ngôn ngữ, lại vừa có tính nghệ thuật cao. Nó là một ví dụ cụ thể và sinh động vể việc sử dụng sáng tạo tiếng Việt, tạo hiệu quả cao trong giao tiếp. 5.HS xem lại bài làm văn số 4 của mình, phát hiện các loại lỗi (nếu có) theo phần lí thuyết vừa được học và tự sửa lại. XEM THÊM HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN THUYẾT MINH – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt – Ngữ văn 10
3,257
Hướng dẫn phân tích Ca dao hài hước – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CA DAO HÀI HƯỚC I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Những bài ca dao được giới thiệu trong bài này tiêu biểu cho tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào và tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội. 2.Tiếng cười tự trào (tự cười mình) là tiếng cười lạc quan yêu đời của người lao động. Họ đã lấy chính cái nghèo của mình để tự trào một cách hồn nhiên, hóm hỉnh. Dù cuộc sống nghèo hèn nhưng họ đã vượt lên để sống một cách lạc quan bằng cách ‘thi vị hoá” cuộc sống của mình. 3.Tiếng cười giải trí là tiếng cười của niềm lạc quan yêu đời, là sản phẩm của óc hài hước và trào lộng của nhân dân ta. Tiếng cười giải trí cũng là một cách để quên đi những bộn bề lo âu vất vả của cuộc sống hằng ngày. 4.Tiếng cười phê phán, châm biếm là tiếng cười hướng vào những thói xấu trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhằm đả kích, cải biến nó hoặc tiêu diệt nó (nhũng hạng người lười nhác, ham ăn, những thầy bói dởm, những quan lại bất tài, những người phụ nữ đỏng đảnh, trăng hoa…). Các bài ca dao hài hước đều có cách khắc hoạ nhân vật rất điển hình, sử dụng nhiều yếu tố; chi tiết cách điệu hoá, cách dựng cảnh rất tài tình… để tạo ra những nét hài hước, hóm hỉnh mà châm biếm sâu cay. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Có thể sắp xếp bốn bài ca dao thành 2 nhóm: -Nhóm tiếng cười tự trào: bài số 1. -Nhóm tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội: các bài 2,3,4. 1.Bài 1 -Cưới xin hôn lễ là một chuyện vô cùng hệ trọng và có ý nghĩa đối với cuộc đời của mỗi con người. Nó thường được chuẩn bị chu đáo và cẩn thận:Thế nhưng việc dẫn cưới và thách cưới ở đây đều rất khác thường. Thực ra, nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động. Chàng trai mở đầu màn dẫn cưới bằng rất nhiều điều “to tát” (dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò). Thế nhưng chàng lại viện đủ lí do (mà lí do nào cũng hợp lí: dẫn voi…sợ quốc cấm, dẫn trâu… sợ họ máu hàn, dẫn bò… sợ họ nhà nàng co gân) để khước từ tất cả nhũng việc làm này. Vậy là đám cưới lí ra có voi, có trâu, có bò nhưng rồi chẳng có gì cả. Không những vậy, chàng trai kia còn táo bạo “nhất quyết” đùa cợt đến cùng: Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng. Lời đáp của cô gái cũng… chẳng vừa. Thách cưới mà lại thách “một nhà khoai lang” thì dễ đấy nhưng cũng có khác nào làm khó người ta. Song điều quan trọng không phải ở điểm này mà là ở chỗ cô gái hiểu “hoàn cảnh” của nhà em và nhà anh… cũng giống nhau. Và như thế đám cưới chỉ cần một “nhà khoai lang” là cũng quá đủ rồi. Qua lời thách cưới và lời dẫn cưới, chúng ta có thể thấy ở đây người nông dân đã mang cái nghèo của chính mình ra để mà đùa cợt. Tiếng cười ấy hướng vào chính họ nhưng cũng!à để cho họ quên đi cảnh khổ mà lạc quan yêu đời và ham sống hơn. -Bài ca dao có giọng hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật: + Lối nói khoa trương phóng đại: dẫn voi, trâu, bò, nhà khoai lang,… + Lối nói giảm dần: voi —> trâu —> bò —> chuột củ to —> củ nhỏ —> củ mẻ —> củ rim, củ hà. + Cách nói đối lập, phủ định: dẫn voi/ sợ quốc cấm dẫn trâu/ sợ họ máu hàn dẫn bò/ sợ họ co gân dẫn lợn gà/ khoai lang + Chi tiêt hài hước, giàu liên tưởng Miễn ìà có thú bốn chân Dẫn con chuột béo. mời dân, mời làng. 2.Các bài 2, 3, 4 So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả. kích, châm biếm, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt. Nhưng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót. Có thể thấy nét riêng hài hước của từng bài: -Bài 2 và 3 chế giễu loại đàn ông yểu đuối, lười nhác trong xã hội: + Bức tranh thứ nhất: Làm trai cho đúng sức trai Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng. Tiếng cười trong câu thơ này bật lên từ nghệ thuật phóng đại và thủ pháp đối lập. Người ta có thể yếu ớt nhưng chắc chắn không ai yếu đến mức “khom lưng chống gối” (cố gắng hết sức) để “gánh hai hạt vừng” (hai vật quá nhỏ) như vậy. Vậy ra cách nói kia chỉ là một so sánh kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong lao động. Thông điệp mà bài ca dao muốn nhắc nhở những hạng người kia là hãy sống sao cho mạnh mẽ, vững vàng. Làm trai không được ỷ lại, không nên sống nhờ vào người khác. + Bức tranh thứ hai: Chồng người đi ngược về xuôi Chồng em ngôi bếp sờ đuôi con mèo. Hướng mũi tên đả kích vào loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Họ có khác gì chú mèo kia cứ hằng ngày ăn rồi lại nằm cuộn tròn nơi xó bếp. Là người chủ của gia đình mà lười nhác, vô tích sự như thế thì hỡi ôi, thảm hại biết chừng nào. -Bài 4 là bài ca dao chế giễu loại plụi nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội. -Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập. -Khắc hoạ nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao. -Dùng ngôn ngữ đòi thường nhung thâm thuý và sâu sắc. -Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú. II.LUYỆN TẬP 1.Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” là một lời ứng xử khôn khéo, thông minh. Như trên đã phân tích, cô gái không những không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, tỏ ra vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đối đáp nam nữ trong dân ca). Lời thách cưới ấy là tiếng cười tự trào của người lao động. Nó tô đậm vẻ đẹp tâm hồn. sự vô tư, hồn nhiên và niềm lạc quan yêu đời của họ ngay trong cảnh nghèo nàn. 2.Tham khảo một số bài ca dao hài hước phê phán dưới đây: -Lấy chồng cho đỡ nắng mưa Chẳng ngờ chồng lại ngủ trưa đến giờ. -Gái sao chồng đánh chẳng chừa Đi chợ vẫn giữ cùi dừa bánh đa. -Bực mình chẳng muốn nói ra Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời. -Anh đừng chê thiếp xấu xa, Bởi chung bác mẹ sinh ra thế này. Anh ham xóc đĩa cò quay, Máu mê cờ bạc, lại hay rượu chè. -Lấy chồng từ thuở mời lăm Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi. -Sông bao nhiêu nước cũng vừa Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng. -Tối tối chị giữ mất buồng Cho em manh chiếu, nằm suông chuồng bò. Mong chồng chồng chang xuống cho Đến cơn chồng xuống gà o o gáy dồn. -Thầy cúng ngồi cạnh giường thờ Mồm thì lẩm bẩm tay sờ đĩa xôi. -Số cô chăng giàu thì nghèo Chiều ba mươi Tết thịt treo trong nhà. Số cô có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà cha cô đàn ông… XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Ca dao hài hước – Ngữ văn 10
1,411
Hướng dẫn phân tích Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA I.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau: -Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. -Nội dung yêu thương tình nghĩa: + Bài 4, 5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa. + Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thuỷ chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ). 1.Bài 1,2 a.Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như…” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xót xa. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mình. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận. b.Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận trôi nổi, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng: -Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?). -Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa. 2.Bài 3 a.Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như: -Ai làm cho bướm lìa hoa Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng. -Ai làm bầu bí đứt dây Chàng nam thiếp bắc gió tây lạnh lùng. Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục “cưới cheo” phong kiến hay có khi là chính người tình… b.Mặc dù lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai). Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian. 3.Bài 4 Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt. Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hoá (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu. Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái. Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu. Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu. 4.Bài 5 Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô tip rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng, không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bèn ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rạc yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình. -Hai ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang. -Cách nhau có một con đầm Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang. Cành trầm lá dọc lá ngang Đố người bên ấy bước sang cành trầm. -Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu. Sợ rằng chàng chả đi cầu Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em… Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao: Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như nhũng câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nhưng đều có giá trị thẩm mĩ cao. Ở bài ca dao dưới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùns tơi) nhưng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hướng đến chàng trai (người ở phía bên kia). 5.Bài 6 Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thuỷ chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn). -Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ nhũng hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thuỷ chung gắn bó sắt son. Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thuỷ chung nhung nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, tùng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách: Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phải của tình nghĩa vợ chồng. 6.Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là: -Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như… -Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn… -Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, củ ấu gai… -Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở. II.LUYỆN TẬP 1.Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”: -Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. -Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa. -Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu. -Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày. -Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao: -Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn. -Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước nhũng phong ba, bão táp của cuộc đời. -Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng. 2.Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: -Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên. -Nhớ ai ra ngân vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai? -Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ. Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai. ‘ Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ. -Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa -Nhớ khi khăn mở trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Bài ca dao Khăn thương nhớ ai tuy vẫn nằm trong hệ thống các bài ca dao thương nhớ trên đây nhưng nó vẫn có điểm riêng: Nỗi nhớ trong bài ca dao này vừa cụ thể, sinh động hơn lại vừa tổng hợp khái quát nhiều cung bậc hơn. Chính vì vậy, nó cuốn hút và hấp dẫn hơn. Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm “Đất nước là nơi”em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” vừa lấy ý tứ từ sự thương nhớ của ca dao vừa khái quát lên một cấp độ cao hơn – câu thơ chính là một nét đẹp giản dị mà tinh tế sâu sắc của tâm hồn người Việt. XEM THÊM HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 2: VĂN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa – Ngữ văn 10
1,910
Hướng dẫn phân tích Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN (Tản Viên từ phán sự lục — Trích Truyền kì mạn lục — NGUYỄN DỮ) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), sống vào khoảng thế kỉ XVI, người xã Đỗ Tùng, Trường Tân nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Cha ông là tiến sĩ đời Lê Thánh Tông, bản thân cũng đã từng đi thi và làm quan nhưng không bao lâu ông từ quan về ở ẩn. Trước tác của ông có tác phẩm nổi tiếng Truyền kì mạn lục, một tác phẩm thể hiện quan niệm sống và tấm lòng của ông trước cuộc đời. 2.Truyền kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại phản ánh hiện thực qua các yếu tố kì lạ, hoang đường. Trong truyện truyền kì, thế giới con người và thế giới cõi âm với những thần linh, ma quỷ có sự tương giao làm nên sự hấp dẫn đặc biệt cho thể loại. Tuy nhiên, đằng sau những chi tiết phi hiện thực là những vấn đề cốt lõi của đời sống xã hội cũng như những quan niệm và thái độ của tác giả đối với nhân sinh. 3.Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, được viết vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI. Các truyện hầu hết gắn với thời Lí, Trần, Hồ, Lê sơ và đều mang yếu tố hoang đường. Nhưng đằng sau những yếu tố hoang đường đó chính là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với đầy rẫy những xấu xa mà tác giả muốn vạch trần, phê phán. Qua mỗi tác phẩm, người đọc thấy được số phận bi thảm của những con người nhỏ bé trong xã hội, những bi kịch tình yêu mà thiệt thòi thường rơi vào người phụ nữ. Tập truyện của Nguyễn Dữ thể hiện tinh thần dân tộc, bộc lộ niềm tự hào về nhân tài, văn hoá nước Việt, đề cao đạo đức, nhân hậu, thuỷ chung, đồng thời khẳng định quan điểm sống “lánh đục về trong” của các trí thức ẩn dật đương thời. Truyền kì mạn lục không chỉ có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc mà còn có giá trị nghệ thuật cao. Nó là một tuyệt tác của thể loại truyện truyền kì, từng được khen tặng là “thiên cổ kì bút” (Vũ Khâm Lân). 4.Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong những truyện ngắn hay trong tập Truyền kì mạn lục. Câu chuyện ngợi ca phẩm chất dũng cảm, kiên cường của nhân vật chính Ngô Tử Văn – đại biểu cho chính nghĩa chống lại các thế lực gian tà. Qua tác phẩm, nhà văn đã củng cố lòng tin yêu của con người vào chính nghĩa và niềm tự hào về người trí thức Việt Nam. 1.Việc làm của Ngô Tử Văn mang nhiều ý nghĩa. Nó vừa thể hiện sự khẳng khái, chính trực và dũng cảm muốn vì dân trừ hại, vừa thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ qua việc diệt trừ tên giặc xâm lược hung bạo, bảo vệ Thổ thần nước Việt, người từng có công giúp Lí Nam Đế chống ngoại xâm. Câu trả lời a chỉ đúng một phần vì Ngô Tử Văn chỉ đả phá sự ngu tín của nhân dân khi họ tin vào cả những thần ác, thần bất chính, chứ không đả phá tập tục thờ cúng thần linh nói chung. Câu trả lời thì hoàn toàn sai vì Tử Văn không đốt đền một cách vô căn cứ. Như vậy, đáp án xác đáng nhất là sự kết hợp của hai phương án b và d. 2.Chi tiết Diêm* Vương xử kiện ở âm phủ là một chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm. Chi tiết này thể hiện niềm tin của người trung đại về một thế giới khác bên cạnh cõi trần (thế giới âm phủ), nơi con người sau khi chết sẽ phải đến để nhận sự phán xét và thưởng phạt về những việc làm của mình khi còn sống. Nó cũng đồng thời thể hiện khát vọng công lí chưa thực hiện được trong cuộc sống trần thế của người xưa. Đây là một bước ngoặt của câu chuyện, là chi tiết cần thiết nhằm đẩy kịch tính của truyện lên đến cao trào để nhân vật chính có dịp bộc lộ bản lĩnh và khí phách của mình. Nó cũng mang ý nghĩa khuyên răn, nhằm giáo dục con người nên sống và hành động thế nào cho đúng đắn, hợp lẽ phải, tránh làm điều ác. 3.Phán sự là chức quan chuyên xem xét về các vụ kiện tụng, giúp việc cho người xử án – đó là chức quan thực hiện công lí. Chàng trai Ngô Tử Văn đã dũng cảm đứng lên bảo vệ công lí và chính nghĩa, vì thế chức Phán sự ở đền Tản Viên như là một sự thưởng công xứng đáng, có ý nghĩa nêu gương cho người sau, khích lệ mọi người dũng cảm đấu tranh chống cái ác, bảo vệ công lí. 4.Về nghệ thuật kể chuyện: -Câu chuyện được mở đầu bằng chi tiết Tử Văn “châm lửa đốt đền, mọi người đểu lắc đầu lè lưỡi, lo sợ thay cho Tử Văn..”. Chi tiết này ngay lập tức gây được sự chú ý của người đọc, đồng thời nó dự báo về những diễn biến căng thẳng và gay cấn sẽ nối tiếp diễn ra sau đó. Cách mở đầu truyện của Nguyễn Dữ như thế vừa hấp dẫn, vừa gây sự tò mò, tạo ra hứng thú cuốn người đọc đi sâu vào truyện. -Câu chuyện được thắt nút và nối tiếp sau đó là những xung đột cứ dần căng thẳng rồi được đẩy lên đến cao trào: + Tử Văn “thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run, rồi nổi lên một cơn sốt nóng sốt rét”. Tử Văn mơ màng thấy tên hung thần đến trách mắng, đe doạ. + Thổ thần đến báo cho Tử Văn biết sự việc đã trở nên nghiêm trọng: “Hắn quyết chống chọi với nhà thầy, hiện đã kiện thầy ở Minh ti” và bảo cho Tử Văn cách đối phó khi xuống Minh ti. + Bệnh Tử Văn nặng thêm, rồi bị quỷ sứ bắt đi đến chỗ dành cho những người gây tội ác sâu nặng trước đó ở trần gian. Quang cảnh ở đây thật rợn người: “gió tanh sóng xám, hơi lạnh thấu xương”, “mấy vạn quỷ Dạ Xoa đều mắt xanh tóc đỏ, hình dáng nanh ác” + Tử Văn bị giải đến trước điện của Diêm Vương, bị Diêm Vương quát mắng, nhưng vẫn bình tĩnh kể rõ đầu đuôi sự việc, “lời rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”. -Câu chuyện được cởi nút khi lời của Tử Văn được chứng thực, sự thật được phơi bày, tên hung thần phải đền tội, người lương thiện, dũng cảm được sống lại và được đền đáp. • Nhìn chung cốt truyện của Nguyễn Dữ giàu kịch tính, kết cấu chặt chẽ, lô gích, cuốn hút người đọc dõi theo từng tình tiết truyện. Cách dẫn truyện khéo léo, lối kể sinh động và hấp dẫn tạo được sự đồng cảm của người đọc với thái độ và quan điểm, của nhà văn, nhất là thái độ ngợi ca người trí thức, ngợi ca tinh thần dân tộc, quan niệm ác giả ác báo,… 5.Chủ đề truyện: Truyện có nhiều ý nghĩa (phản ánh hiện thực, ca ngợi những người trí thức dũng cảm,…) nhưng trong đó chủ yếu nhất vẫn là nhằm đề cao nhân vật Tử Văn – đại biểu cho người trí thức nước Việt giàu tinh thần dân tộc, yêu chuông chính nghĩa, dũng cảm cương trực, dám đấu tranh chống cái ác trừ hại cho dân. 1.Với yêu cầu viết đoạn kết của truyện, anh (chị) có thể đồng tình hay không đồng tình với kết thúc như đã có và đưa ra một cách kết thúc khác. Điều quan trọng là có thể giải thích một cách hợp lí và thuyết phục về ý kiến của mình. 2.Tóm tắt truyện. Gợi ý: Khi tóm tắt truyện cần chú ý đảm bảo những chi tiết quan trọng: -Ngô Tử Văn, một kẻ sĩ khảng khái, chính trực đã dũng cảm đốt đền của một tên hung, thần vốn là một tên giặc xâm lược nước ta để trừ hại cho dân. -Tên hung thần đe doạ Tử Văn nhưng chăng được Thổ thần bày cho cách đối phó. — Tử Văn bị Quỷ sứ bắt xuống âm phủ. Trước mặt Diêm Vương, Tử Văn đã dũng cảm và thẳns thắn vạch trần tội ác của tên giặc với đầy đủ chứng cớ. Cuối cùng tên giặc đã bị trừng trị, Thổ thần được phục chứe và Tử Văn sống lại. -Ngô Tử Văn được Thổ thần tiến cử giữ chức Phán sự đền Tản Viên. Có thể tham khảo văn bản tóm tắt truyện dưới đây Ngô Tử Văn người đất Lạng Giang, vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không chịu được. Cuối đời Hồ, có tên giặc tử trận gần ngôi đền trong làng rồi làm yêu làm quái trong dân gian. Tử Văn tức giận bèn châm lửa đốt đền. Về nhà, chàng lên cơn sốt rồi mơ thấy tên giặc kia đến doạ nhưng mặc kệ, cứ ngồi thản nhiên. Chiều tối lại có ông già đến, tự xưng là Thổ công. Ông già kể cho Tử Văn rõ mọi sự tình rồi bày cho chàng cách ứng xử khi bị bắt xuống Minh ti. Tử Văn đứng trước Diêm Vương tâu trình rõ đầu đuôi sự việc, lời lẽ rất cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào. Diêm Vương sinh nghi bèn cho người đến đền Tản Viên để lấy chứng thực. Quân lính về tâu, nhất nhất đúng lời Văn nói. Diêm Vương tức giận liền sai quân lính đày tên giặc giả danh kia xuống ngục Cửu U. Tử Văn sống lại cùng dân làng mua gỗ dựng lại toà đền. Viên Thổ công cảm kích bèn đến mời Tử Văn về làm Phán sự cho Đức Thánh Tản ở đền Tản Viên. Tử Văn nghe nói, vui vẻ nhận lời, bèn thu xếp việc nhà rồi không bệnh mà mất ngay sau đó. XEM THÊM HƯỚNG DẪN VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 5 – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên – Ngữ văn 10
1,780
Hướng dẫn phân tích Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự Hướng dẫn CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ I.KHÁI NIỆM Tự sự (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn tới sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Trong văn tự sự, mỗi sự việc được diễn tả bằng một so tài liệu. Ví dụ sự việc diễn ra bằng các chi tiết: Tấm được ông Bụt phù phép cho có quần áo đẹp đi dự hội, rồi thử vừa chân đôi hài xinh xắn,… Sự việc và chi tiết tiêu biểu có vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt câu chuyện, tô đậm tính cách nhân vật, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn nêu bật ý nghĩa của văn bản. Chọn sự việc chi tiết tiêu biểu là khâu quan trọng trong quá trình kể chuyện hoặc viết văn tự sự. II. CÁCH CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU 1.Gợi ý: a.Trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, tác giả dân gian kể về công việc kiến thiết và giữ gìn đất nước của cha ông ta. b.Ở thân bài có sự việc Trọng Thuỷ và Mị Châu chia tay nhau. Chọn sự việc này tác giả nhằm mục đích vừa dẫn dắt câu chuyện vừa thể hiện được mối tình gắn bó khăng khít, keo sơn giữa lứa đôi Trọng Thuỷ – Mị Châu. Không thể bỏ qua sự việc này vì nếu làm như vậy truyện sẽ không liền mạch, cốt truyện sẽ bị phá vỡ và tính cách của hai nhân vật trên sẽ không được nêu bật. -Lần theo dấu lông ngỗng do Mị Châu rắc, Trọng Thủy, dẫn quân lính đuổi theo cha con An Dương Vương. -Cha con An Dương Vương cùng đường. Nhà vua tự tay chém con gái. Các sự việc vừa kể tiếp nối nhau bằng quan hệ móc xích, nhân quả đúng như cốt truyện. Như vậy, sự việc Trọng Thuỷ và Mị Châu chia tay nhau, nhất là chi tiết “ Mị Châu rắc lông ngỗng” dọc đường lánh nạn có vai trò quan trọng tiêu biểu không thể nào bỏ qua được, vì chi tiết này làm tiền đề dẫn dắt cho các sự việc, chi tiết tiếp liền sau. 2.Gợi ý: – Theo cốt truyện trên phần cần có nhũng sự việc, chi tiết tiêu biểu là phần thân bài. -Trong phần thân bài sự việc tiêu biểu là người con trai lão Hạc tìm gặp ông giáo với các chi tiết nghe ông giáo kể về cái chết của cha, đi viếng mộ cha, gửi lại ông giáo những di vật của cha. 3.Gợi ý: Để lựa chon sự việc, chi tiết trong bài văn tự sự cần nắm vững các bước cơ bản sau: -Xác định rõ đề tài, chủ đề tư tưởng của bài văn. -Dự kiến cốt truyện có mở đầu và kết thúc (gồm nhiều sự việc nối tiếp, móc xích nhân quả với nhau). -Triển khai các sự việc bằng một số chi tiết cụ thể và tiêu biểu. 1.a. Sự việc hòn đá xấu xí được phát hiện và được chở đi nơi khác có Vai trò chuẩn bị cho sự việc ở phần kết thúc truyện, góp. phần miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật và làm sáng rõ chủ đề của truyện nên không thể bỏ qua được. Có thể coi đây là sự việc tiêu biểu trong văn bản Hòn đá xù xì của Giả Bình Ao. b.Từ đó, có thể rút ra bài học: Khi lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu để kể chuyện hoặc để viết bài văn tự sự, cần kĩ năng thận trọng cân nhắc sao cho sự việc, chi tiết đó cũng góp phần dẫn dắt câu chuyện, tô đậm tính cách nhân vật để tạo sự lôi cuốn và tập trung biểu hiện chủ đề, ý nghĩa của bài văn. 2.Trong đoạn trích Uy-lít-xơ trở về, tác giả kể lại cuộc đoàn viên kì lạ của hai vợ chồng người dũng tướng sau 20 năm xa cách nghìn trùng. Ở phần cuối đoạn trích, tác giả đã chọn sự việc quan trọng đó là sự việc Pê-nê-lốp thử chồng bằng những chi tiết, đặc điểm của chiếc giường. Đây là sự việc tiêu biểu với các chi tiết đặc sắc như Pê-nê-lốp nhờ nhũ mẫu khiêng chiếc giường ra khỏi phòng. Uy-lít-xơ giật mình hỏi lại. Sau đó, chàng đã nói rõ đặc điểm của chiếc giường mà chỉ có hai vợ chồng chàng mới biết. Thế là họ nhận ra nhau với niềm xúc động, hạnh phúc đến vô bờ. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM RA-MA BUỘC TÔI – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự
798
Hướng dẫn phân tích Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH LUYỆN TẬP HƯỚNG DẪN HỌC BÀI a.Đối tượng và mục đích thuyết minh của từng văn bản Văn bản 1: Giới thiệu Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân thuộc Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Hà Tây (cũ). -Văn bản 2: Giới thiệu bưởi Phúc Trạch – Hà Tĩnh. b.Các ý chính tạo thành nội dung thuyết minh của từng văn bản -Văn bản 1 có các ý chính là: + Giới thiệu sơ lược về làng Đổng Vân, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Hà Tây (cũ). + Thông lệ làng mở hội trong đó có thổi cơm thi vào ngày rằm tháng giêng. + Luật lệ và hình thức thi. + Nội dung hội thi (diễn biến cuộc thi). + Đánh giá kết quả. + Ý nghĩa hội thi thổi cơm ở Đồng Vân. -Văn bản 2 có các ý chính là: + Trên đất nước ta có nhiều loại bưởi nổi tiếng: Đoan Hùng (Phú Thọ), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Long Thành (Đồng Nai), Phúc Trạch (Hà Tĩnh). + Miêu tả quả bưởi Phúc Trạch (hình thể, màu sắc bên ngoài, mùi thơm của vỏ, vỏ mỏng). + Miêu tả hiện trạng (màu hồng đào, múi thì màu hồng quyến rũ, tép bưởi vị không cay, không chua không ngọt đậm đà mà ngọt thanh). + Ở Hà Tĩnh người ta biếu người ốm bằng bưởi. + Thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ thương binh mới được ưu tiên. + Các mẹ tiếp bộ đội hành quân qua làng. + Trước cách mạng có bán ở Hồng Kông, theo Việt Kiều sang Pa-ri. + Năm 1938 bưởi Phúc Trạch đoạt giải thưởng trong một cuộc thi. Ban giấm khảo xếp vào hàng “Quả ngon xứ Đông Dương”. c.Cách sắp xếp các ý trong từng văn bản -Văn bản 1: Các ý đã được sắp xếp theo trình tự thời gian, giới thiệu hội thi và thi một công việc cụ thể nên người trình bày phải theo thời gian. Sự việc ấy được diễn ra vào lúc nào. Người giới thiệu đã theo quá trình vận động của cuộc thi mà lần lượt trình bày. -Văn bản hai là sự kết hợp nhiều yếu tố khác nhau. + Lúc đầu giới thiệu quả bưỏi Phúc Trạch theo trình tự không gian (từ ngoài vào trong). + Sau đó giới thiệu giá trị sử dụng bưởi Phúc Trạch. *Người ốm; *Thương bệnh binh *?Bộ đội qua làng; *Sang cả Hồng Kông, Pa-ri; Phần này theo trật tự logic. d.Kết cấu của văn bản thuyết minh là sự tổ chức, sắp xếp các thành tố của văn bản thành một đon vị thống nhất hoàn chỉnh và phù hợp với mối quan hệ bên trong hoặc bên ngoài với nhận thức của con người. LUYỆN TẬP -Thuyết minh bài thơ của Phạm Ngũ Lão. Có thể chọn hình thức kết cấu theo trật tự logic với hệ thống ý được sắp xếp như sau: -Thuyết minh về giá trị nội dung của bài thơ: + Hai câu đầu: Hào khí, sức mạnh của quân đội thời Trần; + Hai câu sau: Chí làm trai theo tinh thần Nho giáo (lập công và lập danh); cái thẹn khiêm tốn của con người có nhân cách, có ý chí, có trách nhiệm đối với giang sơn… -Thuyết minh về giá trị nghệ thuật bài thơ: + Sự cô đọng, đạt đến độ súc tích cao; + Nhấn, mạnh tính kì vĩ về thời gian, không gian và con người… -Thuyết minh một di tích, một thắng cảnh. -Những nội dung cần giới thiệu: + Vị trí. + Quang cảnh. + Sự tích. + Sức hấp dẫn. + Những giá trị cùa di tích,… -Cách sắp xếp ý: Kết hợp linh hoạt các trình tự: + Không gian. + Thời gian. + Logic. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NỖI OÁN CỦA NGƯỜI PHÒNG KHUÊ – NGỮ VĂN 10
Hướng dẫn phân tích Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh – Ngữ văn 10
636
Hướng dẫn phân tích Các thao tác nghị luận – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CÁC THAO TÁC NGHỊ LUẬN I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Thao tác nghị luận là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận. 2.Những thao tác nghị luận thường được sử dụng trong hoạt động nghị luận là phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp và so sánh. Mỗi thao tác nghị luận này lại có những ưu thế và hạn chế riêng. Khi tiến hành hoạt động nghị luận, cần nắm vững những ưu thế và hạn chế này để vận dụng được những thao tác thích hợp, đảm bảo cho hoạt động nghị luận đạt được hiệu quả cao. II.Hướng dẫn tìm hiểu bài 1.Về các thao tác phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp a.Điền chính xác từng từ phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp vào vị trí thích hợp vào những chỗ trống dưới đây: -/…/ là thao tác nghị luận, trong đó, người nghị luận đem các phần (bộ phận), các mặt (phương diện), các nhân tố của vấn đề cần bàn luận kết hợp thành một chỉnh thể thống nhất để xem xét. -/…/ là thao tác nghị luận, trong đó, người nghị luận chia vấn đề cần bàn luận ra thành các bộ phận (các phương diện, các nhân tố) để có thể xem xét một cách cặn kẽ, kĩ càng hơn là thao tác nghị luận, trong đó, người nghị luận từ cái riêng suy ra cái chung, từ những sự vật cá biệt suy ra nguyên lí phổ biến. -/…/ là thao tác nghị luận, trong đó, người nghị luận từ tiền đề chung, có tính phổ biến suy ra những kết luận về những sự vật, hiện tượng riêng. *Gợi ý: Đáp án đúng cần điền lần lượt là: -Tổng hợp. -Phân tích. -Quy nạp. -Diễn dịch. b.– Trong lời tựa Trích diễm thi tập, Hoàng Đức Lương nhận định: “Thơ văn không lưu truyền hết ở đời là vì nhiều lí do”. Tiếp đó, ông lần lượt trình bày bốn lí do khiến thơ văn thời xưa đã không thể truyền lại đầy đủ được. Có thể thấy, ở đây, tác giả đã dùng thao tác phân tích (chứ không phải diễn dịch), nhằm chia một nhận định chung thành các mặt riêng biệt, để làm rõ hơn các nguyên nhân khiến cho thơ ca xưa không truyền lại đầy đủ được đến thời đại bấy giờ. -Còn trong đoạn văn: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. (Thân Nhân Trung, Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba) thì từ câu thứ nhất sang câu thứ hai, tác giả cũng dùng phép phân tích để xem xét hai mặt của mối quan hệ giữa hiền tài và đất nước. Nhưng từ hai câu đầu sang câu thứ ba thì thao tác đã chuyển từ phân tích sang diễn dịch. Tác giả đã dựa vào luận điểm vững chắc: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” để suy ra một cách đầy sức thuyết phục: phải coi trọng việc bồi đắp nguyên khí, gây dựng nhân tài cho đất nước. -Trong đoạn văn: Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh, một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? (Hịch tướng sĩ) tác giả đã sử dụng thao tác quy nạp trong lập luận (chứ không phải là thao tác tổng hợp). Tất cả các vế trong câu thứ nhất đều là những hiện tượng có tính chất riêng rẽ, cá biệt và đều nhằm hướng tới một quy luật phổ biến trong câu sau (Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có?), khiến cho kết luận này càng trở nên đáng tin cậy, càng có sức chinh phục mạnh mẽ đối với lí trí và tình cảm của người nghe. c.Nhận xét về các nhận định: -Thao tác diễn dịch có khả năng giúp ta rút ra chân lí mới từ các chân lí đã biết. -Thao tác quy nạp luôn đưa lại cho ta những kết luận chắc chắn và thuyết phục. -Tổng hợp không chỉ là thao tác đối lập với thao tác phân tích mà còn là sự tiếp tục và hoàn thành của quá trình phân tích. Gợi ý: -Nhận định thứ nhất chỉ đúng khi tiền đề đã biết chân thực và cách suy luận khi diễn dịch phải chính xác. Khi đó, kết luận rút ra sẽ mang tính tất yếu, không thể bác bỏ, cũng không cần phải chứng minh. -Nhận định thứ hai còn chưa thật chính xác. Bởi nếu quá trình quy nạp còn chưa xét đầy đủ toàn bộ các trường hợp riêng thì kết luận được rút ra còn chưa chắc chắn, tính xác thực của kết luận còn phải chờ thực tiễn chứng minh. 2.Về thao tác so sánh a.Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết (sau khi dẫn ra những tấm gương về sự hi sinh, cống hiến cho kháng chiến): Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước tức là Bác đã dùng hình thức so sánh nhằm chỉ ra những điểm giống nhau giữa các hiện tượng thực tế. b.Trong khi đó đoạn văn Bàn về việc so sánh đức nhà Lí và nhà Lê trong Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu, tuy vẫn sử dụng thao tác so sánh trong lập luận, nhưng là sự so sánh nhằm chỉ ra sự khác nhau. Như thế có thể thấy rằng thao tác so sánh gồm hai loại: So sánh giống nhau và so sánh khác nhau. c.- So sánh là một trong những thao tác quan trọng rất cần thiết trong lập luận và trong đời sống góp phần hỗ trợ tích cực cho quá trình nhận thức của con ngưòi. Ý kiến cho rằng: “mọi sự so sánh đều khập khiễng” tuy cũng có ý đúng nhưng nó mang tính chất phiến diện và mang ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn. -Để thao tác so sánh có thể tiến hành đúng cách, ta cần phải chú ý những điểm sau: + Những đối tượng (sự vật, hiện tượng) được so sánh phải có mối liên quan với nhau về một mặt (một phương diện) nào đó. + Sự so sánh phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, rõ ràng và có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức bản chất của vấn đề (sự vật, hiện tượng). + Những kết luận rút ra từ sự so sánh phải chân thực, mới mẻ, bổ ích, giúp cho việc nhận thức sự vật (hiện tượng, vấn đề) được sáng tỏ và sâu sắc hơn. III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Tìm hiểu đoạn trích sau đây và cho biết: -Tác giả muốn chứng minh điều gì? -Để làm rõ điều phải chứng minh, tác giả đã sử đụng những thao tác nghị luận chủ yếu nào? -Cách dùng những thao tác nghị luận đó hay ở chỗ nào? Thơ Nôm Nguyễn Trãi đã tiếp thụ nhiều thành tựu của văn hoá dân gian, văn học dân gian. Củ khoai, quả ổi, bè rau muống, luống dọc mùng,… vốn rất xa lạ với văn chương bác học đã được Nguyễn Trãi đưa vào thơ Nôm của mình một cách rất tự nhiên. Tục ngữ, thành ngữ, ca dao, những đặc điểm thanh điệu tiếng Việt, tất cả những khả năng phong phú ấy của ngôn ngữ dân gian đã được Nguyễn Trãi khai thác một cách tài tình, để cho hình tượng thơ có nhiều màu sắc dân tộc và lời thơ có âm điệu phong phú […] (Theo Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trãi – nhà văn hoá lớn, trong Nguyễn Trãi, thơ và đời, NXB Văn học, Hà Nội, 1997) Gợi ý: -Đoạn trích này được viết để chứng minh: “Thơ Nôm Nguyễn Trãi đã tiếp thụ nhiều thành tựu của văn hoá dân gian, văn học dân gian”. -Để làm rõ luận điểm trên, tác giả Võ Nguyên Giáp đã vận dụng thao tác nghị luận phân tích là chủ yếu. Tác giả đã phân chia luận điểm chung thành những bộ phận nhỏ, rồi mỗi bộ phận nhỏ lại được phân chia thành những bộ phận nhỏ hơn. Thao tác này giúp cho việc giải quyết vấn đề đạt được sự kĩ càng, thấu đáo. -Câu kết của đoạn trích sử dụng thao tác quy nạp. Từ trường hợp riêng của Nguyễn Trãi, tác giả đã nâng lên thành sứ mệnh, thành chức năng cao quý của văn chương nghệ thuật. Thao tác này nâng cao tầm vóc tư tưởng của đoạn trích lên một mức cao hơn. 2.Viết đoạn văn nghị luận Gợi ý: Để làm được bài tập này, cần tìm hiểu kĩ xem vấn đề nào đang được đặt ra bức thiết trong đời sống hiện nay để có thể có những ý kiến xác đáng, có sức thuyết phục người nghe. Cũng cần phải chuẩn bị những luận cứ thật chính xác đảm bảo cho sự chắc chắn của lập luận trước khi viết bài. Ví dụ: Tham khảo đoạn văn nghị luận. HÃY CỨU NGAY BAO CẶP MẮT HỌC TRÒ Theo thống kê, hiện nay cả nước có 15% trẻ em trong độ tuổi đi học bị cận thị. Điều ngạc nhiên là trong những năm 60 của thế kỉ trước, khi trường lớp chủ yếu được xây dựng bằng tranh tre, nứa lá, tỉ lệ cận thị của học sinh ở bậc tiểu học chỉ chiếm khoảng 2%, thì nay tỉ lệ này tăng gấp 15 lần tức tới 29,8% (năm 2004). Tương tự, học sinh cấp trung học phổ thông tăng từ 9,6% lên tới 11,3%. Bên cạnh những nguyên nhân như: bàn ghế học tập chưa phù hợp, trẻ em ngày càng tiếp xúc nhiều với truyền hình, vi tính…, thì nguyên nhân quan trọng trực tiếp tác động tiêu cực đến đôi mắt của các em là do cách bố trí nguồn sáng không phù hợp. (Tạp bứt của Vũ Quần Phương) XEM THÊM NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Các thao tác nghị luận – Ngữ văn 10
1,814
Hướng dẫn phân tích Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ – Ngữ văn 10 Hướng dẫn HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ ( Tiếp theo) LUYỆN TẬP 1.Phân tích các nhân tố giao tiếp thể hiện trong câu ca dao. a.Nhân vật giao tiếp ở đây là một đôi thanh niên nam nữ trẻ tuổi (biểu hiện qua các từ “anh” và “nàng” và cụm từ “tre non đủ lá” – ý nói cô gái đã đến độ xuân thì). b.Hoạt động giao tiếp này diễn ra vào một đêm trăng sáng và thanh vắng. Thời gian đó thường thích hợp với những câu chuyện tâm tình nam nữ (những câu chuyện cần một thòi gian và một không gian có tính chất riêng tư). c.Nhân vật “anh” chọn cách nói ví von, bóng gió của ca dao để “đặt vấn đề”. Vì thế chuyện “tre non đủ lá” và chuyện “đan sàng” thực chất là ý chỉ họ (đôi trai gái) đã đến tuổi trưởng thành và lúc này tính đến chuyện kết duyên là đúng lúc. Như vậy, mục đích lời nói của nhân vật “anh” là lời ướm hỏi. d.Chuyện “tre non đủ lá” và chuyện “đan sàng” cũng giống như chuyện “trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng”, vì thế cách nói của chàng trai phù hợp với nội dung và mục đích của cuộc giao tiếp. Cách nói này vừa có hình ảnh vừa giàu sắc thái tình cảm lại vừa tế nhị nên dễ làm rung động và dễ thuyết phục người nghe. 2.Đoạn trích ghi lại cuộc giao tiếp giữa A Cổ và một ông già trong cuộc sống đời thường. -Cháu chào ông ạ! (A cổ chào) -A Cổ hả? (Ông già chào đáp) -Lớn tướng rồi nhỉ? (ông già khen) -Bố cháu có gửi pin đài lên cho ông không? (Ông già hỏi) -Thưa ông, có ạ! (A cổ đáp lời) -Trong lời của ông già, chỉ có câu thứ ba mới thực sự là hỏi nên A Cô đã trả lời. Câu đầu là lời chào đáp, câu thứ hai là để khen nên A Cổ không trả lời. c.Tình cảm, thái độ và quan hệ giữa hai người đối vói nhau bộc lộ rõ qua lời nói của họ. Cách xưng hô ông – cháu, các từ tình thái (thưa, ạ, hả,nhỉ) đã cho thấy thái độ kính mến của A Cô đối với ông già và thái độ yêu quý, trìu mến của ông già đối với cháu 1 là A Cổ. 3.Đọc bài thơ và trả lời câu hỏi. a.Khi làm bài thơ Bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương muốn ca ngợi vẻ đẹp và khẳng định phẩm chất trắng trong của người phụ nữ nói chung và của tác giả nói riêng. Bài thơ cũng là một thông điệp nói lên sự vất vả và gian truân của họ. Để thực hiện giao tiếp đó, tác giả đã xây dựng nên hình tượng “chiếc bánh trôi” và sử dụng khá nhiều từ ngữ giàu hàm nghĩa (trắng, tròn, bảy nổi ba chìm, tấm lòng son,…) b.Để lĩnh hội bài thơ, người đọc phải căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ (giải mã ý nghĩa của các từ ngữ) như: trắng, trong (nói về vẻ đẹp), thành ngữ “bảy nổi ba chìm” (chỉ sự gian truân vất vả, sự xô đẩy của cuộc đời), tấm lòng son (vẻ đẹp bên trong). Bên cạnh các yếu tố ngôn ngữ, người đọc còn phải liên hệ với cuộc đời tác giả – một cuộc đời tài hoa và luôn khát khao hạnh phúc nhưng lại gặp nhiều trắc trở về chuyện tình duyên. Có như vậy, chúng ta mới hiểu đầy đủ nội dung giao tiếp mà nhà thơ muốn gửi gắm trong tác phẩm này. Để làm được bài này, học sinh cần có định hướng trước về bố cục của thông báo, hoàn cảnh thông báo, đối tưọng và nội dung giao tiếp. Yêu cầu thông báo ngắn gọn nhưng phải đầy đủ, rõ ràng. Gợi ý: THÔNG BÁO Nhằm thiết thực kỉ niệm Ngày Môi trường thế giới, trường THPT… tổ chức tổng vệ sinh toàn trường. -Thời gianiàm việc: Từ 8h đến 11h 30 phút ngày… tháng… năm… -Nội dung công việc: Thu dọn rác thải, phát quang cỏ dại, vun xới và chăm sóc các gốc cây, bồn hoa trong phạm vi quản lí của nhà trường. -Lực lượng tham gia: Toàn thể đoàn viên, thanh niên trong trường. -Dụng cụ: Mỗi lớp 1/3 mang cuốc xẻng, 1/3 mang chổi, còn lại mang dao to,… -Phân công cụ thể: Các chi đoàn nhận tại văn phòng Đoàn trường. -Công tác quản lí: Ban Chấp hành Đoàn trường cùng giáo viên chủ nhiệm các lớp quan tâm nhắc nhở, đôn đốc học sinh. Nhà trường kêu gọi toàn thể các chi đoàn hãy nhiệt liệt hưởng ứng và tích cực tham gia buổi tổng vệ sinh này. Ngày… tháng… năm… Ban Giám hiệu nhà trường 5.Đọc bức thư và trả lời câu hỏi. Các nhân tố giao tiếp trong trường họp này là: a.Nhân vật giao tiếp: Người viết là Hồ Chí Minh – chủ tịch nước, người đọc là học sinh toàn quốc – thế hệ chủ nhân tương lai của nước Việt Nam vừa giành được độc lập. c.Nội dung giao tiếp: Vui mừng, sung sướng vì học sinh được hưởng độc lập, đặt trách nhiệm và nhiệm vụ của học sinh đối với đất nước mới độc lập. Lời chúc mừng của Bác Hồ dành cho học sinh. d.Mục đích giao tiếp: Chúc mừng học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của đất nước để xác định trách nhiệm nặng nề nhưng vẻ vang của học sinh. e.Lời thư của Bác Hồ vừa chân tình, gần gũi, vừa nghiêm túc khi xác định nhiệm vụ nặng nề nhưng vẻ vang của học sinh. -XEM THÊM HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT VĂN HOC DÂN GIAN VIỆT NAM – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ – Ngữ văn 10
990
Hướng dẫn phân tích Khái quát văn học dân gian Việt Nam – Ngữ văn 10 Hướng dẫn KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM I.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian. Có 3 đặc trưng: a.Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng (tính truyền miệng) -Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. -Văn học dân gian tồn tại và phát triền nhờ truyền miệng. + Truyền miệng là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phố biến bằng lời nói hoặc trích dẫn cho người khác nghe xem. Văn học dân gian khi phổ biến lại, đã thông qua lăng kính chủ quan của người truyền tụng nên thường có sáng tạo thêm. + Có hai phương cách truyền miệng: Truyền miệng theo không gian là sự di chuyển tác phẩm từ nơi này đến nơi khác và truyền miệng theo thời gian là sự bảo lưu tác phẩm từ đời này sang đời khác, từ thời đại này qua thời đại khác. + Quá trình truyền miệng được thực hiện thông qua diễn xướng dân gian. Tham gia diễn xướng ít là một hai người nhiều là cả một tập thể trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Các hình thức diễn xướng là: nói, kè, hát, diễn tác phẩm văn học dân gian. b.Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (tính tập thể) -Tập thể có thể là một nhóm người mà cũng có thể là một cộng đồng dân cư. Nếu chỉ một nhóm người, một tập thể nhỏ thì người ta có thể chỉ rõ ra được tên từng thành viên, kể cả nơi cư trú cũng như hoàn cảnh riêng của họ. -Vậy tại sao tên của từng người ấy lại không đọng lại trong kí ức dân gian? Phải hiểu là không phải tất cả các cá nhân cùng một lúc tham gia sáng tác mà mỗi cá nhân lại tham gia ở những thời điểm khác nhau. Do truyền miệng nên lâu ngày, không ai nhớ được và không nhất thiết cần nhớ ai là tác giả. Vì vậy, tác phẩm văn học dân gian trở thành tài sản chung, bất kì ai cũng có thể tự bổ sung ạ, sửa chữa. Nhờ đó mà tác phẩm hay hơn, được bổ sung đầy đủ, phong phú hơn. -Tập thể là tất cả mọi người, bất kì ai cũng có thể tham gia sáng tác. Trong các thời đại trước đây, vì người lao động không có “phương tiện sản xuất tinh thần’’ nên họ sáng tác văn học dân gian và xem đó là cách thức duy nhất đế thỏa mãn nhu cầu thưởng thức, sáng tạo nghệ thuật của riêng mình. Vì vậy nhân dân lao động là lực lượng chính tạo ra văn học dân gian của mỗi dân tộc. c.Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng -Văn học dân gian đóng vai trò phối hợp hoạt động theo chính nhịp điệu của hoạt động đó. Bất kì hoạt động nào cũng cần có ảnh hưởng. Văn học dân gian luôn tạo được niềm say mê cho người trong cuộc, vì thế đáp ứng vai trò quan trọng là tạo ra hiệu quả của hoạt động. 2.Các thể loại của văn học dân gian, định nghĩa, và nêu ví dụ theo từng thể loại. a.Thần thoại: tác phẩm tự sự dân gian thường kê về các vị thần, nhằm giải thích tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hoá của con người thời cổ đại. Ví dụ: Thần Trụ Trời, Cóc kiện trời, Quả bầu mẹ…. b.Sử thi: tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại. Ví dụ: Trường ca Đăm Săn, Đẻ đất đẻ nước, Xinh Nhã… c. Truyền thuyết: tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) phần lớn theo XII hướng lí tưởng hoá. qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng. Bên cạnh đó cũng có những truvền thuyết vừa đề cao, vừa phê phán nhân vật lịch sử. Ví dụ: Thánh Gióng, Mị Châu – Trọng Thủy, Bánh chưng bánh giầy, Con Rồng cháu Tiên,… d.Truyện cổ tích: tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo và lạc quan của nhân dân lao động. Ví dụ: Tấm Cám. Sự tích dưa hấu, Cây khế, cây tre trăm đốt,… e.Truyện cười: tác phẩm dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán. Ví dụ: Thà chết còn hơn; Lợn cưới, áo mới,… g.Truyện ngụ ngôn: tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ thông qua các ẩn dụ (phần lớn là hình tượng loài vật) để kể về những sự việc liên quan đến con người, từ đó nêu lên triết lí nhân sinh hoặc những bài học kinh nghiệm về cuộc sống. Ví dụ: Đeo nhạc cho mèo, Thầy bói xem voi,… h.Tục ngữ; câu nói ngắn gọn, hàm súc, phần lớn có hình ảnh, vần, nhịp, đúc kết kinh nghiệm thực hiện, thường được dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của nhân dân. Ví dụ: – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. -Ai biết ngứa đâu mà gãi. i. Câu đố: bài văn vần hoặc câu nói thượng có vần, mô tả vật đố bằng ẩn dụ hoặc nhũng hình ảnh, hình tượng khác lạ để người nghe tìm lời giải, nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và Cung cấp những tri thức về đời sống. Ví dụ: Ăn trước mà lại ăn thừa Mỗi ngày hai bữa sớm, trưa nhọc nhằn. (cái bát) Anh đúng bên ni sông Em đứng bên tê sông Đuổi nhau kì cùng Chẳng bắt được nhau. (hai tai cối xay lúa) k.Ca dao: tác phẩm thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người. Ví dụ: Trời mưa trời gió đùng đùng Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu. Đem về trồng bí trồng bầu Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trong cà. l. Vè: tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần, có lối kể mộc mạc, phần lớn nói về các sự việc, sự kiện của làng, của nước mang tính thời sự. Ví dụ: về loài vật, cây trái, sự vật, về lịch sử, về thế sự: Vè chim chóc. Vè trái cây. Vè cá, Vè rau, Vè các thứ lúa, Vè rắn u Minh, Vè nói ngược, Vè nói láo,… Ví dụ: Vè nói ngược … Bao giờ cho đến tháng ba Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng Hùm nằm cho lợn liếm lông. Một chục quà hồng nuốt lão tám mươi Nắm xôi nuốt trẻ lên mười Con gà, nậm rượu nuôi người lao đao Lươn nằm cho trúm bò vào Một đàn cào cào đuôi bắt cá rô… m. Truyện thơ: tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, phản ánh số phận và khát vọng của con người về hạnh phúc lứa đôi và sự công bằng xã hội. Ví dụ: Bích câu kì ngộ, Phạm Công – Cúc Hoa,… Ngoài Chèo: tác phẩm kịch hát dân gian, kết hợp các yếu tố trữ tình và trào lộng để ca ngợi những tấm gương đạo đức và phê phán, đả kích cái xấu trong xã hội. Ví dụ: Quan Âm Thị Kính,… Ngoài chèo, sân khấu dân gian còn có những hình thức khác như: tuồng dân gian, múa rối, các trò diên mang tích truyện. 3.Nội dung các giá trị của văn học dân gian, a.Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc. Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc có một kho tàng văn học dân gian riêng vì thế, vốn tri thức của toàn dân tộc vô cùng phong phú và đa dạng. Cũng bởi thế nên văn học dân gian là kho tri thức vô củng phong phú về đời sống các dân tộc. b.Vặn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người. Văn học dân gian giáo dục con người tinh thần nhân đạo và lạc quan. Đó là tình yêu thương đối với đồng loại, là tinh thần đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ và giải phóng con người khỏi những cảnh bất công, là niềm tin bất diệt vào chiến thắng cuối cùng của chính nghĩa, của cái thiện. c.Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc. Văn học dân gian được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian và khi đến với chúng ta, đã trở thành những viên ngọc sáng. Nhiều tác phẩm đã trở thành mẫu mực về nghệ thuật để cho chúng ta học tập. Những truyện kể dân gian làm cho “từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và yêu dấu” (tựa sách Lĩnh Nam chích quái). Những lời ca, tiếng hát ân tình ngày xưa vẫn còn làm say đắm lòng người hôm nay và cả mai sau. Lim ý: Ta có thể rút ra sự tương đồng và khác biệt giữa các thể loại văn học dân gian: Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều dân tộc khác trên thế giới có những thể loại chung và riêng. Điều đáng chú ý là ngay trong hệ thống thể loại văn học dân gian của tùng dân tộc lại có thể tìm thấy những điểm tưong đồng và khác biệt. -Sự tương đồng: Các thể loại văn học dân gian giống nhau ở cách thức sáng tạo (là những sáng tạo tập thể) và ở phương thức lan truyền (truyền miệng).Về cơ bản các tác phẩm văn học dân gian ở các thể loại khác nhau đều quan tâm phản ánh nhũng nội dung liên quan đến đời sống, tâm tư, tình cảm của cộng đồng (chủ yếu là của tầng lớp bình dân trong xã hội.) -Sự khác biệt: Tuy nhiên, mỗi thể loại văn học dân gian lại có một mảng đề tài và một cách thức thể hiện nghệ thuật riêng (Ví dự. Ca dao quan tâm đến đời sống tâm hồn của con người và thể hiện nó bằng bút pháp trữ tình ngọt ngào, lãng mạn,… trong khi đó thần thoại lại giải thích quá trình hình thành thế giới, giải thích các hiện tưọng tự nhiên,… bằng hình ảnh các thần. Sử thi lại khác, chủ yếu quan tâm phản ánh những sự kiện lớn lao có tính quyết định tới số phận của cộng đồng. Sử thi thể hiện nội dung bằng nghệ thuật miêu tả với những hình ảnh hoành tráng và dữ dội,…). Sự khác nhau của các thể loại văn học dân gian cho thấy sự đa dạng về nghệ thuật. Đồng thời, nó cũng cho thấy khả năng chiếm lĩnh phong phú hiện thực cuộc sống của nhân dân ta. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ-NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Khái quát văn học dân gian Việt Nam – Ngữ văn 10
1,979
Hướng dẫn phân tích Luyện Tập Viết Đoạn Văn Tự Sự Hướng dẫn LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ I.CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ 1.a. Các đoạn văn đã thể hiện đúng và rõ ràng những dự kiến của tác giả trước khi viết truyện. Nội dung và giọng điệu của các đoạn văn mở đầu và kết thúc: – Giống nhau: Cả đoạn mở đầu và kết thúc đều miêu tả cảnh rừng xà nu. Nó tạo thành một kết cấu vòng tròn – mở. Kết cấu này vừa đảm bảo sự chặt chẽ về bố cục, vừa tập trung làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Không những thế, kết cấu kiểu vòng tròn – mở còn gợi cho người đọc những suy nghĩ để liên tường “mở rộng vấn đề”. -Khác nhau: Hai đoạn mở đầu miêu tả cảnh rừng xà nu cụ thể sinh động bằng những chi tiết nghệ thuật giàu sức tạo hình nhằm tạo không khí cho câu chuyện và để dẫn dắt, lôi cuốn người đọc. Trong khi đó, đoạn cuối truyện chủ yếu miêu tả cảnh rừng xà nu mờ dần và bất tận nhằm tạo cho người đọc cảm giác về sự bất diệt của rừng cây và sức sống mãnh liệt của con người. b.Qua việc tìm hiểu các giai đoạn sáng tác tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyên Ngọc, chúng ta có thể rút ra kinh nghiệm: trước khi viết hoặc kể chuyện cần suy nghĩ, dự kiến trước phần mở đầu và kết thúc của bài văn. Có như vậy, bài văn sẽ có một mạch thống nhất, chặt chẽ rõ ràng và lôi cuốn người đọc, người nghe hơn. b.Có thể nói, đoạn văn trên mới chỉ thành công trong việc “kể” lại câu chuyện. Nhược điểm của đoạn văn là việc sắp xếp những đoạn tả cảnh, tả tâm trạng còn chưa nhuần nhuyễn, chưa hay. Văn phong còn lúng túng, gượng gạo. -Có thê sửa chữa lại hai chỗ “lúng túng’’ trong đoạn văn của bạn học sinh như sau: + “… Đặt chân tới con đê cao, con đê chắn ngang nếp nhà lụp xụp của gia đình chị đúng lúc ở phía trời đông ông mặt trời bắt đầu thắp sáng bình minh bằng những ánh hồng rực rỡ, chị Dậu bỗng chợt nhìn thấy một đoàn người… + ”Người đàn bà nhà quê khốn khổ từng chạy trốn trong cái đêm đen ấy vui mừng đến rơi nước mắt. Nhưng cố nén xúc động… 3.Từ kinh nghiệm học được ở nhà văn Nguyên Ngọc và đoạn viết về hậu thân của chị Dậu, có thể rút ra một vài ghi nhớ về cách viết đoạn văn trong bài văn tự sự: -Sau đoạn mở đầu, vẫn phải dựa vào cốt truyện, dựa vào chủ đề, tư tưởng của bài văn để viết các đoạn thân bài: đoạn miêu tả, đoạn giới thiệu nhân vật, đoạn kể việc, đoạn đối thoại,… -Khi viết đoạn văn trong bài văn tự sự cần huy động năng lực quan sát, tưởng tượng, liên tưởng, những kiến thức về cuộc sống… đồng thời cũng phải thành thạo các thao tác trong việc viết đoạn văn. II.LUYỆN TẬP 1.a. Đoạn văn này kể lại sự việc cô Phương Định – một nữ thanh niên xung phong đang phá bom để mở đường ra mặt trận. Đây là đoạn văn nằm ở phần thân bài (phần phát triển) của văn bản tự sự Những ngôi sao xa xôi (truyện ngắn của Lê Minh Khuê). b.Đoạn văn được chép lại có một số sai sót về ngôi kể. Trong truyện ngắn, người kể chuyện (nhân vật Phương Định xưng tôi, kể chuyện về bản thân mình và tổ thanh niên xung phong). Một số câu trong đoạn này, đại từ “tôi” đã bị thay bằng “cô gái” (câu 5); “Cô” (câu 6, 16). danh từ riêng “Phương Định” (câu 14, 20). Cần sửa lại để văn bản được thống nhất về ngôi kể (naôi thứ nhất – xưng tôi). Trong văn bản tự sự, người viết cần nhất quán về ngôi kể. Nếu không có sự thay đổi về người kể thì ngôi kể ấy sẽ phải thống nhất từ đoạn đầu đến các đoạn tiếp theo. Có như vậy, văn bản tự sự mới chặt chẽ, logic, hấp dẫn và thuyết phục người đọc. 2.Để viết được đoạn văn thuật lại cử chỉ và tâm trạng của cô gái bị ép duyên trong đoạn trích truyện thơ Tiên dặn người yêu, cần chú ý diễn tả các cử chỉ và tâm trạng sau: -Cử chiỉcất bước theo chồng, vừa đi vừa ngoảnh lại. vừa đi vừa ngoái trông, khi tới rừng ớt ngắt lá ớt ngồi chờ, khi tới rừng cà ngắt lá cà ngồi đợi,… -Tâm trạng: lòng càng đau càng nhớ, chờ, đợi,… Lưu ý: Khi viết, cần biết kết hợp giữa diễn tả cử chỉ và tâm trạng, tả cử chỉ cũng là để lột tả tâm trạng luyến lưu, buồn đau của người con gái phảii lìa xa người yêu về nhà chồng. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM LỜI TIỄN DẶN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Luyện Tập Viết Đoạn Văn Tự Sự
861
Hướng dẫn phân tích Lập dàn ý bài văn tự sự – Ngữ văn 10 Hướng dẫn LẬP DÀN Ý BÀI VĂN TỰ SỰ I.HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG, DỰ KIẾN CỐT TRUYỆN 1.Nhà văn Nguyên Ngọc kể về quá trình ấp ủ, thai nghén đề tài, chuẩn bị để sáng tác truyện ngắn Rừng Xà Nu. 2.Qua lời kể ấy, ta có thể rút ra một số điều trong quá trình hình thành ý tường, dự kiến cốt truyện để chuẩn bị lập dàn ý cho bài văn tự sự. -Để chuẩn bị viết một bài văn tự sự, trước tiên ta cần hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện (có thể dự kiến trước phần mở đầu và kết thúc truyện); sau đó suy nghĩ, hư cấu, tưởng tượng về các nhân vật theo những mối quan hệ nào đó và nêu lên những sự việc, chi tiết tiêu biểu đặc sắc làm thành cốt truyện. -Tiếp theo là bước lập dàn ý. Dàn ý bài văn tự sự cũng gồm ba phần: mở bài, thân bài và kết bài. II.LẬP DÀN Ý Đề 1 -Mở bài: Sau khi chạy khỏi nhà quan cụ, chị Dậu gặp một cán bộ cách mạng. -Thân bài: + Cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, chị Dậu trở về làng. + Khí thế cách mạng sục sôi, chị Dậu dẫn đầu đoàn biểu tình lên huyện cướp chính quyền, phá kho thóc của Nhật. -Kết bài: Chị Dậu và bà con xóm làng mừng ngày tổng khởi nghĩa thành công, cái Tý trở về. Đề 2 -Mở bài: Cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, làng chị Dậu bị địch chiếm nhưng ban đêm vẫn có cán bộ cách mạng hoạt động bí mật. -Thân bài: + Quân Pháp càn quét truy lùng cán bộ. + Trong làng căng thẳng, mọi người hoảng sợ, chị Dậu vẫn bình tĩnh, gan dạ che giấu cán bộ dưới hầm. -Kết bài: Tổng khôi nghĩa thành công, chị Dậu nghẹn ngào đón cái Tý. *Cách lập dàn ý bài văn tự sự: -Trước khi lập dàn ý, cần suy nghĩ chọn đề tài, xác định chủ đề của bài viết. -Từ đề bài chủ đề tưởng tượng phát ra những nét chính của cốt truyện (nên theo cấu trúc truyền thống: trình bày khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm,kết thúc). -Tiếp đó phát triển 3 phần của một dàn ý: + Mở bài: trình bày. + Thân bài: khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm. + Kết bài: kết thúc. -Dựa vào dàn ý cần suy nghĩ tìm các yếu tố cấu thành bài văn như: sự việc xảy ra, tâm trạng của nhân vật, quan hệ giữa các nhân vật, cảnh thiên nhiên,… III.LUYỆN TẬP 1.Lập dàn ý cho bài văn viết về câu chuyện: Một học sinh tốt phạm phải một số sai lầm trong “những phút yếu mềm” nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ, “chiến thắng bản thân…” vươn lên trong cuộc sống, trong học tập. -Đề tài: Viết về cuộc sống học đường. -Chủ đề: Ý thức nỗ lực vươn lên, khắc phục sai lầm, chiến thắng bản thân để tu dưỡng nhân cách. -Cốt truyện: Một học sinh tốt. Học sinh ấy bị kẻ xấu lôi kéo và phạm sai lầm. Đau khổ, ân hận, dằn vặt, tự đấu tranh (hay được người tốt giúp đỡ). Học sinh ấy đã vươn lên trở thành một học sinh tốt trong cuộc sống và học tập. V. Lê-nin nói: “Tôi không sợ khó, không sợ khổ, tôi chỉ sợ nhũng phút yếu mềm của lòng tôi. Đối với tôi chiến thắng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất.” Đúng như vậy, khó khăn là chuyện thường tình trong cuộc sống khiến con người ta nhiều khi mất đi niềm tin vào cuộc sống, thậm chí có nhữnng lúc tưởng chừng như không còn đủ nghị lực để vượt qua điều đó. Nhưng điều quan trọng là trước những khó khăn, thử thách, mỗi người phải tự rút ra cho mình được bài học trong cuộc đời, dám đối mặt với những khó khăn để từ đó có định hướng đúng cho cuộc đời của mình. Cuộc sống dù có khó khăn đến đâu thì chắc hẳn trong sâu thẳm trái tim mỗi bạn trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước, những người đã, đang và sẽ bắt đầu bước vào một môi trường sống với bao điều mới lạ, môi trường ấy có sức hấp dẫn kì lạ đều có một ước mơ, một khát vọng được cống hiến cho quê hương, khát vọng được sống trong một môi trường lành mạnh. Có lẽ mỗi con người đều có ước mơ của riêng mình, dù chỉ là những ước mơ vô cùng nhỏ bé hay là những ước mơ lớn lao, dù những ước mơ ấy có trở thành hiện thực hay mãi mãi chỉ là ước mơ thì nó cũng hết sức cần thiết. Bởi những ước mơ ấy sẽ tạo động lực giúp cho con người ta vượt qua được những khó khăn gặp phải trong cuộc sống. Trong thực tế hiện nay đã có nhiều bạn trẻ đã kịp xây dựng cho mình những ước mơ riêng, và chính những ước mơ ấy đã giúp họ vượt qua được những khó khăn thử thách trong cuộc đời của họ. Tuy nhiên, còn không ít những bạn trẻ còn sống thiếu mục tiêu, lí tưởng, chỉ gặp chút khó khăn là đã đầu hàng, không dám đối mặt với thử thách, để rồi sống buông tha và phá hủy chính bản thân bằng những thú vui vô bổ. Ngày nay khi ta đi ngoài đường bắt gặp rất nhiều trường hợp có những ước mơ hết sức bình dị chẳng hạn như những đứa trẻ trên tay cầm tấm vé số ước sao mình được cầm quyển sách, cầm cây bút đi học như bao đứa trẻ cùng trang lứa. Một cô bé vừa câm vừa điếc khao khát được nói chuyện và lắng nghe cùng bạn bè. Ước mơ của họ thật nhỏ bé giống như trong câu chuyện cổ tích “Cô bé bán diêm”, trong đêm cô bé chỉ mơ ước là được sum họp cùng gia đình, ước có ngỗng quay và cả cây thông… Những ước mơ ấy tuy thật nhỏ bé nhưng ý nghĩa của nó vô cùng lớn lao. Có người đã từng nói: phải chờ đợi đã là điều đáng buồn. Thế nhưng không có gì để chờ đợi mới là điều đáng sợ. Chừng nào cuộc sống của bạn còn những điều để hi vọnng, để chờ đợi, điều đó cũng có nghĩa là bạn luôn nỗ lực để thay đổi cuộc sống, và sự nỗ lực của bản thân ấy cũng chính là giá trị của cuộc sống. Tôi cũng có một ước mơ. Ước mơ ấy sẽ thật nhỏ bé nếu so với biết bao mơ ước lớn lao của nhiều người. Trước đây, tôi cũng đã từng mơ ước làm được những điều vĩ đại, nhưng kể từ khi mẹ tôi bị mắc một căn bệnh hiểm nghèo, tôi nhận ra mẹ thật sự rất quan trọng. Mẹ là tất cả của gia đình tôi. Chỉ cần mẹ tôi khoẻ mạnh là tôi hạnh phúc hơn rất nhiều người. Tôi ước mẹ tôi luôn được mạnh khoẻ, căn bệnh hiểm nghèo của mẹ tôi sẽ có thuốc chữa được để mẹ luôn sống bên chúng tôi, để dạy bảo chúng tôi và tôi được tiếp tục tới trường. Mẹ tôi đã rất vất vả nuôi chị em tôi lớn khôn, cho chúng tôi được cắp sách đến trường. Cả cuộc đời của mẹ tôi là một chuỗi những đau khổ, chưa lúc nào được hưởng niềm vui trong cuộc đời. Cha tôi mất sớm khi chị em tôi còn rất nhỏ, một mình mẹ tôi đã phải lăn lộn trong cuộc sống để kiếm tiền nuôi ba chị em tôi ăn học. Tôi thấy thương mẹ vô cùng vì mẹ đang mang trong mình một căn bệnh hiểm nghèo, căn bệnh ấy có thế cướp đi sinh mạng của mẹ tôi bất cứ khi nào mà không hề báo trước, thế mà mẹ vẫn phải “nai lưng” ra làm để có tiền cho chúng tôi ăn học. Nhiều lúc tôi nghĩ mình sẽ nghỉ học ở nhà để giúp mẹ làm công việc nhà để mẹ đỡ vất vả, để mẹ được nghỉ ngơi chữa bệnh, tuy nhiên khi biết được suy nghĩ đó của tôi mẹ đã nhất quyết không cho tôi nghỉ học. Đã có lần tôi cãi lại mẹ vì chuyện nghỉ học của tôi. Sau đó, tôi nhận được những lời khuyên của bạn bè và thầy cô giáo nên đã đến trường. Và giờ đây tôi đang là học sinh trung học phổ thông ngoan ngoãn, học giỏi. Tôi thầm cảm ơn mẹ và cảm ơn mọi người đã giúp tôi vượt qua được những phút “yếu lòng” Và quan trọng hơn là chiến thắng chính mình. Bởi tôi biết học tập chinh là con đường xán lạn nhất để tôi bước vào thế giới đầy khó khăn này. Hãy bỏ qua những lỗi lầm trong quá khứ, sống rộng lượng, bao dung hơn và quan trọng là cần có ý chí vươn lên. Bạn hãy là chính mình. Điều đó sẽ giúp bạn thành công. (Sưu tầm) 2.Lập dàn ý cho câu chuyện kể lại một kỉ niệm sâu sắc về tinh bạn, tình thầy trò,… Gợi ý: -Mở bài: + Nam và Bằng thân thiết từ nhỏ. Họ học cùng lớp với nhau. + Câu chuyện xảy ra khi ở lớp xảy ra những vụ trộm vặt. -Thân bài: + Kể vắn tắt về việc mất đồ mà không rõ lí do (trong đó Nam mất nhiều nhất). + Không khí của lớp trở lên căng thẳng, mâu thuẫn trong lớp xảy ra. + Nam nghi ngờ tất cả mọi người trong đó có Bằng. Họ đã to tiếng và không chơi với nhau nữa. + Nhờ sự can thiệp của thầy cô, lớp đã tìm ra thủ phạm. + Không khí lớp trở lại như xưa. + Nam xin lỗi Bằng và họ lại thân thiết như xưa. Bài viết tham khảo: Đề bài: Kể một kỉ niệm khó quên về tình bạn. Tôi bước trên con đường quen thuộc. Trời hôm nay thật là đẹp. Trời xanh ngắt không một gợn mây. Ánh nắng vàng rải nhẹ xuống đường khiến tôi nhớ đến Mai biết bao nhiêu. Người bạn đó không học cùng trường, cũng không học cùng lớp, mà tôi quen trong một trường hợp đặc biệt. Cứ vào mỗi buổi chiều đi học về, tôi lại thấy một cô bé ăn mặc rách rưới đi bán bỏng ngô. Một hôm trời mưa to nhưng cô bé kia vẫn đi bán bỏng. Thấy cô bé bán bỏng quần áo ướt sũng, tôi liền đi sát lại, kéo áo mưa của mình che cho bạn. Hôm ấy, vừa đi tôi vừa hỏi: -Bạn tên là gì? Tại sao ngày nào bạn cũng đi bán bỏng ngô vậy? Cô bé trả lời: -Mình tên là Mai. Vì nhà mình nghèo quá nên mình phai đi bán bỏng ngô để mua quần áo và đồ dùng học tập. Thực ra nhà tôi cũng chẳng hơn gì nhà Mai. Bỗng, tôi chợt nhớ ra chiếc áo mà ông nội đã tặng tôi năm ngoái. Không tần ngần gì nữa, tôi liền đem ngay ý kiến đó nói với Mai, nhưng Mai lại nói: -Cảm ơn bạn, nhưng mình muốn tự lao động để kiếm tiền mua các thứ. Cũng kể từ ngày hôm đó, tôi không còn thấy Mai đi bán bỏng ngô nữa. Rồi bất chợt một hôm, tôi gặp lại Mai trong một kì thi học sinh giỏi. Tôi và Mai mừng rỡ ôm chầm lấy nhau, rồi hai đứa chạy ù vào trong phòng chuẩn bị thi. Tôi ngồi ngay dưới bàn của Mai. Sau một hồi, sáu tiếng trống vang lên báo hiệu bắt đầu giờ thi. Phần đầu bài thi, tôi làm được nhưng đến một bài toán khó thì tôi suy nghĩ mãi không ra. Tôi nhìn lên trên thấy Mai viết lia lịa trên tờ giấy thi. Trán tôi lấm tấm mồ hôi. Bỗng tù’ đâu một cục giấy vo tròn được ném thẳng tới trước mặt tôi. Tôi thấy Mai nháy mắt một cái như báo hiệu. Tôi hiểu ý Mai, định nhặt lên xem nhưng tôi lại nhớ có lần Mai đã nói: -Cảm ơn bạn, nhưng mình muốn tự lao động để mua mọi thứ. Vậy là tôi không giở ra xem nữa vừa cố gắng đọc thật kĩ đề bài để tìm ra đáp án, và cuối cùng, tôi cũng tìm ra đáp án. Tôi liền viết một mạch. Vừa lúc,hết giờ cũng ià lúc tôi hoàn thành xong tất cả bài thi. Ra về, Mai tiến lại gần tôi, nói: -Vừa rồi, mình thấy bạn lúng túng nên mình muốn giúp bạn, bây giờ mình thấy thật sự ân hận. Tốt hơn hết là chúng minh hãy tự đi và lao động bằng đôi chân và trí óc của mình. Tôi và Mai sải bước bên nhau. Trời như trong và xanh hơn. (Theo Trần Đức Long) XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Lập dàn ý bài văn tự sự – Ngữ văn 10
2,203
Hướng dẫn phân tích Lập luận trong văn nghị luận – Ngữ văn 10 Hướng dẫn LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Khái niệm về lập luận trong văn nghị luận Lập luận là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người nghe, người đọc đến một kết luận nào đó mà người nói và người viết muốn đạt tới. 2.Cách xây dựng lập luận trong bài văn nghị luận Thông thường, để xây dựng một lập luận, người viết phải tiến hành các bước sau: + Xác định luận điểm (ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận) một cách chính xác và minh bạch. + Tìm các luận cứ (là lí lẽ hoặc là dẫn chứng) thuyết phục. + Vận dụng các phương pháp lập luận hợp lí, nghĩa là vận dụng các cách thức lựa chọn, sắp xếp luận điểm, luận cứ sao cho lập luận chặt chẽ và thuyết phục. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Hãy đọc đoạn văn lập luận sau đây và trả lời câu hỏi. Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết xét thời thế mà thôi. Được thời có thế thì biến mất làm còn, hoá nhỏ thành lớn. Mất thời không thế thì mạnh quay thành yếu, yên chuyển làm nguy, chỉ như khoảng trở bàn tay mà thôi. Nay các ông không rõ thời thế, lợi trang sức bằng những lời dối trá, thế chẳng phải là kẻ thất phu hèn kém ư? Sao đủ để cùng nói việc binh được. (Nguyễn Trãi, Lại dụ Vương Thông) Gợi ý: a.Mục đích của lập luận trong đoạn văn của Nguyễn Trãi là phân tích để bọn giặc Minh thấy được sự thất thế của chúng và vì chúng đã chẳng hiểu thời thế, lại dối trá, tức là “kẻ thất phu hèn kém” thì làm sao “cùng nói việc binh được”. b. Các luận cứ được Nguyễn Trãi đưa ra đều là lí lẽ. Các lí lẽ này xuất phát từ một chân lí tổng quát “Người dùng binh giỏi là ở chỗ biết xét thời thế…” mà suy ra hai hệ quả: “được thời có thế thì biến mất làm còn, hoá nhỏ thành lớn” và “mất thời không thế thì mạnh quay thành yếu, yên chuyển làm nguy”. Từ những lí lẽ ấy, Nguyễn Trãi đưa ra kết luận: bọn Vương Thông không hiểu thời thế, lại dối trá nên chỉ là “kẻ thất phu hèn kém”, cầm chắc sẽ phải nhận thất bại về sau. Gợi ý: a.Bài văn nghị luận của Hĩm Thọ bàn về vấn đề: giữ gìn bản sắc văn hoá ngôn ngữ trong thời kì mở cửa. Viết bài này tác giả có ý phê phán hiện tượng sử dụng tiếng nước ngoài khá bừa bãi và không hợp lí ở nước ta (trong các biển hiệu quảng cáo và trên khá nhiều mặt báo). b.Văn bản Chữ ta có hai luận điểm cơ bản: -Tiếng nước ngoài (tiếng Anh) đang lấn lướt tiếng Việt trong các bảng hiệu, quảng cáo ở nước ta. -Một số trường hợp tiếng nước ngoài được đưa vào báo chí một cách không cần thiết, gây thiệt thòi cho người đọc. Để thuyết minh cho hai luận điểm ấy, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh: về cách thức viết các biển hiệu quảng cáo ở Hàn Quốc và ở ta. Các luận cứ này đều rất giàu sức thuyết phục bởi nó đều là những bằng chứng thực tế “mắt thấy tai nghe” của chính người viết ở Xơ-un (Hàn Quốc) và ở Việt Nam. 3.a.Nhận xét về các phương pháp lập luận được vận dụng trong hai văn bản của Nguyễn Trãi và của Hữu Thọ. Gợi ý: -Phương pháp lập luận được vận dụng trong đoạn văn của Nguyễn Trãi là phương pháp diễn dịch và lập luận theo quan hệ nhân – quả. -Phương pháp lập luận được vận dụng trong văn bản Chữ ta là phương pháp quy nạp và so sánh đối lập. b.Có thể kể thêm một số phương pháp lập luận thường gặp trong văn nghị luận như: phương pháp nêu phản đề, phương pháp loại suy, phương pháp so sánh tương đồng,… III– HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Tìm và phân tích các luận điểm, luận cứ và phương pháp lập luận trong đoạn trích ở bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX (Ngữ văn 10, tập một) sau đây: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại cũng rất phong phú, đa dạng, biểu hiện ở lòng thương người; lên ấn tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người; khẳng định, đề cao con người về các mặt phẩm chất, tài năng, những khát vọng chân chính như khát vọng về quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do, khát vọng về công lí, chính nghĩa; đề cao những quan hệ đạo đức, đạo lí tốt đẹp giữa người với người. Gợi ý: -Luận điểm của đoạn văn nằm ở câu chủ đề: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại rất phong phú, đa dạng. -Các luận cứ: + Luận cứ bằng lí lẽ: Chủ nghĩa nhân đạo biểu hiện ở lòng thương người; lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người; chẳng định, đề cao con người về các mặt phẩm chất, tài năng, những khất vọng chân chính như khát vọng về quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do, khất vọng về công lí, chính nghĩa; đề cao những quan hệ đạo đức, đạo lí tốt đẹp giữa người với người. + Các luận cứ lấy từ thực tế khách quan: Tác giả liệt kê những tác phẩm cụ thể giàu tính nhân đạo trong văn học trung đại Việt Nam từ văn học Phật giáo thời Lí đến các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học thế kỉ XVIII – giữa thế kỉ XIX. -Phương pháp lập luận của đoạn văn là phương pháp quy nạp. 2.Có thể nêu luận cứ cho ba luận điểm đã cho là: a.Đọc sách đem lại cho ta nhiều điều bổ ích. -Sách đem lại tri thức phong phú về tự nhiên và xã hội. -Sách giúp ta khám phá ra chính bản thân mình. -Sách đem lại nhiều kĩ năng sống, kĩ năng làm việc, và giúp ta diễn đạt tốt hơn. -Sách đem lại cho ta một cách tư duy, một cách nhìn nhận sự vật hiện tượng. b.Môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề. -Đất đai bị xói mòn, sa mạc hoá. -Không khí bị ô nhiễm. -Nước bị nhiễm bẩn không thể tưới cây, không thể ăn uống, tắm rửa. -Môi sinh đang bị tàn phá, đang bị huỷ diệt. c.Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng. -Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. -Văn học dân gian là những tác phẩm truyền miệng. 3.Tham khảo hai đoạn văn sau đây: -Ví dụ 1: Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi. Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những quy luật của nó, hiểu được Trái Đất tròn mang trên mình nó bao nhiêu đất nước khác nhau với những hoàn cảnh thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội học lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hoá, những truyền thống, những khát vọng. (Theo Ngô Văn Tuần) -Ví dụ 2: Môi trường sống của loài người hiện nay đang bị huỷ hoại ngày càng nghiêm trọng. Hằng năm có hàng triệu tấn rác thải không phân hủy bị vứt bừa bãi khắp nơi làm tắc cống rãnh và giết chết các loài sinh vật. Những cánh rừng ở đầu nguồn cũng dần vắng bóng khiến cho nạn lũ lụt, lơ đất này càng hoành hành dữ dội hơn. Ở trên cao, bầu không khí của chúng ta cũng chịu chung số phận. Khí thải từ các nhà máy, các khu công nghiệp xả ra quá mức làm cho tấm lá chắn bảo vệ trái đất của chúng ta (tầng ôzôn) cũng đứng trước nguy cơ bị phá huỷ… (Theo Ngô Văn Tuần) XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NỖI THƯƠNG MÌNH – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Lập luận trong văn nghị luận – Ngữ văn 10
1,408
Hướng dẫn phân tích Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự Hướng dẫn MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ I.MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ Ôn tập về miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, lưu ý những kiến thức sau: 1.Miêu tả là dùng ngôn ngữ (hay một phượng tiện nghệ thuật khác) làm cho người nghe (người đọc, người xem) có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt. Biểu cảm là bộc lộ những tình cảm, cảm xúc của bản thân trước sự vật, sự việc, hiện tượng con người trong đời sống. 2.Miêu tả trong văn miêu tả, biểu cảm trong văn biểu cảm so với miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự không phải khác nhau ở số lượng câu văn mà là ờ mục đích sử dụng. Yếu tố miêu tả trong văn miêu tả và trong văn tự sự tuy đều có tác dụng làm cho sự vật, sự việc, con người… trở nên rõ ràng sinh động nhưng miêu tả cho rõ, cho hay là mục đích của văn miêu tả. Trong khi đó, miêu tả chỉ là phương tiện để việc kể chuyện trong văn tự sự thêm cụ thể, sinh động và lí thú hơn. Cũng như vậy, nếu yếu tố biểu cảm làm cho bài văn biểu cảm dồi dào cảm xúc thì nó cũng chỉ là một phương tiện để biểu hiện và dẫn dắt câu chuyện trong văn tự sự. 3.Để đánh giá sự thành công của việc miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự, người ta thường phải xem xét các yếu tố này có phục vụ đắc lực cho mục đích tự sự hay không, hoặc đã phục vụ cho mục đích ấy ờ mức độ nào. 4.Muốn miêu tả và biểu cảm thành công, người viết cần phải quan tâm tìm hiểu cuộc sống, con người và bản thân mình, đồng thời chú ý quan sát, liên tưởng, tưởng tượng và lắng nghe những lay động mà sự vật, sự việc khách quan gieo vào trong tâm trí mình. Đây là một trích đoạn tự sự bởi nó có các yếu tố như: nhân vật (chàng chăn cừu và cô gái), có sự việc (một cốt truyện nhỏ) và có cả người dẫn chuvện (nhân vật tôi – chàng chăn cừu). -Đoạn trích này sử dụng khá nhiều các yếu tố miêu tả và biểu cảm để làm phương tiện cho việc “kể chuyện”. Các yếu tố miêu tả xuất hiện ở phần đầu đoạn văn (miêu tả hiện thực của cảnh ban đêm) và đoạn tả bầu trời ngàn sao ở phần cuối. Yếu tố biểu cảm trong đoạn văn là phần diễn tả những cảm xúc tinh tế của nhân vật tôi khi “đầu nàng nặng trĩu vì buồn ngủ đã ngả vào tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng-ten và làn tóc mây gợn sóng”. -Có thể nói, đây là một đoạn văn mà yếu tố miêu tả và biểu cảm đã đóng góp tích, cực cho việc nâng cao hiệu quả tự sự. Hai yếu tố này chẳng những đã giúp chúng ta hình dung một cách sinh động về cảnh đêm sao thơ mộng mà còn có tác dụng thúc đẩy diễn biến của cốt truyện. Yếu tố miêu tả làm nền cho việc nảy sinh sự việc và từ đó mới có những rung động khẽ khàng, say sưa mà thanh khiết của chàng chăn cừu bên cô gái ngây thơ, xinh đẹp. Đêm sao thơ mộng cùng những rung động ngọt ngào làm cho đoạn văn trờ nên hấp dẫn và lí thú hơn. 1.Chọn và điền từ. a.Liên tưởng: Từ sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ đến sự việc, hiện tượng có liên quan. b.Quan sát: Xem xét để nhìn rõ, biết rõ sự vật hay hiện tượng. c.Tưởng tượng: Tạo ra trong tâm trí hình ảnh của cái không hề có ở trước mắt, hoặc chưa hề gặp. 2.Để miêu tả cho tốt, cho hay, chúng ta không thể “chỉ cần quan sát đối tượng một cách kĩ càng” mà còn phải phát huy tích cực khả năng tưởng tượng và liên tưởng nữa. Ví như, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được các hình ảnh, âm thanh rất đặc sắc, rất thơ mộng trong đoạn văn của A. Đô-đê nếu không có sự quan sát tinh tế để thấy: trong đêm, tiếng suối reo nghe rõ hơn, đầm ao nhen lên nhũng đốm lửa nhỏ, những tiếng sột soạt văng vẳng trong không gian… Hay hình ảnh “Cô gái nom như một chú mục đồng nhà trời, nơi có những đám cưới sao…” là sản phẩm của trí tưởng tượng. Và nếu không có sự liên tưởng phong phú thì không thể có được cảnh “cuộc hành trình trầm lặng, ngoan ngoãn của ngàn sao gợi nghĩ đến đàn cừu lớn”. 3.Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, tình cảm, cảm xúc của nhân vật “tôi” trong đoạn trích Nhũng vì sao nảy sinh từ việc quan sát kĩ càng, chăm chú cảnh đêm. Một đêm sao huyền ảo và thơ mộng, hơn nữa vẻ đẹp hồn nhiên và ngây thơ của cô gái chắc chắn đã làm lay động trái tim giàu cảm xúc và dễ rung động của chàng trai. Và rõ ràng chính những tình ý ấy đã làm cho đoạn văn thêm mượt mà và hấp dẫn hơn. Cho nên, không thể nói để biểu cảm khi tự sự, chỉ tìm nhũng cảm xúc, nhũng rung động trong tâm hồn người kể. III.LUYỆN TẬP 1.Hãy nhận xét về vai trò của các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong: a.Một đoạn trích tự sự đã học ở lớp 10. Đoạn văn kể lại cuộc chiến đấu giữa Đăm Săn với Mtao Mxây trong sử thi Đăm Săn là một đoạn văn có sử dụng nhiều yếu tố miêu tả và biểu cảm. Có thể nói nhờ các yếu tố này mà khung cảnh cũng như diễn biến của cuộc chiến hiện ra cụ thể sinh động tới từng chi tiết trong sự hình dung của người đọc. Các yếu tố miêu tả (những hình ảnh so sánh ví von) và biểu cảm (cảm xúc của các nhân vật cũng như của cộng đồng) đã làm cho cuộc chiến đấu trở nên hoành tráng và dữ dội. Cũng từ đó mà hình ảnh người anh hùng cũng được nâng bổng hơn lên. 2.Viết bài văn tự sự có sử dụng các yểu tố biêu cảm và miêu tả kế về một chuyến đi đã đem lại cho anh (chị) nhiều cảm xúc (một lần về quê, một chuyến tham quan du lịch…). Tham khảo bài viết dưới dây (kể về một lần về quê nội) Quê hương tôi cũng đẹp và đáng yêu như quê hương của Tế Hanh. Cũng có con sông xanh biếc và những hàng tre rợp mát nhũng buổi trưa hè. Chỉ tiếc tôi sống ở quê không nhiều lắm. Mỗi năm, tôi chỉ được về quê có một lần và thường là những ngày hè oi bức. Hè năm nay cũng vậy, tôi theo bố mẹ về thăm quê nội. Thế nhưng chuyến đi năm nay buồn man mác và nhói đau hơn. Chả là cách cái ngày tôi về quê tròn hai tháng, nội tôi đã vĩnh viễn ra đi khỏi trái đất này. Mới nghe cái tin dữ ấy, tôi đã khóc suốt buổi trưa và nằng nặc đòi bố mẹ cho về quê để nhìn mặt ông lần cuối. Thế nhưng bố an ủi: “Nội ra đi là một mất mát lớn đối với tất cả chúng ta. Lúc nội còn sống, nội đã rất tin vào sức học của các con. Bây giờ, con lại sắp phải thi chuyển cấp vì thế con hãy cố gắng ôn và thi cho tốt để làm an lòng linh hồn của nội”. Tôi ngoan ngoãn và ngậm ngùi nghe theo lời dạy bảo của bố tôi. Nỗi đau và niềm nhớ thương ông nội nén lại trong tim tôi nghẹn ngào và da diết. Con tàu ngày xưa vẫn chạy rất nhanh sao hôm nay nó ì ạch và nặng nề biết mấy. Bò ngang qua mấy con đê và không biết đến bao nhiêu cánh đồng mênh mông bát ngát, con tàu dừng lại ngay phía đầu ngôi làng nhỏ của nội tôi. Vừa đặt chân lên mảnh đất của làng, tôi bỗng giật mình nhận ra người bạn xưa quen thuộc – những bụi tre làng. Quê nội tôi có rất nhiều tre, tre đã gắn với bố, với tôi bao kỉ niệm. Những ngày nắng, những đêm mưa, những đêm trăng cùng bạn bè trong xóm với bao trò chơi thú vị, tôi đều đã gửi gắm ở nơi đây. Nhưng hôm nay, trời không nắng và không có gió. Những đám trẻ âm thầm, lạnh lẽo và dường như cũng buồn như tâm hồn của chính tôi. Tôi thương nội rất nhiều. Qua lời kể của bố tôi, tôi biết ông bà nội đã phải lam lũ suốt cuộc đời để nuôi dạy con cái cho thành đạt. Lúc còn sống, nội thường nói: “Nội rất vui vì con cháu đều ngoan ngoãn cả”. Nội đã hi sinh trọn cuộc đời mà chưa có được một ngày thảnh thơi vui sướng. Hôm ấy sau khi viếng mộ ông, tôi xin phép bố mẹ một mình ra thăm bờ sông. Nơi ấy xưa nội thường đưa tôi ra hóng mát. Ông dạy tôi cách vót diều và cũng có hôm tôi được ông cho thả diều trên bờ con sông quê ấy. Dòng sông bắt đầu nhô ra trước mắt tôi, uốn khúc bao quanh ngôi làng nhỏ như một dải lụa trắng khổng lồ. Mặt sông hôm nay lăn tăn gợn sóng như đang nói, đang cuời, như tâm sự… Tôi đứng lặng trên bờ sông, nhắm mắt và nghe gió thổi vi vu. Hình như trong tiếng gió thổi nghe được tiếng thì thầm đó đây của nội. Tối hôm đó, tôi có cảm thấy vui hơn vì được các anh chị đưa ra với đám thiếu niên ngoài xóm: Thế nhưng cuộc vui tàn rất nhanh, tôi ra về lòng không được tươi mới như những lần vui chơi ngày trước. Buổi sáng hôm sau, tôi phải theo bố mẹ về ngay thành phố. Bố tôi phải đi công tác gấp, còn tôi năm nay cũng bận hơn với chuyện học hè. Vả lại tôi không dũng cảm để ở lại lâu. Tôi muốn nhớ về ông nhưng không phải ngày nào cũng cứ nhìn thấy ông rồi khóc. Bà nội chu đáo chuẩn bị cho bố con tôi rất nhiều quà, trong đó có cả một con diều nhỏ. Tôi nín thở để kìm nén cảm xúc trong lòng. Tôi ôm chặt và thầm cảm ơn ông bà về tất cả. Trời hôm nay nắng và gió rất to. Bố mẹ và tôi bước ra khỏi đám tre làng uể oải và mệt mỏi. Con đường trước mắt tôi rộng và xa tít. Nhưng không được đi dưới những tán tre làng xanh mát khiến đôi mắt tôi hình như cứ mỗi lúc hoa lên… XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Miêu tả và biểu cảm trong bài văn tự sự
1,913
Hướng dẫn phân tích Nội dung và hình thức của văn bản văn học-Ngữ văn 10 Hướng dẫn NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Nội dung và hình thức của một văn bản văn học là hai mặt không thể chia tách. Nội dung chỉ có thể tồn tại trong một hình thức nhất định. Và ngược lại bất kì hình thức nào cũng mang một nội dung. 2.Các khái niệm thuộc nội dung văn học, gồm đề tài, chủ đề, tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật. Mỗi văn bản có thể có một hoặc nhiều chủ đề tuỳ quy mô cũng như ý định của tác giả. Nhung những văn bản quy mô nhỏ, đề tài có thể đồng nhất với chủ đề. Vì vậy không nhất thiết phải cố công phân biệt rạch ròi hai khái niệm đó trong tác phẩm. 3.Các khái niệm được coi là thuộc về mặt hình thức gồm ngôn từ, kết cấu và thể loại. Sự hài hoà giữa nội dung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn mĩ là phẩm chất của các văn bản văn học ưu tú. II- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.So sánh đề tài của hai văn bản Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan. -Sự giống nhau: Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan đều viết về cuộc sống cơ cực của người nông dân ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và sự vùng lên phản kháng tự phát của họ. + Tắt đèn miêu tả cuộc sống nông thôn trong những ngày sưu thuế nặng nề, nông dân bị áp bức bóc lột quá mức buộc phải vùng lên phản kháng. + Bước đường cùng lại miêu tả cuộc sống lầm than cơ cực của người nông dân trước thủ đoạn bóc lột bằng hình thức cho vay nặng lãi của bọn địa chủ ở nông thôn. Bị cướp lúa, cướp đất, bị đẩy vào bước đường cùng, không còn lối thoát, người nông dân đã phải tự phát vùng lên chống lại. -Đề tài của Tắt đèn và Bước đường cùng có ý nghĩa rất lớn trong việc thức tỉnh người nông dân và ý thức đấu tranh của họ, giục giã họ quyết tâm thay đổi hoàn cảnh sống khi hiểu ra thực trạng bi thảm cuộc sống của mình. Xét về ý nghĩa tố cáo và tác dụng đấu tranh thì rõ ràng những tác phẩm này mang tính tích cực hơn những sáng tác lãng mạn, mang màu sắc cải lương của các nhà văn lãng mạn đương thời. 2.Phân tích tư tưởng trong bài thơ Mẹ và quả của Nguyễn Khoa Điềm. Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng Những mùa quả lặn rồi lại mọc Như mặt trời, khi như mặt trăng Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên Còn những bí và bầu thì lớn xuống Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi Và chúng tôi một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh. (Thơ Việt Nam 1945 -1985, NXB Văn học, Hà Nội,1985) Nội dung bao trùm cả bài thơ là sự nhận thức của người con về công ơn của mẹ. Nội dung ấy đã được nhà thơ lí giải một cách đầy hình ảnh khi đồng nhất liên tưởng giữa “lũ chúng tôi” với “một thứ quả trên đời”. Hai khổ thơ đầu thể hiện lòng mong mỏi đợi chờ cũng như công phu khó nhọc của người mẹ khi chăm sóc cây trái trong vườn. Những mùa quả mẹ tôi hái được Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng …………………………………………………. Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi Nói về công ơn của mẹ đúng là không gì giản dị hơn trái bầu, trái bí. Ai mà không phải lớn lên từ những thứ tưởng như đơn giản ấy. Thế nhưng, điều quan trọng là công lao chăm bón và sự đợi mong rất nhiều hàm nghĩa của mẹ. Những quả như quả bí xanh, quả bầu đúng là có “dáng giọt mồ hôi mặn” – là công sức của mẹ bao ngày tháng vun trồng. Từ chuyện trồng cây, nhà thơ liên tưởng đến chuyện trồng người (chuyện chăm sóc, bồi dưỡng con người). Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái Tôi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh. Mỗi chúng ta quả đúng giống như là một thứ quả mà người mẹ đã “gieo trồng”, “vun xới”, đợi mong và có khi là cả sự kì vọng vào tương lai của con mình nữa. Hai câu thơ cuối đầy ẩn ý, vừa là sự băn khoăn về trách nhiệm của bản thân, vừa là sự lo lắng về một điều tất yếu (“bàn tay mẹ mỏi” sự mòn mỏi đợi chờ, không chịu đựng được nữa). Người con lo lắng khi mình còn là thứ “quả non xanh” (chưa đến độ chín, chưa trưởng thành, hoặc rộng hơn có thể chưa làm được những điều xứng đáng với sự mong chờ của mẹ, có thể trở thành những người không tốt,…), thì người mẹ đã không còn nữa. Câu thơ rất giàu hàm ý khi tác giả dùng cụm từ “bàn tay mẹ mỏi” (không thể đợi chờ được nữa). Sự lo lắng sâu sắc là biểu hiện cao của ý thức trách nhiệm phải đền đáp công ơn người đã nuôi nấng dạy dỗ mình. Chữ “mẹ” ở đây còn có thể hiểu rộng ra là Tổ quốc. Đó là tư tưởng của bài thơ. XEM THÊM HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CÁC PHÉP TU TỪ: PHÉP ĐIỆP VÀ PHÉP ĐỐI – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Nội dung và hình thức của văn bản văn học-Ngữ văn 10
981
Hướng dẫn phân tích Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (tiếp theo) Hướng dẫn PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT (Tiếp theo) LUYỆN TẬP 1.Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi. a.Đoạn trích Nhật kí Đặng Thùy Trâm mang đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: -Tính cụ thể: “Nghĩ gì đấy Th. ơi? Nghĩ gì mà..” (phân thân đối thoại); thời gian: đêm khuya, không gian: rừng núi. -Tính cảm xúc: thể hiện ở giọng điệu thân mật, những câu nghi vấn, cảm thán “Nghĩ gì đấy Th. ơi?, Đáng trách quá Th. ơi”, những từ ngữ viễn cảnh, cận cảnh, cảnh chia li, cảnh đau buồn được viết theo dòng tâm từ. -Tính cá thể: Nét cá thể trong ngôn ngữ của nhật kí là ngôn ngữ của một người giàu cảm xúc, có đời sống nội tâm phong phú “nằm thao thức không ngủ được, Th. ơi?, thấy…”. b.Ghi nhật kí rất có lợi cho việc phát triển vốn ngôn ngữ, nhất là phát triển vốn từ vựng và các cách diễn đạt mới. -Trong hai câu ca dao, dấu ấn của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt thể hiện ở: -Từ xưng hô: mình – ta, cô – anh. -Ngôn ngữ đối thoại:… có nhớ ta chăng, hỡi cô… -Lời nói hằng ngày: Mình về – Ta về, Lại đây đập đất trồng cà với anh. Khi chuyển lời nói hằng ngày vào thơ lục bát thì phải biết cách ngắt nhịp, ngắt dòng, gieo vần và hài hoà thanh điệu. -Có đối thoại: Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục. -Có điệp từ, điệp ngữ: Ai chăn ngựa hãy đi…, Ai giữ voi hãy đi…, Ai giữ trâu hãy đi,,.. -Có nhịp điệu theo câu hay theo ngữ đoạn. XEM THÊM HƯỚNG DẪN TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (tiếp theo)
299
Hướng dẫn phân tích Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt – Ngữ văn 10 Hướng dẫn PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt Ngôn ngữ sinh hoạt là khái niệm chỉ toàn bộ lời ăn tiếng nói hàng ngày mà con người dùng để thông tin, suy nghĩ, trao đổi ý nghĩ, tình cảm với nhau, đáp ứng những nhu cầu tự nhiên trong cuộc sống. 2.Các dạng thể hiện của ngôn ngữ sinh hoạt -Dạng nói, gồm các kiểu: đối thoại, độc thoại và đàm thoại (qua các phương tiện nghe nhìn). -Dạng lời nói bên trong, gồm các kiểu: + Độc thoại nội tâm: là tự mình nói với mình nhưng không phát ra thành tiếng. + Đối thoại nội tâm: tự tưởng tượng ra một người nào đó đang trò chuyện với mình, đối đáp như một cuộc thoại. + Dòng tâm sự: là nhũng suy nghĩ bên trong thành một chuỗi mạch lạc, trong đó có thể có cả đối thoại và độc thoại nội tâm. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Thể hiện đúng giọng điệu các đoạn ghi chép. Chú ý phần gợi ý (trong ngoặc). Để thể hiện được đứng và biểu cảm những đối thoại trong đoạn văn, cần nắm được nội dung của toàn đoạn. Đặc biệt, cần nắm được diễn biến, sự phát triển và sự thoái trào của đoạn truyện (câu chuyện giao tiếp hằng ngày). Lời gọi đầu tiên có tính chất bình thường rồi nó được tăng lên (khi Lan và Hùng gào lên) và bắt đầu giảm xuống khi Hương xuất hiện… 2.Trong hoạt động giao tiếp. Câu châm ngôn: Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói là lời khuyên hãy suy nghĩ kĩ càng trước khi nói ra những điều mà mình mong muốn. Câu châm ngôn còn nhắc nhở ta về cách nói, nghĩa là phải nói như thế nào cho đúng, cho khéo, cho phù hợp với lòng người. Có những lời khen nhưng lại khiến người khác không đồng ý. Có những lời góp ý (thậm chí chê bai) mà người khác vẫn bằng lòng. Tất cả nhũng điều ấy có khi không nằm ở phần thông tin mà nằm ở cách nói. Một lời khen vụng về, lộ liễu sẽ có thể khiến người khác phật lòng. Nhưng một lời góp ý chân thành khéo léo lại giúp tình bạn, tình đồng nghiệp… của chúng ta thêm bền chặt. Dân gian ta từng khuyên nhủ và nhắc nhở chúng ta: Lời nói không quan trọng bằng cách nói, của cho không quan trọng bằng cách cho, nghĩa là từ lời nói đến hành vi nói năng còn có một khoảng cách nữa. Lời nói cũng là một nghệ thuật. Chính vì thế mà mới cần “học ăn, học nói, học gói, học mở”. III.LUYỆN TẬP a. – Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Đây là một lời khuyên của nhân dân ta về cách thức nói năng. Lời nói tuy “chẳng mất tiền mua” nhưng không phải cứ nói tuỳ tiện theo suy nghĩ và theo ý thích. Từ ngữ và ngữ pháp của tiếng Việt ta vô cùng phong phú cũng bởi vậy mà cùng một lời nói có thể có nhiều cách nói khác nhau. Lựa chọn cách nào để nói khiến người nghe đựợc “vừa lòng” là điều ai cũng cần phải lưu tâm. Khi nói, chúng ta phải quan tâm đến hoàn cảnh, đến thứ bậc của mình và người nghe, đến mục đích của cuộc giao tiếp… có như vậy “lời nói” của chúng ta mói đạt được hiệu quả giao tiếp như mong muốn. Tuy nhiên, làm “vừa lòng nhau” cũng phải tuỳ từng hoàn cảnh. Nếu cứ làm “vừa lòng nhau” một chiều, thì không khác gì những người hay xu nịnh, thích vuốt ve. Lời nói thẳng thừng đơn giản và hiệu quả, tuy không phải lúc nào cũng làm vừa lòng của người nghe. -Vàng thì thử lửa thử than, Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời. Đây là một kinh nghiệm sống. Trong cuộc sống, có nhiều tiêu chuẩn được đưa ra để đánh giá một con người. Một trong những tiêu chí ấy là lời ăn tiếng nói. Người “ngoan” là người biết ăn nói khiêm nhường, nhã nhặn, biết ‘‘kính trên nhường dưới”. -Những yếu tố dư có tính chất đưa đẩy nhằm tạo ra sự suồng sã và thân mật: xong chuyện, gì hết, chẳng qua, ngặt tôi, -Những từ ngữ địa phượng nhằm tạo ra nét “đặc trưng Nam Bộ” cho tác phẩm như: rượt (đuổi) người, cực (phiền, đau) lòng,phú quới (phú quý),… Sự xuất hiện của các yếu tố ngôn ngữ mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong đoạn văn này không phải là một sự ngẫu nhiên. Sự xuất hiện ấy rõ ràng có tính chất khắc hoạ thêm tính cách của nhân vật (sự hoà nhập và mong muốn được tiêu diệt đàn cá sấu hung dữ nhằm bảo vệ sự bình yên của mọi người). Bên cạnh đó sự xuất hiện của các yếu tố ngôn ngữ này (như đã nói) nhằm tạo ra “màu sắc Nam Bộ” cho tác phẩm. Nó là một cách để nhà văn khơi gợi trí tò mò và sự thích thú của người đọc sách. XEM THÊM HƯỚNG DẪN KHÁI QUÁT PHÂN TÍCH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt – Ngữ văn 10
906
Hướng dẫn phân tích Phong cách ngôn ngữ – Ngữ văn 10 Hướng dẫn PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp xếp, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ. Ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật được phân chia thành ba loại: + Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, phóng sự, tuỳ bút,… + Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ (với nhiều thể loại khác nhau),… + Ngôn ngữ sân khấu trong kịch, tuồng, chèo,… Ngôn ngữ trong các thể loại nói trên tuy có những điểm khác nhau về những nét đặc trưng thể loại, song chúng đều có những đặc trưng cơ bản: đó là tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hoá. Đồng thời, ngôn ngữ nghệ thuật còn có một đặc điểm dễ nhận thấy là sự phong phú, sáng tạo và phát triển không ngừng. 2.Khái niệm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là phong cách được phân biệt bởi chức năng thẩm mĩ, thể hiện ở ba đặc trưng cơ bản: tính hình tượng, tính truyền cảm và tính cá thể hoá. 3.Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật a.Tính hình tượng Đây là một trong những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật. Để tạo ra hình tượng ngôn ngữ, người viết thường dùng rất nhiều các biện pháp tu từ, như: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê, thậm xưng,… Tính hình tượng giúp cho cách diễn đạt trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật cụ thể, sinh động, hàm súc và gợi cảm hơn. Như vậy, tính hình tượng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ ra cách diễn đạt cụ thể, hàm súc và gợi cảm trong một ngữ cảnh hay văn cảnh nhất định. Có thể nói rằng, trong tác phẩm văn chương, chính tính hình tượng tạo ra tính đa nghĩa của ngôn từ nghệ thuật. Đó là trường hợp một từ ngữ, một câu văn, một hình ảnh hoặc toàn bộ văn bản nghệ thuật có khả năng gợi ra nhiều nghĩa, nhiều tầng nghĩa khác nhau. Đồng thời, tính đa nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật cũng quan hệ mật thiết với tính hàm súc, tức là khả năng khơi gợi những ý tứ sâu xa, rộng lớn trên cơ sở một lượng ngôn từ rất ít. Trong ngôn ngữ nghệ thuật, người viết (người nói) sử dụng ngôn ngữ không chỉ để diễn đạt cảm xúc của mình mà còn làm cho người nghe, người đọc cũng vui buồn, tức giận, căm ghét, yêu thương, đau khổ,… như người nói (người viết). Như thế, tính truyền cảm trong ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ, người viết (người nói) làm cho người nghe (người đọc) nảy sinh những cảm xúc như chính bản thân mình. Năng lực gợi cảm của ngôn ngữ nghệ thuật sở dĩ có được là nhờ sự lựa chọn ngôn ngữ để miêu tả, bình giá đối tượng (trong truyện và kịch) và tâm trạng chủ quan (trong thơ trữ tình). c.Tính cá thể hoá Tính cá thể hoá trong lời nói vốn là một dấu hiệu mang tính tự nhiên của con người (ở giọng nói, cách nói,…) để ta có thể dễ dàng phân biệt người này với người khác. Ngôn ngữ, vì thế, dẫu là phương tiện giao tiếp chung của cả cộng đồng nhưng khi được đem vào sử dụng nó lại có khả năng thể hiện một giọng điệu riêng, một phong cách riêng của từng tác giả. Tính cá thể hoá của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật chính là khái niệm dùng để chỉ việc sử dụng ngôn ngữ chung để tạo ra một phong cách riêng không nhầm lẫn với người khác, thể loại khác. Tính cá thể hoá trong mỗi tác phẩm hay trong từng tác giả được xem xét ở nhiều khía cạnh phong phú: từ cách dùng từ, đặt câu, đến việc tạo ra những nét riêng trong lời nói của các nhân vật; từ cách miêu tả các hình ảnh nghệ thuật đến những nét riêng trong cách diễn đạt ở từng tình huống, từng sự việc trong tác phẩm,… Tính cá thể hoá chính là cách tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật những sáng tạo mới và tránh trùng lặp sáo mòn, nhàm chán. II- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Tính hình tượng của ngôn ngữ nghệ thuật thường được tạo ra bởi rất nhiều những phương tiện tu từ, nhưng phổ biến và hiệu quả nhất vẫn là các biện pháp như: ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, nhân hoá, thậm xưng,… và đặc biệt là cách nói hàm ẩn trong những ngữ cảnh tu từ. -Biện pháp nhân hoá: Bỗng nhận ra hương ổi, Phả vào trong gió se. Sương chùng chình qua ngỗ, Hình như thu đã về. (Sang thu, Hữu Thỉnh) -So sánh Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi, Như đứng đống lửa như ngồi đống than. (Ca dao) -Ẩn dụ: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng, Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. (Viếng lăng Bác, Viễn Phương) -Thậm xưng: Con rận bằng con ba ba, Đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh. (Ca dao hài hước) 2.Trong ba đặc trưng (tính hình tượng, tính truyền cảm, tính cá thể hoá) của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng tính hình tượng được xem là tiêu biểu nhất, vì: -Nó vừa là phương tiện, lại vừa là mục đích sáng tạo nghệ thuật. -Các đặc trưng còn lại ít nhiều cũng được sinh ra từ tính hình tượng (trong mỗi hình tượng ngôn ngữ đã có những yếu tố gây cảm xúc và truyền cảm; thứ nữa, cách lựa chọn từ ngữ, cách xây dựng những hình tượng nghệ thuật đều đã tự thể hiện những nét cá tính sáng tạo nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn ). 3.Hãy lựa chọn từ thích hợp cho trong ngoặc đơn để đưa vào chỗ trống trong các câu văn, câu thơ sau và giải thích lí do lựa chọn từ đó. a. “Nhật kí trong tù”/…/ một tấm lòng nhớ nước. (Theo Hoài Thanh) (biểu hiện, phản ánh, thấm đượm, canh cánh, bộc lộ,…) b.Ta tha thiết tự do dân tộc Không chỉ vì một dải đất riêng Kẻ đã /…/ trên mình ta thuốc độc /…/ màu xanh cả Trái Đất thiêng. (Theo Tố Hữu) -Dòng 3 (gieo, vãi, phun, rắc) -Dòng 4 (huỷ, diệt, triệt, giết) Gợi ý: a.Có thể lựa chọn các từ: thấm đượm, canh cánh. b.Lựa chọn các từ: -Dòng 3: vãi. -Dòng 4: triệt. 4.Có nhiều bài thơ của các tác giả khác nhau viết về mùa thu, nhưng mỗi bài thơ mang những nét riêng về từ ngữ, nhịp điệu và hình tượng thơ, thể hiện tính cá thể trong ngôn ngữ. Hãy so sánh để thấy những nét riêng đó trong ba đoạn thơ sau: a.Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như từng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào. (Thu vịnh, Nguyễn Khuyên) b.Em không nghe mùa thu, Con nai vàng ngơ ngác, Đạp trên lá vàng khô. (Tiếng thu, Lưu Trọng Lư) c.Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha. (Đất nước, Nguyễn Đình Thi) Gợi ý: Có thể so sánh trên những nét sau: -Về từ ngữ: cách lựa chọn từ ngữ để tạo hình tượng mùa thu ở ba bài thơ của ba tác giả là khác nhau. + Nhóm các từ ngữ dùng để xây dựng nên hình tượng mùa thu trong bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến: trời thu xanh ngắt, cần trúc lơ phơ, gió hắt hiu, nước biếc, khói phủ, bóng trăng,… + Chất liệu ngôn từ trong bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư: lá thu rơi, nai vàng, lá vàng khô. + Chất liệu ngôn từ trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi: núi đồi, gió thổi, rừng tre, trời thu, trong biếc. Có thể nhận thấy rằng sự khác nhau về ngôn ngữ giữa ba bài thơ của ba tác giả là ở chỗ: Bài Thu vịnh sử dụng những từ ngữ có tính chất ước lệ, quen thuộc mang những dấu ấn của thi pháp văn học trung đại. Trong khi đó các từ ngữ được dùng để xây dựng nên hình tượng mùa thu trong hai bài thơ Đất nước và Tiếng thu mang tính chất tả thực nhiều hơn, mới lạ hơn. -Về nhịp điệu: + Nhịp thơ của bài Thu vịnh là nhịp: 4/3 hoặc 2/2/3. + Nhịp của bài Tiếng thu: 3/2 + Nhịp của bài Đất nước: 3/2, 3/4, 2/2/2, 2/3, 2/2/2. Thu vịnh và Tiếng thu được làm theo những thể thơ có quy định khá chặt chẽ về nhịp điệu. Vì thế nhịp của các câu thơ tương đối thống nhất. Trong khi đó, bài Đất nước làm theo thể thơ tự do nên cách ngắt nhịp trong mỗi câu thơ tương đối linh hoạt và đa dạng. -Hình tượng mùa thu ở ba tác giả do không cùng thời đại nên cũng có những điểm khác nhau (hình tượng mang tính ước lệ hoặc mang tính chân thực như trên đã nói). Cũng từ sự khác nhau về hình tượng và cách diễn đạt, khác nhau về hình ảnh, ngôn ngữ,… nên dấu ấn phong cách cá nhân ở mỗi tác giả cũng khác nhau. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TRUYỆN KIỀU – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Phong cách ngôn ngữ – Ngữ văn 10
1,618
Hướng dẫn phân tích Phương Pháp Thuyết Minh – Ngữ văn 10 Hướng dẫn PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH I.Kiến thức cơ bản cần nắm vững 1.Phương pháp thuyết minh là hệ thống những cách thức mà người thuyết minh sử dụng để mong đạt tới những mục đích mà mình đã đặt ra 2.Người thuyết minh muốn thuyết phục người khác thì phải cung cấp thông tin về sự vật, sự việc, hiện tượng một cách rõ ràng,chính xác và đầy đủ.Tuy nhiên nếu mới chỉ có những tri thức về sự vật, sự việc,hiện tượng cần thuyết minh và lòng mong muốn truyền đạt những tri thức đó thôi thì chưa đủ.Để đạt được hiệu quả như mong muốn,người thuyết minh cần phải nắm được phương pháp thuyết minh. Nghĩa là nắm được cách thức tổ chức sao cho những tri thức mà mình muốn truyền đạt đến với người đọc một cách đơn giản mà hấp dẫn nhất, được họ đón nhận một cách nồng nhiệt nhất. 3.Các phương pháp thuyết minh Gợi ý: -Ở THCS, ta đã được biết đến những phương pháp thuyết minh nào? Bản chất và tác dụng của mỗi phương pháp thuyết minh ấy ra sao? + Các phương pháp thuyết minh đã học: Nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, so sánh, dùng số liệu, phân loại, phân tích. + Bản chất và tác dụng: cần nêu ra được những đặc trưng riêng của mỗi phương pháp thuyết minh. Ví dụ: *Đặc trưng của phương pháp nêu định nghĩa là nhằm chỉ ra những đặc điểm nói lên bản chất của sự vật, hiện tượng đó đồng thời để phân biệt nó với những sự vật hiện tượng khác. *Đặc trưng của phương pháp so sánh là đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau nhằm chỉ ra những đặc điểm riêng mang tính bản chất của sự vật hay hiện tượng,… -Thuyết minh bằng cách chú thích có đặc điểm gì? (Cách thức giống như thuyết minh bằng định nghĩa, cũng nhằm nêu ra những đặc điểm của sự vật, hiện tượng nhưng yêu cầu về mức độ chuẩn xác của phương pháp chú thích không cao như phương pháp định nghĩa. Phương pháp chú thích mang tính mềm dẻo hơn và dễ sử dụng hơn). -Thuyết minh bằng giảng giải nguyên nhân – kết quả có đặc điểm gì? (Là thuyết minh bằng cách lí giải mối quan hệ giữa các sự vật, các hiện tượng có quan hệ gắn bó với nhau, hoặc làm nảy sinh nhau). Các phương pháp thuyết minh trên thực tế còn đa dạng và phong phú hơn rất nhiều, ở đây, chúng ta chủ yếu mới chỉ nắm bắt và học cách sử dụng những phương pháp thuyết minh cơ bản mà thôi. 4.Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp thuyết minh Việc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh phải do mục đích thuyết minh quyết định. Theo đó, nó vừa phải hướng đến làm nổi rõ bản chất và đặc trưng của sự vật, hiện tượng, vừa phải làm cho người đọc, người nghe tiếp nhận dễ dàng và hứng thú. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Cho biết tác giả mỗi đoạn trích trong SGK, trang 48, 49 đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào? Phân tích tác dụng của từng phương pháp trong việc làm cho sự vật hay hiện tượng được thuyết minh càng thêm chuẩn xác, sinh động và hấp dẫn. Lưu ý: Trước khi chỉ ra và phân tích cụ thể các phương pháp thuyết minh mà người thuyết minh đã sử dụng trong mỗi đoạn, cần biết rằng ngay ở trong những đoạn văn khá ngắn đôi khi vẫn có sự kết hợp hơn một phương pháp trong diễn giải, thuyết minh về sự vật, hiện tượng. Gợi ý: -Đoạn 1: Phương pháp thuyết minh được sử dụng là phương pháp nêu ví dụ và liệt kê. Các ví dụ được nêu ra có kèm theo cả những lời bình luận và phân loại đã có tác dụng làm nổi bật ý Trần Quốc Tuấn là người yêu nước khi ông khéo tiến cử cho đất nước nhiều người tài giỏi. -Đoạn 2: Là đoạn được trình bày theo phương pháp thuyết minh nêu định nghĩa kết hợp với phương pháp phân tích. -Đoạn 3: Phương pháp dùng số liệu được kết hợp với phương pháp so sánh. Những số liệu khá mới mẻ về cấu tạo tế bào của con người đã được người thuyết minh khéo léo kết hợp trong những so sánh hấp dần khiến cho đoạn văn vừa gây được sự chú ý vừa thuyết phục được người nghe. 2.Giải thích tại sao không thể coi câu văn “Ba-sô là bút danh” là câu đã được tác giả thuyết minh bằng cách định nghĩa? -Không thể coi câu văn “Ba-sô là bút danh” trong đoạn văn đã dẫn trong SGK trang 49 là câu đã được tác giả thuyết minh bằng cách định nghĩa. Bởi rõ ràng thông tin “là bút danh” không đủ để nói lên được những đặc điểm bản chất của Ba-sô (những đặc điểm dùng để phân biệt nhà văn Ba-sô với các nhà văn khác). Trong câu văn này, tác giả đã thuyết minh bằng phương pháp chú thích, so với phương pháp thuyết minh bằng định nghĩa nó có kiểu cấu trúc cú pháp khá giống nhau nhưng nó linh hoạt, mềm dẻo và dễ sử dụng hơn. -Tham khảo thêm những ví dụ sau đây về phương pháp chú thích (chú ý vào những câu in nghiêng): Ví dụ 1: Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và ở cổ. Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn. Nhưng không phải vì thấy mợ tôi chưa đoạn tang thầy tôi mà đã chửa đẻ với người khác mà tôi có những cảm giác đau đớn ấy. (Ngữ văn 8, tập một, tr. 14) Ví dụ 2: Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang qua làng Hoà An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé lại trường một lần. Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. (Thanh Tịnh) 3.Đọc đoạn văn giới thiệu tiếp về thi sĩ Ba-sô dưới đây và trả lời câu hỏi. Một đệ tử mang đến cho ông một cây lạ nhập giống từ xứ Trung Hoa. Đấy là cây chuối, giống chuôi tiêu. Và ngay tức thì, nhà thơ say mê nó. Ông bị những tàu lá dài và rộng kia quyến rũ, tàu lá “đủ lớn để che cho một ẩn sĩ”. Trong cơn gió, tàu lá kia rách tướp gợi cho ông nghĩ đến cái đuôi loài phượng hoàng trong huyền thoại, hoặc một chiếc quạt màu xanh tả tơi vì gió. Ông viết:”Tôi thích được ngồi dưới gốc cây chuối của tôi và lắng nghe thanh âm của gió, của mưa vang lên phía trên tàu lá”[…]. Trong tiếng Nhật, tên cây chuối là Ba-sô, và không lâu sau, các đệ tử đã gọi nơi ẩn cư quạnh vắng của ông là Ba-sô-an, hay Lều Cây Chuối, hay Am Ba Tiêu. Còn cái tên nào thích hợp cho ông lấy làm bút danh hơn tên loài cây mà ông yêu mến? (Theo Hàn Thuỷ Giang, Thi sĩ Ba-sô và “Con đường hẹp thiên lí”, Báo Vietnamnet, ngày 20-11- 2005). Gợi ý: Đoạn văn tuy được viết để nói về niềm say mê cây chuối của Ba-sô và tại sao lại có bút danh Ba-sô nhưng mục đích thứ hai (giải thích tại sao lại có bút danh Ba-sô) vẫn là chủ yếu. Bởi thực chất cả đoạn văn đều nhằm hướng đến câu chủ đề ở cuối đoạn (Còn cái tên nào thích hợp cho ông lấy làm bút danh hơn tên loài cây mà ông yêu mến). Cũng cần phải nói thêm rằng các câu trong đoạn văn này đã được trình bày theo mối quan hệ nguyên nhân – kết quả. Trong đó, phần nói về niềm say mê của Ba-sô với cây chuối là nguyên nhân, phần ra đời bút danh Ba-sô là kết quả. Cách thuyết minh này vừa làm rõ được nội dung cần biểu đạt (giải thích sự ra đời của bút danh Ba-sô) và gợi lên những ấn tượng rất đẹp về con người và phẩm cách của người thi sĩ ấy. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Nhận xét về sự chọn lựa, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh trong đoạn trích sau: Hoa lan đã được người phương Đông tôn là “Loài hoa vương giả” (Vương giả chi hoa). Còn với người phương Tây thì lan là “Nữ hoàng của các loài hoa”. Họ lan thường được chia thành hai nhóm: Nhóm phong lan bao gồm tất cả những loài sống bám trên đá, trên cây, có rễ nằm trong không khí. Còn nhóm địa lan lại gồm những loài có rễ nằm trong đất hay lớp thảm mục. Có thể nói trong thế giới của hoa, chưa có loài nào đạt đến sự phong phú tuyệt vời như lan, với những sự biến thái rất đa dạng về rễ, thân, lá và đặc biệt là hoa. Chỉ riêng 10 loài của chi lan Hài Vệ nữ đã cho thấy sự đa dạng tuyệt vời của hoa và của lá về hình dáng, sắc màu. Với cánh môi cong lượn như gót hài, cánh hoa trong mảnh và mang hoà sắc tuyệt diệu của trắng, vàng, phớt tím, nâu, khi có làn gió nhẹ, hoa Hài Vệ nữ rung rinh, tưởng như cánh bướm mảnh mai đang bay lượn. (Theo Lê Hoàng, Hoa lơn Việt Nam, Tạp chí KCT -Tri thức là sức mạnh, số 5, 1997) Gợi ý: Đây là một trích đoạn văn thuyết minh, được viết nhằm cung cấp những tri thức về một loài hoa được cả phương Đông và phương Tây tôn quý – hoa lan. Điều đáng nói là bên cạnh việc cung cấp những hiểu biết khoa học, chính xác, khách quan về hoa lan ở Việt Nam, người viết đã rất khéo léo trong việc chọn lựa, vận dụng và phối hợp một cách thành thục các phương pháp thuyết minh như chú thích (đoạn Hoa lan đã được người phương Đông… Nữ hoàng của các loài hoa), phân loại (đoạn Họ Ian thường được chia thành hai nhóm…), liệt kê (Với cánh môi cong lượn như gót hài, cánh hoa trong mảnh và mang hoà sắc tuyệt diệu của trắng, vàng, phớt tím, nâu…), nêu ví dụ điển hình (Chỉ riêng 10 loài của chi lan Hài Vệ nữ…),… Sự phối hợp một cách rất hài hoà giữa các phương pháp thuyết minh trong đoạn văn này đã giúp cho những thông tin về loài hoa lan trở nên hấp dẫn, đồng thời gây được nhiều sự chú ý đối với người nghe. 2.Viết lời giới thiệu về một trong những nghề truyền thống của quê hương mình. Tham khảo bài viết sau: NGHỀ LÀM ĐƯỜNG THỐT NỐT Cây thốt nốt, dòng họ cùng cây cọ, nó sống và phát triển rất nhiều ở Cam-pu-chia. Ở nước ta, miền Bắc và miền Trung không có cây thốt nốt, duy chỉ có một vài tỉnh ở Nam Bộ là có loại cây này. Nói chính xác ra, là cây thốt nốt chỉ thấy mọc ở tỉnh An Giang và Kiên Giang, hai tỉnh giáp liền với đất Cam-pu-chia. Điều đặc biệt, cây thốt nốt lại phát triển tươi tốt ở khu vực nào có người Khơ-me sinh sống. Tại tỉnh An Giang có hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn thấy mọc rất nhiều cây thốt nốt. Nghề làm đường thốt nốt ở đây cũng khá phát triển. Cây thốt nốt là loại cây thân thuộc của đồng bào sinh sống ở nơi này. Cây mọc trong vườn, mọc ngay ngoài gò bãi ngoài đồng, hoặc giữa ruộng lúa. Thoạt nhìn, cây thốt nốt tựa như cây cọ ở trung du Bắc Bộ và hao hao cây dừa cạn sống ở dọc miền Trung nước ta. Cây thốt nốt thường vươn cao, có cây cao tới 15 – 20 mét. Thân cây nhiều đốt, có lớp vỏ dày chắc, lá và tán lá xoè ra như tán cọ. Đặc biệt, cây thốt nốt có hoa quanh năm, thuộc loại hoa buồng như hoa dừa, hoa cọ. Nếu là hoa đực, có nhị hoa vươn dài 30 – 40 phân, thân tròn, tiết diện có khi tới 3 – 4 phân. Nhị hoa này chứa và dẫn rất nhiều nước ngọt. Vì thế, người dân nơi có thốt nốt mọc, biết cách lấy nước từ hoa cây để chế biến đường. Đó là đường thốt nốt. Loại đường chế từ cây thốt nốt có vị ngọt thanh, ăn mát và thơm rất đặc biệt. Cây thốt nốt có tuổi thọ cao hơn tuổi thọ con người. Thường thường, phải trồng 20 – 25 năm mới thu hoạch nước ngọt được. Cách thu hoạch thốt nốt bao đời nay, vẫn chỉ là phương thức thủ công. Người dân leo trèo lên cây, dùng dao cắt nhị hoa đực (còn gọi là vòi hoa đực) hứng lấy nước hoa. Cây thốt nốt cao, thường mọc thẳng, vì thế việc leo lấy nước cây là nguy hiểm. Người thợ lấy nước thốt nốt có mẹo riêng, họ dùng những ống tre để cắm vào buồng hoa, hứng nước. Các ống tre lấy nước hoa thốt nốt được làm vệ sinh sạch sẽ, trước khi hứng nước ngọt. Ấy là đem hun khói ống tre cho sạch, kẻo làm hỏng nước ngọt. Nước ngọt lấy từ hoa thốt nốt, mùa hè nóng bức, được đem dùng làm nước giải khát.Ở Tịnh Biên thường thấy những người phụ nữ đi gánh bán rong nước giải khát lấy từ cây thốt nốt. Cây thốt nốt mọc và trồng nhiều như thế, chỉ dành làm nước giải khát thì không xuể, ấy vậy mới có công nghệ làm đường từ nước thốt nốt. Việc nấu đường thốt nốt không có gì khó khăn. Nước thốt nốt hứng được, đem vào chảo đun cô cạn dần. Người ta dùng ngay thân cây thốt nốt già hạ xuống, chẻ ra và phơi khô làm củi đun thật đượm lửa. Việc nấu đường thốt nốt nom thì dễ dàng, ấy vậy để tạo ra mẻ đường ngon lại là cả kinh nghiêm dài ngày. Lửa nấu phải cháy đều, vừa lửa, người thợ vừa nấu vừa dùng đũa cả quấy đảo kẻo bén đáy chảo. Đũa cả để đảo đường được làm bằng cật tre già, đẽo tựa mái chèo nhỏ. Khi nước thốt nốt đã được cô sền sệt, ấy là lúc đổ sang chảo thứ hai, lại đều lứa đun tiếp cho đến độ thành hạt đường. Nấu mẻ đường thốt nốt chừng phải tốn từ 3 – 4 tiếng đồng hồ. Khi nước thốt nốt đã nấu thành đường, thấy đường thốt nốt vàng ươm và thơm mát dịu. Người thợ nấu đường biết dùng khuôn để đổ đường thành từng cột đường tròn đều, đoạn dùng dao cắt ra từng khoanh đường có độ dầy 2 – 3cm là vừa. Có lò nấu đường lại đổ đường ra đầy bát ăn cơm để làm thay khuôn. Đường khô trong lòng bát, được lấy ra gói lại, gọi là bánh đường. Đường đổ khuôn ống tròn, cắt từng khoanh dầy, lại được xếp 10-12 khoanh làm thành một cây đường. Cây đường lại được lấy lá thốt nốt gói lại, nom rất ngon và rất đẹp mắt. Cây thốt nốt tươi tốt, một năm, hoa của nó có thể cho nước để nấu ra được 3-4 kilôgam đường. Giá đường thốt nốt bao giờ cũng cao hơn đường nấu từ mật mía, bởi lẽ, đường thốt nốt có chất lượng cao hơn hẳn đường mía, đường củ cải. Đường thốt nốt đem nấu chè sen, chè đậu xanh thì quá quý rồi. Nó còn được người dân ở địa phương đem ăn sống như ăn kẹo. Mỗi khi nhẩn nha ngồi uống nước trà, đem đường thốt nốt ra nhấm nháp thì thật là thú vị. Đường thốt nốt ngày trước là mặt hàng thực phẩm tự cung tự cấp của người dân Tịnh Biên, Tri Tôn. Ngày nay, nó là sản vật được đông đảo người trong tỉnh ngoài tỉnh ưa chuộng. Đường thốt nốt của An Giang và Kiên Giang đã có mặt trên thị trường toàn quốc, hơn thế, nó còn là món hàng xuất khẩu giá trị. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Phương Pháp Thuyết Minh – Ngữ văn 10
2,795
Hướng dẫn phân tích Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ Hướng dẫn THỰC HÀNH PHÉP TƯ TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ I.KIẾN THỨC CƠ BẢN -Ẩn dụ là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương đồng. -Hoán dụ là phép tu từ nghệ thuật được xây dựng dựa trên cơ sở những nét liên tưởng tương cận (sự gần gũi nhau giữa hai sự vật, hiện tượng). -Ẩn dụ và hoán dụ đều được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng nhưng cơ chế tạo lập có khác nhau (liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận). II.ẨN DỤ 1.a. Trong hai câu ca dao, các từ thuyền, bến, cây đa, con đò,… đúng là những từ không chỉ mang nghĩa gọi tên sự vật tồn tại trong hiện thực (thuyền, bến,…) mà còn mang nội dung ý nghĩa hoàn toàn khác. Các hình ảnh thuyền (con đò) – bến (cây đa) lần lượt tạo nên ý nghĩa tượng trưng cho hình ảnh người ra đi và người ở lại. Chính vì vậy, câu (1) trở thành lời thề ước, hứa hẹn, nhắn nhủ về sự thủy chung. Câu (2) trở thành lời than tiếc vỉ lời thề xưa “Lỗi hẹn”. b.Các từ thuyền, bến ở câu (1) và cây đa bến cũ, con đò ở câu (2) có sự khác nhau nhưng chỉ là khác ở nội dung ý nghĩa hiện thực (chỉ sự vật). Xét về ý nghĩa biểu trưng, chúng là những liên tưởng giống nhau (đều mang ý nghĩa hàm ẩn chỉ người đi – kẻ ở). Để hiểu đúng ý nghĩa hàm ẩn này, thông thường chúng ta giải thích rằng: Các sự vật thuyền – bến – cây đa, bến cũ – con đò là những vật luôn gắn bó với nhau trong thực tế. Vì vậy, chúng được dùng để chỉ “tình cảm gắn bó keo sơn” của con người. Bến, cây đa, bến cũ mang ý nghĩa hiện thực chi sự ôn định, vì thế nó giúp người ta liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, tới sự chờ đợi, nhung nhớ, thuỷ chung. Ngược lại thuyền, con đò thường di chuyển không cố định nên được hiểu là người con trai, hiếu là sự ra đi. Có nắm được quy luật liên tưởng như vậy, chúng ta mới hiểu đúng ý nghĩa của các câu ca dao trên. 2. (1).Trong câu thơ: Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông. Nhà thơ Nguyễn Du đã dùng hai hình ảnh chim đỗ quyên và hoa lựu để cùng biểu đạt ý nghĩa: mùa hè đã đến. Cả hai hình ảnh này đều là những dấu hiệu báo hè (chim đỗ quyên kêu và hoa lựu nở đều vào thời điểm mùa hè). Vì thế nhìn vào hai dấu hiệu ấy, người ta có thế nghĩ ngay đến sự khởi đầu của mùa hè. Lửa lựu còn gợi liên tưởng đến sức ấm nóng của mùa hè. (2) Vứt đi những thứ văn nghệ ngòn ngọt, bày ra sự phè phỡn thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩnn vài tình cảm gầy gò của cá nhân co rúm lại. Chúng ta muốn có những tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc – làm thành người, đẩy chúng ta đến một sự sống trước kia chỉ đứng xa nhìn thấp thoáng. (Nguyễn Đình Thi, Nhận đường) Cụm từ “làm thành người” là một ẩn dụ được xây dựng dựa trên cơ sở liên tưởng về cách thức. Từ “làm thành” thường dùng để chỉ quá trình thực hiện một việc gì đó (từ chưa được đến được, từ chưa tốt đến tốt…). Quá trình nhận thức của con người cũng diễn ra như vậy. Do đó, làm thành người cũng hiểu là nên người – nghĩa là biết nhận thức đúng đắn về cuộc sống. (3) Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. (Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ) Đoạn thơ này cũng giống hai câu thơ của Nguyễn Du. Ở đây, hình ảnh chim chiền chiện, giọt sương rơi (giọt long lanh) là những dấu hiệu báo mùa xuân đến. Ẩn dụ này đuợc xây dựng, dựa trên cơ sở liên tưởng dấu hiệu đặc trưng – mùa. (4) Thác bao nhiêu thác cũng qua, Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời. Câu thơ có hai hình ảnh ẩn dụ: Thác – chỉ những khó khăn vất vả, những thử thách. Chiếc thuyền – chỉ con đường cách mạng, chỉ con đường của cả nước non mình. (5) Câu thơ cũng có hai hình ảnh ẩn dụ: phù du (liên tưởng đến cuộc đời nổi trôi, ngắn ngủi) và phù sa (cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, ấm no). Có liên tưởng này vì phù du là một loài côn trùng có cuộc đời ngắn ngủi, trái lại phù sa là “chất dinh dưỡng” tốt nuôi sống cây trái trên đồng. Dùng hai hình ảnh ấn dụ này, nhà thơ Chế Lan Viên muốn so sánh cuộc đời xưa và nay. Từ đó khẳng định giá trị và ý nghĩa nhân văn của cuộc sống hôm nay. 3.Ví dụ một số câu văn có dùng phép ẩn dụ: a.Tôi đang nói đến cuộc sống đau thương và không hiểu sao, tôi lại nghĩ ngay đến “Các vị La Hán chùa Tây Phương” của nhà thơ Huy Cận. b.Đất trời trở mình sang mùa, đã thấy cái lành lạnh của gió. c.Ông Khánh vẫn ngồi đó. Ông đang nhớ về cái đêm tối tăm nhất của đời ông. III.HOÁN DỤ 1.a. Đầu xanh đã tội tình gì Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi. Nhà thơ Nguyễn Du dùng từ đầu xanh với ý nghĩ chỉ tuổi trẻ, từ má hồng với ý nghĩ chỉ người con gái đẹp, một mĩ nhân. Cả hai từ này đều dùng để ám chí nhân vật Thuý Kiều. Cũng như vậy, Tố Hữu dùng cụm từ áo nâu, áo xanh (Áo nâu liền với áo xanh – Nông thôn liền với thị thành đứng lên) để chỉ hai lớp người trong xã hội: nông dân và công nhân. Trong cả hai trường hợp này, các nhà thơ đã dùng những từ chỉ bộ phận của cơ thể (đầu, má) hay chỉ những trang phục quen dùng (áo xanh, áo nâu) để chỉ con người. Cách gọi tên này chẳng những tránh được sự nhầm nhọt, sáo mòn mà còn đem lại niềm vui thích và gợi ra những tình ý sâu xa. b.Trong trường hợp, khi chúng ta gặp phải một đối tượng đã được tác giả thay đổi cách gọi tên, để hiểu đúng được đối tượng ấy, chúng ta phải chú ý xem tác giả đã chọn cái gì để thay thế các đối tượng ấy. Cái được tác giả chọn để thay thế thường là một bộ phận, một tính chất, một đặc điểm nào đó… tiêu biểu. Phương thức chuyển đổii nghĩa này là phép tu từ hoán dụ. Nó giúp cho việc gọi tên sự vật, hiện tượng… trở nên phong phú, sinh động và hấp dẫn hơn. 2.a. Nguyễn Bính viết: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào? Trong câu thơ này, hai hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông là hai hình ảnh hoán dụ dùng để chỉ “người thôn Đoài’’ và “người thôn Đông”. Còn hai hình ảnh cau thôn Đoài và trầu không thôn nào lại là những ẩn dụ dùng để chỉ những người đang yêu. Hai câu thơ là một lời tỏ tình thú vị. Đích của lời nói tuy vẫn hướng về người yêu. Thế nhưng cách nói bâng quơ theo kiểu ngôn ngữ tỏ tình của trai gái đã tạo ra một sự thích thú đặc biệt cho những người tiếp nhận nội dung của câu thơ. b.Cùng là bày tỏ nỗi nhớ người yêu nhưng nếu câu ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng? sử dụng những liên tưởng có phần sáo mòn thì câu thơ của Nguyễn Bính Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông lại có những liên tưởng vô cùng mới mẻ. Những liên tưởng này tạo ra nét đẹp riêng và sự thích thú, hấp dẫn cho mỗi câu thơ. 3.Ví dụ một số câu văn có dùng phép tu từ hoán dụ: a.Trước Cách mạng tháng Tám, nông dân của ta đều là những chị Dậu, lão Hạc, anh Pha. b.Nhà nó có mỗi bốn miệng ăn. Vậy mà, vợ chồng nó lúc nào cũng ngược xuôi vất vả. c.Người ta ba bốn chục tuổi đầu đã có nhà cao cửa rộng. Đằng này, đã ngoài bốn chục mà nó vẫn cứ nhởn nhơ phè phỡn như không. Sáng sáng, nó ngủ dậy, phi xe ra ngoài phố, ăn bát phở mà có khi đến tận mười giờ. Ăn xong lại rong ruổi đi các phố. Người ta bảo nó là một tay chơi. Tôi chẳng biết, chỉ biết cờ bạc, rượu chè, lô đề,… nó đều thông thạo cả. Khổ thân nhất là bà già nhà nó. Lá vàng sắp rụng đến nơi mà vẫn phải khòng lưng quẩy gánh ngày ngày kiếm vài ba chục để nuôi kẻ đầu xanh. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH ĐỌC TIỂU THANH KÍ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
1,554
Hướng dẫn phân tích Truyện cười: Nhưng nó phải bằng hai mày – Ngữ văn 10 Hướng dẫn NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY (Truyện cười) I.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Phân tích kịch tính trong đoạn “Cải vội xòe năm ngón tay… bằng hai mày”. a.Mối quan hệ giữa Cải và thầy lí trước khi xử kiện là mối quan hệ đã được xếp đặt rồi (Cải đã lót tiền trước cho thầy lí năm đồng). Cải cứ nghĩ là quan sẽ cho mình được thắng kiện nên rất ung dung. Tuy nhiên, không ngờ khi xử kiện, Cải lại bị thầy lí tuyên bố đánh mười roi. Cải từ thế chủ động chuyển hoàn toàn sang bị động và không thể nói tiếp được lời nào. b.Sự độc đáo của câu chuyện chính là sự kết hợp giữa hai thứ “ngôn ngữ”. Ngôn ngữ bằng lời nói là ngôn ngữ công khai, nói cho tất cả nhũng người có mặt ở đó nghe. Nhưng thứ “ngôn ngữ” bằng động tác thì chỉ có thầy lí và Cải mới hiểu được. Nếu Cải xòe ra năm ngón tay và “ngầm” ra hiệu với thầy lí đó là “lẽ phải” thì thầy lí đã đáp lời nhanh chóng bằng việc xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay Cải, ý nói “lẽ phải” kia đã được nhân đôi. Sự thú vị được người đọc nhận ra khi tim thấy sợi dây liên hệ thông suốt giữa: lẽ phải – những ngón tay và những đồng tiền. Ý nghĩa tố cáo của truyện chính là ở chỗ: lẽ phải đối với người xử kiện được tính bằng tiền. Đồng tiền đo lẽ phải, tiền nhiều lẽ phải nhiều, tiền ít lẽ phải ít. Lời nói của thầy lí ở cuối truyện Nhưng nó phải bằng hai mày là một sự,vận dụng độc đáo và sáng tạo nghệ thuật chơi chữ gây cười. “Phải” là một từ chỉ tính chất, đem ghép nó với một từ chỉ số lượng (phải bằng hai) tưởng như vô lí. Thế nhưng khi ta liên tưởng đến năm đồng và mười đồng tiền đút lót của Ngô và Cải, ta lại thấy nó hoàn toàn hợp lí. Lời phán quyết của thầy lí “vô lí” trong xử kiện nhưng lại có lí trong mối quan hệ (tiền bạc) với các nhân vật. Chính việc ‘‘đánh lộn sòng” này đã tạo ra tiếng cười hài hước và sự thích thú trong quá trình “giải mã” tác phẩm của mỗi chủng ta. 3.Đánh giá về nhân vật Ngô và Cải. Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày, nhân vật bị thất bại trong vụ kiện là nhân vật Cải. Cải bị bất ngờ nên không kịp trở tay vì thế mà bị rơi vào tình trạng thảm hại (vừa mất tiền lại vừa bị đánh). Thế nhưng câu chuyện chính là lời phê phán cả hai nhân vật. Sự tham lam của bọn quan lại sẽ càng ngày càng tráo trở hơn nếu còn có những người như Ngô và Cải. Hành vi tiêu cực của chính họ là nguyên nhân làm cho họ trở nên thảm hại. Trong sự việc này, họ là những kẻ đáng thương nhưng cũng là nhũng người đáng trách. II.LUYỆN TẬP Phân tích cả hai truyện cười trên để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyện cười. Có thể thấy rõ đặc trưng thể loại của truyện cười qua việc phân tích lời nói và hành động của nhân vật trong hai truyện Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày. a. Với truyện Tam đại con gà Câu chuvện có nhiều hành động và lời nói của “thầy đồ” có tác dụng gây cười: -Các hành động của “ông thầy”: + Bảo học trò đọc khe khẽ (vì chưa biết mình dạy đúng hay sai. nên phải “thận trọng” để giấu dốt). + Xin đài âm dưong ba lần (hành động ngược đời – đúng ra. phải hỏi lại người có hiểu biết hơn mình để giảng giải cho học trò rõ). Hành động này hàm ý “ông thầy” coi cái chuyện dạy học hệ trọng này chẳng khác gì chuyện đánh bạc cầu may. + Ngồi bệ vệ trên giường, bảo học trò đọc to (đắc chí với sự ngốc nghếch của mình mà không biết). -Lời nói của thầy: + Dủ di là con dù dì. + Dạy cho học trò biết đến tận tam đại con gà. + Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà. Tất cả các lời nói này đều cho thấy sự ngốc nghếch và phi lí trong những “bài học” và lời nói của “ông thầy”. Xét về mức độ, ta thấy hành động và lời nói của nhân vật được nhà văn sắp xếp theo trật tự tăng tiến. Mức độ phi lí và sự nực cười, của lời nói và hành động ngày càng được đẩy lên cao. -Hành động của nhân vật Cải và Ngô: hai nhân vật đều tìm cách đưa đút lót trước cho thầy lí mà không rõ hành động của người kia. -Thầy lí thì tham lam nên nhận tiền của cả hai người. Khi xử kiện lại lấy bàn tay để ra hiệu. -Lời nói hài hước của các nhân vật: “Xin xét lại, lẽ phải về con mà!” (Cải nói). “Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày!” (Iời đáp của thầy lí) c.Từ hai truyện trên, có thể khái quát mấy đặc trưng chung của thể loại truyện cười: -Khai thác những sự việc, hành vi, thói xấu của một bộ phận đối tượng trong dân gian. -Chứa đựng những mâu thuẫn trái quy luật tự nhiên và tiềm ẩn những yếu tố gây cười. -Dung lượng ngắn, kết cấu logic, chặt chẽ và kết thúc bằng những sự việc hoặc liên tưởng bất ngờ. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TRUYỆN CƯỜI: TAM ĐẠI CON GÀ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Truyện cười_ Nhưng nó phải bằng hai mày – Ngữ văn 10
980
Hướng dẫn phân tích Truyện cười: Tam đại con gà – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TAM ĐẠI CON GÀ ( Truyện cười) I.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Ngay từ đầu câu chuyện, mâu thuẫn trái tự nhiên trong nhân vật chính đã được nói ra: học hành dốt nát nhưng trái đời “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”, đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt. Như thế, bản chất “dốt” của “thầy đồ” đã được khẳng định. Toàn bộ phần sau chứng minh cho điều này. Tuy nhiên, giữa định đề và quá trình chứng minh có ít nhiều khác biệt. Ban đầu, truyện nêu ra một chân lí phổ biến “xấu hay làm tốt, dốt hay nối chữ” nhằm khẳng định thầy đồ này dốt nhưng lại hay khoe mình giỏi. Như thế, mâu thuẫn trái tự nhiên ở đây là mâu thuẫn giữa dốt và khoe giỏi. Đến khi thể hiện tính cách nhân vật “thầy đồ”, vấn đề có khác chút ít: -Dốt tới mức chữ tối thiểu trong sách mà cũng không biết. -Dốt nhưng lại cho mình là giỏi (sau khi khấn thổ công). -Khi biết mình dốt thì che giấu và chống chế. Như vậy, mâu thuẫn trái tự nhiên ở phần này là mâu thuẫn giữa dốt và giấu dốt. Bản chất dốt càng che đậy thì càng bị lộ tẩy. Đọc truyện thấy cái dốt của “thầy đồ” cứ mỗi lúc một lộ ra khi lâm vào tình huống khó nhưng thầy cố che giấu một cách phi lí. Song càng che giấu thì bản chất dốt càng lộ ra, cuối cùng phải tìm một lối thoát càng phi lí hơn chính từ đây tạo ra tiếng cười. Đúng là có sự tăng tiến về mức độ phi lí trong miêu tả hành động và lời nói của nhân vật “thầy đồ”. Đây là thủ pháp nghệ thuật được tác giả dân gian sử dụng một cách độc đáo và đầy thú vị. 2.Ý nghĩa phê phán của truyện. Đây là một truyện châm biếm. Truyện chủ yếu nhằm phê phán một tật xấu trong nội bộ nhân dân, đó là tật giấu dốt. Người dốt cần học hỏi, tự biết mình dốt để học hỏi là điều đáng khen. Đằng này, đã dốt lại cố tình che đậy cái dốt của mình bàng cách lấp liếm và chống chế. Đã vậy lại đi dạy trẻ nhỏ – thế hệ tưởng lai của đất nước. Ở truyện này chỉ có mức độ phê phán nên tiếng cười bật ra vẫn còn mang tính sảng khoái. Thầy đồ chưa đến mức bị đả kích sâu cay. II.LUYỆN TẬP Gợi ý: -Hành động của “thầy đồ”: + Dặn học trò đọc nho nhỏ (khe khẽ) do tính thận trọng. + Chưa yên tâm nên xin đài âm dương cũng do thận trọng. + Khi đã yên tâm, ngồi bệ vệ trên giường, đắc chí dặn học trò đọc thật to. -Các lời nói của “thầy đồ” chứa đựng sự phi lí dẫn đến tiếng cười. + Dủ dỉ là con dù dì. + Dạy cho học trò biết đến tận tam đại con gà. + Dủ dì là chị con công, con công là ông con gà. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Truyện cười_ Tam đại con gà – Ngữ văn 10
542
Hướng dẫn phân tích Truyện Kiều – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TRUYỆN KIỀU (NGUYỄN DU) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Cuộc đời Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là một vị tể tướng trong triều, còn mẹ là một người phụ nữ tảo tần sinh ra ở vùng quê quan họ (Bắc Ninh). Cuộc đời Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống đặc sắc của nhiều vùng văn hoá. Thời thơ ấu, Nguyễn Du sống ở Thăng Long trong một gia đình quý tộc phong kiến. Ông được tiếp xúc với rất nhiều quan trong triều, nhưng cũng sớm nhận ra sự đối lập giữa cuộc sống xa hoa, quyền quý của giới quý tộc với cuộc sống bần hàn của nhân dân và thân phận đau khổ của những người kĩ nữ (những người mà ông có dịp trực tiếp được tiếp xúc khi sống ở kinh thành). Sáng tác của ông rất có thể bị ám ảnh bởi những điều mà ông đã từng chứng kiến lúc này. Cuộc sống vương giả qua nhanh khi nhà Lê suy sụp. Nguyên Du phải nếm trải cuộc sống khó khăn, gian khổ, chật vật suốt hơn chục năm trời. Nhưng cũng chính bởi thế mà ông thấu hiểu sâu sắc hơn cuộc sống của nhân loại bao la. Cuộc sống gian nan đã bồi dưỡng cho tâm hồn ông những vốn hiểu biết cần thiết để hình thành nên phong cách ngôn ngữ của các tác phẩm thơ Nôm, đặc biệt là Truyện Kiều. 2.Sự nghiệp văn học a.Các sáng tác chính: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Truyện Kiều, Văn chiêu hồn (xem thêm phần giới thiệu tác phẩm trong SGK) b.Nội dung sáng tác -Nét nổi bật nhất về nội dung trong các sáng tác của Nguyễn Du đó là tư tưởng nhân đạo, là sự đề cao cảm xúc, đề cao giá trị nhân văn của con người. Thơ văn Nguyễn Du là sự cảm thông sâu sắc của tác giả dành cho cuộc sống và con người, nhất là những con người nhỏ bé, bất hạnh bị rẻ rúng, những người phụ nữ phải chịu nhiều đắng cay thua thiệt trong xã hội, những người tài sắc nhưng số phận đa đoan,… Tất cả những con người ấy đều được ông quan tâm bằng một tấm lòng thương yêu, trân trọng. -Cùng với tấm lòng thương yêu sâu sắc, văn chương của Nguyễn Du còn là tiếng nói cất lên mạnh mẽ tố cáo những xấu xa của xã hội, đặc biệt là những thế lực chà đạp con người. c.Phong cách nghệ thuật -Nguyễn Du là một tài năng đa dạng. Ông nắm vững và thành thục nhiều thể thơ của Trung Hoa. Thơ chữ Hán của ông rất uyên thâm và ở thể thơ nào cũng có bài xuất sắc. -Đặc biệt, tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du quy tụ và nở rộ trong mảng thơ Nôm. Ngôn ngữ thơ Nôm của Nguyễn Du dồi dào, có chọn lọc; các biện pháp nghệ thuật đạt tới mức tinh luyện và mẫu mực. Thể thơ lục bát của dân tộc, đến Nguyễn Du, cũng được ông nâng lên một tầm cao mới với khả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình phong phú của thể loại truyện thơ. 1.Nhận xét về cuộc đời Nguyễn Du và ảnh hưởng của nó đối với sáng tác của nhà thơ. Gợi ý: -Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình quý tộc phong kiến quyền quý. Vì thế, lúc tuổi thơ và thời niên thiếu, ông được hưởng đầy đủ những điều kiện tốt nhất về giáo dục. Cuộc sống vương giả cũng giúp ông tích luỹ được nhiều hiểu biết quý báu về giới quan trường và cuộc sống xa hoa của các bậc đế vương. -Sống trong thời loạn, trực tiếp chứng kiến sự khủng hoảng của xã hội phong kiến Việt Nam, lại từng có nhiều năm trải nghiệm cuộc đời gian khổ trong những hoàn cảnh khác nhau, những môi trường khác nhau, Nguyễn Du đã thể hiện một tư tưởng chính trị xã hội khá phức tạp (vừa nặng tư tưởng trung quân, lại vừa có những biểu hiện trân trọng Tây Sơn, lúc cuối đời ông còn ra làm quan cho nhà Nguyễn,…). Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là sau khi trải qua những bước thăng trầm, Nguyễn Du nghiêng nhiều hơn về cuộc sống giản dị. Những năm tháng gian nan cũng khiến ông am hiểu và cảm thông sâu sắc hơn những nỗi đau khổ của nhân dân. -Nguyễn Ducòn có điều kiện tiếp thu văn hoá của nhiều vùng đất khác nhau (quê cha ở Hà Tĩnh, quê mẹ ở Bắc Ninh, quê vợ ở Thái Bình), đó là truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước, là sự êm đềm và tình tứ của những vùng quê văn hoá (Bắc Ninh, Thái Bình). Những vẻ đẹp văn hoá ấy đã được chắt lọc và kết tinh ở Nguyễn Du, hình thành nên tư tưởng, phong cách, giọng điệu,… nghệ thuật của ông. Gợi ý: -Bên cạnh Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh, thì Phản“Chiêu hồn” là một đỉnh cao khác trong sáng tác của Nguyễn Du. -Bài thơ này được làm để phản lại bài “Chiêu hồn” (bài thơ gọi hồn Khuất Nguyên) của Tống Ngọc (thời Trung Quốc cổ đại). Nội dung bài thơ thể hiện rất rõ quan niệm và cảm hứng phê phán xã hội sâu sắc, mạnh mẽ của Nguyễn Du. -Để tổ chức buổi thảo luận thành công, cần phân công thành các nhóm: nhóm sưu tầm văn bản (tìm trong các tuyển Thơ chữ Hấn của Nguyễn Du); nhóm sưu tầm các ý kiến đánh giá về nội dung tác phẩm. Sau đó tổ chức thảo luận về quan điểm của Nguyễn Du (có thể chủ động nên ý kiến riêng của bản thân) XEM THÊM HƯỚNG DẪN LẬP DÀN Ý BÀI VĂN NGHỊ LUẬN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Truyện Kiều – Ngữ văn 10
1,023
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây Hướng dẫn CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY (Trích Đăm Săn – sử thi Tây Nguyên) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Khái niệm sử thi Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần,. nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại. Có hai loại sử thi: -Sử thi thần thoại: là loại sử thi kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc, các vùng cư trú thời cổ đại của họ hoặc cũng có khi kể về sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu. Có một số sử thi tiêu biểu cho thể loại này: Đẻ đất đẻ nước (dân tộc Mường), Ẩm ệt luông (dân tộc Thái), Cây nêu thần (dân tộc Mơ-nông),… -Sử thi anh hùng: là những câu chuyện kể về cuộc đời và những chiến công hiển hách của người anh hùng – người đại diện cao nhất cho sự giàu có, quyền lực, sức mạnh và ước mơ của cộng đồng người thời cổ đại. Các tác phẩm tiêu biểu cho thể loại này: Đăm Săn, Xinh Nhã, Đăm Di, Khinh Dú (dấn tộc Ê-đê), Đăm Noi (dân tộc Ba-na),… 2.Về đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây -Đoạn trích thuộc phần giữa của tác phẩm kể chuyện Đăm Săn đánh Mtao Mxây cứu vợ về. -Tóm tắt nội dung sử thi Đăm Săn: Sau khi về làm chồng hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị, Đăm Săn trở thành một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy. Các tù trưởng Kên Kên (Mtao Grư), tù trưởng sắt (Mtao Xmây) lừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Cả hai lần, Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và đều chiến thắng, cứu được vợ và tịch thu của cải, đất đai của kẻ địch khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc. Một lần tình cờ gặp cây sơ-múc (cây thần vật tổ bên nhà vợ), Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền đó, cả hai vợ đều chết và Đăm Săn phải tìm lối lên trời xin thuốc thần cứu vợ sống lại. Ít lâu sau, Đăm Săn tìm cách lên trời hỏi nữ thần Mặt Trời (con gái của Trời) về làm vợ. Tức giận vì bị từ chối, chàng bỏ về và cả người lẫn ngựa bị chết ngập ở rừng Sáp Đen nhão như bùn nước. Hồn Đăm Săn biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Ang khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai. Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng. 1.Tóm tắt diễn hiến trận đánh để so sánh tài năng và phẩm chất của tù trưởng. Với lối miêu tả song hành hai tù trưởng Đăm Săn và Mtao Mxây trong suốt diễn biến trận đánh, tác phẩm làm nổi bật sự hơn hẳn của Đăm Săn so với Mtao Mxây về cả tài năng, sức lực, về cả phong độ, phẩm chất. Cuộc chiến giữa hai tù trưởng được mô tả qua các chặng. a.Đăm Săn khiêu chiến và thái độ cùa Mtao Mxây: Trước thái độ quyết liệt của Đăm Săn ngay từ chặng đầu này, Mtao Mxây đã run sợ (sợ bị đối phương đâm lén, tuy mặt mũi dữ tợn, trang bị đầy mình nhưng Mtao Mxây đã tỏ ra tần ngần, đắn đo, do dự,…) b.Vào trận đánh: -Hiệp đấu thứ nhất: Hai bèn lần lượt múa khiên: + Mtao Mxây múa trước: tỏ ra kém cỏi (khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô). + Đăm Săn múa khiên: tỏ ra tài giỏi hơn hẳn (múa trên cao, gió như bão; múa dưới thấp, gió như lốc). Kết quả hiệp đấu: Đăm Săn đâm giáo trúng đùi, trúng người Mtao Mxây nhưng không thủng. -Hiệp đấu thứ hai: Được ông Trời mách bảo, Đăm Săn chộp ngay một cái chày mòn, ném trúng vành tai kẻ địch. Cái giáp của Mtao Mxây tức thì rơi loảng xoảng. Mtao Mxây tháo chạy quanh chuồng lợn. Hắn tránh quanh chuồng trâu. Mtao Mxây ngã lăn quay ra đất, xin được làm lễ cầu phúc một trâu, một voi để Đăm Săn tha chết. Nhưng Đăm Săn không nghe, chàng đâm phập một cái, cắt đầu Mtao Mxây đem bêu ngoài đường. Trận đánh diễn ra nhanh chóng và kết thúc bằng thắng lợi của người anh hùng Đăm Săn. 2.Đọc lại cuộc đối thoại giữa Đăm Săn với dân làng (nô lệ) của Mtao Mxây khi chàng đến từng nhà kêu gọi những người này đi theo mình. Có ba lần đối đáp (Đăm Săn gọi và hỏi mọi người hưởng ứng, trả lời). Con số ba này là biểu tượng cho số nhiều, rất nhiều không sao đếm cho hết được (con số từng xuất hiện nhiều lần trong các tác phẩm tự sự dân gian). Ý nghĩa biểu tượng vừa nói cho thấy tất cả dân làng (nô lệ) của Mtao Mxây hết lòng mến phục cháng, đã đồng lòng hưởng ứng lời kêu gọi của chàng và coi chàng là tù trưởng là thủ lĩnh, là anh hùng của họ. Điều đáng chú ý ở ba lần đối đáp là mỗi lần đều có sự khác nhau. Lần đầu. Đăm Săn chỉ gõ vào một nhà. Lần thứ hai, chàng gõ vào tất cả các nhà và lần cuối gõ vào mỗi nhà trong làng. Điều này thể hiện các ý nghĩa sau: -Thể hiện sự thống nhất hài hoà giữa quyền lợi và khát vọng cua anh hùng sử thi với quyền lợi và khát vọng của cộng đồng. Ở đây, người thắng kẻ bại đều chung một tộc người. Nếu trước trận đánh họ sống hai nhóm rời rạc thì sau trận đánh, họ kết hợp với nhau thành một nhóm lớn mạnh hơn, đông đúc hơn. -Cho thấy lòng mến phục thái độ hưởng ứng tuyệt đối của cộng đồng đối với cá nhân anh hùng. Điều này thể hiện ý chí thống nhất của cộng đồng người Ê-đê, cũng là một biểu hiện của ý thức dân tộc. -Thái độ của dân làng Đăm Săn đối với chiến thắng của chàng. -Thái độ của các tù trưởng xung quanh kéo đến cùng ăn niừng chiến thắng. Như thế. Đăm Săn người anh hùng sử thi được tỏàn thể cộng đồng người Ê-đê suy tôn tuyệt đối. Trong giai đoạn lịch sử đầy biển động ấy, số phận của cá nhân anh hùng thống nhất cao độ với số phận của cả một thị tộc. 3.Đoạn trích miêu tả cuộc chiến tranh giữa các thị tộc trong thời nguyên thuỷ, thế nhưng lại không chú trọng miêu tả cảnh chết chóc đau thương. Trái lại. tác giả dân gian chủ yếu miêu tả cảnh chiến thắng tưng bừng của phái Đăm Săn. Cuộc chiến dừng lại khi Mtao Mxây thất bại. Thế nhưng sự thất bại của Mtao Mxây không làm cho dân làng lo sợ, hoang mang. Ngay lập tức, họ theo về phái Đăm Săn, hoà nhập vói cuộc sống cộng đồng mới một cách tự nhiên. Dân làng của Đăm Săn cũng vậy, họ đón tiếp những người bạn mới rất chân thành. Không khí của buổi tiệc sau chiến thắng tưng bừng náo nhiệt vui say không hề có một chút gợn nào. Lựa chọn cách thể hiện nghệ thuật này, tác giả dân gian đã nhận ra tính tất yếu của cuộc chiến tranh thị tộc – đó là cuộc chiến tranh không kìm hãm sự phát triển của xã hội Ê-đê, mà trái lại nó giúp những tập thể lẻ tẻ, rời rạc tập hợp thành những tập thể lớn mạnh hơn. Và cũng chỉ như vậy, họ mới trở thành một dân tộc trưởng thành thực sự. Cách lựa chọn để thể hiện nghệ thuật ấy cũng là cách để dân gian ngợi ca tầm vóc và sứ mệnh lịch sử cùa người anh hùng. Chỉ có những con người ưu tú của thời đại như vậy mới đủ sức đứng lên thống nhất các thị tộc nhỏ lẻ lại với nhau, tập hợp những thị tộc lại thành một cộng đồng lớn mạnh và giàu có. Điều cần chú ý nữa là sử thi dùng các hình ảnh sự vật trong thế giới thiên nhiên, từ vũ trụ đê làm chuẩn trong so sánh. Nghĩa là dùng vũ trụ để đo tầm cỡ, nhân vật anh hùng. Đây là một phương cách phóng đại nhằm đề cao ca ngợi anh hùng. Đây cũng là phong cách nghệ thuật đặc trưng của sử thi. III.LUYỆN TẬP Gợi ý: Ông Tròi (thần linh) cũng tham gia vào cuộc chiến đấu của con người, với vai trò giúp đỡ, gợi ý. Bởi vậy, kết quả của cuộc chiến đấu, không do thần linh quyết định mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào hành động của nhân vật anh hùng, ở sử thi nào cũng có đặc điểm thần linh tham gia cùng con người trong trận chiến đấu.Nhưng trong sử thi Tây Nguyên, quan hệ giữa thần linh và con người gần gũi, thân thiết hơn. Đây chính lả dấu vết của tư duy thần thoại cổ sơ, dấu vết của một xã hội chưa có sự rạch ròi phân hoá giai cấp. Còn việc thần linh chi đóng vai trò cố vấn cho con người là một biếu hiện của ý thức dân chủ công xã thời thị tộc. Tất cả những điều vừa đề cập đã góp phần đề cao vai trò của nhân vật anh hùng sử thi. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CẢM NGHĨ VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây
1,675
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Chí khí anh hùng – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CHÍ KHÍ ANH HÙNG (Trích Truyện Kiều – NGUYỄN Du) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Vị trí đoạn trích Trốn thoát khỏi sự đày đoạ của Hoạn Thư, Thuý Kiều những tưởng sẽ được sống cuộc đời bình lặng và an phận, nào ngờ nàng lại rơi vào tay của Bạc Bà, Bạc Hạnh và lại phải trở về với cuộc sống tủi nhục ở lầu xanh. Đang sống trong tâm trạng hoang mang và vô cùng bế tắc thì Từ Hải bỗng xuất hiện và đưa Kiều thoát khỏi cảnh đời ô nhục. Nhưng rồi cuộc sống hạnh phúc của hai người cũng chẳng được bao lâu. Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc. Chàng muốn vùng vẫy bốn phương để lập nên công nghiệp lớn. Vì thế sau nửa nãm cùng Kiều chung sống, Từ Hải đã từ biệt nàng để ra đi. Trong Truyện Kiểu, đoạn này được trích từ câu 2213 đến câu 2230. 2.Chí khí anh hùng là đoạn trích thể hiện cái ước mơ đầy lãng mạn của Nguyễn Du về hình mẫu người anh hùng với những phẩm chất phi thường trên nhiều phương diện. Đoạn trích thể hiện nổi bật những phẩm chất cao đẹp của người anh hùng Từ Hải, đồng thời cũng bộc lộ thái độ trân trọng, ngợi ca, khẳng định của tác giả đối với nhân vật này. 1.Trong thơ ca trung đại, việc dùng các hình ảnh thiên nhiên để tô đậm một phẩm chất nào đó của con người là khá phổ biến. Đó là cách nói tượng trưng, ở đây cũng vậy, Nguyễn Du đã dùng hai khái niệm “lòng bốn phương” (chỉ cái chí nguyện lập nên công danh sự nghiệp) và “mặt phi thường” (chỉ cái tính chất khác thường, xuất chúng) với ý định vẽ nên cái tầm vóc vũ trụ phi thường của người anh hùng Từ Hải. Các từ ngữ thể hiện sự trân trọng và kính phục của Nguyễn Du đối với Từ Hải là: “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường” (các từ này dùng để tôn xưng nhân vật), từ “thoắt” thể hiện sự dứt khoát, mau lẹ, kiên quyết trong tính cách của con người Từ Hải,… 2.Đoạn trích này bộc lộ khá rõ lí tưởng của người anh hùng Từ Hải. Ngoài những lời ngợi ca của Nguyễn Du, trong lời đối thoại với Kiều, Từ Hải cũng đã tự bộc lộ cái lí tưởng anh hùng của mình: Từ rằng: “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi. Qua ngôn ngữ của Từ Hải, có thể nhận thấy, người anh hùng đã không hề quyến luyến, bịn rịn vì tình yêu mà quên lí tưởng cao cả. Thái độ và hành động của Từ Hải mạnh mẽ và quyết đoán, không chút do dự khi bị đặt vào tình thế phải lựa chọn giữa hạnh phúc riêng tư và lí tưởng. Từ Hải rất tự tin vào sự rạng rỡ của tương lai: Tiêhg chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Và khẳng định sự thành công là tất yếu: “Chầy chăng là một năm sau vội gì”. Lời hẹn ước của Từ Hải ngắn gọn, dứt khoát và chắc nịch đúng với cái khí phách anh hùng của một vị tướng quân uy vũ. 3.Cách tả người anh hùng của Nguyễn Du có hai đặc điểm cần phải lưu tâm, đó là: Hình tượng nhân vật vừa có tính ước lệ vừa mang tầm vóc của con người vũ trụ. Kiểu mẫu người anh hùng vốn đã là nhân vật truyền thống của văn học trung đại. Nó có một khuôn mẫu riêng đã được các nhà văn tổng kết trong quá trình sáng tạo. Theo những khuôn mẫu miêu tả này thì hai phương diện ước lệ và cảm hứng vũ trụ vốn gắn bó chặt chẽ với nhau khi các nhà văn chắp bút thể hiện hình ảnh những nhân vật anh hùng. Ở nhân vật Từ Hải cũng vậy. Các cụm từ như: “Lòng bốn phương” vốn đã mang nội hàm diễn tả lí tưởng con người vũ trụ. Hoặc cụm từ “trông vời trời bể mệnh mang” vừa có tính ước lệ (không tả cái nhìn cụ thể) lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc phi phàm của Từ Hải. Cũng như thế, có thể phân tích các hình tượng khác như bốn bể, chim bằng, gió mây. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Chí khí anh hùng – Ngữ văn 10
799
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Cáo bệnh, bảo mọi người – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CÁO BỆNH, BẢO MỌI NGƯỜI (Cáo tật thị chúng) Thiền sư Mãn Giác I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Thiền sư Mãn Giác (1052 – 1096) tên là Lí Trường, sinh thời được thái hậu và vua rất trọng dụng. 2.Cáo tật thị chúng (nhan đề do người đời sau đặt) là một bài kệ. Kệ là một thể văn của Phật giáo dùng để truyền bá giáo lí Phật pháp. Kệ được viết bằng văn vần, nhiều bài có giá trị văn chương như các bài thơ. 3.Cáo tật thị chúng là một triết lí Phật giáo nhưng cũng là một quan niệm nhân sinh. Bài thơ thể hiện cảm giác tiếc nuối thời gian. Thời gian trôi đi, tuổi già đến, con người không thể sống vô nghĩa. Con người với lòng yêu đời đã có một cái nhìn rất lạc quan về cuộc sống. II.HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Bốn câu thơ đầu nói lên qui luật hoá sinh của tự nhiên, của con người; hoa cũng như con người không bao giờ đứng yên, bất biến. Sự sống luôn là một vòng quay luân hồi. Nếu đảo ngược vị trí câu thơ thứ hai lên đầu thì mặc dù vẫn nói lên được qui luật tuần hoàn biến đổi nhưng đó sẽ là nhìn sự vận động theo qui lụật xuân tới để xuân qua, hoa tươi để hoa rụng, chứ không theo qui luật sinh trưởng phát triển tự nhiên (xuân qua rồi xuân tới., hoa rụng rồi hoa tươi). 3.Trong hai câu thơ cuối, tác giả mượn việc miêu tả thiên nhiên mà nói đến một quan niệm triết lí trong Phật giáo; khi con người đã giác ngộ đạo (hiểu được chân lí và qui luật) thì có sức mạnh lớn lao, vượt lên trên cả lẽ sinh diệt thông thường. Thiền sư đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt như nhành mai kia cứ tươi bất kể xuân tàn. Theo cách giải thích này nội dung ý tứ của hai câu thơ cuối không hề có chút gì mâu thuẫn với nhau. 4.Bài thơ thể hiện rất rõ lòng yêu đời với cái nhìn lạc quan của nhà thơ. Niềm yêu đời, niềm lạc quan tươi sáng ấy được thể hiện qua cách nói khẳng định, qua các hình tượng thiên nhiên mang vẻ đẹp tươi tắn, gợi lên sự cảm nhận về sự sống sinh sôi và bất diệt. Qui: luật của cuộc đời là sinh – tử – sinh nhưng bài thơ mờ đầu bằng “xuân tàn” và kết thúc bằng “một nhành mai” tươi. Đó là một cách nhìn lạc quan. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VẬN NƯỚC – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Cáo bệnh, bảo mọi người – Ngữ văn 10
464
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Cảm Xúc Mùa Thu – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CẢM XÚC MÙA THU ( Thu hứng) Đỗ Phủ I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Đỗ Phủ (712 – 770) tự Tử Mĩ, người huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, sống vào thời đất nước Trung Quốc triền miên trong cảnh loạn li, mặc dù Đỗ Phủ có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn song gia đình ông cũng lâm vào tình cảnh phiêu bạt, cơ cực. Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực lớn nhất, không chỉ của đời Đường, mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. 2.Thu hứng là bức tranh mùa thu hiu hắt và cũng là tâm trạng buồn lo của nhà thơ. Nỗi lo ấy bắt nguồn từ nỗi buồn của tác giả khi ông chứng kiến cảnh đất nước kiệt quệ vì sự tàn phá của chiến tranh. Bài thơ cũng là nỗi lòng của kẻ xa quê, là nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận của kẻ tha hương lưu lạc. 3.Bài thơ này còn tiêu biểu cho một số đặc điểm nghệ thuật của thơ Đường như: nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, nghệ thuật xây dựng các mối quan hệ đồng nhất và tương ứng. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Có thể chia bài thơ thành hai phần (4 câu trên và 4 câu dưới). Chia như vậy bởi hai phần này có tính độc lập nhất định (4 câu trên thiên nhiều hớn về tả cảnh, 4 câu dưới lại thiên nhiều hón về tả tình). Nội dung của bốn câu thơ trên là miêu tả cảnh mùa thu ảm đạm và hiu hắt (cũng có một chút dữ dội nhưng chỉ làm cho cảnh thêm sâu thẳm, hoang vu). Bốn câu thơ ở phần hai lại chủ yếu miêu tả cái tình của nhà thơ: nỗi nhớ quê và nỗi niềm ‘‘dân nước”. 3.Bốn câu thơ đầu là cảnh mùa thu – vừa tiêu điều, hiu hắt (Sương móc trắng xoá làm tiêu điều cả rừng cây phong; Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt), lại vừa dữ dội (sóng vỗ Trường Giang; trên cửa ải, mây sà mặt đất). Cảnh ấy vừa gợi nỗi buồn tê tái, vừa ngầm thể hiện nỗi lo âu của nhà thơ (về sự không bình yên ơ nơi biên ải). Cảnh thu ở phần thứ nhất quả thật đã khởi hứng cho cái tình chan chứa ở những câu sau. Hình ảnh khóm cúc, con thuyền khắc sâu vào nỗi nhớ quê hương. Câu thơ có lệ của hoa nhưng dường như cũng là lệ của lòng người. Hai câu cuối là nỗi buồn nhớ người thân. Thế nhưng bên cạnh đó, nó còn là nỗi lo vì đất nước chưa yên, là niềm cảm thông đối với nhũng người lính thú đang phải trấn giữ ở những nơi rét mướt xa xôi. Bài thơ khởi hứng bằng “thu” và quả thực câu nào cũng nói đến mùa thu. Nhung chỉ có điều thật khó có thể phân biệt rạch ròi đâu là “thu tình” và đâu là “thu cảnh”. Hay nói cách khác, thu cảnh cũng chính là thu tâm (Thu hứng). 1.Đối chiếu bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ với bản phiên âm và phần dịch nghĩa, ta có mấy nhận xét sau: -Ưu điểm: Bản dịch thơ cơ bản đã thể hiện được khá sắc sảo tinh thần của bài thơ. Bản dịch có thể coi là đạt. -Nhược điểm: Bản dịch còn có một số chỗ chưa sát so với bản phiên âm: + Trong câu đầu, bản dịch thơ chưa chuyển tải được ý nghĩa của từ “điêu thương” – đây là một tính từ đã được động từ hoá (làm tiêu điều). Vì vậy, ở trong bản phiên âm nó mang nghĩa rất mạnh – chỉ sự tàn phá khắc nghiệt của sương móc đối với rùng phong. + Chữ “thẳm” trong câu ba (bản dịch) chưa thật sát nghĩa. Đồng thời nó còn làm cho ậm hưỏng thơ trầm xuống. + Câu 5, bản dịch bỏ mất chữ “lưỡng khai” – là một từ quan trọng cùa bản phiên âm – nhấn mạnh số lần lặp lại. Cũng vậy ỏ’ câu 6, chữ “cô” chưa dịch.được làm cho câu thơ chưa thật sự thể hiện được nỗi lòng của kẻ li hương, 2.Câu thơ Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước) là một câu thơ đa nghĩa, giàu hàm ý. Chữ “lệ” ở trong câu thơ này quả thực rất khó phân biệt đó là lệ của người hay “lệ” của hoa. Tuy nhiên có lẽ nên hiểu; mỗi lần nhìn hoa cúc nở, nhà thơ lại chạnh lòng nhớ đến quê hương. Những giọt nước mắt theo đó cũng cứ tự nhiên rơi không sao ngăn lại được. Hình ảnh hoa cúc “nở rồi lại nỏ’” vừa gọi ra sự trở đi trở lại của nỗi nhớ quê, vừa gợi ra liên tưởng về những dòng lệ chứa chan ân tình của nhà thơ.
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Cảm Xúc Mùa Thu – Ngữ văn 10
852
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Cảnh Ngày Hè – Ngữ văn 10 Hướng dẫn CẢNH NGÀY HÈ (Bảo kính cảnh giới – bài 43) Nguyễn Trãi I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là ức Trai, quê gốc tại làng Ngái (Chi Ngại), huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ông mất ngày 19 – 9 – 1442, tức 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba, trong vụ án Lệ Chi Viên (tức vụ án Trại Vải, huyện Gia Lương, nay thuộc Bắc Ninh), vụ án tru di tam tộc oan khốc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ông là nhà văn hoá, nhà thơ lớn của dân tộc, người mở đầu cho sáng tác thơ Nôm ở Việt Nam. Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ đặc sắc trong tập Quốc âm thi tập, một tập thơ Nôm được xem là cổ nhất. 2.Quốc âm thi tập -Là tập thơ Nôm sớm nhất còn lại đến hôm nay. Nó là một “bông hoa nghệ thuật đầu mùa” của thơ ca tiếng Việt. -Về nội dung, Quốc âm thi tập phản ánh vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi (lí tưởng nhân nghĩa; lòng yêu nước, thương dân; tình yêu thiên nhiên, quê hương, con người, cuộc sống,…) -Về nghệ thuật, tác giả Quốc âm thi tập vận dụng một cách thành thục thể thơ thất ngôn đường luật của Trung Quốc. Tuy nhiên, có chỗ Nguyễn Trãi lại chen vào một số câu thơ lục ngôn thích hợp (một sự phá cách trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ). 3.Bài thơ Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi. Bài thơ mang vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, có sự đan xen câu lục ngôn (sáu chữ) và bài thơ thất ngôn (bảy chữ). II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI. 1.Miêu tả cảnh ngày hè, tác giả đã sử dụng các động từ, tính từ, từ láy giàu sức gợi hình tượng và cảm giác. Ở câu 2, 3, 4, 5, 6 là các từ: đùn đùn, giương, phun, đỏ, tiễn, lao xao, dắng dỏi. Từ đùn đùn gợi tả sắc xanh thẫm của tán hoè lớp lớp, liên tiếp tuôn ra, giương rộng ra; từ phun gợi sự nổi bật, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu; tiễn (ngát, nức) gợi tả sức lan toả của hương sen; từ lao xao, dắng dỏi đảo lên trước chợ cá, cầm ve làm nổi bật âm sắc rộn ràng, râm ran rất riêng của mùa hè. Dưới cái nhìn của tác giả, những sự vật vốn tĩnh trở nên động. Chuyển tĩnh thành động, sự cảm nhận cảnh ngày hè của nhà thơ bộc lộ rõ tình yêu sự sống sinh sôi, cái động của thiên nhiên, cảnh vật phản ánh cái động trong lòng người. 2.Cảnh ở đây có sự hài hoà giữa âm thanh và màu sắc, cảnh vật và con người. Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động: tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch lựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao át mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi. Bức tranh ngày hè sinh động không những được gợi tả bằng hình ảnh màu sắc, âm thanh, sự chuyển động tinh tế của sự vật mà còn thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu. Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8), lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3 – 4, 5 – 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thất ngôn bát cú Đường luật: -Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu chữ nên chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể thơ Đường luật. -Đa dạng hơn về nhịp điệu: Câu 1: 1 / 2 / 3 Câu 2: 4/3 (hoặc 1/3/3) Câu 3: 3/4 ‘ Câu4: 3 /4 Câu 5: 2/2/3 Câu 6: 2/2/3 Câu 7: 3/4 Câu 8: 3/3. Sắc thái của cảnh vật trong bức tranh về sự sống mùa hè đã cho thấy tâm trạng phấn chấn trước vẻ đẹp của cuộc sống đã “phá vỡ” cái tĩnh tại của cuộc sống nhàn dật thuần tuý, qua đó bộc lộ niềm quyến luyến, thiết tha lớn với cuộc đời. Nỗi lòng của nhà thơ đối với đời, với cuộc sống nhân dân hiện ra rõ nét ở hai câu cuối bài. Ông nói đến cây đàn của Ngu Thuấn với mong ước thanh bình, no đủ cho muôn dân. Niềm tha thiết, gắn bó với đời được cụ thể bằng niềm mong mỏi giàu đủ cho nhân dân. Ngay cả trong không gian nhàn dật, ý thức nhập thế, giúp đời luôn thường trực trong tâm hồn Nguyễn Trãi. 3.Cảnh vật một buổi chiều cuối hè sinh động, đáng yêu và đầy sức sống nói trên đã được nhà thơ đón nhận bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác và cả sự liên tưởng cùa mình. Với thị giác, nhà thơ cảm nhận được sắc màu hoè lục thức đỏ,… Với khứu giác, nhà thơ cảm nhận được mùi hương. Với thính giác, nhà thơ lắng nghe dắng dỏi cầm ve. Điều cần chú ý là hồn thơ Nguyễn Trãi đã hoà hợp màu sắc, âm thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội hoạ, trong âm nhạc, khiến bức tranh thiên nhiên ở đây vừa có màu sắc vừa có hồn, đầy gợi tả và lắng sâu. Thi nhân có sự đồng cảm với thiên nhiên vừa mãnh liệt vừa sâu sắc. 4.Tấm lòng yêu nước thương dân của Ức Trai (2 câu cuối). -Khát vọng: có cây đàn của vua Ngu Thuấn để ca ngợi đời thái bình, dân no ấm. (Liên hệ câu: Vua Nghiêu, Thuấn; dân Nghiêu, Thuấn – Dường ấy ta đà phi sở nguyền.) -Tấm lòng yêu nước thương dân: nhân dân là món nợ suốt đời, công thành nhưng thân không thoái; thân nhàn, ngôn nhàn mà tâm không nhàn. -Ước mong cao quí của một bậc hiền nhân. Lấy chuyện xưa để nói nay, khao khát thấy cảnh đời no ấm, của nhân dân, dám mong bệ hạ rũ lòng thương, chăm lo tới muôn dân, sao cho nơi hang cùng ngõ vắng không còn tiếng hờn giận, oán sầu. Đó là gốc của nhạc. (Liên hệ với bài Mao Ốc vị thu phong sở phá ca của Đỗ Phủ – muốn có một ngôi nhà rộng trăm ngàn gian che khắp cho kẻ sĩ trong thiên hạ, riêng mình chịu đói rách cũng được. Tấm lòng của bậc tri giả đời nào cũng vậy, luôn đau đáu vì dân vì nước.) 5.Cảm hứng chủ đạo của bài thơ này là lòng yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống và nhất là khát vọng về cuộc sống thái bình hạnh phúc cho muôn dân. Lấy cảnh mùa hè làm nền, nêu bật những nét đẹp, nét vui trong đó và sau cùng là bộc lộ sự trăn trở, dày vò, ước ao một viễn cảnh hạnh phúc ấm no cho muôn dân của nhà thơ. Ngần đó đủ để cho thấy vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi lúc nào cũng nặng lòng với đất nước muôn dân. III.LUYỆN TẬP 1.Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ. Bài viết tham khảo: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi hiện gồm 254 bài thơ, được chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau: Ngôn chí (21 bài), Thuật hứng (25 bài), Tự thán (41 bài), Bảo kính cảnh giới (61 bài)… Phần lớn các bài thơ trong Quốc âm thi tập không có nhan đề. Đây là bài thơ số 43 trong “Bảo kính cảnh gịới”. Các bài thơ trong ‘”Bảo kính cảnh giới” hàm chứa nội dung giáo huấn trực tiếp, nhưng bài thơ này rất đậm đà chất trữ tình, cho ta nhiều thú vị. Đề tài mùa hè, cảnh hè được nói nhiều trong thơ văn cổ dân tộc. Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến… đều có thơ viết về mùa hè rất hay. Bài thơ này là một thi phẩm khá tiêu biểu cho ngôn ngữ thi ca úc Trai, đậm đà dấu ấn thời đại, thời Lê sơ, thế kỉ XV. Nó nói lên cảnh sắc mùa hè làng quê và nỗi ước mong của nhà thơ về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. ‘‘Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.” Sau khi tả hoè màu “lục”, lựu “phun thức đỏ”, sen hồng đã “tiễn mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê. Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân đã đầy muối mặn và mồ hôi. Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp. Hoà điệu với tiếng lao xao chợ cá là tiêng ve vang lên rộn rã, nhịp nhàng. “Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm. “Dắng dỏi” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang xa. Ngôi lầu buôi xế chiều trở nên náo động rộn ràng. Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dượng) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè noi thôn dã: “Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.” Trở về ‘‘Côn Sơn quê cũ” Ức Trai đã từng bồi hồi “trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn”, giờ đây ông lại thả hồn mình trong khúc ca dân dã “cầm ve” buổi chiều tà cuối hè. Tiếng ve lúc hoàng hôn thường gợi nhiều bâng khuâng, vì ngày tàn, màn đêm đang dần dần buông xuống. Nhưng với ức Trai, nó đã trở thành “cầm ve” nhặt khoan trầm bổng, dắng dỏi vang xa, làm cho khung cảnh làng quê một buổi chiều tà bỗng rộn lên bao niềm vui cuộc đời. Hai câu kết diễn tả ước mong nhà thơ: “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương”. “Dẽ có” nghĩa là hãy để (cho ta) có; học giả Đào Duy Anh ghi chú là “Lẽ có” và giải thích “Đáng lẽ có….”. Ngu cầm là cây đàn thần của vua Thuấn (Nghiêu, Thuấn là hai ông vua thòi cổ đại Trung Quốc – triều đại lí tưởng: nhân dân được sống trong hạnh phúc, thanh bình). Câu kết cảm xúc trữ tình được diễn tả bằng một điển tích phản ánh khát vọng cao đẹp của nhà thơ, Ức Trai chân thành bày tỏ: Hãy để cho ta cây đàn thần của vua Thuấn, ta sẽ gảy lên khúc “Nam phong”, cầu mong cho mọi nhà, mọi chốn, khắp các phương trời (đòi phương) được ấm no, giàu có. Hai câu kết toát lên một tình yêu lớn. Con người úc Trai lúc nào cũng hướng về nhân dân, mong ước cho nhân dân được ấm no và nguyện hi sinh phấn đấu cho hoà bình, hạnh phúc của dân tộc: Trong thơ Úc Trai, hai câu kết luôn luôn là sự hội tụ bừng sáng những tư tưởng tình cảm cao cả, đẹp đẽ. Vì thế mà câu kết đã để lại trong tâm hồn người đọc những ấn tượng mạnh mẽ: “Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông.” (Thuật hứng – số 5) Bài thơ Nôm ra đời gần 600 năm về trước miêu tả cảnh tình mùa hè nơi đồng quê, đã đem đến cho chúng ta nhiều thú vị văn chương. Một giọng thơ thâm trầm, hồn hậu đáng yêu. Nhiều tiếng cổ, cấu trúc câu thơ thất ngôn xen lục ngôn. Phép đối ở phần thực và phần luận khá chặt chẽ về ngôn từ, thanh điệu, hình ảnh và ý tưởng. Cảnh sắc và âm thanh mùa hè quê ta xa xưa như sống dậy qua nhũng vần thơ nhuần nhị đầy cá tính sáng tạo. Ức Trai đã gửi gắm một tình yêu thiên nhiên nồng hậu, một tấm lòng thiết tha với cuộc sống, một niềm ước mong tốt đẹp cho hạnh phúc của nhân dân. Vĩ đại thay Ức Trai. Bài học thương yêu nhân dân mà ông nói đến lúc nào cũng mới mẻ và đậm đà. (Sưu tầm) 2.Học thuộc bài thơ. XEM THÊM HƯỚNG DẪN TÁC PHẨM TỎ LÒNG – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Cảnh Ngày Hè – Ngữ văn 10
2,190
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM HIỂN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA (Trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba — THÂN NHÂN TRUNG) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Thân Nhân Trung (1418 – 1499), tự là Hậu Phủ, người làng Yên Ninh, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ông đỗ tiến sĩ năm 1469, là người nổi tiếng văn chương, được vua Lê Thánh Tông rất tin dùng, thường cho vào hầu văn bút. Khi hội Tao đàn được thành lập, ông được ban phong là Tao đàn phó nguyên suý (chỉ đứng sau vua Lê Thánh Tông). 2.Vào triều Lê, để phát triển nền giáo dục nước nhà, khuyến khích nhân tài cống hiến hết mình cho đất nước, từ năm 1439 trở đi, nhà nước đặt ra lệ xướng danh, treo bảng, ban mũ áo, cấp ngựa, mở yến tiệc và vinh quy bái tổ cho những người đỗ đạt cao. Người đỗ tiến sĩ còn được khắc họ tên, quê quán vào bia đá để lưu danh hậu thế. Bài Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa tiến sĩ đề danh bi kí – Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442) – do Thân Nhân Trung soạn năm 1484 thời Hồng Đức là một trong 82 bài văn bia tiến sĩ hiện còn lưu giữ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội). II– HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Người hiền tài là những người học rộng, tài cao, thông minh, sáng suốt. Đối với mỗi quốc gia, có thể coi đó là cái hạt nhân khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển. -Người hiền tài có quan hệ lớn đến sự thịnh suy của mỗi quốc gia. Ở Trung Hoa ngày trước, vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc rồi thời Tam Quốc phân tranh, các nước mạnh yếu khác nhau đều là nhờ vào việc trọng dụng nhân tài. Ở nước ta cả ngày trước và giờ đây cũng vậy, thời nào người hiền tài được trọng dụng, triều đại nào, chế độ nào được nhiều người hiền tài giúp sức thì phát triển ngày càng mạnh. Ngược lại, nếu đất nước thiếu đi những bậc hiền tài thì tất sẽ suy vong. -Người hiền tài quan trọng đối với đất nước như vậy, thế nên, nhà nước đã từng hết sức quý chuộng hiền tài, làm mọi việc cho đến mức cao nhất để khuyên khích, phát triển nhân tài: đề cao danh tiếng, cho chức tước, cấp bậc, ghi tên ở bảng vàng, ban yến tiệc v.v. Những việc đã làm thậm chí còn chưa xứng với vai trò, vị trí của hiền tài, vì vậy cần phải khắc bia tiến sĩ để lưu danh sử sách. Những việc làm trên đây của nhà nước chính là những minh chứng hùng hổn nhất khẳng định vai trò của người hiền tài đối với mỗi quốc gia. 2.Ý nghĩa, tác dụng của việc khắc bia ghi tên tiến sĩ đối với đương thời và đối với các thế hệ sau: -Khuyến khích nhân tài “khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua”. -Noi gương hiền tài, ngăn ngừa điều ác, “kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà gắng”. -Làm cho đất nước hưng thịnh, bền vững dài lâu “dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh tiếng cho sĩ phu, vừa để củng cố mệnh mạch cho nhà nước 3.Bài học lịch sử rút ra từ việc khấc bia ghi tên tiến sĩ: -Thời nào thì “hiền tài cũng là nguyên khí của quốc gia”. Vì thế, cần phải biết quý trọng nhân tài, phải có những chính sách đãi ngộ đối với họ, nhất là trong thời kì mở cửa nạn chảy máu chất xám không phải là hiếm như ngày nay. -Thấm nhuần tư tưởng ấy, nhà nước ta hiện nay cũng vẫn coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đồng thời vẫn tiếp tục có nhiều chính sách ưu đãi để người hiền tài có điều kiện được cống hiến hết mình cho đất nước. 4.Sơ đồ kết cấu bài văn bia của Thân Nhân Trung XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP” – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Ngữ văn 10
748
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn-Ngữ văn 10 Hướng dẫn HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN (Trích Đại Việt sử kí toàn thư – NGÔ Sĩ LIÊN) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Ngô Sĩ Liên (không rõ năm sinh, năm mất), người làng Chúc Lí, huyện Chương Đức, nay là xã Chúc Sơn, huyện Chương Mĩ, Hà Nội. Ông đã từng có thời gian tham gia khởi nghĩa Lam Sơn. Năm 1442, ông đỗ tiến sĩ và được cử vào Viện Hàn lâm. Đến đời Lê Thánh Tông, ông giữ chức Hữu thị lang bộ Lễ, Triều liệt đại phu kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Tu soạn Quốc sử quán. Vâng lệnh vua Lê Thánh Tông, ông biên soạn bộ Đại Việt sử kí toàn thư (bộ chính sử lớn của Việt Nam thời trung đại). 2.Đại Việt sử kí toàn thư được hoàn tất năm 1479, gồm 15 quyển, ghi chép lịch sử nước ta từ thời Hồng Bàng cho đến khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi (năm 1428). Bộ sử này được biên soạn dưa trên cơ sở cuốn Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu ở thời Trần và sử kí tục biên của Phan Phu Tiên ở đầu thời Hậu Lê. 3.Đại Việt sử kí toàn thư thể hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ, vừa có giá trị sử học vừa có giá trị văn học cao như là một minh chứng về thời kì “văn sử triết bất phân”. Đại Việt sử kí toàn thư chép sử theo lối biên niên. Ở đó, mỗi nhân vật, mỗi sự kiện lịch sử được đề cập thường gắn liền vói một câu chuyện hấp dẫn, để lại những ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Đặc biệt khi ghi chép về các nhân vật lịch sử, tác phẩm đã không chỉ chú ý đến các sự kiện mà còn chú ý đến tâm lí, thái độ, hành động, tính cách của họ. Do đó chân dung của các nhân vật lịch sử được khắc hoạ khá sinh động và sắc nét, gần gũi với những nhân vật văn học. Đoạn trích về Trần Quốc Tuấn là một trong những đoạn trích tiêu biểu cho cách viết nói trên. Đọc đoạn trích, ta cảm phục và tự hào về tài năng và đức độ của người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, đồng thời hiểu được nhũng bài học đạo lí quý báu (cũng là những bài học làm người) mà ông để lại cho con cháu đời sau. II– HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Qua lời trình bày về kế sách giữ nước của Trần Quốc Tuấn với vua có thể rút ra được mấy điều cốt yếu: -Theo Trần Quốc Tuấn, chống giặc phải tuỳ thời mà tạo thế, binh pháp chống giặc cần vận dụng linh hoạt, không có một khuôn mẫu nào nhất định. -Song điều kiện quan trọng nhất để có thể chống giặc thành công là toàn dân phải đoàn kết, phải “có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được”. -Muốn vậy, phải “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” (giảm thuế khoá, bớt hình phạt, không sách nhiễu nhân dân, phải chăm lo để nhân dân có cuộc sống ấm no, sung túc), đó chính là “thượng sách giữ nước vậy”. Những câu trả lời đầy tâm huyết trên đây của Trần Quốc Tuấn, quả thực đã thể hiện được tài năng và sự đức độ của người anh hùng dân tộc, một vị tướng không chỉ có trí dũng song toàn, có lòng trung mà còn biết thương yêu dân, trọng dân và chăm lo cho dân hết mực. 2.Lúc sắp mất, cha Trần Quốc Tuấn dận ông rằng: “Con mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Đối với lời cha dặn, ông “ghi để điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải”. Sau này, ông dùng nó để thử lòng gia nô và hai con trai của mình nhằm phân định người hiền tài và kẻ bạc nhược nhỏ nhen. Trước lời ứng xử thấu tình đạt lí của Hưng Vũ Vương, ông cũng vui mừng và “ngầm cho là phải”. Thế nhưng khi vừa nghe câu trả lời có ý bất trung cửa người con thứ, Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng, ông đùng đùng nổi giận rút gươm định trị tội đứa con nghịch tử ngay. Khi Quốc Tảng đã được tha rồi, ông còn rất quyết căn dặn Hưng Vũ Vương không cho Quốc Tảng nhìn mặt ông lần cuối. Cách ứng xử của Trần Quốc Tuấn trước gia nô và hai người con một, thể hiện lòng trung nghĩa với vua, với nước, không chút mảy may tư lợi. Ông cũng là một người có tình cảm chân thành, nồng nhiệt, thẳng thắn và rất nghiêm trong giáo dục con cái. 3.a. Những phẩm chất nổi bật của Trần Quốc Tuấn: -Lòng trung quân ái quốc. + Lòng trung với vua của người anh hùng dân tộc thể hiện ở tinh thần yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm công dân đối với vận mệnh của quốc gia dân tộc. Lo cho dân cho nước, ông hết lòng, hết sức cung phụng hiến kế lâu dài giúp vua giữ nước an dân (những lời phân tích cặn kẽ với vua về cách dụng binh, cách đánh giặc, cách giữ nước khi ông lâm bệnh). + Khi ông bị đật trong sự lựa chọn giữa chữ hiếu với chữ trung (cha ông vốn có hiềm khích với vua Trần Thái Tông nên trước khi mất mới dặn ông lấy cho được giang sơn), ông đã đặt trung lên trên hiếu, đặt nợ nước lên trên tình nhà. Là một tín đồ trung thành của Nho gia nhưng ông đã không hiểu và làm theo quan niệm về chữ hiếu một cách cứng nhắc. Trung hay hiếu đối với ông đều phải lấy đại nghĩa làm đầu. Thái độ của ông đối với Yết Kiêu và Dã Tượng, với Hưng Vũ Vương và Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng khi nghe những câu trả lời của họ, càng tôn thêm tấm lòng trung nghĩa của ông. -Trần Quốc Tuấn còn là một vị tướng anh hùng, đầy tài năng và mưu lược. Ông từng “lập nên công nghiệp hiếm có”, khiến cho bọn giặc phương Bắc khiếp sợ đến nỗi không dám gọi tên. Qua cách ông trình bày với nhà vua về thời và thế, về tương quan ta – địch, kế sách của địch và cách ứng phó của ta, đặc biệt là việc chú trọng lấy sức mạnh đoàn kết toàn dân làm kế lâu dài, có thể thấy rõ tầm nhìn xa, rộng của một vị tướng tài ba. -Đi đôi với lòng trung nghĩa, tài dụng binh thao lược, Trần Quốc Tuấn còn là người có đức độ lớn lao. Ông khiêm tốn, “kính cẩn giữ tiết làm tôi”, dù luôn được đức vua trọng đãi và ưu ái rất mực. Ông không bao giờ lạm dụng quyền danh. Ông chủ trương “khoan thư sức dân”, tận tình với tướng sĩ dưới quyền, soạn sách dạy bảo, khích lệ, tiến cử nhiều người hiền tài cho đất nước. Chính những điều tốt đẹp mà ông đã gắng cộng làm khi còn sống mà cho đến khi ông mất, dân gian ta vẫn tin rằng, ông có thể hiển linh phò trợ chống lại tai nạn và dịch bệnh. Trong tín ngưỡng của dân gian, Trần Hưng Đạo đã trở thành một trong bốn vị thánh bất tử đời đời giúp cho sự vững bền của non sông. b.Nghệ thuật khắc hoạ chân dung nhân vật lịch sử: Xây dựng nhân vật Trần Quốc Tuấn, sử gia Ngô Sĩ Liên đã đặt ông vào nhiều mối quan hệ (với vua, với cha, với bề tôi, với các con,…) và trong những tình huống có thử thách (tình huống mâu thuẫn giữa trung và hiếu, tình huống khi có giặc mạnh kéo sang, nhà vua muốn thử lòng,…). Cách miêu tả ấy khiến cho nhân vật hiện lên thật sắc nét và sống động, đồng thời càng làm nổi bật lên những phẩm chất cao quý ở ông: -Quan hệ với nước: Sẵn sàng vì đại nghĩa quên thân (ông nói với đức vua: “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng”). -Quan hệ với vua: hết mực trung thành. -Quan hệ với dân: hết lòng quan tâm lo lắng. -Quan hệ với bề tôi và tướng sĩ: tận tâm dạy bảo, trọng hiền tài. -Quan hệ với con cái: nghiêm khắc trong giáo dục. Như thế, có thể nói, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là một vị tướng toàn tài, toàn đức. Ông không những được nhân dân và quân sĩ ngưỡng mộ mà ngay cả quân giặc cũng một lòng kính phục. Đọc đoạn trích, ta thấy cảm phục và tự hào về Trần Quốc Tuấn, lại cũng không quên những câu chuyện đầy ấn tượng về ông. Sự thu hút ấy chính là nhờ vào tài năng của nhà viết sử. 4.Nhận xét về nghệ thuật kể chuyện: Đoạn trích kể về cuộc đời nhân vật theo lối đảo ngược thời gian: bắt đầu bằng một điểm mốc quan trọng trong cuộc đời nhân vật (sự kiện Hưng Đạo Vương ốm nặng), nhằm thu hút sự chú ý quan tâm của người đọc. Sau sự việc ấy, nhà viết sử mới ngược dòng thời gian kể về xuất thân, về tài mạo, hoàn cảnh gia đình, về những sự việc đáng chú ý trong cuộc đời của nhân vật. Tiếp đó, tác giả lại trở về với dòng sự kiện đang xảy ra (chuyện Trần Quốc Tuấn mất, chuyện được phong tặng Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương). Sau những thông tin này, đoạn trích khép lại bằng phần ghi chép công lao và đức độ của nhân vật thông qua những câu chuyện kể sinh động như là phần giải thích cho những tước hiệu tôn quý mà ông được vua ban tặng lúc bấy giờ. Cách kể chuyện này khá mạch lạc và khúc chiết – vừa giải quyết được những vấn đề có ý nghĩa then chốt về lịch sử: Nhân vật là ai? Có những đặc điểm gì đáng ghi vào sách sử? – vừa vẫn giữ được mạch chuyện tiếp nối lô gích với những câu chuyện sinh động, hấp dẫn làm nổi bật chân dung nhân vật. Kĩ thuật kể chuyện của nhà viết sử không chỉ thể hiện ở lối kể đảo ngược thời gian nhằm tạo ra cái nhìn đa chiều về nhân vật, vừa diễn tiến vừa hồi ức, mà còn chêm xen những nhận xét khéo léo để định hướng cho người đọc (“ông kính cẩn giữ tiết làm tôi như thế đấy”, “thế là dạy đạo trung đó”,“ông lo nghĩ tới việc sau khi mất như thế đấy”,“ông lại khéo tiến cử người tài giỏi,“ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa vậy”,…): 5.Chi tiết về lòng tin của dân chúng vào sự hiển linh của Hưng Đạo Vương, đặc biệt là hình ảnh “tráp đựng kiếm có tiếng kêu” có ý nghĩa gì? Chọn một trong các ý sau: a.Cho thấy tín ngưỡng và những tập tục thờ cúng của nhân dân ta thời xưa. b.Cho thấy lòng cảm phục và ngưỡng mộ của nhân dân đối với Hưng Đạo Vương sâu sắc đến mức họ đã thần thánh hoá ông, cho rằng ông đã trở thành thần linh để giúp dân, giữ nước. c.Chỉ là những truyền thuyết để làm nổi bật tấm lòng thương dân yêu nước và khí phách anh hùng của ông – những nét đẹp đã trở thành bất tử trong lòng người. d.Ý kiến khác. Gợi ý: Chi tiết về lòng tin của dân chúng vào sự hiển linh của Hưng Đạo Vương vừa cho thấy tín ngưỡng và những tập tục thờ cúng của nhân dân ta thời xưa, đồng thời cũng cho thấy lòng cảm phục và sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với Hưng Đạo Vương sâu sắc tới mức họ đã thần thánh hoá ông và cho rằng ông đã trở thành thần linh để giúp dân giữ nước. Hiện nay, ở rất nhiều nơi có đền thờ Trần Hưng Đạo. Dân gian sùng kính tôn ông là Đức Thánh Trần (một trong bốn vị thánh bất tử theo sự suy tôn của họ). Điều đó cho thấy uy đức của Hưng Đạo Vương có ảnh hưởng to lớn và sâu rộng trong thế giới tâm linh của người Việt. Như vậy, đáp ấn đúng là sự kết hợp của hai phương án a và b. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Tóm tắt đoạn trích: Gợi ý: Tóm tắt cần thể hiện đầy đủ những khía cạnh về lòng trung với vua, với nước (trong những tình huống có thử thách), về tài năng, đức độ (lòng thương dân, sự quan tâm chăm lo cho tướng sĩ, sự khiêm tốn và cẩn trọng) của Trần Quốc Tuấn. Tham khảo đoạn tóm tắt dưới đây: Khi Hưng Đạo Vương ốm, Vua ngự tới thăm và hỏi về kế sách chống giặc. Đại Vương kể khắp xưa nay rồi nói: muốn thắng trận phải tuỳ thời mà tạo thế. Điều cốt yếu là có một đội quân một lòng như cha con. Vả lại phải lấy dân làm gốc, đó là thượng sách giữ nước của đấng quân vương. Quốc Tuấn có tư chất từ nhỏ. Lớn lên, dung mạo khôi ngô, tuấn tú, tài trí hơn người. Trước khi mất, cha ông dặn phải lấy cho được thiên hạ. Ông ghi nhớ lời cha nhưng không cho là phải. Sau ông đem chuyện ấy kể cho gia nô và hai người con trai nghe để phân định người hiền tài, kẻ bạc nhược nhỏ nhen. Tất thảy đều rõ ràng hết cả. Quốc Tuấn có công lớn, được Vua ban thưởng, gia phong là Thượng quốc công, Vua còn cho phép ông được quyền phong tước cho người khác. Nhưng ông chưa bao giờ phong tước cho ai. Quốc Tuấn từng soạn sách để kêu gọi, khích lệ binh tướng xả thân cứu nước giúp Vua. Ông lại khéo tiến cử rất nhiều người hiền tài cho đất nước. Bản thân Đại Vương cũng từng ra quân hàng trăm trận, lập nên cône nghiệp hiếm có, tiếng vang còn truyền đến tận mai sau. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn-Ngữ văn 10
2,448
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hồi trống cổ thành – Ngữ văn 10 Hướng dẫn HỒI TRỐNG CỔ THÀNH (Trích hồi 28 – Tam quốc diễn nghĩa – LA QUÁN TRUNG) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.La Quán Trung (1330 – 1400?) tên La Bản, hiệu Hồ Hải tản nhân, người Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây cũ. La Bản tính tình cô độc, lẻ loi, thường thích một mình ngao du đây đó. Khi nhà Minh được thành lập, ông chuyên tâm sưu tầm và biên soạn dã sử. Tác phẩm hiện còn: Tam quốc diễn nghĩa, Tuỳ Đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện,… La Quán Trung là người đầu tiên có đóng góp xuất sắc cho sự hình thành và phát triển của trường phái tiểu thuyết lịch sử thời Minh Thanh ở Trung Hoa. 2.Tam quốc diễn nghĩa thuộc loại tiểu thuyết chương hồi, ra đời vào thời Minh (1368 – 1644), gồm 120 hồi, kể về cục diện “cát cứ phân tranh”’trong thời gian gần 100 năm của nước Trung Quốc thời Tam quốc – với ba tập đoàn phong kiến Nguỵ, Thục, Ngô (thế kỉ II và III). Trong tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, các sự kiện được trần thuật theo trình tự thời gian; tính cách nhân vật được khắc hoạ chủ yếu qua hành động và ngôn ngữ đối thoại. 3.Đoạn trích Hồi trống cổ Thành thuộc hồi 28, kể lại sự kiện anh em Quan Công, Trương Phi hội ngộ. La Quán Trung thể hiện nổi bật tính cách bộc trực, ngay thẳng của Trương Phi, đồng thời ngợi ca tình nghĩa “vườn đào” cao đẹp của anh em Lưu Bị, Vân Trường, Trương Phi. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Trong Tam quốc diễn nghĩa, Trương Phi là một con người ngay thẳng, không chấp nhận bất cứ một sự quanh co, lắt léo nào, với kẻ thù chỉ có thể nói chuyện bằng gươm đao. Vì thế, dù rất nặng lòng trung nghĩa và coi trọng lời thề son sắt năm xưa nhưng khi nghe tin Quan Công hàng Tào Tháo, Trương Phi đã nổi giận và chỉ chờ có dịp được giáp mặt Vân Trường để nói rõ đen trắng bằng giáo gươm. Trương Phi nổi giận vì nghĩ Quan Công không còn trung tín, phản bội lời thề bỏ anh theo Tào Tháo, phụ nghĩa “vườn đào”. Thế nên khi vừa nghe tin Quan Công đến, Trương Phi mới hành động một cách vô cùng bộc trực: Phi “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm”, chẳng nói chẳng rằng lến ngựa đi tắt… múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công. 3.Ý kiến cho rằng “nóng như Trương Phi” còn là nóng lòng muốn biết sự thực, nóng lòng xác định phải trái, đúng sai, chứ không chỉ là nóng nảy do cá tính gàn dở là có lí. Nói Trương Phi là người nóng tính vì nhân vật này thiếu sự bình tĩnh trước tình huống đột ngột khó giải quyết. Con người này thường hay phản ứng tức thì, thiếu những suy nghĩ chín chắn. Nhưng cũng là người không chịu được những lắt léo, quanh co nên trước mọi sự hồ nghi, Trương Phi đều có mong muốn nhanh chóng làm cho rõ trắng đen, phải trái. Tính cách cương trực của Trương Phi có mặt tốt là sự thẳng thắn. Thế nhưng cũng có khi, dễ dẫn đến những hành động lỗ mãng và thô bạo. Nhìn chung đoạn trích đã khắc hoạ khá sinh động, chân thực và điển hình tính cách của Trương Phi. 4.Tam quốc diễn nghĩa giàu màu sắc của thể loại sử thi anh hùng. Nó rền vang âm hưởng anh hùng ca chiến trận với những con người và những sự việc to lớn, siêu phàm. Mỗi hồi trong truyện giống như một màn kịch ngắn căng thẳng và hấp dẫn, có dẫn dắt, có diễn biến, có cao trào và có phần giải quyết. Ở trong đoạn trích này, chi tiết Trương Phi thẳng tay giục trống cho Quan Công ra trận là cao trào của truyện. Nó khiến cho cuộc hội ngộ và giải oan của những người anh hùng thực sự mang màu sắc của một bản hùng ca. Hồi trống giục vừa là thước đo tài năng của Quan Công, vừa thể hiện tính cách bộc trực của Trương Phi, vừa tạo ra không khí hào hùng – Không khí của cái thời Tam quốc phân tranh. Nó làm cho đoạn vằn đậm đà không khí chiến trận và khí phách anh hùng, đậm đà cái “ý vị Tam quốc” III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Tóm tắt đoạn trích: Quan Công đưa hai chị sang Nhữ Nam. Kéo quân đến cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đã cướp được thành và đang ở đó. Quan Công mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đốn hai chị. Trương Phi khi ấy đang tức giận, nghe tin báo liền sai quân lính mở cổng thành, rồi một mình một ngựa vác bát xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nống giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung âãa Quan Công dù cả hai vị phu nhân và Tôn Càn đã hết lời thanh minh, nói rõ sự thật. Giữa lúc đang bối rối chưa biết giải quyết ra sao thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận vì nghĩ Quan Công cho quân lính đến bắt mình. Trương Phi buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa dứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Quan Công bắt một tên lính đến kể rõ cho Trương Phi nghe những việc lúc ở Hứa Đô. Bấy giờ, Trương Phi mới tin anh là thực. Trương Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công. 2.Những chi tiết nghệ thuật làm nổi bật lên tính cách của nhân vật Trương Phi: -Trương Phi trong khi đang chờ nghe ngóng tin của Huyền Đức, một hôm “chợt đi qua Cổ Thành, vào huyện vay lương thực. Quan huyện không cho vay. Phi nổi giận đuổi quan huyện đi, cướp lấy ẩn thụ, chiếm thành…”. -Khi nghe tin Quan Công đến, Phi “chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa, dẫn một nghìn quân, đi tắt ra cửa bắc…”. -Thấy Quan Công, “Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”. -Khi đối thoại với anh, Trương Phi dùng những lời thẳng thắn có pha sự tức giận và lỗ mãng như đang nói chuyện với kẻ thù vậy: “Trương Phi hầm hầm quát: Mày đã bội nghĩa […] tao quyết liều sống chết với mày,… -Thế nhưng khi mọi sự đã rõ ràng hết cả, Trương Phi lại hồn nhiên như đứa trẻ “rỏ nước mắt khóc, thụp lạy Vân Trường”. Chuỗi những chi tiết nghệ thuật trên đây đã khắc hoạ khá rõ nét tính cách xốc nổi, bộc trực của Trương Phi, một nhân vật đã in sâu trong tâm trí của mỗi người như là một biểu tượng về hình ảnh con người chính trực, thẳng thắn nhiều khi đến đơn giản thậm chí có phần thô lỗ. 3.Trương Phi là con người “thẳng như làn tên bắn, sáng như tấm gương soi”, trực tính, không biết quanh co, mọi sự đều thích đen trắng phải rõ ràng… Vì thế, chỉ vừa mới nghe tin Quan Công đến liền nổi giận đùng đùng, “chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa”. Khi trông thấy Quan Công thì “mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công”. Kế đó, Phi lại gạt phắt qua một bên lời thanh minh hộ Vân Trường của hai chị dâu và của Tôn Càn để thẳng tay giục trống. Nhìn chung, Trương Phi cương trực, nói là làm; nhiều khi hành động đơn giản, lỗ mãng, có lúc thô bạo. Khác với Trương Phi, Quan Công tỏ ra rất độ lượng và từ tốn trong ứng xử. Trước thái độ có phần ngang ngược và xốc nổi của người em kết nghĩa, Quan Công nhún mình để thanh minh. Thanh minh không được, Quan Công viện đến hai chị giải thích, rồi cuối cùng sẵn sàng chấp nhận điều kiện khắc nghiệt để minh oan… Dù tính cách của các nhân vật có phần phức tạp, song nhìn chung, bằng tài năng khắc hoạ tính cách nhân vật thông qua hành động, La Quán Trung đã làm nổi bật lên ở cả Trương Phi lẫn Vân Trường vẻ đẹp uy vũ, siêu phàm và trung nghĩa của những người anh hùng chiến trận. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hồi trống cổ thành – Ngữ văn 10
1,542
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hứng trở về – Ngữ văn 10 Hướng dẫn HỨNG TRỞ VỀ (Quy hứng) Nguyễn Trung Ngạn I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370) tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, ngựời làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là An Thi., Hưng Yên), đỗ Hoàng giáp năm 16 tuổi, từng làm đến chức Thượng thư. Ông để lại tác phẩm Giới Hiên thi tập. 2.Bài thơ Hứng trở về là bài thơ thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả. Tình yêu ấy thế hiện bằng nỗi nhớ quê hương và sự gắn bó tha thiết với cuộc sống hết sức bình dị ở quê nhà. Nỗi nhớ quê da diết thôi thúc tác giả quay về dù dang sống sung sướng giữa chốn phồn hoa. II.HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Nỗi nhớ quê hương luôn là cảm xúc thường trực của người li khách. Điều đáng lưu ý là ở bài thơ này, nỗi nhớ ấy được gợi lên bằng những hình ảnh vô cùng quen thuộc: cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chín, lúa trổ bông sớm thoang thoảng hương thơm, cua đang lúc béo… Tất cả những hình ảnh này đều rất giàu sức gợi bởi nó gắn bó máu thịt với cuộc đời của mỗi con người, nhất là với những ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn. 2.Thở văn trung đại nói nhiều đến lòng yêu nước và người ta cũng có nhiều cách khác nhau để biểu đạt điều này. Với bài thơ “Quy hứng’’, cái tình đối với đất nước, non sông có thêm một cung bậc nữa – đó là nỗi lòng của kẻ li hương. Quy hứng mở đầu bằng nỗi nhớ quê da diết của người li khách. Nhưng nó không được nói bằng những ngôn từ trực tiếp mà là bằng những hình ảnh dân dã quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Xa quê có ai không xúc động khi nghĩ về nong tằm, ruộng dâu, nghĩ về những ruộng lúa với những bông lúa mới trổ hoa hương đưa thoang thoảng hay nghĩ về một bữa canh cua giản dị mà ngon ngọt đến,khó phai. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CÁO BỆNH, BẢO MỌI NGƯỜI – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Hứng trở về – Ngữ văn 10
388
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Lầu Hoàng Lạc – Ngữ văn 10 Hướng dẫn LẦU HOÀNG HẠC (Hoàng Hạc Lâu) Thôi Hiệu I.HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Nhan đề bài thơ là Lầu Hoàng Hạc nhưng ngoài sự xác định vị trí của lầu Hoàng Hạc ở “nơi đây”, còn lại toàn bài không nói gì về “lầu”. Dụng ý mà nhà thơ muốn nói đến ở đây là chuyện quan hệ giữa “người xưa” với “người nay”, giữa thời gian quá vãng và không gian mở rộng, giữa hư với thực, giữa cảnh với tình,… 2.Tất cả “cảnh” – cảnh xưa và nay, cảnh xa và gần, cảnh thực và hư,… cảnh nào cũng đẹp. Thế nhưng tất cả lại khiến cho người buồn (sử nhân sầu). Bởi dường như đối diện với cái đẹp hoàn mĩ của thiên nhiên, của nghệ thuật, của cuộc đời, của tình người… ta bỗng bâng khuâng nhận ra hình như mình chưa thật vẹn toàn, hình như mình đang khuyết thiếu một điều gì đó giúp ta tròn đầy. Phải chăng vì thế ta buồn vì chưa xứng đáng với những điều tốt đẹp hoàn mĩ ngoài kia. 3.Bài thơ có 56 chữ thì 55 chữ đều bước “chuẩn bị” cho một chữ sầu “đậu” xuống, kết đọng trong tâm. Chữ sầu đến như là một sự tất yếu nhưng không phải nó tự rơi xuống một cách vô duyên. Nó là kết quả của một quá trình soi ngắm, suy nghĩ, liên tưởng và tái tê trong lòng của con người. Con người cô đơn đúng giữa cái nơi mà vốn nổi tiếng với những lần li biệt thì dẫu thế nào cũng khó có thể vui. Không những thế cảnh vật, không gian, thời gian,., và cả cái tình cảnh đặc biệt của nhà thơ nữa (khách li hương) càng không có cái lí gì ngăn được sự xuất hiện của chữ sầu. Chữ sầu trong câu thơ cuối không phải là một sự xuất hiện bất ngờ nhưng nó chính là giọt sầu làm cho cả bát sầu kia tràn ra tất cả và vương vấn muôn nơi.
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Lầu Hoàng Lạc – Ngữ văn 10
351
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Lời Tiễn Dặn – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM: LỜI TIỄN DẶN (Trích “Tiễn dặn người yêu”- Truyện thơ dân tộc Thái) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Truyện thơ Tiễn dặn người yêu Tiễn dặn người yêu(xồng chụ xon xao) là một truyện thơ nổi tiếng của dân tộc Thái. Câu chuyện kể về sự trắc trở trong tình yêu và hôn nhân của đôi bạn tình người Thái. Hai người tuy làm bạn với nhau từ nhỏ, lớn lên lại yêu thương gắn bó nhưng không lấy được nhau vì gia cảnh của bạn trai quá nghèo hèn. Cô gái bị cha mẹ gả cho một nhà giàu rồi cô gái lại bị bán vào cửa quan. Cuối cùng tàn tạ, cô gái bị đem ra chợ bán. Lúc ấy đâu ngờ, chàng trai đã “mua” đuợc cô gái với giá chỉ bằng một cuộn lá dong. Cuối cùng, họ nhận ra nhau rồi về sống với nhau cho trọn lời ước cũ: “Không lấy được nhau mùa hạ, sẽ lấy nhau mùa đông. Không lấy nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi goá bụa về già”. 2.Đoạn trích Lời tiễn dặn Lời tiễn dặn là đoạn trích miêu tả rất rõ tâm trạng của chàng trai trên đường tiễn cô gái về nhà chồng và phải chứng kiến cảnh khi ở nhà chồng, cô gái bị chính người chồng đánh đập. II.HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Tâm trạng của chàng trai trên đường tiễn người yêu về nhà chồng. Như vậy, lúc tiễn đưa, chàng trai sống trong tâm trạng dằn vặt, day dứt khổ đau. Phải chăng chính vì thế mà hai câu thơ cuối đoạn như là một sự phá phách. Nó khẳng định cái ý chí quyết tâm đoàn tụ của cả hai ngưòi. 2.Tâm trạng, hành động của cô gái lúc bước chân về nhà chồng. Đoạn thơ là lời của chàng trai, vì thế tâm trạng của cô gái chỉ là gián tiếp. Tuy được biểu hiện qua ánh mắt và suy nghĩ của chàng trai, thế nhưng, chúng ta vẫn có thể nhận ra. cô gái dường như cũng muốn níu kéo cho dài ra những giây phút cuối cùng ở bên chàng trai. Cô gái chân bước đi mà đầu “còn ngoảnh lại” mắt còn “ngoái trông anh”, chân bước càng xa thì lòng càng đau đớn,… chính từ các tâm trạng ấy mà cứ mỗi lần qua một cánh rừng cô gái đều lấy đó là cái có; để mà dừng lại đợi chờ chàng trai. Văn bản này đã lược đi đoạn mà cô gái bị chồng đánh ngã lăn ra bên miệng cối gạo, bên “máng lợn vầy”. Đoạn trích bắt đầu từ hành động chạy lại nâng đỡ cô gái dậy, phủi áo. chải tóc cho cô của chàng trai. Sau đó, chàng trai còn đi chặt tre về làm ống làm thuốc cho cô ‘‘uống khỏi đau”. Những hành động ấy rõ ràng biểu lộ niềm xót xa thương cảm của anh đối với nỗi đau của cô gái. Một sự cảm thông, đó là điều mà cô gái đang rất cần trong hoàn cảnh ấy. Từ nỗi xót xa, trong lòng chàng trai bỗng bật lên ý chí quyết tâm đưa cô gái về đoàn tụ với mình. Từ câu thơ “Tơ rối đôi ta cùng gỡ” đến hết đoạn chính là những câu thơ thể hiện cho cái ý chí và quyết tâm ấy. 4.Đoạn trích có sử dụng rất nhiều câu thơ có sự trùng điệp từ, kiểu câu,… Ví dụ: -Vừa đi vừa ngoảnh lại Vừa đi vừa ngoái trông… -Chết ba năm hình còn treo đó Chết thành sông, vục nước uống mát lòng … Chết thành hồn, chung một mái song song. -Yêu nhau, yêu trọn đời gỗ cứng Yêu nhau, vêu trọn kiếp đến già,… Thể hiện nghệ thuật bằng cách sử dụng nhiều câu thơ với nhiều hình ảnh so sánh tương đồng, những hình ảnh ẩn dụ liên tiếp hay lớp lớp những câu có một cấu trúc cú pháp chung, tác giả dân gian muốn nhấn mạnh sự thuỷ chung son sắt trong tình yêu của đôi bạn trẻ. Nó cũng đồng thời khẳng định cái ý chí và ước mơ đoàn tụ không gì lay chuyển nổi của chàng trai và cô gái. Chọn cách diễn đạt như vậy, tác giả dân gian đã mã hoá ngôn ngữ một cách thành công những cảm xúc dâng trào dâng mãnh liệt trong lòng của những con người sống chất phác, mạnh mẽ giữa thiên nhiên núi rừng hùng vĩ.
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Lời Tiễn Dặn – Ngữ văn 10
754
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Nhàn – Ngữ văn 10 Hướng dẫn NHÀN Nguyễn Bỉnh Khiêm I.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI Nội dung: Với lời thơ tự nhiên, giản dị mà giàu ý vị, bài thơ Nhàn thổ hiện được một cách sâu sắc cái thú và ý nghĩa triết lí trong lối sống nhàn dật mà tác giả đã lựa chọn. Đó là quan niệm sống nhàn là hoà hợp vói tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi.. 1.Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh người trí sĩ ẩn cư nhàn dật. Nhân vật trữ tình này xuất hiện trong lời thơ với nhũng chi tiết về cách sống, cách sinh hoạt và quan niệm sống: tự cuốc đất trồng cây, đào củ, câu cá; chọn nơi vắng vẻ, không thích nơi ồn ã; ăn uống, tắm táp thoải mái, tự nhiên; coi phú quý tựa giấc mộng. Âm hưởng hai câu thơ đầu đã gợi ra ngay cái vẻ thung dung. Nhịp thơ 2/ 2/ 3 cộng với việc dùng các số từ tính đếm (một…, một…, một…) trước các danh từ mai, cuốc, cần câu cho thấy cái chủ động, sẵn sàng của cụ Trạng đối với cuộc sống điền đã, và còn như là chút ngông ngạo trước thói đòi. 2.Thi nhân lòng thanh thản, quên hẳn chốn phồn hoa đô hội, cát vẩn bụi lầm, chọn nơi thuần hậu nuức biếc non xanh làm vui. Đối lập với nơi vắng vẻ là chốn lao xao. Nơi vắng vẻ chính là cảnh nhàn, là nơi không chen chúc cầu cạnh danh lợi, là nơi tâm trí lâng lâng, thanh thản. Chốn lao xao là chốn tấp nập ngựa xe, đủ đầy yến tiệc, kẻ hầu người hạ, nhưng cũng lắm bon chen, thủ đoạn, luồn cúi và sát phạt lẫn nhau. Sự đối lập giữa “Ta dại” và “Ngưòi khôn” trong câu 3-4 mang nhiều hàm ý: vừa để khẳng định sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả, vừa thể hiện sắc thái trào lộng, thái độ mỉa mai đối với cách sống ham hố danh vọng, phú quí. Theo đó, cái dại của “ta” là cái “ngu dại” của bậc đại trí, với trí tuệ lớn, thấu triệt lẽ thịnh suy, vong tồn của cuộc đời, sống thanh thản, nhàn dật, thuận lẽ tự nhiên. Cho nên, nơi “ta” chọn là “nơi vắng vẻ”, nghĩa là nơi có thể tĩnh tại, sống an nhàn, không có tranh giành “tư lợi” theo sở thích của “ta”. Còn “người khôn” mà chọn “Đến chốn lao xao”, nghĩa là nơi ồn ã, ở đó con người chen chúc, xô đẩy nhau để giành giật lợi danh, thì lại hoá ra “dại” vậy. “Khôn” – “dại”, “nơi vắng vẻ” – “chốn lao xao” là những quan niệm sống, cách lựa chọn rất khác nhau. Măng trúc, giá đỗ là những thức ăn quê mùa dân dã, đạm bạc mà thanh cao vì đây là cây nhà lá vườn do chính tự công sức mình làm ra. Ăn là vậy, còn ở, còn sinh hoạt? Thì cũng tắm hồ, tắm ao như bao kẻ mộc mạc chân quê khác, chẳng hề bận rộn những đòi hỏi, phiền toái cầu kì. Tuỳ mùa, tuỳ thời, thời nào thức nấy cuộc sống thi nhân tuy đạm bạc mà không khổ hạnh, tuy bình dị mà thanh cao. Hai câu luận làm thành một bộ tranh tứ bình có cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với các cảnh sinh hoạt thụ hưởng gồm đủ mùi vị sắc hương mà lại hết sức thanh thoát, nhẹ nhàng, thanh cao mà đạm bạc. 4.Hai câu thơ cuối bài thể hiện tập trung, sâu sắc quan niệm triết lí nhân sinh của tác giả. Hai câu này lấy tích trong truyện đời Đường. Chuyện kể về Thuần Vu Phần là một viên tướng tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái, bị quở mắng nên từ chức về nhà, lấy uống rượu làm vui. Một hôm, Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây hoè, mơ thấy mình được làm phò mã cho vua nước Hoè, được hưởng giàu sang phú quý, tỉnh dậy mới biết đó chỉ là giấc mơ. Tác giả mượn điển tích này để bộc lộ thái độ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh phú quý chi là giấc chiêm bao, không có thực, qua đó khẳng định thêm một lầii nữa sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình. Lánh đời ẩn dật, cách ứng xử đó của tác giả,có vẻ tiêu cực. Nhưng trong hoàn cảnh nào đó, khi muốn giữ gìn nhân cách, sự thanh thản, tĩnh tại cho mình, đó lại là cách ứng. xử tích cực. 5.“Ông nhàn là người sống với tư cách là một cá nhân, chứ không phải với tư cách thành viên của một cộng đồng nào đó, là một con người có lạc thú, chứ không phải chỉ có chức năng, nghĩa vụ. Sống dưới chế độ chuyên chế theo Nho giáo, con người bị trói buộc bởi hai sợi dây: nghĩa và phận. Phận vạch ranh giới cho từng người, quy định mức cho mỗi người được ngồi, đứng, nói năng, xưng hô, ăn, ở. Nghĩa nhắc nhở mọi người có trách nhiệm đối với người trên kẻ dưới,… Trong xã hội tổ chức như vậy, con người không được coi mình là cá nhân – độc lập, có cái riêng của mình, không được nghĩ đến lạc thú. Do đó tìm nhàn dật là tìm cái vui cho thân tâm, tránh cái luỵ hình dịch, là tìm thoát khỏi sự ràng buộc chặt chẽ mà vô hình của thể chế chuyên chê theo Nho giáo,… Ông nhàn tự coi mình là cá nhân không bị ràng buộc. Nhưng một mặt không thể coi cá nhân là cô độc, coi cái “tôi” là trung tâm. Cho nên cố tránh ràng buộc bàng cách từ bỏ danh lợi, không đi con đường công danh, giành phận vị, coi thường giàu nghèo, sang hèn. Đứng ngoài sự ràng buộc của phận. Để có chút thoải mái đó, ông nhàn phải chủ động tự hạn chế: không cậy tài, yên phận, không tranh giành và không động lòng về lời khen, tiếng chê. Tuy có nhàn thân nhưng chẳng nhàn tâm. Tuy nhàn nhưng vẫn ưu ái với đời khác hẳn với lối sống nhàn độc thiện kí thân (làm tốt cho riêng mình). Nêu cảm nhận chung của anh (chị) về cuộc sống, nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn. “Nhàn” là một chủ đề lớn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn theo quan niệm của nhà thơ là sống thuận lợi theo lẽ tự nhiên, không màng danh lợi. Bài thơ này là lời tâm sự về cuộc sông và sở thích cá nhân. Nó cũng đồng thời thể hiện một quan niệm nhân sinh độc đáo của nhà thơ. Bài thơ mở đầu bằng những ngôn từ thật vô cùng giản dị: Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Đó là cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của cụ Trạng. Nó thuần hậu và thanh khiết biết bao. Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác nguyên sơ của cái thời “nước giếng đào, cơm cày ruộng”. Cuộc sống tự cung tự cấp mà vẫn ung dung ngông ngạo trước thói đời. Hai câu đầu còn là cái tâm thế nhàn tản, thong dong. Nhịp cầu thơ nghe như nhân vật trữ tình đang nhẹ nhàng đếm bước: một… một… một… Đến hai câu luận nhà thơ lại tiếp tục nhấn thêm một chút tình điệu thôn quê nữa để người đọc cảm nhận thực sự được cái vui của “cuộc sống nhàn”; Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Vẫn là những ngôn từ giản dị, vẫn là những hình ảnh nghệ thuật dân dã, đời thường, vậy mà hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm “sang trọng” biết bao. Nó chẳng những không gợi ra vẻ gì khắc khổ mà còn toát lên toàn bộ vẻ thanh cao. Thanh cao trong cách ăn uống sinh hoạt và cả trong cái niềm thích thú khi được hoà mình vào cuộc sống thiên nhiên. Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế, rất giản dị, rất tự nhiên mà vẫn thanh cao và thú vị vô cùng. Nếu chỉ đọc bốn câu thơ miêu tả về cuộc sống, chúng ta có thể nghĩ ngay đến hình ảnh một bậc danh nho đang muốn lánh đời. Thế nhưng trở về với hai câu thực, chúng ta sẽ hiểu hơn cái quan niệm “lánh đời” của nhà thơ: Người khôn, người đến chôn lao xao. Vậy ra, Tuyết Giang phu tử về với thiên nhiên là để thoát ra khỏi vòng danh lợi, thoát ra khỏi chốn nhiễu nhương đầy những ganh tị, bon chen. Hai câu thơ diễn ý bằng nói ngược. Vì thế nó tạo cho người đọc một liên tưởng thật hóm hỉnh, sâu cay. Câu thơ đúng là trí tuệ sắc sảo của một bậc đại quan – trí tuệ để nhận ra cái khôn và cái dại thật sự ở đời. Hai câu thơ kết khép lại bằng một phong thái ung dung tự tại: Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Hai câu thơ chẳng biết đang vẽ cảnh đời hay tiên cảnh. Ở đó. nhân vật trữ tình cũng không biết đang tỉnh hay mơ. Tất cả cứ hoà cùng làm một dưới cái nhãn quan tỏ tường và thông tuệ của nhà thơ. Như vậy, qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm coi thường danh lợi, luôn giữ đươc tâm hồn thanh cao hoà hợp với thiên nhiên, đề cao lối sống của những nhà Nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng đa hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật. Bên cạnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí. Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn Đường luật, điển tích điển cố và cách phép đối thường gập ở thể thơ Nôm một cách linh hoạt. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT TIẾP THEO – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Nhàn – Ngữ văn 10
1,742
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Nỗi oán của người Phòng Khuê-Ngữ văn 10 Hướng dẫn NỖI OÁN CỦA NGƯỜI PHÒNG KHUÊ (Khuê oán) Vương Xương Linh HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Điểm độc đáo của Khuê oán là ở cấu tứ. Với chỉ bốn câu và vẻn vẹn trong 28 chữ, tác giả vẫn thể hiện được quá trình chuyển biến tâm trạng của người khuê phụ. Tâm trạng ấy từ “bất tri sầu” (vô tư) sang “hối” (hối tiếc và hối hận). Cái bản lề của tâm trạng ấy là câu: Liễu là màu của mùa xuân và tuổi trẻ. Nó cũng là màu của sự li biệt. Nhìn vào mình, cô gái thấy tuổi trẻ đang bị trôi đi. Còn nhìn về phía chinh phụ thì mịt mù thăm thẳm. Hoàn cảnh ấy không thể không khiến cho người thiếu phụ sầu hận, xót thương. 2.Như nỗi ở câu 1, màu dương liễu vừa là màu của mùa xuân, của tuổi trẻ, vừa là màu li biệt, tâm trạng người khuê phụ lập tức đổi thay ngay: từ vô tư, nàng bắt đầu hối hận vì để chàng đi tìm kiếm tước hầu, từ hối hận, nàng chuyển sang oán thán cái ấn phong hầu, oán ghét chiến tranh phi nghĩa. 3.Chỉ với 28 chữ, Khuê oán xứng đáng được coi là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa của con người thời Đường. Đọc bài thơ ta không thấy nói đến chiến tranh nhưng ta lại có thể cảm nhận thấy rất rõ chiến tranh, chiến tranh đang ăn mòn cuộc sống con người. Nó không nhũng chôn vùi tuổi trẻ của cả những người đang đứng trước hòn tên mũi đạn mà còn chôn vùi cả những người vợ, người mẹ,… đang mong ngóng nơi quê hương, xứ sở. Không chỉ thế, chiến tranh còn làm mất đi sự lạc quan yêu đời và niềm tin yêu phơi phới vào cuộc sống,… Với nhũng điều như thế thì dù không trực tiếp nói ra nhưng bài thơ vẫn sục sôi tinh thần phản đối chiến tranh.
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Nỗi oán của người Phòng Khuê-Ngữ văn 10
348
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Nỗi Thương Mình – Ngữ văn 10 Hướng dẫn NỖI THƯƠNG MÌNH (Trích Truyện Kiều -NGUYỄN DU) I- KIẾNTHỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Vị trí của đoạn trích Sau khi rời khỏi quê nhà, Kiều bị Mã Giám Sinh đưa đến lầu xanh. Biết mình bị lừa, lại bị mụ Tú Bà ép phải ra tiếp khách, nàng đã rút dao để quyên sinh nhưng không chết. Sợ mất cả vốn lẫn lời, Tú Bà bèn lấy cớ đưa nàng ra ở lầu Ngưng Bích rồi tính kế cùng Sở Khanh lừa Kiều chạy trốn. Kiều nhẹ dạ nghe theo, bị Tú Bà cho quân đuổi theo bắt được. Kiều không thể tự biện bạch được cho mình đành phải chấp nhận cúi đầu ra tiếp khách. Đoạn trích này tả lại tình cảnh trớ trêu mà Kiều đã gặp phải và nỗi niềm thương xót của Kiều trong những ngày ở lầu xanh, Đoạn trích Nổi thương mình trích từ câu 1229 đến câu 1248 trong Truyện Kiều. 2.Về nghệ thuật, đoạn trích tiếp tục cho thấy khả năng nắm bắt và diễn tả tâm lí nhân vật một cách sâũ sắc của Nguyễn Du. Các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng một cách linh hoạt và hiệu quả, đặc biệt là hình thức đối. II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Đoạn trích có thể chia thành ba đoạn: -Đoạn 1: Từ đầu đến câu “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”. Phần này giới thiệu khái quát cuộc sống ở lầu xanh và tình cảnh trớ trêu của Thuý Kiều. Đoạn này chủ yếu là ngôn ngữ tác giả. -Đoạn 2: (Từ câu “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh” đến câu “Những mình nào biết có xuân là gì”) thể hiện tâm trạng cô đơn, chán ngán của Thuý Kiều khi phải sống trong cảnh đắng cay nhơ nhuốc ở lầu xanh. -Đoạn 3: Phần còn lại. Trong đoạn này, Nguyễn Du chủ yếu dùng cảnh để nói lên tâm trạng cô đơn, đau khổ của Kiều. Bút pháp ước lệ thể hiện rõ trong hình ảnh: bướm ong, cuộc say, trận cười ; hoặc trong việc sử dụng những điển cố, điển tích Tống Ngọc, Trường Khanh, mưa Sở, mây Tần. Bút pháp ước lệ tạo ra một cách nói đậm chất văn chương, giúp tác giả vượt qua được sự khó khăn trong việc thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình. Ví dụ hình ảnh cuộc sống của Thuý Kiều ở lầu xanh (một vấn đề khá tế nhị), nhờ được thể hiện qua bút pháp ước lệ nên vẫn hiện ra một cách chân thực (do đó tạo nên chất phê phán hiện thực của tác phẩm). Mặt khác, cũng nhờ những hình ảnh ước lệ, mà chân dung của nhân vật Thuý Kiều vẫn hiện lên với những phẩm chất cao đẹp (qua đó thể hiện thái độ trân trọng, đầy cảm thông của nhà thơ đối với nhân vật). 3.Một trong những thành công về nghệ thuật của đoạn trích này đó là việc sử dụng rất hiệu quả các hình thức đối xứng. Phép đối đã được nhà thơ triệt để khai thác nhằm tô đậm nỗi thương thân xót phận của nhân vặt Thuý Kiều. Có đối xứng trong bốn chữ, ví dụ: bướm lả / ong lơi, lá gió / cành chim, dày gió / dạn sương, bướm chán / ong chường, mưa Sở / mây Tần, gió tựa / hoa kê. Hình thức đối xứng này góp phần rất lớn vào việc làm nổi bật thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ, và cảm giác đau đớn, xót xa của nhân vật. Thủ pháp đối xứng còn xuất hiện giữa hai câu lục / bát: Khi sao phong gấm rủ là / Giờ sao tan tác như hoa giữa đường (đối lập gay gắt giữa quá khứ êm đềm hạnh phúc và hiện tại đầy nghiệt ngã); Mặt sao dày gió dạn sương / Thân sao bướm chán ong chường bấy thân! (nhấn mạnh có ý so sánh: nỗi đau về sự nhuốc nhơ của thân thể còn đau khổ hơn là sự bẽ bàng chua chát trên vẻ mặt); Mặc người mưa Sở mây Tần/ Những mình nào biết cố xuân là gì (đối lập mang ý so sánh giữa người với ta). Các hình thức đối xứng này dù có những chức năng khác nhau tuỳ theo mỗi cặp đối, nhưng đều có tác dụng nhấn mạnh ý nhằm tạo nên cái nhìn đa chiều về nỗi niềm thương thân xót phận của nhân vật. 4.Thơ ca trung đại vốn thiên về nói chí. Theo đó, cái ta chung thường được nói đến nhiều hơn cái tôi. Người ta có vẻ cũng đã quen với những tác phẩm văn chương mà nội dung chủ yếu là những vấn đề lớn lao có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh quốc gia, dân tộc. Thế nhưng bước sang thế kỉ XVIII, hàng loạt những tác phẩm văn chương nêu cao tư tưởng nhân văn, nhấn mạnh khía cạnh cá nhân của con người ra đời. Có thể nói, ở trong đoạn trích này, “Nỗi thương mình” của Thuý Kiều cũng đã góp vào văn học một ý nghĩa sâu sắc và mới mẻ xét về sự tự ý thức của con người cá nhân trong lịch sử văn học trung đại. 5.Trong lịch sử đọc Truyện Kiều, đã có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh lời khen của chàng Kim đối với Thuý Kiều trong màn tái ngộ: Như nàng lấy hiếu làm trinh, Bụi nào cho đục được mình ấy vay. Thực ra đây là cuộc tranh luận diễn ra trong một thời gian khá dài về việc Thuý Kiều “trinh” hay “dâm”, (xem thêm: Những cuộc tranh luận nghệ thuật thế kỉ XX của Nguyễn Ngọc Thiện). Cuộc tranh luận cuối cùng đã ngã ngũ với phần đông độc giả ủng hộ quan niệm tiến bộ của chàng Kim khi đánh giá về Thuý Kiều. Khách quan là vậy. Song có thể thấy rằng, ngay trong quan niệm của Nguyễn Du, ngay trong đoạn trích này, tâm hồn của Thuý Kiều vẫn ánh lên vẻ đẹp của sự cao thượng, trắng trong dù nàng đã từng phải sống giữa chốn lầu xanh. Nguyễn Du đã không né tránh thực tế nghiệt ngã, nhưng nhà thơ nhân đạo vĩ đại đã đề cao nhân cách của Kiều, phẩm giá của Kiều khi diễn tả một cách sâu sắc nỗi buồn, nỗi đau khổ và chán chường của nàng khi phải cam phận lưu đày giữa chốn lầu xanh.
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Nỗi Thương Mình – Ngữ văn 10
1,104
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Ra-ma buộc tội Hướng dẫn RA-MA BUỘC TỘI (Trích Ra-ma-ya-na – sử thi Ân Độ) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Tóm tắt đoạn trích Ra-ma là hoàng tử trưởng của nhà vua Đa-xá-ra-tha. Khi vua muốn truyền ngôi cho Ra-ma thì thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua phải đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm. Xi-ta là vợ của chàng và Lắc-ma-ta, em trai cũng tình nguyện đi theo Ra-ma. Khi thời gian đày ải sắp hết Xi-ta bị quỷ Ra-va-na bắt cóc, cuốn nàng trong vạt áo. Ra-ma đã chiến đấu một cách dũng cảm và cứu được Xi-ta. Nhưng nghi ngờ nàng đã không còn trọn vẹn danh tiết sau nhũng ngày sống trong tay quỷ Ra-va-na, chàng đã từ bỏ nàng trước mặt mọi người. Vì để chúng minh sự trong sạch của mình và cho cả Ra-ma nên Xi-ta đã bước lên giàn hỏa thiêu tự vẫn. Nhưng do nàng trong sạch nên thân lửa A-nhi đã đem nàng trả cho Ra-ma. Ra-ma và Xi-ta quay về kinh đô cai quản đất nước khiến cho muôn dân được ấm no, hạnh phúc. 2.Đoạn trích là thử thách cuối cùng của Ra-ma và Xi-ta trên con đường tìm về hạnh phúc và danh vọng. Bằng lối kể chuyện kịch tính và nghệ thuật khắc hoạ tính cách rất điển hình, tác giả đã cho chúng ta thấy được quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về người anh hùng, về đấng quân vương mẫu mực và về người phụ nữ lí tưởng trong xã hội. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.a. Sau chiến thắng, Ra-ma và Xi-ta gặp lại nhau trong một không gian cộng đồng trước sự chứng kiến của tất cả mọi người: -Anh em, bạn hữu của Ra-ma (Lắc-ma-na, Xu-gri-va, Ha-nu-man). -Đội quân của loài khỉ. -Quan quân và dân chúng của vương quốc quỷ. b. Có thể nói, màn gặp gỡ giữa Ra-ma và Xi-ta trong một không gian cộng đồng, giữa đông đủ mọi người, đã chi phối rất nhiều đến tâm trạng cũng như ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma và Xi-ta. -Với Ra-ma, lúc này chàng không chỉ đúng trên tư cách là một người chồng mà còn trên tư cách một người anh hùng, một đấng quân vương. Với tư cách ấy, chàng ở trong một hoàn cảnh vô cùng khó xử: vừa yêu thương, xót xa cho vợ, nhưng vẫn phải giữ bổn phận gương mẫu của một đức vua anh hùng: “Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với nhũng cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt. Nhưng vì sợ tai tiếng, chàng bèn nói với nàng, trước mặt nhũng người khác…”. 2.Theo lời tuyên bố của Ra-ma thì chàng giao tranh với quỷ Ra-va-na, tiêu diệt hắn để giải cứu Xi-ta vì danh dự người anh hùng bị xúc phạm khi Ra-va-na dám cướp vợ của chàng. Chàng ruồng bỏ Xi-ta vì danh dự không cho phép người anh hùng chấp nhận một người vợ đã chung chạ với kẻ khác “Người đã sinh trưởng… một vật để yêu thương”. Tuy nhiên, cũng không phủ nhận được rằng trong thái độ ruồng bỏ Xi-ta của Ra-ma có sự ghen tuông của người chồng. Như vậy, nhìn khía cạnh nào, chúng ta cũng thấy Ra-ma hành động bằng lí trí bởi chàng phải là khuôn mẫu đạo đức cho dân chúng noi theo, chàng phải hi sinh những tình cảm cá nhân vì những đòi hỏi của cộng đồng. Để nhấn mạnh bổn phận và danh dự, chúng ta thấy Ra-ma lặp đi lặp lại nhiều lần những từ ngữ liên quan đến tài năng và danh dự (nhân phẩm, tiếng tăm, uy tín, gia đình cao quý, dòng họ lùng lẫy, trả thù sự lăng nhục,…) của một đức vua cao quý, anh hùng. Khi Xi-ta bước lên giàn lửa thiêu, Ra-ma cũng căng thẳng vô cùng. Có thể nói đó cũng là một thử thách vô cùng khó khăn với chàng bởi Ra-ma không thể nghĩ rằng hành động của Xi-ta lại quyết liệt như vậy. Ở vào một tình thế “tiến thoái lưỡng nạn” vì thế mà: “Vào lúc đó, chẳng ai trong đám bạn hữu dám nói gì với Ra-ma, hoặc nhìn, vào chàng, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần chết.” 3.Khi bị đẩy vào bước đường cùng, Xi-ta mặc dù vô cùng đau đớn nhưng nàng vẫn bình tĩnh đưa ra những lời thanh minh thấu tình, đạt lí. Xi-ta được miêu tả trong chiều sâu của bi kịch về tình yêu và danh dự. Nàng đau khổ vì bị oan, bị xúc phạm. Nàng “đau đớn đến nghẹn thở”. Nàng “xấu hổ cho số kiếp của nàng”, nàng muốn chết ngay “muốn tự chôn vùi cả cái hình hài của mình”. Nàng vô cùng đau đớn trước những lời buộc tội của Ra-ma, nàng cảm thấy như muôn nghìn mũi tên “xuyên vào trái tim nàng”. Nàng khóc “nước mắt nàng đổ ra như suối” – buộc tội Ra-ma. Nàng khẳng định: “trái tim thiếp đây thuộc về chàng”. Chàng chưa hiểu được thiếp qua tình yêu và tâm hồn thiếp. Tại sao khi Ha-nu-man trinh sát tới đảo Lan-ka, chàng không nhắn nhủ lời “từ bỏ thiếp để thiếp sớm tự kết liễu đời mình”. Nếu chàng tự hào dòng dõi cao quý thì thiếp có kém gì: ‘’Đất là mẹ của thiếp”. Nếu Ra-ma mỉa mai, gọi Xi-ta là “Hỡi phu nhân cao quý!” thì Xi-ta cũng đàng hoàng đáp lại “Hỡi đức vua!” (và trách) “Cớ sao hồi còn thanh niên chàng đã cưới thiếp?”. -Xi-ta nhảy vào giàn hoả thiêu là một cảnh vô cùng bi tráng. Ra-ma “khủng khiếp như thần chết”. Các thánh thần thì tự hào nhìn Xi-ta nhảy vào lửa “chẳng khác nào một đồ cúng trong lễ tế sinh”. Đông đảo phụ nữ thì “kêu khóc thảm thương”. Loài ma quỷ như Va-na-ra. Rak-sa-xa cũng “kêu khóc vang trời”. -Hình ảnh Xi-ta đàng hoàng tự tin. Nàng “lượn quanh” Ra-ma như để chào vĩnh biệt. Nàng lạy chư thần cao quý thiêng liêng. Nàng cất lời nguyền với Thần A-nhi: khắng định mình bị oan, một phụ nữ trinh tiết bị coi như một kẻ gian dối; tự hào về lòng trong trắng thuỷ chung trong tình yêu cúi xin thần ‘‘bảo vệ con”, “phù hộ cho con”. Ta hãy nghe lời cầu nguyện của nàng Xi-ta: “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm hết cách bảo vệ con. Ra-ma đã coi một người phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối: nhưng nếu con trong trắng, xin Thần A-nhi phù hộ cho con”. Đọc “sử thi Ra-ma-ya-na” như ta biết, ngọn lửa sáng rực như mặt trời, nàng Xi-ta lộng lẫy kiều diễm trong ngọn lửa. Thần lửa A-nhi đã chứng minh và cứu sống nàng. Ra-ma dang đôi tay đón Xi-ta, nước mắt chan hoà sung sướng vừa ân hận, vừa tự hào. Cảm nghĩ của bản thân trước cảnh Xi-ta bước vào lửa Hình ảnh nhảy vào lửa của Xi-ta là chi tiết mang tính huyền thoại. Nếu đọc tiếp chương 80 sẽ thấy: Thần A-nhi hiện ra mang Gia-na-ki trong vạt áo trông như mặt trăng lấp lánh, trang sức, y phục đỏ những cuộn tóc đen nhánh của nàng, phất phơ ở phía sau. Lửa không thể thiêu đốt những vòng hoa, đồ trang sức hay quần áo của nàng. Thần A-nhi nhân chứng cho mọi việc trao nàng Gia-na-ki cho Ra-ma và nói: “Hỡi Ra-ma, Gia-na-ki của người đây. Nàng trong sáng. Nàng không phạm bất kì tội lỗi nào bằng lời nói, việc làm hay ý nghĩ”. Nàng tuyệt thế giai nhân đã nộp mình cho lửa theo phong tục của người Ấn Độ. Nàng không chết. Chi tiết này càng làm tăng thêm chất bi hùng của Ra-ma, Xi-ta rõ ràng mang yếu tố nửa thần nửa người. Cho nên thần linh là bất tử, Xi-ta không bị lửa thiêu còn vì phẩm chất tốt đẹp của nàng. Nàng đem thân mình thử lửa đệ chứng minh tình yêu đức hạnh, thuỷ chung. Nhưng nếu như không có phép màu thần linh thì phải chăng kết cục cả một cuộc đời yêu thương và chung thuỷ thật thê thảm. Cảnh Xi-ta bước lên giàn hoả thiêu vừa hào hùng vừa bi thương, khiến quan quân dân chúng cả hai phe, anh em, bạn hữu xúc động mãnh liệt. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM UY-LÍT-XƠ TRỞ VỀ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Ra-ma buộc tội
1,435
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Thái Sư Trần Thủ Độ -ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ (Trích Đại Việt sử kí toàn thư- NGÔ Sĩ LIÊN) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Trần Thủ Độ là một nhân vật lịch sử đặc biệt, từng được xem là nhà chính trị có nhiều mưu mô, thủ đoạn, thậm chí có lúc tàn nhẫn. Nhưng đánh giá một cách khách quan, ông lại là người trung thành và mưu trí, có công lớn trong việc khai sáng, phò trợ nhà Trần. 2.Vẫn bằng lối kể chuyện hấp dẫn, với các tình tiết có chọn lọc, đoạn trích này đã khắc hoạ đậm nét hình ảnh vị quan đầu triều Trần Thủ Độ với những phẩm chất chí công vô tư, nghiêm minh, liêm khiết. Hình ảnh của ông quả thực có rất nhiều ý nghĩa trong thời đại ngày nay. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Những tình tiết liên quan đến Trần Thủ Độ, có khả năng bộc lộ tính cách của ông. Trong đoạn trích có bốn tình tiết góp phần bộc lộ các khía cạnh trong tính cách của Trần Thủ Độ: -Có người mách vua về sự chuyên quyền của Trần Thủ Độ, nhưng Trần Thủ Độ không những không biện bạch cho bản thân và tỏ lòng thù oán mà còn công nhận lời nói phải và thưởng cho người dám dũng cảm vạch lỗi của mình. Qua đó có thể thấy ông là người công minh, độ lượng và có bản lĩnh. Với ông, việc làm hữu ích cho nước, cho dân mới là câu trả lời cho tất cả. -Có người chạy chọt nhờ Linh Từ Quốc Mẫu xin cho làm chức câu đương, Trần Thủ Độ đã dạy cho tên này một bài học: muốn làm chức quan ấy hắn phải chịu bị chặt một ngón chân để phân biệt với những người khác do “Ngươi vì có Công chúa xin cho”. Qua đây có thể thấy ông chủ động gìn giữ sự công bằng của phép nước, bài trừ tệ nạn chạy chọt, đút lót, dựa dẫm thân thích. -Vua muốn phong chức cho người anh của Trần Thủ Độ, nhưng ông không đồng ý. Ông thẳng thắn trình bày quan điểm: chỉ nên chọn lựa người giỏi nhất, có thể là anh mình, có thể là mình, không nên hậu đãi cả hai anh em sẽ làm rối việc triều chính. Qua đó có thể thấy Trần Thủ Độ luôn đặt việc công lên trên, không tư lợi, không gây bè kéo cánh. Những tình tiết trên đã góp phần làm nổi bật bản lĩnh và nhân cách Trần Thủ Độ: cương trực, độ lượng, liêm khiết, vô tư, luôn đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân, gia đình. Điều này càng có ý nghĩa hơn bởi Trần Thủ Độ đang giữ chức quan cao nhất trong triều, quyền hành lớn đều nằm trong tay ông vì vua đang tuổi còn nhỏ. Trần Thủ Độ luôn gương mẫu, tôn trọng pháp luật. -Sử gia Ngô Sĩ Liên đã xây dựng nhiều tình huống giàu kịch tính, tuy rất ngắn, nhưng mỗi câu chuyện đều có xung đột, với kết cấu thắt nút, cao trào và mở nút. Sức hấp dẫn của truyện không chỉ ở cách kể chuyện đặc sắc mà còn ở sự hàm súc của ngôn từ. Các câu chuyện chỉ được kể chứ không kèm theo những lời bình luận. Cách kể ấy đã giúp người đọc phát huy được nhiều hơn tính chủ động của mình trong việc đánh giá nhân vật trung tâm. -Ở cả ba tình huống, khi xung đột được đẩy đến cao trào, người đọc đã rất bất ngờ về cách giải quyết không theo lô gích thông thường của Trần Thủ Độ. Ở mỗi tình huống ông lại có một cách giải quyết riêng khiến người đọc vừa bất ngờ lại vừa khâm phục. Chính cách xây dựng nhân vật như vậy mà đoạn trích càng đọc càng hấp dẫn và thú vị hơn. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Thái Sư Trần Thủ Độ -ngữ văn 10
703
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Thơ Hai-cư của Ba-Sô – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM: THƠ HAI-CƯ CỦA BA-SÔ Ma-su-ô Ba-sô I.HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Bài 1: Là nỗi cảm hoài về Ê-đô (Tô-ki-ô ngày nay). Đã mười mùa sương xa quê, mười năm đằng đẵng nhà thơ sống ở Ê-đô. Có một lần quay về quê cha đất tổ ông lại không thể nào quên được Ê-đô. Tình yêu quê hương đất nước đã hoà vào một. Bài 2: Ki-ô-tô là nơi Ba-sô sống thời trẻ sau đó ông lại chuyển đến Ê-đô. Hai mươi năm sau đó trở lại Ki-ô-tô nghe tiếng chim đỗ quyên hót ông làm bài thơ này. Bài thơ là sự hoài cảm qua tiếng chim đỗ quyên, loài chim báo hiệu mùa hè, tiếng khắc khoải gọi lại kỉ niệm một thời tuổi trẻ. Đó là tiếng lòng da diết xen lẫn buồn, vui, mơ hồ về một thời xa xăm. 2.Bài 3: Một mớ tóc bạc di vật còn lại của mẹ, cầm trên tay mà Ba-sô rung rưng dòng lệ. Nỗi lòng thương cảm, xót xa khi mẹ không còn. Hình ảnh “làn sương thu” mơ hồ gọi ra nỗi trống trải bởi công sinh thành dưỡng dục chưa được báo đền. Bài 4: Nỗi buồn nhân thế. Bố mẹ đẻ con ra mà không nuôi được vì nghèo đói mà mang bỏ con vào rừng sâu. Sự thực ấy đi vào thơ gợi lên biết bao nỗi buồn tê tái. Tiếng vượn hú không phải rùng rợn mà não nề cả gan ruột, không còn là nỗi buồn mà là nỗi đau nhân thế —> gửi vào gió mùa thu tái tê —> Giá trị thơ Ba-sô tới đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo. 4.Bài 6: Bài thơ này miêu tả cảnh mùa Xuân. Quanh hồ Bi-wa có trồng rất nhiều hoa anh đào. Mỗi khi gió thổi, cánh hoa anh đào lại rụng lả tả như mây. Cánh hoa hồng nhạt, mong manh rụng xuống mặt hồ cho mặt hồ gợn sóng. Cảnh tượng ấy thể hiện sự tương giao của các vật trong vũ trụ. Triết lí sâu xa nhưng lại được thể hiện bằng những hình tượng giản dị, nhẹ nhàng. Đó chính là cảm xúc thẩm mĩ của bài thơ. Bài 7: Bài thơ ra đời trong một lần Ba-sô leo lên núi đá để thăm chính điện chùa Riu-sa-ku-ji. Tiếng ve là thanh, đá là vật. Nhưng trong cảnh u tịch, vắng lặng của chiều tà, khi tất cả đều im ắng hết lại có thể nghe được tiếng ve rền rĩ như nhiễm vào, như thấm vào đá. Liên hệ đó độc đáo, kì lạ mà không hề khoa trương. 5.Bài 8: Bài thơ này viết ở Ô-sa-ka (năm 1694). Đây là bài thơ từ thế của ông. Trước đó, ông đã thấy mình yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân trời vô tận. 6.Quý ngữ và cảm xúc thẩm mĩ về cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền trong các bài 6, 7, 8. Bài 6: Hoa đào – mùa xuân. Bài 7: Tiếng ve – mùa hè. Bài 8: Cánh đồng hoang vu (cánh đồng khô) – mùa đông. Thơ hai-cư, nhất là thơ hai-cư của Ba-sô có những nét thẩm mĩ độc đáo riêng biệt thật cao, và rất tinh tế, đề cao cái vắng lặng (Sa bi), đơn sơ (wabi), u huyền (yugen): -Lả tả. -Gợn sóng. -Vắng lặng. -Lãng du, phiêu bạt, hoang vu. XEM THÊM HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY MỘT SỐ VẤN ĐỀ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Thơ Hai-cư của Ba-Sô – Ngữ văn 10
589
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Thề Nguyền – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM THỀ NGUYỀN (Trích Truyện Kiều – NGUYỄN DU) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Vị trí đoạn trích Sau ngày tết Thanh minh, Kim Trọng chuyển hẳn đến gần nhà Thuý Kiều thuê trọ và tình yêu giữa hai người bắt đầu chớm nở. Nhân ngày cả gia đình sang chơi bên ngoại, Kiều đã chủ động gặp gỡ và tâm sự với chàng Kim. Chiều tà, nàng trở về nhà nhưng được tin mọi người vẫn còn ở bên nhà ngoại, nàng lại quay trở lại nhà Kim Trọng. Đêm ấy, dưới ánh trăng vằng vặc, hai người đã cùng nhau thề ước nguyện sống trọn đời chung thuỷ với nhau. Đoạn trích này, đoạn từ câu 429 đến câu 450 trong Truyện Kiều, kể lại cụ thể diễn biến nội dung việc ấy. 2.Đoạn trích Thề nguyền thể hiện khá rõ quan niệm về tình yêu rất tiến bộ của Nguyễn Du. Vẫn bằng sự kết hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ kể và tả, giữa ngôn ngữ tác giả và nhân vật, Nguyễn Du đã đặc tả cái không khí khẩn trương, gấp gáp, vội vã nhưng vẫn trang nghiêm, thiêng liêng của đêm thề ước. Màn thề ước diễn ra thoáng chốc song cũng rất phù hợp với cơn bão tố sắp ào đến vùi dập tình yêu và biết bao ước mơ đẹp đẽ của Thuý Kiều. 1.Trong cái sự vội vã của Thuý Kiều, độc giả nhận ra được sự chuyển biến tất yếu trong tình yêu của đôi trai tài gái sắc, nhưng dường như điều đó cũng chứng tỏ Kiều đang bị ám ảnh bởi định mệnh. Vì thế cái không khí của đêm thề ước diễn ra vội vàng và gấp gáp. Để diễn tả điều này, Nguyễn Du đã dùng hai từ “vội” và “xăm xăm”. Nó nói lên cái nhịp điệu khẩn trương của cuộc thề nguyền. Kiểu như tranh đua với thời gian và định mệnh đang ám ảnh mà cũng vì tình yêu với Kim Trọng mà Kiều vội vã, khẩn trương đến với chàng Kim. Đây là một nét mới trong cách nhìn tình yêu của Nguyễn Du. Ngày xưa, trong quan hệ nam nữ, thông thường bao giờ người con trai cũng phải đóng vai trò chủ động. Nhưng ở đây, Nguyễn Du đã nhấn mạnh sự chủ động của Kiều. Đó là một cái nhìn rất tiến bộ có ý nghĩa vượt thời đại của đại thi hào Nguyễn Du. 2.Không gian thơ mộng và thiêng liêng của đêm thề nguyền được tả bằng các hình ảnh: ánh trăng nhặt thưa, ngọn đèn hiu hắt. Đồng thời chính ‘Tiêhg sen khẽ động giấc hoè” (tiếng bước chân nhẹ nhàng của người đẹp) đã tạo cho Kim Trọng cảm giác đang sống trong mơ (Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng). Rồi nó được thắp sáng hơn, thơm hơn và ấm áp hơn từ sự nhiệt thành nhưng cũng đầy cung kính của Thuý Kiều và Kim Trọng. Không gian thề nguyền thật đẹp, nhưng có cảm giác hư ảo, không có thực. Có lẽ ngay trong trường đoạn thề nguyền, đính ước, nhà thơ đã muốn tạo cho người đọc cái linh cảm về sự mong manh dễ vỡ của cuộc tình này. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CHÍ KHÍ ANH HÙNG – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Thề Nguyền – Ngữ văn 10
575
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Trao Duyên – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TRAO DUYÊN (Trích Truyện Kiều – NGUYỄN DU) I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Vị trí của đoạn trích Gia đình Thuý Kiều bị thằng bán tơ vu oan giá hoạ. Bọn sai nha nhân cơ hội đó gây nên vụ án oan sai. Tài sản gia đình bị vơ vét hết, Thuý Kiều đành phải chấp nhận hi sinh mối tình với Kim Trọng, bán mình lấy tiền đút lót cho bọn sai nha để cứu cha và em khỏi những đòn tra khảo dã man. Việc bán mình thu xếp đã xong xuôi, đêm trước khi đi theo Mã Giám Sinh, Thuý Kiều đã ngồi trắng đêm nghĩ đến phận mình và tình yêu, rồi nàng nhờ em gái mình là Thuý Vân thay mình kết duyên cùng Kim Trọng. Đoạn trích Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 của Truyện Kiều. 2.Đoạn trích Trao duyên thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của Thuý Kiều. Qua cái nhìn hiện thực và nhân đạo của Nguyễn Du, Thuý Kiều hiện ra không chỉ với tư cách “con người hoàn thành bổn phận” mà còn thiết tha với tình yêu, với cuộc sống riêng tư của mình. Cách nhìn mới mẻ này, vượt ra khỏi những khuôn ntẫu giáo huấn cứng nhắc của Nho giáo thời bấy giờ. 3.Đoạn trích cũng đồng thời cho thấy tài năng xuất sắc của Nguyễn Du trong việc khám phá và thể hiện những quy luật nội tâm sâu sắc của con người. II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Trong Truyện Kiều, đã có rất nhiều lần Thuý Kiều phải đứng trước những quyết định khó khăn, nhưng có lẽ không có quyết định nào khiến nàng phải dằn vặt nhiều như lúc nàng trao duyên cho Thuý Vân. Có thể nói đó chỉ là một màn trao duyên về hình thức bởi Kiều trao duyên cho em mà dường như cái tình đối với Kim Trọng như càng thêm sâu nặng. Trong khi nói với Thuý Vân, Kiều tưởng mình đang sống lại không khí của đêm thề nguyền thiêng liêng. Kỉ niệm nào cũng gợi nỗi nhớ, kỉ vật nào cũng phong kín nghĩa tình sâu nặng của Thuý Kiều. Kiều sống bằng hồi ức, trong hồi ức nên thấy tất cả đều đẹp, nhưng không thể níu lại. 2.Tình yêu tan vỡ, đớn đau và tuyệt vọng, Kiều nghĩ nhiều đến cái chết, cái chết của cuộc đời riêng tư và cái chết định mệnh của kẻ tài hoa. Kiều hình dung ra thân phận mình qua mẫu hình bạc phận của Đạm Tiên: “Trông ra ngọn cỏ lá cây – Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”… Các từ ngữ “hồn”, “dạ đài”, “người thác oan”,… thể hiện sự ám ảnh về cái chết, nói về cái chết đau thương. Qua lớp từ ngữ cùng trường nghĩa đó, ta thấy sự băn khoăn day dứt của Nguyễn Du trước nỗi đau của con người. Nó là tiếng nói thương thân xót phận cho người con gái tha thiết yêu thương nhưng số kiếp lại vô cùng nghiệt ngã đã cướp đi tất cả những ước mơ tốt đẹp của nàng. 3.Xét về hình thức, ta thấy toàn bộ đoạn trích là lời thoại của Kiều nói với Thuý Vân. Tuy nhiên có lúc, ta lại như thấy nàng đang đối thoại với Kim Trọng: Trăm nghìn gửi lạy tình quân, Phận sao phận bạc như vôi! Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng. Cũng có khi nàng tự nói với chính mình (những từ ngữ và hình ảnh gợi lại kỉ niệm tình yêu hoặc những câu như: “Hồn còn mang nặng lời thề – Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”;“Bây giờ trâm gãy gương tan – Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân… đều là những lời tự nói với chính mình). Việc chuyển đổi đối tượng trong đối thoại của Thuý Kiều đã giúp ta nắm bắt được những biến chuyển tâm lí một cách tinh tế của nhân vật. Thuý Kiều mở đầu màn trao duyên bằng những lời ràng buộc Thuý Vân nhưng nếu đoạn trích chỉ đơn thuần là những lời căn dặn Thuý Vân thì chắc chắn cảm xúc của Thuý Kiều không đạt tới cao trào, bi kịch thân phận và tình yêu của nàng không lên đến đỉnh điểm và nhân cách cao đẹp của Kiều cũng không có điều kiện bộc lộ. Kiều trao duyên mà tình thì không trao được, càng không thể nói hết nỗi lòng đớn đau, tuyệt vọng, nuối tiếc, xót xa,… của mình khi trước mắt mình chỉ có Thuý Vân. Kiều trao duyên mà dường như càng muốn níu kéo nó mạnh mẽ hơn. Vì thế phần hay nhất trong đoạn trích chính là những lời mà Kiều nói với bản thân mình. Đó là những dằn vặt đau nhói tận tâm can mà không dễ gì có ai chia sẻ được. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Cái tình của Thuý Kiều sâu sắc và cao thượng chính là vì thế. 4.Nguyễn Du khắc hoạ tính cách Kiều qua rất nhiều tình huống mâu thuẫn. Trước mâu thuẫn tình – hiếu, ta thấy Kiều chấp nhận hi sinh tình yêu trong trắng của mình. Đứng giữa một bên tình một bên nghĩa, Kiều nhận thức được sự tất yếu phải nhờ em trả nghĩa chàng Kim. Có lúc Kiều hành động thiên về bổn phận có khi nàng ứng xử nghiêng về nghĩa tình. Kiều tỉnh táo để chấp nhận mệnh bạc. Kiều day dứt đớn đau vì sống trọn vẹn, sâu sắc với tình yêu đầu đời. Kiều được sống chân thực và tự nhiên với tất cả đời sống tình cảm của con người. Nguyễn Du không biến Kiều thành một tấm gương đạo đức đơn giản. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Trao Duyên – Ngữ văn 10
1,015
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Tào Tháo uống rượu luận anh hùng – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM TÀO THÁO UỐNG RƯỢU LUẬN ANH HÙNG (Trích hồi 21 – Tam quốc diễn nghĩa – LA QUÁN TRUNG) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG Đoạn trích này trích từ hồi 21. Lúc này ba anh em Lưu Bị, Vân Trường, Trương Phi đang nhẫn nhịn, nương náu trên đất của Tào Tháo để chờ thời cơ mưu nghiệp lớn. Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, kết hợp với nghệ thuật xây dựng nhân vật tài tình, đoạn trích đã thể hiện rất sắc sảo và thành công tính cách đối nghịch của hai người anh hùng Tào Tháo và Lưu Bị. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN 1.Tâm trạng và tính cách của Lưu Bị khi phải ở nhờ Tào Tháo. Lưu Bị có chí làm việc lớn nhưng khi thời cơ chưa đến đành phải nương nhờ Tào Tháo. Vốn là kẻ túc trí đa mưu nên Tào Tháo đã phần nào đoán được ý của Lưu Huyền Đức. Huyền Đức cũng không phải không biết điều này, vì thế trong thời gian nương nhờ Tào Tháo, Lưu Bị hành sự vô cùng cẩn trọng, song có thể nhận thấy tâm trạng của Lưu Bị vẫn rất lo lắng hoang mang. Khi bị Tào Tháo triệu đến bất ngờ, Huyền Đức “sợ tái mặt”. Lúc ngồi uống rượu, Lưu Bị lại càng dè dặt. Cũng may ở tình tiết cuối cùng (khi đánh rơi thìa và đũa), Lưu Bị đã có được một cách ứng phó thông minh, tránh được sự nghi ngờ của Tào Tháo. 2.Qua cách đối xử với Lưu Bị và cách đánh giá những nhân vật anh hùng (những người mà Lưu Bị đề xuất), có thể đánh giá về tính cách của Tào Tháo như sau: Trong cuộc đối ứng với Lưu Bị, Tào Tháo đã chứng tỏ rất rõ sự kiêu căng ngạo mạn của mình. Không những một tay gạt đi tất cả các anh hùng trong thiên hạ, Tào Tháo còn tự cao tự đại đắc ý tự cho mình là anh hùng và ngầm ý xếp trên Lưu Bị. Qua cách ứng xử của Tào Tháo, có thể thấy, Tháo là một kẻ gian hùng (đa nghi, nham hiểm và tàn bạo). Song cũng phải nhận rằng, Tào Tháo rất thông minh, cơ trí và ngoan cường. Dường như càng thông minh bao nhiêu, Tào Tháo càng đa nghi bấy nhiêu; càng cơ trí bao nhiêu thì càng nham hiểm bấy nhiêu; càng ngoan cường bao nhiêu thì càng tàn bạo bấy nhiêu. Tính cách của Tào Tháo là sự kết hợp bởi cái uy hùng và cái gian hùng. 3.Sự khác nhau giữa tính cách của Lưu Bị và Tào Tháo. Trong truyện cũng như trong quan niệm đánh giá của dân gian, Lưu Bị vẫn được xem là người giàu đức độ. Trong đoạn trích, Lưu Bị giống như một tấm gương soi để soi rõ lòng dạ nham hiểm của Tào Tháo. Trái với sự nham hiểm, tàn bạo, xảo trá của Tào Tháo, Lưu Bị lấy lòng thành, dùng nhân nghĩa mà đối đãi với người. Nhờ thế mà Bị mới được lòng dân chúng khắp nơi. Ngược,lại, như trên đã nói, Tào Tháo là một kẻ gian hùng, ứng xử với đời bằng nhiều thủ đoạn. Sự khác nhau cơ bản trong tính cách giữa Lưu Bị và Tào Tháo nằm ở chữ Đức. Tào Tháo làm mọi việc, kể cả những việc tàn nhẫn để đạt được ý định của mình, trong khi đó, Lưu Bị, thậm chí có thể hi sinh lợi ích riêng tư vì niềm vui của thiên hạ. La Quán Trung có cách dẫn chuyện lôi cuốn, hấp dẫn. Lựa chọn điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri (người kể biết trước hết mọi sự việc), tác giả đã tạo ra một trò chơi trốn tìm đầy bất ngờ và giàu kịch tính giữa một người quyết trốn và một kẻ quyết tìm. Người trốn tinh và khéo, người tìm sắc sảo, cơ trí. Đoạn trích hấp dẫn còn bởi, thái độ của tác giả trong việc khen chê rất rành rọt, các nhân vật được bố trí sắp xếp thành hai phía đen, trắng đối lập nhau, rất điển hình và mẫu mực. XEM THÊM HƯỚNG DẪN TÁC PHẨM HỒI TRỐNG CỔ THÀNH – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Tào Tháo uống rượu luận anh hùng – Ngữ văn 10
741
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng Hướng dẫn TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) Lí Bạch I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Lí Bạch (701 – 762),tự Thái Bạch, nguyên quán ở tỉnh Cam Túc. lón lên ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Lí Bạch là một trong hai nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường. Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói vêu đời, lạc quan, hào phóng. 2.Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng; là một trong những bài thơ tiêu biểu cho mảng đề tài tình cảm bạn bè trong thơ Lí Bạch. Bài thơ kể về một cuộc chia tay nhưng là để gợi lên tình bạn chân thật, giản dị. Trong sáng và vô cùng sâu sắc. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Bài thơ của Lí Bạch gần như chỉ thuần tả cảnh. Thế nhưng trong cảnh vẫn hiện lên đằm thắm cái tình, sở dĩ có điều ấy là vì bài thơ có một sợi dây liên tưởng được tạo nên bởi những hình ảnh và những mối quan hệ chặt chẽ với nhau: -Mối quan hệ không gian được tạo lập bởi ba hình ảnh: lầu Hoàng Hạc (một thắng cảnh nổi tiếng, biểu tượng cho sự chia li) – thành Dương Châu (nơi bạn nhà thơ sắp đến – một thắng cảnh đô hội phồn hoa). Ở giữa hai địa danh ấy là dòng Trường Giang rộng mênh mông và xa hun hút. Dù Lí Bạch có tiễn bạn đến chốn phồn hoa thì buổi chia tay ấy cũng đâu có giấu được nỗi buồn. Lầu Hoàng Hạc đã gợi buồn, khoảng cách giữa mình với nơi bạn đến còn gợi buồn hơn. -Mối quan hệ con người: Tác giả. chỉ dành giới thiệu qua hai chữ “cố nhân”. Thế nhưng chỉ với hai chữ đó, tự nó đã gợi ra mối quan hệ gắn bó thân thiết từ lâu giữa bạn với nhà thơ. Có thể nói giải mã được các mối quan hệ này, chúng ta sẽ cảm nhận rõ và sâu sắc hơn cái tính sâu sắc và kín đáo của nhà thơ. 2.Sông Tràng Giang là một huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Vào mùa xuân hẳn phải có rất nhiều thuyền bè xuôi ngược. Vậy mà người đưa tiễn chỉ thấy có một cánh buồm đơn chiếc (cô Phàm) của cố nhân cứ dần dần lùi sân vào nước xanh mênh mang thăm thẳm. Cái tình của Lí Bạch sâu sắc cũng là ở chỗ ấy. Tiễn bạn mà cứ nhìn chăm chăm vào bóng thuyền của bạn cho đến khi khuất hắn ấy là tấm lòng đã định hướng cho đôi mắt. Người ra đi cô đơn, người đưa tiễn cũng cô đơn, bịn rịn, luyến lưu. III.LUYỆN TẬP 1.Cái hay của thơ Đường là ở chỗ thể hiện được những “ý ở ngoài lời”. Bài thơ của Lí Bạch cũng sắc sảo và tài hoa như thế: -Trước hết, các địa danh được nói đến trong bài (Hoàng Hạc, Dương Châu) đều là những địa danh giàu sức gợi. Nói đến lầu Hoàng Hạc, người ta có thể liên tưởng ngay đến nỗi sầu li biệt. Cũng vậy ở trong bài thơ này, sự xuất hiện của địa danh Hoàng Hạc làm cho cuộc chia li của tác giả với bạn thêm xúc động và da diết hơn. Địa danh Dương Châu cũng gợi ra nỗi buồn vì nó giúp ta liên tưởng đến cảnh tượng đối lập: người đi đến chốn phồn hoa đô hội >< người ở lại buồn bã, cô đơn. -Hình ảnh cánh buồm càng ngày càng xa thực chất để gợi lên cái tình của nhà thơ: có yêu quý bạn mới đứng lâu như vậy để dõi theo “bóng buồm” của bạn cho đến lúc không còn nhìn thấy nữa. 2.Các nhà thơ Đường rất trọng tình bạn: Vạn lạng hoàng kim còn dễ kiếm, Thế gian tri kỉ thật khó tìm. Quả đúng là như vậy, bạn bè dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng vô cùng quan trọng và đáng quý đối với mỗi chúng ta. Nó giúp cho cuộc sống của chúng ta thêm đáng yêu và đáng trọng. Ở thời nào cũng vậy, bạn của ta có người tốt và người xấu. Điều quan trọng là ta biết “chọn bạn mà chơi”. Người bạn tốt cũng giống như ngọn đèn sáng trong đêm, không chỉ chiếu sáng cho người mà còn chiếu sáng cho ta. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM HỨNG TRỞ VỀ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Tại Lầu Hoàng Hạc Tiễn Mạnh Hạo Nhiên Đi Quảng Lăng
808
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Tỏ Lòng – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TỎ LÒNG (Thuật Hoài) Phạm Ngũ Lão I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Hào khí Đông A Hào khí Đông A là hào khí đời Trần (chữ Đông và chữ A trong tiếng Hán ghép lại thành chữ Trần). Cụm thuật ngữ này từ lâu đã được dùng để chỉ cái không khí oai hùng, hào sảng của thời Trần (thời kì mà chúng ta có những chiến công lững lẫy khi cả ba lần đều đánh tan sự xâm lược của giặc Nguyên – Mông). Hào khí Đông A là chỉ cái khí thế hừng hực của niềm vui chiến thắng, chỉ cái khát khao mang tính thời đại mà ở đó ai ai cũng muốn góp sức dựng xây hay dang tay bảo vệ cho sự vững bền mãi mãi của non sông đất nước mình. Hào khí Đông A từ xã hội đi vào, thơ văn trở thành sự kết tinh cho những biểu hiện cao đẹp của lòng yêu nước. Có không ít tác phẩm nổi tiếng mang hơi thở của hào khí Đông A: Thuật Hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão, Tụng giá hoàn kinh sư (Phò giá về kinh) của Trần Quang Khải, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn,… 2.Tỏ lòng là một bài thở ngắn nhưng lại mang đậm dấu ấn của cả một thời (dấu ấn về âm hưởng của hào khí Đông A). Bài thơ là một bức tranh kì vĩ, hoành tráng bởi vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao. Bài thơ cũng là vẻ đẹp của thời đại với khí thế hào hùng mang tinh thần quyết chiến và quyết thắng. 1.Điểm khác nhau giữa câu thơ đầu trong nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch, ta thấy hai từ “múa giáo” chưa thể hiện được hết ý nghĩa của hai từ “hoành sóc”. “Hoành sóc” là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ non sông. Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, từ “hoành sóc” đều tạo ra cảm giác kì vĩ và lớn lao hơn. Trong câu thơ đầu này, con người xuất hiện trong bối cảnh không gian và thời gian đều rộng lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi (cáp kỉ thu). Con người cầm cây trường giáo (cũng đo bằng chiều ngang của non sông), lại được đặt trong một không gian, thời gian như thế thì thật là kì vĩ. Con người hiên ngang ấy mang tầm vóc của vũ trụ, non sông. 2.Câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” có hai cách hiểu: Thứ nhất, ta có thể hiểu là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” nhưng cũng có thể giải thích theo cách khác, với cách hiểu là: Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những có được đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn (như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật,…). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói: cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm đổi thay trời đất. 4.Trong câu thơ cuối, nỗi “thẹn” đã thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão “thẹn” vì chưa có được tài năng mưu lược như Vũ Hầu – Gia Cát Lượng (Khổng Minh – đời Hán) để giúp dân cứu nước, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà nhiệm vụ khôi phục giang sơn, đất nước còn quá bộn bề. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là nhữnng day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này. Đó là những nỗi thẹn có giá trị nhân cách – nỗi thẹn của những con người có trách nhiệm với đất nước, non sông. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Tỏ Lòng – Ngữ văn 10
713
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Uy-Lít-Xơ trở về – Ngữ văn 10 Hướng dẫn UY-LÍT-XƠ TRỞ VỀ (Trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp) I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Tóm tắt đoạn trích: Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ “hồi quân” trở về quê hương. Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà. Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ. Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi. Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế. Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,.,. Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê huơng I-tác. về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, Vợ chàng không nhận ra. ểe trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó. Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng. Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội. 2.Đoạn trích là cảnh gặp gỡ của hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách nhưng nó diễn ra không bình thường mà trở thành một cảnh nhận mặt. Trong cảnh ấy, các nhân vật đã thử thách lẫn nhau để tìm về hạnh phúc. Câu chuyện là bài ca về vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng hạnh phúc của người Hi Lạp. Nó nhắc nhở ta tình cảm gia đình bao giờ cũng rất cao quý, thiêng liêng. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Cảnh này có thể chia thành hai đoạn: Đoạn một từ đầu đến “…người kém gan dạ” và đoạn hai là đoạn còn lại. -Đoạn 1: có các sự việc: + Nhũ mẫu ơ-ri-clê báo tin nhưng Pê-nê-Iốp không tin + Nhũ mẫu thề thốt đưa ra những chứng cứ Pê-nê-lốp vẫn không tin nhưng vẫn xuống dưới nhà “để xem xác chết của bọn cầu hôn và người giết chúng”. + Tê-lê-méc trách mẹ, Pê-lê-lốp trả lời và cho biết sẽ nhận ngườ đó là chồng nếu ông ta trả lời được bí mật về “những dấu hiệu riêng mà chỉ có hai người biết với nhau”. + Uy-lít-xơ lên tiếng cho rằng vợ chưa nhận ra mình vì vẻ ngoài rách rưới, bẩn thỉu. -Đoạn 2: có các sự việc: + Uy-lít-xơ xuất hiện trong trang phục nghiêm chỉnh. Chi tiết chiếc giường xuất hiện nhưng Pê-nê-Iốp vẫn chưa chịu nhận đấy là chồng mình. Chi tiết xuất hiện lần thứ hai. + Uy-lít-xơ nói ra bí mật chiếc giường, lúc đó Pê-nê-lốp mới chịu thừa nhận người đang đối thoại với mình, đang đứng trước mặt mình chính là Uy-lít-xơ, là chồng mình. 2.Trong sử thi, nhân vật chính là nhũng anh hùng tráng sĩ tiêu biểu cho cả sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần; cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng. Ở đoạn trích này, nhân vật Uy-lít-xơ muôn vàn thông minh. Tuy chẳng xông pha trận mạc nhưng Uy-lít-xơ cũng đã vượt qua bao gian nan thử thách với tất cả lòng dũng cảm và sự thông minh, nhanh trí của mình. 3.Pê-nê-lốp “lòng vẫn rất đỗi phân vân”’ vì nếu vị hành khất là chồng nàng thực thì tại sao trong lần gặp trước lại không nói ra. Hơn nữa, nếu Pê-nê-lốp vội vã mà nhận lầm thì danh dự của nàng sẽ bị tổn thương rất lớn (điều tối kị của người Hi Lạp). Pê-nê-lốp có nhiều phẩm chất cao đẹp, đặc biệt là trí tuệ sắc sảo, sự bình tĩnh tự tin và luôn thận trọng trong mọi tình huống. Khi nàng nhấn mạnh “cha và mẹ… không ai biết hêt” chính là lúc nàng cố ý tạo ra một hoàn cảnh thử thách đối với Uy-lít-xơ. Nó là gợi ý về dấu hiệu nhận ra nhau của vợ chồng nàng. Câu nói ấy vừa thể hiện sự thận trọng, vừa thể hiện sự thông minh sắc sảo của Pê-nê-lốp. Thực ra Pê-nê-lôp không phải là người “bao giờ lòng dạ cũng rắn hơn cả đá”, có “‘một trái tim sắt đá hơn ai hết’”. Hai mươi năm phải làm chủ gia đình, lại phải đối diện vói bao thử thách, nàng đã phải tạo cho mình cái vỏ bọc cứng rắn. Có như vậy nàng mới chờ được đến ngày người chồng trở về để được ùa vào lòng chàng mà bặt lên bao nhiêu cảm xúc dồn nén mấy chục năm. Pê-nê-lôp phải dừng đên cách thử bí mật của chiếc giường trong “màn” nhận mặt chồng vì bí mật ấy giúp giải toả được nhiều mối nghi ngờ. Trước hết, để Pê-nê-lốp biết đó không phải là Uy-lít-xơ giả. Sau nữa, nó còn là minh chứng cho lòng chung thủy của nàng. Nếu chiếc giường đã bị chuyển đi hoặc đã không còn là bí mật của riêng hai vợ chồng nữa thì cũng có nghĩa là phẩm giá của Pê-nê-lôp cũng không còn nguyên vẹn. Phép thử ấy không những chỉ nói lên phẩm chất kiên trinh của Pê-nê-lốp mà còn khắc sâu sự bền vững của tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng, cha con. Qua hành động của Pê-nê-lôp (một sự cẩn trọng gần như thái quá) chúng ta có thể thấy được tính chất phức tạp của thời đại – nơi mà những hiểm nguy luôn rình rập, đe doạ con người. 4.Cách kể của Hô-me-rơ qua màn gặp mặt là một lối kể mang đậm phong cách kể chuyện của sử thi: chậm rãi, tỉ mỉ và trang trọng. Lối kể ấy làm các sự việc như được kéo dài ra, dền dứ và hồi hộp hơn. Sử thi thường được kể (diễn xướng) trong những khoảng thời gian dài vì thế, phong cách kể ấy làm cho những đêm nghe kể sử thi hứng khởi và hấp dẫn hơn. Phẩm chất của các nhân vật thường được nhà văn miêu tả qua đối thoại những đối thoại đầy trí tuệ, có chiều sâu và thường đa nghĩa. Bên cạnh đó, biện pháp phân tích diễn biến nội tâm của nhân vật cũng tham gia tích cực vào việc xây dựng nên hình tượng các nhân vật trong đoạn trích này. Trong khổ cuối “Dịu hiền… buông rời”, Hô-me-rơ đã sử dụng biện pháp so sánh mở rộng, kiểu câu tầng bậc và lối lặp đi lặp lại các định ngữ chỉ phẩm chất của nhân vật. Các biện pháp nghệ thuật ấy đã cho thấy vẻ đẹp, phẩm chất đặc biệt là niềm vui mừng khôn xiết của pê-nê-lốp khi nhận ra người chồng yêu quý cùa mình. Để khắc hoạ nổi bật hình tượng nhân vật, Hô-me-rơ đã sử dụng một nghệ thuật miêu tả tâm lí đặc sắc. Trong đoạn trích, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sử thi được thể hiện rất rõ trong đoạn từ “Nói xong, nàng bước xuống lầu” cho đến “dưới bộ quần áo rách mướp”.Nếu như trong tiểu thuyết hiện đại tâm lí nhân vật thường được diễn tả trực tiếp, với cái nhìn từ bên trong thì ở đây. bút pháp sử thi lại diễn tả tâm lí nhân vật thông qua hành động, cách ứng xử, thái độ từ những biểu hiện bên ngoài, với cái nhìn từ bên ngoài. Tâm trạng phân vân, đầy nghi hoặc của Pê-nê-lốp được diễn tả bằng những chi tiết như: -… nàng không biết nên đứng xa xa hỏi chuyện người chồng yêu quý của mình hay nên lại gần, ôm lay đầu, cầm lay tay người mà hôn? -Khi vào đến nhà, bước qua ngưỡng cửa bằng đá, nàng đến ngồi trước mặt Uy-lít-Xơ, dưới ánh lửa hồng, dựa vào bức tường đối diện… -… nàng vẫn ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sổt, khi thì đăm đăm âu yếm nhìn chồng, khi lại không nhận ra chồng dưới bộ quần áo rách mướp. II.LUYỆN TẬP 1.Dựa theo đoạn trích, có thể tự biểu diễn cảnh Uy-lít-xơ trở về. Để tổ chức được một buổi biểu diễn, mỗi lớp cần chọn ra một số bạn có năng khiếu kịch, tổ chức phân vai, học lời thoại… Để tập luyện và biểu diễn được dễ dàng cần có sự cố vấn của thầy cô, cũng cần rút bớtt những phần rườm rà trong lời thoại, có như vậy, mục đích của buổi biểu diễn mới thành công. 2.Thử nhập vai Uy-lít-xơ để kể lại câu chuyện. Chú ý: Khi nhập vai Uy-lít-xơ, phải thay đổi các từ ngữ xung hô, thay một số lời thoại trực tiếp của Uy-Ịít-xơ thành lời kể gián tiếp của mình (trong vai nhân vật). Tham khảo bài viết dưới đây: IV.MỞ RỘNG KIẾN THỨC Có thể so sánh giữa cách miêu tả tâm lí nhân vật giữa sử thi Đăm Săn của Việt Nam và sử thi cổ điển Ô-đi-xê của Hi Lạp qua hai đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây và đoạn trích Uy-lít-xơ trở về để thấy được sự giống nhau và khác nhau về bút pháp sử thi giữa hai tác phẩm, hai truyền thống văn học, qua đó nắm được những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp sử thi: -Giống nhau: + Dùng cái bên ngoài hay trực tiếp diễn tả từ bên trong tâm lí nhân vật? + Có sử dụng lối miêu tả cụ thể, tỉ mi, chi tiết không? Những đặc điểm miêu tả được lí tưởng hoá như thế nào? -Khác nhau: + Những chi tiết dùng để diễn tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Đăm Săn có gì khác so với những chi tiết dùng để diên tả tâm lí nhân vật trong trích đoạn sử thi Ô-đi-xêl + Chất dân gian trong sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ ở trích đoạn Đăm Săn khác như thế nào cách sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ trau chuốt, trang trọng, cao nhã trong trích đoạn Ô-đi-xê? XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH LẬP DÀN Ý BÀI VĂN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Uy-Lít-Xơ trở về – Ngữ văn 10
1,749
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Vận Nước – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC THÊM: VẬN NƯỚC ( Quốc tộ) Đỗ Pháp Thuận I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Đỗ Pháp Thuận (915 – 990) không rõ tên thật và quê quán, là một nhà sư thuộc dòng thiền Nam phương, từng giữ những công việc cố vấn quan trọng dưới triều Lê. 2.Bài thơ nói lên ý thức trách nhiệm và niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai đất nước của nhà thơ, đồng thời thể hiện khát vọng hoà bình của con người thời đại bấy giờ và truyền thống yêu chuộng hoà bình của dân tộc Việt Nam. 3.Về nghệ thuật, bài thơ mang đậm tính triết lí: dùng hình tượng tự nhiên để khẳng định vận nước vững bền, hưng thịnh, lâu dài. Lời thơ ngắn gọn, ý thơ hàm súc. Câu thơ có nội dung và hình thức một châm ngôn nghệ thuật. II.HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM 1.Trong câu thơ đầu, nhà thơ đã mượn hình tượng thiên nhiên để nói về vận nước (vận nước như dây leo quấn quýt). Nghệ thuật so sánh ấy vừa nói lên sự bền chặt, lại nói lên sự dài lâu, sự phát triển thịnh vượng của nước mình. Câu thơ vừa khẳng định vận may của đất nước (Quốc tộ là vận may của quốc gia) đồng thời nói lên niềm tin của tác giả vào vận nước. 2.Qua hai câu thơ đầu, ta có thể cảm nhận được: -Hoàn cảnh đất nước: Sau nhiều năm chiến tranh loạn lạc (loạn mười hai sứ quân và sự xâm lược của nhà Tống năm 981) đất nước ta bắt đầu bước vào thời kì ổn định. Nhà vua (Lê Đại Hành) muốn xây dựng một vương triều phong kiến vững mạnh, một quốc gia hùng cường. Trong khí thế đi lên của dân tộc, một vận hội mới như đang mở ra trước mắt. -Tâm trạng: Nhà thơ rất tin tưởng vào tương lai của đất nước. Hai câu thơ phản ánh một tâm trạng phơi phới vui tươi, đầy lạc quan và tự hào của tác giả. 3.Hai câu cuối nói về đường lối trị nước. Tất cả cô đọng lại trong hai chữ “vô vi”. Vô vi theo Lão Tử là thuận theo tự nhiên, không làm gì trái với qui luật của tự nhiên. Vô vi trong bài này được hiểu là: người trị quốc phải dùng cái đức của mình để cảm hoá nhân dân khiến cho dân tin phục. Khi dân tin phục thì đất nước sẽ tự đạt được thái bình. Trị nước như thế nghĩa là lấy đức mà trị quốc. Hai câu thơ cuối là một lời khẳng định bỏi chỉ có lấy đức mà trị quốc mới là kế sách lâu bền để xây dựng một quốc gia thái bình thịnh trị. 4.Điểm then chốt của bài thơ là hai chữ “thái bình”. Vận nước xoay quanh hai chữ “thái bình” mà đường lối trị nước cũng hướng tới hai chữ ấy. Nguyện vọng của con người thời đại bấy giờ là mơ ước một nền “thái bình muôn thủa”. Hai câu thơ cuối phản ánh một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta. Đó là truyền thống yêu chuộng hoà bình.
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Vận Nước – Ngữ văn 10
540
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Đọc tiểu thanh kí – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐỌC TIỂU THANH KÍ (Độc Tiểu Thanh Kí ) Nguyễn Du I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Độc Tiểu Thanh kí nằm ở cuối Thanh Hiên thi tập, tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Bài thơ có liên hệ với Tiểu Thanh kí trong Tiểu Thanh truyện với nhân vật Tiểu Thanh, một người con gái tài hoa bạc mệnh. 2.Với nghệ thuật sáng tạo ngôn từ, hình ảnh hàm súc, bài thơ thể hiện nổi bật tâm trạng xót thương, day dứt của Nguyễn Du đối với nỗi oan của những người tài hoa bạc mệnh. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Tiểu Thanh có sắc, lại có tài (thơ phú văn chương) thế nhưng cuộc đời của nàng lại gặp quá nhiều bi kịch (phải làm lẽ, bị dập vùi, trước tác bị đốt dở dang), số phận hẩm hiu, đau khổ của nàng chính là lí do khiến Nguyễn Du cảm thương chia sẻ. Đồng thời cũng từ bi kịch của Tiểu Thanh, nhà thơ suy nghĩ về định mệnh nghiệt ngã của những người có tài văn chương, nghệ thuật. 2.Trong câu thơ dịch, chữ “nỗi hờn” (Nỗi hòn kim cổ trời khôn hỏi.) chưa diễn đạt được hết ý nghĩa của hai từ “hận sự”. Vậy mối hận “cổ kim” ở đây nghĩa là gì? Đó là mối hận của người xưa (như Tiểu Thanh) và người thời nay (những người phụ nữ “hồng nhan bạc mệnh” đang sống cùng thời với Nguyễn Du, thậm chí cả những con người có tài năng thơ phú như nhà thơ Nguyễn Du nữa). Họ đều là nhũng người đã gặp bao điều không may trong cuộc sống. Từ đó, nhà thơ cho rằng: Có một thông lệ vô cùng nghiệt ngã đó là ông trời luôn bất công với những con người tài sắc. Sự bất công ấy đâu chỉ đến với riêng người phụ nữ tài hoa bạc mệnh Tiểu Thanh mà còn là nỗi hận của bao người (những Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,…). Nỗi hận ấy từ hàng trăm năm nay đâu có gì thay đổi. Bởi vậy, nó như một câu hỏi lớn không lời đáp cứ treo lơ lửng giữa không trung đến “ông trời” cũng “không hỏi được”. 3.Giá trị nhân bản đặc sắc của bài thơ là ở chỗ Nguyễn Du đã đặt ra vấn đề về quyền sống của người nghệ sĩ. Từ sự thương xót và đồng cảm với Tiểu Thanh, nhà thơ muốn gửi gắm sự trân trọng của mình đến những người nghệ sĩ nói chung – những chủ nhân của những giá trị tinh thần. Bày tỏ sự cảm thông chia sẻ với họ là một dấu hiệu tiến bộ trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du. Tình thương yêu và sự quan tâm của nhà thơ lúc ấy đã vượt qua những giới hạn về không gian và thời gian. Nó không chỉ là sự quan tâm chia sẻ với những con người bất hạnh (những cảnh đói cơm, rách áo) mà hơn thế nữa còn là sự thương yêu và trân trọng con người nói chung. 4.Có thể chia bài thơ thành bốn phần (đề, thực, luận, kết) mỗi phần lại có vai trò riêng trong việc thề hiện chủ đề của bài thơ Hai câu thơ đầu là hai câu tả cảnh để kể việc. Từ quang cảnh bãi hoa ở Tây Hồ đã trở thành bãi hoang, người đọc liên tưởng đến cuộc đời thay đổi. Hai câu này cũng nêu ra hoàn cành nảy sinh cảm xúc của nhà thơ (phần “di cảo” thơ của Tiểu Thanh). Hai câu thực nêu lên những suy nghĩ về số phận bất hạnh của nàng Tiểu Thanh thông qua hai hình ảnh ẩn dụ son phấn (vẻ đẹp) và văn chương (tài năng). Hai câu kết là tiếng lòng của nhà thơ mong tìm thấy một tiếng lòng đồng cảm của người đpừi sau. III.LUYỆN TẬP Rằng: Hồng nhan tự thủa xưa. Cải điều bạc mệnh có chừa ai đâu. Nỗi niềm tưởng đến mà đau, Thấy người nằm đó biết sau thế nào? (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Là lời của Thuý Kiều nói về nhân vận Đạm Tiên. Khi thấy chị sụt sùi truớc mộ của Đạm Tiên, Thuý Vân đã nói: Vân rằng: “Chị cũng nực cười ” Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Nghe xong câu này, Thuý Kiều đã nói những câu trên đế đáp lời Thuý Vân. Tuy nhiên, trong Truyện Kiểu có rất nhiều đoạn đối thoại bắt đầu bằng từ “rằng” như ở đoạn thơ này. Trong trường hợp ấy, người ta cũng có thể hiểu đó là lời của tác giả (Nguyễn Du). Căn cứ vào nội dung của đoạn thơ, có thể thấy đề tài mà Nguyễn Du quan tâm trong các sáng tác của ông là hình ảnh nhũng con người tài hoa mà bạc mệnh. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NHÀN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích tác phẩm Đọc tiểu thanh kí – Ngữ văn 10
831
Hướng dẫn phân tích Tóm tắt văn bản thuyết minh – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TÓM TẮT VĂN BẢN THUYẾT MINH I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Mục đích, yêu cầu tóm tắt một văn bản thuyết minh Tóm tắt văn bản thuyết minh nhằm hiểu và ghi nhớ những nội dung cơ bản của bài văn, nhằm giới thiệu với người khác về đối tượng thuyết minh hoặc về văn bản đó. Để thực hiện được những mục đích nêu trên, văn bản tóm tắt cần ngắn gọn, rành mạch, sát với nội dung của văn bản gốc. 2.Cách tóm tắt một vãn bản thuyết minh Để tóm tắt một văn bản thuyết minh cần tiến hành các bước sau: -Xác định rõ mục đích, yêu cầu tóm tắt. -Đọc văn bản gốc để nắm vững đối tượng thuyết minh. -Tìm bố cục của văn bản cần tóm tắt. -Viết tóm lược các ý để hình thành văn bản tóm tắt. -Viết thành văn bản. -Kiểm tra và sửa chữa. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Đọc văn bản sau và thực hiện các bước tóm tắt văn bản. NHÀ SÀN Nhà sàn là công trình kiến trúc có mái che dừng để ở hoặc dùng vào những mục đích khác nhan như để hội họp, để tổ chức sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Toàn bộ nhà sàn được dựng bằng vật liệu tự nhiên gianh, tre, nứa, gỗ,..; Mặt sàn dừng tre hoặc gỗ tốt bền ghép liền nhau, liên kết ở lưng chừng các hàng cột. Gầm sàn là kho chứa củi và một số nông cụ, nơi nuôi thả gia súc hoặc bỏ trống. Không gian của nhà gồm ba khoang. Khoang lớn ở giữa thuộc phần cốt lõi của căn nhà dùng để ở, nơi này có thể ngăn thành một số buồng nhỏ, ở giữa đặt một bệ đất vuông rộng, trên bệ là bếp đun (1) và sưởi ấm. Hai khoang đầu nhà, bên này gọi là “tắng quản” (2), dùng để tiếp khách, hoặc dành cho khách ở, bên kia gọi là “tắng chan”(3) lộ mái, khá rộng, đặt các ống nước dùng để rửa chân tay, chuẩn bị vật dụng đun nước, nấu ăn,… Hai đầu nhà có cầu thang làm bằng gỗ hoặc dùng một cây bương lớn đẽo thành từng khấc thay bậc thang,… Nhà sàn tồn tại ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt phổ biến ở miền núi Việt Nam và Đông Nam Á. Loại hình kiến trúc này xuất hiện vào khoảng đầu thời đại Đá mới, rất thích hợp với những nơi cư trú có địa hình phức tạp như ở lưng chừng núi hay ven sông, suối, đầm lầy. Nhà sàn vừa tận dụng được nguyên liệu tại chỗ để giải quyết mặt bằng sinh hoạt, vừa giữ được vệ sinh trong nhu cầu thoát nước, lại vừa phòng ngừa được thú dữ và cấc loại côn trùng, bò sất có nọc độc thường xuyên gây hại. Trong các ngôi nhà trệt thuộc loại hình kiến trúc dân gian của người Việt và nhiều dân tộc khấc còn lưu lại dấu ấn của nhà sàn. Nhà thuỷ tạ bao giờ cũng phải là nhà sàn. (Theo Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 3, NXB Từ điển bách khoa, 2003) Gợi ý: Văn bản này thuyết minh về hình ảnh ngôi nhà sàn – một công trình kiến trúc quen thuộc với một bộ phận khá lớn người dân miền núi nước ta và một số dân tộc khác ở trong vùng Đông Nam Á. -Các vấn đề được thuyết minh bao gồm: kiến trúc, nguồn gốc và những tiện ích của ngôi nhà sàn. -Về bố cục của văn bản: có thể chia như sau: (1)Có vùng đặt bếp ở tắng chan. (2) (3) Theo tiếng dân tộc Thái, ở Tây Bắc. + Mở bài: từ đầu đến… để tổ chức sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Trong phần này, tác giả nêu định nghĩa và nêu mục đích sử dụng của nhà sàn. + Thân bài (từ Toàn bộ nhà sàn… đến… nhà thuỷ tạ bao giờ cũng phải là nhà sàn): tác giả thuyết minh về cấu tạo, nguồn gốc và công dụng của nhà sàn. + Kết bài (phần còn lại): là phần đánh giá về vẻ đẹp và sự hấp dẫn của nhà sàn ở Việt Nam xưa và nay. -Dựa vào phần chuẩn bị trên đây, có thể tóm tắt văn bản Nhà sàn bằng đoạn văn sau: 2.Từ ví dụ nêu trên, có thể rút ra kết luận, để tóm tắt văn bản thuyết minh, ta thực hiện theo các bước sau: -Xác định mục đích, yêu cầu tóm tắt. -Đọc văn bản gốc để tìm dữ liệu, có thể gạch dưới những ý quan trọng, lướt qua những tư liệu, số liệu không quan trọng. -Diễn đạt các nội dung tóm tắt thành câu, đoạn và bài đáp ứng yêu cầu của văn bản. -Kiểm tra lại và sửa chữa. III- HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Về phần Tiểu dẫn bài Thơ hai-cư của Ba-sô (Ngữ văn 10, tập một). Gợi ý: a.Đối tượng thuyết minh của văn bản Tiểu dẫn bài Thơ hai-cư của Ba-sô gồm: tiểu sử, sự nghiệp của nhà thơ Ma-su-ô Ba-sô và những đặc điểm của thể thơ hai-cư. b.Bố cục của văn bản: có thể chia thành hai đoạn: -Đoạn 1: từ đầu đến… Si-ki (1867 – 1902): Tóm tắt tiểu sử và giới thiệu những tác phẩm của Ma-su-ô Ba-sô. -Đoạn 2 (phần còn lại): thuyết minh về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ hai-cư. c.Viết đoạn văn tóm tắt phần thuyết minh về thơ hai-cư. Tham khảo đoạn văn tóm tắt sau: Thơ hai-cư có số từ vào loại ngắn nhất, thường chỉ có 17 âm tiết, được ngắt làm ba đoạn theo thứ tự 5 âm – 7 âm – 5 âm. Mỗi bài thơ hai-cư đều có một tứ thơ nhất định, thể hiện một cảm xúc, một suy tư nào đó. về ngôn ngữ, hai-cư không cụ thểhoá sự vật, mà thường chỉ dùng những nét chấm phá, chừa ra rất nhiêu khoảng trống cho trí tưởng tượng của người đọc. Thơ hai-cư là một đóng góp lớn của Nhật Bản vào kho tàng văn hoá nhân loại. Gợi ý: a.Văn bản này thuyết minh về một thắng cảnh. So với các văn bản trước, văn bản này khác ở đối tượng (thắng cảnh) và ở một số nội dung (vừa tập trang vào những đặc điểm kiến trúc, vừa ca ngợi vẻ đẹp nên thơ của đền Ngọc Sơn, đồng thời, tác giả còn bày tỏ tình yêu, niềm tự hào đối với một di sản văn hoá đặc sắc của dân tộc). b.Có thể chia văn bản làm 3 đoạn: -Đoạn mở đầu (từ đầu đến …vừa đẹp như một bài thơ trữ tình): Giới thiệu vị trí và đặc điểm bao trùm của kiến trúc đền Ngọc Sơn. -Đoạn thân bài (tiếp theo đến … một tâm hồn yêu cái đẹp và cái thiện). Thuyết minh cụ thể quá trình xây dựng, tôn tạo và quy mô kiến trúc đền Ngọc Sơn – một danh thắng vừa mang dấu ấn tâm linh, vừa thể hiện tình yêu cái đẹp và cái thiện của người Hà Nội. -Đoạn kết bài (phần còn lại): Nhấn mạnh vẻ đẹp nên thơ khơi nguồn cảm hứng thi ca không vơi cạn của đền Ngọc Sơn. Có thể viết đoạn tóm tắt như sau: Đến thăm đền Ngọc Sơn, hình tượng kiến trúc đầu tiên gây ấn tượng là Tháp Bút, Đài Nghiên. Tháp Bút dựng trên núi Ngọc Bội, đỉnh tháp có ngọn bút trỏ lên trời xanh, trên mình tháp là ba chữ “tả thanh thiên” (viết lên trời xanh) đầy kiêu hãnh. Cạnh Tháp Bút là cổng Đài Nghiên. Gọi là “Đài Nghiên ” bởi cổng này là hình tượng “cái đài ” đỡ “nghiên mực ” hình trái đào tạc bằng đá, đặt trên đầu ba chú ếch với thâm ý sâu xa “ao nghiên ruộng chữ”. Phía sau Đài Nghiên là cầu Thê Húc nối Sàng Đảo Ngọc – nơi toạ lạc ngôi đền thiêng giữa rì rào sóng nước. XEM THÊM HƯỚNG DẪN NHỮNG YÊU CẦU VỀ SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Tóm tắt văn bản thuyết minh – Ngữ văn 10
1,368
Hướng dẫn phân tích Tóm tắt văn bản tự sự – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ (Dựa theo nhân vật chính) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN Tóm tắt văn bản là một việc làm phố biến. Để có được một văn bản tóm tắt tốt, trước hết, cần xác định mục đích tóm tắt rõ ràng (để ghi nhớ, để giới thiệu với người khác hoặc để làm dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học.,.), và nắm vững cách thức tóm tắt. 1.Mục đích, yêu cầu tóm tăt văn bản tự sự a.Mục đích: Trong cuộc sống, việc tóm tắt văn bản tự sự phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Thường chúng ta tóm tắt để dễ dàng ghi nhớ, để hiểu và đánh giá nội dung văn bản. Cũng có khi tóm tắt để ghi chép làm tài liệu, làm dẫn chứng trong bài văn hoặc để kể lại cho người khác nghe, để minh hoạ cho một ý kiến nào đó của mình. b.Yêu cầu: Bản tóm tắt phải ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo được nội dung cơ bản hoặc những đặc điểm, những mốc quan trọng trong cuộc đời của nhân vật chính. Bản tóm tắt cũng phải được trình bày theo một bố cục rõ ràng, chính xác theo những yêu cầu chung của văn tự sự. 2.Cách tóm tắt tác phẩm tự sự theo nhân vật chính -Đọc kĩ văn bản gốc, chọn các sự việc cơ bản xảy ra vói nhân vật chính và diễn biến của các sự việc đó. -Tóm tắt rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (một vài chỗ có thể kết hợp dẫn nguyên văn một số từ ngữ, câu văn trong văn bản gốc). Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ a.Trong truyện này, có thể xác định An Dương Vương và Mị Châu là hai nhân vật chính (tuy xét về vai trò quan trọng thì An Dương Vương nổi bật hơn). Hai nhân vật này xuất hiện ở hầu hết các sự việc chính của câu chuyện. Hơn thế nữa, họ còn là những “mắt xích” quan trọng quyết định chiều hướng phát triển của cốt truyện. b.Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy theo nhân vật An Dương Vương: Vua An Dương Vương nước Âu Lạc, họ Thục tên Phán. Vua cho xây thành ở đất nước của mình nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Một hôm có cụ già từ phương đông tới nói: Sẽ có sứ Thanh Giang đến giúp vua xây thành. Hôm sau, vua mừng rỡ cho người ra đón mới biết sứ Thanh Giang là một con Rùa Vàng. Thành xây nửa tháng thì xong, vững chãi và kiên cố. Trước khi về biên, Rùa Vàng còn tháo vuốt đưa cho nhà vua làm lẫy nỏ thần chống giặc. Có thành cao, hào sâu lại có nỏ thần, vua Thục Phán nhiều lần đã đánh cho quân của Triệu Đà đại bại. Đà không dám đối chiến, bèn xin hoà và cho con trai là Trọng Thuỷ sang cầu hôn. Vua đồng ý gả con gái Mị Châu cho, lại cho Trọng Thủy ở lại Loa Thành làm rể. Có được cơ hội tốt, Trọng Thuỷ bèn dụ dỗ Mị Châu cho xem nỏ thần rồi đánh tráo ngay lẫy nỏ. Quân Triệu Đà phá được nỏ thần bèn ồ ạt tấn công. An Dương Vương trong khi ấy cậy có nỏ Liên Châu vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, không bổ phòng gì cả. Loa Thành bị vỡ, vua Thục Phán bèn mang theo con gái chạy xuống phía Nam. Thế nhưng cùng lúc ấy Trọng Thuỷ lại theo dấu lông ngỗng mà Mị Châu rắc ở đường đuổi theo. Cùng đường, lại nghe sứ Thanh Giang nhắc nhở “Giặc ở ngay sau nhà vua đó”, An Dương Vương bèn tuốt kiếm chém Mị Châu rồi cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đi xuống biển. Mị Châu là con gái của vua nước Âu Lạc, An Dương Vương – Thục Phán. Nhân việc Triệu Đà thua trận xin cầu hoà và muốn được cho con trai sang ở rể, nàng được vua cha thuận ý gả cho Trọng Thuỷ. Mị Châu rất mực yêu chồng lại ngây thơ, khờ dại nên đã vô ý đem bí quyết nỏ thần ra nói với người chồng gián điệp. Có được nỏ thần, Trọng Thuỷ muốn xin về nước thăm cha, Mị Châu lại nói: Sau này, nếu có gặp cảnh biệt li thì cứ theo dấu chiếc áo lông ngỗng của thiếp mà tìm. Trọng Thủy về nhà, rồi cùng cha đem đội quân sang đánh. Loa Thành đại bại, Mị Châu theo cha chạy xuống phương Nam nhưng vừa đi nàng lại vừa bút lông ngỗng ở áo rắc làm dấu cho Trọng Thuỷ. Chạy ra bờ biển vua cha nổi giận tuốt gươm ra chém. Trước khi chết, Mị Châu còn khấn: Nếu có lòng phân nghịch thì khi chết đi nguyện biến thành cát bụi, bằng không thì xin được biển thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Mị Châu chết, máu nàng chảy xuống biển, trai sò ăn phải đều mang trong mình hạt châu. Xác nàng được Trọng Thuỷ đem về mai táng ở Loa Thành, Trọng Thuỷ thương nhớ Mị Châu, sau đó cũng lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông đem về giếng ấy mà rửa thì ngọc càng thêm sáng. d.Có thể rút ra cách thức tóm tắt tác phẩm tự sự theo nhân vật chính như sau: Để tóm tắt tác phẩm tự sự theo nhân vật chính cần: -Xác định mục đích tóm tắt (tóm tắt phục vụ mục đích gì? Hơn nữa tác phẩm có thể có nhiều nhân vật chính nên có thể có rất nhiều cách tóm tắt khác nhau). -Đọc kĩ văn bản để xác định nhân vật chính (những nhân vật xuất hiện nhiều và có vai trò quyết định hướng tới sự phát triển hoặc đổi thay chiều hướng truyện). Đặt nhân vật này trong mối quan hệ với các nhân vật khác và diễn biến các sự việc trong Cốt truyện để dễ dàng tóm tắt hay lược bỏ. -Viết văn bản tóm tắt bằng lời văn của mình để giới thiệu nhân vật, nêu rõ các hành động, lời nói, tâm trạng của nhân vật theo diễn biến của cốt truyện (để khắc hoạ nhân vật, có thể kết hợp trích dẫn nguyên văn một số từ ngữ, câu văn trong tác phẩm). II.LUYỆN TẬP 1.a.Mục đích tóm tắt -Văn bản 1 nhằm tóm tắt toàn bộ chi tiết chính, sự việc chính của câu chuyện để giúp người độc nhớ rõ hoặc để làm tài liệu lúc cần thiết. -Văn bản 2 lược trích những chi tiết, sự việc cần thiết tiêu biểu có liên quan đến nhân vật chàng Trương dùng làm minh hoạ cho luận điểm trong bài viết. b. Cách thức tóm tắt -Văn bản 1 tóm tắt toàn bộ diễn biến câu chuyện. -Văn bản 2 chọn lọc một số sự việc chi tiết cần thiết có liên quan đến nhân vật chàng Trương chứ không tóm tắt toàn bộ câu chuyện. Qua hai cách làm này, có thể rút ra kinh nghiệm: Dù định hướng tóm tắt theo cốt truyện hay theo nhân vật thì điều quan trọng vẫn là phải biết cách lược đi những sự việc, những chi tiết phụ; chọn lấy những sự việc, những chi tiết chính. Hơn nữa, trong khi viết, kĩ thuật “nén câu dồn ý” sẽ làm cho bài tóm tắt thêm cô đọng hơn. 2.Tóm tắt Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ theo nhân vật Trọng Thuỷ: Triệu Đà nhiều lần cất quân đánh sang Âu Lạc nhưng đều thất bại bèn sai con trai sang hỏi Mị Châu để cầu hoà. Sau khi, An Dương Vương đồng ý gả Mị Châu, Trọng Thủy xin ở lại Loa Thành để chờ có cơ hội dò xét “bí quyết” đánh giặc của An Dương Vương. Một hôm trong khi nói chuyện, Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần. Xem xong, Thuỷ ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt vàng rồi xin phép Thục Phán được về phương Bắc thăm cha. Trước khi ra đi, Trọng Thuỷ còn cùng Mị Châu hứa hẹn: Nếu sau này lỡ chẳng may li tán thì cứ theo dấu lông ngỗng rút ra từ chiếc áo của Mị Châu mà tìm. Trọng Thuỷ về phương Bắc chế nỏ rồi cùng cha kéo quân xuống phương Nam. Thế quân đang mạnh lại gặp lúc An Dương Vương có ý chủ quan nên chẳng mấy chốc quân của Trọng Thuỷ đã chiếm được Loa Thành. Không thấy vợ ở trong thành, Trọng Thuỷ tức tốc phi ngựa theo dấu lông ngỗng mà đuổi theo. Thế nhưng đến sát bờ biển, Trọng Thuỷ thấy Mị Châu đã chết tự bao giờ. Trọng Thuỷ ôm xác Mị Châu đem về Loa Thành an táng. Một hôm trong khi đi tắm, Trọng Thuỷ nhìn thấy bóng dáng Mị Châu dưới nước bèn cứ thế lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau đồn rằng đem nước ở giếng này mà rửa ngọc châu thì thấy ngọc cứ ngày một sáng thêm lên. 3.Tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm (hoặc Cám). Tóm tắt truyện theo nhân vật Tấm: Tấm mồ côi mẹ từ nhỏ. Cô phải sống cùng với dì ghẻ và cô em gian ác. Trong mọi việc, Tấm luôn là người phải chịu thiệt thòi. Đi bắt tôm bắt tép, Tấm bị Cám lừa trút hết giỏ tép đầy. Tấm nuôi được con cá bống, mẹ con Cám lại lừa giết thịt ăn. Ngày nhà vua mở hội, mụ dì ghẻ lại lấy gạo và thóc trộn lẫn với nhau bắt Tấm nhặt xong mới được đi xem. Trong tất cả những lần như thế Tấm đều được Bụt hiện lên an ủi và giúp đỡ. Nhờ có Bụt, ngày hội Tấm có quần áo đẹp, khăn đẹp và hài đẹp. Đi xem hội, Tấm sơ ý đánh rơi mất chiếc hài nhưng cũng may nhờ chiếc hài ấy, Tấm trở thành hoàng hậu. Ghen ghét, mẹ con Cám lập mưu giết Tấm rồi đưa Cám vào cung để thế chân. Tấm chết, biến hoá nhiều lần thành: chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi. Mỗi lần như thế là một lần Tấm bị mẹ con Cám lập mưu hãm hại. Cuối cùng, Tấm biến thành quả thị, âm thầm giúp việc nấu cơm, quét dọn cho bà hàng nước. Nhưng rồi bà cụ cũng phát hiện ra. Bà xé tan vỏ thị và thế là từ đấy Tấm sống cùng bà. Một hôm nọ, vua đến quán này uống nước, ăn miếng trầu cánh phượng, vua thấy quen và vua nhận ra người vợ yêu quý của mình. Tấm thẳng tay trừng trị mẹ con nhà Cám, trở lại cuộc sống hạnh phúc bên vua. Tóm tắt truyện theo nhân vật Cám: Cám xấu tính nhưng lại sống bên người chị cùng cha khác mẹ hiền lành, xinh đẹp nên lúc nào cũng tỏ ra ganh ghét. Được mẹ đứng sau hậu thuẫn, Cám luôn tìm cách để đày đoạ chị. Cùng đi hớt tép nhưng Cám lười nhác không bắt được con nào. Cám lừa chị hụp xuống ao để trút giỏ tép mang về. Thấy Tấm nuôi được con cá bống, Cám lại lừa bắt và giết thịt. Ngày hội, Cám sắm sửa quần áo đẹp đi chơi. Thấy vua mời các thiếu nữ thử hài kén vợ, Cám cũng len vào nhưng thử không vừa. Ghen tức vì Tấm được làm hoàng hậu, nhân ngày giỗ cha, Cám và mẹ lừa Tấm trèo cau rồi giết Tấm. Cám vào cung thay chị. Một hôm đang giặt áo, Cám lại nghe tiếng chim vàng anh hót lời của Tấm. Cám tức giận bắt chim làm thịt rồi nói dối vua. Tưởng đã an tâm nhưng một thời gian sau ở vườn ngự lại mọc lên hai cây xoan đào rất đẹp. Nhà vua lấy làm yêu thích lắm. Biết chuyện Cám lại sai cho lính chặt cây đóng thành khung cửi. Thế nhưng cứ mỗi lần ngồi vào khung cửi, cám lại nghe thấy tiếng trách móc mình. Không chịu được, Cám đốt khung cửi rồi đổ tro ra bên đường. Lạ thay một hôm không biết từ đâu Tấm trở về. Cám thấy chị xinh đẹp hơn xưa thì tỏ ra ham muốn. Cuối cùng, Cám chết một cách thích đáng vì sự tham lam và ngu ngốc của mình. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM CẢNH NGÀY HÈ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Tóm tắt văn bản tự sự – Ngữ văn 10
2,150
Hướng dẫn phân tích Tổng quan văn học Việt Nam – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TỐNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam Nền văn học Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử gồm hai bộ phận lớn phát triển song song với nhau và có ánh hương qua lại với nhau. Đó là: a.Văn học dân gian (văn học bình dân hay văn học truyền miệng). -Văn học viết (văn học thành văn). -Văn học dân gian: là sáng tác tập thể và truyền miệng của nhân dân lao động. -Văn học dân gian gồm: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đố, vè, truyện thơ. chèo. -Văn học dân gian ra đòi rât sớm, từ thời công xã nguyên thuý, con người chưa có chữ viết và cách cảm, cách nhìn còn hết sức ngây thơ và hồn nhiên. b.Văn học viết: là sáng tác của trí thức, được ghi lại bằng chữ viết. Là sảng tạo của cá nhân, tác phẩm văn học viết mang dấu ấn của tác giả. -Chữ viết của văn học Việt Nam. + Văn học Việt Nam từ xưa đến nay cơ bản được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ. + Văn học chữ Hán ra đời sớm hon cả, từ thế kỉ X. Văn học chữ Nôm ra đời khoảng thế ki XIII. Văn học chừ quốc ngữ ra đời khoảng đầu thế kỉ XX. Cả văn học chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ đều là văn học viết bằng tiếng Việt. -Hệ thống thể loại của văn học viết: + Văn học chữ Hán có ba nhóm: *Văn xuôi tự sự: truyện, kí, văn chính luận, tiểu thuyết chương hồi. *Thơ: thơ cổ phong, thơ Đường luật, từ khúc. *Văn biền ngẫu. + Văn học chữ Nôm có: *Thơ: thơ Nôm Đường luật, truyện thơ, ngâm khúc, kí (bút kí, tuỳ bút, phóng sự). *Văn biền ngẫu. + Văn học chữ quốc ngữ: *Tự sự: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, bút kí, tuỳ bút, phóng sự. *Trữ tình: thơ và trường ca. *Kịch: kịch nói. 2.Quá trình phát triển của văn học viết Việt Nam Quá trình phát triển của văn học Việt Nam gắn chặt với lịch sử chính trị, văn hoá, xã hội cua đất’nước. Nhìn tổng quát, văn học Việt Nam đã trải qua ba thời kì: -Văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX. (văn học trung đại). -Văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm Ị945. -Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX. Hai giai đoạn sau có thể gọi chung lả văn học hiện đại vì tuy có một số điếm riêng biệt nhưng đều nằm trong một xu hướng phát triển chung của quá trình hiện đại hoá văn học. a.Văn học trung đại (văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) Đây là thời đại văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Chữ Hán là chù’ viết của người Hán. Người Việt Nam đọc chữ Hán theo cách riêng gọi là cách độc Hán – Việt. Chữ Nôm là chữ viết cổ của người việt, dựa vào chữ Hán mà đặt ra. -Thơ Thiền Lí – Trần, truyền kì, tiểu thuyết chương hồi thuộc về bộ phận văn học chữ Hán. Các nhà thơ yêu nước và nhân đạo lớn thời trung đại như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát,.:, đều có sáng tác thơ chữ Hán. -Văn học chữ Nôm phát triển mạnh từ thể kỉ XV và đạt tới đỉnh cao ở thế kỉ XVIII. Nhiều thành tựu quan trọng của văn học Việt Nam nằm trong văn học chữ Nôm. Có thế kể đến thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan…. truyện Nôm bác học. Sơ kính tân trang (Phạm Thái), Truyện Kiều (Nguyễn Du), truyện Nôm bình dân: Tống Trân – Cúc Hoa. Phạm Tai – Ngọc Hoan các ngâm khúc như: Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch của Đoàn Thị Điểm) và các bài hát nói. -Văn học hiện đại (văn học từ đầu thíkì XX đến hết thế kỉ XX) -So với văn học trung đại, văn học hiện đại có một số điểm khác biệt lớn: + về tác gỉa đã xuất hiện đội ngũ nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp,lấy việc viết văn, sáng tác thơ làm nghề nghiệp. + về đời sống văn học: nhờ có báo chí và kĩ thuật in ấn hiện đại, tác phẩm văn học đi vào đời sống nhanh hơn. Mối quan hệ qua lại giữa độc giả và tác giả mật thiết hơn, đời sống văn học sôi nổi, năng động hơn. + về thể loại: thơ mới, tiểu thuyết, kịch nói,… dần thay thế hệ thống thể loại cũ. + về thi pháp: lối viết hiện thực đề cao tính sáng tạo đề cao cá nhân được khẳng định thay thế lối viết ước lệ, sùng cổ phi ngã của văn học trung đại. -Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại đã mở ra một giai đoạn mới trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỉ XX. Từ đâv, một nền văn học mới ra đời và phát triển toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những thành tựu to lớn của giai đoạn từ sau năm 1945 đến nay gắn liền với đưòng lối văn nghệ đúng đắn của Đảng và sự nghiệp lao động, chiến đấu của nhân dân. -Thơ mới. tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, văn xuôi hiện thực phê phán rồi đến thơ kháng chiến chống Pháp, thơ, tiêu thuyết, truyện ngạn, bút kí trọng chiến tranh chống Mĩ là những hiện tượng lớn của văn học nước ta trong thế kỉ XX. -Từ sau sự kiện giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, đặc biệt với Công cuộc đổii mới từ năm 1986 trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, văn học hiện đại Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Hai mảng đề tài lớn của văn học hiện nay là: đề tài lịch sử, (đặc biệt là đề tài lịch sử chống Pháp, chống Mĩ) và đề tài cuộc sống và con người Việt Nam đương đại trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. a.Con người Việt Nam trong quan hệ với thế giới tự nhiên Với con người Việt Nam. thiên nhiên là người bạn thân thiết. Bởi vậy, tình yêu thiên nhiên là một nội dung quan trọng của văn học Việt Nam. Trong văn học dân gian đặc biệt là trong Ca dao dân gian thường có những hỉnh ảnh tươi đẹp của núi, sông, bãi lúa, nương dâu và cánh cò, vầng trăng và dòng suối, gió và mây, cây đa và bến nước. Trong thơ ca trung đại, các hình tượng tùng, cúc, trúc, mai thường tượng trưng cho nhân cách cao thượng; ngư, tiều, canh, mục hay thể hiện cho lí tưởng ẩn dật thanh cao chẳng màng tí danh lợi của nhà nho. Trong Văn học hiện đại, các hình tượng hương bưởi, hương chanh, sóng biển, mưa xuân… gắn với những kỉ niệm đẹp đẽ của tình yêu đôi lứa. Hình tượng thiên nhiên khống chỉ thể hiện tình yêu đôi lứa mà còn thể hiện tinh yêu đất nước, yêu cuộc sống. b.Con ngưòi Việt Nam trong quan hệ quốc gia, dân tộc Trong quan hệ quốc gia, dân tộc con người Việt Nam đã hình thành hệ thống tư tưởng yêu nước và tư tưởng xã hội. Tình yêu nước trong văn học dân gian thể hiện nổi bật tình yêu làng xóm, quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn và căm ghét các thế lực xâm lược giày xéo quê hương. Trong văn học bác học (thôns trị. chính thốn«) tinh thần yêu nước thế hiện qua ý thức sâu sắc về đất nước, về dân tộc, về truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước trong văn học cách mạng, gắn liền với sự nhiệp đấu tranh giai cấp và lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Lòng yêu nước trong văn học Việt Nam đặc biệt còn thể hiện qua ý chí căm thù quân xâm lược và tinh thần dám hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Nhiều tác phẩm lớn viết liên từ kết tinh lòng yêu nước từ xưa đến nay như: Nam quốc sơn hà, Bình Ngô dại cáo. Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, Tuyên ngôn độc lập, nhiều tập thơ đi sử của các nhà nho. Nhiều tác giả văn học yêu nước lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh. Tố Hữu,… đã xây dựng nên một hệ thống tư tưởng yêu nước hoàn chỉnh. Chủ nghĩa yêu nước là một nội dung tiêu biểu, một giá trị quan trọng của văn học Việt Nam. Nhìn thẳng vào thực tại với tinh thần phê phán và cải tạo xã hội là một truyền thống lớn của văn học Việt Nam. Nhân vật chứa nhiều tác phẩm văn học không chỉ là nạn nhân của xã hội (dân nghèo bị áp bức), một xã hội bất công mà còn là những con người biết đấu tranh cho tự do, hạnh phúc, nhân phẩm, quyền sống. Ví dụ trong tác phẩm văn học, Kiều là nạn nhân song Từ-Hải là một người anh hùng chiến đấu cho chính nghĩa; chị Dậu, Chí Phèo là nạn nhân song nhiều nhân vật phụ nữ, nông dân, anh bộ đội của văn học chống Pháp, chống Mĩ lại tiêu biểu cho lí tưởng anh hùng cách mạng. Cảm hứng xã hội sâu đậm là tiền đề quan trọng cho sự hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo trong văn học dân tộc. d.Con người Việt Nam và ý thức bản thân Con người cộng đồng, chủ nghĩa khắc kỉ là mẫu hình lí tưỏng của nhà nho, song đến thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX trong văn học lại xuất hiện và đề cao con người có nét cá nhân, dám nói đến tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Nói chung, con người Việt Nam trong văn học cũng có thay đôi trong lịch sử. Xu hướng chung trong sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như nhân ái, thuỷ chung, tình nghĩa, vị tha, đức hi sinh vì sự nghiệp chính nghĩa, đấu tranh chổng chủ nghĩa khấc kỉ của các tôn giáo và đề cao quyền sống của con người, của cá nhân, nhưng không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân cực đoan. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Sơ đồ các bộ phận của văn học Việt Nam Lưu ý: Nền văn học Việt Nam chính thức được hình thành từ thế kỉ X. Trước thể kỉ X, nền văn học của người Việt Nam chủ yếu được ghi dấu bằng các tác phẩm văn học dân gian. Khi nền văn học viết được hình thành, vặn học dân gian của người Việt vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. 2.Quá trình phát triển của văn học viết Việt Nam Học sinh tham khảo phần I. 2. 3.Làm sáng tỏ nhận định: Văn học Việt Nam đã thể hiện chân thực, sâu sác đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng. Học sinh tham khao phần I.3 Kết luận: Bốn mối quan hệ đã nêu ở trên phản ánh bốn lĩnh vực hoạt động thực tiễn và nhận thức chủ yếu của con người Việt Nam. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử,tâm lí, tư tưởng, hai nội dung yêu nước và nhân đạo đã trở thành hai nội dung nổi bật và có giá trị đặc biệt trong lịch sử phát triển nền văn học dân tộc của chúng ta.
Hướng dẫn phân tích Tổng quan văn học Việt Nam – Ngữ văn 10
2,027
Hướng dẫn phân tích Tựa “Trích diễm thi tập” – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TỰA “TRÍCH DIỄM THI TẬP” (HOÀNG ĐỨC LƯƠNG) I- KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, trú quán ở huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm 1478. Hoàng Đức Lương là một trí thức giàu lòng yêu nước. Đặc biệt, ông ý thức về nền văn hiến dân tộc như là một bộ phận cấu thành của ý thức độc lập dân tộc. Việc sưu tầm, biên soạn Trích diễm thi tập (Tuyển tập những bài thơ hay) là một trong những minh chứng cụ thể và tiêu biểu nhất cho ý thức dân tộc ấy. 2.Trích diễm thi tập là một trong những công trình sưu tầm tác phẩm văn thơ của trí thức Việt Nam. Tuyển tập này bao gồm thơ của các nhà thơ từ thời Trần đến thế kỉ XV thời Lê (cuối tập là thơ của chính tác giả). Việc biên soạn Trích diễm thi tập nằm trong trào lưu phục hưng dân tộc, phục hưng văn hoá của các nhà văn hoá nước ta ở thế kỉ XV. 3.Lời tựa cho tập thơ này được Hoàng Đức Lương viết vào năm 1497. Bài tựa thể hiện niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm của Hoàng Đức Lương trong việc bảo tồn di sản văn học của tiền nhân, từ đó nhắc nhở các thế hệ sau hãy trân trọng và yêu quý di sản văn hoá của dân tộc mình. II- HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN Văn thơ lại là sắc đẹp ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không phải ai cũng đem mắt tầm thường mà xem, miệng tầm thường mà nếm được. Đó là lí do thứ nhất. Thứ nữa, ở nước ta, những bậc danh nho vì bận việc nên không có thì giờ để biên tập, người nhàn tản lại không để ý đến làm cho thơ văn không lưu truyền hết ở trên đời. Thỉnh thoảng, cũng có người thích thơ văn nhưng ngại vì công việc nặng nề, tài lực kém cỏi nên đều đang làm rồi bỏ dở. Đó là lí do thứ ba. Thơ văn không được lưu truyền còn bởi muốn đem đi khắc ván lưu hành phải chờ có chiếu lệnh vua ban. 2.Xót xa trước cảnh một nước có nền văn hiến lâu đời nhưng lại “không có quyển sách nào có thể làm căn bản” để cho con cháu đời sau học tập và sâu xa hơn là nỗi lo về sự mai một của một nền văn hoá, Hoàng Đức Lương đã kì khu làm công việc sưu tầm thơ văn của tiền nhân. Nhưng công việc đó quả thực rất khó khăn bởi nước ta đã từng phải “trải qua mấy lần binh lửa”. Sử sách chép rằng: Đời Trần, năm 1371, quân Chiêm Thành có lần đánh phá Thăng Long đã đốt phá, cướp bóc đi nhiều giấy tờ sách vở. Năm 1407, khi sang xâm lược nước ta, quân Minh cũng đã nhận được chỉ đạo của vua Minh Thành Tổ: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu huỷ, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, vãn tự cho đến cả những loại sách ghi chép ca lí dân gian hay sách dạy trẻ như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ”, một mảnh một chữ phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia đá Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá huỷ tất cả, một chữ chớ để còn” Sưu tầm thơ văn của người xưa trong hoàn cảnh ấy, Hoàng Đức Lương đã phải chắp nhặt từng mảnh giấy tàn của người xưa, tìm quanh khắp nơi, hỏi thăm mọi chốn. Kì khu như vậy nhưng “số thơ thu lượm được cũng chỉ là một hai phần trong số muôn nghìn bài”. Nhận thức rõ vai trò công việc, trách nhiệm của mình trong việc truyền lưu văn hoá cho người đời sau, tác giả cũng đã có ý thức thu lượm cả thơ văn của đương thời để sắp vào cuốn sách với mong muốn khiêm tốn: “cốt để làm sách dạy trong gia đình”. Tuy thế, phải khẳng định rằng, công việc sưu tầm của tác giả có ý nghĩa vô cùng to lớn không chỉ với thời đại ấy mà còn có ý nghĩa với hôm nay và mãi mai sau. 3.Việc biên soạn tuyển tập thơ này không đơn giản bởi những nguyên do như trên đã nói. Thế nhưng thôi thúc bởi niềm tự hào về văn hiến dân tộc, về ý thức trách nhiệm trước di sản đã bị thất lạc của cha ông, về tinh thần độc lập tự chủ và ý thức tự cường trong văn học, Hoàng Đức Lương đã vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tập sách. Công việc của Hoàng Đức Lương thể hiện ý thức trách nhiệm công dân rất cao trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá của dân tộc. Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Dù Đại cáo bình Ngô ra đời trước song cả hai văn bản đều xuất hiện ở thế kỉ XV, khi mà tư tưởng độc lập dân tộc của nhân dân ta sau đại thắng quân Minh đang ở, cao trào. Vì thế cả hai văn bản đều phản ánh ý thức độc lập, tự cường dân tộc, phản ánh niềm tự hào về truyền thống văn hiến khi đất nước đang trên đà khẳng định và vươn lên. Tất nhiên xét về mặt ý nghĩa lịch sử, bài tựa của Hoàng Đức Lương không có được tầm vóc to lớn như Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi. III– HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP Dẫn chứng chứng tỏ các nhà văn, nhà thơ xưa rất tự hào về nền văn hiến dân tộc. Gợi ý: Xem Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi. XEM THÊM HƯỚNG DẪN TÍNH CHUẨN XÁC, HẤP DẪN CỦA VĂN THUYẾT MINH – NGỮ VĂN 10
Hướng dẫn phân tích Tựa “Trích diễm thi tập” – Ngữ văn 10
1,054
Hướng dẫn phân tích Viết bài làm văn số 1: Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống Hướng dẫn VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 1: CẢM NGHĨ VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG (HOẶC MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC) HƯỚNG DẪN HỌC BÀI (Gợi ý đề bài và gợi ý cách làm bài) Đề 1. Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường trung học phổ thông (THPT). Với đề bài này, học sinh cần nêu được các ý sau: -Mở bài: Giới thiệu và nêu cảm nghĩ chung về niềm vui, niềm hạnh phúc khi được trờ thành một học sinh THPT. -Thân bài: + Cảm nghĩ khi mới đặt chân đến trường. *Khung cảnh trường (rộng rãi, khang trang, sạch sẽ, có nhiều bồn hoa, cây cố thụ,…) *Những khuôn mặt mới (thầy cô, bạn bè, cảm giác xa lạ nhưng lại có một sợi dây gắn bó gần gũi, vô hình….) + Cảm nghĩ về buổi chào cờ đầu tiên. *Lời thầy (cô) hiệu trưởng (dõng dạc, nghiêm trang, đầy giục giã,…) *Lời phát biểu cảm nghĩ của một học sinh mới (gây ra niềm xúc động chung ra sao?) + Cảm nghĩ về buổi học đầu tiên: Mới đầu còn đôi chút lạ lẫm, ngượng ngùng nhưng cả lớp hoà nhập nhanh và hào hứng như lúc còn là học sinh lóp 9, buổi học qua nhanh nhưng có nhiều ấn tượng. -Kết bài: + Cảm giác vui vẻ, bâng khuâng. + Trong lòng có nhiều cảm xúc lạ. Bài viết tham khảo: Với tuổi học trò, ai cũng có cái nao nao của buổi tựu trường. Nhưng lần này, tôi tự nhiên thấy lạ: lần đầu tiên tôi đến với mái trường THPT. Bao niềm vui, sự hãnh diện và cả sự rụt rè bỡ ngỡ cứ xen lẫn trong tôi vợi những ấn tượng sẽ đọng lại mãi trong lòng. Ngày đầu tiên đến trường – đó là một ngày nắng ấm, khí trời dìu dịu êm ái, theo sự thông báo của nhà trường. Tôi đã chuẩn bị đủ tất cả mọi thứ nào là quần áo, giày dép, tập sách,… Nhưng lòng tôi vẫn cứ xôn xao khó tả. Bởi trước mắt tôi lúc này là một khung trời mới: bạn bè, thầy cô, trường lớp,… đều mới tinh. Trong những năm trước, sau ba tháng hè nghỉ học, chúng tôi lại trở về mái trường thân quen với những hàng cây, ghế đá,., in đậm bao kỉ niệm của những lần nô đùa cùng bè bạn. Còn năm nay, tôi đã bước chân vào ngưỡng cửa cấp ba – một chân trời hoàn toàn mới lạ. Ngôi trường tôi học năm nay rất khang trang và không gian thoáng đãng… Từ cổng trường là một hàng cây me già rợp bóng mát dẫn lôi vào các dãy phòng học ba tầng uy nghi, đẹp đẽ. Nào là hàng cây. phòng học, cột cờ tất cả đều hiện hữu trước mắt tôi, khiến lòng không thể nén lại được cảm xúc ngỡ ngàng, bao niềm vui sựớng và tôi đã thốt lèn: “Ôi! Ngôi trường đẹp quá!” Chúng tôi,học sinh lớp 10 cũng như các anh chị lớp 11 được phân công về các lớp. Tôi thầm ước mình có thể học chung với một số người bạn cũ. Tiếc thay, lớp tôi học hoàn toàn là bạn mới. “Nhưng dần rồi mình cũng sẽ quen với những bạn ấy thôi” – Tôi tự an ủi mình như thế. Sau mấy phút bỡ ngỡ ban đầu, tôi thấy cô giáo chủ nhiệm bước vào. Dáng đi. hình ảnh của cô làm cho tôi gợi nhớ về cô giáo chủ nhiệm năm lớp 9. Vẫn một dáng người thon thả, đôi mắt hiền lành, mái tóc đen dài… Chính hình ảnh đó của cô đã làm cho tôi phần nào bớt đi sự lo lắng vì xung quanh tôi toàn là bạn lạ. Bởi đầu tiên cô nói với chúng tôi là những lời dạy bảo ân cần về ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, trường, lớp, trong học tập và rèn luyện trong năm học đầu tiên của cấp ba. Tôi nghĩ đó là bài học đầu tiên mà tôi có thể có được ở ngôi trường mới này. Ấn tượng nhất trong tôi là ngày khai giảng. Trong trang phục áo dài trắng tinh, tôi ra dáng là một nữ sinh thực sự. Tôi vừa thèn thẹn vừa cảm thấy mình như trưởng thành hơn. Tiếng trống khai trường do thầy hiệu trường gióng lên vang xa và âm thanh đó như lưu vào trong tôi một cảm xúc xao xuyến, lạ lùng. Tôi biết là từ hôm nay tôi hòa nhập vào một môi trường mới. Tôi được học trong một ngôi trường có bề dày thành tích và truyền thông dạy học – Trường THPT Chu Văn An. bản thân tôi có biết bao nhiêu niềm vui và lòng tự hào và có xen lẫn một vài nỗi lo sợ. Nhưng điều quan trọng trong tôi lúc này, tôi hứa sẽ quyết tâm học tập và rèn luyện sao cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường. Với bao nhiêu điều suv nghĩ trong tôi. Có cả niềm vui xen lẫn niềm kiêu hãnh và cả sự thẹn thùng bỡ ngỡ và một chút lo lắng… Bấy nhiêu cảm xúc của những ngày đầu tiên đó dưới mái trường THPT chắc chắn sẽ đọng lại mãi trong lòng tôi như một dấu ấn không thể phai mờ. (Sưu tầm) Đề 2. Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa (sang thu.,sang đông, sang xuân hoặc sang hè). Nội dung bài làm văn này phụ thuộc vào việc người viết chọn thời khắc chuyển mùa là lúc nào. Mỗi khoảnh khắc giao mùa lại có những dấu hiệu riêng rất đặc trưng. Theo đó, nó cũng mang một eiá trị thẩm mĩ riêng. Điều quan trọng là làm bài cần nêu được những nét tinh tế ấy. Có thể tham khảo một dàn ý khái quát chung cho loại đề này. -Mở bài: + Mỗi mùa có một nét đẹp riêng và người ta thường hay xao xuyến nhất ấy là lúc giao mùa. + Thời khắc ấy thường diễn ra những biến đổi tinh tế không chỉ ở thế gới của thiên nhiên mà còn ở cả thế giới của con người. + Với tôi khoảnh khắc giao mùa từ mùa hè sang mùa thu (từ đông sang xuân, xuân sang hè,…) để lại nhiều ấn tượng và niềm say mê hơn cả. -Thân bài: + Cảm nghĩ về thiên nhiên: *Nêu các dấu hiệu giao mùa (ví dụ mùa hè sang mùa thu: khí trời mát mẻ, ban đêm trời se lạnh không đủ rét để mặc một chiếc áo mùa đông nhưng lạnh đủ để người ta cảm thấy rùng mình, hoa cúc trong các vườn đua nhau nở, sen trong các ao úa tàn,…) *Cảm giác của bản thân trước các dấu hiệu chuyển mùa của thiên nhiên (vui, buồn, nhớ nhung về một kỉ niệm tuổi thơ nào đó,…) + Cảm nghĩ về đời sống con người: *Nhịp điệu cuộc sống thay đổi ra sao? (ồn ã, sôi động hay tẻ nhạt) *Con người: vui tươi, phấn khởi, hào hứng đợi chờ (sang xuân) hay thu minh lại, buồn hơn, suy tư hơn (thu sang đông),… -Kết bài: Tóm lại, khoảnh khắc giao mùa là nhũng đợt “trở mình” rất duyên của trời đất. Cảm nhận nhũng biến chuyển lúc giao mùa ấy giúp ta mài sắc những giác quan, giúp tâm hồn ta sinh động và tinh tế hơn. Bài viết tham khảo: “Hạ tạ từ khi tháng chín vừa sang Thu bẽn lẽn như một nàng thiếu nữ Mùa lại hẹn trở về trên lối cũ…” Một khúc giao mùa ngân vang, một chút xôn xao kỉ niệm, một khung trời mơ ước tuổi học trò. Thu sang với bao điều thú vị, thu đọng trong mắt ai là niềm vui, niềm háo hức, thu đọng trong mắt ai là nỗi muộn phiền, lo toan, trăn trở, thu đọng trong mắt ai là chút vấn vương kí ức, là nỗi nhớ một khoảnh khắc giao mùa… Một sớm mai thức dậy, không còn thấy nắng tinh nghịch lọt qua khe cửa. trốn tìm trong những “hòn bi ve trong veo” đọng trên cành lá, không còn thấy bầu trời xanh biếc gọn mây. Khung trời của một ngày mới trắng xoá một màu của sương. Sương làm cho những ngôi nhà, những khóm tre xào xạc lá tựa như nơi nghỉ ngơi của ông tiên, ông bụt trong các câu chuyện cổ êm ái, mềm mại trong mắt. Sương làm cơ thể run lên vì lạnh. Cơn gió đầu mùa khẽ mơn man nhẹ qua làn da ấm áp, một cảm giác se lạnh thật khó tả. Hình như thu đang lướt qua, rất gần… Phải rồi, hạ đang mang đi nhũng chùm ổi trĩu quả thơm lừng, những chùm hoa phượng vĩ đỏ rực rộn rã tiếng ve… báo thức trái ngon hạ mang cất như để dành mùa sau. Gió lạnh đầu mùa chỉ hơi khiến lòng tôi se lại. Những nỗi nhớ từ trong tiềm thức ào ạt ùa về. Nhớ mùa hè với những chuyến đi đầy bổ ích. Nhớ những con đường Hà Nội thơm mùi cốm làng Vòng – cái thức quà riêng biệt của đất nước, mang trong nó hương vị mộc mạc, giản dị, thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam. Nhớ con đường từ Tiên Yên đến thị xã Móng Cái mà hướng dẫn viên du lịch gọi là “đặc sản” bởi cái ngoằn nghoèo, quanh co của đường một bên là núi. một bên là vực. Và nhớ rất nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi học trò. Nhớ ngày tựu trường năm ngoái còn vui bạn vui bè, vô tư hồn nhiên thì giờ bạn mới thầy mới với bao bỡ ngỡ, vừa lạ vừa quen. Thời khắc chuyển mùa dường như đang đến, cái thay đổi thất thường của thời tiết giống như tính khí của mấy cô cậu học trò. Thu đến mà không ồn ào, náo nhiệt như hạ, không trần trề sức sống như xuân, không lạnh lùng, khắc nghiệt như đông. Thu dịu dàng và hiền hoà như một cô gái đang bước vào tuổi trưởng thành không còn quá nhiều ngây thơ, dại dột. Thời khắc giao mùa để lại trong con mắt trẻ thơ là niềm háo hức tới trườnng, được học tập vui chơi, để lại trong mắt tôi và bạn là niềm vui được gặp lại nhau sau một mùa hè nghỉ ngơi đầy thú vị, để lại trong mắt mỗi chúng ta những xúc cảm diệu kì và tinh tế về thiên nhiên. Nhưng thời khắc giao mùa lại để lại cho những người cha, người mẹ nỗi lo toan, trăn trở về ngày tựu trường của con trẻ. Đó là vết chân chim nơi khoé mắt cha nhọc nhằn từng ngày nuôi con ăn học, là mái tóc bạc trên đầu mẹ lo nghĩ từng ngày để con khôn lớn thành người, Đừng bao giờ nghĩ rằng, cha mẹ chỉ lao động vì cuộc sống mưu sinh, vì địa vị hay danh lợi, tiền bạc. Cha mẹ vẫn ngày đêm lo lắng cho con. Dù cha bạn là một nguời phụ hồ hay mẹ bạn là một người bán hàng rong, dù họ có là gì thì họ vẫn luôn là người che chở, nuôi nấng bạn, cho bạn một cuộc sống, cho bạn một năm học mới với đầy đủ sách bút. Vì thế, đừng bao giờ để cha mẹ buồn nhé bạn?… Trong cái se lạnh ngoài trời, mặc cái áo mẹ mua tôi thấy tiết trời thu thật ấm áp, nhưng bạn có biết còn bao sinh linh nhỏ bé đang không có áo mặc, đôi vai đang run lên vì lạnh – chúng là những đứa trẻ mồ côi, bị bỏ rơi ngoài lề xã hội. Tôi phải cảm thấy hạnh phúc vì mình được đến trường, vì có biết bao đứa trẻ mơ ước điều đó mà không được. Giá như trong khoảnh khắc giao mùa, tôi có một điều ước thì tôi ước sao đứa-trẻ nào cũng được đi học để cảm nhận niềm vui tới trường, để tình bạn sẽ sưởi ấm cho những tâm hồn giá lạnh và non nớt ấy. Thời khắc giao mùa thật đẹp, trong những giây phút tuyệt vời này, tôi thấy, mình dường như đang lớn lên. Tôi thấy thương cha những ngày phải làm ca đêm, cái se lạnh của gió ban ngày thì đêm về lạnh gấp bội, thời tiết giao mùa khiến sức khoẻ cha tôi giảm sút nhiều. Tôi thấy thương mẹ phải làm việc suốt ngày, mẹ hay mệt mỏi mà nhiều khi vô tâm tôi chẳng hỏi han lấy một lời. Tôi thương nhiều lắm sự vất vả của cha mẹ vì tôi. Tôi thấy mình cần phải cố gắng học tập để không phụ công cha mẹ. Hãy cùng nói: Xin cha mẹ hãy tin tưởng vào con! Thiên nhiên và đời sống con người trong thời khắc chuyển mùa sang thu thật nhẹ nhàng, nó giống như một con gió lưót qua tâm hồn mang theo lá vàng rơi đầy hiên và rơi đầy trên những con đường tới lớp. Mang theo bầu trời thu trong veo như cao hơn, nước thu trong vắt như sâu hơn, mang theo ngày khai trường lấp lánh niềm vui. Trong cuộc sống hối hả từng ngày, một chút cảm nhận về khoảnh khắc giao mùa cũng khiến tôi và bạn thấy cuộc sống thật tuyệt vời. “Cuối con đường ta gõ cửa mùa thu Xin mượn khúc dịu dàng ru kí ức Để ngày mai sống với gì là thực Để thấy yêu hơn mỗi khúc giao mùa… “ (Sưu tầm) Đề 3. Cảm nghĩ về một người thân yêu nhất của anh (chị): Cảm nghĩ về mẹ, cha, bạn bè,… đều có thể xây dựng một bố cục bài viết giống nhau chỉ khác nội dung các ý. Dưới đây là một dàn bài nêu cảm nghĩ về mẹ. -Mở bài: + Chọn một câu ca dao, câu nói, câu hát… về mẹ để vào đề (mở bài gián tiếp). Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. + Mẹ như núi cao, biển rộng, sông sâu. Mẹ lớn lao mà gần gũi và yêu thương biết mấy. Mẹ không chỉ là tuổi thơ với những câu hát ru ngọt ngào, êm ả mà còn là cây cao bóng cả che chở cho suốt cuộc đời bé nhỏ của con. -Thân bài: + Miêu tả những, nét ấn tưọng về vẻ bề ngoài của mẹ (dáng người, khuôn mặt, đôi mắt, đôi tay….) Tất cả gợi lên những ấn tượng của em về mẹ: mẹ hiền hòa, thân thiết và giàu yêu thương. + Cảm nhận chung về cuộc sống và công việc hằng ngày của mẹ: mẹ đảm đang, tháo vát, dù bận trăm công nghìn việc (việc đồng áng hay cơ quan), mẹ vẫn chăm chút lo lắng chu đáo cuộc sống của cả gia đình (lo bữa cơm, giấc ngủ, lo cho con cái học bài,…). Cuộc sống của mẹ bình thường và đơn giản nhưng đó là sự hi sinh cao cả cho cả gia đình. + Những tình cảm riêng của mẹ đối với con: là con út… em được chiều chuộng, chăm bẵm nhiều hơn. Nhưng mẹ dạy bảo nhiều điều hay lẽ phải. Và hơn thế chính mẹ là tấm gương sáng về cầch ứng xử, về giao tiếp, về thị lực để cho em noi theo. + Lời tự nhủ của bản thân: cố gắng học tập để làm hài lòng cha mẹ. Làm nhiều việc tốt đề xứng đáng với những gì mẹ hi sinh cho cả gia đình. –Kết bài: + Mẹ là nguồn vui là ánh sáng diệu kì soi đường dẫn lối cho cuộc đời của mỗi chúng ta. -Mẹ là động lực để ta phấn đấu. Bài viết tham khảo: Trong cuộc sống hằng ngày, có biết bao nhiêu người đáng để chúng ta thương yêu và dành nhiều tình cảm. Nhưng đã bao giờ bạn nghĩ rằng, người thân yêu nhất của bạn là ai chưa? Với mọi người câu trả lời ấy có thể là ông bà, là mẹ, là anh chị hoặc cũng có thể là bạn bè. Còn riêng tôi, hình ảnh ngưòi bố sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng liêng, sưởi ấm tâm hồn tôi mãi tận sau này. Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời, bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khoẻ mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ. Thế nhưng bây giờ. vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp. Giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo tẹo. Đôi mắt sâu duới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình. Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hằng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề xe ôm. Hằng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngả bóng từ lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy dễ dàng với những người bình thường nhưng với bố nó thật khó khăn và gian khổ. Bây giờ có những lúc phải chở khách đi đường xa, đường xóc thì những cơn đau dạ dạy của bố lại tái phát. Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38 – 40 c, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8. rồi cả những tối mùa đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu đức hi sinh, chịu thương, chịu khó như vậy. Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về những con đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng; tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi! Giá như con có thể những cơn đau đó vào mình thay cho bố. Giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm tất cả, bố hãy nói cho con được không? Những lúc ấy, tôi chỉ biết ôm bố, xoa dầu cho bố, tôi chỉ muốn nói với bố đừng đi làm nữa, tôi có thế nghỉ học, như vậy sẽ tiết kiệm được chi tiêu cho gia đình, tôi có thể kiếm được tiền và chữa bệnh cho bố. Nhưng nếu nhắc đến điều đó chắc chắn là bố sẽ buồn và thất vọng về tôi nhiều lắm. Bố luôn nói, bố sẽ luôn chiến đấu. Chiến đấu cho tới những chút sức lực cuối cùng để có thể nuôi chúng tôi ăn học thành người. Bố rất quan tâm đến việc học của chúng tôi. Ngày xưa, bố học giỏi nhưng nhà nghèo bố phải nghỉ học. Vào mỗi tối, khi còn cố gắng đi lại được, bố luôn dạy cho mấy chị em học bài. Trong những bữa cơm bố thường nhắc chúng tôi cách sống, cách làm người sao cho phải đạo. Tôi ngưỡng mộ bố lắm, bố thuộc hàng mấy nghìn câu Kiều, hàng trăm câu châm ngôn, danh ngôn nổi tiếng… Lời phê của cô giáo Phan Thị Thanh Vân: “Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động. Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu, em đã cho cô một bài học làm người. Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời”. Chính vì vậy, tôi luôn cố gắng tự giác học tập. Tôi sẽ làm một bác sĩ và sẽ chữa bệnh cho bố, sẽ kiếm tiền để phụng dưỡng bố và đi tiếp những bước đường dở dang trong mơ ước của bố. Tôi luôn biết ơn bố rất nhiều, bố đã dành cho tôi một con đường xán lạn, bởi đó là con đường của học vấn, chứ không phải là con đường đen tối của tiền bạc. Tôi sẽ luôn lấy nhũng lời bố dạy để sống, lấy bố là gương sáng để noi theo. Và tôi khâm phục không chi bởi bố là một người giỏi giang, là một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì chịu khó mà còn bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố. Mặc dù, những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít nhưng bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi. Những giỏ phong lan có bao giờ bố quên tưới nước vào mỗi buổi sáng, những cây thiết mộc lan có bao giờ mang trên mình một cái lá héo nào? Những cây hoa lan, hoa nhài có bao giờ không toả hương thơm ngát đâu? Bởi đằng sau nó luôn có một bàn tay ấm áp chở che, chăm sóc, không những yêu hoa mà bố còn rất thích nuôi động vật. Nhà tôi bao giờ cũng có hai chú chó con và một chú mèo và có lúc bố còn mang về nhũng chiếc lồng chim đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc trốn tránh sự thật bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn. Cuộc đời bố thật nhiều vất vả, khi mà cả gia đình đã dần khá lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ gia đình này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa. Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta. (Sưu tầm) Đề 4. Nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện mà anh (chị) đến nay vẫn không thể nào quên? Ví dụ: Chuyện người con gái Nam Xương, Chiếc lược ngà, Bố của Xi-mông, Lão Hạc, Tắt đèn,…. Hướng dẫn chung Với thể loại bài này thường phải căn cứ vào những nét nổi bật về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm để nêu cảm nghĩ tránh kể lan man, xa đề. Bài viết tham khảo: Chúng ta đã từng học qua nhũng truyện ngắn như Lão Hạc, Tắt đèn và chắc không mấy ai trong số chúng ta lại không trầm trồ, thán phục tài năng nghệ thuật của Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Với riêng tôi, dù đã đọc đi đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao rất nhiều lần nhưng dường như lần nào tôi cũng lại tìm thấy thêm được một vài điều lí thú. Nó,cuốn hút tôi, lay động tôi, khi thì gợi trong tôi sự căm thù, khi lại gợi về chan chứa nhũng yêu thương. Lão Hạc là sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Đó là tình yêu thương, là sự ngợi ca, trân trọng người lao động của Nam Cao. Giống như Ngô Tất Tố cùng nhiều nhà văn thời đó, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh người nông dân Việt Nam trước cách mạng với những phẩm chất đáng quý, đáng yêu: chăm chỉ, cần cù, giàu tình yêu thương và giàu đức hi sinh. Trước cách mạng, Nam Cao say sưa khám phá cuộc sống và tính cách của người nông dân. Trong các tác phẩm của ông, môi trường và hoàn cảnh sống của nhân vật chính thường gắn liền với cái nghèo, cái đói, với miếng ăn và với các định kiến xã hội đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ vào cách nhìn của con người ở nông thôn. Lão Hạc cũng vậy, suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão thương con vô bờ bến, thương khi con không lấy được vợ vì nhà nghèo quá, thương con phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi để ôm mộng làm giàu giữa chốn hang hùm, miệng sói. Và đọc truyện ta còn thấy lão đau khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng – kỉ vật duy nhất của đứa con trai. Không bán, lão biết lấy gì nuôi nó sống. Cuộc sống ngày thêm một khó khăn. Rồi cuối cùng, đến cái thân lão, lão cũng không giữ được. Lão ăn củ chuối, ăn sung luộc. Nhưng lão nghĩ, lão “không nên” sống nữa. Sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình. Vậy là, thật đớn đau thay! Lão Hạc đã phải tự “sắp xếp” cái chết cho mình. Cuộc sống của nông dân ta trước cách mạng ngột ngạt đến không thở được. Nhìn cái hiện thực ấy, ta đau đớn, xót xa. Ta cũng căm ghét vô cùng bọn địa chủ, bọn thực dân gian ác. Lão Hạc chết. Cái chết của lăo Hạc là cái chết cùng đường, tuy bi thương nhưng sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nông dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, chết mà không muốn làm luỵ phiền hàng xóm. Vấn đề nổi bật được thể hiện trong Lão Hạc là niềm tin và sự lạc quan của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của con người. Thế nhưng điều quan trọng hơn mà nhà văn muốn nhắn gửi đó là một lời tố cáo. Nó cất lên như là một tiếng kêu để cứu lấy con người. Từ chiều sâu của nội dung tư tưởng, tác phẩm nói lên tính cấp bách và yêu cầu khẩn thiết phải thay đổi toàn bộ môi trường sống để cứu lấy những giá trị chân chính và tốt đẹp của con người. Lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Nó cũng dạy ta, cuộc sống là một cuộc đấu tranh không phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách. (Sưu tầm) Đề 5. Cảm nghĩ về một bài thơ hoặc nhà thơ. Hướng dẫn chung: Cảm nghĩ về một bài thơ là cảm nghĩ về những nét độc đáo trong sáng tạo của người nghệ sĩ (nêu cảm nghĩ vê một nhà thơ mà ta chưa gặp thì phải căn cứ vào bài giới thiệu tác giả của SGK hay những hiểu biết về tác giả qua sách, báo, ti vi để lập ý). Bài viết tham khao: (Bài Nhàn được nhắc tới trong bài sẽ được học vào tuần 14) Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn thế kỉ XVI, giai đoạn có nhiều biến cố phức tạp, nội chiến, tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên, nhân dân lầm than đói khổ trong cảnh “nồi da nấu thịt”. Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện thái độ phê phán những thói đời bạc bẽo, ham danh lợi mà bỏ đi tình nghĩa. Là một biểu hiện thanh cao của một tấm lòng thiết tha với dân tộc. “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm là bài thơ tiêu biểu cho mảng thơ về đề tài “tịch cư” trong văn học trung đại. Bài thơ vẽ nên một bức tranh sinh hoạt của người ấn sĩ với thú vui dân dã. Khi về ở ẩn Trạng Trinh đã tỏ ra rất bàng lòng với lựa chọn của mình: Cao khiết thuỳ vi thiên hạ sĩ? An nhàn ngã thị địa trung tiên! (Kẻ sĩ trong thiên hạ ai Ià người trong sạch, thanh cao? Yên vui nhàn nhã, ta đây đích thực là tiên Trong đời!) (Ngụ hứng) Là tiên khách bởi được thoải mái cả về thân xác và tinh thần: Nội đắc tâm thân lạc, Ngoại vô hình dịch lụy. (Bèn trong được thủ vui của tâm, của thân, Bên ngoài khói phai chạy vạy để phục dịch cho hình xác.) (Cảm hứng) Thú vui nhàn dật, tránh xa khỏi vòng danh lợi là một đề tài khá quen thuộc của văn học thế kỉ XVI. Nhiều tác giả ca ngợi cuộc sống miền thôn dã với thú vui điền viên sơn thủy: Yêu thay miền thôn tịch; Yêu thay miền thôn tịch! Cư xử dầu lỏng; Ngao du mặc thích. Khéo chiều người mến canh sơn hà; Dễ quyến khách vui miền tuyền thạch. (Nguyễn Hàng, Tịch cư ninh thể phú) Cuộc sống tự nhiên, thanh tao miền “tịch cư’’ đã giúp các nhà nho tránh được nhũng phiền phức chốn quan trường. Cuộc sống nhàn tịch miền thôn dã được tác giả miêu tả ở hai câu đề và hai câu thực: Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thân dâu ai vui thú nào Thu ăn măng trúc, đông ân giá, Xuân tăm hô sen, hạ tăm ao. Cách dùne sô từ. danh từ, từ “thơ than” trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu hai cậu đề ơọ’i nên dáng vẻ uns dung trong công việc lao độn« hằng ngày và thê hiện những nhu cầu khiêm tốn của cuộc sống ân dật. Cuộc sống thật gần ơũi với tự nhiên, đon giản mà thanh sạch, vô tư, duửns như khôn” mảy may vuứng bận nhũng lo toan của cuộc sống bon chen nơi đông đúc. Cuộc sống đơn oiản, với những sinh hoạt đạm bạc. mùa nào thức ây, không phải lo lắng gi nhiều. Đủ cả bốn mùa. mỗi mùa một sản vật, vừa thế hiện thời gian Çjuanh năm, vừa thế hiện được mối quan hệ gần gũi, hoà nhập cùng thiên nhiên. Một trong những đặc điêm nòi bật của lối sống ấn dật là hoà nhập cùng thiên nhiên. Những nhu cầu giản dị của người ân sĩ đều đưọ’c thiên nhiên thoả mãn một cách dễ dàng. Nlũmg sinh hoạt của người ẩn sĩ thật giản dị và thanh cao, giốim như một tiên khách chôn trần oian. Bằng lòng vói cuộc sons ân dật, người ấn sĩ tự hào với sự lựa chọn của chinh minh: Ta dại, ta tìm nơi vang ve, Người khôn, người đèn chôn lao xao. Câu thực được tạo nên bỏ’i một lối đối rất chỉnh giữa quan niệm “dại” và “khôn’’. Một lối nói chứa hàm ý mỉa mai, thê hiện sự kiên định của nhà thơ vói lối sống nhàn dật. Tự nhận ‘‘ta dại” là một sự ngông neạo của người ờ ail, đó ià cái dại của bậc đại trí tron» thiên hạ. Cái dại của nhũng người như Mạnh Hạo Nhiên, Đào Tiềm, Nguyễn Trãi: Câm một chương, thơ mây quyên, đù tháng ngày ngâm ngợi, ấy thủ mầu ông Mạnh Hạo Nhiên: Lan chín khóm, cúc ba hàng, dõi hôm sớm bù trì, này của báu ông Đào Bành Trạch. (Nguyên Hàng, Tịch cư ninh thế phú) Họ tự hào với cuộc sống ấy bởi đó là cuộc sống thanh cao. Và họ kiên định với cách lựa chọn ấy: Dù ai cười thơ thân ngân ngơ; Thì ta cũng ngô nghê ngốc nghếch. (Nguyên Hàng, Tịch cư ninh thể phú) Những bậc đại trí ấy tìm đến “vắng vẻ”, trước tiên không phải là trốn tránh trách nhiệm với cuộc đời, mà họ đều đến nơi thôn tịch khi họ đã không thể cứu nước cứu dân, họ chọn cuộc sống giữa thiên nhiên cây cỏ khi họ phải lựa chọn giữa lối sống xa hoa nhưng phải luồn cúi và cuộc sống thanh sạch mà nghèo cực. Dù luôn nói đến cái thảnh thơi của một người nhàn tâm thản trí nhưng thực ra trong lòng họ vẫn mang những day dứt về cuộc đời. Về ở ẩn, họ dễ tránh được “chốn lao xao”, bởi theo nhà thơ, là nơi mọi người phải đua chen trong vòng danh lợi: Thành thị vốn đua tranh giành giật. (Thơ Nôm, bài 19) Không nơi nào không có đua chen, tranh giành: “Ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái lợi” (Bài bi kí quán Trung Tân). Ở câu thơ kết, một lần nữa tác giả khẳng định quan điểm sống của mình, đó là một cách thể hiện thái độ với cuộc đời của một nhà Nho: Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Phú quý ở đời chỉ là chuyện phù du. Câu thơ cuối có cách ngắt nhịp khác hẳn các câu thơ còn lại. Thủng thẳng nói về cái thú nhàn dật rồi buông ra một câu kết như thế, nhà thơ đã thể hiện một cách dứt khoát thái độ của mình đối với chuyện công danh phú quý. Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn nhưng khi được vời lại sẵn sàng ra giúp vua, giúp nước bởi tấm lòng luôn “cuồn cuộn nước triều dâng” khiến ông không thể yên tâm hưởng thanh nhàn nơi thông reo bốn mùa. Để rồi ông đã không thoát được cái án oan khiên thảm khốc. Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm, với một thế thời khác đã kiên định lối sống ở ẩn. Trong một chừng mực nào đó, cách lựa chọn của Trạng Trình chưa hẳn đã là đúng. Song vì thế thời, để giữ gìn phẩm giá thanh sạch của mình, việc lựa chọn cách sống ấy cũng là một điều đáng để chúng ta trân trọng họ – những nhà nho chân chính. Bài thơ nói về cái chí. Trước hiện thực xã hội rối ren thế kỉ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lựa chọn cách sống nhàn dật, đó chính là một cách thể hiện thái độ của nhà thơ đối với cuộc đời. Nguồn: Lĩnh Chì XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Viết bài làm văn số 1_ Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống
6,044
Hướng dẫn phân tích và đọc hiểu tác phẩm Tấm Cám – Ngữ văn 10 Hướng dẫn TẤM CÁM (Truyện cổ tích) I.KIẾN THỨC CƠ BẢN Tóm tắt truyện: Truyện Tấm Cám tiêu biểu cho truyện cổ tích thần kì. -Nhân vật chính là Tấm, một cô gái mồ côi có nhiều phẩm chất tốt đẹp, cuộc đời cô trải qua nhiều bất hạnh nhung cuối cùng cô cũng gặp được hạnh phúc. -Tấm mồ côi mẹ, rồi mồ côi cha, phải sống với dì ghẻ, chịu nhiều thiệt thòi, bị ức hiếp (bị cướp giỏ cá, bị mất cá bống, không được dự hội,…) -Nhờ sự giúp đỡ của Bụt, Tấm trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị mẹ con Cám hãm hại nhiều lần. Tấm hoá thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, cây thị, quả thị. Cuối cùng Tấm trở lại thành người. -Một hôm, vua đi qua quán nước, nhìn thấy trầu têm cánh phượng khéo giống như Tấm têm. Nhờ đó Tấm được về cung. -Cám thấy Tấm trở về đẹp hơn xưa nên hỏi bí quyết và Tấm đã chỉ cho Cám bằng cách dội nước sôi dẫn đến Cám chết, mụ dì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết. Truyện kể về số phận của cô gái mồ côi, bất hạnh với ước mơ đổi đời và công lí xã hội của nhân dân lao động. Truyện gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại cái ác để giành và giữ hạnh phúc. Tác phẩm thể hiện quan niệm hạnh phúc của nhân dân. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Diễn biến của mâu thuẫn – xung đột giữa Tấm và mẹ con Cám: a.Thân phận nghèo hèn khi sống với mẹ con Cám (bị động): -Bị bóc lột sức lao động, cướp công. + Đi bắt tép bị Cám cưóp hết giỏ tép. + Đi chăn trâu phải chăn đồng xa. -Về tinh thần: giành chiếc yếm đỏ. Bắt Tấm phải nhặt thóc để không đi dự hội được. Thân phận bất hạnh, đáng thương, bị cướp đoạt từ công sức lao động đến những ước mơ nhỏ bé. b.Cuộc đấu tranh không khoan nhượng để giành lại hạnh phúc (chủ động). Khi trở thành hoàng hậu, mâu thuẫn giữa Tấm – Cám và dì ghẻ càng gay gắt và quyết liệt hơn. -Mẹ con Cám tìm đủ mọi cách độc ác đế hãm hại Tấm (Dì ghẻ chặt gốc cau giết Tấm,…). -Tấm: bốn lần bị giết bốn lần hoá thân. -Tuyên chiến với kẻ thù (Cót ca cót két / Lấy tranh chồng chị / Chị khoét mắt ra). 2.Phân tích sự biến hoá của Tấm và ý nghĩa của nó. Tấm đã biến hoá nhiều kiếp. Quá trình biến hoá ấy đã thể hiện sức sống mãnh liệt của Tấm, tiêu biểu cho cái thiện mà không một kẻ ác nào có thể tiêu diệt được, tức!à cái tốt cái thiện sẽ còn mãi mãi. Bị cản trở, bị hại nhưng Tấm vẫn tồn tại. Tấm chỉ tạm thời phải đội lốt. Chim vàng anh vẫn thốt ra tiếng nói của Tấm, cây xoan đào thành khung cửi vẫn phát ra lời nói của Tấm. Sức sống ấy dường như trưòng tồn. Sau quá trình biến hoá, Tấm trờ lại làm người xinh đẹp hơn xưa và được hưởng hạnh phúc trọn vẹn. -Chị Tấm ơi chị Tấm, chị làm thế nào mà đẹp thế? Tấm không đáp, chỉ hỏi lại: Có muốn đẹp không để chị giúp? Cám bằng lòng ngay. Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám nhảy xuống hố và sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết, mụ dì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết… Ở cách kết thúc này, tác giả dân gian đã cho ta chứng kiến kết cục cuối cùng của cuộc đời Cám và mụ dì ghẻ. Người ra tay trừng phạt hai mẹ con Cám không ai khác chính là Tấm. Đành rằng trong truyện cổ tích, kẻ ác lúc nào cũng bị trừng phạt đích đáng, kết thúc trên rõ ràng là đã thể hiện đúng ước mơ của người dân lao động (thiện thẳng ác) nhưng liệu như vậy, cô Tấm có phải là một con người “hơi” dã man khi ở phần trên câu chuyện ta luôn biết Tấm là một người con gái hiền lành, tốt bụng? Song xét về thế giới tâm lí của con người, ta đều có thể cảm nhận được cách kết thúc là hợp lí nhất. Tuy nhiên, điều cảm nhận ấy vẫn là đánh giá chủ quan của từng người đọc. Nhưng vấn đề đặt ra là, có nên theo “tấm lòng nhân ái” khi nghe chuyện mà bỏ qua biểu tượng răn đe hết sức quyết liệt của cách kết thúc như trên hay không. Đó là trước cái ác tột cùng, một cái ác không điểm dừng, quyết truy đuổi, tiêu diệt đến cùng, cái ác ấy cũng cần bị cái thiện đáp trả xứng đáng. Tiêu diệt cả gốc lẫn rễ, làm cho cái ác phải ghê rợn để chúng không thể hồi sinh được. Mâu thuẫn và xung đột trong truyện này trước tiên là mâu thuẫn và xung đột giữa dì ghẻ và con chồng trong gia đình phụ quyền thời cổ. Nguyên nhân của mâu thuẫn và xung đột chủ yếu chung quanh chuyện gia tài và những quyền lợi vật chất, tinh thần trong cuộc sống gia đình thường ngày giữa các thành viên. Sau đó, ý nghĩa xã hội của truyện mới xuất hiện. Đó là mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác. Tấm tiêu biểu cho nhũng người lương thiện còn mẹ con Cám tiêu biểu cho những kẻ bất lương. Và cuối cùng, cái thiện chiến thắng cái ác, ở hiền gặp lành. III.LUYỆN TẬP Những đặc trưng của thể loại truyện cổ tích thần kì được biểu hiện trong Tấm Cám: -Cốt truyện có sự tham gia của nhiều yếu tố thần kì: nhân vật Bụt, xương cá bống,- những lần biến hoá của Tấm. -Về kết câu truyện có dạng: nhân vật chính phải trải qua nhiều hoạn nạn cuối cùng mới được hưởng hạnh phúc. Đây là một trong những kiểu kết cấu khá phổ biến của loại truyện cổ tích thần kì. -Truyện phản ánh những xung đột trong xã hội thời kì đã có sự phân chia giai cấp. -Kết thúc truyện có hậu mang tính nhân đạo và lạc quan. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU TRONG BÀI VĂN TỰ SỰ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích và đọc hiểu tác phẩm Tấm Cám – Ngữ văn 10
1,087
Hướng dẫn phân tích và đọc hiểu Văn Bản ( tiếp theo) – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VĂN BẢN (Tiếp theo) LUYỆN TẬP 1.Đọc đoạn văn và thực hiện những yêu cầu bên dưới: a.Đoạn văn có một chủ đề thống nhất với ý khái quát là giữa cơ thể và môi trường có ảnh hưởng qua lại với nhau. b.Các câu tiếp theo của đoạn văn nhằm triển khai ý bằng dẫn chứng cụ thể về quan hệ của lá cây trong những môi trường khác nhau. Tất cả các câu trong văn bản xoay quanh và làm rõ chủ đề đó. c.Có thể đặt tên cho đoạn văn với nhan đề: Mối quan hệ giữa cơ thể và môi trường hoặc Sự ảnh hường của môi trường đến cơ thể sống, Cơ thể và môi trường,… 2.Sắp xếp các câu theo thứ tự: ( 1 ) -> (3) -> (5) -> (2) -> (4) hoặc ( 1 ) -> (3) -> (4) -> (5) -> (2) Có thế đặt cho văn bản nhan đề: về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc hoặc Giới thiệu bài thơ Việt Bắc,… 3.Viết tiếp một số câu để tạo thành một văn bản có nội dung thống nhất. Môi trường sống của loài người hiện nay đang bị hủy hoại ngày càng nghiêm trọng. Một số nhà khoa học cho rằng nguyên nhân gây nên sự hủy hoại này là do con người không có ý thức giữ gìn môi trường. Các nhà máy, xe cộ cứ thải hàng tấn khối khí độc vào bầu khí quyển mỗi năm và thải rác xuống sông làm chết rất nhiều cá tôm, trong khi đó hiện tượng phổ biến nhất là do con người phun thuốc trừ sâu, chất độc hoá học, chất phóng xạ vào bầu khí quyển nhiều vượt quá mức báo động, nhưng việc đe doạ cao nhất đối với con người là hiện tượng xả rác bừa bãi hầu như trở thành thói quen của mọi người. Các bạn biết đấy hiện nay rác thải đa số là bao ni-lông mà chúng ta biết ni-lông không thể phân hủy, nó còn gây ra những hậu quả nặng nề như: xói mòn đất, cây cối chết dần dẫn đến hiện tượng hạn hán, lũ lụt thất thường gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Phần khác cũng đe doạ không kém đến thế giới tự nhiên là do con người khai thác rừng bừa bãi, đốt rừng để làm nương rẫy khiến cho nhiều loài thú mất nơi sinh sống có thể dẫn đến tuyệt chủng. Rất nhiều nguyên nhân đe doạ đến xã hội loài người còn tiếp tục diễn ra thì trong một khoảng thời gian nào đó thì gây ra hiệu ứng nhà kính, tầng ôzon bị thủng trái đất sẽ mất một lượng oxi lớn và sẽ không còn sự sông. Khác với các hành tinh khác trái đất là hành tinh duy nhất có sự sống, bất kì ai trên thế giới này chỉ cần là con người thì phải biết nhận thức và cải tạo môi trưòng tự nhiên vì bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ chính mình. Nếu chúng ta không biết bảo vệ môi trường sống của chúng ta thì nền văn minh của con người sẽ đi vào lãng quên chúng ta sẽ tuyệt chủng như loài khủng long xa xưa. Ai trong chúng ta, tất cả mọi người hãy góp phần bảo vệ môi trường để môi trường sạch đẹp, cuộc sống sẽ tốt hơn. Mong các bạn hãy giữ gìn môi trường. 4.Đơn xin phép nghỉ học là một văn bản hành chính. -Đơn gửi cho cô giáo chủ nhiệm lớp. Người viết đơn ở cương vị là học sinh đề đạt nguyện vọng của mình, để cô giáo giúp đỡ. -Mục đích viết đơn là xin cô giáo chủ nhiệm cho nghỉ buổi học buổi sáng vì bị ốm phải đi khám bệnh ở bệnh viện. -Nội dung cơ bản của đơn là: Xưng họ tên, nêu lí do xin nghỉ, thời gian nghỉ, lời hứa thực hiện đầy đủ các công việc học tập khi phải nghỉ học. -Kết cấu của đơn: a.Phần mở đầu phải có đủ: + Tiêu ngữ (quốc hiệu) Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc + Tiêu đề đơn: Đơn xin nghỉ học. + Nơi nhận đơn (người nhận đơn). Ví dụ: Kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp… trường… b.Phần triển khai: + Tự giới thiệu: họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, chỗ ở, trình độ văn hoá,… + Trình bày nguyện vọng, yêu cầu: cần viết cụ thể, rõ ràng, nghiêm túc,… c.Phần kết thúc: + Lời hứa hẹn và cảm ơn của người làm đơn. + Ngày tháng năm viết đơn. + Chữ kí và ghi rõ họ tên. + Phần ghi chú (nếu có) sẽ viết ở góc trái, phía dưới của lá đơn. TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam HOÀN KIẾM – HÀ NỘI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐƠN XIN PHÉP NGHỈ HỌC Kính gửi: Giáo viên chủ nhiệm lớp………………………………. Em tên là:………………………………………………………………………………………………. Học lớp:…………………………………………………………………………………………………. Em viết đơn này xin phép được nghỉ học từ ngày………………. đến ngày………….. Lí do:……………………………………………………………………………………………………………….. Em hứa sẽ học bài và làm bài tập đầy đủ. Trong thời gian nghỉ học, nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Kính mong thầy (cô) xem xét, giúp đỡ em. Em xin chân thành cảm ơn. …. ngày…. tháng…. năm 2013 PHỤ HUYNH Người viết đơn (Kí và ghi rõ họ tên) -XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VÀ DỌC HIỂU VĂN BẢN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY –XEM THÊM HƯỚNG DẪN ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích và đọc hiểu Văn Bản ( tiếp theo) – Ngữ văn 10
947
Hướng dẫn phân tích và đọc hiểu Văn Bản – Ngữ văn 10 Hướng dẫn VĂN BẢN I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Khái niệm văn bản Văn bản là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó thường gồm nhiều câu và là một chỉnh thể về mặt nội dung và hình thức. 2.Các đặc điểm của văn bản -Văn bản bao giờ cũng tập trung nhất quán vào một chủ đề và triển khai chủ đề đó một cách trọn vẹn. -Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ và liên kết về mặt nội dung. Đồng thời cả văn bản còn phải được xây dựng theo một kết cấu mạch lạc, rõ ràng. -Mỗi văn bản thường hướng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định. -Mỗi văn bản có những dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặt nội dung: thường mở đầu bằng một tiêu đề và có dấu hiệu kết thúc phù hợp với từng loại văn bản. 3.Các loại văn bản thường gặp Dựa vào lĩnh vực và chức năng giao tiếp, người ta phân biệt các loại văn bản sau: -Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (thư, nhật kí,…) -Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tuỳ bút,…) -Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học (sách giáo khoa, tài liệu học tập, bài báo khoa học, luận văn, luận án, công trình khoa học….) -Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ (đơn, giấy khai sinh, giây ủy quyền,…). Các loại văn bản này thường có mẫu biểu quy định sẵn về hình thức. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI A.Khái niệm, đặc điểm 1.Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm,., với người đọc. Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi. 3.Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von). Hai cặp câu này vừa kiên kết với nhau bằng ý nghĩa, vừa liên kết với nhau bằng phép lặp từ “thân em”. Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn đươc nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. -Mở bài: gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!” -Thân bài: tiếp theo đến thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. -Kết bài: phần còn lại. 4.Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng “Lời kêu gọi”. Thế nên, nó có dấu hiệu hình thức riêng. Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi “Hỡi đồng bào toàn quốc!” để dẫn dắt người đọc vào phần nội dung, để gây sự chú ý và tạo ra sự “đồng cảm” cho cuộc giao tiếp. 5.Mục đích của việc tạo lập văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân); văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải chờ đọi vào sự rủi may); mục đích của văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. 1.So sánh các văn bản 1,2 với văn bản 3 (ở mục I, SGK) về các phương diện sau: -Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị. -Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hằng ngày (mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày,…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị (kháng chiến, hoà bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc,…). -Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng. Trong khi đó, văn bản (3) lại chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai các khía cạnh nội dung. Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể khẳng định: văn bản (1) và (2) thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, văn bản (3) thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận. 2.So sánh các văn bản 2,3 (ở mục I, SGK) với: -Một bài học trong SGK thuộc môn học khác (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,…) -Một đơn xin nghỉ học hoặc một giấy khai sinh. a.Phạm vi sử dụng của các loại văn bản: -Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật. -Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị. -Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính. b.Mục đích giao tiếp cơ bản của mỗi loại văn bản. Văn bản (2) nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc. Văn bản (3) nhằm kêu gọi, hiệu triệu toàn dân đứng lên kháng chiến. Các văn bản trong SGK nhằm truyền thụ các kiến thức khoa học ở nhiều lĩnh vực. Văn bản đơn từ và giấy khai sinh nhằm trình bày, đề đạt hoặc ghi nhận nhũng sự việc, hiện tượng liên quan giữa cá nhân với các tổ chức hành chính. c.về từ ngữ: -Văn bản (2) dùng các từ ngữ thông thường, giàu hình ảnh và liên tưởng nghệ thuật. -Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị xã hội. -Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học. -Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính. d.Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản. -Văn bản (2) có kết cấu của ca dao, sử dụng thể thơ lục bát. -Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng, mạch lạc. -Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục,.,. -Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều theo mẫu thường được in sẵn chỉ cần điền vào đó các nội dung. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH VÀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (TIẾP THEO) – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích và đọc hiểu Văn Bản – Ngữ văn 10
1,153
Hướng dẫn phân tích Văn Bản Văn Học -Ngữ văn 10 Hướng dẫn VĂN BẢN VĂN HỌC I– KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG 1.Các tiêu chí chủ yếu của văn bản văn học -Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh và khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng và thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. -Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao, rất giàu hàm nghĩa và gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc. -Văn bản văn học bao giờ cũng thuộc về một thể loại nhất định với những quy ước riêng, những cách thức riêng của thể loại đó. 2.Cấu trúc của các văn bản văn học a.Tầng ngôn từ: Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, vì thế cần phải hiểu rõ ngữ nghĩa (các tầng nghĩa, từ nghĩa tường minh đến nghĩa hàm ẩn, từ nghĩa đen đến nghĩa bóng) và ngữ âm (các thủ pháp nghệ thuật) của những lớp ngôn từ. Đây là bước đầu tiên quan trọng cần phải vượt qua để đi vào chiều sâu của văn bản. b.Tầng hình tượng: Hình tượng trong tác phẩm văn học có thể là người, sự vật hay đồ vật,… Nó là phương thức để nhà văn nói lên tư tưởng của mình. Trong văn bản, nhờ những chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng,… và tuỳ từng thể loại mà có sự khác nhau. Vì vậy khám phá tầng hình tượng cần có sự quan sát tinh tế cũng như cần phải huy động nhiều năng lực thẩm mĩ khác nhau. c.Tầng hàm nghĩa: Không giống tầng ngôn từ và tầng hình tượng vốn hiện lên tương đối rõ, tầng hàm nghĩa khó nắm bắt hơn. Tầng hàm nghĩa hiện dần lên trong tâm trí người đọc nhờ sự hỗ trợ của tầng ngôn từ và tầng hình tượng, cũng như nhờ chính sự phân tích, suy luận khái quát của người đọc. Để đi sâu vào tầng hàm nghĩa của văn bản, ta cần đi qua các lớp: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo,… Và càng trải nghiệm cuộc sống, càng thấu hiểu nghệ thuật, hàm nghĩa của văn bản hiện lên càng sâu sắc, rõ ràng. Có thể nói trong quá trình tìm hiểu thế giới nghệ thuật và tư tưởng của nhà văn, việc nắm bắt được tầng hàm nghĩa chính là khâu có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất. 3.Văn bản của nhà văn và tác phẩm trong tâm trí người đọc Nhà văn là người sáng tạo ra tác phẩm, nhưng khi chưa đến tay người đọc, nó chỉ là một tập giấy có chữ, chưa ảnh hưởng gì đến xã hội. Chỉ có thông qua việc đọc thì văn bản của nhà văn mới trở thành tác phẩm. Khi ấy, hệ thống kí hiệu mới hiện lên trong tâm trí người đọc với tạt cả sự sinh động tiềm tàng vốn có của nó và cũng nhờ đó mà những giá trị của tác phẩm mới được khám phá và tiếp nhận. Tác phẩm văn học vận động theo quá trình như thế và cũng chỉ khi ấy mới có thể nói đến tác động của nó đối với cuộc đời. II- HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI 1.Vì sao nói: hiểu tầng ngôn từ mới là bước thứ nhất cần thiết đã đi vào chiều sâu của văn bản văn học? Gợi ý: Trong một tác phẩm văn học, bao giờ nhà văn cũng gửi gắm những tư tưởng, tình cảm và thái độ của mình trước cuộc đời thông qua hình tượng. Mà hình tượng nghệ thuật của tác phẩm chính lại được hình thành từ sự khái quát của các lớp nghĩa ngôn từ. Vì thế rõ ràng nếu mới chỉ hiểu tầng ngôn từ mà chưa biết tổng hợp nên ý nghĩa của hình tượng, chưa hiểu được các ý nghĩa hàm ẩn của văn bản thì chưa thể coi là đã nắm được nội dung tác phẩm. Gợi ý: Bài này yêu cầu rèn luyện kĩ năng phát hiện, phân tích và cảm thụ cái hay của hình tượng nghệ thuật. Muốn làm được điều này, cần chú ý ngay từ khi lựa chọn ngữ liệu để phân tích. Ví dụ cộ thể lựa chọn phâri tích các hình tượng: củ ấu gai, tấm lụa đào, khăn, đèn, mắt,… trong những bài ca dao mà chúng ta đã được học ở học kì I (xem Để học tốt Ngữ văn 10,tập một). 3.Hàm nghĩa của văn bản văn học là những lớp nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản được gửi gắm trong hình tượng. Ví dụ trong câu ca dao: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng? khi chàng trai nói đến chuyện tre, đan sàng thì câu ca dao không chỉ mang ý nghĩa tả thực như vậy. Nó còn mang hàm nghĩa chỉ chuyện tình yêu nam nữ, chỉ chuyện ướm hỏi, chuyện cưới xin. III– HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP 1.Đọc các văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu à dưới. (1) NƠI DỰA Người đàn bà nào dắt đứa nhỏ đi trên đường kia? Khuôn mặt trẻ đẹp chìm vào những miền xa nào… Đứa bé đang lẫm chẫm muốn chạy lên, hai chân nó cứ ném về phía trước, bàn tay hoa hoa một điệu múa kì lạ. Và cái miệng nhỏ líu lo không thành lời, hát một bài hát chưa từng có Ai biết đâu, đứa bé bước còn chưa vững lại chính là nơi dựa cho người đàn bà kia sống. Người chiến sĩ nào đỡ bà cụ trên đường kia? Đôi mắt anh có cái ánh riêng của đôi mắt đã nhiều lần nhìn vào cái chết. Bà cụ lưng còng tựa trên cánh tay anh, bước từng bước run rẩy. Trên khuôn mặt già nua, không biết bao nhiêu nếp nhăn đan vào nhau, mỗi nếp nhăn chứa đựng bao nổi cực nhọc gắng gỏi một đời. Ai biết đâu, bà cụ bước không còn vững lại chính là nơi dựa cho người chiến sĩ kia đi qua những thử thách. (Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, 1983) a.Hãy tìm hai đoạn có cấu trúc (cách tổ chức) câu, hình tượng tương tự nhau của bài Nơi dựa. b.Những hình tượng (người đàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già) gợi lên những suy nghĩ gì về nơi dựa trong cuộc sống? Gợi ý: Đây là một bài thơ có hình thức giống một tác phẩm văn xuôi (chỉ khác với ngôn từ văn xuôi thông thường ở chỗ nó có ý thơ và nhịp điệu). Bài có hai đoạn gần như đối xứng nhau (về cách cấu trúc câu), nhất là sự giống nhau của câu mở đầu và câu kết của mỗi đoạn. Các nhân vật được đặt trong mối quan hệ tương phản nhằm mục đích làm nổi bật nội dung tư tưởng của bài thơ. b. Bài thơ này có một cái tứ khá đặc biệt và rất bất ngờ. Thông thường chỉ có những người yếu đuối tìm “nơi dựa” ở những người vững mạnh, ở đây, Nguyễn Đình Thi có một liên tưởng hoàn toàn ngược lại mà vẫn hợp lí, đặc biệt là phù hợp với lô gích tình cảm. Người mẹ trẻ khoẻ lại dựa vào đứa con mới biết đi chập chững. Anh bộ đội dạn dày chiến trận dựa vào cụ già yếu ởt đang bước từng bước run rẩy trên đường. Các hình tượng nghệ thuật trong bài thơ (người đàn bà – em bé, người chiến sĩ – bà cụ già), vì thế đã gợi lên những suy nghĩ về nơi dựa. “Nơi dựa” nói theo Nguyễn Đình Thi là điểm tựa về mặt tinh thần: nơi con người tìm thấy niềm vui và ý nghĩa của cuộc sống. Trong thực tế, quả đúng có điều như vậy. Con người đâu chỉ tồn tại với cuộc sống vật chất đơn thuần. Họ cần có tình yêu (tình yêu đối với con cái, tình yêu đối với bố mẹ, ông bà… ). Rộng hơn, họ cần phải sống với lòng hi vọng về tương lai, với lòng biết ơn quá khứ… Chính những tình cảm này làm nên phẩm giá của con người, giúp con người vượt qua những trở ngại. (2) THỜI GIAN Thời gian qua kẽ tay Làm khô những chiếc lá Kỉ niệm trong tôi Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn Riêng những câu thơ còn xanh Riêng những bài hát còn xanh Và đôi mắt em như hai giếng nước (Văn Cao, Lá, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1998) a.Các câu sau đây hàm chứa ý nghĩa gì? -Kỉ niệm trong tôi Rơi như tiếng sỏi trong lòng giếng cạn -Riêng những câu thơ còn xanh Riêng những bài hát còn xanh (Đối sánh với hai câu mở đầu của bài, chú ý từ xanh) -Và đôi mắt em như hai giếng nước. b.Qua bài Thời gian, Văn Cao định nói lên điều gì? Gợi ý: a.Bài thơ có một cái tứ rõ ràng gắn với bố cục có thể chia làm hai đoạn: bốn câu thơ đầu nói lên sức mạnh tàn phá của thời gian và ba câu còn lại nói lên những cái tồn tại vĩnh hằng. Thời gian trôi chảy từ từ, nhẹ, im, tưởng như yếu ớt (“Thời gian qua kẽ tay”), thời gian “làm khô những chiếc lá”. “Chiếc lá” ở đây rõ ràng chỉ là một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng. Chiếc lá hay chính là những mảnh đời đang trôi đi theo nhịp thời gian? Những chiếc lá khô hay chính là những cuộc đời không thể tránh khỏi vòng sinh diệt? Những chiếc lá khô, những cuộc đời ngắn ngủi và những kỉ niệm của đời người cũng sẽ bị rơi vào quên lãng (hòn sỏi rơi vào lòng giếng cạn đầy bùn cát thì chẳng có tiếng vang gì cả). Như thế cuộc đời và những kỉ niệm đều tàn tạ, đều bị thời gian xoá nhoà. Thế nhưng trong cuộc sống vẫn có những điều tồn tại mãnh liệt với thời gian, đó là: Riêng những câu thơ còn xanh Riêng những bài hát còn xanh Đó là nghệ thuật khi đã đạt đến độ kết tinh xuất sắc sẽ tươi xanh mãi mãi, bất chấp thời gian, như Truyện Kiều chẳng hạn. Bài thơ khép lại bằng câu thơ đầy xúc động; Và đôi mắt em như hai giếng nước. “Đôi mắt em”: đôi mắt người yêu (kỉ niệm tình yêu); “giếng nước”: giếng nước không cạn, gợi lên những điều trong mát ngọt lành. Câu kết đúng là rất giàu sức gợi. Lời thơ tự nhiên mà ý tứ thấm đượm, sâu xa. Sau này, trong bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyên Đình Thi, ta cũng gập hình ảnh đôi mắt người yêu rất đẹp: Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu: b.Qua bài thơ này, Văn Cao muốn gửi đến chúng ta một thồng điệp: Thời gian có thể xoá nhoà đi tất cả, thậm chí tàn phá cả cuộc đời của mỗi chúng ta. Duy chỉ có văn học nghệ thuật và kỉ niệm về tình yêu là có sức sống lâu dài. (3) MÌNH VÀ TA Mình và ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình. Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy! Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy. Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành. (Chế Lan Viên, Ta gửi cho mình, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1986) a.Giải thích rõ quan niệm của Chế Lan Viên về mối quan hệ giữa người đọc (mình) và nhà vần (ta) ở các câu 1,2. b.Nói rõ quan niệm của Chế Lan Viên về văn bản văn học và tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc ở các câu 3, 4. Gợi ý: Thơ Chế Lan Viên rất giàu chất triết lí và đây là một trong những bài thơ như thế. Chỉ có điều, cái chất triết lí ấy không phải được trình bày một cách khô khan mà trình bày bằng những hình tượng giàu tính nghệ thuật. Ví như trong hai câu đầu của bài thơ này, nhà thơ đã có một liên tưởng sâu sắc và tinh tế khi so sánh mối quan hệ giữa bạn đọc và nhà văn như hai người tri kỉ (mình với ta): Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình. Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy! Đúng vậy! Thực ra chỗ sâu thẳm trong tâm hồn người đọc cũng chính là chỗ mà người viết tìm đến khai thác và diễn tả. Nó cũng là cái đích mà người viết muốn vươn tới để sáng tạo nên những áng văn chương bất hủ, mang đậm tính nhân dân và tiêu biểu cho tâm hồn dân tộc. Ngược lại, người đọc vừa là những người bạn đồng hành, vừa là người kiểm nghiệm, định giá và khẳng định hay phủ định những điều mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm văn chương. b.Trong hai câu thơ tiếp: Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy, Gửi viên đá con, mình dựng lại nên thành. Nhà thơ Chế Lan Viên lại muốn nói lên quá trình từ văn bản của nhà văn đến tác phẩm văn học trong tâm trí của người đọc. Theo đó, một tác phẩm văn chương chỉ trở thành tác phẩm văn chương thực sự khi nó đến tay độc giả. Thêm nữa, quá trình đi từ văn bản của nhà văn đến tác phẩm trong tâm trí người đọc không phải là một quá trình sao chép hoàn toàn thụ động của người xem sách. Nhà văn khi sáng tác đã tự “để ra” những “khoảng trống” cho người đọc và kế độ trong quá trình tiếp nhận, người đọc lại tiếp tục phát huy tính chủ động sáng tạo của mình (từ tro nhen lên thành lửa, từ đá dựng lại nên thành). Cứ thế, tác phẩm văn chương tồn tại trong trạng thái động và có sức cuốn hút người đọc nhiều thời với nhiều thế hệ khác nhau. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TÁC PHẨM THỀ NGUYỀN – NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Văn Bản Văn Học -Ngữ văn 10
2,352
Hướng dẫn phân tích Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết – Ngữ văn 10 Hướng dẫn ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT I.KIẾN THỨC CƠ BẢN 1.Về khái niệm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp tự nhiên hằng ngày; trong đó người nói người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể thay phiên nhau trong vai nói và vai nghe. Ngôn ngữ viết là thứ ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác. 2.Những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết a. Ngôn ngữ nói -Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: Giọng nói có thể cao hay thấp, nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng. Trong ngôn ngữ nói, ngữ điệu là yếu tố quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin. -Trong ngôn ngữ nói, ngoài sự kết hợp giữa âm thanh và giọng điệu còn có các phương tiện bổ trợ ngôn ngữ khác như: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,… của-người nói. -Từ ngữ trong ngôn ngữ nói được sử dụng khá đa dạng: có những lớp từ mang tính khẩu ngữ, có những từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, các biệt ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy,… Ngôn ngữ nói hay dùng những câu tỉnh lược (có khi lược chỉ còn có một từ) nhưng cũng có khi câu nói rườm rà, có nhiều yếu tô dư, hoặc lặp đi lặp lại (để nhấn mạnh hoặc để người nghe có điều kiện tiếp nhận, lĩnh hội, thấu đáo nội dung giao tiếp). b.Ngôn ngữ viết -Ngôn ngữ viết được sản sinh một cách có chọn lọc, được suy nghĩ, nghiền ngẫm và gọt giũa kĩ càng. -Trong ngôn ngữ viết, sự hỗ trợ của hệ thống dấu câu, của các kí hiệu và văn tự, của các hình ảnh minh hoạ, bảng biểu, sơ đồ..: giúp biểu hiện rõ thêm nội dung giao tiếp. -Từ ngữ trong ngôn ngữ viết được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được độ chính xác cao. Đồng thời khi viết, tuỳ tùng phong cách ngôn ngữ của văn bản mà người viết có sự lựa chọn hệ thống ngôn từ cho phù hợp. -Trong văn bản viết, người ta thường tránh dùng các từ mang tính khẩu ngữ, các từ địa phương, tiếng lóng… về câu, ngôn ngữ viết thường dùng các câu dài, câu nhiều thành phần nhưng được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sự sắp xếp các thành phần phù hợp. 3.Ưu, nhược điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, người nghe có thể phản hồi để người nói điều chỉnh, sửa đổi. Hoặc hai bên có thể trực tiếp giải quyết những thắc mắc để đi đến những thống nhất chung. Tuy nhiên, do giao tiếp bằng ngôn ngữ nói diễn ra tức thời, mau lẹ nên các phương tiện ngôn ngữ thường không được lựa chọn, gọt giũa kĩ càng. Trong khi đó, người nghe cũng phải tiếp nhận lĩnh hội nhanh nên cũng ít có điều kiện suy ngẫm và phân tích. So với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết được lựa chọn rất kĩ càng và chính xác. Trong khi đó, người đọc cũng có điều kiện đọc đi đọc lại, phân tích và nghiền ngẫm nội dung văn bản. Tuy nhiên, để giao tiếp được bằng ngôn ngữ viết thì cả người viết và người đọc đều phải biết các kí hiệu chữ viết, các quy tắc chính tả, quy tắc tố chức văn bản. Đồng thời giao tiếp theo hình thức này thường nảy sinh những thắc mắc, nhưng những thắc mắc ấy lại không thể giải quyết được tức thì. II.HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 1.Đặc điểm ngôn ngữ viết của đoạn trích trong bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. -Sử dụng một hệ thống các thuật ngữ của ngành ngôn ngữ học: vốn chữ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, thể văn,… -Ba ý lớn được tách thành ba dòng để trình bày luận điểm một cách rõ ràng, mạch lạc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiếp nhận. -Dùng các từ chỉ thứ tự (mội là, hai là, ba là…) để đánh dấu luận điểm và thứ tự trình bày. -Dùng các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu ngoặc đơn. dấu ngoặc kép. -Có phần giải thích rõ ràng (nằm trong ngoặc) thể hiện rõ dụng ý của người viết về việc lựa chọn và thay thế các từ là thuật ngữ. 2.Đặc điểm của ngôn ngữ nói ở đoạn trích trong truyện Vợ nhặt: -Miêu tả nhiều cử chỉ điệu bộ (kèm theo lời nói): đẩy vai, cười (nấc ne), cong cớn, ngoái cổ, ton ton chạy.. -Các từ hò gọi: kìa này, nhà tôi ơi, đằng ấy,… -Các từ tình thái; có khối… đấy, đấy, sợ gì,… Ngoài ra, trong đoạn trích các nhân vật tham gia đối thoại trực tiếp nên còn liên tục thay phiên đổi vai cho nhau. 3.a. Cần bỏ từ ”trong” (để câu có chủ ngữ) và từ “thì”; thay từ “hết ý” bằng từ “rất” (đẹp) hoặc “vô cùng’’,,.. Ví dụ: Thơ ca Việt Nam đã có nhiều bức tranh mùa thu rất đẹp. b.Thay từ “vống lên” bằng “quá mức thực tế” (hoặc từ “vống” bằng từ “quá”), thay “vô tội vạ” bằng “vô căn cứ”. Ví dụ: Còn như máy móc, thiết bị do nước ngoài đưa vào góp vốn thì không kiểm soát, họ sẵn sàng khái quá lên đến mức vô căn cứ. c.Bỏ từ “sất”, thay từ “thì “ (từ thứ 2) bằng từ “đến”. Tuy nhiên câu này còn cần phải thay đổi cả nội dung vì câu tương đối tối nghĩa. Ví dụ: Cá, rùa, ba ba, ếch nhái, chim ở gần nước thì như cò, vạc, vịt, ngỗng,… đến cả ốc, tôm, cua…. chúng cũng không tha. XEM THÊM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA -NGỮ VĂN 10 TẠI ĐÂY
Hướng dẫn phân tích Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết – Ngữ văn 10
1,025
Hướng dẫn soạn bài Chân tay tai mắt miệng Hướng dẫn Hướng dẫn soạn bài Chân tay tai mắt miệng sẽ hỗ trợ giải đáp những câu hỏi khó trong sách giáo khoa nhằm giúp người học có quá trình học tập dễ dàng và hiệu quả nhất. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Vì sao cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng? Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng bởi: Họ thấy họ phải làm việc mệt nhọc quanh năm, còn lão Miệng chẳng phải làm gì, chỉ việc ngồi ăn. Nhận định này xuất phát từ cái nhìn phiến diện bên ngoài: Bốn nhân vật Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng đều phải làm việc: mắt nhìn, tay làm, chân đi, tai nghe đều phục vụ cho lão Miệng hưởng thụ. Câu 2: Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói chuyện con người. Có thể ví cơ thể người như một tổ chức, một cộng đồng… mà Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là những cá nhân trong tổ chức, cộng đồng đó. Từ mối quan hệ này, truyện nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người điều gì? Mượn các bộ phận trong cơ thể người để nói về con người, các bộ phận trong cơ thể cũng giống như các cá nhân trong tổ chức cộng đồng, truyện nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người: Mỗi cá nhân không thể tồn tại độc lập, tách biệt khỏi cộng đồng. Mỗi người đều có vị trí, nhiệm vụ riêng. Tuy khác nhau về vai trò nhưng đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Sống trong cộng đồng phải có tinh thần vì tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình. II. Luyện tập Hãy nhắc lại định nghĩa truyện ngụ ngôn và tên gọi những truyện ngụ ngôn đã học Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về các loài vật, các đồ vật hoặc chuyện về chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người bài học nào đó trong cuộc sống. Các truyện ngụ ngôn đã học: Thầy bói xem voi, Ếch ngồi đáy giếng, Đeo nhạc cho mèo…
Hướng dẫn soạn bài Chân tay tai mắt miệng
382
Hướng dẫn soạn văn Bình ngô đại cáo – Phần 1: Tác giả Nguyễn Trãi Hướng dẫn Nguyễn Trãi là nhà chiến lược tài ba đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học trung đại Việt Nam. Trong bài học ngày hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu đến các bạn bài Hướng dẫn soạn văn Bình ngô đại cáo phần 1: Nguyễn Trãi. Các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm những thông tin thú vị về tác giả Nguyễn Trãi nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Vì sao có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử vĩ đại Có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử vĩ đại vì: Nguyễn Trãi đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, là vị quân sư số 1, giúp chủ tướng Lê Lợi vạch ra chiến lược tiêu diệt kẻ thù, giữ trọng trách ngoại giao chính trị. Nguyễn Trãi cùng với Lê Lợi chỉ huy và đốc chiến nhiêu trận chiến quan trọng như trận Chi Lăng – Xương Giang Khi đất nước hòa bình, ông là người đi đầu trong công cuộc tái kiến thiết nước nhà, một mực trung hiếu với dân với nước đến khi bị án oan. Suốt đời ông chỉ có tư tưởng phụng sự cho đất nước, nhân dân. Câu 2: Anh (chị) đã đọc những tác phẩm nào của Nguyễn Trãi? Hãy giới thiệu sơ lược một vài tác phẩm tiêu biểu? Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trãi: + Côn Sơn ca: là khúc ca ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên của Côn Sơn, cảm hứng chủ đạo vẫn là tình yêu thiên nhiên và tiếng thở dài về kiếp nhân sinh + Cảnh ngày hè: bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước và con người, đặc biệt là thương dân của Nguyễn Trãi. Câu 3: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua một số câu thơ mà anh (chị) cảm nhận sâu sắc nhất. Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua hai câu cuối bài “Cảnh ngày hè”: Tác giả đón cảnh ngày hè với tư thế ung dung, thảnh thơi và an nhàn nhưng ẩn chứa trong đó vẫn có những suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân và cho nước nhà. Đang tận hưởng những giây phút thoải mái nhưng ông vẫn quan tâm tới đời sống của nhân dân. Ông ước mình có được cây đàn của vua Ngu Thuấn, có cây đàn đó ông có thể mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân, sự bền vững và thịnh vượng của đất nước. Câu 4: Nêu khái quát những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Trãi Những giá trị cơ bản về nội dung trong văn chương Nguyễn Trãi: hội tụ hai nguồn cảm hứng chủ đạo rất sâu sắc là lòng yêu nước và tính nhân đạo. Những giá trị cơ bản về nghệ thuật trong văn chương Nguyễn Trãi: một cây bút viết văn chính luận kiệt xuất, là nhà thơ khai sáng văn học tiếng Việt, các sáng tác bằng chữ Nôm làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ dân tộc giàu đẹp hơn. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Bình ngô đại cáo – Phần 1_ Tác giả Nguyễn Trãi
544
Hướng dẫn soạn văn Bình ngô đại cáo – Phần 2 tác phẩm Hướng dẫn Để có quá trình tìm hiểu bài thơ Bình ngô đại cáo có hiệu quả nhất, các bạn hãy cùng tham khảo thêm bài Hướng dẫn soạn văn Bình ngô đại cáo- Phần 2 tác phẩm mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé. I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Bài Đại cáo bình Ngô gồm bốn đoạn. Hãy tóm lược nội dung của từng đoạn. Nội dung của từng đoạn hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc như thế nào? Đoạn 1 (từ đầu đến “Chứng cớ còn ghi”): mang nội dung khẳng định chân lí nhân nghĩa và tính chính nghĩa, độc lập dân tộc của Đại Việt. Đoạn 2 (tiếp cho đến “Ai bảo thần dân chịu được”): mang nội dung vạch trần âm mưu và tố cáo tội ác của giặc Minh Đoạn 3 (tiếp cho tới “Cũng là chưa thấy xưa nay”): Tái hiện lại cuộc chiến từ khi mở đầu cho tới khi thắng lợi, nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước Đoạn 4 (còn lại): Lời tuyên bố nền độc lập hòa bình lập lại của dân tộc, rút ra bài học lịch sử. Nội dung của từng đoạn hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc, nhân nghĩa phải gắn liền với lòng yêu nước và yêu độc lập, lòng thương dân và tự hào dân tộc.Phải cố gắng bảo vệ nền tự do và độc lập ấy. Câu 2: Tìm hiểu đoạn mở đầu “Từng nghe…chứng có còn ghi”: a. Có những chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung của bài cáo? Những chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung của bài cáo là tư tưởng nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt ta. b. Vì sao đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập? Đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập vì tác giả đã không chỉ đưa ra chân lí chính nghĩa mà còn đề cập tới chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền và có cơ sở từ thực tiễn lịch sử. Khái niệm về quốc gia dân tộc có phần đầy đủ và cụ thể hơn so với Lý Thường Kiệt. Đó là những yếu tố cấu thành nên một quốc gia dân tộc: bờ cõi lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến, lịch sử và hào kiệt. c. Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc? (Lưu ý cách dùng từ, sử dụng nghệ thuật so sánh, câu văn biền ngẫu cân xứng, cách nêu dẫn chứng từ thực tiễn,…) Để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc, tác giả Nguyễn Trãi đã dùng: + những lời lẽ lập luận đầy sức thuyết phục với các từ ngữ khẳng định tính tự nhiên, vốn có và lâu đời của nước Đại Việt + Cách sử dụng nghệ thuật so sánh trong những câu văn biền ngẫu (đối ứng giữa ta với Bắc Triều + Nêu ra những dẫn chứng thực tiễn, chuyện của Lưu Cung, Triệu Tiếc, Toa Đô + Cách lập luận chặt chẽ làm cho lời tuyên ngôn giàu sức thuyết phục. Câu 3: Tìm hiểu đoạn 2 “Vừa rồi…Ai bảo thần dân chịu được”: a. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào là thâm độc nhất, tội ác nào là man rợ nhất? Những âm mưu của giặc Minh: âm mưu xâm lược, luận điệu phù Trần diệt Hồ bịp bợm, âm mưu thôn tính nước ta từ lâu đời. Những hành động tội ác của giặc Minh: bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, hủy hoại môi trường sống Âm mưu thôn tính nước ta là âm mưu thâm độc nhất, tội ác giết hại nhân dân là tội ác man rợ nhất. b. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc? (Lưu ý những câu văn giàu hình tượng: giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với cảm xúc) Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác có những nét đặc sắc như: Cách vận dụng và kết hợp những chi tiết hình ảnh vừa cụ thể vừa khái quát, phương pháp liệt kê liên tiếp, hình ảnh kẻ thù đối lập với tính cách người dân vô tội. Dùng những câu văn rất giàu cảm xúc và giàu hình tượng. Giọng văn và nhịp điệu câu văn có sự thay đổi linh hoạt, nhịp điệu nhanh dần. Lời văn khi thì uất hận trào sôi, khi thì cảm thương tha thiết, lúc lại nghẹn ngào, tấm tức. Câu 4: Tìm hiểu đoạn 3 “Ta đây… Cũng là chưa thấy xưa nay”: a. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nào? (Có những khó khăn gian khổ gì? Người anh hùng Lê Lợi tiêu biểu cho cuộc khởi nghĩa có ý chí, quyết tâm như thế nào? Sức mạnh nào giúp quân ta chiến thắng?) Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện: Những khó khăn buổi đầu: thiếu lương thực, thiếu quân, thiếu nhân tài trong khi đó kẻ thù có lực lượng lớn mạnh, hung bạo và được trang bị đầy đủ. Người anh hùng Lê Lợi tiêu biểu cho cuộc khởi nghĩa là một người có lòng căm thù giặc sâu sắc, có hoài bão lớn và ý chí quyết tâm thực hiện hoài bãi lí tưởng, tự nguyện đặt vận mệnh của quốc gia dân tộc lên đôi vai mình. Sức mạnh giúp quân ta chiến thắng: Nhân dân bốn cõi đồng lòng, tướng sĩ một lòng phụ tử, thế trận xuất kì và dùng quân mai phục, tinh thần đoàn kết, đồng lòng, vận dụng những mưu kế quân sự tài giỏi, dùng lối đánh bất ngờ và nhanh gọn. b. Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn: Cho biết có những trận đánh nào, mỗi trận đánh có đặc điểm gì nổi bật? + Những trận tiến quân ra Bắc: trận Tây Kinh, Đông Đô, Ninh Kiều, Tốt Động. + Chiến dịch diệt chi viện: trận Chi Lăng, Xương Giang, Mã Yên. Phân tích những biện pháp nghệ thuật miêu tả thế chiến thắng của ta và sự thất bại của giặc. + Sử dụng nhiều động từ mạnh và hình ảnh phóng đại, so sánh với những hiện tượng thiên nhiên kì vĩ. + Phương pháp liệt kê liên tiếp nhiều dẫn chứng cụ thể, các câu văn khi dài khi ngắn biến hóa linh hoạt, giọng điệu mạnh mẽ và dồn dập, mang âm hưởng như một bản anh hùng ca. + Hình ảnh thất bại của quân thù, những từ ngữ miêu tả sắc bén, chân thực: mất vía, nín thở cầu thoát thân, tim đập chân run,… Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu câu văn. Câu 5: Tìm hiểu đoạn kết “Xã tắc từ nay vững bền… Ai nấy đều hay” a. Giọng văn ở đoạn này có gì khác với những đoạn trên? Do đâu có sự khác nhau đó? + Giọng văn của đoạn này đã chuyển sang trầm lắng và tự hào hơn, không còn đanh thép và hùng hồn nữa. Bởi đây là nhưng lời tổng kết lịch sử, mang đậm chất suy tư. b. Trong lời tuyên bố nền độc lập của dân tộc ta đã được lập lại, Đại cáo bình Ngô đồng thời nêu lên bài học lịch sử. Theo anh (chị) có những bài học lịch sử nào và ý nghĩa của bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay như thế nào? Những bài học lịch sử được rút ra: + Quy luật khốn cùng và thông suốt của trời đất, quy luật suy vong hưng thịnh tất yếu của mỗi quốc gia. + Sự vững bền được xây dựng trên cơ sở phục hưng dân tộc, sẽ cho viễn cảnh tươi sáng và huy hoàng hơn. Ý nghĩa của bài học lịch sử đó đối với chúng ta ngày nay: Sự kết hợp giữa sức mạnh truyền thống và sức mạnh thời đại. Có hiện thực hôm nay và tương lai ngày mai cũng là do “tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ”, và nhớ vào những chiến công trong quá khứ “Một cổ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm. Câu 6: Rút ra những giá trị chung về mặt nội dung và nghệ thuật của Đại cáo bình Ngô, đồng thời phân tích những giá trị đó a. Đại cáo bình Ngô được coi là bản tuyên ngôn độc lập, tác phẩm có mang ý nghĩa tuyên ngôn về quyền sống của con người hay không? Hãy lí giải? Tác phẩm còn mang ý nghĩa tuyên ngôn về quyền sống của con người vì bài cáo đã lên án hành vi xâm lược, những tội ác man rợ của quân Minh (giết người, bóc lột…), đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa quyền được sống của nhân dân. Bài cáo đã nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, vì dân trừ bạo, đó chính là bảo vệ cho cuộc sống người dân được ấm no, hạnh phúc. b. Đại cáo bình Ngô có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương, anh (chị) hãy phân tích để làm sáng tỏ đặc điểm này về các mặt: kết cấu, lập luận, nghệ thuật sử dụng từ ngữ, xây dựng hình tượng, nghệ thuật sử dụng câu văn, nhịp điệu Kết cấu lập luận chặt chẽ và logic: tiền đề mang ý nghĩa chân lí được đưa ra để làm cơ sở cho lập luận, sau đó tiền đề được soi sáng trong thự tiễn và cuối cùng rút ra chân lí về chính nghĩa, mang tính thuyết phục cao đối với người nghe. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh, đanh thép và súc tích. Xây dựng hình tượng nhân vật vừa mang tính khái quát cao lại vừa chân thực. Câu văn ngắn dài thay đổi linh hoạt với giọng điệu của những câu văn biền ngẫu. II. Luyện tập Lập sơ đồ kết cấu của bài Đại cáo bình Ngô và phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu đó. Tác dụng của nghệ thuật kết cấu: đó là kết cấu điển hình cho văn chính luận. + Đầu tiên nêu ra tiền đề có tính chân lí để làm cơ sở cho các lập luận + Tiếp đó là soi sáng tiền đề ấy trong thực tiễn, chỉ rõ sự phi nghĩa và chính nghĩa để tố cáo, vạch trần, và khẳng định, ngợi ca. + Cuối cùng là rút ra kết luận trên cơ sở tiền đề và thực tiễn đã trình bày. Sơ đồ: Theo
Hướng dẫn soạn văn Bình ngô đại cáo – Phần 2 tác phẩm
1,880
Hướng dẫn soạn văn Ca dao hài hước đầy đủ chi tiết nhất Hướng dẫn Để có quá trình học tập và tìm hiểu bài Ca dao hài hước hiệu quả nhất, các bạn hãy tham khảo thêm bài Hướng dẫn soạn văn Ca dao hài hước mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Bài 1: Đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao. Nó đem đến cho ta một tiếng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Hãy đọc kĩ bài ca dao và cho biết: – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó, anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo (Cười ai, cười về điều gì? Tiếng cười đó có ý nghĩa như thế nào? – Bài ca dao có giọng điệu hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tối nghệ thuật nào? Trả lời: – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây khác thường: +Dẫn cưới: chàng trai muốn dẫn cưới vô cùng long trọng linh đình nhưng toàn những lí do vô cùng có lí nên không thể thực hiện được đành dẫn cưới chri bằng “con chuột béo” vô cùng gần gũi thông dụng +Thách cưới: khoai lang dễ kiếm nhưng cô gái đòi “một nhà khoai” kể ra cũng hơi khó, cũng bởi cô gái hiểu hoàn cảnh của chàng trai nên mưới chọn khoai lang, nhưng không muốn đi giá trị của mình đành đòi một nhà khoai, nửa khó nửa dễ cho chàng trai thực hiện Qua việc dẫn cưới và thách cưới, cho ta thấy hình ảnh cuộc sống đời thường của người lao động nghèo tuy vất vả khó khăn nhưng họ luôn tìm được niềm vui trong cuộc sống, vượt qua khó khăn để yêu đời, yêu cuộc sống Bài ca dao có giọng hài hước dí dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật: – lời dẫn cưới vô cùng phô trương, hùng hồn, phó đại – Dẫn cưới với sính lễ giảm dần – Cách nói đối rất có lí – Chi tiết mang tính hài hước dẫn cưới bằng con chuột,… Câu 2: Các bài 2,3,4 Tiếng cười trong ba bài ca dao này có gì khác với tiếng cười bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sâu sắc của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao? – Các bài 2,3,4 Tiếng cười trong ba bài ca dao này khác với tiếng cười bài 1: Nếu tiếng cười bài 1 là lời vui đùa của đôi nam nữ xung quanh việc thách cưới và dẫn cưới đầy niềm vui thì casc bài còn lại là tiếng cười châm biếm những điều đang xảy ra trong xã hội bấy giờ +Bài 2: là lời chê bao những đấng nam nhi mà hèn kém, yếu mềm không ra dasng đàn ông, chỉ làm màu làm mè mà kết quả đạt được chỉ là “gánh được có hai hạt vừng” +Bài 3: Tương tự bài 2 là sự phê phán những kẻ lười nhác nhất lại là đàn ông, không có ý chí, không nghĩ việc lớn, tư tưởng cổ hủ, không muốn làm việc lớn + Bài 4: mang tiếng cười hài hước vui vẻ nhưng lại là lời châm biếm những loại đàn bà con gái vô duyên, làm cao đỏng đảnh Câu 3: Những biện pháp nghệ thuật nào thường được sử dụng trong ca dao hài hước? – Cách nói phóng đại, trào phúng, vui vẻ. – Cách nói, miêu tả dạng bao quát rộng, cái chung nhất của vấn đề – Dùng ngôn ngữ được sử dụng gần gũi những vô cùng hàm ý và sâu sắc II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Ca dao hài hước đầy đủ chi tiết nhất
672
Hướng dẫn soạn văn Chiến thắng Mtao – Mxây đầy đủ, chi tiết nhất Hướng dẫn Sử thi là một trong những thể loại văn học dân gian kết tinh được nhiều thành tựu nổi bật, Chiến thắng Mtao – Mxay là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu của nền văn học dân gian Việt Nam. Dưới đây là những hướng dẫn soạn văn Chiến thắng Mtao Mxay, các bạn hãy tham khảo để có thêm những thông tin bài học thú vị nhất nhé! I. Tìm hiểu về đoạn trích Chiến thắng Mtao – Mxay Câu 1: Tóm tắt diễn biến trận đấu theo đúng trật tự của các tình tiết và sự kiện – Đăm Săn đến nhà Mtao Mxay khiêu chiến nhưng cuộc chiến chưa bắt đầu ngay vì Mtao – Mxay thể hiện thái độ thách thức, coi thường đối với Đăm Săn. – Diễn biến của cuộc giao chiến giữa Đăm Săn và Mtao- Mxay: + Trận đấu thứ nhất: Đăm Săn và Mtao – Mxay thi múa khiên: Đăm Săn múa khiên đầy mạnh mẽ, chiếm ưu thế hơn hẳn so với đối thủ của mình Mtao – Mxay thể hiện đầy yếu ớt, kém cỏi + Trận đấu thứ 2 Sức mạnh của người anh hùng Đăm Săn như gió bão khiến cho cây giáo trên tay Đăm Săn liên tiếp đâm vào Mtao Mxay nhưng không thủng. Nhận được sự giúp đỡ của ông Trời, giáo của Đăm săn đã đâm thủng áo giáp của Mtao Mxay. Đăm Săn dành thắng lợi, cứu được vợ, dân làng theo chàng về làng mới. Trong đoạn trích này, thái độ của dân làng đối với 2 người tù trưởng Đăm Săn và Mtao Mxay cũng được thể hiện vô cùng rõ nét: +Trước sự thất bại của Mtao- Mxay dân làng không làm cho dân làng hỗn loạn, lo lắng mà ngay lập tức họ đã đi theo người tù trưởng tài giỏi Đăm Săn. + Dân làng của Đăm Săn: vui mừng chào đón người tù trưởng chiến thắng trở về, họ cũng tiếp đón những người dân mới vô cùng nồng hậu, nhiệt tình. Buổi tiệc chiến thắng náo nhiệt với những vũ điệu sôi động. Câu 3: Phần cuối đoạn trích chú ý nhiều đến việc miêu tả cảnh chết chóc hay cảnh ăn mừng chiến thắng? Hãy phân tích ý nghĩa của sự lựa chọn ấy để làm rõ thái độ, cách nhìn nhận của tác giả về ý nghĩa thời đại của cuộc chiến tranh bộ tộc về tầm vóc lịch sử của người anh hùng trong sự phát triển của cộng đồng Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxay đã tái hiện cuộc chiến tranh giữa các tù trưởng của các bộ lạc xưa. Tuy nhiên tác giả dân gian lại không miêu tả khung cảnh chết chóc, tang thương mà lại hướng đến miêu tả sức mạnh, tài trí cùng chiến thắng đầy vẻ vang của người anh hùng Đăm Săn. Trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxay, tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh để làm nổi bật lên sức mạnh và tài năng của Đăm Săn đối với Mtao Mxay. Tác giả dân gian cũng sử dụng hàng loạt những hình ảnh, những sự vật có trong thiên nhiên để miêu tả cho cuộc giao chiến giữa 2 người tù trưởng. Qua đó thấy được tác giả dân gian muốn so sánh hình ảnh người anh hùng bộ lạc với chiều kích của tự niên, vũ trụ, đây cũng là bút pháp quen thuộc trong sử thi. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Chiến thắng Mtao – Mxây đầy đủ, chi tiết nhất
591
Hướng dẫn soạn văn Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự Hướng dẫn Soạn văn Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sựvới hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ sẽ mang đến nguồn tham khảo hữu ích nhất cho quá trình tìm hiểu bài học của học sinh lớp 8. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé. I. Khái niệm II. Cách chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu 1. Đọc lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, cho biết: a. Tác giả dân gian kể chuyện gì? (Về tình cha con? Về tình vợ chồng chung thủy? Về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của cha ông ta xưa?) Trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy tác giả dân gian đã kể về: Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của cha ông ta xưa: quá trình hình thành và nguyên nhân mất nước. Tình cha con: An Dương Vương đau đớn, xót xa khi phải tự tay chém đầu con gái Mị Châu. Tình vợ chồng: Mị Châu – Trọng Thủy là mối tình đầy ngang trái, tình cảm của họ sâu nặng dù đứng trên hai chiến tuyến. b. Trong truyện có sự việc Trọng Thủy và Mị Châu chia tay nhau, Trọng Thủy hỏi Mị Châu: “[…] Ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?” (chi tiết 1), Mị Châu đáp: “Thiếp có áo gấm lông ngỗng[…] đi đến đâu sẽ bứt lông để rắc ở ngã ba đường để làm dấu” (chi tiết 2). Đó là những sự việc, chi tiết tiêu biểu vì nó mở ra bước ngoặt, tình tiết mới, sự việc mới. Nếu không có chi tiết Mị Châu, Trọng Thủy lấy dấu lông ngỗng giao hẹn thì Trọng Thủy sẽ không thể tìm theo dấu vết đó để đánh chiếm và giành thắng lợi hoàn toàn. 2. Tưởng tượng người con trai lão Hạc (nhân vật chính trong truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao) trở về làng vào một hôm sau Cách mạng tháng Tám 1945 như sau: Về tới đầu làng, tháy cảnh xóm làng tuy còn xơ xác, tiêu điều, nhưng khí thế cách mạng sôi nổi, anh bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm xưa…Anh tìm gặp ông giáo, được nghe kể về cha mình, rồi theo ong đi viếng mộ cha. Sau mấy ngày thăm hỏi bà con hàng xóm và bạn bè cũ, anh gửi lại ông giáo những di vật của cha, tạm biệt quê hương, nhưng không như lần trước, lần này anh đi làm nhiệm vụ của người cách mạng. Anh (chị) hãy chọn một sự việc tiếp sau đó rồi kể lại với một số chi tiết tiêu biểu. Anh kể về những ngày tháng cơ cực khi làm ở đồn điền cao su bên mộ người cha đã mất. Hối hận khi đã bỏ nhà ra đi năm đó. Hứa với cha sẽ sống tốt để xứng đáng với những gì cha đã dành cho Nói về dự định sẽ tham gia kháng chiến. 3. Từ những việc làm trên, anh (chị) hãy nêu cách chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự. Cách chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự: Xác định đề tài của văn bản. Dự kiến các sự việc trong cốt truyện: + Cốt truyện truyền thống: trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm, kết thúc. + Cốt truyện phóng khoáng hiện đại: theo logic kể trên, có thể đảo ngược trình tự. Phân chia cốt truyện thành các đoạn, mỗi đoạn cần chọn những sự việc, chi tiết tiêu biểu. III. Luyện tập 1. Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: a. Khi kể lại chuyện này, có người định bỏ sự việc hòn đá xấu xí được xác định là rơi từ vũ trụ xuống. Theo anh (chị) làm như thế có được không, vì sao? Không thể bỏ sự việc hòn đá xấu xí được xác định là rơi từ trên vũ trụ xuống vì: Chi tiết này chính là cơ sở cho sự việc phần kết thúc. Chi tiết này cũng lí giải cho sự việc người làng và đám trẻ nhận ra vẻ đẹp của hòn đá. Chi tiết đó tạo nên nội dung tư tưởng của văn bản: hòn đá xù xì, vô dụng mà trở nên vĩ đại vô cùng b. Từ đó, anh (chị) rút ra bài học gì về cách lựa chọn sự việc và chi tiết tiêu biểu khi viết bài văn tự sự (hoặc kể chuyện)? Cần lựa chọn những chi tiết, sự việc tiêu biểu để kể. Các chi tiết phải góp phần làm nổi bật lên cốt truyện, đó phải là những chi tiết tiêu biểu, hấp dẫn. 2. Đọc đoạn trích Uy-lit-xơ trở về (trích sử thi Ô-đi-xê), anh (chị) hãy cho biết: -Hô-me-rơ kể chuyện gì? – Ở phần cuối đoạn trích, tác giả đã chọn một sự việc quan trọng, đó là sự việc gì, được kể bằng những chi tiết tiêu biểu nào? Có thể coi đây là thành công của Hô-me-rơ trong nghệ thuật kể chuyện không, vì sao? Phần cuối đoạn trích, tác giả chọn chi tiết: Hô-me-rơ tưởng tượng ra cảnh “người đắm tàu” để so sánh tâm trạng của Pê-nê-lốp khi nhận ra chồng. Đây là chi tiết làm nên thành công của Hô-me-rơ trong nghệ thuật kể chuyện vì chi tiết này thể hiện được phẩm chất của Pê-nê-lốp cũng như tâm trạng, không khí của cuộc gặp gỡ xúc động giữa hai vợ chồng. Theo
Hướng dẫn soạn văn Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự
914
Hướng dẫn soạn văn Cáo bệnh bảo mọi người của Mãn Giác Thiền Sư Hướng dẫn Cáo bệnh bảo mọi người là bài thơ thiền nổi tiếng của Mãn Giác thiền sư. Để có thêm những định hướng đúng đắn trong việc tìm hiểu và phân tích bài thơ, các bạn hãy cùng tham khảo bài soạn văn Cáo bệnh bảo mọi người mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu 1. Hai câu thơ đầu nói lên quy luật nào của tự nhiên? (quy luật vận động, biến đổi? Quy luật tuần hoàn? Quy luật sinh trường?) Nếu đảo câu thơ 2 lên vị trí câu thơ đầu thì ý thơ khác nhau như thế nào? Đảo như thế, trong những quy luật trên, quy luật nào giữ nguyên, quy luật nào bị ảnh hưởng, vì sao? Hai câu thơ đầu diễn tả quy luật biến đổi của thiên nhiên. Vạn vật trong vũ trụ không bao giờ đứng yên mà luôn có sự thay đổi. Cây cối biến đổi theo thời tiết. Thông thường mùa xuân đến hoa nở “Xuân tới trăm hoa tươi”. Bài thơ nói về hoa rụng trước, hoa nở sau. Phải chăng ở đây tác giả muốn nói đến sự luân hồi của thiên nhiên. Hoa tàn rồi hoa lại nở. Hình ảnh xuân và hoa thể hiện cái đẹp, sự ấm áp, tràn đầy sức sống. Nếu đảo ngược vị trí câu thơ thứ hai lên câu thơ đầu mặc dù vẫn nói lên được quy luật tuần hoàn biến đổi nhưng cái nhìn sẽ tiêu cực hơn: xuân tới để xuân qua, hoa tươi để hoa rụng, chứ không mang nghĩa tích cực nữa. 2. Câu thơ 3 và 4 nói lên quy luật gì trong cuộc sống của con người? Anh (chị) cảm nhận như thế nào về tâm trạng của tác giả qua hai câu thơ này? (Thản nhiên? Nuối tiếc? Xót xa?) Nguyên nhân dẫn đến tâm trạng ấy? Câu 3 và câu 4 diễn tả quy luật biến đổi của đời người. Cũng như bông hoa kia, con người luôn vận động, không thể thoát khỏi vòng xoay: sinh-lão-bệnh-tử. Thời gian qua đi, con người cũng dần già hơn. Mái đầu bạc tượng trưng cho tuổi già. Đó là biểu hiện cụ thể nhất sự biến đổi của con người trước thời gian. Tâm trạng của tác giả như tiếc nuối, xót xa bởi thời gian của vũ trụ thì vô thủy vô chung còn đời người thì lại quá ngắn ngủi. 3. Hai câu cuối có phải là thơ tả thiên nhiên không? Câu thơ đầu khẳng định “Xuân qua, trăm hoa rụng” vậy mà hai câu cuối lại nói xuân tàn vẫn nở cành mai. Như thế có mâu thuẫn không. Vì sao? Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng cành mai trong câu thơ cuối? Hai câu thơ cuối không đơn thuần tả thiên nhiên mà nó còn thể hiện quan niệm triết lí trong Phật giáo. Khi con người đã giác ngộ đạo, tức là hiểu được chân lí và quy luật thì sẽ có sức mạnh lớn lao, vượt lên trên cả lẽ sinh diệt thông thường. Thiền sư đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng, không sinh, không diệt như cành mai kia cứ tươi bất kể xuân tàn. Theo cách giả thích này, hai câu thơ cuối không có gì mâu thuẫn với nhau. Hình tượng cành mai có thể đem đến cho con người nhiều cảm nhận. Trong quan niệm xưa, hình ảnh tùng-cúc-trúc-mai đã trở thành những hình ảnh tiêu biểu khi nói về những người có tâm hồn và nhân cách cao cả của những bậc thiền sư. Cành mai kia không giống như những loài hoa nở vào mùa xuân rồi tàn ngay sau đó. Giữa đem đông lạnh giá, khắc nghiệt hoa mai vẫn một mình nở rộ, tỏa hương. Hình tượng hoa mai vì thế tượng trưng cho sự sống bất diệt của con người. 4. Qua bài kệ, anh (chị) hãy làm sáng tỏ lòng yêu đời và cái nhìn lạc quan của tác giả. (Cần xâu chuỗi phần trả lời ở những câu hỏi trên, chú ý: Cách mở đầu và kết thúc bài thơ. Những từ ngữ làm nên tính chất khẳng định ở hai câu thơ kết. Tâm trạng tác giả trong hai câu 3, 4 và trong hai câu thơ kết có gì khác nhau?) Gợi ý: Bài thơ thể hiện lòng yêu đời và cái nhìn lạc quan của tác giả về cuộc sống. Mở đầu bài thơ, tác giả nói đến quy luật phát triển tự nhiên của vạn vật với cái nhìn hết sức tích cực: xuân đi rồi xuân đến, hoa tàn rồi hoa nở. Hai câu thơ tiếp theo thể hiện triết lí của Phật giáo về bánh xe luân hồi của đời người nhưng không mất đi sự lạc quan. Đến hai câu thơ kết, nhắc lại ý của hai câu thơ đầu nhưng dưới sự phủ định. Xuân qua không có nghĩa là hoa sẽ rụng hết. Hình ảnh cành mai trong đêm tuyết thể hiện sức sống mãnh liệt. Đó là cái nhìn đầy lạc quan về cuộc sống của tác giả. Theo
Hướng dẫn soạn văn Cáo bệnh bảo mọi người của Mãn Giác Thiền Sư
869
Hướng dẫn soạn văn Cây bút thần – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Với những lời giải chi tiết và đầy đủ nhất, hướng dẫn soạn văn Cây bút thần sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích nhất cho quá trình tìm hiểu bài học Cây bút thần. Các bạn cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Mã Lương thuộc một kiểu nhân vật rất phổ biến nào trong truyện cổ tích? Hãy kể tên một số nhân vật tương tự trong truyện cổ tích mà em biết Trả lời: Mã Lương thuộc kiểu nhân vật rất phổ biến trong truyện cổ tích- nhân vật có tài năng kì lạ. Một số nhân vật tương tự trong truyện cổ tích mà em biết: Thạch Sanh, em bé thông minh (truyện “Em bé thông minh”),… Câu 2. Những điều gì đã giúp cho Mã Lương vẽ giỏi như vậy? Những điều ấy quan hệ với nhau ra sao? Trả lời Những điều giúp Mã Lương vẽ giỏi: – Mã Lương vốn là cậu bé có năng khiếu vẽ, cùng với niềm say mê, cần cù chăm chỉ, ham học hỏi và vô cùng thông minh. Vì quá nghèo không có tiền mua bút, nên công cụ tập vẽ của em có lúc chỉ là que củi trong khi đang kiếm củi trên núi, có khi là nước sông khi em đang cắt cỏ ven sông. – Mã Lương được thần cho cây bút thần bằng vàng, vì mặc dù khả năng hội họa của Mã Lương tiến bộ rất nhanh, khiến cho những sự vật em vẽ ra đều trông giống như thật “Em vẽ chim, cá giống như hệt, người ta tưởng như sắp được nghe chim hót, được trông thấy cá bơi lội”, nhưng em vẫn chưa thể có được cây bút vẽ. Những nguyên nhân nói trên có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau. Thần cho Mã Lương cây bút thần vì tài năng và những phẩm chất đáng quý của Mã Lương và cũng chỉ có Mã Lương mới là người xứng đáng có thể sử dụng tốt một vật báu như cây bút thần. Câu 3. Mã Lương đã vẽ gì cho những người nghèo khổ và cho những kẻ tham lam? Hãy đánh giá ngòi bút thần của Mã Lương qua những gì mà Mã Lương vẽ Trả lời – Mã Lương đã sử dụng cây bút thần vẽ cho tất cả những người nghèo khổ trong làng. + Nhà nào không có cày, em vẽ cho cày. Nhà nào không có cuốc, em vẽ cho cuốc. Nhà nào không có đèn, em vẽ cho đèn… + Mã Lương vẽ cho dân làng không phải là thóc gạo, nhà cửa, vàng bạc… mà là cái cuốc, cái cày, cái đèn, cái thùng thể hiện ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Mã Lương đã không vẽ thành quả, kết quả như của cải vật chất có sẵn mà vẽ những công cụ lao động cần thiết cho cuộc sống để người dân sản xuất, sinh hoạt, tạo ra thóc gạo, nhà cửa và của cải khác, nghĩa là muốn người dân mãi giữ được sự cần cù chất phác và hưởng thụ những thành quả lao động do chính đôi tay mình tạo ra. – Mã Lương dùng bút thần chống lại và trừng trị tên địa chủ và tên vua tham lam, độc ác: + Em vẽ mũi tên lao đúng tên địa chủ khiến hắn ngã nhào xuống đất. + Em vẽ con cóc ghẻ và con gà trụi lông xấu xí, bẩn thỉu, nhảy nhót tứ tung bên cạnh nhà vua khi vua ép buộc em vẽ con rồng, con phượng, + Để trừng trị vi vua tham lam, độc ác, em vẽ một chiếc thuyền buồm lớn, gió mạnh, sóng nổi dữ dội, sóng biển xô vào thuyền hết đợt này đến đợt khác nhấn chìm nhà vua. – Ngòi bút thần chính là đại diện và là phương tiện để cứu giúp những người nông dân chất phác, thật thà, đồng thời là công cụ để chống lại tham tàn bạo ngược và thực thi công lí. Câu 4.Truyện Cây bút thần được xây dựng theo trí tưởng tượng rất phong phú và độc đáo của nhân dân. Theo em những chi tiết nào trong truyện là lí thú và gợi cảm hơn cả? Trả lời: Cây bút thần lí thú và gợi cảm ở chỗ: – Đó là phần thưởng xứng đáng dành cho tài năng và những phẩm chất đáng quý của Mã Lương. – Cây bút thần chỉ tạo ra được những vật như mong muốn khi ở trong tay Mã Lương, còn ở trong tay những kẻ ác, nó tạo ra những điều ngược lại. – Cây bút thần là phương tiện thực thi công lí của nhân dân: giúp đỡ người nghèo khó và trừng trị kẻ tham lam độc ác. Câu 5. Hãy nêu ý nghĩa của truyện Cây bút thần Trả lời: Ý nghĩa của truyện “Cây bút thần” – Thế hiện quan niệm của nhân dân về việc thực thi công lí xã hội: Những người chăm chỉ tốt bụng, thông minh sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng; kẻ độc ác, tham lam bị trừng trị. – Thể hiện ước mơ và niềm tin của nhân dân về khả năng kì diệu của con người. – Đề cao chính nghĩa và hành trình sáng tạo nghệ thuật của con người, lên án, phê phán những kẻ tham lam, độc ác. II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Cây bút thần – Chương trình Ngữ văn lớp 6
910
Hướng dẫn soạn văn Cảm hoài của Đặng Dung – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Cảm hoài với hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình tìm hiểu và phân tích bài thơ của người học. Các bạn hãy tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Hai câu đầu của bài thơ đã nêu lên tình huống bi kịch của nhà thơ như thế nào? Dựa vào phần Tiểu dẫn để phân tích tình huống ấy? Trả lời: Hai câu đầu của bài thơ đã nêu lên tình huống bi kịch của nhà thơ: Việc thế lôi thôi tuổi tác này, Mênh mông trời đất hát và say. Bi kịch mà tác giả gặp phải là bi kịch về việc đời và tuổi tác: khi mà việc đời còn mờ mịt nhưng người thì đã già. Nỗi buồn vì tuổi tác một lần nữa được nhắc lại trong câu 7: Quốc thù chưa trả già sao vội, cho thấy nỗi ám ảnh của nhà thơ về bi kịch này. Tình cảnh và bi kịch ấy khiến người anh hùng càng trở nên cô độc. Câu 2. Trong hai câu thơ 3-4 tác giả đem đối lập “bậc anh hùng” và “người làm nghề hàng thịt và kẻ câu cá” nhằm nói ý gì? Điều ấy cho biết tâm trạng nhà thơ như thế nào? Trả lời Trong hai câu thơ 3-4 tác giả đem đối lập “bậc anh hùng” và “người làm nghề hàng thịt và kẻ câu cá”: Gặp thời đồ điếu thừa nên việc, Biện pháp đối lập đã thể hiện rõ nỗi niềm thời thế với tâm trạng oán hận của tác giả. “Đồ điếu” nghĩa là mổ thịt, câu cá; tác giả sử dụng điển cố về Phàn Khoái bán thịt chó và Hàn Tín câu cá sau giúp Hán Cao Tổ làm nên sự nghiệp lớn. Biện pháp đối lập còn không phải nhằm mục đích thể hiện sự xem thường, coi Phàn Khoái và Hàn Tín là bất tài mà chủ yếu để bày tỏ nỗi lòng cảm khái sâu sắc về thời vận lỡ dở. Câu 3. Tâm trạng bi tráng của nhà thơ được thể hiện như thế nào qua hai câu 5-6? Hãy giải thích ý nghĩa biểu tượng đặc biệt của hai câu thơ đó Trả lời Tâm trạng bi tráng của nhà thơ được thể hiện rõ qua hai câu 5-6: Trí chủ hữu hoài phù địa trục, (Giúp chúa những lăm giằng cốt đất) Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. (Rửa đòng không thể vén sông mây) “Phù địa trục” có nghĩa là nâng đỡ trục đất, ý nói nâng đỡ giang sơn đang nghiêng đổ. “Tẩy binh” có nghĩa là xuất binh gặp mưa, hàm ý chỉ điển cố Vũ Vương xuất binh phạt Trụ gặp mưa, có người cho là không lợi, nhưng Vũ Vương nói Trời giúp rửa binh khí, có thể xuất chinh. Vì thế “Tẩy binh” cũng có nghĩa là rửa binh khí để cất đi, tạm dừng chiến tranh. Bài thơ được ra đời trong giai đoạn Đặng Dung đang đem quân đánh quân xâm lược Minh tham tàn, bạo ngược, chưa phải lúc đình chiến, cho nên chỉ hiểu theo nghĩa thứ nhất. Mặc dù tác giả đã mượn hình ảnh “kéo sông thiên hà” từ bài Tẩy binh mã của Đỗ Phủ- nhằm rửa bịn khí đi không dùng nữa, nhưng tác giả Đặng Dung đã vận dụng có sáng tạo để thể hiện ý rửa binh khí để ra trận. Nghĩa của câu thơ này nên hiểu là không có cách gì kéo sông Ngân hà xuống để rửa giáp binh mà làm cuộc xuất chinh. Câu 4. Phân tích vẻ đẹp tráng lệ của hai câu kết Trả lời: Mặc dù trong tình thế bi kịch nhưng đến cuối bài thơ, chúng ta thấy được chí khí quật cường và tinh thần kiên trì chiến đấu: Quốc thù chưa trả già sao vội, Vị tướng đầu bạc với mối thù nước đau đáu trong lòng và nung nấu ý chí mài kiếm dưới trăng bao phen là hình ảnh mang vẻ đẹp bi hùng, giàu tính biểu tượng. Tuy trong câu thơ này, ám ảnh bi kịch vẫn còn bởi mối thù nước chưa trả vẫn đang thôi thúc trong khi tuổi đã cao, sức lực không còn sinh ra bi kịch. Nhưng cũng chính trong bi kịch ấy, chí khí, sự bền bỉ, nhiệt huyết anh hùng toát lên rõ nét. Tấn bi kịch cùng chí khí của người anh hùng đã được làm nổi bật một cách bi tráng. Tình cảm, khát vọng của tác giả đã được nhấn mạnh thông qua những hình ảnh kì vĩ, lớn lao và mang tầm vóc vũ trụ. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Cảm hoài của Đặng Dung – Chương trình Ngữ văn lớp 10
794
Hướng dẫn soạn văn Cảm xúc mùa thu của nhà thơ Đỗ Phủ Hướng dẫn Cảm xúc mùa thu là bài thơ đầy cảm xúc của Đỗ Phủ viết về mùa thu cũng như những nỗi niềm thầm kín. Hướng dẫn soạn văn Cảm xúc mùa thu sẽ cung cấp thêm những thông tin về bài thơ, các bạn hãy cùng tham khảo nhé. I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Có thể chia bài thơ làm mấy phần? Vì sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của mỗi phần? Trả lời – Có thể chia bài thơ này thành hai phần, bao gồm 4 câu trên và 4 câu dưới. – Nội dung giữa 4 câu trên và 4 câu dưới có sự độc lập nhất định. Bốn câu trên thiên nhiều hơn về tả cảnh mùa thu ảm đạm, hiu hắt pha chút dữ dội, nhưng cũng chỉ làm cho cảnh thêm sầu thẳm, hoang vu. Bốn câu dưới lại thiên về tả tình, đó là nỗi nhớ quê hương và nỗi niềm “dân nước”. Theo
Hướng dẫn soạn văn Cảm xúc mùa thu của nhà thơ Đỗ Phủ
173
Hướng dẫn soạn văn Cảnh ngày hè của tác giả Nguyễn Trãi Hướng dẫn Qua Cảnh ngày hè, ta không chỉ cảm nhận được bức tranh ngày hè đầy rực rỡ về màu sắc và hương thơm mà còn thấy được chân dung tâm hồn đẹp đẽ của Nguyễn Trãi, con người hết lòng vì dân vì nước. Hướng dẫn soạn văn Cảnh ngày hè sẽ đưa ra những gợi ý cụ thể cho quá trình tìm hiểu bài thơ của bạn học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Trong bài thơ có nhiều động từ diễn tả trạng thái của cảnh ngày hè. Đó là những động từ nào? Trạng thái của cảnh được diển tả ra sao? Trả lời: Trong bài thơ có nhiều động từ diễn tả trạng thái của cảnh ngày hè: đùn đùn, giương, phun, tiễn. Từ đùn đùn gợi tả sắc xanh thẫm của tán hoè liên tiếp tuôn ra tầng tầng lớp lớp; từ phun diễn tả màu hoa lựu đỏ rực rỡ, tươi mới. Cảnh vật được miêu tả trong trạng thái đang vận động, vì thế trở nên căng tràn sức sống ứa căng, tràn đầy với sắc xanh của lá hoa hòe, sắc đỏ của lựu ngoài mái hiên. Thiên nhiên hiện lên sinh động, chân thực với sức sống mãnh liệt khi hè đến. Câu 2. Cảnh ở đây có sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc, cảnh vật và con người. Anh (chị) hãy phân tích và làm sáng tỏ Trả lời Cảnh ở đây có sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc, cảnh vật và con người: – Bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động với âm thanh “dắng dỏi” của ve sầu nghe như tiếng đàn (cầm ve) từ trên lầu dưới ánh nắng chiều, phiên chợ “lao xao” người qua lại. – Bức tranh mùa hè được làm nổi bật ở gam màu xanh lục của cây hoa hòe đang thi nhau khoe sắc, sắc đỏ tươi sáng rực rỡ của lựu. – Con người hiện lên với sự gần gũi và trong mối quan hệ hài hòa với thiên nhiên. Đằng sau bức tranh cảnh ngày hè sống động là hình ảnh một con người gần gũi, yêu thiên thiên và luôn chăm sóc cho mỗi một loài cây. Câu 3. Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan nào? Qua sự cảm nhận ấy, anh (chị) thấy nhà thơ có tấm lòng như thế nào đối với thiên nhiên Trả lời: Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác và cả cảm giác. – thị giác giúp tác giả ngắm nhìn thiên nhiên ngày hè hiện lên với những đặc trưng cụ thể bởi những cảm nhận tinh tế. Đó là màu xanh của lá cây, màu đỏ của hoa lựu. – Tác giả đã lắng nghe tiếng ve “dắng dỏi” bằng thính giác. – Tác giả cảm nhận hương thơm của hoa sen nhờ vào vị giác. Qua sự cảm nhận ấy, chúng ta thấy được tác giả là người có tấm lòng yêu thiên tha thiết, và sâu xa hơn nữa đó chính là lòng yêu đời, yêu cuộc sống của tác giả, xuất phát từ tình yêu quê hương đất nước và nhân dân. Câu 4. Hai câu thơ cuối cho thấy tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với người dân thế nào? Nhận xét về âm điệu kết thúc bài thơ Trả lời: Hai câu cuối thể hiện rõ tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với người dân: – Tác giả Nguyễn Trãi mong ước có khúc đàn Nam Phong của vua Thuấn để có thể gẩy lên khúc nhạc về cuộc sống mưa thuận gió hòa, nhân dân làm ăn sung sướng no đủ. Điều này thể hiện khát vọng cao đẹp, mong mỏi da diết của Nguyễn Trãi về cuộc sống thanh bình, hạnh phúc của nhân dân. – Câu thơ còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn: ngợi ca sự hưng thịnh của triều đại, và nhắc nhở các bậc quân vương luôn quan tâm đời sống của nhân dân. Âm điệu kết thúc bài thơ: – Câu kết chỉ có 6 chữ (lục ngôn), khác với những bài kết thúc bằng câu thất ngôn. Câu lục ngôn làm cho âm điệu đang 7 chữ nén lại trong 6 chữ. – Tác dụng: tạo nên độ mở về xúc cảm cho bài thơ, tuy bài thơ kết thúc nhưng âm hưởng thì vẫn còn vang vọng, bởi cảm xúc được dồn nén, nhưng dư âm của nó lại mở ra. Câu 5. Cảm xúc chỉ đạo của bài thơ? Vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ Trả lời Cảm xúc chỉ đạo của bài thơ là tình yêu thiên nhiên da diết, từ đó người đọc thấy được lòng yêu đời, lòng yêu nước thương dân và khát vọng về cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho nhân dân. Vẻ đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ: – Tác giả Nguyễn Trãi hiện lên với tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống con người khát vọng vươn tới hoà bình hạnh phúc cho nhân dân xuất phát từ tình yêu thương nhân dân, thể hiện rõ vẻ đẹp về lí tưởng và nhân cách. – Qua bài thơ, chúng ta còn thấy được tinh thần lạc quan của tác giả thông qua hình ảnh gần gũi, bình dị, câu thơ thất ngôn xen lục ngôn và bức tranh thiên nhiên đầy sức sống, khỏe khoắn. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Cảnh ngày hè của tác giả Nguyễn Trãi
917
Hướng dẫn soạn văn Cảnh ngày hè – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Soạn văn Cảnh ngày hè với hệ thống lời giải chi tiết cho những câu hỏi tìm hiểu tác phẩm trong sách giáo khoa nhằm mang đến quá trình học tập hiệu quả nhất cho người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Trong bài thơ có nhiều động từ diễn tả trạng thái của cảnh ngày hè. Đó là những động từ nào, trạng thái của cảnh được diễn tả ra sao? Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên ngày hè sống động. Tác giả dùng nhiều động từ diễn tả trạng thái của cảnh ngày hè: + “Đùn đùn”: gợi tả sắc xanh thẫm của tán hòe lớp lớp, liên tiếp tuôn ra. + “giương”: rộng ra + “phun”: gợi sự nổi bật, bắt mắt của màu đỏ hoa lựu. Cảnh vật như căng tràn nhựa sống, chúng như đang cựa quậy,vận động không ngừng. Câu 2: Cảnh ở đây có sự hài hòa giữa âm thanh và màu sắc, cảnh vật và con người. Anh (chị) hãy phân tích và làm sáng tỏ Bức tranh thiên nhiên ngày hè có sự hài hòa về âm thanh và màu sắc, cảnh vật và con người: Màu sắc: màu xanh của tán lá hòa, màu đỏ của hoa lựu, màu vàng của mặt trời chiều( tịch dương) Âm thanh: tiếng ve- âm thanh đặc trưng của ngày hè; tiếng lao xao chợ cá. Cảnh vật nên thơ bình yên: hoa lựu, sen. Cuộc sống con người giản dị, gần gũi, đó là cuộc sống của những người dân làng chài. Bức tranh thiên nhiên tràn đầy nhựa sống. Câu 3: Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan nào? Qua sự cảm nhận ấy, anh (chị) thấy Nguyễn Trãi là người có tấm lòng như thế nào đối với thiên nhiên? Nhà thơ cảm nhận cảnh vật bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác và khứu giác: nhìn thấy sắc xanh của hòe, sắc đỏ của hoa lựu; nghe âm thanh tiếng ve, tiếng lao xao chợ cá; ngửi thấy hương sen thơm ngát của mùa hè. Nguyễn Trãi như mở rộng tất cả các giác quan để đón nhận, để hòa mình cảm nhận thiên nhiên. Vì thế mà bức tranh thiên nhiên trở nên sống động, tinh tế. Qua đó cho thấy nhà thơ là người yêu thiên nhiên, muốn gắn bó, giao hòa cùng thiên nhiên. Câu 4: Hai câu thơ cuối cho ta hiểu tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với người dân như thế nào? Âm điệu câu thơ lục ngôn (sáu chữ) kết thúc bài thơ khác âm điệu những câu thất ngôn (bảy chữ) như thế nào? Sự thay đổi âm điệu như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện tình cảm của tác giả? Hai câu thơ cuối là tấm lòng Nguyễn Trãi đối với người dân: đó là ước mong một cuộc sống thanh bình, no đủ cho nhân dân. Âm điệu câu thơ lục ngôn kết thúc bài với nhịp 3/3 chắc khỏe, có sự phá cách so với những câu thơ thất ngôn, đó là âm điệu đột ngột, ngắn gọn, súc tích diễn tả sự dồn nén cảm xúc của con người. Sự thay đổi âm điệu này góp phần thể hiện khát vọng, mong muốn cháy bỏng của tác giả về cuộc sống bình yên, no đủ cho nhân dân. Câu 5: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là gì? Lòng yêu thiên nhiên. Lòng yêu đời, yêu cuộc sống. Khát vọng về cuộc sống thái bình, hạnh phúc cho nhân dân. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ trước hết là lòng yêu thiên nhiên. Đằng sau tình yêu thiên nhiên đó là lòng yêu đời, yêu cuộc sống, khát vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tâm hồn Nguyễn Trãi: + Yêu thiên nhiên tha thiết. + Tâm hồn và nhân cách cao cả: mong muốn nhân dân có cuộc sống bình yên, no đủ, thể hiện ý thức nhập thế giúp đời. II. Luyện tập 1. Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ Gợi ý: Vẻ đẹp thiên nhiên: + Thiên nhiên sống động hiện lên qua các động từ có sức diễn tả: đùn đùn, giương, phun. + Thiên nhiên có sự hài hòa giữa màu sắc và âm thanh, cảnh vật và con người. Tâm hồn Nguyễn Trãi: + Yêu thiên nhiên, mong muốn giao hòa cùng thiên nhiên. + Yêu đời, yêu cuộc sống. + Nhân cách cao cả: mong muốn một cuộc sống thanh bình, no đủ cho nhân dân. 2. Học thuộc bài thơ Theo
Hướng dẫn soạn văn Cảnh ngày hè – Chương trình Ngữ văn lớp 10
772
Hướng dẫn soạn văn Danh từ ( Tiếp theo) – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Để hiểu hơn về bài học danh từ và nhận diện được danh từ riêng và danh từ chung, các bạn hãy cùng tham khảo hướng dẫn soạn văn Danh từ ( tiếp theo) dưới đây nhé! I. DANH TỪ CHUNG VÀ DANH TỪ RIÊNG 1. Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc Tiểu học, hãy điền các danh từ vào bảng phân loại: Vua nhớ công ơn tráng sĩ, phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ở ngày làng Gióng, nay thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. BẢNG PHÂN LOẠI Danh từ chung Vua, tráng sĩ, đền thờ, làng, xã, huyện Danh từ riêng Phù Đổng Thiên Vương, 2. Nhận xét về cách viết các danh từ riêng trong câu trên Trả lời: Các danh từ riêng trong câu trên đều được viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng. 3. Nhắc lại quy tắc viết hoa đã học, cho ví dụ minh họa. Cụ thể: – Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam; – Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài; – Quy tắc viết hoa tên các cơ quan, tổ chức, các danh hiệu, giải thưởng, huân chương,… Trả lời: Các quy tắc viết hoa đã học – Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam: viết hoa chữ cái đầu tiên của mội bộ phận tạo thành tên riêng đó. – Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài; + Đối với tên người, tên địa lí nước ngoài phiên âm qua âm Hán Việt: viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi tiếng + Đối với tên người, tên địa lí nước ngoài đã phiên âm trực tiếp: viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó; nếu một bộ phận gồm nhiều tiếng thì giữa các tiếng cần có gạch nối. – Quy tắc viết hoa tên các cơ quan, tổ chức, các danh hiệu, giải thưởng, huân chương: Chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành cụm từ này đều được viết hoa. II. LUYỆN TẬP 1. Tìm danh từ chung và danh từ riêng trong câu sau: Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Trả lời Danh từ chung Ngày xưa, miền, đất, nước, thần, rồng, con trai Danh từ riêng Lạc Việt, Bắc Bộ, Long Nữ, Lạc Long Quân. 2. Các từ được in đậm dưới đây có phải là danh từ riêng không? Vì sao? Chim, Mây, Nước và Hoa đều cho rằng tiếng hót kì diệu của Họa Mi đã làm cho tất cả bừng tỉnh giấc. b.Nàng Út bẽn lẽn dâng lên vua mâm bánh nhỏ. c. …] Khi ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy. Trả lời Những từ in đậm là danh từ riêng, vì chúng được dùng để gọi tên của một sự vật riêng biệt, cụ thể chứ không để chỉ chung sự vật hiện tượng. 3. Có bạn chép đoạn thơ trong SGK- tr.110 SGK Ngữ văn 6 tập 1 của nhà thơ Tố Hữu mà quên viết hoa một số danh từ riêng. Em hãy viết lại các danh từ riêng ấy cho đúng Trả lời Ai đi Nam Bộ Tiền Giang, Hậu Giang Ai vô thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp Việt Bắc Việt Nam mồ ma giặc Pháp Ai đi Nam – Ngãi, Bình – Phú, Khánh Hoà Ai vô Phan Giang, Phan Thiết Ai lên Tây Nguyên, Công Tum, Đắc Lắc Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung Ai về với quê hương ta tha thiết Sông Hương, bến Hải, cửa Tùng… Ai vô đó với đồng bào đồng chí Nói với nửa -Việt Nam yêu quý Rằng nước ta là của chúng ta Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà!
Hướng dẫn soạn văn Danh từ ( Tiếp theo) – Chương trình Ngữ văn lớp 6
660
Hướng dẫn soạn văn Danh từ – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Để có thêm những kiến thức về danh từ và cách nhận diện, sử dụng danh từ, các bạn hãy cùng tham khảo bài Hướng dẫn soạn văn Danh từ mà đã tuyển chọn dưới đây nhé. I. ĐẶC ĐIỂM CỦA DANH TỪ Câu 1. Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc Tiểu học hãy xác định danh từ trong cụm danh từ in đậm dưới đây: Vua sai ban cho làng ấy ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con […] (Em bé thông minh) Trả lời: Danh từ: con trâu Câu 2. Xung quanh những danh từ trong cụm danh từ nói trên có những từ nào? Trả lời – Số từ: ba – Đại từ phiếm chỉ: ấy Câu 3. Tìm các danh từ khác trong câu trên? Trả lời Các danh từ khác trong câu trên: vua, làng, gạo nếp, trâu đực, con, thúng. Câu 4. Danh từ biểu thị những gì? Trả lời: Danh từ biểu thị người, các sự vật, hiện tượng,… Câu 5. Đặt câu với các danh từ em mới tìm được – Làng tôi có rất nhiều những cây gạo cổ thụ – Gạo nếp là thứ không thể thiếu khi gói bánh chưng II. DANH TỪ CHỈ ĐƠN VỊ Câu 1. Nghĩa của các danh từ in đậm dưới đây có khác gì danh từ đứng sau? Trả lời Các từ này dùng để chỉ số lượng, đo lường Câu 2. Thử thay thế các danh từ in đậm nói trên bằng những từ ngữ khác rồi rút ra nhận xét: Trường hợp nào đơn vị tính đếm, đo lường thay đổi? Trường hợp nào đơn vị tính đếm, đo lường không thay đổi? vì sao? Trả lời -Nghĩa không đổi +Thay từ “con” thành “chú” +Thay từ “viên” thành “ông” -Nghĩa đổi +Thay từ “ thúng” thành “bát hoặc nắm” + Thay từ “tạ” thành “cân” Câu 3. Vì sao có thể nói Nhà có ba thúng gạo rất đầy nhưng không thể nói Nhà có sau tạ thóc rất nặng? Trả lời -Từ “thúng” là đơn vị mang tính ước lượng, không có sự chính xác về cân nặng – Từ “tạ” đơn vị tính chính xác, nên không thể đem ra so sánh sự nặng hay nhẹ được III. LUYỆN TẬP Bài 1 – Những danh từ chỉ sự vật: Sao Hỏa, Sao Kim, bút, thước, quần, áo,… – Những danh từ chỉ khái niệm: chất rắn, khái quát,… Đặt câu: – Sao Kim là ngôi sao gần Mặt Trời nhất Bài 2 – Các danh từ chuyên đứng trước danh từ chỉ người: ông, vị, cô, anh, chị, bà,… – Chuyên đứng trước danh từ chỉ đồ vật: cái, quyển,… Bài 3 a, Chỉ đơn vị quy ước chính xác: tạ, tấn, cân, lạng,… b, Chỉ những quy ước ước chừng: nắm, bó,…. Bài 5 – Danh từ chỉ đơn vị: con, hình, đỉnh… – Danh từ chỉ sự vật: cha mẹ, bút, chim, tôm, cá…
Hướng dẫn soạn văn Danh từ – Chương trình Ngữ văn lớp 6
481
Hướng dẫn soạn văn Em bé thông minh – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Em bé thông minh là hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ giải đáp cho những câu hỏi định hướng tìm hiểu bài học trong sách giáo khoa. Để có quá trình học tập hiệu quả nhất, các bạn hãy tham khảo bài soạn mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé. I. Tìm hiểu chung 1. Thể loại Truyện “Em bé thông minh” thuộc thể loại truyện cổ tích, được dân gian sáng tác và còn lưu truyền cho tới ngày nay. Các nhân vật xuất hiện trong truyện cổ tích thường là những người có số phận bất hạnh, người có tài năng kì lạ, có trí thông minh siêu phàm hoặc là những con vật biết nói, có tính cách giống con người… Truyện cổ tích khác biệt với các loại truyện khác ở phương diện người kể chuyện kể lại nó và người nghe thì tiếp nhận dựa theo trí tưởng tượng của mình. Bên cạnh yếu tố hư cấu, tưởng tượng thì truyện cổ tích vẫn có sự liên hệ với đời sống hiện thực thông qua đặc điểm về nội dung, ngôn ngữ, tính chất của cốt truyện… Về nội dung tư tưởng, truyện cổ tích thường mang tinh thần lạc quan, có hậu, kết thúc thì cái thiện luôn thắng cái ác. 2. Tóm tắt truyện “Em bé thông minh” Ngày xưa, có một vị vua muốn tìm người tài giúp ích cho đất nước. Ông đã sai cận thần đi dò la khắp nơi mà một thời gian vẫn chưa tìm được người xuất chúng. Một ngày nọ, vị cận thần đi qua cánh đồng làng gặp hai cha con đang làm ruộng, ông hỏi: “Trâu của ông một ngày cày được mấy đường”. Cậu con trai nhanh nhảu hỏi vặn lại quan là “ngựa của ngài một ngày đi được mấy bước” khiến quan sửng sốt. Biết là đã tìm ra người tài nên quan về bẩm báo vua. Vua vẫn muốn thử tài cậu bé, bắt làng đó phải nuôi trâu đực để đẻ ra trâu con. Cậu bé cùng cha vào cung, tâu với vua là muốn cha đẻ em bé cho để có người chơi cùng. Bằng cách này, nhà vua đã tự thừa nhận sự vô lí trong yêu cầu của mình, hai cha con được thưởng hậu hĩnh. Nước láng giềng muốn thử xem nước ta có người tài hay không đã cho sứ giả mang sang một chiếc vỏ ốc vặn thật dài và yêu cầu ta phải luồn sợi chỉ qua vỏ ốc. Nhà vua cho người tìm đến cậu bé và cậu bé đã bày cách giúp nước ta thoát nạn. Nhà vua phong cậu làm Trạng Nguyên, ở dinh thự trong cung để giúp vua trị quốc. II. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1 Trong truyện cổ tích, việc sử dụng các câu đố để thử tài nhân vật khá là phổ biến. Việc sử dụng câu đố để thử tài nhân vật có các tác dụng như sau: – Tạo ra các tình huống gây thú vị, bất ngờ cho người đọc. – Liên kết và phát triển cốt truyện theo một mạch thống nhất. – Các tình huống có tác dụng thể hiện được trí thông minh, lanh lợi của nhân vật. Câu 2. Sự mưu trí, thông minh của em bé được thử thách qua 4 lần: – Lần thứ nhất: Em bé trả lời câu hỏi của viên quan. Đây cũng là lần giúp nhà vua tìm ra người tài. – Lần thứ hai: Cậu bé đã thay mặt dân làng vào cung và bắt vua phải thừa nhận sự phi lí trong lệnh của mình (Cha của em bé là giống đực không thể đẻ được cũng giống như việc nhà vua bắt nuôi trâu đực để đẻ là vô lí). – Lần thứ ba: Cậu bé đã đố lại nhà vua (Nhờ rèn cây kim thành dao để xẻ thịt chim). – Lần tứ tư: Lần này, việc giải đố không phải là nhà vua ra đề mà là sứ giả nước láng giềng ra đề. Cậu bé đã dùng kinh nghiệm dân gian để giúp nhà vua giải được câu đố. Câu 3: Trong mỗi lần được thử thách, em bé đã giải đố các câu hỏi của nhà vua một cách thông minh và linh hoạt – Lần thứ nhất: Em bé đố lại viên quan, nếu quan trả lời được thì cậu bé cũng sẽ trả lời được câu hỏi mà quan đặt ra. – Lần hai: Cậu bé tự tạo dựng ra một tình huống bất ngờ, làm cho nhà vua phải thừa nhận sự phi lí của mình. – Lần thứ ba: Cậu bé đố lại nhà vua làm nhà vua khâm phục. – Lần thứ tư: Cậu bé sử dụng kinh nghiệm trong dân gian để giải đố. Những cách xử lí tình huống của em bé vô cùng thông minh, hóm hỉnh khiến nhà vua phải tâm phục, khẩu phục. Câu 4. Truyện em bé thông minh có ý nghĩa to lớn, đề cao phẩm chất trí tuệ của con người: – Truyện ca ngợi sự thông minh, đề cao phẩm chất trí tuệ của con người. – Trí thông minh của con người không phải chỉ có ở những người vương tôn quý tộc mà ngay cả những người nông dân bình dị cũng có trí thông minh xuất chúng. Trí thông minh ấy bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, từ kinh nghiệm sống của con người.
Hướng dẫn soạn văn Em bé thông minh – Chương trình Ngữ văn lớp 6
921
Hướng dẫn soạn văn Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng sẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhằm hỗ trợ cho quá trình tiếp cận và phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! Câu 1. Xác lập mối quan hệ giữa không gian, thời gian và con người trong bài thơ. Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn Trả lời “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” là một bàu thơ đậm chất Đường thi bởi đặc trưng “ý tại ngôn ngoại”. Điều này được tạo nên bởi tứ thơ có mối liên hệ được tạo nên bởi những hình ảnh và những mối quan hệ chặt chẽ với nhau: – Mối quan hệ về không gian được tạo nên bởi ba hình ảnh: Lầu Hoàng Hạc (một danh lam thắng cảnh nổi tiếng, biểu tượng cho sự chia li và gắn liền với huyền thoại Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên), thành Dương Châu (một thắng cảnh đô hội phồn hoa- điểm đến của Mạnh Hạo Nhiên) và dòng Trường Giang mênh mông ở giữa. Không gian chia li thấm đẫm nỗi buồn bởi lầu Hoàng Hạc gắn với huyền thoại về sự chia li, và dòng Trường Giang gợi nên khoảng cách chia li mênh mông, xa vời. – Mối quan hệ thời gian được tạo nên bởi: Tháng ba- mùa hoa khói. Đó là lúc sông Trường Giang hiện lên với vẻ đẹp nhộn nhịp, đồng thời mùa hoa khói còn biểu trưng cho cho sự phồn hoa của Dương Châu, nhưng vẫn gợi nên nỗi buồn chia li. – Mối quan hệ giữu con người: sợi dây liên kết giữa người đi và người ở lại được thể hiện qua hai chữ “cố nhân”, nhưng đã gợi lên sự tri âm tri kỉ và sự gắn bó thân thiết một cách sâu sắc. Thông qua hai câu thơ đầu, chúng ta thấy được nỗi buồn thầm kín bâng khuâng, xao xuyến. Sự lưu luyến và nỗi buồn chia li của người ở lại và người ra đi còn được thể hiện qua việc lựa chọn điểm nhìn. Tác giả đã lựa chọn điểm nhìn từ trên cao để vọng theo bạn dù cho cuộc chia tay diễn ra bên bờ sông, nhưng nhà thơ lại chọn nơi điểm cao để vọng theo bạn. Điểm nhìn này kết hợp cùng mối liên hệ giữa không gian, thời gian đã tạo nên một thế giới nghệ thuật thấm đẫm nỗi buồn chia li và sự lưu luyến. Câu 2. Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồn lẻ loi” của “cố nhân”? Trả lời Sông Trường Giang là một huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè xuôi ngược, nhưng Lý Bạch chỉ thấy “cánh buồn lẻ loi” của “cố nhân”. Điều này bởi vì tác giả đang đứng ở vị trí và điểm nhìn của người đưa tiễn. Hình ảnh “cô phàm” đã nhấn mạnh sự lẻ loi, đơn chiếc. Lùi dần vào dòng nước Trường Giang, mênh mông thăm thẳm. Đôi mắt của nhà thơ đã dõi theo bóng thuyền của bạn cho đến khi khuất hẳn. Câu 3. Cảm nhận tâm tình của thi nhân? Trả lời Tâm tình của thi nhân được thể hiện trong xuyên suốt bài thơ, đặc biệt là trong câu thơ cuối: Trông xa chỉ thấy dòng sông bên trời. Khác với những câu thơ trước, miêu tả cảnh thiên nhiên để nói lên tâm trạng, câu thơ này được kiến tạo theo cách gợi mà không tả: Dòng sông bên trời hiện lên trong cái nhìn “trông xa” đồng nhất với tâm trạng lưu luyến cùng nỗi buồn chia li trong tâm hồn tác giả. Hình ảnh một dòng sông chảy vào cõi trời hiện lên thơ mộng nhưng cũng gợi nên sự rợn ngợp. Tâm trạng lưu luyến qua cái nhìn trông theo đã được làm nổi bật. Qua đó chúng ta thấy được sự cô đơn trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. – Bài thơ đã thể hiện tình bạn sâu sắc, tri âm tri kỉ của hai nhà thơ nổi tiếng thời thịnh Đường. Qua đó chúng ta thấy được sự đáng quý và sự trân trọng đối với tình bạn. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
792
Hướng dẫn soạn văn Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Tiếp theo) Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Tiếp theo)sẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhằm cung cấp những định hướng tốt nhất cho quá trình tìm hiểu bài học của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé. II. Luyện tập Câu 1. Phân tích các nhân tố giao tiếp trong câu ca dao Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng: – Tre non đủ lá đan sàng nên chăng? a. Nhân vật giao tiếp ở đây là những người như thế nào? Trả lời Nhân vật giao tiếp trong bài ca dao – Chàng trai: xưng hô với cô gái bằng đại từ “anh”. – Cô gái: được chàng trai gọi là nàng. => Cả chàng trai và cô gái ở trong câu ca dao đều đang ở độ tuổi thanh xuân. b. Hoạt động giao tiếp diễn ra vào thời điểm nào? Trả lời Hoạt động giao tiếp diễn ra vào buổi tối và cụ thể là vào một đêm trăng thanh. Thời gian này hoàn toàn phù hợp với những cuộc chuyện trò tình tứ của những buổi hát đổi, hát ghẹo, hát giao duyên trong sinh hoạt dân ca. c. Nhân vật anh nói về điều gì? Nhằm mục đích gì? Trả lời – Nhân vật “anh” ướm hỏi về tình yêu đôi lứa, cụ thể là việc kết duyên với cô gái. + Thứ nhất, thông tin hiển thị cụ thể. + Thứ hai, thông tin hàm ngôn: “đan sàng” không được dùng theo nghĩa đen là cách thức đan sàng, mà đó là cách nói ẩn dụ về việc “ gá nghĩa trăm năm”- kết duyên vợ chồng. d. Cách nói của “anh” có phù hợp với nội dung và mục đích giao tiếp không? – Cách nói này rất phù hợp với nội dung và mục đích giao tiếp. Vì: + Cách ướm hỏi vô cùng tế nhị, kín đáo, khiến cho cả hai nhân vật giao tiếp bớt phần ngại ngùng. Câu 2. Đọc đoạn đối thoại (giữa em nhỏ A Cổ với một ông già) và thực hiện các yêu cầu (SGK, tr. 21). a. Các nhân vật đã thực hiện bằng ngôn ngữ những hành động nói cụ thể nào? Nhằm mục đích gì? b. Nêu mục đích giao tiếp của mỗi câu. c. Lời nói của các nhân vật bộc lộ tình cảm, thái độ và quan hệ trong giao tiếp như thế nào? Trả lời: a. Các nhân vật đã thực hiện bằng ngôn ngữ những hành động nói cụ thể là: Chào, nói, thưa b. Trong lời nói của ông già, về hình thức thì cả ba câu đều là câu hỏi, nhưng được người viết sử dụng với mục đích khác, cụ thể là – Câu 1 (A cổ hả) là câu hỏi thay chào và dùng để đáp lại lời chào của A cổ. – Câu 2 (Lớn tướng rồi nhỉ) không mang tính chất nghi vấn mà là lời khen, dùng để bộc lộ cảm xúc. – Câu 3 có mục đích hỏi. c. Lời nói của các nhân vật bộc lộ thái độ, tình cảm và quan hệ trong giao tiếp: – Tình cảm giữa hai người rất thân mật, gần gũi và có độ tin cậy cao. – Thái độ: + Cậu bé rất kính trọng và lễ phép với những người lớn tuổi + Ông cụ rất quý mến và quan tâm cậu bé Câu 3: Đọc bài thơ Bánh trôi nước và thực hiện các yêu cầu (SGK, tr.21) b. Người đọc căn cứ vào đâu để lĩnh hội bài thơ Trả lời: a. Khi làm bài thơ này, Hồ Xuân Hương đã “giao tiếp” với người đọc vấn đề: – Vấn đề giao tiếp: Thân phận của người phụ nữ (vẻ đẹp và số phận) trong xã hội phong kiến xưa. Điều này đã được thể hiện qua hình ảnh ẩn dụ là chiếc bánh trôi nước. b. Để lĩnh hội, cảm nhận bài thơ, người đọc căn cứ vào những yếu tố sau: – Từ ngữ, hình ảnh trong bài thơ hướng đến vẻ đẹp của con người, cụ thê là người phụ nữ: “trắng”, “tròn” (chỉ vẻ đẹp), “bảy nổi ba chìm” (chỉ thân phận lận đận), “tấm lòng son” (phẩm chất bên trong). – Sự tương đồng của hình tượng bánh trôi nước và người phụ nữ. – Căn cứ vào cuộc đời của nữ sĩ Hồ Xuân Hương để hiểu và cảm bài thơ này: Xuân Hương là người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, nhưng số phận và đường tình duyên lại long đong lận đận. Hai lần lấy chồng thì cả hai lần đều làm lẽ: “cố đấm ăn xôi lại hẩm”. Câu 5. Phân tích các hoạt động giao tiếp qua bức thư Bác Hồ gửi học sinh cả nước nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa tháng 9 năm 1945 (SGK tr. 22) Trả lời Các hoạt động giao tiếp qua bức thư Bác Hồ gửi học sinh cả nước nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa tháng 9 năm 1945: Nhân vật giao tiếp: – Bác Hồ viết thư gửi học sinh toàn quốc với tư cách là Chủ tịch nước. – Người nhận là các em học sinh. Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: Nước ta vừa giành được độc lập dân tộc, nên rất cần những nhân tài để bảo vệ và xây dựng đất nước. – Người viết (Bác Hồ) mong muốn thế hệ trẻ sẽ nỗ lực học tập để có những cống hiến và đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu. – HS: Lần đầu tiên được học tập trong những môi trường của nền độc lập tự do và xóa bỏ hoàn toàn chương trình ngu dân của thực dân Pháp. Nội dung bức thư nói lên ý nghĩa của ngày khai trường đầu tiên và động viên các em cố gắng, nỗ lực trong học tập. + Đầu tiên, Bác bộc lộ niềm vui sướng khi thế hệ học sinh được sống và học tập trong môi trường giáo dục hoàn toàn mới mẻ. + tiếp theo, Bác nêu ra nhiệm vụ và trách nhiệm của học sinh đối với đất nước. + Và cuối cùng, Bác gửi lời chúc đến toàn thể học sinh. Theo
Hướng dẫn soạn văn Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Tiếp theo)
1,039
Hướng dẫn soạn văn Luyện nói kể chuyện – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Để củng cố và rèn luyện kĩ năng nói kể chuyện, các bạn hãy cùng tham khảo bài hướng dẫn soạn văn Luyện nói kể chuyệnmà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Chuẩn bị Lập dàn bài kể miệng trên lớp theo một trong các đề bài sau và kể theo dàn bài: 1. Kể về một chuyến về quê. 2. Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn. 3. Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử 4. Kể về một chuyến ra thành phố -Chọn đề bài: Kể về một chuyến về quê -Dàn bài: Mở bài + Lời chào hỏi mở đầu và giới thiệu về bản thân. + Nêu thời gian về quê, lí do được về thăm quê và người cùng đi về quê Thân bài + Cảm xúc khi được về quê + Miêu tả khung cảnh trên đường về quê + Miêu tả quang cảnh của quê hương + Giới thiệu gia đình và họ hàng ở quê + Những kỉ niệm trong chuyến đi về quê Kết bài + Cảm xúc khi chia tay quê hương, cảm nhận về quê hương + Lời chào kết thúc và lời cảm ơn người đã lắng nghe Kể theo dàn bài: Vào dịp nghỉ hè, do đạt được thành tích học tập xuất sắc trong năm học đầu tiên của cấp hai, em lại được bố mẹ cho về quê ngoại thăm quê và tận hưởng kì nghỉ hè bên ông bà. Khi em nhận được món quà về thăm quê của bố mẹ, em đã rất vui mừng và háo hức, đã lâu lắm rồi kể từ kì nghỉ hè năm lớp 4 em mới được về quê lâu như vậy, thường thì ngày Tết, giỗ gia đình em vẫn về nhưng chỉ đi trong ngày. Em đã rất chờ đợi ngày được về quê và cuối cùng ngày đó cũng đến. Quê ngoại của em cách nhà em gần 120 km, đi ô tô phải mất 2 tiếng đồng hồ mới tới nơi. Trên đường về quê đi qua những dãy phố chật chội, đông đúc rồi lại bắt gặp hai bên cánh đồng bát ngát mênh mông. Trên con đường về quê xe của gia đình em còn đi trên một con đê dài, một bên là cánh đồng với những ngôi nhà quây quần giữa cánh đồng, còn một bên là dòng sông chảy dài có những chiếc phà qua lại. Quê hương em là một vùng nông thôn, xung quanh ngôi làng của ông bà em toàn là cánh đồng tít tắp, có rặng tre và cây đa, giếng nước, sân đình. Chiếc cổng làng thân thương, quen thuộc chào đón gia đình em, bước vào làng mùi rơm rạ và ao bèo tạo cho em cảm giác bâng khuâng khó tả. Ở quê ngoại gia đình em có ông bà ngoại và các bác, các dì cùng các cậu, mọi người ở gần nhà nhau nên có công việc gì đều đầy đủ và đông vui cả. Khi về quê em được chơi với các anh chị em trong nhà rất vui, em được chơi những trò chơi mà ở nơi thành phố em chưa từng được biết. Thế rồi một tuần nghỉ hè của em ở quê ngoại đã hết, hôm nay bố mẹ lại về đón em, những kỉ niệm nơi đây đã làm cho em xao xuyến không nỡ rời đi. Em sẽ nhớ mãi những kỉ niệm nơi đây, nhớ mãi quê hương này và sẽ cố gắng để được về quê thường xuyên hơn.
Hướng dẫn soạn văn Luyện nói kể chuyện – Chương trình Ngữ văn lớp 6
598
Hướng dẫn soạn văn Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh Hướng dẫn Soạn văn Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh sẽ cung cấp lời giải chi tiết, đầy đủ cho hệ thống câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp trong sách giáo khoa. Để có quá trình học tập hiệu quả, các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Đoạn văn thuyết minh 1. Hãy nhắc lại: a. Thế nào là một đoạn văn? Đoạn văn là một phần của văn bản, được tính từ chỗ viết hoa thụt đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng. Một đoạn văn có tính hoàn chỉnh cả về hình thức và nội dung. b. Một đoạn văn cần đạt được những yêu cầu nào trong các yêu cầu kể dưới đây: Một đoạn văn cần đạt được những yêu cầu: + Có sự liên kết chặt chẽ các đoạn văn đứng trước và sau đoạn văn đó. + Nội dung và hình thức phải diễn đạt chính xác, trong sáng: + Mang tính hấp dẫn, lôi cuốn 2. Theo anh (chị), giữa một đoạn văn tự sự và một đoạn văn thuyết minh có những điểm nào giống và khác nhau? Vì sao có sự giống và khác nhau như thế? Điểm giống: Cả đoạn văn đoạn văn tự sự và đoạn văn thuyết minh đều trình bày một sự kiện, mô tả một sự vật, hiện tượng, đòi hỏi người viết phải có am hiểu sâu sắc và chính xác. Có sự giống nhau này bởi vì cả hai đoạn văn đều mang tính chất kể và trình bày là chủ yếu. Điểm khác: + Đoạn văn tự sự: thường là kể lại sự vật, sự việc, biểu cảm là chủ yếu. + Đoạn văn thuyết minh: thường giới thiệu về sự vật, hiện tượng, trình bày những vấn đề liên quan tới sự vật, hiện tượng đó nhằm cho người đọc hiểu. Có sự khác nhau này là bởi, tính chất của văn tự sự là kể, còn văn thuyết minh là trình bày. 3. Một đoạn văn thuyết minh có thể gồm bao nhiêu phần chính? Các ý trong đoạn văn thuyết minh có thể được sắp xếp theo các trình tự thời gian, không gian, nhận thức, phản bác – chứng minh không? Vì sao? Một đoạn văn thuyết minh bao gồm ba phần chính: Mở đoạn, phát triển đoạn và kết đoạn. Hoặc có hai phần chính là mở đoạn và kết đoạn. Các ý trong trong đoạn văn thuyết minh hoàn toàn có thể được sắp xếp theo các trình tự thời gian, không gian, nhận thức, phản bác – chứng minh. Bởi cách sắp xếp này sẽ làm cho đoạn văn thêm phần hấp dẫn, lôi cuốn. II. Viết đoạn văn thuyết minh Giả sử phải viết một bài văn thuyết minh để cung cấp cho người đọc những hiểu biết chuẩn xác về một nhà khoa học hoặc một tác phẩm văn học, một công trình nghiên cứu, một điển hình người tốt, việc tốt, anh (chị) hãy: 1. Phác qua dàn ý đại cương cho bài viết Dàn ý về một nhà khoa học + Giới thiệu sơ qua tiểu sử và cuộc sống đời tư của nhà khoa học + Nêu quá trình đến với khoa học của nhà khoa học + Những đóng góp của nhà khoa học 2. Dàn ý về một tác phẩm văn học + Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm + Nêu nội dung tư tưởng chính trong tác phẩm + Nêu những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm + Đánh giá và tổng kết những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, tầm ảnh hưởng của tác phẩm. – Tiếp đó, hãy diễn đạt một ý trong dàn ý thành một đoạn văn Lựa chọn ý: Nêu Nêu những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm Qua truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, có thể thấy nghệ thuật tiêu biểu nhất trong tác phẩm chính là yếu tố kì ảo. Nhân vật Ngô Tử Văn vốn là một người trần mắt thịt nhưng lại có thể chiến thắng hồn ma của tên giặc, đó là một thế giới khác với trần gian, hiện thực. Tác giả Nguyễn Dữ đã rấ khéo léo kết hợp đan xen yếu tố kì ảo với hiện thực, giúp cho truyện mang màu sắc huyễn hoặc, truyền kì hấp dẫn. Đồng thời còn thể hiện được đời sống tâm linh của người Việt ta ngày xưa. – Đoạn văn cho chúng ta biết những điều cần thiết khi viết một đoạn văn thuyết minh: + Cần xác định được vị trí và nội dung của đoạn văn + Phải có câu chuyển đoạn để tạo sự liên kết mạch lạc giữa đoạn văn trước và sau, với toàn bài văn. + Các ý được triển khai trong đoạn văn cần phải sắp xếp một cách hợp lí, trình tự rõ ràng, rành mạch. + Có thể vận dụng sáng tạo các phương pháp thuyết minh tuy nhiên phải cân nhắc và sử dụng đúng mục đích để đoạn văn thêm cụ thể, sinh động và hấp dẫn. III. Luyện tập Viết đoạn văn nối tiếp theo đoạn mà anh (chị) vừa hoàn thành trên lớp Tóm lại, tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một câu chuyện hay, vừa mang tính đề cao tinh thần cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn đã dám đấu tranh cái ác, trừ hại cho dân, bên cạnh đó còn thể hiện niềm tin vào công lý của nhân dân. Đồng thời truyện còn là một trong những tác phẩm mang những nét đặc trưng của lối truyện truyền kì. – Từ những kết quả và tiến bộ đã đạt được, hãy viết một bài văn thuyết minh để giới thiệu một con người, một miền quê, một danh lam thắng cảnh hoặc một phong trào hoạt động mà anh (chị) đã có dịp tìm hiểu kĩ Hội thi thổi cơm ở làng Đồng Vân Làng Đồng vân thuộc xã Đồng Tháp, một xã của huyện Đan Phượng, nằm ở ngoại thành thủ đô Hà Nội và bên dòng sông Đáy. Nơi đây, nhân dân quanh năm sinh sống bằng nghề cấy lúa, trồng rau màu và đan rổ, rá. Có một hội thi rất đặc biệt được diễn ra tại làng vào ngày rằm tháng Giêng hàng năm, đó là hội thi thổi cơm. Trong hội thi thổi cơm, mọi quá trình đều mang đậm màu sắc dân gian. Người dự thi không ai khác chính là người dân trong làng đã được tuyển chọn. Khi tiếng trống điểm ba hồi là các đội thi trang nghiêm dâng hương trước cửa đình, tưởng nhớ vị thành hoàng làng. Sau đó, hội thi bắt đầu, tiếng trống vừa dứt, các thanh niên nhanh và khỏe nhất của đội thoăn thoắt leo lên thân cây chuối đã được bôi mỡ rất trơn. Phải mất nhiều lần leo lên tụt xuống mới mong lấy được lửa, khung cảnh rất hài hước và vui nhộn. Khi đã lấy được nén hương mang xuống, ban tổ chức sẽ cho ba que diêm để tạo lửa, rồi trong đội chuẩn bị sẵn đũa bông để châm lửa từ diêm vào đuốc. Lấy lửa và nhóm lửa là vậy, còn những người khác thì giã thóc, giần sàng để thành gạo, lấy nước và bắt đầu thổi cơm. Niêu cơm nỏ được treo lơ lửng dưới đầu của một cành cong hình cánh cung cắm rất khéo léo ở sau lưng rồi uốn về trước mặt. Vừa thổi cơm, các đội còn đan xen nhau uốn lượn trên sân trong sự cổ vũ reo hò của mọi người. Khi thời gian thổi cơm đã hết, ban tổ chức chấm theo ba tiêu chí: gạo trắng, cơm dẻo và không có cơm cháy. Có thể nói hội thi thổi cơm ở làng Đồng Vân là một lễ hội mang đậm nét văn hóa cổ truyền. Đây là dịp để các trai làng đua tài khỏe mạnh, gái làng thể hiện bàn tay khéo léo. Hội thi đã góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị bản sắc dân tộc trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Theo
Hướng dẫn soạn văn Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh
1,363
Hướng dẫn soạn văn Luyện tập viết đoạn văn tự sự Hướng dẫn Soạn văn Luyện tập viết đoạn văn tựsự với hệ thống lời giải chi tiết sẽ góp phần định hướng cho người học trong việc tiếp cận bài học, đồng thời rèn luyện thêm kĩ năng viết đoạn văn tự sự. I. Đoạn văn trong văn bản tự sự II. Cách viết đoạn văn trong bài văn tự sự 1. a. Theo anh (chị), các đoạn văn trên có thể hiện đúng như dự kiến của tác giả không? Nội dung và giọng điệu của các đoạn văn mở đầu và kết thúc có nét gì giống nhau, khác nhau? – Các đoạn văn thể hiện đúng như dự kiến của nhà văn: – Nội dung và giọng điệu của các đoạn văn mở đầu và kết thúc để ngợi ca vẻ đẹp của rừng xà nu, tượng trưng cho tinh thần quật khởi của đồng bào Tây Nguyên: + Giống nhau: hai đoạn mở đầu và kết thúc đều tả cảnh rừng xà nu, tạo nên kết cấu vòng tròn, làm cho. bố cục trở nên chặt chẽ, tập trung làm nổi bật chủ đề tác phẩm. + Khác nhau: Hai đoạn miêu tả rừng xà nu cụ thể bằng những chi tiết nghệ thuật giàu sức tạo hình làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, cuối đoạn hình ảnh cây xà nu bất diệt như sức sống của con người. b. Anh (chị) học được điều gì ở cách viết đoạn văn của Nguyên Ngọc? – Trước khi viết đoạn văn hoặc kể chuyện cần suy nghĩ, dự kiến trước phần mở bài và kết bài. – Cần đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng và thu hút người đọc. 2. a. Có thể coi đây là đoạn văn trong văn bản tự sự được không, vì sao? Theo anh (chị), đoạn văn đó thuộc phần nào của “truyện ngắn” mà bạn học sinh định viết? – Đoạn văn thuộc phần thân bài của “truyện ngắn” mà học sinh định viết. b. Viết đoạn văn này, bạn học sinh đã thành công ở nội dung nào, nội dung nào bạn còn phân vân và để trống? Anh (chị) hãy viết tiếp vào những chỗ để trống đó (dấu ba chấm) để cùng bạn hoàn chỉnh đoạn văn định viết. Với đoạn văn này, bạn học sinh đã thành công khi kể lại câu chuyện. Tuy nhiên, sự sắp xếp các đoạn tả cảnh, tả tâm trạng chưa thuần thục, vẫn thể hiện sự lúng túng. Sửa: “…Đặt chân tới con đê cao, con đê chắn ngang nếp nhà lụp xụp của gia đình chị lúc ở phía trời đông ông mặt trời bắt đầu thắp sáng bình minh bằng những ánh hồng rực rỡ, chị Dậu bỗng chợt nhìn thấy một đoàn người…” Người đàn bà nhà quê khốn khổ từng chạy trốn trong cái đêm đen ấy, vui mừng đến rơi nước mắt. Nhưng cố nén xúc động…” 3. Qua kinh nghiệm của nhà văn Nguyên Ngọc và thu hoạch từ hai bài tập trên, anh (chị) hãy nêu cách viết đoạn văn trong bài văn tự sự Khi viết đoạn văn trong bài văn tự sự cần lưu ý: Đoạn mở đầu và kết thúc cần dựa theo đề tài, cốt truyện, xác định nội dung, hai phần này có sự liên kết, thống nhất chặt chẽ. Phần thân bài cần dựa vào chủ đề, tư tưởng, cốt truyện: miêu tả, giới thiệu nhân vật, đoạn kể, đoạn hội thoại,… Cần chú ý quan sát, liên tưởng, tưởng tượng những kiến thức về cuộc sống… III. Luyện tập 1. Một đoạn trích (từ Ngữ Văn 9, tập hai) được chép lại như sau:… a. Anh (chị) cho biết đoạn trích trên kể sự việc gì, ở phần nào, của văn bản tự sự nào? Đoạn trích trên kể lại sự việc ba cô gái thanh niên xung phong phá bom mở đường trên tuyến đường Trường Sơn. Đoạn trích nằm ở phần thân bài thuộc truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. b. Đoạn trích chép ở đây có một số sai sót về ngôi kể, hãy chỉ rõ những lỗi sai đó rồi chữa lại cho hoàn chỉnh. Sửa thành: Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rung mình và bỗng thấy tại sao mình lại quá chậm. c. Từ sự phát hiện và chỉnh sửa đoạn trích trên, anh (chị) có thêm kinh nghiệm gì khi viết đoạn văn trong bài văn tự sự? Trong văn tự sự cần có sự nhất quán về ngôi kể thì văn bản mới thống nhất, logic, chặt chẽ. 2. Viết một đoạn văn diễn tả cử chỉ và tâm trạng của cô gái trong 9 câu đầu đoạn trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu Cô gái trong bài thơ Tiễn dặn người yêu thẫn thờ tạm biệt người yêu để theo chồng, “chân bước xa lòng càng đau càng nhớ”. Niềm đau xót khôn nguôi, sự quyến luyến với người yêu cũ khiến cô vừa đi vừa ngoảnh lại như muốn níu kéo thêm chút thời gian ít ỏi ở lại chờ đợi chàng trai. Chân bước đi nhưng lòng nặng trĩu nỗi buồn vì cô phải theo người cô không hề yêu, bỏ lại mối tình đẹp đẽ nhưng đầy xót xa, đau đớn. Trên quãng đường dài, cô ngóng đợi, chờ trông về phía anh chàng như một sự bấu víu: “ Tới rừng cà ngắt lá cà ngồi đợi – Tới rừng lá ngón ngóng trông”. Cô gái như muốn kết thúc số phận mình để không phải theo người cô không yêu thương. Đó cũng chính là khát vọng được tự do yêu đương của người con gái. Theo
Hướng dẫn soạn văn Luyện tập viết đoạn văn tự sự
948
Hướng dẫn soạn văn Lập dàn ý bài văn thuyết minh Hướng dẫn Soạn văn Lập dàn ý bài văn thuyết minh cung cấp hệ thống lời giải chi tiết nhằm định hướng cho người học trong việc tìm hiểu bài học cũng như rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho bài văn thuyết minh. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Dàn ý bài văn thuyết minh 1. Hãy nhắc lại bố cục ba phần của một bài làm văn và nhiệm vụ của mỗi phần Bố cục: 3 phần: -Mở bài: Giới thiệu sự vật, sự việc cụ thể của bài viết. -Thân bài: Nội dung chính của bài viết -Kết bài: Nêu suy nghĩ và hành động của người viết. 2. Bố cục ba phần của một bài làm văn có phù hợp với đặc điểm của văn thuyêt minh không? Vì sao? -Bố cục 3 phần của một bài làm văn phù hợp với đặc điểm của văn bản thuyết minh. -Vì văn bản thuyết minh là kết quả của thao tác làm văn, cũng có lúc người viết phải miêu tả, trình bày sự việc, nêu cảm xúc, suy nghĩ. 3. So với phần mở bài và phần kết bài của một bài văn tự sự thì phần mở bài và phần kết bài của một bài văn thuyết minh có những điểm tương đồng và khác biệt nào? -Điểm tương đồng: ở phần mở bài và thân bài -Điểm khác biệt: kết bài + Văn tự sự: nêu cảm nghĩ của người viết + Văn thuyết minh: trở lại đề tài thuyết minh, lưu lại những suy nghĩ, cảm xúc. 4. Các trình tự sắp xếp ý (cho phần thân bài) kể dưới đây có phù hợp với yêu cầu của một bài văn thuyết minh không? Vì sao? -Trình tự thời gian (từ trước đến nay…) -Trình tự không gian (từ gần đến xa, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới,…) Tùy thuộc vào từng đối tượng song nên đi ngược lại. -Trình tự nhận thức của con người (từ quen đến lạ, từ dễ thấy đến khó thấy,…) Phù hợp. -Trình tự chứng minh – phân bậc (hoặc phân bậc – chứng minh) Không có. II. Lập dàn ý bài văn thuyết minh 1. Xác định đề tài -1 danh nhân. -1 tác phẩm -1 tác giả -Tiêu biểu 2. Lập dàn ý a. Mở bài: Giới thiệu đề tài cần thuyết minh Yêu cầu: lời giới thiệu phải thực sự thu hút b. Thân bài: Tìm ý, chọn ý: xác định những tri thức cần cung cấp Sắp xếp ý: lựa chọn trình tự sắp xếp ý c. Kết bài Trở lại đề tài thuyết minh Lưu giữ cảm xúc III. Luyên tập Lập dàn ý cho các bài văn thuyết minh sau: 1. Giới thiệu một tác giả văn học a. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả b. Thân bài -Cuộc đời và sự nghiệp văn học: + Hoàn cảnh xuất thân, quê quán, truyền thống gia đình, học vấn, đường đời,… + Các giai đoạn sáng tác + Những tác phẩm chính -Phong cách nghệ thuật: + Nội dung trong những sáng tác. + Những đặc điểm nghệ thuật thể hiện trong các tác phẩm. + Phân tích một số tác phẩm tiêu biểu để làm rõ phong cách sáng tác của tác giả. + Những thành công và giải thưởng tác giả nhận được. c. Kết bài: -Khẳng định vị trí của tác giả trong lòng bạn đọc -Nêu suy nghĩ, cảm nhận về cuộc đời, sự nghiệp văn học của tác giả vừa thuyết minh. 2. Giới thiệu một tấm gương học tốt a. Mở bài: Giới thiệu tấm gương học tốt b. Thân bài Hoàn cảnh gia đình, môi trường học tập, điều kiện học tập Quá trình phấn đấu học tập Những kết quả học tập tốt đã đạt được. Thái độ của mọi người xung quanh với nhân vật và ngược lại. c. Kết bài Khẳng định đó là một tấm gương học tập đáng để noi theo. Rút ra bài học cho bản thân và mọi người. 3. Giới thiệu một phong trào của trường (hoặc của lớp) mình a. Mở bài: Giới thiệu chung về phong trào b. Thân bài -Phong trào được phát động ở đâu và hưởng ứng ra sao? -Diễn biến của phong trào qua các năm. -Những kết quả mà phong trào đã đạt được. c. Kết bài: Ý nghĩa của phong trào. 4. Trình bày một quy trình sản xuất (hoặc các bước của một quá trình học tập) a. Mở bài: Giới thiệu chung về quy trình sản xuất ( hoặc các bước của 1 quá trình học tập) b. Thân bài: Những nét cơ bản về quy trình sản xuất hoặc học tập: sản xuất (học tập) cái gì? Tại sao lại cần sản xuất/ học tập những sản phẩm/môn học đó?… Mô tả quy trình sản xuất: bắt đầu thế nào/ diễn biến các công đoạn ra sao? Sản phẩm của quy trình sản xuất đó là gì? Chất lượng, giá trị sản phẩm như thế nào? c. Kết bài: Nêu nhận xét về quy trình sản xuất đó. Theo
Hướng dẫn soạn văn Lập dàn ý bài văn thuyết minh
800
Hướng dẫn soạn văn Lập dàn ý cho bài văn tự sự – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Để nắm vững những yêu cầu đồng thời rèn luyện thêm cho kĩ năng lập dàn ý trong văn bản tự sự, các bạn hãy cùng tham khảo soạn văn Lập dàn ý cho bài văn tự sự mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện 1. Trong phần trích trên, nhà văn Nguyên Ngọc nói về việc gì? Qua lời kể của nhà văn, anh (chị) học tập được điều gì trong quá trình hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện để chuẩn bị lập dàn ý cho bài văn tự sự. Trả lời -Trong văn bản, nhà văn Nguyên Ngọc đã kể lại cho người đọc câu chuyện về quá trình hình thành, suy nghĩ, chuẩn bị để sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu. Từ nguyên mẫu một con người có thực và một câu chuyện mà tác giả được nghe kể, Nguyên Ngọc dự kiến, truyện sẽ mở ra và kết thúc theo kết cấu vòng tròn với hình ảnh rừng xà nu; và phần trọng tâm kể câu chuyện đánh Mĩ qua cuộc đời, số phận của Tnú, cuộc sống và mối quan hệ của Tnu với các nhân vật khác. -Qua lời kể của tác giả, có thể rút ra bài học trong quá trình hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện để chuẩn bị lập dàn ý cho bài văn tự sự: Để chuẩn bị viết một văn bản tự sự, cần hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện, nhân vật và các sự kiện quan trọng, cốt lõi. II. Lập dàn ý 1. Dựa vào suy ngẫm của nhà văn Nguyễn Tuân về kết thúc truyện Tắt đèncủa Ngô Tất Tố, lập dàn ý cho bài văn tự sự theo gợi ý Trả lời: – Mở bài: Giới thiệu câu chuyện xảy ra sau khi chị Dậu bỏ chạy trong đêm và ngoài trời tối đen như mực – Thân bài: Kể lại câu chuyện dựa trên 2 sự kiện chính. + Sau cái đêm ấy, chị Dậu gặp một cán bộ cách mạng và được giác ngộ con đường cách mạng. (Chị Dậu đã gặp người cán bộ cách mạng như thế nào? Người cán bộ đã làm gì để giác ngộ chị Dậu? Chị Dậu đã giác ngộ và đi theo con đường cách mạng như thế nào?…). + Trong cuộc khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, chị Dậu là người phụ nữ nhỏ bé nhưng giữ vai trò tiên phong và dẫn đầu đoàn nông dân lên cướp chính quyền huyện, phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo một cách hăng hái, dũng cảm và nhiệt tình. (Hành trình giác ngộ và cuộc phá kho thóc Nhật của chị Dậu và nhân dân diễn ra như thế nào?) – Kết bài: Kết thúc của câu chuyện như thế nào? Em suy nghĩ gì về sự giác ngộ và hành động của chị Dậu? b) Trường hợp 2: – Mở bài: Giới thiệu câu chuyện xảy ra sau khi chị Dậu bỏ chạy trong đêm và ngoài trời tối đen như mực. – Thân bài: Kể lại câu chuyện dựa trên 2 sự kiện chính. + Khi Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp nổ ra, chị Dậu đã nhận thức như thế nào về con đường vùng lên và đi theo cách mạng + Tuy sống trong vùng địch hậu nhưng chị Dậu vẫn nuôi giấu cán bộ một cách bí mật và dũng cảm, nhiều lần đậy nắp hầm bem cho cán bộ,… Những khó khăn chị gặp phải khi sống trong vùng địch hậu và bị kiểm soát? Tại sao chị Dậu vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ? Những sự việc nào chứng tỏ lòng căm thù giặc và tinh thần cách mạng của chị Dậu?…) – Kết bài: Kết thúc của câu chuyện như thế nào? Em suy nghĩ gì về sự giác ngộ và hành động của chị Dậu? 2. Cách lập dàn ý một bài văn tự sự Trả lời: Bước 2: sau khi xác định và tìm được đề tài, chủ đề, người viết phải tưởng tượng, sáng tạo ra những nét chính hình thành nên cốt truyện và những sự kiện chính của cốt truyện. Cốt truyện có thể dựa vào cuộc đời và số phận của nhân vật chính hay dựa theo diễn biến của sự việc chính. Bước 3: Dựa vào mô hình dàn ý (3 phần), xác định các yếu tố khác để hoàn thiện phần cốt truyện cho tác phẩm như Lí do, không gian, các tình tiết của truyện, mối quan hệ giữa các nhân vật. Bước 4: Hoàn thiện những ý trên bằng một dàn ý chi tiết, cụ thể. III. Luyện tập Dựa vào câu nói của Lê-nin (Tôi không sợ khó, không sợ khổ, tôi chỉ sợ những phút yếu mềm của lòng tôi. Đối với tôi chiến thắng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất) để kể về câu chuyện với đề tài: Một học sinh có bản chất tốt, nhưng do một hoàn cảnh nào đó xô đẩy dẫn đến phạm sai lầm nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ Trả lời: – Có thể xây dựng cốt truyện như sau: + An (học sinh) vốn là một người hiền lành trung thực, ngoan ngoãn, đạt kết quả học tập tốt và thường xuyên giúp đỡ các bạn khác. + Sau khi bố mẹ An li hôn vì mẹ phát hiện bố ngoại tình, An thất vọng về bố và chán nản, từ đó suy sụp tinh thần và bị kẻ xấu lôi kéo nên đã phạm sai lầm đáng tiếc. đến khi người mẹ đi tìm An tại các quán điện tử và gặp tai nạn, An mới hối hận, day dứt. + Tuy nhiên vì xấu hổ nên An không dám đến lớp học. + An được thầy cô, bạn bè động viên, giúp đỡ. + An đã cố gắng vươn lên và đi học đều đặn, khôi phục thành tích học tập và ngoan ngoãn như trước. Theo
Hướng dẫn soạn văn Lập dàn ý cho bài văn tự sự – Chương trình Ngữ văn lớp 10
1,006
Hướng dẫn soạn văn Lời tiễn dặn – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Lời tiễn dặnsẽ cung cấp lời giải đầy đủ chi tiết nhằm hỗ trợ cho người học trong quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm này, các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn đọc thêm Toàn bộ đoạn trích là lời của chàng trai. Hình ảnh cô gái chỉ hiện lên gián tiếp qua lời của anh, nghĩa là qua cảm nhận của chàng trai. Câu 1: Diễn biến tâm trạng của chàng trai trên đường tiễn người yêu về nhà chồng như thế nào? Hãy phân tích những câu thơ, những dẫn chứng cụ thể tâm trạng đó Anh cảm thấy rất đau xót khi phải tiễn người yêu về với nhà chồng, trên đường đưa tiễn anh gọi chị là “người đẹp anh yêu” như một lời khẳng định tình yêu trong anh vẫn còn thắm thiết. Cũng có lúc tâm trạng và tình cảm của anh mâu thuẫn với hiện thực là chị đang cất bước về nhà chồng (thậm chí đã có con với chồng). Lúc tiễn đưa, anh có những hành động như muốn níu kéo thời gian ở bên chị, anh phải dặn chị đôi câu rồi mới “đành lòng quay gót. Anh nựng con của chị mà như nựng chính con của mình, điều đó cho thấy tình yêu thương vô bờ bến của anh dành cho chị. Câu 2: Phân tích những câu thơ mô tả hành động, tâm trạng của cô gái trên đường về nhà chồng. Cách mô tả ấy biểu lộ tình yêu của chàng trai đối với cô gái như thế nào? Những câu thơ mô tả hành động, tâm trạng của cô gái trên đường về nhà chồng: “Người đẹp anh yêu vừa cất bước theo chồng Vừa đi vừa ngoảnh lại, Vừa đi vừa ngoái trông” Cô gái vừa đi vừa ngoảnh lại ngoái trông theo chàng trai, như cũng muốn níu kéo giây phút được ở gần nhau. Bước chân đi lòng càng thêm nhớ, cô gái luôn tìm cái cớ để đợi chàng trai và cô cũng đang đau khổ, day dứt khi phải chia xa. Tất cả những hành động và tâm trạng ấy là cảm nhận và lời của chàng trai, thể hiện sự đồng vọng của hai trái tim, hai người quyến luyến không rời. Chàng trai yêu thương cô gái vô bờ bến. Câu 3: Phân tích những câu thơ, những chi tiết thể hiện thái độ, cử chỉ ân cần của chàng trai đối với cô gái trong những ngày anh còn lưu lại ở nhà chồng của cô Thái độ, cử chỉ ân cần của chàng trai đối với cô gái trong những ngày anh còn lưu lại ở nhà chồng của cô: Chàng trai chứng kiến cảnh cô gái bị chồng đánh, anh tiến đến đỡ chị dậy, phủi áo và chải tóc, búi tóc cho chị: “Dậy đi em, dậy đi em ơi… Tóc rối đưa anh búi hộ” Rồi chàng trai đi chặt tre làm thuốc cho cô gái uống khỏi đau, anh trở thành chỗ dựa tinh thần của chị, điều mà chị cần nhất lúc đó. Chàng trai cảm thấy xót xa cho người yêu và quyết tâm sẽ đón cô gái về đoàn tụ với mình. Câu 4: Đoạn trích sử dụng rất nhiều câu thơ có dùng phép điệp từ (từ ngữ, hình ảnh, kiểu câu). Hãy tìm và nhận xét giá trị biểu cảm của những câu thơ đó “Vừa đi vừa ngoảnh lại Vừa đi vừa ngoái trông…” “Chết ba năm hình còn treo đó… Chết thành hồn, chung một mái, song song” “Yêu nhau yêu trọn đời gỗ cứng Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già…” Giá trị biểu cảm của những câu thơ: nhấn mạnh và khẳng định sự thủy chung son sắt, bền chặt của đôi bạn trẻ, đồng thời nuôi hy vọng và ý chí ước mơ đoàn tụ không có gì có thể lay chuyển được của chàng trai và cô gái. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Lời tiễn dặn – Chương trình Ngữ văn lớp 10
668
Hướng dẫn soạn văn Lợn cưới áo mới – truyện cười dân gian Việt Nam Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Lợn cưới áo mới với hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ sẽ là nguồn tham thảo hữu ích cho quá trình tìm hiểu và phân tích văn bản của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu 1. Em hiểu thế nào về tính khoe của? Anh đi tìm lợn khoe của trong tình huống như thế nào? Lẽ ra, anh phải hỏi người ta ra sao? Từ cưới (lợn cưới) có phải là từ thích hợp để chỉ con lợn bị sổng và là thông tin cần thiết cho người được hỏi không? -Tính khoe của là tính thích khoe mẽ, thích tỏ ra, phô trương cho người ta thấy mình là người giàu có. -Anh đi tìm lợn khoe của trong tình huống là nhà đang có việc lớn (làm đám cưới), lợn để làm cỗ cho đám cưới lại bị sổng mất. Anh ta khoe của khi nhà đang có việc rất bận. -Lẽ ra, anh phải hỏi người ta là: “Bác có thấy con lợn của tôi chạy qua đây không?” -Từ “cưới” (lợn cưới) không phải là từ thích hợp để chỉ con lợn bị sổng và là thông tin không cần thiết. 2. Anh có áo mới thích khoe của đến mức nào? Điệu bộ của anh ta khi trả lời có phù hợp không? Hãy phân tích yếu tố thừa trong câu trả lời của anh ta? -Anh có áo mới thích khoe cửa đến mức “ đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen”. Anh ta rất nôn nóng muốn được khoe áo mới, đứng mãi từ sáng tới chiều nhưng chẳng ai hỏi, anh ta tức lắm. -Điệu bộ của anh ta khi trả lời không phù hợp. Người ta hỏi về con lợn bị mất, hướng con lợn chạy, anh ta lại “giơ ngay vạt áo ra”. -Trong câu trả lời, lẽ ra anh ta chỉ cần nói: “ Tôi đứng đây suốt từ sáng giờ nhưng không thấy con lợn nào chạy qua đây cả”. Đằng này, anh ta lại nói: “Từ lúc tôi mặc cái áo mới này…”, “giơ ngay vạt áo ra” với mục đích để khoe cái áo mới của anh ta. Đó là yếu tố thừa trong câu trả lời của anh ta. 3. Đọc truyện Lợn cưới, áo mới vì sao em lại cười? Truyện Lợn cưới, áo mới khiến em cười vì hành động, ngôn ngữ của các nhân vật thích khoe của đều quá lố bịch, khoe những thứ không đáng để khoe. Một anh thì đứng đợi cả buổi chỉ để khoe cái áo mới, một anh tất tưởi đi tìm lợn vẫn không quên khoe đó là con lợn làm cỗ đám cưới. 4. Hãy nêu ý nghĩa của truyện Lợn cưới, áo mới? Ý nghĩa của truyện: phê phán, chế giễu những người có tính hay khoe của – một tính xấu phổ biến trong xã hội.
Hướng dẫn soạn văn Lợn cưới áo mới – truyện cười dân gian Việt Nam
505
Hướng dẫn soạn văn Mẹ hiền dạy con – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Mẹ hiền dạy con là câu chuyện đặc sắc nói về phương pháp giáo dục của mẹ Mạnh Tử. Để có thêm những thông tin hữu ích về văn bản, các bạn hãy cùng tham khảo bài Hướng dẫn soạn văn Mẹ hiền dạy conmà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Hướng dẫn học bài 1. Lập bảng tóm tắt năm sự việc đã diễn ra giữa mẹ con thầy Mạnh Tử (thuở nhỏ), theo mẫu dưới đây: Sự việc Con Mẹ 1 Bắt chước đào, chôn, lăn, khóc Chuyển nhà từ gần nghĩa địa đến chợ 2 Bắt chước nô nghịch, buôn bán điên đảo Chuyển nhà từ gần chợ đến trường học 3 Bắt chước học tập lễ phép Mẹ vui lòng 4 Tò mò hỏi xem hàng xóm giết lợn để làm gì? Nói lỡ lời, sửa chữa ngay bằng hành động mua thịt cho con ăn 5 Bỏ học, về nhà Cắt đứt tấm vải đang dệt 2. Ý nhĩa của việc dạy con trong ba sự việc đầu là gì? Trong hai sự việc sau là gì? Ở hai sự việc sau, về ý nghĩa có gì khác so với ba sự việc đầu? Hãy nêu lên tác dụng của cách dạy con của bà mẹ thầy Mạnh Tử -Ý nghĩa của việc dạy con trong ba sự việc đầu: có môi trường sống thuận lợi, phù hợp sẽ góp phần hình thành tính cách cho trẻ. -Ý nghĩa về cách dạy con trong hai sự việc sau: giáo dục về lời hứa, sự trung thực, đồng thời hướng trẻ vào sự chăm chỉ, chuyên cần. -Tác dụng từ cách dạy con của mẹ Mạnh Tử: cách dạy con có nhu có cương, dùng tình yêu thương và sự cứng rắn trong suy nghĩ để giúp con trở thành người có đạo đức, có hiểu biết rộng. 3. Em hình dung bà mẹ thầy Mạnh Tử là người như thế nào? -Bà mẹ Mạnh Tử hiện lên với nhiều đức tính tốt đẹp: -Có tấm lòng yêu thương con hết mực, nghiêm khắc nhưng cũng vô cùng hiền hậu. -Mong muốn con có môi trường sống tốt nhất nên đã chuyển chỗ ở nhiều lần. -Giáo dục cho con lòng trung thực, tự trọng và chăm chỉ. 4. Hãy đọc lại chú thích dấu (*) ở bài Con hổ có nghĩa (tr.143), đoạn nói về cách viết truyện trung đại, từ đó nêu nhận xét về cách viết truyện Mẹ hiền dạy con -“Mẹ hiện dạy con” là truyện trung đại vì: -Cốt truyện đơn giản, nhân vật được miêu tả qua ngôn ngữ trực tiếp của người kể chuyên, qua hành động, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. -Thể loại văn xuôi chữ Hán. -Nội dung mang tính giáo huấn. II. Luyện tập 1. Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về sự việc: Bà mẹ thầy Mạnh Tử đang ngồi dệt vải trông thấy con bỏ học về nhà chơi, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung Bà mẹ thầy Mạnh Tử đang ngồi dệt vải trông thấy con bỏ mặc về nhà chơi, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung. Bà rất tức giận vì ý thức kém cỏi của con trai mình. Tấm vải ấy bà đã mất công dệt trong bao nhiêu ngày nhưng sẵn sàng bỏ đi, biến nó thành một lời dạy nghiêm khắc và sâu sắc. Nhờ hành động đó của bà mẹ, Mạnh Tử trở nên nghiêm túc và chăm chỉ trong học tập. Hành động đó thể hiện bà mẹ Mạnh Tử là người yêu thương con, thể hiện trí tuệ và kiên quyết trong cách dạy con của mẹ. 2. Từ chuyện mẹ con thầy Mạnh Tử xưa, em có suy nghĩ gì về đạo làm con của mình? -Con cái phải biết yêu thương, nghe lời cha mẹ. -Phải biết suy nghĩ và tự giác trong học tập, tu dưỡng đạo đức. 3. Có hai yếu tố Hán Việt đồng âm: -Tử: chết Hãy cho biết các kết hợp dưới đây được sử dụng với nghĩa nào? Công tử, tử trận, bất tử, hoàng tử, đệ tử, cảm tử. Gợi ý: Các từ dùng với nghĩa tử (chết): tử trận; bất tử; cảm tử Các từ dùng với nghĩa tử (con): công tử, hoàng tử, đệ tử.
Hướng dẫn soạn văn Mẹ hiền dạy con – Chương trình Ngữ văn lớp 6
703
Hướng dẫn soạn văn Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Nhàn nhằm cung cấp lời giải chi tiết cho hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài thơ Nhàn trong sách giáo khoa Ngữ văn 10. Để có quá trình học tập tốt nhất, các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn học bài Câu 1: Cách dùng số từ, danh từ trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có gì đáng chú ý? Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng của tác giả như thế nào? -Cách dùng số từ, danh từ trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có điểm đáng chú ý: + Số từ “một” cho thấy chỉ có một người, một mình tác giả, tác giả chủ động với công việc của mình + Chữ “ai” là để nói với người rằng dù bên ngoài người ta có “vui thú nào” thì ông vẻ với cuộc sống dân dã. + Nhịp thơ 2/2/3 tạo sự thảnh thơi, nhàn nhã -Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng của tác giả: Cuộc sống an nhà nơi thôn dã “tự cung tự cấp”, tự làm tự ăn, thuần hậu và nguyên thuỷ trước thói đời. Câu 2: Anh (chị) hiểu thế nào là nơi “vắng vẻ”, chốn “lao xao”? Quan điểm của tác giả về “dại”, “khôn” như thế nào? Tác dụng biểu đạt ý của nghệ thuật đối trong hai câu thơ 3 và 4? Cách hiểu về nơi “vắng vẻ”, chốn “lao xao”: + “nơi vắng vẻ”: là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và tâm hồn con người, con người thảnh thơi không cần ai cầu cạnh và cũng không phải cầu cạnh ai. + “chốn lao xao”: là chốn công danh, quan trường với những sự đấu đá, bon chen, ganh đua, sát phạt nhau. Quan điểm của tác giả về “dại”, “khôn”: Tác giả nhận mình là người “dại”, bỏ qua mọi điều tiếng để tìm về chốn vắng vẻ, nhường cho người “khôn” tới chốn lao xao. Ông đã nếm trải đủ vị của bon chen, trói buộc của danh lợi, ông nhận mình là dại nhưng thực chất lại “khôn” hơn người, những người cứ luẩn quẩn trong vòng danh lợi nghĩ mình là “khôn” nhưng thực ra là “dại”. Tác dụng biểu đạt ý của nghệ thuật đối trong hai câu thơ 3 và 4: tạo ra sự so sánh giữa hai triết lí sống qua đó khẳng định thêm triết lí sống đúng đắn của tác giả. Câu 3: Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5 và 6 có gì đáng chú ý? Hai câu thơ cho thấy cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm như thế nào? (Quê mùa, khổ cực? Đạm bạc mà thanh cao? Hòa hợp với tự nhiên?). Phân tích giá trị nghệ thuật của hai câu thơ này. Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5 và 6 có điểm đáng chú ý: + Thức ăn nông thôn, dân giã: măng trúc, giá đỗ,.. + Sinh hoạt bình dị: thích tắm ao như những người dân quê Hai câu thơ cho thấy cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm đạm bạc mà thanh cao, hòa hợp với tự nhiên, đạm bạc từ thức ăn là ở cây nhà lá vườn, tự tay mình làm ra, hòa hợp với tự nhên là mùa nào thức ấy, không nặng nề ảm đạm. Giá trị nghệ thuật của hai câu thơ: hai câu thơ đã vẽ nên một bức tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt nơi thôn quê dân giã suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, vừa có sắc lại vừa có vị. Tạo nên sự bình dị mà thanh cao trong lối sống của tác giả. Câu 4: Đọc chú thích 4 để hiểu điển tích được vận dụng trong hai câu thơ cuối. Anh (chị) cảm nhận như thế nào về nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm? Điển tích được vận dụng trong hai câu thơ cuối: Hình ảnh một ông già ngồi một mình bên gốc cây uống rượu toát lên sự thoải mái nhưng hơi “lạc lõng”. Sử dụng điển tích này muốn nói lên vẻ đẹp trí tuệ của Nguyên Bỉnh Khiêm, với cái nhìn thông tuệ, ông muốn tìm đến “say” để “tỉnh”. Cảm nhận về nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ông có một nhân cách lớn và một trí tuệ lớn, nhiều năm trong chốn quan trường đã giúp ông nhận ra công danh, của cải và quyền quý chỉ là một giấc chiêm bao, những thứ tạm bợ, những vật ngoài thân, chẳng giúp gì cho tâm hồn và nhân cách của mình. Câu 5: Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì? Không vất vả, cực nhọc Không quan tâm tới xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân. Xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao. Hòa hợp với tự nhiên. Trả lời: Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là: sống an nhàn, hòa hợp với tự nhiên và xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao, ông không cho rằng sống nhàn là không quan tâm tới xã hội chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân mà sống nhàn là xa lánh chốn quan trường, về hòa hợp với tự nhiên, cuộc sống như vậy tuy có vất vả hơn nhưng đem lại sự thoải mái trong tâm hồn, giữ được sự trong sạch, thanh cao trong nhân cách của mình. II. Luyện tập Nêu cảm nhận chung của anh (chị) về cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn Vẻ đẹp cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn: Một cuộc sống thôn quê nhàn nhã, dù cho ai đang vui với bất kì thú vui nào thì Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mặc đó, tự mình vui với thú vui giản dị của mình. Với những món ăn dân giã theo mùa, không một chút cầu kì cho thấy sự giản dị vô cùng. Những hoạt động thể hiện lối sống thanh sạch, lành mạnh, hòa mình với cuộc sống bình dị, tắm ở hồ sen và tắm ao. Cuộc sống ấy dường như chẳng còn gợi lên hình ảnh của một vị quan lớn triều đình. Nguyễn Bỉnh Khiêm còn đẹp trong tâm hồn và nhân cách, ông đưa ra quan niệm sống của mình, quan niệm về “dại” và “khôn” của “ta” và “người”, ông là một người từng trải nên đã thấm thía cái dại cái khôn ở đời. Giàu sang phú quys chỉ là giấc mơ mà ai cũng muốn với tới, chỉ có ra khỏi chốn quan trường kia mới cảm nhận được cuộc sống dân giã đáng quý như thế nào. Nhưng suy xét lại, giữa cuộc sống đang nhàn hạ ấy trong lòng tác giả lại đang băn khoăn và trăn trở những nỗi niềm riêng. Đó là sự bất lực trước thời thế, muốn được đem sức mình cống hiến cho đất nước nhưng không hợp thời. Theo
Hướng dẫn soạn văn Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm
1,189
Hướng dẫn soạn văn Nỗi oán của người phòng khuê Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Nỗi oán của người phòng khuêsẽ cung cấp thêm những đơn vị thông tin thú vị và hệ thống thống lời giải chi tiết nhằm phục vụ cho quá trình tìm hiểu và phân tích bài thơ của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé. I. Hướng dẫn tìm hiểu 1. Anh (chị) có nhận xét gì về nghệ thuật cấu tứ của bài thơ thể hiện qua quá trình chuyển biến tâm trạng của người khuê phụ? Cấu tứ của bài thơ theo mạch cảm xúc về quá trình chuyển biến tâm trạng của người khuê phụ: -Tâm trạng ấy “bất tri sầu” sang “hối”. Cái “bản lề” của quát trình chuyển biến tâm trạng trong câu “liễu là màu của mùa xuân và tuổi trẻ” -Nhìn vào bản thân, cô gái thấy tuổi trẻ bị trôi qua trong cô quạnh. -Hoàn cảnh ấy khiến cho người thiếu phụ sầu hận, xót thương. 2. Vì sao khi thấy “màu dương liễu” nàng lại hối hận vì đã để chồng đi kiếm tước hầu? Khi thấy “màu dương liễu” nàng hối hận vì để chồng đi kiếm tước hầu bởi vì màu dương liễu là màu của tuổi xuân, tuổi trẻ và cũng là màu của li biệt. Chính bởi ý thức được điều này nên người thiếu phụ cảm thấy hối hận. Nàng lại càng thêm oán than ấn phong hầu, căm ghét chiến tranh phi nghĩa. 3. Vì sao chỉ với 28 chữ, bài Khuê oán lại được coi là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa của con người thời Đường? Chỉ với 28 chữ, bài Khuê oán được coi là bài thơ tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa của con người thời Đường. Mặc dù bài thơ không trực tiếp nhắc đến hai từ “chiến tranh” nhưng người đọc có thể cảm nhận được rất rõ ràng chiến tranh đang dần ăn mòn cuộc sống của con người. Nó đã phá hủy tuổi trẻ, tuổi xuân của biết bao nhiêu người, nó phá tan đi hạnh phúc gia đình, làm mất đi sự lạc quan yêu đời và niềm tin vào cuộc sống của bao con người. Chính vì thế, mặc dù không nhắc trực tiếp đến hai chữ “chiến tranh” trong bài thơ nhưng bài thơ vẫn sôi sục niềm oán thán, phản đối chiến tranh phi nghĩa. Theo
Hướng dẫn soạn văn Nỗi oán của người phòng khuê
410
Hướng dẫn soạn văn phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (tiếp theo) Hướng dẫn Soạn văn phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (tiếp theo)sẽ cung cấp thêm những kiến thức nâng cao về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! II. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt III. Luyện tập 1. Đọc đoạn nhật kí dưới đây và trả lời câu hỏi a. Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt? Trong đoạn nhật kí trên ta có thể thấy được đặc trưng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: -Tính cụ thể: + Về không gian và thời gian: không gian: rừng khuya; thời gian: giữa đêm khuya. + Về người nói và người nghe: “Nghĩ gì đấy Th.ơi. Nhĩ gì mà đôi mắt đăm đăm nhìn qua bóng đêm” ( tự nói với bản thân) -Tính cá thể: Có nét riêng biệt của giọng điệu tâm tình đặc trưng của nhật kí: có nhiều từ ngữ nội tâm, giọng trẻ – tâm hồn của người trẻ khi sống trong hoàn cảnh chiến tranh. -Tính cảm xúc: giọng thủ thỉ tâm tình nói về hiện tại và tương lai, đôi lúc hờn trách, giục giã (Nghĩ gì đấy Th.ơi? Đáng trách quá Th ơi) b. Theo anh (chị), ghi nhật kí có lợi gì cho sự phát triển ngôn ngữ của mình? Ghi nhật kí có thể phát triển được vốn ngôn ngữ, vốn từ vựng của bản thân trở nên phong phú hơn, cách diễn đạt cũng linh hoạt hơn. 2. Hãy chỉ ra dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt biểu hiện trong những câu ca dao sau đây: – Mình về có nhớ ta chăng Ta về ta nhớ hàm răng mình cười – Hỡi cô yếm trắng lòa xòa Lại đây đắp đất trồng cà với anh. Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt biểu hiện ở hai câu ca dao: -Từ ngữ xưng hô thân mật: mình – ta; cô – anh phổ biến trong đời thường. -Ngôn ngữ đối thoại thân mật, yêu thương: Mình về có nhớ ta chăng? – Lại đây đập đất trồng cà với anh. -Thể thơ lục bát rất dễ nhớ. -Lời nói gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, rất bình dị nhưng cũng tế nhị và sắc sảo. -Tính cảm xúc: cả hai câu ca dao đều thể hiện tình cảm, lời thơ dí dỏm, tươi vui. 3. Đoạn đối thoại dưới đây mô phỏng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, nhưng có khác biệt với lời thoại hàng ngày. Liên hệ với bài Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết ở trang 86, để chỉ ra đặc điểm khác nhau và giải thích vì sao lại có sự khác nhau đó Đoạn đối thoại giữa Đăm Săn và dân làng mang phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, có sự hô đáp, luân phiên giữa người nói và người nghe: -Điệp ngữ, điệp từ phổ biến trong sử thi: ai giữ trâu hãy đi lùa trâu về/ ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói. -Mỗi câu văn đều có tính nhịp điệu, đậm chất sử thi. -Cách nói ví von, gắn chặt với sự vật, hoạt động trong đời sống thường ngày. -Đoạn sử thi có mô phỏng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nhưng không giống nhau hoàn toàn về phong cách sinh hoạt. Theo
Hướng dẫn soạn văn phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (tiếp theo)
560
Hướng dẫn soạn văn Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Hướng dẫn Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt có những đặc điểm như thế nào, làm thế nào để nhận biết với ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ báo chí. Để trả lời cho những câu hỏi này, các bạn hãy tham khảo bài soạn văn phong cách ngôn ngữ sinh hoạt mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Ngôn ngữ sinh hoạt 1. Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt Hãy thể hiện đúng giọng điệu đoạn ghi chép sau đây:…. Từ đoạn hội thoại đó, anh (chị) hiểu thế nào là ngôn ngữ sinh hoạt? Ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói trong cuộc sống hàng ngày, dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm…đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống. 2. Các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt 3. Luyện tập a. Anh (chị) hãy phát biểu ý kiến của mình về nội dung của những câu sau: – Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Câu ca dao có nội dung: Lời nói tuy không mất tiền mua nhưng khi giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, con người nên ứng xử một cách khéo léo, khôn ngoan, cần suy nghĩ trước khi nói. Không phải tất cả mọi lời nói ra đều làm vừa lòng mọi người, nên cần cân nhắc lựa lời khi giao tiếp với mọi người. – Vàng thì thử lửa thử than Câu ca dao có nội dung: Trong cuộc sống có rất nhiều tiêu chuẩn đưa ra để đánh giá một con người. Một trong những tiêu chí ấy là lời ăn tiếng nói bộc lộ ra bên ngoài. Câu nói trên chỉ ra cách nhận biết người ngoan, người không ngoan qua lời nói mà họ sử dụng. b. Trong đoạn trích dưới đây, ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở dạng nào? Anh (chị) có nhận xét gì về việc dùng từ ngữ ở đoạn trích này? -Trong đoạn trích trên, ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở dạng lời nói của nhân vật. -Việc sử dụng từ ngữ địa phương có tác dụng giúp người đọc cảm nhận được sự suồng sã, thân mật trong cách nói. Qua đó có thể thấy rất rõ ràng nhân vật này là người Nam Bộ thông qua ngôn ngữ mà ông sử dụng. Theo
Hướng dẫn soạn văn Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
391
Hướng dẫn soạn văn Phó từ – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Phó từ là gì? Phó từ đóng vai trò gì trong câu? Để giải đáp cho tất cả những câu hỏi này, các bạn hãy cùng tham khảo bài hướng dẫn soạn văn Phó từmà chúng tôi đã tổng hợp và giới thiệu dưới đây nhé! I. Phó từ là gì? 1. Các từ in đậm sau đây bổ sung ý nghĩa cho những từ nào? Những từ được bổ sung ý nghĩa thuộc từ loại nào? Các từ được in đậm bổ sung nghĩa cho các từ khác và thuộc những từ loại theo bảng sau: Từ được in đậm Bổ sung nghĩa cho từ Thuộc từ loại đã đi Động từ cũng ra Động từ vẫn chưa thấy Động từ thật lỗi lạc Tính từ được soi Động từ rất ưa nhìn Tính từ ra to Động từ rất bướng Tính từ 2. Các từ in đậm đứng ở những vị trí nào trong cụm từ? Các từ in đậm đứng ở vị trí trước hoặc sau thành tố trung tâm của cụm từ, và bổ nghĩa cho thành từ ngữ trung tâm (có thể là động từ, tính từ). II. Các loại phó từ 1. Tìm các phó từ bổ sung ý nghĩa cho những động từ, tính từ in đậm: a. Phó từ bổ sung ý nghĩa cho từ “chóng” là từ “lắm” b. Phó từ bổ sung ý nghĩa cho từ “trêu” là từ “đừng”, “vào” b. Phó từ bổ sung ý nghĩa cho từ “trông thấy” là từ “không” ; Phó từ bổ sung ý nghĩa cho từ “trông thấy” là từ “đã” ; Phó từ bổ sung ý nghĩa cho từ “loay hoay” là từ “đang”. 2. Điền các phó từ đã được tìm ở phần I và phần II vào bảng phân loại theo mẫu dưới đây: Phó từ đứng trước Phó từ đứng sau Chỉ quan hệ thời gian đã, đang Chỉ mức độ thật, rất, lắm Chỉ sự tiếp diễn tương tự cũng, vẫn chưa Chỉ sự phủ định chưa, không Chỉ sự cầu khiến đừng Chỉ kết quả và hướng ra Chỉ khả năng được 3. Kể thêm những phó từ mà em biết thuộc mỗi loại nói trên – Chỉ quan hệ thời gian: từng, đương, sẽ – Chỉ mức độ: quá, khá, cực, đều – Chỉ sự tiếp diễn tương tự: đều, còn, lại, – Chỉ sự phủ định: chẳng, nhưng, không thể, không còn – Chỉ sự cầu khiến: hãy, chớ – Chỉ kết quả và hướng: vào, trong, chắc – Chỉ khả năng: có thể III. Luyện tập Tìm phó từ trong những câu sau đây và cho biết mỗi phó từ bổ sung cho động từ, tính từ ý nghĩa gì? Từ được in đậm Từ được bổ sung nghĩa Ý nghĩa đã Đến Chỉ sự xuất hiện của mùa xuân Không còn Ngửi Phủ định hành động đã Cởi bỏ Diễn tả hành động đã diễn ra Đều Lấm tấm Diễn tả mức độ đương Trổ lá Diễn tả trạng thái Lại sắp Buông tỏa Diễn tả trạng thái ra Buông tỏa Diễn tả hướng của sự vật Cũng sắp Có Diễn tả sự tiếp diễn – Từ “đã” và “được” bổ sung nghĩa cho từ “xâu” diễn tả khả năng và kết quả trong câu văn. Thuật lại sự việc Dế Mèn trêu chị Cốc dẫn đến cái chết thảm thương của Dế Choắt bằng một đoạn văn ngắn từ ba đến năm câu. Chỉ ra một phó từ được dùng trong đoạn văn ấy và cho biết em dùng phó từ đó để làm gì? Vào một ngày mưa, khi Dế Mèn đi ngang qua bỗng thấy chị Cốc đang đứng rỉa lông, bèn nảy ý đồ trêu chọc. Dế Mèn cất cao giọng trêu chị Cốc, chị Cốc tức giận nhưng lại trút giận nhầm người. Chị Cốc giáng những đòn thật đau vào cậu Choắt ốm yếu đang lủi thủi trong hang. Chị Cốc đã trút được giận liền bay đi, khi ấy Choắt chỉ còn thoi thóp. Các phó từ: bỗng, đang, thật, đã, còn
Hướng dẫn soạn văn Phó từ – Chương trình Ngữ văn lớp 6
605
Hướng dẫn soạn văn Ra – ma buộc tội đầy đủ, chi tiết nhất Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Ra-ma buộc tộisẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết nhất nhằm giúp người đọc có hướng tiếp cận dễ dàng và có hiệu quả nhất đối với đoạn trích Ra-ma buộc tội. I. Tìm hiểu về đoạn trích Ra-ma buộc tội Câu 1. Sau chiến thắng, Ra-ma và Xi-ta gặp nhau trước sự chứng kiến của “mọi người”. a. Công chúng đó bao gồm những ai? A. Anh em, bạn hữu của Ra-ma. B. Đội quân của loài khỉ Va-na-ra. C. Quan quân, dân chúng của loài quỷ Rắc-sa-xa. D. Tất cả những đối tượng trên. b. Hoàn cảnh ấy tác động như thế nào đến tâm trạng, ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma và Xi-ta? Trả lời: a. Đáp án D b. Hoàn cảnh ấy tác động rõ ràng đến tâm trạng, ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma và Xi-ta: Đối với Ra-ma, chàng vừa hạnh phúc khi gặp lại vợ nhưng để bảo vệ danh dự cho bản thân cũng như của dân tộc. Tình thế đó đặt chàng vào vị thế buộc phải lựa chọn “bổn phận vị tha” (cai trị vương quốc một cách mẫu mực) và quyền lợi vị kỉ (tình yêu, hạnh phúc cá nhân). Đối với Xi-ta, trong hoàn cảnh này, nàng cứ tưởng rằng hạnh phúc đã mỉm cười nhưng cuối cùng lại nhận được những lời nói nghi ngờ từ Ra-ma. Vì thế nàng cảm thấy vô cùng đau khổ. Câu 2. Theo lời tuyên bố của Ra-ma: a. Chàng giao tranh với quỷ Ra-va-na, tiêu diệt hắn để giải cứu Xi-ta vì động cơ gì? A. Danh dự người anh hùng bị xúc phạm khi Ra-va-na dám cướp vợ của chàng. B. Tình yêu thương của người chồng đối với vợ, khao khát đoàn tụ đoàn tụ vợ chồng. C. Cả hai đáp án trên. b. Chàng ruồng bỏ Xi-ta vì lí do gì? A. Danh dự không cho phép người anh hùng chấp nhận một người vợ đã chung chạ với người khác. B. Sự ghen tuông của người chồng không chấp nhận người vợ đã chung chạ với kẻ khác. C. Cả hai lí do trên. c. Phân tích những từ ngữ lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói của Ra-ma cho thấy ý chí, tâm trạng của chàng. d. Phân tích thái độ của Ra-ma khi Xi-ta bước lên giàn lửa? Trả lời: a. Đáp án A. b. Đáp án A. c. Ý chí, tâm trạng của Ra-ma đã được thể hiện thông qua những từ ngữ liên quan đến tài năng và danh dự lặp đi lặp lại trong lời nói của chàng như: nhân phẩm, tiếng tăm, uy tín, gia đình cao quý, chiến công lừng lẫy, trả thù sự lăng nhục,… d. Khi Xi-ta bước lên giàn lửa, Ra-ma đã cảm thấy căng thẳng và mâu thuẫn. Lúc đó trông Ra-ma “khủng khiếp như thần Chết vậy”, và “chẳng có ai trong đám bạn hữu dám nói gì với Ra-ma, hoặc nhìn vào chàng” và chàng “vẫn ngồi, mắt dán xuống đất”. Câu 3. Trong lời đáp của mình, Xi-ta đã nhấn mạnh như thế nào về: – Sự khác biệt giữa tư cách, đức hạnh của nàng với loại phụ nữ tầm thường thấp kém? – Sự khác biệt giữa điều tùy thuộc vào số mệnh của nàng, vào quyền lực kẻ khác (“cái thân thiếp đây”) và điều trong vòng kiểm soát của nàng (“trái tim của thiếp đây”) Từ vai trò của thần A-nhi trong văn hóa Ấn Độ, có thể hiểu như thế nào về quyết định bước lên giàn lửa và những lời cầu khấn thần A-nhi của nàng Xi-ta? Trả lời: – Xi-ta hòa toàn khác biệt với loại phụ nữ tầm thường, thấp kém về đức hạnh: “Thiếp đâu phải là người như chàng tưởng! Thiếp có thể lấy tư cách của thiếp ra mà thề, hãy tin vào danh dự của thiếp. Suy từ hành vi của loại phụ nữ thấp hèn, chàng đã ngờ vực tất cả giới phụ nữ, nhưng như thế đâu có phải”. Xi-ta đặc biệt nhấn mạnh về nguồn gốc xuất thân cao quý của bản thân. – Sự khác biệt giữa điều tùy thuộc vào số mệnh của nàng, vào quyền lực kẻ khác (“cái thân thiếp đây”) và điều trong vòng kiểm soát của nàng (“trái tim của thiếp đây”): nàng bị Ra-va-na đụng tới khi đang chết ngất là do số mệnh và nàng không thể làm gì khác nhưng trái tim của nàng hoàn toàn thuộc về Ra-ma. Và khi tỉnh táo, nàng đã hoàn toàn kháng cự lại Ra-va-na. Câu 4. Phân tích thái độ của công chúng và nêu cảm nghĩ của anh chị trước cảnh Xi-ta bước vào lửa? Trả lời: Khi Xi-ta bước vào lửa, công chúng đã vô cùng xúc động: “Ai náy, gài cũng như trẻ, đau lòng đứt ruột xem nàng Gia-na-ki đứng trong giàn hỏa”, “các phụ nữ bật ra tiếng kêu khóc thảm thương. Cả loài Rắc-xa-ta lẫn loài Va-na-ra cùng kêu khóc vang trời trước cảnh tượng đó”. Điều này cho thấy hành động củ Xi-ta đã minh chứng cho phẩm hạnh cao quý của nàng, khiến cho mọi người thương tiếc và kính trọng. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Ra – ma buộc tội đầy đủ, chi tiết nhất
864
Hướng dẫn soạn văn Sọ Dừa – Chương trình Ngữ văn lớp 6 chọn lọc Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Sọ Dừacung cấp hệ thống lời giải chi tiết nhằm giúp người học có quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm đạt hiệu quả cao nhất. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Tìm hiểu bài học Câu 1.Sọ Dừa ra đời có gì khác thường? Kể về sự ra đời của của Sọ Dừa, nhân dân ta muốn gửi gắm sự quan tâm đến những số phận như thế nào trong xã hội xưa? Trả lời: Sự ra đời của Sọ Dừa gắn với mô- típ sinh nở thần kì: Sọ Dừa được thụ thai và ra đời sau khi người mẹ uống cạn nước mưa trong một chiếc sọ dừa. Sau đó, Sọ Dừa ra đời với hình dáng dị dạng gắn liền với tên nhân vật, hàng ngày chỉ “lăn lông lốc trong nhà, chẳng làm được việc gì”. Kể về sự ra đời của của Sọ Dừa, nhân dân ta muốn gửi gắm sự quan tâm đến những số phận bất hạnh mang vẻ ngoài xấu xí và bị đối xử bất công, chịu nhiều thua thiệt trong xã hội. Câu 2.Sự tài giỏi của Sọ Dừa được miêu tả qua những chi tiết nào? Nhận xét của em về sự đối lập giữa bề ngoài xấu xí với các phẩm chất cao quý bên trong của Sọ Dừa? Trả lời: Sự tài giỏi của Sọ Dừa được miêu tả qua những chi tiết: thổi sáo hay, chăn bò giỏi, lo đủ sính lễ để lấy vợ, thông minh, học giỏi, đỗ trạng nguyên, có khả năng dự đoán trước sự việc, thể hiện rõ những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động như: chăm chỉ, thông minh, trí tuệ sáng suốt. Sự đối lập giữa bề ngoài dị dạng và vẻ đẹp tài năng, phẩm chất cao quý thể hiện ước mơ của nhân dân về sự đổi đời (bù đắp) và đề cao, khẳng định giá trị chân chính của con người. Đó là sự thắng thế của những phẩm chất cao quý bên trong so với vẻ đẹp ngoại hình bên ngoài. Câu 3.Tại sao cô út lại yêu và đồng ý lấy Sọ Dừa? Em có nhận xét gì về nhân vật cô út? Trả lời: Cô út lại yêu và đồng ý lấy Sọ Dừa vì chính tình yêu và lòng thương người, cô phát hiện ra Sọ Dừa không xấu xí như vẻ bên ngoài. Cô Út là cô gái giàu lòng nhân hậu, biết yêu thương và sẻ chia, lúc chưa phát hiện ra hình dạng thật của Sọ Dừa, cô không hề tránh né hay coi thường giống như hai cô chị. Câu 4. Em có nhận xét gì về kết thúc của truyện? Kết thúc đó thể hiện ước mơ nào của nhân dân? Trả lời: Kết thúc của truyện thuộc mô-típ kết thúc có hậu trong kho tàng văn học dân gian, thể hiện ước mơ, nguyện vọng của nhân dân: người tốt, tài năng sẽ có được cuộc sống xứng đáng, ngược lại kẻ ác nhất định sẽ bị trừng trị. Câu 5.Nêu ý nghĩa chính của truyện Sọ Dừa? Trả lời: Ý nghĩa chính của truyện Sọ Dừa: – Đề cao những phẩm chất, vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong mỗi một con người. – Thể hiện ước mơ của nhân dân lao động về một cuộc sống công bằng. II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Sọ Dừa – Chương trình Ngữ văn lớp 6 chọn lọc
571
Hướng dẫn soạn văn Sự tích Hồ Gươm– Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Sự tích Hồ Gươm sẽ mang đến cho người học hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhất cho truyện cổ tích Sự tích Hồ Gươm. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé. I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Vì sao Đức Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần? Trả lời: Đức Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần bởi vì: – Giặc Minh đã đặt bước chân xâm lược lên bờ cõi nước ta với sự bạo ngược và áp bức bóc lột một cách tàn nhẫn khiến nhân dân ta căm giận chúng đến tận xương tủy. – Với tinh thần yêu nước, khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra để chống lại giặc ngoại xâm nhưng buổi đầu thế lực còn yếu, nhiều lần bị quân giặc đánh bại. – Đức Long Quân thấy được những khó khăn mà nghĩa quân gặp phải nên đã quyết định cho nghĩa quân mượn gươm thần đánh đuổi giặc ngoại xâm. Câu 2. Lê Lợi đã nhận được gươm thần như thế nào? Cách Long Quân cho nghĩa quân Lam Sơn và Lê Lợi mượn gươm có ý nghĩa gì? Trả lời: Lê Lợi đã nhận được gươm thần vừa mang tính chất tình cờ ngẫu nhiên vừa mang những yếu tố thần kì: – Lê Thận- một người đánh cá gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, trong thời gian còn làm ngư phủ đã bắt được lưỡi gươm dưới nước. Khi gặp chủ tướng Lê Lợi thì lưỡi gươm phát sáng hai chữ “Thuận Thiên”. Lê Lợi cùng mọi người đều cảm thấy kì lạ nhưng không ai biết đó là báu vật. – Lê Lợi trên đường bị giặc đuổi đã nhind thấy “ánh sáng lạ” trên ngọn cây đa và đã mang chuôi gươm đó về. Đó chính là chuôi gươm nạm ngọc. Kì lạ thay khi mang thanh gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm mà Lê Lợi bắt được trên rừng thì “vừa như in”. – Lê Thận đã dâng gươm thần Lê Lợi “Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện mang xương thịt của mình theo minh công”. Việc mượn gươm có ý nghĩa: – Gươm thần xuất hiện trên hai mảng không gian: lưỡi gươm được tìm thấy dưới nước, chuôi gươm ở trên rừng, mang ý nghĩa việc cứu nước là sự kết hợp từ miền sông nước đến miền rừng núi, từ miền ngược đến miền xuôi trong sự thống nhất để chống lại giặc ngoại xâm. – Các bộ phận của thanh gươm rời nhau nhưng khi khớp lại thì “vừa như in”, cho thấy sự thống nhất một lòng của nhân dân ta trong việc chống lại giặc ngoại xâm. Câu 3. Hãy chỉ ra sức mạnh của gươm thần đốì với nghĩa quân Lam Sơn Trả lời: Gươm thần đã giúp cho sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn được tăng lên gấp bội. Gươm thần đã làm nên những chiến công vẻ vang, oanh liệt và mở đường cho nghĩa quân càn quét hết bóng giặc ngoại xâm, khiến cho giặc ngoại xâm bạt vía và làm tăng thêm uy thế vang dội của nghĩa quân. Câu 4. Khi nào Long Quân cho đòi gươm? Cảnh đòi gươm và trả gươm đã diễn ra như hế nào? Trả lời: Long Quân cho đòi gươm khi nghĩa quân đã đánh bại hoàn toàn giặc Minh xâm lược, Lê Lợi lên ngôi vua và đất nước sống trong cảnh thái bình, thịnh trị. Nhân dịp vua Lê Lợi ngự thuyền rồng dạo chơi trên hồ Tả Vọng, Long Quân sai Rùa Vàng lên đòi lại gươm thần. Cảnh đòi gươm và trả gươm đã diễn ra: Khi thuyền của vua đến giữa hồ, Rùa Vàng xuất hiện và lúc đó, lưỡi gươm thần đeo bên người vua động đậy. Rùa tiến đến thuyền và nói: Xin bệ hạ hoàn lại gươm cho Long Quân. Vua Lê trao gươm, rùa đớp lấy, lặn xuống hồ. Câu 5. Thảo luận: ý nghĩa của truyện Sự tích Hồ Gươm. Trả lời: Truyện “Sự tích Hồ Gươm” có ý nghĩa: – Ca ngợi cuộc khởi nghĩa vẻ vang đầy chính nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn. – Đề cao, suy tôn tài năng của người anh hùng Lê Lợi. – Là một cách giải thích về tên gọi của hồ Hoàn Kiếm. Câu 6.Em biết còn truyền thuyết nào của nước ta cũng có hình ảnh rùa vàng? Theo em, hình tượng rùa vàng trong truyền thuyết Việt Nam tượng trưng cho ai và cho cái gì? Trả lời: Truyền thuyết nào của nước ta cũng có hình ảnh rùa vàng: An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy. Hình tượng rùa vàng trong truyền thuyết Việt Nam tượng trưng cho sức mạnh thần kì của dân tộc, có cội rễ sâu xa trong thần thoại, trong văn hóa, tín ngưỡng của nhiều dân tộc tại Việt Nam. Thần Rùa được xem là là hình dung của con người về biển cả. Rùa giúp người lấy được lòng tin của trời, được trời ban cho làm chủ muôn loài. II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Sự tích Hồ Gươm– Chương trình Ngữ văn lớp 6
863
Hướng dẫn soạn văn Thơ Hai-cư của Ba-sô – Chương trình Ngữ văn lớp 10 Hướng dẫn Thơ hai-cư là thể thơ đặc biệt với kết cấu ngắn gọn nhưng lại có khả năng bao chứa những triết lí sâu xa. Hướng dẫn soạn văn Thơ Hai-cư của Ba-sô dưới đây sẽ góp phần định hướng cho người học trong quá trình tìm hiểu và phân tích những bài thơ nổi tiếng của Ba-sô. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1: Tình cảm thân thiết của nhà thơ với thành phố Ê-đô và nỗi niềm hoài cảm về Kinh đô Ki-ô-tô đẹp đẽ đầy kỉ niệm được thể hiện qua các bài 1 và 2 như thế nào? -Bài 1 là nỗi nhớ của nhà thơ về Ê-đô. Đã mười mùa sương xa quê cũng là từng ấy năm tác giả sống ở Ê-đô. Trong một lần về thăm quê cha đất tổ, Ba-sô lại thấy nhớ khôn nguôi mảnh đất Ê-đô, nơi mà ông sinh sống đã mười năm. Bài thơ ngắn gọn nhưng thể hiện tình cảm gắn bó của nhà thơ với mảnh đất mình sinh sống. Tình yêu quê hương hòa làm một vào tình yêu đất nước. -Bài 2: Ki-ô-tô là nơi Ba-sô sống thời trẻ trước khi chuyển đến Ê-đô. Hai mươi năm sau khi trở lại Ki-ô-tô, nghe thấy tiếng chim đỗ quyên hót ông đã sáng tác bài thơ này. Bài thơ mượn hình ảnh tiếng chim đỗ quyên, loài chim báo mùa hè để gợi lên sự khắc khoải, hoài niệm về kí ức một thời tuổi trẻ. Đó là tiếng lòng da diết xen lẫn cả niềm vui, nỗi buồn về thời xa xăm. Câu 2: Tình cảm của tác giả đối với mẹ, với một em bé bị bỏ rơi thể hiện trong các bài 3, 4 như thế nào? Hình ảnh trong các bài thơ đó mơ hồ, mờ ảo ra sao? -Bài thơ thứ ba là tình cảm của tác giả đối với người mẹ. Đó là tình mẫu tử thiêng liêng, là nỗi lòng của người con xa xứ, không một ngày chăm sóc được mẹ già, không được nhìn mẹ lần cuối trước khi mẹ từ giã cõi đời. Nỗi xót xa đau đớn tột cùng thể hiện ở giọt lệ nóng hổi rơi xuống bàn tay khi đang cầm mớ tóc của người mẹ đã khuất. Hình ảnh “Làn sương thu” mơ hồ gợi nỗi buồn trống trải khi công ơn sinh thành, dưỡng dục chưa được báo đền. Tình mẫu tử ấy khiến người đọc rưng rưng. -Bài thơ thứ 4: Hoàn cảnh ra đời khá đặc biệt. Trong một lần ngang qua cánh rừng nghe tiếng vượn hú, ông nhớ đến tiếng khóc của em bé bị bỏ rơi trong rừng. Bài thơ gợi lại một sự thực nhói lòng của xã hội Nhật Bản thời xa xưa. Đó là vào những năm mất mùa, đói kém, nhiều gia đình không thể nuôi được con phải bỏ vào rừng, thậm chí đang tâm giết đứa trẻ. Những câu chuyện như thế in sâu vào tâm trí nhà thơ, ám ảnh khôn nguôi. Tiếng vượn hay cũng là tiếng khóc của trẻ con. Hay như trong mùa thu, tiếng gió thổi hay cũng chính là tiếng mùa thu than khóc cho con người. Gió mùa thu tái tê hay cũng chính là tâm trạng thi nhân trước những âm thanh gợi nhiều đau thương. Câu 3: Qua bài 5, anh (chị) cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn nhà thơ Bài thơ được sáng tác khi ông đi ngang qua 1 cánh rưng, nhìn thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông buốt giá. Ông tưởng tượng chú khỉ đang thầm ước có một chiếc áo để che mưa lạnh. Hình ảnh chú khỉ đơn độc giữa trời mưa lạnh gợi lên hình ảnh những người nông dân Nhật Bản, những em bé nghèo đang co ro trong cơn lạnh. Bài thơ thể hiện tình yêu thương sâu sắc, sự đồng cảm của nhà thơ với những kiếp người nghèo khổ. Một tấm lòng nhân hậu cao cả, một trái tim đầy yêu thương, ấm áp của nhà thơ. Câu 4: Mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ được thể hiện như thế nào trong các bài 6,7? Hình tượng thơ đẹp, thú vị ở chỗ nào? Bài thơ 6 miêu tả cảnh mùa xuân – mùa hoa anh đào nở. Nhà thơ tưởng tượng hàng ngàn cánh hoa anh đào phớt hồng, mỏng manh như giấy, theo những cơn gió bay lả tả, rụng xuống hồ làm mặt nước gợn sóng. Cảnh có vẻ rất đơn giản nhưng lại ẩn chứa 1 triết lí sâu sắc: sự tương giao của mọi vật trong vũ trụ, mọi vật đều tác động qua lại lẫn nhau, không vật nào tồn tại độc lập. Bài thơ thứ 7 là sự im lặng huyền diệu. Trong cái không gian tĩnh mịch đó, tiếng ve như ngấm sâu vào đá. Nột liên tưởng độc đáo và thú vị. Con người khi chìm vào sự im lặng tĩnh mịch sẽ thanh thản, thảnh thơi với những suy tưởng của bản thân. Câu 5: Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện như thế nào trong bài 8? Bài thơ được viết khi Ba-sô ở Osaka. Đây là bài thơ từ thế. Trước đó, ông thấy mình đã yếu lắm rồi, như một cánh chim sắp sửa bay khuất vào chân tròi vô tận. Ấy thế nhưng trước cái chết, ông không hề bi lụy. Cả cuộc đời ông đã lang thang, phiêu bạt tới nhiều vùng đất khác nhau. Vì vậy, khi sắp từ giã cõi đời ông vẫn muốn được tiếp tục đi, không đi được bằng đôi chân nhưng sẽ đi bằng tâm hồn. Tâm hồn ông lại lang thâng trên khắp cánh đồng hoang vu. Câu 6: Tìm “qúy ngữ” và cảm thức thẩm mĩ về cái Vắng lặng, Đơn sơ, U huyền trong các bài 6,7,8? Trong bài 6, quý ngữ của bài là “cánh hoa đào” – hình ảnh gợi lên mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Cảm thức thẩm mĩ về cái Đơn sơ chính là những triết lí sâu sắc được rút ra từ bức tranh mùa xuân tươi đẹp. Trong bài 7, quý ngữ là “tiếng ve ngâm” – âm thanh đặc trưng nhất, vang vọng nhất của mùa hè. Cảm thức thẩm mĩ chính là sự U huyền của không gian khi mà tiếng ve như thấm sâu vào từng kẽ đá. Trong bài 8, quý ngữ là “những cánh đồng hoang vu” hiện lên trong giấc mơ khi tuổi già xế bóng, khi tiếng chim kêu sắp lịm đi gợi lên mùa thu hiu quạnh. Cảm thức thẩm mĩ của bài thơ ẩn trong sự vắng lặng đó. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Thơ Hai-cư của Ba-sô – Chương trình Ngữ văn lớp 10
1,160
Hướng dẫn soạn văn Thạch Sanh – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Thạch Sanh sẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhất nhằm mục đích hỗ trợ cho người học trong quá trình tìm hiểu và phân tích tác phẩm này. I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1. Sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh có gì khác thường? Kể về sự ra đời và lớn lên của Thạch Sanh như vậy, theo em, nhân dân muôn thể hiện điều gì? Trả lời: Sự khác thường của việc Thạch Sanh ra đời và lớn lên: – Thạch Sanh là thái tử, con của Ngọc Hoàng xuống đầu thai làm con. – Người mẹ mang thai một cách kì lạ khi nhiều năm sau mới sinh ra Thạch Sanh. – Tuy mồ côi và cha lẫn mẹ nhưng Thạch Sanh trở thành người có tài năng và sức mạnh phi thường vì được đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông do Ngọc hoàng sai thiên thần xuống chỉ dạy. Kể về sự ra đời và lớn lên đầy khác thường của Thạch Sanh, nhân dân ta muốn tô đậm tính chất kì lạ đẹp đẽ cho nhân vật người anh hùng, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện, đồng thời dự báo hành trang và cuộc đời của người anh hùng- dũng sĩ Thạch Sanh ở phần sau. Câu 2.Trước khi được kết hôn với công chúa, Thạch Sanh đã phải trải qua những thử thách nào? Thạch Sanh bộc lộ phẩm chất gì qua những thử thách ấy? Trả lời: Những thử thách mà Thạch Sanh phải trải qua trước khi kết hôn với công chúa: – Bị mẹ con Lý Thông lừa đi canh miếu thờ thế mạng cho Lý Thông, Thạch Sanh diệt chằn tinh. – Thạch Sanh bắn đại bàng bị thương, xuống hang diệt đại bàng cứu công chúa, tiếp tục bị Lý Thông lấp cửa hang. – Bị hồn chằn tinh, đại bàng lập mưu báo thù, Thạch Sanh bị bắt hạ ngục. Qua những lần thử thách, Thạch Sanh đã bộc lộ những phẩm chất quý báu sau: – Sự dũng cảm và tài năng phi thường (diệt chằn tinh, diệt đại bàng, có nhiều phép lạ). – Là người trọng nghĩa khí, thật thà, chất phác. Câu 3:Trong truyện, hai nhân vật Thạch Sanh và Lý Thông luôn đối lập nhau về tính cách và hành động. Hãy chỉ ra sự đối lập này Trả lời: Hai nhân vật Thạch Sanh và Lý Thông đối lập nhau về tính cách và hành động, cụ thể: – Về tính cách: Thạch Sanh đại diện cho cái thiện với những phẩm chất thực thà, trung hậu, trọng nghĩa khí, vị tha cao thượng, còn Lý Thông là nhân vật đại diện cho cái xấu và cái ác với những nét tính cách: lừa dối, xảo trá, vị kỉ thấp hèn. – Về hành động: Lý Thông lợi dụng tình anh em kết nghĩa, lợi dụng tính cả tin, thật thà, nhân hậu của Thạch Sanh để hãm hại và dồn Thạch Sanh vào cái chết, sau đó hai lần cướp công của Thạch Sanh, bỏ Thạch Sanh chết dưới hang sâu. Câu 4:Truyện Thạch Sanh có nhiều chi tiết thần kì, trong đó đặc sắc nhất là chi tiết tiếng đàn và niêu cơm đãi quân sĩ mười tám nước chư hầu. Em nãy nêu ý nghĩa của những chi tiết đó Trả lời Truyện Thạch Sanh có nhiều chi tiết thần kì, trong đó đặc sắc nhất là chi tiết tiếng đàn và niêu cơm đãi quân sĩ mười tám nước chư hầu. Ý nghĩa của các chi tiết thần kì: – Tiếng đàn của Thạch Sanh: + Giúp nhân vật cất lên tiếng nói kêu oan và giải được nỗi oan ức: nhờ nghe thấy âm thanh tiếng đàn thần mà công chúa khỏi câm, nhận ra người cứu mình và đã giải thoát cho Thạch Sanh. Nhờ đó Lý Thông cũng bị vạch mặt. Tiếng đàn trở thành tiếng nói đại diện cho công lí. + Tiếng đàn giúp Thạch Sanh đánh bại quân mười tám nước chư hầu, trở thành đại diện cho cái thiện và tinh thần yêu chuộng hoà bình của nhân dân. – Niêu cơm thần kì: + Có tính chất kì lạ, cứ ăn hết lại đầy… khiến quân chư hầu phải ngạc nhiên, khâm phục. + Niêu cơm thần kì tượng trưng cho tinh thần nhân đạo và tư tưởng yêu hoà bình của nhân dân ta. Câu 5:Trong phần kết thúc truyện, mẹ con Lý Thông phải chết, còn Thạch Sanh thì được kết hôn cùng công chúa và lên ngôi vua. Qua cách kết thúc này, nhân dân ta muốn thể hiện điều gì? Kết thúc ấy có phổ biến trong truyện cổ tích không? Hãy nêu một số ví dụ Trả lời: Kết thúc truyện là kết thúc có hậu: – Cách kết thúc truyện thể hiện niềm tin, ước mơ và niềm tin của nhân dân ta vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái xấu, cái ác: Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. – Cách kết thúc có hậu cách kết thúc phổ biến trong truyện cổ tích, chẳng hạn như: Sọ Dừa, Tấm Cám, Cây khế… II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Thạch Sanh – Chương trình Ngữ văn lớp 6
870
Hướng dẫn soạn văn Thầy bói xem voi – Chương trình Ngữ văn lớp 6 Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Thầy bói xem voi với hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ sẽ mang đến nguồn tham khảo thú vị cho người học trong quá trình tìm hiểu và phân tích truyện Thầy bói xem voi. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn tìm hiểu Câu 1.Hãy nêu các cách thầy bói xem voi và phán về voi. Thái độ của các thầy bói khi phán về voi như thế nào? Trả lời – Các cách thầy bói xem voi và phán về voi: Năm ông thầy bói xem voi bằng cách lấy tay sờ vào con voi, nhưng vì con voi quá to nên mỗi thầy chỉ sờ được một bộ phận của nó. Cuối cung, mỗi ông thầy phán về con voi bằng một cách khác nhau: + Thầy sờ voi cho rằng voi sun sun như con đỉa. + Thầy sờ ngà cho rằng voi chần chẫn như cái đòn càn. + Thầy sờ tai cho rằng voi sừng sững như cái cột đình. + Thầy sờ đuôi cho rằng voi tua tủa như cái chổi sể cùn. – Thái độ của năm ông thày bói khi phán về voi: + Cả năm thầy bói đều có thái độ chủ quan sai lầm, dù phán sai và phiến diện về voi nhưng ai cũng khẳng định chỉ có mình là đúng và phủ nhận ý kiến của người khác. + Cả năm ông đều tự cho rằng mình đúng và không ai chịu ai, cuối cùng dẫn đến xô xát. Câu 2. Năm ông thầy bói đã được sờ voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ nào? Trả lời Năm ông thầy bói đã được sờ voi thật và mỗi thầy cũng đã nói được một bộ phận của voi, nhưng không thầy nào nói đúng về con vật này. Sai lầm của họ là ở chỗ không nắm bắt được về tổng thể của con voi: – Vì con voi quá to mỗi thầy chỉ sờ và miêu tả lại được một bộ phận, nên chỉ tả lại con voi qua một bộ phận mình sờ thấy mà không biết tổng hợp về các bộ phận đó để có cái nhìn toàn diện về hình dáng con voi. – Năm ông cùng phán về một con voi nhưng do mỗi ông chỉ nhìn nhận con voi ở một khía cạnh nên đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về con voi. – Họ đã không lắng nghe ý kiến của người khác để bổ sung lẫn nhau, mà nhất quyết bảo thủ cho rằng ý kiến của mình đúng. Đó là thái độ chủ quan sai lầm. Câu 3. Truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi cho ta bài học gì? Trả lời Ý nghĩa của truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”: – Phải sử dụng nhiều phương cách tiếp cận thích hợp để tìm hiểu sự vật sự việc. – Phải xem xét sự vật hiện tượng một cách khách quan, toàn diện. – Phải biết tổng hợp để nhìn nhận, đánh giá đúng sự vật hiện tượng. – Cần biết lắng nghe và tiếp nhận ý kiến của người khác một cách đúng đắn để hoàn thiện bổ sung, sửa chữa ý kiến của bản thân. II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Thầy bói xem voi – Chương trình Ngữ văn lớp 6
569
Hướng dẫn soạn văn Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng với hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ sẽ là nguồn tham khảo hữu ích cho quá trình tìm hiểu và phân tích văn bản của người học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Hướng dẫn học bài 1. Hãy kể ra những chi tiết nói về nhân vật Thái y lệnh họ Phạm. Từ đó; a. Trả lời các câu hỏi sau: -Vị thái y lệnh là người như thế nào? -Trong những hành động của ông, điều gì làm em cảm phục nhất và suy nghĩ nhiều nhất? b. Phân tích, bình luận lời đối thoại của vị Thái y với quan Trung sứ: “Ngài đáp: Tôi có mắc tội…tôi xin chịu tội”. Gợi ý: Những chi tiết nói về Thái y lệnh họ Phạm: -Lấy tiền của mình mua thuốc, mua gạo giúp đỡ cho người nghèo. -Năm đói kém, dựng thêm nhà cho những kẻ đói khát, bệnh tật, khốn cùng. -Ưu tiên cứu người bệnh nặng nguy hiểm tới tính mạng trước không sợ kháng lệnh vua. a. Vị Thái y lệnh họ Phạm là người có tấm lòng yêu thương, hết lòng cứu chữa người bệnh mà không sợ quyền uy, không sợ mang vạ. Điều cảm phục nhất ở vị Thái y lệnh đó là ông đã dám từ chối vào cung khám bệnh cho vua để đi cứu chữa cho người bị bệnh nặng trước. Điều này thể hiện y đức cao cả của ông. b. Lời đối thoại của vị Thái y với quan Trung sứ: “Ngài đáp: Tôi có mắc tội…tôi xin chịu tội” thể hiện sự quả quyết, tinh thần trách nhiệm trước uy quyền của vị Thái y, ông chấp nhận nguy hiểm, đặt cược tính mạng mình để cứu người dân đang nguy kịch. 2. Trước cách xử sự của vị Thái y lệnh, thái độ của Trần Anh Vương diễn biến như thế nào? Qua đó, nhân cách của Trần Anh Vương được thể hiện ra sao? Trước cách xử sự của vị Thái y lệnh, thái độ của Trần Anh Vương có sự thay đổi từ quở trách đến mừng rỡ, khen ngợi. Qua đây có thể thấy được Trần Anh Vương là một vị vu anh minh, sáng suốt, có tấm lòng nhân hậu, rộng lượng. 3. Qua câu chuyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” có thể rút ra cho những người làm nghề y hôm nay và mai sau bài học gì? Bài học cho những người làm nghề y hôm nay và mai sau: một thầy thuốc giỏi không chỉ cần có tài năng mà phải có nhân đức, có lòng yêu thương, hết mình vì người bệnh, không vì quyền uy mà bỏ mặc sự sống chết của người bệnh. 4. Hãy so sánh nôi dung y đức được thể hiện ở văn bản “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” với văn bản về Tuệ Tĩnh (tr.44) -Cả hai văn bản đều ca ngợi y đức cao đẹp của người thầy thuốc trước quyền lực xã hội thông qua hai tình huống gần giống nhau. Tuy nhiên, so với văn bản “Tuệ Tĩnh” thì nội dung văn bản “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” nội dung y đức được kể phong phú và sâu săc hơn: -Với vị Thái y lệnh họ Phạm, ngoài câu chuyện nhà vua cho quan trung sứ vào cung chữa bệnh cho vị quý nhân còn có những câu chuyện trước và sau đó của ông, trong khi đó với Tuệ Tĩnh, chỉ có câu chuyện về cách xử sự của ông khi con nhà quý tộc mời đi chữa bệnh. -Tình huống đặt ra với Thái y lệnh họ Phạm gay gắt hơn so với Tuệ Tĩnh vì đó là cuộc đụng độ giữa y đức với quyền lực tối cao, đe dọa trực tếp đến tính mạng. Đối với Tuệ Tĩnh, cuộc đụng độ ở cấp độ thấp hơn, giữa y đức và quyền thế của vị quý tộc. -Cuộc đụng độ trực tiếp giữa Thái y lệnh họ Phạm với vị quan Trung sứ diễn ra gay gắt hơn cuộc đụng độ giữa Tuệ Tĩnh và con nhà quý tộc. II. Luyện tập 1. Một bậc lương y chân chính theo mong mỏi của Trần Anh Vương phải như thế nào? Hãy so sánh nội dung đó với nội dung trong lời thêm của Hi-pô-cờ-rát được trích ở phần đọc thêm Một bậc lương y chân chính theo mong mỏi của Trần Anh vương phải là người giỏi cả về nghề nghiệp và có lòng đức độ, thương dân nghèo. Nội dung trên giống với nội dung lời thề Hi-pô-cờ-rát ở chỗ: nhân đức được đặt lên trên hết 2. Nhan đề văn bản này nguyên văn chữ Hán là Y thiện dụng tâm (y: chữa bệnh, thầy thuốc; thiện:giỏi, tốt lành; dụng: dùng, đem dùng; tâm: lòng, tấm lòng). Có sách dịch nhan đề trên là Thầy thuốc giỏi ở tấm lòng, ở đây dịch; Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng. Vậy có gì khác nhau? Em tán thành cách nào? Lí do? Cách dịch “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng”: Nhấn mạnh, đề cao vào vai trò của y đức, nhân cách, bản chất lương thiện của người làm nghề y. Đối với người thầy thuốc, nhân cách còn quan trọng hơn cả chuyên môn. Còn đối với cách dịch “Thầy thuốc giỏi ở tấm lòng” không nhấn mạnh nội dung cần biểu đạt về lòng nhân hậu của người thầy thuốc.
Hướng dẫn soạn văn Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng
925
Hướng dẫn soạn văn trình bày một vấn đề Hướng dẫn Làm thế nào để trình bày một vấn đề trong ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết? Các bạn hãy tham khảo bài soạn văn trình bày một vấn đề mà chúng tôi giới thiệu dưới đây nhé! I. Tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề II. Công việc chuẩn bị 1. Chọn vấn đề trình bày -Đề tài “Thời trang và tuổi trẻ” có thể bao gồm những vấn đề nào? Đề tài trên có thể có những vấn đề sau: + Thời trang với vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ. + Thời trang và tuổi teen + Thời trang học đường -Người nghe là những ai (tuổi tác, trình độ, giới tính, nghề nghiệp…)? Họ đang quan tâm đến vấn đề gì? Người nghe có thể từ già đến trẻ, từ phụ nữ đến nam giới, học có thể thuộc nhiều ngành nghề khác nhau nhưng tất cả đều quan tâm đến thời trang. -Bản thân anh (chị) am hiểu và thích thú vấn đề nào? Bản thân em thích vấn đề thời trang với tuổi teen vì vấn đề đó rất gần gũi, quen thuộc với cuộc sống hàng ngày và phù hợp với lứa tuổi của em. 2. Lập dàn ý cho bài trình bày III. Trình bày IV. Luyện tập 1. Dưới đây là những câu trích từ các bài trình bày khác nhau. Hãy cho biết mỗi câu tương ứng với phần nào trong quá trình trình bày (1) Bắt đầu trình bày: -Chào các bạn. Tôi rất phấn khởi được đến đây phục vụ các bạn. Tên tôi là… -Chào các bạn. Cảm ơn các bạn đã tới đây. Xin tự giới thiệu, tôi tên là… làm việc ở cơ quan…/ công ty… -Trước khi bắt đầu, cho phép tôi nói đôi điều về bản thân. Tôi đã làm việc ở công ty… trong… năm… (2) Trình bày nội dung chính Các câu: -Đã xem xét tất cả các phương án có thể có, chúng ta hãy chuyển sang phân tích những thuận lợi và khó khăn của từng phương án… -Giờ chúng ta hãy đi vào nội dung chủ yếu của đề tài. Thứ nhất… (3) Chuyển qua chủ đề khác Các câu: -Giờ chúng ta chuyển sang vấn đề môi trường. Như các bạn đã biết, chúng ta đã tận lực để đảm bảo công việc xử lí chất thải… (4) Tóm tắt và kết thúc nội dung trình bày Các câu: -Tôi muốn kết thúc bài nói bằng cách nhắc lại đôi điều đã nêu lên ở lúc mở đầu… -Giờ tôi sắp kết thúc bài nói, và đến đây, tôi muốn một lần nữa lướt qua những điểm chính đã nêu … 2. Giả định dưới đây là một số đề tài trong những cuộc hội thảo sẽ được tổ chức ở trường. Anh (chị) hãy dự kiến các ý cần trình bày cho mỗi đề tài a. Nét thanh lịch trong ứng xử hằng ngày -Nêu lên những lí do tại sao phải có nét thanh lịch trong ứng xử hàng ngày -Biểu hiện của sự thanh lịch trong ứng xử hàng ngày (nhường ghế ngồi trên xe buýt, đi nhẹ, nói khẽ,…) b. Nghệ thuật gây thiện cảm -Trong giao tiếp hàng ngày, việc gây thiện cảm sẽ có lợi ích như thế nào ( được người khác yêu mến, giúp đỡ…) -Làm thế nào để gây được thiện cảm trong giao tiếp ( nói năng lễ phép, đúng mực, luôn vui vẻ, hòa đồng với mọi người…) c. Thần tượng của tuổi học trò -Đối tượng mà học trò thần tượng là ai ( ca sĩ, diễn viên,…) -Tình cảm thần tượng của học trò có bền vững hay không? -Thần tượng có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với học tập, lói sống của học sinh. -Thái độ của người lớn đối với việc thần tượng của con em mình. d. Giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp -Môi trường có ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống, sức khoẻ của con người. -Nhận xét về tình trạng của môi trường hiện nay -Những việc làm của con người để giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp ( trồng cây, không chặt phá rừng,…) e. An toàn giao thông là hạnh phúc của mỗi người. -Nêu ra các số liệu về số vụ tai nạ giao thông và những hậu quả của nó -Nêu ra những lí do của các vụ tai nạn giao thông ( phóng nhanh, vượt ẩu, uống rượu bia,…) -Con người cần làm gì để thực hiện an toàn giao thông (đội mũ bảo hiểm khi lái xe, chạy đúng tốc độ,…) Theo
Hướng dẫn soạn văn trình bày một vấn đề
747
Hướng dẫn soạn văn Tìm hiểu chung về văn bản tự sự Hướng dẫn Trong quá trình viết và làm bài, để kể lại một sự vật, sự việc chúng ta thường xuyên sử dụng thao tác tự sự. Vậy tự sự là gì? Hướng dẫn soạn văn Tìm hiểu chung về văn bản tự sự sẽ cung cấp lời giải chi tiết nhằm hỗ trợ tốt nhất cho quá trình tìm hiểu bài học này của người học. I. Ý nghĩa và đặc điểm chung của phương thức tự sự Câu 1. Trong đời sống hàng ngày ta thường nghe những yêu cầu và câu hỏi như sau – Bà ơi, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe đi! – Cậu kể cho mình nghe, Lan là người như thế nào. – Bạn An gặp chuyện gì mà lại thôi học nhỉ? – Thơm ơi, lại đây tớ kể cho nghe câu chuyện này hay lắm. a, Gặp trường hợp như thế, người nghe muốn biết điều gì và người kể phải làm gì? – Người nghe muốn biết: +câu chuyện cổ tích của bà +phẩm chất, ngoại hình, tính cách của bạn Lan +An đã gặp phải chuyện gì +Câu chuyện hay ho của bạn – Người kể phải: +Kể một câu chuyện cổ tích +Kể và miêu tả ngoại hình, phẩm chất đạo đức của Lan +An đã trải qua những chuyện gì, tốt hay xấu +Kể câu chuyện hay nhưng phải rõ đầu đuôi, và có tính liên kết b, Trong những trường hợp trên, chuyện phải có một ý nghĩa nào đó. Ví dụ nếu muốn cho bạn biết Lan là một người bạn tốt, người được hỏi phải kể những chuyện như thế nào về Lan? Vì sao? Nếu người trả lời kể về một câu chuyện về An mà không liên quan tới việc thôi học của An thì có thể coi là câu chuyện có ý nghĩa được không? Vì sao? – Nếu muốn cho bạn biết Lan là người bạn tốt, người được hỏi phải kể về Lan: +Tính cách của Lan: có tốt tính không, có hay giúp đỡ mọi người không,… – Vì: từ đó người nghe hình dung được về Lan là một người như thế nào – Nếu người trả lời kể về một câu chuyện về An mà không liên quan tới việc thôi học của An thì không thể coi là câu chuyện có ý nghĩa được, vì không liên quan đến câu hỏi của người hỏi Câu 2. Truyện Thánh Gióng mà em đã học là một văn bản tự sự. Văn bản tự này cho ta biết những điều gì? (Truyện kể về ai, ở thời nào, làm việc gì, diễn biến của sự việc, kết quả ra sao, ý nghĩa của sự việc như thế nào?) Vì sao có thể nói truyện Thánh Gióng là truyện ngợi ca công đức của vị anh hùng làng Gióng? Hãy liệt kê các sự việc theo thứ tự trước sau của truyện. Truyện bắt đầu từ đặc điểm, diễn biến như thế nào, kết thúc ra sao? Từ thứ tự các sự việc đó, em hãy suy ra đặc điểm của phương thức (cách thức) tự sự Trả lời: Văn bản tự này cho ta biết: – Truyện kể về Thánh Gióng, người anh hùng đánh giặc Ân để cứu nước – Ở thời Hùng vương thứ sáu – Diễn biến: Gióng lên ba mà chứ biết nói cười, nhưng nghe tin có giặc thì xin đi đánh giặc, sau đó dân làng góp gạo nuôi Gióng, Gióng ăn khỏe và lớn nhanh như thổi, rồi vươn vai thành tráng sĩ, mình cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt, mặc giáp sắt đánh tan giặc, roi gãy thì nhổ tre, cuối cùng cũng đánh thắng, bỏ lại ngựa, áo giáp và bay lên trời. – Kết quả: đánh tan lũ giặc xâm lăng – Ý nghĩa: ý chí quyết tâm và lòng quả cảm đã đánh thắng giặc của Gióng cũng như của nhân dân ta – Có thể nói truyện Thánh Gióng là truyện ngợi ca công đức của vị anh hùng làng Gióng vì: câu truyện đã tôn vinh người anh hùng cứu nước nước thuở đầu dựng nước Các sự việc theo thứ tự trước sau của truyện: – Hành động xin đi đánh giặc của Gióng – Gióng ăn cơm do dân làng góp gạo nuôi, lớn thành tráng sĩ đánh thắng giặc – Đánh tan giặc, bỏ lại mọi thứ và bay lên trời – Sự ra đời của đền Gióng II. Luyện tập
Hướng dẫn soạn văn Tìm hiểu chung về văn bản tự sự
734
Hướng dẫn soạn văn Tìm hiểu chung về văn miêu tả Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Tìm hiểu chung về văn miêu tả sẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhằm định hướng cho người học trong quá trình tìm hiểu bài học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Thế nào là văn miêu tả? 1. Hãy đọc và suy nghĩ về các tình huống sau: – Tình huống 1: Trên đường đi học, em gặp một người khách hỏi thăm đường về nhà em. Đang phải đến trường, làm thế nào để người khách nhận ra được nhà em? + Để người khách có thể nhận ra được nhà của em, em phải chỉ ra được đặc điểm vị trí căn nhà và ngôi nhà của em. – Tình huống 2: Em cùng mẹ đến cửa hàng mua áo; trước rất nhiều chiếc áo khác nhau, nhiều màu nhiều vẻ, treo tận trên cao, làm thế nào để người bán hàng lấy xuống được chiếc áo mà em định mua? + Để người bán hàng có thể lấy xuống được chiếc áo mà em định mua, em cần phải nói ra màu sắc, kiểu dáng và vị trí của chiếc áo – Tình huống 3: Một học sinh lớp 3 hỏi em: Lực sĩ là người thế nào? Em phải làm gì để học sinh ấy hình dung ra được hình ảnh của một lực sĩ? + Để học sinh lớp 3 có thể hình dung ra được hình ảnh của một lực sĩ, em phải nói về hình dáng bên ngoài, thân hình và thể lực của người lực sĩ. Trong những tình huống trên, em đã phải dùng văn miêu tả. Hãy nêu lên một số tình huống khác tương tự và rút ra nhận xét thế nào là văn miêu tả + Văn miêu tả là loại văn được viết nhằm giúp cho người đọc, người nghe có thể hình dung ra những đặc điểm, tính chất của một sự vật, sự việc hoặc con người, địa điểm,… 2. Trong văn bản “Bài học đường đời đầu tiên”, có hai đoạn văn miêu tả Dế Mèn và Dế Choắt rất sinh động. Em hãy chỉ ra hai đoạn văn đó và trả lời các câu hỏi sau: -Đoạn văn miêu tả Dế Mèn: từ đầu cho tới “đưa cả hai chân lên vuốt râu” -Đoạn văn miêu tả Dế Choắt: từ “Cái chàng Dế Choắt” đến “nhiều ngách như tôi” a. Hai đoạn văn có giúp em hình dung được đặc điểm nổi bật của hai chú dế? Hai đoạn văn đã giúp em hình dung cụ thể được các đặc điểm nổi bật của hai chú dế. Dế Mèn thì cường tráng, mẫm bóng và vuốt chân nhọn hoắt, bộ cánh dài, râu cong hùng dũng, dáng trông oai vệ và tính tình kiêu ngạo, xốc nổi. Còn Dế Choắt lại gầy gò, ốm yếu, đôi cánh ngắn ngủn bè bè, râu một mẩu, tính nết ăn sổi ở thì. b. Những chi tiết và hình ảnh nào đã giúp em hình dung được điều đó? Những chi tiết và hình ảnh giúp em hình dung là các chi tiết miêu tả về cánh, càng, râu và thân hình của hai chú dế. Ngoài ra còn có các hình ảnh so sánh đi kèm với miêu tả tính tình, dáng đi, cách nói năng. II. Luyện tập Hãy đọc các đoạn trích sau và trả lời câu hỏi -Đoạn văn thứ 1: Miêu tả Dế Mèn. Đặc điểm nổi bật của Dế Mèn là một con dế cường tráng, vừa to vừa khỏe, mạnh mẽ và mẫm bóng với vuốt sắc nhọn. -Đoạn văn thứ 2: Miêu tả chú bé Lượm. Đặc điểm nổi bật của chú Lượm là cậu bé có dáng nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn và thông minh, tính tình vui vẻ, hồn nhiên. -Đoạn văn thứ 3: Miêu tả một bãi ngập nước sau cơn mưa. Đặc điểm nổi bật đó là một thế giới ồn ào, náo động của những loài sinh vật nhỏ bé. Đề luyện tập Nếu phải viết một đoạn văn miêu tả cảnh mùa đông đến thì em sẽ nêu lên những đặc điểm nổi bật nào? Để viết một đoạn văn miêu tả cảnh mùa đông đến, em sẽ nêu lên những đặc điểm nổi bật sau: + Trời ít nắng, nắng nhẹ, bầu trời thường âm u, nhiều mây, mây bao phủ. + Có gió hướng Bắc hoặc Đông Bắc, lạnh, nhiệt độ giảm thấp và hanh khô. + Cây cối xơ xác, nhiều cây trơ trụi lá + Mọi người thường mặc quần áo ấm, dùng bếp sưởi để tránh rét Khuôn mặt mẹ luôn hiện lên trong tâm trí em, nếu tả khuôn mặt của mẹ thì em chú ý tới đặc điểm nổi bật nào? + Hình dáng khuôn mặt: mặt tròn, mặt trái xoan,… + Màu da của khuôn mặt mẹ + Điểm nổi bật trên khuôn mặt: đôi mắt, vầng trán,… + Miêu tả nụ cười của mẹ.
Hướng dẫn soạn văn Tìm hiểu chung về văn miêu tả
820
Hướng dẫn soạn văn Tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh Hướng dẫn Hướng dẫn soạn văn Tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minhsẽ cung cấp hệ thống lời giải chi tiết, đầy đủ nhằm hỗ trợ tốt nhất cho người học trong quá trình tìm hiểu bài học. Các bạn hãy cùng tham khảo nhé I. Tính chuẩn xác trong văn bản thuyết minh 1. Tính chuẩn xác và một số biện pháp đảm bảo tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh. 2. Luyện tập Trả lời các câu hỏi sau đây để kiểm tra tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh: a. Trong một bài thuyết minh về chương trình học, có người viết: “Ở lớp 10 Trung học phổ thông, học sinh chỉ được học văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, câu đố), viết như thế có chuẩn xác không? Vì sao? Viết như trên là không chuẩn xác vì: Thứ nhất trong chương trình Ngữ văn 10 không phải chỉ có văn học dân gian. Thứ hai là văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 không chỉ có ca dao, tục ngữ. Thứ ba, đó là trong chương trình Ngữ văn 10 không có câu đố. b. Trong câu sau có điểm nào chưa chuẩn xác: Điểm chưa chuẩn xác trong câu trên chính là ý nghĩa của cụm từ “thiên cổ hùng văn”. “Thiên cổ hùng văn” có nghĩa là một áng hùng văn của nghìn đời, chứ không phải là một ánh hùng văn được viết cách đây đúng một nghìn năm. c. Có nên sử dụng văn bản dưới đây để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không? Nếu không thì vì lý do gì? Văn bản trên không thể dùng để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi vì trong văn bản không đề cập tới tư cách nhà thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trên cơ sở trả lời những câu hỏi đã nêu, hãy cho biết: Một văn bản thuyết minh chuẩn xác cần đáp ứng những yêu cầu nào? Một văn bản thuyết minh chuẩn xác cần đáp ứng những yêu cầu: + Cần tìm hiểu kĩ, thấu đáo về vấn đề trước khi viết. + Cần thu thập các tài liệu tham khảo, các tài liệu chính xác, đáng tin cậy. + Cần cập nhật thông tin, tài liệu để thấy được sự thay đổi. II. Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh 1. Tính hấp dẫn và một số biện pháp tạo tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh 2. Luyện tập a. Hãy đọc đoạn văn sau đây và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới Phân tích biện pháp làm cho luận điểm “Nếu bị tước đi môi trường sống kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm” trở nên cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn. Biện pháp để có thể làm cho luận điểm “Nếu bị tước đi môi trường sống kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm” trở nên cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn. Đó chính là đưa ra những chi tiết cụ thể về một bộ não của đứa trẻ ít được vui chơi, tiếp xúc và bộ não của con chuột bị nhốt trong chiếc hộp rỗng mà tác giả đưa ra. Khi đó, luận điểm sẽ được làm sáng tỏ, từ một luận điểm khái quát trở nên cụ thể và dễ hiểu. b. Hãy đọc đoạn trích sau đây và phân tích tác dụng tạo hứng thú của việc kể lại truyền thuyết về hòn đảo An Mạ Việc kể lại truyền thuyết về hòn đảo An Mạ đã cho người đọc được mở rộng thêm kiến thức và sự tích có mặt của Hồ Ba Bể. Bởi khi nhắc tới một danh lam thắng cảnh, người ta thường muốn biết thêm những câu chuyện xoay quanh danh lam thắng cảnh đó. Truyền thuyết về hòn đảo An Mạ đã đưa người đọc về với thuở xa xưa, khiến cho bài văn thêm cuốn hút và hấp dẫn. III. Luyện tập Đọc đoạn trích sau và phân tích tính hấp dẫn của nó Đoạn văn của Vũ Bằng có tính hấp dẫn của một văn bản thuyết minh bởi ngay trong chủ đề của bài văn là nói về một món ăn có sức gợi cảm đối với người đọc. Hơn nữa, trong đoạn văn của Vũ Bằng còn sử dụng phương pháp thuyết minh sinh động, hấp dẫn. Người đọc được tiếp xúc với món phở bằng nhiều cách nhìn khác nhau, từ xa đến gần, nhập vai người được ăn và cả vai người đứng nhìn. Cách miêu tả của tác giả gợi ra nhiều những liên tưởng thú vị, bên cạnh đó tác giả còn sử dụng vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng và linh hoạt. Với các từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm, câu văn luôn thay đổi theo nhịp điệu. Theo
Hướng dẫn soạn văn Tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh
821
Hướng dẫn soạn văn Tấm Cám – Bài soạn của cô giáo Vân Anh chuyên văn Hướng dẫn Tấm Cám là câu chuyện cổ tích nổi tiếng trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, đồng thời qua đó tái hiện chân thực về cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa thiện -ác, tốt-xấu. Hướng dẫn soạn văn Tấm Cám dưới đây sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị cho bài học, các bạn hãy cùng tham khảo nhé! I. Tìm hiểu về truyện Tấm Cám Câu 1. Phân tích diễn biến của truyện để thấy mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám. Trả lời: Diễn biến của truyện đã thể hiện mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám: – Lí do dẫn đến xung đột: mối quan hệ “mẹ ghẻ- con chồng”, tức mối quan hệ giữa Tấm và dì ghẻ cùng em gái cùng cha khác mẹ là Cám. – Diễn biến của truyện đã thể hiện mâu thuẫn tăng dần từ những nhu cầu về vật chất và tinh thần. + Mâu thuẫn thứ nhất: Tấm và Cám cùng đi bắt tép, Tấm chăm chỉ còn Cám chỉ ham chơi, Tấm bị Cám lừa xuống ao rửa mặt và bị Cám trút hết giỏ tép. Đây là mâu thuẫn trực tiếp nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi gia đình và vì nhu cầu về vật chất. + Mẫu thuẫn thứ hai: Tấm nuôi cá bống nhưng mẹ con Cám lại tìm cơ hội bắt và ăn thịt cá bống. Mâu thuẫn bị đẩy lên mức độ giữa kẻ ác và người hiền lành. + Mâu thuẫn thứ ba: Mẹ con Cám ăn mặc đẹp để đi xem hội, nhưng lại trộn thóc và gạo để bắt Tấm nhặt hết mới được phép tham gia xem hội. Đây là mâu thuẫn giữa kẻ áp bức, bóc lột và người bị áp bức bóc lột, nhưng mới chỉ dừng lại ở khuôn khổ gia đình. + Mâu thuẫn thứ tư: Tấm trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị mẹ con Cám lập mưu hãm hại trong ngày giỗ bố. Tấm nhiều lần hóa thân nhưng vẫn bị mẹ con Cám giết hại. Lúc này mâu thuẫn đã bị đẩy lên cao hơn, trở thành mâu thuẫn về địa vị và quyền lợi đẳng cấp (mâu thuẫn xã hội). được vua yêu thương, cất lên tiếng nói vạch mặt Cám, mẹ con Cám làm thịt chim để ăn, đổ lông ra vườn. Lần hóa thân thứ hai: từ chỗ lông chim mọc lên hai cây xoan đào tươi tốt, vua thường xuyên mắc võng nghỉ ngơi. Mẹ con Cám chặt cây làm thành khung cửi. Lần hóa thân thứ ba: khi trở thành khung cửi, Tấm tiếp tục vạch tội Cám. Lần này hai mẹ con Cám đốt khung cửi và đổ tro thật xa, thể hiện sự tận diệt đối với Tấm. Lần hóa thân thứ tư: từ đống tro, mọc lên một cậy thị, Tấm hóa thân vào quả thị, nhờ bà hàng nước tốt bụng nên Tấm quay lại làm người và gặp lại nhà vua. Tấm trở về trả thù. – Sự tăng tiến của xung đột, mâu thuẫn thể hiện hướng phát triển của hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện: + Tuyến nhân vật phản diện- mẹ con Cám: ngày càng tàn độc và sử dụng nhiều thủ đoạn. + Tuyến nhân vật chính diện- Tấm: từ việc cam chịu, sau đó phản kháng một cách yếu ớt, cô đã trở nên chủ động mạnh mẽ đứng lên đòi lại quyền lợi của mình. Câu 2. Phân tích từng hình thức biến hóa của Tấm. Quá trình biến hóa của Tấm nói lên ý nghĩa gì? Trả lời: Tấm trải qua bốn lần biến hóa: – Lần hóa thân thứ nhất: Tấm hóa thân thành chim Vàng Anh. – Lần hóa thân thứ hai: từ chỗ lông chim mọc lên hai cây xoan đào tươi tốt, vua thường xuyên mắc võng nghỉ ngơi. – Lần hóa thân thứ ba: khi trở thành khung cửi. – Lần hóa thân thứ tư: từ đống tro, mọc lên một cậy thị, Tấm hóa thân vào quả thị. Ý nghĩa của quá trình hóa thân: – Quá trình hóa thân cả Tấm thể hiện quan niêm người và vật đồng nhất cảu nhân dân ta. Những vật mà Tấm hóa thành đều là những vật bình dị nhưng tốt đẹp, cho thấy Tấm là con người lương thiện, hiền lành. – Những lần hóa thân chính là những lần Tấm gửi linh hồn để đấu tranh giành lại hạnh phúc. – Sự hóa thân nhiều chặng liên tiếp của Tấm tạo nên sức hấp dẫn của câu chuyện, đẩy mẫu thuẫn, xung đột giữa các nhân vật lên đỉnh điểm. – Quá trình hóa thân của Tấm vừa chịu ảnh hưởng bởi quan niệm luân hồi của nhà Phật, vừa bắt nguồn từ triết lí dân gian về sự luân hồi, tái sinh. Câu 3. Suy nghĩ vê hành động trả thù của Tấm đối với Cám? Trả lời: Hành động trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám có thể gợi lên nhiều suy nghĩ trong lòng độc giả: – Có người sẽ cho rằng Tấm làm như vậy là tàn nhẫn. – Có ý kiến trái ngược cho rằng Tấm làm như vậy là đúng, vì mẹ con Cám đã hết lần này đến lần khác giết hại Tấm. Vì họ quá độc ác nên cần bị trừng phạt đích đáng, thể hiện quan niệm “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” của tác giả dân gian. Câu 4. Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện? Trả lời: Bản chất của mâu thuẫn và xung đột trong truyện: – Trước hết, đó là mâu thuẫn mẹ ghẻ- con chồng trong phạm vi gia đình, xuất phát từ việc kế thừa tài sản và hưởng những quyền lợi vật chất của các thành viên (con cái) trong gia đình. – Thứ hai, đây còn là mâu thuẫn giữa kẻ áp bức bóc lột và người bị áp bức bóc lột. – Thứ ba, câu chuyện thể hiện xung đột giữa cái thiện và cái ác. Tấm là hiện thân cho cái thiện, còn mẹ con Cám là hiện thân cho cái ác. II. Luyện tập Theo
Hướng dẫn soạn văn Tấm Cám – Bài soạn của cô giáo Vân Anh chuyên văn
1,027