text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Nghị luận xã hội – Học có chọn lọc trong cuộc sống – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội học có chọn lọc Đề bài: Quan điểm của anh (chị) về lời khuyên của Lev Tolstoi: “Cần phải lựa chọn nghiêm ngặt xem nên học gì và không nên học gì” (Trình bày trong một bài văn khoảng 600 chữ) Hướng dẫn làm bài Vấn đề mà Lev Tolstoi – nhà văn Nga vĩ đại – nêu lên ở đây rất giản dị nhưng cũng rất thiết thực. Nó đặt người đọc trước sự lựa chọn cần thiết cho con đường học hành của mình. Để giải quyết vấn đề này, người viết phải biết đặt ra các câu hỏi: Tại sao cần lựa chọn nghiêm ngặt nên học gì và không nên học gì? Nếu không biết lựa chọn như thế thì hậu quả sẽ thế nào? Bài làm là sự trả lời những câu hỏi đó bằng lí lẽ và dẫn chứng. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Học hành là công việc gắn với con người từ bao đời nay. Có thể nói, không một bước phát triển nào của văn minh loài người mà không gắn với việc học. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề học tập, có vô số tư tưởng, quan niệm khác nhau. Có người nhấn mạnh vai trò, có người bàn về ý nghĩa, có người quan tâm đến phương pháp học tập. Lev Tolstoi – nhà văn Nga thế kỉ XIX đã nêu một quan điểm: cần phải lựa chọn nghiêm ngặt xem nên học gì và không nên học gì. Quan điểm rõ ràng như vậy về việc học tập là điều rất đáng để mọi người, nhất là những người ở tuổi cắp sách đến trường phải nghiêm túc suy nghĩ. + Sở dĩ trong học tập, chúng ta phải lựa chọn nên học gì và không nên học gì là bởi trước hết, biển kiến thức của nhân loại thì mênh mông, trong khi quỹ thời gian cũng như năng lực của bản thân mỗi người thì có hạn. Văn minh nhân loại (cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần) là tất cả những gì mà con người đã tạo nên bởi sự vận dụng tri thức vào lao động sáng tạo. Thành tựu đó là của cả loài người, mà mỗi cá nhân, dù là thiên tài, cũng chỉ có thể đóng góp một phần nhỏ mà thôi. Nhà vật lí học không thể làm thay công việc của nhà sinh học. Nhà kinh tế không đảm trách được vai trò của người nghệ sĩ. Thực tế, những người thành công là người biết lựa chọn cho mình một lĩnh vực phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân, học tập, nắm vững tri thức và biết vận dụng một cách hiệu quả nhất trong thực tế. + Mặt khác, mục đích thiết thực của học tập không phải để biết, mà là để làm như một phương châm đã được UNESCO nêu lên. Muốn học để làm, kiến thức phải vững vàng, kĩ năng phải thuần thục. Ngày nay, người ta thường nói nhiều đến chuyên môn hẹp và tư cách chuyên gia. Một người chỉ trở thành chuyên gia thực thụ khi thể hiện được sự am hiểu sâu sắc lĩnh vực hoạt động của mình. Đó chính là những người đã biết lựa chọn và theo đuổi việc học tập ở một địa hạt cụ thể, để có thể phát huy cao nhất khả năng của mình. – Như vậy, câu nói của Lev Tolstoi không bàn đến những chuyện cao xa, mà đề cập đến khía cạnh rất thiết thực của việc học tập. Nó nhắc nhở giới trẻ – những ngưòi đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời – rằng, muốn thành công trong học tập, trước hết phải biết lựa chọn. Tuy nhiên, phải hiểu cho đúng tinh thần của sự lựa chọn theo quan niệm của Lev Tolstoi. Tình trạng học lệch, chọn môn này bỏ môn kia theo kiểu thi gì học nấy vẫn diễn ra bấy lâu nay không phải là sự lựa chọn đúng. Chọn ngành nghề, chọn trường học bao giờ cũng gắn với định hướng lập nghiệp ngày mai. Có nhất thiết phải đi ra từ một trường đại học thì mới có tương lai sáng sủa? Theo học một nghề được đào tạo trong một trường dạy nghề nào đó mà phát huy được sở thích, sở trường của cá nhân có phải là yếu tố quyết định thành công trong tương lai? Đó là những câu hỏi bắt buộc mỗi học sinh phải tự trả lời.
Nghị luận xã hội – Học có chọn lọc trong cuộc sống – Ngữ Văn 12
784
Nghị luận xã hội – Quan điểm về lời nói đẹp – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về lời nói đẹp Đề bài Có ý kiến cho rằng: Lời nói đẹp, đó là chi phí thấp nhất để thu lợi cao nhất. Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này? (Trình bày trong một bài viết khoảng 600 chữ) Hướng dẫn làm bài: Đề bài yêu cầu người viết nêu quan điểm của mình về tác dụng của lời nói đẹp trong cuộc sống. Để làm sáng rõ được nội dung này, cần phải trả lời các câu hỏi sau: Lời nói là gì? Thế nào là lời nói đẹp? Tại sao lời nói đẹp là chi phí thấp nhất để thu lợi cao nhất? Làm thế nào để mỗi người luôn có ý thức về những lời nói đẹp trong cuộc sống? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Xưa, khi khẳng định giá trị của lời nói trong giao tiếp, ông bà ta cho rằng: Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Việc lựa lời ấy liên quan trực tiếp đến lối sống, văn hoá, cách ứng xử giữa người với người trong xã hội. Có lẽ vì thế mà có ý kiến đã cho rằng: Lời nói đẹp, đó là chi phí thấp nhất để thu lợi cao nhất. – Trong đời sống, lời nói là một trong những phương tiện giao tiếp quan trọng nhất để duy trì và phát triển mối quan hệ giữa người với người. Nếu ngôn ngữ vốn có tính trừu tượng thì lời nói lại mang tính cụ thể, vì lời nói là sản phẩm của mỗi người, được sản sinh từ hoạt động giao tiếp. Lời nối, vì thế, có ý nghĩa quan trọng, Nó chính là thước đo để đánh giá tính cách, phẩm hạnh, tư duy, văn hoá của con người, đồng thời cũng là phương tiện để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội. Lời nói bao giờ cũng sinh động, luôn gắn liền với ngữ cảnh, với các nhân tố của hoạt động giao tiếp. – Nhưng, thế nào là lời nói đẹp? Hiểu một cách khái quát nhất, lời nói đẹp là lời nói có văn hoá, có sự tác động tốt đẹp đến người khác. Đặt trong những hoàn cảnh cụ thể, lời nói đẹp sẽ có những biểu hiện khác nhau, sinh động, hấp dẫn như chính bản thân cuộc sống vậy. Có thể, lời nói đẹp là lời nói trung thực, là lời nói biết làm dịu đi nỗi đau của người khác, là lời nói đem lại cho người khác động lực sống. Cũng có thể, lời nói đẹp là lời nói chỉ ra được những lỗi lầm của mình, của người khác. Một lời cảm ơn, xin lỗi nếu đặt đúng hoàn cảnh, cũng sẽ là lời nói đẹp. – Tất nhiên, khi chúng ta khẳng định về một lời nói đẹp, không chỉ nên dựa vào nội dung, ý nghĩa, sự tác động của câu nói mà còn phải chú ý đến cách nói. Đó là cách sử dụng ngôn từ sao cho gọn gàng, mạch lạc, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng giao tiếp. Một lời nói có nội dung hay nhưng nếu cách dùng từ thiếu chọn lọc, cách diễn đạt không thông thoát, lại không được đặt vào đúng hoàn cảnh thì chắc chắn không thể là lời nói đẹp.ư – Mặt khác, lời nói đẹp là chi phí thấp nhất để thu lợi cao nhất. Nội dung của ý kiến này còn đặt ra một vấn đề quan trọng: tác dụng, hiệu quả của lời nói đẹp. Khi nói “lời nói đẹp là chi phí thấp nhất”, tức là ngưòi ta đã nhấn mạnh đến bản chất của lời nói. Lời nói, cũng như ngôn ngữ, là công cụ của hoạt động giao tiếp và tư duy, là sản phẩm chung của xã hội nhưng lại mang dấu ấn của cá nhân người nói. Đó là một thứ công cụ dễ kiếm, dễ tìm, phù hợp với mọi người. Hiệu quả của lời nói đẹp là làm vừa lòng nhau. Cũng nên hiểu hiệu quả của lời nói đẹp ở khía cạnh vừa lòng nhau theo nghĩa rộng. Lời nói đẹp tạo ra sự cảm thông, ăn ý và hiểu biết lẫn nhau. Đó là cơ sở để con người đạt được mục đích giao tiếp, cũng có nghĩa là thu lợi cao nhất. Vì vậy, những lời nói êm tai nhưng giả dối, chắc chắn sẽ không mang lại hiệu quả cao trong giao tiếp, mà ngược lại, có thể còn gây tác hại, như là sự ru ngủ con người. Nói gần nói xa chẳng qua nói thật – đó chính là thông điệp của mọi thời đại. Lời nói thích hợp trước hết phải là lời nói chân thành, sau đó mới là lời nói đẹp. – Tất nhiên, lòi nói đẹp là lời nói chân thành, giúp con người hoàn thiện nhân cách của mình. Nhưng, nếu chỉ trau chuốt, chú ý đến lời nói thôi, thiết nghĩ, cũng chưa đủ. Bởi vì, trong cuộc sống lời nói và việc làm bao giờ cũng phải thống nhất với nhau. Lời nói đẹp là cơ sở của hành động đẹp và ngược lại, hành động đẹp là thước đo, là chuẩn mực để làm cho lời nói đẹp thực sự có giá trị trong cuộc sống. – Câu nói “Lòi nói đẹp, đó là chi phí thấp nhất để thu lợi cao nhất” là bài học có ý nghĩa giáo dục đối với con người ở mọi thời đại. Nó không chỉ khẳng định giá trị của lời nói mà còn định hướng cho mỗi chúng ta cách sống, cách ứng xử có văn hoá. Bởi, lời nói đẹp phản chiếu đời sống tâm hồn của người nói, giúp con người xích lại gần nhau hơn.
Nghị luận xã hội – Quan điểm về lời nói đẹp – Ngữ Văn 12
999
Nghị luận xã hội – Sống chậm – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về vấn đề sống chậm Đề bài: Hai nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư và Lê Thiếu Nhơn có in chung một tập tản văn nhan đề là Sống chậm thời. Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về nhan đề tập sách nói trên. Hướng dẫn làm bài: Câu hỏi không bắt buộc phải nói về các tác giả Nguyễn Ngọc Tư, Lê Thiếu Nhơn cũng như đưa ra những thông tin về nội dung của cuốn sách Sống chậm thời Điều đáng quan tâm ở đây là tên cuốn sách vói khả năng khoi dậy những ý nghĩ tức thì của nó. Người làm bài cần trả lời đươc các câu hỏi: Thời @ có những đặc trưng gì? sống chậm là sống như thế nào? Vì sao cần phải sống chậm trong thòi này? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Thời đại hiện nay có thật nhiều tên gọi: thời đại toàn cầu hoá, thời đại internet, thời đại của nền kinh tế tri thức… Trong những tên ấy, có một cái tên rất ấn tượng: thời Kí tự @ từng xuất hiện cách đây rất lâu, nhưng đến nay mới được dùng phổ biến, trước hết là trong các địa chỉ e-mail. Dần dần, nó trở thành dấu hiệu đặc trưng của công nghệ thông tin cũng như của thời hiện đại. – Cuộc sống do con người tạo ra nhưng đến lượt mình, nó cũng có khả năng đẩy con người vào thế bị động. Muốn thoát khỏi tình thế này, con người phải tìm được đối sách thích hợp để thích nghi, để vượt lên, để có thể làm chủ hoàn toàn cuộc sống, sống chậm là một trong những đối sách ấy. Nó thể hiện một lựa chọn thông minh cho con người và do con người. – Chậm đối lập với nhanh, sống chậm đối lập với sống vội vã. Tuy nhiên, không nên hiểu sống chậm là kiểu sống khước từ những phương tiện có tốc độ cao như xe hơi, tàu cao tốc, máy bay hay hình thức truyền tải thông tin trên mạng toàn cầu… Thực chất, sống chậm là sống kĩ từng giây phút của đời mình; biết lắng vào suy tư; biết cảm thụ, hưởng thụ cuộc sống một cách đủ đầy, trọn vẹn, không bỏ lỡ những cơ hội được giao tiếp vói thiên nhiên; biết thường xuyên dừng lại soi xét bản thân… – Sống chậm không hề là một thái độ sống bảo thủ. Thực tế cho thấy, nó là một cách thích ứng tích cực đối với thời. Đừng tưởng sống chậm chỉ là chuyện của người có tuổi. Thanh niên lẽ nào không cần sống chậm? Mọi sự năng động luôn cần được xây dựng trên một nền móng tư duy sâu sắc, một thái độ hành xử chín chắn với cuộc đời!
Nghị luận xã hội – Sống chậm – Ngữ Văn 12
496
Nghị luận xã hội – vai trò của cá nhân đối với đời sống của chính mình – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về vai trò của cá nhân Đề bài: Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta? Hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề trên. Hướng dẫn làm bài Hiểu được ý nghĩa của hai từ thiên đường và địa ngục – những từ thể hiện thực tế khác nhau của cuộc sống, hiểu được vai trò có tính chất quyết định của cá nhân đối vói đời sống của chính mình. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Cuộc sống con người vốn muôn màu muôn vẻ, không ai giống ai. Sinh ra ai cũng muốn có được những điều tốt đẹp, nhưng thực tế nhiều khi không theo ý muốn, nguyện ước của chúng ta. Những nhân tố nào tạo nên sự khác biệt? Có thể tìm câu trả lời từ phía khách quan. Những từ phía chủ quan, vấn đề có thể được lí giải: cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, điều độ phụ thuộc phần lớn ở chính bản thân ta. – Thiên đường là viễn cảnh về một cuộc sống cực lạc trên trời theo quan niệm của Thiên Chúa giáo, nhưng ở đây được dùng nhằm chỉ cuộc sống tốt đẹp ở trần gian. Cuộc sống được xem là thiên đường khi con người được sống đầy đủ với tự do, hạnh phúc và nhân phẩm, được thoả mãn những ước vọng chính đáng cả về vật chất lẫn tinh thần. Đó cũng là cuộc sống mà con người biết yêu thương và được yêu thương, biết tôn trọng người khác và được người khác tôn trọng. Tuy nhiên, không phải bao giờ cuộc sống cũng đạt đến mức lí tưởng như thế. Vì vậy, nhiều khi con người chấp nhận mọi điều ở mức độ nào đó trong phạm vi khả năng thực tế, và thoả mãn những nhu cầu bình thường, giản dị. Nhờ đó, cuộc sống của con người dù còn những lo âu, trăn trở, nhưng vẫn được xem là một thiên đường trên mặt đất này. – Liệu con người có phải tự chịu trách nhiệm khi cuộc sống của bản thân hạnh phúc hay bất hạnh? Câu hỏi này không dễ dàng có được câu trả lòi dứt khoát. Muốn có sự sung sướng, hạnh phúc, trước hết con người cần được đáp ứng những nhu cầu về vật chất. Nhà cửa để ở, xe cộ để đi lại, tiền bạc để tiêu pha hằng ngày cho những nhu cầu thiết yếu, các phương tiện hiện đại để nâng cao sự thụ hưởng,… Tất cả những thứ đó đều phụ thuộc vào năng lực cá nhân. Cuộc sống sẽ trở nên vẹn toàn khi bên cạnh sự đầy đủ về vật chất, con người còn được thoả mãn những đòi hỏi về tinh thần, chẳng hạn: được đi tham quan, du lịch ở những nơi mình ưa thích, được thưởng thức nghệ thuật, được giải trí một cách lành mạnh… Và những điều này cũng không tự nhiên có được, mà là kết quả phấn đấu không mệt mỏi của chính bản thân ta. – thái độ sống của cá nhân đóng vai trò quyết định về sự sướng, khổ ở đời. – Tuy nhiên, nhiều trường hợp, con người không thể tự quyết về số phận, về cuộc sống của mình, mà phải chịu sự chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh. Rơi vào những tình trạng bi thương như bệnh tật, ốm đau, tai hoạ… hay những bất trắc không lường trước được, dù con người có nỗ lực đến đâu, bản thân cũng khó có thể vượt qua tai ương. Với những số phận như thế, cuộc sống không thể là thiên đường. Đau khổ, bất hạnh của họ có vơi bớt hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào sự chia sẻ, giúp đỡ của cộng đồng.
Nghị luận xã hội – vai trò của cá nhân đối với đời sống của chính mình – Ngữ Văn 12
688
Đề bài: Nghị luận xã hội "Giữa một vùng sỏi đá khô cằn,cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp" Bài làm Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp. Hình ảnh ấy tạo một cảm giác cô đơn,lạc lõng thậm chí là bị đày đọa nhưng bông hoa bé nhỏ ấy vẫn kiên cường,hiên ngang. Nó chống chọi với những điều đó với tất cả sức lực nhỏ bé mà bền bỉ, như cánh chim bé nhỏ chao lượn giữa cơn giông bão tìm đường về tổ và cuối cùng nó đã chiến thắng. Chiến thắng tất cả những khó kh ăn, gian khổ ấy mà trở thành một đóa hoa đẹp, bừng cháy sức sống, nó vượt lên những sỏi đá khô cằn, giữa nắng gắ t để trở thành một điểm chấm phá trên bức tranh hoang mạc nỏng bỏng và khắc nghiệt. Đó thực sự là một phép màu của Chúa, là một trong rất nhiều những điều kì diệu của cuộc sống này, như môt câu chuyện cổ tích. Và h ơn nữa, đó còn là một trong những bài học giản dị, sâu sắc và cũng tuyệt vời nhất mà cuộc sống đã dành tặng cho chúng ta. Giữa một vùng sỏi đá khô cằn,cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp Trong đời,ai ch ẳng đôi lần g ục ngã trước những khó khăn, thách thức…Tất cả như đám mây đen khổng lồ, che lấp những tia sáng của tương lai, làm cho chúng ta kiệt quệ,mỏ i mòn,mất ý chí chiến đấu, muốn buông xuôi. Và đây c ũng là lúc chúng ta đối mặt với chính mình, là thời khắc mà những quyết định sẽ ảnh hưởng đến quãng đời còn lại của chúng ta. Lòng dũng cảm,bãn lĩnh,sự quyết đoán…tất cả sẽ được thể hiện một cách rõ nét nhất. Kì diệu thay, có những người khi gặp khó khăn, trắc tr ở thì họ tr ở nên cứng rắn, mạnh mẽ hơn cho dù họ vẫn có thể thất bại nhưng họ đã cố gắng đến mức cuối cùng.Họ nhận thức được rằng,một khi họ buông xuôi, họ s ẽ mất tất cả.Công sức học hành bấy lâu,tiền bạc,thời gian…những thứ đó sẽ tan biến cùng với đám mây đen đang vần vũ trên bầu trời. Họ đã được Thượng đế ban cho một món quà mà không phả i ai cũng có: nghị lực. Với món quà đó,họ đã biến những nỗi tủi nhục,đắng cay thành một thứ vũ khí sắc bén mà không có một loại khí tài nào trên Trái đấ t này có thể sánh được. Họ đã vượt qua chông gai để xua tan đám mây đen ấ y. Và ánh sáng đã trở lại, tâm hồn họ có thể bị chai sạn,rách nát nhưng nó đã trở nên mạnh mẽ và thiêng liêng hơn bao giờ hết. Họ biết rằng dù con đường có đẹp đến mức nào cũng phải trả giá bằng những mũi gai đau đớn, bằng máu và nước mắt… “Chặng đường nào tr ải bước trên hoa hồng Bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai Ðường vinh quang đi qua muôn ngàn sóng gió Lời hứa ghi trong tim mình Vẫn bước đi hiên ngang đầu ngẩng cao….” (trích bài hát “Đường đến ngày vinh quang”) Nhưng cuộc sống đâu phải chỉ có những đ iều tuyệ t vời như thế, bên cạnh đó vẫn có những kẻ hèn nhác,yếu đ uối,chưa gì đã từ bỏ những ước mơ của mình.Họ sẵn sàng vứt bỏ tất c ả hoài bão để sống một cuộc đời vô vị,chán ngắt thậ m chí là tàn tạ,vật vờ.Họ như mộ t chiếc bóng lẻ loi đơn chiếc cứ đi đi về về trong cái xã hội nhộ n nhịp,năng động này.Suốt đời lẩn tránh, số ng ủ rủ và khi về già, chắc chắn h ọ sẽ nuối tiếc những tháng ngày lãng phí, không sống hết mình. Hối tiếc vì đã chấp nhận làm một bông hoa úa tàn, khô héo, không tô điểm cho đời. Vâng, chúng ta sẽ vượt qua tất cả khó khăn,trắ c trở. Cho dù con đường hoa hồng có nhiều gai đi thế nào chăng nữa thì nó vẫn là con đường của vinh quang,của thành công và theo một câu nói khá nổi tiếng thì trên con đường này ” không có dấu chân của kẻ lười biêng”. Thân xác có thể tả tơi,mỏ i mòn như ng ý chí ta vẫn luôn tồn tại một hạt giống – hạ t giống của khát vọng và hoài bão – rồi nó sẽ đâm chồi nảy lộc, sẽ tr ở thành một đóa hoa dại đẹp đẽ để tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta vượt qua những ghềnh thác cheo leo, đi đến bến b ờ của những giấc mơ. Đau đớn, tủi nhục, nước mắt sẽ tan biến khi chúng ta đi hết con đường và chạ m tay vào đỉnh vinh quang. Mặt trời sẽ chiếu sáng, vầng dương sẽ cài lên vai chúng ta vinh quang của những người chiến thắng, ta sẽ ngẩng cao đầu và tự hào vì chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi với những phút giây yếu mềm của bản thân và những gian nan chồng chất. Những bông hoa dại sau khi vượt qua những điều khắc nghiệt của thiên nhiên đã nở và… “Ngày đó, ngày đó sẽ không xa xôi Và chúng ta là người chiến thắng Ðường đến những ngày vinh quang không còn xa” Cuộc đời vẫn trôi đi, những khó khăn khác lại đến và chúng ta sẽ phải chiến đấ u một cách ngoan cường. Hãy sống và đấu tranh sao cho đến lúc sức tàn lực kiệt, ta không phải hối tiếc về những tháng ngày tuổi trẻ bị hoài phí. Những gian truân, vất vả sẽ trở thành những chiến công bất diệt trong trái tim của mỗi conngười. Vì loài hoa dại kia sẽ úa tàn và chúng ta cũng không sống mãi, nhưng những dấu chân mà chúng ta đã in trên đường đời, những thành công trong cuộc sống sẽ tô thắm cho bước tranh cuộc sống muôn màu kia, như loài hoa dại ấy đã gợi nên sức sống cho vùng sỏi đá khô cằn.
Nghị luận xã hội “Giữa một vùng sỏi đá khô cằn,cây hoa dại vẫn mọc lên và nở những chùm hoa thật đẹp”
1,073
Nghị luận xã hội “Lá lành đùm lá rách”- Văn lớp 9 Hướng dẫn Nghị luận xã hội “Lá lành đùm lá rách”- Văn lớp 9 Bài làm Nước ta có truyền thống giàu lòng yêu nước, chống giặc ngoại xâm, nhân dân đoàn kết yêu thương nhau. Dân tộc ta đã cùng nhau nắm tay vượt qua nhiều khó khăn trong lịch sử. Như chúng ta đã đoàn kết chống lại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh, tạo ra nhiều chiến công hiển hách trong lịch sử. Để có được thành tựu to lớn ngày hôm nay, để dân ta giàu mạnh, tự do thanh bình như hôm nay, cha ông ta đã hy sinh nhiều xương máu, của mình mới có được thành tựu đó. Trong thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn, thiên tai hạn hán lũ lụt thường xuyên đổ xuống khiến nhiều nơi người dân nước ta gặp hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu. Trong những lúc đó, phong trào nhường cơm sử áo, “Lá lành đùm lá rách” Lá rách ít đùm lá rách nhiều lại được phát huy cao độ. Dù là thời kỳ nào thì câu nói “Lá lành đùm lá rách” cũng là đạo lý đáng trân trọng của người dân chúng ta. Nó là bài học làm người sâu sắc thể hiện tinh thần tương thân tương ái giữa con người với con người trong cùng một cộng đồng, cần phải có tinh thần yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ, sẻ chia. Khi chúng ta mở rộng lòng mình ra để làm việc thiện chúng ta sẽ có thể cảm nhận sự ấm áp của tình người trong trái tim của mình. Chúng ta cảm thấy vui vẻ khi làm được gì đó ý nghĩa. Lá lành đùm lá rách chính là một việc làm ý nghĩa của những con người có hoàn cảnh khấm khá hơn những người lang thang cơ nhỡ, những người ốm đau bệnh tật trong xã hội. Như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết rằng Sống trong đời sống. Cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?Để gió cuốn đi Những câu hát thể hiện tình người trong cuộc sống, là điều vô cùng ý nghĩa. Nó sẽ giúp con người sống lương thiện, gần gũi xích lại gần nhau hơn. Khi chúng ta làm việc thiện chúng ta sẽ cảm thấy niềm vui trong những hành động cao quý, ý nghĩa đó. Cuộc sống của con người không ai nói trước điều gì, có thể hôm nay chúng ta khỏe mạnh, giàu có đầy đủ nhưng ngày mai biết đâu chúng ta gặp khó khăn hoạn nạn. Chính vì vậy, khi chúng ta giúp đỡ người khác cũng có nghĩa là đang giúp đỡ chính mình, bởi cuộc sống theo lời phật dạy đều có luật nhân quả. Truyền thống đùm bọc yêu thương chăm sóc người khác có hoàn cảnh khó khăn hơn mình đã có từ rất lâu. Nó thể hiện qua nhiều câu nói của ông cha để lại cho con cháu mình như Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng một giống nhưng chung một giàn Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Một đất nước muốn phát triển vững mạnh, giàu có thì những con người trong đất nước đó cần phải có tấm lòng yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vượt khó tạo những thành tựu tốt đẹp, xóa đói giảm nghèo. Tình cảm yêu thương, tinh thần nhường cơm sẻ áo biết quan tâm giúp đỡ những số phận, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, những người già neo đơn, trẻ em lang thang cơ nhỡ là một việc làm vô cùng ý nghĩa. Nó là những bông hoa tươi thắm dâng hương cho cuộc đời này tươi đẹp hơn. Tuy nhiên, trong xã hội của chúng ta hôm nay bên cạnh những người có tấm lòng lương thiện, biết chia sẻ giúp đỡ người khác gặp khó khăn hơn mình, thì vẫn còn những con người sắt đá, ích kỷ không biết giúp đỡ người khác. Sống chết mặc bay một mình mình hưởng hạnh phúc. Câu tục ngữ “Lá lành đùm lá rách” muốn khuyên răn con cháu phải biết yêu thương giúp đỡ người xung quanh mình đừng sống ích kỷ tham lam.
Nghị luận xã hội “Lá lành đùm lá rách”- Văn lớp 9
724
Đề bài: Nghị luận xã hội "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" Bài làm Trong cuộc sống, chúng ta thường dùng lời nói để trao đổi thông tin, để diễn đạt ý tưởng hoặc để bày tỏ, biểu lộ tâm tư tình cảm của mình… Nói chung, nhờ lời nói mà con người có thể hiểu nhau và dễ đến gần nhau hơn. Nói thì dễ nhưng nói như thế nào để không mất lòng người nghe, nói như thế nào để “lọt” đến xương, nói làm sao để “mật ngọt chết ruồi” thì không dễ chút nào. Vì thế cha ông ta có lời khuyên: “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”… Tâm lý chung của con người là thích nghe ngọt. Những lời nói tốt đẹp không làm chúng ta tốn kém tiền bạc hay hao tổn sức lực, nhưng nó đem lại nhiều ích lợi và làm cho người nghe được an ủi, khích lệ và làm cho tình thân giữa ta với người khác được thêm thắm thiết đậm đà. Dĩ nhiên, chúng ta không nên vì “lựa lời” mà nói với nhau những lời giả dối. Trái lại, chúng ta cần nói thật với nhau bằng tấm lòng yêu thương. Lại có một câu chuyện kể lại rằng: Ngày xưa có một ông vua nước Ai-cập gửi cho nhà hiền triết Bias một con vật vừa quý lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng, ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triết một vố, bèn phán: – Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quý hiếm ấy. Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi trao cho ông vua. Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng: – Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng. Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín; nhờ đó bắc lấy một nhịp cầu cảm thông. Lưỡi đóng một vai trò quan trọng như vậy, song cái lưỡi cộng với lời nói lại chính là nguyên cớ làm cho chúng ta dễ vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm ở bất kỳ đâu, trong bất cứ lúc nào và với bất kỳ ai. Tục ngữ cũng đã có câu: “Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi”. Hay: “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Một lời nói thiếu suy nghĩ được sánh ví như đổ thêm dầu vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu huỷ hết tình ruột thịt cũng như tình nghĩa anh em. Hơn nữa, trong cộng đoàn tu trì gồm những con người từ “khắp tứ phương thiên hạ”, mỗi người mỗi tính ***, mỗi người một kiểu sống khác nhau, nên không thể tránh được hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền… Nhiều khi chính chúng ta lại là những người gây ra những đau khổ, buồn phiền cho người khác chỉ bằng những lời nói thiếu cân nhắc trước sau. Cụ thể ngay trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi có thể vô tình thôi, chúng ta chọc ghẹo anh chị em mình bằng những lời nói nghe hơi… “rát tai”, nghe mà “đau nhói cả tim”. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn nói cho sướng cái miệng của mình, nhưng lại không để ý đến nỗi đau của người anh chị em mình khi phải nghe những lời chọc ghẹo đó. Do vậy, trong cộng đoàn tiếng cười là cần thiết, nó đem lại niềm vui cho cộng đoàn là điều cần làm và nên làm. Nhưng chúng ta cũng cần phải ý tứ hơn nữa trong những lời chọc vui để những lời chọc vui đó không những đem lại niềm vui cho mình mà còn làm cho người bị chọc cũng được vui cười thoải mái. Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn của chúng ta. Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ, một phần lớn là do cái lưỡi và lời nói của chúng ta. Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mỗi người, như một câu danh ngôn đã dạy: “Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự, còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang”. Bởi đó, ta cần phải biết đắn đo cân nhắc trong cách ăn nói của mình để tránh đi những hiểu lầm, đau khổ cho người khác. Phải sử dụng lời nói như một phương tiện, giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau hơn “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi” là vậy. Ý thức được tầm quan trọng của ngôn từ, chúng ta hãy chú ý những ngôn từ chúng ta dùng trong ngày. Phải có trách nhiệm khi sử dụng ngôn từ, bởi vì qua những lời chúng ta nói, chúng ta có thể đem lại niềm vui Phục sinh nhưng cũng có thể đem lại đau khổ thập giá cho những anh em trong cộng đoàn và chúng ta cũng nên lắp đặt một… “Cái thắng” vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “stop” lại đúng nơi và đúng lúc. Để kết thúc, xin mượn câu nói của cha ông ta nói về ngôn từ: “Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Hoặc: “Lựa lời mà nói khó thay Tiếng chì, tiếng bấc thường hay “chàng ràng” Khi ai mở miệng nói ngang Thì ta chắc chẳng ngại “phang”…. “mỹ từ” Một tia lửa nhỏ sơ sơ Khu rừng lớn mấy mặc dù, cháy tiêu Giữa ngàn thế sự đảo điên Có ai áp dụng lời khuyên bao giờ Lời nói không mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Nghị luận xã hội “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
1,018
Đề bài: Nghị luận xã hội "Rừng vàng biển bạc" Bài làm Ở nền giáo dục phổ cập của nước ta, trẻ em được dạy rằng "Việt nam là một nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng". Nhưng ở nước Nhật trẻ em được giáo dục rằng dất nước họ không có nhiều tài nguyên khoáng sản như nhiều nước khác nên chúng cần phải học tập thật chăm chỉ để khi lớn lên tìm cách sử dụng, đổi mới nền công nghệ do cha ông để lại. Như vậy qua nền giáo dục thì đã tạo nên thói quen ỷ lại cho thế hệ trẻ, chúng không cần cố gắng học tập để phát triển đất nước vì chúng thấy đất nước mình đã quá đầy đủ. Cho đến khi lớn lên nhiều người lớn vẫn kiếm sống bằng nghề ‘ chặt phá, đốn hạ thiên nhiên. Đó là vì nhiều năm trước thế hệ trẻ nước ta vẫn chưa được giáo dục đúng về thực trạng tài nguyên nước ta, nhiều người cho rằng phần lớn lỗi là do nền giáo dục. Trước tình trạng lũ lụt, dông bão, hạn hán xảy ra liên miên trên nước ta thì nhiều công ty, xí nghiệp vẫn thản nhiên tàn phá, khai thác một cách triệt để rừng phòng hộ, tài nguyên biển để khai thác titan, dầu khí, các loại lâm, khoáng, thủy sản,… để xuất khẩu ra nước ngoài, để kiếm lợi nhuận cho chính họ trong khi nước ta phải nhập các loại hàng hóa giả từ Trung Quốc về bán cho người dân nước ta. Vậy thì vấn đề nào cần được giải quyết? Chúng ta biết nhiệm vụ của người lớn, của các nhà giáo dục là chỉ cho ta hiểu biết, chỉ cho ta cách sống, có nhận thức đúng về vai trò của chính mình trong xã hội, nhận thức về đất nước ta, từ đó hình thành kiến thức, các thói quen nhân sinh xã hội. Câu thành ngữ “ Rừng vàng biển bạc “ là câu nói quen thuộc của ông cha ta chỉ sự giàu có trù phú của nước ta về tài nguyên thiên nhiên. Câu nói thể hiện lòng tự hào, niềm yêu quý của đối với của cải, giang sơn gấm vóc của dân tộc Đại Việt. Chúng ta có thể tự hào rằng nước ta có đường bờ biển dài 3260km, phần biển có diện tích hơn 1000000km vuông, ở trong miền nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên đa dạng, có nguồn khoáng sản phong phú, nhiều đồng bằng rộng lớn, có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng phù sa lớn, có hàng chục nghìn loài sinh vật sống và phân bố khắp mọi miền đất nước, có rừng nhiệt đới gió mùa,… tạo nên nhiều hệ sinh thái khác nhau. Nhưng không lẽ trong tự nhiên nước ta phong phú là thế chẳng lẽ lại nói rằng tài nguyên nước ta khan hiếm, đất đai xơ xác, khô khan là xuyên tạc sự thật chăng? Không thế hệ trẻ vẫn có thể được biết để tự hào, yêu quý dân tộc ta. Thế hệ trẻ cần phải biết như thế nào để bảo vệ và giữ gìn sao cho tốt nhất. Các nhà giáo dục phải hướng dẫn cho ta hành động chứ không phải nói là nói những lời nói suông! Chính bản thân thế hệ trẻ phải tự mình hành động không nên chỉ dựa dẫm vào thời đi trước được. Tài nguyên thiên nhiên nước ta rất phong phú đa dạng về tài nguyên rừng cũng như tài nguyên biển. Nhưng con người ta phải biết cách khai thác hợp lý để trở thành vàng bạc thực sự. Nhưng mình thấy ở nước ngoài cũng rất giàu tài nguyên nhưng họ không khoe như mình mà họ chỉ đầu tư và các phương án khai thác nâng cao‘rừng vàng biển bạc’chỉ đúng với một khía cạnh nào đó, tức là nó chỉ đúng khi con người chúng ta biết khai thác sử dụng đúng cách,chứkhông thể đi phá cây, chặt rừng mà gọi là ‘rừng vàng, biển bạc’ được. Xuất phát từ mong muốn giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào cho nhân dân và giới trẻ, Bác Hồ phát biểu “rừng vàng biển bạc “nhằm khẳng định những thuận lợi trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt khi nói đến đây Chủ tịch luôn nhấn mạnh việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quý giá cho thế hệ sau. Rừng là vàng, biển là bạc thì nếu phá rừng thì tiêu hủy vảng, phá biển là đốt bạc còn gì! Như vậy thông qua lời nói Bác Hồ đã phê phán mạnh mẽ tệ nạn phá rừng, phá biển hủy hoại tài nguyên thiên nhiên. Những ý kiến của Người vẫn còn vang vọng tới thời nay, nhắc nhở chúng ta về việc bảo vệ tài nguyên mà chúng ta đang có. Như vậy, việc bảo vệ rừng trong tầm tay của chúng ta, nhưng tùy vào ý thức của mọi người mà thôi. Nếu ta không biết giữ gìn và bảo vệ thì tài nguyên sẽ hao tổn, biến mất trước mắt, người mẹ thiên nhiên sẽ nổi giận và đến chính con người chúng cũng chẳng thể bảo vệ mình được, khi đó có hối hận cũng không kịp nữa. Ai cho rằng việc giáo dục như trên là gián tiếp tệ nạn phá rừng, đánh bắt hải, thủy sản sai trái,.. là hết sức sai lầm. Điều đó chỉ phụ thuộc vào ý thức và hành động của mỗi con người chúng ta thôi! Chúng ta hãy hành động để bảo vệ “ rừng vàng biển bạc”.
Nghị luận xã hội “Rừng vàng biển bạc”
958
Đề bài: Nghị luận xã hội "Sống, phải học hỏi" Bài làm Hồ Chủ Tịch, vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người là ánh đuốc sáng soi đường trong đêm tối, là niềm tin vững trãi chốn lao tù, là khát vọng, là lương tri của loài người tiến bộ, người còn là một tấm gương tự học và học tập suốt đời. Người đã để lại nhiều câu nói nổi tiếng có giá trị như những lời răn dạy cho con cháu đời sau. Có lẽ không ai là không biết câu: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Sống, phải học hỏi Vậy Học hỏi là gì? Học hỏi là tiếp thu tri thức của nhân loại từ sách vở, từ cuộc sống, từ những người xung quanh ta. Học hỏi là một quá trình lâu dài chứ không thể trong một thời gian ngắn bởi vậy Bác Hồ nói đó là việc phải tiếp tục suốt đời, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. Cuộc sống ngày càng phát triển không ngừng và tri thức nhân loại thì vô tận và mỗi giây mỗi phút trôi qua là bao tri thức mới được ra đời., nếu không chịu học hỏi nâng cao tầm hiểu biết của mình thì sớm muộn gì cũng sẽ bị tụt hậu và bị đào thải khỏi cuộc sống hiện đại. Học phải đi đôi với hỏi để hiểu sâu sắc kiến thức, biến tri thức thành của mình chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động. Bác Hồ là một tấm gương sáng ngời của một người học hỏi không ngừng. Bác học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Người biết và sử dụng thông thạo trên mười ngoại ngữ nhờ tự học chứ không qua một trường đào tạo chính quy nào. Người học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân. Người học từ thực tiễn sinh động ở các nước đế quốc, nước thuộc địa, ở phong trào cách mạng trên thế giới. Như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: …Đời bồi tàu lên đênh theo sóng bể Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi Những đất tự do những trời nô lệ Những con đường cách mạng đang tìm đi… Phát biểu với sinh viên trường đại học Băng Đung trong chuyến thăm Indonesia năm 1959, Người nói đại ý: “Khi còn trẻ, tôi không có dịp đến trường học. Cuộc sống, du lịch và làm việc là trường đại học của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử và chính trị. Nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hòa bình; căm ghét áp bức, ích kỷ…” Sau này, khi đã lớn tuổi, thành người đứng đầu một nhà nước độc lập, dù thời bình hay thời chiến, Người vẫn tích cực học, học trong thực tế, học suốt đời. Nói chuyện với đảng viên, Bác phê phán đảng viên mới 40 tuổi mà đã cho là mình già nên ít chịu học tập và nói rõ là mình 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm rồi kêu gọi “chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học”. Người nói với cán bộ đã kết thúc một khoá huấn luyện là “anh em sẽ còn phải học nữa, học mãi khi ra làm việc”. Người còn nhắc nhở cán bộ cơ quan “mỗi ngày ít nhất phải học tập một tiếng đồng hồ” và xem việc cán bộ đảng viên vì bận việc hành chính hoặc quân sự mà xao nhãng chuyện học tập là “một khuyết điểm rất to”. Người còn dặn phải “biết ham học”. Rõ ràng là từ mức giác ngộ về nghĩa vụ – biết tại sao cần phải học – tiến đến mức “ham học” là đạt đến mức giác ngộ cao, là một sự thay đổi về chất bởi khi ta ham học thì tự việc học đã đem lại sự thoả mãn, thích thú trong người, ta sẽ tìm đến việc học một cách tự giác, hăm hở và khi đó việc học chắc chắn sẽ có hiệu quả cao.Người nhắc nhở “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”, những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một “hạt nhân bé nhỏ” mà người học “sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả”. Người khẳng định là trong cách học thì “lấy tự học làm cốt”. Có thể thấy Hồ Chí Minh đã rất coi trọng trách nhiệm tự học của chính người học, tự học thêm để làm chủ được tri thức, để biến hạt hiểu biết cơ bản được gieo xuống ban đầu trong đầu óc mình nảy nở thành cây tri thức vững chãi. Người còn quan niệm việc mở mang giáo dục không chỉ là lập trường cho người lớn và trẻ em, lập ấu trĩ viên cho trẻ con mà còn phải “lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân”. Với tầm nhìn xa của mình, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò không thể thiếu được của các thiết chế văn hoá trong sự nghiệp mở mang trí óc cho nhân dân. Câu nói của Bác ra đời đã lâu nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Mỗi người Việt Nam phải học theo lời dạy của Người để không ngừng tiến bộ. Tuy Bác đã ra đi nhưng người mãi là tấm gương sáng ngời của một con người suốt đời học hỏi. Bác đã lên đường, theo tổ tiên Mác – Lê-nin, thế giới người hiền Ánh hào quang đỏ thêm sông núi Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!
Nghị luận xã hội “Sống, phải học hỏi”
1,017
Đề bài: Nghị luận xã hội "Tình thương là hạnh phúc con người" Bài làm Có bao giờ bạn tự hỏi: “Chúng ta đã đối xử thế nào với mọi người xung quanh?” hoặc “Bạn cảm thấy thế nào nếu đối xử tốt với ai đó?”. Có thể bạn sẽ thấy vui vì “Tình thương là hạnh phúc của con người”. Nếu có một gia vị làm tăng thêm hơi ấm và ý nghĩa trong cuộc sống… đó chính là tình yêu thương. Nếu có một tình cảm thiêng liêng giúp chúng ta vượt qua bao khó khăn,thử thách đó chính là tình yêu thương”. Tình thương là hạnh phúc con người Sự ân cần, ấm áp cảu tình thương thật đẹp! Với tình thương đó,chúng ta có thể chia sẽ những cảm xúc và thấu hiểu lẫn nhau. Tình yêu thương giúp chúng ta trong lúc khó khăn bởi vì nó giúp ta kết nối ngôn ngữ trái tim. Có tình thương chúng ta cùng sát cánh bên nhau khắp mọi nẻo đường đời. Có tình thương, chúng ta cùng ươm mầm cho trái tim hoài bão và khát vọng. Qua đó, chúng ta có thể thấy rõ:” Tình thương là hạnh phúc của con người”. Trên thế gian này, có rất nhiều cách để định nghĩa tình thương nhưng nhìn chung tình thương yêu là một cảm giác đến từ sự chân thành cảu trái tim, nó vô cùng đơn giản, mộc mạc, không mang những mưu toan, tính toán và tình thương hiện diện khắp mọi nơi. Hạnh phúc là cảm giác vui vẻ, sung sướng hay đơn giản chỉ là sự thanh tịnh trong tâm hồn. Chính vì mà tình thương yêu và hạnh phúc luôn tồn tại trong nhau. Xã hội ngày nay luôn bận rộn trong guồng máy công việc, con ngừoi luôn phải chạy đua với thời gian, nhưng không vì thế mà tình thương yêu giữa người và người bị mất đi. Ở đâu đó vẫn còn rất nhiều những tấm lòng chan chứa yêu thương luôn rộng mở. Có rất nhiều bạn học sinh, sinh viên tham gia các chiến dịch “Mùa hè xanh”, “Hoa phượng đỏ” để giúp đỡ những người kém may mắn.Các bạn không quản khó khăn để mang con chữ đến cho các bạn vùng sâu vùng xa. Hay như bản thân chúng ta, khi trung thu đến ta vẫn thường quyên góp lồng đèn giúp các em nhỏ vui tết Trung thu. Tất cả những điều đó đã phần nào chứng minh cho tình yêu luôn hiện hữu ở tất cả mọi nơi. mặt khác tình thương còn là tấm lòng người mẹ, ngừoi cha, người ông, người bà, … đối với con cháu. Họ cả đời lo lắng, chăm sóc, dành những gì tốt nhất cho người thân yêu. Thế đấy, sự thương yêu muôn màu muôn vẻ với muôn nghìn sự thể hiện. Nó tồn tại ở khắp mọi nơi và trong nhiều mối quan hệ từ bạn bè, gia đình đến xã hội. Thế nhưng tấm huy chưong nào cũng có mặt trái của nó, tình yêu cũng vậy. Nếu chúng ta không đặt đúng chỗ, không mang đến cho những người cần thì nó sẽ trở thành một tác nhân xấu cho gia đình và xã hội. Ví như một người mẹ thì lúc nào cũng yêu thương con nhưng nếu người mẹ đó lầm tưởng rằng yêu thương là cưng chiều thì sớm muộn đứa con ấy sẽ trở nên hư hỏng vì chúng cho rằng chúng là nhất. Không những thế, cuộc đời muôn hình vạn trạng, có người tốt cũng có kẻ xấu. Tuy xã hội có rất nhiều người tình yêu thương vô bờ đối với mọi người xung quanh nhưng cũng tồn tại những kẻ ích kỷ.Những người đó chỉ biết cuộc sống của mình, họ không quan tâm đến bất cứ ai. Họ không hề biết rằng cuộc đời là tập hợp của rất nhiều số phận may mắn, bất hạnh. Vì vậy những số phận may mắn cần dang rộng vòng tay yêu thương để giúp đỡ những số phận bất hạnh, giúp họ vượt qua khó khăn của cuộc đời. Trên thế gian này, không có vị thần nào đẹp hơn thần mặt trời, không có ngọn lửa nào đẹp hơn ngọn lửa yêu thương. Chúng ta hãy mở rộng cánh của trái tim, mở rộng tấm lòng yêu thương, mang tình yêu đến với mọi ngừoi. Vì như ta không những hạnh phúc đến cho mọi ngừơi, cho chính mình mà còn giúp những người bất hạnh hiểu rằng thế giới này vẫn vô cùng ấm áp tình người.
Nghị luận xã hội “Tình thương là hạnh phúc con người”
774
Đề bài: Nghị luận xã hội "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn" Bài làm Ông cha ta xưa kia đã nhận thức rất đúng đắn về sự cần thiết của việc mở rộng tầm nhìn,tầm hiểu biết đối với mỗi người nên đã khuyên nhủ,động viên con cháu: “Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”. Xã hội Việt Nam trước đây là xã hội phong kiến còn nhiều bảo thủ,lạc hậu.Người dân quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn trong lũy tre xanh,ranh giới của cộng đồng làng xã.Có người suốt đời chẳng bước ra khỏi cổng làng.Số người được đi xa để ăn học hoặc làm việc rất hiếm hoi.Vì vậy mà trình độ hiểu biết của mọi người nói chung rất thấp và khó mà mở rộng hoặc nâng cao lên được. Tuy vậy,trong sự ràng buộc của tư tưởng bảo thủ,lạc hậu,vẫn lóe lên những tia sáng nhận thức về sự cần thiết phải học hỏi để nâng cao hiểu biết.”Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”.Chỉ cần “đi một ngày đàng” (ý nói thời gian ít ỏi và quãng đường không xa là bao so với nơi ta sinh sống) thì ta đã học được “một sàng khôn”.Đây là hình ảnh cụ thể,gần gũi được dùng để thể hiện một khái niệm trừu tượng là sự hiểu biết của con người.Nếu chịu khó đi xa thì ta sẽ học được nhiều bài học bổ ích trong cuộc đời,bởi trên khắp các nẻo đường đất nước,nơi nào cũng có vô vàn những điều hay,điều lạ. Để động viên tinh thần học hỏi của con cháu,ông cha xưa đã có những câu ca dao nội dung tương tự như câu tục ngữ trên: “Làm trai cho đáng nên trai-Phú Xuân cũng trải,Đồng Nai cũng từng”;”Làm trai đi đó đi đây-Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”.Điều đó chứng tỏ ông cha ta đã nhận thức được việc đi xa để học hỏi là điều quan trọng,cần thiết và đáng khuyến khích. Trình độ hiểu biết tạo điều kiện cho ta làm việc tốt hơn,đạt hiệu quả cao hơn,giúp ích cho gia đình,xã hội được nhiều hơn.Hiểu biết càng nhiều,con người càng có cách xử thế đúng đắn trong quan hệ gia đình và xã hội. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay,việc học tập để mở mang nhận thức và hiểu biết của mỗi người càng trở nên cấp bách.Muốn xóa bỏ tình trạng lạc hậu,muốn rút ngắn sự cách biệt giữa nước ta và các nước phát triển trên thế giới,chúng ta chỉ có một con đường là học: “Học,học nữa,học mãi” như lời Lenin đã dạy.Vấn đề đặt ra là phải học những điều hay,lẽ phải,những điều thiết thực,bổ ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước.Không nên học theo điều dở,điều xấu,có hại đến bản thân,gia đình và xã hội. Hiện nay,việc đi đó đi đây không còn là chuyện hiếm có như ngày xưa.Ai cũng có quyền tự do đi lạ,học hành,kể cả ra nước ngoài.Học hỏi bằng con đường tham quan,du lịch;học hỏi bằng con đường du học…Nhưng mục đích cuối cùng vẫn là để tiếp thu những kinh nghiệm,những kiến thức khoa học mới mẻ,tiên tiến của nhân loại,nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển Việt Nam thành một đất nước giàu mạnh mà vẫn giữ được bản sắc và truyền thống dân tộc. Học hỏi không phải là chuyện ngày một,ngày hai mà là chuyện của cả đời người.”Học ở trường,học trong sách vở,học lẫn nhau và học ở cuộc sống”.Việc nâng cao hiểu biết là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi người.Vì vậy chúng ta phải có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn để đạt được hiệu quả cao.Có tri thức,chúng ta mới làm chủ được bản thân,mới đóng góp hữu ích cho gia đình,xã hội.”Học vấn làm đẹp con người”-đó cũng là điều ông cha muốn nhắn gửi đến chúng ta.Câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng,học một sàng khôn” là lời khuyên quý báu của người xưa;đến nay nó vẫn là bài học quý báu đối với tuổi trẻ trên con đường tạo dựng sự nghiệp.
Nghị luận xã hội “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”
691
Nghị luận xã hội: Người chỉ biết sống vì mình thì sẽ trở thành người thừa với những người còn lại Hướng dẫn Nghị luận xã hội: Người chỉ biết sống vì mình thì sẽ trở thành người thừa với những người còn lại Chắc hẳn mỗi người trong chúng ta ai cũng đã từng nghe tới địa danh Biển Đen. Đó là một hồ nước chứa rất nhiều muối mặn chát cả nước trong hồ. Không có bất kì một sinh vật sống nào có thể tồn tại được ở trong lòng của biển Đen. Nguyên nhân chính là do nước ở biển Đen không hề chảy ra tới bất kì một nơi nào. Thậm chí, nó cũng không hề nhận thêm nước ở bất kì nơi đâu. Chính điều đó đã làm cho nước hồ càng ngày càng mặn, và theo thời gian, nước hồ nay đã mặn tới mức mà không có bất kì một sinh vật nào có thể tồn tại được ở nơi đây. Cũng giống như con người vậy. Nếu như con người chỉ toàn sống vì chính bản thân mình thì người đó sẽ trở thành người thừa đối với những người còn lại. Chúng ta ai cũng có cuộc sống của chính bản thân mình và có quyền được lựa chọn cách mà mình sẽ sống như thế nào cho đúng. Có những người sống một cách ích kỉ, nhú nhatt. Lúc nào họ cũng chỉ biết nghĩ tới bản thân mình sẽ được những gì mà không hề nghĩ tới những người ở bên cạnh, thậm chí là người thân của chính họ. Thế nhưng, lại cũng có những người họ luôn sống bằng một thái độ tích cực, luôn giúp đỡ những người ở xung quanh mình và cố gắng hoàn thành những ước mơ của chính bản thân mình. Và chúng ta đều thấy được một điều rằng, chỉ có những người luôn quan tâm tới người khác mới có thể nhận được tình cảm đáp lại của mọi người, khẳng định được mình đang sống một cách thực sự. Bằng cách như vậy, chúng ta thấy được chúng ta cũng đang được sống, được là chính mình, là một phần của thế giới và được mọi người coi như là một phần của cuộc sống họ. Đó chính là một thành công của con người ấy. Tình cảm con người là một điều gì đó vô cùng thiêng liêng. Nếu như chúng ta chịu hi sinh vì người khác thì tin rằng, sẽ có một ngày, cũng có những người hi sinh lại vì bạn như vậy. Đó chính là quy luật nhân quả. Ai cũng có thể nhận thấy rõ ràng một điều rằng, những khi mà chúng ta sống cùng những người ích kỉ và chỉ biết sống vì chính bản thân mình thì họ luôn mong muốn nhận hết những điều tốt đẹp về họ và không chịu chia sẻ cho cho bất kì một ai. Chính bởi vậy mà những người bên cạnh họ lại phải nhận những khó khăn và vất vả thay phần của họ. Hình ảnh đó không hề thiếu trong cuộc sống ở xung quanh chúng ta khắp mọi nơi như trong lớp học, trên xe bus hay ở công viên… Và có một điều đáng buồn rằng những người như vậy lại càng ngày càng nhiều hơn. Ví như một ví dụ ngay trên xe bus. Có rất nhiều những thanh niên còn trẻ, còn khỏe vậy mà khi đi trên xe bus, họ được ngồi mà vẫn dửng dưng, không muốn nhường ghế cho những ông, bà già trên xe. Đó quả là một hành động vô cùng đáng buồn. Nếu như họ chỉ cần hi sinh, chia sẻ một chút, côi những ông bà già kia như chính ông bà của mình thì chắc hẳn đã không xảy ra tình trang như vậy. Có những khi chúng ta tự hỏi rằng bản thân họ có khi nào tự nhìn lại chính bản thân mình và ân hận vì những hành vi của mình hay không? Có lẽ là không. Bởi những người như vậy ngày càng xuất hiện nhiều trong cuộc sống của chúng ta. Họ không còn quan tâm tới những người xung quanh nữa. Lí do của sự thay đổi trong xã hội này là ở chỗ, chính những điều này không được người lớn dạy cho con cái của mình khi chúng còn nhỏ, và cũng bởi chính sức mạnh của đồng tiền. Trước những cám dỗ của đồng tiền thì những việc làm sai trái khiến cho con người không nhận thấy sự hối lỗi, họ cũng không còn nhận biết thế nào là tự trọng và liêm sỉ. Để trở thành những “ người này người kia” mà thậm chí họ không còn cố gắng tự đi lên bằng chính khả năng của mình mà chỉ trông chờ vào việc lấy thành tích và công sức của người khác. Sống không chỉ là chỉ biết tới bản thân mình mà còn phải chia sẻ với những người xung quanh. Có như thế, chúng ta mới nhận ra được ý nghĩa thực sự của cuộc sống này và thấy được cuộc đời tươi đẹp như thế nào
Nghị luận xã hội_ Người chỉ biết sống vì mình thì sẽ trở thành người thừa với những người còn lại
878
Nghị luận xã hội: Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó Hướng dẫn Nghị luận xã hội: Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó Trong cuộc sống của chúng ta có biết bao nhiêu câu nói hay mang ý nghĩa về con người và cả những cái xung quanh ta. Có câu nói:”Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó”. Câu nói này nhằm muối nói tới vị trị con người trong cuộc sống. Vậy hiểu một cách sâu sắc thì nó nhấn mạnh điều gì? Đời người được ví như đại dương bao la thì ngược lại con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương ấy. Câu nói mang tới cho chúng ta những cặp đối lập nhau để nói lên một ý nghĩa chân thực nhất. Đó là lấy sự nhiều để chỉ cái ít, lấy cái mênh mông vô tận để chỉ cái nhỏ bé hữu hạn. Có thể nói ý nghĩa của câu nói đó là sự giao thoa giữa cuộc đời của mỗi con người và một con người. Đời người chính là cái để chỉ sự nhỏ bé của con người. Trong mỗi chúng ta đều có một cuộc đời nhưng nó không hề kéo dài vô hạn mà hữu hạn giống như hạt nước nhỏ mà thôi. Trong chúng ta không ai có thể tránh được cái chết, vì thế mà thay vì trốn chạy thì hãy sống sao cho có ý nghĩa, sống làm sao cho có ích. Nếu như bạn là một đại dương hay nói cách khác, bạn sống được một đời người thì cuộc đời bạn sẽ ra sao. Nếu như thế thì bạn có đủ cả một khoảng thời gian để cống hiến, để tận hưởng. Khi ấy bạn chính là trung tâm của vũ trụ liệu rằng bạn có thể bỏ mặc tất cả để trốn tránh trách nhiệm của mình được hay không? Không thể đúng không nào. Một khi bạn cho mình quyền cai trị trên thế giới này thì đồng nghĩa với việc bạn không có quyền từ bỏ chúng, nếu như bạn buông xuôi thì bạn chính là một người hẹp hòi, hèn nhát, và yếu đuối mà thôi. Nếu như bạn sống được ít thời gian nhưng nếu như bạn làm được nhiều cái có ích thì việc đó cũng sẽ làm cho mọi người nhắc tới bạn. Tuy bạn sống ít nhưng khi bạn mất đi thì mọi người luôn nhớ tới. Như vậy,dù chỉ là một hạt nước thôi nhưng nó cũng có tầm quan trọng không kém. Tóm lại, trong cuộc sống thì không mấy ai sống được hết một cuộc đời trọn vẹn tới trăm nă cả, chỉ biết rằng trong mỗi con người chỉ có thể sống một phần ít trong số tuổi đời tối đa ấy. Kể cả cho dù có sống ít nhưng bạn làm người có ích thì bạn vẫn sống mãi muôn đời. Cái sống đó chính là sống tâm tương tinh thần chứ không phải là sống thể xác. Mất đi rồi nhưng mọi người luôn biết tới bạn. Nguồn: Bài văn hay
Nghị luận xã hội_ Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó
566
Nghị luận đức tính khiêm nhường Hướng dẫn Bàn về đức tính khiêm nhường Mở bài: Quan hệ tốt trong cuộc sống tùy thuộc vào nhân cách tốt của mỗi người. Nhân cách được hình thành từ giáo dục và môi trường xung quanh. Một trong những yếu tố cần để tạo nên sự hội nhập của mọi người là đức tính khiêm nhường. Thân bài: Thế nào là khiêm nhường? Khiêm nhường là từ ghép của khiêm tốn và nhường nhịn. Đó là thái độ không tự đề cao mình, luôn học hỏi ở người khác, biết kính trên nhường dưới. Nghĩa của khiêm nhường còn được hiểu như một bản chất tốt phải có trong cách đối nhân xử thế giữa người và người. Tại sao cần phải có đức tính khiêm nhường? Khiêm nhường gây được thiện cảm với người xung quanh, tạo nên mối quan hệ gần gũi, thân thiện (dẫn chứng) Một học sinh khiêm nhường sẽ tập hợp được sức mạnh trí tuệ quanh bạn giúp việc học tập tốt hơn, đẩy mạnh các phong trào trong lớp. Người biết khiêm nhường sẽ học tập được nhiều điều hay của người khác. Nghe nhiều hơn nói là hành động khéo léo của người khôn ngoan. Người không khiêm nhường, tự cao tự ái, khiêu ngạo sẽ khó thành công trong công việc, không chịu học hỏi bất cứ ai. Từ đó kiến thức sẽ bị thu hẹp nẩy sinh thành kiến, đố kị và dẫn đến thất bại. Khiêm nhương là một những phẩm chất cao quý trong xã hội ngày nay mà Bác Hồ đã dạy thiếu niên Việt Nam: khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Đó là hướng phấn đấu của thế hệ chúng ta trong quá trình thế giới tiếp thu tri thức tiên tiến, nâng cao trình độ để xây dựng đất nước thành công, khiêm nhường không có nghĩa là tự ti, mặc cảm coi mình bé nhỏ tầm thường. Rèn luyện đức khiêm nhường ta phải làm gì? Luôn phải biết lắng nghe và học hỏi những điều hay và làm giỏi hơn nói. Sống chan hòa, cởi mở với mọi người, trân trọng việc làm của người khác dù đó không phải là những điều đáng học tập, dù là nhỏ bé. Luôn thấy mình chưa xứng đáng với sự cống hiến cho cả đời, cho công việc mà cần phải học tập và làm việc nhiều hơn nữa. Có thể liên hệ sơ lược về tính khiêm tốn của anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long không nhận mình là người xứng đáng được vẽ tranh. Liên hệ đoạn thơ cống hiến của tác giả Thanh Hải “Một nốt trầm trong bản giao hưởng mùa xuân của dân tộc” Kết bài: Khiêm nhường là phẩm chất đáng quý của con người mà chúng ta phải rèn luyện thường xuyên để dễ thành công trên đường đời. Kính trên nhường dưới, luôn học hỏi ở mọi người là biểu hiện cụ thể của đức tính khiêm nhường.
Nghị luận đức tính khiêm nhường
497
Nghị luận Đức tính trung thực Hướng dẫn Bài này cũng bình thường nên cho thêm ý phản đề mở rộng thì hay hơn nữa
Nghị luận Đức tính trung thực
23
Nghị luận – Suy nghĩ về hiện trạng nhiều học sinh không thích học môn lịch sử – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về hiện trạng không thích học sử Đề bài: Anh (chị) hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về hiện trạng: nhiều học sinh không thích học môn Lịch sử và ít hiểu biết về truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc. Hướng dẫn làm bài Với câu hỏi này, học sinh phải nắm được một thực tế đã và đang diễn ra trong nhà trường phổ thông; có thái độ, có nhận thức riêng để trình bày chủ kiến của mình. Các ý kiến bình luận phải xuất phát từ góc nhìn của người trong cuộc (bản thân người học nói về việc học của chính mình). Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Hiện nay, việc học sinh phổ thông không thích học môn Lịch sử và hiểu biết hết sức sơ sài về truyền thống dựng nước, giữ nước vẻ vang của dân tộc là điều có thật và là một thực tế đáng buồn. Hiện trạng này đang diễn ra trong nhà trường vói những biểu hiện khác nhau, khiến những người có trách nhiệm không thể không bận tâm, không thể không suy nghĩ. Hằng năm, kết quả điểm thi môn Lịch sử (kể cả thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học) thấp một cách bất thường. Có những điểm chấm thi, hàng trăm bài thi môn này chỉ đạt điểm 0. Đây là một thực tế đáng báo động. Không chỉ trong nhà trường, ngay cả ở những cuộc thi thuộc mảng giáo dục trên truyền hình, nơi nhiều người được xem là học tốt, học giỏi tham dự, thật đáng buồn khi phải nghe những câu trả lời hết sức ngô nghê về kiến thức lịch sử. Hiện tượng nhầm lẫn các thời kì, các sự kiện và các nhân vật lịch sử đã trở nên phổ biến. Nhiều ngưòi lúng túng khi được hỏi về các nhân vật và sự kiện lịch sử nổi bật được lấy tên đặt cho các đường, các phố trong đô thi. – Việc học sinh xa ròi môn Lịch sử rõ ràng có tác hại rất nghiêm trọng. Nó không chỉ tạo ra những lỗ hổng về tri thức, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nhân cách của học sinh. Một khi không có ý niệm gì về lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc thì sự mơ hồ, nhạt phai lí tưởng yêu nước, sự thiếu trách nhiệm với cộng đồng, vói quốc gia là điều dễ xảy ra. – Trước hiện trạng nêu trên, mỗi học sinh cần nhận thức đầy đủ hơn về ý nghĩa của kiến thức lịch sử, biết tích luỹ kiến thức lịch sử một cách nghiêm túc, tìm thấy hứng thú ở những câu chuyện nói về truyền thống hào hùng của cha ông, qua đó, bồi đắp lòng tự hào dân tộc.
Nghị luận – Suy nghĩ về hiện trạng nhiều học sinh không thích học môn lịch sử – Ngữ Văn 12
511
Nghị luận – Vấn đề vươn lên trên hoàn cảnh – Ngữ Văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về vấn đề vươn lên trong hoàn cảnh Đáp án Không có hoàn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh. Anh (chị) có tán thành quan điểm trên không? Vì sao? Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình. Hướng dẫn làm bài Đề bài yêu cầu thí sinh phân biệt rõ hoàn cảnh tuyệt vọng và con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh; phát biểu suy nghĩ về sự can đảm, khả năng của con người trong việc tự chiến thắng bản thân mình trước những hoàn cảnh thất bại, đổ vỡ, mất mát… Cần trả lỗi được các câu hỏi cơ bản: Thế nào là hoàn cảnh tuyệt vọng? Thế nào là con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh? Trong thực tế, trước những hoàn cảnh thất bại, đổ vỡ, mất mát, côn người ta thường ứng xử ra sao? Con người có thể vượt qua nghịch cảnh hay không? Làm thế nào để vượt qua nghịch cảnh? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Khi mất mát, thất bại, khổ đau cùng cực mà không có phương hướng, lối thoát, con người thường rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Người ta đau đớn, tự hành hạ mình, thậm chí tự kết thúc cuộc đời mình để trốn chạy hoàn cảnh. Trong khi đó, cuộc sống vẫn diễn ra. Chim vẫn hót, sông vẫn chảy, những vì sao vẫn lấp lánh trên bầu trời. Vậy tại sao ta phải tuyệt vọng, tự huỷ hoại bản thân mình trong khi cuộc sống vẫn tiếp diễn? Ai làm ta tuyệt vọng? Hoàn cảnh ư? Nhung hoàn cảnh là do con người tạo ra, con người có thể làm chủ được hoàn cảnh. Câu nói: “Không có hoàn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có con người tuyệt vọng vĩ hoàn cảnh”, vì vậy, là một triết lí đúng đắn. – Người tuyệt vọng thường là những người từng trải qua những mất mát, thất bại, đổ vỡ, hụt hẫng dẫn đến những cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Họ không còn tin tưởng, hi vọng vào bất cứ điều gì trong cuộc đời. Họ không có đủ,can đảm và nghị lực để đứng cao hơn hoàn cảnh. Họ cảm thấy chán chường, bi quan, chới với, lạc lõng giữa dòng đời vô tận. Cuộc sống trước mắt họ không còn giá trị, ý nghĩa gì nữa. Họ muốn nhắm mắt, buông xuôi, mặc cho số phận đưa đẩy. Họ có thể bị trầm cảm, bị suy sụp tinh thần ghê gớm, thậm chí tự kết liễu đời mình một cách oan uổng. Sự tuyệt vọng của họ không chỉ làm hại chính họ mà còn gây đau khổ, phiền muộn cho những người thân. – Hoàn cảnh, suy đến cùng, là do con người tạo ra, vậy thì không có lí do gì khiến con người chịu thua hoàn cảnh. Con người có tư duy và trí tuệ, những công cụ vạn năng giúp chúng ta có thể vượt qua mọi thách thức, chông gai trong cuộc sống. Hơn nữa, con người không đơn độc, con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội. Ở đâu đó vẫn có những người thân, những người tốt, những người quan tâm đến mình, vấn đề quan trọng là, con người có dám chấp nhận nghịch cảnh, đương đầu với nó và đấu tranh để vượt qua nó hay không. – Để thoát khỏi cảm giác tuyệt vọng, đừng nên chịu đựng một mình. Hãy chia sẻ với những người thân thiết, hãy chơi thể thao, đi dạo phố, ngắm cảnh đẹp… để lắng nghe hơi thở của cuộc sống. Hãy làm những điều bạn yêu thích mà trước đây mình chưa thể theo đuổi hoặc hãy hoàn thành nốt công việc mà trước đây bạn đã từng dành nhiềụ tâm huyết. – Con người luôn phải đứng cao hơn hoàn cảnh. Bởi dù hoàn cảnh có trớ trêu đến đâu nhưng cuộc sống luôn tiếp diễn và ở đâu đó vẫn có những người tốt sân sàng giúp đỡ ta, Còn sự sống là còn hi vọng. Đã làm người và sống trên cuộc đời này, bạn chắc chắn ít nhiều sẽ phải nếm trải đau khổ, đắng cay. Nhưng, nói như Platon, chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất. Thay vì bi quan, chán nản, tuyệt vọng, chúng ta hãy dũng cảm chấp nhận hoàn cảnh, đấu tranh khắc phục nó. Đó là lựa chọn của những con người có nghị lực và ý chí.
Nghị luận – Vấn đề vươn lên trên hoàn cảnh – Ngữ Văn 12
779
Đề bài: Nghị luận "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" Bài làm Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại mà khoa học kĩ thuật công nghệ thông tin ngày một nâng cao. Trong xã hội đó ấy, làm việc gì cũng cần phải có hiểu biết, có trí thức. vì vậy việc học là rất cần thiết và có vai trò ý nghĩ vô cùng quan trọng đối với mỗi người chúng ta.tuy nhiên việc học là một quá trình tích luỹ kiến thức lâu dài mà tri thức nhân loại lại là vô bờ bến. Thế nên chúng ta cần có một sự tập trung ý chí và xác định thật đúng đắn mục đích học tập của mình. mục đích học tập do tổ chức Unesco đề xướng là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu thật rõ nhé! Từ xưa đến nay con người không ngừng học hỏi tiếp thu tri thức của nhân loại. vậy nên chúng ta đã biết và làm dược những điều to lớn làm thay đổi cả thế giới. Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình 1. Học để biết: học là một công việc mà mỗi chúng ta phải làm hằng ngày và có thể là cả cuộc đời. học là một quá trình tìm hiểu, thu nhận, tích luỹ kiến thức cho bản thân mình từ thầy cô giáo bạn bè trên tư liệu sách vở và học ở ngoài cuộc sống. kiến thức nhân loại vô cùng phong phú khoa học kĩ thuật không ngừng phát triển cố nhiều vấn đề nảy sinh trong cuộc sống cần được chúng ta giải quyết và tiếp thu. Tuy nhiên những điều ta biết chỉ là một giọt nước nhỏ trong khi đó điều ta chưa biết lại là biển cả rộng lớn bao la. Vì vậy còn có nhiều miền tri thức cần được chúng ta khám phá học hỏi. thé nên việc học trước hết là hướng đến mục đích học để biết nhiều miền kiến thức ấy để thế giới xung quanh mở ra một cách sáng tỏ trước mắt bạn lật mở mọi vấn đề mọi khía cạnh của cuộc sống muôn màu. có vậy chúng ta mới có thể không lạc hậu với thời đại và yêu cầu ngày càng cao của xã hội. 2. Học để làm: “học phải đi đôi với hành” lời dạy thật có ý nghĩa rất quan trọng đối với iệc học của chúng ta ngày nay.tiếp thu kiến thức hôm nay mà không quên những điều đã học ngày hôm qua thì đó mới gọi là việc học đúng cách.muốn vậy thì tất cả chúng ta phải học tập kiến thúc lí thuyết sau đó vận dụng làm nó ngoài thực tế để thêm hiểu phần kiến thức ấy và ghi nhớ sâu hơn. ở đây theo unesco muốn nhắn bảo chúng ta phải kết hợp song song việc học và làm với nhau có như vậy việc học mới thực sự có ích. Học và làm việc dựa trên những kiến thức đã học vừa là mục đích vừa còn là phương phát học tập. một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu kiến thức mà không vận dụng vào thực tiễn thì việc học thật khô khốc không linh động. trong khi vừa học ta lại áp dụng giải quyết những công việc của cuộc sống thì đó là cơ hội để giúp đỡ bản thân gia đình và xã hội đó còn là dịp để bạn phát triển tư duy sáng tạo của mình. 3. Học để chung sống: “ngọc không mài không thành đồ vậy người không học không biết rõ đạo” làm người ở đời phải có có học, cần am tường hiểu biết mọi vấn đề xã hội, đó là điều cần thiết cho mỗi chúng ta.nhưng việc học còn mang lại cho con người ta sự hiểu biết về đạo lí làm người đạo lí đối nhân xử thế cách ứng xử với mọi người trong cuộc sống hằng ngày.trong quá trình học tập chúng ta sẽ có nhiều bài học về đạo đức nhiều câu chuyện hay về lòng nhân hậu … từ đó hình thành ý thức rèn luyện nên nhân cách con người ý thức cái hay cái đẹp làm việc tốt giúp đỡ mọi người xung quanh có những đức tính tốt và cần thiết trong cuộc sống của mỗi người: siêng năng chăm chỉ hiếu thảo nhân hậu …tất cả đã làm hoàn thiện bản thân bạn.hơn thế nưa là con người có văn hoá có đạo đức biết cách ứng xử đúng đắn với mọi người bạn sẽ thực sự hoà nhập và thích ứng nhanh với môi trường khác nhau của xã hội. đó là chúng ta đã học được cách chung sống. thế giới này chỉ tồn tại nhưng con người biết chung sống hoà thuận gân gũi gắn bó với nhau để tạo thành một cộng đồng một xã hội bền vững từ đó biết giữu gìn nó và giữ gìn cải tạo thiên nhiên đang ngày càng xấu đi do hiện tượng nóng lên toàn cầu. khi con người biết chung sống thì người người nắm tay nhau trong tình thân ái đất nước hoà bình thịnh trị. giữa đát nước trên thế giới sẽ không có mâu thuẫn, chiến tranh tất cả đều hướng tới sự phát triển của nhân loại làm chủ thế giới làm chủ vũ trụ và những miền tri thức mới.có vậy mới có thể hướng tới một xã hội tốt đẹp một thế giới phát triển trong hoà bình. 4. Một người vừa có tri thức vừa có trình độ văn hoá hay giúp đỡ người khác thành công trong công việc và cuộc sống thì sẽ được mọi người kính nể cảm phục. mọi người khác sẽ lấy đó làm tấm gương học hỏi theo và bạn luôn được tôn trọng và nhận những tình cảm yêu mến.mình có tài có đức ai lại không trọng dụng. đó là học để tự khẳng định mình.mỗi người đều có một tính cách riêng và luôn muốn khẳng định mình được xã hội công nhận. nếu không ngừng nỗ lực học tập rèn luyện cả chí tài đức trở thành người có ích cho xã hội thì bạn sẽ có một “thương hiệu” riêng cho bản thân mình 5. Mục đích học tập của unesco đề xướng thật đúng đắn và có ý nghĩa to lớn trong việc học tập ngày nay của mỗi chúng ta trước những thay đổi từng ngày từng giờ của thế giới. Hiểu rõ và thực hiện theo đúng như thế tương lai tươi sáng đang chờ đón bạn hãy biết nắm lấy cơ hội!
Nghị luận “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”
1,161
Nghị luận: biết giữ chữ tín Hướng dẫn Biết giữ chữ tín trong cuộc sống Mở bài: Sự giả dối luôn mang lại những tổn hại to lớn đối với cuộc sống. Một khi niềm tin vơi cạn thì mọi lời nói hay, mọi hành động tốt đẹp cũng trở thành vô nghĩa.người xưa rất coi trọng chữ tín trong đời sống của mình. Nó được xem là một trong năm đức tình (nhân – lễ – nghĩa – trí – tín) cần có ở mỗi con người. Thân bài: Khổng Tử, một người thầy vĩ đại đã từng nói: “Vô tín nhi bất lập” (người không có chữ tín không thể có chỗ đứng ở trên đời). Quả thực, biết giữ chữ tín là việc vô cùng quan trọng đối với sự thành công của mỗi con người. Có người xem chữ tín là phẩm chất hàng đầu, cần phải có trước tiên, nó cũng quan trọng như sinh mệnh của mỗi con người. Tín có nghĩa là gì? Tín có nghĩa là chữ tín, là sự tin tưởng, lòng tin tưởng vững chắc vào một cái gì đó. Tín có nghĩa là sự tin cậy lẫn nhau, không thất hứa, luôn thực hiện đúng những gì mình đã hứa. Người biết giữ chữ tín luôn biết trọng lễ nghĩa, thực hiện nghiêm khắc những gì mình đã hứa, dám chịu trách nhiệm về những việc mình đã làm và luôn khiến người khác hài lòng, tin tưởng. Tại sao sống phải biết giữ chữ tín? Sống biết giữ chữ tín là sống đúng với đạo lí truyền thống của dân tộc ta. Đó là một phẩm chát tốt đẹp được gìn giữ và trân trọng qua biết bao thế hệ và ngày càn được tỏa sáng hơn. Cuộc sống rất cần có chữ tín. Ai cũng biết trọng danh dự, luôn giữ chữ tín trong công việc và trong lời nói thì xã hội sẽ ổn định, cái xấu, cái ác bị loại bỏ, niềm tin tưởng tăng lên. Chữ tín gắn kết con người lại với nhau cùng hướng đến những lợi ích tốt đẹp nhất. Sống biết giữ chữ tín thể hiện một nhân cách cao cả, một lối sống trọng tình trọng nghĩa. Đó cũng là cách sống mà biết bao con người đã lựa chọn để có thể thành công trong cuộc sống này. Lòng tin bắt nguồn từ một xã hội hướng đến cái thiện mà ở đó chữ tín phải trở thành kim chỉ nam trong các quan hệ ứng xử ở mọi lĩnh vực. Có lòng tin là có tất cả, mất lòng tin thì có khi trắng tay vì chẳng mấy ai còn muốn đến với ta. Người không biết trọng chữ tín, luôn ích kỉ, vụ lợi cá nhân sẽ không được người khác tin tưởng, yêu thương và giúp đỡ. Họ thường bị mọi người chê trách và xa lánh dẫn đến thất bại trong cuộc sống. Những người như thế thật đáng chê trách. Muốn giữ gìn và phát huy chữ tín trong cuộc sống ta cần phải làm gì? Muốn giữ gìn và phát huy chữ tín trong công việc và trong đời sống, trước hết là phải sống chân thực, ngay thẳng. Bởi khi sống trung thực và ngay thẳng ta mới biết coi trọng lòng tin của mọi người đối với mình. Cuộc sống muốn nhận về lòng tin thì phải cho đi lòng tin. Ta tin tưởng ở mọi người tất sẽ được mọi người tin tưởng. Lòng tin tưởng không thể đánh đổi bằng tiền bạc. Nó chỉ có được khi ta tin vào chính nó mà thôi. Khổng Tử từng dạy: “Ở nhà phải hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài tôn kính người hơn tuổi, cẩn thận giữ điều tín, gần gũi thân cận với người nhân đức, được như vậy mà còn dư sức thì học tập tri thức nữa”. Điều tín là phẩm chất mà người hết sức giữ gìn. Sống không có chữ tín thì sự tồn tại cũng trở nên vô nghĩa, dẫu có cố gắng cũng chẳng làm được điều gì lớn lao. Muốn giữ được lòng tin của mọi người đối với mình cần phải làm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, biết giữ đúng lời hứa và luôn đúng hẹn. Thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình là đã biết giữ chữ tín đối với mọi người. Nếu làm được nhiều điều tốt đẹp hơn trách nhiệm của mình thì chữ tín ấy càng được khẳng định. trong cuộc sống, có nhiều người không coi trọng chữ tín. Họ thường nói nhiều, hứa hẹn nhiều nhưng không thực hiện. Họ sống bằng cuộc đời lừa dối, lợi dụng lòng tin của mọi người để mưu lợi cho bản thân, không xem trọng tình nghĩa. Họ chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm và lòng tự trọng của người khác. Bởi thế, họ thường mọi người khinh ghét, xa lánh. Những người như thế thật đáng chê trách. Bài học nhận thức: Trên đời này có gì cao quý bằng chữ tín. Nó là sợi chỉ kết nối con người lại với nhau, tin tưởng lẫn nhau cùng hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Tín nghĩa là một nhân cách đáng quý của con người mà chúng ta có dùng tiền cũng không mua được. Đường đường chính chính làm người thì nên làm việc một cách rõ ràng rành mạch. Đừng bao giờ để người khác mất lòng tin vào ta hay hoài nghi ở ta điều gì. Bởi khi người khác tin ta, đó chính là giá trị của ta trong lòng người đó. Kết bài: Người xưa nói: “Thất tín là thất bại lớn nhất của đời người”. Bởi khi không còn chữ tín thì niềm tin cũng mất, tình cảm cũng tiêu tan, không còn có điều gì tốt đẹp còn tồn tại nữa trong mối quan hệ giữ người và người. Lúc đó chỉ còn là sự hoài nghi, thù ghét lẫn nhau mà thôi.
Nghị luận_ biết giữ chữ tín
998
Nghị luận: Bàn về văn hóa đọc của người Việt Nam Hướng dẫn Người Việt Nam ngày nay ít đọc sách hơn ngày trước Mở bài: Nhà văn Mark Twain đa từng nói: “Một người không đọc sách chẳng hơn gì một kẻ không biết đọc”. Rõ ràng, đọc sách để tiếp thi tri thức và làm giàu cho đầu óc của mình là một việc làm rất cần thiết. Tuy nhiên, ngày nay, với sự phát triểm mạnh mẽ của nền công nghệ điện tử, việc đọc sách cũng có nhiều thay đổi sâu sắc. Thân bài: Văn hóa đọc sách là gì? Văn hóa đọc sách là đọc sách một cách có văn hóa. Nói cách khác là ý thức đọc sách đúng đắn của con người. Văn hóa đọc đề cao tính nghệ thuật, nhu cầu thưởng thức văn hóa đích thực trong việc đọc sách. Bởi thế, nó vượt lên trên khái niệm đọc đơn thuần. Hiện trạng đọc sách của giới trẻ ngày nay Trước đây, khi công nghệ nghe nhìn chưa bùng phát, sách là công cụ chủ yếu để con người tiếp cận thông tin,văn hóa và tri thức. Khi các phương tiện nghe nhìn hiện đại phát triển bùng nổ như truyền hình, điện ảnh, internet thì văn hóa đọc của con người có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Từ việc đọc sách trang in, con người thích nghe nhìn hơn trước. Việt Nam là một trong những nước chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của xu thế này. Chưa bao giờ việc đọc sách và văn hóa đọc sách được người ta lo lắng và bàn luận nhiều như ngày nay. Thậm chí, đã có những cuộc hội thảo cấp quốc tế đưa ra nhiều con số và có những dự báo đáng lo ngại. Việt Nam là một dân tộc yêu sách, yêu tri thức và luôn cầu tiến trên con đường tri thức. Thế nhưng ngày nay, văn hóa đọc của người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ sa sút nghiêm trọng. Ngày càng có ít bạn trẻ thích đọc sách và càng có ít người viết sách. Họ thích giải trí trên các phương tiện nghe, nhìn hơn là cầm sách lên đọc. Với sự phát triển như vũ bão của nền công nghiệp hiện đại, đặc biệt là ngành công nghệ thông tin, truyền thông, giải trí, các phương tiện nghe, nhìn (điện thoại, máy tính bản, laptop,…) tỏ ra vượt trội và tính năng tiện dụng, hấp dẫn, có sức lôi cuốn mạnh mẽ hơn so với trang sách in. Việc chuyển từ đọc sách in sang đọc online là một xu thế tất yếu. Sách điện tử sẽ là hình thức của sách trong tương lai. Từ sự thay đổi về phương tiên, con người cũng thay đổi về sở thích và thói quen đọc sách. Họ thích sự giản đơn, nhanh chóng và tiện lợi. Công nghệ in ấn phát triển mạnh mẽ. Kéo theo đó một số lượng đầu sách lớn ra đời. Nội dung sách cứ lặp đi, lặp lại theo hướng mô phỏng, thiếu hẳn sự sáng tạo vượt trội. Điều đó gây nên sự nhàm chán cho người đọc. Trong những năm gần đây, số lượng đầu sách mới xuất bản ở nước ta còn rất hạn chế. Mặc dù, chính phủ và nhiều tổ chức đoàn thể không ngừng khuyến khích viết sách qua các cuộc thi có giải thưởng song vẫn chưa thể khuấy động niềm đam mê sáng tác, nghiên cứu nghệ thuật của các cây bút. Một số bạn trẻ sống hời hợt, tôn vinh những giá trị kém cỏi, khiến cho các văn hóa phẩm lệch lạc có xu hướng trỗi dậy. Chẳng hạn, nhiều người thích đọc truyện ngôn tình hơn là một tiểu thuyết đích thực. Không ít người chỉ thích đọc truyện phiêu lưu, trinh thám, kinh dị, sex,… khiến cho những kẻ in sách trái phép có cơ hội ăn nên làm ra. Văn hóa đọc vì thế mà bị suy thoái trầm trọng. Nhận thức: Đọc sách và xây dựng văn hóa đọc sách lành mạnh, hiệu quả và tiến bộ vẫn là một nhu cầu thiết yếu trong xã hội ngày nay. Chúng ta không chỉ đọc để thưởng thức vẻ đẹp của nghệ thuật mà còn làm giàu tri thức, đánh thức niềm rung cảm chân thiện ở mỗi con người. Bài học nhận thức: Dù có thay đổi nhiều về hình thức và phương thức đọc thì sách vẫn là sản phẩm tinh thần kì diệu của con người. Đọc sách có văn hóa là một cách tích lũy tri thức hữu ích nhất. Đọc sách gì và đọc như thế nào: Trước hết là việc lựa chọn sách để đọc. Chúng ta nên đọc nhiều loại sách thược các lĩnh vực khoa học, triết học, văn chương nghệ thuật, tủ sách học làm người,… Cũng cần tránh đọc những quyển sách có nội dung dễ dãi, tầm thường, nhảm nhí vừa mất thời gian lại vừa rất có hại cho tâm hồn. Đọc sách nhất thiết phải đọc chậm rãi và nghiền ngẫm sâu sắc, tiếp nhận đầy đủ tinh hoa có trong sách. Từ tri thức tiếp nhận biến nó thành hành động hữu ích, góp phần phát triển bản thân, xã hội và thế giới. Đó mới là người viết đọc sách. Phê phán: Trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều người không muốn đọc sách. Họ không nhận thấy vai trò và lợi ích của sách đối với tinh thần. Thậm chí, họ còn tỏ ra xem thường sách vở và tri thức. Những hành động hủy diệt sách trong lịch sử khiến người ta đau lòng. Mặt khác, có nhiều người lại đọc sách không đúng cách. Họ đọc một cách vội vã. Họ muốn tỏ ra là người đọc nhiều. Tuy đọc trăm nghìn quyển sách nhưng còn đọng lại chẳng có bao nhiêu. Kết bài: Đọc sách là cách tốt nhất để di dưỡng tinh thần. Một xã hội tiến bộ phải là một xã hội biết quý trọng sách. Cần phải xây dựng một nền văn hóa đọc vững mạnh và khuyến khích toàn xã hội đọc sách. Một khi con người say mê đọc sách chắc chắn rằng tri thức sẽ phát triển, nhân tài sẽ xuất hiện, đất nước sẽ cường thịnh, phồn vinh.
Nghị luận_ Bàn về văn hóa đọc của người Việt Nam
1,052
Nghị luận: bảo vệ môi trường thiên nhiên để cứu lấy sự sống trên trái đất Hướng dẫn Bảo vệ môi trường thiên nhiên Mở bài: Môi trường sống quyết định đến sự tồn tại của các loài sinh vạt trên trái đất. Nhưng giờ đây, môi trường sống đang bị ô nhiễm nặng nề. Các quốc gia đều đang và đã xử lí nhưng do ý thức của con người không tốt, mỗi ngày tình trạng môi trường ngày càng tăng. Bảo vệ môi trường thiên nhiên, bảo vệ sự sống trên trái đất là nhiệm vụ cấp bách của toàn nhân loại. Thân bài: Môi trường là tất cả những điệu kiện tự nhiên bao quanh và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của con người và các loài sinh vật khác. Môi trường được phân làm hai loại: Môi trường tự nhiên là môi trường có sẵn trong thiên nhiên như rừng núi,sông biển,… Môi trường nhân tạo là môi trường do con người tạo ra để phục vụ cuộc sống như nhà cửa,trường học,bệnh viện,… Môi trường tự nhiên vốn tồn tại và phát triển bền vũng theo các quy luật cuat tự nhiên. Con người cũng là một phần của tự nhiên. Con người khai thác tự nhiên để cung cấp cho đời sống của minh và sống gắn kết chặt chẽ với các quy luật của nó. Thế nhưng, từ khi nền sản xuất của con người phát triển mạnh, môi trường tự nhiên bị khai thác quá mức, làm đảo lộn hoàn toàn các quy luật tự nhiên, tạo ra các thảm họa khủng khiếp. Rừng- nơi sinh sống của các loài thú hoang dã cũng đang bị khai thácđến cạn kiệt. Hàng trăm ngàn héc-ta rừng bị khai thác mỗi năm để lấy gỗ cho xây dựng, khiến cho động vật trong rừng phải di cư sang nơi khác hoặc chết dần chết mòn vì không có nơi ở và thức ăn để sống. Biển cả, sông hồ cũng đang bị ô nhiễm đến mức báo động. Nước thải từ các nhà nhựa,các loại thuốc trong nông nghiệp,.. không kiểm soát chặt chẽ, không kiểm định rõ thải ngay ra sông khiến các dòng sông đen ngòm, bóc mùi hôi nặng. Rác thải dường như đã thống trị nhiều dòng sông tren thế giới. Đất trồng cũng không tránh khỏi ô nhiễm bởi rác, hiện tượng xói mòn, bạc màu và thuốc bảo vệ thực vật. Bầu khí quyển cũng đang phải gánh lấy một lượng khí thải độc hại vô cùng lớn được thải ra hằng ngày bởi các nhà máy sản xuất công nghiệp. Một vài nơi của tầng ô zôn đã bị chọc thủng, bức xạ mặt trời tăng cao, trái đất nóng dần lên đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của các loài sinh vật trên trái đất. Đó không phải là lời cảnh báo mà là hiện thực đang diễn ra. Một hiện thực tàn khốc đến khủng khiếp. Rất nhiều loài đã bị tuyệt chủng mãi mãi. Rất nhiều loài khác đang phải chống chọi từng ngày với nguy cơ bị xóa sổ. Sự sống trên trái đất đang trở nên bức bách vô cùng, muốn tồn tại, các loài phải dối mặt với những khó khăn đáng sợ. Muốn bảo vệ môi trường sống, bảo vệ lấy sự sống của loài người trên trái đất, hãy dừng ngay những hành động hủy hoại môi trường. Trước hết là tìm cách phục hồi lại những cánh rừng xanh trên trái đất. Bởi rừng xnah chính là lá phổi thanh lọc mọi chất bẩn và chất đọc trong không khí, nó làm trái đất trở nen mát mẻ hơn. Hãy quý trọng những mầm xanh, dù là mầm xanh nhỏ nhất. Bởi mỗi một mầm xanh nhỏ bé ấy góp phần làm nên màu xanh bất tận trên trái đất này. Hãy mạnh mẽ chống lại những kẻ tham lam, vì tiền mà hủy hoại môi trường, hủy hoại sự sống. Dừng ngay việc khai thác tài nguyên khoáng sản và tìm cách thay thế chúng. Dừng ngay việc chặt phá rừng xanh và trồng lại, trồng thêm, trồng nhiều hơn nữa. phủ xanh các cánh rừng là may thêm bộ áo mới, che chắn cuộc sống này và làm dịu lại cơn thịnh nộ của mẹ tự nhiên quyết trừng phạt những hành động xúc phạm của con người. Hạn chế sử dụng những đò vật có thể làm ô nhiễm môi trường. Tìm cách thay thế các vật liệu quý hiếm lấy từ tự nhiên. Tận dụng tối đa giá trị sửu dụng của vật chất. Chỉ dùng những thứ cần thiết, tránh làm lãng phí, thất thoát, tổn hại vật chất trong cuộc sống. Thực hành lối sống tiết kiệm, gắn bó với thiên nhiên. Nâng cao ý thức tôn trọng tự nhiên, tôn trọng quy luật, gắn mình với thiên nhiên để tìm kiếm một cuộc sống hạnh phúc, an toàn. Kết bài: Bảo vệ môi trường thiên nhiên là trách nhiệm của mọi người. Có làm được như vậy, con người mới từng bước khắc phục được những sai lầm của quá khứ, khắc phục được hậu quả đang xảy ra và tiến tới sự hòa hợp mình với thiên nhiên. Sự sống của bạn kéo dài được bao lâu chính là do những hành động tích của của bạn trong ngày hôm nay. Hãy làm điều đó ngay lập tức, đừng chờ đợi gì thêm nữa.
Nghị luận_ bảo vệ môi trường thiên nhiên để cứu lấy sự sống trên trái đất
914
Nghị luận: Chuẩn bị hành trang tri thức để hội nhập kinh tế thế giới Hướng dẫn Tuổi trẻ cần chuẩn bị hành trang tri thức để sẵn sàng hội nhập kinh tế thế giới Mở bài: Xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu bức thiết buộc các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam không ngừng thay đổi để thích ứng với tình hình mới. Để bước vào sân chơi toàn cầu với những cơ hội và thách thức lớn đòi hỏi giới trẻ phải nỗ lực chuẩn bị hành trang tri thức vững mạnh, sẵn sàng thích nghi và hội nhập kinh tế thế giới. Thân bài: Hội nhập kinh tế thế giới là gì? Là quá trình các nước trong khu vực hay trên thế giới gắn kết nền kinh tế lại với nhau trên lĩnh vực thị trường và thể chế nhằm tạo ra những lợi ích do việc giao thương giữa các nước mang lại, có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hành trang tri thức là gì? Là vốn kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng đã tiếp thu và rèn luyện ở trường học và từ trong cuộc sống thực tiễn cuộc sống. Hành trang tri thức có thể hiểu là toàn bộ năng lực của con người bao gồm: kiến thức, kĩ năng làm việc, kinh nghiệm thực tiễn, năng lực sáng tạo, năng lực ngoại ngữ và giao tiếp bằng ngoại ngữ, vốn sống, nền văn hóa,… – Trước xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường và sức mạnh của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ 4 diễn ra trên toàn thế giới khiến cho các nước không thể tồn tại độc lập mà phải hợp tác tương trợ lẫn nhau vừa để tận dụng các lợi thế vừa để chống lại những rủi ro và hậu quả do xu hướng hôi nhập kinh tế gây ra. – Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu do bản chất của lao động xã hội và quan hệ của con người. Các cá nhân hay đất nước muốn tồn tại phải có mối quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia dân tộc. – Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành thực thể quốc tế lớn và hình thành hệ thống thế giới. Xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh có ý nghĩa sống còn đối với từng quốc gia nếu không biết tận dụng cơ hội. Học tập và làm việc trong môi trường quốc tế là xu hướng tất yếu sắp sửa sẽ diễn ra. – Về mặt xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những thay đổi lớn về thói quen lao động và lối sống của con người ở tất cả các quốc gia. Con người buộc phải thay đổi và thích ứng với môi trường lao động chuyên nghiệp và nền văn hóa đa bản sắc. Một vấn đề khó khăn nhất đối với tuổi trẻ Việt Nam khi đất nước tiến hành đội nhập đó là sự cạnh tranh việc làm với lực lượng lao động chất lượng từ các nước. – Toàn cầu hóa không những tác động về mặt kinh tế xã hội mà còn mang một ý nghĩa văn hóa, tinh thần sâu sắc. Mọi giá trị nguyên bản đều có thể bị lung lay trước cơn bão tố của thời đại. Con người buộc phải tự chấp nhận mình trong một thế giới đa chiều, tự giải quyết các mâu thuẫn để tồn tại và phát triển. – Trước làn sóng xâm nhập dữ dội của các nền văn hóa thế giới, giới trẻ Việt Nam cần phải tỉnh táo, nâng cao bản lĩnh tiếp cận tiếp nhận nó một cách vững vàng và biến đổi nó phù hợp với bản sắc văn hóa, phát triển trong mối quan hệ hài hòa tương ứng để giữ gìn bản sắc dân tộc. Chuẩn bị hành trang tri thức để hội nhập là chuẩn bị những gì? – Trước hết là nâng cao năng lực học tập và sáng tạo. Mỗi học sinh, sinh viên hãy là một con người năng động, sáng tạo, ra sức nỗ lực học tập, tự nâng cao năng lực và kiện toàn các kĩ năng, sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt công việc được giao. – Tiếp nhận và học hỏi nền tri thức từ các nước. Tăng cường và hiểu biết quốc tế, tạo nền tảng vững chắc, sẵn sàng cho cuộc hội nhập. – Hình thành lối sống cởi mở, thân thiện và rộng mở. Kết bài: Có làm được như vậy chúng ta mới tin tưởng rằng tuổi trẻ Việt Nam đủ sức và sẵn sàng hội nhập kinh tế thế giới, đón đầu các cơ hội, mạnh mẽ vượt qua thử thách, làm việc thành công và mang lại nguồn lợi lớn lao cho tổ quốc, góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà. Có thể bạn đang tìm kiếm: Những việc cần làm của tuổi trẻ Việt Nam khi bước vào hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghị luận_ Chuẩn bị hành trang tri thức để hội nhập kinh tế thế giới
872
Nghị luận: Cuộc đời bạn sẽ trôi qua một cách vô nghĩa nếu mãi đắm chìm trong lỗi lầm của quá khứ, hay quá lo lắng cho tương lai Hướng dẫn Cuộc đời bạn sẽ trôi qua một cách vô nghĩa nếu mãi đắm chìm trong lỗi lầm của quá khứ, hay quá lo lắng cho tương lai Mở bài: Người Eskimo đã từng nói ràng quá khứ là tro tàn, tương lai là cây gỗ, chỉ ngày hôm nay là lửa sáng chói lòa. Chúng ta chỉ sống có một lần nên phải sống sao cho thật ý nghĩa. Bởi thế, cuộc đời bạn sẽ trôi qua một cách vô nghĩa nếu mãi đắm chìm trong lỗi lầm của quá khứ, hay quá lo lắng cho tương lai. Thân bài: Quá khứ là gì? Quá khứ là một khái niệm chỉ thời gian đã qua bắt nguồn từ việc con người nhận thức tính tuyến tính của thời gian, thông qua trí nhớ và hồi tưởng tất cả các sự kiện xảy ra trước một mốc thời gian cho trước. Đối lập với với quá khứ là hiện tại và tương lai. Quá khứ còn được khẳng định qua ký ức mạnh mẽ vẫn còn đọng lại trong trí nhớ của chúng ta. Nghĩa là quá khứ là khoảng thời gian và tất cả các sự kiện đã xảy ra, trở thành kí ức của con người. Đắm chìm trong lỗi lầm của quá khứ là cảm giác hối lỗi, không thể thoát khỏi những sai phạn, lỗi lầm, những khuyết điểm lớn trong thời gian đã qua. Tương lai là gì? Tương lai là một khái niệm chỉ thời gian chưa xảy đến bắt nguồn từ việc con người nhận thức tính tuyến tính của thời gian, thông qua trí tưởng tượng của con người dự đoán về tất cả các sự kiện sẽ xảy ra trong một mốc thời gian sau này. Đối lập với với tương lai là quá khứ. Tương lai còn được khẳng định qua ước mơ, hoài bão và khát vọng sẽ đạt được một giá trị nào đó trong khoảng thời gian sắp tới. Nghĩa là tương lai là khoảng thời gian và tất cả các sự kiện sẽ xảy ra trong dự đoán của con người. Quá lo lắng cho tương lai là những suy tư, lo nghĩ, không yên lòng và để tâm hết mức về những tháng ngày sắp tới và những sự kiện chưa xảy ra. Đức Phật từng dạy rằng được sống trong kiếp người (hiện tại) chỉ có một lần, mất đi kiếp người muôn kiếp khó có lại được. Có thể nói, chỉ có thời gian trong hiện tại là hiện hữu, tương tác và quyết đinh trực tiếp lên giá trị cuộc sống con người. Mọi sự kiện trong quá khứ đã hoàn tất sứ mệnh của nó, không thể hoặc ít có cơ hội để sữa chữa hoặc làm thay đổi. Mọi sự kiện dự định sẽ xảy ra ở tương lai chỉ là một sự đoán định chưa chắc chắn, rất có thể sự việc xảy đến không giống như ta đã suy tưởng. Bởi vậy, hãy sống hết mình trong hiện tại là một lời khuyên vô cùng đúng đắn và hữu ích. Khi ta không nghĩ đến hiện tại mà chỉ đắm chìm trong quá khứ con người sẽ đau khổ, dằn vặt về những lỗi lầm, những điều chưa làm được hay cơ hội đã đi qua khiến ta càng thêm mệt mỏi, thất vọng, hao kiệt sức lực. Đừng đếm những gì bạn đã mất bởi nó sẽ làm bạn đau khổ. Hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát. Càng đắm chìm trong quá khứ ta càng lún sâu hơn vào trạng thí mơ hồ, ảo tưởng; sống với kỉ niệm và niềm khổ đau dai dẳng. Quá khứ luôn ẩn chứa những nỗi buồn phiền và thất vọng, càng đắm chìm trong quá khứ ta càng mất niềm tin vào bản thân và hiện thực cuộc sống, mất niềm tin vào thực tại, hoài nghi cuộc sống và khả năng chiến thắng của con người Khi ta không nghĩ đến hiện tại mà quá lo lắng cho tương lai sẽ khiến con người mơ hồ viễn vong, xa rời thực tế. Tương lai là một cái gì đó chưa chắc chắn sẽ đến hoặc sẽ sảy ra. Tương lai luôn là một ẩn số đối với cuộc đời con người, nó nằm ngoài dự đoán, kế hoạch và khả năng kiểm soát của chúng ta. Bởi thế, không ai dám chắc chắn rằng một điều gì đó nhất định sẽ xảy ra ở tương lai theo ý ta mong muốn. Tương lai luôn là một thế giới mà ở đó ta gửi gắm khát vọng, ước mơ và hoài bão, mong muốn sẽ xảy đến hoặc sẽ thực hiện được trong thời gian sắp tới. Người bận tâm quá nhiều đến những điều ở tương lai sẽ luôn phải sống trong trạng thái tinh thần bất an, căng thẳng, bỏ qua nhiều niềm vui, sống thực dụng, tham vọng và làm nô lệ cho tiền bạc, danh vọng và thời gian. Sự tồn tại của đời người luôn là hữu hạn, bởi thế hãy luôn vui sống và sống hữu ích ngay chính tại khoảnh khắc này. Hãy nhớ rằng, hạnh phúc không phụ thuộc vào việc bạn là ai hay bạn có gì; nó phụ thuộc hoàn toàn vào việc bạn nghĩ gì. Vì vậy hãy bắt đầu mỗi ngày nghĩ về tất cả những gì bạn cần phải thấy biết ơn. Tương lai của bạn phụ thuộc rất lớn vào suy nghĩ của bạn ngày hôm nay. Vì vậy hãy nghĩ về hy vọng, lòng tự tin, tình yêu thương và thành công. Hãy tập trung sống hết mình ở hiện tại bởi cuộc sống rất mong mạnh, sinh tử trùng trùng biến diễn. tuổi trẻ, sức lực sẽ mau chóng cạn kiệt và không bao giờ trở lại. Cuộc sống đúng nghĩa là biết tạo dựng các giá trị và tìm kiếm niềm an lạc ngay trong chính bản thân mình ở ngay trong khoảnh khắc bạn đang sống. Quá khứ là những tháng ngày đã qua, tương lai là hứa hẹn sẽ đến. Một cái đã không thể trở lại, một cái còn xa vời ở ngày mai, nằm ngoài năng lực con người. Bởi thế, nắm chắc và làm chủ cuộc sống hiện tại mới là điều cần thiết nhất đối với con người. Khi ta tin tưởng ở hiện tại, dẹp bỏ những ẩn khuất trong quá khứ; lạc quan, tin tưởng ở ngày mai, chúng ta sẽ thoát khỏi những lo âu, phiền muộn, tìm thấy được cảm giác thanh bình, niềm vui ý nghĩa, hạnh phúc tràn đầy. Chỉ khi sống trọn vẹn với từng khoảnh khắc của hiện tại, chúng ta mới cảm nhận hết nguồn sống ngọt ngào và sự tồn tại ý nghĩa của bản thân trong cuộc đời này. Biết sống trong hiện tịa, biết tạo những giá trị sống đích thực sẽ là điều kiện vững vàng để ta hướng đến tương lai. Biết cách sống dung hòa giữa quá khứ, hiện tại và tương lai là lối sống lành mạnh, tích cực và ý nghĩa. Tuy nhiên, nói như vậy là chúng ta sẽ thờ ơ với quá khứ, bỏ mặc tương lai mà chỉ dành cho nó một mức độ quan tâm nhất định, vừa đủ, tích cực và sáng suốt. Quá khứ là khoảng thời gian để chúng ta chiêm nghiệm, rút ra bài học, là nơi để chúng ta nương náu mỗi khi ta thất vọng hay đau buồn. Quá khứ cũng là niềm tự hào, là kỉ niệm, là nguồn sống thôi thúc chúng ta vươn lên phía trước. Chúng ta sẽ không ảo vọng ở tương lai nhưng loài người phải nên có mơ ước, hoài bão và khát vọng lớn lao ở tương lai. Chính những điều đó là nguồn sức mạnh cỗ vũ, động viên ta sống hết mình trong hiện tại để thành công trong tương lai. Sống cho hiện tại là phải biết tôn trọng bản thân, biết tận hưởng vẻ đẹp và niềm vui của trần thế, biết trân trọng tất cả những gì có ở xung quanh mình. Sống cho hiện tại là nỗ lực hết mình họ tập, làm việc và tạo ra các giá trị hữu ích cho cuộc đời, góp phần xây dựng một xã hội công binh, phông thịnh và tràn đầy tình thương yêu. Khi cuộc sống quá mệt mỏi, đừng cố chịu đựng mà hãy cho phép bản thân nghỉ ngơi, tạm gác toàn bộ công việc để phục hồi sức khỏe và tinh thần chuẩn bị sẵn sàng hoàn thành công việc tốt hơn. Mỗi sự gắng gượng đôi khi lạ đem đến một kết quả tồi tệ, thậm chí là rủi ro lớn, dẫn đến những thiệt hại không đáng có. Kết bài: Trong cuộc sống có nhiều người sống không có mục đích, không có ý niệm về thời gian. Họ sống vô tâm, ích kỉ. Đó không phải là sống hay là tồn tại mà họ đang trôi theo thời gian, đánh mất đi ý nghĩa đích thực của cuộc sống con người. Những người như thế thật đáng chê trách.
Nghị luận_ Cuộc đời bạn sẽ trôi qua một cách vô nghĩa nếu mãi đắm chìm trong lỗi lầm của quá khứ, hay quá lo lắng cho tương lai
1,582
Nghị luận: Cá không rời được nước sông, trái tim không thể không mơ ước Hướng dẫn Không có ước mơ sẽ không có thành công Mở bài: Sống biết mơ ước là một trong những đặc trung nổi bậc của xã hội loài người. Dù là bất kì ai, ở lứa tuổi nào, con người đều có những ước mơ cho riêng mình. Đó chính là nguồn động lực vững mạnh giúp con người vượt qua biết bao gian khổ đường đời. Bởi thế, có người so sánh rằng cá không rời được nước sông, trái tim không thể không có ước mơ. Thân bài: Mơ ước là gì? Mơ ước là mong muốn điều tốt đẹp ở tương lai là điều là điều khát khao để từ đó sống đẹp hơn. Lỗ Tấn định nghĩa: “Ước mơ không phải là cái gì sẵn có. Ước mơ giống như một con đường chưa có, nhưng con người sẽ khái phá và vượt qua”. Ý kiến của M, Bendin khẳng định rằng mơ ước là điều tất nhiên vốn có của con người bình thường. Tuy trừu tượng nhưng ước mơ lại cần thiết như cá không thể rời được nước, cũng như con người không thể thiếu cơm ăn, nước uống không khí để hít thở. Bàn luận: Mỗi người đều có ước mơ. Mơ ước Phụ thuộc nhiều vào từng độ tuổi, hoàn cảnh sống, trí tưởng tượng…, mỗi người có những ước mơ khác nhau: Ước mơ bình dị, giản đơn, gần gũi với hiện thực: Bữa cơm gia đình giản dị mà nơi ấy có đầy đủ cha mẹ và đầy ắp tiếng cười; mơ sẽ có một chiếc xê đạp; ước mơ đi học được điểm 10… Ước mơ cao xa, viển vông, khó hoặc không thể thực hiện được: ước mơ được sống trong thế giới cổ tích, trẻ mãi không già, muốn được đặt chân vào vũ trụ và cắm cờ Việt Nam, trở thành tổng thống hay vĩ nhân… Ước mơ về vật chất: giàu có; nhà cao cửa rộng, đời mới,… Ước mơ về nghề nghiệp: ước mơ được làm cô giáo, làm bác sĩ; làm một chính trị gia hàng đầu; một chuyên gia tư vấn chính khoán; một doanh nhân nổi tiếng; làm người dẫn chương trình truyền hình… Ước mơ cao cả, thiêng liêng cho xã hội, cho tổ quốc, cho nhân loại: ước mơ đất nước được độc lập tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành (Bác Hồ), … Ước mơ thánh thiện: trở thành một tình nguyện viên giúp đỡ người già, là cộng tác viên bảo vệ quyền lợi trẻ em, ước mơ cho nhân loại không còn nỗi đau chiến tranh. Ước mơ con người rất đa dạng, phong phú. Có những điều rất bình thường với người này lại là ước mơ rất khó đạt được của người khác, do đó phải quý trọng những gì chúng ta đang có, phải biết trân trọng ước mơ của người khác cũng như trân trọng ước mơ mình. Vai trò của ước mơ trong cuộc sống: Ước mơ làm trí tưởng tượng con người phong phú. Chính ước mơ nuôi dưỡng tâm hồn khỏi những cằn cỗi và chai đá, chắp cách co con người bay vào vũ trụ, khám phá những tận cùng bí ẩn của thiên nhiên, tiếp cận sâu sắc nhất, ứng dụng có hiệu quả những thành tựu văn minh của nhân loại. Ước mơ mang lại niềm vui niềm và hạnh phúc. Nếu chỉ đối mặt với chỉ có mặt với hiện thực con người sẽ ngã gục trước khi nhìn thấy thành công. Nếu không có mơ ước thì thật buồn tẻ và thiếu đi những khát khao, mục đích sống trong cuộc đời. Có ước mơ thì có hi vọng, có hi vọng thì có khơi mầm sáng tạo. Ước mơ là định hướng, dẫn dắt mang lại những hoạt động của con người. Ước mơ giồng như ngọt hải đăng thắp sáng; giúp con thuyền đến được bến bờ mà không bị mất phương hướng. Người ta có thể không thực hiện được điều mình mơ ước, nhưng bất cứ một điều gì người ta thực hiện được thì trước đó họ đã phải xây dựng trên ước mơ. Ước mơ đúng cũng có thể hành động sai, nhưng ước mơ sai thì không bao giờ có hành động đúng. Ước mơ làm thay đổi số phận cuộc sống: Những người đạt được thành công lớn luôn có ước mơ lớn, hoài bão lớn( Ví dụ: Walt Disney, Bill Gate…). Ai chưa có ước mơ thì hãy nuôi dưỡng cho mình một ước mơ nhỏ thì hãy ước mơ lớn. Làm gì để thực hiện ước mơ: Có ước mơ chưa đủ, vấn đề là cần phải gắn với hành động thiết thực gắn liền với thực tế cuộc sống để ước mơ đó được thực hiện. Để làm được những điều to lớn, chúng ta không những phải hành động, mà còn phải mơ mộng, không những phải có kế hoach mà còn phải có niềm tin Lập kế hoạch rõ ràng, dài hạn, có mục tiêu cho từng dai đoạn và không ngừng sống và chiến đấu hết mình để thực hiện ước mơ đó. Tương lai thuộc về ai tin tưởng vào cái đẹp của ước mơ. Muốn theo đuổi ước mơ phải biết vượt lên chính mình, vượt lên những giới hạn về trí tuệ, về năng lực bản thân, chiến thắng những ham muốn cá nhân, những tận xấu. Mọi mơ ước đều có thể đạt được bằng sự kiên nhẫn. Nuôi dưỡng ước mơ không chỉ bằng tình thương, bằng những lời động viện của người khác mà chính niềm tin của mình. Cần tâm niệm rằng những gì mình đang có hôm nay là những gì trước đây mình đã mơ ước, nhờ đó sẽ vững tin đạt được những ước mơ to lớn hơn trong cuộc sống. Do nhiều lí do khác nhau (hoàn cảnh gia đình, xa hội, khả năng…)con người có thể không đạt được ước mơ, từ đó chở nên hụt hẫng, chán nản. Trong mơ ước có mặt tốt hơn thực tại; trong thực tại có mặt tốt hơn ước mơ. Hạnh phúc đầy đủ là sự kết hợp được cả mơ ước lẫn thực tại. Hãy đứng dậy nhìn lại thất bại để rút kinh nghiệm cho sự thành công mai sau. Tìm ra một ước mơ khác phù hợp hơn, bởi cuộc đời không có điểm dừng. ước mơ cũng vậy nó luôn vương cao hơn hay thay đổi từ hướng này sang hướng khác. Phải biết làm chủ động những ước mơ của mình. Cần có ước mơ nhưng không chìm đắm trong ước mơ quá cao siêu để không lãng phí thời gian cho mơ mộng và luôn tưởng tượng ra những điều không thể có. Dũng cảm kiên trì theo đuổi ước mơ của mình. Nếu có ước mơ cao đẹp nhưng quá tầm với của mình hãy chia sẻ với mọi người để ước mơ đó được chắp cánh. Không bao giờ cười nhạo, chỉ trích hay lên án trước ước mơ của người khác. Kết bài: Chúng ta trở nên lớn lao bởi những ước mơ. Tất cả các vĩ nhân đều là những người hay mơ mộng. Họ nhìn thấy sự việc trong làn sương mờ của một ngày mùa xuân hoặc trong ánh lửa hồng của một đêm dài mùa đông. Một số người trong chúng ta để những ước mơ tuyệt vời này chết đi, nhưng những người khác lại nuôi dưỡng và bảo vệ chúng; chăm sóc chúng qua những ngày xấu trời cho đến khi chúng mang lại cho họ ánh thái dương và ánh sáng, đó là điều luôn đến với những người hy vọng chân thành rằng những ước mơ của họ sẽ trở thành hiện thực.
Nghị luận_ Cá không rời được nước sông, trái tim không thể không mơ ước
1,309
Nghị luận: Căn bệnh nói dối, giả dối trong xã hội ngày nay Hướng dẫn Nói dối, giả dối thể hiện sự yếu đuối của con người trước sự thật Mở bài: Nói dối, giả dối là một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội từ xưa đến nay. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, hiện tượng này ngày càng trở nên trầm trọng. Nói dối, làm giả gây ra nhiều biến đổi mạnh mẽ trong đời sống xã hội ở nước ta. Căn bệnh nói dối, làm giả đang trở thành mọt vấn nạn của xã hội. Thân bài: Nói dối, giả dối là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau về nói dối, giả dối. Về cơ bản, nói dối là chủ tâm nói không thật, không đúng với sự thật nhằm che giấu sự thật hoặc mưu cầu một lợi ích nào đó. Cùng nghĩa với nói dối có các từ ngữ khác cũng được sử dụng phổ biến như: nói điêu, nói xạo, nói khoát, nói láo,… Đôi khi, nói dối chỉ là một hành động tế nhị, nói tránh sự thật để không gây đau lòng, tránh xúc phạm, để cứu người khác. Lúc này, nói dối trở thành một hành động cần thiết. Tuy nhiên, đó chỉ nên xem là ứng xử bất đắc dĩ trong tình thế mà thôi. Biểu hiện của căn bệnh nói dối, giả dối: Xét dưới góc độ thời gian có ba hình thức nói dối. Thứ nhất là kể không đúng sự thật đã diễn ra. Thứ hai là tường thuật không đúng sự thật. Thứ ba là dự báo không đúng sự thật. Xét dưới góc độ nội dung sự việc có 4 hình thức nói dối: vọng ngữ, nói nước đôi, nói lời hung ác, thêu dệt sự thật. Ngày nay, hiện tượng nói dối, lừa gặt, làm giả sản phẩm nhằm thu lợi về bản thần ngày càng trở nên phổ biến. Trong buôn bán, hàng giả hàng nhái vốn tràn lan trong đời sống. Vì lợi ích mà người sản xuất bất chấp thủ đoạn, sằn sàng lừa dối người khác. Lòng trung thực bị xem thường. Thái độ tôn trọng và niềm tin trong buôn bán cũng dần mai một. Trong trường học, ngày càng có nhiều học sinh nói dối, gian lận trong học tập. Khi sảy ra sai lầm, học sinh tìm mọi cách tránh né, bịa ra lí do nhằm tránh bị nhắc nhỏ, kỉ luật. Nguyên nhân làm nảy sinh hiện tượng nói dối, làm giả trong xã hội: Trước hết, nói dối xuất phát từ đời sống văn hóa thuần nông cử nước ta. Lúc ban đầu nói dối để làm vui, trêu đùa nhau. Đọc truyện Trạng Quỳnh chúng ta thấy rõ bản chất này. Việc nói dối để giải quyết tình huống được đề cao như một trí tuệ dân gian. Từ đó ảnh hưởng sâu rộng vào đời sống con người. Nói dối được xem như một sự khôn khéo trong ứng xử. Do lối ứng xử cả nể, một vừa hai phải, tránh va chậm nhau của người Việt nhằm xây dựng một cộng đồng hài hòa, bền chặt. Lối ứng xử này chỉ phù hợp với một tổ chức làng xã nhỏ trước đây. Ngày nay, trước xu thế mở rộng hợp tác, lối ứng xử này gây nên không ít khó khăn trong đời sống xã hội. Việc nói dối bị lạm dụng bởi nhiều kẻ cơ hội, mưu cầu danh lợi cho bản thân. Không ít người sẵn sàng làm chứng gian cho nhau, hoặc ngậm miệng cho qua mọi chuyện để cầu toàn, hưởng lợi… Vì thế giả dối luôn song hành với tâm lý xấu che, tốt khoe và sợ sự thật. Trong các quan hệ ứng xử, một khi người ta thiếu lòng tự trọng và sợ sự thật, thì đó là lúc sự giả dối phát tác và bắt đầu gây hại. Giáo dục cũng không chú trọng vào việc rèn luyện tư cách cho con người. Những bài học lí thuyết trở nên nhàm chán. Việc thực hành đạo đức ở trường học không được tiến hành mạnh mẽ. Thầy cô giáo thiếu gương mẫu hoặc suy thoái đạo đức trầm trọng. Từ đó tạo ra tấm gương xấu khiến học sinh không còn kính trọng. Hậu quả nghiêm trọng của việc nói dối, làm giả: Nói dối, làm giả làm suy giảm lòng tin giữa con người với con người. Nói dối, làm giả gây nên những mâu thuẫn trong xã hội. Thậm chí là những xung đột kịch liệt, để lại hậu quả đáng tiếc. Hiện tượng nói dối, làm giả gây mất trật tự anh ninh, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội. Việc làm hàng giả gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng nền kinh tế đất nước. Người nói dối, giả dối không được người khác tôn trọng và bị pháp luật trừng trị khi xâm phạm đến lợi ích của người khác. Nói dối, làm giả nêu gương xấu đối với người khác, nhất là đối với giới trẻ. Giải pháp khắc phục hiện tượng nói dối, làm giả: Trên đời này, có những lời nói dối là cần thiết, thế nhưng đa phần là sự nực cười, là lỗi lầm và sai trái. Con người ta không ai muốn bị lừa dối. Và không ai muốn tha thứ dễ dàng cho kẻ lừa dối mình. Vì thế hãy chân thật với người khác cũng như với chính bản thân mình để không đổi lại sự hối hận về sau. Tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm cho học sinh trong trường học. Tăng cường rèn luyện con người có phẩm chất tốt đẹp, tri thức vững vàng và tự tin trong cuộc sống. Chỉ có giáo dục mới có thể giúp con người nhận thức được bản chất của cuộc sống là phải sống tốt đẹp. Xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh trong cộng đồng. Tuyên dương cái tốt đẹp, phê phán và bài trừ cái xấu, cái ác. Pháp luật nghiêm minh. Việc xử phạt phải công bằng, triệt để, thể hiện sức mạnh của công lí và chính nghĩa. Trước sự thay đổi lớn của thời đại, chúng ta cũng cần xây dựng những chuẩn mực mới phù hợp và tiến bộ. Cần đưa ra những bộ quy chuẩn cho từng lĩnh vực trong đời sống. Căn cứ vào đó mà điều chỉnh hành vi con người. Cần thực hiện công bằng xã hội để tăng cường niềm tin trong nhân dân. Chỉ có lòng tin tương mới giú con người không lừa dối, không gian lận. Nâng cao cuộc sống, khuyến khích và đề cao lòng tốt, tình thương trong xã hội. Đồng thời nghiêm trị những trường hợp vi phạm để làm gương cho người khác. Kết bài: Giả dối trong đời sống là một căn bệnh nguy hại. không những gây ra mâu thuẫn, xung đột xã hội mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác. Một xã hội văn minh, tiến bộ là một xã hội không có sự giả dối, không ai muốn giả dối. Dối trá luôn mang lại kết quả tai hại. Dối trá là hành động của kẻ ngu xuẩn không đủ can đảm trước sự thật.
Nghị luận_ Căn bệnh nói dối, giả dối trong xã hội ngày nay
1,212
Nghị luận: Giữ gìn an ninh trật tự đường phố, chống lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường của lực lượng công an TPHCM Hướng dẫn Xây dựng thành phố văn minh bắt đầu từ việc thiết lập an ninh lòng lề đường Mở bài: Để đảm bảo trật tự văn minh đô thị, trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, phòng quản lí đô thị, công an, lực lượng chuyên trách giữ gìn trật tự đô thị nhiều quận đã ra quân kiểm tra, nhắc nhở và xử phạt các trường hợp lấn chiếm vỉa hè, lòng và lề đường, bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ, tạo nên niềm tin tưởng, phấn khởi ở người dân. Thân bài: Hiện trạng lấn chiếm lòng lề đường tại thành phố hiện nay: Lấn chiếm lòng lề đường làm nơi buôn bán, để xe, đặt quảng cáo và các đồ vật cồng kềnh vốn là một hiện tượng thường thấy ở hầu khắp các con đường lớn nhỏ tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Thật không lạ gì những quán cà phê vỉa hè, xe đẩy hàng rông, bãi giữ xe tự phát, hoặc những công trình xây dựng trái phép… ngang nhiêm chiếm dụng vỉa hè, thậm chí còn xuống cả lề và lòng đường gây mất an toàn cho người đi bộ và cả người đi đường. Vỉa hè, lòng lề đường bị chiếm khiến cho người đi bộ không có lối đi, phải đi xuống lòng đường hết sức nguy hiểm. Nhiều vụ tai nạn đã xảy ra giữa người đi bộ và các phương tiện giao thông để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Hành vi lấn chiếm vỉa hè, lề và lòng đường làm nơi buôn bán trái phép là hành vi vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt hoặc truy tố trước pháp luật nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hành động lập lại trật tự vỉa hề, lòng lề đướng của cơ quan chức năng: Nhằm lấy lại vỉa hè, lề và lòng đường cho người đi bộ, giữ gìn trật tự an ninh đường phố và mỹ quan đô thị, các cơ quan chức năng đã đồng loạt ra quân, quyết liệt xử lí các trường hợp vi phạm. Nhiều đối tượng dù rất cố chấp, cứ lặp đi lặp lại, nhưng trước sự kiên quyết của lực lượng anh ninh, họ cũng buộc phải tuân thủ. Hàng loạt hàng rào được dở bỏ, hàng loạt các bậc thềm, nền gạch bị đào lên, hàng loạt các vật dụng bị tịch thu và xử phạt,… Với quyết tâm của chính quyền thành phố và sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng loạt các đường phố đã sạch sẽ, thông thoáng, sáng đẹp hơn trước khiến người dân rất phấn khởi. Tiên phong trong phong trào này là lực lượng công an, lực lượng chuyên trách Quận 1, Quận Phú Nhuận, Quận Bình Thạnh, Quận 10,… Tiếp theo sau là các quận còn lại cũng đang tiến hành rất ráo riết, sớm lập lại trật tự an ninh đường phố và an toàn giao thông trên địa bàn. Kết bài:
Nghị luận_ Giữ gìn an ninh trật tự đường phố, chống lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường của lực lượng công an TPHCM
540
Nghị luận: Hãy yêu sách. Sách là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống (M.Gorki) Hướng dẫn Đọc một quyển sách là được trò chuyện với những bộ óc vĩ đại của quá khứ nhân loại Bài làm 1 Mở bài: Từ xưa đến nay, sách luôn đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và phổ biến tri thức trong xã hội loài người. Bàn về vai trò và tầm quan trọng của sách, M. Gorki đã nói: “Hãy yêu sách. Sách là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Thân bài: Sách là gì? Sách là tổng hợp những nguồn kiến thức được chọn lọc từ một góc nhìn của người viết, những vấn đề thực tế hằng ngày trong xã hội và nó được biên xoạn, sắp xếp lại và phát hành rộng rải trên toàn quốc hoặc toàn thế giới bằng nhiều loại ngôn ngữ khác nhau. Để giúp người đọc cảm thấy dễ hiểu và tiếp thu một cách nhanh chóng thì đòi hỏi người viết hoặc tổ chức, nhà xuất bản phải có trình độ chuyên môn cao, biết được xu hướng người đọc. Từ đó tìm cách tiếp cận, thu hút và giúp mọi người có cái nhìn sâu sắc hơn khi đọc những nguồn thông tin trong sách mà họ cung cấp. Tại sao người ta có thể nói sách mở ra những chân trời mới và kiến thức là con đường sống của nhân loại? Kiến thức là kĩ năng, là những hiểu biết của con người trong cuộc sống. Khi chúng ta muốn làm tốt một bài văn thì chúng ta cần có một kĩ năng giải bài văn và cách viết bài văn ấy. Nếu biết cách làm mà không có tầm nhìn, tầm hiểu biết sâu rộng thì bài văn sẽ không đạt được nguồn dữ liệu sâu sắc nhất, không thể đạt đến tầm cao của văn học. Kiến thức là những vấn đề về tự nhiên mà con người tìm hiểu được và dựa vào những phát minh của khoa học thế giới. Những điều ấy được tổng hợp và chia thành nhiều lĩnh vực để phù hợp với sở thích, nguyện vọng và khả năng tiếp thu của mỗi người. Nó được chia theo cấp bật từ nhỏ đến lớn. Nếu không có căn bản thì những cấp cao hơn sẽ không thể tiếp thu được. Kiến thức bao gồm những kiến thức tự nhiên hoặc do con người tìm ra phù hợp với lẽ sống và đạo lý thông thường. Nói tóm gọn, con người không thể biết hết được mọi thứ. Người ta thường có câu: Học, học nữa, học mãi, học để quên – những gì còn sót lại thì gọi là kiến thức. Kiến thức là vô tận. Không ai dám tự đảm bảo rằng họ biết hết tất cả mọi thứ. Mỗi người chỉ có một chuyên ngành riêng và khi đọc những cuốn sách hay thì nó sẽ giúp con người khám phá được nhiều thứ xung quanh mà tưởng chừng như trong cuộc sống cận kề chúng ta ít khi để tâm đến nó và những nguồn kiến thức ấy sẽ giúp ta biết được những nguyên nhân, kết quả của từng vấn đề được nêu hoặc chỉ ra những mặt lợi hại của một lĩnh vực hay thứ gì còn khuất mắt trong đời sống hằng ngày. Ngoài ra trong sách đó còn chỉ ra những thất bại của những người đã thành công trong sự nghiệp để cảnh tĩnh người đọc. Sách giúp ta hiểu thêm về bản thân và cuộc sống. Sách là nguồn kiến thức của con người, là nguồn sức mạnh vô giá mà không thể mua bán được. Vậy nên sách và kiến thức có mối liên hệ chặt chẻ với nhau, sách là tổng hợp của những tác phẩm văn học tuyệt vời, là bằng chứng của những sự phát minh vĩ đại trong lịch sử của con người giúp các thế hệ sau đọc và hiểu những cái tinh yếu mà người xưa truyền lại. Ngoài ra sách còn là cầu nối của lịch sử với hiện tại giúp ta biết được những sự phát minh, phát triển của loài người và giúp chúng ta hiểu thêm về lịch sử đất nước, công lao của những vị anh hung đứng lên cứu nước chống ngoại xâm. Ngày nay ngoài internet, sách cũng là một phần rất quan trọng của đời sống con người, nó giúp chúng ta thư giản sau một ngày mệt mỏi, nó đưa vào đầu chúng ta những hoàn cảnh sống của xã hội và cao nhất là sách dẫn ta tới đỉnh vinh quan của sự hiểu biết và mở ra trong mắt ta một thế giới rộng lớn với vô vàn những câu chuyện lý thú mà ta chưa bao giờ biết hoặc biết mà chưa được nghe và tận mắt thấy. Từ đó làm con người ta say mê vì lúc nào trong não bộ con người cũng có một sự kích thích tìm hiểu, mày mò và nếu biết tận dụng năng lực cá nhân thì chúng ta có thể đạt đến đỉnh cao. Ngoài ra sách còn là những mẫu truyện cười thú vị, giúp tăng trí tưởng tượng và tạo ra trong mỗi người một hệ thống ngôn ngữ phong phú, đa dạng về hình thức và giúp ta ăn nói lưu loát hơn khi gặp những trường hợp nhất định. Nó cũng là một phần giúp chúng ta cảm thấy thoải mái, dây thần kinh bớt căng và những dòng suy nghĩ sẽ trở nên mạch lạc hơn nhiều lần. Sách có thể đọc ở mọi lúc mọi nơi, khi chúng ta cảm thấy đọc sách là một phần không thể thiếu của cuộc sống, là một phần tâm hồn thì đó là lúc sách phát huy hết tác dụng và việc học sẽ trở nên dễ dàng hơn vì ý muốn học hỏi, tìm tòi đã trở thành một phần xương máu của chúng ta và tâm hồn ta luôn được trải nghiệm qua từng câu truyện, thanh thản và luôn rộng mở để tiếp thu những cái mới hoặc những thứ người khác có mà bản thân mình hoặc không có hoặc có phần tệ hơn. Vì vậy, sách là một phần không thể thiếu trong cuộc sống nhân loại, là dẫn chứng của lịch sử, là những phát minh hàng đầu của con người và chúng ta hãy yêu sách. Không nên phá hủy hay đem bán mà việc cần kiếp là tặng lại cho những người kém may mắn hơn chúng ta hoặc đem đi làm từ thiện ở những tổ chức cộng đồng. Phải để sách khô ráo, sắp xếp gọn gàng và sạch sẽ. Đến thời đại ngày nay khi đã có internet nhưng người ta vẫn còn sử dụng sách vì nó không bao giờ mất nếu không có sự tác động của con người, dễ sử dụng, tiện lợi và dễ lưu truyền rộng rãi. Những vấn để về sách thì không thể nói hết, xã hội thì thay đổi từng ngày, chỉ hi vọng mọi người biết bảo quản và sự dụng sách hợp lý, đừng để sau này con em chúng ta phải rơi vào hoàn cảnh khó khăn tương tự. Kết bài: Thiết nghĩ nên có những việc làm phù hợp và những biện pháp hợp lý giúp nâng cao đời sống, sự hiểu biết trong mỗi người và hãy để sách trở thành một người bạn của mỗi người chúng ta giúp cải thiện đời sống, phát triển văn hóa đẹp của xã hội. Bài làm 2 Hiện nay, ai ai cũng đều hướng tới việc học tập để phát triển bản thân và xã hội. Vì vậy sách là một phương tiện rất quan trong đối với đời sống con người. Sách càng ngày càng quan trọng đối với chúng ta và cần được giữ gìn kĩ hơn. Sách là một phương tiện giúp cho ta ghi chép, lưu trữ, lưu truyền kiến thức cho các thế hệ sau. Sách không chỉ được phân loại theo thể loại, lĩnh vực mà còn theo độ tuổi, sở thích của đối tượng mua. Mọi thứ ngôn ngữ đều có thể được ghi vào sách, không hạn chế số trang, đủ kiểu màu sắc. Ngoài việc ghi chép, lưu trữ, lưu truyền, thì những quyển sách về khoa học giúp ta tìm hiểu về thế giới khoa học, giúp ta hứng thú khám phá những sáng tạo vĩ đại của con người. Ví dụ như sách của Euclid giúp ta hiểu hơn về hình học. Đọc sách Archimedes ta hiểu hơn về các quy luật đang xảy ra trong tự nhiên vốn rất quen thuộc. Ta cũng càng trân trọng hơn những phát minh của con người từ thuở đầu của nền văn minh. Chỉ qua sách, ta có thể biết được bên ngoài vũ trụ như thế nào, xa mạc khô cằn nóng đến đâu, những cái giá lạnh của vùng Nam Cực, những khu rừng rậm nhiệt đới, hay có thể là những nơi mà ta chưa từng được thấy. Sách đưa ta bay vào vũ trụ để nhìn ngắm những ngôi sao chỉ có thể thấy được qua kính viễn vọng. Sách còn là một cỗ máy thời gian đưa ta về thời kì chiến tranh xây dựng đất nước, thời kì xa xưa cổ đại, đưa ta đến những lịch sử mà ta chừa hề hay biết. Mở một trang sách như là đang mở ra một thế giới hoàn toàn mới. Sách còn là chìa khóa vạn năng mở cửa lâu đài trí tuệ và tâm hồn của mỗi con người, là một người thầy thắp sáng con đường đi đến nguồn tri thức vô tận, dạy chúng ta cách sống biết yêu thương, biết sẻ chia với mọi người xung quanh, từu đó tạo nên vẻ đẹp tâm hồn ở mỗi người. Hãy đọc sách, báo, tạp chí hằng ngày để nâng cao tri thức và hoàn thiện nhân cách. Qua từng trang sách hay, con người sẽ tìm thấy một tiếng nói chung để xây dựng nền hòa bình và phồn vinh. Sách làm cho ta yêu quý, thương tiếc, tôn trọng lẫn nhau qua từng số phận con người. Có người thành tài, có người bất tài. Người đọc Việt Nam sẽ có thể rưng rưng nước mắt qua câu chuyện “Cô bé bán diêm” của nhà văn Andexen người Đan Mạch và cảm thấy sự gần gũi trong tác phẩm “Lão Hạc”, “Chị Dậu”,… Qua sách, mỗi con người trên từng thế giới sẽ tự tìm hiểu lẫn nhau, hòa bình và yêu thương nhau, thấu hiểu và cùng bước tới một thế giới mới yên bình, hạnh phúc, không có chiến tranh, không có những số phận bất hạnh, đáng thương nào phải gánh chịu nỗi đâu, mất mát. Sau những giờ làm mệt mỏi, những giờ học căng thẳng, ta có thể giải trí bằng cách tìm và đọc sách, cách này xẽ mang lại nhiều giây phút thư giản, thoải mái, mang lại những tiến cười hữu ích và sảng khoái. Đọc sách để làm tươi trẻ tâm hồn. Những bộ truyện tranh thú vị như Doraemon, Black Butler,… hoặc những tiểu thuyết thành công như Chào mừng đến với N.H.K, Cuốn sách của sự kết thúc, No.6, … Theo Astrid Lindgren, “Tuổi thơ mà không có sách – sẽ là không có tuổi thơ. Điều đó giống như bị đuổi khỏi cái nơi thần kì mà bạn có thể tới và tìm được niềm vui quý hiếm nhất”. Vì vậy, cuộc sống không thể không có sách được. Những quyển sách hay giúp ta sống cùng nhân loại, suy nghĩ cùng nhân loại, hít thở bầu không khí hiện đại và mạnh mẽ trên đường đi đến tương lai. Hãy đọc sách để khai phóng tu duy; đọc sách để tiến bộ; đọc sách để cùng chung sống.
Nghị luận_ Hãy yêu sách. Sách là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống (M.Gorki)
1,997
Nghị luận: Lối đi ngay dưới chân mình Hướng dẫn Con đường bạn đi do chính bạn lựa chọn Mở bài: Hành động chưa hẳn có thể mang lại hạnh phúc nhưng không có hạnh phúc nào mà thiếu hành động. Nếu bạn không dám hành động thì sẽ không có giá trị nào được tạo ra, không có thành quả nào tìm đến. Bởi thế, có người cho rằng lối đi ở ngay dưới chân mình là muốn khẳng định tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám hành động để thành công. Thân bài: Lối đi là gì? Lối đi theo nghĩa đen có nghĩa là con đường nối liền địa điểm này và địa điểm khác. Con đường nằm ngay dưới chân mỗi chúng ta. Theo nghĩa khác, lối đi có nghĩa là hướng đi, là cơ hội, là yếu tố dẫn ta đến với thành công. Trên đường đời đã có bao nhiêu dấu chân, có bao nhiêu hướng đi đã mở ra. Tất cả đã là lối mòn. Muốn thành công trong cuộc sống, ta phải mạnh dạn bước tới tìm lấy con đường đi cho riêng mình. Cuộc sống luôn có nhiều lựa chọn lối đi riêng mình: Lựa chọn mọt con đường để bước vào cuộc sống lớn quả là một thách thức đối với con người. Không phải con đường nào cũng rộng mở và cũng không phải đã bước tới là sẽ thành công. Có rất nhiều cách thức để ta bước vào tự lập trong cuộc sống này Có người lựa chọn con đường học hành, khoa cử, phấn đấu học tập, lấy tri thức làm hành trang bước vào đời. Đây chính là con đường xưa nay được nhiều người lựa chọn vì nó thênh thang rộng mở đến tương lai. Không có thành công nào vinh dự bằng con đường tri thức. Chính tri thức là người thầy dẫn đường, là bạn đồng hành, là vũ khí giúp ta nhìn thấy cơ hội, vượt qua khó khăn thử thách và đi đến thành công. Bước qua cánh cổng đại học là bước đến một thế giới mới, thế giới của niềm tin và khát vọng lao động, sáng tạo. Thực tế đã chứng minh rất rõ ràng không có thành công nào mà không do tri thức tạo thành. Những người không qua trường lớp nhưng gặt hái được nhiều thành công lớn không có nghĩa là họ không học hành gì mà họ học từ thực tế cuộc sống. Sự trải nghiệm giúp họ trưởng thành nhanh chóng và sớm nắm bắt lấy cơ hội. Từ đôi bàn tay trắng, họ gây dựng nên được một sự nghiệp to lớn mà ngay cả những người học tập và nghiên cứu chưa hẳn đã làm được. Tuy nhiên, những trường hợp như thế phần nhiều là do may mắn. Còn có nhiều con đường khác nữa, nhưng nói chung cuộc sống có rất nhiều con đường đi đến tương lai và chỉ có chính mình mới lựa chọn được con đường đúng đắn cho mình. Lối đi ngay dưới chân mình – một lời khuyên đúng đắn và thực tế Đối với những ai đang băn khoăn, trăn trở chọn lối đi vào đời thì đây là lời khuyên thiết thực, bởi mỗi người có một lối đi riêng, và lối đi ngay dưới chân của mình. Lối đi ngay dưới chân mình là lời khuyên nên chọn con đường vào đời phù hợp với khả năng, sức lực, tính cách, sở thích và điều kiện của bản thân mình, không nên mơ mộng viễn vong chạy theo các giá trị phù phiếm mà nên chọn cái mình nhìn thấy. (Chọn nghề phù hợp với khả năng, thực lực của học sinh). Lối đi ngay dưới chân mình là một lối đi vừa tầm, nhẹ nhàng, ít chông gai, ít áp lực, ít rủi ro, ít thất bại, dễ thành công. Tuy thành công giản dị, hạnh phúc đơn sơ nhưng cuộc đời vui hơn, có ý nghĩa hơn. Chỉ có như vậy mới có thể tận hưởng những gì từ đường đi ta lựa chọn. Lối đi ngay dưới chân mình – một lời khuyên tích cực cho những ai đang thất bại Đường đến với tương lai không có con đường nào mà không có chông gai, thử thách, do đó vấp gã là điều khó tránh khỏi. Nếu vấp ngã mà cứ nằm lì sau khi ngã về dẫn đến thất bại. Đối với những ai thất bại đang cảm thấy bế tắc, bi quan, tưởng rằng cuộc đời không còn lối thoát, thì lối đi ngay dưới chân mình là lời khuyên tích cực giúp con người lấy lại cân bằng, lấy lại niềm tin đối với cuộc sống bởi cuộc đời chấp nhận thử thách và quyết tâm vượt qua thử thách thì sẽ thành công. Khi không có được cái mình yêu, hãy yêu cái mình có. (Rớt đại học thì học cao đẳng rồi liên thông lên đại học, hoặc theo học nghề…). Lối đi ngay dưới chân mình – một lời khuyên không phù hợp với những người có hoài bão, khát vọng lớn lao Với những có hoài bão lớn thì lối đi đẹp nhất chính là lối sống dấn thân vào những khát vọng và đam mê của mình. Họ dám nghĩ dám làm và luôn biết rằng “thất bại là mẹ thành công”, do đó không đi theo lối mòn mà khai phá, tìm cách mở lối vào đời. Những người có ý thức cá nhân mạnh mẽ chọn lối đi để khẳng định riêng mình, không thích đi lối nhàm chán ngay dưới chân mình. Họ bay lên bằng đôi cánh của ước mơ, đi theo ánh lửa từ trái tim mình, đi theo cách của mình cảm thấy thay vì nhìn thấy. Chúng ta càng bước tiến trên đường đời, mọi việc lại càng khó khăn hơn, nhưng chính trong khi chống lại gian khổ mà sức mạnh nội tâm của con tim được hình thành. * Bài học: Phải cân nhắc thật kĩ trước khi chọn lựa để chắc chắn rằng con đường mình chọn là đúng. Nên đi con đường dưới chân mình nhưng được soi sáng bằng ánh lửa của lí tưởng cao quí và niềm tin yêu cuộc sống. Khi đã chọn phải quyết tâm đi hết con đường mà mình đã chọn, đừng đứng núi này trong núi nọ, phải nhẫn nại, quyết tâm đạp bằng mọi khó khăn thử thách trên đường đi. Nếu không may mắn trượt ngã trên đường đi thì cũng chẳng có gì đáng xấu hổ, buồn chán, tuyệt vọng, hãy đứng dậy giữ vững niềm tin và ý chí bước tiếp. Kết bài: Cuộc sống luôn chứa đựng nhiều khó khăn, thử thách. Có những nỗi đau vẫn là nỗi đau nếu con người không tự thoát ra khỏi chúng để từ đó mà trưởng thành hơn. Thất bại hay thành công chỉ là biểu hiện của hiện tượng mà thôi, điều quan trọng là ta sẽ làm gì tiếp theo sau đó. Có biết bao con người bất hạnh đã vượt lên trên số phận khắc nghiệt của họ để tiếp tục sống và thành công. Những thiệt thòi, biến cố trong cuộc sống không những không thể dánh bại được họ mà còn khiến họ mạnh mẽ hơn và chiến thắng bằng chính sự nỗ lực của bản thân. Lối đi luôn ở dưới chân mình. Bởi thế, bạn hãy tự tin mà mạnh mẽ bước tới.
Nghị luận_ Lối đi ngay dưới chân mình
1,245
Nghị luận: Nguyên nhân của hiện tượng vô cảm trong xã hội ngày nay Hướng dẫn Nguyên nhân dẫn đến sự vô cảm của con người trong xã hội ngày nay Mở bài: Ngày nay, vô cảm ở con người đã trở thành một hiện tượng phổ biến, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống xã hội. (Nguyên nhân dẫn đến vô cảm) Thân bài: Nguyên nhân nảy sinh hiện tượng vô cảm ở con người trước hết là do sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa và công nghệ thông tin trên thế giới. Một lớp người nhanh chóng trở nên giàu có hoặc nghèo đi thường chọn lấy lối sống vô cảm, tự xây dựng cho mình một thế giới riêng. Sự giao thoa các nền văn hóa qua các mạng truyền thông khiến các giá trị văn hóa đặc thù dân tộc bị xói mòn và xâm hại. Công nghệ truyền thông phát triển vượt bậc khiến việc kiểm soát vấn đề bạo lực, văn hóa phẩm đồi trụy, tuyên truyền phản động,.. khó khăn hơn bao giờ hết. Tội ác có cơ hội xâm nhập sâu vào trong đời sống con người. Lối sống lệch lạc của con người khiến cho hiện tượng vô cảm tăng cao. Lối sống đua đòi, bắt chước của một số bạn trẻ đã tạo ra một thế hệ lệch lạc. Họ ra sức cổ súy cho những trào lưu văn hóa sai lầm khiến cho sự vô cảm ở giới trẻ trở nên phổ biến. Các bạn chỉ quan tâm đến chính mình, thờ ở, vô cảm với thế giới xung quanh. Nhiều bạn sống ích kỉ, không muốn chia sẻ với ai điều gì. Kẻ xấu chưa được nghiêm trị thích đáng. Tội ác vẫn còn lộng hành khiến cho nhiều người bất mãn. Từ đó làm nảy sinh những hành vi chống đối, không tuân thủ pháp luật và trở nên hung bạo, thiếu tình người. Gia đình và xã hội ít chú trọng giáo dục lối sống và đạo đức cho tuổi trẻ. Điều này cũng dễ hiểu khi nền kinh tế phát triển, con người cũng bận rộn hơn. Họ không đủ thời gian để giáo dục con cái mà ủy thác cho người khác. Họ đã không lường hết được những hậu quả của sự vô trách nhiệm ấy gây ra. Bởi thế, xã hội đã xuất hiện một thế hệ trẻ lạc lõng, cô đơn. Đó là một thế hệ “gấu bông” tự tìm lấy niềm vui trong “thế giới ảo” của riêng mình. Nhà trường, gia đình và xã hội mất kiểm soát trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm và tình yêu thương của con người Các bài học đạo đức, nhân cách, nhân phẩm và hành vi đạo đức được nhà trường chú trọng giáo dục. Xong vẫn chưa đạt được hiệu quả cần thiết. Các bài học chưa bám sát thực tế, chưa bắt kịp với thực tiễn đang diễn ra. Các thầy cô chỉ nói về những gì đang diễn ra mà thiếu giải pháp khắc phục hữu hiệu. Việc giáo dục đạo đức mới, tiến bộ và tiến tới hòa nhập cho học sinh vẫn còn nằm trên khẩu hiệu hoặc trên sách vở. Nền kinh tế thị trường với những quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của nó đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lí và hành vi ứng xử của con người. Con người ngày càng đề cao gúa trị tiền bạc, lấy mục tiêu lợi ích kinh tế đặt lên hàng đầu. Việc làm ăn không còn tuân thủ nguyên tắc đạo đức và pháp luật. Họ cứ thấy lợi là làm. Ta vẫn thấy các dòng sông đã “chết” dần từng ngày vì chất thải. Những kênh rạch hôi hám, đầy chất bẩn trôi quẩn quanh trong thành phố. Chúng ta cũng nhận thấy con người đã “bức tử” những cánh rừng, những miền đất, những đại dương. Tất cả chỉ vì tiền. Dân số tăng nhanh, áp lực việc làm và đời sống khiến con người không còn biết nhường nhịn hay yêu thương nhau nữa. Càng bận rộn, họ không còn biết quan tâm hay giúp đỡ lẫn nhau. Lâu dần trở thành thới quen, thành lối sống, thành cách ứng xử. Một xã hội vô tình, vô cảm cũng dần hình thành. Tuổi trẻ ngày nay còn thiếu những sân chơi lành mạnh, mang tính tập thể cao để bồi dưỡng và rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp. Họ tự tìm lấy thú vui cho riêng mình. Và dĩ nhiên đó chỉ là tổ chức của một vài cá nhân, mang tính lợi ích nhóm cao. Họ tự bảo vệ cho nhóm của mình, không thích bị can thiệp, bị chia rẽ, bị phân tán. Từ đó việc tranh giành, đấu đá lẫn nhau sảy ra một cách hiển nhiên. Sự cảm thông hay chia sẻ không bao giờ được ủng hộ hay đề cao. Không có một sự chuyển động nhanh nào mà không có rủi ro. Tuy vậy, phong trào khởi nghiệp làm giàu được khuyến khích trong toàn xã hội khiến tuổi trẻ phấn khích. Họ tự gây áp lực làm giàu cho mình mà bất chấp rủi ro. Họ chỉ có công việc, ngày đêm đối diện với các vấn đề trong công việc. Họ đã không còn đủ thời gian để sống, để vui chơi, để yêu thương hoặc cảm thông trước những bất hạnh trong xã hội. Và hiện tượng vô cảm cũng nảy sinh, từng bước làm xói mòn đạo đức và tình yêu thương của con người. Kết bài: Ai cũng muốn được sống yên bình trong tình yêu thương. Và để đạt được điều đó, không còn cách nào khác là nên tự xây dựng ở mỗi con người một lối sống tích cực, lành mạnh, hướng đến cộng đồng, hướng đến dân tộc và đất nước. Toàn xã hội đang quyết tâm tìm kiếm giải pháp để khắc phục hiện tượng vô cảm ở con người. Nhiều chương trình nghiên cứu đã được tiến hành. Nhiều giải pháp cũng đã được thực thi. Tất cả chỉ vì một thế giới ai cũng sống bằng tình thương.
Nghị luận_ Nguyên nhân của hiện tượng vô cảm trong xã hội ngày nay
1,034
Nghị luận: Những thói xấu ban đầu chỉ là khách qua đường, sau trở thành người bạn ở chung nhà và cuối cùng biến thành ông chủ nhà khó tính Hướng dẫn Good. ❤
Nghị luận_ Những thói xấu ban đầu chỉ là khách qua đường, sau trở thành người bạn ở chung nhà và cuối cùng biến thành ông chủ nhà khó tính
32
Nghị luận: Phải chăng gần mực thì đen, gần đèn thì sáng? Hướng dẫn Gần mực mà không đen, gần đèn mà không sáng Mở bài: Con người là tác nhân rất lớn tác động và làm thay đổi môi trường sống xung quanh. Và ngược lại, môi trường sống cũng có những tác động đáng kể lên bản thân và đời sống con người. Chính môi trường sống là yếu tố hình thành và phát triển lối sống, cách ứng xử và các hoạt động của con người. Người xưa từng cho rằng: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Thế nhưng, phải chăng gần mực thì sẽ đen, gần đèn sẽ được sáng? Thân bài: Giải thích: Mực đen là gì? Mực là chất liệu lỏng có màu đen, thường dùng để viết chữ. Trước đây, mực đen là chất liệu viết chữ chủ yếu của con người. Đến ngày nay, mực đen vẫn được còn được dùng phổ biến nhưng chủ yếu trong hoạt động in ấn. Các loại mực màu xanh, mực bi đặc đã dần thay thế cho mực đen loãng trong viết chữ của con người. Trong câu tục ngữ này, mực hay chính là môi trường sống xấu, có tác động tiêu cực đến nhân cách và đời sống con người. Đèn là gì? Đèn ở đây là đèn dầu được sử dụng chủ yếu trong đời sống trước đây. Đèn dầu là một đồ vật chiếu sáng được thắp bằng dầu hỏa. Khi bấc đèn (hay còn gọi là ngọn đèn) được đốt cháy, ánh sáng sẽ soi rọi khắp mọi vật nằm trong phạm vi chiếu sáng của nó. Càng gần ngọn đèn càng nhận được nhiều ánh sáng hơn. Đèn trong cau tục ngữ tren chính là môi trường sống tốt đẹp, có tác động tích cực lên nhân cách và đời sống con người. Ý nghĩa câu tục ngữ: Nghĩa đen: Nếu ở gần mực, rất dễ bị màu đen của mực bám bẩn. Nếu ở cạnh đèn, sẽ được ánh sáng của nó chiếu rọi. Nghĩa bóng: Nếu sống trong môi trường có nhiều điều xấu xa, tệ nạn nhiều thì con người sớm muộn gì cũng hư hỏng, nhân cách thấp kém và làm điều gây tổn hại đến xã hội. Nếu sống trong một môi trường tốt đẹp, giàu lòng nhân ái, thì con người cũng sẽ trở nên tốt đẹp, nhân cách cao thượng vàlàm được nhiều điều hữu ích cho xã hội. Bàn luận: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” là một nhận định đúng đắn: Môi trường ở đây cần phải hiểu là môi trường tự nhiên và cả môi trường xã hội. Con người luôn làm chủ môi trường xung quanh và bắt môi trường phục vụ có lợi cho cuộc sống của mình. Chính con người đã cải tạo môi trường tự nhiên phù hợp với nhu câu đời sống và xay dựng môi trường xã hội theo những mục đích nhất định. Có thể nói môi trường sống là sản phẩm do chính con người tọa ra và làm chủ nó. Nếu sống trong một môi trường tiêu cực, có nhiều tệ nạn, danh dự và tình thương không được đề cao, bạo lực tràn lan thì con người thường trở nên hoài nghi, vô cảm và tàn nhẫn. Bởi vì, những điều dối trá hoặc tàn ác, tham lam hoặc vụ lợi, âm mưu hoặc hận thù, ích kỉ hoặc hoài nghi thường xảy ra trước mắt họ trong một thời gian dài. Những điều xấu xa cứ lặp đi lặp lại sẽ tác động sâu sắc vào suy nghĩ của họ và trở thành lối ứng xử quen thuộc hằng ngày. Cái xấu có điều kiện phát triển, cái tốt dần bị mờ phai. Cuối cùng định hình một nhân cách thấp kém ở họ. Tại những đất nước còn nghèo khó, sự quản lí của chính phủ còn lỏng lẻo, tội phạm lộng hành, cái xấu dienx ra phổ biến trong đời sống xã hội thì đạo đức và nhân cách của phần lớn con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trẻ em trộm cắp, người lớn lừa dối nhau. Đạo đức không được đề cao, con người thất nghiệp, lêu lỏng nhiều; kẻ xấu không được giáo dục hoặc trừng trị đích đáng. Từ dó, xã hội rối loạn, nhân cách con người cũng trở nên biến chất. Nếu được sống trong một môi trường tốt đẹp, tình thương được đề cao, con người được giáo dục tốt thì cugnx trở nen tốt đẹp và cao thượng hơn. Hằng ngày, con người được nhìn thấy, nghe thấy và làm những việc tốt đẹp và hữu ích. Cái tốt cứ lặp đi lặp lại và định hình ở trong họ một nhân cách, một lối sống, lối ứng xử trọng tình nghĩa, hướng đến lợi ích chung của cộng đồng. Cái xáu bị chỉ trích, lên án hoặc trừng trị sẽ gây được niềm tin tưởng lớn. hành vi cao thượng từ đó cũng xuất hiện nhiều. Con người tránh làm những điều có thể gây tổn hại đến người khác, sống tuân thủ các nguyên tắc chung và cống hiến nhiều hơn cho xã hội. Xã hội càng tốt đẹp, con người càng trở nên cao thương hơn. Người ta từng vô cùng kinh ngạc khi tìm hiểu về đất nước Nhật Bản. Người Nhật với tính tự giác của mình đã xây dựng một xã hội lý tưởng. Ở đó, ai cũng biết tuân thủ kỉ luật và xem sự không tuân thủ là một hành động thấp kém, đánh bị chê trách. Người Nhật rất giàu lòng tự trọng. Họ cũng rất khiêm tốn. Họ đề cao tri thức và lối sóng đạo đức, văn hóa và cao thượng. Đối với người Nhật danh dự là trên hết. Họ luôn muốn hòa hợp với xã hội bằng lối sống tốt đẹp. Một khi bị cộng đồng loại bỏ thì đó là một điều vô cùng tồi tệ. Chính môi trường sống tốt đẹp ấy đã hình thành ở người Nhật những phẩm chất và cách sống tốt đẹp. Dù họ sống ở bất cứ nơi đâu cũng đều được đánh gái cao. Nhưng có khi gần mực mà không đen: Con người luôn làm chủ bản thân và thế giới xung quanh. Không có gì có thể phủ nhận điều đó. Chính con người mới là yếu tố quyết định mình là ai; mình cần sống như thế nào; mình cần làm những gì và vị trí nào trong xã hội? Dù sống trong môi trường không tốt đẹp, cái xấu cáu ác tràn lan nhưng neus con người đề biết nhận thức cái đúng và cái sai; cái xấu và cái ác; luong tâm và trách nhiệm; từ đó rèn luyện và điều chỉnh hành động của mình theo chieuf hướng tốt đẹp, hướng đến ánh sáng chân lí thì không những không bị cái xấu, cái ác xâm nhập mà môi trường ấy còn trở thành điều kiện rèn luyện lí tưởng để kiện toàn bản thân, đạt đến chân, thiện, mĩ ở đời. Cần gì tìm kiếm đâu xa, những trường hợp ấy có ngay ở trong đời sống của mỗi chúng ta. Kim Woo Choong, một trong bốn huyền thoại Hàn Quốc là một minh chứng hết sức rõ ràng. Ông sinh ra nghèo khó, sớm trở thành trụ cột gia đình. Hằng ngày, ông phải bán hết 100 tờ báo để có đủ tiền trang trải cuộc sống. Nơi ông thường đến là những khu chợ dông đúc. Ở đó, sự lừa dối, trộm cắp diễn ra phổ biến. Ngay từ đó Kim Woo Choong đã học cách nuôi dưỡng lòng can đảm, để vượt lên sự sợ hãi, vất vả và thử thách. Hoàn cảnh khó khăn không thể khuất phục ông, Bằng cách làm mọi việc đẻ sống và học, ông đã tốt nghiệp đại học và sau này trở thành người đầu tien giàu có và đưa hình ảnh hàn Quốc ra khắp thế giới bằng thương hiệu Daewoo (Vũ trụ lớn) cùng với 5 người bạn với số vốn ít ỏi 10.000 đô và với một khoản vay 5.000 đô, trong một căn phòng thuê bé nhỏ, bẩn thỉu ở một góc toà nhà. Một câu chuyện khác về người mẹ của Mạnh Tử, một người tiếp nối kiệt xuất tư tưởng của đức Không Tử. Chồng mất sớm, Mạnh Mẫu một mình nuôi Mạnh Tử. Cuộc sống khó khăn, khiến bà phải màn con đi hết nơi này đến nơi khác nhưng không lức nào quên giáo dục con mình. Lúc nơi ở gần bãi tha ma, bà thường thấy con mình cùng đám trẻ con chơi trò bắt ma la hét inh ỏi bà rất lo lắng và cho rằng nơi này không tốt để ơ. Liền sau đó, bà chuyển nhà đén nơi gần khu chợ sầm uất. Thế nhưng, đến đây, Mạnh Tử hằng ngày nhìn thấy người ta cân, đo, đong, đếm, lừa dối nhau, bà thốt len rằng sớm muộn gì Mạnh Tử cũng hư hỏng thôi. Bà lại tiếp tục chuyển nơi ở một lần nữa đén gần một trường học. Ở đây ít náo nhiệt hơn. Hằng ngày, Mạnh Tử thường đến trường chơi và đọc theo các học trò trong lớp. Về nhà lại cặm cụi viết lại chữ thầy đã viết lên bảng hoặc lẩm nhẩm đọc lại bài học và hằng ngày rèn mình theo lễ nghi. Lúc bấy giờ Mạnh Mẫu mới thở phào: “Đây mới là chỗ ở của con ta”. Sau này, Mạnh Tử học rộng biết nhiều, trở thành một hiền nhân đức độ và tài trí bậc nhất thiên hạ. Thế nhưng, không phải ai cũng có nhận thức dúng đán và có đủ bản lĩnh để vượt lên trên hoàn cảnh. Có những người đã sớm bị hoàn cảnh khuất phục, từ một người tốt đẹp trở nên hư hỏng, suy thoái nhân cách. Có những người tuy sống trong môi trường tốt đẹp nhưng không biết trân trọng cái tốt, ham mê cái xấu, tập mình hư hỏng. Họ thường bị xã hội chê trách, xa lánh. Những người như thế nhất định sẽ thất bại trong cuộc sống. Khẳng định: Môi trường sống có tác động mạnh mẽ đến việc hình thành và phát triển nhân cách, lối sống của con người nhưng chính bản lĩnh con người mới là nhân tố quyết định điều đó. Gần mực mà không đen, gần đèn thì phải sáng. Người sống như thế mới mong đạt được thành công và có cuộc đời đầy ý nghĩa trong cuộc sống này. Kết bài; Hãy quay mặt về hướng mặt trời, bóng tối sẽ ở sau lưng bạn. Bạn làm chủ hoàn cảnh hay hoàn cảnh làm chủ bạn, tất cả phụ thuộc vào cách bạn sống và hành động. Hãy luôn làm chủ bản thân, hướng đến những điều tốt đẹp và không ngừng khao khát đến tương lai tươi sáng bạn sẽ vượt lên những điều xấu xa, hình thành ở mình nhân cách cao quý. Chính nó sẽ đưa bạn đến với thành công và cuộc sống đầy ý nghĩa. Đừng bao giờ chờ đợi mà hãy làm điều đó ngay từ bây giờ.
Nghị luận_ Phải chăng gần mực thì đen, gần đèn thì sáng_
1,876
Nghị luận: Sức mạnh của lời nói Hướng dẫn Lời nói có sức mạnh phi thường nếu ta biết sử dụng Mở bài: Người xưa từng khuyên rằng: “Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Lời nói tuy vô hình nhưng lại có tác động to lớn đối với chúng ta. Sức mạnh Của lời nói vượt xa những gì ta có thể nghĩ tới được. Bằng lời nói, ta có thể người khác thấy vui vẻ và hạnh phúc. Cũng bằng lời nói, ta có thể khiến người khác căm ghét và hận thù. Thân bài: Lời nói là gì? Lời nói là sự diễn đạt bằng ngôn ngữ nói tạo thành một ý hoặc một văn bản hoàn chỉnh nhằm thực hiện một mục đích giao tiếp nào đó. Trong lời nói, ngoài giá trị về mặt ngữ nghĩa còn có thái độ giao tiếp và hàm ý của nó. Bởi thế, xét đoán một lời nói trọn vẹn không phải là điều dễ dàng. Sức mạnh phi thường của lời nói Không ai có thể phủ nhận được vai trò và sức mạnh của lời nói trong đời sống giao tiếp của con người. Nó không chỉ là một phương tiện giao tiếp, biểu lộ tâm tư, tình cảm mà còn là một phương tiện hữu hiệu để thực hiện các mục đích khác trong cuộc sống này. Trước hết, lời nói là một phương tiện giao tiếp không thể thay thế được của con người. Chính khả năng biểu đạt tư duy bằng lời nói định sự khác biệt của con người và các loài vật khác. Không có lời nói, quá trình giao tiếp sẽ trở nên chậm chạp. và sẽ vô cùng bất tiện nếu thay thế lời nói bằng một phương thức giao tiếp khác. Lời nói có sức mạnh gắn kết con người lại với nhau. Những lời nói tốt đẹp chẳng khác gì phép màu khiến người khác cảm thấy được thấu hiểu, được động viên mà vui vẻ. Lời nói sẻ chia tình cảm, giúp người khác hiểu mình và mình thêm hiểu người khác. Nó đâu chỉ là một phương tiện giao tiếp, trao đổi thông tin hay thực hiện các giao kết xã hội mà còn là phương tiện để con người bày tỏ tình cảm, thấu hiểu lẫn nhau. Một lời nói đúng đắn có thể xua đi căng thẳng, hàn gắn được vết thương ở trong lòng. Lời nói tuy dễ thực hiện nhưng chứa đựng sức mạnh lớn lao. Khi xảy ra xung đột, một người biết nhượng bộ, dùng lời lẽ mềm dẻo để hòa giải tất sẽ không có bạo lực xảy ra. Việc lớn sẽ thành việc nhỏ, việc nhỏ trở thành không có. Không ai muốn xảy ra bạo lực hay gây tổn thương cho người khác. Nếu biết nói lời dễ nghe thì những điều đáng tiếc có thể đã không xảy đến. Khi người khác buồn phiền, một lời động viên đúng lúc có thể khiến họ vui lên, vơi bớt nỗi buồn đau. Họ cảm thấy được đồng cảm sẻ chia. Từ đó, tăng cường ở họ sức mạnh vươn lên và niềm tin vào cuộc sống. Khi người khác buồn phiền, đừng quay lưng lại với họ. Cũng không cần bạn phải làm gì lớn lao. Hãy kiên nhẫn nghe họ tỏ bày và có lời khuyên đúng đắn. Lời nói chân thành, đúng lúc chẳng khác gì phép màu, làm tái sinh sự sống trong một tinh thần vốn đã héo khô. Sức mạnh của lời nói thật không sao có thể đo đếm được. Bởi thế mà người xưa đã dùng lời nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng người để gắn kết con người lại với nhau trong một mục đích, một nhiệm vụ, một chí hướng. Chỉ bằng bài Hịch tướng sĩ văn ngắn ngủi mà Trần Hưng Đạo đã kích động được lòng quân, giúp họ nhận thấy lỗi lầm, nhìn rõ nhìn vụ mà một lòng cùng chủ tướng quyết tâm đánh giặc cứu nước. Cũng chỉ bằng lời nói mà Nguyễn Trãi đã hàng phục biết bao thủ lĩnh, tướng sĩ bốn phương, giúp nghĩa quân Lam Sơn tăng cường sức mạnh mà không tốn một binh một lính nào. Có nhiều người lợi dụng những lời nó ngọt ngào, dễ nghe để thực che đậy bản chất xấu xa của mình. Ngược lại, có người không biết lời nói lời tốt đẹp hay cố tình dùng lời lẽ thô bỉ để sỉ nhục, gây tổn thương cho người khác. Những kẻ như thế thật đáng lên án. Lời nói không tử tế có thể gây ra những vết thương lớn, không thể nào hàn gắn nổi. Một lời nói bất cẩn có thể nhóm lên xung đột. Một lời nói tàn nhẫn có thể phá hỏng một cuộc đời. Một lời nói cay độc chẳng khác gì là bạo lực tinh thần. Tác hại chẳng khác gì những hành động xâm phạm thân thể người khác. “Lời nói không là dao mà cắt lòng đau nhói lời nói không là khói mà mắt lại cay cay”. Lời nói của những người xung quanh ta sẽ định hình tính cách của ta. Mỗi ngày một ít, cứ từ từ xâm chiếm, gậm nhấm tâm hồn ta. Rồi đến một ngày, nó chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn con người. Kết bài: Mỗi lời nói của chúng ta đều ẩn chứa một sức mạnh vô hình. Một lời động viên đúng lúc có thể giúp cho những người đang trong cơn bế tắc lấy lại tinh thần và vượt qua khó khăn. Nhưng cũng có những lời nói có thể giết chết một người đang trong cơn tuyệt vọng. Hãy biết nói lời dễ nghe, đúng đắn và chân thành để bản thân được vui vẻ và gây được điều vui vẻ ở người khác. Cuộc sống ngắn ngủi, cớ gì phải gây cho nhau những tổn thương không nên có. Lời nói chẳng mất tiền mua và luôn sẵn có trên môi. Thế nên, hãy biết lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Những câu chuyện ý nghĩa về sức mạnh của lời nói Câu chuyện thứ nhất: Hai đứa trẻ Chuyện kể rằng, có một đứa trẻ dù năng lực yếu kém nhưng luôn được mẹ động viên và ủng hộ. Cậu ấy cảm thấy có động lực và không ngừng vươn lên. Khi trưởng thành, cậu ấy là ông chủ của một công ty. Một cậu bé khác ở gần ấy. Dù là một cậu bé thông minh nhưng mẹ cậu ấy luôn có thái độ gắt gỏng trước những sai lầm của con. Bà chỉ biết chê bai và trừng phạt cậu bé. Không khi nào khen ngợi hay tha thứ cho cậu. Lúc nào, cậu ấy cũng thấy có một áo lực vô hình ghê gớm bao quanh mình. Không ai ủng hộ cậu ấy, cả thế giới dường như quay lưng với cậu. Cậu vô cùng chán nản, buông bỏ học hành. Lớn lên, cậu gia nhập băng cướp và gây nên nhiều trọng án. Câu chuyện thứ hai: Edison và bức thư của thầy giáo Câu chuyện cuộc đời của nhà bác học vĩ đại Edison lại càng cho ta thấy sức mạnh của lời nói và tấm lòng của người mẹ. Từ nhỏ, Edison là một cậu bé kém cỏi. Cậu học rất kém và có những câu hỏi ngớ ngẩn khiến thầy giáo của cậu rất phiền lòng. Một hôm, thầy giáo của cậu gợi mẹ cậu đến dẫn cậu về và gửi cho bà một bức thư. Về đến nhà, bà giở bức thư ra xem và sửng sốt. Thấy mẹ lo lắng, Edison đã hỏi thầy giáo đã viết gì trong bức thư ấy. Rát nhanh chóng, mẹ Edison đọc bức thư: “Con trai bà là một thiên tài. Chúng tôi không đủ sức dạy cậu bé. Bà hãy đưa cậu bé về nhà và để câu ấy tự nghiên cứu”. Thực tế là Edison bị đuổi học. Người mẹ đã giấu điều đó suốt bao nhiêu năm và âm thầm khích lệ ông tự học ở nhà. Khi đã trở thành một nhà khoa học nổi tiếng, người mẹ cũng qua đời từ lâu, trong một lần dọn dẹp ngôi nhà, Edison đã phát hiện ra sự thật ấy. Ông đã khóc rất nhiều sau đó. Câu chuyện thứ ba: Tào Tháo và câu chuyện rừng mơ Chuyện kể rằng, một năm vào mùa hạ, Tào Tháo thống lĩnh quân đội đi đánh Trương Tú. Đường hành quân rất khó khăn. Trời nóng như đổ lửa, bầu trời không một gợn mây. Mặt đất nóng giẫy, oi bức vô cùng. Quân đội của Tào Tháo đã hành quân nhiều ngày, tướng sĩ đều rất mệt mỏi. Những binh sĩ thân thể cường tráng dần dần cũng khó mà trụ nối. Để động viên tướng sĩ tiếp tục trụ vừng, Tào Tháo nói:“Phía trước kia có một rừng mơ rộng lớn rất sai quả, hãy mau lên đường, đi hết trái núi này sẽ đến rừng mơ đó!” Các binh sĩ nghe vậy, nước miếng tứa ra đầy miệng, như là đã ăn được quả mơ thực. Bởi thế mà, tinh thần phấn chấn hơn, bước chân cũng nhanh hơn rất nhiều. Người nọ dìu người kia đi mau về phía trước. Sau đó, cho dù không tìm thấy rừng mơ, nhưng nhờ sự khích lệ của ý chí, cuối cùng họ cũng đến được nơi có nước. Quả thực, Tào Tháo biết mình sai. Nhưng trước tình thế ấy không nói dối là không được. Cái tài của chủ tướng là biết khích lệ lòng quân đạt đến mục đích. Tướng sĩ biết Tào Tháo nói dối nhưng đã cảm thấy phấn chấn, có động lực bước tời và cuối cùng tìm được ngườn nước. Lúc này mới hay, nếu không nhờ cái rừng mơ giả dối ấy chắc có lẽ mình đã bỏ mạng trên đường mất rồi. Trong lòng cũng không có oán trách gì. Câu chuyện thứ tư: Đức phật và người thợ săn Hay câu chuyện của đức Phật và người thợ săn đem lại cho ta nhiều suy nghĩ. Chuyện cũng kể rằng, một hôm đang dạo bộ trong rừng, đức Phật nhìn thấy một con hươu chạy đến, rồi rẽ hướng vào rừng. Một bên đùi có mũi tên cắm sâu, máu chảy rất nhiều. Lát sau, có một người thợ săn chạy đến, gặp đức Phật hỏi người có thấy con hươu nào chạy qua không. Đức Phật bình thản chỉ về hướng khác: “Ở hướng đó”. Người thợ săn cảm ơn đức Phật rồi hối hả chạy theo hướng tay người chỉ. Câu chuyện thứ năm: Lão Tử và người bán giống hoa mẫu đơn Một ngày mùa xuân, có người đến chợ nơi Lão Tử ở bán giống hoa mẫu đơn. Anh ta hết lời khen ngợi giống hoa mình bán là tốt nhất thế gian và mời mọi người mua. Thấy mọi người rộn ra mua bán, Lão Tử cũng mua lấy một cây về trồng ở trong vườn và ra sức vun tưới. mấy tháng sau, tuy cây đã lớn nhưng không thấy ra hoa. Lão Tử hỏi người trong làng mới biết đó là cây gai chứ không phải mẫu đơn. Ông rất buồn bã và bực tức người bán giống hoa giả dối. Mùa xuân năm sau, có một người khác cũng đến khu chợ ấy bán giống hoa mẫu đơn. Anh ta là người cục mịch, ăn nói cộc lốc. lão tử đi ngang, ghé vào hỏi mua. Lần này, sợ bị lừa như năm trước, ông cẩn thận hỏi: – Đây có phải là giống hoa mẫu đơn không. Giá bán bao nhiêu? Người bán hoa ngước nhìn ông rồi như không thèm quan tâm, nói: – Một đồng một cây. Ông mua thì mua, không mua thì thôi, đi chỗ khác cho tôi bán. Dù không hài lòng với lời nói của người bán hoa nhưng Lão Tử cũng mua lấy một cây về trồng. Ông vẫn vun tưới cây đều đặn. Mấy tháng sau, cây mẫu đơn nở ra một bông hoa rất đẹp, ai trông thấy cũng phải trầm trồ, khiến Lão Tử rất vui. Sau này, Lão Tử viết vào trong quyển Đạo Đức Kinh rằng: “Lời nói dối thường rất ngọt ngào. Lời nói thật thường rất khó nghe”. Câu chuyện thứ sáu: Gia cát Lượng mắng chết dũng tướng Không những giỏi về binh thư, mưu lược, bày binh bố trên như thần, Khổng Minh gia Cát Lượng còn sử dụng lời nói như một sức mạnh để chiến thắng. Trước lời lên án, chế giễu của Vương Lãng, Gia Cát Lượng mạnh lời đã vạch trần bản chất nhút nhát, phản bội, vô sỉ khiến cho Vương Lãng uất ức ngã ngựa mà chết. Sau trận thua nặng nề ở Tà Cốc, Tào Chân bị ốm, nằm mê man. biết Vậy, Gia cát Lượng viết mọt bức thư rồi cho người gửi đến doanh trại. Trong thư, Gia Cát Lượng chê Tào Chân là dũng tướng mà vô học, không biết dùng binh, liên tiếp thất trận, làm tổn hại xương máu binh sĩ. Như thế còn mặt mũi nào mà đứng ở đời, làm sao dám còn về gặp lại dân chúng, còn tu cách nào để thăng đường nghị sự. Tào Chân đọc xong thư liền ngất xỉu. Ngay đêm đó cũng đi luôn.
Nghị luận_ Sức mạnh của lời nói
2,229
Nghị luận: Thói quen tốt từ những việc nhỏ-Tiết kiệm-Việc làm nhỏ, lợi ích lớn Hướng dẫn bai viet xuat sac.Cam on tac gia
Nghị luận_ Thói quen tốt từ những việc nhỏ-Tiết kiệm-Việc làm nhỏ, lợi ích lớn
22
Nghị luận: Thói quen tốt từ những việc nhỏ: Giữ gìn vệ sinh trường lớp-việc làm nhỏ, ý nghĩa lớn. Hướng dẫn Có những việc làm nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn Mở bài: Con người khác với loài vật ở đặc điểm là biết giữ gìn vệ sinh không gian sống để bảo vệ sức khỏe, tránh được bệnh tật, tạo nên môi trường sống trong sạch, lành mạnh. Một trong những thói quen cần có ở mỗi học sinh là phải biết giữ gìn vệ sinh trường lớp. Một hành động nhỏ nhưng có ý nghĩa to lớn đối với tập thể và cộng đồng. Thân bài: Giữ gìn vệ sinh trường lớp là gì? Giữ gìn vệ sinh trường lớp là hành động giữ gìn và bảo vệ không gian trườnghọc, lớp học, không để bị nhiễm bẩn, mất vệ sinh hay ô nhiễm bởi rác thải, chất thải, vi khuẩn độc hại,… Vì sao phải biết giữ gìn vệ sinh trường lớp? – Trường học, lớp học là nơi học sinh học tập và vui chơi. Đây là không gian chung, tập trung nhiều học sinh nên dễ bị mất vệ sinh bởi rác thải, chất thải do thức ăn và đồ đựng thức ăn của học sinh. Nếu trường học, lớp học mất vệ sinh dễ gây ra bệnh cho số đông học sinh, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập. – Vì đây là không gian chung nên cần phải có ý thức giữ gìn vệ sinh thật tốt. Mỗi hành vi xả rác, bỏ rác không đúng nơi quy định đều đáng bị phê bình, khiển trách. – Giữ gìn vệ sinh trường học, lớp học là trách nhiệm của mỗi học sinh. Mỗi học sinh phải thể hiện trách nhiệm trước tập thể. Đầu tiên là biết tôn trọng và giữ gìn vệ sinh trường lớp. Hành động này phải xuất phát từ ý thức tự giác, trách nhiệm xây dựng tập thể của học sinh. – Biết giữ gìn vệ sinh trường lớp sạch sẽ thể hiện lối sống lành mạnh, văn minh và tiến bộ. Giữ gìn vệ sinh trường lớp như thế nào? – Không bôi bẩn, làm bẩn hay tô vẽ lên vách tường, bàn ghế và các vật dụng khác ở trường học, lớp học. Cũng không mang thức ăn lên lớp, không làm đổ nước ra sàn. – Không vứt rác, xả rác bừa bãi. Phải tập thói quen bỏ rác đúng nơi quy định. Không làm rơi vãi hay vứt thức ăn xuống đất. – Dọn vệ sinh trường học, lớp học sạch sẽ vào đầu giờ và cuối giờ học. Khi bước vào giờ học không mang theo bịch, túi hay các loại nước uống có màu, có đường bởi nó dễ làm bẩn lớp học. Hết giờ học phải dọn vệ sinh học bàn. Không được bỏ rác xuống sàn lớp, học bàn hay các góc phòng học. Bàn ghế phải được sắp xếp ngay ngắn. – Tổ chức làm vệ sinh tập thể để cùng nhau bảo vệ, giữ gìn vệ sinh trường học, lớp học. Tuyên truyền, cổ động, phổ biến ý thức giữ gìn vệ sinh, tạo thói quen vệ sinh sạch sẽ trong tập thể và trong cả cộng đồng. Tuyên dương, ca ngợi và khen thưởng những học sinh gương mẫu; nhắc nhở, phê bình, khiển trách những học sinh có ý thức vệ sinh kém. Bài học: – Phải có ý thức giữ gìn vệ sinh trường học, lớp học. – Giữ gìn vệ sinh trường học, lớp học góp phần bảo vệ môi trường sống của chúng ta. Kết bài: Giữ gìn về sinh trường học, lớp học, xây dựng môi trường học tập sạch sẽ, thân thiện và an toàn là trách nhiệm của mỗi học sinh. Một việc làm nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn trong cộng đồng. Bài viết liên quan: Suy nghĩ về rèn luyện kĩ năng sống của học sinh hiện nay
Nghị luận_ Thói quen tốt từ những việc nhỏ_ Giữ gìn vệ sinh trường lớp-việc làm nhỏ, ý nghĩa lớn.
649
Nghị luận: Thời gian làm nên giá trị Hướng dẫn Giá trị của thời gian đối với đời người Mở bài: Thời gian chính là sự thử thách lớn nhất đối với mọi sự tồn tại. Những gì vượt qua được thử thách khắc nghiệt của thừi gian đều khẳng định giá trị vững bền của mình. Thế nên, có người cho rằng: “Những thứ có giá trị đều phải được thử thách bằng một lượng thời gian đáng kể”. Chính mỗi chúng ta sẽ khẳng định mạnh mẽ giá trị của thời gian trong cuộc sống của chính mình. Thân bài: Thời gian là gì? Thời gian là khái niệm chỉ trình tự sảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng. Thời gian thường được tính bằng giây, phút, giờ, ngày, tháng,năm, thế kỉ,… Những thứ có giá trị là những gì có thể tạo ra những lợi ích trong đời sống con người. Thử thách là những khó khăn, trở ngại, gian khổ trong cuộc sống mà con người cần có nghị lực mới vượt qua được. Những gì có giá trị đều được thử thách bằng một lượng thời gian đáng kể Sự tồn tại hay hủy diệt của vạn vật đều phụ thuộc vào vòng luân chuyển của thời gian. Thời gian quyết định sự sinh tồn hay chấm dứt sự sinh tồn của chúng ta và của mọi vật trên thế gian này. Bởi thế, những gì vượt qua được những khó khăn, trở ngại và sự tàn phá của thời gian đều là những thứ có giá trị vững bền. Bởi thế, vì phải trải qua một giai đoạn lâu dài hơn nên giá trị của gỗ trắc lớn hơn gỗ thông rất nhiều. Một cây thông chỉ sống được khoảng vài chục năm, gỗ của nó sẽ sớm mục nát. Còn cây trắc có thể sống đến vài trăm năm và gỗ của nó cũng tồn tại đến nghìn năm sau. Chính vì đã vượt qua thử thách của thời gian để sinh trưởng và tồn tại, cây trắc đã khẳng định giá trị vượt trội của mình. Không có một thành công nào mà không phải trải qua gian khổ: Con người dù có trí tuệ cao thì cũng chịu sự thử thách của dòng thời gian thăm thẳm. Bằng trí tuệ, con người đã từng bước làm chủ bản thân làm chủ sự sống và khát vọng vượt lên sự tàn phá của thời gian nhưng chưa thể vượt qua được quy luật của nó. Chính vì biết đấu tranh, khát vọng vươn cao vươn xa trong cuộc sống và khám phá vũ trụ, con người đã khẳng định được giá trị và vị trí tối cao của mình. Kết bài: Thời gian vừa là yếu tố thúc đẩy sự trưởng thành và khẳng định giá trị của mọi vật và cũng là yếu tố hủy diệt mọi vật. Biết được điều đó, mỗi chúng ta phải không ngừng nỗ lực hoàn thiện mình, sẵng sàng vượt qua khó khăn, thử thách để tồn tại cùng nó. Chính giá trị vượt trội làm cho con người tồn tại đến vĩnh hằng.
Nghị luận_ Thời gian làm nên giá trị
520
Nghị luận: Trong thế giới này chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt” (Martin Luther King) Hướng dẫn Sự im lặng đáng sợ của những người tốt trước nghịch cảnh của người khác Mở bài: Kẻ xấu thì luôn xấu cả trong hành động và lời nói. Thế nhưng, người tốt cùng có thể xấu nếu như họ thờ ơ và im lặng trước những sự việc cần nói, cần hành động. Sự im lặng của họ có thể xuất phát bởi một lí do nào đó, ta ít khi hiểu được. Sự im lặng của họ có thể khiến ta bực bội hay oán giận. Bàn về điều đó, nhà thần học người Đức Martin Luther King đã từng nói: “Trong thế giới này chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt”. Thân bài: Sự im lặng là gì? Sự im lặng là không có hành động gì trước một sự việc đáng lẽ phải có thái độ, phải có phản ứng. Sự im lặng còn được hiểu với nhiều biểu hiện và nguyên nhân khác nhau. Im lặng là không tham gia tranh luận, không can thiệp vào sự việc nào đó. Im lặng còn có thể được hiểu là thái độ thờ ơ, vô cảm, lạnh lùng với những gì đang xảy ra xung quanh. Nguyên nhân của sự im lặng cũng được lí giải phức tạp. Có thể nó xuất phát từ sự vô cảm của con người. Cũng có thể nảy sinh từ quan điểm sống “im lặng là vàng” của một số người. Trong câu nói của Martin Luther King, sự im lặng của người tốt chính là thái độ bàng quan, hững hờ của họ đối với sự việc đáng ra họ phải có hành động hoặc thái độ can thiệp, xử lí để hỗ trợ, bênh vực kẻ yếu đuối, bảo vệ công lí, công bình. Cách biểu hiện của họ không có gì xấu nhưng nó vô tình tiếp tay cho cái xấu, cái ác, khiến cho con người hiền lương mất dần niềm tin tưởng ở nơi họ. Im lặng không phải là xấu. Nhưng nó cũng chẳng khác gì hơn hành động lỗ mãn và lời nói cay nghiệt của kẻ xấu. Nó khiến ta xót xa, hối tiếc khi đã đặt niềm tin và lòng kính trọng ở họ. Tại sao khi người tốt tỏ thái độ im lặng trước sự việc cần can thiệp lại làm ta xót xa? Người tốt không chỉ là người không gây hại cho người khác. Người được coi là người tốt là người hội tụ đủ những phẩm chất tốt đẹp ở đời và có đóng góp hữu ích đối với cuộc sống của mọi người xung quanh họ. Họ luôn biết làm những điều nên làm và không làm những điều không nên làm. Họ biết tôn trọng các nguyên tắc chung, bênh vực và bảo vệ công lí. Họ luôn sống vì người khác và sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ hay bênh vực kẻ yếu thế hơn mình trong khó khăn hoạn nạn. Bởi thế, người tốt luôn được người khác kính trọng, yêu thương và tin tưởng. Sự im lặng của người tốt trước một sự việc đáng lẽ ra họ phải có thái độ khiến ta hụt hẫng. Trong hoàn cảnh này, người tốt ấy đã không có những hành động thường thấy ở họ. Sự im lặng của họ như ủng hộ, đồng tình với cái xấu, kẻ xấu. Không những người yếu thế bị tổn hại mà kẻ xấu còn được nước lấn tới. Sự im lặng đáng sợ của người tốt như biểu hiện một phần giả dối và tối tăm của họ mà bấy lâu họ giấu kín. Có vẻ như họ sống là kẻ hai mặt, lòng dạ phản trắc. Và khi thời cơ đến, cái bản chất đáng khinh ấy lại biểu lộ ra ngoài xấu xa và tàn nhẫn. Điều đó khiến ta thấy xót xa bởi niềm tin của chúng ta đã bị lợi dụng. Sự tôn quý bấy lâu ở họ là không có thật. Cái đáng sợ nhất đó là ta lại tin tưởng và đặt cả cuộc sống của mình ở con người ấy. Thế nhưng sự im lặng của người tốt chưa thể khẳng định họ là người xấu xa Ai cũng có một cuộc sống riêng trong một tập thể thống nhất. Ai cũng cần phải lo cho bản thân và người thân của mình. Sự nhìn nhận của chúng ta trước sự im lặng của người tốt đôi khi hơi quá đáng và vô cảm bởi lòng ích kỉ. Có thể họ vì một lí do nào đó mà tỏ ra im lặng. Hãy thấu hiểu hơn nữa và cảm thông với họ. Đôi khi cũng phải nhìn lại, sự việc xảy ra có cần phải can thiệp hay không. Người tốt luôn có cái nhìn đúng đắn của họ. Họ luôn bình tĩnh, trí tuệ và tự tin. Họ có lí do để im lặng. Và khi sự việc qua đi, sự im lặng của họ sẽ có ý nghĩa. Đến cả đức Phật vĩ đại cũng phải im lặng trước những đau khổ của trần gian. Không phải người không muốn cứu vớt tất cả. Không phải người nhẫn tâm đứng nhìn chúng sinh lầm than. Cuộc sống luôn có những quy luật của nó. Làm việc tốt cũng cần đạt được sự tự nhiên luôn là cách làm của các bậc vĩ nhân. Làm việc tốt cũng cần phải kham nhẫn. Đừng bao giờ ta có cái nhìn kì thị đối với bất kì ai có hành động không hợp ý mình. Vì có thể, ở họ, có một lí do nào đó, rất khó nói ra. Không thể phủ nhận sự im lặng của người người tốt trước những việc cần phải can thiệp là một phản ứng tiêu cực, cần phải lên án. Trước những việc cần làm, ta nên làm một cách mạnh mẽ. Bởi ta đã xuất hiện ở đó và cần có trách nhiệm đối với những gì đang xảy ra. Người yếu thế rất cần ta giúp đỡ để vượt qua khó khăn. Không ai khác trong lúc này, ta chính là người được họ kì vọng nhất. Hãy luôn đứng về phía chân lý, lấy tình thương con người làm động lực cho bản thân, không ngại ngần gian khó, không tính toán hơn thua. Hãy sống vì người khác thì người khác cũng vì mình mà không ngại sẻ chia giúp đỡ. Làm việc tốt, hy vọng người khác cảm ơn thì ân đức mất đi một nửa. Làm việc tốt mà dương dương tự đắc, khoe khoang đắc chí thì ân đức chẳng thể tạo thành. Mọi sự việc muốn làm đều phải để tự nhiên. Tự nhiên mới là cảnh giới cao nhất khi làm một người tốt. Sự tự nhiên ấy phải đạt được cái lí cái tình ở đời thì mới có ý nghĩa. Kết bài: Cuộc sống không nên im lặng theo kiểu của nhà tu hành. Hãy luôn hồ hởi trước cuộc sống và sống mãnh liệt. Đừng sợ! Đừng tính toán hơn thua. Cũng đừng kiêu ngạo, tự đắc. Hành động tốt đẹp thể hiện và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp vốn có bên trong. Không nên vì một lí do nào đó mà bỏ mặc người khác trong khó khăn hoạn nạn.
Nghị luận_ Trong thế giới này chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt” (Martin Luther King)
1,270
Nghị luận: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Hướng dẫn Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Nội dung: Trích tuyên bố của Hội Nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại Liên Hợp Quốc ngày 30/9/1990. Bố cục: 3 phần – Sự thách thức: thực trạng cuộc sống và hiểm hoạ. – Cơ hội: Khẳng định những điều kiện thuận lợi để chăm sóc và bảo vệ trẻ em. – Nhiệm vụ: Nêu lên các nhiệm vụ cụ thể. Thực trạng của nhiều trẻ em trên thế giới: – Trẻ em bị phó mặc cho những hiểm hoạ – Trẻ em là nạn nhân của chiến tranh và bạo lực – Trẻ em gánh chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế. – Mỗi ngày có 40.000 trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật. Cơ hội: – Các nước hợp tác với nhau để đủ phương tiện và kiến thức nhằm hạn chế bớt những đau khổ mà trẻ em phải chịu đựng… từ đó thực hiện công ước về quyền trẻ em. – Các nước đoàn kết quốc tế để ngăn chặn các loại dịch bệnh gây tử vong, hạn chế ô nhiễm môi trường, tăng cường phát triển kinh tế, giải từ quân bị… để việc thực hiện quyền trẻ em được tốt hơn. Nhiệm vụ: – Tăng cường sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng trẻ em. – Chăm sóc trẻ em tàn tật và có hoàn cảnh khó khăn. – Các em gái phải được đối xữ bình đẳng. – Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở. – Chăm sóc các bà mẹ mang thai, thực hiện kế hoạch hoá gia đình. – Giúp trẻ em nhận thức được giá trị bản thân, có khả năng hoà nhập vào xã hội. – Khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đều đặn ở tất cả các nước. – Đòi hỏi tất cả các nước phải nổ lực và phối hợp với nhau vì sự sống còn và phát triển của trẻ em vì tương lai của toàn nhân loại. Bài làm Trong các quyền về trẻ em trên thế giới, không thể thiếu được một quyền quan trọng đối với trẻ em là quyền bảo vệ trẻ em, tạo những cơ hội cho trẻ em học tập, phát triển và bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ trong cuộc sống. Trước những thách thức to lớn khiến trẻ em bị kiềm hãm, khó phát triển và cũng là nạn nhân của các cuộc khủng hoảng kinh tế, đói nghèo, bệnh tật hay thậm chí là tệ nạn xã hội… Đối với những thách thức đó, thế giới đã tạo ra những thay đổi tạo cơ hội cho trẻ em phát triển. Bằng cách là các nước trên thế giới đã liên kết với nhau đặt ra các quyền lợi dành cho trẻ em hay nói cách khác là tạo nên những phúc lợi cho quyền trẻ em. Hay tạo ra những điều kiện để trẻ em tránh khỏi những cuộc chiến tranh hay các cuộc xuy đột chính trị, hạn chế sự bóc lột, hành hạ, bạo lực hay rơi vào đường của tệ nạn xã hội. Trẻ em sẽ là những con người trong tương lai giúp đất nước phát triển và sánh vai với các nước hiện đại khác. Nên về vấn đề tạo cơ hội để bảo vệ, chăm sóc để trẻ em phát triển đã được cộng đồng quốc tế nói chung và nước Việt Nam nói riêng, ý thức đầy đủ cụ, cụ thể, thiết thực. Để xứng đáng với việc bảo vệ, quan tâm, chăm sóc ấy, chúng ta cần phải không ngừng nỗ lực trong học tập, rèn luyện để có thể gánh vác trọng trách tương lai đất nước sau này. Bài làm 2: “Bảo vệ và phát triển trẻ em” là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ở mỗi đất nước. Bởi ;” Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai ”. Đây là câu nói mang đầy đủ ý nghĩ về trẻ em.Mọi đứa trẻ đều ngây thơ như một tờ giấy trắng, lại rất dễ bị tổn thương nên cần được nâng niu, yêu thương, cần được khuyến khích cho chúng can đảm hơn trong cuộc sống, được thoải mái vui chơi, học tập, không âu lo, buồn tủi. Hiện nay ở các nơi trên thế giới, sự phát triển của trẻ em không được đảm bảo hoàn toàn. Nhất là ở những nước nghèo, trẻ em không được đáp ứng đủ các nhu cầu về vật chất: đó nghèo, không có nhà ở; và thiếu thốn về cả tinh thần: không có cha mẹ, không được đến trường. Và có khi là bị tước đi những quyền lợi ích của chính mình Chăm sóc, giáo dục hay quan trọng hơn là việc bảo vệ trẻ em chưa bao giờ là một chuyện dễ dàng. Đây không phải là việc riêng của một cá nhân nào mà chính là trách nhiệm của toàn xã hội. Tuy nhiên, bảo vệ trẻ em hiện nay vẫn đang là sự việc không được mọi người thực sự xem trọng nên vẫn còn nhiều thách thức. Số trẻ em bị tai nạn thương tích ngày càng giảm, tuy nhiên nổi lên những năm gần đây là số lượng trẻ em bị bạo hành, xâm hại ngày càng cao. Có tình trạng trẻ em gái bị rủ rê, lừa gạt, ép buộc đi khỏi địa phương, đi nơi khác làm việc hoặc bị bán ra nước ngoài nhưng các cơ quan chức năng, kể cả gia đình chưa chủ động nắm bắt, vẫn còn lơ là trong việc bảo vệ trẻ nhỏ. Thậm chí vấn đề bất bình đẳng giữa trẻ em giàu- nghèo, người dân tộc thiểu số hay nông thôn- thành thị vẫn còn khá rõ rệt. Tuyên truyền các điều luật về bảo vệ trẻ em còn kém, nhất là ở nông thôn, miền núi và vùng sâu vùng xa. Để chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất, hướng các em đến một môi trường lành mạnh, cơ bản, để phát triển toàn diện, sẽ cần rất nhiều thời gian. Điều này không đơn thuần chỉ là trách nhiệm, mà chúng ta, mỗi gia đình, cả cộng đồng xã hội đều phải vào cuộc bằng cả cái nhìn tích cực và trái tim yêu thương dành cho trẻ. Hơn thế, còn phải biết lắng nghe trái tim trẻ em nói bằng sự tôn trọng của người lớn, chỉ như thế, chúng ta mới dễ dàng vượt qua được những thách thức. Ngày nay, nước ta vẫn còn rất nhiều trẻ em không được đến trường để phát triển về tri thức. Mỗi trẻ em có khả năng tiếp thu kiến thức tốt hơn rất nhiều so với người lớn. Việc trẻ em không được đi học sẽ khiến cho đất nước mất đi rất nhiều nhân tài và nguồn nhân lực lớn cho phát triển nước ta. Ngoài ra, có nhiều trẻ em đã không đc đi học còn bị bóc lột sức lao động bằng những công việc nặng nhọc. Bên cạnh đó nước ta cũng đã quản lí chặc chẽ hơn về quyền bảo vệ trẻ em. Trẻ em ngày càng được học tập trong môi trường cải thiện hơn trước và được bảo vệ hết sức nghiêm ngặc. Là một người học sinh, cảm nhận của chúng em về việc bảo vệ và phát triển trẻ em nước ta đang có những đổi mới tốt hơn giúp cho cuộc sống trẻ em phần nào lành mạnh hơn. Vấn đề bảo vệ trẻ em đã được thế giới nói chung và Việt nói riêng ý thức đầy đủ và xây dựng kế hoạch nhằm đảm bảo tất cả các trẻ em được an toàn và phát triển một cách toàn diện Để xứng đáng với sựu quan tâm, chăm sóc của mọi người,mỗi người học sinh chúng ta phải có ý thức vươn lên, cố găng trong học tập và rèn luyện sánh đất nước có thể sánh cùng năm châu như Bác Hồ đã nói.
Nghị luận_ Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em
1,377
Nghị luận: vấn đề sử dụng ngôn ngữ chat trong giới trẻ hiện nay Hướng dẫn Hiểm họa trong lối sử dụng ngôn ngữ tùy tiện của giới trẻ ngày nay Mở bài: Thời gian gần đây, dư luận quan tâm nhiều đến tình hình phát triển của tiếng Việt trong cơ chế thị trường thời mở cửa. Trước sự phát triển năng động của cuộc sống, tiếng Việt buộc phải mở rộng. Việc phát triển vốn từ vựng theo nhiều hướng khác nhau. Tiếng Việt có thể vay mượn, hoặc tổ chức lại những yếu tố đã có để tạo ra từ mới. Hoặc tự sáng tạo ra từ ngữ có nghĩa mới. Không thể phủ nhận sự đóng góp thiết thực về ngôn ngữ của giới trẻ. Song, nó cũng gây ra những hệ lụy to lớn đối với vấn đề giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt trong thời đại ngày nay. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và mạng Internet, ngôn ngữ “chát” cũng đã ra đời trong giao tiếp của giới trẻ. Ngôn ngữ này, ngày càng phát triển và có những tác động lớn đến tiếng Việt. Thân bài: Phát triển hệ thống từ ngữ mới là xu thế tất yếu của thời đại. Sự gia tăng vốn từ vựng tiếng Việt có mặt tích cực đáng kể. Trước hết nó đã đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu giao tiếp hiện nay. Nhất là trong các lĩnh vực hoạt động kinh, xã hội, nghiên cứu khoa học và điều hành xã hội nói chung. Đồng thời, nó làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú hơn. Cũng không thể phủ nhận rằng, có nhiều từ ngữ mới có yếu tố sáng tạo, chuẩn xác, tinh tế, làm cho tiếng Việt thêm đẹp. Sự phát triển ngôn ngữ trong thời đại mới giúp cho vấn đề giao tiếp trở nên thuận lợi và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó, có một lớp từ ngữ mới của thời đại công nghệ thông tin ra đời không dựa trên nguyên tắc cấu thành ngôn ngữ. Nó được sử nhiều trong giới trẻ hiện nay làm mất đi sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt. Ngôn ngữ “chát” là gì? Ngôn ngữ “chat” là loại ngôn ngữ mà giới trẻ sáng tạo ra khi tham gia vào mạng xã hội). Ngôn ngữ “chat” phát triển theo trào lưu mạng xã hội đang bùng nổ. Xu hướng này ngày càng lan rộng khi lượng người sử dụng internet và điện thoại di động ngày càng tăng. Đây là loại ngôn ngữ được sáng tạo, biến đổi liên tục và xâm nhập vào cả đời sống xã hội. Nhưng dù xuất hiện với lí do gì đi nữa, ngôn ngữ “chat”cũng gây ra nhiều cuộc tranh cãi ngay từ lúc ra đời. Đây là điều mà chưa loại ngôn ngữ nào trước đó làm được. Tất cả các cuộc tranh cãi đó đều xoay quanh tính tích cực và tiêu cực của ngôn ngữ chat đối với tiếng Việt truyền thống và xã hội. Thực trạng của việc sử dụng ngôn ngữ tùy tiện của giới trẻ hiện nay: Sự sáng tạo chính là động lực phát triển của xã hội. Tuy nhiên, cái mới lạ không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với cái tích cực, cái hay. Bên cạnh yếu tố tích cực, sự tăng trưởng “nóng” của từ vựng tiếng Việt trong thời gian gần đây cũng thể hiện không ít các yếu tố tiêu cực. Hiện trạng đó dễ dẫn đến nguy cơ khủng hoảng về vốn từ của tiếng Việt. Ở Việt Nam, trong vòng 10 năm trở lại đây nền kinh tế có những tiến bộ vượt bậc. Đặc biệt là trong lĩnh vực thông tin, truyền thông có nhiều thành tựu lớn. Xu thế hội nhập đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội đất nước. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi lên miền ngược đều có sự thay đổi lớn. Giới trẻ luôn là đối tượng có sự bắt nhịp nhanh nhất với những thay đổi này. Cùng với tâm lý lứa tuổi, giới trẻ đã tạo cho mình những thay đổi. Những thay đổi lớn đến mức người ta dễ dàng nhận ra và đặt cho một cái tên riêng. Chẳng hạn như thế hệ “8X”, “9X”, “công dân thời @” hay “tuổi teen”. Ngôn ngữ “lai căng” được cấu thành không dựa trên một nguyên tắc khoa học nào. Tất cả được tự tạo ngẫu hứng và tự phát. Ngôn ngữ ấy đang được sử dụng trên phổ biến các trang điện tử hiện nay. Nó hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ tùy tiện trong các bạn trẻ. Tiếng Việt hiện đang có sự lai căng, nhí nhố, đánh mất đi trí tuệ, linh hồn và bản sắc dân tộc Việt. Trước hết là sự đơn giản hóa ngôn từ giao tiếp: “yêu” viết thành “iu”, “biết” viết thành “bít”,,… Kiểu viết tắt tùy tiện, cẩu thảcũng là một xu thế hiện nay: “không” viết thành “ko”, “với” viết thành “vs”, “cũng” viết thành “cg”, “quá” viết thành “wá”, “scd” (sao cũng được), “ko hc dì” (không học gì) Kiểu biến âm theo lối đơn giản hóa từ ngữ: “hỏng biết” viết thành “hẻm biết”, “biết chết liền” viết thành “bít chết liền”, “tình yêu” viết thành “tềnh iu”,.. Kiểu biến nghĩa vụng về, dung tục: “cùng nhau đi trốn”, “cùi bắp”, “tin vịt”, “báo lá cải”, “chạy mất dép”, “đá đít”, “bốc hơi”, “bó Kiểu thành ngữ tối nghĩa: “nhỏ như con thỏ”, “đau khổ như con hổ”, “chán như con gián”, “láo như con cáo”,…. Kiểu chơi chữ Tây-ta:“G92U” là “chúc buổi tối”, “4U” là “cho bạn”, “2” là “chào”, “k” là “nghìn”,… Từ một vài trường hợp đơn lẻ, ngôn ngữ chát đã gây nên một làn sóng mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu rộng trong giới trẻ. Hậu quả của việc sử dụng ngôn ngữ “chát” trong giao tiếp hằng ngày: Trước hết, loại ngôn ngữ này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Đồng thời có tác đông sâu sắc đến văn hóa giao tiếp trong xã hội. Những từ ngữ chuẩn mực với đầy đủ hàm nghĩa và sự biểu đạt của nó không còn được sử dụng. Thay vào đó là lớp ngôn ngữ lai căng, cẩu thả, tối nghĩa, dung tục lại được phổ biến. Điều đó rất nguy hại, có thể làm biến dạng ngôn ngữ và nền văn hóa dân tộc. Lệch lạc trong ngôn ngữ là nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa về nhân cách. Không những thế nó còn gây nên lối sống buông thả, không còn tôn trọng pháp luật. Sự lệch chuẩn của ngôn ngữ giao tiếp làm nảy sinh những suy nghĩ sai lầm. Từ đó dẫn đến các hành vi phạm tội trong giới trẻ. Lệch lạc, thiếu chuẩn mực trong giao tiếp là nguyên nhân gây ra mâu tuẫn, xung đột. Nhiều vụ ẩu đả dẫn đến án mạng cũng chỉ bởi vì “lời nói khó nghe” hoặc “khó hiểu” hoặc nhìn “thấy ghét” của các thanh niên. Giao tiếp kém tế nhị khiến cho con người xấu xí hơn trong mắt người khác. Người có lời nói thô tục, thiếu chân thực thường không được mọi người yêu thương, hợp tác hay giúp đỡ. Họ còn bị xa lánh, bị xua đuổi trong cộng đồng. Từ việc lệch lạc trong ngôn ngữ, thái độ sống của con người cũng lệch lạc theo đó. Họ thường tỏ vẻ ta đây, khó chịu với người khác. Họ thường ghét nhưng gì thuộc về cái đẹp, cái chuẩn mực. Họ thương kết giao với những người thấp kém, tầm thường. Sớm muộn gì họ cũng tự rơi vào hố sâu của các tệ nạn xã hội mà thôi. Nguyên nhân làm nảy sinh hiện tượng ngôn ngữ “chát”: Việc đơn giản hóa không phải không có nguyên nhân chủ quan khách quan của nó. Đây cũng không phải xu hướng phát triển mới lạ bây giờ mới xuất hiện. Đó là một thực tế, một quy luật có tính phổ biến trong sự phát triển của ngôn ngữ. Quy luật này không ai có thể phá vỡ nổi. Cũng không có đạo luật nghiêm khắc nào có thể ngăn chặn, can thiệp được. Cho dù ghét nó người ta cũng vẫn phải nhượng bộ. Cùng với đó là sự lạm dụng các yếu tố ngoại ngữ, khẩu ngữ, cách diễn đạt để gây “ấn tượng”, “giật gân”. Thậm chí những sáng tạo này còn được các phương tiện truyền thông “tiếp sức” mạnh mẽ. Nhiều nhà quảng cáo đã sáng tạo ra những kết hợp kiểu biến danh từ thành tính từ chưa có trong từ điển. Điển hình như: ”một cảm giác thật là yomost”, ‘‘một phong cách thật xì-tin”, “sạch hơn cả siêu sạch”,… Sự giảm sút tình yêu tiếng Việt hiện nay là đáng lo ngại. Ý thức, trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt của một bộ phận nhân dân đang xuống cấp. Xu hướng lai căng, vọng ngoại đang sôi nổi. Một số bạn trẻ thích “hiện đại”, thích “thể hiện cá tính, đẳng cấp” khoa trương một cách quá đáng. Một số doanh nghiệp nắm bắt tâm lý sính ngoại của người dân nên triệt để khai thác. Từ tên thương hiệu, vỏ bao bì, cách quảng cáo… đến việc ăn theo những từ mới. Một số người thường thể hiện sự “uyên bác” bằng cách diễn đạt pha trộn nhiều tiếng nước ngoài. Hay cách diễn đạt cầu kì, khó hiểu. Hoặc dùng các từ nước ngoài một cách không cần thiết… Giới trẻ hiện nay thiếu hụt tri thức cơ bản về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng. Đời sống hiện đại khiến cho con người thiếu quan tâm đến ngôn ngữ giao tiếp. Họ thích nói ngắn gọn. Họ ngại dùng từ hán Việt. Từ đó dẫn đến việc dùng sai tiếng Việt cả về từ ngữ lẫn ngữ pháp. Một thực trạng dễ thấy là lời nói của giới trẻ ngày càng khô khan do vốn từ nghèo nàn. Việc sáng tạo ngôn ngữ không dựa trên các nguyên tắc khoa học và hoàn cảnh giao tiếp khiến cho ngôn ngữ tuổi “teen” rắc rối, khó hiểu, hoặc vô nghĩa. Sự thiếu tích cực và“chậm chân” của công tác nghiên cứu, phản biện về ngôn ngữ của các chuyên gia trước thực trạng xã hội khiến cho hiện tượng này leo thang. Chữ viết vốn là một công cụ để ghi lại ngôn ngữ. Vì thế những biểu hiện lệch lạc trong ngôn ngữ nói lâu dần sẽ được phản ánh trong ngôn ngữ viết. Với những thực tế như trên hẳn sẽ không còn là điều ngạc nhiên nữa. Bên cạnh những nét độc đáo, những sáng tạo đáng ghi nhận vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần có sự can thiệp, chấn chỉnh kịp thời để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Giải pháp khắc phục việc sử dụng ngôn ngữ “chat” không đúng mục đích giao tiếp: Ngôn ngữ vốn là một hiện tượng xã hội. Sự phát triển hay tụt lùi của ngôn ngữ có ảnh hưởng rất lớn đến toàn xã hội. Vì vậy, những điều chỉnh dù nhỏ nhất cũng cần có sự tham gia của xã hội cộng đồng. Một xu hướng xấu có thể nảy sinh trong vòng vài năm. Nhưng phải mất rất nhiều năm để chấn chỉnh, điều hướng và khắc phục hậu quả của nó. Các bạn trẻ cần tích cực tham gia trau dồi vốn hiểu biết về ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc. Tiếp thu những yếu tố mới trên cơ sở có xem xét chọn lọc. Không cổ xúy, chạy theo những xu hướng mà ngay chính bản thân cũng chưa hiểu chưa rõ. Gia đình cần sự quan tâm chia sẻ từ các bậc phụ huynh. Nên xem con em mình như những “người bạn” để hiểu được tâm tư nguyện vọng của giới trẻ hiện nay. Từ đó, đưa ra những lời khuyên một cách thiết thực nhất. Hãy giúp các em có nhiều cơ hội được tiếp xúc giao lưu học hỏi lẫn nhau nhiều hơn. Đồng thời, trạng bị những hiểu biết văn hóa, ứng xử ngay từ chính những hoạt động, sinh hoạt trong gia đình. Thầy cô là những người có ảnh hưởng trực tiếp đến các bạn trẻ. Thầy cô chính là những người định hướng, giúp các em hoàn thiện vốn ngôn ngữ của mình. Bởi vậy, mỗi thầy cô cần phải là những tấm gương về sử dụng ngôn ngữ, kiến thức ngôn ngữ. Thường xuyên thiết lập các kênh đối thoại để từ đó khích lệ, nhắc nhở hay chấn chỉnh hoạt động ngôn ngôn ngữ của học sinh. Đặc biệt, là xây dựng cho mình một ngôn phong trong sáng, chuẩn mực. Nhà trường cần định hướng cho các em những giá trị tốt đẹp của tiếng Việt. Từ đó, nâng cáo ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tạo thêm nhiều cơ hội, cũng như khích lệ tinh thần học hỏi nói và làm theo lời hay ý đẹp. Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp để chấn chỉnh những em đi ngược lại xu thế đó. Cơ quan chức năng cần xây dựng một chương trình học tiếng Việt phù hợp và khoa học. Trên tinh thần giảm tải những kiến thức về ngôn ngữ học tiếng Việt. Coi trọng kỹ năng giao tiếp và phát triễn kỹ năng sống cho học sinh. Các cơ quan thông tin truyền thông cần xây dựng cách nói, viết chuẩn mực góp phần định hướng xã hội. Cần có thái độ kiên quyết chống lại những cách diễn đạt lệch chuẩn. Kìm chế hững xu hướng không phù hợp làm mất đi sự trong sáng và chuẩn hóa của tiếng Việt. Từ đó, giúp giới trẻ có được định hướng đúng đắn. Bài học: Luôn rèn luyện ngôn ngữ giao tiếp. Luôn vận dụng đúng đắn các phương tiện giao tiếp để bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt. Đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh. Khi nhân cách chưa định hình thì cần phải rèn luyện bản thân theo những chuẩn mực tốt đẹp hơn nữa. Tránh lệch lạc nhân cách dẫn đến các hành vi sai trái. Góp ý, điều chỉnh những hành vi lệch lạc ngôn ngữ trong giao tiếp của bạn bè. Vận dụng ngôn ngữ mới nhưng không lạm dụng nếu Tiếng Việt có từ tương tự. Rèn luyện ý thức trân trọng và bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt. Kết bài: Như vậy, vấn đề văn hóa ngôn ngữ và giáo dục văn hóa ngôn ngữ cho thế hệ trẻ nhất là cho học sinh, sinh viên trong giai đoạn hiện nay trở thành vấn đề cấp bách, cần sự chung tay của các lực lượng xã hội. Trong đó, bản thân giới trẻ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống đi đôi với việc sáng tạo những giá trị mới phù hợp với tinh thần thời đại.
Nghị luận_ vấn đề sử dụng ngôn ngữ chat trong giới trẻ hiện nay
2,564
Nghị luận: vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của học sinh hiện nay Hướng dẫn Không hay.không chặt chẽ
Nghị luận_ vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của học sinh hiện nay
20
Nghị luận: Vấn đề ý thức đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông Hướng dẫn Văn của bạn hay quá
Nghị luận_ Vấn đề ý thức đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông
20
Nghị luận: Vấn đề đọc sách của học sinh hiện nay Hướng dẫn Học sinh hãy không ngừng đọc sách để không ngừng tiến bộ Mở bài: Sách là một phương tiện dùng để ghi chép, lưu giữ và lưu truyền tri thức trong xã hội loài người. Sách đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tri thức. Mỗi quyển sách là một động lực phát triển văn minh xã hội. Ngày nay, do nền công nghệ thông tin phát triển mạnh, sách đã bị xem thường. Xu hướng toàn cầu hóa diễn ra ồ ạt, khiến cho học sinh ngày nay không chịu đọc sách. Một thực tế cần phải xác nhận là học sinh ngày nay không còn yêu mến sách nữa. Việc đọc sách của học sinh vì thế cũng rất hạn chế. Thân bài: Trước sự phát triển của cuộc sống, con người nguyên thủy nhận thức rõ tầm quan trọng của tri thức. Họ tìm cách lưu giữ những thông tin mình đã nhận thức được để lại cho các thế hệ sau. Và sách đã ra đời. Có thể nói từ khi có sách thì nền văn minh của loài người mới được xác thực. Sách điện tử – hình thức mới của sách ở tương lai. Hình thức ban đầu của sách là những hình khắc và kí tự lên vách đá, mai rùa, xương thú. Rồi đến thời kì viết chữ lên thẻ tre, thẻ trúc, lên tấm vải. Cuối cùng là viết hoặc in lên trang giấy và đóng thành tập. Trải qua thời gian, hình thức của sách không ngừng thay đổi. Càng thay đổi, sách ngày càng tiện lợi, dễ sử dụng và bảo quản hơn. Trước đây, sách là phương tiện chính để học tập, giáo dục và phổ biến tri thức trong xã hội. Ngày nay, nhờ các thành tựu của nền khoa học kĩ thuật, các phương tiện truyền thông và thiết bị điện tử gần như đã thay thế vai trò của sách. Con người đã tiến hành ghi chép và lưu trữ tri thức vào các bộ nhớ điện tử. Đồng thời phổ biến nó bằng các định dạng thông qua các ứng dụng điện tử. Người đọc có thể tiếp cận nguồn tri thức mà không cần phải giở từng trang sách. Công cụ tìm kiếm của Google là một minh chứng rõ ràng cho hình thức này. Bộ lưu trữ điện tử sẽ là hình thức của sách ở tương lai. Có hai hình thức sách cùng tồn tại song song ở nước ta là sách giấy và sách điện tử. Ngoài ra, còn có các ứng dụng cung cấp tri thức một cách phong phú, khá đầy đủ. Sách điên tử luôn tạo được sự tiện lợi và hứng thú cho người đọc. Theo khảo sát của các tổ chức thế giới, tỉ lệ người đọc sách tại nước ta còn khá cao. Tuy nhiên, ở lứa tuổi học sinh, tỉ lệ này lại khá thấp. Đó cũng là thực trạng chung của cá nước trên thế giới. Học sinh Việt Nam ngày nay không có hứng thú đọc sách. Ngoài những quyển sách bắt buộc phải đọc học sinh ít quan tâm đến sách khác. Học sinh thường hay đọc các loại truyện tranh có nội dung nhảm nhí, vô bổ mà ít tìm đến các loại sách khoa học. Những quyển sách văn học tuổi teen với nội dung dễ dãi thường được học sinh lựa chọn đọc. Còn sách lịch sử, sách địa lí, sách khoa học gần như không nằm trong danh mục lựa chọn. Việc học sinh không muốn đọc những quyển sách có nội dung nghiên cứu khoa học, học thuật, nghệ thuật,… xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Bởi đó là lĩnh vực khó, đòi hỏi nhiều công sức. Kéo theo đó là những hậu quả lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của con người và xã hội. Nguyên nhân khiến học sinh không còn hứng thú đọc sách: Trước hết, là phải nói đến sự phát triển của công nghệ thông tin. Công nghệ điện tử số làm cho hình thức và phương thức đọc sách có nhiều thay đổi. Việc đọc sách ngày nay không nhất thiết là đọc trang sách in hay ngồi trong phòng. Học sinh có thể đọc trang sách điện tử bất cứ lúc nào và bất cứ đâu. Sự phát triển rầm rộ của các ngành công nghệ giải trí với những chương trình mới lạ, đặc sắc thu hút học sinh theo dõi. Từ đó học sinh lơ là việc đọc sách. Thật không thể nào kể hết được các kênh truyền hình giải trí đang được phát sóng hiện nay. Ngoài những kênh phim truyện còn có những chương trình trực tiếp. Các chương trình này tương tác thực tế, sống động vô cùng. Sự phát triển của các phương tiện truyền thông tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng tiếp cận với văn bản điện tử hơn. Học sinh hoặc chơi game, hoặc giải trí tầm thường. Từ đó không còn hứng thú với sách. Việc đọc sách trở nên nhàm chán, không còn hấp dẫn nữa. Gia đình, nhà trường và xã hội thiếu quan tâm đến việc phát triển tâm hồn và năng lực trí tuệ cho học sinh. Phụ huynh vì bận rội với công việc mà không quan tâm khuyến khích con cái đọc sách. Nhà trường không có kế hoạch đọc sách, hay không gian đọc sách cho học sinh. Xã hội không có chương trình khuyến khích, cổ động việc đọc sách trong toàn dân để nâng cao dân trí. Và dường như, khôi phục thói quen đọc sách trong toàn dân chỉ nằm trên khẩu hiệu. Các nhà xuất bản chạy theo lợi nhuận, không chịu đầu tư vào chất lượng và số đầu sách mới. Trên kệ sách hầu như chỉ thấy các tác phẩm quen thuộc được chỉnh sửa bìa sách cho khác đi mà ít thấy những tác phẩm mới có giá trị, thực sự mang lại lợi ích cho người đọc.Việc kiểm soát của các cơ quan chức năng chưa thật sự chặt chẽ và nghiêm khắc khiến cho sách giả, sách kém chất lượng tràn lan trên thị trường làm mất niềm tin ở người đọc. Hậu quả của việc lười biếng đọc sách: Tình trạng học sinh ngày nay ít đọc sách đã gây ra những hậu quả lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của con người và ổn định trật tự xã hội. Không đọc sách làm cho tâm hồn học sinh khôn héo, thiếu cảm xúc và những rung động chân thành. Học sinh ngày càng trở nên cộc cằn, ăn nói tục tĩu, ứng xử thiếu lịch sự, thường vô lễ với thầy cô và người lớn. Việc ít đọc sách khiến học sinh không biết cảm thông, chia sẻ hay yêu thương; không biết tự kiềm chế bản thân làm nảy sinh ngày càng nhiều các vụ bạo lực sảy ra trong học đường. Phê phán: Không những ít đọc hoặc không đọc sách, thiếu sự tôn trọng đối với sách, nhiều học sinh còn tỏ ra xem thường sách, có hành vi hủy hoại sách. Những người như thế thật đáng chê trách. Giải pháp và hành động: Đối với học sinh: – Hãy đọc sách mỗi ngày để phát triển trí tuệ và tâm hồn. – Hãy quý trọng sách, giữ gìn và bảo vệ sách. – Khuyến khích bạn bè, người thân cùng đọc sách. Tổ chức thảo luận, bàn luận về những quyển sách hay, ý nghĩa, có giá trị lớn lao. – Vừa đọc sách vừa rèn luyện mình. Đối với gia đình, nhà trường, xã hội: – Quan tâm bồi dưỡng tâm hồn và trí tuệ các em bằng những quyển sách hay, có nội dung trong, lành mạnh. – Khuyến khích và tổ chức đọc sách trong trường học và ngoài xã hội, tạo được phong trào đọc sách trong toàn dân. – Các cơ quan chức năng kiểm soát chặc chẽ việc xuất bản và lưu hành các ấn phẩm sách, đảm bảo chất lượng, phục vụ tốt cho nhu cầu của người đọc hiện nay. Kết bài: Đọc sách là thể hiện lòng biết ơn đối với người xưa và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và đất nước. hãy lựa chọn cho mình những quyển sách hay và đọc nó hằng ngày. Đó chính là con đường đúng đắn dẫn bước ta đến cánh cửa của tương lai.
Nghị luận_ Vấn đề đọc sách của học sinh hiện nay
1,420
Nghị luận: Ý nghĩa của thời gian Hướng dẫn Không có gì có thể mua được thời gian của cuộc đời Mở bài: Mọi vật đều tồn tại trong không gian và thời gian. Từ khi có nhận thức, con người đã biết quan tâm đến thời gian. Thời gian bao quanh con người. Nhưng thật ít khi ta nhận biết rõ ràng sự trôi chảy và sức mạnh tàn phá của nó. Muốn sống thành công, con người cần nhận rõ ý nghĩa của thời gian đối với sự sống của chính mình. Thân bài: Con người thường ý niệm về thời gian dựa trên sự chuyển động tuần hoàn của các vật thể như mặt trăng, mặt trời. Chính thời gian xác định sự tồn tại hữu hạn của đời người. Bởi thế đối với con người, thời gian có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thời gian là gì? Thời gian là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng. Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đối tượng có tính lặp lại và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó. Ngoài thời gian của thực tại khách quan, con người còn có thời gian chủ quan do sự cảm nhận khác biệt của tâm lí. Với thời gian khách quan, có thể đo bước đi của thời gian bằng những dụng cụ cụ thể như: bóng mặt trời, đồng hồ treo tường, đồng hồ cát… Đơn vị đo lường là giờ, ngày, tuần, tháng, mùa, năm, thế kỉ, thiên kỉ, niên đại,… Nhưng đó chỉ là dấu hiệu bên ngoài thời gian, chứ không phải chính thời gian. Với thời gian chủ quan được nhận thức thời gian dài hay ngắn, nhanh hay chậm tùy thuộc vào sự cảm nhận của mọi người ở từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Thời gian trôi qua nhanh chóng khi ta ngoái nhìn lại quá khứ. Thời gian lặng lẽ trôi đi khi ta mải mê với công việc. Thời gian thật quý giá khi ta cần thời gian để thực hiện công việc. Hoặc khi con người ở trong trạng thái vui vẻ thỏa mái, khi sống trong hạnh phúc thời gian thật ngắn ngủi. “Sầu đong càng lắc càng đầy, Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” Nhưng khi ta vui, thời gian lại ngắn ngủi vô cùng: “Ngày vui ngắn chẳng đầy gang Trông ra ác đã ngậm gương non đoài” Ý nghĩa của thời gian Thời gian vô cùng quý giá vì không gì có thể so sánh và đánh đổi được. Thời gian không chờ ai cả và khi đã đi qua là mãi mãi không bao giờ trở lại. Mỗi khoảnh khắc trôi qua là duy nhất của vũ trụ không bao giời lặp lại. Thời gian chính là liều thuốc làm quên đau khổ, dập tắt oán thù, xoa dịu nóng giận, ghen ghét. Thời gian cũng có thể chữa được những vết thương lòng do ái tình gây ra. Tâm hồn, phẩm chất, giá trị con người được thanh lọc và khẳng định qua thời gian. Trên hết tất cả, thời gian quyết định sự hiện hữu và giá trị con người trên mặt đất này. Tiền bạc có thể mua được một chiếc đồng hồ nhưng không thể mua được thời gian. Suy cho cùng thời gian là thứ quý giá nhất mà con người có thể cảm nhận được. Vươn lên làm chủ thời gian là khát vọng mãnh liệt nhất của loài người. Thời gian là nguồn lực không thể làm mới lại được. Nó là tên trộm tinh quái đánh cắp nét trẻ trung trên khuôn mặt chúng ta. Thời gian lặng lẽ tước đoạt sức khỏe và những gì cuối cùng còn xót lại của một đời người. Thời gian có thể làm thay đổi tất cả, thay đổi cả tính tình con người. Nó làm xoa nhòa tất cả, làm tất cả rơi vào lãng quên. Kể cả tình yêu cũng không tồn tại mãi mãi với thời gian. Phải làm gì để làm chủ được thời gian? Trong cuộc đời mỗi người đều có một thời lượng nhất định, do đó phải làm chủ thời gian của mình, phải sử dụng thật đích đáng và hữu hiệu. Chúng ta chỉ có thể tận dụng thời giờ để gặt hái một kết quả nào đó, chứ không thể “làm sống” lại thời gian đã trôi qua. Để quản lí tốt thời gian, cần có kế hoạch cụ thể: mục đích cho cả đời; mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể; lập thời gian biểu mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm với các khoản như: thời gian để học tập, làm việc, đọc sách báo, vui chơi giải trí du lịch, làm việc nhà, chăm lo cho người thân, thăm viếng bạn bè, mua sắm, tập thể dục, ngủ để tái tạo sức khỏe… Kiên quyết thực hiện tốt thời gian biểu của mình, việc làm hôm nay chớ để ngày mai. (Mọi sự trì hoãn đều là kẻ đánh cắp thời gian – Charles Dicknes). Phê phán những phung phí thời gian: Trong cuộc sống có nhiều người không biết quý trọng thời gian. Họ vùi đầu vào những chốn ăn chơi, ngày đêm game online, phá hoại tuổi trẻ, sức khỏe, làm băng hoại phẩm chất của mình. Không đồng tình với những người chỉ biết vùi đầu vào học hoặc làm việc, không biết gì đến mọi thứ xung quanh. Những con người ấy đáng nể nhưng cũng đáng thương. Kết bài: Thời gian không thấy được, không nắm bắt được nhưng lại có tác động mãnh liệt lên cuộc sống con người. Hãy biết quý trọng thời gian và tân dụng nó vào những công việc hữu ích để tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc đời này. Mất đi thời gian, bạn không thể mua lại được nó. Đừng sống một cuộc đời uổng phí trong thời gian mà không tạo ra một giá trị nào đáng kể.
Nghị luận_ Ý nghĩa của thời gian
1,010
Nghị luận: Ý thức giữ gìn vệ sinh của học sinh Hướng dẫn Học sinh cần rèn luyện ý thức giữ gìn vệ sinh thật tốt Mở bài: Giữ gìn vệ sinh cá nhân và môi trường sống là trách nhiệm của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Để xây dựng một lối sống lành mạnh, một môi trường sống sạch sẽ, văn minh mỗi cá nhân phải phải có ý thức vệ sinh đúng đắn và tiến bộ. Đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh. Thân bài: Giữ gìn vệ sinh của học sinh là gì? Giữ gìn vệ sinh là những quy tắc giữ gìn sự sạch sẽ của bản thân và môi trường xung quanh nhằm phòng bệnh, giữ gìn và tăng cường sức khỏe. Giữ gìn vệ sinh bao gồm hệ thống các hoạt động diễn ra liên tục và xuyên suốt cuộc đời con người. Tại sao học sinh phải biết giữ gìn vệ sinh sạch sẽ? Đối với bản thân học sinh: – Việc giữ gìn vệ sinh thân thể tốt giúp học sinh giảm bệnh tật, tăng cường sức khỏe, tạo nên niềm vui tích cực trong học tập và trong đời sống. – Người biết giữ gìn vệ sinh thân thể tốt sẽ tạo nên nếp sống lành mạnh, được tôn trọng, yêu thương và tin tưởng, dễ thành công trong cuộc sống. – Biết giữ gìn vệ sinh thân thể giúp học sinh phát triển nhân cách tốt đẹp, hoàn thiện bản thân, hướng đến chân thiện mỹ, rời xa cái xấu, cái ác. – Một thân thể chỉ khỏe mạnh chỉ khi được chăm sóc và giữ gìn sạch sẽ. Lối sống lành mạnh, vệ sinh sạch sẽ thể hiện con người văn minh trong một xã hội tiến bộ. Đối với môi trường xung quanh: – Việc giữ gìn vệ sinh trường lớp sẽ khiến cho quang cảnh sạch đẹp, tiêu trừ mầm bệnh, không mùi hôi thúi, tạo không gian trong sạch, lành mạnh góp phần bảo vệ sức khỏe học sinh và tăng cường hiệu quả, chất lượng học tập. – Nếu môi trường sống được làm vệ sinh sạch sẽ, không còn rác thải, chất bẩn, chất độc hại sẽ giúp cuộc sống tốt đẹp hơn, sức khỏe con người được bảo vệ. Có ý thức giữ gìn môi trường sống sạch sẽ sẽ tạo nên lối ứng xử tích cực, văn hóa lành mạnh, xã hội văn minh, tiến bộ. – Giữ gìn vệ sinh môi trường sống sạch sẽ là góp phần xây dựng quê hương đất nước. Học sinh cần phải giữ gìn vệ sinh như thế nào? Đối với bản thân học sinh: – Thường xuyên tắm rửa sạch sẽ, vệ sinh răng miệng, chân tay; tuân thủ nghiêm khắc các quy định vệ sinh chân, tay, miệng của y khoa. – Giữ gìn áo quần sạch đẹp, không bôi bản hoặc làm lấm bẩn quần áo. Thay quần áo thường xuyên để đảm bảo sức khỏe. Ăn mặc phải gọn gàng, sạch đẹp, không nên cầu kì, kiểu cách. – Các dụng cụ học tập phải được chùi rửa, sử dụng và bảo quản cẩn thận để tránh bị nhiễm khuẩn. – Không nên ăn các thức ăn không có nguồn gốc hoặc không đảm bảo vệ sinh được bày bán trên đường phố. Hãy tập thói quen ăn uống lành mạnh. Đối với môi trường xung quanh: – Luôn có ý thức bảo vệ môi trường lớp học, trường học, nhà ở và môi trường xung quanh. – Không nên xả rác bừa bãi, bôi bẩn bàn ghế hay vứt những phế phẩm hôi thối hay đọc hại ra môi trường. – Mỗi học sinh có trách nhiệm nhắc nhở hoặc khiển trách những hành vi xâm hại đến môi trường sống của cộng đồng. Đặc biệt là trong lớp học. Không vuets rác xuống sàn, trong học bàn hoặc trong góc lớp. – Tuyên truyền, cổ động về ý thức giữ gìn vệ sinh trong trường học và địa bàn nơi sinh sống, tạo nên nếp sống sạch sẽ, văn minh và tiến bộ. Kết bài: Giữ gìn vệ sinh là trách nhiệm của mọi người để giữ gìn và xây dựng môi trường sống tốt đẹp. Hãy cùng nhau góp một phần sức lực nhỏ bé của mình để xây dựng cuộc sống an toàn chung của cả cộng đồng.
Nghị luận_ Ý thức giữ gìn vệ sinh của học sinh
715
Nghị luận: Ý thức nghiêm túc trong việc hát quốc ca ở trường học Hướng dẫn dung roi do ban
Nghị luận_ Ý thức nghiêm túc trong việc hát quốc ca ở trường học
18
Nghị luận: Đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn (Chu Quang Tiềm) Hướng dẫn Học vấn không chỉ là việc đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn (Chu Quang Tiềm) Mở bài: Con người thành công là nhờ có học vấn. Học vấn của con người được bồi đắp từ những trang sách và kinh nghiệm sống. Tuy “học vấn không chỉ là việc đọc sách nhưng đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn”(Chu Quang Tiềm) Thân bài: Học vấn không chỉ là việc đọc sách. Bởi học vấn và những kiến thức mà con người có được không chỉ được hình thành từ trong quá trình đọc sách mà còn dựa trên sự học hỏi, tiếp thu những tri thức kinh nghiệm của người khác hoặc tự mình rút ra những bài học bổ ích từ thực tế của cuộc sống. Tuy nhiên “đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn” vì chính thông qua việc đọc sách kiến thức con người không ngừng mở rộng. Đọc sách là con đường nhanh nhất, ngắn nhất giúp cho con người ngày càng hoàn thiện tri thức của chính mình. Sách là kho tàng kiến thức, là nơi đúc kết tinh hoa trí tuệ, kinh nghiệm, vốn sống, và những thành tựu, những phát minh vĩ đại mà con người đã tích lũy từ mấy ngàn năm qua. Sách là tấm gương soi phàn ánh hiện thực cuộc sống muôn hình vạn trạng không chỉ hôm nay mà còn cả trong quá khứ xa xưa. Sách là một kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần của nhân loại. Nghĩa là sách rất quý giá. Đọc sách đó là con đường quan trọng của học vấn, là con đường ngắn nhất, nhanh nhất giúp con người tích lũy, nâng cao tri thức để chuẩn bị cho một “cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát triển thế giới mới”. Không thể thu được các thành tựu mới nếu không biết kế thừa thành tựu của các thời kì đã qua. Sách là nơi lưu giữu nền văn mình. Không có sách lịch sử trầm lặng, văn chương buồn chán. Mỗi cuốn sách là một bức tranh kì diệu về cuộc sống. Nhưng nếu bạn chỉ đọc những cuốn sách mà tất cả mọi người đều đọc thì bạn chỉ nghĩ được những gì mà mọi người có thể nghĩ. Bạn càng đọc nhiều bạn càng biết nhiều. Bạn càng học nhiều, bạn càng đi nhiều. Có không ngừng đọc sách, kế thừa những thành tựu của thời kì đã qua, con người mới có những nền tảng kiến thức cơ bản để sáng tạo ra những cái mới, không ngừng nâng cao hiểu biết. Sách luôn là người bạn cần thiết cho mỗi người dù khoa học kĩ thuật có phát triển. Sách còn giúp ta biết sống bao dung, tha thứ, giàu lòng vị tha để tâm hồn mình luôn được thanh thản. Sách thúc đẩy ta sống phải có ý chí niềm tin, nghị lực vươn lên; sống lạc quan yêu đời, không chấp nhận cuộc sống tầm thường vị kỉ mà phải luôn noi theo gương sáng người xưa ra sức trau dồi tài đức để góp phần dựng xây đất nước. Chính vì thế, đọc sách là con đường quan trọng, là phương pháp học tập hiệu quả giúp ta hoàn thiện chính mình. Sách là cây đèn thần soi sáng cho con người trên những nẻo đường xa xôi nhất và tăm tối nhất của cuộc đời. ĐỌc sách là cách học tốt nhất. Một cuốn sách tốt mở ra thì gợi niềm hy vọng, khép lại thì đem lại điều hữu ích. Mỗi ngày đọc vài trang sách, khi về già bạn đã có trong mình một thư viện khổng lồ. Hãy chọn cho tinh, đọc cho kĩ. Chọn sách phải phù hợp với mục đích, sở thích, lứa tuổi và năng lực. Đọc sách không cần đọc nhanh hay đọc nhiều mà đọc cho kĩ lưỡng, nghiền ngẫm tri thức không thôi. Đọc sách rồi cũng cần phải biết vận dụng những điều học được từ trong sách vào cuộc sống. Chính hành động mới biến sức mạnh của tri thức thành hiện thực. Phê phán những người chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sách để làm giàu vốn tri thức của chính mình hoặc đọc những loại sách không có ích. Kết bài: Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của sản phẩm công nghệ, sách lui về một vị trí khiêm nhường hơn trước đây. Thế nhưng, đọc sách giấy vẫn là cách học thân thiện hiệu quả nhất.
Nghị luận_ Đọc sách vẫn là con đường quan trọng của học vấn (Chu Quang Tiềm)
789
Nghị luận: Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu… Hướng dẫn Đề bài: Nhận xét về Thơ Mới, Hoài Thanh viết: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.” (trích “Một thời đại trong thi ca”) Phân tích và bình luận ý kiến trên. Minh hoạ bằng những bài thơ đã học và đã đọc thêm. Mở bài: Cho đến nay, sự phát triển và những thành tựu rực rỡ của phong trào Thơ mới vẫn còn làm say mê biết bao ngòi bút chưa thôi mong muốn được hiểu hết và tìm thấy nguồn sức mạnh đích thực làm nên “cuộc cách tân vĩ đại” trong thơ này. Và mỗi khi nhắc đến nền thơ rực rỡ ấy, ta không thể không nhắc đến Hoài Thanh và tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Với khí thế của người đương đại, Hoài Thanh đã chuyển hết những tinh hoa vào một tập phê bình đầy giá trị, được xem là một “công trình của thế kỉ”. Nhận xét về sức sống của gia đoạn này, trong “Một thời đại trong thi ca” ( trích Thi nhân Việt Nam), Hoài Thanh có viết: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta.” Thân bài: Trong các nhà phê bình, có lẽ Hoài Thanh là người bám sâu sát nhất phong trào Thơ mới từ lúc nó mới manh nha những dấu hiệu đầu tiên cho đến khi nó kết thúc. Bởi thế, ông nhìn rõ từng khía cạnh của nó, soi chiếu nó từng tí một để phát hiện những tinh anh mà người ta chưa hẳn đã nhìn thấy. Với tập phê bình Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã dũng cảm đứng ra, đại diện cho nền thơ và công chúng lên tiến nhận xét, đánh giá, bình phẩm. Ông không dám nhận là mình đã thấy hết, đã nghĩ hết và đã nói hết. Nhưng quả thật quyển sách đã phô bày trước mắt người đọc một bữa tiệc thi ca thịnh soạn chưa từng có. Trước hết, Hoài thanh khẳng định: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi”. Bây giờ ta nghĩ về điều đó không có gì xa lạ gì. Nhưng ở thời đại ấy là quá lạ. Bởi đầu thế kỉ 20, nền Nho học Khổng giáo vẫn còn thống trị trong tư tưởng. Dù các trào lưu phương Tây đã ồ ạt tràn đến, xu hướng cách tân trên mặt trận tư tưởng không ngừng tấn công vào thành trì ấy đã làm cho nó lung lay nhưng vẫn chưa thể làm cho nó lụi tàn ngay được. Con người vẫn ôm một chữ “ta” vĩ đại. Và để phá vỡ được nó là cả một kì công của rất nhiều người, trong đó hầu hết là những nhà thơ mới. Dù là thế giới nào đi nữa thì lúc nào nó cũng riêng biệt và không bao giờ lập lại. Thuở ban đầu nó sôi nổi đến thế, mạnh mẽ đến thế nên không thể tránh khỏi sự ngây thơ bồng bột. Có lẽ chỉ có Hoài Thanh mới nhìn thấy điều đó. Bởi thế ông nói: “Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh”. Phải mất đến gần mười năm, đọc hàng vạn bài thơ của hàng trăm tập thơ, và kể cả những bài thơ chép tay của các thi hữu, Hoài Thanh mới cho ra được một tuyển tập ưng ý. Ông đã gạn lọc một cách kĩ lưỡng thi liệu bằng tầm nhìn của một nhà phê bình nghiêm khắc và bằng cả trái tim đầy rung động để có được nhưng tinh hoa hoa đích thực. Cũng bởi mới hình thành và phát triển chưa được bao lâu nên chưa thể có một nguồn thi liệu lớn, những tác phẩm lớn, những tư tưởng lớn như các nền văn học khác. Bởi thế, so với lịch sử phát triển của các phong trào thi ca trên thế giới thì phong trào Thơ mới của ta được coi là thần kì, chưa từng có bao giờ. “Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu”, là đi vào cái sâu thẳm trong từng bài thơ, trong từng phong cách thơ đã được khẳng định. Thế nhưng, càng đi sâu ông càng thấy lạnh. Bởi ông bị chìm ngập trong thế giới của hình vạn trạng, của mọi cung bậc ngâm nga mà các nhà thơ mới đã dũng cảm phô bày. Rồi bất ngờ ông sung sướng hòa mình trong đó: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu”. Mỗi nhà thơ đã đem đến cho cuộc đời một thanh sắc riêng, không thể hòa lẫn. Hoài Thanh vui mừng không phải vì thơ hay, thơ dở mà vì lướt trên nền thơ mà ông đã đi qua bao nhiêu thế giới đa hình đa sắc, tuyệt vời như một phép màu nào đó đã dựng lên trước mắt ông dấu ấn thời gian chuyển luân không ngừng nghỉ. Có lúc, ông lạc vào thế giới thần tiên cùng Thế Lữ, tìm đến “Động thiên thai” và lắng nghe “Tiếng trúc tuyệt vời”, “Tiếng sáo thiên thai”, được gãy trên “”Cây đàn muôn điệu”, rồi trở về với “Giây phút chạnh lòng”bàn bạc nỗi nhớ thương, quyến luyến. Ông từng nói về thế giới thơ của Thế Lữ: “Ở xứ ta từ khi có người nói chuyện tiên, nghĩa là từ khi có thi sĩ, chưa bao giờ ta thấy thế giới tiên có nhiều vẻ đẹp đến thế“. Hãy lắng nghe Thế Lữ tâm tình: “Tiếng địch thổi đâu đây, Cớ sao mà réo rắt? Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt, Mây bay… gió quyến mây bay… Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt Như hắt hiu cùng hơi gió heo may” (Tiếng trúc tuyệt vời) Ngỡ như gần, ngỡ như xa; có mà lại không có, ngỡ như đã nắm bắt được bất ngờ vụt biến đi, thần tình như một cảnh tiên trên mê cung ảo ảnh. Thế Lữ là thế, dường như ông không thích đời thực, chỉ thích mơ mộng, đôi khi tự thét gào một mình trong đó. Ông không lánh đời nhưng cũng không vồ vập lấy nó. Ông dửng dưng trước mọi cám dỗ và tìm lấy phần thanh cao trong thế giới của riêng mình. Khác với Thế Lữ, Lưu Trọng Lưu lại chọn cách phiêu lưu trong trường tình. “Nếu… thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết” (Hoài Thanh). Tuy là một nhà diễn thuyết xuất sắc trong thời kì đầu nhưng không vì thế mà thơ Lưu Trọng Lư mất đi vẻ mơ mộng. Thơ ông tự nhiên gióng như một hơi thở, là cái gì đó toát lên từ tạo vật chứ không phải là cố công tạo tác, gọt giũa. Thơ Lưu Trọng Lưu mang đậm chất chấm phá theo kiểu thiền, truyền đạt được nguồn sinh cảm để vật tự tỏa sáng. Bài “Tiếng thu” đã gợi được một cách thần tình cái “thiêng” ấy: Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức? Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ? Em có nghe hay là không có nghe,ai biết? Ý thơ mơ hồ đẩy nhẹ người đọc vào thế giới huyền diệu, và bắt đầu đi tìm lời giải đáp. Lưu Trọng Lư lúc này giống như một vị đạo sĩ có tài thôi miên, điều khiển người đọc bước đi trong khu rừng huyền bí. Một khu rừng nhỏ nhưng không thể nào thoát ra được. Để đến khi nghe “Tiếng lá khô xào xạc”, nhìn thấy “Con nai vàng ngơ ngác. Đạp lên lá vàng khô” mới hay chưa từng bước đi mà cảnh vật đang cuôn xoay trước mắt giống như một cuốn phim ngắn mê hoặc đến sững sờ. Chưa hết, Hoài Thanh còn muốn “điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên” trong thế giới ma mị, kinh hồn. Ông tìm thấy trong thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên một sức “điên cuồng” tuyệt đỉnh, lập tức muốn hào nhập cùng khóc than, kêu gào. Người đọc không bao giờ quên cái thế giới ma hời trong Điêu tàn của Chế Lan Viên. Hoài Thanh từng nhận xét Chế Lan Viên “đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” nhưng vô cùng mới mẻ và cuốn hút. Thế giới thơ Hàn Mặc Tử lại là một niềm kinh dị khác. Đó là “một nguồn thơ rạt rào và lạ lùng”, “càng đi xa càng thấy lạnh”. Cuối cùng, ông dừng lại để “đắm say cùng Xuân Diệu” trong suối nguồn tươi mát, bay bổng của tình yêu bất tận. Có thể nói Xuân Diệu tôn thờ tình yêu như một thứ tôn giáo và nàng thơ chính là vị giáo chủ. Thơ Xuân Diệu thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Ở đó, Hoài Thanh đã tinh tế nhận thấy “cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta”. Kết bài: “Đời chúng ta nằm trong một chữ tôi. Mất bề rộng,ta đi tìm bề sâu…”. Hoài Thanh đã khái quát khá toàn diện đặc điểm thơ ca và xu hướng sáng tác của các nhà thơ giai đoạn chuyển thời đầu thế kỉ 20. Chưa bao giờ, trong nền thi ca Việt Nam lại ồ ạt xuất hiện những tác giả lớn, những tác phẩm hay như thời địa này. Bởi thế mà, mỗi bài thơ như một đóa hoa giữ vườn xuân, nó cứ bung sắc tỏa hương không ngừng làm say mê lòng người. Cho đến ngày nay, chất men say ấy vẫn còn tha thiết lắm.
Nghị luận_ Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu…
1,852
Nghị luận: Ở trên đời, mọi chuyện đều không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn Hướng dẫn Sống có ước mơ có thể làm nên mọi chuyện Mở bài: Người xưa từng nói: “Lửa thử vàng, gian nan thủ sức”. Cuộc đời luôn sẵn bày những nghịch cảnh để thử thách con người. Không có con đường bằng phẳng nào dẫn ta thẳng đến thành công. Sự nỗ lực của bản thân chính là yếu tố quyết định thành bại trong cuộc đời. “Chăm chỉ thành tài, miệt mài tất giỏi”(Dương Lê). Bởi thế, mọi chuyện ở trên đời sẽ không có gì khó khăn nếu bạn luôn có ước mơ đủ lớn. Thân bài: Ước mơ là gì? Ước mơ là khao khát có được một điều gì đó vượt quá khả năng, vượt ngoài tầm với của bản thân mình. Nó là khát vọng, là những điều tốt đẹp mà con người muốn đạt được. Ước mơ sẽ làm cho con người sống có mục địch, nghị lực. Người sống có ước mơ luôn nghĩ đến những điều tốt đẹp và lớn lao sẽ đạt được ở phía trước. Họ hăng say học tập, làm việc và truyền cảm hứng đến người khác. Họ sống mạnh mẽ, lạc quan, yêu đời, luôn suy nghĩ tích cực. Họ cũng là người kiến quyết trong hành động và tìm kiếm những hướng đi mới mẻ, vươn đến thành công. Tại sao mọi chuyện sẽ không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn? Cuộc sống sẽ trở nên tươi đẹp hơn khi ta biết nuôi dưỡng ước mơ. Ước mơ được gieo mầm, ấp ủ trong bản thân mình. Để rồi một ngày nào đó, nó bỗng trở thành hiện thực. Thật vậy, cuộc sống không thể thiếu ước mơ. Nó chắp cánh cho chúng ta để bay cao, bay xa, vươn tới những dự dịnh hoài bão của mình. Nó đưa ta đến với thế giới mà ở đó ta được tự do thể hiện và khẳng định mình. Nó tạo ra những cơ hội để ta chiến thắng. Khi ta sống có ước mơ thì mỗi ngày trôi qua thật buồn chán. Không đơn giản là ta hoàn thành công việc của ngày hôm đó, mà còn góp phần tích cực thực hiện ước mơ ấy. Cuộc sống sẽ kém vui nếu ta không nghĩ đến những điều tươi đẹp đang chờ ta ở phía trước. Ta cũng không có niềm tin nào có ý nghĩa khi trong lòng ta không có một ước mơ gì. Mỗi ngày trôi qua chỉ là sự tồn tại vô nghĩa mà thôi. Mọi chuyện sẽ không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn. Bởi khi ta có một ước mơ đủ lớn, nó trở thành động lực để chúng ta vươn lên, vượt qua khó khăn thử thách, quyết liệt trong hành động, hướng đến thành công. Một ước mơ đủ lớn sẽ là nguồn sức vô biên mạnh giúp ta chiến thắng nghịch cảnh. Sống có ước mơ ta sẽ luôn tin tưởng vào bản thân, tin tưởng vào cuộc sống. Dù có lúc ta không đạt được mục đích cuối cùng như mong muốn nhưng ta luôn lại nhận được những bài học hữu ích, giúp ta mạnh mẽ hơn. Nếu có một ước mơ đủ lớn, ta sẽ cảm thấy cuộc sống thật đáng sống, cuộc sống thật tươi đẹp. Cuộc sống luôn có những điều khiến ta phải cố gắng. Chúng ta sẽ nhìn nhận thực tế một cách khách quan và công bằng hơn. Rằng không có thành công nào dễ dàng đạt được và mỗi thành quả lao động là kết tinh của biết bao sức lực, trí tuệ và niềm tin của con người. Ta càng thêm yêu cuộc sống, càng thêm quý trọng thành quả lao động của bản thân và của người khác. Sống có ước mơ ta luôn sẵn sàng đối diện với khó khăn thử thách. Không khi nào ta lảng tránh hoặc đầu hàng trước nghịch cảnh. Trước khó khăn, ta luôn biết tìm cách để chiến thắng và không ngừng khao khát thành công. Mỗi thành công lại tiếp thêm cho ta sức mạnh để tiếp tục mạnh bước trên đường đời. Không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn. Không có trở ngại nào không thể vượt qua nếu niềm tin của mình đủ mạnh, ý chí của mình đủ vững vàng. Nếu có ước mơ, có niềm tin đủ lớn, khó khăn lớn sẽ thành khó khăn nhỏ, khó khăn nhỏ trở thành trở ngại bình thường. Cuộc sống đã chứng minh rằng, không phải bạn thất bại hay thành công mà trước khó khăn, thử thách bạn có dám dấn thân vào hành động hay là không? Nếu dũng cảm hành động, bạn có thể sẽ thành công. Nếu sớm bỏ cuộc bạn luôn là người thất bại. Một ước mơ đủ lớn khiến bạn trở nên dũng cảm hành động trên con đường đi đến thành công. Bạn hãy tưởng tượng xem nếu ta sống mà không có ước mơ thì cuộc sống sẽ nhàm chán và đơn điệu đến chừng nào. Đời sống nhân loại sẽ không phát triển và con người sẽ không còn biết yêu mến và trân trọng cái đẹp nữa. Nhưng ước mơ ấy phải gắn với hiện thực và năng lực của bạn thân. Nếu ước mơ quá lớn, vượt quá khả năng thì đó lại là ảo tưởng rất có hại. Dẫn chứng: Nếu không có ước mơ vĩ đại tạo ra bóng đèn điện chiếu sáng cho nhân loại, nhà bác học Edison đã sớm bỏ cuộc, chấp nhận thất bại sau bao nhiêu thí nghiệm không thành công. Nếu không có ước mơ đủ lớn thì nhà phát kiến địa lí Cristoforo Colombo, đâu dám bất chấp hiểm nguy sống chết lênh đênh trên đại dương để tìm ra châu Mỹ. Dân tộc ta sẽ tiếp tục cuộc sống nô lệ lầm than thêm vài thập kỉ nữa nếu Bác Hồ không có ước mơ tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc. Và nếu con người không có ước mơ thì mọi điều kì diệu đã không xảy đến trong khoa học. * Làm thế nào để có được một ước mơ đủ lớn? Sống có ước mơ thì ai cũng có. Nhưng có một ước mơ đủ lớn, đủ sức để tạo ra điều lớn lao thì không phải ai cũng có. Bởi thế, để xây dựng một ước mơ đủ lớn là cả một kì công cố gắng. Trước hết, phải hăng say học tập, hăng say lao động và không ngừng yêu thương con người, quý trọng cuộc sống. Bởi lẽ, nếu không có tri thức, con người sẽ không thể ước mơ một cái gì lớn lao. Nếu không biết yêu thương, con người cũng không thể vì ai mà có ước mơ cao đẹp. Lối sống ích kỉ, cá nhân là nguyên nhân giết chết những ước mơ của con người. Hãy vì người khác mà không ngừng mơ ước làm được những điều lớn lao. Hãy vì người khác mà khao khát làm được những việc vĩ đại. Chính cộng đồng làm cho ta vĩ đại chứ không phải cái gì khác. Dẫn chứng: Bạn hăng say học tập và không ngừng mơ ước đạt được thành tích cao thì nhất định sớm muộn gì cũng đạt được mục đích đó. Ước mơ sẽ trở thành động lực và không ngừng thôi thúc, nhắc nhở, cổ vũ bạn vượt qua khó khăn, gian khổ. Ước mơ sẽ là nguồn an ủi, động viên bạn mỗi khi bạn đau buồn hay chán nản. Sống có ước mơ chắc chắn rằng bạn không phải là người dễ dàng chấp nhận bị thua cuộc. Không bao giờ chịu thua cuộc nghĩa là bạn đã thành công rồi đó. Trong cuộc sống, bạn ước mơ muốn biến ước mơ thành hiện thực phải có lòng quyết tâm cao độ. Bạn hãy tập trung làm những phần việc mà mình yêu thích để thực hiện ước mơ. Bạn hãy lập ra kế hoạch cho cuộc đời mình và ngày ngày hiện thực hoá nó. Ý chí, lòng kiên nhẫn và sự dũng cảm của bạn càng được tôi luyện qua những thử thách và khó khăn mà bạn từng nếm trải trong cuộc đời thì tinh thần bạn sẽ trở nên mạnh mẽ, sáng sủa hơn. Thế nhưng, trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người sống không biết ước mơ. Vẫn còn nhiều người có những ước mơ không đủ lớn. Họ dễ dàng chấp nhận một cuộc sống bình thường, đơn điệu và nhàm chán. Họ luôn viện cớ khó khăn, hạn chế của hoàn cảnh để lảng tránh việc khó, trốn tránh trách nhiệm. Những người như thế thật đáng chê trách. Khi ta sống mà không có ước mơ là ta đã đánh mất mục tiêu sống của mình. Khi cái thế giới màu hồng đó bị đánh mất là phải đối diện với thực tế lạnh lùng, khô khan và tàn nhẫn. Bạn sẽ phải sống theo sự sắp đặt, sống theo rập khuôn vốn có của nó. * Thế giới sẽ bỏ rơi chúng ta nếu chúng ta không có ước mơ đủ lớn Bạn cũng sẽ không được thoả sức đam mê, sáng tạo hay sống tự tin và cảm thấy hạnh phúc. Cuộc sống luôn bị bó gọn trong vỏ ốc của sự tự ti và thói nhút nhát. Điều đó làm cho bạn sớm thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Bạn sẽ luôn sống trong nỗi lo âu và sợ hãi. Cuộc đời đối với bạn quá khó khăn. Bạn sẽ thấy mình bị bở rơi và cả thế giới như đang chống lại bạn. Để một ngày, bạn chợt nhận ra bạn không còn là chính mình nữa. Bạn phải luôn làm việc phụ thuộc vào người khác, ít khi bạn có cơ hội thể hiện hay khẳng định mình. Những người không có ước mơ là những người chưa hề suy nghĩ về mục đích sống của bản thân. Họ chán nản và không tâm huyết về công việc mình đang làm. Những người cố gắng đạt được mục đích sống trên con đường đời dù gặp nhiều gian nan, trắc trở nhưng ước mơ luôn là động lực giúp họ đứng lên sau mỗi khó khăn. Còn những người không có ước mơ thì ngược lại. Họ không có động lực để vượt qua khó khăn và luôn bằng lòng với những gì họ đang có. Kết bài: Người ta nói rằng, hạnh phúc nhất là khi chúng ta sống có niềm ước mơ, thực hiện được những gì mình mong muốn và sống mỗi ngày trọn vẹn với những niềm vui, nỗi buồn. Có quá nhiều người chưa xác định được ước mơ của mình. Thật đáng tiếc khi họ sống như những cái bóng bên lề xã hội, mờ nhạt và vô danh. Hãy luôn sống là chính mình, sống bằng sức mạnh của lí trí và tình cảm. Một ước mơ đủ lớn sẽ dẫn đường bạn ra với đại dương rộng lớn. Tuy nhiều gian khó nhưng những thành công luôn rộng mở trước mắt bạn. theo
Nghị luận_ Ở trên đời, mọi chuyện đều không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn
1,884
Nghị luận:Giải pháp khắc phục hiện trạng nói dối, làm giả trong xã hội ngày nay Hướng dẫn Làm thế nào để khắc phục hiện trạng nói dối, làm giả? Nói dối làm giả không những là biểu hiện đơn lẻ mà đã trở thành bệnh chứng xã hội. Để xã hội trở nên công bằng và bình yên hơn, cần có những giải pháp thiết thực khắc phục bệnh nói dối, làm giả ngay từ bây giờ. Cùng là nền văn hóa gốc nông nghiệp nhưng so với Việt Nam thuần túy nông nghiệp lúa nước, văn hóa Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc lại phát triển có hướng khác biệt. Nền văn hóa Việt Nam phát triển sáng tạo ngay trong quá trình tiếp thu, không bao giờ bắt chước rập khuôn máy móc mà luôn biến ảo, làm cho cái được tiếp nhận thích nghi ngay với điều kiện thực tế. Chính điêu đó tạo nên nét bền vững, ổn định của nền văn hóa Việt Nam nghìn năm văn hiến. Tuy nhiên, do tác động của quy luật cạnh tranh nền kinh tế thị trường, trong nhiều năm qua, các giá trị về đạo đức, lối sống truyền thống bị phá vỡ nhanh chóng, trong khi phong cách của văn hóa đô thị và công nghiệp chưa kịp hình thành rộng rãi. Trong khi, các thủ tục hành chính hết sức phiền hà mà tính kỉ luật của pháp luật chưa đủ sức răn đe, khiến người dân trong cuộc mưu sinh sẵn sàng làm sai, làm giả, lừu dối lẫn nhau, vi phạm nghiêm trọng đạo đức và luật pháp. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những rối loạn trong xã hội và tình trạng tội phạm ngày càng gia tăng về tính chất nghiêm trọng cũng như quy mô và số lượng. Có thể nói hiện tượng nói dối, làm giả trở thành một hiện tượng phổ biến, làm mất niềm tin của con người trong xã hội hiện nay. Tiếp đó, chấn chỉnh nền giáo dục, tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm, lối sống và hành vi ứng xử cho con người. Giáo dục trong thời đại nào cũng đóng vai trò quyết định đến văn hóa và nền đạo đức của dân tộc. Con người được giáo dục tốt thì nhận thức mới tốt, mới hưởng đến lối sống cao đẹp, biết tôn trọng, trân trọng người khác, tôn trọng luật pháp và không còn làm điều sai trái. Đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước. Tăng cường khuyến khích, cổ động, tuyên truyền và phát triển lối sống lành mạnh, tích cực dựa trên những chuẩn mực đạo đức cao cả. Giáo dục ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của con người, tạo dựng ý thức mới tiến bộ, phù hợp với đất nước trong thời kì hội nhập thế giới. Tăng cường phát hiện và tuyên dương những tấm gương trung thực điển hình và trừng phạt nghiêm khắc những kẻ gian lận, giả dối gây tổn hại trong cộng đồng để làm gương. Láy cái tốt đẹp để lấn át cái xấu cái ác trong xã hội. Người lớn phải làm gương đi trước. Nhà trường phải có phương pháp giáo dục đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả, từng bước khắc phục tình hình tiến tới đẩy lùi căn bệnh nói dối, là giả ra khỏi cộng đồng.
Nghị luận_Giải pháp khắc phục hiện trạng nói dối, làm giả trong xã hội ngày nay
577
Nghịch cảnh không những là một phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ và bản lĩnh con người Hướng dẫn Cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng, công việc không phải lúc nào cũng suông sẻ. Những khó khăn, trở ngại ta gặp trong cuocj sống, có thể mang lại cho ta những tổn thương gọi là nghịch cảnh. Nghịch cảnh không những là một phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ và bản lĩnh con người. Chiến thắng nghịch cảnh, đứng trên nghịch cảnh con người sẽ mạnh mẽ hơn. Nghịch cảnh chính là những khó khăn, tình huống xảy ra ngược theo hướng tiêu cực với những gì mà chúng ta nghĩ. Nó làm chúng ta gặp nhiều khó khăn và trục trặc. Chúng ta không ai muốn gặp phải tình huống khó khăn, nhưng chính những điều này đã cho chúng ta thêm kinh nghiệm và động lực để đi tiếp. Nói đến nghịch cảnh, ai cũng nghĩ nó ảnh hưởng xấu tới cuộc sống nhưng thật ra, nghịch cảnh có rất nhiều giá trị riêng. Câu danh ngôn đã chỉ ra rằng nghịch cảnh không chỉ là “phép thử của tình cảm” mà còn là thước đó của trí tuệ và bản lĩnh của con người. Khi chúng ta gặp phải nghịch cảnh, tức là khi chúng ta đang ở trong một tình huống mà cần tới sự giúp đỡ của người khắc, lúc chúng ta đang trong giai đoạn khó khăn thì “phép thử của tình cảm’’ chính là ám chỉ những ai đã ở lại bên cạnh giúp chúng ta cũng như những ai đã rời bỏ ta mà đi. Nghịch cảnh cho ta cơ hội để nhìn nhận lại bản thân. Xem chúng ta có đủ thông minh và bản lĩnh để vuọt qua khó khăn này thành công, dám nghĩ thì phải dám làm. Nghịch cảnh sẽ mang lại điều tiêu cực hay tích cực thì cũng đều phụ thuộc vào con người đó. Nếu học có trí thông minh,có những người đối với mình thật lòng và có bản lĩnh thì họ sẽ vượt qua được những khó khăn để vươn xa hơn. Ngược lại, đối với những người luôn cảm thấy tiếc nuối về những người đã rời bỏ mình, không dám làm điều gì vị sợ lại lún sâu thêm nữa thì họ sẽ mắc kẹt trong nghịch cảnh mãi mãi. Thực tế đã cho thấy câu nói: “nghịch cảnh không những là phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí thông minh và bản lĩnh con người.” là đúng. Thiện Nhân, một câu bé bị bỏ rơi trong rừng, tàn tật vì bị thú hoang tấn công. tưởng rằng cậu bé sẽ buông xuôi só phận, sống trong buồn bả. Nhưng, bằng tất cả ngihj lực của mình, cậu bé đã vượt lên, sông một cuộc đời lạc quan, yêu đời và vô cùng bản lĩnh. Nghịch cảnh là thử thách mà con người phải vượt qua để tiến tới tương lai, giúp ta có được những con người thật lòng đối với mình và có bản lĩnh hơn. Cũng như câu nói của Fanco Molinary: “Nghịch cảnh không phải là một tảng đá cản bước chân của bạn. Hãy xem nó đó như là một thềm đá nâng bạn bước cao hơn”. Không còn cách nào khác, muốn tồn tại chúng ta phải vượt lên trên nghịch cảnh. Nếu không thể vượt qua nghịch cảnh, con người sexbij bị hủy diệt. Đó là quy luật của cuộc sống. Cuộc sống luôn luôn có hi vọng. khi cuộc sống có trăm nghìn lí do bắt bạn phải khóc, bạn hãy cho cuộc sống thấy bạn luôn có trăm nghìn lí do để mỉm cười. hãy xem mọi khó khăn, trở ngại là cơ hội để rèn luyện bản thân, để chiến thắng và thành công.
Nghịch cảnh không những là một phép thử của tình cảm mà còn là thước đo của trí tuệ và bản lĩnh con người
655
Nguyên nhân của căn bệnh nói dối, làm giả trong xã hội ngày nay Hướng dẫn Nguyên nhân khiến con người nói dối Nguyên nhân khiến con người nói dối trước hết là do lối văn hóa ứng xử mềm dẻo, xem trọng sự khéo léo trong ứng xử hơn là sự thật của dân tộc làm nảy sinh hiện tượng nói dối, làm giả, thiếu trung thực. Người Việt Nam có thói quen giao tiếp một vừa hai phải, cả nể lẫn nhau. Từ đó làm nảy sinh sự lợi dụng của người khác. Mặt khác, Sự nhận thức non yếu và thiếu hiểu biết của người nghe cũng là nguyên nhân khiến cho kẻ khác tìm cách lợi dụng. Sự lầm lẫn giữa sự mềm dẻo và non yếu, thiếu hiểu biết đã khiến cho con người cố tình nói điều không đúng. Trước hết là để thực hiện một cuộc giao tiếp. Sau đó là giành lấy phần lợi ích về mình dựa trên sự cả tin của người khác. Người phương Đông với lối sống cộng đồng, tư duy tổng hợp, không cần thiết phân biệt quá rõ ràng, mạch lạc các mối quan hệ xã hôi. Thế nên mặc nhiên chấp nhận sự dối trá ở mức độ có thể chấp nhận được nhằm duy trì sự ổn định của cộng đồng. Đối với người Việt Nam, chuẩn mực ứng xử là phải khéo léo, linh hoạt, hài hòa, tránh xung đột. Bởi thế, những lời nói thẳng, nói thật đôi khi không được chấp nhận. Điều đó khiến người ta thường phải dối lòng trong các quan hệ phức tạp, cần phải tế nhị. Ta vẫn thường nghe các kiểu nói: “chỗ anh em mới nói…”, “nói thật lòng là…”, “nói thẳng ra là…, Sự dối trá luôn ẩn chứa những mục đích xấu và mang lại những điều tai hại. Không ai lại nói dối thật lòng cả. Thế nhưng, trong đời thường ta vẫn thường gặp những trường hợp nói dối, nói tránh, nói giảm vì phép lịch sự. Những trường hợp đó gọi là nói dối vô hại. Nhưng cũng phải thấy, dù sao nó cũng đã tác động vào tâm lí con người, mặc nhiên cho rằng nói dối là một điều hiển nhiên, không có gì tai hại. Tất cả những điều đó chỉ là hiện tượng, là bề nổi tác động khiến con người hay nói dối. Nguyên nhân sâu xã chính là bản chất của nền văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, nền văn hóa nông nghiệp nông thôn đang có những xung đột với yêu cầu của nền công nghiệp thời đại mới. Chính những xung đột này làm biến đổi các giá trị truyền thống theo hướng bị phủ nhận. Trong khi đó, con người chưa kịp thích ứng với nền văn hóa mới. Họ tỏ ra hoang mang, lúng túng và buộc phải ứng phó theo kiểu thức thời. Bởi thế, sự lừa dối nảy sinh mạnh mẽ. Trong ngôn ngữ, với thói quên sử dụng nhiều các biện pháp tu từ nói tránh, nói giảm, cường điệu, phóng đại khiến cho hoạt động giao tiếp thiếu trung thực. Tính hư cấu trong văn học cũng được sử dụng rộng rãi trong văn học và đời sống. Điều đó đã gây ra nhiều nhầm lẫn cho người đọc có năng lực nhận thức kém. Cách nói sai sự thật được chấp nhận như một sự thật hiển nhiên. Chính điều đó khiến cho việc nói dối trở thành một lối ứng xử không có gì là sai trái. Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường cũng gây ra hiện tượng nói dối. Các nhà tiếp thị sản phẩm trên các phương tiện truyền thông cũng thức đẩy hiện tượng này. Họ đã lợi dụng tính “ảo” của nền công nghệ, quảng cáo sai sự thật vốn có. Họ khiến cho tâm lí người tiêu dùng “sống với sự gải dối quanh mình” ngày càng trở nên phổ biến. Từ việc thiếu niềm tin vào các quảng cáo đến việc hoài nghi, giả dối lẫn nhau là một hiện tượng đang diễn ra từng ngày ở nước ta. Xã hội còn thiếu những tấm gương trung thực, đấu tranh vì một cuộc sống trong sạch, vững mạnh. Cái xấu nhất định phải bị lên án, đấu tranh xóa bỏ. Cái tốt nhất định phải được tuyên dương, đề cao, khen thưởng, làm gương sáng cho người khác học tập. Sự khen thưởng hay trừng phạt phải hết sức công bằng và nghiêm minh để tạo niềm tin tưởng trong nhân dân. Có thể bạn đang tìm kiếm: Hậu quả khôn lường của hành vi nói dối, làm giả trong xã hội
Nguyên nhân của căn bệnh nói dối, làm giả trong xã hội ngày nay
791
Nguyên nhân suy thoái đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay Hướng dẫn Sự suy thoái đọa đức ở học sinh xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yêu là do bản thân mỗi học sinh Có nhiều nguyên nhân làm suy thoái đạo đức học sinh hiện nay. Trước hết, sự phát triển của nền kinh tế, kéo theo nó là sự thay đổi các giá trị đạo đức trong xa hội. Con người cạnh tranh khốc liệt tìm kiếm cơ hội việc làm, sự phân hóa giàu nghèo, sự giao thoa các nền văn hóa thế giới khiến cho nền tảng đạo đức bị lung lay. Các giá trị truyền thống không còn được tôn trọng nữa, trong khi đó, các giá trị chuẩn mực trong thời đại mới chưa kịp hình thành và khẳng định khiến con người mất định hướng, chạy theo lối sống vật chất thực dụng, thiếu tình cảm và sự gắn kết cộng đồng. Con người bị suy thoái đạo đức trầm trọng, thiếu tôn trọng lẫn nhau và khinh thường, bất chấp luật pháp. Nhiều phụ huynh và học sinh đua đòi lối sống thời thượng, tôn sùng vật chất, chỉ chú trọng vào môn học chính, học để thi, để lấy bằng cấp mà không xem trọng việc rèn luyện đạo đức, tác phong, hoàn thiện nhân cách khiến học sinh xem thường trường lớp, thiếu tôn trọng bạn bè, thầy cô. Gia đình buông lỏng giáo dục, phó mặc cho nhà trường. Quy chế trường học không còn đủ sức răn đe, giáo dục. Sự xâm nhập mãnh liệt của các nền văn hóa ngoại lai mang tính nổi loạn, lai căng phá hỏng nét đẹp thẩm mỹ truyền thống, một biểu hiện của mặt trái cơ chế thị trường. Điều này lại phù hợp với những học sinh có sở thích làm nổi bậc mình một cách kịch cỡm, lố lăng bằng những kiểu trang phục phản cảm, những hành vi vô văn hóa, những kiểu nói tối nghĩa, tục tĩu,…gây nhiều bức xúc trong xã hội. Tệ nạn xã hội xâm nhập sâu vào nhà trường và diễn biến ngày càng phức tạp. Nhà trường chưa có những giải pháp thiết thực để giáo dục đạo đức học sinh, tiến tới chấm dứt hiện tượng học sinh nói tục chửi thề, trốn học, bỏ học, lười học, đi học trễ, trang phục không đúng quy định,… Nhiều biện pháp mạnh mẽ đã được thực hiện song vẫn chưa sâu sát và kiên trì đến cùng. Xã hội thiếu quan tâm đến vấn đề đạo đức và tác phong của học sinh. Một hiện tượng thường thấy là nhiều người thờ ơ, không để ý, không thèm nhắc nhở bởi không muốn phiền phức. Dù có nhiều tác nhân gây nên tình trạng suy thoái đạo đức, nhân cách, nhân phẩm của một bộ phận học sinh nhưng nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ bản thân của mỗi học sinh. Cái xấu luôn tồn tại trong đời sống xã hội. Nếu mỗi học sinh biết rèn luyện bản lĩnh vững vàng, chăm lo học tập, làm theo điều tốt, tránh xa cái xấu, sống có lý tưởng cao đẹp, có mục đích học tập rõ ràng, có hoài bão, ước mơ, hướng đến tương lai thì nhất định đạo đức cũng sẽ trở nên trong sáng, cao đẹp, đạt thành tích cao trong học tập và yêu cuộc đời này hơn. Hậu quả nghiêm trọng của hiện tương suy thoái đạo đức, nhân cách học sinh
Nguyên nhân suy thoái đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay
591
Nguyên tiêu (Rằm tháng tháng giêng) là một bài thơ xuân tuyệt tác của Hồ Chí Minh. Em hãy phân tích bài thơ này. Hướng dẫn “Nguyên tiêu” là bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh được viết trong thời gian kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Sau chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông 1947 sang Xuân Hè 1948 quân ta lại thắng lớn trong đường số 4. Niềm vui thắng lợi tràn ngập tiền tuyến, hậu phương. Trong không khí sôi động và phấn chấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác Hồ xuất hiện trên báo Cứu quốc như một doá hoa xuân ngọt ngào rực rỡ sắc hương. Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền. Mở đầu bài thơ là cảnh tuyệt vời trong đêm Nguyên tiêu. Trên bầu trời vầng trăng tròn vành vạnh: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Rằm xuân lồng lộng trăng soi) Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì có hơi thở của mùa xuân. Đêm rằm, trăng sáng ánh trăng lồng lộng dát vàng trên nền trời, phủ khắp chốn trần gian, ánh trăng tràn mọi nẻo… Ánh trăng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình lung linh sinh sắc. Đất nước, quê hương bao la một màu xanh bát ngát, màu xanh lấp lánh của xuân giang, dòng sông như được tiếp thêm sức sống mới dưới khí trời mát dịu. Dòng sông trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn, dòng sông xanh xuân thủy và tiếp nối với màu xanh của xuân thiên. Mùa xuân là mùa của chồi non, sự sống. Xuân phơi phới có ở khắp mọi nơi, xuân của dòng sông, dòng nước, không gian cao rộng của bầu trời. Khí xuân tràn ngập sự sống, ba từ xuân làm nồi bật cái thần của cảnh vật, sông nước và bầu trời: Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên (Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân) Xuân trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ và vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả màu xanh của sông nước, đất trời vào xuân. Khi vào xuân, con người tạo vật như bừng tỉnh, rạo rực trong cuộc sống mới. Nhà thơ Thanh Hải đã từng cảm nhận mùa xuân của thiên nhiên và đất trời qua những tín hiệu: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc ơi! Con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng… (Mùa xuân nho nhỏ) Xuân đến, tiếng chim hót vang lừng, giọt mùa xuân long lanh do đất trời ban tặng làm cho sự sống rạo rực hơn và bất tận. Trong câu thơ của Bác xuân còn gợi tả màu xanh của sông nước, trời đất vào xuân, sức sống mãnh liệt, trẻ trung căng tràn nhựa sống. Niềmvui sướng tự hào phơi phới của Bác đang ngây ngất say sưa giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử – đất nước đang anh dũng kháng chiến: Với Bác, yêu trăng, yêu xuân chính là yêu cuộc đời. Trái tim mênh mông của người chan hòa với thiên nhiên, sông núi, hoa lá cỏ cây thật hữu tình. “Có trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa, trăng vào cửa số đậu – phê văn hoa núi ghé nghiêng soi”. Thiên nhiên trong thơ Bác thật phong, phú và chan chứa chất thơ. Đến hai câu thơ cuối, ta thấy cảm nhận về dòng sông, về khói sóng, và con thuyền được nâng lên một mức: Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền Nhớ ánh trăng ngày nào khi Bác còn bị giam dưới ngục lạnh nơi đất khách quê người (1942 – 1943) thì đêm nay – đêm rằm tháng giêng (1948) lại bắt gặp ánh trăng nơi chiến khu Việt Bắc. Con thuyền xuôi mái giữa dòng sông trăng, tựa mạn thuyền người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh “đang đàm quân sự”. Ánh trăng đêm này là ánh trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm được nhân dân đón đợi với bao tình cảm nồng hậu. Trăng đêm nay không phải là ánh trăng bình thường trước sân nhà, đầu ngõ. Bác thưởng trăng trên khói sóng, người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các bậc tao nhân mặc khách ngày xưa mà còn là con người hành động, người chiến sĩ cộng sản đánh giặc. Vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân trên” con thuyền nhẹ lướt giữa sông nước trời xuân, đây là trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt, yên ba là khói sóng, thi liệu cổ của Đường thi. Vậy là câu thơ có nát cổ điển và có nét hiện đại, chất hiện đại đó chính chất thép, chất chiến đấu của người chiến sĩ cộng sản: “Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Sau quãng thời gian bàn bạc việc quân, đêm đã về khuya, nửa đêm (dạ bán). Con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng trên vời sông nước mênh mông: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền) Hình ảnh nguyệt mãn thuyền gợi cho chúng ta nhớ đên những vần thơ cổ thi hoa lệ: Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông… (Bạch Cư Dị) Nước biếc non xanh thuyền gối bãi Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu (Nguyễn Trãi) Trở lại bài thơ “Nguyên tiêu” ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ ẩn hiện sau màn sương khói. Trên chiếc thuyền hình ảnh thi sĩ – chiến sĩ hiện lên thật đẹp đẽ với “bàn bạc việc quân” trong đêm trăng, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, quyết chiến đấu giành lại độc lập tự do cho dân tộc. “Nguyên tiêu” là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mang phong vị Đường thi. Bài thơ có nét thơ cổ thể: con thuyền, trăng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng… điệu thơ thanh nhẹ. Trong khung cảnh ấy chất chiến sĩ là trung tâm. Bài thơ như một đóa hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh. Văn là người, thơ là tấm lòng. Bài thơ này thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước, đồng thời bộc lộ tình yêu nước sâu sắc. Cốt cách thi sĩ hòa quyện chất chiến sĩ chất chứa đầy ắp trên chiếc thuyền kháng chiến đang tiến nhanh về bến bờ độc lập tự do. Nguồn:
Nguyên tiêu (Rằm tháng tháng giêng) là một bài thơ xuân tuyệt tác của Hồ Chí Minh. Em hãy phân tích bài thơ này.
1,109
Nguyễn Công Trứ lấy mo cau đeo vào đuôi bò nói che miệng thế gian Hướng dẫn Nguyễn Công Trứ lấy mo cau đeo vào đuôi bò nói che miệng thế gian Nguyễn Công Trứ (1778-1859) là một người văn võ song toàn dưới triều nhà Nguyễn.Nhắc tới ông,người ta nhớ đến công lao khai khẩn đất hoang,lấn biển,lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình).Người ta cũng không quên một nhà thơ với những câu thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước,về cái tôi ngất ngưởng trong ” Bài ca ngất ngưởng “.Bài thơ thuộc thể hát nói,được sáng tác sau năm 1848 khi ông cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do.Bài thơ nói chung và hành động “lấy mi cau đeo vào đít bò và nói đó là che miệng thế gian” nói riêng đã thể hiện rất rõ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ ở giai đoạn cuối đời,sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sống quan trường.Qua hành động này,người đọc chúng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa. Nếu như nền văn học trước ông,người đọc thường thấy các tác giả nói về cái “ta”,”chúng ta”,tức là nói về những cái chung chung.Nhưng khi đến với “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ,người đọc bắt gặp một cái tôi rất “ngông”,rất ngất ngưởng với chính bản thân,với đời.Để hiểu rõ hành động trên của ông,ta cần hiểu được nghĩa của từ “ngất ngưởng”. Theo từ điển Tiếng Việt thì ngất ngưởng là từ chỉ chỗ cheo leo,dễ đổ,dễ rơi,bất ổn định.Nhưng đặt vào văn cảnh của bài thơ,”ngất ngưởng” lại được hiểu là một con người khác đời,một cách sống khác đời và bất chấp mọi người.Bao trùm lên hành động “lấy mo cau đeo vào đít bò và nói đó là che miệng thế gian” là hình tượng của một con người ngất ngưởng.Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một con người gàn dở,tự hợm mình và hợm đời,mà là cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và bản lĩnh.Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình.Cái ngất ngưởng ấy là một lối sống độc đáo,một vẻ đẹp ngang tàng,phóng túng của một tâm hồn lớn,một nhân cách lớn. “Đô môn giải tổ chi niên Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” Đây là một kiểu về quê lạ lùng chưa từng có xưa nay.Hành động ấy là một sự thách thức đối với hệ thống quan lại bất tài,thối nát vì tham nhũng của triều Nguyễn lúc bấy giờ.Hồi xưa Mã Viện đi chinh chiến phương Nam,khi về chở đầy xe ý dĩ,bị người ta truyền tai nhau là xe vàng ngọc.Nguyễn Công Công Trứ không muốn bị thế gian đàm tiếu,không muốn bị bọn nịnh thần nhân dịp này xúc xiểm rằng ông mang nhiều vàng bạc về quê sau ba chục năm làm quan.Hành động ấy cũng đã khẳng định rằng Nguyễn Công Trứ không còn luyến tiếc gì hư vinh mà triều đình đem lại.Nay về hưu,ông cưỡi bò-con vật quen thuộc của thôn quê,như một lão nông chính hiệu.Ông cho mọi người biết rằng ông đã hết làm quan,đã được tự do.Hành động này đã làm nổi bật cái ngông trong con người ông.Ngồi trên lưng bò còn đem theo mo cau buộc chỗ đuôi bò và nói để che miệng thế gian,đúng là khác đời,khác người,mà chỉ có Nguyễn Công Trứ mới dám làm như vậy.Trong bối cảnh thực tế lúc bấy giờ,quan niệm sống của ông là một thách thức cũng như có ánh mắt nhìn lại của người đời.Tuy nhiên,nếu ta đi vào tìm hiểu sâu sẽ thấy được khát vọng mãnh liệt muốn khẳng định cái tôi của chính mình.Dường như ông muốn phản kháng lại cái xã hội bóp nghẹt sự sống của con người.Hành động này vừa khẳng định vừa thể hiện sự tự hào,lời tự bạch của ông,hay đó là một lời chế giễu đầy ẩn ý? Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường,khi đã “tháo cũi sổ lồng”,không còn chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên ngất ngưởng. Người đời bảo ông khác người,có kẻ cho là ông đặt mình lên trên dư luận.Xét ra có thể còn xa hơn thế,có thể là một cách chơi ngông.Hơn nữa,hành động ấy xảy ra ngay sau khi ông từ quan.Vừa nêu rõ năm tháng thôi ấn vua ban thì lại cho ngay bò mình cưỡi đeo đạc ngựa,lại còn dùng mo cau che đít bò để cho nó cùng “ngất ngưởng” như mình.Ai suy diễn ra điều này chắc không khỏi cho hành vi của ông là xấc xược.Trong xã hội phong kiến đầy những khuôn mẫu,lễ nghi và những luật lệ hết sức chặt chẽ,hà khắc,quan niệm và hành động của Nguyễn Công Trứ như trên quả là thách thức,một sự chòng ghẹo cuộc đời.Thực ra hành động ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và ý thức muốn khẳng định cái tôi cá nhân độc đáo của mình.Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. “Xuống ngựa,lên xe,nọ tưởng phàm Lợm mùi giáng chức với thăng quan Điền viên dạo chiếc xe bò cái Sẵn tấm mo che miệng thế gian” Điều ấy khiến cho kẻ hiền cũng nực cười.Vậy vì sao Nguyễn Công Trứ sống giữa chốn bon chen danh lợi như thế mà vẫn bình thản,thoát khỏi lẽ thường ở đời,nhất là đối với một quan lại triều đình trong chốn hoan lộ vốn bất công bằng? Có lẽ vì một lẽ đơn giản ngay trong tiềm thức,ý thức sâu xa của mình,ông đã không quan tâm đến miệng lưỡi thiên hạ khen hay chê mà luôn bình thản như ngọn gió xuân.Một lối chơi ngông thách thức xung quanh trên cơ sở nhận thức rõ tài năng và nhân cách cá nhân. Ngày nay,lối sống của Nguyễn Công Trứ cần được tiếp thu một cách cân nhắc.Tuy nhiên hành động của ông nói riêng và “bài ca ngất ngưởng” nói chung vẫn có ý nghĩa,trước hết trong việc khích lệ người đọc hãy sống mạnh mẽ,sống có ích để cuộc đời mình có ý nghĩa,không chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt,vô vị.Hành động ấy một lần nữa luôn khẳng định một nhân cách cao cả và lối sống thoát tục của một Nguyễn Công Trứ không màng danh lợi.
Nguyễn Công Trứ lấy mo cau đeo vào đuôi bò nói che miệng thế gian
1,109
Nguyễn Tuân nói rằng Ngô Tất Tố đã xui “Người nông dân nổi loạn” Qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ, hãy trình bày nhận định trên – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Tiếng trống và tiếng tù và thúc liên hồi đã làm bật ra kẻ nghèo, người giàu ở nông thôn nước ta trước Cách mạng tháng Tám. Mọi gia đình nông dân đều bị cuốn hút vào cơn sốt ác tính định kì trong vụ sưu thuế! Sáng nay, tiếng trống vẫn đổ hồi, đường làng vắng vẻ, nếu có ai đi thì cũng hối hả, vội vàng! Gia đình chị Dậu đã phải bán đi một đứa con, và đàn chó mới tạm có một ngày sum họp vui vẻ, có không khí đầm ấm. Mới đêm hôm qua thôi, anh Dậu còn bị trói rũ rượi như cái xác chết ở ngoài đình, giờ này anh đã tỉnh lại với vợ và mấy đứa con sau mấy ngày kinh hoàng, tan hoang. Cả nhà đang quây quần xưng quanh nồi cháo sắp chín… Nỗi nguy hôm qua đã qua rồi, còn nỗi nguy mới sắp đến thì chưa đến… Mọi sự đối với chị Dậu lúc này là chăm sóc cho chồng ăn một bát cháo. Đó là tất cả cô” gắng của chị trong mấy ngày qua để cho anh hồi sức lại. Nào ngờ, giữa lúc đó, tai họa lại ập đến. Giây phút tạm yên ổn của gia đình chị Dậu đã chấm dứt một cách phũ phàng, tội nghiệp! Anh Dậu vừa cố ngồi dậy run rẩy đỡ bát cháo từ tay vợ vừa mới để lên miệng, chưa kịp húp, còn chị Dậu đang nhìn xem anh ăn cháo có ngon không… thì hai thằng “tay sai sầm sập” bước vào. Trong tay chúng đầy những khí cụ tra tấn, hành hạ như “roi song, tay thước và dây thừng”… Sao chúng giông bọn “sai nha” mà Nguyễn Du đã tả trong Truyện Kiều. Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” hoặc có khác gì lũ ác nhân Khuyển Ưng: “Ầm ầm khốc quỉ kinh thần mọc ra”. Tên thứ nhất là “anh người nhà lí trưởng”, hắn cũng chỉ là đầy tớ được tách khỏi hàng ngũ người nghèo khổ trở thành tay sai cho bọn cường hào. Tên thứ hai là cai Lệ, một tên tay sai chính tông, chuyên nghiệp, hắn được phái về làng trong lúc “sưu thuế giới kì” để giúp bọn cường hào đốc thuế. Bước vào nhà, hắn đã gõ đầu roi xuống đất thét mấy lời làm anh Dậu để vội vàng bát cháo xuống phản rồi lăn đùng ra. Bằng giọng của thằng nghiện nhưng nó vẫn khàn khàn quát tháo: – Thằng kia, ông tưởng mày chết hôm qua, còn sông đây à! Nộp tiền sưu mau. Chị Dậu sợ hãi, run run, mong dùng lời ngọt ngào để sẽ tìm cách chạy sau: – Nhà cháu đã túng lại phải đóng cả suất sưu của chú nó… Hai ông làm phúc nói với ông lí hãy cho cháu khất. Lời trình bày van xin của chị Dậu có lí có tình, thiết tha và cảm động biết bao nhiêu, chỉ cần có một chút xíu lương tâm cũng phải nghĩ lại! Nhưng một “chút xíu” ấy cũng không có ở chúng, chúng chỉ có hung hăng, hầm hè như chó dữ, tán tận lương tâm khi đánh trói người. Tên cai Lệ chạy đến định trói anh Dậu. Mặt chị Dậu xám ngắt, đặt con xuống van xin nó một lần nữa. Nhưng tên cai Lệ dữ tợn như chó sói, hắn không thèm nghe mà còn quay lại tát “bốp” vào mặt chị. Đến nước ấy thì quá lắm, không chịu được nữa, một sức mạnh ghê gớm nổi dậy. Nỗi giận dữ bị dồn nén bấy lâu nổ bùng như sấm sét. Chị “nghiến hai hàm răng” với lời thách thức đanh đá, dữ dội: “Mày trói chồng bà, bà cho mày xem”. Không thèm van xin nữa, chị ra tay đấu lực với bọn ác ôn. Với sự phẫn nộ ngùn ngụt, chị Dậu đã vụt đứng dậy với sức mạnh vô địch như người khổng lồ trong truyện cổ tích. Chỉ một động tác, chị quật ngã tên cai Lệ hung tợn. Túm cổ hắn, đẩy ra cửa làm cho ngã chỏng quèo, đến cuộc đọ sức với tên người nhà lí trưởng thì có dằng dai hơn. Hai người đu đẩy, giằng co cái gậy, nhưng số phận của gã phản bội người nghèo này cũng bị chị “túm tóc lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm”. Thật là hài hước khi nhìn hình ảnh hai thằng ác ôn, hung dữ, trong tay đầy khí cụ lại bị những cú đòn “trời giáng” phải “ngã chỏng quèo” trên mặt đất mà miệng vẫn lảm nhảm thét lên đòi trói vợ chồng kẻ thiếu sưu. Trong mấy dòng mô tả rất sống động như một đoạn phim ngắn, ngòi bút Ngô Tất Tố đã pha chút hài hước, thậm chí có chút ít phóng đại vẽ lên hai hình ảnh xấu xí, dị dạng của hai tên người nhà ông lí và cai lệ! Bằng bút pháp tả thực, Ngô Tất Tố đã không xui nông dân nổi loạn, chống quan Tây, chống vua ta (mà chỉ phản ánh một thảm trạng thực tế, vạch rõ nguyên nhân khổ cực của dân quê là “nạn sưu cao thuế nặng” và nạn “cho vay cắt cổ” của lũ chúa đất). Nhưng khách quan của tác phẩm đã làm được cái việc như nhà văn Nguyễn Tuân đã nói. Chị Dậu đâu có sống ngoài vòng pháp luật, chị sống hiền hậu, là người đàn bà dân quê thương chồng thương con, tần tảo, chịu đựng. Không có gì đụng chạm đến phép nước lệ làng nhưng xã hội ấy đã đẩy chị đến bước phải chống lại nó, điều mà chị chưa bao giờ nghĩ tới. Nhưng khi đã nghĩ tới, chị đã nói một câu làm cho ai đó có số phận như chị không thể không làm: “Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được”. Câu nói đó chứa đựng một lẽ sống, một ưu thế của một người lương thiện nhưng không chịu cúi đầu. Tags:Văn 8
Nguyễn Tuân nói rằng Ngô Tất Tố đã xui “Người nông dân nổi loạn” Qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ, hãy trình bày nhận định trên – Đề và văn mẫu 8
1,058
Nguyễn Đình Chiểu có viết: Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình. Hãy giải thích câu thơ ấy. Hướng dẫn Theo quan niệm của xã hội xưa, nam nhi thì phải lấy chữ trung làm đầu, nữ nhi thì phải quyết giữ tiết hạnh. Đó như một truyền thống quý báu của dân tộc mà ngàn đời cha ông đã truyền lại cho con cháu. Mở đầu tác phẩm nổi tiếng Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã viết hai câu thơ, nó như một tựa đề để người đọc có thể hình dung được ý nghĩa mà nhà thơ muốn gửi gắm qua tác phẩm: “ Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình” Sinh ra và lớn lên tại một gia đình quan lại nhỏ ở đất Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu trưởng thành vào giữa thế kỉ XIX, lúc triều đình phong kiến nhà Nguyễn đang suy vong và thực dân Pháp bước đầu xâm lược Việt Nam. Năm 1845, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài. Năm 1848, cụ ra thi ở kinh đô Huế thì được tin mẹ mất, trở về quê chịu tang và bị mù lòa. Đời gặp nhiều bất hạnh, cụ vừa làm việc thiện vừa dồn ước mơ cao đẹp của mình vào thơvăn. Lục Vân Tiên xuất hiện trong thời kì này đã thể hiện rõ quan niệm làm người của cụ qua hình ảnh Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Nhà thơ đã có màn giới thiệu ấn tượng về hình ảnh chàng trai họ Lục khiến người đọc có cảm tình với nhân vật ngay chỉ qua vài câu thơ ngắn: “Có người ở quận Đông Thành Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền Đặt tên là Lục Vân Tiên Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành Theo thầy nấu sử sôi kinh Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao Văn đà khởi phụng đằng giao Võ thêm ba lược sáu thao ai bì.” Như lời giới thiệu của nhà thơ, cả cha mẹ lẫn Lục Vân Tiên đều tốt. Cha mẹ thì tu nhân tích đức còn Lục Vân Tiên thì hiền theo thầy nấu sử sôi kinh – văn võ khó ai bì kịp. Ắt hẳn trong thời gian theo thầy nấu sử sôi kinh tháng ngày bao quản sân Tình lao đao ấy, chàng trai học Lục đã học được Trình Hiệu, Trình Di (hai đại nho đời Tống) những bài học làm trai của đức Khổng Tử! Làm trai phải văn võ song toàn để xứng đáng với phong vị đại nhân quân tử. Văn trong con người Lục Vân Tiên không chỉ là chữ nghĩa tinh thông mà còn là đạo làm người. Lục Vân Tiên trong những tháng năm ở cửa Khổng, sân Trình chắc đã tinh tường nghĩa lí của Tam cương, Ngũ thường: đạo vua tôi, thầy trò, cha con, cùng với nhân, nghĩa, lế, trí, tín để trở thành chàng trai gương mẫu. Thế thì tại sao chỉ có trung hiếu, chỉ có vua cha mẹ trong câu thơ đầu? Và phải hiểu như thế nào cho đúng với quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu khi đặt bút viết hai từ ấy? “Trạng Nguyên tấu trước bệ rồng Xin dâng một tướng anh hùng đề binh.” Hớn Minh trước đây cùng đi thi với Vân Tiên, cũng là người trung nghĩa, người trên đường đi thi đã bẻ đi một giò của Đặng Sinh, con trai của quan huyện đã ỷ quyền cậy thế cưỡng gian con gái nhà lành, chịu tội án đày nên vượt ngục trốn về chùa tu. Hành động của Hớn Minh cũng là hành động của tôi trung không để người xấu làm ô danh chúa. Sau khi được Lục Vân Tiên dâng sớ xin vua tha, Hớn Minh đã cùng Lục Vân Tiên cầm quân diệt giặc Phiên. Đối với vua với nước Vân Tiên đã tận trung tận hiếu, còn lòng hiếu thảo với cha mẹ, Lục Vân Tiên cũng đã làm tròn, trên đường từ nhà thầy đi thi, dù đã gặp và biết Hớn Minh thi cùng khoa nhưng Lục Vân Tiên vẫn để Hớn Minh đi trước vì chàng còn phải về thăm cha mẹ rồi sẽ theo sau. Đến kinh đô nghe tin mẹ mất ngay lúc nhập trường, chàng đành bỏ thi về chịu tang mẹ: “Nhớ câu dưỡng dục, lo ơn sinh thành.” Cuộc đời của chàng trai vô cùng sóng gió, tai họa cứ liên tiếp ập xuống đầu chàng trai trẻ. Chàng trai còn bị cướp đi đôi mắt, sau này khi được thuốc tiên chữa lành đôi mắt, Lục Vân Tiên cũng đã sớm tạm biệt Hớn Minh trở về cùng cha già, đi viếng mộ mẹ trước khi nghĩ đến chuyện thi cử lập công danh. Có thể thấy Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng lên hai nhân vật tiêu biểu với nhân cách phi thường. Hai nhân vật được coi là hiện thân của Nguyễn Đình Chiểu, mượn nhân vật của mình để thể hiện nhân cách cao đẹp trong con người tác giả. Tiêu chuẩn làm trai của Nguyễn Đình Chiểu chính là trung, hiếu, Lục Vân Tiên và Hớn Minh và những nhân vật trong truyện đã làm rõ quan niệm này qua hành vi của họ. Với nữ giới, Nguyễn Đình Chiểu cho rằng tiết hạnh là hai nội dung, hai giá trị quan trọng hàng đầu đối với phụ nữ so với các đức tính khác. Vậy tiết hạnh la gì? Nói một cách suôn sẻ hơn thì tiết hạnh là giá trị của con gái, chính là sự nết na, mực thước, ngay thẳng và trong sạch trong cuộc sống. Đây làquan niệm đạo đức mang ảnh hưởng của đạo lí Nho gia, tam tòng tứ đức. Chữ tiết trong Lục Vân Tiên vẫn nằm trong tam tòng. Nàng đã tại gia tòng phụ (làm con đâu dám cãi cha) nên qua Hà Khê, nơi làm việc của thân phụ nàng để liệu bề nghi gia. Nhưng khi gặp Lục Vân Tiên tài hoa, đứng đắn thì nàng đã tự định đạt nghi gia lấy chồng của nàng. Nàng đã vượt quyền hạn cha mẹ hay sao? Không, nàng đã ngay thẳng, trong sáng trình bày sự việc, nỗi lòng của mình cho cha hay, và Kiều Công đã hứa với nàng là: “Cha nguyền trả đặng ơn này thì thôi.” Điều ấy có nghĩa là Kiều Công đã ngầm đồng ý. Chính vì vậy mà Kiều Nguyệt Nga đã đặt bàn hương án chúc nguyền thần linh. Chúng ta có thể xem đây là một lễ cưới không có chàng rể, một lễ cưới lạ lùng nhất trong văn học. Kể từ giây phút ấy, Kiều Nguyệt Nga xem như mình đã xuất giá, nàng đã một lòng chờ đợi chàng trai họ Lục, và khi bị đi tiến cử cống Phiên thì nàng đã âm thầm ra đi rồi quyết trầm mình để thủ tiết thờ người chồng chưa thể làm lễ cưới xin. Còn hạnh thì quá rõ ràng, nàng đã nết na với cha, giữ mực thước với Lục Vân Tiên, với tất cả mọi người. Tứ đức của Nho gia là công, dung, ngôn, hạnh. Hạnh đứng vào hàng thứ tư. Cụ đồ Chiểu đã xếp lên hạng nhất, trong đời sống người con gái cần công, dung, ngôn lắm nhưng có những thứ ấy mà: “Không có tiết hạnh thì cũng bằng thừa!” Cụ Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên vào lúc đất nước đang lâm nguy. Triều đình nhà Nguyễn suy vong. Pháp đang lăm le xâm lược đất nước, có lẽ cụ đã nhìn thấy trước điều ấy nên đã nhắc lại đạo lí làm người cho thanh niên nam nữ đương thời. Quan niệm ấy của cụ có còn phù hợp với xã hội ngày nay không? Từ khi Truyện Lục Vân Tiên ra đời, cũng là thời điểm Nguyễn Đình Chiểu đưa ra khung chuẩn đạo đức cho nam nữ thanh niên qua hai nhân vật chính Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga, người ta cứ ngỡ là cổ xưa lỗi thời nhưng kì thực vẫn còn giá trị. Trung hiếu, tiết hạnh vẫn là bản chất truyền thống của dân tộc Việt Nam ở bất cứ nơi đâu và vào thời đại nào đối với những ai tự hào mình là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ vậy. Lòng trung hiếu và tiết hạnh của con người dù ở thời điểm nào cũng quan trọng và cần thiết. Tuy ở mỗi thời kỳ của xã hội quan niệm này có thay đổi đôi chút, nhưng giá trị của nó còn nguyên vẹn. Nếu trong xã hội ngày nay, cả nam và nữ đều đi theo quan điểm của Nguyễn Đình Chiểu thì xã hội tốt đẹp biết nhường nào.
Nguyễn Đình Chiểu có viết_ Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình. Hãy giải thích câu thơ ấy.
1,474
Nguồn gốc, nhiệm vụ, công dụng của văn chương – Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Ngay từ nhỏ, chúng, ta đã được nghe ông bà kể chuyện cổ tích, nghe mẹ hát ru những bài ca dao – dân ca. Lớn lên, chúng ta được đọc, được học những bài thơ, những truyện ngắn và một vài cuốn tiểu thuyết,… cổ tích, ca dao, những bài thơ, các tác phẩm truyện ấy chính là những áng văn chương. Chúng ta đến với văn chương một cách hồn nhiên, theo sự rung động của tình cảm. Mấy ai đã suy ngẫm về ý nghĩa của văn chương đối với bản thân ta cũng như với mọi người. Vậy văn chương có ý nghĩa gì? Đọc văn thơ, học văn thơ, chúng ta thu lượm được những gì? Muốn giải đáp nhũng câu hỏi mang tính lí luận sâu rộng rất thú vị ấy, chúng ta hãy đọc bài Ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh – một nhà phê bình văn học có uy tín lớn. Văn bản được viết năm 1936 (in trong sách Văn chương và hành động). Đây là tác phẩm thuộc thể nghị luận văn chương, bàn về những vấn đề thuộc văn chương, khác bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là văn chính luận bàn về vấn đề chính trị xã hội… Vì là đoạn trích trong một bài nghị luận dài nên văn bản chúng ta được học không gồm ba phần hoàn chỉnh: đặt, giải quyết và kết thúc vấn đề. Nổi bật trong văn bản là ba nội dung quan trọng mà tác giả Hoài Thanh gọi chung là Ý nghĩa văn chương: nguồn gốc, nhiệm vụ của văn chương nói chung, của các tác phẩm thơ, văn, kịch nói riêng. 1.Nguồn gốc của văn chương. Đi vào văn bản, chúng ta bắt gặp ngay ở phần đầu một câu chuyện đời xưa thú vị. Từ câu chuyện ấy, tác giả giải thích nguồn gốc của văn chương. Theo Hoài Thanh, “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài”. Quan niệm ấy đúng không? Rất đúng, nhưng không phải là duy nhất. Có nhiều nhà lí luận giải thích: Văn chương bắt nguồn từ lao động, hoặc văn chương bắt nguồn từ những nỗi đau, những khát vọng cao cả của con người… Tuy ý kiến của Hoài Thanh khác với các quan niệm trên, nhưng không đối lập, không loại trừ nhau. Ngược lại, ý kiến của ông đã bổ sung, làm giàu thêm cho một vấn đề quan trọng trong lí luận về nguồn gốc của văn chương. Do đó, tác giả dùng từ cốt yếu sau từ nguồn gốc để chỉ rõ nguồn gốc chính, nguồn gốc quan trọng của văn chương là lòng thương.,. Đây là một cách nói mềm dẻo, khéo léo, không áp đặt, cũng không khẳng định quan niệm của mình là bao quát mọi quan niệm khác. Từ ý kiến của Hoài Thanh, tiếp tục suy nghĩ và học tập, lên các lớp trên, chắc chúng ta sẽ được biết sâu thêm về vấn đề này. 2.Nhiệm vụ của văn chương. Từ một câu văn ngắn gọn giải thích nguồn gốc văn chương, nhà văn giải thích tiếp: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Hai câu văn cô đọng nêu ra nhiệm vụ, chức năng cơ bản của văn chương, tập trung trong hai cụm từ “hình dung của sự sống”, “sáng tạo ra sự sống”. Điều đó nghĩa là gì? Phải chăng tác giả muốn nói: Văn chương có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống? ở đây, hình dung là danh từ, nó có nghĩa như hình ảnh, kết quả của sự phản ánh, sự miêu tả trong văn chương. Hai câu thơ của Bác Hồ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa – Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” (Cảnh khuya) đã hình dung, phản ánh, tái hiện bức tranh phong cảnh đêm rừng Việt Bắc tuyệt đẹp. Hay qua bài Sài Gòn tôi yêu, tác giả Minh Hương cũng đã hình dung cảnh và người, sự sống rất đáng yếu của mảnh đất Sài Gòn ngọc ngà xưa và nay. Cách hình dung, cách tái hiện, phản ánh cuộc sống của văn chương vô cùng phong phú, muôn hình vạn trạng đúng như Hoài Thanh nói. Mỗi nhà văn, nhà thơ có cách phản ánh, cách hình dung lại sự sống riêng tuỳ thuộc vốn sống, tài năng và tâm hồn của mình. Tâm hồn của con người thì bao la, vô tận. Do đó, Hoài Thanh viết: “Vũ trụ này tầm thường, chật hẹp, không đủ thoả mãn mối tình cảm dồi dào của nhà văn. Nhà văn sẽ sáng tạo ra những thế giới khác”. Đó cũng là nhiệm vụ của văn chương: nhiệm vụ sáng tạo. Điều ấy nghĩa là gì? Nghĩa là: qua các áng văn chương, bằng trí tưởng tượng bay bổng, bằng khát vọng tốt lành, nhà văn dựng nên bức tranh thiên nhiên, bức tranh đời sống vượt trên thực tế, đẹp hơn cuộc đời thực tại. Nguyễn Trãi chẳng hạn. Sau khi đất nước thanh bình, đời ông gặp nhiều ẩn ức. ông đã cáo quan, về Côn Sơn. Rừng núi nơi đây vẫn như xưa, có suối chảy, có đá rêu phong, có thông, có trúc… lặng im, vô cảm. Vậy mà, trong Bài ca Côn Sơn, tất cả đã sống dậy, có đàn cầm tấu nhạc, có chiếu êm, giường phẳng, mái nhà râm mát và… ngân nga tiếng thơ nhàn tản, thảnh thơi của con người. Nguyễn Trãi đã sáng tạo ra sự sống khác hẳn cuộc sống mà ông vừa đối mặt. Không chỉ sáng tạo ra sự sống cho riêng mình để giải toả những ẩn ức, bế tắc, nhà văn còn gửi gắm những thông điệp, những mong muốn, khát vọng tới bạn đọc để nhắc nhở chúng ta hãy yêu, ghét đúng đắn, hãy chia sẻ, cộng hưởng niềm vui, nỗi buồn, những ước mơ, khát vọng với nhà văn để quyết tâm làm những điều thiện, điều có ích, để cuộc sống mà nhà văn hình dung được ngày càng tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn, thậm chí khác hẳn sự sống trong áng văn chương. Miêu tả cảnh đêm rừng Việt Bắc trong bài Cảnh khuya, nhà thơ Hồ Chí Minh mong muốn cuộc kháng chiến lúc bấy giờ sớm thành công để núi rừng Việt Bắc, Tổ quốc Việt Nam sẽ đẹp hơn, cuộc sống của nhân dân sẽ hạnh phúc hơn. Ca ngợi mảnh đất và con người Sài Gòn trong bài Sài Gòn tôi yêu, nhà văn Minh Hương mong muốn “mọi người đều yêu Sài Gòn như tôi”. Tình yêu sẽ thúc đẩy con người làm được nhiều điều tốt đẹp. Yêu Sài Gòn, “mọi người” – trong đó có nhà văn – và bạn đọc sẽ góp phần tích cực tạo ra một Sài Gòn đẹp hơn, đáng yêu hơn. Sau những áng văn chương, sự sống bao giờ cũng được nối dài, được phát triển trong tâm hồn, ý chí, khát vọng và hành động của bạn đọc… Phải chăng đấy chính là nhiệm vụ “sáng tạo sự sống” của văn chương như Hoài Thanh quan niệm. 3.Công dụng của văn chương. Nói tới nhiệm vụ hình dung lại, sáng tạo ra sự sống, cũng là đề cập tới một ý nghĩa quan trọng nữa của văn chương. “Và vì thế – Hoài Thanh viết – Công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha”. Phần hai của văn bản Ý nghĩa văn chương tập trung giảng giải, bình luận về công dụng của văn chương. Chúng ta hiểu nghĩa từ công dụng là: tác dụng, là hiệu quả, là sự bồi đắp trí tuệ, sự truyền cảm… của văn chương đối với bạn đọc nói riêng, con người nói chung. Vậy, qua ý kiến của Hoài Thanh, chúng ta hiểu công dụng của văn chương như thế nào? Hoài Thanh viết: “Một người hằng ngày chỉ cặm cụi lo lắng vì mình… khi xem truyện hay ngâm thơ có thể vui, buồn, mừng, giận cùng những người ở đâu đâu,…”. Nghĩa là văn chương có khả năng lay động tâm hồn, giúp ta biết chia sẻ buồn, vui, đau khổ, hạnh phúc… với mọi người, dắt chúng ta sống gần với nhau hơn trong tình nhân ái, tình thương yêu, đoàn kết giữa con người với con người… “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Rõ ràng, văn chương đã bồi đắp tình cảm tốt đẹp cho người đọc, làm giàu thêm thế giới tâm hồn của chúng ta. Không những thế, văn chương còn góp phần tô điểm biết bao sắc màu, âm thanh làm cho thế giới, con người, cuộc sống được tốt đẹp hơn, đáng yêu hơn. […] Từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cổ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay…Hoài Thanh Viết như thế, đã nhấn mạnh thêm công dụng của văn chương. Hiểu và suy ngẫm những ý kiến ấy, rồi liên tưởng tới các áng văn chương đã được đọc, được học, ta thấy quả đúng như vậy. Đọc những bài ca dao tình nghĩa con người, ta càng thêm yêu ông bà, cha mẹ ta hơn. Tóm lại, với một lối văn nghị luận vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh, Hoài Thanh đã cho rằng: nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình câm, là lòng vi tha. Văn chương là hình dung của sự sống và sáng tạo ra sự sống, góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho chúng ta. Nếu lịch sử nhân loại xoá bỏ văn chương thì sự sống sẽ nghèo nàn vô cùng. Quan niệm như thế cố thể là chưa đầy đủ, nhưng đã có những điều cơ bản và đúng đắn, giúp cho chúng ta hiểu rõ: nguồn gốc, nhiệm vụ và công dụng của văn chương. Nhờ đó, chúng ta đọc văn, học văn, hiểu và suy ngẫm về văn chương được sáng tỏ và sâu sắc hơn. Xem lại bài bình giảng Một phương diện để nhớ và noi gương Bác Hồ vĩ đại
Nguồn gốc, nhiệm vụ, công dụng của văn chương – Bình giảng văn 7
1,781
Ngày 20 tháng 11 trường em tổ chức lễ kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam rất trang trọng. Em hãy miêu tả lại khung cảnh trường em hôm ấy. Hướng dẫn làm bài – Đề bài yêu cầu tả lại khung cảnh trang trọng trường em nhân dịp tổ chức lễ kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11. – Miêu tả qua sự quan sát từ thực tế cuộc sống. – Bài văn cần đủ các ý chính sau: Mở bài: . + Giới thiệu khái quát quang cảnh nhà trường trong ngày lễ 20 – 11. Thân bài: + Công tác chuẩn bị cho ngày lễ. + Khung cảnh trường trong ngày lễ kỉ niệm: + Hoạt động trong ngày lễ. Kết bài: + Khẳng định ý nghĩa buổi lễ. Bài văn mẫu Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, trường tôi tổ chức một buổi lễ kỉ niệm rất long trọng. Khung cảnh trường hôm đó thật tưng bừng và nhộn nhịp. Từ mấy hôm trước, công tác chuẩn bị cho buổi lễ kỉ niệm đã được nhà trường tiến hành rất chu đáo. Mỗi lớp đều có nhiệm vụ để đóng góp cho buổi kỉ niệm. Tất cả mọi nơi trong trường đều được chú ý trang trí. Vì nhận thấy dây là một ngày lễ rất ý nghĩa nên học trò chúng tôi ai cũng có ý thức xây dựng. Từng ngày trôi qua, ngày lễ kỉ niệm cũng đã đến..Còn rất nhiều điều bất ngờ, thú vị chờ đón nên chúng tôi rất hồi hộp…. Buổi sáng hôm đó, tôi cùng mấy người bạn thân đến từ sớm. Đi từ xa, tôi nhận ra những lá cờ bảy màu trên cổng trường bay phấp phới trong gió sớm. Đến gần, khung cảnh trường mới rực rỡ làm sao. Hai cánh cổng sắt mở rộng như giang tay chào đón các vị khách quí. Dòng chữ lớn “Tôn vinh ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11” nằm ngang trên cổng gây ấn tượng mạnh với mọi người. Trong sân, chỗ nào cũng sạch sẽ. Các bác lao công hẳn đã rất vất vả. Xung quanh đều được giăng cờ hoa như khu vườn cổ tích. Các khóm hoa trong, vườn trường cũng đua nhâu khoe sắc thắm. Hôm nay chúng ngủ dậy sớm hơn mọi khi, đang tỏa mùi hương ngào ngạt. Chúng tôi đi lên tầng hai, đưa mắt nhìn xuống sân trường. Từng dãy ghế nhựa nằm ngay ngắn như những đội quân tí hon. Hàng bàn ghế đại biểu phủ khăn đẹp đẽ, bên trên là những lọ hoa nhỏ xinh. Và có lẽ đẹp nhất trong buổi lễ hôm nay là sân khấu. Sân khấu được trang trí rất lộng lẫy với nhiều hoạ, bóng bay, ánh sáng và màu sắc, nhất là phông nền chuẩn bị vô cùng công phu. Với sự đầu tư này chắc chắn trường tôi sẽ có buổi lễ thành công và ý nghĩa. Sắp đến giờ tổ chức, sân trường chật cứng người. Những chị học sinh lớp 9 hôm nay dịu dàng hơn với những tà áo dài thướt tha tung bay khiến các chị lớp 7, lớp 8 và cả các bạn lớp 6 chúng em nữa nhìn theo đầy ngưỡng mộ. Các bạn nam chững chạc trong bộ quần áo sơ mi đen trắng. Các thầy, các cô cũng xinh đẹp lạ. Nhìn thầy cô ai nấy đều vui và hạnh phúc. Các vị khách đã. đến, có cả những thế hệ thầy cô về hưu của nhà truờng. Thế là trong chốc lát, sân trường sôi nổi, nhộn nhịp như trong lễ hội sắc màu. Tiếng cười, tiếng nói râm ran hòa lẫn tiếng nhạc. Bỗng tiếng thầy Hiệu trưởng vang lên. Buổi lễ đã bắt đầu. Mọi người hướng lên sân khấu chính, ở đó diễn ra nhiều hoạt động, nhất là phần trao thưởng cho tập thể lớp, cá nhân học sinh xuẫt sắc trong đợt thi đua. Đây là những món quà lớn nhất chúng tôi muốn gửi đến thầy cô thay cho lời cảm ơn chân thành. Có một mục làm tôi vô cùng xúc động. Các thầy cô giáo cũ, những cựu học sinh về thăm, nói chuyện với học sinh của trường. Những câu chuyện đã qua nhưng sông động, ý nghĩa giúp chúng tôi thấy yêu truờng, yêu lớp, yêu thầy cô bạn bè mình hơn.
Ngày 20 tháng 11 trường em tổ chức lễ kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam rất trang trọng. Em hãy miêu tả lại khung cảnh trường em hôm ấy.
730
Đề bài: Một bạn cho rằng có rất nhiều ngày khai trường, nhưng ngày khai trường vào lớp Một để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm hồn. Em có tán thành với ý kiến trên không? Vì sao? Bài làm Trong cuộc đời của mỗi thế hệ học sinh, chắc hẳn ai cũng từng được tham gia những buổi khai trường thật nhiều ý nghĩ. Tuy vậy, đối với em ngày khai trường vào lớp Một vẫn để lại trong kí ức em ấn tượng sâu đậm nhất. Mỗi khi nhắc tới, những hình ảnh đẹp đẽ dường như lại hiện lên trong tâm thức em. Bước chân vào lớp một là bước vào một cánh cửa mới, ngập trần tri thức diệu kì. Em còn nhớ là suốt mấy ngày hôm ấy, em luôn có tâm trạng nôn nao và háo hức. Dường như, trong ngôi nhà xinh đẹp của em cũng háo hức như vậy. Ông bà, cha mẹ đã chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết cho em để em bước vào ngôi trường mới. Nào là chiếc cặp xinh xắn có hai quai để đeo lên vai; bộ sách giáo khoa, những trang vở Hồng Hà thơm phức mùi giấy mới. Rồi hộp màu vẽ, chiếc bảng nhỏ, phấn viết, đồ lau, bút mực, bút chì…. Em thích thú giở từng thứ, nhìn ngắm không biết chán. Sáng hôm sau, mẹ dắt em tới trường.Ngoài cổng trường,em thấy có khá nhiều những người bạn nhỏ trạc tuổi em, họ ngập ngừng không dám bước tiếp: đó cũng là những bạn học sinh lớp 1. Có lẽ các bạn ấy cũng có cảm xúc giống như tôi lúc này: sợ hãi, rụt rè mà bỡ ngờ, một cảm giác lạ lẫm ngơ ngác khi đứng trước cánh cổng trường. Cổng trường mở rộng dang hai cánh tay lực lưỡng, hướng về chúng tôi gọi chào. Sự thân thiện ấy như muốn xua tan đi những nỗi lo âu của những đứa trẻ lần đầu tiên đến lớp. Tôi lưỡng lự, tạm biệt mẹ rồi nhanh chân xếp hàng đi diễu hành với các bạn. Buổi khai giảng lần đầu tiên trong đời mới long trọng và trang nghiêm làm sao! Tiếng trống trường giòn giã, thôi thúc, náo nức lòng người.Lễ khai giảng của trường tôi năm ấy cũng được chuẩn bị vô cùng chu đáo từ các băng – rôn, khẩu hiệu đến các tiết mục văn nghệ,… Sân trường được trang hoàng bằng những lá cờ đỏ thắm, các khẩu hiệu in lớn trông vô cùng rực rỡ. Sự háo hức, bồi hồi hiện rõ lên khuôn mặt của từng học sinh và các thầy cô giáo. Trang phục của chúng em được thống nhất là áo trắng, quần xanh. Mặc bộ đồng phụ trên người, em thấy mình như lớn hẳn.Các cô giáo thướt tha trong tà áo dài trắng giản dị mà vô cùng thanh lịch. Những thầy giáo thì trông thật lịch sự với bộ com – lê màu đen rất đẹp.Đúng bảy giờ, thầy tổng phụ trách tuyên bố buổi lễ khai trường long trọng bắt đầu. Mở đầu buổi lễ, chúng em đứng nghiêm trang chào cờ. Tiếp đó cô Hiệu trưởng đọc lời khai giảng và dặn dò, khuyên nhủ chúng em nhiều điều. Cô chúc chúng em học tập ngày càng tiến bộ. Những tràng vỗ tay vang lên không ngớt. Buổi khai giảng kết thúc, chúng em xếp hàng vào lớp. Lớp chúng em rộng rãi, ngăn nắp lắm, nổi bật giữa những bàn ghế, tranh ảnh là chiếc bảng đen to và đẹp. Cô giáo hiền dịu bước vào lớp, nhẹ nhàng hỏi chuyện những học sinh ngồi đầu bàn. Em run rẩy khi đôi tay mềm mại của cô khẽ chạm lên bờ vai mình ân cần hỏi han. Khoảnh khắc xúc động ấy là kỉ niệm em nhớ mãi không quên. Em cũng phát hiện ra rằng các bạn trong lớp mới cũng nghịch ngợm, đáng yêu và dễ gần như đám bạn của em vậy. Em và bạn cùng bàn ban đầu còn nhoẻn miệng cười gượng chào nhau. Nhưng chỉ một lát sau là ào ào kể cho nhau nghe về những trò chơi ở nhà mà em và đám bạn hay chơi. Em nhìn sang xung quanh: cả lớp tôi cũng đang bắt đầu “kết bạn” với nhau một cách ầm ĩ như vậy!
Ngày khai trường vào lớp Một để lại dấu ấn sâu đậm nhất
739
Người bán quạt may mắn Hướng dẫn Người bán quạt may mắn Vương Hi Chi nổi tiếng là người viết chữ đẹp ở Trung Quốc thời xưa. Một lần, ông đang ngồi nghỉ mát ở dưới gốc cây thì một bà già bán quạt cũng đến nghỉ. Bà lão phàn nàn là quạt bán ế, chiều nay cả nhà bà sẽ phải nhịn cơm. Rồi bà ngồi tựa vào gốc cây thiu thiu ngủ. Trong lúc bà lão thiếp đi, ông Vương lẳng lặng lấy bút mực ra, viết chữ, đề thơ vào từng chiếc quạt. Bà lão tỉnh dậy, thấy cả gánh quạt trắng tinh của mình đã bị ông già kia bôi đen lem luốc. Bà tức giận, bắt đền ông. Ông già chỉ cười, không nói, rồi thu xếp bút mực ra đi. Nào ngờ, lúc quạt trắng thì không ai mua, giờ quạt bị bôi đen ai cầm xem là mua ngay. Chỉ một loáng, gánh quạt đã bán hết. Rồi người mua mách nhau đến hỏi rất đông. Nhiều người còn hỏi mua với giá ngàn vàng. Bà lão nghe mà tiếc ngẩn tiếc ngơ. Trên đường về, bà nghĩ bụng: có lẽ vị tiên ông nào đã cảm thương cảnh ngộ nên đã giúp bà bán quạt chạy đến thế. Theo Lê Văn Yên I. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI Để kể lại được câu chuyện, em cần trả lời những câu hỏi sau: 1. Bà lão bán quạt đến nghỉ ở gốc cây gặp ai và bà phàn nàn những gì? Theo Lê Văn Yên 2. Khi thấy bà lão đã thiu thiu ngủ, ông Vương Hi Chi đã làm gì trên những cái quạt của bà lão? 3. Sau khi ông Vương đi rồi, chuyện gì đã xảy ra với gánh quạt của bà lão? Thời xưa ở Trung Quốc có ông Vương Hi Chi là người nổi tiếng viết chữ đẹp. Có một lần, ông đang ngồi nghỉ dưới gốc cây thì bà lão nghèo đi bán quạt cũng đến nghỉ dưới gốc cây ấy. Bà phàn nàn với ông là quạt bán ế quá. Tối nay chắc cả nhà phải nhịn đói. Buồn quá, bà tựa vào gốc cây ngủ. Thấy bà lão đã ngủ, ông Vương bèn lấy bút mực ra đề vào mỗi cái quạt một bài thơ. Tỉnh dậy, thấy gánh quạt trắng tinh của mình bị bôi mực lên đấy, bà lão la lối om sòm, bắt ông Vương phải đền. Ông Vương lẳng lặng bỏ đi không nói một câu. Ông Vương vừa mới đi khỏi, thì một lát sau, khách đi đường đi ngang qua, cầm quạt lên xem rồi mua ngay. Người này mách người kia, cứ thế… người ta đua nhau đến mua quạt. Gánh quạt của bà chả mấy chốc đã hết sạch. Nhiều người còn hỏi mua giá cao nữa chứ. Nghe thế, bà lão càng tiếc ngẩn tiếc ngơ. Rồi bà nghĩ bụng, trời thương mình nên mới cho một vị tiên ông đến giúp, quạt mới bán hết nhanh đến vậy. Bài làm 2 Có một người viết chữ đẹp nổi tiếng ở Trung Quốc thời xưa, đó là ông Vương Hi Chi. Một hôm, ông đang ngồi nghỉ ở dưới gốc cây ven đường thì gặp bà lão bán quạt cũng đi tới nghỉ ở gốc cây. Bà buồn rầu nói về chuyện bán quạt ế quá cho ông Vương nghe. Chờ cho bà thiu thiu ngủ, ông mới lấy bút mực ra viết chữ, đề thơ vào tất cả gánh quạt của bà. Tỉnh dậy, thấy gánh quạt bị mực bôi đến loang lổ, bà lão la ầm lên rồi bắt ông Vương Hi Chi phải bồi thường. Ông không nói năng gì chỉ lẳng lặng bỏ đi. Nào ngờ, chỉ một lúc sau, quạt bán hết. Nhiều người còn chạy đến hỏi mua giá lên tới ngàn vàng. Bà lão tiếc ngẩn tiếc ngơ vì không còn cái nào nữa mà bán. Trên đường về, bà thầm nghĩ ông lão chính là vị tiên ông mà Ngọc Hoàng phái xuống giúp cho những kẻ nghèo hèn như bà. Chuyện kể rằng: Thuở xưa ở Trung Quốc có ông Vương Hi Chi viết chữ đẹp nổi tiếng. Một hôm, ông ngồi nghỉ dưới một gốc cây ven đường thì tình cờ bà lão đi bán quạt cũng gánh hàng đến nghỉ ở dưới gốc cây. Bà tâm sự với ông rằng quạt bán ế quá, chiều nay cả nhà bà chắc phải nhịn đói. Vì mệt quá, bà ngủ thiếp đi dưới gốc cây. Trong lúc bà ngủ, ông Vương Hi Chi đã lấy bút mực viết chữ và đề thơ lên tất cả những cái quạt của bà. Khi tỉnh dậy thấy gánh quạt trắng tinh của mình bị ông Vương bôi đen lên cả, bà tức giận và bắt ông Vương phải bồi thường. Ông Vương lẳng lặng bỏ đi. Nào ngờ, gánh quạt của bà sau đó đều được bán hết. Một đồn mười, mười đồn trăm, người ta đua nhau đến mua quạt. Có người còn hỏi mua giá đến ngàn vàng. Bà lão tiết đứt ruột. Trên đường về, bà thầm nghĩ chắc là ông tiên vừa rồi giúp mình nên quạt mới bán chạy như thế.
Người bán quạt may mắn
876
Đề bài: Người bạn tốt nhất là người ở lại với ta khi mọi người bỏ ta mà đi. Hãy phát biểu vể vẻ đẹp của tình bạn. Dàn ý – Bạn là mối quan hệ kết giao không thế thiếu trong cuộc đời của mỗi con người. – Bạn có nghĩa là người gần ta, chia sẻ những vui buồn cùng ta. – Bạn phải là người tốt cùng ta vượt qua những vui buồn, thử thách của cuộc đời. – Nên chọn bạn mà chơi. – Bạn tốt sẽ là người bạn không bao giờ bỏ rơi ta lúc thành công cũng như thất bại. – Học hỏi lẫn nhau những điều tốt ở bạn. – Sông có nhiều bạn tốt, cuộc đời càng ý nghĩa, thú vị. Người bạn tốt nhất là người ở lại với ta khi mọi người bỏ ta mà đi Bài làm Trong suốt dặm dài cuộc đời, người ta cần biết bao nhiêu thứ và trong những khoảng lặng của cuộc sống người ta nghĩ đến biết bao điều. Trong bao nhiêu nghĩ suy ấy, chắc chắn có lần ta không khỏi tự vấn “Bạn thật sự của ta là ai?”. Vâng, ta đang nói đến bạn: là người sẵn lòng cùng ta ngắm một đoá hồng trong bình minh rạng rỡ; là người lặng lẽ nắm bàn tay lạnh ngắt của ta, khi ta chìm trong thất bại; là người không ruồng bỏ ta khi ta mất phương hướng. Câu nói “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi" – một quan niệm thật đẹp khi nói về tình bạn đúng nghĩa: người có khả năng nâng đỡ tâm hồn ta trong cuộc đời. Có câu chuyện rằng: Hai người bạn nhỏ vào rừng gặp phải con gấu hung tợn tẩn công. Một người nhanh chăn trèo tót lèn ngọn cây lánh nạn. Người bạn còn lại bế tắc quá bèn nhanh trí “giả chết” để đánh lừa con gấu. Con gấu ngửi ngửi một lát rồi bỏ đi. Người bạn trên cây ngạc nhiên, tụt xuống tiến nhanh về phía người bạn kia và hỏi: Con gấu nói với bạn điều gì vậy'? Người bạn “giả chết” trả lời: "Con gấu bảo với tớ rằng, không nên bỏ bạn mình trong lúc nguy khốn!” Thật bất hạnh và thật mỉa mai nếu trong đời ta gặp những người bạn như Lí Thông. Câu chuyện nhỏ trên kia, lại có một triết lí nhân sinh sâu sắc – một bài học về tình bạn, mà từ bé thơ ta đã được thầy, cô thường kể trong những giờ Giáo dục công dân. Bạn, để diễn tả theo một cách thông thường thì đó là người mà ta đã biết. Nhưng nếu để nói chính xác về nghĩa từ “bạn” thì không những người đó là người ta biết mà còn là người gần gũi, họ thật sự ở trong ta, làm chỗ dựa tinh thần và họ không bao giờ bỏ rơi ta. Đó là người' “đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi”. Tình bạn vốn là điều kì diệu của cuộc sống con người. Cuộc sống bạn cho ta một ai đó để sẻ chia, để nương tựa, để cùng khóc khi buồn, để cùng cười khi hạnh phúc. Lúc ta gần như sụp đổ trong đau khổ thất bại, ta sẽ giống như một người không biết bơi, đang vùng vẫy giữa biển khơi bao la, tất cả những con thuyền đi qua đều từ chối giúp dỡ, rồi… ta tuyệt vọng, nhưng không, hoá ra cuộc sống lại không nhẫn tâm đến vậy. Rồi ta chợt nhận ra, có một con thuyền đang đến giúp đỡ ta, dù nó chỉ là một con thuyền nhỏ bé không to lớn hào nhoáng: ta gọi đó là “bạn”. Giá trị đích thực của một người bạn là rất to lớn, là cả một hanh phúc. Một người bạn đúng nghĩa luôn mang đến cho ta nụ cười. Khi ta thất bại sẽ không nói rằng "Tở đă bảo rồi mà không nghe”. Ớ bên cạnh người bạn tốt ta thấy an toàn, ta thây ấm áp cả khi được lắng, nghe và ngược lại. Frorello La Guardia nói “Sự giàu có tạo ra tình bạn nhưng chính nghịch cảnh, bất hạnh thử thách nó”. Cuộc sống là vậy, có không ít những người đến với ta khi ta đang ở đỉnh vinh quang: họ không chần chừ cùng ta bước lên chiếc xe đẹp, thử một chiếc áo đắt tiền, ăn một món ăn tuyệt hảo hay đặt chân đến những nơi sang trọng. Nhưng rồi khi ta không còn gì, họ sẽ chần chù khi cùng ta đi bộ; e ngại phải thử một chiếc áo bình thường; xấu hổ với một món ăn bình dân và từ chối cùng ta đến những nơi không hào nhoáng. Sau bao thăng trầm và trải nghiệm ấy, ta sẽ biết ai là bạn thật sự! “Hại giống tâm hồn” có câu chuyện nói về hai người bạn, họ là Court và Wesley. Vào năm lên bốn tuổi, Court gặp Wesley tại lớp dự bị của một trường giáo dục đặc biệt, cả hai cậu bé đều có khối u ở não. Đây chính là nguyên nhân ngăn cản sự phát triển của họ. Khối u dường như là sợi dây liên kết hai người họ với nhau. Họ tìm thấy ở nhau sự đồng cảm, rồi cả hai nhanh chóng kết bạn và trở nên thân thiết với nhau. Năm lên mười một tuổi, cậu bé Wesley đã phải trải qua hai cuộc phẫu thuật khá nguy hiểm có thể ảnh hưởng đến sự sống của cậu. Tuy nhiên, bên cạnh cậu luôn có người bạn thân thiết tên Court, nhưng rồi thần chết đã mang Wesley đi. Một năm sau thì bệnh tình của Court cũng bắt đầu nguy hiểm. Khi nằm ở phòng cấp cứu, Court chợt nói rằng “Wesley đang ở đây và bạn ấy nói rằng “Đừng lo, mọi việc rồi sẽ ổn thôi mà”, Court dù đã không qua khỏi nhưng ai cũng nhìn thấy nụ cười còn lại trên môi cậu bé, vì đến tận giây phút cuối cùng, cậu biết mình không bao giờ phải cô đơn, vì Wesley luôn ở cạnh cậu như ngày xưa, mãi mãi là như thế! Câu chuyện thật sự rất cảm động, ta đọc nó để rồi ta nghiệm ra được tình bạn chính là một điều kì diệu. Ai mà không muốn có dược một người bạn thật sự – một người bạn “đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi”. Nếu bạn chỉ ngồi đó và chờ đợi thì nên nghe qua câu nói của Eurupide “Cách duy nhất dể có bạn tốt là chính bản thân mình phải là một người bạn chân thành” hay như quan niệm của Tô' Hữu: “Lẽ nào vay mà không trả? Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”. Hãy để bản thân mình là một người bạn tốt trước đã. Hãy yêu thương bằng tất cả tấm lòng; hãy học cách cho đi không chờ nhận lại; học cách tha thứ cho những lỗi lầm. Đôi khi chính những điều giản đơn lại là nguyên liệu cho một công thức kì diệu. Ta sẽ nhận được nhiều hơn nếu ta có một trái tim chân thành. Vì tình bạn thật sự nó đôi khi giản đơn và bị quên lãng trong những vong xoay của cuộc sống. Có khi nó chỉ là một bờ vai khi ta chợt bật khóc; một nụ cười khi ta cần sự cảm thông; một cái siết tay cổ vũ khi ta tham gia một buổi biểu diễn văn nghệ ở lớp và có khi chỉ là sự im lặng để nghe, để chia sẻ với nhau,…Tình bạn vốn dĩ là không có khuôn mẫu, chỉ có chính cách ứng xử của ta mới là thước đo lòng chân thành. Giả định “Nếu phía trước ta là một con đường”, thì chắc chắn cuộc sống không phải luôn là một con đường trải đầy hoa hồng, mà nó sẽ là một con đường dài đầy chông gai. Có thể ta sẽ ngã, có thể sẽ ngã nhiều. Nhưng qua những cái đau ấy, ta nhận ra được ai mới là người bạn thật sự của mình. Ngay bây giờ, nếu bạn đã tìm (lược cho mình người bạn, hãy trân trọng và thương yêu họ. Còn nếu bạn biết là mình cần tìm kiếm người bạn đúng nghĩa, thì trước tiên bạn phải là người đến chia sẻ khi mọi người đã bỏ bạn mình mà đi. Người bạn tốt là người cùng ta chia sẻ, tận hưởng một bầu trời thu man mác có nắng hanh vàng và không rời tay nhau giữa những ngày đông âm u bão tố của cuộc đời! Và mỗi chúng ta vẫn thường ước ao sao trong đời, ta tìm được những người bạn tốt. Để rồi ta cùng họ cầm tay nhau đi trên những dặm dài thênh thang và nhiều bất trắc của cuộc đời.
Người bạn tốt nhất là người ở lại với ta khi mọi người bỏ ta mà đi. Hãy phát biểu vể vẻ đẹp của tình bạn.
1,523
Người nghệ sĩ trong truyện Chiếc lá cuối cùng – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Trong nhịp sống tất bật, hối hả quay cuồng, nếu không có một khoảng lặng, một phút dừng lại ngắm nhìn cuộc đời, hẳn con người sẽ không bao giờ tìm được chút bình yên, thanh thản cho tâm hồn mình. Những lo toan thường nhật, cuộc mưu sinh bận rộn với bao toan tính, đắn đo đã cuốn con người vào vòng quay bất tận. Nhưng không, ở đâu đó, hơi ấm tình người vẫn lặng lẽ tỏa sáng. Ngay trong một khu phố nhỏ tồi tàn, vẫn cất lên bản nhạc dịu dàng giữa một xã hội phồn vinh, rộng lớn. Nơi ấy, nhà văn Mĩ O. Henri, bằng tấm chân tình của mình, đã giúp người đọc phát hiện bao vẻ đẹp của tình thương yêu giữa những người lao động nghèo khổ. Đoạn trích trong “Chiếc lá cuối cùng” diễn tả đầy đủ vẻ đẹp những trái tim nhân hậu cao cả. “Chiếc lá cuối cùng” là truyện ngắn kể về những người nghệ sĩ nghèo. Xiu và Giôn-xi là hai nữ họa sĩ trẻ sống trong một căn hộ thuê rẻ tiền ở khu quảng trường Gri-niz, gần công viên Oa-sinh-tơn. Bệnh viêm phổi và sự nghèo túng đã khiến Giôn- xi ngã gục trên con đường tìm về với sự sống. Cô nằm bất động trên giường bệnh, dõi theo những chiếc lá thường xuân qua ô cửa sổ và tin rằng mình sẽ ra đi khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống, vẻ chán nản làm bệnh tình của cô ngày một trầm trọng. Xiu vô cùng lo lắng và bộc lộ nỗi niềm với cụ Bơ- men – người họa sĩ nghèo luôn ấp ủ ước mơ vẽ một kiệt tác nhưng chưa bao giờ thực hiện được, đành sống qua ngày bằng tiền vẽ tranh quảng cáo và ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ cùng xóm… Một buổi sáng, Giôn-xi lại thều thào ra lệnh cho Xiu kéo chiếc màn cửa sổ để cô nhìn ra ngoài. Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng đêm trước, một chiếc lá vẫn bướng bỉnh bám trên cành thường xuân. Đó là chiếc lá cuối cùng của cây. Cả ngày hôm ấy, Giôn-xi chờ cho chiếc lá rụng xuống và cô sẽ chết. Nhưng sáng hôm sau, chiếc lá vẫn còn nguyên trên cây, tiếp thêm cho Giôn-xi sức sống và niềm hi vọng một ngày nào đó sẽ được vẽ vịnh Na-plơ. Khi Giôn-xi gần như chiến thắng được bệnh tật thì cụ Bơ-men qua đời, vì bệnh lao phổi. Chiếc lá thường xuân giúp Giôn-xi vượt qua cơn nguy hiểm là kiệt tác cụ Bơ-men đã vẽ trên tường trong đêm mưa gió dữ dội, tàn bạo, cái đêm mà chiếc lá cuối cùng không chịu nổi sức gió đã lìa cành… Đoạn trích thấm đượm tình người đã rung lên những sợi dây cảm xúc trong tâm hồn độc giả. Câu chuyện khép lại bằng lời kể của Xiu mà không để Giôn-xi có phản ứng gì thêm. Biết đâu mỗi lần ngắm chiếc lá là một lần Xiu và Giôn-xi được tiếp thêm sức lực và bản lĩnh để vượt qua những khó khăn, gian khổ trong cuộc sống? Truyện đã dừng lại, nhưng dư âm vẫn còn vang vọng trong lòng người đọc với bao suy nghĩ, dự đoán… Ngoài nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí và khắc họa tính cách ba nhân vật, nhà văn O. Hen-ri đã thành công trong việc xây dựng hai tình huống bất ngờ, thú vị. Ngay từ đầu, Giôn-xi đã đem đến bao lo lắng, thương cảm khi từng giờ phút chiến đấu và dần buông xuôi trước tử thần, nhưng theo thời gian, tình huống bỗng đảo ngược, Giôn-xi trở nên yêu đời, ham sống, tạo nên tiếng thở phào nhẹ nhõm. Ngược lại, cụ Bơ-men khỏe mạnh bỗng chết vì bệnh viêm phổi, một cái chết để lại những giọt nước mắt cảm động. Cả hai lần đảo ngược tình huống đều xoay quanh một trục: Bệnh viêm phổi, chiếc lá cuối cùng, có khác chăng là hành trình đi từ sự sống đến cái chết của một họa sĩ già để kéo cô gái trẻ từ cõi chết ngược về sự sống. Nghệ thuật đặc sắc ấy đã góp phần làm nên sức hấp dẫn của truyện. Tags:Văn 8
Người nghệ sĩ trong truyện Chiếc lá cuối cùng – Đề và văn mẫu 8
750
Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người (Raxun Gamzatov) Hướng dẫn Vai trò của quê hương đối với con người Mở bài: Là con người, ai cũng có quê hương. Hướng về quê hương, nguồn cội không chỉ có ở con người mà cả loài vật cũng có bản năng ấy. Có một loài lươn sinh ra ở Bắc âu, khi lớn lên chúng tìm đến những vùng nước ấm áp ở khu vực Đông Nam Á để sinh sản. Những con lươn con khi chúng lại tìm về vùng Bắc Âu giá rét, nơi mà cha mẹ chúng đã đến. Bởi thế, nói về quê hương, Raxun Gamzatov đã cho rằng: “Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người”. Thân bài: Quê hương là gì? Quê hương là nơi tổ tiên, ông bà, cha mẹ và ta đã được sinh thành, có một thời gian dài sinh sống và gắn bó qua nhiều thế hệ. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, quê hương là nói về một đất nước mà trong đó có quê (làng, cái nhà) mà mình đã được sinh ra, được dưỡng nuôi và thụ hưởng một nền văn hóa của làng quê, đất nước đó. Bởi thế giữa quê hương và con người có một mối liên hệ bền chặt, không thể tách rời. Tại sao không thể tách quê hương ra khỏi con người? Câu nói của Raxun Gamzatov đã khẳng định mạnh mẽ sợi dây liên kết giữa quê hương và con người. Con người có thể rời xa quê hương vì nhiều lí do. Có thể là để học tập vì quê nhà không có trường, không có ngành nghề mình yêu thích, hoặc chọn nơi có hiệu quả giáo dục cao hơn. Có thể là do hoàn cảnh kinh tế, chính trị, đoàn tụ gia đình phải sinh cơ lập nghiệp nơi khác. Cũng có thể là do điều kiện công tác hoặc do những lí do cao đẹp hơn: tìm đường cứu nước, khai khẩn đất hoang… Quê hương hiện diện trong tình cảm mỗi người. Đây là tình cảm thiêng liêng cũng như mọi thứ tình yêu khác, không thể lí giải nổi nhưng ăn sâu trong tâm khảm mỗi người. Tình yêu quê hương gắn liền với những hình ảnh thân thuộc khác. “Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm Có những ngày trốn học vì đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi” (Quê hương – Giam Nam) Quê hương là những giá trị văn hóa, là bản sắc, truyền thống, phong tục tập quán được hiện diện trong lối sống hằng ngày. Đó là sở thích, lối ăn mặc, những thói quen, văn hóa ứng xử, ngôn ngữ, giọng điệu, trong câu hát, lời ru… Không ai có thể từ bỏ hoàn toàn quê hương. Bởi những giá trị vô hình của quê hương đã ẩn sâu trong tâm hồn họ không thể nào họ có thể phủ nhận được. Cho đến khi họ không còn được nhìn thấy mặt trời thì những giá trị ấy lại tiếp tục nảy nở, tồn sinh trong các thế hệ sau. Con người không nghĩ gì về quê hương thì tâm hồn sẽ khô cạn, cuộc sống sẽ tẻ nhạt, luôn cảm thấy cô đơn, trống vắng, không thể tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc đời. Bất hạnh lớn nhất của đời người là không biết mình đã đến từ đâu và khi rời khỏi cõi đời này linh hồn sẽ về đâu trong bao la vũ trụ. Phê phán những người không có tình yêu quê hương Ngày nay, có nhiều người đã phủ nhận quê hương, phủ nhận nguồn cội, coi thường hoặc sỉ nhục các giá trị tốt đẹp của quê hương mà bản thân họ cũng có một phần ở trong đó. Họ chấp nhận sống lai căng, mất gốc, vui vẻ với một thứ văn hóa pha tạp, khiến họ trở nên lố lăng, kịch cỡm. Đó là sự khiếm khuyết về nhân cách. Những người như thế thật đáng chê trách. Bài học: Ý kiến của Raxun Gamzatov là một sự đúc kết sâu sắc mỗi quan hệ giữa con người và quê hương; là lời nhắc nhở, là bài học quý giá cho mỗi người trong thời buổi toàn cầu hóa, khi mà con người phải thường xuyên rời xa quê hương mình. Kết bài: Từ lâu, tình yêu quê hương đất nước vốn là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ta. Trong mấy nghìn năm qua, mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm, tình yêu quê hương, đất nước và niềm tự hào dân tộc sâu sắc lại kết tinh thành sức mạnh vô biên quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi, làm nên biết bao trang sử vẻ vang. Người Việt Nam dù đi đâu về đâu đều hướng về nguồn cội. Câu nói của Raxun Gamzatov càng khẳng định sâu sắc sự đúng đắn của tinh thần thiêng liêng ấy.
Người ta chỉ có thể tách con người ra khỏi quê hương, chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người (Raxun Gamzatov)
856
Người ấy (bạn bè, thầy cô, người thân,…) sống mãi trong lòng em – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Người ấy sống mãi trong lòng em Bài làm 1 Đã hơn một tháng rồi tôi không nhìn thấy bố, đã ngần ấy ngày gia đình tôi vắng tiếng nói, tiếng cười của bố – trụ cột gia đình. Vào cái ngày định mệnh ấy, người bố thân yêu của tôi đã ra đi mãi mãi. Dù không còn được nhìn thấy bố, không được nghe tiếng nói của bố… nhưng mãi mãi, trong tâm trí và trái tim bé bỏng của tôi, không gì có thể xoá nhoà được hình ảnh tuyệt vời và vĩ đại của bố. Bố tôi có khuôn mặt phúc hậu và đôi tai “Phật” rất đẹp. Điểm tôi nhớ nhất trên khuôn mặt bố chính là đôi mắt. Mỗi khi bố cười là hai mắt tít lại “không thấy gia đình đâu cả”. Bố không cao nhưng chắc, khỏe. Da bố ngăm đen vì nắng mưa gió bão, nhưng chính điều đó lại làm bố rắn rỏi hơn. Ông bà nội tôi đông con nên dù là con út nhưng từ bé, bố tôi đã phải đảm đương mọi việc trong nhà giúp gia đình. Không việc gì mà bố không làm được, từ quét nhà, nấu cơm,… đến cho lợn ăn, chăn bò,… Ngoài ra, bố còn luôn là học sinh giỏi. Tốt nghiệp đại học, bố phục vụ trong quân đội. Chính môi trường này đã giúp bố trở thành người kiên cường, mạnh mẽ và có ý chí như hiện nay. Từ khi được sinh ra tới nay, tôi luôn thấy bố là trụ cột vững chắc của gia đình, là thuyền trưởng thông minh tài năng của công ti và là người luôn hết lòng vì bạn bè, xã hội. Nhưng điều làm mẹ con tôi hạnh phúc nhất là làm gì, ở đâu bố cũng luôn nghĩ về gia đình. Ngày trước, khi tôi còn học cấp Tiểu học, sáng sáng, bố gọi tôi dậy đi học, chuẩn bị đồ ăn cho tôi, khi thì bát mì, cốc sữa, khi thì cái bánh ngọt,… Sau đó, bố đưa tôi đến trường. Khi tôi học cấp THCS, có thể tự đi xe đạp đến trường, bố vẫn luôn đi sau tôi, phòng xa, lỡ tôi gặp xui xẻo. Mặc dù là lãnh đạo của một công ti kinh doanh nhưng khi về đến nhà là bố giúp mẹ làm việc nhà, khi thì quét dọn nhà cửa, khi thì cùng mẹ làm cơm,… Bố bảo làm việc nhà vừa là lao động vừa là để nghỉ ngơi, thư giãn đầu óc sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt nhọc. Những hôm mẹ tôi ốm, bố nấu cháo cho mẹ tôi ăn, mua thuốc cho mẹ tôi uống,… Bao giờ đi công tác về bố cũng có quà cho hai mẹ con. Cứ như vậy, bố quan tâm từng li từng tí đến gia đình. Bao người nhìn vào gia đình tôi mà mong mỏi, ước ao. Đối với những người xung quanh, bố luôn hoà đồng, quan tâm đến mọi người. Ai cũng yêu quý bố, thế mà… sao ông trời lại nỡ lấy đi một người tài năng, tốt bụng và tuyệt vời ấy. Bố tôi từ giã cuộc đời vì một cơn đau tim đột ngột, khi đang trên máy bay từ Đà Nẵng ra Hà Nội, trong một chuyến công tác. Lúc đó, trong va li của bố còn mấy gói mì Quảng và con gà bố mua về cho hai mẹ con ăn đêm, vậy mà… Tin bố ra đi đã quật ngã cả gia đình tôi, đặc biệt là mẹ. Đến tận giờ phút này, tôi cũng không thể nào chấp nhận được sự thật phũ phàng đó. Tôi yêu và thương bố vô cùng, không một từ ngữ nào có thể nói hết được tình cảm yêu thương, sự kính trọng của tôi dành cho bố. Bố đã phải trải qua bao khó khăn vất vả để mẹ con tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. Bố chưa có trọn vẹn một ngày nghỉ ngơi, cả một đời chỉ lo cho vợ con và công việc, vậy mà, đến khi “hai tay buông xuôi” cũng không được gần vợ con. Tôi nhớ mãi hôm đám tang bố, ai cũng rơi lệ đau xót vì sự ra đi đột ngột của bố, một người mà ai cũng yêu quý và nể phục. Tôi tin rằng, trong trái tim, mọi người đều dành cho bố những tình cảm thiêng liêng tốt đẹp, như chính những gì bố tôi đã dành cho mọi người. Lê Hương Trà (Trường THCS Lê Quý Đôn) Bài làm 2 Hôm nay, khi dọn dẹp tủ đựng đồ, tôi thấy những tấm ảnh ngày bà nội tôi mất. Lật giở từng tấm ảnh, tôi nhớ bà da diết. Tôi chợt hiểu, dù đã mất nhưng hình ảnh bà, những kỉ niệm về bà vẫn mãi sống trong lòng tôi. Tôi chỉ sống với bà một quãng thời gian ngắn ngủi, khi còn bé. Bà là người phụ nữ nhỏ nhắn, hơi gầy. Nhìn đôi vai nhòn nhọn của bà, tôi không thể hiểu hết những gánh nặng, vất vả cùng bao nỗi cực nhọc bà đã gánh trong những năm qua. Hồi nhỏ, khi còn ở với bà, tôi thấy mắt bà sâu lắm, hơi vẩn đục chứ không trong veo như mắt tôi. Đôi gò má cao của bà lốm đốm những vệt nám. Vầng trán bà nhăn nheo, khoé mắt, khoé miệng đầy những vết chân chim, miệng bà móm mém. Tôi nhận xét với mẹ là bà xấu. Mẹ tôi chỉ mỉm cười và nói: “Không, bà không xấu đâu con ạ. Da bà không đẹp, mắt bà nhăn nheo… tức là bà là người phụ nữ đẹp, rất đẹp là đằng khác”. Tất nhiên lúc đó tôi không hiểu mẹ tôi nói bà đẹp ở chỗ nào. Nhưng giờ tôi đã hiểu. Cháu đã hiểu rồi, bà ạ. Những dấu hiệu tuổi già ấy thể hiện phần nào nỗi vất vả của bà hồi trước. Tuy bà không có vẻ đẹp bên ngoài nhưng bà là người phụ nữ có tâm hồn đẹp đẽ và cao thượng vô cùng. Bà nội tôi có dáng đi tập tễnh. Tôi không biết lí do tại sạo và tôi cũng không dám hỏi. Tôi hỏi mẹ, nhưng mẹ chỉ nói tại bà vất vả quá rồi mẹ quay đi lau nước mắt. Tôi thương bà nhiều lắm. Cả gia đình tôi ai cũng thương bà. Bà đã chôn chặt tuổi thanh xuân, quên mình đi để tận tay lo cho năm đứa con ăn học. Tôi nghe các bác kể, ngày xưa, nhà nghèo lắm, một mình bà thức khuya dậy sớm nuôi con. Ông nội tôi mới ngoài ba mươi tuổi đã mất khả năng lao động. Sáng bà dậy sớm ra đồng, đến trưa vội vàng về, nhiều khi cơm không kịp ăn, chuẩn bị hàng hoá ra bán chợ chiều. Một mình bà tôi đã dang hai cánh tay đón lấy gánh nặng gia đình, nuôi đàn con khôn lớn, trưởng thành như ngày hôm nay. Thế rồi ông nội tôi mất. Bà đã vượt qua mọi nỗi đau và gian khổ, trở thành trụ cột của gia đình. Nhưng là phụ nữ, bà cũng có lúc yếu đuối như bao phụ nữ khác. Bác cả tôi kể rằng, có lần bác thấy bà khóc thầm trong đêm. Bà khổ quá, nỗi cực khổ đã làm bà trở nên cứng rắn. Bố tôi nhiều khi vẫn tự trách mình, khi bà còn sống, bố đã không thể giúp được gì cho bà, để bà đỡ vất vả. Không bút nào có thể diễn tả hết nỗi khổ của bà trong những năm qua. Nghĩ đến bà, tôi lại muốn khóc. Trong mấy đứa cháu, có lẽ tôi là đứa được bà yêu chiều nhất. Không biết sự thực như thế hay vì quá yêu bà nên tôi tưởng tượng ra vậy. Tôi không may mắn như những đứa cháu khác, luôn được ở bên bà. Tôi ở xa bà quá. Có mỗi hồi bé tí tôi mới được ở với bà. Tôi còn nhớ như in cái ngày hôm ấy, ngày mà tôi biết được bà là người mà tôi yêu thương hơn bất cứ ai. Hôm ấy vì đi dầm mưa mà lại chạy dưới trời nắng chang chang nên chiều về tôi bị cảm nặng. Bà cuống quýt xoa dầu đánh gió, nấu cháo giải cảm cho tôi ăn. Thỉnh thoảng, bà lại chạy vào sờ trán, đắp khăn ướt cho tôi. Thấy tôi không đỡ, bà lại lập cập bế tôi ra trạm xá. Nằm trên tay bà, tôi thấy bà thở dốc, vừa khóc vừa gọi tên tôi. Đến trạm xá thì tôi mê man không biết gì nữa. Nghe nói, đêm ấy, các cô ở trạm xá phải truyền nước cho tôi. Cả đêm, bà ngồi cạnh tôi, không cho ai thay, không chịu đi nghỉ. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi thấy bà ngồi cạnh đang nắm tay tôi, đôi mắt đỏ ngầu, sưng húp. Tôi khẽ gọi bà, bà nhìn tôi sung sướng ứa nước mắt rồi cho tôi uống thuốc, ăn cháo. Khi cô y tá vào tiêm, bà ngồi cạnh dỗ dành, xoa tay tôi khiến tôi không thấy sợ. Bà đã truyền cho tôi sự can đảm, mang đến sự bình yên cho tôi. Không lâu sau đó bà tôi mất. Mẹ tôi nói không hiểu tại sao tôi còn bé thế mà lại là đứa khóc nhiều nhất, đau buồn nhất trong mấy đứa cháu. Bà mất ở tuổi bảy mươi, khi chưa hưởng trọn sự phụng dưỡng của con cháu. Lúc này đây, tôi đang rất nhớ bà. Nhưng tôi không viển vông ước bà sống lại, chiều chuộng yêu thương tôi như xưa. Bởi, tôi luôn có cảm giác bà dõi theo từng bước đi của tôi, che chở và mang lại sự bình yên cho tôi. Tôi chợt nhớ tới câu nói của Rita Mae Braw mà tôi rất tâm đắc: “Tôi vẫn luôn nhớ thương những người tôi yêu quý, những người không còn bên tôi nữa nhưng tôi thấy mình thật thanh thản vì đã rất yêu thương họ. Lòng biết ơn cuối cùng đã chiến thắng nỗi đau mất mát”. Đoàn Phương Quỳnh (Trường THCS Nguyễn Huy Tưởng) Bài làm 3 “Ông nội ơi, ông cho cháu đi ăn kem nhé”. Tiếng vòi quà ông nội của đứa bé chợt làm tôi nhớ nội của mình da diết. Đã lâu lắm rồi, tôi không được gọi nội, không được vòi vĩnh nội… Ông ơi, ông có biết giờ đây cháu nhớ ông biết bao nhiêu! Ngày ấy, tôi là đứa cháu bám ông nội nhất. Đi đâu ông cũng phải kéo theo cái đuôi là tôi. Mùa hè đối với tôi là thiên đường vì tôi sẽ được về quê, tung tăng cùng ông nội. Tôi nhớ lắm những chiều hè, ông dẫn tôi lên ngọn đồi gần nhà. Kể cả trong mơ tôi cũng không thể tưởng tượng nổi có ngọn đồi đẹp đến thế. Trên đồi, cỏ xanh mịn như trải thảm, những tán cọ xoè ô che nắng… Thật là một chỗ nằm lí tưởng. Tôi rất yêu ngọn đồi này. Không hiểu sao cỏ ở đây rất xanh và mịn. Bướm, đủ màu sắc, kích cỡ, từng đàn lượn đi lượn lại, đậu cả lên vai, lên tóc tôi. Gió trên đồi rất nhẹ, như thì thầm ru ngủ. Nắng trên đồi không gắt mà tưng bừng, rộn ràng như reo vui nhảy múa. Trên trời, những đám mây bay qua đồi cũng trở nên lười biếng, chậm chạp. Hình như nó muốn sà xuống mặt đồi đùa vui với nắng gió và bướm vàng… Thật không ngoa khi tôi gọi ngọn đồi này là “đồi cổ tích”. Tôi rất thích nằm trên bãi cỏ nghe ông kể chuyện. Thường thường khi ấy tôi đã mệt nhoài vì phải leo mãi mới lên tới đỉnh đồi, nơi mà ông bảo là đẹp nhất, mát nhất. Tôi cùng ông đắm chìm trong thế giới thần tiên với cô Tấm dịu hiền, chàng Thạch Sanh dũng cảm bắn đại bàng cứu công chúa,… Bao giờ chiều hẳn ông cháu tôi mới về nhà. Ông tôi nấu ăn ngon lắm. Chỉ mấy món bình dị như rau muống luộc, cọ om, cá kho mà sao tôi ăn mãi không thấy chán. Ăn xong, tôi và ông ra sân ngồi hóng gió. Ông lại kể cho tôi nghe lịch sử oai hùng của quê nhà. Sáng sáng, ông gọi tôi dậy sớm để hít thở không khí trong lành vùng trung du rồi cùng ra vườn chăm cây cối. Những luống rau xanh mơn mởn, lóng lánh sương đêm trông thật thích mắt. Rồi một ngày, ông tôi mất. Nghe tin ấy, hai tai tôi ù đi. Tôi đứng im, chỉ có hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má. Những kỉ niệm với ông ào ạt hiện về như một cuốn phim quay chậm. Tôi mất ông rồi. Tôi đã có bao tháng năm hạnh phúc cùng ông thế mà tôi lại ngu ngốc đẩy chúng đi xa, giờ đây có vội vàng níu kéo, chúng cũng sẽ chẳng bao giờ trở lại với tôi. Tôi nức lên: “Ông ơi, con sai rồi, ông hãy tha lỗi cho con”. Tôi cùng bố mẹ về quê giỗ ông. Các bác đưa cho tôi tấm ảnh. Nội tôi đây mà. Vẫn nụ cười hiền từ, đôi mắt trìu mến, vẫn vòng tay vững chắc như chưa bao giờ rời xa tôi. Đôi tay gầy gầy của ông đang ôm một đứa bé. Khuôn mặt nó rạng rỡ, hai tay ôm cây bắp cải vừa chặt trong vườn. Đứa bé ấy là tôi hồi còn nhỏ. Cầm chặt tấm ảnh, tôi thơ thẩn đi ra phía “Đồi cổ tích”. Đến nơi, tôi lạ lùng nhìn quanh, ngọn đồi của ông cháu tôi, những đàn bướm sặc sỡ, thảm cỏ xanh mát rượi… Chúng đâu rồi? Tại đây, một nhà máy mới đã sừng sững mọc lên. Tôi ngậm ngùi quay về với hai hàng nước mắt. Tôi về lại thành phố. Nhà cao tầng, bóng đèn sáng rực treo trên những con phố hoa lệ. Nhưng sao chúng không nên thơ, gợi cảm như ngọn đồi của ông cháu tôi? Mỗi lần nhớ ông, tôi lại đem tấm ảnh ra ngắm. Nụ cười, ánh mắt ông vẫn vậy, vẫn đầy ấm áp, yêu thương. Tôi nghĩ ông đang nhìn tôi, đặt hết hi vọng vào tôi. Tôi tự nhủ phải cố gắng học tập để ông được vui lòng, để xứng đáng với tình yêu thương và sự tin cậy mà ông dành cho tôi. Trần Thuỳ Dung (Trường THCS Ngô Gia Tự) Tags:Bài văn hay lớp 8 · Người ấy sống mãi trong lòng em
Người ấy (bạn bè, thầy cô, người thân,…) sống mãi trong lòng em – Bài văn hay lớp 8
2,513
Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi Hướng dẫn Người ấy sống mãi trong lòng tôi, bạn có thể chọn cho mình một người để viết như ông, bà, cha, mẹ, anh / chị hoặc bạn bè. Người mà để lại ấn tượng sâu trong lòng bạn, có thể bạn xem người đó là hình tượng để phấn đấu trở thành, là tấm gương noi theo sau này. Những bài viết mà bài văn mẫu giới thiệu với các bạn dưới đây sẽ giúp ích cho các bạn viết văn lần này. Các bạn cùng tham khảo nhé. Đề bài: Người ấy sống mãi trong lòng tôi: viết về người mẹ kính yêu. Ba mẹ tôi có tất cả ba người con và tôi là con gái đầu lòng. Tôi không giống ba, cũng không giống cả mẹ nhưng tôi được thừa hưởng tính cách cố chấp từ ba và nhẫn nại từ mẹ. Tôi được sinh ra trong hoàn cảnh khá chật vật. Gia đình bên ngoại thì nghèo khó nhưng là một gia đình có tiếng về gia giáo. Bên nội tuy khá giả nhưng có quan niệm cho con tự lập sớm.Thuở mới lấy nhau, ba mẹ tôi chưa có của ăn của để như bây giờ. Cuộc sống khá vất vả. Bố tôi cả ngày đi làm, về tới nhà là đã mệt nhoài. Mẹ tôi cũng chẳng hơn. Vừa đi làm vừa phải làm dâu, cuộc sống khó khăn trăm bề. Bên nội tôi gốc Hoa nên có những quy định khắt khe mà những ai làm dâu người Hoa mới hiểu hết. Lúc ấy,cả một đại gia đình con, dâu đều ở chung một nhà. Lúc ấy tôi còn nhỏ nhưng cũng phần nào hiểu được những nhọc nhằn khổ cực mà mẹ tôi đã trải qua. người thầy – văn mẫu lớp 8 Hàng ngày, mẹ tôi đến hãng từ năm giờ sáng và làm suốt đến bốn giờ chiều. Về đến nhà lại tiếp tục quần quật với công việc gia đình. Mặc dù ông bà tôi có nhiều nàng dâu, mỗi người luân phiên làm việc nhà nhưng cũng không tránh khỏi những đụng chạm hằng ngày. Gia đình tôi có thói quen ăn cơm chiều vào lúc năm giờ, cũng là lúc mọi người vừa đi làm về. Mẹ tôi có bệnh đau dạ dày nên hồi chưa lập gia đình, mẹ ở nhà thường dùng cơm sớm lúc bốn giờ chiều. Nhưng khi về nhà chồng, theo hủ tục của người Hoa con dâu không được ăn chung với mọi người. Mẹ tôi phải đứng bên cạnh ông bà để chờ bới cơm, rót nước, lấy tăm… Đến khi mẹ tôi cầm được chén cơm thì thân thể đã mệt mỏi rã rời. Nhiều lúc mẹ cầm chén cơm mà lặng lẽ khóc thầm. Đã vậy còn phải gánh chịu những lời nặng nhẹ của các cô em chồng. Thế mà mẹ tôi vẫn không than vãn một lời với bố tôi. Vì mẹ biết rằng bố tôi cũng đã vất vả nhiều. Đến khi mang thai tôi thì mẹ tôi lại càng cực nhọc hơn. Mặc dù thai nghén nhưng mẹ vẫn phải tuân thủ theo quy định giờ giấc bên chồng, vẫn phải làm việc nhà không ngơi nghỉ. Cho nên mẹ tôi ngày càng trở nên gầy gò, xanh xao. Có những lúc mẹ bị cơn đau dạ dày hành hạ,chịu không nổi, mẹ phải lén qua nhà ngoại ăn nhờ. Nhiều khi tủi thân mà mẹ chẳng biết than khóc với ai!“ Xuất giá tòng phu” mà, biết làm sao được. Tôi cất tiếng khóc chào đời với tất cả niềm hi vọng của mẹ. Mẹ sẵng sàng chịu nhục vì những lời xúc xiểm, nặng nhẹ của bên chồng chỉ vì ba tôi và tôi. Mẹ tôi là thế đấy. Chỉ gánh vác một mình, chẳng bao giờ hé một lời than với ai. Rồi tôi được mấy tháng tuổi, người tôi rất yếu. Năm ấy, tôi suýt chết vì một trận bệnh. Ông bà nội tôi kiên quyết không cho đem vào bệnh viện. Tôi được đưa đến bác sĩ tư nhưng vẫn không hết. Nhìn tôi nằm thiêm thiếp mà mẹ tôi ứa nước mắt. Sau cùng, vì quá thương con mẹ tôi bất chấp tất tả đưa tôi vào bệnh viện. Tôi nằm trong phòng hồi sức năm ngày là năm ngày mẹ tôi sống trong thấp thỏm, lo âu. Rồi tôi hồi phục, mẹ tôi càng trở nên xanh xao hơn… Tôi lớn lên trong nhọc nhằn tủi nhục của mẹ, nỗi vất vả của ba. Và rồi sự chịu khó của ba tôi cũng được đền đáp. Ba tôi đã thành công trong ngành giấy. Ông bắt đầu dọn ra riêng. Tưởng rằng mẹ tôi sẽ có những ngày thư thả. Nhưng, ba tôi càng thành công bao nhiêu, mẹ tôi lại càng vất vả bấy nhiêu. Việc nội trợ vừa lo xong thì chuyển sang phụ giải quyết việc của công ty… Trong khi mẹ vất vả như thế, các chú tôi lại bắt đầu sanh tật, ham chơi cờ bạc,rượu chè, rồi thiếu nợ, phải vay mượn, cầm cố đồ đạc. Ba tôi phải gánh vác, trả thay cho em. Thấy vậy, nhiều lần mẹ tôi cất tiếng khuyên can, chẳng những không nghe, họ còn lớn tiếng nhục mạ và tỏ thái độ coi thường mẹ. Nhiều lần tôi hỏi mẹ tôi: “ Mẹ có ghét bên nội con không?”. Mẹ tôi ngậm ngùi:” Tủi lắm con à. Nhưng nào có ai hiểu cho mình”… Năm tôi tám tuổi, em thứ hai tôi chào đời, sự nghiệp của ba tôi càng phát triển, mẹ tôi có phần nhẹ nhàng hơn. Đứa em tôi được xem như châu báu. Tôi bắt đầu có những ý nghĩ ganh ghét em mình. Tôi trở nên lười học, ham chơi nên từ hạng nhất tôi rớt xuống hạng tư. Rồi lần đầu tiên trong đời tôi dám đánh bạn mình. Cứ nghĩ mẹ tôi sẽ trừng phạt vì những gì tôi gây ra. Nhưng không, mẹ tôi chỉ lặng lẽ nhìn tôi, rồi mẹ kể cho tôi nghe về cuộc đời mẹ: “ … Mẹ gian khổ nhiều chỉ muốn con cái hạnh phúc. Không mong gì con trả ơn chỉ mong con có thể tự làm chính bản thân con hạnh phúc là mẹ cũng hạnh phúc rồi”. Thật ra, lúc ấy tôi chẳng hiểu hết những điều mẹ nói, nhưng nhìn những giọt nước mắt của mẹ, tôi đã tự nhủ thầm không để mẹ phải buồn khổ vì mình. Và tôi đã thay đổi nhiều từ dạo đó. Đức em út tôi ra đời trong niềm vui của cả gia đình, một bé trai thật bụ bẫm. Với vai trò chị cả, tôi phải gánh vác trách nhiệm làm gương. Nhiều lúc tôi cảm thấy buồn vì ba mẹ tôi dần xa tôi để lo công việc kinh doanh và chăm sóc hai đứa em nhiều hơn. Những xung đột giữa ba và mẹ xảy ra thường xuyên hơn…Tôi trở nên lặng lẽ và xa cách mẹ. Khỏang cách ấy ngày càng xa hơn, rộng hơn. Tôi không còn muốn tâm sự với mẹ, đi học về là tôi rút vào phòng nghe nhạc, học bài. Cho đến một ngày… một ngày tôi chợt nhận ra tóc mẹ tôi đã có quá nhiều sợi bạc. Mẹ tôi già đi nhiều quá! Trời ơi, tôi mới thảng thốt chợt nhớ rằng chỉ còn ba tháng nữa là mình không còn ở bên mẹ nữa, không còn được mẹ tận tay chăm sóc như ngày nào, không được ăn những món ăn quen thuộc do mẹ nấu. Tôi phải bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất nước Anh xa xôi, cô độc không một người thân. Lúc này tôi mới nhận ra rằng mẹ tôi đã hy sinh cho tôi quá nhiều, và tôi cảm thấy mình có lỗi với mẹ. Tôi tự trách mình tại sao từ trước đến giờ tôi không nói một lời xin lỗi mẹ, dù chỉ một lần? Mẹ tôi có nói: “ Nếu con đi mẹ sẽ không khóc” nhưng tôi biết rằng khi tôi đi rồi thì những dòng nước mắt của mẹ lại tuôn rơi như ngày nào còn làm dâu ở nhà nội … …là người bạn đầu tiên của tôi …là người cho tôi tình yêu trọn vẹn và tinh khiết mà tôi sẽ không bao giờ nhận được từ ai khác …là người thầy đầu tiên của con …là người nhất quyết bảo rằng con đẹp biết bao dẫu rằng con chẳng bằng ai …là người dẫn dắt tôi nhìn ra thế giới. …là người luôn yêu thương tôi và yêu vô điều kiện …là mẫu người tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi …là người sẵn sàng hy sinh và thứ tha tất cả …là người không bao giờ đói khi tôi chưa no …là người không bao giờ ấm khi tôi đang lạnh …là người không ai có thế thay thế được …là người … Và bây giờ tôi chỉ muốn nói với mẹ tôi rằng: “Nhớ năm nào con cũng tặng mẹ một món quà nhân ngày 8-3 nhưng năm nay con không có gì tặng mẹ cả vì con biết rằng những món quà mà con đem tặng ấy không phải do chính con tạo ra, con biết rằng chính con mới là món quà quý nhất của mẹ. Đề bài: Người ấy sống mãi trong lòng tôi: viết về ngoại. Hẳn trong tất cả chúng ta, ai ai cũng giữ cho mình những hình ảnh những kỉ niệm đẹp của 1 người nào đó trong sâu thẳm trái tim. Và tôi cũng vậy, dành tất cả trái tim mình, tôi khắc sâu hình ảnh đáng kính người mà tôi yêu thương nhất trong đại gia đình thân yêu của tôi- ông ngoại. Ngoại tôi giờ đã đi thật xa, những sâu thẳm trong trái tim tôi, hình ảnh ông không bao giờ phai nhạt. 1 người đàn ông đẹp lão với vóc dáng thanh mảnh và đôi mắt sâu, cái cửa sổ tâm hồn đượm buồn nhưng tràn đầy sức sống. Đằng sau đôi mắt đó là bao nỗi nhọc nhằn, lo toan mà những vết nhăn chứng minh đã hằn sâu bên khóe mắt. Nhìn vào gương mặt với làn da ngăm ngăm của ông, có lẽ điều nổi bật nhất chính là đôi môi rộng và hàm răng trắng đều tuy tuổi đã cao. Bằng chính đôi môi này ông đã dành cho lũ cháu trẻ chúng tôi những nụ hôn ấm áp, và cũng chính bởi bàn tay chai sận, khô ráp này đã từng nhiều đêm vỗ về cho tôi ngủ, nhiều đêm nhọc nhằn chăm sóc tôi khi ốm mà không có ba mẹ bên cạnh. Ngoại tôi vóc dáng không cao lớn, vạm vỡ như những người đàn ông khác bởi bao lo toan, vất vả không còn làm ông tôi còn cường tráng như thời còn trai trẻ. Cho dù đã già nhưng ngoại tôi không có thậm chí đến một sợi tóc bạc nào,mái tóc cứ đen như thế mãi. Ngoại giản dị lắm, 1 bữa cơm đạm bạc với vài ba món, cũng chỉ diện bộ quần áo kaki màu xám đã cũ và vẫn đôi dép quai hậu màu đen mà bà ngoại tôi đã kể rằng nó đã theo ông từ thời còn kháng chiến. Ngoại tôi tính tình hiền lành, nhân hậu. Cái đức tính chăm chỉ làm lụng ấy không lúc nào làm ông có thể nghỉ tay. Bà ngoại tôi luôn nói rằng: “Ông là người chồng tốt nhất nhưng hơi độc đoán!” Có lẽ bà ngoại tôi nói đúng, nhưng tôi tin chắc rằng chính bởi sự độc đoán của mình, ông tôi đã nuôi nấng 10 đứa con nên người, ai ai cũng ngoan ngoãn, cũng học hành đến nơi đến chốn. Tuy vậy, ông ngoại chưa bao giờ dành sự độc đoán của mình cho lũ cháu chung tôi. Ông luôn dành cho chúng tôi sự yêu thương vô bờ bến trong từng cử chỉ dịu dàng, từng lời nói tràn ngập tiếng cười nhưng đằng sau là cả những bài học bổ ích Với ông tôi có nhiều kỉ niệm mà có lẽ rằng suốt cuộc đời này, không bao giờ tôi có thể quên được. Biết bao nhiêu kỉ niệm từ thời ấu thơ được ông bồng bế, yêu chiều, được ông hát ru, được ngồi trên những chiếc xe đẩy ông làm,… Tất cả tuy giờ đã vào trong dĩ vãng. Có 1 kỉ niệm mà tôi nhớ như in, không hề quên dù chỉ là 1 giây phút bé nhỏ về ngày hôm đó. 1 buổi sáng, ông đã đạp chiếc xe quen thuộc của mình để lên nhà đón tôi, 1 buổi sớm mai thật vui và tràn ngập tiếng cười. Cả tối đêm trước, ông đã ngồi hì hục, làm không ngơi tay cho xong chiếc ghế nhỏ trên xe đạp cho tôi. Lúc ông lên nhà, tôi vẫn đang còn ngủ, nhưng không bởi vì thế mà ông đánh thức tôi dậy, ông ngồi ngắm tôi ngủ và còn hát ru tôi ngủ nữa. Nghe tiếng hát của ông, tôi vội choàng mình tỉnh dậy. – Cháu gái cưng của ông không ngủ nữa à? – Giọng ông dịu dàng – Dạ không. Để Đen dậy rồi ông ngoại chở Đen đi chơi nha! Ông khẽ gật đầu. Ông đã tự mình cầm chiếc bàn chải để đánh răng cho tôi, lau mặt cho tôi. Ông vẫn đèo tôi bằng chiếc xe đạp cũ nhưng vs chỗ ngồi mới hơn. Và tôi tin chắc rằng, tôi sẽ được chơi 1 món đồ chơi mới do ông mới tìm ra. Và quả thật vậy, với cả những anh chị họ của tôi nữa. Chơi cả ngày tôi cũng thấm mệt, sau khi được ông cho ăn, tôi ngã lăn vào giấc ngủ. Ông còn mắng các anh chị vì làm ồn không cho tôi ngủ. Tối mẹ xuống đưa tôi về nhà nhưng tôi vẫn muốn ở lại bên ông. Mẹ mắng tôi một trận. Không hiểu sao 2 hàng nước mắt cứ lăn dài ra mãi trên gương mặt của 1 đưa trẻ khi ấy như tôi. Tôi ôm chầm lấy ông vì tôi biết thế nào ông cũng sẽ bênh vực tôi. Ông bế xốc tôi lên và nói vs mẹ: – Tối nay con để cháu ở lại ngủ với ông. Và thế là mẹ về nhà. Tôi sung sướng vô cùng. Từng ngày lớn lên bên ông, cả tuổi thơ của tôi như ngập tràn trong hạnh phúc. Vậy mà…. Ngày hôm đó, cả thế giới quanh tôi như sụp đổ khi ba trở về, báo tin ngoại mất. Tôi sững sờ, ngồi sụp xuống đất như 1 con búp bê vô hồn. Ông luôn là người thương yêu tôi nhất trên đời, là người luôn che chở, cưng chiều tôi. Vậy mà ông mãi ra đi, để lại trong tôi sự cô đơn và đau khổ. Tưởng chừng như khi ấy, tôi đã phải khóc cạn cả nước mắt, xung quanh như không còn một ai bên cạnh. Tôi không thể tin và cũng không bao giờ muốn tin kể từ nay tôi không được nghe ông kể chuyện, không được nghe tiếng ông vỗ về, k được ông chở trên chiếc xe đạp cũ, không cib2 ai đi giữa mưa chỉ để mang cho tôi chiếc áo khoác khi để quên áo mưa ở nhà và cũng không còn được ông ôm vào lòng ru ngủ nữa,… Hôm nay đã sắp đến ngày giỗ ngoại, thế mà 10 năm đã trôi qua. Từ sau ngày ngoại mất, tôi chẳng thể nào ngủ được, đêm nào nhớ đến ngoại, những hạt pha lê mỏng manh cứ thế vỡ òa trên mí mắt. Nhưng thật sự, dẫu có như thế nào, tôi vẫn phải đứng dậy như lời dặn của ngoại: “Dù sau này ngoại không bao giờ còn bên cháu gái cưng của ngoại nữa thì mỗi khi vấp ngã phải biết tự mình đứng dậy, phải trở thành 1 con người tốt, lúc nào cũng phải vui vẻ, mỉm cười trước c/s” Tôi sẽ mãi nhớ lời dạy của ngoại và không bao giờ quên được hình ảnh đáng kính của nggoại tôi, người luôn yêu thương và che chở, cưng chiều tôi trong suốt cuộc đời. “Con sẽ luôn nhớ những lời dạy đầy ý nghĩa của ngoại, nhớ mãi những câu chuyện và cả kho ca dao tục ngữ chẳng bao giờ vơi cạn của ngoại con và sẽ luôn làm theo lời ngoại dạy. Ngoại ơi! Đứa cháu gái ngoan hiền của ngoại yêu ngoại nhiều lắm!” Nếu giờ đây có riêng cho mình 1 điều ước tôi sẽ ước mình có thời gian bên ngoại để nói câu nói ấy, để hôn lên gương mặt ngoại, để xáo tan bao nỗi nhọc nhằn trong c/s mà ngoại tôi- người đàn ông tôi yêu thương nhất đã phải trải qua. Đề bài. Người ấy sống mãi trong lòng tôi: viết về bạn thân. Trong trái tim mỗi chúng ta luôn có chỗ cho tất cả những người ta yêu thương quý mến: ông bà, bố mẹ, thầy cô, anh chị, bạn bè… Dẫu vậy, vẫn có một góc riêng đặc biệt để chúng ta lưu giữ những kỉ niệm thầm kín, thiêng liêng về một người ta không thể quên. Trong trái tim tôi cũng có một người sống mãi như vậy, một người bạn thuở ấu thơ mà đã lâu lắm rồi tôi không được gặp. Bạn có một cái tên rất lạ – nghe như tên con trai: Việt Anh. Lần đầu nghe tên bạn, tôi bật cười thích thú và ấn tượng ngay với cô bạn gầy gầy, nhỏ nhỏ trông như cái kẹo. Việt Anh thấp hơn tôi, tóc cắt ngắn rất tươi tắn. Nhưng ngoài cái tên giống con trai ra bạn còn một điều ngộ nghĩnh nữa: bạn có một chiếc răng nanh bị sâu. Nó bị thủng một lỗ đen. Điều đó khiến cái cười của bạn trở nên ngộ hết sức. Tôi chủ động đến nói chuyện với bạn vì những ấn tượng rất vui vẻ ấy. Càng nói chuyện càng thấy hợp nhau, hai đứa tôi kết thành đôi bạn thân thiết. Dù ở cùng xóm nhưng đến tận lúc ấy – hai đứa quen nhau ở lớp 1 trường làng, chúng tôi mới biết nhà nhau. Nhà Việt Anh hai tầng khang trang. Trong làng tôi khi ấy, đa phần là nhà ngói, hiếm hoi lắm mới có ngôi nhà mái bằng, nhà tầng – đó là những giàu. Trong khi những người lớn (trong đó có bố mẹ tôi) suốt ngày phải đi làm đồng thì tôi thấy mẹ Việt Anh chỉ ở nhà nấu nướng dọn dẹp. Tôi thấy Việt Anh kể bố bạn là thầy giáo ở trường quân đội to lắm. Nhưng bác đi làm suốt, tôi chẳng gặp bao giờ. Sau lần đầu tiên đến nhà bạn, tôi trở nên dè dặt, nghĩ rằng mình nên ít chơi với Việt Anh hơn… Nhà tôi nghèo hơn nhà bạn nhiều lắm. Nhà tôi lụp xụp mái ngói cứ mùa mưa là hứng nước trong nhà, tát nước ngoài sân. Trong khi nhà bạn nhìn đâu cũng thấy đồ điện thì tôi vẫn phải học bằng đèn dầu. Vì thế, đã mấy lần Việt Anh giục về nhà tôi chơi nhưng tôi vẫn chần chừ, lần lữa. Bạn sẽ khinh tôi mất! Tôi cứ lảng tránh dần những câu chuyện với bạn trên lớp, những lời rủ về nhà chơi của bạn… Thế rồi một hôm… Tôi đang chuẩn bị đi kiếm củi. Thay bộ đồng phục, tôi mặc bộ quần áo đã rách vá mấy miếng. Đang tìm cái tải để vơ lá, cắt mấy cái dây chuối để bó củi, bất chợt tồi nghe tiếng goi quen thuộc: Nhung ơi! Nhung! Trời ơi, Việt Anh. Tôi chạy ra sân. Làm sao bạn tìm được nhà tớ? Tớ hỏi mọi người đấy. Tớ mang búp bê sang nhà cậu chơi. Việt Anh vui vẻ bước vào nhà tôi. Không để ý đến cái sân trơn trượt rêu mốc, cả bức tường đã loang lổ những mảng vữa lở. Bạn vô tư ngồi xuống chiếc giường duy nhất trong nhà bày búp bê biết mở mắt nhắm mắt ra. ơ… tớ phải đi kiếm củi bây giờ… – Kiếm củi á? Về nhà tớ lấy đi. Nhà tớ nhiều lắm! Nói rồi bạn để lại đồ chơi hăm hở kéo tôi về nhà mình. Vậy là chúng tôi lại xích lại gần nhau hơn nữa, ngày càng thân thiết hơn. Con búp bê đẹp đẽ được đặt tên Nguyệt Hằng và được chúng tôi may cho những bộ quần áo xinh xắn. Vườn chuối nhà tôi đã mấy lần hai đứa bói quả bằng cách lấy dao chém ngang thân cây (trong khi mẹ tôi bảo chi chặt nhẹ hai ba lần áo ngoài thôi!). Và biết bao bờ rào, rặng cây trong xã in dấu chân hai con bé kiếm củi, nhặt lá… Thời gian êm đềm trôi qua. Đã hết năm lớp 1, hai đứa đã cùng học cùng chơi và đều là học sinh giỏi. Bố Việt Anh thưởng cho bạn một chuyến đi chơi. Lúc trở về bạn mang cho tôi bao nhiêu là quà: bánh kẹo, đồ chơi,… Tôi còn đang tần ngần, băn khoăn, trước những món quà cùa Việt Anh thì bạn nhìn tôi vẻ bí mật: Này, chúng mình kết nghĩa chị em nhé! Tôi ngẩng lên nhìn Việt Anh sửng sốt. Kết nghĩa? Kết nghĩa là sao? Là không phải chị em ruột nhưng coi nhau là chị em ruột. Không chờ tôi hỏi tiếp, bạn kể cho tôi nghe bạn xem phim người ta làm lễ kết nghĩa ăn thề như thế nào, sống chết vì nhau ra sao. Cắt một tí tóc thì được (chắc mẹ tớ không biết đâu). Nhưng cắt tay lấy máu thì eo ôi đau lắm! Không, bọn mình không cắn tay lấy máu. Lấy cái gì màu dỏ đỏ là được mà. Thế là chúng tôi kết nghĩa chị em. Lén cắt một ít tóc vàng hoe, chúng tôi trộn tóc hai đứa vào nhau rồi chia ra hai phần bằng nhau mỗi đứa giữ một nửa. Việt Anh còn viết hai tờ “Giấy kết nghĩa” giống hệt nhau với những câu “sống chết có nhau”, “sướng khổ có nhau”… khiến tôi khá căng thẳng. Sau đó nó mắm môi vẩy rõ mạnh cho mực trong cái bút bi đỏ trào ra rồi “hướng dẫn” tôi xoa ngón tay trỏ vào mực, điểm chỉ vào hai tờ “Giấy kết nghĩa”. Nó tự nhận làm em và gọi tôi là chị vì tôi cao hơn. Để cho thân mật, tên Việt Anh chuyển thành Vịt, còn tôi được gọi là Mập vì người tôi béo tròn. Tôi đã trở thành chị của Vịt như thế. Tuổi thơ êm đềm trôi qua được bốn năm. Thế rồi một ngày, Vịt tức tưỏi khóc và chạy sang nhà tôi. Tôi sửng sốt cả người: chưa bao giờ tôi thấy Vịt khóc. Thế mà nay, trước mắt tôi, em khóc nức nở, người nấc lên từng nhịp. Vịt kể bố mẹ Vịt chia tay, bố không được làm giáo viên nữa.. Nghĩa là từ đó, Vịt sống với mình mẹ, bố Vịt về quê ở tận Hà Tĩnh. Mẹ Vịt lại làm ruộng như bao nhiêu người khác. Đồ đạc trong nhà dần dần phải đem bán đi.. Tội nghiệp nhất là Vịt đang từ một cô công chúa được chiều chuộng nâng niu giờ em lấm lem bùn đất. Đi học về, Vịt rù tôi nhặt củi ven đường để nấu cơm, đun nước. Cuộc sống khó khăn dần. Một hôm tôi giật mình nghe cô giáo nhắc tên Việt Anh trong danh sách những người đóng tiền học muộn (thực ra danh sách ấy chỉ có tên một người). Tôi lặng người đưa mắt thầm nhìn đứa bạn thân. Mặt bạn đờ đẫn tội nghiệp. Ngay buổi học hôm ấy, tôi hăm hở rủ Vịt chạy khắp các phòng học trong trường để nhặt giấy vụn bán lấy tiền đóng học. Nhưng tiền học hàng tháng, rồi tiền tham quan, tiền quỹ lớp,… Cả lớp tôi lo lắng. Chúng tôi gom góp một chút tiền gửi tặng bạn nhưng dĩ nhiên bạn từ chối. Dần dần tôi lại phát hiện ra một sự thật khủng khiếp: đã cả tháng nay Vịt không được ăn cơm. Nhà hết gạo đã lâu, bạn chỉ ăn khoai và củ. Dù còn non nớt nhưng một đứa bé lớp 4 như tôi thừa hiểu không có cơm ăn nghĩa là thế nào. Mẹ Vịt không nuôi cho Vịt ăn học được nữa… Mùa hè lớp 4, tôi khóc ròng khi Vịt báo tin vào Nghệ An sống với bố. Trước hôm Vịt đi, chúng tôi nước mắt ngắn dài viết thêm vào “Giấy kết nghĩa” hẹn mười năm sau sẽ gặp lại. Vịt bảo lúc ấy cả hai đứa đã học đại học, đã đi làm thêm được, đã có tiền và có thể đi xa để thăm nhau. Tôi như đứa mất hồn những ngày sau đó. Tôi chẳng muốn chơi với ai nữa. Nhưng việc học hành vẫn phải chú tâm vì tôi sợ nếu không vào được đại học sẽ không gặp được em Vịt của tôi. Và hơn thế, tôi cũng không muốn học kém hơn đứa em kết nghĩa của mình. Suốt những năm qua, Vịt viết thư cho tôi luôn. Nhiều lắm. Vịt kể vào đó, Vịt có rất nhiều bạn, mọi người rất quý Vịt nhưng Vịt không bao giờ quên tôi. Tôi tin điều đó, niềm tin của tôi nơi Vịt không bao giờ thay đỗi. Tôi chỉ sợ một điều thay đổi là chính bản thân tôi thôi. Tôi nhận ra điều đó khi vào ngày hè khắc nghiệt, tôi xem trên tivi thấy cảnh một vùng đất bị lũ lụt tràn về. Bao nhiêu trâu bò, bao nhiêu mái nhà, bao nhiêu đồ đạc,… bị cuốn phăng đi… Tôi giật mình khi nghe tên vùng bị nạn: Đức Thọ, Hà Tĩnh trời ơi, là quê của Việt Anh đó! Vậy là bạn đã phải chịu bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu mất mát,… nhưng chưa bao giờ bạn than thở với tôi. Không, đúng hơn là chưa bao giờ tôi hỏi thăm bạn. Tôi nhớ đến những lời hỏi thăm rất vội, những lời chúc rất sáo,… mình gửi cho bạn. Và nghẹn lòng nhớ đến những lá thư tới rất kịp thời vào dịp sinh nhật, Tết hay Noel,… của bạn. Vâng, dù tôi có thế nào, tình cảm yêu thương mà Việt Anh dành cho tôi vẫn không hề thay đổi, điều đó giống với tên cuốn sách mà bạn gửi tặng tôi vào dịp sinh nhật vừa rồi: “Mãi mãi là yêu thương”. Tôi ấp ủ trong mình những ước mơ lớn trong tương lai và ước mơ mười năm cũng sẽ không bao giờ tắt. Hình ảnh ngưởi bạn thuở ấu thơ sẽ chẳng bao giờ phai nhoà trong tôi bởi vẫn còn nguyên vẹn đó những yêu thương trong lòng mà hai chúng tôi thắp lên cho nhau trong nhau suốt những ngày thơ ấu. Đề bài: Người ấy sống mãi trong tôi (Ngữ văn 8) “Vũ trụ có nhiều kì quan, nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trái tim người mẹ” (Bernard shaw). Thật vậy, bởi ai ai sinh ra cũng được lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ, được nghe tiếng ru hời ầu ơ ngọt ngào, được chìm vào giấc ngủ trong gió mát tay mẹ quạt mỗi trưa hè oi ả. Đó là hạnh phúc không gì sánh nổi. Trong trái tim em, mẹ là sự sống, là suối nguồn nuôi em khôn lớn và cũng là người mà em yêu thương nhất trên đời này. Mẹ rất đảm đang và hết lòng vì gia đình, mẹ không quản ngại chuyện thức khuya dậy sớm chăm lo cho từng bữa ăn, giấc ngủ của em và của cả gia đình. Em vẫn nhớ như in tuổi thơ của mình với mẹ, những ngày đầu chập chững tập đi, mỗi lần em ngã mẹ lại ôm em vào lòng. Như một chú chim non tập bay, mẹ khích lệ em: “Con giỏi lắm, cố lên thiên thần bé nhỏ của mẹ”. Thế rồi cứ vậy theo lời mẹ mà em biết đi, biết chạy nhảy, nô đùa và lớn lên. Khi em đến tuổi học mẫu giáo, mẹ cho em tới lớp học cùng các bạn. Em đã quen có mẹ nên em khóc rất nhiều vì phải xa mẹ. Những lúc ấy mẹ thường núp sau cánh cửa để dõi theo em, mẹ ứa trào nước mắt cùng em, nhưng mẹ vẫn kiên quyết mong em đi học để khôn lớn thành tài. Thời gian dần trôi, em đã là cô bé học lớp 1, nhưng mẹ vẫn luôn sát cánh bên em không rời. Dù ngày mưa hay ngày nắng, mẹ vẫn là người dìu dắt đưa em đến trường. Cả ngày làm việc vất vả nhưng mẹ luôn tranh thủ những buổi chiều giúp em luyện chữ và dạy em học. Để giúp em ghi nhớ các con chữ đầu tiên, mẹ dạy em bằng những vần thơ: “O tròn như quả trứng gà, Ô thì đội nón, Ơ thì mang râu”. Cách học của mẹ đã giúp em thuộc bài đến giờ em vẫn khắc ghi không thể nào quên. Mặc dù được cưng chiều nhưng mẹ vẫn rèn cho em nếp sống tự giác, gọn gàng, ngăn nắp. Mẹ dạy em biết yêu thương người khác, biết giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Lời mẹ dạy em luôn ghi nhớ và không bao giờ quên. Mẹ còn là người dạy em rất nhiều việc: rửa bát, quét nhà, nấu cơm… Và đối với gia đình em, mẹ là một đầu bếp thiên tài. Những món ăn mẹ làm không chỉ ngon đơn thuần mà nó còn chứa đựng những tình cảm mà mẹ đã dành cho em và cho gia đình. Tuy mẹ là người rất giỏi trong chuyên môn và công việc. Nhưng tất cả vì gia đình, tất cả vì em mà mẹ chịu hi sinh mọi đam mê để dành toàn thời gian ở nhà lo cho em và gia đình, dạy dỗ em lên người. Em xúc động và thầm cảm ơn mẹ rất nhiều. Bấy nhiêu thật sự là chưa đủ đối với em khi viết về mẹ. Đặc biệt trong những ngày ốm đau, mệt mỏi thì tình yêu thương của mẹ càng tỏa sáng rạng ngời. Một buổi chiều em đi học về, mưa ào ào đổ xuống làm người em ướt hết. Tối hôm đó em đã bị sốt, người em nóng bừng bừng nhưng chân tay thì lạnh run. Em nói với mẹ: “Mẹ ơi con lạnh lắm”. Mẹ sờ trán em và bảo: “Không sao đâu, con bị sốt nhẹ thôi”. Rồi mẹ lấy chiếc khăn thấm nước mát đắp lên trán em. Mẹ ghé ly nước vào miệng và cho em uống thuốc bằng những lời ân cần: “Ngày mai con sẽ khỏi ngay ấy mà”. Ngày hôm sau, em thấy mẹ vẫn ngồi cạnh và nắm chặt lấy tay em, em thấy yêu thương mẹ vô cùng. Bố em vẫn thường bảo mẹ em không đẹp nhưng mẹ hơn những phụ nữ khác ở tâm hồn và tình cảm. Đúng vậy, mẹ em nhẹ nhàng, dịu dàng và luôn dành tất cả tình yêu thương cho em. Mỗi khi ở bên mẹ, được xà vào lòng mẹ, được bàn tay mẹ âu yếm vuốt tóc em, em cảm nhận thấy dường như tình yêu thương mãnh liệt của mẹ truyền vào sâu trái tim em, qua bàn tay mẹ, qua ánh mắt, đôi môi trìu mến, qua nụ cười ngọt ngào, … qua tất cả những gì của mẹ. Em rất yêu quý mẹ, em xin hứa sẽ học thật tốt để làm mẹ vui và không phụ lòng của mẹ. “Mẹ kính yêu ơi! Con rất cảm ơn mẹ vì đã sinh ra con và nuôi nấng con thành người. Con sẽ luôn kính trọng mẹ, yêu thương mẹ. Mẹ là người sống mãi trong lòng con”.
Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi
5,428
Đề bài: Người ấy sống mãi trong lòng tôi Bài làm Trong cuộc đời mỗi con người, hẳn ai ai cũng sẽ nhận lại được những sự giúp đỡ của nhiều người, hay ngưỡng mộ tài năng của một ai đó,…họ là người sẽ sống mãi trong lòng của bạn để bạn có thêm những lý tưởng, thêm động lực để có thể vươn lên trong cuộc sống. Đối với tôi thì người sống mãi trong lòng tôi không ai khác đó chính là người mẹ tảo tần cũng đã nuôi tôi lớn khôn. Mẹ chính là người đã mang nặng đẻ đau đến 9 tháng 10 ngày để cho ta có một hình hài. Mẹ chịu bao nhiêu khó nhọc của cuộc đời và luôn luôn mang đến những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống của chúng ta. Mỗi người chúng ta cũng phải biết kính trọng và quý mến cha mẹ của mình. Tôi cũng vậy. Tôi rất yêu thương cha mẹ tôi nhưng người mà tôi ghi nhớ trong lòng chính là người mẹ thân yêu. Phải nói rằng mẹ của tôi rất tuyệt vời, mẹ tôi có một mái tóc dài mượt và đen óng ả tôi rất thích vuốt mái tóc của mẹ. Theo thời gian tôi như thấy buồn hơn khi mái tóc của mẹ dường như cứ ngày càng có nhiều sợi bạc hơn. Thế rồi trên mái tóc ấy khoác lên đó là một khuôn mặt của mẹ hình trái xoan. Thế rồi thêm vào đó nó lại có được một đôi mắt long lanh thỉnh thoảng như ánh lên trông giống như ánh mặt trời xuyên chiếu qua hạt sương vậy. Nhìn khuôn mặt của mẹ em mới cảm nhận được biết bao nhiêu ân tình và em càng thêm quý, thêm yêu mẹ em hơn. Người ấy sống mãi trong lòng tôi Ấn tượng nhất của em chính là đôi bàn tay của mẹ. Mẹ em có đôi bàn tay khéo léo, và cũng thật dịu dàng. Đôi bàn tay xương xương, chính nhờ đôi bàn tay này mà mẹ em luôn luôn chăm lo cho cả nhà em lúc nào cũng có được một bữa ăn ngon và đủ chất dinh dưỡng nữa. Mẹ của em là một người phụ nữ dường như không chỉ đẹp về ngoại hình mà mẹ em lại có nét đẹp về tính cách nữa. Nhìn mẹ với vẻ ngoại hình thật hiền lành và dễ gần nữa. Mẹ là một người phụ nữ tảo tần luôn luôn yêu thương chồng con và sống hòa hợp với mọi người quanh xóm làng. Mẹ cũng luôn luôn chăm sóc cho em cũng vô cùng tận tình và gần gũi sẻ chia những buồn vui trong em. Đối với em mẹ có lúc là một người bạn, có lúc là một người chị để cùng em chia sẻ tất cả mọi thứ trong cuộc sống. Mỗi khi em học bài trong những bài kiểm tra chỉ vì tính ẩu của mình mà em nhận điểm kém. Em vô cùng buồn, về nhà không muốn nói chuyện với ai và giấu bài kiếm tra của mình đi. Đến lúc để mẹ phát hiện ra em cũng vô cùng lo lắng, nhưng mẹ không hề mắng em, mẹ ân cần và nói “Mẹ xem bài kiểm tra của con rồi, con có hướng giải rất đúng, biết rút gọn phân số tối giản đi để tính toán nhanh hơn. Các bước làm của con là rất đúng, nhưng do con cẩu thả mà đã tính nhầm kéo theo kết quả sai. Con thấy không? Một hướng làm tốt, sự thông minh cũng sẽ không có kết quả đúng nếu như con làm ẩu nó. Ở bài kiểm tra sau con hãy cố gắng khắc phục điểm yếu của mình để cố gắng nhé!”. Nói rồi mẹ xoa đầu tôi và tin tưởng tôi cũng sẽ làm được. Những cách dạy làm người của mẹ cho em em cũng nhận được thật gần gũi và chứa đựng câu nói như thấm đẫm tình cảm yêu thương. Em luôn luôn cố gắng để hoàn thiện bản thân em hàng ngày để mẹ luôn luôn tự hào về em. Em sẽ cố gắng học thật tốt để có thể trưởng thành, báo đáp công ơn trời biển của mẹ em. Cả một đời đã hi sinh vì chồng vì con mà không bao giờ nghĩ đến mình cả. Em luôn luôn yêu thương mẹ em nhiều lắm! Mẹ sẽ là người sống mãi trong lòng em. Minh Nguyệt Từ khóa từ Google: người ấy sống mãi trong lòng tôi
Người ấy sống mãi trong lòng tôi mãi
768
Người ấy sống mãi trong lòng tôi – Bà tôi Bài làm Sài Gòn tháng sáu có những cơn mưa rả rích, chợt đến, chợt đi thật nhẹ nhàng nhưng luôn để lại trong lòng người những cảm xúc khó tả. Mưa luôn khiến tôi nhớ đến bà cố – một người hết mực yêu thương tôi. Và, trong một ngày mưa bà đã ra đi… Nhưng tất cả những gì về bà tôi luôn nhớ mãi…! Dù bà đã đi thật xa nhưng tất cả những gì về bà vẫn luôn còn mãi trong tâm trí tôi. Từ khuôn mặt trái xoan phúc hậu đến mái tóc bạc trắng của bà tất cả đều toát lên vẻ hiền dịu đến lạ kì. Sau cặp kính trong veo luôn là đôi mắt hiền từ, chứa những tia nhìn yêu thương của bà dành cho mọi người dù rằng đôi mắt ấy ngày càng mờ đi vì bệnh của bà. Bà có một nụ cười mà không ai có được, một nụ cười đôn hậu lại vô cùng ấm áp, ẩn chứa biết bao tình yêu thương. Ngày còn nhỏ, không biết đã bao lần tôi thiếp đi trong giọng ru nhè nhe của bà. Giọng của bà rất nhỏ, hơi trầm, luôn rất từ tôn và khi nghe qua khiến người ta cảm thấy rung động và dễ chịu. Có lẽ tôi sẽ chẳng khi nào quên được cái dáng đi của bà! Cái dáng đi khom khom, từ từ, luôn phát ra tiếng động đều đều từ cây gậy bà hay chống. Không hiểu sao tôi thấy tiếng chống gậy của bà chạm xuống mặt đất nghe thật êm tai! Khắc sâu nhất vào tâm trí tôi là bóng lưng của bà. Cứ trưa nào tôi tới nhà thăm bà, hiện ra trước mắt toi đầu tiên luôn là cái bóng lưng gầy gầy đang ngồi khom khom làm việc gì đó bên cửa sổ đầy nắng. Mãi mãi hình ảnh của bà sẽ khắc sâu trong tâm trí tôi! Người ta nói người càng già thì càng khó tính nhưng bà cố của tôi lại hiền hậu và dễ chịu vô cùng! Mỗi khi tôi và các anh chị qua nhà thăm bà thì bà luôn tìm mọi thứ để chúng tôi chơi dù rằng lúc ấy chúng tôi chẳng còn chôi những trò đó nữa. Giờ đây bà đi rồi có còn ai tìm đồ chơi cho chúng tôi nữa đâu! Có lẽ vì là đứa cháu nhỏ nhất nên bà luôn dành cho tôi những thứ tốt đẹp nhiều hơn các anh chị. Từ hộp sữa bà được biếu cho đến ly nước ấm bà tự pha, tất cả bà đều dành phần cho tôi. Bà luôn hỏi thăm sức khoẻ của tôi và chưa bao giờ bà hỏi về tình hình học tập cả! Không phải vì bà không quan tâm đến việc học của tôi mà bà nói rằng bà tin tưởng tôi sẽ làm tốt. Cũng chính nhờ lòng tin ấy mà tôi đã phấn đấu hết mình để không làm bà mất niềm tin vào tôi. Không chỉ đối với tôi và các anh chị mà bà đều yêu thương, quan tâm đến tất cả mọi người trong gia đình. Dù bà là người hay bệnh nhất nhưng bà luôn nhắc nhở căn bệnh đau đầu của bác tôi và cả bệnh cao huyết áp của ông nội tôi nữa! Không chỉ với người trong gia đình mà với tất cả mọi người bà đều đối xử tốt. Dù chân hay đau nhưng bà luôn sẵn sàng chống gậy đến nhà hàng xóm khi hàng xóm có chuyện vui hay buồn để chia sẽ và giúp đỡ. Chính vì thế mà ai cũng quý bà cả! Bà cố tôi thật sự là một bà tiên phúc hậu nhất! Dù không thường xuyên qua nhà chơi với bà nhưng tôi luôn hiểu rõ thói quen và sở thích của bà. Bà luôn biết tiết kiệm điện và luôn nhắc nhở mọi người trong nhà phải tắt đèn quạt khi không dùng. Bà luôn dậy từ rất sớm và có thói quen nấu nước chè vào buổi sáng. Chiều chiều, niềm vui của bà là ngồi nhâm nhi vài miếng trầu, nói chuyện với ông bà nội tôi và ngắm nhìn tôi và các anh chị chơi đùa. Sở thích của bà đơn giản vô cùng! Bà chỉ thích ngồi rãi ít thóc ra sân rồi ngắm nhìn những con chim bay đến mổ từng hạt. Bà nói với tôi đó là lúc bà cảm thấy bình yên nhất. Không biết nơi chân trời xa ấy bà có còn ngồi ngắm những chú chim nữa hay không! Dù bà đã đi xa nhưng tất cả, tất cả về bà sẽ còn mãi trong lòng tôi. Nếu có một điều ước, tôi ước mình quay lại được thời gian, để viết cho bà lời yêu thương đó và để lời yêu thương của tôi không trở nên quá muộn! Bà ơi!!!
Người ấy sống mãi trong lòng tôi – Bà tôi
841
Ngược nước Thu Bồn – Đoạn Vượt thác trích Quê nội Ngữ Văn 6 Hướng dẫn Về đoạn Vượt thác trích Quê nội của Võ Quảng Vượt thác trích Quê nội Ngữ Văn 6 Trích đoạn ngắn viết về con thuyền vượt thác, trên đó có bốn người: dượng Hương, cha con chú Hai và tôi – nhân vật phát ngôn cho cả nhóm. Những chuyên đi như thế có lẽ là câu chuyện thường nhật trong cuộc mưu sinh vất vả nhọc nhằn, nhưng với người kể là một em nhỏ (do tác giả hoá thân) thì lại như là một phát hiện. Những tinh khôi, đậm đà trong cảm nhận vì vậy mới có sức hút trước hết là với người kể, và qua lời kể mà đến với người nghe về một vùng sông nước miền Trung. Đoạn văn có ba cảnh – một chặng hành trình, nếu tách ra, có ý nghĩa riêng, còn đem nhập lại, ta có một bức tranh liên hoàn cùng trên một dòng chảy của con sông nghe tên thì hiền hoà nhưng lại không ít những “quanh quanh” ghềnh thác. 1. Con thuyền từ bến ra đi đầy khí thế. Nhưng bến ấy là bến nào, xuất phát từ đâu, con thuyền không để ý. Hình như nó chỉ biết đợi chờ và cái giờ phút đợi chờ kia đã đến: “Gió nồm vừa thổi, dượng Hương nhổ sào”. Câu văn gấp gáp, khẩn trương, kiệm lời, không thừa một tiếng. Nó im lặng đến lầm lì vì chất chứa trong lòng bao nhiêu hớn hở, dù chỉ là một “cánh buồm nhỏ” (vì là thuyền nhỏ) vẫn “căng phồng” náo nức, say mê. Đoạn văn nôn nao như là ra đi từ nỗi nhớ “Thuyền rẽ sóng lướt bon bon như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp”. Đó là con thuyền tâm trạng, con thuyền tương tư. Những chi tiết đời thường qua quan sát và liên tưởng đã đi vào nghệ thuật. Quá trình tái tạo và sáng tạo ấy là bản chất của văn chương. Bởi thế nên cảnh vật hai bên bờ được ống kính quay phim lia lướt rất nhanh. Nó chỉ thực sự dừng lại, chầm chậm, từ từ khi con thuyền đến ngã ba sông. Ở đây có đến ba chi tiết được đưa vào cận cảnh: những bãi dâu bạt ngàn ước lượng cái rộng lớn của không gian, những con đường chất đầy hương vị núi rừng đang xuôi dòng như chẳng có gì vội vã, và giữa um tùm vườn tược, những chòm cổ thụ hiện ra cùng những ngọn núi cao chắn ngang trước mặt. Những chi tiết ấy vừa có hoạ (bức tranh cảnh vật ven bờ), vừa có nhạc (cái náo nức của những câu văn lúc trào dâng, khi lắng đọng), tâm hồn người nhìn cảnh vật như thư giãn, khoan thai trước vẻ đẹp của thiên nhiên kì thú ấy. Cái phút thư thái, lãng du, mơ mộng chỉ chấm dứt để trở về cái thực hằng ngày với câu văn tín hiệu giống như một biển báo giao thông: “Đã đến Phường Rạnh”. Trước mắt chỉ còn là một công việc, công việc đầy khó khăn không dễ chểnh mảng, vô tâm “Thuyền chuẩn bị vượt nhiều thác nước”. – Trong trận chiến ác liệt ấy, nổi bật lên nhân vật dượng Hương, vừa là đại diện cho cả ba người vừa là sự kết tinh riêng cho những phẩm chất phi thường của con người luôn phải đối mặt với thác cao, sóng cả. Trước hết, khi xung trận, dượng như là một con người khác. Có một cái gì thần bí, trang nghiêm hơn, đáng sùng kính hơn, người viết đã không thể gọi con người quen thuộc ấy bằng cái tên thường gọi. Phải là “Dượng Hương Thư” (một cách gọi đầy đủ) mới nói được tất cả sự ngạc nhiên cùng với lòng ngưỡng mộ. Người chiến thắng một kẻ thù như thế! Phải gọi tên như thế! Thứ hai, dượng có một vẻ đẹp bất ngờ. Câu văn sau đây là một bức phù điêu: “Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ”. Trong bức tượng đài hoàn chỉnh đến mẫu mực trên đây, người đọc nhận ra một thứ chân dung đặc tả, cả khuôn hình cơ thể, nhất là gương mặt nguyên khối và thống nhất hài hoà. Đằng sau đó là cả một ý chí, một sức mạnh toàn năng. Cái đẹp có thực ấy vì thế được đẩy lên một tầm cao cần đến một liên tưởng kì vĩ “một hiệp sĩ của Trường Sơn”. Liên tưởng này được bắt rễ từ những trường ca Đam San, Xinh Nhã trước đây và còn được chứng thực bằng những tấm gương của những anh hùng Núp, Bi-năng-tắc sau này. Thứ ba, cái đẹp ở dượng Hương là sự thống nhất giữa hai tính cách: vừa quyết đoán, dũng cảm, đầy uy lực vừa “nhỏ bé”, “nhu mì” ai gọi gì cũng “vâng vâng dạ dạ”. Phát hiện bất ngờ này ở một đứa trẻ (người kể chuyện) giống như một cánh cửa nhận thức và tâm hồn cùng một lúc mở ra: cái đẹp thuộc về con người, thuộc về cuộc sống. 4. Về nghệ thuật, đây là đoạn văn tả cảnh, tả người. Cảnh được nhìn từ đôi mắt biết quan sát và đắm say của một con người trên thuyền, của người trong cuộc. Bởi thế, cảnh trí ven sông, cảnh con thuyền vượt thác rất tự nhiên, sinh động và chân thực. Còn con người ở đây được miêu tả theo lối đậm nhạt, miêu tả bằng cách chấm phá, lấy ngoại hình để khắc hoạ nội tâm (như nhân vật dượng Hương). Đó là cách miêu tả có chọn lọc, có dụng ý nghệ thuật chứ khộng phải là tuỳ tiện gặp gì ghi nấy. Chẳng hạn như hệ thống hình ảnh những cây cổ thụ ven sông. Trước hết, chúng là những chứng nhân cho cuộc vượt thác (có mặt ở hai chặng đầu và cuối của cuộc hành trình) để dõi theo và ghi nhận. Những cây cổ thụ giống như những bậc hiền triết phương Đông với tuổi tác và sự trải nghiệm đang chứng kiến những sự tích của con người (ở đây là người vượt thác) và nạp dữ liệu vào cuốn sử triền miên của thời gian vô tận. Cũng có thể hình dung đó là những ông già tốt bụng giữa con cháu của mình (những bụi cây lúp xúp xung quanh), đang đứng phía sau lớp con cháu đã trưởng thành có thể thay thế được cha anh để lập nên những trang đời đẹp. Những chòm cây cổ thụ ấy có những tâm trạng không giống nhau gắn với hai giai đoạn của quá trình vượt thác. Lần thứ nhất đó là dáng điệu trầm tư, lặng lẽ như tự hỏi mình: con thuyền mảnh mai, nhỏ bé nhường kia liệu có vượt qua được thác dữ hay không? Hoặc ít nhất không nói được, bằng sự trầm tư, lặng lẽ ấy, nó mách bảo con người phải nghiêm cẩn, thận trọng, đề phòng. Còn ở lần thứ hai, thay thế cho dáng điệu trên đây là sự phấn khích, hào hứng và tin tưởng: con đường gian nan đã mở, cứ vững bước mà đi! Chòm cây cổ thụ ở đây không phải là nhân vật, chúng chỉ là những đường nét có thật của thiên nhiên. Nhưng qua cách quan sát và miêu tả của người viết, nó đã trở nên những biểu tượng có giá trị nghệ thuật và tư tưởng. Nét sáng tạo thành công này đã làm cho trang viết trở nên thi vị, hấp dẫn được bạn đọc chúng ta.
Ngược nước Thu Bồn – Đoạn Vượt thác trích Quê nội Ngữ Văn 6
1,347
Ngạn ngữ Hi Lạp có câu: Học vấn có chùm rễ đắng ngắt nhưng hoa quả lại rất ngọt ngào. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Hướng dẫn Văn học thế giới đã ca ngợi rất nhiều tấm gương vượt qua gian khố để rèn luyện, học tập. Từ thế kỉ XVI, Tây du kí — một trong những tác phẩm kinh điển nhất của văn học Trung Quốc ra đời với sự xuất hiện của Tôn Ngộ Không – con khỉ đá ngỗ nghịch nhưng dám quỳ suốt nhiều năm trong mưa tuyết để “tầm sư học đạo”. Phải chăng qua hình tượng Tôn Hành Giả, Ngô Thừa Ân đã nhắc nhơ con người sự cần thiết và tầm quan trọng của học vấn? Còn ở nước Anh xa xôi có anh chàng Rô-bin-xơn Cru-xô trong tiểu thuyết cùng tên của Đi-phô nhờ có tri thức về các môn khoa học, về trồng trọt, chăn nuôi,….mà đã sống được trên đảo hoang suốt hai mươi tám năm trời để rồi trở về trong sự ngạc nhiên, khâm phục của mọi người… Rô-bin-sơn nhờ có học vấn mà sống sót được và trở thành một trong những hình tượng bất hủ về tầm vóc, sức mạnh và trí tuệ của con người, ở Hi Lạp, từ xa xưa người ta đã đúc kết nên một câu ngạn ngữ chính xác về bản chất của học vấn: “Học vấn có chùm rễ đắng ngắt nhưng hoa quả lại rất ngọt ngào”. Câu ngạn ngữ cho ta thấy ý nghĩa của tri thức và quá trình tích lũy tri thức của con người. Từ “đắng ngắt” cho đến “ngọt ngào” là cả một quá trình dài với nhiều gian truân, vất vả. “Chùm rễ” kia là cái gốc, là bước khởi đầu cho cả một con đường gian nan, vất vả đi tìm học vấn, đi tìm tri thức của nhân loại. “Muốn biết phải hỏi, muôn giỏi phải học”, trên trái đất này hàng nghìn năm qua, từ nền văn minh cổ đại cho đến nay, không một vĩ nhân nào thành danh mà lại không có học vấn. Một nhà bác học được người ta kính phục vì đầu óc ông ta chứa đựng nhiều kiến thức hơn người bình thường, những kiến thức đó có khả năng cải tạo thế giới, tạo dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp, văn minh. Chính học vấn và tri thức đã trở thành sức mạnh giúp con người tiến xa hơn trong nấc thang tiến hoá và giúp cuộc sống của chúng ta ngày càng được cải thiện hơn. Như vậy, có thế nói học vấn có vai trò hết sức quan trọng đối với con người, đặc biệt là trong một xã hội văn minh, hiện đại. Nhưng học tập là một con đường rất dài và vô vàn khó khăn, kẻ nào không có đủ ý chí và nghị lực để vượt qua sẽ gục ngã và bị tụt lại phía sau. Tri thức thì vô cùng mà sức lực và trí tuệ của con người thì có hạn. Thu nhận tri thức là một quá trình lâu dài và vất vả. Trên con đường học vân, lòng quyết tâm cũng như khả năng chiến thắng nhưng ham muốn cá nhân, sự nản lòng,… là rất quan trọng. Liệu những con số tính toán, những con chữ, những thách đ của khoa học,… có đủ sức giừ được chân ta trước nhừng thú vui hấp dẫn đang gọi mời? Điều đó tuỳ thuộc ý chí, nghị lực và bản lĩnh cũng như niềm say mê học tập của bạn. Chĩ cần một chút nản lòng trên con đường học vấn, bạn sẽ bị bỏ lại phía sau. Bể học vô cùng, ta không thế một sớm, một chiều là thu nhận được tất cả. Tích lũy tri thức là một quá trình lâu dài, đòi hỏi con người phải cần mẫn góp nhặt, thu lượm từng chút một. Mỗi ngày học một ít, dần dần tích luỹ lại, cứ thế vốn tri thức của con người sẽ được nâng cao dần lên. Việc học không phải chỉ diễn ra trong mấy ngày, mấy năm mà kéo đài suốt cả cuộc đời một con người. Khi nào bạn không còn muôn và không chịu học nữa, bạn sẽ bị đào thải. Cũng cần khẳng định rằng việc học không chỉ diễn ra ở trường lớp với sự hướng dẫn của thầy cô giáo mà bạn phải học ở mọi lúc, mọi nơi; học ở bạn bè, người thân, học ở những người xung quanh, học từ cuộc sống và do đó việc tự học có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Rất nhiều vĩ nhân đã thành danh nhờ tự học và chĩ có nhờ tự học con người mới có thê thực hiện được phương châm học ở mọi lúc mọi nơi; học suốt đời. Ngày nay chất ra-đi-um và tia X có nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống và khoa học kỹ thuật. Chính những phát minh đó đã đưa Ma-ri Quy-ri trở thành nhà nừ bác học đoạt giải Nô-ben đầu tiên thế giới. Đế đạt được thành tựu ấy, người phụ nữ Ba Lan này đã phải vượt qua bao sóng gió đế tới nước Anh xa xôi — nơi bà có thêm điều kiện nghiên cứu và tự học. Bà đả hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình vì khoa học. Còn ở đất nước Việt Nam chúng ta, hẳn không ai quên “bông sen trong giếng ngọc” Mạc Đĩnh Chi – chú bé nghèo bắt đom đóm làm đèn học, vượt qua bao nỗi mặc cảm, miệt mài dùi mài kinh sử đế có ngày đỗ bảng vàng vinh quy bái tổ, trở thành “Lường quốc trạng nguyên”… Ngày nay, khắp nơi trên đất nước Việt Nam ta còn có biết bao nhiêu tấm gương người nghèo hiếu học và cuối cùng họ đâ chạm được tay vào đĩnh vinh quang. Quả thật học vấn là một “chùm rễ đắng ngắt” bởi đế đạt được nó con người phải nếm trải biết bao nhọc nhằn, cay đắng và đôi khi phải trả giá cho cả những sai lầm, ngộ nhận. Dù chùm rễ của học vấn có đắng tới đâu thì con người vẫn phải nếm trải nếu muốn có hoa quả ngọt ngào. Chùm rễ ấy chính là cái gốc, là điều kiện đầu tiên để ta có thể thành công và vững bước trên đường đời. Sau bao nhiêu năm học tập miệt mài vất vả, những kiến thức mà ta thu nhận được dù chỉ như một hạt cát trong sa mạc, một giọt nước trong đại dương học thức nhưng điều quan trọng là với vốn kiến thức ấy, chúng ta có khả năng đảm bảo cho cuộc sống của chính mình, có khả năng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, có quyền tự hào về những gì mình đã đạt được. Xã hội đang phát triển từng ngày, con người hiện đại càng phải luôn luôn có ý thức nâng cao học vấn để theo kịp tốc độ phát triển của thè giới. Học tập vì tương lai của mình và vì công cuộc xây dựng đất nước không chỉ là một khấu hiệu. Nó thực sự là điều kiện tiên quyết, tất yếu đóng vai trò quyết định tương lai của mỗi người. Đã qua 10 năm em ngồi trên ghế nhà trường, trải qua thực tế, em cũng đã thấu hiểu phần nào vị đắng của chùm rễ học vấn. Nhưng không chỉ em mà hàng triệu học sinh khác vần luôn tự nhủ phải cố gắng học tập vì có học vấn mới có tương lai. Trong thế giới hiện đại ngày nay, khi các khoa học chuyên ngành có mối quan hệ chặt chẽ, quan niệm về học vấn được mở rộng hơn. Học vấn không phải chỉ là văn thơ, là kinh sử, là tri thức khoa học mà còn bao gồm nhiều vấn đề văn hoá, xã hội… Học vấn là vô cùng nhưng để đạt được thành công trong một lĩnh vực chuyên sâu nào đó, con người cũng cần am hiểu kiến thức về các lĩnh vực liên quan – cái mà ngày nay người ta gọi là phông văn hoá. Chẳng hạn một hoạ sĩ vẽ chân dung nổi tiếng ngoài tài năng vốn có và tri thức về hội hoạ thì cần có hiếu biết về nhân chủng học, nhân trắc học,… mà điều ấy hầu như chĩ có thế đạt được bằng con đường học tập. “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng” (Lỗ Tấn) và vì thế “Học vấn có chùm rễ đắng ngắt nhưng hoa quả lại rất ngọt ngào”. Nhờ có học vấn mà con người tồn tại và ngày càng phát triển, làm chủ thế giới. Nhờ có học vấn mà một người vô danh có thể trở thành một vĩ nhân. Chùm rễ đắng của học vấn giúp con người có được những hoa trái ngọt ngào. Câu ngạn ngữ của người Hi Lạp đã đúc kết một quan niệm đúng đắn về học vấn, nó giúp em có thêm nghị lực, quyết tâm đế’ đi tiếp con đường học tập đầy vất vả chông gai đế rồi có thể trong tương lai, em sẽ nhận được những hoa trái ngọt ngào của chiến thắng và thành công.
Ngạn ngữ Hi Lạp có câu_ Học vấn có chùm rễ đắng ngắt nhưng hoa quả lại rất ngọt ngào. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào_
1,592
Ngọc vô cùng quý giá nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều Hướng dẫn Ngọc vô cùng quý giá nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều Ngày nay chúng ta thường hay chú tâm vào trí tuệ hơn là để bồi dưỡng tâm hồn của mình. Như chúng ta đã biết một cây hoa muốn phát triển thì cần có đủ cả hương lẫn sắc và một con người muốn hoàn chỉnh thì cũng không thể nào thiếu được trí tuệ và tâm hồn. Hai thứ cây đó luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, phải phát triển và tồn tại song song cùng nhau. Trí thức cần thiết thì tâm hồn càng cần thiết hơn. Bởi lẽ như vậy mới có câu nói “ “Ngọc vô cùng quý giá nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều”. Vậy, chúng ta hiểu câu nói trên như thế nào? Ngọc là một vật vô cùng quý giá, chính vì thế mà có không biết bao nhiêu người lại đi tranh giành vì nó, ngọc không những mang lại tính thẩm mỹ cho chúng ta mà còn mang tới những giá trị lớn về mặt tiền tệ, vật chất. Thế nhưng trong chúng ta lại không thể hiểu được rằng ngọc quý giá nhưng tâm hồn chúng ta còn quý giá hơn nhiều. Vậy thì, tâm hồn có nghĩa là gì? Đó là những mặt về tư tưởng tình cảm bên trong của con người. Tâm hồn đó còn cao quý hơn cả viên ngọc. Viên ngọc cho dù có giá hàng triệu đô thì nó cũng chỉ là một viên ngọc, vẫn chỉ dừng lại ở một mức giá nào đó nhưng còn tâm hồn của chúng ta thì lại vô giá không thể mua,không thể đánh đổi được bằng tiền cho nên chúng không thể so sánh được với nhau. Trước hết, như chúng ta thấy thì tâm hồn là một yếu tố để đánh giá và nhận xét về một con người. Mỗi con người chúng ta đều có một tâm hồn và điều đáng nói hơn ở đây đó chính là tâm hồn đó vô cùng quý giá. Một tâm hồn đẹp thì bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng tỏa sáng. Từ một em bé cho tới cụ già đều có thể mang những nét đẹp về tâm hồn đáng quý ấy. Đối với một cậu bé khi đang ngồi trên ghế nhà trường thì tâm hồn giống như một tờ giấy trắng, nhưng tờ ấy có đẹp hay không còn phụ thuộc vào sự dạy dỗ của gia đình, của nhà trường. Tuy nhiên thì hầu hết đa số những em bé mới bắt đầu đi học đều có tâm hồn trong sáng bởi vì lúc đấy bé chưa nhận thức được cuộc sống có hai mặt như thế nào. Cô giáo dạy phải nghe lời ông bà cha mẹ, hay là phải giúp đỡ những người khác khi họ gặp khó khăn trong cuộc sống… thì cậu bé chỉ biết làm theo và tâm hồn ấy được nuôi dưỡng theo từng ngày từng tháng. Hay chúng ta hãy nhìn lại tâm hồn đẹp còn được thể hiện ngay cả ở trong tác phẩm chúng ta được học tới. Đó là chuyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao ngày đêm ngóng trông đứa con trai của mình, rồi thà chết còn hơn phải sống nhờ vào người khác, đó là lòng tự trọng của lão Hạc. Đó là cái đẹp ở trong tâm hồn của mỗi người chúng ta. Như vậy, chúng ta có thể thấy được rằng tâm hồn của con người là vô cùng quý giá, nhưng nó lại không tồn tại một cách tuyệt đối, có thể chúng ta bị chi phối bởi nhiều vấn đề ở trong cuộc sống. Vì vậy chon nên chúng ta nên biết cách bồi dưỡng cho tâm hồn của mình bằng những tác phẩm văn học, những bộ phim hay những câu chuyện hay. Mỗi chúng ta hãy luôn biết trân trọng và yêu thương tâm hồn của mình.
Ngọc vô cùng quý giá nhưng ngọc tâm hồn còn quý giá hơn nhiều
679
Ngọn cây và tầm nhìn (Về đoạn trích Hai cây phong – trích truyện Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Ngọn cây và tầm nhìn Chúng ta được biết truyện vừa Người thầy đầu tiên là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn nước Cộng hoà Cư-rơ-gư-xtan Ai-ma-tốp. Tác phẩm viết về tình thầy trò cao đẹp, từ đó ca ngợi sức sống dẻo dai, sự vươn lên mạnh mẽ của một lớp người tuổi trẻ trên đất nước Cư-rơ-gư-xtan những năm hai mươi của thế kỉ trước. Tiêu biểu cho lớp người ấy là thầy giáo Đuy-sen và cô học trò An-tư-nai. Trong truyện có chi tiết đặc sắc: Một hôm thầy Đuy-sen mang về trường hai cây phong và nói với An-tư-nai: “Hai cây phong này, thầy mang về cho em đây. Chúng ta sẽ cùng trồng. Và trong khi chúng lớn lên, ngày một thêm sức sống, em sẽ trưởng thành, em sẽ là một người tốt…”. Qua thời gian học tập, rèn luyện và đấu tranh, cô bé An-tư-nai nghèo khổ đã trở thành một Viện sĩ khoa học tài giỏi. Cũng qua thời gian và mưa nắng, hai cây phong cũng lớn dần lên thành hai cây cổ thụ đứng sừng sững ở đầu làng, đem lại cho dân làng, nhất là cho các em nhỏ, thế hệ sau của thầy trò Đuy-sen biết bao niềm vui trong sáng. Đoạn trích Hai cây phong thuộc phần đầu tiên của thiên truyện Người thầy đầu tiên đưa người đọc vào thời gian hiện tại sau rất nhiều năm thầy Đuy-sen dạy và cô bé An-tư-nai học tập. Tuy không được biết những nội dung, ý nghĩa cụ thể của tác phẩm, nhưng đọc đoạn trích mà sách Ngữ văn 8 giới thiệu, chúng ta vẫn cảm nhận được một phần tài năng sáng tạo của nhà vãn, vẻ đẹp đặc sắc của hình ảnh hai cây phong, nhất là vẻ đẹp tâm hồn của lớp trẻ, sự gắn bó giữa cây và người thuộc thế hệ nối tiếp bước đi của Người thầy đầu tiên. “Ngọn cây và tầm nhìn”, phải chăng đấy là ý nghĩa bao trùm mà người đọc có thể cảm nhận được từ đoạn trích này. Đoạn văn được viết bằng ngòi bút miêu tả xen lẫn tự sự, thời gian hiện tại xen lẫn hồi tưởng quá khứ, nhân vật “chúng tôi” song song, đồng hiện với nhân vật “tôi” cùng tâm sự, chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc với người đọc. Do đó, ngôn từ, hình ảnh cứ chấp chới bay lượn, lúc ẩn, lúc hiện, lúc thực, lúc mơ rất thú vị. Hình ảnh hai cây phong hiện lên, những trò vui tuổi trẻ được kể lại, những cảm xúc dạt dào, những suy nghĩ lắng sâu,… từng dòng, từng dòng ngân lên. 1. Những vẻ đẹp của hai cây phong Từ mở đầu đến “… mọi làn gió nhẹ thoảng qua”. Hoá thân vào nhân vật “tôi”, người hoạ sĩ, nhà văn vẽ lại hình ảnh hai cây phong bằng từ ngữ, câu văn đầy chất tạo hình và giàu chất nhạc. Mở đầu là hình ảnh hai cây phong lớn, hiên ngang đứng giữa ngọn đồi đầu làng, từ xa nhìn lại ngỡ như thấy “những ngọn hải đăng đặt trên núi”. Ngọn hải đăng đứng bên bờ biển toả ánh sáng soi đường, dẫn dắt những con tàu cập bến. Còn hai cây phong kia cũng đã từng làm nhiệm vụ chỉ lối dẫn đường cho biết bao nhiêu người con của làng Kur-ku-rêu hướng về, tìm về quê hương. Nghệ thuật so sánh của nhà văn thật có ý nghĩa. Vì thế cứ mỗi lần về quê, tôi – người hoạ sĩ, người kể chuyện – xác định “bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc”. Và cứ mỗi lần như thế, tôi lại mong sao chóng về tới làng, chóng được lên đồi đến với cây, “đứng dưới gốc cây để nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngây ngất”. Vậy là, bên cạnh hình ảnh hai cây phong đứng sừng sững, hiên ngang trên đồi cao như một biểu tượng của hồn vía quê hương là hình ảnh một con người yêu quê hương da diết. Nhờ tình yêu ấy mà tôi, nhân vật kể chuyện nghe được “tiếng nói riêng”, “những lời ca êm dịu” của hai cây phong, hai sinh thể sống động như con người. Tác giả đã hoá thân vào nhân vật để kể chuyện, để miêu tả với hàng loạt những liên tưởng, so sánh, nhân hoá âm thanh, tiếng nói của cây phong. Dù ban ngày hay ban đêm, “chúng vẫn nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào…”, có lúc “như một làn sóng thuỷ triều dâng lên vỗ vào bãi cát…, có lúc “thì thầm… nồng thắm như một đốm lửa vô hình”, có lúc “khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào…”. Và khi mây đen kéo đến thì hai cây phong “nghiêng ngả tấm thân dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực”. Phải mang một tâm hồn nghệ sĩ hài hoà hai tố chất – tố chất hội hoạ và tố chất âm nhạc, nhân vật tôi mới có thể vẽ lại được những đường nét, sắc màu, nghe lại được những âm thanh trầm bổng, thấm đượm hơi lửa nồng ấm, đắm say của những vẻ đẹp mà hai cây phong đã phô ra, đã truyền tới. Rõ ràng, qua cảm nhận của người nghệ sĩ, hai cây phong đã hiện lên với hình hài cao lớn, hiên ngang, với đường nét lá cành uyển chuyển, nhất là với tiếng reo đa thanh… đẹp kì diệu. Đó là hình ảnh của quệ hương, cũng là biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ mà dẻo dai, kiêu hùng bất khuất mà dịu dàng thân thương của những con người nơi đây. Khi người hoạ sĩ đứng dưới gốc cây “nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngây ngất”, tình yêu quê hương trong tâm’ hồn anh – nhà văn Ai-ma-tốp, ngất ngây hoà quyện cùng đất trời, cây lá, con người quê hương. Đoạn văn xuôi có nhiều hình ảnh, từ ngữ tượng hình, tượng thanh sinh động, truyền cảm hấp dẫn như một bài thơ, một khúc hát vậy. 2. Vẻ đẹp tâm hồn tuổi trẻ Chuyển xuống đoạn sau (từ câu “Những việc khám phá…” đến hết bài), ngôn ngữ lời văn cũng chuyển đổi, từ hiện tại tới cách cảm nhận của một người đã trưởng thành trở lại với những kỉ niệm tuổi thơ đầy mơ mộng. Ngỡ như chính Ai-ma-tốp đang bé lại để sống lại một kỉ niệm tuyệt vời. Vào một ngày nào đó của năm học cuối cùng trước khi nghỉ hè, “tôi” – người kể chuyện – lên cao, cao nữa, cao mãi, có lẽ cao tới gần ngọn cây. “Và chúng tôi, lũ nhóc con đi chân đất… trèo lên cao làm chấn động vương quốc loài chim”. Một lời kể, một nhận xét thật ngây thơ mà thú vị! Các cậu bé giống những chú chim non đã chiếm lĩnh vương quốc này, vòm cây xanh, bầu trời rộng. Nhờ đó, từ độ cao “ngang tầm cánh chim bay”, các cậu bé đã nhìn thấy cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng. Đến những dòng này, nhân vật “tôi” mờ đi, để “chúng tôi” hiện lên choán lấy tất cả. Tại sao như thế? Phải chăng nhà văn muốn thay đổi điểm nhìn, hoá thân thực sự vào thế giới tuổi thơ để cảm nhận những vẻ đẹp thơ mộng của quê hương mình. Làng Ku-ku-rêu trên đất nước Cư-rơ-gư-xtan đã hiện lên dưới những đôi mắt trẻ thơ như thế nào? Này đây, “đất rộng bao la làm chúng tôi sửng sốt”. Này đây, “chuồng ngựa của nông trang mà chúng tôi vẫn coi là toà nhà rộng lớn nhất trên thế gian… chỉ như căn nhà xép bình thường”. Phía xa là dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong làn sương mờ đục. Và xa hơn nữa là những con sông, “những dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh…”. Thú vị biết bao, nhờ vị trí trên cao của hai cây phong, các chú bé đã “thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” đúng như ý thơ của Hồ Chí Minh trong một bài thơ nhiều người biết đến[1]. Và cũng từ vị trí ngọn cây như thế, các cậu bé được sống trong những phút giây ngây ngất, hạnh phúc. “Chúng tôi nép mình ngồi trên các cành cây suy nghĩ… Chúng tôi ngồi nép trên các cành cây, lắng nghe…”. Quả thật, trong những phút giây ấy, ở những đỉnh cao ấy, tầm nhìn của tuổi thơ được mở rộng, chiều suy nghĩ được khơi sâu, cả tâm hổn và trí tuệ như đang cùng cất cánh để cảm nhận biết bao vẻ đẹp rộng dài, lắng nghe biết bao âm thanh huyền ảo, suy nghĩ và mộng mơ, khát vọng biết bao điều thiêng liêng, kì thú. Nói khác đi, nhờ hai cây phong lớn cao, vững vàng nâng đỡ, dìu dắt lên tận đỉnh ngọn, những chú bé làng Ku-ku-rêu ấy mới được mở rộng tầm nhìn, vươn tới bao nhiêu điều bổ ích. Trong đó, có lẽ điều bổ ích nhất là giàu có thêm tâm hồn và trí tuệ. Chỉ bằng một kỉ niệm tuổi thơ cụ thể của một nhân vật cụ thể, nhà văn đã đánh thức trong người đọc chúng ta biết bao kỉ niệm êm đềm, thân thương về quê hương, về đất nước, khi còn ấu thơ cũng như lúc đã về già. Đến phần cuối đoạn văn, nhân vật kể chuyện lại thêm một lần chuyển giọng. Từ “chúng tôi”, nhân vật xưng “tôi”. “Tôi lắng nghe tiếng hai cây phong rì rào, tim đập rộn ràng vì thảng thốt… hình dung ra những miền đất xa lạ kia… Chỉ có một điều tôi chưa hề nghĩ đến: ai là người đã trồng hai cây phong trên đồi này… Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi họ gọi là Trường Đuy-sen…”. Đây chính là những dòng văn dẫn vào câu chuyện kể về những con người kì diệu của quê hương mình. Đặt ở vị trí kết thúc văn bản Hai cây phong này, đây lại là những tâm niệm của người hoạ sĩ khi được gặp lại hai cây phong, được sống lại tuổi thơ mộng mơ, lãng mạn để rồi luôn nhớ tới và biết ơn lớp người đi trước, mở đường và gieo trồng những hạt giống, vun xới cho cây cối, giáo dục, thức tỉnh con người lớn lên. Đó là điều tâm niệm của một tấm lòng nhân hậu, biết “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đáng yêu quý, trân trọng. Vậy là, từ sự cảm nhận những vẻ đẹp của hai cây phong, người hoạ sĩ đã kể về một kỉ niệm tuổi thơ không kém phần tươi đẹp mà giàu ý nghĩa: ngọn cây và tẩm nhìn. Cây càng vươn cạo bao nhiêu, càng đón được nhiều gió bấy nhiêu. Con người càng vươn cao, trưởng thành bao nhiêu, tầm mắt càng mở rộng bấy nhiêu, nhưng đừng bao giờ quên cội nguồn, gốc rễ… [1] Bài Đi đường trong Nhật kí trong tù (1942 – 1943).
Ngọn cây và tầm nhìn (Về đoạn trích Hai cây phong – trích truyện Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,966
Ngữ văn lớp 6: Kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường Hướng dẫn Kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường Ngữ văn lớp 6: Kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo Kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường Bài tham khảo 1 Hôm ấy là ngày lao động làm vệ sinh trường lớp. Tổ em được phân công nhổ cỏ ở bồn hoa dưới chân cột cờ. Mọi người lao động rất tích cực. Nắng mỗi lúc một lên cao, mồ hôi đổ ra nườm nượp, ai cũng đã thấm mệt. Các tổ bạn cũng đã sắp hoàn thành công việc nhổ cỏ xung quanh lớp học và quét dọn sân trường. Em với Hòa cùng khiêng thùng rác, ra tận hố cuối vườn trường để đổ. Khi đi ngang hồ sen thấy rác cỏ không biết tổ nào đã đổ xuống đây. Em nói với Hòa: “Hồ sen nước trong và đẹp thế, bạn nào lại khiêng cỏ tấp xuống đây nhỉ. Mình xuống vớt lên đi. Nếu không vài ngày nữa, nước sẽ đổi mầu đấy. Tuy rất mệt nhưng cả hai đứa cũng đã vớt hết sạch sẽ cỏ rác kia. Việc làm của hai đứa em, có thể không ai biết cả, nhựng trên đường về em và Hòa đều rất vui. Vì nghĩ mình cũng đã làm một việc góp phần làm xanh, sạch đẹp môi trường. Tối hôm qua, trời mưa to, gió lớn, cơn bão số 7 tràn về làng. Em nằm ngủ trong nhà, nghe tiếng gió rít ngoài trời mà vô cùng sợ hãi. Sáng ra, mưa tạnh hẳn. Em vội bật dậy chạy ra sau vườn. Một cảnh tượng đổ nát, bi thương đập ngay vào mắt em. Khóm hoa hồng xanh tươi, nõn ngọc em yêu thích nhất hôm nào giờ đã tan tác gãy. Bụi chuối nằm rạp người, vẻ ốm yếu, mệt mỏi. Hàng nghìn lá xoài bị gió giật đêm qua rơi lả tả khắp sân vườn… Những cảnh tượng bi thương đó làm tim em nhói đau. Bỗng trong đầu em lúc này loé lên một tia sáng. Em vội chạy vào nhà lấy vài cành cây: Chống bụi chuối lên, cắm những cọc sâu, đỡ khóm hồng dậy như thường ngày. Mẹ em thấy thế liền bảo: – Con làm gì thế? Đỡ những khóm hồng dậy như vậy thì chưa chắc hẳn nó sẽ sống được đâu! Nghe mẹ nói thế, bà nội em vội nói chữa: – Con cứ để cho cháu nó làm, biết đâu được đấy! Quả thật, một ngày mệt mỏi cũng rồi qua, sáng hôm sau, mọi vật trước mắt em dường như có sự thay đổi hẳn. Em vô cùng mừng rỡ. Khóm hoa hồng héo rũ hôm qua giờ đã bắt đầu xanh tươi trở lại. Cây chuối không khoẻ hẳn nhưng vẫn phát triển bình thường. Kết quả em đã làm dù rất nhỏ nhưng đã để lại trong lòng em tràn ngập niềm vui. Em tự thấy hãnh diện với lòng mình khi đã làm một việc tốt. Biết giúp đỡ mẹ cha, bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường: “Xanh – sạch –đẹp”. Bài tham khảo 3 Sáng thứ bảy hôm ấy, em cùng với Loan, Hồng, Phượng rủ nhau ra công viên chơi vì ở đây vừa sạch, vừa đẹp, lại có hoa, có cây bóng mát và để ngắm bức tượng anh Trần Văn ơn vừa mới được khánh thành một tháng nay. Tình cờ, nhóm em cũng gặp ba bạn Hoa, Thủy, Ngọc đang ngồi tâm sự và ăn quà bánh ở hàng ghê đá đối diện. Ăn xong, các bạn vứt giấy kẹo giấy bánh bừa bãi ở dưới gầm ghế rồi thản nhiên đi dạo. Thấy vậy, em gọi ba bạn: “Hoa, Thủy, Ngọc ơi! Dừng lại một tí, mình nói cái này nè!” Khi cả ba dừng lại, em đến bên nhẹ nhàng nói: “Các bạn ăn xong, phải gói lại bỏ vào thùng rác chứ ai lại vứt như thế!”. Hoa sầm mặt lại: “Cậu có ý thức nhỉ? Đây là nhà cậu phải không? Chúng tớ có đụng đến cậu đâu mà cậu nhiều chuyện thế?”. Nghe Hoa nói vậy, Thủy, Ngọc ngăn lại: “Bạn Thu nói đúng đấy, Hoa ạ! Tụi mình làm ngay đây. Cảm ơn sự góp ý của Thu”. Bài tham khảo 4 Sáng ấy, mọi người trong khu phố không hiểu sao tụi nhỏ lại ra đường sớm thế. Trên tay đứa nào đứa nấy đều cầm một cái chổi và que gắp tập trung ở đầu ngõ. Bác Hải, trưởng khu phố đi ngang qua hỏi: “Các cháu làm gì mà đứng ở đây?” Em nhanh nhẹn trả lời bác: “Tối qua, chúng cháu hẹn nhau sáng nay ở đây để làm vệ sinh khu phố bác ạ!”. “Ồ, các cháu giỏi quá! Bác có lời khen. Nhớ cẩn thận đừng để xảy ra tai nạn nhé!” Trên con đường vào khu phố của chúng em dài chừng l00m, đứa dùng que nhặt các bịch mủ, đứa cầm chổi quét vun rác lại từng đống một, bỏ vào các thùng rác, vừa làm vừa nói chuyện thật rôm rả. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, con đường đã sạch bóng. Các cô các chú đi ngang qua, ai cũng buông một lời khen: “Tụi nhỏ ngoan thật!” Đứa nào, đứa nấy nhìn nhau mỉm cười sung sướng. Hôm nay, nhân ngày chủ nhật, xóm em phát động phong trào “Làm sạch đường làng ngõ xóm”. Mới sáng sớm nhà nào nhà ấy đã ra trước cổng nhà mình để làm vệ sinh. Em và mẹ được bác trưởng thôn phân công vệ sinh một đoạn đường, em quét rất cẩn thận, moi từng cọng rác ở hai bên đường. Quét đến đâu em thu gom rác lại rồi lấy mo hót rác đổ vào sọt. Chả mấy chốc con đường đã trở nên sạch sẽ. Bác trưởng thôn đi kiểm tra lại một lần, bác dừng trước cửa nhà em và khen em ngoan, chăm chỉ lao động. Em rất vui vì đã làm được việc tốt. Đề kiểm tra học kì II môn Ngữ văn lớp 6 phòng Giáo dục Bảo Lộc – Lâm Đồng Bộ đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn lớp 6 Tả hình ảnh mẹ hoặc cha khi em làm được một việc tốt
Ngữ văn lớp 6_ Kể lại một việc tốt em đã làm để góp phần bảo vệ môi trường
1,122
Ngữ văn lớp 6: Tả con mèo nhà em Hướng dẫn Tả con mèo nhà em lớp 6 Ngữ văn lớp 6: Tả con mèo nhà em được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo Tả con mèo nhà em lớp 6 I. Mở bài Từ xưa, động vật nuôi trong gia đình đã trở nên phổ biến, nhiều nhà có cho mình những con vật dễ thương và coi chúng như một thành viên trong gia đình. Trong đó mèo là loài vật gắn bó thân thiết với con người chúng ta. Nhà em có nuôi một chú mèo, nó rất xinh và nghe lời. II. Thân bài Chú mèo tam thể dễ thương, trên thân mình là ba màu trắng vàng đen đẹp mắt Mặt chú rất hiền với cái mũi hồng ươn ướt, đôi mắt màu xanh lam, ria mép,… Bốn chân với những móng vuốt sắc nhọn để bắt chuột, cái nệm thịt màu hồng giúp chú tiếp đất mà không bị ngã Bắt chuột rất cừ Thích nằm vào lòng em ngủ nướng…. III. Kết bài Chú mèo đã trở thành người bạn hàng ngày cùng em chơi đùa, thiếu chú, không gian ngôi nhà trở nên tẻ nhạt vô cùng. Em rất yêu quý chú mèo nhà em Bài tham khảo 1 Từ xưa, động vật nuôi trong gia đình đã trở nên phổ biến, nhiều nhà có cho mình những con vật dễ thương và coi chúng như một thành viên trong gia đình. Trong đó mèo là loài vật gắn bó thân thiết với con người chúng ta. Nhà em có nuôi một chú mèo, nó rất xinh và nghe lời. Chú mèo nhà em khoác trên mình với bộ lông ba màu trắng vàng đen. Đôi tai hình tam giác, mỏng, thính nhạy của chú mèo bình thường thì dựng lên nghe những âm thanh bên ngoài những khi em sờ vào thì lại cụp xuống. Chú có đôi mắt màu xanh lam, tròn như hai hòn bi ve. Cái mũi đỏ hồng lúc nào cũng ươn ướt khịt khịt. Khi mới về nhà em, chú nhỏ xíu kêu meo meo suốt cả một ngày như khóc vì nhớ mẹ vậy. Bốn chân với những móng vuốt sắc để rình con mồi, dưới chân là những nệm thịt màu hồng êm ái để mỗi lần chú leo chèo hay nhảy xuống đất một cách nhẹ nhàng. Chú càng ngày càng lớn, bây giờ đã rất thân quen với gia đình em và em. Em thích nhất bộ lông mềm mượt không bị xù hay bết, mỗi lần được vuốt chúng bàn tay em như được sờ vào tấm nhung vậy. Đuôi chú lúc nào cũng vẩy lên vẩy xuống, cùng dáng đi thư thái quanh chiếc ghê sofa trông thật ra dáng ông hoàng. Mùa đông đến cũng là lúc chú thích cuộn tròn thân hình mũm mĩm, đôi mắt lim dim nằm trong lòng em để ngủ nướng, chiếc ria mép động đậy như những chiếc ăng ten bé xíu vậy. Có lần, đang ăn trong phòng bếp, bỗng có một tiếng động “cạch”, bỗng chú mèo lao mình xuống khỏi đùi em cái phốc, đôi mắt tròn sáng quắc lạ thường, lông dựng lên, những móng vuốt chìa ra vồ mạnh về phía tủ lạnh. Thế là con chuột đã nằm gọn trong móng vuốt của chú cựa quậy cái đuôi nhỏ không sao thoát ra được. Ôi chú thật cừ khi mỗi lần bắt những con chuột chui vào trong phòng bếp. Sau đó chú mèo chén ngon lành và dụi cái đầu nhỏ vào chân em như khoe chiến công hiển hách của mình vậy. Ngày ngày cùng nhau vui đùa chơi với những quả bóng đã gắn kết em và chú lại với nhau, mỗi khi đi học về em đều nghe thấy tiếng “meo” gọi em đến để vuốt ve chú. Chú mèo đã trở thành người bạn hàng ngày cùng em chơi đùa, thiếu chú, không gian ngôi nhà trở nên tẻ nhạt vô cùng. Em rất yêu quý chú mèo nhà em- một dũng sĩ diệt chuột tài ba. Bài tham khảo 2 Nhà em nuôi rất nhiều con vật thân thuộc: Chó, gà…. nhưng có lẽ mèo là con vật em yêu quý nhất. Chú mèo có tên là Mi Mi, rất đáng yêu. Mi Mi là tên em đặt ngay từ ngày đầu tiên mà chú được đưa về nhà. Chú mèo là món quà tặng sinh nhật lần thứ 10 của em của bố. Còn nhớ phút giây phút em vui mừng khi đón Mi Mi từ tay của bố em vào ngày sinh nhật của mình. Chú mèo thuộc loại tam thể cái nên bộ lông có ba màu: Trắng, đen vàng với màu trắng là màu chủ đạo. Mang trên mình bộ lông ba màu nên Mi Mi trông rất nổi bật và “xinh gái” đặc biệt hơn. Hai con mắt của cô mèo trong như hai hòn bi ve, rất tinh nhanh và nhạy bén mà cùng long lanh như vì sao lấp lánh trên bầu trời. Hai bên ria mép thì dài và con vút. Cái đuôi cong vút lúc nào cũng nghoe nguẩy trông rất tinh nghịch. Dưới mỗi chân là một lớp thịt đệm rất mềm, ẩn dưới lớp thịt hồng hào ấy là bộ móng nanh vuốt rất sắc bén của cô mèo, được coi là thứ vũ khí lợi hại đặc trưng cho loài mèo. Mi Mi còn có sở thích là sưởi nắng, vào những ngày mặt trời chiếu rọi thì cửa sổ phòng khách luôn là địa điểm lí tưởng để cô mèo có thể thỏa thích tắm nắng và “làm dáng” cho mình. Hơn nữa còn rất thích leo trèo, cây cau sau vườn nhà em là khu vui chơi lí thú thể thỏa mãn sở thích ấy. Mi Mi dường như giờ đây trở thành một thành viên không thể thiếu trong gia đình em. Em hứa sẽ chăm sóc chu đáo và cẩn thận cho người bạn mèo đáng yêu này của mình. Đề cương ôn tập học kì 2 lớp 6 môn Toán trường THCS Đoàn Thị Điểm năm học 2017 – 2018 Đề kiểm tra 45 phút học kì 2 lớp 6 môn Công nghệ trường THCS Gia Hòa
Ngữ văn lớp 6_ Tả con mèo nhà em
1,064
Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùn Hướng dẫn Bài tập làm văn suy nghĩ về câu nói nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng bao gồm dàn ý và các bài văn mẫu tuyển chọn. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh chứng minh giải thích câu thành ngữ nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng hay nhất. Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng Dàn ý nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng 1. Mở bài – Nhân dân ta từ xưa đến nay vốn có truyền thống yêu thương, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau. – Dẫn câu ca dao: “Nhiễu điều… nhau cùng”. – Đây là nhắc nhở mọi người phải có lòng nhân ái, giúp đỡ lẫn nhau. 2. Thân bài a. Giải thích – Nghĩa đen: “Nhiễu điều” là thứ hàng tơ lụa màu đỏ đẹp đắt giá; “giá gương” là vật dụng bằng gỗ chạm khắc khéo léo vừa đỡ lấy tấm gương soi vừa để trang hoàng nhà cửa. Nếu hai vật ấy đứng riêng lẻ thì không có gì đặc sắc. Nhưng đặt mảnh lụa đỏ phủ lên giá gương thì chúng tạo nên một cảnh tượng vừa rực rỡ, vừa uy nghiêm. Tấm “nhiễu điều” giữ cho gương sáng mãi, khỏi bị ố mờ vì bụi, còn tấm gương kia nhờ tấm nhiễu điều nên luôn sáng tươi mãi. Chính nhờ bao phủ, chở che cho nhau mà cả hai trở nên có giá trị, tôn vinh thêm nét đẹp. – Nghĩa bóng: Từ hai hình ảnh ví von gợi cảm đó, người xưa muốn nêu lên một lời khuyên: Là người trong một nước ta phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nhất là trong lúc hoạn nạn, khó khăn. – Đây là chân lí, là phương châm sống cho mỗi người chúng ta. b. Tại sao người trong một nước phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau? – Về mặt tình cảm: Người cùng chung một nước có cùng chung một nguồn gốc lịch sử, cùng chung một tổ tiên, nói cùng một thứ tiếng “mẹ đẻ”, cùng phong tục tập quán… không khác gì anh em trong một nhà. – Về mặt lí trí: Không ai có thể sống lẻ loi trong xã hội được mà phải hòa nhập vào cộng đồng, phải có bổn phận nghĩa vụ đối với nhau cùng nhau gắn bó, đoàn kết để đưa đất nước tiến lên. – Đây là cách sống, là đạo lí truyền thống của dân tộc ta từ ngàn xưa. – Nhờ tình tương thân tương ái đó mà dân tộc đã vượt qua biết bao gian khổ từ lúc dựng nước giữ nước, đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau trong chiến đấu chống giặc thù, đoàn kết, yêu thương đùm bọc nhau khi trong nước có thiên tai lũ lụt. Chính nhờ tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “miếng khi đói bằng gói khi no” của người trong một nước nên đất nước ta, dân tộc ta mới đứng vững vàng cho đến hôm nay. – Yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau phải xuất phát từ lòng chân thành, tự nguyện, tự giác thì mới là nghĩa cử cao đẹp, đáng trân trọng. Nó vừa thể hiện nhân cách đạo đức của con người vừa là nền tảng xây dựng xã hội tốt đẹp. 3. Kết bài: – Câu ca dao mãi mãi là một bài học giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người. Tình cảm yêu thương, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cần được phát huy ngày càng mạnh mẽ để cùng nhau xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp. Bài văn mẫu nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng – bài 1 Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng – bài 1 Từ lâu người Việt đã có truyền thống yêu thương đùm bọc lẫn nhau, truyền thống đó càng được thể hiện rõ nếu một cá nhân trong một tập thể, một cộng đồng gặp khó khăn. Để con cháu mãi mãi giữ được truyền thống quý báu đó ông cha ta đã truyền lại câu ca dao mà không con người mang dòng máu Việt Nam quên được: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Chúng ta có thể hiểu rằng, nhiễu điều là một tấm vải màu đỏ, có thể nói là vô cùng quí giá và sang trọng trong xã hội thời xưa. Và vật quí giá đó được dùng để phủ lên tấm bài vị của tổ tiên. Tấm vải che chở, đùm bọc cho “giá gương” khỏi những bụi bặm, nhơ bẩn trong cuộc đời. Chính hình ảnh này đã khơi gợi lên hình ảnh yêu thương, sự đùm bọc sẻ chia của nhân dân ta, mà đời đời kiếp kiếp nhân dân giữ gìn, coi trọng nó như một phần của trái tim, một phần của tâm hồn của mình. Truyền thuyết Con Rồng cháu tiên đã nói cho chúng ta biết chúng ta được sinh ra cùng một tổ tiên. Chúng ta, mỗi người con đất Việt, đều là con cháu của mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân, chúng ta cùng sinh ra trong một bọc trăm trứng thần kì. Điều đó có nghĩa là mỗi người, dù ở nơi đâu trên trái đất bao la và rộng lớn này, dù trong bộ phận nhỏ nhất, cũng chảy chung một dòng máu, đó là dòng máu Việt Nam. Chúng ta là anh em, nên yêu thương và che chở cho nhau là một điều tự nhiên và không bao giờ thay đổi. Truyền thuyết là vậy, nhưng cũng từ đó mà nhân dân ta đã tạo nên một sợi dây gắn kết bền chặt, một sợi dây gắn kết những tầm hồn, những tình yêu thương chúng ta dành cho nhau. Cuộc sống ngày nay đã phát triển, con người được sống sung sướng hơn nhưng vẫn còn đây đó những cảnh đời bất hạnh, đau thương. Dòng đường đời lắm gian truân, nhiều phong ba bão táp, nên sẽ luôn có người ngã xuống, có người thất bại, có người biết tự mình đứng lên, cũng có người sẽ không bao giờ muốn gượng dậy. Nói thì dễ, nhưng để tự đứng dậy khi đã ngã xuống, thì không phải ai cũng làm được. Khi đó, chúng ta sẽ mong mỏi có một bàn tay ấm áp nắm lấy tay ta, kéo ta lên để ta bước tiếp trên con đường phía trước. Và bàn tay đó, không hoa mĩ, không trừu tượng như trong văn thơ đâu, đơn giản: Đó là tình yêu. Tình yêu thương con người, tình yêu đồng loại, tất cả, đều là sức mạnh giúp ta đứng lên. Tất nhiên, không phải tình yêu đó sẽ làm cho bạn bất tử, làm cho bạn không bao giờ vấp ngã, nhưng nó sẽ mãi che chở cho ta, làm cho ta ấm lòng, làm cho ta có thêm niềm tin vào cuộc sống này hơn. Để có được tình yêu đó, không phải là điều khó. Nếu ta biết trao sự giúp đỡ, tình yêu của mình cho người khác, thì sẽ có người khác lại giúp đỡ ta, san sẻ tình yêu cho ta. Nếu ai cũng biết chia sẻ tình yêu thương, thì cái thế giới này sẽ thật đầm ấm biết bao. Sự che chở đùm bọc lẫn nhau sẽ làm cho xã hội ngày càng phát triển, xã hội ngày càng tiến đến sự công bằng, bình đẳng. Nếu như ta coi xã hội này là một vòng xích khổng lồ, thì mỗi cá nhân sẽ là một mắt xích. Một mắt xích bị tách rời, là vòng xích sẽ đứt, nghĩa là một con người không biết gắn kết, thì cả một tập thể, cả một xã hội sẽ phần nào bị ảnh hưởng. Thế nên, để cho xã hội có thể phát triển, thì cần phải biết gắn kết người dân lại với nhau, và thứ gắn chặt nhất, chính là tình yêu thương. Vượt lên trên cả điều này, tất cả những điều mà câu ca dao nhắc nhở chúng ta còn là cơ sở cho sự đoàn kết, mà có đoàn kết, chính là có tự do, có sức mạnh, là khẳng định của sự trường tồn vĩnh cửu. Nếu mỗi chúng ta đều có ý thức tự giác giúp đỡ những con người khó khăn, xã hội sẽ nhanh chóng giàu mạnh. Nhưng có một cái khó khăn, đó là làm sao để 80 triệu con người Việt Nam, 80 triệu con tim cùng hòa chung nhịp đập, cùng biết san sẻ, cùng biết yêu thương lẫn nhau. Để đạt được điều này, đầu tiên, chúng ta cần rèn luyện nhân cách của mình, làm cho bản thân ta biết “cho” và biết “chia sẻ”. Việc rèn luyện là cả một quá trình, ta không thể một sớm một chiều có thể đạt được, mà là phải cố gắng không ngừng, và phải áp dụng nó trong mỗi ngày. Đơn giản nhất, hãy biết đùm bọc, yêu thương những người trong gia đình, những người ta gắn bó nhất. Rồi dần dần, tình cảm đó sẽ nâng lên là yêu thương giúp đỡ người trong một xóm, một phố, một đất nước. Thế giời ngoài kia đang đầy rẫy nhưng bi thảm của những cuộc đời bất hạnh, đang có những bàn tay mong mỏi được giúp đỡ: Từ những cơn lũ quét cuốn trôi một tỉnh thành, hay là những bàn tay của trẻ em đang trong độ tuổi đi học lại phải đi ăn xin vì bị bỏ rơi… Điều này đã thôi thúc chúng ta cần phải giúp đỡ họ, bằng những công việc cụ thể như quyên góp tiền ủng hộ, hay xây những nhà tình nghĩa cho trẻ em khuyết tật, người già neo đơn, hoặc những chiến dịch hiến máu nhân đạo của các tổ chức, cộng đồng, xã hội. Nó sẽ phần nào đem lại nụ cười cho những người gặp hoạn nạn, một nụ cười hạnh phúc. Tuy nhiên, ngày nay, tình yêu đó còn vượt qua cả biên giới, đó là chúng ta cần phải biết giúp đỡ tất cả mọi người dù họ thuộc quốc gia nào. Điều đó được thể hiện trong chính những hoạt động xã hội như cứu giúp Nhật Bản sau thảm họa, hay việc bảo vệ quyền con người trên các quốc gia. Tất cả góp phần tạo nên sự gắn kết giữa các dân tộc với nhau, làm cho thế giới này trở nên văn minh hơn, tốt đẹp hơn Truyền tụng câu ca dao trong dân gian không chỉ có ý răn dạy, khuyên nhủ, còn là một trách nhiệm của mỗi con người Việt Nam ta, đó là cần phải biết yêu thương đùm bọc, che chở, đoàn kết giúp đỡ lần nhau. Chúng ta cần phải biết giúp đỡ nhau cùng tiến lên, cùng vượt qua khó khăn để tạo nên một cuộc sống đầy những niềm vui, hạnh phúc và thành công. Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng – bài 2 Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng – bài 2 Tình dân tộc, nghĩa đồng bào là vô cùng thiêng liêng. Tình nghĩa nồng thắm ấy đã in sâu vào trái tim khối óc người Việt Nam, tạo nên bản sắc dân tộc. Trên chặng đường mấy nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu, nhân dân ta đã phát huy cao độ lòng yêu nước thương nòi thành truyền thống quý báu. Truyền thống ấy đã trở thành tiếng hát, lời ca mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Tiêu biểu là câu ca dao: “Nhiễu điểu phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”. “Giá gương” là một vật dụng đặt trên bàn thờ gia tiên, một biểu tượng thiêng liêng của người đã khuất. Trên giá gương có thể là một tấm ảnh, một tờ giấy đã phai màu ghi một vài nét về tiểu sử và công đức của người đang được thờ cúng. Giá gương thường được sơn son thếp vàng rất đẹp, một vẻ đẹp cổ kính trang nghiêm. “Nhiễu điều” là một thứ hàng dệt cao cấp (vóc, nhiều, the, lụa…) màu đỏ thắm (điều). Đem nhiễu điều phủ lấy giá gương, làm cho giá gương đã đẹp, lại càng thêm đẹp, thêm trang trọng. Chữ “phủ” trong câu ca dao là nghĩa chở che, bao bọc, biểu thị một thái độ, một tấm lòng tôn kính, biết ơn… của con cháu đối với ông bà, tổ tiên. Hình ảnh gắn bó vừa thiêng liêng, vừa nghĩa tình. Đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ so sánh đến khái quát, nhân dân ta đã lấy hình ảnh ”Nhiễu điều phủ lấy giá gương” để qua đó, nêu lên một bài học đạo lí có giá trị giáo dục sâu sắc: khuyên nhủ mọi người Việt Nam giữ gìn và nêu cao tình yêu thương đoàn kết dân tộc. Bài học mà câu ca dao nêu ra thật sâu sắc, thấm thía. Tại sao “Người trong một nước phải thương nhau cùng?” – Người trong một nước cùng chung cội nguồn, nòi giống đều là con Rồng cháu tiên. Họ có chung một nền văn hoá lâu đời, chung lịch sử, chung một mẹ Việt Nam yêu quý. Dù là Kinh hay Mường, Thái hay Tày, Ba-na hay Ê-đê, v.v… nhưng vẫn là anh em xa gần, anh em trong đại gia đình Việt Nam, có mối quan hệ vật chất và tinh thần gắn bó, chung một Thủ đô Hà Nội và chung một cơ đồ Việt Nam. Huyền thoại ”Trăm trứng”, truyện cổ tích “Quả bầu” làm cho mỗi người chúng ta bồi hồi xúc động, biểu cảm sâu sắc lời ca “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình yêu thương đoàn kết dân tộc ấp ủ trong tim ta tình làng nghĩa xóm, lòng yêu nước thương nòi thắm thiết bao la. Nó nhắc nhở ta biết chia ngọt sẻ bùi với nhau, biết yêu thương đùm bọc nhau. Nó cho ta niềm tin về sức mạnh nòi giống, về lòng tự hào dân tộc để vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng thù trong giặc ngoài. Cả cộng đồng người Việt Nam đoàn kết yêu thương cùng đi lên phía trước, xây dựng đất nước phồn vinh. Tình yêu thương, đùm bọc đồng loại là đạo lí sống tốt đẹp của nhân dân ta. Cây có cội, nước có nguồn, chim có tổ, người có tông. Câu ca dao sau đây mỗi lần đọc lên, là người Việt Nam ai mà chẳng bồi hồi: “Ai về Phú Thọ cùng ta, Nhớ ngày giỗ Tổ tháng Ba mồng Mười. Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba”. Dù sống ở miền Nam hay miền Bắc, miền xuôi hay miền ngược hoặc là Việt kiều tha hương,… tất cả đều là con em đại gia đình Việt Nam. Việt Bắc, Tây Bắc là cái nôi của cách mạng. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã từng “hạt muối cắn đôi” với anh bộ độ Cụ Hồ trong thời chống Mĩ. Tình yêu thương đoàn kết dân tộc là cơ sở của tình yêu nước. Qua đó, ta càng thấy trách nhiệm của mỗi người phải góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Trung hiếu, nhân nghĩa là nền tảng của đạo lí. Chữ hiếu là đạo làm con. Chữ trung là đạo làm người, làm dân. Trong mối quan hệ xã hội, con người phải sống tình nghĩa, thuỷ chung. Tình người, tình đồng bào là thiêng liêng cao cả “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tình yêu thương đoàn kết dân tộc phải được biểu hiện bằng những việc làm cụ thể: Nhường cơm sẻ áo, giúp thuốc men, lương thực… cho nhau khi gặp thiên tai địch họa. Đồng bào vùng sông Cửu Long, vùng Tây Bắc, Việt Bắc bị lũ lụt, lũ quét tàn phá thì đồng bào cả nước hướng về, ra sức giúp đỡ, chi viện. Hoạt động của các hội Việt kiều đã thắt chặt ba, bốn triệu người Việt đang sinh sống làm ăn ở nước ngoài gắn bó với quê hương là một biểu hiện cao đẹp nâng cao tình cảm dân tộc. Nghĩa tình của đồng bào ta thật sâu sắc, đẹp đẽ, ca dao, dân ca có bao bài hay ngợi ca: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng” Nhân dân ta nhân hậu, sống trọn vẹn nghĩa tình. Yêu nước, thương nòi, thương mình, thương người, tương thân tương ái,… là vẻ đẹp tâm hồn, là đạo lí của dân tộc. Câu ca dao trên đã cho thấy nguồn sức mạnh Việt Nam. Với tình thương mà tổ tiên ta đã xây đắp nên nền Văn hiến Đại Việt lâu đời. Với tình thương mà nhân dân ta ngày nay đang xoá bỏ hận thù quá khứ, cùng nhau xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, hướng vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”. Hạnh phúc, ấy là tình thương. Đạo lí làm người, ấy là nhân hậu, ấy là tình thương. Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng – bài 3 Ca dao tục ngữ từ xưa đến nay vẫn luôn là những bài học vô cùng quý báu mà ông cha ta đúc kết để lại cho con cháu. Chúng không cũ đi, mà vẫn luôn có giá trị trong cuộc sống của chúng ta hôm nay và mãi mãi về sau. Có những câu ca dao khuyên bảo chúng ta cần phải biết yêu thương gia đình, có những câu cao dao khuyên chúng ta phải biết yêu đất nước, cả dân tộc phải biết đoàn kết. Câu cao dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương – Người trong một nước phải thương nhau cùng” là một bài ca dao về chủ đề tình yêu quê hương đất nước. Bài ca dao khuyên chúng ta phải biết yêu thương đùm bọc đồng bào của mình, dù không có quan hệ huyết thống, nhưng đều là con rồng cháu tiên, cùng chung một nguồn gốc, cùng sống trong một bờ cõi. Đầu tiên, chúng ta cần hiểu về câu ca dao. Nhiễu điều, đó là tấm vải được phủ lên giá giương khi không sử dụng, nhằm giữ cho giá gương luôn sạch sẽ, không bị bụi bẩn và luôn bền đẹp. Giá gương luôn cần tấm nhiễu, cũng như tấm nhiễu chỉ phát huy được tác dụng của mình khi được phủ lên giá gương. Đó là nghĩa đen của câu ca dao. Và ngay ở câu tiếp theo, ý nghĩa của hai hình ảnh tượng trưng nhiễu điều – giá gương đã trở nên rõ ràng. Đó chính là hình ảnh những người trong một nước. Ông cha ta đã khuyên con cháu rằng phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, phải biết đoàn kết để tạo lên sức mạnh tập thể, cũng như nhiễu điều – giá gương, lúc nào cũng ở bên cạnh, bổ sung cho nhau, khiến cho vật kia trở nên có ý nghĩa hơn, đẹp hơn. Bác Hồ đã dạy chúng ta: “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” để nói lên sức mạnh của đoàn kết, sức mạnh của tập thể. Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Như vậy, chúng ta đâu phải là người xa lạ. Chúng ta đều có chung tổ tiên, chung nguồn gốc, đều là anh em một nhà trên dải đất hình chữ S. Năm mươi tư dân tộc anh em cùng nhau đoàn kết, chung tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ xưa đến nay, nhân dân ta đã có tinh thần đoàn kết vô cùng to lớn. Trong rất nhiều các cuộc kháng chiến, nhân dân ta phải đối mặt với những kẻ thù mạnh hơn, tàn ác hơn gấp nhiều lần. Nhưng bằng tinh thần đoàn kết, sự mưu trí, dũng cảm, mà sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, rồi đến những kẻ thù từ phương Tây với những vũ khí tối tân, hiện đại, chúng ta vẫn là một nước tự do, độc lập. Rồi những năm kháng chiến gian khổ, mọi hoạt động đều tập trung tại Việt Bắc. Nếu không có sự giúp đỡ của đồng bào và người dân nơi mảnh đất ấy, làm sao kháng chiến có thể thành công, làm sao chúng ta có thể giành được độc lập. Ngày nay, trong thời đại hòa bình, tinh thần đoàn kết ấy vẫn luôn luôn sáng mãi trong lòng mỗi chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy đau khi nhìn thấy những đồng bào miền Trung gặp bão lũ. Chúng ta vẫn hết lòng quan tâm, chăm lo cho những người già neo đơn, những em nhỏ cơ nhỡ, những người khó khăn xung quanh ta. Chia sẻ khó khăn với người khác khiến cho chúng ta thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn, mọi người thêm xích lại gần nhau hơn. Trong cuộc đời mỗi chúng ta, không phải lúc nào mọi chuyện cũng thuận lợi. Ai rồi cũng cần người khác giúp đỡ, dù là về vật chất hay tinh thần. Vì vậy, hãy cứ cho đi khi có thể. Rồi một ngày bạn sẽ nhận lại được nhiều hơn những gì bạn cho đi. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết bài hát trong đó có câu: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…” Đoàn kết, yêu thương tạo ra sức mạnh tập thể vô cùng to lớn. Chẳng thế mà chỉ với giáo mác gậy gộc, chúng ta chiến thắng được những đế quốc vô cùng hùng mạnh, tàn ác. Chính lòng yêu thương, sự sẻ chia của những người xung quanh khiến những người có hoàn cảnh khó khăn có một cuộc sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn, ấm áp hơn bao giờ hết. Nhờ những tấm lòng, em bé vùng cao có áo ấm, được học cái chữ, được học điều hay. Nhờ những tấm lòng, những cụ già neo đơn không còn phải cô đơn một mình nữa. Nhờ những tấm lòng, kết nối những yêu thương. Những chương trình vô cùng có ý nghĩa như “Áo ấm vùng cao”, “Trung thu cho em”, “Tết trọn vẹn” đã giúp cho những người có hoàn cảnh khó khăn có được một cuộc sống tốt hơn, và quan trọng hơn, là giúp họ nhận được những sẻ chia, ấm áp của tình người. Tuy nhiên, vẫn còn có những người thờ ơ với những hoàn cảnh khó khăn xung quanh mình. Đó là khi chúng ta nhìn thấy người đi đường bị đổ xe nhưng không ai chịu dừng lại vài phút để giúp. Hay những cánh tay xua đuổi những em bé ăn xin tội nghiệp. Người ta ngày càng ích kỉ, chỉ biết bo bo giữ mình, sợ bị lừa, sợ bị thiệt. Nhưng may mắn thay, đó chỉ là số ít người trong xã hội mà thôi. Hãy thử nghĩ mà xem, chúng ta sống một cuộc sống mà chỉ biết mình, thì sẽ buồn chán, tẻ nhạt đến thế nào? Không chỉ thế, xã hội không có sự giúp đỡ, sẽ thụt lùi, chậm phát triển. Thật là một hậu quả đáng sợ, đáng suy ngẫm. Bác Hồ của chúng ta đã từng nói: “Non sông Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi”. Hãy luôn nhớ rằng dân tộc ta luôn là một thể thống nhất, dù có khác nhau về ngôn ngữ, nhưng 54 dân tộc vẫn là anh em, vẫn luôn phải đoàn kết để cùng nhau giữ gìn và phát triển đất nước. Nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng – bài 4 Dân tộc ta vốn có truyền thống đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Để diễn đạt tình nghĩa tha thiết này, ca dao có câu: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng.” Những hình ảnh trong câu ca dao thật dễ hiểu nhưng ý nghĩa của nó thì thật là sâu sắc. “Nhiễu điều” là tấm vải đỏ; “giá gương” là giá đỡ tấm gương. Hình ảnh “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” có nghĩa đen là tấm vải đỏ che phủ, giữ cho sạch và làm đẹp cho giá gương cùng cả tấm gương. Hai tiếng “phủ lấy” nhắc nhở, thể hiện sự gắn bó không tách rời giữa giá gương và nhiễu điều. Hình ảnh đó còn gợi lên nghĩa bóng đó là sự yêu thương, đùm bọc, che chở. Lấy nghĩa bóng đó, dân gian muốn nhắn nhủ mọi người trong cùng một cộng đồng cần phải biết yêu thương, đùm bọc, che chở cho nhau: “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Đó là một lời khuyên nhủ đậm đà tình nghĩa. Vậy thì tại sao người trong một nước phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau? Trong tâm thức mỗi người Việt Nam đều tin các dân tộc trên đất nước ta là anh em. Con người cùng một nước, có cùng chung một nguồn gốc lịch sử. Mọi người trong cùng cộng đồng, cùng làng, cùng nước,… đời sống vật chất, tinh thần luôn gắn bó với nhau, rất cần đến sự quan tâm động viên giúp đỡ lẫn nhau; nhất là lúc có ai đó gặp khó khăn hoạn nạn. Hơn nữa, không ai có thể sống lẻ loi trong xã hội mà phải hoà nhập vào cộng đồng. Thương yêu, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau là lẽ sống của mỗi người, nó đã trở thành một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc ta. Tình cảm yêu thương đoàn kết tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần sẽ giúp con người vượt qua bao khó khăn, chiến thắng kẻ thù và thiên tai, đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Có thể kể đến các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của nhân dân ta. Rồi những tấm lòng hảo tâm đóng góp vào các quỹ từ thiện đã giúp nhiều người nghèo khó, bệnh tật khắc phục được hoàn cảnh, vượt qua bệnh tật hiểm nghèo trở về với cuộc sống bình thường. Chúng ta phải làm thế nào để phát huy được đạo lí tốt đẹp đó? Chúng ta cần tránh quan điểm: “Đèn nhà ai người ấy rạng”, có thái độ dửng dưng đứng trước nỗi đau khổ của họ hàng, làng xóm, dân tộc. Và yêu thương giúp đỡ lẫn nhau phải xuất phát từ lòng chân thành, tự nguyện thì đó mới là nghĩa cử cao đẹp, đáng trân trọng. Để phát huy được đạo lí tốt đẹp của nhân dân Việt Nam, chúng ta phải biết quan tâm, giúp đỡ những người xung quanh khi họ gặp khó khăn hoạn nạn với thái độ chân thành, kịp thời. Thương yêu, đùm bọc lẫn nhau là biểu hiện sự đoàn kết dân tộc. Mỗi người cần phải biết giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp đó. Ý nghĩa của câu ca dao đã trở nên muôn đời. Vì đó là bài học đã đúc kết bằng tâm huyết của nhân dân ta. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp đó. Trên đây là bài tập làm văn viết bài tập làm văn suy nghĩ về câu nhiễu điều phủ lấy giá gương người trong một nước phải thương nhau cùng, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùn
4,746
Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Bài tham khảo Năm 40, thời quân Đông Hán bên Tàu ỷ mạnh, đem quân xâm lăng cai trị nước ta. Thái thú Tô Định còn bắt giết Thi Sách, chồng của Trưng Trắc. Vì thù nhà nợ nước, Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi nghĩa đánh quân Đông Hán. Từ đó có câu ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” Vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem tổ tiên đời trước đã muốn nhắn nhủ điều gì? Nhiễu điều là một tấm vải quý màu đỏ thẫm, người xưa dùng nó vào những việc trang trọng. Giá gương chỉ một đồ vật được nhân dân rất trân trọng, vì nó là khung của một tấm gương viết tên của ông bà, tổ tiên đặt giữa bàn thờ. Nhiễu điều, giá gương còn có nghĩa xa xôi hơn, chúng là hai sự vật gần gũi bên nhau được yêu quý như nhau. Nghĩa đen câu này muôn miêu tả tấm nhiễu đỏ phủ lên bài vị tổ tiên trên bàn thờ để che chở cho tấm gương. Từ hình ảnh đó, nhân dân ta còn muốn miêu tả hành động bảo vệ, che chở của tấm nhiễu điều sang quý cho tấm gương mong manh và dễ vỡ, tức nhằm ví hai con người gần gũi bên nhau, che chở cho nhau. Bên cạnh đó cả câu ca dao còn chứa đựng một lời khuyên thắm đượm tình nghĩa của người xưa: Đồng bào cùng một tổ tiên, một giống nòi hãy thương yêu, đùm bọc đoàn kết bên nhau như tấm nhiễu điều phủ lên giá gương trong sáng. Ông cha ta nói như thế vì so với thế giới, đất nước ta còn nghèo, dân tộc ta còn ít, nếu không đùm bọc nhau thì rất dễ bị ngoại xâm chia rẽ và xâm chiếm. Chính truyền thông Âu Cơ đã phát sinh ra hai tiếng đồng bào. Vì thế, tình thương yêu đoàn kết giữa mọi người trong một đất nước, trong một dân tộc là truyền thống lâu đời của tổ tiên ta. Nhờ đoàn kết mà nước ta đánh đuổi được quân xâm lược. Có rất nhiều sự kiện đã chứng minh cho truyền thông ấy như phá Tông, đuổi Nguyên Mông, bình Ngô. Đến thế kỉ XVIII, Quang Trung và đoàn quân Tây Sơn chống quân Thanh, rồi đến giữa thế kỉ XX nhân dân cả hai miền Nam Bắc đoàn kết chống Pháp và Mĩ thành công. Sở dĩ cha ông ta có câu này vì trong xã hội vẫn có một số ít người mang thói xấu là chia rẽ, ganh tị, có đầu óc kì thị địa phương, không biết đoàn kết yêu thương nhau. Cũng như vậy, trên thế giới vẫn còn những người phân biệt màu da, chủng tộc. Do đó bài học trên rất cần thiết, vì sức mạnh đoàn kết sẽ giúp cho dân tộc ta vượt qua dịch hoạ, thiên tai. Bằng chứng là khi đồng bằng sông Cửu Long bị lũ lụt, nhân dân cả nước đã quyên góp thực phẩm, quần áo, tiền bạc, để giúp họ thoát khỏi cảnh màn trời chiếu đất. Đồng bào vùng lũ lụt đã vượt qua thiên tai nhờ tinh thần lá lành đùm lá rách của nhân dân cả nước. Khi biên cương bị xâm lược, sự đoàn kết chống giặc sẽ là sức mạnh đuổi địch ra khỏi đất nước. Ngoài ra sự đoàn kết, thương, yêu nhau của nhân dân trong nước còn tạo thành sức mạnh tinh thần vô cùng quý báu, giúp toàn dân sống trong hoà bình, vui tươi. Thấy ai đói rách thì thương Đói thường cho mặc, đói thường cho ăn. (Gia Huấn ca) Có cái tình “thương người như thể thương thân” ấy thì cuộc sống xã hội mới tránh được những mối xung đột giai cấp nguy hại. Tín đồ các tôn giáo thì người ở tôn giáo này không này không nên chỉ trích người ở tôn giáo khác, không nên gây tinh thần “đạo này ghét đạo kia” mà phải thực hiện sự đoàn kết tôn giáo để cho nước nhà thêm hùng cường thịnh vượng. Câu này không những thích hợp với người xưa mà ngày nay hãy còn thích hợp. Trong mọi trường hợp, cần phải có sự đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân thì nước nhà mới có thể văn minh tiến bộ. Ngược lại, sẽ có sự xung đột giai cấp, đảng phái, chống đối lẫn nhau làm cho dân tộc bị chia rẽ, suy yếu. Bởi thế cụ Phan Bội Châu đã nói: Nước nhà thịnh suy, bởi hai điều ấy. (Hợp quần) Xét chung, chúng ta thấy câu ca dao lịch sử trên đây thật đúng, cụ Phan Bội Châu cũng đã nhắc nhở mọi người: Xưa nay nhà lớn chầu nhiều gạch Đoàn kết xin từ thuở móng non (Hòn gạch) Nghĩa là muốn xây được ngôi nhà lớn thì phải lo xây nền đắp móng. Muốn thực hiện sự đoàn kết quốc gia thì trước hết phải thực hiện sự đoàn kết trong gia đình và học đường. Trong gia đình, anh em phải thương yêu đoàn kết lẫn nhau, trong xã hội thực hiện sự đoàn kết toàn dân để bảo vệ quốc gia sau này.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng
885
Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng. Suy nghĩ về tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta. Hướng dẫn Suy nghĩ về tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta qua ý nghĩa bài ca dao “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” Mở bài: Lịch sử dân tộc ta là lịch sử dựng nước và giữ nước. Từ khi lập nước đến nay, nhân dân ta đã liên tục trải qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước. Lịch sử dân tộc ta được dệt nên từ xương máu của biết bao con người. Trong suốt chiều dài lịch sử ấy, con người Việt nam luôn biết đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, nhắc nhở nhau phải giữ lấy quê hương đất nước. Tinh thần cao quý ấy được gửi gắm qua câu ca dao: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng. Thân bài: Ý nghĩa của “nhiễu điều”, “giá gương” Từ xưa, muốn nhắn nhử hay đúc kết một bài học nào đó, cha ông ta thường mượn những hình ảnh giàu sức biểu cảm để chuyển tải điều muốn nói. Đó là một lối ứng xử tinh tế, lịch sự, hết sức đẹp đẽ. Bởi thế mà, các bài học, lời nhắn nhủ vừa mềm mại, dễ hiểu vừa dễ đi vào lòng người như nước thấm vào mặt đất. Theo nghĩa đen, “nhiễu điều” là tấm vải đỏ, “giá gương” là linh vị tổ tiên. Tấm vải đỏ phủ lên linh vị tổ tiên biểu thị ý nghĩa thành kính, thiêng liêng nhắc nhở con người sống phải nhớ về nguồn cội, tri ân công đức tổ tiên của mình. Tại sao sống phải biết yêu thương, đùm bọc và đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau? Bởi mọi người dân Việt Nam đều có chung một nguồn gốc là con Lạc cháu Hồng. Người dân Việt Nam cùng chung tiếng nói, có chung lịch sử và truyền thống văn hóa, chung một vận mệnh. Chính những điều chung ấy là sợi chỉ đỏ kết nối muôn vạn trái tim trong một tình yeu thương chung nhất. Đó là yêu giống nòi, yêu quê hương, đất nước và nguyện suốt đời gìn giữ lấy. Từ xa xưa, trước sức mạnh của thiên nhiên, con người phải biết đoàn kết lại, chung sức chung lòng đấu tranh và khuất phục thiên nhiên khắc nghiệt, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Con người cũng biết yêu thương, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau để cùng vượt qua khó khăn, hoạn nạn. Lịch sử đã chứng mnih, một khi con người không đoàn kết, không đồng tâm nhất trí, việc ai nấy làm, thân ai nấy lo dễ bị cuộc sống phủ nhận, thiên nhiên gây họa, kẻ thù tiêu diệt. Yêu thương, đùm bọc lẫn nhau là cơ sở của tình yêu dân tộc, tình yêu đất nước, là tiền đề tạo nên sức mạnh dân tộc, sẵn sàng chống lại mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù. Đất nước chúng ta có thể đứng vững trong mấy nghìn năm qua trước tham vọng của kẻ thù là bởi nhân dân ta biết đoàn kết lại, biết yêu thương lẫn nhau, biết kiên trì đấu tranh, bền bỉ kháng chiến, không tiếc máu xương để bảo vệ mảnh đất thân yêu. Tinh thần ấy đã trở thành truyền thống, ý chí của dân tộc mãi mãi không bao giờ mờ phai. Chúng ta cần yêu thương, đùm bọc, tương thân tương ái như thế nào? Trước hết, là ra sức học tập và lao động làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ. Khi dân đã giàu, nước đã mạnh thì kẻ thù không còn dám xâm phạm, cuộc sóng mới yên ổn, nền hòa bình đất nước mới vững bền. Tiếp đó là xây dựng lối sống tình nghĩa, giàu lòng yêu thương con người, tôn trọng con người, sống gắn bó, thiết tha. Người giàu giúp đỡ người nghèo, kẻ mạnh tương trợ kẻ yếu. trước khó khăn hoạn nạn nên mở lòng giúp đỡ. trong sung sướng nên đề cao tình nghĩa và đạo đức. Khi kẻ thù có âm mưu xâm lược phải một lòng kiên quyết chống lại, không ngại hi sinh, mất mát. Kết bài: Nhiễu điều phủ lấy giá gương là lời động viên, cổ vũ và khẳng định mạnh mẽ sức mạnh tự cường dân tộc và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong nhiệm vụ xây dựng tình đoàn kết trong toàn dân. Lời răn dạy ấy lại càng có ý nghĩa hơn khi nước ta đứng trong muôn vàn khó khăn khi hội nhập với nền kinh tế thế giới và các hành động lấn chiếm, khiêu khích của nước ngoài. Càng ngẫm nghĩ, chúng ta càng trân trọng nỗi lòng và trí tuệ của người xưa, dẫu có là cát bụi cũng vẫn một lòng lo cho vận mệnh của đất nước.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng. Suy nghĩ về tinh thần đoàn kết, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta.
850
Nhà thơ Tế Hanh đã gửi gắm nỗi niềm của mình hết sức sâu đậm vào bài thơ Quê hương. Qua bài thơ, em hãy chứng minh Hướng dẫn Tưởng nhớ quê hương trong xa cách trở thành dòng cảm xúc dạt dào, lấp lánh suốt đời cho Tế Hanh. Cái làng chài nghèo ở một cù lao trên sống Trà Bồng nước bao vây cách biển một ngày sông đã nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tế Hanh, đã trở thành một điểm hướng về để ông viết nên những vần thơ thiết tha, lai láng. Trong dòng cảm xúc ấy, quê hương là thành công khởi đầu rực rỡ. Có lẽ nhà thơ đã viết Quê hương bằng cả tấm lòng mến yêu thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, mến yêu con người lao động tràn trề sức lực, bằng những kỉ niệm nồng nàn nhất của mình. Khi trời trong gió nhẹ, sớm mai hồng; dân trai tráng trong làng bơi thuyền đi đánh cá, hình ảnh mái chèo phăng phăng cánh buồm no gió: Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã. Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng. Rướn thân trắng bao la thâu góp gió. Giữa trời nước bao la nổi bật hình ảnh con thuyền hiên ngang hăng hái, đầy sinh lực dưới bàn tay điều khiển thành thạo của dân trai tráng đang nhẹ lướt trên sóng qua hình ảnh so sánh như con tuấn mã. Bằng các từ ngữ sinh động, nhà thơ đã khắc họa tư thế kiêu hãnh chinh phục sông dài, biển rộng của người làng chài. Lời thơ như băng băng về phía trước, như rướn lên cao bao la cùng với con thuyền, với cánh buồm! Tế Hanh đã cảm nhận cuộc sống lao độngcủa làng quê bằng cả tâm hồn thiết tha gắn bó nên mới liên tưởng: Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng. Bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hi vọng mưu sinh của người lao động được gửi gắm ở đấy. Cả cái cảnh ồn ào đáng yêu khi chào đón thành quả lao động cũng được miêu tả thật tươi vui: Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ. Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. Nhờ ơn trời biển lặng, cá đầy ghe. Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Ớ đoạn trước, khi tả cảnh ra đi mạnh mẽ vượt trường giang của đoàn thuyền, lời thơ băng băng, phơi phới. Đến đoạn này, âm điệu thơ thư thái và dần lắng lại theo niềm vui của dân làng, theo những chiếc thuyền trở về nằm im trên bến. Chính từ đây, xuất hiện những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của quê hương: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng. Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm. Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Chỉ ai là người con của vạn chài mới viết được những câu thơ như thế. Tế Hanh như khắc tạo bức tượng đài người dân chài giữa đất trời lồng lộng gió với hình khối, màu sắc và cả hương vị không thể lẫn. Bức tượng đài nồng thở vị xa xăm – vị muôi mặn mà của biển khơi, của những chân trời tít tắp mà họ thường chinh, phục. Chất muối mặn mòi ấy ngấm vào thân hình người dân chài quê hương, thấm dần trong thớ vỏ chiếc thuyền hay đã ngấm sâu vào làn da thớ thịt, vào tâm hồn Tế Hanh để thành niềm cảm xúc bâng khuâng, kì diệu. Một tâm hồn như thế khi nhớ nhung tất chẳng thể nhàn nhạt, bình thường. Những hình ảnh của quê hương đã thành kỉ niệm ám ảnh, vẫy gọi: Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá – câu thơ cuối cùng cho ta rõ thêm tâm hồn thiết tha, thành thực của Tế Hanh. Quê hương của Tế Hanh đã cất lên một tiếng ca trong trẻo, nồng nàn về cái làng vạn chài từng ôm ấp, ru vỗ tuổi thơ mình. Bài thơ đã góp phần bồi đắp cho mỗi người đọc chúng ta tình yêu quê hương thắm thiết. Luyện Tập Đề 1. Em hãy nhận xét về tình cảm của Tế Hanh trong bài thơ Quê hương. Đề 2. Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh. Đề 3. Tình yêu quê hương, đất nước của Tế Hanh được thể hiện như thế nào trong bài thơ Quê hương? Đề 4: Tìm hiểu tâm hồn Tế Hanh qua bài thơ Quê hương của ông. Đề 5: Nêu cảm nghĩ về bài thơ Quê hương của nhà thơ Tế Hanh. Nguồn:
Nhà thơ Tế Hanh đã gửi gắm nỗi niềm của mình hết sức sâu đậm vào bài thơ Quê hương. Qua bài thơ, em hãy chứng minh
777
Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp? Lấy ví dụ thực tế để chứng minh. Hướng dẫn lập dàn ý 1 1.Mở bài: – Câu thơ: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? trích từ bài Một khúc ca của nhà thơ Tố Hữu, sáng tác năm 1979, sau khi đất nước hòa bình thông g nhất được bốn năm. – Trong hoàn cảnh cả dân tộc hăng hái bắt tay vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc thì mọi người cần phải có quan điểm sống đúng đắn. Xã hội không chấp nhận lối sống cá nhân ích kỉ. 2.Thân bài: a. Giải thích: Thế nào là sống đẹp? – Quan niệm sông đẹp của dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn xưa. Đó là nếp sống trong sạch, thanh cao, nhân ái. – Ở thế kỉ XV, Nguyễn Trãi cũng nêu cao quan điểm sống đẹp: Tiên thiên hạ chi ưu, nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc. (Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ). -Ở thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động, khuyến khích và cổ vũ phong cách sống: Mình vì mọi người, mọi người vì mình. Bản thân Bác là tấm gương tuyệt vời cho nhân dân noi theo. b. Chứng minh – Bằng cuôc đời phấn đấu, hi sinh vì nước, vì dân của Bác. -Bằng tinh thần yêu nước, quyết chiến quyết thắng của tuổi trẻ Việt Nam thời đánh Mĩ. -Bằng các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời bình, (Nêu một số gương sáng tiêu biểu trong thực tế cuộc sống). 3.Kết bài: – Sống đẹp là quan điểm sống đúng đắn, đáng ca ngợi. -Ai cũng cố gắng sống đẹp thì đất nước sẽ phát triển rất nhanh. Hướng dẫn lập dàn ý 2 1. Mở bài – Giới thiệu, dẫn dắt để nêu vấn đề + Trực tiếp: nêu ngay câu thơ của Tố Hữu và nội dung, mục đích của câu thơ. + Gián tiếp: lựa chọn lối sống là vấn đề vô cùng khó khăn, đặc biệt đối với bạn trẻ. + Phản đề: nêu thực trạng một bộ phận thanh thiếu niên sống ích kỉ, trục lợi. – Nêu vấn đề: vấn đề sống đẹp mà câu thơ của Tố Hữu đưa ra là vấn đề mỗi con người cần nhận thức và rèn luyện một cách đúng đắn, tích cực. 2. Thân bài a. Giải thích nội dung, ý nghĩa câu thơ của Tố Hữu. Ý nghĩa câu nói: con người sống phải có ước mơ, lí tưởng và khát vọng lớn lao, để hoàn thiện nhân cách, năng lực giúp mình, giúp đời. – Câu thơ của Tố Hữu viết dưới dạng một câu hỏi, nêu lên vấn đề sống đẹp trong cuộc sống mỗi con người. – Sống đẹp là một đòi hỏi tất yếu của loài người từ khi xã hội xuất hiện nền văn minh, văn hóa. ' – Sống đẹp: sống có ý nghĩa, sống có ích cho cộng đồng, quốc gia dân tộc, sống khẳng định năng lực bản thân, giá trị của mỗi cá nhân; sống khiến người khác cảm phục, yêu mến, kính trọng, noi theo; sống với tâm hồn, tình cảm nhân cách, suy nghĩ khát vọng chính đáng, cao đẹp. – Câu thơ của Tố Hữu là lời chất vấn, thực chất là lời nhắc nhở định hướng con người cần rèn luyện cách sống đẹp. b. Biểu hiện của lối sống đẹp – Sống có lí tưởng, mục đích đứng đắn, cao đẹp: + Sống tự lập, có ích cho xã hội. + Sống biết dung hòa lợi ích bản thân và cộng đồng. + Sống có ước mơ, khát vọng, hoài bão vươn lên, khẳng định giá trị, năng lực bản thản. – Sống có tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu: + Sống hiếu nghĩa với người thân. + Quan tâm, yêu thương, chia sẻ với những người xung quanh. + Dũng cảm, lạc quan, giàu ý chí, nghị lực. + Không chạy theo lối sống lập dị, không phù hợp với truyền thống, thẩm mĩ, văn hóa dân tộc. – Sống không ngừng học hỏi, mở mang trí tuệ, bồi bổ kiến thức: + Học để biết, để có kiến thức về các lĩnh vực xã hội, để khám phá chính mình. + Học để sống có văn hóa, tiến bộ. + Học để làm, để chung sống, để khẳng định chính mình. – Sống phải hành động lương thiện, tích cực: + Không nói suông mà phải có hành động cụ thể để chứng tỏ lối sống đẹp. + Hành động cần có tính xây dựng, tránh vì lợi ích cá nhân mà gây bất lợi cho lợi ích tập thể. c. Phê phán quan niệm và lối sống không đẹp. – Thói ích kỉ, vụ lợi không những làm cho con người nhỏ nhen, ti tiện, vô cảm mà còn gây những hậu quả xấu cho xã hội: như nạn tham ô, phạm pháp, – Thói sống buông thả, tùy tiện, thiếu lí tưởng dẫn đến tình trạng tha hóa nhân cách, sống vô nghĩa, không có mục đích, vô giá trị, sống thừa. – Thói lười nhác trong lao động, học tập dẫn đến ngu dốt, thiếu kí năng sống, kĩ năng ỉàm việc và quan hệ xã hội. – Sống vô cảm, thiếu tình yêu thương, lòng trắc ẩn … dẫn đến cô độc, thiếu tính nhân văn. d. Phương hướng rèn luyện lối sống đẹp. – Tích cực học tập trong cuộc sống, lịch sử, sách vở. – Xác định mục đích sống rõ ràng. – Rèn luyện đạo đức, tinh thần lao động, mở mang tri thức. 3. Kết bài – Khẳng định ý nghĩa tích cực của lối sống đẹp. + Sống đẹp là chuẩn mực cao nhất của nhân cách con người, là tiêu chí đánh giá giá trị con người.. + Câu thơ của Tố Hữu có ý nghĩa nhắc nhở, gợi mở về lốì sống đẹp, nhất là cho thế hệ trẻ ngày nay. Bài làm tham khảo Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp? Lấy ví dụ thực tế để chứng minh. Nhà thơ Tố Hữu sáng tác bài Một khúc ca vào mùa xuân năm 1979, sau bốn năm đất nước sạch bóng quân thù, cả dân tộc đang háo hức bắt tay vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, thống nhất. Sau ba mươi năm chiến tranh, mất mát, đau thương là vô cùng to lớn. Khó khăn, gian khổ trùng trùng trước mắt lại tiếp tục thử thách ý chí, nghị lực của mỗi con người. Để có thể đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, cần phải có một sức mạnh phi thường được tạo nên từ tinh thần đoàn kết, nhất trí của toàn dân tộc. Trong hoàn cảnh ấy, quan điểm sống cá nhân ích kỉ không thể tồn tại. Câu hỏi mà Tố Hữu đặt ra trong bài thơ khiến chúng ta phải băn khoăn suy nghĩ: Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Vậy thế nào là sống đẹp? Quan niệm sống đẹp của dân tộc Việt Nam đã có tự ngàn xưa. Lối sống nề nếp, thanh cao: Giấy rách phải giữ lấy lề; Đói cho sạch, rách cho thơm; Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn… của người lao động chính là sống đẹp. Nguyễn Trãi cách đây sáu thế kỉ cũng đã nêu cao quan điểm sống tích cực: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc, tức là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Suốt đời, ông canh cánh bên lòng lí tưởng phấn đấu và cống hiến cho đất nước được thái bình, dân chúng được ấm no, để những chốn thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu. Đến thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa thế giới – đã kế thừa và phát huy cao độ quan điểm sống đẹp ấy và Bác đã cụ thể hóa thành một câu giản dị, dễ hiểu nhưng lại mang ý nghĩa sâu sắc của một chân lí: Mình vì mọi người, mọi người vì mình, vế: Mình vì mọi người Bác Hồ đặt lên trước, vế: mọi người vì mình đặt ở sau là có ý nhấn mạnh mỗi cá nhân phải nhận thức được rằng có cống hiến rồi mới được hưởng thụ; hãy nghĩ đến nghĩa vụ trước rồi mới nghĩ đến quyền lợi sau. Bác Hồ lấy chính bản thân mình để làm gương. Suốt một đời Bác hi sinh, cống hiến cho dân, cho nước. Khi đã ở cương vị cao nhất là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ,Cộng hoà, Bác vẫn khẳng định: Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là dân ta ai cũng được tự do, no ấm, ai cũng được học hành. Cuộc sống đạm bạc, thanh khiết, mẫu mực của Bác Hồ có sức thuyết phục rất lớn. Cả dân tộc tin tưởng và kính yêu Người. Sau khi Bác đã lên đường theo tổ tiên, nhà thơ Tố Hữu khóc Bác bằng những vần thơ vô cùng xúc động: Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi Năm canh bớt nặng nỗi thương đời Bác ơi, tim Bác mênh mông thế Ôm cả non sông, mọi kiếp người… Bác sống như trời đất của ta Yêu từng ngọn lúa mỗi cành hoa Tự do cho mỗi đời nô lệ Sữa để em thơ, lụa tặng già… Bác để tình thương cho chúng con Một đời thanh bạch, chẳng vàng son Mong manh áo vải, hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. Trước đây, theo lời Bác dạy, hàng triệu thanh niên miền Bắc đã tạm xa đồng ruộng, nhà máy, trường học để nắm chắc cây súng, lên đường chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu: Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai. (Tố Hữu) Mĩ cút, ngụy nhào, non sông ta liền một dải, cả dân tộc tay trong tay đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam mới ngày càng phát triển. Tuổi trẻ lại một lần nữa xung phong vào những trận tuyến nóng bỏng của cuộc sống để góp phần xóa đi dấu tích chiến tranh, thay đổi bộ mặt đất nước, nâng cao cuộc sống nhân dân. Coi nhẹ quyền lợi của bản thân, coi trọng quyền lợi tập thể sống có lí tưởng, hoài bão đúng đắn, sẵn sàng cống hiến sức lực, tài năng cho sự nghiệp chung của dân tộc – đó là sống đẹp. Xung quanh ta có rất nhiều gương sáng chứng minh cho quan điểm sống mình vì mọi người. Một cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Mĩ, nay tuổi đã ngoài sáu mươi, nguồn Sống duy nhất là số lương hưu ít ỏi mà vẫn ngày ngày viết thư, thông báo tin tức cho thân nhân của những liệt sĩ còn nằm rải rác ở khắp các chiến trường, để các liệt sĩ được trở về yên nghỉ trên mảnh đất quê hương. Chị Tư Hồng, một y tá quân y sau hòa bình đã bỏ công sức gần hai mươi năm để đi tìm hài cốt đồng đội. Chị đã mang lại niềm vui cho hàng trăm gia đình liệt sĩ. Công việc chị làm hoàn toàn tự nguyện, tự giác, xuất phát từ lòng nhân ái, từ tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng, sống như chị là sống đẹp. Có thể kể thêm những tấm gương sống đẹp khác như chị Hướng Dương, bị tai nạn cụt cả hai chân vẫn không bi quan, chán nản, vẫn vươn lên bằng nghị lực mạnh mẽ để trở thành người có ích cho đời. Chị đã lập ra thư viện sách nói để phục vụ các em học sinh khiếm thị. Các em coi chị Hướng Dương là cô Tiên đã đem ánh sáng tinh thần đến cho những người tưởng chừng suốt đời phải sống trong bóng tối. Hay như chị Trịnh Tiểu Hương – một trẻ bụi đời năm xưa – nay đã trở thành người mẹ hiền của hàng trăm trẻ mồ côi, bất hạnh. Tất cả mọi suy nghĩ, hành động của chị đều xuất phát từ một mục đích: đem lại tình thương yêu và niềm tin cho các em trong cuộc sống. Gần hơn nữa, cụ thể hơn nữa là sự chia sẻ của nhân dân cả nước đối với đồng bào các vùng bị thiên tai, bão lụt. Một miếng khi đói bằng một gói khi no; Lá lành đùm lá rách… Dẫu chỉ là một vài chục ngàn của bác xích-lô, em học trò, chị buôn gánh bán bưng… hoặc vài chục, vài trăm triệu của những nhà doanh nghiệp lớn, nhưng tất thảy đều đáng quý vì nó chứng minh cho truyền thống nhân ái – một lối sống đẹp của dân tộc Việt Nam. Xin trích hai đoạn thơ cũng trong bài Một khúc ca của nhà thơ Tố Hữu để kết thúc bài viết này: Nếu là con chim, chiếc lá Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không có trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình? Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Bữa cơm dù dưa muối đầy vơi Chân lí chẳng bao giờ đổi bán Tình thương vô hạn để cho đời. Nguồn:
Nhà thơ Tố Hữu viết_ Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn_ Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp_ Lấy ví dụ thực tế để chứng minh.
2,235
Nhà văn Nguyễn Bá Học có nói: Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Em hãy giải thích và chứng minh câu nói trên Hướng dẫn Nhà văn Nguyễn Bá Học có nói: Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Em hãy giải thích và chứng minh câu nói trên Bài làm Để mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình hơn, rèn luyện được tính tự lập, và ý chí thép để đối mặt với mọi khó khăn. Còn những ai chưa bao giờ đối mặt với khó khăn thì phải tự mình rèn luyện cho mình có một ý thức vươn lên và vượt qua thử thách. mỗi người phải có nghị lực sống để vượt qua tất cả, “nghị lực sống sẽ mở ra cho chúng ta những con đường đi đến thành công!”. Được sinh ra trên đời là một diễm phúc đối với mỗi con người. Thế nhưng để tồn tại và sống cho đúng nghĩa, con người luôn phấn đấu để thật sự “thành người” là cả một quá trình đấu tranh. Đế nói về một quan niệm sống cần phải có nghị lực, ý chí, Nguyễn Bá Học có một đúc kết thật hay: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Cuộc sống ngày một phát triển với nhiều điều mới mẻ, thôi thúc ta tìm kiếm và vươn tới tầm cao của sự hiểu biết,nhưng điều đó không phải dễ dàng vì để đạt được những ước mơ và khát vọng đó, con người phải vượt qua nhiều thử thách, gian nan. Lời khuyên nêu lên hai hình ảnh trở ngại trên một con đường, đó là “núi sông” và “lòng người ngại núi e sông”. Trước hết, con đường là hình tượng cụ thể hóa mục đích của con người. Để đạt được mục đích ấy, nhiều khi ta phải vượt qua núi cao, sông sâu. Nếu quyết tâm, ta vẫn phải ta vẫn phải tới đích an toàn. Suy rộng ra, đường đi là hình ảnh ẩn dụ với mọi ước mơ mà con người muốn đạt đến. sông núi ở đây,chỉ những trở ngại to lớn hoàn cảnh khách quan, lòng người ở đay chỉ ý chí của con người. Như vậy, ý trọng tâm của câu nói là: sức mạnh của ý chí con người có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách dù khó khăn đó to lớn đến chừng nào. Câu nói đã mở ra cho ta suy nghĩ về nghị lực sống. Nếu ta xem cuộc đời này là một con đường dài thì những khó khăn thử thách sẽ là những ngọn núi cao, những con sông dài bắt buộc chúng ta phải vượt qua. Nhưng dù cho sông có dài núi có cao thì khi con người có ý chí, nghị lực sống thì chắc chắn sẽ vượt qua được. Ta có thể hiểu nghị lực sống là những cố gắng quyết tâm vượt qua những thử thách trước mắt. Trái lại, khi chúng ta làm một công việc tuy là không khó khăn nhưng với bản chất lo sợ thất bại thì công việc đó sẽ không đi đến thành công. Là người dân Việt Nam, ai cũng biết đất nước mình trải dài mấy ngàn cây số, lại nhiều núi lắm sông nên việc đi lại không dễ dàng. Núi cao, sông sâu luôn luôn là những trở ngại ngăn bước con người. Chẳng thế mà cha ông ta đã từng ao ước sông rộng một gang, đã từng than núi cao chi lắm núi ơi… Núi, sông là hình ảnh tượng trưng cho những thách thức, khó khăn trong cuộc đời. Vì thế, câu nói của Nguyễn Bá Học có nhiều ý nghĩa. Ông đã dặn dò lớp trẻ rằng trên con đường ta đi nhiều khi phải vượt qua núi cao, sông sâu, nghĩa là sẽ gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nếu quyết tâm thì vẫn tới đích Ý chí không chỉ giúp ta chiến thắng thiên nhiên mà còn giúp dân tộc ta chiến thắng kẻ thù xâm lược. Vì thế, sức mạnh của ý chí là sức mạnh giúp ta vượt qua mọi cam go thử thách để đi đến thành công. Ước mơ ngày càng cao đẹp, thì khó khăn càng nhiều mà khó khăn càng nhiều thì đòi hỏi ý chí càng cao. Có vượt qua hết gian lao thử thách thì ta mới thấy được gái trị của sự thành công.
Nhà văn Nguyễn Bá Học có nói_ Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Em hãy giải thích và chứng minh câu nói trên
777
Nhà văn Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Số đỏ Hướng dẫn Cuộc đời của Vũ Trọng Phụng Vũ Trọng Phụng ( 1912 – 1939) tại Hà Nội, trong một gia đình nghèo. Ông quê ở làng Hào, huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên. Vũ Trọng Phụng mồ côi cha rất sớm, người bố mất khi Vũ Trọng Phụng mới 7 tháng tuổi; người mẹ làm nghề khâu vá thuê, tần tảo nuôi con ăn học, 15 tuổi, Vũ Trọng Phụng đỗ bằng Tiểu học: nhưng vì nghèo túng nên phải thôi học để đi làm kiếm sống. Ông đã từng làm thư kí bán hàng rồi đánh máy chữ ở nhà in. Nhưng ở cả hai nơi, ông đều sớm bị sa thải. Từ đó, Vũ Trọng Phụng chuyển hẳn sang nghề viết văn, làm báo và sống bấp bênh, vật chất bằng nghề bạc bẽo đó. Ngày 13/10/1939, Vũ Trọng Phụng qua đời vì bệnh lao trong cảnh nghèo túng, để lại người vợ trẻ và đứa con nhỏ chưa đầy 1 tuổi. Vũ Trọng Phụng tiếp xúc với hai loại người chủ yếu: + Giàu có nhưng độc ác, bất nhân, vô đạo đức + Dân nghèo, nhưng là tầng lớp dưới đáy xã hội: lưu manh, ma cô, gái điếm,… Vũ Trọng Phụng viết sớm, viết nhiều và nhanh chóng nổi tiếng. Ông viết đủ các thể loại: bao gầm cả truyện ngắn, phóng sự, tiểu thuyết, kịch nói, phê bình văn học, bình luận thời sự chính trị, dịch thuyết,… Nhưng ông đặc biệt thành công hơn ở hai thể loại: phóng sự và tiểu thuyết. Ông được báo chí đương thời gọi là ông vua phóng sự Bắc Kì. Tư tưởng sáng tác của Vũ Trọng Phụng nhiều mâu thuẫn phức tạp. Khi ông còn sống, cũng như sau này, có không ít ý kiến đánh giá khác nhau về ông. Song có thể nói, điểm nổi bật nhất trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng là tiếng nói căm hờn mảnh liệt cái xã hội thực dân phong kiến tư sản hết sức bất công, tàn bạo, thối nát. Cái xã hội mà ông gọi là “khốn nạn”, “chó đểu” và ông khát khao thay đổi nó từng ngày, từng giờ. Vũ Trọng Phụng cũng viết về cuộc sống của những người dân nghèo ở thành thị. Tuy nhiên, do hoàn cảnh sống và điều kiện tiếp xúc, Vũ Trọng Phụng chưa hiểu biết nhiều về cuộc sống người lao động. Vì vậy, ông thường hoài nghi, bi quan về con người và có nhiều sáng tác chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự nhiên. Thủ pháp nghê thuật trào phúng được sử dụng chủ yếu để phê phán, lật mặt trái xấu xa của chế độ xã hội thực dân phong kiến và sự ác độc, bất nhân, vô đạo đức của tầng lớp người giàu có của những kẻ trưởng giả cơ hội, học đòi. Sự nghiệp văn học: Vũ Trọng Phụng mất mới 27 tuổi. Trong đời văn ngắn ngủi, chưa đầy 10 năm cầm bút, ông đã để lại khoảng 20 tác phẩm với đủ mọi thể loại. Những tác phẩm chính của ông. * Tiểu thuyết: Dứt tình (1934) Số đỏ ( 1936) Làm đĩ ( 1936) Vỡ đê ( 1936) Giông tố (1936) Lấy nhau vì tình (1937) Trúng số độc đắc (1938) * Kịch nói: Không một tiếng vang (1931)
Nhà văn Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Số đỏ
553
Nhân dân ta có câu tục ngữ: Có công mài sắt có ngày nên kim. Em hãy chứng minh câu tục ngữ trên. Hướng dẫn Trong lao động, người ta cần nhắc tới đầu tiên chính là nhà bác học Lương Định Của. Mặc dù là nhà bác học, nhưng để lai tạo thành cônggiống lúa mới có năng suất cao, có khả năng chống được sâu rầy, ông làm việc vất vả cực nhọc không khác gì người nông dân đầu tắt mặt tối. Trong đời sống hằng ngày của chúng ta, việc lao động, học tập và nghiên cứu thường gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Trong đó trở ngại khó khăn lớn nhất, theo ý kiến của nhiều người ấy là sự thiếu kiên trì, nhẫn nại trong công việc. Để động viên tất cả mọi người vượt khó, vươn lên đạt thành tựu, nhân dân ta từ xưa đã khích lệ nhau bằng lời tục ngữ quen thuộc: “Có công mài sắc có ngày nên kim”. Điều này trong thực tế, với nhiều tấm gương lao động, học tập và nghiên cứu đã thành đạt cho phép chúng ta khẳng định câu tục ngữ trên là hoàn toàn đúng. Để dễ thuộc, dễ nhớ, dễ lưu truyền, cha ông chúng ta thường đúc kết kinh nghiệm của mình lại thành những câu văn cô đọng, hàm súc. Ở đâycũng thế, tác giả dân gian đưa ra hình ảnh cụ thể là một thỏi sắt đen sì, thô cứng. Nếu có công mài lâu ngày thì nhất định sẽ trở thành một cây kim nhỏ sáng bóng, hữu dụng. Câu này nhằm nhắn nhủ chúng ta phải hết sức kiên trì, nhẫn nại như một người cứ ngồi ngày này qua ngày khác mài mãi một thỏi sắt cho thành cây kim thì nhất định sẽ đạt đến thành công lớn lao, mĩ mãn trong công việc của mình. Chân lí ấy, Bác Hồ kính yêu sau này cũng đã khẳng định thành một bài học cho thanh thiếu niên ta: Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên Ngay trong thực tế đời sống đã có biết bao gương sáng trên nhiều lĩnh vực là những bằng chứng sinh động, hùng hồn làm sáng tỏthêm bài học ấy. Trong lĩnh vực học tập, là học sinh hẳn chúng ta đều biết đến tấm gương sáng của anh Nguyễn Ngọc Kí. Tuy bị liệt cả haitay từ nhỏ, không thể nào cầm bút được, nhưng anh vẫn đến trường, kiên trì luyện tập viết bằng chân. Những năm tháng âm thầm bền bỉ khổ luyện đã giúp anh viết đẹp, vẽ đẹp, học lên đến đại học, tốt nghiệp trường sư phạm. Sau nhiều năm phấn đấu, anh đã trở thành thầy giáo dạy học giỏi và viết văn hay. Trong lĩnh vực hoa học kĩ thuật, có biết bao nhiêu nhà bác học cặm cụi hết ngày này sang ngày khác trong phòng thí nghiệm, tổn hao nhiều công sức lẫn thời gian, làm đi làm lại hàng trăm nghìn lần trên một thí nghiệm để đi đến những sáng chế phát minh giúp ích cho mọi người. Chúng ta dễ gì quên tên tuổi những Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của, Tôn Thất Tùng… Bài học về sự kiên trì nhẫn nại cũng đã được chứng minh với trường hợp nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn. Để có được thành công rạng rỡ là giải nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế Sô-panh, anh cũng đã trải qua biết bao công phu khổ luyện miệt mài từ những ngày khó khăn trong chiến tranh phải đi sơ tán, tránh bom đạn Mĩ cho đến khi được đưa đi học ở nước bạn. Một nhà văn phương Tây cho rằng thiên tài chỉ có một phần trăm là năng khiếu bẩm sinh, còn chín mươi chín phần trăm là sự kiên nhẫn lâu dài. Ởnước ta, ngày xưa, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu đến Nguyễn Khuyến, Tản Đà, ngày nay, từ Nguyễn Tuân đến Xuân Diệu… Cây bút nào cũng như nhau, dùi mài cần mẫn, đêm đêm thao thức bên đèn, trước trang giấy trắng, chú tâm kiếm tìm từng chữ, từng câu,dập dập, xóa xóa bao lần viết đi viết lại mới có được nhưng hình tương văn học đặc sắc làm rung động lòng người. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng chính nhờ lòng kiên trì nhẫn nại, chịu dựng gian khổ, hiểm nguy, thiếu thốn trước cuộc kháng chiến trường kì chín năm ròng rã mà nhàn dân ta đã làm nên một chiến thắng Điện Biên lững lấy: “Chín năm làm một Điện Biên, Nên vành hoa đó nên thiên sứ vàng” (Tố Hữu). Sau đó nhân dân cả nước lại phải kiên trì bền bí gánh chịu vô vàn hi sinh, mất mát trong bom đạn chiến tranh, cuối cùng đã đánh được “Mĩ cút ngụy nhào” “toàn thắng đã về ta” thống nhất đất nước vào mùa xuân 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Làm sao kể hết những dẫn chứng có thểtìm thấy dễ dàng trong thực tế cuộc sống và lịch sử của dân tộc ta. Cũng do tính phổ biến trong mọi lĩnh vực đời sống mà bài học quý đó được văn học thể hiện dưới nhiều hình thức sinh động khác nhau. Có khi dưới dạng là các câu tục ngừ, ca dao diễn đạt cụ thể, có đúc và gợi cảm: “Nước chảy đá mòn”, “Kiến tha lâu cùng đầy tổ” hay “Cóng lênh chẳng quản bao lâu. Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng”. Trong áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cũng từng nhắc đến bài học quý giá này, nêu bặt tấm gương bền lòng trì chí của người anh hùng dấy nghĩa đất Lam Sơn: Đau lòng nhức óc chốc đà mười mấy năm trời Nếm một nằm gai há phải một hai sớm tối. (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi) Năm 1942, bị chính quyền Tương Giới Thạch giam cầm một cách bất ngờ và vô lí, Bác Hồ trải qua kinh nghiệm của mình cũng đã đúc kết: Kiên trì và nhẫn nại Không chịu lùi một phân Vật chất tuy gian khổ (Nhật kí trong tù – HồChi Minh) Gạo đem vào giã hao đau đớn Gạo giã xong rồi tráng tựa bông Sống ởtrên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công. (Nhật kí trong tù – HồChí Minh) Như thế, có thểnói bài học về kiên trì nhẫn nại nhất định dễ dẫn đến thành công là bài học không riêng của ai và của một thời nào. Ngay đối với bản thân em cũng thế, bài học lớn này nhắc nhở mình phải luôn luôn rèn luyện ý chí trong cuộc sống hằng ngày, không nôn nóng, chán nán khi gặp khó khăn, trở ngại trong học tập hay làm bất cứ một công việcgì. Cũng chính nhờ những tấm gương sáng vừa phân tích bên trên mà em hiểu được phải có quyết tâm cao mới đem lại kết quả mong muốn trong việc làm của mình, phải biết cố gắng từ sớm thì mới có thể đạt được những thành công rực rỡ sau này. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt có ngày nên kim. BÀI LÀM Ông cha ta ngày trước thật tài tình khi đúc kết những kinh nghiệm vốn sống quý báu trong những câu tục ngữ vô cùng ngắn gọn, hàm súc. Một bài học đầy ý lưu giữ và truyền dạy qua câu tục ngữ: “Có công mài sắt có ngày nên kim” Chân lí ngàn đời cô đọng ở những hình ảnh tượng trưng quen thuộc gần gũi. Ta hãy tưởng tượng: một thanh sắt rắn chắc, cứng cáp, thô sơ được mài giũa trở thành cây kim nhỏ bé hữu ích. Đó là cả một sự cốgắng nỗ lực và kiên trì phi thường. Cây kim tuy nhỏ bé nhưng lại có ích hơn là thanh sắt xù xì, thô ráp kia. Song, để có được thành quả đáng trân trọng này, người thợ đã phải đổ biết bao mồ hôi công sức. Vậy cái gì làm nên sức mạnh giúp người đó hoàn thành công việc khó khăn tưởng như không thể làm nổi? Chính nhờ lòng kiên trì, nhẫn nại, sự bền bỉ cố gắng không mệt mỏi mà cây kim ấy ra đời. Câu tục ngữ mang lời răn dạy, lời khuyên nhủ chân thành mà người đời trước muôn để lại cho người đời sau. Chỉ cần bền chí, giàu nghị lực thì dù việc có khó khăn tới đâu cũng có thểvượt qua và hoàn thành xuất sắc. Những tấm gương sáng trong thực tế cuộc sống đã chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ. Những người như chúng ta, đầy đủ chân tay thì việc viết chỉ bằng tay không thuận còn là cả vấn đề. Vậy mà thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí vì ham học, đã quyết tâm tập viết chữ bằng chân khi hai tay bị liệt. Con người cần hàng triệu năm để tiến hóa từ vượn thành người và họ cũng mất từng đấy thời gian cho việc sử dụng thành thạo đôi tay trong học tập, lao động. Nhưng Nguyễn Ngọc Kí đã lập nên kì tích, đã tạo ra điều kì diệu ngay giữa cuộc sống đời thường. Những nét chữ đầu tiên thực sự khó khăn. Song với ý chí và nỗ lực phi thường, thầy tiếp tục con đường mình đã chọn. Giờ đây, Nguyễn Ngọc Kí trở thành nhà giáo ưu tú dạy dỗ nhiều thế hệ học trò, là tấm gương quen thuộc với học sinh chúng ta. Đôi bàn chân này làm nhiệm vụ của đôi chân, và của cả đôi bàn tay khéo léo. Đó là những tấm gương về lòng kiên trì bền bỉ ở nước ta. Còn biết bao tấm gương trong chiến đấu, trong thểdục thể thao, trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật… ta chưa có dịp nhắc tới. Bên cạnh đó, nhìn ra thế giới, ta thấy vô vàn những tấm gương đáng học tập. Ai cũng biết tới vợ chồng hai nhà khoa học người Pháp Pierre Curie và Marie Curie. Suốt4 năm ròng rã, họ đã kì công lọc đi lọc lại vô số lần trong 8 tấm quặng để tìm 1/10 gram chất phóng xạ radium. Qua việc phát hiện ra một nguyên tốhóa học, chúng ta mới phần nào hình dung ra sự kiên trì bền bỉ vô cùng mãnh liệt khi nghiên cứu phát minh một thành tựu phục vụ xã hội loài người. Oan – Đi-xnây được cả thế giới biết đến, đặc biệt là các em nhỏ vì sáng tạo ra nhân vật hoạt hình nổi tiếng, sáng lập ra công viên giải trí khổng lồ Đi-xnây-len. Nhà làm phim hoạt hình, nhà kinh doanh tài ba ấy từng bị tòa báo sa thải vì thiếu ý tưởng, từng nếm mùi phá sản bao lần trước khi thành công. Chỉ có lòng kiên nhẫn, bền bỉ mới khiến con người liên tiếp thất bại trở thành những người thành danh khắp thế giới. Lời khuyên của cha ông là bài học vào đời quý giá. Trước khi bắt tay vào công việc, trước khi từ bỏ ước mơ hoài bão của mình, ta hãy nghĩ tới thanh “sắt” và cây “kim”. Chúng ta phải biết tự rèn luyện ý chí và nghị lực, rèn luyện đức tính kiên trì mới mong đạt tới thành công.
Nhân dân ta có câu tục ngữ_ Có công mài sắt có ngày nên kim. Em hãy chứng minh câu tục ngữ trên.
1,938
Nhân dịp cùng bố mẹ đi thăm quan (hoặc du lịch), em đã được làm quen với một người bạn mới. Dù cuộc gặp gỡ thật ngắn ngủi nhưng tình bạn ấy vẫn là một kỷ niệm khó phai Gợi ý Tôi đã đi nhiều nơi: Đồn Hùng, cửa Lò, Tam Cốc, Phong Nha… Có lẽ cuộc du lịch Đồ Sơn tuy cảnh quan thiên nhiên không đẹp lắm so với các danh lam thắng cảnh tôi từng qua, nhưng nó đã để lại trong tôi một kỷ niệm khó phai. Nhân dịp chúc mừng tôi đạt giải ba học sinh giỏi cấp tỉnh, bố tôi đã quyết định tổ chức cho cả nhà tôi đi tham quan. Bố nói: – Mọi năm, nhà ta đã đi rất nhiều thắng cảnh rồi. Năm nay, bố sẽ cho nhà ta đi Đồ Sơn, cả nhà thấy thế nào? Cả nhà tôi đều đồng ý. Cái Trang, em gái tôi thắc mắc: – Thế Đồ Sơn có cái gì hay không, hả bố? Bố tôi trả lời: – Tất nhiên là phải có cái hay rồi, con cứ đi rồi sẽ biết, con gái yêu của bố ạ! Còn bây giờ, cả nhà sẽ đi ngủ để mai còn xuất hành sớm. – Vâng ạ! – Hai chị em tôi cùng đáp. Tối hôm đó, tôi cứ nghĩ mãi về câu hỏi của cái Trang rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng tôi nằm mơ thấy một ông Tiên đến nói với tôi rằng: “Con sẽ có một người bạn mới, con sẽ…” nhiều lần như vậy. – Con ơi, dậy đi thôi, sắp đến giờ khởi hành rồi. Tôi vùng dậy và cứ nghĩ mãi về câu nói của ông Tiên. Đúng năm giờ sáng, xe ô tô bắt đầu khởi hành đưa gia đình tôi đến Đồ Sơn. Mải nghĩ về câu nói của ông Tiên tôi chẳng để ý gì đến quang cảnh thiên nhiên bên ngoài cho đến khi mẹ gọi tôi xuống xe khi đã tới Đồ Sơn. Một cái biển to tướng đề mấy chữ: “Hoan nghênh quý khách tới Đồ Sơn”. Nhìn những bạn nhỏ cùng bố mẹ đang vui đùa giữa dòng nước biển nhấp nhô, tôi phát thèm liền nói với bố: – Bố ơi, đi tắm thôi. Thế là cả nhà tôi cùng đi thay đồ, thuê phao rồi nhảy xuống biển. Đang tắm giữa dòng nước mát lạnh, tôi bỗng nhìn thấy một bạn gái xinh xắn chừng bằng tuổi tôi, bạn không tắm mà đi gom những con ốc, con sò dưới biển cạnh bờ cát. Nhớ tới lời ông Tiên, tôi liền xin phép bố mẹ ra chỗ bạn và mong rằng lời ông Tiên là sự thật. Tôi từ từ tiến đến chỗ bạn gái đó, tuy hơi sợ nhưng tôi lại háo hức khi nghĩ rằng mình sẽ có một người bạn mới ở thắng cảnh này; đó là chuyện mà các chuyến du lịch khác không có. Tôi lại gần bạn và hỏi: – Xin chào bạn, mình tên là Yến, còn bạn tên gì? Bạn gái không khỏi ngỡ ngàng, nhưng vẫn trả lời tôi: – Dạ thưa chị, em tên là Mai. – Thế bạn bao nhiêu tuổi? Mai đáp lại bằng giọng nhỏ nhẹ: – Dạ thưa chị, em mười hai tuổi ạ! Tôi liền nói: – Thế thì chúng ta bằng tuổi nhau đó, bạn đừng xưng chị chị em em với mình. – Vâng,… vâng ạ! – Mai thản nhiên đáp như vậy. – Chúng ta kết bạn nha, có được không Mai? – Được, được ạ – Mai đáp với giọng vui vẻ. Thế rồi tôi và Mai nắm tay nhau đi tìm và thu gom các con sò và con ốc. Sau đó, chúng tôi xâu thành một chiếc vòng thật đẹp. Tôi bảo: – Bạn hãy giữ lấy để làm kỷ niệm, rồi sẽ có ngày chúng ta sẽ gặp nhau tại đây. Thôi mình phải ra chỗ bố mẹ rồi còn về ăn trưa. Mai kéo áo tôi lại và bảo: – Thôi chị cứ cầm lấy mà làm kỷ niệm, đằng nào thì chị cũng nhặt được nhiều hơn em. – Không, không, bạn cứ cầm lấy. – Không, không, chị cứ cầm lấy. Hai chúng tôi giằng co nhau mãi, cuối cùng tôi đành phải nhận. Tôi chào Mai rồi ra chỗ bố mẹ. Lúc gia đình tôi sắp ra về, tôi nhìn thấy Mai, trên tay cầm hai chiếc kem và chạy về phía xe, đưa cho hai chị em tôi. Rồi xe bắt đầu chạy, Mai vẫn đứng đó, vẫy tay chào tạm biệt tôi.
Nhân dịp cùng bố mẹ đi thăm quan (hoặc du lịch), em đã được làm quen với một người bạn mới. Dù cuộc gặp gỡ thật ngắn ngủi nhưng tình bạn ấy vẫn là một kỷ niệm khó phai
749
Đề bài: Nhân ngày 20-11 kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy cô giáo cũ Bài làm Trong những kí ức của tuổi thơ của mỗi người thì dường như ai ai cũng có những kỉ niệm đáng nhớ về một thời cắp sách đến trường. Đó chính là kỉ niệm về thầy cô bạn bè, và trong em cũng vậy, kỉ niệm về thầy cô sẽ không bao giờ nhạt phai theo năm tháng và nó chỉ ngày thêm tươi đẹp hơn mà thôi. Trong ngày 20 – 11 em cũng sẽ kể cho các bạn cùng nghe kỉ niệm đáng nhớ nhất của em trong những năm tháng học sinh thơ mộng. Em vẫn còn nhớ như nguyên đó chính là khi em còn học lớp một thì đã có được những kỉ niệm đẹp về cô giáo chủ nhiệm của em là cô Dịu lúc đó. Nói việc lên lớp một chính là một quãng rẽ trong cuộc đời của của em, rời xa mái trường mầm non thân yêu, rời xa những con búp bê, những chú gấu thân yêu để bắt đầu học chữ. Và đây thực sự là một thử thách đối với một cô bé mới 6, 7 tuổi như em lúc đó. Em không quên được trong chính ngày trọng đại ấy, đó cũng chính là những ngày tôi không bao giờ quên được trong suốt cuộc đời. Ngay sau buổi lễ khai giảng năm đó thì tất cả các học sinh chúng em cũng nhận được chỉ thị và đều bước vào lớp học của mình. Buổi học đầu tiên chính là để gặp gỡ, làm quen với những người bạn mới và với cô chủ nhiệm đó chính là cô Dịu. Cảm xúc vô cùng hồi hộp đó chính là lúc mà cô giáo chủ nhiệm của em bước vào. Cô có một dáng người thầy trông thật nhanh nhẹn và có vẻ hơi gầy gầy, cô cũng nhẹ nhàng và chào lớp chúng em. Nhìn cô trẻ lắm, lại còn hiền nữa. Cô giới thiệu cho chúng em cô tên là Dịu. Cô có mái tóc dài và khuôn mặt thầy gầy nhưng trông lại tươi trẻ lắm. Cô đứng trước bục giảng và bắt đầu cầm viên phấn viết “Buổi học đầu tiên”. Chao ôi! Nhìn bàn tay cô viết nét chữ mới đẹp làm sao. Để khuấy động phong trào cô đã ra hiệu cho cả lớp hát một bài. Lớp em nhanh chóng hòa vào nhịp điệu của bài hát và cũng quên đi vẻ lo lắng như trước. Cô còn cho chúng em làm quen với nhau thật tự nhiên, cô cho các bạn tự đứng lên giới thiệu. Nhân ngày 20-11 kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy cô giáo cũ Lúc đó em còn khá là nhút nhát, đứng lên còn gãi đầu gãi tai nữa, các bạn cười khiến em càng ngại hơn. Trong đôi mắt em buồn và hoảng hốt, nhanh chóng, cô Dịu đến bên em và nói rằng “Bạn run quá vì các con không cho bạn ý một tràn pháo tay động viên đó! Trước cô cũng run như bạn, không tự tin nên cứ đứng mãi như bạn, nhưng chỉ cần mọi người động viên bạn là bạn sẽ tự tin hơn nhiều”. Các bạn như hiểu ra được nhiều điều và cũng đã cho em một tràng pháo tay rầm rộ, có cô Dịu đứng bên cạnh em cảm nhận thấy tự tin hơn. Cô vỗ đôi vai nhỏ và nói với em tự tin lên! Từ đó em như thêm yêu quý cô giáo chủ nhiệm hơn. Ngày này em đến lớp em cũng không còn lo sợ nữa vì chính tình cảm thương yêu của cô cũng đã giúp cho em có thêm được sức mạnh. Em học tốt hơn, không tự ti nữa, rất nhiều các bạn trong lớp em cũng được cô truyền lửa cho, chúng em biết tự tin hơn, học tập tốt hơn. Cái vỗ vai động viên của cô giúp em bình tĩnh trong ngày đầu tiên đi học đó cũng chính là một trong những kỉ niệm đáng nhớ nhất. Minh Nguyệt
Nhân ngày 20-11 kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa mình và thầy cô giáo cũ
713
Đề bài: Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, hãy kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa em và thầy (cô) giáo cũ. Yêu cầu của đề: Đề bài yêu cầu kể lại một kỉ niệm đáng nhớ giữa em và thầy (cô) giáo cũ, vì thế, phải tùy theo hoàn cảnh cá nhân để lựa chọn một kỉ niệm giữa mình và thầy (cô) giáo cũ. Có thể là một kỉ niệm vui hoặc buồn nhưng đó phải là một kỉ niệm đáng nhớ, gây ấn tượng sâu sắc, khó quên, để qua đó có thể rút ra bài học bổ ích trong cuộc sống cho bản thân mình. Trong quá trình kể, cần kết hợp yếu tố tự sự với miêu tả và biểu cảm để bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình về thầy (cô) giáo đó. Cách triển khai bài viết có thể là trực tiếp giới thiệu câu chuyện định kể hoặc có thể tạo các tình huống để giới thiệu về thầy (cô) giáo. Kể câu chuyện trong quá khứ: thời gian, không gian, các sự việc, các nhân vật trong câu chuyện,… Đó là chuyện gì? Xảy ra với ai? Đã gây ra ảnh hưởng hoặc hậu quả như thế nào? (Kết hợp miêu tả chân dung, miêu tả nội tâm của nhân vật chính và bày tỏ suy nghĩ của bản thân mình đối với câu chuyện đã xảy ra đó). Vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học về ngôi kể, thứ tự kể phù hợp với nội dung câu chuyện. Bài làm Trong cuộc đời mỗi con người, nhất là với những ai đã và đang ngồi trên ghế nhà trường, hẳn phải có kỉ niệm sâu sắc với thầy (cô) giáo. Với tôi, một kỉ niệm làm tôi nhớ mãi và nó giúp tôi trưởng thành lên rất nhiều, đó là kỉ niệm về cô giáo chủ nhiệm lớp Năm của tôi. Hãy kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa em và thầy (cô) giáo cũ Hồi ấy, tôi là một học sinh ưu tú của lớp. Trong mắt chúng bạn, tôi luôn là một tấm gương học tập và kỉ luật. Các thầy, cô giáo cũng rất yêu quý tôi. Được bạn bè và thầy cô yêu mến, bản tính của tôi luôn pha chút kiêu ngạo cũng là điều dễ hiểu. Càng ngày, tôi càng thêm tự hào về mình. Phải cái tội nhà tôi quá nghèo. Bố tôi là bộ đội, ông đã nghỉ mất sức từ năm năm nay. Còn mẹ tôi chỉ là công nhân trong một xí nghiệp nhỏ. Dưới tôi còn có hai đứa em. Cũng có thể nói, bữa cơm gia đình tôi chỉ trông vào đồng lương ít ỏi của mẹ mà thôi. Đã có lúc, tôi định bỏ học, ở nhà kiếm việc làm thêm để đỡ đần cho gia đình nhưng bố tôi không cho, người ngăn cản tôi quyết liệt nhất là mẹ. Mẹ nói tôi phải cố gắng học thật giỏi, mai này đi làm, còn phải nuôi hai em ăn học đến nơi đến chốn. Tôi càng thương mẹ bao nhiêu, lại càng tự nhủ với minh, phải cố gắng học để không phụ lòng cha mẹ. Lần ấy là phiên tôi trực nhật. Cái bát bún riêu cứ lởn vởn trong tâm trí, khiến tôi bần thần cả người. Đang miên man, tôi chợt nhận thấy mình giẫm lên một thứ gì đó. Nhấc chân lên, hóa ra là cái khuyên tai bạc của bạn Lan đánh rơi. Tôi định mang đi trả nhưng mùi thơm và vị ngọt của bát bún riêu làm tôi lặng đi mấy giây. Nhà Lan giàu sụ, một chiếc khuyên tai này chắc chẳng đáng gì! Tôi tự an ủi mình bằng ý nghĩ ngây thơ ấy. Nhân lúc không có ai trong lớp, tôi nhẹ nhàng bỏ cái khuyên tai ấy vào túi quần, lặng lẽ tiếp tục công việc của mình. Giờ học bắt đầu. Đột nhiên, Lan hét toáng lên. Tôi biết thừa nguyên do nhưng cố tỏ vẻ hiếu kì và ngạc nhiên. Nó vừa thút thít vừa kể đầu đuôi sự việc. Biết tin, tổ trực nhật trong đó có tôi, đứng lên, đề nghị cô giáo và cả lớp cho kiểm tra cặp sách của từng bạn. Chẳng có lí do nào để từ chối, cô giáo tôi đồng ý. Và đương nhiên chiếc khuyên tai vẫn không được tìm ra, bởi nó đang nằm trong túi quần tôi. Bất chợt một đứa con gái lớp tôi bỗng nảy ra ý tưởng khám người. Ban đầu, cô tôi không đồng tình bởi cô nghĩ làm như vậy sẽ chẳng hay tí nào, nhất là đối với những bạn trong sạch. Đây là đôi khuyên tai do mẹ Lan tặng nó khi bác ấy còn sống nên ý kiến này được cả lớp tôi đồng tình và hưởng ứng. Ai ai trong lớp tôi cũng muốn làm mọi cách vừa để tìm lại chiếc khuyên tai cho Lan, vừa để chứng minh sự trong sạch của mình. Chỉ có tôi là chết điếng cả người. Vã mồ hôi hột, tôi lặng im không nói. Trong đầu tôi đang rối bời. Hay là tìm lí do ra ngoài như đau đầu phải lên y tế, vào toa lét,… để tránh không bị kiểm tra? Nhưng có lẽ tôi làm như vậy thì lại càng khiến mọi người nghi ngờ. Đến lượt tôi, cô vỗ mạnh vào vai tôi và nói: “Giơ tay lên con!”. Tôi cảm tưởng như tay tôi dang nâng khối đá nặng đến chục ki-lô-gam vậy, việc giơ tay lên thôi mà đối với tôi sao mà nặng nề đến thế. Cô khám tóc, áo, quần, giày,… Bất chợt, cô dừng tay lại ở túi quần tôi khoảng vài giây. Quãng thời gian đó với tôi tưởng chừng là một thế kỉ vậy. Tôi thấy lạnh cả sống lưng, mặt tôi trắng bệch, không còn giọt máu. Ánh mắt cô nhìn tôi đầy nỗi thất vọng, cái nhìn ấy chứa đựng một nỗi buồn da diết, khôn nguôi. Bỗng cô nở một nụ cười phúc hậu với tôi và nói thật to như để cả lớp nghe thấy: “Được rồi! Con có thể về chỗ của mình. Các bạn tiếp theo. Nhanh lên con!”. Bước qua ải, tim tôi đập loạn xạ. về chỗ ngồi mà tôi “tim đập chân run”, không dám nhìn cô. Cả tiết học hôm ấy, tôi chẳng chú tâm vào bài vở được. Tôi thấy lạ rằng sao lúc ấy cô không lật tẩy tôi mà lại bỏ qua cho tôi như thế. Rồi bao câu hỏi xoay quanh chiếc khuyên tai của Lan và bát bún riêu cứ chạy vòng quanh trong tâm trí tôi. Cuối giờ, cô bảo tôi ở lại: Giờ đây, sân trường im lặng, để sự tĩnh mịch ấy cho cuộc trò chuyện của hai cô trò tôi. Cô hỏi: “Sao em lại làm thế? Cô rất thất vọng về em!”. Không nói được gì, tôi bật khóc. Đây là lần đầu tiên tôi khóc trước mặt cô và cũng là lần đầu tiên tôi nói được ra những suy nghĩ ấm ức của mình bởi sự quyến rũ chết người mà bát bún riêu đưa lại, để tôi mắc một khuyết điểm động trời này. Giá như có khe hở nào dưới đất, tôi thề sẽ chui xuống đó ngay lập tức cho đỡ xấu hổ. Nói hết những gì trong lòng mình ấp ủ lâu nay, tôi như trút một gánh nặng. Rồi tôi xin lỗi cô, đưa cho cô chiếc khuyên tai kia và nói mong cô sẽ đưa trả tận tay cho Lan. Cô rút trong túi ra một tờ giấy bạc đưa cho tôi. Cô nói tôi hãy ăn một bát bún riêu thật ngon, cô bắt tôi hứa từ nay sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Cầm tờ bạc cô đưa, tôi ăn năn vô cùng và tự hỏi sao cô tốt bụng đến thế. Hôm sau, cả lớp tôi đều vui mừng thay cho Lan vì đã tìm được chiếc khuyên tai, hỏi ra mới hay bác bảo vệ đã nhặt được và đưa cho cô tối hôm qua. Cô nói đã thay mặt Lan cảm ơn bác bảo vệ và cô mong muốn cả lớp sẽ đoàn kết, nỗ lực hết sức chuẩn bị cho buổi kết nạp đội viên mới vào buổi sinh hoạt cuối tuần. Vậy là mọi chuyện đã kết thúc một cách êm đẹp qua sự khéo léo của cô giáo tôi. Buổi sinh hoạt diễn ra hết sức náo nhiệt trong không khí vui vẻ của cả lớp. Riêng tôi, qua sự việc vừa rồi, tôi đã nghiệm ra được một điều: sự no ấm không bao giờ xây dựng trên của cải của người khác mà phải do bàn tay mình tạo dựng. Như vậy, nó mới bền chặt và lâu dài. Tuy mọi thứ đã qua nhưng kỉ niệm về cô giáo chủ nhiệm lớp Năm vẫn im đậm trong trí tôi, nó đã đem lại cho tôi một cái nhìn đúng đắn về lẽ sống. Và cả cuộc đời này tôi sẽ không bao giờ quên được.
Nhân ngày 20-11, hãy kể cho các bạn nghe về một kỉ niệm đáng nhớ giữa em và thầy (cô) giáo cũ
1,546
Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều Nguyễn Du – Một vẻ đẹp làm mê mị lòng người Hướng dẫn Thực sự cách hành văn rất ấn tượng: súc tích không câu nệ mà lấy đủ ý, cảm ơn page đã đem tới một bài viết có thể gọi là ổn để cho học sinh tham khảo ^^
Nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều Nguyễn Du – Một vẻ đẹp làm mê mị lòng người
56
Nhận xét nghệ thuật tả người tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Hướng dẫn Nhận xét nghệ thuật tả người tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Nao nao dòng nước uốn quanh, Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Nhưng cũng tại nơi có nhịp cầu và nước chảy ấy, Thúy Kiều đã gặp gỡ Kim Trọng gặp nhau và lúc Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo” tác giả viết: Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Em cỏ nhận thấy dưới ngòi bút của thi nhân bức vẽ về một cảnh vật đã hiện lên không hoàn toàn giống nhau. Qua đó, hãy nhận xét nghệ thuật miêu tả của tác giả. Thiên nhiên luôn là đề tài gợi nhiều cảm xúc đối với các thi nhân. Đã có biết bao người lấy thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng của con người. Với Nguyễn Du cũng vậy, ông dùng thiên nhiên để miêu tả tâm trạng của nhân vật. Nhưng dưới ngòi bút của ông, bức vẽ về cùng một cảnh vật hiện lên không hoàn toàn giống nhau. Trong Truyện Kiều, khi miêu tả quang cảnh nơi mộ Đạm Tiên mà ba chị em Thúy Kiều đã gặp trong tiết Thanh mình. Nguyễn Du viết: Nao nao dòng nước uốn quanh, Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Dưới cầu hước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Nguyễn Du đều tả một khung cảnh nơi có nhịp cầu và dòng nước chảy nhưng bức vẽ thiên nhiên hiện lên lại hoàn toàn khác nhau. Lần thứ nhất là hình ảnh cảnh vật trên đường ba chị em Thúy Kiều du xuân trở về. Cảnh vật ấy mang dáng dấp nhỏ nhoi, bó hẹp và phảng phất nỗi buồn của sự lụi tàn: Nao nao dòng nước uốn quanh, Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Cái nao nao” của dòng nước, cái “nho nhỏ” của nhịp cầu đã gợi tả được những đường nét của cảnh vật. Dòng nước, nhịp cầu mang một tâm trạng chênh vênh. Dòng nước tâm tình chia sẻ ấy, nhịp cầu nên thơ như giấc mộng hiện lên ấy ru vỗ lòng người, làm dịu đi cái xôn xao từ ngày hội bước ra. Nhưng cái “nao nao” đó cũng là cảm giác bâng khuâng, xao xuyến của Thúy Kiều cảm nhận được một điều gì không hay sắp xảy ra với nàng. Và điều gì đến cũng phải đến: nấm mộ Đạm Tiên xuất hiện: Sè sè nấm đất bên đường Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh Nguyễn Du rất tài tình khi sử dụng các từ láy “sè sè”, “rầu rầu” để miêu tả nấm mồ Đạm Tiên. Vì thế mà người đọc không thể không hình dung ra được nấm mồ vô chủ chí cao hơn mặt đất một chút ở bên đường và ở trên là những ngọn cỏ úa vàng xen lẫn với màu xanh còn sót lại. Nhưng những hình ảnh đó không chi miêu tả nấm mồ Đạm Tiên mà còn miêu tả tâm trạng nàng Kiều, trước số phận một con người tài hoa bạc mệnh, một cô gái có nhan sắc nhưng phải sống cảnh đời bất hạnh chốn lầu xanh. Phải chăng tất cả cũng báo trước một số phận không lấy gì làm sáng sủa của Kiều. Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha Cũng trong buổi chiều du xuân trở về, Kiều đã gặp Kim Trọng – một chàng trai phong nhã, hào hoa. Cảnh vật giờ đây đã mang một tâm trạng khác: vui tươi, đầy lưu luyến không muốn rời xa. “Thướt tha” là từ láy, diễn tả sự uyển chuyển, nhịp nhàng. Chiếc cầu và dòng nước trong veo, cảnh tơ liễu ngả bóng chiều thướt tha như những chứng nhân cho một thiên diễm tình giữa giai nhân và tài tử. Dường như cảnh vật đã trở thành cái nền thơ mộng, nói hộ cho nỗi vương vấn của cặp tình nhân trong mối tình e ấp, kín đáo “tình trong như đã mặt ngoài còn e”.. Hai trái tim đa tình, đa cảm đã có nhịp nối chung cho đến lúc chia xa “khách đà lên ngụa người còn nghé theo”. ”Kẻ thiên tài” đã mang theo hình bóng “người quốc sắc đã về nhà. Hai câu thơ là một khúc nhạc của tình yêu bắt đầu hé nở. Dưới ngòi bút tả cảnh của Nguyễn Du cảnh vật trong Truyện Kiều luôn luôn thấm đượm hồn người, cảnh vật được nhìn qua tâm trạng; nhuốm màu tâm trạng, “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Cảnh vật thiên nhiên trong Truyện Kiều luôn nói hộ tâm trạng của nhân vật. Chỉ bằng hình ảnh vầng trăng nhưng ở những hoàn cảnh khác nhau nó lại diễn biến tâm trạng khác nhau. Trăng sáng quá mức như dư thừa, như bề bộn sau buổi chiều đi chơi xuân, Kiều cùng một lúc đối điện với số phận và duyên phận. Vàng gieo bóng nước cây lồng bóng râm. Còn trong đêm Kim, Kiều thề nguyền trăng cũng sáng hết mình nhưng ánh sáng lại không lan tỏa mà như tụ lại: Vầng trăng vầng vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song Trong đêm Kiều trốn cùng Sở Khanh thì trăng lại phạt nhẽo, lạnh lẽo, nhợt nhạt, mong manh, tàn tạ: Đêm thâu khắc dấu canh tàn Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương
Nhận xét nghệ thuật tả người tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
944
Nhận xét về giọng điệu bài Tức cảnh Pắc Pó -Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm – Câu thơ đầu có giọng điệu thoải mái, cho thấy Bác Hồ sống thật ung dung, đồng điệu với nhịp sống của núi rừng Pắc Bó: Sáng ra bờ suối tối vào hang. Câu thơ ngắt nhịp 4/3 tạo thành hai vế sóng đôi, gợi cảm giác về sự nhịp nhàng, nề nếp: sáng – tối, ra – vào. -Câu thơ thứ hai vẫn tiếp tục mạch cảm xúc đó nhưng có thêm nét tươi vui, thícli thú. Đó là sự sẵn sàng của các loại thức ăn thường nhật: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. – Hai câu thơ đầu nói về sinh hoạt thường ngày của Bác trong ăn ở. Câu thơ thứ ba cũng diễn tả sinh hoạt đó nhưng ở một khía cạnh khác: làm việc. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng. Câu thơ trên thể hiện hơn nữa sự thích thú của Bác với điều kiện sinh hoạt tại Pắc Bó, đồng thời cũng làm nổi bật hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trên chiến khu. Giọng điệu thơ khỏe khoắn và nhiều ấn tượng. Từ láy duy nhất trong bài thơ: chông chênh tạo nên một khung cảnh vừa mạo hiểm vừa gợi cảm, tạo cho người đọc chút tò mò. Ba chữ dịch sử Đảng toàn vần trắc làm cho lời thơ thêm mạnh mẽ. Trung tâm của bức tranh Pắc Bó là hình tượng người chiến sĩ cách mạng vừa chân thực, sinh động vừa mang một sứ mệnh lớn lao, một tư thế uy nghi giống như một tượng đài về tinh thần cách mạng. Dịch sử Đảng ở đây là sử Đảng Liên Xô, đó chính là khởi nguồn cho thắng lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Cuộc đời cách mạng thật là sang. Sang ở đây hoàn toàn không phải là sang trọng theo cách hiểu hiện đại mà chính là sự sang trọng trong chính lối sống, sinh hoạt, làm việc và sự cống hiến của người chiến sĩ cách mạng. Câu thơ trên không thuyết minh cho toàn bài thơ nhưng đã làm cho bài thơ có một sức hấp dẫn kì lạ. Sức hấp dẫn ấy đến từ giọng điệu của câu thơ và toàn bài thơ. Tags:Văn 8
Nhận xét về giọng điệu bài Tức cảnh Pắc Pó -Đề và văn mẫu 8
385
Nhận xét về kết cấu truyện trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao Hướng dẫn Nêu nhận xét về kết cấu truyện ngắn Chí Phèo: Cách kết thúc truyện của Nam Cao, theo anh/chị thành công hay hạn chế? Kết cấu mở: kết thúc tác phẩm, Thị Nở sinh ra một đứa con trong cái lò gạch cũ. Hoàn cảnh ra đời của đứ bé giống như Chí Phèo thuở trước. Thị nhìn về xa xa, nghĩ về một “Chí Phèo” con sẽ xuất hiện. Kết cấu vòng tròn: sự việc Chí Phèo ra đời, lớn lên, trưởng thành, đau khổ cho đến kết thúc là con Chí Phèo ra đời lại sẽ tiếp tục cái vòng luẩn quẩn ấy. Kết cấu đầu – cuối tương ứng: mở đầu là sự ra đời của Chí Phèo trong cái lò gạch cũ bỏ hoang. Kết thúc tác phẩm là sự ra đời của con Chí Phèo cũng trong cái lò gạch cũ. * Giá trị: Về nhận thức có phần bị hạn chế nhưng lại rất thành công về mặt nghệ thuật. Qua hình tượng nhân vật Chí Phèo, tác giả Nam Cao không những phản ánh được cuộc sống đen tối bế tắc của người dân dưới chế độ thực dân phong kiến mà còn được thể hiện một cách sâu sắc. Cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của họ. Tác phẩm không chỉ có giá trị nghệ thuật sâu sắc mà còn có giá trị nhân đạo cao. Chính vì thế mà hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, tác phẩm Chí Phèo ngày càng được khẳng định, được khám phá từ những góc độ mới mẻ và chắc chắn sẽ tồn tại vĩnh viễn trong lịch sử văn học Việt Nam như một viên ngọc sáng ngời. Phân tích làm rõ nổi giá tị nhân đạo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao? Trong truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã viết về cuộc sống khốn khổ của những người nông dân, viết về cuộc đời đen tối bế tắc của họ, với môt niềm đồng cảm thương sót. Nhà văn đã phát hiện, miêu tả được những phẩm chất của Chí Phèo ngay cả khi nhân vật đã bị tha hóa biến chất. Nhà văn đã thấy được niề khát khao mong muốn trở về con đường lương thiện của Chí Phèo; thấy được “phần người” phần tốt đẹp của con quỷ làng Vũ Đại. Phần kết thúc truyện, Nam Cao đã làm nổi bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa sắp về làm người. Nói một cách khác, truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một bức thông điệp của nhà văn tố cáo chế độ thực dân phong kiến, đẩy con người đến bước đường cùng đen tối, trở nên biến chất tha hóa. Đồng thời đòi quyền sống cho con người, giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm cũng chính ở chỗ đó. Nhà văn đã gợi mở cho ta thấy được bản chất tốt đẹp, khả năng lương thiện của Chí Phèo để ta trân trọng khát vọng sống, khát vọng được làm người của Chí Phèo, lên tiếng đòi quyền sống, quyền làm người cho người nông dân.
Nhận xét về kết cấu truyện trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
545
Nhận xét về nhân vật Người lái đò trong đoạn trích Người lái đò sông Đà Hướng dẫn Đề bài: Nhận xét về nhân vật Người lái đò sông Đà trong đoạn trích cùng tên của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: Đặc điểm nổi bật của nhân vật này chính là vẻ đẹp tài hoa trí dũng. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: Nhân vật này gây ấn tượng bởi sự ung dung, bình dị. Bằng cảm nhận về hình tượng này, anh (chị) hãy bình luận các ý kiến trên. BÀI LÀM Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông cũng là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo. Nguyễn Tuân sáng tác nhiều thể loại nhưng đặc biệt thành công ở tùy bút. Tác phẩm này được in trong tập tùy bút Sông Đà, xuất bản lần đầu năm 1960, tất cả gồm mười lăm bài tùy bút. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem lại cho tác giả nguồn cảm hứng sáng tạo để viết nên thiên tùy bút đặc sắc này nhằm ca ngợi những người lao động mới đang cống hiến cho công cuộc tái thiết, dựng xây đất nước. Tuỳ bút Người lái đò sông Đà dược in trong tập tuỳ bút “Sông Đà”, gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo. Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.” Ý kiến thứ nhất đã nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật của hình tượng này. Trước hết, Người lái đò sông Đà là một hình tượng về người lao động mới trong giai đoạn kiến thiết và dựng xây đất nước. Trong cuộc chiến với thiên nhiên khốc liệt, ông lái đò đã bộc lộ tất cả khả năng tuyệt vời của mình, nhất là sự tài trí và lòng dũng cảm. Ý kiến thứ hai lại chú ý đến sự gần gữi, thân quen, dễ đi vào lòng người của ông lái đò. Ông lái đò được miêu tả như một người lao động kiên cường lại vừa như một nghệ sĩ tài hoa của sống nước, rất mực điệu nghệ trong công việc của mình. Thế nhưng sau cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên dữ dội, họ trở về với cuộc đời thường “giản dị và bình tâm”, hòa lẫn vô danh vào triệu triệu con người đang “đi tới” với đôi tay như “đôi cánh bay lên” và bàn chân mạnh mẽ “đạp bùn không sợ cá loài sên”. Người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh, làm lụng âm thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên lớn lao, kì vĩ, trở thành đại diện của CON NGƯỜI. Người lao động nhờ ý chí kiên cường, bền bỉ, quyết tâm mà chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc.Người lái đồ có một trí nhớ tuyệt vời về những luồng nước và những con thác hiểm trở. Ông lái đò “đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”, “nắm được cái quy luật tất yếu của dòng nước sông Đà” nên trước thác ghềnh hung bạo, ông vẫn bình tĩnh điều khiển thuyền an toàn. Sở dĩ ông lái đò có sự hiểu biết sâu sắc cùng với những kinh nghiệm quý báu là do ông đã xuôi ngược nhiều lần trên sông Đà. Ống lái đò là người thích phiêu lưu mạo hiểm. Vì vậy tác giả đã chú ý miêu tả cuộc chiến đấu của người lái đò với sóng nước sông Đà. Trong cuộc chiến đấu vượt qua bao vòng vây của thác ghềnh hung bạo, người đọc đã thấy được sự dũng cảm, mưu trí và điêu luyện, thuần thục trong việc điều khiển con thuyền của người lái đò.Vòng vây này được tác giả miêu tả dài nhất. Người lái đò phải đối mặt cùng “sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá” với những hòn đá hung hãn, ngỗ ngược đang mai phục từ ngàn năm nay chực chờ “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”. Đá dàn bày thạch trận “ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền” với hàng tiền vệ “giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa” cho tuyến hai “đánh khuýp quật vu hối lại”, nếu thoát qua thì đã có tuyến ba gồm bao nhiêu “boong-ke chìm và pháo đài nổi” quyết tâm “phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác”. Có những hòn đá được nhà văn miêu tả hệt như những tên tướng giặc kiêu căng hợm hĩnh phối hợp cùng “nước thác reo hò” như một đội quân liều mạng đầy sát khí sẵn sàng ùa vào mà “bẻ gãy cán chèo” của người lái đò, mà “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, “đội cả thuyền lên”, nhằm vào chỗ hiểm tấn công liên tiếp với lối “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm”. Cảnh tượng lúc bấy giờ cũng thật tráng lệ khi trong khoảng khắc mặt sông “lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng”. Đối diện với hiểm nguy, người lái đò vẫn hết sức bình tĩnh, hiên ngang như một tướng soái phóng thẳng thuyền vào kẻ thù. Trước những đòn thủ tàn độc của đối phương ông đã “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái”, “giữ mái chèo khỏi bị hất lên” và trên chiếc thuyền sáu bơi chèo, người ta vẫn nghe thấy “tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái” đang sẵn sàng đối mặt, chiến đấu và chiến thắng lũ giặc đá đông đảo, đầy chủ động, hiểm ác, ranh ma.Nếu như ở vòng vây thứ nhất sông nước nham hiểm đã mở ra bốn cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh lại nằm “lập lờ ở phía tả ngạn con sông” thì ở vòng vây thứ hai này, sông Đà đã mở thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền và cửa sinh lại “bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”. Ghê gớm hơn, đang chờ đón ông chính là “dòng hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá” với “bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử”. Người lái đò tỏ ra không hề sợ hãi bởi vì ông vốn giàu kinh nghiệm và nắm chắc qui luật hoạt động của nước thác cũng như địa hình nơi đây. Thật táo bạo, với đôi bàn tay linh hoạt, tài hoa của mình ông đã khéo léo điều khiển con thuyền “bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Ông lái đò lúc “cưỡi lên thác”, lúc “nắm chặt được cái bờm sóng”, lúc thì “ghì cương lái”, lúc thì ống tránh mà “rảo bơi chèo lên”, lúc thì “đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Cuối cùng, ông đã chiến thắng cái lũ đá lúc này đang “tiêu nghỉu cái mặt xanh lè” vì thất vọng. Vòng vây thứ ba nguy hiểm hơn cả bởi vì “bên phải bên trái đều là luồng chết cả”, cái luồng sống ở vòng vây này lại “nằm ngay giữa bọn hậu vệ của con thác”. Nhưng ống lai đò cứ anh dũng phóng thẳng thuyền, chọc thủng vào cửa giữa đó. Người lái đò rất linh hoạt điều khiển “thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”, qua bao nhiêu cửa “thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”.Trước thác ghềnh hung bạo, ông lái đò dũng cảm, táo bạo, liều lĩnh, thế nhưng khi vượt qua thì tất cả đều trở thành bình thường “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. Tác giả đã miêu tả phong thái ung dung của những người lái đò khi họ “đót lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá đầm xanh…cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua”. Cuộc sống của họ thường nhật phải đối diện với thiên nhiên khốc liệt, “ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác” cho nên với họ tất cả đều “không có gì là hồi hộp đáng nhớ”. Họ đã chiến thắng trong cuộc chiến không cân sức với thiên nhiên nhờ kinh nghiêm, sự ngoan cường, ý chí quyết tâm. Tất cả những điều đó đã đưa họ đến thắng lợi huy hoàng, tô đậm cho khúc tráng ca về sự nghiệp lao động vinh quang của con người mới. Hai ý kiến đúng, đã bổ sung cho nhau để hợp thành sự nhìn nhận toàn diện và thống nhất về ý nghĩa của hình tượng này; giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, cũng như thấm thía hơn ý tưởng nghệ thuật của nhà văn. Nhà văn đã tô đậm vẻ đẹp của nhân vật với những so sánh, ví von, liên tưởng độc đáo, bất ngờ và rất thú bị; tư tưởng phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả gân guốc, khi thì chậm rãi trữ tình. Khi khắc họa hình tượng này, Nguyễn Tuân có ý thức tạo nên tình huống đầy thử thách để nhân vật bộc lộ rõ phẩm chất của mình. Nhà văn tiếp cận con người trên phương diện tài hoa nghệ sĩ nên mỗi nhân vật trong tác phẩm của ông đều là những nghệ sĩ trong nghề nghiệp của mình. Với sự quan sát tinh tường; trí tưởng tượng phong phú; những liên tưởng, so sánh bất ngờ, độc đáo kết hợp cùng vốn kiến thức uyên bác, ngòi bút tài hoa và những cảm xúc dạt dào, say đắm thiết tha danh cho đất nước; Nguyễn Tuân đã tạo nên một áng văn trác tuyệt tác ngợi ca vẻ đẹp của con người và thiên nhiên Tây Bắc trong ngày mới dựng xây. Đó đều là chất vàng mà tác giả tìm kiếm và khai phá; lấp lánh, sáng ngời quí giá như chính gương mặt của tác giả trong lịch sử văn học nước nhà.
Nhận xét về nhân vật Người lái đò trong đoạn trích Người lái đò sông Đà
1,945
Đề bài: Có ý kiến cho rằng Chí Phèo tỉnh – Chí Phèo không say. Hãy nhận định ý kiến trên Bài làm Chí Phèo là một gương mặt mới, một gương mặt lạ và lừng lững đi vào văn học với tất cả dáng vẻ riêng, diện mạo riêng, giọng điệu riêng của nó như Phong Lê đã nhận định. Bi kịch Chí Phèo trở nên sâu sắc, thâm thía nhờ vào khía cạnh tỉnh táo này. Hãy quan sát cấu trúc ngôn ngữ của Nam Cao trong buổi chiều Chí Phèo say, vừa đi vưa chửi; ta ngạc nhiên vì trật tự sắp xếp không gian, ngôn ngữ giao tiếp. Trước hết là không gian Trời (bắt đầu hắn chửi Trời). Tiếp đó Chí thu hep lại thành không gian Đời (rồi hắn chửi đời). Và lần lượt cứ thu hẹp dần mãi. Chúng ta tiếp tục có không gian làng Vũ Đại (tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại), rồi đến không gian những người không chửi nhau với Chí (đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn), cuối cùng là không gian của Người đẻ ra Chí (phải đấy… hắn cứ chửi đứa mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo!). Trật tự trên có thể biểu diễn thành sơ đồ sau đây: Bình tâm một chút, ta nhận thấy một logic tâm lí: Ai xúc phạm đến cha mẹ ta thì cũng tức là xúc phạm đến ta. Trường hợp của Chí càng phải là như vậy. Vì không ai biết cha mẹ Chí là ai. Chí cũng không biết. Điều đó đem lại cách suy luận đưa đến hiệu quả: Chửi người đẻ ra mình thì chính là chửi ngay bản thân mình. Hay nói cách khác đi, Chí đang làm công việc tự phân tích, tự mổ xẻ để tìm cho bằng được nguyên do những nổi khổ mà Chí từng gánh chịu. Nhưng càng tìm càng bế tắc. Trước mặt ta là một Chí Phèo dở khóc dở cười hắn chửi như những người say rượu hát. Phải tỉnh táo lắm mới đem ra phân tích, mổ xẻ để rồi Chí thấy mình là con người không có thời gian (Hắn nhớ mang máng rằng có lần hắn hai mươi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình như hắn hăm nhăm không biết có đúng không? Bởi vì từ đấy đối với hắn không có ngày tháng nữa), là con người không có thời gian, (không biết cha mẹ mình là ai). Và vào cái buổi chiều cuối đời mình, Chí tỉnh táo hẳn. Chí tức giận không có ai chịu chửi nhau với Chí, vì như thế không phải chửi nhau, không thành văn vẻ gì (và hắn lấy thế làm ức lắm: bởi vì người ta không thể chửi nhau một mình; chửi nhau một mình thì còn văn vẻ gì!). Một ý nghĩa hiện lên trong Chí: báo thù, một hành động của người tỉnh táo. Nam Cao cố ý cho ta thấy điều đó khi ông tạo ra cảnh say của Chí với Tự Lãng. Để khẳng định, ông đưa ra một chi tiết ngôn ngữ. Đó là khi Tự Lãng hỏi Chí Phèo người ta đứng lên bằng gì (đến lúc hết cả hai chai, Tự Lãng bò ra sân. Lão bò như cua và hỏi Chí Phèo rằng: người ta đứng lên bằng cái gì?). Tự Lãng thì say, say mềm còn riêng Chí Phèo thì tỉnh. Tỉnh tới mức còn biết vần ngửa Tự Lãng, còn vuốt râu Tự Lãng mấy cái rồi mới về. Thêm một chi tiết ngôn ngữ nữa cần chú ý là trước khi Chí Phèo bước và0 cõi bất tử, Nam Cao đã làm cho Chí tỉnh hẳn bằng cấu trúc đoạn văn Chí gặp Thị Nở. Ta có được một Chí Phèo khác xưa: say sưa nhìn và run run / rón rén lại gần Thị Nở / lẳng lặng ngồi xuống bên sườn thị… say sưa / run run / rón rén / lẳng lặng… Những từ láy âm ấy không dùng cho người say được. Cuộc mổ xẻ bắt đầu thấy kết quả. Chí nhận ra mình già mà vẫn cô độc, ám cảnh một nổi buồn (buồn thay cho đời!) và ứa lệ vì sự săn sóc của Thị Nở. Cuộc mổ xẻ vẫn tiếp tục trong con người tỉnh táo ấy. Và những từ láy âm, những cách lặp từ giúp ta nhận dạng: ta có được một Chí Phèo đang bâng khuâng (hắn nhìn bá cháo bốc khói mà bâng khuâng), một Chí Phèo vừa vui vừa buồn, một Chí Phèo bắt đầu ăn năn (và một cái gì nữa, giống như là ăn năn), một Chí Phèo tỉnh táo. Tiếp đó là sự hồi tưởng rành rẽ chứ không phải là nhớ mang máng nữa về tuổi hai mươi của mình bị vợ ba Bá Kiến sỉ vả. Một nỗi nhục được nhận ra từ một tâm hồn trong trẻo, và cái tất yếu dậy lên trong lòng Chí – tuy không nói ra – là sự nuối tiếc một thời trong trẻo ấy. Sự nuối tiếc đó thúc giục Chí báo thù, Chí Phèo chết vào xế trưa ngày hôm sau với sự tỉnh táo còn nguyên vẹn của chiều hôm trước mà các chi tiết của Nam Cao vẫn rời rợi: Hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với Thị như với mẹ. Và lúc hắn ngẫm mình mà lo. Trời ơi! Hắn thèm lương thiện. Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Hắn băn khoăn nhìn Thị Nở thăm dò. Chí đã tỉnh hẳn và ao ước cho hắn. Hắn băn khoăn nhìn Thị Nở thăm dò. Chí đã tỉnh hẳn và ao ước cuộc sống của người tỉnh táo (hắn bảo Thị: Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”… hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui)… Chí Phèo chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc thời gian của chiều hôm trước đến trưa hôm sau. Đan xen vào đó là những hồi tưởng mà bút pháp tài tình của Nam Cao khiến cho quá khứ và hiện tại không thể nào phân ra tách bạch được Một bút pháp của điện ảnh. Và nhờ thế mà Chí Phèo là một gương mặt mới, một gương mặt lạ và lừng lững đi vào văn học với tất cả dáng vẻ riêng, diện mạo riêng, giọng điệu riêng của nó như Phong Lê đã nhận định. Bi kịch Chí Phèo trở nên sâu sắc, thâm thía nhờ vào khía cạnh tỉnh táo này.
Nhận xét ý kiến “Chí Phèo tỉnh – Chí Phèo không say”
1,115
Nhận định chị Dậu là người yêu thương chồng con và có đức hi sinh – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm “Tắt đèn” là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Ngô Tất Tố về tình hình xã hội Việt Nam, về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Ở “Tắt đèn” ta thấy nổi lên một hình ảnh đẹp về người phụ nữ nông dân, về người phụ nữ Việt Nam. Đó là nhân vật chị Dậu với nhiều phẩm chất đáng quý. Nhưng “nét nổi bật ở chị Dậu là tấm lòng yêu chồng thương con tha thiết, là tính vị tha và đức hi sinh”. Đó chính là những tình cảm cao quý thiêng liêng mà chị luôn dành cho anh Dậu – chồng chị và những đứa con thơ. Chị là vợ của một anh nông dân nghèo kiết xác đến nỗi phải bán đứa con để lấy tiền nộp SƯU, là mẹ của ba đứa con nhỏ dại trong cái gia đình đã lên đến bậc nhất trong hạng cùng đinh”. Đó là hình ảnh gia đình chị Dậu nói riêng, gia đình những người dân Việt Nam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cuộc sống của cả gia đình chị Dậu đã vất vả chạy từng bữa ăn lại càng khó khăn hơn khi trong cái xã hội thôi nát đó vẫn còn nhan nhản, đầy rẫy những kẻ như Nghị Quế vợ, Nghị Quế chồng, quan phủ Tư Ân, bọn cai lệ, người nhà lí trưởng… Đọc hai đoạn trích “Con có thương thầy thương u…” và “Tức nước vỡ bờ” trong tác phẩm “Tắt đèn”, chúng ta thấy chị Dậu chính là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam với những phẩm chất tiêu biểu thương chồng, yêu con. Dù trong mọi hoàn cảnh, em thấy chị Dậu vẫn luôn dành trọn tình cảm đối với chồng, con mà không hề nghĩ đến bản thân mình, đến những khó khăn vất vả mà mình chịu đựng. Tình cảm chị dành cho chồng mà chị coi đó là trụ cột của gia đình còn hơn cả tình cảm của chị dành cho những đứa con, đặc biệt là cái Tí. Vì anh Dậu, chị sẵn sàng chịu đòn roi, nén nỗi đau tình mẫu tử để cứu chồng. Vì tình cảm sâu nặng chị dành cho chồng mình đã được Ngô Tất Tố khắc họa sâu sắc và rõ nét qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”. Sau khi nấu được nồi cháo, chưa nghĩ đến con cái chị múc ngay cháo ra một bát lớn, quạt cho chóng nguội rồi ân cần mời chồng: “Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột”. Nhưng bên cạnh đó, hình ảnh chị Dậu còn là hình ảnh một người mẹ rất mực yêu thương các con. Phải bán cái Tí, chị như đứt từng khúc ruột. Khi về nhà chị vẫn chưa nói cái tin sét đánh đó cho cái Tí nghe mà âm thầm chịu đựng. Nhưng sự hiếu thảo ngoan ngoãn của cái Tí vô tình lộ ra đã như lưỡi dao găm vào lòng chị, khiến chị càng nước mắt ngắn nước mắt dài. Người mẹ nào sau những ngày tháng “mang nặng để đau” mà chẳng thương yêu con. Bây giờ, phải đem con đi bán, người mẹ đó vẫn không đủ cam đảm nói ra cái điều đau đớn đó để trút bớt nỗi đau đang đè nặng trong lòng, Nỗi đau đó cứ nhân lên, nhân mãi lên như những mũi dao cứa vào lòng chị khi chị thấy cái Tí ngoan quá, hiếu thảo quá vậy mà phải đi làm tôi tớ ở nhà mụ Nghị Quế nổi tiếng độc ác, nhẫn tâm. Phải có tình yêu sâu nặng lắm, thiết tha lắm đối với cái Tí, chị Dậu mới nén được nỗi đau mà chỉ lộ ra “rầu rĩ nét mặt, những giọt nước mắt rơi xuống càng mau”. Tình thương yêu con vô bờ như vậy đã khiến chị Dậu – một người mẹ lại phải van xin con của mình, van xin con chấp nhận hoàn cảnh. Bằng những lời nói thấm thía, chị khuyên cái Tí: “U van con, u lạy con, con có thương thầy, thương u thì con cứ đi với u đừng khóc lóc nữa, đau ruột u lắm… Bây giờ phải đem con đi bán, u đã chết từng khúc ruột đấy con ạ”. Thái độ van xin của chị đối với cái Tí thể hiện việc chị cảm thấy mình có lỗi với nó. Người đau đớn, khó xử nhất chính là chị Dậu. Muốn cứu chồng thì chị phải bán con. Không còn con đường lựa chọn nào khác. Nhưng qua thái độ tình cảm của chị dối với cái Tí ta thấy đây vẫn là người mẹ yêu thương con hết mực. Và tình thương đó, chị còn dành cả cho cái Tỉu, thằng Dần. Khi cái Tí cứ khóc mãi, chẳng chịu đi, lại thêm thằng Dần cứ kêu gào ầm ĩ nhất định không cho cái Tí đi nếu là một người nhẫn tâm thì sẽ nổi cáu dọa ông lí sẽ bắt nó nếu không để chị đi. Khi thằng Dần đồng ý để cho chị đi thì chị Dậu hối vì mình đã nói dối trẻ con, tức thì chị nói chữa: “ừ, hễ cụ Nghị bằng lòng để cho chị con về nhà vài hôm thì u đem nó về với con”. Việc không dám nói dối trẻ con, rồi dù rất đói nhưng chị vẫn cho cái Tỉu bú trước đã thể hiện sự quan tâm, chăm sóc của chị đối với con cái. Chị quan tâm tới chúng mọi lúc, mọi khi có thể, dù có lúc chị bỏ lơ. Nhưng đó vẫn là tình cảm thương yêu sâu nặng, đằm thắm chị dành cho các con. Và nét nổi bật nhất ở chị Dậu là sự hi sinh – sự hi sinh vốn có của những người phụ nữ Việt Nam. Khi phải bán con, chị giả điếc trước những lời lẽ van xin được ở lại nhà của cái Tí dù chỉ ăn khoai thôi. Chị phải hi sinh tình mẫu tử của mình – điều thiêng liêng và cao quý nhất của người mẹ là vì cái gì? Đó là vì “tiền sưu không có, thầy con đau ốm là thế, vẫn bị người ta đánh trói, sưng cả hai tay lên kìa (…). Để cho thầy con khổ đến nước nào nữa Rồi chị phải cầu khẩn cái Tí như với người ban ơn dù chính chị cũng đang còn đau đớn gấp trăm ngàn lần nó. Bởi vì chị đang đứng giữa hai con đường: một là chị phải bán con để cứu chồng, để gia đình khỏi mất đi trụ cột. Và rồi một lần nữa, chị Dậu phải liều mạng để cứu chồng. Việc chị nhẫn nhục chịu đựng, xưng hô “ông – cháu” rồi đến việc chị đấu lí cãi lại chúng khiến chị bị tên cai lệ đánh cho bôm bốp và rồi cuối cùng chị đánh nhau với bọn chúng thể hiện tình cảm sâu nặng thắm thiết của chị đối với anh Dậu. Ngoài ra còn là sự nhẫn nhục hi sinh. Chị hi sinh bản thân mình, hi sinh tình mẫu tử cao đẹp cũng chỉ vì chị lo lắng tới gia đình mình quan tâm đến người chồng khốn khổ. Hình ảnh chị đã rất cao đẹp với tình cảm sâu nặng chị dành cho chồng cho con, giờ càng tỏa sáng và đáng quý hơn bởi sự hi sinh thầm lặng nhưng giàu ý nghĩa biết bao. Tags:Văn 8
Nhận định chị Dậu là người yêu thương chồng con và có đức hi sinh – Đề và văn mẫu 8
1,300
Nhập vai chú voi trong câu chuyện Thầy bói xem voi để kể lại câu chuyện ấy Gợi ý Tôi là một chú voi già trong đoàn xiếc ở kinh thành. Ngày nọ, ông chủ đưa chúng tôi về một làng quê để biểu diễn. Ở đây, có lẽ người ta chưa từng thấy anh em họ hàng của tôi bao giờ nên nhắc đến voi ai cũng háo hức. Vé bán một buổi sáng mà đã hết veo! Buổi chiều hôm ấy, cậu bé giúp việc đưa tôi ra đồng ăn cỏ, lúc trở về, cậu lại dắt tôi ra chợ để mua đồ. Đang đi, chợt bên đường có năm ông thầy bói già cứ đùn đẩy nhau điều gì không rõ. Bác bán rau nói với cậu bé đi cùng tôi: “Này cháu! Năm ông thày bói muốn cháu dừng con voi lại để họ xem nó thế nào có được không?”. Cậu bé nhìn tôi như muốn hỏi ý kiến, thấy tôi huơ vòi cậu bèn vui vẻ nhận lời. Thú thực, tôi thấy xúc động vì tấm lòng của người dân nơi đây dành cho mình. Bởi vậy, ai nỡ từ chối đề nghị như thế của những người già, họ lại bị mù nữa cơ chứ. Thật tội nghiệp quá! Tôi dừng lại, năm ông thầy bói theo lời hướng dẫn của cậu bé đi cùng, dò gậy lại gần tời. Năm người bọn họ, người ôm chân tôi, người xoa vòi tôi, người sờ tai tôi, người lại vuốt ngà tôi, người thứ năm thì cứ vỗ tay bồm bộp vào bụng tôi! Tôi thấy nhọt lắm nhưng gắng nín nhịn chiều họ. Đột nhiên, ông sờ vòi nói to: Ông sờ ngà tiếp lời: – Ông nhầm rồi! Nó chần chẫn như cái đòn càn. Ông thầy sờ tai không chịu nhường: – Ai bảo thế! Nó bè bè như cái quạt thóc. – Nhầm! Nhầm hết! Nó như cái cột đình – Thầy sờ chân quát to! Thầy sờ đuôi giơ gậy lên như sẵn sàng đánh nhau với ai: – Bốn ông sao ngốc nghếch thế! Nó tun tủn như cái chổi sể cùn! “Như con đỉa!”, “Như cột đình!”, “Như đòn càn”,… Năm ông ỏm tỏi với nhau, mặt ai cũng đỏ gay gắt. Cậu bé đi cùng hốt hoảng đẩy mấy ông thầy kì lạ ra. Còn tôi lúng túng tìm cách thoát ra khỏi đám đông đang xúm xít lại xem. Tối hôm ấy, dân làng đến xem chúng tôi rất đông. Nhìn thấy tôi, tất cả ồ lên vỗ tay. Họ còn bàn tán ríu ran về chuyện mấy ông thầy bói. Thì ra, tôi đi khỏi rồi, năm ông còn đánh nhau đến chảy máu đầu! Tôi vừa buồn cười, vừa tức giận. Sai lầm của các thầy bói là ở chỗ mỗi thầy chỉ sờ một bộ phận của tôi và bảo rằng đó là cả con voi tôi. Vòi, chân, tai, ngà, đuôi đúng là của con voi tôi thật, nhưng mới chỉ là những bộ phận riêng lẻ, chưa phải là cả con voi. Giá các thầy ấy chịu khó lắng nghe ý kiến của nhau, hỏi cậu bé đi cùng tôi… thì đã biết tôi là như thế nào và đâu đến nỗi đánh nhau đến thế!
Nhập vai chú voi trong câu chuyện Thầy bói xem voi để kể lại câu chuyện ấy
542
Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám Hướng dẫn Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám Từ ngày được ông Bụt cưu mang cứu sống, chẳng mấy chốc đứa trẻ mồ côi lang thang trong rừng sâu hoang vắng ngày nào, giờ đây đã trở thành một cô thiếu nữ. Tôi đã trở thành cô con gái nuôi yêu quý của Bụt. Chẳng còn gì nguy hiểm trong khu rừng sâu ấy nữa, khu rừng ngày xưa suýt nữa đã cướp đi của tôi mạng sống giờ lại cho tôi một người cha, gia đình, bè bạn,… Tôi làm bạn với cỏ cây, muông thú núi rừng, hàng ngày đi hái thuốc chữa bệnh cho người dân dưới núi. Một hôm, Bụt gọi tôi đến và nhẹ nhàng nói: – Lan Hoa con, bệnh tật không phải nỗi khổ nhất của con người trần thế. Rất nhiều người sống dưới chân núi kia cũng phải chịu bao nỗi bất hạnh như con ngày xưa. Có một cô gái tên là Tấm đang rất cần sự giúp đỡ của hai cha con ta. Con hãy thay cha mang đến hạnh phúc cho cô gái đó, và cũng để con được tận mắt chứng kiến cuộc sống bên ngoài khu rừng này. – Cô Tấm ấy khổ lắm phải không cha? – Tấm có một em gái tên là Cám, hai chị em cùng cha nhưng khác mẹ. Hai chị em suýt soát tuổi nhau. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẽ. Mẹ Tấm đã chết từ hồi Tấm còn bé. Sau đó mấy năm thì cha con cũng chết. Tấm ở với dì ghẻ là mẹ của Cám. Dì ghẻ là người rất cay nghiệt. Hằng ngày, Tấm phải làm việc vất vả, hết chăn trâu, gánh nước, đến thái khoai, vớt bèo; đêm lại còn xay lúa giã gạo mà không hết việc. Trong khi đó thì Cám được mẹ nuông chiều, được ăn trắng mặc trơn, suốt ngày quanh quẩn ở nhà, không phải làm việc nặng. Thế nhưng chưa hết đâu con, ta biết rằng Tấm sẽ còn gặp nhiều khó khăn trở ngại lắm. Nghe xong câu chuyện, nhớ về thời thơ bé của mình, tôi càng thương Tấm nhiều hơn. Ngay sau hôm đó, tôi đã được biến thành một con Bống, sống trong một thửa ruộng gần làng nọ và chờ đợi chị em Tấm xuất hiện. Trong hình dạng bé nhỏ, tôi len lỏi khắp các thửa ruộng, mọi vật xung quanh lạ lẫm quá! Không có cây rừng mà chỉ có những nhành cỏ yếu ớt, không có hổ, không có chim chóc, không có những chú sâu đáng yêu,… những con vật xung quanh tôi gọi nhau bằng những cái tên thật lạ: Ốc Vặn, Ốc Nhồi, Cua Càng, Cá Cờ, Rô Phi,…Tôi nhanh chóng làm quen với những người bạn ấy, nghe họ kể những câu chuyện về thời tiết, mùa nước cạn, mùa nước lên, mùa nào con người hay ra đồng bắt tép, và họ còn bàn cả với nhau làm thế nào để không phải chui vào chiếc giỏ của chị Tấm…Ô! Nghe đến đây tôi giật mình! Họ vừa nhắc đến Tấm kìa! Chắc cô gái này hay ra đồng, hay đi mò cua bắt tép lắm đây! Thảo nào mà những người bạn mới quen lại sợ Tấm, sợ chiếc giỏ của Tấm đến thế! – Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng. ( Tôi tự nhủ: “Giọng này chỉ có thể là của Cám!”) Trong một khắc, Cám đã trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình rồi ba chân bốn cẳng ra về. Chỉ còn mình tôi trong chiếc giỏ của cô Tấm đáng thương. Nhưng Tấm đâu thấy tôi, lúc Tấm bước lên chỉ còn giỏ không, bèn ngồi xuống bưng mặt khóc huhu. Đúng lúc đó, cha Bụt của tôi liền hiện lên hỏi Tấm: – Con làm sao lại khóc? Tấm kể lể sự tình cho Bụt nghe. Bụt bảo: – Thôi con hãy nín đi! Con thử nhìn vào giỏ xem còn có gì nữa không? Tấm nhìn vào giỏ và nói: – Chỉ còn một con cá bống. – Con đem con cá bống ấy về thả xuống giếng mà nuôi. Mỗi bữa, đáng ăn ba bát thì con ăn hai, còn một đem thả xuống cho bống. Mỗi lần cho ăn, con nhớ gọi thế này: Bống bống, bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người. Không gọi đúng như thế thì nó không lên, con nhớ lấy! Cha Bụt nói xong rồi biến mất. Và cũng từ hôm đó mà tôi được sống giữa nguồn nước ngọt mát, được thỏa thuê tung tăng bơi lội, được ăn những hạt cơm trắng ngần. Tấm thân quen với tôi từ lúc nào mà không hay. Tôi chờ Tấm đâu phải chỉ vì bát cơm mà Tấm mang đến, đó còn là vì tôi cảm nhận được có một tình cảm rất chân thành đang dần nảy sinh giữa chúng tôi. Phải chăng có một sợi dây liên kết vô hình nào đó đã gắn kết tôi và Tấm lại với nhau, giữa hai con người cùng chung một số phận. Mẹ con Cám cũng thật ác, đã lấy thân Bống làm thịt lại còn vùi xương Bống vào đống tro. Tấm làm sao tìm thấy tôi được đây? Tôi đã nghe thấy tiếng khóc của Tấm ở đâu đó, tiếng khóc vỡ òa vừa như hối hận vừa như trách móc kẻ đã cướp mất Bống. Nhưng thật may, cha Bụt đã xuất hiện: – Con Bống của con người ta đã ăn thịt mất rồi. Thôi con hãy nín đi! Rồi về nhặt lấy xương nó, kiếm bốn cái lọ bỏ vào, đem chôn xuống bốn chân giường con nằm. Nhờ có con gà giúp đỡ mà Tấm mới tìm được xương của tôi. Cô bèn nâng niu nhặt cẩn thận từng chiếc xương bỏ vào lọ và đem chôn dưới chân giường như lời Bụt dặn. Từ đây, tôi sẽ lại âm thầm nuôi ước mơ cho cô Tấm tốt bụng nhưng cuộc đời lại bất hạnh, gặp nhiều trắc trở, khó khăn. Ít lâu sau, tôi thấy mọi người trong nhà nói chuyện với nhau rằng nhà vua mở hội trong mấy ngày đêm. Già trẻ trai gái các làng đều nô nức đi xem. Trên các nẻo đường, quần áo mớ ba mớ bảy dập dìu tuôn về kinh như nước chảy. Hai mẹ con Cám cũng sắm sửa quần áo đẹo để đi trẩy hội. Tấm cũng muốn đi lắm nhưng mụ dì ghẻ nguýt dài, sau đó lấy một đấu gạo trộn lẫn với một đấu thóc và bắt Tấm nhặt cho xong. Nhưng đến bao giờ mới nhặt xong được chứ? Tấm bèn khóc một mình. Giữa lúc ấy Bụt lại hiện lên và sai đàn chim sẻ xuống nhặt giúp. Đàn chim lăng xăng ríu rít, chỉ trong một lát đã làm xong không suy suyển một hạt. Nhưng khi chim sẻ đã bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc, Bụt lại hỏi: – Con làm sao còn khóc nữa? – Con rách rưới quá, sợ người ta không cho con vào xem hội. Tôi liền nhanh chóng làm theo lời Bụt dặn từ trước. Lọ thứ nhất tôi biến thành một bộ áo mớ ba, một cái xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu. Lọ thứ hai lại là một đôi giày thêu, đi vừa như in. Lọ thứ ba, tôi hóa thành một con ngựa đưa Tấm đi trẩy hội. Và lọ thứ tư là một bộ yên cương xinh xắn. Tấm mừng quá vội tắm rửa rồi thắng bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đi. Ngựa phóng một chốc đã đến kinh đô. Nhưng khi phóng qua chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giày xuống nước, không kịp nhặt. Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giày còn lại rồi chen vào biển người. Ở lại cùng chiếc giày mà Tấm đã làm rơi xuống nước, tôi chờ vua đi qua. Nhà vua đã nhặt được chiếc giày thêu và rao mời tất cả đám đàn bà con gái đi xem hội đi xem hội đến ướm thử, hễ ai đi vừa chiếc giày thì vua sẽ lấy làm vợ. Cô nào cũng đến thử nhưng nào có ai vừa, kể cả mẹ con nhà Cám. Tấm cũng đi thử giày, vừa đặt chân vào thấy vừa như in. Cô mở khăn lấy luôn chiếc thứ hai đi vào. Hai chiếc giày giống nhau như đúc. Bọn lính hầu hò reo vui mừng. Lập tức vua sai đoàn thị nữ rước nàng vào cung. Tấm từ đây sống hạnh phúc bên cạnh một người chồng luôn thương yêu cô hết mực. Thấy Tấm được sống sung sướng, hạnh phúc trong cảnh hoàng cung tôi cũng vui lắm. Nhưng tôi không thể đi theo cô Tấm được nữa. Nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành, còn bao người dân dưới chân núi đang chờ những thang thuốc lá rừng của tôi. Tôi trở về với cuộc sống của một cô thiếu nữ giữa chốn núi rừng, không còn trong hình dạng một con Bống nữa. Thế nhưng hàng ngày tôi vẫn luôn hỏi thăm Bụt về cuộc đời của Tấm và biết được rằng Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại. Nhưng với sự giúp đỡ của Bụt qua những lần giúp Tấm hóa thân (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị), Tấm đã khẳng định sức trỗi dậy mãnh liệt của con người trước sự vùi dập của kẻ ác. Đây là sức mạnh của cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Cô Tấm từ trong quả thị bước ra càng xinh đẹp hơn xưa, lại được vua thương yêu, trân trọng. Còn mẹ con Cám đã phải chết bởi chính sự độc ác, ngu dốt, và lòng đố kị của mình…
Nhập vai cá bống kể chuyện Tấm Cám
1,674
Nhập vai cô Tấm kể chuyện đời mình Hướng dẫn Nhập vai cô Tấm kể chuyện đời mình Bài Làm Thời gian trôi nhanh thật. Hôm nay lại đến ngày giỗ của cha, về thắp nén hương cho cha mà lòng tôi lại nao nao nhớ về những tháng ngày giông tố đã đi qua. Tôi tên là Tấm, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở một vùng quê yên bình. Tôi mồ côi mẹ từ nhỏ. Cha cưới thêm dì và tôi có thêm người em tên Cám. Chẳng bao lâu cha lại qua đời. Trước khi mất cha có mong dì ghẻ quan tâm chăm lo cho tôi. Nhưng cuộc đời không chiều lòng người. Từ khi cha mất, cuộc đời tôi gặp nhiều ngang trái. Dì ghẻ vốn yêu chiều em Cám hơn nên thường bắt tôi làm quần quật suốt ngày, đối xử với tôi rất cay nghiệt. Nhiều đêm tôi khóc vì nhớ mẹ nhớ cha nhưng vẫn luôn cố gắng để cha mẹ dưới suối vàng được yên lòng. Tôi vẫn ngoan ngoãn nghe lời, không bao giờ dám làm trái ý dì. Một hôm, dì ghẻ sai tôi và em Cám đi mò cua bắt tép và hứa nếu ai bắt được nhiều sẽ được thưởng một chiếc yếm đỏ. Tôi vui mừng, háo hức lắm vì đã lâu lắm rồi mình không có một chiếc áo mới. Hai chị em hào hứng nghe theo. Ra đến đồng, tôi lội xuống mương chăm chỉ mò cua bắt tép, trong đầu luôn nghĩ sẽ có phần thưởng là chiếc yếm đào thật đẹp nên đã rất cố gắng. Trong khi đó thì Cám chỉ mải rong chơi, đuổi bướm bắt chim, hái hoa trên bờ. Khi trời đã quá trưa, nắng bắt đầu gắt thì cũng là lúc giỏ tép của tôi đã đầy. Cám đứng trên bờ nhắc tôi mang giỏ tép lên em trông cho, rồi nói: “Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng đấy”. Vốn tính hay tin người, lại luôn sợ dì ghẻ mắng, nên tôi vội vã mang giỏ tép lên bờ rồi ra chỗ nước sâu để gội đầu. Nào ngờ đâu ở trên bờ, Cảm xúc hết giỏ tép của tôi rồi về nhà trước. Nhìn vào giỏ của mình trống trơn tôi vô cũng buồn bã, thất vọng. Trời thì nắng nóng khiến tôi mệt mỏi vô cùng. Tôi đang khóc thì bỗng ông Bụt xuất hiện và hỏi “Làm sao con khóc?”. Tôi kể hết sự tình rồi Bụt bảo “Con nhìn lại trong giỏ xem còn gì không”. Tôi nhìn kỹ lại thì trong giỏ còn lại một con cá bống. Bụt dặn rặng mang bống về nhà nuôi, mỗi bữa mang cho bống bát cơm và gọi: “Bống bống bang bang, Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”. Tôi cảm ơn Bụt và trờ về nhà làm theo đúng lời Bụt dặn. Hàng ngày sau mỗi bữa tôi thường mang bát cơm ra giếng gọi cá Bống lên ăn. Cá lớn nhanh rồi trở thành người bạn của tôi từ lúc nào. Trước đây tôi thường lủi thủi một mình, làm việc suốt ngày và không được ra ngoài chơi cùng các bạn. Giờ tôi có cá Bống, lúc buồn hay vui tôi đều ra giếng ngồi tâm sự với Bống. Rồi một ngày nọ dì ghẻ nói: Tôi nghe lời mang trâu đi chăn thật xa. Rồi đến chiều về như mọi ngày tôi mang cơm ra gọi thì không thấy Bống đâu cả, chỉ thấy cục máu đỏ nổi lên. Tôi sợ hãi và buồn lắm vì người bạn của mình đã bị mẹ con Cám ăn thịt mất rồi. Tôi lại khóc. Bụt hiện lên hỏi tôi lại kể hết mọi chuyện. Bụt dặn vào bếp tìm lại xương cá rồi cho vào bốn cái lọ mang chôm dưới bốn chân giường. Bụt biến mất. Tôi vào bếp tìm từng chiếc xương cá làm theo lời Bụt. Một ngày kia, dân làng mở hội mừng nhà vua đi ngang qua. Ai cũng vui mừng đi trẩy hội. Những nam thanh nữa tú tuổi tôi ai ai cũng sắm sửa quần áo đẹp, tươm tất để đón ngày vui hội làng. Tôi cũng háo hức lắm vì lâu rồi mới lại có dịp để được ra ngoài đi chơi. Nhưng buồn thay mẹ con Cám bày ra kế để bắt tôi ở nhà. Dì ghẻ trộn đấu thóc với đấu gạo và bắt tôi nhặt cho xong mới được đi. Mẹ con Cám sửa soạn tươm tất rồi dắt nhau đi hội, bỏ lại sự buồn bã, thất vọng trong tôi. Tôi lặng lẽ ngồi nhặt nhưng biết rằng có nhặt đến sáng mai cũng không thể nào xong được. Ngoài kia tiếng trống hội hò reo lại vang lên không ngớt. Xót thương cho thân phận của mình, tôi bưng mặt khóc nức nở. Bụt lại hiện lên và gọi đàn chim xuống nhặt giúp. Trong giây lát đàn chim đã nhặt xong thóc ra thóc, gạo ra gạo. Tôi vui mừng vội vã định đi hội nhưng nhìn lại mình quần áo đã cũ, chắp vá nhiều chỗ lại buồn tủi. Bụt nở nụ cười hiền hậu và nói tôi đào xương cá chôn dưới chân giường lên sẽ có những thứ tôi cần. Rồi Bụt và đàn chim bay đi. Tôi háo hức làm theo. Thật bất ngờ khi đào lên thì trước mắt tôi là quần áo đẹp, là đôi hài xinh xắn và cả một chú ngựa sẽ đưa tôi đến hội làng. Tôi mừng rỡ vô cùng. Khoác bộ quần áo mới và đi đôi hài óng ánh, tôi thấy mình trở nên xinh đẹp khác hẳn ngày thường. Tôi cưỡi ngựa đến hội nhưng đi qua cầu chẳng may rơi mất một chiếc hài. Kiệu của nhà vua đi qua chỗ lội ngựa không chịu bước, vua sai quân lính xuống xem thì mò được chiếc hài. Vua chăm chú ngắm nhìn và sai quân thông báo rằng hễ ai đàn bà con gái trong làng đi vừa chiếc hài vua sẽ cưới về làm vợ. Rồi con gái trong làng ai ai cũng thử hài để mong có cơ hội làm vợ vua. Ngay cả mẹ con Cám cũng thử nhưng không vừa. Tôi vui chơi trong đám hội và cũng không nghĩ răng mình sẽ có cơ hội làm vợ vua. Nhưng khi gần hết con gái trong làng thử vẫn chưa tìm được người đi vừa chiếc hài, tôi bèn đến thử thì vừa như in và thấy đúng chiếc hài mình đánh rơi ở cầu. Tôi lấy chiếc còn lại ra đi. Vua mừng rỡ đón lấy tôi và tôi được rước về cung làm vợ nhà vua khôi ngô tuấn tú. Tôi chết oan uống, được các vị thần tiên thương tình nên đã cho tôi hóa kiếp thành con chim vàng anh. Tôi nhớ nhà vua nên đã bay vào cung. Hàng ngày mỗi lần nhà vua ra vườn, tôi quấn quýt bay theo hót líu lo. Nhà vua vui vẻ nói: “Vàng ảnh vàng anh, Có phải vợ anh, Chui vào tay áo”. Tôi liền bay vào tay áo nhà vua. Vua mừng rỡ đặt tôi vào chiếc lồng dát vàng lộng lẫy. Hàng ngày sau mỗi buổi chầu vua thường đến bên lồng chim và không màng đến Cám. Mẹ con Cám thấy vậy ghen tức bèn giết thịt tôi và vứt lông chim ra vườn. Vua về nhà không thấy chim đâu buồn bã vô cùng. Tôi hóa thân thành hai cây xoan đào thật đẹp nơi mẹ con Cám vứt lông chim ngoài vườn. Vua thấy hai cây đẹp quá bèn sai lính mắc võng để vua nằm nghỉ ngơi. Cám thấy vậy liền mách với mẹ. Dì ghẻ bày mưa chặt hai cây xoan đào làm khung cửi. Tôi đã hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào mà mẹ con Cám vẫn không chịu tha cho tôi. Hàng ngày lúc Cám dệt vải, tôi tức giận cất tiếng: Lấy tranh chồng chị Chị khoét mắt ra.” Cám thấy vậy hốt hoảng lắm liền nói với mẹ. Rồi mẹ Cám xúi đốt khung cửi và vứt tro đi một nơi thật xa. Ở rất xa cung thành, nơi mẹ con Cám vứt tro mọc lên cây thị rất to. Tôi lại hóa thân thành quả thị trên cây. Trên cây chỉ có một quả nhưng tỏa hương thơm khắp nơi. Đó là một vùng quê thật yên bình. Rồi một ngày nọ có một bà cụ gương mặt phúc hậu đi qua và nói: “Thị ơi thị rơi bị bà. Bà để bà ngửi chứ bà không ăn.” Nhìn bà cụ hiền lành quá nên tôi đã rơi xuống bị theo bà về nhà. Hàng ngày bà nâng niu quả thị và nói chuyện. Tôi thấy bà thật đôn hậu và dễ mến. Thương bà cụ sống một mình, hàng ngày mỗi khi bà đi chợ, tôi lại bước ra khỏi quả thị và giúp bà nấu cơm, quét nhà sạch sẽ rồi lại chui vào quả thị mỗi khi bà về. Một vài ngày sau cũng như thường lệ bà lại đi chợ, tôi bước ra làm công việc nhà đỡ bà. Bà từ ngoài cửa chạy vào xé tan vỏ thị và ôm chầm lấy tôi mà nói “ Con ngoan, giờ con ở với bà nhé. Con đừng vào quả thị nữa. Bà sẽ thương con và coi con như con gái của bà”. Tôi thấy bà cụ chất phác, giản dị nên thương. Từ đó hai mẹ con chung sống trong ngôi nhà tranh, hàng ngày bán nước dưới gốc cây thị xòa bóng mát. Rồi một ngày nọ nhà vua đi vi hành có ghé qua quán nước của bà. Bà mời vua miếng trầu do chính tay tôi têm. Vua ngạc nhiên vì miếng trầu têm cánh phượng quá đẹp, y như miếng trầu vợ têm. Vua bèn hỏi thì bà lão nói rằng trầu do con gái bà têm. Vua ngỏ ý muốn gặp con gái bà. Lúc đó tôi đang trong nhà nấu cơm thì bà gọi ra. Tôi bước ra thì thật sững sờ, không ngờ lại có thể gặp lại nhà vua. Hai vợ chồng mừng rỡ ôm lấy nhau. Tôi kể lại sự tình rồi vua đưa tôi trở về cung và đuổi hai mẹ con nhà Cám đi. Vậy là sau bao thăng trầm với nhiều lần hóa kiếp thì tôi lại được đoàn tụ với chồng, sống trong hạnh phúc. Nhiều lần nghĩ lại tôi tưởng như chỉ là giấc mơ vừa mới hôm qua. Sau tất cả, tôi luôn tâm niệm và thấy các cụ ngày xưa dạy thật đúng, ở hiền rồi sẽ gặp lạnh.
Nhập vai cô Tấm kể chuyện đời mình
1,811
Đề bài: Nhớ rừng của Thế Lữ mượn lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thú để diễn tả sự sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, giả dối và niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt”. Ý kiến của em? Hướng dẫn làm bài Nhớ rừng mượn lời con hổ bị giam cầm trong vườn thú để bộc lộ tâm sự của chính tác giả Thế Lữ. Toàn bài thơ xoay quanh tâm sự của con hổ. Nhớ rừng của Thế Lữ mượn lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thú để diễn tả sự sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, giả dối và niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt Sự chán ghét thực tại tầm thường, giả dốì được thể hiện thông qua hình ảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt. Đó là cảnh tù túng (cũi sắt), nhàm tẻ (những cảnh không đời nào thay đổi), cảnh nhân tạo do bàn tay con người sửa sang (hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng) tầm thường, giả dối, học đòi bắt chước vẻ hoang vu của chốn núi rừng (dải nước đen giả suối, mô gò thấp kém, vừng lá hiền lành, không bí hiểm,..). Niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt được thể hiện thông qua sự hồi tưởng của con hổ về núi rừng oai nghiêm (đối lập với cảnh rừng bách thú tầm thường. Núi rừng chứa đựng nhiều bí ẩn: hang tối, thảo hoa không tên không tuổi, rừng sâu bí mật,… những âm thanh dữ dội, man dại: gió gào ngàn, nguồn thét núi,… cảnh vật rực rỡ: những đêm vàng bên bờ suối, những ngày mưa chuyển bôn phương ngàn, những bình minh cây xanh nắng gội, những chiều lênh láng máu sau rừng với tiếng chim ca giấc ngủ… Hình ảnh chúa sơn lâm hiện lên rất uy nghi, lẫm liệt ngự trị tối cao trong vương quốc của chính mình. Đại từ xưng hô T’a đầy quyền uy, kiêu hảnh tôn thêm tư thê vị chúa sơn lâm. Tác giả sử dụng nhiều động từ, tính từ mạnh để khắc họa sự hùng tráng của núi rừng và tư thế uy nghi của con hổ: tung hoành, hống hách, gào, hét, dữ dội, dõng dạc, cuộn, quắc,… Tâm trạng con hố thế hiện bất hòa với thực tại tầm thường, bó buộc, giam hãm (gặm một khối căm hờn trong củi sắt, bị nhục nhàn tù hãm), khao khát vươn lên cái cao cả, tự do, phi thường không chấp nhận thực tại vô nghĩa (tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt). Tâm trạng của con hổ cũng chính là tâm sự của tác giả, là một cách khẳng định cái Tôi cá nhân của con người. Cảnh vườn bách thú tầm thường, giả dốĩ và tù túng dưới con mắt hổ chính là thực tại xã hội dưới con mắt của những tâm hồn lãng mạn. Thái độ căm ghét của con hổ đối với vườn bách thú chính là thái độ của con người đối với xã hội đương thời. Bài thơ đã chạm đến những gì nhạy bén nhất của một xã hội đang sông trong cảnh nô lệ, tù túng nhưng không nguôi nhớ về quá khứ vàng son với những chiến công hiển hách của cha ông. Như vậy bài thơ chính là tâm sự yêu nước thám kín được gửi gắm qua hình tượng con hổ.
Nhớ rừng của Thế Lữ mượn lời con hổ bị nhốt trong vườn bách thứ để diễn tả sự sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường, giả dối và niềm khao khát tự do một cách mãnh liệt
580
Những biểu hiện của tình đồng chí trong bài thơ Đồng chí của chính Hữu Hướng dẫn Đồng chí là một trong số những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Chính Hữu và cũng là của nền thơ kháng chiến. tác phẩm được sáng tác vào đầu năm 1948 – sau chiến dịch Việt Bắc ( thu đông 1947 ).Trong chiến dịch này, Chính Hữu là chính trị viên đại đội. Kết thúc chiến dịch, Chính Hữu ốm nặng, phải ở lại. Cảm dộng truowcs tình cảm chăm sóc của người đồng đội, Chính Hữu đã viết nen bài thơ này. Sau khi trình bày cơ sở hình thành nên tình đồng chí cao dẹp, tác giả để cho người chiến sĩ này nói đến gia cảnh của đồng đội với một tâm trạng bâng khuâng thương nhớ: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì gắn bó thân thương nhất: “ruộng nương”,”gian nhà”,”giếng nước”,”gốc đa”… Họ ra đi để lại sau lưng những băn khoăn, trăn trở, những bộn bề, lo toan của cuộc sống đời thường. Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện rõ thái độ lên đường thật dứt khoát mạnh mẽ. Vì nghĩa lớn, họ sẵn sàng ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa.Song dù có dứt khoát thì vẫn nặng lòng với quê hương. Gác tình tiêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp ấy thật đáng trân trọng và tự hào Tình thần ấy gợi nhớ đến hình ảnh người chiến sĩ vệ quốc đoàn trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi: Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy. Tình cảm của hậu phương đối với những chàng trai chiến trận cũng sâu sắc, mặn nồng: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”. Quê hương nhớ người ra lính hay cũng chính là tấm lòng người chiến sĩ vẫn không nguôi quên nhớ thương quê hương và đã tạo cho “giếng nước gốc đa” một tâm hồn? Nghệ thuật nhân hóa và cách dùng hình ảnh tượng trưng đã diễn ra tinh tế nỗi nhớ nhung lưu luyến của người lính. “giếng nước gốc đa” là hình ảnh thân thương của làng quê được nói nhiều trong ca dao xưa, nay đã được chính hữu vận dụng vào thơ rất đậm đà. Nói ít gợi nhiều, thấm thía. “gian nhà “, “giếng nước“, gốc đa” đang đêm ngà dõi theo bóng hình cày ra trận hay “người ra lính” vẫn đêm ngày ôm ấp hình bóng quê hương? Có cả hai nỗi nhớ ở cả hai phía chân trời. tình yêu quê hương đẫ góp phần tạo nên tình đồng chí, làm nên sức mạnh tinh thần để người lính vượt qua mọi thử thách gian lao, ác liệt thời máu lửa. Vượt qua nỗi nhớ, người lính đối diện với điều kiện chiến đấu thiếu thốn và thiên nhiên khắc nghiệt của nơi rừng thiêng nước độc, với những cơn sốt rét rừng khủng khiếp.Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, sẻ chia những khó khăn, thiếu thốn, cùng nhau vượt qua hoàn cảnh để tiếp tục chiến đấu: Rét run người vầng tráng ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá. Bằng những hình ảnh tả thực, hình ảnh sóng đôi, tác giả đã tái hiện chân thực những khó khăn thiếu thốn và điều kiện chiến đấu khắc nghiệt trong buổi đầu kháng chiến. Không những thiếu lương thực, quân trang mà đến cả thuốc men cũng hết sức khan hiếm. Trong khi đó, những con sốt rét rừng tung hoành, khiến người lính đã khổ cực lại càng thêm khốn đốn. Thế nhưng, vượt lên trên tất cả, người lính đã chiến thắng bằng một tinh thần kiên định vững vàng: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Những cái nắm tay nghĩa tình làm sáng lên tinh thần lạc quan của người chiến sĩ trong gian khổ thì cái nắm tay lại thể hiện tình đồng chí, đồng đội thật sâu sắc! Cách biểu lộ chân thực, không ồn ào mà thấm thía. Những cái bắt tay truyền cho nhau hơi ấm, niềm tin và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Cái nắm tay nhau ấy còn là lời hứa hẹn lập công. Khép lại bài thơ, hình ảnh người lính đứng bên nhau trong nhiệm vụ canh gác kì vĩ như một bức tượng đài khắc tạc lên thời gian. Cái làm nên sự vĩ đại ấy không phải là những chiến công mà là tinh thần sắt đá vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt, bám sát nhiện vụ, bất khuất trước kẻ thù.
Những biểu hiện của tình đồng chí trong bài thơ Đồng chí của chính Hữu
796
Những bài ca quê hương, đất nước, con người tươi đẹp đáng yêu và tự hào- Bình giảng văn 7 Hướng dẫn Nếu ca dao – dân ca về tình cảm gia đình thường là những bài hát ru, thì ca dao – dân ca về tình yêu quê hương, đất nước, con người thường là những bài hát đối đáp, những khúc ca ngẫu húng tự nhiên cất lên trong sinh hoạt cộng đồng, trong lễ hội, khi ngoạn cảnh, lúc đứng ngắm đồng ruộng quê hương,… Chùm ca dao Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người (Ngữ văn 7, tập một) có lẽ là những bài ca tiêu biểu. Điều thú vị là chỉ bốn bài ca ngắn gọn mà chúng ta nghe được nhiều giọng điệu khác nhau, nhìn ngắm, thưởng thức được nhiều địa danh, nhiều phong cảnh kì thú khác nhau. Ở bài ca dao thứ nhất, chàng trai, cô gái hỏi – đáp về những địa danh mang nhũng đặc điểm nổi bật. Thành Hà Nội năm cửa, sông Lục Đầu sáu khúc chảy êm đềm, nước sông Thương bên đục bên trong, núi Tản Viên, đền Sòng, thành tiên ở Lạng Sơn… Chàng trai hỏi, cô gái đáp, hỏi đáp rất hài hoà, ăn ý. Đây là một hình thức ca hát dân gian thường xuất hiện trong những lễ hội, hội mùa xuân, hội mùa thu ở nhiều vùng quê Việt Nam: hội hát xoan Phú Thọ, hội Lim Bắc Ninh, hát phường vải Nghệ – Tĩnh, hát ví ghẹo, giao duyên ở đồng bằng Bắc Bộ, ở miền Trung và nhiều tỉnh Nam Bộ,… Qua hát đối đáp, đôi bên nam, nữ (có thể là chàng trai cô gái, cũng có thể là cụ ông, cụ bà,…) thử tài nhau về kiến thức lịch sử, địa lí, văn hoá, cũng là để chia sẻ với nhau tình yêu nam nữ, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước. Lắng nghe lời hỏi, đáp của hai nhân vật trữ tình trong bài ca Ở đâu năm cửa nàng ơi…, chúng ta thấy hiện lên nhiều địa danh từ thủ đô Hà Nội đến Hải Dương, Bắc Giang, vào Thanh Hoá, rồi ngược Lạng Sơn. Mỗi vùng có một nét đẹp riêng, hợp thành một bức tranh non nước Việt Nam thơ mộng, giàu truyền thống văn hoá. Không trực tiếp nói ra, nhưng cả người hỏi lẫn người đáp đều biểu hiện tình yêu, niềm tự hào về quê hương, Tổ quốc mình. Bài ca còn kéo dài hơn nữa. Chẳng hạn, chàng trai hỏi tiếp: Ở đâu có chín từng mây Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng? Chùa nào mà lại ở hang Ở đâu lắm gỗ thì nàng biết không?… Cô gái đáp: Trên trời có chín từng mây Dưới sông lắm nước, núi nay nhiều vàng Trên rừng lắm gỗ, hỡi chàng biết không… Như vậy, chàng trai, cô gái trong cuộc hát giao duyên này nói riêng, nhân dân lao động Việt Nam ta nói chung không chỉ say đắm, mến yêu, tự hào về giang sơn Việt Nam cẩm tú mà còn tỏ ra là những người lịch lãm, hào hoa, tế nhị và giàu hiểu biết, thật đáng noi theo. Tiếp sau những cuộc hát đối đáp là những chuyên du lịch. Một nhóm người, hoặc cả đoàn người đông vui chung niềm khao khát được thưởng thức cảnh đẹp ở đất kinh kì, ở xứ Huế cố đô “rủ nhau”, gọi nhau,… Cảnh ở kinh kì thật phong phú, có hồ (Kiếm Hồ), có cầu (Thê Húc), có đền (Ngọc Sơn), có đài, có tháp, cảnh thiên tạo hài hoà với cảnh nhân tạo, nét đẹp tự nhiên hài hoà với nét đẹp lịch sử, văn hoá. Còn ở Huế, cảnh mới thơ mộng làm sao, đường quanh quanh uốn lượn hài hoà với “non xanh”, “nước biếc”, sơn thuỷ hữu tình. Với cảnh ở Hà Nội, tác giả dân gian không tả mà chỉ kể, theo kiểu liệt kê, các chi tiết cảnh nối nhau thật phong phú, đa dạng. Còn với Huế, cảnh được miêu tả theo kiểu chấm phá lướt qua: đường, núi, nước. Mỗi đối tượng được nhấn mạnh bằng một tính từ gợi hình. Đường thì “quanh quanh”, núi thì “xanh”, nước (sông Hương) thì “biếc”. Thêm nữa, từ láy hoàn toàn “quanh quanh” và phép so sánh “như tranh hoạ đồ” khiến cho xứ Huế càng… mộng và… thơ. Thăm Hà Nội kinh kì, rồi vô xứ Huế cố đô, chúng ta được ngắm cảnh, được thăm viếng những di tích lịch sử, văn hoá, lòng càng thêm yêu Tổ quốc tươi đẹp, trí càng thêm rộng mở và lắng sâu, ghi nhớ công ơn người xưa đã tôn tạo và giữ gìn “bức tranh hoạ đồ” quý giá. Bài ca dao thứ tư, thú vị thay, giọng ca, lời ca phóng khoáng linh hoạt, cảnh thiên nhiên và nhân vật trữ tình hoà hợp, đậm chất đồng quê, khác hẳn hai bài trước: Đứng bên ni đồng, ngó hên tê đồng, mênh mông bát ngát, Đừng bên tê đồng, ngố bên ni đồng, bút ngát mênh mông. Thân em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. Về bố cục, bài ca dao này gồm hai phần vừa độc lập vừa gắn bó với nhau. Hai câu đầu tả cảnh đồng lúa trong buổi bình minh. Hai câu sau miêu tả dáng hình cô thôn nữ đẹp đẽ, thơ mộng như đồng lúa, như những chẽn lúa… về giọng điệu, đây là loại bài ca tự do, ngôn ngữ được nới rộng theo đối tượng miêu tả và tâm trạng nhân vật trữ tình. Hai câu đầu, mỗi câu kéo dài mười hai tiếng. Câu thứ ba không phải sáu tiếng mà là bảy tiếng. Chỉ câu bốn mới trở lại tám tiếng bắt vần với câu ba giống thể thơ lục bát. Đây là bài ca dao lục bát biến thể, một thể thơ khá phổ biến trong kho tàng ca dao Việt Nam. Nếu hiểu theo cách thứ nhất – lời chàng trai – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao tỏ tình, ví ghẹo. Ví dụ: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Hoặc: Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm. Mở đầu các bài ca này thường là tiếng gọi, rồi tiếp sau là một câu hỏi ỡm ờ, đưa duyên. Hoặc nếu không thì cũng là những lời ca ngợi khéo léo để làm đẹp lòng người mình đang hướng tới. Ví dụ: Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh, em đứng một mình cũng xinh. Nếu hiểu theo cách hai – lời cô gái – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao mượn cảnh ngụ tình, trước thiên nhiên và cuộc sống, con người giãi bày tâm sự. Ví dụ: Một ngày hai buổi cơm đèn Còn gì má phấn, răng đen, hỡi chàng. Hoặc: -Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. -Thân em như hạt mưa sa… Suy ngẫm trên cơ sở văn bản, cả nội dung, cảm hứng lẫn giọng điệu, ngôn từ, có lẽ hiểu bài ca dao “Đứng bên ni đồng…” theo cách hai là sát hợp hơn. Đây là lời cô thôn nữ trước đồng ruộng quê hương, vừa ca ngợi cảnh đẹp cánh đồng vừa tự ngắm rồi dự cảm về thân phận mình. Nếu là lời chàng trai, e rằng không sát, vì không ai tỏ tình lại nói với đối tượng bằng từ “thân em” nghe không duyên dáng, thiếu tế nhị. Dù hiểu thế nào thì chúng ta cũng đều cảm nhận rằng bài ca dao này là tiếng hát chứa chan tình cảm đối với đồng ruộng, quê hương và con người quê hương. Hai câu đầu, hai dòng thơ kéo dài, kết hợp điệp từ, đảo từ và đối xứng (đứng bên tê đồng – đứng bên ni đồng ; mênh mông bát ngát – bát ngát mênh mông) đặc tả vẻ đẹp của đồng lúa. Nhìn từ đâu, nhìn ở phía nào cũng thấy đồng ruộng mênh mông, rộng lớn, đẹp đẽ, trù phú và mang sức sống trẻ trung, phơi phới. Trước một cánh đồng như thế, ai chẳng xúc động, chẳng mến yêu quê hương mình, nhất là các cô thôn nữ. Bởi vì, tất cả nét đẹp và trù phú kia không phải trời cho mà chính từ đôi bàn tay, từ công sức của con người, trong đó có mình. Từ cảnh mà sinh tình, ngắm cánh đồng, cô gái tự ngắm mình, vui thú, tự hào về vóc dáng nhỏ xinh, mềm mại của mình “Thân em như chẽn lúa đòng đòng…”. Mình xinh đẹp, tràn trề sức sống, nhưng tương lai ra sao thì… khó đoán được. Nghệ thuật so sánh (như chẽn lúa) kết hợp các từ “thân em”, “phất phơ” vừa tả vẻ đẹp vừa biểu hiện tâm trạng cô gái. Cô gái tự hào vì mình đang tuổi thanh xuân, tươi tắn hoà hợp trong vẻ đẹp và sức sống của đồng ruộng quê hương. Nhưng cô không khỏi bâng khuâng, lo lắng về số phận Những bài ca dao trên có giọng điệu khác nhau nhưng mang vẻ đẹp nghệ thuật và nội dung, ý nghĩa thật phong phú. Điều chúng ta ghi nhớ nhất là: Những câu hát về quê hương, đất nước, con người thường gợi nhiều hơn tủ, nhắc đến tên núi, tên sông, tên vùng đất với những nét đặc sắc về hình thể, cảnh trí, lịch sử, văn hoá của từng địa danh. Đằng sau những câu hỏi, lời đáp, lời mời, lời nhắn gửi và các bức tranh phong cảnh luôn là tình yêu chắn chất, tinh tế và niềm tự hào đối với quê hương, đất nước, con người,… Xem lại bài bình giảng Những bài ca tình nghĩa gia đình
Những bài ca quê hương, đất nước, con người tươi đẹp đáng yêu và tự hào- Bình giảng văn 7
1,655
Những bài ca tình nghĩa gia đình – Bình giảng văn lớp 7 Hướng dẫn Ca dao – dân ca là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”, là thơ ca trữ tình dân gian. Ca dao – dân ca Việt Nam là cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân, nhất là những người lao động Việt Nam. Rất tự nhiên, tâm hồn, tình cảm con người bao giờ cũng bắt đầu từ tình cảm, ân nghĩa đối với những người ruột thịt trong gia đình. Truyền thống văn hoá Việt Nam rất đề cao gia đình và tình nghĩa gia đình. Bài ca tình nghĩa gia đình trong kho tàng ca dao – dân ca Việt Nam vô cùng phong phú. Trong đó, bốn bài ca của văn bản Những câu hát vê tình cảm gia đình là tiêu biểu, vừa sâu sắc về nội dung, vừa sinh động, tinh tế về ngôn ngữ nghệ thuật: – Công cha như núi ngất trời… – Chiều chiều ra đứng ngõ sau… – Ngó lên nuộc lạt mái nhà… – Anh em nào phải người xa… Lời của những bài ca. dao trên là lời của ai, nói với ai thế? Qua âm điệu, ý nghĩa các từ ngữ và hình ảnh những nhân vật trữ tình của chùm ca dao, chúng ta hiểu rằng: đây là lời ru con của mẹ, nói với con ; là lời người con gái lấy chồng xa quê hướng về quê mẹ, nói với mẹ ; là lời của cháu nói với ông và cuối cùng, ở bài thứ tư thì lời nói nghĩa tình ngân lên một khúc hát nhiều bè, có thể là lời của ông bà, hoặc cô bác nói với cháu, của cha mẹ răn bảo con, hoặc của anh em ruột thịt tâm sự, bảo ban nhau. Những câu hát về tình cảm gia đình trong ca dao – dấn ca Việt Nam chúng ta đẹp như một bản hợp ca vừa chân thành, thân mật, ấm cúng, vừa thiêng liêng, trang trọng, xuyên thấm từ đời này sang đời khác. Trong bốn bài ca dao trên, có lẽ lay động sâu sắc tâm hồn, trí tuệ chúng ta nhất là bài 1 và bài 4. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Sáu tiếng mở đầu ngân theo ba nhịp như khúc dạo nhạc nhẹ nhàng, thủ thỉ của một bài hát ru. Đây là lời ru của mẹ, ru cho đứa con thơ bé ngủ ngon, đồng thời nhắc nhở công lao trời biển của cha mẹ đối với con và bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha me. Mẹ sinh ra con, dành tất cả những dòng sữa thơm ngọt nuôi phần xác của con và hằng đêm cất tiếng ru êm dịu rót thêm những dòng sữa âm thanh nuôi lớn phần hồn của con. Là những người con, mỗi chúng ta ai mà chẳng đã từng được nghe lời ru của mẹ để rồi cùng với sữa mẹ, những bài hát ru ấy đã nuôi lớn chúng ta, hoàn thiện cho ta những bước trưởng thành cả tâm hồn và thể xác. Ớ bài hát ru này, người mẹ đã ví công lao sinh thành, nuôi dạy của cha mẹ đối với con cái cao như “núi ngất trời”, rộng như “nước biển Đông”. Đây là cách nói ví quen thuộc của ca dao Việt Nam để ca ngợi công ơn cha mẹ đối với con cái. “Công cha”, “nghĩa mẹ” là những ý niệm trừu tượng được so sánh bởi hình ảnh tạo vật cụ thể “núi cao”, “biển rộng”, biểu tượng cho sự vĩnh hằng bất diệt của thiên nhiên. Những hình ảnh ấy được miêu tả bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời: núi rất cao, ngọn núi lẫn trong mây trời ; biển rộng mênh mông: biển rộng không sao đo được). Một hình ảnh vẽ chiều đúng, hài hoà với hình ảnh vẽ chiều ngang dựng một không gian bát ngát, mênh mang, rất gợi cảm. Thêm nữa, hai từ “núi” và “biển” được nhắc lại hai lần (điệp từ) bổ sung thêm nét điệp trùng, nối tiếp của núi, của biển khiến cho chiều cao của núi càng thêm cao, chiều rộng của biển càng thêm rộng… Chỉ những hình ảnh to lớn, cao rộng không cùng và vĩnh hằng ấy mới diễn tả nổi công ơn sinh thành, nuôi dạy con cái của cha mẹ. “Núi ngất trời”, “biển rộng mênh mông” không thể nào đo được, cũng như công ơn cha mẹ đối với con cái không thể nào tính được. Qua nghệ thuật so sánh, dùng từ đặc tả, từ láy và điệp từ, kết hợp giọng thơ lục bát ngọt ngào của điệu hát ru, ba câu đầu của bài ca dao đã khẳng định và ngợi ca công ơn to lớn của cha mẹ đối với con cái. Đây không phải là lời giáo huấn khô khan về chữ hiếu mà là những tiếng nói tâm tình truyền cảm, lay động trái tim chúng ta. Do đó, đến câu cuối “Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”, tuy lời ru chỉ rõ công ơn cha mẹ bằng một thành ngữ “chín chữ cù lao” hơi khó hiểu, nhưng chúng vẫn thấm thìa những tình nghĩa cha mẹ đối với con cái. Có thể nói, công ơn cha mẹ đối với con cái không chỉ gói lại ở con số chín (sinh: đẻ, cúc: nâng đỡ, phủ: vuốt ve, súc: cho bú, trưởng: nuôi lớn, dục: dạy dỗ, cố: trông nom, phục: theo dõi, phúc: che chở) mà mở rộng đến vô cùng. Câu thơ tám tiếng chia đều hai nhịp: bốn tiếng đầu “cù lao chín chữ” nhấn mạnh công ơn cha mẹ, bốn tiếng sau “ghi lòng con ơi” nhắc nhở thái độ và hành động của con cái đền đáp công ơn ấy. Về mặt bố cục và mạch lạc văn bản, bài hát ru này khá chặt chẽ. Nhiều bài ca dao khác của dân tộc ta cũng thường bố cục tương tự: miêu tả sự vật, kể sự việc, rồi nhắc nhở, răn dạy ; nội dung hiện thực, hài hoà mang tính giáo huấn ; lay động người nghe bằng tình cảm, sau đó mới nhắc nhở bằng lí trí, ý thức. Ngoài bài ca dao mà sách giáo khoa giới thiệu, nhiều người Việt Nam còn nhớ một số bài khác có nội dung tương tự như: Ơn cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang. Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra… Cùng với bài hát ru về công cha, nghĩa mẹ, cha ông ta cũng thường hát ru con cháu về tình cảm anh em thân thương ruột thịt. Bài ca dao thứ tư là lời răn dạy về tình cảm ấy và cũng có bố cục gần giống bài thứ nhất. Phần thứ nhất: Người ru, người hát vừa kể vừa tả quan hệ anh em trong một nhà: Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Quan hệ anh em khác biệt rõ ràng với quan hệ láng giềng, xã hội. Lời ca dùng phép đối chiếu, dùng hai tiếng “người xa” mở đầu mang âm điệu bình thản như vô cảm, rồi đối lại bằng một dòng tám tiếng liền mạch “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” nghe vừa như thân mật, tha thiết vừa thiêng liêng, trang trọng. Những hình ảnh “bác” (cha), “mẹ”, “một nhà” kết hợp các từ “cùng” đã nhấn mạnh quan hệ anh em, thân thương, ruột thịt. Lời ca nhẹ nhàng, tự nhiên, ý nghĩa, nội dung sâu sắc mà khơi gợi biết bao tình cảm mặn nồng, tha thiết. Phần tiếp sau là lời răn bảo cụ thể: Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy. Lời răn bảo dùng cách so sánh khéo léo. Tình anh em, yêu thương, hoà thuận, trên kính dưới nhường như tay gắn bó với chân, sự gắn bó bằng đường gân, mạch máu. Đây cũng là cách dùng một ý niệm trừu tượng “tình thương yêu” đối chiếu, so sánh với hình ảnh cụ thể “tay, chân”, mở ra trong suy nghĩ của người nghe nhiều liên tưởng, tưởng tượng rộng và sâu. Nói khác đi, ông bà, cha mẹ luôn mong muốn con cái trong một nhà thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó với nhau như tay với chân trong một cơ thể. Cái cơ thể ấy chính là gia đình. Người tiêu biểu cho gia đình chính là cha mẹ. Tình cảm anh em nằm trong tình thương yêu của cha mẹ. Vì thế, anh em hoà thuận sẽ đem lại niềm vui, hạnh phúc cho cha mẹ “Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy”. Lời ca kết lại, nhưng cảm xúc và ước vọng vẫn tiếp tục mở ra. Những từ ghép “yêu nhau”, “hoà thuận”, “vui vầy” thuộc nhóm từ biểu cảm cứ ngàn lên, lan toả mãi trong lòng người… Xem lại bài bình giảng Tuổi thơ không muốn chia ly
Những bài ca tình nghĩa gia đình – Bình giảng văn lớp 7
1,550
Những bài hát than thân – Bình giảng văn lớp 7 Hướng dẫn Một trong những đặc điểm nghệ thuật nổi bật của ca dao – dân ca Việt Nam là dùng phép so sánh, ẩn dụ. Trong những câu ca dao ẩn dụ, các tác giả dân gian thường dùng hình ảnh những con vật bé nhỏ gần gũi với cuộc sống hằng ngày của mình để ngầm ví với cuộc đời, thân phận cơ cực vất vả của con người. Tiêu biểu cho những con vật xuất hiện nhiều trong ca dao là con cò, con cá bống, con kiến, con tằm, con ong, con ốc, con hạc,… Chùm ca dao Những câu hát than thân, trừ bài số ba sử dụng hình ảnh con người – cô gái – còn hai bài trên, mười hai dòng thơ đều nói tới những con vật gần gũi chốn đồng quê. Ớ bài thứ nhất, cuộc đời lận đận, vất vả của con người được diễn tả thật cụ thể, đầy tính ẩn dụ: Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn, cho gầy cò con? Tác giả bài ca đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật vô cùng phong phú. Đó là những hình ảnh đối lập (nước non rộng lớn đối với một mình đơn côi, lên thác đối với xuống ghềnh, bể đầy đối với ao cạn). Nghệ thuật đối lập này thể hiện một nghịch lí của cuộc đời con cò, cũng chính là cuộc đời của người lao động ngày xưa: Một mình phải đối mặt với biết bao sự vật thiên nhiên to lớn, dữ dội (nước non, thác, ghềnh), với biết bao biến động ở đời (bể thì đầy, ao lại cạn). Cố gắng, tần tảo, lận đận đến như thế, bươn chải khắp nơi như thế mà kết quả thì lại quá nhỏ nhoi, ít ỏi, không đủ nuôi con nên cò con vẫn … “gầy”. Kết hợp với phép đối lập là các từ ghép nước non, từ láy lận đận, từ gợi tả thân cò, cò con, nhất là câu hỏi tu từ ở cuối bài “Ai làm cho…?” bộc lộ một tâm trạng buồn thương, ngao ngán và trách cứ, dỗi hờn. Mỗi dòng thơ là một tiếng than, tiếng thở dài chua xót. Do đó, ngoài nội dung than thân vì phải sống vất vả, bài ca dao còn có nội dung phản kháng, tố cáo xã hội phong kiến trước đây. Sống trong xã hội áp bức bất công ấy, người dân lao động phải lên thác, xuống ghềnh để mưu sinh mà hạnh phúc, ấm no chẳng có. Ai gây nên điều này, nếu không phải là bọn thống trị lúc bấy giờ. Câu cuối bài ca là câu hỏi tu từ, bỏ lửng. Nhưng mạch thơ và dòng cảm xúc của thơ đã khơi gợi cho người nghe, người đọc lời đáp đó… Khác với bài ca thứ nhất lời người hát tự than về mình, ở bài ca thứ hai người hát đứng bên cạnh đối tượng để chia sẻ, cảm thông với đối tượng. Và khác hơn nữa là ở bài ca thứ nhất chỉ có một “thân cò”, còn trong bài ca này xuất hiện bốn con vật. Mỗi cặp câu mở đầu bằng hai tiếng “thương thay”, đi liền theo là thân phận khổ đau, vất vả của “con tằm”, “lũ kiến”, “chim hạc” và “con cuốc”. Nhìn bao quát, chúng ta thấy hiện lên một bức tranh loài vật thật đa dạng, phong phú. Mỗi con một dáng vẻ, một số phận riêng. Tằm thì ăn ít, phải nhả tơ nhiều. Kiến nhỏ li ti vẫn “phải đi kiếm mồi” (về nuôi kiến chúa). Chim hạc bay mỏi cánh không nghỉ. Còn chim cuốc thì “kêu ra máu”, giọng kêu khắc khoải, tha thiết, quặn đau đến ứa máu mà người đời chẳng ai nghe, chẳng ai đoái hoài… Người hát bài ca này mang một trái tim lớn, nhân hậu bao la, cảm thương, chia sẻ với từng con vật bé nhỏ. Cao cả, rộng lớn, sâu sắc hơn là lòng thương con người, sự đồng cảm với những cuộc đời người dân lao động bé nhỏ, vất vả, đói nghèo. Bức tranh loài vật khổ đau, chính là bức tranh của kiếp người ngày xưa. Điệp ngữ “thương thay” cứ nối nhau kéo dài suốt cả tám dòng thơ diễn tả tình cảm xúc động không ngừng, truyền sóng dư ba trong lòng người đọc. – Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. – Thân em như giếng giữa làng Người thanh rửa mặt, người phàm rửa chân… Đây là chùm ca dao diễn tả một cách xúc động những đắng cay của cuộc đời người phụ nữ ngày xưa. Trọng xã hội phong kiến, người phụ nữ không được tự quyết định cuộc đời mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Họ dù xinh đẹp, tài hoa đến mấy thì số phận họ vẫn chỉ như những vật dụng hằng ngày, hoặc như “tấm lụa”, như “hạt mưa”, hoặc như “trái bần”,… trôi nổi, vật vờ, rủi may, hạnh phúc, bất hạnh không sao lường trước được. Số phận người phụ nữ như thế đã được nữ sĩ Hồ Xuân Hương mô tả qua bài thơ đặc sắc Bánh trôi nước, cũng mở đầu bằng hai tiếng Thân em: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi,ba chìm với nước non… Những bài ca dao cũng như bài thơ của Hồ Xuân Hương mãi mãi âm vang trong lòng chúng ta. Xem lại bài bình giảng Những bài ca quê hương, đất nước, con người tươi đẹp đáng yêu và tự hào
Những bài hát than thân – Bình giảng văn lớp 7
977
Vanmau.org gửi đến các bạn độc giả những bài viết hay nhất về mái trường thân yêu của các bạn học sinh trường tiểu học Đoạn Thị Điểm – Hà Nội Viết về mái trường tiểu học thân yêu – Bài 1 Con yêu mến và tự hào biết bao mái trường tiểu học mang tên một người con gái tài sắc vẹn toàn của xứ Kinh Bắc, nhà thơ Đoàn Thị Điểm. Con yêu mến ngôi trường này, yêu những tháng ngày bên thầy, bên cô cùng bạn bè mến thương. Mái trường thân yêu của con mang một vẻ đẹp uy nghi, đồ sộ và vững chắc. Trong suốt những năm qua, nơi các phòng học luôn vang lên lời giảng ân cần, ấm áp của thầy cô, tiếng nói, tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên, vô tư của bạn bè. Từng hàng cây,ghế đá luôn hằn in kỷ niệm trong tâm trí con. Với con, ngôi trường như một mảnh đất phù sa, màu mỡ gieo mầm, ươm trồng lên những chủ nhân tương lai của đất nước. Thế mà thấm thoát đã đi qua ba mùa thi là ba mùa phượng nở. Giờ đây, con đã là học sinh lớp 4. Bao cánh phượng nở, bao cánh phượng rơi là bấy nhiêu kỉ niệm yêu dấu về tình thầy cô mà con ghi nhớ suốt đời, không thể nào phai. Thời gian ơi xin hãy ngừng trôi để con mãi là cô học trò bé bỏng, hồn nhiên, để mãi được học tập dưới mái trường mến yêu này. Tuổi thơ như áng mây trôi rồi sẽ bay về cuối trời. Thời gian có thể thay đổi, xoá nhoà đi những kỉ niệm dấu yêu, Con ước mong sao có thể gửi lòng mình về nơi cuối trời ấy để sống mãi bên mái trường của ước mơ và lòng nhân ái này. Càng yêu thầy cô bao nhiêu chúng con càng biết ơn thầy cô bấy nhiêu, chúng con muốn đền đáp công ơn trời biển ấy. Chúng con cảm ơn ngày 20/11 đã cho chúng con cơ hội đẻ được bày tỏ tình cảm chân tình của mình với thầy cô.Trái tim con ngàn lần muốn cất lên tiếng nói” Thầy cô ơi! Con cảm ơn thầy cô rất nhiều”. Lễ kỉ niệm 15 năm thành lập trường, ngày nhà giáo Việt Nam đang tới gần, Tất cả chúng con xin gửi lời hứa với các thầy các cô, sẽ luôn cố gắng phấn đáu chăm ngoan, học giỏi, vâng lời thầy cô, cha mẹ và ông bà. Chúng con xin hứa dành thật nhiều bông hoa điểm tốt để cùng kính tặng các thầy cô. Mai sau dù lớn khôn, cánh chim bay trên mọi miền tổ quốc, kỉ niệm trong con về những người thầy, người cô cùng niềm vinh dự, tự hào về mái trường Đoàn Thị Điểm mến yêu suốt cuộc đời mà con mãi không bao giờ quên. Viết về mái trường tiểu học thân yêu – Bài 2 Sau mấy tháng hè nghỉ học, xa thầy cô và bạn bè, như bao bạn bè khác, em cảm thấy vui sướng khi lại được học những kiến thức hay và được gặp lại các bạn và thầy cô. Nhưng điều làm em nhớ nhất vẫn là ngôi trường Đoàn Thị Điểm đã gắn bó với em suốt ba năm qua, nơi em luôn coi là ngôi nhà thứ hai của mình. Trường em vào buổi bình minh mới đẹp làm sao! Ông mặt trời như lòng đỏ trứng gà, tỏa những tia nắng ấm áp. Xung quanh trường, hàng cây cổ thụ đang dang tay đón chào chúng em. Những chú chim trên cây như những ca sĩ líu lo hát bài ca chào ngày mới. Giữa sân trường là chiếc sân khấu nhỏ để chúng em sinh hoạt ngoại khóa. Gần sân khấu là hai lá cờ màu xanh và màu đỏ đang tung bay phấp phới trong gió. “Đoàn Thị Điểm – Ngôi trường của ước mơ và lòng nhân ái”. Câu nói đó đã làm cho chúng em yêu trường hơn. Dù sau này ra trường nhưng em sẽ không bao giờ quên mái trường Đoàn Thị Điểm thân yêu. Viết về mái trường tiểu học thân yêu – Bài 3 Những tia nắng tinh nghịch chiếu vào cửa sổ làm tôi choàng tỉnh giấc. Tôi vùng dậy và chuẩn bị đến trường. Ngày nào cũng vậy, cứ đến cổng trường tôi lại ngắm nhìn hang chữ: “Trường Tiểu học dân lập Đoàn Thị Điểm nổi bật trên nền xanh dương”. Cổng màu xanh lá cây thẫm dang rộng hai cánh tay thân thiện để đón học sinh. Tôi thả bộ vòng quanh trường. Bốn dãy nhà A, B, C, D sơn màu xanh nước biển dịu mát. Cột cờ sừng sững uy nghi cạnh sân khấu. Trên đỉnh cột lá cờ đỏ sao vàng phần phật tung bay trong gió sớm. Hành lang sơn màu vàng chạy dài thẳng tắp. Trong các lớp bàn ghế màu nâu sang và bảng xanh lá cây thẫm giống hệt nhau. Đặc biệt các lớp đều có máy chiếu, ti vi, máy tính, loa. Thân thiết nhất với lũ trẻ chúng tôi có lẽ là tủ truyện. Trong giờ giải lao tủ truyện là nơi đông vui nhất. Đứng trên tầng 4 tôi nhìn bao quát được khu vực để xe, bể bơi và nhà thể dục đa năng trông thật sang trọng và đầy đủ tiện nghi. Từ trong vài lớp học tiếng đọc bài lanh lảnh vọng ra. Khu nhà trước là căng tin, phòng Đoàn, Đội, y tế, cửa kính, cửa chớp sáng bóng. Tầng hai là nơi dành cho các bộ phận quản lý trường như phòng hiệu trưởng, hiệu phó, phòng quản lý học sinh. Tầng 3 là nơi nghỉ giữa giờ của các thầy cô. Tầng bốn là hội trường nhỏ dành cho sinh hoạt ngoại khóa. Quả thực bây giờ dù đã là học sinh lớp 4 mà mỗi lần chạy quanh trường tôi còn thấy bở hơi tai vì trường rộng quá. Chả thế mà hồi lớp 1, tôi đến trường mà cứ có cảm giác lạc vào thế giới của người khổng lồ. Và kia, cô chủ nhiệm của tôi đã bước tới bên cạnh lúc nào không rõ. Thời gian làm cho chúng tôi lớn lên, làm thay đổi bao thứ mà lại chẳng thay đổi được ánh mắt, nụ cười và tình yêu thương bao la của thầy cô đối với chúng tôi. Chúng tôi quay lại thành vòng tròn cô ở giữa, cô trò cùng hát vang bài ca đã thuộc lòng từ ngày mới bước chân vào cổng trường Đoàn Thị Điểm: “…Đoàn Thị Điểm một khung trời ước mơ”. Viết về mái trường tiểu học thân yêu – Bài 4 Đối với bất cứ ai trong mỗi chúng ta, ngôi trường đều có một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Bản thân em cũng vậy, không hiểu tự bao giờ ngôi trường mang tên Đoàn Thị Điểm đã ăn sâu vào tình cảm và đã thực sự trở thành ngôi nhà thứ hai của em. Trường em nằm ở khu Đô thị Mĩ Đình II, Đường Lê Đức Thọ, Từ Liêm, Hà Nội. Lần đầu tiên khi em mới bước chân vào trường, em thực sự hoang mang và lo lắng. Trước mắt một đứa trẻ lớp Một còn đầy bỡ ngỡ như em khi đó, ngôi trường là một khoảng không gian rộng lớn. Lúc ấy, em tưởng rằng đây là một tòa lâu đài khổng lồ, mà trong đó em chỉ là một cậu bé tí hon. Ngôi trường gồm ba dãy nhà lớn. Trong đó, có một khu trung tâm dành cho các thầy cô làm việc. Hai dãy nhà hai bên được chia thành các phòng học có kích thước đều nhau. Ngoài ra, ở giữa các khu là một khoảng sân rộng với nhiều cây xanh nhằm phục vụ cho những buổi tập trung toàn trường. Bên cạnh khu lớp học, còn có cả nhà tập đa năng, khu vui chơi giải trí Smart Garden và thư viện. Những nơi này vừa để chúng em luyện thể chất vừa là chỗ giải tỏa mệt mỏi cho chúng em sau những giờ học căng thẳng. Nhưng điều làm em cảm thấy yêu quý ngôi trường hơn cả chính là tình cảm thầy trò nơi đây. Các thầy cô của em không chỉ là người dạy kiến thức sách vở, mà hơn thế, thầy cô còn là những người thân luôn ân cần chỉ bảo, dạy em đạo đức làm người. Em vẫn nhớ như in có những khi không làm được bài, cô không hề quát mắng mà còn giảng tỉ mỉ giúp em hiểu rõ hơn. Rồi có khi em không ăn hết suất cơm, cô lại ân cần, nhẹ nhàng khuyên em cố ăn để có sức khỏe tốt. Được ở bên cô và các bạn, em cảm thấy như đang được ở cạnh những người thân yêu trong gia đình. Em yêu quý trường Đoàn Thị Điểm biết bao. “Ngôi trường của ước mơ và lòng nhân ái” thực sự đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của em. Mai sau khi phải xa trường, những kỉ niệm về nơi đây chắc chắn sẽ còn in đậm mãi trong kí ức tuổi thơ của em. Viết về mái trường tiểu học thân yêu – Bài 5 Trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm là nơi đầu tiên trở thành ngôi nhà thứ hai của em. Hôm nay, trong không khí tưng bừng chuẩn bị chào đón ngày Nhà giáo Việt Nam – ngày tôn vinh các thầy cô giáo, em bang khuâng nhớ về ngày đầu tiên đi học của mình. Bây giờ, em đã là một cô học sinh lớp Bốn, biết viết, biết đọc, biết giải toán, biết ca hát, nhảy múa, làm văn, … Em rất biết ơn các thầy, cô giáo đã dạy dỗ cho em trong suốt những tháng ngày qua dưới mái trường Đoàn Thị Điểm thân yêu. Sau này và mãi mãi, ngôi trường sẽ in sâu trong trái tim em. Viết về mái trường tiểu học thân yêu – Bài 6 Tôi học trường Tiểu học Dân lập Đoàn Thị Điểm. Đối với tôi, mỗi ngày đến trường là một ngày vui và đây thực sự là ngôi trường của ước mơ và lòng nhân ái. Tới trường, chúng tôi được các thầy cô quan tâm, chăm sóc và yêu thương như con của mình. Năm lớp ba, lớp tôi có một bạn mới vào chưa quen cách học nên kết quả học tập chưa cao. Cô chủ nhiệm của chúng tôi đã đưa bạn ấy về nhà để kèm cặp cho đến khi bạn ấy tiến bộ. Tuần trước, em gái tôi đã được nhận quà sinh nhật từ cô phụ trách xe buýt mà chúng tôi đi học hàng ngày. Tôi sẽ không bao giờ quên được chính tay cô Hiệu trưởng đã quàng chiếc khăn đỏ thắm khi tôi được kết nạp Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Ánh mắt cô trìu mến khiến tôi thấy mình phải cố gắng nhiều hơn để không phụ lòng mong mỏi của cô. Vào mỗi dịp lễ kỉ niệm nào đó, trường tôi lại tưng bừng không khí như mở hội. Dịp trung thu vừa rồi, trường tôi tổ chức chương trình “Vầng trăng yêu thương” để quyên góp tiền cho trẻ em nghèo. Hoạt động này giúp tôi thấy được một việc làm nhỏ của mình nhưng thật có ý nghĩa. Tôi thích nhất là chuyến đi “Học viện sĩ quan trẻ tuổi” trong dịp hè vừa qua. Lần đầu tiên xa nhà, xa bố mẹ, tôi được ở gần thầy cô và bạn bè để cùng nhau khám phá những điều mới lạ. Tôi thấy mình lớn lên rất nhiều. Những bữa ăn ở trường bao giờ cũng rất lôi cuốn tôi. Các món ăn lúc nào cũng ngon và đẹp mắt khiến tôi luôn ăn hết xuất. Sau mỗi bữa ăn ngon, chúng tôi như được tiếp thêm năng lượng để hăng say học tập. Ngôi trường này là ngôi nhà thứ hai của tôi. Tôi yêu thầy cô và bạn bè. Sau này dù có đi đến đâu tôi cũng không thể quên ngôi trường thân yêu này.
Những bài viết hay về mái trường tiểu học thân yêu
2,068
Những bài văn hay biểu cảm về Hoa Đào lớp 7 Hướng dẫn a) Đặt vấn đề Xuân sang, màu vàng rực rỡ của cánh hoa mai lại là màu chủ đạo của phương nam còn đặc trưng của phương bắc lúc này lại là sắc hồng dịu êm của Hoa Đào. Hoa đào mang một vẻ đẹp đằm thắm mà cũng đầy quyến rũ mà hiếm loài hoa nào có được b ) Triển khai – Hoa đào khoác lên mình bộ váy hồng xinh xắn. Nhìn hoa đào ta như thấy được vẻ đẹp của người con gái phương bắc, đó là vẻ đẹp của sự giản dị nhưng cũng không thiếu phấn sang trọng. Những bông hoa như những cô gái má hồng e thẹn, ngượng ngùng. Càng ngắm nhìn sắc hoa đào ta cảm thấy lòng mình dịu êm vô cùng. Những cánh hoa mềm mịn như nhung, cũng là năm cánh như hoa mai nhưng kích thước của nó lại nhỏ hơn. Y như những cô gái nhỏ nhắn dễ thương với má hồng. Cái lạnh giá của phương bắc vào mỗi dịp tết không ngăn cản được bông hoa đó nở rộ. Năm nay vẫn vậy, cây đào trước nhà mà ba em trồng lại nở rộ. Tính đến tết tại thời điểm này cây đào trước nhà đã là lần thứ năm khoe sắc hồng tươi thắm. Giờ đây cây đào to lớn lắm, nó như tô điểm không gian nhà em, cứ mỗi lần nó bung sắc làm cho ngôi nhà em thêm phần xinh xắn hơn. Mỗi vị khách ghé nhà lại là câu khen ’cây đào đẹp’, em cảm thấy vui vì những lời khen đó. Vì công sức ba trồng nay được mọi người chú ý và ngợi ca. Một làn gió phảng phất qua thì những cánh hoa đào mỏng nhẹ như lông rơi xuống như một màn mưa mang sắc hồng, ngắm nhìn thật tuyệt làm sao. Hoa đào đượm sắc xuân, đượm hương vị tình yêu ngọt ngào, mỗi năm tết đến đôi lứa trao nhau những cành đào thắm. Hương đào phảng phất trong gió nhẹ, một mùi hương làm dịu êm lòng người. c) Đánh giá cảm ơn mẹ thiên nhiên đã sinh ra hoa đào để con người được chiêm ngưỡng vẻ đẹp thuần túy của nó. Hoa đào mãi mãi là loài hoa đẹp trong tim mỗi con người. Mỗi dịp xuân sang, con người ta lại chờ những cánh đào nở để được chiêm ngưỡng nó.
Những bài văn hay biểu cảm về Hoa Đào lớp 7
414