text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đề bài: Hãy trình bày quan điểm của mình trong một bài văn (khoảng 600 chữ) trước cuộc vận động “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.
Những ý cần đạt
Giải thích hiện tượng “tiêu cực thi cử” và “bệnh thành tích trong giáo dục” trong nhà trường.
“Tiêu cực trong thi cử” là những hành vi gian lận khi thi cử như sử dụng những tài liệu hoặc giám thị coi thi cho thí sinh sử dụng tài liệu. “Bệnh thành tích trong giáo dục” là những danh hiệu thành tích ảo, không đúng thực chất.
Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục
Đây là một hiện tượng xấu, không tự phát huy năng lực học tập của học sinh, giáo viên mất lương tâm nghề nghiệp.
Thực trạng của cuộc vận động đã nhận được sự đồng tình lớn từ xã hội. Tuy nhiên, còn khá nhiều trường hợp không hưởng ứng, tích cực tham gia. Mọi ya đều có nguyên nhân
Ý nghĩa của cuộc vận động này là phòng chống và ngăn chặn các hành vi gian lận, bao che trong dạy, học và thi cử.
Nhiệm vụ của học sinh, sinh viên. Bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc vận động.
Bài văn tham khảo
Học sinh, sinh viên là tương lai của đất nước. Vì vậy, giáo dục luôn là vấn đề quan trọng gây quan tâm cho mọi người trong xã hội, đặc biệt là các bậc phụ huynh. Tuy nhiên hiện nay đang xuất hiện nhiều tiêu cực gây nhiều ảnh hưởng xấu cho nền giáo dục nước ta, cho nên cuộc vận động “Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” rất đang rất được sự ủng hộ và hưởng ứng trên cả nước.
Hiện tượng “tiêu cực thi cử” và “bệnh thành tích trong giáo dục” trong nhà trường hiện nay là một hiện tượng xấu cần xoá bỏ, nó làm cho học sinh ỷ lại, không tự phát huy năng lực học tập của mình, làm cho giáo viên mất đi lương tâm nghề nghiệp.
“Tiêu cực trong thi cử” là những hành vi gian lận khi thi cử như thí sinh mang vào phòng thi và sử dụng những tài liệu hoặc thiết bị không được cho phép, hay giám thị coi thi cố tình lờ đi cho thí sinh sử dụng tài liệu, trao đổi với nhau… Còn “bệnh thành tích trong giáo dục” là những danh hiệu thi đua của thầy và trò, giữa các lớp, các trường và các phòng ban với nhau gây nên hiện tượng điểm ảo, thành tích ảo, không phản ánh đúng khả năng và trình độ. Đó là hành động vi phạm có ý thức. Vậy ý nghĩa của cuộc vận động này là phòng chống và ngăn chặn các hành vi gian lận, bao che trong dạy, học và thi cử.
Vấn đề đã và đang trở nên rất cấp thiết. Đây không còn chỉ là cuộc vận động của bộ, ngành mà là của toàn ngành giáo dục. Tiêu cực và bệnh thành tích đã có từ lâu. Nếu để tiêu cực tiếp tục kéo dài, học sinh không có động lực để học, không tiếp thu được kiến thức, sẽ không có tương lai. Các thầy cô cũng không có động lực để dạy, không có sáng kiến đổi mới phương pháp dạy học, nền giáo dục khi ấy sẽ ngày càng trì trệ.
Cuộc vận động được triển khai đã gần năm năm và nhận được sự đồng tình lớn từ xã hội. Tuy nhiên, vần còn khá nhiều trường hợp không hưởng ứng, không tích cực tham gia. Một số nhà quản lý giáo dục và giáo viên còn thoả hiệp hoặc làm ngơ, vô cảm trước các hiện tượng tiêu cực, hiện tượng chạy trường, chạy lớp, lấy tỉ lệ để nâng thành tích vẫn còn ở một số nhà trường, học sinh vẫn còn xu hướng ỷ lại, chán học, và rồi dẫn đến gian lận trong các kì kiểm tra và thi cử. Ngoài ra còn xảy ra trường hợp một số giáo viên dũng cảm đứng lên tố cáo tiêu cực nhưng lại bị trù dập và chịu sức ép từ nhiều phía. Đó đều là những hành vi đáng lên án và chê trách. Tuy không thấy được cái hại trước mắt nhưng sẽ gây hại cho cho tương lai của học sinh, hay rộng hơn là cho xã hội, cần phải được ngăn chặn.
Để phòng chống “tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, mỗi cá nhân và tập thể cần phải hưởng ứng và hành động. Bắt đầu từ gia đình, nếu các bậc cha mẹ cứ chăm chăm vào lỗi lầm của con cái, la mắng, trách phạt chúng vì những lỗi lầm ấy, sẽ rất dễ khiến con cái họ khó lòng vượt lên mặc cảm là kẻ hậu đậu mà tự ti, không chịu khó cố gắng, không có ý chí vươn lên. Hoặc trái lại là một số phụ huynh mặc cho con cái buông thả, rồi sau đó chạy chọt khắp nơi cho con vào trường tốt, lớp tốt dù chúng không đủ trình độ, để rồi “đuối”, không theo kịp và tiếp tục dẫn đến nhiều hậu quả về sau. Vậy nên các bậc cha mẹ cần phải điều chỉnh cách suy nghĩ, cách dạy dỗ con cái để không gián tiếp hại con của mình. Các nhà quản lí giáo dục và giáo viên nên triển khai cuộc vận động bằng cách đừng quá coi trọng thành tích, thay đổi suy nghĩ sai lệch của phụ huynh và học sinh về “trường chuyên, lớp chọn”, xóa bỏ tình trạng “ngồi nhầm lớp”, đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá nhằm đánh giá đúng thực chất năng lực học tập của học sinh, chú trọng hơn trong việc dạy tốt, học tốt…
Và yếu tố cuối cùng, cũng là yếu tố quan trọng nhất để cuộc vận động thành công là chính bản thân học sinh. Mỗi học sinh nên nhận thức được bản chất và tầm quan trọng của việc học để tiếp thu kiến thức một cách có hiệu quả, và có thể tự tin thành công bằng chính thực lực của mình. Bên cạnh đó học sinh cũng cần rèn luyện và tu dưỡng đạo đức để tránh thực hiện những hành vi sai trái, phản giáo dục.
“Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” là cuộc vận động có ý nghĩa to lớn và thiết thực đối với nền giáo dục nước ta hiện nay. Những năm gần đây, với sự cố gắng không ngừng của một số tập thể, cuộc vận động đã mang lại nhiều tín hiệu tích cực. Vì vậy chúng ta có quyền tin rằng nền giáo dục Việt Nam trong tương lai sẽ xóa bỏ được những tiêu cực và vươn xa theo đà phát triển của đất nước. | Nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục | 1,193 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ Bác Hồ bên ao cá của Người
Gợi ý
Buổi triển lãm tranh nghệ thuật của các hoạ sĩ nhí vừa kết thúc. Gây ấn tượng sâu sắc nhất đổì với em là bức tranh vẽ Bác Hồ và ao cá của Người. Ngắm nhìn bức tranh em thày lòng mình xao xuyến bồi hồi. Em bỗng nhớ tới hình ảnh của Bác trong những vần thơ cô giáo giảng trên lớp. Bộ quần áo nâu, đôi dép cao su, bước chân thong thả trên lối mòn quen thuộc. Bác đến bên ao cá của mình. Có những chú cá vàng táo tợn mừng quýnh nhảy vọt lên khỏi mặt nước như để đón chào Bác. Có những chủ thì như có vẻ thẹn thùng chỉ khẽ quẫy mình rồi nhẹ nhàng bơi lượn dưới mặt nước. Những chú cá vàng lần lượt “chạy” lại, đến bên Bác, rồi lại lần lượt uô’n mình lượn ra xa để nhường chỗ cho những chú cá khác, trông giống như một màn chào hỏi. Khi Bác thả thức ăn xuống, các chú lại lao tới, những chiếc mồm nhỏ xinh xinh tớp lấy mồi, trông rất duyên dáng nhịp nhàng. Đàn cá trong tranh, đang bơi lội giống như một dàn nhạc có được một nhạc trưởng tài hoa. Bức tranh thật sinh động và hấp dẫn. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ Bác Hồ bên ao cá của Người | 235 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ cảnh ruộng đồng
Gợi ý
Nhìn vào bức tranh em như nhìn thấy chính làng quê của mình. Cuộc sống lao động của gia đình em như hiện ra trước mắt em. Một cánh đồng lúa bạt ngàn trải rộng trông như một tấm thảm vàng óng đượm mùi thơm của mùi lúa chín. Cảnh lao động ngày mùa thật tấp nập, đông vui. Phía trên bức ảnh là màu hồng của phương đông đang báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Phía dưới bức tranh là đoàn người đàng kéo nhau háo hức ra đồng để thu hoạch lúa. Đằng sau họ, những chú trâu đồng đang đủng đỉnh bước từng bước đi thong thả. Mấy chú cún con nhũng nhoẵng chạy theo đằng sau, ngoe ngoảy chiếc đuôi ngắn cũn của mình như đang chúc mừng thành quả lao động của những người nông dân | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh vẽ cảnh ruộng đồng | 157 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh về vịnh Hạ Long
Gợi ý
Vịnh Hạ Long là một di sản thiên nhiên thế giới. Thật tuyệt vời nếu ai đã từng một lần đến với vịnh Hạ Long. Chỉ nhìn bức tranh thôi mà lòng em thấy dâng trào cảm xúc, thèm được đến với Hạ Long, con Rồng của đất Việt. Một khung cảnh đất trời bao la, xanh mát một màu hiện ra trước mắt em. Những hòn đảo lớn nhỏ lớp lớp ẩn hiện trong sự huyền ảo của nước trời. Thiên nhiên ấy thật quyến rũ lòng người. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức tranh về vịnh Hạ Long | 104 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức ảnh chụp cảnh bình minh
Gợi ý
Nhà em có treo một bức ảnh chụp cảnh mặt trời đang mọc ở phương đông. Toàn bức ảnh là một màu hồng rực rỡ. Mặt trời thì tròn xoe giống như chiếc đĩa mẹ vẫn đựng thức ăn, đang nhô lên báo hiệu một ngày mới sắp bắt đầu. Mỗi khi nhìn vào ảnh em cảm thấy rất ấm áp. Bởi mặt trời chính là nơi ươm mầm của sự sống. Em rất thích ngắm nhìn bức ảnh đó. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong bức ảnh chụp cảnh bình minh | 95 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh tứ quý
Gợi ý
Đó là bức tranh tứ quý của nhà ông em. Bức tranh vẽ cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với những đặc trưng riêng của từng mùa. Đại diện cho bốn mùa là bốn loài cây khác nhau: tùng, cúc, trúc, mai. Bốn loài cây ấy tiêu biểu cho những vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết, sang trọng và duyên dáng của con người, vẻ đẹp ấy làm nên nét đẹp truyền thống vĩnh viễn không bao giờ mất đi trong tâm hồn mỗi người Việt Nam. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh tứ quý | 100 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh vẽ cảnh sông nuớc
Gợi ý
Bức ảnh chụp chiều trên sông thật lãng mạn. Cả một bầu trời bao la đượm một màu hồng của buổi hoàng hôn êm đềm. Mặt sông vẫn còn lóng, lánh từng đợt sóng nhỏ. Hàng cây bên sông đứng nghiêng mình soi bóng như những cô gái đang soi mình trước gương. Xa xa là hàng liễu rủ, buông thõng mình xuống mặt sông. Những cành liễu mềm mại như mái tóc trữ tình của người thiếu nữ đang làm duyên, làm dáng. Đâu đó, cánh chim lẻ loi đang tìm về tồ ấm in bóng trên nền trời xanh yên bình. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh vẽ cảnh sông nuớc | 117 | |
Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh ảnh về Huế
Gợi ý
Vừa ở thành phố Huế về hôm qua. Bố tặng em một tập ảnh Huế thật đẹp. Đẹp nhất là bức tranh chụp sông Hương và cầu Tràng Tiền vào đêm. Chiếc cầu cong cong uốn mình theo chiều rộng của sông Hương thơ mộng, với những ánh đèn điện nhấp nháy trên cầu. Soi mình xuống dòng sông là cả một bầu trời đêm, với những đám mây đang lững lờ trôi. Những ngọn đèn hoa đăng được bàn tay khéo léo của các cô gái Huế làm, đang được thả mình trôi trên sông. Âm vang đâu đó là những làn điệu, những câu hò Huế vang vọng như nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn. Ngắm nhìn bức ảnh, em như đắm mình trong những nét đẹp truyền thống của đất Huế thương yêu. | Nói những điều em biết về cảnh đẹp trong tranh ảnh về Huế | 151 | |
Nói những điều em biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (TNTPHCM)
Gợi ý
Đội TNTPHCM là một tổ chức rộng lớn tập hợp trẻ em thuộc cả độ tuổi nhi đồng (từ 5 đên 9 tuổi) sirih hoạt trong các Sao nhi đồng và độ tuổi thiếu niên (từ 9 đến 14 tuổi) sinh hoạt trong các Chi đội TNTP.
– Đội được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1941, tại rừng Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Tên gọi đầu tiên của Đội là Đội Nhi đồng cứu quốc.
– Những đội viên đầu tiên của Đội – gồm năm người; đều là người dân tộc ít người sống ở tỉnh Cao Bằng. Đội trưởng là Nông Văn Dền (bí danh là Kim Đồng). Bốn đội viên là: Nông Văn Thàn (bí danh là Cao Sơn), Lí Văn Tịnh (bí danh là Thanh Minh), Lí Thị Mì (bí danh là Thủy Tiên) và Lí Thị Xậu (bí danh là Thanh Thủy).
– Đội Nhi đồng Cứu quốc đã qua ba lần đổi tên. Mỗi lần đổi tên đều gắn với tình hình và nhiệm vụ của Cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử:
– Ngày 15/5/1951 được đổi tên là Đội Thiếu nhi Tháng Tám.
– Tháng 2/1956 được đổi tên là Đội Thiếu niên Tiền phong.
– Ngày 31/1/1970 được đổi tên là Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
– Bài hát chính của Đội là bài Đội ca do nhạc sĩ Phong Nhã sáng tác. Đội đã có các phong trào lớn là:
– Phong trào Kế hoạch nhỏ được phát động năm 1930.
– Phong trào Thiếu nhi làm nghìn việc tốt được phát động năm 1981. | Nói những điều em biết về Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (TNTPHCM) | 277 | |
Nói về cảnh đẹp của Hà Nội
Gợi ý
Hà Nội thanh lịch và duyên dáng như một người thiếu nữ tuổi mới lớn. Hà Nội có rất nhiều cảnh đẹp nhưng trong đó Hồ Gươm là điểm hấp dẫn nhất. Hồ khá rộng vớí dũng nước trong xanh, soi bóng những rặng cây điệu đà. Những cơn gió thổi làm mặt hồ lay động như thảm lụa nhung mềm mại, uốn sóng. Đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc… là những điểm sáng như viên ngọc của Hồ Gươm. Ban đêm, Hồ Gươm lung linh, huyền ảo với ánh đèn rực rỡ nhiều sắc màu. Chị Hằng trên cao, dội ánh sáng xuống như xua đi bóng tối khiến nõ được khoác một chiếc áo bạc. ‘Cảnh thơ mộng là thế và người đi bên hồ cũng thật hạnh phúc. Từng gia đình đi dạo bên nhau ấm áp yêu thương…. Hồ Gươm đẹp như trong truyện cổ tích vậy, một câu chuyện cổ tích trong thời hiện đại. | Nói về cảnh đẹp của Hà Nội | 167 | |
Nói về cảnh đẹp trong những tranh ảnh về phố cổ Hội An
Gợi ý
Không quá trang nghiêm như cô đô Huế, không quá sầm uất như Chợ Lớn, phố cổ Hội An cổ kính mang vẻ đẹp thuần khiết, lãng mạn…. chùa Cầu nơi đây mang vẻ đẹp biểu tượng cho Hội An. Chùa có mái che, vắt cong qua lạch nước chảy ra sông Thu Bồn. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu. Chùa và cầu đều là gỗ sơn son chạm trô rất công phu, mặt cầu quay về phía dòng sông. Đây có thể coi là công trình kiến trúc độc đáo nhất của phô cổ Hội An. Khi lên hình nom nó cũng vô cùng kiêu hãnh và bí ẩn… Có những câu thơ như này về chùa cầu:
Ai đi phố Hội chùa Cầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho ai chịu sầu. | Nói về cảnh đẹp trong những tranh ảnh về phố cổ Hội An | 161 | |
Nói về giá trị của sách, nhà văn Mác-xim Go-rơ-ki viết: Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới. Em hãy bình luận ý kiến trên.
Hướng dẫn
Đã từ lâu, sách luôn là một món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Sách luôn là một kho tàng huyền bí làm kích thích sự tò mò của biết bao người. Nó càng bí ẩn bao nhiêu thì càng gợi sự say mê của con người bấy nhiêu. Sách là một người thầy, người bạn luôn sát cánh bên ta giúp ta hiểu nhiều hơn, chững chạc hơn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Sách là chiếc chìa khóa mở mang tiềm thức, tầm hiểu biết và làm đẹp cuộc đời. Cho nên khi nhận định về giá trị của sách, nhà ăn M. Go-rơ-ki có viết: “Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới”.
Sự thật sách có được một giá trị to lớn và kì diệu đến thế không?
Trong cuộc sống xã hội, nếu như không có sách báo cho mọi người giải trí sau những giờ phút căng thẳng làm việc, không có một nguồn thông tin nào để biết được mọi diễn tiến ở trong và ngoài nước, không có một kiến thức mới lạ nào… thử hỏi cuộc sống, xã hội đó sẽ ra sao? Do vậy, chính nhờ có sách báo mà đời sông con người thoải mái hơn. Sách bao giờ cũng mang đến cho chúng ta nhiều điều mới mẻ trong cuộc sống. Sách có nhiều loại, nhiều đề tài khác nhau. Do đó, nó giúp cho ta có nhiều kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Đến với sách, chúng ta không chỉ biết được cả những việc đã xảy ra từ thời xa xưa, những vấn đề liên quan ở trên cung trăng hoặc ở dưới đáy đại dương. Xem truyện cổ tích, ta biết được cuộc sống, ước mơ của cha ông ta thuở trước. Sách lịch sử giúp ta hình dung những trận ác chiến với quân thù, những thời vàng son rực rỡ qua các triều đại… Sách còn giới thiệu với ta những kinh nghiệm, những thành tựu về khoa học, kiến thức về nông nghiệp, công nghiệp và cả về chính trị nữa. Ngoài ra, sách còn là hướng dẫn viên đưa ta đến những danh lam thắng cảnh, những kì quan trên thế giới. Tất cả những điều trên là “chân trời mới” như lờinhận định của nhà văn. Sách còn dạy cho ta biết được bao điều hay lẽ phải trong cuộc đời, giúp ta sông ngày một hoàn thiện hơn nữa về nhân phẩm, đạo đức con người. Cho nên, ta có thể nói rằng sách là người bạn thân vô cùng hữu ích, mang lại niềm tin yêu, vui vẻ đến cho ta. Sách không những giúp ta mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn mà còn mang lại nguồn hạnh phúc, sự thanh thản cho tâm hồn. Sách vừa là người bạn vừa là người thầy luôn có mặt trong cuộc sống của ta. Do đó, lời nhận định trên của M. Go-rơ-ki là một quan niệm đúng đắn.
Nhưng không phải bất cứ loại sách nào cũng là người bạn tốt cho con người. Bao giờ cũng vậy, bên cạnh cái tốt luôn có mặt cái xấu. Cho nên, chúng ta cần phân biệt được loại sách chứa đựng nội dung tốt và các loại sách có nội dung xấu. Đọc sách tốt, ta có được những hiểu biết đúng đắn về cuộc sống, từ đó tình cảm yêu ghét sẽ đặt đúng chỗ rạch ròi. Sách tốt góp phần giáo dục ta biết sống nhân ái, biết khát vọng để vươn tới cái đẹp, cái hoàn thiện, giúp ta có những ước mơ, lí tưởng tốt đẹp. Rõ ràng “mọi quyển sách tốt đều là bạn hiền”. Bên cạnh đó, các loại sách xấu cũng đã ảnh hưởng không ít đến con người. Sách xấu là những văn hóa đồi trụy, đen tối. Chúng xuyên tạc cuộc sống và con người, đẩy ta vào u mê, ngu muội. Những loại sách ấy không dạy cho ta biết sông yêu thương, lành mạnh mà lại bôi nhọ xã hội, làm đen tối tâm hồn trong sáng của thanh thiếu niên, khiến ta phát sinh ra những ý nghĩ xấu xa. Loại sách ấy lại kích động, gây nên những thị hiếu thấp kém, những lối sông đồi trụy. Xã hội sẽ ra sao nếu mọi thanh thiếu niên đều say sưa đọc sách xấu, làm những việc xấu xa hại đến bản thân, gia đình, xã hội và đất nước? Do vậy, không thể để sách xấu lan tràn trong xã hội, không thể để trí óc con người bị nhồi nhét bởi những kiến thức không ra gì lại còn có hại nữa. Muốn thế chúng ta phải xa lánh những loại sách ấy, phải biết chọn sách phù hợp với lứa tuổi của mình. Chúng ta đọc sách là để giải trí một cách trong sáng, lành mạnh, coi đó là một thú vui tinh thần. Bên cạnh đó, ta nên coi sách là một cách tự học, tự bồi dưỡng – vì vậy, phải biết đọc sách đúng lúc, đúng chỗ. Không phải lúc nào cũng đọc như con mọt sách hay đọc sách để rồi không còn thực tế như chàng Đôn-ki-hô-tê nhà quí tộc tài ba xứ Mantra. Chúng ta phải biết sắp xếp thời gian hợp lí, đọc sách đúng cách để biến kiến thức của sách thành kiến thức của riêng mình. Sách là người bạn tốt cho ai biết nâng niu, trân trọng và biết học hỏi, tìm tòi. Chúng ta sẽ không tiến bộ nếu lười đọc sách, lại càng có hại hơn nếu đọc sách mà không hiểu hoặc đọc bừa bãi…
Xét cho cùng, câu nói của nhà văn M. Go-rơ-ki “Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới” hàm chứa một ý nghĩa phong phú và cũng là một lời khuyên vô cùng quý giá.
Nguồn: | Nói về giá trị của sách, nhà văn Mác-xim Go-rơ-ki viết_ Sách mở rộng trước mắt tôi những chân trời mới. Em hãy bình luận ý kiến trên. | 1,031 | |
Nói về làng quê em vào ngày mùa
Gợi ý
Quê hương em biết bao tươi đẹp, cánh đồng xanh, lúa chín vàng ươm. Ngày mùa vụ tới, bức tranh quê em thật rộn ràng, náo nhiệt. Tiếng cười nói vang rộn cả cánh đồng. Người đi lại đông vui nhộn nhịp. Từng xe thóc chín rực vàng ươm lần lượt được chở về nhà. Khắp nơi, từ ngoài đường đến sân nhà, trần nhà…, đâu đâu cũng thấy phơi thóc, phơi rơm. Mùi rơm rạ tươi, mùi lúa chín ngan ngát làm cho con người vất vả nhưng thấy rất vui trong mùa thu hoạch. | Nói về làng quê em vào ngày mùa | 104 | |
Nói về người lao động trí óc (giáo viên)
Gợi ý
Em rất thần tượng cô giáo của em. Cô không chỉ xinh đẹp mà còn giảng bài rất hay. Cô không cao lắm nhưng dáng người dong dỏng với làn da trắng hồng hào. Mái tóc của cô thật đáng mơ ước. Mái tóc dài đến ngang lưng thôi nhưng mềm mại và mượt mà. Cô giáo tuy còn trẻ nhưng rất chững chạc khi đứng trên lớp. Những bài giảng của cô thật lôi cuốn, hấp dẫn còn bởi giọng nói đầm ấm, truyền cảm, Cô giảng bài say sưa, thỉnh thoảng có giọt mồ hôi cô cũng không đế ý. Có lúc cô cười đê lộ chiếc răng khểnh thật duyên. Càng nhìn cô em càng muốn sau này mình cũng là một cô giáo như thế, vừa dịu dàng vừa ấm áp. | Nói về người lao động trí óc (giáo viên) | 144 | |
Nói về người lao động trí óc (nhà văn)
Gợi ý
Bác em là một nhà văn. Từ khuôn mặt đến ánh mắt của bác đều toát lên vẻ thâm trầm, suy tư. Mái tóc của bác tuy đã điểm bạc nhưng chưa lúc nào tình yêu với nghề bị suy giảm. Bác rất tâm huyết với nghề, dành cho nghề sự chăm chút kĩ lưỡng. Có một lần em sang nhà chơi, thấy bác đang viết văn. Bác viết say sưa đến nỗi em đứng ngay cạnh bác cũng không biết. Trời nóng bức làm mồ hôi thấm ướt áo, bác cũng không để ý. Dường như tìm được một ý hay bác đập nhẹ bàn một cái, đầu gật gù vẻ đắc chí. Trông bác vui mừng như cậu bé được – nhận quà vậy. Viết xong một bài bao giờ bác cũng kiểm tra thật cẩn thận. Có khi em được bác cho đọc. Lúc đó em thây tự hào lắm. | Nói về người lao động trí óc (nhà văn) | 162 | |
Nói về nơi em ở, một khu phố
Gợi ý
Nơi em ở sao lúc nào cũng ồn ào đến vậy. Nào là tiếng còi xe máy, nào là tiếng còi ô tô, nào là tiếng rao bán báo, tiếng rao bánh mì… Hết tiếng rao này lại nốì tiếp tiếng rao khác. Một ngày chủ nhật nghỉ học ở nhà mà sao em cảm thấy ngột ngạt đến vậy. Ước gì nơi em ở là một nơi thật yên lành, và bớt sự ồn ã thì tốt biết mấy. | Nói về nơi em ở, một khu phố | 88 | |
Nói về nơi em ở, một khu tập thể
Gợi ý
Nơi em ở là khu tập thể gia đình giáo viên. Bố mẹ em đều là giáo viên cả, nên được nhà trường phân cho một ngôi nhà cấp 4 cùng với một sô’ gia đình khác. Ớ khu tập thể rất vui. Mọi người sống rất hoà thuận và quý mến nhau. Hễ ai đi đâu chơi là đều có quà chia đều cho mọi người trong dãy nhà. Có việc gì là mọi người đều xúm lại giúp đỡ nhau ngay. Vui nhất là buổi tối, mọi nhà thường tụ tập lại và kể cho nhau nghe những câu chuyện cười, cười đến chảy cả nước mắt. Khu nhà em ở lúc nào cũng có tiếng cười vui | Nói về nơi em ở, một khu tập thể | 129 | |
Nói về nơi em ở, một khu đô thị lớn
Gợi ý
Gia đình em mới chuyển đến khu đô thị được mấy tháng. Em thật sự rất thích khu đô thị này vì không chỉ hiện đại mà còn rất văn minh, thoáng đãng. Ở đây là nơi “cư ngụ” của hầu hết các toà nhà cao tầng. Những ngôi nhà nhìn sang trọng và sạch sẽ. Xung quanh là những khu vườn nhỏ với nhiều cây xanh làm cho không khí thêm trong lành. Chiều về, có rất nhiều trẻ con và người cao tuổi dạo mát trong những khu vườn ấy. Con đường màu ghi xám phẳng lì đầy vẻ kiêu hãnh, chạy uốn cong mềm mại. Mọỉ người đều rất thân thiện. Càng sống ở đây em càng thấy yêu hơn và muốn gắn bó mãi mãi. | Nói về nơi em ở, một khu đô thị lớn | 139 | |
Nói về nơi em ở, một làng quê
Gợi ý
Nơi em ở đến nay đã có nhiều đổi mới. Từ những con đường đất đỏ, nay đã thành đường nhựa. Từ những ngôi nhà tranh, vách đất, nay đã thành những ngôi nhà cao tầng… Nhưng những gì là truyền thống thì vẫn không bị mất đi mà sẽ trường tồn mãi mãi với thời gian, lịch sử. Mái đình, giếng nước, gốc đa chính là nơi trưởng thành của biết bao thế hệ người dân nơi đây. Em rất tự hào vì người làng em vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống văn hoá của mình. | Nói về nơi em ở, một làng quê | 107 | |
Nói về nơi em ở, một vùng quê nghèo
Gợi ý
Nơi em ở là một vùng quê nghèo xơ xác. ở đó mọi người làm lụng rất vất vả mà vẫn không đủ ăn. Thế mà vẫn có những gia đình có con đỗ đại học và thậm chí có người được đi du học. Rất nhiều người ngạc nhiên vì điều đó, họ cho đấy là một phép màu do bà tiên nào đó ban tặng cho vùng quê nghèo nàn này
Nơi em ở còn có cánh đồng xanh mát, mênh mông trải rộng. Buổi chiều từng đàn trâu nối đuôi nhau lững thững trở về, con nào con nấy bụng tròn căng đủng đỉnh đi trên đường. Khung cảnh ấy thật đáng yêu, tất cả như một tấm thảm làng quê được bàn tay khéo léo của bác thợ nào dệt nên vậy. | Nói về nơi em ở, một vùng quê nghèo | 144 | |
Nói về nơi em ở, một vùng đồi
Gợi ý
Nơi em ở nằm trên một quả đồi cao. ở nơi đó có thể nhìn ra xung quanh tới hàng km. Trong vườn nhà em là đủ thứ cây ăn quả, mùa nào thức ấy. Phía cuối vườn là một chiếc ao nhô xinh xinh, bố em vẫn thả cá. Hôm nào có khách là em lại được ra ao nhà câu cá. Không khí ở đó rất mat mẻ và trong lành. Ngôi nhà nhỏ nhưng thật ấm cúng bởi tình cảm gia đình đầm ấm. Em rất yêu ngôi nhà của em. Nó cũng rất thơ mộng đúng không ạ? | Nói về nơi em ở, một vùng đồi | 110 | |
Nói về quê hương em, một bản làng miền núi
Gợi ý
Nếu ai đã đến với quê em, một bản làng miền núi thì hẳn không bao giờ quên vẻ đẹp bình dị của nó. Quê em có những ngôi nhà sàn nhỏ nhắn nằm dưới những bóng cây. Các ngôi nhà gần nhau như anh em quây quần. Xa xa, con suối ngày đêm chảy róc rách tựa gảy đàn. Xung quanh là những quả đồi xanh mướt với từng vạt nương rẫy tốt tươi. Đẹp nhất là khi chiều về, từng chùm nắng nhạt nhảy nhót trên nương, chảy dài như dát vàng lấp lánh. Lúc đó, mọi nguời đi làm về nói cười vui vẻ. Mấy đứa trẻ chạy sau lưng mẹ, cái bóng lũn cũn thật đáng yêu. | Nói về quê hương em, một bản làng miền núi | 131 | |
Nói về quê hương em, một làng nghề thủ công
Gợi ý
Quê em là một ngôi làng nhỏ, được bao bọc bởi những cánh đồng bát ngát. Quê em không có núi, không có sông và cũng chẳng có hồ. Làng em có cái tên rất trìu mến “Hiển Lễ”. Mọi người trong làng ai cũng tự hào bởi làng em là một làng văn hóa cấp tỉnh với nghề gốm truyền thống. Không có tệ nạn xã hội, cuộc sống của dân làng rất ổn định và lành mạnh. Trong làng còn có ngôi chùa. được công nhận di tích lịch sử, có cây đa trăm năm vẫn vững vàng, hiên ngang che chắn bảo vệ cho nhân dân. Với em, đó là một ngôi làng thật tuyệt, nó luôn gắn liền với nhũng câu hát làm say đắm lòng người:
Hỡi cô mặc áo nhung xanh
Có về Hiển Lễ quê anh thì về
Quê anh có gốc cây đề
Có ao thả cá, có nghề nặn chum. | Nói về quê hương em, một làng nghề thủ công | 165 | |
Nói về quê hương em, một làng quê vùng trung du
Gợi ý
Quê hương em là một ngôi làng nhỏ, nằm uốn mình bên chân núi thằn lằn. Cuộc sống nơi đây diễn ra rất êm đềm. Con người nơi đây cũng rất bình dị, dường như không có sự bon chen của cuộc sống. Họ sống rất trọng tình nghĩa và tôn trọng lẫn nhau.
Khung cảnh quê em thật đẹp. Phía sau lưng làng là dãy núi thằn lằn hay chính là dãy núi với thế Rồng nằm. Dãy núi như một bức trường thành vững chắc, đã che chở cho cuộc sống của con người nơi đây. Dãy núi lại giống như tấm lưng trần của người cha vĩ đại đang che chở cho các con của mình trong cuộc sống. Mỗi khi được về quê chơi là chúng em lại rủ nhau trèo lên dãy núi đó đê chơi. Được trèo lên dãy núi mà như được ngồi trên lưng của bố mỗi khi bố cõng đi chơi vậy. | Nói về quê hương em, một làng quê vùng trung du | 171 | |
Nói về quê hương em, một nơi thành thị
Gợi ý
Nhà em ở Bắc Cạn nhưng Hà Nội là quê hương em – một nơi đô thành tâp nập đông vui, trái tim của cả nước. Mỗi khi được về quê chơi em cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới mới mẻ, lạc lõng giữa bao người. Nào là tiếng còi xe bíp bíp inh ỏi từ sáng tinh mơ cho đêm đêm vẫn không dứt, nào là đèn điện nhấp nháy sáng trưng hoa cả mắt, nào là những ngôi nhà cao tầng cao ơi là cao, em ngửa cổ lên nhìn mãi không chán, nào là siêu thị, công viên… Ôi! Biết bao là thứ mà em không thế kể hết. Chỉ biết rằng nơi đó là một thế giới khác hoàn toàn so với nơi ở của em hiện tại. | Nói về quê hương em, một nơi thành thị | 145 | |
Nói về quê hương em, một vùng nông thôn
Gợi ý
Quê hương em có những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay. Có những bãi dâu xanh và truyền thống trồng dâu nuôi tằm ngàn đời nay. Nằm vắt qua cánh đồng và bãi dâu là con sông quê hương. Con sông Hồng với bao phù sa bồi đắp cho dân làng. Vào mùa nước lên, chúng em thường rủ nhau ra sông bắt cá rất vui và thú vị. Chiều chiều, từng đàn trâu đủng đỉnh nối đuôi nhau trở về, những cậu trâu con tinh nghịch chạy nhảy trên ruộng đồng, thỉnh thoảng lại rúc rúc vào bú tí mẹ trông thật đáng yêu. Cuộc sống của quê em thật thanh bình, yên ấm. | Nói về quê hương em, một vùng nông thôn | 125 | |
Nói về quê ngoại của em
Gợi ý
Quê ngoại trong tâm trí em là một vùng quê thanh bình và đẹp đẽ. Đó là một làng nhỏ nằm ven sông nước chảy hiền hoà. Con sống với bao mùa nước lên nước rút. Làng có những con đường nhỏ chạy quanh co như những dải lụa xám ôm lấy xóm làng. Từng nếp nhà đơn sơ, những vườn cây ngọt mát… sao mà thân thương đến thế. Có những buổi trưa hè, mấy chú trâu dưới gốc tre nằm lim dim đôi mắt. Giữa làng có cái hồ rất rộng, hoa sen, hoa súng đua nhau khoe sắc. Xa xa, cánh đồng làng trĩu hạt mênh mông như lòng mẹ. Nhìn những cánh cò sải rộng cánh bay thấy như bao ước mơ của con người nơi đây cũng vụt lên cao… | Nói về quê ngoại của em | 141 | |
Nói về xóm làng quê nội của em
Gợi ý
Quê nội em ở vùng nông thôn. Nơi đây khác hẳn với thành phố. Nó rất yên tĩnh, không khí rất trong lành và đặc biệt là không có tiếng ồn ào, tiếng còi xe máy, ô tô. Nếu em được chọn giữa thành phố và nông thôn, không phải phân vân, em sẽ chọn nông thôn. Sau kì thi học kì II đầy căng thẳng, nơi đây lại là nơi nghỉ hè thư giãn lí tưởng nhất. Ở đây có những bụi tre xanh tốt mà mỗi khi chiều về, những cơn gió lùa qua các khóm tre tạo nên âm thanh thánh thót như tiếng chuông gió, hoà cùng tiếng ve tạo thành một bản nhạc du dương. Những trưa hè nóng nực mà được ngồi dưới bụi tre làng hóng mát thì còn gì tuyệt vời hơn. | Nói về xóm làng quê nội của em | 148 | |
Nói “không” với tệ nạn xã hội – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Nói không với tệ nạn xã hội
Đề bài: Hiện nay tệ nạn xã hội đang ngày càng gia tăng và là mối lo cho toàn gia đình và xã hội. Là học sinh trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, hãy nói “không” với tệ nạn xã hội.
Bài làm
Không thể phủ nhận sự phát triển về mọi mặt của đất nước nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, xã hội phát triển đã kéo theo biết bao tệ nạn xã hội. Vậy chúng ta phải làm gì trước mối lo của toàn gia đình và xã hội? Là công dân của bất kì đất nước nào trên thế giới, đặc biệt là học sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, chúng ta hãy kiên quyết nói “không” với các tệ nạn xã hội.
Để biết về tác hại to lớn của các tệ nạn xã hội, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu tệ nạn xã hội là gì? Đó là những thói quen xấu như rượu chè, cờ bạc, ma tuý, mại dâm,… Những thói quen này có ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ và tinh thần của bản thân đồng thời gây ra những hệ luỵ nghiêm trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ma tuý là một chất gây nghiện, nó vắt kiệt sức khỏe và tha hoá đạo đức của người dùng. Một người, khi đã nghiện thì khó có thể dứt ra được, cuộc sống của anh ta sẽ lệ thuộc vào thuốc, và chính vì sự lệ thuộc ấy, anh ta sẵn sàng làm cả những điều phi nhân tính để có tiền mua thuốc. Sức khoẻ cũng suy giảm một cách nhanh chóng, người nghiện trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Chúng ta cũng không thể không nói tới cờ bạc, “bác của thằng bần”. Trong cờ bạc luôn có kẻ thắng người thua. Thua thì đương nhiên bị mất tiền nhưng điều nguy hại hơn là tâm lí “gỡ gạc”, chính tâm lí này đã kéo người thua ngày càng sa vào vũng lầy không thể rút chân ra được. Người thắng tuy có được tiền nhưng đã tốn biết bao thời gian và công sức mà lẽ ra nên để dành cho việc khác có ích hơn. Hiện nay, tệ cờ bạc hay còn gọi là “nạn đỏ đen” xuất hiện tràn lan, biến tướng dưới hình thức các trò chơi được giải. Thật đáng lo ngại. Chúng ta hãy mạnh tay với tệ nạn này.
Và còn nhiều tệ nạn khác nữa, trên đây mới chỉ là những tệ nạn đang nổi lên trong cuộc sống. Vậy chúng ta phải làm gì trước mối lo chung của toàn xã hội? Là một học sinh dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, là một công dân của xã hội, chúng ta hãy kiên quyết nói “không”, ngàn lần “không” với các tệ nạn, chúng ta hãy tránh xa các tệ nạn, và quan trọng hơn, chúng ta hãy cùng nhau chặn đứng tệ nạn bằng cách cổ động tuyên truyền cho mọi người cùng thấy tác hại của tệ nạn. Chúng ta hãy cố gắng góp sức nhỏ nhoi của mình cùng mọi người đẩy lùi các tệ nạn, mối lo chung của toàn nhân loại, để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, trong sạch không bị ô nhiễm vì tệ nạn.
Nguyễn Thanh Hương
(Trường THCS Đông Thái)
>> Xem thêm Về nạn ùn tắc giao thông tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Nói không với tệ nạn xã hội | Nói “không” với tệ nạn xã hội – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 | 612 | |
Núi cao lên đến tận cùng (Về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh) – bình giảng ngữ văn 8
Hướng dẫn
Núi cao lên đến tận cùng
Đi đường là một trong số những bài thơ tiêu biểu của tập Nhật kí trong tù. Bởi vì cùng với bao nỗi khổ vì đói, rét, ốm, đau,… mà mọi người tù phải chịu, còn một sự hành hạ là bị giải đi hết nhà lao này đến nhà lao khác, thì riêng Bác chịu nỗi đoạ đày. Tuy nhiên, chính trong cảnh phải chịu một thứ hình phạt vô lí và điển hình này, phẩm chất của người tù (là Bác) càng rạng rỡ lên. Bác đã giành được một kỉ lục mới: chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng bản thân và như thế không còn gì đáng sợ nữa. Đó là chiến thắng của ý chí, một ý chí phi thường để con người đáng được gọi là Con Người, Con Người viết hoa theo ý của Go-rơ-ki như một vầng hào quang thần thánh.
Bài thơ, nếu theo cách phân đoạn tự nhiên thì gồm có hai phần: hai câu đầu tả cảnh, hai câu cuối tả tình. Nhưng hình thức phân chia này với trường hợp Đi đường hơi có phần máy móc. Phương pháp tả cảnh ngụ tình như tiếng hát bẻ đôi chạy dọc bài thơ, không có câu nào chỉ là tả cảnh. Tình đã lẫn vào trong cảnh, và qua cả bài thơ tả cảnh ta nhận ra hoàn chỉnh một gương mặt con người, một con người chưa có trong văn học phương Đông, nhất là sự hiện diện ấy trong thể thơ tứ tuyệt:
Đi đường mới biết gian lao,
Đọc câu thơ tưởng như nhẹ nhõm này ta thấy một sức mạnh ngàn cân. Ý thơ, lời thơ không mới, nhưng nếu đặt nó vào trong một hoàn cảnh đi đường cụ thể của Bác trong hơn một năm bị xiềng xích tù đày, ta mới cảm thông, thấu hiểu. Đi đường ở đây là đi trong mọi điều kiện thời tiết, địa hình. Thời tiết thì mưa nhiều hơn nắng, đường là đường núi nên khấp khểnh, gồ ghề, nhất là lại ra đi từ khi trời còn tối, có khi một, hai giờ sáng đã phải ra đi. Đã có lần sự nguy hiểm không còn là tưởng tượng: “Trượt chân lỡ bước sa vào hố – May nhảy ra ngoài suýt nữa nguy” (Trượt ngã ). Một chữ gian lao mà Bác “biết” là như thế. Nó chứa đựng bao nhiêu thử thách, nó đối mặt với ý chí con người mà chỉ có những người “đi đường” mới biết. Bằng thể thơ nhật kí, không một chút đẽo gọt, khoa trương, nhất là trong bức tranh tự hoạ, câu thơ đọc lên có một độ ngàn rung từ nỗi niềm có thật. Cái có thật ấy với cách nói đơn sơ không khỏi làm người đọc rùng mình. Ấn tượng gian nan trong nguyên bản được khắc hoạ hơn bản dịch vì nó có một tiết tấu riêng, một cách láy đi láy lại riêng như một tứ thơ tự thoại:
Hai chữ “tẩu lộ” (đi đường) như những nốt nhấn đúng nhịp (nhịp 4/3) vừa như một nhận xét vừa như một nghiền ngẫm nghĩ suy chiêm nghiệm bằng chính máu thịt của mình. Sự truyền cảm không cố tình trong câu thơ hàm súc, dồn nén cứ tự nó bật ra mà đâu có nhiều lời. Cái giản dị trong thơ là như vậy, nói ít không phải là không có gì để nói, mà ngược lại: nội dung dồi dào, còn câu chữ cứ như không. Nguyên tắc kiệm lời trong thơ phải chăng là như thế? về ý câu thơ này, tục ngữ đã nói “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Bác cũng đang học, đang “biết” bằng cảnh ngộ của riêng mình, rút ra bài học cho chính mình: có đi đường mới biết việc đi đường là khó. Một chữ tri (biết) đơn giản vậy thôi mà có thể cả đời không học được, ví dụ như cái khổ của người làm đường rất xa lạ với kẻ đi đường:
Ngựa xe hành khách thường qua lại,
Biết cảm ơn anh được mấy người!
(Phu làm đường)
Câu thứ hai trong bài Đi đường như phát triển ý, minh hoạ cho câu thơ thứ nhất:
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng
Cảnh ở đây là cảnh núi, chỉ có núi và núi mà thôi. Núi kết hợp với sông trong cổ hoạ là những bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Nhưng núi ở đây không nằm trong hệ thống nghệ thuật ấy. Nó trần trụi những gian lao mà người đi đường ngần ngại. Noần ngại cũng phải. Đây là một chi tiết tâm tình rất thực, thể hiện trong tiết tấu “Trùng san chi ngoại hựu trùng san“. Giữa hai chữ trùng san bố trí ở đầu câu và cuối câu như một sự vây bọc bịt bùng là một chữ hựu (lại). Vừa mới vượt được một dãy núi cao này chưa kịp nghỉ ngơi, một dãy núi cao khác lại hiện ra, hỏi ai có thể bình tĩnh mà thư thái trong lòng. Một chữ hựu đơn giản vậy thôi mà bao nhiêu chất chứa, nó rất nặng nề trong tâm trí của kẻ chinh nhân. Núi ở đây không đồng nghĩa với cái đẹp, cái hào hùng. Thậm chí, có khi qua một thắng cảnh hẳn hoi mà lòng người chưa yên, cái bứt rứt ấy trong thơ vẫn hiện ra rõ rệt:
Quế Lâm không quế, không rừng,
Sông sâu thăm thẳm, trập trùng núi cao.
(Đến Quế Lâm)
Lộ trình trong bài thơ đến câu thứ ba vẫn còn chưa chấm dứt, thậm chí còn phải vượt một đỉnh cao khác hơn mọi thứ “trùng san”:
Núi cao lên đến tận cùng,
Trong thơ tứ tuyệt truyền thống phương Đông, câu thứ ba là câu chuyển: chuyển cảnh, chuyển tình. Ý thức được vị trí đặc biệt của nó như một thứ cầu nối của mạch thơ, câu thơ nói về núi cao ấy một mặt như là tiếp tục của hai câu trước nó, tiếp tục và phát triển cao hơn. Cảm nhận từ sự lấy đà ấy từ nhịp thơ. Ta chú ý hai chữ trùng san trong hai câu hai và ba đầy dụng ý:
Trùng san chi ngoại hựu trùng san ;
Trùng san đăng đáo cao phong hậu
Mật độ của nó vốn đã dày, lúc này càng dày hơn. Cũng là điệp ngữ nhưng trùng san ở cuối câu hai và trùng san ở đầu câu ba là điệp nối tiếp, lặp vòng. Tiết tấu của thơ không còn chậm rãi, đều đều. Nó khẩn trương hơn, có phần thanh thoát hơn như một cuộc chuẩn bị. Phảng phất trong câu thơ một thứ âm nhạc tâm hồn khác, xốn xang. Vậy cái gì xảy ra sau đó? Một sự gục ngã ư? Một chiến thắng ư?
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non
Với người đọc, có thể là một tiếng thở phào nhẹ nhõm, bởi trong lòng cất đi được gánh nặng ngàn cân. Còn với người đi đường thì khác. Chỉ trong một chớp mắt, tình thế đã đổi thay, tâm trạng đã đổi thay, cán cân lực lượng về mặt tinh thần giữa người đi đường và những gian truân trên con đường đèo dốc đã thay đổi theo chiều ngược lại. Vẫn là những điệp trùng núi ấy nhưng bây giờ chúng không đơn điệu nữa mà tươi đẹp hẳn lên. Không vô cảm mà như có hồn. Điệp trùng núi đã trở lên “muôn trùng nước non“. Tập hợp tất cả mọi thứ “trùng san” lại, bằng một cái nhìn khác, chúng trở thành “vạn lí dư đồ” lộng lẫy, hoành tráng, mĩ lệ biết bao! Tư thế của người đi đường – từ vị trí nạn nhân đã trở thành chủ nhân – đã tạo cho núi non một gương mặt khác. Người đi đường chủ động đã thu vào đôi mắt tất cả núi non trùng điệp với niềm vui vô hạn. Niềm hạnh phúc dạt dào không gì so sánh được, ấy là niềm vui vì chiến thắng được hoàn cảnh – một hoàn cảnh đầy rẫy những núi cao thử thách, nhất là vì chiến thắng được bản thân. Người tù thi sĩ ấy đến lúc này mới xuất hiện. Dấu hiệu của thi nhân là thổi hồn vào cảnh vật, làm bừng lên một sức sống diệu kì từ một thiên nhiên vô cảm. Niềm hạnh phúc ấy ở đây không tự nhiên mà có. Phải chăng là cái điều tâm niệm của Người khi mới bước vàọ chốn lao lung chỉ là một mơ ước, một quyết tâm, nay đã trở thành sự thật:
Tinh thẩn ở ngoài lao ;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Quả thật tinh thần của người tù đã cao hơn núi cao. Chính Bác đã tự chứng thực cho mình, bằng con người mình. Một sự thể nghiệm lặng lẽ mà kiên trì, đúng là “Kiên trì và nhẫn nại – Không chịu lùi một phân”. Chính vì không chịu lùi, dù chỉ một phân, nên Người đã chiến thắng.
Như ta biết, trong thơ Hồ Chí Minh ít sử dụng cách nói đại ngôn, tránh cách nói ồn ào. Ấy thế mà bao nhiêu suy nghĩ tinh kết lại từ cách sống của một nhà hiền triết có tầm nhìn rộng, sâu trên nhiều mặt về con người, về cả bản thân. “Tất cả những gì thuộc về con người đều không xa lạ với tôi”, một bậc hiển giả, triết nhân nói thế. Bác cũng làm như thế, đã chứng minh cho chân lí đó bằng một bài thơ nhỏ, một nhật kí đi đường. | Núi cao lên đến tận cùng (Về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh) – bình giảng ngữ văn 8 | 1,648 | |
Nơi chất muối thấm dần: Quê biển (Về bài thơ Quê Hương của Tế Hanh) – bình giảng Ngữ Văn 8
Hướng dẫn
Nơi chất muối thấm dần
Nói chung, nhà thơ nào mà chẳng có một miền quê. Vì vậy những bài thơ nói về cái núm ruột sinh tồn ấy, với họ không có gì khó hiểu: Nhưng nếu gọi đó là những nhà thơ của quê hương – ở cấp độ đề tài và cảm hứng một đời thì chưa phải. Trong bối cảnh ấy, ta mới biết quý một Tế Hanh bình dị chân thành, những phẩm chất của quê hương, mảnh đất đã tạo nên ở nhà thơ một sức sống dai bền, một tấm lòng chung thuỷ. Gương mặt nhà thơ, nghĩa là cốt cách thơ, giọng điệu thơ từ đó mà hình thành, rồi cũng từ đó mà được nâng cao, để tươi tốt một cây thơ nặng tình với đất. Quê hương, bởi vậy, tuy đã xuất hiện từ khi tác giả còn rất trẻ, mới bước vào làng thơ, nó vẫn là một chấm son giữa cánh đồng thơ mới. Cái mới ở đây không phải trong khu vực đề tài mà ở thể thơ, ở cấu trúc bài thơ, nhất là ở hồn thơ. Thể thơ tám chữ là mới (tuy đã xuất hiện trong thể loại hát nói – nhưng nằm trong hệ thi pháp trung đại) cấu trúc bài thơ có một cách phân đoạn không đều, không theo bố cục: đề, thực, luận, kết của thơ Đường. Tất cả (hai yếu tố trên) do hồn thơ, do cảm hứng của “cái tôi” trữ tình xô đẩy như những con sóng biển khi dìu dặt, lúc tràn bờ. cảm hứng ấy diễn đạt bằng những hình ảnh ngôn từ đẩy sáng tạo.
Bài thơ mở ra bằng hai câu khái quát nhưng nội dung của nó không chỉ có ý nghĩa thuyết minh hạn hẹp:
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Nếu xét theo ý nghĩa thông tin đơn giản thì ta hiểu đó là một làng ven biển, như một thứ cù lao, dân ở đấy làm nghề đánh cá. Nhưng cái tình của Tế Hanh, cái hồn biển của Tế Hanh đã gửi vào câu chữ để cái làng ấy hiện ra duyên dáng, nên thơ, phảng phất một cơn gió biển làm sóng nước bồng bềnh. Làng ở vào thế trung tâm, nước là đường viền, nước màu lạnh làm nền, còn đất (làng) như một điểm ấm sáng hiện ra như một niềm thương nhớ chơi vơi. Thêm nữa, làng không chỉ có “nước bao vây” mà khoảng cách biển cũng được đó bằng nước (nửa ngày sông). Thời gian được đo bằng không gian, một không gian nưởc vừa quấn quyện vừa mênh mông thơ mộng. Làng vốn là làng mà làng cũng như con thuyền bốn mùa dập dờn trong sóng nước êm ru. Nhà thơ đã cá biệt hoá cái làng chài lưới của mình bằng những cảm nhận rất riêng ấy. Nó vừa tả thực vừa hiện lên như một giấc chiêm bao.
Rồi sáu câu miêu tả cảnh “trai tráng bơi thuyền đi đánh cá” cũng được miêu tả bằng sự kết hợp giữa bút pháp tả thực và bút pháp lãng mạn ấy:
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Đúng là một câu thơ có hoạ, có nhạc. Đẹp vô ngần với màu sắc của bức tranh vùng trời vùng biển giữa một sớm mai hồng với gió nhẹ, trời trong như có sức thanh lọc và nâng bổng tâm hồn. Cũng đẹp vô ngần là nhạc điệu, tiết tấu. Bằng cách nhịp ngắt 3/2/2, câu thơ như mật biển dập dềnh, con thuyền rã khơi nhịp nhàng với những con sóng chao lên lượn xuống, như một sự nâng đỡ, vỗ về. Không dùng kích thước để đếm đo, thay vào đó một tấm lòng đưa tiễn, dịu ngọt thân thương, trìu mến. Tuy nhiên, hình ảnh trung tâm của đoạn thơ vẫn là hình ảnh con thuyền. Con thuyền ấy chắc ở đâu cũng thế, nó chỉ bình thường thôi, nhưng riêng với nhà thơ, nó rất lạ: trẻ trung như những trai làng trên con thuyền ấy, con thuyền mang khuôn mặt họ, sức sống niềm vui của họ. Sự hồ hời trong phút lên đường của con thuyền trên mặt biển được so sánh với con tuấn mã vượt đườne xa là một liên tưởng bất ngờ, độc đáo. Con thuyền do đó có một vẻ đẹp riêng, một sức sống riêng. Nó cũng có hồn, cũng thật đẹp, thật đáng yêu, cũng bầu bạn thân thiết với con người. Dân trai tráng trên con thuyền ấy vốn cũng bình thường đã trở thành những tao nhân, tráng sĩ. Cánh buồm trên con thuyền ấy, trong một phút xuất thần đã được đặc tả, được linh diệu hoá rất hay:
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Cánh buồm ấy thực ra cũng không có gì đặc biệt, nó chỉ là “chiếc buồm vôi”, nhưng ở đây nó đã được hoá thân nhằm kết tinh cho một thứ đời sống bên trong của làng chài lưới. Thiêrm liêng sâu nặng biết bao, nó như những mảnh hồn làng, nghĩa là một thứ hồn vía quê hương thân thuộc đến bâng khuâng. Nói đến cánh buồm no gió, cánh buồm căng là do có gió thổi vào, nghĩa là tư thế phụ thuộc, bị động. Nhưng tình hình ở đây có sự đảo ngược, buồm và gió được trao đổi vị trí cho nhau. Các động từ tình thái là trong hệ thống ấy. “Rướn thân trắng” là chủ động, một sự chủ động hào hùng thể hiện khả năng sức mạnh, “thâu góp gió” cũng là chủ động nhưng mơ mộng đầy chất lãng tử, thi nhân. Cả hai câu thơ cứ lung linh vừa thực vừa như không thực này tạo ấn tượng về cái đẹp rất khó giải thích rạch ròi, âu đó cũng là phẩm chất của những câu thơ haỵ, dấu hiệu của những tài năng mà mấy ai có được? Nhưng, xét cho cùng, những sáng tạo hình ảnh của Tế Hanh, tất nhiên phải do yếu tố tài năng, nhưng đằng sau cái tài năng đột xuất ở đây còn có cái tình. Chính vì cái tình với quê hương phải dạt dào đến mức nào, chẳng hạn như sóng gió một vùng biển làng quê mới có thể làm cho con thuyền, chiếc buồm cất cánh.
Như thế là chất muối mặn của biển khơi đã thấm dần từ khung cảnh một làng chài lưới, “cách biển nửa ngày sông” đến ngọn gió, con thuyền, cánh buồm,… một không gian mặn mòi thân thuộc. Không tả muối mặn nhưng hương vị đặc trưng ấy cứ đang lan toả, đang phảng phất đâu đây để không lẫn với một vùng; quê khác. Đó là “cái đạm” như có người nói, nhưng là “cái đạm sau khi đã nồng”.
Thế là con thuyền nhẹ nhõm chỗ trời trong gió nhẹ ra đi với cánh buồm hi vọng, vẫn là con thuyền ấy, ngày hôm sau đầy nặng cá trở vể, giấc mơ đã trở thành hiện thực. Hiện thực trong cái ổn ào tấp nập của dân làng ra đón ghe, đón cá. Là hiện thực rồi mà nó vẫn như mơ: “Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”. Đặt những câu thơ vào bối cảnh nhọc nhằn đầy hiểm nguy của việc ra khơi những năm trước Cách mạng, khi trình độ và phương tiện còn thấp kém, thô sơ (chưa có thông tin, chưa có tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ,…) còn phụ thuộc rất nhiều vào may rủi, mới thấy lời cầu nguyện trong thơ không phải là vô nghĩa. Vì vậy, con thuyền trở về là niềm vui đầy ắp trong khoang. Những con cá bằng mồ hôi nước mắt – đôi khi phải đánh đổi bằng cả tính mạng con người – được nhìn bằng ánh mắt thân thương trìu mến: “Những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Nhưng, cảnh con thuyền về bến đọng lại nhiều cảm nghĩ nhất là bốn câu tiếp theo tả chính con thuyền và “Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”:
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm ;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Chắc khoẻ như những bức tượng đồng nâu, ấy là màu da của người vật lộn với nắng, gió khơi xa đội trời lướt biển, ăn sóng nói gió vốn từng quen. Đó là hình thức, dấu hiệu bên ngoài. Câu thơ toàn vẹn, nguyên khối và nổi bật hơn, ấn tượng hơn là câu “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Chất thực và chất thơ đã tạo nên một thân hình cường tráng, săn chắc đã được thử thách tôi luyện bằng sóng lớn gió to, bằng bao nhiêu bất trắc. Trước biển rộng, những con người được nghệ thuật tạo hình bằng ngôn ngữ dựng lên kì vĩ, lớn lao, ngang tầm với trời cao, biển rộng. Song, sự bất động – khi liên tưởng đến bức phù điêu – trở nên sinh động vì hơi thở ấm áp, “nồng thở vị xa xăm” của con người. Hơi thở của những chàng trai dường như nồng nàn hơn sau mỗi lần đi biển. Đó là nồng độ, còn vị xa xăm là vị gì? Đây là thứ hương vị đặc biệt không thể cảm nhận được bằng một giác quan cụ thể. Bởi nó chỉ thấp thoáng, không định hình và không thể gọi tên: vị của xa xôi, của biển cả. Xa xăm là một cảm giác không gian vốn không có mùi vị, đây đúng là một sáng tạo vô giá của nhà thơ, nó gợi được sự liên tưởng và những khát khao chiếm lĩnh những chân trời xa lạ mà những con thuyền ra khơi cùng những nhà thám hiểm mưu trí kiên cường.
Hình ảnh con thuyền cũng giống hình ảnh con người đã trở về sau những chuyến đi xa. Nó vừa là những con thuyền thực vừa là những con thuyền thơ. Thực là vì nó đã về bến đỗ để được neo đậu, được bình yên không còn bị gió dập sóng xô. Nhưng chất thơ là ở chỗ: nó cũng như một con người. Biện pháp nhân hoá của nhà thơ đã phát huy hiệu quả tối đa khi kết hợp với thủ pháp đối lập. Con thuyền lúc ra khơi hăng hái, hào hứng không kém con người (“Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã – Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang“), nay nó lặng ỉẽ vì mỏi mệt, muốn nghỉ ngơi sau một chuyến đi vất vả gian truân. Nhưng.im lặng không phải là vô tri, là vô tư lự. Ngược lại gió giống như bậc hiền triết: trong im lặng, nó vẫn khái quát nghĩ suy về sự được mất của con thuyền. Nó lại biết nghe cái mà không ai có thể nghe:
Nếu những chàng trai “nồng thở vị xa xăm” thì con thuyền – bất ngờ thay, “nghe chất muối thấm dần” trên cơ thể. Cảm nhận về sự mặn mòi này là cảm giác có thật, ấy là niềm vui lặng lẽ của con thuyền được dày dạn hơn trong tôi luyện để cứng cáp hơn. Tục ngữ có câu “Ai ơi chân cứng đá mềm“, phải chăng con thuyền đang nói với chính mình để chuẩn bị cho những cuộc ra khơi rồi sẽ còn tiếp nối.
Nhìn chung, cảnh ra khơi và cảnh trở về đã hoàn tất một chuyến đi xa, ấy là những chuyến đi thực thì rất đỗi nhọc nhằn, gian truân, vất vả. Nhưng vì là nghề kiếm sống, họ phải ra đi để họ và gia đình họ có cái ăn, cái mặc hằng ngày. Công việc sinh nhai lương thiện và cao quý ấy rất đáng ngợi ca. Tinh yêu quê hương của nhà thơ là tình yêu những con người như thế. Đó là sự đồng cảm, trân trọng, quý mến chân thành.
Tuy nhiên những kí hoạ của nhà thơ không phải là những bức tranh trực tiếp tức thời. Cảnh và người với nhà thơ, nó chỉ hiện lên trong kí ức, nghĩa là có một khoảng cách xa xôi, vì thế nó mới là một miền “tưởng nhớ”:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Trong nỗi niềm “tưởng nhớ” ấy, dường như chỉ cần nhắm mắt lại là cảnh và người lại hiện ra rõ mồn một. Bởi nó đã nhập tâm, nhập vào kí ức của thi nhân thời bé dại ấu thơ. Nó sẽ còn là hành trang đi suốt cuộc đời. Cảnh và người ấy hiện ra bằng màu sắc và bằng đường nét y như thật, y như là đương diễn ra. Bởi màu nước xanh, bởi màu cá bạc, cả chiếc buồm vôi nữa chỉ ở quê biển nhà thơ nó mới như thế. Sau này, trước trời xanh Quảng Trị, nhà thơ vẫn một cái nhìn biến lạ thành quen: “Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị – Tận chân trời mây núi có chia đâu” (Nói chuyện với con sông Hiền Lương). Ấy là chưa kể giọng thơ: kể mà như đếm, nói với người mà như nói với mình (“Màu nước xanh / cá bạc / chiếc buồm vôi”) theo lối ngắt câu làm ba nhịp như nghẹn ngào một nỗi nhớ thương đau đáu. Từ “nghề chài lưới” đến “cái mùi nồng mặn”, từ “cánh buồm giương to” đến “chiếc buồm vôi”, cái ảo thu về cái thực, cái thực trong tâm tưởng, nó tha thiết đến nao lòng. Bài thơ đã kết thúc, nhưng bức tranh về quê hương vùng biển, cảnh và người vùng biển, nhất là tình của nhà thơ với quê hương vẫn đầy dư vị, ngân nga. Tình cảm ấy như chất muối thấm đẫm trong những câu thơ, cả giọng thơ bồi hồi tuy ngôn ngữ thơ nói chung vô cùng bình dị.
Niềm u uất không nguôi | Nơi chất muối thấm dần_ Quê biển (Về bài thơ Quê Hương của Tế Hanh) – bình giảng Ngữ Văn 8 | 2,402 | |
Nơi em ở đẹp nhất vào mùa nào trong năm? Em hãy tả lại cảnh đẹp ấy.
Hướng dẫn làm bài
– Đề bài yêu cầu tả lại nơi mình, ở (khu phố, thôn xóm, bản làng) vào một mùa trong năm được em cho là đẹp nhất (đông giá lạnh, xuân sức sống, hè tươi vui, hay thu dịu nhẹ).
– Miêu tả qua sự quan sát từ thực tế, qua ti vì, phim ảnh và tưởng tượng.
– Bài văn cần.đủ những ý chính sau:
Mở bài:
+ Giới thiệu về nơi mình đang sống trong các mùa.
+ Lí do lựa chọn mùa định miêu tả.
Thân bài:
+ Khái quát về mặt thời, gian (Mùa nào? Đầu mua, giữa mùa hay cuối mùa? Đặc điểm thời tiết?)
+ Tả chi tiết cảnh vật theo một trình tự (trên xuống dưới):
. Bầu trời: đông như sà thấp xuống, màu trắng đục, luôn âm u một màu ảm đạm. Thu – đậm một màu xanh biêng biếc. Hạ – rực rỡ nắng vàng….
. Gió: Đông – thối vi vu từng ‘cơn buốt lạnh, lá khô xào xạc,-tiết trời hanh khô… Thiu – gió heo may nhè nhẹ thổi đem theo cái se se lạnh…
. Cây cối: Đông – rụng lá, trơ trụi, như đang thu mình tránh rét. Thu – lác đác vàng. Xuân – lấm tấm những mầm xanh…
. Đường làng, ngõ xóm: Đông – vắng vẻ, thưa thớt người đi lại…
+ Tả hoạt động của con người, động vật phù hợp với từng mùa.
. Bản thân mình trong thời điểm đó sẽ làm gì?
Kết bài:
+ Cảm xúc của em trong thời điểm đó?
Bài văn mẫu
Những cành chim én bay liệng trên bầu trời là dấu hiệu báo mùa xuân đã về. Xuân về mang theo những cơn gió nhè nhẹ và lất phất những cơn mưa phùn dễ chịu.
Mùà xuân là mùa đầu tiên của một năm, khởi đầu của những điều may mắn. Mùa xuân không thể thiếu mưa xuân, nhất là mưa phùn. Mưa xuân không ào ạt như cơn mưa rào mùa hạ, đến rồi đi nhanh chóng. Mưa xuân nhẹ nhàng, lất phất bay không làm ướt áo. Mưa bay suốt cả ngày, giăng giăng khắp mặt đất, trên từng lá cây ngọn cỏ. Mưa xuân như gieo mầm chò sự sông. Mỗi lần như thế, quê em lại được tắm mình trong bầu không khí mưa xuân trong lành và mát mẻ. Những mái nhà ngói sung sướng khi được làm mát bởi giọt mưa. Màu sắc của chúng dường như tươi tắn hơn, đậm đà hơn. Từng nếp nhà ngoan ngoãn nằm chờ đợi. Vì mưa xuân dịu dàng nên đến thật sẽ. Những vườn cây. không còn thoả thích tắm mưa như mùa hò mà từ từ ngả mình sang một. bên, vươn mình lên đón mưa. Hạt mưa li ti không gây ra tiếng động, đặt mình lên cây lá, thật lâu thật lâu mới làm ướt. Những chùm quả được mưa xuân làm cho bóng láng, mịn màng. Những khóm hoa rũ mình khoe sắc. Những giọt nuớc còn động lại thâm dần vào từng thớ gỗ. Như thế, cây cỏ cũng mãn nguyện lắm rồi, Mưa xuân đôi khi còn làm ướt đụn rơm con cạnh cổng, làm ướt những hàng rào đầu ngõ, làm ướt vệ cỏ ven dường, những cây khô cành khô gặp mưa xuân như thấy niềm vui trở lại. Mây chú trâu, chú bò nhe răng cười thích chí khi những hạt mưa bụi bay bay vào mặt. Các chú nhắm mắt lai để cảm nhận hạt mưa xuân.
Mưa xuân là lộc của đẩt trời ban tặng. Mưa rơi rơi khiến lòng người say mê. Mỗi khi mùa xuân về em lại mong mưa xuân làm mát quê hương. | Nơi em ở đẹp nhất vào mùa nào trong năm_ Em hãy tả lại cảnh đẹp ấy. | 628 | |
Nước Pháp muôn năm!- Truyện Buổi học cuối cùng Ngữ Văn 6
Hướng dẫn
Về truyện Buổi học cuối cùng của An-phông-xơ Đô-đê
Truyện Buổi học cuối cùng Ngữ Văn 6
Dân tộc, tiếng nói của dân tộc nhiều khi chỉ như những khái niệm trừu tượng, mơ hồ trong cuộc sống bình thường ít được để ý. Nó giống như bát cơm ta ăn, không khí ta hít thở hằng ngày. Nhưng ở vào một hoàn cảnh nào đó: không khí không còn, bát cơm đã mất, ta mới hiểu hết ý nghĩa sống còn của nó! Chủ quyền của nước Pháp, tiếng Pháp đối với nhân dân hai vùng An-dát và Lo-ren, một lần đã đặt ra như thế. Và dù chỉ một lần, đối với người đọc chúng ta, nó mãi mãi không quên.
1.Nhân vật cậu bé Phrăng vừa là nhân vật trung tâm vừa đóng vai kể chuyện là rất thích hợp. Một mặt, khi nhân vật tự kể chuyện mình, tác phẩm sẽ có được sự gần gũi, chân thành, nó đảm bảo tính trung thực đối với người nghe. Một mặt, dụng ý của tác giả phải chăng là đem đến cho bạn đọc một bài học sâu sắc, bài học vỡ lòng về những tư tưởng lớn từ những rung động đầu đời, của một cách cảm, cách nhìn, một tâm lí trẻ thơ. Chính là với ý nghĩa thứ hai này mà câu chuyện trở nên cảm động sâu sắc, thấm thía vì bao nhiêu vấn đề nghiêm trọng của lịch sử, của nhân dân đặt lên đôi vai nhỏ bé, thơ ngây của một em bé vừa cắp sách đến trường. Vấn đề “điểm nhìn” ấy là một sáng tạo độc đáo của nhà văn.
– Nếu chỉ là một đứa trẻ lười học, mải chơi, bé Phrăng chẳng có gì đáng nói. Cùng với “đứa trẻ”, Phrăng còn là một “cậu học trò”. Chính ý thức được như thế, em đã tự vượt lên những cám dỗ, cả sự sợ hãi để “ba chân bốn cẳng chạy đến trường” vì lức đó “đã quá trễ giờ lên lớp”. Để có được quyết định dứt khoát này, bé Phrăng đã khước từ lời mời mọc của các cuộc trốn học và rong chơi, nhất là có cớ để rong chơi: bài học về phân từ em chưa thuộc. Buổi sáng hôm nay lại là một buổi sáng đẹp trời, có nhiều thứ để nghe và để xem không chán mắt, hấp dẫn hơn nhiều quy tắc về phân từ: tiếng sáo hót ven rừng, trên cánh đồng cỏ sau xưởng cưa, lính Phổ đang tập. Không bị cuốn vào những sức hút bản năng ấy, ý thức về bổn phận trỗi dậy, dù thế nào (kể cả sự quở mắng và trách phạt của thầy giáo), em không thể không có mặt ở trường. Chính với quyết định dứt khoát ấy, Phrăng không tò mò dừng lại trước bảng dán cáo thị mà nhiều người đứng xem mặc dù thâm tâm thắc mắc: “Lại có chuyện gì nữa đây?”. Cũng như thế, em đã bỏ ngoài tai câu nói đầy ẩn ý của bác phó rèn: “Đừng vội vã thế cháu ơi, đến trường lúc nào cũng vẫn còn là sớm!”
.- Cảm giác ngạc nhiên của Phrăng trước không khí lớp học khác thường mà đầu óc ngây thơ chưa cho phép em hiểu nổi bắt đầu từ cái im ắng chưa từng có ở đây: sự hỗn độn, ồn ào thường xảy ra vào lúc đầu buổi học tự nhiên biến mất, một ngày học bình thường mà y như một buổi sáng chủ nhật. Phrăng dường như không tin ở mắt mình vì lớp học vẫn là lớp học ấy, bạn ấy, thầy ấy, nhất là thầy Ha-men đáng sợ đang “đi đi lại lại với cây thước sắt khủng khiếp kẹp dưới nách”. Cái không khí lớp học chưa thể gọi thành tên thì chính tên em đã bị gọi. Vì tội đi học muộn, lẽ ra Phrăng phải chịu một sự trừng phạt nghiêm khắc (chính Phrăng cũng cảm thấy tội lỗi của mình, khi bước chân vào lớp học đã “đỏ mặt tía tai”). Nhưng sự trừng phạt đã không diễn ra, thay thế vào đó là một giọng nói dịu dàng, và gương mặt thầy Ha-men không hề giận dữ. Cảm giác ngạc nhiên còn được tăng cường sau đó bởi Phrăng đột ngột nhận ra cách ăn mặc “trang trọng” của thầy. Còn cái ngạc nhiên cuối cùng thì gần như khó hiểu: dân làng cũng có mặt (chắc không phải là khách mời vì ai nấy đều buồn rầu), riêng cụ Hô-de thì mang theo quyển tập đánh vần đã cũ. Bao nhiêu dấu hỏi xuất hiện trong đầu Phrăng. Thế mà chỉ một câu nói của thầy Ha-men, em đã hiểu ra tất cả. Câu nói ấy như một lời trăng trối, lời từ biệt cuối cùng: “Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con…”. Sự “choáng váng”, phản ứng tức thời trước thông báo của thầy giáo về tình hình lúc đó đồng thời với Phrăng, em còn hiểu rộng ra vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều mà tờ cáo thị ở trụ sở xã loan tin, cậu học trò nhỏ ấy bước vào giờ học với một tâm thế “người lớn” đến ngạc nhiên.
2. Nhân vật thầy giáo Ha-men tuy là một nhân vật được quan sát, miêu tả bằng con mắt trẻ thơ (cậu học trò Phrăng) nhưng có vị trí trung tâm trong Buổi học cuối cùng. Thầy làm chủ lớp học, làm chủ những bài học và làm chủ bản thân trong một hoàn cảnh mà người thầy có lương tâm không thể điềm nhiên bước lên bục giảng. Trước hết, buổi học ấy đối với thầy là buổi học thiêng liêng, vì nó không giống với bất cứ buổi học nào trong bốn chục năm dạy học đã qua của thầy, nghĩa là cả một đời gắn bó. Nếu thầy giáo phải xa rời học trò vì những lí do khác, những tình cảm và kí ức trong nghề tuy có lưu luyến lúc chia tay cũng không thể long trọng, trang nghiêm đến mức thầy phải mặc áo rơ-đanh-gốt, đội mũ tròn bằng lụa đen thêu (thường chỉ dùng vào những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng). Hình như thầy chuẩn bị cho cuộc tiễn đưa một cái gì còn lớn hơn thế, tiễn đưa với thái độ tôn kính và rất đỗi buồn rầu (như cái buồn rầu của cụ Hô-de, bác phát thư và đại biểu dân làng ngồi ỏ’ những chiếc ghế hằng ngày bỏ không ở cuối lớp). Chính vì đây là buổi học cuối cùng với tất cả ý nghĩa thiêng liêng mà thầy nhận thức được. Những bài giảng của thầy thật khúc chiết, trong sáng (kể cả môn ngữ pháp rắc rối), như rót vào tai học trò, biến cái khó thành cái dễ một cách đáng ngạc nhiên mà những học trò không mấy thông minh như bé Phrăng cũng cảm nhận một cách rõ ràng. Đồ dùng dạy học của thầy trong giờ viết tập cũng thế, dường như cứ đập vào mắt học trò, vì trên những tờ mẫu mới tinh, những con chữ viết bằng chữ “rông” của thầy thật đẹp. Những chữ “Pháp, An-dát, Pháp, An-đát” như bay bổng và có hồn khiến cho những tò mẫu trên bàn học của các trò “trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp”. Một điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là thầy đổi mới cách xưng hô, thay đổi một quan hệ tưởng là bất di bất dịch một cách cứng nhắc, biến quan hệ thầy trò thành tình cảm cha con, biến giọng giáo huấn răn đe thành nhẹ nhàng, nhắc nhở. Với học trò có phần cá biệt như Phrăng đi học trễ giờ thì lời nói của thầy: “Phrăng, vào chỗ nhanh lên con ; lớp sắp bắt đầu học mà vắng mặt con” phảng phất sự buồn rầu. Với tội không học bài (lại vẫn là với bé Phrăng) thì: “Phrăng ạ, thầy sẽ không mắng con đâu, con bị trừng phạt thế là đủ rồi” lại có gì như xót xa ân hận. Có lẽ sự trang trọng cùng với sự dịu dàng tạo nên chất giọng bè đôi khi thầy nói với học trò lúc bước chân lên bục giảng là không thể nào khác được. Vì sao vậy? “Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con…”.
3.Về nghệ thuật của tác phẩm, trước hết là cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất với vai kể là một học trò nhỏ tuổi về buổi học cuối cùng như đã nhắc tới ở phần đầụ bài viết. Đây là câu chuyện của Phrãng về bài học nằm ngoài bài học, bài học mà em quan sát, suy ngẫm, tự rút ra thấm đẫm nỗi ân hận xót xa và cả những gì thiêng liêng cao quý. Học tiếng Pháp không chỉ là học một ngôn ngữ, học tiếng Pháp còn là để giữ lấy nước Pháp. Và do vậy, để học nó, phải yêu nó và nhất là phải có nhân cách làm người. Cách kể chuyện gắn với điểm nhìn (của bé Phrăng), có một giọng điệu riêng, một thứ ngôn ngữ riêng thật hồn nhiên và gợi cảm. Ví dụ nhìn một thầy giáo nếu là người ngoài cuộc thì sẽ vô tư, chẳng có gì ám ảnh, nhưng với một đứa trẻ lười học như Phrăng thì không. Không dưới hai lần hình ảnh người thầy mẫu mực không rời khỏi vũ khí của mình: chiếc thước kẻ. Không cầm ở trên tay mà kẹp ở dưới nách, chiếc thước kẻ lợi hại ấy lúc nào cũng có thể ra tay. Ngay cách trang phục của thầy dưới con mắt tò mò của lũ học trò tinh nghịch bao giờ cũng là đối tượng để quan sát, khen chê, bình luận. Vì vậy, chiếc áo không chỉ là chiếc áo, nó phải là rơ-đanh-gốt màu xanh lục, diềm lá sen gấp nếp mịn…, nghĩa là tỉ mỉ đến chân tơ kẽ tóc. Hoặc, cái lặng lẽ đến trang nghiêm củạ các cụ già được bé Phrặng giải mã rất thông minh: “đó là cách để tạ ơn thầy giáo chúng tôi về bốn mươi năm phụng sự hết lòng…”. Sự nhạy bén trong cách nhìn người và sự cảm nhận tình huống ở cậu bé Phrăng nhiều khi đến độ sắc sảo, tinh vi. Trong Buổi học cuối cùng có hai loại nhân vật: nhân vật quan sát (chú bé Phrăng) và nhân vật được quan sát (thầy giáo Ha-men cùng với dân làng trong buổi học). Nếu ở loại nhân vật thứ nhất, nhà văn nghiêng về miêu tả đời sống nội tâm, những suy nghĩ và tâm trạng ở bên trong thì với loại nhân vật thứ hai chủ yếu là từ những quan sát bên ngoài: cử chỉ, hành vi, giọng điệu. Ví dụ ở nhân vật bé Phrăng, toàn bộ câu chuyện diễn ra là một chuỗi những ngạc nhiên liên tiếp: ngạc nhiên trước hiện tượng khác thường ở trụ sở xã, ngạc nhiên khi bước vào khoảng sân nhỏ nhà thầy Ha-men, ngạc nhiên trước giọng nói từ tốn dịu dàng của thầy với một học trò chưa chăm chỉ. Những hiện tượng khách quan ấy tác động vào dòng ý thức, biến nhân vật Phrăng thành nhân vật cảm nghĩ. Khi giải đáp được băn khoăn “lại có chuyện gì nữa đây?” chính là lúc bao nhiêu ân hận giày vò ập đến. Nhân vật Phrăng tự đối thoại với chính mình, tự rút ra những bài học xót xa, thấm thía. Cả với thầy Ha-men nữa, sợ sệt và có phần oán giận thầy là có đúng hay không? Điều “nhận ra” này làm cho mối quan hệ giữa em với thầy từ xa cách trở nên gần gũi, từ vô cảm đến yêu thương và tôn kính hết lòng. Còn nhân vật thầy Ha-men, qua quan sát của bé Phrăng, thì đó là một tính cách nhất quán: tận tuỵ, yêu nghề, thiết tha với tiếng mẹ đẻ và cảm động nhất là trái tim cùng đập một nhịp với sự còn mất của nước Pháp hôm nay. Tính cách kín đáo ấy thể hiện bằng sự yêu thương vô hạn với lớp học trò có những đứa chưa ngoan và ngốc nghếch. Chúng là tương lai của nước Pháp, chúng là những nạn nhân, phải trao “chìa khoá” cho chúng để chúng mở cửa chốn lao tù… Thầy Ha-men dưới con mắt của Phrăng mạnh mẽ biết bao mà cũng yếu đuối biết bao. Thật “tội nghiệp thầy” vì thầy sắp phải ra đi, vì cái tốt đẹp ở thầy không phải lúc nào cũng được học trò hiểu hết. Nhân vật Ha-men ở phần cuối tác phẩm làm ta liên tưởng đến chúa Giê-su chịu cực hình trên thánh giá. Ở đó kết tinh những phẩm chất của người thầy, của một công dân nước Pháp. Dù chỉ là một hư cấu nghệ thuật, một nhân vật “vô danh”, làm một công việc cũng rất vô danh, nhưng lịch sử vẻ vang của nước Pháp được làm nên bởi chính những con người như thế. | Nước Pháp muôn năm!- Truyện Buổi học cuối cùng Ngữ Văn 6 | 2,258 | |
Nước Đại Việt ta là một áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc
Hướng dẫn
bài văn rất hay, đầy đủ, giàu sức thuyết phục, rành mạch rõ ràng | Nước Đại Việt ta là một áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc | 29 | |
Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Hãy làm sáng tỏ nhận định trên
Bài làm
Cảm hứng yêu nước là nguồn cảm hứng bất tận trong dòng chảy văn học. Một nhà văn nào đó đã từng nói rằng: có một đề tài trở đi trở lại như một lời khấn xưa, càng viết nhiều càng hay”. Phải chăng đó chính là tinh thần yêu nước. Và đến với tác phẩm “Nước Đại Việt ta”, thì lòng yêu nước ở đây chính là việc Nguyễn Trãi đã sáng tạo nên một áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc.
Đây là một trích đoạn trong kiệt tác “Bình Ngô đại cáo”, nó ra đời sau khi Lê Lợi cùng nghĩa quân Lam Sơn đánh tan bè lũ xâm lược nhà Minh. Bài cáo ra đời bố cáo với toàn thiên hạ chiến thắng của dân tộc, khẳng định nền độc lâp tự chủ của nước nhà đồng thời cảnh tỉnh ý thức của binh lính nhà Minh về cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược nước ta. Bởi vậy, nằm trong cảm hứng ấy, “Nước Đại Việt ta” là phần mở đầu càng thêm ăm ắp niềm tự hào về khí thế hào hùng của dân tộc Đại Việt. Tuy ngắn gọn nhưng đoạn trích nêu lên những tiền đề cơ bản, làm nổi bật những quan điểm tích cực, có ý nghĩa then chốt đối với nội dung của toàn bài. Những tiền đề đó là chân lí về nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt.
Mở đầu văn bản, đó là một quan niệm mới mẻ của Nguyễn Trãi về nhân dân:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là làm cho dân được hưởng thái bình, hạnh phúc. Mà muốn yên dân thì trước hết phải diệt trừ bọn tàn bạo. Người dân mà tác giả nói đến ở đây là những người dân Đại Việt đang phải chịu bao đau khổ dưới ách thống trị của giặc Minh. Như vậy khái niệm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi gắn liền với lòng yêu nước, gắn liền với quốc gia, dân tộc. Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với nhân dân là một quan niệm mới mẻ, và tiến bộ của Nguyễn Trãi gắn liền với nhân dân. Bởi trước đó, việc nhân nghĩa chưa được nêu ra với khái niệm hàm súc, ngắn gọn như trên. Và những kẻ bạo ngược mà tác giả nói đến ở đây không phải ai khác, đó chính là bọn giặc Minh nói riêng và bề lũ xâm lược nói chung.
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cỡi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời xây nên độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, Nguyễn Trãi đã dựa vào các yếu tố như: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng. Với những yếu tố căn bản này, tác giả đã đưa ra một khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia, dân tộc. Đồng thời có sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chạt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Quả đúng như vậy! Người anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nước Việt ta. Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc – Nam khác biệt. Ta có nền độc lập vững vàng được xây bằng những trang sử vẻ vang. Hùng cứ cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên ở phương Bắc là các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần ở phương Nam. Hơn thế nữa, bao đời nay:
Song hào kiệt đời nào cũng có
So với ý thức về quốc gia dân tộc trong bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc – bài thơ “Sông núi nước Nam” – thì ở tác phẩm này của Nguyễn Trãi, ta thấy nó vừa có sự kế thừa lại vừa có sự phát huy và hoàn thiện. Ý thức về nền độc lập của dân tộc thể hiện trong bài Sông núi nước Nam được xác định ở hai phương diện: lãnh thổ và chủ quyền; còn trong bài: Nước Đại Việt ta, ý thức dân tộc đã phát triển cao, sâu sắc và toàn diện. Ngoài lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung thành các yếu tố mới: đó là nền văn hiến lâu đời, đó là phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng. Có thể nói, ý thức dân tộc đến thế kỉ XV đã phát triển sâu sắc, toàn diện hơn nhiều so với thế kỉ X.
Song, khí thế hào hùng và niềm tự hào đấy, dường như đã được tạo ra từ cơ sở tự nhiên bất biến, vĩnh hằng, khi tác gỉa sử dụng các từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt ta. Các từ như: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác,… Bên cạnh đó, biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận (tác giả đặt nước ta ngang hàng với Trung Hoa về nhiều phương diện như: trình độ chính trị, văn hoá,…). Đặc biệt, những câu văn biền ngẫu, chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật và chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn. Cách đặt nước ta trong sự đối sánh với các triều đại trung Quốc đã một lần nữa giúp ta thấy được thế và lực của dân tộc Đại Việt, khẳng đinh niềm tự hào và niềm tin mãnh liệt của tác giả vào vị thế của dân tộc. | Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Hãy làm sáng tỏ nhận định trên | 1,081 | |
Đề bài: Có ý kiến cho rằng: “Nước đại việt ta là áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc” Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài làm
Yêu nước và tự hào dân tộc là một trong những nội dung lớn của văn học trung đại. Bởi lịch sử của dân tộc ta là lịch sử dựng nước và giữ nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trong văn học không thể không kể đến áng thiên cổ hùng văn ” Nam quốc Sơn Hà”. Mở đầu bài cáo là đoạn trích ” Nước đại việt ta”. Có ý kiến cho rằng: ” Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc”.
Đầu năm 1428, Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi viết ” Bình ngô đại cáo” công bố cho nhân dân được biết việc đánh đuổi giặc Minh đã giành thắng lợi hoàn toàn. Vị anh hùng Nguyễn Trãi đã gửi trọn tình yêu quê hương dân tộc vào bài cáo nói chung và đoạn đầu nói riêng.
Trước hết tác giả tự hào về truyền thống nhân nghĩa của dân tộc:
” Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Trong hai câu văn trên, Nguyễn Trãi đã sử dụng phép đối của cặp câu biền ngẫu tạo nên sự hài hòa cân xứng, giọng văn hùng hồn đanh thép vận dụng điển tích ” Điều dân phạt tội”… Tác giả nhẫn mạnh tư tưởng lấy dân làm gốc ” Yên dân”. Vì muốn ” yên dân” nên những vị lãnh tụ khởi nghĩa Tây Sơn đã giấy binh diệt trừ giặc Minh hung tàn bạo ngược đó là tư tưởng tiến bộ lấy dân làm gốc. Trong Nam Quốc Sơn Hà có mặt ” đế ” đến Hịch Tướng Sĩ có mặt ” Tướng” thì nước đại việt ta có mặt dân quan tâm đến tầng lớp cùng khổ đông đảo nhất trong xã hội và ” nhân nghĩa” vốn là quan niệm của nho giáo đã được Nguyễn Trãi kế thừa và phát huy nâng lên thành quan hệ giữa quốc gia và giữa ta và Phương Bắc.
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Dường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Tác giả tiếp tục sử dụng câu văn biền ngẫu tạo sự cân xứng hài hòa, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, giọng văn hùng hồn nhiều từ ngữ mang tính chất hiển nhiên như: Vốn xưng, đôi chìa, cũng khác. Phép liệt kê, so sánh, đối chiếu giữa các triều đại của ta với các triều đại của Trung Quốc nhằm hành động vị thế ngang hàng của đại việt với phong kiến phương bắc, tác giả đã định nghĩa về một quốc gia nhiều phương diện.
Đó là đất nước có nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ chủ quyền riêng, phong tục tập quán riêng, các triều đại lịch sử riêng và các anh hùng hào kiệt. Nguyễn Trãi đã kế thừa và phát huy quan niệm này từ ” Nam Quốc Sơn Hà”. Định nghĩa của ông cụ thể, tiêu biểu toàn diện hơn.
Cuối cùng niềm tự hào dân tộc còn được tác giả hành động qua sức mạnh nhân nghĩa:
“Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi”
Đây là những chứng cớ chiến công đã từng được ghi trong sử sách có sức thuyết phục cao mang tính hiển nhiên. Kẻ nào đến xâm phạm nước ta chắc chắn sẽ bị trừng trị chuốc lấy bại vong.
Đoạn trích đúng là bản tuyên ngôn độc lập được thể hiện thông qua nhiều biện pháp nghệ thuật… Niềm tự hào dân tộc ấy được lưu truyền đến muôn đời sau có sức ảnh hưởng rộng rãi. Đó là bài ca yêu nước của thế hệ cha ông.
Tóm lại ” Nước đại việt ta” là áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc, tiếp nỗi truyền thống ấy thế hệ trẻ chúng ta phải ra sức học tập, bảo vệ xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Sự kiện Bạch Đằng 1-5-2014 khiến chúng ta càng cần nêu cao tinh thần tự giá, xây dựng đất nước phát triển để kẻ thù không nhòm ngó lánh thổ, lãnh hải. | Nước Đại Việt ta là áng văn tràn đầy niềm tự hào dân tộc | 769 | |
Đề bài: Nếu hành vi chấp hành luật giao thông là một nét đẹp văn hóa, thì văn hóa giao thông cần phải được xây dựng và bồi đắp ra sao?
Bài làm
Trong đề án “Tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông đến năm 2010” được Chính phủ phê duyệt, đã xác định mục tiêu “Xây dựng các quy tắc đi lại văn minh và đưa các tiêu chí về an toàn giao thông vào tiêu chuẩn gia đình văn hóa”. Hà Nội và một số địa phương đã bắt đầu đề cập việc xây dựng văn hóa giao thông như một giải pháp vừa cấp thiết vừa có ý nghĩa cơ bản, bảo đảm sự bền vững đôi với lĩnh vực trật tự an toàn giao thông. Song nội dung văn hóa giao thông có phạm vi rất rộng, vấn đề đặt ra là nên bắt đầu từ những tiêu chí cụ thể nào?
Hành vi chấp hành luật giao thông là một nét đẹp văn hóa
Ai cũng biết, ít có lĩnh vực nào mà sự tiếp xúc giữa con người với nhau lại diễn ra trong dạng động, trên quy mô lớn, phạm vi rộng và liên tục như hoạt động giao thông. Đã có rất nhiều quy định bắt buộc hoặc chỉ dẫn người tham gia giao thông về hành vi, thái độ ứng xử bảo đảm an toàn giao thông và trật tự xã hội.
Trong đó, nhiều tiêu chí văn hóa giao thông đã được “luật hóa” thông qua các quy định bằng văn bản, hệ thống biển báo và tín hiệu giao thông. Điều đó có nghĩa là ý thức tự giác chấp hành đúng các quy tắc giao thông đã cơ bản thể hiện văn hóa trong giao thông…
Tuy nhiên, các quy tắc không thể bao quát hết những vấn đề cuộc sống đang đặt ra. Hơn nữa, trong từng giai đoạn, cần nhấn mạnh một số tiêu chí phù hợp bối cảnh thực tiễn.
Theo chúng tôi, trước mắt về “xây", nén tập trung vào các nội dung: nâng cao trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, người lái ô tô, trước hết là đội ngũ lái xe khác; định hình thói quen ngồi lên mô tô, xe máy là đội mũ bảo hiểm; tự kiềm chế không sử dụng rượu bia khi điều khiển phương tiện…
Về “chống”, trước hết cần chống hành vi đối phó. Bởi vì, hành vi “đối phó” (chỉ cho xe chạy đúng tốc độ khi biết có cảnh sát giao thông ớ phía trước, đút tiền cho người thi hành công vụ đề tranh bị phạt, ngồi trên mô-tô, xe máy buổi tối không đội mũ bảo hiểm hoặc chỉ đội mũ bảo hiểm khi đến gần chốt kiếm tra) rất dễ “lây lan”, làm giảm hiệu lực của một số quy định đúng và gây ảnh hướng không tốt đối với những người tham gia giao thông khác.
Khắc phục hành vi “đối phó" cũng rất có ý nghĩa đối với việc xây dựng môi trường giao thông văn hóa, trong đó có nội dung “người vi phạm tự mình biết hổ thẹn và bị người chung quanh phê phán” dù chỉ bằng ánh mắt hoặc cái lắc đầu bày tỏ thái độ không đồng tình… | Nếu hành vi chấp hành luật giao thông là một nét đẹp văn hóa, thì văn hóa giao thông cần phải được xây dựng và bồi đắp ra sao_ | 547 | |
Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích
Hướng dẫn
Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích
Hiện nay qua thực tế ta nhận thấy có nhiều bạn còn mải chơi, bỏ học ở lớp để đánh điện tử, về nhà không chịu ôn bài. Hơn thế các bạn còn có thái độ học tập chưa nghiêm túc và tự giác, nhiều bạn coi việc học là nghĩa vụ nặng nề mà bố mẹ đã giao cho, cho nên học theo kiểu đối phó, học cho xong. Có thể nói đây là một vấn đề cần được xem xét bởi việc chểnh mảng học hành của các bạn sẽ ảnh hưởng, rất lơn đến tương lai sau này.
Bởi như chúng ta đã biết, ai sinh ra và lớn lên cũng mong muốn sau này mình sẽ làm được điều gì đó có ích cho bản thân cho gia đình cho xã hội. Tuy nhiên để làm được điều đó con người cần có tri thức, mà tri thức lại là một lĩnh vực đòi mỗi người phải cố gắng, chăm chỉ học hỏi. Và học tập là một quá trình tích luỹ lâu dài từng bước, và theo một hệ thống từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, để làm tốt điều đó người học sinh phải học tập chăm chỉ từ khi bắt đầu ngồi trên ghế nhà trường, từ những năm học đầu tiên bởi các lớp dưới bao giờ cũng là gốc rễ, là tri thức nền tảng cơ bản. Nếu không nắm bắt được kiến thức cơ bản thì học càng cao càng không hiểu bài, người ta thường ví việc học đó như cây không có rễ. Và đối với mỗi con người, thời gian dành cho học tập có thể là suốt đời nhưng học ở trường lớp để tiếp thu những kiến thức cơ bản thì chỉ có một khoảng thời gian nhất định nó phù hợp với lứa tuổi. Chẳng thế mới có chuyện có rất nhiều người sau này lớn lên không nghề nghiệp bởi ngày xưa đi học thì mải chơi không chịu học nên giờ tiếc nuối, nhưng lúc đó đã quá lớn làm sao dám đi học lại cấp 2, cấp 3. Vậy nên nếu không nhận thức vấn đề học tập một cách nghiêm túc chắc chắn sau này có hối tiếc cũng không kịp nữa.
Vậy nên khi còn học phổ thông phải chú ý học tập ngay từ đầu để tránh tình trạng rỗng kiến thức, bởi khi kiến thức đã rỗng rồi sẽ không nắm được các bài học tiếp theo, từ đó nảy sinh tâm lí chán học bởi thấy càng học càng không hiểu và dễ bỏ học lúc nào thuận lợi. Thường ngày chúng ta bắt gặp rất nhiều người phải làm việc vất vả, quần quật cả ngày: lẫn đêm bằng tay chân thế nhưng cuộc sống vẫn khó khăn, mà nếu xét nguyên nhân sâu xa đó là do họ chưa có đủ tri thức khoa học. Còn nếu muốn học tốt thì việc làm đầu tiên là phải chăm chỉ nghe cô giáo giảng ở trên lớp, về nhà học lại bài cũ, làm bài tập, chuẩn bị bài cho buổi học tiêp theo và đặc biệt phải luôn cố gắng tập trung suy nghĩ theo ý tưởng của mình thì việc học mới đem lại kết quả cao, bởi cách học theo ý sáng tạo của mình sẽ giúp ta nhớ lâu và phát huy được trí thông minh vốn có trong mỗi con người. Và tích lũy tri thức là một quá trình cần mẫn lâu dài bởi thế chỉ cần chăm chỉ chịu khó suy nghĩ tìm tòi thì Có công mài sắt có ngày nên kim, chắc chắn sau một thời gian chăm chỉ ta sẽ có một lượng kiến thức vững chắc. Người ta thường nói thiên tài là do 99 % sự chăm chỉ còn chỉ có 1% là do thông minh bẩm sinh. Do vậy ai cũng có thể trở thành thiên tài nếu bạn thật sự cố gắng chuyên tâm vào việc học tập, tất nhiên sự chăm chỉ đó đòi hỏi phải có tính khoa học và sáng tạo. Còn nếu chỉ chăm chỉ học thuộc những lời cô giáo một cách máy móc thì việc học đó sẽ chỉ như con vẹt học nói.
Từ đó ta nhận thấy đối với mỗi học sinh chúng ta, những người chủ trong tương lai cần có một khối lượng tri thức để tào dựng cho mình một tương lai vững chắc và để có thể làm tốt được điều đó con đương duy nhất của chúng là phái học tập sao cho thật tốt. Điều đó vô cùng quan trọng để trước tiên thể hiện lòng hiếu thảo với cha mẹ tiếp đến là tạo hành trang vững chắc vào đời. Do đó việc học tập đối với chúng ta, những học sinh đang cắp sách đến là vô cùng quan trọng. | Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích | 865 | |
Nếu là ông lão đánh cá trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thê’ nào?
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
Tự giới thiệu nhân vật ở ngôi thứ nhất – ngôi “tôi”. Nói rõ vài nét vẻ quê hương, gia cảnh như trong truyện kể.
B. THÂN BÀI
Kể lại câu chuyện đánh cá của ông lão ở ngôi thứ nhất, giữ đúng cốt truyện và tình tiết, xen kẽ miêu tả và phát biểu suy nghĩ một cách hợp lí.
C. KẾT BÀI
Rút ra bài học, viết tiếp ngắn gọn diễn biến sau khi truyện kể đã kết thúc.
Nếu là ông lão đảnh cả trong truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thế nào?
BÀI LÀM
Vợ chồng tôi sinh sống ngay trên bờ biển. Suốt ngày tôi đi đánh cá còn bà lão ở nhà kéo sợi. Cuộc sống của chúng tôi tuy nghèo nhưng hạnh phúc. Tôi chẳng ước ao gì hơn khi gần cuối đời được sống thanh thản. Song sự đời đâu chiều theo ý muốn của con người dù con người đã cam chịu. Có một chuyện xảy ra khiến cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ mãi.
Hôm đó tôi ra biển đánh cá, vợ tôi ở nhà kéo sợi như thường lệ. Tôi thả lưới lần đầu tiên chỉ thấy rong biển, lần thứ hai trong lưới chỉ có một con cá vàng. Tôi định bắt con cá thì… lạ chưa, cá cất tiếng kêu vang:
Tôi rất ngạc nhiên, từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay tôi chưa bao giờ thấy một con cá nào biết nói như vậy, song tôi vẫn thả nó xuống sông và nói:
– Trời phù hộ cho ngươi, ngươi trở về biển khơi mà vùng vẫy. Ta không đòi gì cả, ta cũng chẳng cần gì!
Về nhà tôi đem chuyện đó kể cho vợ tôi nghe, không ngờ bà lão mắng:
– Đồ ngốc, sao không bắt con cá vàng đền cái gì? Đòi một cái máng cho lợn ăn không được à? Cái máng nhà ta gần vỡ rồi!
Tôi nghĩ cũng phải, liền đi ra biển, biển gợn sóng êm ả. Tôi cất tiếng gọi, cá vàng bơi lên hỏi:
– Ông lão ơi, ông cần gì thế?
Tôi chào và nói:
– Vợ tôi muốn một cái máng mới, cái máng nhà tôi đã sứt mẻ cả rồi. Cá trả lời: “Ông lão cứ về đi, đừng băn khoăn gì cả. Tôi sẽ giúp ông, ông sẽ có một cái máng mới”.
Tôi về đến nhà, vợ tôi đã có cái máng mới thật, nhưng vừa trông thấy mặt tôi mụ đã quát to:
Đồ ngu, đòi một cái máng thật à? Một cái máng thì thấm vào đâu, đi tìm con cá đòi một cái nhà.
Thế rồi mụ càu nhàu, té tát mãi, không chịu được tôi đành đi ra biển. Biển xanh đã nổi sóng. Tôi cất tiếng gọi cá, cá bơi lên hỏi:
– Cá ơi, giúp tôi với! Mụ vợ mắng tôi nhiều hơn, chẳng để tôi yên chút nào. Mụ đòi một tòa nhà đẹp. Cá vàng đáp ngay:
– Ông lão đừng bàn khoăn quá! Cứ về đi! ông sẽ có một cái nhà to và đẹp.
Trở về nhà, tôi đã thấy mụ vợ ngồi chễm chệ trong căn nhà mới như lời hứa của cá vàng.
Nhưng cũng ngay lập tức, mụ nổi giận lôi đình bắt tôi quay trở lại đòi cho mụ được làm nhất phẩm phu nhân.
“Mụ thì làm sao có thể thành nhất phẩm phu nhân được kia chứ” Tôi thầm nghĩ. Nhưng vốn đã quen chịu đựng, tôi vẫn đi ra biển. Không ngờ theo yêu cầu của tôi, cá vàng đã làm cho mụ được như ý.
Khổ nỗi tôi bị đuổi ra khỏi tòa dinh thự trở thành người quét chuồng ngựa cho vợ từ ngày mụ chán làm nhất phẩm phu nhân mà đòi tôi xin cá bằng được cho mụ làm Nừ hoàng.
Được ít tuần làm Nữ hoàng thấy chán, mụ lại gọi tôi đến và bảo:
– Mày đi tìm con cá vàng và bảo nó là tao không muốn làm Nữ hoàng nữa, tao muôn làm Long Vương ngự trên biển, để bắt con cá vàng hầu hạ theo ý muốn của tao!
Lúc này tôi đã ở vào thế không dám trái ý. Tôi đành lủi thủi đi ra bờ biển. Một cơn giông tố kinh khủng kéo đến, mặt biển nổi sóng ầm ầm. Tôi run run gọi con cá vàng. Con cá bơi lên hỏi:
Tôi cúi đầu chào con cá và nói:
– Cá ơi giúp tôi với! Thương tôi với. Tôi sống làm sao được với mụ vợ quái ác này! Bây giờ mụ ấy không muốn là Nữ hoàng nữa, mụ ấy muốn làm Long Vương để bắt cá vàng phải hầu hạ làm theo ý muốn của mụ.
Vừa nghe nói cá vàng lặng lẽ lặn mất tăm. Tôi chờ mãi vẫn chẳng thấy cá vàng trở lại. Đợi mãi, đợi mãi, tôi đành phải quay về trong lòng vồ cùng lo lắng khi nghĩ đến sự giận dữ còn đáng sợ hơn bão biển của vợ.
Nhưng lạ chưa, về đến nơi, tất cả lâu đài nguy nga tôi đã cầu đều biến mất. Trước mắt tôi là túp lều tranh nát khi xưa và mụ vợ đang ngồi quay sợi bên cái máng lợn ăn sứt mẻ.
Tội chợt bừng tỉnh. Chỉ tại mụ vợ tham lam vô độ còn tôi thì từ ông chồng nhu nhược thành kẻ nô lệ mới nên cơ sự này.
Nhìn thấy tôi, mụ vợ tôi chẳng nói gì, cứ cúi đầu kéo sợi. Tôi cầu trời cho mụ trở lại hiền lành như cũ, để tôi trở lại làm chồng và vợ chồng tôi lại được sống thanh thản như xưa. | Nếu là ông lão đánh cá trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thê’ nào_ | 983 | |
Nếu một ngày, có người đến gõ cửa nhà em… Hãy tưởng tượng và viết tiếp – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Nếu một ngày
Bài làm
Cuộc sống, một khái niệm rất trừu tượng. Đó có thể là một vở diễn nghệ thuật mà trong ấy, mỗi chúng ta là một người nghệ sĩ. Và vai trò của diễn viên là đem hết khả năng, công sức, tâm huyết vào tròn vai, để đến khi hạ màn, mỗi khán giả đều đứng bật dậy trầm trồ khen ngợi và cả khán đài tràn ngập tiếng vỗ tay. Cuộc sống cũng có thể là một bản giao hưởng. Dù là một bản hoà tấu nhiều chương hay một bài độc tấu ngắn thì mỗi nốt nhạc, mỗi giai điệu đều ngập tràn cảm xúc. Đó có thể là những nốt xướng cao hoặc xướng thấp, gam trầm hay gam bổng; đó có thể là đoạn điệp khúc hay dạo đầu, thậm chí là những khoảng nhạc lặng. Mỗi một nốt nhạc, một giai điệu đều như một phần của cuộc sống mà trong những phần nhỏ ấy, ta cảm nhận được những âm thanh du dương, tinh tế. Cuộc sống muôn màu như một bức tranh rực rỡ. Đôi khi, ta cảm thấy dường như giữa ta và cuộc sống là một cánh cửa. Cánh cửa ấy dẫn ta tới nhiều những vai diễn, những nốt nhạc, những bức vẽ khác nhau và quan trọng là ta đối mặt thế nào trước những tiếng gõ cửa mời gọi đầy khiêu khích và thử thách.
Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Đó là một buổi sáng ngày nghỉ, sau một tuần dài căng thẳng và mệt mỏi trong nhịp sống hối hả, bạn quý giá từng phút giây được thư giãn. Tiếng gõ cửa làm phiền những giờ phút yên tĩnh mà bạn hằng mong mỏi suốt tuần qua. Và nếu đó là một người mà bạn muốn gặp, thì có thể coi đó là niềm an ủi. Thế nhưng cánh cửa bật mở và hiện ra, dưới ánh nắng rực lửa của một ngày hè nóng nực, là hình ảnh một người đàn ông ăn vận rách rưới, toàn thân toả ra một mùi hương khó chịu. Ông ấy đi chân trần trên nền đường được nung như nóng chảy mà ngay cả bản thân bạn cũng đang phải tự bảo vệ đôi chân của mình bằng một đôi dép nhựa cách nhiệt. Toàn bộ thân hình còi cọc của ông tan đi trong cái nắng như thiêu như đốt của mùa hè khắc nghiệt. Ông ta run rẩy, môi mấp máy: “Thưa cô,…tôi xin lỗi vì đã làm phiền cô như thế này… nhưng liệu cô có thể cho tôi một chút gì để ăn hay không?”. Tiếng nói của ông thều thào, nhưng đủ để bạn nghe được trong tiếng còi rít inh ỏi ngoài đường. Bạn tức giận, tất cả sức lực dường như chỉ muốn dồn vào cánh cửa kia. Khao khát được đóng sập cánh cửa ấy của bạn cháy bỏng như những tia nắng đang thiêu đốt ngoài kia. Thế nhưng hãy bình tĩnh, nếu bạn đã từng gặp trường hợp ấy, thì John Evans cũng vậy. Đó cũng là một ngày nóng nực, khó chịu. Càng đau đớn hơn, hôm ấy là đúng ba ngày sau cái chết của vợ anh, sau 17 năm chung sống. Nhìn tổ ấm của mình tan hoang như một bãi chiến trường, hẳn John Evans cũng rất muốn được yên tĩnh, giống như bạn. Thế nhưng một người ăn xin đã nở một nụ cười tươi rói và nhẹ nhàng hỏi xin sự giúp đỡ của anh. John, sau một hồi tranh cãi và vô cùng mệt mỏi bởi ông lão ấy, đã quyết định mở tủ lạnh để kiếm một chút gì đó cho ông. Kinh hoàng thay, khi mà cánh cửa tủ bật mở, hình ảnh cô con gái ba tuổi nằm co ro trong tủ lạnh chỉ vì muốn chiến thắng trong trò chơi trốn tìm khiến cho ai nấy đều lạnh sống lưng. Và chính ông lão hôm ấy, cũng có lẽ là chính lòng tốt của John đã cứu sống con gái anh. Câu chuyện của John Evans không chỉ là một câu chuyện tầm thường. Nó đem đến cho bạn và tôi thật nhiều suy nghĩ, về cuộc sống của ta, về cách mà ta đối xử với đồng loại trong cơn hoạn nạn. Vậy nếu bạn nghe thấy tiếng gõ cửa và người ở bên ngoài cánh cửa là một người ăn xin, đừng vội tức giận và hãy nhớ tới câu nói của triết gia người Mĩ Ralph Waldo Emerson: “Một trong những phần thưởng cao đẹp nhất của cuộc sống là không có một người nào chân thành giúp đỡ người khác mà lại không nhận được một điểu gì đó cho chính bản thân mình”.
Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Lúc ấy, bạn đang say giấc nồng trong chiếc chăn ấm áp. Bên ngoài kia, gió rét giật từng cơn, rít lên nghe lạnh thấu xương. Bạn chỉ mong muốn được vùi mình trong lớp mền ấm áp, và mơ về những giấc mơ thật ngọt ngào sau một ngày dài chống chọi lại với cái lạnh. Thế nhưng cuộc sống không có gì là hoàn hảo cả. Và giấc ngủ ngon cùng những giấc mơ tuyệt vời bị phá vỡ bởi tiếng gõ cửa. Cửa sắt cót két rung lên từng hồi hoà vào tiếng gió rít nghe thật khó chịu. Bạn bỏ mặc những âm thanh ấy và cố vùi đầu vào gối để được yên lặng. Âm thanh cót két vang lên từng hồi ngày càng yếu ớt nhưng vô cùng dai dẳng. Sự tức giận tràn ngập trong cảm giác mệt mỏi vô tận. Bạn kéo lê từng bước chân xuống cầu thang lạnh lẽo để tới bên cánh cửa sắt lạnh như băng đá. Chỉ riêng việc cầm vào nắm cửa cũng đủ làm bạn cảm thấy uể oải. cảm giác lạnh lẽo như thấu tận tim gan. Thế nhưng để đánh đổi cho sự yên tĩnh, bạn mở cánh cửa và thấy một người đàn bà già đang yếu ớt đập vào khung cửa. Ngay khi cánh cửa bật mở, bà lão ấy thả lỏng đôi tay và thều thào: “Xin hãy cứu tôi…”. Toàn thân người ấy run lên từng hồi theo nhịp tiếng gió gào. Đôi môi thâm tím, bàn tay cứng ngắc như đá, trông bà lão dường như mất hết sức sống. Có lẽ nếu là một con rôbốt, nó sẽ quay bước đi bởi bà lão ấy không phải là đồng loại của nó. Một con rôbốt khác chúng ta ở chỗ: chúng vận hành nhờ những bộ động cơ, còn chúng ta có một trái tim. Trái tim ấy hằng ngày, hằng giờ vẫn đập trong lồng ngực mỗi con người, nó điều khiển lương tâm ta và không cho phép ta bỏ mặc những số phận yếu ớt ấy ngoài xã hội. Ta sẽ bao bọc, che chở. Cho dù là đôi tay ta nhỏ bé, thân hình ta nhỏ bé, nhưng nếu ta biết yêu thương, chia sẻ lẫn nhau, thì ai dám nói rằng ta có một trái tim nhỏ bé? Ai dám nói rằng ta không phải là một con người vĩ đại? “Hãy làm những điều mà bạn có thể làm với tất cả những gì bạn đang có. Hãy cho đi khi bạn vẫn còn khả năng bởi chẳng có gì là thuộc về bạn mãi mãi”. Đó là điều mà một trong những người vĩ đại của thế giới, cố Tổng thống Mĩ Theodore Roosevelt đã từng nói.
Nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa… Đã bao giờ bạn cảm thấy mệt mỏi chưa? Đã bao giờ bạn cảm thấy cuộc sống thật khó khăn? Hoặc quá hối hả? Sự cạnh tranh không ngừng đã lấy đi quỹ thời gian ít ỏi mà bạn dùng để nhìn lại những gì bạn đã làm được, những gì bạn muốn làm được, và những gì mà bạn đã vô tình đánh mất để đạt được những ước muốn ấy. Cuộc sống luôn cần những khoảng lặng để lắng nghe lòng mình, hiểu mình và hiểu những cung bậc của cuộc sống. Và nếu bạn quá bận rộn để có thể tự mình chiêm nghiệm thì sẽ có những thiên thần giúp bạn cảm nhận. Vậy nếu một ngày bạn nghe thấy tiếng gõ cửa, có lẽ là một thiên thần đang tìm gặp bạn đấy! Thiên thần ấy sẽ ghé sát vào đôi tai của bạn thì thào những lời ngọt ngào, để bạn có thể cảm nhận được tình yêu thương mà những người khác dành cho bạn. Bạn có biết không, “tình yêu tạo ra sức mạnh diệu kì có thể xoa dịu cả những trái tim chai cứng và giúp vững vàng các cuộc đời yếu đuối”. Nếu cuộc sống gây ra cho bạn những tổn thương về mặt tinh thần, nếu cuộc sống khiến trái tim của bạn tan vỡ và dần dần theo thời gian, chúng chai sạn, thì những thiên thần sẽ giúp bạn có một tâm hồn hoàn hảo. Nếu bạn quá mệt mỏi vì ganh đua, bạn trở nên yếu đuối sau những lần thất bại và đang buông xuôi mọi thứ, thiên thần sẽ nắm lấy cánh tay bạn và dẫn bạn bước những bước đầu tiên trên một con đường mới của cuộc đời. Con đường ấy tuy dài hơn, gồ ghề hơn con đường mà bạn đã từ bỏ, nhưng nó được bồi đắp bởi tình yêu thương và sự nỗ lực. Vậy bạn đã có một trái tim không mảnh vỡ hoặc tự nỗ lực bước đi trên con đường đời chưa? Đừng lo, chỉ cần bạn mở cánh cửa tâm hồn, dang rộng cánh tay đón nhận cuộc sống, thiên thần sẽ ở ngay bên bạn thôi. Nào, bạn đã nghe thấy tiếng gõ cửa chưa? Thiên thần đến rồi đấy!
Vậy sẽ ra sao nếu một ngày ác quỷ gõ cửa nhà bạn nhỉ? Bạn sẽ sợ hãi hay can đảm đương đầu? Bạn sẽ đối mặt ra sao với tiếng gõ cửa đầy khiêu khích, và có một chút rùng rợn? Nếu là tôi, dù rất sợ hãi, tôi cũng sẽ mở cửa. Bởi lẽ mở cửa là chấp nhận đối mặt với thử thách. Đừng nên quá ấp đặt những cái gì ghê gớm nhất, nguy hiểm nhất sẽ gặp khi mở. Tôi mở cửa, biết đâu tôi sẽ gặp một người bạn thay vì một kẻ thù, một niềm vui thay vì một sự lo sợ, một điều may mắn thay vì sự né tránh, chán nản. Đừng bao giờ tin rằng số mệnh đã sắp đặt cuộc sống của bạn. Nhà soạn kịch người Anh, ông George Bernard Shaw từng nói:”Mỗi người cần biết lựa chọn và tìm kiếm vận mệnh cho mình và nếu không tìm thấy, họ phải tạo ra nó”. Mở cửa không chỉ là dám đương đầu, mà còn là dám tạo ra số mệnh cho mình Nếu không can đảm đối đầu, bạn sẽ có thể bỏ lỡ một thiên thần đấy. Vậy, nếu ác quỷ hay thiên thần gõ cửa, bạn hãy vui vẻ nói: “Xin chào” nhé!
Trịnh Minh Hoàng
(Trường THCS Trưng Vương)
>> Xem thêm “Trên con đường đi tới thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng” tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Nếu một ngày | Nếu một ngày, có người đến gõ cửa nhà em… Hãy tưởng tượng và viết tiếp – Bài văn hay lớp 8 | 1,948 | |
Nếu được chứng kiến cái chết của cô bé bán diêm trong truyện cùng tên của An-đéc-xen, em sẽ ghi lại cảnh đó như thế nào?
Bài làm
Vào một buổi tối mùa thu, tại một khu phố thuộc thành phố Cô-pen-ha-gen- Đan Mạch.
– Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!
Một tiếng nói khàn khàn, mệt mỏi chợt vọng đến tai An-đéc-xen. Đằng kia, trước mặt chàng hơn mười bước là một người đang ngồi co ro trên thềm của một ngôi nhà cao ráo. Ánh sáng đèn từ trong nhà chiếu ra cho chàng thấy đó chỉ là một đứa bé con. Hẳn nó đã phát ra những lời vừa rồi.
– Tối lắm rồi sao cháu còn chưa về nhà ngủ?
An-đéc-xen bước đến, ái ngại. Đấy là một cô bé khoảng hơn 10 tuổi, run rẩy trong bộ quần áo vá víu bẩn thỉu. Vai áo rách để lộ đôi vai gầy còm. Nhìn gương mặt hô’c hác của nó, có thể đoán nó đang chịu cảnh thiếu ăn, thiếu uống từ lâu.
Nếu được chứng kiến cái chết của cô bé bán diêm trong truyện cùng tên của An-đéc-xen, em sẽ ghi lại cảnh đó như thế nào?
– Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm! — Tay cầm bao diêm, cô bé chỉ vào chiếc túi con căng phồng bên cạnh, khẩn nài – Cả ngày cháu chẳng bán được gì, cũng chẳng ai bô’ thí cho cháu đồng nào.
Cô bé rơm rớm nước mắt. Thân hình tiều tụy ôm yếu của em run lên khi gió lạnh thổi qua.
– Thế sao? — An-đéc-xen động lòng.
Chàng khẽ vuốt mái tóc dài xoăn thành từng búp trên lưng cô bé.
– Gia đình cháu đâu cả rồi? Không ai lo cho cháu sao?
– Không có tiền cháu đâu dám về nhà vì bố sẽ đánh chết thôi! – Cô bé nlủn An-đéc-xen, đôi mắt cầu khẩn.
Thực vậy, em có một người cha ác nghiệt. Hơn nữa về nhà cũng chẳng hơn gì. Hai cha con sống với nhau trên một gác xép tồi tàn, gió rét vẫn lùa vào được dù đã bít kín những lỗ thủng trên vách. Lúc này, đôi chân cô bé đã lạnh cóng, em mang đôi giày vải mòn cũ do mẹ em để lại.
– Cháu đừng lo! – An-đéc-xen cho tay vào túi lấy ra một số tiền đặt vào bàn tay bé bỏng của em. — Còn bấy nhiêu chú cho cháu cả. Cháu về nhà mau kẻo chết cóng mất.
– Ôi, lạy chúa! — vẻ đầy mừng rỡ, cô bé hôn tíu tít lên tay chàng – Từ ngày bà cháu mất đi, chú là người thương cháu nhất trên đời này. Với món tiền này, bố con cháu sẽ được nhiều bữa no. Nhưng… – Cô bé bỗng đăm chiêu.. – Nếu chú cho cháu hết thì tiền đâu chú sống, hở chú?
– Sao cháu khéo lo thế? – Chàng mỉm cười, nụ cười đầy hiền dịu – Chú sẽ còn cho cháu nhiều thứ nữa. Chú sắp đi xa, đầu năm tới mới trở lại nơi này, khi ấy chú sẽ tặng cháu một món quà đặc biệt.
– Ồ, thích quá! Còn cháu, cháu cũng sẽ tặng chú một món quà. Mà chú tên gì nhỉ?
– Chú là An-đéc-xen – Chàng âu yếm nắm đôi vai gầy của cô bé – Có bao giờ cháu nghe đến tên ấy chưa?
– Tên chú nghe quen lắm – Cô bé nhìn đăm đăm gương mặt trầm tư có chiếc mũi khoằm của chàng.
– Chú có phải là thợ mộc không?
– Không phải! — An-đéc-xen mỉm cười lắc đầu.
– Thợ may?
– Cũng không.
– Hay chú là bác sĩ?
– Ô, không phải đâu. Thế này này…
Chàng đưa ngón tay trỏ viết viết vào không khí, vẻ hơi đùa cợt.
– A! Cô bé reo lên — Cháu hiểu rồi, chú làm nghề bán bút.
An-đéc-xen chỉ tủm tĩm cười. Chàng thấy yêu cô bé quá. Em khiến chàng, một nhà văn thề suốt đời gắn bó với tuổi thơ, nhớ đến thời thơ ấu của mình và thành phố Ô-đen-sơ cổ kính, nơi tuổi thơ của chàng êm ả trôi qua. Là con một trong một gia đình nên dù cha chỉ là một bác thợ giày nghèo, cậu bé An-đéc-xen hầu như chẳng phải mó tay đến bất cứ một việc gì ngoài mỗi việc là mơ mộng liên miên. Cậu bé lắm khi chỉ thích bầu bạn với chiếc cối xay già nua đứng run rẩy trên bờ sông hiền lành của thành phố quê hương…
Sau đó An-đéc-xen đi du lịch đâu đó… và chàng đã quên luôn lời hứa với cô bé bán diêm. Khi về thăm lại khu phố năm nào, chàng tự trách mình đã quá mải mê với chuyên viễn du đến nỗi quên khuấy đi lời hứa với cô bé bất hạnh mà giờ này hẳn đang lang thang đâu đó với chiếc túi đựng đầy diêm. Phải mua ngay cho em một chiếc áo len, một chiếc áo lông cừu dày và thật ấm để em qua được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông…
– Con bé chết rồi còn đâu. Ngày đầu năm ngoái người ta nhìn thấy em bé chết cóng tự lúc nào ở một góc đường giữa hai ngôi nhà. Cái chết cứng đờ của nó
ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Có lẽ nó muốn sưởi cho ấm. Có điều lạ là hai má nó vẫn hồng và miệng nó như đang mỉm cười. À này, — ông ta tiếp tục trước khuôn mặt chết lặng của An-đéc-xen – khi mang xác nó đi người ta thấy trong túi nó rơi ra vật gì giống như một chiếc quản bút làm bằng những bao diêm. Hẳn nó để dành tặng ai, vì trên chiếc quản bút có ghi dòng chữ: tặng chú An-đéc-xen.
An-đéc-xen quên khuấy món quà ông định tặng cho cô bé bán diêm. Nhưng cô bé, cô bé vẫn nhớ tới lời hứa của mình với vị khách tốt bụng của buổi tối mùa thu. Hơn nửa thế kỉ qua, hàng triệu con người trên
Trái Đất đã nghe tim mình thổn thức mỗi khi đọc câu chuyện về cô bé đáng thương của văn hào Đan Mạch. Phải chăng An-đéc-xen đã viết câu chuyện ấy như một món quà dể tặng hương hồn cô bé bán diêm? | Nếu được chứng kiến cái chết của cô bé bán diêm trong truyện cùng tên của An-đéc-xen, em sẽ ghi lại cảnh đó như thế nào_ | 1,070 | |
Nếu được chứng kiến cảnh lão Hạc bán chó kể với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại chuyện đó như thế nào?
Bài làm
Ngay từ sáng sớm tôi, người đàn bà với cái chân đau, cứ thế cặm cụi nơi xó bếp để chuẩn bị cơm bữa cho gia đình. Hôm nay là một ngày thu trong xanh gió mát, thời tiết rất dễ chịu và thoải mái. Cứ thế như thường ngày, tôi thì quẩn quanh nơi xó bếp còn chồng tôi – ông giáo (người đời vẫn gọi cái tên đầy kính trọng ấy với người chồng làm thầy giáo của tôi) thì đang ngồi trên chiếc chõng tre đọc sách ngoài hiên nhà. Mọi chuyện sẽ thật yên bình nếu cái Lão Hạc hàng xóm sang nhà tôi.
Lão Hạc tất tưởi chạy sáng với vẻ mặt thất kinh, tôi nhìn thấy cũng tò mò nên có đứng chỗ đầu bếp để cố gắng nghe ngóng xem sự tình ra sao.
Lão thấy chồng tôi ngồi trên hiên nhà, với vẻ mặt hốc hác mà nói hấp tấp:
– Cậu Vàng đi rồi ông Giáo ạ!
Thì ra là lão sang đây để kể với chồng tôi về con chó Vàng yêu quý của lão, lão thương con chó ấy như vàng ấy. Dường như không tránh khỏi sự ngạc nhiên nên ông nhà tôi hỏi:
– Cụ bán rồi à?
– Vâng, tôi bán rồi
Giọng lão bùi ngùi, xúc động, gương mặt lão cố tỏ ra vui vẻ nhưng tôi nhìn ra ở trên đó thực ra là lòng đay đớn đến tột cùng. Lão cười nhưng thật quái dị, cười mà như một đứa trẻ mếu máo vậy. Trên đôi mắt đầy ắp những khổ cực bắt đầu ngân ngấn nước, đỏ hoe. Có vẻ ông nhà tôi xót xa lắm, rót ly nước chè mời lão uống rồi hỏi tiếp:
Dường như chạm đến tận đáy nỗi đau đớn xót xa mà lão đang cố chôn vùi. Lão bắt đầu khóc, điều đó cũng khiến tôi giật mình. Lão khóc hu hu như một đứa trẻ, khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc như cố bùng nổ cảm giác đau khổ mà lão kìm nén bây lâu nay. Nước mắt chan hòa cùng nỗi đau khiến lòng lão quặn lại tim đau nhói. Những giọt nước mắt ấy tưởng sẽ chẳng có ở cái độ tuổi gần đất xa trời kia mà giờ lại bật ra thành tiếng vì trót lừa một con chó. Lão nghẹn ngào:
– Khốn nạn… ông Giáo ơi! Nó có biết gì đâu. Nghe gọi về ăn cơm thì vẫy đuôi chạy về. Đang ăn thì thằng Mụ và thằng Xiên trốn từ phía sau túm lấy cu cậu, loay hoay một lát là trói chặt cả bốn chân. Cái giống nó cũng khôn, biết mình bị bắt nên im lặng chỉ kêu ư ử như muốn oán trách toi vì sao đối xử tệ với nó như vậy. Ông à! Ngay cả tôi cũng chẳng hiểu nổi vì sao bản thân từng nay tuổi mà còn nhẫn tâm đi lừa một con chó, phản bội người bạn thân duy nhất còn lại của mình. Tôi thấy ân hận quá!
Lão vừa nói vừa đấm thình thịch vào ngực của mình, nước mắt cứ rơi lã chã trên gương mặt gầy gò xanh xao đầy khắc khổ kia. Nhìn lão dằn vặt đau khổ thế ông nhà tôi cũng đau lòng lắm, ông ôm lão đông viên mà thấy chua xót cùng lão biết bao.
Nòi nước kêu xùng xục tràn cả ra ngoài bếp khiên tôi giật mình quay lại với gian bếp mà bỏ dở câu chuyện. Nhưng những dòng tâm sự của lão Hạc vẫn còn in đậm trong tâm trí khiên tôi không thể tập trung ngay cả khi ngồi trước nồi nước. | Nếu được chứng kiến cảnh lão Hạc bán chó kể với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại chuyện đó như thế nào_ | 645 | |
Nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy
Hướng dẫn
Nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy
Bài Làm:
Truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy là câu chuyện đi vào lịch sử dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước và giữ nước. Câu chuyện chứa đựng những nụ cười và nước mắc xây dựng hình tượng nhân vật gắn với bài học dựng nước giữ nước tình yêu chiến tranh và hòa bình. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn về nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương Mị Châu Trọng Thủy.
Nụ cười trọng truyện không chỉ được hiểu theo nghĩ đen đơn thuần mà chúng ta cần hiểu theo nghĩa đó là niềm vui, là hạnh phúc sự may mắn vinh quang và chiến thắng trong truyện. Nụ cười của nhân vật An Dương Vương gắn niền với phần đầu của câu chuyện với việc xây dựng và giữ nước thắng lợi, gắn liên với quyền lợi, hạnh phúc của nhân dân. Tinh thần yêu nước bảo về đất nước ý thức của vua An Dương Vương là niềm vui tự hào của dân tộc. An Dương vương đã nỗ lực khắc phục khó khăn đồng thời được sự giúp đỡ của thần ninh và nhân dân đã giúp vua xây thành, chế nỏ đuổi đánh thành công giặc ngoại xâm thể hiện tinh thần đoàn kêt của dân tộc.
Nước mắt trong truyện được hiểu là sự tủi nhực, nỗi buồn, sai lầm của các nhân vật trong truyện. Nước mắt của Vua An Dương Vương gắn liền với bi kịch mất nước là giết người con gái yêu quý. Nguyên nhân dẫn tới nước mắt, sự bi kịch của câu chuyện là ý chủ quan mất cảnh giác, không phát hiện ra bản chất xấu xa của kẻ thù dẫn tới mất nước, mất con khiến dân chúng rơi vào cảnh lầm than đó là những giọt nước mắt sai lầm, là lỗi buồn của vua.
Nước mắc của Mị châu là bi kịch tình yêu, là sự phụ bạc lợi dụng của Trọng Thủy với nàng, khi phát hiện ra việc bị Trọng Thủy lợi dụng thì đã quá muộn nàng đã phải chấp nhận cái chết. Với tình yêu mù quáng, nhẹ dạ cả tin. Nàng đã làm mất nước những giọt nước mắt sót xa, hối hận đã quá muộn màng với những việc Nàng đã làm. Nước mắt của 2 cha con An Dương Vương là nước mắt đại diện cho dân tộc khi chịu cảnh mất nước, mất nhà, là sự khổ cực của nhân dân.
Thông qua truyền thuyết qua nụ cười và nước mắt của các nhân vật trong truyện giúp ta hiểu được những triết lí đối với hiếu tình, chiến tranh hòa bình, hạnh phúc, khổ đau, nghĩa vụ và trách nhiệm. Thông qua đây tác giả dân gian muốn gửi tới chúng ta chân lí hạnh phúc bất hạnh mỗi cá nhân luôn gắn liền với bất hạnh toàn dân tộc và được tạo lên bởi mỗi người.
Tác phẩm đã thể hiện đặc trưng nghệ thuật của thể loại truyền thuyết, các nhân vật, yếu tố tỏng tác phẩm được xây dựng vừa dựa trên cảm cảnh lịch sử, vừa dựa trên cảm cảnh vnaw học giúp người đọc vừa thấy thực vừa thấy mộng nhăm tạo dấu ấn lịch sử bài học cho người đọc về nước mắc và nụ cười trong cuộc sống. | Nụ cười và nước mắt trong truyện An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy | 593 | |
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Hướng dẫn
Ngôn ngữ nghệ thuật
1. Khái niệm:
Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm được dùng trong văn bản nghệ thuật
Xét ngữ liệu sau:
– “Sen là cây mọc dưới nước, lá to tròn, hoa màu hồng hoặc trắng, nhị vàng, hương thơm nhẹ, hạt dùng để ăn”
(Theo Nguyễn Như Ý, Từ điển TV)
-Văn bản 2: Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
-Đều cung cấp thông tin về sen
-Khác:
(1)Sử dụng ngôn ngữ cô đọng, chính xác, sắc thái trung hòa, không bóng bẩy
(2) Ngôn ngữ giàu sức gợi tả, sinh động, giàu sức biểu cảm
– Ngôn ngữ nghệ thuật là loại ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm.
2. Phạm vi sử dụng:
– Chủ yếu được sử dụng trong văn bản nghệ thuật (các tác phẩm văn chương)
3. Phân loại ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật:
Chia thành ba loại:
– Ngôn ngữ tự sự trong truyện, tiểu thuyết, bút kí, kí sự, phóng sự … (lời văn xuôi …)
– Ngôn ngữ thơ trong ca dao, vè, thơ …( có vần điệu …)
– Ngôn ngữ sân khấu trong kịck, tuồng, chèo … (lời thoại …)
cho các ví dụ:
(1) “Hai bên cầu có đến mấy vạn quỷ dạ xoa mắt xanh, tóc đỏ, hình dáng nanh ác…”-> NN tự sự
(2) “Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên”-> NN thơ
(3) Này thầy tiểu ơi!
Thầy như táo rụng sân đình,
Em như gái dở đi rình của chua”-> NN sân khấu
4. Chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật
– Thực hiện chức năng thông tin ( trao đổi ý nghĩ, tình cảm …)
– Thực hiện chức năng thẩm mĩ (biểu hiện cái đẹp và khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ ở người nghe, người đọc )
– Ngôn ngữ nghệ thuật được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ
* Ghi nhớ: (sgk tr 98)
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
II. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1. Tính hình tượng
– Xét ngữ liệu:
(2) Dân tộc ta được trưởng thành trong chiến tranh. Kẻ thù không còn hi vọng để ngăn cản sự phát triển mạnh mẽ, to lớn của một dân tộc từng bị áp bức ở hầm mỏ và nông thôn.
Đoạn thơ và đoạn văn trên đều nói về sức mạnh của dân tộc Việt Nam, cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước.
+ Thơ Tố Hữu:sử dụng hoán dụ “bàn chân” chỉ dân tộc Việt Nam, những người công nhân và nông dân.
+ Đoạn văn: diễn đạt trực tiếp.
→ Thơ Tố Hữu cụ thể hơn, sinh động, hàm súc và biểu cảm hơn ->có tính hình tượng.
(1) diễn đạt cụ thể hơn, sinh động, hàm súc, biểu cảm hơn (2)-> có tính hình tượng.
=>Tính hình tượng của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là khái niệm chỉ ra cách diễn đạt cụ thể hơn, hàm súc hơn và gợi cảm hơn trong 1 ngữ cảnh nhất định.
– Các phép tu từ sử dụng để tạo ra tính hình tượng: (SGK/ T99).
+ So sánh: (1)“Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”
(2)Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
+ Ẩn dụ: Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông nhường nào/ Chỉ có biển mới biết/ Thuyền đi đâu, về đâu.
VD: Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
->Thuyền, bến không còn là phương tiện trên sông nước hay nơi neo đậu nữa mà chỉ nam nữ (thuyền:nam, bến: nữ), chỉ tình yêu đôi lứa.
-Tác dụng: làm cho ngôn ngữ nghệ thuật đa nghĩa.
2. Tính truyền cảm
Biểu hiện: SGK/ T100
VD:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều.
→Cảnh quê hương bị chiến tranh tan phá và nỗi đau xót của tác giả. Người đọc thấu hiểu và cảm xúc nảy sinh như chính tác giả
VD:
“Đau đớn thay phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.
→Tác giả thông cảm, đồng cảm, xót xa cho số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.→ ta phải trăn trở, suy nghĩ về thân phận của người phụ nữ, thương cảm, đồng cảm với họ.
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều (Nguyễn Đình Thi)
→Cảnh quê hương bị chiến tranh tan phá và nỗi đau xót của tác giả. Người đọc thấu hiểu và cảm xúc nảy sinh như chính tác giả.
+ Tính cảm xúc(đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt): biểu hiện sắc thái cảm xúc, tình cảm của người nói qua các yếu tố ngôn ngữ.
+ Tính truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở chỗ người nói (viết) làm cho người nghe ( đọc) cùng buồn, vui, yêu, thích… như người nói (viết).
3. Tính cá thể hóa
Thể hiện ở:
+ Phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật.
VD: Ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương cá tính, góc cạnh. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến thâm trầm, kín đáo, sâu sắc.
+ Vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật: ngôn ngữ của Chí Phèo thì du côn, Bá kiến thì khôn ngoan, cáo già…
+ Nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm.
+ Tính cá thể hóa thể hiện ở khả năng vận dụng các phương tiện diễn đạt chung vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của mỗi nhà văn, nhà thơ, tạo nên phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật
VD: Ngôn ngữ thơ của Hồ Xuân Hương cá tính, góc cạnh. Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến thâm trầm, kín đáo, sâu sắc.
Thơ Xuân Diệu có vốn từ giàu hình ảnh, nhạc điệu, phập phồng hơi thở cuộc sống; thơ Chế Lan Viên sử dụng ngôn từ chỉ sự héo úa, tàn lụi, cõi chết.
+ Thể hiện ở vẻ riêng trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật: Ví dụ ngôn ngữ của Chí Phèo thì du côn, ngôn ngữ Bá kiến thì khôn ngoan, cáo già trong Chí Phèo(Nam Cao),..
+ Thể hiện ở nét riêng trong cách diễn đạt từng sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm.
VD: Ánh trăng trong truyện Kiều được miêu tả cụ thể những vẻ đẹp không giống nhau, không lặp lại:
(1) Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
(2)Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt ngơ ngẩn mặt, lòng ngao ngán lòng.
(3)Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường.
Phân biệt tính cá thể hóa trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:
+ Tính cá thể hóa của ngôn ngữ sinh hoạt mang tính chất tự nhiên, biểu hiện ở đặc điểm riêng về giọng điệu, ngôn ngữ diễn đạt riêng của từng người, giúp chúng ta nhận biết được người này khác với người khác.
+ Tính cá thể hóa của phong cách ngôn ngữ nghệ thuật góp phần thể hiện phong cách riêng của mỗi nhà thơ, nhà văn.
Chẳng hạn cùng viết về trăng nhưng mỗi tác giả lại có cách nhìn, cách diễn đạt khác nhau: Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ (Xuân Diệu); Trăng nằm sõng soài trên cành liễu/ Đợi giớ đông về để lả lơi (Hàn Mặc Tử); Trăng vào của sổ đòi thơ/ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau (Hồ Chí Minh
III. Luyện tập (5 phút)
Bài tập 1.
Các biện pháp tu từ tạo tính hình tượng: so sánh, nhân hóa, tượng trưng…dặc biệt là cách nói hàm ẩn trong những ngữ cảnh tu từ.
VD:
+ So sánh:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha/ Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
+ Ẩn dụ: Con cò ăn bãi rau răm/ Đắng cay chịu vậy đãi đằng cùng ai.
+ Hoán dụ: Áo nâu liền với áo xanh/ Nông thôn liền với thị thành đứng lên.
Bài tập 2.
Tính tượng hình là đặc trưng quan trọng nhất vì:
-Nó là phương tiện tái hiện, tái tạo cuộc sống thông qua chủ thể của nhà văn.
– Là mục đích của sáng tạo nghệ thuật, đưa người đọc vào thế giới của cái đẹp thông qua những xúc động hướng thiện trước thiên nhiên và cuộc sống→hình thành những tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp cho người đọc.
+ Có khả năng gây cảm xúc cho người đọc.
+ Mang đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ.
Bài tập 3
– Canh cánh
– Rắc, giết. | Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật | 1,465 | |
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Hướng dẫn
Ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
1. Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt
a. Xét ngữ liệu:
-Văn bản ghi lại cuộc hội thoại diễn ra trong:
+Không gian: tại khu tập thể X
+Thời gian: Buổi trưa
-Các nhân vật tham gia giao tiếp và mối quan hệ giữa họ:
+Các nhân vật chính: Lan, Hùng, Hương -> quan hệ bạn bè (bình đẳng về vai trò giao tiếp)
+Các nhân vật phụ: Một người đàn ông, mẹ Hương -> quan hệ ruột thịt hoặc xã hội (vai bề trên, lớn tuổi hơn)
-Nội dung và mục đích của cuộc hội thoại:
+Nội dung: Báo đến giờ đi học
+Mục đích: Để đến lớp đúng giờ quy định.
-Đặc điểm ngôn ngữ của cuộc hội thoại:
+Từ ngữ: Hô gọi, tình thái (ơi, đi, à, chứ, với, gớm, ấy, chết thôi), khẩu ngữ (chúng mày, ngủ ngáy, lạch bà lạch bạch)
->Từ ngữ quen thuộc, gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày.
+Câu văn: ngắn, tỉnh lược chủ ngữ, câu đặc biệt, câu cầu khiến, cảm thán,…(Hương ơi!. Hôm nào cũng chậm,…)
b.Kết luận
Ngôn ngữ sinh hoạt (còn được gọi là khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại…) là lời ăn tiếng nói hàng ngày, dùng để thông tin, trao đổi ý nghĩ, tình cảm,…đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống.
2. Các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt
-Chủ yếu ở dạng nói (độc thoại, đối thoại)
-Có khi ở dạng viết (nhật kí, hồi kí, thư từ)
-Còn có dạng tái hiện (lời thoại của nhân vật trong TPVH mô phỏng, bắt chước lời nói tự nhiên)
VD: Lời nói của các nhân vật trong kịch, tuồng, chèo, truyện, tiểu thuyết,…
->Dù ở dạng nào, ngôn ngữ sinh hoạt có dấu hiệu đặc trưng của phong cách ngôn ngữ.
II. Luyện tập
a. Phát biểu ý kiến của mình về nội dung của những câu ca dao (SGK)
+ “Lời nói ……lòng nhau”
– “ Lời nói chẳng mất tiền mua”: ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc, ai cũng có quyền sử dụng
– “Lựa lời”: lựa chọn lời nói một cách có suy nghĩ, có ý thức và chịu trách nhiệm về lời nói của mình
– “Vừa lòng nhau”: tôn trọng người nghe để tìm ra tiếng nói chung
=>nói năng phải thận trọng và có văn hoá
+ “Vàng thì……. thử lời”
– “vàng”: vật chất→kiểm tra bằng phương tiện vật chất→ kết luận tường minh
– “chuông”: vật chất nên kiểm tra = phương tiện vật chất→ kết luận tường minh
– “người ngoan”:nhấn mạnh đến phẩm chất và năng lực→ trừu tượng, muốn đo phải có nhiều cách trong đó có thử lời→ biết được trình độ, nhân cách của người là “ngoan” hay “không ngoan”
b. Tác giả mô phỏng ngôn ngữ sinh hoạt vùng Nam Bộ (lời ăn, tiếng nói của người chuyên bắt cá sấu) → sinh động và mang đậm dấu ấn văn hoá địa phương
– Dùng từ địa phương: quới, ngặt, ghe, rượt…
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
I. Đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
1.Tính cụ thể:
Biểu hiện qua những dấu hiệu sau:
– Có địa điểm và thời gian xác định
– Có nhân vật giao tiếp xác định (những ai?)
– Có vai giao tiếp xác định (ai nói với ai?)
– Có mục đích (để làm gì?)
– Có cách diễn đạt (thân mật, suồng sã,sang trọng, nghiêm túc..) bằng ngôn ngữ xác định
=> Ngôn ngữ giao tiếp rõ ràng, cụ thể thì người nghe dễ dàng lĩnh hội; ngôn ngữ trừu tượng, sách vở thì người nghe khó nắm bắt, tiếp thu.
2.Tính cảm xúc:
– Là tình cảm, thái độ, cảm xúc được biểu hiện:
+ Giọng nói (ngữ điệu, cường điệu, tốc độ,…)
+ Từ ngữ (khẩu ngữ, từ cảm thán,..)
+ Câu giàu sắc thái cảm xúc (câu cảm thán, cầu khiến, gọi – đáp,…)
=>Tính cảm xúc giúp cho hiệu quả giao tiếp cao hơn. Nó gắn với ngữ điệu và các hành vi đi kèm như vẻ mặt, cử chỉ, điệu bộ.
Lưu ý: Không có một lời nói nào nói ra lại không mang tính cảm xúc
3.Tính cá thể:
– Là nét riêng biệt của người tham gia giao tiếp, được biểu hiện:
+ Cách phát âm rất riêng (ngữ điệu, cường độ,…)
+ Màu sắc âm thanh trong giọng nói.
+ Sở trường ưa dùng vốn từ ngữ riêng.
+ Cách lựa chọn các kiểu câu riêng.
=>Tính cá thể có vai trò quan trọng đối với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: người nói và người nghe hiểu nhau, hiểu nhanh hơn trong giao tiếp.
Lưu ý: mỗi nhân vật giao tiếp khi nói đều “vô tình” bộc lộ khá đầy đủ các nét riêng (không ai giống ai)
– Lời nói là vẻ mặt thứ 2, diện mạo thứ 2 của con người để phân biệt người này với người khác, người quen hay kẻ lạ, tốt hoặc xấu
Kết luận: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (PCNNSH) là phong cách mang những dấu hiệu đặc trưng của ngôn ngữ dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày.
*Ghi nhớ: SGK
II. Luyện tập
1.Bài tập 1: SGK/127
a. Nhận diện:
+ Thời gian: đêm khuya
+ Không gian: rừng núi
+ Nhân vật: Đặng Thuỳ Trâm tự phân thaân để đối thoại (Thực ra là độc thoại nội tâm)
+ Nội dung: tư vấn lương tâm
-Tính cảm xúc: giọng điệu thân mật ở câu nghi vấn, câu cảm thán “Nghĩ gì đấy Th. ơi?”, “Đáng trách quá Th. Ơi, những từ ngữ “viễn cảnh”, “cận cảnh”, “cảnh chia li”, “cảnh đau buồn” được viết theo dòng tâm sự.
-Tính cá thể: Bộc lộ chân dung tâm hồn của một con người có trình độ, có vốn sống, có trách nhiệm, có niềm tin và rất giàu tình cảm.
b.Ích lợi của việc ghi nhật kí: phát triển ngôn ngữ, năng lực diễn đạt.
2.Bài tập 2: SGK/127
Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
-Từ xưng hô: mình – ta, cô – anh.
-Ngôn ngữ đối thoại: “…có nhớ ta chăng”, “Hỡi cô yếm trắng…”
-Lời nói hàng ngày: “Mình về…”, “Ta về…”, “Lại đây…với anh”.
– Giọng điệu tình tứ.
3.Bài tập 3: SGK/127
Giống: Đoạn đối thoại giữa ĐS với dân làng mô phỏng hình thức đối thoại của ngôn ngữ nói: có người hô, kẻ đáp, có luân phiên lượt lời.
Khác: Lời nói nhưng xếp đặt theo kiểu:
– Có đối chọi: “Tù trưởng các ngươi đã chết, lúa các ngươi đã mục”
– Có điệp từ, điệp ngữ: “Ai chăn ngựa hãy đi…”, “Ai giữ voi hãy đi…” “Ai giữ trâu…” | Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt | 1,072 | |
Phát biểu cam nghĩ về chú mèo nhà em nuôi lớp 7
Hướng dẫn
Phát biểu cam nghĩ về chú mèo nhà em nuôi lớp 7
Nhà tôi có một con vật. Đó là chú mèo con xinh xắn mà bác tôi mới cho.
Nó là một con mèo có bộ lông trắng như tuyết. Nó có đôi mắt tròn như bi. Nó là một chú mèo đáng yêu với những cái ria mép ngắn nhìn rất là ngộ nghĩnh. Bộ lông của nó mới tuyệt làm sao! Nó luôn giúp tôi thích mắt vì cái màu lông trắng đó. Nó là một con mèo mới được đẻ mà đã phải rời xa người cha, người mẹ của nó để đến với tôi. Tôi nghĩ loài mèo cũng giống như loài người mà thôi. Khi phải rời xa cha mẹ thì luôn mang một nỗi nhớ thương. Tôi nghĩ rằng tôi phải giúp con mèo quên đi nỗi nhớ đó bằng những hành động cụ thể. Từ ngày có nó, gia đình tôi có thêm một thành viên mới. Bố mẹ tôi coi nó như đứa con thứ ba. Anh em tôi coi nó như đứa em út.
Chúng tôi quyết định đặt tên cho nó là Bi. Tôi và em tôi dạy nó cách bắt chuột – tập tính của loài mèo. Ban đầu tôi làm hình nộm để mèo tập và về sau nó cũng bắt được chuột thật. Nó tập đủ mọi thứ kể cả trèo cây. Một con mèo con như thế là quá tinh nghịch. Vào mùa đông mẹ tôi làm cho nó một cái áo len thật ấm. Tôi và em tôi luôn luôn tranh nhau ôm chú em út này. Đáp lại tình cảm của cả nhà, chú mèo đáng yêu chơi đùa và nghe lời.
Tôi rất thích người em út của gia đình tôi vì nó không những có lợi mà còn đẹp nữa chứ. | Phát biểu cam nghĩ về chú mèo nhà em nuôi lớp 7 | 318 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…”- Văn lớp 10
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…”- Văn lớp 10
Bài làm
Ca dao tục ngữ là một phần trong bức tranh phản anh sinh hoạt đời sống của người nông dân nước ta. Nó thể hiện những tâm tư tình cảm của người nông dân, thông qua đó ta hiểu được suy nghĩ, tình cảm của người xưa như thế nào?
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”
Bài ca dao thể hiện bức tranh lao động vất vả của người nông dân trong công việc đồng áng của mình. Thể hiện nỗi vất vả một nắng hai sương trên đồng ruộng của người dân. Những con người quanh năm lam lũ, để làm ra hạt gạo, hạt lúa.
Họ phải đổ nhiều mồ hôi công sức thì mới có thể làm ra những thành phẩm cho con người hưởng thụ.
Đồng thời bài ca dao cũng là lời khuyên của người xưa muốn gửi gắm tới những con người hôm nay phải biết trân trọng công sức thành quả mà người khác làm ra cho mình thừa hưởng.
Khi chúng ta bưng bát cơm thơm dẻo phải biết quý trọng những giọt mồ hôi của người nông dân đã đổ xuống cho chúng ta hưởng thành quả đó.
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Trong công việc lao động cực nhọc của người nông dân. Công việc “cày đồng” là một trong những bước quan trọng để làm cho mảnh đất trở nên tơi xốp mềm mại, có như vậy cây lúa khi được gieo xuống mới sinh sôi phát triển được.
Hình ảnh người nông dân chăm chỉ làm việc, cày đồng giữa buổi trưa, thể hiện sự mệt nhọc giữa trời nắng gắt, những giọt mồ hôi của người nông dân rơi xuống trên đồng ruộng thể hiện sự vất vả của người nông dân trong công việc mà mình đang làm
Tiếng mồ hôi được ví “thánh thót” như tiếng hát, tiếng hót của một chú chim, đây là một sự so sánh vô cùng độc đáo. Những tiếng mồ hôi rơi “thánh thót” càng làm tăng thêm sự vất vả của người nông dân.
Trong một không gian bao la tĩnh mịch những giọt mồ hôi rơi xuống tạo ra những âm thanh nghe như tiếng nhạc tiếng đàn, tiếng chim kêu. Nhưng mồ hôi càng rơi nhiều bao nhiêu thì càng thể hiện sự vất vả của người nông dân bấy nhiêu.
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Trong hai câu ca dao tiếp theo ý thơ đổi biến đột ngột. Nếu như ở hai câu trên, người xưa muốn thể hiện nỗi vất vả nặng nhọc của mình trong công việc ruộng nương làm ra hạt lúa hạt gạo vô cùng vất vả.
Giống như việc chúng ta ăn một bát cơm trắng dẻo thì phải nhớ ơn người làm ra hạt lúa hạt gạo. Họ đã đổ rất nhiều mồ hôi công sức mới có thể tạo dựng nên những thành quả hôm nay cho chúng ta thừa hưởng.
Một bát cơm trắng nhưng phải đổi rất nhiều công sức lao động, nhiều mồ hôi nước mắt của người dân lao động trong những nỗ lực của mình, mới có thể gặt hái được những kết quả tốt đẹp.
Bài ca dao cũng nhằm gửi gắm tới thế hệ trẻ chúng ta bảo biết sống thủy chung son sắc, trước sau như một biết trân trọng công lao mà cha ông ta đã làm ra cho chúng ta thừa hưởng từ việc dựng nước, giữ nước tới những thành quả lao động như hạt gạo, củ khoai của sắn.
Bài ca dao này nằm trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn. Ăn quả nhớ người trồng cây” Ông bà ta muốn mượn những sự việc cụ thể để gửi tới con cháu những triết lý sống sâu sắc hơn.
Chính vì vậy chúng a phải biết ơn công lao của những lớp cha anh đã đổ nhiều mồ hôi, xương máu hy sinh thân minh cho tổ quốc tươi đẹp giàu mạnh hơn. | Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa…”- Văn lớp 10 | 729 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh trích trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ
Bài làm
Nhắc tới Phạm Đình Hổ (1768 – 1839), người đời nhớ tới tác phẩm Vũ trung tùy bút của ông. Một bút pháp nghệ thuật tinh tế, tài hoa, một phong thái thư nhàn cao nhã, ông tiêu biểu cho cốt cách kẻ sĩ Bắc Hà cuối thời Lê Trịnh và thời kì đầu nhà Nguyễn.
Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh là một trang tùy bút đặc sắc, rút trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ.
Tùy hứng mà viết, tùy bút mà viết, cảm hứng dào dạt, dâng trào, cảnh ăn chơi xa hoa của chúa Trịnh Sâm, cảnh bán hàng của bọn nội thần nội thị, cảnh tấu nhạc của bọn nhạc công cung đình tại chùa Trịnh Quốc nơi Hồ Tây giữa thế kỉ XVIII, sự nhũng nhiễu của bọn hoạn quan khắp chốn dân gian… đã được tác giả Vũ trung tùy bút chấm phá qua một vài nét, thế mà ta chỉ đọc qua một lần là có thể nhớ mãi.
"Chuyện cũ…" đã xảy ra vào 2 năm Giáp Ngọ – Ất Mùi (1774 – 1775), đó là lúc Đàng Ngoài “vô sự", là những năm tháng hoàng kim của Trịnh Vương (Trịnh Sâm); khi mà người ngọc Đặng Thị Huệ được Chúa sủng ái trở thành nguyên phi. Trịnh Sâm sống trong xa hoa: thích đi chơi ngắm cảnh đẹp, thường ngự ở các li cung trên Tây Hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Chúa ra chơi cung Thụy Liên trên bờ Tây Hồ mỗi tháng ba bốn lần. Cảnh đón tiếp với các thứ nghi lễ thật tưng bừng độc đáo. Có "binh lính đến hầu vòng quanh bốn mặt hồ”. Có tổ chức hội chợ, do quan nội thần cải trang "bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán”. Thuyền ngự đi tới đầu thì các quan hỗ tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ… Gác chuông chùa Trấn Quốc trở thành nơi hòa nhạc của bọn nhạc công cung đình. Đình đài, cung điện được xây dựng "liên tục" nhằm thỏa mãn cuộc sống ăn chơi của vua chúa và bọn quan lại thời Lê Trịnh. Bao nhiêu tiền của, vàng bạc, châu báu, nước mắt mồ hôi của nhân dân bị bòn vét đến kiệt cùng. Phạm Đình Hổ đã được mắt thấy tai nghe những chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh nên cách kể, cách tả của ông rất sống.
Để được sống trong xa hoa, hưởng lạc đế vương, từchúa đến quan đều trở thành bọn cướp ngày ra sức hoành hành, trấn lột khắp chốn cùng quê. Chúa thì "sức thu lấy" trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cầy cảnh ở chốn dân gian "không thiếu một thứ gì". Có những cây cảnh "cành lá rườm rà… như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng" phải dùng đến một cơ binh mới khiêng nổi, từ bên bắc chở qua sông đem về. Trong phủ chúa "điểm xuyết" bao núi non bộ trông lạ mắt như "bến bể đầu non". Vườn ngự uyển, trong những đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm "ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn''. Nếu như trong Thượng kinh kí sự Lê Hữu Trác ngạc nhiên viết:
Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,
Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen.
Quê mùa cung cấm chưa quen,
Khúc gì ngư phủ đào nguyên thuở nào,
thì ở đây, Phạm Đình Hổ ái ngại nghĩ: "kẻ thức giả biết đó kì triệu bất thường”. Cuộc sống cực kì xa hoa ấy là nguyên nhân cho sự sụp đổ ngai vàng ngày một ngày hai sẽ nổ ra. Đó là năm 1782, Trịnh Sâm qua đời, loạn kiêu binh nổ ra, kinh thành Thăng Long bị đốt phá tan hoang; năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ nhất, cơ nghiệp họ Trịnh tan tành trong nháy mắt! Cái “triệu bất tường" mà Phạm Đình Hổ nghĩ tới thật linh nghiệm. Quy luật cuộc đời vồ cùng sòng phẳng, cay nghiệt:
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh.
Nghìn vàng khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát, tan tành còn đâu
( Văn chiêu hồn – Nguyễn Du)
Bọn hoạn quan trong phủ chúa vừa trắng trợn vừa xảo quyệt, như dân gian đã khinh bỉ chửi vào mặt: "Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan". Chúng dùng thủ đoạn "nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm". Chỉ bằng hai chữ “ phụng thủ" biên ngay vào chậu hoa cây cảnh, chim tốt khiếu hay của bất cứ nhà nào là chúng cướp. Chúng còn lập mưu "đêm đến" cho tay chân sai lính lẻn vào "lấy phăng đi, rồi buộc cho tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền". Chúng ngang ngược "phá nhà hủy tường" của dân để khiêng hòn đá hoặc cây cối gì mà chúng cướp được! Đối với nhà giàu thì chúng lập mưu vu cho là "giấu vật cung phụng" để hành hạ, để làm tiền, nhiều người phải "bỏ của ra kêu van chí chết", có gia đình "phải đập bể núi non bộ, hoặc phá bỏ cây cảnh để tránh khỏi tai vạ".
Gia đình tác giả thuộc hàng quan lại, quý tộc thời Lê Trịnh. Trước sự nhũng nhiễu hoành hành, mẹ Phạm Đình Hổ là bà cung nhân phải sai người nhà chặt cây lê "cao vài mươi trượng, lúc nở hoa, trắng xóa thơm lừng", hai cây lựu trắng, lựu đỏ “lúc ra quả trông rất đẹp". Chi tiết này, tình tiết này rất sống, rất thực. Tác giả đã kể lại một chuyện có thật của gia đình mình ở phường Hà Khẩu để vừa tạo nên niềm tin cho người đọc mai hậu, vừa phê phán bộ mặt tham lam, ghê tởm của bọn quan lại thời Lê Trịnh, vạch trần sự thối tha trong phủ chúa.
Trang tùy bút Chuyện cũ trong phu chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ có giá trị lịch sử sâu sắc, nó đã làm hiện lên cảnh vật và con người, cuộc sống xa hoa ăn chơi của vua chúa, hành động ăn cướp, làm tiền trắng trợn của bọn quan lại trong phủ chúa.
Ngòi bút của Phạm Đình Hổ rất trầm tĩnh và sâu sắc. Mọi cảm xúc, ý nghĩ của ông về nhân tình thế sự được gửi gắm qua những chi tiết, tình tiết, mẩu chuyện rất sống, rất chọn lọc, đậm đà, nhã thú. | Phát biểu cảm nghĩ của em khi đọc Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh trích trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ | 1,140 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sự tích Hồ Gươm
Hướng dẫn
Sự tích Hồ Gươm lí giải về nguồn gốc tên gọi của một địa danh nổi tiếng, gắn với đó là cả một câu chuyện lịch sử sống động. Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện sự tích Hồ Gươm.
Bài làm
Hồ Gươm – trái tim của Hà Nội, đó là một địa danh lịch sử đặc biệt còn có tên gọi khác là Hồ Hoàn Kiếm. Hồ Gươm gắn liền với sự tích vua Lê Lợi trả gươm, và gắn với truyền thuyết Rùa vàng.
“Sự tích Hồ Gươm”là một truyện đặc sắc, tiêu biểu trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Truyện có sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo, được hư cấu lịch sử. Truyện xoay quanh việc Lê Lợi mượn gươm và sau khi đất nước sạch bóng quân thù với việc Lê Lợi trả gươm. Truyện gắn liền với hình tượng Rùa Vàng, truyện ca ngợi tính chất chính nghĩa, tinh thần dân tộc và chiến thắng hào hùng của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Bố cục của truyện gồm hai nội dung chính đó là Long Quân cho nghĩa quân mượn gươm đánh giặc và khi giặc tan Long Quân đòi lại gươm.
Truyện xảy ra vào thế kỉ XV khi giặc Minh tràn sang nước ta lấy nghĩa “Phù Trần diệt Hồ”. Tuy nhiên âm mưu của chúng là muốn thôn tính đất nước ta. Chúng đã thực hiện nhiều chính sách tàn bạo, vơ vét của cải của nhân dân ta. Chúng còn thẳng tay đàn áp, giết hại nhân dân ta “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.
Trước những việc làm độc ác của quân giặc, nhân dân ta vô cùng căm phẫn và nhiều cuộc khởi nghĩa đã diễn ra nhằm đánh đuổi giặc Minh, tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Bấy giờ ở vùng Thanh Hóa có một nghĩa quân đã dấy binh khởi nghĩa do Lê Lợi đứng đầu. Do thế lực còn yếu nên nghĩa quân liên tiếp bị thu trận, thấy vậy Long Quân đã cho nghĩa quân mượn gươm. Như vậy, nghĩa đã được sự giúp đỡ của thần linh, gắn liền với tư tưởng tâm linh của dân tộc Việt Nam.
Lê Lợi và Lê Thận nhận được gươm trên chính quê hương của họ chứ không phải ở một nơi xa lạ nào khác. Lê Thận đi kéo lưới ở dưới sông, nhưng lạ kì thay cả ba lần kéo đều không có cá mà chỉ thấy có một thanh sắt. Lần thứ ba ông nhìn kĩ thì đó là một lưỡi gươm. Con số 3 theo quan niệm dân gian tượng trưng cho số nhiều, có ý nghĩa khẳng định và ý nghĩa tạo tình huống, tăng sức hấp dẫn cho truyện. Lê Thận đem lưỡi gươm ấy về cất ở xó nhà rồi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn và sau này trở thành người tâm phúc của Lê Lợi. Nhân một hôm đến nhà Lê Thận, chủ tướng Lê Lợi nhìn thấy lười gươm rực lên hai chữ Thuận Thiên (thuận theo ý trời) bèn cầm lên xem nhưng chMột lần bị giặc truy đuổi, Lê Lợi cùng một số tướng sĩ phải chạy vào rừng. Bất ngờ, ông nhìn thấy trên ngọn cây có ánh sáng khác lạ. Ông trèo lên xem thử, nhận ra đó là một chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi gỡ lấy chuôi gươm mang về. Đem lưỡi gươm Lê Thận bắt được dưới nước tra vào chuôi gươm bắt được trên rừng thì vừa như in.
Không phải tình cờ người xưa để cho Lê Thận bắt được lưỡi gươm từ dưới đáy sông và Lê Lợi bắt được chuôi gươm từ trong rừng thẳm. Hai chi tiết đó có dụng ý nhấn mạnh gươm thiêng là do linh khí của sông núi hun đúc mà thành. Lưỡi gươm dưới nước tượng trưng cho hình ảnh miền xuôi, chuôi gươm trên rừng tượng trưng cho hình ảnh miền núi. Hai hình ảnh ấy kết hợp lại, ý nói ở khắp nơi trên đất Việt, các dân tộc đều có khả năng đánh giặc, cứu nước. Từ đồng bằng sông nước tới vùng núi non hiểm trở, mọi người đều một lòng yêu nước và sẵn sàng đứng lên cứu nước, giết giặc ngoại xâm.
Tuy lưỡi gươm ở nơi này, chuôi gươm ở nơi khác nhưng khi đem lắp vào nhau thì vừa như in. Điều đó thể hiện nghĩa quân trên dưới một lòng và các dân tộc đồng tâm nhất trí cao độ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đánh đuổi ngoại xâm.
Gươm thiêng phải được trao vào tay người hiền tài, có lòng yêu nước nhiệt thành, có ý chí cứu nước. Cho nên mới có chi tiết thú vị: ba lần Thận kéo lưới lên đều chi được một thanh sắt (lưỡi gươm); trong đám người chạy giặc vào rừng sâu, chỉ một mình Lê Lợi nhìn thấy ánh sáng lạ phát ra từ ngọn cây cao, nơi có treo chuôi gươm báu. Và một hôm, khi chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Ánh sáng của thanh gươm và hai chữ Thuận Thiên khắc trên gươm như một lời khuyến khích, động viên của thần linh, của tổ tiên đối với Lê Lợi. Thuận Thiên là hợp ý trời. Hãy hành động cứu nước vì hành động đó hợp với lẽ trời. Mà đã hợp lẽ trời thì tất yếu sẽ hợp với lòng người và tin chắc sẽ thành công.
Đằng sau hình ảnh có vẻ hoang đường ấy chính là ý chí của muôn dân. Ý dân là ý trời. Trời trao mệnh lớn cho Lê Lợi cũng có nghĩa là nhân dân tin tưởng, trao ngọn cờ khởi nghĩa vào tay người anh hùng áo vải đất Lam Sơn. Gươm chọn người và người đã nhận thanh gươm, tức là nhận trách nhiệm trước đất nước, dân tộc. Lời nói của Lê Thận khi dâng gươm báu cho Lê Lợi đã phản ánh rất rỗ điều đó. Đây là trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để bảo đền tổ quốc.
Như vậy là gươm báu đã trao đúng vào tay người hiền tài, cho nên đã phát huy hết sức mạnh lợi hại của nó. Từ khi có gươm thiêng, nhuệ khi của nghĩa quân Lam Sơn ngày một tăng, đánh đâu thắng đấy, bao phen làm cho quân giặc bạt vía kinh hồn. Sức mạnh đoàn kết của con người kết hợp với sức mạnh của vũ khí thần kì đã làm nên chiến thắng vẻ vang.
Chuyện Long Quân cho mượn gươm được tác giả dân gian miêu tả rất khéo. Nếu để Lê Lợi trực tiếp nhận chuôi gươm và lưỡi gươm cùng một lúc thì sẽ không thể hiện được tính chất toàn dân, trên dưới một lòng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến Thanh gươm Lê Lợi nhận được là thanh gươm thống nhất, hội tụ tư tưởng, tình cảm, sức mạnh của toàn dân trên mọi miền đất nước.
Lúc ở nhà Lê Thận, lưỡi gươm tỏa sáng trong gốc nhà tối giống như cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đã được nhen nhóm từ trong nhân dân. Ánh sáng thanh gươm thúc giục mọi người lên đường. Ánh sáng phát ra lấp lánh từ gươm thiêng phải chăng là ánh sáng của chính nghĩa, của khát vọng tự do, độc lập muôn đời.
Thanh gươm tỏa sáng có sức tập hợp mọi người. Gươm thần tung hoành ngang dọc, mở đường cho nghĩa quân đánh tràn ra mãi cho đến lúc không còn bóng dáng một tên giặc Minh nào trên đất nước ta.
Đánh tan quân xâm lược, non sông trở lại thanh bình. Lê Lợi lên ngôi vua, đóng đô ở Thăng Long. Một ngày nọ, vua Lê cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp này, Long Quân sai Rùa Vàng đòi lại gươm thần và Lê Lợi hiểu ý thần linh, đã trao gươm cho Rùa Vàng. Long Quân cho Lê Lợi mượn gươm thần để đánh giặc, nay đất nước đã yên bình thì đồi gươm lại.
Rùa Vàng há miệng đón lấy gươm thần và lặn xuống nước. Gươm và Rùa đã chìm đáy nước, người ta vẩn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh. Đấy là ánh sáng của hào quang chiến thắng vẻ vang, ánh sáng của quyết tâm giết giặc bảo vệ tổ quốc. Những hình ảnh thần kì trên đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong lòng bao người. Chi tiết này có ý nghĩa lớn lao: Khi vận nước ngàn cân treo sợi tóc, thần linh, tổ tiên trao gươm báu cho con cháu giữ gìn giang sơn, bờ cõi. Nay đất nước độc lập, bắt đầu giai đoạn xây dựng trong hòa bình thì gươm báu – hùng khí của tổ tiên lại trở về cõi thiêng liêng.
Hình ảnh Lê Lợi trả gươm đã nói lên khát vọng hòa bình của dân tộc ta. Dân tộc Việt Nam yêu hòa bình, không thích chiến tranh nhưng kẻ nào xâm phạm đến chủ quyền độc lập, tự do của đất nước này đều sẽ được một bài học nhớ đời. Việc cho mượn gươm và đòi lại gươm của Long Quân như một lời răn dạy chí tình của ông cha ta đối với vị vua mới Lê Lợi: trừng trị kẻ thù thì phải dùng bạo lực, còn cai trị nhân dân thì nên dùng ân đức.
Lê Lợi nhận gươm trên đất Thanh Hóa nhưng lại trả gươm tại hồ Tả Vọng ở Thăng Long, Nếu Lê Lợi trả gươm ở Thanh Hóa thì ý nghĩa của truyền thuyết này bị giới hạn bởi vì lúc này, Lê Lợi đã là vua và kinh thành Thăng Long là thủ đô, tượng trưng cho cả nước. Việc trả gươm diễn ra ở đây mới thể hiện hốt được tư tưởng yêu hòa bình và tỉnh thần cảnh giác của toàn dân tộc.
Sau việc Lê Lợi trả gươm cho Long Quân, hồ Tả Vọng được đổi tên là Hồ Gươm (hay hồ Hoàn Kiếm). Tên hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) có ý nghĩa là gươm thần vẫn còn đó và nhắc nhở tinh thần cảnh giác đối với mọi người, răn đe những kẻ có tham vọng dòm ngó đất nước ta. Tên hồ đánh dấu và khẳng định chiến thắng hoàn toàn của khởi nghĩa Lam Sơn đối với giặc Minh, phản ánh tư tưởng yêu hòa bình đã thành truyền thống của dân tộc ta.
Cái tên Hồ Gươm gắn liền với huyền thoại lịch sử ấy sẽ mãi mãi tồn tại với thời gian, với sự ngưỡng mộ của bao thế hệ Việt Nam yêu hước. | Phát biểu cảm nghĩ của em sau khi đọc truyện Sự tích Hồ Gươm | 1,895 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn”.
Bài làm
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Người Việt Nam ta rất coi trọng đời sống tình cảm, nhất là tình cảm gia đình. Có lẽ không ai không biết đến bài ca dao đã trở thành lời ru quen thuộc tự bao đời:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Nói về công lao của cha mẹ đối với con cái, câu ca dao trên đã đưa ra những hình ảnh giàu sức biểu cảm để so sánh và chỉ có những hình ảnh vĩ đại như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn mới diễn tả hết công lao to lớn ây. Thái Sơn là một ngọn núi cao nổi tiếng ở Trung Quốc, tượng trưng cho những gì lớn lao, vĩ đại. Khi so sánh Công cha như núi Thái Sơn, nhân dân ta muốn nhấn mạnh công lao của người cha trong việc nuôi dạy con cái trưởng thành. Còn hình ảnh nước trong nguồn thể hiện tình yêu thương vô hạn của người mẹ đối với các con.
Người xưa đã ví công cha với ngọn núi cao nhất, còn nghĩa mẹ lại so sánh với nước trong nguồn bất tận. Đọc kĩ bài ca dao, ta sẽ ngạc nhiên trước sự tinh tế này. Người xưa đã phản ánh rất đúng đặc điểm tâm lí và cách, biểu hiện tình cảm của cha mẹ đối với con cái để từ đó chọn chữ và dùng hình ảnh so sánh cho hợp lí Vì thế chữ công để nói về cha, chữ nghĩa để nói về mẹ. Hai hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn tuy khác xa nhau nhưng đều phù hợp với vai trò và vị trí của mỗi người.
Cha mẹ cũng là người nuôi dưỡng các con từ khi mới chào đời cho đến lúc trưởng thành. Mẹ nuôi con bằng dòng sữa ngọt lành. Cha mẹ thay nhau chăm sóc đàn con mỗi khi trái gió trở trời. Cha mẹ ra sức làm lụng để nuôi các con khôn lớn. Từ một hình hài nhỏ xíu cho đến khi biết đi, rồi biết đọc, biết viết, biết nấu cơm, quét nhà, biết làm lụng để tự nuôi thân đâu phải là chuyện ngày một, ngày hai. Các con lớn dần lên cũng là lúc cha mẹ già yếu đi. Cha mẹ đã dành cho đàn con tất cả tâm huyết và sức lực của mình.
Không chỉ nuôi con lớn, cha mẹ còn dạy dỗ cho các con nên người. Cha mẹ dạy con bằng chính những việc làm, những hiểu biết về đời sống, về đạo làm người của mình. Sau này, dù được thầy cô dạy dỗ, được người đời khuyên răn, nhưng cha mẹ vẫn là người thầy đầu tiên, người thầy gần gũi nhất của các con.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Đạo con là đạo đức, trách nhiệm làm con. Bổn phận của con cái là phải bày tỏ lòng biết ơn và thái độ kính mến, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Tình cảm đối với cha mẹ phải chân thành và được thể hiện qua những thái độ, hành động xứng với đạo làm con.
Trong dân gian xưa nay đã lưu truyền những câu chuyện cảm động về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ qua Nhị thập tứ hiếu (Gương sáng của hai mươi bốn người con hiếu thảo). Nàng Cúc Hoa dắt mẹ đi ăn mày, gặp cảnh ngặt nghèo đã cắt thịt ở cánh tay mình để dâng mẹ ăn cho đỡ đói. Có lẽ đó cũng là mội nách nói cường điệu để ca ngợi đức hiếu thảo. Còn trong đời thường, lòng biết ơn cha mẹ được thể hiện qua những lời nói và việc làm cụ thể hằng ngày như cốc nước mát ân cần trao tận tay cha mẹ, khi đi làm về nắng nôi, mệt nhọc; là bát cháo nóng lúc cha mẹ ốm mệt; là sự cảm thông với hoàn cảnh khó khăn của cha mẹ mà không đua đòi ăn diện quần nọ, áo kia… Điều quan trọng nhất đối với lứa tuổi học sinh là chúng ta phải phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành con ngoan, trò giỏi, thành niềm vui, niềm tự hào cửa cha mẹ.
Câu ca dạo Công cha như núi Thái Sơn… luôn nhắc nhở em giữ trọn đạo làm con. | Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn | 795 | |
Đề bài: Em rút ra điều gì sâu sắc nhất khi đọc bài ca dao:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Hãy phân tích bài ca dao trên để làm sáng tỏ ý kiến của em.
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
– Đây là bài ca dao hay và đẹp, thể hiện triết lí, quan điểm sống trong sạch, thanh cao của nhân dân lao động.
2. Thân bài:
* Nội dung và nghệ thuật của bài ca dao:
+ Câu 1: Trong đầm gì đẹp bằng sen là câu hỏi tu từ, khẳng định họa sen đẹp nhất trong các loài hoa mọc trên đầm lầy.
+ Câu 2: Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng là hình ảnh đẹp đẽ của cây sen được miêu tả tỉ mỉ, chi tiết…
+ Câu 3: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh có vai trò đặc biệt làm nhiệm vụ chuyển từ nghĩa hiển ngôn sang nghĩa hàm ẩn. Đảo thứ tự miêu tả của câu 2 để nhấn mạnh Sự hài hòa tuyệt đối về màu sắc và vẻ đẹp toàn bích của hoa sen.
– Người xưa ca ngợi vẻ dẹp của hoa sen, mượn hoa sen để phản ánh lẽ sống cao quý và niềm tự hào, tự tin vào bản chất, phẩm giá trong sạch của mình, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
– Bút pháp tả thực kết hợp hài hòa với bút pháp ước lệ, tượng trưng làm nổi bật vẻ đẹp khác thường của hoa sen.
– Nhịp thơ chậm rãi 2/2/2… khiến câu thơ như một sự chiêm nghiệm, suy ngẫm để đi đến khẳng định chắc chắn, không gì thay đổi được.
– Nghệ thuật miêu tả tưởng chừng tự nhiên, giản dị nhưng thực chất đã đạt tới độ tinh tế, điêu luyện.
3. Kết bài:
– Bài ca dao tôn vinh vẻ đẹp toàn bích của hoa sen, xứng đáng tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính.
– Sức sống của bài ca dao lâu bền cùng sự trường tồn của dân tộc Việt Nam.
II. BÀI LÀM
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
Không hiểu bài ca dao này xuất hiện từ đâu, từ bao giờ nhưng có nhiều ý kiến cho rằng đây là bài ca dao mà nghệ thuật tuyệt vời và ý nghĩa triết lí nhân sinh gắn liền với nhau tạo nên giá trị muôn đời.
Hình ảnh cây sen được miêu tả vừa cụ thể, chân thực vừa mang tính tượng trưng và khái quát rất cao. Ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen, các nhà thơ bình dân xưa đã phản ánh lẽ sống cao quý của con người Việt Nam từ ngàn đời nay: tự hào, tự tin về bản thân mình luôn giữ được tâm hồn trong sáng, phẩm chất thanh cao, dù hoàn cảnh sống có nghiệt ngã, xấu xa đến mức nào.
Câu 1 khẳng định vẻ đẹp không gì sánh nổi của hoa sen. Câu 2 và câu 3 tả thực cây sen. Câu 4 nói đến hương thơm của hoa sen. Bốn câu trong bài đều rất hay, nhưng mỗi câu hay một cách.
Câu mở đầu: Trong đầm gì đẹp bằng sen.
Tác giả đã khẳng định hoa sen đẹp nhất so với tất cả các loài hoa nở trong đầm bằng một câu hỏi tu từ khéo léo lôi cuốn người nghe, đặt họ vào vị trí và tâm thế thưởng thức cùng với mình, để rồi sau khi so sánh, cân nhắc, họ sẽ rút ra kết luận không thể khác.
Câu thứ 2: Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng.
Để chứng minh cho lời khẳng định ở trên là đúng, tác giả tuần tự miêu tả vẻ đẹp của cây sen, từ lá xanh qua bông trắng đến nhị vàng. Trên nền xanh của lá, nổi bật là màu trắng thanh khiết của hoa; giữa màu trắng của hoa lại chen chút sắc vàng của nhị. Từ lại được dùng rất tài tình, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng về màu sắc của hoa sen. Từ chen nói lên sự kết hợp hài hòa giữa hoa và nhị. Tất cả như cùng đua đẹp, đua tươi. Cảnh đầm sen giống như một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ với những nét chấm phá diệu kì.
Câu thứ 3: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh.
Từ câu thứ hai sang câu thứ ba có sự khác thường trong cách gieo vần (ang, anh) nhưng nhiều người không để ý. Sở dĩ như vậy là do sự chuyển vần và thay đổi trật tự các từ ngữ, hình ảnh đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí về cả nội dung và hình thức.
Hai chữ nhị vàng ở cuối câu thứ hai được lặp lại ở đầu câu thứ ba tạo nên tính liên tục trong tư duy, cảm xúc và sự liến kết chặt chẽ giữa nội dung với hình thức trong toàn bài.
Câu đầu và câu cuối là lời nhận định, đánh giá về vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của cây sen. Hai câu giữa tả thực đến từng chi tiết: lá xanh, bông trắng, nhị vàng (tả đi); rồi tả lại: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Tả từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, thật đầy đủ, tỉ mỉ. Dường như người tả đang cố chứng minh bằng được vẻ đẹp của sen: đẹp từ sắc lá đến màu hoa, màu nhị. Sau đó lại nhấn mạnh thêm bằng cách đảo ngược: đẹp từ màu nhị đến màu hoa, sắc lá. Nghệ thuật miêu tả ở đây mới đọc qua tưởng chừng đơn giản, song thực sự đã đạt tới trình độ điêu luyện, tinh vi. Nghệ thuật ấy đã tôn vinh hoa sen lên hàng hoa quý {cúc, mai, liên…) xứng đáng tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính.
Đọc những câu ca dao trên, chúng ta liên tưởng tới hình dáng thanh tao, kiêu hãnh của hoa sen và trong tâm tưởng cũng nở bừng một đoá hoa sen thật đẹp!
Câu thứ 4: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Dù mang tính chất ẩn dụ tượng trưng nhưng trước hết vẫn là sự tả thực về cây sen trong môi trường sống của nó. Sen thường sống ở trong ao hoặc trong đầm; ấy vậy mà hoa sen lại tỏa ra một mùi thơm thanh khiết lạ lùng. Có thể coi đây là đỉnh điểm của nội dung bài ca dao. Thiếu câu này, hình tượng hoa sen vẫn tồn tại nhưng không có linh hồn và ý nghĩa nhân sinh.
Đọc đến câu này, hầu như không ai dừng lâu để suy nghĩ tới nghĩa đen, nghĩa trực tiếp của nó mà chuyển sang hiểu theo nghĩa bóng (hàm ngôn) với triết lí sâu xa ẩn chứa trong đó. Chính vì vậy mà tính chất ẩn dụ tượng trưng của hình tượng thơ nổi lên lấn át hình ảnh thực. Nó tựa hồ như một cánh cửa đặc biệt kì diệu, khép lại nghĩa đen và mở ra nghĩa bóng một cách thần tình.
Thế là trong phút chốc, sen đã hóa thành người, bùn trong đầm (nghĩa đen) biến thành bùn trong cuộc đời (nghĩa bóng). Rồi cả hình ảnh cái đầm cùng mùi hôi tanh của bùn cũng là ẩn dụ tượng trưng vì nó được hiểu theo nghĩa bóng với những mức độ rộng hẹp, xa gần khác nhau tùy theo trình độ mỗi người.
Bài ca dao gợi lên một cái gì đó rất gần gũi, thân quen giữa hoa sen với bản chất tốt đẹp của người lao động. Mùi bùn gợi liên tưởng đến những cái xấu xa, thấp hèn của mặt trái xã hội phong kiến thời suy tàn cùng với lũ tham quan ô lại vô liêm sỉ của nó.
Nhân dân lao động, đặc biệt là nông dân sống gần sen, hiểu sen và yêu quý sen nhất. Họ đã đưa hoa sen vào ca dao, mượn vẻ đẹp thanh khiết của hoa sen để bầy tỏ, gửi gắm tâm sự của mình. Với bức tranh tuyệt mỹ được vẽ bằng ngôn ngữ, hoa sen sẽ lưu lại mãi mãi vẻ đẹp và hương thơm cao quý trong văn chương và trong lòng người dân đất Việt. | Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen | 1,407 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh.
Bài làm
Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ nữ được nhiều người yêu thích. Thơ chị trẻ trung, sôi nổi, giàu chất trữ tình, vốn xuất thân từ nông thôn nên Xuân Quỳnh hay viết về những đề tài bình dị, gần gũi của cuộc sống đời thường như tình mẹ con, bà cháu, tình yêu, tình quê hương, đất nước. Ngay từ tập thơ đầu tay Tơ tầm – Chồi biếc (in chung – 1963), Xuân Quỳnh gây được sự chú ý bởi phong cách thơ mới mẻ. Hơn hai mươi năm cầm bút, chị đã sáng tác nhiều tập thơ có giá trị, tạo ấn tượng khó quên trong lòng người đọc.
Bài thơ Tiếng gà trưa được viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ trên phạm vi cả nước. Bị thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại bằng máy bay, bom đạn… ra miền Bắc, hòng tàn phá hậu phương lớn của tiền tuyến lớn. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Nhân vật. trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đồng đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu.
Tiếng gà trưa đã gợi nhớ về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ và tình bà cháu. Tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu đất nước.
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà cũ nhảy ổ
Cục… cục tác cục ta
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đờ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Quê nhà hiện lên rõ nét trong tâm tưởng và những kỉ niệm tuổi thơ lần lượt sống dậy qua những hình ảnh thân thương. Tiếng gà trưa nhắc nhớ đến ổ rơm hồng những trứng của mấy chị mái mơ, mái vàng xinh xắn, mắn đẻ. Tiếng gà trưa khiến người cháu xa nhà nhớ đến người bà kính yêu một đời tần tảo. Thương biết mấy là cảnh đứa cháu tò mò xem gà đẻ, bị bà mắng: Gà đẻ mà mày nhìn, Rồi sau này lang mặt. Chẳng hiểu hư thực ra sao nhưng cháu tin là thật: Cháu về lấy gương soi, Lòng dại thơ lo lắng. Giờ đây, đứa cháu đã trưởng thành ao ước trở về thời bé bỏng để lại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được thấy bóng dáng quen thuộc của bà khum tay soi trứng, chắt chiu từng mầm hi vọng sẽ có được một đàn gà con đông đúc.
Tiếng gà trưa
Mang bao nhiều hạnh phúc,
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng.
Thông qua nỗi nhớ được khơi dậy từ tiếng gà trưa, nhà thơ Xuân Quỳnh đã miêu tả tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và tình cảm yêu mến, kính trọng bà của một em bé nông thôn. Tình bà cháu thắm thiết đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ hôm nay đang trên đường hành quân chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước:
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ
Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu chiến sĩ trên đường ra tiền tuyến gửi về người bà kính yêu ở hậu phương. Từ tình cảm cụ thể là tình bà cháu đến tình cảm lớn lao như lòng yêu Tổ quốc, yêu xóm làng thân thuộc đều được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày; ấy vậy mà nó lại gây xúc động sâu xa bởi nhà thơ đã nói giúp chúng ta những điều thiêng liêng nhất của tâm hồn. | Phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh | 682 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về chiếc cặp sách
Hướng dẫn
Ai cũng biết chiếc cặp sách là người bạn thân thiết của học sinh. Bao nhiêu năm cắp sạch đến trường là bấy nhiêu thời gian chúng ta gắn bó với bảng đen, phấn trắng và gắn bó với chiếc cặp bên mình. Với riêng tôi, chiếc cặp không đơn thuần là vật để đựng sách vở mà còn là nơi chứa cả một miền kí ức. Tuổi thơ tôi với những cay, đắng, ngọt, bùi ẩn vào bên trong chiếc cặp ấy.
Năm đó tôi lên lớp 5, cũng là khoảng thời gian gia đình tôi khó khăn. Ba mẹ tôi làm ăn xa, tôi được gửi về quê sống cùng bà ngoại để bà tiện chăm sóc. Mẹ tôi sắm sửa cho tôi đầy đủ dụng cụ học tập, trong đó chiếc cặp là món quà tôi thích nhất. Tôi nhớ mãi cái màu cặp hồng hồng xin xinh vuông vắn rất vừa người. Tôi nhớ như in từng ngăn kéo của chiếc cặp, cặp có 3 ngăn, ngăn nào cũng rộng rãi và được may chắc chắn. Chiếc cặp được may bằng một loại vải cứng và khá dày bao quanh chiếc khung nhựa. Tôi say mê ngắm từng chi tiết trong bức ảnh nàng công chúa được thêu trước cặp rồi tưởng tượng mình chính là cô công chúa xinh đẹp ấy. Không chỉ đẹp chiếc của tôi còn rất hiện đại. Tôi có thể thích thú mang cặp trên lưng như chiếc ba lô cũng có thể kéo cặp bằng bốn bánh xe phía dưới nếu tập sách quá nhiều. Những lúc rảnh rỗi tôi biến chiếc cặp của mình thành giỏ xe chở hàng trong siêu thị. Tôi bày rất nhiều đồ chơi và bỏ chúng vào cặp kéo khắp nhà.
Mọi chuyện sẽ tươi đẹp biết mấy nếu không có vụ cháy lần ấy. Do bất cẩn tôi làm rơi hòn than cháy ra ngoài nhà bếp. Hôm ấy tôi và bà đi chợ, căn bếp bằng gỗ của bà tôi bốc cháy và lan ra cả phòng ngủ của tôi. Khi mọi người phát hiện gọi bà tôi về gấp thì lửa đã rất lớn. Hàng xóm giúp bà dập lửa, tôi thấy gương mặt bà bơ phờ, mệt mỏi. Tôi chợt nhớ ra cặp sách của mình vẫn còn bên trong, ôi chiếc cặp thân yêu của tôi, chẳng lẽ tôi phải mất đi nó sao. Tôi hét lên “cặp của con” kèm theo tiếng nấc. Bà chạy vào bên trong bất chấp lửa đang cháy lớn. Tôi hoảng sợ gọi bà, mọi người ai cũng lo lắng cho đến khi bà chạy ra mang theo chiếc cặp cùng mớ quần áo của tôi. Tôi nhìn bà lấm lem tro bụi tôi thấy thương bà vô hạn và ân hận vì mình mà suýt nữa bà gặp nguy hiểm. Tôi khóc và ôm chiếc cặp vào lòng, bà ôm tôi vỗ về. Sau trận cháy đó, bà cháu tôi sang bên dì tôi ở tạm. Cha mẹ và cậu dì gom góp tiền xây cho bà cháu tôi ngôi nhà mới. Mọi của cải trong nhà đều theo ngọn lửa đi mất chỉ còn lại chiếc cặp cháy xém một góc của tôi và tình bà cháu đong đầy. Tôi thương cái dáng cặm cụi của bà khâu sửa lại cho tôi chiếc cặp. Bà tìm một mảnh vải khác vá vào chỗ cháy, bà thêu thêm ít hoa và bướm lên chỗ khâu cho đẹp. Nếu như không có trận cháy kia thì chiếc cặp của tôi vẫn chỉ là một chiếc cặp bình thường. Chiếc cặp của tôi không phải chỉ để đựng sách vở mà còn mang cả sự hi sinh, tấm lòng của người bà dành cho cháu.
Đã 2 năm trôi qua,mẹ tôi đã mua cho tôi thêm nhiều cặp mới nhưng chiếc cặp kỉ niệm ấy tôi vẫn giữ bên mình. Đối với tôi, nếu có một chiếc cặp nào đẹp nhất trên đời thì đó là chiếc cặp ngày nào, chiếc cặp bà đã gửi vào đấy bao nhiêu tình thương cháu trong từng đường kim, mũi chỉ. Chiếc cặp đã đi theo tôi qua những nụ cười và nước mắt. Tôi thầm hứa sẽ giữ gìn nó, trân trọng nó như trân trọng tình cảm người bà. | Phát biểu cảm nghĩ của em về chiếc cặp sách | 731 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre Việt Nam
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre Việt Nam
Bài làm
Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các neỏ đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả_ được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau,cây nào cũng đẹp,cây nào cũng quý,nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau,nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”
Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 -18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.
Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hinh ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẳn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.
Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là ngưồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Ưt ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sỹ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ tưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách mước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.
Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam. | Phát biểu cảm nghĩ của em về cây tre Việt Nam | 683 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học
Hướng dẫn
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học.
Tham khảo cách làm của bạn Đỗ Thị Lan Anh lớp 8A trường THCS Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội
Bằng cách kể chuyện kết hợp với miêu tả, bài văn đã nêu dòng cảm xúc của mình, tức là cái tôi trữ tình, rất trong trẻo, sinh động về ngày đầu tiên đi học.
-Nhân vật “Tôi” thuở ấy đã tự miêu tả buổi đi học đầu tiên rất ấn tượng:
+ “Tôi” mặc bộ quần áo mới trang trọng và đứng đắn. Dọc đường gặp mấy bạn nhỏ trạc tuổi tôi, ăn mặc tươm tất, nhí nhảnh gọi nhau và trao sách vở cho nhau.
+ Chỉ có hai quyển vợ trên tay mà tôi bắt đầu thấy nặng. Tôi nắm chặt lấy chúng, bắt chước mấy cậu đi trước muốn xin mẹ đưa cả bút thước cho mình cầm nữa.
+ Sân trường đông đúc người đưa con đi học. Vẻ mặt người nào cũng tươi tắn và ăn mặc tươm tất.
+ Sau một lúc hồi hộp, tôi nhìn lại ngôi trường oai nghiêm, to lớn như đình làng. Sân rộng, tường cao, trưa hè vắng lặng, tôi hơi lo sợ.
+ Đứng bên cạnh, mấy cậu học trò như tôi cũng bỡ ngỡ đứng nép và bên người thân hay đi lại nhẹ nhàng.
+ Thế rồi, sau một hồi trống vang lên, mấy người học trò cũ đến xếp hàng dưới hiên đi vào lớp. Tác giả tả cảnh mọi người vào trong lớp, cái gì cũng thấy lạ, thấy hay, những sự cảm mếm và quyến luyến lớp học, bàn ghế và bạn bè xung quanh đến một cách tự nhiên.
Tác giả kết thúc bằng sự miêu tả một hình ảnh rất đẹp:
“Một con chim non liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao”.
Đó là một cái ngày không ai quyên, thậm chí còn khắc ghi vào tâm khảm một ký ức tươi đẹp suốt cuộc đời. | Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học | 366 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về hỉnh ảnh cây tre trong văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới.
Hướng dẫn làm bài
– Đề bài yêu cầu phát biểu cảm nghĩ về hình ảnh cây tre trong văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới.
– Lấy đẫn chứng từ văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và những hiểu biết thực tế về cây tre Việt Nam.
– Bài văn cần đủ những ý chính sau:
Mở bài:
+ Giới thiệu văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới.
+ Giới thiệu hình ảnh cây tre, khái quát những cảm xúc, tình cảm của bản thân.
Thân bài:
+ Tre gắn bó thân thiết và lâu đời với con người Việt Nam:
. Trong đbi sống lao động sản xuất: tre làm rổ, sàng, đòn gánh, làm nhà…
. Trong chiến đâu bảo vệ Tổ quốc: tre làm gậy, làm chông, làm lũy…
+ Cây tre có những đức tính quý báu như con người Việt Nam: nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm.
+ Tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào, ngợi ca về cây tre… (Trích dẫn thơ Nguyễn Duy, bài “Tre Việt Nam”: “Tre xanh, xanh tự bao giờ…”).
Kết bài:
Khẳng định cây tre, sẽ đồng hành với người Việt Nam đi tới tương lai.
Bài văn mẫu
Tre xanh Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh
Chẳng ai biết cây tre đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ bao giờ, chỉ biết rằng cây tre đã gắn bó với dân tộc Việt Nam từ bao đời: nay và’ nó đã trở thành người bạn thân thiết lâu đời của nhân dân Việt Nam. Cây tre có mặt ở khắp, nơi trên đất nước: “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi… đâu đâu cũng có nứa tre làm bạn”.
Từ thuở sơ khai, dưới bóng tre xanh, những người dân cày Việt Nam vỡ đất khai hoang, dựng nhà, cày cấy dưới bóng tre xanh, nhân dân ta xây dựng và giữ gìn nền văn hoá lâu đời… “giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê thuở, ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa”. Cứ thế, tre trở thành một người bạn thân thiết không thể thiếu của nông dân Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày và trong lao động. Những em bé với những que chuyền đánh chắt bằng tre”, những cụ già bên chiếc chiếu tre… tất cả các hình ảnh đó đã trở nên quen thuộc, “tre với người, sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ” vô cùng. Đến khi người phải đánh giặc bảo vệ quê hương, tre lại trở thành người bạn chiến đấu của con người. Buổi đầu kháng chiến, tre là tất cả, tre là vũ khí. Người lính chỉ cần một chiếc gậy tầm vông trong tay cũng dám xông pha vào giữa đám quân thù. Tre như tiếp thêm lòng dũng cảm cho người, giúp người dựng nên “thành đồng Tổ Quốc…”. | Phát biểu cảm nghĩ của em về hỉnh ảnh cây tre trong văn bản “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới. | 512 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về một món quà (kỉ vật) mà em được tặng
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về một món quà (kỉ vật) mà em được tặng
Trong suốt mấy năm ngồi trên ghế của trường tiểu học, em đã quen với sự có mặt của Huyền Trang. Hai đứa không chỉ thân thiết mà hơn thế còn gắn bó với nhau như hình với bóng. Vậy mà đến giữa lớp 5, Huyền Trang buộc phải chuyển đi trường khác. Thế là từ đấy, em chỉ có thể tưởng tượng đến cô bạn có đôi bím tóc đuôi sam qua cây bút mà thôi.
Bố Huyền Trang chuyển đến cơ quan mới, thế là bạn cùng cả gia đình cùng phải chuyển đi. Ngày chia tay hai đứa nước mắt nhạt nhòa. Mãi một lúc sau, Huyền Trang mới nói; “Bọn mình thân thiết với nhau, hôm nay chia tay mình tặng Linh chiếc bút kim tinh. Vật này đã gắn bó với nhau sâu sắc nhất. Cậu hãy giữ lấy và hãy luôn nhớ về tình bạn của chúng mình”. Em nức nở nhận vật kỷ niệm và chỉ kịp dúi chú búp bê nhỏ, vật mà em đã chuẩn bị từ mấy ngày qua, vào tay của Huyền Trang rồi chạy mất.
Huyền Trang đã đi, em đem chiếc bút kia rửa sạch rồi đặt trang trọng ngay trước bàn học của mình. Lúc nào nhớ bạn, em lại đem chiếc bút ra ngắm say sưa đến hàng giờ. Ngày nào em cũng làm như thế. Và cứ như vậy, những kỷ niệm ngày xưa mà em và Huyền Trang đã có dường như vẫn còn nóng hổi.
Chúng em vẫn giữ liên lạc với nhau, ở trong kia Huyền Trang vẫn là một học sinh giỏi và thành tích của bạn vẫn khiến em cảm phục và an tâm. Thế nhưng nhiều lúc em vẫn giận chính mình bởi mình còn chưa thực sự cố gắng để xứng với lòng tin của Huyền Trang. Vậy là bước sang lớp 6, em quyết định đem chiếc bút kỷ niệm cửa Huyền Trang ra để viết. Em muốn từng nét chữ của mình phải được uốn nắn và nhắc nhở. Không ngờ những suy nghĩ và hành động táo bạo của em đã giúp em thực sự. Những con chữ của em trông ngay ngắn và sức học của em đã khá hơn. Tất cả bắt đầu từ việc nâng niu chiếc bút. Mỗi khi bơm mực và đặt bút viết điều gì, bao giờ em cũng ngẫm nghĩ để làm cho tốt. Và cuối cùng, sự cố gắng của em đã được trả công xứng đáng.
Bước sang lớp 7, em đã có mặt trong danh sách những học sinh học tốt nhất của lớp mình. Thế mới biết nếu bạn giữ một kỷ vật trong tay, thay vì chỉ nâng niu nó, bạn hãy biến nó thành một vật đụng thì nó sẽ càng ngày càng có ý nghĩa hơn. Chiếc bút kim tinh mà Huyền Trang để lại như là một chất keo gắn kết thần tình tình bạn của chúng em. Em càng học tốt thì lại càng quý trọng chiếc bút và càng hiểu sâu sắc hom tình bạn của mình đối với cô bé nhà bên thời tiểu học.
Xin cảm ơn Huyền Trang về kỷ vật mà cậu tặng cho mình. Không ngờ vật kỷ niệm nhỏ mà ý nghĩa của nó lại lớn lao đến thế. Huyền Trang ơi! Cậu hãy càng ngày càng học hành chăm ngoan nhé! Còn mình, mình hứa sẽ làm cho kỷ vật của chúng mình ngày một có ý nghĩa nhiều hơn. | Phát biểu cảm nghĩ của em về một món quà (kỉ vật) mà em được tặng | 616 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về một người thân trong gia đình
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về một người thân trong gia đình
Với tôi, mẹ là một điều gì đó rất thiêng liêng cao cả mà tôi không thể nói ra được.
Trong nhà, ai cũng quý mẹ. Mẹ là người rất tốt bụng và cũng rất biết ăn nói. Mẹ tôi có làn da hơi sạm nắng và khuôn mặt có nhiều nét khắc khổ. Nhưng mẹ tôi luôn làm điều tốt và dành hết tinh cảm cho con cái. Điều đó thì tôi biết rất rõ. Mặc dù tôi có làm điều sai trái không nghe lời mẹ nhưng mẹ chưa bao giờ phải dùng đến roi để dạy chúng tôi. Lời nói của mẹ tuy nhẹ nhàng nhưng lại có sức tác động rất lớn đến tôi.
Nhiều lúc tôi lại tự hỏi “Mẹ là gì? Tạo sao lại có mẹ ở trên đời”. Câu hỏi vu vơ ấy giờ thì đã có câu hỏi. Mẹ chính là người đã sinh ra chúng tôi. Mẹ có ở trên đời là để có thể dành hết tình cảm cho chúng tôi, để nuôi dạy chúng tôi, đổ làm cho chúng tôi có thể vui vẻ và để an ủi chúng tôi mỗi khi buồn. Hiểu như vậy cũng chưa hoàn toàn đầy đủ về khái niệm “mẹ”. Với tôi, mẹ rất thiêng liêng, cao cả mà không ai có thể so sánh được.
Mẹ là một người phụ nữ tuyệt vời mà tôi đã từng biết. | Phát biểu cảm nghĩ của em về một người thân trong gia đình | 258 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên
Tích tắc! Tích tắc! Không gian thật vắng lặng! Ngày mai là ngày khai trường của tôi và cũng là ngày khai trường của tất cả lũ trẻ sắp bước vào lớp một. Lòng tôi lại xao xuyến bâng khuâng, một cảm giác khó tả khi nhớ lại ngày khai trường trong đời.
Hồi ấy, đối với tôi, ngày khai trường không có gì khác lạ như hồi học mẫu giáo. Tâm trạng vẫn thế, không có gì thay đổi, vì dù sao mẹ tôi cũng chuẩn bị chu đáo cho tôi từ cái bút, cái thước kẻ… hay cả đến quần áo, trang phục đi học. Lúc đó, tôi chỉ biết một điều rằng: ngày mai là ngày khai trường. Chắc hẳn không chỉ riêng tôi mà nhiều người khác cùng lứa tuổi cũng có tâm trạng như vậy.
Một đứa trẻ mẫu giáo như tôi thuở ấy cũng không thể hiểu hết được thế nào là ngày khai trường. Và đến bây giờ tôi hiểu ra rằng: ngày khai trường là một ngày trọng đại đối với học sinh và nó như một động lực thúc đẩy học sinh cố gắng trong năm học mới. Năm học cũ dù mình có kém đến đâu, có dốt đến thế nào chăng nữa thì nhờ không khí của ngày khai trường mình vẫn hồ Hởi bắt đầu một năm học mới.
Làm sao có thể quên cảnh mẹ tôi dẫn tôi đi trên con đường đầy quen thuộc. Quen lắm, thân lắm, nhưng tôi vẫn cảm thấy nao nao trong lòng và có một điều gì thật khác lạ hơn ngày thường. Chợt tôi hiểu ra một điều: hôm nay là ngày khai trường đầu tiên của tôi. Ôi! Thế là phải xa rời mái trường mầm non, xa rời những chú thỏ trắng và những chú gấu mi-sa tinh nghịch vẫn theo tôi hàng ngày. Nhưng tôi không buồn vì tôi biết, con người là phải học và nếu học giỏi có thể dễ dàng đạt được ước mơ của mình sau này. Có thể đối với một đứa trẻ như tôi nghĩ như vây là quá nhiều, nhưng tôi vẫn vui vì mình đã bắt đầu lớn và mình sẽ luôn luôn có bạn cùng chia sẻ, vui chơi với mình như hồi mẫu giáo. Thật lạ thoắt đi thoắt lại tôi đã đến trường.
Mẹ đưa tôi đến tận cửa lớp, đưa tay tôi cho cô giáo, hôn tôi vào má rồi từ từ ra về. Tôi chạy theo, mắt rơm rớm, ôm lấy mẹ. Mẹ tôi xoa đầu ân cần nói: “Con ngoan lắm! Con đi vào lớp học đi, chiều về mẹ sẽ đón con! Học ngoan mẹ sẽ thưởng kẹo”. Những lời của mẹ tôi có vẻ làm tôi thấy vui hơn, nhưng tôi hơi buồn vì không có mẹ ở bên. Mẹ chăm sóc tôi từ nhỏ, tôi được ở trong vòng tay yêu thương của mẹ, nay dần dần mất cảm giác đó, tôi cảm thấy hẫng hụt như quên mất một cái gì đó. Xung quanh tôi toàn người xa lạ, vậy mà sau đó, tôi lại cảm thấy một hơi ấm kỳ diệu như hơi ấm của mẹ. Phải chăng chính cô giáo đã đem lại luồng hơi ấm đó, mà tôi cảm nhận nó sâu sắc đến lạ. | Phát biểu cảm nghĩ của em về ngày khai trường đầu tiên | 578 | |
Đề bài: Cảm nghĩ của em về người cha thân yêu.
Bài làm
Trong đời sống tinh thần đa dạng và phong phú của con người thì tình cha con là tình cảm máu thịt thiêng liêng, sâu đậm nhất. Công lao to lớn của người cha được nhắc đến rất nhiều trong ca dao, dân ca: Công cha như núi Thái Sơn,.., Con có cha như nhà có nóc, Phụ tử tình thâm…
Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái… thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ!
Em thấy ở bác có những nét rất giống cha em, một người thợ cơ khí bình thường, quanh năm làm việc với máy móc, dầu mỡ. Đôi bàn tay cha chai sần, thô ráp, mạnh mẽ nhưng ấm áp lạ thường. Có thể nói rằng trong gia đình em, cha làm nhiều nhất và hưởng thụ ít nhất; Cha giống mẹ ở chỗ nhường nhịn hết cho đàn con những miếng ngon miếng lành, còn mình chỉ cơm dưa cơm mắm qua ngày.
Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ.
Chúng em yêu kính cha, cố gắng chăm học, chăm làm để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách đáp đền chữ hiếu cụ thể và thiết thực nhất. Cảm ơn nhạc sĩ Phạm Trọng cầu đã nói giúp tuổi thơ chúng em những suy nghĩ tốt đẹp về cha mẹ: Cha sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực. Cha mẹ là lá chắn, che chở suốt đời con… Ngày mai con khôn lớn, bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương! | Phát biểu cảm nghĩ của em về người cha thân yêu | 557 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về những kỉ niệm tuổi thơ
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về những kỉ niệm tuổi thơ
Tuổi thơ đó là quãng kí ức đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người. Dù là kỉ niệm vui hay buồn, mỗi khi kể về kí ức tuổi thơ, trong lòng lại rộn lên niềm vui man mác, nụ cười mãn nguyện nở trên môi. Đối với tôi, niềm vui lớn nhất của tuổi thơ là ngày khai trường đầu tiên.
Với bất cứ ai đã là học sinh, chắc hẳn không thể quên được ngày trọng đại này – Ngày khai trường đầu tiên. Nó đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của con người, hé mở ra cánh cửa tri thức rộng lớn bao la.
Nhớ lẩm buổi sáng mùa thu năm đó, trời cao và trong xanh đến lạ. Nắng vàng ươm rót mật xuống vạn vật. Trên cành cây, chim ca ríu rít. Tối hôm trước, tôi soạn lại sách vở đồ dùng lần cuối, rồi lên giường đi ngủ thật sớm, không xem băng hoạt hình nữa. Nhưng vào giường, mẹ dỗ mãi tôi không chịu ngủ. Trong lòng tôi cảm thấy bồn chồn, háo hức khó tả. Tôi dậy sớm, ăn sáng, tự tay mẹ mặc đồng phục mới, chải đầu cho tôi. Mẹ vui miệng đọc:
Hôm nay bé đi thi
Bé dậy từ gà gáy
Ngồi trên xe bố lai
Bé tung tăng tới trường.
Tôi cười toét miệng: “Con đi học chứ”. Bố lai tôi đến trường, trên đường đi, bố mua một quả bóng bay buộc vào cổ tay tôi. Ngồi trên xe, tay tôi cứ vung vẩy, làm quả bóng bay giật giật, đến là thích thú. Bố dắt tôi vào trường. Tôi nhảy chân sáo đi bên bố, trong lòng vui sướng, rạo rực. Tôi nhìn ai cũng thấy yêu, ngắm cái gì cũng thấy thân thiết. Trường tiểu học trang hoàng thật đẹp. Cờ hoa, treo khắp các cành cây, khẩu hiệu to và đẹp treo chính giữa lễ đài. Bố dắt tôi vào xếp hàng cùng các bạn. Bố chỉnh lại quần áo, kiểm tra lại sách vở xoa đầu tôi rồi mới ra về. Bao giờ bố cũng chu đáo với tôi như thế. Tôi xếp hàng, có một chị học sinh tới dắt tôi. Tôi thấy hồi hộp quá, lo lắng, sợ nữa. Tôi toát mồ hôi, mắt nóng bừng, ngứa chân ghê gớm. Tôi cố gắng bình tĩnh lại. Tôi tự trấn an mình: “Mình không sợ, không khóc nhè, mình học lớp một rồi”. Tôi diễu hành qua lễ đài. Bao cánh tay đang vẫy chào tôi. Tiếng cô tổng phụ trách hồn hậu: “Chào mừng các em, từ nay các em đã là học sinh học dưới mái trường tiểu học, hãy cố gắng phấn đấu học tập, chăm ngoan, các em nhé”. Tôi thấy vui biết bao, hạnh phúc biết bao, bước chân như sải rộng hơn, mình như cao hơn, bộ quần áo như chật đi, sách vở trên vai yêu mến biết chừng nào. Tôi còn vui đến nỗi muốn hét to lên: “Em đi học rồi, đi học cùng các anh các chị”. Tôi yêu cái cây, yêu dãy cờ đò bay phấp phới theo gió. Tôi yêu mái trường này biết mấy. Tôi cảm thấy tự hào, mình lớn rồi, chí ít là so với hồi học mẫu giáo. Đã qua rồi cái thời chơi đồ chơi và ăn bột trong nhà trẻ. Bây giờ, chỉ có sách vở bút thước sẽ luôn tiến bước cùng tôi. Bố mẹ ơi, con sẽ nhớ lời bố mẹ dặn, phải cố gắng học tập, con là niềm tin của bố mẹ. Ngày khai trường, ngày khai trường đầu tiên của tôi!
Ôi! Tôi trải qua bao lần vui sướng, bao lần hạnh phúc và tất cả đều khiến tôi toát mồ hôi, mặt nóng bừng, ngứa chân ghê gớm. Cảm giác lạ kì ấy phải chăng đã theo tôi từ ngày khai trường đầu tiên – ngày khai trường tôi không bao giờ quên. | Phát biểu cảm nghĩ của em về những kỉ niệm tuổi thơ | 682 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè văn 7
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè văn 7
Khi những con đường trong thành phố bắt đầu có tiếng ve râm ran, khi hai tiếng đã bắt đầu nở rộ những khóm hoa phượng vĩ đỏ thắm thì khi ấy là lúc một mùa hè mới, một kỳ nghỉ thú vị sắp bắt đầu.
Nghỉ hè – đó là hai tiếng quen thuộc đối với mỗi người học sinh. Đó là khoảng thời gian rảnh rỗi, nghỉ ngơi. Sau suốt một năm học bận rộn. Đó cũng là khoảng thời gian mà họ dành cho gia đình nhiều nhất.
Một buổi sáng thức dậy với ánh nắng sớm tinh khiết rọi vào gian phòng nhỏ bé của mình, tôi bỗng thấy có một cảm giác kỳ lạ trong lòng. Cái ánh nắng dịu nhẹ của buổi sớm, tiếng chim ca líu lo đầu hè, tiếng tấp nập của xe cộ ngoài phố như giải thích cho cái cảm giác kỳ lạ ấy. Tôi bắt đầu một kỳ nghỉ hè bằng những chuyến đi chơi với gia đình mình, về thăm quê nội, quê ngoại tôi thấy mình biết thêm được thật nhiều điều. Quê tôi đẹp lắm! Rồi những lần đi biển tôi vui đùa thỏa thích với sóng biển dưới bầu trời trong xanh không gợn chút mây. Những khoảnh khắc yêu thương, những tình cảm chan chứa và niềm vui ấy chỉ có vào ngày nghỉ hè mà thôi.
Nghỉ hè như đã trở thành một khoảng không gian mà ai cũng mong ước nó đến thật nhanh, thật gần để được sum họp gia đình, để được vui đùa thỏa thích bên nhau. Nghỉ hè là lúc mà những dấu ấn, những kỷ niệm đẹp nhất của mỗi người được tạo dựng nên, được vun đắp bằng tình yêu thương của mỗi người. Phải cảm ơn mùa hè, cảm ơn những kỳ nghỉ đã cho chúng ta những giây phút thư giãn.
Nhưng không phải mùa hè lúc nào cũng cười, lúc nào cũng vui. Có những lúc, người ta ngồi thu mình lại một góc, nghĩ về những kỷ niệm của năm học cũ, nghĩ về những gì đã thả mình vào sự vui sướng với gia đình mà quên mất bạn bè, những người đã gắn bó với ta trong suốt chặng đường học tập, quên mất những ký ức của tuổi học trò suốt năm học vừa qua. Mùa hè cũng làm cho ta phải xa bạn bè một thời gian, xa thầy cô mà mình quý mến.
Cũng thật buồn!
Có thể vì những lý do đó mà có người yêu kỳ nghỉ hè hoặc có người lại không thích kỳ nghỉ hè. Mỗi người có một ý nghĩ khác nhau vể mùa hè cũng như mùa hè mang lại cho mỗi người một cảm giác khác nhau.
Tôi yêu mùa hè vì mùa hè. | Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè văn 7 | 490 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè
Khi những bông hoa phượng nhoẻn miệng cười tinh nghịch và kiêu hãnh khoe màu đỏ rực rỡ của mình thì cũng là lúc mùa hè tưng bừng và náo nhiệt trở về. Mùa hè cũng là lúc tôi chia tay bạn bè, chia tay thầy cô và bước vào những ngày nghỉ tuyệt vời.
Cứ mỗi khi mùa hè đến là tôi lại đan xen bao cảm xúc, vừa bâng khuâng, nhớ thương mái trường, lại vừa hồi hộp, náo nức chờ đón những ngày hè sôi động. Có lẽ cành phượng cũng hiểu lòng tôi nên rung rinh cành lá như đang vẫy chào.
Nơi đầu tiên mà tôi nhớ tới chính là miền quê yêu dấu và thanh bình của tôi. Hè năm nay, tôi sẽ đến đó. Quê tôi đẹp biết bao! Đang vào gặt lúa, đâu đâu cũng thơm phức mùi thóc, vàng suộm một màu lúa chín, ánh nắng lại trải lên làng quê tạo nên một bức tranh thật sinh động. Tôi đi dọc đường làng, ngắm nhìn những bông lúa nặng trĩu, những vườn cây ăn quả trái xum xuê, những ao cá rộng lớn
Lòng tôi tự nhiên cũng tràn ngập một niềm vui khó tả, vui vì biết những công sức của các bác nông dân giờ đã có thành quả, vui vì thấy sự thay da đổi thịt của nơi đây nơi từng in dấu của bom đạn chiến tranh. Đi một quãng nữa là tới nhà ông bà nội tôi. Đó là một ngôi nhà đẹp và khang trang. Tôi thích nhất được đón những làn gió hay ngắm nhìn những con mưa rào của mùa hè ở đây. Khu vườn bà tôi trồng biết bao nhiêu là cây. Nơi đây, lúc nào công rộn vang tiếng chim hót và bản hòa tấu bất tận của những chàng ve sầu. Bạn hãy tưởng tượng mà xem, nếu bạn là tôi, được sống giữa bầu không khí trong lành, mát mẻ và êm dịu của thiên nhiên như thế này thì chắc chắn cõng sẽ có cảm giác như tôi bây giờ, thư thái và dễ chịu. Cây gắn bó với tôi nhất chính là cây hồng xiêm. Nhớ những năm tháng xưa, tôi thường giúp bà chăm sóc cây và câu cá trong ao dưới bóng mát của nó. Những ngày tháng ôm đềm ấy tưởng như mới hôm qua mà giờ đã xa.
Lại một mùa hè nữa đi qua. Mỗi mùa hè mang một ấn tượng riêng nhưng với tôi mùa hè này là sâu đậm nhất. | Phát biểu cảm nghĩ của em về những ngày hè | 446 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về năm khổ thơ đầu trong bài Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ.
Hướng dẫn
Minh Huệ là nhà thơ quê ở Nghệ An. Có lẽ vì thế, ông viết rất hay về Bác Hồ “Người Cha mái tóc bạc” của đất nước quê hương. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ được ông viết vào năm 1951, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt. Bài thơ đểlại những ấn tượng đẹp đẽ, sâu sắc về Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Bài thơ mang cảm hứng trữ tình ghi lại cảnh Bác Hồ cùng chiến sĩ đi chiến dịch, một đêm đông giữa núi rừng Việt Bắc, mưa gió lạnh lùng.
Năm khổ thơ đầu diễn tả tâm trạng và suy nghĩ của anh đội viên về lãnh tụ. Anh còn trẻ lắm như muôn ngàn chiến sĩ khác “quyết tử cho Tổquốc quyết sinh”. Trong gian khổ, anh vẫn ngủ rất say, chợt anh thức dậy giữa đêm khuya. Những câu thơ đầu gợi lên một không khí thiêng liêng như cổtích:
Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Xúc động và ngạc nhiên nhìn Bác qua ánh lửa, anh tự hỏi mình: “Mà sao Bác vẫn ngồi, Đêm nay Bác không ngủ?”. Anh băn khoăn và quan sát Bác giữa đêm khuya, dưới “mái lều tranh xơ xác”, trong cảnh “trời mưa lâm thâm”, hình ảnh Bác được nhà thơ khắc hoạ với bao khám phá diệu kì:
Vẻ mặt Bác trầm ngâm
Đọc câu thơ, em thấv thương Bác vô cùng. Tuổi cao sức yếu, Bác vẫn cùng các chiến sĩ ra trận, cùng “nếm mật nằm gai”. Con người luôn luôn đem đến cho đồng bào chiến sĩ nụ cười rạng rỡ, vậy mà giờ đây, nụ cười ấy biến đi đâu, nhường chỗ cho sự trầm ngâm, đăm chiêu, lặng lẽ… Bác đang thao thức và băn khoăn với bao ý tưởng nung nấu trong lòng, những lo toan gánh vác việc nước, việc quân…
Cái hay của bài thơ là nói đến mối quan hệ chan hòa yêu thương giữa lãnh tụ và chiến sĩ trong khói lửa. Đó là tình cha con, tình bác cháu vô cùng thắm thiết. Anh đội viên xúc động bồi hồi. Tình cảm chân thành của người lính trẻ cũng là của mỗi chúng ta, của em, của chị…
Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
“Càng nhìn” vì ngạc nhiên xúc động. “Càng thương” vì đã khuya mà Bác vẫn không ngủ. “Càng thương” vì tấm lòng nhân ái bao la của Bác. Trong đêm đông lạnh lẽo, người đội viên khám phá bao điều kì diệu: bên cạnh phẩm chất lãnh tụ vi đại. ỞBác còn rực sáng lên nhân phẩm cao quý của một con người giàu tình thương:
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm.
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người tàng người một
Sợ cháu mình giật thật
Bác nhón chân nhẹ nhàng.
Vần thơ như đoạn phim cận cảnh. Ánh lửa rừng chờn vờn “mái tóc bạc’’ cửa người Cha vừa gần gũi, vừa thiêng liêng. Cử chỉ của Bác: “đốt lửa”, “dém chăn”, “nhón chân nhẹ nhàng”… đều chứa đựng bao tình yêu thương mênh mông. Tình cha con ruột thịt, tình bác cháu ruột rà được nhà thơ ghi lại một cách chân thực làm rung dộng lòng người. Bácđốt lửa, dém chăn cho chiến sĩ ngủ ngon đểngày mai ra trận hay chính Bác đang đốt ngọn lửa yêu thương nơi đáy lòng mình? Bác “dém chăn”cho từng chiến sĩ hay Bác đang truyền hơi ấm tình thương cho con cháu? Điệp ngữ “từng người từng người một” diễn tả rất sâu sắc tình thương yêu bao la của Bác. Người lính nào cũng được Bác săn sóc, cũng được Bác chia cho phần yêu thương bởi lẽ “Người là Cha, là Bác, là Anh” (Tố Hữu). Bác gần gũi với mọi con người Việt Nam, bởi một lẽ rất lớn đơn giản “Bác là Hồ Chí Minh” như Minh Huệ đã ca ngợi.
Anh đội viên đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên nọ, từ suy nghĩ này đến cảm xúc: khác mà lòng bâng khuâng tự hào. Anh mơ màng chập chờn “như nằm trong mộng”. Tầm vóc lớn lao của lãnh tụ vượt ra ngoài trí tưởng tương của anh. Cảm xức dâng lên dạt dào trong lòng. Niềm kính yêu gắn liền với sự khâm phục và biết ơn Bác. Nhà thơ đã sử dụng những ngôn từ đẹp nhất, kết hợp với hình ảnh so sánh diệu kì nhất để ngợi ca tâm hồn và tình thương của lãnh tụ đối với dân tộc. Câu thơ như một nét vẽ mang màu sắc thần thoại làm chấn động hồn em:
Ấm hơnngọn lửa hồng.
Sống bên Bác, ai cũng cảm thấy tự hào, ai cũng thấy mình được truyền thêm niềm tin và sức mạnh để đi tới ngày mai. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút…
(Sáng tháng Năm)
Bài thơ hay chẳng khác nào một đoá hoa thơm và đẹp tô thắm cuộc dời. Đọc thơ của Minh Huệ, em có cảm nhận như vậy. Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ đậm đà âm điệu dân ca Nghệ Tĩnh. Tác giả đã sử dụng thể thơ năm tiếng bình dị, mộc mạc, giàu sức truyền cảm để nói về Bác Hồ kính yêu. Giọng thơ hồn nhiên như tiếng nói tâm tình của anh đội viên nên có sức lan tỏa rộng và sâu lắng trong tâm hồn người đọc. Đọc bài thơ, em thấy Bác gần gũi mà thiêng liêng. Kính yêu Bác, em xin hứa học giỏi, mãi mãi xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ, đi tiếp con đường cách mạng mà Bác đã vạch ra. | Phát biểu cảm nghĩ của em về năm khổ thơ đầu trong bài Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ. | 993 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về sách vở hàng ngày
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về sách vở hàng ngày
Trong con đường học tập, một thứ không thể thiếu đối với mỗi con người đó chính là sách vở.
Nếu con đường học tập là chiến trường thì sách vở chính là vũ khí. Vì vậy, sách vở rất quan trọng. Bạn hãy thử nghĩ mà xem, bạn ra chiến trường trên tay không một thứ vũ khi nào thử hỏi bạn có thể chiến đấu không? Sách vở không chỉ rất quan trọng mà nhu cầu về sách vở của mỗi con người càng ngày càng cao. Nhất là sách. Sách mang đến cho chúng ta những kiến thức cơ bản, những kiến thức mở rộng để chúng ta có thể đến gần được với tri thức hơn. Sách có rất nhiều loại: Sách giáo khoa, sách tham khảo, tiểu thuyết, truyện đọc,.. Sách giáo khoa là loại sách cơ bản nhất mà ai cũng được học. Kiến thức trong sách là kiến thức bắt buộc ai cũng phải hiểu và phải nhớ để vận dụng cho đời sống bên ngoài. Nếu các bạn muốn tìm hiểu về kiến thức bạn có thể đọc sách tham khảo. Sách tham khảo lại có rất nhiều loại: Sách về tự nhiên, sách về khoa học… để bạn có thể tìm được quyển sách đáp ứng nhu cầu học hỏi của bạn.
Sách còn giúp con người giải trí. Những câu chuyện cười, những bộ tiểu thuyết,… sẽ giúp đầu óc bạn thanh thản hơn, giúp bạn qua đi mệt mỏi của mình.
Sách rất đa dạng. Sách giúp con người ta hướng thiện. Sách luôn luôn đáp ứng mọi nhu cầu của bạn ở mọi lúc, mọi nơi. Sách giúp con người có thể đên với thành công, đến với đỉnh cao của tri thức.
Vở cũng quan trọng không kém. Vở cũng là hành trang không thể thiếu trên hành trình học tập của học sinh. Vở giúp bạn ghi chép, tóm tắt lại những ý có trong sách. Người ta thường có câu: “Học đi đôi với hành”. Bạn không thể học mà không thực hành được. Và vở sẽ giúp bạn thực hiện được điều đó.
Ôi, bạn hãy thử tưởng tượng mà xem, nếu trên đời này không có sách vở thì sẽ ra sao? Thế giới này sẽ chỉ toàn những người vô học, sẽ chỉ toàn là màu đen, màu đen của sự mù chữ.
Các bạn ơi, chúng ta hãy dang rộng vòng tay đón chào sách vở nhé! | Phát biểu cảm nghĩ của em về sách vở hàng ngày | 431 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về tinh thần chiến đấu hy sinh của nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu
Bài làm
Viết về những gương thiếu nhi Việt Nam anh hùng, bài thơ Lượm của Tố Hữu là một tác phẩm đặc sắc nhất của nền thi ca kháng chiến.
Sau khi miêu tả vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn trong sáng đáng yêu của Lượm, nhà thơ đã viết nên những vần thơ tuyệt đẹp ca ngợi tinh thần chiến đấu hy sinh và phầm chất anh hùng của chú đội viên liên lạc.
Hình ảnh Lượm bỗng "cao lớn" phi thường:
Vụt qua mặt trận
Đạn bay vèo vèo
Thư đề: "Thượng khẩn"
Sợ chi hiểm nghèo?.
Giữa mặt trận đạn bay vèo vèo, chú liên lạc đã xông lên vượt qua, vụt qua. Hai chữ vụt qua thể hiện động tác chiến đấu nhanh nhẹn, quả cảm vô cùng. Không thể do dự và chậm trễ khi đang mang trên mình bức thư thượng khẩn. Vì nó là mệnh lệnh chiến đấu. Câu thơ sợ chi hiểm nghèo? vang lên như một lời thách thức, như một lời thề chiến đấu coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Người chiến sĩ nhỏ khác nào "một tiên đồng" đang dạo chơi trên đồng lúa trỗ đòng đòng. Từ láy "nhấp nhô" gợi tả một tư thế hồn nhiên, bình tĩnh của chú liên lạc trên đường băng qua mặt trận đầy khói lửa:
Đường quê vắng vẻ
Lúa trỗ đòng đòng
Ca lô chú bé
Nhấp nhô trên đồng….
Nhà thơ như đang "nín thở" dõi theo. Và Lượm đã ngã xuống. Câu thơ có lửa và máu, có lời than và nỗi đau. Hai câu cảm thán liên tiếp như tiếng nấc đau đớn cất lên:
Bỗng lòe chớp đỏ
Thôi rồi, Lượm ơi!
Chú đồng chí nhỏ
Một dòng máu tươi!.
Lượm đã chiến đấu vì quê hương. Lượm đã hy sinh vì quê hương. Lượm đã tử thương nhưng tay chú còn nắm chặt bông lúa. Lượm đã ngã xuống nhưng hồn chú vẫn bay giữa đồng lúa thơm ngạt ngào mùi sữa:
Cháu nằm trên lúa
Tay nắm chặt bông
Lúa thơm mùi sữa
Hồn bay giữa đồng.
Đây là những câu thơ hay nhất nói về sự hy sinh của người chiến sĩ trên chiến trường. Tố Hữu đã sáng tạo nên một không gian nghệ thuật có hương lúa quyện hồn chiến sĩ vừa thân thuộc vừa bình dị, vừa bát ngát thiêng liêng. Chú đội viên liên lạc đã ngã xuống trong tư thế người anh hùng tuổi thiếu niên!.
Phần cuối bài thơ, Tố Hữu nhắc lại tám câu thơ ở đoạn đầu. Cấu trúc ấy được thi pháp gọi là "đầu – cuối tương ứng" hoặc kết cấu vòng tròn. Trong bài thơ này, cấu trúc ấy có một giá trị thẩm mĩ đặc sắc. Chú đội viên liên lạc đã anh dũng hy sinh ngoài mặt trận, nhưng tinh thần yêu nước, chí khí dũng cảm và tên tuổi người anh hùng tuổi thiếu niên vẫn bất tử, sống mãi trong lòng nhân dân ta. Có cái chết hoá thành bất tử, đó là sự hy sinh oanh liệt của Lượm. Tấm gương anh hùng của Lượm sáng mãi ngàn thu. | Phát biểu cảm nghĩ của em về tinh thần chiến đấu hy sinh của nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu | 536 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Con Rồng cháu Tiên lớp 6 hay nhất
Hướng dẫn
Đoàn kết là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta đã được gây dựng từ bao đời nay. Lí giải về cội nguồn của con người Việt Nam, đồng thời qua đó cho thấy cơ sở của tình đoàn kết của những thành viên trong cộng đồng, truyền thuyết Con rồng cháu Tiên cho đã đưa ra lí giải cho toàn bộ vấn đề này. Bằng những hiểu biết của mình sau khi học xong truyền thuyết Con rồng cháu tiên, em hãy phát biểu cảm nghĩa về truyện Con rồng cháu tiên.
I. Dàn ý cho đề bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên
1. Mở bài cho đề phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên
– Nêu cảm nhận chung về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”.
2. Thân bài cho đề phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên
– Nêu những cảm nhận cụ thể về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên.
– “Con Rồng, cháu Tiên” giải thích cội nguồn dân tộc gắn với những điều cao quý, thiêng liêng.
– Nguồn gốc xuất thân và hình dáng kì lạ, thiêng liêng của Lạc Long Quân và Âu Cơ.
– Mối tình giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ thể hiện sự hòa hợp giữa núi non và sông biển, biểu trưng cho sự hòa hợp huyết thống của các bộ tộc, bộ lạc khác nhau.
-Sự phân chia con cái giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ cho thấy tinh thần đoàn kết dân tộc.
– Sự phân chia này thể hiện:
+ Quan niệm của người xưa về sự lưỡng phân, lưỡng hợp
+ Sự giải thích về sự phân chia lãnh thổ đầu tiên, mở mang địa bàn cư trú và sản xuất của nước ta.
-Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” chủ yếu sử dụng những chi tiết tưởng tượng kì ảo
– Tưởng tượng kì ảo là những yếu tố kì lạ, không có thật được tác giả dân gian sáng tạo nhằm những mục đích cụ thể.
– Trí tưởng tượng của dân gian về nguồn gốc của hai vị thần góp phần thể hiện niềm tự hào dân tộc và quá trình nhận thức về nguồn gốc cao quý của con người.
– Ngoài ra chi tiết “cái bọc trăm trứng” đã cho thấy tinh thần đoàn kết dân tộc.
3. Kết bài cho đề phát biểu cảm nghĩ về truyện Con rồng cháu tiên
Khát quát lại cảm nhận về truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”. | Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Con Rồng cháu Tiên lớp 6 hay nhất | 427 | |
Phát biểu cảm nghĩ của em về tình bạn văn 7
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ của em về tình bạn văn 7
Trong cuộc đời mỗi người ngoài tình cảm gia đình còn có tình cảm bạn bè. Đó là một thứ tình cảm vô cùng quý giá, nó có thể giúp người ta vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống, hơn nữa đó còn là chỗ dựa tinh thần giúp ta quên đi những nỗi buồn, những vất vả khó khăn trong cuộc sống.
Trong văn chương, chúng ta cũng bắt gặp những tác phẩm ca ngợi tình bạn như Lưu Bình – Dương Lễ. Một người sẵn sàng đưa vợ mình đến giúp đỡ bạn trong lúc bạn gặp khó khăn, bế tắc. Hay như tích Trung Quốc có Bá Nha Tử Kì: Một người bạn ra đi, người ở lại không muốn đánh đàn nữa vì nghĩ rằng chẳng còn ai có thể hiểu được tiếng đàn của mình như người bạn đã mất. Hay như Tú Xương cũng có bài thơ Khóc Dương Khuê để nói lên tình cảm của mình với bạn. Đó có được những mối thâm tình ấy chắc chắn họ đã có những kỉ niệm sâu sắc bên nhau và hơn thế đó là sự đồng cảm, đồng điệu về tâm hồn.
Và trong cuộc sống đời thường chúng ta cũng bắt gặp những tình bạn chân thành và đáng quý. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường em cũng chứng kiến những tình bạn như thế. Đó là những đôi bạn cùng giúp nhau học tập. Em đã từng chứng kiến hai người bạn chơi rất thân với nhau, song giữa họ lại co điểm khác là người thì học giỏi Văn, người thì học giỏi Toán. Tuy nhiên, trong những lần kiểm tra, họ không hề cho nhau chép bài dẫu hai người ngồi cùng bàn và sát nhau. Sau một thời gian, em thấy cả hai đều học tốt cả hai môn. Lúc đầu ai cũng tưởng họ cho nhau chép bài, nhưng sự thực thì họ đã giúp nhau khắc phục nhược điểm của từng người. Bạn học giỏi Toán thì giúp người giỏi Văn học Toán tốt hơn và ngược lại. Hai bạn đã giúp cho nhau có được kiến thức một cách chắc chắn. Như vậy trong học tập cũng như trong công việc, giúp nhau không có nghĩa là cho nhau một sự vật cụ thể mà có thể giúp nhau con đường, phương pháp để đạt được hiệu quả. Đó mới chính là một tình bạn chân chính, chân thành.
Ngoài ra tình bạn tốt còn giúp cho nhau vượt qua những nỗi buồn về tinh thần. Đó là khi người bạn của mình gặp chuyện không vui mình có thể đến để chia sẻ, động viên, an ủi họ.
Điều đó cũng được minh chứng qua tình bạn của em với Ngọc. Em với Ngọc học cùng lớp, ngồi cùng một chỗ và cùng chung khu tập thể. Hàng ngày em và Ngọc cùng nhau đi học, khi về cả hai cùng về và ăn cơm trưa xong em sang nhà Ngọc ôn bài, cùng nhau làm bài tập, và cùng bàn bạc, suy tính trước những bài khó. Trước đây, trong các môn học em ngại nhất là môn tiếng Anh, thế nhưng có Ngọc động viên, giúp đỡ nên chỉ trong một thời gian ngắn em đã tiến bộ hơn nhiều. Em còn nhớ có hôm Ngọc bỏ cả bữa trưa để giảng giải cho em hiểu và thuộc bằng được một số cấu trúc ngữ pháp. Nhờ sự tận tình chỉ giúp của Ngọc đến giờ em đã thích học môn tiếng Anh.
Ngoài việc giúp đỡ nhau trong học tập em và Ngọc còn thường xuyên chia sẻ với em những chuyện vui buồn trong gia đình, trong lớp học. Mỗi khi buồn mà được chia sẻ với Ngọc em cảm thấy nỗi buồn của em như vơi đi một nửa.
Tình bạn của em và Ngọc dường như mỗi ngày lại gắn bó hơn. Và em tin rằng đó là tình bạn chân thành nhất. | Phát biểu cảm nghĩ của em về tình bạn văn 7 | 693 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ sau khi đọc bài: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em
Bài làm
“Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em" là văn bản trích trong Tuyên bố của Hội ngị cấp cao thế giới về trẻ em" họp tại Liên hợp quốc ngày 30.9 1990.
Văn bản được trích lược ở đây gồm có 17 điều:
Điều 1 và 2 là lời kêu gọi.
5 điều tiếp theo (3 – 7): sự thách thức.
2 điều (8-9): cơ hội.
8 điều còn lại (10 – 17): nhiệm vụ.
Cấu trúc của văn bản rất chặt chẽ và hợp lí. Lời kêu gọi mở đầu hướng về những ai, và vì đối tượng nào mà ra lời tuyên bố. Sự thách thức nói lên thực trạng, tình trạng sống còn, đau khổ… của trẻ em thế giới. Hai điều cơ hội chỉ ra hoàn cảnh xã hội và lịch sử thuận lợi. Phần nhiệm vụ là nội dung chính của bản tuyên bố. Tính pháp lí, tính cộng đồng, tính nhân đạo bao trùm văn bản này.
Mở đầu Bản tuyên bố là lời kêu gọi "khẩn thiết" hướng tới "toàn thể nhân loại" vì mục đích "hãy bảo đảm cho tất cả trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn" (điều 1). Điều 2 nói rõ vì ai, vì đối tượng nào, đối tượng ấy ra sao mà ra lời kêu gọi. Đó là tất cả trẻ em trên thế giới, một lớp người "đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc". Lớp người nhỏ tuổi ấy cần "phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển". Hòa bình, ấm no, hạnh phúc là điều kiện, là nhu cầu sống của trẻ em. Tính cộng đồng (rộng lớn), tính nhân đạo được thể hiện rất rõ và vô cùng sâu sắc.
Năm điều tiếp theo nói về sự thách thức, phản ánh thực trạng, điều kiện sống của tuổi thơ trên thế giới. Vô số trẻ em phải chịu bao nhiêu "nỗi bất hạnh". Là "nạn nhân" của chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc, chế độ a-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài. Có những cháu chịu cảnh tị nạn, tàn tật… bị "đối xử tàn nhẫn và bóc lột" (điều 4).
Có hàng triệu trẻ em ở các nước đang phát triển, chậm phát triển sống trong đói nghèo, vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp. Nguyên nhân chính là do "tác động nặng nề của nợ nước ngoài", hoặc tình hình kinh tế "không có khả năng tăng trưởng" (điều 5).
Điều 6 nêu lên những số liệu đáng sợ: mỗi ngày trên thế giới có 40.000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng, bệnh tật, hội chứng AIDS, hoặc do điều kiện sống: thiếu nước sạch, thiếu vệ sinh, và do tác động của vấn đề ma túy (điều 6).
Văn bản không chỉ nêu lên thực trạng của trẻ em thế giới, mà còn nói lên nguyên nhân. Nhưng không hề đụng chạm tới quốc gia nào. Đó là tính pháp lí thể hiện một cách viết sâu sắc, tế nhị.
Phần cơ hội chỉ có 2 điều. Sự liên kết của các nước và "công ước về quyền của trẻ em " đã tạo ra cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em "được sự tôn trọng" ở khắp nơi trên thế giới, (điều 8).
Bầu không khí chính trị quốc tế được "cải thiện" (cuộc chiến tranh lạnh được phá bỏ), sự hợp tác và đoàn kết quốc tế (khôi phục và phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường…), giải trừ quân bị, tăng cường phúc lợi trẻ em (điều 9).
Những cơ hội ấy đã được tận dụng trong 15 năm qua, làm cho sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em trên nhiều khu vực, nhiều quốc gia thu được nhiều thành tựu tốt dẹp.
Phân nhiệm vụ có 8 điều (10-17).
Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em; cứu vãn sinh mệnh trẻ em, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh (điều 10).
Chăm sóc nhiều hơn đối với trẻ em bị tàn tật và có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn. (Liên hệ: hàng chục vạn trẻ em ở nước ta bị chất độc màu da cam trong chiến tranh,..), (điều 11).
Tăng cường vai trò của phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ vì lợi ích của trẻ em toàn cầu; các em gái cần được đối xử bình đẳng (điều 12).
Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở ( điều 13).
Bảo đảm an toàn cho phụ nữ khi mang thai và sinh đẻ, kế hoạch hóa gia đình để trẻ em lớn khôn và phát triển (điều 14).
Cần tạo cho trẻ em một môi trường sống, một xã hội tự do để trẻ em có nơi nương tựa an toàn, được khuyến khích tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội (điều 15).
Khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở tất cả các nước; tìm ra giải pháp "nhanh chóng, rộng lớn và lâu bền cho vấn đề nợ nước ngoài (điều 16).
Điều 17 chỉ ra điều kiện được thực hiện những nhiệm vụ đã nêu ra cần "những nỗ lực liên tục", "sự phối hợp trong hành động" của từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế.
Đọc văn bản "Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em” chúng ta mới cảm thấy ý nghĩa sâu xa của vấn đề nuôi dưỡng, dạy dỗ., chăm sóc trẻ em là một sự nghiệp vô cùng to lớn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và toàn thế giới. Trẻ em là tương lai của Tô quốc" "Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai", những câu khẩu hiệu ấy trở nên thân thiết với mọi người.
Trong điều kiện được xã hội quan tâm săn sóc, mỗi thiếu niên nhi đồng trên mọi miền đất nước ta phải phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi. | Phát biểu cảm nghĩ sau khi đọc bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em | 1,053 | |
Phát biểu cảm nghĩ sau khi đọc truyện Con hổ có nghĩa.
Hướng dẫn
Hổ là loài rất hung dữ và nguy hiểm, nó có thể ăn thịt con người bất kì lúc nào nó muốn. Nhưng trog câu chuyện Con hổ có nghĩa, tác giả đã xây dựng lên một hình ảnh con hổ có tư cách giống như một con người.
Đoạn thứ nhất là câu chuyện giữa hổ và bà đỡ Trần ở huyện Đông Triều. Hổ đực đền ơn mười lạng bạc vì bà đỡ Trần đã cứu vợ con nó. Số bạc ấy đã giúp bà sống qua năm mất mùa đói kém.
Biện pháp nghệ thuật nhân hóa thường thấy trong truyện ngụ ngôn khiến cho hình ảnh hổ đực mang bóng dáng hình ảnh con người. Nó không những biết đền ơn đáp nghĩa với ân nhân mà còn có nhiều biểu hiện đáng quý: hết lòng với hổ cái trong lúc sinh đẻ, vui mừng khi có con, lễ phép, lưu luyến trong phút chia tay ân nhân…Thật không thể tin được một loài vật hung dữ mà dưới ngòi bút miêu tả của tác giả con hổ hiện lên thật đáng trân trọng.
Đoạn thứ hai kể về chuyện đã xảy ra giữa hổ trán trắng và người kiếm củi ở huyện Lạng Giang. Hổ bị hóc xương, không thể nào lấy ra được. Nó đau đớn giãy giụa làm cỏ cây nghiêng ngả. Bác tiều phu đã giúp hổ lấy khúc xương ra khỏi họng. Hổ đền ơn đáp nghĩa bác tiều. Hơn mười năm sau, bác tiều qua đời, hổ đến bên quan tài tỏ lòng thương tiếc. Sau đó, mỗi năm đến ngày giỗ bác, hổ lại đem dê hoặc lợn rừng đến để trước cửa nhà.
Hai con hổ đã làm cho người đọc thấy cảm phục ở tấm lòng của nó, đó chính là lòng biết ơn – điều cốt lõi trong đạo làm người.Khi bà đỡ Trần giúp cho hổ cái được mẹ tròn con vuông, sau những phút mừng rỡ đùa giỡn với con, hổ đực quỳ xuống bên một gốc cây, lấy chân đào lên một cục bạc đưa biếu bà Trần. Hành động đền ơn đáp nghĩa của nó diễn ra ngay tức thì, không một chút đắn đo, suy nghĩ. Mà hổ đền ơn đâu phải ít, những hơn mười lạng bạc. Hổ tuy là một con vật nhưng lại biết cư xử có nghĩa có tình với người đã giúp gia đình nó vượt qua cơn hoạn nạn. Khi tiễn ân nhân về, hổ cúi đầu vẫy đuôi. Đến khi bà đỡ Trần đi khá xa, nó gầm lên một tiếng rồi bỏ đi. Đây là tiếng chào tiễn biệt, là lời cảm ơn chân thành của hổ đực đối với ân nhân.
Cũng đáp đền ân nghĩa nhưng cách trả ơn của hổ trán trắng có khác. Sau khi được cứu sống, nó đã tha một con nai đến đặt trước của nhà bác tiều phu để tạ ơn. Cảm động nhất là mười năm sau, khi bác tiều phu qua đời, nó vẫn nhớ đến bác và về chịu tang ân nhân của mình. Từ xa, mọi người nhìn thấy hổ trán trắng dụi đầu vào quan tài, gầm lên tỏ vẻ xót thương, chạy quanh quan tài vài vòng rồi đi. Từ đó về sau, hằng năm cứ tới ngày giỗ bác tiều là hổ lại đưa dê hoặc lợn đến để ở ngoài cửa…
Hai câu chuyện được tác giả kể lại bằng giọng kể tự nhiên, mộc mạc, không khoa trương, không bình phẩm, nhưng chính điều này lại làm cho ý nghĩa của câu chuyện thêm thú vị và sâu sắc.
Tác giả đã mượn hình ảnh của hai con vật dữ tợn nhất nhưng lại sống rất nghĩa tình. Tác giả đã tinh tế khi chọn nhân vật trong truyện là con hổ. Con hổ hung dữ như vậy nhưng nó vẫn biết đền ơn đối với những người đã giúp đỡ nó vượt qua khó khăn, vậy con người với con người thì đã đối xử với nhau thế nào. Câu chuyện muốn nhắc nhở chúng ta rằng, Làm người thì phải sống có tình, có nghĩa. Tình nghĩa không chỉ cảm hóa được con người mà đối với loài vật chúng ta cũng có thể thu phục được. | Phát biểu cảm nghĩ sau khi đọc truyện Con hổ có nghĩa. | 728 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ truyện Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Hồ Chí Minh.
Bài làm
Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu là một truyện ngắn đặc sắc và độc đáo của Nguyễn Ái Quốc, sáng tác năm 1925 sau sự kiện nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc từ Trung Quốc áp giải về Việt Nam và xử tù chung thân. Trước phong trào đấu tranh sôi sục của nhân dân cả nước đòi thả cụ Phan, chúng đã phải ra lệnh ân xá rồi đem cụ về giam lỏng ở Bến Ngự, kinh đô Huế, cho đến ngày cụ qua đời (1940).
Va-ren vốn là đảng viên Đảng Xã hội Pháp. Sau khi phản bội Đảng, hắn được cử làm Toàn quyền Đông Dương, thay cho Méc-lanh bị chiến sĩ cách mạng Phạm Hồng Thái ám sát hụt phải về nước. Trước ngày chuẩn bị sang Đông Dương nhậm chức, Va-ren tuyên bố sẽ quan tâm tới cụ Phan Bội Châu. Ngay lập tức, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm Những trò lố hay là Va- ren và Phan Bội Châu để phơi bày bộ mặt lố bịch cùng bản chất xấu xa của hắn.
Hình thức tác phẩm giống như một bài kí sự nhưng thực ra nó là một truyện ngắn hư cấu (nghĩa là tưởng tượng trên cơ sở những yếu tố có thật).
Nhân vật có thật là Va-ren toàn quyền Pháp mới tại Đông Dương; Phan Bội Châu – là chí sĩ yêu nước đang bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại Hà Nội, Sự kiện có thật là phong trào đấu tranh sôi sục của nhân dân đòi thả cụ Phan Bội Châu đang dâng cao khắp ba miền.
Những tình tiết hư cấu là truyện được viết trước khi Va-ren sang nhậm chức Toàn quyền Đông Dương và thực tế sau khi sang Đông Dương cũng không có chuyện Va-ren gặp Phan Bội Châu ở nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Nội dung cuộc gặp gỡ giữa Va-ren với Phan Bội Châu cũng là do tác giả tưởng tượng ra. Thông qua hai nhân vật Va-ren và Phan Bội Châu, chúng ta hiểu rõ thái độ căm thù, khinh bỉ quân xâm lược và lòng vêu nước thiết tha của Nguyễn Ái Quốc.
Đặt cụm từ Những trò lố trong nhan đề tác phẩm, tác giả có chủ ý vạch trần hành động giả dối, lố bịch và bản chất xấu xa của tên cáo già Va-ren. Truyện được kể theo trình tự thời gian: Từ Pa-ri, Va-ren xuống tàu sang Việt Nam rồi tới khám giam cụ Phan Bội Châu tại Hỏa Lò. Chuyến đi chia thành bốn chặng. Chặng 1: Bốn tuần lễ đầu, Va-ren ở trên tàu trong hành trình từ Mác-xây đên Sài Gòn. Chặng 2: Va-ren đến Sài Gòn, được chính quyền sở tại đón tiếp “nhiệt tình”. Chặng 3: Va-ren tới Huế, được triều đình nghênh tiếp, được dự yến và gắn mề đay. Chặng 4: Va-ren ra Hà Nội, tiến hành cuộc hội kiến với Phan Bội Châu ở trong tù và những trò lố của hắn đã diễn ra. Phần trích trong sách giáo khoa là chặng 1 và chặng 4.
Qua cách kể chuyện và miêu tả của tác giả, người đọc có thể hình dung ra chuyến đi dềnh dàng kéo dài và những trò lố (những trò nhố nhăng, bịp bợm, đáng cười) của tên Toàn quyền Va-ren.
Trong đoạn văn có hai nhân vật chính là Va-ren và Phan Bội Châu. Hai nhân vật này được xây dựng bằng nghệ thuật tương phản. Va-ren (kẻ thống trị) bất lương đối lập với cụ Phan Bội Châu là một tù nhân (người bị trị) nhưng lại cao cả và vĩ đại.
Ngôn ngữ sử dụng trong việc khắc họa tính cách của từng nhân vật cũng khác nhau. Tác giả dùng ngôn ngữ trần thuật để khắc họa tính cách của Va-ren. Còn với Phan Bội Châu, tác giả dùng phương pháp đối lập là sự im lặng. Đây là bút pháp tinh tế, sắc sảo có khả năng gợi tả, gợi cảm lớn.
Va-ren nhậm chức toàn quyền, đứng đầu bộ máy cai trị của thực dân Pháp tại Đông Dương (gồm ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia). Trò lố đầu tiên của hắn là hứa chăm sóc cụ Phan Bội Châu. Tác giả ngầm khẳng định: Va-ren vừa mới nhậm chức nên muốn trấn an dư luận, Vì thế nên lời hứa của hắn chỉ là lời hứa suông để mị dân, làm dịu không khí đấu tranh chống Pháp đang sôi nổi khắp nơi. Điều đó cho thấy Va-ren là một kẻ nham hiểm, xảo quyệt, lời hứa đó để đối phó trước sức ép của công luận ở Pháp và Đông Dương. Nói khác đi, đó là lời hứa gượng ép, miễn cưỡng.
Cho nên, lời hứa của hắn là trò lố thứ nhất. Tác giả dùng cụm từ nửa chính thức hứa một cách mỉa mai và câu hỏi nghi vấn để thề hiện điều đó. Thực tế, Va-ren vẫn là một tên thực dân đứng đầu guồng máy cai trị ở Đông Dương; còn Phan Bội Châu vẫn là lãnh tụ cách mạng bị cầm tù. Hai người đại diện cho hai phía đối lập nhau.
Ở đoạn mở đầu truyện, tác giả thông báo về việc sang Việt Nam cùng lời hứa của viên Toàn quyền. Cách diễn đạt ngụ ý châm biếm gieo mối ngờ vực trong lòng mọi người về việc Va-ren thực hiện lời hứa ấy. Có thể nói tác giả không tin một chút nào vào “thiện chí” của hắn.
Sau đó là cuộc hội kiến giữa Va-ren và Phan Bội Châu trong nhà tù. Cảnh này được kể và tả bằng ngòi bút linh hoạt và sắc sảo. Trước tiên, tác giả nhận xét khái quát về cuộc diện kiến và tính cách hai nhân vật:
Ôi thật là một tấn bi kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán! Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc này mặt đối mặt với người kia, con người đã hi sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, song xa lìa quê hương luôn luôn bị lũ này săn đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt và giờ đây đang bị chúng, đeo gông lên vai đày đọa trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.
Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xảy ra chuyện gì đây?
Đây là đoạn văn bình luận độc đáo. Nghệ thuật tương phản làm nổi bật sự đối lập giữa tính cách cao thượng của Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ với tính cách đê tiện của Va-ren, kẻ phản bội nhục nhã… Thái độ của tác giả là ca ngợi tinh thần yêu nước, khẳng định chính nghĩa sáng ngời của cụ Phan Bội Châu và khinh bỉ, châm biếm thái độ trơ trẽn cùng bản chất xấu xa của Va-ren.
Trong thời gian tiếp xúc, gần như Va-ren độc thoại, vì cụ Phan Bội Châu không thèm nói chuyện với hắn. Đoạn văn thể hiện rõ động cơ và thủ đoạn của Va-ren trước nhà yêu nước họ Phan. Hắn vuốt ve, dụ dỗ, bịp bợm một cách trắng trợn. Cuối cùng, sự nham hiểm, xảo quyệt của hắn đã bộc lộ hoàn toàn.
Chúng ta hãy theo dõi lời lẽ và hành động của Va-ren. Hắn tuyên bố thả Phan Bội Châu: Tôi đem tự do đến cho ông đây… Tác giả bình luận trò lố thứ hai ấy bằng hình ảnh đặc sắc đầy tính mỉa mai, đả kích: Va-ren tuyên bô vậy, tay phải giơ ra bắt, tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Phan Bội Châu trong nhà tù ảm đạm. Va-ren đồng ý thả cụ Phan với điều kiện cụ phải trung thành với nước Pháp, phải cộng tác, phải hợp lực với người Pháp để củng cố nền thống trị của Pháp ở Đông Dương (?!)
Những mâu thuẫn trong lời nói và hành động đã tố cáo bản chất của Va- ren là kẻ thực dụng đến mức đê tiện, sẵn sàng làm mọi việc, dù là tồi tệ nhất chỉ vì quyền lợi cá nhân. Bên cạnh đó, nó cũng bóc trần sự thật lời hứa chăm sóc cụ Phan Bội Châu của Va-ren là như thế nào. Không phải hắn trả tự do cho cụ Phan mà là cố tình ép buộc cụ từ bỏ lí tưởng cách mạng cao đẹp, từ bỏ dân tộc mình. Hắn đến gặp cụ Phan vì quyền lợi của nước Pháp thực dân, mà trực tiếp là vì danh lợi của hắn. Thật nực cười khi kẻ phản bội lí tưởng đê tiện nhất lại đi khuyên bảo kẻ trung thành với lí tưởng cao cả nhất. Rõ ràng, lời hứa chăm sóc Phan Bội Châu của Va-ren không chỉ là lời hứa suông mà còn là trò bịp bợm nhố nhăng.
Hắn vờ tỏ ý kính trọng tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hi sinh của cụ Phan Bội Châu nhưng lại đòi hỏi cụ phải phản bội, đầu hàng. Hắn mang miếng bánh vẽ đẹp đẽ hào nhoáng về tương lai của xứ Đông Dương thuộc địa để dụ dỗ mua chuộc cụ:
Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hi sinh, nhiều nguy nan của ông và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chăng bao giờ cũng hay nhất?…
Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở châu Á!
Va-ren đã tự lột mặt nạ, tự bóc trần bản chất của hắn – một tên chính khách thực dân xảo quyệt, một kẻ phản bội nhục nhã, một con người vô liêm sỉ đáng khinh. Sự đối trá, lừa bịp giấu trong giọng lưỡi ngọt nhạt, phỉnh phờ. Hắn dùng những lời lẽ ấy để chiêu dụ Phan Đội Châu, nhà ái quốc suốt đời xả thân vì chủ quyền độc lập của đất nước.
Trâng tráo hơn nữa là hắn đòi cụ Phan dừng uy tín to lớn của mình để lôi kéo mọi người theo Pháp: chớ tìm cách xúi giục đồng bào nổi lên, hãy bảo họ hợp tác với người Pháp. Va-ren khuyên Phan Bội Châu từ bỏ lí tưởng: để mặc đấy những ý nghĩ phục thù và bắt tay với hắn: ông và tôi tay nắm chặt tay, chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho xứ Đông Dương này.
Vốn tinh quái, hắn biết “tấm gương” của hắn chưa đủ thuyết phục Phan Bội Châu nên hắn còn ca ngợi các bạn học của hắn – những kẻ cũng phản bội như hắn – và coi đó là những “tấm gương” đáng noi theo: Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Cách chơi chữ thâm thúy của tác giả thể hiện thái độ khinh bỉ, mỉa mai sâu cay đối với những kẻ phản bội lí tưởng cách mạng, quay sang tôn thờ những điều xấu xa gắn liền với đàn áp, khủng bố, giết chóc, tàn hại những người cùng giai cấp và xâm chiếm đất nước của người khác. Va-ren còn biểu dương cả những tên Việt gian đã theo Pháp. Lời lẽ của Va-ren đã thể hiện rõ bản chất phản bội đê hèn của hắn.
Trơ trẽn hơn nữa, hắn đã tự nhận mình là một kẻ phản bội lại lí tưởng cách mạng của Đảng Xã hội Pháp đang đấu tranh cho công bằng, dân chủ và quyền tự do của con người. Hắn chấp nhận trở thành một quan chức thực dân cao cấp, đại diện cho nước Pháp sang thống trị nhân dân ta. Hắn trâng tráo vỗ ngực khoe với cụ Phan Bội Châu: … ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên Xã hội đấy và giờ đây thì tôi làm toàn quyền…!
Ừ thì Phan Bội Châu nhìn Va-ren. Nhưng, lạ chưa! Những lời nói của Va-ren hình như lọt vào tai Phan Bội Châu chẳng khác gì “nước đổ lá khoai” và cái im lặng dửng dưng của Phan Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Va-ren sửng sốt cả người.
Giả sử truyện chấm dứt ở câu: Nhưng cứ xét bình tĩnh, thì đó chỉ là vì Phan Bội Châu không hiểu Va-ren cũng như Va-ren không hiểu Phan Bội Châu thì ý nghĩa của nó vẫn hoàn chỉnh bởi vì hai con người thuộc hai chiến tuyến khác nhau, tôn thờ những lí tưởng khác nhau thì làm sao hiểu được ý nghĩ của nhau và không thể có được tiếng nổi chung. Nhưng tác giả đã nói thêm đoạn kết, trong đó có lời quả quyết của anh lính dõng An Nam và lời suy đoán của tác giả cùng các chi tiết: Sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng… đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi… Phan Bội Châu có mỉm cười… như cánh ruồi lướt qua vậy. Những chi tiết đó khắc họa nổi bật thái độ ngạo nghễ cùng tính cách hiên ngang, bất khuất của Phan Bội Châu trước kẻ thù.
Nếu trong đoạn kết ở trên, sự khinh bỉ của Phan Bội Châu được thể hiện bằng thái độ im lặng, dửng dưng và nụ cười nhếch mép khinh bỉ thì ở phần tái bút, sự khinh bỉ ấy lại bộc lộ qua hành động quyết liệt. Như thế là với kẻ thù không đội trời chung, cụ Phan có nhiều cách tỏ thái độ. im lặng, dửng dưng chưa đủ mà cụ còn nhổ vào mặt Va-ren. Cách dẫn chuyện úp úp mở mở của tác giả thật hóm hỉnh và thứ vị. Nó làm tăng thêm ý nghĩa đả kích thực dân Pháp mà tác giả đặt ra trong tác phẩm.
Truyện ngắn Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu thành công trước tiên là trong nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật. Tác giả chủ yếu dùng nghệ thuật so sánh, đối chiếu để tạo ra sự tương phản cực độ giữa Va- ren và Phan Bội Châu. Điều đó thể hiện rõ nhất ở cuộc “đối đầu” giữa quàn Toàn quyền Đông Dương và Phan Bội Châu – một người tù “đặc biệt” của chính quyền thực dân Pháp. Va-ren càng hùng hồn tới mức trơ trẽn đề cao quan điểm sống của những kẻ phản bội lí tưởng, ruồng bỏ giai cấp mình bao nhiêu thì Phan Bội Châu càng tỏ ra lạnh lùng, dửng dưng bấy nhiêu.
Qua đó tác giả làm nổi bật thái độ bịp bợm, dối trá, bản chất bỉ ổi, đê tiện của kẻ cướp nước và ca ngợi bản lĩnh vững vàng, bất khuất của nhà chí sĩ yêu nước. Đây cũng là sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng, giữa “lí tưởng” của một kẻ cướp nước và với lí tưởng của một người anh hùng yêu nước.
Thành công thứ hai của tác phẩm là cách dẫn chuyện của tác giả. Nội dung câu chuyện do tác giả tưởng tượng ra trên cơ sở các sự kiện và nhân vật có thật nhưng tất cả đã hiện lên thật cụ thể, sống động. Đối với nhân vật Va-ren, tác giả vừa kể vừa xen vào những lời bình ẩn chứa thái độ mỉa mai, giễu cợt và khinh bỉ. Giọng kể mới nghe có vẻ khách quan (kể lại sự việc như nó đang diễn ra), nhưng thực chất lại chứa đầy chủ ý đả kích của tác giả.
Chủ ý ấy thể hiện rõ qua cách lựa chọn chi tiết, hình ảnh, cách bình phẩm… Riêng đối với cụ Phan Bội Châu, lời kể, lời bình của Nguyễn Ái Quốc thật đa dạng, lúc thì mềm mại, trữ tình, lúc thì mạnh mẽ cứng cỏi, đầy khí phách, xứng với tầm vóc vĩ đại của nhà chí sĩ yêu nước – niềm tự hào kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam. | Phát biểu cảm nghĩ truyện Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Hồ Chí Minh | 2,880 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu phát biểu cảm nghĩ về Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi.
Bài làm
Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là ức Trai, con của Nguyễn Phi Khanh, quê gốc xã Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Gia đình đến lập nghiệp ở làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây và Nguyễn Trãi được sinh ra tại đây. Năm 1400, ông đậu thái học sinh và ra làm quan trong triều nhà Hồ. Sau đó tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, với vai trò quân sư bên cạnh chủ tướng Lê Lợi. Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng, nhà quân sự thiên tài, nhà ngoại giao xuất chúng, nhà văn hóa, nhà thơ lỗi lạc. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú, trong đó có Bình Ngô đại cáo, ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quận trung từ mệnh tập…
Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng tác trong thời gian hòa bình, ông cáo quan về sống ở Côn Sơn. Côn Sơn không chỉ là quê hương mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng tâm hồn Nguyễn Trãi.
Côn Sơn ca vừa là bài ca thiên nhiên vừa là bài ca tâm trạng. Hai ý này hòa quyện thông nhất trong cảm xúc của thi nhân. Đoạn trích miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên nhưng vẫn thấm nhuần ý vị trữ tình của tâm trạng.
Trong nguyên văn chữ Hán, Bài ca Côn Sơn được viết theo thể thơ khác nhưng bản dịch đã chuyển thành thể lục bát:
Côn Sơn suối chảy rì rầm,
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.
Trong rừng thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn…
Sự giao hòa tuyệt đối giữa con người với cảnh vật được thể hiện khá rõ trong đoạn thơ, qua đó phản ánh nhân cách thanh cao và tâm hồn phóng khoáng của Nguyễn Trãi.
Trước hết, ta hãy thưởng thức giọng thơ sảng khoái, hứng khởi, bộc lộ qua các câu thơ tự do trong nguyên văn chữ Hán:
Kì thanh linh linh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền,
Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
Vạn lí Thúy đồng đồng.
Ngô ư thị hồ,
Yến tức kỳ trung.
Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ấn hàn lục
Ngô ư ngâm tiếu kì khắc.
Nhịp thơ rộn rã như nhịp đàn, nhịp phách. Chính chất hào sảng trong tâm hồn thi sĩ đã tạo nên chất hào sảng của lời thơ.
Gần trọn cuộc đời lo cho dân, cho nước, nhưng những năm cuối đời, Nguyễn Trãi lại phải sống trong sự đố kị, ghen ghét của đám nịnh thần. Vì vậy, khi trở về Côn Sơn, Nguyễn Trãi như con chim bằng sổ lồng tung cánh, cảm thấy mình thật sự tự do giữa trời cao đất rộng. Lúc này, ông mới được sống thật với chính mình, mới được là mình. Thi sĩ lúc dạo chơi, khi nằm nghỉ, khi chuyện trò tâm sự với những người nông dân áo vải, lúc cao hứng ngâm nga, vui say giữa rừng núi quê nhà. Phong thái nhà thơ thật giản dị, ung dung mà cũng thật cởi mở, chan hòa.
Trong Bài ca Côn Sơn, cảnh vật thiên nhiên hiện lên với dòng suối trong chảy róc rách, rì rầm như tiếng đàn lúc khoan, lúc nhặt. Phiến đá phẳng phủ rêu xanh mướt, mịn như chiếu êm. Thông, tùng mọc như nêm, rừng trúc bạt ngàn màu xanh tươi mát. Qua nét vẽ tài hoa của ngòi bút Nguyễn Trãi, khung cảnh Côn Sơn hiện lên với những đặc điểm riêng biệt, không lẫn với bất cứ bức tranh sơn Thủy nào.
Trong bài thơ, đại từ ta xuất hiện năm lần. Ta ở đây chính là Nguyễn Trãi. Ta nghe tiếng suối mà như nghe tiếng đàn. Ta ngồi trên đá lại tưởng ngồi chiếu êm. Ta nằm hóng mát, ta ngâm thơ nhàn… Giữa khung cảnh mơ mộng, hình ảnh của thi sĩ giống như một nhà hiền triết hoặc một Tiên ông đang đắm mình vào thiên nhiên tuyệt mĩ.
Thiên nhiên Côn Sơn khoáng đạt và thanh tĩnh. Bao trùm lên tất cả là sắc lá xanh ngời. Ở đây có suối chảy rì rầm, có bàn đá rêu phơi, có rừng tùng, rừng trúc che ánh nắng mặt trời, tạo ra khung cảnh tao nhã cho thi nhân ngồi ngâm thơ nhàn một cách thú vị… Hình ảnh cây trúc, cây tùng trong văn chương, tượng trưng cho khí phách cứng cỏi của người quân tử: Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.
Nhà thơ hòa mình vào thiên nhiên hoang sơ đầy quyến rũ. Từ tiếng suối chảy róc rách, những tấm thảm rêu biếc, những tán thông kiêu hãnh, rừng trúc xanh tươi đều toát lên vẻ yên ả, đem lại sự thanh thản, bình yên cho tâm hồn. Bao lo lắng, phiền muộn của cuộc đời dường như được trút sạch, con người và thiên nhiên hòa làm một.
Bức tranh Côn Sơn được Nguyễn Trãi cảm nhận không chỉ bằng thị giác, thính giác mà còn được cảm nhận bằng cả trái tim. Người đọc nhận ra cái “tâm” trong sáng và cái tài độc đáo của thi nhân qua bài thơ này.
Bóng dáng nhà thơ hiện lên mờ ảo, thấp thoáng. Dường như ông hòa lẫn vào suối, vào rêu, vào đá, vào thông, vào trúc. Cái bóng dáng ẩn hiện và tiếng ngâm thơ trầm bổng, ngân nga trong không gian ấy gần như đã thể hiện đúng hoàn cảnh và tâm trạng của Nguyễn Trãi lúc bấy giờ.
Nếu như ở bốn câu đầu, cảnh thiên nhiên Côn Sơn được miêu tả khách quan thì ở các câu thơ sau, tác giả lại kín đáo lồng vào trong đó lời khuyên xuất thế. Khi Nguyễn Trãi cáo quan về quê, mọi người đều tưởng ông bất mãn, chán đời, lui vào ẩn dật để quên mình, quên đời… nhưng không phải vậy. Lê Thánh Tông hiểu lòng ông, mời ông ra làm việc, ông lại hăng hái về triều, gánh vác việc dân, việc nước. Trong biểu tạ ơn vua, Nguyền Trãi đã tự ví: Thần như con ngựa già còn ham rong ruổi…
Hai người cùng chung đề tài chung biện pháp nghệ thuật so sánh nhưng khác nhau ở vị thế lúc làm thơ.
Bài ca Côn Sơn được sáng tác khi Nguyễn Trãi bất đắc dĩ phải sống ẩn dật tại Chí Linh. Còn Cảnh khuya được nhà cách mạng Hồ Chí Minh viết trong lúc giữ cương vị tổng chỉ huy của cuộc kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc. Hai cảnh ngộ, hai tâm trạng khác nhau, tuy đều lấy tiếng suối làm mạch nguồn cảm xúc nhưng sự cảm nhận và liên tưởng của mỗi người lại thể hiện nét riêng mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại!
Hai nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, hai thi nhân tầm vóc thời đại tuy sống cách nhau năm thế kỉ nhưng giống nhau ở cảm hứng mãnh liệt trước thiên nhiên tươi đẹp. Chỉ khác là nghe tiếng suối, Nguyễn Trãi liên tưởng đến tiếng đàn huyền diệu, còn Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nghĩ tới âm hưởng hùng tráng của bài ca chiến thắng trong tương lai.
Đọc những bài thơ của Nguyễn Trãi viết về cảnh vật thôn quê, chúng ta hiểu thêm về tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của ông. Bài ca Côn Sơn khiến lòng ta xao xuyến, bồi hồi và càng thêm gắn bó với từng mảnh vườn, góc phố quê hương. | Phát biểu cảm nghĩ về Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi | 1,317 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao:
Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
– Bài Anh đi anh nhớ quê nhà vốn là thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải, sáng tác vào đầu thế kỉ XX, sau được dân gian hóa mà thành ca dao.
– Nội dung vừa là nỗi nhớ quê hương tha thiết, vừa là lời bày tỏ tình yêu đôi lứa.
2. Thân bài:
* Nội dung bài ca dao:
+ Cách hiểu thứ nhất: Nỗi nhớ quê hương của người đi xa:
– Nhân vật trữ tình (Anh) là người đang sống xa quê, da diết nhớ quê.
– Nỗi nhớ biểu hiện cụ thể qua: Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương, là những món ăn dân dã, quen thuộc hàng ngày của dân quê, gợi hình ảnh những bữa cơm gia đình sum vầy, đầm ấm và ước mong được trở lại quê hương.
– Nhớ người thân yêu: Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Đại từ phiếm chỉ ai, cấu trúc câu lặp bằng điệp từ đứng đầu: Nhớ ai… Nhớ ai mang đậm nét nghệ thuật dân gian của ca dao, đặc tả nỗi nhớ thương mộc mạc mà đằm thắm, sâu xa, gắn liền với cuộc sống lao động vất vả, lam lũ.
– Trong câu 4, ai có thể là người con gái mà chàng trai xa quê (Anh) đem lòng yêu mến. Hình ảnh tát nước bên đường gợi liên tưởng đến ý đó vì hay được nhắc đến trong ca dao (Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?…)
– Tất cả các kỉ niệm thấm đượm ân tình của quê hương kết thành nỗi nhớ mênh mông trong lòng người xa xứ.
+ Cách hiểu thứ hai: Lời bày tỏ tình yêu:
– Nỗi nhớ nhà, nhớ quê được mượn làm cái cớ để dẫn dắt đến việc bày tỏ tình yêu với cô thôn nữ mà chàng trai thầm yêu trộm nhớ bấy lâu nhưng chưa có dịp ngỏ lời.
– Đại từ phiếm chỉ ai trong câu 3 và 4 hàm ý chỉ cô gái ấy.
– Câu 3 và 4 đặt nhân vật (ai) vào hoàn cảnh cụ thể là cuộc sống lao động vất vả (dãi nắng dầm sương) của nông dân ở quê nhà và cảnh tát nước bên đường hôm nao khắc sâu trong tâm tưởng người trai xa quê bời đó là cái mốc khởi đầu cho tình yêu đôi lứa.
– Nỗi nhớ quê hương, nhớ người yếu hòa làm một nên càng da diết, khắc khoải.
3. Kết bài:
– Bài ca dao chỉ có 4 câu với những hình ảnh mộc mạc, dân dã nhưng đã thể hiện sinh động tình cảm gắn bó tha thiết đối với quê hương nên tác động sâu xa tới tâm hồn người đọc.
– Phải thật sự yêu mến quê hương, đất nước thì tác giả mới sáng tác được bài ca dao bình dị và thấm thía như vậy.
Bài Anh đi anh nhớ quê nhà vốn là sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải, một nhà thơ đầu thế kỉ XX ; sau này được dân gian hóa mà thành ca dao. Cả bài chỉ vẻn vẹn bốn câu, lời lẽ giản dị tưởng chừng dễ hiểu. Thế nhưng trong thực tế, đã có ít nhất hai cách hiểu khác nhau rõ rệt và cả hai cách hiểu đó đều có cơ sở và lí do tồn tại.
Cách hiểu thứ nhất nhấn mạnh vào nỗi nhớ què nhà của người đã xa quê và coi chủ đề chính của bài ca dao là tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương. Cách hiểu thứ hai nhấn mạnh vào nỗi nhớ ai của người sắp ra đi và chủ đề chính của bài ca dao là lời bày tỏ tình yêu đôi lứa.
Về cách hiểu thứ nhất, người đi xa bộc lộ tình cảm của mình là dẫu sống nơi đất khách quê người nhưng lòng luôn hướng về quê nhà. Nhớ quê nhà là nhớ những gì quen thuộc trong cuộc sống nghèo khó nhưng đầy ắp nghĩa tình. Theo quy luật tâm lí thì quê hương càng trở nên đáng yêu, đáng nhở hơn khi người ta sống xa quê.
Ta có cảm tưởng như bài ca dao là tiếng hát tâm tình tha thiết đối với quê hương của người lao động:
Anh đi anh nhà quê nhà,
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nào.
Bài ca dao mở đầu bằng đại từ anh, lấy anh làm chủ thể với mục đích tập trung tất cả ý tình vào đó: Anh đang sống xa nhà và anh nhớ quê nhà.
Quê nhà không chỉ là đơn giản là quê và nhà mà nó còn mang ý nghĩa rộng hơn. Trong trái tim của mỗi chúng ta đều mang nặng tình quê ấy. Bởi vậy khi đi xa, nỗi nhớ càng thiết tha, sâu nặng:
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Đây là biểu hiện cụ thể của nỗi nhớ quê nhà. Cà dầm tương ăn với canh rau muống nấu cua đồng là món ăn quen thuộc của nông dân đồng bằng Bắc Bộ. Xa quê, nhớ tới mùi vị của những món ăn dân dã ấy, lòng người xao xuyến biết bao và ước mong được trở về sum họp với gia đình lại càng thêm da diết. Quê nhà với muôn ngàn cái tưởng như tầm thường: cây đa, bến nước, con đò, giậu mùng tơi xanh, luống cải hoa vàng rung rinh trong gió xuân dìu dịu; tiếng sáo diều vi vu ngân nga lúc chiều về; hương lúa chín nồng nàn khi mùa tới… nhưng vẫn khiến người ta thương nhớ đến quặn lòng.
Hai câu thơ trên gợi ra một nỗi nhớ quê nhà thật mộc mạc mà đằm thắm, khó phai. Hai câu thơ tiếp theo là nỗi nhớ con người gắn bó với khung cảnh quê hương:
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao,
Người nông dân ngàn đời nay vẫn gắn liền với cuộc sống dãi nắng dầm sương, vất vả cực nhọc trăm bề. Nắng, sương thật sự thấm đượm những cuộc đời nghèo khó. Ông bà, cha mẹ ta tắm sương gội nắng để kiếm cho ta miếng cơm manh áo, để tạo cho ta thể xác, tâm hồn. Quê hương ấy, con người ấy hỏi làm sao khi xa cách, ta không thương, không nhớ?!
Đại từ phiếm chỉ ai trong câu thứ 3 có thể là kẻ này người nọ nhưng tất nhiên phải có quan hệ thân thiết với người đi xa. Còn ai trong câu thứ 4 thì chỉ có thể là người yêu. Chàng trai xa quê nhớ người yêu trong khung cảnh lao động quen thuộc: tát nước bên đường vào một sớm, một chiều hay một đêm trăng thanh nào đó… Tất cả các kĩ niệm về quê nhà sống dậy, kết thành một nỗi nhớ mênh mông.
Bài Anh đi anh nhớ là bài ca về tình quê hương, xứ sở. Yêu quê hương là tình cảm thiêng liêng của mỗi con người: Quê hương nếu ai không nhớ, Sẽ không lớn nổi thành người (Đỗ Trung Quân). Mỗi người chúng ta đều có một quê hương, nhưng trong thời đại mới, ý nghĩa của hai tiếng quê hương đã được mở rộng hơn nhiều: trên khắp mọi miền đất nước, ở đâu có cuộc sống nghĩa tình, ở đó là quê hương. Dù vậy, bài ca dao trên muôn đời vẫn là cung đàn dịu ngọt cho mọi tấm lòng thiết tha gắn bó với quê hương, xứ sở.
Về cách hiểu thứ hai nếu ta coi đại từ phiếm chỉ ai trong hai câu cuối của bài ca dao là người bạn tình của chàng trai thì nỗi nhớ quê nhà gắn liền với nỗi nhớ người yêu. Cả hai nỗi nhớ, đều chân thực, thiết tha. Đó là nội dung mà bài ca dao muốn bày tỏ và nếu coi bài thơ là lời tâm sự trước lúc đi xa của chàng trai với cô gái thì có một điểm đặc biệt đáng chú ý là chàng trai chưa xa mà đã nhớ. Dường như cô gái cũng thiết tha muốn biết khi xa quê chàng trai sẽ nhớ những gì và nhớ những ai. Bốn câu ca dao với năm từ nhớ liên tiếp cho thấy chàng trai vừa giãi bày được lòng mình vừa đáp ứng nhu cầu của lòng bạn:
Anh đi anh nhớ quê nhà,
Ở câu thứ nhất, tuy nỗi nhớ còn chung chung, chưa cụ thể, nhưng cô gái cũng đã yên tâm và chứa chan hi vọng vì chàng trai xưng anh với cô rất ngọt ngào, thân thiết. Vả lại, khi đi xa, chắc chắn chàng trai sẽ rất nhớ quê nhà, vì ở đó có cô gái mà anh thầm yêu mến.
Đến câu thứ hai: Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương thì chàng trai đã cụ thể hóa nỗi nhớ quê nhà ở câu thứ nhất một cách rất tự nhiên. Canh rau muống, cà dầm tương là những món ăn quen thuộc của người nghèo, mấy ai xa quê mà không thèm, không nhớ? Nhưng nhớ quê nhà không lẽ chỉ nhớ có thê thôi ư? Cô gái dõi theo lời chàng trai rồi hồi hộp lắng nghe và chờ đợi.
Cách nói của chàng trai như vậy là cách nói lấp lửng, vừa nói vừa thăm dò phản ứng của đối tượng, vừa kìm nén cảm xúc chất chứa trong lòng mình. Chỉ đến khi cảm thấy cô gái đã thuận tình, thuận ý, chàng trai mới dám thổ lộ một cách ý nhị và tình tứ:
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Qua đó, chàng trai bày tỏ tình yêu với người bạn gái. Đội trai gái đã để ý đến nhau từ lâu nhưng chưa một lần thổ lộ. Tình yêu của họ mới ở giai đoạn đầu ngượng ngùng khó nói. Giờ đây, khi sắp xa quê, chàng trai mới mạnh dạn gặp cô gái để giãi bày tâm sự. Cách diễn đạt nỗi nhớ từ xa tới gần: Anh đi anh nhớ quê nhà; từ chung đến riêng: Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương; từ phiếm chỉ đến xác định: Nhớ ai dãi nắng dầm sương! Nhớ ai tát nước bèn đường hôm nao. Đến đây thì cả ý lẫn tình đều rõ. Ai kia chính là cô gái siêng năng, thuần hậu, dãi nắng dầm sương, góp phần cùng bao người làm nên ý nghĩa cuộc sông của chốn quê nhà. Nếu anh xa quê, thì người mà anh nhớ nhất sẽ là em – bởi em đã hóa thân thành quê hương yêu dấu.
Tuy cuộc trò chuyện nhằm bày tỏ tình yêu nhưng chàng trai đã tránh không đụng chạm đến một từ yêu, thương nào mà tất cả những cảm xúc yêu thương đều dồn nén vào một từ nhớ. Từ nhớ được nhắc đi nhắc lại đến năm lần, mỗi lần một cung bậc, một nội dung khác nhau và càng về sau càng cụ thể hơn, da diết hơn.
Trong ca dao, nhất là ca dao tỏ tình, việc mượn cái này để nói cái kia, mượn nhớ nói yêu, mượn giận nói thương đã trở thành thông lệ quen thuộc. Mỗi cách hiểu như đã trình bày và phân tích ở trên đều có chỗ hợp lí và cái hay riêng của nó.
Bài ca dao chỉ có 4 câu nhưng nhờ những hình ảnh tưởng chừng bình thường nhưng tiêu biểu, chọn lọc mà nói lên được tình cảm lớn, tác động sâu xa đến tâm hồn người nghe. Phải thực sự yêu quê, phải là người lao động gắn bó sâu sắc với cuộc sống ở làng quê mới sáng tạo ra được một bài ca bình dị mà tuyệt vời như vậy. | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương | 2,028 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này!
I. Dàn ý
1. Mở bài:
– Đây là bài ca dao giới thiệu về cảnh đẹp Hồ Gươm của Hà Nội.
– Người Hà Nội rất tự hào khi nói đến những danh lam thắng cánh trên đất Thăng Long ngàn năm văn hiếu.
2. Thân bài:
* Nội dung và nghệ thuật của bài ca dao:
Kiểu mở đầu thường thấy trong ca đao: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, gợi không khí, hình ảnh khách thập phương nô nức đến thăm.
– Điệp từ xem lặp lại ba lần: xem cảnh Kiếm Hồ, xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn nhấn mạnh ý hồ Hoàn Kiếm có rất nhiều cảnh đẹp tạo nên thắng cảnh này.
– Hình ảnh Đài Nghiên, Tháp Bút xây trước lối vào chùa vừa như nét nhấn của toàn cảnh bức tranh hồ Hoàn Kiếm, vừa thể hiện ý chùa Ngọc Sơn là nơi thờ Văn Xương đế quân, vị thần trông coi về văn chương và thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, vị anh hùng dân tộc.
* Lòng tự hào, kiêu hãnh của người Hà Nội;
– Ẩn chứa trong từng câu, từng chữ, từng hình ảnh của bài ca dao là niềm tự hào về đất Thăng Long thiêng liêng, tự hào về hồ Hoàn Kiếm gắn liền với truyền thuyết đòi gươm thần mà Long Quân cho Lê Lợi mượn để đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi nước nhà, lập nên sự nghiệp hiển hách muôn đời: Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
3. Kết bài
– Thắng cảnh Hồ Gươm đẹp và giàu ý nghĩa lịch sử, văn hóa nên rất hấp dẫn đối với du khách.
– Vẻ đẹp Hà Nội tiêu biểu cho vẻ đẹp văn hiến của đất nước và dân tộc Việt Nam.
II. Bài làm
Đây là bài ca dao nói về cảnh đẹp của Hà Nội. Tục truyền, vua nhà Lý đi tìm đất đóng đô, ngang qua đây thấy có rồng bay vút lên trời, cho là điềm lành, bèn quyết định dừng lại, cho xây dựng kinh thành và đặt tên là Thăng Long.
Lịch sử của Thăng Long Đông Đô – Hà Nội đã ngót ngàn năm. Hàng trăm thế hệ nối tiếp nhau đổ mồ hôi, xương máu để xây dựng mảnh đất này thành gương mặt tiêu biểu cho nước Việt ngàn năm văn hiến. Hà Nội được coi là một vùng đất thiêng, là nơi kết tụ tinh hoa của quốc gia, dân tộc. Thủ đô đã đứng vững qua bao phen khói lửa, bao cuộc chiến tranh đau thương và oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Bởi vậy cho nên người Hà Nội rất đỗi tự hào khi giới thiệu về Hà Nội:
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Hồ Gươm nằm giữa lòng thành phố là một thắng cảnh xinh tươi của Thủ đô. Giữa hồ có đền Ngọc Sơn nép mình dưới bóng râm cổ thụ, có Tháp Rùa xinh xắn xây trên gò cỏ quanh năm xanh mướt.
Lối vào đền là một cây cầu nhỏ cong cong sơn màu đỏ có tên Thê Húc (tức là nơi ánh sáng ban mai đậu lại). Hai bên là Đài Nghiên, Tháp Bút do nhà thơ Nguyễn Siêu xây dựng vào giữa thế kỉ XIX. Đền Ngọc Sơn thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo – vị anh hùng dân tộc nổi tiếng đời nhà Trần và thờ Văn Xương đế quân – một vị thần trông coi về văn học – vì Hà Nội được coi là xứ sở của văn chương thi phú.
Cũng bởi hồ Hoàn Kiếm đẹp và giàu ý nghĩa như vậy nên du khách đến thăm. Hà Nội không thể bỏ qua. Thắng cảnh này tiêu biểu cho truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam cho nên bài ca dao trên vừa là lời giới thiệu, vừa là lời mời mọc chân tình: Du khách muôn phương hãy đến đây để cùng thưởng thức cảnh đẹp, cùng chia sẻ niềm vui, niềm kiêu hãnh với chúng tôi, những người dân Thủ đô khéo léo, cần cù, thanh lịch và hiếu khách! | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Rủ nhau xem cảnh kiếm hồ, Xem cầu thê húc xem chùa Ngọc Sơn | 742 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Đi Cấy
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Đi Cấy
Ca dao dân gian Việt Nam, có bài phản ánh đời sống tinh thần phong phú lạicó những bài trực tiếp bộc lộ cảm nghĩ của người nông dân trước công việc quen thuộc hằng ngày. Đi cấy là một trong những bài ca điển hình cho điều ấy.
“Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng.”
Giản dị, mộc mạc và tự nhiên chính những cái đó lại tạo nên sự rung động sâu sắc trong lòng người đọc, người nghe. Nỗi băn khoăn lo lắng trong công việc của người nông dân quá lớn, như đúc lại thành khối nặng nề đè lên đôi vai gầy của họ, khiến chúng ta không khỏi xót xa, thương cảm.
Nội dung bài ca dao thật đơn giản. Đó là người phụ nữ nông dân đi cấy lúa, chân ngập dưới bùn sâu mà lòng ngổn ngang trăm môi lo toan và thầm mong mưa thuận gió hòa để có được một mùa lúa tốt.
Tục ngữ xưa đã có câu: Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn. Kể từ khi cắm cây mạ xuống ruộng cho đến khi gánh lúa về nhà, người nông dân phải làm bao công việc vất vả, cực nhọc; phải tính toán, trăn trở mọi bề. Nhiều khi lúa chín vàng đồng, chỉ một trận lũ lụt tràn qua là tay trắng lại hoàn tay trắng.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Đi cấy lấy công tức là đi cấy thuê. Cấy ít tiền ít, cấy nhiều tiền nhiều. Xong việc là phủi tay, chẳng ràng buộc trách nhiệm gì với chủ ruộng. Có vất vả cũng chỉ là vất vả tấm thân: Bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, Đổi bát mồ hôi lấy bát cơm… (Tục ngữ).
Còn mình thì đi cấy trên ruộng nhà. Đó là cơ sở để phân biệt giữa người làm thuê với người làm chủ. Vì thế mà sự trông mong, lo lắng nhiều bề cũng xuất phát từ đây. Tôi khác với người ta ở cách tính toán trăn trở, năm liệu bảy lo về công việc với một ý thức trách nhiệm cao và một vốn hiểu biết khá phong phú, toàn diện.
Hai từ trông và bề ở câu thứ 2 thật hàm súc, đa nghĩa và được sử dụng rất chính xác. Từ trông vừa có nghĩa là quan sát, nhìn ngó, nhận xét, phân tích, vừa có nghĩa là lo lắng, mong đợi, hi vọng. Từ bề cũng vậy, vừa chỉ cái hữu hình tồn tại trong không gian (trời, đất, mây), vừa chỉ cái vô hình như nỗi mong đợi, ao ước hoặc chiêm nghiệm bằng tâm tưởng (nỗi lo thiên tai, niềm vui được mùa)…
Ở câu thứ hai: Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề, nghĩa của từ trông gắn liền với nghĩa của từ nhiều bề, gợi lên hình ảnh một phụ nữ nông dân có tầm suy nghĩ, nhìn nhận công việc rất thấu đáo. Hình ảnh ấy sẽ được tiếp tục khắc họa rõ nét ở những câu sau. Đặc biệt là hai câu giữa bài với 7 từ trông gắn liền với 7 đối tượng cụ thể khác nhau (trời, đất, mây, mưa, gió, ngày, đêm) trong bối cảnh rộng lớn của không gian và thời gian:
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Các từ trông trên đây đều có thể hiểu theo hai hoặc ba lớp nghĩa và mỗi từ mang một sắc thái biểu cảm khác nhau.
Nếu như ở câu: Trông trời, trông đất, trông mây, từ trông có nghĩa là quan sát và theo dõi liên tục sự thay đổi của thời tiết với thái độ băn khoăn, lo lắng, thì ở câu: Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đềm, từ trông lại có nghĩa là cầu mong. Mong sao mưa thuận gió hòa cho cây lúa tốt tươi, để người vơi bớt nỗi nhọc nhằn và chứa chan hi vọng. Đến hai câu cuối bài thì từ trông rõ ràng mang ý nghĩa là niềm hi vọng, là ước mong tha thiết:
Trời êm, biển lặng mới yên tấm lòng.
Chân cứng đá mềm là thành ngữ chỉ sức mạnh và ý chí của con người, nhất là những người phải xông pha những công việc gian nan vất vả, thậm chí hiểm nguy. Trông cho chân cứng đá mềm nghĩa,là mong sao cho bản thân có đủ sức khỏe và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có được niềm vui, niềm tin trong cuộc sống.
Trời êm, biển lặng cũng là thành ngữ biểu hiện sự thuận hòa của thiên nhiên (thời tiết, khí hậu); cao hơn nữa là sự yên bình trong cuộc sống (xã hội trật tự, an ninh, không có chiến tranh, trộm cướp)…
Càng hiểu rõ nội dung ý nghĩa của từ trông trong bài ca dao này, ta càng đồng cảm với nỗi lo toan vất vả của người nông dân. Từ đó, càng thêm thương thêm quý những giọt mồ hôi ngày ngày họ đổ xuống đồng để làm ra hạt lúa nuôi đời: Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Bài ca giao vừa giản dị, tự nhiên lại vừa hàm súc và thật sự rất ý nghĩa. | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao Đi Cấy | 938 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài Ca dao, dân ca Những câu hát về tình cảm gia đình
Bài làm
Ca dao – dân ca là “tiếng hát đi từ trái tim lên miệng”, là thơ ca trữ tình dân gian. Ca dao – dân ca Việt Nam là cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân, nhất là những người lao động Việt Nam. Rất tự nhiên, tâm hồn, tình cảm con người bao giờ cũng bắt đầu từ tình cảm, ân nhhĩa đối với những người ruột thịt trong gia đình. Truyền thống văn hoá Việt Nam rất đề cao gia đình và tình nghĩa gia đình. Bài ca tình nghĩa gia đình trong kho tàng ca dao – dân ca Việt Nam vô cùng phong phú. Trong đó, bốn bài ca của văn bản Những câu hát về tình cảm gia đình là tiêu biểu, vừa sâu sắc về nội dung, vừa sinh động, tinh tế về ngôn ngữ nghệ thuật:
Công cha như núi ngất trời…
Chiều chiều ra đứng ngố sau…
Ngó lên nuộc lạt mái nhà…
Anh em nào phải người xa…
Lời của những bài ca dao trên là lời của ai, nói với ai thế? Qua âm điệu, ý nghĩa các từ ngữ và hình ảnh những nhân vật trữ tình của chùm ca dao, chúng ta hiểu rằng: đây là lời ru con của mẹ, nói với con ; là lời người con gái lấy chồng xa quê hướng về quê mẹ, nói với mẹ ; là lời của cháu nói với ông và cuối cùng, ở bài thứ tư thì lời nói nghĩa tình ngân lên một khúc hát nhiều bè, có thể là lời của ông bà, hoặc cô bác nói với cháu, của cha mẹ răn bảo con, hoặc của anh em ruột thịt tâm sự, bảo ban nhau. Những câu hát về tình cảm gia đình trong ca dao – dân ca Việt Nam chúng ta đẹp như một bản hợp ca vừa chân thành, thân mật, ấm cúng, vừa thiêng liêng, trang trọng, xuyên thấm từ đời này sang đời khác.
Trong bốn bài ca dao trên, có lẽ lay động sâu sắc tâm hồn, trí tuệ chúng ta nhất là bài 1 và bài 4.
Công cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài hiển Đông.
Núi cao hiển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
Sáu tiếng mở đầu ngân theo ba nhịp như khúc dạo nhạc nhẹ nhàng, thủ thí của một bài hát ru. Đây là lời ru của mẹ, ru cho đứa con thơ bé ngủ ngon, đồng thời nhắc nhở công lao trời biển của cha mẹ đối với con và bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ. Mẹ sinh ra con, dành tất cả những dòng sữa thơm ngọt nuôi phần xác của con và hằng đêm cất tiếng ru êm dịu rót thêm những dòng sữa âm thanh nuôi lớn phần hồn của con. Là những người con, mỗi chúng ta ai mà chẳng đã từng dược nghe lời ru của mẹ để rồi cùng với sữa mẹ, những bài hát ru ấy đã nuôi lớn chúng ta, hoàn thiện cho ta những bước trưởng thành cả tâm hồn và thể xác. Ở bài hát ru này, người mẹ đã ví công lao sinh thành, nuôi dạy của cha mẹ đối với con cái cao như “núi ngất trời”, rộng như “nước biển Đồng”. Đây là cách nói ví quen thuộc của ca dao Việt Nam dể ca ngợi công ơn cha mẹ đối với con cái. “Công cha”, “nghĩa mẹ” là những ý niệm trừu tượng dược so sánh bời hình ảnh tạo vật cụ thể “núi cao”, “biển rộng”, biểu tượng cho sự vĩnh hằng bất diệt của thiên nhiên. Những hình ảnh ấy được miêu tá bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời: núi rất cao, ngọn núi lẫn trong mây trời ; biển rộng mênh mông: biển rộng không sao đo được). Một hình ảnh vẽ chiều đứng, hài hoà với hình ảnh vẽ chiều ngang dựng một không gian bát ngát, mênh mang, rất gợi cảm. Thêm nữa, hai từ “núi” và “biển” được nhắc lại hai lần (điệp từ) bổ sung thêm nét điệp trùng, nối tiếp của núi, của biển khiến cho chiều cao của núi càng thêm cao, chiều rộng của biển càng thêm rộng… Chỉ những hình ảnh to lớn, cao rộng không cùng và vĩnh hằng ấy mới diễn tả nổi công ơn sinh thành, nuôi dạy con cái của cha mẹ. “Núi ngất trời”, “biển rộng mênh mông” không thể nào đo được, cũng như công ơn cha mẹ đối với con cái không thể nào tính được. Qua nghệ thuật so sánh, dùng từ đặc tả, từ láy và điệp từ, kết hợp giọng thơ lục bát ngọt ngào của điệu hát ru, ba câu đẩu của bài ca dao đã khẳng định và ngợi ca công ơn to lớn của cha mẹ đối với con cái. Đây không phải là lời giáo huấn khó khăn về chữ hiếu mà là những tiếng nói tâm tình truyền cảm, lay động trái tim chúng ta.
Do đó, đến câu cuối “Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”, tuy lời ru chỉ rõ công ơn cha mẹ bằng một thành ngữ “chín chữ cù lao” hơi khó hiểu, nhưng chúng ta vần thấm thía những tình nghĩa cha mẹ đối với con cái. Có thể nói, công ơn cha mẹ đối với con cái không chỉ gói lại ở con số chín (sinh: đẻ, cúc: nâng đỡ, phủ: vuốt ve, súc: cho bú, trưởng: nuôi lớn, dục: dạy dỗ, cố: trông nom, phục: theo dõi, phúc: che chở) mà mở rộng đến vô cùng. Câu thơ tám tiếng chia đều hai nhịp: bốn tiếng đầu “cù lao chín chữ” nhấn mạnh công ơn cha mẹ, bốn tiếng sau “ghi lòng con ơi” nhắc nhở thái độ và hành động của con cái đền đáp công ơn ấy.
Về mật bố cục và mạch lạc văn bản, bài hát ru này khá chặt chẽ. Nhiều bài ca dao khác của dân tộc ta cũng thường bố cục tương tự: miêu tả sự vật, kể sự việc, rồi nhắc nhở, răn dạy ; nội dung hiện thực, hài hoà mang tính giáo huấn ; lay động người nghe bằng tình cảm, sau đó mới nhắc nhở bằng lí trí, ý thức.
Ngoài bài ca dao mà sách giáo khoa giới thiệu, nhiều người Việt Nam còn nhớ một số bài khác có nội dung tương tự như:
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
Hoặc:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…
Cùng với bài hát ru về công cha, nghĩa mẹ, cha ông ta cũng thường hát ru con cháu về tình cảm anh em thân thương ruột thịt. Bài ca dao thứ tư là lời răn dạy về tình cảm ấy và cũng có bố cục gần giống bài thứ nhất.
Phần thứ nhất: Người ru, người hát vừa kể vừa tả quan hộ anh em trong một nhà:
Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Quan hệ anh em khác biệt rõ ràng với quan hệ láng giềng, xã hội. Lời ca dùng phép đối chiếu, dùng hai tiếng “người xa” mớ đầu mang âm diệu bình thản như vô cảm, rồi đối lai bằng một dòng tám tiếng liền mạch “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” nghe vừa như thân mật, tha thiết vừa thiêng liêng, trang trọng. Những hình ảnh “bác” (cha), “mẹ”, “một nhà” kết hợp các từ “cùng” đã nhấn mạnh quan hệ anh em, thân thương, ruột thịt. Lời ca nhẹ nhàng, tự nhiên, ý nghĩa, nội dung sâu sắc mà khơi gợi biết bao tình cảm mặn nồng, tha thiết.
Phần tiếp sau là lời răn bảo cụ thể:
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.
Lời răn bảo dùng cách so sánh khéo léo. Tình anh em, yêu thương, hoà thuận, trên kính dưới nhường như tay gắn bó với chân, sự gắn bó bằng đường gân, mạch máu. Đây cũng là cách dùng một ý niệm trừu tượng “tình thương yêu” đối chiếu, so sánh với hình ảnh cụ thể “tay, chân”, mở ra trong suy nghĩ của người nghe nhiều liên tưởng, tưởng tượng rộng và sâu. Nói khác đi, ông bà, cha mẹ luôn mong muôn con cái trong một nhà thương yêu, giúp dỡ lẫn nhau, gắn bó với nhau như tay với chân trong một cơ thể. Cái cơ thể ấy chính là gia đình. Người tiêu biểu cho gia đình chính là cha mẹ. Tình cảm anh em nằm trong tình thương yêu của cha mẹ. Vì thế, anh em hoà thuận sẽ đem lại niểm vui, hạnh phúc cho cha mẹ “Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy”. Lời ca kết lại, nhưng cảm xúc và ước vọng vẫn tiếp tục mở ra. Những từ ghép “yêu nhau”, “hoà thuận”, “vui vầy” thuộc nhóm từ biểu cảm cứ ngân lên, lan toả mãi trong lòng người… | Phát biểu cảm nghĩ về bài Ca dao, dân ca Những câu hát về tình cảm gia đình | 1,537 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh.
Bài làm
Ca Huế trên sông Hương là bài bút kí của Hà Ánh Minh, nội dung ghi chép lại một trong những nét đẹp của văn hoá truyền thống ở cố đô Huế là ca Huế. Bài văn vừa giới thiệu về nguồn gốc những làn điệu dân ca Huế, vừa tả cảnh nghe ca Huế trong một đêm trăng. Thông qua sự phong phú, đa dạng của các làn điệu dân ca, tác giả ca ngợi vẻ đẹp tinh thần đằm thắm thiết tha của con người xứ Huế.
Mở đầu bài viết, tác giả khẳng định Huế nổi tiếng với các điệu hò. Sau đó giới thiệu những nét đặc sắc của ca Huế được thể hiện qua dàn nhạc cụ, qua ngón đàn tuyệt kĩ của các ca công và giọng hát ngọt ngào của ca nhi.
Xứ Huế nổi tiếng với những cung điện nguy nga cổ kính, những lăng tẩm đồ sộ của các triều vua… Xứ Huế còn nổi tiếng với nhiều sản phẩm văn hóa độc đáo mà ca Huế là một thể loại tiêu biểu.
Qua bài viết, tác giả đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về ca Huế và bày tỏ tình cảm yêu mến, trân trọng dành cho ca Huế:
Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò, hò khi đánh cá trên sông ngòi, biển cả, hò lúc cấy cày, gặt hái, trồng cây, chăn tằm. Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều sược gửi gắm ra một ý tình trọn vẹn. Từ ngữ địa phương được dùng nhuần nhuyễn và phổ biến, nhất là trong các câu hò đối đáp tri thức, ngôn ngữ được thể hiện thật tài ba phong phú.
Cách giới thiệu kết hợp thật tự nhiên giữa nghệ thuật miêu tả và biểu cảm. Những hình ảnh chân thực, những nét chấm phá giàu khả năng gợi tả đã góp phần làm nổi bật bức tranh sinh hoạt văn hóa đặc sắc của con người xứ Huế. Ca Huế là sự giao hòa giữa dòng nhạc cung đình sang trọng, thanh nhã và dòng nhạc dân gian hồn nhiên, duyên dáng. Sự giao hòa đó thể hiện ở nội dung và hình thức, trong cách biểu diễn của ca nhi, nhạc công và trang phục..
Dàn nhạc cụ, cách thức và trang phục khi biểu diễn dân ca Huế được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ: Trong khoang thuyền, dàn nhạc gồm đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị, đàn tam. Ngoài ra còn có đàn bầu, sáo và cặp sanh để gõ nhịp. Các ca công còn rất trẻ, nam mặc áo dài the, quần thụng, đầu đội khăn xếp, nữ mặc áo dài, khăn đóng duyên dáng. Ta có thể thấy nét đặc trưng của ca Huế là trang nhã, tinh tế và đậm đà tính dân tộc.
Cách thưởng thức ca Huế cũng mang những tính chất tương tự. Nơi tổ chức nghe ca Huế là trên chiếc thuyền rồng, khoan thai lướt nhẹ giữa dòng sông Hương trong đêm trăng thanh gió mát. Người hát thì hát rất hay, người thưởng thức thì say mê. Khung cảnh biểu diễn ca Huế vừa sang trọng, vừa dân dã, giữa một thiên nhiên thuần khiết và lòng người trong sạch:
Trăng lên. Gió mơn man dìu dịu. Dòng sông trăng gợn sóng. Con thuyền bồng bềnh: Đêm nằm trên dòng sông Hương thơ mộng để nghe ca Huế, với tâm trạng chờ đợi rộn lòng.
Không gian yên tĩnh bỗng bừng lên những âm thanh của dàn hòa tấu, bởi bốn nhạc khúc lưu thủy, kim tiền, xuân phong, long hổ du dương, trầm bổng, réo rắt mở đầu đêm ca Huế. Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vảy ngón bấm, day, chớp, búng, ngón phi, ngón rãi. Tiêng đàn lúc khoan lúc nhặt làm nên tiết tấu xao động tận đáy hồn người.
Xen vào giữa những câu văn miêu tả là những câu văn thể hiện cảm xúc của tác giả khi nghe các làn điệu dân ca Huế. Những ngón đàn điêu luyện, những giọng ca ngọt ngào, da diết mang đậm chất Huế quả đã làm rung động lồng người.
Dân ca Huế hay và đẹp như vậy bởi vì: Ca Huế hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, nhã nhạc trang trọng uy nghi nên có thần thái của ca nhạc thính phòng, thể hiện theo hai dòng lớn điệu Bắc và điệu Nam, với trên sáu mươi tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc. Đặc điểm nổi bật của ca nhạc dân gian là các làn điệu dân ca, những điệu hò, điệu lí thường phản ánh sinh động các cung bậc tình cảm vui buồn của con người. Còn nhạc cung đình là nhạc dùng trong những buổi lễ tôn nghiêm của vua chúa hoặc nơi tông miếu thiêng liêng nên thường có sắc thái trang trọng, uy nghi.
Đêm đã về khuya. Xa xa bờ bên kia Thiên Mụ hiện ra mờ ảo, ngọn tháp Phước Duyên dát ánh trăng vàng Sóng vỗ ru mạn thuyền rồi gợn vô hồi xa mãi cùng những tiếng đàn réo rắt du dương. Đấy là lúc ca nhi cất lên những điệu Nam nghe buồn man mác, thương cảm, bi ai, vương vấn như nam ai, nam bình, quả phụ, nam xuân, tương tư khúc, hành vân, Cũng có bản mang âm hưởng điệu Bắc pha phách điệu Nam không vui, không buồn như tứ đại cảnh. Thể điệu ca Huế có sôi nổi, tươi vui, có buồn cảm, bâng khuâng, có tiếc thương ai oán… Lời ca thong thảy trang trọng, trong sáng gợi lên tình người, tình đất nước, trai hiền, gái lịch.
Nghe tiếng gà gảy bên làng Thọ Cương, cùng tiếng chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh, mà trong khoang thuyền vẫn đầy ắp lời ca tiếng nhạc.
Không gian như lắng đọng. Thời gian như ngừng lại. Con gái Huế nội tâm thật phong phú và âm thầm, kín đáo, sâu thẳm.
Ca Huế thanh cao, lịch sự, nhã nhặn, sang trọng và duyên dáng. Chính vì thế nên nghe ca Huế trên sông Hương quả là một thú chơi tao nhã. Ca Huế là một hình thức sinh hoạt âm nhạc mang nét đặc trưng của xứ sở này nên nó rất đáng được trân trọng bảo tồn và phát triển. | Phát biểu cảm nghĩ về bài ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh | 1,091 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài “Cổng trường mở ra”.
Bài làm
Có lẽ trong tuổi thơ cắp sách đến trường, ai cũng háo hức mong chờ trước ngày khai giảng. Kỉ niệm về ngày đầu tiên đi học sẽ là ấn tượng khó phai nhất trong quãng đường học sinh. Bạn vui mừng? Hồi hộp? Mong đợi? Nhưng có khi nào bạn từng nghĩ đến cảm nhận của mẹ khi nhìn thấy bạn tung tăng trong ngày tự trường sẽ như thế nào? Lý Lan đã rất thành công khi diễn tả cảm xúc đặc biệt ấy của một người mẹ trong tác phẩm “Cổng trường mở ra”.
Là một bài văn nhẹ nhàng, trữ tình, không có tình huống gay cấn hay cốt truyện nhưng lại đưa độc giả xuyên suốt theo dòng cảm xúc bồi hồi, xao xuyến của người mẹ trước ngày trọng đại của đứa con yêu.
Cùng là đêm ấy, người mẹ đã lo lắng đến không cả ngủ được, tưởng tượng một số tình huống xảy ra và chuẩn bị trước nhiều tâm trạng. Trong khi đó, đứa con đã say giấc nồng, “giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một ly sữa, ăn một cái kẹo”. Quả thực, thời điểm hiện tại đối với cậu còn rất ngây thơ, hồn nhiên, cậu không thể biết được điều gì mình cần lo lắng. Trước buổi tự trường, cậu cũng lo lắng háo hức nhưng chỉ một câu nói của mẹ giống như những lần đi chơi xa: “Ngủ đi, thôi không sáng mai dậy trễ không kịp xe” là cậu đã nhắm mắt, buông mình tựa nghiêng trên gối mềm.
Theo dòng suy nghĩ, người mẹ lại nhớ đến buổi đầu tiên đi học của mình. “Mẹ còn nhớ sự nôn nao, hồi hộp khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi hốt hoảng khi cổng trường đóng lại, bà ngoại đứng bên ngoài cánh cổng như đứng bên ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”. Đoạn văn được miêu tả rất tinh tế, xúc động vì nó gợi lên bao nhiêu kí ức về thời thơ ấu của mỗi người. Ngày mai thôi, người mẹ cũng vậy, lo sợ con sẽ bơ vơ lạc lõng khi lại thấy mẹ đang đứng bên ngoài thế giới của con. Nhưng, mẹ cung tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên còn đường học tậ trước mắt và con đường đời đầy chông gai của chính con sau này. Những ngày trước con còn bé bỏng, mẹ chọn trường học cho con cũng chọn trường gần chỗ mẹ làm, để có thể ngó con từng chút một. Nhưng giờ đây, con của mẹ đã lớn, nên mẹ yên tâm phần nào, “con hướng ngoại, dễ hoà đồng, thích nghi môi trường tốt, năng động và độc lập”…
Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc, Lý Lan đã đưa ta về một thế giới tuổi thơ đầy bồi hồi háo hức với kỉ niệm của ngày đầu tiên đi học. Qua đó cũng thể hiện tình cảm thiêng liêng mà người mẹ dành cho con, lo lắng chăm lo cho con từng chút một, từ những điều nhỏ nhặt nhất. “Đêm nay mẹ không ngủ được. Ngày mai là ngày khai trường lớp Một của con. Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay mà nói: “Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”. | Phát biểu cảm nghĩ về bài Cổng trường mở ra | 606 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
Bài làm
Chúng ta từng biết và cảm thông với tấm lòng của những người phải sống xa quê hương, trĩu nặng tình quê trong thơ Đường của Lí Bạch, Đỗ Phủ, Hạ Tri Chương,… Ở Việt Nam, cách đây không lâu cũng có một nghệ sĩ do hoàn cảnh riêng và yêu cầu công tác cách mạng phải xa rời quê hương miền Bắc vào sống ở miền Nam mấy chục năm trời, nhà văn Vũ Bằng – một nhà văn từng nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tấm lòng của Vũ Bằng đối với quê hương đã được gửi gắm trong tác phẩm tuỳ bút – bút kí đặc sắc Thương nhớ mười hai mà đoạn trích Mùa xuân của tôi là tiêu biểu.
Đoạn trích Mùa xuân cùa tôi là một phần trong thiên tuỳ bút dài có tên Tháng giêng mơ về trăng non, rét ngọt, mở đẩu cho nỗi “thương nhớ mười hai” của nhà văn Vũ Bằng. Đoạn trích đã tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân ở Hà Nội và miền Bắc qua nỗi nhớ thương da diết của một người xa quê. Vì là đoạn trích từ một thiên tuỳ bút nên không có bố cục hoàn chỉnh của một tác phẩm. Tuy vậy, đọc bài văn Mùa xuân của tôi, chúng ta vẫn hiểu và suy ngẫm về ý nghĩ và tình cảm của tác giả theo ba đoạn nhỏ:
Đoạn mờ đầu: từ đầu đến “… mê luyến mùa xuân”: Con người say mê lưu luyến mùa xuân là một điều tất yếu, tự nhiên.
Đoạn thứ hai: từ “Tôi yêu sông xanh…” đến “… mớ hội liên hoan”: Cảnh sắc và không khí mùa xuân ở Hà Nội, miền Bắc.
Đoạn ba: từ “Đẹp quá đi…” đến hết bài: Cảnh sắc, đất trời mùa xuân miền Bắc từ sau rằm tháng giêng.
Phát biểu cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
“Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội…”.Ở phần đầu đoạn hai, nhà văn Vũ Bằng đã nhớ về quê hương bằng một câu văn ngân nga như những tiếng reo vui như thế. Sau đó, qua hồi tưởng của ông, cảnh sắc và không khí ngày tết – mùa xuân Hà Nội – hiện ra đẹp quá, vui quá, đáng yêu, đáng nhớ làm sao. Tín hiệu báo xuân về là: “Mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình…”. Mưa riêu riêu là mưa thế nào? Tiếng hát huê tình là gì? Mưa riêu riêu là mưa phùn, hạt nhỏ, kéo dài, mưa xuân âm ẩm, mát lành. Tiếng hát huê tình là tiếng hát tỏ tình, tiếng hát của trai gái yêu nhau… Trước cảnh sắc mùa xuân như thế, nhà văn Vũ Bằng – người đang sống li hương – đã nhớ kỉ niệm xưa của mình và sống lại, kể lại bằng những câu văn trữ tình đàm thắm. Nào là “Người yêu cảnh… khoác một cái áo lông, ngậm một ống điếu mở cửa đi ra ngoài… không cần uống rượu mạnh cũng như lòng mình say sưa… sự sống!”. Nào là “Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ớ trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai…”. Nào là “Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn… Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống lại” và thèm khát yêu thương. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa…”. Có thể nói, đối với mùa xuân quê hương, nhà văn Vũ Bằng mang một tình yêu nồng nàn, đằm thắm. Ông đã tự vẽ lại hình ảnh của chính mình khi còn sống ở Hà Nội với biết bao lời văn, bao cách so sánh đẹp đẽ. Ngỡ như, trước mùa xuân, ông đã hoá thân thành muôn loài cỏ cây, muông thú để được tắm trong mùa xuân, hưởng thụ tất cả sức sống tràn trề của mùa xuân để lớn lên, trẻ lại cùng mùa xuân. Đoạn văn xuôi tuỳ bút, ngẫu hứng y như đoạn thơ trữ tình mà ở đó, cái tôi nhà văn trở thành một thi sĩ đa tình, say đắm, đáng cảm thông. Đọng lại của cảnh sắc mùa xuân Hà Nội và nỗi nhớ quê hương của Vũ Bàng là hình ảnh gia đình người Hà Nội bày cỗ đón xuân, bái vọng tổ tiên trở vể vui xuân cùng con cháu: “Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ Thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho lòng anh ấm lạ ấm lùng…”. Cảnh sắc mùa xuân không chỉ hiện lên bằng vẻ đẹp thiên nhiên mà còn hiện lên bằng nhũng nét đẹp trong cuộc sống nghĩa tình của con người. Đó là nét văn hoá truyền thống của thủ đô Hà Nội, của đất Bắc, của Việt Nam quê hương chúng ta.
Cảm nhận và ngợi ca quê hương miền Bắc mùa xuân bằng đoạn vãn phóng túng vừa miêu tả vừa tự sự, miêu tả để biểu cảm, ngòi bút Vũ Bằng như không muốn dừng lại. Do đó, xuống đoạn ba, ông tiếp tục khẳng định: “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thươne mến”. Sau đó, cảm xúc và bút lực như lắng lại, trầm tĩnh hơn. Nhà văn tâm sự: “Tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng…”. Đến đây, nhà văn phát hiện một vẻ đẹp khác nữa của mùa xuân đất Bắc. Đó là vẻ đẹp của sự hồi sinh, của đất trời, cây cỏ trổ lộc, đơm hoa, kết trái. “Đào hơi phai, nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh, nhưng… lại nức một mùi hương man mác… mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn… Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa… người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị… các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật…”. Những hình ảnh thiên nhiên từ sau ngày rằm tháng giêng không sôi động, rực rỡ bằng những ngày Tết mà như đang bình tĩnh trở lại, đang tích tụ, chưng cất sức sống của mùa xuân để nối tiếp cuộc tuần hoàn kì diệu trong đời sống con người và đất trời, cây cỏ. Ở đoạn này, cái tôi nhà văn không trực tiếp hiện ra như ở đoạn trên mà đang nằm dài nhìn ra cửa sổ… để chiêm ngưỡng, để nhớ thương, và khao khát ngày mai trở lại quê hương, về gặp lại mùa xuân đất Bắc. Từ tình yêu mùa xuân thiên nhiên, tấm lòng thương nhớ quê hương, lòng yêu Tổ quốc của nhà văn Vũ Bằng mỗi lúc một đắm sâu, thấm thìa. Từ ngữ, câu văn, các biện pháp tu từ mỏi lúc một chắt lọc, vừa chính xác vừa in đậm phong cách văn chương của tác giả, rất tài hoa, phóng túng. | Phát biểu cảm nghĩ về bài Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng | 1,276 | |
Đề bài: Anh chị hãy phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương.
Bài làm
Sài Gòn tôi yêu là tùy bút đậm chất thơ được tác giả Minh Hương viết vào cuối tháng 12 – 1990 và in trong tập Nhớ… Sài Gòn (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1994). Nội dung bài văn thể hiện tình cảm yêu mến chân thành, nồng nhiệt và sự gắn bó sâu đậm của tác giả đối với vùng đất trù phú này cùng với những chủ nhân của nó.
Mặc dù là tùy bút nhưng câu trúc bài văn có thể chia làm ba đoạn.
Đoạn 1 nêu những ấn tượng chung và tình yêu của tác giả đối với Sài Gòn. Đoạn 2 là những nhận xét về đặc điểm thiên nhiên và phong cách riêng của người Sài Gòn. Đoạn 3 khẳng định tình yêu tha thiết của tác giả đối với thành phố mang tên Bác.
Những người đã từng sống ở Sài Gòn dù ít hay nhiều đều có chung tâm trạng đi thì nhớ ở thì thương và những ai chưa từng đến thì luôn khao khát được ngắm nhìn tận mắt thành phố được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, trung tâm công nghiệp, kinh tế lớn nhất của Việt Nam trong thời ki đổi mới.
Với độ tuổi ba trăm năm, Sài Gòn là một thành phố trẻ. Nơi đây hội đủ ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người Sài Gòn rất yêu mảnh đất của mình, nhưng tình yêu của tác giả mới nồng nàn say đắm làm sao.
Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây to đương độ nõn nà trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu chăm bón trân trọng giữ cái đô thị ngọc ngà này.
Cách so sánh trong hai câu mở đầu hơi lạ: Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. So sánh độ tuổi của một vùng đất với độ tuổi của một con người mới nghe qua tưởng chừng khập khiễng nhưng nó lại gợi cho người đọc sự liên tưởng cụ thể và sinh động. Vùng đất Sài Gòn là kết quả công cuộc khai phá, mở mang bờ cõi của ông cha. Tuổi của Sài Gòn là ba trăm năm so với bốn ngàn năm tuổi của đất nước thì quả là thành phố này rất trẻ. Sức sống tràn đầy của một đô thị trẻ, đẹp được nhà vàn so sánh với hình ảnh của một cây tơ đương độ nõn nà phơi phới sức xuân.
Với đôi mắt trìu mến, nhà văn nhìn đâu cũng thấy yêu thương: Tôi yêu trong nắng sớm một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chửng với trời đang ui ui buồn bã bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh… Điệp từ Tôi yêu đặt ở đầu mỗi câu thể hiện tình cảm chân thành, da diết của nhà văn trước sự đa dạng của thiên nhiên, khí hậu Sài Gòn. Sài Gòn có hai mùa nắng mưa rõ rệt. Bầu trời mùa nào cũng xanh ngăn ngắt, đầy nắng, đầy gió. Tác giả yêu thích những nét rất riêng của mưa nắng Sài Gòn. Sài Gòn không có mưa phùn, mưa ngâu hay mưa dầm kéo dài hết ngày này sang ngày khác như ở miền Bắc. Mưa Sài Gòn thường vào buổi chiều. Có khi đang đi trên đường Đồng Khởi quận Một, cơn mưa ập tới bất ngờ không tránh kịp nhưng về đến đường Bàn Cờ quận Ba thì trời lại trong veo. Vào mùa này, hễ ra khỏi nhà là người Sài Gòn nhắc nhau phải mang áo mưa phòng thân. Sự thay đổi nhanh chóng, đột ngột của thời tiết được tác giả miêu tả bằng hình ảnh thật chính xác và gợi cảm: trời đang ui ui buồn bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh.
Trong phần đầu bài tùy bút, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng nhiệt, thiết tha của mình đối với Sài Gòn. Vẻ đẹp của Sài Gòn được nhân lên gấp bội trước con mắt chan chứa yêu thương. Tác giả không chỉ yêu màu nắng ngọt ngào mà còn yêu cả những điều tưởng chừng không mấy dễ chịu như sự trái chứng của thời tiết thoắt nắng, thoắt mưa. Cả sự náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm cũng trở thành những cái đáng yêu, đáng nhớ. Tự biết lòng mình yêu Sài Gòn đến mức thiên vị nên tác giả đã biện minh bằng câu ca dao nói về quy luật tâm lí thông thường của con người: Yêu nhau yêu cả đường đi…
Một chi tiết nhỏ đáng lưu ý là bài kí này được viết từ năm 1990 mà thời điểm hiện tại chúng ta đang sống đã là năm 2014, tất nhiên bộ mặt Sài Gòn đã có nhiều thay đổi.
Đô thị được mở rộng ra nhiều hướng với những con đường trải nhựa phẳng lì thẳng tắp, hai bên san sát nhà cao tầng, cửa kính cửa chớp sáng choang. Những chiếc cầu bê tông sừng sững nối đôi bờ sông, giúp cho tàu xe thuận tiện ngược xuôi trăm nẻo. Sài Gòn đã mang dáng dấp của một thành phố công nghiệp hiện đại thời mở cửa, có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với khu vực châu Á và toàn thế giới.
Sài Gòn không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở con người. Con người đã làm cho cảnh sắc Sài Gòn rực rỡ hơn, lung linh hơn. Ở phần đầu bài viết, tác giả miêu tả thiên nhiên Sài Gòn, đến phần sau, tác giả giới thiệu tính cách của người Sài Gòn.
Thành phố Sài Gòn rộng mở và hào phóng là nơi rất thuận lợi cho người tứ xứ đến đây sinh sống. Ngày nay đã leo lên hơn năm triệu. (Đây là con số của những năm 90, còn đến nay, số dân của thành phố đã lên tới gần tám triệu người).
Phong cách nổi bật của người Sài Gòn cũng được tác giả nhận xét chân thực và đầy thiện cảm: Cách ngày nay gần năm mươi năm, vào đây được gần gũi với người Sài Gòn, tôi đã thấy phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng. Họ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi. Phần đông ít dàn dựng, tính toán. Người Sài Gòn cũng như phần lớn người Lục tỉnh rất chân thành, bộc trực…
Con gái Sài Gòn có vẻ đẹp rất tự nhiên, dễ thương. Đây là hình ảnh các cô gái Sài Gòn hồi thế kỉ XX: … tóc buông thõng trên vai, trên lưng, có khi tết bím… Đội nón vải trắng, vành rộng, như nón Hướng đạo. Áo bà ba trắng, đính một túi nhỏ xíu duy nhất bên thân mặt áo. Quần đen rộng. Mang giày bố trắng (giày vải, giày ba-ta) hay xăng đan da. Có người đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da, dạng chiếc xuồng hay hình hộp cá mòi. Dáng đi khỏe khoắn, mạnh dạn. Cái đẹp thật đơn sơ, đôn hậu. Cũng yểu điệu, thướt tha, nhưng theo cung cách Bến Nghé. Cũng e thẹn, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây. Trong khi giao tiếp, các cô thể hiện nét đẹp kín đáo của người Á Đông: Bây giờ, khi chào người lớn, các cô ấy (trước 1945) cúi đầu, chắp hai bàn tay lại và xá. Gặp trang lứa bạn bè thì hơi cúi đầu và cười. Cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mủm mỉm, cười he hé, chỉ để lộ vài cái răng hay lộ cả hàm tùy theo mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh.
Vẻ đẹp của các cô gái được nói tới trên đây vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa mang bản sắc riêng của người Sài Gòn. Ngày nay, những cô gái Sài Gòn đẹp như một vườn hoa muôn màu sắc và ngát hương thơm.
Nét đẹp của người Sài Gòn còn thể hiện ở tinh thần kiên cường, anh dũng, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc: Tuy nhiên, đến những hồi nghiêm trọng và sôi sục nhất của đất nước thì các cô gái ấy cũng như các chàng trai và các giói đồng bào của Sài Gòn bất khuất, không chút do dự, dấn thân vào khó khăn, nguy hiểm và có khi hi sinh cả tánh mạng, xuyên suốt ba chục năm từ 1945 đến 1975…
Một thoáng ngậm ngùi, bất bình khi nhà văn nghĩ đến những kẻ vô tình hay cố ý tàn phá thiên nhiên: Sài Gòn ngày nay cũng rất ít chim. Đến mùa, một ít nhạn, én bay về trú đông, dưới các mái nhà cao tầng, mái đình, mái chùa. Thỉnh thoảng mới thấy vài chị quạ, chị sáo, vài chị vành khuyên sắc ô, áo già… Nhiều nhứt là họ hàng se sẻ mà bây giờ cũng thấy thưa thớt dần. Trước kia, rất nhiều, cả cò, cả vạc xổng lồng trong Sở thú bay ra làm tổ trên mấy ngọn cây dầu, cây sao cao ngất với các chị cu gáy, chị quạ, chị sáo… Những nòng súng hơi ác độc của những người vô trách nhiệm với môi trường sống và chẳng thèm đếm xỉa đến pháp luật đương bảo vệ thiên nhiên, đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố. Đây là đoạn văn hồi ức thể hiện tình cảm nhớ nhung và luyến tiếc của tác giả về một thiên nhiên an lành, phong phú của Sài Gòn trong quá khứ chưa xa.
Kết thúc bài tùy bút, tác giả khẳng định tình yêu sâu đậm của mình đôi với Sài Gòn và khơi dậy trong lòng mọi người tình yêu ấy: Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây. Một mối tình dai dẳng, bền chặt. Thương mến bao nhiêu cũng không uổng công, hoài của. Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi.
Sau 17 năm bài tùy bút này ra đời, Sài Gòn có nhiều thay đổi lớn lao. Thành phố Sài Gòn rộng lớn hơn, cao vút lên, đẹp như một bức tranh lộng lẫy. Dù sao, qua bài tùy bút này, tác giả Minh Hương đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó phai về Sài Gòn – mảnh đất thân thương của đất nước Việt Nam yêu dấu, xứng đáng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. | Phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương | 1,868 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam (Ngữ văn 7)
Bài làm
Lịch sử dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với cuộc chiến đấu chống quân thù xâm lược giữ vững bỡ cõi và nền độc lập dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tống Lý Thường Kiệt đã viết bài thơ thần Nam quốc sơn hà. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Bài thơ khẳng định chủ quyền của đất nước đồng thời quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược.
Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077. Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương.
Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột. Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam):
Vằng vặc sách trời chìa xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây!
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được. Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận.
Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt.
Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Người xưa quan niệm rằng các vùng đất đai dưới mặt đất ứng với các vùng sao trên trời. Nước nào có vua nước đó. Điều đó là do trời định nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Câu thơ nhuốm màu sắc thần linh khiến cho chân lí nêu ở câu trên càng tăng thêm giá trị.
Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng. Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập.Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời.
Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta.Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút. Câu thơ nguyên văn bằng chữ Hán: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư có nghĩa là: Rồi xem, chúng bay sẽ tự chuốc lấy phần thất bại thảm hại. Thất bại ghê gớm của giặc là điều không thể tránh khỏi bởi chúng là kẻ dám xâm phạm tới điều thiêng liêng nhất của đạo trời và lòng người. Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời. | Phát biểu cảm nghĩ về bài Sông núi nước Nam | 1,438 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên Trường vãn vọng) của Trần Nhân Tông.
Bài làm
Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên thật là Trần Khâm, con đầu của vua Trần Thánh Tông. Sau khi lên ngôi, ông tỏ ra là một vị vua nổi tiếng khoan hòa, nhân ái và yêu nước. Ông đã cùng vua cha lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông thắng lợi vẻ vang (1285, 1288). Vốn theo đạo Phật và là người sáng lập dòng thiền Trúc Lâm theo hướng Việt Nam hóa đạo Phật, cuối đời, vào năm 1298, ông đi tu và trụ trì ở chùa Yên Tử (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Vua Trần Nhân Tông còn là một nhà văn hóa, một nhà thơ tiêu biểu của đời Trần.
Bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ta được ông sáng tác trong một dịp về thăm quê. Các vua đời Trần cho xây ở quê một hành cung gọi là cung Thiên Trường để thỉnh thoảng về nghỉ ngơi. Mỗi dịp về đó, các vua thường có thơ lưu lại, nay còn giữ được vài bài, trong đó có bài này. Ngày tháng sáng tác không thấy ghi cụ thể nhưng chắc chắn bài thơ ra đời sau chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ ba không lâu, vào giai đoạn cuộc sống yên lành của nhân dân đang được khôi phục lại (nghĩa là vào khoảng những năm 90 của thế kỉ XIII).
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Dịch nghĩa: Buổi chiều ở phủ Thiên Trường trông ra
Sau thôn trước thôn đều mờ mờ như khói phủ,
Cảnh vật bóng chiều chập chờn nửa như có nửa như không.
Mục đồng lùa trâu về nhà tiếng sáo véo von
Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.
Dịch thơ:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
(Ngô Tất Tố dịch)
Bài thơ tả cảnh buổi chiều ở phủ Thiên Trường. Đây là khung cảnh một vùng quê tĩnh lặng như muôn vàn cảnh quê khác lúc chiều buông. Chỉ đếm được vài đường nét: mấy mái nhà tranh thấp thoáng trong làn sương mờ mờ như khói; dăm trẻ mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu thổi sáo, dẫn trâu về chuồng; vài đôi cò trắng chao nghiêng cánh chấp chới liệng xuống đồng…
Hai câu thơ đầu:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên.
(Trước xóm, sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không).
Đây là cảnh hoàng hôn, sự vật trước xóm, sau thôn chìm dần vào màn sương đang từ từ buông xuống, hòa lẫn với những làn khói tỏa ra từ mái bếp. Trong bóng chiều man mác, mọi vật thấp thoáng ẩn hiện, dường như có, dường như không. Bức tranh quê với những sắc màu quen thuộc của ánh tà dương vàng còn rớt lại trên ngọn tre, của sương tím, cò trắng, lúa xanh… chỗ đậm, chỗ nhạt cùng tiếng sáo véo von gợi cảm giác về một cuộc sống thanh bình đã trở lại sau bao năm binh lửa.
Hai câu thơ cuối:
Mục đồng địch lí ngưu quy tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
(Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng).
Nhà thơ đã lựa chọn được hai hình ảnh tiêu biểu cho cảnh đồng quê lúc chiều về: trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trầu về chuồng và cò trắng từng đôi sà xuống cánh đồng đã vắng bóng người.
Lời thơ không đơn thuần là kể và tả mà nó còn biểu hiện một xúc cảm kì lạ và một niềm vui đang xốn xang, rạo rực trong lòng nhà thơ. Ngắm đàn trâu no căng đang chậm rãi nối đuôi nhau về làng, trên lưng vắt vẻo mấy chú mục đồng ung dung thổi sáo; phóng tầm mắt ra xa (vọng), thấy trên thảm lúa xanh, dăm ba cánh cò trắng muốt đang chao liệng, thử hỏi lòng nào không xao xuyến, bâng khuâng, không dạt dào yêu mến?!
Cảnh tượng buổi chiều ở nông thôn được tác giả phác họa rất đơn sơ nhưng vẫn đậm đà sắc quê, hồn quê. Điều đó chứng tỏ tác giả là vị vua xuất thân từ nông dân, đã cùng lăn lộn, cùng vào sinh ra tử với dân để đánh đuổi ngoại xâm, giành lại cho đất nước cảnh sống thanh bình. Dù có địa vị tối cao nhưng tâm hồn nhà vua – thi sĩ vẫn gắn bó máu thịt với quê hương và dân chúng. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra của Trần Nhân Tông | 808 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn nêu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Bài làm
Nhà thơ Xuân Diệu rất mê Hồ Xuân Hương. Ông đã dành nhiều thời gian để thưởng thức, nghiên cứu thơ Xuân Hương và rất tâm đắc với cái biệt danh mà ông đặt cho nhà thơ này: Bà chúa thơ Nôm.
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nổi tiếng của nước ta vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cùng thời với đại thi hào Nguyễn Du. Chế độ phong kiến ở giai đoạn suy tàn đã bộc lộ mặt trái đầy xấu xa, tiêu cực. Là người giàu tâm huyết với con người và cuộc đời, Hồ Xuân Hương đã gửi gắm vào thơ những điều suy tư trăn trở trước hiện thực phức tạp của xã hội, trước số phận bất hạnh của con người, nhất là phụ nữ. Bài thơ Bánh trôi nước phản ánh thân phận đau khổ, phụ thuộc của người phụ nữ và ngợi ca phẩm chất cao quý của họ.
Bánh trôi là thứ bánh quen thuộc, dân dã của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Gạo nếp xay thành bột nhuyễn, lọc cho mịn, để thật ráo rồi bẻ thành từng miếng nhỏ, nặn cho tròn, nhân làm bằng đường thẻ có màu nâu đỏ. Cho bánh vào nồi nước sôi, luộc chín, vớt ra nhúng sơ vào nước lạnh rồi xếp vào đĩa. Lúc nguội, bánh ăn dẻo và thơm ngọt. Người xưa cho rằng đây là thứ bánh tinh khiết, có thể dùng để cúng. (Mùng 3 tháng 3 Âm lịch có tục cúng trời đất, tổ tiên bằng bánh trôi, bánh chay và hoa quả).
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Chiếc bánh trôi vừa trắng, vừa tròn, thật đẹp đẽ, đáng yêu nhưng đằng sau những chi tiết rất thực ấy lại là điều Hồ Xuân Hương muốn nói người phụ nữ và thân phận họ. Xưa nay, phụ nữ được gọi là phái đẹp, là tinh hoa của tạo hóa. Bởi vậy, nhìn chiếc bánh trôi nước xinh xắn, ta dễ liên tưởng đến vẻ đẹp trong trắng của người con gái đang xuân.
Cũng giống như chiếc bánh trôi bao lần chìm nổi, người phụ nữ xưa phải chịu số phận bảy nổi ba chìm trong xã hội trọng nam khinh nữ đầy bất công. Lễ giáo phong kiến đã tước đoạt quyền tự do, buộc họ phải sống lệ thuộc vào người khác. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Đã vậy, những thế lực đen tối luôn đẩy họ vào nghịch cảnh đau thương. Người phụ nữ trong thơ Xuân Hương cũng cùng chịu chung số phận với người phụ nữ trong thơ Nguyễn Du: Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!
Không được làm chủ số phận của mình, người phụ nữ nào có khác chi chiếc bánh trôi ngon hay dở là do tay kẻ làm ra nó: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Bài thơ tứ tuyệt chỉ có 4 câu, 28 chữ mà hàm chứa bao ý nghĩa. Nữ sĩ Xuân Hương với cái nhìn nhân văn, với quan điểm tiến bộ và thái độ dũng cảm hiếm có đã phác họa thành công chân dung đẹp đẽ về người phụ nữ Việt Nam. Tư tưởng tiến bộ của Xuân Hương đã được thể hiện qua nghệ thuật thơ sắc sảo, điêu luyện. Điều đó khiến thơ của bà sống mãi trong lòng người đọc
Loading… | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương | 615 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ bánh trôi nước
Bài làm
Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Xuân Hương được đặt cho cái tên là: Bà chúa thơ nôm, mà biệt danh này xuất phát từ chính tài năng thơ ca của nàng. Hồ Xuân Hương là nữ thi sĩ cùng thời với đại thi hào Nguyễn Du, khi mà chế độ phong kiến đầy xấu xa và có thái độ tiêu cực với hình ảnh người phụ nữ. Với tính cách mạnh mẽ của mình, Hồ Xuân Hương đã gửi gắm những tâm tư, và quan điểm của mình về những chăn trở số phận của phụ nữ trong những vần thơ của mình. Trước sự cảm thông cho số phận bất hạnh của phụ nữ thời phong kiến nàng đã cho ra bài thơ: Bánh trôi nước để than thân, trách phận người phụ nữ đồng thời ca ngợi, tôn vinh họ.
Bánh trôi nước là một loại bánh mà người xưa coi rằng rất tinh khiết có thể dùng để cũng tổ tiên. Bài thơ sử dụng loại thơ vịnh vật để nói về số phận con người, nhờ đó hình ảnh người con gái thời phong kiến được hiện lên rõ ràng ý nghĩa: Vừa trắng, vừa tròn, bảy nổi ba chìm. Chiếc bánh trôi đẹp đẽ như người phụ nữ xưa, là tinh hoa mà tạo hóa ban tặng mặc dù qua bao lần gian khổ, chìm nổi với dòng đời chịu nhiều khinh khi của xã hội phong kiến và phải sống lệ thuộc vào người khác nhưng vẫn luôn giữ cho mình một cái tâm trong sáng, tấm lòng son sắt không bị tha hóa. Đó chính là giá trị cốt lõi, giá trị vô giá của người phụ nữ thời xưa mà mọi người có thể nhận thấy: dù có bị các thế lực xấu xa đẩy vào nghịch cảnh nhưng họ vẫn luôn sáng trong với tâm hồn đẹp đẽ của mình.
Hình ảnh người phụ nữ tuyệt vời đó không chỉ được áp dụng cho thời xưa mà ngày nay vẫn vậy. Qua bài thơ đặc sắc: Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương chúng ta có thể tự hào hơn và cảm thông cho số phận người phụ nữ xưa và nay và từ đó ta ngày càng biết trân trọng hơn một nửa của thế giới. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ bánh trôi nước | 395 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến.
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
– Thơ Nguyễn Khuyến phản ánh tâm trạng đau buồn của ông trước thời cuộc rối ren, suy tàn.
– Một số bài ông viết về tình làng xóm, tình bạn bè tri âm tri kỉ. Đó là những bài thơ rất cảm động. Bạn đến chơi nhà là một ví dụ tiêu biểu.
– Bài thơ ra đời trong thời gian Nguyễn Khuyến đã cáo quan về sống ẩn dật tại quê nhà, nội dung thể hiện tình bạn già khăng khít, keo sơn giữa hai vị quan thanh liêm đều đã rời xa vòng danh lợi. Tình cảm chân thành ấy đã vượt qua mọi nghi lễ tầm thường của cuộc sống.
2. Thân bài
* Tình bạn già tri âm, tri kỉ:
+ Câu để (câu 1): Đã bấy lâu nay bác đến nhà
– Sự phá cách của tác giả ở chỗ: trong thể thơ bát cú Đường luật thì phần đề thường có 2 câu (phá đề, thừa đề) nhưng ở bài thơ này chỉ có một câu.
– Câu thơ như một lời chào hỏi mừng rỡ, thân tình của chủ nhân trước việc đến thăm của một người bạn già xa cách đã lâu ngày,
– Cách gọi bác vừa dân dã, vừa kính trọng, thể hiện sự gắn bó lâu dài, mật thiết giữa hai người.
+ 3 câu thực (2, 3, 4): Lời phân trần, thanh minh của chủ nhân về sự tiếp đón thiếu chu đáo của mình:
– Tác giả dùng tới 3 câu, trong khi thơ Đường luật phần này chỉ có 2 câu.
– Ngôn ngữ thơ như lời nói tự nhiên, mộc mạc của một ông lão nhà quê: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa (lí do thứ nhất), Ao sâu nước cả khôn chài cá (lí do thứ hai), Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà (lí do thứ ba.)
+ 2 câu luận: Tiếp tục phân trần thêm hai lí do: Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Tính chất hài hước nằm ở ý: nhà có đủ cả, chẳng thiếu thứ gì (cá, gà, cải, cà, bầu, mướp…), chỉ tiếc là đều đang độ dở dang, chưa dùng được, nên đành tạ lỗi với khách. Nói có nhưng thực chất là không, vì cuộc sống của nhà thơ ở chốn quê nghèo rất thiếu thốn.
+ 2 câu kết: Sự thiếu thốn được đẩy lên cực điểm: Đầu trò tiếp khách, trầu không có (bắt nguồn từ câu: Miếng trầu là đầu câu chuyện trong dân gian nói về cách tiếp khách thông thường nhất, tối thiểu nhất cũng phải có trầu và nước.)
– Tóm lại vật chất chẳng có gì, thôi thì: Bác đến chơi đây, ta với ta. Câu thơ này là linh hồn của bài thơ. Tất cả sự mừng rỡ, quý. trọng, chân tình đều hội tụ ở ba từ ta với ta. Chủ và khách, bác và tôi đã hòa làm một. Quả là tình bạn già sâu sắc, cảm động không có gì so sánh được.
– Bài thơ là tấm lòng chân thành của Nguyễn Khuyến dành cho người bạn già đáng kính đến chơi nhà.
– Giọng thơ tự nhiên, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hình ảnh quen thuộc gợi khung cảnh thiên nhiên tươi mát ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
– Cảnh và tình đan xen hài h, nhuần nhuyễn, ấm áp tình tri âm, tri kỉ.
II. BÀI LÀM
Thơ Nguyễn Khuyến chẳng có mấy bài vui bởi tâm trạng ông mang nặng nỗi buồn trước tình cảnh đất nước đau thương, trước thói đời éo le, bạc bẽo. Nhất là từ khi cáo quan về sống ẩn dật ở quê nhà thì nỗi buồn ấy trong thơ ông càng sâu, càng đậm. Tuy vậy nhưng bài Bạn đến chơi nhà lại là nốt vui bất chợt làm bừng sáng cái thông minh, dí dỏm vốn có trong tính cách cụ Tam Nguyên.
Ẩn chứa trong bài thơ là một tình bạn già kháng khít, keo sơn, vượt qua mọi ràng buộc của những nghi thức tầm thường. Cái nghèo vật chất không lấn át được tình cảm ấm áp, chân thành.
Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật nhưng không theo cấu trúc 4 phần (đề, thực, luận, kết), mỗi phần hai câu như thường thấy. Ở bài này, Nguyễn Khuyên chỉ sử dụng có một câu làm câu đề, câu thứ hai đã chuyển sang phần thực. Giữa phần thực và phần luận lại không có ranh giới rõ rệt. Hai câu 7 và 8 thì câu 7 gắn với phần luận, chỉ có câu 8 là phần kết. Sự phá cách này tạo nên nét độc đáo trong cấu trúc bài thơ, đồng thời chứng tỏ khả năng sáng tạo của nhà thơ.
Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Câu mở đề giản dị, tự nhiên như lời chào hỏi thân tình của hai người bạn thân lâu lắm mới gặp lại nhau. Tuổi già là tuổi người ta thường cảm thấy cô đơn nên khao khát có bạn để chuyện trò, giãi bày tâm sự. Chính vì thế nên khi được bạn đến thăm, nhà thơ thực sự vui mừng. Ông gọi bạn bằng bác. Cách gọi dân dã, thân tình song cũng rất nể trọng, thể hiện sự gắn bó thân thiết giữa chủ và khách. Câu thơ giống như lời chào quen thuộc hằng ngày ấy sẽ là tiền đề cho sự giãi bày tiếp sau đó: Đã lâu rồi, nay mới có dịp bác quá bộ tới chơi nhà, thật là quý hóa. Vậy mà… thôi thì cứ tình thực mà nói, mong bác hiểu mà vui lòng đại xá cho!
Sau khi Nguyễn Khuyến rũ áo từ quan, về ở chốn quê nghèo chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa mà vẫn có bạn tìm tới thăm thì hẳn người ấy phải là tri kỉ; bởi thói đời giàu thời tìm đến, khó thời lui. Xúc động thật sự, nhà thơ nhân đó lấy cái giàu có, quý giá của tình bạn để khỏa lấp cái nghèo nàn vật chất trong cuộc sống của mình.
Theo phép xã giao, khi khách đến chơi, trước hết chủ nhà phải có nước có trầu tiếp khách. Bạn thân ở nơi xa tới, lâu ngày mới gặp thì nhất thiết phải mời cơm,mời rượu. Ở chốn phố phường còn có quán xá chứ ở vùng quê Nguyễn Khuyến thì kiếm đâu ra? Cái hay của bài thơ bắt đầu từ ý này: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Hiểu theo bề nổi của chữ nghĩa, nhà thơ muốn thanh minh với bạn: Cá thì nhiều đấy, nhưng ao sâu nước cả. Gà không thiếu nhưng vườn rộng rào thưa. Cải, cà, bầu, mướp thì đang ở độ chửa ra cây, còn mới nụ, vừa rụng rốn, đương hoa. Nghĩa là toàn ở độ dở dang, sắp sửa, chưa dùng được. Vậy là bữa cơm đãi khách với đầy đủ cá thịt hay đạm bạc rau dưa đều không thể có. Thôi thì ta nói chuyện với nhau bằng điếu thuốc, chén nước, miếng trầu vậy. Nhưng giở đến trầu thì đã hết tự bao giờ: Đầu trò tiếp khách trầu không có, mà xưa nay miếng trầu là đầu câu chuyện. Người đọc như hình dung ra rõ ràng cái sự loay hoay, lúng túng thật dễ thương của vị đại quan xưa, nay đã thành ông già dân dã chốn quê mùa.
Nhưng xét kĩ thì chủ nhà không nghèo, ngược lại, ông là người giàu có. Câu thơ toàn nói đến cái không nhưng lại hàm chứa cái có. Cái nghèo vật chất trong hiện tại được thi vị hóa như là sự giàu có trong tương lai. Có thể những thứ cá, gà, cải, cà, bầu, mướp đều chẳng thiếu và nhà thơ đã tiếp đãi bạn rất chu tất còn nội dung bài thơ chỉ là cách giới thiệu độc đáo của cụ Tam Nguyên với bạn về cuộc sống thanh đạm của mình sau khi từ quan chăng?!
Cách nói của nhà thơ là cố làm ra vẻ giàu có, dư dả nhưng thực ra ông rất nghèo và cái nghèo ấy dễ gì che giấu được! Bạn biết ta nghèo, lại ở một nơi xa xôi hẻo lánh mà vẫn tìm đến thăm ta, điều đó còn gì quý giá bằng! Tuy vậy, ẩn trong lời nói khiêm nhường của Nguyễn Khuyến là sự tự hào về cảnh sống thanh bần của mình. Ta tuy nghèo thật nhưng dễ gì giàu sang đổi được cái nghèo ấy! Trong đoạn thơ trên thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh, thâm Thúy của bậc đại nho.
Bác đến chơi đây ta với ta là một câu kết hay, là linh hồn của bài thơ. Ta với ta nghĩa là một tấm lòng đến với một tấm lòng; kẻ tri âm đến với người tri kỉ. Vậy thì tất cả những lễ nghi kia đều là tầm thường, vô nghĩa. Chủ và khách có chung một tình cảm thắm thiết thanh cao, đó là cái quý giá không vật chất nào sánh được. Ba tiếng ta với ta gợi cảm xúc mừng vui, thân mật. Bạn bè xa cách đã lâu, nay vượt đường xa dặm thẳm, vượt cái yếu đuối của tuổi già để đến thăm nhau thì thật là quý hóa! Đáng quý hơn nữa là bác với tôi, ta cùng lánh đục tìm trong, lui về vui thú điền viên để giữ trọn hai chữ thiên lương. Sự gần gũi, tương đắc về mặt tâm hồn đã gắn bó chủ và khách làm một. Những điều câu nệ, khách khí đã bị xoá nhòa. Chỉ còn lại niềm vui và sự chân thành bao trùm tất cả. Tình bạn ấy đã vượt lên trên những nghi thức tiếp đãi bình thường. Bạn đến chơi nhà không phải vì mâm cao cỗ đầy mà để được gặp nhau; được hàn huyên tâm sự cho thỏa nỗi khao khát nhớ mong.
Bài thơ Bạn đến chơi nhà là tấm lòng của nhà thơ và cũng là bức tranh phong cảnh nông thôn bình dị tràn đầy sức sống. Khu vườn với luống cà, giàn mướp; mặt ao sóng gợn, tiếng gà xao xác trưa hè… là hiện thân của mảnh hồn quê mộc mạc, đậm đà, sâu lắng. Màu xanh trong của nước ao, màu xanh mơn mởn của vồng cải, màu tím hoa cà, màu vàng tươi hoa mướp… loại nào cũng đang độ tươi non, làm vui mắt và ấm lòng người. Những sự vật tưởng như tầm thường ấy thực ra có sức an ủi rất lớn đối với một tâm hồn mang nặng nỗi đau đời của nhà thơ. Được đón bạn đến chơi nhà trong khung cảnh rạo rực sức sống ấy, chắc hẳn niềm vui của cụ Tam Nguyên cũng tăng lên gấp bội.
Bài thơ nói về một tình bạn trong sáng, đẹp đẽ. Giọng thơ tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân quê mùa, chất phác, ấy vậy nhưng nó vẫn bộc lộ rõ nét tài hoa của ngòi bút Nguyễn Khuyến trong tả cảnh, tả tình. Cảnh, tình đan xen, hòa hợp, bổ sung cho nhau để tạo nên một bức tránh quê trong sáng, tươi mát và ấm áp tình người. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến | 1,947 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ) của Lí Bạch.
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
Lí Bạch là nhà thơ nổi tiếng của thơ ca lãng mạn cổ điển Trung Hoa.
Thơ ông có một vẻ đẹp kì lạ, khó quên,
Ông viết nhiều về trăng, coi trăng là biểu tượng của quê hương mà ông suốt đời yêu mến.
Bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh được ông sáng tác trong thời gian sống lênh đênh nơi đất khách quê người, trong đêm trăng sáng, chạnh lòng nhớ cố hương.
2. Thân bài:
– Tâm trạng của nhà thơ:
Chủ đề bài thơ là trông trăng nhớ quê (vọng nguyệt hoài hương), thường thấy trong thơ cổ điển. Tuy vậy, cách thể hiện của Lí Bạch rất khác lạ.
+ Hai câu đầu: Khung cảnh đêm trăng sáng:
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
(Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.)
Ánh trăng rọi sáng vào tận đầu giường như tìm đến với bạn tri âm, tri kỉ.
Vầng trăng tròn đầy, đẹp đẽ là đối tượng để nhà thơ vừa ngắm nhìn, thưởng thức, vừa chia sẻ tâm tình.
Nhà thơ đang có trạng thái mơ màng nên cảm thấy ánh trăng trắng đục như sương đang phủ tràn mặt đất.
Có thể nhà thơ ngắm trăng qua làn nước mắt xúc động, bồi hồi vì trăng đẹp, vì nhớ quê nên mới cảm nhận như thế.
+ Hai câu sau: Tình cảm tha thiết đối với quê hương:
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.)
Vầng trăng tròn đầy tượng trưng cho sự đoàn tụ.
Ngắm trăng, Lí Bạch mừng như gặp lại cố nhân nhưng vì chua xót cho thân phận cô đơn nơi đất khách quê người của mình nên càng thương nhớ quê hương cách xa ngàn dặm.
Tâm trạng trĩu nặng nỗi sầu, hành động thu gọn trong hai cử chỉ: Ngẩng đầu, cúi đầu… Nỗi nhớ quê hương của nhà thơ thật thiết tha, sâu nặng.
Trong hai câu thơ đều không có chủ ngữ những nhân vật trữ tình – chính là thi sĩ vẫn hiện lên rất rõ nét cả về tư thế lẫn tâm trạng.
3. Kết bài:
Bài thơ Tĩnh dạ tứ truyền cho người đọc niềm xúc động chân thành và tình yêu quê hương tha thiết của thi sĩ họ Lí.
Nhận xét về bài thơ này, Trương Minh Phi – nhà phê bình nghiên cứu về thơ Đường đã viết: Trong loại thơ nhìn trăng mà thổ lộ tâm tình nhớ quê, bài có khuôn khổ nhỏ nhất, ngôn từ đơn giản tinh khiết nhất là Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch, song bài có ma lực lớn nhất được truyền tụng rộng nhất cũng là bài Tĩnh dạ tứ ấy.
Bài làm
Lí Bạch là nhà thơ nổi tiếng của thơ ca lãng mạn cổ điển Trung Hoa. Nhắc tới ông, người đọc thường nhớ đến những vần thơ trữ tình bay bổng có vẻ đẹp lạ kì. Có thể nói, thơ Lí Bạch tràn ngập ánh trăng. Thuở nhỏ Lí Bạch thường lên núi Nga Mi để ngắm trăng cho rõ. Vì thế hình ảnh Trăng nửa vành thu trên đỉnh Nga Mi đã in sâu vào tâm khảm nhà thơ, trở thành một trong những biểu tượng của quê hương Tứ Xuyên mà nhà thơ thương nhớ suốt cuộc đời.
Từ tuổi 25, Lí Bạch đã xa quê và xa mãi, nhưng hình bóng quê hương luôn in đậm trong tâm khảm của ông. Vì thế mà trên bước đường lữ thứ tha phương, mỗi lần ngắm trăng sáng là ông lại chạnh lòng nhớ quê và chỉ biết gửi gắm tâm sự vào những vần thơ. Bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh được Lí Bạch sáng tác trong một hoàn cảnh như vậy.
Tĩnh dạ tứ
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Dịch thơ:
Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
Chủ đề của bài thơ là trông trăng nhớ quê (vọng nguyệt hoài hương). Đây là chủ đề quen thuộc trong thơ cổ, không chỉ ở Trung Quốc mà cả ở Việt Nam, song cách thể hiện của Lí Bạch thật độc đáo.
Với những từ ngữ đơn giản mà chắt lọc, bài thơ đã thể hiện tình cảm tha thiết với quê hương của nhà thơ.
Bức tranh được phác họa trong bài thơ là cảnh đêm trăng thanh tĩnh. Nỗi cô đơn trên đất khách quê người khiến cho Lí Bạch trằn trọc, thao thức, không sao ngủ được. Ông muốn chia sẻ tâm sự với vầng trăng – người bạn không lời nhưng gắn bó thân thiết với ông và được ông coi là tri âm, tri kỉ.
Kể từ độ cất bước ra đi, suốt mấy chục năm trường, Lí Bạch làm sao nhớ nổi bao nhiêu lần mình ngắm trăng?! Trăng lung linh rải ánh vàng, ánh bạc trên sông hồ. Trăng buồn tê tái nơi quan ải. Trăng nhạt nhòa, huyền ảo trên mặt đất mênh mông… Đã có lần, thi sĩ uống rượu dưới trăng: Cất chén mời trăng sáng, Ta với bóng lạ ba. Đêm nay, trên đất khách, ánh trăng rọi sáng vào tận đầu giường như tìm đến với bạn tri âm, như muôn chia sẻ cho vơi bớt nỗi cô đơn đang vây phủ tâm hồn thi sĩ:
Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
(Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương).
Đây là bài thơ tứ tuyệt tương đối dễ hiểu. Song đơn giản, dễ hiểu không có nghĩa là hời hợt, nông cạn. Ngôn ngữ thơ ca bao giờ cũng chọn lọc và tinh luyện.
Trong hai câu thơ đầu, ta đã thấy thấp thoáng bóng dáng nhân vật trữ tình. Ánh trăng dù đẹp đẽ và tràn ngập nơi nơi nhưng vẫn chỉ là đối tượng để thi sĩ cảm nhận.
Đêm khuya trăng sáng, nhà thơ trằn trọc không ngủ hoặc cũng có thể là đã ngủ rồi chợt tỉnh dậy và không ngủ lại được. Để tả trạng thái mơ màng ấy thì dùng chữ nghi (ngỡ là) và chữ sương là hợp lí. Ánh trăng trắng đục giống như sương là điều có thật mà trước Lí Bạch mấy trăm năm, nhà thơ Tiêu Cương đã viết: Dạ nguyệt tự thu sương (Trăng đêm giống như sương thu).
Chi tiết trăng rọi sáng đầu giường là thực; còn ngỡ mặt đất phủ sương là ảo. Nhà thơ nhìn ánh trăng mà ngỡ là sương bởi ánh trăng được nhìn qua làn nước mắt nhớ thương, sầu muộn đang rớm quanh mi. Nỗi cô đơn tột đỉnh đang thấm lạnh cả tâm tình khiến sương dâng trong hồn, sương giăng trước mắt. Đọc hai câu thơ này, ta hiểu đằng sau từng chữ là cảm xúc bâng khuâng, da diết đang trỗi dậy trong lòng thi sĩ.
Đêm khuya, thi sĩ trằn trọc không sao ngủ được. Mở mắt thấy ánh trăng rọi sáng đầu giường, mừng như gặp lại cố nhân sau bao ngày xa cách. Nhưng mới nhìn thấy ánh trăng bàng bạc như sương phủ trên mặt đất chứ chưa thấy trăng, nhà thơ cố tìm bằng được vầng trăng quen thuộc:
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
(Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương).
Chỉ có ba chữ tả tình trực tiếp: tư cố hương, còn lại đều là tả cảnh, tả người: cử đầu, vọng minh nguyệt, đê đầu. Ngay trong tả cảnh, tình người vẫn được thể hiện rõ. Nỗi nhớ quê hương đã được thể hiện qua hành động.
Khi thấy vầng trăng cũng đơn côi, lạnh lẽo như mình, một nỗi ngậm ngùi, chua xót bất chợt dâng lên trong lòng. Thi sĩ cúi đầu tưởng nhớ quê hương. Cái dáng ngồi bất động, chìm đắm trong suy tư ấy cho thấy tình cảm quê hương của nhà thơ sâu nặng biết chừng nào!
Với bài thơ Tĩnh dạ tứ, nếu chỉ nói tác giả “xúc cảnh sinh tình” thì không đủ. “Tình” ở đây vừa là nhân, vừa là quả: Lí Bạch nhớ quê, thao thức nhìn trăng sáng; Nhìn trăng sáng lại càng nhớ quê! Vọng minh nguyệt, tư cố hương thật ra chỉ là sự diễn đạt cụ thể hơn thành ngữ vọng nguyệt hoài hương dùng đã sáo mòn trong văn thơ cổ. Sáng tạo của Lí Bạch là đã đưa thêm vào hai cụm từ đôi nhau: cử đầu và đê đầu, để thể hiện cách vọng minh nguyệt và tư cố hương của mình. Những hành động ấy đều chất chứa tâm tư.
Hai cầu thơ sau đối ý, đối thanh thật chỉnh. Nhà thơ đã sáng tạo trên cơ sở một câu dân ca quen thuộc: Ngưỡng đầu khán minh nguyệt (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng), chỉ thay từ ngưỡng bằng từ cử, từ khán bằng từ vọng. Câu thơ của Lí Bạch là: Cử đầu vọng minh nguyệt. Cũng vẫn giống nhau ở tư thế ngẩng đầu nhìn trăng sáng nhưng cái nhìn trong câu dân ca mang tính khách quan, còn cái nhìn trong thơ Lí Bạch lại đậm tính chủ quan. (Khán: nhìn, ý nghĩa trung hòa. Vọng: nhìn xa, ý nghĩa biểu cảm). Vọng minh nguyệt là cố nhìn ra xa để thấy cho rõ vầng trăng sáng. Tình cảm thiết tha của nhà thơ gửi gắm cả trong từ vọng ấy và chỉ trong khoảnh khắc, cái tư thế Ngẩng đầu nhìn trăng sáng đã chuyển thành Cúi đầu nhớ cố hương. Hai tư thế đối lập nhau nhưng cùng thể hiện một tâm trạng. Niềm vui trước đêm trăng sáng có thể là dạt dào vô tận nhưng nỗi nhớ cố hương cũng day đứt khôn nguôi! Ánh trăng sáng đêm nay là tác nhân gợi nhớ đến vầng trăng xưa trên quê cũ thuở nào. Quả là nỗi nhớ quê hương thiết tha, khắc khoải… luôn ám ảnh trong lòng Lí Bạch.
Bố cục bài thơ hết sức chặt chẽ, thể hiện tài năng của nhà thơ. Hai câu đầu diễn đạt ý: Ngỡ ánh trăng đầu giường là sương phủ trên mặt đất. Nghi là động từ liên kết ý của hai dòng thơ. Ngoài ra các động từ khác (cử, vọng, đê, tư) đều đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc liên kết các câu trong bài. Giữa các động từ có quan hệ chặt chẽ: Nghi (thị địa thượng sương) – Cử (đầu) – vọng (minh nguyệt)
– Đê (đầu) – tư (cố hương).
Trong bốn câu thơ, tuy các chủ ngữ đều bị lược bỏ nhưng người đọc vẫn có thể nhận ra chủ thể trữ tình là tác giả. Điều đó tạo nên tính thông nhất, liền mạch trong cảm xúc thơ.
Về mặt ngữ pháp, có thể xem đây là một hình thức câu rút gọn. Trong thơ, việc lược bỏ chủ ngữ – đặc biệt là đại từ xưng hô ngôi thứ nhất làm cho sức cộng hưởng của thơ tăng lên rất nhiều. Ở Tĩnh dạ tứ, ta có hiểu chủ thể trữ tình là Lí Bạch, nhưng cũng có thể là bất cứ ai khác. Trong điều kiện xã hội tương tự, ở những tình huống tương tự, với quan niệm sông và vốn văn hóa tương tự thì đều có thể xuất hiện cảm nghĩ tương tự. Đó chính là tính chất điển hình của cảm xúc trong thơ trữ tình.
Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh dạ tứ giản dị, tự nhiên, âm điệu nhẹ nhàng, sấu lắng. Tài thơ Lí Bạch là “tuyệt diệu ở chỗ đạm bạc”. Hay như nhận xét của Hồ Ưng Lân, một nhà phê bình đời Minh: Thuận miệng nói ra mà thành thơ, tuyệt không có dụng ý dụng công, song không có chỗ nào là không tinh xảo.
Qua bài thơ này, Lí Bạch đã bộc lộ nỗi nhớ quê hương da diết. Tình cảm chân thực và sâu đậm ấy thực sự đã gây xúc động cho người đọc, truyền đến chúng ta nỗi thổn thức, bâng khuâng khó tả. Tình cảm quê hương ngày nay mặc dù đã mang những nét mới của thời đại song những bài thơ trữ tình xuất sắc về quê hương của các nhà thơ trong quá khứ vẫn tạo được sự cộng hưởng sâu xa, vẫn có tác dụng thiết thực trong việc bồi dưỡng, xây dựng nhân cách con người.
Trương Minh Phi, một nhà phê bình thơ Đường đã nhận xét về bài thơ này như sau: “Trong loại thơ nhìn trăng mà thổ lộ tâm tình nhớ quê, bài có khuôn khổ nhỏ nhất, ngôn từ đơn giản tinh khiết nhất là Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch, song bài có ma lực lớn nhất, được truyền tụng rộng rãi nhất cũng Ịàm bài Tĩnh dạ tứ ấy”. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ) của Lí Bạch | 2,171 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch
Thơ Lý Bạch tràn ngập ánh trăng. Trăng trong thơ của ông cũng hết sức đa dạng, phong phú và thường rất giàu hàm nghĩa. Bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh cũng viết về trăng. Nhưng cũng như một số bài thơ khác, trăng ờ đây chỉ là một phương tiện để nhà thơ bày tỏ một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tình cảm quê hương. Sự sắc sảo của Lý Bạch trong việc thể hiện nỗi nhớ nhà đã khiến ngay cả chúng ta cũng trào dâng trong lòng tình yêu thương da diết.
Đọc nguyên tác bài thơ:
Sàng tiễn minh nguyệt quạng
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.
Chúng ta cứ ngỡ đây là một bài Đường thi tuyệt cú. Nhưng không, bài thơ của Lý Bạch là một bài cổ thơ, một lối thơ rất tự do về vần điệu và âm luật. Điều đáng chú ý là bài thơ ra đời khi tác giả đang sống ly hương. Vì thế bài thơ khởi hứng từ nỗi lòng của người lữ thứ.
Hai câu đầu của bài thơ thiên về tả cảnh:
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Hai câu thơ tả cảnh mà vẽ cả tư thế của nhân vật trữ tình. Người đọc băn khoăn không biết điều gì đã khiến cho nhà thơ trằn trọc hết đứng lại ngồi, rồi lại nằm mà vẫn không ngủ được. Đầu giường tác giả tràn ngập ánh trăng. Trăng phủ tràn trên mặt đất ngỡ là sương đêm phủ. Hai từ “nghi thị” (ngỡ là) rất hay. Nó hướng về cảnh mà thực lại đang tả tâm trạng bâng khuâng, bồi hồi thêm chút khắc khoải của lòng người. Vậy là trăng đến mà không chia sẻ được. Nó chỉ là cho cái nỗi nhớ kia da diết hơn, não ruột hơn thêm. Tác giả nhìn trăng mà thực là đang đưa mắt kiếm tìm trong xa xăm, vô tận một chút hương sắc gì của quê hương. Hai câu thơ chưa tả trực tiếp mà đã gợi ra sâu sắc nỗi sầu của kẻ xa quê.
Đến hai câu thơ cuối thì nỗi nhớ quê mới thực sự như dòng nước ào ạt ùa về:
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương,
Hai hành động dường như đối lập nhau nhưng lại gắn kết hài hòa cùng hướng về một đích. Nhân vật trữ tình đang cố tìm một thứ gì để xua tan đi nỗi nhớ quê. Và dường như thật may bởi trăng đang đến và chia sẻ. Thế nhưng “ngẩng đầu” nhìn vầng trăng đang vằng vặc, thì nỗi nhớ trong lòng của kẻ tha thương lại ngập tràn đầy. Tình thương của tác giả đến đây lắng lại và ngưng đọng sâu xa: cúi đầu nhớ cố hương;
Đêm thanh tĩnh và lòng người cũng tĩnh. Trăng rất sáng, rất đẹp, rất trong và lòng người cũng vậy. Cảnh đẹp nhưng lòng người chẳng thể vui hay nói đúng hơn “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Cảnh làm cho người nặng thêm nỗi nhớ, nỗi sầu. Hai câu thơ lời ít nhưng ý tứ dàn trải mênh mông. Nỗi lòng là của tác giả mà cũng lại là của tất cả mọi người. Nó gợi vẻ thật sâu sắc nỗi lòng của những ai đã và đang sống xa quê. Nó làm cồn lên một cái gì đó thật lớn lao và tha thiết.
Bài thơ của Lý Bạch thật buồn. Nỗi buồn da diết và ngưng đọng. Thử hỏi chúng ta ai có thể sống mà không cần đến quê hương? Ai có thể xa quê mà không nhớ? Bài thơ của Lý Bạc một lần nữa dạy ta thêm một bài học nhân nghĩa ở đời. Bài học ấy sâu sắc đúng như lời triết lý của nhà thơ Chế Lan Viên:
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch | 686 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bài làm
Bài Cảnh khuya được Bác Hồ sáng tác vào năm 1947, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì, gian khổ mà oanh liệt của dân tộc ta. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề và những thử thách ác liệt tưởng chừng khó có thể vượt qua, Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Người vẫn dành cho mình những phút giây thanh thản để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với người nghệ sĩ – chiến sĩ là Bác.
Như một họa sĩ tài ba, chỉ vài nét bút đơn sơ, Bác đã vẽ ra trước mắt chúng ta vẻ đẹp lạ kì của một đêm trăng rừng:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Trong đêm khuya thanh vắng, dường như tất cả các âm thanh khác đều lắng chìm đi để nổi bật lên tiếng suối róc rách, văng vẳng như một tiếng hát trong trẻo, du dương. Tiếng suối làm cho không gian vốn tĩnh lặng lại càng thêm tĩnh lặng. Nhịp thơ 3/4 ngắt ở từ trong, sau đó là nốt lặng giống như thời gian suy ngẫm, liên tưởng để rồi đi đến hình ảnh so sánh thật đẹp:
Ánh trăng bao phủ lên mặt đất, trùm lên tán cây cổ thụ. Ánh trăng chiếu vào cành lá, lấp lánh ánh sáng huyền ảo. Bóng trăng và bóng cây quấn quýt, lồng vào từng khóm hoa rồi in lên mặt đất đẫm sương:
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Khung cảnh thiên nhiên có xa, có gần. Xa là tiếng suối, gần là bóng trăng, bóng cây, bóng hoa hòa quyện, lung linh, sắc màu của bức tranh chỉ có trắng và đen. Màu trắng bạc của ánh trăng, màu đen sẫm của tàn cây, bóng cây, bóng lá. Nhưng dưới gam màu tưởng chừng lạnh lẽo ấy lại ẩn chứa một sức sống âm thầm, rạo rực của thiên nhiên. Hòa với âm thanh của tiếng suối có ánh trăng rời rợi, có bóng cổ thụ, bóng hoa… Tất cả giao hòa nhịp nhàng, tạo nên tình điệu êm đềm, dẫn dắt hồn người vào cõi mộng.
Nếu ở hai câu đầu là cảnh đẹp đêm trăng nơi rừng sâu thì hai câu sau là tâm trạng của Bác trước thời cuộc:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên, Bác đã sung sướng thốt lên lời ca ngợi: cảnh khuya như vẽ. Cái hồn của tạo vật đã tác động mạnh đến trái tim nghệ sĩ nhạy cảm của Bác và là nguyên nhân khiến cho người chưa ngủ. Ngủ làm sao được trước đêm lành trăng đẹp như đêm nay?! Thao thức là hệ quả tất yếu của nỗi trăn trở, xao xuyến không nguôi trong tâm hồn Bác trước cái đẹp.
Vậy là đã rõ. Ở câu thơ trên, Bác chưa ngủ vì tâm hồn nghệ sĩ xao xuyến trước cảnh đẹp. Còn ở câu dưới, Bác chưa ngủ vì nghĩ đến trách nhiệm nặng nề của một lãnh tụ cách mạng đang Hai vai gánh vác việc sơn hà.
Trong bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, Bác cũng luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm dân, nước. Nỗi niềm ấy hội tụ mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người. Tuy Bác lặng lẽ ngắm cảnh thiên nhiên và phát hiện ra những nét đẹp tuyệt vời nhưng tâm hồn Bác vẫn hướng tới nước nhà. Đang từ trạng thái say mê chuyển sang lo lắng, tưởng chừng như phi lôgíc nhưng thực ra hai điều này lại gắn bó khăng khít với nhau. Cảnh gợi tình và tình không bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà mở rộng tới tình dân, tình nước, bởi Bác đang ở cương vị một lãnh tụ Cách mạng với trách nhiệm vô cùng to lớn, nặng nề.
Bác không giấu nỗi lo mà nói đến nó rất tự nhiên. Ánh trăng vằng vặc và Tiếng suối trong như tiếng hát xa không làm quên đi nỗi đau nô lệ của nhân dân và trách nhiệm đem lại độc lập cho đất nước của Bác. Ngược lại, chính cảnh thiên nhiên đẹp đẽ đầy sức sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyết tâm cứu nước cứu dân của Bác. Non sông đất nước đẹp như gấm như hoa này không thể nào để rơi vào tay quân xâm lược. Câu thơ cuối cùng chất chứa cảm xúc thật mênh mông, sâu sắc. Hồn người lắng sâu vào hồn cảnh vật và cái sâu lắng của cảnh vật tôn thêm nét sâu lắng của hồn người. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ cảnh khuya của Chủ Tịch Hồ Chí Minh | 824 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh lớp 7
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh lớp 7
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Khung cảnh được nói tới trong bài thơ là một đêm khuya giữa rừng Việt Bắc. Câu mở đầu được viết theo lối so sánh, ẩn dụ:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa.
Giữa bộn bề công việc của một vị tổng chỉ huy thật khó có một chút thảnh thơi để có thể cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhưng với Hồ Chí Minh, tình yêu thiên nhiên dường như đã trở thành một nét phẩm chất tâm hồn. Còn nhớ, khi phải tù đày trong nhà lao Tưởng Giới Thạch – Người đã từng vượt lên hoàn cảnh trớ trêu mà đắm mình vào sự kì thú của tạo vật:
Mặc dù bị trói chân tay
Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng
Vui say ai cấm ta đừng
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu.
Rồi:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ…
Ngay trong phẩm chất chiến sĩ cách mạng của Người, tình yêu thiên nhiên vẫn luôn thường trực. Bởi thế, âm thanh tiếng suối mặc dầu rất quen nhưng được gợi ra trong bài thơ lại rất lạ:
Giữa bao căng thẳng và hỗn tạp của thanh âm, nghe suối chảy ta có thể cảm nhận âm thanh và sắc độ của nó. Chợt nhớ câu thơ nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Trãi viết khi ở ẩn:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…
(Bài ca Côn Sơn)
Hai nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, hai thi nhân tầm vóc thời đại sống cách nhau năm thế kỉ, cùng gặp gỡ diệu kì ở cảm hứng mãnh liệt trước thiên nhiên tươi đẹp. Chỉ có điều, nghe tiếng suối, Nguyễn Trãi liên tưởng tới tiếng đàn huyền diệu mà nghệ sĩ thiên nhiên ban tặng, còn Hồ Chí Minh lại liên tưởng tới âm hưởng hùng tráng vang ngân trong tiếng hát của của đoàn quân chiến thắng. Bài ca Côn Sơn được sáng tác khi người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi sống nhàn tản, bất đắc chí tại Chí Linh ; còn Cảnh khuya được nhà cách mạng Hồ Chí Minh viết trong cương vị một người tổng chỉ huy ở chiến khu Việt Bắc. Hai cảnh ngộ, hai tâm trạng khác nhau đều có chung tiếng suối làm mạch nguồn cảm xúc, nhưng sự cảm nhận và liên tưởng của mỗi người đều thể hiện nét riêng mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại.
Trở lại với bài thơ Cảnh khuya, câu thứ hai vẫn theo bút pháp tả thực, Bác viết:
Trên cái nền rạo rực và gợi cảm của âm thanh tiếng suối, ánh trăng hiện lên thật bao la huyền ảo, mở ra bức tranh thiên nhiên vời vợi và thi vị hẳn lên.
Thực ra, đã không ít lần Bác rung động trước vẻ đẹp kì diệu của trăng, kể cả trong hoàn cảnh Người bị giam hãm tù đày, nhưng ở đây ánh trăng mang một sắc thái lung linh tuyệt mĩ:
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Ánh trăng tờ mở và chiếu tỏa không gian, ngỡ như xuyên thấm hồn tạo vật. Ánh trăng như chảy qua kẽ lá, choàng ánh sáng xuống bóng cây cổ thụ.
Nếu xem hai câu thơ trên là biểu thị một sức nghe (câu thứ nhất) và một sức nhìn (câu thứ hai) tinh tế đặc biệt thì câu thứ ba nêu lên một tình huống:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ.
Cảnh đẹp như tranh quyến rũ nhường vậy mà Người còn thao thức, không nỡ ngủ hay không thể ngủ được trước vẻ hữu tình của thiên nhiên? Câu thơ cuối bật ra thật bất ngờ:
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Giản dị và chân thực, câu thơ cuối bộc lộ sức nghĩ của Người về vận mệnh dân tộc, trước cuộc kháng chiến đầy cam go và trước thiên nhiên tươi đẹp.
Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp so sánh ẩn dụ, tả thực và khả năng liên tưởng, tưởng tượng bay bổng, phong phú, bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết trong phẩm chất thi sĩ – chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh lớp 7 | 762 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Bài làm
Trong tất cả những bài thơ của Bác Hồ giai đoạn kháng chiến thì em thích nhất là bài “Cảnh khuya”. Mặc dù bài thơ chỉ vỏn vẹn 4 câu thơ, nhưng đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ở núi rừng Việt Bắc, có rừng cây, có trăng sáng, có tiếng suối, và đặc biệt có một người đang ở đó thao thức không ngủ được vì lo lắng cho sự an nguy của nước nhà.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
Ở hai câu thơ đầu, Bác đã dùng tâm hồn của một người thi sĩ để vẽ nên bức tranh thiên nhiên đẹp hoàn mỹ. Bức tranh núi rừng hiện ra rất sinh động bởi nó có cả tiếng suối, có trăng, có bóng hoa.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
“Tiếng suối” được ví von với “tiếng hát xa” gợi cho ta một cảm giác thanh bình. Có lẽ không gian đó yên ắng lắm, mọi người, mọi vật đã chìm vào giấc ngủ, thì Bác mới có thể lắng nghe được tiếng suối từ sau khe núi vọng về. Nhưng dưới ngòi bút và tâm hồn lãng mạn của chủ tịch Hồ Chí Minh, thì nó nghe như tiếng hát, lời hát ngọt ngào, quen thuộc gần gũi như ở quê nhà. Bất chợt Bác nhìn lên bầu trời và nhìn thấy được một cảnh tượng thật đẹp.
Hình ảnh “trăng” xuất hiện không ít ở trong văn thơ, và ngay trong nhiều sáng tác của Hồ Chủ Tịch thì vẫn đã có bóng dáng của trăng, tuy nhiên ở bài thơ này, trăng hiện lên đẹp biết bao. Ánh trăng sáng luồn qua tầng cây cổ thụ, rồi sau đó chiếu xuống mặt đất trông như những bông hoa. Tâm hồn của Bác thật quá đỗi nên thơ, một hình ảnh mà chúng ta nghĩ rằng nó vô cùng quen thuộc, nhưng dưới ngòi bút của thi sĩ, nó được nâng lên một tầm mới, là vẻ đẹp nghệ thuật.
Vâng, chỉ mới hai câu thơ thôi, nhưng Bác Hồ kính yêu đã vẽ nên một bức tranh thơ mộng hữu tình giữa núi rừng hoang vu của Việt Bắc, điều này vừa cho thấy vẻ đẹp tâm hồn, tinh thần lạc quan yêu đời của Bác, vừa thể hiện được sự tinh tế, những rung cảm tuyệt vời không phải ai cũng có. Điều đáng nói ở đây là Bác đã dùng những từ ngữ giàu hình ảnh cùng lối gieo vần, chữ như đang tự sự, rất giản đơn, ngắn gọn mà súc tích, ai trong chúng ta đọc lên cũng có thể tưởng tượng ra ngay khung cảnh Tây Bắc lúc đó như thế nào.
Tiếp nối những rung cảm về cảnh vật thiên nhiên, Bác nhìn lại sự tồn tại của mình.
“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”
Không phải một lời biện minh, nhưng hai câu thơ này Bác như đang tự trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người chưa ngủ”. Giữa đêm khuya thanh vắng, chỉ còn văng vẳng tiếng suối, có ánh trăng sáng soi, có bóng cây, có “hoa”, nhưng chỉ khi “người chưa ngủ” mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp đầy huyền bí ở nơi rừng núi như thế này được. Bác bộc bạch: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”
Con người chiến sĩ hòa quyện với tâm hồn thi sĩ tạo nên một tác phẩm “bất hủ” mà hầu như ai cũng thuộc lòng từng câu từng chữ.
Cảnh khuya không chỉ đẹp vì cảnh, mà nó còn đẹp vì tình, là tình yêu thương mà Bác Hồ dành cho hàng triệu trái tim người dân Việt Nam, là tình yêu dân tộc, yêu quê hương hết thảy. Thiết nghĩ, không biết chỉ một đêm hay biết bao nhiêu đêm Bác thao thức “vì lo nỗi nước nhà”? Càng đọc bài thơ này, em lại càng yêu mến và khâm phục trước tinh thần, nghị lực của Bác Hồ kính yêu. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh | 709 | |
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh
Bài làm
Nhắc nhớ đến Hồ Chủ tịch người dân Việt Nam luôn luôn tự hào, Người chính là vị lãnh tụ vĩ đại, còn là người cha già của dân tộc Việt Nam đồng thời Người lại là một vị cha già của dân tộc. “Cảnh khuya” chính là một bài thơ không chỉ ca ngợi bức tranh thiên nhiên mà còn bộc bạch trong đó hình ảnh của người chiến sĩ yêu nước thương dân.
Đầu tiên ta nhận thấy được một vẻ đẹp vô cùng sây mê và hùng vĩ, nên thơ của núi rừng Việt Bắc – chính là cái nôi của cách mạng. Bài thơ vẻn vẹn có 4 câu thơ:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Người đọc có thể nhận thấy được cái bức tranh thiên nhiên đẹp của rừng Việt Bắc thể hiện ở ngay hai câu thơ đầu được Hồ Chí Minh khắc họa lại:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Hồ Chí Minh như cũng đã tái hiện lên được khung cảnh thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Khung cảnh nơi đây cũng đã bỗng trở nên thơ mộng hơn; tươi đẹp hơn nhờ biện pháp so sánh tài tình và độc đáo biết bao nhiêu:
Người đọc cũng có thể nhận thấy được âm thanh mới trong trẻo và nghe cũng thật du dương, ngân nga làm sao. Không khó để nhận ra được “a” ở câu cuối gợi nên cung bậc của tiếng suối như cứ mien man và ngân xa mãi. Tiếng suối chảy mà ta như cảm nhận thấy được một sự nghẹn ngào và vô cùng say đắm biết bao nhiêu. Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng nghệ thuật so sánh đồng thời cũng đã lại tạo ra một vẻ đẹp mới cho hình ảnh thơ vô cùng đẹp đẽ. Ai mà có thể biến dòng suối thành một con người có tâm hồn biến thành một có tình cảm sâu sắc, và lại có thể cất lên khúc nhạc đầy chứa chan đó cơ chứ. Không thể phủ nhận được được tiếng suối như khúc nhạc khiến cho bức tranh khuya như sống động và không hề tẻ nhạt.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh Khuya
Thật thích thú biết bao nhiêu trong bức tranh đêm đó, nếu như tiếng suối làm cho cảnh vật tĩnh lặng, và khiến cho mọi thứ dường như cũng vô cùng sâu lắng thì ánh trăng làm cho cảnh vật thơ mộng hơn rất nhiều thông qua câu:
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Hình ảnh của ánh trăng dường như cứ tròn vành vạnh tỏa ánh sáng xuống trần gian tươi đẹp này. Không dừng lại ở đó ta nhận thấy được nó lại có những lùm cây rậm rạp đã được ánh trăng chiếu xuống trông hệt như những sợi kim tuyến lấp lánh mà vô tình như đã trang điểm trên mái tóc bồng bềnh của nàng thiếu nữ duyên dáng và yêu kiều biết bao nhiêu. Ánh trăng cứ như soi qua kẽ lá để có thể chiếu xuống đất tạo thành những đốm trắng trông cũng cứ nhỏ li ti trên mặt đất lấm tấm như hoa gấm mới đẹp làm sao. Hồ Chí Minh thạt tài tình khi Người dùng chữ “Lồng” để nói sự đan xen giữa ánh trăng và cây cổ thụ cũng mới đẹp làm sao.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Người đọc có thể nhận thấy được bức tranh tươi đẹp nhưng cũng hết sức hoàn hảo, vì nó có đủ đầy ánh trăng, suối và bóng hoa, cây cổ thụ nữa khiến cho cảnh rừng Việt Bắc như cứ hiển hiện như thực như mơ. Phải chăng người chiến sĩ không thể nào ngủ được vì ánh trăng cứ đẹp đẽ soi chiếu, không ngủ được vì tất cả cảnh vật núi rừng đều đẹp biết bao nhiêu. Nhưng lại có một lý do sâu sắc hơn khiến nhân vật không ngủ đó chính là nỗi nước nhà. Luôn mong muốn nước nhà được độc lập, dân ai ai cũng được hạnh phúc,… đó chính là nỗi lo dường như cứ canh cánh trong lòng người đọc chúng ta.
“Cảnh khuya” là một bức tranh thiên nhiên khiến cho chúng ta như cũng vừa say mê với cảnh, đồng thời cũng lại luôn khâm phục phẩm chất cũng như tâm hồn của một vị lãnh tụ như Bác.
Minh Nguyệt | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh Khuya của tác giả Hồ Chí Minh | 780 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya lớp 7
Hướng dẫn
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Bài Cảnh khuya được Bác Hồ sáng tác vào năm 1947, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì, gian khổ mà oanh liệt của dân tộc ta. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề và những thử thách ác liệt tưởng chừng khó có thể vượt qua, Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Người vẫn dành cho mình những phút giây thanh thản để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với người nghệ sĩ – chiến sĩ là Bác.
Như một họa sĩ tài ba, chỉ vài nét bút đơn sơ, Bác đã vẽ ra trước mắt chúng ta vẻ đẹp lạ kì của một đêm trăng rừng:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
Trong đêm khuya thanh vắng, dường như tất cả các âm thanh khác đều lắng chìm đi để nổi bật lên tiếng suối róc rách, văng vẳng như một tiếng hát trong trẻo, du dương. Tiếng suối làm cho không gian vốn tĩnh lặng lại càng thêm tĩnh lặng. Nhịp thơ 3/4 ngắt ở từ trong, sau đó là nốt lặng giống như thời gian suy ngẫm, liên tưởng để rồi đi đến hình ảnh so sánh thật đẹp:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa.
Ánh trăng bao phủ lên mặt đất, trùm lên tán cây cổ thụ. Ánh trăng chiếu vào cành lá, lấp lánh ánh sáng huyền ảo. Bóng trăng và bóng cây quấn quýt, lồng vào từng khóm hoa rồi in lên mặt đất đẫm sương:
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Khung cảnh thiên nhiên có xa, có gần. Xa là tiếng suối, gần là bóng trăng, bóng cây, bóng hoa hòa quyện, lung linh, sắc màu của bức tranh chỉ có trắng và đen. Màu trắng bạc của ánh trăng, màu đen sẫm của tàn cây, bóng cây, bóng lá. Nhưng dưới gam màu tưởng chừng lạnh lẽo ấy lại ẩn chứa một sức sống âm thầm, rạo rực của thiên nhiên. Hòa với âm thanh của tiếng suối có ánh trăng rời rợi, có bóng cổ thụ, bóng hoa… Tất cả giao hòa nhịp nhàng, tạo nên tình điệu êm đềm, dẫn dắt hồn người vào cõi mộng.
Nếu ở hai câu đầu là cảnh đẹp đêm trăng nơi rừng sâu thì hai câu sau là tâm trạng của Bác trước thời cuộc:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên, Bác đã sung sướng thốt lên lời ca ngợi: cảnh khuya như vẽ. Cái hồn của tạo vật đã tác động mạnh đến trái tim nghệ sĩ nhạy cảm của Bác và là nguyên nhân khiến cho người chưa ngủ. Ngủ làm sao được trước đêm lành trăng đẹp như đêm nay?! Thao thức là hệ quả tất yếu của nỗi trăn trở, xao xuyến không nguôi trong tâm hồn Bác trước cái đẹp.
Còn một lí do nữa không thể không nói đến. Bác viết thật giản dị: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Vậy là đã rõ. Ở câu thơ trên, Bác chưa ngủ vì tâm hồn nghệ sĩ xao xuyến trước cảnh đẹp. Còn ở câu dưới, Bác chưa ngủ vì nghĩ đến trách nhiệm nặng nề của một lãnh tụ cách mạng đang Hai vai gánh vác việc sơn hà.
Trong bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, Bác cũng luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm dân, nước. Nỗi niềm ấy hội tụ mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người. Tuy Bác lặng lẽ ngắm cảnh thiên nhiên và phát hiện ra những nét đẹp tuyệt vời nhưng tâm hồn Bác vẫn hướng tới nước nhà. Đang từ trạng thái say mê chuyển sang lo lắng, tưởng chừng như phi lôgíc nhưng thực ra hai điều này lại gắn bó khăng khít với nhau. Cảnh gợi tình và tình không bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà mở rộng tới tình dân, tình nước, bởi Bác đang ở cương vị một lãnh tụ Cách mạng với trách nhiệm vô cùng to lớn, nặng nề.
Bác không giấu nỗi lo mà nói đến nó rất tự nhiên. Ánh trăng vằng vặc và Tiếng suối trong như tiếng hát xa không làm quên đi nỗi đau nô lệ của nhân dân và trách nhiệm đem lại độc lập cho đất nước của Bác. Ngược lại, chính cảnh thiên nhiên đẹp đẽ đầy sức sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyết tâm cứu nước cứu dân của Bác. Non sông đất nước đẹp như gấm như hoa này không thể nào để rơi vào tay quân xâm lược. Câu thơ cuối cùng chất chứa cảm xúc thật mênh mông, sâu sắc. Hồn người lắng sâu vào hồn cảnh vật và cái sâu lắng của cảnh vật tôn thêm nét sâu lắng của hồn người.
Cảnh khuya là một bài thơ hay, có sự kết hợp hài hòa giữa tính truyền thống và tính hiện đại, giữa lãng mạn và hiện thực. Bài thơ bộc lộ rõ tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và ý thức trách nhiệm cao cả của Bác Hồ – vị lãnh tụ giản dị mà vĩ đại của dân tộc ta. Bài thơ là một trong muôn vàn dẫn chứng minh họa cho phong cách tuyệt vời của người nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh.
Bài làm 2:
Trăng là chủ đề sáng tác, là cảm hứng của các thi nhân và Bác Hồ không chỉ là chiến sĩ mà còn là một nhà thơ lớn có tình yêu thiên nhiên với tâm hồn nhạy cảm. Trong những năm đầu ở chiến khu Việt Bắc, trong một đêm trăng đẹp, Bác đã sáng tác ra bài thơ Cảnh khuya để lại trong em nhiều cảm xúc “Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”
Bài thơ “Cảnh khuya” thể hiện tình yêu thiên nhiên song hành cũng là tình yêu nước sâu đậm của Bác trong một đêm trăng ở núi rừng Việt Bắc
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”
Khi mọi người đã chìm sâu vào giấc ngủ, một màn đêm thanh tĩnh buông xuống khắp khu rừng, nó làm cho tiếng suối dủ ở rất xa vẫn theo gió mang tiếng ca êm đềm, trong vắt của mình cho những người yêu vẻ đẹp sáng ngời của đêm trăng cùng thưởng thức. Tiếng suối và ánh trăng, chao ôi hai thứ ấy hòa quyện thì thật là tuyệt vời! Nó khiến cho người đang tham gia chính sự như Bác đã có một cảm nhận tinh tế về tiếng ca này. Tiếng suối dịu êm khoan nhặt như một khúc hát trữ tình sâu lắng. Bác đã khéo léo dùng nghệ thuật lấy động tả một khung cánh yên tĩnh có thể nghe rõ âm vang từ xa vọng lại. Và Người đã so sánh tiếng suối với tiếng hát để nhấn mạnh nét gợi tả mang sức sống và hơi ấm của con người. Sự ví von trên đã làm cho em nhớ lại câu thơ trong tác phẩm “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi từng viết
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.”
Mỗi vần thơ, mỗi khung cảnh, âm thanh đều là tiếng suối nhưng được cảm nhận khác nhau ở nhiều khía cạnh. Song tất cả vẫn là một tình yêu thiên nhiên. Câu thơ đã cho ta thấy rằng: dù là một vĩ lãnh tụ cách mạng nhưng Bác vẫn mang tâm hồn tràn đầy tình cảm lãng mạn, đẹp đẽ. Cám ơn Bác, ngòi bút tài hoa và tâm hồn yêu thiên nhiên say đắm của Người đã giúp em cảm nhận sự ngọt ngào, du dương của âm thanh suối chảy
“Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”
Ánh sáng dịu dàng, thanh khiết từ ánh trăng len lõi chiếu vào lá và hoa tạo nên vẻ đẹp lấp lánh. Hoa lá nghiêng bong trên mặt đất tạo nên những bức tranh lấp loá, lúc ẩn lúc hiện. Hoa lá cỏ cây và ánh trăng lồng quyện vào nhau, trăng đan vào cậy cổ thụ, trăng tràn vào hoa. Đó như một bức tranh tuyệt vời của đất nước. Bác đã làm mọi sự vật sống động qua nghệ thuật nhân hóa “lồng” để miêu tả đan xen cay lá và ánh trăng. Bác quả là một người đa cảm và có tâm hồn vô cùng phong phú! Trăng trở nên thú vị và lãng mạn trong cảnh khuya sáng ngời, lung linh, huyền ảo. Đọc thơ mà em cứ hình dung cảnh thơ như đang hiện lên mờ ảo trước mắt. Khung cảnh thật thơ mộng kết hợp với nhạc tạo nên một bức tranh đầy sinh động. Vì vẻ đẹp bất tận của mình, trăng là người bạn của các nhà thơ, ta khó có thể hững hờ với vẻ đẹp của trăng
“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ”
Đọc đến đây ai cũng nghĩ Bác vẫn còn thức vì trăng, vì sự cuốn hút của thiên nhiên nhưng người không chỉ xúc động trước vẻ đẹp của đất trời mà còn vì
“Chưa ngủ vì nỗi lo nước nhà”
Nước nhà đang bị giặc xâm lăng, giày xéo, bao người còn sống trong cơ cực, lầm than. Và để nhấn mạnh nỗi lo của mình, Bác đã điệp vòng “chưa ngủ” như láy lại tâm tư của Bác, một người luôn nặng lòng với quê hương. Hai câu thơ cuối giúp ta thấy rõ hơn con người của Bác. Một con người yêu thiên nhiên tha thiết nhưng cũng chính vì yêu thiên nhiên mà luôn lo cho sự nghiệp của đất nước.Đây chính là nỗi lòng, là tâm tình của vị lãnh tụ. Đồng thời ta cũng đã thấy Bác Hồ của chúng ta dẫu bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để chiêm nghưỡng thiên nhiên, có lẽ thiên nhiên chính là người bạn giúp Bác khuây khoả, bớt đi sự vất vả mà Bác phải chăng chở suy tư. Từ đây, ta nhận thấy Bác là một người luôn biết hài hoà giữa công việc với tình yêu thiên nhiên và càng yêu thiên nhiên thì trách nhiệm đối với công việc càng cao bởi ta có thể nhận thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng đó là một nõi khao khát về một đất nước thanh bình, để ngày ngày con người được sống tự do, hạnh phúc.
Dường như trong Bác luôn xoáy sâu câu hỏi: Biết đến bao giờ đất nước mới đc tự do để con người thoả sức ngắm trăng? Đọc đến đây ta càng hiểu rõ hơn con người của Bác đó là một người luôn canh cánh trong lòng nỗi lo vì dân vì nước, vì đất nước Bác có thể hi sinh tất cả. Hình ảnh của Bác làm em dâng trào cảm xúc mến yêu, kính trọng Bác. Và ta đã luôn tự hỏi rằng: Có bao giờ Người được thảnh thơi để tận hưởng niềm vui của riêng mình? Bác thật vĩ đại trong tâm hồn em và của cả dân tộc Việt Nam. Qua bài thơ, ta cảm nhận được lòng yêu quê hương trong Bác thật sâu đậm, lớn lao và đã bắt gặp một tâm hồn thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản. Tác phẩm là một bức tranh đẹp về quê hương, về con người và sự sự hài hòa giữa cảnh và tình.
Bài thơ đã khép lại trong niềm xúc động dạt dào. Bác đã để lại cho đời những vần thơ hay đầy ý nghĩa, những vần thơ đó đã khơi dậy trong em tình yêu thiên nhiên và niềm kính yêu vô hạn vị Cha già của dân tộc. Qua bài thơ này ta càng hiểu rằng trong hoàn cảnh nào, Bác vẩn giữ được thái độ bình tĩnh chủ động như vậy, mặc dù ẩn trong phong thái ung dung tự tại ấy là nỗi lo cho nước, nỗi thương dân. Trong cuộc đời 79 năm, Bác Hồ có biết bao đêm không ngủ vì nhiều lẽ nhưng điều khiến chúng ta cảm phục vô hạn đó là ý thức, trách nhiệm của Bác trước vận mệnh nước nhà. Ý thức ấy ở Bác không chút nào xao lãng.
Nguồn Edufly
Bài làm 3
Bài thơ Cảnh khuya được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1947, khi quân và dân ta đang thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc. Sông Lô, Đoan Hùng đã đi vào lịch sử bằng những nét vàng chói lọi đầu tiên của ta trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Bài thơ thể hiện cảm hứng yêu nước mãnh liệt dạt dào ánh sáng và âm thanh. Đó là ánh sáng của trăng Việt Bắc, của lòng yêu nước sâu sắc:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Cùng với các bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc, Đi thuyền trên sông Đáy, Cảnh khuya thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu nước sâu sắc của Bác trong một đêm trăng nơi núi rừng Việt Bắc.
Hai câu thơ đầu trong bài thơ tả cảnh đêm khuya nơi núi rừng Việt Bắc. Trăng càng về đêm càng sáng. Ánh trăng lan toả bao phủ khắp mặt đất. Đêm vắng, tiếng suối nghe càng rõ. Tiếng suối chảy êm đềm nghe rất trong rì rầm từ xa vọng đến. Cảm nhận của Bác thật tinh tế, nghe suối chảy mà cảm nhận được mức độ xanh trong của dòng nước. Tiếng suối trong đêm khuya như tiếng hát xa dịu êm vang vọng, khoan nhạt như nhịp điệu của bài hát trữ tình sâu lắng. Đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tiếng suối rì rầm êm ả, vắng lặng trong đêm chiến khu. Tiếng suối và tiếng hát là nét vẽ tinh tế gợi tả núi rừng chiến khu thời máu lửa mang sức sống và hơi ấm của con người:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Sáu trăm năm trước trong bài thơ Bài ca Côn Sơn Ức Trai đã có cảm nhận cực kỳ tinh tế về dòng suối Côn Sơn:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bền tai
Tiếng suối nghe sao mà êm đềm thơ mộng đến thế. Nó như những giọt của cây đàn cầm vang vọng bên tay. Đầu thế kỷ XX Nguyễn Khuyến đã từng viết về dòng suối như sau:
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo…
Mỗi một vần thơ, mỗi một khung cảnh, âm thanh của suối chảy được cảm nhận tinh tế khác nhau. Sau tiếng suối nghe như tiếng hát xa kia là trăng chiến khu. Ánh trăng chiến khu sao mà sáng và đẹp thế. Tầng cao là trăng, tầng giữa là cổ thụ, tầng thấp là hoa – hoa rừng. Cả núi rừng Việt Bắc đang tràn ngập dưới ánh trăng. Ánh trăng bao phủ khắp không trung mát dịu, len lỏi xuyên qua kẽ lá, tán cây, ánh trăng như âu yếm, hoà quyện cùng thiên nhiên cây cỏ. Ánh trăng như xoáy và lồng vào những tán lá. Và trên mặt đất những đoá hoa rừng đang ngậm sương đêm cùng với bóng cổ thụ đan xen trên mặt đất. Đêm thanh, trên không trung dường như chỉ có vầng trăng ngự trị. Đêm vắng, trăng thanh mặt đất cỏ cây như ngừng thở để đón đợi ánh trăng mát lạnh dịu hiền mơn man ôm ấp:
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Chữ lồng điệp lại hai lần đã nhân hoá vầng trăng, cổ thụ và hoa. Trăng như người mẹ hiền đang tiếp cho muôn vật trần gian dòng sữa ngọt ngào. Trăng trở nên thi vị, trữ tình lãng mạn. Chữ lồng gợi cho ta nhớ đến những câu thơ sau trong Chinh phụ ngâm:
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng…
Trong câu có tiểu đối trăng lồng cổ thụ / bóng lồng hoa tạo sự cân xứng trong bức tranh về trăng, ngôn ngữ thơ trang trọng, điêu luyện tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp tràn đầy chất thơ. Cảnh khuya trong sáng, lung linh huyền ảo. Đọc vần thơ ta nghe như có nhạc, có hoạ, bức tranh cảnh núi rừng Việt Bắc thơ mộng biết bao. Người xưa từng nói thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc quả thật không sai. Đối với Bác trăng đã trở nên tri âm tri kỷ nên làm sao có thể hờ hững trước cảnh đẹp đêm nay. Trong ngục tối bị giam cầm, trước ánh trăng tuyệt đẹp Bác Hồ cũng đã có những vần thơ tuyệt diệu:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ…
(Ngắm trăng)
Một thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang sống những giây phút thần tiên giữa cảnh khuya chiến khu Việt Bắc. Giữa bức tranh thiên nhiên rộng lớn và hữu tình như vậy, tâm trạng thi sĩ bỗng vút cao thả hồn theo cảnh đẹp đêm trăng bởi đêm nay Bác không ngủ. Trước cảnh đẹp đêm trăng: có suối, có hoa lá, núi ngàn, và cả tâm trạng của Bác. Bác không chỉ xúc động trước cảnh đẹp thiên nhiên mà:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Nước nhà đang bị giặc xâm lăng giày xéo, biết bao đồng chí đang bị gông cùm xiềng xích. Cuộc đời còn lầm than cơ cực, bao năm Bác bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than. Nay nước nhà còn đang chìm trong khói lửa đạn bom lòng Bác sao có thể ngủ yên giấc được. Chưa ngủ không hẳn chỉ vì cảnh đẹp đêm nay mà chưa ngủ vì nỗi nước nhà.
Nỗi nhớ nhà lo cho nước nhà làm cho trái tim Bác luôn thổn thức. Bác thức trong đêm khuya trằn trọc băn khoăn không sao ngủ được. Lòng yêu nước sâu sắc mãnh liệt xiết bao. Đã có biết bao đêm Bác Hồ của chúng ta cũng mất ngủ như vậy:
Một canh, hai canh, lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh
(Không ngủ được)
Hình ảnh sao vàng chính là tự do độc lập, niềm thao thức mơ ngày mai ánh hồng soi đất nước hoà bình. Một tâm hồn nghệ sĩ thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng yêu nước tha thiết của Bác.
Bài thơ Cảnh khuya là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cực hay, là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác. Giữa chốn rừng Việt Bắc tràn ngập ánh trăng, lòng Bác luôn thao thức vì nỗi nước nhà. Đó là nét đẹp riêng của bài thơ, cảm hứng thiên nhiên nhiên chan hoà trong lòng yêu nước sâu sắc. Thương dân, lo cho nước, yêu trăng… như dẫn hồn ta vào giấc mộng đẹp. Đọc thơ Bác giúp ta càng biết ơn, yêu kính Bác Hồ hơn.
Bài làm 4
Bác Hồ của chúng ta sau những giờ phút vất vả cũng tìm đến trăng để tạm quên đi những vất vả. Biết bao nhiêu công việc bề bộn. Thế nhưng khi đọc bài thơ Cảnh Khuya của Bác, ta vẫn thấy hiên lên một bức tranh thiên nhiên đẹp.Bài thơ cho em hiuể rõ hơn về bác, đó là một con người ko chỉ có tình yêu đối với nhân loại mà còn có một tình yêu sâu đậm với thiên nhiên. Bài thơ hiện lên như một bức tranh:
Trăng lồng cổ thụ bong lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
Hai câu thơ đầu:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bong lồng hoa.
Đọc hai câu thơ này ta cảm nhận được một không gian tĩnh lặng, đó là vào một đêm khuya trong khu rừng của chiến khu Việt Bắc, nơi đang diễn ra một cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt của quân và dân ta trong 9 năm chống quân Pháp xâm lược. Giữa bề bộn công việc ấy,Bác Hồ của chúng ta vẫn dành một khoảng thời gian để tìm đến với thiên nhiên hiện lên như một bức tranh phong cảnh thật đẹp. Ta có thể thấy tất cả như đang chìm đắm say sưa trong khung cảnh thiên nhiên của đất trời. Cảnh vật như ngừng lặng, chỉ nghe đâu đây tiếng suối chảy rì rầm và nghe văng vẳng như tiếng hát cất lên nhẹ nhàng trong trẻo, lan toả, ngân vang khắp núi rừng. Đặc biệt là âm thanh càng trở nên nhẹ nhàng, ngân vang khi nó được cất lên dưới ánh trăng vàng. Ánh trăng sang chiếu vào lá và hoa tạo nên vẻ đẹp lấp lánh. Hoa lá nghiêng bong trên mặt đất tạo nên những bức tranh lấp loá, lúc ẩn lúc hiện. Hoa lá cỏ cây và ánh trăng lồng quyện vào nhau, trăng đan vào cậy cổ thụ, trăng tràn vào hoa. Hình ảnh trăng lồng hoa này khiến ta gợi nhớ đến câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc:
Hoa giãi nguyệt,nguyệt in một tấm,
Nguỵêt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng Thế nhưng bức tranh của thơ xưa đọc lên ta thấy đượm buồn và ko thể hiện đc rõ nét vẻ đẹp thơ mộng, trong trẻo của thiên nhiên. Và có một sự khác biệt nữa là bức tranh của Bác Hồ có sức sống hơn hơn khi giữa khung cảnh đó ta còn nghe tiếng suối chảy như tiếng hát xa vọng lại. Tiếng hát khiến cho không gian của đêm khuya vắng lặng như chợt tỉnh, ở đây Bác Hồ đã sử dụng nghệ thuật lấy động để tả tĩnh, lấy tiếng suối để gợi tả sự yên tĩnh, vắng lặng của đêm khuya ở chiến khu Việt Bắc.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Đọc câu thơ ta nghe văng vẳng như âm vang của tiếng suối chảy ở Côn Sơn mà sáu chăm năm về trước Nguyễn Traĩ đã từng nghe thấy:
Côn sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Chỉ có 2 câu thơ ngắn gọn nhưng khi đọc lên chúng ta như thấy hiện ra 1 bức tranh tuyệt đẹp. Ở đó có dòng suối chảy, hơn thế còn có cả tiếng suối chảy róc rách. Và tất cả như đang ẩn hiện dưới bong’ cây loang loáng ánh trăng. Ánh trăng trong veo, vàng dịu toả khắp cánh rừng tạo nên 1 khung cảnh đẹp, lung linh huyền bí. Bài thơ gồm 4 câu thơ vậy mà Bác đã dành 1 nửa để miêu tả thiên nhiên, nên mới đọc qua ta tưởng Bác đang thả tất cả tâm hồn của mình với thiên nhiên và ta có cảm giác như vẻ đẹp thiên nhiên khiến tâm hồn Bác thật sự thanh thản, tạo quên đi những khó khăn vất vả của cuộc kháng chiến đang diễn ra gay go, quyết liệt. Nhưng chúng ta thấy nếu ở 2 câu thơ đầu Bác chỉ miêu tả về thiên nhiên thỳ đến 2 câu thơ cuối ta chợt nhận thấy đó là 1 tâm hồn đang trằn trọc “chưa ngủ” vì 1 lẽ rất cao cả “lo nỗi nước nhà”:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Hai câu thơ cuối gíup ta thấy rõ hơn con người của Bác. Một con người yêu thiên nhiên tha thiết nhưng cũng chính vì yêu thiên nhiên mà luôn lo cho sự nghiệp của đất nước.Đây chính là nỗi lòng, là tâm tình của thi nhân, của vị lãnh tụ.Đồng thời ta cũng có thể thấy Bác Hhồ của chúng ta dẫu bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để chiêm nghưỡng thiên nhiên. Có lẽ thiên nhiên chính là người bạn giúp Bác khuây khoả, bớt đi sự vất vả mà hàng giò hàng phút Bác phải chăng chở suy tư. Từ đây ta nhân thấy Bác là một người luôn biết hài hoà giữa công việc với tình yêu thiên nhiên.Và càng yêu thiên nhiên thì trách nhiệm đối với công việc càng cao bởi ta có thể nhận thấy đằng sau hình ảnh người ung dung ngắm trăng đó là một nõi khao khát về một đất nứơc thanh bình, để ngày ngày con người đc sống tự do, hạnh phúc. Dường như trong Bác luôn xoáy sâu câu hỏi: Biết đến bao giờ đất nứơc mới đc tự do để con người thoả sức ngắm trăng?
Đọc đến đây ta càng hiểu rõ hơn con người của Bác đó là một người luôn canh cánh trong lòng nỗi lo vì dân vì nước.Vì đất nước Bác có thể hi sinh tất cả.Đối với trẻ thơ Bác HỒ cũng luôn dành tình yêu thương nhất:
Trung Thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đông.
Sự hi sinh của Bác đã đc đền đáp, đất nước chúng ta đẫ thanh bình,tự do, hạnh phúc.Chúng ta có thể thả sức ngắm trăng và dưới ánh trăng lung linh huyền ảo ấy ta vẫn như thấy đâu đây hình ảnh Bác ung dung,thanh thản,mỉm cười dưới ánh trăng.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh Khuya
phat bieu cam nghi ve bai canh khuya
cam nghi ve bai tho canh khuya
Cam nghi bai canh khuya
cảm nghĩ về bài cảnh khuya
thể hiện tình cảm của em đối với bác trong bài thơ Cảnh Khuya
cam nghi ve bai tho canh khuya lop 7
Phat bieu cam nghi ve mot bai tho ma anh yeu thich trên facebook
phat bieu cam nghi ve mot bai tho ma anh chi yeu thich
phat bieu cam nghi ve mot bai tho hoac mot nha gho ma anh chi yeu thich
phân tích bài thơ cảnh khuya
phan tich canh khuya
cảm nghĩ về bài thơ cảnh khuya
phan tich bai tho canh khuya cua Hô Chi Minh
cam nhan ve bai tho canh khuya
cảnh khuya
phân tích bài cảnh khuya
nêu cảm nhận của em về bài thơ cảnh khuya
Cam nhan bai canh khuya
bai tho canh khuya | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya lớp 7 | 4,473 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya ngắn gọn
Hướng dẫn
Cảnh khuya là một bài thơ rất hay và thường được làm đề thi hoặc đề kiểm tra 1 tiết, phổ biến nhất là: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. Sau đây mời các em tham khảo bài mẫu của blogvan vừa ngắn gọn vừa hay được sưu tầm và biên soạn.
Cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
Trong tất cả những bài thơ của Bác Hồ giai đoạn kháng chiến thì em thích nhất là bài “Cảnh khuya”. Mặc dù bài thơ chỉ vỏn vẹn 4 câu thơ, nhưng đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ở núi rừng Việt Bắc, có rừng cây, có trăng sáng, có tiếng suối, và đặc biệt có một người đang ở đó thao thức không ngủ được vì lo lắng cho sự an nguy của nước nhà.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
Ở hai câu thơ đầu, Bác đã dùng tâm hồn của một người thi sĩ để vẽ nên bức tranh thiên nhiên đẹp hoàn mỹ. Bức tranh núi rừng hiện ra rất sinh động bởi nó có cả tiếng suối, có trăng, có bóng hoa.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
“Tiếng suối” được ví von với “tiếng hát xa” gợi cho ta một cảm giác thanh bình. Có lẽ không gian đó yên ắng lắm, mọi người, mọi vật đã chìm vào giấc ngủ, thì Bác mới có thể lắng nghe được tiếng suối từ sau khe núi vọng về. Nhưng dưới ngòi bút và tâm hồn lãng mạn của chủ tịch Hồ Chí Minh, thì nó nghe như tiếng hát, lời hát ngọt ngào, quen thuộc gần gũi như ở quê nhà. Bất chợt Bác nhìn lên bầu trời và nhìn thấy được một cảnh tượng thật đẹp.
Hình ảnh “trăng” xuất hiện không ít ở trong văn thơ, và ngay trong nhiều sáng tác của Hồ Chủ Tịch thì vẫn đã có bóng dáng của trăng, tuy nhiên ở bài thơ này, trăng hiện lên đẹp biết bao. Ánh trăng sáng luồn qua tầng cây cổ thụ, rồi sau đó chiếu xuống mặt đất trông như những bông hoa. Tâm hồn của Bác thật quá đỗi nên thơ, một hình ảnh mà chúng ta nghĩ rằng nó vô cùng quen thuộc, nhưng dưới ngòi bút của thi sĩ, nó được nâng lên một tầm mới, là vẻ đẹp nghệ thuật.
Vâng, chỉ mới hai câu thơ thôi, nhưng Bác Hồ kính yêu đã vẽ nên một bức tranh thơ mộng hữu tình giữa núi rừng hoang vu của Việt Bắc, điều này vừa cho thấy vẻ đẹp tâm hồn, tinh thần lạc quan yêu đời của Bác, vừa thể hiện được sự tinh tế, những rung cảm tuyệt vời không phải ai cũng có. Điều đáng nói ở đây là Bác đã dùng những từ ngữ giàu hình ảnh cùng lối gieo vần, chữ như đang tự sự, rất giản đơn, ngắn gọn mà súc tích, ai trong chúng ta đọc lên cũng có thể tưởng tượng ra ngay khung cảnh Tây Bắc lúc đó như thế nào.
Tiếp nối những rung cảm về cảnh vật thiên nhiên, Bác nhìn lại sự tồn tại của mình.
“Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”
Không phải một lời biện minh, nhưng hai câu thơ này Bác như đang tự trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người chưa ngủ”. Giữa đêm khuya thanh vắng, chỉ còn văng vẳng tiếng suối, có ánh trăng sáng soi, có bóng cây, có “hoa”, nhưng chỉ khi “người chưa ngủ” mới có thể cảm nhận được vẻ đẹp đầy huyền bí ở nơi rừng núi như thế này được. Bác bộc bạch: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”
Con người chiến sĩ hòa quyện với tâm hồn thi sĩ tạo nên một tác phẩm “bất hủ” mà hầu như ai cũng thuộc lòng từng câu từng chữ.
Cảnh khuya không chỉ đẹp vì cảnh, mà nó còn đẹp vì tình, là tình yêu thương mà Bác Hồ dành cho hàng triệu trái tim người dân Việt Nam, là tình yêu dân tộc, yêu quê hương hết thảy. Thiết nghĩ, không biết chỉ một đêm hay biết bao nhiêu đêm Bác thao thức “vì lo nỗi nước nhà”? Càng đọc bài thơ này, em lại càng yêu mến và khâm phục trước tinh thần, nghị lực của Bác Hồ kính yêu.
Bài văn mẫu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya trên đây hi vọng đã giúp các em có thêm những câu văn, đoạn văn hay để giúp bài văn của mình hoàn thiện hơn. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya ngắn gọn | 807 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
Bài làm
Trong những bài thơ Bác Hồ làm ở chiến khu VIệt Bắc thời kì kháng chiến chống Pháp, “Cảnh khuya” là bài thơ gây cho em sự xúc động và ngượng mộ.
Càng đọc bài thơ “Cảnh khuya”, em càng thấy Bác là người yêu thiên nhiên, có tâm hồn nghệ sĩ và Bác cũng là người chiến sĩ cách mạng luôn lo lắng cho vận mệnh đất nước.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.”
Cảnh thiên nhiên bỗng trở nên gần gũi, thân thiết với con người hơn nhờ biện pháp so sánh tài tình và độc đáo: tiếng suối trong như tiếng hát xa. Ta nghe như thấy âm thanh trong trẻo, du dương của tiếng suối. Và phải chăng suối cũng như một con người nên tiếng suối mới trong trẻo như tiếng hát?
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya
Tiếng suối làm nổi bật cảnh tĩnh lặng, sâu lắng trong đêm khuya, ánh trăng làm cho cảnh vật thơ mộng:
“Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”.
Trăng chiếu lên vòm cổ thụ, nhưng như lồng vào đó ánh sáng mát dịu của mình. Trăng rọi qua kẽ lá in xuống mặt đất tạo thành muôn vàn đốm sáng lung linh như hoa. Hoa sáng của ánh trăng lồng vào hoa trên mặt đất đang mở cánh uống sươn đêm. Cảnh vừa thực nhưng lại vừa ảo, mà nghiêng về ảo. Trăng sáng, cây cổ thụ, bóng hoa và hoa trên mặt đất tuy ở ba tầng bậc khác nhau mà như gắn bó, đan xen vào nhau, tôn vẻ đẹp của nhau. Sự gắn bó ấy chính là từ “lồng” nối trăng với cổ thụ, nối bóng cổ thụ với hoa.
“Cảnh khuya như vẻ người chưa ngủ”
Mới đọc đến câu thơ thứ ba thì ai cũng đoán Bác chưa ngủ, Bác không ngủ được vì cảnh đẹp. Bác chỉ so sánh cảnh như “vẽ”. Như vẽ là thế nào, mỗi người đọc tự tưởng tượng. Nhưng như vẽ có nghĩa là rất đẹp, cũng giống như trong ca dao ví cảnh “như tranh họa đồ”. Tuy thế, câu thơ thứ tư Bác cho biết: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Hóa ra không phải Bác thức khuya để ngắm cảnh đẹp. Bác thức khuya vì lo nỗi nước nhà.
Đã bao đêm Bác thao thức. Đêm nay Bác cũng thức khuya để lo việc nước, nhưng chợt gặp cảnh thiên nhiên tươi đẹp, lòng người xúc động mà bật ra những vần thơ của bài “Cảnh khuya” chứ không phải Bác ngắm cảnh để làm thơ. Bác bận trăm công ngàn việc, lo lắng vì vận mệnh đất nước, nhưng trong khoảnh khắc, Người vẫn cảm nhận được sự tươi đẹp, thơ mộng của thiên nhiên. Người nghệ sĩ và người chiến sĩ trong Bác luôn luôn gắn bó. Điều này khiến cho em hay bất cứ ai đọc thơ đều yêu kính, khâm phục tâm hồn của Bác, tấm lòng của Bác.
Đọc bài thơ “Cảnh khuya”, em vừa say mê, thích thúc với cảnh, vừa kính phục phẩm chất và tâm hồn của Bác. Bài thơ chỉ cho chúng ta biết một đêm thức khuya, không ngủ của Người. Nhưng Bác còn bao nhiêu đêm thao thức, Bác còn bao nhiêu đêm không ngủ vì “thương đoàn dân công”, vì “lo nỗi nước nhà”? | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Cảnh khuya | 572 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của nhà thơ Hạ Tri Chương.
Hướng dẫn
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của nhà thơ Hạ Tri Chương.
Hạ Tri Chương (659-744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, ông còn là bạn vong niên của thi tiên Lí Bạch. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê là một trong số những bài thơ hay nổi tiếng viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện khá rõ tình cảm tha thiết, nỗi lòng của một người con xa quê hương sau mấy chục năm nay mới trở lại.
Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, điều khiến người ta buồn nhất, khắc khoải nhất là phải sống xa quê. Mà sẽ là buồn hơn nữa nếu lại phải xa quê mấy chục năm trời không được một lần trở lại. Đến cuối đời may mắn được trở về thăm quê hương thì có lẽ sẽ chẳng còn ai nhớ đến, đứng giữa quê mình mà chẳng ai còn nhận ra, người ta cứ ngỡ khách lạ về làng. Và Hạ Tri Chương đã rơi vào tình cảnh ấy. Mở đầu bài thơ tác giả viết:
Thiếu tiểu li gia lão đại hồi (Trẻ đi, già trở lại nhà)
Câu thơ nói về một hoàn cảnh đối lập, đó là ngày Hạ Tri Chương ra đi và ngày trở về của ông. Trong cuộc đời con người sự ra đi hay trở vế sẽ chỉ là những chuyến đi bình thường nếu người ta đi vài ngày vài năm, nhưng sẽ là vấn đề nếu thời giàn ra đi kéo dài hàng mấy chục năm trời. Ngày ra đi, Hạ Tri Chương vẫn còn rất trẻ và cho đến ngày trở về đã thành một ông lão. Cả một quãng thời gian quá dài đủ khiến một con người tình nghĩa như nhà thơ nhớ quê đến mức độ nào. Có lẽ chúng ta cũng có thổ hiểu được đó là một nỗi nhớ quê da diết, dẫu cho cuộc sống của ông những ngày xa quê đẩy đủ và sung túc. Tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương được thể hiện ở câu tiếp theo.
(Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu)
Xa quê đã mấy chục năm nhưng tình cảm với quê hương ông vẫn giữ. Điều đó được thể hiện ở giọng quê ông vẫn giữ được, giữ được giọng quê đối với người xa quê mấy chục năm trời là một điều vô cùng quý giá. Thực ra trong cuộc sống có rất nhiều người xa quê thì dường như họ sẽ thay đổi tất cả từ giọng nói cho đến phong cách cử chỉ nhưng với Hạ Tri Chương thì điều đó không hề xảy ra. Chứng tỏ ông không hề quên nơi đã sinh ra mình, cho mình một cuộc sống, nơi có biết bao kỉ niệm, có người mẹ đã nuôi ông lớn lên bằng dòng sữa ngọt ngào, ru ông bằng những câu hát ân tình, tha thiết…Như vậy thời gian chỉ có thể làm thay đổi được mái tóc, được vẻ bên ngoài của con người chứ không thể thay đổi được những nét bên trong, nét quê ẩn chứa trong ông. Ta thấy tình cảm của ông đối với quê hương thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao nhiêu. Bởi ta biết rằng ông từng làm quan to trong triều đình, được bao người trọng vọng, ở một môi trường như thế con người rất dễ thay đổi, thực tế không ít người quay lưng lại với quê hương mình bằng cách thay đổi giọng nói cho phù hợp với nơi đô thị. Hạ Tri Chương quả có một tâm hồn thủy chung, nghĩa tình với quê hương của mình.
Một con người yêu quê hương tha thiết như ông sẽ càng buồn hơn khi xa quê, nhớ quê mà chẳng được về thăm quê, để đến mấy chục năm sau mới được trở về, với biết bao bồi hồi và xúc động. Tuy nhiên, về đến làng, ông phải đối diện với một nghịch lý: Trước nơi đã sinh ra mình, ông chỉ là một người lạ:
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai
(Gặp nhau mà chẳng biết nhau
Trẻ cười, hỏi: “Khách từ đâu đến làng”
Có điều gì đó hóm hỉnh trong câu thơ này khiến ta phải bật cười nhưng dường như đó là một cái cười chẳng trọn vẹn bởi một người con được sinh ra chính từ mảnh đất ấy nay lại được xem như một người khách lạ. Cảnh cũ còn đây nhưng bạn cũ người xưa ai còn ai mất tác giả chẳng biết và dường như chẳng còn ai nhận ra mình nữa, dường như chẳng còn ai nhận ra tác giả là chàng Hạ Tri Chương năm xưa đã sinh ra từ ngôi làng này. Họ ngỡ đâu khách lạ về thăm làng. Có cái gì đó thật nghịch lí, người của làng mà lại trở thành khách lạ. Trẻ con hồn nhiên chào hỏi: có phải là khách lạ tờ phương xa đến. Đọc những câu thơ này, ta có thể tưởng tượng một người đàn ông đứng lạc lõng giữa làng, khuôn mặt vừa vui mừng, sung sướng vì được đứng trên mảnh đất thân yêu nhưng lại vừa thoáng nét buồn vì những người qua lại chẳng ai để tâm đến, một cảm giác thất vọng, hẫng hụt của tác giả khi đứng giữa quê mình. Bao năm xa quê mong ngày trở lại thăm quê vậy mà khi đứng trên mảnh đất thân yêu của mình thì dường như tất cả không còn là của mình nữa. Song thực ra điều đó cũng là tất nhiên bởi thời gian mà Hạ Tri Chương xa quê đâu phải vài ngày, vài năm mà đã hơn nửa thế kĩ, vì vậy người trẻ không biết là lẽ thường tình. Dẫu vậy bài thơ cũng giúp ta thấy được tình cảm chân thành, thủy chung của tác giả, một người đã từng có danh vọng cao sang nhưng vẫn không quên được tình cảm với cố hương. Đó là một con người đáng trân trọng. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng có câu thơ nói về tình cảm của người xa quê.
Mai về, dù bạc tóc anh cũng về.
Tình cảm quê hương là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người và tác phẩm “Hồi hương cố tri” của Hạ Tri Chương là một bài thơ rất hay, tất cả tấm lòng nhà thơ được gói gọn trong bốn câu thơ đầy ý nghĩa. Tác giả đã rất thành công khi sử dụng thủ pháp nghệ thuật như tiểu đối hay tính hàm xúc nói ít gợi nhiều. Bài thơ đã giúp người đọc thấu hiểu hơn tâm trạng của người khách li hương.
Bài thơ khép lại nhưng vẫn để lại dư âm khó quên trong lòng người đọc. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của nhà thơ Hạ Tri Chương. | 1,190 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
Hướng dẫn
Mở bài:
-Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm
-Ấn tượng bước đầu của em về văn bản.
Thân bài:
-Trình bày cảm nghĩ của em về tác giả- một vị quan khi 86 tuổi đã từ dã kinh đô về thăm quê cũ sau cả một đời rời xa quê hương.
-Cảm nghĩ về tâm sự của Hạ Tri Chương trong buổi đầu đặt chân lên mảnh đâT quê hương.
-Tác dụng của pháp đối trong việc kể lại sự việc: đi – về, việc miêu tả giọng nói và mái tóc.
-Tâm trạng xót xa vì đã trở thành người khách bất dắc dĩ trên quê hương cúa mình.
-Thể hiện tấm lòng yêu quê hương tha thiết của tác giả.
Kết bài:
Bài học về tình quê hương mà bài thơ đã mang lại cho em.
Tham khảo bài làm tại đây
Hạ Tri Chương (659-744) là một trong những thi sĩ lớn đời Đường, ông còn là bạn vong niên của thi tiên Lí Bạch. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê là một trong số những bài thơ hay nổi tiếng viết về đề tài tình yêu quê hương đất nước. Bài thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện khá rõ tình cảm tha thiết, nỗi lòng của một người con xa quê hương sau mấy chục năm nay mới trở lại.
Có lẽ trong cuộc đời mỗi con người, điều khiến người ta buồn nhất, khắc khoải nhất là phải sống xa quê. Mà sẽ là buồn hơn nữa nếu lại phải xa quê mấy chục năm trời không được một lần trở lại. Đến cuối đời may mắn được trở về thăm quê hương thì có lẽ sẽ chẳng còn ai nhớ đến, đứng giữa quê mình mà chẳng ai còn nhận ra, người ta cứ ngỡ khách lạ về làng. Và Hạ Tri Chương đã rơi vào tình cảnh ấy. Mở đầu bài thơ tác giả viết:
(Trẻ đi, già trở lại nhà)
Câu thơ nói về một hoàn cảnh đối lập, đó là ngày Hạ Tri Chương ra đi và ngày trở về của ông. Trong cuộc đời con người sự ra đi hay trở vế sẽ chỉ là những chuyến đi bình thường nếu người ta đi vài ngày vài năm, nhưng sẽ là vấn đề nếu thời giàn ra đi kéo dài hàng mấy chục năm trời. Ngày ra đi, Hạ Tri Chương vẫn còn rất trẻ và cho đến ngày trở về đã thành một ông lão. Cả một quãng thời gian quá dài đủ khiến một con người tình nghĩa như nhà thơ nhớ quê đến mức độ nào. Có lẽ chúng ta cũng có thổ hiểu được đó là một nỗi nhớ quê da diết, dẫu cho cuộc sống của ông những ngày xa quê đẩy đủ và sung túc. Tình cảm gắn bó, tha thiết với quê hương được thể hiện ở câu tiếp theo.
Hương âm vô cải mấn mao tồi
(Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu)
Xa quê đã mấy chục năm nhưng tình cảm với quê hương ông vẫn giữ. Điều đó được thể hiện ở giọng quê ông vẫn giữ được, giữ được giọng quê đối với người xa quê mấy chục năm trời là một điều vô cùng quý giá. Thực ra trong cuộc sống có rất nhiều người xa quê thì dường như họ sẽ thay đổi tất cả từ giọng nói cho đến phong cách cử chỉ nhưng với Hạ Tri Chương thì điều đó không hề xảy ra. Chứng tỏ ông không hề quên nơi đã sinh ra mình, cho mình một cuộc sống, nơi có biết bao kỉ niệm, có người mẹ đã nuôi ông lớn lên bằng dòng sữa ngọt ngào, ru ông bằng những câu hát ân tình, tha thiết…Như vậy thời gian chỉ có thể làm thay đổi được mái tóc, được vẻ bên ngoài của con người chứ không thể thay đổi được những nét bên trong, nét quê ẩn chứa trong ông. Ta thấy tình cảm của ông đối với quê hương thật đáng quý, đáng trân trọng biết bao nhiêu. Bởi ta biết rằng ông từng làm quan to trong triều đình, được bao người trọng vọng, ở một môi trường như thế con người rất dễ thay đổi, thực tế không ít người quay lưng lại với quê hương mình bằng cách thay đổi giọng nói cho phù hợp với nơi đô thị. Hạ Tri Chương quả có một tâm hồn thủy chung, nghĩa tình với quê hương của mình.
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiểu vấn: Khách tòng hà xứ lai
(Gặp nhau mà chẳng biết nhau
Trẻ cười, hỏi: “Khách từ đâu đến làng”
Có điều gì đó hóm hỉnh trong câu thơ này khiến ta phải bật cười nhưng dường như đó là một cái cười chẳng trọn vẹn bởi một người con được sinh ra chính từ mảnh đất ấy nay lại được xem như một người khách lạ. Cảnh cũ còn đây nhưng bạn cũ người xưa ai còn ai mất tác giả chẳng biết và dường như chẳng còn ai nhận ra mình nữa, dường như chẳng còn ai nhận ra tác giả là chàng Hạ Tri Chương năm xưa đã sinh ra từ ngôi làng này. Họ ngỡ đâu khách lạ về thăm làng. Có cái gì đó thật nghịch lí, người của làng mà lại trở thành khách lạ. Trẻ con hồn nhiên chào hỏi: có phải là khách lạ tờ phương xa đến. Đọc những câu thơ này, ta có thể tưởng tượng một người đàn ông đứng lạc lõng giữa làng, khuôn mặt vừa vui mừng, sung sướng vì được đứng trên mảnh đất thân yêu nhưng lại vừa thoáng nét buồn vì những người qua lại chẳng ai để tâm đến, một cảm giác thất vọng, hẫng hụt của tác giả khi đứng giữa quê mình. Bao năm xa quê mong ngày trở lại thăm quê vậy mà khi đứng trên mảnh đất thân yêu của mình thì dường như tất cả không còn là của mình nữa. Song thực ra điều đó cũng là tất nhiên bởi thời gian mà Hạ Tri Chương xa quê đâu phải vài ngày, vài năm mà đã hơn nửa thế kĩ, vì vậy người trẻ không biết là lẽ thường tình. Dẫu vậy bài thơ cũng giúp ta thấy được tình cảm chân thành, thủy chung của tác giả, một người đã từng có danh vọng cao sang nhưng vẫn không quên được tình cảm với cố hương. Đó là một con người đáng trân trọng. Nhà thơ Tố Hữu cũng từng có câu thơ nói về tình cảm của người xa quê.
Mai về, dù bạc tóc anh cũng về.
Tình cảm quê hương là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi con người và tác phẩm “Hồi hương cố tri” của Hạ Tri Chương là một bài thơ rất hay, tất cả tấm lòng nhà thơ được gói gọn trong bốn câu thơ đầy ý nghĩa. Tác giả đã rất thành công khi sử dụng thủ pháp nghệ thuật như tiểu đối hay tính hàm xúc nói ít gợi nhiều. Bài thơ đã giúp người đọc thấu hiểu hơn tâm trạng của người khách li hương.
Bài thơ khép lại nhưng vẫn để lại dư âm khó quên trong lòng người đọc. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê | 1,231 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải.
Bài làm
Trần Quang Khải (1241 – 1294) là con thứ ba của vua Trần Thánh Tông. Ông được phong chức thượng tướng vì có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông (1284 – 1287) và là một trong những anh hùng đã đem tài thao lược làm nên chiến công Chương Dương, Hàm Tử lừng lẫy muôn đời. Trần Quang Khải không chỉ là một võ tướng kiệt xuất mà còn là một thi sĩ tài hoa.
Bài thơ Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) được sáng tác trong hoàn cảnh thượng tướng cùng đoàn tùy tùng đi đón hai vua Trần (vua cha Trần Thánh Tông và vua con Trần Nhân Tông) về Thăng Long sau khi kinh đô được giải phóng. Sau đây là nguyên tác bằng chữ Hán:
Tụng giá hoàn kinh sư
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu nỗ lực,
Vạn cổ thử giang san.
Dịch ra thơ tiếng Việt:
Phò giá về kinh
Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
(Trần Trọng Kim dịch)
Hình thức bài thơ tuy ngắn gọn, cô đúc nhưng đã thể hiện được hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần.
Tác giả đã ghi lại hai chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt vào xuân – hè năm Ất Dậu 1285:
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
(Chương Dương cướp giáo giặc Hàm Tử bắt quân thù.)
Chương Dương là bến sông nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (cũ), nay là Hà Tây. Chiến thắng Chương Dương diễn ra vào tháng 6 năm Ất Dậu (1285) do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm Tử là địa danh ở tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Chiến thắng Hàm Tử vào tháng 4 cùng năm do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Trần Quang Khải.
Đây là những trận Thủy chiến dữ dội nổ ra trên chiến tuyến sông Hồng. Trận Hàm Tử diễn ra vào tháng 4, tướng Trần Nhật Duật chém được Toa Đô. Hai tháng sau, Trần Quang Khải đại thắng giặc Nguyên – Mông tại Chương Dương độ. Hàng vạn tên lính xâm lược phần bị tiều diệt, phần bị bắt làm tù binh. Quân ta chiếm được nhiều chiến thuyền, vũ khì và lương thảo của giặc.
Hai câu thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với nhịp thơ nhanh, gấp và các động từ biểu thị động tác mạnh mẽ, dứt khoát (đoạt: cướp lấy; cầm: bắt) thể hiện nhịp độ dồn dập, sôi động, quyết liệt của chiến trận. Tác giả không dừng lâu ở những chiến công và cũng không tỏ ra say sưa với chiến thắng nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh vô bờ toát lên từ âm hưởng của bài thơ.
Mùa hè năm Ất Dậu là một mốc son trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hiện thực sôi động đã truyền cảm hứng vào những Vần thơ hùng tráng khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca.
Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. Chiến thắng Chương Dương diễn ra sau nhưng lại được nói đến trước là do nhà thơ đang sống trong không khí hào hùng của chiến tháng Chương Dương vừa diễn ra. Kế đó, nhà thơ làm sống lại không khí sôi động của chiến thắng Hàm Tử trước đó chưa lâu.
Hai chiến công Chương Dương độ và Hàm Tử quan đã làm thay đổi cục diện thê trận của quân ta. Từ chỗ rút lui chiến lược, quân ta đã tiến lên phản công như vũ bão. Mới ngày nào, 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt sang cướp phá nước ta. Kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa ngút trời. Hai mũi tấn công của giặc từ Nam Quan đánh xuống, từ Chiêm Thành đánh ra, kẹp lại như hai gọng kìm sắt. Vận nước lúc đó như “chỉ mành treo chuông” nhưng với tài thao lược của các vị danh tướng, quân ta đã lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu đánh mạnh. Với chiên thắng Chương Dương và Hàm Tử, quân ta đã giáng sấm sét xuống đầu lũ giặc phương Bắc hung hăng, ngạo mạn. Kinh thành Thăng Long được giải phóng. Quân xâm lược đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta.
Thái bình tu nỗ lực,
Vạn cổ thử giang san.
(Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.)
Đây là lời vị thượng tướng động viên dân chúng hãy bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong hòa bình và tin tưởng sắt đá vào sự bền vững muôn đời của Tổ quốc.
Danh tướng Trần Quang Khải vừa từ chiến trường trở về, áo bào còn vương mùi thuốc súng, chưa kịp nghỉ ngơi đã lo ngay đến nhiệm vụ trước mắt cũng như kế sách lâu dài cho quốc gia, dân tộc. Ông nhấn mạnh: Trong thời bình, mọi người cần phải dốc hết sức lực để xây dựng non sông. Nước mạnh, dân giàu thì mới đánh tan được tham vọng ngông cuồng của giặc ngoại xâm, đồng thời chủ quyền độc tập mới được gìn giữ lâu dài. Điều đó chứng tỏ Trần Quang Khải vừa là một chiến tướng, vừa là một vị đại thần có tài kinh bang tế thế, luôn đặt trách nhiệm với dân, với nước lên hàng đầu.
Ngôn ngữ bài thơ Phò giá về kinh rất giản dị nhưng ý tưởng chứa đựng bên trong thật lớn lao. Khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng thì vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức (Trần Quốc Tuấn). Trong hòa bình, từ vua quan đến tướng sĩ, từ vương hầu đến chúng dân, ai cũng phải tu trí lực để đất nước Đại Việt được trường tồn. Câu thơ hàm chứa một tư tưởng vĩ đại, cho thấy tầm nhìn xa rộng và sáng suốt của Trần Quang Khải.
Tương tự như bài Sông núi nước Nam, bài thơ Phò giá về kinh cũng thể hiện lòng yêu nước theo kiểu mộc mạc, tự nhiên nhưng mạnh mẽ, hào hùng. Hai bài thơ đều phản ánh bản lĩnh vững vàng, khí phách hiên ngang của dân tộc ta. Một bài nêu cao chủ quyền độc lập thiêng liêng, khẳng định nước Nam là của vua Nam, không kẻ nào được phép xâm phạm, nếu cố tình xâm phạm tất sẽ chuốc lấy bại vong. Một bài thể hiện khí thế hào hùng và bày tỏ khát vọng xây dựng, phát triển đất nước trong hòa bình với niềm tin đất nước sẽ bền vững nghìn thu.
Bài Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một kiệt tác trong thơ văn cổ. Ý thơ hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ thơ giản dị, gợi cảm. Bài thơ thể hiện niềm tự hào to lớn về sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta và làm sống lại những năm tháng hào hùng đánh đuổi quân xâm lược Nguyên – Mông. Đồng thời nó nhắc nhở mỗi người Việt Nam phải biết nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và dựng xây đất nước thanh bình, giàu đẹp, bền vững muôn đời. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải | 1,296 | |
Đề bài: Em hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
– Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên ngăn cách giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Đây cũng là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng.
– Rất nhiều thi sĩ đã làm thơ tả cảnh đèo Ngang, trong đó nổi tiếng nhất là bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
– Tác giả sáng tác bài thơ này trong dịp từ Thăng Long vào Huế để nhậm chức Cung trung giáo tập (nữ quan dạy dỗ nghi lễ cho các cung nữ).
– Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm trạng cô đơn và hoài niệm về một thời đại phong kiến huy hoàng đã qua, không bao giờ trở lại.
2. Thân bài:
* Hai câu đề:
+ Câu thứ nhất: Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.
– Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống.
– Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ.
+ Câu thứ hai: cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
– Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối: cỏ cây chen đá lá chen hoa.
– Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước.
* Hai câu thực:
– Đảo ngữ trong câu đặc tả dáng vẻ mấy tiều phu kiếm củi sườn núi, nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi của con người trước thiên nhiên hùng vĩ.
+ Câu thứ tư: Lác đác ven sông chợ mấy nhà.
– Hình ảnh ngôi chợ là bộ mặt của cuộc sống một vùng nhưng ở đây, chợ chỉ là vài túp lều tranh xiêu vẹo ven sông.
– Không khí vắng vẻ, quạnh hiu bao trùm lên cảnh vật.
* Hai câu luận:
+ Câu thứ 5: Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc.
– Tiếng cuốc kêu khắc khoải lúc chiều buông càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng.
– Có thể là tiếng cuốc kêu mà cũng có thể là tiếng vọng từ trong tâm tưởng hoài cổ của nữ sĩ đang nuối tiếc thời đại huy hoàng đã qua, thể hiện nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai.
– Nghệ thuật đối câu (câu 5 >< câu 6) rất chỉnh, kết hợp với lối chơi chữ đồng âm khác nghĩa tài tình (cuốc cuốc = quốc quốc); gia gia = quốc gia (nước nhà), tô đậm ý nghĩa tượng trưng của hai câu luận.
– Điều băn khoăn lớn nhất của nữ sĩ không ngoài chuyện của quốc gia, của thời đại.
* Hai câu kết:
+ Câu thứ 7: Dừng chân đứng lại, trời, non, nước.
– Cảnh đẹp của đèo Ngang thật hùng vĩ, khiến nữ sĩ phải đừng chân để chiêm ngưỡng, để thu nhận vẻ đẹp kì diệu ấy vào tâm hồn.
+ Cậu thứ 8: Một mảnh tình riêng ta với ta.
– Nét tương phận càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người.
– Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có ta với ta mà thôi.
– Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối tiếc.
3. Kết bài:
– Qua đèo Ngang được đánh giá là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ.
– Thể thơ Đường luật sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngữ trong sáng và những hình ảnh dân dã, quen thuộc.
– Bài thơ có sức sống vĩnh cửu trước thời gian và trong lòng nhiều thế hệ yêu thơ. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan | 626 | |
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang
Hướng dẫn
Việt Nam có rất nhiều con đèo nổi tiếng như Đèo Hài Vân, Đèo Cả, Đèo Phương Hoàng… nhưng nổi bật nhất vẫn là Đèo Ngang vì nó được đi vào thơ ca, được các thế hệ nhắc đến nhờ bài thơ “Qua Đèo Ngang”, một trong sáu bài thơ Đường luật còn lưu lại cho đến ngày nay của nữ thi sĩ tài danh Nguyễn Thị Hĩnh, còn được người đời biết đến qua tên gọi Bà Huyện Thanh Quan. Với những vần thơ trữ tình, in sâu vào lòng người đọc, người nghe nỗi xúc dộng lẫn thán phục, bài thơ đã miêu tả cảnh vật con đèo cũng như tâm trạng của mình khi đi từ Thăng Long vào kinh đô Huế nhậm chức. Những vần thơ ấy dược lưu truyền lại như sau:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bèn sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dùng chân đúng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta ”
Cảnh tượng Đèo Ngang hiện lên qua thời gian và không gian trong hai câu “Đề” như sau:
“Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa ”
Nhà thơ dừng chân tại Đèo Ngang vào lúc xế tà. Việc sử dụng hình ảnh bóng chiều vào câu thơ có tác dụng giúp người đọc, người nghe cảm thấy bồi hồi xao xuyến vì đây là lúc mặt trời khuất núi, vương lại những tia nắng vàng rượm rồi tắt hẳn. Buổi xế tà là quãng thời gian các nhà văn, nhà thơ thường dùng để diễn tả nỗi buồn, nỗi trống vắng như nhà thơ Nguyễn Du đã viết: “Buồn trông cửa bể chiều hôm.” Hoặc Trần Nhân Tông đã ghi lại trong bài Thiên Trường vãn vọng: “Bóng chiều man mác có dường không.” Việc sử dụng buổi chiều đã phản ánh được tâm sự chất chứa trong lòng tác giả về một nỗi buồn hữu hữu vô vô. Nỗi buồn càng tăng lên khi cảnh vật ở đây có đá, lá hoa chen chúc nhau mọc lên tạo thành một cảnh tượng hoang dã, không có bàn tay chăm sóc của con người. Hình ảnh này cũng đã in sâu vào tâm trí em cảm xúc yêu thương quê hương và từ đó thấu hiểu hơn nỗi nhớ nhà thiết tha của tác giả khi phải rời quên đến một nơi xa lạ.
“Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.”
Dưới ngòi bút của nhà thơ, cảnh vật con đèo hiện lên thật cụ thể, sinh động! Cụ thể ở chi tiết vài chú tiều phu lom khom đốn củi dưới núi, còn bên kia sông lác đác, thưa thớt một vài căn nhà đơn sơ. Bà Huyện Thanh Quan đã thành công trong việc sử dụng biện pháp đảo ngữ. Từ “lom khon” được dưa lên trước nhằm diễn tả cảnh Đèo Ngang tuy có sự sống của con người nhưng người thì lại vừa không thấy mặt vừa không gặp được để trò chuyện. Còn nhà dân thì ở bên kia sông, đồng thời lại thưa thớt vài căn nên có cũng như không. Chính điều này càng làm tăng thêm nỗi buồn cho nhà thơ.
Tâm sự của tác giả càng lúc càng rõ nét qua hai câu “luận”:
“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”
Bức tranh phong cảnh ở Đèo Ngang chẳng những có màu sắc của cảnh vật mà còn trở nên da diết với âm thanh của các loài chim như con chim quốc, con chim da đa… Tiếng chim quốc như nhắc nhở mọi người về điển tích vua Thục Đế hoá thành con chim quốc để luôn nhớ đến nỗi đau mất nước của mình. Em thật khâm phục nghệ thuật đối ý, đối lời trong hai câu thơ này vì khi ghép lại với nhau, người dọc nhận ra ngay dược tâm sự của nhà thơ “Nhớ thương nước nhà, quốc gia quốc gia”.
“Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.”
Đứng trước cảnh trời cao vời vợi, núi non trùng điệp, sông nước mênh mông, bất cứ ai cũng cảm thấy nhỏ bé, mong manh… Nhà thơ như thu mình lại, chôn giấu sự trống vắng trong tận cõi lòng. “Ta với ta” thể hiện rõ cảm xúc khắc khoải của nhà thơ: tuy một mà hai, tuy mắt ngắm nhìn cảnh thiên nhiên ở con dèo nhưng lòng lại nặng trĩu nhớ về quê nhà không biết bao giờ trở lại. Tâm trạng u buồn này khác hẳn với niềm vui của nhà thơ Nguyễn Khuyên khi sử dụng cụm từ “Ta với ta” trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” vì tuy hai người nhưng cùng một tấm lòng, một tình bạn chân thật. Câu kết của bài thơ như một sợi dây liền mạch, nối xuyên suốt cả bài thơ tạo cho người đọc một cảm xúc day dứt, khó quên.
Bài thơ Qua Đèo Ngang đã thành công khi chuyển tải được tâm sự u buồn của Bà Huyện Thanh Quan, đồng thời lồng ghép vào đó là cảnh tượng thiên nhiên rất thực, rất sinh động của một con đèo nổi tiếng trong thơ ca và trong lịch sử nước ta. Bài thơ không chỉ thành công về mặt ý nghĩa mà còn rất chỉnh chu trong việc dùng từ, tạo câu thật đặc sắc gây thích thú cho người đọc, người nghe.
Các em có thể xem thêm bài: Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang và cách lập dàn ý chi tiết bài thơ. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang | 971 | |
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
Bài làm
Rằm tháng Giêng năm 1948, trên chiếc thuyền neo đậu giữa một dòng sông ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng và Chính phủ mở một cuộc họp tổng kết về tình hình quân sự của thời kì đầu kháng chiến chống Pháp (1947 – 1948). Cuộc họp tan thì đêm đã khuya. Trăng rằm tỏa sáng khắp mặt đất bao la. Cảnh sông núi trong đêm trăng càng trở nên đẹp đẽ và thơ mộng. Cảm hứng dâng cao, Bác đã ứng khẩu làm bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán, tựa đề là Nguyên tiêu:
Thu dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân Thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Sau đó, nhà thơ Xuân Thủy dịch bài thơ ra tiếng Việt dưới thể lục bát, với tên là Rằm tháng Giêng. Bản dịch giữ được gần hết ý thơ trong nguyên tác với nội dung thể hiện tình yêu thiên nhiên và lòng yêu nước thiết tha của Bác Hồ.
Nếu trong bài Cảnh khuya, Bác tả cảnh trăng đẹp chốn rừng sâu thì ở bài này, Bác tả cảnh trăng trên sông nước:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Vầng trăng tròn đầy, tỏa sáng bát ngát khắp bầu trời, mặt đất trong đêm Nguyên tiêu. Khung cảnh mênh mông, tưởng như sông nước tiếp liền với bầu trời: Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. Vạn vật ăm ắp sức xuân: sông xuân, nước xuân và trời xuân nối tiếp, giao hòa, tạo nên một vũ trụ căng đầy sức sống, làm náo nức lòng người. Điệp từ xuân được lặp lại nhiều lần với ý tạo vật cùng lòng người đều phơi phới khí thế tươi vui.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
Trên một chiếc thuyền nhỏ giữa chốn mịt mù khói sóng (yên ba thâm xứ). Bác cùng Chính phủ và Trung ương Đảng luận bàn việc quân, việc nước. Công việc trọng đại đến chừng nào, nhất là trong hoàn cảnh buổi đầu kháng chiến đầy thiếu thôn, gian khổ. Tuy vậy, gian khổ không làm vơi đi cảm xúc, thi hứng trong lòng Bác. Buổi họp kết thúc vào lúc nửa đêm. Trăng rằm tròn vành vạnh treo giữa trời (nguyệt chính viên) đang toả sáng. Cảnh sông nước trong đêm lại càng thêm thơ mộng. Dòng sông trở thành dòng sông trăng và con thuyền cũng dường như chở đầy ắp ánh trăng (trăng ngân đầy thuyền). Trước đêm trăng đẹp, tâm hồn Bác lâng lâng. Bác thả hồn hòa nhập với thiên nhiên – mà Bác vốn coi là một người bạn tri âm, tri kỉ. Trong lòng Bác dâng trào một niềm vui, niềm tin vào thắng lợi của Cách mạng, của kháng chiến. Hình ảnh con thuyền chở đầy trăng lướt nhẹ trên dòng sông trăng là một hình ảnh lãng mạn có ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Phải có một phong thái ung dung tự tại và niềm lạc quan mãnh liệt vào tương lai thì nhà thơ mới sáng tạo ra được hình tượng nghệ thuật độc đáo trọng một hoàn cảnh đặc biệt như vậy.
Bài thơ Rằm tháng Giêng với âm hưởng khỏe khoắn, tươi vui đã đem lại cho người đọc cảm xúc thanh cao, trong sáng. Bài thơ là dẫn chứng tiêu biểu chứng minh Bác Hồ vừa là một lãnh tụ cách mạng tài ba, vừa là một nghệ sĩ có trái tim vô cùng nhạy cảm. | Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh | 627 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.